-
SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG CUỐI TUẦN
LỄ TƯỞNG NIỆM 100 NGÀY CỐ GIÁO SƯ TOÀN PHONG NGUYỄN XUÂN VINH
Kiều Mỹ Duyên tường trình

Lễ tưởng niệm 100 ngày mất khoa học gia, cựu tư lệnh Không Quân, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh (tại Thư Viện Việt Nam, thành phố Garden Grove) do Viện Việt- Học tổ chức.
Thứ bảy ngày 5 tháng 11 năm 2022, nhiều sinh hoạt cộng đồng người Việt ở miền Nam California tổ chức cùng giờ, cùng ngày. Nơi nào có sinh hoạt cũng có đồng hương đến đông đảo. Tại Thư Viện Việt Nam, đường Westminster thành phố Garden Grove, Viện Việt- Học tổ chức kỷ niệm 100 ngày tưởng nhớ giáo sư, khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh. Cô Nguyễn Thị Kim Ngân điều hợp chương trình.
Thư mời được nhà văn Trần Việt Hải gửi đi khắp nơi, gửi nhiều lần, ngoài học trò của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh của trường Chu Văn An, Sài Gòn, còn có sự hiện diện của các chiến sĩ Không Quân, khoa học gia, bác sĩ, văn sĩ, thi sĩ, ca sĩ, v.v. đến tham gia rất đông. Hội trường không còn một chỗ ngồi, một số anh chị em đứng ở ngoài hành lang của thư viện.

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh (1930-2022) Khi chúng tôi đến, giáo sư Phạm Thị Huê đang phát biểu tỏ lòng kính trọng giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, một nhân tài văn chương và khoa học gia. Ông lấy bút hiệu Toàn Phong để sáng tác văn chương. Tác phẩm “Đời Phi Công” của Nguyễn Xuân Vinh đã đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961. Năm 1991, cuốn sách “Theo Ánh Tinh Cầu” của ông được nhà xuất bản Đại Nam xuất bản, đã được tiêu thụ hết ngay trong năm đầu. Ông còn một tác phẩm khác là “Gương Danh Tướng” được sáng tác năm 1956.
Một ngày làm nhà giáo suốt đời làm nhà giáo, ngoài là tư lệnh Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh viết sách không ngừng nghỉ, những tác phẩm ông để lại cho đời rất hữu ích cho thế hệ mai sau.

Các văn nghệ sĩ đến tham dự lễ tưởng niệm giáo sư Nguyễn Xuân Vinh rất đông. Ông Trần Văn Sùng đến từ San Diego, ông vừa nói vừa nức nở như khóc, ông thương tiếc một người tài đã ra đi dù giáo sư Vinh về với Chúa khi đã 92 tuổi.
Khoa học gia Cai Văn Khiêm tỏ lòng thương tiếc một nhân tài đã ra đi, có lẽ tất cả đồng hương hiện diện trong ngày tưởng niệm không ai muốn giáo sư Vinh ra đi.

Nhà văn Khánh Lan nói về giáo sư Nguyễn Xuân Vinh.
Nhà văn Khánh Lan xinh đẹp, duyên dáng nói về giáo sư Nguyễn Xuân Vinh và trong câu chuyện nhà văn trẻ này nhắc đến nhà văn Việt Hải nhiều lần trước khi Việt Hải lên diễn đàn.
Nhà văn Việt Hải vừa phát biểu cảm tưởng vừa nuốt nước mắt, có lúc nhà văn nghẹn ngào như nói không ra lời. Nhà văn rất thành thật nói:
– Cho tôi được ngồi, nếu tôi đứng một chút nữa tôi sẽ té.

Nhà văn Việt Hải nói về những quyển sách của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh mà
nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã xuất bảnViệt Hải nói về những quyển sách của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh mà nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã xuất bản và sẽ xuất bản tiếp. Nhà văn Việt Hải để rất nhiều cảm tình của mình trong giọng nói nghẹn ngào. Nhiều người kể cho tôi nghe lúc tiễn đưa giáo sư Nguyễn Xuân Vinh lên đường, Việt Hải đã khóc, bây giờ cũng nức nở.
Cô Hoa, vợ của Việt Hải đưa chồng lên trước sân khấu, chăm sóc chồng từng tí. Thật hạnh phúc cho những người có gia đình ấm cúng, và hạnh phúc cho những người lý tưởng sống với nhau.

Kiều Mỹ Duyên đến tham dự lễ tưởng niệm 100 ngày mất của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh cùng các anh chị em nghệ sĩ. (Xướng ngôn viên, ca sĩ Hương Thơ đứng ngoài cùng bên phải) Những phụ nữ tham dự trong chiếc áo dài tha thướt, trong đó có ca sĩ Hương Thơ, người nào cũng đẹp nhưng nam thì nhiều còn nữ thì ít, đặc biệt những người yêu chuộng văn nghệ đều có mặt.
Khoa học gia Cai Văn Khiêm trong hội Bình Định Tây Sơn, bác sĩ Lê Đình Phước, bác sĩ Nguyễn Ngọc Ký, Không Quân hiện diện trong buổi lễ tưởng niệm này, bác sĩ đỡ đầu cho giáo sư Nguyễn Xuân Vinh vào đạo Công Giáo.
Nguyện cầu giáo sư Nguyễn Xuân Vinh hưởng nhan Thánh Chúa. Cô Nguyễn Thị Kim Ngân thay mặt Viện Việt-Học chân thành cảm ơn quý Hội, quý giáo sư và quý anh chị em đã cùng gia đình của giáo sư và Viện Việt- Học tổ chức Lễ Tưởng Niệm giáo sư Nguyễn Xuân Vinh chân tình và cảm động.
KIỀU MỸ DUYÊN, Orange County, 7/11/2022
(kieumyduyen1@yahoo.com)
—————————————————————————————————————–
LỄ TƯỞNG NIỆM 100 NGÀY CỐ GIÁO SƯ TOÀN PHONG NGUYỄN XUÂN VINH
Khánh Lan tường trình từ California.

Buổi lễ tưởng nhớ đến vị giáo sư khả kính Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, một nhân tài của thế giới văn học đã diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm và thân mật tại THƯ VIỆN VIỆT NAM thuộc thành phố Garden Grove, tiểu bang California ngày 05 tháng 11 măm 2022 do Gia Đình Cố GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Hội Ái Hữu CHS Bưởi-Chu Văn An Nam California, Hội Ái Hữu Không Quân, Hội Giáo Chức Việt Nam California, Hùng Sử Việt, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, Nguyệt San KBC và Viện Việt Học đồng tổ chức.
Ngoài hành lang, các hình ảnh và những giải thưởng mang tên GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh được ban tổ chức trưng bày rất cẩn thận, chu đáo và đẹp mắt.

Bước vào bên trong hội trường, căn phòng đã đông nghẹt người, những hàng ghế đã kín/đầy người ngồi. Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của rất nhiều nhân vật quan trọng trong cộng đồng đến tham dự. Ngoài hành lang cũng chật cứng người, bởi không có ghế ngồi nào trống.
Khoảng 10 phút sau 10:30 sáng, khi Chị Kim Ngân, giám đốc của Viện Việt Học mở đầu chương trình và thay mặt cho bà quả phụ Nguyễn Xuân Vinh ngỏ lời cám ơn tất cả các quan khách hiện diện, thì cả hội trường trở nên yên lặng để tỏ lòng kính trọng người quá cố. Theo sau là Lễ chào quốc kỳ Việt, Mỹ và phút mặc niệm.

Sau phần nghi lễ, Cô Kim Ngân trở lại với tiểu sử của cố GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, đồng thời giới thiệu slideshow về cuộc đời và sự nghiệp của cố GS do nguyệt san KBC thực hiện, ghi lại đầy đủ hình ảnh từ khi Cố GS nhập ngũ cho đến khi ông từ giã cõi trần.

Giáo Sư Trần Huy Bích GS Tiến Sĩ Trần Huy Bích nói về những tác phẩm của văn học nổi tiếng của GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Cũng như quyển sách mới nhất “Thiên Chức Của Một Nhà Giáo” sẽ do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuận đảm nhiệm và phát hành.

Bà quả phụ Nguyễn Xuân Vinh Chương trình tưởng nhớ Cố GS Toàn Phong chấm dứt khoảng 12:30 pm sau khi Bà quả phụ Nguyễn Xuân Vinh ngỏ lời cảm tạ các quan khách, bà cũng không quên mời mọi người ở lại dùng bữa ăn trưa thân mật do chính tay bà các bạn bè cùng nấu. Phần phụ diễn văn nghệ gồm 4 bài hát do các ca sĩ của Viện Việt Học và Tiếng Thời Gian đảm trách.

Cố GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh Vĩnh biệt Cố GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Xin Thiên Chúa toàn năng rước linh hồn ông về cùng hưởng an vui bên cạnh nhan thánh Ngài.
Khánh Lan
VỀ MỘT NGƯỜI VỪA MỚI RA ĐI: GIÁO SƯ NGUYỄN XUÂN VINH,
Viết bởi: KIỀU MỸ DUYÊN
Giáo sư- Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh- nhà khoa học người Việt được NASA vinh danh. Ông đã vạch ra quỹ đạo cho những phi thuyền Apollo của Mỹ lên mặt trăng.Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh được Hội Khoa Học Không Gian Hoa Kỳ tuyển chọn trao giải thưởng Dirk Brouwer về những thành tích và phục vụ của ông trong ngành cơ học phi hành không gian.
Khi nghe giáo sư Nguyễn Xuân Vinh bệnh, nhiều người cầu nguyện cho giáo sư sớm khỏi bệnh. Nhiều người định đi thăm giáo sư nhưng cứ nghĩ để cho người bệnh nghỉ ngơi, đến thăm nhiều không nên, nhưng những người ở xa về chơi Orange County nhất định phải đến thăm ông. Giáo sư Phạm Thái ở San Jose về Orange County họp mặt liên trường và đồng hương Tây Ninh nói với chúng tôi trước khi lên xe trở lại San Jose:
– Chị ơi, giáo sư Vinh yếu lắm rồi, chắc không qua khỏi trong 2 tuần nữa.
Hôm nay, khi giáo sư Vinh qua đời, 1 giờ đồng hồ sau tôi được tin, chúng tôi gọi ngay cho giáo sư Phạm Thái. Ông nói:
– Chúng tôi đợi tin tức gia đình để xem ngày nào an táng, chúng tôi sẽ đến thăm giáo sư Vinh lần cuối.
Chúng tôi còn nhớ vào thập niên 60, chúng tôi đang học ở Úc, tình cờ đọc báo thấy tin tức giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là khoa học gia. Chúng tôi rất hãnh diện về khoa học gia Việt Nam có tài làm phi thuyền lên cung trăng. Chúng tôi mua ngay một tấm thiệp chúc mừng, anh chị em du học ở Canberra, thủ đô của Úc, viết lời chúc mừng rồi gửi sang tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa nhờ chuyển đến giáo sư Vinh.
Bẵng đi một thời gian rất lâu mấy chục năm sau, chúng tôi gặp lại giáo sư Nguyễn Xuân Vinh ở đại học Michigan, hội thảo toàn nước Mỹ về người tị nạn ở đại học này. Những thành viên tham dự hội thảo có giáo sư Vũ Quốc Thùy, con trai của giáo sư Vũ Quốc Thúc, giáo sư của trường đại học luật khoa Sài Gòn trước năm 1975, Nguyễn Xuân Vinh đang dạy, giáo sư cũng là một diễn giả thuyết trình trong tuần lễ hội thảo đó. Người tham dự đại hội ở luôn trong trường học, buổi trưa khi ra phòng ăn, chúng tôi may mắn được ngồi đối diện giáo sư. Chúng tôi nhắc lại tấm thiệp chúc mừng mà chúng tôi đã gửi đến giáo sư sau khi phi hành đoàn bình yên trở về.
Chúng tôi cũng nhớ một chuyện tình rất đẹp trong tiểu thuyết ngắn “Đời Phi Công” của nhà văn Nguyễn Xuân Vinh, bút danh Toàn Phong. Chúng tôi nói ngay:
– Thưa giáo sư, giáo sư trả nợ cho tôi!
Giáo sư Vinh ngạc nhiên hỏi:
– Tôi thiếu nợ cô hồi nào mà cô đòi nợ tôi?
Tôi trả lời:
– Vì tôi đọc “Đời Phi Công” của giáo sư cho nên khi đến Paris, tôi vội vã đến bờ biển Nice để xem cát vàng lóng lánh qua ngòi bút miêu tả của giáo sư bờ biển Nice vô cùng quyến rũ. Chúng tôi cất công, tốn tiền đến đó, nhưng than ôi đến bờ biển Nice rồi, chúng tôi vỡ mộng vì bờ biển Nice không đẹp bằng biển Nha Trang. Như thế giáo sư phải đền phí tổn cho chúng tôi phải không?
Giáo sư Vinh hỏi chúng tôi:
– Cô đến Nice một mình hay đi với nhiều người?
Tôi trả lời:
– Đi với nhiều người.
Giáo sư Vinh nói ngay:
– Đi với nhiều người làm sao thấy được cát vàng lóng lánh?
Sau này đến Mỹ, chúng tôi có dịp gặp lại ông bà giáo sư Vinh ở miền Nam California khi có hội họp tổ chức ở đây.
Có lần, trong buổi cơm, tôi ngồi gần ông bà, tôi hỏi phu nhân của giáo sư Vinh:
– Phượng trong tiểu thuyết “Đời Phi Công” có phải là chị không?
Phu nhân giáo sư Vinh trả lời:
– Nếu ai yêu không quân thì đều là Phượng.
Hai ông bà người nào cũng rất thông minh, trả lời như không trả lời.
Tiểu thuyết ngắn “Đời Phi Công” của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh sáng tác năm 1959, bút hiệu Toàn Phong. Đạt giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1961. Tiểu thuyết dài 53 trang, gồm 9 chương: Đường đời muôn vạn nẻo, Ánh sáng kinh thành, Trăng dãi Bắc Phi, Gió Hải Hồ, Có một đàn chim, Hội mùa hoa, Hẹn
một ngày về, và Tiếng gọi lên đường.
… Đêm nay có một anh chàng
ngồi giữa ánh sáng kinh thành
mà nhớ đến quê hương…
… Mang thân làm cánh chim,
ai ra đi cũng hẹn có ngày trở về tổ ấm …
… Để chờ đợi một ngày mai hạnh phúc,
Có những mùa xuân đôi trẻ con gửi cho nhau
những cánh hoa kèm theo những câu chúc tâm tình …
… Mang thân ra đi để che mưa gió
là các anh muốn cho những người như em
được mãi mãi sống trong bầu không khí thanh bình …
… Ra đi vì nhiệm vụ
bao giờ thanh bình
con xin trở lại mái tranh xưa …
Khi đi thuyết trình ở đại học Berkeley, trên đường về tôi đổi chuyến bay từ San Jose về Orange County để thăm một số người thân, trong đó có giáo sư Vinh và gia đình. Tôi đi xe từ San Francisco về thăm ông bà giáo sư Vinh, ở trong một căn nhà xa thành phố, đường vào nhà cây cỏ xanh mướt. Chị Vinh ngồi xe lăn đón tôi ở phòng khách, chị hỏi:
– Cô lên đây hồi nào?
Chị đưa tay chỉ ly nước và đĩa trái cây, mời tôi:
– Cô uống nước và dùng trái cây.
Giáo sư Vinh chào tôi và nói:
– Cô ở nhà với bà xã tôi, tôi đi họp với hội cựu tù nhân chính trị.
Ngồi nói chuyện với chị Vinh một chút, chị gầy hẳn đi, khác với ngày tôi gặp chị, khuôn mặt chị xanh xao, nhưng chị không than khi tôi hỏi về sức khỏe của chị. Có một cô em kề cận chăm sóc cho chị.
Tôi kể cho chị nghe về sinh viên Berkeley rất quan tâm đến chính trị, đề tài của tôi thuyết trình là: Làm thế nào để trở thành triệu phú? Sinh viên Berkeley đặt câu hỏi về chính trị nhiều hơn về kinh tế, trái với sinh viên của Cal State Fullerton và Long Beach, mà tôi đã từng thuyết trình nhiều năm qua. Tôi cũng nói với chị về tờ báo của trường đại học Berkeley rất lớn, nhiều tầng lầu, tờ báo rất xuất sắc. Chị Vinh hỏi tôi về những người chị quen ở Orange County có gặp họ thường không?
Tôi muốn kể cho chị nghe nhiều chuyện nữa nhưng sợ chị mệt, với lại đến giờ phải ra phi trường nên tôi xin giã từ. Ra đến cửa, tôi quay đầu lại vẫy tay chào chị, bàn tay yếu ớt của chị đưa lên chào tôi. Tôi hy vọng gặp lại chị lần nữa nhưng khi tôi vừa về đến Orange County vài tuần thì nghe tin chị được đưa vào nhà thương. Sau đó mấy tuần, chị mất.
Hôm nay, nghe tin giáo sư Nguyễn Xuân Vinh qua đời, gia đình, người thân, bạn bè, học trò của giáo sư trên thế giới, và đồng hương yêu quý ông đang cầu nguyện cho giáo sư sớm về hưởng nhan Thánh Chúa.
Orange County, 25/7/2022
KIỀU MỸ DUYÊN, (kiuemyduyen1@yahoo.com)
-
NHÀ VĂN VIỆT HẢI: TRONG Ý NGHĨ CỦA TÔI.
Bài viết của NV Kiều My

VIỆT HẢI & KIỀU MY Khi vừa hoàn thành tác phẩm đầu tay ĐÓA HOA NỞ MUỘN, tôi rất phân vân không biết nên làm gì; cất giấu nó đi mãi mãi hay nên thực hiện một buổi ra mắt sách cùng độc giả? Nếu chôn vùi đứa con tinh thần này muôn kiếp thì quá dễ dàng, nhưng tôi lại không đành lòng! Như một người đàn bà mang thai, cưu mang hài nhi trong dạ với bao yêu thương ấp ủ của một người mẹ…thì sau chín tháng mười ngày, hài nhi hẵn phải chào đời.
Tình cờ một hôm đẹp trời của mùa xuân 2021, con gái Bảo Trâm chở tôi đến thăm vợ chồng Tina và Quốc Sĩ – một tay guitar điêu luyện trong làng nhạc Việt hải ngoại. Người nhạc sĩ dễ mến này đưa tôi đi xem phòng thu âm, nơi mà các nhạc sĩ thường gắn bó và say sưa làm việc với âm nhạc. Rồi hai cô cháu nói chuyện huyên thuyên về các ca nhạc sĩ và những sáng tác mới của Quốc Sĩ. Trong dịp này, bất chợt tôi tâm sự với Sĩ về tác phẩm của tôi vừa sáng tác xong, mong rằng Sĩ có thể góp ý với tôi nên làm gì. Không ngờ mắt Sĩ sáng lên rồi nhiệt tình nói:
“Hay quá! Cô gặp đúng người rồi! Để Sĩ giới thiệu cô với anh trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian…anh Việt Hải. Sĩ rất quý mến anh và chị Lệ Hoa, anh rất tốt sẽ giúp đỡ cô, cô đừng lo!”
Tôi vừa thoáng thấy có một cánh cửa hy vọng sắp mở ra, nhưng lại e ngại không biết anh trưởng nhóm có vui lòng giúp tôi không vì tôi chỉ là một người xa lạ đối với anh. Chừng vài phút sau, Sĩ hăng hái thực hiện ngay kế hoạch làm người trung gian kết nối đường dây:
“Chào anh Việt Hải! Anh khỏe không? Hôm nay Sĩ giới thiệu với anh cô của Sỹ là Kiều My muốn ra mắt sách, anh có thể giúp cho cô của Sĩ được không?…”
Qua dăm ba câu thăm hỏi trao đổi với nhà văn Việt Hải, Sĩ trao điện thoại cho tôi bèn dặn dò:
“Cô cố gắng nghe vì anh Việt Hải bị stroke hai lần; vì thế, tiếng nói của anh không được rõ ràng lắm!”
Quả thật vậy! Khi cầm điện thoại và áp sát vào tai, tôi nghe được giọng nói của anh Việt Hải… đã gây cho tôi niềm cảm xúc ngập tràn. Anh cố gắng nói để tôi được hiểu ý của anh rằng: anh sẵn sàng giúp tôi ra mắt sách. Giọng anh khàn khàn ngọng nghịu, có đôi lúc thở nặng nề mệt nhọc, làm tôi rất e ngại và thương cảm cho anh. Tôi tự hỏi: không biết tôi có làm mất thời giờ và làm phiền cho sức khỏe của anh chăng? Trong tôi chứa đầy ngạc nhiên không lẽ trên đời này còn có người tốt như thế sao? Anh chưa biết tôi là ai, người như thế nào…mà dám mở rộng vòng tay chào đón và giúp đỡ nhiệt tình một người xa lạ chưa bao giờ gặp mặt; hơn thế nữa, anh là người không được khỏe mạnh cho lắm!
Trên đường về, tôi luôn nghĩ ngợi về nghĩa cử cao đẹp của một người mang tên Việt Hải, trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Tôi không thể hình dung anh như thế nào, người ra sao, bao nhiêu tuổi?…Dường như anh là khuôn mẫu của một người chỉ muốn cho đi mà không cần nhận lại. Nhất là trong lãnh vực văn chương và nghệ thuật. Anh luôn khuyến khích và hướng dẫn những mầm non văn chương, những ngòi bút còn non nớt, hãy cố gắng đọc thật nhiều và viết thật nhiều để hình thành những tác phẩm giá trị cho đời và nhất là để bảo tồn văn hóa Việt. Bao lâu còn văn hóa Việt, tiếng nói Việt, thì dân tộc Việt vẫn còn tồn tại; dù cho người Việt có tản mác khắp nơi trên địa cầu này.
Chỉ sau một thời gian ngắn ngủi, tác phẩm ĐÓA HOA NỞ MUỘN được anh Việt Hải đưa qua nhà văn kiêm chủ bút Khánh Lan chỉnh sửa những sơ sót trong bản thảo. Sau đó lần lượt được trao qua bàn tay kỹ thuật nhà nghề của anh Phạm Hồng Thái ở tận San Jose trau chuốt, sắp xếp, trình bày rất đẹp mắt. Ngoài ra, bìa sách được nhà văn kiêm họa sĩ Vi Khiêm vẽ một đóa hoa hồng rạng rỡ vươn lên khoe sắc trong cảnh mùa thu rất ư nghệ thuật…Tất cả thật tuyệt vời ngoài sự mong đợi của tôi! Cầm quyển sách ĐÓA HOA NỞ MUỘN thật đẹp, thật mượt mà trên tay mà trong lòng thầm cảm ơn tất cả các vị Việt Hải, cô Khánh Lan, anh Hồng Thái và anh Vi Khiêm, đã chung tay hoàn chỉnh sách ĐÓA HOA NỞ MUỘN của Kiều My, như một báu vật.
RA MẮT SÁCH CỦA NV KIỀU MY

Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tạm ngưng hoạt động khoảng hai năm vì dịch bệnh Corona Virus lan tràn. Khi dịch bệnh không còn phát triển mạnh nữa, thì nhóm hoạt động trở lại và ĐÓA HOA NỞ MUỘN được nhà văn Việt Hải khởi động cho ra mắt với độc giả vào mùa hè tại Nam California, ngày Chủ nhật 15 tháng Tám năm 2021. Trong sự kiện quan trọng và đầy ý nghĩa về văn chương và nghệ thuật mà nhà văn Việt Hải luôn hăng say tổ chức và quy tụ giới cầm bút, truyền thông, báo chí… góp mặt trong chương trình như một sự khích lệ lớn lao cho các tác giả. Ngoài ra, các nhà văn, thi sĩ, ca sĩ trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, gia đình và thân hữu của tác giả tham dự đông đảo trong không khí thân thiện cởi mở. Trong buổi ra mắt sách luôn luôn gồm 2 phần:
1/ Phần văn học: dưới sự chủ tọa của nhà văn Việt Hải cùng các diễn giả như: nhà văn Nguyễn Quang, nhà văn kiêm giáo sư Quyên Di, nhà văn Khánh Lan, nhà văn Vi Khiêm v.v…Phần này giới thiệu về tiểu sử tác giả và tham luận về tác phẩm.
2/ Phần văn nghệ: do nhóm Tiếng Thời Gian phụ trách, dưới sự điều khiển của ca nhạc sĩ Lâm Dung, cùng với tiếng hát của các ca sĩ Thụy Lan, Lệ Hoa, Ngọc Quỳnh, Minh Thư, Ái Liên v.v…
Hai phần văn học và nghệ thuật kết hợp nhịp nhàng đã làm tăng thêm phần sống động và vui tươi cho buổi ra mắt sách. Những nhạc phẩm được trình diễn trong chương trình cũng được chọn lọc theo chủ đề của sự kiện.
Nhà văn Việt Hải cùng ban diễn giả đã chu toàn vai trò mô tả thật sống động về nội dung của tác phẩm ĐÓA HOA NỞ MUỘN. Trong đó, tác giả đã trau chuốt từng nét vẽ uyển chuyển để tạo nên bức tranh đẹp tuyệt vời của một tình yêu huyền thoại, mà chắc hẵn ai trong chúng ta cũng đều mơ ước. Động lực chính khiến tác giả dàn dựng lên một bối cảnh yêu đương nồng nàn của đôi uyên ương trong sự thủy chung, vì cảm kích mối tình bất diệt của chính tác giả với nàng kiều Selma Karamy trong UYÊN ƯƠNG GÃY CÁNH ( The Broken Wings ) của nhà văn nổi tiếng Lebanon KAHLIL GIBRAN. Qua HỒN BƯỚM MƠ TIÊN của KHÁI HƯNG, tác giả cũng thương cảm cho mối tình thanh cao dưới bóng từ bi của thí chủ Ngọc và chú tiểu Lan. Thêm lần nữa, tác giả lại xót xa cho hai người trẻ ROMEO ET JULIETTE yêu nhau trong nghịch cảnh, không được lấy nhau nên sau cùng đã chết bên nhau cho trọn cuộc tình của WILLIAM SHAKESPEAR. Trong LOVE STORY của ERICH SEGAL, hai kẻ bất hạnh là Oliver Barrrett và Jennifer Cavilleri yêu nhau tha thiết. Nhưng vì sự cấm đoán khe khắt của gia đình danh giá Barrett mà đưa đến một kết cuộc bi thương….Vì những chuyện tình thủy chung đầy nước mắt và tuyệt vời này…khiến tác phẩm ĐÓA HOA NỞ MUỘN đã ra đời. Trong quyển sách bé nhỏ này chứa đầy tính nhân bản của tình yêu đôi lứa, tình gia đình, tình bạn hữu và tình yêu quê hương. Sau cùng, mọi người đều nhỏ lệ tiếc thương cho đôi uyên ương phải gãy cánh, vì người chồng vĩnh viễn từ giã cõi đời để lại người vợ hiền trung trinh và hai con thơ trong đau đớn nghẹn ngào. Sự việc này đã nói lên triết lý về cuộc đời: không có gì tồn tại mãi mãi và không gì gọi là vĩnh cửu trên đời này!
Buổi ra mắt sách đã thành tựu. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì gánh nặng đã được trút xuống khỏi đôi vai. Mọi việc được hoàn tất tốt đẹp là nhờ vào sự nhiệt tình cũng như sự tổ chức chu đáo của anh Việt Hải, cùng với sự hỗ trợ tích cực của các văn thi sĩ và các ca sĩ trong nhóm âm nhạc Tiếng Thời gian . Tôi ngẫm nghĩ về câu nói đầy ý nghĩa của một văn hào: “Hãy quan tâm những gì xung quanh bạn và biết ơn những gì bạn có được trong cuộc sống ngắn ngũi này.”( Observe around you and be thankful for all that you have in this transitory lifetime.)
Một điều thật lạ và đầy ngạc nhiên, khi tôi khám phá ra văn sĩ Việt Hải viết hàng ngàn bài viết trong hơn ba mươi năm, những bài viết thật giá trị về văn chương và hàng ngàn bài thơ quê hương, tình yêu, lãng mạn, nhưng anh chưa hề có một cuốn sách nào cho riêng anh để ra mắt cùng độc giả; bởi anh chỉ viết in chung giúp cho sách của nhóm bạn bè được hình thành. Việt Hải là thế! Anh vì mọi người hơn vì mình! Tấm lòng anh thật bao la… hiếm có! Anh không ích kỷ! Anh không màng lợi danh! Tôi rất may mắn là thành viên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian và được hoạt động chung với anh. Anh luôn vui vẻ với mọi người, hình như anh thích những cuộc gặp gỡ hàn huyên. vui đùa với bạn bè. Anh là chim đầu đàn của nhóm, sẵn sàng nâng đỡ và hướng dẫn những thành viên trong nhóm khi gặp khó khăn trong văn chương hay thơ nhạc. Chúng tôi rất quý mến và biết ơn những gì anh đã làm cho chúng tôi. Ở đây có rất nhiều nhà văn, nhưng khó tìm được người hy sinh bỏ thời gian và công sức để giúp mình bước lên để đạt được sự thành công.
RA MẮT SÁCH CỦA NV KHÁNH LAN

NHÀ VĂN KHÁNH LAN Thừa thắng xông lên! Sau buổi ra mắt sách tốt đẹp của Kiều My, anh Việt Hải ra tay giúp cho bốn quyển sách của nhà văn Khánh Lan được trình làng cùng độc giả:

RA MẮT SÁCH 4 TÁC PHẨM CỦA NV KHÁNH LAN –DĨ VÃNG KHÔN NGÔI. Mọi người trong chúng ta đều có dĩ vãng với những kỷ niệm buồn vui trong quá khứ. Dù trong cuộc sống thăng trầm bôn ba của hiện tại, nhưng trong phút giây nào đó, dĩ vãng lại lãng đãng trôi về từ trong ký ức dường như đã ngủ quên. Những kỷ niệm của quá khứ đó có thể cho ta một nụ cười ngắn ngủi hay những tiếng thở dài lê thê, khi nó trở về từ nấm mồ của thời gian.
–TUYỂN TẬP TRUYỆN TRINH THÁM, THÁM TỬ LÊ MINH. Tác giả viết lên những câu chuyện trinh thám hồi hộp gay cấn, gợi lên óc tò mò của độc giả mà nhân vật chính Lê Minh đã đưa người đọc vào mê hồn trận của những pha mạo hiểm cam go, sự giằng co giữa sống chết chỉ trong gang tấc.
–ĐÔI NÉT VỀ 10 TÁC GIẢ ÂU MỸ CẬN ĐẠI. Nhà văn Khánh Lan viết về những tác giả lừng danh qua các tác phẩm để đời của họ. Chẳng hạn như: Alexandre Dumas, Jr.(Pháp) với cuốn La Dame aux Camelias (Trà Hoa Nữ). Andre’ Gide (Pháp) với cuốn La Porte E’troite (Khung Cửa Hẹp). Erich Segal (Hoa Kỳ) với Love Story (Chyện Tình Yêu) và Ernest Hemingway với The Old Man and The Sea ( Ngư Ông và Biển Cả ) v.v..
-TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN: TÌNH YÊU, CUỘC ĐỜI VẢ ĐỊNH MỆNH. Tác giả góp nhặt lại những mẫu chuyện của 45 năm về trước qua một quãng đường dài với biết bao đau thương. Những câu chuyện thương tâm trong thời chiến, nỗi đau mất nước, những cuộc chia lìa xót xa hay những chia ly tang tóc…đã đưa đẩy con người vào vòng xoáy triền miên của cuộc đời trong bể khổ – Như Đức Phật Thích Ca đã nói: “Đời là bể khổ”! Đời người ít nhất một lần cũng phải bước vào bể khổ của cuộc đời trước khi đến miền miên viễn của bên kia thế giới.

NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIÊNG THỜI GIAN TRONG NGÀY RMS CỦA NV KHÁNH LAN RA MẮT SÁCH CỦA NV NGUYỄN QUANG
Cũng vẫn là nhà văn Việt Hải, lần này anh lại tổ chức buổi ra mắt sách cho nhà văn Nguyễn Quang với hai tác phẩm: Ôn Cố Tri Tân và Phận Đàn Bà. Anh là người luôn lạc quan và yêu đời, anh thích vui họp mặt với bạn bè; vì thế, tôi cũng có niềm vui lây với anh trong những buổi họp mặt đình đám này. Đây cũng là điều thú vị về anh. Anh cùng với phu nhân đáng yêu Lệ Hoa góp mặt mọi sự kiện, vì anh luôn là chủ sự. Nếu không có anh chỉ đạo, có lẽ mọi việc khó thành tựu. Ban diễn giả hôm nay gồm có các nhà văn như: Quyên Di, Việt Hải, Khánh Lan và Kiều My bàn luận và tham khảo hai tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang:

RA MẮT SÁCH HAI TÁC PHẨM CỦA NV NGUYỄN QUANG –ÔN CỐ TRI TÂN: do từ nhóm chữ “ Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hỉ “; có nghĩa là: ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay, hành vi này đáng là bậc thầy. Cũng như văn hào Anh, Percy Bysshe Shelly đã nói: “Không lo sợ khi hướng về tương lai qua những bài học đau thương từ quá khứ.” Trong Ôn Cố Tri Tân, tác giả đã đề xuất những bí quyết, những kinh nghiệm hay những bài học kinh điển như kim chỉ nam mà có thể tạo nên thành công cho mọi người. Không nghi ngờ gì khi chúng ta đã trãi nghiệm những thất bại của quá khứ, để tạo thành những bài học quý giá cho tương lai. Như trong dân gian có câu: “Thất bại keo này, ta bày keo khác”, hay “Thất bại là mẹ thành công” vậy.
–PHẬN ĐÀN BÀ: Nhà văn Nguyễn Quang rất đỗi chạnh lòng khi nhìn thấy cảnh ngộ của người đàn bà, nhất là người đàn bà Việt Nam phải cam lòng chấp nhận mọi hoàn cảnh đưa đến trong thời bình cũng như thời chiến. Suốt một đời làm thân phận người đàn bà đầy gian nan, gánh vác hy sinh cho chồng con, xứng đáng để được vinh danh muôn thuở. Như qua nỗi ngậm ngùi của thi sĩ Tú Xương trong bài thơ THƯƠNG VỢ:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”…
Hoặc thương cho phận đàn bà qua hai câu thơ đầy xót xa:
“Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

NHÀ ĂN NGUYỄN QUANG 
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIÊNG THỜI GIAN TRONG NGÀY RMS CỦA NV NGUYỄN QUANG RA MẮT SÁCH CỦA HAI NHÀ VĂN HẬU DUỆ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN: NV TỪ DUNG & NV NGỌC CƯỜNG
Anh Việt Hải làm việc không ngừng nghỉ và rất vui khi những thành viên trong nhóm ra mắt sách thành công. Bước kế tiếp anh tổ chức cho hậu duệ Tự Lực Văn Đoàn, tiêu biểu là hai nhà văn Từ Dung và Ngọc Cường được có cơ hội trình làng hai tác phẩm: Ba Chị Em (Ngọc Cường) và Hồi Tưởng (Từ Dung).

THÀNH PHẦN DIỄN GIẢ ĐƯỢC TỔ CHỨC DƯỚI HÌNH THỨC HỘI THÀO

Đi lần về quá khứ! Vào những lớp Trung học đệ nhất cấp, ông thầy Việt văn của tôi say sưa giảng thao thao bất tuyệt về Nhóm Tự Lực Văn Đoàn với những tác phẩm giá trị đã được đưa vào nền văn học trước 1975, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.
Để bước vào một nền văn học mới mẽ như bước vào một ngày mới với ánh nắng ban mai rực rỡ, như một cuộc cách mạng về văn hóa của xã hội Việt Nam vào nửa bán thế kỷ 20. Thầy giới thiệu cho cả lớp về nhóm Tự Lực Văn Đoàn, bằng giọng trầm trầm đầy sức sống, thầy giảng:
“Nhóm này đã ra đời vào năm 1935 bởi các nhà văn tiên phong như: Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam, Thạch Lam – Nguyễn Tường Lân, Hoàng Đạo – Nguyễn Tường Long và các văn thi sĩ như Tú Mỡ, Thế Lữ, Khái Hưng, Xuân Diệu v. v. Nhóm này ảnh hưởng nền văn chương Pháp, mang đến một khuynh hướng mới, một làn gió mới cho nền văn học Việt Nam. Song song với tư tưởng và lối văn phong trong sáng, phóng khoáng hơn so với tư tưởng và lối hành văn của Hán Nho ngày trước trong các tác phẩm. Về mặt nội dung tư tưởng, các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn thấm đượm tinh thần nhân văn, chống lễ giáo phong kiến, chống những hủ tục không còn thích hợp khi nền văn minh Âu Tây đã ảnh hưởng vào Việt Nam. Điển hình như hai nhân vật chính là Dũng và Loan trong tác phẩm Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Thời điểm xãy ra cốt truyện khi mà cuộc đấu tranh giữa tư tưởng mới và cũ trong xã hội Việt Nam đang hồi quyết liệt”…

Từ trái sang phải: NV Từ Dung & NV Ngọc Cường Trong buổi ra mắt sách hôm nay thật đặc biệt, mọi người được nhìn thấy hai hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn là nhà văn Ngọc Cường và Từ Dung. Hai vị được thừa hưởng dòng máu văn chương của gia đình vọng tộc, một gia tộc danh giá và đã hình thành hai tác phẩm được ra mắt cùng độc giả:
–TÁC PHẨM BA CHỊ EM CỦA NV NGỌC CƯỜNG: Câu chuyện về một đứa trẻ mồ côi mẹ từ lúc còn thơ ấu nên khao khát tình mẫu tử khôn nguôi. Khi lớn lên mang đầy hệ lụy tự ti mặc cảm để rồi sống quay lưng với cuộc đời. Để rồi khước từ những thú vui hay những cuộc hội họp với bạn bè, mà chỉ muốn sống ẩn dật, gậm nhấm những suy nghĩ tiêu cực miên man chảy trong đầu óc.
Cách diễn đạt tâm lý nhân vật chính trong truyện thật sâu sắc và rất thực, khiến cho chúng ta liên tưởng đến nhà văn William Maugham ( một cây bút nổi tiếng về truyện ngắn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20)
– TÁC PHẨM HỒI TƯỞNG CỦA NV TỪ DUNG: Tác giả đưa chúng ta trở về Saigon với những kỷ niệm đẹp, của những ngày tháng mơ mộng dưới mái trường thân yêu, hay dưới những hàng cây xanh của những buổi hẹn hò thời thanh xuân…Vì thời cuộc phải bỏ lại quê hương, để rồi bôn ba nơi xứ người với những thăng trầm trong cuộc sống. Tác giả nói về cuộc đời thật của chính mình, từ một ca sĩ nổi tiếng, đến một nhà giáo, lận đận với nhiều mối tình…nhưng chỉ có một tình yêu trong đời.
Qua tác phẩm Hồi Tưởng, nhà văn Từ Dung muốn nhắn gửi chúng ta một thông điệp, nhất là giới phụ nữ rằng: dù cuộc đời gặp nhiều gian truân thử thách, hãy kiên cường đứng lên và khắc phục những thử thách đó và tiếp tục bước đi.

Để kết thúc chương trình ra mắt sách của các văn thi sĩ năm 2022, nhà văn Việt Hải dốc toàn lực tổ chức ra mắt hai tập thơ của hai thi sĩ gạo cội là Dương Hồng Anh và Lê Trọng Nguyễn Nga sau bao ngày chuẩn bị chu đáo, được diễn ra thật tưng bừng.
RA MẮT SÁCH CỦA HAI NHÀ THƠ: NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH & NHÀ THƠ LÊ NGUYỂN NGA.

Hai quyển tập thơ với những trang giấy mỏng nhẹ nhàng, nhưng nặng hồn thi nhân với những xúc cảm rung động từ con tim mang cống hiến cho người:
– MẦU THỜI GIAN CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH: Tuổi đời thi sĩ đã cao, nhưng tâm hồn vẫn trẻ trung, màu thời gian vẫn còn tươi như những chiếc lá xanh mượt mà của mùa xuân. Tâm hồn thi sĩ bàng bạc tình yêu tha nhân, tình quê hương đất nước, yêu thiên nhiên…tất cả đã quyện trong những vần thơ nhẹ nhàng trầm bỗng. Những vần thơ trong sáng như ánh trăng rầm vằn vặt trong đêm đã được gói gọn trong Màu Thời Gian của nữ sĩ Dương Hồng Anh.
–LẬT TRANG SÁCH CŨ CỦA THI SĨ LÊ NGUYỄN NGA: Tác giả hồi tưởng lại những ngày tháng cũ, những bạn bè xưa của khung trời Saigon thuở nào. Nỗi nhớ khôn nguôi người bạn đời đã về miền miên viễn, đã tạo thành những vần thơ như những tiếng thở than trong đêm trường. Thi sĩ yêu quê hương, yêu những chiến sĩ oai hùng, yêu mùa thu có lá vàng bay, yêu màu tím hoa phượng vĩ…đã dệt nên những vần thơ êm ái qua điệu nhạc du dương lay động hồn người.

Từ trái sang phải: Thi Sĩ Lê Nguyễn Nga & Nữ sĩ Dương Hồng Anh Hôm nay, cũng là dịp mừng sinh nhật thứ 93 của thi sĩ Dương Hồng Anh. Mọi người gửi đến bà những lời chúc đẹp nhất, với những đóa hồng tươi thắm như nụ cười rạng rỡ trên đôi môi bà.
MỪNG SINH NHẬT HAI NHÀ THƠ: DƯƠNG HỒNG ANH & LÊ NGUYỄN NGA

Nhìn nhị vị thi sĩ Dương Hồng Anh và Lê Trọng Nguyễn Nga, tôi rất cảm kích và thương mến gửi đến nhị vị bài thơ như lời chúc tốt đẹp nhất dành cho nhị vị:
TUỔI VÀNG
Dâng đời bao ý thơ huyền dịu
Theo gió thoảng…ru hồn thi nhân
Thời gian sương rơi trên mái tóc
Tuổi vàng tô thắm mấy cung tơ
Ngây ngất hồn thơ vương nắng úa
Chiều về hoa khép nhẹ bờ mi
Lặng nghe dòng đời hồn thổn thức
Mênh mang nét đẹp…tuổi hoàng hôn
Hồn lạc về đâu thi nhân hỡi!
Vần thơ mềm như khúc nhạc êm
Nhạc và thơ như mây với gió
Gió cuốn mây trôi trong nắng vàng
Nắng có phai màu hồn thi sĩ?
Hay…
Nắng vẫn lung linh cùng gió mây?
Kiều My, Mùa thu California, 2022
-
CHIỀU THƠ NHẠC CUNG TRẦM TƯỞNG TRONG BÙI NGÙI THƯƠNG TIẾC

THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG (1932-2022) Nào ai có thể đoán trước được rằng CHIỀU THƠ NHẠC THÍNH PHÒNG CUNG TRẦM TƯỞNG do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) tổ chức ngày 20 tháng 11, 2019 đã là ngày cuối cùng mà anh em trong nhóm hội ngộ cùng thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Dù là đã bao lần nhà văn Việt Hải và nhóm dự định làm một chuyến đi chơi và thăm người thi sĩ tài ba họ CUNG. Tiếc thay NVNT & TTG chưa thực hiện được ước nguyện thì thi sĩ đã ra đi, ra đi trong sự thương tiếc của mọi người và thế giới thi ca đã mất đi một một nhà thơ đáng kính. Xin ghi lại đây những kỷ niệm năm xưa cùng thi sĩ.
NHỚ VỀ CHIỀU THƠ NHẠC CÙNG THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG NĂM NAO
Khánh Lan biên soạn

Từ trái sang phải:
Hàng thứ 1: NS Bích Ty, GS Quyên Di, GS Dương Ngọc Sum, KTS Nguyễn Văn Liêm, TS Cung Trầm Tưởng, NV Việt Hải, CS Minh Tâm, Minh Châu, NS Dương Hồng Anh, CS Thúy Anh, Tố Đoan, Mai Hương.
Hàng thứ 2: CS Nhật Uyên, CS Thụy Lan, NS Quốc Sĩ, phu nhân của NV Việt Hải: Lệ Hoa, NV Khánh Lan và phu quân của CS Thúy AnhNhững hạt mưa đầu mùa nhè nhẹ với tiết trời lạnh lạnh, như nhắc nhở chúng ta “Nàng Thu” đang hiện diện nơi đây và sắp sửa ra đi, để nhường lại cho những ngày đông lạnh giá sắp đến. Và như một sự tình cờ ngẫu nhiên, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi chiều nhạc thơ để chào đón một nhà thơ rất thân quen, mà hầu như tất cả chúng ta đều biết đến từ đầu thập niên 60: Thi sĩ Cung Trầm Tưởng khi ông ghé qua Orange County, California.
Đây cũng là buổi họp mặt lần thứ năm mà Liên Nhóm NVNT & TTG đã chào đón Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, từ miền Minnesota lạnh lẽo về thăm thành phố “Tiểu Saigon”. Buổi nhạc thơ được tổ chức tại Cordoba plaza Club House, thành phố Westminster, California trong bầu không khí ấm cúng và thân mật.
Mặc dù chương trình bắt đầu lúc 4:00 giờ chiều, nhưng mới 3:30, đã có khá đông những thân hữu yêu thơ Cung Trầm Tưởng, xếp hàng chờ sẵn ngoài cửa. Ngoài sự hiện diện của các thi sĩ và văn sĩ, như nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, Nhà thơ Cát Ngọc, Nhà thơ Tha Nhân, Nhà thơ Việt Cường, Nhà thơ Bích Ty, Nhà Văn/Giáo sư Dương Ngọc Sum, Nhà Văn Việt Hải, Nhà Văn/Giáo sư Quyên Di, và Nhà Văn Nguyễn Quang Huy, Nhà Văn Võ ý … còn có sự góp mặt của ký giả Uyên Vũ (báo Người Việt), Ca sĩ Thúy Anh, KTS Nguyễn văn Liêm, NAG Lê Hùng, v.v…
Mở đầu chương trình, Khánh Lan giới thiệu và chia sẻ cảm nghĩ của mình về tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ, 1948-2008”. Tâp thơ này được xuất bản tại Virginia, Hoa Kỳ, năm 2012 và tái xuất bản lần thứ nhất tại California, Hoa Kỳ, năm 2019. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cho biết đây là tập thơ cuối cùng và ông rất hài lòng và hãnh diện khi cho cho tập thơ này ra đời.

NV Việt Hải và Khánh Lan Trong tập thơ, thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi rõ chi tiết của từng giai đoạn, những cảm xúc của mình theo dòng thời gian, qua những thăng trầm của cuộc đời cũng như vận nước nổi trôi trong suốt 60 năm qua. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cũng không quên ghi lại những điểm son trong đời và những cảm xúc của mình qua những chặng đường gian khổ, đau thương, nhớ nhung, uất ức, tuyệt vọng, phẫn nộ và hận thù mà ông đã đi qua.
Ngoài hai bài thơ bất hủ, có thể nói là vượt thời gian và làm nên tên tuổi của ông, là bài “Mùa Thu Paris” và “Chưa Bao Giờ Buồn Thế”, không thể nào không nhắc đến những vần thơ, mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác trong trại tù tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977. Những vần thơ nặng nét đau khổ và tuyệt vọng của người thua cuộc, đã làm thay đổi hoàn toàn những suy nghĩ trong thể thức sáng tác thơ của ông, những vần thơ lãng mạn khi xưa, vội vàng xếp lại để nhường chỗ cho những lời thơ sắc xảo, cay đắng và chai cứng như sau:
Áo tù thẫn máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Môi cầm má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén, canh pha nước bùn.
Nhưng cũng không thể nào sánh được với những vần thơ mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đặt tên cho nó là “Nộ Thơ” khiến người nghe qua phải rùng mình khiếp sợ:
Mai về đạn nhảy ngang nòng súng
Trực trì đầu thù mổ thật nhanh.
Chiều nhạc thơ tiếp tục với những bài hát nổi tiếng của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như “Tiễn Em” và “Mùa Thu Paris”, qua sự trình diễn của ban hợp ca Tiếng Thời Gian. Ca sĩ Thúy Anh với nhạc phẩm “Mình Ơi Ở Lại Đừng Về” và “Paris Có Gì Lạ Không Em”. Ca sĩ Nhật Uyên với bài “Bên Ni Bên Nớ”. Cũng không quên nhắc đến Nhạc sĩ Nguyên Vũ (phu quân của Ca sĩ Thúy Anh), Nhạc sĩ/Guitarist Quốc Sĩ và Nhạc sĩ Keyboardist Tú Phạm đã giúp cho phần âm nhạc trở nên sôi động.
Tiếp theo phần văn nghệ là phần nhận định của nhà văn Việt Hải (anh cũng là con chim đầu đàn của Liên Nhóm NVNT & TTG) về hai bài thơ tiêu biểu thuộc thể loại “Thơ Mới” của thi sĩ Cung Trầm Tưởng: “Núi Và Suối, Một Huyền Sử” và “Phồn Thực Ca”.
Trong bài “Núi Và Suối, Một Huyền Sử”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại khi ông ở trại tù Hầm Tân, tức trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận, nơi có suối nước trong và rặng mây tào, đã cho ông nguồn cảm hứng để sáng tác bài thơ này.
Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ
Tháp chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn.
Bài thứ hai là “Phồn Thực Ca”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại thời trai trẻ, khi ông còn là một phi công, trong một công tác ở miền tây, ông đã gặp và để ý đến một cô giáo dạy học tại đây, có nhan sắc tuyệt vời và hình bóng ấy đã đi vào hồn thơ của người thi sĩ trẻ, tạo nên nguồn thơ cảm hứng và ông đã sáng tác bài thơ ca tụng vẻ đẹp của cô giáo như sau:
Em ướp trầm hương ngân ngát thánh
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên…
Nhà Văn Việt Hải kết thúc bằng nhận xét như sau, anh nói, thơ của Thi sĩ Tagore và Thi sĩ Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm của vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc, tình yêu, đề cao con người và triết lý nhân sinh.

TS Cung Trầm Tưởng và Khánh Lan 
Mừng Sinh Nhật NS Cung Trầm Tưởng Chiều nay, cũng là buổi chiều mừng sinh nhật và chúc thọ Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tròn 90 tuổi. Nhà Văn Việt Hải nhắc đến bài thơ Đêm Sinh Nhật mà thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác khi ông 29 tuổi, tại Đa Kao, Saigon. Bài thơ viết theo thể loại 6-8, nói lên nỗi cô đơn của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Đêm ấy, 50 năm về trước, cũng có mưa rơi như chiều nay, nhưng hôm nay, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng không còn cảm thấy cô đơn, vì quanh ông, đã có rất nhiều người yêu mến ông và yêu mến cả thơ của ông nữa. Bài thơ “Đêm Sinh Nhật” được thi sĩ Bích Ty diễn ngâm để mừng sinh nhật thứ 90 của ông.

Từ trái sang phải: Hàng 1: CS Manh Bổng, MC Thụy Trinh, Minh Châu, CS Thụy Lan.
Hàng 2: Lệ Hoa, TS Cung Trầm Tưởng, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, NS Bích TySau bữa ăn tối, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng say sưa phát biểu về những sáng tác, quan điểm, nguồn cảm hứng, nỗi xúc động của ông qua thơ văn. Ông nói về những kỷ niệm khi ông du học tại Paris, nơi ông đã sáng tác những bài thơ có nhiều phong thái lãng mạn, qua những ảnh hưởng bởi đời sống, văn hóa Âu Tây, nhóm văn học hiện sinh (Existentialisme) và nhóm thơ triết học (Philopoésie)….Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tâm sự, “Thơ là sự chuẩn mực từng từ ngữ thích hợp, cho tỏa sáng ý tưởng mình muốn nói “.
Và sau cùng, Nhà Văn Quyên Di bình luận về chủ đề “Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, Một Gương Mặt Văn Học Của Việt Nam “. Ông nói: “Thi ca Cung Trầm Tưởng có những ý tưởng tôn giáo triết học. Qua lăng kính tín ngưỡng, Phật giáo/Công giáo đều được thể hiện qua ý niệm tình thương và sự sống.
Nhà Văn Quyên Di kết thúc buổi “Chiều thơ nhạc Cung Trầm Tưởng” với một câu chuyện thật hay và dí dỏm “Ai Đã Tạo Dựng Nên Người Đàn Bà?”

Từ trái sang phải: CNS Lâm Dung, CS Ngọc Quỳnh, MC Bích Trâm, Lệ Hoa, MC Thụy Vy, TS Cung Trầm Tưởng,
Thanh Hương, Khánh Lan, Minh Tâm, CS Thụy Lan, Minh Châu và CS Mạnh Bổng.Buổi chiều thơ nhạc đã chấm dứt trong niềm hân hoan và luyến tiếc. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng nói, “Tôi vô cùng xúc động khi có được những giây phút hạnh phúc như thế này, xung quanh những người bạn thân quý và thương mến tôi cũng như thơ của tôi”. Trước khi ra về, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã ký tặng bạn bè hiện diện trong buổi chiều thơ nhạc tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ-1948-2008”.
Ghi dấu lại một ngày vui.
Khánh Lan tường trình từ thành phố Westminster, 2019
Kiếp luân hồi là điều mà tất cả chung ta trên cõi nhân gian đều phải trải qua, NT Cung Trầm Tưởng đã ra đi và để lại niềm thương tiếc cho thế giới thi ca nói chung và Liên nhóm NVNT & TTG nói chung. Kính mong hương hồn của Nhạc Sĩ sớm được siêu thoát, trở về cõi vĩnh hằng.

Thi Sĩ ra đi mùa Thu, mùa Thu không trở lại.
Đếm lá úa mùa Thu, mưa sầu hoen trên mi.Vĩnh biệt nhà thơ Cung Trầm Tưởng.

Đai lễ cầu siêu cho hương hồn thi sĩ Cung Trầm Tưởng 
Vĩnh Biệt TS Cung Trầm Tưởng TS Cung Trầm Tưởng đã đáp chuyến tàu vĩnh hằng lúc 4:27 chiều ngày 09 tháng 10, 2022 vì bệnh viêm phổi và nhịp tim yếu quá.

CHUYẾN TẦU VĨNH HẰNG Khánh Lan, California Oct. 18, 2022
-
THU TRONG THI CA

Có những lúc chúng ta tự hỏi là tại sao đa số các văn thi sĩ lại hay chọn đề tài “THU” để làm tựa hay nội dung cho tác phẩm của mình? Có phải hình ảnh chiếc lá lìa cành đã làm rung động tâm hồn của các bậc thi nhân và các nhà văn sĩ? Hay chính cái phong cảnh ảm đạm của chiều thu điêu tàn đã khuấy động niềm cảm xúc trong tâm tư người cầm bút? Phải chăng?
Thu nhớ ai thu buồn
Thu nhớ ai thu Hờn
Thu sầu mây lâng lâng
Cho dòng chiều bâng khuâng.
Thật vậy, trong thế giới thi ca trên thế giới đã chứng minh được điều này, bởi sự ra đời của những tuyệt tác văn học nghệ thuật nối tiếng như tác phẩm Les Feuilles Mortes của Jacques Prevert; L’Adieu của Guillaume Apollinaire; Sonnet 73 của William Shakespeare; Autumn của John Clare hay To Autumn của John Keats, v.v… đã chuyển hóa những vần thơ, ý nhạc của mình bắt nguồn từ niềm cảm hứng và thiên tài bẩm sinh của từng cá nhân.
Trong lãnh vực kịch nghệ hay văn chương cũng thế, sự hiện diện của những quyển tiểu thuyết, những cuốn phim giá trị đều có cùng một khái niệm như trên. Có lẽ và hầu như nhiều tác giả đã chọn mùa thu làm chủ đề cho tác phẩm của mình, như cuốn tiểu thuyết Jane Eyre by Charlotte Bronte (1847) được đóng thành phim, kể lại một chuyện tình say đắm giữa cô bé mồ côi can đảm Jane Eyre và người đàn ông tài giỏi, độc đoán Rochester. Cô là người đã khám phá ra những bí mật đen tối tại một điền trang sang trọng ở Anh. Phim Dracula by Bram Stoker (1897) là một bộ phim kinh dị Gothic của Mỹ năm 1992 do Francis Ford Coppola đạo diễn và sản xuất.
Tại Hoa Kỳ, sự xuất hiện của nhiều phim nổi bật với khung cảnh mùa thu hữu tình, tình tiết bi thương, hoàn cảnh éo le đã làm rơi lệ biết bao khán thính giả như cuốn phim Autumn In New York với Richard Gere và Winona Ryder hoặc When Harry Met Sally với Billy Crystalia và Meg Ryan hay với Math Damon, Ben Affleck, Robin William, ba nhân vật thủ vai chính trong phim Good Will Hunting, v.v…
Khi nói đến “THU” trong thi ca thì ta có thể nói rằng đó là một đề tài phong phú, một thế giới bao la rộng mở để chúng ta bàn luận, một kho tàng văn hóa để các bình luận gia nghiên cứu và học hỏi… Trong phạm vi bài viết này, người viết xin phép chỉ bàn đến hai nhà thơ danh tiếng của Pháp là Paul Verlaine (1844-1896) và Jacques Prevert (1900-1977), bởi cả hai thi nhân này đều có những tác phẩm liên quan đến MÙA THU mà người viết đã mạo muội sáng tác một bài thơ bán cổ điển với lời tựa NHỚ MÙA THU CŨ vào buổi đầu thu 2022. Trong bài thơ ấy có đề cập đến tên của hai nhà thơ cổ thụ này…
NHỚ MÙA THU CŨ
Thơ Khánh Lan
Thu đến đây rồi những lá rơi
Công viên Lục Xâm màu hoang vắng
Dĩ vãng goi hồn mùa thu trước
Dương cầm vang vọng tiếng thu ca
Nhạc Chopin, giọt mưa lả chả
Mưa sa lành lạnh không gian buồn
Mang gió heo may như đông giá
Một khối u hoài thương nhớ ai.
Phím đàn lướt nhẹ khúc Chopin
Mùa thu năm ấy vương tình nở
Trao nụ tình lâng lâng nỗi nhớ
Sông Seine lặng gió thu xào xạc
Nắng xuyên cành vàng lá Lục Xâm
Verlaine tượng đá lặng lẽ nhìn
Choàng Paris vào cho em ấm
Áo em vàng Prévert lá rơi
Mùa thu vàng rêu phong hoài niệm
Nhớ thu vàng, chạnh nhớ thu xưa
Bài thơ này đã được nhạc sĩ Minh Trí và nhạc sĩ Phạm Thái phổ nhạc với tựa: NHỚ THU XƯA qua hai giai điệu khác nhau: Valse vui tươi trong sáng và Boston với nỗi sầu nam mát, lâng lâng.
NHỚ THU XƯA
Thơ Khánh Lan
Nhạc Minh Trí
Thu đến rồi đây chiếc lá nâu
Công viên Lục xâm vắng hoang mầu
Dĩ vãng gọi hồn mùa thu trước
Dương cầm vang vọng tiếng thu sầu
Nhạc Cho-pin giọt mưa lã chả rơi
Mưa se lạnh sầu vương tím chân trời
Nặng một khối u hoài ai thương nhớ
Trên phím đàn lướt nhẹ khúc chơi vơi
Mùa thu năm ấy duyên tình bén vội
Nụ hôn trao giữa lá vàng rơi
Dòng sông Seine cuốn đi nguyện ước thầm
Nắng xuyên cành lá xạc xào vườn Lục Xâm
Ver-laine tượng đá lặng ngắm ai
Paris choàng nắng ấm vai gầy
Pré-vert lá rụng vàng trên áo
Nhớ mùa thu nào nhớ xôn xao.
Kerchtt.ru phân tích: Văn chương Âu Châu trong những năm 1870-1910 có khuynh hướng tập trung vào nghệ thuật thuộc trường phái “Symboliste” (Biểu Tượng/Tượng Trưng) với bản chất lý tưởng siêu phàm và vẻ đẹp song toàn của nó. Phải chăng, những thực thể lý tưởng, trực giác thơ mộng, tính cách thẩm mỹ và vẻ đẹp vĩnh cửu này chỉ có nghệ thuật của chủ nghĩa Biểu Tượng mới có thể thực hiện được và chúng ta đã nhận thấy rằng nó đã phát triển trong các tác phẩm của Charles Baudelaire, Arthur Rimbaud, Paul Verlaine, Stéphane Mallarmé. Thuật ngữ Biểu Tượng/Tượng Trưng được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1886 bởi nhà thơ J. Moreas.
Sự suất hiện của nghệ thuật chủ nghĩa Biểu Tượng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là do các nhà thơ theo chủ nghĩa này khao khát sự tự do tinh thần, họ thấm nhuần tư tưởng cũng như tin tưởng vào “trí tưởng tượng sáng tạo” của mình, họ mong muốn lĩnh hội được những giá trị nghệ thuật cao siêu hơn trong lãnh vực sáng tác. Bởi chính sự háo hức đi tìm chân lý của chủ nghĩa thẩm mỹ thuần túy khiến nó đã đẩy nhiều nghệ sĩ vào con đường chạy trốn thực tế và biến chủ nghĩa Biểu Tượng thành chủ nghĩa “lãng mạn” và lý thuyết “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Các nhà đại diện thuộc trường phái Biểu Tượng gồm P. Verlaine, P. Valery, A. Rimbaud, M. Metterliik, A. Blok, A. Bely, F. Sologub, P. Gauguin, M.K. Chyurlionis, M. Brubel, Vyach, Ivanox, v.v… Trước hết, người viết xin giới thiệu thi hào Paul Verlaine.
PAUL VERLAINE là một thi sĩ nổi tiếng của Pháp thuộc trường phái “Symboliste” (Biểu tượng/tượng trưng) và tiêu biểu cho lối sống “Decadent” (sa đọa) của Âu Châu vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Verlaine cũng như những người theo chủ nghĩa Biểu Tượng, thường cho mình là kết quả của sự đồi trụy và sự suy tàn của nền văn hóa tư bản.

Paul Velaine (Photo Credit: Wikimedia Commons) Dựa theo bài viết của Nguyễn Minh Luận Paul Verlaine là người sáng lập ra trường phái thơ Biểu Tượng/Tượng Trưng, ông là một trong những nhà thơ lớn nhất và nổi tiếng nhất của nước Pháp trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX và đã có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của nền thi ca hiện đại Pháp, cũng như tới một số tác giả trong phong trào Thơ Mới ở Việt Nam trong giai đoạn 1932-1945. Thơ của Verlaine giàu nhạc tính, ông nổi tiếng là người kỹ tính và không bao giờ viết một dòng thơ dở dang như nhà văn Graham Robb đã nhận định. Tập thơ “Khúc lãng mạn không lời” của Verlaine được coi như tuyên ngôn của trường phái Biểu Tượng/Tượng trưng và được bầu chọn là “Ông hoàng của các nhà thơ” ở Pháp năm 1894.
Đầu năm 1871, Verlaine từ bỏ gia đình và bị lôi cuốn vào một cuộc tình đồng tính đầy sóng gió với Arthur Rimbaud (1854-1891), một thần đồng thơ Pháp, khi ấy mới 17 tuổi. Khởi đầu của sự quan này khi Rimbaud gửi một số bản thảo thơ của anh cho Verlaine và nhờ Verlaine thẩm định ý thơ của anh, trong đó có tập thơ trứ danh “Con tàu say“. Verlaine đã khâm phụ và sửng sốt trước những khám phá mới mẻ, bất ngờ trong thơ của Rimbaud, ông đã viết thư mời Rimbaud tới nhà chơi, khởi đầu cho một cuộc tình nóng bỏng từng bị thiên hạ đàm tiếu, chê bai và khinh miệt. Mùa hè 1873, đánh dấu sự xuống dốc trong cuộc đời của Verlaine khi ông gặp lại Rimbaud tại Brussels. Sự đoàn tụ của họ không kéo dài được bao lâu, ngày 10 tháng 07, 1973, trong một cuộc cãi vã, Verlaine đã lấy súng bắn Rimbaud bị thương ở cổ tay trái và bị kết án 2 năm tù. Trong thời gian sống trong nhà giam, Verlaine đã sáng tác tập “Khúc lãng mạn không lời” tặng cho Rimbaud. Đây cũng là thời gian mà Verlaine đã sáng tác những bài thơ hay và trở thành nổi tiếng.
Những năm cuối đời, Verlaine luôn sống trong tình cảnh đau ốm, phải thường xuyên nhập viện. Mọi người đều phải công nhận rằng cuộc đời của Verlaine là một chuỗi ngày say-say, tỉnh-tỉnh kèm với những ăn năn, hối hận về những năm tháng sống buông thả. Nhưng, như một con ngựa hoang đã quen đường cũ, Verlaine thường xuyên có mặt tại các tửu quán, ông làm bạn với các cây bút trẻ, giao thiệp với những gã ma cô và những ả gái điếm rẻ tiền cho đến ngày 08 tháng 01, 1896, Verlaine trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 52 trong cảnh nghèo khó, nghiện ngập và rượu chè sau khi viết xong bài giới thiệu cho Tuyển tập tác phẩm của Arthurr Rimbaud. Thi hài của Verlaine được an táng tại nghĩa trang Cimetiere de Batignolles, trước sự đưa đám của hơn ba ngàn người. Điều ấy nói lên rằng, sự nghiệp thi ca của Verlaine đã thực sự chinh phục được trái tim của đông đảo người đọc.
Một trong những bài thơ nổi tiếng của Verlaine là bài Chanson D’Automne (Bài Ca Của Mùa Thu). Đây là một bài thơ đã đưa tên tuổi của ông vào lịch sử của Pháp nói riêng và thế giới nói chung, bởi bài thơ Chanson D’Automne đã được đài phát thanh Luân Đôn phát thanh 6 câu thơ đầu của ông vào ngày 05 tháng 06, 1944, lúc 23 giờ 15 phút, báo hiệu cho quân đội kháng chiến Pháp biết rằng sắp có cuộc đổ bộ của quân đội Đồng Minh trên bãi biển Normandie (Pháp) trong vài giờ với tín hiệu “Sonne l’heure” (Giờ lên tiếng điểm).
Les sanglots longs
Des violons de l’automne
Blessent mon coeur
D’une longueur monotone
Tout suffocant et blême quand sonne l’heureJe me souviens des jours anciens
Et je pleureJe me souviens des jours anciens
Et je pleureJe me souviens des jours anciens
Et je pleure
Et je m’en vais au vent mauvais
Qui m’emporte deçà, delà
Et je m’en vais au vent mauvais
Pareil à la feuille morteBài thơ này được rất nhiều dịch giả dịch sang tiếng Việt Nam như Hồ Văn Hiền, Nguyễn Vạn An, Tường Vân, v.v… Tuy nhiên, trong bài viết này, người viết chỉ nêu lên hai bài thơ được dịch bởi hai dịch giả, Nguyễn Vạn An và Tường Vân. Trước nhất là bài dịch của Nguyễn Vạn An dưới tựa đề:
Bài Ca Của Mùa Thu
Nức nở dài
Tiếng những vĩ cầm của mùa thu
Làm đau tim tôi, gây một nỗi buồn
Đơn điệu tẻ nhạt, ngắc nghẹn lời
Lòng tái tê, khi nghe giờ điểm tiếng
Tôi nhớ lại những ngày xa xưa
Rồi tôi khóc và tôi ra đi
Theo cơn gió chướng
Gió mang tôi qua bên này, bên kia
Như mang chiếc lá đã lìa đời.
Sau là bài thơ này mang tên Thu Từ do thi sĩ Tường Vân dịch và đăng trong cuốn “Thơ Pháp vần Nam”-Giải thưởng Văn học Alexandre de Rhodes, 1944.
Tiếng nhị dài, nức nở hoài
Đêm thu vắng, bận lòng ai
Mối sầu dằng dặc, mãi không thôi
Một giờ qua, lại làm ta,
Tức hơi thở, tái màu da
Chạnh niềm tưởng nhớ, lệ châu sa…
Tấm thân này nhẹ nhàng bay
Theo ngọn gió, khắp đó đây
Khác gì chiếc lá, đã lìa cây.
Ngày nay, thi phẩm “Bài Ca Của Mùa Thu” đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và nhiều ca sĩ như Serge Gainsbourg, Boby Lopointe, Alain Barriére, Charles Trénet trình diễn. Tại Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã phổ nhạc bài thơ Chanson D’Automne của Paul Verlaine qua nhạc khúc:
Thu Ca Điệu Ru Đơn
Mùa thu nức nở tiếng thở dài
Tiếng vĩ cầm buồn ơi mùa thu ơi
Lòng ta khốn khổ với mỏi mòn
Tiếng thu buồn buồn ru điệu ru đơnNghẹn ngào tê tái nghẹn ngào tê tái
Khi giờ đã điểm vì ta ngồi ta nhớ
Những ngày nào xưa những ngày nào xưa
Và ta khóc lóc và ta khóc lócNăm 1962, cuốn phim “The Longest Day” (Ngày dài nhất) do John Wayne, Richard Burton và Robert Ryan thủ vai chính đã đoạt hai giải Oscar, kỷ niệm 70 năm cuộc đổ bộ của bộ của quân đội Đồng Minh trên bãi biển Normandie. Cũng cùng một mục đích ấy, ngày 30 tháng 04, 1975, đài phát thanh quân đội Mỹ đã phát thanh bài “White Christmas” như một tín hiệu cho sự di tản của những công dân Mỹ và các cộng tác viên của họ trước ngày 30 tháng 04, 1975 khi miền nam Việt Nam sụp đổ.
JACQUES PRÉVERT sinh ngày 04 tháng 02, 1900 tại Neuilly-sur-Seine (Seine) Pháp và mất ngày 11 tháng 04, 1977 tại Omonville-la-Petite (Manche). Prévert là tác giả của nhiều tuyển tập thơ và là nhà thơ được nhiều người yêu mến bởi ngôn ngữ bình dị và phong cách dùng chữ khéo léo, tinh tế của ông. Những bài thơ Pháp ngữ nổi tiếng trên thế giới của Prévert được dùng trong việc giảng dạy tại các trường học ở Pháp. Ngoài ra, ông còn hoạt động tích cực trong lãnh vực sân khấu và điện ảnh. Trong bất cứ lãnh vực nào ông cũng biểu thị một tài năng chói sáng.

Jacques Prévert (Photo Credit: Internet) Thơ Prévert được in thành tập lần đầu tiên vào năm 1944, đây là một ấn bản in ronéo 200 bản do một số học sinh trung học ở Reims thực hiện. Sau đó, cùng với một số bài thơ khác, những bài trong ấn bản nói trên được René Bertelé thu thập và in thành tập vào năm 1945 và trở thành ấn bản của cuốn Paroles vào năm 1947. Đến nay, nhà xuất bản «le Point du Jour» của René Bertelé đã được nhà Gallimard mua lại, và Paroles đã được in trên 3 triệu cuốn, chưa kể vô số những bản dịch ở khắp nơi trên thế giới.
Thơ Prévert là thơ của trẻ thơ, của thiên nhiên, của chim chóc và cỏ hoa. Lời thơ giản dị, dễ hiểu nhưng sâu sắc và chan chứa tình cảm. Với lòng yêu thương đồng loại, ông đã lên án chiến tranh; chống thỏa hiệp và chống bất công, bóc lột, áp bức… Kể từ cuộc thế chiến thứ II tới nay, người thưởng ngoạn thơ Prévert tỏ ra rất hài lòng và tiếp nhận dòng thơ của ông một cách nhiệt tình bất kể dù là họ đang sống trong hoàn cảnh nào. Bời những cuộc đấu tranh cho quyền tự do của con người cũng như cho tình yêu, niềm vui sống, thơ của Prévert đã trở thành dòng thơ gần gũi với đại chúng, của đại chúng và được nhiều người yêu thích.
Nhận định về thơ Prévert, nhà thơ Mỹ Laurence Ferlinghetti có viết: «Nhiều bài thơ trong tập Paroles phát xuất từ Thế chiến II và cuộc chiếm đóng (của Đức quốc xã) ở Pháp. Prévert đặc biệt nói với những người Pháp trẻ tuổi ngay sau Chiến tranh, nhất là với những người lớn lên trong thời chiếm đóng và cảm thấy hoàn toàn xa lạ với Giáo hội và Nhà nước». Ferlingetticho rằng, khiPrévert nghĩ về chiến tranh Việt Nam, (Chiến tranh Đông dương I & II), Prévert đã đứng về phía nhân dân Việt Nam chống lại những âm mưu và hành động của thực dân và đế quốc. Có một số bài thơ của Jacques Prévert đã tỏ rõ tấm lòng và sự ngưỡng mộ của ông đối với người dân Việt Nam…
Theo bài biên soạn của Diễm Châu, dân Việt Nam cũng rất yêu thơ Prévert, điển hình là bài thơ “Barbara” của ông đã có ít nhất là bốn bản dịch sangViệt ngữ. Trong gần 200 bài thơ của Prévert, nhiều bài thơ được giới thiệu với bạn đọc Việt Nam qua các bản dịch của Nguyễn Đăng Thường và Diễm Châu (1993), Cao Nghi Bình và Diễm Châu (1998).
Đáng kể nhất là bài Les Feuilles Mortes đã được một số đông khán thính giả yêu thơ hưởng ứng nồng nhiệt. Les Feuilles Mortes bản gốc bằng tiếng Pháp là một lời than thở về một tình yêu đã mất trong sự hối tiếc.
Oh, je voudais tant que tu te souviennes
Des jours heureux où nous étions amis
En ce temps-là la vie était plus belle
Et le soleil plus brûlant qu’aujourd’huiLes feuilles mortes se ramassent à la pelle
Tu vois, je n’ai pas oublié
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle
Les souvenirs et les regrets aussiCũng bài thơ này, tại Hoa Kỳ đã được hòa âm bởi Joseph Kosma và Featuring với cùng một chủ đề nhưng theo một phong cách nhẹ nhàng hơn, bâng khuâng hơn. Bài hát Autumn Leaves ra đời vào năm 1945 và do ca sĩ Yves Montand trình diễn năm 1946 tại Poetic Realism Film-Les Portes de la Nuit.
The falling leaves
Drift by my window
The autumn leaves
Of red and gold
I see your lips
The summer kisses
The sunburned hands
I used to hold…….Vẫn bàn về chủ đề THU thì trong thi ca Việt Nam cũng đã có những dòng thơ bất hủ viết về mùa Thu. Một số thi nhân tiêu biểu như Tản Đà (Gió Thu), Lưu Trọng Lưu (Tiếng Thu) Tế Hanh (Mùa Thu Tiễn Em), Bà Huyện Thanh Quan (Tức Cảnh Chiều Thu), Xuân Diệu (Đây Mùa Thu Tới), Hàn Mặc Tử (Cuối Thu) v.v… và trong làng âm nhạc, những nhạc phẩm nổi tiếng như Chiếc Lá cuối cùng của Tuấn Khanh; Thu Ca của Phạm Mạnh Cương; Mùa Thu Paris, thơ Cung Trầm Tưởng, nhạc Phạm Duy và đáng kể nhất là tuyệt tác Mùa Thu Chết, nguyên tác L’Adieu của nhà thơ Guillaume Apollinaire. Vậy trước khi nói chúng ta bàn về bài thơ L’Adieu và nhạc phẩm Mùa Thu Chết, người viết xin phép được điểm qua tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ này.
GUILLAUME APOLLINAIRE tên thật là Wilhelm Albert Włodzimierz Apolinary Kostrowicki sinh ra ở Rome, Ý ngày 26 tháng 08 năm 1880 và mất ngày 09 tháng 11 năm 1918 ở tuổi 38. Ông di cư đến Pháp ở tuổi thiếu niên, lấy tên là Guillaume Apollinaire và là người thông thạo tiếng Pháp, Ý và Ba Lan. Apollinaire là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà viết truyện ngắn và tiểu thuyết cũng như nhà phê bình nghệ thuật người Pháp gốc Ba Lan-Belarus. Năm 1899, ông chuyển về sống ở Paris, bắt đầu viết báo, làm thơ và trở thành nhà thơ nổi tiếng với bút danh Guillaume Apollinaire.
Thơ cùa Apollinaire là những bài thơ không dấu chấm câu, hiện đại về cả hình thức lẫn chủ đề. Ông đã viết một trong những tác phẩm văn học Siêu thực sớm nhất, vở kịch The Breasts of Tiresias (1917) đã trở thành nền tảng căn bản cho vở opera Les mamelles de Tirésias (1947) của Francis Poulenc. Do sự ảnh hưởng của thể loại thơ tượng trưng của trường phái Biểu Tượng, Apollinaire đã được các nhà thơ trẻ sau này ngưỡng mộ trong suốt cuộc đời và được coi như là hạt nhân của nhóm Siêu thực (Breton, Aragon, Soupault).
Chính bởi bản tính độc đáo, Apollinaire trở thành một trong những người đi trước cuộc cách mạng văn học đầu thế kỷ XX,. Nghệ thuật sáng tác của ông dựa trên một nguyên tắc đơn giản là: Hành động sáng tạo phải xuất phát từ trí tưởng tượng, từ trực giác và gần gũi với cuộc sống, với thiên nhiên, môi trường và con người. Những năm hoạt động như một nhà báo và nhà phê bình nghệ thuật, Apollinaire cộng tác với các báo Le Matin, L’Intransigeant, L’Esprit nouveau, Mercure de France, và Paris Journal. Năm 1912 Apollinaire cùng một số đồng nghiệp sáng lập tờ Les Soirées de Paris, một tạp chí nghệ thuật và văn học.

Guillaune Apollinaire (Photo Credit: The ARTlicker) Tháng 9 năm 1911 Apollinaire bị bắt vào tù vì bị nghi ngờ tham gia đánh cắp bức họa Mona Lisa nổi tiếng ở bảo tàng Louvre, một năm sau ông được trả tự do vì chính quyền không tìm ra được bằng chứng. Trong thế giới của người cầm bút, Apollinaire được coi là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của đầu thế kỷ XX, đồng thời là một trong những người bảo vệ nhiệt thành nhất của Chủ nghĩa Lập thể vào năm 1911 để mô tả phong trào nghệ thuật và sử dụng thuật ngữ Orphism năm 1912.
Năm 1912, Apollinaire cùng bạn bè thành lập tạp chí Chiều Paris và làm chủ bút từ năm 1913. Cũng trong năm này, ông cho ra đời thi phẩm nổi tiếng nhất của mình: Le Pont Mirabeau (Cầu Mirabeau) và trường ca Zone. Hai tác phẩm này đã đưa Guillaume Apollinaire lên vị trí số một trong các nhà thơ đương thời. Năm 1913 ông in tập thơ Alcools (Rượu) và năm 1914 ông cho in một số bài thơ viết theo kiểu tạo hình (calligrammes). Apollinaire còn được coi là cha đẻ của Chủ nghĩa Siêu thực vào năm 1917 để mô tả các tác phẩm của Erik Satie.
Khi Thế chiến thứ I bùng nổ, Guillaume Apollinaire tình nguyện ra trận với mong muốn được giải phóng Ba Lan nhưng bị thương nặng. Đặc biệt là trong thời gian trị bệnh, ông đã viết nhiều bài thơ về chiến tranh. Tháng 3 năm 1916 Apollinaire được nhập quốc tịch Pháp và trở lại Paris tiếp tục sáng tác. Hai năm sau khi bị thương trong Thế chiến thứ I, Apollinaire chết trong trận đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 và được công nhận là “Mort pour la France” (Nước Pháp gục ngã) vì những cam kết của ông trong chiến tranh.
Nguyên tác “L’Adieu” như sau.
“ J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends”
Qua sự đồng cảm tài tình với ý thơ trong bài L’Adieu nhà thơ Bùi Giáng đã chuyển ngữ bài thơ năm câu của Apollinaire thành những vần thơ tình tứ làm mê đắm lòng người trở thành bài thơ với tựa đề “Lời vĩnh biệt”.
“ Ta ngắt đi một cành hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ chẳng tương phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian, mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé, ta vẫn chờ em đó…”
Tác giả Đinh Kỳ Thanh đã nhận định rằng: Mặc dù đã trải qua bao thập kỷ và nhiều thế hệ, nhưng khán giả yêu nhạc Việt Nam vẫn say mê giai điệu mượt mà, thanh khiết và quyến rũ của Phạm Duy trong nhạc phẩm “Mùa Thu Chết”. Bùi Giáng đã gợi mở tâm hồn của người nhạc sĩ lãng mạn, đa tình họ Phạm ngân lên giai điệu tuyệt vời, da diết, khắc khoải trong nhạc phẩm “Mùa Thu chết”.
“ Ta ngắt đi một chùm hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi…
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho mùa Thu đã chết…
Đã chết thật rồi…Em nhớ cho
Hai chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa
Trên cõi đời này…
… Từ nay mãi mãi không thấy nhau…
… Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ cho rằng ta mãi chờ em
Mãi chờ em. Mãi chờ em
Mãi chờ, Mãi đợi...Đợi chờ em…”
Kết luận: Trong lãnh vực thi ca thì cả hai nhà thơ danh tiếng của Pháp là Paul Verlaine (1844-1896) Jacques Prévert (1900-1977) đã sáng tác những thi phẩm có giá trị trong đó có hai tác phẩm đã trở thành tác phẩm văn học kinh điển của xã hội Pháp nói riêng và trên thế giới nói chung. Đó là hai bài thơ bất hủ: LesFeuilles Mortes của Prévert và Chanson D’Automne của Paul Verlaine.
Bất hủ bởi bài thơ Les Feuilles Mortes của Prévert là tác phẩm thi ca đích thực, phản chiếu một thế giới tràn đầy tình người, chan chứa sự quảng đại, trong sáng và thủy chung. Chẳng những thế, với thể chất yêu thương đồng loại rộng mở, Prévert lên án chiến tranh; chống thỏa hiệp, bất công, bóc lột và áp bức, Prévert đã đứng về phía nhân dân Việt Nam chống lại những âm mưu và hành động của thực dân và đế quốc. Đặc biệt, một số bài thơ của Jacques Prévert đã tỏ rõ tấm lòng và sự ngưỡng mộ của ông đối với người dân Việt Nam. Điều này có phải vì tác giả cũng là một người lính, ông đã từng sống trong hoàn cảnh khốc liệt giữa cơn mưa súng đạn, đứng trước cái chết đang chực chờ bên cạnh và chứng kiến những buổi chia ly đầy nước mắt.
Thơ Prévert được người dân Việt Nam yêu mến và nồng nhiệt đón nhận, nhất là bài thơ “Barbara” của ông. Bài thơ Barbara lẫy lừng của Prévert đã làm người đọc rơi lệ thương cảm cho một mối tình mới chớm nở đã bị chiến tranh cướp mất. Là chứng nhân của mối tình ấy, Prévert đã ghi lại giây phút trùng phùng lúc cặp tình nhân gặp nhau dưới làn mưa hạnh phúc, khi người tình Barbara ngã trong vòng tay của người yêu, đầm đìa nước mắt tại thành phố cảng Brest của Pháp, một căn cứ tàu ngầm chính của Đức trong Thế chiến thứ II (bị phá hủy hoàn toàn bằng bom đạn vào cuối cuộc chiến).
Oh Barbara
Quelle connerie la guerre
Qu’es-tu devenue maintenant
Sous cette pluie de fer
De feu d’acier de sang
Et celui qui te serrait dans ses bras
Amoureusement
Est-il mort disparu ou bien encore vivant
Oh BarbaraBài thơ Barbara đã được Nguyễn Bình Nguyên dịch như sau:
Ôi Barbara
Chiến tranh thối tha biết mấy
Em ra sao giờ này
Dưới cơn mưa sắt chảy
Dưới cơn mưa máu trào lửa cháy
Còn người đàn ông đã ôm em trong vòng tay Âu yếm
Chàng đã chết, biệt tăm hay còn sống trên cõi đời nàyNgược lại, thơ của Paul Verlaine mang một sắc thái buông thả như cuộc đời của ông, nhưng ông lại là một trong những nhà thơ lớn nhất và nổi tiếng nhất của nước Pháp ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Là người sáng lập trường phái thơ Tượng trưng, Verlaine đã tạo một ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của thi ca hiện đại Pháp cũng như phong trào Thơ Mới ở Việt Nam trong giai đoạn 1932-1945. Năm 1894, Pháp đã bầu Verlaine là “Ông hoàng của các nhà thơ“.
Apollinaire đã được coi là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của đầu thế kỷ XX, là một trong những người bảo vệ nhiệt thành nhất của Chủ nghĩa Lập thể (1911) và là cha đẻ của Chủ nghĩa Siêu thực. Verlaine nổi tiếng bởi bài thơ Chanson D’Automne đã đưa tên tuổi của ông vào lịch sử của Pháp và thế giới vì bài thơ này đã được phát thanh trên đài phát thanh Luân Đôn ngày 05 tháng 06, 1944 báo hiệu về cuộc đổ bộ của của quân đội Đồng Minh trên bãi biển Normandie..
Guillaume Apollinaire được nhắc đến trong bài viết này bởi sự ra đời của bài thơ tuyệt diệu L’Adieu của ông và nhạc phẩm Mùa Thu Chết của Phạm Duy. Apollinaire được coi là một trong những người đi trước của cuộc cách mạng văn học trong nửa đầu thế kỷ XX. Nghệ thuật sáng tác của ông dựa trên một nguyên tắc đơn giản là: Hành động sáng tạo xuất phát từ trí tưởng tượng, từ trực giác và gần gũi với cuộc sống, với thiên nhiên, môi trường và con người. Thơ cùa Apollinaire là những bài thơ không dấu chấm câu, hiện đại về cả hình thức lẫn chủ đề do sự ảnh hưởng của thể loại thơ tượng trưng của trường phái Biểu Tượng, Apollinaire đã được các nhà thơ trẻ sau này ngưỡng mộ và được coi như là hạt nhân của nhóm Siêu thực (Breton, Aragon, Soupault).
Khi Thế chiến thứ I bùng nổ, Guillaume Apollinaire tình nguyện ra trận với mong muốn được giải phóng Ba Lan nhưng ông bị thương nặng và được công nhận là “Mort pour la France” vì những cam kết của ông trong chiến tranh. Apollinaire được người dân Việt Nam biết đến qua bài thơ “L’Adieu”, Bùi Giáng dịch và Phạm Duy phổ nhạc.
Nói tóm lại, qua tiểu sử và sự nghiệp thi ca của ba thi nhân trên, thì có phải sự thành công là kết quả của sự hoàn hảo, làm việc chăm chỉ, lòng trung thành và bền tâm? Hay thành công là khả năng đi từ thất bại này sang thất bại khác mà không làm mất đi nhiệt huyết? Phải chăng sự thành công là những con đường đầy chông gai nhưng sẽ dẫn tới những quang cảnh ngoạn mục? Người viết tin rằng chúng ta có thể thành công nếu chúng ta cố gắng tìm kiếm nó.
“Thêm một chút bền bỉ, một chút nỗ lực,
thì điều mà ta tưởng chừng như là thất bại, vô vọng
lại có thể biến thành sự thành công rực rỡ”
(Elbert Hubbard)
Khánh Lan, California October 2022
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
DU LỊCH MÙA HÈ 2022
Khánh Lan tường trình từ California Oct. 12, 2022
https://photos.app.goo.gl/xrUevFs81DWQhNaVA
Ngày 02 tháng 09, 2022, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật đã lên vùng thung lũng hoa vàng San Jose để tham dự chương trình KỶ NIỆM 25 NĂM THÀNH LẬP “TỪ CÁNH ĐỒNG MÂY” và tiện thể anh em chúng tôi ghé thăm Thung lũng Napa nằm ở phía bắc của San Francisco.

NAPA VALLEY MARKET Thị trấn Napa: Nằm ở phía nam thị trấn Napa là Calistoga và phía bắc là Thung lũng Napa. Vùng thung lũng này đã trở thành khu vực sản xuất rượu vang sau một cảnh “nếm rượu vang” (Judgment tại Paris) năm 1976, được miêu tả trong phim Shock Shock. Thực ra, trước đó người dân California đã nghiên cứu và biết Thung lũng Napa là vùng đất thích hợp và tốt để trồng nho. Do đó, Thung lũng Napa đã được hình thành năm 1874 và chỉ cách trung tâm của thị trấn San Francisco khoảng 76 km. Dân số của Napa vào khoảng thời gian ấy có trên dưới độ 79.000 người.

Thung lũng Napa với những vườn trong nho Thung lũng Napa nằm trên một khu đất bằng phẳng dài khoảng 30 dặm, đây là vùng đất màu mỡ, là thế giới của những vườn nho xanh tốt, của nơi hội tụ những giống nho ngon ngọt và của những chai rượu vang nổi tiếng bậc nhất trên thế giới. Khí hậu ở thung lũng Napa thuận hòa nên rất thích hợp với những giống nho xanh mướt; dù rằng Thung lũng Napa có diện tích trồng nho nhỏ so với khu Bordeaux của nước Pháp nhưng lại cho ra những chai rượu vang tuyệt với. Vậy cái gì khiến cho Napa Valley nổi tiếng về rượu vang?
Vào năm 1976 trong một cuộc thi rượu vang trên thế giới, chai rượu vang mang tên Napa Valley của nước Mỹ đã dành chiến thắng trước các cường quốc rượu vang (lúc bấy giờ Pháp dành quyền bá chủ về rượu vang). Sự chiến thắng trong cuộc thi này đã đưa rượu vang sản xuất tại Napa Valley lên hàng đầu danh sách và làm chao đảo giới điệu mộ say mê rượu vang khắp nơi trên thế giới.

NVNT & TTG THAM DỰ NGÀY KỶ NIỆM 25 NĂM THÀNH LẬP
“TỪ CÁNH ĐỒNG MÂY” TAI SAN JOSESau 5 ngày thăm các bạn bè ở vùng Thung Lũng Hoa Vàng San Jose, anh em chúng tôi thừa thắng xông lên, cùng nhau “Booked 7 ngày cruise Mexico Rivera” và ghé thăm 3 cảng: Cabo San Lucas, Mazatlan và Puerto Vallarta.

TRÊN BOONG TÀU (DECK 14) NGÀY DẦU TẠI CẢNG SAN PEDRO, LONG BEACH
Ba ngày họp mặt trên du thuyền, ngoài công việc rủ nhau đi ăn, đi uống rượu, đi coi shows, nhảy đầm, nghe nhạc thì anh em chúng tôi còn một việc vô cùng quan trọng: Đó là quần là áo lượt “diện cho thiệt đep” để đi dạo phố và chụp hình lưu niệm…

DRESING-UP FOR FUN 
Sau 3 ngày lênh đênh trên biển, Du thuyền Royal Caribbean, Navigator Of The Seas đã dừng lại ở cảng đầu tiên Cabo San Lucas. Đây là một thành phố nghỉ mát ở cực nam của Bán đảo Baja California, thuộc bang Baja California, Mexico. Cabo San Lucas cùng với San José del Cabo được gọi chung là Los Cabos, một khu vực đô thị được đánh giá là một trong năm điểm du lịch hàng đầu của Mexico.

Tại Cabo San Lucus, chúng tôi xuống tàu nhỏ để vào phố. 
Cabo San Lucas (Photo Credit: Internet) Cabo San Lucas được biết đến với các bãi biển cát trắng tuyệt đẹp, nổi tiếng với địa điểm biển lặn, Balnearios và vòm biển El Arco de Cabo San Lucas với sinh vật biển hiếm quý. Làn nước trong xanh của biển Cortez và vùng biển xung quanh Cabo là nơi sinh sống của các loài động vật hoang dã gồm cá đuối, cá mập, mahi-mahi (dorado) và cá sọc dưa.
Qua 2 ngày tiếp theo, Du thuyền Royal Caribbean, Navigator Of The Seas dừng lại ở cảng Mazatlan và Puerto Vallarta. Tại đây, anh em chúng tôi đã mướn 2 chiếc xe VAN 15 chỗ để đi thăm thành phố. Hai bác tài xế vừa là người cầm lái xe vừa thấu hiểu di tích lịch sử, nên rất thông thạo đường lối và hoạt bát chẳng khác gì nhân viên hướng dẫn du lịch chuyên nghiệp. Hai Bác tài đã đưa chúng tôi đến những thắng cảnh đẹp tuyệt vời và nổi tiếng của thành phố Mazatlan và Puerto Vallarta.

Mazatlan (Photo Credit: Internet) Mazatlan được mệnh danh là viên ngọc trai của Thái Bình Dương, một khu vực mà xưa kia là thổ địa của những người khai hoang, là nơi xảy ra những trận chiến của kẻ lừa đảo và những kẻ săn tìm vàng. Mazatlan bao quanh bởi những ngọn núi và được bao phủ bởi vùng nước xanh mát của Thái Bình Dương. Những bãi biển cát trắng tuyệt đẹp và nhiều nơi bạn có thể nằm thư dãn, ngắm biển, tắm nắng. Những quán cà phê, quán bar mọc rải rác cạnh biển cống hiến du khách những thức ăn tươi miền biển và những ly rượu ngon.

Puerto Vallarta (Photo Credit: Internet) 
Tại đây, ngoài việc đi thăm phố, thăm núi và thăm thị trấn Mazatlan, anh chúng tôi đã đi thăm nơi làm rượu tại Tequilera El Ojo De Vidrio và thám hiểm nếm rượu tequila.

Công ty sản xuất rượu Tequilera El Ojo De Vidrio Qua đến ngày thứ 3, Du thuyền Royal Caribbean dừng lại cảng Puerto Vallarta. Cảng này nằm trên Bahia de Banderas của Thái Bình Dương, bang Jalisco của Mexico. Puerto Vallarta được bao bọc bởi dãy núi Sierra Madre, phía đông và phía trước là Vịnh Banderas, phía bắc giáp với phần tây nam của bang Nayarit, phía đông giáp với đô thị Mascota và San Sebastián del Oeste, phía nam giáp với các thành phố tự trị Talpa de Allende và Cabo Corrientes. Puerto Vallarta được đặt theo tên của Ignacio Vallarta, một cựu thống đốc của Jalisco. Trong tiếng Tây Ban Nha, Puerto Vallarta thường được rút ngắn thành “Vallarta”.

Khu phố cổ Puerto Vallarta Puerto Vallarta là khu đô thị lớn thứ hai trong tiểu bang sau Vùng đô thị Guadalajara. Thành phố Puerto Vallarta là trụ sở chính phủ của Thành phố Puerto Vallarta bao gồm khu phố cổ và thành phố mới. Puerto Vallarta tràn ngập những con đường lát đá cuội, các quán ăn bên bờ biển và thành phố cổ kính với các cửa hàng boutique quyến rũ. Tại đây bạn có thể đi dạo trên bãi biển Yelapa hoặc ghé vào Cafe des Artistes để thưởng thức bữa ăn lãng mạn trong khu vườn đầy ánh nến hoặc đến thăm Jardin Botanica Vallarta để ngắm hoa hoặc sảng khoái trong làn nước trong mát của dòng sông đầy đá.

Hàng Ngồi: Từ trái sang phải: Ái Liên, Lâm Dung, Khánh Lan, Tuyết Nga, Hạnh, Xuân.
Hàng đứng: từ trái sang phải: Bích Điệp, Ngọc Cường, Mạnh Bổng, Kim và Dân.Cùng nhau thưởng thức những bữa ăn ngon cùng bạn hữu:

Hàng ngồi: Từ trái sang phải: Dân Lâm, Ngọc Cường, Việt Hải, Mạnh Bổng, Minh Trí.
Hàng đứng: Từ trái sang phải: Thụy Lan, Lâm Dung, Ái Liên, Lệ Hoa, Hạnh, Kim, Tuyết Nga, Khánh Lan,
Bích Điệp, Xuân, Thục Hạnh, Châu, Minh Châu.Bảy ngày họp mặt bên nhau qua nhanh như một giấc mơ nhưng đã để lại trong lòng chúng tôi một kỷ niệm đẹp và khó quên.
Khánh Lan, October 2022
-
Rừng Phong, Thu & Kỷ Niệm Xưa

Câu thơ “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du (1766-1820) vào bối cảnh chia tay “Người lên ngựa, kẻ chia bào” giữa Thúc Sinh và Vương Thúy Kiều khi còn học ở lớp Đệ Tứ chỉ hiểu mơ hồ qua lời giảng dạy…
Vào thời điểm đó, ở Việt Nam và Tàu không thấy đề cập đến cây phong, chỉ mường tượng qua Truyện Thúy Kiều của cụ Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim, ấn hành năm 1927 và Truyện Kiều Chú Giải của cụ Lê Văn Hòe, ấn hành năm 1953.
Hình ảnh cây phong dẫn câu thơ trong vở kịch Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ vào cuối thế kỷ XIII bên Tàu về mối tình ngang trái giữa chàng thư sinh Trương Quân Thụy và người đẹp Thôi Oanh Oanh.
Trong đoạn khúc Trường Đình Tống Biệt của Tây Sương Ký:
“Bích vân thiên
hoàng hoa địa
tây phong khẩn
bắc nhạn nam phi
hiểu lai thùy nhiễm sương lâm túy
tổng thị ly nhân lệ”
Nhà văn Nhượng Tống (1906-1949, trong quyển Vương Thực Phủ, Mái Tây (Tây sương ký), ấn hành năm 1944, dịch thành thơ:
“Bầu trời thăm thẳm xanh lơ
Đìu hiu mặt đất lơ thơ hoa vàng
Gió Tây thổi buốt can tràng
Về Nam nhạn Bắc kêu thương lạc loài!
Rừng phong ai nhuộm đỏ tươi
Đều là nước mắt những người biệt ly”.
Hai chữ “sương lâm” là “sương diệp” ám chỉ lá cây phong… Trong bài thơ Đỗ Mục có hai câu mô tả hình ảnh của rừng phong:
“Đình xa tọa ái phong lâm vãn
Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa”
Theo chú giải của cụ Lê Văn Hòe thì phong là một giống cây lá to mọc thành tán, xưa đời Hán hay trồng ở sân nhà vua. Vì thế điện vua gọi là phong đình, phong điện hoặc đền phong. Cây phong ngờ là cây bàng bên ta. (…) Sang mùa thu, thì lá bàng vàng và đổ dần sang màu đỏ sẫm. Màu ấy đặt vào đám rừng cây xanh thì nổi bật lên, rất dễ nhận. (Không hiểu các cụ ngày xưa đã dựa vào đâu để gọi như vậy). Ngay trong Hán Việt Tự Điển của cụ Đào Duy Anh, ấn hành năm 1932, cũng gọi “cây phong = cây bàng”.
Với “màu quan san” không có trong hội họa mà có tính cách tượng hình, “quan san” là cửa ải và núi non, ý chỉ nơi chốn xa xôi, cách trở, màu gây nhớ thương, u hoài trong lòng người…
Khi ở trong quân ngũ mới biết trên Quốc Kỳ của Canada có lá phong, hình ảnh cây phong (maple) để tìm hiểu thêm…
Thời gian trôi qua! Sau thời gian dài 15 năm (1975-1990) không có đầu óc lãng mạn, tháng 8/1990 khi đến phi trường Pattaya, Bangkok, Thái Lan theo diện H.O… và, những ngày tạm trú nơi nầy, tâm hồn lãng mạn bay xa đến phương trời trên xứ sở Cờ Hoa.
Khi biết được định cư ở thành phố Nashville, tiểu bang Tennessee, đây là thành phố được gọi là Country Music, cái nôi của nhạc đồng quê. Mùa thu sắp đến, cũng là nơi lá phong nhuộm màu.
Thế nhưng cuộc sống tha hương ở nơi chốn mà ngày xưa trong bài Cảnh Nhàn của cụ Nguyễn Bỉnh Kiêm cho rằng: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn, người đến chốn lao xao” khi “trao ấn từ quan” để vui thú điền viên… Nhưng với tôi cảm thấy nơi vắng vẻ nầy không thích hợp nên sau hai tháng, từ Đông sang Tây nơi “gió tanh mưa máu” bằng xe bus Greyhound xuyên qua các tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ.
Những ngày vào thu ở Nashville đẹp tuyệt vời với những hàng phong nhuộm đó hai ven đường. Đẹp tuyệt vời, đẹp ngây ngây ngây nhưng trong trong tâm hồn kẻ “chân ướt chân ráo” xa xứ, có lẽ đến lúc “màu quan san” chia tay!
Tuy thời gian ngắn ngủi ở nơi đó nhưng tôi gặp được vài người bạn trẻ, tốt bụng và chân tình, thỉnh thoảng vẫn liên lạc với nhau. Nay đã về hưu, vào dịp nầy lạc chốn rừng phong.
Những ngày cuối cùng nơi nầy, anh Cảnh chở tôi đi khắp nơi để nhìn phong cảnh lá phong chuyển màu như một sự chia ly.
Khi ở Little Saigon, tôi ra Home Depot mua chậu phong về trồng để nhớ lại hình ảnh ban đầu nhưng có lẽ nó không thích hợp nên “thấy mà thương”!
Khi làm báo, hàng tuần nhận bài viết của Công Tử Hà Đông (Hoàng Hải Thủy) Viết Ở Rừng Phong… một chút gì gợi nhớ.
Little Saigon vào thu, không còn hình ảnh nơi tôi đã một thời gắn bó với Đà Lạt từ thời quân ngũ đến lúc chia ly:
“Hôm nay trời vào thu,
Đà Lạt lắm sương mù”
(Trong ca khúc Tình Người Hậu Tuyến của Thục Vũ)
Hình ảnh ban đầu nơi xứ người với rừng phong ở Nashville đã 32 năm nhưng vẫn nhớ.
Thấm thoát đã 2 năm rồi, khi tác giả Việt Ở Rừng Phong vĩnh biệt nơi đây, tôi viết bài:
Nhà Văn Hoàng Hải Thủy “Vĩnh Biệt Rừng Phong”! Bài còn trên website Việt Báo:
Hơn 3 thập niên khi ở trong nơi chốn “bùn lầy nước đọng” được chú Sam “bốc” đi diện H.O mà diện “đầu trọc” gọi là “con bà Phước” nên không biết nơi nào, dù có biết nơi khỉ ho cò gáy nào trên xứ Cờ Huê cũng là ước mơ vì vậy khi ở Thái Lan biết định cư xứ có rừng phong, thành phố của nhạc đồng quê… thế mà chia tay!
Nhà văn Đức Hermann Hesse (1877-1962) với những tác phẩm nổi tiếng của ông khi được giải Nobel Văn Chương năm 1946 nên được dịch ra tiếng Việt, quen thuộc với độc giả ở miền Nam VN. Ông là người uyên bác triết lý Đông Phương qua hai tác phẩm Siddartha (Câu Chuyện Dòng Sông do Phúng Khánh & Phùng Thăng dịch) và Die Morgenlandfahrt (Le Voyage du Matin, dịch sang tiếng Việt là Hành Trình Về Phương Đông), tác phẩm nầy trùng tên bộ sách của nhà văn Mỹ Baird Thomas Spalding, Nguyên Phong dịch Hành Trình Về Phương Đông. Với câu nói của Hermann Hesse: “Bạn phải tìm được giấc mơ của mình… nhưng không giấc mơ nào tồn tại vĩnh viễn, mỗi giấc mơ lại có giấc mơ khác theo sau, và người ta không nên bấu víu lấy một giấc mơ nhất định”. Và với tôi, có giấc mơ nầy cũng mong giấc mơ khác “tha hương ngộ cố tri” cũng là lẽ thường tình của con người tỵ nạn.
Điều ngoài ước mơ khi ở trong nước với “nghiệp báo” thế mà từ lúc “về chốn lao xao” gắn bó đến nay, “nghiệp” chưa trả hết nên không biết khi nào mới “rửa tay gác kiếm” vì “không giấc mơ nào tồn tại vĩnh viễn”!
Little Saigon, Oct 2022
Vương Trùng Dương
-
KỶ NIỆM VỚI THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG

THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG (1932-2022) Nào ai có thể đoán trước được rằng CHIỀU THƠ NHẠC THÍNH PHÒNG CUNG TRẦM TƯỞNG do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức ngày 20 tháng 11, 2019 đã là ngày cuối cùng mà anh em trong nhóm hội ngộ cùng thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Dù là đã bao lần nhà văn Việt Hải và nhóm dự định làm một chuyến đi chơi và thăm người thi sĩ tài ba họ CUNG. Tiếc thay NVNT & TTG chưa thực hiện được ước nguyện thì thi sĩ đã ra đi, ra đi trong sự thương tiếc của mọi người và thế giới thi ca đã mất đi một một nhà thơ đáng kính. Xin ghi lại đây những kỷ niệm năm xưa cùng thi sĩ.

THI SĨ CUNG TRẦM T;ƯỞNG CÙNG CÁC ANH CHỊ EM TRONG LIÊN NHÓM NVNT & TTG (Hình chụp trong Chiều Thơ nhạc thính phòng) Khánh Lan ghi nhận, Oct. 2022
NV DƯƠNG VIẾT ĐIỀN VỚI NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG

Từ trái: Dương viết Điền và Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng Được biết tên thật của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng là Cung Thúc Cần. Sinh năm 1932 tại Hà Nội. Vào Sài gòn năm 1949. Du học tại Pháp và Hoa Kỳ. Cựu Trung Tá Không quân VNCH. Tù Cộng Sản 10 năm. Hiện sống tại Saint Paul, Minnesota, USA. Hội viên liên kết của Văn Bút Pháp.
Lúc còn theo học ở bậc trung học, tôi rất thích bản nhạc “TIỄN EM”, thơ của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng do Phạm Duy phổ nhạc.
Cứ mỗi lần nghe bản nhạc nầy, tôi luôn luôn ước mơ làm sao được như Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng, đi du học ở bên Tây rồi tiễn đưa người tình về quê mẹ để rồi lúc chia tay, cả hai con tim đều thổn thức nghẹn ngào!
Chính bài thơ này do Phạm Duy phổ nhạc đã làm cho biết bao nhiêu cặp tình nhân nức nở lệ sầu mỗi khi biệt ly nhau.
Vì vậy lúc viết bài “Biệt Ly Qua Thi Ca Việt Nam”, tôi cố tìm cho ra bài thơ này để đưa vào trong bài viết của tôi. Thế là tôi quyết chí tìm cho ra Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng. Không biết ai đã cho tôi số điện thoại của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng tôi quên mất vì lâu ngày quá, cách đây những mười bốn mười lăm năm rồi. Cũng có thể là Nhà Thơ Cao Mỵ Nhân hay Nhà Văn Duy Lam cho tôi số điện thoại và nói cho tôi biết Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng hiện đang định cư tại tiểu bang Minisota thì phải. Thế là tôi nhấc điện thoại gọi Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng ngay. Sau khi nghe Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng lên tiếng ở đầu dây, tôi liền tự giới thiệu về tôi cho anh ấy biết. Sau đó tôi xin phép Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng được đăng bài “ Tiễn Em” vào trong bài viết “ Biệt Ly Qua Thi Ca Việt Nam” của tôi cho số xuất bản tuần tới của Nguyệt San Viễn Xứ, do Nhà Báo Phong Vũ làm chủ nhiệm, Nhà Văn Thinh Quang làm chủ bút. Dĩ nhiên anh ấy chấp thuận ngay. Nói đến bài thơ “Tiễn Em” của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng, tôi nhớ có lần gặp Nhà Thơ Tô Thuỳ Yên trong đêm ramắt sách của Nhà Báo Bùi Bảo Trúc tại Quận Cam cách đây cũng mười mấy năm. Lợi dụng lúc ra ngoài để hút thuốc, tôi đã gặp Nhà Thơ Tô Thuỳ Yên. Anh ấy nói với tôi hiện đang định cư tại tiểu bang Minisota. Nghe anh ấy nói vậy, tôi liền hỏi anh có hay gặp Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng bên đó không. Nhà Thơ Tô Thuỳ Yên nói với tôi anh ta cũng hay gặp Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng. Tôi liền nói với Nhà Thơ Tô Thuỳ Yên tôi có điện thoại cho anh Cung Trầm Tưởng để xin phép anh ấy đăng bài thơ “ Tiễn Em” trong bài viết của tôi vì tôi rất thích bài này. Nghe tôi nói đến bài thơ “TIỄN EM”, Nhà Thơ Tô Thuỳ Yên liền nói với tôi:
– Anh Cung Trầm Tưởng không bằng lòng Nhạc Sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài “ TIỄN EM” đoạn “ Em ơi! Khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em” và Nhạc Sĩ Phạm Duy cũng đã đổi câu “ Tuyết buông cuồng mênh mang” thành “Tuyết rơi buồn mênh mang”. Đã thế, nhan đề của bài thơ “ TIỄN EM” nguyên văn là “CHƯA BAO GIỜ BUỒN THẾ” nhưng Nhạc Sĩ Phạm Duy đổi thành “TIỄN EM”. Sau đây là nguyên văn bài thơ “CHƯA BAO GIỜ BUỒN THẾ” của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng. Bản mới trích từ tác phẩm “Cung Trầm Tưởng, Một hành Trình Thơ (1948-2008) do Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2012.
Sau đó tôi có gởi tặng anh ấy tập thơ “Ngậm Ngùi” và tác phẩm hồi ký Trại Ái Tử Và Bình Điền. Khoảng tháng hai năm 1996, tôi lại gọi Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng hỏi xem anh ấy có viết bài gì không thì gởi qua để đăng vào Tạp chí Viễn Xứ. Nhân tiện Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng cũng cho tôi biết rằng, anh ta đang mở Phong Trào phản đối sự xâm nhập của Cộng Sản ở khắp nơi, trong đài VOA, đài BBC,vv… Sau đó tôi có đề cập đến sự rạn nứt của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng nói với tôi rằng anh ta đã tiên đoán trước một năm là Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại sẽ sụp đổ.
Trước đây, lúc tôi điện thoại cho Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng, Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng vẫn trả lời cho tôi vì câu chuyện liên quan đến bài thơ “TIỄN EM” của anh ấy mặc dầu chưa bao giờ biết tôi. Sau khi tôi gởi tặng anh ấy mấy tác phẩm của tôi, anh ấy mới biết rõ tôi và đã tặng cho tôi thi tập “LỜI VIẾT HAI TAY” của anh ấy.

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng đang ký sách tặng tác giả (2012) Có lần đọc báo thấy Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng sắp ra mắt sách tại Quận Cam, tôi chuẩn bị xuống tham dự thì lâm bệnh nặng không đi được. Thế là muốn gặp Thi Sĩ của bài “TIỄN EM” một lần mà không được. Một thời gian sau khi tham dự buổi kỷ niệm ngày thành lập THƯ VIÊN VIÊT NAM, tôi liền xuống Quận Cam tham dự. Lúc vào trong, chú em tôi là Dương Viết Đang nói có Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng cũng đến tham dự. Thế rồi chú em tôi dẫn tôi đến giới thiệu với Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng. Sau khi chào Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng xong , Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng nhìn tôi rồi nói:
-Anh mà đẹp trai hơn em vậy?
Nghe Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng nói như vậy, tôi chỉ mỉm miệng cười. Sau đó nhìn lại em tôi, tôi nghĩ rằng anh ấy nói cũng đúng thôi. Bởi vì mái tóc em tôi đều bạc trắng như vôi trong lúc tóc tôi đen tuyền óng mượt, mái tóc chải chuốt gọn gàng vì mới nhuộm chiều qua! Chứ nếu tôi không nhuộm, cứ để mái tóc bạc phơ chắc Thi Sĩ Cung Tầm Tưởng sẽ thấy tôi già hơn chú em tôi nhiều. Thỉnh thoảng tôi cũng hay nhuộm mái tóc cho trẻ trung một tí nếu không khuôn mặt thấy có vẻ già quá! Tôi nhớ lúc mới ra khỏi hàng rào kẻm gai của trại tù cải tạo vào năm 1985, mái tóc tôi đã bạc trắng như vôi rồi!
Chiều ngày 21 tháng 07 năm 2012, tôi xuống Quận Cam để tham dự buổi ra mắt thi tập “ Cung Trầm Tưởng Một Hành Trình Thơ (1948-2008)” tổ chức tại Viện Việt Học. Đáng lẽ buổi ra mắt sách được tổ chức tại hội trường Nhật Báo Người Việt, nhưng Nhật Báo nầy vừa bị công luận tẩy chay vì đăng bài của tác giả Sơn Hào nói xấu các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà nên ban tổ chức đã phải dời đến địa điểm khác là Viện Việt Học, nằm trên đường Brookhurst. Khi tôi đến đã thấy Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng đang ngồi ký sách tặng. Tôi cũng đứng sắp hàng để chuẩn bị nhận sách. Lúc đứng trước mặt Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng, tôi nói tôi là Dương Viết Điền đây, anh của Dương Viết Đang. Nghe tôi nói vậy anh CTT nhận ra tôi ngay vì mới hai năm trước, tôi và em tôi đã gặp Thi Sĩ CTT trong ngày kỷ niệm đệ II (?) chu niên, ngày thành lập Thư Viện Việt Nam. Anh CTT thấy tôi liền nói:
- Sao, vẫn viết lách lai rai chứ? Hay viết những đề tài gì? Tôi đọc thấy anh cũng viết nhiều đấy.
Tôi trả lời:
- Dạ cũng viết lai rai chơi vậy anh. Trước đây em có viết cuốn hồi ký Trại Ái Tử Và Bình Điền. Em đã tặng anh rồi đấy. Tặng anh lâu lắm rồi, cách đây cũng khoảng mười mấy năm. Không biết anh còn nhớ không.
Anh CTT vừa cười vừa nói:
- Sao, bây giờ anh viết gì đây để tặng Điền, Nhà Thơ, Nhà Văn, Điền muốn viết gì?
Tôi trả lời:
- Anh viết gì cũng được. Anh muốn viết gì thì viết
Anh CTT liền nói:
- Thôi, nhà văn nhé.
Nói xong, anh CTT liền viết câu “Thân tặng Nhà văn Dương Viết Điền” và ký tên Cung Trầm Tưởng phía dưới rồi đề ngày 21-07-2012 luôn.
Cầm cuốn “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ (1948-2008)” do Tiếng Hương Quê xuất bản, tôi thấy đây đúng là một công trình vĩ đại. Thực hiện được là cả một vấn đề! Bởi cuốn sách dày đến 640 trang, bìa cứng, láng, giấy vàng chữ đen trông rất đẹp mắt.
Cung Trầm Tưởng.
Ngày 23 tháng 08 năm 2016, Nhà văn Việt Hải gởi e-mail sang tôi cho biết, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng ở Minisota sang California có việc, sẽ ghé thăm Việt Hải lúc 01:30 ngày 24 tháng 08 năm 2016. Thế là đúng 01:30 giờ ngày 14 tháng 08 năm 2016, tôi liền lái xe qua nhà anh Việt Hải để thăm Thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đi chung một xe với một số anh chị em nghệ sĩ gồm giáo sư Trần Mạnh Chi, Hoạ sĩ Lưu Anh Tuấn và phu nhân, và nữ nhạc sĩ Hồng Tước. Lúc gặp Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, tôi liền chào anh ấy rồi nói:
- Đã mấy năm rồi mới gặp lại anh kể từ ngày gặp anh ra mắt sách tại Viện Việt Học.
Nghe tôi nói như vậy, anh Cung Trầm Tưởng vẫn chưa nhận ra tôi mà chỉ bắt tay. Khi tôi nói cho anh Cung Trầm Tưởng biết “em là Dương viết Điền đây”, anh Cung Trầm Tường mới nhận ra tôi rồi vừa ôm chầm lấy tôi vừa nói “Ôi! Dương viết Điền đây nầy!”. Chiều hôm ấy, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đề cập rất nhiều vấn đề liên quan đến tiểu sử và những thi phẩm của ông ta cho chúng tôi nghe. Nào là hoàn cảnh và thời điểm Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài thơ “Tiễn em”, nào là nhờ bài thơ “Tiễn em” được Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc mà danh tiếng của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng nổi lên như sóng cồn, đến nỗi khi đi đến đâu cũng có những người đẹp đi theo làm “cận vệ”, nào là sự bất đồng của thi sĩ về mấy lời thơ được phổ nhạc trong bài “Tiễn em”, v v…Bỗng tôi hỏi Thi sĩ Cung Trầm Tưởng:
- Anh Cung Trầm Tưởng này, em hỏi nhỏ anh nhé. Nhân vật “em” trong bài “Tiễn em” của anh là ai vậy anh?
Anh Cung Trầm Tưởng trả lời ngay:
- Thưở ấy, nhân vật “em” là những bà đầm Pháp thôi em ạ.
Thấy năm nay, Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng đã 84 tuổi rồi mà nước da vẫn còn hồng hào, dáng người vẫn còn khoẻ mạnh nên tôi hỏi anh ấy, bí quyết nào làm anh ấy vẫn giữ được như thế. Anh Cung Trầm Tưởng liền trả lời:
- Anh luôn luôn làm sao cho tâm trí được thoải mái. Phải cho đầu óc làm việc thường xuyên như đọc sách, ngâm thơ, xem TV, báo chí. Nhất là nghe nhạc cổ điển Tây phương trước khi đi ngủ v v…Ngoài ra anh còn tập thể dục như đi bộ hằng ngày.
Nhớ lại ngày ra mắt thi phẩm “Hành Trình Thơ” của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tại Viện Việt Học ở Quận cam năm nào, tôi liền nói với anh Cung Trầm Tưởng:
- Lúc anh chuẩn bị bay từ Minesota qua California để ra mắt thi phẩm “Cung Trầm Tưởng Một Hành Trình Thơ 1948-2008” tại phòng hội của nhật báo Người Việt năm 2012, em thấy không ổn vì lúc bấy giờ dân chúng đang phản đối nhật báo Người Việt. Em định gọi điện thoại cho anh để nói anh nên thay đổi địa điểm ra mắt sách của anh, nhưng không có số điện thoại của anh đành chịu thua. Sau đó không biết ai đã giúp anh nên đã đổi địa điểm ra mắt sách cho anh rồi.
Anh Cung Trầm Tưởng trả lời:
- Lúc ấy cô Hoàng Dược Thảo đã trình bày việc ấy cho anh biết và anh Trần Phong Vũ đã giúp anh địa điểm ra mắt sách nơi khác là Viện Việt Học em ạ.
Dương viết Điền
Sau đây là một số hình ảnh chụp chung với Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tại tư gia của Nhà văn Việt Hải ở thành phố Canoga Park vào ngày 24 tháng 08 năm 2016

Từ trái: Nhà văn Việt Hải, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng ,Nhạc sĩ Hồng Tước và Dương viết Điền. 
Từ trái: Nhà văn Việt Hải, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, Tác giả, Giáo sư Trần Mạnh Chi, và Hoạ sĩ Lưu Anh Tuấn -
TIỄN CHÂN MỘT NGƯỜI BẠN

Danh họa Vũ Hối (1932-2022) Tin từ MinhThuyNguyenviaNEWVTLV2021
Danh họa Vũ Hối có bút hiệu Hồng Khôi là một họa sĩ, một thi sĩ và nhà nhiếp ảnh, nổi tiếng về hội họa của Việt Nam và quốc tế. Ông sinh ngày 22 tháng 11 năm 1932 tại làng Dương Ðàn, quận Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, vùng đất có năm ngọn núi tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ kết thành Ngũ Hành Sơn, nổi tiếng là vùng “Ðịa linh nhân kiệt,” nơi sản sinh nhiều nhân tài của đất nước.
Vũ Hối là một họa sĩ, một thi sĩ và nhà nhiếp ảnh, nổi tiếng về hội họa của Việt Nam và quốc tế, ông tốt nghiệp kỹ sư ngành họa và trang trí ở Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định và từng là giáo sư hội họa tại Trường Trung Học Thủ Đô, Hậu Giang. Ông có tên trong tự điển Văn Học thời Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 và là hội viên của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Nhà Văn Việt Nam, Văn Học Tam Cá Nguyệt San CỎ THƠM.
Vũ Hối đã từng du học ở Hoa Kỳ tại các tiểu bang South Carolina và Georgia vào năm 1960, tên tuổi của ông cũng đã đi vào Bách Khoa Tự Điển Larousse, bộ tự điển nổi danh nhất của Pháp và thế giới. Ông được mời vẽ chân dung tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy-Được mời vẽ chân dung Đại tướng Creighton W. Abrams, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ ở Việt Nam
Vũ Hối nhận giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế năm 1963 tại Hoa Kỳ và có tên trong Văn Học Tự Điển thời Việt Nam Cộng Hòa, ông sáng lập trường phái Luân Vũ Họa (Paintings In Motion) và Thư Họa (Handwriting Painting) cũng như được ghi danh trong Tuyển Tập L’ art de l’ ecriture, Paris 1993
Vũ Hối là nghệ sĩ Á Châu duy nhất được vinh danh về Sáng Tạo Nghệ Thuật cho thế giới, tại Atlanta, Hoa Kỳ ngày 5-11-1994, ông được tổng thống Tiệp Khắc Vaclav Havel tiếp kiến và nhận tranh “The Dream of Peace” tại dinh thổng thống Praha ngày 5-9-1995. Ông có tên trong “Vẻ Vang Dân Việt II” (The Pride of The Vietnamese Edition II) trong Tự Điển Danh Nhân Thế Giới, ấn hành tại Anh Quốc năm 1998. (Dictionary of International Biography 1998 – Cambridge – England)
Tên tuổi Vũ Hối được ghi trong “5000 Persionalities of The World”, do American Biographical Institute ấn hành năm 2000, ông có tên trong “Tự Điển Một Phần Tư Thế Kỷ Việt Nam Hải Ngoại” do Hội Văn Hóa Pháp-Việt (France-Vietnam Culture), ấn hành năm 2003 – Paris và cũng là nhà Thư Họa Việt Nam duy nhất được ghi tên trong “Tuyển Tập Thư Họa Bậc Thầy Đông Phương”, ấn hành tại Tokyo, Nhật Bản năm 2006 (Volume 6 International Editonal – Tokyo – Japan)
Vũ Hối được Nghị viện Hoa Kỳ vinh danh là Chiến Sĩ Văn Hóa và Chiến Sĩ Nhân Quyền tích cực đấu tranh cho Tự Do – Dân Chủ – Nhân Quyền do nghị định số 322 tại Hoa Kỳ
Tác Phẩm đã phát hành:
-Mùa Giao Cảm (Thơ) 1958
-Vần Thơ Màu Trắng (Thơ) – La Poésie de Couleur Blanche, được phiên dịch ra Anh và Pháp ngữ năm 1959 tại Sài Gòn
-Những Dấu Chân Đi (Truyện Ngắn), xuất bản năm 1960
-Hợp Tấu Thi Tuyển cùng 26 nhà văn hiện đại – Nhân Loại xuất bản năm 1969
-Chiêm Bao Trở Giấc (Thơ), xuất bản năm 1997
-Nghìn Thương Đất Mẹ (Thơ và Thư Họa), năm 1999
-CD Vũ Hối và Thơ Nhạc Trong Tranh do Nhật Trường Production thực hiện năm 2000
-CD Thơ Chiêm Bao Trở Giấc do nghệ sĩ Bích Ty- Hà Phương phát hành
-Thư Họa Trích Kiều, năm 2003 (TM xuất bản)
-Thơ Vũ Hối (CD ngâm thơ)
-Tuyển Tập Mây Ngàn (Thơ – Thư Họa Vũ Hối), ấn hành tại Norway năm 2004
-Nghệ Thuật Thư Họa, năm 2007
Nghệ Sĩ Vũ Hối (Họa sĩ, Thi sĩ, Nhiếp ảnh) vừa từ giã cõi đời hôm nay! Thứ sáu, ngày 19 tháng 8, năm
Thương Tiếc Hoạ Sĩ Vũ Hối
Tin vừa nhận được lệ thầm tuôn
Vũ Hối ngôi sao đã rụng buồn
Bút họa tràn danh đời mỹ mãn
Tranh màu nổi tiếng mộng tròn vuông
Vần xoay phượng múa đường mây ẩn
Chữ xoáy rồng bay dải ngọc luồng
Tiếc nuối nhân tài văn hoá đẹp
Treo tường kỷ niệm nhớ hoài luôn
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 8/19/2022Họa theo bài xướng của chị Phương Hoa
Kính Tiễn Nghệ Sĩ Vũ Hối
Nghệ sĩ rời xa chốn núi ngàn
Một đời dâng hiến ánh vinh quang
“ Nghìn Thương Đất Mẹ “về tiên cảnh
“ Những Dấu Chân Đi” đến giới đàng
“ Thư Hoạ Trích Kiều “ tranh rực rỡ
“Chiêm Bao Trở Giấc “ sắc huy hoàng
“ Mùa Giao Cảm “ động trời thu tiễn
“ Thơ Vũ Hối “ ngâm kỷ niệm tràn
Kỷ niệm tràn buồn gởi bó hoa
Hồng Khôi Vũ Hối đẹp trăng ngà
Vần thơ thả nét làn sương đọng
Thư pháp tung ngòi ánh nguyệt sa
Hội Bút Việt Nam sầu thảy bạn
Cỏ Thơm Văn Học nhói toàn nhà
Hương lòng tiễn góp lời cầu nguyện
Tiếc nuối hiền nhân lệ ướt nhoà
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 8/20/2022
THÀNH KÍNH TIỄN ĐƯA
NHÀ THI THƯ HOẠ VŨ HỐI
Lặng nghe tin đến thật bàng hoàng
Thế giới như vừa tắt ánh quang
VŨ HỐI lìa trần, quy thượng giới
HỒNG KHÔI giã bút, đến Thiên Đàng
“Nghìn Thương Đất Mẹ”* giờ xa tắp
“Những Dấu Chân Đi”* đã biệt ngàn
“Thư Hoạ Trích Kiều”* xin kính tiễn
“Vần Thơ Màu Trắng”* lệ thương tràn.
*
Thương tràn khắp chốn bậc tài hoa
Hội Hoạ Khôi Nguyên, giải ngọc ngà
Bút pháp lung linh dường gió đảo
Chữ đề cuồn cuộn tựa mưa sa
CỎ THƠM im tiếng, chia lìa bạn
VĂN BÚT rời tên, vĩnh biệt nhà
VŨ HỐI – HỒNG KHÔI – về Cực Lạc
Truyền lưu tác phẩm mãi không nhoà.
*Tên tác phẩm của nhà thư họa Vũ Hối
Phương Hoa – AUG 19, 2022, 2022, tại Maryland, Hoa kỳ.
-
Chuyện trò cùng bác sĩ Nguyễn Cao Cường

Bác sĩ Nguyễn Cao Cường
GS. Y Khoa, Mayo Clinic College of Medicine and Science. Associate Dean, Global Professional Education, School of Continuous
Scottsdale, Arizona, USA.MỘT NGƯỜI BẠN MỚI:
Tôi, Việt Hải xin giới thiệu đến Quý Giáo Sư, Quý Văn Thi Sĩ và các anh chị em, một người bạn đồng môn với tôi thời trung học. BS. Nguyễn Cao Cường là cựu học sinh trường trung học Petrus Ký, Sài Gòn. Anh theo ngành nghiên cứu và giảng dạy y khoa tại Mayo Clinic College of Medicine and Science campus in Phoenix/Scottsdale, Arizona. Nhưng BS. Cường lại có đam mê văn chương, thi ca. Nên tôi đã mời BS Cường cùng sinh hoạt với Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian khi anh có dịp ghé Orange County. Anh hiện đang sinh sống và làm việc tại tiểu bang Arizona.
BS Cường Nguyễn, nguyên là chuyên gia tư vấn tại Khoa Tiêu hóa – Gan mật, Nội Khoa. Ông là giám đốc y tế của chương trình Mayo CARES. Ông cũng là giám đốc y tế về Quản trị chuỗi cung ứng và là Phó khoa trưởng về Giáo dục chuyên nghiệp toàn cầu. Các mối quan tâm nghiên cứu của ông bao gồm: ứng dụng và cải tiến ngành y khoa nội soi, điều trị và phòng ngừa bệnh viêm đại tràng C. diff, và tối ưu hóa sự chênh lệch về chăm sóc sức khỏe hiện nay.
Sau đây là bài phỏng vấn của của Mayo Clinic College of Medicine and Science Campus in Phoenix, Scottsdale, Arizonne về phạm vi làm việc của anh, mời quý vị theo dõi.

Mayo Clinic College: Tại sao bạn chọn trở thành một thầy thuốc?
BS Cường: Tôi bắt đầu học đại học với tư cách là một chuyên ngành kỹ thuật nhưng chuyển sang ngành y khi tôi tham gia một khóa học về sinh lý học con người. Tôi hoàn toàn khi bị cuốn hút bởi sự phức tạp của tất cả các cơ chế điều khiển và quá trình thích ứng được thể hiện trong cơ thể con người.
Mayo Clinic College: Thách thức lớn nhất mà bạn phải đối mặt với tư cách là một bác sĩ là gì?
BS Cường: Không thể làm được nhiều việc hơn cho bệnh nhân so với khả năng của khoa học.
Mayo Clinic College: Bạn có lời nhắn nào dành cho các bác sĩ / nhà khoa học trong tương lai không?
BS Cường: Đó là một khoảng thời gian rất thú vị để theo học ngành y. Nền tảng này có khả năng tiếp cận khá xa và cơ hội để tạo ra sự khác biệt là vô tận. Chắc chắn sẽ có những thử thách, giống như những thăng trầm của cuộc sống. Luôn hướng tới mục tiêu làm những điều đúng đắn vì những điều đúng đắn là điều tốt nhất cho bệnh nhân dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Mayo Clinic College: Bạn đã đến với Phòng khám Mayo được bao lâu?
BS Cường: Ồ, tôi đã mất số lượng. Có thể là 24 năm nữa.
Mayo Clinic College: Phần bổ ích nhất khi làm việc với các học viên và thực tập sinh của Mayo Clinic là gì?
BS Cường: Vài năm trước, tôi đi ăn trưa với một vài sinh viên tốt nghiệp, và một người trong số họ nói tại bàn rằng khi cô ấy gặp phải một thủ tục khó khăn, cô ấy sẽ thử nghĩ xem tôi sẽ làm gì trong tình huống đó. Nghe thấy đó là phần thưởng cuối cùng đối với tôi. Thực sự là một đặc ân khi được sát cánh cùng những người học Mayo trong hành trình giáo dục của họ.
Mayo Clinic College: Một trong những thành tựu đáng tự hào nhất của bạn trong sự nghiệp chuyên môn của bạn là gì?
BS Cường: Là một bác sĩ, tôi rất cảm động và tự hào về việc một trong những bệnh nhân của tôi và con gái của anh ấy đã đặt tên cháu gái theo tên tôi.
Mayo Clinic College: Bạn có thể cho chúng tôi biết một hoặc hai điều thú vị mà không nhiều người biết về bạn không?
BS Cường: Tôi từng làm việc trong bộ phận vận chuyển của một cửa hàng sách và tôi khá giỏi trong việc đóng gói. Amazon nên thuê tôi làm nhà tư vấn để cứu môi trường của chúng ta
Link: https://college.mayo.edu/

Nhân cơ hội này, Khánh Lan cũng xin gởi lời cám ơn chân tình đến BS Cường, đã nhận lời viết bài giới thiệu cho quyển sách mới nhất của Khánh Lan, PHÂN TÂM HỌC VÀ ĐỜI SỐNG. Đây là một tài liệu biên khảo về sự ảnh hưởng của Phân Tâm học trong đời sống của chúng ta qua nhiều lãnh vực: Y khoa; tư pháp; tâm linh; văn chương, nghệ thuật và điện ảnh. Tác phẩm sẽ ra mắt quý đồng hương vào mùa Xuân 2023.
Việt Hải & Khánh Lan
-
VU LAN TÌM BÓNG MẸ

-
Giáo sư dạy tiếng Việt ở Mỹ ‘gây bão’ trên mạng xã hội
WESTMINSTER, California (NV) – Thầy Quyên Di, giáo sư dạy tiếng Việt của trường Đại học UCLA, đã “gây bão” trên mạng xã hội Twitter tuần qua vì cảnh ông tặng thú nhồi bông trong lớp cho sinh viên để khuyến khích họ học bài.
Một đoạn video ngắn chỉ có 9 giây do một sinh viên trong lớp quay cảnh thầy Quyên Di lấy thú nhồi bông từ cặp sách để lên bàn dạy học hôm Thứ Năm, 31 Tháng 10 được đưa lên mạng Twiter. Tính đến hôm 6 Tháng Mười Một, video đã được hơn 7.41 triệu lượt xem và gần 700 ngàn người thích.
Cô sinh viên Amy, người quay video, nói, “Tôi đang khóc đây thầy giáo tiếng Việt đem thú nhồi bông mỗi tuần để thưởng cho chúng tôi vì đã học hành chăm chỉ.”

Video được đăng lên mạng Twitter từ trang của Amy, cô sinh viên học tiếng Việt năm đầu tiên tại Đại Học UCLA. (Hình: chụp từ trang Twitter của Amy) Thầy Quyên Di tên thật là Chúc Bùi. Nhưng sinh viên và các thân hữu trong cộng đồng Little Saigon thường gọi ông là “thầy Quyên Di” vì trước năm 1975, ông là chủ bút hai tờ báo Tuổi Hoa và Ngàn Thông với hơn 50,000 độc giả trên toàn quốc. Hiện tại, ông đang là giáo sư dạy tiếng Việt của Khoa Văn Hóa và Ngôn Ngữ Á Châu tại Đại Học UCLA và cũng là giáo sư dạy tiếng Việt của trường CalState Long Beach.
Trả lời câu hỏi của báo Người Việt “Thầy có cảm xúc gì khi được ‘gây bão’ trên mạng với hành động thưởng thú nhồi bông cho sinh viên?”, thầy Quyên Di nói, “Hơi ngạc nhiên vì nghĩ đây chỉ là một hành động rất nhỏ nhặt, bình thường. Tuy nhiên chuyện ‘gây bão’ không quan trọng bằng niềm đam mê dạy học và tình yêu thương tôi dành cho học trò.”
Vì yêu nghề nên thầy Quyên Di luôn tìm cách “dụ” sinh viên học bài. Ông nói, “Càng về sau này sinh viên càng trẻ ra, và tôi có hỏi dò là nếu được quà tặng thì các em muốn gì, thì hai phần ba các em nói thú nhồi bông, đặc biệt là gấu nhồi bông.”
“Mùa Thu Năm nay, UCLA xếp tôi dạy lớp sinh viên năm đầu tiên. Các em họ Bùi, họ Nguyễn, họ Trần, nhưng không biết gì hết về tiếng Việt, nên phải dụ các em để các em ham học,” ông nói tiếp.
Thầy Quyên Di có vợ cũng là cô giáo, có lẽ vì “hai vợ chồng là hai đồng nghiệp lấy nhau” như ông nói, nên vợ ông cũng là người hết mực ủng hộ ông trong việc dạy học.
Mỗi tuần hai vợ chồng ông đi mua thú nhồi bông cho sinh viên. “Nhu cầu của chúng tôi không có bao nhiêu. Tiền nhà đã trả xong, chỉ mua sắm ăn uống thôi. Mình hy sinh một chút, thay vì mua những gì mình thích, bây giờ mua những gì sinh viên thích, cũng không có gì quá nặng nề,” thầy Quyên Di giải thích.
Ông cũng cho biết, “Tất cả thú nhồi bông đều do vợ tôi chọn.”
Trong vai trò là một thầy giáo, ông nghiệm ra một điều là “dù lớn hay nhỏ, sinh viên luôn cần được khuyến khích và được ghi nhận.”
“Các em chăm hơn,” giáo sư nhận xét. “Người lớn cũng vậy. Khi tôi để tin thú nhồi bông lên trang mạng Facebook thì ai cũng muốn có thú nhồi bông, dù đó là một người mẹ độc thân hay một người lớn với nhiều thành công trong xã hội.”
“Ai cũng có lòng trẻ thơ. Thành tích không quan trọng. Họ chỉ để ý là họ có được thú nhồi bông hay không thôi. Trong mỗi tâm hồn có một trẻ thơ là như vậy,” giáo sư Quyên Di nói.
Cũng trong tinh thần đó, ông cho rằng một hồi đáp trên mạng xã hội mà ông thích nhất là lời nói “sinh viên nào cũng cần được khuyến khích, dù đó không phải là chuyện gì lớn lao, nhưng các em cần một hành động nhỏ có ý nghĩa để các em biết mình được quan tâm”
“Thế nên mình cho con thú nhồi bông không phải là một chuyện lớn lao hết,” ông bày tỏ.
Trước “sự kiện” này công ty làm thú nhồi bông Thousand Skies đề nghị gởi thầy Quyên Di 100 con thú nhồi bông để ủng hộ thầy trong việc dạy học. “Họ nói họ đã đóng thùng rồi và đang gởi đi nhưng tôi không biết họ gởi đi đâu và cũng không hỏi. Thôi khi nào nó đến thì đến. Mấy con thú nhồi bông của Thousand Skies đẹp quá, chính tôi cũng ham,” người thầy có gương mặt hiền lành cho biết.
Một Twitter tên Alexander Sui nói, “Hãy bảo vệ thầy bằng mọi giá!” (Titi Mary Tran)
-
GS Quyên Di: ‘Thông thạo tiếng Việt sẽ phục vụ cộng đồng hữu hiệu hơn’

GS QUYÊN DI Đằng-Giao/Người Việt
GARDEN GROVE, California (NV) – Giáo Sư Quyên Di giảng dạy Việt ngữ và văn hóa Việt cho sinh viên đại học từ 1995 đến nay và là người có tác động đến ít nhất hàng chục ngàn sinh viên.
“Tôi bắt đầu dạy ở Đại Học CSU Long Beach từ 1995 rồi đến năm 2000, tôi dạy song song tại trường thứ nhì là CSU Fulleron rồi thêm nơi thứ ba là Đại Học UCLA năm 2003. Đến 2019, tôi thôi dạy ở CSU Fullerton. Hiện giờ, tôi chỉ giữ hai trường là CSU Long Beach và UCLA thôi,” vị giáo sư 75 tuổi nhỏ nhẹ nói.
Được sinh viên quý trọng
Chuyên ngành ngôn ngữ và văn hóa Việt, dĩ nhiên, ông muốn học trò mình thấm nhuần tư tưởng Việt Nam, nếp sống Việt Nam cũng như tâm hồn Việt Nam.
Ông giải thích: “Văn hóa cổ truyền Việt Nam luôn lấy chữ ‘lễ’ làm đầu. Tôi rất vui và hãnh diện khi thấy mình đã truyền đạt cho học trò sự cung kính đúng đắn của văn hóa Việt nhưng lại được phối hợp với sự thân mật của thời nay.”
Giáo Sư Quyên Di vô cùng hãnh diện khi thường xuyên được học trò vây quanh đưa ra xe hay quý mến mua tặng ly cà phê hay cái bánh trước những cặp mắt xoe tròn của rất đông đồng nghiệp.
“Cái tình nghĩa thầy trò này hết sức Việt Nam này, tôi may mắn lưu giữ được cho thế hệ kế tiếp trên đất Mỹ. Tình nghĩa này trong nước dễ gì mà thấy được. Bởi vì thế tôi rất quý,” ông nói.
Bao năm dài, ông Quyên Di ngày ngày khuyến khích học trò phát triển nhiều nét khác nhau của văn hóa Việt Nam.
Ông nói: “Một trong những nét đẹp của văn hoá Việt Nam là sự hiếu học. Chăm học đem lại thành quả tốt về học vấn. Với thành quả ấy, khi xin việc làm, sinh viên Việt Nam có ưu thế hơn các ứng viên khác.”
Ông chú trọng về sự lễ độ, tương kính lẫn nhau.

Tốt nghiệp rồi mà sinh viên còn quyến luyến thầy Quyên Di “Một nét đẹp khác của văn hoá Việt Nam là sự lễ độ. Ai cũng muốn được người khác kính trọng. Tính lễ độ của người Việt cộng với tính độc lập, tự tin của văn hoá Mỹ giúp sinh viên Việt Nam dễ được chọn khi xin việc làm,” ông thêm.
Lời khuyên đoàn kết
Từ 20 năm nay, Giáo Sư dạy về nhóm Tự Lực Văn Đoàn, một nhóm thi, văn sĩ cổ vũ phong trào cách tân văn học trên nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khởi xướng năm 1932.
Ông Quyên Di nói: “Nhóm Tự Lực Văn Đoàn được thành lập năm 1934, quy tụ những nhà văn, nhà thơ có tư tưởng mới với ý thức khai sáng, bình dân, lãng mạn, cấp tiến, bài phong kiến, chống Nho giáo cổ hủ.”

Giáo Sư Quyên Di trong giảng đường đại học. Ông nhắc về sự đóng góp của nhóm này: “Những tác phẩm đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn đã được xuất bản cách đây hơn 80 năm. Những tác phẩm ấy có ảnh hưởng lớn lao trong xã hội Việt Nam thời ấy về những vấn đề quan trọng: đả phá những hủ tục, chống đối sự gò bó của nếp sống đại gia đình, đòi hỏi tự do cá nhân, cổ vũ tình yêu đôi lứa mà đối tượng do chính mình chọn lựa, bênh vực nữ quyền. Những tác phẩm ấy được viết với lối văn giản dị, sáng sủa, đúng ngữ pháp.”
Khi được hỏi vì sao kiến thức về nhóm Tự Lực Văn Đoàn lại có lợi ích thiết thực ngày nay, ông đáp: “Sinh viên học cách hợp tác, làm việc chung như các nhà văn hợp tác để thành lập nhóm và cùng tôn trọng quy luật của nhóm và sống có lý tưởng.”
Theo Giáo Sư Quyên Di, nhiều vấn đề do nhóm Tự Lực Văn Đoàn đưa ra đến nay người ta vẫn còn phải đối diện và giải quyết như mâu thuẫn gia đình giữa và cá nhân, quan niệm chính đáng về tình yêu và hôn nhân cũng như quyền phụ nữ,…
Ông khẩn khoản nói: “Tinh thần đoàn kết là cái mà cộng đồng gốc Việt mình rất cần. Nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã đoàn kết để có ảnh hướng mạnh mẽ đến ngày nay.”
Quân bình Đông Tây
“Điều tôi thường khuyên sinh viên là giữ sự quân bình trong cuộc sống. Quân bình giữa học tập và vui chơi, giữa đời sống gia đình và đời sống xã hội, giữa vật chất và tinh thàn, giữa hướng ngoại và hướng nội, giữa văn hoá Việt và văn hoá Mỹ,” ông cho hay.
Người Mỹ gốc Việt là nhóm dân gốc Á lớn thứ tư tại Hoa Kỳ. Riêng tại California, số sinh viên gốc Việt rất đông. Điển hình là tại CSU Long Beach, sinh viên gốc Việt là tập thể sinh viên gốc Á châu đông nhất, theo ông Quyên Di.
Vì thế, theo nhận định của ông Quyên Di, người gốc Việt cần đóng góp vào xã hội Hoa Kỳ.
Ông nhấn mạnh: “Sự đóng góp lâu bền nhất là đóng góp văn hoá, đưa những truyền thống văn hoá tốt đẹp của người Việt vào cuộc sống Mỹ. Mà ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hoá. Giữ được ngôn ngữ là giữ được văn hoá.”
Sau một buổi học tại Đại Học UCLA. Thông thạo tiếng Việt, các chuyên viên trẻ sẽ phục vụ cộng đồng Việt Nam hữu hiệu hơn. Những bác sĩ, nha sĩ, luật sư, nhà truyền thông… sinh hoạt và sinh sống trong cộng đồng Việt Nam cần thông thạo tiếng Việt.
Về hoài bão của một vị thầy dạy tiếng Việt trên đất Mỹ, ông Quyên Di chia sẻ: “Tôi mong muốn tiếng Việt và ngôn ngữ Việt được gìn giữ và phát triển nơi những thế hệ kế tiếp, ở bất cứ nơi đâu có người gốc Việt sinh sống.”
Ông thêm: “Văn hoá ấy, ngôn ngữ ấy xứng đáng được như vậy vì có những nét đẹp và sự phong phú của nó. Bao lâu ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam còn được giữ gìn và phát triển, bấy lâu những người gốc Việt vẫn giữ được tâm hồn Việt Nam.”
-
NHỚ MẸ QUA THI CA VIỆT NAM

Từ cổ chí kim từ đông sang tây khi nói đến người mẹ, tất cả mọi người ai ai cũng đều kính trọng, mến yêu rồi nhớ nhung chất ngất dù lúc ấy ta đang ở nơi chân bể hay góc trời, nơi rừng thiêng hay đồng nội.
Bởi vì trong suốt thời gian kể từ khi mang thai cho đến lúc lâm bồn, người mẹ đã phải chịu đựng rất nhiều khổ đau. Nào là mang nặng đi đứng khó khăn trong mấy tháng trời. Nào là đau đớn quằn quại trong thời gian sinh đẻ. Sau khi đứa bé ra chào đời rồi người mẹ bắt đầu phải thức khuya dậy sớm, lắm lúc thức trắng nhiều đêm triền miên mất ngủ để chăm sóc đứa con. Đã thế, nhiều lúc con cái bị đau ốm, người mẹ luôn luôn nằm thường trực bên cạnh, lấy thuốc cho con uống, mong sao con chóng bình phục. Nếu rủi ro gặp chuyện bất trắc xảy ra như con thở quá yếu hay bị sốt quá cao đưa đến co giật, người mẹ tái mặt run sợ, tim như thắt lại, trong lòng quằn quại khổ đau.
Đến khi con cái bắt đầu chạy nhảy khôn lớn, người mẹ phải tìm cách kiếm kế sinh nhai, nuôi con ăn học. Thế rồi để có đủ tiền nuôi nấng con cái, người mẹ phải dấn thân vào đời, dầm mưa dãi nắng, một nắng hai sương, thức khuya dậy sớm, buôn bán tảo tần, làm lụng vất vả để kiếm cho đươc đồng tiền bát gạo mà trang trải trong gia đình. Lắm lúc người mẹ nhường cơm cho con ăn dù bụng đang đói cồn cào, nhường áo cho con mặc dù trời đang rét căm căm. Sự hy sinh cao cả vô bờ bến đó khiến lòng người thường xuyên xúc động. Thương xót triền miên, chạnh lòng nhớ mẹ, nhạc sĩ Y Vân đã rung động con tim mà sáng tác nên bản nhạc “Lòng mẹ” với nội dung và giai điệu thật tuyêt vời: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu…”. Vì biết lòng mẹ bao la như biển cả, tình mẹ chan chứa tình thương vô biên nên nhà văn Pháp nổi tiếng là Anatone France đã không ngần ngại hạ bút viết: “Trong thiên nhiên có rất nhiều cái đẹp, nhưng cái đẹp cao quý nhất là trái tim người mẹ” (Il y a bien des merveilleuses dans la nature, mais la plus précieuse, C’est le coeur d’une mère).
Trước sự hy sinh cao cả vô bờ bến của người mẹ như vậy nên tất cả mọi người con, ai ai cũng thương nhớ mẹ mình và luôn luôn mong ước được trả hiếu cho mẹ dù mẹ mình còn sống hay đã qua đời. Vì vậy trong Kinh Địa Tạng của Phật giáo, chữ hiếu được bàn luận và giải thích rất cặn kẽ vì đây là một trong những đạo làm người rất quan trọng của con cái đối với cha mẹ.
Thế nên hằng năm, cứ đến ngày “Tự Tứ”, các vị chân tu thường thuyết giảng cho các Phật tử nghe về hạnh hiếu của Tôn Giả Mục Kiền Liên: cứu mẹ đang thọ khổ ở địa ngục hay hạnh hiếu của Tôn Giả Xá Lợi Phất đã tìm mọi cách để thuyết pháp độ mẹ ra khỏi tà kiến của ngoại đạo Ni Kiều Tử đắc pháp nhãn thanh tịnh trước khi Tôn Giả nhập niết bàn.
Ai cũng biết rằng ở bên Trung Quốc tự ngàn xưa, có 24 nhân vật rất có hiếu đối với cha mẹ đã vang dậy như sóng cồn một thời vang bóng trong tập “Nhị Thâp Tứ Hiếu”: nhiều người con trong lúc mùa hè oi bức, đã cởi trần nằm ngủ lúc đêm về để cho muỗi bay đến cắn vào thân thể mình ngõ hầu khỏi cắn vào thân thể của mẹ, hay có người nằm trên băng tuyết giá lạnh suốt mùa đông chờ tuyết tan để bắt cá về nấu cháo cho mẹ già ăn.
Để đi vào đề tài, chúng ta hãy ghi lại đây những vần thơ của các thi nhân đã xúc động mà sáng tác nên những lời thơ bất hủ khi nhớ đến mẹ già.
Nhiều nhà thơ đã khóc thương nhớ mẹ lúc mẹ còn sống, nhưng hầu hết các thi nhân nhớ thương khóc mẹ khi mẹ đã qua đời.
Ta hãy nghe một số bài thơ nhớ mẹ của vài thi nhân khi mẹ còn sống.
Trước hết, mấy vần thơ tứ tuyệt qua bài “Bóng mẹ chiều thu” của thi sĩ Cung Trầm Tưởng trong thi tập “Lời viết hai tay” khi đọc lên khiến ta nhớ đến người mẹ già đang vất vả trong buổi chợ chiều của cuộc đời và ngong ngóng mỏi mắt chờ trông con trở lại quê nhà sau những tháng ngày tù tội:
“Mẹ là mẹ chú em nào hình sự
Dáng lưng gù làm nhớ tới mẹ tôi
Mẹ nẻo xa mưa nắng ắt bồi hồi
Ai đỡ mẹ đi nghiêng sầu goá bụa
Mưa gió quất lưng tre còng vất vả
Vóc mai kia na ná nét hao mòn
Của mẹ ruột quằn đau cho tiếng khóc
Đến cuối đời lại chong bóng chờ con”.
(Cung Trầm Tưởng – Trong “Lời viết hai tay”)
Cho dù ở trong ngục tù hay ở quê người đất khách, cho dù ở trên rừng sâu hay góc bể chân trời, ai ai cũng triền miên nhớ mẹ mỗi lần vọng về quê cũ sau lũy tre xanh. Ta hãy nghe mấy vần thơ lục bát sau đây của Hạ Ái Khanh khi nhà thơ nhớ mẹ đang lom khom chống gậy chờ con ở quê nhà:
“Mỗi lần nhìn khói lam chiều
Nhớ về quê mẹ hắt hiu nỗi buồn
Mẹ già nước mắt trào tuôn
Lom khom chống gậy bên đường chờ con
Bâng khuâng mẹ nhớ mỏi mòn
Bao mùa lá rụng héo hon thân gầy”.
(Hạ Ái Khanh –“Thương mẹ”: thi phẩm “Ngậm ngùi”)
Nhiều người quá nhớ mẹ, thương mẹ, lâu ngày chưa về thăm lại mẹ được vì nghìn trùng xa cách, ở tận đất khách quê người, khiến lắm lúc nằm mơ thấy mẹ để rồi ở xứ đất lạ nghe lòng hắt hiu sầu nhớ muôn đời. Ta hãy nghe nhà thơ Thái Tú Hạp dệt mấy vần thơ nhớ mẹ qua những câu thơ ngũ ngôn thật dễ thương và nhẹ nhàng:
“Đêm hoài mơ thấy mẹ
Thắp nến soi hồn đau
Đời con chiều quạnh quẻ
Đất lạ hắt hiu sầu”.
(Thái Tú Hạp – Trong thi tập “Hạt bụi nào bay qua”)
Tuy nhiên có nhiều người thương mẹ, nhớ mẹ lúc mẹ đang còn sống. Nhưng vì cuộc sống của mẹ hằng ngày luôn luôn làm việc thiện và trọn đời mẹ đã tỏ ra thương người, hy sinh cho tha nhân và quyết sống môt cuộc sống đầy lòng nhân ái, từ bi. Vì thế, người con nguyện sẽ xuống tóc giữ lời quy y nếu một mai mẹ qua đời. Mấy vần thơ lục bát sau đây của nhà thơ Việt Hải cho ta thấy rõ được những điều nói trên:
“Nếu mai mẹ sẽ qua đời
Con xin xuống tóc giữ lời quy y
Mẹ tôi trọn kiếp từ bi
Con quỳ lạy mẹ ra đi yên lòng”.
(Việt Hải – Trong bài “Nhớ mẹ”)
Tuy nhiên cho dù nghìn trùng xa cách, cho dù đường về quê mẹ xa tít mù khơi, nhưng vì quá nhớ mẹ già ở miền quê xa vắng và cũng vì lâu lắm rồi chưa thấy lại dung nhan của người mẹ thân yêu, nên người con quyết chí trở về thăm mẹ giữa một mùa xuân. Vì hoàn cảnh của cuộc sống phải ở đất khách quê người quá lâu, nên khi trở lại quê nhà thăm mẹ thì mẹ đã quá già khiến mắt đã mờ, tai đã điếc vì ngũ giác của mẹ giảm sút đi nhiều. Ta hãy nghe nhà thơ Mạc Phương Đình dệt mấy vần thơ nhớ mẹ trong bài “Xuân về thăm mẹ”:
“Em ra đứng hiên nhà chờ đợi
Nụ cười vui, se chút lạnh sang mùa
Mẹ còn sống, nhưng giảm nhiều trí nhớ
Tấm thân gầy, còm cõi tuổi già nua
Những lúc tỉnh, mẹ buồn cười rồi hỏi
Các con đâu, sao đi mãi không về
Đến bên mẹ, nắm bàn tay gầy guộc
Gọi mẹ ơi, nhưng mẹ chẳng còn nghe
Tuổi chín bốn, mắt mẹ mờ tai điếc
Sống hiền lành, đôi lúc tỉnh lúc mê”.
(Trong tác phẩm “Lời ru của mẹ”)
Nhưng đớn đau quằn quại nhất là lúc nhớ mẹ từng giờ, từng phút, từng giây. Muốn về thăm mẹ ngay nhưng không thể nào được, bởi vì con đang bị đoạ đày trong ngục tù ở trên rừng thiêng nước độc. Ta hãy nghe bài thơ thất ngôn tứ tuyệt cổ phong sau sau đây của thi sĩ Trương Thúc Cổn mới thấy tình mẫu tử là một trong những tình thiêng liêng của con người:
“Con biết ngày nay mẹ khổ nhiều
Những ngày quạnh quẽ vắng con yêu
Bâng khuâng mẹ nhớ con ngàn dặm
Tựa cửa mắt mờ gió hắt hiu
Mẹ ơi, có thấu nỗi lòng con
Nhớ mẹ lòng con hoá mỏi mòn
Con cố tìm trong tình mẫu tử
Những lời an ủi trái tim con
Nhớ túp lều tranh dưới khói mờ
Bên đường khóm trúc gió phất phơ
Tim con ray rứt đời phiêu bạt
Nhớ mẹ lòng con hóa vẩn vơ
Những lời vàng ngọc mẹ khuyên con
Nước đó nhà đây mãi vẫn còn
Đại nghĩa luôn luôn cùng nghĩa vụ
Dãi dầu sương gió chút lòng son
Chân mãi bước lên miệng vẫn cười
Con đầy hy vọng cuộc đời tươi
Mong sao nhớ lấy lời khuyên mẹ
Quên hết đau thương của cuộc đời…”
(Trương Thúc Cổn – Trong bài “Nhớ mẹ”)
Sau khi đã đề cập một số bài thơ nhớ mẹ của một vài thi nhân khi mẹ còn sống, giờ đây ta hãy nói lên những vần thơ bất hủ về nhớ mẹ khi mẹ đã qua đời.
Ai cũng biết rằng sau ngày 30/4/75, tất cả các chiến sĩ thuộc QLVNCH đều bị bắt bỏ tù trên rừng thiêng nước độc. Nhiều người bị hành xác trong một thời gian quá lâu dài mới được trả tự do nên khi trở lại quê nhà thì thấy mái tranh vẫn còn đó, cây soan bên thềm cũ vẫn còn đây nhưng cũng đã tàn phai theo năm tháng, còn mẹ già thì đã vĩnh biệt trần gian không một lời trăn trối, chỉ thấy một ngôi mộ nằm bên đường hoang vắng giữa chiều quê. Ta hãy nghe Hạ Ái Khanh dệt mấy vần thơ sầu thảm đó qua bài “Ngày về” để tặng cho một người bạn sau mười ba năm ở tù trở lại quê nhà:
“Mười ba năm “cải tạo”
Ngày về không còn ai
Cây soan bên thềm cũ
Bây giờ cũng tàn phai
Mái nhà tranh còn đấy
Vẫn nghiêng nghiêng thuở nào
Trong nhà sao vắng lặng
Không một bóng người vào
Mẹ già chờ lâu quá
Vẫn không thấy con về
Tháng ngày rưng rưng lệ
Mẹ mất giữa chiều quê
Bên nấm mồ con khóc
Nhớ thương mẹ não nề
Sao mẹ đành vĩnh biệt
Mẹ ơi, con đã về!”
(Hạ Ái Khanh – Trong thi phẩm “Ngậm ngùi”)
Cũng tương tự như trên, sau mấy năm trời bị bắt hành xác trong ngục tù ở trên rừng, nhà thơ Ngô Văn Thọ lúc trở lại quê nhà đã nghẹn ngào rưng rưng nước mắt khi vừa nghe chị mình nói mẹ đã qua đời từ lâu. Mấy vần thơ sau đây khi đọc lên ai ai cũng thấy bùi ngùi xót xa:
“Về Sài gòn đau xé lòng gặp chị
Được hung tin mẹ mất đã lâu rồi
Quả đất buồn thoạt muốn vỡ làm đôi
Không gian rộng con nghe chừng ngộp thở”
(Ngô Văn Thọ – Trong Tuyển tập“Dưới trăng”)
Có nhiều thi nhân khi nghe mẹ mất, tâm hồn như nghẹn ngào đau khổ, trong lòng như quằn quại đớn đau, nhưng họ không biểu lộ ra bên ngoài mà lại giấu kín tận đáy lòng. Ngược lại, nhiều thi nhân vì quá nhớ mẹ già cũng như vì quá khổ đau khi mẹ qua đời nên đã oà ra khóc thành tiếng theo bản năng tự nhiên vì tình mẫu tử là một trong những tình thiêng liêng của con nguời.
Trên bước đường hành quân trong xã Mỹ Đức, quận Phú Mỹ năm 1950, nhà thơ Hoàng Duy đã khóc sướt mướt giữa cơn mưa tầm tã khi quá nhớ người mẹ hiền đã vĩnh biệt cõi đời. Bài thơ “Mưa rơi” sau đây của nhà thơ Hoàng Duy khi đọc lên ai ai cũng cảm thấy thật ai oán, não nùng:
“Mưa rơi!
Mưa rơi!
Má ơi! Mưa rơi!
Má ơi! Rơi rơi!
Má đâu? Má ơi!
Hỡi má! Má ơi!
Má đi Mau về
Thẫn thờ… Chúng con
Chúng con Mong đợi
Bơ vơ Má ơi!
Cõi đời Má ơi!
Lạnh không!…”
(Bài “Mưa rơi” – trong thi tập “Như bóng mây bay”)
Có nhiều nhà thơ vì xa mẹ già quá lâu ngày vẫn chưa về thăm được vì hoàn cảnh cuộc sống, vì nghìn trùng xa cách ở đất khách quê người. Đến khi trở lại quê nhà sau mười năm biền biệt thì mẹ già đã an giấc nghìn thu khiến nhà thơ quá đau lòng rồi nức nở trong nắng chiều ngay tại sân ga, nơi mà xưa kia người mẹ đã tiễn đưa dưới cơn mưa tầm tã, khiến người con nghẹn ngào không nói nên lời. Bài thơ “Sân ga ngày trở lại” của Hạ Ái Khanh sau đây cho ta thấy rõ cảnh biệt ly sao mà buồn quá, để rồi người mẹ và người con sau đó đã vĩnh biệt nghìn đời:
Chín mười năm biền biệt
Về thăm lại quê nhà
Sao lòng buồn da diết
Nắng chiều ngập sân ga
Nhớ xưa cũng nơi nầy
Mẹ già khóc tiễn đưa
Khi còi tàu gào thét
Trời mưa ơi là mưa.
Vẫy tay từ biệt mẹ
Nước mắt rơi như mưa
Nghẹn ngào trong tiếng khóc
Ly biệt nói sao vừa
Nay về thăm quê lại
Nức nở trong nắng chiều
Mẹ già không còn nữa
Sân tàu cũng buồn thiu.
(Hạ Ái Khanh)
Nhiều thi nhân sau khi mẹ mất đã nhớ lại những tháng năm nằm bên gối mẹ, nhớ những ngày mẹ nở những nụ cười đầy lòng nhân ái dạt dào, nhớ những lúc nắng sớm mưa chiều mẹ thương con rồi quá nuông chiều con khi ru con ngủ, để rồi dệt mấy vần thơ đầy nhung nhớ ngậm ngùi. Ta hãy nghe thi sĩ Cao Mỵ Nhân sáng tác mấy vần thơ não nuột sau đây khi nhà thơ bỗng một chiều nước mắt rưng rưng vì nhớ mẹ đến nghẹn ngào:
“Mẹ ơi, tất cả đã mờ theo.
Nước mắt khi mưa ướt dáng chiều.
Mẹ sớm rời xa con, cháu mẹ.
Lòng tôi chùng xuống, chợt hoang liêu.
Mẹ về tiên cảnh hẳn vui hơn.
Chốn ấy hoa đăng, nhã nhạc buồn.
Mỗi lúc dõi theo vầng nhật nguyệt.
Lung linh ảnh mẹ thắp tâm hồn”.
(Cao Mỵ Nhân – “Từ nơi mẹ nở đóa hạnh trinh”).
Nếu cố gắng đưa tất cả những bài thơ viết về nhớ mẹ của tất cả các thi sĩ vào trong bài “Nhớ mẹ qua thi ca Việt Nam” thì chúng ta phải viết một cuốn sách dày khoảng vài trăm trang vẫn không đủ. Vì vậy ta chỉ nêu lên đây môt số bài thơ tượng trưng mà thôi. Bởi thi sĩ nào, khi nghĩ đến mẹ cũng nhớ thương dạt dào, cũng nghẹn ngào quay quắt, tuỳ không gian và thời gian của hoàn cảnh từng người. Tóm lại qua thi ca Việt Nam, ta thấy hầu hết các thi nhân khi nhớ mẹ thường dệt nên những vần thơ thật diễm tuyệt mang đầy sắc thái hạnh hiếu và tình người.
California, mùa Lễ Vu Lan.
Dương viết Điền
-
THỰC TẬP TOẠ THIỀN

Bức tượng Ngài Lord Shiva đang tọa thiền theo thế kiết già tại Bangalore ( Hình trích từ Wikipedia). Thiền là một phép tu bao la bát ngát, không có biên giới. Mục đích của tu Thiền theo Tỳ Kheo Thích Đức Niệm là “Quay về với nội tâm, trầm tĩnh sống lại với chính lòng mình, biết rõ tâm thức mình biến chuyển qua từng sát na, theo từng nhịp tim bóp thắt, quán chiếu tận suốt cội nguồn tâm thức sinh động thầm kín của dòng sinh mệnh tâm linh”. (Trong bài “Thay Lời Tựa” đăng trong tác phẩm “The Practice of zen” (Thiền Đạo Tu Tập) của Thiền Sư Chang Chien Chi, trang 09). Vì tính chất bất khả lĩnh hội cũng như bản chất bất định của Thiền nên hầu hết cácThiền Sư thường không theo một quy luật nào rõ rệt. Theo Thiền Sư Chang Chien Chi thì “Hình như không có hệ thống có tổ chức nào để theo, mà cũng chẳng có một triết học nào để học. Những mâu thuẫn và tương khắc đầy rẫy khắp mọi nơi. Mặc dầu những điều đó có thể được giải thích bằng cái gọi là luận lý phi- luận lý của Thiền” (Trong “Thiền Đạo Tu Tập” của Thiền Sư Chang Chen Chi, Như Hạnh dịch, trang 25). Vì tính chất mông lung và siêu việt của Thiền nên Thiền Sư Chang Chien Chi nhấn mạnh rằng “ Có thể giải thích Thiền bằng nhiều cách bởi vì không có “những chỉ thị” nhất định để Thiền tuân theo. Các Thiền Sư vĩ đại hiếm khi tuân theo một khuôn mẫu nhất định nào trong việc tự bày tỏ hoặc trong việc dạy đệ tử họ” (Trong “Thiền Đạo Tu Tập” trang 31). Thiền Sư Chang Chen Chi còn cho biết rằng “ Từ Bồ Đề Đạt Ma tới Huệ Năng và từ Huệ Năng suốt cho tới Lâm Tế và Động Sơn, trọn một thời kỳ gần 400 năm, ta chẳng truy ra được một hệ thống tham Thoại Đầu vững chắc nào cả. Các Thiền Sư xuất chúng của thời đại này là những nghệ sĩ” vĩ đại; giáo lý của các ngài rất linh động và uyển chuyển và không bao giờ tự hạn hẹp vào bất cứ một hệ thống nào cả” (Trong “The Prace of Zen” của Thiền Sư Chang Chien Chi, trang 113).

Ngài Bồ Đề Đạt Ma đang hành Thiền Cũng theo Thiền Sư thì “Ta phải luôn luôn nhớ rằng đa số những người học Thiền ở Đông phương là những tu sĩ đã hiến trọn đời mình để tham thiền. Họ chỉ có một mục đích duy nhất: Giác Ngộ; họ chỉ có một công việc độc nhất trên đời: tu tập Thiền; cuộc sống mà họ sống là cuộc sống giản dị, giới hạnh; và họ chỉ học Thiền bằng một lối duy nhất- bằng cách sống và tu tập với các bậc thầy trong một thời gian rất lâu. Trong những hoàn cảnh này bất cứ lúc nào họ cũng thấy Thiền, nghe Thiền, nếm Thiền, và thậm chí ngửi Thiền nữa “ (Trong The Practice of Zen, của Thiền Sư Chang Chien Chi, trang 87).

Thiền Sư Chang Chien Chi Vì biết mục đích duy nhất của Thiền là Giác Ngộ mà nói đến Giác Ngộ, tất cả mọi người theo đạo Phật ai cũng ước mơ cả. Sở dĩ ai cũng chỉ mơ ước thôi vì tu Thiền để đạt đến Giác Ngộ là một việc làm quá phi thường và rất khó khăn cho con người trong một kiếp người. Tuy nhiên cho dù quá phi thường và quá khó khăn mấy đi nữa, trong quá khứ ta cũng đã thấy có rất nhiều Thiền Sư đã đạt đạo. Nếu không đạt đạo thì tu Thiền cũng mang đến cho ta vô số lợi ích trong cuộc sống hằng ngày như xa lánh dần được tham, sân, si; thấu hiểu được chân lý của Phật giáo để phát huy lòng từ bi ngõ hầu làm vơi bớt đau thương cho tha nhân, cho nhân loại, đang quằn quại dưới vòm trời khổ đau và tang tóc này. Ngoài ra đối với những người không theo đạo Phật, họ vẫn muốn thực tập Thiền để giảm bớt sự căng thẳng (Stress) khi phải tiếp xúc với tha nhân trong cuộc sống hằng ngày. Và bởi yếu tố thất tình (hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, cụ) thường ảnh hưởng đến con người nên người ta muốn tập Thiền để tránh những vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ hay bệnh khủng hoảng thần kinh được chừng nào tâm hồn sẽ thoái mái chừng đó. “Theo bác sĩ Andrew Weil (University of Arizona) thì cách điều hoà hơi thở là cách thức hữu hiệu nhất để chống lại sự âu lo (anxiety) và Stress, và ngay đối với cả những thể loại nặng nhất của bịnh khủng hoảng thần kinh (panic disorder) Vì khi bạn chú tâm vào hơi thở, và thở sâu, chậm, yên lặng và đều đặn thì bạn không thể nào … stress, hay lo âu được. Bởi lẽ rất dễ hiểu là cơ thể bạn không thể nào cùng một lúc làm được những việc trái ngược nhau. Như chúng ta biết, ngược lại với Stress, sự điều hoà hơi thở sẽ làm cho tim đập chậm, giảm huyết áp, làm an tĩnh hệ thần kinh. Khi não bộ không nhận được tín hiệu nguy cơ nữa thì cơ thể trở lại với trạng thái điều hoà, các bộ phận điều tiết những Stress hormone không còn được kích thích cũng sẽ trở về trạng thái bình thường, và cơ thể bạn không nằm trong trạng thái chuẩn bị ứng chiến như ta đã thấy ở trên. Và như thế, bạn vừa…. khóa lại (shut down) những tác hại của Stress. Hiện nay những bịnh viện lớn như Columbia Medical center ở New York city, những bịnh nhân trước khi giải phẩu Tim, đều được mời tham dự những buổi Thiền Meditation. Ở những bịnh nhân có tham gia thiền quán, người ta nhận thấy ít lo âu trước khi mổ, ít mất máu trong khi mổ và hồi phục nhanh hơn sau khi mổ. Điều hòa hơi thở chỉ là một dạng thô thiển nhất của Thiền quán, cần nói thêm là Thiền không chỉ là sự điều hòa hơi thở nhưng nếu bạn biết áp dụng vào đời sống hàng ngày thì ít ra bạn cũng ngăn ngừa hay chận đứng được những tác hại của Stress, tuy bạn chưa đi vào trạng thái Thiền định nhưng bạn cũng đã kiểm soát được mình qua sự điều tức. Khi kiểm soát được hơi thở của mình, cơ thể của bạn là của bạn. Có thể bạn chưa đạt được giải thoát hay Đốn ngộ với sự kiểm soát hơi thở, nhưng ít ra đời sống bạn cũng sẽ được thoải mái hơn và….. ít bịnh tật hơn !!!”
(Trích từ bài Tác Dụng Của Thiền Và Tress của Hoàng Vũ trong web site http://khoahoc-kythuat.blogspot.com/2013/07/tac-dung-cua-thien-va-stress.html ).
Vì những lý do đó mà tôi cũng muốn học Thiền và dĩ nhiên để học phương pháp tu Thiền nầy, tôi bắt đầu tìm hiểu những phương thức sơ khởi của Toạ Thiền.
Nhiều nhân vật nổi tiếng trên thế giới cũng đang hành Thiền:

Bác sĩ Sư Huynh Phạm Gia Cổn, võ sư chưởng Môn Hoàng Hạc, thiền yoga khí công 
Minh tinh màn ảnh, Heather Graham, thực hành Thiền để chống lão hóa 
Các nhà sư đang đứng Thiền tại thác Pongour 
Ngồi Thiền tập thể tại Sri Lanka (Ấn Độ)
( Hình trích từ Wikipedia)
Ngồi Thiền trong Madison Square Park tại Nữu Ước
( Hình trích từ Wikipedia)
Bảo Tháp Giác NgộẤN ĐỘ: 4,000 binh sĩ Vương quốc Anh sẽ thay phiên nhau thiền định tại cây Bồ đề ở Bồ đề Đạo tràng tại Bảo Tháp Giác Ngộ bắt đầu từ tháng 01 năm 2013.
( Hình trích từ www.HoPhap.net )Sau khi nghiên cứu một số sách viết về Thiền cũng như nghe những lời hướng dẫn của một số bạn bè, tôi bắt đầu thực tập Toạ Thiền. Điều trước tiên là cách thức ngồi Thiền. Vẫn biết rằng đi đứng nằm ngồi đều Thiền được cả, nhưng ngồi Thiền là vấn đề quan trọng hơn cả. Lúc đầu tôi ngồi theo thế kiết già, chân trái kéo để lên đùi mặt, chân mặt kéo để lên đùi trái. Nhưng rồi tập hoài cũng không được, nhiều khi mới vài phút đã cảm thấy đau lưng.
Bức tượng Ngài Lord Shiva đang tọa thiền theo thế kiết già tại Bangalore ( Hình trích từ Wikipedia).
Vì ngồi theo thế kiết già hơi khó khăn nên tôi đổi qua thế bán già. Ngày trước, Ngài Phổ Hiển và Ngài Vân Thù thường toạ Thiền theo thế bán già. Ngài Phổ Hiển toạ Thiền với thế chân trái để lên đùi mặt, Ngài Vân Thù toạ Thiền với chân mặt để lên đùi trái. Tôi đã thực tập cả hai thế trên, cuối cùng tôi thấy thế ngồi chân mặt để lên đùi trái thuận tiện hơn đối với tôi nên tôi quyết định toạ thiền theo thế này luôn. Các Thiền Sư thường khuyên chúng ta khi ngồi, lưng phải thật thẳng. Đầu phải nhìn thẳng phía trước. “Khi chư vị ngồi Thiền, tuyệt đối không nên để thoại đầu lên cao quá, vì vậy hẵn sẽ bị hôn trầm. Cũng không được để ngang trên ngực, nếu để nơi ngực, thế nào nơi ngực cũng bị đau. Cũng không nên đè nó xuống thấp, làm vậy sẽ bị đau bụng, hoặc rơi vào âm cảnh, phát sinh ra nhiều bệnh tật. Chỉ cần giữ tâm bình lặng, hơi thở điều hoà, nhẹ nhàng quán chữ “ai” như gà ấp trứng, như mèo rình chuột. Khi quán chiếu đắc lực, mệnh căn tất nhiên đứt đoạn” (Trong Thiền Đạo Tu Tập (The Practice of Zen) của Thiền Sư Chang Chen-Chi, trang139).
Sau khi chọn được thế ngồi thích hợp, tôi bắt đầu tập thở. Vấn đề hơi thở lúc toạ Thiền rất nhiều sách đề câp đến. Có sách dạy rằng “Dùng miệng thở hơi ô trược ra, khi thở há miệng cho hơi ra, đừng mạnh cũng đừng gấp, thở thật dài và sạch, hơi ra tưởng như tất cả những phiền não bệnh hoạn theo hơi thở ra ngoài hết. Ngậm miệng lại dùng mũi hít hơi vào, dài nhẹ và thật đầy, hơi vô tưởng không khí trong sạch vào khắp châu thân. Như thế ba lần. Thở xong ngậm miệng lại, môi và răng vừa kề nhau, lưỡi để lên trên. Từ đây về sau chỉ hít thở bằng mũi đều đều nhẹ nhẹ mà dài. Thân ngồi ngay thẳng như cột trụ, dù có ngứa ngáy cũng không cựa động, nhức mỏi cũng gan dạ chịu đựng đúng giờ mới xả.” (Trong “Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20”, trang 114-115, tái bản lần thứ II). Một sách khác hướng dẫn rằng: “Khi bắt đầu tập thở bụng, ta thở ra thật dài vài lần bằng mũi, bụng thót vào, cố gắng thở ra cho hết khí trong phế nang, cần làm cho phổi trống (giống như ta bóp miếng sponge rửa chén cho hết bọt sà phòng khi rửa chén). Khi nín lại thì phản xạ tự nhiên là cần phải hít sâu vào nhiều hơn cảm thấy như đầy ngực đầy bụng (giống như miếng sponge sau khi bóp cho hết chất xà phòng dơ rồi buông ra trong nước sạch, tự nhiên hút nước sạch vào). Cũng vậy, sau khi chu kỳ thở ra thật dài thì tự động khí sạch sẽ vào đầy ngực đầy bụng. Như vậy có thể nói thở ra là phần chủ động và hít vào là phần thụ động. Càng thở ra thật nhiều, thật sâu có nghĩa là đưa hết khí dơ (CO2) trong phế nang ra thì càng được vào nhiều khí sạch, trong lành. Như vậy thở ra sẽ quyết định cho việc hít vào.
Chú ý là khi thở ra hay hít vào, ta cần phải giữ hơi thở (nín thở) một vài giây tuỳ theo sức, ta sẽ nhận thấy bộ máy hô hấp lúc đó tự nó chuẩn bị phát động. Lúc đó giản mềm các cơ bụng để cho hô hấp tự phát. Khí thở ra bụng thót vào, khí hít vào phổi bụng tự phình lên. Tóm lại trong phương pháp thở bụng, thở ra là chính và là động tác chủ động, còn hít vào phình bụng ra là động tác thụ động.” (Trích từ bài “ Luyện khí công tập bụng” của một tác giả trên mạng.).Một sách khác lại chỉ dạy như sau: “Đối với người mới tập, tư thế nằm ngửa rất thuận lợi. Phải để ý là không nên thở dài đến mức tối đa. Làm như thế có thể nguy hiểm cho phổi, nhất là trong trường hợp phổi yếu vì chưa bao giờ biết tập thở. Ban đầu người hành giả nên nằm xuống, hai tay xuôi theo hai chân, đầu không gối, trên một mặt phẳng hay hơn là trên nệm. Buông thả tay chân cho thư thái. Thở vài hơi tự nhiên rồi khởi sự chú ý đến hơi thở ra, xem nó dài bao nhiêu. Có thể đếm thầm trong trí: một, hai, ba, v.v…Sau vài lần như thế, ta biết được “chiều dài” của hơi thở ra; ví dụ chiều dài ấy là 5. Bây giờ ta dự tính thêm vào 1 hay 2 nữa để cho hơi thở ra của ta dài tới 6 hay 7. Thế là lần này khi thở ra, ta bắt đầu đếm từ một đến 5, thay vì chuẩn bị thở vào, ta cứ tiếp tục thở ra thêm 1 hay 2, đếm tiếp là 6,7. Như vậy có nghĩa là ta đem thêm không khí dơ trong phổi ra ngoài. Xong rồi ta buông thả, để hai phổi ta tự động đưa không khí trong lành vào.” (Trong “Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức”, trang 34, 35, 36, in lần thứ 10).
Riêng Thiền Sư Sogyal Rinpoche, Ngài lại hướng dẫn phương thức khác; “ Vậy khi Thiền định, bạn hãy thở tự nhiên, như thường ngày bạn thở. Tập trung sự chú ý của bạn vào hơi thở ra. Khi thở ra bạn hãy buông ra theo hơi thở. Tưởng tượng hơi thở bạn tan vào trong khoảng không bao la của chân lý. Mỗi lần thở ra, trước khi hít vào lại, bạn sẽ thấy có môt khoảng hở tự nhiên, khi sự chấp thủ đã tan biến. Hãy an trú trong khoảng hở ấy, không gian rộng mở ấy. Và khi tự nhiên bạn thở vào, thì đừng chú ý hơi thở vào, mà cứ tiếp tục an trú tâm nơi khoảng hở đã mở ra ấy.” (Trong tác phẩm “Đưa Tâm Về Nhà”, trang 37). Ngài còn nhấn mạnh: “Đừng quá tập trung vào hơi thở, chỉ để cho nó chừng 25 phần trăm, còn 75 phần trăm thì bạn hãy buông xả một cách lặng lẽ bao la. Càng chánh niệm về hơi thở, bạn càng tỉnh thức về chính mình, gom lại những mảnh vụn phân tán của bạn thành một nhất thể, tính nhị nguyên và ngăn cách tan biến. Tuy nhiên, có nhiều người không được thoải mái với pháp quán hơi thở, họ còn thấy gần như bị ngộp.”
(Trong tác phẩm “Đưa Tâm Về Nhà”, trang 38).
Thêm một vài hướng dẫn khác về hơi thở lúc ngồi Thiền của Thiền Sư Tây Tạng Geshe Kelsang Gyatso như sau (Trích từ Wikipedia):
“When we have settled down comfortably on our meditation seat we begin by becoming aware of the thoughts and distractions that are arising in our mind. Then we gently turn our attention to our breath, letting its rhythm remain normal. As we breathe out we imagine that we are breathing away all disturbing thoughts and distractions in the form of black smoke that vanishes in space. As we breathe in we imagine that we are breathing in all the blessings and inspiration of the holy beings in the form of white light that enters our body and absorbs into our heart. We maintain this visualization single-pointedly with each inhalation and exhalation for twenty-one rounds, or until our mind has become peaceful and alert. If we concentrate on our breathing in this way, negative thoughts and distractions will temporarily disappear because we cannot concentrate on more than one object at a time. At the conclusion of our breathing meditation, we should think `Now I have received the blessings and inspiration of all the holy beings.’ At this stage our mind is like a clean white cloth which we can now colour with a virtuous motivation such as compassion or bodhichitta.”

Thiền Sư Tây Tạng Geshe Kelsang Gyatso Tạm dịch:
“Sau khi đã ổn định chỗ ngồi để toạ Thiền, chúng ta bắt đầu tập trung tư tưởng. Sau đó chúng ta để ý đến hơi thở và để cho nhịp thở ra vào bình thường. Khi thở ra, chúng ta cứ tưởng tượng là chúng ta đang thở ra ngoài những vọng tưởng, như là làn khói đen, sẽ biến mất trong khoảng không. Khi hít vào, chúng ta cũng tưởng tượng rằng chúng ta đang hít vào những hồng ân và những cảm hứng của những sinh vật thiêng liêng dưới hình thức là ngọn bạch quang và chính luồng bạch quang này xuyên vào trong cơ thể ta và thấm dần vào trong tim ta. Chúng ta cần duy trì sự tưởng tượng về hình ảnh nầy mỗi lần thở ra hay hít vào cho đến khi ta cảm thấy tâm rí đã an bình. Nếu chúng ta tập trung vào hơi thở theo phương thức này, những tư tưởng tiêu cực tạm thời sẽ biến mất vì chúng ta không thể tập trung hơn một đối tượng cùng một lúc. Để kết luận về hơi thở lúc toạ Thiền, chúng ta nên nghĩ rằng “Bây giờ, tôi đã nhận được những hồng ân và phước lành từ những đấng linh thiêng”. Ở giai đoạn này, tâm trí tôi giống hệt như tấm vải trắng tinh mà chúng ta có thể biến thành màu sắc đức hạnh như là lòng trắc ẩn và từ bi.”
Nhưng theo Trưởng Lão Thích Thông Lạc trong các trang mạng sau đây:
Nguồn sách:
http://www.nguyenthuychonnhu.net/ebooks/NhungLoiGocPhatDay-1.pdf
Bài: http://www.nguyenthuychonnhu.net/index.php/bdt/310-pxdcptt
thì Trưởng Lão Thích Thông Lạc nhắc đến lời dạy của Đức Phật sau đây rất quan trọng:
1- Nhất tâm là định.
2- Bốn niệm xứ là định tưởng.
3- Bốn tinh cần là định tư cụ.
4- Sự luyện tập, sự tu tập, sự tái tu tập của những pháp ấy là tu tập định ở đây vậy.
5- Thở vô và thở ra là thân hành.
6- Tầm tứ là khẩu hành.
7- Tưởng thọ là tâm hành.
Và căn cứ những chân lý bất biến trên, Trưởng Lão Thích Thông Lạc có những nhận xét khác biệt với hầu hết các Thiền Sư về hơi thở như sau:

“Ví dụ ngồi tu tập Ðịnh Niệm Hơi Thở, nếu cứ mãi lo tập trung trong hơi thở thì bị ức chế tâm.Cho nên khi tu Ðịnh Niệm Hơi Thở mà quan sát Thân, Thọ, Tâm, Pháp nếu có một chướng ngại pháp nào hiện đến trong bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì khắc phục, đẩy lui như trong kinh Tứ Niệm Xứ đã dạy: “Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu, trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu, trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu và trên pháp quán pháp để khắc phục tham ưu”. Nhưng khi bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp không có chướng ngại pháp thì tâm ở đâu? – Tâm ở tại hơi thở. Tâm ở tại hơi thở mà không bắt buộc tâm bám vào hơi thở. Tâm định trên niệm của hơi thở, tức là không ức chế tâm vào hơi thở. Nên trong kinh Nguyên Thủy, Phật gọi là “Ðịnh Niệm Hơi Thở” chứ không gọi là “Quán Niệm Hơi Thở”, vì Quán Niệm Hơi Thở tức là ức chế tâm bám vào hơi thở. (Còn cứ ĐỂ TÂM TỰ NHIÊN BIẾT HƠI THỞ RA VÔ, mới gọi là ĐỊNH). Chúng ta nên đọc lại bài kinh “Nhập Tức Xuất Tức” trong kinh Nguyên Thủy: “Quán ly tham, tôi biết, tôi hít vô. Quán ly tham, tôi biết, tôi thở ra”. Chữ “Quán” ở đây có nghĩa là xả tâm: “Quán xét tâm để tâm không còn tham, sân, si nữa thì tâm sẽ biết hơi thở hít vô. Quán xét tâm để tâm không còn tham, sân, si nữa thì tâm sẽ biết hơi thở thở ra”. Chứ không phải “hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Đó là cách thức tu tập ức chế tâm để tỉnh thức, chứ không phải xả tâm.”
Ngoài việc thực tập theo sách vở tôi cũng thực tập theo lời chỉ dẫn trực tiếp của bạn bè. Người bạn chỉ dẫn cho tôi đó là anh Trần Văn Cát, cựu Thiếu Tá Lực Lượng Đặc Biệt, người bạn tù thân nhất của tôi trong trại tù tại trại Ái Tử và Bình Điền mà tôi đã dành riêng nửa chương để viết về anh trong Hồi Ký Trại Ái Tử Và Bình Điền của tôi xuất bản năm 1993. Anh Trần Văn Cát đi tu đã 25 năm rồi sau khi ra khỏi tù được vài năm. Lúc đầu anh tu trên một ngọn núi ở tỉnh Tuy Hoà. Sau khi qua Mỹ theo diện HO, anh chỉ tu tại gia và đang ở tại tiểu bang Massachusetts. Thỉnh thoảng tôi điện thoại thăm anh ấy và mỗi lần gặp anh, anh thường giảng về Phật Pháp cho tôi nghe. Khi nào cần bộ kinh gì để nghiên cứu, anh nhờ tôi lên các chùa thỉnh về rồi gởi cho anh ta. Riêng về vấn đề thở trong lúc tọa Thiền, anh Cát hướng dẫn cho tôi rằng, khi hít vào thì đọc thầm trong miệng hai chữ NAM MÔ, khi thở ra thì đọc bốn chữ A-DI -ĐÀ- PHẬT. Hơi thở cũng từ từ, thong thả, lúc hít vào cũng như lúc thở ra. Rồi cứ như thế mà tiếp tục vừa thở ra hít vào vừa niệm 6 chữ A-DI-ĐÀ-PHẬT.
Tạm dẫn chứng một số phương thức nói trên, tôi thấy nhìn chung các vị Thiền Sư cũng như bạn bè đều dạy bảo phương pháp toạ thiền tương đối giống nhau nhưng riêng vấn đề hơi thở, tôi thấy các Thiền Sư đều nói chung chung về lượng không khí mà ta thở ra và hít vào. Thiền Sư này thì nhấn mạnh rằng thở “đừng mạnh cũng đừng gấp, thở thật dài và sạch”. Thiền Sư khác lại dạy rằng “Phải để ý là không nên thở dài đến mức tối đa. Làm như thế có thể nguy hiểm cho phổi.” hay “Thở vài hơi tự nhiên rồi khởi sự chú ý đến hơi thở ra, xem nó dài bao nhiêu. Có thể đếm thầm trong trí: một, hai, ba,v..v…Sau vài lần như thế, ta biết được “chiều dài” của hơi thở ra”. Riêng Thiền Sư Sogyal Rinpoche ngài lại bảo“Đừng quá tập trung vào hơi thở, chỉ để cho nó chừng 25 phần trăm, còn 75 phần trăm thì bạn hãy buông xả một cách lặng lẽ bao la”.

Thiền Sư Sogyal Rinpoche Xem thế, thật là khó khăn khi chúng ta muốn lúc hít vào và lúc thở ra, những động tác này phải được đều đặn, đồng bộ. Như thế rõ ràng lần hít thở nầy khác hẳn với lần hít thở khác về số lượng không khí đưa vào và đẩy ra khỏi phổi. Sự không đồng đều này nhiều khi làm cho phổi bị mệt lúc hít vào, thở ra. Vã lại, đo “chiều dài” hơi thở là cả một vấn đề khó khăn, phức tạp, thực hiện có tính cách tương đối thôi. Vì vậy, sau khi thực tập theo những phương pháp do các Thiền Sư dạy bảo, tôi thấy khó thích ứng với những phương pháp này. Vì thế tôi tự nghĩ ra một phương pháp riêng của tôi để khi hít vào và lúc thở ra, tôi sẽ tiếp nhận một số lượng không khí tương đối giống nhau cho mỗi lần hít thở. Đó là thở theo nhịp điệu của âm nhạc. Tôi nghĩ rằng lúc hít vào, không khí sẽ di chuyển bao nhiêu trường canh (measure) rồi dừng lại. Sau đó lúc thở ra, không khí cũng sẽ di chuyển bao nhiêu trường canh rồi phải dừng lại. Làm như vậy số lượng không khí lúc hít vào sẽ bằng nhau, và số lượng khí carbonic thải ra cũng bằng nhau. Động tác thở theo nhạc này làm cho phổi hít thở được đều đặn và phổi khỏi bị mệt. Nếu hành giả nào không chịu thở cho đúng nhịp sẽ làm cho số lượng không khí vào ra không đều khiến phổi bị mệt, hành giả ấy xem như bỏ cuộc (giống như ca sĩ hát sai nhịp sẽ coi như bị loại vậy).
Sau đây là một đoạn nhạc tôi sáng tác để ứng dụng cho nhịp thở:

- Khuông nhạc thứ nhất ứng dụng lúc hít vào.
- Khuông nhạc thứ hai ứng dụng lúc thở ra.
- Hai khuông nhạc kế tiếp là sự nối tiếp hơi thở ( giống như hai khuông nhạc trên)
Lúc hít vào, ta bắt đầu đếm thầm các số 123456 trong miệng giống như đang hát vậy. Vì giống như ca sĩ đang hát, hết trường canh nầy ta sang trường canh khác nên số lượng không khí lúc hít vào hay thở ra rất đều đặn. Hít vào làm sao lúc ngang số 6 là phổi đã đầy không khí rồi. Sang trường canh thứ tư thì phải ngưng hít vào để nghỉ một thời gian hai nhịp (tôi để dấu lặng trắng).
Sau khi ngưng hít vào hai nhịp ở trường canh thứ tư xong, ta bắt đầu thở ra ở trường canh thứ nhất của khuông nhạc thứ hai ngay và cứ thế ta đếm thầm trong miệng như hát 12345678. Khi thở ra đến số 6 ở trường canh thứ 3 của khuông nhạc thứ hai là lúc ta đẩy hết không khí trong phổi ra xong. Sở dĩ lúc thở ra ở trường canh thứ tư tôi cũng để một dấu lặng trắng vì theo Thiền Sư Sogyal Rinpoche, “mỗi lần thở ra, trước khi hít vào lại, bạn sẽ thấy có một khoảng hở tự nhiên, khi sự chấp thủ đã tan biến. Hãy an trú trong khoảng hở ấy, không gian rộng mở ấy.” Nghĩa là Ngài bảo rằng lúc thở hết hơi trong phổi ra rồi, sẽ có một khoảng thời gian nghỉ rất ngắn trước khi hít không khí vào phổi lại. Và cứ thế vừa thở ra xong ta lại bắt đầu hít vào ở khuông nhạc thứ ba rồi tiếp tục như thế hít vào thở ra lúc toạ Thiền. Nhờ phương pháp này mà thể tích không khí vào ra trong buồng phổi tương đối đều đặn giống nhau, không làm cho phổi bị mệt. Dĩ nhiên lúc thở ra hay hít vào phải từ từ giống như ca sĩ hát phải từ từ để cho đúng nhịp. Đối với phương pháp này tôi phải lấy máy đánh nhịp Metronome của nhà sáng chế Johann Maelzel, chế tạo năm 1815, ngõ hầu đưa ra một số lượng tiếng gõ nhịp thật chậm để tôi theo đó mà thở cho thong thả. Thực tập thở theo phương pháp này, tôi tạm thử lấy số lượng tiếng gõ của máy Metronome trung bình là: Allegro M.M. = 180. Trong mấy khuông nhạc, tôi để tượng trưng mấy gạch dọc cho có vẻ là những nốt nhạc thôi chứ không ghi nốt nhạc nào cả. Cuối đoạn nhạc tôi không viết hai vạch nhạc để chấm dứt, vì còn thở ra hít vào liên tục. Nếu tôi để hai vạch sổ dọc như tất cả những bản nhạc để chấm dứt theo luật sáng tác, thì một số hành giả nếu tập theo phương pháp này sẽ ngưng thở giống như ngưng hát ngay.
Vẫn biết rằng vì luôn suy nghĩ đến nhịp điệu của hơi thở nên tâm bị phân tán nhưng theo Thiền sư Osho, cần phải có những kỷ thuật trước để loại khỏi những chướng ngại trước khi Thiền, nên tôi vẫn tập theo cách thở của tôi xem sao; mặc dầu Ngài Krisnamurti không chấp nhận phải có phương pháp kỷ thuật trước vì sẽ cản trở việc nhập Thiền. Và cứ thế tôi thực tập thường xuyên ngày này qua ngày khác. Thường thì sau mỗi lần ngồi Thiền, các hành giả thường cử động chân tay qua lại cho máu lưu thông vì lúc ngồi Thiền bất động, máu trong cơ thể không được luân lưu đều đặn. Riêng tôi, cứ mỗi lần sau thời gian tọa Thiền xong, tôi thường bấm hay thoa mạnh vào các huyệt đạo để đả thông kinh mạch cho máu lưu thông trở lại. Trên đầu thì tôi thoa huyệt Bách hội, tiếp theo tôi vò hai cái tai. Vì trong khoa Nhĩ Châm, trên vành tai đều có tất cả các huyệt đạo để chữa bệnh cho lục phủ ngũ tạng. Kế đến, tôi dùng bàn tay thoa vào trán và mặt vì trong khoa Diện Châm, trên mặt cũng có tất cả các huyệt để chữa bệnh như khoa Nhĩ Châm vậy. Tuy nhiên nhiều khi tôi chỉ thoa vào huyệt Ấn Đường ở trán, các huyệt Tinh Minh, Toán Trúc ở mắt, hai huyệt Nghinh Hương ở hai bên mũi mà thôi. Sau đó tôi tiếp tục thoa vào hai cánh tay để làm cho máu ở hai tay lưu thông đều đặn trở lại. Nhưng thường thì tôi hay ấn vào ba huyệt tương đối quan trọng của đường kinh Thủ Dương Minh Đại Trường là huyệt Kiên Ngung, Khúc Trì và Hiệp Cốc là đủ. Tiếp theo, tôi thoa mạnh hai bàn tay vài chục giây vì trên mu bàn tay cũng như trong lòng bàn tay, có rất nhiều huyệt đạo. Riêng đối với bắp đùi, cẳng chân, khi thì tôi thoa mạnh khi thì tôi bấm vào các huyệt Hoàn Khiêu, Phong Thị của đường kinh Thiếu Dương Đởm, rồi các huyệt Độc Tỷ, Túc Tam Lý, Phong Long của đường kinh Túc Dương Minh Vị thì máu cũng lưu thông. Vì trong thời gian đang còn thực tập nên chưa dám suy tư về những tư tưởng cao siêu để đạt đến giác ngộ. Mà chỉ cố gắng làm sao tập thở cho đúng phương pháp tọa Thiền do các Thiền sư để lại trong sách vở mà thôi. Ngoài những vấn đề liên quan đến cách ngồi, cách thở, lúc toạ Thiền thường gặp một số trở ngại khác làm cho việc hành Thiền không có kết quả, hay lắm lúc phải vất vả lắm mới hành Thiền được. Theo Ngài Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14. Ngài Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14.
thì “Kinh điển Phật giáo đề cập đến 4 loại trở ngại chính, một Thiền giả phải vượt qua để đi tới mức thành công. Thứ nhất là các vọng tâm hay những tư tưởng tán loạn khởi lên trên bình diện thô thiển của tâm thức làm cho ta không thể định tâm được. Loại thứ hai là sự buồn chán, hôn trầm khiến cho thiền giả ngủ gục. Loại thứ ba là sự buông lung, giải đãi, tâm ta không giữ được sự tinh tường sáng sủa. Cuối cùng vi tế hơn, đó là sự lăng xăng, khích động bắt nguồn từ bản chất dễ lay động của tâm.” (Trong tác phẩm “Transforming the mind” Chuyển hoá tâm) của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, Chân Huyền dịch, trang 21). Vì mới thực tập hành Thiền nên tôi gặp trở ngại này thường xuyên và đang tìm cách vượt qua. Để vượt qua những trở ngại này Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 khuyên chúng ta: “Trong 4 loại trở ngại của Thiền tập, hai loại chính là sự tán loạn và buông lung. Chúng ta phải đối phó với 4 thứ chướng ngại này ra sao? Tâm buồn chán hôn trầm thường liên quan tới tình trạng sức khoẻ của cơ thể, như thiếu ngủ chẳng hạn thường làm cho chúng ta hôn trầm. Khi ăn uống không thích hợp với tình trạng cơ thể hoặc ăn nhiều quá, ta cũng dễ bị buồn nản. Đó là lý do các vị tăng sĩ trong tu viện Phật giáo thường được khuyên không nên ăn quá ngọ (sau bữa trưa). Giữ giới này, các tăng ni có thể giữ được đầu óc tỉnh táo phần nào khi hành thiền, và tâm trí cũng sáng suốt hơn khi thức dậy buổi sớm hôm sau. Thói quen ăn uống đúng phép có ảnh hưởng rất tốt để chống lại sự hôn trầm, buồn nản. Đối với tâm buông lung giải đãi, người ta cho rằng sở dĩ Thiền giả bị như vậy vì họ thiếu năng lượng khi hành Thiền, khiến cho họ không giữ được tỉnh thức. Khi gặp chướng ngại này, ta cần làm sao để cho tinh thần được phấn chấn. Một trong các phương cách tốt nhất là ta nên nuôi dưỡng sự lạc quan vui vẻ khi nghĩ tới những thành quả của các việc thiện ta đã làm được trong đời v v…Đó là một thứ đối trị được với tâm buông lung giải đãi.” (Trong tác phẩm “Chuyển hoá tâm” của Đức Đạt Lai lạt Ma tứ 14, trang 23).
Ngoài việc tập tọa Thiền ở nhà, mỗi lần vào bơi trong hồ bơi của Bally Gym Center, tôi cũng ngồi tập tập trung tư tưởng như phương pháp Thiền luôn. Mỗi lần dầm mình trong nước nóng, nước ấm thì đúng hơn, trong spa, tôi thường chỉ ngâm mình khoảng 20 phút thôi. Vì nếu ngâm lâu quá sẽ làm cho cơ thể nóng lên không tốt cho sức khoẻ. Trong thời gian ngâm mình trong nước nóng, tôi ngồi trên băng ghế dài bằng đá nằm dưới nước rồi dựa lưng vào thành bờ hồ. Tôi cũng ngồi theo thế bán già, hai tay để úp vào đầu gối, rồi bắt đầu tập trung tư tưởng. Có lần lúc bắt đầu ngồi tập trung tư tưởng, tôi nhìn đồng hồ treo trên tường trước mặt là 4:00 giờ chiều. Tôi liền nhắm mắt để thực tập bất chấp cả nước nóng đang sôi kêu lùng bùng quanh cơ thể mình và nước sủi bọt lên chung quanh ngực mình. Vì nước nóng sủi bọt lên tạo thành những gợn sóng, và hai vòi nước phun ra phía sau lưng tôi từ từ đẩy nhẹ cơ thể tôi ra khỏi chỗ ngồi, khiến tôi trở thành một vật của nguyên lý Archimedes làm tôi tỉnh dậy vì sắp chìm dưới đáy hồ. Mở mắt ra, tôi thấy một ông Mỹ già ngồi ngâm nước nóng bên phải tôi cách tôi khoảng một thước, trước mặt tôi một ông già có vẻ người Trung Đông cũng đang ngồi ngâm nước nóng dựa lưng vào bờ thành. Hai ông già này xuống ngâm nước trong spa bên cạnh tôi lúc nào tôi cũng chẳng hay biết, vì lúc tôi xuống ngâm nước rồi bắt đầu tập trung tư tưởng, trong spa chỉ có một mình tôi thôi. Nhìn đồng hồ trên tường tôi thấy kim dài chỉ con số10. Điều này chứng tỏ trong thời gian 10 phút đó tôi ngồi Thiền trong nước nóng đang sủi bọt quanh tôi mà tôi chẳng biết gì chung quanh cả. Thế rồi tôi tự nhủ thầm rằng, đang thực tập ngồi tập trung tư tưởng như vậy là khá lắm rồi, nhưng tiếc rằng chỉ được có 10 phút thôi. Khi tôi mở mắt ra, hai ông già nói trên nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên vì thấy tôi vừa ngồi ở một tư thế như tư thế của một người tập Yoga. Có lẽ hai ông già ấy nghĩ rằng tập yoga mà lại tập ngồi trong nước nóng sủi bọt như đang sôi? Chuyện khó tin nhưng lại có thật vì đang xảy ra trước mắt họ!
Hết tập ngồi tập trung tư tưởng trong spa tôi lại tập ngồi tập trung tư tưởng trong phòng tắm hơi (Steam room). Thường mỗi khi tắm hơi tôi chỉ ngồi khoảng 7 phút thôi, lâu lắm là 10 phút. Riêng trong phòng sauna, tôi chỉ ngồi 15 phút như chỉ thị treo trên tường trước cửa vào phòng. Bởi vì nếu ngồi lâu hơn mồ hôi sẽ ra nhiều quá đưa đến tình trạng mất nước trong cơ thể, dễ sinh bệnh (Đông y gọi là âm hư). Dĩ nhiên ngồi trong phòng tắm hơi giống như ngồi xông hơi trong mền lúc bị cảm cúm vậy. Hơi nóng toả ra khắp phòng rồi nhỏ từng giọt nước rất nóng. Mồ hôi ra như tắm. Lúc vào phòng tắm hơi mọi người thường im lặng nhiều hơn là nói chuyện. Đó là lý do tại sao tôi muốn thực tập tập trung tư tưởng ngay cả trong phòng tắm hơi và cũng để thử thách xem mình ngồi chịu đựng trong hơi nóng được bao lâu. Có lần tôi ngồi tập trung tư tưởng một mình trong phòng, mắt lim dim. Tôi cố gắng không để ý gì trong phòng cả, nhưng rồi vẫn cảm nhận được mồ hôi toát ra trên lưng, trên cơ thể; cảm nhận được hơi nóng đang toả ra khắp phòng. Nếu so với sức nóng của nước trong spa thì hơi nóng trong phòng tắm hơi nóng hơn nhiều, có thể gấp đôi, gấp ba; nhất là lúc máy bắt đầu chạy để cho hơi nóng toả ra giữa phòng. Bỗng nghe một tiếng ho làm tôi “tĩnh mộng”. Tôi liền mở mắt ra thì thấy một Ông Mỹ già khoảng 75 tuổi bước vào phòng để xông hơi. Bước ra khỏi phòng nhìn đồng hồ treo trên tường, tôi thấy mới ngồi tập trung tư tưởng được khoảng 7 phút thôi. Ngồi tập trung tư tưởng được bảy phút trong phòng tắm hơi lúc hơi nóng đang toả ra mà không biết gì xảy ra quanh mình là cả một vấn đề trong thời gian mới thực tập! Dĩ nhiên trong thời gian ngồi thực tập tập trung tư tưởng trong spa cũng như trong phòng tắm hơi the steam room, sauna), tôi không bao giờ hít ra thở vào theo phương pháp đếm hơi thở lúc hành Thiền; vì hai địa điểm này hơi nóng toả ra quá nhiều nếu hít hơi vào sẽ rất nguy hiểm cho phổi và dễ bị sặc ngay. Cũng như không đọc kinh hay nghĩ gì liên quan đến Phật pháp vì nơi đây là những địa điểm không được trong sạch cho lắm, mà chỉ ngồi tập trung tư tưởng thì đúng hơn, và suy nghĩ đến một vấn đề nào đó hay đếm từ số 1 đến số 10 rồi đếm ngược lại. Mục đích chỉ là xem cơ thể mình chịu đựng sức nóng ra sao lúc ngồi tập trung tư tưởng và quên đi ngoại cảnh xung quanh mình. Lợi dụng lúc ngồi tập trung tư tưởng trong phòng này, ta nên ngồi thật thẳng lưng rồi cho lưng dựa sát vào tường. Lúc mới dựa vào, da lưng cảm thấy rất nóng. Tuy nhiên nếu để yên như thế khoảng vài dây sau, da sẽ quen và chịu đựng được hơi nóng ngay. Để lưng dựa sát vào tường rất lợi ở chỗ trên lưng, có hai dãy huyệt của Bàng Quang Kinh nằm trên hai đường thẳng song song và đối xứng với xương sống chạy từ hai vai xuống hai mông. Hai dãy huyệt này có thể chữa tất cả các bệnh của cơ thể; đặc biệt là lục phủ và ngũ tạng tâm, can, tỳ, phế, thận vì trên hai dãy huyệt nầy có các huyệt tâm du, can du, tỳ du, phế du, thận du. Vì thế nên khi lưng nóng lên, các huyệt này cũng sẽ nóng lên xem như đang được châm cứu nên kinh mạch trong cơ thể được đả thông, khiến cơ thể cảm thấy sảng khoái lên.
Nói chung, trong thời gian tập Thiền, tôi luôn luôn tập bất cứ lúc nào và nơi nào tôi có thể thực hành được là tôi tập. Từ trong nhà, sau vườn dưới cây cam, trong spa, trong phòng tắm hơi (steam room, sauna) của Bally Gym Center. Khi thì tôi đứng Thiền, khi thì ngồi Thiền, thỉnh thoảng cũng nằm Thiền nữa. Vì đang thực tập Thiền nên tôi tập tổng hợp theo nhiều phái khác nhau để thử nghiệm và theo Thiền sư Osho, đi, đứng, nằm ngồi đều Thiền được cả.
Và sau khi cảm thấy thực tập được vững vàng, tôi sẽ bắt đầu hành Thiền thật sự.
Dương viết Điền, California, ngày 04 tháng 09 năm 2012

Tác giả đang thực tập tọa Thiền dưới cây cam sau vườn -
RMS TUYỂN TẬP HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG Ở SAN JOSE VÀ SACRAMENTO CỦA TÁC GIA KIỀU MỸ DUYÊN
Tối thứ ba 21/6/2022, tôi đến phi trường San Jose, thời tiết nóng 90 độ, Mỹ Thanh (phu nhân của thi sĩ Chinh Nguyên- nguyên chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt) đón tôi với nụ cười thật tươi. Trời nóng không có gió nhưng nhìn người xinh đẹp, tự nhiên thấy lòng mình dịu xuống.
Về đến nhà Mỹ Thanh và Chinh Nguyên, thức ăn đã nấu sẵn, trước khi ăn tối, tôi đi một vòng từ trước ra sau nhà. Trước nhà, hoa rực rỡ, hoa vàng, hoa tím, hoa trắng rung rinh trong gió. Có nhiều cây cổ thụ thật to ở ngoài đường rợp bóng mát vào nhà. Patio thật lớn làm phòng thu hình. Sau nhà, rau tươi, cây cỏ xanh tươi, hồ cá với những con cá thật to bơi lội nhởn nhơ, 8 con vịt nhỏ, 2 con vịt to, những con bồ câu bay lượn trong nhà, v.v.
Nhà ở cuối đường nên có nhiều đất, nhà đối diện là nhà em ruột của Mỹ Thanh, không có một hạt bụi, phòng khách có nhiều hoa, hoa trước nhà, sau nhà, hoa tươi trên bàn thờ Đức Mẹ, chỗ nào cũng hoa. Nhà không chứa nhiều đồ đạc nên rất thoáng mát như nhà của người Nhật, người Đại Hàn.
Sáng thứ tư 22/6/2022, chúng tôi đi thăm tòa báo Cali Today, đài TV. Ngày xưa, mỗi lần tôi đến San Jose, chủ báo, chủ đài Nguyễn Xuân Nam phỏng vấn chúng tôi, ngày nay cũng như thế. Trước khi lên San Jose, Nguyễn Xuân Nam có nói một câu làm tôi cảm động:
– Khi chị đến San Jose, đến ngay thăm em buổi sáng nhé, buổi chiều em đi nhà thương lọc máu.
Nguyễn Xuân Nam rất ân cần, niềm nở với người ở xa đến, mỗi lần 2 vợ chồng Nguyễn Xuân Nam đến Orange County thường đến thăm tôi. Có lần, Nguyễn Xuân Nam nói sẽ đến Orange County thăm thầy Quảng Thanh, viện chủ chùa Bảo Quang. Tôi đem lời này của Nguyễn Xuân Nam thưa lại với thầy Quảng Thanh, thầy nói: khi 2 vợ chồng Nguyễn Xuân Nam đến, thầy sẽ mời ở lại chùa để biết sinh hoạt của chùa. Chùa lúc nào cũng có sinh hoạt, buổi sáng, buổi tối đều có tụng kinh, nhưng Nguyễn Xuân Nam hứa rồi chưa đến cho đến khi thầy Quảng Thanh qua đời, Nam cũng đã cầu nguyện cho thầy.
Nguyễn Xuân Nam phỏng vấn tôi về việc ra mắt tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường, giọng rất xúc động khi Nam nhắc đến một đề tài nào đó. Nam nói:
– Bây giờ Nam không nói thì đến bao giờ mới nói hả chị?
Chúng tôi cũng được biết khi Nam đặt câu hỏi với các chính khách rất độc đáo và làm đau đầu nhiều người.
Ai làm truyền thông cũng biết một điều: sự thật, sự thật và sự thật. Nhà thơ Phùng Quán đã viết:
“… Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá”.
Nguyễn Xuân Nam phỏng vấn chúng tôi chừng 1 giờ, để yểm trợ buổi ra mắt tuyển tập của tôi vào ngày thứ bảy 25/6/2022 và Chúa nhật 26/6/2022 ở Sacramento.
Đến nơi nào chúng tôi cũng thăm chùa và nhà thờ. Đến chùa Đức Viên, ngày xưa sư bà Đàm Lựu học Trưng Vương, học ban C là ban triết. Chùa nữ, chùa rất rộng, các ni sư đang đọc kinh cầu nguyện ở chánh điện. Chúng tôi cũng đi thăm một số chùa nhỏ. Chùa ở San Jose rất nhiều, chúng tôi đi ngang 1 con đường tìm chùa của sư thầy Trần Minh Lợi, Tiến Sĩ luật khoa, cựu chủ báo Thằng Mõ, nhưng tìm hoài không được.
Nhà thờ có linh mục Việt Nam cũng nhiều, tín đồ đến nhà thờ Saint Maria Goretti rất đông, thêm1 nhà thờ đang xây, 1 nhà thờ đang trùng tu. Chúng tôi email và gọi điện thoại thăm Linh Mục Lê Trung Tướng, mà có lần Đại Tướng Trần Thiện Khiêm nói với tôi:
– Cô Kiều Mỹ Duyên, tôi đã theo đạo, Trung Tướng rửa tội cho Đại Tướng.
Kiều Mỹ Duyên thăm trụ sở hội cựu tù nhân chính trị.
Chúng tôi đi thăm trụ sở của khu hội cựu tù nhân chính trị, trên bàn thờ có di ảnh của các Tổng Thống, các tướng lãnh đã tử tiết, trên bàn thờ có di ảnh ông Trần Trảng, cựu chủ tịch hội cựu tù nhân.
Ông chủ tịch hội cựu tù nhân, ông Mai Khuyên nói:
– Ngày xưa trụ sở ở phố, phải trả $6,000 một tháng không trả nổi nên dời về đây, 900 square feet, $1,800 một tháng. Đó là tiền nhà, còn tiền điện nước, bảo hiểm, nước uống cho khách tới tham quan, v.v. Tổng cộng không dưới $3,000 một tháng.
Tôi nghĩ 10 người trong ban chấp hành có thể bỏ tiền túi ra.
Trụ sở của hội tù nhân chính trị ở trong 1 khu đất mà xung quanh là rừng cây cổ thụ rất to cao cho bóng mát quanh năm, tượng Phật Bà Quan Âm rất đẹp, tượng Đức Mẹ Maria rất đẹp, du khách đến đây rất thích.
Nhìn tới nhìn lui không thấy hình Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, mỗi lần chị và anh chị em H.O tổ chức đại nhạc hội Cám Ơn Anh, người thương binh Việt Nam Cộng Hòa, lấy tiền giúp cho cô nhi quả phụ, tử sĩ ở quê nhà.
Tôi hỏi ông Mai Khuyên:
– Sao tôi tìm hoài không thấy hình của chị Hạnh Nhơn, ký giả chiến trường Phan Trần Mai, trung tá Nuôi?
Ông Mai Khuyên trả lời:
– Chúng tôi có xin hình của Trung Tá Hạnh Nhơn, nhưng hội cựu nữ quân nhân ở đây chưa cho.
Tôi nói:
– Dễ quá, dễ quá, tôi sẽ gửi hình chị Hạnh Nhơn và Phan Trần Mai cho hội.
Buổi chiều, chúng tôi thăm mộ Phan Trần Mai. Mai thuộc binh chủng Nhảy Dù, sau này giải ngũ đi làm cho nhật báo Trắng Đen. Khi định cư ở San Jose, Mai đi làm ngay để lấy tiền giúp cho chị em còn kẹt ở quê nhà, có người còn đang ở tù.
Phan Tuấn, em ruột của Phan Trần Mai hướng dẫn chúng tôi và Đại Úy Đào, Lê Diễm đến mộ của Mai. Sau khi Mai qua đời, người nhà hỏa táng, tro được đặt trên mảnh đá, dưới là dòng suối nước chảy róc rách.
Chúng tôi im lặng. Tôi thì thầm:
– Phan Trần Mai ơi, chị đem tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường ba bản tặng em. Trong tuyển tập này, có bài viết về em, về chị Hạnh Nhơn.
Ở Orange County, nhiều người thương Mai lắm, như chị Hạnh Nhơn, bà Việt Định Phương- chủ báo Trắng Đen. Mỗi lần Mai đến đây và khi trở về San Jose, bà Việt Định Phương pha cà phê, chị Hạnh Nhơn gói bánh, Đại Úy Nguyệt cũng gói thức ăn cho Mai, vì Mai một mình lái xe, sợ dọc đường Mai đói thì có thức ăn. Mai có một thời làm cho báo Trắng Đen sau khi giải ngũ. Ông bà Việt Định Phương thương Mai như con trong gia đình nên chăm sóc Mai rất kỹ.
Ra mắt sách Hoa Cỏ Bên Đường ở San Jose 25/6/2022
Về San Jose lần này, tôi rất bùi ngùi vì nhiều người quen biết đã ra đi. Năm 1994, tôi đến San Jose ra mắt bút ký chiến trường Chinh Chiến Điêu Linh, tôi gặp rất nhiều người nổi tiếng tham dự như: Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn và phu nhân Đề Đốc Trần Văn Chơn, Trung Tướng Lâm Quang Thi và phu nhân, bộ trưởng bộ giáo dục Ngô Khắc Tinh, em ruột của phu nhân Trung Tướng Ngô Du là trung tá Đại, ông Trần Trảng, chủ tịch hội cựu tù nhân, v.v. Bây giờ thì quý vị đã về với ông bà. Tôi rất bùi ngùi xúc động người còn, người mất.
Bác sĩ Trần Công Luyện, thầy của chúng tôi, dạy ở trường trung học Lý Thường Kiệt. (Thầy ngồi phía trước, trên xe lăn). Chánh án Phan Quang Tuệ và phu nhân đứng cạnh Kiều Mỹ Duyên và thân hữu.
Quan khách đến trong ngày ra mắt tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên ở San Jose 25/6/2022, người lớn tuổi nhất đó là bác sĩ Trần Công Luyện, năm nay 93 tuổi, là thầy của chúng tôi, dạy ở trường trung học Lý Thường Kiệt, trung tâm Huấn Luyện Quang Trung năm 1956, tôi học đệ lục với thầy, sau đó chuyển đến trung học Trưng Vương học đệ tam. Thầy ngồi trên xe lăn, con của thầy là bác sĩ Trần Công Khanh đưa thầy đi. Tôi rất cảm động khi thầy mua 1 quyển Hoa Cỏ Bên Đường là $1,000.
Nhiều nhà hảo tâm khác yểm trợ nhiệt thành: Bác sĩ Đỗ Văn Học, chủ báo Thằng Mõ ở Los Angeles mua 1 quyển $500, tu sĩ Trần Minh Lợi mua 1 quyển $100, Hùng Tâm, con nhà sách Khai Trí, mua 1 quyển $200, ông bà Lê Đình Thọ mua 1 quyển $200, v.v.
Kiều Mỹ Duyên bên các em thiếu nhi trong ban văn nghệ mừng ngày ra mắt sách.
Chúng tôi đón tiếp nhiều quan khách đến buổi ra mắt sách: Linh mục Trần Đình Thảo đến từ Fresno, chánh án Phan Quang Tuệ và phu nhân, giáo sư Trần Hoài Bắc, đại học Stanford, và phu nhân, Đại Tá Vũ Văn Lộc, sáng lập bảo tàng viện Việt Nam, ông Biên Đoàn, cô Vân Lê, v.v.
Thẩm phán Phan Quang Tuệ, con trai của bác sĩ Phan Quang Đáng, 23 năm làm chánh án, từ tiểu bang đến liên bang, ngày xưa là sinh viên đấu tranh, năng động, đối đãi bạn hữu rất tốt. Có lần, tôi gọi cho ông:
– Có người lính Biệt kích rất có hiếu với mẹ, đem mẹ vào nhà thương giải phẫu. Trước khi đi, bà còn nấu canh rau, để sau khi giải phẫu trở về nhà thì 2 mẹ con ăn. Nhưng chẳng may, sau khi giải phẫu, người mẹ mê man và qua đời. Người con trai duy nhất của bà xách súng vào bệnh viện tìm bác sĩ. Người chiến sĩ đã ra Bắc Việt, bị bắt ở trong tù, gọi ra nhờ Hòa Thượng cầu siêu cho mẹ, không xin giảm tội, nhờ luật sư biện hộ vì người con hiếu thảo này muốn chết theo mẹ.
Có một chủ nhà hàng nói với chúng tôi, người con hiếu thảo này thường đến nhà hàng và chỉ gọi món ăn cho bà cụ những món bà thích nhất, ăn xong trả tiền cộng với tiền hoa hồng. Anh chàng này chăm sóc mẹ rất chu đáo, nhặt từng cọng rau cho mẹ.
Một trường hợp khác, một thanh niên trai trẻ đi theo diện H.O với cha mẹ, người cha ở tù lâu năm, sang Hoa Kỳ bệnh nằm một chỗ, người mẹ lặn lội thăm chồng, vất vả nuôi con nên bị bệnh tim. Người trẻ này muốn tìm việc làm để có tiền giúp cho cha mẹ. Một ngày đẹp trời, có người hẹn đến quán cafe để cho việc làm. Vừa đến thì gặp 2 băng đánh nhau, người trẻ này võ nghệ cao cường, đưa tay cướp con dao của tên cướp sắp sửa chém đối thủ, chẳng may dấu tay của người nghĩa khí này in trên con dao, cuối cùng người làm ơn họa vào thân, bị Cảnh Sát bắt. Sau khi xử ở tòa án San Jose, mãn tù đến tòa án di trú, đem nhốt vào nhà tù Orange County và chờ trục xuất về Việt Nam. Chúng tôi hỏi rất nhiều trường hợp oan ức với chánh án Phan Quang Tuệ vì chúng tôi quen nhau hơn 60 năm, ông chỉ dẫn rất tỉ mỉ, nhiều trường hợp khác nhau nhưng trường hợp nào cũng cần đến luật sư giỏi.
Chánh án Phan Quang Tuệ rất quan tâm đến người trẻ, đến hậu duệ và ông rất nhân đạo. Chúng tôi còn nhớ mãi một trường hợp mà tôi và ký giả Phan Trần Mai sắp đứng tim, chánh án Phan Quang Tuệ mời chúng tôi dùng cơm trưa, nhưng tôi đến trước giờ trưa để xem ông xử kiện. Một phụ nữ ốm nhom người Cuba làm ở tòa tổng lãnh sự Cuba ở San Francisco, hết nhiệm kỳ bà ở lại Hoa Kỳ xin tị nạn cùng đứa con 14 tuổi. Hôm đó, cộng đồng tị nạn Cộng Sản Cuba đến tòa án rất đông yểm trợ người đàn bà đáng thương này. Mọi người phập phồng chờ đợi phán quyết của quan tòa, nếu chánh án xử người đàn bà có tội thì 2 mẹ con bà sẽ bị trục xuất về Cuba, đi ở tù, chồng bà đã lập gia đình với người đàn bà khác.
Sau khi luật sư 2 bên bàn cãi, và nhờ cộng đồng tị nạn Cuba yểm trợ, người đàn bà ốm yếu này được chánh án Phan Quang Tuệ tha bổng. Người đàn bà ốm yếu quỳ lạy chánh án Phan Quang Tuệ như tế sao, cậu con trai cũng lạy theo mẹ, cộng đồng tị nạn Cuba đứng dậy xá xá chánh án.
Chúng tôi vô cùng xúc động và mừng cho người đàn bà bất hạnh được ở lại Hoa Kỳ và đứa con trai sẽ tiếp tục đến trường như những đứa trẻ khác. Hình ảnh người đàn bà lạy chánh án chúng tôi nhớ mãi cho đến bây giờ như ngày hôm qua dù chuyện này đã xảy ra từ mấy chục năm về trước.
Kiều Mỹ Duyên ký tên lưu niệm cho khách mua sách Hoa Cỏ Bên Đường. (Linh Mục Trần Đình Thảo đến từ Fresno, đứng bên phải Kiều Mỹ Duyên)
Giáo sư Trần Hoài Bắc dạy đại học Stanford thường hướng dẫn sinh viên đến viện bảo tàng Việt Nam nghiên cứu về hành trình tị nạn của người Việt Nam.
Cha Trần Đình Đệ, cựu trung tá Nhảy Dù, được rất nhiều người kính mến. Cha đã hưu trí nhưng rất quan tâm đến đồng hương của mình và được đồng hương quý mến. Qua cuộc đối thoại trong điện thoại, chúng tôi biết cha Đệ còn khỏe mạnh và đầy sĩ khí như ngày xưa.
Luật sư Nguyễn Quốc Lân đến từ Orange County.
Luật sư Nguyễn Quốc Lân đến từ Orange County. Luật sư Lân nói:
– Đi ngang thấy có cờ vàng ba sọc đỏ phất phới nên đến đây.
Kiều Mỹ Duyên và bạn bè, thân hữu trong buổi ra mắt sách ở San Jose.
6 giờ sáng Chúa nhật 26/6/2022, tôi thức dậy nghe chim hót líu lo, ánh sáng chói chang báo hiệu một ngày sẽ nắng. Nắng chói chang ở mọi nơi. Mỹ Thanh, bà chủ nhà duyên dáng, mời mọi người ăn sáng trước khi ra khỏi nhà.
Lê Diễm và Sơn đến là lên đường. Phái đoàn gồm có thi sĩ Chinh Nguyên, Mỹ Thanh, Lê Diễm, Sơn và tôi lên đường đến Sacramento. Mai Hân mời ăn sáng, Hoàng Mộng Thu mời ăn sáng, và 10 gia đình mời ăn sáng. Nếu không ăn mà nhận tiền mỗi người cho $100 chắc trẻ em mồ côi, chắc trẻ em mồ côi sẽ có thức ăn, ăn cả năm chưa hết!
Trên đường đi, những phụ nữ nói chuyện líu lo như chim hót, chuyện Trời mây đất nước, chuyện “tình” của những người nổi tiếng, hơn 90 tuổi, 2 năm cưới vợ một lần, chuyện tình bao giờ cũng hấp dẫn. Chuyện một linh mục đẹp trai nói chuyện hay, có bằng tiến sĩ, làm việc xã hội rất nhiều. Một hôm, bỗng dưng có một tín đồ Công Giáo đem súng vào nhà thờ, chĩa vào đầu và nói:
– Nếu cha không thương thì tôi sẽ tự sát.
Làm cả nhà thờ náo loạn. Người kể chuyện có mặt ở nhà thờ hôm đó. Chuyện này tôi biết từ lâu, vì ai cũng biết thì làm truyền thông sao lại không biết chứ?
Tôi đã từng phỏng vấn vị linh mục đẹp trai này. Nhiều người quen với gia đình của người đàn bà đẹp kia cho biết: linh mục đã làm phép xác, cầu nguyện cho bà ngoại, cha mẹ của tín đồ đó, trong gia đình hễ có người đau thì mời linh mục đến cầu nguyện, có người chết thì mời linh mục đến làm phép xác, v.v. Rồi từ từ tín đồ thương linh mục hồi nào không hay, cho đến khi cô cầm súng vào nhà thờ làm xáo trộn cả buổi lễ. Cuối cùng, người phụ nữ đẹp này được đưa vào nhà thương tâm thần, trước đây cô ấy cũng đã ở nhà thương. Tội nghiệp vị linh mục làm việc hết lòng hết dạ, bỗng dưng phiền não xảy đến với mình.
Ngồi trong xe hơn 2 giờ đồng hồ, nhiều chuyện tình sôi nổi được kể liên tục. Công nhận những người làm truyền thông việc gì cũng biết, chuyện vui, chuyện buồn, chuyện tình, v.v.
Ra mắt sách Hoa Cỏ Bên Đường ở Sacramento 26/6/2022
Đến Sacramento, đến nhà phu nhân nhà văn Tô Ngọc. Ký giả Tô Ngọc ngày xưa làm cho báo Chính Luận của thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Sung. Ký giả Tô Ngọc và ký giả Linh Lan giữ quỹ học bổng và trao học bổng cho rất nhiều học sinh giỏi.
Tòa soạn báo Chính Văn tại nhà, vườn rộng, phòng khách làm sân khấu. Tiến sĩ Nguyễn Khắc Liêm, chủ tịch cộng đồng đã có mặt, bác sĩ Trần Hoài Liêm và phu nhân, Thiếu Tá Nga, vợ chồng đều là nhà binh, Tiến sĩ Trần Diệu Chân, Cẩm Tâm, phu nhân của bác sĩ Tôn Thất Phan, ở tù 14 năm.
Ban nhạc, ca sĩ rất đông ở San Jose cũng như Sacramento, chỗ nào có hội họp là ở đó có ban nhạc, có nhạc sĩ, ca sĩ chuyên nghiệp, ca sĩ tài tử, ca sĩ thế hệ thứ nhất, thứ hai và các ca sĩ trẻ sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ hiện diện. Giáo sư triết Lại Quốc Hùng phân tích Hoa Cỏ Bên Đường rất tỉ mỉ. Ông thích bài nói về mẹ, về cha. Lê Diễm rất quan tâm đến thương phế binh ở quê nhà, Đoan Trang, nhạc sĩ ôm cây đàn. Giáo sư Lại Quốc Hùng hát tiếng Pháp xuất sắc. Bác sĩ Liêm hát rất có hồn. Thi sĩ Chinh Nguyên ngâm thơ. Ở San Jose, nhà văn Phương Hoa, Không Quân Lê Văn Hải ngâm thơ hay thì ở Sacramento, Chinh Nguyên ngâm bài thơ vừa mới sáng tác.
Ra mắt sách Hoa Cỏ Bên Đường ở Sacramento 26/6/2022
Cây ngoài vườn vẫn xanh, hoa vẫn nở, nhưng ký giả Tô Ngọc đã về với ông bà, để lại người vợ hiền từ Đức sang. Chị Tô Ngọc cho biết 2 năm nữa, chị sẽ về Đức sống với gia đình bên đó.
Buổi ra mắt sách ở Sacramento với 36 người rất ấm cúng, người khuất bóng được nhắc nhiều nhất.
Báo Chính Văn được tặng cho mọi người, CD Túi Khôn của sơ Đào Thủy và CD Mái Ấm Gia Đình được đọc trong sách Mái Ấm Gia Đình của linh mục Anthony Đào Quang Chính, tặng không còn CD nào. Có một phụ nữ rất đẹp chạy ra xe hỏi:
– Cho em xin CD, em thích lắm!
Nhưng than ôi, không còn một CD nào. Nhìn khuôn mặt người đẹp xìu xuống, tôi rất đau lòng, nhưng biết làm sao bây giờ? Hội từ thiện Hồng Ân của sơ Đào Thủy ở Vatican xa quá làm sao có thêm CD bây giờ?
Vườn của tòa soạn báo Chính Văn rất rộng, cây cỏ xanh mướt, hoa lá rợp trời. Nếu Trời mát thì nơi đây là nơi lý tưởng để họp mặt. Chị chủ nhà Tô Ngọc ân cần, niềm nở với tất cả mọi người. Thức ăn rất nhiều, có thức ăn chay cho người ăn chay. Nhiều phụ nữ trong chiếc áo dài tha thướt, người đẹp ngày xưa bây giờ vẫn đẹp. Khách ở xa tới cảm thấy ấm lòng vì được chăm sóc, có phòng riêng dành cho khách ở xa tới. Mệt thì lên lầu ngủ một giấc, sau đó xuống lầu ca hát, hàn huyên tâm sự. Chuyện nửa thế kỷ lúc còn đi học được nhắc lại, nhất là nhắc về người đã qua đời. Hỡi người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ? Người của trường luật, của văn khoa bây giờ ở đâu? Người làm việc chung ở trong trường luật văn khoa, người đi theo Việt Cộng bỏ tù người quốc gia, bạn với bạn, cùng học một ban rồi bỏ tù, nhắc lại chuyện vô lương tâm, vô nhân đạo mà ứa nước mắt. Người theo Cộng Sản không có trái tim, bỏ tù bạn, tịch thu nhà cửa, đưa bạn vào rừng, vào vùng kinh tế mới một cách dễ dàng?
Ra mắt sách Hoa Cỏ Bên Đường ở Sacramento 26/6/2022 (chị Tô Ngọc đứng bên phải Kiều Mỹ Duyên, và các chị em thân hữu)
Xin cảm ơn đồng bào, đồng hương, bằng hữu đã đón tiếp, đã cho ở nhà, đưa đi mọi nơi. Tình cảm nồng nàn này chúng tôi sẽ nhớ mãi. Thi sĩ làm thơ dễ dàng ở miền Bắc như thi sĩ Chinh Nguyên, nhà văn Phương Hoa, đứng cũng làm thơ, ngồi cũng làm thơ. Mọi người nói rất hay: Không Quân Lê Văn Hải, giáo sư Phạm Thái, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, chủ báo Huỳnh Lương Thiện, v.v., người nào cũng nói rất hay không thua gì luật sư. Có người nói:
– Văn Thơ Lạc Việt người nào nói cũng hay, thao thao bất tuyệt.
3 tháng một lần, báo Thằng Mõ tổ chức sinh nhật cho các thân hữu. Mọi người đều có quà, bánh, rượu, vòng hoa choàng cổ. Sao mà trịnh trọng! Vậy thì các thành viên của Văn Thơ Lạc Việt nên sống lâu lâu để năm nào cũng được tổ chức sinh nhật nhé.
Còn nhiều điều để nhớ, nhiều điều để mang ơn nhưng không viết hết. Miền Bắc và miền Nam California có sự liên hệ mật thiết. Có người ngồi trên xe đò ngủ một giấc thì đến miền Nam, vui với bằng hữu, rồi trở lại miền Bắc California cuối tuần. Hưu trí rồi tha hồ đi du lịch và làm việc xã hội nhưng phải có tiền. Cho nên còn làm việc được thì cứ làm, sau này hết làm việc phải có tiền mỗi tháng mới có cơ hội làm việc từ thiện hay đi du lịch. Mong bằng hữu có sức khỏe để đi du lịch khắp nơi, để làm việc từ thiện và sống cuộc đời bình yên. Mong lắm thay!
Tập san “Cảm nhận về tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường- Kiều Mỹ Duyên”
Hai buổi ra mắt tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên ở San Jose và Sacramento tràn ngập niềm vui, hạnh phúc như một cuộc hội ngộ sau 18 năm gặp lại bạn bè, thân hữu, độc giả thân thương. Mọi người tề tựu nơi đây thể hiện lòng yêu mến với tác giả và trên hết là lòng yêu thương tha nhân, chung tay cùng Kiều Mỹ Duyên giúp đỡ trẻ em mồ côi, người không nhà. Tất cả tiền bán sách được trao lại cho Không Quân Lê Văn Hải, chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt, chủ báo Thằng Mõ ở San Jose làm từ thiện.
Cảm ơn quý Cha, anh chị em, bạn bè, thân hữu yêu thương đã đọc tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường và viết những bài cảm nhận thật sâu sắc. Chúng tôi đã in thành tập san những bài cảm nhận của mọi người như một quyển lưu bút đầy kỷ niệm.
Chân thành cảm ơn các anh chị em Văn Thơ Lạc Việt đã vất vả trong 2 năm qua: biên tập, in ấn sách, các buổi mạn đàm giới thiệu tuyển tập trên TV, Youtube, gửi thiệp mời, chuẩn bị chu đáo ngày ra mắt sách, v.v.
Cảm ơn quý độc giả gần xa luôn ủng hộ Chinh Chiến Điêu Linh, và mong mọi người tiếp tục yêu mến tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường, chung tay làm từ thiện giúp đỡ đồng bào còn khó khăn ở Việt Nam từ tiền mua sách.
Xin Ơn Trên trả ơn bội hậu cho tất cả mọi người.
Orange County, tháng 6/2022
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
-
TOÀN PHONG NGUYỄN XUÂN VINH TRONG GÓC NHÌN VĂN HỌC

GS. NGUYỄN XUÂN VINH
(1930-2022)Chủ nghĩa văn học lãng mạn lôi cuốn không biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, trong đó những sáng tác văn chương, thi ca đều tán dương ái tình, hay tình yêu. Xin hãy xem những ví dụ như:
- Nhà văn kiêm triết gia Albert Camus nhận xét “Không được yêu là một bất hạnh đơn giản; bất hạnh thực sự là không yêu”.
- Thi hào lãng mạn Charles Baudelaire thì quan niệm “Tình yêu là khao khát được thoát ra khỏi chính mình”.
- Triết gia Jean Jacques Rousseau cho là “Những bức thư tình bắt đầu mà không biết điều gì sẽ nói và kết thúc mà không biết điều gì đã được nói”.
- về quan điểm tình yêu Voltaire nhà văn và triết gia Pháp đã viết “Bạn phải biết rằng không có đất nước nào trên trái đất mà tình yêu không biến những người yêu nhau thành thi sĩ”.
- Stendhal một nhà văn Pháp thế kỷ 19 lập luận “Tình yêu là một bông hoa tuyệt vời, nhưng cần phải có dũng khí để tìm kiếm nó trên bờ vực của vách núi kinh hoàng”.
- Sau cùng nhà văn phi công Antoine de Saint-Exupéry ghi nhận “Yêu xa là không nhìn mặt nhau; là cùng nhau nhìn về cùng một hướng”.
Nhìn từ luận điểm phân tích văn học, chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) đề cao cá nhân, tự do sáng tạo, chủ trương phóng túng, không để tâm hồn bị ràng buộc trong khuôn khổ cũ. Trong tiến trình sáng tác thơ văn, sự tưởng tượng và tri giác được đề cao và ngự trị bởi cá thể. Tác gia văn học trở thành trung tâm điểm trong việc sáng tác. Các nguyên tắc về khuôn mẫu và kiến trúc đã có từ trước của thi ca bị vất bỏ để thỏa mãn nhu cầu cần thiết của bản năng tự nhiên. Ngôn ngữ thơ được viết tự do và tự nhiên không còn bị gò bó trong thể luật. Chủ nghĩa duy lý (rationalism) bị chán ghét, trong khi ngữ căn và khát vọng tiềm thức được thăng tiến trong văn chương lãng mạn. Tác phẩm là tiếng lòng được thể hiện toàn vẹn, triệt để và vô hạn bằng sự tưởng tượng và xúc động không che dấu, không bị trói buộc bởi những ước lệ luân lý của xã hội.
Thực vậy, đặc tính chung đa số những nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch thuộc chủ nghĩa lãng mạn, tâm hồn của họ thiên tạo vốn gần gũi vối bản sắc ái tình. Xét ra thi nhân Toàn Phong không ngoại lệ. Nhà văn kiêm nhà thơ Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh của những Đời Phi Công, Mắt Biếc Hồ Thu, Tìm Nhau Từ Thuở, Tình Hư Ảo, Tâm Điểm, Ly Biệt, Bâng Khuâng,…
Em yêu anh, nên anh là tâm điểm
Giữa vòng tròn hạnh phúc của đời em.
Dẫu thời gian, không gian hoài biến chuyển,
Qũy tích này vẫn mãi chỉ chờ anh.
(Tâm Điểm, Nguyễn Xuân Vinh)
hay
Trời về khuya, bóng hình ai thương nhớ,
Muốn quên đi, vì giấc mộng không thành.
Vẽ cho cùng, không trọn trái tim anh,
Em đành đem chuyện chúng mình cất lại.
(Bâng Khuâng, Nguyễn Xuân Vinh).

Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian đang ấn hành, hay tái bản cho ông sách Theo Ánh Tinh Cầu. GS. Vinh vốn quý Theo Ánh Tinh Cầu, và Mộng Viễn Phương. Loại sách như L’Aviateur (Người phi công), danh tác của Saint-Exupéry, Courrier Sud (Chuyến thư miền Nam), Vol de Nuit (Bay đêm), Terre des Hommes, (Cõi người ta ), Pilote de Guerre (Phi công thời chiến) hay Le Petit Prince (Hoàng tử bé), những tác phẩm về phi công hay nghiệp bay, điểm chung của hai nhà văn phi công Antoine de Saint-Exupéry và của nhà văn phi công Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
GS. Nguyễn Xuân Vinh đã viết: “Trong nền văn học thế giới, kể cả Việt Nam, có những tác phẩm mà người đọc, sau khi bỏ sách xuống đã bâng khuâng tự hỏi phải chăng đây là việc thật xảy ra với những người thật”. Đọc Les Miserables của Victor Hugo người ta như sống với những nhân vật trong truyện. Trong những tác phẩm thật chọn lọc của Tự Lực Văn Đoàn, khi đọc Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng ta cũng có thể nghĩ chú tiểu Lan là mẫu người có thực. “Theo tôi nghĩ thì nhà văn khi tạo dựng một tác phẩm, nếu tả đúng tâm lý của những nhân vật trong truyện và trong một khung cảnh hiện thực thì đó là bí quyết để thành công khi viết sách để cho người đọc như đang theo dõi một câu chuyện đời có thực. Trường hợp tôi viết “Đời phi công” cũng như vậy, tôi cố tạo ra những hình ảnh đẹp là mẫu mực của thanh niên ở thế hệ tôi. Nhiều thanh niên học sinh đọc sách đã thầm ước mình là người trong truyện.”
Mạn đàm về văn học
Trong buổi mạn đàm về văn học cùng nhà văn Nguyễn Mạnh Trinh và phóng viên Nhã Lan, GS. Nguyễn Xuân Vinh kể về sự hình thành 2 cuốn tiểu thuyết Đời Phi Công và Tìm Nhau Từ Thuở như sau:
“Khi viết xong cuốn truyện này, vào thời khoảng 1960, gồm có nhiều bức thư kể đời sống của một chiến sĩ Không Quân, từ lúc bắt đầu là một sinh viên sĩ quan cho đến lúc thi hành nhửng phi vụ hành quân ở đơn vị, thì tôi đã là người chịu trách nhiệm tổ chức và bành trướng Không Quân Việt Nam, và nghĩ rằng mình đã theo binh nghiệp thì sẽ đi suốt chặng đường…. Về văn học, thời niên thiếu tôi học theo chương trình Pháp. Vốn liếng nho học, tôi chịu ảnh hưởng của ông ngoại, và ngoài ra tôi chịu khó đọc sách tiếng Việt và tìm hiểu về lịch sử nước nhà nên dĩ nhiên là được thấm nhuần cả hai nền văn hóa Đông và Tây. Tôi đã đọc hầu hết những tác phẩm nổi tiếng viết bằng tiếng Việt. Về sách tiếng Pháp tôi thường tìm đọc những tác phẩm của Alphonse Daudet, Emile Zola và Victor Hugo. Tuy vậy tôi không nghĩ rằng văn phong của tôi chịu ảnh hưởng của một tác giả nào vì tôi chỉ viết khi có hứng khởi theo ý nghĩ của riêng mình. Có người đã phê bình rằng cuốn Đời Phi Công tôi viết chịu ảnh hưởng của nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupéry. Điều này đã được nhà văn Việt Hải phản bác lại là cuốn sách của tôi không có gì giống với những tác phẩm của nhà văn người Pháp ngoài chuyện là hai người cùng nặng nghiệp bay.

Nhà văn Việt Hải còn nói rằng là ông Saint-Exupéry viết chuyện người phi công phải vật lộn với mưa gió bão bùng trên trời và tôi nói chuyện về tình người ở trên quê hương Việt Nam, thì như vậy có gì liên hệ tới nhau. Vả chăng có sự việc không mấy người biết là tuy sách tôi viết bằng tiếng Việt nhưng vào năm 1961 đã được giới thiệu trên nhật báo Pháp văn “Le Journal d’Extrême-Orient”. Tôi cũng đã dịch một chương của cuốn truyện sang Anh ngữ và đăng trên Empire Magazine là tuần báo ra ngày chủ nhật của Denver Post là tờ báo lớn nhất ở miền Trung Hoa Kỳ. Bài dịch này, đề là “The Eagle’s Wings” đã được họa sĩ Patrick Oliphant, vẽ hình trình bầy. Ông là người nổi tiếng thường có hình biếm họa đăng trên The Washington Post và sau đó được giải Pullitzer vào năm 1967.
Năm 1984 tôi đã là người gốc Á châu đầu tiên được bầu vào Académie Nationale de l’Air et de l’Espace của Pháp. Hàn Lâm Viện này không phải chỉ gồm toàn những kỹ sư và khoa học gia về hàng không và không gian mà còn có nhửng danh nhân về văn học như Pierre Closterman, phi công anh hùng Đệ Nhị Thế Chiến và là tác giả những cuốn sách nổi tiếng như Le Grand Cirque, Flames in The Sky, …, hay ông Michel Debré, giáo sư Luật khoa, nhà văn và cũng là cựu thủ tướng Pháp, …. Những người này khi bỏ phiếu bầu cho tôi tất nhiên đã đọc những tài liệu tôi viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp mà ủy ban tuyển chọn đã thâu thập được và họ là những người xứng đáng nhất để có thẩm quyền nhận xét về giá trị văn học và khoa học và hiểu biết kỹ thuật về hàng không của tôi. Tất nhiên những người này không ai nghĩ là tôi đã dựa vào một tác phẩm nào để viết cuốn sách đầu tay của mình….

Tác giả Nguyễn Xuân Vinh viết về tác phẩm Tìm Nhau Từ Thuở:
“Cuốn sách này tôi viết ba năm mới xong gồm 14 chương. Tuy diễn tiến của cuộc tình theo với thời gian đã được giàn trải trước nhưng có khi vài tuần lễ tôi mới viết được một đoạn như là một câu truyện ngắn nói về liên hệ giữa hai người. Chẳng hạn trong một chương sách có tiêu đề là Thiên Nga tôi chỉ kể câu chuyện nhân dịp lễ Valentine anh chàng Phong tìm mua được một con thiên nga bằng pha lê để gửi kịp ngày 14 tháng 2 cho cô bé mang ra trường khoe với lũ bạn luôn luôn tọc mạch. Bài viết cũng khá dài gồm nhiều chi tiết làm người đọc thấy thích thú. Mỗi chương sách tôi thường viết một mạch không cần sửa chữa hay thêm bớt. Trong khoảng thời gian đó tôi tưởng tượng mình như có liên hệ với những người trong truyện nên có độc giả đã nghĩ rằng tôi kể chuyện đời mình.”
Về Tìm Nhau Từ Thuở, GS Vinh kể tiếp:
“Trong những năm sống ở nước ngoài, và được đi nhiều nơi, tôi đã viết một loạt bài, thường là những ký sự hay tùy bút bộc lộ tâm sự của mình, hướng về đất nước và mong ước cho giới trẻ đạt được những thành tích làm vẻ vang cho quê hương. Những bài này được lựa chọn và in thành một tuyển tập đề là Theo Ánh Tinh Cầu do nhà xuất bản Đại Nam in ra năm 1990. Sách in ra được bán hết ngay trong năm nhưng không in lại vì tôi dự định viết tiếp một số bài nữa. Sau đó, tôi viết một vài truyện ngắn tả mối tình thật lý tưởng giữa một chàng trai thời loạn và cô em gái một người bạn. Những chuyện này được đăng liên tiếp mấy năm trên những số báo Xuân Thời Luận và được độc giả ưa chuộng. Ông chủ bút Thời Luận là nhà văn Đỗ Tiến Đức vẫn thường nhắc nhở tôi viết những chuyện văn chương và tình cảm tuy rằng ông vẫn nhận đăng những bài nói về hoạt động giáo dục và khoa học của tôi. Vì thế tôi đã viết tiếp để tạo dựng thành một cuốn truyện đi cho tới đoạn kết….
Cũng như khi viết cuốn Đời Phi Công, tôi muốn giới hạn thời gian của câu chuyện để giữ niềm trẻ trung cho những nhân vật trong truyện. Cũng vì vậy mà tôi đặt khoảng thời gian vào những năm kế cận trước và sau năm 1975. Câu chuyện cũng được diễn tả một cách trung thực hơn vì tôi biết rõ sự biến chuyển trên đất nước trong khoảng thời gian này. Nhiều người đã đọc cuốn sách, cả hai phái nam và nữ, là những chuyên gia có trình độ, cũng có nhận xét như Nhã Lan là tôi đã diễn tả lại một khung cảnh của đất nước trong giai đoạn này.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ và nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là bậc đàn anh khả kính mà tôi được biết khi cùng dậy ở trường trung học Chu Văn An ở Sàigòn. Nhưng theo tôi nghĩ thì sự chọn lựa của giới trẻ Việt Nam hiện nay không hẳn chỉ giữa hai nền văn hóa Đông và Tây, thật cách biệt nhau. Trong giữa hai đối nghịch cũng có những khoảng dung hòa có thể chấp nhận được. Lý tưởng ra thì tôi hằng mong ước các bạn trẻ sống ở hải ngoại phải cố gắng tranh đua sao cho bằng người mà vẫn giữ được bàn sắc đạo đức của giống nòi Hồng Lạc.
Nhân vật Phong là nhân vật nam ở trong Tìm Nhau Từ Thuở. Còn Phương Vân là cô bé trong cuốn truyện, em của một người bạn học. Tình cảnh này thường xẩy ra giữa các liên hệ bạn bè. Tuy tôi tả Phương Vân như một nữ sinh hiền thục ở tuổi trăng tròn, nhưng để mở rộng phạm vi hoạt động cho Phong, tôi đã đặt anh vào vị trí của một chuyên gia tốt nghiệp từ một trường cao đẳng có uy tín ở Pháp, và đã theo tiếng gọi của nghĩa vụ mà về nước phục vụ một khoảng thời gian. Cũng vì vậy mà nhiều người đọc sách đã nghĩ rằng tôi kể chuyện đời mình.
Ðời Phi Công là những bức thư của một chàng thanh niên vừa xếp bút nghiên theo việc đao cung gửi cho người bạn gái đã mang tính chất thời đại của một mẫu người tuổi trẻ thật nhiều lý tưởng. Cuốn sách đã tạo nhiều ảnh hưởng, được tái bản nhiều lần và hàng ngàn người trai trẻ nô nức gia nhập Không Lực để thực hiện lý tưởng và hoài bão của mình trong thời chiến tranh khốc liệt về sau. Cùng một lúc với sự phát triển của không quân Việt Nam bào những năm 1960, rất nhiều thanh niên đã theo tiếng gọi của Tổ Quốc Không Gian gia nhập quân chủng. Nhiều sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt cũng xin chuyển về phục vụ Không quân.”
Bàn luận về tác phẩm Đời Phi Công là những lá thư gửi Phượng và tác phẩm Tìm Nhau Từ Thuở cũng có những bức thư nói liền những không gian xa cách. tác giả tâm tình:
“Cuốn Đời Phi Công là một tập sách gồm toàn những lá thư viết cho một cô bạn gái ở xa, để kể chuyện đời của những người nặng nghiệp bay. Còn Tìm Nhau Từ Thuở là một tập truyện tả một một mối tình cao thượng, nẩy nở theo ngày tháng giữa một chàng trai thời đại và một nữ sinh, em một người bạn. Sau này vì hai người ở xa nhau, nên đôi khi có những cánh thư trao đổi nhưng số trang viết qua thư từ chỉ là một phần nhỏ trong cuốn sách. Vì vậy thể văn không phải hoàn toàn là thể viết thư.

Mục tiêu của tác phẩm “Vui Đời Toán Học” là:
“Ngay ở lời mở đầu cuốn sách, tôi đã viết là từ khi vào trung học tôi đã thấy yêu thích môn toán học và ao ước được đọc những cuốn sách viết về cuộc đời học toán của những người đi trước. Dĩ nhiên là khoảng thời gian khi tôi mới lớn lên, sách vở thiếu thốn nên không được đọc những tài liệu đó. Giờ đây tôi viết cuốn sách này kể lại những cố gắng của mình trong cuộc đời tầm học và mong rằng những chuyên gia khác ở mọi ngành cũng làm tương tự để lảm giầu thêm cho tủ sách kiến thức chuyên môn viết bằng tiếng Việt. Tuyệt đối là không. Thật ra khi chọn tên cho cuốn sách tôi cũng sợ có chuyện ngộ nhận đây là sách nói về Toán học. Thật ra lúc mới đầu chỉ là một tập sách gồm có nhiều câu chuyện vui về toán viết một cách nhẹ nhàng giản dị cho mọi người có thể đọc được. Những chuyện này khi viết ra đã được đăng trên nhiều nguyệt san và được người đọc ưa thích. Những nguyệt san đã đăng bài thường chỉ lưu hành ở địa phương nên nhiều người đã muốn tôi gom những bài này lại để in thành sách để phổ biến cho nhiều người đọc. Có nhiều bài chỉ gổm toàn là những bài thơ tình. Chẳng hạn tôi lấy bài “Mười hai bến nước” thì bài này là gồm một số bài thơ tình cảm dùng những danh từ toán học. Tôi chọn một bài làm thí dụ
Tâm Điểm
Tình là vậy, từ chân không chợt đến,
Một vòng tròn quay hai nửa tim hồng.
Để mỗi ngày đôi chân bước song song
Mong đi tới tận cùng là giao điểm
Em yêu anh, nên anh là tâm điểm
Giữa vòng tròn hạnh phúc của đời em.
Dẫu thời gian, không gian hoài biến chuyển,
Quỹ tích này vẫn mãi chỉ chờ anh.
Nếu không loáng thoáng có những danh từ toán học chen vào thì người đọc có thể nghĩ đó là một bài thơ tình. Trong câu chuyện này cũng có những câu thơ thật tha thiết như
Anh hiểu chưa, cõi lòng em như thế,
Em muôn đời không đổi trục, anh ơi.
Nhớ thương anh, tuy chẳng nói nên lời,
Em mơ ước theo cung đường tối lợi.
Tìm giao điểm cho lòng ai mở hội,
Xác định rồi vẽ đồ thị triển khai,
Rồi chứng minh tỷ lệ suốt đêm dài,
Lên đáp số đóng khung đời hình học.
Bài toán tình luôn làm người mê hoặc,
Bởi muôn đời nó vô định, người ơi!!

Trong một bài khác tôi viết có tựa đề là “Thảo bài thơ liên hoàn” nói về một buổi trại hè các trại sinh chia nhau thành năm nhóm ngồi ở bốn phương Đông Tây Nam và Bắc và một nhóm ngồi ở phương vị Trung ương, mỗi nhóm chọn một hình vuông, tròn, lục lăng, ngũ giác và tam giác để trình bầy về vẻ đẹp của hình nhóm mình đã chọn. Khi đến hồi kết luận thì một em trại sinh đóng vai một thi nhân đi thăm các nhóm, và ở nơi nào cũng thảo ra một bài thơ tứ tuyệt để ghi làm kỷ niệm. Ý kiến của tôi khi đưa ra một bài thơ liên hoàn là để gây tình liên kết, khuyên người đọc mà tôi hy vọng là ở trong giới trẻ hiếu học là biết nối vòng tay lớn để cùng nhau xây dựng quê hương. Trong bài viết này tuy có phác qua những vẻ đẹp của các hình kỷ hà học, nhưng sự thực là một sáng tác thơ văn.
Hai bài viết mà tôi đưa ra làm thí dụ về khía cạnh thơ văn của cuốn sách tôi đã đăng trên nguyệt san Tân Thế Kỷ ở Dallas trước đây và sau này được truyền đi nhiều lần trên mạng vi tính nên có nhiều người đã đọc. Có một lần tôi tìm được trên mạng bài thơ tình toán học của tôi có người phổ nhạc và hát nữa nghĩ thật là vui. Khi tôi cho vào trong cuốn sách và viết thêm những kỷ niệm học toán và giảng dậy ở các đại học cùng làm nghiên cứu khoa học thì mới lấy tên mới này là “Vui Đời Toán Học” và vì số lượng trang sách tổng cộng lên quá lớn gần tới 900 trang nên tôi phải bỏ bớt đi và giữ lại còn gần 500 trang mà thôi. Những bài tôi vừa lấy làm thí dụ vì đã được chuyển đi nhiều lần trên mạng nên trong cuốn sách này tôi phãi bỏ đi. Ngược lại tôi viết thêm nhiều bài nói về cuộc đời làm toán qũy đạo không gian và dậy học của tôi.
Thật ra có nhiều chuyện người đồng hương không biết nếu không đọc cuốn sách. Chẳng hạn tôi có nhiều học trò đã thành danh, và một ngừơi nay là đại giáo sư ở một đại học lớn và tên của ông ta được đặt cho một tiểu hành tình mới tìm thấy cách đã hơn mười năm. Tuy đã nổi tiếng như vậy mà trong tiểu sử của ông được in trên trang Đại Học ông vẫn ghi tên tôi là giáo sư cố vấn cho luận án tiến sĩ của mình. Tôi dùng lối hành văn giản dị, không cầu kỳ lại nhẹ nhàng. Thỉnh thoảng tôi chen vào vài kỷ niệm riêng, thường là những kỷ niệm vui, hay gặp những duyên kỳ ngộ, được thầy hay, bạn tốt. Trong cuốn sách này tuy như tôi đã nói trước đây là có nhiều bài chỉ gồm toàn những bài thơ tình, nhưng nay tôi thu xếp lại để viết thêm về cuộc đời học toán, dậy học và khảo cứu của mình nên đả dùng thể văn tự truyện nhưng có chen vào những tình cảm riêng tư của mình đối với đất nước và thế hệ trẻ Việt Nam. Nói chung, sáng tạo thơ văn thì không có gì giới hạn, nói theo tiền nhân khi xưa thì:
Ngoài vòng cương toả chân cao thấp,
Trong thú yên hà cuộc tỉnh say
Muốn viết sao cũng được miễn sao bộc lộ được ý tưởng của mình muốn truyền cho người đọc. Nhưng sáng tạo toán học phải dùng hoàn toàn luận lý thật chặt chẽ, tuy đôi khi phãi pha một chút tưởng tượng không bình thường. Tôi lấy một thí dụ, tuy không thực tế cho lắm, là một phi thuyền đang bay trên một qũy đạo vòng tròn quanh trái đất, mà giờ ta muốn quay ngược chiều nghĩa là đổi hướng bay 180 độ. Như thế, theo ý nghĩ thông thường thì phải hãm vận tốc lại thành số không rồi lại tăng tốc độ thành như cũ nhưng đổi ngược chiều, thật vừa tốn kém nhiên liệu lại vừa gây ra một độ gia tốc quá đáng có ảnh hưởng tai hại đến phi thuyền và phi hành đoàn nếu có. Lời giải đáp thật đúng là làm sao vận hành cho đỡ tốn nhiên liệu là phải tăng tốc độ cùng chiều, nghĩa là thay vì quay ngược ngay lập tức, lại phải tiến tới. Vận động này, chỉ tốn một ít nhiên liệu nhưng sẽ làm cho phi thuyền vượt khỏi trọng trường của trái đất và bay đi thật xa.
Ở khoảng cách xa, lấy thí dụ là khoảng cách chừng mười lần bán kính qũy đạo, vận tốc của phi thuyền sẽ rất nhỏ, giống như khi ta tung một quả bóng lên cao, lên tận cùng rồi muốn rơi trở lại. Lúc đó chỉ càn tạo ra một lực nhỏ để cho phi thuyền bay trở lại nhưng lần này ngược với hướng bay trước. Khi tới vị trí cũ thì tốc độ trở lại bằng lúc mới bắt đầu khởi hành nhưng lần này phi thuyền đi ngược chiều và chỉ cần hãm tốc độ lại vừa đủ đi vào qũy đạo tròn là thực hiện được phép đổi hướng 180 độ. Chi phí về nhiên liệu, một lần tăng lên và một lần giảm đi, cả hai lần đều bằng nhau theo tính chất đối xứng của qũy đạo và tương đối nhỏ. Đấy là ý kiến đưa ra nhưng sau đó phải dùng phép tính thật chính xác để xem tất cả những điều lợi, như tiết kiệm nhiên liệu, bớt độ gia tốc, và những điều hại như kéo dài thời gian vận chuyển vân vân…”
Về quan điểm toán học, ông đề cập:
“Toán học là một môn của Triết học. Tôi củng như nhiều người có suy tư và quan niệm về cuộc sống, thường quanh những đạo đức cổ truyền mà tôi được thấm nhuần từ hồi trẻ, thường là bất di dịch, như là chịu ơn ai thì nghĩ đến báo đền. Lấy một thí dụ là trong cuốn sách tôi có một bài viết là “Thầy còn nhớ tôi không?” nói đến tình thầy trò. Nhưng khi làm khoa học, đi vào luận lý thì những suy nghĩ này phải gạt sang một bên. Nói một cách khác khi thấy ông thầy của mình tính không đúng thì cũng phải nhắc khéo là ông đã hơi sai.”
Nhân dịp các thành viên Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian đi thăm GS. Nguyễn Xuân Vinh để bàn thảo in sách Thiên Chức của Nhà Giáo tại tư gia Huntington Beach của ông, trong phái đoàn có thi sĩ Hà Nguyên Du. Hà Nguyên Du đặt một số câu hỏi về phạm vi không gian học (aeronautics) và vũ trụ học (astronautics). GS. Nguyễn Xuân Vinh viết nhiều tài liệu khảo luận (term papers) về khía cạnh không gian chuyên môn của ông, ông đã đóng góp hàng trăm bằi tiểu luận về toán, động học không gian (astrodynamics) và tối ưu hóa quỹ đạo (trajectory optimization) … GS, Nguyễn Xuân Vinh khi về hưu ông mang tước hiệu Professor Emeritus of Aerospace Engineering của Đại học Michigan, giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian. Theo quy chế giáo dục Hoa Kỳ khi trường ban cho “Giáo sư Emeritus” (Professor Emeritus) là một giáo sư dạy thực thụ, thông thường đã làm việc toàn thời gian, nhưng nay đã nghỉ hưu, ông hay bà vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết trình, giảng dạy, tham khảo ý kiến hay được trao một giải thưởng nào đó. Professor Emeritus là một phong vị danh dự cao quý.

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh: Toán Thơ và Thơ Toán
Như trên, văn học và toán học có điểm gần nhau. Nhà văn kiêm nhà giáo môn toán Nguyễn Xuân Vinh yêu thích thi ca, Vui Đời Toán Học ghi nhận trong nhiều trang sách. Trong tương quan đó nữ toán học gia gốc Nga Sophia Kovalevskaya của thế kỷ 19 cho là: “Bạn không thể là một nhà toán học mà không có tâm hồn của một nhà thơ” (Il est impossible d’être un mathématicien sans avoir poète dans l’âme). Còn nhà toán học người Đức nổi danh trong môn toán Calculus, Karl Weierstrass ối thế kỷ 19) cho nhận định: “Một nhà toán học không mang một nét gì đó của một nhà thơ thì chả bao giờ là một nhà toán học trọn vẹn được” (Un mathématicien qui n’est pas aussi quelque peu poète ne sera jamais un mathématicien complet). Tôi thầm nghĩ chả nhẽ hai cụ Sophia Kovalevskaya và Karl Weierstrass đã cho hai câu nói đúng y bon để giới thiệu về nhà văn kiêm giáo sư có hai đam mê trong tâm hồn, toán học và văn học, Thi sĩ GS. Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
“Xưa nay chúng ta thường nghĩ những sáng tác văn học vốn là những xúc cảm riêng của nhà văn, nhà thơ, nên có khi không mang một quy luật gì cả, nhất là việc muốn đo bằng số (định lượng) những kết quả hay các quy luật của văn thơ thì dường như là điều không thể làm được. Các bài viết dưới đây sẽ làm cho chúng ta thay đổi lại cách nhìn, chúng ta sẽ thấy, hóa ra tính ìhài hòa” của của văn chương vẫn có thể được đo bằng sự ìcứng nhắc” của đại số. Điều này nó mang lại thắng lợi không phải cho riêng toán học, mà còn làm cho cách tiếp cận văn học trở nên đa dạng và phong phú hơn. Tuy nhiên, việc ứng dụng các phương pháp toán học trong việc nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật vẫn là một lĩnh vực mới mẻ và cần được nghiên cứu thêm. Bài viết dưới đây chủ yếu áp dụng một lý thuyết có tên là ìLý thuyết tai biến” (cùng với Điều khiển học và Lý thuyết trò chơi), một lý thuyết mà tôi tin là ở đây không có nhiều người thạo (tôi cũng mù tịt). Tôi hy vọng sẽ có người post bài giới thiệu chi tiết về lý thuyết này để cả nhà cùng hiểu rõ. “, GS. Nguyễn Xuân Vinh.

Cựu Tư Lệnh Không Quân VNCH, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Một dẫn chứng khác là Thi sĩ kiêm giáo sư toán JoAnne Growney viết: Toán học và thi ca đều là “định dạng có thể truyền tải nhiều ý nghĩa”. Trong môn toán học, một đối tượng hoặc một ý tưởng có thể có các dạng khác nhau. Ví dụ, một phương trình bậc hai có thể được hiểu theo biểu thức đại số của nó, có thể là y = x2 + 3x-7, hoặc theo dạng đồ thị của nó, một parabole. Henri Poincaré, một nhà khoa học người Pháp, người đặt nền móng cho hai lĩnh vực toán học khác nhau vào đầu những năm 1900, đã mô tả toán học là “nghệ thuật đặt cùng một tên cho những thứ khác nhau”. Tương tự như vậy, các nhà thơ tạo ra các lớp nghĩa bằng cách sử dụng các từ ngữ và hình ảnh có nhiều cách diễn giải và liên tưởng. Cả nhà toán học và nhà thơ đều nỗ lực vì tính kinh tế và độ chính xác, lựa chọn chính xác những từ họ cần để truyền đạt ý nghĩa của chúng.
GS. Growney được biết qua danh tác, tuyển tập thơ “My Dance is Mathematics”, bà còn là nhà toán học, nhà thơ, nhà văn JoAnne Growney, giáo sư toán tại Đại học Bloomsburg University of Pennsylvania (Collection of poems “My Dance is Mathematics”, by JoAnne Growney. She is a mathematician, poet, writer JoAnne Growney, a math teacher at Bloomsburg University of Pennsylvania).

Người viết bài xin kết luận, ta có thể kể tiếp vô vàn những ví dụ về cách các nhà toán học và nhà thơ móc nối những con số và những con chữ để thỏa mãn ý thích của họ. Một hỗn hợp của những điều trực tiếp nói ra và những gì ngụ ý sâu kín đằng sau, hay một hỗn hợp của nhạc điệu và âm điệu. Thay vì cố phân tích rõ ràng, rành mạch, mà như vậy ta có thể còn làm mất phẩm chất hay của thơ bị toán hóa, thôi thì tôi xin chấm dứt bài viết này bằng trích dẫn những câu thơ tinh của thi sĩ, nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh:
(Yêu) anh từ thuở xanh mơ,
Giận anh cho đến bây giờ chưa nguôi.
Sao anh chưa nói nên lời,
Sao anh chưa nói trọn đời (yêu) em.
Bây giờ gặp buổi chiều êm,
Anh về mới nói (yêu) em trọn đời.
(Tình thơ Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.)
Giáo Sư, Khoa Học Gia, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Vinh, từ trần ngày 7/23/2022 lúc 2.49 PM tại Orange County, California, hưởng Thượng Thọ 92 tuổi.


En souhaitant que le professeur Nguyen Xuan Vinh soit dans un voyage paisible vers une nouvelle vie à venir, “vous êtes mon idole en mathématiques et un modèle souhaitable en mathématiques et en aérospatiale” que Dieu vous bénisse. Nous nous souvenons toujours de vous!
VHLA
(Trần Việt Hải Los Angeles).
Giáo Sư, Khoa Học Gia, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Vinh, từ trần ngày 23 tháng 7, 2022 lúc 2.49 PM, hưởng Thượng Thọ 92 tuổi. GS Nguyễn Xuân Vinh qua đời, đất nước mất đi một người con thân yêu, một khoa học gia, một văn thi sĩ, một người Thầy trân quý. Kính xin Thiên Chúa toàn năng nhận đón hương hồn GS về hưởng phúc bên thánh nhan Người.

LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN 
-
Thống Tướng MacArthur & Thủ Tướng Shinzo Abe: Hai Nhân Vật, Một Tấm Lòng

“Lòng biết ơn không chỉ là đức tính vĩ đại nhất mà còn là khởi nguồn của mọi đức tính tốt đẹp khác”. (Triết gia Marcus Tullius Cicero) Mỗi nước theo truyền thuyết và lịch sử có vài tên gọi khác nhau, trong đó Nhật Bản với các tên gọi: Đất Nước Mặt Trời Mọc, Xứ Sở Hoa Anh Đào, Xứ Sở Phù Tang, Đất Nước Hoa Cúc… Kể từ thời Kama-kura, hình ảnh hoa cúc 16 cánh được sử dụng làm con dấu của Thiên Hoàng. Cho đến nay, biểu tượng loài hoa này vẫn được xem là biểu tượng quan trọng của Hoàng Gia Nhật Bản. Ngày 11/7/2022, chính phủ Nhật đã truy tặng Huân Chương Hoa Cúc – huân chương cao quý nhất của Nhật để vinh danh cố Thủ Tướng Shinzo Abe. Cố Thủ Tướng Shinzo Abe là thủ tướng thứ 4 của Nhật Bản được trao tặng huân chương cao quý này sau Đệ Nhị Thế Chiến, các vị tiền nhiệm có Shigeru Yoshida, Eisaku Sato và Yasuhiro Nakasone.
Nhật Bản ngày nay không những trở thành cường quốc kinh tế mà gìn giữ được nếp sống văn minh, lịch sự, phong tục tập quán cao đẹp, tinh thần tự trọng… và, đặc biệt nói “không” với trộm cắp.
Người Nhật với tinh thần trách nhiệm cao, mạnh mẽ và luôn luôn hướng thiện. Với nền giáo dục khắt khe, đức dục là vấn đề quan trọng nhất dạy dỗ, rèn luyện trẻ thơ từ khi bước vào mái trường.
Trong những lần xảy ra thiên tai (động đất, sóng thần) tại Nhật, những hình ảnh ghi lại cho thấy tinh thần tự trọng, nhân bản… của các nạn nhân khi xếp hàng nhận cứu trợ, trật tự, bình thản, biết nhìn nhượng nhau… mọi người trên thế giới nễ phục.
Ở nông thôn, chủ nhà vườn bán sản phẩm cho khách hàng, không cần hiện diện mà chỉ để trên bàn, số lượng với giá tiền… khách hàng ý thức “thuận mua vừa bán” sòng phẳng…
Đơn cử vài điểm son đó thể hiện tinh thần và xã hội Nhật Bản ngày nay xóa tan bóng đen bao phủ trước Đệ Nhị Thế Chiến.
* Từ cựu thù trở thành Thiên Sứ
Sáng ngày 15/4/1951 khi Thống Tướng MacArthur (1880-1964) ngồi lên xe ra phi trường quay về Mỹ thì nhận được tin đích thân Thiên Hoàng Hirohito và Thủ Tướng Yoshida đến văn phòng tiễn chân vị “Shogun” (Sứ Quân) mà họ vô cùng cảm phục. Trên suốt hai bên con đường dẫn đến phi trường Atsugi, hàng trăm ngàn người dân Nhật xếp hàng dài dày đặc ở hai bên đường hàng chục cây số để tiễn đưa ông lần cuối. Họ kêu to “Sayonara, Sayonara,” hay giơ cao biểu ngữ ghi “Chúng tôi thương mến Tướng Quân MacArthur,” và “Chúng tôi cảm ơn ông”.
Danh từ Shogun (Thiên Sứ, Tướng Quân) theo tiếng Nhật là Seii Taishōgun để nói lên sự tôn trọng với nhân vật khả kính có công với đất nước.
Hồi ký của Kiichi Miyazawa (Thủ Tướng Nhật nhiệm kỳ 1991-1993) xuất bản năm 1991, viết về quan hệ Nhật-Mỹ, là một trong các cuốn bestseller hồi ấy, với những dòng tiếc nuối: “Ngày 11/4/1951, truyền thông loan tin MacArthur bị miễn chức. Tin này làm người Nhật vô cùng sửng sốt, họ không thể nghĩ tới chuyện Thống Tướng MacArthur – người có uy quyền như Thái Thượng Hoàng nước Nhật – lại có thể bị bãi miễn dễ dàng bởi một mệnh lệnh của tổng thống. MacArthur là người nắm quyền lực tối cao ở Nhật”.
Khi Đệ Nhị Thế Chiên (1939-1945) xảy ra, Tổng Thống Harry S. Truman (Tổng Thống thứ 33 của Hoa Kỳ,1945-1953) gọi ông trở lại phục vụ trong quân đội. Trong Đệ Nhất Thế Chiến, ông được bổ nhiệm làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn bộ binh 42 của Mỹ. Đến năm 1935, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt chọn MacArthur làm cố vấn quân sự tại Philippines. Ông giải ngũ vào tháng 12/1937, được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Lục Quân Mỹ tại Viễn Đông với cấp bậc trung tướng.
Vừa nhận lãnh trách nhiệm, ngày 7/12/1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), thuộc tiểu bang Hawaii gây tổn thất nặng nề cho quân đội Mỹ, riêng về về nhân mạng khoảng 2.402 người tử trận và 1.282 người khác bị thương. Lực lượng không quân của ông bị thiệt hại hoàn toàn.
Lúc đó phe Trục (Ý, Đức Nhật) tấn công như vũ bão, tàn phá nhiều nước từ trời Tây sang Đông, gieo rắc kinh hoàng, thảm khốc trên thế giới. Từ trước đến nay, nước Mỹ chưa bao giờ bị tấn công nên khi Nhật xâm phạm lãnh thổ của Mỹ nên hậu quả dẫn đến việc Mỹ phản công thả bom nguyên tử xuống hai thành phố công nghiệp là Hisosima và Nagasaki.
Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử mang tên Little Boy trên pháo đài bay B-29 Enola Gay của phi đoàn 509, thả xuống Hiroshima, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom mang tên Fat Man trên pháo đài bay B-29 Bock’s Car, thả xuống Nagasaki.
Trước khi thả bom nguyên tử, Mỹ đã rãi truyền đơn cảnh báo nhưng phát xít Nhật coi thường và ngoan cố. Truyền đơn viết bằng tiếng Nhật: “… Trong vài ngày tới, một số hoặc tất cả những thành phố được liệt kê trong danh sách ở mặt sau truyền đơn này sẽ bị phá hủy bởi những quả bom của người Mỹ. Những thành phố này có các hãng xưởng, nhà máy lắp ráp chế tạo thiết bị quân sự.
Chúng tôi quyết tâm tiêu diệt tất cả những trang thiết bị mà các phe phái quân sự đang sử dụng để kết thúc cuộc chiến vô nghĩa này. Nhưng, không may, những quả bom không có mắt. Vì vậy, theo các chính sách nhân đạo của Mỹ, Không Quân Mỹ, chúng tôi không muốn làm tổn thương người vô tội, do đó chúng tôi cảnh báo và yêu cầu bạn hãy di tản khỏi những thành phố được liệt kê để cứu lấy mạng sống của chính bạn.
Người Mỹ không chiến đấu chống lại nhân dân Nhật Bản, mà chiến đấu chống lại các thế lực quân sự đang sử dụng nhân dân Nhật Bản. Nền hòa bình mà Mỹ mang lại sẽ giải thoát cho người dân như các bạn đang phải sống trong sự áp bức của quân đội Nhật và đồng thời cũng có ý nghĩa mang đến một Nhật Bản mới tốt đẹp hơn. Các bạn có thể mang hòa bình trở lại bằng cách chọn ra những người lãnh đạo mới và giỏi, những người thật sự muốn kết thúc chiến tranh.
Do vậy, hãy chú ý đến cảnh báo này và sơ tán khỏi các thành phố này ngay lập tức!”
(Nếu so sánh hành động của chính quyền Truman của Mỹ với Nhật và chính quyền Putin của Nga với Ukraine hiện nay là hai thái cực giữa chế độ dân chủ và chế độ độc tài).
Sau khi ném bom nguyên tử ở Hiroshima, TT Truman đã lên làn sóng phát thanh kêu gọi Nhật đầu hàng, nếu không tai họa như Hiroshima sẽ tiếp tục nhưng Hội Đồng Tối Cao của Nhật Bản vẫn ngoan cố nên Mỹ tiếp tục thả trái bom thứ hai.
Ngày 14/8/1945, Nhật Hoàng tuyên bố trên đài phát thanh chấp nhận đầu hàng không điều kiện các nước Đồng Minh, nhưng đến ngày 2/9/1945, nghi lễ đầu hàng của Nhật trước quân đội Đồng Minh mới được thực hiện trên chiến hạm USS Missouri (BB-63) của Hải quân Hoa Kỳ. Và, từ đó, ở trời Tây, Ý và Đức bị quân đội Đồng Minh phản công mãnh liệt, Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc.
Năm ngày sau khi Nhật ký hiệp ước đầu hàng, ngày 7/9/1945, Thống Tướng McArthur, chỉ huy các lực lượng Đồng Minh tại Thái Bình Dương, thiết lập văn phòng làm việc tại Tokyo, mở đầu cho giai đoạn Mỹ chiếm đóng nước Nhật kéo dài trong sáu năm, tám tháng.
Trước khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, Nhật và Mỹ vẫn còn là hai nước kẻ thù không đội trời chung. Trong 4 năm chiến tranh ác liệt tại Thái Bình Dương, đã làm cho quân đội Mỹ hy sinh khoảng 360.000 binh sĩ.
Sau khi ký xong hiệp ước đầu hàng, Thống Tướng MacArthur đại diện của Đồng Minh đọc bài diễn văn ngắn gọn, chứa đựng tinh thần cao thượng của người Mỹ, ông kết thúc bài diễn văn: “Đây là hy vọng thiết tha nhất của tôi, và thật sự cũng là hy vọng của toàn thể nhân lọai, rằng từ sự kiện trang nghiêm này một thế giới tốt đẹp hơn sẽ hiện ra từ máu và sự chém giết nhau trong quá khứ – một thế giới sẽ phục sự cho nhân phẩm con người và để hòan thành ước nguyện cao cả nhất cho tự do, lòng bao dung và sự công bằng”.
Tuy không phải là kinh tế gia nhưng Thống Tướng MacArthur với tấm lòng nhân ái, đức độ và tận tình với nước thù địch để phục hồi đất nước Nhật từ đống tro tàn, đổ nát được vực dậy chỉ trong gần 6 năm (15/8/1945 cho đến ngày 11/4/1951). Ngoài ra, Sứ Quân MacArthur đã làm thay đổi nhân sinh quan tư duy của người Nhật từ Thiên Hoàng cho đến người dân.
Ngay sau khi đặt chân đến thủ đô Tokyo, Thống Tướng MacArthur ra lệnh cho các binh sĩ dưới quyền ông không được trả thù người Nhật vì bất cứ lý do gì và ưu tiên hàng đầu của ông là phải lo cho người dân Nhật qua khỏi cơn đói rách do các hậu quả của chiến tranh.
Ngay từ đầu Tướng MacArthur viết thư trình bày với Quốc Hội, với chính phủ Hoa Kỳ để xin cứu trợ và chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận trợ cấp khẩn cấp cho chính phủ Nhật Bản gồm: Ba triệu rưỡi tấn lương thực, thuốc men cùng với hai tỷ đô la.
Việc làm đầu tiên của Thống Tướng MacArthur ra lệnh chở lương thực và các vật dụng cần thiết cho đời sống đến Nhật để cứu đói và tránh các bất ổn xã hội do nạn đói và thiếu thốn gây ra. Thực hiện chương trình cho học sinh ăn trưa tại các trường học Nhật. Toàn bộ quân đội Nhật bị giải tán. Các binh sĩ được cho về quê sống. Lính Mỹ được lệnh phải tôn trọng phong tục tập quán của nước Nhật và giúp đỡ người dân.
Từ chế độ phát xít xâm chiếm các nước láng giềng, nước Nhật trở thành một quốc gia độc lập, tự do, dân chủ và đặt nền tảng cho một cường quốc kinh tế sau này.
Để phục hồi nước Nhật, chương trình viện trợ Marshall, Mỹ đã đổ vào nước Nhật hàng tỷ đô la, cùng với những ý kiến sáng suốt và những chương trình cải cách thiết thực xây đựng nước Nhật thuần túy về kinh tế và đời sống, nhờ vậy chỉ 25 năm sau chiến tranh nước Nhật trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì trên thế giới. Dĩ nhiên kết quả này phần lớn cũng do sự nỗ lực làm việc, sự hy sinh và tinh thần của dân tộc Nhật Bản.
Thống Tướng MacArthur trừng phạt những tôi phạm chiến tranh nhưng chống lại việc đưa Nhật Hoàng Hirohito ra Tòa Án Quốc Tế như một tội phạm chiến tranh. Nhật Hoàng Hirohito, đứng ra nhận tất cả trách nhiệm về cuộc chiến và chấp nhận từ chức nếu Mỹ yêu cầu nhưng ông không đòi hỏi Nhật Hoàng từ chức. Tống Tướng thấy Nhật Hoàng là người được toàn dân Nhật tôn trọng nên ông muốn Nhật Hoàng được tại vị để làm biểu tượng đoàn kết dân Nhật và đem lại ổn định về chính trị. Cảm kích tấm lòng đó nên danh xưng Shogun (Thiên Sứ, Tướng Quân) từ Nhật Hoàng khi nhật Hoàng đã tiếp xúc với ông qua 11 lần gặp mặt.
Trong hồi ký “Reminiscences” của Douglas MacArthur, nhà xuất bản McGraw-Hill, 1964, ghi: “Sau lần ấy Nhật Hoàng đến thăm tôi thường xuyên, chúng tôi bàn về hầu hết các vấn đề quốc tế. Tôi luôn luôn giải thích kỹ càng những lý do quan trọng nhất về chính sách chiếm đóng,và tôi nhận thấy ông hiểu biết uyên thâm về khái niệm dân chủ hơn hầu hết những người Nhật tôi có dịp trò chuyện. Ông đóng vai trò rất lớn trong sự hồi sinh tinh thần của Nhật Bản, và sự hợp tác trung thành và ảnh hưởng của ông đã tác động rất nhiều đến sự thành công của công cuộc chiếm đóng”.
Trong cuốn “12 Người Khai Lập Nước Nhật Hiện Đại” của Sakaiya Taichi, Tướng MacArtthur là người nước ngoài duy nhất, với tựa “MacArthur: Thí nghiệm biến Nhật Bản thành một “nước Mỹ lý tưởng”, ngay cả Thiên Hoàng Minh Trị (người khởi xướng phong trào Duy Tân) cũng không có tên trong danh sách này. Sách 12 chương với những nhân vật: Thái tử Shotoku, Hikaru Genji, Minamoto Yoritomo, Oda Nobunaga, Ishida Mitsunari, Tokugawa Ieyasu, Ishida Baigan, Okubo Toshimichi, Shibusawa Eiichi, MacArthur – Thí nghiệm biến Nhật Bản thành “nước Mỹ lý tưởng”, Ikeda Hayato và Matsushita Konosuke.
Tác giả Sakaiya Taichi (1919-2007) được coi là chuyên gia hàng đầu về kinh tế, Thủ Tướng Obuchi mời vào làm Bộ Trưởng Kế Hoạch Kinh Tế… Trong 12 nhân vật, không ai là vị vua khai thiên lập địa, không ai là vị tướng tài đánh dẹp ngoại xâm, mà là những người đã đưa ra quan niệm tôn giáo, tiêu chuẩn luân lý, phong cách xử thế, đề cao giá trị tinh thần của người Nhật, trên lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội còn ảnh hưởng lớn tới ngày nay.
Với nhưng công lao, đóng góp của Sứ Quân MacArthur từ tinh thần đến vật chất cho nước Nhật không thể nào kể xiết đã được ghi vào trang sử, lưu lại hậu thế.
Nhà văn Sodei Rinjiro đã đọc hơn 10 nghìn thư của người Nhật, và chọn 120 bức thư thú vị, quan trọng để ấn hành cuốn sách mang tên “Tướng MacArthur thân mến: Những bức thư gởi từ người Nhật trong thời gian Mỹ chiếm đóng”, xuất bản năm 2001.
Thủ Tướng Yoshida của Nhật (từ năm 1946 đến năm 1947 và từ năm 1948 đến năm 1954), nói: “Tướng Quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước đi trên con đường hòa bình. Tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”
* Giữa vinh quang và nỗi đau
Sau khi Đệ Nhị Thế Chiên chấm dứt, bán đảo Triều Tiên bị chia cắt làm hai khu vực chiếm đóng quân sự do các hoạt động của Hoa Kỳ ở phía Nam và Liên Xô ở phía Bắc. Năm 1948, chính quyền miền Nam thành lập nhà nước Đại Hàn Dân Quốc theo chế độ dân chủ dưới sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Bắc Triều Tiên theo chủ nghĩa cộng sản được thành lập dưới sự hỗ trợ của Liên Xô. Sau khi Trung Cộng cưỡng chiếm Trung Hoa năm 1949, Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc dẫn đến chiến tranh Triều Tiên.
Quân đội Liên Hiệp Quốc dưới sự chỉ huy của Thống Tướng MacArthur (rời Nhật Bản để sang Nam Hàn), nhanh chóng đẩy lui quân miền Bắc và truy đuổi đến tận sông Áp Lục, nằm trên biên giới Triều Tiên – Trung Quốc.
Đầu tháng 10/1950, các lực lượng Liên Hiệp Quốc vượt qua biên giới tiến vào Triều Tiên. Quân Đoàn 10 của Mỹ đổ bộ lên Wonsan và Iwon, hai nơi quân Đại Hàn đã tấn công chiếm được trước đó. Các lực lượng còn lại của Mỹ sát cánh với quân Đại Hàn tiến quân theo phía bờ tây của Triều Tiên, chiếm được Bình Nhưỡng ngày 19/10 và đến cuối tháng, 135.000 binh lính Triều Tiên đã bị quân Liên Hiệp Quốc bắt làm tù binh.
Tuy nhiên, Trung Quốc đã xua quân vượt sông Áp Lục và phản công quân LHQ. Trước đó, TT Truman đã cảnh báo MacArthur không nên khiêu khích Trung Quốc nhưng ông tự tin Bắc Kinh sẽ không can thiệp, dẫn đến thất bại sau đó. Tức giận trước việc Trung Quốc tham chiến, Tướng MacArthur vẫn tiếp tục đem quân sang bên kia sông Áp Lục, mở chiến dịch không kích các mục tiêu quân sự tại Trung Quốc. Tướng MacArthur muốn không kích vào khu vực Mãn Châu và từ biển Nhật Bản đến Hoàng Hải,… TT Truman lo ngại chiến dịch của Tướng MacArthur có thể châm ngòi cho Đệ Tam Thế Chiến vì vậy TT Truman quyết định tước chức tư lệnh của ông vào tháng 4/1951, dân Mỹ bị bất bình và phản đối dữ dội lên Quốc Hội Hoa Kỳ. Nhưng với tinh thần người lính “thi hành trước, khiếu nại sau” nên Tướng MacArthur phải chấn hành mệnh lệnh.
Trên đường từ Triều Tiên ghé lại Nhật và trở về cố hương sau khi bị TT Truman triệu hồi, cuộc chia tay cuối cùng giữ Nhật Hoàng và người dân như đã đề cập ở trên là điều không thể nào ngờ với vị Tướng xuất chúng, tài ba nhưng bị thất sủng.
MacArthur trở về thủ đô Washington, ông xuất hiện trước công chúng lần cuối cùng trong bài diễn văn chia tay bị gián đoạn với 30 lần hoan hô nhiệt liệt trước Quốc Hội Hoa Kỳ. Trong lời cuối kết thúc diễn văn, ông nhắc lại lời bài hát đã có từ trước: “Những người lính già không bao giờ chết; họ chỉ mờ nhạt dần.” “Và giống như người lính già của bài hát đó, bây giờ tôi đóng lại đời binh nghiệp của tôi và mờ nhạt dần — một người lính già đã cố sức mình làm tròn bổn phận của mình khi Thượng đế ban cho tôi ánh sáng để tôi thấy được bổn phận đó. Xin tạm biệt.”
Câu nói “Những người lính già không bao giờ chết; họ chỉ mờ nhạt dần” trở thành danh ngôn của vị Tướng xuất chúng còn mãi lưu truyền.
MacArthur là danh tướng lẫy lừng nhưng bị cách chức trong chiến trận như mũi dao đâm thẳng vào trái tim!
Dư luận cho rằng cuộc điều tra vào năm 1952 trong việc cách chức danh tướng của Ủy Ban Thượng Viện Hoa Kỳ do Richard Brevard Russell, Jr. làm chủ tịch cũng có mục đích chính trị vì nếu “ứng cử viên tổng thống” MacArthur cho một cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc sẽ dễ thành công. Trong hồi ký Reminiscences, MacArthur luôn nói rằng ông không có những tham vọng về chính trị.
Trên chính trường Hoa Kỳ có những điều thường hay xảy ra và không bao giờ ngờ tới!
Tướng MacCathur mất ngày 5/4/1964 tại Quân Y Viện Walter Reed ở tuổi 84. Ngày 7/4, linh cữu vị danh tướng được chuyển đến đồi Capitol ở Washington trong nghi thức quốc tang với sự tham dự của hơn 150.000 người và được an táng tại khu tưởng niệm Douglas MacArthur ở Norfolk, tiểu bang Virginia.
Để tỏ lòng biết ơn, năm 1965, chính phủ Nhật tặng cho thủ đô Washington 3.800 cây anh đào trồng phủ kín xung quanh bờ hồ Tidal Basin, để hàng năm vào cuối tháng 3, hai thủ đô Tokyo và thủ đô Washington cùng bước vào mùa hoa anh đào, hàng triệu người đổ về, rạng rỡ đi dưới những tán hoa tươi thắm xóa đi nỗi đau chiến tranh tàn khốc giữa hai dân tộc Nhật-Mỹ.
Ngày 27/12/2016, Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe có bài phát biểu tại Trân Châu Cảng. Bài phát biểu rất chân tình và cảm động. Nhìn nhận lỗi lầm của Nhật trong chiến tranh và biết ơn Mỹ không mang thù hận mà xây dựng lại nước Nhật.
Trích:
“Giờ đây, tôi đang đứng ở Trân Châu Cảng, Pearl Harbor, với tư cách là Thủ Tướng Nhật Bản. Khi lắng tai nghe, tôi có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ bờ và trở lại ngoài khơi. Mặt vịnh xanh và yên bình được chiếu sáng bởi ánh nắng mềm mại tỏa xuống từ mặt trời. Phía sau tôi, trên biển kia là khu tưởng niệm Arizona (Arizona Memorial) màu trắng…
Giờ đây, đã 75 năm trôi qua, dưới con tàu Arizona nằm nghiêng dưới đáy biển sâu vẫn còn rất nhiều binh sĩ đang yên nghỉ. Khi lắng tai nghe với tất cả lòng mình, tôi nghe thấy tiếng của những người lính cùng với âm thanh của gió và của sóng.
(Ghi chú: Con tàu Arizona là thiết giáp hạm USS Arizona (BB-39) của Hải Quân Hoa Kỳ hạ thủy vào ngày 19/6/1915. Arizona trang bị trang bị vũ khí hùng hậu với các dàn pháo và hai ống phóng ngư lôi. Ngày 7/12/1941 phi cơ Nhật tấn công vào Hạm Đội Thái Bình Dương, phá hủy con tàu làm thiệt mạng 1.177 người trong tổng số 1.400 thành viên thủy thủ đoàn).
… Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành.
… Tôi, với tư cách là Thủ Tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh.
… Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mỹ và quốc dân Mỹ.
Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai. Và rồi nước Mỹ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mỹ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh.
Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi.
… Nhật-Mỹ, hai nước đã bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn, sự tin cậy dưới những giá trị chung lúc này có nghĩa vụ phải tiếp tục nói với thế giới về tầm quan trọng của khoan dung và sức mạnh của hòa giải…”
(Nghĩ đến con người xứ người mà tủi nhục cho con người của đất nước chúng ta sau cuộc chiến!)
* Shinzo Abe, người con ưu tú xứ sở Phù Tang
Ông Shinzo Abe là Thủ Tướng lâu nhất của nước Nhật, trong thời gian cầm quyền Thủ Tướng Shinzo Abe đã hai lần từ chức vì lý do sức khỏe (2006 & 2007, 2012-2020). Với đức tính của vị lãnh đạo đất nước, ông cương quyết theo đuổi chính sách, đường lối đã hoạch định nhưng uyển chuyển, tế nhị để gây hòa khí với nhau nên gây được cảm tình trên chính trường.
Ngày 8/7/2022, người dân Nhật bàng hoàng, xúc động khi nghe tin cựu Thủ Tướng Shinzo Abe Abe bị ám sát khi đang có bài phát biểu trong một chiến dịch tranh cử ở Nara, miền nam Nhật Bản.
Thủ Tướng Abe sinh ngày 21/9/1954 trong một gia đình có truyền thống chính trị nổi tiếng tại Nhật Bản. Ông nội Kishi Nobusuke từng là Thủ Tướng Nhật Bản giai đoạn 1957-1960. Chú của ông là Sato Eisaku cũng từng giữ chức vụ này từ 1964 tới 1972.
Năm 1977, sau khi tốt nghiệp đại học Seike ở Tokyo, ông theo học cao học ngành khoa học chính trị tại UCLA (University of California, Los Angeles). Năm 1979, ông trở về Nhật Bản, tham gia đảng Dân Chủ Tự Do (LDP) và được bầu vào Hạ Viện Nhật Bản năm 1993, từ đó sự nghiệp chính trị của ông tiếp tục trên chính trường đất nước nầy.
Khi trở lại với cương vị Thủ Tướng, ông Shinzo Abe thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại quyết liệt hơn, nhằm “hồi sinh” Nhật Bản sau thời gian dài trì trệ về kinh tế.
Về đối ngoại, Thủ Tướng Abe áp dụng đường lối cứng rắn với Triều Tiên, ủng hộ các lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc đối với Triều Tiên sau khi nước này thử nguyên tử và áp dụng biện pháp trừng phạt, trong đó có lệnh cấm tất cả tàu Triều Tiên cập cảng Nhật Bản.
Với Trung Cộng và Đài Loan, Nhật ủng hộ Đài Loan và đã nhiều lần đối đầu Trung Cộng trong âm mưu “Nhất Đới Nhất Lộ” của Tập Cận Bình trên Thái Bình Dương.
Với Hàn Quốc, bóng ma trong quá khứ vẫn còn ám ảnh nạn nhân khi Nhật chiếm đóng. Tháng 12/2015, Tokyo và Seoul đạt thỏa thuận song phương về vấn đề “phụ nữ mua vui” làm nền tảng cho quan hệ Hàn-Nhật nhưng sau đó mối quan hệ song phương xuống mức thấp. Thủ Tướng Abe với các sáng kiến trao đổi văn hóa, giáo dục và kinh tế để hàn gắn vết thương trong quá khứ.
Với Hoa Kỳ và các nước phương Tây, với đường lối ngoại giao mềm mỏng và chân tình của ông về thương mại để xuất nhập cảng sau thời gian Nhật Bản suy thoái kinh tế…
Chính sách đối ngoại của Thủ Tướng Abe đã đánh giá theo Viện Nghiên Cứu Lowy của Úc, cho rằng Nhật Bản “là lãnh đạo về trật tự tự do của châu Á”. Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á (Institute of Southeast Asian Studies) năm 2020 đánh giá Nhật Bản là quốc gia đáng tin cậy nhất trong khu vực.
Về đối nội, Thủ Tướng Abe cũng tìm cách tăng cường sức mạnh quân sự cho Nhật Bản bằng cách thúc đẩy sửa đổi hiến pháp, hợp tác với các quốc gia khác ở châu Á để đối phó với Trung Cộng tranh chấp trên biển và với Bắc Triều Tiên đe dọa vũ khí nguyên tử.
Chương trình Abenomics của Thủ Tướng Abe với chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế để khuyến khích đầu tư tư nhân. Chính sách kích thích tài chánh nhằm giảm lạm phát, điều chỉnh lại sự nâng giá quá mức của yên Nhật, xây dựng trái phiếu chính phủ bởi ngân hàng Nhật Bản, sửa đổi lại đạo luật ngân hàng Nhật Bản… Quá trình thực hiện rất khó khăn, gây phản ứng cùa thành phần đối lập nhưng dần dà đã thực hiện được kế hoạch.
Hỗ trợ kích thích kinh tế được chính phủ Nhật Bản sử dụng từ năm 2013, trị giá 20,2 nghìn tỷ yên (tỷ giá một đô la khoảng 125 yên – JPY – vào thập niên 2010), trong đó có 10,3 nghìn tỷ yên xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng (cầu, đường hầm và đường chống động đất). Nhật Bản công bố thêm ngân khoản kích thích 5,5 nghìn tỷ yên vào tháng 4/2014 và ngân khoản kích thích trị giá 3,5 nghìn tỷ yên sau cuộc bầu cử tháng 12/2014. Giai đoạn 2015 – 2017, do kinh tế phục hồi chưa được như kỳ vọng nên Nhật Bản tiếp tục duy trì thâm hụt ngân sách và tiếp tục thực hiện các ngân khoản kích thích.
Tháng 8/2016, chính phủ Nhật Bản thông qua ngân khoản kích thích trị giá 28.100 tỷ yên tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội; Tháng 10/2016, chính phủ Nhật Bản phê chuẩn ngân khoản kích thích thứ hai trong năm 2016 trị giá hơn 4.000 tỷ yên nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng; Tháng 3/2017, Quốc Hội Nhật Bản thông qua ngân sách cho năm tài khóa 2017 trị giá 97.400 nghìn tỷ yên với mục tiêu tiếp tục tăng chi tiêu cho an sinh xã hội, quốc phòng và những lĩnh vực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Sau 5 năm (2013-1018) kể từ khi Thủ Tướng Abe lên nắm quyền và thực thi chính sách Abenomics, nền kinh tế Nhật Bản đã trở nên mạnh hơn nhưng vẫn chưa hoàn thành như ý muốn và những thách thức phía trước… Trong thời gian năm 2019, 2020 nạn dịch Covid-19 lan rộng trên thế giới, các nước trong cơn khủng hoảng vì lo đối phó với nạn dịch, phải ngăn ngừa bệnh dịch lây lan… phải “bế quan tỏa cảng” nên Nhật cũng rơi vào quỹ đạo nầy, kế hoạch Abenomics bị trì trệ.
Đối với nền kinh tế Nhật Bản, dù tỷ lệ nợ công ở mức trên 200% GDP, nhưng vẫn được đánh giá là nền kinh tế ổn định. Phần lớn nợ công của Nhật Bản thuộc về tay chủ nợ nội địa (các công ty trong nước và người dân Nhật Bản nổi tiếng về tiết kiệm trên thế giới). Chẳng hạn Mỹ là chủ nợ khoảng 30.000 tỷ đô la nhưng vẫn là cường quốc kinh tế số một trên thế giới.
Điều quan trọng, với ngân khoản của chính phủ bỏ ra hỗ trợ lớn lao như vậy của chính quyền được tin tưởng vì không xảy ra tình trạng tham những, bè phái, đặc quyền đặc lợi cho tham quan. Đó là vết son cho đất nước này. Với Việt Nam, “đi với ma mặc áo giấy” nên chương trình ODA (Official Development Assistance) lãi suất thấp, một phần viện trợ, thời hạn cho vay lâu dài để xây dựng hạ tầng cơ sở… đã xảy ra những trò hối lộ, tham những… khi giới truyền thông phanh phiu, những tay dính chàm của Nhật bị trị thẳng tay nhưng ở Việt Nam vẫn “bình chân như vại”.
Cố Thủ Tướng Shinzo Abe trở về với cát bụi, thi hài của vị lãnh đạo Nhật Bản được hỏa táng tại nhà tang lễ Kirigaya ở Tokyo.
Sáu thập niên về trước, người Nhật tiễn đưa Sứ Quân MacArthur trở về cố hương, sáu thập niên sau người Nhật vĩnh biệt cố Thủ Tướng Shinzo Abe trong niềm thương tiếc.
Vương Trùng Dương, Little Saigon 7/2022
-
GÓP PHẦN TÌM HIỂU
BÀI THƠ ĐIẾU PHAN THANH GIẢN BẰNG CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Hai bài thơ Nguyễn Đình Chiểu làm để điếu Phan Thanh Giản có thể được sáng tác ngay sau khi Phan Thanh Giản quyên sinh (năm 1867) hay – ở trường hợp bài chữ Hán – sau khi ông bị truy đoạt hết chức tước và đục tên khỏi bia Tiến sĩ. Từ đó đến nay đã trên 150 năm. Qua nhiều thế hệ, hai bài thơ ấy vẫn được coi là những tác phẩm bộc lộ niềm cảm thông trước hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của Phan Thanh Giản và bày tỏ lòng thương tiếc đối với ông. Ít năm gần đây, một vài tác giả ở trong nước biện luận rằng Nguyễn Đình Chiểu đã không thực sự thương tiếc Phan Thanh Giản, mà chỉ làm ra vẻ thương tiếc để mai mỉa và lên án ông. Những hàng phía sau là một cố gắng đọc lại bài thơ điếu bằng chữ Hán một cách cẩn trọng, để tìm hiểu chủ ý đích thực của Nguyễn Đình Chiểu khi sáng tác bài thơ ấy.
Khi Phan Thanh Giản quyên sinh năm 1867, Nguyễn Đình Chiểu bị mù đã được 18 năm (từ 1849). Các tác phẩm bằng quốc âm của vị thầy mất thị giác đã được các môn sinh của ông chép ra bằng chữ Nôm rồi về sau chuyển đổi sang chữ quốc ngữ. Các tác phẩm bằng chữ Hán hẳn cũng được ghi ra chữ Hán, nhưng sau một số lần sao đi chép lại, những chữ đồng âm nhưng khác nghĩa và những chữ có âm gần giống nhau đã rơi vào tình trạng “tam sao thất bổn,” khiến chúng ta thấy xuất hiện một số bản chữ Hán với cách viết và ý nghĩa khác nhau. Trước khi ông Lê Thọ Xuân liên lạc được với người con của Nguyễn Đình Chiểu là ông Nguyễn Đình Chiêm và cung cấp một bản thuộc loại “có thẩm quyền” cho bài thơ chữ Hán năm 1933 (bài “Danh nhơn Nam Kỳ,” Đồng Nai số 23 & 24, 15 Janvier – 2 Février 1933), chúng ta đã thấy có bản chữ Hán do ông Nguyễn Liên Phong đưa ra năm 1909 trong Nam Kỳ Phong Tục Nhơn Vật Diễn Ca (cuốn thứ 2, trang 71), và bản chữ Hán do ông Thái Hữu Võ đưa ra năm 1927 trong Phan Thanh Giảng Truyện (Sài Gòn : Xưa Nay, trang 46-47). Nhưng ông Lê Thọ Xuân chỉ cho biết là hai bài thơ do ông Thái Hữu Võ cung cấp có nhiều chỗ sai, và nêu ra những chỗ sai ấy bằng chữ quốc ngữ, chứ không cung cấp một bản viết đầy đủ và chính xác cho bài thơ chữ Hán. Những năm sau, bà Mai Huỳnh Hoa, cháu ngoại của bà Sương Nguyệt Anh (con gái của Nguyễn Đình Chiểu) và chồng bà là học giả Phan Văn Hùm, trong cuốn Nỗi Lòng Đồ Chiểu (bản in lần thứ hai, Sài Gòn : Tân Việt, 1957), cũng chỉ làm như thế, không cung cấp một bài thơ đầy đủ và chính xác ở dạng chữ Hán.
(Muốn biết hai bản chữ Hán với khá nhiều sai lầm của các ông Nguyễn Liên Phong và Thái Hữu Võ, xin vui lòng đọc trong cuốn Mối Thâm Tình Của Nguyễn Đình Chiểu Dành Cho “Quan Phan” Phan Thanh Giản của Winston Phan Đào Nguyên ([San Jose, Calif.] : Nhân Ảnh, 2022, các trang 55 và 61-62).
Tác giả đã đưa cuốn sách lên mạng tại địa chỉ sau đây:
https://app.box.com/s/p7e3mgfty0l1asrqkewxuck6bwqw7rny
Theo ông Lê Thọ Xuân, với bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đình Chiểu, bản do ông Thái Hữu Võ đưa ra trong Phan Thanh Giảng Truyện sai 8 chữ, thêm sự kiện hai chữ “thần” với những nghĩa khác nhau (“thần linh”神 và “vị quan, người bày tôi”臣) bị đặt sai chỗ, khiến ý nghĩa khác đi rất nhiều. Coi lại bản chữ Hán của ông Nguyễn Liên Phong, đối chiếu với bài viết của ông Lê Thọ Xuân, chúng tôi thấy có 7 chữ sai. Hai chữ “thần” cũng bị chép không đúng chỗ như thế.
Khi phân tích bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đình Chiểu, một vài tác giả ở trong nước trong ít năm gần đây đã dựa vào những bản bị chép sai ấy, đưa tới một số ngộ nhận rất đáng tiếc.
Mãi tới 15 năm trước đây, nhân được đọc một tài liệu Hán Nôm chép tay của gia đình Nguyễn Đình ở Bến Tre do bà Âu Dương Thị Yến cất giữ, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh mới cung cấp cho chúng ta một bài thơ chữ Hán thuộc loại có thẩm quyền trong Việt Nam Bách Gia Thi (Sài Gòn : NXB Văn Hóa, 2005). Đối chiếu bài này vói bài thơ chữ Hán chỉ có âm Hán Việt do học giả Phan Văn Hùm cung cấp sau khi tham khảo với ông Nguyễn Đình Chiêm, chúng tôi thấy hai bản gần như giống hệt nhau. Chỉ có hai chỗ khác trong câu 2, nhưng ý nghĩa không thay đổi nhiều:
Bản của ông Phan Văn Hùm: Vi quân nan bảo nhất phương dân
Bản của ông Cao Tự Thanh: Vi công thùy bảo nhất phương dân.
Trước những tranh luận sôi nổi về ý nghĩa của bài thơ mới được đưa ra gần đây, chúng tôi xin đóng góp chút nhận thức thô thiển. Trước khi làm việc này, chúng tôi có hoàn cảnh trao đổi thêm với hai vị có căn bản Hán học vững chắc ở ngoài nước, là Tiến sĩ Nguyễn Duy Chính và cô Nguyễn Ngọc Dung.Câu 1:
歷仕三朝獨潔身
Lịch sĩ tam triều độc khiết thân
Câu này ý nghĩa khá đơn giản: Làm quan trải ba triều vua (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.
Câu 2:
微君難保一方民
Vi quân nan bảo nhất phương dân
Nếu không có ông, rất khó bảo vệ dân chúng một phương. Câu này muốn nói tới dân chúng miền Nam. Phan Thanh Giản từng được cử làm Khâm sai, Kinh lược sứ Nam kỳ, rồi về sau, Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây.
Chúng tôi đưa ra câu trên theo bản in trong Nỗi Lòng Đồ Chiểu của Phan Văn Hùm. Trong Việt Nam Bách Gia Thi của Cao Tự Thanh, câu ấy là:
微公谁保一方民
Vi công thùy bảo nhất phương dân.
Nếu không có ông, ai sẽ bảo vệ dân chúng một phương. Tuy ý nghĩa không khác nhau bao nhiêu, chữ “công” (ông, tướng công) trong bản của Cao Tự Thanh có vẻ thích hợp hơn. Phan Thanh Giản (sinh năm 1896) hơn Nguyễn Đình Chiểu (sinh năm 1922) 26 tuổi. Phan Thanh Giản là vị “Tiến sĩ khai khoa” cho miền Nam, một Hiệp biện Đại học sĩ, Khâm sai, Kinh lược đại thần, trong khi Nguyễn Đình Chiểu mới đậu Tú tài và chưa làm quan. Thêm vào đó, Nguyễn Đình Chiểu rất tôn trọng Phan Thanh Giản, vẫn thường nhắc đến ông qua các từ “Phan học sĩ, quan Phan.”
Câu 3:
龍湖寧負書生老
Long Hồ ninh phụ thư sinh lão
Long Hồ là tên cũ của tỉnh Vĩnh Long. Chữ “ninh” ở đây có nghĩa là “thà rằng, đành,” như trong câu “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (đành chết chứ không chịu nhục). Một số vị dịch thơ trước đây cho rằng chữ “phụ” trong câu này có nghĩa là “phụ lòng.” Chẳng hạn như trong bản dịch của nhà thơ tiền bối Thượng Tân Thị (1888-1966):
Long Hồ phụ lão thư sinh,
Ở nơi các Phụng không đành làm quanHay trong bộ Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập do các ông Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lân, Nguyễn Thạch Giang biên soạn năm 1997 (Hà Nội : Văn Học, tập 2, trang 51-52):
Long Hồ thà phụ thư sanh lão
Phụng các suông quy học sĩ thần.
Theo các tự điển, chữ “phụ”負 ấy cũng có nghĩa là “vác, mang, gánh,” dùng theo nghĩa bóng là “gánh vác.” Chúng tôi tin rằng đó là ý của Nguyễn Đình Chiểu trong câu này. “Ninh phụ” có nghĩa: “đành phải ra gánh vác.”
Theo Đại Nam Thực Lục, sau khi ở Pháp về, Phan Thanh Giản được cử làm Lại bộ Thượng thư nhưng sau vua Tự Đức đổi ông làm Hộ bộ Thượng thư vì cho rằng ở Lại bộ không nhiều việc quan trọng. Ở Hộ bộ, phải lo ngân sách, tài chánh, kể cả khoản bồi thường chiến phí hàng năm phải nộp cho người Pháp, công việc nặng, cần người giỏi và tận tâm hơn. Sau đó, năm 1865, nhà vua cử ông làm Khâm sai, Kinh lược sứ, để lo giữ ba tỉnh miền Tây Nam phần. Cũng theo Đại Nam Thực Lục, Phan Thanh Giản đã xin về hưu (ông tới 70 tuổi theo cách tính của người Việt thời trước). Thực Lục chép, “Phan Thanh Giản vì tuổi già đã xin về hưu”. Vua Tự Đức tiếp riêng ông trong Nội các để trò chuyện. Phan Thanh Giản cho biết, “Thần … cảnh bóng dâu gần xế chiều, tự biết tinh thần, sức vóc không còn được như trước. Hồi tưởng lại người ta đến 70 tuổi như cỏ bồ cây liễu đã trải mùa thu, dẫu có lòng quyến luyến thiết tha nhưng sức ngựa đã hết, rất lo ứng phó không chu để lầm lỡ công việc, nên không dám không lấy tình thực trình bày.” Vua Tự Đức ủy lạo và nói, “Khanh nên cố gắng để khích lệ những người hậu tiến,” rồi lại nói, “Ngươi nên mạnh bạo mưu toan cho trót, quyết không nên thôi,” và không cho ông lui về. (Đại Nam Thực Lục. Hà Nội : NXB Giáo Dục, 2007. Tập 7, trang 944). Vì những lẽ ấy, theo chỗ chúng tôi hiểu, câu này có thể được viết với dấu ngắt câu:
Long Hồ ninh phụ, thư sinh lão.
Chủ từ của động từ “phụ” (mang, gánh vác) không phải là đất Long Hồ mà là người thư sinh già:
Người học trò già đành phải gánh vác việc [giữ đất] Long Hồ (tên cũ của tỉnh Vĩnh Long).
Có thể Nguyễn Đình Chiểu cũng muốn nói:
Long Hồ đành gánh vác, người thư sinh đã già.
Câu 4:
鳳閣空歸學士神
Phượng Các không quy học sĩ thần
Hồn người học sĩ (chỉ Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản) không đành, không lòng nào trở về Phượng Các (chỗ các quan làm việc). Không giữ nổi Vĩnh Long, ông đã bị truy đoạt hết chức tước, tên bị đục khỏi bia Tiến sĩ, linh hồn ông còn danh nghĩa nào để bay về Phượng Các là chỗ làm việc của các đại thần? Hai tiếng “không quy” không mang ý nghĩa “không về” (Nếu “không về,” người xưa viết là “bất quy”). Ở đây là “về,” nhưng không thực sự về, về một cách không trọn vẹn, “về cũng như không.” Những cách dịch “về suông” hay “khôn về” (khó lòng về) đều có vẻ thích hợp.
Hai câu 5-6:
秉節曾勞生富弼
盡忠何恨死張巡
Bỉnh tiết tằng lao, sinh Phú Bật
Tận trung hà hận, tử Trương Tuần
Cầm cây cờ tiết của người đi sứ (cũng có thể hiểu là giữ tiết tháo), từng chịu gian lao, sống như ông Phú Bật (đời Tống).
Hết lòng trung, còn hận gì nữa, chết như ông Trương Tuần (đời Đường).
Trong một bài Đường luật bát cú, đây là hai câu “luận,” có nhiệm vụ bàn về nhân vật được nhắc đến trong bài thơ (Phan Thanh Giản).
Câu trên nhắc đến việc Phan Thanh Giản từng vất vả sang Pháp (cùng Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản), cố chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Câu dưới nhắc đến việc Phan Thanh Giản quyên sinh sau khi không giữ nổi Vĩnh Long.
Việc thi hành nhiệm vụ của hai ông Phú Bật và Trương Tuần thực ra không hoàn hảo. Tuy Phú Bật thuyết phục được người Khiết Đan rút quân, nhưng triều Tống phải tăng thêm số bạc và lụa nộp cho họ hàng năm. Tuy Trương Tuần giữ thành Tuy Dương được thêm một thời gian, nhưng những việc phải giết người thiếp yêu, rồi một số người già và trẻ con làm lương thực cho binh sĩ, chung quy thành vẫn mất và Trương Tuần vẫn chết, khiến thành tích không tốt đẹp một cách trọn vẹn. Nhưng nhiều phần Nguyễn Đình Chiểu không chú trọng đến những chi tiết ấy. Ông chỉ có ý nói: Phan Thanh Giản có thể so sánh với Phú Bật từng vất vả khi đi sứ, và với Trương Tuần chết theo thành.
Hai câu 7-8:
有天六省存亡事
安得從容就義臣
Hữu thiên, lục tỉnh tồn vong sự
An đắc thung dung tựu nghĩa thần.
Nghĩa đen của câu 7: Có Trời trong việc còn mất của 6 tỉnh. Câu này cũng có thể hiểu là: Chuyện còn mất của 6 tỉnh đã có Trời biết, để đưa tới câu 8: Mong có được người bề tôi biết thung dung tựu nghĩa (thung dung chết vì nghĩa).
“An đắc” có nghĩa “mong sao có được” như trong một bài ca của Hán Cao tổ Lưu Bang,
“An đắc mãnh sĩ hề, thủ tứ phương” (Mong sao có được những kẻ sĩ dũng mãnh để giữ bốn phương). Những chữ “thung dung tựu nghĩa”được lấy từ một cặp câu đối tương truyền là để điếu Lý Trần Quán, làm quan ở cuối đời Lê, sau khi ông tự tử (yêu cầu được chôn sống) vì Nguyễn Trang, người mà ông nhờ hộ vệ chúa Trịnh Khải đã nộp chúa cho quân Tây Sơn:
Khảng khái cần vương dị
Thung dung tựu nghĩa nan
(Khảng khái giúp vua là chuyện dễ, thung dung chết vì nghĩa mới khó).
Bốn chữ “thung dung tựu nghĩa” nói đến việc Phan Thanh Giản ung dung chọn cái chết sau khi không giữ nổi Vĩnh Long.
Xin được chép lại toàn thể bài thơ với lời giảng ra văn xuôi và một bản dịch thơ phía sau. Người viết xin chân thành cảm tạ chị Mỹ Ngọc, một cựu đồng môn, đã tiếp tay trong bản dịch thơ này:
歷仕三朝獨潔身
微君難保一方民
龍湖寧負書生老
鳳閣空歸學士神
秉節曾勞生富弼
盡忠何恨死張巡
有天六省存亡事
安得從容就義臣
Lịch sĩ tam triều độc khiết thân
Vi quân nan bảo nhất phương dân
Long Hồ ninh phụ thư sinh lão
Phượng Các không quy học sĩ thần.
Bỉnh tiết tằng lao, sinh Phú Bật
Tận trung hà hận, tử Trương Tuần
Hữu thiên, lục tỉnh tồn vong sự
An đắc thung dung tựu nghĩa thần.
Làm quan trải ba triều vua, riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.
Không có ông, rất khó bảo vệ dân chúng một miền.
Người học trò già đành ra gánh vác [việc giữ] Long Hồ
Hồn người học sĩ khó trở về Phượng Các.
Giữ tiết, từng gian lao, sống như Phú Bật đời Tống
Dốc hết lòng trung, còn hận gì nữa, chết như Trương Tuần đời Đường.
Chuyện còn mất của sáu tỉnh có trời ở trong.
Cốt sao có được người bày tôi thung dung chết vì nghĩa.
Dịch thơ (Nguyễn Mỹ Ngọc và Trần Từ Mai):
Thanh khiết ba triều vẹn tấm thân,
Một phương nguy khó gắng che dân.
Long Hồ đành chĩu vai nguyên lão,
Phượng Các khôn mong vía học thần.
Sống đã gian lao theo Phú Bật,
Chết đâu tiếc hận với Trương Tuần.
Mất còn sáu tỉnh, trời cao biết,
Sao được thung dung trọn nghĩa nhân.
PHỤ LỤC: BA BẢN DỊCH THƠ KHÁC
Bản dịch của Thượng Tân Thị
Mình trong sạch trải thờ ba chúa,
Không ông ai che chở dân lành.
Long Hồ phụ lão thư sinh,
Ở nơi các Phụng không đành làm quan.
Cầm tiết nhọc sống chàng Phú Bật,
Chết ngay sao giận uất Trương Tuần.
Mất còn sáu tỉnh trời phân,Thung dung tựu nghĩa làm thần khó thay.
Bản dịch trong Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập
của CV Thỉnh, NS Lân, NT Giang (1997)
Thờ trải ba triều trọn sạch thân,
Không ông ai đỡ một phương dân.
Long Hồ thà phụ thơ sanh lão,
Phụng Các suông quy học sĩ thần.
Giữ tiết nhọc nhằn còn Phú Bật,
Hết trung nào giận mất Trương Tuần.
Mất còn sáu tỉnh trời kia biết,
Sao đặng thung dung tựu nghĩa thần?
Bản dịch của Cao Tự Thanh (2005)
Ba triều rõ mặt bậc tôi lành,
Che chở cho dân buổi lửa binh.
Phượng các khôn về hồn học sĩ,
Long Hồ thà chịu tiếng thư sinh.
Sống từng nhọc bấy thân đi sứ,
Chết lại hờn chi phận giữ thành.
Sáu tỉnh mất còn, trời đã định,
Nhưng tìm đâu được kẻ trung trinh.
(Việt Nam Bách Gia Thi)
Nhận xét:
- Có lẽ đã dựa theo bản chép sai của ông Nguyễn Liên Phong hay ông Thái Hữu Võ, nhà thơ tiền bối Thượng Tân Thị đã hiểu chữ “thần” trong câu 4 là viên quan, và chữ “thần” trong câu 8 là ông thần.
- Nhà thơ Thượng Tân Thị và nhóm ông Ca Văn Thỉnh đã hiểu chữ “phụ” trong câu 3 là “phụ bạc,” và cho rằng chủ từ của động từ “phụ” là tỉnh Long Hồ.
Trần Huy Bích, California, July 2022
-
Viết về một người sắp ra đi, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh

GS. Nguyễn Xuân Vinh Theo tin từ BS Nguyễn Thượng Vũ ngày 11 tháng 07, 2022 cho biết là sức khỏe của GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã suy sụp rất nhiều. Bệnh viện đồng ý là với tình trạng sức khỏe của GS Vinh, ở tuổi 92 của GS Vinh thì không thể nào có hy vọng hồi phục được. Bác sĩ điều trị sẽ áp dụng Hospice Care cho anh GS Vinh. (Hospice Care có nghĩa là bác sĩ điều trị sẽ dùng mọi phương tiện để GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh sẽ thoải mái, không bị đau đớn trong thời gian sắp tới).
Sáng nay khi tôi (Việt Hải) đuợc tin về GS. Nguyễn Xuân Vinh đã vào tình trạng hospice care unit, tôi buồn lắm. Tôi còn nhớ khi ông dọn từ San Jose về Huntington Beach (Orange County), 12 anh chị em nhóm chúng tôi đến thăm thầy, lý do riêng GS. Phạm Hồng Thái bàn về sách Thiên Chức Của Nhà Giáo với GS. Vinh sẽ khởi sự: Nguyen X Vinh (Vietnamese Edition) Paperback – June 20, 2018, do NXB Amazon. Vietnamese Edition by Nhân Văn Nghệ Thuật (Author), GS Đào Đức Nhuận (Editor), GS Phạm Hồng Thái (Editor, Designer).

Những năm khi NASA thám hiểm cung trăng, Apollo 11 là chuyến bay không gian đã hạ cánh cùng người đầu tiên đáp xuống Mặt Trăng, hai phi hành gia Hoa Kỳ là Neil Armstrong và Buzz Aldrin, vào ngày 20 tháng 7, năm 1969, lúc 20:18 UTC. Armstrong trở thành người đầu tiên bước chân lên bề mặt của Mặt Trăng sáu giờ sau vào ngày 21 tháng 7, lúc 02:56 UTC. Armstrong dành hai tiếng rưỡi bên ngoài con tàu không gian, trong khi Aldrin có ít thời gian hơn một chút và cùng nhau, họ thu thập 47.5 pounds (21.5 kg) Đá Mặt Trăng cho chuyến trở về Trái Đất. Thành viên thứ ba của Phi hành đoàn, Michael Collins, lái Module (space lab unit) Điều Khiển một mình quanh quỹ đạo của Mặt Trăng cho đến khi Armstrong và Aldrin quay về Module Điều Khiển chỉ một ngày trước khi họ phải bắt đầu hành trình quay về Trái Đất. Vê sau KHG David Scott chỉ huy tàu Apollo 15 đáp xuống Mặt trăng vào tháng 7, 1971. Trong chuyến thám hiểm này, ông cùng cộng sự đã điều khiển 3 chiếc xe điện chuyên dụng để thu thập các mẫu đất đá và mang về nghiên cứu. James Irwin bên cạnh lá quốc kỳ Mỹ trong chuyến thám hiểm Mặt trăng.
Những năm này thế giới khoa học gia không gian chú ý đến GS. Nguyễn Xuân Vinh, người đã lead team dùng toán học tính quỹ đạo bay ra ngoài không gian và về trái đất (During this expedition, he and his colleagues drove 3 specialized electric vehicles to collect soil and rock samples and bring them back for research. James Irwin next to the American flag during his exploration of the Moon. In these years, the world of space scientists paid attention to Prof. Nguyen Xuan Vinh, who led the team to apply math to calculate the orbiter flight path by space vehicles, fly to space and back to earth).
Tôi viết về thầy Vinh: “Tưởng cũng nên ghi nhận tác giả là một vị giáo sư toán giảng dạy bậc cấp cao (advanced mathematics), và cũng là một khoa học gia ngành không gian, mà đề tủ của ông là Optimal Trajectories, ông viết sách về Quỹ Đạo Tối Ưu, sách toán hay không gian học của Mỹ, Pháp, Nga, Nhật,… đều có đăng những bài do ông viết. Do vậy tác giả Nguyễn Xuân Vinh là người của thế giới, họ biết ông qua những kiến thức chuyên môn của ông, mà toán học và không gian học là hai yếu tố then chốt tạo nên tên tuổi của tác giả. Nói như vậy không có nghĩa là Vui Đời Toán Học được ươm mầm bởi những lý thuyết toán học cao siêu của những Joseph Lagrange, Laplace, Euler, Fourier, Boole, Cauchy, Leibniz, Isaac Newton, Jacob Bernoulli, Johann Bernoulli, Bourbaki, Neumann, Niels Abel, Plato, Blaise Pascal, Pythagore, René Descartes,… “.
GS. Vinh đi bên toán học, không gian học và văn học thì đã có nhiều nhiều campus fans vốn hâm mộ. Khi làm về ngành R&D, Weapon Innovation Development, tính đường bay của phi đạn, tôi quý môn toán học (missile systems flight path). GS. Vinh là một sharp scientist như những Johannes Kepler hay Katherine Johnson, Dr. Katherine Johnson đã góp công lớn cho những thành tựu về toán học, nhà toán học Mỹ, tính toán và phân tích đường bay của nhiều con tàu vũ trụ.
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Một Tấm Gương Kiên Nhẫn Cho Giới Trẻ, bài viết của ông Nguyễn Tường Tâm, 4/10/2005

Cựu Tư Lệnh Không Quân VNCH, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh Trong môt bài viết bằng tiếng Anh để gửi tới giới trẻ trong buổi hoàng hôn của cuộc đời mình, nhà văn, nhà khoa học và cũng là một vị cựu Tư Lệnh Không Quân VNCH, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã tâm sự:
Our journey across life can be compared to the flight of an aircraft across a vast ocean. Sometimes we are favored by a tail wind which gives us a faster ground speed. But sometimes on other occasions, we may face a head wind with adverse effects. As the first generation of immigrants, we are the pioneers, and we may run into obstacles. Just as the aircraft has to get to the other side of the ocean because it has passed the point of no return, when facing the head wind in our life, such as in the case of social injustice, we should keep our heads high, our chins up, and then with physical endurance, technical expertise, and with spiritual strength, by dedication and dignity, we shall join force together to overcome adversity and fulfill our dream of equal opportunity, equal rights and equal responsibility, and in so doing, make it a reality.
Đoạn văn có ý khuyên người đọc rằng trong cuộc đời nếu muốn thực hiện một điều gì cho riêng mình hay cùng nhau chiến đấu cho một lý tưởng quốc gia mà gặp khó khăn trở ngại thì cứ nên giữ vững lòng tin vào chính nghĩa, để với quyết tâm và tự trọng và cùng nhau liên kết thì cũng như một chiếc phi cơ phải bay qua đại dương, sẽ có lúc sang được phía bờ bên kia. Câu viết này có thể dùng cho những đoạn đời đã qua của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Con người ông đã là một kết hợp của một loạt những ước mơ thường là tương phản nhau mà ông đã hoá giải được để cùng thực hiện. Ông mơ những giấc mơ mâu thuẫn nhau và ông thường làm ngược với những người cùng hoàn cảnh. Nhưng cuối cùng ông đã thực hiện được tất cả những ước mơ tưởng chừng như không thể nào kết hợp được trong cùng một con người và trong thời gian hạn hẹp của đời người .
Trước tiên, thấm nhuần nho học gia đình nhưng chàng tuổi trẻ Nguyễn Xuân Vinh lại ham mê tây học và khoa học và có ước mơ canh tân đất nước. Trong một xã hội Việt nam thời đó, khi mà người ta thường nói “phi cao đẳng bất thành phu phụ!” nghĩa là nếu không có bằng Bác sĩ , Luật sư thì không được người đời qúy trọng, tuy ông có khả năng để đạt được những mảnh bằng đó một cách dễ dàng, mà ông lại không theo con đường chung của mọi người. Ông chọn môn Toán học mà ông mê thích và đi theo con đường này thì vừa khó khăn gấp bội mà lại chẳng có danh, cũng không có lợi. Người sinh viên theo ngành này, nếu không phát minh được một lý thuyết nào và đạt được trình độ tiến sĩ thì sẽ chỉ trở thành một ông giáo bình thường mà thôi . Ông mê học toán tới độ khi kháng chiến bùng nổ, ông theo gia đình tản cư nhưng vẫn tiếp tục học để lấy chứng chỉ Toán đại cương trong hoàn cảnh thiếu thầy, thiếu lớp và thiếu cả sách vở. Giữa năm 1950, vừa theo gia đình hồi cư về Hà Nội, ông tiếp tục ghi tên theo học ngay hai trường đại học dược khoa và đại học khoa học để học lại lần thứ nhì lớp Toán đại cương mà ông chưa hoàn tất ở khu kháng chiến. Tại đại học Hà Nội, ngoài giờ trong lớp ông còn làm phụ tá cho giáo sư để lấy tiền theo đuổi việc học. Và ông đã đỗ đầu kỳ thi chứng chỉ Toán đại cương vào đầu hè năm 1951 và được tuyển làm giáo sư trường Trung học Nguyễn Trãi Hà Nội .
Năm 1951, bất ngờ ông nhận được giấy gọi nhập ngũ theo học khoá I Sĩ quan Trừ bị Nam Định và được chuyển theo học chuyên môn về công binh ở Thủ Đức. Ông là một trong số chỉ chừng vài chục người có thể tự nhận rằng đã được theo học tại cả hai quân trường Võ khoa Nam Định và Võ khoa Thủ Đức. Ra trường ông là một sĩ quan công binh và nơi đồn trú đầu tiên của ông là tỉnh Thái Bình .
Khoảng thời gian này, một lần nữa ông lại phải lấy một trong hai chọn lưạ mâu thuẫn nhau. Là một người ham học, đáng lẽ ông có thể vừa ở nhiệm sở vừa ghi tên theo học toán tại Đại học Hà Nội, nhưng vì ôm mộng hải hồ nên trước khi đi nhận nhiệm sở sĩ quan công binh, ông đã nạp đơn dự thi vào trường Không Quân Pháp. Vào thời điểm đó, Không Quân Việt Nam chưa được thành lập. Một đại uý không quân được cử từ Pháp sang Saigon để phát bài thi cho thí sinh đồng thời ông ta cũng sẽ là giám khảo phần thi vấn đáp. Có chừng 20 người dự thi . Nhưng có lẽ bài thi viết cuả ông quá xuất sắc nên vị sĩ quan giám khảo thay vì khảo hạch ông trước bảng đen cuả lớp học thì lại mời ông ra đứng ở lan can phòng thi kể cho ông nghe viễn tượng đang chờ đợi ông ở quân trường không quân ở miền Nam nước Pháp . Nghe thấy vậy ông đã tin gần chắc là ông sẽ đỗ. Quả nhiên mấy ngày sau, trong số 5 thí sinh trúng tuyển, ông đã được chọn đỗ đầu, trong khi lúc chính thức vào phòng vấn đáp ông không phải nói một câu nào ngoài câu chào lúc bắt đầu và câu cám ơn lúc kết thúc .
Sau mấy tháng làm sĩ quan công binh tại Thái Bình ông nhận được giấy vào Saigon đi học trường không quân Ecole de l’Air cuả Pháp nằm ở tỉnh Salon de Provence. Trước đó điều kiện để được nhập học trường này rất khó, vì phải vừa là dân Tây vừa phải theo học một lớp toán học cao cấp sau tú tài 2. Cho nên trước đó mới chỉ có 2 người Việt quốc tịch Pháp được theo học, trong đó có trung tướng Nguyễn văn Hinh. Trước ông 2 năm cũng có một sĩ quan người Việt là ông Lê Trung Trực, sau này là chuẩn tướng không quân, được nhận như là một sinh viên ngoại quốc. Như vậy ông Nguyễn Xuân Vinh là một trong 5 khóa sinh Việt nam đầu tiên học trường này qua một kỳ thi tuyển lựa như thí sinh Pháp và cũng là một trong 3 người Việt nam đầu tiên được trúng tuyển theo học ngành phi hành với 2 người nữa theo học ngành kỹ thuật.
Sang Pháp , trước tiên ông được gửi tới trường phi hành (École de pilotage) ở Marrakech. Sau chín tháng được huấn luyện bay ông nhận được giấy tới Salon de Provence để nhập học Khoá sĩ quan không quân 1953. Tại thời điểm này, Nguyễn Xuân Vinh lại kết hợp 2 con người mâu thuẫn trong ông, một con người quân sự, vẫy vùng, ngang tàng, và con người sinh viên chăm chỉ nơi giảng đường đại học. Trước ngày khai trường, được nghỉ hai tháng hè, lợi dụng thời gian này ông tới Nice để học thi chứng chỉ Toán Vi Phân và Tích Phân mà ông đã ghi tên học từ đầu năm ở Đại Học Marseille. Ông đã từng viết lên tâm sự rằng, trong khoảng thời gian những năm cuối cùng sống trên đất Pháp, ông cố thu thập những lý thuyết quân sự, tổ chức hành chánh, kỹ thuật và hành quân trong Không Quân, và đồng thời cũng nhân dịp còn ở nước người, học thêm về toán học, về những môn chưa được giảng dậy tại quê nhà để sau này có dịp đưa kiến thức và sở học ra phục vụ quê hương một cách đắc lực hơn. Với suy nghĩ như vậy cho nên , sau đó, cùng với việc tốt nghiệp một trường sĩ quan phi công nổi tiếng cuả Pháp, ông cũng đã lấy được bằng cao học Toán tại đại học Marseille. Trong một lần tâm sự, tôi có hỏi ông rằng, trong thời gian học phi công quân sự tại Pháp, nhất là tại kinh thành Ánh Sáng, cuối tuần các sinh viên sĩ quan thường đưa đào đi chơi, uống rượu, nhẩy đầm, thì làm sao GS lấy được bằng cử nhân rồi cao học toán . Ông nhìn tôi bằng đôi mắt to và lúc nào trông cũng có vẻ hiền lành, thản nhiên cho biết: “cuối tuần, trong lúc các sinh viên sĩ quan khác đi chơi thì tôi đi học .” Thật không thể tưởng tượng được ! Ông đã kết hợp được trong ông, hai con người có hai thái cực khác nhau.
Sự thể là sau ba năm du học, vào năm 1955 từ Pháp trở về, ngoài bằng phi công quân sự, thiếu uý phi công NXV còn mang theo về nước một bằng kỹ sư hàng không và một bằng cử nhân cộng thêm cao học toán .
Khi mới về nước, đồn trú tại căn cứ không quân Nha Trang, nơi có biển đẹp và những người con gái có làn da ngăm ngăm, săn chắc, xinh đẹp, và quyến rũ, thay vì theo đuổi một bóng hồng nơi miền thuỳ dương cát trắng để có những buổi chiều mơ mộng sau giờ bay đưa người đẹp đi uống nước bên bãi biển như những chàng phi công khác, ngoài giờ công tác và đi bay, theo lời yêu cầu của bộ Quốc Gia Giáo Dục, và với giấy phép đặc biệt của bộ Quốc Phòng, chàng sĩ quan không quân trẻ Nguyễn Xuân Vinh, cũng để mỗi tuần vài giờ tới trường trung học Võ Tánh ở Nha Trang, để truyền đạt kiến thức toán học của ông cho thế hệ sau.
Ông gắn bó với nghề giáo từ đây. Lại một lần nữa ông kết hợp trong ông hai con ngươì hoàn toàn mâu thuẫn nhau: một con người không quân trẻ tuổi, hào hùng và hào hoa, và một con người nhà giáo, mô phạm, nghiêm túc . Với khả năng văn võ của ông, ông đươcï cả Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia lẫn Bộ Quốc Phòng xử dụng trong nhiều chức vụ mà một sĩ quan cấp úy trung bình không thể đảm đương nổi. Trong vòng 2 năm từ một trung úy phi công ở Phi Đoàn Liên Lạc và Tác chiến ở Nha Trang, ông được chuyển về Phòng Tổng Nghiên cứu và Kế hoạch ở Bộ Tổng Tham Mưu, rồi được Bộ Tham Mưu Không Quân xin về để giữ chức vụ Trưởng Phòng Tư, sau đó lại được Bộ Quốc Phòng cử sang Sứ Quán Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn như là một vị đại úy Phụ Tá Tùy Viên Quân Lực. Chưa đầy một năm sau, vì nhu cầu quân vụ khẩn thiết nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh được Bộ Quốc Phòng gọi về để giữ chức vụ Trưởng Phòng Báo Chí Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Thật ra trong chúng ta ít ngưòi biết là trong chức vụ này đã có môt thời ông là chủ bút của hai tờ báo Quân Đội và Phụng Sự của Quân Đội Quốc Gia với một ban biên tập có những nhà văn nhà thơ và nhà báo nổi danh đương thời như Thanh Nam, Tô Kiều Ngân, Huy Sơn, Huy Quang, Tường Linh, Nguyễn Ang Ca, …. Nhưng nghiệp bay vẫn trở lại với ông và cuối năm 1957 Thiếu tá Nguyễn Xuân Vinh được bổ nhiệm vào chức vụ Tham Mưu Trưởng Không Quân Việt Nam và năm tiếp theo, khi mới 28 tuổi, Trung tá phi công Nguyễn xuân Vinh, qua những nhiệm vụ liên tiếp, đã chứng tỏ được khả năng tham mưu và chỉ huy để được Tổng Thống VNCH giao cho đảm nhận chức vụ Phụ tá Không quân cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Viêït Nam. Trong cương vị này, với tổ chức buổi đầu của Không quân Việt Nam vẫn còn sơ sài, ông Nguyễn Xuân Vinh là người đầu tiên chịu trách nhiệm hoạch định tất cả các chương trình phát triển để Không Quân thành một quân chủng riêng biệt, có một Bộ Tư Lệnh Không Quân, có khả năng kỹ thuật và hành quân, tạo được sự kính nể của các Không Quân bạn trong vùng Thái Bình Dương.
Nguyễn Xuân Vinh tiếp đón Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson năm 1961
với cương vị Tư Lệnh KQVNCHTrong thời điểm này, một bí mật quân sự quốc gia được thực hiện, và nay đã giải mật, đó là chương trình thả “Biệt kích nhẩy Bắc.” Lại chính con người có bề ngoài hiền lành này, với tư cách là tư lệnh quân chủng không quân, là một trong những người đầu tiên tham gia cùng với các vị tư lệnh quân binh chủng và đại đơn vị khác hoạch định kế hoạch. Trong những phi vụ thả “Biệt kích Nhẩy Bắc” đầu tiên, Tư lệnh không quân Nguyễn Xuân Vinh, không những là người tham gia hoạch định kế hoạch mà còn là người tiễn chân các “Kinh Kha” tại ngay phi đạo .

Tiếp kiến Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan (1961) Nhưng tư lệnh không quân Nguyễn Xuân Vinh không từ bỏ được nghề giáo, môi trường duy nhất lúc đó có thể giúp ông sống với toán học. Với giấy phép của Bộ Quốc Phòng vẫn còn hiệu lực, ông xắp xếp công việc để có thể dậy thêm ít giờ tại hai trường trung học Chu Văn An và Petrus Ký về hai môn Hình học Không gian và Thiên Văn học. Trong khoảng thời gian này, con người mê thơ văn từ thuả thiếu thời trong ông lại trỗi dậy. Ông đã từng nhắc lại một câu của toán học gia lừng danh Đức quốc là ông Karl Weierstrass (1815-1897) rằng, “một toán gia, nếu không là một thi sĩ thì không thể nào là một toán gia toàn vẹn được!”. Cho nên, vừa chỉ huy đại đơn vị, vừa nghiên cứu toán học, vừa dậy học, ông vừa làm thơ. Và có lẽ chính ông đã mở đường cho một trào lưu thơ, mà nhiều người đã gọi một cách vui là “Thơ Tình Toán Học .” Tôi xin nhắc lại vài câu mở đầu trong bài “Tình Hư Ảo” cuả Toàn Phong sau đây:
Tình Hư Ảo
Anh tìm em trên vòng tròn lượng giác,
Nét diễm kiều trong tọa độ không gian.
Đôi trái tim theo nhịp độ tuần hoàn,
Còn tất cả chỉ theo chiều hư ảo.
Bao ước mơ , phải chi là nghịch đảo,Bóng thời gian, qui chiếu xuống giản đồ .
Nghiệm số tìm, giờ chỉ có hư vô,
Đường hội tụ, hay phân kỳ giải tích.Cũng chính trong thời gian này, cuốn “Đời phi công” ra đời làm nô nức mọi thanh niên thiếu nữ, đang mơ mộng hải hồ hay mơ có ngừơi yêu là một chàng không quân hào hoa cưỡi gió, đè mây. Cuốn tiểu thuyết này đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc năm 1961. Định mệnh đã làm cho hoạt động của người không quân Nguyễn Xuân Vinh vượt khỏi tầm vóc quốc gia để sau này tên ông được thế giới biết đến. Cho nên , sau khi đã tạo ra được cái khung để lực lượng không quân non trẻ của VNCH dưạ theo đó mà phát triển, tư lệnh Nguyễ Xuân Vinh, có lẽ một phần cũng do bản chất lớn lên trong một gia đình thấm nhuần nho giáo, nên ông đã xuất xử theo phong cách cuả kẻ sĩ đông phương, là “gác kiếm từ quan!” Ông đệ đơn xin từ chức tư lệnh không quân để đi du học. Năm 1962, ông lên đường đi du học nhưng vẫn còn là một quân nhân. Có lần tôi hỏi ông thế không phải ông bị tổng thống Diệm cho bãi chức tư lệnh và đẩy ông đi du học vì vụ hai phi công Quốc và Cử ném bom dinh Độc Lập à? Ông ngạc nhiên, không biết rằng bên ngoài dân chúng người ta tưởng và tin như thế. Như thường lệ, ông nhỏ nhẹ cho biết việc ông nghỉ chức tư lệnh không quân không liên quan gì tới vụ ném bom của hai phi công Quốc, và Cử. Ông đã làm tư lệnh không quân gần 5 năm trong khi ở các nước tân tiến nhiệm kỳ của các tư lệnh quân chủng thường chỉ là 4 năm mà thôi. Ông cho biết tiếp lúc vụ ném bom xảy ra ông đang ở nước ngoài. Và sau khi xẩy ra biến cố này phải 6 tháng sau ông mới lên đường du học. Ông có vẻ tin ở số mạng. Ông cho biết thêm trong đời ông có nhiều may mắn, và thường trong công việc bao giờ cũng được trên thuận dưới hoà. Ông tâm tình cho biết, các cấp chỉ huy trong Không Quân Hoa Kỳ rất nể trọng ông và họ đã đặc biệt dành trong ngân sách viện trợ một học bổng cho ông được đưa theo cả gia đình theo học chương trình tiến sĩ khoa học hàng không và không gian tại University of Colorado . Ở nơi đó họ cũng mời ông tới thuyết giảng hai lần ở trường Võ Bị Không Quân ở Colorado Springs.
Chỉ ba năm sau, vào năm 1965, vị cựu tư lệnh Không Quân VNCH đã được ghi tên vào lịch sử của tiểu bang Colorado như là người đầu tiên được cấp bằng tiến sĩ (Ph.D) về ngành Aerospace Engineering Sciences tại trường Đại học Colorado. Ông được mời ở lại dậy học và xin được bộ Quốc Phòng Việt Nam cho từ dịch và được cấp thẻ thường trú của Hoa Kỳ để nhận chức giảng sư của Đại học Colorado . Năm 1968, Ông được mời tới dậy ở Đại học Michigan và năm 1972 ông được thăng chức giáo sư thực thụ (tenured full professor). Tới khi về hưu năm 1998, ông được phong chức “Giáo sư vĩnh viễn” (Professor emeritus) tại trường đại học này.
Cũng năm 1972 ông dành được thêm bằng tiến sĩ quốc gia toán học tại Đại học Paris . Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã là thày dậy cho vào khoảng gần hai ngàn kỹ sư hàng không và không gian cho nhiều trường đại học ở Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới. Học trò của ông nhiều người đã trở thành giáo sư đại học và nhà nghiên cứu xuất sắc. Ông đã xuất bản 3 cuốn sách và gần 100 bài khảo luận về toán học, về chuyển động của các thiên thể và phi thuyền không gian và về quĩ đạo tối ưu. Nhiều bài viết của ông đã được chuyển dịch sang Pháp, Nga và Hoa ngữ. Nhiều công thức ông tìm ra đã được dùng trong những sách giáo khoa ở các nước Pháp, Nga và Nhật Bản mà những tác giả đã căn cứ lên những tài liệu và sách ông viết ở Hoa Kỳ.
Thành quả về nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học không gian tại các trường đại học trên thế giới cuả ông được liệt kê khá nhiều trong những tài liệu để ở những thư viện chuyên khoa. Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng trên nhiều lãnh vực, chưa kể trong lãnh vực giáo dục và nghiên cứu khoa học không gian là lãnh vực chuyên môn của ông. Tôi thấy thật là khó viết cho đầy đủ hay nói cho trọn vẹn trong một khuôn khổ hạn hẹp những thành quả của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Tôi nhớ là nhà thơ và triết gia Võ Thạnh Văn đã có lần nói ông muốn có dịp để nói trong ba giờ liền sự nghiệp của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Suốt năm qua, có dịp cùng với bác sĩ Phạm Đức Vượng làm việc chung với ông, tôi được biết thêm nhiều điều mà người ngoài không biết.Giáo sư Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh không chỉ là một khoa học gia không gian “đầu tiên” và “hàng đầu” của Việt Nam , mà ông còn có vị trí rất lớn trong ngành không gian thế giới. Điều này ngày xưa ở Việt nam tôi chỉ nghe nói nhưng cũng không hiểu thấu đáo nhất là Việt nam ta hay “nói quá” về những thành tích cuả người mình. Nhưng có lần cùng bác sĩ Vượng đứng với ông trong căn phòng làm việc nhỏ bé tràn đầy sách vở dưới sàn, bít cả lối đi, tôi giật mình rung động trước những tấm plaques và bằng khen ngợi của các cơ quan quốc tế và Hoa Kỳ dành cho những đóng góp cuả ông cho khoa học không gian thế giới. Đặc biệt tôi chú ý tới cái bằng và huy chương của American Institute of Aeronautics and Astronautics (viết tắt là AIAA) là Hiệp Hội của tất cả các kỹ sư và khoa học gia Hoa Kỳ trong ngành Hàng không và Không gian mới khen ngợi các đóng góp cuả ông trong cả 2 lãnh vực vừa trong bầu khí quyển (atmosphere) vừa trong không gian ngoại từng khí quyển (space). Huy chương này, mỗi năm AIAA chỉ tặng cho một khoa học gia không gian duy nhất. Gần ông và được thấy những chồng sách trong phòng làm việc của ông tôi mới được biết ông là người Á châu đầu tiên và là người Việt nam độc nhất được bầu vào Hàn Lâm Viện Hàng không và Không gian Pháp quốc, một Hàn Lâm Viện mà số hội viên hạn chế, đã có những danh nhân như nhà kiến trúc hàng không Marcel Dassault, như cựu thủ tướng Michel Debré, một trong 40 ông viện sĩ bất tử trong Hàn Lâm Viện Pháp . Sau GS Vinh, người Á châu thứ nhì được bầu vào Hàn Lâm Viện này là kỹ sư hàng không Bacharuddin Habibie, cựu tổng thống của Nam Dương. Trong những bảng lưu niệm tặng cho những thuyết trình viên danh dự ở các hội nghị, tôi thấy ông được mời tới nói chuyện ở Hội Nghị Thường Niên của Ủy Ban Điều Hợp Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ ở Maryland và ở Hội Nghị Lưỡng Niên Toàn Cầu của Công ty Hoá chất Dupont ở Delaware. Tôi không ngờ là ông cũng nổi tiếng trong hai lãnh vực Nguyên Tử Lực và Hoá Học nên hỏi ông về điều này. Ông lắc đầu trả lời: “Kiến thức về Vật Lý và Hoá Học của tôi chỉ ở mức trung bình như một người thường. Họ không mời tôi đến nói về những môn khoa học chuyên môn mà về một đề tài tôi tự lựa chọn. Như ở Hội Nghị Nguyên Tử Lực tôi nói về đề tài “Exploration of Inner Space” có ý nghĩa là con người đã có những thám hiểm ở ngoài không gian (outer space) thì cũng nên có lúc tìm hiểu về nội tâm (inner space) của chính mình.”
Câu nói trên của ông có thể dùng để biểu hiện con người và thành tích của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Ông là một kết hợp của những mâu thuẫn; nhưng đó là một sự kết hợp hài hoà khiến ông trở thành một con người tài hoa, đa dạng. Vừa là một quân nhân, vừa là một phi công, vừa là một tư lệnh, vừa là một nhà giáo, vừa là một nhà văn, vừa là một nhà thơ, vừa là một nhà hoạt động quần chúng, nhưng thành quả to lớn nhất trong cuộc đời ông theo tôi nghĩ đã vượt biên giới quốc gia, và vượt thời gian là những đóng góp cuả ông trong ngành hàng không không gian thế giới . Với công trình to lớn đó, mà tôi nghĩ là ông đã thành tựu với ý nguyện góp phần của một người Việt vào sự tiến hoá của nhân loại, ông thực đã mang lại sự hãnh diện chung cho dân tộc.
Nguyễn Tường Tâm, 4/10/2005

GS NGUYỄN XUÂN VINH Tác phẩm Vui đời toán học ra mắt cộng đồng người Việt tai Orange County lúc 11:00 SÁNG, NGÀY CHỦ NHẬT, NGÀY 13 THÁNG 1 NĂM 2013, tại HỘI TRƯỜNG VĂN LANG, 14861 Moran Street, Westminster, CA 92683.
Trong cuộc sống thường nhật của chúng ta, rất nhiều vật dụng, đồ đạc, phương tiện chúng ta cần dùng, ít nhiều liên quan đến toán, ví dụ như hệ thống định vị toàn cầu (GPS, Global Positioning Systems) dùng trong các xe ô tô, máy computer, Ipod, cell phone,… to lớn hơn có phi cơ, tàu thùy, freeways, cầu cống,… Các thứ này do con người thiết kế dùng toán học tính ra. Do vậy toán học thực sự quan trọng đối với con người. Và con người đam mê, gần gủi với toán học, và gần gủi trong đề tài này, tôi nghĩ đến tác giả sách Vui Đời Toán Học, của GS Nguyễn Xuân Vinh. Tựa đề như vậy nghe có vẻ như tác phẩm này quá chuyên về toán chăng? Thưa rằng theo tôi đúng và không đúng. Đúng đối với những độc giả ít va chạm đến môn toán, ví dụ các trang như trang 53 đến 85 phần Đường trời muôn vạn nẻo, tính Đạn đạo tầm xa của phi đạn khai hỏa đến bài theo ánh tinh cầu, tác giả ôn qua đề tủ Lý Thuyết Phương Sách Tối Ưu (Theory of Optimal Process). Những trang từ 95 đến 118, phần Địa cầu trong không gian có những công thức cơ bản tính toán trong môn Thiên văn học. Có những chương tác giả chỉ đi phớt qua ý niệm toán ứng dụng nhập môn, không đào sâu vào tận gốc rễ của vấn đề như sách giáo khoa hay những bài tham luận chuyên ngành (technical term papers). Phần tác phẩm không đúng là sách toán vì có những trang lại thuần văn chương thi ca, một khía cạnh mà tác giả mê say.

Nhân Văn Nghệ Thuật phát hành năm 2018, ảnh từ GS Trần Huy Bích Tưởng cũng nên ghi nhận tác giả là một vị giáo sư toán giảng dạy bậc cấp cao (advanced mathematics), và cũng là một khoa học gia ngành không gian, mà đề tủ của ông là Optimal Trajectories, ông viết sách về Quỹ Đạo Tối Ưu, sách toán hay không gian học của Mỹ, Pháp, Nga, Nhật,… đều có đăng những bài do ông viết. Do vậy tác giả Nguyễn Xuân Vinh là người của thế giới, họ biết ông qua những kiến thức chuyên môn của ông, mà toán học và không gian học là hai yếu tố then chốt tạo nên tên tuổi của tác giả. Nói như vậy không có nghĩa là Vui Đời Toán Học được ươm mầm bởi những lý thuyết toán học cao siêu của những Joseph Lagrange, Laplace, Euler, Fourier, Boole, Cauchy, Leibniz, Isaac Newton, Jacob Bernoulli, Johann Bernoulli, Bourbaki, Neumann, Niels Abel, Plato, Blaise Pascal, Pythagore, René Descartes,… Nhưng theo ý tôi như trên đã đề cập tác giả chỉ dùng những khía cạnh toán học để chia sẻ sang những đề mục khác như: cuộc sống, văn chương, xã hội, kỷ niệm khi dạy học,… ví dụ như chương về Đường Trời Muôn Vạn Nẻo (trang 29 qua các bài viết như Tâm sự qua một bài thơ, Mấy nhịp cầu treo, Lời tiên tri của Voltaire, Theo ánh tinh cầu,…), Nguyễn Du với dòng thời gian (trang 285 trích thơ Nguyễn Du đầy ắp, đây là chương hoàn toàn mang nét Toàn Phong, bút hiệu viết văn, chương này tác giả bình luận về thơ của thi hào Nguyễn Du qua cái nhìn của mình trong cuộc sống, rồi sau cụ Nguyễn Du lại đến Nhớ về Thăng Long (trang 313 tác giả dùng thơ của nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan làm đề tài diễn giải), Cây Tháp ở Hà Nội, Nhớ về Hà Nội,…, phần kế là Tình toán học (chương sách kể sự liên hệ giữa tác giả và sự đam mê toán học, trang 365 như Thuở ban đầu, Chuyên khoa toán học, Chương trình tiến sĩ,…), Trở về trường xưa (trang 405),…

GS NGUYỄN XUÂN VINH nhà khoa học cự phách của cơ quan Quản Trị
Hàng Không-Không Gian Quốc Gia Hoa Kỳ (NASA)Tham khảo:
http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=279&ia=5992Các chủ đề hay các bài viết của Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh mà tôi vốn thích là Theo Ánh Tinh Cầu, Mộng Viễn Phương, và Tình Toán Học. Toàn Phong viết về quê hương trong hoài niệm thuở nhỏ như trong bài “Một Thuở Học Trò” đề cập về buổi khai trường lần đi học đầu tiên, nghe như thư tác của nhà văn Edmondo de Amicis, hoặc là của Thanh Tịnh của “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường….“
Tôi mê thuở đi học từ Việt Nam sang Huê Kỳ, những buổi học xưa sẽ lý tưởng khi mà rảo bước trong campus mùa thu lá maple vàng úa rụng nhiều, chạnh lòng đến văn chương của Thanh Tịnh, của Amicis hay của Toàn Phong. Theo Ánh Tinh Cầu cho tôi nghĩ ngợi lan man về văn học mà khoa học viễn tưởng của những chuyến du hành vào vũ trụ tiên khởi của Jules Verne, hay Hoàng Tử Bé (danh tác của Pháp là Le Petit Prince) của nhà văn kiêm phi công gốc Pháp Antoine de Saint-Exupéry. Với Mộng Viễn Phương, nhà văn Toàn Phong hoài niệm về giấc mộng tung hoành xé không trung qua tổ quốc không gian hay tác phẩm bestseller Đời Phi Công, mà tôi đọc nhiều lần nó có những địa danh như Marrakech, hoặc école de pilotage à Aix-en-Provence,…

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh : Từ Chiến Sĩ Đến Khoa Học Gia do Văn Đàn Đồng Tâm ấn hành năm 2008, ành từ GS Trần Huy Bích Nhà văn kiêm nhà giáo môn toán Nguyễn Xuân Vinh yêu thích thi ca, Vui Đời Toán Học ghi nhận trong nhiều trang sách. Trong tương quan đó nữ toán học gia gốc Nga Sophia Kovalevskaya của thế kỷ 19 cho là: Bạn không thể là một nhà toán học mà không có tâm hồn của một nhà thơ (Il est impossible d’être un mathématicien sans avoir poète dans l’âme). Còn nhà toán học người Đức nổi danh trong môn toán Calculus, Karl Weierstrass (cuối thế kỷ 19) cho nhận định: Một nhà toán học không mang một nét gì đó của một nhà thơ thì chả bao giờ là một nhà toán học trọn vẹn được (Un mathématicien qui n’est pas aussi quelque peu poète ne sera jamais un mathématicien complet). Tôi thầm nghĩ chả nhẽ hai cụ Sophia Kovalevskaya và Karl Weierstrass đã cho hai câu nói đúng y bong để giới thiệu về nhà văn kiêm giáo sư có hai đam mê trong tâm hồn, toán học và văn học, GS. Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
Như phần mở đầu đề cập mối liên hệ giữa toán học và cuộc sống, tôi xin đúc kết bài giới thiệu qua ý tưởng của toán học gia John von Neumann (Mỹ gốc Hung, thế kỷ 20), nôm na cho ý là: Nếu mọi người không tin rằng toán học là đơn giản, cũng bởi vì họ không nhận chân ra là cuộc sống phức tạp như thế nào (Si les gens ne croient pas que les mathématiques sont simples, c’est uniquement parce qu’ils ne réalisent pas combien la vie est compliquée.)
Thật vậy nhờ môn học toán được phổ thông hóa giảng dạy ở trường học ở các cấp, và rồi nó được đem vào ứng dụng trong đời sống, các phát minh khoa học kỹ thuật tân tiến, cuộc sống con người tiện nghi hơn, thoải mái hơn, GS. Nguyễn Xuân Vinh cho nhiều cảm nghĩ trong tác phẩm mới của ông, tôi đơn cử một bài viết khác như dưới đây.
Theo website Nguồn Cội đăng bài giới thiệu về sách Vui Đời Toán Học, qua bài viết Vẻ Tuyệt Mỹ của Hình Tròn của GS. Nguyễn Xuân Vinh. Xin mời đọc.

NHỮNG TÁC PHẨM CỦA GS NGUYỄN XUÂN VINH 
VUI ĐỜI TOÁN HỌC của Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, dựa theo như lời của GS Vinh thì tập truyền này dài khoảng 350 trang, bao gồm nhiều chương xoay quanh TOÁN HỌC, cũng như Văn Hóa, Tình Yêu, kỷ Niệm trong Toán Học như: Địa Cầu Trong Không Gian; Galois, Thiên Tài và Bất Hạnh; Nguyễn Du Với Dòng Thời Gian; Nhớ Về Thăng Long; Con Ong Giỏi Toán; Một Bài Toán Thần Sầu; Một Thuở Học Trò; Tình Toán Học; Mười Hai Bến Nước; Trải Hương Theo Gió; Trở Về Trường Xưa; The 3 D’s of Nguyen Xuan Vinh …vân vân…và trong mỗi chương lại có thêm nhiều tiểu đề nhỏ nữa .
Trích theo lời giới thiệu của Nguồn Cội, đăng tiểu đề Vẻ Tuyệt Mỹ của Hình Tròn, tiểu đề này gồm có 5 tiểu đề nhỏ như sau:
1) Những tiên đề của Euclid và hình tam giác của phương Đông
2) Hình lục lăng của phương Tây và những cây cầu của thành phố Konigsberg
3) Hình ngũ giác của phương Nam và điện Parthenon của Hy Lạp
4) Hình vuông của phương Bắc và định lý của Pythagoras
5) Hình tròn và tính chất siêu việt của số Pi
Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh Trong câu chuyện này, tôi sẽ nói về những vẻ đẹp tuyệt vời của hình tròn. Từ khi loài người biết suy nghĩ, ban đêm nhìn thấy sao hiện ra rồi lấp ló có ánh trăng. Chờ đợi từng ngày, cho đến ngày rằm, lúc trăng tròn, hiện ra suốt đêm từ hoàng hôn cho đến rạng đông, hình thể mặt trăng lúc đó được coi là tuyệt mỹ. Ðứng bên một mặt hồ phẳng lặng, ta có thể bỗng nhiên nghe tiếng cá đớp và nhìn ra sẽ thấy những ngấn nước loang dần dần theo những vòng tròn đồng tâm. Hay có thể một buổi sáng, sau cơn mưa nhìn về phía Tây, con người nhìn thấy một cầu vồng mầu sắc vẽ một vành cung lớn trên nền trời. Ðó là những hình tròn thiên nhiên con người nhìn thấy từ thời thạch động. Khi con người nghĩ ra được bánh xe tròn là lúc đó phương tiện chuyển vận đã được một bước nhẩy vọt không khác gì khi chế ra được chiếc thuyền để đi trên mặt nước hay khi dùng được máy hơi nước để chuyển vận những toa tầu trên đường sắt. Thi nhân đã không tiếc lời ca tụng mặt trăng, cho đến nỗi khi tả sắc đẹp của mỹ nhân cũng nghĩ rằng mặt người nếu tròn như mặt trăng đêm rằm là mặt đẹp như đoạn Nguyễn Du tả Thúy Vân:
“Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”Nhưng bạn đọc có thể hỏi tại sao lại chọn hình tròn và cho hình này là hình đặc sắc nhất. Trước đây ta đã có dịp gặp những hình Cycloid, đã được gọi là nàng tiên đẹp Helen của thành Troy, ta đã thấy hình Catenary tức là hình nếp áo treo của tiên nữ, ngoài ra còn biết bao nhiêu hình khác các nhà toán học đã tìm ra trải qua ba nghìn năm nghiên cứu. Vì vậy để hiểu được vị trí của hình tròn trong toán học, chúng ta trước hết hãy duyệt qua một số hình đặc sắc khác trước khi đi đến kết luận hình nào là hình đẹp tuyệt vời.
Chúng ta chắc nhiều người đã đọc những chuyện võ hiệp và đã được biết có một thời trong võ lâm có năm bậc tài năng tới mức thượng thừa. Năm vị lãnh tụ võ lâm ấy là Hoàng Dược Sư, Âu Dương Phong, Ðoàn Nam Ðế, Hồng Thất Công và Vương Trùng Dương mỗi vị trấn một phương, uy thế ngất trời. Một lần họ họp với nhau suốt bẩy ngày và bẩy đêm trên đỉnh núi Hoa Sơn để bàn luận võ công, tuy không thực sự quần thảo nhưng dùng lý thuyết và biểu diễn tranh tài cao thấp. Chung cuộc họ đi đến kết luận là người nào cũng đã đến tuyệt đỉnh môn phái võ của mình. Âu Dương Phong có môn Hàm Mô Công thật là ác độc, Hoàng Dược Sư là một nhà thông thái võ công huyền ảo, kỳ bí, có phần chính, có phần tà, vị Ðế Vương miền Vân Nam họ Ðoàn được thừa hưởng môn võ Nhất Dương Chỉ truyền đời, chỉ dùng ngón tay mà tạo ra những đường kiếm linh hoạt, ảo diệu. Ngoài ra Hồng Thất Công là vị bang chủ Cái bang, tính tình hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, môn Giáng Long có mười tám thế đánh bằng tay sức mạnh ví như có thể di sơn, đảo hải, lại thêm môn võ đánh gậy trúc gọi nôm na là Ðả Cẩu Bổng Pháp tuy nhẹ nhàng nhưng lại huyền diệu lợi hại khôn lường. Tuy không tôn một ai làm minh chủ của võ lâm nhưng các vị lãnh tụ đều phải nhận là giáo chủ Vương Trùng Dương, xưa nay vẫn ẩn cư ở núi Chung Nam, võ nghệ, kiến thức tuyệt luân, tính tình lại từ hòa nhân ái đáng giữ ngôi vị ở trung ương. Từ đó truyền bá ra Võ Lâm theo phương vị là Ðông Tà, Tây Ðộc, Nam Ðế, Bắc Cái, Trung Thần Thông, ý nói là Hoàng Dược Sư giữ ngôi vị chúa đảo ngoài Ðông Hải, trong khi đó Âu Dương Phong hùng cứ miền Tây Nguyên, Ðoàn Vương Gia là thủ lãnh suốt miền Nam và Hồng bang chủ trấn ngự toàn phía Bắc. Ở trung ương thì ngôi vị phải nhường cho con người võ nghệ siêu phàm là Vương Trùng Dương chân nhân.
Tôi nghĩ rằng trong hình học, lựa chọn ra một hình có tính chất tuyệt luân huyền diệu cũng khó như cuộc luận kiếm trên đỉnh Hoa Sơn. Vì vậy tôi tưởng tượng ra đây một trại Hè tôi và một số bạn trẻ đã qua mấy ngày đêm thảo luận về những nét hay đẹp của một số hình trong toán học và giờ đây duyệt lại xem hình nào đáng giữ ngôi vị trung ương. Ðể buổi hội thảo có trật tự, ta tạm chia nhiệm vụ là đã có bốn nhóm trại sinh, mỗi nhóm đã nghiên cứu và chọn ra được một hình như là cao thủ võ lâm để dự cuộc tuyển chọn và hiện nay 4 nhóm này đã ngồi chung quanh theo bốn phương vị Ðông, Tây, Nam và Bắc. Số người còn lại, hoặc chưa có ý kiến, hoặc chưa đưa ra hình dự cuộc vì còn muốn giữ bí mật nay ngồi ở phần giữa của hội trường.MỘT VÀI TÁC PHẨM VIẾT BẰNG TIẾNG ANH, HÌNH ẢNH DO GS TRẦN HUY BÍCH CUNG CẤP



Những Tiên Ðề của Euclid và Hình
Tam Giác của Phương ÐôngNgồi ở Ðông vị là một nhóm trông có vẻ hăng hái hơn cả vì muốn được xuất quân trước nhất. Một bạn đại diện đứng lên và đưa đề nghị thật giản dị:
“Hình đẹp nhất phải là hình tam giác được tạo ra bởi ba điểm A, B và C không thẳng hàng nối với nhau bằng những đoạn thẳng và trong tất cả các hình tam giác vẽ được trong thế gian, hình tuyệt mỹ là hình tam giác có ba cạnh đều nhau.”
đó có nhiều bạn trong nhóm Ðông mỗi người đứng lên nói một câu biện minh cho sự chọn lựa của nhóm này. Tôi ghi lại đây những ý chính:
Nếu chỉ có hai điểm thì không vẽ ra được một hình. Phải có ít nhất là ba điểm. Vậy tam giác là hình giản dị nhất, thiên nhiên nhất và dĩ nhiên là đẹp nhất.
Làm một cái bàn chỉ có hai chân thì không thành cái bàn. Phải cần có ba chân, thành ra ba điểm đặt, và ba điểm là vững vàng nhất. Dùng bốn điểm có thể thành khập khễnh.
Tam giác ba cạnh đều là tam giác cân xứng nhất vì có ba cạnh bằng nhau và ba góc đỉnh cũng bằng nhau. Ngoài ra, trên một mặt phẳng, muốn ghép những hình đều cạnh mà không để chừa ra khoảng trống, như lát sàn bằng gạch hoa, thì chỉ có thể dùng hình tam giác đều, hình vuông và hình lục lăng đều như Hình 1. Trong ba kiểu hình này thì tam giác đều có ít cạnh nhất, như vậy giản tiện mà lại thỏa mãn điều kiện lát gạch.
HÌNH 1 Ðến đây với tính cách là người điều khiển buổi hội thảo đầy hứng thú này, tôi muốn có ít lời nhận xét vì lời đề nghị của nhóm Ðông có liên quan đến những tiên đề của hình học.
Trước hết tiên đề là gì? Ở thế kỷ này và trong tương lai, ở những thế kỷ tiếp nối, hay cả ở những hành tinh khác trong vũ trụ, nếu có những người thông minh xây dựng được môn toán học riêng của họ, thì môn nào cũng phải dựa vào luận lý. Lấy thí dụ trong hình học là môn toán học ta tìm ra được những tính chất gọi là a, b và c mà những tính chất này được suy đoán một cách minh bạch, không ai chỉ trích nổi, từ những tính chất mà ta gọi là d, e và f thì những tính chất sau này được coi là những tính chất khởi thủy để dùng luận lý mà xây dựng ra môn hình học. Nay ta lại xét đến những tính chất d, e và f khi những tính chất này không phải dùng những lý luận loanh quanh mà suy ra lẫn nhau mà lại được suy ra một cách rất rõ ràng từ những tính chất khác mà ta gọi là g và h, thì những tính chất sau này mới gọi là tính chất khởi thủy vì tự nhóm này mà ta đã dùng luận lý để suy ra những tính chất d, e và f, và tiếp theo đó suy ra những tính chất a, b và c. Mỗi lần suy luận một cách minh bạch, dựa vào những gì đã được công nhận để tìm ra những tính chất tiếp theo ta nói là đã chứng minh được một định lý. Nếu ta đi ngược lại về nguồn thì sẽ tới được những tính chất nguyên thủy không có thể dựa lên những tính chất nào khác nữa để chứng minh những tính chất nguyên thủy này mà ta gọi là tiên đề.
Vậy tiên đề là những khái niệm gì ta phải công nhận, không cách gì chứng minh được, và căn cứ vào đó ta xây dựng nên cả môn toán học.Người đầu tiên đã đặt thành hệ thống môn hình học dựa vào những tiên đề là nhà giáo Euclid, viết sách và mở trường dậy vào khoảng những năm 330-275 trước Công nguyên ở Alexandria bên Ai Cập, tuy ông lại là người Hy Lạp. Ông đúng là nhà soạn sách thành công nhất tự cổ xưa tới nay vì hơn hai ngàn năm qua, môn hình học đã được khai triển dựa vào những tiên đề và những căn bản viết trong bộ sách 13 cuốn của ông được đặt tên là “Các Cơ Sở”
Ðúng ra thì Euclid viết 10 tiên đề, áp dụng chung cho toán học, nhưng riêng cho môn hình học, sau nhiều thế kỷ tranh luận, sửa đổi, người ta lấy 5 tiên đề, mà 4 tiên đề đầu được lập theo từ chương mới trong những sách giáo khoa hình học như sau:
1. Qua hai điểm có thể xác định được một đường thẳng và chỉ một mà thôi.
2. Qua ba điểm không thẳng hàng có thể xác định được một mặt phẳng và chỉ một mà thôi.
3. Nếu đường thẳng có hai điểm nằm trong mặt phẳng thì đường thẳng đó hoàn toàn nằm trong mặt phẳng này.
4. Nếu hai mặt phẳng có một điểm chung thì chúng sẽ có thêm một điểm chung thứ hai nữa.
5. Tiên đề thứ năm là tiên đề được tranh luận nhiều nhất, tôi sẽ nói ở phần cuối của mục này. Tới đây ta cần nhận định rằng, theo định nghĩa thì tiên đề là những mệnh đề toán học phải công nhận vì không còn mệnh đề nào khác để chứng minh được. Vì vậy ta phí mất công sức để chẳng hạn dùng tiên đề 1, 2 và 3 để chứng minh tiên đề 4 vì nếu chứng minh được thì mệnh đề 4 không còn được gọi là tiên đề nữa. Phần khác ta sẽ thấy là không thể nào thêm được một tiên đề nào khác nữa Chẳng hạn, ta tự nghĩ rằng mình là một thiên tài toán học mà đặt thêm tiên đề thứ sáu.
6. Hai mặt phẳng cắt nhau theo một đường thẳng.
Ðọc lên nghe có vẻ ngon lành như khi vào một tiệm ăn cầm thực đơn mở đôi ra thì sẽ như hiển hiện ra tiên đề thư sáu. Vả chăng, nếu ta đọc lại những tiên đề 1, 2 và 3 thì thấy cũng như là thể hiện những gì hữu hình thường nhật, chẳng hạn một sợi chỉ căng giữa hai điểm (tiên đề 1), một tấm bìa cứng đặt trên ba mũi nhọn (tiên đề 2) và đặt cái thước trên một mặt bàn (tiên đề 3). Vậy tại sao mệnh đề 6 không được gọi là tiên đề nhỉ ?
Ta phải lý luận như sau. Nếu hai mặt phẳng cắt nhau thì chúng phải có một điểm chung và theo tiên đề 4 chúng sẽ có thêm một điểm chung thứ hai nữa. Theo tiên đề 1, ta thấy chỉ có một đường thẳng qua hai điểm này và, theo tiên đề 3 đường thẳng nằm trong mỗi mặt phẳng. Vậy là ta đã dùng tiên đề 1, 3 và 4 để chứng minh mệnh đề 6, và mệnh đề này là một định lý chứ không được gọi là một tiên đề.
Một nhận xét khác nữa là ta đã hình dung ra những điểm, đường thẳng hay mặt phẳng theo định nghĩa hình thể được lý tưởng hóa. Chính vị tổ sư Euclid cũng nhầm lẫn về vấn đề này. Ông tưởng tượng điểm là cái gì không thể thu nhỏ được nữa cũng như một đường là chỉ có chiều dài chứ không có chiều rộng, một mặt thì chỉ có chiều dài, chiều rộng chứ không có bề dầy. Hay đôi khi dùng những cuốn sách nhập môn về Hình Học, để khỏi lúng túng, khi đọc tiên đề 1, học sinh hỏi vặn lại là đường thẳng là gì, hay khi đọc tiên đề 2 có người thắc mắc muốn được biết định nghĩa về mặt phẳng, một nhà giáo khi chỉ có trình độ trung cấp về toán học có thể trả lời là nhìn một sợi chỉ căng là có ý niệm về đường thẳng, hay nhìn một mặt hồ không gợn sóng là có thể hình dung ra được một mặt phẳng. Sự thực ra thì ta có thể công nhận các tiên đề như đã nêu ở trên và không cần phải có định nghĩa về điểm, đường thẳng và mặt phẳng. Thật vậy, nếu bạn đọc có cách nào để quên được những ý niệm hình thể về đường thẳng và mặt phẳng hay tạm cho là đường thẳng có hình hơi cong cong, và mặt phẳng hơi vềnh vồng thì những tiên đề kể trên vẫn đúng như thường vì ta đã mặc nhiên công nhận những tiên đề này. Nếu vì lấy đường thẳng cong cong mà không thích hợp với tiên đề 1 chẳng hạn thì tức là ta đã dùng ý niệm “đường thẳng là cái gì rất thẳng” để chứng minh tiên đề 1 là đúng. Như thế mệnh đề 1 đâu đáng được gọi là tiên đề. Phần khác bạn đọc có thể coi lại đoạn chứng minh mệnh đề 6 khi dùng những tiên đề 1, 3 và 4 sẽ thấy là trong lý luận này chúng ta có dùng ý niệm “đường thẳng là cái gì rất thẳng” và “mặt phẳng là cái gì rất phẳng” để làm hậu thuẫn đâu!
Nay trở lại phát biểu của nhóm Ðông thì ta thấy hình tam giác nằm trong một mặt phẳng và ba cạnh của hình hoàn toàn nằm trong mặt phẳng này. Nhóm Ðông được dành nửa giờ để trình bầy những tính chất đặc biệt của hình tam giác. Dĩ nhiên là có nói nửa ngày trời cũng không hết. Vì vậy các bạn đã nhấn mạnh tính chất hội tụ như sau.
HÌNH 2 Dựa theo Hình 2: Ba đường trung tuyến vẽ từ 3 đỉnh A, B và C như là đường AM, vẽ từ đỉnh A đến trung điểm M của cạnh đối diện BC, ba đường này gặp nhau ở điểm G là trọng tâm của tam giác và ở 2/3 các trung tuyến kể từ đỉnh.
– Ba đường trung trực tức là những đường thẳng góc với các cạnh như BC vẽ từ trung điểm M, ba đường này cũng gặp nhau ở điểm O là một điểm cách đều ba đỉnh A, B và C. Như vậy, O là tâm điểm cuả vòng tròn ngoại tiếp với tam giác ABC.
– Ba đường cao là là những đường như AH vẽ từ đỉnh A thẳng góc với cạnh đối diện BC, ba đường này cũng gặp nhau ở một điểm I gọi là trực tâm của tam giác.
– Ðặc biệt ba điểm O, G và I lại thẳng hàng với nhau và điểm G ở 2/3 đoạn IO kể từ điểm I. Ðường thẳng này gọi là đường thẳng của Euler.
Nhóm Ðông có vẻ thích thú về những tính chất hội tụ của những đường đặc biệt vẽ trên hình tam giác và các bạn trẻ cho rằng những tính chất này không có ở các hình khác. Một thành viên của nhóm Ðông còn thêm tính chất rằng:
– Nếu vẽ những đường phân giác nghĩa là những đường chia những góc A, B và C, mỗi góc làm hai phần đều nhau thì ba đường này cũng gặp nhau tại một điểm J và điểm này lại đặc biệt ở một vị trí cách đều ba cạnh BC, CA và AB. Như vậy J là tâm điểm của vòng tròn nội tiếp với tam giác ABC.
Sau phần trình bầy của nhóm Ðông tới phần đặt câu hỏi. Câu khó trả lời nhất là:
“Tại sao lại chọn hình tam giác có ba cạnh đều? Ngoài tính chất cốt dùng để lót gạch hoa không có khoảng trống như trên Hình 1, hình tam giác có ba cạnh đều còn có gì đặc biệt? Vả chăng muốn lát kín thì cần gì phải chọn hình có cạnh đều. Chẳng hạn trên Hình 1, thay vì chọn hình vuông, dùng hình chữ nhật có sao đâu ? Những viên gạch xây tường có hình chữ nhật cũng vẫn xếp kín được như thường. Vậy ta cũng vẫn có thể thay hình tam giác ba cạnh đều bằng những hình tam giác cân, chỉ có hai cạnh bằng nhau vẫn xếp kín được như thường chứ ?”
Nghe câu hỏi hóc búa này, thay vì lúng túng, tất cả các bạn trong nhóm Ðông lại vỗ tay reo mừng. Lúc đó họ mới đưa ra môn võ bí hiểm bằng cách trưng ra những Hình 3 và Hình 4. Theo nhóm này thì Hình 3 biểu diễn một định lý tìm ra bởi Hoàng Ðế Napoléon Bonaparte (1769-1821).
HÌNH 3 Theo Hình 3: lấy một hình tam giác ABC bất kỳ nào và sau đó, trên những cạnh, kiến trúc ba hình tam giác đều. Trên mỗi tam giác đều, vẽ những điểm gặp nhau của những đường trung trực như điểm O đã cắt nghĩa trên hình 2. Ba tâm điểm này là ba đỉnh của một tam giác ba cạnh đều. Tính chất đặc biệt của định lý này là bất kỳ hình tam giác ABC nào cũng tạo được ra một hình tam giác ba cạnh đều. Ðịnh lý này đã làm cho nhóm ngồi phía Tây là nhóm sắp sửa ra thuyết trình có vẻ nao núng. Tuy vậy, họ cũng có lời phê bình là: “Ðịnh lý của Napoléon phải dùng đến ba hình tam giác đều để kiến trúc ra hình tam giác đều thứ tư. Vậy có gì là bất kỳ đâu ?” Câu hỏi này đi vào bẫy sập của nhóm Ðông vì họ trả lời rằng: “Hãy thử coi Hình 4 sẽ thấy hình tam giác nào cũng đưa đến hình tam giác đều, hay nói văn vẻ hơn, đường nào cũng dẫn đến kinh thành La Mã.

HÌNH 4 vậy theo Hình 4: bạn thử vẽ một tam giác bất kỳ nghĩa là không có cạnh nào bằng cạnh nào, và như thế cũng có nghĩa là không có góc nào bằng góc nào. Sau đó ở mỗi góc vẽ hai nửa đường thẳng để chia góc làm ba phần đều nhau. Những đường thẳng này cắt nhau tại những điểm là đỉnh của những hình tam giác có ba cạnh đều. Hình vẽ nét đậm trên Hình 4 là một trong những hình tam giác đều được tạo ra.
Sau phần trình bày rất ngoạn mục này, nhóm Ðông đã nhận được một tràng pháo tay cổ võ rất nồng nhiệt. Trước khi giới thiệu phần trình bày của nhóm Tây, chắc cũng không kém phần hào hứng, tôi có chút nhận xét sau đây:
Trở lại lời phát biểu là dùng một cái bàn ba chân là vững vàng nhất, ta thấy là nhóm Ðông đã đi vào phạm vi Cơ học, hay đúng hơn là phần Tĩnh học của Toán áp dụng này. Một cái bàn hay một cái ghế đẩu có ba chân chỉ có thể đứng vững ở vị thế tĩnh khi trọng lực của cố thể này đi qua tam giác hợp thành bởi những điểm đặt. Bạn đọc thử hình dung một mặt bàn đá, nghĩa là khá nặng, có ba chân song song và khá dài. Sau đó, cắt ngắn một chân bàn chút ít sẽ nhận thấy ngay rằng tuy vẫn có ba điểm đặt vững chãi nhưng đường trọng lực, phát xuất tự trọng tâm ở khá cao sẽ đi ra ngoài tam giác đế của chân bàn và chiếc bàn chắc chắn sẽ bị lật nghiêng.
Tiên đề thứ năm của Euclid là: Từ một điểm A ở ngoài đường thẳng b bao giờ ta cũng kéo được một và chỉ một đường thẳng a song song với b. Như đã nói ở trên, trong tập “Các Cơ Sở”, Euclid mở đầu bằng cách phát biểu 10 tiên đề mà trong môn Hình Học dùng 5 tiên đề viết lại theo lối mới như trên. Trải qua hơn hai ngàn năm, nhiều nhà toán học, có những vị là những thiên tài, cho rằng tiên đề 5 chỉ là một định lý hình học có thể suy ra được bằng cách dựa trên các tiên đề khác.
Sau nhiều lần thất bại, phải tới thế kỷ thứ 19, ba nhà toán học lỗi lạc là Carl Friedrich Gauss (1777-1855) người Ðức, Nicolai Ivanovitsch Lobatschewsky (1793-1856) người Nga và Johann Bolyai (1802-1860) người Hung, mới sáng suốt nhận chân rằng tiên đề thứ năm này quả thật là một tiên đề, không chứng minh được vì không suy ra được từ những tiên đề khác. Vị thủy tổ Euclid giữ toàn vẹn chiếc ngai Hình Học, được gọi là Hình Học Euclid. Nhưng mặt khác, các nhà toán học nói trên nghĩ rằng nếu thay thế tiên đề 5 bằng một tiên đề thật trái ngược mà dùng suy luận để đi đến một nghịch lý thì tức là đã chứng minh được tiên đề này, đó là điều đã không ai làm được. Vậy thì có thể dùng một tiên đề khác thay thế cho tiên đề 5 để xây dựng nên một môn hình học mới tức là Hình Học Phi Euclid. Lobatschewsky và Bolyai dựng nên môn hình học mới bằng cách thay tiên đề 5 bằng tiên đề
LB. Từ một điểm A, ở ngoài đường thẳng b, có thể kéo nhiều đường song song với b.
Dùng tiên đề này có thể làm thành một môn hình học trong đó không có gì nghịch lý cả và môn này được gọi là Hình Học Hy-pe-bol. Một môn hình học thứ ba nữa có thể được dựng ra bằng cách dùng một tiên đề trái ngược với tiên đề 5, do nhà toán học Bernhard Riemann (1826-1866) phát biểu là:
R. Từ một điểm A ngoài đường thẳng b không thể kéo đường thẳng nào song song với b.
Môn hình học phi Euclid này được gọi là Hình Học Ellip.
Một nhận xét sau cùng nữa là nhóm Ðông không thể nào chỉ dùng thước kẻ thẳng và com-pa để vẽ nên Hình 4 được. Ðó là vì trong Hình Học có ba bài toán đố không thể nào dùng thước kẻ thẳng và com-pa để tìm lời giải được là các bài sau đây:
1. Chia một góc phẳng bất kỳ làm ba góc bằng nhau.
2. Kiến tạo một hình lập phương có thể tích gấp hai lần thể tích một hình lập phương cho sẵn.
3. Vẽ một hình vuông có diện tích bằng một hình tròn cho sẵn.
Đó là những lời trích từ Vui Đời Toán Học của GS Nguyễn Xuân Vinh.Việt Hải sưu tầm và nghiên cứu
California 2013 -
Dư âm dịp ra mắt sách Mùa hè 2022.
Mùa hè vẫn còn, trời Nam Cali lan tỏa những tia nắng ấm hình như thiên nhiên báo hiệu những buổi hội ngộ gặp gỡ bạn bè. Để chúng tôi, những văn nghệ sĩ đến với nhau trong dịp ra mắt sách, mà kết quả được xem nhiều thành công “Viên mãn thành công“. Trong khung cảnh văn học đậm chất tao nhã văn chương thi vị, nêu cao tinh thần yêu thi ca qua hai tác phẩm thơ, Màu Thời Gian và Lật Trang Sách Cũ. Buổi họp mặt thi ca được diễn ra trong không khí thân mật nhưng không kém phần long trọng. Ba diễn giả của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm nhà văn Quyên Di, Khánh Lan và Mộng Thủy. Chương trình văn nghệ do Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian tổ chức, buổi lễ cùng với phần văn nghệ đặc sắc qua những nhạc phẩm nổi tiếng của các nhạc sĩ: Dương Thiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn, vì 2 nhạc sĩ này có liện hệ gia đình với 2 thi sĩ ra mắt sách, Dương Hồng Anh và Lê Nguyễn Nga.
Thành phần khách tham dự buổi ra mắt hai tập thơ đa số là khách văn học nên khi các diễn giả thuyết trình căn phòng hội chìm trong yên lặng, khiến không khí trở nên trang trọng và sự kính nể đối với hai vị Nữ sĩ. Mặc dù ngày 26 tháng 06 có đến 4 buổi hội họp văn học ở 4 nơi khách nhau, nhưng số khách tham dự buổi ra mắt 2 tập thơ đã vượt qua con số 80 người và số sách đã được sự ủng hộ nhiệt tình của các độc giả yêu thơ và bán gần hết. Thật là “Giới hàn lâm tao nhân mặc khách chiếu cố…”
Hôm sau trong dư âm vui vẻ nữ sĩ Dương Hồng Anhcho ra ngay bài thơ mói toanh như sau riêng thân quý mến tặng Nhà Văn Trần Việt Hải cùng toàn thể quý hội viên trong Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian..
Thêm Một Nụ Hồng
Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian
Là những vần thơ, những phím đàn
Cho tôi thấy hương đời nồng ấm
Tình văn chương tha thiết muôn vàn
Nôn nao chờ đón ngày ra sách
“Mầu Thời Gian” xanh mát trên tay
Nắng Ca li chiều nay vàng thắm
Nhìn hội trường rạng rỡ trời mây
Bạn bè tôi vui tươi đàn hát
Ánh đèn mầu lấp lánh đỏ xanh
Tình cảm thân thương cùng chia sẻ
Vườn hoa văn nghệ đẹp như tranh
Chim đầu đàn anh Trần Việt Hải
Cùng bạn bè thân mến chung quanh
Đem tim óc cùng nhau tô điểm
Văn hóa muôn đời rạng sử xanh
Đường dài văn nghệ còn đây đó
Mong gửi vào thơ một tấc lòng
Xin cảm ơn bạn bè trân quý
Đã cho tôi thêm một nụ hồng
Nụ hồng còn đó, thơ còn đó
Nghĩa tình bè bạn thước nào đo
Chúc mừng Hội Nhân Văn Nghệ Thuật
Vun trồng văn hóa đẹp như mơ…
Dương Hồng Anh, ngày 29 tháng 6, 2022
Thi sĩ Lê Nguyễn Nga cũng đã kể cái duyên gặp gỡ giữa hai bà như sau.
Cái Duyên với Con Cháu Của Cụ Nghè Dương Khuê.
Nhà thơ Lê Nguyễn Nga và nữ sĩ Dương Hồng Ánh
“Vào dịp Tết Nhâm Dần, tháng hai năm 2022, Nhà Văn Việt Hải báo tin là cuốn sách “Lật Trang Sách Cũ” của tôi sẽ được ra mắt vào tháng 6 năm 2022, cùng với nữ sĩ Dương Hồng Ánh (DHA). Tôi thấy áy náy, có lẽ mình tự thấy hơi khác nhau, bởi vì về tuổi đời thôi, nữ sĩ DHA đã trên tôi 15 năm, còn về năm tháng sáng tác thơ văn, nữ sĩ đi trước tôi quá xa.
Vào tháng 3 năm 2022, chị vui vẻ hỏi tôi là Nhà Văn Việt Hải nói rằng sẽ ra mắt sách chung cho hai người, “Nga đã biết ngày nào chưa?” Tôi trả lời là tôi chỉ biết vào tháng 6 thôi, chưa biết ngày chính xác. Anh Việt Hải tiếp thêm là ngày ra mắt sách sẽ hát nhạc của Dương Thiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn. Trong vài buổi họp, tôi lại được nghe về nữ sĩ DHA là cháu nội của cụ nghè Dương Khuê.
Cả một bầu trời dĩ vãng lại quay về…
Sau năm 75. Hôm đó là một ngày đẹp trời. Tôi đi làm về thấy có một người đến thăm vợ chồng tôi. Anh Lê Trọng Nguyễn giới thiệu đây là một người bạn cũ đã tham dự đám cưới chúng tôi vào năm 1970. Tôi nhớ lại là nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Cả hai vợ chồng, Ca sĩ Minh Trang và nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, đều là bạn thân của NS LTN từ đài phát thanh Huế vào Sài Gòn vào những năm 1960. Trong bữa cơm thân tình tôi được biết thêm NS DTT là cháu nội cụ Dương Khuê.
Qua Mỹ, chúng tôi gặp lại Ca Sĩ Quỳnh Giao, ái nữ của bà Minh Trang. Qua vài lần trao đổi, tôi biết thêm Quỳnh Giao và tôi có một thời học chung trường, lấy chung vài cua Pháp Văn ở trường Trường Sơn. Trong vài lần tâm tình, cô Quỳnh Giao nói về cuộc đời âm nhạc, bắt đầu học nhạc lý từ kế phụ Dương Thiệu Tước, Cuộc sống trên vùng đất mới luôn quay cuồng. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp lại vợ chồng Quỳnh Giao-Nguyễn Xuân Nghĩa. Có một hôm anh chị báo tin NS Dương Thiệu Tước đã qua đời từ năm (1995). Một vài lần chúng tôi gặp lại các bạn ca sĩ Mai Hương, Kim Tước, Quỳnh Giao.
Cái thân tình đó tôi nhớ mãi như món quà của cuộc đời. Cái DUYÊN được quen biết với NS Dương Thiệu Tước-Minh Trang rồi quen luôn đến thế hệ thứ hai là CS Quỳnh Giao và CS Dương Vân Quỳnh… Đã bao mùa lá rụng. Đã bao mùa tuyết rơi. Đã bao lần vật đổi sao dời. Cái buồn chợt đến khi tôi nghe tin người ca sĩ trẻ Quỳnh Giao qua đời sau một cơn bịnh nặng ngắn ngủi. Tôi ngậm ngùi nhớ về những người thân thương đã bỏ ra đi: NS Dương Thiệu Tước, NS Lê Trọng Nguyễn, ông Hà Thức Cần, CS Minh Trang, CS Quỳnh Giao.
Tôi xin mượn vài câu trong bài thơ “Khóc Bạn Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến để kết thúc bài viết này:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
……………………
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
…………………………………
Cầu thơ nghĩ đắn đo muốn viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa …
Tôi mong muốn vào dịp ra mắt sách kỳ này lại có dịp gặp lại bạn bè xưa để ôn chuyện vui buồn cuộc đời. Và Lê Nguyễn Nga đã mãn nguyện.
Bài thuyết trình của diễn giả Quyên Di được cử toạ vỗ tay nồng hậu.
VÀI NHẬN XÉT VỀ THI TẬP “MẦU THỜI GIAN” CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ HAI DÒNG NHẠC “DƯƠNG THIỆU TƯỚC,” LÊ TRỌNG NGUYỄN
( do GS. QUYÊN DI)
Ông kể chuyên văn thơ hóm hĩnh, pha bao dí dõm ý nhị…
Nghe ba tiếng “MẦU THỜI GIAN,” thường chúng ta sẽ có cảm giác buồn bã, hay ít ra thì cũng bùi ngùi, luyến tiếc. Màu thời gian thường là màu vàng đậm của chiếc lá cuối thu, héo úa và tàn tạ. Nhưng nhìn vào màu bìa của thi tập, chúng ta đều thấy đó màu màu xanh của lá cây non, rất tươi mát và tràn đầy sức sống. Trong khi đó, nếu xét về niên tuế thì nữ sĩ Dương Hồng Anh năm nay đã hơn chín mươi. Điều này nói lên rằng, với nữ sĩ, thời gian không có ảnh hưởng gì. Lúc nào nữ sĩ cũng tươi trẻ. Đúng là:
“Chín mươi đâu phải là già,
Tám mươi thì mới chỉ là thanh xuân.”
Thi tập gồm 102 bài thơ. Hãy nói trước về bài thơ MẦU THỜI GIAN, tên được chọn làm tựa đề của thi tập.
Bài thơ gồm 4 khổ, mỗi khổ có 4 câu. Khổ đầu, tác giả gieo vần theo lối gián cách, câu 1 vần với câu 3, câu 2 vần với câu 4. Này nhé:
Thời gian lờ lững trôi vô tận
Vui buồn thế sự nắng mưa rơi
Còn đây một mảnh tình non nước
Xin gửi vào thơ giấc mộng đời.
Nhưng ba khổ sau, tác giả lại gieo vần theo lối ba vần bằng, lối gieo vần tựa như trong thể thơ Đường luật cổ kính:
Thơ theo ngày tháng vẫn Đi – Về
Những chiều những sớm những đêm khuya
Bao nhiêu thi tứ theo nhau bước
Phòng vắng canh dài viết mải mê.
Tôi vẫn làm thơ dưới nắng chiều
Mây ngàn gió núi dệt thương yêu
Câu thơ nho nhỏ say hồn mộng
Ký ức vàng son gợi nhớ nhiều.
Mái tóc sương pha đã mấy mùa
Ngày dư còn lại chút hương xưa
Mầu thời gian trải dài tâm sự
Vạt nắng hoàng hôn, gió nhẹ đưa.
Sao lại như thế? Tôi có cảm tưởng rằng ban đầu tác giả nhìn dòng thời gian dù có liên tục trôi, nhưng thật ra có nhiều đoạn đời có thể tách rời ra được. Nhưng một khi đã đạt được cái lẽ đời, tác giả nối tất cả các đoạn đời ấy lại thành một dòng trôi liên tục: dòng đời.
Tôi tạm kết thúc phần giới thiệu thi phẩm MẦU THỜI GIAN của nữ sĩ Dương Hồng Anh để chuyển qua phần giới thiệu một vài nhạc phẩm của hai nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn. Tại sao lại có phần giới thiệu này. Thưa, vì hôm nay chúng ta giới thiệu hai tập sách, MẦU THỜI GIAN của nữ sĩ Dương Hồng Anh và LẬT TRANG SÁCH CŨ của nhà thơ Lê Nguyễn Nga. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là anh họ của nữ sĩ Dương Hồng Anh và nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn là phu quân thi sĩ Lê Nguyễn Nga. Hôm nay chúng ta trình bày và thưởng thức những ca khúc của hai nhạc sĩ này, tưởng cũng nên biết một chút về hai vị như một cách tri ân.
Nếu đã táo bạo giới thiệu thi tập MẦU THỜI GIAN thì khi nhận lời nhận định về vài nhạc phẩm của Dương Thiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn, phải nói là tôi liều lĩnh. Chung quy vì vì lời xúi dại của nhà văn Việt Hải, ổng xúi tôi nói. Tôi nhận lời vì cả nể. Nhận lời rồi mới biết là mình quá liều lĩnh. Cái tính cả nể này nguy hại vô cùng. May, mẹ tôi sinh tôi ra, tôi là con trai, chứ nếu là con gái thì đời tôi không biết đã “hoảng chưa” bao nhiêu lần rồi! Nhưng đã nhận lời thì phải nói thôi, biết làm sao bây giờ. Thật, không cái dại nào bằng cái dại này.
Tôi nói gì về nhạc phẩm “Chiều,” thơ Hồ Dzếnh, nhạc Dương Thiệu Tước nhỉ? Bài thơ gồm những câu ngắn, mỗi câu 5 chữ:
Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chết trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
Mây chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây.
Nhưng đây là thơ năm chữ! Thế mà Dương Thiệu Tước phổ thành một bản nhạc rất du dương. Ông viết bản nhạc theo điệu tango với cung “rê trưởng.” Thường cung “rê trưởng” hợp với những bài hát vui tươi, nhịp nhàng. Viết “rê trưởng” cho điệu tango quả là thíich hợp. Nhưng cái khéo của Dương Thiệu Tước là khi ta hát hay ta nghe bài “Chiều,” vẫn thấy có cái gì bâng khuâng, bùi ngùi trong cung điệu nhịp nhàng ấy. Mình cứ hát đi, hát với giọng vịt đực của tôi cũng được, sẽ cảm nhận được điều ấy.
Riêng về nhạc Lê Trọng Nguyễn, tôi chỉ xin đưa ra một vài hình ảnh trong nhạc phẩm Nắng Chiều, một nhạc phẩm không những nổi tiếng ở Việt Nam mà còn rất được yêu thích ờ nhiều nước khác, như Nhật Bản, Đài Loan, Hong Kong. Tôi có dịp đọc lời Nhật, lời Hoa của nhạc khúc này, không thấy hình ảnh trong đó đẹp bằng những hình ảnh trong nguyên bản tiếng Việt.
Vì là “Nắng Chiều,” xin nói về nắng. Có 5 thứ nắng được diễn tả trong bài hát: nắng lưa thưa, nắng vương thềm, sân nắng, nắng vương đồi, nắng ngừng trôi. Ồ, nắng mà “lưa thưa.” Tại sao nắng “lưa thưa” được? Vì có “lá hoa về chiều” lưa thưa nên nắng mới thưa thưa theo được. (Cũng như phụ nữ đẹp vì có nam giới chúng tôi khiến cho phụ nữ thích làm đẹp.)
Lại còn “nắng vương.” Vương là bám nhẹ, loang nhẹ, rơi nhẹ vào. Hình ảnh “nắng vương thềm” đẹp và thơ mộng quá. Thềm ở bên ngoài, nhưng là nơi sát với nhà, chỉ một bước nữa thôi là bước vào trong nhà. Tâm hồn cô thiếu nữ là ngôi nhà kín đáo và thân mật. Chàng trai yêu cô gái, nhưng còn đứng đợi bên thềm chờ cô mở cửa cho vào nhà. Thềm nhà xuất hiện trong nhiều bài thơ hay nhạc phẩm. Chúng ta vẫn thường hát: “Hôm qua đến tìm em, anh thấy hoa xuân rơi đầy trước thềm.” (Đẹp Giấc Mơ Hoa, Hoàng Trọng)… Cho đến “nắng vương đồi” thì là một hình ảnh quá đẹp, và thật gợi cảm đối với những ai hơi giàu tưởng tượng và có óc liên tưởng.
“Nắng ngừng trôi”! Cái này mới thật là lạ. Nắng trôi được vì có sự chuyển động trong không gian lúc chiều về. Đó như là một định luật; mặt trời mọc, mặt trời lặn nên có bình minh và hoàng hôn. Thế mà bây giờ “nắng ngừng trôi,” nắng dừng lại, không trôi nữa vì nắng “nhớ em dịu hiền.” Đã đẹp chưa, đã thơ chưa nào? Chịu! Tả nắng như thế thì khó có nhà thơ, nhà văn nào tả khéo hơn!
Thôi, tôi xin phép chấm dứt bài nói chuyện thô thiển ở đây, vì sợ làm rác tai người nghe vì những suy nghĩ lẩm cẩm. Xin vui lòng bỏ qua những gì tôi nói “lảm nhảm” về những tuyệt phẩm nghệ thuật. Nói nữa, e rằng tôi phạm tội làm kém đi, xấu đi những gì quá hay, quá đẹp.
GS. Quyên Di là một trong các cố vấn văn chương của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian.
——————————–
ĐÔI NÉT VỀ NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH
June 28, 2022
NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH
Vốn thừa kế truyền thống văn học của dòng họ Dương. Ngôn ngữ trong thi ca của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, phản ảnh sự phong phú của ngôn ngữ, bà đã khéo léo chắt lọc tinh túy những ngôn từ, khám phá những nét bóng bẩy của thi ca, nhưng không kém phần vui tươi, nhẹ nhàng, êm ái của những áng thơ viết cho bạn bè và thân hữu. Thật thế, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã góp phần làm giầu ngôn ngữ, trong văn học và đời sống của chúng ta.
Là một nhà thơ với bản tính hiền hòa, nhận hậu, khiêm nhường và vị tha. Bà đặt gia đình, bạn bè, thân hữu lên trên quyền lợi của chính mình. Đối với Liên Nhóm NVNT & TTG, Nữ Sĩ đã ưu ái dành cho mọi người “muôn ngàn thân ái”. Đây là ngôn ngữ mà Nữ Sĩ thường dùng để biểu lộ cảm tình của bà đối với bạn hữu. Bà đã sáng tác nhiều bài thơ dành riêng cho hội trong đó có bài “Bạn Bè Của Tôi”
“Bạn bè tôi, những nghệ sĩ yêu đời
Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá…
… Bạn bè của tôi chung lời hẹn ước
Đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian….
Bài thơ này đã được Nhạc sĩ Lâm Dung phổ nhạc và đã trở thành NVNT & TTG hành khúc cũng như được trình diễn trong hầu hết các buổi sinh hoạt của nhóm.
Cũng trong bài viết của Khánh Lan
DƯƠNG HỒNG ANH NỮ SĨ
Khánh Lan Biên soạn.
Tôi còn nhớ như in trong tâm trí, tháng 01 ngày 28, 2020, tôi đã được nữ sĩ DHA tặng cho tập thơ số 10 của bà, xuất bản tại California, năm 2019 với tựa đề “NGUỒN CỘI” trong dịp họp mặt đầu xuân Canh Tý. Tôi vốn mê đọc thơ từ thuở nhỏ, nên khi nhận được tập thơ từ bà, tôi mừng lắm và say mê đọc những bài thơ bà sáng tác, với những vần thơ giản dị, mộc mạc, dễ hiểu, đong đầy trìu mến, khiến người được đọc thơ có cảm giác như đang cùng bà sánh bước hoặc cùng bà chia sẻ niềm tâm sự.
“Bốn bốn mùa xuân trên đất Mỹ,
Bao nhiêu kỷ niệm trở về đây,
Đất lành chim đậu – Ca-li ấm
Sợi nắng vàng say mộng ước đầy”.
(Xuân Trên Đất Mỹ-2019)
… quả thật, thi sĩ DHA đúng là một người tài hoa với một bộ óc tràn ngập những lời hay ý đẹp của một nhà thơ. Phải, thi sĩ DHA với những áng thơ dịu dàng lưu loát, hồn thơ say đắm làm mê hoặc lòng người, ý thơ trẻ trung nhẹ nhàng, mềm mại, e ấp và đáng yêu như con người của bà, nhưng lại không kém phần ưu tư, thương nhớ, khắc khoải khi nhắc đến quê hương sau bao năm lưu lạc. Những cảm xúc sâu đậm ấy đã bộc lộ qua lời thơ của thi sĩ DHA và điều này đã được thể hiện rõ rệt qua bốn câu thơ sau đây:
“Chiều về nhớ phố Bolsa,
Đi tìm chút nắng quê nhà năm xưa”.
Hoặc:
“Xin gửi quê hương một tấm lòng,
Ca li nhớ mãi nắng Sài Gòn”.
Thật đúng như nhà thơ Alfred De Musset đã cho rằng, thơ là nỗi cảm xúc của lòng mình, là nhịp đập của trái tim, là hơi thở của trí tuệ và…”Hãy đập vào trái tim, thiên tài là ở đó“. Hay nhà văn Việt Hải đã viết trong lời mở đầu cho thi tập Nguồn Cội: “Trong ngôn ngữ của đời sống, thơ là những dòng chữ đi từ con tim tìm đến khối óc. Nếu con tim rung động thì trí óc sắp xếp sự sáng tạo chữ nghĩa, đó là ý tưởng của nhà thơ”. Trong thi tập Chiều Bến Đợi, thi sĩ DHA đã nhận định: “Tôi đã dành từ bao giờ một góc trái tim cho Thơ”.
“Mỗi bước chân đi nghĩ ngợi gì
Thềm hoa rực rỡ đọng trên mi
Nắng vàng phơ phất lùa khung cửa
Chở những vần thơ lãng đãng về”….
(“Nắng Ca Li Nhớ Nắng Sài Gòn)
Khi được hỏi, cơ duyên nào đã là nguồn cảm hứng giúp thi sĩ DHA trở lại sinh hoạt trong thế giới thi ca? Thi sĩ DHA trả lời: “Sau khi nhà tôi qua đời, thì những dòng thơ tuyệt diệu ngày xưa đã sống lại trong tôi và tôi bắt đầu làm thơ…..phải tôi… trở về với thế giới thơ văn mà tôi hằng yêu quý“. Như để giúp tôi hiểu rõ hơn, thi sĩ DHA tiếp tục, “Sau lần tôi về thăm Hà Nội, tôi sáng tác bài Thu Cảm, bài thơ hay lắm cô KL ạ, bài này nhà văn Nhật Thịnh đăng trong tờ báo Đất Đứng năm 2012 và ông nói là thơ của bà “Có hồn“.
“Thu đến từ đâu thu hỡi thu,
Cùng thơ đang trở gót sông hồ”…..
(Chiều Bến Đợi)
Năm nay, thi sĩ DHA vừa tròn 90 và với hơn 70 năm sinh hoạt trong thế giới thi ca (1947-2020), tuy tuổi đã cao, nhưng bà rất minh mẫn và sáng suốt, bà vẫn làm thơ và hầu như bà đã thuộc lòng từng bài thơ trong 10 thi tập mà bà đã sáng tác và xuất bản. Không những thế bà còn có tài xuất khẩu thành thơ, thể hiện trong ngày 23 tháng 2, 2020, nữ sĩ DHA đã làm sáu câu thơ ngay tại buổi tiệc vinh danh & chúc thọ 90 kỷ niên của bà.
“Chín mươi tuổi trên tay còn ngọn bút,
Nhìn đất trời cao rộng giữa bao la,
Cho tôi viết những gì tôi muốn viết,
Thổi hồn thơ lãng đãng nhớ quê nhà,
Cho tôi thấy mùa xuân đầy nắng ấm
Nắng hồng tươi, tình gửi nước non xa”.
(Trên Tay Ngọn Bút, 2/23/2020)
Bài tạp ghi tường thuật buổi lễ trình làng thi tập của 2 thi sĩ Dương Hồng Ah và Lê Nguyễn Nga, do Kiều My ghi nhận, xin trich đoạnh như sau”
Vị thi sĩ mà chúng tôi muốn nói đến là Lê Trọng Nguyễn Nga, là tác giả của tập thơ LẬT TRANG SÁCH CŨ mà cũng là phu nhân của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và là mẹ của bốn người con. MC Mộng Thủy cho biết thêm: bà là cựu học sinh trường Trưng Vương. Sau đó, bà làm việc cho Hàng Không Việt Nam rồi lập gia đình với nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Khi sang Hoa Kỳ, bà học trường Cal State Los Angeles và tốt nghiệp về kế toán. Sau cùng trước khi về hưu, bà là cán sự xả hội tại thành phố Los Angeles trong một thời gian dài.
Sau giờ văn học, mọi người có vẻ lao xao và vui hẵn lên với hoa hồng tươi và bánh sinh nhật được bày trên chiếc bàn giữa hội trường. Nhân dịp này mọi người tề tựu chúc mừng sinh nhật thứ 92 của nữ sĩ Dương Hồng Anh chung quanh chiếc bánh giữa những hoa hồng vàng, hồng đỏ tươi thắm tròn lẵn như những thiếu nữ tuổi xuân thì. Các bậc trưởng thượng như G.S. Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải lần lượt gửi đến nữ sĩ những lời chúc đầy ý nghĩa. Một cách đặc biệt và bất ngờ, GS. Quyên Di đã đọc bài thơ của NV Kiều My, như những lời ca tụng và cầu chúc tốt đẹp nhất mà KM dành cho nữ sĩ Dương Hồng Anh và Lê Trọng Nguyễn Nga trong một ngày đáng ghi nhớ.
TUỔI VÀNG
Dâng đời bao ý thơ huyền dịu
Theo gió thoảng…ru hồn thi nhân
Thời gian sương rơi trên mái tóc
Tuổi vàng tô thắm mấy cung tơ
Ngây ngất hồn thơ vương nắng úa
Chiều về hoa khép nhẹ bờ mi
Lặng nghe giòng đời hồn thổn thức
Mênh mang nét đẹp… tuổi hoàng hôn
*****
Hồn lạc về đâu? Thi nhân hỡi!
Vần thơ mềm như khúc nhạc êm
Nhạc và thơ như mây với gió
Gió cuốn mây trôi trong nắng vàng
Nắng có phai màu hồn thi sĩ?
hay…
Nắng vẫn lung linh cùng gió mây…
Việt Hải, California June 2022