-
DU LỊCH HAWAII
Khánh Lan & Mạnh Bổng
Quần đảo Hawaii (Tên tiếng Mỹ: Hawaiian Islands, tên cũ: Sandwich Islands, tên tiếng Việt: Quần đảo Hạ Uy Di, là một quần đảo gồm 19 đảo, đảo san hô, cùng nhiều đảo nhỏ và núi ngầm trải theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, nằm ở vùng Bắc Thái Bình Dương giữa các vĩ tuyến 19° và 29° Bắc. Tên của quần đảo được lấy theo tên của hòn đảo lớn nhất trong nhóm là đảo Hawaii. Quần đảo kéo dài từ đảo Hawaii ở phía Nam cho tới rạn san hô Kure ở phía Bắc. Đảo lớn nhất là Big Island, đảo lớn thứ 2 là Oahu và đảo thứ 3 là Maui. Ngoại trừ quần đảo Midway chưa được hợp nhất vào Hoa Kỳ, thì toàn bộ quần đảo Hawaii đã trở thành tiểu bang Hawaii của Hoa Kỳ (tiểu bang thứ 50) vào ngày 21 tháng 8 năm 1959, vị trí tại vùng Bắc Thái Bình Dương cách đất liền 3700 km ở 21°18’41” độ vĩ bắc 157°47’47″độ kinh đông.

Quần đảo Hawaii gồm có tám đảo lớn nằm nối liền nhau trên phía Bắc biển Thái Bình Dương gồm: Niihau, Kauai, Oahu, Molokai, Lanai, Kahoolawe, Maui và Island of Hawaii. Với vẻ đẹp độc đáo, quần đảo Hawaii có một danh hiệu là “thiên đường hạ giới Hạ Uy Di.”
OAHU-HAWAII
Oahu nằm ở bờ biển phía đông nam và là sự kết hợp giữa nét hoang sơ, văn hóa đa dạng với trung tâm chính trị, và lịch sử lâu đời. Oahu Được hình thành do sự phun trào của hai ngọn núi lửa Waianae và Koolau, với đỉnh cao nhất là Núi Kaala. So với Big Island và Maui Island, đảo Oahu chiếm một diện tích khá khiêm nhường (chỉ hơn 1,500 km2), nhưng Oahu Island lại được chọn đặt làm thủ phủ (Honolulu) của quần đảo Hawaii do các vị trí sóng yên gió lặng của nó. Oahu là hòn đảo đông dân với đa số là người gốc Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam và sau cùng là người Đại Hàn.
Oahu là một hòn đảo thuộc Quận Honolulu, tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Hòn đảo này được ngăn cách với đảo Kauai (về phía tây bắc) và đảo Molokai (về phía đông nam) bởi eo biển Kauai và eo biển Kaiwi. Có nguồn gốc hình thành từ núi lửa, Oahu là hòn đảo lớn thứ ba trong quần đảo Hawaii, với diện tích 597 dặm vuông (1,546 km²), đồng thời là nơi sinh sống của số lượng dân cư đông đảo nhất trong quần đảo này. Hai dãy núi chạy song song là dãy Koolau và dãy Waianae, được nối liền với nhau bởi một cao nguyên nằm ở trung tâm đảo. Người Tahiti đã thiết lập các khu định cư lâu dài trên đảo Oahu vào khoảng năm 500 sau Công nguyên.

Năm 1795, Kamehameha I là vua của đảo Hawaii đã chinh phục Oahu và thống nhất toàn bộ quần đảo Hawaii. Năm 1845, kinh đô hoàng gia được dời từ Lahaina (trên đảo Maui) về Honolulu (trên đảo Oahu); Honolulu hiện nay chính là thủ đô của tiểu bang Hawaii. Đến cuối thế kỷ 19, chế độ quân chủ tại đây ngày càng chịu sự chi phối mạnh mẽ của các thế lực ngoại bang. Nữ hoàng Liliuokalani bị lật đổ vào năm 1893 (bà đã thuật lại câu chuyện này trong tác phẩm “Hawaii’s Story by Hawaii’s Queen“, xuất bản năm 1898), và toàn bộ quần đảo Hawaii chính thức bị Hoa Kỳ sáp nhập vào năm 1898.
Oahu là hòn đảo lớn thứ ba và đông dân nhất trong quần đảo Hawaii cũng như của tiểu bang Hawaii thuộc Hoa Kỳ. Thủ phủ của tiểu bang, Honolulu, nằm ở bờ biển phía đông nam của Oahu. Hòn đảo Oahu cùng với các đảo Tây Bắc Hawaii không có người ở hợp thành Thành phố và Quận Honolulu. Vào năm 2024, Oʻahu có dân số là 998,747 người. Oahu có chiều dài 44 dặm (71 km) theo trục đông-tây và rộng khoảng 30 dặm (48 km) tại điểm rộng nhất theo trục bắc-nam. Đường bờ biển của đảo dài 227 dặm (365 km). Nếu tính cả các đảo nhỏ phụ cận như đảo Ford, cùng với các đảo nằm trong vịnh Kāneʻohe và ngoài khơi bờ biển phía đông, diện tích của Oʻahu đạt 596.7 dặm vuông (1,545.4 km²), đưa hòn đảo này trở thành hòn đảo lớn thứ 20 tại Hoa Kỳ.

Các nghiên cứu khảo cổ học sơ khai cho rằng những nhà thám hiểm người Polynesia đến từ quần đảo Marquesas có thể đã đặt chân tới đây từ rất sớm, ngay từ thế kỷ thứ III sau Công nguyên; sau đó có thể là một làn sóng di cư thứ hai đến từ Tahiti vào khoảng năm 1100 sau Công nguyên. Tuy nhiên, các phân tích hiện đại hơn lại chỉ ra rằng những cư dân đầu tiên có lẽ đã đến vào khoảng thời gian từ năm 900 đến 1200 sau Công nguyên. Vị vua vĩ đại đầu tiên của Oʻahu là Maʻilikūkahi, người đặt ra các bộ luật và đã khởi xướng một triều đại kéo dài suốt 304 năm.
Kualiʻi là vị vua đầu tiên thuộc dòng dõi các vị vua hiếu chiến, và ngai vàng sau đó được truyền lại cho các con trai của ông. Vào năm 1773, ngai vàng được trao cho Kahahana, con trai của Elani xứ Ewa. Vào ngày 19 tháng 1 năm 1778, Oʻahu là hòn đảo đầu tiên thuộc quần đảo Hawaii được Thuyền trưởng James Cook phát hiện trong chuyến thám hiểm thứ ba của ông. Đây là cuộc chạm trán đầu tiên được ghi nhận giữa quần đảo Hawaii và những người không thuộc chủng tộc Polynesia. Cook đã bỏ qua Oahu mà thay vào đó cập bến tại Kauai, trước khi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ ban đầu là khám phá bờ biển Bắc Mỹ. Một năm sau đó, vào ngày 27 tháng 2 năm 1779, chỉ huy phó của Cook là Thuyền trưởng Charles Clerke đã trở thành người không thuộc chủng tộc Polynesia đầu tiên được ghi nhận đặt chân đến Oʻahu khi ông cập bến tại Vịnh Waimea. Trước đó cùng tháng, Cook đã bị sát hại tại Vịnh Kealakekua trên đảo Hawaii khi một cuộc tranh chấp với người dân địa phương leo thang thành bạo lực.
Chuyến thăm Oahu của Clerke diễn ra khá ngắn ngủi; hai con tàu thuộc đoàn thám hiểm đã rời Vịnh Waimea ngay trong ngày hôm đó sau khi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nước ngọt. Vào thời điểm Cook đặt chân đến đây, quần đảo Hawaii đang bị chia cắt thành nhiều tiểu quốc (chiefdom) khác nhau và thường xuyên xảy ra chiến tranh. Đến năm 1783, Kahekili II, vua của đảo Maui đã chinh phục và chiếm đóng Oʻahu. Sau đó, ông đưa con trai mình là Kalanikūpule lên làm vua xứ Oahu, biến nơi này thành một quốc gia bù nhìn. Kalanikūpule sau đó đã bị đánh bại trong Trận Nuʻuanu năm 1795 bởi Kamehameha I, người sau đó đã sáng lập nên Vương quốc Hawaii. Quần đảo Hawaii chỉ thực sự được thống nhất trọn vẹn khi Vua Kaumualiʻi dâng nộp hai hòn đảo Kauaʻi và Niʻihau vào năm 1810.
Vào cuối thế kỷ 18, Waikīkī là một khu định cư lớn trên đảo Oahu, đóng vai trò là nơi cư ngụ của Kahekili II sau năm 1783. Năm 1845, Kamehameha III đã dời thủ đô từ Lahaina trên đảo Maui về Honolulu. Sau đó, Vua Kalākaua đã cho xây dựng một dinh thự hiện đại tại Honolulu dành cho hoàng gia, đó là Cung điện ʻIolani, công trình hiện vẫn đứng vững và là cung điện hoàng gia duy nhất còn tồn tại trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Vào tháng 1 năm 1893, một nhóm các doanh nhân hàng đầu người Mỹ đã cầm vũ khí tập kết gần Cung điện ʻIolani và phối hợp cùng lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ từ tàu USS Boston vừa đổ bộ xuống cảng Honolulu, đã phát động một cuộc đảo chính thành công lật đổ Nữ hoàng Liliʻuokalani. Nhóm phiến quân này đã xóa bỏ chế độ quân chủ và thành lập Cộng hòa Hawaii; sau đó, họ đã vận động thành công chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận sáp nhập lãnh thổ này vào Hoa Kỳ.
Các điểm lịch sử quan trọng như Pearl Harbor (Trân Châu Cảng), nơi đã từng nổi tiếng với trận đánh bất ngờ của Nhật Bản trong Thế Chiến II và để lại di tích lịch sử với chiến hạm Arizona ngủ yên dưới lòng vịnh. Di sản hoàng gia tại Cung điện Iolani là nơi ở chính thức của hoàng gia Hawaii cuối cùng, một biểu tượng lịch sử quan trọng. Bishop Museum, Viện Bảo tàng về lịch sử thiên nhiên và văn hóa Hawaii với các hoạt động văn hóa đặc sắc.
Trong thế kỷ 20, Oahu đã trở thành trung tâm của Hạm đội Thái Bình Dương thuộc Hải quân Hoa Kỳ. Oahu là nơi tọa lạc của Trân Châu Cảng, bãi biển Waikiki nổi tiếng khắp thế giới với những bãi tắm tuyệt đẹp, và khu vực North Shore nổi tiếng với bộ môn lướt sóng. Một số địa điểm đáng chú ý khác trên đảo Oahu bao gồm Vịnh Hanauma, một phần của Công viên Khu vực Koko Head vốn rất được ưa chuộng cho hoạt động lặn ống thở (snorkeling), và Diamond Head, một ngọn núi lửa đã tắt và là biểu tượng đặc trưng của hòn đảo. Ngoài Honolulu, các thành phố quan trọng khác trên đảo bao gồm Kailua, Kaneohe và Wahiawa.
TRÊN KHU PHỐ TRÊN KALAKAUA AVENUE & DỌC THEO BỜ WAIKIKI BEACH
April 22, 2026: Du thuyền Celibrity Solstice sẽ không khởi hành cho đến chiều ngày 24 tháng 4, 2026 nhưng chúng tôi đã bay đến Oahu, Hawaii 2 ngày trước và mướn phòng tại Bposhtels Waikiki Reatreat, tọa lạc trên đường Beachwalk với giá $180 một đêm, như vậy giá này cũng khá rẻ so với giá của các Hotel 5, 4 sao gần khu phố chính trên Kalakaua Avenue và nằm dọc theo bờ biển Waikiki.

Kalakaua Avenue: Từ Bposhtels Waikiki Retreat đến bãi biển Waikiki và con đường chính Kalakaua Avenue chỉ mất khoảng 10 phút đường bộ. Kalakaua Avenue là con đường chạy dọc theo bờ biển Waikiki với các quán ăn, tiệm bán nước giải khát (trung bình đến sang trọng), những cửa tiệm bán nữ trang, quần áo, và đặc sản của Hawaii cũng như các cửa hàng Chanel, LV, Prada, Fendi, Dior, Bally, Coach, Gucci, Tory Burch, Versace đều tập trung và trải dài 2 bên Kalakaua Avenue.

Có lẽ khu phố sầm uất Kalakaua hầu như không bao giờ ngủ bởi những ánh đèn sáng rực, bởi những bước chân người nhịp nhàng trên hè phố, bởi tiếng nói cười nhộn nhịp của làn sóng người qua lại. Hình như mọi người đang chìm đắm trong hạnh phúc đón nhận niềm vui và tận hưởng làn gió mát rượi từ biển Waikiki đem lại.

Bãi biển Waikiki: Trước năm 1950, bãi biển ở khu phố Waikīkī trải dài liên tục và được gọi là Bãi biển Waikīkī. Các bức tường chắn sóng và các công trình phát triển khác kể từ đó đã chia bờ biển thành tám bãi biển riêng biệt. Từ năm 1951, gần 2.800.000 feet khối (80.000 m3) cát đã được thêm vào để khôi phục bãi biển trong khu vực. Tính đến năm 2020, các bãi biển trong khu vực vẫn được gọi là “Bãi biển Waikīkī“, Từ Bãi biển Waikīkī, có thể nhìn thấy hoàng hôn trên biển từ giữa tháng 9 đến cuối tháng 3. Ở một khoảng cách nhất định ngoài khơi, nước khá nông, với nhiều đá dưới đáy. Sóng có thể khá mạnh, đặc biệt là vào những ngày gió. Một nửa bãi biển được đánh dấu dành cho người lướt sóng, nơi đây nổi tiếng với những con sóng dài và cuộn tròn, lý tưởng cho lướt ván dài, lướt sóng đôi và người mới bắt đầu. Bãi biển Waikiki nổi tiếng sầm uất và nhộn nhịp với con đường biển dài gần cây số rưỡi.

Duke Paoa Kahanamoku (1890-1968) lớn lên ở Waikiki, ông là người Hawaii chính gốc và là biểu tượng của Hawaii đối với hàng triệu người. Ông trở thành nhà vô địch Olympic và là vận động viên bơi lội nhanh nhất thế giới. Từ năm 1912 đến năm 1932, ông giành được ba huy chương vàng, hai huy chương bạc và được coi là cha đẻ của môn lướt sóng quốc tế. Duke đã giới thiệu môn lướt sóng đến bờ biển phía Đông của Mỹ, châu Âu và Úc. Ông trở thành anh hùng khi cứu nạng sống của 8 người từ một chiếc thuyền bị lật ở Corona del Mar, California năm 1925 bằng ván lướt sóng của mình. Ông còng là một diễn viên điện ảnh từ năm 1925 đến năm 1933, ông được bầu làm cảnh sát trưởng Honolulu trong 13 nhiệm kỳ liên tiếp từ năm 1934 đến năm 1960 và được công nhận là Đại sứ Aloha của Hawaii từ năm 1912. Duke Paoa Kahanamoku đã làm rạng danh tên tuổi của mình, rạng danh chủng tộc của mình, rạng danh tiểu bang của mình và rạng danh tất cả dân chúng sinh sống tại Hawaii.

Bức tượng bằng đồng của Duke Paoa Kahanamoku được đặt ở phía trước của bãi biển Waikiki
Tượng Duke Paoa Kahanamoku là một trong những địa danh mang tính biểu tượng nhất ở Waikiki, Hawaii. Nó đứng sừng sững như một minh chứng cho di sản của vận động viên lướt sóng và bơi lội Olympic người Hawaii, Duke Kahanamoku, người đã phổ biến môn lướt sóng trên toàn thế giới vào đầu thế kỷ 20. Bức tượng tuyệt đẹp này và tầm quan trọng của nó đối với văn hóa Hawaii, từ những đường nét điêu khắc bằng đồng đến vị trí độc đáo của nó trong văn hóa dân gian địa phương, câu chuyện về tượng đài này thể hiện cả ý nghĩa văn hóa và niềm tự hào dân tộc.

Dừng chân nơi quán PINK BIKINI BURGER trên Kalakaua Avenue
Duke marketplace của 40 năm về trước là một khu phố sầm uất và rất đặc biệt bày bán những trang phục màu sắc của người bản xứ, cũng như những gian hàng tràn ngập đồ trang sức, đồ gỗ địa phương, đồ thủ công trên đảo, vòng hoa đeo cổ, quà lưu niệm, v.v… Ngày nay Duke marketplace đã thu hẹp lại rất nhiều và chỉ còn sinh hoạt trên con hẻm nhỏ trên đường Duke (5 Duke Lane) theo phong cách chợ trời. Đây là một địa điểm mua sắm, ăn uống và giải trí ngoài trời mang tính biểu tượng ở trung tâm của Waikiki.

International marketplace (2330 Kalakaua Avenue) gồm nhiều cửa hàng bán lẻ sang trọng và khu ẩm thực toàn cầu, cũng như những buổi trình diễn nhạc sống & hula vào cuối tuần. Khu Chợ Quốc tế (IMP) ở Waikiki được thành lập vào năm 1956 bởi Donn Beach, người sáng tạo ra loại cocktail nổi tiếng Don the Beachcomber, Khu chợ quyến rũ này nhanh chóng trở thành điểm thu hút mọi người, cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập Waikiki thành một khu nghỉ dưỡng và giải trí nổi tiếng. Nguồn gốc và di sản văn hóa bắt nguồn từ lịch sử, Vua William Charles Lunalilo từng sở hữu mảnh đất nơi IMP hiện tọa lạc, và đã tặng nó cho Nữ hoàng Emma, người nổi tiếng với những nỗ lực nhân đạo. Donn Beach đến Honolulu vào giữa những năm 1950, thuê đất từ Quỹ Nữ hoàng Emma, đã mở đường cho việc thành lập Khu chợ Quốc tế vào năm 1956. Khu chợ, với thiết kế độc đáo, bao gồm các hình ảnh đại diện cho những ngôi làng nhỏ tượng trưng cho Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và vùng biển Nam Thái Bình Dương. Vượt qua thách thức của thị trường bán lẻ IMP đã phải đối mặt với những thách thức trong những năm 1990 từ sự xuất hiện của các trung tâm mua sắm và sự thay đổi trong ngành bán lẻ, dẫn đến nhu cầu cần thiết phải tái thiết lớn. Đáp lại, một cuộc cải tạo lớn trị giá 300 triệu đô la vào năm 2016 đã biến IMP thành một điểm đến mua sắm và ăn uống hiện đại trong khi vẫn bảo tồn di sản Hawaii phong phú của nó.

Với lịch sử phong phú, sự đa dạng của các cửa hàng và bầu không khí sôi động, Khu Chợ Quốc tế (International Marketplace) đã trải qua nhiều năm chuyển mình để trở thành một điểm giao hòa văn hóa. Nổi bật với hơn 90 cửa hàng cung cấp sự kết hợp giữa các thương hiệu quốc tế và địa phương. Những gian hàng mái tranh bán đồ lưu niệm, đồ thủ công địa phương và thực phẩm và trái cây vùng nhiệt đới. Khu ăn uống ngoài trời dưới bóng mát của những cây đa ngàn năm hoặc thưởng thức ẩm thực trong không gian sang trọng của những nhà hàng quốc tế. Hay đắm mình trong khung cảnh văn hóa nghệ thuật với các màn biểu diễn múa hula và nhạc sống của các nghệ sĩ trong nhóm Queen’s Waikiki Luau.

Màn biểu diễn múa hula và nhạc sống của các nghệ sĩ trong nhóm Queen’s Waikiki Luau
Khởi đầu với hơn 70 cửa hàng và nhà hàng, bao gồm các thương hiệu nổi tiếng như Saks Fifth Avenue, Tiffany & Co. và Wolfgang Puck’s Steakhouse, IMP đang phát triển mạnh mẽ. Di sản âm nhạc và địa danh văn hóa Vào thời kỳ đỉnh cao, IMP có các câu lạc bộ đêm đón tiếp các nhạc sĩ nổi tiếng như Martin Denny, một nhân vật chủ chốt trong sự kết hợp giữa nhạc jazz và âm thanh rừng rậm được gọi là exotica. Các buổi biểu diễn thường xuyên của ca sĩ Don Ho càng củng cố vị thế của IMP. Mặc dù phải đối mặt với sự xuống cấp và thay đổi chủ sở hữu vào năm 2013, những người bảo tồn văn hóa đã giữ lại những cây đa chính còn nguyên vẹn cho buổi lễ tái khai trương vào năm 2016.

Don Ho (August 13, 1930- April 14, 2007)-Bức tượng của Don Ho là một tác phẩm điêu khắc bằng đồng của Kim Duffett.
Don Ho là một biểu tượng của thời đại âm nhạc và nghệ thuật, Một cậu bé địa phương được yêu mến với giọng hát vàng và trở thành nghệ sĩ giải trí nổi tiếng nhất Hawaii. Don đã giành được sự hoan nghênh và quốc tế biết đến với ban nhạc Aliis tại hộp đêm của Duke ở International Marketplace khi mới khai trương. Don Ho đã làm cho khán giả ở mọi lứa tuổi thích thú với những bài hát đặc trưng như “ Tiny Bubbles” và “I’ll Remember You.” Don Ho đã đưa âm nhạc Hawaii đi khắp nơi trên các hòn đảo ở Hawaii và tạo nên sự thích thú cho người thưởng thức.. Nét quyến rũ của Don khi trình diễn đã khiến cho mọi người yêu mến, thậm chí, từ các thanh thiếu niên cho đến các cụ già đều xếp hàng để hôn Don sau mỗi buổi trình diễn. Ngoài ra, Don cũng thường xuất hiện trong các bộ phim, hoặc như là người dẫn chương trình cho chương trình truyền hình của riêng mình hay tại nhà hàng của anh mang tên Don Ho. Don là hiện thân của Aloha, và là món quà tuyệt vời đã đến với Hawaii.

Những cây đa ngàn năm còn được giữ lại khi IMP tu sửa lại
Duy trì truyền thống với khoảng 90 cửa hàng và hơn 10 nhà hàng, Chợ Quốc tế (International Market Place hay IMP) phục vụ nhiều khẩu vị khác nhau. Trước đây là địa điểm chính của cửa hàng Saks Fifth Avenue, nhưng sự chuyển đổi gần đây của IMP cửa hàng bách hóa này đã chuyển đi nơi khác và nhường chỗ cho cửa hàng Target vào năm 2022. Nằm trên khu đất rộng sáu mẫu Anh thuộc sở hữu của Công ty Queen Emma Land, IMP được quản lý và cho thuê bởi Taubman và CoastWood Capital Group, thể hiện cam kết bảo tồn di sản văn hóa cho các thế hệ tương lai.

Giàn hoa giấy đầy màu sắc đã tô thêm vẻ mỹ miều của khu chợ International Marketplace

Thiết kế ngoài trời của trung tâm, xen kẽ với cây xanh, hoa tím tươi tốt đã tạo ra một bầu không khí mua sắm độc đáo và thư giãn. Một trong những điểm nổi bật của Chợ Quốc tế là cam kết thúc đẩy các sản phẩm thủ công địa phương, nhiều cửa hiệu cung cấp một loạt các mặt hàng độc đáo, từ đồ trang sức và quần áo thủ công đến các sản phẩm thực phẩm địa phương là những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp thể hiện tinh thần của Hawaii và trở thành những món quà lưu niệm hoàn hảo. Chợ Quốc tế hawaii không chỉ là thiên đường mua sắm mà còn là điểm đến lý tưởng cho những người yêu thích thưởng thức các món lạ miệng từ các quốc gia khác. Các lựa chọn ăn uống phản ảnh sự đa dạng của khu chợ, với nhiều món ăn lạ hầu đáp ứng mọi khẩu vị từ các nhà hàng cao cấp như Eating House 1849 của Roy Yamaguchi và các doanh nghiệp địa phương của Hawaii như Kona Grill House đến các địa điểm phục vụ nhanh chóng và bình dân cho những người bận rộn.

Waikiki Culture Center, một công viên nhỏ tọa lạc trên Kalakaua Avenue và nơi lý tưởng cho khách bộ hành dừng chân và thư giãn cũng như cho các trẻ em nô đùa, cho bạn bè gặp gỡ & hàn huyên tâm sự.

Diamond Head là một núi lửa hình nón bằng đá tuff trên đảo Oʻahu của Hawaii. Người Hawaii gọi nó là Lēʻahi hay tạm dịch là trán cá ngừ. Núi lửa này có thể bắt nguồn từ lae (mũi đất, mỏm đá) cộng với ʻahi (cá ngừ) vì hình dạng của đường sống núi giống với hình dạng vây lưng của cây xương rồng lê gai. Tên tiếng Anh của nó được đặt bởi các thủy thủ người Anh vào thế kỷ 19. Diamond Head là một phần của hệ thống các nón, miệng phun và dòng phun trào liên quan đến Chuỗi núi lửa Honolulu, được hình thành bởi các vụ phun trào mới từ núi lửa Koʻolau diễn ra rất lâu sau khi núi lửa hình thành và đã ngủ yên. Những vụ phun trào này đã tạo ra nhiều địa danh nổi tiếng của Oʻahu, bao gồm miệng núi lửa Punchbowl, vịnh Hanauma, Koko Head và đảo Mānana. Giống như phần còn lại của dãy núi lửa Honolulu, Diamond Head trẻ hơn nhiều so với khối núi chính của dãy Koʻolau. Trong khi dãy Koʻolau có tuổi đời khoảng 2.6 triệu năm, Diamond Head được ước tính khoảng 400.000 đến 500.000 năm tuổi.

Công viên Diamond Head nằm trên một hình nón núi lửa Lēʻahi, đây là công viên tiểu bang nổi tiếng nhất ở Hawaii với khung cảnh đẹp như tranh vẽ của nó về Honolulu và Thái Bình Dương, bao gồm những con đường mòn đi bộ đường dài tuyệt đẹp.
Polynesian Culture Center giới thiệu các sinh hoạt văn hóa, âm nhạc và vũ điệu của các thổ dân (Polynesian) từ New Zealand, Fiji, Tonga, Samoa cho đến Hawaii.

Polynesian Cultural Center ghi nhận về văn hoá của các quần đảo. Trung tâm Văn hóa Polynesia rộng 42 mẫu Anh trên Bờ Bắc của Oʻahu. Trung tâm có sáu ngôi làng gồm Hawaii, Fiji, Aotearoa, Samoa, Tahiti, Tonga

Vũ điệu của các thổ dân làng Tahiti
Vào đầu năm 1962, Chủ tịch Giáo hội LDS, ông David O. McKay, đã phê chuẩn việc xây dựng trung tâm phi lợi nhuận này nhằm tạo việc làm và cấp học bổng cho sinh viên tại Đại học BYU-Hawaii, đồng thời bảo tồn văn hóa Polynesia. Nguồn gốc của trung tâm bắt nguồn từ những năm 1940 và 1950, khi các buổi tụ họp bên bãi biển theo phong cách hukilau và luau được tổ chức nhằm gây quỹ để xây dựng lại một nhà nguyện địa phương thuộc Giáo hội LDS – công trình vốn đã bị thiêu rụi trong một trận hỏa hoạn. Bài hát “The Hukilau Song” được Alfred Apaka làm cho trở nên nổi tiếng đã được sáng tác sau chuyến ghé thăm một buổi hukilau tại Lāʻi.e. của chính người nhạc sĩ kiêm ca sĩ đầu tiên thể hiện ca khúc này, ông Jack Owens. Vào tháng 10 năm 1980, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Quảng Đông, ông Tập Trọng Huân, thân phụ của nhà lãnh đạo Trung Quốc đương nhiệm Tập Cận Bình đã đến thăm PCC trong khuôn khổ chuyến công du Hoa Kỳ. Sau loạt vụ tấn công ngày 11 tháng 9, lượng khách tham quan tại PCC đã sụt giảm đáng kể.[9] Đến năm 2004, PCC đã tăng gấp đôi ngân sách quảng bá của mình “nhằm quảng bá các lễ hội âm nhạc, vũ điệu và ẩm thực mang đậm bản sắc địa phương.“
Pearl Harbor (Trân Châu Cảng), một điểm di tích lịch sử về Thế Chiến II giữa Hoa Kỳ và quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản. Ngày 7 Tháng Mười Hai, 1941, quân đội Thiên Hoàng đã bất ngờ tấn công Pearl Habor, mở màn cho quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham dự vào Thế Chiến II. Kết quả của trận tấn công này, chiến hạm Arizona của Hoa Kỳ đang đậu tại đây đã bị quân đội Thiên Hoàng đánh chìm. Hơn 80 năm trôi qua, Arizona vẫn nằm ngủ yên dưới lòng biển.

Tại Pearl Harbor, ngoài dịp thăm chiến hạm Arizona, chúng ta còn có dịp tìm hiểu về thời đế quốc Nhật xâm chiếm thuộc địa và bảo hộ những vùng đất Đông Á và Đông Nam Á trước 1945. Ngày nay, Hawaii được xem như biên giới của Hoa Kỳ nằm về phía Tây Thái Bình Dương và kỹ nghệ quốc phòng tại đây chỉ đứng sau nền kỹ nghệ du lịch.
Hanauma Bay
Quần đảo Hawaii nổi tiếng về núi lửa nên phần lớn những nham thạch ở đây màu đen và sắc bén. Theo các nhà địa chất, trước đây Hanauma và Koko Crater là hai miệng núi lửa đã hoạt động mạnh. Hanauma Bay nằm về phía Đông Nam, một thắng cảnh thiên nhiên, và là một trong số bãi biển nổi tiếng nhất của đảo Oahu. Hanauma Bay là khu vực được hình thành từ các ngọn núi lửa phun trào ra các luồng nham thạch và ngày nay trở thành một bãi tắm tuyệt đẹp với các rặng san hô dưới lòng biển. Trải qua với thời gian, miệng núi lửa Hanauma dần dần lún xuống mặt biển và tạo ra vịnh Hanauma. Đá biển và san hô tại vịnh Hanauma một sắc thái đặc biệt trở thành những nơi sinh sống cho các loại sinh vật dưới biển.

Chùa Byodo-in-Kaneohe được tìm thấy trong Công viên Tưởng niệm Thung lũng. Đền Byodo-in cũng là một trong những ngôi đền Phật giáo đẹp nhất trên thế giới và là ngôi chùa Phật giáo không thuộc giáo phái nào, nằm trên đảo Oʻahu ở Hawaii. Chùa được khánh thành vào tháng 8 năm 1968 để kỷ niệm 100 năm ngày những người Nhật Bản đầu tiên đến Hawaii và cũng là để kỷ niệm 100 năm ngày văn hóa Nhật Bản đến Hawaii. Đền được khánh thành bởi Thống đốc John A. Burns, một người được cộng đồng người Nhật yêu mến vì những cống hiến lâu dài của ông cho sự nghiệp đấu tranh vì quyền lợi của người Nhật trong những năm lãnh thổ của tiểu bang. Người nhập cư Nhật Bản đến Vương quốc Hawaii và sau này là Lãnh thổ Hawaii để làm việc trong các đồn điền mía và dứa. Họ cùng với người Trung Quốc, Philippines, Hàn Quốc, người Hawaii bản địa và người Bồ Đào Nha.
Ngôi chùa Byodo-in là bản sao của một ngôi chùa Phật giáo 900 năm tuổi ở Uji, tỉnh Kyoto, Nhật Bản, một bản sao thu nhỏ của Byōdō-in, một Di sản Thế giới gần thành phố cổ Kyoto, ban đầu là một tu viện được thành lập bởi Fujiwara no Yorimichi vào năm 1052 thời Heian. Trái ngược với niềm tin phổ biến, đây không phải là một ngôi chùa Phật giáo hoạt động theo đúng nghĩa vì nó không có cộng đồng tu sĩ thường trú cũng như không có giáo đoàn hoạt động. Từ năm 2001 đến năm 2007, ngôi chùa đã được trùng tu với tinh thần bảo tồn di sản cổ xưa của Nhật Bản. Đền Byodo-In được xây dựng chủ yếu bằng bê tông (bản gốc bằng gỗ không dùng đinh) vào năm 1968 tại vị trí hiện tại trong Thung lũng.

Đền Byodo-in có phong cảnh ngoạn mục và là phim trường quay của một số bộ phim truyền hình như Hawaii Five-O, Magnum P.I. và Lost.
Bên ngoài là một chiếc chuông hòa bình bằng đồng thau nặng ba tấn. Bao quanh ngôi đền là những ao cá koi lớn có tổng diện tích 2 mẫu Anh (0,81 ha). Xung quanh những ao này là những khu vườn Nhật Bản tươi tốt nằm trên nền những vách đá cao chót vót của dãy núi Koʻolau. Những khu vườn là nơi sinh sống của chim sẻ, công và thiên nga. Ngôi đền có diện tích 11.000 sq ft (1.000 m2). Đền Byodo-In được hàng ngàn tín đồ từ khắp nơi trên thế giới đến thăm và cầu nguyện. Ngoài việc thờ cúng, khuôn viên đền cũng được sử dụng cho đám cưới và các cuộc họp văn phòng.

Bên trong chùa Byodo-In có một bức tượng Phật Hoa Sen cao 18 ft (5,5 m), một bức tượng gỗ mô tả Amitābha.[2] Bức tượng được phủ vàng và sơn mài. Nơi đây nổi tiếng với bức tượng Vairocana. Bức tượng gốc đã bị mất và được thay thế vào năm 1053 bằng một bức tượng gỗ lớn của Phật Di Lặc, một bảo vật quốc gia được chạm khắc bởi nghệ nhân Nhật Bản Jōchō. Bức tượng Phật Di Lặc đứng ở giữa Điện Phượng Hoàng, một bản sao nghệ thuật của Sukhavati, cõi tịnh độ của Phật Di Lặc. Nó được gọi là “Điện Phượng Hoàng” trong tiếng Anh để chỉ hai con chim phượng hoàng dang rộng đôi cánh trên mái chùa. Năm mươi hai bức tượng gỗ của các vị bồ tát vây quanh Phật Di Lặc, đang nhảy múa và chơi nhạc cụ trên những đám mây bồng bềnh.
Friday, April 24, 2026-CELEBRITY SOLSTICE

Celebrity Solstice là con tàu dẫn đầu của lớp tàu du lịch Solstice do Celebrity Cruises, một công ty con của Royal Caribbean Group. Được đóng bởi Meyer Werft ở Papenburg, tàu được hạ thủy vào ngày 10 tháng 8 năm 2008 và được đặt tên bởi giáo sư khoa học hải dương Sharon L. Smith tại một buổi lễ ở Fort Lauderdale, Florida, Hoa Kỳ, vào ngày 14 tháng 11 năm 2008. Thiết kế và xây dựng thuộc Nhà thiết kế du thuyền Martin Francis của Francis Design thiết kế hình dáng bên ngoài của tàu. Kế hoạch tổng thể được hoàn thành bởi Wilson Butler Architects có trụ sở tại Boston. Celebrity Solstice rời Meyer Werft vào ngày 28 tháng 9 năm 2008.
April 24, 2026-CELEBRITY SOLSTICE

CAPTAIN THEODOROS ZAKKAS, HOTEL DIRECTOR SRDJARI AND THE CREW WELCOME GUESTS ABOARD THE RENEWED CELEBRITY SOLSTICE

THE CELEBRITY WAY OF CONSISENT, ELEVATED, HOSPITALITY

Dressing up for a “Evening Chic” dinner

“Smart Casual” dinner

Hawaiian dinner

Và khi nào Khánh Lan “MẬP” cỡ bà này thì sẽ không đi cruise nữa.

April 25, 2026-KAILUA KONA. HAWAII
Kailua thuộc Quận Honolulu, Hawaii, Hoa Kỳ và nằm trong Quận Koolaupoko của đảo Oahu, trên bờ biển của Vịnh Kailua. Kailua thuộc về khu vực tư pháp và vùng đất hành chính truyền thống (ahupuaa) mang tên Koolaupoko. Kailua nằm cách Honolulu 12 dặm (19 km) về phía đông bắc, qua đèo Nuuanu Pali. Trong tiếng Hawaii, Kailua có nghĩa là “hai biển” hoặc “hai dòng chảy“; do sự rút gọn của từ “kai” (nghĩa là “biển” hoặc “nước biển”) và “elua” (nghĩa là “hai”). Tên gọi này được đặt dựa trên sự hiện diện của hai ao nuôi cá trong vùng (Kawainui và Kaelepulu) hoặc hai dòng hải lưu chảy qua Vịnh Kailua. Nơi này thường được gọi đơn giản là Kona (tên gọi mà nó chia sẻ với quận hành chính mà nó trực thuộc), nhưng đôi khi cũng được gọi là Kona Town, và thỉnh thoảng là Kailua.
Vào thế kỷ 19, Kailua-Kona chỉ là một làng chài nhỏ, nhưng vào năm 1820, những nhà truyền giáo Cơ Đốc đầu tiên đã đặt chân đến đây, đồng thời xây dựng các nhà thờ và trường học. Trong giai đoạn cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, khu vực này đã trải qua một đợt bùng nổ về bất động sản và xây dựng. Năm 2014, Khu bảo tồn Rừng Cộng đồng Pālamanui được thành lập tại Kailua-Kona với mục tiêu bảo tồn và gìn giữ các loài cây bản địa của Hawaii.

Kailua-Kona là khu dân cư lớn thứ hai trên đảo Hawaii (sau Hilo) và là khu dân cư lớn nhất ở phía tây của hòn đảo này. Dân số của khu vực này là 50,000 người vào năm 1992. Trong cuộc điều tra dân số năm 2017, dân số đã giảm xuống còn 38,000 người. Đến cuộc điều tra dân số năm 2020, dân số đạt mức 40,514 người. Giai đoạn lịch sử sơ khai dưới triều đại của Vua Kākuhihewa và các vị vua kế vị ông gồm Kanekapu, Kahoowaha, Kauakahiakahoowaha và Kualiʻi, Kailua đã thay thế Waikiki để trở thành trung tâm cư ngụ và hành chính của các vị quân chủ đảo Oahu (*aliʻi nui* của Oahu). Do vậy mà nơi đây có nhiều tàn tích đền thờ cổ xưa, chẳng hạn như những di tích tại Khu Di tích Lịch sử Tiểu bang Ulupo Heiau. Sau thất bại của quân đội Oʻahu trước Vua Kamehameha Đại đế trong Trận chiến Nuʻuanu năm 1795, thủ phủ chính trị kiêm nơi cư ngụ của các *aliʻi nui* (tù trưởng tối cao) vùng Oahu đã được dời từ Kailua về Honolulu.
Bãi biển Bãi biển Kailua có hình lưỡi liềm, dài khoảng 2.5 dặm (4,0 km), với chiều rộng dao động từ 50 đến 150 feet (15 đến 46 m). Đáy biển ngay phía trước bãi tắm thoai thoải dần ra vùng nước sâu quá đầu người và hoàn toàn không có các khối san hô nhô lên. Những đợt sóng từ nhẹ đến trung bình tại đây rất thích hợp cho các hoạt động lướt ván (surfing) và lướt sóng bằng thân người (bodysurfing). Nhờ những luồng gió thổi đều đặn, bãi biển Kailua đã trở thành điểm đến hàng đầu cho môn lướt ván buồm và lướt ván diều. Robby Naish, nhà vô địch thế giới đầu tiên bộ môn lướt ván buồm và là thành viên được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng của Hiệp hội Lướt ván buồm Chuyên nghiệp, là người đã lớn lên tại Kailua. Các hoạt động như chèo thuyền kayak trên biển và chèo ván đứng (stand-up paddleboarding) để khám phá các khu bảo tồn chim biển được bảo vệ nghiêm ngặt gồm Flat Island và Nā Mokulua (thường được gọi phổ biến là “the Mokes”) đang ngày càng trở nên phổ biến.
KAILUA KONA DOCK, PALANI 96740

Du thuyền Celebrity Solstice cập bến cảng Kailua Kona lúc 8:00 giờ sáng, bờ biển tại đây khá nông nên du thuyền phải đậu ngoài khơi và chúng tôi được chuyển xuống những “Tender” nhỏ để vào thành phố. Đây là địa điểm đầu tiên du thuyến Celebrity Solitic dừng lại và sẽ đậu tại đây 2 ngày nên chúng tôi có nhiều thời gian để thăm những thắng cảnh ở đây hơn. Vì thế chúng tôi quyết định sẽ dùng ngày đầu để mua tour và ngày thừ hai còn lại sẽ dạo phố.

Cũng như thường lệ, chúng tôi không mua ship excursions mà mua một private tour với công ty, C. Big Island với giá $120/per person cho 4 1/2 giờ để thăm 4 nơi.
- Kona Coffee Farm, Greenwell
- Saint Benedict’s Painted Church
- Koloka Honolohau National Historical Park
- Honu-Green Sea Turtle

- Kona Coffee Farm, Greenwell Farms
Gia đình Steve and Joanie Wynn là chủ nhân của trang trại Greenwell Farms, họ đến Kona vào cuối tháng 6 năm 2021 và ngay lập tức bắt tay vào một dự án mới. Vì thế, chỉ trong khoảng 3 tháng sau vào tháng 9 cùng năm, họ đã thu hoạch vụ cà phê đầu tiên. Steve và Joanie tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng và hoạt động nông trại bằng cách đầu tư vào các thiết bị như máy kéo mới, máy sấy thương mại, máy băm cành cây, máy rải phân bón và máy phun thuốc.

Kona Earth owners Steve and Joanie Wynn
Steve and Joanie đã mở rộng khu vực chế biến và cải thiện khu vực bảo quản cà phê xanh, bổ sung hệ thống kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm để giữ gìn độ tươi ngon của hạt cà phê xanh. Một thiết bị bổ sung thiết yếu là máy rang Mill City 10K, cho phép họ rang cà phê theo mẻ nhỏ ngay tại chỗ và vận chuyển trực tiếp mang lại cho họ sự linh hoạt tuyệt vời và độ tươi ngon tối ưu khi vận chuyển đến khách hàng. Mặc dù Kona Earth không phải là trang trại hữu cơ (organic farm), nhưng gia đình Wynn áp dụng các phương pháp canh tác bền vững, họ không sử dụng glyphosate (hay còn gọi là RoundUp) trên cây trồng, Steve đã tìm ra được các phương pháp hữu cơ để kiểm soát cỏ dại, sử dụng phương pháp thu gom nước mưa, ủ phân, và sử dụng vật liệu đóng gói.

“Care In Every Cup” là chương trình thiện nguyện của Kona Earth. Chương trình này quyên góp một phần trăm doanh thu từ mỗi lần mua hàng cho tổ chức phi lợi Koohala Center ở Big Island. Tổ chức này thực hiện công việc quan trọng trong việc bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn thương, bao gồm các rạn san hô, rừng mây và cộng đồng nông nghiệp. Gần đây, các khoản quyên góp tập trung vào việc hỗ trợ các nỗ lực bảo tồn rạn san hô tại Vịnh Kahalu’u với Trung tâm Giáo dục Vịnh Kahalu’u và chương trình ReefTeach của trung tâm. Ngoài việc trồng cà phê, trang trại còn trồng thêm loại cây ăn trái khác như soài, avocado, cherry, v.v… và đặc biệt là loại cherry coffee.

2. The Hawaii’s first Painted Church: Saint Benedict Roman Catholic Church, 84-5140 Painted Church Rd., Captain Cook, HI 96704
Giáo xứ Thánh Benedict nằm trên sườn núi của ngọn núi lửa Mauna Loa cao 13,680 feet thuộc Quận Nam Kona, Đảo Hawaii. Giáo xứ trải dài 38 dặm từ biển lên những sườn núi thưa dân cư đến đỉnh núi. Ban đầu, toàn bộ dân cư là người Hawaii sống trong 14 ngôi làng ở Nam Kona, nhưng hiện nay, dân số Công giáo chiếm đa số là người Hawaii và Philippines sống trong 5 ngôi làng. Lịch sử của Giáo hội trong Quận bắt đầu vào đầu năm 1842 khi Cha Joachim Marechal, SS.CC., lúc đó được giao nhiệm vụ chăm sóc cả Quận Nam Kona và Quận Ka’u, Ngài đặt nơi cư trú và nhà nguyện đầu tiên của mình tại làng Kapalelua, nằm trên biên giới của hai Quận. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhờ lòng nhiệt thành và công việc hăng say của Cha Joachim cùng với việc giảng dạy của một số giáo lý viên giáo dân, Giáo hội đã được thiết lập vững chắc ở Nam Kona. Trường học Công giáo đầu tiên trong khu vực được mở tại làng biển Honaunau dưới sự chăm sóc của 2 giáo lý viên, Serapia và Clement Hoki. Các linh mục truyền giáo không sống thường xuyên ở Nam Kona cho đến khoảng năm 1859.

Nhà nguyện ban đầu, nằm trên bờ vịnh Honaunau gần Thành phố Tị nạn trong Công viên Lịch sử Quốc gia, được biết đến với tên gọi Nhà nguyện Thánh Phanxicô Regis. Cha Joachim qua đời đột ngột vào ngày 12 tháng 4 năm 1859. Cha Aloys Lorteau, SS.CC., là người kế nhiệm Cha Joachim đã đến cư trú tại Honaunau và phục vụ ở đó trong 37 năm cho đến năm 1898, Cha Lorteau qua đời trên tàu Maunaloa vào ngày thứ Hai Phục Sinh trên đường đến Honolulu để được chăm sóc y tế và điều trị tại bệnh viện.

Đến giữa những năm 1880, hầu hết người dân Honaunau đã di chuyển khỏi khu vực bãi biển đến vùng đất màu mỡ hơn cách đó khoảng hai dặm trên sườn đồi. Cha John Berchmans Velge, SS.CC., linh mục thường trú thay thế Cha Aloys vào tháng 12 năm 1899, đã chuyển những gì có thể của Nhà nguyện Thánh Phanxicô Regis lên vùng thượng Honaunau. Nhà thờ được Giám mục Gulstan Ropert, SS.CC., làm phép vào tháng 8 năm 1902, và được dâng hiến để tôn vinh Thánh Benedict.

Cha John Berchmans Velge, một họa sĩ tự học đã vẽ những bức tranh tường bên trong nhà thờ
Cha John Berchmans Velge là một người thầy xuất sắc và là một họa sĩ tự học, đã vẽ những bức tranh tường bên trong nhà thờ với những cảnh tượng ấn tượng từ Kinh Thánh, mô tả nhiều chân lý tôn giáo quan trọng. Những bức tranh Kinh Thánh của Ngài nhanh chóng trở nên nổi tiếng, và Nhà thờ Thánh Benedict được biết đến với tên gọi “Nhà thờ được vẽ”. Ban đầu, Cha John Berchmans Velge phác họa hình vẽ trên bản thảo các bức tranh của mình trên giấy và treo chúng lên tường của nhà thờ Thánh Benedict. Từ năm 1902 đến năm 1904, ông vẽ các bức bích họa lên tường của nhà thờ cùng với những trang trí đầy màu sắc đã khiến nhà thờ được biết đến với tên gọi “Nhà thờ được vẽ tranh“. Cha John Berchmans Velge đã thành lập một liên đoàn các nhà giáo lý gồm những người dạy giáo lý và được hướng dẫn tốt, họ được phép mặc một bộ lễ phục đặc biệt gồm áo dài đen đến đầu gối, thắt lưng đỏ, áo choàng đen có viền trắng, và một cây thánh giá trắng thêu trên áo choàng. Bộ lễ phục này lần đầu tiên xuất hiện vào Chúa nhật Phục Sinh năm 1901. Cha John Berchmans Velge chỉ làm việc có 5 năm trước khi trở về Bỉ, nhưng Ngài đã trở lại nhà thờ Thánh Benedict vào mùa hè năm 1904 (theo sổ rửa tội của nhà thờ).

Được thiết kế, xây dựng và vẽ như một nhà thờ Gothic thu nhỏ theo phong cách châu Âu bởi Cha John Berchmans Velge, Nhà thờ Thánh Benedict hiện được coi là khá độc đáo trong lịch sử nghệ thuật Mỹ và được ghi vào Sổ danh sách Di tích Lịch sử Tiểu bang Hawaii và Di tích Lịch sử Quốc gia. Tuy nhiên, vì lý do sức khỏe, Cha John Berchmans Velge phải trở về Bỉ vào năm 1904. Sau đó, Cha Victor Poirer, SS.CC., phục vụ từ tháng 8 năm 1904 đến tháng 7 năm 1905; Cha Charles Louis, SS.CC., từ tháng 1 năm 1906 đến tháng 9 năm 1907; và Cha Gerard Benetren, SS.CC., từ tháng 9 năm 1907 đến tháng 12 năm 1913.
Khoảng năm 1906, nhà thờ Thánh Benedict được khánh thành vào năm 1907, Cha Eugene Oehman, SS.CC., trở thành linh mục quản xứ của Nhà thờ Thánh Benedict vào ngày 7 tháng 12 năm 1913 và phục vụ ở đó trong 37 năm. Trong thời gian làm mục sư, cha Eugene đã chứng kiến bốn vụ phun trào lớn của núi lửa Magna Loa vào các năm 1916, 1919, 1926 và 1950. Trong vụ phun trào và dòng dung nham năm 1926, cha Eugene đã thấy nhà nguyện Thánh Phêrô ở Hoopuloa bị dung nham phá hủy; và trong vụ phun trào năm 1950, nhà nguyện Thánh Tâm Đức Mẹ ở Pahoehoe đã bị dung nham nóng chảy phá hủy hoàn toàn. Cha Eugene đã xây dựng một nhà nguyện Thánh Phêrô mới tại bãi biển Milolii, nhưng hiện nay nhà nguyện này không còn được sử dụng. Trận động đất năm 1950, đi kèm với một dòng dung nham lớn, đã phá hủy nhà thờ Maria Lanakila ở Kealia, được xây dựng vào năm 1860. Cha Eugene Oehman đã tận tụy phục vụ giáo xứ South Kona trong 37 năm, từ năm 1913 đến năm 1951. Vào thời điểm cha Eugene qua đời ngày 14 tháng 6 năm 1951, chỉ còn hai trong số 14 nhà thờ và nhà nguyện được xây dựng trong khu vực vẫn còn được sử dụng, đó là: Nhà thờ Thánh Benedict, Honaunau, và Nhà thờ Thánh Gioan Tẩy giả, Kealakekna.

Giám mục James J. Sweeney đã giao giáo xứ St. Benedict cho Dòng Cha Maryknoll vào tháng 8 năm 1951 và bổ nhiệm Cha Francis G. Kelliher, M.M., làm linh mục quản xứ đầu tiên của Dòng Maryknoll. Ngài phục vụ ở vị trí đó cho đến tháng 7 năm 1959, khi được chuyển đến giáo xứ St. Pigs X, Honolulu. Cha Kelliher đã làm việc chung với trẻ em và đã cải thiện chương trình giáo dục tôn giáo trong giáo xứ. Ngài đã chào đón các Nữ tu Dòng Thánh Gia đảm nhận chương trình giáo dục tôn giáo và làm trợ lý cho ba linh mục trẻ của giáo phận, đó là Cha Bernard J. Eikmeier (từ tháng 9 năm 1952 đến tháng 7 năm 1953); Cha Francis A. Marzen (từ tháng 9 năm 1953 đến tháng 6 năm 1954); và Cha Joseph Silva (từ tháng 9 năm 1954 đến tháng 10 năm 1954). Cha William F. Desmond, M.M., tạm thời đảm nhiệm cho đến khi Cha Charles T. Wilcox, M.M., đến làm trợ lý linh mục vào tháng 2 năm 1955. Ông giữ chức vụ quản lý giáo xứ trong một năm, từ tháng 7 năm 1955 đến tháng 7 năm 1956, khi Cha Kelliher được nghỉ phép một năm tại Hoa Kỳ. Cha Kelliher trở lại Giáo xứ Thánh Benedict vào tháng 7 năm 1956, với sự trợ giúp của Cha Charles J. Schmidt, M.M. Cha Wilcox được chuyển đến Nhà thờ Thánh Joseph, Hilo. Cha Kelliher đã hợp tác chặt chẽ với một nhóm người quan tâm đến việc sửa chữa và bảo tồn các tác phẩm nghệ thuật trong Nhà thờ Thánh Benedict.

Năm 1961, ông Alfred Frankenstein, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc của tờ San Francisco Chronicle, và ông Norman Carlson, nhiếp ảnh gia của ông, thông qua Nhà xuất bản Đại học Hawaii, đã xuất bản một cuốn sách có tựa đề ANGELS OVER THE ALTAR (Thiên thần trên bàn thờ). Cuốn sách kể câu chuyện về nghệ thuật dân gian Kitô giáo ở Hawaii và quần đảo Marquesas thuộc vùng biển Nam Thái Bình Dương. Sách có ảnh màu của tất cả các bức tranh tường tôn giáo của Nhà thờ Thánh Benedict, Honaunau, và Nhà thờ Ngôi sao Biển, Kalapana. Bài báo sau đây về cuốn sách đã xuất hiện trên tờ Hawaii Catholic Herald vào tháng 10 năm 1961. Bài báo này đáng được lưu giữ trong Biên niên sử của Giáo xứ Thánh Benedict.

“Bước vào Nhà thờ được vẽ ở Thượng Honaunau,” Alfred Frankenstein, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc của tờ San Francisco Chronicle, nói, “giống như bước ngược thời gian 500 năm về thế giới của mẹ Francois Villon, người không thể đọc được những lời trong kinh thánh nhưng biết được lời hứa về thiên đường và mối đe dọa của địa ngục thông qua những bức tranh sống động mà bà đã thấy trên tường nhà nguyện của mình.“ Frankenstein là người biên tập văn bản. “Ở đây trên sườn đồi ở Hawaii,” ông viết sau khi thăm nhà thờ, “chúng tôi đã chiêm ngưỡng một góc nhỏ của châu Âu thời trung cổ, không phải được tiếp cận bằng sự giả tạo hay tinh vi, mà tồn tại trong một dòng dõi trực tiếp, đáng kinh ngạc.”

“ĐỊA NGỤC ĐƯỢC VẼ” “Một bên là hình ảnh địa ngục sôi sục được vẽ chính xác như mẹ của Villon đã thấy, và trên các bức tranh khác là Cain giết Abel, Thánh Phanxicô nhận vết thương thánh, và Chúa Kitô từ chối Ác quỷ. Phía trên là một mái vòm Gothic dài, được xây bằng gỗ và định hình gian giữa của nhà thờ. Sáu cột chống đỡ nó, và nơi những cột gỗ này nối với mái vòm, một thủ thuật ngoạn mục của người họa sĩ đã khiến chúng bung ra thành những chiếc lá cọ khổng lồ hùng vĩ nổi bật trên nền trời nhạt.

Điều đáng kinh ngạc nhất là bức tường phía sau bàn thờ, mà sự sáng tạo không được đào tạo bài bản của người họa sĩ đã biến thành hậu cung của một nhà thờ lớn; nó trải dài mãi, với vẻ uy nghiêm Gothic đích thực, và kết thúc bằng một luồng ánh sáng. “Điều được coi trọng nhất là tinh thần không thể diễn tả của nhà thờ, điều mà không một kiến trúc sư nào thiết kế và không một nghệ sĩ nào vẽ nên.” Tất cả bắt nguồn từ một nhà truyền giáo Công giáo người Bỉ, Cha John Berchmans Velge, người đã tái khám phá việc sử dụng hình ảnh hội họa thời trung cổ và đã tạo ra kiệt tác này vào khoảng thời gian từ năm 1899 đến năm 1904. Đi sâu vào cuộc đời của hai vị linh mục John Berchmans Velge và Cha Evarist, những ý tưởng của họ và nguồn gốc các tranh vẽ trong nhà thơ Thánh Benedict, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc Alfred Frankenstein đã khám phá ra một mạng lưới nghệ thuật dân gian Kitô giáo ở các đảo Thái Bình Dương. Nó bắt đầu với tác phẩm của một tu sĩ người Pháp, Michel Blanc, một thợ mộc chuyển sang làm nhà điêu khắc và kiến trúc sư, người đã đến quần đảo Marquesas vào những năm 1860 với đầy ắp những ký ức về nghệ thuật dân gian của quê hương mình. Cha John Berchmans Velge là môn đệ của Tu sĩ Michel, và Cha Evarist là môn đệ của Cha John.

Cha Daniel F. Lenahan, M.M., đã làm linh mục quản xứ của Giáo xứ Thánh Benedict từ ngày 1 tháng 10 năm 1968 đến tháng 4 năm 1973, khi ngài chuyển đến Giáo xứ Thánh Philomena, Honolulu. Cha Thomas J. Prendergast, M.M., đã làm Quản lý giáo xứ từ tháng 4 năm 1973 đến tháng 10 năm 1973, khi ngài được chuyển đến Giáo xứ Truyền Tin, Waimea, Nam Kohala, Hawaii, làm linh mục quản xứ. Cha Ralph W. Sylva, M.M., trước đây là linh mục phụ tá của Giáo xứ Thánh Benedict, đã trở thành linh mục quản xứ của ngài vào tháng 10 năm 1973. Ngài giữ chức vụ linh mục quản xứ trong mười hai năm cho đến tháng 6 năm 1985, khi ngài đã nghỉ hưu.

Trong thời gian làm mục sư, hai sự kiện lớn đã diễn ra. Sự kiện lớn đầu tiên trong thời gian làm mục sư của Cha Sylva là việc ngài trực tiếp hướng dẫn giáo dân xây dựng một trung tâm sinh hoạt cộng đồng đa năng lớn bên cạnh nhà xứ ở Honaunau. Hội trường được xây bằng gỗ đã qua xử lý chống mối mọt. Công trình này rất cần thiết, đòi hỏi nhiều sự hy sinh và hiện đang phục vụ người dân trong mọi hoạt động tôn giáo và xã hội. Sự kiện lớn thứ hai trong thời gian làm mục sư của Cha Sylva là việc tái thiết hoàn toàn Nhà thờ Thánh Benedict, với những bức tranh tường tôn giáo lịch sử vô giá. Vào tháng 7 năm 1981, một nhóm nhỏ giáo dân và người dân cộng đồng đã tập hợp lại để lên kế hoạch phục hồi nhà thờ đã 82 năm tuổi này.
3. Koloka Honolohau National Historical Park

Công viên Lịch sử Quốc gia Kaloko-Honokōhau là một Công viên Lịch sử Quốc gia của Hoa Kỳ nằm ở Quận Kona trên Đảo Hawaii thuộc tiểu bang Hawaii của Hoa Kỳ. Công viên bao gồm địa điểm khảo cổ được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia, được biết đến với tên gọi Khu định cư Honokōhau. Công viên được thành lập vào ngày 10 tháng 11 năm 1978, nhằm mục đích bảo tồn, bảo vệ và giải thích các hoạt động và văn hóa truyền thống của người Hawaii bản địa. Lịch sử Kaloko và Honokōhau là tên của hai trong số bốn ahupuaʻa khác nhau, hay các vùng đất truyền thống từ núi đến biển nằm trong công viên.

Mặc dù vào thời cổ đại, khu vực khô cằn với đá dung nham này được gọi là kekaha ʻaʻole wai (vùng đất không có nước), nhưng sự sống phong phú của sinh vật biển đã thu hút người dân đến định cư trong hàng trăm năm. Kaloko Kaloko (có nghĩa là “ao” trong tiếng Hawaii) là một địa điểm có các ao cá được sử dụng ở Hawaiʻi cổ đại nằm ở phía bắc của công viên. Lần đầu tiên ao này được nhắc đến trong câu chuyện về Kamalalawalu, khoảng 300 năm trước. Bức tường chắn sóng (kuapā) rộng hơn 9.1 m và cao 1.8 m, trải dài 230 m. Được xây dựng bằng tay mà không dùng vữa, góc độ và khoảng cách giữa các viên đá giúp chắn sóng tốt hơn nhiều so với các bức tường chắn sóng bê tông hiện đại. Ao cá ʻAimakapā là một khu vực đất ngập nước quan trọng bảo vệ các loài chim bản địa bao gồm vịt Hawaii (Koloa maoli, Anas wyvilliana), gà nước Hawaii (Fulica alai), cò chân dài Hawaii (Himantopus mexicanus knudseni), diệc đêm mào đen (Nycticorax nycticorax), cùng nhiều loài khác. Khu vực này hiện đang được trồng lại rừng sau khi loại bỏ các loài thực vật xâm lấn không bản địa. Nó đã được thêm vào Sổ Địa điểm Lịch sử vào năm 1978.

Honokōhau Hālau
Honokōhau Honokōhau có nghĩa là “vịnh hút sương” và đề cập đến khu định cư cổ xưa ở phía nam của công viên. Có thể đến khu vực này bằng đường mòn từ trung tâm du khách của công viên hoặc từ đường vào bến tàu nhỏ trên đường Kealakehe Parkway. Các đặc điểm bao gồm loko iʻa (ao nuôi cá của người Hawaii cổ đại), kahua (nền nhà), kiʻi pōhaku (hình khắc trên đá), hōlua (đường trượt đá) và heiau (địa điểm tôn giáo). Bẫy cá ʻAiʻopio là một ao rộng 1,7 mẫu Anh (0,69 ha), với một bức tường đá tạo thành một khu vực nhân tạo dọc theo đường bờ biển cong tự nhiên của một vịnh. Những khe hở nhỏ cho phép cá con từ biển vào, nhưng khi chúng lớn hơn (hoặc khi thủy triều xuống), chúng dễ dàng bị bắt bằng lưới.

Nơi này được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia vào năm 1962 và được thêm vào Sổ Di tích Lịch sử Quốc gia vào năm 1966. Một số đường mòn được phục hồi bao gồm khoảng một dặm của Đường mòn Māmalahoa. Nó được xây dựng vào giữa thế kỷ 19 và phát triển qua nhiều năm thành Đường Vành đai Hawaii bao quanh toàn bộ hòn đảo. Đường mòn ven biển là một phần của Đường mòn Lịch sử Quốc gia Ala Kahakai. Bến cảng Honokōhau cung cấp khu vực hạ thủy cho thuyền độc mộc truyền thống, thuyền đánh cá, các tour lặn biển và lặn ống thở trong khu vực.

Đường mòn Māmalahoa dẫn đến khu biến nông Honu-Green Sea Turtle sinh sống. Rùa Chelonia mydas hay Honu-Green Sea Turtle, chúng là một trong những loài động vật biển mang tính biểu tượng của Hawaii. Honu-Green Sea Turtle sinh sống ở bãi biển trong cùng khu vực của Công viên Lịch sử Quốc gia Kaloko-Honokōhau, vì thế chúng tôi có thể đi bộ xuyên qua khu rừng nhiệt đới (rainforest) khoảng 20 phút là đến bãi biển cạn nơi những con rùa biển Honu-Green sinh sống.
4. Honu-Green Sea Turtle (Chelonia mydas)
Rùa biển xanh (Chelonia mydas), còn được gọi là rùa xanh, rùa biển đen và rùa xanh Thái Bình Dương, là một loài rùa biển lớn thuộc họ Cheloniidae. Nó là loài duy nhất trong chi Chelonia. Phạm vi sinh sống của nó trải rộng khắp các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới với hai quần thể riêng biệt ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, nhưng nó cũng được tìm thấy ở Ấn Độ Dương. Tên gọi này liên quan đến lớp mỡ màu xanh thường thấy bên dưới mai của nó, do thức ăn của nó hoàn toàn là cỏ biển. Màu sắc của mai có màu từ ô liu đến đen, cơ thể dẹt theo chiều lưng bụng của rùa Chelonia mydas được bao phủ bởi một mai lớn hình giọt nước; nó có một cặp vây lớn giống như mái chèo. Nó thường có màu sáng, mặc dù ở các quần thể phía đông Thái Bình Dương, một số phần của mai có thể gần như đen.

Không giống như các thành viên khác trong họ của nó (chẳng hạn như rùa biển đồi mồi) Rùa Chelonia mydas chỉ ăn thực vật. Tuy nhiên, rùa trưởng thành thường sống ở các đầm nông, ăn các loài cỏ biển khác nhau. Giống như các loài rùa biển khác, rùa Chelonia mydas di cư quãng đường dài giữa các khu vực kiếm ăn và bãi đẻ trứng. Nhiều hòn đảo trên thế giới được gọi là Đảo Rùa do rùa Chelonia mydas làm tổ trên bãi biển. Rùa cái bò lên cát biển vào ban đêm, đào tổ và đẻ trứng. Rùa Chelonia mydas con sau khi nở ra, chúng bò xuống nước biển.
Rùa biển xanh (Chelonia mydas), là một loài rùa biển lớn thuộc họ Cheloniidae, chúng sinh sống trải rộng khắp các vùng biển nhiệt đới trên thế giới, với hai quần thể riêng biệt ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, nhưng nó cũng được tìm thấy ở Ấn Độ Dương. Lớp mỡ màu xanh thường thấy bên dưới mai của nó, thức ăn của chúng hoàn toàn là loài cỏ biển, màu sắc của mai có màu từ ô liu đến đen, không giống như các thành viên khác trong họ của nó, chẳng hạn như rùa biển đồi mồi. Cơ thể dẹt theo chiều lưng. Chúng có một cặp vây lớn giống như mái chèo.
Rùa Chelonia mydas được IUCN và CITES liệt vào danh sách loài khan hiếm và có nguy cơ diệt chủng nên chúng được bảo vệ khỏi sự khai thác của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việc thu thập, làm hại hoặc giết chúng là bất hợp pháp và bị cấm. Ngoài ra, nhiều quốc gia có đạo luật quy định để bảo vệ các khu vực mà rùa Chelonia mydas làm tổ. Tuy nhiên, rùa Chelonia mydas vẫn đang gặp nguy hiểm do những sinh hoạt của con người gây ra. Ở một số quốc gia, rùa Chelonia mydas và trứng của chúng vẫn bị săn bắt để làm thức ăn. Đôi khi, nhiều con rùa đã chết vì bị mắc vào lưới đánh cá.

Honu-Green Sea Turtle tìm tìm thấy ở những khu biển nông, giữa các nghềnh đá và ăn những loại cỏ biển quanh vùng.
Những sinh vật hiền lành này thường được bắt gặp đang bơi lội trong nước biển hoặc trong vùng nước nông ven bờ. Sự hiện diện của chúng gắn bó sâu sắc với văn hóa Hawaii, nơi chúng được tôn kính như những biểu tượng của sự may mắn, trường thọ và sự che chở.

Rùa Chelonia mydas được tìm thấy trên khắp thế giới như bờ biển Thái Bình Dương, bờ biển Caribe và Đại Tây Dương của Bắc và Nam Mỹ, Địa Trung Hải và các vùng phía bắc của Ấn Độ Dương. Rùa Chelonia mydas con mới nở ăn cá và thực vật, nhưng sau đó chuyển sang ăn tảo và cỏ biển khi được 5 đến 7 tuổi. Ít thường xuyên hơn, rùa non và rùa trưởng thành có thể ăn các động vật không xương sống như bọt biển và sứa. Tuổi thọ của chúng được ước tính từ 60 đến 70 năm, hay những con trưởng thành có thể sống tới 90 năm trong thiên nhiên. Nhiều hòn đảo trên thế giới được gọi là Đảo Rùa do Rùa Chelonia mydas làm tổ trên bãi biển. Tuy nhiên, rùa Chelonia mydas không đạt đến tuổi trưởng thành về sinh dục cho đến 25 đến 40 năm! Và thời gian sinh sản khác nhau: từ 17 đến 23 năm. Một khi rùa cái có thể sinh sản, nó sẽ quay trở lại địa điểm làm tổ của mình sau mỗi 2 đến 5 năm và đẻ từ 3 đến 9 lứa. Mỗi lứa có từ 75 đến 200 quả trứng, với khoảng cách khoảng 12 ngày giữa mỗi lứa. Sau nhiều tháng đẻ trứng, nó quay trở lại biển để kiếm ăn. Tùy thuộc vào nhiệt độ, trứng có thể nở sau 45 đến 75 ngày; Và những con non thường nở vào ban đêm để di chuyển về phía chân trời sáng nhất là đại dương.

Rùa Chelonia mydas là loài di cư, di chuyển hàng trăm hoặc hàng ngàn con từ khu vực kiếm ăn đến bãi biển làm tổ. Hơn 95% quần thể rùa Chelonia mydas làm tổ ở French Frigate Shoals thuộc Khu bảo tồn biển quốc gia Papahānaumokuākea. Chúng di chuyển đến các đảo chính của Hawaii để kiếm ăn và tắm nắng trên bãi biển. Việc làm tổ và kiếm ăn hạn chế xảy ra ở các địa điểm khác ở Thái Bình Dương như Samoa thuộc Mỹ, Guam và Khối thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana. Khi không di cư, Rùa Chelonia mydas ở lại vùng nước nông như đầm phá, rạn san hô, vịnh và bãi cạn để kiếm ăn và làm tổ dọc theo các bãi biển thoáng đãng, không bị quấy rầy.
April 26, 2026-DẠO PHỐ KAILUA KONA, HAWAII

Sau bữa ăn sáng, chúng tôi lấy Tender ship để vào phố.

Bãi biển Niumalu: Từng là một trung tâm sôi động dành cho hoạt động chèo thuyền ca-nô, bãi cát tại Niumalu (nghĩa là “bóng dừa che mát”) thường được biết đến với tên gọi Bãi biển Kanuha, được che chắn bởi một đê chắn sóng kiên cố, vốn để bảo vệ sự an toàn cho du khách tắm biển tại đây suốt hơn một thế kỷ qua.

Nằm về phía bên trái của Cung điện Hulihe’e là Huiha, một điểm lướt sóng đầy thách thức, đòi hỏi người chơi phải có kỹ năng điêu luyện cùng sự am hiểu tường tận về địa hình và dòng chảy tại khu vực này. Một mỏm đá dung nham pahoehoe nhẵn bóng nằm ngay dưới chân đê chắn sóng được đặt tên theo vị Ali’inui (Tù trưởng Tối cao) “Umi-a-liloa”. Chính Tù trưởng Umi là người đã thiết lập một khu dinh thự hoàng gia tại đây, đồng thời thúc đẩy gia tăng sản lượng lương thực thông qua việc phát triển các ao nuôi cá ven biển và các vùng đất canh tác nằm trên sườn dốc thuộc Hệ thống Canh tác Kona.

Thành phố Kailua đẹp, thơ mộng, sạch và an bình nằm ngay cạnh bờ biển, màu nước biển xanh một màu xanh biếc (dark blue). Cả khu phố như bao phũ bởi những hàng dửa và những bông hoa muôn màu sắc.

Những quán ăn rải rác khắp nơi, khu Kona Inn shopping village bày bán những quần áo, quà lưu niệm, vòng trang sức, v.v…


Cung điện HULIHE’E (Hulihe’e Palace) là một di tích lịch sử được xây dựng vào năm 1838 bởi Thống đốc John Adams Kuakini, một người bạn đồng hành của Kamehameha I và là một trong những thủ lĩnh đầu tiên tiếp nhận lối sống phương Tây. Việc xây dựng Cung điện Hulihe’e đã được hoàn thành vào 1838. Hulihe’e là dinh thự của Thống đốc John Adams Kuakini và là nơi nghỉ ngơi của các gia đình hoàng gia Hawaii. Nhà thờ Moku’aikaua, Cung điện Hulihe’e có chung phong cách kiến trúc tương tự. Vào năm 1884, Vua Kelakaua đã cập nhật Hulihee với ngoại thất lanai mở rộng. Ngày nay, Cung điện được điều hành như một bảo tàng Nữ hoàng Hawaii.

Hulihe’e palace được xây bằng san hô, đá núi lửa và gỗ bản địa, cung điện được trang bị nội thất sang trọng. Hulhee trở thành nơi cư trú của Công chúa Ruth ở Kailua. Nữ thống đốc Hawaii, Vua Kalakaua, đã trang hoàng lại nó để sử dụng làm cung điện mùa hè của mình. Và gần đây nhất, nó thuộc về Hoàng tử Jonah Kalanianaole, đại biểu Hawaii tại Quốc hội. Cung điện được con gái của Hawaii tu sửa lại vào năm 1927 để sử dụng làm bảo tàng.

Nhà thờ MOKU’AIKAUA
Các nhà truyền giáo Boston đã mang Cơ đốc giáo đến Hawaii khi họ đến Kailua vào năm 1820. Moku’aikaua là nhà thờ Cơ đốc giáo lâu đời nhất ở Hawaii. Từ năm 1835 đến năm 1837 các bức tường bên ngoài được thay bằng đá nham thạch và san hô nghiền nát. Đá được chạm khắc để xây dựng nền móng. Nội thất là loại gỗ ‘Ohi’a. Năm 1808, nhà truyền giáo hoed cùng với đồng nghiệp opukaha’ia (henry obookiah) nuôi ý tưởng truyền giáo bởi khi ở New England, họ đã trở thành nhà truyền giáo và đã nhận được một nền giáo dục căn bản tại trường truyền giáo tại cornwall, connecticut.
Sau cái chết bất ngờ của Henry Obookiah, Hopu đã giữ lời hứa sẽ đến hawaii với một công ty truyền giáo đầu tiên và ông đã mang theo phúc âm, dạy chữ quốc ngữ và hỗ trợ Vua Kаменамена trong nhiều vấn đề khác. Từ năm 1820 đến 1825, Hopu một mình phục vụ với tư cách là mục sư của nhà thờ mokunkata, đưa số giáo dân tham dự lên đến 300 thành viên byetbe lime rey, sau đó, ông trở về oaho, dòng công giáo đầu tiên ở hawaii là hopu to henrietta halekti (delia). Trong những năm cuối đời, Hopu từng là phó tế và được mọi người biết đến với cái tên “the faitheul hopu» pono, e ke kauwa maika’l, e malama pono“

Cộng đoàn tín hữu của nhà thờ Mokuaikaua được thành lập từ năm 1820, và tòa nhà hiện tại được hoàn thành vào năm 1837. Lịch sử Cộng đoàn tín hữu này được thành lập lần đầu tiên vào năm 1820 bởi ông bà Asa và Lucy Goodale Thurston, những người thuộc đoàn truyền giáo Cơ Đốc giáo đầu tiên của Mỹ đặt chân đến đây trên con tàu buồm hai cột buồm (brig) mang tên Thaddeus nay được chưng trong nhà thờ.(Tàu Thaddeus thu nhò)
Cộng đoàn tín hữu của nhà thờ đã được Vua Kamehameha II và Nữ Nhiếp chính Kaʻahumanu cấp phép để giảng dạy đạo Cơ Đốc. Tháng 10 năm 1823, họ được tin rằng người dân tại Kailua-Kona đã bắt đầu quan tâm đến những lối sống mới và đã dựng lên một nhà thờ nhỏ bằng gỗ. Công trình đầu tiên tại địa điểm này được xây dựng bằng gỗ ʻŌhiʻa và lợp mái tranh, trên phần đất được Hoàng gia Thống đốc Kuakini cấp, nằm ngay bên kia đường đối diện với Cung điện Huliheʻe.

Cái tên “Mokuʻaikaua” theo nghĩa đen trong tiếng Hawaii có nghĩa là “quận/vùng đất giành được bằng chiến tranh“, có lẽ được đặt theo tên khu rừng trên cao nguyên, nơi người ta đã khai thác gỗ để xây dựng nhà thờ. Sau nhiều lần hỏa hoạn, tòa nhà bằng đá hiện tại đã được xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1835 đến 1837; một phần vật liệu đá được tái sử dụng từ một *Heiau* (đền thờ cổ thuộc tín ngưỡng Hawaii) nằm gần đó.

Nội thất bên trong nhà thờ được trang trí bằng gỗ Koa. Hiện tại Nhà thờ vẫn tiếp tục được sử dụng cho các hoạt động tôn giáo và mở cửa cho công chúng tham quan; tại đây có trưng bày một số hiện vật lịch sử, chẳng hạn như mô hình thu nhỏ của con tàu Thaddeus. Những thành viên đáng chú ý khác trong đoàn truyền giáo đầu tiên đó còn có Mục sư Hiram Bingham I cùng phu nhân. Nhả thờ nằm trong danh sách các địa điểm lịch sử tiểu bang vào ngày 3 tháng 10 năm 1978.
CHỢ NÔNG SẢN (FAMER MARKET)

Cuối phố là khu chợ nông sản do những người dân sống trong nông trại tai Kailua, Kona trồng trọt và đem ra bán. Chợ họp vào ngày cuối tuần và bày bán đủ loại rau, quả, trái cây vùng nhiệt đới như soài, măng cụt, nhãn, dứa, dưa hấu, v.v…

Và chúng tôi cũng mua ủng hộ 1 1/2 pounds nhãn hạt tiêu, giá $5/pound và 1 pounds măng cụt giá $12/pound. Xong ngồi ăn tại chỗ vì chúng tôi không được phép mang trái cây về lại du thuyền. Măng cụt thì không được ngon nhưng nhãn thì thơm, ngọt lịm, hột nhỏ và cơm nhãn rất dầy.
April 27, 2026-BIG ISLAND,
Big Island, Hawaii là hòn đảo lớn nhất ở Hoa Kỳ, nằm ở tiểu bang Hawaii. Đây là hòn đảo cực đông nam của quần đảo Hawaii, một chuỗi các đảo núi lửa ở Bắc Thái Bình Dương. Với diện tích 4.028 dặm vuông (10.430 km2), nó chiếm 63% tổng diện tích đất liền của quần đảo Hawaii. Tuy nhiên, nó chỉ có 13% dân số của quần đảo. Đảo Hawaii là hòn đảo lớn thứ ba ở Polynesia, sau Đảo Bắc và Đảo Nam của New Zealand. Tên chính thức của hòn đảo là Đảo Hawaiʻi để phân biệt với tiểu bang. Nó cũng được gọi là Đảo Lớn, do kích thước của nó so với các đảo Hawaii khác. Trong tiếng Hawaii, hòn đảo đôi khi được gọi là Moku hoặc Keawe.

Theo điều tra dân số năm 2020 là 200,629 người. Thủ đô và cộng đồng lớn nhất của huyện là Hilo. Huyện Hawaiʻi không có thành phố nào được thành lập. Hawaiʻi được cho là đặt tên theo Hawaiʻiloa, một nhà hàng hải huyền thoại người Polynesia được cho là đã khám phá ra hòn đảo này. Các tài liệu khác cho rằng tên gọi này bắt nguồn từ vương quốc huyền thoại Hawaiki, nơi được cho là xuất xứ của một số người Polynesia chuyển đến sau khi chết, hoặc vương quốc của các vị thần và nữ thần. Các nghiên cứu khảo cổ học ban đầu cho thấy các nhà thám hiểm Polynesia từ quần đảo Marquesas hoặc quần đảo Society có thể đã đến quần đảo Hawaii sớm nhất là vào thế kỷ thứ III Sau Công nguyên, có thể với làn sóng thứ hai đến từ Tahiti vào khoảng năm 1100. Tuy nhiên, các phân tích gần đây hơn cho thấy những người định cư đầu tiên đến vào khoảng năm 900–1200 Sau Công nguyên.
Truyền thống truyền miệng cho rằng một trong những người nổi tiếng nhất của Hawaiʻi là ʻUmi-a-Līloa, người đã thống nhất hòn đảo bằng vũ lực. ‘Umi-a-Liloa là con trai ngoài giá thú của Līloa, người cai trị từ Thung lũng Waipiʻo ở quận Hāmākua. Khi Līloa chết, hòn đảo được chuyển cho Hakau, anh trai cùng cha khác mẹ của ʻUmi-a-Liloa. Tuy nhiên, ʻUmi-a-Liloa đã tấn công & giết chết Hakau và giành quyền kiểm soát Hāmākua. Sau đó,ʻUmi-a-Liloa tiến hành chinh phục các quận Hilo, Puna, Kaʻū và Kona, nhưng người dân tại những quận này đã nổi dậy chống lại ʻUmi-a-Liloa. ʻUmi-a-Liloa đặt trụ sở chính phủ mới của mình tại Kailua thuộc quận Kona.

Năm 1779, thuyền trưởng James Cook thực hiện chuyến đi thứ hai đến quần đảo Hawai’i, neo đậu tại vịnh Kealakekua trên đảo Hawaiʻi. Ông đã ở đó vài tuần, gặp gỡ và giao thương với người dân địa phương, đồng thời chuẩn bị tàu thuyền cho chuyến đi dự kiến đến Bắc Cực. Người Hawaii đã đón tiếp ông nồng hậu, coi ông như hiện thân của thần Lono. Đầu năm 1780, Cook khởi hành đi Bắc cực nhưng tàu của ông bị hư hại nặng trong một cơn bão ngay sau khi ra khơi, và ông buộc phải quay trở lại Kealakekua chỉ sau một tuần trên biển. Trong lần neo đậu thứ hai này, một cuộc xung đột giữa người châu Âu và người Hawai’i đã trở nên bạo lực, dẫn đến cái chết của nhiều người ở cả hai phía bao gồm James Cook. Quan hệ hòa bình cuối cùng đã được khôi phục với thủy thủ đoàn của các tàu của James Cook và họ là những người đã rời quần đảo Hawai’i vĩnh viễn vào cuối tháng đó.

Năm 1780, đảo Hawaiʻi được kiểm soát bởi aliʻinui Kalaniʻōpuʻu, một hậu duệ của ʻUmi-a-Līloa khi ông qua đời vào năm 1782, ông đã chỉ định con trai mình là Kīwalaʻō làm người thừa kế. Tuy nhiên, một mối thù giữa Kīwalaʻō và cháu trai của Kalaniʻōpuʻu là Paiʻea Kamehameha đã sớm leo thang thành một cuộc nội chiến. Kīwalaʻō đã tử trận trong trận Mokuʻōhai vào cuối năm đó, khiến quyền kiểm soát hòn đảo bị chia cắt giữa Kamehameha ở phía tây, chú và cố vấn của Kīwalaʻō là Keawemaʻuhili ở phía đông bắc, và người anh cùng cha khác mẹ của Kīwalaʻō là Keōua Kūʻahuʻula ở phía nam. Ba thủ lĩnh, được hỗ trợ bởi tàu thuyền và vũ khí phương Tây, đã chiến đấu bất phân thắng bại trong 8 năm cho đến năm 1790, khi Keōua đánh bại và giết chết Keawemaʻuhili.
Năm 1791, quân của Kamehameha đã giết Keōua tại một cuộc gặp gỡ ngoại giao, để lại quyền kiểm soát Hawaiʻi cho Kamehameha. Kamehameha tiếp tục chinh phục phần còn lại của quần đảo Hawaii, củng cố quyền kiểm soát của mình vào năm 1810 với sự đầu hàng hòa bình của Kaumualiʻi, vua của Kauai. Ông đặt tên cho vương quốc mới của mình, và mở rộng ra là toàn bộ quần đảo, lấy tên là Vương quốc Hawaiʻi. Năm 1822, nhà truyền giáo William Ellis đến Hawai’i và tháng 7 năm 1898, Hawaiʻi và tất cả các đảo Hawai’i đã bị Hoa Kỳ sáp nhập, trở thành Lãnh thổ Hawaii. Năm 1905, việc thông qua Đạo luật Quận đã thành lập Quận Hawaii, cung cấp cho hòn đảo chính quyền địa phương lần đầu tiên kể từ năm 1810.
HILO, BIG ISLAND
Khi du thuyền Celebrity Solstice cặp bến tại Hilo, Big Island, Hawaii, Pier 1 trên 80 Kuhio Street, chúng tôi quyết định mua một private tour với giá $130/per person cho 4 1/2 giờ để đi thăm 5 nơi:
- Richardson Ocean Park (Black sand Beach)
- Liliuokalani Park and Garden
- Hilo Waterfall on Waianuenue Ave, J’ula-upper I’Ihonua
- Kilauea vocano site
- Nahuku Lavatube (Thurson Lavatube)

Hilo là một moku hay quận trên Đảo Lớn Hawaii thuộc Tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Trong hệ thống hành chính hiện tại của Quận Hawaii, moku Hilo được chia thành Quận Bắc Hilo (Hilo ‘Akau) và Quận Nam Hilo (Hilo Hema). Hilo nằm ở phía đông, được hưởng lượng mưa nhiều nên cây cối xanh tươi. Hilo là CDP lớn thứ hai ở Tiểu bang Hawaii và là khu định cư lớn nhất trên đảo với dân số 44,186 người theo điều tra dân số năm 2020. Hilo là thủ đô của Quận Hawaii, và nằm trong Quận Nam Hilo. nhìn ra Vịnh Hilo. Hilo nằm gần hai ngọn núi lửa: Mauna Loa, một ngọn núi lửa còn đang hoạt động và Mauna Kea là ngọn núi lửa không hoạt động.

Nằm ở phía đông bắc của đảo Hawaii, Hilo mang đến vẻ đẹp thiên nhiên ngoạn mục cùng với một thị trấn sôi động. Nằm ở phía đối diện về mặt địa lý của bờ biển Kohala núi lửa, khu vực này được ban tặng những thác nước hùng vĩ, rừng mưa nhiệt đới tươi tốt và những khu vườn hoa nở rộ. Nơi đây cũng là địa điểm của Sân bay Quốc tế Hilo và là điểm dừng chân thuận tiện trên đường đến Vườn Quốc gia Núi lửa Hawaii, cách đó 45 phút về phía nam. Là một khu vực nông nghiệp và đánh bắt cá sầm uất trong thời kỳ đầu, Hilo đã phát triển thành một trung tâm thương mại cho ngành công nghiệp đường mía vào những năm 1800.
Trung tâm thành phố Hilo được xây dựng xung quanh vịnh hình lưỡi liềm và trở thành trụ sở của chính quyền quận. Ngày nay, trung tâm thành phố Hilo là một thị trấn quyến rũ với các bảo tàng viện, phòng trưng bày nghệ thuật, cửa hàng bán lẻ và nhà hàng. Tại Bảo Tàng Viện Lyma, nơi tìm hiểu về những trận sóng thần kinh hoàng suýt nhấn chìm Hilo. Tại Bảo tàng Sóng thần Thái Bình Dương hay Trung tâm Thiên văn ʻImiloa mới xây dựng với ba hình nón titan nổi bật (tượng trưng cho ba ngọn núi cao nhất trên đảo Hawaii: Maunakea, Maunaloa và Hualālai).

Vườn Liliʻuokalani là một nơi nghỉ ngơi yên bình với những ao cá kiểu Nhật, chùa chiền và vườn đá trên diện tích 30 mẫu Anh,
Hilo là nơi có nhiều phong cảnh đẹp như vườn Lili’uokalani, Công viên Bang Sông Wailuku là nơi có thác Waiānuenue (Thác Cầu Vồng) cao 80 feet và thác Peʻepeʻe. Hilo cũng là nơi diễn hành Lễ hội Merrie Monarch, một lễ hội kéo dài một tuần tôn vinh điệu múa hula cổ xưa và hiện đại, diễn ra hàng năm sau Lễ Phục Sinh và cũng là trụ sở của Tập đoàn Hạt Macadamia Mauna Loa, một trong những nhà sản xuất hạt macadamia hàng đầu thế giới.

Dấu hiệu cho thấy người dân đã sinh sống ở các khu vực dọc theo Vịnh Hilo, sông Wailuku và Wailoa trước khi thế giới phương Tây tiếp xúc. Các nhà truyền giáo đã đến khu vực này vào đầu và giữa những năm 1800, thành lập một số nhà thờ, đáng chú ý là Nhà thờ Haili, ở khu vực Hilo hiện đại. Hilo mở rộng khi các đồn điền mía đường ở khu vực xung quanh tạo ra nhiều việc làm mới và thu hút nhiều công nhân từ châu Á, biến thành phố thành một trung tâm thương mại.
Một đê chắn sóng ngang qua Vịnh Hilo được bắt đầu vào những năm 1900 và hoàn thành vào năm 1929. Vào ngày 1 tháng 4 năm 1946, một trận động đất mạnh 7.8 độ richter gần quần đảo Aleutian đã tạo ra một cơn sóng thần cao 14 mét ập vào Hilo 4.9 giờ sau đó, giết chết 160 người. Để đáp ứng hệ thống cảnh báo sớm, Trung tâm Cảnh báo Sóng thần Thái Bình Dương được thành lập vào năm 1949 để theo dõi những con sóng chết người này và đưa ra cảnh báo. Trận sóng thần này cũng đồng nghĩa với sự kết thúc của Đường sắt Hợp nhất Hawaii, và thay vào đó, Đường Vành đai Hawaii được xây dựng ở phía bắc Hilo bằng cách sử dụng một phần nền đường sắt.
Vào ngày 23 tháng 5 năm 1960, một trận sóng thần khác, do trận động đất mạnh 9.5 độ richter ngoài khơi bờ biển Chile vào ngày hôm trước gây ra, đã cướp đi 61 sinh mạng được cho là do người dân không chú ý đến còi báo động. Các khu vực ven vịnh thấp của thành phố trên bán đảo Waiākea và dọc theo Vịnh Hilo, trước đây có dân cư sinh sống, đã được chuyển đổi thành công viên và đài tưởng niệm.
NÚI LỬA TAI HILO, HAWAII

Núi lửa tại Đảo Hawaiʻi phun trào theo thứ tự, ngọn này chồng lên ngọn kia, từ ngọn lâu đời nhất đến trẻ nhất. Những dãy núi lửa gồm Kohala đã tắt, Mauna Kea ngủ yên, Hualālai và Mauna Loa đang hoạt động cũng như một phần của Núi lửa Hawaiʻi Kīlauea nằm trong Vườn quốc gia vẫn còn đang hoạt động. Các nhà địa chất cho rằng một phần của Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi trên sườn phía nam và phía tây của Mauna Loa đã dẫn đến hai ngọn núi lửa Nīnole và Kulani gần như bị chôn vùi bởi Mauna Loa trẻ hơn.
Dựa trên địa hóa học dựa trên các nguyên tố vi lượng và sự khác biệt về đồng vị trong các sản phẩm phun trào của chúng, các núi lửa Hawaii được chia thành hai nhóm. Sự khác biệt này được cho là do hệ thống magma riêng biệt của chúng. Hualālai và Mauna Loa là thành viên của một nhóm, trong khi Kohala, Mauna Kea và Kilauea là thành viên của nhóm còn lại. Vì Mauna Loa và Kīlauea là những núi lửa đang hoạt động nên hòn đảo này đang ngày càng mở rộng do sự phun trào của núi lửa tạo thành. Từ tháng 1 năm 1983 đến tháng 9 năm 2002, dòng dung nham đã tăng thêm 543 mẫu Anh (220 ha) cho hòn đảo. Tuy nhiên, dung nham chảy từ Kīlauea đã phá hủy một số thị trấn, bao gồm Kapoho vào năm 1960 và một lần nữa vào năm 2018, và Kalapana và Kaimū vào năm 1990.

Năm 1987, dung nham đã lấp đầy “Queen’s Bath“, một hồ nước ngọt lớn hình chữ L ở khu vực Kalapana. Thêm 875 mẫu Anh nữa đã tăng từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2018 bởi vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018, với “Khe nứt 8” nằm trong khu dân cư Leilani Estates là nguồn chính của dung nham. Hồ Green là hồ nước ngọt lớn nhất trên đảo, đã bị bao phủ bởi dung nham trong vụ phun trào đó cũng như Công viên Bãi biển Ahalanui và một phần của Công viên Bãi biển Isaac Hale, phần sau bị ngập trong cát đen, khiến bến thuyền không thể sử dụng được. Mauna Loa phun trào ngắn ngủi vào năm 2022 sau 38 năm trước đó. Một số nhà địa chất tin rằng hai ngọn núi lửa dưới biển ở chân đảo là Māhukona ở góc tây bắc của đảo đã bị xói mòn xuống dưới mặt biển Kamaʻeh. Những núi lửa đã và vẫn còn hoạt động như núi núi lửa Halema’uma’u phun vào năm 1933, Kilauea Iki vào năm 1959, Puna vào năm 1955 và Kapoho vào năm 1960.
Great Crack

Dòng dung nham chảy vào Thái Bình Dương tại Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi vào tháng 4 năm 2005, làm cho hòn đảo ngày càng lớn hơn. Vết nứt lớn là một khe nứt dài 8 dặm (13.000 m), rộng 60 feet (18 m) và sâu 60 feet (18 m) trên đảo, thuộc quận Kaʻū. Theo Bộ Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS), Vết nứt lớn là kết quả của sự giãn nở vỏ trái đất do sự xâm nhập magma vào vùng đứt gãy phía tây nam của Kīlauea. Mặc dù cả trận động đất năm 1868 lẫn trận động đất năm 1975 đều không gây ra sự thay đổi đáng kể nào ở Vết nứt lớn, nhưng dung nham đã phun trào từ 6 dặm (10 km) phía dưới của nó vào năm 1823. Các con đường mòn, vách đá và các địa điểm khảo cổ có niên đại từ thế kỷ 12 đã tồn tại gần Vết nứt lớn. Vào tháng 8 năm 2018, bộ Công viên Quốc gia đã mua gần 2000 mẫu Anh (810 ha) đất tư nhân liền kề với Công viên Quốc gia Núi lửa Hawaiʻi, với lý do khu vực này có những đặc điểm địa chất quan trọng cần được nghiên cứu và bảo tồn.
Hilina Slump
Vùng sạt lở Hilina là một phần có thể tích 4,760 dặm khối (19,800 km3) của sườn phía nam đảo Kīlauea đang di chuyển ra xa khỏi đảo. Từ năm 1990 đến năm 1993, các phép đo Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) cho thấy sự dịch chuyển về phía nam khoảng 4 inch (10 cm) mỗi năm. Các phép đo dưới biển cho thấy một “bậc thang” đã hình thành nên một bức tường chắn và bức tường chắn này có thể làm giảm khả năng tách rời thảm khốc. Động đất và sóng thần Vào ngày 2 tháng 4 năm 1868, một trận động đất có cường độ ước tính từ 7.25 đến 7.9 đã làm rung chuyển bờ biển phía đông nam của Hawaiʻi. Đây là trận động đất tàn phá nhất trong lịch sử được ghi nhận của Hawaiʻi. Nó đã gây ra một vụ lở đất trên Mauna Loa, cách Pāhala 5 dặm (8 km) về phía bắc, khiến 31 người thiệt mạng. Một trận sóng thần đã cướp đi thêm 46 sinh mạng. Các làng Punaluʻu, Nīnole, Kāwāʻa, Honuʻapo và Keauhou bị thiệt hại nặng nề. Sóng thần được cho là đã tràn qua ngọn cây dừa cao tới 60 feet (18 m), và ở một số nơi, nó đã tiến vào đất liền xa tới một phần tư dặm (400 mét). Vào ngày 29 tháng 11 năm 1975, một đoạn rộng 37 dặm (60 km) của Hilina Slump đã sụt xuống 11.5 feet (3.5 m) và trượt 26 feet (7.9 m) về phía đại dương.
Sự chuyển động này đã gây ra một trận động đất mạnh 7.2 độ richter và một trận sóng thần cao 48 feet (15 m). Tài sản ven biển ở Punaluʻu đã bị cuốn trôi khỏi móng. Hai người chết được báo cáo ở Halape, và 19 người khác bị thương. Hòn đảo này đã bị thiệt hại do sóng thần gây ra bởi các trận động đất ở Alaska vào ngày 1 tháng 4 năm 1946 và ở Chile vào ngày 23 tháng 5 năm 1960. Trung tâm thành phố Hilo bị thiệt hại bởi cả hai trận sóng thần, với nhiều người thiệt mạng. Ngay phía bắc Hilo, Laupāhoehoe đã mất 16 học sinh và 5 giáo viên trong trận sóng thần năm 1946.
Vào tháng 3 năm 2011, một trận động đất mạnh 9.0 độ richter ngoài khơi bờ biển phía đông Nhật Bản lại tạo ra sóng thần gây thiệt hại nhỏ ở Hawaiʻi. Thiệt hại ước tính đối với các tòa nhà công cộng là khoảng 3 triệu đô la Mỹ. Ở khu vực Kona, trận sóng thần này đã cuốn một ngôi nhà xuống vịnh Kealakekua, phá hủy một câu lạc bộ du thuyền và văn phòng tàu du lịch ở vịnh Keauhou, gây thiệt hại nặng nề ở Kailua-Kona, làm ngập tầng trệt của Khách sạn King Kamehameha, và tạm thời đóng cửa Khu nghỉ dưỡng Kona Village.
Đầu tháng 5 năm 2018, hàng trăm trận động đất nhỏ đã được phát hiện ở Vùng đứt gãy phía Đông của Kīlauea, khiến các quan chức phải đưa ra cảnh báo sơ tán. Vào ngày 3 tháng 5 năm 2018, núi lửa phun trào ở Puna sau trận động đất 5.0 xảy ra trước đó trong ngày, gây ra việc sơ tán các khu dân cư Leilani Estates và Lanipuna Gardens. Một trận động đất có vẻ liên quan với cường độ 5.3 và một trận động đất tiếp theo với cường độ 6.9 đã xảy ra vào ngày 4 tháng 5. Sương mù núi lửa Sương mù núi lửa (vog) có thể bao phủ đảo Hawaiʻi khi Kīlauea hoạt động. Kể từ khi hoạt động núi lửa chấm dứt vào tháng 9 năm 2018, vog phần lớn đã biến mất ở phía tây của hòn đảo. Các cột khí tạo ra một lớp vog mà gió mậu dịch phần lớn đã chuyển hướng về phía bờ biển Kona. Vog có thể gây hại cho sức khỏe của thực vật, con người và các loài động vật khác. Hầu hết các hạt khí dung đều có tính axit và kích thước đủ lớn để có thể lưu lại trong phổi gây tổn thương. Các triệu chứng giống cúm và mệt mỏi nói chung được báo cáo, và đặc biệt rõ rệt ở những người mắc bệnh về đường hô hấp.
Cột khói hơi nước khi dung nham đỏ của Kīlauea chảy vào đại dương. Ba dòng dung nham Waikupanaha và một dòng dung nham Ki chảy vào đại dương. Công viên bãi biển Punaluʻu, một trong những bãi biển cát đen nổi tiếng nhất Bãi biển Punaluʻu (còn được gọi là Bãi biển Cát Đen) là một bãi biển nằm giữa Pāhala và Nāʻālehu trên Đảo Lớn của tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Bãi biển có cát đen được tạo thành từ bazan và được hình thành bởi dung nham chảy vào đại dương, phát nổ khi chạm đến đại dương và nguội đi. Hoạt động núi lửa này nằm trong Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi. Punaluʻu là nơi thường xuyên lui tới của rùa đồi mồi và rùa xanh đang có nguy cơ tuyệt chủng, chúng thường được nhìn thấy đang phơi nắng trên cát đen.
Khu vực bơi lội rất nhiều đá nên có thể gây nguy hiểm. Bãi biển cũng có một lượng lớn nước ngọt ngầm chảy vào, rất lạnh và trông gần giống như xăng pha lẫn với nước. Truyền thuyết kể rằng, vào thời kỳ hạn hán, người Hawaii cổ đại sống trong khu vực này sẽ lặn xuống nước với một chiếc bình để lấy nước ngọt. Trong tiếng Hawaii, puna luʻu có nghĩa là “người lặn xuống lấy nước suối”.

Một loại cây gọi làHapu’u pulu (tree fern) mọc rất nhiều tại Hilo, đó là một loại cây dương xỉ, phía trên của loại cây này được bao phủ bởi một lớp gọi lại pulu (len vàng), lớp pulu giúp bảo vệ sự phát triển của lá non khỏi bị khô. Pulu non cũng hữu ích như một loại thuốc băng bó cho vết thương hay vết trầy xước. Các loại cây khác như coconut, bamboo, banyan, cook pines, cây đa, và Öhi’a lehua (loài cây đầu tiên mọc trên dung nham mới) đã chiếm ưu thế trong hầu hết các vùng đất của hòn đảo.

Tuy nhiên, sự rậm rạp của cây rừng đã là nơi trú ẩn của loài chuột Timatin. Khí hậu ôn hòa của vùng cao Hawaii giúp cho sự phát triển của những cây nhỏ Như Polo là một loại cà phê có quả màu đỏ tươi hoặc màu cam. Oma o là loại hạt được một số người sử dụng như thuốc nhuận tràng. Nhờ có nhiều mưa nên khí hậu thoáng mát,rất thích hợp cho các loài hoa vùng nhiệt đới như Bird of Paradise, Plumeria, Hawaiian Hibiscus, Orchids, v.v…
- Richardson Ocean Park (Black & Green sand Beach)
Bãi biển Richardson (còn được gọi là Công viên Đại dương Richardson) là một công viên thuộc Quận Hawaii, nằm ngay phía đông thành phố Hilo, Hawaii, trên hòn đảo lớn Hawaii (Big Island). Nằm liền kề với nó là Công viên Bãi biển Lele’iwi. Bãi biển tọa lạc gần cuối Đại lộ Kalanianaʻole, tại tọa độ 19°44′5″B 155°0′49″T; đây là nơi Đường Leleiwi dẫn lối đến một khu vực tiếp cận bờ biển chưa được phát triển, vốn được biết đến với tên gọi Công viên Lehia.

The Richardson Beach, the only one black and green sand in Hilo, Big Island of Hawaii

Cái tên Richardson bắt nguồn từ những chủ sở hữu đầu tiên của nơi này là Elsa và George Richardson; ngôi nhà của họ hiện vẫn còn đứng vững tại đó. George Richardson từng là Trưởng thám tử của Quận Hawaii; ông là hậu duệ của Kekuiapoiwa, thân mẫu của Vua Kamehameha I và người chồng thứ hai của bà là Kamanawa. Ông đã nhận được mảnh đất này như một món quà tri ân từ gia đình Malo. Vào năm 1920, khi cả gia đình Malo đều mắc phải căn bệnh thương hàn, Elen là người có triệu chứng nhẹ nhất trong số họ đã đi bộ đến nhà của George Richardson tại Vịnh Reeds để cầu cứu. Richardson là một người mang một phần dòng máu Hawaii và vốn quê ở Kohala thường xuyên chèo thuyền đi đánh cá dọc theo bờ biển Keaukaha và đã trở thành một người bạn thân thiết của David Malo. Khi Elena xuất hiện trước cửa nhà ông với tin dữ, ông lập tức đưa cô lên thuyền của mình và quay trở lại nhà của gia đình Malo. Tại đó, ông tập hợp những thành viên còn lại trong gia đình và đưa họ đến Hilo để nhập viện. Mặc dù đã nỗ lực hết mình, hai người con trong gia đình vẫn không qua khỏi. Sau khi gia đình trở về nhà để tĩnh dưỡng, Richardson vẫn tiếp tục ghé thăm và chăm lo cho họ bằng cách mang đến thuốc men cùng các nhu yếu phẩm khác.

George Richardson in 1951 và ngôi nhà của ông trên Richardson Beach
Ông Malo cảm thấy vô cùng biết ơn Richardson, tin rằng nếu không có sự giúp đỡ của Richardson, có lẽ ông Malo đã mất đi cả gia đình mình. Khi đã hoàn toàn bình phục, ông Malo ngỏ ý mời Richardson xây dựng một ngôi nhà ngay trên phần đất của gia đình Malo nếu ông muốn, và hãy coi mảnh đất đó như chính tài sản của mình. Richardson đã chấp nhận lời đề nghị này, và vào đầu những năm 1920, ông đã cho xây dựng một ngôi nhà lớn trên khu đất đó. Ông Malo đã giúp thiết kế ngôi nhà, và khuyên nên bố trí những cánh cửa lớn ở cả mặt trước lẫn mặt sau của ngôi nhà để tạo thành một lối thông, giúp dòng nước có thể chảy xuyên qua khi xảy ra các đợt sóng lớn vào mùa đông hoặc sóng thần.

Ngôi nhà của gia đình Richardson trước khi trở thành Trung tâm Đại dương Richardson. Những cửa sổ lớn được thiết kế để cho phép nước chảy qua nhà.
Thiết kế này thực sự đã cứu ngôi nhà thoát khỏi sự tàn phá trong nhiều lần; thay vì bị dòng nước cuốn trôi đi, ngôi nhà lại để cho nước biển chảy xuyên qua lòng nhà. Ngày nay, bãi biển Richardson là một công viên công cộng, còn ngôi nhà tại đây hiện có người sử dụng và được vận hành như là Trung tâm Đại dương Richardson (Richardson Ocean Center). Richardson Beach là bãi biển duy nhất trong khu vực Hilo sở hữu cả cát đen lẫn cát xanh. Hải cẩu và rùa biển cũng thường xuyên lui tới khu vực này.

2. Liliuokalani Park and Garden
Công viên Liliʻuokalani là một công viên rộng 24.14 mẫu Anh (97.700 m²) bao gồm các khu vườn kiểu Nhật, tọa lạc trên đường Banyan Drive tại Hilo, trên đảo Hawaiʻi. Khu đất xây dựng công viên được Nữ hoàng Liliʻuokalani hiến tặng, nằm ở phía đông nam trung tâm thành phố Hilo, trên Bán đảo Waiakea thuộc Vịnh Hilo. Phần lớn diện tích công viên hiện nay bao gồm các khu vườn kiểu Nhật mang phong cách thời Edo được xây dựng trong giai đoạn 1917–1919 và được cho là quần thể vườn kiểu Nhật lớn nhất nằm ngoài lãnh thổ Nhật Bản.

Khu vườn này bao gồm Hồ Waihonu, cùng với các cây cầu, ao hồ, tháp, tượng đài, cổng Torii và một trà thất kiểu Nhật. Các công viên và điểm tham quan gần Vịnh Hilo và trung tâm thành phố Hilo,

Công viên trông rất nhiều loại cây như cây cọ, cây đa cổ thụ, cây dừa kiểng, v.v…

3. Hilo Waterfall on Waianuenue Ave, J’ula-upper I’Ihonua


4. Kilauea vocano
Kīlauea là một ngọn núi lửa đang hoạt động nằm trên quần đảo Hawaii. Nó tọa lạc dọc theo bờ biển phía đông nam của Đảo Hawaii. Ngọn núi lửa này có niên đại từ 210,000 đến 280,000 năm và đã vươn cao lên trên mực nước biển khoảng 100,000 năm trước. Kể từ khi con người bắt đầu định cư trên quần đảo này, Kīlauea luôn là ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất trong số năm ngọn núi lửa cùng tạo nên hòn đảo, đồng thời cũng nằm trong số những ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất trên Trái Đất.

Đợt phun trào gần đây nhất bắt đầu vào tháng 12 năm 2024, với những đợt phun trào dung nham và dòng chảy diễn ra ngắt quãng, kéo dài sang tận năm 2026. Kīlauea là núi lửa trẻ thứ hai và hiện là trung tâm phun trào của chuỗi núi ngầm Hawaii–Emperor. Do thiếu sự nổi bật về mặt địa hình và các hoạt động của nó trong lịch sử thường trùng khớp với hoạt động của Mauna Loa, Kīlauea. Kīlauea sở hữu một hõm chảo lớn, mới được hình thành tương đối gần đây tại đỉnh núi, cùng với hai vết nứt gãy đang hoạt động. Một vết kéo dài 125 km (78 dặm) về phía đông và vết kia kéo dài 35 km (22 dặm) về phía tây. Một vết nứt gãy đang hoạt động với độ sâu chưa xác định di chuyển theo phương thẳng đứng trung bình từ 2 đến 20 mm (0,1 đến 0,8 inch) mỗi năm.

Bắt đầu từ tháng 5 năm 2018, hoạt động phun trào đã dịch chuyển xa hơn xuống phía dưới vết nứt gãy, rời khỏi khu vực đỉnh núi để chuyển sang vùng hạ Puna; trong giai đoạn này, dung nham đã phun trào từ khoảng hai tá miệng phun, tạo nên những cột dung nham cao vút và tuôn chảy thành những dòng sông dung nham đổ thẳng xuống đại dương tại ba địa điểm khác nhau. Vụ phun trào đã phá hủy hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất tại Hawaii, bao phủ những phần đáng kể của khu dân cư Leilani Estates và Lanipuna Gardens, đồng thời xóa sổ các cộng đồng Kapoho, Vacationland Hawaii và hầu hết khu Kapoho Beach Lots. Chính quyền Quận Hawaii báo cáo rằng đã có 716 ngôi nhà bị phá hủy. Song song với các hoạt động diễn ra ở vùng hạ lưu thuộc khu vực Puna phía dưới, hồ dung nham nằm trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu đã cạn kiệt, và một loạt các sự kiện sụp đổ kèm theo tiếng nổ dữ dội đã xảy ra tại đỉnh núi lửa; trong đó, ít nhất một vụ nổ đã phun cột tro bụi cao tới 30.000 feet (9.100 m) lên bầu trời. Hoạt động này đã dẫn đến việc phải đóng cửa khu vực Kīlauea thuộc Vườn Quốc gia Núi lửa Hawaii trong suốt nhiều tháng liền. Vụ phun trào kết thúc vào tháng 9 năm 2018. Kể từ năm 2020, một số vụ phun trào đã diễn ra bên trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu—vốn đã mở rộng đáng kể sau các sự kiện sụp đổ năm 2018 cũng như dọc theo các đới nứt gãy ở phía tây nam và phía đông của ngọn núi lửa này.

Về mặt địa hình, Kīlauea chỉ xuất hiện như một khối nhô lên ở sườn phía đông nam của Mauna Loa; chính vì thế, trong nhiều năm liền, Kīlauea từng được cho là chỉ là một vệ tinh đơn thuần của người láng giềng khổng lồ này, chứ không phải là một ngọn núi lửa độc lập. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong vài thập kỷ qua đã chứng minh rõ ràng rằng Kīlauea sở hữu hệ thống dẫn dung nham (magma) riêng biệt, vươn lên tới bề mặt từ độ sâu hơn 60 km bên trong lòng Trái Đất. Trên thực tế, đỉnh của Kīlauea nằm trên một đường cong nối liền các ngọn núi lửa, bao gồm Mauna Kea và Kohala, nhưng lại không bao gồm Mauna Loa. Nói cách khác, mối quan hệ giữa Kīlauea và Mauna Kea cũng tương tự như mối quan hệ giữa Kama‘ehuakanaloa (trước đây gọi là Lō‘ihi) và Mauna Loa vậy. Kaluapele là hõm chảo đỉnh của núi lửa Kīlauea.
Nằm bên trong Kaluapele, Halemaʻumaʻu (thường là một miệng hố chứa các lỗ thông hơi hoạt động liên tục) được coi là nơi cư ngụ của Pelehonuamea (Pele của đất đỏ), một thế lực sáng tạo nguyên thủy trong tín ngưỡng Hawaii, thường hiện thân dưới dạng dòng dung nham nóng chảy màu đỏ. Người châu Âu đầu tiên đặt chân lên đỉnh núi là nhà truyền giáo William Ellis vào năm 1823; kể từ đó, các tài liệu ghi chép bằng văn bản về những đợt phun trào mới bắt đầu xuất hiện. Kaluapele từng là tâm điểm của các hoạt động núi lửa diễn ra gần như liên tục trong suốt thế kỷ 19 và những năm đầu của thế kỷ 20. Kīlauea hiện được xếp vào hàng những ngọn núi lửa hoạt động mạnh mẽ nhất trên thế giới. Kể từ năm 1952 đến nay, Kīlauea đã trải qua hàng chục đợt phun trào. Từ năm 1983 đến năm 2018, hoạt động phun trào diễn ra gần như không ngừng nghỉ dọc theo Vùng đứt gãy phía Đông của ngọn núi lửa này, tập trung chủ yếu tại các lỗ thông hơi Puʻuʻōʻō và Kupaianaha.

Tại khu vực đỉnh núi, một lỗ thông hơi nằm bên trong Halemaʻumaʻu đã duy trì một hồ dung nham sôi sục cùng cột khói khí khổng lồ bốc lên dữ dội trong suốt giai đoạn từ năm 2008 đến 2018. Vào năm 2018, chuỗi hoạt động liên tục kéo dài suốt 35 năm tại Vùng đứt gãy phía Đông này cuối cùng đã khép lại. Một đợt xâm nhập magma vào vùng Khe nứt phía Đông hạ lưu đã dẫn đến sự sụp đổ và chấm dứt hoạt động của hồ dung nham tại Puʻuʻōʻō, đồng thời làm cạn kiệt hồ dung nham trên đỉnh núi tại Halemaʻumaʻu.

Một trong những kẽ nứt sau khi phun lửa

Một số du khách cho rằng đây là một kẽ nứt linh thiêng nên đã biến nó thành một “wishing vocano crack”, hố nứt này có hơi nóng phía đáy rất mạnh và dễ bắt lửa.

Những sự kiện này đã gây ra một đợt phun trào dữ dội từ vùng Khe nứt phía Đông hạ lưu, kéo theo sự sụp đổ bên trong Kaluapele, hiện tượng đã làm mở rộng và gia tăng độ sâu của Halemaʻumaʻu. Kể từ tháng 12 năm 2020, một loạt các đợt phun trào trên đỉnh núi diễn ra bên trong Halemaʻumaʻu đã dần lấp đầy khu vực bị sụp đổ này. Trong năm 2024, hoạt động núi lửa đã dịch chuyển ra khỏi lòng chảo caldera, với một đợt xâm nhập và phun trào tại vùng Khe nứt phía Tây Nam, cùng nhiều đợt xâm nhập tại vùng Khe nứt phía Đông thượng lưu, cũng như một đợt phun trào tại vùng Khe nứt phía Đông trung lưu. Kể từ ngày 23 tháng 12 năm 2024, một đợt phun trào đã diễn ra ngắt quãng bên trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu trên đỉnh núi.

Sự dâng trào từ trong lòng núi lửa đã tạo ra các hạt khí dung nhan thạch có tính axit và kích thước đủ loại từ lớn đến nhỏ. Thảo mộc và cây cối không không thể tồn tại và sinh sống trên vùng này được.

Trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2018, Halemaʻumaʻu, một hố trũng nằm bên trong hõm chảo đỉnh núi của Kīlauea đã chứa đựng một hồ dung nham đang hoạt động. Kīlauea đã phun trào gần như liên tục từ các miệng phun nằm trên vết nứt gãy phía đông của nó trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1983 đến tháng 4 năm 2018; đợt phun trào này đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, bao gồm việc phá hủy hoàn toàn các thị trấn Kalapana và Kaimū cùng bãi biển cát đen trứ danh của cộng đồng dân cư nơi đây vào năm 1990.

Loại dung thạch này có trọng lượng nhẹ như giấy, màu đen sắc xám xen lẫn ánh xanh (green) và vàng (golden) nên trông rất đẹp. Những viên đá nhan thạch này là vật quốc cấm và được bảo vệ. Tuy nhiên, không ai dám lấy cắp chúng vì theo lời truyền miệng từ người dân sống trong vùng này rằng: “Nếu một ai lấy cắp những viên đá nhan thạch này thì sẽ gặp những điều không tốt (xui xẻo) xảy ra cho chính mình hay gia đình, v.v…“
Vụ phun trào tháng 1 năm 1960 tại Núi lửa Kapoho
Vào ngày 12 tháng 1 năm 1960, cư dân của Kapoho đã trải qua hơn 1,000 trận động đất nhỏ làm rung chuyển khu vực. Các vết nứt sâu xuất hiện trên đường phố gây nhiều. Vụ phun trào bắt đầu vào đêm ngày 13, ngọn núi lửa Kapoho đã phun trào dung nham ra giữa một cánh đồng mía ngay phía trên Kapoho. Mặc dù dòng dung nham chính chảy ra biển, một nhánh nhỏ di chuyển chậm chạp tiến về phía thị trấn Kapoho. Bất chấp những nỗ lực của người Pháp nhằm chuyển hướng dòng dung nham bằng các rào chắn đất hoặc làm cứng nó bằng cách phun nước, nhưng vào ngày 28 tháng 1 dòng dung nham đã tràn vào và chôn vùi thị trấn. Gần 100 ngôi nhà và cơ sở kinh doanh cũng như một khu nghỉ dưỡng suối nước nóng đã bị phá hủy.

Ngọn hải đăng Cape Kumukahi ở phía đông thị trấn vẫn còn nguyên vẹn và tiếp tục hoạt động, nhưng nhà ở của người gác hải đăng đã bị phá hủy. Từ năm 1960 đến năm 2018, có rất nhiều rặng san hô xuất hiện tại các hồ thủy triều liên kết với nhau ở Kapoho. Sau đó, không có hoạt động dung nham nào ở Kapoho trong gần 60 năm. Các hồ thủy triều tự nhiên, bãi biển cát đen và suối nước nóng ấm áp đã biến Kapoho thành một địa điểm hấp dẫn để sinh sống. Do hai yếu tố này, Kapoho đã trở thành khu vực đắt đỏ nhất để sinh sống ở Puna, với nhiều ngôi nhà có giá trên 1,000,000 đô la.

Vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018 vào ngày 4 tháng 6 năm 2018, dòng dung nham từ một vết nứt cách bờ biển 16 km (10 dặm) về phía đất liền (từ trên cùng bên phải) cắt ngang qua các ngôi nhà của Vacationland và Kapoho Beach Lots, và bắt đầu lấp đầy các vũng thủy triều và Vịnh Kapoho. Vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018 đã làm gián đoạn nguồn điện ở Kapoho vào cuối tháng 5 và đóng cửa con đường chính dẫn đến phần còn lại của hòn đảo. Vào ngày 30 tháng 5, cư dân được khuyến cáo di tản. Vào ngày 1 tháng 6, dòng dung nham tràn vào Kapoho trên dòng dung nham năm 1960 và sau đó chuyển hướng về phía nam. Vào ngày 2 tháng 6 năm 2018, Hồ Ka Wai o Pele đã bị phá hủy khi dòng dung nham làm bốc hơi. Dòng dung nham tràn vào đại dương tại Vịnh Kapoho vào ngày 4 tháng 6 trên một mặt rộng nửa dặm (800 m). Một số lượng nhà không xác định đã bị phá hủy bởi dung nham vào ngày 4 tháng 6, nhưng phần lớn vẫn còn đứng vững. Đến ngày 5 tháng 6, dòng dung nham đã tạo ra một đồng bằng dung nham kéo dài gần 3,700 feet (1,1 km) vào vịnh.

Các quan chức Quận Hawaiʻi cho biết hàng trăm ngôi nhà trong các khu dân cư của Vacationland Hawaii và Kapoho Beach Lots đã bị phá hủy bởi dòng dung nham đang tiến nhanh. Ngôi nhà của Thị trưởng Đảo Hawaii Harry Kim, mà ông đã mua vào năm 1971, nằm trong số hàng trăm ngôi nhà bị phá hủy. Trong vài ngày tiếp theo, toàn bộ vịnh bị lấp đầy bởi dung nham, và vào ngày 6 tháng 6, Cơ quan Phòng vệ Dân sự Quận Hawaii báo cáo rằng một vài ngôi nhà còn lại ở Vacationland đã bị xóa sổ. Một khu dân cư liền kề, khu Kapoho Beach Lots cũng bị ngập dung nham và phần lớn bị bao phủ, cùng với các hồ thủy triều Kapoho cũng như Vịnh Kapoho và các ao Champagne gần đó.

Kapoho trở thành một khu vực không có người ở, chưa được hợp nhất bởi sự phá hủy của vụ phun trào của Kīlauea vào năm 1960, nhưng sau đó, nó đã được xây dựng lại thành một cộng đồng gồm các ngôi nhà tư nhân và nhà cho thuê nghỉ dưỡng. Thị trấn lại bị phá hủy bởi dung nham trong vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018, lần này vịnh cũng bị chôn vùi phần lớn bởi dung nham.

Đến cuối tháng 6, khoảng 520 mẫu Anh (2,1 km2) đất mới đã được tạo ra dọc theo hàng ngàn đường bờ biển mới.
5. Nahuku Lavatube (Thurston Lava Tube)

Thám hiểm Thurston Lava tube mất khoảng 12 ml or .8 km vừa đi vừa về qua những khu rừng nhiệt đới (Rainforest) bao phủ bởi nhiều loại cây lớn và thảo mộc khác nhau như Hapa’u pulu, Ohi’a lehua, ‘Oha, v.v…

Nahuku Lavatube (Thurston Lava Túbe), là đường ống ở bên trong của những núi lửa còn hoạt động (inside an active volcano), tuy nhiên, đường mòn trong ống dễ đi, nếu đi bộ mất khoảng 20-30 phút, ở cao độ 50ft hoặc 15m.

Dòng điện trung tâm nhanh giữ cho độ nóng trong khi di chuyển trong ống.


Các ống dung nham này được tạo thành trên dòng dung nham, gần nguồn những dòng sông dung nham lớn chảy theo các kênh tự nhiên do chính chúng tạo ra. Khi bề mặt nguội đi, đỉnh của lớp vỏ chảy xuống và phủ lên hai bên, giống như khi băng sơn đóng băng trên 2 bên của dòng sông. Lớp vỏ cuối cùng kết hợp và cách nhiệt dòng chảy bên trong. Sau khi dòng dung nhan phun trào dừng lại, dung nham thường chảy ra từ ống và để lại ống dẫn trống bên dưới bề mặt. Khi xuyên qua lớp vỏ ống đang hoạt động, chúng ta sẽ nhận thấy: dòng dung nham phát sáng di chuyển dọc theo ở nhiệt độ vượt quá 2000° F (1.090 ° C). Nhiệt bức xạ của nó tan và chảy qua các bức tường bên trong để tạo thành nahuku (đá nhũ đá) từ đá nóng chảy.

Những làn khói trắng do sự quá nhiệt của dòng dung nhan chảy thổi qua đường hầm, tạo nên âm thanh như những tiếng rít nhẹ liên tục, không ngừng của dòng chảy. Sau mỗi vụ dung nham phun trào, phải mất khoảng một năm để ống hạ nhiệt.

Tận cùng của con đường mòn Nahuku Lavatube

ĐƯỜNG MÒN KILAUEA IKI, 1.2 m. ĐI BỘ ĐƯỜNG DÀI vừa đi vừa về là 4m,
VOLCANO HOUSE

Khi tòa nhà volcano house lần đầu được khai trương vào năm 1846. Volcano House đã tổ chức một buổi đi bộ đường dài gồm các nhân vật nổi tiếng trên thế giới như Mark Twain, Robert Louis Stevenson, Amelia Earhart, Louis Pasteur (21 tháng 1 năm 1853) và Franklin Delano Roosevelt (Tổng thống Hoa Kỳ, ngày 25 tháng 7 năm 1935). Tuy nhiên, do sự phát lửa của ngọn núi lửa Pelehonuamea, chương trình đành phải hủy bỏ. Nhưng sau đó, Nữ hoàng Liliuokalani, (người trị vì vào thời điểm Vương quốc Hawaii bị lật đổ vào năm 1893) đã có mặt tại Vocano house ngày 14 tháng 5 năm 1891 và Kaläkaua, (vị vua cuối cùng của Hawaii) cũng đã có mặt tại đây tháng 8 ngày 30th, 1874 đã say đắm với vẻ đẹp của Kilauea.
Tòa nhà 1877 hiện đóng vai trò là Núi lửa, xây theo phong cách phương Tây bởi William. Louis Pasteur, Nhà khoa học, ngày 21 tháng 6 năm 1883 và Amelia Earhart, Phi công, ngày 7 tháng 1 năm 1935 là 2 vị khách danh dự cuối cùng được mời đến thăm Vocano House. Công chúa Lili’uokalani đã chứng kiến sự khởi đầu của vụ phun trào Mauna Loa năm 1880 từ Núi lửa
Năm I921, Công ty tàu hơi nước Interisland mua lại Vocano House và mở rộng với một cánh hai tầng, tăng số phòng từ 25 lên 104. Đến năm 1932 do cuộc đại suy thoái, George Lycurgus đã mua Vocano House với giá 300 đô la và giao cho Lycurgus làm quản lý cho đến năm 1959. Khách mời đặc biệt gồm Công chúa Victoria Kaulani, Tổng thống Franklin D. Roosevelt, Amelia Earhart, Phó Tổng thống Charles W. Lần này, Vocano house được xây bằng một loại gỗ bản địa, các mối nối không có nốt đinh và rất là công phu, ván lợp gỗ tái chế từ California.
Ngày 7 tháng 2 năm 1940: Volcano House bị thiêu rụi do hỏa hoạn nhà bếp. George Lycurgus ủy quyền cho kiến trúc sư Charles W. Dickey xây lại một khách sạn mới, khai trương ngày 8 tháng 11, 194I ở rìa miệng núi lửa. Khách mời là Dwight D. Eisenhower, Harry S. Truman, Tiến sĩ Charles W. Mayo, John F. ennedy, Richard Nixon.
CELEBRITY SOLSTICE ENTERTAINMENTS
Celebrity Solstice có những màn giải trí rất độc đáo vào mỗi tối khiến cho những ngày dài lênh đênh trên biển trở thành lý thú và không bị nhàm chán. Mở đầu với một dàn chào của các nhân viên làm việc trên du thuyền bao gồm vị thuyền trưởng, Captain Theodoros Zakkas.

Forever Whitney Featuring by Nina Skyy: Theo sau là màn trình của ca sĩ Nina Skyy. Trong khi kể câu chuyện tuyệt vời về danh ca Whitney Houston, Nina Skyy với giọng ca diêu luyện, cô đã kết hợp tiếng hát của cô một cách khéo léo vào những bài ca khúc mà Whitney Houston vẫn thường hát khi còn sinh thời như The Bodyguard, I will always love you, v.v… Đây là một chương trình tràn đầy năng lượng, cảm xúc, truyền cảm hứng và sâu lắng, khiến ở mọi lứa tuổi phải trầm trồ và đây cũng không phải là một chương trình tưởng niệm thông thường về Whitney Houston.


Hawaii Folkloric Show: Đây là một hành trình từng đoạt giải thưởng âm nhạc, bài hát và điệu nhảy của vũ đoàn Tahiti. Đoàn nghệ sĩ địa phương bày với tài năng và trang phục đầy màu sắc, chân thực khi họ chia sẻ di sản phong phú của Tahiti.

Gồm các thanh thiếu nữ tuổi từ 30 đến các em nhỏ ở lứa tuổi 5 hoặc 6 tuổi. Nhưng các em bé này vũ rất diêu luyện (kể cả múa bụng & mông) không kém gì các anh chị lớn trong đoàn, điều này chứng tỏ cho một sự luyện tập rất công phu và có bài bản.

Celebrity Showtime: Rockumentary: Ban nhạc và các vũ công của Celebrity Solstice đã làm sống lại những màn trình diễn huyền thoại đã định hình nên các thập kỷ và cùng hòa mình vào những bản top-hits yêu thích. Buổi hòa nhạc sôi động này mang đến năng lượng không ngừng nghỉ và sẽ gây sự thích thú cho những người hâm mộ âm nhạc, từ người trẻ đến những người có tâm hồn trẻ trung.

Wayne Cotter comedy’s show: Là một nghệ sĩ truyền hình kỳ cựu và là gương mặt quen thuộc lâu năm của David Letterman và Jay Leno. Wayne thậm chí còn bắt đầu sự nghiệp với Johnny Carson. Với vẻ tươi mới, thông minh, hài hước và dí dỏm, anh ta đã làm sôi động bất kỳ sự kiện nào.
Candlelight Concert: Tri ân những nghệ sĩ huyền thoại của dòng nhạc rock kinh điển tại buổi hòa nhạc ấm cúng dưới ánh nến lung linh. Những bản nhạc bất hủ được các nhạc công của du thuyền celebrity Solstice tái hiện lại sẽ mang đến trải nghiệm âm nhạc như thể đang hát lại những bài hát yêu thích lần đầu tiên.

Dueling Pianos: Đó là những bài hát country music về tình yêu, những bản nhạc chia tay đã tạo nên một đêm tràn ngập cảm xúc, kịch tính và những khoảnh khắc hát vang từ tận đáy lòng. Hãy cùng bắt đầu một hành trình âm nhạc mà thính giả cùng tham gia tạo nên trong Giờ Yêu Cầu Biểu Diễn Dueling Piano cùng với nhạc công.

Celebrity Showtime: Broken Strings: Buổi biểu diễn âm nhạc sống động đầy sôi nổi, khẳng định sức mạnh của tình bạn, tiếng cười và âm nhạc. Hãy cùng chúc mừng sinh nhật của mọi người với dàn nhạc và tận hưởng dàn diễn viên xuất sắc trong hành trình âm nhạc đầy cảm xúc và sự kết nối của tình yêu.

ABBA Sing-Along Party: Mời tất cả các nữ hoàng và ông vua khiêu vũ cùng tham gia một đêm nhạc ABBA đình đám. Hãy cùng nhảy và hát theo những bản nhạc kinh điển trên màn ảnh rộng trong bữa tiệc âm nhạc thập niên 70 sôi động này để tôn vinh nhóm nhạc pop huyền thoại ABBA.

Mind reading show by illusionist Jeremy Tan: Ảo thuật gia Jeremy Tan, người có khả năng đọc những suy nghĩ của người khác. Anh là một ảo thuật gia tài ba nhất Singapore, anh sẽ biểu diễn những màn ma thuật và đọc suy nghĩ đáng kinh ngạc. Jeremy thể hiện những kỹ thuật ảo thuật đỉnh cao cho thấy việc đối mặt với một kẻ gian lận bài thực thụ sẽ như thế nào.

Celebrity Solstice showtime: A night of Broadway: Một đêm nhạc kịch Broadway sẽ thắp sáng sân khấu với những bản hit kinh điển của Broadway và West End.

Hành trình từ những tác phẩm kinh điển thời hoàng kim đến những thành công âm nhạc đương đại sẽ được các ca sĩ và dàn nhạc của Nhà hát mang đến, một buổi lễ thân mật tôn vinh sự kỳ diệu của nhạc kịch.

Vocalist Drew Pournelle: Là một ca sĩ “world-class vocalist” đến từ thành phố New York, anh từng mở màn cho ngôi sao nhạc đồng quê Sara Evens và chia sẻ sân khấu với Sandi Patti và The Osmonds. Drew Pournelle đã chinh phục khán giả bằng giọng hát mạnh mẽ với phong thái trình diễn đầy cuốn hút. Drew Pournelle mang đến một màn tri ân đầy thăng hoa dành cho những âm thanh huyền thoại của thập niên 70 và 80. Với giọng hát đầy nội lực cùng phong thái trình diễn đầy lôi cuốn, anh đã tái hiện sống động những bản hit bất hủ từ Toto, Chicago, Rick Astley, Journey và Poison. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những ca khúc sôi động tràn đầy năng lượng và những bản ballad trữ tình bay bổng, khó quên.

Tribute to James Taylor: Hãy cùng nghệ sĩ guitar solo Ge Luz tận hưởng một đêm nhạc đầy cảm xúc và những bài hát lay động lòng người khi anh tri ân những ca khúc bất hủ của James Taylor. Cùng hát theo và trải nghiệm toàn bộ kho tàng âm nhạc của ca sĩ kiêm nhạc sĩ huyền thoại James Taylor.

Celebrity Solstice Showtime: Smoke & Ivories: Đến với Smoke & Ivories, âm nhạc năm 1956 và hãy sẵn sàng bước vào thế giới của những điệu nhảy tap-dance,

Những màn nhào lộn trên không ngoạn mục và những giọng hát “world class vocals” xoay quanh cây đàn piano đang đánh trực tiếp bởi pianist.



Một đêm tôn vinh âm thanh huyền thoại của thập niên 50.


Zumba

Dạy múa chachacha, tango, swing

Silent Disco and Disco never die

May 02, 2026-Officer’s Farewell Soirée: Hãy cùng Captain Theo và các sĩ quan của tàu Celebrity Solstice tham dự buổi tiệc chia tay đặc biệt vào đêm cuối cùng trên du thuyền, tạo sự kết nối với đội ngũ lãnh đạo thân thiện và tận tâm khi họ chia sẻ lòng biết ơn và cùng nhau ghi dấu khoảnh khắc này bằng một bức ảnh chia tay.

Khánh Lan & Mạnh Bổng, California May 2026

-
DU LỊCH COSTA MAYA & COZUMEL (MEXICO) VÀ NASSAU (BAHAMAS)
Khánh Lan & Mạnh Bổng

Trước khi lên du thuyền Celebrity Constellation, du lịch 10 ngày từ tháng 3 ngày 22, 2026 đến tháng 3 ngày 29, 2026, khởi hành từ Tampa, Florida, chúng tôi đã vào internet để tìm xem Tampa có gì vui để ghé thăm và đã tìm thấy 3 địa điểm rất thú vị, đó là: Tampa Riverwalk, vườn xoài Tampa và chợ đêm Tampa. Và để có thể thăm cả 3 nơi này, chúng tôi quyết định đến Tampa 4 ngày trước khi lên du thuyền.
TAMPA, FLORIDA
Năm 1824, ngay sau khi Hoa Kỳ tiếp quản vùng Florida từ tay Tây Ban Nha. Tiền đồn quân sự Pháo đài Brooke tại cửa sông Hillsborough đã thu hút một lượng nhỏ cư dân, dân sự đến định cư tại khu vực, và thị trấn Tampa chính thức được thành lập vào năm 1855. Quá trình phát triển diễn ra khá chậm chạp, do hệ thống giao thông kém, những xung đột với bộ lạc Seminole, cùng các đợt bùng phát dịch sốt vàng da liên tiếp đã gây nhiều trở ngại cho công cuộc xây dựng.

Tiền đồn quân sự Pháo đài Brooke tại cửa sông Hillsborough
Cuộc Nội chiến Hoa Kỳ và giai đoạn tái thiết sau đó đã khiến chính quyền thành phố phải tạm ngừng hoạt động trong suốt hơn một thập kỷ. Vào những năm 1880, việc xây dựng các tuyến đường sắt đầu tiên do Henry B. Plant khởi xướng đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp xì gà và phốt phát. Sự ra đời của Ybor City, một khu phố tập trung chủ yếu vào ngành sản xuất xì gà do Vicente Martinez-Ybor thành lập năm 1885 đã kéo theo một làn sóng nhập cư ồ ạt với hàng ngàn người Cuba, Tây Ban Nha, Ý và nhiều dân tộc khác đổ về đây sinh sống. Dân số của Tampa đã tăng vọt từ chưa đầy 800 cư dân vào năm 1880 lên hơn 15.000 người vào năm 1900, đưa thành phố này trở thành một trong những đô thị lớn nhất và thịnh vượng nhất tại Florida.

Tampa Riverwalk, Florida
Đà tăng trưởng này tiếp tục kéo dài sang đầu thế kỷ 20; trong giai đoạn này, Tampa đã vươn mình trở thành một trung tâm tài chính, thương mại và giao dịch hiện đại. Đây cũng là thời kỳ chứng kiến sự ra đời của Lễ hội Cướp biển Gasparilla đầu tiên; sự kiện phi công tiên phong Tony Jannus thực hiện chuyến bay khai trương cho hãng hàng không St. Petersburg-Tampa Airboat Line. Đây là hãng hàng không thương mại chở khách đầu tiên trên thế giới; và sự trỗi dậy của tội phạm có tổ chức, trở thành một yếu tố có ảnh hưởng lớn đối với đời sống xã hội tại địa phương.

Quá trình phát triển của Tampa lại tiếp tục khởi sắc sau một giai đoạn khựng lại do ảnh hưởng của cuộc Đại khủng hoảng kinh tế và Chiến tranh Thế giới thứ hai. Dân số thành phố đã vượt mốc 100.000 người vào những năm 1930, đạt hơn 250.000 người vào những năm 1950, và cán mốc 300.000 người vào những năm 1990. Diện tích lãnh thổ của Tampa cũng không ngừng được mở rộng theo thời gian. Ban đầu chỉ bao gồm một phần khu vực trung tâm thành phố. Trong suốt thế kỷ 20, thành phố đã sáp nhập các khu vực chưa được tổ chức hành chính thuộc Quận Hillsborough và hợp nhất với một số cộng đồng lân cận đáng chú ý nhất là Ybor City (năm 1887), Fort Brooke (năm 1907), West Tampa (năm 1925), Sulphur Springs (năm 1953), Palma Ceia (năm 1953), Port Tampa (năm 1961) và New Tampa (năm 1988).
Ăn tối tại Sunda New Asian Restaurant

Với nhiều món ngon và rượu ngọt


Thịt heo quay đặc biệt do cô chiêu đãi viên của nhà hàng giới thiệu

Bánh bao nhân thịt gà

Taco chay, nhân đậu hũ chiên dòn

Nào cùng nâng ly………Không say không về...

Dạo phố Tampa

- TAMPA RIVERWALK

Điểm đầu tiên chúng tôi đến thăm là Tampa Riverwalk

Tampa Riverwalk tọa lạc tại địa chỉ 200 N. Ashley Dr., Tampa, FL 33602, cách Quality Inn nơi chúng tôi mướn để nghỉ chân trước khi lên du thuyền khoảng 10 phút lái xe. Tampa Riverwalk là con đường dành cho người đi bộ dài khoảng hơn 4km, dọc theo sông Hillsborough ở trung tâm thành phố Tampa, Florida. Tampa Riverwalk được thành lập năm 1989, trải qua hơn 37 năm phát triển với sự đóng góp của nhiều đời thị trưởng.

Dự án được khởi xướng nhằm kết nối khu vực Channel District với trung tâm thành phố. Tampa Riverwalk được xây dựng và mở rộng qua nhiều thập kỷ, biến một khu vực công nghiệp cũ thành không gian công cộng sầm uất.

Cảng bán vé cho du thuyền trên sông, $35 cho mỗi người, cho cả ngày.

Ngày nay, Tampa Riverwalk đã trở thành tâm điểm văn hóa kết nối các công viên, bảo tàng, nhà hàng và các khu vực nổi tiếng như University of South Florida Park, Curtis Hixon Park và Armature Works. Hiện nay Tampa Riverwalk là điểm đến hàng đầu, đạt danh hiệu #2 Riverwalk tốt nhất quốc gia năm 2025 theo USA Today.

Tampa Riverwalk không chỉ là một lối đi, mà là “trái tim” kết nối các hoạt động văn hóa, giải trí và ẩm thực ven sông của thành phố.

Từ trái sang phải: Quốc Dân, Kim Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Ái Liên, Lâm Dung, Khánh Lan

Các địa điểm văn hóa và lịch sử nổi bật kết nối các địa điểm như Công viên Curtis Hixon, Bảo tàng Nghệ thuật Tampa, Bảo tàng Trẻ em Glazer, và Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Straz.

Historical Monument Trail: Tuyến đường đi bộ có các bức tượng đồng và đá cẩm thạch vinh danh lịch sử Tampa, bao gồm 30 nhân vật lịch sử được đặt hình từ 2012 đến 2017, nằm giữa Tampa Bay History Center và Armature Works.

The Gold Star Families Memorial Monument, a tribute to families and relatives.

Đài tưởng niệm Gia đình Sao Vàng (Gold Star Families Memorial), Tượng đài trang trọng tưởng nhớ dành cho những người đã mất người thân trong quân ngũ với ý nghĩa này làm tăng thêm chiều sâu cho đặc điểm của công viên như một nơi tưởng niệm và tôn kính.

Tôn vinh sự phục vụ quân đội (Honoring Military Service) là một không gian tưởng niệm thể hiện sống động thông qua các bảng thông tin và tượng đài được thiết kế chu đáo, kể về câu chuyện lịch sử và tầm quan trọng hiện tại của Căn cứ Không quân MacDill. Những yếu tố này mang đến khoảnh khắc kết nối với di sản quân sự của Tampa.

Ngắm cảnh xong, đồng hồ chỉ 12:30 trưa, kiến đã bắt đầu kêu gào trong bụng nên chúng tôi rủ nhau đến một nhà hàng Mexican food để dùng cơm trưa.

Thực đơn thật hấp dẫn với taco salad,

Taco đậu hũ ngon và rất lạ, fish taco

Tampa Riverwalk về đêm tuyệt đẹp nhưng rất tiếc chúng tôi đã không ở lại để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thành phố do bàn tay và khối óc nghệ thuật tuyệt mỹ mà con người đã tạo ra nó.

Hotel Alba on the otherside of Tampa Riverwalk

- VƯỜN XOÀI TAMPA
Tọa lạc tại địa ch chỉ 9023 Lake Sunset Dr. , Tampa, Fl 33626 do một gia đình người Việt Nam làm chủ hơn 10 năm nay. Đây là khu vườn trồng cây ăn trái vùng nhiệt đới như: xoài, mận, vú sữa, nhãn, ổi, su bô chê, mang cầu, mít, v.v… và bỏ mối cho tất cả khắp nơi trên nước Mỹ.

Theo như anh Tuấn, chủ nhân của vườn xoài Tampa, sau khi hoạt động được 7 năm, năm 2022, anh Tuấn cho ra mắt cộng đồng khắp nơi trên nước Mỹ với một trung tâm bán thức ăn, trái cây tùy theo mùa.

Thực đơn nổi tiếng với món gà nướng muối ớt, ngoài ra còn có các món khác như: cá nướng da giòn, nem nướng cuốn bánh tráng, các loại bún, xôi gấc , v.v…

Gà nướng muối ớt ngon tuyệt, $60 một con

Nem nướng, $35 một phần

Bây giờ là cuối mùa xuân nên những cây cối trong vườn chỉ mới đâm chổi non. Hai loại trái cây duy nhất hiện tại là nhãn và trái sa bô chê (hồng xiêm).

Anh tuấn cho biết những loại trái cây khác như: vú sữa, xoài, ổi, cóc thì phải đợi đến tháng 6, tháng 7 hoặc tháng 8 mới có. Trong chuyến du lịch này chúng tôi có gặp rất nhiều gia đình lái xe từ các tiểu bang rất xa đã đến thăm vườn xoài Tampa. Anh Tuấn cho biết, vườn cây ăn trái bắt đầu mở cửa đón khách thập phương từ đầu tháng 3 cho đến tháng 11.

Toàn thể khu vườn xoài được trang trí rất trang nhã theo kiến trúc của người Việt Nam. Nào là hồ cá Koi, hòn non bộ, chòi lá, hồ phun nước, võng nằm nghỉ xả hơi, xe xích lô đạp,v.v…

Khiến cho 6 chúng tôi (Lâm Dung, Ái Liên, Quốc Dân, Kim Hương, Khánh Lan mê man, chìm đắm trong phong cảnh hữu tình.… và dĩ nhiên những chiếc iPhone bị bắt buộc làm việc “ overtime” …

Hồ cá Koi


Cây cóc và trái cóc nè…nhìn thấy mê chưa….


Dưới mái tranh trong vườn

Ta vui ta đi lang thang

Hồ phun nước và “Cô Ký Điệu”

Và ngồi ngắm cảnh

- CHỢ ĐÊM TAMP
Chợ Đêm Tampa (Tampa Asian Night Market) là khu chợ đêm ẩm thực Việt Nam và Châu Á nổi tiếng tại 4401 W Cypress St, Tampa, FL 33607.

Chợ đêm họp ngay tại bãi đậu xe trường Jefferson High School. Chợ mở cửa cuối tuần (thứ 7 & CN, từ 5-10 giờ tối).

nổi bật với các món ăn vặt, BBQ, bún, ốc, bánh tráng trộn, bún chả, bánh cuốn, cơm cháy, chè, mía đá, trà sữa, v.v…có khoảng 10-15 gian hàng và là địa điểm ưa thích của cộng đồng người Việt địa phương.

Gian hàng cơm cháy của anh Hoàng, anh vừa nấu ăn giỏi lại hát hay

Gian hàng bán bánh bao, bánh bèo, bánh nậm, v.v…

Gian hàng bán các món nướng than như gà xiên, khoai tây chiên, bánh tráng trộn, v.v…

Gian hàng bán nước mía
Không khí tại chợ đêm thêm phần nhộn nhịp nhờ có tiết mục karaoke. Đôi song ca Lâm Dung & Ái Liên cũng đã góp tiếng hát của mình với những ca khúc nổi tiếng như Ô Mê Ly. Tiếng vỗ tay vang dội sau mỗi bài hát do 2 chị trình diễn và đã làm dạng danh với biệt hiệu ”Những con chim sơn ca trong vườn hoa NVNT & TTG” mà nhà văn Dương viết Điền đã tặng cho chúng tôi.

Hai con chim sơn ca của vườn hoa văn nghệ NVNT & TTG, Lâm Dung & Ái Liên

Chụp hình cùng “Ông Bầu Karaoke”, Anh Toàn, em trai ông “Founder Chợ Đêm Tampa”
Anh Toàn tâm sự, anh yêu ca hát từ thuở nhỏ, do đó khi lớn lên và khi hội đủ khà năng về tài chánh, anh đã tậu cho mình một chiếc xe Van và máy Karaoke thứ “Xịn“, rồi lái xe đi khắp mọi tiểu bang trong Hoa Kỳ để trình diễn qua chủ đề “Hát cho nhau nghe“. Anh Toàn hát rất hay và hát được nhiều thể loại.
DU THUYỀN CELEBRITY CONSTELLATION

Tháng 3 ngày 22, 2026 du thuyền Celibrity Conselation nhổ neo tại Port Tampa Bay, ra khơi đem theo 2,700 hành khách và gần 1.000 nhân viên phục vụ trên tàu.

Ngắm thành phố gần cảng Tampa Bay trên boong tàu


Trên boong tàu...gió rất mạnh muốn bay cả nón

Sánh bước với … “Người Yêu” ….
AT SEA:
Là những lúc diện quần áo đẹp để đi chụp hình…

Là những chương trình ca nhạc với Totally ’80S party. Đặc biệt là ABBA Sing-Along Party: mời du khách tham gia và cùng hát những ca khúc kinh điển trên màn hình lớn, mang đậm phong cách thập niên 70 đầy sôi động nhằm tôn vinh nhóm nhạc pop huyền thoại này. Disco Never Dies: Hãy phủi bụi đôi giày khiêu vũ và diện thật lộng lẫy để sẵn sàng cho một đêm ngập tràn ánh kim sa, những bước nhảy điệu nghệ cùng nhịp điệu disco sôi động không ngừng nghỉ! Hãy cùng tham gia sự kiện “Disco Never Dies” để tận hưởng một đại tiệc khiêu vũ đầy thăng hoa!

Tập thể dục lành mạnh với stress release class, swiming, dancing tại deck 11.

Hay thưởng thức chương trình nhạc thính phòng, song tấu guitar, hoặc cụng ly cùng bạn bè tại những quán rượu

Hay là rủ nhau đi xem comedy show do Comedian Andrew Sleighter. Phong cách thoải mái cùng lối viết sắc sảo của Andrew đã giúp anh nhận được sự yêu mến từ người hâm mộ và sự kính trọng từ các đồng nghiệp. Andrew từng biểu diễn trong chương trình “Last Comic Standing”, thực hiện một chương trình hài kịch đặc biệt cho “Dry Bar” và Andrew cũng xuất hiện trên “The Late Late Show with James Corden”. Riêng phần chúng tôi vồn không mê comedy cho lắm nên rủ nhau đi bộ hoặc trầm mình trong hồ nước nóng.
Và rủ nhau đi ăn tối tại San Marco Restaurant

Hay thú vị hơn nữa là tự thưởng cho mình một bữa ăn hải sản tại một nhà hàng đặc biệt với giá $25 cho mỗi người thay vì $35.

Khai vị với món soup Lobster Bisque và Parker House Roll,

Boddingtons Beer Battered Cod Fish & chips

Seafood Shach Platter

Và kết thúc với Wild Berie Cobbler, vanilla ice cream.

Dàn chào của các officers đón du khách trước khi bước vào Celebrity Theater xem chương trình broadway

Captain Vitto và the officer crew welcome the guests
Khai mạc chương trình giải trí đặc biệt với Celebrity Showtime, Rock City.

Một buổi hòa nhạc với dàn diễn viên sản xuất sân khấu với các bài quốc ca rock mang tính biểu tượng, cũ và mới.

Biểu diễn của cặp vợ chồng Á Đông rất ngoạn mục

Emily Yates sẽ đưa du khách vào một hành trình tôn vinh những ca khúc được yêu mến từ các nữ diva huyền thoại nhất mọi thời đại, với những bản top hit trình diễn bởi các ca sĩ nổi danh như Donna Summer, Celine Dion, Tina Turner và Whitney Houston.

Một giọng ca thiên phú đã đưa tâm hồn thính giả yêu nghệ thuật trở về quá khứ, sống lại dư âm thánh thót của các danh ca đã bao năm từ giã cuộc vui và về với cát bụi….

The Broadway Cabaret thắp sáng sân khấu với những bản top hit kinh điển của Broadway và West End. Từ những tác phẩm kinh điển thời hoàng kim đến những thành công âm nhạc đương đại, với dàn ca sĩ và dàn nhạc của chương trình, mang đến một buổi lễ hội âm nhạc đầy cảm xúc và kỳ diệu.

The Celebrity Orchestra gồm các nhạc công từ các nước: Brazil Philipine, Columbia.

Celebrity singers

Chương trình Celebrity Soundtrack: Hãy sẵn sàng cho Soundtrack! Trải nghiệm âm nhạc sôi động và tràn đầy năng lượng, định nghĩa lại những giai điệu phim thành một hành trình âm nhạc đáng nhớ.






The Unforgettable I & II music show by ca nhạc sĩ Terrell Edwards,

Đối với người nghe thông thường, ca nhạc sĩ Terrell Edwards dường như xuất hiện từ hư không với giọng hát truyền cảm, quyến rũ và những bản cover mới mẻ, khéo léo các ca khúc kinh điển của Mỹ.

Cùng hát với Terrell Edwards

Đi coi xiệc với Ảo thuật gia Zach Michel


Bảy ngày lênh đênh trên biển, du thuyền đã dừng lại tại 3 địa điểm: Costa Maya & Cozumel of Mexico và Nassau of Bahamas. Cũng như những lần trước chúng tôi không mua tour trên du thuyền, nhưng để có thể đi thăm 3 địa điểm trên, chúng tôi đã mua những local tour của người dân địa phương với giá khá khiêm nhượng ($30-$35 cho mỗi người, cho 4 tiếng). Tại đây, chúng tôi đã mua một local tour với giá $35 để đi thăm 3 địa điểm gồm: Ruin Chacchoben, bãi biển Costa Maya và vòng quanh thành phố.
- COSTA MAYA

Costa Maya, nằm ở phía đông nam bán đảo Yucatán, Mexico, nổi tiếng với sự kết hợp giữa di sản Maya cổ xưa. Khu vực này nổi bật với các khu tàn tích của nền văn minh Maya với các di tích quan trọng như Chacchoben và Kohunlich Ruis nơi có các đền thờ và cấu trúc cổ kính nằm sâu trong rừng nhiệt đới. Các bãi biển còn nguyên sơ cùng với hệ sinh thái biển phong phú.

Ban đầu Costa Maya là những làng chài yên tĩnh như Mahahual và Xcalak, Costa Maya đã được phát triển thành một cảng tàu du lịch lớn. Cảng Costa Maya được xây dựng để trở thành điểm dừng chân hấp dẫn. Trận bão Dean năm 2007 đã tàn phá nặng nề khu vực Mahahual và Xcalak. Sau đó, Mahahual đã được tái thiết và trở thành trung tâm du lịch sầm uất với các bãi biển và câu lạc bộ bên bờ biển.

Cảng Costa Maya là cảng lớn có thể chứa bốn tàu cùng lúc, cung cấp các dịch vụ tiện nghi, bao gồm hồ bơi, cửa hàng lưu niệm và trải nghiệm cá heo. Làng Mahahual nằm gần cảng, là làng chài nổi tiếng với lối đi bộ ven biển (Malecón), các quán ăn địa phương và các bãi biển xinh đẹp. Hoạt động giải trí bao gồm khám phá các tàn tích Maya, lặn biển tại rạn san hô Banco Chinchorro, thăm công viên nước Maya – Lost Mayan Kingdom, thư giãn tại các bãi biển như Maya Chan hoặc thưởng thức các món ăn đặc sản địa phương như ceviche, taco thịt heo quay và các món hải sản tại các nhà hàng dọc theo bờ biển. Costa Maya là điểm lý tưởng cho những ai muốn kết hợp trải nghiệm văn hóa lịch sử độc đáo với nghỉ dưỡng tại các bãi biển vùng Caribbean.

Chụp hình với dân tộc, free nhưng chỉ cần phải cho tiền tip mà thôi

Khu thương mại bán quần áo, mỹ phẩm, quà luu niệm, v.v….giá gấp 4, 5 lần so với giá ngoài phố.

Khu phố mua sắm tại cảng Costa Maya

Trung tâm có hồ bơi với diện tích lớn và đẹp

Có hồ nuôi Hồng Hạc

Ngi lễ cầu an của dân tộc Maya



Dân tộc Maya trèo lên đĩnh cao để cầu nguyện

Ruin Chacchoben (Nổi tiếng nhất): Cách cảng Tampa 1 giờ, địa điểm này có các kim tự tháp lớn, được khôi phục một phần được gọi là “Temple One” và “Gran Basamento“.


Khu mua sắm trước khi vào Ruin Chacchoben

Các cấu trúc được khai quật trong rừng rậm bao xung quanh.

Những tàn tích rừng rậm này cung cấp các kim tự tháp cao chót vót và các quảng trường nghi lễ.

Costa Maya Tourbase cho biết Ruin Chacchoben được phát hiện vào năm 1972 và có niên đại từ năm 1000 trước Công nguyên.

Ruin Chacchoben là tàn tích của người Maya được du khách ghé thăm nhiều nhất gần Costa Maya.

Trên đường đi và ghé những bãi biển tuyệt đẹp tại Costa Maya nằm trên bờ biển phía đông của Mexico, anh hướng dẫn viên của tour đã dừng lại bên đường những túp lều bán hoa quả vùng nhiệt đới

Nào là soài tượng, măng cầu xiêm, vú sữa, sa bô chê, dứa, v.v…

và chúng tôi đã có cơ hội thử những trái sa bô chê ngọt lịm, những trái quýt thơm mùi mật, những trái vú sữa chín mọng và những trái soài tượng dòn tẩm muối ớt …

Những trái khế vàng rộm
Bãi biển Costa Maya:
Costa Maya là thiên đường dành cho những người yêu biển. Costa Maya sở hữu nhiều bãi biển xinh đẹp, mỗi nơi đều mang nét quyến rũ và sức hấp dẫn độc đáo riêng. Từ đắm mình trong ánh nắng, tham gia các môn thể thao dưới nước, hay khám phá thế giới sinh vật biển đa dạng, Costa Maya đều có thể đáp ứng tất cả.

Costa Maya trải dài dọc theo Bán đảo Yucatan, hướng mặt ra vùng nước xanh ngọc bích lấp lánh của Biển Caribe. Đường bờ biển nơi đây nổi bật với những bãi cát mịn màng, những hàng cọ đung đưa trong gió và những rặng san hô. Được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu nhiệt đới, biến nơi đây thành điểm đến lý tưởng cho du khách yêu biển quanh năm.

Địa lý bờ biển của Costa Maya không chỉ đẹp đến ngỡ ngàng về mặt thị giác mà còn mang ý nghĩa sinh thái vô cùng quan trọng. Vùng đất này là ngôi nhà chung của hệ sinh vật biển đa dạng, bao gồm các loài cá đầy màu sắc, rùa biển và những rặng san hô rực rỡ. Địa hình dưới đáy biển nổi bật với những hang động và khe nứt ngầm, mang đến trải nghiệm lặn biển độc đáo cho những du khách đam mê khám phá chiều sâu của Biển Caribe.

Ảnh hưởng của Biển Caribe lên các Bãi biển tại Costa Maya Các bãi biển tại Costa Maya chịu ảnh hưởng sâu sắc từ môi trường xung quanh thuộc vùng Caribe. Làn nước trong vắt như pha lê và những bãi cát trắng mịn màng gợi nhớ đến hình ảnh những bãi biển đẹp như tranh vẽ. Những dòng hải lưu ấm áp của vùng Caribe đảm bảo rằng làn nước tại đây luôn lý tưởng cho các hoạt động bơi lội, lặn với ống thở và lặn bình khí, mang đến cơ hội tuyệt vời để khám phá thế giới sinh vật biển đầy sức sống ẩn mình dưới mặt nước. Các bãi biển ở Costa Maya không chỉ đơn thuần là nơi có nắng vàng, cát trắng và sóng biển rì rào; chúng còn sở hữu những hệ sinh thái độc đáo, góp phần làm tăng thêm sức hấp dẫn đầy mê hoặc cho vùng đất này.

Những khu rừng ngập mặn và đầm phá nằm gần bờ đóng vai trò như một khu bảo tồn an toàn cho vô số loài chim, cá và các sinh vật biển khác nhau. Việc khám phá những môi trường sống này chắc chắn sẽ mang lại những trải nghiệm vô cùng thú vị cho những người yêu thiên nhiên. Hơn nữa, các cồn cát ven biển cùng thảm thực vật nơi đây đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì sự cân bằng mong manh của hệ sinh thái tại Costa Maya. Hệ thực vật bản địa không chỉ góp phần tô điểm thêm vẻ đẹp nên thơ cho những bãi biển, mà còn giúp ổn định các bờ cát và ngăn chặn tình trạng xói mòn.

Những tiệm bán quần áo và quà lưu niệm trước bãi biển

Vẻ đẹp thiên phu cho Costa Maya đã không che dấu được cái nghèo nàn của khu dân cư tại vùng đất này, Những căn nhà siêu vẹo, những con đường đất bụi mù, những khu phố tồi tàn và người dân bản sứ lam lũ. Có lẽ Costa Maya là nơi đãi ngộ nhưng du khách ghé thăm rồi lặng lẽ ra đi…..

Saying goodbye to Costa Maya & hello to Cozumel
- COZUMEL

Là hòn đảo Caribbean lớn nhất của Mexico, nằm ngoài khơi bờ biển phía đông Bán đảo Yucatán của Mexico, gần Playa del Carmen. Đảo có nhiều loài động vật đặc hữu và nổi tiếng với hoạt động lặn với ống thở, do dưới đáy biển có san hô Mesoamerican Barrier.

Cozumel là một hòn đảo phẳng dựa trên đá vôi, dẫn đến địa hình đá vôi. Điểm tự nhiên cao nhất trên đảo thấp hơn 15 m (49 ft) so với mực nước biển. Cenotes là những hố sụt chứa đầy nước được hình thành bởi nước thấm qua đất đá vôi mềm trong hàng ngàn năm.


Tại đây, chúng tôi đã thuê một xe Mini Van 12 chỗ với giá $30 cho mỗi người trong vòng 4 tiếng rưỡi. Đây cũng là một dịch vụ của công ty du lịch bản địa. Tour bao gồm đi vòng quanh hòn đảo Cozumel, ghé thăm các bãi biển nổi tiếng & khu phố của những người giàu có hoặc ngoại kiều cư ngụ và ghé thăm di sản Maya, một tàn tích San Gervasio (Ruin San Gervasio)

Trước khi ghé thăm tàn tích San Gervasio (San Gervasio Ruin), anh hướng dân viên chở chúng tôi đi vòng quanh hòn đảo Cozumel, ghé qua các di tích lịch sử gồm La Iglesia. Meztisaje, Maya plaza, bãi biển Cozumel cũng như cozumel plaza.

Tượng đài La Iglesia

Cây Bàng trăm năm

Quảng trường Mestisaje: Nằm trên con đường đi bộ ven biển Cozumel, nơi người Tây Ban Nha lần đầu tiên đặt chân đến. Đó là một nhóm tác phẩm điêu khắc mô tả nhà chinh phục cùng với một tu sĩ, một cây thánh giá và một gia đình thổ dân. Được tạo ra vào năm 1985, tác phẩm tô điểm cho con đường đi bộ tuyệt đẹp này với khung cảnh biển ngoạn mục phía sau.

Mayan Plaza là một điểm đến mua sắm hàng đầu tọa lạc ngay trung tâm Cozumel, nổi tiếng với bầu không khí sôi động và nhiều cửa hàng đa dạng. Những cửa hàng rực rỡ sắc màu, bày bán đủ loại sản phẩm từ đồ thủ công mỹ nghệ truyền thống của Mexico cho đến các mặt hàng thời trang hiện đại. Khi tản bộ dọc theo những hành lang ngoài trời, những giai điệu âm nhạc địa phương vui tươi sẽ vang vọng khắp không gian, góp phần làm cho trải nghiệm mua sắm thêm phần thú vị.

Một trong những điểm nhấn nổi bật tại Mayan Plaza chính là hệ thống các cửa hàng bán rượu tequila; tại đây, khách hàng có thể nếm thử và chọn mua những loại rượu đặc sản chính gốc để mang về làm kỷ niệm cho chuyến đi của mình.

Ngoài hoạt động mua sắm, quảng trường còn sở hữu vô số lựa chọn ăn uống nhằm đáp ứng mọi khẩu vị khác nhau. Với cách bố trí không gian thoáng đãng, Mayan Plaza trở thành một địa điểm lý tưởng để bạn dành trọn một buổi chiều thong thả, thong dong khám phá các cửa hàng, thưởng thức ẩm thực địa phương và đắm mình vào nền văn hóa đầy sức sống của Cozumel. Đối với những du khách mong muốn hòa mình vào nhịp sống của người dân địa phương, quảng trường thường xuyên tổ chức các sự kiện và triển lãm văn hóa nhằm tôn vinh di sản phong phú của vùng đất này.

Đến thăm Mayan Plaza không chỉ đơn thuần là một chuyến đi mua sắm; đó còn là cơ hội tuyệt vời để bạn cảm nhận được sự nồng hậu và nét quyến rũ đặc trưng của cộng đồng dân cư tại Cozumel.

Mayan golddess of firtility, the moon and medicine: Mayan là nữ thần của sự sinh sôi, mặt trăng và y học. Bà là một trong những vị thần quan trọng nhất trong văn hóa Maya. Là một thực thể đa diện, bà được khắc họa như một phụ nữ trẻ, nhưng đôi khi lại là một phụ nữ lớn tuổi, tùy thuộc vào các giai đoạn của mặt trăng. Trên đầu bà đội một con rắn tượng trưng cho trí tuệ, còn trên chiếc váy của mình, những bộ xương được xếp đặt thành hình chữ thập. Bà là nữ thần bảo hộ của vùng Cozumel.
Protective goddness of Cozumel: Trên hòn đảo Cozumel hiện tọa lạc một trong những ngôi đền quan trọng nhất dành riêng cho việc thờ phụng bà. Từ cảng Pole (Xcaret), những chiếc xuồng chở các tín đồ hành hương thường khởi hành đến ngôi đền này để cầu xin lời sấm truyền từ nữ thần Ixchel. Hàng năm, lễ hội tôn vinh nữ thần Ixchel vẫn được tổ chức theo đúng nghi thức của người Maya xưa; sự kiện này diễn ra trên lộ trình từ Công viên Xcaret đến đảo Cozumel.

Bãi biển Cozumel


Ngôi nhà thờ cổ

Người dân Maya vẫn đến để cầu nguyện

Những hình vẽ trên trần nhà thờ

Bãi biển với mặt nước trong xanh và cát trắng.

Quán rượu ven biển

Với trang trí nhiều màu sắc, có lẽ người dân Maya thích dùng màu sáng và nổi

Rum Cake là đặc sản của Costa Maya và Bahamas island, một loại bánh thơm ngon mùi rượu nhưng không quá mạnh để say. Bánh mềm, ngọt dịu.

Run cake là món quà tuyệt diệu để biếu cho người thân và bạn bè

Tàn tích San Gervasio (San Gervasio Ruin): Tọa lạc trên đảo Cozumel, bang Quintana Roo, Mexico. Là một trung tâm nghi lễ và hành hương quan trọng của người Maya cổ đại. Bao gồm nhiều cấu trúc đền thờ, nhà ở và các con đường cổ (sacbe).

Là điểm đến không thể bỏ qua đối với những người yêu thích lịch sử Maya khi ghé thăm đảo Cozumel. Tàn tích San Gervasio còn là khu khảo cổ Maya quan trọng nhất trên đảo Cozumel, Mexico. Nổi tiếng là trung tâm thờ phụng nữ thần tình yêu và sinh sản Ixchel.

Nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên với nhiều kỳ nhông (iguana), nơi đây có các cấu trúc cổ như Nohoch Na, mang lại trải nghiệm lịch sử và văn hóa độc đáo.
Công trình Lăng mộ (The Tomb Structure)

Tòa nhà này được đặt tên như vậy do việc phát hiện một ngôi mộ có mái vòm nằm bên trong nó, một đặc điểm độc đáo tại San Gervasio. Công trình này thực chất là một bệ đài, bởi lẽ không có tòa nhà nào được xây dựng phía trên nó; tại đó chỉ có các băng ghế và một bàn thờ. Người ta tin rằng công trình này được sử dụng để tổ chức các nghi lễ ngoài trời, với sự tham gia không chỉ của giới tư tế mà còn của cả cộng đồng dân chúng tụ họp tại quảng trường. Công trình này trải qua hai giai đoạn xây dựng: giai đoạn đầu diễn ra trong thời kỳ Hậu Cổ điển Sớm (1000–1200 SCN), và giai đoạn sau thuộc thời kỳ Hậu Cổ điển (1200–1650 SCN).

Những viên gạch đá được xếp thành con đường dẫn đến các công trình kiến trúc tại Tàn tích San Gervasio


Công trình Cung điện (The Palace Structure)

Các sảnh đường có hàng cột là kiểu kiến trúc rất phổ biến tại khu vực bờ biển phía đông. Tại đây, các băng ghế được bố trí dọc theo những bức tường bên trong, và ở vị trí trung tâm có một cấu trúc nhô ra, có thể là một bàn thờ hoặc một ngai vàng, gợi lên hình ảnh một nhân vật quan trọng đang ngồi tại đó để chủ trì một cuộc họp với các thành viên trong cộng đồng. Công trình này sở hữu 19 cột trụ, trong đó có một số cột được thiết kế dạng cột đôi. Mái của tòa nhà không phải dạng mái vòm mà là mái phẳng, tương tự như các công trình hiện đại ngày nay, được kết cấu vững chắc nhờ hệ thống dầm gỗ liên kết toàn bộ lại với nhau. Công trình này được xây dựng trong thời kỳ Hậu Cổ điển (1200–1650 SCN).

Công trình Tranh tường (The Murats Structures): Tòa nhà này được gọi tên như vậy nhờ những mảnh tranh tường còn sót lại được phát hiện bên trong; những bức tranh này được vẽ bằng các gam màu rực rỡ như đỏ, xanh dương, vàng đất và đen, đồng thời được phủ kín bởi các họa tiết hình học, đường nét bậc thang, hoa văn hình chữ S (kiểu Hy Lạp), hình xoắn ốc, v.v. Tòa nhà này có mái vòm và được sử dụng cho các mục đích nghi lễ.

Bên trong nội thất có đặt các bàn thờ và băng ghế, dùng để bày biện lễ vật và tổ chức một số loại nghi thức nhất định. Công trình Tranh tường chỉ trải qua một giai đoạn xây dựng duy nhất, có niên đại thuộc thời kỳ Hậu Cổ điển (1200–1650 SCN).


Ngoài ra Cozumel cung cấp nhiều sinh hoạt và thắng cảnh nổi tiếng như:
Hang Ngọc Cozumel (Cenote Chempita) gần El Cedral thường được khách du lịch ghé thăm. Đây là một điểm với làn nước trong xanh ngọc lam, sinh vật biển phong phú và bầu không khí thoải mái, cung cấp các hoạt động như khám phá tàn tích của người Maya, công viên sinh thái và mua sắm miễn thuế ở thị trấn chính của nó, San Miguel de Cozumel. Thị trấn chính: San Miguel de Cozumel, trung tâm thương mại ở bờ biển phía tây.
Lặn & Lặn với ống thở: Hòn đảo này nổi tiếng trên thế giới với các rạng san hô, nước trong vắt (tầm nhìn lên đến 200 ft) và sinh vật biển, bao gồm cá heo, rùa và cá nhiệt đới.
Công viên biển: Công viên Quốc gia Arrecifes de Cozumel và Công viên Quốc gia Chankanaab cung cấp các hoạt động lặn biển, lặn với ống thở và ngắm động vật hoang dã.
Công viên sinh thái: Công viên sinh thái Punta Sur có ngọn hải đăng, bãi biển và động vật hoang dã.
Các môn thể thao dưới nước: Ngoài lặn, các hoạt động bao gồm câu cá biển sâu, chèo thuyền kayak và các tour du lịch dưới nước.
- BAHAMAS

Rời du thuyền Celebrity Constellation, Bahamas chào đón chúng tôi trong một ngày nắng ấm, không khí trong lành và đoàn du khách nối chân nhau đến thăm thành phố Nassau, thủ đô của đảo Bahamas.

Bahamas island welcome us

Bahamas là một quần đảo gồm gần 700 hòn đảo ở Đại Tây Dương với khoảng 30 đảo có người sinh sống. Đảo nằm ở phía đông nam Florida (gần Cuba), nổi tiếng với du lịch, tài chính nước ngoài. Bahamas đã giành được độc lập hoàn toàn từ Vương quốc Anh vào ngày 10 tháng 7 năm 1973 và duy trì quốc vương Anh là nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi một Toàn quyền. Thủ tướng đầu tiên của Bahamas là Lynden Pindling. Bahamas giữ Vua Charles III là quốc vương của mình; đại diện được bổ nhiệm của Vương miện là toàn quyền Bahamas.

Bahamas có tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người lớn thứ mười bốn ở châu Mỹ. Nền kinh tế của nó dựa trên du lịch và tài chính nước ngoài do Bahamas là một điểm nghỉ mát nổi tiếng với những bãi biển cát trắng và làn nước màu ngọc lam, lặn với ống thở, lặn biển và các khu nghỉ dưỡng như Atlantis. Mặc dù Bahamas nằm ở Quần đảo Lucayan, gần Florida và Cuba, chứ không phải ở Biển Caribe, nhưng nó vẫn được coi là một phần của khu vực Caribe rộng lớn hơn. Bahamas là thành viên chính thức của Cộng đồng Caribe (CARICOM), nhưng không phải là một phần của Thị trường và Kinh tế chung. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức. Dân số phần lớn là người gốc Phi, với tỷ lệ nhà thờ cao. Chính phủ: Một nền dân chủ nghị viện lập hiến và một vương quốc Khối thịnh vượng chung. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi một Toàn quyền.
NASSAU. BAHAMAS

Nassau là thủ đô và thành phố lớn nhất của Bahamas, nằm trên đảo New Providence, và là trung tâm thương mại, chính phủ và văn hóa của đất nước. Được kết nối bằng những cây cầu đến Đảo Paradise, khu nghỉ dưỡng. Đây là một điểm du lịch lớn được biết đến với các di tích lịch sử như Cầu thang Nữ hoàng và Pháo đài Charlotte, Sân bay Quốc tế Lynden Pindling, những bãi biển tuyệt đẹp như Bãi biển Cable và nền văn hóa sôi động, bao gồm cả lễ hội Junkanoo. Nassau nằm trên đảo New Providence, giáp với đảo Paradise Island có thể đến được bằng cầu cảng Nassau; thành phố có địa hình đồi núi và nổi tiếng với những bãi biển cũng như các rạn san hô ngoài khơi, rất được ưa chuộng cho hoạt động lặn biển và lặn ngắm san hô.

Cũng như hai lần trước, chúng tôi mua một local tour của hãng du lich dịa phương với giá $30 cho mỗi người trong vòng 4 tiếng gồm: Pháo đài Charlotte, thành phố Nassau, hãng Rum cake, Đảo Paradise.

Con đường dẫn đến Chocolate Factory thật đẹp qua những cao ốc, biệt thự sang trọng và bộ ngoại giao của nhiều quốc gia.


Hai bên đường như nhuộm đỏ với màu sắc pháo của hoa, thật tuyệt đẹp

Và những giàn hoa giấy đỏ ối thi nhau khoe sắc đã dẫn bước cho chúng tôi đến cửa của xưởng làm chocolate.


Những giàn hoa giấy đỏ rực trước sân nhà….
West Bay

West Bay Beach cạnh pháo đài Charlotte

Pháo đài lịch sử (Pháo đài Charlotte) Đây là công trình lớn nhất trên đảo New Providence, với diện tích rộng 100 mẫu Anh. Tọa lạc cách trung tâm Nassau một dặm về phía tây, ngay sát đường West Bay, pháo đài này nằm trên một ngọn đồi nhìn ra cực tây của bến cảng, mang lại tầm nhìn ngoạn mục bao quát

Đảo Paradise, thành phố Nassau và toàn bộ bến cảng. Được Lãnh chúa Dunmore cho xây dựng vào năm 1788, pháo đài được đặt tên theo tên vợ của Vua George III—Nữ hoàng Saharia Charlotte. Pháo đài trung tâm (Fort Stanley) và khu vực phía tây (Fort D’Arcy) là những phần được xây dựng bổ sung sau này. Pháo đài sở hữu một hào nước bao quanh, các hầm ngục, hệ thống đường hầm ngầm và 42 khẩu đại bác—những khẩu pháo chưa từng một lần khai hỏa trong bất kỳ hành động tấn công nào.

Vào mỗi thứ Tư và thứ Sáu, bắt đầu từ lúc 11:30 sáng, một chương trình tái hiện lịch sử sống động đưa ngược dòng thời gian để trải nghiệm cuộc sống thường nhật tại Nassau vào thế kỷ 18. Chương trình có sự tham gia của các nhân vật hóa trang trong trang phục cổ xưa, trình diễn kỹ thuật đan lát giỏ, trưng bày các dụng cụ nhà bếp đã được sử dụng từ hơn 250 năm trước, cùng các loại trái cây từng được bày bán tại chợ thời bấy giờ.
Paradise Island

Paradise Island là một hòn đảo thuộc quần đảo Bahamas, trước đây được biết đến với tên gọi Hog Island. Hòn đảo này có diện tích 277 hecta (685 mẫu Anh)[2] (tương đương 2,8 km²/1,1 dặm vuông), nằm ngay sát bờ biển của thành phố Nassau. Thành phố vốn tọa lạc ở rìa phía bắc của đảo New Providence.

Hòn đảo này nổi tiếng nhất nhờ khu nghỉ dưỡng Atlantis rộng lớn, với hệ thống công viên nước, các hồ bơi, bãi biển, nhà hàng, thủy cung, cùng các sòng bạc.


Marina Village

Bến tàu Marina

The Coral Atlantis Resort là khu nghỉ mát, nơi cung cấp những dịch vụ cho du khách mướn phòng (Hotel) tại đây, giá khoảng từ $300 cho một đêm. Khu nghỉ Coral Atlantis bao gồm những dịch vụ như body massage, skin care, shopping, casino, 11 hồ bơi ngoài trời, nhà hàng,v.v… Các tiện nghi khác tại khu nghỉ dưỡng còn cung cấp dịch vụ trợ giúp khách và dịch vụ trông trẻ.

Shopping với những cửa hàng sang trọng và nổi tiếng

The casino

Paradise Island được nối liền với đảo New Providence bằng hai cây cầu bắc qua Cảng Nassau. Cây cầu đầu tiên được xây dựng vào năm 1966 bởi Resorts International, và cây cầu thứ hai được hoàn thành vào cuối thập niên 1990.

FAREWELL PARTY

Cuộc vui nào rồi cũng tàn, bữa tiệc chia tay với nhiều luyến tiếc.

Khánh Lan & Mạnh Bổng, Califoria April 2, 2026
-
THÀNH PHỐ TRÊN BIỂN CẢ
Kiều My & Khánh Lan

Sáu ngày trên du thuyền Royal Caribbean, Quantum Of The Sea đã để lại cho chúng tôi biết bao niềm vui, tiếng cười và kỷ niệm. Có lẽ đây là một trong 3 chuyến du lịch do Liên nhóm NVNT & TTG tổ chức mà chúng tôi thích nhất. Bởi trong 6 ngày ngắn ngủi ấy đã cho chúng tôi một cảm giác gần như sống lại thời son trẻ đầy nhiệt huyết và năng động. Phải chăng sự tươi trẻ và năng nổ của thế hệ trẻ như Minh Thư, Thúy Giao, Minh Châu đã tạo một ảnh hưởng lớn trong tâm hồn chúng tôi?
Ngày 03 tháng 03, 2026–“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”
Chẳng hẹn mà lại gặp nhau trên cùng một chuyến hải hành đã cho chúng tôi tin rằng: Đó là mối duyên “kỳ Ngộ” giữa 2 nhóm Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) và Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG). Bởi trong chuyến du lịch này chúng tôi đã gặp các anh chị trong nhóm VTLV đi cùng.

Quả thật, tiếng đồn không sai khi nói về anh Lê Văn Hải, chủ tịch của nhóm VTLV. Có lẽ đây là lần thứ 3 chúng tôi gặp anh, và cả trong 3 lần ấy, anh rất chu đáo và “generous“. Cũng như những lần trước, buổi tối hội ngộ trước khi lên du thuyền Royal Caribbean anh đã tổ chức buổi họp mặt bỏ túi tại nhà hàng, Phở Seven với lì xì và hát cho nhau nghe. Keyboardist là anh Không quân Tuấn Nguyễn (?).

Trong không khí ấm cúng, vui và thân mật, chúng tôi đã có cơ hội gặp rất nhiều các văn thi sĩ thuộc nhóm VTLV mà trước kia chỉ nghe đến tên nhưng chưa hề gặp mặt. Thế mà lạ quá, tất cả chúng tôi tay bắt mặt mừng, coi nhau như anh em trong cùng một nhà, khiến lòng chúng tôi rộn lên niềm xúc động.
THÀNH PHỐ TRÊN BIỂN CẢ là cái tên mà Nhà Văn Kiều My đã dặn dò Khánh Lan trong email rằng: “KL đừng đổi tựa bài vì chị rất thích tựa này.”

ROYAL CARIBBEAN, QUANTUM OF THE SEA.
Con tàu khổng lồ từ từ rời bến, mang theo chúng tôi bước vào một hành trình kỳ thú. Trước mắt chúng tôi, đại dương mở ra mênh mông, xanh thẳm đến tận chân trời.

Chiều nay ra khơi….

Nhưng điều làm chúng tôi ngạc nhiên hơn cả không phải là biển rộng, mà là con tàu đang chở chúng tôi, một thế giới thu nhỏ với ánh đèn rực rỡ. Những nhà hàng, rạp hát, casino, shopping, những tụ điểm ca nhạc… xen lẫn tiếng nói tiếng cười rộn rã. Chúng tôi chợt nghĩ: À…mình đang sống trong một thành phố nổi và đang trôi lênh đênh trên biển cả.

Tình bằng hữu thân thương…

Con tàu khổng lồ, Royal Caribbean, Quantum of the Seas không chỉ là một phương tiện di chuyển. Nó thật sự giống như một thành phố rực rỡ ánh đèn đang trôi giữa đại dương. Ngay từ ngày đầu bước lên tàu, chúng tôi đã có cảm giác mình đang bước vào một thế giới kỳ bí nào đó. Những hành lang dài, những tầng lầu nối tiếp nhau, nhà hàng, quán cà phê, Royal Theater, hồ bơi, casino, shopping, hot spa, đủ trò chơi thể thao v.v…Buổi trưa có Movie on Deck trên tầng 14, tất cả tạo nên nhịp sống rộn ràng như trong một đô thị thực thụ. Nhưng điều kỳ lạ là thành phố ấy lại đang lênh đênh trên biển cả.

Buổi sáng, trước mắt tôi là một bầu trời xanh với những cụm mây trắng bay lững lờ trên đại dương mênh mông. Gió biển thổi nhẹ mang theo vị mặn dịu dàng.. Trong khi chúng tôi có những bữa ăn sáng kéo dài… vừa ăn vừa trò chuyện lại vừa ngắm cảnh biển buổi sáng thật êm đềm.

Ara bailar la bamba. Para bailar la bamba se necesita. Una poca de gracia. Una poca de gracia y otra cosita. Y arriba y arriba….

Ban ngày, mỗi người lại đi khám phá “thành phố nổi” theo cách riêng. Có người thích đi bộ quanh boong tàu để ngắm biển, hay tắm nắng của miền Nam Mỹ. Có người say mê các khu giải trí rộn rã tiếng nhạc. Có kẻ yêu rock climbing, bumper cars, picker ball, đánh vũ cầu, basketball, v.v…Phần chúng tôi “yêu quá Line Dancing“.

Nào cùng nhau Line dancing nhé.

Lại có nhiều người thích trầm mình trong hot spa hay bơi tung tăng trong những hồ bơi nước xanh rộng lớn. Ngoài ra, còn có những người già lẫn trẻ và cả chúng tôi nữa…giải khát bắng những icecream cone thơm ngát mùi vanila, coffee và “liếm” vị kem mát lạnh một cách ngon lành.

… Khi màn đêm bông xuống, con tàu như khoác lên mình một bộ áo sang trọng đủ kiểu đủ màu. Ánh đèn lung linh khắp nơi. Từ các phòng hòa nhạc vang lên những giai điệu sống động. Những sân khấu lớn mở màn các chương trình biểu diễn đầy màu sắc. Khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới tụ hội về đây, vừa thưởng thức nghệ thuật vừa hòa vào những điệu nhảy vui tươi hào hứng.

Giữa muôn vàn ánh hào quang lấp lánh cùng sự thăng hoa của âm nhạc & những kết cấu nghệ thuật tinh tế làm tôn vinh hình tượng của các vũ công trên sân khấu. Với sự quy tụ những tinh hoa xuất sắc nhất từ Los Angeles, New York, Paris và Las Vegas, kết hợp cùng những màn vũ đạo ngoạn mục và dàn nghệ sĩ biểu diễn thượng thặng đến từ khắp nơi trên thế giới.

Chuyến du lịch lần này đã đem đến cho chúng tôi từ những ngạc nhiên này đến thích thú khác qua các màn trình diễn độc đáo và lạ mắt như: Starwater Show. Thoạt nghe tên Starwater, chúng tôi liên tưởng đến màn trình diễn trên nước, nhưng không, đó là nghệ thuật biểu diễn cuộc sống qua cảm xúc của con người và được khám phá sự kết hợp giữa sự kỳ diệu của các vì sao và sự bí ẩn của biển cả.

Một trong những kỷ niệm làm chúng tôi nhớ mãi trong chuyến hải hành trên con tàu khổng lồ Royal Caribbean, Quantum of the Seas, chính là đêm thưởng thức chương trình Starwater, tại The Workshop (Two 70). Khi màn đêm buông xuống, cả không gian dường như biến thành một thế giới huyền ảo. Khán giả ngồi yên trong ánh đèn dịu, chờ đợi một điều kỳ diệu sắp xảy ra. Rồi âm nhạc vang lên. Từ bóng tối, những vũ công xuất hiện như những làn sóng mềm mại. Ánh sáng đổi màu liên tục, khi xanh thẳm như đáy biển, khi tím biếc như bầu trời đêm. Những màn hình lớn phía sau bỗng trở thành một đại dương mênh mông, nơi những vì sao, những dòng nước và những hình ảnh trừu tượng hòa vào nhau.

Chương trình Starwater không chỉ là một buổi biểu diễn ca múa bình thường. Nó như một giấc mơ được dệt bằng ánh sáng, âm nhạc và chuyển động. Các nghệ sĩ bay lượn trên không, xoay mình trong những động tác uyển chuyển, khi mạnh mẽ như gió biển, khi nhẹ nhàng như bọt sóng. Có những khoảnh khắc cả khán phòng gần như nín thở. Âm nhạc dâng cao, ánh sáng rực lên, rồi tất cả bỗng lắng xuống trong một khoảng lặng đầy mê hoặc. Chúng tôi ngồi giữa khán phòng mà có cảm giác như đang trôi trong một thế giới khác, nơi nghệ thuật và đại dương hòa quyện với nhau như mây với gió.

Khi chương trình kết thúc, ánh đèn dần sáng trở lại. Ngoài khung cửa kính, biển đêm vẫn mênh mông và lặng lẽ. Con tàu vẫn tiếp tục hành trình giữa đại dương, nhưng trong lòng tôi vẫn còn vang vọng những giai điệu và hình ảnh huyền ảo của Starwater — một khoảnh khắc nghệ thuật tuyệt đẹp giữa thành phố đang từ từ trôi trên biển cả.

Sonic Odyssey show thật tuyệt diệu giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật nguyên bản với tâm điểm là cây đàn Earth Harp. Nhạc cụ được thiết kế và chế tác bởi William Close, người từng lọt vào vòng bán kết thứ 7 của chương trình America’s Got Talent. Sonic Odyssey đã đưa chúng tôi bước vào một hành trình âm nhạc và âm thanh độc nhất vô nhị, cộng thêm sự quy tụ một dàn nghệ sĩ biểu diễn tài năng.

Nhạc cụ Earth Harp với nghệ sĩ William Close

William Close trình diễn đánh trống với sự phối hợp của các vũ công

Biểu diễn trống ngoạn mục

MO5AIC đến trực tiếp từ Las Vegas, là một nhóm nhạc độc nhất vô nhị, họ đã giành được danh hiệu là nhóm nhạc “MTV’s Top Pop Group” và tài năng của họ từng được giới thiệu trên chương trình America’s Got Talent.

MO5AIC với con số 5 ở giửa có nghĩa họ là 5 nghệ sĩ trong nhóm. Họ trình diễn các thể loại âm nhạc đặc biệt bằng miệng mà hoàn toàn không dùng đến sự hỗ trợ của bất cứ loại nhạc cụ nào. Họ đã đem lại sự ngạc nhiên, thích thú và lạ lẫm trong lòng du khách.

Trong bầu không khí ấy, chúng tôi cũng không đứng ngoài cuộc.

Ai trông giống như….Katherine Minh Thư nhà mình ấy nhỉ ?

Hàng trăm đốm sáng rực lên từ những chiếc điện thoại di động tựa như nhưng đốm hỏa châu trong màn đêm. Chúng tôi không chỉ lắng nghe nhạc mà đôi lúc cũng nhẩm hát theo những bài hát quen thuộc. MO5AIC đã tạo một đêm vui khó quên cho tất cả chúng tôi.
BRING THE BEAT BACK. A PARTY THROUGH THE DECADES, quả là vui nhộn bởi các màn trình diễn của các nhân viên trên du thuyền trong trang phục tùy theo từng thời. Họ đã đem âm nhạc từ những thập niên 1960, 1970, 1980, 1990 với MC kiêm Cruise Manager dí dỏm, duyên dáng trong bộ y phục màu hồng lóng lánh. Tiếng la, hét, hát vang dội cả khánh phòng Two 70. Có lẽ đây là party ồn ào, vui nhộn nhất trong chuyến đi.

Những màn biểu diễn của các nhân viên trong thủ thủy đoàn

Ngoạn mục quá làm say đắm lòng các du khách

HAPPY BIRTHDAY TO ALL FROM THE OFFICERS AND CRUISE MEMBER với chiếc bánh sinh nhật thật lớn mà trong đó Khánh Lan thật là “lucky” bời năm nay mình được mọi người hát “Happy Birthday” đến 3 lần cơ đấy.



Đây là một lần nhé…

Cái bánh to quá, phài cần đến hai người cắt bánh

Lần thứ 2 là trong bữa ăn tối tại Grande Restaurant

Và cuối cùng sẽ là “Belated Birthday” với gia đình … Thích nhỉ…
Có những tối chỉ ngồi nghe nhạc sống và trò chuyện hay cùng nhau bước ra sàn nhảy, để mặc cho âm nhạc dẫn dắt với Latin Dance Music trong khung cảnh huyền hoặc của phòng trà Boleros, do ban nhạc Latin Band The Latin Town trình diễn hàng đêm. Giữa đại dương bao la, những tiếng cười, những bước chân nhịp nhàng ấy làm cho “thành phố trên biển” trở nên ấm áp và gần gũi lạ thường.
NORTH STAR EXTENDED rất thú vị mà Chị Tường Anh đã mất $45 cho 15′ trong lúc ấy Katharine Minh Thư & Thúy Giao đã ghi danh cho cả nhóm được “Free” với 10′ ngắm cảnh từ trên cao. Thanks tới hai em gái.

Tham dự cuộc du hành trên không gian để nhìn toàn cảnh phố cảng Ensanada thật thú vị

10′ thật tuyệt diệu đề nhìn cả một thành phố bên dưới

Phục thiệt! 3 nàng Thúy Giao, Lệ Hoa, Minh Thư…với trò chơi mạo hiểm RIPCORD BY IFLY

Còn Khánh Lan & Minh Châu thì “chicken out” nên đứng ở ngoài: chụp hình, quay phim và…vỗ tay…

Và hồi hộp…..

AT SEA là những ngày chúng tôi “RELAX” để hưởng thụ những thú vui giải trí mà du thuyền cung cấp như: Love and marrige show với nhưng trận cười ngây ngất, FlowRider (Advanced Standup surfing) với Katherine Minh Thư và Thúy Giao, robot Show, Towel Animals, v.v…


Đua xe

Robot Show-tự pha rượu

FLOWRIDER ADVANCED STANDUP SURFING, FLOWRIDER dành cho hai bạn trẻ Katherine Minh Thư & Thúy Giao thôi, còn dân sợ nước, không biết bơi và nhảy sóng như Khánh Lan thì chỉ ngồi trên bờ để “enjoy” mà thôi.

Minh Thư trổ tài với towel folding và…

… Đố ai biết con gì đây?

KARAOKE dành cho những du khách thích ca hát có dịp phô trương tài năng như “Tiếng Thời Gain vô cùng can đảm Katherine Minh Thư”

Katherine Minh Thư với “I Will Survive” …

Ngắm cảnh qua màn hình “đại vĩ tuyến” với những sinh hoạt dưới đáy biển, nghệ thuật tạo hình bởi AI, v.v…


Chuyển động của con người…

Hình ảnh…

Robots….

…Và để cho buổi tối được vui trọn vẹn, hầu như tối nào chúng tôi cùng nhau tấp vào quán pizza, Cafe Promenade để thưởng thức hương vị của mùi cheese nóng chảy dưới những miếng pepperoni đỏ thơm lừng hấp dẫn…Đây là những giờ phút khá thú vị…mọi người cười nói xôn xao, chia sẻ với nhau những miếng pizza nóng hổi và những miếng cam tươi mát lạnh… hay cafe@Two70 để thưởng thức những miếng bánh mì Ý, Pháp, Spain thơm phức… trước khi trở về phòng ngủ sau một ngày vui chơi mệt nhoài.

Sau vài ngày lênh đênh trên đại dương, những dãy núi và bờ biển của Mexico dần hiện ra nơi chân trời. Con tàu đưa chúng tôi ghé thăm hai thành phố ven biển nổi tiếng: Cabo San Lucas và Ensenada. Mỗi nơi mang một vẻ đẹp riêng.

Cabo San Lucas hòa mình với biển xanh và những vách đá kỳ vĩ. Đây là nơi Thái Bình Dương gặp Vịnh Cortez, được bao quanh bởi những khối đá hùng vĩ như Cổng Vòm.

Thành phố tuyệt đẹp với những căn cao ốc được xây dựng như hình tổ ong

Thành phố biển Cabo San Lucas (còn gọi là “Mũi Thánh Luca”), hay đơn giản là Cabo, nằm ở mũi phía nam của bán đảo Baja California, thuộc tiểu bang Baja California Sur của Mexico.

Cabo San Lucas và thành phố lân cận San José del Cabo được gọi chung là Los Cabos. Cả hai tạo thành một khu vực đô thị ven biển.Vòm đá El Arco de Cabo San Lucas đặc trưng ở mũi đất Lands End là một biểu tượng địa phương. Thành phố cũng có một bảo tàng viên lịch sử thiên nhiên hải dương học, Museo de Historia Natural de Cabo San Lucas.

Để vào được đất liền, những chiếc tàu nhỏ (tender) đã chuyên chở chúng tôi vào thăm thành phố.

Cabo San Lucas-welcome us…

Đi lang thang ngắm phố và…

Go Shopping ….

Cabo San Lucas nổi tiếng với những bãi biển, địa điểm lặn biển, khu nghỉ dưỡng ven biển, vòm đá El Arco de Cabo San Lucas và hài lưu sinh thái biển phong phú hải sinh học. Vùng biển xung quanh Cabo là nơi lý tưởng để chiêm ngưỡng nhiều loài sinh vật biển khác nhau, bao gồm cá đuối, cá mập, cá mahi-mahi (cá nục dorado) và cá chim marlin sọc.

Đến ngày 6 của cuộc hành trình trên đường trở về cảng San Pedro, Hoa Kỳ, thành phố biển Ensanada hiện ra trước mắt. Đứng trên tàu nhìn qua Ensenada mang nét hiền hòa của một thành phố cảng với những con phố nhỏ và lá cờ Mexico bay phất phơ trong gió.

Ensenada có nghĩa là “vũng vịnh“, một thành phố thuộc Đô thị Ensenada, bang Baja California, nằm trên bờ biển Thái Bình Dương của Mexico. Tọa lạc bên vịnh Bahía de Todos Santos. Đây là một trung tâm thương mại quốc tế quan trọng và là nơi tọa lạc của Cảng Ensenada – cảng sầm uất thứ hai tại Mexico.

Ensenada có khí hậu ấm áp và vị trí gần Thái Bình Dương; thành phố này thường được biết đến với biệt danh *La Cenicienta del Pacífico* (“Nàng Lọ Lem của Thái Bình Dương”). Ensenada được thành lập vào năm 1882, khi cộng đồng nhỏ mang tên Rancho Ensenada de Santos được chọn làm thủ phủ khu vực cho phần phía bắc của Lãnh thổ Baja California. Thành phố đã phát triển mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ của các hoạt động khai thác mỏ tại những dãy núi bao quanh.

Danh tiếng của Ensenada như một thành phố nghỉ dưỡng đã được củng cố vững chắc trong thập niên 1950 và 1960, giai đoạn chứng kiến sự bùng nổ xây dựng cũng như sự vươn lên về tầm vóc quốc tế của thành phố này bên ngoài khu vực Bắc Mỹ.

Ngày nay, Ensenada đóng vai trò là một trung tâm kinh tế và văn hóa lớn của Baja California. Thành phố này là nơi tọa lạc của nhiều trường đại học, chẳng hạn như Viện Công nghệ Ensenada và Đại học Tự trị Baja California. Ensenada cũng là một trung tâm công nghệ sinh học quan trọng và là nơi đặt trụ sở của nhiều viện nghiên cứu, tiêu biểu là Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Ensenada. Thành phố này hiện là Thành phố Sáng tạo UNESCO.

Những nàng tiên áo trắng đón nhận “phong bì đỏ” lì xì từ anh Đại Gia Lê Văn Hải, báo hiệu một sự phát tài lớn trong năm Bính Ngọ 2026. Trúng số độc đắc Lottery chăng?

Giá mà được gặp Đại Gia Lê Văn Hải mỗi ngày nhỉ…

Trong chuyến hải hành ấy, điều làm tôi nhớ nhất không chỉ là những chương trình giải trí rực rỡ hay những thành phố ven biển xa lạ, mà chính là tình bạn giữa những người cùng đồng hành. Chúng tôi, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm 12 người ở Nam California, phối hợp với nhóm Văn Thơ Lạc Việt khoảng 20 người ở San Jose. Chúng tôi đến với chuyến đi này như những người bạn quen biết nhau qua văn chương. Ở đất liền, mỗi người có cuộc sống riêng, bận rộn với gia đình, với công việc, hoặc với những trang viết còn dang dở. Nhưng khi bước lên con tàu Royal Caribbean, Quantum of the Seas, dường như tất cả những lo toan thường nhật đều tạm lùi lại phía sau.

Chúng tôi cùng đi dạo trên những hành lang dài của “thành phố nổi”, cùng ngồi nghe những bản nhạc sống, cùng xem các chương trình biểu diễn rực rỡ ánh đèn. Có khi chỉ đơn giản là ngồi quanh một chiếc bàn dài trong nhà hàng Coastal Kitchen, vừa thưởng thức những bữa điểm tâm và những bữa ăn trưa, vừa kể cho nhau nghe những câu chuyện đời. Những tiếng cười vang lên rất tự nhiên. Không ai vội vàng. Không ai phải lo đến những công việc của ngày mai.

Nhà hàng American Icon trang trí tuyệt đẹp với bức tường bằng kinh ngoạn mục…

Và dành cho Khánh Lan chụp những tấm hình cho bạn bè…

Kiều My đấy…

Và đây là Minh Châu…

Katherine Minh Thư nè….
Có lẽ vì thế mà những niềm vui nhỏ bé trong chuyến đi trở nên đáng quý hơn bao giờ hết. Những điều tưởng chừng bình thường, cùng nhau xem một buổi biểu diễn, cùng bước ra sàn nhảy theo nhịp nhạc, hay cùng nâng ly chúc mừng một buổi tối vui vẻ, lại là những khoảnh khắc mà ở cuộc sống thường ngày chúng tôi hiếm khi có dịp thực hiện.

Giữa đại dương mênh mông, “thành phố trên biển” không chỉ mang đến cho chúng tôi những cảnh đẹp và những chương trình giải trí. Nó còn cho chúng tôi thời gian để ở bên nhau, để chia sẻ niềm vui, và để nhớ rằng: tình bạn cũng là một trong những món quà đẹp nhất của cuộc đời.

Dress code: White dress day

Những ngày lênh đênh trên đại dương rồi cũng trôi qua nhanh như một giấc mơ đẹp. Con tàu Royal Caribbean, Quantum of the Seas vẫn lặng lẽ rẽ sóng đưa chúng tôi trở về đất liền, như một thành phố rực rỡ đang từ từ khép lại cuộc phiêu lưu giữa biển khơi. Khi hành trình sắp kết thúc, tôi chợt nhận ra rằng điều còn lại trong ký ức không chỉ là những sân khấu rực rỡ ánh đèn, những buổi nhạc sống vui tươi hay những thành phố ven biển của Mexico như Cabo San Lucas và Ensenada.

Điều còn lại sâu đậm hơn chính là những khoảnh khắc đã cùng nhau trải qua những buổi sáng, buổi trưa sau khi ăn. Chúng tôi thong thả đi dạo trên boong tàu, hay trên các hành lang, rồi ghé qua quán kem để được tận hưởng icecream cone thơm ngon lành lạnh một cách say mê như trẻ con. Rồi chúng tôi diện thật đẹp để cùng thưởng thức bữa ăn thịnh soạn trong không gian ấm cúng và thân mật tại nhà hàng Grande Restaurant vào mỗi buổi chiều tối. Đây là khoảnh khắc đáng ghi nhớ khi ngồi bên nhau trò chuyện như thể thời gian vẫn còn rất dài phía trước.

FEREWELL PARTY…bao giờ cũng đặc biệt với màn diễn hành do các thủy thủ đoàn và nhân viên trong du thuyền diễn xuất. Những tiếng reo hò, vỗ tay, và mọi người cùng cất tiếng hát vang dội trong phòng ăn chính grande, American Icon, v.v… cũng như tại buffet restuarant trên lầu 14, Windjammer Maketplace.

Các nhân viên nhà hàng mặc y phục hóa trang đầy màu sắc

Diễn hành tai Windjammer Marketplace

Farawell party tại Grande Restaurant với những buồn vui lẫn lộn, vui vì sắp về lại “home sweet home” sau những ngày dài xa nhà, buồn vì phải giã từ cuộc vui với bạn bè cùng trang lứa.

NVNT & TTG “lì xì” lấy hên cho waiter Micheal và his assistant.

Trong cuộc sống thường ngày, mỗi người đều bận rộn với nhịp sống riêng. Nhưng trong vài ngày ngắn ngủi giữa đại dương, chúng tôi đã có dịp sống chậm lại, tận hưởng những niềm vui giản dị mà quý giá: được ở bên bạn bè, được cùng nhau thưởng thức những điều đẹp đẽ mà đôi khi ở nhà chúng tôi khó có dịp thực hiện.

Micheal còn một biệt tài nữa là hát rất hay và đàn rất giỏi….
Con tàu đã cập bến. Mỗi người lại trở về cuộc sống đời thường của mình.“Và thành phố trên biển ấy vẫn còn trôi mãi trong ký ức chúng tôi.” Nhưng chúng tôi tin rằng trong ký ức của mỗi người, vẫn sẽ còn mãi hình ảnh của một thành phố rực sáng giữa biển cả, nơi chúng tôi đã có những ngày thật vui, thật nhẹ nhàng, và đầy ắp tình bạn. Và biết đâu, một ngày nào đó, khi nhớ lại chuyến đi này, chúng tôi sẽ lại mỉm cười , vì đã từng cùng nhau sống những ngày đẹp như thế giữa đại dương bao la.
Con tàu đã cập bến từ lâu, nhưng thành phố trên biển ấy cùng những tiếng cười của bạn bè vẫn còn ở lại trong lòng chúng tôi.
Kiều My & Khánh Lan ghi lại đây những kỷ niệm cùng các bạn ttrong chuyến đi cruise trên tàu Roya Caribbean, Quantum Of The Seas, qua hai phố cảng Cabo San Lucas và Ensenada, Mexico, March 4 – 10, 2026
-
MÙA THU ĐÔNG KINH-2025
Khánh Lan & Mạnh Bổng

Trở lại Nhật Bản lần này lòng chúng tôi ngập tràn một niềm hy vọng được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của lá thu vàng cuối mùa trước khi trời trở lạnh. Một ước vọng mà chúng tôi hằng ấp ủ từ bấy lâu nay…Nay đã thành sự thật. Ôi! Mùa thu Đông Kinh thật tuyệt diệu hơn bao giờ hết, quyến rũ và như làm mê mẩn cả tâm hồn người thưởng ngoạn…

Và tôi chợt nhủ với lòng mình …Còn có nơi nào thơ mộng và đẹp hơn nơi này không nhỉ?

Mùa thu Nhật Bản đẹp như bản tình ca lãng mạn, sâu lắng, thơ mộng làm say đắm lòng người. Mùa thu Nhật Bản như khoác lên một tấm áo mới thật lộng lẫy và đẹp diệu kỳ bởi những chiếc lá chuyển mình từ xanh mướt sang màu vàng óng ả, màu cam sậm và màu đỏ ối. Những con dường ngập lá vàng, những khu vườn, góc phố, mái chùa nhuộn một màu đỏ ối…Vạn vật trở nên lộng lẫy và quyến rũ lạ thường, phải chăng mùa lá đỏ sắc vàng chính là “linh hồn” của những bức tranh thu sang tuyệt mỹ.

Trời vào thu khiến cảnh sắc thiên nhiên của những chiếc lá chuyển màu đỏ (Momiji) và vàng (Ginkgo) đầy ngoạn mục. Hàng cây màu đỏ thẫm in hình bóng trên mặt hồ trong suốt tụa như một bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp. Phải chăng đây chính là mùa lý tưởng nhất để ngắm phong cảnh thơ mộng như tranh vẽ.

Có lẽ đây là thời điểm mà thiên nhiên và con người cùng hòa quyện trong bức tranh tuyệt mỹ đong đầy cảm xúc. Phải chăng cái nóng bức của mùa hè đã tan đi, mang lại cái se se lạnh của mùa thu, đã đem đến cho mọi người một cảm giác khoan khoái. Những hẻm núi hùng vĩ, những thác nước thơ mộng và những cánh rừng phong đỏ rực khiến lòng người chìm đắm trong đam mê.

Trên đường phố, cạnh bìa rừng, bên dòng suối, những cô gái uyển chuyển trong bộ kimono lộng lẫy với chiếc dù muôn màu sắc, trông hay và vui mắt quá. Những tia nắng dìu dịu, hờ hững, chiếu xuyên qua cành lá, trải dài trên mặt đất tạo lên những vệt sáng, long lanh như dải sao băng trong khu vườn tĩnh lặng.
TOKYO, NOV. 23, 2025

Để có rộng thời gian, 6 chúng tôi đến Japan-Tokyo hai ngày trước khi lên du thuyền Norweigian Sun để đến thăm một vài nơi mà tháng 10 năm ngoái chúng tôi chưa kịp ghé thăm. Checked-in Narita Toku Hotel Airport xong là vừa đủ thời gian để chúng tôi ra phố dùng cơm tối tại Narita Mall gần khách sạn và thưởng thức món cá sống, tôm chiên và súp mì hải sản.

TOKYO, NOV. 23, 2025
Sáng ngày 24, chúng tôi rời khách sạn sau bữa ăn điểm tâm và mướn 2 chiếc taxi với giá $1,794 để đến thăm 3 chỗ gồm: Đền Tsurugaoka Hachimangu, The Great Buddha Tsurugaoka Hachimangu Shrina và vườn Rikugien. Đây là ngày mà chúng tôi đã phải trả tiền mướn xe với một giá cao nhất trong số các chuyến khác trong tuần chỉ mất trên dưới $600 cho một xe Mini Van 6-8 chỗ. Ba đia diểm này cách Tokyo khoảng 5 tiếng lái xe cho cả 2 chuyến đi và về, cộng thêm chuyến đi ăn tối.
- Đền Tsurugaoka Hachimangu
Đền Tsurugaoka Hachimangū là ngôi đền Thần đạo quan trọng nhất ở thành phố Kamakura, tỉnh Kanagawa, Nhật Bản. Ngôi đền là trung tâm văn hóa của thành phố Kamakura và là nơi diễn ra nhiều lễ hội quan trọng nhất của thành phố, cùng với hai bảo tàng. Ngôi đền này vừa là đền thờ Hachiman, vừa là một ngôi chùa Phật giáo Tendai, điển hình cho kiến trúc Phật giáo Nhật Bản. Tương truyền, vị cao tăng nổi tiếng Nichiren Daishonin đến thăm ngôi đền để khiển trách thần Hachiman trước khi bị hành quyết tại bãi biển Shichirigahama. Lịch sử kể rằng, trước kia có một cây bạch quả nghìn năm tuổi nằm gần lối vào đã bị bão quật đổ vào ngày 10 tháng 3 năm 2010. Chúng tôi được biết ngôi đền được công nhận là một trong những Di sản văn hóa quan trọng của Nhật Bản.

Ngôi đền này ban đầu được xây dựng vào năm 1063 như một chi nhánh của đền Iwashimizu ở Zaimokuza, nơi hiện nay là đền Moto Hachiman, là nơi thờ phụng Hoàng đế Ōjin (được thần thánh hóa với tên Hachiman, vị thần bảo hộ của các chiến binh). Mẹ của ông là Hoàng hậu Jingu và vợ của ông là Hime-gami. Minamoto no Yoritomo, người sáng lập Mạc phủ Kamakura đã chuyển ngôi đền đến vị trí hiện tại vào năm 1191, mời thần Hachiman đến ngự tại địa điểm mới để bảo vệ chính quyền của ông. Ngôi đền đã trải qua một trận hỏa hoạn lớn vào ngày 14 tháng 11 năm 1280, trong đó một số hiện vật đã bị đánh cắp khỏi điện thờ chính.

Phong cảnh của mùa thu tại đền Tsurugaoka Hachimangu

Kamakura’s Spiritual Heritage: The Great Buddha Tsurugaoka Hachimangu Shrine in Kotoku-in
Kamakura là một điểm đến du lịch rất nổi tiếng với nhiều địa điểm tuyệt đẹp như chùa Phật giáo với vườn cây xanh mát và đền thờ Thần đạo. Thành phố này có rất nhiều nhà hàng Nhật Bản với những món ăn hấp dẫn.

Một số địa điểm nổi tiếng nhất ở Kamakura, như chùa Hokoku-ji (với vườn tre), chùa Hase-dera (một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Kamakura), và chùa Kotoku-in nổi tiếng với bức tượng Đại Phật. (Những nơi này chúng tôi đã ghé thăm vào tháng 10 năm 2024)

Đại Phật Kamakura (Kamakura Daibutsu) là một bức tượng Phật A Di Đà bằng đồng, tọa lạc trong khuôn viên chùa Kotokuin. Với chiều cao 11,4 mét, bức tượng từ lâu đã là bức tượng Phật bằng đồng cao thứ hai ở Nhật Bản, chỉ sau bức tượng ở chùa Todaiji ở Nara. Tượng được đúc vào năm 1252 và ban đầu được đặt bên trong một điện thờ lớn. Tuy nhiên, các công trình kiến trúc của chùa đã bị phá hủy nhiều lần bởi bão và sóng thần vào thế kỷ 14 và 15. Vì vậy, kể từ cuối thế kỷ 15, bức tượng Phật đã được đặt ngoài trời.

Khuôn viên Kamakura của The Great Buddha Tsurugaoka Hachimangu Shrine bao phủ bởi vòm trời màu vàng óng ả của những cây phong vàng rộ, chen lẫn những sắc đỏ, nâu sậm của những cây Mable gần đấy tạo nên một khung cảnh hữu tình và quyến rũ và chúng tôi mải mê chụp những tấm hình lưu niệm.

- Rikugien Garden
Rời Kotoku-in, anh tài xế xe taxi đưa chúng tôi đi thăm Vườn Rikugien, Đó là khu vườn được xây theo kiểu Nhật. Xưa truyền rằng đâu là một trong những khu vườn Nhật Bản đẹp nhất tại Tokyo. Được xây dựng vào khoảng năm 1700 cho vị tướng quân Tokugawa thứ 5, Rikugien có nghĩa đen là “khu vườn sáu bài thơ” và tái hiện thu nhỏ 88 cảnh từ những bài thơ nổi tiếng. Đây cũng là nơi các thi nhân, văn nghệ sĩ khắp nơi đến tham dự các hoạt động truyền thống như trà đạo hay thư pháp. Khu vườn Rikugien là một trong những khu vườn dạo chơi thời Edo.

Vườn Rikugien nổi tiếng với những cảnh quan được thiết kế tỉ mỉ, những hồ nước thơ mộng và những cây lá phong rực rỡ sắc màu vào mùa thu. Những con đường mòn với những tàn lá phong rực rỡ, với một ao lớn ở trung tâm được bao quanh bởi những ngọn đồi nhân tạo và khu rừng, tất cả được kết nối bằng một mạng lưới đường đi bộ quanh co.

Vườn Rikugien khá rộng lớn, chúng tôi phải mất khoảng một giờ để đi hết toàn bộ đường đi bộ trong khu vườn. Các con đường uốn lượn quanh vườn, xuyên qua rừng và bãi cỏ rộng, dẫn đến một số quán trà mở cửa cho công chúng. Quán trà Fukiage Chaya nằm dọc bờ phía tây bắc của ao. Chúng tôi được biết, một trong những thời điểm tốt nhất để đến thăm Rikugien là vào mùa thu khi nhiều cây phong chuyển màu, biến khu vườn thành một trong những điểm ngắm lá mùa thu đẹp nhất ở Tokyo.

Quán trà Tsutsuji no Chaya trở nên lý tưởng hơn so với quán trà Fukiage Chaya với khung cảnh đặc biệt vì nằm ở trung tâm và con suối chảy qua xung quanh cầu Togetsukyo và từ điểm ngắm cảnh Fujishirotoge. Cuối tháng 11 đến đầu tháng 12 là thời điểm đẹp nhất để ngắm cảnh thu sang tại đây. Tuy nhiên, vườn Rikugien cũng rất quyến rũ khi đến thăm vào mùa xuân khi nhiều loại cây và bụi hoa Đỗ Quyên nở hoa khắp khu vườn. Nổi bật nhất là những cây hoa anh đào rủ gần cổng chính nở rộ từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 4.


NOV. 25, 2025. CHECKING IN THE CRUISE-NORWEGIAN SUN CRUISE SHIP-JAPAN-TAIWAN-KAOHSIUNG, HONG KONG, TAIPEI-KEELUNG
Norwegian Sun là tàu du lịch hạng nhỏ do Norwegian Cruise Line điều hành và bắt đầu hoạt động năm 2001 tại Cảng Miami với Norwegian Star. Tàu Norwegian Sun được đóng tại xưởng đóng tàu Lloyd Werft ở Bremerhaven, Đức năm 2001 và trùng tu lại vào năm 2021. Với chiều dài 848 ft và chiều rộng 123 ft, khả năng chuyên chở 1878 hành khách và 906 thủy thủ đoàn.

NORWEGIAN SUN CRUISE SHIP

NOVEMBER 25, 2025 CHECK-IN NORWEGIAN SUN CRUISE SHIP
Sau khi làm xong thủ tục check-in, chúng tôi rủ nhau lên boong tàu và check-out toàn thể con tàu, chụp mấy tấm hình kỷ niệm rồi rủ nhau đi ăn trưa và tối. Tuyến đường từ Tokyo qua Taiwan dừng lại những địa điểm gồm.

Tokyo là điểm khởi hành của du thuyền Norwegian Sun. Du thuyền rời bến lúc 7 giờ tối và dự định sẽ đến đảo Shimizu vào lúc 7 giờ sáng ngày 26.
NOVEMBER 26, 2025-SHIMIZU-MOUNTAIN FUJI

Khi tàu dừng lại tại cảng Shimizu, hành khách lần đầu đến Nhật bản từ trong du thuyền ùa ra như một đàn ong vỡ tổ, bởi tại đây, Mt. Fuji là thắng cảnh nổi tiếng trên thế giới. Nhìn lại, đây là lần thứ 3 chúng tôi ghé thăm Nhật Bản nên lũ chúng tôi cứ “đủng đà đủng đỉnh” “bò” từng bước ra khỏi du thuyền. Hôm ấy, chúng tôi quyết đinh không “book tour” nào cà mà tản bộ dạo phố, chụp vài “pô” hình rồi về lại tàu.

Từ bến tàu, nhìn về Tây, Mt. Fuji hiện ra ngay trước mắt chúng tôi, hùng vĩ, kiêu hãnh đứng sừng nơi cuối chân trời. Thế là chẳng ai bảo ai, chúng tôi đã ùa ra ven biển, dùng hết khả năng thiên phú của mình để trổ tài làm công việc của nhiếp ảnh gia.

NOVEMBER 27, 2025, 2025-NAGOYA-THANKSGIVING

Năm nay chúng tôi ăn mừng Lễ Thanksgiving trên du thuyền, ngoài bữa ăn tối với gà tây thì chẳng có gì là đặc biệt. Đành chụp vài tấm hình làm kỷ niệm.

HAPPY THANKSGIVING

Quốc Dân, Kim Hương, Đức Hạnh, Mỹ Xuân, Khánh Lan, Mạnh Bổng

AUTUMN LEAVES & ILLUMINATION AT KORANKEI, NAGOYA

Cả tháng trước khi đi, tôi đã vào Internet nghiên cứu về vùng Korankei nổi tiếng để chiêm ngưỡng lá thu vàng. Korankei nổi tiếng đến nỗi chỉ nói đến tên là hầu như các tài xế taxi ờ Nagoya đều biết cũng như khách yêu phong cảnh mùa thu không thể bỏ qua. Vì vậy, sau bữa điểm tâm vội vã trên du thuyền, chúng tôi mướn một xe Van lớn với 8 chỗ ngồi, giá khoảng $1000 cho 6 giờ. Từ cảng Nagoya đến Korankei mất khoảng hơn 2 tiếng cho vừa đi vừa về, thế nên chúng tôi đã dùng gần 3 tiếng để ngắm cảnh và chụp hình.

Phong cảnh hữu tình

KORANKEI, nổi tiếng với phong cảnh đẹp vào mùa thu và theo tương truyền rằng xưa kia có một nhà sư thời Edo đã trồng những cây lá đỏ này, và ngày nay nơi đây là một trong những địa điểm ngắm lá đỏ đẹp nhất Nhật Bản, với một rừng cây khoảng 3.000 cây phong khoe sắc. Bên kia sông Asuke là những con phố cổ với những quán trọ xinh xắn.

Rừng cây đổi lá hai bên đường

Trời hôm ấy đẹp quá, bầu trời trong, sáng một màu xanh lơ và làn không khí se se lạnh thật là lý tưởng và hoàn hảo cho một buổi ngắm cảnh thu vàng. Thật vậy, khi xe vừa rẽ vào con đường dẫn đến dòng suối cạn cạnh bên sông Asuke, trước mắt chúng tôi hiện ra cả một khung trời bao la với muôn màu sắc.

Xuống xe, chúng tôi lần theo con đường mòn đưa xuống con suối cạn, len lỏi qua những bụi cây vàng rực, hít thở mùi thơm của lá rừng.

Quanh đây, nào mái nhà cổ kính, kia dòng sông nước chảy lặng lẽ qua những ghềnh đá. Ôi! Thiên nhiên như đang cống hiến một thiên dường nơi hạ giới, và chúng tôi như chìm đắm trong một bức tranh lộng lẫy.

Khánh Lan, Kim Hương, Đức Hạnh, Quốc Dân, Mạnh Bổng, Mỹ Xuân, Kim Hương

NOVEMBER 28, 2025-KYOTO-OSAKA
Mùa xuân của năm 2010 chúng tôi đã có dịp đến Nhật và thăm viếng ngôi chùa Kiyomizu-dera. Mùa: Xuân, Chùa Kiyomizu-dera bao trùm bởi những cây hoa anh đào nở rộ, khoe sắc với ánh hồng, trắng. Mùa Xuân cũng đẹp không kém gì mùa Thu, nhữnh chum hoa anh đào như che phủ cả bầu trời và trên khắp nơi khiến cho Nhật Bản đẹp lạ lùng. Những cánh hoa anh đào bay trong gió, vương trên cành cây, đọng trên lá và mặt đất như được trải một tấm thảm hoa. Xuân đến đem nhiều miềm vui trong lòng mọi người.

Trở lại Nhật lần này vào mùa Thu với một cảm xúc khác hẳn, cái se se lạnh và phong cảnh sang thu đem đến vẻ quyến rũ, lãng mạng trong lòng người thi sĩ. Trở lại thăm ngôi Chùa cũ, lòng chúng tôi nao nao buồn nhớ lại kỷ niệm xa xưa, trong ấy nhóm chúng tôi có 8 người (Khánh Lan, Tuệ Lan, Anh Nam, Bích Nga, Anh Trảm, Đức Hạnh, Ngọc Lan, Anh Thanh). 8 chúng tôi, kẻ mất người còn và cảnh cũng đã đổi thay đôi chút khiến lòng tôi chùng xuống…Thời gian trôi qua nhanh quá, thấm thoát đã 15 năm trôi qua. (2010-2025)
- Kiyomizu-dera Temple (Chùa Thanh Thủy-Kyoto)

Là ngôi chùa cổ đẹp nhất Kyoto và được xem là một trong những ngôi chùa cổ linh thiêng với cảnh quan thiên nhiên tuyệt mỹ, bởi cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp với các công trình kiến trúc Phật Giáo tâm linh, huyền bí.

Chùa Thanh Thủy (Kiyomizu dera) xây dựng vào đầu thời kỳ Nara (năm 778) tại lưng chừng núi Otowa. Ngôi chùa này đã trải qua nhiều biến cố và hỏa hoạn, khiến cho kiến trúc của thời kỳ đầu không còn giữ được nguyên vẹn. Và cho đến năm 1633, ngôi chùa Kiyomizu mới được xây dựng lại.

Chùa Kiyomizu-dera nổi tiếng với sân khấu Kiyomizu-dera được xây dựng trên vách đá cao 13 mét, mang đến tầm nhìn tuyệt đẹp ra thành phố Kyoto. Mùa thu, những tán lá phong xung quanh chùa chuyển sang màu vàng rực rỡ, tạo nên khung cảnh vô cùng kỳ thú. Kiyomizu dera trong tiếng Nhật có nghĩa là “dòng suối trong”, được lấy tên theo tên của một thác nước chảy từ ngọn núi Otowa. Người sáng lập ra ngôi chùa Thanh Thủy là thánh nhân Enchin cùng với sự bảo trợ của Sakanoue no Tamuramaro, một vị tướng quân nổi tiếng của Nhật.

Bước vào chính điện, tượng Phật Bà Quan Âm 11 mặt, nghìn mắt, nghìn tay. Đây cũng được xem là bảo vật của Nhật Bản, được mệnh danh là “Vũ đài Kiyomizu”. Nằm ngay dưới ngôi chánh điện là thác nước Otawa – nơi 3 dòng nước cùng hội tụ. Mỗi dòng nước đại diện cho một điềm may: trường thọ, tình duyên và thành đạt. Người ta tin rằng, khi người chiêm bái uống một ngụm nước ở 1 trong 3 dòng nước này thì điều may mắn sẽ đến. Ngược lại nếu tham lam uống nước ở cả 3 dòng thì điềm may hoàn toàn sẽ không linh nghiệm.

Khuôn viên chùa Thanh Thủy có ngôi điện Jinshu – nơi thờ thần Địa Quốc Chủ Ōkuninushi. Đây cũng được biết đến là vị thần tình yêu, giúp se duyên tốt lành cho những người chiêm bái. Trong ngôi điện này có 2 cột đá được gọi là “đá tình yêu”, nằm cách nhau khoảng 18m. Người ta tin rằng, những ai còn độc thân nếu nhắm mắt đi từ cột đá này đến cột đá kia, vừa đi vừa cầu duyên thì có thể gặp được tình yêu như ý nguyện.

Cổng chính của ngôi chùa có tên là Niomon (Cổng Nhị Vương), trước đây được làm bằng sơn mài nên còn được gọi là Cổng Đỏ. Nằm ngay những bậc đầu tiên dẫn đến ngôi chùa Thanh Thủy, cổng Nhị Vương gây với màu đỏ nổi bật cùng kích thước lớn (ngang 4.8 m và cao 8.5 m). Sau khi qua khỏi cổng chính sẽ tiếp tục là con đường cong cong dẫn vào chính đường cùng nhiều hạng mục chùa chiền, tháp ba tầng…
Chính đường Kiyomizu dera là một tòa nhà bằng gỗ được xây dựng lại vào thời kỳ Edo (năm 1633) và được chia thành 3 khu vực dựa vào các hàng cột. Ngay trước chính đường là một khoảng ban công rộng khoảng 90m2 được chống đỡ bởi vô số cột gỗ cao. Đây chính là một trong những nét kiến trúc nổi bật của chùa Kiyomizu mà không một ngôi chùa nào khác trên thế giới có được. Kiyomizu dera đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1994.
2. Atsuta Shrine
Đền Atsuta (Atsuta-jingū) là một đền thờ Thần đạo, nơi lưu giữ thanh kiếm thiêng Kusanagi no Tsurugi, một trong ba bảo vật hoàng gia của Nhật Bản – theo truyền thống được cho là được thành lập dưới thời trị vì của Thiên hoàng Keikō (trị vì năm 71–130 sau Công nguyên). Đền tọa lạc tại quận Atsuta, thành phố Nagoya, tỉnh Aichi, Nhật Bản. Ngôi đền thường được gọi là Atsuta-Sama (Đức Atsuta đáng kính) hoặc đơn giản là Miya (Ngôi đền).

Đây là khu vườn chúng tôi đã ghé thăm vào tháng 10 năm 2024 nên sẽ không ghi vào đây, vả lại chúng tôi chỉ ghé khoảng 20 phút thôi.

3. Shirotori Garden

Nagoya được biết đến là một trong những thành phố công nghiệp lớn nhất cả nước, nhưng nó cũng là một thành phố trồng nhiều cây xanh, và có nhiều công viên rải rác khắp thành phố, không khí trong lành, một nơi để thiền và thư giãn.

Vườn Shirotori là một khu vườn truyền thống Nhật Bản với một ốc đảo yên tĩnh và là nơi thoát khỏi cuộc sống thành thị.

Phong cảnh nơi đây vào mùa thu đẹp như một bức tranh, những cây mable được vùn trông cẩn thận bên hồ nước trong. Vườn Shiroton được coi là một trong những địa điểm thưởng ngoạn ngắm cảnh thu sang tuyệt diệu tại Nhật Bản.

Vườn Shirotori ban đầu được lên kế hoạch cải tạo từ một xưởng gỗ cũ thành một công viên thiên nga (do đó có tên “Shirotori“, nghĩa là chim trắng hay thiên nga trong tiếng Anh) trước khi quyết định đưa nó vào Triển lãm Thiết kế Thế giới năm 1989.

Việc cải tạo kéo dài tám năm, từ năm 1983 đến năm 1991. Vì vậy, nó được tạo ra như một gian trưng bày “vườn Nhật Bản“, và sau khi Triển lãm kết thúc, công việc cải tạo tiếp tục, biến nó thành khu vườn như ngày nay. Khu vườn đã mở cửa cho công chúng vào năm 1991.

Vườn Shirotori có tổng diện tích khoảng 3,7 ha, với một con đường chạy dọc theo bờ suối và ao hồ. Giống như nhiều khu vườn Nhật Bản khác, có một số yếu tố đại diện cho thiên nhiên và địa lý của khu vực xung quanh.

Vườn Shirotori được thiết kế để thể hiện cảnh quan thiên nhiên xung quanh Nagoya và tỉnh Aichi với trọng tâm chính là nước.

Được gọi là “Lịch sử của nước“, ao chính trong vườn đại diện cho vịnh Ise, trong khi ngọn đồi lớn ở góc tây nam của khu vườn đại diện cho núi Ontake, với dòng chảy từ đỉnh đồi xuống là sông Kiso hùng vĩ.

Chiếc cầu Thiên Nga dẫn đên dòng suối của công viên
Ở trung tâm khu vườn là Seiu-tei, một khu phức hợp các phòng dành cho nghi lễ trà đạo. Seiu-tei được thiết kế để tái tạo hình ảnh một con thiên nga trắng thanh lịch đang hạ cánh để nghỉ ngơi. Các phòng trà, được mở cửa cho công chúng sử dụng, hài hòa hoàn hảo với môi trường tự nhiên xung quanh.

5. Dạo phố Kyoto

NOVEMBER 29, 2025 AT SEA
Khi du thuyền “at sea” là lúc chúng tôi tha hồ “diện” lên quần áo đẹp để chụp những tấm hình kỷ niệm. Hình chụp trên du thuyền bán rất mắc. $30 cho một tấm hình, do đó Đức Hạnh, Mỹ Xuân và tôi chung nhau mua một “promotion packet” giá $349 cho 29 tấm hình. Như vậy tương dối “rẻ” hơn nhiều.


NOVEMBER 30, 2025-SHIKINAEN SHIKINAEN ROYAL GARDEN-OKINAWA-NAHA

Ra khỏi du thuyền và lấy kinh nghiêm của mấy lần trước, chúng tôi lại mướn một cái Mini Van-6 chỗ với giá $450 đi Makishi thăm Shikinaen Royal Garden.
- Shikinaen Royal Garden

Vườn Hoàng gia Shikinaen được hoàn thành vào năm 1799 dưới thời vua Sho On, vị vua thứ 15 của Vương triều Sho thứ hai thuộc Vương quốc Ryukyu, và từng là biệt thự hoàng gia lớn nhất. Nơi đây được sử dụng để giải trí cho hoàng gia và tiếp đón các sứ thần của Hoàng đế Trung Quốc. Được chính phủ Nhật Bản công nhận là danh lam thắng cảnh vào năm 1941, khu vườn đã bị hư hại nghiêm trọng trong Trận Okinawa vào cuối Thế chiến II. Sau khi được tái thiết sau chiến tranh, nó được công nhận lại là danh lam thắng cảnh vào năm 1976 và được công nhận là Danh lam thắng cảnh đặc biệt vào năm 2000. Nó cũng được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 2000, một phần của “Các Di tích Gusuku và Di sản Liên quan của Vương quốc Ryukyu”.

Khu vườn, kết hợp phong cách vườn dạo ao Nhật Bản, tập trung xung quanh Hồ Shinji-ike, có hình dạng giống như một hình trái tim méo mó. Nơi đây có các công trình kiến trúc như cung điện, đình lục giác, điện Kanko-dai, cùng những cây cầu đá vôi và bia đá Ryukyu. Phong cách sân vườn, sự kết hợp giữa thiết kế độc đáo của Ryukyu và ảnh hưởng từ văn hóa Nhật Bản và Trung Quốc, phản ánh sự thịnh vượng của thương mại hàng hải Vương quốc Ryukyu. Du khách có thể thong thả dạo bước trong khu vườn, gợi nhớ về một thời hoàng kim của vương quốc.

Chúng tôi thả bộ trên con dường mòn dẫn đến một hồ nước nhân tạo với cầu đá, nhà thủy tạ, khu nhà nghỉ và sườn đồi thoai thoải. Shikinaen Garden có vẻ đẹp hoang dã với những cây cổ thụ cả 100 tuổi, um tùm mọc không trật tự vì thiếu người coi sóc.

Được biết đến là một trong những khu vườn theo phong cách Nhật Bản đẹp nhất ở Okinawa và được liệt kê trong số các Di sản Thế giới của UNESCO. Kiến trúc và hệ thực vật nơi đây lại mang một nét độc đáo không thể nhầm lẫn của Okinawa. Shikinaen được xây dựng vào năm 1799 làm biệt thự cho hoàng gia Vương quốc Ryukyu.

Ngoài mục đích giải trí, khu vườn còn đóng vai trò quan trọng trong ngoại giao. Vào thời điểm đó, Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến vương quốc, vừa là đối tác thương mại vừa là cường quốc đối ngoại. Mỗi khi một vị vua mới lên ngôi, hoàng đế Trung Quốc sẽ cử sứ thần đến chính thức phê chuẩn việc lên ngôi, một nghi lễ thiết yếu để duy trì quan hệ thương mại. Các bữa tiệc lớn được tổ chức tại Shikinaen để tiếp đón các sứ thần. Đặc điểm của khu vườn Giống như nhiều khía cạnh văn hóa khác của Vương quốc Ryukyu, Shikinaen mang nhiều yếu tố kiến trúc và thiết kế vay mượn từ cả Nhật Bản và Trung Quốc.
- Dạo phố Makishi-Naha
Trước khi về lại du thuyền, chúng tôi ghé phố để mua một vài thứ như Roihi-Tsuboko (Cao dán), Matcha Au Lait, Medicated lip stick về làm quà cho bạn bè và dùng hết tiền của Nhật vì hôm nay là ngày cuối ở nhật.


DECEMBER 01, 2025-AT SEA-LẠI CHỤP HÌNH

Chuyến đi này du thuyền sẽ ghé Taiwan (Taipei, Keelung & Kaohsiung) và Hong Kong. Tôi chưa một lần ghé Taiwan mặc dù khi còn nhỏ tôi đã đọc rất nhiều về đất nước này qua những tác phẩm trữ tình & lãng mạn của nữ văn sĩ Quỳnh Giao với Mùa Thu Lá Bay, Dòng Sông Ly Biệt, v.v… Ngày 4 tháng 12, 2024 nữ văn sĩ Quỳnh Giao qua đời ở tuổi 86 (1938-2024). Đất nước Taiwan đã mất đi một nhân tài…


DECEMBER 02, 2025-TAIWAN-KAOSHIUNG (CAO HÙNG)

Là một thành phố lớn nhất và nằm ở phía nam Đài Loan, trải dài từ trung tâm đô thị ven biển đến dãy núi Yushan với diện tích 2.952 km2 và là thành phố đông dân thứ ba của Đài Loan. Thành lập vào thế kỷ 17 như một làng buôn bán nhỏ tên là Takau (hay Takow), sau đó phát triển thành trung tâm chính trị và kinh tế của miền nam Đài Loan, với các ngành công nghiệp chính như sản xuất thép, lọc dầu, vận tải hàng hóa và đóng tàu.

Dọc theo bờ biển phía nam Đài Loan là Cao Hùng, một thành phố rộng lớn với dân số chỉ dưới ba triệu người. Đây thực sự là thành phố đông dân thứ hai ở Đài Loan. Thành phố Cao Hùng tuyệt đẹp và thú vị mang đến nhiều trải nghiệm đa dạng không kém gì Đài Bắc. Thành phố này luôn sôi động và nhộn nhịp. Hệ thống giao thông liên thành phố dễ sử dụng, có thể so sánh với hệ thống tàu hỏa vượt trội của Nhật Bản, với rất nhiều chuyến tàu chạy suốt cả ngày, việc chuyển tuyến dễ dàng và nhanh chóng.


Với chiều cao 85 tầng, đây chính là biểu tượng cho sự phát triển kinh tế của thành phố này. Tòa tháp Tuntex Sky tọa lạc tại trung tâm quận Ling Ya, xây năm 1994 đến năm 1996 và trở thành tòa nhà cao nhất Đài Loan cho đến năm 2004 thì tòa nhà chọc trời Taipei 101 đã “chiếm” mất danh hiệu này của Tuntex Sky. Tuy vậy nhưng đây vẫn được coi là biểu tượng kinh tế, là trung tâm văn hóa của thành phố Cao Hùng.

Tòa nhà 85 tháp Tuntex Sky – biểu tượng kinh tế của Cao Hùng
Khi du thuyền cặp bến, chúng tôi lại mướn một xe Mini Van 6 chỗ với giá rất dễ thở đi thăm chùa Fo Guangshan Buddist Temple. Ngôi chùa Phật Quang Sơn nằm ở khu vực Đông Bắc của làng Đại Thọ, được coi là kinh đô Phật Giáo của Đài Loan, một trong những trường Đại học Phật Giáo lớn nhất.
- Fo Guangshan Buddist Temple (Phật Quang Sơn- kinh đô Phật Giáo)
Đến Cao Hùng, nhất định phải ghé thăm chùa Phật Quang Sơn. Đây là tu viện Phật giáo lớn nhất Đài Loan và là nơi lưu giữ bức tượng Phật bằng đồng cao 108 mét, nặng 1.800 tấn (tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi lớn nhất châu Á). Rất tiếc một phần của Chùa đóng cửa để tu sửa. Tuy nhiên Tu viện Phật Quang Sơn thì mở cửa.

Chùa Phật Quang Sơn được xây trong bảy năm (1967-1974) với diện tích hơn 100 ha. Nơi đây có hơn 20 tòa điện, lầu, đường trang nghiêm cùng nhiều pho tượng đồ sộ trong đó có pho tượng Phật cao nhất thế giới với chiều cao 108m. Hai hàng bảo tháp tạo nên hai bức tường thành dẫn đến bức tượng Phật. Đây là nơi lưu giữ 100 vạn bản Tâm Kinh do hàng ngàn người chép tay.


Tu viện Phật Quang Sơn
Tu viện Phật Quang Sơn tuyệt đẹp nằm ngay ngoại ô thành phố. Khu phức hợp này là nơi tọa lạc của những ngôi chùa tuyệt đẹp, những ngôi bảo tháp cao chót vót và một số phòng triển lãm, nơi tìm hiểu thêm về Phật giáo. Bức tượng này cũng là tượng Phật ngồi khổng lồ, cao 108 mét, bằng đồng lớn nhất thế giới! Trong Sảnh Triển lãm Chính của Bảo tàng Phật Quang Sơn, nhiều hiện vật cổ và tác phẩm nghệ thuật thiêng liêng.

Quang cảnh quanh tu viện thật đẹp và công trình xây cất rất lớn. Từ xa, chúng tôi đã thấy tượng Phật hiện ra trên đỉnh đồi. Qua một chặng đường dốc, chúng tôi đả đến cổng Chùa.

Cổng vào tu viện

Và sau khi chèo lên hơn 100 bậc thang, chúng tôi đã đên chân của pho tượng Phật trên đỉnh ngọn đồi. Từ trên đỉnh đồi nhìn xuống, thành phố Cao Hùng hiện ra ngay trên tầm mắt, bao la, rộng lớn.

Trên đỉnh tu viện

- Đầm Liên Trì hay hồ sen
Là một địa điểm ngắm bình minh hay hoàng hôn. Tháp Long Hổ gần Dầm Liên Trì còn được gọi là Tiger Pagodas. Ngay cạnh đây còn có Tháp Long Hổ, Đài Xuân Thu, đền Khổng Tử đều là những biểu tượng của thành phố biển Cao Hùng.
Đặc biệt chùa Liên Trì ở đây là một trong những ngôi chùa ấn tượng nhất châu Á.

Đầm Liên Trì – Lotus Pond thực chất là một hồ nước nhân tạo. Một danh lam thắng cảnh nức tiếng nằm ở phía Bắc thành phố Cao Hùng. Nơi đây tạo nên ấn tượng mạnh với du khách trong và ngoài nước bởi hình ảnh những ngôi đền có kiến trúc đa dạng nằm rải rác quanh hồ. Nổi bật nhất trong số đó là Đền Khổng Tử ở phía Bắc đầm; Đài Xuân Thu và Tháp Long Hổ ở phía Nam của đầm.

Đầm Liên Trì tuyệt đẹp cả ngày lẫn đêm! Nhưng lãng mạn và lung linh hơn cả đó chính là vào mỗi buổi chiều tà. Khi mặt trời dần dần biến mất, tạo thành những tia sáng ấm áp, bảo phủ lên một vùng rộng lớn và phản chiếu qua làn nước đang gợn sóng lăn tăn. Đến với khu vực Đầm Liên Trì, du khách còn có thể kết hợp tham quan một số địa danh gần đó như cổng chào quận Phượng Sơn – di tích lịch sử cấp một; Hay những tàn tích của các bức tường đã trải qua nhiều biến cố trong quá khứ.
Đầm Liên Trì hiện bao gồm hơn một chục ngôi chùa (một số ngôi chùa xung quanh đã hơn hai thế kỷ tuổi), các đình chùa và chùa chiền. Tất cả đều nằm trong khoảng cách đi bộ đến được với nhau, và mỗi nơi đều mang đến một góc nhìn độc đáo và tuyệt đẹp ra hồ. Bao gồm 42000m2 với đền chùa tuyệt đẹp, Đầm Liên Trì, Tháp Long Hổ là nơi phải đi vào miệng của các con thú để vào bên trong các tháp. Leo lên đỉnh ở tầng 7 của tháp, ta có thể thấy Cung điện Cihji, Đình Xuân Thu, Đình Pei Chi và ao nước tuyệt đẹp.
- Tháp Long Hổ (Tiger Pagodas)
Tháp Long Hổ được khánh thành vào năm 1951, nằm ở phía bắc thành phố Cao Hùng, Đầm Liên Trì đã là một điểm dừng chân nổi tiếng từ thời nhà Thanh. Hồ Liên Hoa ở Cao Hùng thực chất là một hồ nhân tạo được xây dựng vào những năm 1950. Tọa lạc tại Zuoying District, Kaohsiung City, Taiwan 813. Lễ hội đèn lồng Cao Hùng hàng năm cũng thường diễn ra tại Hồ Liên Hoa. Ngày nay, khu vực rộng lớn này là một trong những điểm nổi bật ở Cao Hùng với những ngôi chùa tuyệt đẹp và những bông sen nở rộ vào mùa hè.

Có khoảng 20 ngôi chùa nằm rải rác dọc bờ hồ gần đó, mỗi ngôi chùa đều có nét độc đáo riêng. Tất cả đều có thể đến được bằng những lối đi bộ. Điểm nổi bật là Tháp Long Hổ, được xây dựng vào những năm 60. Các tòa tháp nằm ngay bên bờ hồ. Gần khu vực này có Đền Khổng Tử, Đền Giác Ngộ, Đình Xuân Thu, và bức tượng Huyền Thiên Thượng Đế khổng lồ, vào ban đêm mọi thứ đều được thắp sáng.

Theo truyền thống Đài Loan, khi đi vào qua miệng rồng và đi ra qua hàm hổ với hy vọng sẽ được may mắn.

Đi qua miệng hổ và miệng rồng

Bên trong miệng hổ là những bức tranh minh họa về nguồn gốc của Tháp Long Hổ.

Zuoying Ciji Temple or Chiji Temple
Là Buddhist temple gần Lotus Lake ở Zuoying District, Kaohsiung, Taiwan.

5. Đài Xuân Thu

Đài Xuân Thu ra đời năm 1952 là một ngôi đền Đạo giáo có kiến trúc độc đáo, cầu kỳ. Khu vực đài bao gồm hai tòa tháp chính là tháp mùa xuân và tháp mùa thu. Cả hai tòa tháp này đều được xây dựng theo phong cách cung điện Trung Hoa. Có một chút phảng phất hình ảnh của những ngôi chùa cổ.

Hai tòa tháp này được nối với nhau bằng một cây cầu 9 khúc. Đây là kiểu cầu đặc trưng thường xuất hiện trong phong thủy Trung Quốc.



DECEMBER 03 & 4, 2025-HONG KONG
HONG KONG
Hong Kong là quốc gia với hơn 260 hòn đảo lớn nhỏ. Hong Kong có tổng diện tích là 2.755 km2, bao gồm phần đất liền và hơn 260 hòn đảo. Lớn nhất là đảo Đại Tự Sơn, nổi tiếng nhất là đảo Hong Kong và bán đảo Cửu Long, Tân Giới là vùng đất liền và hầu hết các đảo còn lại. Ba mặt của Hong Kong là biển, phần đất liền duy nhất ở phía Bắc giáp thành phố Thâm Quyến của tỉnh Quảng Đông. Nổi tiếng là quốc gia có những địa điểm tham quan tuyệt đẹp, từ cảnh quan thiên nhiên của núi rừng và biển cả, đến những công trình đền đài cổ kính mang kiến trúc đặc sắc. Hong Kong là một thành phố năng động, hiện đại, sầm uất với những tòa cao ốc cao chọc trời.

Hong Kong là sự kết hợp tinh tế của văn hóa truyền thống Trung Hoa và văn hóa hiện đại phương Tây. Hong Kong hay Hương Cảng ban đầu chỉ là một vùng thưa thớt, nghèo nàn và lạc hậu thuộc vùng Hoa Đông được triều đình nhà Thanh nhượng lại cho Vương Quốc Anh vào năm 1841. Nó phát triển mạnh mẽ thành một trung tâm tài chính quan trọng bậc nhất thế giới, cùng với Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore trở thành “4 con rồng kinh tế Châu Á”.

Cho đến năm 1997, Hong Kong được trao trả lại cho Trung Quốc và trở thành Đặc khu hành chính (SAR) có quyền tự trị. Tức là Hong Kong thuộc Trung Quốc nhưng có hệ thống chính trị, luật pháp, giáo dục, kinh tế và tiền tệ độc lập với đại lục. Hầu như người dân ở đây lấy tên tiếng Anh, có giấy thông hành riêng và coi mình là người Hong Kong hơn là người Trung Quốc.

Hầu hết người Hong Kong là người gốc hán đến từ Quảng Đông. Tổng dân số vào khoảng 7,413 triệu người, tập trung trong các khu đô thị chật hẹp, khiến mật độ dân số ở đây thuộc hàng cao nhất thế giới. Với mức thu nhập bình quân đầu người là 48,517 USD, mọi chi phí ở Hong Kong cực kỳ đắt đỏ. Ngôn ngữ chính thức của Hong Kong là tiếng Anh và tiếng Trung Quốc, các biển báo đều có song ngữ. Hong Kong được chia làm 5 khu vực chính:
- Đảo Hong Kong là nơi người Anh đặt chân đến đầu tiên, là trung tâm kinh tế với hàng trăm tòa nhà chọc trời, cao ốc sang trọng. Các khu xếp theo thứ tự từ đắt đến rẻ: Vịnh Causeway, Central, Wan Chai và Sheung Wan.
- Kowloon (Cửu Long) đậm chất văn hóa Trung Hoa, giá đỡ đắt đỏ hơn Đảo Hong Kong. Kowloon hay bán đảo Cửu Long, bao gồm các khu xếp theo thứ tự từ đắt đến rẻ: Tsim Sha Tsui, Yau Ma Tei và Mong Kok.
- Lantau (Đại Tự Sơn, tên cũ là Lạn Đầu): đảo lớn nhất Hong Kong, nơi đặt sân bay quốc tế.
- Outlying Islands (Các hòn đảo xa xôi): nổi bật nhất là đảo Cheung Chau, tiếp theo là đảo Lamma.
- The New Territories (Tân giới): phần đất liền, chủ yếu là nơi sinh sống của dân địa phương.
Rời Cao Hùng, du thuyền cặp bến cảng Hong Kong và ở lại qua đêm nên chúng tôi quyết định thuê xe di Lantau Island, nơi có tượng “Phật Thiên Tân” và ăn cơm chay tại Polin Monastery (Tu viện Po Lin) mà chúng tôi đã có dịp thưởng thức qua trong một chuyến thăm Hong Kong năm 2004. Nhưng lần này, chúng tôi vô cùng thất vọng vì cơm chay tại đây không còn ngon như xưa.
NGẮM THÀNH PHỐ TỪ SKY100

Sky100 là điểm ngắm nhìn thành phố từ trên cao lý tưởng nhất chỉ sau đỉnh núi Thái Bình. Đài quan sát này nằm trên tầng 100 của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ICC) ở Cửu Long. Được CNN vinh danh là một trong 17 địa điểm phải đến khi tham quan Hồng Kông. Du khách đến Sky100 sẽ ngỡ ngàng với tốc độ siêu nhanh của thang máy. Đài quan sát có tầm nhìn 360°, ngoài ngắm nhìn Hong Kong từ mọi góc độ còn được tìm hiểu về lịch sử và văn hóa Hong Kong thông qua phòng trưng bày nghệ thuật.
HONG KONG-DAY 1-LANTAU ISLAND (Đảo Đại Tự Sơn)
Đại Tự Sơn (tên cũ Lạn Đầu, tiếng anh Lantau) là hòn đảo lớn nhất Hong Kong, nơi đặt sân bay quốc tế. Về mặt hành chính, hòn đảo này thuộc Tân Giới.
- Khu du lịch Disneyland (Hong Kong Disneyland): Công viên giải trí nổi tiếng với các cuộc phiêu lưu và hoạt động vui chơi cho cả gia đình.
- Ngong Ping 360: Dây cáp treo từ Tung Chung đến làng Ngong Ping ở đỉnh Đại Nhĩ Sơn. Các điểm tham quan bao gồm làng Ngong Ping, tượng Phật Thiên Đàn (Tian Tan Buddha) còn gọi là tượng Phật Thiên Tân, tượng Đại Phật bằng đồng nặng 202 tấn, Con đường trí tuệ (Wisdom Path) và Thiền viện Bửu Liên (Po Lin Monastery).
- Scenic Ngongin Cable Car Ride. (Ngong Ping 360)
Ngong Ping 360, bao gồm làng Ngong Ping và tuyến cáp treo nối giữa Tung Chung và Ngong Ping được xây dựng gần tu viện Po Lin và tượng Đại Phật Ngong Ping (Thiên Tân).


Để lên được tới đỉnh núi và viếng tượng “Phật Thiên Tân” chúng tôi phải mua vé Ngongin Cable Car Ride dể đến làng Ngong Ping. Giá vé cùa Scenic Ngongin Cable Car Ride 360 khoảng hơn $10. Ngong Ping 360 là một hệ thống cáp treo hai dây trên đảo Lantau, Hong Kong. Hệ thống cáp treo này trước đây được gọi là Dự án Cáp treo Tung Chung trước khi đổi tên thành Ngong Ping 360 vào tháng 4 năm 2005. Nó bao gồm Cáp treo Ngong Ping, trước đây được gọi là Ngong Ping 360 Skyrail, và Làng Ngong Ping, một trung tâm mua sắm và giải trí nằm cạnh ga trên của cáp treo.


Thành phố Hong Kong nhìn từ trên Ngong Ping 360 Cable Car


Ngong Ping 360 Cable Car Audio Tour

Tượng Đại Phật Ngong Ping (Thiên Tân) nhìn từ 360 cable car

Ngong Ping 360 kết nối Tung Chung, nằm ở bờ biển phía bắc của đảo Lantau và được kết nối với trung tâm Hong Kong bằng tuyến đường sắt Tung Chung, với khu vực Ngong Ping trên đồi. Khu vực này là nơi tọa lạc của Tu viện Po Lin và tượng Phật Thiên Tân. Trước khi Ngong Ping 360 được khai trương, cách duy nhất để đến đây là bằng đường núi và dịch vụ xe buýt. Ngong Ping 360 thuộc sở hữu của Tập đoàn MTR, nhà điều hành hệ thống đường sắt của Hong Kong. Nó được xây dựng bởi Leitner Ropeways và ban đầu được vận hành bởi Skyrail-ITM. Skyrail-ITM đã bị loại khỏi dự án sau một cuộc điều tra sau sự cố xảy ra vào tháng 6 năm 2007. Hiện nay, nó được vận hành bởi một công ty con thuộc sở hữu trực tiếp của Tập đoàn MTR.

Tu viện Po Lin và tượng Đại Phật Ngong Ping (Thiên Tân)

Tượng Phật Thiên Tân, một bức tượng Phật khổng lồ được hoàn thành năm 1993.

Đại Phật Ngong Ping (Thiên Tân) nằm trên ngọn đồi trong làng Ngong Ping. Đây là một công trình vĩ đại, địa điểm nổi tiếng bật nhất khi nhắc đến Hongkong. Tọa lạc trên đảo Lanto, sở hữu vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ kết hợp với tượng Đại Phật khổng lồ. Tượng Đại Phật Ngong Ping nặng khoảng 250 tấn là một trong những tượng Phật lớn nhất thế giới, với độ “khổng lồ” và nằm trên một độ cao. Để lên trên đỉnh bạn phải vượt qua 268 bậc thang.
Làng Ngong Ping

Ngôi làng Ngong Ping nằm trên vùng vùng cao nguyên ở phía tây đảo Lantau, Hồng Kông. Nơi đây có tu viện Po Lin và tượng Phật Thiên Tân cao khoảng 34 mét nằm giữa những ngọn đồi. Có nhiều ngọn đồi khác gần đó và hiện nay là điểm cuối của tuyến cáp treo Ngong Ping 360 nối đến Tung Chung.


Nằm trên Đỉnh Lantau là đỉnh núi cao thứ hai của Hồng Kông, ở phía đông nam của khu vực, làng Ngong Ping xây theo phong cách rất trang nhã với những ngôi biệt thự bao quanh bởi vườn hoa ngũ sắc, khu “Đi bộ cùng Đức Phật“, Nhà hát Câu chuyện Khỉ, Quán trà Ngong Ping và nhà nghỉ dành cho thanh thiếu niên nằm gần tu viện Po Lin.

Trống đặt hai bên thành cầu với hàng chữ trên mặt trống tượng trưng: Success, Fortunes, Health, luck. Propitiousness, Auspiciousness, Happiness, Peace.


Tượng Phật Thiên Đàn trên đỉnh Ngong Ping thuộc đảo Lantau là một trong những tượng Phật sở hữu khung cảnh nên thơ cùng vẻ đẹp mang đậm chất thiền môn. Tượng Phật Thiên Đàn còn được gọi là Tượng Phật Thiên Tân, ở độ cao 482 mét so với mực nước biển, Tượng Phật Thiên Tân còn được biết đến là niềm tự hào của văn hóa Hong Kong. Đây là hình mẫu đại diện cho những giá trị vật chất trong tâm trí người dân địa phương nơi đây từ tôn giáo, nghệ thuật, kỹ thuật cho đến kiến trúc.

Đi qua cổng Chùa và vượt qua 268 bậc thang, chúng tôi dã đến chân tượng Phật Thiên Tân

Tượng Phật Thiên Đàn cao đến 34 mét và được xây dựng từ hơn 200 mảnh đồng có trọng lượng lên đến trên 250 tấn.

Đứng trên đỉnh, bên phải tượng Phật là thành phố Ngong Ping và bên phài của Ngài là Lục Thiên Đồ.

Lục Thiên Đồ cúng dường tạo nên không gian uy nghiêm
Xung quanh tượng Phật Thiên Đàn ở trung tâm chính là Lục Thiên Đồ cúng dường. Đây là sáu bức tượng đồng nhỏ bao quanh bức tượng lớn mang ý nghĩa Lễ cúng dường của 6 vị thần. Trên tay các vị thần có mang những lễ vật như hoa, trái cây, hương, nhạc cụ, thuốc mỡ, đèn tượng trưng cho sự rộng lượng, đạo đức, kiên nhẫn, nhiệt huyết, thiền định, trí tuệ.

Tu Viện Po Lin (Po Lin Monastery)
Đối diện với tượng Phật Thiên Tân là công dẫn vào Po Lin Monastery, nơi mà chúng tôi dừng chân và dùng cơm trưa tại đây. Tu viện Po Lin là một tu viện Phật giáo Thiền tông, nằm trên cao nguyên Ngong Ping, trên đảo Lantau, Hồng Kông. Tu viện được thành lập vào năm 1906 bởi ba nhà sư đến từ tỉnh Giang Tô, Trung Quốc đại lục và ban đầu được gọi đơn giản là “Ngôi nhà tranh lớn“. Sau được đổi tên thành tên hiện tại vào năm 1924. Ngôi chùa chính có ba bức tượng Phật bằng đồng tượng trưng cho quá khứ, hiện tại và tương lai của Ngài – cũng như nhiều kinh sách Phật giáo.

Tu viện Po Lin có nhiều công trình kiến trúc nổi bật, chẳng hạn như Đại điện thờ Phật, Điện thờ Bồ Tát Skanda. Tu viện này cũng nổi tiếng với việc sản xuất vòng tay bằng gỗ chỉ được bán gần tượng Phật Thiên Tân. Năm 1918, ba ni cô được thụ giới tại tu viện này đã thành lập một tu viện tư nhân gọi là Chi Chuk Lam trên đồi Hạ Khương Sơn của đảo Lantau. Tu viện này thờ Quan Âm, Nữ thần Từ bi. Có khoảng 20 cư sĩ và ni cô sinh sống ở đó vào những năm 1950, nhưng hiện nay chỉ còn một vị trụ trì lớn tuổi.

Phong cảnh quanh Chùa đẹp và đông du khách và phật tử đến viếng.

HONG KONG-DAY 2-HONG KONG ISLAND

Đảo Hồng Kông (Hong Kong Island)
Hong Kong, một thành phố náo nhiệt, hiện đại, thú vị, bí ẩn, hấp dẫn và quyến rũ. Hong Kong, nơi những truyền thống cổ xưa hòa quyện cùng một thành phố hiện đại bậc nhất. Những địa điểm nổi bật như:

Núi Thái Bình (Victoria Peak) là điểm cao nhất của Hong Kong, nơi ngắm nhìn toàn cảnh đảo Hong Kong và vịnh Victoria, The Peak Tower, bảo tàng Madame Tussauds và các khu mua sắm.

Khu Central: Trung tâm tài chính với các tòa nhà cao ốc hiện đại, cửa hàng mua sắm hàng hiệu và nhà hàng sang trọng như Graham Street (Con phố nghệ thuật nằm gần MTR Central); Central MidLevel Escalator (Thang cuốn ngoài trời dài nhất thế giới); Man Mo Temple (Đền thờ trên đường Hollywood Road); Hong Kong Observation Wheel (Vòng lớn nằm ngay cạnh Lan Kwai Fong). Lan Quế Phường (Lan Kwai Fong) và Soho: Khu vực nổi tiếng với các quán bar, nhà hàng, và cuộc sống về đêm sôi động.

Yick Fat Building và Montane Mansion tại Vịnh Causeway: Một bối cảnh trong Transformer 4, bao gồm những tòa nhà cao tầng đầy màu sắc. Blue House tại Wan Chai: Xuất hiện trong rất nhiều bộ phim nổi tiếng của TVB. Chụp ảnh ở đây cũng đẹp ghê gớm. Công viên Đại dương Hồng Kông (Ocean Park Hong Kong): Công viên nổi tiếng chỉ sau Disneyland. Aberdeen Floating Village: Nằm ở cuối đảo Hong Kong, nổi tiếng với nhà hàng trên biển.
Highlights of Hong Kong Tour
Khi book chuyến du thuyền này chúng tôi được credit 150 phút Internet free và $25 discount cho mỗi người, vì thế chúng tôi dùng số tiền này để mua tour của du thuyền: Highlights Hong Kong tour giá $79 cho mỗi người.
- Vịnh Victoria

Bồng bềnh trên mặt nước ngắm nhìn thành phố xa hoa lộng lẫy là một trải nghiệm rất đáng để thử. Hong Kong có các loại du thuyền, tàu cao tốc, thuyền truyền thống kiểu Trung Hoa và phà. Phà rất rẻ, một chuyến phà từ Cửu Long đến đảo Hong Kong sẽ cho bạn ngắm nhìn toàn cảnh vịnh Victoria.


Jumbo Floating Restaurant


2. Ghé thăm làng nổi Aberdeen
Biết đến Aberdeen chỉ là thành phố khoảng 60.000 cư dân, hầu hết cư dân sinh sống trong những tòa cao ốc, nhưng một số nhỏ vẫn sống trên những con thuyền tránh bão trong vịnh, như cha ông đã sống hàng trăm năm trước đây. Khu vực này tạo thành một điểm đến lý thú, với nhịp sống có phần chậm hơn cái hối hả, nhộn nhịp của Hồng Kông và Cửu Long.
Làng nổi Aberdeen (Aberdeen Floating Village) nằm trong cảng Aberdeen thuộc quận Nam của thành phố Hồng Kông. Quận Nam là một trong 18 quận của thành phố này. Làng nỗi này rất đặc biệt, có khoảng 600 ghe thuyền (Junk) ở đó hơn 6,000 người đang sống trôi nỗi dưới nước.

Những người sống dưới ghe ở Aberdeen được biết đến với tên Tanka. Họ là người sống dưới ghe đến làng Aberdeen nầy sinh sống từ thế kỷ thứ 7-9. Người “Tanka” đến từ những vùng Quảng Đông (Guangdong), Guangxi, Fujian, Hải Nam (Hainan) và Zhejiang của Trung Quốc. Trong lúc đó những người “boat people” (dân đi ghe) Việt Nam đã tới đây vào cuối những năm 1970.

Suốt thế kỷ 19 dân đánh cá sống trên ghe thuyền trong làng Aberdeen này. Ngày nay họ chỉ đến đây đánh cá ban ngày thôi. Hãy đi dọc bờ biển, ngắm những chiếc thuyền đậu san sát trên vùng nước yên tĩnh giữa Thành phố Aberdeen và đảo Ap Lei Chau. Gần 20.000 cư dân vạn chài vẫn sống trên khoảng 2.000 nhà thuyền và thuyền độc mộc ngay cạnh những chiếc du thuyền mới cáu của các triệu phú. Láng Aberdeen nổi tiếng đã bị các tòa nhà thương mại và nhà máy lấn át trong những năm gần đây, nhưng Aberdeen vẫn giữ được những nét đặc trưng của một làng chài truyền thống. Tại đây, ngồi trên thuyền sampan – một loại thuyền gỗ nhỏ, len lỏi qua những con hẻm nhỏ của làng để quan sát cận cảnh cộng đồng thuyền bè.

3. Đi xe điện peak tram đến sky terrace 428-Ngắm thành phố trên vịnh Victoria

The Peak Tram
Peak Tram là một trong những điểm du lịch nổi tiếng nhất Hong Kong. Đây là tuyến đường sắt có độ dốc nhất thế giới. Đưa du khách lên đỉnh Victoria và Sky Terrace 428, ngắm nhìn thành phố từ trên cao rất ngoạn mục. Khu này có nhiều cửa hàng, nhà hàng và điểm thăm quan như Madame Tussauds và The Art Of Chocolate Museum.


Trên đỉnh Victoria và Sky Terrace 428, ngắm nhìn thành phố từ trên cao


Trên đỉnh Victoria

Xe tàu điện Peak Tram để tận hưởng khung cảnh tuyệt đẹp của thành phố và bến cảng từ trên đỉnh. Về phía nam của Đảo Hong Kong là Vịnh Repulse, một trong những bãi biển đẹp và nổi tiếng nhất Hong Kong.
- Repulse Bay
Vịnh Repulse hay Tsin Shui Wan là một vịnh ở phía nam đảo Hồng Kông, thuộc quận Nam, Hồng Kông. Đây là một trong những khu dân cư đắt đỏ nhất thế giới. Địa lý Vịnh Repulse nằm ở phía nam đảo Hồng Kông, phía đông vịnh Deep Water Bay và phía tây vịnh Middle Bay và South Bay. Đảo Middle Island nằm ngoài khơi đảo Hồng Kông, giữa vịnh Repulse và vịnh Deep Water Bay

Các con đường được phát triển giữa phía Nam và phía Bắc đảo Hồng Kông và vào những năm 1910, vịnh Repulse được phát triển thành một bãi biển. Khách sạn Repulse Bay được gia đình Kadoorie xây dựng vào năm 1920. Để thu hút người bơi lội, một tuyến xe buýt từ Central đến Repulse Bay đã được tạo ra, và hiện nay là một trong những tuyến xe buýt lâu đời nhất của Hồng Kông. Trong trận chiến Hồng Kông thời Thế chiến thứ hai, Repulse Bay là một địa điểm chiến lược quan trọng. Khách sạn Repulse Bay được quân đội Nhật Bản sử dụng làm bệnh viện quân sự trong chiến tranh. Bãi biển được mở rộng nhân tạo, do đó cát gần bờ có kết cấu thô hơn so với cát ở xa bờ. Đây là một trong những bãi biển dài nhất ở Hồng Kông với chiều dài 292 mét (960 feet).
- Longevity Bridge (Cầu Trường Thọ)
Nằm ở phía nam bãi biển Repulse Bay ở Hồng Kông, Cầu Trường Thọ là một địa điểm huyền thoại thuộc khu phức hợp đền thờ Kwun Yam. Được thiết kế như một phần riêng biệt so với chính ngôi đền, công trình kiến trúc nhỏ bé nhưng đầy màu sắc này mang ý nghĩa đặc biệt trong văn hóa dân gian địa phương. Theo truyền thuyết, bất cứ ai đi qua cây cầu này sẽ được thêm ba ngày tuổi thọ. Cây cầu nổi bật giữa khu phức hợp đền thờ Kwun Tam và Tin Hau rực rỡ, nằm ở phía cực nam của bãi biển.

Cây cầu đặc biệt quyến rũ vào lúc hoàng hôn, khi mặt trời chiếu những tia sáng tuyệt đẹp phía sau nó. Được bao quanh bởi các bức tượng thần và nữ thần, bao gồm cả một con cá vàng khổng lồ với một đứa trẻ cưỡi trên lưng, cũng như những con cừu khổng lồ, Cầu Trường Thọ tạo nên một sự kết hợp màu sắc rực rỡ. Thiết kế kỳ lạ và huyền ảo của nó càng làm tăng thêm vẻ quyến rũ tổng thể của địa điểm này. Du khách có thể khám phá công viên tượng nằm ở phía đông nam bãi biển Repulse Bay, ngay bên ngoài tòa nhà của Hiệp hội Cứu hộ Hồng Kông, nơi cây cầu được khánh thành vào năm 1981. Bên cạnh cây cầu là một cấu trúc đình kiểu Trung Quốc màu đỏ lớn, càng làm tăng thêm vẻ đẹp thị giác của khu vực này.
- Kwuno Yan Shrine



CÁC MÓN ĂN NÊN THỬ TẠI HONG KONG
Ẩm thực Hong Kong không chỉ đa dạng mà còn rất độc đáo, và dĩ nhiên rất đắt. Các món đặc trưng như dimsum tinh tế, bánh cuốn nhân tôm mềm mịn, chân gà hấp tàu xì độc đáo, mì vịt tiềm thơm ngon, cháo quẩy giòn tan, cơm ngỗng quay thơm lừng, bánh trứng nướng ấm béo, dessert và bingsu mát lạnh, mochi xoài thơm ngon…
- Ngỗng quay (Roast Goose)

Đây là một trong những món ăn nổi tiếng nhất của Hong Kong giống như vịt Bắc Kinh vậy. Ngỗng thường được quay chín vàng, sau đó cắt thành từng miếng mỏng. Lớp da giòn và thịt mềm ngon ngọt, chấm với nước sốt đặc biệt và ăn kèm với bánh bao hoặc cơm trắng.
- Hải sản

Bào ngư, vi cá, tổ yến là những món thượng hạng của Hong Kong. Không chỉ vậy, hải sản tại đây luôn tươi ngon và phong phú. Cách chế biến thì đã nổi tiếng khắp thế giới. Từ chiên, xào, hấp, nướng, súp, cháo… cùng đủ loại gia vị, sốt khác nhau. Hong Kong được mệnh danh là thiên đường dành cho những người sành ăn hải sản. Tuy nhiên, các món hải sản cao cấp tại Hong Kong rất mắc.
- Dim Sum

Dimsum là tên gọi chung của các món ăn chế biến theo kiểu bên trong là nhân, bên ngoài bọc một lớp bột mỏng. Nhân có nhiều loại, mặn có, ngọt có. Đa phần được hấp trong rổ tre, ví dụ như: há cảo, xíu mại, bánh bao xá xíu, bánh cuốn… Có thể tìm thấy Dimsum ở khắp nơi và đây là món phổ biến mà ai du lịch Hong Kong cũng thử ít nhất một lần.
DECEMBER 05, 2025-AT SEA


DECEMBER 6 & 7, 2025-TAIWAN: TAIPEI, KEELUNG
DAY 1: KEELUNG (Dec. 6, 2025)
- Cảng Keelung
Là bến đậu của các tàu du lich lớn và tau hải quan Đài Loan. Trong chiến tranh thế giới thư II, đây là cảng mà quân đội Nhật Bản rút lui sau khi thua trận,

- Chợ đêm Keelung
Chưa bao giờ ghé thăm Taipei nên sau khi “checkout” du thuyền Norwegian Sun, chúng tôi mướn xe taxi về Holiday Hotel và ở lại thêm 2 ngày nữa. Cạnh hotel là chợ đêm Keelung mở cửa từ 5 giờ chiều đến 11 giờ đêm nên chúng tôi dùng cơm tối tại đây.



3..Yehliu GeoPark Boasts Stunning Rock Formations

Yehliu là một mũi đất ở quận Wanli, thành phố Tân Đài Bắc, Đài Loan. Mũi đất này, được các nhà địa chất gọi là Mũi đất Yehliu, là một phần của hệ tầng Daliao Miocene. Nó trải dài khoảng 1.700 mét (5.600 ft) ra biển và được hình thành khi các lực địa chất đẩy dãy núi Datun nhô lên khỏi mặt biển.

Một đặc điểm nổi bật của mũi đất này là những tảng đá hình thù kỳ lạ nằm rải rác trên bề mặt. Những hình dạng này có thể được chiêm ngưỡng tại Công viên địa chất Yehliu do Cục quản lý khu thắng cảnh quốc gia Bờ biển phía Bắc và Guanyinshan điều hành.

Nằm trên một phần xinh đẹp của bờ biển Bắc Đài Loan, bán đảo trải dài khoảng 1.700 mét, được hình thành bởi chuyển động địa chất buộc dãy núi Datun thay đổi hình dạng, nhô ra biển.

Yehliu GeoPark cách Keelung 30 phút lái xe hoặc 50 phút đi xe buýt, Công viên địa chất Yehliu nổi tiếng hơn Công viên địa chất Đảo Heping và do đó, có thể đông đúc hơn nhiều (có thể kết hợp với Shifen và Jiufen). Công viên địa chất Yehliu thành hình do những tảng đá địa chất độc đáo được hình thành trong hàng nghìn năm.


Một số khối đá đã được đặt tên theo hình dạng của chúng. Nổi tiếng nhất là “Đầu Nữ hoàng” một hình ảnh mang tính biểu tượng ở Đài Loan và là biểu tượng không chính thức của thị trấn Wanli.

Đầu Nữ hoàng: Khối đá có phần thân mỏng ở giữa Đá Đầu Nữ hoàng năm 2019 Đá Đầu Nữ hoàng là một khối đá tự nhiên ở Yehliu, Đài Loan. Được đặt tên theo hình dáng giống đầu phụ nữ, nó mất hơn 4.000 năm để hình thành. Chiều dài cổ của nó là 125 cm (49 in) và bị phong hóa với tốc độ 0,2 đến 0,5 cm (0,079 đến 0,197 in) mỗi năm. Sự nổi tiếng của địa điểm này thu hút ngày càng nhiều khách du lịch quốc tế.

Đầu Công Chúa: Có một khối đá kế nhiệm cho Đá Đầu Nữ hoàng, được gọi là Đầu Công chúa trong công viên. Khối đá kế nhiệm được chọn để thu hút sự chú ý khỏi Đá Đầu Nữ hoàng và ngăn chặn du khách chạm vào Đá Đầu Nữ hoàng, làm tăng tốc độ hư hại. Vì Đá Đầu Nữ hoàng rất dễ vỡ, nên nó đã được bảo vệ bằng một vòng cổ đá.

Các khối đá khác bao gồm “Giày Tiên”, “Tổ ong”, “Đá Gừng” và “Nến Biển”.


Con người thật nhỏ bé trong thiên nhiên hung vĩ


4. Ngắm thành phố từ sky100
Sky100 là điểm ngắm nhìn thành phố từ trên cao lý tưởng nhất chỉ sau đỉnh núi Thái Bình. Đài quan sát này nằm trên tầng 100 của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ICC) ở Cửu Long. Được CNN vinh danh là một trong 17 địa điểm phải đến khi tham quan Hồng Kông. Du khách đến Sky100 sẽ ngỡ ngàng với tốc độ siêu nhanh của thang máy. Đài quan sát có tầm nhìn 360°, ngoài ngắm nhìn Hong Kong từ mọi góc độ còn được tìm hiểu về lịch sử và văn hóa Hong Kong thông qua phòng trưng bày nghệ thuật.

5. Taipei 101
Tòa nhà chọc trời Taipei 101 (Bamboo Stick style)-xây theo kiến trúc như là cây tre với từng đốt dựa theo học thuyết (philosophy) trong sách truyên của người Trung Hoa (Chinese story book). Tòa nhà Taipei 101 trước đây là Trung tâm Tài chính Thế giới Đài Bắc, là một tòa nhà chọc trời cao 508 m (1.667 ft), 101 tầng ở Đài Bắc, Đài Loan. Tòa nhà thuộc sở hữu của Tập đoàn Trung tâm Tài chính Đài Bắc. Nó chính thức được xếp hạng là tòa nhà cao nhất thế giới từ khi khánh thành vào ngày 31 tháng 12 năm 2004, cho đến khi bị Burj Khalifa vượt qua vào năm 2009.

Sau khi hoàn thành, nó trở thành tòa nhà chọc trời đầu tiên trên thế giới vượt quá nửa km. Đây là tòa nhà cao nhất ở Đài Loan và cao thứ mười một trên thế giới. Thang máy tốc độ cao của tòa nhà được sản xuất bởi Toshiba của Nhật Bản và giữ kỷ lục là thang máy nhanh nhất thế giới vào thời điểm hoàn thành, vận chuyển hành khách từ tầng 5 đến tầng 89 trong 37 giây (đạt tốc độ 60,6 km/h (37,7 mph)). Năm 2011, Taipei 101 được trao chứng nhận Bạch kim theo hệ thống chứng nhận LEED về hiệu quả năng lượng và thiết kế thân thiện với môi trường, trở thành tòa nhà xanh cao nhất và lớn nhất thế giới.

Cấu trúc này thường xuyên xuất hiện như một biểu tượng của Đài Bắc trên các phương tiện truyền thông quốc tế, và màn bắn pháo hoa tại Taipei 101 là một phần không thể thiếu trong các chương trình truyền hình và lễ kỷ niệm đêm giao thừa. Phong cách kiến trúc hậu hiện đại của Taipei 101 gợi lên thẩm mỹ truyền thống châu Á trong một cấu trúc hiện đại sử dụng vật liệu công nghiệp. Thiết kế của nó kết hợp một số tính năng cho phép cấu trúc chịu được động đất của Vành đai lửa Thái Bình Dương và các cơn bão nhiệt đới trong khu vực. Tòa tháp có văn phòng, nhà hàng, cửa hàng và đài quan sát trong nhà và ngoài trời. Tòa tháp được nối liền với một trung tâm mua sắm nhiều tầng có biểu tượng ruyi lớn nhất thế giới ở mặt ngoài.





Bên trong tỏa nhà 101 là khu mua sắm gồm nhiều cửa hàng nổi tiếng, khu ăn uống, v.v…


6. Dạo phố Xinyi District-Xicun
Xinyi District-Xicun là con phố chính của Cao Hùng, đối diện với tòa nhà chọc trời 101. Khu phố nhỏ, thật dễ thương và rợp bóng cây thật thơ mộng. Những quán ăn, quán rượu mọc hai bên đường.

NOV. 8, 2025 TAIPEI-LOS ANGELES, CALIFORNIA
Chuyến bay 10 tiếng đưa chúng tôi trở lại California, kết thúc một chuyến du lịch thú vị 15 ngày.
Khánh Lan & Mạnh Bổng, California 2025

-
CATALINA ISLAND & ENSENADA
Khánh Lan

Santa Catalina Island in 2025

Santa Catalina Island là một điểm du lịch nổi tiếng ngoài khơi bờ biển Nam California, Hoa Kỳ. Nằm trong Thái Bình Dương, cách Los Angeles khoảng 35 km (22 dặm) về phía tây nam. Diện tích: Khoảng 19.420 km2 (74,98 dặm vuông). Hành chính: Thuộc Quận Los Angeles, California. Đô thị chính: Thành phố Avalon là trung tâm dân cư và du lịch chính trên đảo. Hai khu vực chính: Đảo được chia thành hai khu vực: Avalon: Khu vực phát triển và nhộn nhịp hơn ở phía đông và Two Harbors: Khu vực mộc mạc và hoang dã.

Avalon: Khu vực phát triển và nhộn nhịp hơn ở phía đông.


Khu vực Avalon phát triển về lảnh vực thương mại và du lịch so với hơn 40 năm trước (1978-1980). Nơi đây đã thấy có sự xuất hiện của nhiều nhà hàng sang trọng, quán giải khát và các của tiệm bán nữ trang, đồ lưu niêm, v.v… mọc lên như mấm. Khách du lịch du lịch khá nhiều dù là những ngày trong tuần. Muốn vào cửa của Via Casino, khách phải trả $20.

Casino Catalina: Một tòa nhà lớn màu trắng mang tính biểu tượng, nhưng không phải là sòng bạc, mà là nơi tổ chức các sự kiện và có một nhà hát lịch sử.

Dưới bến tàu du lịch & tàu tư nhân đậu san sát nhau ở bến tàu. Các Du thuyền lớn phải đậu ngoài khơi vài chiếc đưa khách vào đảo bằng những chiếc thuyền nhỏ.

LỊCH SỬ SANTA CATALINA ISLAND

Thời kỳ tiền sử: Đảo Catalina đã có người bản địa sinh sống cách đây hơn 7.000 năm. Họ tự gọi mình là Pimugnan hoặc Pimuvit và gọi hòn đảo là Pimugna hoặc Pimu.
Khám phá của người châu Âu:
- 1542: Nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha João Rodrigues Cabrilho là người châu Âu đầu tiên đến đảo.
- 1602: Nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Sebastián Vizcaíno đổi tên đảo thành “Santa Catalina”.
- Giai đoạn thuộc địa và sở hữu:
- Đảo từng được tuyên bố chủ quyền bởi Đế quốc Tây Ban Nha, sau đó chuyển sang Mexico và cuối cùng là Hoa Kỳ. Trong suốt giai đoạn này, đảo được sử dụng không thường xuyên bởi những kẻ buôn lậu, thợ săn rái cá và những người đào vàng.
- Cuối những năm 1800: Đảo được George Shatto mua lại và bắt đầu phát triển thành một khu nghỉ dưỡng, nhưng không thành công.
- 1919: William Wrigley Jr., ông trùm kẹo cao su nổi tiếng, mua lại phần lớn hòn đảo. Ông đã đầu tư mạnh để biến Catalina thành một điểm đến nghỉ dưỡng đẳng cấp thế giới.
- Những năm 1920: Wrigley xây dựng cơ sở hạ tầng, khách sạn và các địa điểm du lịch. Ông còn mang đội bóng chày Chicago Cubs (thuộc sở hữu của ông) đến đảo để tập huấn mùa xuân.
- 1929: Tòa nhà Catalina Casino mang tính biểu tượng được xây dựng, bao gồm một phòng khiêu vũ khổng lồ và nhà hát chiếu phim.
- Những năm 1970: Gia đình Wrigley chuyển giao 88% diện tích đảo cho Tổ chức Bảo tồn Đảo Catalina (Catalina Island Conservancy) để bảo vệ thiên nhiên hoang dã.
- Hiện tại: Catalina là một điểm đến du lịch nổi tiếng với nhiều hoạt động từ bãi biển Avalon nhộn nhịp đến các con đường mòn đi bộ đường dài hoang dã ở vùng nội địa.
Catalina Island nổi tiếng với Hệ động thực vật: Đảo có hệ sinh thái độc đáo với nhiều loài thực vật và động vật đặc hữu, trong đó có cáo đảo. Một đàn bò rừng bison cũng sinh sống tại đây, được mang đến từ một đoàn làm phim vào những năm 1920. Du khách có thể đi bộ đường dài, lặn biển, đi xe golf vòng quanh đảo, tham quan các bảo tàng và thư giãn tại bãi biển. Ảnh hưởng văn hóa: Đảo Catalina đã trở thành bối cảnh cho hơn 500 bộ phim và chương trình truyền hình. Hệ điều hành MACOS Catalina của Apple cũng được đặt tên theo hòn đảo này.

Du thuyền Navigator Of The Seas của cruise line Royal Caribbean ghé Catalina Island & Ensenada, 4 đêm.


Từ parking lot nơi du thuyền Royal Caribbean đậu là những chuyến xe bus chở du khách vào phố với một giá rất rẻ, $4 vừa đi vừa về cho mỗi người.

Ensenada có nghĩa là “cửa sông”, là một thành phố thuộc đô thị Ensenada, Baja California, nằm trên bờ biển Thái Bình Dương của Mexico. Nằm trên vịnh Todos Santos, thành phố có dân số 279.765 người vào năm 2018, trở thành thành phố lớn thứ ba ở Baja California. Thành phố là một trung tâm thương mại quốc tế quan trọng và là nơi có Cảng Ensenada, một cảng bận rộn thứ hai ở Mexico.

Ensenada là một điểm đến du lịch lớn nhờ khí hậu ấm áp và vị trí gần Thái Bình Dương, và thường được gọi là La Cenicienta del Pacífico (“Cô bé Lọ Lem của Thái Bình Dương”). Ensenada được thành lập vào năm 1882, khi cộng đồng nhỏ Rancho Ensenada de Santos được chọn làm thủ phủ khu vực cho sự phân chia phía bắc của Lãnh thổ Baja California. Thành phố đã phát triển đáng kể nhờ sự phát triển của các mỏ ở vùng núi xung quanh. Trong khi Cách mạng Mexico đã hạn chế phần lớn sự mở rộng của Ensenada, thì việc ban hành lệnh Cấm rượu tại Hoa Kỳ đã biến thành phố này thành một điểm đến du lịch nổi tiếng cho người Mỹ tìm kiếm giải trí và rượu.

Danh tiếng của Ensenada như một thị trấn nghỉ dưỡng được củng cố vào những năm 1950 và 1960, thời kỳ chứng kiến sự bùng nổ xây dựng và sự nổi tiếng quốc tế của thành phố bên ngoài Bắc Mỹ. Ngày nay, Ensenada là một trung tâm kinh tế và văn hóa lớn của Baja California. Thành phố này là nơi tọa lạc của nhiều trường đại học, chẳng hạn như Viện Công nghệ Ensenada và Đại học Tự trị Baja California, Ensenada. Ensenada là một trung tâm công nghệ sinh học quan trọng và là nơi đặt trụ sở của nhiều viện nghiên cứu, chẳng hạn như Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Ensenada. Thành phố là thành viên của Mạng lưới Thành phố Sáng tạo UNESCO.

Trung tâm thương mại Ensenada

ROYAL CARIBBEAN WITH NAVIGATOR OF THE SEAS: 4 NIGHTS CATALINA ENSENADA CRUISE–OCTOBER 2025

4 ngày trên du thuyền với chương trình văn nghệ thật suất sắc cho dịp mừng lễ hội Halloween. màu vàng của những bông hoa, bong bóng, trái bí rợ rải rác khắp mơi, Halloween Costume Parede trên con phố Royal Promenade vời các trang phục hóa trang.

Royal Family feud

Đặc biệt với màn Royal Birthday Bash

ROYAL BIRTHDAY BASH

Balloon are dropping

I even got 2 balloons

Music and Dancing include: Piano Melodies with Scarielt, Jazz Standard Time with the Navigator Orchestra feat, Latin Music & Dancing with Azucar, and Farewell Party with DJ, Ballroom Dance Music with the Navigator Orchestra, Guitar & Vocal Entertainment with Alvaro,

THE NAVIGATOR ORCHESTRA

Ballroom Dance Music

Latin Music & Dancing with the Navigator Orchestra

Entertainment: Showgirl with the dance of Past & Present, Future, Ballroom Fever, iskating: Reach for the Stars, v.v…

ISKATING: Reach for the Stars

Showgirl with the dance of Past & Present, Future, Ballroom Fever









-
Du lịch Na Uy (Norway)
Khánh Lan

Na Uy là quốc gia thuộc bán đảo Scandinavia, giáp danh với Thuỵ Điển, Phần Lan và Nga, dân số khoảng 5.2 triệu người và 95% người dân nói tiếng Na Uy; ngoài ra người dân ở đây còn có thể nói tiếng Pháp và Đức. Tiền tệ được sử dụng tại đây là đồng NOK. Tôn giáo chính là Luther, một số ít còn lại theo Công giáo.
Na Uy nằm ở Bắc Âu, nổi tiếng với phong cảnh đa dạng và hoang sơ, là một trong những quốc gia có đường bờ biển dài, Được mệnh danh là nơi có những vịnh hẹp với những dãy núi hùng vĩ. Các hồ với khung cảnh hoang dã và thiên nhiên, những cánh đồng cỏ xanh mướt ngút ngàn, những cao nguyên, vịnh, đảo đẹp hút hồn bên cạnh những thành phố phát triển, náo nhiệt.


Na Uy với nền văn hóa của người dân Sami, họ yêu thích những sinh hoạt ngoài trời như leo núi, lướt sóng trên tuyết. Hầu hết người Na Uy đều thích trượt tuyết bởi họ được tập luyện từ khí vừa chớm biết đi. Na Uy thuộc vùng Bắc Âu, nên có mùa hè mát mẻ và dễ chịu, nhưng mùa đông khí hậu lạnh buốt. Na Uy đẹp nhất là vào khoảng từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm.

August 2003, gia đình của chúng tôi đã một lần ghé thăm Olso, Na Uy trên một chuyến du thuyền (Scandinavia Cruise) của Princess Cruise Line. Trên tuyến đường này, du thuyền dã ghé qua Copenhagen (Denmark), Nynashamn-Stockholm (Sweden), Helsinki (Finland), St. Petersburg (Rusia), Tallinn (Estonia), Gdynia (Poland) và Oslo (Norway). Du lịch bằng du thuyền sẽ không có cơ hội thăm viếng những thành phố của các nước lâu được vì tàu chỉ dừng lại tại các hải cảng trong vòng một hay hai ngày mà thôi.

Cũng như những lần du lịch trước, chúng tôi cùng 4 người bạn (Quốc Dân,Kim Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Khánh Lan, Mạnh Bổng) quyết định trở lại Na Uy bằng đường bộ của hãng du lịch Wingbuddy Inc., có trụ sở tại Montreal, Quebec. Đây là tour du lịch bằng đường bộ (Land tour) nhưng lại đặc biệt ở điểm là bao gồm bus, thuyền và xe lửa nên rất thú vị. Tour với tên gọi là Highlight of Norway , Chúng tôi mua tour vào cuối tháng Tám 2025 nên khí hậu rất dễ chịu, thời tiết giống như mùa Thu tại California. Land Tour đi từ miền Đông sang miền Tây và qua rất nhiều thành phố nổi tiếng của Na Uy gồm: Oslo, Geilo, Flam, Sognefjord, Voss, Bergen, riksdall Glacier, Loen, Geiranger Fjord, Troll’s Road, Molde, Atlantic Road, Otta Region rồi quay trở về lại Oslo.

Đoàn du lịch có khoảng trên dưới 35 người, Mira Malina là Tour Leader và là ngưởi trẻ nhất trong đoàn, vui vẻ, hồn nhiên, thân mật và thật dễ thương. Cô Mira Malina là người Đức, sanh ra tại Đức nhưng lớn lên và định cư tại Na Uy trên 13 năm, nói thông thao ba thứ tiếng: Anh, Đức và Na Uy.

Mira Malina là người đứng giữa 4 con “dế mèng”
TROLL: Đó là một loại sinh vật thường được đề cập trong văn hóa dân gian và trong truyện thần thoại vùng Scandinavia. Troll, còn được biết đến như nhân vật khổng lồ độc ác trong truyện thần thoại Bắc Âu, troll được mô tả dưới dạng một loài sinh vật đáng sợ thuộc nhóm quái vật ăn thịt người. Văn học Bắc-Âu, đã miêu tả troll với đôi tai và cái mũi to quá khổ và là nhân vật tưởng tượng trong văn học hiện đại, nhưng trong các tác phẩm hội họa và ký họa lại thường mô tả nó với kích thước nhỏ thường sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh hoặc ở vùng hoang dã, sống dưới những ngọn đồi, hang hay núi. Trong các đảo Faroe, Orkney, shetland có những truyện cổ tích, về người khổng lồ gọi là troll, được kể trong tiếng Na-Uy vào thời của người Viking.

Ngày nay, troll được ghép thành nhân vật trong các trò chơi điện tử. Tại Na Uy, troll rất phổ biến trong dân gian và có nhiều hình tượng của troll được thấy ở một số thành phố du lịch.

Trollveggen hay Troll Wall là vách đá dựng đứng cao nhất châu Âu. Với chiều cao khoảng 1.100 mét từ chân vách đến đỉnh, vách đá này sừng sững trên Thung lũng Romsdalen.


LAX-FRANKFURT-OSLO. Sau hai chuyến bay hơn 14 tiếng từ Los Angeles (LAX) – Frankfurt (FRA) – Oslo (OSL) ngày 14 tháng 8, 2025, chúng tôi đã đến phi trường Oslo International ngày 15 tháng 8, 2025. Sau khi ra khỏi hải quan và lấy hành lý, đồng hồ chỉ 7:30 tối. Chúng tôi lấy xe lửa Flytoget airport express từ phi trường Quốc Tế Oslo đến Oslo Central Station, rồi thuê taxi đi đến khách sạn Clarion the Hub, Oslo để gặp hướng dẫn viên du lịch ở lobby, cô Mira Malina.

Check-in khách sạn xong chúng tôi được tự do để đi thăm khu phố Oslo gần khách sạn. Clarion the Hub nằm ngay tại trung tâm thành phố “Kingdom of Norway” và hôm ấy là ngày Chủ Nhật nên thành phố tràn ngập ánh đèn, trên đường phố đông nghẹt người, các nhà hàng chật ních khách hàng và tiếng đàn từ các dàn nhạc ngoài trời vang lên rầm rộ.

OSLO là thủ đô của Na Uy đồng thời cũng là trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị, nó thể hiện cho một nếp sống hiện đại và văn hóa độc đáo của một thành phố lâu đời nhất vùng Scandinavia. Điểm đặc biệt là tại đây có sự dung hòa giữa khung cảnh nông thôn thanh tịnh và một thành thị hiện đại cuồng nhiệt.Đi song song với khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống văn minh, Oslo được xem như là cái nôi văn hóa & lịch sử của thành phố cổ kính, với những công trình kiến trúc xưa được xây dựng từ nhiều thế kỷ trước như lâu đài Akershus, cung điện hoàng gia Kongelige Slott.

Lâu đài Akershus cổ kính được truyền là nơi sinh sống của loài ma quái

SOGNEFJORD, GUDVANGEN. Sau bữa sáng tại khách sạn, chúng tôi chuẩn bị lên xe bus của hãng du lịch và bắt đầu cuộc hành trình du ngoạn qua những phong cảnh của Na Uy, nơi có một số vịnh hẹp ngoạn mục và những núi non hùng vĩ. Trên đường đến Gudvangen, xe bus chở chúng tôi đi qua Hồ Tyrifjord, một trong những hồ lớn nhất ở Na Uy, nổi tiếng với nhiều loài chim và những sinh vật khác nhau. Cạnh hồ, các làng mạc nhỏ bé ẩn mình giữa thiên nhiên đem lại một không gian yên bình và tĩnh lặng.

Hồ Tyrifjord và những ngôi làng Skjolden
Sau đó, chúng tôi lên du thuyền qua Vịnh Sognefjord thơ mộng, một Di sản Thế giới được UNESCO công nhận. Vịnh Sognefjorden có biệt danh là Vua của các vịnh hẹp (Fjordenes konge). Đây là vịnh dài nhất và sâu nhất ở Na Uy, nằm ở hạt Vestland, Tây Na Uy, trải dài trên 205 km lấn vào đất liền, từ đại dương đến ngôi làng nhỏ Skjolden thuộc đô thị Luster. Vịnh Sognefjorden được đặt tên theo quận Sogn, tên gọi này có liên quan đến và từ tiếng Na Uy súg- “hút”, có lẽ là do sự dâng trào hoặc sự hút của các dòng thủy triều ở cửa vịnh hẹp.

Khu phố cạnh Vịnh Sognefjord thơ mộng trước khi xuống du thuyền và thưởng ngoạn phong cảnh của vịnh Sognefjorden

Khi đến FLAM, chuyến xe lửa Flamsbana đưa chúng tôi đi ngắm phong cảnh nổi tiếng và đẹp như tranh vẽ cùa Na Uy, băng qua những cánh đồng thiên nhiên tuyệt đẹp, những ngọn núi dốc thẳng đứng ẩn hiện sau màn sương, những thác nước xanh màu ngọc bích, những đồng cỏ dài bất tận…cho đến khi xe lửa vượt qua những đường hầm để trên đường đến Voss. Na Uy là nước có đường hầm xuyên qua núi nhiều nhất thế giới, theo cô Nira (Tour Leader), Na Uy có tổng cộng hơn 1600 đường hầm. Flam là nơi lý tưởng để tận hưởng không khí trong lành và chiêm ngưỡng những khung cảnh đẹp đến nao lòng.

Chuyến xe lửa Flamsbana đi qua VỊNH AURLAND, một kiệt tác của thiên nhiên, được bao bọc bởi những dãy núi cao chót vót và các vách đá dựng đứng, tạo nên một cảnh quan ngoạn mục.

Phong cảnh với suối nước chả qua các tường núi đá.

Ngọn núi cao chót vót và các vách đá dựng đứng

Với vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ và kỳ vĩ, nổi bật giữa những dãy núi cao chót vót bao quanh mặt nước xanh biếc, cùng nhiều thác nước trắng xóa đổ từ các vách đá, tạo nên một bức tranh sống động.

Những thác nước cuồn cuộn và những thác nước kỳ vỹ với dòng nước chảy gần như bất tận đổ xuống từ các ngọn núi cao, tạo nên một cảnh tượng vừa tráng lệ vừa huyền bí. Mỗi dòng thác đều mang một vẻ đẹp riêng, như những dải lụa trắng xóa giữa nền xanh của núi rừng.

Những ngọn núi khoác lên mình màu xanh tươi mát đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, độc đáo. Có khác nào một bức tranh tuyệt sắc.

Chuyến xe lửa Flamsbana đưa chúng tôi đến THÁC KJOSFOSSEN với dòng nước chảy mạnh, ồ ạt đổ từ độ cao hàng trăm mét, tạo nên âm thanh vang dội khắp thung lũng và làm tăng thêm vẻ hoang dã & sống động cho vùng vịnh.

Bên cạnh thác Kjosfossen là những thác nước khác như thác Styvi và Thác Tvinnefossen cũng mang đến những ấn tượng sâu sắc. Đứng dưới chân những dòng thác này, chúng tôi cảm nhận được sức mạnh nguyên sơ của thiên nhiên và vẻ đẹp kỳ diệu của vùng đất Na Uy.

Thác Tvinnefossen
THUNG LŨNG FLAM nằm ở vùng vịnh Aurland và là một nhánh lớn của Sognefjord, vịnh hẹp dài và sâu nhất Na Uy. Ẩn mình sâu trong lòng vịnh Aurland là ngôi làng Flam thơ mộng, một viên ngọc quý của Na Uy, thu hút khách thưởng ngoạn bởi không khí thanh bình và những ngôi nhà gỗ truyền thống, khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ ấy đã làm say đắm lòng người.

Thung lũng Flam trong vùng vịnh Aurland


LÀNG FLAM nằm sâu trong Vịnh Aurland, là một trong những ngôi làng đẹp và yên bình nhất của Na Uy. Với những ngôi nhà gỗ truyền thống nằm ẩn mình giữa những ngọn núi xanh ở cạnh ven bờ hồ, Flam hiện lên như một bức tranh cổ tích. Flam được đánh giá là ngôi làng đẹp nhất ở Na Uy, với phong cảnh núi hùng vĩ và thung lũng xanh mướt. Làng có lịch sử lâu đời, nổi bật với kiến trúc gỗ đặc trưng của Na Uy, qua những con đường mòn quanh co đưa chúng tôi đến ngôi nhà thờ gỗ Flam, xây dựng từ thế kỷ 17, là một điểm đến lịch sử và kiến trúc mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương.

Nhà thờ gỗ Flam, xây dựng từ thế kỷ 17
Đến Flam, chúng tôi không chỉ được chiêm ngưỡng cảnh đẹp mà còn có thể tìm hiểu về văn hóa và cuộc sống của người dân địa phương. Các cửa hàng thủ công mỹ nghệ bày bán những sản phẩm độc đáo, phản ánh nét tinh hoa của vùng đất này. Các món ăn truyền thống Na Uy như cá hồi tươi, thịt cừu hầm, hay bánh mì kẹp phô mai nâu đặc trưng.
THÀNH PHỐ VOSSEVANGEN (gọi tắt là VOSS), nằm phía Tây của Na Uy (Western Norway), thuộc Quận Hordaland giữa những dãy núi hùng vĩ và hồ nước trong xanh biếc. Đây là điểm dừng chân lý tưởng cho những ai đam mê khám phá thiên nhiên và tìm kiếm sự yên bình cho riêng mình. Voss không chỉ là một thị trấn nhỏ mà còn là biểu tượng của vẻ đẹp hoang sơ, nơi giao hòa giữa văn hóa truyền thống và những hoạt động mạo hiểm.

Voss, mỗi mùa đều mang trong mình một vẻ đẹp riêng biệt. Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 tuyết phủ trắng xóa trên các sườn núi. Khi xuân đến, từ tháng 3 đến tháng 5, Voss bắt đầu bừng lên sức sống với những thảm hoa dại nở rộ. Mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8, Voss rực rỡ với những ngày dài, nắng ấm và thời tiết dễ chịu. Mùa thu từ tháng 9 đến tháng 11, Voss thời tiết ấm áp. Dù bất kỳ mùa nào, Voss cũng đem đến vẻ đẹp khác nhau.Nằm giữa vịnh Sognefjord và Hardangerfjord, thành phố Voss được coi là thủ đô của các hoạt động mạo hiểm ở Na Uy và là điểm dừng chân của các nhà mạo hiểm, yêu thiên nhiên, thích trượt tuyết.
HỒ VANGSVATNET, nằm ngay trung tâm thành phố, là nơi lý tưởng để tận hưởng cảnh đẹp thanh bình.

Với nước trong xanh như ngọc, hồ này là nơi hoàn hảo để câu cá, bơi thuyền hay chỉ ngồi ngắm cảnh.

Hồ Vangsvatnet với dòng nước trong xanh như ngọc, với những dãy núi in bóng trên mặt hô trong suốt như gương. Ôi! đẹp tuyệt vời và…

“We Left our heart in Voss“…

THÁC TVINDEFOSSEN nằm ngay trên đường chính, cách Voss vài phút lái xe và là một trong những thác nước đẹp và nổi tiếng ở Na Uy, với chiều cao đáng kể và dòng nước đổ xuống tạo nên cảnh tượng hùng vĩ. Rất tiếc là xe bus chỉ dừng lại tại đây có 10 phút để chụp hình nên chúng tôi đã không đủ thời gian để tận hưởng vẻ đep của thác Tvindefossen. Hẹn một dịp khác vậy.

Thác Tvindefossen hùng vĩ với nhưng sợi nước đổ xuống từ trên cao, nong manh nhưng đài các, trong suốt và trinh bạch như một tấm khăn đội đầu của cô dâu.

Voss không chỉ nổi tiếng với cảnh đẹp mà còn phong phú trong văn hóa với nền ẩm thực độc đáo. Món “Vossa Korv” – một loại xúc xích truyền thống thơm ngon được chế biến từ thịt cừu và thịt heo. Ngoài ra, bánh “lefse“, một loại bánh mỏng làm từ khoai tây.
HỒ RINGEDALSVATNET chứa nước gần như tinh khiết nhất trên thế giới.

Con đường uốn lượn dọc cao nguyên núi Hardangervidda, là cao nguyên núi rộng nhất ở châu Âu. CON

Đi đến đâu chúng tôi cũng thấy những con suối ở rải rác khắp nơi do những khối băng sơn trên đỉnh núi tan dần. Đây cũng là nguồn nước sạch có thể uống được. Nước suối trong suốt, có vị ngọt thanh và mát. Theo Mira, do khí hậu quá lạnh gần như quanh năm và ít khi có ngày nắng, vì vậy, trong những ngày nắng ấm, người dân Na Uy rất yêu thích ra phơi nằng ở bất cứ nơi nào có ánh nắng kể cả đầng sau nhà.

ĐƯỜNG LYSEFJORD chạy dọc dãy núi có phong cảnh đẹp như tranh vẽ ở Rogaland, miền tây nam Na Uy. Có những con đường chạy zích-zắc, hẹp rất hiểm trở. Để không gây ra tai nạn, nó đòi hỏi những người lái chuyên nghiệp và có kinh nghiệm. Ông Andor là tài xế xe bus của chúng tôi, ông đã lái xe trên tuyến đường này hơn 10 năm và chưa xảy ra một tai nạn nào.

Ông Andor và Khánh Lan, Kim Hương, Đức Hạnh

Con đường Lysefjord chạy dọc dãy núi có phong cảnh đẹp như tranh vẽ ở Rogaland, miền tây nam Na Uy.

CON ĐƯỜNG TROLLSTIGEN nổi tiếng chạy qua các thung lũng, rừng cây, hồ và các dãy núi hùng vĩ. Xây năm 1939 với 11 khúc cua nguy hiểm, hẹp và chỉ có “one lane” duy nhất nên rất nguy hiểm, các tài xế lái xe lái trên con đường này phải tự nhường lối cho nhau đi qua.

THÁC KJOSFOSSEN, cao 225 m, nằm cạnh tuyến đường sắt kết nối ngôi làng Flåm và thành phố Myrdal.

Đặc biệt là trên đỉnh thác này, chúng tôi thấy xuất hiện một vũ công đang trình diễn cùng với tiếng nhạc trổi lên mỗi 30 phút.

Các bạn có thấy người vũ công mặc áo màu đỏ đang múa trên trườn núi bên tay phải ấy không?

Nàng tiên áo đỏ đấy thôi…
BERGEN NAUY: Sau bữa sáng tại khách sạn, xe bus chở chúng tôi đi theo con đường hướng đến Bergen. Thành phố Bergen, Di sản Thế giới được UNESCO công nhận là nổi tiếng với lịch sử và văn hóa phong phú. Bergen là thành phố lớn thứ 2 Na Uy sau thủ đô Oslo, có diện tích 445 km², dân số cuối năm 2007 là 247,746 người. và là thành phố ẩm ướt nhất thế giới, vì nằm ngay rìa Bắc Đại Tây Dương và là thành phố cảng ở vùng Tây Nam Na Uy, thủ phủ của hạt Hordaland.

Tên ban đầu là Björgvin, thành phố này đã được thành lập bởi vua Olaf III năm 1070, đã phát triển và trở thành một trung tâm thương mại xầm uất. Trước đây là thủ đô của Na Uy từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 13. Từ giữa thế kỷ 14 đến năm 1560, thành phố này thuộc kiểm soát của Liên minh Hanseatic, một liên đoàn thương mại của các thành phố châu Âu. Thành phố này đã bị nhiều cơn hỏa hoạn vào những năm 1702, 1855, 1916, và đã bị thiệt hại nặng trong thế chiến II khi bị quân Đức chiếm đóng.

Bergen nằm giữa hai vịnh hẹp nổi tiếng nhất của Na Uy – Sognefjord ở phía bắc và Hardangerfjord ở phía nam. Bergen được bao quanh bởi những ngọn núi và vịnh hẹp với những ngôi nhà nằm cheo leo bên sườn đồi, những con đường nhỏ lát đá cuội và các danh lam thắng cảnh nổi tiếng thế giới. Ngọn núi cao nhất là núi Ulrikan cao 642 mét so với mực nước biển. Ngày nay, thành phố này được coi là một trong những thành phố hải cảng nổi tiếng nhất ở Na Uy bời nó cung cấp cho người dân địa phương những nguồn hải sản tươi ngon.

Bergen là một trung tâm tàu biển, ngư nghiệp, văn hóa. Các ngành chế tạo gồm: thép, tàu biển, ngư cụ, chế biến thực phẩm, thiết bị điện. Bergen nằm trong một thung lũng gồm 7 ngọn núi và là thành phố còn giữ lại một nền văn hoá lâu đời cùng các công trình kiến trúc cổ đại. Đó là những ngôi biệt thự cổ nhưng to lớn, trang trọng, những nhà thờ rộng lớn như Saint Mary (thế kỷ 12t),, pháo đài cổ Bergenhu và tòa nhà Håkonl (xây năm 1261; xây lại từ thập niên 1940), tháp Rosenkranz, tượng Edvard, Đại học Bergen (1948), nhạc viện (1905).
QUẬN BRYGGEN thời trung cổ đã có một đặc sản là stockfish hay cá tuyết sấy khô bằng gió và quận Bryggen là nơi các thương nhân Hanseatic buôn bán loại hàng này. Những dãy nhà gỗ đầy màu sắc có niên đại từ thế kỷ 18 nhưng là những bản sao của những ngôi nhà Hanseatic nguyên bản. Chợ Cá là một trong những chợ lâu đời nhất và nhộn nhịp nhất ở Na Uy và các nhà hàng gần đó là nơi tuyệt vời để thưởng thức hải sản nổi tiếng của Bergen.

Núi Fløyen, được bao quanh bởi 7 ngọn núi, một trong số đó Mt. Fløyen. Muốn lên được đỉnh núi thì phải đi bằng xe kéo Fløibanen Funicular. Fløibanen là một tuyến đường sắt leo núi—một loại đường sắt cáp chạy trên đường rầy lên dốc. Floibanen Funicular đi trên tuyến đường sắt leo núi từ trung tâm thành phố lên đến đỉnh núi Fløyen.

Xe kéo đi lên đường sắt leo núi Fløibanen Funicular.

Khi lên đến đỉnh Mt. Fløyen, toàn thể thành phố hiện ra trước mắt chúng tôi, thật tuyệt đẹp, một quang cảnh ngoạn mục của thành phố Bergen với các vịnh hẹp xung quanh và đại dương bao la.

Quang cảnh của thành phố Bergan nhìn xuống từ trên đỉnh núi Floyen
Đỉnh núi Fløyen nối liền với một khu rừng bằng con đường đi bộ, trên những con đường dốc hoặc đường mòn dẫn đến một khu rừng nhỏ, chúng tôi thấy những chú dê rừng đi lang thang. Những chú dê rừng này rất hiền và hình như chúng đã quá quen thuộc và giao tiếp với con người nên chúng tôi tha hồ chụp những tấm hình lưu niệm với chúng.

WOW! Nơi mô mà đẹp wá ta?
Bận về, thay vì đi xe leo núi để quay về, hoặc bạn có thể đi bộ trở lại thị trấn qua khu rừng nhỏ hoặc đi bộ xa hơn vào những ngọn núi xung quanh gần đó như núi Ulriken.

Khoảng thời gian đặc biệt khi đến Bergen là vào ngày 17 tháng 5, đó là ngày Hiến pháp của Na Uy. Theo truyền thống lâu đời truyền lại, người dân địa phương tràn ra đường trong trang phục truyền thống của Na Uy được gọi là lễ hội bunad.

Chợ cá Bergen, là một trong những địa điểm nổi tiếng nhất ở Bergen, nơi mang đến hương vị đặc biệt của các loại thực phẩm thời xưa (quá khứ) và nay (hiện tại). Một điểm quan trọng nhất của thành phố trong lịch sử là lưu giữ được nét độc đáo của thành phố. Hiện nay, cảng cá Bergen là điểm giao thương chính ở Bắc Âu, mặc dù không lớn nhưng chợ cá Bergen có bán đủ loại cá được đánh bắt từ vùng biển địa phương của Na Uy kể cả trái cây, rau củ và đồ thủ công. Chợ cá nằm đối diện bến cảng Vågen và khu phố cổ Bryggen. Chợ cá dọc theo bờ sông là nơi bán cá lâu đời và là cảng biển nhộn nhịp nhất Na Uy.

Bergen là thành phố ẩm thực sáng tạo của UNESCO trong văn hóa ẩm thực. Có hơn 3.000 nông dân gần đó có thực phẩm hữu cơ, hơn 500 người làm việc trong ngành đánh cá và nuôi trồng thủy sản. Do mối quan hệ giữa ẩm thực, con người và thiên nhiên, thành phố đã được vinh danh là một trong những thành phố ẩm thực sáng tạo của UNESCO.
LAVIK – BRIKSDAL GLACIER
Sau bữa sáng tại khách sạn, chúng tôi lên phà đi từ Oppedal qua vịnh Sognefjord đến Lavik. Xe bus đưa chúng tôi đi qua những vùng đồi núi tuyệt đep, những đồng cỏ xanh mướt đến tận chân trời, xa xa những ngôi làng rải rác dưới chân đồi.

Những dòng sông, hồ với mặt nước phẳng lặng phản chiếu trên mặt hồ những ngọn núi cao chót vót tạo nên một phong cảnh đẹp như tranh vẽ.

Đó là chưa kể đến những con suối, thác nước rãi rác khắp nơi, lần lượt hiện ra trước mắt khiến khách thưởng ngoạn có cảm giác thích thú như đang xem một cuốn phim chiếu cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ ngoài trời.

Thành phố Lavik hiện ra trước mắt, một đô thị cũ thuộc hạt Sogn og Fjordane cũ, Na Uy. Đô thị này nằm ở phía tây của đô thị Høyanger ngày nay, hạt Vestland và ở phía bắc của vịnh hẹp Sognefjorden. Một phần nhỏ của Lavik nằm ở phía nam của vịnh hẹp Sognefjorden, một dải đất hẹp chạy về phía nam quanh vịnh hẹp Ikjefjorden, qua làng Øystrebø, kéo dài về phía nam đến biên giới với hạt Hordaland. Đô thị Lavik tồn tại từ năm 1838 đến năm 1861 và sau đó tiếp tục tồn tại từ năm 1905 đến năm 1964. Lavik có diện tích 220 km², trung tâm hành chính của đô thị là làng Lavik.

LÀNG LAVIK rất quyến rũ nằm giữa những vịnh hẹp ngoạn mục của vịnh hẹp Sognefjord! Nằm ở cực tây của vùng đất tuyệt đẹp với vẻ đẹp hoang sơ của thiên nhiên núi non. Ngôi làng nhỏ này trải dài dọc theo phía tây của vịnh Sognefjord, nhìn ra vịnh Sognefjord để được khung cảnh hùng vĩ của một số phần vịnh Sognefjord.

Ngôi làng nằm trên bờ phía bắc của vịnh hẹp Sognefjorden, cách thành phố Bergen khoảng 100 km (62 dặm) về phía bắc và cách trung tâm thành phố Høyanger khoảng 50 km (31 dặm) về phía tây. Lavik nằm cách các làng Kyrkjebø và Austreim khoảng 40 km (25 dặm) về phía tây, và cách làng Vadheim khoảng 25 km (16 dặm) về phía tây nam. Năm 2001, khu vực Lavik có dân số khoảng 1000 người, với khoảng 285.
Tên Khu vực làng được đặt theo tên của trang trại Ladvik cũ (tiếng Na Uy cổ: Lamvíkum), vì nhà thờ Lavik tọa lạc tại đó. Yếu tố đầu tiên bắt nguồn từ từ hlað trong tiếng Na Uy cổ có nghĩa là “cọc” hoặc “tải”. Yếu tố thứ hai có thể bắt nguồn từ từ víkr trong tiếng Na Uy cổ có nghĩa là “cửa vào”. Trong lịch sử, cách viết đã thay đổi rất nhiều. Vào thế kỷ 16, Laduigh được gọi là Laduig, vào thế kỷ 17, Ladvig, vào thế kỷ 18, Ladevig, vào thế kỷ 19, và cuối cùng là Lavik vào thế kỷ 20.

Năm 1861, đô thị Lavik được sáp nhập với đô thị Brekke để thành lập đô thị Lavik và Brekke. Từ năm 1861 đến năm 1905, làng Lavik cũng là trung tâm hành chính của đô thị đó. Năm 1905, đô thị này lại được chia thành đô thị Lavik và Brekke. Ngôi làng tiếp tục là trung tâm hành chính của Lavik cho đến năm 1964 khi đô thị Lavik được sáp nhập vào đô thị mới Høyanger. Làng Lavik là một ngôi làng thuộc đô thị Høyanger, hạt Vestland, Na Uy.

Làng Lavik trước đây là một cộng đồng nông nghiệp nhưng gần đây đã phát triển thành một trung tâm giao thông dọc theo tuyến đường cao tốc châu Âu, tuyến đường cao tốc chính từ Bergen đến Trondheim. Lavik là điểm phía bắc của tuyến phà Lavik-Ytre Oppedal do Fjord1 Nordvestlandske vận hành, đi qua Sognefjorden trên đường cao tốc. Ngôi làng này cũng là nơi có Nhà thờ Lavik và về mặt lịch sử, nơi đây từng là trung tâm hành chính của đô thị Lavik cũ từ năm 1838 đến năm 1861.

DÒNG SÔNG BĂNG ĐÁ BRIKSDAL (BRIKSDAL GLACIER)

Ra khỏi Lavik, xe bus đưa chúng tôi đến thung lũng Briksdalen để chiêm ngưỡng vẻ hùng vĩ, sắc xanh của dòng Sông băng sơn Briksdaal và thác nước. Một vẻ đẹp kinh hồn mà tạo hóa đã ban cho đất nước Na Uy, chúng tôi như bị thu hồn vào bức tranh thiên phú ấy. Sông băng Briksdal nằm trong Thung lũng Oldedalen ở phía tây Na Uy, không xa ngôi làng Olden.

Sông băng sơn Briksdaal

Để lên được dòng sông băng đá ấy, chúng tôi phải mướn xe “xe troll”, một loại xe nhỏ, rất độc đáo không chỉ là một cách thú vị để lên núi mà chúng còn là một phần lịch sử của Briksdal và đã hoạt động từ những năm 1930. Chiếc xe troll nhỏ chở 7 người, đón chúng tôi từ Brikstal và đưa chúng tôi đến sông băng Briksdal. Triền thuyết kể rằng, hơn 100 năm trước, những người nông dân ở Oldedalen đã vận chuyển du khách bằng xe ngựa nhưng đến năm 2004, xe ngựa đã được thay thế bằng “xe Troll“.

Cái tên “Troll Car” gợi nhớ đến văn hóa dân gian Na Uy, nơi người ta nói rằng troll sống trong núi rừng, ngày nay, chúng được vận hành bởi Briksdal Adventure và được thiết kế riêng để phù hợp với con đường dốc, quanh co.

Xe Troll hoạt động từ mùa xuân đến mùa thu, nếu thời tiết cho phép, và đi qua một số địa điểm đẹp nhất trong các vịnh hẹp, xuyên qua những thác nước đổ ầm ầm, những vách đá cao chót vót và cảnh quan núi non hoang dã tựa như bước ra từ truyện cổ tích.

Chuyến đi mất khoảng 10–15 phút, rồi dừng lại, đậu cách sông băng đá khoảng 1,5km. Chặng cuối cùng là phải đi bộ để tận hưởng quang cảnh bao la của núi rừng.

Khi Troll Car thả chúng tôi xuống một khu rừng cây cách sông băng đá khoảng 700 mét, chúng tôi đi bộ một đoạn ngắn trên mặt đất khá bằng phẳng. Từ xa, chúng tôi đã nghe tiếng nước đang đổ xuống trên đỉnh núi, gầm rú với sức mạnh và uy lực đáng sợ.

Đến gần hơn nữa. Ôi thật tuyệt vời! Một dòng sông băng hùng vĩ màu xanh biếc hiện ra trước mắt, và chúng tôi, lòng tràn ngập một cảm giác phấn khởi, thích thú.

BRIKSTAL GLACIER là một phần của cánh đồng băng Jostedal nổi tiếng, cánh đồng băng lớn nhất lục địa châu Âu. Sông băng cao tới 1,200 mét và có màu xanh màu xanh thẫm, nằm giữa những vách đá dựng đứng. Màu sắc của sông băng có thể thay đổi tùy thuộc vào ánh sáng, sông băng có thể mang nhiều màu sắc khác nhau, từ trắng sữa đến xanh ngọc lam. một cảnh tượng như trong phim Disney, nước đổ xuống thung lũng bên dưới trông giống như một thảm chiếu băng sơn khổng lồ từ trên trời rơi xuống.

Không khí của đầu mùa Thu tại Na Uy rất trong lành đem theo hơi se se lạnh khiến chúng tôi như bị cuốn hút bởi cảnh đẹp xung quanh. Đứng dưới đáy sông băng khiến chúng tôi cảm thấy thật nhỏ bé trong vụ trụ bao la. Bao quanh bởi những tiếng gầm rú của thác nước với dòng nước xanh biếc từ trên cao đổ xuống, nhưng lạ thay chúng tôi lại cảm thấy yên bình và thời gian như ngừng lại để tận hưởng và chiêm ngưỡng khung cảnh hùng vĩ.

Dòng sông băng Briksdal với vẻ đẹp băng giá là một trong những nhánh của Sông băng Jostedalsbreen, sông băng lớn nhất lục địa châu Âu, bao phủ khoảng 480 km vuông. Sông băng như đang sống dậy, di chuyển chậm rãi theo thời gian, nó thực sự mang đến cho chúng tôi một cảm giác về sức mạnh của thiên nhiê bởi những âm thanh của dòng nước tan chảy ào ạt. Đây là một trong những nhánh sông băng nổi tiếng nhất của sông băng Jostedalsbreen và là sông băng lớn nhất lục địa châu Âu.
LOEN – GEIRANGER FJORD – TROLL’S ROAD
Ăn sáng tại khách sạn xong, chúng tôi đi du thuyền trên Vịnh Geiranger nổi tiếng vì được bao quanh bởi vách đá lớn với những thác nước tuyệt đẹp ở cả hai bên.

Sau đó chúng tôi ghé qua hai địa danh nổi tiếng “The Seven Sisters” và “The Veil of the Bride”.

“The Seven Sisters” vì thác nước tẽ ra và chảy xuống triền núi theo 7 dòng nước khác nhau và bên cạnh nhau.

“The Veil of the Bride” bởi nó trong giống như khăn đội đầu của cô dâu trong ngày cưới.

Do you see what I see?
EAGLE ROAD, nổi tiếng với những khúc cua gấp và độ cao của nó, khiến nơi này có biệt danh là Eagle Road vì chiều cao từ trên nhìn xuống trông giống như chim đại bàng. Đường rất hẹp, zích-zắc và chỉ có “one lane”. Có những đoạn đường gần sát ngay vực thẳm, dốc thẳng đứng và vách núi đá. Nhưng bù lại, phong cảnh ở đây rất đẹp, hùng vĩ.

Khi đến Eidsdal, chúng tôi lên phà đi Linge trước khi lên xe buýt đến Đường Troll, một con đường dốc xuống từ trên núi với tầm nhìn ngoạn mục.

Trollstigen là một trong những tuyến đường ngắm cảnh mang tính biểu tượng nhất Na Uy. Tuyến đường ngắm cảnh Geiranger-Trollstigen của Na Uy chạy giữa Khu cắm trại Soggebru ở Romsdalen và hồ Langvatnet ở Geiranger. Tuyến đường ngắm cảnh này cắt ngang qua những quang cảnh tuyệt đẹp nhất của Tây Na Uy và lên đến độ cao 852 mét so với mực nước biển. Khung cảnh choáng ngợp với những sườn núi dốc đứng, thác nước cao chót vót, vịnh hẹp sâu thẳm và thung lũng xanh tươi.

Chuyến đi dọc theo con đường Trollstigen cho thấy một kiệt tác kỹ thuật thiên nhiên kỳ thú. Trollstigen được bao quanh bởi những ngọn núi hùng vĩ như Bispen (1.462 m), Kongen (1.614 m), và Dronninga (1.544 m) ở phía tây, và Stigbottshornet (1.583 m) và Storgrovfjellet (1.629 m) ở phía đông. Những ngọn núi này khiến bạn cảm thấy mình nhỏ bé và có cảm giác lâng lâng khi nhìn xuống thung lũng.

Về mặt lịch sử, Trollstigen là một đèo núi cũ nằm giữa Åndalsnes, dưới chân Romsdalen, và Valldal ở phía trong Sunnmøre. Một lý do quan trọng để xây dựng con đường xuyên qua núi Stegafjellet là vì một phiên chợ thường niên lớn tại trang trại Devoll, Trollstigen được mở cửa vào năm 1936, và trở thành một điểm nổi tiếng. Quãng đường dài 106 km, trên đường đi, đặc biệt là dừng chân tại các điểm ngắm cảnh như hẻm núi Gudbrandsjuvet và Ørnesvingene. Tận hưởng khung cảnh hùng vĩ của những ngọn núi cao chót vót, thung lũng xanh tươi, thác nước và hẻm núi. Cao nguyên Trollstigen có tầm nhìn tuyệt đẹp ra quang cảnh xung quanh. Cầu và đường dẫn đến đài quan sát được thiết kế bởi công ty kiến trúc Reiulf Ramstad Arkitekter. Cầu và đài quan sát được làm bằng thép và kính, theo nhu cầu thời tiết thay đổi và để hòa hợp với môi trường xung quanh. Một phần của cầu và đài quan sát được khoét sâu vào đá, các phần khác được hỗ trợ bởi tường đá.

Hành trình của chúng tôi kết thúc bằng một chuyến phà ngắn từ Vestnes đến Molde.
MOLDE – ATLANTIC ROAD
Sau khi ăn sáng tại khách sạn, chúng tôi lên xe bus, khởi hành một ngày dài trên con đường Atlantic Road. Con đường này được chọn là “tác phẩm nghệ thuật của thế kỷ” (Work of art of the century) và được xếp hạng là tuyến đường bộ tốt nhất trên thế giới.

Tại đây, chúng tôi có thể ngắm phong cảnh tuyệt đẹp giữa đất liền, biển cả và băng sơn qua những cây cầu bắc ngang qua bờ đại dương dọc theo con đường. Xe bus chạy qua những cánh đồng cỏ xanh mướt, những vùng quê đẹp với phong cảnh thơ mộng, và những ngôi làng Na Uy quyến rũ.

CON ĐƯỜNG ATLANTIC – CON ĐƯỜNG NGHẸT THỞ
Con đường Atlantic là một trong những điểm nổi bật của Na Uy và đây không phải là điểm đến cho những người yếu tim, bởi những con dốc cao vun vút, những tuyến đường với độ cong vô định, uốn lượn như rắn, hoặc những khúc quanh lúc hiện lúc biến tạo nhiều căng thẳng cho người lái. Đôi khi có các đợt sóng trắng xóa ập thẳng vào thành xe…


Những con đường trông như mất hút cuối chân trời.

Khi đi qua con đường Đại Tây Dương này, chúng tôi đã chứng kiến nhiều cái lạ mắt, chẳng hạn bỗng dưng xuất hiện trên đường những đàn dê lạc chuồng, thản nhiên và tự do đi trên đường…

Những căn nhà xinh xắn trên biển hồ in bóng trên mặt nước phẳng lặng…

Và những căn nhà lợp cỏ. Đó là những căn nhà được xây theo lối cổ xưa với mục đích đều hòa nhiệt độ bên ngoài theo từng mùa, bởi nó có thể giữ độ ấm vào mùa đông và độ mát vào mùa hè. Ngày nay, loại nhà này không còn thịnh hành, tuy nhiên, một số nhà có mái lợp bằng cỏ được bảo tồn theo truyền thống lịch sử.

Những căn nhà lợp cỏ để đều hòa nhiệt độ theo thời tiết của từng mùa

VỊNH HẸP GEIRANGER được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, vịnh Geiranger ăn sâu vào đất liền và là một trong những vịnh đẹp, bởi những thác nước đổ ào ạt từ trên những vách đá dốc thẳng đứng xuống, những màn sương từ thác lơ lửng trên không… làm tăng sự thú vị để chiêm ngưỡng quang cảnh thiên nhiên trông như một bức tranh sơn thuỷ hữu tình.

Vịnh hẹp Geirange với phong cảnh hữu tình

OTTA REGION

LILLEHAMMER
Ăn sáng tại khách sạn chúng tôi rời Molde đến Lillehammer. Tại đây, chúng tôi có khoảng hai giờ rảnh rỗi để khám phá Thành phố Olympic. Thế vận hội Mùa đông 1994, hay Thế vận hội Mùa đông XVII, được tổ chức từ 12 tháng 2 đến 27 tháng 2 năm 1994 tại Lillehammer, Na Uy. Tất cả có 67 quốc gia tham dự.

Để lên được trên đỉnh này, chúng tôi đã phải trèo lên cả tram bậc thang sắt, hẹp, nguy hiểm và rất khó đi, thật là liều và không có cái dại nào bằng cái dại này. Leo xuống được dưới mặt đất thật vất vả và bở cả hơi tai…

Thế vận hội Mùa đông 1994 (tên chính thức là Thế vận hội Mùa đông XVII và còn được gọi là Lillehammer 1994) là một sự kiện thể thao mùa đông đa môn Lillehammer đã không giành được quyền đăng cai sự kiện năm 1992, nhưng đã được trao quyền đăng cai Thế vận hội Mùa đông 1994 vào năm 1988, sau khi đánh bại Anchorage, Alaska; Östersund, Thụy Điển; và Sofia, Bulgaria. Thế vận hội này là lần đầu tiên được tổ chức vào một năm khác với Thế vận hội Mùa hè, là kỳ duy nhất được tổ chức hai năm sau Thế vận hội Mùa đông trước đó và là kỳ cuối cùng được tổ chức tại một thị trấn nhỏ. Thế vận hội này cũng là kỳ Thế vận hội thứ hai được tổ chức tại Na Uy và là Thế vận hội Mùa đông thứ hai được tổ chức tại các nước Bắc Âu, sau Oslo năm 1952.

Sau đó, xe bus hướng về Oslo dọc theo bờ Hồ Mjosa, một hồ nước lớn nhất ở Na Uy. Khi đến Oslo, chúng tôi đến thăm Công viên Frogner, Cung điện Hoàng gia, Tòa thị chính và Pháo đài Akershus.
OSLO là thủ đô của Na Uy và cũng chính là quê hương của Giải Nobel Hòa bình. Khi chúng tôi đến Oslo thì trời đã xế chiều. Sau khi ông Andor và cô Mira đón bà Local Tour Leader, xe bus của hãng du lịch chở chúng tôi đi thăm thành phố Oslo. Xe bus đi qua những con đường trong thành phố Oslo nổi tiếng với nét quyến rũ của hoàng gia và những con phố nhộn nhịp. Thỉnh thoảng, xe bus dừng lại ở một vài địa điểm như:


CÔNG VIÊN ĐIÊU KHẮC VIGELAND (CÔNG VIÊN FROGNER), là một công viên với 212 bức tượng khỏa thân. Đây cũng là công viên điêu khắc lớn nhất thế giới do nhà điêu khắc gia Gustav Vigeland tạo ra. Ông là người chịu trách nhiệm thiết kế và bố trí kiến trúc trong công viên. Công đoạn khắc trên đá và đúc đồng do thợ thủ công lành nghề đảm nhiệm. Tuy nhiên, ông đã chết năm 1943 trước khi công viên được hoàn thành năm 1946. Những bức tượng khỏa thân sống động, phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ của con người và tập trung vào chủ đề về sự sống và cái chết của con người. Công viên Frogner là một công viên công cộng nằm ở quận Frogner ở thành phố Oslo, Na Uy, và là một phần lịch sử của Frogner Manor, nằm ở phía nam của công viên và là nhà của Bảo tàng Thành phố Oslo. Cả công viên, toàn bộ quận Frogner cũng như Frognerseteren đều lấy tên của dòng họ Frogner Manor.


Công trình được khởi công xây dựng từ năm 1939 và hoàn thành năm 1949, với 212 bức tượng được chế tác từ các chất liệu khác nhau như: đồng, granite và sắt và đều ở trạng thái nguyên thủy. Khi đặt chân đến công viên Vigeland, chúng tôi không cảm thấy sự trần tục, thô thiển, mà thay vào đó có thể là những triết lý nhân sinh ẩn sau mỗi tác phẩm. Những hành động, biểu cảm thường ngày của con người được khắc họa bằng tượng như: chạy, nhảy, múa, ôm, nắm tay, khóc, tức giận… mà không có bất kỳ lời chú giải nào.

212 bức tượng khỏa thân nghệ thuật

Với diện tích khoảng 320.000m2, trải dài trên trục đường chính dài 850m, các bức tượng chia làm 5 khu chính từ ngoài vào lần lượt là: khu cổng lớn, cây cầu với sân chơi, đài phun nước, tháp đá nguyên khối “The Monolith” và vòng quay cuộc đời (The Wheel of Life).

Tháp người “The Monolith” có thể được coi là trung tâm của công viên Vigeland, được chạm khắc từ đá granit nguyên khối cao hơn 14 mét, mô phỏng 121 tượng người chất chồng lên nhau từ chân tháp đến đỉnh tháp. Có người nói đây là hình ảnh thể hiện sự phục sinh của loài người, có người lại nói tác phẩm tượng trưng cho khát vọng của con người. Nhưng lại cũng có ý kiến cho rằng tháp đá “The Monolith” cho người xem cảm giác “Togetherness” – gắn kết cùng chung thân phận con người.

Quảng trường Tòa thị chính, quảng trường này lớn như Quảng trường Đỏ ở Moscow; hay Quảng trường Saint Peters ở Rome. Quảng trường này là trung tâm của thành phố Fjord và có nhiều di tích lịch sử quan trọng. Được lát bằng đá granite xám, Quảng trường Tòa thị chính nằm ở phía trước mặt tiền phía nam của tòa nhà Tòa thị chính. Quảng trường được trang trí bởi một nhóm điêu khắc “Synken”, gồm ba đài phun nước và bốn bức tượng phụ nữ trong các tư thế khác nhau. Đây cũng là nơi tổ chức nhiều lễ hội, các buổi hòa nhạc và các sự kiện ngoài trời khác.

Cạnh đó là Tòa thị chính: Tòa thị chính thành phố Oslo là nơi làm việc của hội đồng và cơ quan hành chính thành phố và nhiều cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Tòa nhà được xây giữa những năm 1932 và 1950 khi đang diễn ra Thế chiến thứ II. Được thiết kế bởi hai kiến trúc sư Arnstein Arneberg và Magnus Poulsson. Tòa thị chính được xây bằng gạch đỏ với hai tòa tháp có chiều cao lần lượt là 63m và 66m. Nội và ngoại thất của tòa nhà được trang trí với các phong cách mỹ thuật Na Uy trong những năm 1900-1950, với các mô hình diễn tả lại lịch sử, văn hóa và cuộc sống ngày thường tại đất nước Na Uy.
Ngoài việc phục vụ như một văn phòng chính phủ, Tòa thị chính thành phố Oslo còn là nơi diễn ra nhiều buổi lễ trang trọng khác như lễ trao giải Nobel Hòa bình vào tháng 12 hàng năm. Những mái nhà của tòa tháp phía đông có một dàn chuông gồm 49 chiếc và đánh lên mỗi giờ đồng hồ. Tòa thị chính nằm ở Pipervika trong trung tâm trung tâm thành phố Oslo. Khu vực này được hoàn toàn tái thiết và xây dựng lại, để nhường chỗ cho hội trường thành phố mới trở lại trong cuối những năm 1920. Tháng 6 năm 2005, nó được đặt tên là “Cấu trúc của thế kỷ” của Oslo.
Nhà NHÀ HÁT OPERA với kiên trúc khác lạ, nằm tại trung tâm thủ đô Oslo. Đây được coi là một trong những công trình thiết kế độc đáo nhất tại Na Uy, được xây dựng đầu thế kỷ 14. Hình thành từ ý tưởng của tảng băng trôi. Nhà hát được thiết kế sang trọng và hiện đại, mỗi ghế trong nhà hát được trang bị thêm màn hình hiển thị phụ đề bằng 8 thứ tiếng. Lối đi xoắn ốc quanh nhà hát được lót gỗ sang trọng và có thể ngắm nhìn thắng cảnh thành phố qua lớp kính trong suốt. Oslo Opera đã trở thành biểu tượng của thành phố, gắn kết thành phố với các hoạt động trên sông.

Điểm nổi bật của tòa nhà này là mái dốc lên từ mặt nước của nhà hát Oslo và là một quảng trường công cộng có thể đi lại bên trên. Nhà hát cũng đã từng giành được nhiều giải thưởng quốc tế về ý tưởng thiết kế độc đáo cũng như khả năng chinh phục thiên nhiên của con người.

HẢI CẢNG AKER BRYGGE SẦM UẤT được xây dựng xung quanh một nhà máy đóng tàu bị bỏ hoang. Khu vực Oslo’s Aker Brygge là trái tim và linh hồn của thành phố. Nơi này luôn nhộn nhịp và sôi động. Kiến trúc tuyệt đẹp của nó là sự pha trộn tuyệt vời của cái mới và cũ. Lối đi bộ ven biển, mua sắm cao cấp, nhà hàng tuyệt vời và các quầy bar ấm cúng quanh năm với những tấm thảm và lò sưởi ấm cúng. Khi đến đây, bạn hãy ghé thăm Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Astrup Fearnley. Bảo tàng bao gồm hai tòa nhà: một cho bộ sưu tập các tác phẩm của những vĩ nhân như Andy Warhol, Damien Hirst và Jeff Koons.


TRUNG TÂM HÒA BÌNH NOBEL, Trung tâm Hòa bình Nobel được quốc hội Na Uy (Stortinget) quyết định thành lập năm 2000 và khai trương năm 2005, nằm trong tòa nhà chính của Nhà ga xe lửa phía tây cũ (Vestbanestasjonen), gần Tòa thị chính Oslo.Trung tâm Hòa bình Nobel cung cấp các thông tin về Alfred Nobel; giải Nobel Hòa bình; những người đoạt giải Nobel Hòa bình; các xung đột hiện nay trên thế giới cùng các nỗ lực kiến tạo hòa bình. Trưng bày hình ảnh của các cuộc triển lãm; các buổi nói chuyện; các cuộc hội thảo cùng các hoạt động khác dành cho cả người lớn và trẻ em đều diễn ra tại đây. Ban lãnh đạo Trung tâm do Ủy ban Nobel Na Uy bầu chọn.

TỪ OSLO (OSL) TRỜ VỀ LOS ANGELES (LAX)
Chuyến bay của chúng tôi khởi hành lúc 7 giờ sáng, vì vậy chúng tôi không kịp ăn sáng tại hotel. Cô Mira Malina đã cẩn thận và đặt thức ăn sáng cho chúng tôi trong hộp. Đúng 4 giờ sáng, chiếc xe SUV của hãng du lịch đã đậu sẵn ở trước cửa khách sạn và đưa chúng tôi ra phi trường Oslo International Airport. Kết thúc một chuyến du lịch thật tuyệt vời.
Khánh Lan, California August 14, 2025
Alta là điạ điểm ngắm cực quang đẹp nhất Na Uy, là điểm đến lý tưởng cho những ai đam mê những hiện tượng thiên văn học kỳ thú.

Alta có biệt danh là “thị trấn của Bắc cực quang” khi hiện tượng này thường xuyên diễn ra vào khoảng giữa cuối tháng 9 và đầu tháng 4. Đay cũng là nơi thu hút những nhà thiên văn học bởi tại đây có Đài thiên văn Bắc cực quang đầu tiên trên thế giới.

-
DU LỊCH ALASKA
Khánh Lan

Alaska giáp với Canada ở phía Đông, giáp Bắc Băng Dương ở phía Bắc, với Thái Bình Dương ở phía Tây và phía Nam, đối diện với đất liền Nga qua eo biển Bering. Alaska có diện tích 1,7 triệu km2 và là nơi chiếm gần một nửa lượng sông băng trên thế giới. Người bản địa chiếm giữ vùng đất nay là Alaska bắt đầu từ hàng nghìn năm trước và từ thế kỷ 18 trở đi, các thế lực Châu Âu đã có ý định việc khai thác lãnh thổ này.
Người Nga bắt đầu định cư ở Alaska vào năm 1784, dân số chưa đến 1.000 người. Khoảng thế kỷ XIX, lãnh thổ Alaska của Nga là một trung tâm thương mại quốc tế. Tại thủ phủ của Alaska, Novo-Arkhangelsk (ngày nay là Sitka), giới thương nhân đã buôn bán vải vóc, trà Trung Quốc và đá lạnh. Ở đây cũng phát triển ngành đóng tàu và có rất nhiều nhà máy, hay các mỏ khoáng sản, đặc biệt là vàng.
Sau cuộc chiến tranh Crimea từ năm 1853-1856, Nga bất ngờ quyết định bán lại Alaska cho Hoa Kỳ bởi khi đó, Hoa Kỳ và Nga là đồng minh, nên Nga tìm đến người Mỹ để thảo luận thương vụ Alaska. Nga đã cử một nhóm khảo sát đến Alaska để định giá tài nguyên thiên nhiên ở đây. Được định giá khoảng 10 triệu USD, song hầu hết các nhà khảo sát cho rằng Nga không nên bán Alaska, thay vào đó cần đặt vấn đề cải cách để phát triển. Bỏ ngoài tai lời khuyên của nhóm khảo sát, Sa hoàng Alexander II ra lệnh chuyển bản đánh giá đến chính phủ Mỹ. Sau các cuộc thảo luận, hai bên thương vụ mua bán hòn đảo ở mức 7,2 triệu USD. Tuy nhiên, các hoạt động thương thảo bị gián đoạn vài năm do nội chiến ở Mỹ.

Lễ ký hiệp ước chuyển nhượng vùng lãnh thổ Alaska cho Hoa Kỳ ngày 30 tháng 3 năm 1867. Từ trái sang: Robert S. Chew, Ngoại trưởng Mỹ William H. Seward, William Hunter, Mr. Bodisco, Công sứ Nga de Stoeckl, Charles Sumner, và Fredrick W. Seward (Ảnh: Alaska Library).
Đến ngày 30 tháng 3, 1867, tại Washington DC, Ngoại trưởng Mỹ khi đó là William H. Seward và Công sứ Nga là Edouard de Stoeckl đã ký Hiệp ước bán Alaska cho Mỹ. Theo đó, Nga đồng ý bán vùng đất rộng xấp xỉ 1,7 triệu km2 cho Mỹ với giá 7,2 triệu USD. Alaska trở thành tiểu bang thứ 49 của Hoa Kỳ, một vùng đất lạnh lẽo, giàu tài nguyên đã “đổi chủ” sau một thương vụ kỳ lạ cách đây hơn 150 năm. Đến tháng 4, 1867, Thượng viện Mỹ phê chuẩn thương vụ và Tổng thống Mỹ Andrew Johnson ký thông qua và Nga chính thức bàn giao Alaska cho Mỹ vào tháng 10, 1867. Việc chuyển giao đất đai diễn ra tại Novoarkhangelsk rất cảm động, binh sĩ hai bên đứng thành hàng bên cạnh cột cờ, lá cờ Nga bắt đầu hạ xuống. Sau đó, người Mỹ bắt đầu tiếp nhận các tòa nhà ở thị trấn, và đặt lại tên là Sitka. Khoảng một năm sau đó, vài trăm người Nga không nhận quốc tịch Mỹ đã được di chuyển tới các tàu buôn để trở về đất liền của Nga, chấm hết cho sự hiện diện của Nga ở Bắc Mỹ.
Trong gần 30 năm đầu sau khi mua lại Alaska, Mỹ gần như không ngó ngàng đến vùng đất này. Alaska được điều hành thông qua các quy tắc quân sự, hải quân và tài chính. Năm 1884, Mỹ lập một chính quyền dân sự ở Alaska, đồng thời ban hành luật khai thác tài nguyên. Khu vực này trải qua một vài thay đổi về mặt hành chính trước khi được tổ chức thành một lãnh thổ vào ngày 11 tháng 5 năm 1912. Ngày 3 tháng 1 năm 1959, Alaska được công nhận là bang thứ 49 của Hoa Kỳ. Ngày nay, Alaska là một trong những tiểu bang giàu nhất của Mỹ với GDP hàng chục tỷ USD nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào như dầu mỏ, vàng và cá, cùng vùng đất hoang sơ rộng lớn. Ngoài lợi nhuận khổng lồ từ nguồn tài nguyên thiên nhiên, vùng đất này còn tạo vành đai bảo vệ Mỹ khỏi sự tấn công của các nước phương Tây.

Lần đầu chúng tôi đến Alaska vào mùa hè của 30 năm trước (1995), Alaska là tiểu bang đầu tiên chúng tôi đi du lịch bằng đường biển và đây cũng là du thuyền đầu tiên chúng tôi đi. Du thuyền Majestic khởi hành từ Vancouver British Columbia qua 4 nơi của Alaska là Ketechikan, Skagway, Juneau, Hubbard Glacier và kết thúc tại port Seward, Alaska. Du thuyền Majestic đến từ Âu Châu vừa đẹp, sang trọng, lịch sự và giá cả phải chăng, nhưng rất tiếc là chỉ vài năm sau du thuyền này đã bị phá sản và hoàn toàn biến mất trên thị trường.
30 năm sau (2025) chúng tôi trở lại Alaska lần thứ hai vào mùa đông với du thuyền Celibrity Sumit. Du thuyền này khởi hành từ Seward, Alaska và kết thúc ở port Vancouver British Columbia, đi qua 5 địa điểm là Ketechikan, Skagway, Juneau, Systrait Point Alaska và Hubbard Glacier. Lần này, chúng tôi bay từ phi trường Los Angeles đến phi trường Anchorage International, Alaska.

Sau đó, chúng tôi mua vé xe lửa “The Alaska Railroad” đi đến thành phố Seward, Alaska, nơi mà du thuyền Celibrity Sumit sẽ khởi hành cho cuộc viễn du trên vịnh Alaska tuyệt diệu.

ALASKA RAILROAD:
Hơn 100 năm qua, những con đường sắt tại Alaska (Alaska railroad) là phương tiện để kết nối các thành phố lại với nhau, vận chuyển hàng hóa thiết yếu đến khắp nơi trên tiểu bang như một phần quan trọng trong sự phát triển của Alaska. Không những thế, Alaska railroad còn cung cấp dịch vụ đưa các cư dân và du khách đến các khu vực dọc theo đường rầy xe lửa, đồng thời mang đến những trải nghiệm độc đáo cho khách hàng như bạn có thể ngồi trong các toa xe có nóc làm bằng chất nhựa trong suốt, để tận hưởng những giây phút thoải mái và chiêm ngưỡng quang cảnh thiên nhiên đẹp nhất của Alaska.

Thật vậy, không gì có thể diễn tả toàn vẹn được vẻ đẹp của thiên nhiên khi bạn chọn du lịch ngắm cảnh bằng xe lửa trên Alaska railroad. Tuyến đường 500 dặm đường rầy trải dài từ Anchorage đến Seward. kéo dài 4.5 giờ đồng hồ với tốc độ 40 km/giờ đã cống hiến hành khách những phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Những đỉnh núi cao nhất ở Bắc Mỹ, Denali kỳ diệu và những rặng núi phủ tuyết trắng xóa, nối tiếp nhau, trùng trùng điệp điệp tưởng chừng như bất tận.

Trên sườn đồi những rặng thông xanh vươn mình trong nắng ấm, dưới thung lũng sâu, những cành cây khô nằm phơi thây trên những vũng bùn màu xám xịt. ..nhưng lạ lùng thay, chính sự kết hợp giữa cái chết và sự sống của cây cỏ lại tạo ra một bức tranh tuyệt đẹp trước mắt mà bạn không thể ngờ được…

những rặng thông xanh vươn mình trong nắng ấm

Chúng tôi như chìm đắm trong phong cảnh hữu tình, 4.5 giờ đồng hồ thoảng qua nhanh như một cơn gió nhẹ đưa chúng tôi đến thành phố Seward lúc 11:00 giờ sáng. Từ bến xe lửa đến Port Seward, Alaska mất khoảng 10 phút đường bộ. Tuy nhiên, Celibrity Sumit cũng gởi xe buýt ra bến xe lửa để đón khách lên tàu. Celibrity Sumit khởi hành đi Juneau lúc 8 giờ tối và là thành phố đầu tiên du thuyền dừng lại.
JUNEAU

Nằm dưới chân núi Juneau ở Alaska Panhandle, nơi phù hợp với nguồn nước Ruby của vùng đất liền Gastineau Channel. Juneau vốn thừa hưởng một số vịnh hẹp tuyệt đẹp và vì được bao quanh bởi sông nước với những ngọn núi cao chót vót, Juneau đã mở ra một con đường nối liền nơi này với thế giới bên ngoài. Ngày nay, các thị trấn được phát triển với quang cảnh đặc biệt như ở Phi Châu.

Juneau là một trong những nơi mà bạn có thể thám hiểm để thử nghiệm về sự hùng vĩ của đỉnh núi Robert đến Mendenhall Glacier và các băng đá rất độc đáo tại Juneau.
SKAGWAY

Skagway ngày nay với những con phố có vỉa hè bằng gỗ “buckboard” và các tòa nhà đã được phục hồi để chào đón du khách thì 100 năm trước, có đến 20,000 thợ đào mỏ chuyển đến sinh sống tại thị trấn nhỏ bé này, nhưng bởi sự khắc nghiệt của thời tiết khiến chỉ còn khoảng 1000 người ở lại và lập nghiệp tại đây.

Nếu chúng ta quay ngược dòng thời gian và sống lại cơn sốt vàng vào cuối thế kỷ 19, đó là quãng thời gian mà những người thuộc cơn sốt vàng Klondike bất chấp gian khổ để hy vọng đào được trúng kho vàng (Klondike to strike it Rick). Thật vậy, trong cơn sốt vàng Klondike, Skagway, Alaska tràn ngập những người đi tìm kiếm vàng, họ quyết tâm và sẵn sàng mạo hiểm với hy vọng đào được mỏ vàng.

The White Pass và Yukon Route Railroad
Những người tiên phong này bất chấp mọi trở ngại, họ đã lên đường, vượt qua The White Pass và Yukon Route Railroad nguy hiểm. Bởi lúc bấy giờ, Skagway là vùng đất được ví như viên ngọc quý tinh khiết ẩn mình giữa những ngọn núi cao chót vót nằm ở phần cực bắc. Đây cũng là một hành trình lý thú mà du khách ngày nay có cơ hội trải nghiệm trên tuyến đường sắt lịch sử White Pass và Yukon Route Railroad này.
ICY STRAIT POINT HOONAH, ALASKA

Icy Strait Point nằm gần thành phố Hoonah, đây khu định cư lớn nhất của người Huna da đỏ thuộc bộ lạc Tlingit ở Alaska. Hoonah có nghĩa là “nơi gió bắc không thổi“, là nơi mà người Huna Tlingit di dân đến sinh sống và lập nghiệp từ khi có sự xuất hiện của những tảng băng hà nhỏ trên biển gần nơi ở ban đầu của họ ở Vịnh Glacier.

Theo lời kể của người dân bản địa thì vùng biển này là nơi sinh sống của nhiều giống cá như cá voi lưng gù, cá voi sát thủ, cá heo Dall, hải cẩu, rái cá, cá bơn và năm loài cá hồi Thái Bình Dương. Vì vậy nếu bạn đi bộ dọc bờ biển, bạn sẽ không cảm thấy ngạc nhiên khi phát hiện ra một chú cá voi lưng gù hoặc một chị cá voi sát thủ đang bơi lội ngoài khơi. Tại đây bạn có cơ hội để thưởng thức những món hải sản tươi ngon với giá cả phải chăng như cá salmon và kinh crab cooktail.

Vào những năm 1880, những người buôn bán lông thú đã đến Hoonah định cư, họ xây trường học, nhà thờ, cửa hàng buôn bán thực phẩm và lông thú.

Đến năm 1912, “ISP” của Eo biển đã xây nhà máy đóng hộp cá hồi lớn nhất ở Alaska, sản xuất tới 152,505 thùng trong một năm. Ngày nay, ISP là cảng du thuyền tư nhân duy nhất ở Alaska và hãng cá đóng hộp Huns Totem Corporation thuộc quyền sở hữu của 1350 người dân bản địa Alaska, mà nhiều người trong số ấy là tổ tiên của người Tlingit bản địa định cư ở đây.
KETCHIKAN

Ketchikan nằm gần mũi cực nam của vùng đất hẹp Alaska, nó trông giống như một chiếc khăn tay nhỏ bị kẹp giữa núi và biển. Người da đỏ Tlingit, Ketchikan gọi nó là “Đôi cánh sấm sét của đại bàng” (Thundering Wings of an Eagle) và nó nhìn như đôi chân của con chim đại đang leo lên ngọn Deer mountain cao 3000 foot nhìn ra thị trấn.

“Đôi cánh sấm sét của đại bàng” (Thundering Wings of an Eagle)
Toàn bộ trung tâm thành phố là khu vực di tích lịch sử quốc gia, là mối liên hệ của người dân bản địa với quá khứ văn hóa, Ketchikan cũng có bộ sưu tập cột mốc lớn nhất thế giới bởi Ketchikan nằm trong khu rừng mưa ôn đới trong khu rừng quốc gia Tongass.

Ketchikan là một vùng đất hoang dã được tạo ra do đất bồi của dòng sông băng tuyết và được bao quanh bởi những ngọn núi phủ tuyết, thác nước. Những dòng suối của vùng đất này là nơi sinh sản của cá hồi biến Ketchikan thành một thị trấn đánh cá nổi tiếng trên thế giới.

Alaska vào tháng năm vẫn còn lạnh, nhưng lạ lùng thay công viên “Whale Park” lại rực rỡ với những cây hoa khoe sắc thắm bên cạnh những cành Japanese Mable đỏ rực như độ tiết thu.

The Whale Park tại Ketchikan, Alaska

Đẹp như mùa thu ở Japan

HUBBARD GLACIER

Khi du thuyền đến Hubbard Glacier thì đã 4 giờ chiều, khí hậu hôm ấy lạnh buốt và có mưa lất phất, nhưng trời mưa thì mặc trời mưa, tất cả mọi người ùa ra hai bên boong tàu như những đàn ong vỡ tổ. Trên tay của chúng tôi, người thì ống nhòm, kẻ thì máy ảnh, iPhone, miệng líu lo, tay chỉ trỏ, không khí trở nên vui như ngày hội.

Hubbard Glacier được đặt theo tên theo luật sư Gardiner Hubbard, dòng sông băng này mang một vẻ đẹp bao La với màu xanh phi thường mà từ xa trông như một tấm thảm màu xanh bằng đá dựng đứng, rất ngoạn mục. Hubbard Glacier là một sông băng nằm trong Công viên quốc gia và Khu bảo tồn Wrangell–St. Elias ở phía đông Alaska và Công viên quốc gia và Khu bảo tồn Kluane ở Yukon, Canada. Hubbard Glacier là sông băng thủy triều lớn nhất Bắc Mỹ. Nó dài 76 dặm, rộng 7 dặm và cao 600 feet ở mặt cuối (350 feet lộ ra trên mực nước và 250 feet bên dưới mực nước).

Hubbard Glacier hay bất cứ một dòng sông băng tại Alaska đều là những kỳ quan thiên nhiên nằm trong vùng nước được bảo vệ. Hubbard Glacier nằm ở phía sau của Vịnh Yakutat và là một nhánh sông băng bắt đầu ở đỉnh cực đông trên sườn Núi Logan ở độ cao khoảng 5,600 nét. Trước khi trôi ra biển, Hubbard Glacier được nối với sông băng Valerie ở phía tây qua các đợt dâng băng về phía trước đã thúc đẩy dòng chảy băng và cuối cùng sẽ chặn Vịnh hẹp Russell từ vùng nước của Vịnh Disenchantment.

Tour Hubbard Glacier: Bạn có thể book tour để lên trên đỉnh của sông băng bằng máy bay trực thăng, giá khá cao nhưng bạn sẽ nhìn thấy tận mắt những tảng đá màu xanh biếc, những hồ nước đông đá mà bạn có thể đứng lên trên và những dẫy núi phũ đầy tuyết bao quanh. Đó là một cuộc mạo hiểm đầy lý thú.
Hubbard Glacier đã tiếp tục phát triển trong khoảng một thế kỷ. Vào tháng 5 năm 1986, Hubbard Glacier dâng cao về phía trước, chặn lối ra của Vịnh hẹp Russell và tạo ra “Hồ Russell” và mùa hè năm đó, hồ đầy nước với mực nước tăng 25 mét và sự giảm độ mặn đã đe dọa sinh vật biển ở vùng này. Theo các nhà chuyên gia tiên đoán phải mất khoảng 400 năm để một khối băng đi hết chiều dài của sông băng, nghĩa là lớp băng dưới chân sông băng có tuổi đời khoảng 400 năm.

Sông băng thường xuyên làm vỡ những tảng băng trôi có kích thước bằng một tòa nhà mười tầng. Nơi sông băng gặp vịnh, phần lớn băng nằm dưới mực nước và những tảng băng mới hình thành có thể bắn lên khá đột ngột, vì vậy các con tàu phải giữ khoảng cách với mép sông băng ở Vịnh Disenchantment.

Cuộc vui nào rồi cũng tàn và chuyến du lịch nào rồi cũng phải kết thúc. Khi du thuyền Celibrity Sumit kết thúc tai cảng Vancouver, British Columbia đồng hồ chỉ 8 giờ sáng. Lấy hành lý xong, chúng tôi đón taxi ra phi trường Vancouver Internationa, từ bến tàu đến phi trường là 210 nautical miles.
Chúng tôi về lại California lúc 4:30 chiều, chấm dứt một chuyến du lịch đầy lý thú.
Khánh Lan, California 2025
Sent from my iPhone
-
NVNT & TTG DU LỊCH HÀN QUỐC & NHẬT BẢN
Khánh Lan tường trình
Năm nay, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) đã du lịch-thưởng ngoạn ngắm hoa vàng trên du thuyền Norwegian Spirit từ ngày 12 tháng 10, 2024 đến ngày 23 tháng 10, 2024 tại hai quốc gia Nhật Bản và Đại Hàn. Chuyến đi này có khá đông các anh chị tham dự, 30 người gồm NVNT & TTG cùng các anh & chị cựu nữ sinh trường Trưng Vương và Chu Văn An, Sài Gòn.

Mạnh Bổng, Khánh Lan, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Kim Hương, Quốc Dân

Mạnh Bổng và các anh cựu nam sinh trường Chu Văn An, chị cựu nữ sinh trường Trưng Vương, Sài Gòn

NGÀY 09 THÁNG 10, 2024, BAY SANG ĐẠI HÀN
Chuyến bay 11 tiếng đáp xuống phi trường Seoul Incheon International Airport lúc 5:50 pm ngày 10 và sau khi lấy hành lý, chúng tôi thuê taxi về khách sạn Travelodge Myeongdong Namsan và Fairfield by Marriot Seoul-Gyeongin-ro. Tất cả chúng tôi đều mệt và buồn ngủ, nên chỉ kịp ăn vội bữa cơm dã chiến ngoài phố, về lại khách sạn và chuẩn bị lên giường …Thế là đã mất một ngày…
INCHEON, ĐẠI HÀN là nơi du thuyền Norwegian Spirit cập bến tại Incheon International Cruise-Teminal 438, Gukjchan-daero-yeonsu-gu, Incheon Port. Incheon thuộc tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc cùng với Yeoju, Incheon được biết đến là trung tâm sản xuất đồ gốm Hàn Quốc và là thành phố thủ công mỹ nghệ & nghệ thuật dân gian của UNESCO. Là nền văn hóa bảo thủ truyền thống của Hàn Quốc, Incheon là nơi giao hòa giữa văn hóa indie và giới trẻ của Seoul.
MÙA THU HÀN QUỐC
Trước khi chuẩn bị cho chuyến du lịch, chúng tôi thầm nghĩ: Hàn Quốc vào mùa thu chắc sẽ tuyệt đẹp, thời tiết mát dịu và se se lạnh…Nhưng chúng tôi đã lầm to… Nhiệt độ ẩm và không khí ngột ngạt, oi bức của mùa hè tưởng đã đi qua để nhường lại cho một bầu trời trong xanh, mang theo cơn gió lành lạnh của những ngày đầu Thu chỉ là lòng ao ước của chúng tôi. Thật vậy, năm nay nhiệt độ và thời tiết tại Đại Hàn và Nhật Bản đã không dễ chịu mà còn giữ nguyên cái nóng bức của mùa hè, biến tháng 10 thành khoảng thời gian chẳng lý tưởng cho việc đi du lịch ngắm lá thu vàng. Lòng ao uớc được khám phá cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp tuyệt vời của những khu rừng cây đang thay lá, đổi màu không như chúng tôi chờ đợi. Cái tiết Thu êm ả của tháng 10 đầy thơ mộng và lãng mạn đã không xảy ra.

Ôi! Chỉ là giấc mơ thôi!

NGÀY 11 THÁNG 10, 2024. INCHEON, KOREA
Namchang-dong and Gyeongbokgung Palace
Sau một đêm nghỉ ngơi, chúng tôi hăng hái lên đường đi “bát phố”trên con đường Hoehyeon-dong-ga. Incheon là một thành phố nhỏ nên chỉ mất khoảng vài tiếng là đã đi hết phố. Tuy là tháng 10, nhưng khí hậu nóng như mùa hè, vậy mà chúng tôi đứa nào cũng áo đơn áo kép thế có chết người không cơ chứ.

Hoehyeon-dong-ga, Seoul
Vừa đi vừa nói chuyện nên khoảng 2 tiếng sau chúng tôi đã đến khu Namchang-dong, Seoul. Đây là khu shopping bày bán không thiếu một thứ gì, từ thức ăn, quần áo, giầy dép, nón mũ, túi sách tay bình dân với giá rất rẻ.

Namchang-dong, Seoul
Sau bữa ăn trưa, chúng tôi rủ nhau thuê taxi đến seoul-Sejongno, thăm Gyeongbokgung Palace hay Royal Palace. Không ngờ nơi đây đã để lại trong chúng tôi một ngày vui và nhiều kỷ niệm đẹp. Để không phải trả tiền vé vào cửa của Gyeongbokgung Palace chúng tôi mướn bộ trang phục truyền thống của Hàn Quốc, Hanbok với giá $35 một bộ trong vài tiếng. Nhưng đến khi mặc bộ áo Hanbok vào người, chúng tôi không khỏi bật cười nhất là nhìn Khánh Lan và Kim Hương, trông hai đứa như hai cái “lu biết đi” vì cả hai chúng tôi đều bị “yêu cầu” phải để nguyên cái áo len dầy cộm ở bên trong áo Hanbok. Cái cảm giác ban đầu khi nhìn bộ trang phục Hanbok là nó có vẻ sặc sỡ, cồng kềnh, cứng đơ làm khó chịu cho người mặc, nhưng trang phục này lại biểu tượng tính chất văn hóa và thể hiện được rõ nét thanh lịch và nét đẹp của phụ nữ Hàn quốc.

Gyeongbokgung Palace-Royal Palace-Sejongno, Seoul Và 3 bà lão vớ được trai tơ (hehehe…)

Hanbok là một biểu tượng lịch sử bắt nguồn từ thời kỳ Cao Câu Ly, một quốc gia nổi tiếng trong Tam Quốc nằm trên bán đảo Triều Tiên từ năm 37 TCN đến năm 668. Hanbok có màu sắc tươi sáng, đường may đơn giản và không có túi, trở thành biểu tượng của văn hóa Hàn với quan niệm về sự hòa hợp giữa các yếu tố như trời – đất, nước – lửa, cây – gió. Hanbok nổi bật với sự kết hợp tinh tế giữa đường nét và sự phong phú của màu sắc tự nhiên. Sự mộc mạc nhưng đầy sang trọng của Hanbok. Trong lịch sử của Hàn Quốc, tồn tại hai loại Hanbok phân biệt cho giai cấp quý tộc và dân thường. Những giai cấp quý tộc thường ưa chuộng trang phục mang đậm ảnh hưởng phong cách từ ngoại quốc, trong khi đó, dân thường thì trung thành với trang phục truyền thống Hàn Quốc.
NGÀY 12 THÁNG 10, 2024-INCHEON-DU THUYỀN ORWEGIAN SPIRIT
Tàu Norwegian Spirit là tàu lâu đời nhất của Norwegian Cruise Line, ra mắt vào năm 1998. Đây không chỉ là tàu lâu đời nhất mà còn là tàu nhỏ nhất trong Norwegian Cruise Line. Tàu có chiều dài là 880 ft, số hành khách trên tàu là 1972 người và 904 nhân viên.

Norwegian Spirit welcome NVNT & TTG

Giờ lên tàu của chúng tôi là 12 giờ trưa nên sau khi làm xong thủ tục “check in” chúng tôi kéo nhau lên trên boong tàu và chụp những tấm hình lưu niệm.

Khánh Lan, Đức Hạnh, Tuyết Nga và các anh chị Chu Văn An & Trưng Vương Ngày đầu trên du thuyền Norwegian Spirit

NGÀY 13 THÁNG 10, 2024-JEJU ISLAND
Jeju Island là một hòn đảo có diện tích 1850 km2 và lớn nhất Hàn Quốc. Nằm ở phía nam bán đảo Triều Tiên, được hình thành bởi sự bồi tụ, xếp chồng của các mảng địa chất kết thành khi các ngọn núi lửa dưới lòng đại dương hoạt động. Đó là lý do vì sao chúng tôi đã mua tour Jeju Island Highlight.

Nhưng sự hy vọng ấy đã trờ thành thất vọng khi đọc lá thư của Norwegian Cruise Line Shore Excursions để trên bàn phấn, báo cho chúng tôi biết là tour Jeju Island Highlight sẽ thay thế bởi tour Jeju City Highlight. Tour Jeju Highlight gồm Thác Cheonjiyeon có dòng nước đổ thẳng xuống từ một vách đá dựng đứng có tên là Cheonjiyeon, nghĩa là “bầu trời nối liền với đất liền”. Thác Cheonjiyeon nằm ở một vị trí đặc biệt, nổi tiếng bởi sự hùng vĩ và nằm giữa núi rừng. Thác còn có tên là “đầm nước của thần linh” bởi điểm kết thúc của thác là một con suối với dòng nước chảy trắng xóa.

Vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thác nước Cheonjiyeon
Thác nước Cheonjiyeon nằm ở phía đông nam của đảo Jeju với vẻ đẹp thơ mộng và huyền ảo. Cao 22 mét và rộng 12 mét. Phía dưới thác là hồ nước lớn nhân tạo, sâu 20 mét. Thác nước Cheonjiyeon với một truyền thuyết bí ẩn là xưa kia có 7 nàng tiên hạ trần đi ngang qua Thác, họ say đắm với cảnh sắc nơi đây và đã xuống con thác để tắm. Thác Cheonjiyeon có sự đa dạng sinh học với nhiều loài cây cối tươi tốt tạo nên một thảm thực vật phong phú.

Nằm dưới chân thác Cheonjiyeon là khu rừng Dampalsu được công nhận là di tích thiên nhiên của Hàn Quốc và có rất nhiều loài cây quý hiếm. Con hồ dưới chân thác có loài lươn Mutae là loài lươn rất quý hiếm, chúng có thân hình to lớn, màu đen tuyền, vẩy bóng loáng, loài lươn này được coi là biểu tượng của sức khỏe và tài lộc.
Norwegian Cruise Line Shore Excursions Jeju City Highligh
Đây là tour mà du thuyền thay thế cho tour Jeju Island. Sau bữa điểm tâm, chuyến xe bus mang số 17 đưa chúng tôi đến thăm thành phố Jeju. Thắng cảnh đầu tiên là Yongduam Rock hay Dragon Head Rock. Có rất nhiều truyền thuyết bí ẩn về Dragon Rock, một trong những truyền thuyết cho rằng sự hình thành của Dragon Head Rock là do dung nham thạch từ những núi lửa dưới đáy biển phun trào lên, khi chúng gặp gió mạnh và sóng lớn đánh vào và qua hàng nghìn năm, chúng kết hợp thành hình thể giống như đầu con rồng.

Dragon Head Rock
Điểm dừng chân kế đến là Viện Bảo tàng Lịch sử Folklore and Natural History Museum, nơi trưng bày các di tích dân gian và lịch sử của hòn đảo từ khi thành hình, đến hệ sinh thái của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nền văn hóa độc đáo của hòn đảo.

Kim Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Khánh Lan và Liên

Sau cùng xe bus chở chúng tôi đến thăm ngôi Chợ truyền thống Dongmun, một trong những khu chợ lớn nhất tại Thành phố Jeju trải dài từ Suối Sanju đến đường Jungang, khu chợ này là nơi hoàn hảo để quan sát người dân địa phương sinh sống trong cuộc sống hàng ngày của họ.

Quốc Dân, Kim Hương, Liên, Hùng, Khánh Lan, Mạnh Bổng
Trong chợ truyền thống Dongmun bày bán đủ mọi thứ, nào là bánh gạo truyền thống Jeju hay bánh Omegitteok là một món ăn rất được ưa chuộng. Bánh gạo truyền thống Jeju làm bằng bột kê nếp, kết hợp cùng với bột đậu tương hoặc đậu đỏ nghiền.

Chợ truyền thống Dongmun

Quýt Hallabong là một đặc sản khác cũng nổi tiếng không kém của Jeju, nó có vị ngọt, thơn, mọng nước và hàm lượng vitamin C cao, tốt cho sức khoẻ và có thể làm giảm mệt mỏi.

Quýt Hallabong
THỨ HAI NGÀY 14 THÁNG 10, 2024: AT SEA
Du thuyền vượt đại dương để đến hải phận của nước Nhật Bản. Sau 4 ngày đi lang thang ngoài phố, hôm nay là ngày hoàn hảo để chúng tôi lấy lại sức mà đi ngao du tiếp khi đến sứ phù tang. Hôm nay cũng là ngày cho các “chàng & nàng” tha hồ “dress-up” và chụp hình đấy.

Dressing-up for the party

MÙA THU ĐÔNG KINH (NHẬT BẢN)
Mùa Thu Đông Kinh vẫn được cho là đẹp tuyệt diệu từ tháng 10 cho đến giữa tháng 12. Đó là thời điểm đẹp nhất để thăm viếng Nhật Bản khi nhiệt độ giảm xuống mức dễ chịu với lượng mưa ít hơn và phong cảnh mùa thu đang vào thời kỳ tuyệt vời. Thế nhưng, những ước mơ ngắm cảnh đồi núi với những rừng cây đầy màu sắc, tận hưởng sắc thu đều là trong mộng tưởng. Bởi nhiệt độ tại Nhật Bản chẳng khác gì Đại Hàn với khí hậu nóng và oi bức.

Ôi! Chì là giấc mơ thôi!
THỨ BA NGÀY 15 THÁNG 10, 2024-ISHIGAKI-OKAWA
Nằm ở phía Tây đảo Okinawa, thuộc Quần đảo Yaeyama và ở phía Đông của Đài Loan. Đảo Ishigaki được xem là một trong những hòn đảo lớn nhất thuộc Quần đảo Yaeyama.

Điểm dừng chân đầu tiên tại Nhật Bản là đảo Ishigaki, đảo này được mệnh danh là Thiên đường của biển với đại dương xanh ngát, trong veo như pha lê và những bãi cát trắng trải dài, những ngọn đồi, rặng núi phủ đầy rêu phong.

Đảo Ishigaki là một hòn đảo đặc biệt vì có sự giao hòa giữa nền văn minh hiện đại mà vẫn giữ được nét đẹp hoang sơ, thuần khiết của thiên nhiên.

Dạo phố Ishigaki: Hùng, Liên, Lệ Hoa, Khánh Lan, Mạnh Bổng,
Tuyết Nga, Quốc Dân, Đức Hạnh, Việt Hải
Thế nhưng chúng tôi đã không đi tắm biển mà rủ nhau đi đạo phố. Lang thang trên đường phố sau gần hai tiếng dưới cơn nóng trên 85 độ khiến mọi người đều mệt nhoài và khát nước. Lúc này thì những chiếc áo len mặc trước khi ra phố được dịp và tha hồ tra tấn thân xác những ai lỡ dại mặc nó. Đã vậy, thỉnh thoảng trời lại đổ mưa, nên hôm ấy thật đúng với câu “dầm mưa dãi nắng”.

Nhưng “trời mưa thì mặc trời mưa”, cuối cùng chúng tôi đã đến khu mua sắm chính của thành phố Ishigaki. Một khu phố bình dân nhưng rất lớn và bày bán không thiếu một thứ gì mà giá cả lại rất rẻ.

THỨ TƯ NGÀY 16 THÁNG 10, 2024-NAHA-OKINAWA
Quần đảo Okinawa bao gồm Naha, Okinawa, Kerama Naha là thủ phủ của Okinawa, là trung tâm thương mại, văn hóa, giáo dục và là thành phố lớn nhất của tỉnh Okinawa. Naha được thành lập vào năm 1920 tại địa điểm trước là kinh đô của vương quốc Ryukyu từ đầu thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 19. Naha nằm bên bờ biển phía Nam đảo chính Okinawa, rộng 39,98 km².

Naha nổi tiếng với Thành Shuri, hoàng thành của vương quốc Ryūkyū, một di sản văn hóa thế giới bao gồm quần thể thành trì. Đại lộ, sân bay Naha và cảng Naha kết nối thành phố này với các vùng đất khác của Nhật Bản. Naha cũng là cảng hàng không chính của Okinawa. Hệ thống monorail Yui Rail đi tuyến đường từ nhà ga của sân bay Naha tới Đại lộ Kokusai, Shintoshin. Ga Shuri gần thành Shuri. Naha là nơi phát xuất môn phái võ Naha-te cùng với Tomari-te (miền Nam Trung Quốc) và Shuri-te (võ của hoàng gia Ryukyu) là các nguồn gốc của Okinawa-te, tiền thân của Karate.
Sau khi ăn sáng trên du thuyền, chúng tôi rủ nhau tản bộ trên Đại lộ Kokusai và ngộ ra rằng đó là một sai lầm vô cùng tai hại, bởi cả ngày hôm ấy khí hậu thật cay nghiệt, nhiệt độ lên đến gần 90°C và trời trở mưa, nắng thật bất thường. Chúng tôi, không ai chuẩn bị áo mưa hay dù nên cả lũ bị ướt và lạnh. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn không nản trí và cứ “lội mưa mà đi”.

“Con đường Kokusai” là một khu phố sầm uất với các cửa hàng mua sắm, quán ăn nhộn nhịp tọa lạc ở trung tâm thành phố Naha, dài 1.6km. Con đường này thành hình sau khi chiến tranh kết thúc, với mong muốn vực dậy nền kình tế Okinawa với cái tên “Kiseki no Mairu – 1 dặm kì tích”.

Sau đó, chúng tôi ghé thăm ngôi chợ hải sản Makishi. Khu chợ này có thể xem như là “nhà bếp” của Okinawa với hơn 115 hàng quán, bày bán tất cả mọi thực phẩm do Okinawa sản xuất từ đủ loại trái cây, rau củ quả nhiệt đới. Các quầy thịt heo và hải sản lúc nào cũng đầy ắp những mặt hàng hóa không thể thấy được ở các tỉnh khác của Nhật.

Khu hàng bán hải sản Makishi
THỨ NĂM NGÀY 17 THÁNG 10, 2024-AT SEA
Hôm nay là ngày thứ hai At Sea, là ngày mà chúng tôi tận hưởng những giây phút “relax” tuyệt diệu cho cả nhóm sau hai ngày vật lộn với thời tiết khắc nghiệt của Nhật Bản. Một vài người trong nhóm đã húng hắng ho trong đó có cả chúng tôi. Chị Kim Hương và Tuyết Nga ví như một nhà thuốc lưu động sẵn sàng cung cấp thuốc cho chúng tôi khi cần. Tuy thế, bệnh tật cũng chẳng làm chùn bước chân của nhóm “trẻ và khỏe” NVNT & TTG, nên chúng tôi vẫn tiếp tục ăn, chơi và đấu láo từ 7 giờ sáng đến 12 giờ đêm và cà ngày bận rộn với rủ nhau đi ăn rồi lại rủ nhau đi ăn…

Du thuyền Norwegian Spirit gọi “Formal Dress” là “Smart Dress” nên đã tạo nhiều “confuse” cho chúng tôi, chính vì thế mà 4 chúng tôi (Lan, Hương, Hạnh, Nga) quyết định đánh một vòng trên khu “Central Deck” xem thiên hạ “diện” ra sao. Ôi! Tí nữa thì quê chết được, tại Central Deck, người ta, nào là “quần là áo lượt” dập dìu “tài tử giai nhân” đứng chờ đến phiên chụp hình. Thế là 4 bà xã xệ chuồn về phòng ngay để chuẩn bị đi “dung dăng dung dẻ” với thiên hạ chứ…

At Sea còn là ngày mà mọi người đi bộ thể dục thể thao trên du thuyền, nhóm NVNT chạy đua cùng các anh chị Trưng Vương & Chu Văn An. Và dĩ nhiên, kết quả vẻ vang đã về tay nhóm NVNT. Hihihi…hahaha và nhất là được thưởng thức những món ăn ngon mà hãng tàu cung cấp.

THỨ SÁU NGÀY 18 THÁNG 10, 2024-HIROSHIMA

Mùa Xuân 2005, chúng tôi đã có dịp ghé thăm Nhật Bản để tận hưởng vẻ đẹp của mùa hoa anh đào. Những cánh hoa sắc hồng và trắng tràn ngập bầu trời trong xanh và bao phủ khắp các thị trấn, công viên, đồi núi trên xứ phù tang, nhưng lần ấy, land tour SuperValue đã không dừng lại ở hòn đảo Honshu. Lần này, du thuyền Norwegian Spirit dừng lại ở đảo Honshu 8 tiếng, nên chúng tôi không thể không ghé thăm một địa danh lịch sử, nghĩ vậy; chúng tôi đã quyết định mua tour Panoramic Hiroshima với du thuyền để không bị bỏ lỡ cơ hội thăm Hiroshima Peace Memorial Park.

Hiroshima, hình chụp từ trên boong tàu

Hiroshima là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở vùng Sanyo và vùng núi Chugoku trên đảo Honshu. Với diện tích 90501 km vuông bao gồm một số dãy núi, sông, đồng bằng ven biển và nhiều đảo nhỏ. Hiroshima là thành phố đầu tiên của thế giới phải đối mặt với chiến tranh hạt nhân.

Công viên Tưởng niệm Hòa bình, Hiroshima Peace Memorial Park

Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên “Little Boy” đã thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản lúc 8:15 sáng. Quả bom thứ hai mang tên “Fat Man” đã phát nổ tại thành phố Nagasaki ngày 9 tháng 8 năm 1945, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đế quốc Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện với Khối Đồng Minh và ký vào văn kiện đầu hàng ngày 2 tháng 9 năm 1945, chính thức chấm dứt chiến tranh thế giới thứ hai.

Đồng hồ trên đỉnh chỉ giờ khi quả bom nguyên tử đầu tiên đã thả xuống Hiroshima lúc 8:15 sáng ngày 6 tháng 8 năm 1945.
Trái bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki trong thế chiến thứ hai
Quả bom nguyên tử đầu tiên có sức công phá tương đương 15.000 tấn thuốc nổ TNT. Hiroshima được chọn làm mục tiêu vì đây là một cảng quan trọng ở phía nam đảo Honshu và là trụ sở của Tập đoàn quân số 2 của Nhật Bản với 40.000 quân nhân trong thành phố, và là thành phố lớn duy nhất không có trại tù binh chiến tranh. Dự định ném xuống Cầu Aioi, quả bom đã trượt mục tiêu 240 m (790 ft) và phát nổ ngay trên Bệnh viện Shima, rất gần với Genbaku Dome. Tâm vụ nổ nằm cách Dome 150 m (490 ft) theo chiều ngang và 600 m (2.000 ft) theo chiều dọc.
Các cột dọc của tòa nhà, một phần của tường ngoài bằng bê tông và gạch vẫn còn nguyên vẹn. Genbaku Dome gần như vẫn đứng nguyên như sau vụ đánh bom ngày 6 tháng 8 năm 1945. Từ năm 1950 đến năm 1964, Công viên Tưởng niệm Hòa bình Hiroshima được thành lập xung quanh mái vòm bom nguyên tử Genbaku. Hội đồng Thành phố Hiroshima thông qua nghị quyết bảo tồn vĩnh viễn Vòm Genbaku hay Đài tưởng niệm Hòa bình Hiroshima năm 1966.

Mái vòm Bom Nguyên tử Genbaku
Excursion: Panoramic Hiroshima
Từ 9 giờ sáng chúng tôi đã có mặt tại Stardust Theater của du thuyền Norwegian để chuẩn bị lên xe bus. Đúng 9:30 sáng, xe bus #17 chở chúng tôi đi xem thành phổ Hiroshima, thỉnh thoảng xe dừng lại tại các điểm nổi bật trong lịch sử và những khu vực đã được tái tạo trong thành phố sau sự tàn phá gần như hoàn toàn bởi một quả bom nguyên tử vào năm 1945. Điểm dừng chân đầu tiên là Hiroshima Peace Memorial Park với Mái vòm Bom Nguyên tử Genbaku, một công trình kiến trúc duy nhất còn sót lại sau vụ nổ bom nguyên tử và nó đã trở thành biểu tượng của hòa bình và hy vọng loại bỏ vũ khí hạt nhân.

Mái vòm Bom Nguyên tử Genbaku

Lâu đài Hiroshima, biểu tượng kiên cường của thành phố Hiroshima
Điểm dừng chân thứ hai là sự tái thiết tuyệt vời của Lâu đài Hiroshima, một tòa nhà lịch sử đã bị bom nguyên tử san bằng. Nằm ở quận Naka, được xây dựng lại vào năm 1958, lâu đài bằng đá và gỗ cao 5 tầng trên khu đất có quang cảnh tuyệt đẹp được bao quanh bởi một con hào bảo vệ. Thành phố Hiroshima đã tồn tại qua nhiều biến cố thăng trầm, chứng kiến sự phát triển và những mất mát của thành phố. Lâu đài Hiroshimalà một trong những hành trình lịch sử và văn hóa của Nhật Bản.

Lâu đài Hiroshima
Lâu đài Hiroshima được xây dựng vào cuối thế kỷ 16 bởi Fukushima Masanori, là trung tâm quyền lực và là nơi cư trú của các lãnh chúa vùng Hiroshima cho đến cuối thời Edo (1868). Kiến trúc của lâu đài kết hợp hài hòa giữa phong cách xây dựng kiên cố và tính thẩm mỹ tinh tế. Lâu đài chính là mái nhà được thiết kế cong cong, mang biệt danh “Hijo-jō” (Lâu đài Cá chép).

Lâu đài Hiroshima đã phải trải qua nhiều lần tu sửa và xây dựng lại sau trận động đất năm 1875 và thảm họa sau vụ đánh bom nguyên tử vào Hiroshima năm 1945 khiến hầu như toàn bộ kiến trúc của lâu đài bị phá hủy. Sau chiến tranh, người dân Hiroshima khôi phục lại di sản văn hóa, và công cuộc tái thiết Lâu đài Hiroshima bắt đầu vào năm 1958. Lâu đài Hiroshima là một trong những lâu đài đầu tiên ở Nhật Bản được xây dựng bằng đá. Bên trong khuôn viên lâu đài làBảo tàng Lịch sử Thành phố Hiroshima, trưng bày các hiện vật và tư liệu quý giá về lịch sử của thành phố.

THỨ BẢY NGÀY 19 THÁNG 10, 2024-OSAKA-KYOTO & CHỦ NHẬT NGÀY 20 THÁNG 10, 2024-OSAKA
Thành phố Osaka nằm ở phía tây giáp vịnh Osaka. Khi thành phố được thành lập vào năm 1889, ngày nay là các phường Chuo và Nishi. Osaka nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm ướt với bốn mùa rõ rệt. Mùa đông thường với tháng giêng là tháng lạnh nhất. Mùa xuân khi hậu ôn hòa, nhưng có khi nóng và ẩm với tsuyu (mưa xuân) xảy ra từ đầu tháng 6 tới cuối tháng 7. Mùa hè rất nóng và ẩm ướt, tháng 8 là tháng nóng nhất. Mùa thu ở Osaka mát mẻ, với lượng mưa rất nhiều.

Thành phố Osaka là tỉnh lỵ của tỉnh Osaka và là một đô thị của quốc gia Nhật Bản. Osaka nằm ở vùng Kinki trên đảo Honshu (Tokyo, Osaka, Kyoto, Hiroshima), ngay cửa sông Yodo trên vịnh Osaka. Thành phố Osaka chiếm phần lớn nhất vùng đô thị Keihanshin, Kyoto-Osaka-Kobe là thành phố lớn thứ hai ở Nhật Bản. Đây là trung tâm thương mại, là trung tâm công nghiệp và hải cảng chính, là trái tim của vùng đô thị Kansai.

Khi du thuyền cập bến tại cảng Osaka, chúng tôi không mua tour mà tự mướn hai taxi, mỗi taxi chở 4 người, gồm Việt Hải, Lệ Hoa, Quốc Dân, Kim Hương, Mạnh Bổng, Khánh Lan, Hạnh và Nga. Từ Cảng Osaka Tempozan Wharf 3 đến Osaka khoảng 1 giờ bằng xe hơi. Những địa điểm chúng tôi sẽ ghé thăm là Katsuo-ji Temple, Dotombori Canal, Osaka Castle, Nara Deer Park.

Cảng Osaka Tempozan Wharf 3
Katsuo-ji Temple
Là điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi, hôm ấy đúng là ngày đầu của mưa Thu, mưa nhẹ hạt nhưng cũng làm ướt cả người nên chúng tôi ghé lại một gift shop trước cửa chùa để mua vé vào cửa, dù và áo mưa. “Trời mưa thì mặc trời mưa” chúng tôi vẫn tung tăng trên những con dốc và bậc thang bằng đá dài lê thê, nào là chụp hình, ngắm vẻ đẹp như tranh vẽ quanh chùa, v.v… và quên cả trời mưa.

Đây là ngôi chùa được mệnh danh là chùa may mắn. Rất nhiều người tới đây để cầu xin được thành công trong kinh doanh, buôn bán…. Các sĩ tử thì tời cầu xin thi cử đỗ đạt…

Katsuoji-ngôi chùa nổi tiếng để cầu may mắn tại osaka

Chùa Katsuoji được xây dựng từ hơn 1100 năm trước. Truyền thuyết kể rằng, Thiên Hoàng thời đấy bị bệnh nặng và mọi người đã tới chùa này cầu nguyện cho Thiên Hoàng mau chóng khỏi bệnh. Để cảm tạ Thiên Hoàng đã đặt tên cho ngôi chùa này là Katsuo-ji (Thắng Vương Tự), nhưng từ “Thắng Vương” bị cho là phạm thượng, vì vậy sau này được đổi tên lại là “Thắng Vĩ Tự” hay Katsuo-ji.

Chùa Katsuoji
Búp bê Daruma tại chùa Katsuo-ji còn được gọi là Kachi-darumak, khuôn mặt của búp be Daruma không có mắt, khi muốn cầu xin một điều gì đó, người ta tự vẽ lên trên mặt Daruma một con mắt, và sau khi lời nguyện xin trở thành sự thật, thì họ trở lại và vẽ thêm con mắt thứ hai. Cảnh sắc 4 mùa tại Katsuoji có vẻ đẹp khác nhau, nhưng đẹp nhất vẫn là mùa thu với nhiều lá đỏ và mùa xuân với hoa anh đào sắc hồng phủ kín khắp ngôi chùa, đặc biệt là hoa anh đào rủ, đẹp quyến rũ.

Búp bê Kachi-Daruma – mang đến sự may mắn.

Dotonbori Canal là con kênh nổi tiếng có từ năm 1600 và nằm trong khu Dotonbori, một khu giải trí và ẩm thực đường phố của Osaka. Dọc theo tuyến đường thủy, các con phố chật cứng với các cửa hàng quần áo, izakaya, quầy hàng thực phẩm và các biển hiệu neon cao chót vót. Từ du thuyền trên kênh qua Cầu Dōtonboribashi đến Cầu Nipponbashi ở quận Namba thuộc phường Chūō là khu vực có cuộc sống về đêm chính của Osaka. Đôi khi người ta gọi đó là sông “Dotonbori”, nhưng thực ra đó là con kênh “Bori Kanji”. Người dân địa phương đặt biệt danh cho nó là ‘Tonbori‘, hoặc viết là “Dotombori”. Từ “Doton” bắt nguồn từ người đàn ông bắt đầu đào kênh vào thế kỷ 17, Yasui Doton với kế hoạch là nối nhiều con sông của Osaka lại với nhau. Ông đã tử trận trước khi hoàn thành, những người anh em họ của ông đã tiếp tục hoàn thành công việc và đặt tên cho kênh đào là Dontonbori để tưởng nhớ ông.

Osaka Castle
Khi xe dừng lại ở lâu đài Osaka thì trời vẫn còn mưa nho nhỏ, nhưng những hạt mưa bụi ấy không làm chùng lòng chúng tôi. Một khung cảnh thơ mộng, đáng yêu trên khắp nẻo đường từ cổng dẫn vào khu vực của lâu đài. Trên đường, từng hàng người nối đuôi nhau với những chiếc dù muôn màu, chuyển động nhịp nhành trên đường trông như một cuốn phim đang quay chậm, thật đẹp mắt. Chúng tôi cũng không ngoại lệ, chân vẫn bước, mắt vẫn mở lớn, trông trước nhìn sau và tay không rời cái iphone, nhấn nút máy hình luôn.

Ôi! Tòa lâu đài đẹp và nguy nga quá, ai có thể không dừng chân lại để chụp ít nhất vài tấm hình kỷ niệm.

Lịch sử Nhật Bản vào thế kỷ 16 gắn liền với 2 nhân vật là Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi. Nobunaga là lãnh chúa với tham vọng thống nhất Nhật Bản với sự phò tá của Toyotomi Hideyoshi. Lâu đài Osaka hay thành Osaka được lãnh chúa Toyotomi Hideyoshi xây dựng vào năm 1583 để làm nơi cư ngụ và tốn 16 năm để hoàn tất. Đây cũng chính là lâu đài lớn nhất khi ấy, được dựng trên nền của đền Ishiyama Honganji đã bị phá hủy Ozaka-jo.

Lâu đài Osaka vào mùa thu vào dầu tháng 11 với những hàng cây muôn màu và mùa xuân với hoa anh đào nở rộ vào cuối tháng 3 là những mùa đẹp nhất tại đây với phong cảnh thên nhiên của hoa lá phản chiếu trên mặt hồ. Một khung cảnh thần tiên.

Dựa theo Internet, khi Nobunaga chết sau một cuộc đảo chính, Hideyoshi chính là người thay ông thống nhất toàn cõi và xây dựng thành Osaka để kỷ niệm. Thành Osaka được các con hào bao quanh và bảo vệ người sống bên trong, một phần lớn tường thành đã bị thiêu rụi khi gia tộc Toyotomi diệt vong. Lâu đài Osaka chính là biểu tượng cho sự hùng mạnh, thịnh trị của triều đại Hideyoshi với 5 tầng bên ngoài và 8 tầng bên trong, hai bên trang trí bằng vàng kể cả phòng trà của Hideyoshi. Lâu đài Osaka được xem là một trong Tam đại danh thành của Nhật Bản, bên cạnh lâu đài Nagoya và lâu đài Kumamoto.
Năm 1615, sau khi Hideyoshi chết lâu đài Osaka đã bị Tướng quân Tokugawa Ieyasu đốt cháy thành tro. Năm 1620, lâu đài được xây dựng lại nhưng sau đó bị sét đánh 2 lần và bị thiêu rụi vào năm 1660 và 1665. Những cuộc bạo loạn thời Minh Trị và các trận đánh bom trong Thế chiến thứ II cũng gây tổn hại nặng nề cho lâu đài Osaka. Đến năm 1990, chính phủ Nhật Bản chính thức tài trợ khôi phục lại bên ngoài cho lâu đài và có đặt thêm thang máy. Trong thành lũy và bên ngoài lâu đài vẫn còn lưu giữ được nhiều tài sản văn hóa quan trọng như cổng Sakuramon, cổng Otemon, 5 tháp canh bao gồm Tháp pháo Tamon, 2 nhà kho và mái nhà trên giếng Kinmeisui. Tòa tháp canh chính và các tháp Yagura còn lại hiện tại đã được xây dựng từ thời Edo.

Trong thành lũy và bên ngoài lâu đài
Tường đá hùng vĩ của cổng Otemon là những bức tường đá và hào nước được giữ nguyên từ thời Tokugawa và được trùng tu lại vào thời Showa. Từ Osakajo Otemae Shibafu Hiroba, những viên đá được xếp theo thứ tự trong khi bức tường bên trái xếp chồng lên nhau. Thời gian xây thành Osaka kéo dài đến 10. Lâu đài Osaka đã sử dụng từ 500.000 đến 1 triệu viên đá lớn. Các bức tường hào cao tới 20 mét và rộng 90 mét.
Cổng Sakuramon được xây vào năm 1626 trong thời kỳ đầu Edo nhưng sau đó bị cháy rụi năm 1868 và khôi phục lại vào năm 1887. Tên cổng bắt nguồn từ “sakura” tức hàng cây hoa anh đào được trồng gần cổng khi Toyotomi xây lâu đài Osaka. Những tảng đá khổng lồ hai bên cổng Sakuramon là Ryukoishi, tức đá rồng và đá hổ, gắn liền với sự tích hình ảnh rồng và hổ sẽ xuất hiện trên đá sau khi trời mưa.
Tháp lâu đài Osaka được xem là biểu tượng của cả thành phố Osaka nói riêng và Nhật Bản nói chung. Tòa tháp trắng lộng lẫy trên bức tường cao là chứng nhân cho biết bao sự kiện trong lịch sử. Trên tầng thượng tháp có tác phẩm điêu khắc Shachihoko bằng vàng (sinh vật có đầu hổ và mình cá trong văn hóa dân gian Nhật Bản), và trên bức tường đen là một con hổ vẽ bằng vàng.Đài quan sátnằm trên tầng 8 là địa điểm ngắm nhìn toàn cảnh thành phố.
Bảo tàng Lâu đài Osaka, tọa lạctrên tầng 2, lưu trữ nhiều hiện vật lịch sử khác nhau như con hổ vàng, bản sao của vật trang trí trên mái nhà bằng vàng Shachihoko. Lâu đài Osaka là một địa danh nổi tiếng ở Nhật Bản và là nhân tố chủ chốt trong quá trình thống nhất đất nước vào thế kỷ 16. Lâu đài là một bảo tàng sống, với mỗi tầng trưng bày một giai đoạn khác nhau trong lịch sử Nhật Bản như các hiện vật samurai trong các phòng trưng bày và các tác phẩm điêu khắc treo trên tường.
Vườn Nishinomaru trồng 600 cây hoa anh đào cùng một quán trà với phong cảnh tuyệt đẹp.

Vườn Nishinomaru
CHỦ NHẬT NGÀY 20 THÁNG 10, 2024-OSAKA-KYOTO
Du thuyền Norwegian Spirit ở lại qua đêm tại Osaka, do đó chúng tôi có cơ hội thăm Kyoto. Cũng như ngày hôm trước, chúng tôi thuê 2 taxi và mất khoảng 1 giờ 15 phút thi đến khu phố Kyoto. Kyoto thành hình từ hơn 1000 năm và được ví như “cái nôi” của văn hóa truyền thống và được mệnh danh là “linh hồn của Nhật Bản”, một vùng đất mang đậm văn hóa và lịch sử, nhiều chùa chiền và các đền thờ Thần Đạo, nơi chứng kiến bao thăng trầm của đất nước.

Kyoto là cố đô của nước Nhật với đường phố nhỏ hẹp và những ngôi nhà thấp. Đặc biệt, thành phố không có các tòa nhà chọc trời hay bất kỳ công trình hiện đại nào. Mảnh đất này là hiện thân của nước Nhật cổ xưa – nơi có nhịp sống chậm rãi, thanh bình và hòa nhã. Thành phố Kyoto có khoảng 17 địa danh được Unesco công nhận là Di sản thế giới. Đặc biệt, cố đô có tới 1.600 ngôi chùa Phật giáo và khoảng 400 ngôi đền thờ Thần đạo, rất nhiều công trình kiến trúc cổ xưa như cung điện, lâu đài, v.v… vẫn còn được gìn giữ nguyên vẹn cho đến ngày nay.
Rừng trúc Arashiyama hay Rừng tre Sagano (Sagatenryujitateishicho)
Điếm đầu tiên là Rừng trúc Arashiyama. Nằm dưới chân núi Arashiyama, phía Tây cố đô Kyoto, gần dòng sông Hozu và bao phủ một diện tích rộng lớn khoảng 16 km². Đây là một khu rừng tre tự nhiên với vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, nổi bật với những hàng tre mōsō xanh mát trải dài bất tận, tạo nên một khung cảnh yên bình và cuốn hút. Những thân tre cao vút, thẳng tắp, lá xanh mướt, tựa như một mê cung tự nhiên, kỳ diệu. Đặc biệt, khi dạo bước trong rừng tre Sagano, âm thanh xào xạc của lá tre như làm mê hoặc người nghe, tựa như lời thì thầm của thiên nhiên. Âm thanh tự nhiên này đã được Bộ Môi Trường Nhật Bản đưa vào danh sách 100 âm thanh cần bảo tồn.

Sự kết hợp hài hòa giữa môi trường rừng tre và các khu vườn truyền thống Nhật Bản tạo nên một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc và môi trường sống lành mạnh. Khu vực này không chỉ là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo vệ môi trường sinh thái của vùng Kyoto. Rừng tre Sagano mang vẻ đẹp tự nhiên và ẩn chứa những giá trị văn hóa lâu đời của Nhật Bản. Tre trong văn hóa Nhật là biểu tượng của sự bền bỉ, sức mạnh và thanh tao. Rừng tre Sagano đã xuất hiện trong nhiều hoạt động và lễ hội truyền thống của người Nhật, gắn liền với đời sống tinh thần của dân tộc này qua nhiều thế kỷ.

À há! vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm!
Tenryu-ji Zen Temple-Sogenchi Garden và Haritsunajinja Shrine
Gần rừng tre Sagano là chùa Tenryuji, một ngôi chùa nằm trong danh sách Di sản Thế giới của UNESCO. Ngôi chùa này nổi tiếng với kiến trúc tinh tế và khu vườn Zen độc đáo, mang đến sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Cây tre được cho là có khả năng xua đuổi tà ác, nên chùa Tenryu-ji đã được xây dựng gần rặng tre như một cách bảo vệ và tôn vinh sức mạnh thiên nhiên.

Một thú vị bất ngờ là khi đến thăm rừng tre Sagano, du khách có thể thuê và mặc bộ Kimono truyền thống, chụp ảnh giữa khung cảnh tuyệt đẹp của rừng tre khiến người ta có cảm giác như đang hòa mình vào không khí văn hóa Nhật Bản xưa.

Xe kéo (jinrikisha, nghĩa đen là “xe chạy bằng sức người”), 30 phút cho hai người có giá khoảng 9000 yen


Chùa Kinkakuji-The Golden Pavilion – Rokuon-Ji
Kinkakuji trở thành biểu tượng văn hóa đặc trưng của “xứ sở hoa anh đào” và là một ngôi chùa nổi bật với sự kết hợp của dát vàng cùng kiến trúc truyền thống.

Chùa vàng là công trình nổi tiếng và được UNESCO công nhận
Nằm ở phía Bắc thủ đô Kyoto và từng là dinh thự của tướng Ashikaga Yoshimits, ngôi chùa Kinkakuji được xây vào năm 1408 và được dùng để làm đền thờ Zen của giáo phái Lâm Tế. Chùa Kinkakuji sở hữu vẻ đẹp cổ kính, trang nghiêm, kết hợp cùng phần vàng thật được dát xung quanh làm cho vẻ đẹp của chùa trở nên uy nghi với cảnh vật thiên nhiên lãng mạn, nhẹ nhàng bao quanh. Từ ao hồ, đến cây xanh, tầng gác đều góp phần tạo nên một cảnh đẹp quanh chùa. Ngay nay, chùa Kinkakuji đã trở thành di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận.

Đức Hạnh & Tuyết Nga
Chùa Kinkakuji có 3 tầng được xây dựng ngay bên ao Kyoko-chi, nên trong những ngày đẹp trời, hình ảnh của ngôi chùa in bóng trên mặt nước của hồ tựa như một bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp. Với lối kiến trúc độc đáo của văn hóa Nhật Bản đã tạo nên ấn tượng cho chùa Kinkakuji, đó chính là lối kiến trúc kết hợp giữa gỗ, thạch cao theo phong cách Shinden thường thấy tại các cung điện thuộc thời kỳ Heian. Bên trong tầng một được đặt tượng Đức Phật Shaka và tượng của Yoshimitsu. Tầng thứ hai sử dụng phong cách Bukke thường thấy của các dinh thự samurai và có mặt bên ngoài dát vàng thật. Trong tầng hai được đặt tượng Bồ tát Kannon, Đức Phật Shaka và Tứ Đại Thiên Vương… Ở tầng thứ ba sử dụng kiểu xây dựng đặc trưng của Thiền Đường Trung Quốc được mạ vàng bên ngoài và phần đỉnh Phượng Hoàng cũng mạ vàng nổi bật.

Mạnh Bổng & Khánh Lan và Lệ Hoa & Việt Hải

Ngắm nhìn cảnh vật chùa qua bốn mùa, chùa Kinkakuji với cảnh vật lãng mạn, thu hút. Bao quanh chùa là cây xanh tự nhiên và ao Anmintaku trong vắt không bao giờ cạn. Sự thay đổi khác nhau trong năm theo từng mùa góp phần vào việc tạo vẻ đẹp uy nghiêm, tĩnh lặng của một ngôi đền Zen lâu đời. Xung quanh khu vực chùa có đền Fudo Hall thờ tượng Fudo Myoo – Một trong những vị vua thông thái của Nhật Bản và luôn bảo vệ Phật giáo.

Hồng Thủy, Khánh Lan, Theresa, Thanh Bình, Kim Hương
Japan’s Nara Park Deer and Todaiji Temple
Công viên Nara nằm ở thành phố Nara dưới chân núi Wakakusa, thành lập vào năm 1880, và là một trong những công viên lâu đời nhất ở Nhật Bản. Về mặt hành chính, công viên nằm dưới sự quản lý của Tỉnh Nara, một trong những “Địa điểm danh lam thắng cảnh” được Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (MEXT) công nhận là di sản văn hóa. Hơn 1.200 con hươu hoang thả tự do đi lại trong công viên và được phân loại là báu vật thiên nhiên. Trong khu diện tích khoảng 502 ha (1.240 mẫu Anh), bao gồm khuôn viên của Tōdai-ji, Kōfuku-ji với Đại Phật đường Todaiji và bức tượng Phật bằng đồng lớn nhất thế giới, nặng ước tính 300 tấn. Đền Kasuga và Bảo tàng Quốc gia Nara được bao quanh bởi Công viên Nara, có diện tích lên tới 660 ha (1.600 mẫu Anh).

Theo truyền thuyết địa phương, loại hươu sika được Đền thờ Kasuga và Kōfuku-ji coi là linh thiêng và cao quý do Takemikazuchi, một trong bốn vị thần của Đền thờ Kasuga đã đến thăm công viên từ Đền thờ Kashima ở Tỉnh Ibaraki. Ông cưỡi một con hươu trắng và xuất hiện trên Núi Mikasa (Núi Wakakusa). Giết một trong những con hươu này là một tội tử hình cho đến năm 1637. Để cho hươu ăn, một loại bánh quy đặc biệt được bán độc quyền bởi công ty WNOW.

Sau Thế chiến II, loài hươu chỉ được coi là di tích thiên nhiên và được bảo vệ. Vào tháng 1 năm 2023, một nhóm nghiên cứu từ Đại học Fukushima, Đại học Yamagata và Đại học Sư phạm Nara cho rằng trong số những con hươu sika sinh sống ở Bán đảo Kii là một quần thể di truyền độc đáo. Kết quả nghiên cứu di truyền cho thấy trong 18 kiểu gen DNA ở những con hươu sống trong công viên Nara là những loài hươu sống ở Bán đảo Kii. Sự phân hóa di truyền của loài hươu Công viên Nara với quần thể hươu Bán đảo Kii diễn ra cách đây khoảng 1,400 năm trước. Về mặt di truyền gần với năm 768, khi Đền thờ Kasuga được xây dựng. Kết quả nghiên cứu này xác nhận rằng người Nhật đã bảo vệ loài hươu ở khu vực này trong hơn 1.000 năm với tư cách là sứ giả của Takemikazuchi, vị thần chính của Đền thờ Kasuga. Điều này cho thấy loài hươu ở khu vực này duy trì quần thể của chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác.
THỨ HAI NGÀY 21 THÁNG 10, 2024-NAGOYA

Nagoya nằm ở trung tâm Nhật Bản, Nagoya là thủ phủ của tỉnh Aichi và được bao quanh bởi biển, núi, sông và đồng bằng. Đồng bằng Nobi rộng, bằng phẳng và màu mỡ là nơi lý tưởng cho việc sản xuất lúa và trồng cây. Biển phía nam là ngư trường phong phú. Nhiều con sông xung quanh là nơi lý tưởng cho giao thông và thương mại. Gỗ, đất sét và đá từ những ngọn núi, khu vực giàu có này là trung tâm của thời Chiến Quốc, vì vậy, khi Oda và Tokugawa chọn Nagoya là địa điểm lý tưởng để xây lâu đài. Con Robot gỗ đầu tiên trên thế giới, gọi là búp bê Karakuri được phát minh ở Nagoya vào đầu những năm 1600. Ban đầu được sử dụng trong ngày lễ hội truyền thống ở khu vực này. Những kỳ quan cơ khí bằng gỗ thủ công đã dẫn đến việc sản xuất máy dệt tự động, ảnh hưởng đến công nghệ và đưa đến một ngành công nghiệp mạnh mẽ ở Nagoya. Sản xuất đồ sứ trong hơn 1.000 năm và nổi tiếng với các ngành công nghiệp dệt may. Những hãng xe Toyota, Rinnai, Brother, Noritake, NGK, Buffalo, Mitsubishi Heavy Industries phát xuất từ Nagoya.
Osu-kannon Temple
Chùa Osu Kannon được xây vào thế kỷ 20 ở khu vực Hashima của thành phố Gifu vào thế kỷ 14 bên ngoài thành phố Nagoya trong thời kỳ Kamakura (1192-1333). Ngôi chùa với nét kiến trúc truyền thống Nhật Bản, mái ngói cong, cột gỗ đỏ sẫm và các chạm khắc tinh xảo. Năm 1612, ngôi chùa được Tokugawa Ieyasu (Shōgun đầu tiên của Mạc phủ Tokugawa, nắm quyền từ sau trận Sekigahara năm 1600 cho đến Minh Trị Duy Tân năm 1868) chuyển đến vị trí như hiện nay và bị lũ lụt tàn phá nhiều lần, các điện thờ ngày nay được tái xây dựng vào thế kỷ XX.

Osu-kannon Temple
Chùa Osu Kannon (Đại Tự Quan Âm) với vẻ đẹp cổ kính và thanh tịnh giữa lòng thành phố Nagoya. Ngôi chùa không chỉ là chốn linh thiêng bậc nhất của Phật giáo Nhật Bản, mà còn là một bảo tàng sống động, lưu giữ những giá trị văn hóa và lịch sử lâu đời. Trong chính điện, một chiếc lồng đèn màu đỏ rất lớn để người hành hương viết những điều ước muốn trên những mảnh giấy nhỏ và gắn vào dây đỡ lồng đèn để được đức Phật Quan Âm chứng giám. Bên dưới chính điện là Thư phòng Shinpukuji nơi lưu giữ hơn 15,000 văn thư cổ của Trung Quốc và Nhật Bản. Ngoài ra, nơi đây cũng lưu trữ nhiều đồ vật linh thiêng được gọi là báu vật của quốc gia, di sản văn hóa của Nhật Bản cũng như 7 bản sao viết tay được cho là cổ nhất của Kojiki – biên niên sử về lịch sử và thần thoại thời kỳ đầu của Nhật Bản được biên soạn vào năm 712.

Chính điện được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ với các chi tiết được ghép nối khéo léo mà không cần sử dụng đinh. Bên trong chính điện được trang trí bằng nhiều bức tranh treo trên tường, tượng Phật, đèn lồng và các vật dụng thờ cúng khác tạo nên một không gian linh thiêng. Trên các cột, kèo, những hình chạm khắc tinh xảo về hoa lá, chim muông, rồng phượng và các nhân vật trong Phật giáo. Bên trong chính điện có bức tượng Phật Bà Quan Âm được làm bằng gỗ phủ vàng.
Lâu đài Nagoya

Lâu đài Nagoya còn gọi là Nagoyajō, đây là một trong những công trình kiến trúc lịch sử quan trọng và đẹp nhất ở Nhật Bản. Nằm ở trung tâm thành phố Nagoya, lâu đài này đã trở thành biểu tượng độc đáo của vùng Chubu và có một lịch sử hùng vĩ, bắt đầu vào thế kỷ 17 khi Tokugawa Ieyasu ra lệnh xây. Mục tiêu của việc xây lâu đài này là để thể hiện sự thống nhất và kiểm soát của shogunate Tokugawa trên khu vực Chubu. Từ đó, lâu đài Nagoya trở thành một phần quan trọng của hệ thống lâu đài trên toàn quốc và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định và an ninh. Một điểm đặc biệt của lâu đài Nagoya là lối kiến trúc bằng gạch và gỗ với tầng trên lớn và tầng dưới nhỏ hơn.

Lâu đài Nagoya là một trong những tòa tháp lâu đài lớn nhất và được cho là cung điện tốt nhất trong lịch sử Nhật Bản. Được xây dựng bởi Tướng Ieyasu Tokugawa và hoàn thành vào năm 1612. Ở Nagoya, có một bộ sưu tập vũ khí và vật dụng hàng ngày lớn nhất của daimyo, đồ nội thất, quần áo, dụng cụ pha trà và đồ dùng cá nhân tại Bảo tàng Nghệ thuật Tokugawa.

Lối kiến trúc bên trong lâu đài mới đáng kể, đó là những căn phòng nhỏ với những bức họa tuyệt mỹ vẽ trên tường của mỗi căn phòng.

Thành Nagoya

Thành Nagoya được xây dựng theo lệnh của tướng quân Tokugawa Ieyasu để bảo đảm một vị trí quan trọng mang tính chiến lược trên tuyến đường Tokaido và ngăn ngừa các cuộc tấn công từ hướng Osaka của quân Toyotomi. Thành được xây dựng và hoàn thành vào năm 1612. Vào tháng 05 năm 1945, trong các cuộc không kích của quân Mỹ đã phá hoại một số công trình kiến trúc trong tòa thành, nhưng tòa tháp và một số công trình như cánh cổng vẫn còn nguyên vẹn. Cung điện Hommaru mới được phục hồi trong năm 2009 và 2018.

Ngôi đền này nằm ở Thành phố Inuyama, đó là một sochinju, nó có nghĩa là trung tâm để cầu nguyện các vị thần địa phương cho khu vực Nobi, và được cho là vị thần hộ mệnh của Lâu đài Inuyama. Vì chú của Oda Nobunaga, Oda Nobuyasu, đã tặng một bức tượng chó được chạm khắc thủ công. Hàng năm vào tháng 4, Lễ hội Inuyama nổi tiếng được tổ chức và đặc biệt khi hoa anh đào nở rộ và có một cuộc diễu hành vào ban đêm với những chiếc xe diễu hành di chuyển xung quanh dưới ánh sáng của đèn lồng giấy, tạo nên một cảnh tượng rực rỡ.

Tại chùa, có những cập vợ chồng trè đến để cầu nguyện xin phước lành cho việc thụ thai, sinh nở dễ dàng và trường thọ

Phong cảnh ở đây rất thơ mộng và hữu tình, một số cây quanh chùa đã đổi màu như báo hiệu nàng Thu đang đến.

Đây là ngôi đền được kính trọng thứ hai ở Nhật Bản, thành lập cách đây 1,900 năm trước và là nơi lưu giữ thanh kiếm Kusanagi huyền thoại, là ba trong số những báu vật thiêng liêng của đất nước. Nagoya là nơi sinh ra của Shogun Gen Yoritomo, Nobunaga Oda, Hideyoshi Toyotomi và Ieyasu Tokugawa, họ là những người đã trở thành Shogun cùng với nhiều samurai, xây dựng nền tảng vững chắc cho Nhật Bản hiện đại.

Lối vào chùa

Ngoài ra, vì là trung tâm của thời Chiến Quốc, khu vực Nagoya và môi trường xung quanh cũng trải qua những trận chiến nổi tiếng nhất trong lịch sử.

THỨ BA NGÀY 22 THÁNG 10, 2024-SHIMIZU-MT. FUJI
Khi du thuyền cặp bến Hinode Warft, Shimizu-ku, Shizuoka, chúng tôi lại mướn hai taxi chở chúng tôi đi 4 chỗ gồm làng cổ Oshino Hakkai, Đồi Cỏ Hồng Fujikawaguchiko-Oishi, Fujinomiya-KamlideOtodome no Taki Waterfalls và Mt. Fuji World Heritage Center.

Làng Cổ Oshino Hakkai
Làng cổ Oshino Hakkai toạ lạc bên dưới chân núi Phú Sĩ, tại tỉnh Kanagawa. Làng sở hữu nét kiến trúc đậm chất Nhật Bản cổ xưa với khung cảnh thanh bình tuyệt đẹp. Khu vực xung quanh núi Phú Sĩ xưa kia được bao bọc bởi hệ thống các hồ là Kawaguchi, Yamanaka, Sai, Motosu, Shoji; làng Oshino Hakkai chính là hồ thứ 6 tuy nhiên nơi đây đã cạn nước từ hàng trăm năm trước và hình thành nên ngôi làng nhỏ cho cư dân sinh sống. Hiện trong làng cổ Oshino Hakkai vẫn còn sót lại 8 hồ nước nhỏ nằm bên trong làng.

Làng cổ Oshino Hakkai
Làng cổ Oshino Hakkai nổi tiếng với không khí yên tĩnh, thanh tịnh và giản dị mang đến cảm giác rất thanh bình. Nơi đây có nhiều ao hồ cùng các mảng cỏ xanh mát mẻ, xa xa là các ngôi nhà được lợp bằng các loại cỏ đặc biệt.Trên những hồ lớn được xây những chiếc cầu tuyệt đẹp bắc ngang. Đây cũng chính là nơi rất lý tưởng để ngắm nhìn toàn cảnh làng Oshino Hakkai.

Giữa hồ còn có thêm các guồng quay nước bằng gỗ. Các hồ nước tại làng được kiến tạo từ macma phun nước. Tại làng cổ Oshino Hakkai có một chiếc hồ có độ sâu đến 8m, làn nước trong vắt với từng đàn cá Koi bơi lội tung tăng bên dưới. Nước tại hồ này chính là từ băng tuyết tan chảy trên núi Phú Sĩ, thấm qua nhiều lớp dung nham kiến tạo 80,000 năm. Chính vì thế mà chiếc hồ này được dân làng tại đây trân quý và tôn trọng.

Đặc biệt, phần đáy của hồ có cấu tạo chủ yếu là nhan thạch do quá trình kiến tạo địa chất và lấy nguồn nước từ băng tuyết chảy từ trên đỉnh của núi Phú Sĩ. Những hồ nước này ngày càng đẹp và tinh khiết hơn nhờ sự chăm sóc và giữ gìn của người dân nơi đây. Lối kiến trúc độc đáo mang vẻ đẹp hoài cổ, thanh nhã vừa yên bình.
Nghi thức rửa tay trước vào làng.
Nghi thức rửa tay trước khi vào làng cổ Oshino Hakkai bao gồm: Dừng chân trước bể nước, dùng gáo nước bằng ống tre dội lên tay trái trước, rồi mới đến tay phải sau đó dùng nước xoa nhẹ lên mặt. Tiếp theo, bạn lấy thêm một chút nước, giữ gáo bằng hai tay và xối nước xuống phần tay cầm, cuối cùng đặt gáo nước vào vị trí cũ cho những người dùng kế tiếp.

Nghi thức rửa tay truyền thống trước khi vào làng
Ngoài ra, du khách cũng có thể rửa tay ở một bể nước khác gần đó. Bể nước được thiết kế theo hình núi Phú Sĩ có ghi dòng chữ: mời du khách nhúng hai tay vào bể nước trong một phút. Bên trong bể chứa là nguồn nước chảy từ đỉnh núi Phú Sĩ với nhiệt độ ngoài trời khoảng 22 độ C. Thường thì nước trong hồ có màu xanh ngọc bích nhưng khi tiến lại gần hồ thì màu sắc của hồ thay đổi thành tím sậm.

Khung cảnh làng Oshino Hakkai vào mùa đông
Hồ Fujikawaguchiko-Oishi và Cỏ Hồng Kochia
Hồ Fujikawaguchiko ở Tỉnh Yamanashi là Di sản Thế giới nằm dưới chân Núi Phú Sĩ với quang cảnh tuyệt đẹp của những ngọn núi hùng vĩ của Nhật Bản, đẹp nhất là từ Công viên Oishi của hồ.

Công viên Oishi cũng nổi tiếng vi quang cảnh ngoạn mục trong tháng 10 với những bụi cỏ kochia đỏ rực.

Fujinomiya-KamlideOtodome & Shiraito No Taki Waterfalls
Thác Otodome là một trong hai thác nước lớn có thể đi bộ đến được trên Sông Shiba ở Fujinomiya (thác còn lại là Thác Shiraito). Thác Otodome chảy mạnh trên vách đá và đổ xuống hồ nước bên dưới từ độ cao 25 mét, là thác nước nổi tiếng nhất ở Shizuoka và được chọn là một trong 100 thác nước hàng đầu của Nhật Bản cùng với Thác Shiraito no Taki! Ngược lại với Shiraito no Taki, nước ở Thác Otodome đổ xuống với lực cực mạnh.

Thác Kamlide Otodome & Mt. Fuji

Thác Shiraito No Taki gồm một thác lớn và nhiều thác nhỏ dọc theo vách hẻm núi đổ xuống một hồ nước tuyệt đẹp. Nằm ở Thành phố Fujinomiya, Thác Shiraito no Taki có độ cao 20 mét và chiều rộng khoảng 150 mét. Thác nước này có tên như vậy là do nước ngầm từ núi Phú Sĩ chảy qua cùng với những sợi nước mỏng trông giống như những sợi tơ trắng treo lơ lửng (shiraito).

Thác Shiraito No Taki

Mt. Fuji & Kawaguchi Lake
Núi Phú Sĩ là ngọn núi cao nhất (4,700m) và là biểu tượng quốc gia của Nhật Bản và đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới như một địa điểm linh thiêng.

Hồ Kawaguchi nằm ngay thị trấn Fuji Kawaguchi, đây là khu vực ranh giới của Minobu và Fuji Kawaguchi, nằm trong số ngũ hồ, có đường bờ hồ dài nhất và diện tích lớn thứ 2 trong 5 hồ nước. Hồ nước nằm trên độ cao gần 800m. Tùy theo mùa, quanh hồ được phủ lên những tấm áo rực màu hoa đào, hoa Lavandula, hoa Mitsuba Tsutsuji sắc đỏ cạnh những rừng lá phong tươi tốt.

Từ Hồ Kawaguchi vào ngày trời trong xanh có thể thấy Núi Phú Sĩ in bóng trên mặt hồ trong như gương. Hồ Kawaguchi nằm ở phía đông nam của Yamanashi, gần giáp ranh Shizuoka. Vào mùa xuân, hồ được bao quanh bởi những cây anh đào nở rộ. Những cây ở bờ phía bắc sẽ được thắp sáng vào ban đêm trong Lễ hội Hoa anh đào Fuji-Kawaguchiko vào giữa tháng 4. Vào mùa hè, Lễ hội Thảo mộc Kawaguchiko được tổ chức, và sắc tím của những bông hoa oải hương tràn ngập bờ biển từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7. Lễ hội Lá mùa thu Fuji-Kawaguchiko cũng được tổ chức ở bờ phía bắc của hồ từ ngày 1 tháng 11 và kéo dài trong suốt tháng, với cảnh Núi Phú Sĩ được bao quanh bởi những tán lá phong. Mùa đông, một lớp tuyết bao phủ trên đỉnh núi khiến cho núi Phú Sĩ trở nên tuyệt đẹp, đây là thời điểm tốt nhất để ngắm Núi Phú Sĩ rõ ràng.
Mt. Fuji World Heritage Centre (Shizuoka-ken Fujisan Sekisan Centre)
Trung tâm Di sản Thế giới Núi Phú Sĩ là một bảo tàng ở Fujinomiya dành riêng cho Núi Phú Sĩ. Mở cửa vào năm 2017 để kỷ niệm việc ngọn núi được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới bốn năm trước đó, trung tâm có một đài quan sát và nhiều cuộc triển lãm liên quan đến địa chấn, lịch sử và ý nghĩa văn hóa của núi lửa. Tòa nhà có hình nón ngược phản chiếu xuống ao bên ngoài để lộ hình dạng của ngọn núi Fuji. Tòa nhà gồm có ba tầng và được bao phủ bởi lưới gỗ có hình nón ngược. Lưới gỗ này được làm từ cây bách Fuji. Từ tầng trên cùng nhìn ra khung cảnh hùng vĩ của Núi Phú Sĩ đẹp như tranh vẽ.

THỨ TƯ NGÀY 23 THÁNG 10, 2024-TOKYO & THỨ NĂM NGÀY 24 THÁNG 10, 2024-TOKYO

Hành trình du lịch Đại Hàn và Nhật Bản trên du thuyền Norwegian Spirit chấm dứt 8 giờ sáng nay. Lấy hành lý xong, chúng tôi thuê taxi đi về hotel Marita Tobu Hotel Airport. Hotel rất đẹp, khang trang và lịch sự nhưng hơi xa thành phố Tokyo.

Marita Aeon Mall with Tuyết Nga, Khánh Lan, Đức Hạnh, Lệ Hoa
Chính vì thế mà chúng tôi quyết định đi dạo phố Narita và dùng cơm tối tại Narita Aeon Mall. Thức ăn bán ngay trong chợ, ngon và rẻ. Sashimi tươi, sushi vừa miệng, Tempura vừa chiên nóng & dòn tan ngon và rẻ. Japanese noodle soups, Shimp và pork dumpling dù chiên hay hấp cũng không được ngon như ở các nhà hàng nhật tại California.

Bữa cơm tối Sashimi Narita Aeon Mall

Sáng ngày 24, sau khi ăn điểm tâm tại khách sạn Marita Tobu, chúng tôi lấy xe lửa Skyliner #1 và mất khoảng 1 giờ 15 phút thì đến Tokyo. Thời tiết tháng 10 tại Tokyo Nhật Bản, nhiệt độ cao hàng ngày từ 75°F xuống 66°F. Nhiệt độ thấp vào ban đêm từ 50°F đến giữa 30°F từ nam ra bắc. Điều này làm cho việc sinh hoạt ngoài trời trở nên dễ chịu vào ban ngày.

Hình trên Ga xe lửa đi Asakusa. Hinh dưới: Quốc Dân, Lệ Hoa, Việt Hải, Khánh Lan

Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là khu phố Nakamise cạnh chùa Asakusa Kannon-SensoJi, lúc ấy đã quá trưa, chúng tôi quyết định dừng lại một tiệm ăn trong phố Nakamise để dùng cơm trưa. Khi còn đi loanh quanh và không biết vào tiệm nào thì chúng tôi nhìn thấy một tiêm ăn rất đông khách, phần lớn khách là các bạn trẻ tuổi, chúng tôi quyết định ăn trưa tại đây. Những món ăn trông rất lạ mắt nên chúng tôi đành gọi món ăn bằng cách liếc qua bàn bên cạnh xem là họ ăn món gì, thì gọi theo món ấy. Kết quả những món ấy lạ và rất ngon miệng.

Ăn trưa tại phố Nakamise

Món Mì sào hải sản

Món gì đây? Không biết, nhưng rất ngon
Nakamise dori là con đường mua sắm, dài khoảng 250m kéo dài từ Kaminarimon đến Hozomon. Ban đầu được thành lập vào năm 1685, con đường được lát gạch, hai bên đường là những cột nhà màu đỏ son. Có khoảng 90 gian hàng hai bên đường. Tại đây, ngoài những món quà lưu niệm truyền thống đặc trưng của Nhật Bàn như yukata hay quạt giấy, còn có những quầy hàng lưu niệm và ẩm thực độc đáo của địa phương Asakusa. Ở cuối phố mua sắm là cổng thứ 2 của ngôi đền gọi là Hozomon.

NVNT’s girls trong quốc phục Kimono
Việc đầu tiên phải làm là 5 chúng tôi (Kim Hương, Lệ Hoa, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Khánh Lan) phải vào tiệm mướn ngay bộ quốc phục Kimono để đi dạo phố. Giá tiền một bộ là $50 và phải trả trước 5 giờ chiều. Trong 5 đứa chúng tôi, Kim Hương và Đức Hạnh trông giống phụ nữ nhật nhất còn Khánh Lan và Lệ Hoa thì trông thật là “đẫy đà và phúc hậu”.

NVNT girls trong quốc phụ Kimono dạo phố Nakamise dori

ĐỀN ASAKUSA KANNON- SENSO JI
Asakusa là trung tâm của shitamachi (“thành phố thấp“), một trong những quận của Tokyo. Điểm thu hút chính của Asakusa là Sensoji, một ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng, xây vào thế kỷ thứ 7, ngôi chùa được tiếp cận thông qua Nakamise, một phố mua sắm và bán thức ăn nhẹ truyền thống, địa phương và đồ lưu niệm.

Trong nhiều thế kỷ, Asakusa từng là khu giải trí hàng đầu của Tokyo. Trong thời kỳ Edo (1603-1867), Asakusa là địa điểm của các nhà hát kabuki và một khu đèn đỏ lớn. Vào cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900, có sư xuất hiện của các loại giải trí hiện đại như rạp chiếu phim. Tuy nhiên, phần lớn Asakusa đã bị phá hủy trong các cuộc không kích năm 1945. Khi các khu vực xung quanh Sensoji được xây dựng lại thì khu giải trí của Asakusa lại không và việc khánh thành Tokyo Skytree cao 634 mét, cách Asakusa hai mươi phút đi bộ qua Sông Sumida, đã khiến lãnh vực du lịch tăng trở lại.

Đền Asakusa Kannon còn được biết đến với tên gọi là Sensoji. Senso là một cách gọi khác của Asakusa, còn “ji” tiếng Nhật có nghĩa là đền, chùa. Sensoji là ngôi đền cổ xưa nhất không những của Asakusa, mà là của cả thành phố Tokyo. Xây dựng vào năm 645 dùng để thờ, tôn vinh bức tượng bồ tát Kannon. Sau này có nhiều bức tượng được đem đến đây và nơi đây trở thành trung tâm văn hóa Edo.

Việt Hải & Mạnh Bổng cùng 4 kiều nữ: Khánh Lan, Lệ Hoa, Tuyết Nga, Đức Hạnh
Lịch sử về Chùa Asakusa Kannon- Senso Ji
Theo truyền thuyết vào năm 628 trong khi đánh bắt cá trên sông Sumida, hai anh em Hinokuma Hamanari và Hinpkuma Takenari đã tìm thấy một bức tượng Phật Quan Âm có chiều cao là 5.5 cm, mặc dù đã thả bức tượng nhiều lần đi nhưng không hiểu sao nó vẫn trôi dạt về chỗ hai người. Các vị trưởng lão ở trong làng Hajino Nakamoto đã nhận thấy đây là điều linh thiêng và lập một ngôi đền nhỏ để thờ Phật Quan. Năm 645 sau công nguyên ngôi đền được thành lập và trở thành ngôi đền linh thiêng nhất ở Tokyo. Ngôi đền được dành cho Guan Yin hoặc Bồ tát Kannon người được cho là đã bảo vệ con người suốt 1.500 năm.
Kaminarimon – Cổng Sấm
Kaminarimon-Cổng Sấm là cổng chính của ngôi chùa Asakusa (Cổng thứ nhất). Ban đầu nó được xây dựng từ năm 942 bởi Tairano Kinmasa, người cai trị quận Musashi. Cổng đã bị phá hủy nhiều lần và vẫn giữ nguyên hình dạng hiện tại kể từ năm 1950. Trước cổng treo một chiếc đèn lồng đỏ cao 4m, chu vi 3,4m, nặng khoảng 670kg, hai bên có hai vị thần sấm và gió. Do đó, tên chính của cánh cổng phải là Furaijin Mon – Cổng sấm và gió. Trước đây, cổng nằm gần Komagata, nhưng sau đó nó đã được xây dựng lại tại vị trí hiện tại sau thời Kamakura (1192-1333), do người ta tin rằng đó là nơi vị thần sấm sét và thần gió lần đầu tiên xuất hiện.

Cổng Hozomon
Hozomon là cổng chính thứ 2 của ngôi đền Asakusa, cổng cũng bị cháy nhiều lần và được xây dựng lại bằng bê tông vào năm 1964. Tính năng độc đáo: Một đôi dép rơm khổng lồ treo ở một bên. Trước đây, cổng còn được gọi là (Niomon) vì có hai vị thần bảo vệ Nioh của Đức Phật ở hai bên cổng. Ngày nay, cánh cổng được gọi là Hozomon: Hozo có nghĩa là nhà kho báu, vì nhiều kho báu của chùa Asakusa được cất giữ tại đây. Trước cổng là sân chính và chùa Asakusa. Bên phải là khu lăng mộ Kasakura; phía bên trái là ngôi chùa 5 tầng và điện Dempoin.

Hozomon – Cổng chính thứ 2 của ngôi đền Sensoji
Tháp 5 tầng Gojunoto
Tổng chiều cao của tháp là 53m, trong đó các cột trụ cao 5m, được xây bởi Tairano Kinmasa từ năm 942, ngôi đền đã bị phá hủy nhiều lần và được xây dựng lại từ năm 1648, nhưng nó tiếp tục bị đốt cháy trong cuộc không kích vào Tokyo năm 1945. Tháp được tu sửa lại vào năm 1973. Mái ngói của chùa bằng hợp kim nhôm.

Đức Phật Busshari (Tro của Đức Phật) và Reihai (Bài vị của Đức Phật) được đặt tại Tháp 5 tầng này.
Kannondo – Điện Quan Âm
Kannondo là đại điện chính của đền thờ Asakusa, được xây lại từ năm 1649 và được công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia. Thế nhưng, từ năm 1945, đại điện đã bị thiêu rụi trong cuộc không kích Tokyo và hiện được xây lại bằng bê tông từ năm 1958 (năm thứ 33 của thời đại Chiêu Hòa). Đại điện hướng về phía nam và bên trong đại điện được chia thành hai khu vực: 1) Khu vực dành cho tín đồ ở phía trước. 2) Khu vực đặt các bức tượng Phật quan trọng bên trong. Hàng năm, đến ngày 13 tháng Chạp, cửa chánh điện được mở nhưng tín đồ chỉ được thắp hương và ngắm tượng Phật Quan Âm ở bên ngoài còn khu vực tượng Phật quan trọng bên trong không được vào.

Kannondo – Điện Quan Âm: đại điện chính của chùa Asakusa
Nitenmon – Cổng Nhị Thiên
Nitenmon – Cổng Nhị Thiên gần Điện Quan Âm và đền thờ thần đạo Asakusa. Đây là cổng phía đông của chùa Asakusa, phía đông của Điện Quan Âm và phía tây của đền thờ thần đạo Asakusa. Trước kia là cổng Zuishin Mon của Đền Asakusa Toshogu. Năm 1642, đền Toshoga bị cháy, nhưng cổng Nhị Thiên vẫn còn tồn tại. Bởi vì nó là nơi tọa vị của hai vị thần Toyoiwamadonomikoto and Kushiiwamadonomikoto của đền Toshogo, nên nó được gọi là cổng Yadaijin. Tuy nhiên, vào đầu thời Minh Trị, hai trong số bốn vị thần trong kinh Phật của đền Tsurugaoka Hachimangu Shrine đã được chuyển đến đây, vì vậy tên được đổi thành Niten Mon (Niten có nghĩa là hai vị thần).

Nhà hàng Kobe Beef
Dạo phố Nakamise và viếng Đền Asakusa Kannon xong mọi người lại đói meo. Đến Nhật mà không thử món bò Kobe là một điều đáng tiếc, thế nên chúng tôi ghé vào nhà hàng Kobe trong phố Nakamise. Giá tiền rất mắc, chúng tôi phải trả $140 cho mỗi phần ăn và cho mỗi người. Tuy giá mắc nhưng thức ăn không nhiều “chỉ độ dính răng” mà thôi. Nhưng phải công nhận là miếng thịt bò rất mềm, thơm và không ngấy. Quả thật, Kobe beef với vị ngọt, có hương thơm khi thưởng thức.

Nhà hàng Kobe Beef trong khu phố Nakamise
Dựa trên fyer của nhà hàng về loại thịt bò này cũng rất đặc biệt, để trở thành Kobe Beef thì thật là một quá trình độc đáo! Đầu tiên, những chú bò Tajima được sinh ra và nuôi dưỡng tại tỉnh Hyogo, chúng phải thuộc hệ thuần chủng. Sau đó, khi chúng được 2 đến 5 tuổi, chúng phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt nên không phải tất cả những chú bò Tajima đều có thể đáp ứng các quy tắc này. Công ty Kisshokichi Group sử dụng Nakanishi Ranch để nuôi và sản xuất ra số lượng thịt bò Kobe. Kisshokichi Group đích thân tham dự phiên đấu giá thịt bò Kobe để đảm bảo sự an tâm cho khách hàng.

Thực đơn $140 một phần cho một người

Thứ Sáu ngày 25 tháng 10, 2024-flight to California

Đức Hạnh, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Quốc Dân, Kim Hương, Tuyết Nga lưu luyến chia tay cùng các anh chị trong nhóm Chu Văn An & Trưng Vương
Ngày cuối ở Nhật Bản, nhóm 30 người chúng tôi cùng gặp nhau ở Loby của khách sạn Narita Tobu sau khi ăn sáng. 15 ngày trôi qua nhanh quá, chúng tôi chia tay mỗi người một ngả trở về “Home sweet home”. Quả đây là một chuyến du lịch với nhiều kỷ niệm và luôn nhớ mãi.

Lưu luyến chia tay

Cùng các anh chị trong nhóm Chu Văn An

Và các chị trong nhóm Trưng Vương
Xin quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các Anh Chị Em bấm vào link dưới đây để xem thêm hình.https://drive.google.com/drive/folders/1BVcm3zge8_qqbnzU3XByd_hD8fzMLuRn?usp=sharing
Khánh Lan
-
Khám phá những phong cảnh của Costa Rica.

Costa Rica là quê hương của đội tuyển bóng đá sẽ đối đầu Tây Ban Nha tối nay. Khách nước ngoài coi đây là điểm đến tuyệt vời cho du lịch nghỉ hưu vì chi phí sinh hoạt rẻ, thời tiết đẹp. Dưới đây là những điểm đến thú vị cho chuyến du lịch đến Costa Rica.
Tận hưởng mùa hè thiên đường khi du lịch Barbados
Mặc dù chỉ là một hòn đảo nhỏ, nhưng khi du lịch Barbados, bạn sẽ được khám phá rất nhiều địa điểm thú vị như hang động kỳ bí Harrison, nhà máy sản xuất rượu Rum, các vườn hoa hoặc rừng nhiệt đới cũng như đắm mình trong làn nước trong xanh và tham gia các hoạt động thể thao thiên nhiên.
Barbados là một quốc đảo xinh đẹp thuộc vùng phía Đông của biển Caribbean. Mặc dù không có quá nhiều đặc điểm nổi bật nhưng vùng đảo này lại có một sức hút kỳ lạ với du khách đến từ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là những người yêu cái nắng, gió, cát của biển và đam mê lướt sóng. Ngay khi đặt chân đến đây, bạn sẽ cảm nhận được sự thoải mái và nhẹ nhàng của thiên nhiên cũng như con người nơi đây. Bên cạnh thiên nhiên tuyệt đẹp, khi du lịch Barbados bạn còn được khám phá nền văn hóa đậm đà bản sắc và làm quen với những người dân bản địa thân thiện. Đây sẽ là cơ hội để bạn ngắm nhìn những sinh vật biển dưới đại dương, những rạn san hô rực rỡ sắc màu hay một con tàu chìm đắm dưới nước. Hải sản tôm cua cá ghẹ,…
Oistins là thành phố nhỏ nhất của Barbados nhưng lại là một điểm đến đáng tự hào về lịch sử của cộng đồng đánh cá lớn nhất đảo. Đặt chân đến đây, bạn sẽ thấy rất nhiều tàu đánh cá và bạn hoàn toàn có thể mua những chú cá tươi ngon vừa được đánh bắt ngay tại khu chợ địa phương. Đặc biệt, vào tối thứ Sáu, nơi đây còn có hoạt động Fish Fry với những món ăn địa phương ngon được chế biến tại chỗ.
Holetown, ban đầu được gọi là Jamestown, được xem là nơi định cư đầu tiên ở Barbados vào năm 1627. Hàng tháng, tại đây sẽ diễn ra lễ hội Holetown kéo dài một tuần với nhiều sự kiện giải trí như các cuộc thi sắc đẹp, biểu diễn khiêu vũ, nhạc sống, biểu diễn thời trang, diễu hành xe cổ, thưởng thức ẩm thực địa phương và mua về những món đồ thủ công do Bajan sản xuất.
Hang động Harrison là một hang đá vôi kết tinh và là một trong những kỳ quan vĩ đại của Barbados với nhũ đá và măng đá tuyệt đẹp cùng dòng nước trong vắt. Bên cạnh tham quan, bạn cũng sẽ được nghe thuyết minh về lịch sử cũng như địa lý của hang động trong suốt hành trình. Ngoài ra, gần đây có có khu vực trưng bày các hiện vật khảo cổ được thu thập từ nhiều địa điểm khác nhau trên hòn đảo.
Tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Barbados, bạn sẽ được tận mắt chiêm ngưỡng các loài động vật ở cự ly gần trong môi trường sống tự nhiên của chúng. Nơi đây là nhà của nhiều loại chim như hồng hạc, vẹt, bồ nông và chim công. Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều loài động vật khác, đặc biệt là loài khỉ xanh.
Biển Crane, với bãi cát màu hồng tuyệt đẹp, là một trong những bãi biển nổi tiếng nhất ở Barbados. Du khách thường đến đây để vui đùa trên con sóng lượn, tắm nắng trên những bãi cát mềm mại và ngắm nhìn biển xanh mây trắng.
Với khung cảnh tuyệt đẹp nằm trên những ngọn đồi ở trung tâm Barbados, Rừng hoa bao gồm hệ thực vật nhiệt đới yên bình. Nếu bạn là người yêu thích hoa thì có thể tản bộ dọc theo những con đường mòn để ngắm nhìn những cây cọ xinh đẹp, những nhành hoa lan đầy màu sắc hay nhiều loài hoa rực rỡ khác.
Bi giớ tui ghing bồ tèo sang Bahamas của madam Khánh Lan nhé, bà Kiều My cứ quảng bá Hawaii và Paris, và Cannes, Monaco và Nice, French Riviera, Cote d’Azur,… Kiều My sang hướng dó coi chừng cha Poutine, sang hướng Caribbean Beach Resort chỉ gặp cha MAGA DJ Trump thôi. We’re okay. Bahamas nhé !…
Bahamas là một quần đảo nằm trong Đại Tây Dương về phía đông Hoa Kỳ. Với cảnh quan tuyệt đẹp, quyến rũ, bầu không khí trong lành, mát dịu và đặc biệt còn khá hoang sơ nên được rất nhiều du khách ví đây là thiên đường của hạ giới. Nếu bạn đang lên kế hoạch du lịch Bahamas hãy cùng tham khảo những thông tin dưới đây nhé, chắc chắn sẽ giúp chuyến đi của các bạn suôn sẻ, thuận lợi hơn.
Thời điểm lý tưởng để du lịch Bahamas
Bahamas thuộc kiểu khí hậu cận nhiệt đới nên quanh năm luôn mát mẻ, dễ chịu. Tuy nhiên do nằm ngoài khơi nên Bahamas cũng thường hứng chịu nhiều thiên tai như bão, lũ, thủy triều, sóng thần,…Thông thường bão, lũ sẽ xuất hiện vào mùa hè hoặc mùa thu. Chính vì thế, thời điểm thích hợp nhất để du lịch Bahamas là vào mùa đông. Lúc này thời tiết không quá lạnh cũng không quá nóng mà luôn ấm áp, dễ chịu, thích hợp với những chuyến tham quan hay lặn biển.
Nassau – Phương tiện di chuyển ở Bahamas
Nếu đến những hòn đảo lớn, bạn có thể di chuyển bằng taxi hay xe bus. Giá vé sẽ phụ thuộc vào chặng đi và tuyến đường, trung bình khoảng 1 – 2,5 USD/người. Tuy nhiên nếu giá cả không phù hợp bạn nên chủ động mặc cả để có được mức giá tốt nhất. Đặc biệt tại thủ đô Nassau, bạn có thể thuê một chiếc xe ngựa (3 chỗ ngồi) để di chuyển vòng quanh thành phố, thăm thú phố phường và ngắm nhìn khung cảnh tươi đẹp, thanh bình của đô thị hải đảo. Du lịch nước ngoài đến quần đảo Bahamas, bạn không chỉ được chiêm ngưỡng những hòn đảo tuyệt đẹp, thỏa sức vui đùa cùng nắng gió, tham gia các lễ hội độc đáo mà còn được tận hưởng những phút giây thật sự thư giãn cùng gia đình, bạn bè. Đảo Nassau là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Bahamas. Nơi đây có những bãi cát trắng mịn trải dài, những khu mua sắm sầm uất, những con phố lung linh về đêm – là địa điểm rất lý tưởng để du khách tận hưởng kỳ nghỉ trọn vẹn.
Bờ biển Cabbage được xem là một trong những bãi biển đẹp nhất Bahamas, du khách đến đây có thể đắm mình trong làn nước trong xanh, tận hưởng bầu không khí mát lành và tham gia những hoạt động thú vị. Andros được mệnh danh là đảo tình yêu, với khung cảnh nên thơ, lãng mạn, rất thích hợp nghỉ tuần trăng mật. Vườn quốc gia Lucayan là hệ thống hang động dưới nước, đến đây bạn sẽ có những trải nghiệm vô cùng thú vị và đáng nhớ. Nếu bạn đã không còn hứng thú với những chuyến du lịch theo tour thì kỳ nghỉ này thử một lần vi vu đến Bahamas đi, đảm bảo các bạn sẽ muốn ở mãi chẳng muốn về hoặc có về thì chắc sẽ hối tiếc, mong một ngày nào đó sẽ trở lại. Nằm trên bờ biển Caribbean gần Panama, Puerto Viejo nổi tiếng với giới trẻ và khách du lịch bụi vì những bãi biển xinh đẹp. Nơi đây còn có nhiều hoạt động hấp dẫn như lướt sóng, tiệc tùng trong bầu không khí náo nhiệt… Puerto Viejo sở hữu những bãi biển tuyệt đẹp. Thị trấn vô cùng sôi động về đêm và được coi là một nơi nổi tiếng nhất khu vực bờ biển Caribbean. Ngoài ra, Puerto Viejo còn có nhiều khách sạn bãi biển yên tĩnh, dành cho những ai đang tìm kiếm sự yên bình, thư giãn.
Cahuita là một thị trấn nhỏ nằm ngay cạnh công viên quốc gia Cahuita, cách Puerto Viejo khoảng một giờ về phía Bắc. Đây là một nơi lý tưởng để thư giãn với quán bar sôi động mở trong thành phố. Xong viếng Công viên Quốc gia Cahuita là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã. Tuy nhiên, phần lớn mọi người chỉ thích ngồi một chỗ để nghỉ ngơi, đọc sách sau những chuyến du ngoạn dài bằng đường bộ, khám phá thảm động vật, bơi lội, hoặc lướt sóng tại đây. Nếu ưa thám hiểm, bạn có thể tham gia chuyến tham quan có hướng dẫn đến Công viên Quốc gia Cahuita. Tortuguero (có nghĩa là Vùng đất của Rùa) là phiên bản tiếng Costa Rica của rừng nhiệt đới Amazon. Nằm trên bờ biển phía bắc, Vườn quốc gia Tortuguero trải rộng trên 77.000 mẫu Anh. Khu vực rộng lớn này có một loạt các con sông và kênh đào xuyên qua rừng rậm.Điểm thu hút lớn nhất đối của Tortuguero là số lượng lớn rùa đến làm tổ dọc theo bờ biển. Thời điểm tốt nhất để xem chúng đẻ trứng là vào tháng 4 và tháng 5. Tuy nhiên, nếu không đến vào khoảng thời gian này, bạn vẫn có thể dạo quanh và bắt gặp nhiều loài động vật hoang dã ở đây quanh năm.
Vườn quốc gia Corcovado nằm trên bán đảo Osa xa xôi ở phía tây nam Costa Rica. Được thành lập vào năm 1975, công viên có diện tích 424 km vuông và trở thành công viên lớn nhất trong cả nước. Corcovado từng rất nổi tiếng trước kia nhưng giờ đây, vườn quốc gia này trở nên cũ kỹ và lạc hậu hơn so với nhiều nơi khác ở Costa Rica. Đường đến bán đảo cũng không dễ đi, nhưng bù lại, du khách sẽ được khám phá với những bãi biển tuyệt đẹp nhưng vắn vẻ, vô số loài động vật hoang dã, đi bộ đường dài, cắm trại… tuyệt vời tại đây. Nằm ở độ cao 1.670m so với mực nước biển, Arenal là một trong nhiều ngọn núi lửa của Costa Rica. Thỉnh thoảng, ngọn núi lửa này vẫn phun trào và nếu có duyên, bạn sẽ có thể nhìn thấy dung nham chảy xuống từ đỉnh núi. Tuy nhiên, điều đó ít có khả năng xảy ra vì núi lửa đã không hoạt động trong bảy năm qua. Ngoài ra, khu vực này còn có rất nhiều điểm đến thú vị như có thác nước La Fortuna, công viên quốc gia với hoạt động đi bộ đường dài hấp dẫn, cảnh hoàng hôn trên hồ, thám hiểm hang động, vượt thác, đi bè, tắm suối nước nóng… Đây cũng là một trong những nơi được ghé thăm nhiều nhất trong cả nước.
Manuel Antonio là bãi biển nổi tiếng nằm trên bờ biển Thái Bình Dương với không gian rộng lớn, cát trắng và làn nước trong xanh ấm áp. Tuy nhiên, đây chưa phải là điểm thu hút nhất của Manuel Antonio. Kế dến là Manuel Antonio, nơi gần Manuel Antonio có một công viên quốc gia mở cửa từ năm 1972, mỗi năm đón hơn 150.000 du khách. Nơi đây có những con đường mòn đi bộ tuyệt đẹp, một số bãi biển yên tĩnh, và nhiều loại động vật hoang dã ở địa phương. Thôi tui đưa bồ sang Cóta Rica của Mộng Thủy nha, mời xem,…
Costa Rica – Thiên đường du lịch khám phá thiên nhiên.

Costa Rica giống như một ốc đảo bình yên giữa các nước láng giềng ồn ào và là một thiên đường du lịch, nhất là loại hình du lịch sinh thái, được ví là “hòn ngọc của Trung Mỹ”. Hơn một phần tư diện tích Costa Rica là những khu bảo tồn quốc gia. Diện tích chỉ 51.000km2, nhưng Costa Rica có số lượng các loài động vật nhiều hơn cả hai nước Mỹ và Canada cộng lại; hệ thực vật phong phú không kém với hơn 3.000 chủng loài hoa lan dại…
Là một quốc gia nhỏ ở vùng Trung Mỹ, Costa Caribbe nằm kẹp giữa nước Nicaragua ở phía bắc và Panama phía nam, còn phía đông là biển Caribbe và phía tây là biển Thái Bình Dương. Quốc gia này có một thảm rừng xanh quý giá với hàng ngàn loài chim lạ, hơn 15 ngàn loài bướm, 3.000 loài hoa lan đẹp cùng nhiều loại thú quý hiếm… Các nhà khoa học đến đây nghiên cứu cho biết không nơi đâu trên thế giới có thảm rừng phong phú về sinh vật và thực vật lạ như ở đây. Nhờ vậy mà Costa Rica thu hút hàng triệu du khách mỗi năm. Du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của Costa Rica nên chính quyền đã có chính sách bảo vệ thiên nhiên một cách hữu hiệu. Họ đã dành hơn 30% diện tích đất đai cho thiên nhiên, muông thú và con người chỉ được thăm viếng giới hạn, tuyệt đối không được sinh sống, khai phá và săn bắn trong vùng này. Điều này khiến cho du khách yêu thiên nhiên rất hài lòng.
Vườn quốc gia Toruguera là một trong những điểm đến không thể bỏ lỡ trong hành trình khám phá đất nước Costa Rica. Nằm trong vịnh Caribbe, vườn quốc gia Toruguera là tổ ấm được bảo vệ cho loài rùa xanh đến sinh sản đầu mùa hè đến cuối mùa thu hàng năm. Du khách chỉ có thể đến thăm vùng này bằng máy bay thủy động cơ hay bằng tàu nhỏ. Nếu đi bằng tàu, du khách sẽ được len lỏi vào những con rạch nhỏ, tận hưởng cảnh vật thiên nhiên, muôn thú đủ loại hiện ra trước mắt. Dọc hai bên bờ, rừng cây soi bóng trên mặt nước trong veo, đàn cò nhởn nhơ tìm mồi, đàn cá sấu lười biếng nằm bất động trên cồn cát phơi nắng. Trên cành cây, tiếng chim ríu rít gọi đàn, từng đàn khỉ leo trèo, chuyển động vang cả góc rừng… Để giúp du khách thăm rừng, các cơ quan du lịch ở Costa Rica cho làm những cây cầu treo dài và chắc chắn, giúp du khách “đi trên ngọn cây” xuyên rừng, tha hồ ngắm cảnh, chụp ảnh… Phong cảnh, cây cối và hoa sắc nơi đây tương tự như vùng Hawaii. Với du khách thích cảm giác mạnh thì có những thang đu hoặc dây đu chắc chắn để đu mình như kiểu Tarzan từ cây này qua cây khác…
Rời vườn quốc gia Toruguera, du khách đến tham quan khu bảo tồn Monteverde. Khu bảo tồn thú hoang dã này bao gồm 6 hệ sinh thái khác nhau với tổng diện tích là 4 ha. Đi bộ từ cổng vào khu bảo tồn đến ranh giới lục địa bắc và nam Mỹ, du khách sẽ chứng kiến sự thay đổi của hệ sinh thái từ rừng khô ráo cho đến rừng ẩm ướt. Có đến 2.000 loài thực vật bản xứ sống tại khu vực này, đáng chú ý nhất là phong lan. Ngoài ra còn có khoảng 350 loài chim và 100 loài thú có vú. Du khách sẽ thú vị và kinh ngạc khi đến thăm khu vườn bướm Monteverde. Khu vườn này bao gồm một hệ thống nhà lưới và hai khu nhà kính. Khu nhà kính thứ nhất mô phỏng môi trường của các cánh rừng vùng hạ lưu, còn nhà kính thứ hai giống với môi trường rừng vùng trung du. Hai khu nhà kính này chứa đến hàng trăm con bướm nhiệt đới thuộc 40 loài khác nhau.
Công viên quốc gia Manuel Antonio là rừng bảo tồn nhỏ nhất và đẹp nhất của Costa Rica. Khu bảo tồn được bao bọc bởi những bãi cát trắng trải dài theo bờ biển Thái Bình Dương nổi tiếng nhờ sự đa dạng về hệ động thực vật: có đến 184 loài chim và 109 loài thú có vú trú ngụ. Đây là nơi duy nhất trên thế giới du khách có thể tìm thấy loài khỉ Titi. Trong khi đi dạo trong rừng Manuel Antonio, du khách có cơ hội được trông thấy loài giông mào, khỉ và nhiều loài chim rực rỡ sắc màu. Vào ngày thứ bảy hằng tuần, Công viên quốc gia Manuel Antonio còn tổ chức các hoạt động như: đi bè qua các thác nước, câu cá, tham quan rừng đước, cưỡi ngựa… Đến Costa Rica, du khách không chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của núi lửa Arenal, rừng rậm Monteverde ẩn trong sương, thác nước huyền bí La Paz… mà còn được nghỉ ngơi trong những khách sạn sinh thái (không máy lạnh, không truyền hình và không điện thoại) ẩn mình trong các khu rừng nhiệt đới bên bờ Thái Bình Dương.
Việt Hải, May 6, 2024
-
DU LỊCH ANH VÀ PHÁP QUỐC.

Chiếc phi cơ hãng hàng không United Airlines Boeing 747 cất cánh tại phi trường quốc tế San Francisco lúc 1:00 giờ ngày 19 tháng 10 năm 2007 và đã đáp xuống phi trường quốc tế Heathrow tại Luân đôn ở Anh quốc lúc 7:10 sáng ngày 20 tháng 09 năm 2007 sau 10 giờ bay.
Vừa xuống phi trường, toán chúng tôi sáu người gồm anh chị Lê văn Chính, anh chị Bùi phước Ty, và vợ chồng tôi cùng một số người khác phải ngồi chờ ông trưởng đoàn hướng dẫn du lịch từ Los Angeles dẫn một toán khác sang theo lời dặn của nhân viên tại đại lý bán vé máy bay ở California.
Hai giờ sau, ông trưởng đoàn hướng dẫn người Hoa dẫn một toán khác từ Los Angeles cũng vừa đến. Vì chúng tôi có mang dấu hiệu của hãng du lịch Tour Ritz màu đỏ ở trên túi áo của từng người, cũng như ông trưởng đoàn cầm cây cờ nhỏ trên tay có in hình của hãng Tour Ritz trên lá cờ nên chúng tôi nhận ra nhau rất nhanh. Đọc tài liệu của hãng du lịch, chúng tôi đã biết ông trưởng đoàn là người Hoa mang tên Leung Reddy chứ chưa được diện kiến. Bây giờ chúng tôi mới thấy ông khi ông tập họp chúng tôi để điểm danh. Ông ta trạc độ 58 tuổi, người thấp, nước da ngâm ngâm. Thế là hai toán chúng tôi lên xe buýt qua Terminal 4 để đón một toán khác nữa cũng vừa từ New York sang. Sau khi đã tập họp ba toán lại với tổng số 42 người, ông Leung Freddy trưởng đoàn hướng dẫn du lịch chỉ thị cho tài xế xe buýt lái xe hướng về lâu đài Windsor Castle tại Anh quốc để bắt đầu cuộc hành trình du lịch 4 nước ở Âu châu gồm Anh, Pháp, Thụy sĩ và Ý.
Vừa đến gần lâu đài Windsor Castle thì trên trời bỗng xuất hiện một vài đám mây và mấy phút sau trời bắt đầu mưa nhè nhẹ. Chúng tôi liền lấy dù ra để che mưa. Ông trưởng đoàn du lịch sau khi gặp một bà đầm người Anh liền giới thiệu với chúng tôi và cho chúng tôi biết tên bà ta là Venesha. Sau đó ông ta dặn chúng tôi hãy đi theo bà đầm này để nghe bà ta

Lâu đài Windsor Castle tại Luân đôn nhìn từ trên không (Hình trích từ Wikipedia)
thuyết minh, giải thích, kể chuyện về lịch sử lâu đài chúng tôi sắp vào xem. Theo sự hướng dẫn của ông trưởng đoàn du lịch, chúng tôi liền đi theo bà Venesha này để nghe bà ta kể chuyện. Cứ mỗi lần bà ta nói xong, ông trưởng đoàn lại dịch sang tiếng Hoa cho những người không biết tiếng Anh. Cứ theo lời giải thích của bà Venesha thì chúng tôi biết tổng quát được rằng, Windsor Castle nằm trong quận Birkshire thuộc thành phố Luân đôn. Đây là lâu đài lớn nhất thế giới. Diện tích của lâu đài này khoảng 484,000 square feet.Trong thời chiến, đây là thành lũy kiên cố chống ngoại xâm và cũng là nơi ở của các vị vua chúa qua các triều đại quân chủ của hoàng gia Anh. Tại lâu đài này, nữ hoàng Elizabeth II thường hay về đây để nghỉ cuối tuần. Thế rồi chúng tôi được hướng dẫn đi khắp các phòng ốc trong lâu đài cổ kính này. Nào là nơi các vị hoàng đế tiếp tân, nào là nơi các vị hoàng đế hội họp, nào là nơi cất giấu những vũ khí trong thời chiến như cung, tên, gươm, giáo , kiếm, nào là nơi ăn chốn ở của các nữ hoàng vv… Sau khi xem qua giường ngủ của các vị vua và của các nữ hoàng, một du khách trong đoàn chúng tôi hỏi bà Venesha rằng, tại sao giường ngủ của nữ hoàng lại rộng hơn giường ngủ của vua. Bà ta vừa tủm tỉm cười vừa trả lời rằng, sở dĩ giường của nữ hoàng rộng hơn giường của vua là để thỉnh thoảng vua qua thăm nữ hoàng và ở lại với nữ hoàng!

Giường Nữ hoàng ( Hình trích từ Wikipedia )
BàVenesha vừa trả lời xong thì du khách chúng tôi đều nhoẻn miệng cười. Có người lại cười to lên như có vẻ thích chí, nhiều du khách khác lại chỉ mĩm miệng cười mà thôi.
Thế rồi bà Venesha lại hướng dẫn chúng tôi đến nơi khác trong cung điện để tiếp tục tham quan tất cả những di tích lịch sử trong lâu đài Windsor Castle nầy.

Lâu đài Windsor Castle năm 1907( Hình trích từ Wikipedia)

Nữ hoàng Victoria ( Hình trích từ Wikipedia)
Sau hơn một tiếng đồng hồ đi tham quan trong lâu đài Windsor Castle, chúng tôi tất cả 42 người ra điểm hẹn tại ngã ba đường để gặp ông trưởng đoàn. Sau khi điểm danh đầy đủ, ông Leung Freddy cầm một bì thư đựng tiền do chúng tôi đã nộp sẵn trao tặng cho bà Venesha rồi chúng tôi vỗ tay để cám ơn và tán thưởng sự tận tâm và thiện chí của bà trong trong thời gian hướng dẫn chúng tôi vừa qua. Sau khi từ giả bà venesha ông trưởng đoàn hỏi anh em trong đoàn du lịch chúng tôi rằng, nếu du khách nào muốn đến thăm đại học Cambridge thì nộp mỗi người 30 Euro, và số du khách đến tham quan phải trên 20 người mới được chấp thuận. Khi nghe ông trưởng đoàn nói như vậy một số người liền đưa tay lên. Ông trưởng đoàn đếm đi đếm lại vẫn không đủ 20 người nên phải hũy bỏ chuyến đi tham quan đại học Cambridge. Sau đó chúng tôi theo ông trưởng đoàn lên xe đến khu phố người Hoa để ăn cơm chiều .
Theo gót chân ông Freddy, chúng tôi vào tiệm ăn Gerrard’s corner Restaurant ở đường Gerrard Street Sw1. Vì ông trưởng đoàn du lịch là người Hoa nên ông ta có lẽ đã quen biết nhiều tiệm ăn của người Hoa. Vì vậy, ông luôn luôn dẫn chúng tôi vào ăn tại các phố nguời Hoa ở. Ngồi trên xe buýt xuyên qua những con đường dẫn đến tiệm ăn, chúng tôi thấy đường sá tại thành phố Luân đôn rất chật hẹp nhưng thật sạch sẽ. Hai bên đường hầu như không có chỗ đậu xe. Chỉ thấy người qua lại thật tấp nập trên lề đường như ngày hội mặc dầu hôm đó là ngày thứ hai chứ không phải là ngày thứ bảy. Mấy cô gái người Anh với mái tóc bồng bềnh sánh vai cùng các bạn trai đi dọc đại lộ giữa phố chiều thật nên thơ. Rất nhiều đàn ông mặc veston, thắt cà vạt đi dạo phố chiều làm cho khu phố tăng thêm vẽ quý phái giữa chốn phồn hoa đô hội. Cũng lắm trai thanh gái lịch ngồi uống cà phê trong các quán cà phê dọc hai bên đường trông thật thanh bình, vui vẻ. Một điều khác lạ đập vào mắt tôi khiến tôi nhớ lại lúc còn theo học ở bậc trung học, một vị giáo sư đã kể cho chúng tôi nghe về sự luân lưu của xe cộ trong thành phố ở Anh quốc: tất cả đều lái xe về phía bên trái. Thảo nào tài xế xe buýt chúng tôi đang lái trên lane bên trái khiến tất cả du khách trên xe đều cảm thấy là lạ. Sau khi dùng cơm chiều tại phố người Hoa xong, chúng tôi được lệnh lên xe buýt để về khách sạn Guoman nằm trên đại lộ St Katherine’s way, London E 1W1LD. Khách sạn này toạ lạc trên bờ sông Thames và đối diện với chiếc cầu nổi tiếng the Tower Bridge. Vừa đến khách sạn, chúng tôi ai nấy cũng đều mệt mỏi sau mười tiếng đồng hồ ngồi trên máy bay ngủ gà ngủ gật, và mấy tiếng đồng hồ đi xem lâu đài Windsor nên vội vàng lấy hành lý thật nhanh để vào khách sạn nghỉ ngơi.
Sau khi phân phối chìa khoá phòng cho chúng tôi, ông Leung Freeddy dặn dò chúng tôi rằng, sáng mai chuông điện thọai sẽ báo thức đúng 6 :15 giờ, ăn điểm tâm tại khách sạn 7:00 giờ, tập họp để đi tham quam các danh lam thắng cảnh tại Anh lúc7:45 giờ . Vừa ổn định chỗ ngủ tại các phòng trong khách sạn, anh Lê văn Chính, anh Bùi Phước Ty và tôi rủ nhau ra quán Starbucks gần khách sạn để uống cà phê và nói chuyện phiếm. Lần đầu tiên trong đời ngồi uống cà phê trong một quán ở bên đường nơi quê người đất khách tại Anh quốc, tâm hồn tôi cảm thấy hân hoan, hay hay, là lạ. Khoảng 11 giờ khuya, chúng tôi trở lại khách sạn để nghỉ ngơi ngõ hầu sáng mai thức dậy cho đúng giờ. Theo lời dặn dò của ông trưởng đoàn hướng dẫn du lịch, chúng tôi đều có mặt trước khách sạn Guoman đúng 7:45 giờ sáng. Vì địa điểm tham quan hôm nay gần khách sạn nên chúng tôi chỉ đi bộ vài phút rồi băng qua đường là đến. Đó là chiếc cầu the Tower Bridge of the River Thames và The Tower of London. Cũng như chiều hôm qua tại lâu đài Windsor, sáng nay ông Leung Freddy cũng giới thiệu với chúng tôi một bà đầm người Anh khác tên là Catherine làm hướng dẫn viên để đến thăm The Tour of London. Dĩ nhiên ông trưởng đoàn du lịch cũng đi theo bà ta để thông dịch ra tiếng Hoa cho những du khách người Hoa. Vì hãng du lịch này của người Hoa có cái tên là Ritz Tours nên du khách hầu hết là người Hoa. Trong số 42 người thuộc đoàn du lịch chúng tôi, chỉ có 8 gười là người Việt, số còn lại là người Hoa cả.
Thế là chúng tôi đi theo ông Leung Reddy và bà Catherine để nghe họ trình bày, giải thích, kể chuyện về chiếc cầu the Tower Bridge và the Tower of London. Theo sự trình bày và giải thích của bà Catherine chúng tôi được biết rằng, năm nhà thầu khoán chuyên nghiệp điều động 432 công nhân xây cất trong tám năm trời mới hoàn thành chiếc cầu nầy vào năm 1894. Hai khối đá gồm những tảng đá lớn ghép lại được đặt nằm dưới lòng sông
để giúp xây cất cầu. Trên11,000 tấn thép được xử dụng để làm khung cho cầu và đường đi bộ. Sau khi hoàn thành xong, mặc dầu hệ thống nâng cầu rất phức tạp, nhưng máy nâng có thể đưa cầu lên tối đa 80 độ chỉ trong một phút mà thôi.

Chiếc cầu The Tower Bridge bắc qua dòng sông Thames. (Hình trích từ Wikipedia)
Sau khi đã tham quan the Tower Bridge, chúng tôi liền đi bộ băng qua đường để đến tham quan the Tower of London. Tại đây bà Catherine cho chúng tôi biết tổng quát về di tích lịch sử này như sau : tháp Tower of London do William the Conqueror xây năm1078 . Đây vừa là chiến lũy chống ngoại xâm, vừa là nơi ở của Hoàng gia Anh vừa là ngục tù (đặc biệt dành cho những người tù cao cấp và những tù nhân thuộc Hoàng tộc). Đây cũng là nơi để hành quyết và tra tấn các tù nhân và cũng vừa là xưởng đúc vũ khí, nhà ngân khố, sở thú, nơi đúc tiền, đài thiên văn . Từ năm 1303, đây cũng là nơi cất giữ châu báu ngọc ngà của Vương Quốc Liên Hiệp.

The Tower of London (Hình trích từ Wikipedia)

Một người lính đứng gác gần mấy khẩu thần công đặt trong the Tower of London. ( Hình trích từ Wikipedia)

Tác giả chụp chung với hai nhân viên trong The Tower of London.
Sau khi tham quan tháp the Tower of London xong, ông Leung Reddy cũng trao cho bà Catherine một bì thư đựng tiền trước mặt chúng tôi để cám ơn bà. Sau đó, ông Leung Reddy chỉ thị cho anh tài xế chở chúng tôi đi vòng quanh trong thành phố Luân đôn rồi dừng lại từng địa điểm để xem như dinh Quốc hội, tháp Big Ben, quảng trường Trafalga, điện Burkingham, khu phố Westminster Abbey.
Cứ mỗi lần dừng lại một địa điểm nào, ông trưởng đoàn liền giải thích cho chúng tôi nghe về nguồn gốc lịch sử của từng địa điểm đó.

Khu phố Westminster Abbey( Hình trích từ Wikipedia)
Những thắng cảnh tại thành phố Luân đôn

Thành phố Luân Đôn, Ngự Lâm Quân trong ngày lễ sinh nhật thứ 80 của Nữ hoàng Elizabeth, Điện Burkingham (Hình trích từ Wikipedia)



Toà nhà Quốc hội ( Hình trích từ Wikipedia)

QUẢNGTRƯỜNG TRAFALGA

Tháp Big Ben (Hình trích từ Wikipedia)
Tại những nơi này, chúng tôi tha hồ chụp hình, quay phim để làm kỷ niệm trong chuyến du lịch tại Anh quốc. Sau khi tham quan những địa danh nói trên,ông trưởng đoàn nói anh tài xế xe buýt chở chúng tôi đến tiệm ăn Aroma ở China town để dùng cơm trưa. Và chiều hôm ấy, chúng tôi được tự do đi shopping tại China town rồi ai nấy tự túc mua vé xe buýt, xe tắc xi, xe điện ngầm để về lại khách sạn và bữa cơm chiều chúng tôi cũng sẽ tự túc đi tìm tiệm ăn mà lo liệu lấy.
Nhớ lại sau khi ăn cơm trưa xong, Ông Leung Freddy có mách cho chúng tôi một tiệm ăn của người Thái, đối diện với khách sạn chúng tôi đang trú ngụ nằm ở bên kia bờ sông Thames. Vì vậy sau khi đi shopping ở China town về, 6 người chúng tôi liền rủ nhau thả bộ qua cầu Tower Bridge để đi tìm tiệm ăn ở bên kia bờ sông Thames đối diện với khách sạn chúng tôi đang tạm trú. Sau vài phút đi bộ trên cầu hóng gió chiều và nhìn dòng sông Thames chảy qua cầu, chúng tôi đã tới bên kia cầu. Theo những bậc tầng cấp đi xuống đường, chúng tôi liền đến ngã tư gần cầu nhất rồi băng qua đường , đi ngược lại hướng hồi nãy để tới bên bờ sông. Đi dọc theo bờ sông đối diện với khách sạn bên kia bờ, chúng tôi thấy các tiệm ăn nằm san sát nhau. Tiệm nào tiệm nấy thực khách đều chật ních.
Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ giá cả ở những tiệm nầy chắc phải đắt lắm. Vì vậy chúng tôi chỉ đi dạo dọc bờ sông Thames chứ không vào tiệm nào cả. Tuy nhiên vì trời cũng vừa tối và ai nấy cũng đều cảm thấy đói bụng cả rồi nên chúng tôi liền băng qua một đường hẻm để đi tìm tiệm ăn người Thái mà ông trưởng đoàn đã giới thiệu trưa nay. Khoảng năm phút sau chúng tôi đã thấy tiệm ăn của người Thái. Thế là sáu người chúng tôi vào ngay trong tiệm để dùng cơm tối. Khoảng một giờ sau chúng tôi rời tiệm ăn để trở về khách sạn. Trên đường trở về, chúng tôi cũng đi bộ băng qua cầu Tower Bridge như lúc ban chiều. Vì đã chín giờ tối nên trên cầu đèn điện rất sáng. Đi trên cầu nhìn xuống dòng sông, chúng tôi thấy mấy chiếc thuyền đậu sát bên bờ đằng kia phản chiếu ánh đèn điện xuống mặt nước sông Thames thật tuyệt đẹp.
Sau hai ngày du lịch tại nước Anh, theo chương trình đã vạch sẵn, sáng mai chúng tôi phải lên đường để qua nước Pháp.
Vì đã được trưởng đoàn dặn dò chiều qua nên sáng nay chúng tôi thức dậy thật sớm để chuẩn bị lên đường. Thế là chúng tôi tất cả 42 người lên xe buýt để tiến về ga xe lửa làm thủ tục hải quan trước khi lên xe lửa vượt biển Manche qua đất Pháp. Đang say sưa nhìn cảnh vật dọc hai bên đường lần cuối, bỗng anh Bùi phước Ty nói nhỏ bên tai tôi:
– Điền, farewell to London!
Nghe anh bạn Bùi phước Ty nói như vậy lòng tôi bỗng chùng xuống đến ngậm ngùi! Thật thế, giờ phút chia ly đã điểm rồi! Chỉ vài giờ nữa là chúng tôi sẽ xa Luân đôn, xa Anh quốc ngàn năm. Biết bao giờ mới trở lại đây ? Thôi thì vĩnh biệt lâu đài Windsor, vĩnh biệt the Tower Bridge of the Thames River, vĩnh biệt the Tower of London, vĩnh biệt dòng sông Thames có dòng nước hiền hòa chảy ngang qua cầu tuyệt đẹp, khi mùa thu mới bắt đầu về qua biểu tượng mấy chiếc lá vàng vừa bay nhè nhẹ rồi rơi xuống giữa dòng sông. Bỗng tôi nhớ đến bài thơ When we two parted của thi sĩ Lord Byron Anh quốc nói về sự biệt ly khiến lòng mình thêm xúc động:
When we two parted
In silence and tears
Half broken hearted
To sever for years
mà một thi sĩ nào đó đã dịch như sau:
Giờ phút chia ly đã điểm rồi
Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi
Mang mang nửa cõi lòng tan tác
Ly biệt xui chi tủi trọn đời.
California, một chiều thu nhạt nắng .
(tháng 10 năm 2007)
Dương viết Điền
Sau khi mất hai giờ rưởi vượt biển Manche bằng xe lửa từ Waterloo để qua Pháp, như thường lệ, chúng tôi cũng làm thủ tục hải quan trước khi lên xe buýt đi xem các danh lam thắng cảnh của đất nước này. Tại ga xe lửa trên đất Pháp, chúng tôi lên xe buýt để tiến về sông Seine. Ông trưởng đoàn cho chúng tôi biết rằng trên đường đến bờ sông Seine, chúng tôi sẽ đi ngang qua trước điện Versaille nơi chúng tôi sẽ được ông ta hướng dẫn đến tham quan ngày mai. Vì vậy ông nói với chúng tôi rằng khi xe buýt chạy ngang trước điện Versaille, ông ta sẽ nói “Đây là điện Versaille” và chúng tôi tất cả đều chào mừng bằng cách nói to lên một chữ “wow”. Hân hoan trước những lời ông trưởng đoàn đề nghị, tất cả chúng tôi đều bằng lòng ngay. Và khoảng một phút sau, khi xe vừa chạy ngang trước điện Versaille, ông trưởng đoàn du lịch cất tiếng nói thật to:
-Đây là điện Versaille.
Tất cả chúng tôi đều vui mừng, đồng thanh cũng cất tiếng nói thật to:
-Wow !
Theo chương trình đã vạch sẵn, ông trưởng đoàn du lịch hướng dẫn chúng tôi đến bờ sông Seine của nước Pháp ở thủ đô Paris để lên du thuyền chạy vài vòng trên dòng sông Seine ngõ hầu du khách có thể ngắm cảnh dọc hai bên bờ.
Ước mơ nhìn dòng sông Seine mấy mươi năm trời bây giờ không ngờ đã thành sự thật.

Du khách trên thuyền đang ngồi nhìn dòng sông Seine.

Dòng sông Seine chảy qua thủ đô Paris ( Hình trích từ Wikipedia)
Ngồi trên thuyền đang nhẹ nhàng lướt sóng, chúng tôi say sưa nhìn hai bên bờ không để mất một lâu đài, một biệt thự, không để sót một bến nước, một gốc cây. Đằng kia phía bên trái bờ sông Seine, những lâu đài thật nguy nga, những biệt thự thật tráng lệ đang đứng sừng sững dưới trời cao giữa thu đô Pari trông sao mà huy hoàng và lộng lẫy. Xa xa, tháp Eiffel vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt đang ngạo nghễ dưới trời cao giữa thủ đô nước Pháp như đang đợi chờ tất cả 42 người trong đoàn du lịch Tour Ritz đến tham quan ngày mai. Bỗng đâu, mấy chiếc lá vàng bay bay rồi rơi nhè nhẹ xuống dòng sông Seine khiến lòng tôi chợt nhớ mùa thu đang về giữa thủ đô Paris, để rồi văng vẵng bên tai tôi tiếng hát của ca sĩ Hoàng Dũng qua bài “ Mùa thu không trở lại” của nhạc sĩ Phạm trọng Cầu:
Em ra đi mùa thu
mùa thu không trở lại
Em ra đi mùa thu
sương mờ giăng âm u.
Em ra đi mùa thu
Mùa thu không còn nữa
Đếm lá úa mùa thu
Đo sầu ngập tim tôi.
Ngày em đi
Nghe chơi vơi não nề
qua vườn Luxembourg
Sương rơi che phố mờ
Buồn này ai có mua?
Từ chia ly
Nghe rơi bao lá vàng
Ngập giòng nước sông Seine
Mưa rơi trên phím đàn
Chừng nào cho tôi quên.
Hôm em ra đi mùa thu
Mùa thu không trở lại
Lá úa khóc người đi
Sương mờ dâng lên mi.
Em ra đi mùa thu
Mùa lá rơi ngập ngừng
Đếm lá úa sầu lên
Bao giờ cho tôi quBỗng sóng nước vỗ mạnh vào mạn thuyền khiến nước văng tung toé lên thuyền rồi tạt vào mặt tôi làm tôi trở về với thực tại. Chị Hồ thị Thu Hương, phu nhân của anh Lê văn Chính, đang cầm máy chụp hình đứng đối diện với tôi liền bảo tôi và bà xã tôi hãy đứng sát bên nhau một tí nữa, rồi nhìn về phía tháp Eiffel để chị ấy chụp cho một bức hình trên dòng sông Seine làm kỷ niệm. Sau đó, sáu anh em chúng tôi đứng sát bên nhau rồi nhờ một du khách trên thuyền chụp cho chúng tôi một tấm hình làm kỷ niệm luôn.
Sau khoảng một giờ ngồi trên thuyền lướt sóng để ngắm nhìn hai bên bờ sông Seine, ông trưởng đoàn du lịch liền thúc dục chúng tôi bước xuống thuyền leo lên xe buýt lại, chuẩn bị đến trung tâm thương mại Lafayette ở China town của thủ đô Paris để đi mua sắm. Vừa đến trung tâm thương mại Lafayette, chúng tôi được ông trưởng đoàn du lịch Leung Freddy cho biết rằng, tất cả chúng tôi được tự do đi shopping trong hai giờ và đúng 6:oo giờ chiều phải có mặt tại nơi xe buýt đậu để đi ăn cơm tối. Tại đây chúng tôi đi qua đi lại nhìn áo quần bày bán trong các tủ kính mà chẳng ai mua sắm gì cả vì giá cả đắt quá. Anh Bùi phước Ty nói với tôi rằng tôi ít chú trọng đến ăn mặc nhưng anh ta cũng muốn cho tôi biết rằng, trước đây loại áo Montagu rất nỗi tiếng nhưng bây giờ không dám mua vì giá cả khá đắt. Thế rồi anh Ty dẫn tôi đến một cửa kính gần đấy và chỉ cho tôi một chiếc áo Montagu đang nằm trong tủ kính. Thấy tôi và anh Ty đang nhìn chiếc áo Montagu này, anh chàng đứng bán hàng tiến về phía chúng tôi.
Khi anh ta đứng trước mặt tôi, tôi liền chỉ chiếc áo Montagu nằm trong tủ kính và hỏi:
-Je voudrais cette chemise, c’est combien?( Cái áo này giá bao nhiêu vậy?)
Anh ta trả lời:
-Quatre-vingts francs (80 franc)
Tôi nói ngay:
-C’est trop cher!( Quá đắt )
Nói xong tôi và anh Ty bỏ đi.
Sau đó tôi và bà xã tôi lên thang máy để đi xem tổng quát cho biết trung tâm thương mại Lafayette ở Pháp trước khi ra chỗ hẹn tại nơi xe buýt đậu để cùng đoàn du lịch chuẩn bị đi ăn cơm tối. Sau khi ăn cơm tối xong, chúng tôi được ông Leung Freddy hướng dẫn đến một hý trường nỗi tiếng tại thủ đô Pari để xem một show thật ngoạn mục khoảng 3 tiếng đồng hồ, gọi là “ Moulin Rouge Cabaret Show”. Vì vé vào cửa cho mỗi người là 120 Euro tương đối đắt nên tôi nghĩ thầm rằng, không biết chương trình của show nầy có hấp dẫn không đây. Vì vậy khi thấy ông trưởng đoàn đi ngang trước mặt, tôi có hỏi ông về nội dung chương trình như thế nào, ông bảo chờ xem rồi sẽ biết. Và đúng như ông trưởng đoàn nói “chờ xem rồi sẽ biết”. Sau khi xem xong, tôi thấy nội dung chương trình cũng khá hấp dẫn vì có những tiết mục là lạ như hai ca sĩ vừa đi vừa hát trên không trung lúc điện trong rạp đều tắt cả, một anh chàng vật lộn với con trăn dưới nước, hay là những vũ khúc sexy 50% vv… Lúc chương trình chưa bắt đầu, các nhạc công chơi nhạc cho các ca sĩ hát để du khách ai muốn nhảy thì lên sân nhảy rồi cứ tự nhiên như người Hà nội mà nhảy theo những điệu nhạc các ca sĩ đang hát giữa thủ đô Paris. Anh chị Bùi phước Ty cảm thấy ngồi không yên khi nghe nhạc trỗi lên trên sân khấu nên đã kéo nhau lên nhảy mấy bản bolero cũng đỡ ghiền. Khoảng 11 giờ khuya, chúng tôi ra khỏi rạp rồi lên xe buýt về khách sạn Evergreen Laurel Hotel Paris ở tại số 8 Places Georges Pompidou 92300 Levallois để nghỉ ngơi.
Cũng như thường lệ trước khi vào khách sạn nghỉ ngơi, ông trưởng đoàn thường báo cho chúng tôi biết giờ báo thức, giờ điểm tâm và giờ khởi hành đi xem các danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử tại các nước chúng tôi đến du lịch. Tuy nhiên vì mới đến nơi đất lạ xứ người nên hơi khó ngủ, anh Lê văn Chính, anh Bùi phước Ty và tôi lại rũ nhau nhau xuống phòng trà ở tầng dưới của khách sạn để uống nước trà và nghe nhạc cổ điển Tây phương do một Pianist trình diễn đàn piano. Ngồi nghe nhạc và nói chuyện phiếm khoảng một giờ sau chúng tôi mới lên phòng ngủ.
Đúng 7:45 giờ sáng, tất cả 42 du khách chúng tôi có mặt đầy đủ trước khách sạn Evergreen Laurel để lên xe buýt đến xem Điện Versailles, một trong những niềm kiêu hãnh của Pháp quốc và sự đố kỵ của nhiều chế độ quân chủ tại Âu châu. Tại đây, chúng tôi cũng được ông trưởng đoàn giới thiệu một bà đầm người Pháp nhưng nói được tiếng Anh để hướng dẫn chúng tôi đi xem những di tích lịch sử của dòng họ các nhà vua Louis XIV, XV, XVI trong Điện Versailles. Cũng giống như vào tham quan các lâu đài Windsor ở bên Anh quốc, tại đây, chúng tôi cũng được hướng dẫn đi xem tất cả những gì nằm trong Điện Versailles như phòng tiếp tân của vua, phòng hội họp, phòng ngủ, phòng triển lãm những vũ khí thời đại phong kiến của chế độ, nơi trưng bày những ngọc ngà châu báu vv…

Điện Versailles (Hình trích từ Wikipedia)
Khi vào phòng này, chúng tôi được bà đầm người Pháp cho biết rằng, rất nhiều vàng nằm khắp trong phòng, trên cửa sổ, trong tủ kính, nơi cửa chính ra vào, trên kệ sách vv…đều là vàng 24 cà rá cả. Khi nghe bà ta nói như vậy anh Lê văn Chính nói với tôi rằng, chắc chắn có vàng lấy từ các nước thuộc địa về trong đó có vàng lấy từ Việt nam qua. Tôi liền mỉm miệng cười như đồng tình với anh ấy. Thế rồi anh em trong đoàn chụp hình quay phim liên hồi. Ai thích hình gì thì chụp hình ấy. Chúng tôi vừa quay phim vừa chụp hình say sưa đến nỗi đoàn du lịch chúng tôi đã qua phòng khác mà không biết. Thế là chúng tôi phải vừa đi vừa chạy cho kịp đoàn du lịch. Sau khi gặp bà đầm người Pháp nghe bà ta trình bày và giải thích chúng tôi mới biết rằng, sở dĩ bà ta nói rất nhanh rồi đi ngay qua phòng khác vì cứ mỗi năm phút lại có một đoàn du lịch khác vào nữa. Nếu không đi ngay thì phòng sẽ chật ních người và nếu không trình bày nhanh sẽ trễ những nơi khác không xem được theo chương trình đã vạch sẵn.
Sau khi tham quan Điện Versailles, chúng tôi lại lên xe buýt để sang xem Bảo tàng viện
Louvre. Nơi đây, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và thưởng ngoạn đến say mê mấy chục tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng nhất thế giới cũng như xem tất cả những gì liên quan đến di tích lịch sử của triều đại Hoàng đế Napoleon vang bóng một thời.

Bảo tàng viện Louvre (Hình trích từ Wikipedia)
Điều vui vui cho tôi là khi nhìn bức tượng của Napoleon Đại đế trong Bảo tàng viện Louvre, tôi cứ cười thầm trong bụng mãi vì nhớ đến câu chuyện của một giáo sư dạy môn kinh tế học kể cho chúng tôi nghe cách đây 41 năm, khi thấy chúng tôi ngủ gà ngủ gật trong đại giảng đường. Vị giáo sư ấy kể rằng có một lần trước khi dẫn đoàn quân bách chiến bách thắng trở về, Napoleon Đại đế đã gởi thư về cho người tình là Josephine dặn nàng khoan tắm đã. Giáo sư ấy vừa kể xong thì tất cả sinh viên trong đại giảng đường tỉnh táo lại hết, không còn ai ngủ gà ngủ gật nữa. Sau khi tham quan Điện Versailles và Bảo tàng viện Louvre, chúng tôi nghỉ ngơi để dùng cơm trưa tự túc, sau đó lại lên xe buýt vượt qua cầu bắc qua dòng sông Seine tiến về tháp Eiffel . Tại đây chúng tôi được ông trưởng đoàn nói sơ qua về nguồn gốc của tháp này theo đó tháp Eiffel do kỹ sư Alexandre Gustave Eiffel thiết kế. Tháp được xây cất khoảng giữa năm 1887 và 1889, sau đó được khánh thành vào ngày 31 tháng 03 năm 1889. Trong lúc tạo dựng tháp này, khoảng 300 công nhân ráp nối 18,038 miếng sắt đã được tôi luyện, xử dụng hai triệu rưởi đinh tán. Tháp Eiffel cao 342 mét, nặng 7, 300 tấn.

Tháp Eiffel và dòng sông Sein về đêm(Hình trích từ Wikipedia)
Năm 2006, có 6 triệu du khách đến tham quan tháp này và kể từ lúc khánh thành tháp này cho đến ngày nay, đã có hơn hai trăm triệu du khách đến thăm. Sau khi trình bày tổng quát những vấn đề liên quan đến tháp Eiffel, ông trưởng đoàn liền phát mỗi người một vé để lên tháp nhìn quang cảnh thành phố Paris giữa nắng chiều. Tiền mua vé này du khách chúng tôi đã nộp cho ông trưởng đoàn chiều hôm qua.Tất cả là 30 Euro cho mỗi người gồm vé ngồi trên thuyền để dạo trên dòng sông Seine và vé lên tháp Eiffel .Chúng tôi liền sắp hàng nối đuôi nhau vào thang máy để được đưa lên tháp Eiffel. Sau khoảng mười lăm phút , chúng tôi đã lên được tầng thứ hai của tháp. Vừa bước khỏi thang máy để ra vị trí đứng nhìn xuống thành phố Paris, bà xã tôi bỗng buột miệng nói bên tai tôi :
-Đẹp quá anh ơi! Nhìn xuống dưới kia kìa! Thành phố Paris sao mà đẹp quá! Dòng sông Seine càng đẹp hơn nữa anh à! Anh lấy máy ảnh ra mà chụp vài tấm hình đi anh.
Mà thật thế, đứng ở tầng thứ hai của tháp Eiffel nhìn xuống, chúng tôi thấy toàn cảnh của thành phố Paris đẹp tuyệt trần! Xa xa, Điện Versailles, Bảo tàng viện Louvre, Điện Champs Elysees như nổi bật một góc trời. Đẹp nhất và nên thơ nhất là dòng sông Seine chảy qua thành phố Paris đang uốn khúc giữa nắng chiều. Bởi mùa thu đang về trên nước Pháp, vì trời thu đang ngự trị giữa thành phố Paris nên lá vàng từ trên một số cây dọc hai bên bờ sông Seine đang bay nhè nhẹ rồi từ từ rơi xuống dòng sông. Nhìn dòng sông Seine đang uốn khúc giữa nắng chiều thu, nhìn lá vàng bay là đà rồi rơi trên dòng nước biếc, lòng tôi bỗng xúc động đến ngậm ngùi rồi bâng khuâng nhớ đến những thi nhân của nước Pháp cứ mỗi độ thu về đã từng dệt nên những vần thơ thật lãng mạn, đa tình, thật nghẹn ngào, nuối tiếc! Một Guillaume Apollinaire với L’Adieu thật nức nở sầu thương, một Alphonse de Lamartine với Le Lac thật hoang vắng đơn côi, một Paul Verlaine với Chansons D’automne thật ê chề đau đớn, đầy ắp những kỷ niệm nghẹn ngào! Bất giác tôi ngâm bài thơ Chansons D’automne của Paul Verlaine khi thấy nắng chiều đang trải dài trên dòng sông Seine tuyệt đẹp:
Les sanglots longs
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l’heures
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m’en vais
Au vent mauvais
Qui m’emporte
Decà delà
Pareil à la
Feuille morte
« Tiếng đàn ai đó lê thê
Vĩ cầm réo rắt ê chề lòng đau
Bơ vơ chuông đổ đồng hồ
Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa
Bao kỷ niệm, theo gió đưa
Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót xa
Bao năm lữ thứ xa nhà
Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi…”
(Lãng Du)
Dương viết Điền,
California, một chiều thu nhạt nắng. (tháng 10 năm 2007)
-
Du lịch ngắm hoa anh đào và thăm bạn

March 28, 2024: Cuộc thưởng ngoạn ngắm hoa anh đào vùng Washington D.C cuối tháng Ba đã đem đến cho chúng tôi nhiều ngạc nhiên và thích thú cũng như đã để lại trong chúng tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Tuy khởi đầu cuộc du lịch gặp nhiều trắc trở vì chuyến bay từ phi trường LAX đến phi trường Dulles International, Virginia bị đình trệ, “Stand by” flights đến ba lần vì hãng máy bay American đã “booked” quá tải, phải ngủ lại khách sạn một đêm, hành lý bị thất lạc, v.v… Tuy đó là “chuyện lớn” nhưng vẫn không làm nản lòng sáu chúng tôi gồm: Chị Tố Đoan, Kiều Chi, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Khánh Lan, và Mạnh Bổng.

Từ trái sang phải: Mạnh Bổng, Chị Hằng vợ anh Phạm Xuân Thái, Kiều Chi, Tố Đoan, Khánh Lan, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Anh Phạm Xuân Thái. (Hình chụp tại Alexandia Harbor)
March 29, 2024: Sau cùng chúng tôi đã được lên máy bay nhưng đường bay hoàn toàn thay đổi. Nếu đúng như chương trình hoạch định thì chuyến bay “one stop” của chúng tôi sẽ ghé phi trường Dallas Fort Worth (DFW) International, Texas rồi bay thẳng qua phi trường Dulles International, Virginia. Nhưng cuối cùng lại trở thành chuyến bay “Two stops”, máy bay đã dừng lại ở phi trường DFW, Texas và Des Moines International (DSM), Iowa trước khi bay đến phi trường Ronald Reagan National, Washington DC, thay vì đi đến phi trường Dulles International, Virginia như theo chương trình đã ấn định lúc ban đầu. Chính vì sự đảo lộn đó mà hành lý của chúng tôi đã đi theo máy bay về phi trường Dulles International, Virginia thay vì phi trường Ronald Reagan, Washington DC.
Sau khi máy bay hạ cánh tại phi trường Ronald Reagan, Washington DC khoảng 11:30 tối, chúng tôi đã nhận thấy anh Phạm Xuân Thái đứng ở khu lấy hành lý từ bao giờ. Anh Phạm Xuân Thái là anh của Kiều Chi, anh là người đã sống tại tiểu bang Washington DC từ năm 1975 cho đến nay và cũng là bạn rất thân với gia đình NV Hồng Thủy. Từ đầu tháng Ba, Anh Thái đã rất chu đáo và tận tình trong việc hướng dẫn & hoạch định chương trình thăm viếng ba vùng Washington DC, Virginia, Maryland cho chúng tôi lần này. Trong khi Kiều Chi giới thiệu chúng tôi với anh Thái thì cũng là lúc chúng tôi được biết hành lý của chúng tôi hiện đang ở phi trường Duller International, Virgina.
Từ giã anh Phạm Xuân Thái và Kiều Chi, chúng tôi thuê Uber về phi trường Dulles International, Virginia để lấy hành lý, lúc đó đã gần nửa đêm nên kho chứa hành lý của hãng máy bay American sắp đóng cửa. Lấy hành lý xong, chúng tôi đi lấy xe tại Dollar Rent A Car và lái xe về tư gia của NV Hồng Thủy, đồng hồ điểm 1:30 sáng. Thế mà NV Hồng Thủy vẫn thức để chờ đón chúng tôi. (Cám ơn lòng hiếu khách của chị Hồng Thủy). Như vậy, chúng tôi đã mất 2 ngày để bay từ California đến Washington DC.

Khánh Lan, Ngân (bạn của Kiều Chi từ tiểu bang Kansas), Kiều Chi, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Chị Tố Đoan.
March 30, 2024: Ngắm hoa anh đào tại bờ hồ Tidal Basin, Vì là Easter Spring Break nên du khách đến thưởng ngoạn hoa anh đào rất đông và chúng tôi không sao tìm được chỗ đậu xe. Anh Mạnh Bổng và anh Xuân Thái đành phải hy sinh lái xe lòng vòng quanh khu Tidal Basin sau khi “drop chúng tôi off“, chờ chúng tôi đi xem hoa và chụp hình. (Cám ơn sự kiên nhẫn đáng yêu của hai anh).
3,000 cây hoa anh đào Nhật Bản hơn 100 trăm năm tuổi đồng loạt nở rộ ở khu vực quanh bờ hồ Tidal Basin, thủ đô Washington D.C và đã thu hút hàng triệu người từ khắp nơi đến thưởng ngoạn. Quanh bờ hồ, những bông hoa đào đã nở rộ, rực rỡ. Những cánh hoa đào mong manh bay bay trong gió, những cành hoa đào nghiêng bóng xuống mặt hồ trong vắt tạo nên một khung cảnh thật thơ mộng và hữu tình.

Tuyết Nga, Khánh Lan, Chị Hằng, Ngân, Kiều Chi, Tố Đoan, Hồng Thủy, Đức Hạnh.
Hoa Anh Đào năm nay nở sớm do nhiệt độ bất thường tại Thủ đô Washington D.C., nhưng vẫn còn ưu ái để lại trên cành những chùm hoa màu trắng, màu Hồng xinh xắn. Du khách cũng như chúng tôi len lỏi, chen nhau ngắm hoa và chụp hình lưu niệm. Có lẽ để mừng lễ Phục Sinh nên khu Tidal Basin hôm nay vui quá, hàng ngàn cánh diều với nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau tung bay phất phới trên bầu trời trông thật vui mắt, thật đẹp và hay lạ. Chuyến du lịch ngắm hoa Anh Đào năm nay của chúng tôi thật đúng lúc, đúng thời gian và “lucky” vì NV Hồng Thủy cho biết qua năm 2025 sẽ có khoảng hơn 200 cây hoa anh đào quanh khu Tidal Basin bị chặt, đốn đi vì rễ cây đâm xuống làm nứt hồ nước.

NV Hồng Thủy & Khánh Lan
Lincoln Memorial và Thomas Jefferson Monument cũng không xa nên chúng tôi tản bộ qua để chụp những tấm hình lưu niệm trước khi ra về.

March 31, 2024: Ngắm hoa Anh Đào tại khu làng Kenwood: Theo lời chỉ dẫn của anh Phạm Hồng Thái, chúng tôi đi ngắm hoa anh đào tại khu làng Kenwood. theo tài liệu internet cho biết, Kenwood vào đầu những năm 1930 và 1940, một nhà phát triển địa phương đã trồng cây anh đào như một cách để thu hút những người mua nhà tại khu ngoại ô thành phố này. Hiện nay có hơn 1,200 cây hoa anh đào và những cây hoa Magnolia tại đây đã tô điểm cho khu làng Kenwood trở nên tuyệt vời với hàng trăm nghìn bông hoa nhỏ màu trắng xinh đẹp nở rộ trong mỗi mùa xuân. Làng hoa anh đào Kenwood là một trong những địa điểm ngắm hoa anh đào nổi tiếng tại thủ đô Washington D.C.

Hoa Magnolia và Khánh Lan

Khu làng Kenwood với những ngôi nhà trị giá hơn 1 triệu USD
Kenwood là một khu phố đẹp với những ngôi nhà trị giá hơn 1 triệu USD nằm giữa River Road và Little Falls Parkway ở Chevy Chase. Nó được phát triển bởi Edgar Kennedy – ông chủ tòa nhà chung cư Kennedy-Warren trong Quận – và cộng sự của ông là Donal Chamberlin. Ted Beverly, người đã sống ở Kenwood từ năm 1978 cho biết các cây hoa anh đào được bắt đầu trồng cây ngay cả trước khi những căn nhà được bắt đầu xây cất. Những ngôi nhà đầu tiên tại Kenwood được hoàn thành vào năm 1929.

Những con đường tràn ngập hoa anh đào
Khi những cây anh đào được trồng xung quanh Tidal Basin vào năm 1912 đã truyền cảm hứng cho Kennedy và Chamberlin. Nhưng thực ra chính một cư dân Quận Montgomery mới là người đầu tiên đề xuất trồng những cây có hoa cho khu vực này, David Fairchild là một “nhà thám hiểm thực vật” của Bộ Nông nghiệp sống ở Chevy Chase. Năm 1906, ông đã nhập cảng 100 cây hoa anh đào từ Công ty Yokohama và trồng chúng trên sườn đồi trong khu đất của mình và nhận thấy cây phát triển mạnh ở khu vực này và đến năm 1934, 2,000 cây anh đào Yoshino đã được trồng tài Washington D.C.
Vào mùa xuân, những cành hoa trĩu nặng uốn lượn trên các con phố Kenwood, che khuất bầu trời một màu trắng xáo tựa như một tấm màn phủ đầy tuyết và thu hút hàng ngàn du khách mỗi năm.

Phong cảnh đẹp trong khu làng Kenwood

Cũng trong ngày 31 tháng 3, chúng tôi tham dự buổi “Hội Ngộ Kinh Thương 2024” tại nhà Cô Vân Nga, giáo sư anh văn của trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức, Saigon. Sau bao năm không gặp nhau, các anh chị Kinh Thương kẻ còn người mất, tay bắt mặt mừng.

Khánh Lan và Cô Vân Nga

Kinh Thương Hội Ngộ 2024

Aril 1, 2024: The US Capital, Botanical Garden, Hirshhorn Sculpture Garden, Galery Of Art Museum, v.v…Thật là một cực hình để tìm được một chỗ đậu xe tại các địa điểm này, vì thế Anh Mạnh Bỗng thường bỏ chúng tôi trước cửa để đi tìm chỗ đậu xe hoặc chạy lòng vòng quanh phố để 5 đứa con gái như chúng tôi có cơ hội chụp những tấm hình đẹp. (Cảm ơn anh Mạnh Bổng).

The US Capital

Hirshhorn Sculpture Garden, Galery Of Art Museum

Botanical Garden, Khánh Lan, Tố Đoan, Đức Hạnh…cứ lội mưa mà đi…tỉnh bơ…

April 2, 2024: The White House: Sau khi lòng vòng bên ngoài của The White House và chụp hình phía ngoài cổng. Chúng tôi đi ăn trưa tại khu VN Eden Center, đây là trung tâm sinh hoạt thương mại của người Việt giống như khu Little Sài Gòn ở quận Cam của chúng ta. Khánh Lan đã gặp Ông Nam Lộc tại đây như theo lời dặn của NV Việt Hải và chụp một tấm hình lưu niệm với ông như NV Việt Hải giao phó. Hôm ấy Ông Nam Lộc làm MC cho chương trình đại nhạc hội của tiệm Teletron.

The White House

Chúng tôi đi ăn trưa tại khu VN Eden Center

Mạnh Bổng, Ngân, Hạnh, Khánh Lan, Kiều Chi, Xuân Thái, Tố Đoan, Tuyết Nga, Chị Hằng, Hồng Thủy, Mẫn
Buổi trưa, họp mặt tại nhà của anh Phạm Xuân Thái & Chị Hằng và cũng là buổi tiễn chân bạn hai bạn Mẫn & Ngân về lại tiểu bang Kansas. Tại đây, chúng tôi đã gặp con trai thứ của nhạc sĩ Hoàng Trọng, Ca nhạc sĩ Hoàng Cung FA và em họ của khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Dương Nguyệt Thu Lan. Cũng tại đây, chúng tôi đã gặp nhiều anh chị khác như anh chị Hiệp & Thư, anh chị Tiến & Thu Lan. Tất cả các anh chị này đều hát rất hay và hát các nhạc phẩm thuộc thể loại nhạc tiền chiến mà chúng tôi rất yêu thích.

Chị Hằng, Tuyết Nga, CNS Hoàng Cung Pha (Con của NS Hoàng Trọng), anh Xuân Thái, Mạnh Bổng, Đức Hạnh, Tố Đoan, Hồng Thủy, Khánh Lan

Hàng đứng: Các anh Tiến, Mẫn, Thái, Hiệp, Hoàng Cung Pha và chị Hằng. Hàng ngồi: Tố Đoan, Khánh Lan, Tuyết Nga, Chị Thư, Ngân, Hạnh, Kiều Chi, Chị Thu Lan, NV Hồng Thủy
Buổi tối, chúng tôi cùng NV Hồng Thủy đến dự buổi họp mặt văn nghệ tại tư gia của nhà văn tiến sĩ Lưu Nguyễn Đạt. Hôm ấy, ca sỹ Anh Dũng cũng đến giúp vui. Thật là thú vị được thưởng thức những tiếng hát rất hay và nghe những bản nhạc tiền chiến mà các anh chị đến giúp vui văn nghệ đã hát hôm ấy. Nhà văn tiếp sĩ Lưu Nguyễn Đạt đã tặng khánh Lan ba tác phẩm văn học của ông gồm: văn, thơ và biên khảo mà ông đã cho xuất bản cách đây vài năm trước. Ông cũng không quên gửi tặng NV Việt Hải một thi tập song ngữ: Heartfulness hay Hồn Nước.

Họp mặt tại nhà của NV TS Lưu Nguyễn Đạt. NV Lưu Nguyễn Đạt & Ca Sĩ Anh Dũng

Tại đây, chúng tôi cũng gặp được Thi sĩ Lê Thị Ý, Bà là tác giả của bài thơ Tưởng Như Còn Người Yêu. Bài thơ này đã được Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Chúng tôi cũng có cơ hội phỏng vấn Bà về nguồn cảm hứng gì đã khiến Bà sáng tác bài thơ này. Bà nói, Bà sống ở Ban Mê Thuật, nơi mà Bà đã nhìn thấy và là nhân chứng của nhiều chiến sĩ đã nằm xuống, cảnh những đám tang và những thiếu phụ đã khóc than trong đau khổ vì mất người yêu, v, v…nên vì thương cảm cho hoàn cảnh của họ, Bà đã viết nên bài thơ này.

NV Khánh Lan, TS Lê Thị Ý, NV Hồng Thủy
April 3, 2024: Thăm cô của Tuyết Nga ở Virginia cách Maryland khoảng hơn một tiếng lái xe và dùng cơm trưa với gia đình của cô.

Thăm gia dình Cô của Tuyết Nga
April 4, 2024: Thăm viếng “The Colonial Williamsburg” ở thành phố Virginia. Williamsburg là một thành phố của bang Virginia ở Hoa Kỳ, trước kia là thủ đô của Thuộc địa Virginia từ năm 1699 đến năm 1780 và đóng một vai trò quan trọng trong Cách mạng Hoa Kỳ. Nó tạo thành “Tam giác lịch sử” cùng với Jamestown và Yorktown. Trung tâm của nó là Colonial Williamsburg, một khu làng lịch sử và bảo tàng lịch sử với những sinh hoạt sống động, các diễn viên hoặc người bán hàng tại Colonial Williamsburg mặc những trang phục cổ xưa mô tả cuộc sống thuộc địa hàng ngày trên đường phố, cửa hàng và công xưởng.


Colonial Williamsburg






April 5, 2024, Philadelphia, Pennsylvania và thăm Cô của Khánh Lan: Chúng tôi quyết định đi thăm thành phố Philadelphia thuộc tiểu bang Pennsylvania và tiện thể thăm cô của Khánh Lan sau khi chúng tôi ghé thăm The Liberty Bell, The Love Park, the Old City Hall và The Rading Terminal Market. Rất tiếc là chúng tôi không có đủ thời gian để ghé thăm The Old town of Philadelphia và The Amis town. Đã bao năm không trở về đây, thành phố đã thay đổi rất nhiều, đẹp hơn và đông du khách hơn. (Đây là lần thứ ba Khánh Lan trở lại nơi này).


Tại “Liberty Bell”




Tuyết Nga & Đức Hạnh ở “The Rading Terminal Market”

Ghé thăm gia đình Cô của Khánh Lan
April 6, 2024, ghé thăm nhà thờ The Basilica of the National Shrine of the Immaculate Conception và dạo phố Old town Alexandria, National Harbor:

The Basilica of the Nationa Shrine of the Immaculate Conception hay Vương cung thánh đường của đền thờ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội

Địa chỉ: 400 Michigan Ave NE, Washington, DC 20017 và mở cửa chính thức năm 1959. Architect: Charles Donagh Maginnis và Architectural styles: Romanesque Revival architecture, Neo-Byzantine architecture.
Basilica of the National Shrine of the Immaculate Conception là nhà thờ Công giáo La Mã lớn nhất ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ, và là một trong mười nhà thờ lớn nhất trên thế giới. Nhà thờ được Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ chỉ định là Thánh địa cầu nguyện và hành hương quốc gia. Vương cung thánh đường là đền thờ Đức Mẹ nổi tiếng của quốc gia, dành riêng cho bổn mạng của Hoa Kỳ; Đức Trinh Nữ Maria dưới danh hiệu là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và thường được gọi là Nhà thờ Công giáo của Hoa Kỳ. Được viếng thăm bởi Giáo hoàng Phanxicô, Giáo hoàng Benedict XVI, Thánh John Paul II, và Thánh Teresa of Calcutta, Vương cung thánh đường, sánh ngang với các thánh địa lớn của châu Âu và thế giới.

Mang phong cách Byzantine-Romanesque, kiến trúc thượng tầng đồ sộ là nơi có hơn 80 nhà nguyện và phòng thí nghiệm liên quan đến các dân tộc, nền văn hóa và truyền thống vốn là kết cấu của đức tin Công giáo. Vương cung thánh đường cũng là nơi lưu giữ bộ sưu tập nghệ thuật giáo hội đương đại lớn nhất trên trái đất. Mở cửa 365 ngày mỗi năm, Vương cung thánh đường đón gần một triệu du khách hàng năm, thu hút khách hành hương cũng như khách du lịch từ khắp nơi trên đất nước và trên thế giới.
Vương cung thánh đường Đền thờ Quốc gia Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội phải mất 39 năm để xây dựng kể từ khi bắt đầu xây dựng vào năm 1920 cho đến khi hoàn thành vào năm 1959, sau một thời gian gián đoạn trong Thế chiến thứ hai. Các kiến trúc sư Maginnis và Walsh ở Boston đã chọn phong cách La Mã-Byzantine cho tượng đài Công giáo quốc gia để tượng trưng cho đức tin và tình yêu của Hoa Kỳ đối với người bảo trợ của nó, Đức Trinh Nữ Maria. Đức Maria dưới danh hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Kiến trúc La Mã được xác định bởi kích thước đồ sộ, tường dày, mái vòm, trụ cầu, vòm háng, tháp và xe cứu thương được trang trí, trong khi kiến trúc Byzantine được chú ý nhờ đặc điểm đặc biệt nhất của nó, mái vòm. Trong kiến trúc Byzantine, một mái vòm hình tròn hoặc hình elip được đặt trên một căn phòng hình vuông hoặc hình chữ nhật bằng các mặt dây chuyền, kết cấu hình tam giác giúp tăng cường và hỗ trợ phần đế giữ mái vòm. Phong cách Romanesque-Byzantine đã được chọn cho Đền thờ Quốc gia để cho phép xây dựng bên ngoài cùng một lúc và bên trong, để hài hòa với kiến trúc của Washington, D.C., và để phân biệt với Nhà thờ Quốc gia Washington – kiểu Gothic Nhà thờ Tân giáo có công trình đang được tiến hành vào thời điểm đó.

Ngày nay, Vương cung thánh đường Đền thờ Quốc gia Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội là nhà thờ Công giáo La Mã lớn nhất ở Bắc Mỹ và nằm trong số mười nhà thờ lớn nhất thế giới và được xây dựng hoàn toàn bằng đá, gạch, ngói – không có khung hoặc cột thép kết cấu. Vương cung thánh đường chứa bộ sưu tập nghệ thuật giáo hội đương đại lớn nhất thế giới. Hơn nữa, sự trang trí nghệ thuật của Vương cung thánh đường, cả trong lẫn ngoài, đều phù hợp với phong cách kiến trúc La Mã-Byzantine. Bên ngoài của Vương cung thánh đường có hình tượng của các vị thánh cũng như các cổng vòm và cổng vòm được điêu khắc tinh xảo.
Tympana được điêu khắc phù điêu trang trí các lối vào phía đông và phía tây bên trong cũng như các hốc khác nhau ở khu vực gian giữa và thánh đường. Cửa sổ kính màu và kính mài trang trí cho cả khu vực Nhà thờ Thượng và Hạ. Nghệ thuật Byzantine đáng chú ý ở việc sử dụng khảm và đá cẩm thạch. Điều này bao gồm việc trang trí khảm bảy mái vòm chính cùng với nhiều nhà nguyện và nhà nguyện bên cạnh. Nhà thờ cũng được trang trí bằng những tấm đá cẩm thạch tuyệt đẹp. Những viên bi mịn hơn mở ra cho phép các đường vân của đá cẩm thạch tạo thành các mẫu đối xứng. (dựa theo tài liệu Wikipedia)
Old town Alexandria, National Harbor:
Rời nhà thờ The Basilica of the Nationa Shrine of the Immaculate Conception, anh Phạm Xuân Thái đưa chúng tôi đi dạo phố Old town Alexandria và dùng bữa cơm trưa tại nhà hàng Thái. Ăn xong, chúng tôi đi đến National Harbor, chụp hình cùng với các pho tượng của các binh chủng Hoa Kỳ, pho tượng Marilyn Monroe, v.v…Sau cùng là thử thời vận, đen đỏ tại Casino. Xui quá, mỗi chúng tôi thua $20.
Alexandria Harbor


Dạo phố Alaxandria Harbor

Dùng bữa cơm trưa tại nhà hàng Thái, Mai Restaurant

Và dạo phố tại National Harbor




The Famous Pictures

April 7, 2024 thăm bạn của Chị Tố Đoan, một người bạn cùng quê và cùng trại tỵ nạn mà chị Tố Đoan đã không gặp lại từ ngày đi định cư tại Mỹ. Con gái của chị bạn này đã bị lạc đạn trong một lần đi chơi cùng các bạn tại Las Vegas khi em mới 21 tuổi, năm nay em mới 28 tuỗi. Em là đứa con gái duy nhất của bạn chị Tố Đoan.

April 8, 2024: Đạo phố RIO, Buổi sáng, sau bữa ăn điểm tâm, Chị Hồng Thủy rủ chúng tôi đi mua sắm tại khu shopping Rio. Rio Shopping Center là khu mua sắm sang trọng của các khách hàng giầu có. Nơi đây có phong cảnh đẹp, hồ nước và các nhà hàng lịch sự. Sau khi mua sắm một vài món hàng và dạo phố, chúng tôi dùng bữa cơm trưa tại một nhà hàng Mexico.

Rio Shopping Center

Buổi chiều, chúng tôi cùng Chị Hồng Thủy chuẩn bị bữa cơm mời anh chị Thái & Hằng. Chị Hồng Thủy thật chu đáo và hiếu khách. Từ hôm trước, chị đã chuẩn bị thức ăn cho mọi người, nào là bún riêu cua, mì xào dòn. Đây là hai món ăn đặc biệt mà chị nấu rất ngon. Chiều nay, chúng tôi đã có một bữa tiệc gia đình thân mật và đầm ấm. Cám ơn Chị Hồng Thủy nhiều và nhiều lắm.

Bữa cơm thân tình
April 9, 2024: Ngày cuối ở Maryland và chuẩn bị về lại California. Chuyến bay non-stop lúc 5:30 chiều nay sẽ đưa chúng tôi trở về California. Hôm nay, chúng tôi không đi đâu cả và quyết định “spend some times” với Chị Hồng Thủy. Mười mấy ngày rong chơi, hôm nay là ngày đầu tiên chúng tôi “take it easy” và chị em ngồi nói chuyện với nhau như thể cùng sống chung trong một mái nhà từ lâu. Chúng tôi vừa ôn lại chuyện cũ và chia sẻ những chuyện mới. Có thể nói, đây là chuyến du lịch đầu tiên mà chúng tôi cảm nhận được cái không khí thân tình giữa tình bạn hữu, sự ân cần, chăm lo của một người chị (Hồng Thủy) khiến chúng tôi vô cùng cảm kích.

Trước cửa nhà của Chị Hồng Thủy

Chúng tôi cũng xin mượn giây phút này để gửi lời cảm ơn đến anh Phạm Xuân Thái và chị Hằng đã rất chu đáo và hướng dẫn rất tường tận các địa điểm du lịch cũng như thắng cảnh đẹp. Nhất là Chị Hồng Thủy đã tiếp đón chúng tôi rất nồng hậu, nhiệt tình và chu đáo từ miếng ăn đến giấc ngủ như một người chị cả. Chúng em cảm ơn Chị thật nhiều.
Khánh Lan, California 2024

Khánh Lan tại “The Love Park”
-
DU LỊCH THỤY SĨ
…Đúng 8:00 giờ sáng, chúng tôi tất cả đều có mặt trước khách sạn Evergreen Laurel để lên xe buýt rời nước Pháp để tiếp tục cuộc hành trình du lịch sang Thuỵ sĩ. Sau khi trưởng đoàn du lịch điểm danh xong, xe buýt từ từ chuyển bánh. Vì phải mất 9 giờ mới đến Thuỵ sĩ nên anh tài xế biết chắc ngày hôm ấy không thể đi xem danh lam thắng cảnh nào kịp. Điều này khiến anh tài xế lái xe thong thả, không vội vàng như những lần trước. Vì vậy lúc xe buýt chạy chầm chậm ngang qua những con đường giữa thủ đô Paris, chúng tôi ngoái cổ nhìn Paris lần cuối. Paris ơi! Biết bao giờ trở lại chốn phồn hoa đô hội này để nhìn lại dòng sông Seine thơ mộng uốn khúc giữa nắng chiều? Paris ơi! Biết bao giờ trở lại đây để lên tháp Eiffel nhìn xuống thành phố Paris đẹp tuyệt trần khi mùa thu đang về trên đất Pháp? Thôi thì trăng tròn rồi lại khuyết, hoa nở để mà tàn, sum họp rồi ly tan. Xin vĩnh biệt dòng sông Seine, vĩnh biệt tháp Eiffel, vĩnh biệt Điện Versaille, vĩnh biệt Bảo tàng viện Louvre, vĩnh biệt Paris ! Xúc động trước sự ly biệt nầy, bất giác tôi cất tiếng hát bài “Adieu, Paris” của nhạc sĩ Trần văn Lương:
Adieu, Paris
(Vĩnh biệt Paris)
Ami, c’est à Paris,
Cette ville éternelle,
Qú une ironie mortelle
Du sort nous a unis.
Anh yêu, thành phố Paris
Muôn đời là kinh kỳ
Éo le truyện trần thế
Se ta như phu thê.
Notre amour, à Paris,
A embrasé ma vie,
Et ces jours, ralentis,
De douceur l’ ont remplie.
Paris, ta yêu nhau
Tình em như lửa cháy
Ngày chầm chậm qua mau
Đầy dịu dàng nhiệm mầu.
Le bonheur, à Paris,
Est, hélas, si fragile.
Quand j’ai quitté la ville,
Nos voeux étaient finis.
Paris, ta hạnh phúc
Nhưng sao quá mong manh
Khi em rời kinh thành
Hẹn ước đã tàn nhanh .
Tu trouves, à Paris,
Ta nouvelle romance.
En ce lointain pays,
Je pleure ma malchance.
Hóa ra Paris này
Anh có tình yêu mới
Phương trời xa vời vợi
Em khóc đời chơi vơi
J’ enverrai à Paris
Mon âme déchirée,
Et à toi les sourds cris
D ‘ une amante oubliée.
Paris, em gửi về
Hồn em đau não nề
Trao anh tiếng nấc nghẹn
Của người tình bị quên .
Il fait beau à Paris,
Ensemble on se promène.
Tu parles et tu ris,
Connais-tu pas ma peine?
Paris, trời nắng to
Người đẹp đi bên anh
Anh cười nói bên cạnh
Em đau, biết chăng anh?
Il fait froid à Paris,
Tu embrasses ta belle,
L’ ardent feu de jadis
Bru^le à présent pour elle.
Paris, trời trở lạnh
Ôm người đẹp bên anh
Lửa tình xưa, nay dành
Cho người mới yêu anh
Il fait chaud à Paris,
Ton coeur est en délire.
Chaque mot qú elle dit
T’ apporte le sourire.
Paris, trời đang nóng
Tim anh như lửa bỏng
Lời nàng nghe như mộng
Anh cười dễ như không .
Il fait gris à Paris,
Tu lui lis le poème,
Jadis pour moi écrit,
Quand tu m’ as dit : “Je t’ aime!”
Paris, trời ủ rũ
Đọc cho nàng thơ cũ
Ngày xưa viết tặng em
Anh đã nói : “ yêu em!”
Il pleut fort à Paris,
Heureux, tu oublies l’ heure.
Jamais tu ne saisis
Que pour moi Paris pleure.
Paris, trời mưa to
Mải vui, quên thời giờ
Có khi nào anh nhớ
Vì em, Paris nức nở .
Il fait nuit à Paris,
Lentement l’ ombre efface,
Sous son pas, toute trace
De mon faux paradis.
Paris đã vào đêm
Bóng tối xóa chậm êm
Bóng đêm, giờ còn lại
Thiên đường ma của em !
Il est tard à Paris,
S’ endort la citadelle.
Tu ne penses qú à elle,
Et n’ entends point mes cris.
Paris, đêm vào khuya
Thành phố trong giấc nồng
Anh đang say bóng hồng
Có nghe em khóc không .
Adieu, ami,
Adieu, romance.
Adieu, souffrance,
Adieu, Paris.
Xin vĩnh biệt anh yêu
Xin vĩnh biệt cuộc tình
Xin vĩnh biệt khổ đau
Paris, Vĩnh biệt nhau !
(Nguyễn Đàm Duy Trung chuyển ngữ)
April 6, 2002Chiếc xe buýt đã lăn bánh ra khỏi thành phố Paris . Ông trưởng đoàn du lịch đã cho chúng tôi biết phải mất chín giờ mới đến thành phố Lucerne ở Thuỵ sĩ. Vì vậy khuyên chúng tôi hãy nhìn ra hai bên đường xem những phong cảnh thơ mộng hữu tình để giết thì giờ. Thế rồi ông trưởng đoàn Leung Reddy bắt đầu kể chuyện vui cho anh chị em du khách trong đoàn du lịch nghe. Hết chuyện này ông ta kể đến chuyện khác. Ông ta nói liên tu bất tận. Cứ mỗi lần nói tiếng Anh xong ông ta lại nói sang tiếng Hoa để cho một số người Hoa không biết tiếng Anh cũng có thể nghe được. Hết kể chuyện ông ta lại bắt đầu ca hát. Ông hát liên tục sáu, bảy bài mà không biết mệt. Ai đề nghị bài nào ông ta hát bài đó. Dĩ nhiên nhạc ông ta hát tất cả đều là nhạc bằng tiếng Hoa.
Chúng tôi tất cả 42 người lúc đầu ai cũng lắng tai nghe để cho quên đường sá xa xôi, để cho quên nơi đến tham quan trên đất Thuỵ sĩ còn xa ngút ngàn. Dần dần một số người trong đoàn bắt đầu ngủ gà ngủ gật. Một số người khác lại tham gia chương trình văn nghệ bỏ túi trên xe buýt với ông trưởng đoàn bằng cách lên cầm Micro hát một bài giúp vui. Tôi và bà xã tôi khi thức khi ngủ. Nếu ngủ thì thôi còn thức thì cũng lắng tai nghe chương trình văn nghệ bỏ túi ấy. Vừa nghe chương trình văn nghệ vừa nhìn ra ngoài, tôi thấy cảnh vật dọc hai bên đường cũng thơ mộng lắm. Hằng trăm mẫu đất trồng nho nằm sát bên đường trông thật xinh xắn. Thỉnh thoảng cứ cách nhau vài trăm mét lại có một đàn bò trắng đang gặm cỏ dưới ánh nắng chiều trông thật đẹp mắt. Đặc biệt có nhiều đồi núi sao mà giống núi đồi ở Đà lạt quá. Nhất là những dãy núi đồi nằm phía bên phải con đường giống hệt như những núi đồi từ thác Liên khương về đến thành phố Đà lạt vậy. Không ngờ những nhận xét của tôi lại trùng hợp với nhận xét của anh Bùi phước Ty khi anh Ty ngồi ghế phía trước tôi ngoái cổ lại nói nhỏ với tôi:
-Điền nhìn dãy núi đồi phía bên phải kìa, sao mà giống hệt như dãy đồi núi từ thác Liên khương về tới thành phố Đà lạt quá .
Thế rồi cái gì đến đã đến. Chẳng mấy chốc xe buýt chúng tôi đã đến gần biên giới của Pháp và Thuỵ sĩ. Bỗng tài xế cho xe dừng lại. Ông trưởng đoàn nói cho chúng tôi biết là chúng tôi có 20 phút để làm vệ sinh cá nhân. Thế là chúng tôi cùng nhau xuống xe buýt vào nhà hàng bên đường tìm nhà vệ sinh. Lúc này tôi vẫn còn đau bụng đi tháo dạ vì không biết đã ăn nhằm thực phẩm độc gì ở restaurant tại Anh hay tại Pháp nên tôi cố đi hơi nhanh để tìm nhà vệ sinh. Khi thấy nhà vệ sinh rồi, tôi liền mở cửa từng phòng để vào. Tất cả trong nhà vệ sinh này có 4 phòng để đi cầu. Tôi mở phòng nào cũng không được cả vì tất cả đều bị khoá hết. Nhìn vào phía dưới chẳng thấy ai trong nhà cầu cả. Chỉ thấy một phòng có người ở bên trong thôi. Thế là tôi đứng chờ trước phòng có người ngồi bên trong. Chờ một phút rồi mà anh chàng ở trong phòng chưa chịu ra trong lúc Tào Tháo rượt gần kịp tôi rồi! Bí quá tôi quay lưng lại xem có người nào làm việc trong nhà hàng này để hỏi xem tại sao ba nhà cầu kia lại khoá lại. Bỗng có một bà bán trong nhà hàng này đi ngang qua, tôi liền đến hỏi bà ta bằng một câu tiếng Anh:
-Mrs,why did you lock the door of the restroom like that?
Nghe tôi hỏi như vậy bà ta chỉ mở to cặp mắt nhìn tôi như có vẻ không hiểu tôi nói gì cả.
Thấy bà ta có vẻ như không hiểu câu hỏi của tôi tôi liền hỏi lại bằng tiếng Pháp:
-Madame, pourquoi fermez vous la porte de la toilette ?
Lại một lần nữa bà ta nhìn tôi rồi nheo mắt lại!
Thấy thế tôi nghĩ bụng, Tào Tháo rượt tới nơi rồi mà bà ta vẫn không hiểu gì cả thì coi như sắp bỏ mạng sa trường rồi! Bỗng một tia sáng loé lên trong đầu tôi, hay là ta hỏi bằng tiếng Tây ban nha xem sao. Nghĩ thế tôi liền hỏi ngay bà ta một lần nữa bằng tiếngTây ban nha:
– Senora, por qué cerras Usted la puerta de tocador?
Nghe tôi hỏi như vậy, bà ta liền trợn mắt nhìn tôi rồi đưa hai tay lên trời và bỏ đi khiến tôi kêu trời không thấu!
Bỗng đâu ông trưởng đoàn Leung Reddy xuất hiện như là vị cứu tinh khẩn cấp của tôi. Tôi liền hỏi ông trưởng đoàn ngay, dĩ nhiên bằngtiếng Anh:
-Tại sao họ lại đóng cửa cả ba phòng kia làm sao mà đi cầu đây ông Leung Freddy ?
Ông trưởng đoàn vừa chỉ tay vào nhà cầu vừa trả lời:
-Họ mới mở thêm một phòng nữa kia kìa anh vào đi.
Vừa nghe ông trưởng đoàn nói như vậy tôi liền bay thật nhanh như hoả tiển liên lục địa vào phòng vừa mới mở. Vừa ngồi xuống chưa kịp đóng cửa, một dòng thác từ trong ruột già đổ xô ào ạt xuống nhà cầu làm cho tôi thất điên bát đảo! Đi du lịch mà gặp đại nạn như thế này thì đúng là kêu trời không thấu.
Sau khi lên xe buýt an toạ, tôi nghĩ lại chuyện đi vào nhà vệ sinh vừa rồi khiến lòng tôi có một vài thắc mắc. Tại sao tôi nói cả ba thứ tiếng rồi mà bà ta vẫn không hiểu? Hay là vì tôi phát âm không rõ hoặc là nói tiếng bồi nên bà ta không nghe được? Hay bà ta là người Đức, người Ý mới không hiểu được ba thứ tiếng kia? Chỉ có trời biết!
Tôi đang miên man suy nghĩ thì xe buýt bắt đầu chuyển bánh lên đường.
Thường thì mỗi lần đến nước nào khi chuẩn bị để vượt qua biên giới lãnh thổ của hai nước, chúng tôi luôn luôn phải qua thủ tục hải quan. Nhưng có lẽ tại biên giới Thuỵ sĩ và Pháp, vấn đề thủ tục hải quan tương đối dễ dàng sao đó, và có lẽ ông trưởng đoàn đã báo cáo tổng số du khách trên xe trước rồi nên chỉ sau mấy phút anh tài xế trình bày với giới hữu trách tại biên giới Pháp vàThuỵ sĩ, xe chúng tôi liền được phép vưượt qua biên giới để tiến về thành phố Lucerne. Mất một ngày đi đường rồi nên khi trời vừa tối, xe buýt chúng tôi cũng vừa đến thành phố Lucerne của Thuỵ sĩ. Tại đây chúng tôi được ông trưởng đoàn sắp xếp phòng ốc ngay trong khách sạn Astoria ở đường Pilatusstrasse 29,CH6002Lucerne Switzerland.Sau đó chúng tôi tự túc ăn cơm tối sau khi ông trưởng đoàn giới thiệu cho chúng tôi tiệm Mac Donal ở một góc đường gần khách sạn .
Như vậy nếu tính ngày giờ đã đi qua, chúng tôi đã du lịch tại Anh quốc hai ngày (ngày 20 và 21), tại Pháp 2 ngày ( ngày 22 và 23). Và hôm nay là ngày 24 tháng 09 năm 2007, chúng tôi bắt đầu đến Thụy sĩ.
Như thường lệ sau khi điểm tâm xong, chúng tôi tất cả 42 người đều tề tựu đông đủ trước khách sạn Astoria để lên xe buýt đi xem các danh lam thắng cảnh tại Thuỵ sĩ.
Lúc này ngoài trời mưa đang bay nhè nhẹ nên chúng tôi đều mang dù và áo mưa theo.
Sau khoảng nửa giờ vòng quanh trong thành phố, xe buýt bắt đầu dừng lại. Chúng tôi liền xuống xe đi theo ông Leung Reddy để ông ta hướng dẫn đến đài tưởng niệm The Lion Monument . Khi ông trưởng đoàn du lịch đang giải thích và đề cập đến di tích lịch sử của đài tưởng niệm nầy thì trời bắt đầu mưa hơi lớn. Chúng tôi liền lấy dù và áo mưa ra để mặc và che mưa. Vừa nghe ông ta giải thích, chúng tôi vừa quay phim vừa chụp hình. Nhìn đài tưởng niệm The Lion Monument, tôi thấy những nét điêu khắc trực tiếp trên đá thật tinh xảo và tuyệt vời.

The Dying Lion Monument (Hình trích từ Wikipedia)
Thảo nào nhà văn Mark Twain đã diễn tả bức tượng con sư tử đang hấp hối này là một mẫu đá buồn nhất và cảm động nhất trên thế giới. Sau đó ông trưởng đoàn cho chúng tôi tự do đi shopping và vào các tiệm xem đồng hồ Thuỵ sĩ . Nhân lúc tôi đang bị đau bụng tháo dạ uống thuốc Pepto Bismol chúng tôi mang theo sẵn vẫn không hiệu quả, sau khi uống thêm mấy viên thuốc nho nhỏ màu trắng chị Ánh Tuyết cho vẫn chưa cầm hẳn, tôi và bà xã tôi liền ghé vào một tiệm thuốc Tây trong thành phố hỏi mua lọai thuốc trị bệnh đi cầu tháo dạ tương đối mạnh hơn hai loại thuốc kia. Bà chủ tiệm thuốc Tây liền bán cho chúng tôi một vĩ thuốc có tên imodium và nói với chúng tôi rằng lọai thuốc này rất hay. Thật thế, sau khi uống hai viên vào, tôi không còn đi cầu nhiều lần nữa và từ từ ngưng hẳn. Khi đến Thuỵ sĩ, bà xã tôi cũng bị đi cầu tháo dạ liền uống thuốc Imodium vào nên cũng đỡ dần dần. Trưa ấy đang ngồi trên xe buýt, bỗng một chị người Hoa trong đoàn du lịch của chúng tôi đến xin thuốc vì chồng chị ấy cũng bị đi cầu tháo dạ. Bà xã tôi liền cho chị ấy vài viên Sau đó rất nhiều người cũng đến xin, vì chúng tôi cũng vừa hết bệnh nên còn mấy viên cuối cùng bà xã tôi tặng hết cho họ luôn. Sau khi hỏi ra mới biết rằng khoảng hai phần ba du khách trong đoàn đều bị đi cầu tháo dạ cả! Họ cũng bị Tào Tháo rượt chạy như điên. Người thì bị rượt ban đêm, người thì bị rượt ban ngày. Kẻ thì bị rượt lúc đang ngồi dùng cơm trưa, người thì bị rượt lúc đang đi shopping, người khác thì bị rượt lúc đang chụp hình, quay phim, nhưng tất cả những người bị Tào Tháo rượt đều câm lặng như hến! Chỉ biết lặng lẽ đi tìm nhà cầu để trút bỏ bầu tâm sự kỳ quái này mà thôi! Sau khi biết được chuyện nầy, ông trưởng đoàn du lịch nói với chúng tôi rằng, ông ta rất ngạc nhiên vì đã nhiều lần hướng dẫn những đoàn du lịch khác đi, ông ta chưa bao giờ gặp những trường hợp như thế nầy cả. Không biết vì “ lạ nước, lạ cái” ở quê người đất khách hay vì ăn nhằm những đồ ăn thiếu vệ sinh trong các tiệm ăn nên mới bị đi tiêu chảy gần hai phần ba đoàn du lịch như vậy.
Trở lại vấn đề đi shopping ở trên, khoảng 30 phút sau chúng tôi lại theo gót chân ông trưởng đoàn du lịch đến xem thắng cảnh ở bên bờ hồ Lucerne Lake giữa thành phố Lucerne.

Hồ Lucerne ở Thuỵ sĩ (Hình trích từ Wikipedia)
Nơi đây chúng tôi cũng đã đi qua chiếc cầu gỗ nỗi tiếng Kapell Bridge bắc qua hồ Lucerne thật đẹp và thơ mộng. Theo sự giải thích của ông trưởng đoàn du lịch, cầu nầy nằm gần nơi nối liền con sông với hồ Lucern. Chiếc cầu Kapell Bridge được xây cất vào năm 1335, chiều dài 200 mét. Tuy nhiên khi nhìn vào chiếc cầu người ta thấy có vẻ còn mới chứ không cũ lắm. Sở dĩ như vậy là vì năm 1993, một trận hoả hoạn đã thiêu rụi gần như toàn bộ cây cầu nầy và tất cả đều mới được sửa chữa và phục hồi lại.
Vì vậy mà ngày hôm nay khi nhìn vào ai cũng thấy cây cầu có nhiều nét có vẽ tân kỳ.

Cầu Kapell (Hình trích từ Wikipedia)
Sau đó ông trưởng toán hướng dẫn chúng tôi lên một chiếc du thuyền để được lái đi vòng quanh bờ hồ Lucerne vừa nhìn phong cảnh hữu tình vừa ngồi ăn cơm trưa thật vui thú và hạnh phúc. Chiếc du thuyền này gọi là “ Lake Lucerne Happy Hour Cruise”.Vé để được ngồi trên du thuyền này là 30 Euro cho mỗi một người. Khoảng một giờ sau, chúng tôi từ giả du thuyền rồi lên xe buýt để về lại khách sạn.
Sáng hôm sau, chúng tôi lại tập họp đầy đủ trước khách sạn để ông trưởng đoàn hướng dẫn lên đỉnh núi Mt.Titlis. Đây là ngọn núi cao nhất ở Thuỵ sĩ , độ cao 10,000 feet khoảng 3 cây số. Trong đoàn chúng tôi có một số du khách không tham dự vụ leo lên đỉnh núi nầy. Có lẽ có người không thích, có người không đem đủ tiền để mua vé vv…
Giá vé cho mỗi người để được lên đỉnh Mt.Tilis là 50 Euro. Lúc ở nhà, tôi cứ tưởng leo lên đỉnh núi bằng cách đi lên tầng cấp. Vì vậy tôi mang theo một cái gậy và một cái belt để thắt lưng dự trù gặp trường hợp leo núi khó khăn tôi phải chống gậy và mang dây belt vào, vừa để khỏi té vừa đỡ đau lưng vì lưng tôi bị đau cột sống từ lâu. Nhưng khi đến nơi tôi mới biết rằng, chúng tôi lên tận đỉnh núi Mt.Titlis cao chót vót kia bằng cách ngồi vào trong những chiếc xe nho nhỏ do một hệ thống dây cáp (cable) vĩ đại kéo từ dưới mặt đất từ từ lên tận đỉnh núi. Mỗi xe ngồi chỉ 6 người, xe này cách xe kia khoảng vài chục mét. Sau khoảng 15 phút, chúng tôi đã đến đỉnh núi Mt.Titlis cao 10,000 feet. Tại đây, nhìn chung quanh tất cả bốn phương tám hướng, chúng tôi chỉ thấy toàn tuyết và tuyết trắng xóa mà thôi .Chẳng thấy mây trời cũng chẳng thấy cây cối và núi đồi đâu cả. Dĩ nhiên vì chung quanh chỉ thấy một màn tuyết trắng nên khí hậu cũng lành lạnh. Tuyết bay khắp nơi rồi phủ vào cả áo quần của du khách.

Đỉnh núi tuyết Mt. Titlis (Hình trích từ Wikipedia)
Thấy quang cảnh cũng hay hay và là lạ nên anh em lại rủ nhau quay phim và chụp hình. Mỗi toán lên xem khoảng vài chục người nên sau khoảng mười lăm phút, chúng tôi lại được lệnh xuống núi để cho toán khác lên xem. Thế là chúng tôi lại vào ngồi trong xe nho nhỏ như lúc mới lên và hệ thống dây cáp từ từ di chuyển đưa chúng tôi xuống lại mặt đất.
Sau khi điểm danh đầy đủ, ông trưởng đoàn du lịch bảo lên xe buýt để về lại khách sạn chuẩn bị ăn cơm chiều. Sau đó như thường lệ, ông trưởng đoàn thông báo cho chúng tôi biết sáng mai sẽ rời khách sạn để sang nước Ý.
(Trích từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Âu Châu và Hạ Uy Di” xuất bản năm 2009)
Dương viết Điền
-
Du Lịch Hạ Uy Di.
…Sau khi tham quan tất cả các làng trong Trung Tâm Văn Hoá Polynesian, chúng tôi liền đến bờ hồ, nơi được chọn để tất cả các bộ tộc biểu diễn các vũ khúc của mình trên một chiếc phà hay chiếc đò, để xem các vũ khúc do các diễn viên của các làng hồi nãy trình diễn chung trong cùng một chương trình. Trên đoạn đường từ làng của bộ tộc TONGA đến bờ hồ, trời lúc đó đã về chiều, xa xa khói lam chiều từ mái nhà tranh sau lùm cây bay lên cao làm tôi bỗng nhớ nhà da diết. Bất giác, tôi hát bài Chiều, thơ của thi sĩ Hồ Dzếnh do nhạc sĩ Dương thiệu Tước phổ nhạc:
“Trên đường về nhớ đầy. Chiều chậm đưa trong ngày. Tiếng buồn vang trong mây. Tiếng buồn vang trong mây. Chim rừng thôi cất cánh. Xót xa tình ngây ngây. Có ai sầu vạn cổ.Chất trong hồn chiều nay.Chất trong hồn chiều nay. Tôi là người lữ khách. Trời chiều có làm khuây. Ngỡ hồn mình là rừng. Ngỡ hồn mình là mây. Nhớ nhà châm điếu thuốc. Khói buồn vang trong mây.”
Vừa hát xong bài Chiều thì chúng tôi cũng vừa đến bờ hồ.
Nơi đây, tất cả các du khách đều ngồi ở những ghế đá có sẵn quanh bờ hồ nhìn ra giữa hồ để xem trình diễn. Một sân khấu lộ thiên ở cuối bờ hồ đã được dựng lên từ trước để các ca sĩ, các vũ công TRUNG TÂM đứng giới thiệu chương trình và các tiết mục trình diễn của từng bộ tộc.
Các diễn viên của các bộ tộc gồm cả nam lẫn nữ mang áo quần đủ loại màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng,vừa hát vừa múa may quay cuồng trên một chiếc thuyền, hay phà theo những điệu vũ mang sắc thái văn hoá của bộ tộc mình, trông thật đẹp mắt, thật quyến rũ, thật thơ mộng. Đặc biệt các nam diễn viên hầu hết là những chàng trai vai u thịt bắp, nước da người nào người nấy rám nắng chứng tỏ ngày nào họ cũng phải trình diễn cho du khách thưởng ngoạn dưới ánh nắng mặt trời. Các nữ diễn viên múa thật điêu luyện, thật nhịp nhàng, uyển chuyển, chẳng khác gì vũ khúc của những tiên nữ ở trên Đào Hồng mà Lưu Nguyễn ngày xưa đã lạc bước vào thăm! Có bộ tộc thì vừa múa vừa hát những bản nhạc nghe thật nhẹ nhàng, êm dịu. Trái lại có những bộ tộc vừa hát vừa múa may quay cuồng vừa la hét thật ghê rợn như muốn ăn tươi nuốt sống người nào!
Có một chiếc thuyền vì các diễn viên trình diễn vừa múa vừa nhảy quá mạnh khiến anh chàng chèo thuyền đứng thất thế nên rớt xuống nước ướt cả áo quần. Anh ta liền phải leo lên thuyền lại gấp rồi chèo cho chiếc thuyền đi nhanh để thuyền bộ tộc khác ra trình diễn.
Sau đây là các hình ảnh của những thanh niên và thiếu nữ của các bộ tộc trình diễn trên hồ cho du khách xem:



Màn trình diễn của bộ tộc này vừa chấm dứt thì một chiếc thuyền xuất hiện từ bờ hồ đằng xa từ từ tiến ra giữa hồ. Trên thuyền, một người đàn ông mang hia đội mũ, trang phục màu vàng đỏ như những vị vua chúa ngày xưa, ngồi chểm chệ trên một chiếc ghế bành được đặt giữa thuyền. Bên cạnh là một người đàn bà bận áo quần muôn màu sặc sỡ: đó là Hoàng đế và Hoàng hậu của xứ HẠ UY DI một thời vang bóng. Hai bên có hai người lính cầm giáo đứng hầu.

Chiếc thuyền này được người chèo thuyền chèo chầm chậm để du khách có thể quan sát, chiêm ngưỡng vua và hoàng hậu của xứ Hạ uy di, một xứ sở được mệnh danh là thiên đường hạ giới, một hải đảo mà văn sĩ Mark Twain gọi đây là miền đất thanh bình và hạnh phúc nằm giữa Thái bình dương với khí hậu quanh năm suốt tháng luôn luôn hiền hoà, dịu mát.

Khi chiếc thuyền chở vị Vua và Hoàng hậu vừa biến mất cuối bờ hồ là xem như chấm dứt cuộc trình diễn ngày hôm nay của các bộ tộc, chúng tôi liền theo du khách vào Restaurant để chuẩn bị ăn cơm tối. Mặc dầu lúc bấy giờ đã 07 giờ chiều, nhưng vì mùa hè nên trời vẫn còn sáng. Sau khi làm thủ tục nộp vé vào cổng, cũng giống như buổi trưa lúc mới vào cổng để bắt đầu đi tham quan các làng, một thanh niên thân hình vạm vỡ và một thiếu nữ của một bộ tộc thay phiên nhau choàng cho chúng tôi mỗi người một vòng hoa tươi như mới hái từ trên cây xuống. Chúng tôi rất thích thú khi mang những vòng hoa này vì đây có lẽ là biểu tượng rõ nét nhất của cuộc du lịch trên xứ Hạ uy di nầy. Nhớ lại sáng nay khi được choàng những vòng hoa kết bằng những vỏ ốc nho nhỏ, chúng tôi cũng không được vui lắm và cũng hơi ngạc nhiên tại sao người ta lại không choàng cho mình vòng hoa mà lại choàng bằng vòng “võ ốc”. Sau khi suy nghĩ vài dây tôi nghiệm ra rằng trưa nay, có lẽ người ta chưa choàng cho mình những vòng hoa tươi, mà chỉ choàng bằng những vòng “võ ốc” vì trong thời gian đi từ làng này qua làng khác giữa trời nắng chang chang, những vòng hoa này sẽ bị héo đi chăng?
Sau khi choàng những vòng hoa xong, họ cũng mời chúng tôi chụp chung một bức hình làm kỷ niệm. Khi đứng chụp hình với chúng tôi, chàng thanh niên và nàng thiếu nữ nầy cũng để các ngón tay thành biểu tượng của hangloose (relax) như chàng thanh niên và nàng thiếu nữ sáng nay vậy.

Sau khi chụp chung một bức hình làm kỷ niệm, chúng tôi được nhận một tấm phiếu có đề số để vài giờ sau, nếu muốn lấy hình thì cầm phiếu ấy kèm thêm 15$ đến lấy hình về! Sau đó chúng tôi được mời vào phòng ăn để dùng cơm tối. Phòng ăn khá rộng rãi, có thể chứa khoảng 200 thực khách.

Đối diện với phòng ăn là một sân khấu lộ thiên tương đối rộng được thiết lập đâu từ trước, nơi đây các diễn viên của các bộ tộc sẽ trình diễn văn nghệ giúp vui lúc du khách đang ngồi ăn cơm tối. Lần lượt từng bàn nọ đến bàn kia, chúng tôi tự động sắp hàng đi lấy dồ ăn kiểu self-service rồi đem về lại chỗ ngồi vừa ăn vừa xem văn nghệ. Tuy nhiên trước khi bắt đầu dùng cơm tối, một xướng ngôn viên đứng trên sân khấu thông báo cho toàn thể thực khách rằng, ai muốn đến xem lấy con heo quay dưới đất lên thì hãy tiến về phía trái của sân khấu. Con heo này được quay theo một tiến trình đặc biệt khác với heo quay như người ta vẫn làm ở nững nơi khác. Khi đến xem, tôi thấy người ta bắt đầu lấy lớp bao bố ở phía trên ra. Khi bao bố vừa
được lấy ra, hơi nóng vẫn còn đang bốc lên. Sau lớp bao bố là một lớp lá chuối phủ lên trên. Hơi nóng cũng đang bốc lên từ lớp lá chuối này. Khi lấy hết lớp lá chuối, một chiếc rọ bằng sắt hiện ra trước mặt mọi người và dưới rọ là con heo đã được quay xong đang còn bốc hơi. Nước mỡ từ thân con heo quay chảy xuống đất toả mùi thơm phức khi người ta khiêng con heo lên để đem vào trong thái thịt cho thực khách dùng. Khi con heo vừa được nhấc lên, người ta thấy một lớp đá cuội nằm dưới cùng vẫn còn nóng và đang bốc hơi. Như vậy là lò lửa được thiết lập dưới đất bằng than, rồi được đun nóng thường xuyên trong một thời gian nào đó đủ để con heo vừa được quay chín vàng là có thể lấy ra ăn được. Sau khi xem lấy con heo quay ở lò quay ra, chúng tôi liền đi lấy thức ăn rồi vừa ngồi ăn vừa xem văn nghệ do các diễn viên của trung tâm văn hoá Polynesian trình diễn. Cũng giống như tại các làng chúng tôi ghé lại lúc buổi trưa và buổi chiều, tại đây chương trình văn nghệ gồm những vũ khúc và những bài ca cũng mang những sắc thái của nền văn hoá từng bộ tộc. Các diễn viên nam nữ trình diễn rất nhuần nhuyễn. Nhìn những trang phục đủ màu sắc loè loẹt, nghe những lời ca khi thì nhẹ nhàng khi thì man rợ, khi thì chát chúa khi thì hãi hùng, du khách ngồi xem có thể đoán được nền văn hoá của từng bộ tộc như thế nào. Nếu đem so sánh những điệu vũ cũng như những giai điệu và tiết tấu trong các bản nhạc của nền văn hoá Polynesian này, tôi thấy nền văn hoá này không khác gì nền văn hoá của các dân tộc thiểu số ở nước ta bao nhiêu cả.

Sau khoảng một giờ ngồi vừa dùng cơm tối vừa xem văn nghệ, chúng tôi lại chuẩn bị vào hội trường gần đấy để xem một màn trình diễn vĩ đại đầy đủ tất cả tiết mục mang hầu hết sắc thái văn hoá của các bộ tộc SAMOA, AOTEAROA, FIJI, HAWAII, MARQUESAS ISLANDS, TAHITI, TONGA. Sau khi nộp vé vào cửa, chúng tôi liền đi tìm số ghế để ngồi xem. Đứng trước chiếc ghế đã tìm ra số, tôi đảo mắt nhìn quanh một vòng trong hội trường mới thấy hội trường này thật là rộng, có thể chứa khoảng 10 nghìn người.
Vị trí ngồi của khán giả xuôi như mái nhà từ cao xuống thấp trông giống như chỗ ngồi ở ngoài sân vận động vậy. Mặc dầu lúc bấy giờ đã gần 08 giờ tối nhưng trời vẫn còn sáng nên chúng tôi nhìn lên sân khấu vẫn còn thấy sân khấu rất rõ ràng. Nói là nhìn lên sân khấu, nhưng thực ra là nhìn xuống vì chúng tôi đang ngồi ở một vị trí trên cao của hội trường.
Nhìn thật kỹ trái, phải, trước, sau của sân khấu, tôi thấy đây là một ngọn núi nho nhỏ được biến chế, thiết lập, xây cất với những cây cối um tùm, rậm rạp bao bọc xung quanh. Một thác nước từ trên cao chảy xuống thường xuyên trông rất đẹp mắt nằm ngay phía sau sân khấu. Sân khấu là một mặt bằng diện tích rất rộng, bên trái, bên phải, phía sau sân khấu có những lối đi bằng đường hầm để các diễn viên đi từ sân khấu ra hậu trường và từ hậu trường ra sân khấu. Đặc biệt ở phía bên trái, bên phải của sân khấu nhìn lên cao, tôi thấy có hai mặt bằng tạo thành hai sân khấu nho nhỏ nằm ở lưng chừng núi, bao quanh với những cây cối um tùm để các diễn viên xuất hiện đột xuất khi trình diễn những vũ khúc man rợ giữa núi rừng. Tóm lại, mặt bằng sân khấu như là một thung lũng nho nhỏ được vây quanh bởi ngọn núi có cây cối rậm rạp và thác nước chảy liên tục đêm ngày.
Sau khi tất cả du khách an tọa đầy đủ trên các dãy ghế trong hội trường thì trời cũng bắt đầu tối, đèn điện trên sân khấu được bật sáng. Một vị đại diện lên chào du khách và đọc chương trình văn nghệ giúp vui, hầu hết là những vũ khúc của tất cả các bộ tộc mà tôi đã đề cập ở trên. Sau đó các vũ khúc của các bộ tộc bắt đầu. Trang phục của các diễn viên đủ tất cả màu sắc loè loẹt, sặc sở trên trần gian này. Xanh có, đỏ có, tím có, vàng có, nâu có, vv…Nhiều vũ khúc chỉ có hai hoặc ba người, nhiều vũ khúc năm hoặc mười người, có vài vũ khúc lên đến ba bốn chục người, năm chục người, hay gần một trăm người.
Nhiều vũ khúc chỉ có nữ diễn viên của các bộ tộc trình diễn, lắm vũ khúc chỉ có nam diễn viên mà thôi, nhưng cũng có nhiều vũ khúc gồm cả nam lẫn nữ trình diễn chung với nhau.

Khi những vũ khúc chỉ gồm những nữ diễn viên trình diễn, dưới ánh điện mờ mờ ảo ảo thêm vào những ánh trăng ảo ảo mờ mờ từ trên trời rọi xuống, tôi thấy những đôi tay của các thiếu nữ múa qua múa lại thật mềm mại, uyển chuyển, nhẹ nhàng, thật nhịp nhàng đều đặn, miệng luôn luôn nở những nụ cười thật là xinh. Toàn cảnh trên sân khấu trông rất đẹp mắt, thật ngoạn mục giống như những tiên nữ giáng trần đang múa những khúc nghê thường dưới chốn dương gian giữa rừng khuya đêm vắng.

Bỗng đâu nơi hai sân khấu nho nhỏ ở trên cao giữa mấy lùm cây về phía trái và phía phải của sân khấu lớn xuất hiện hai cô sơn nữ mang gùi, mắt ngẩng lên nhìn ánh trăng đêm, nhìn lá vàng rơi, miệng cất tiếng ca giống như tiếng ca của đoàn vũ nữ đang vừa hát vừa múa dưới sân khấu chính, tạo thành một cảnh thật linh động như trên nguyệt điện của chị Hằng nga. Thấy hai cô sơn nữ mang gùi vừa múa vừa hát, vừa nhìn trăng rồi nhìn lá vàng rơi làm tôi chợt nhớ đến bài Sơn nữ ca.
Bất giác tôi cất tiếng hát:
“Một đêm trong rừng vắng, ánh trăng chênh chếch đầu ghềnh thấp thoáng bóng cô sơn nữ miệng cười xinh xinh. Một đêm trong rừng núi, có anh lữ khách nhìn trời xa xa biết đâu sơn nữ nhìn mình đăm đăm. Môt đêm trong rừng vắng, có cô sơn nữ miệng cười khúc khích ngắm anh lữ khách rồi lòng bâng khuâng. Một đêm trong rừng núi, có anh lữ khách nhìn trời xa xa ngắm trăng say đắm một mình bâng khuâng.
Sơn nữ ơi! Đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian vun vút trời mây. Sơn nữ ơi!
Đành lòng sống với bên rừng thơ mộng cùng hoa với lá ngàn hương.
Sơn nữ ơi! Làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian rồi thương rồi nhớ. Sơn nữ ơi!
Hoàng hôn xuống rồi đợi chờ ai đây.
Hãy nhìn trăng lên, rồi lu mờ dần. Khi nhìn chim bay, thiết tha về ngàn chờ đợi tay người sơn nữ. Khi nhìn chim bay, bay đi tìm đàn, khi nhìn gió cuốn, lá thu rời cành cuộn bay lên người sơn nữ. Sơn nữ ơi! Làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian rồi thương rồi nhớ. Sơn nữ ơi! Hoàng hôn xuống rồi đợi chờ ai đây.”
Tôi vừa hát bài sơn nữ ca xong thì vũ kúc cũng vừa chấm dứt, đèn điện trên sân khấu bỗng vụt sáng. Thác nước sau sân khấu vẫn đổ xuống ào ào đều đều trông thật thơ mộng.
Màn vũ tiếp theo tôi nghe giới thiệu không rõ thì bỗng đâu, mấy chàng thanh niên thuộc bộ tộc nào đó vừa nhảy ra sân khấu vừa cầm giáo, mác, đoản côn, trường côn, vừa nhảy vừa múa, vừa la, vừa hét, làm âm thanh dội cả một góc rừng thật đinh tai nhức óc. Mấy anh chàng nầy có rất nhiều hình xâm trên mặt, trên người, trên tay, sau lưng, đầu chít một vòng đầy những lông chim giống hình ảnh của dân da đỏ. Họ vừa đi, vừa chạy, vừa nhảy, vừa hét, vừa quay lui, quay tới, trông thật hãi hùng man rợ cứ tưởng như họ sắp ăn tươi nuốt sống người nào. Khoảng mười phút sau, mấy anh chàng này chia làm hai toán, mỗi toán đi vào mỗi đường hầm nằm hai bên sân khấu rồi mất dạng.
Nói chung, tất cả các vũ khúc mang sắc thái văn hoá của mấy bộ tộc thuộc quần đảo Polynesia đều được trình diễn trong đêm cho tất cả du kách xem. Vũ khúc độc đáo nhất và nguy hiểm nhất là vũ khúc múa đuốc. Gần năm, sáu chục người ở trên sân khấu cầm đuốc được thắp sáng rực cả một góc trời. Họ vừa cầm đuốc vừa nhảy vừa múa, chàng nào cũng ở trần, chỉ mang một cái váy che thân, nếu sơ ý một tí là đụng lửa vào da sẽ bị phỏng ngay. Vậy mà chẳng có chàng nào bị phỏng cả. Tuy nhiên tôi nhớ hồi còn đang theo học ở bậc trung học, một giáo sư vật lý có giải thích cho tôi nghe về một chất hoá học dưới dạng chất lỏng. Nếu bôi chất lỏng này vào da hay bất kỳ chỗ nào trên cơ thể thì khi đụng lửa, da ở nơi đó vẫn không bị phỏng. Vì vậy trong các gánh xiệc, khi một người biểu diễn đưa một que vải tẩm dầu với lửa đỏ rực vào miệng, khi lấy que lửa ra, miệng anh ta vẫn không bị gì cả nhờ đã bôi trong miệng một lớp chất nước hoá học kia rồi. Vậy thì tôi nghĩ rằng, chắc các chàng diễn viên nầy đã bôi một lớp nước hoá học kia khắp cả cơ thể rồi nên mới múa may quay cuồng mà chẳng lo ngại gì chăng?
Đó cũng là lý do tại sao khi tôi thấy một anh chàng diễn viên người hơi thấp, đầu chít một vòng dây gắn mấy sợi lông gà, tay cầm một ngọn đuốc sáng rực đứng múa may quay cuồng giữa cả một rừng đuốc trên sân khấu, quay ngọn đuốc vòng quanh cơ thể mình rất nhanh, rất mạnh, lắm lúc đụng chân, đụng tay mà chàng ta vẫn cười tươi như hoa nở!

….Đúng 6 giờ sáng, vừa nghe đồng hồ báo thức từ chiếc cell phone, chúng tôi liền vùng dậy ngay. Nghe tiếng sóng vỗ ầm ầm ngoài xa , biết rằng sắp ra đi, biết rằng sắp giả từ, tôi và bà xã tôi tiến về phía cửa nhìn ra ngoài biển cả mênh mông bát ngát, nhìn xuống bãi biển sóng đang vỗ rì rào mà lòng buồn vời vợi vì “nghìn trùng xa cách, người sắp đi rồi, còn gì đâu nữa, mà khóc với cười!”. Bất giác tôi đọc mấy câu thơ của thi sĩ Lord Byron:
When we two parted
In silence and tears
Half broken hearted
To sever for years.
mà một thi sĩ nào đó đã dịch là:
“Giờ phút chia ly đã điểm rồi
Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi
Mang mang nửa cõi lòng tan tác
Ly biệt xui chi tủi trọn đời.”
Bỗng chuông điện thoại reo lên, tôi nhấc điện thoại lên nghe thì từ đầu dây, anh”TÀI xế” hỏi chúng tôi đã chuẩn bị hành trang xong xuôi chưa để xuống ăn điểm tâm mà lên đường. Sau đó chúng tôi liền xuống thang máy, ra nhà điểm tâm ăn qua loa vài món rồi lên lại phòng xách hành trang xuống văn phòng làm thủ tục trước khi rời khách sạn. Khoảng 5 phút đợi chờ, nhânviên khách sạn đã lái xe ra cho chúng tôi và chúng tôi bắt đầu lên xe nhắm hướng phi truờng HONOLULU trực chỉ. Vì sợ đến trễ sẽ vội vàng mệt nhọc nên chúng tôi quyết định đi thật sớm cho thoải mái .Theo chương trình, đúng 11 giờ máy bay sẽ cất cánh. Vì vậy chúng tôi quyết định đến phi trường trước khi bay 2 giờ để nếu vừa kẹt xe vừa làm thủ tục mất thì giờ cũng không thể nào bị trễ được. Vì đã thuộc đường đi nước bước nên anh“TÀI xế” lái một mạch đã đến phi trường. Sau khi làm thủtục trả xe rồi leo lên xe của hảng để vào phi trường làm thủ tục trước khi bay, chúng tôi đến trước giờ bay 1 giờ 30 phút nên cùng nhau ngồi chờ. Trước khi đi vào phòng đợi, chúng tôi phải đi ngang qua một phòng, tại đây có một ban nhạc đang trình diễn cho du khách xem trước khi du khách giả từ Hạ uy di. Khi đi ngang qua đây, tôi thấy một thiếu nữ có trang phục giống các cô đã trình diễn tại trung tâm văn hoá POLYNESIAN, cổ choàng một vòng hoa tim tím, vừa múa vừa hát theo tiếng đàn, tiếng trống của các nhạc công rất đẹp mắt và thật dễ thương.Sau những phút chờ đợi, chúng tôi được lệnh vào phòng để lên máy bay. Đúng 11 giờ, máy bay bắt đầu cất cánh rời phi trường HONOLULU để bay về California.
Ngồi trên máy bay nhìn xuyên qua cửa kính, tôi thấy thành phố HONOLULU mỗi lúc một xa dần, xa dần, rồi quần đảo Hawaii cũng dần dần nhỏ lại, dần dần lu mờ. Thôi thế là hết! Biết bao giờ trở lại Hạ uy di để nghe sóng vỗ rì rào suốt ngàyđêm trên bờ biển. Biết bao giờ trở lại Hạ uy di để tắm nắng chiều trên bờ cát trắng dưới những bóng dừa loang loáng ánh nắng vàng. Xin tạm biệt Hawaii, xin tạm biệt các cô sơn nữ rất khả ái dễ thương như những nàng tiên giáng trần miệng luôn luôn nở những nụ cười tươi như hoa nở. Xin tạm biệt các chàng trai thân hình vạm vỡ, nước da ngâm ngâm của các bộ tộcSAMOA,AOTEAROA,FIJI,HAWAII,MARQUESA, TAHITI. Ngồi trong máy bay, tôi đưa tay vẫy chào Hạ uy di lần cuối mà lòng xao xuyến bâng khuâng, bất giác tôi cất tiếng hát bài Biệt ly của nhạc sĩ Doãn Mẫn:
Biệt ly nhớ nhung từ đây
Chiếc lá rơi theo heo may
Người về có hay
Biệt ly sóng trên giòng sông
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Và mây trôi nước trôi
Ngày tháng trôi cùng lướt trôi
Mấy phút bên nhau rồi thôi
Đến khi bóng em mờ khuất
Người về u buồn khắp trời
Người ra đi với ngàn nhớ thương
Mấy phút bên em rồi thôi
Dáng em sống trong hồn tôi
Xa cách ta còn tìm đâu ngày vui
Biệt ly ước bao đường tơ
Réo rắt trong muôn hương mơ
Thành sầu tiễn đưa
Biệt ly ước mong hoàng hôn
Êm đềm về ru ấm tâm hồn
Người yêu đương cách xa
Đành sống vui cùng gió sương.California, ngày 14 tháng 10 năm 2006.
Dương viết Điền(Trích từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Âu châu và Hạ uy di” xuất bản năm 2009). -
ICON OF THE SEAS

Icon of the seas là Siêu Du Thuyền mới và lớn nhất thế giới của Royal Caribbean Cruise Line, chính thức hạ thủy vào ngày 28 tháng 01 năm 2024. Đây là một du thuyền với thông số kỹ thuật đáng kinh ngạc:
- Chiều dài: 364.75 mét (1,196.7 ft) (dài hơn chiều cao của Tháp Eiffel).
- Chiều cao: 20 tầng.
- Tổng trọng tải: 250,800 tấn.
- Sức chứa: 9,950 người (bao gồm 7,600 khách và 2,350 thủy thủ đoàn).
- Tổng cộng số phòng ngủ: 2805, bao hồm179 dãy phòng, 1815 phòng ngủ có ban công, 276 phòng có cửa sổ hướng ra biển và 535 phòng.
Icon of the Seas là tàu du lịch được đóng cho Royal Caribbean International Cruise Line và đã hoàn thành các chuyến chạy thử trên biển vào tháng 6 và tháng 11 năm 2023, sau đó giao cho Royal Caribbean Cruise Line ngày 27 tháng 11 năm 2023. Con tàu mới này đã ghé đến Cadiz, Tây Ban Nha và Ponce, Puerto Rico và CocoCay trước khi tới Miami vào ngày 10 tháng 01 năm 2024 . Icon of The Seas chính thức hoạt động ngày 27 tháng 01 năm 2024 tại Cảng Miami, Florida, Hoa Kỳ. Theo Wikipedia, chi phí đóng tàu là 1,65 tỷ Euro (Meyer Turku).

Lễ khai mạc Icon of the Seas diễn ra vào ngày 27 tháng 1 năm 2024, khởi đầu cho các chuyến du ngoạn khởi hành từ Miami và chọn Miami là bến đậu chính cho đến tháng 4 năm 2026. Theo ông Matt Hochberg, Icon of the Seas là tàu du lịch mới nhất của Royal Caribbean và sẽ bắt đầu cung cấp các chuyến du ngoạn vào cuối tháng 01 năm 2024. Hành trình hoạt động của tàu là các hành trình Đông và Tây Caribe kéo dài một tuần. Mỗi chuyến sẽ ghé thăm các hòn đảo tư nhân của Royal Caribbean và CocoCay. Icon of the Seas có 2 tuyến đường chính:
- Chuyến du hành 7 ngày về phía Đông Caribbean gồm: Miami; Phillipsburg, St Maarten; Charlotte Amalie, St. Thomas; CocoCay hoặc CocoCay, Basseterre, St Kitts & Nevis, Charlotte Amalie, St. Thomas; Miami.
- Hành trình du lịch 7 ngày về phía Tây Caribbean gồm: Miami; Roatan, Honduras; Costa Maya, Mexico; Cozumel, Mexico; CocoCay; Miami.
Icon of The Seas không chỉ là phương tiện di chuyển trên đại dương, mà còn được coi là một tòa nhà hay hay một thành phố di động với đầy đủ tiện nghi và sang trọng. Du ngoạn trên siêu du thuyền này, chắc chắn sẽ để lại nhiều kỷ niệm khó phai trong lòng khách thưởng ngoạn. Giá vé du lịch trên Icon of the Seas thay đổi tùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người như loại phòng lớn hay nhỏ và địa điểm du lịch, v.v… Giá vé sẽ nằm trong khoảng $2,000 – $10,000 cho mỗi hành trình du ngoạn 7 ngày.

Trên du thuyền, du khách sẽ được hưởng mọi tiện nghi và dịch vụ, tương tự như ở một khách sạn sang trọng trên đất liền. Trên tàu có bác sĩ, nhân viên y tế thường trực và sẵn sàng phục vụ trong trường hợp cần thiết. Các nhà hàng và quầy bar trên tàu luôn mở cửa để phục vụ du khách 24/24. Ngoài ra còn có rất nhiều tiết mục giải trí hấp dẫn như sân khấu Broadway biểu diễn những màn nhảy ngoạn mục cũng như các buổi hòa nhạc hầu như mỗi tối. Casino mở của chào đón khách thích thử thời vận, đỏ đen mỗi khi tàu nhổ neo ra biển. Các sinh hoạt lành mạnh khác như bơi lội, dạy khiêu vũ, phòng tập thể dục (Fitness Center), leo núi, v.v…khiến du khách không bao giờ cảm thấy buồn chán. Các quán ăn Fastfood như Hamburger, Pizza, Café, Ice Cream, v.v… mở cửa ngày đêmđể phục vụ khách hàng.

Ngoài ra, du thuyền còn có các nhà hàng sang trọng và thực đơn đa dạng; chẳng hạn như nhà hàng Á châu là nơi du khách đến thưởng thức các món ăn từ Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Thái Lan, các nhà hàng với hương vị Ý, Pháp, Mỹ, v.v…cung cấp những thực đơn nội tiếng của quốc gia họ. Nhà hàng hải sản luôn có sẵn những loại hải sản tươi ngon.
Trong suốt chuyến du lịch, du thuyền dừng lại nhiều địa điểm khác nhau. Du khách có thể ghé thăm những thành phố hải cảng ven biển của nhiều quốc gia mà du khách không cần di chuyển hành lý từ khách sạn này sang khách sạn khác. Điều này rất tiện lợi cho những người thích đi du lịch dài hạn cũng như thuận tiện cho những buổi họp mặt của gia đình nhất là có con nhỏ hay cho những buổi hội ngộ với bạn bè để tận hưởng những khoảnh khắc đáng ghi nhớ.
Khi du thuyền dừng chân tại bất kỳ hải cảng (port) nào bao gồm trong chuyến du hành, du khách có thể mua những tour (excursion) trên tàu để đi thăm viếng các thành phố của hải cảng ấy. Giá của các tour tùy thuộc vào sự lựa chọn của du khách, trung bình giá mỗi tour từ $50 tới $300; hoặc du khách cũng có thể trả giá các tour của tư nhân đứng bán ở ngoài phố hay dưới bến tàu. Giá vé thường rẻ hơn nếu mua theo nhóm từ 6 tời 15 người.

Khi mới bước lên tàu, du khách sẽ thấy một bức tường kính cao, khổng lồ và nhiều tầngvới ánh sáng tự nhiên để có thể nhìn thấy đại dương tuyệt đẹp bao quanh con tàu. Kế đến Đường Tản Bộ Ngọc Trai (The Promenade là The Pearl) được xây bằng 3,000 viên gạch động học. Royal Promenade có sân trượt băng “Absolute Zero“, Giovanni’s Italian Kitchen and Wine Bar. Ngoài ra còn có quán bar Dueling Pianos, tiệm bánh pizza Sorrento, Point and Feather Pub, Spotlight Karaoke, Boleros và Schooner Bar.
Icon of the Seas có hơn 20 tiệm ăn, gồm 11 tiệm ăn miễn phí và 1,400 quầy rượu Bar với nhà pha chế rượu nổi tiếng như Tony Abou-Ganim. Chợ AquaDomecung cấp các món ăn riêng biệt, chẳng hạn như phô mai, bánh pita kiểu Hy Lạp, các món ăn châu Á. Ba địa điểm chính cho các buổi biểu diễn là AquaDome, sân trượt băng và Sân khấu Hoàng gia. Các buổi trình diễn mà du khách không thể bỏ qua tại AquaDome sẽ là “Aqua Nation!” và “Cướp biển vs Nàng tiên cá“. “Starburst” là tên của chương trình biểu diễn trượt băng tại đấu trường trượt băng Absolute Zero. “Ngày xửa ngày xưa” hay “Wizard of Oz” sẽ là những vở nhạc kịch nổi bật trên Icon of the Seas và chương trình kéo dài khoảng 90 phút.
Công viên Icon of the Seas nổi bật so với các du thuyền khác nhờ đặc điểm độc đáo như không gian trong sạch, cây cối xanh tươi với hàng ngàn loài thực vật thuộc các giống khác nhau. Khu vườn ngoài trời là nơi mà du khách có thể tận hưởng những thức ăn, thức uống và giải trí. Khu vườn này mang đến sự thoải mái cho những bữa ăn ngoài trời hữu tình và thú vị với dàn nhạc sống cho phép hành khách tận hưởng bầu không khí sôi động giữa thiên nhiên.

Icon of the Seas là du thuyền đầu tiên trong loại tàu du lịch Royal Caribbean mới với nhiều sinh hoạt thích thú và thu hút bộ óc hiếu kỳ của du khách, bao gồm công viên nước, khu vực mới dành riêng cho gia đình cũng như các buổi họp mặt của bạn bè, hội đoàn. Một câu lạc bộ nhạc jazz ở Công viên Trung tâm Icon, Lou’s Jazz ‘n Blues. Câu lạc bộ nhạc jazz là một địa điểm lý thú và thuận lợi để tổ chức “nhạc jazz trong công viên“, hành khách cũng có thể trổ tài biểu diễn nhạc Jazz tại đây. Nếu rượu sâm banh là sở thích của du khách, họ có thế ghé qua Bubbles vì đây là cửa hàng bán rượu sâm banh hay nhâm nhi, thưởng thức những ly mimosas, prosecco. Nhà hàng sushi tọa lạc ngay gần lối đi vào Công viên Trung tâm Icon. Quán Izumi bên trong công viên có các món bánh cuộn, nigiri và các món ngọt Nhật Bản. Quán rượu Trellis cũng ở trong công viên và lần đầu tiên có phục vụ đồ ăn.
Khu vực AquaDome có sức nặng 363 tấn, phản chiếu qua hơn 600 tấm kính, trong khu vực này có AquaTheater với sân khấu kính khổng lồ chạy từ trần xuống sàn cho tầm nhìn 220 độ. Ở đây còn có những buổi trình diễn ngoài trời với các màn biểu diễn nhào lộn trên không, nhảy cao và lặn sâu trong thác nước cao 55 feet. Hai buổi biểu diễn rất ngoạn mục tai AquaTheater là “Aqua Nation!” và “Cướp biển vs Người cá.” Tại khu vực AquaDome, khi không có các buổi trình diễn, hành khách có thể ngồi tại đây, vừa thưởng thức thức ăn hoặc thức uống, vừa ngắm nhìn khung cảnh đại dương hay ngắm nhìn thác nước.

Đặc biệt là khu vực Chill Island, du khách có thể hìn ra đại dương từ khu vực hồ bơi ba tầng với Swim & Tonic, quán bar bán rượu ngay trong hồ bơi lội. Đây là một thiết kế mới lạ để du khách vừa trầm mình trong nước vừa nhâm nhi ly rượu vừa ngắm đại dương.

Royal Bay là hồ bơi lớn, ồn ào và vui nhộn nhất trên biển; trái lại, Cove là hồ bơi yên tĩnh, có ghế nằm trong nước để giải trí. Cloud 17 ban đầu được dự định là khu vực chỉ dành cho người lớn, nhưng Royal Caribbean đã thay đổi thành The Hideaway và mở cửa Cloud 17 cho tất cả khách hàng. Cloud 17 còn có bồn tạo sóng và quầy bar Lime & Coconut. Crown’s Edge vừa là đường đi bộ trên không, vừa là đường đi trên dây cho những du khách thích mạo hiểm. Du khách được buộc dây và đi bộ ở độ cao 154 feet so với mặt nước biển để tạo cảm giác mạnh, kéo dài khoảng hai phút rưỡi là đi đến cuối đường dây. Một thiết bị mô phỏng lướt sóng FlowRider trên tàu cho các du khách yêu thám hiểm leo núi đỉnh cao, trên tàu cũng có sân thể thao và sân mini-golf Lost Dunes.

Basecamp hay Desserted là một quán sữa lắc có cồn hay lướt sóng Surfside, một khu phố mới dành riêng cho các gia đình trẻ và là trung tâm giải trí của Icon of the Seas. Trong khu phố này còn có các khu vực dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Có hồ bơi và một quán bar với các loại nước trái cây có pha rượu nhẹ cho phù hợp với phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên cũng có loại cocktail dành cho người lớn. Trẻ em sử dụng Splashaway Bay phải được huấn luyện ngồi bô đầy đủ, nhưng Baby Bay là nơi dành cho trẻ em vẫn còn mặc tã. Ngoài ra, cầu trượt trong Vịnh Splashaway yêu cầu các em nhỏ phải có chiều cao tối thiểu là 42” và sức nặng tối đa là 300 lbs.

Tại khu Adventure Ocean và câu lạc bộ thanh thiếu niên, người lớn có thể giải trí tại hồ bơi Water’s Edge trong lúc các trẻ nhỏ chơi đùa ở Vịnh Splashaway và Vịnh Baby. Cả hai vịnh này đều có đầy đủ các đường trượt, đài phun nước, vòi phun nước, bồn đựng nước… The Hideaway là dạng câu lạc bộ bãi biển chỉ dành cho người lớn. The Hideaway có hiên phơi nắng nhiều tầng, bồn tạo sóng và quầy bán rượu. Boong tắm nắng rộng rãi, và Phố Đi Dạo Royal Promenade trên Icon of the Seas dài 362 feet và có tầm nhìn ra đại dương.
Giữa các boong 16 đến 19 là khu vực The Grove, dành cho hành khách hạng sang (suite) có phòng khách riêng và khu vực ngoài trời dành riêng cho họ. Khu vực này là khu vực lớn nhất của Royal Caribbean bao gồm hiên tắm nắng riêng, nhà hàng Coastal Kitchen và một quán ăn bình dân. The Grove mới chỉ dành cho khách lưu trú tại suite.
Ngày nay, du lịch bằng du thuyền dài hạn đã trở thành một xu hướng phổ biến và tiện lợi cho nhiều người ở tuồi về hưu hay có con nhỏ. Dưới đây là một số lợi ích khi chọn du lịch bằng du thuyền trong thời gian dài:
- Giá tiền không chênh lệch nhiều so với thuê apartment hoặc condo cho những du khách du lịch dài hạn hay đã về hưu:
- Giá tiền du lịch bằng du thuyền thường thay đổi, đặc biệt là khi lựa chọn các hành trình dài hạn, bạn chó thể được hưởng giá đặc biệt (30 ngày hoặc hơn).
- Tiện nghi và dịch vụ y tế:
- Bác sĩ và chăm sóc y tế: Trên du thuyền, luôn có bác sĩ và nhân viên y tế sẵn sàng phục vụ du khách trong trường hợp cần thiết.
- Ăn uống và giải trí miễn phí: Bạn không phải lo lắng về việc tìm đồ ăn, thức uống hay giải trí. Các nhà hàng, quầy bar, sân khấu trình diễn và các hoạt động giải trí luôn sẵn sàng.
- Du thuyền dừng lại ở nhiều địa điểm trong hành trình du lịch.
- Du khách có thểm thăm viếng nhiều nơi mà không cần di chuyển từ khách sạn này sang khách sạn khác.
- Du khách có thể giải trí trên tàu.
- Thuận tiện cho gia đình và nhóm bạn:
- Là lựa chọn tốt cho gia đình hoặc nhóm bạn để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và tận hưởng những khoảnh khắc đáng nhớ.
Muốn đi du lịch với giá rẻ, bạn có thể theo dõi tin tức trên internet hay email quảng cáo trong ngành du lịch đường biển (Cruise). Thứ Năm thường là ngày tốt nhất để đặt mua chuyến du lịch. Giá cả có thể thay đổi hằng ngày tùy theo số cung và cầu. Theo nghiên cứu của CruiseWatch, thứ Năm có nhiều đợt giảm giá nhất, trong khi mức tăng giá nhiều nhất xảy ra vào Thứ Tư. Tuy nhiên, nghiên cứu cung cho rằng giá du lịch vào cuối tuần thường không thay đổi.
Giá vé du lịch thường rẻ hơn ở một số thời điểm trong năm như khi mùa biển có sóng lớn, bão hay vào hạ giá phút cuối (Last minutes cruise). Thường thì từ tháng 1 đến tháng 3, các hãng du lịch đưa ra các chương trình hạ giá vào mùa sóng để thu hút du khách đặt chỗ sớm.
Khi đặt mua vé, du khách phải đặt cọc (deposit) một khoản tiền nhỏ để giữ chỗ và phần còn lại sẽ phải thanh toán khoảng từ 60 đến 90 ngày trước khi khởi hành. Sau khoản thanh toán cuối cùng này, các hãng du lịch sẽ biết rõ hơn về các cabin trống của tàu. Nếu tàu quá trống, hãng du lịch có thể đưa ra các giá đặc biệt vào phút chót để lấp đầy các cabin chưa bán được. Mua vé theo đoàn thể (group) cũng được giảm giá.
Muốn tìm hiểu thêm xin vào: https://www.explore.com/1228576/why-thursdays-are-the-best-day-to-book-a-cruise/
-
CELEBRITY ASCENT-TÀU DU LICH 7 NGÀY MỚI NHẤT QUA CÁC HẢI CẢNG: SPAIN, FRANCE & ITALY

Celebrity Ascent là tàu du lịch mới nhất hoàn thành năm 2023 và được giao cho Celebrity Cruise Line từ xưởng đóng tàu ở Saint-Nazaire, Pháp. Lễ cắt thép cho Celebrity Ascent được tổ chức và chính thức giao hàng từ nhà máy đóng tàu Chantiers de l’Atlantique vào ngày 8 tháng 11 năm 2023. Tàu được thả neo vào tháng 1 năm 2023 và Celebrity Ascent dự định sẽ ra mắt du khách vào tháng 12 năm 2023.
Year Built 2023-Capacity 3,260 passengers-Tonnage 140,600-Builder Chantiers de l’Atlantique (Saint-Nazaire, France)-Class Celebrity EDGE-Building cost 770 million EUR (900 million USD)-Speed 22 km / 41 km / h /25 mph-Leight 313m-Width 39m and the price ranges from $1,849.00 for an inside cabin to $5,736.00 for a suite.
Celebrity Ascent là con tàu thứ tư trong dòng Edge Series từng đoạt giải thưởng, khởi sự xây vào ngày 22 tháng 11 năm 2021 và thực hiện chuyến hành trình đầu tiên ngày 3 tháng 12 năm 2023 từ Florida. Celebrity Ascent có tất cả các tiện nghi như Resort Deck, Magic Carpet (phòng chờ có mái vòm đầu tiên trên thế giới trên biển), Rooftop Garden, v.v… Tàu du lịch Celebrity Ascent nặng 141 nghìn tấn, có 1646 phòng, hành khách tối đa là 3950 người và được phục vụ bởi 1400 thủy thủ đoàn. Celebrity Ascent thuộc Celebrity Cruise line.
Celebrity Cruise Line được các du khách cũng như các chuyên gia công nhận là loại du thuyền hạng sang, Celebrity Cruises có tổng cộng 15 tàu đang hoạt động và cứ trung bình khoảng hai năm hãng du lịch này cho ra một tàu mới, du thuyền nổi tiếng và lâu đời nhất là Celebrity Millennium, đã 23 tuổi. Các du thuyền Celebrity khởi hành từ các thành phố của Hoa Kỳ như Honolulu, Miami, Boston và Seattle. Tuy nhiên, Royal Caribbean Group là chủ sở hữu và điều hành ba thương hiệu du lịch từng đoạt giải thưởng là Royal Caribbean International, Celebrity Cruises và Silversea Cruises, đồng thời cũng là chủ sở hữu 50% của một liên doanh vận hành TUI Cruises và Hapag-Lloyd Cruises.
Celebrity Cruise Line được coi là một hãng du thuyền sang trọng, hầu hết khách là người lớn và không có nhiều trẻ nhỏ. Trẻ sơ sinh phải ít nhất 6 tháng tuổi hoặc 12 tháng tuổi tuy theo quy luật của mỗi du thuyền. Người cao tuổi được giảm giá và có giá đặc biệt dành cho cảnh sát, lính cứu hỏa, quân nhân. Celebrity cruise Line còn là lựa chọn tốt cho các thanh thiếu niên yêu thích các sinh hoạt về thể thao hay phiêu lưu. Tuy nhiên, trên thế giới có một số tuyến du thuyền dành cho người lớn như:
- Luxury Cruise: Viking Cruises.
- Cruise for Older Couples: Saga Cruises. …
- Cruise for Single Adults: Virgin Voyages. …
- Adults-Focused Luxury Cruise: Regent Seven Seas Cruises. …
- Adults-Focused All-Inclusive Cruise: Seabourn Cruise Line
Trung tâm ẩm thực:
Celebrity Ascent có 32 nhà hàng, quán bar, các thực đơn được chế biến bởi đầu bếp từng đoạt giải Michelin, Cornelius Gallagher, và các món ăn nấu được biến chế theo từng vùng mà du thuyền ghé thăm trên khắp thế giới. 14 quán cà phê, quán bar, 8 nhà hàng đặc sản, 4 nhà hàng ăn uống chính, 4 địa điểm ăn uống bình dân miễn phí và 2 nhà hàng độc quyền Eden Café cung cấp đủ loại đồ uống và các món ăn bình dân. Spa Café và Juice Bar, câu lạc bộ trẻ em Le Voyage và khu giải trí dành cho trẻ em, lớp dạy làm bánh pizza, phòng chơi máy điện tử và bắn cung, v.v…
Ngoài ra còn có một số nhà hàng đặc biệt như Oceanview Café với Sunset Bar và khu ăn uống ngoài trời, gồm hai tầng và có cửa sổ làm bằng kính suốt từ trần đến sàn. Mast Grill với hồ bơi và khung cảnh đại dương, thực đơn gồm bánh mì kẹp thịt, salad hoặc bánh sandwich. Le Voyage của Daniel Boulud cho thực đơn đặc biệt trên thế giới do chính anh sáng tạo. Fine Cut Steakhouse với sườn cừu mềm Fed Fed, đuôi tôm hùm Maine nướng áp chảo với sốt tỏi kem hoặc gà nướng. Le Grand Bistro là quán rượu cổ điển của Pháp với khung cảnh, mùi hương và âm thanh hấp dẫn của một tiệm bánh ngọt nhộn nhịp.
Le Petit Chef với loại hình nghệ thuật Skullmapping hoạt hình 3D của các nghệ sĩ nổi tiếng trên thế giới, thức ăn, nước uống với thực đơn do đầu bếp Michelin sáng tạo. Rooftop Garden Grill và Raw on 5 là quán ăn thân mật với một loạt món ngon, có tầm nhìn từ biển ra đến tận đường chân trời. Thực đơn tại Magic Carpet trên Tầng 5, gồm các món ăn thông thường như salad tôm, tôm hùm, sushi và sashimi do các đầu bếp sushi chuyên nghiệp chế biến.

Nhà hàng Eden là một nhà hàng ẩm thực đặc biệt cung cấp thực đơn nhiều món khai vị, món chính và món tráng miệng. Blu, Blu, là nhà hàng độc quyền dành cho khách AquaClass, cung cấp các lựa chọn thực đơn ẩm thực lành mạnh, biodynamic wines, phong cách trang trí và dịch vụ hoàn hảo.

Nhà hàng Cyprus là một nhà hàng Hy Lạp với thực đơn hải sản hấp dẫn và đồ uống thuộc khu vực Địa Trung Hải. Nhà hàng Tuscan với Tuscan Grille với thực đơn Ý, nổi bật với thiết kế cổ điển hiện đại lấy cảm hứng từ thời trang và phim ảnh Ý.

Nhà hàng Normandie phục vụ ẩm thực Pháp đương đại trong khung cảnh hiện đại và tinh tế, gợi lên sự lãng mạn của mùa hè ở Paris trên các khu phố Pháp, với bảng màu hoa anh đào nở rộ.

Nhà hàng Cosmopolitan là nhà hàng ăn chính của du thuyền Celebrity Ascent.
Trung tâm giải trí:
Với các quán rượu như Martini bar, Pool Bar, Sunset Bar và Craft Social Bar có, rượu vang, cocktai, bia ướp lạnh hay quán café đặc sản thơm ngon như Café al Bacio, Phòng chờ Retreat dành riêng cho khách của The Retreat có chương trình giải trí trực tiếp, không khí ấm cúng và hấp dẫn với quầy rượu đầy ắp thức ăn ngon. Retreat Lounge do Kelly Hoppen thiết kế với Boong tắm nắng Retreat Sundeck Retreat và bồn tắm nước nóng. Zen Grarden với không khí êm dịu, cây cối thiên nhiên.
Resort Deck gồm Rooftop Garden, hồ bơi Solarium dành cho người lớn và Hồ bơi chính có bậc thang hướng ra ngoài đại dương. Magic Carpet với chỗ ngồi và quầy bar đầy đủ tiện nghi và trình diễn nhạc sống. Vườn Địa Đàng Eden sẽ mang lại nhiều ngạc nhiên cho du khách, tại đây, Eden có nhiều cửa kính hướng ra ngoài và ở bất kỳ địa điểm nào trên biển.
Rạp hát là nơi giải trí thú vị với các vũ công nổi tiếng với các chương trình ca vũ đặc sắc mỗi tối. . Câu lạc bộ với các sinh hoạt như lớp học DJ và bắn cung, Trung tâm thương mại Grand Plaza bày bán những sản phẩm của các công ty thiết kế Jouin Manku. Casino xây theo phong cách Vegas. Hệ thông đèn Chandelier, một tác phẩm nghệ thuật ngoạn mục dưới ánh sáng rực rỡ. Những quán rượu phục vụ các loại rượu hấp dẫn như Bella Cera pha trộn với Chameleon cachaça, Bombay Sapphire gin, nước cốt chanh, rượu đắng Angostura và bia gừng. Loại rượu pha Marmalade Smash kết hợp rượu bourbon Bulleit, nước chanh, xi-rô đơn giản, mứt cam và gừng tươi. Khu vườn trên sân thượng được mở rộng ngay trên mép nước và khung cảnh đô thị sống động trên Edge Series nhờ vào các nhà thiết kế nổi tiếng trên thế giới như Kelly Hoppen, CBE và kiến trúc sư Tom Wright của WKK.

The Martini Bar trong khu Grand Plaza với quầy bar hình tròn dưới ánh sáng rực rỡ của đèn chùm LED.

Secondo Bacio trong khu Oceanview Café cung cấp cà phê đặc sản và nước trái cây ép. The Pool Bar là quầy rượu ngay trong hồ bơi, đây là pool bar đầu tiên được xây trên du thuyền.
Excursions
Hơn 280 điểm đến ngoạn mục và tùy thuộc vào sự lựa chọn của du khách.
Kids and Teen Programs
Chương trình dành cho trẻ em và thanh thiếu niên bắt đầu tại Camp At Sea mang đến cho trẻ em có cơ hội tham gia một số hoạt động giải trí, bao gồm săn tìm kho báu, nghệ thuật và thủ công, thể thao và các bữa tiệc theo chủ đề, tất cả đều dưới sự hướng dẫn của đội ngũ nhân viên trẻ có nhiều kinh nghiệm. Câu lạc bộ Thanh thiếu niên là nơi lý tưởng và có thể kết bạn mới, tham gia các cuộc thi trò chơi điện tử, các bữa tiệc dành cho thanh thiếu niên và các lớp học nấu ăn. Các hoạt động do đội ngũ cố vấn thanh thiếu niên.
Ngoài viếc bơi lội trong hồ bơi, ngắm hoàng hôn trong những bồn tắm nước nóng, xem chiếu phim dưới bầu trời đầy sao, những bữa tiệc disco và giải đấu bắn cung, v.v… Lawn Club hoặc Resort Deck là nơi có những phông tuyệt đẹp để chụp những bức ảnh lưu niệm.
Celebrity Ascent, 7 Night Spain France & Italy gồm:
From Barcelona, Spain
Du thuyền Celebrity Ascent đi từ Barcelona, Spain. Trong hành trình 7 Night Spain France & Italy sailing, Celebrity Ascent sẽ thăm viếng 6 hải cảng.
Barcelona, Spain

Barcelona được biết đến với kiến trúc độc đáo, bao gồm Sagrada Familia, một nhà thờ Công giáo La Mã lớn được thiết kế bởi kiến trúc sư nổi tiếng Antoni Gaudi. Không những thế, Barcelona là một thành phố giàu văn hóa, lịch sử, giải trí, viện bảo tàng, phòng trưng bày di tích như Viện bảo tàng Picasso, Quỹ Joan Miro và Parc de la Ciutadella, Torre Giories, Arc de Triomf, Edificio Colon and La Rambia, Venetian Towers and Palau Nacional, Casa Mila, Gaudi’s Park, v.v…
Barcelona còn là một địa điểm du lịch nổi tiếng với những bãi biển đẹp, cuộc sống về đêm, ẩm thực ngon và là quê hương của một số đội thể thao chuyên nghiệp, trong đó có FC Barcelona, một trong những câu lạc bộ bóng đá thành công nhất trên thế giới. Cảng Barcelona, Tây Ban Nha nằm bên bờ biển Địa Trung Hải, là thủ đô của Catalonia, trung tâm văn hóa và là thành phố lớn thứ hai ở Tây Ban Nha. Ngôn ngữ đầu tiên là tiếng Catalan, tiếng mẹ đẻ của vùng Catalonia độc lập.
Palma De Mallorca, Spain

Palma de Mallorca, nằm ở Quần đảo Balearic và là thủ đô của Quần đảo Balearic, Palma de Mallorca cũng là tiền đồn của Tây Ban Nha ở Địa Trung Hải. Thị trấn Palma tự hào có quảng trường rợp bóng mát gần Nhà thờ Gothic và là một địa điểm du lịch nổi tiếng. Thành phố này nổi tiếng với kiến trúc tuyệt đẹp, trong đó có Nhà thờ La Seu nhìn ra Biển Địa Trung Hải, là nơi có nhiều bãi biển đẹp như Playa de Palma nổi tiếng. Thành phố này là nơi có nhiều bảo tàng viện, phòng trưng bày di tích lịch sử văn hóa, nổi tiếng với cuộc sống về đêm với nhiều quán bar, câu lạc bộ, nhà hàng và trung tâm mua sắm.
Civitavecchia, Italy

Civitavecchia (Rome) là một thành phố hải cảng hoàn hảo nhất về mặt địa lý trên thế giới, nằm ở vùng Lazio của miền trung nước Ý, cách Rome khoảng 80 km về phía tây bắc, là thủ đô của tỉnh Civitavecchia và là bến cảng của các tàu du lịch. Thành phố này được biết đến với bến cảng cổ xưa được Hoàng đế La Mã Trajan xây vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên và là nơi tìm hiểu về văn hóa của Ý.
Pháo đài Michelangelo thành lập vào năm 108 sau Công nguyên cũng bởi Hoàng đế La Mã Trajan và ban đầu được gọi là Centumcellae. Đây là một cảng quan trọng của Đế chế La Mã và được sử dụng để vận chuyển hàng hóa của những người đến và đi từ Rome. Đây cũng là nơi diễn ra trận hải chiến lớn vào thế kỷ 16 giữa Đế chế Ottoman và Holy League. Nhiều di tích lịch sử, bao gồm Castello di Santa Severa, Torre di San Pancrazio, thời Phục hưng và các bức tường thời Trung cổ. Các thị trấn lân cận Tarquinia và Cerveteri là nơi có một số di tích Etruscan, Nhà thờ San Francesco, Nhà thờ San Pietro và Nhà thờ San Paolo.
Civitavecchia là một địa điểm du lịch nổi tiếng với nhiều bãi biển đẹp từ những bãi biển đầy cát trắng nước trong ở Santa Marinella đến những bãi biển đầy đá ở Santa Severa. Nhà hàng và trung tâm mua sắm Porto di Civitavecchia là nơi tập trung nhiều cửa hàng, từ cửa hàng thời trang đến chợ địa phương bán đồ lưu niệm. Các cửa hàng bán đồ da nổi tiếng La Pelletteria hoặc đi thuyền đến các đảo Giglio và Giannutri với cửa hàng trang sức nổi tiếng Gioielleria Gioielli.
La Spezia, Italy

La Spezia là thành phố lớn thứ hai ở vùng Liguria, sau Genoa. Nằm gần giữa Genoa và Pisa, trên Biển Ligurian với cảnh tuyệt đẹp về vịnh và dãy núi Apuan Alps. La Spezia còn là nơi có căn cứ hải quân lớn của Ý và được coi là cửa ngõ vào Cinque Terre, là trung tâm thành phố lịch sử với các viện bảo tàng và trung tâm văn hóa. Những ngôi làng ven biển đẹp như tranh vẽ, những khu chợ và nhiều khu phố với những quán cà phê và nhà hàng xinh xắn dọc hai bên.
Nhiều du khách sử dụng La Spezia làm điểm xuất phát cho các chuyến đi đến Cinque Terre và các điểm du lịch lân cận khác vì La Spezia là một thành phố gần Cinque Terre. Từ Rome, Tuscany hay Venice, du khách phải đi qua La Spezia để đến con đường ven biển Cinque Terre nếu đi xe. Nếu đi tàu, du khách phải đổi tàu ở ga La Spezia Centrale.
La Spezia nằm ngay biên giới giữa Liguria, Tuscany và cách không xa Cinque Terre, Pisa và Florence.
Portofino, Italy

Mệnh danh là “Hòn ngọc vùng Riviera“, một địa điểm quyến rũ trên Biển Ligurian là nơi nghỉ mát yêu thích của nhiều người châu Âu giàu có và sang trọng. Từng là một làng chài yên tĩnh, đẹp như tranh vẽ nằm trên vùng Riviera của Ý, Portofino được biết đến với những tòa nhà đầy màu sắc, bến cảng tuyệt đẹp và khung cảnh ngoạn mục của Biển Địa Trung Hải. Ngôi làng là điểm nổi tiếng của khách du lịch đến để tận hưởng khí hậu ấm áp, làn nước trong vắt và bầu không khí độc đáo với thực vật tươi tốt.
Ngoài phong cảnh thiên nhiên và bến cảng Portofino tuyệt đẹp, du khách có thể tận hưởng nhiều sinh hoạt như tản bộ trên những con đường thơ mộng, quyến rũ của Portofino hay đi thuyền ngắm cảnh bờ biển, hoặc chèo thuyền kayak. Portofino với nhiều nhà hàng, quán cà phê và cửa hàng mua sắm. Du khách cũng có thể tham dự những buổi họp văn hóa, thăm viếng nhà thờ hay viện bảo tàng địa phương hoặc tham dự vào những buổi lễ hội.
Ý nổi tiếng với khu mua sắm sang trọng với các cửa hàng trang sức và cửa hàng thời trang nổi tiếng như La Bottega di Portofino, cửa hàng lưu niệm, phòng trưng bày nghệ thuật và cửa hàng đặc sản. Cửa hàng chuyên về các mặt hàng thủ công, đồ trang sức, đồ gốm và quần áo hay cửa hàng rượu vang và rượu mạnh của địa phương.
Bãi biển ở Portofino có những bãi biển đẹp nhất thế giới được bao quanh bởi cây xanh và những vách đá tuyệt đẹp, khiến chúng trở thành địa điểm hoàn hảo và lãng mạn. Bãi biển Spiaggia di Paraggi là một bãi biển cát trắng tuyệt đẹp với làn nước trong vắt và tầm nhìn tuyệt đẹp ra Biển Địa Trung Hải. Ngoài ra còn có một số bãi biển nhỏ hơn gần đó như San Fruttuoso, Camogli và Chiavari. Bãi biển San Fruttuoso, Paraggi và Santa Margherita Ligure là hai bãi biển tuyệt đẹp với làn nước trong vắt, nằm gần Portofino và là địa điểm nổi tiếng để bơi lội, tắm nắng và lặn với ống thở. Gần đó cũng có rất nhiều nhà hàng và quán bar, khiến nơi đây trở thành địa điểm tuyệt vời để thưởng thức đồ ăn hoặc đồ uống giải khát.
Marseille, France

Marseille là một thành phố cảng nằm ở vùng Provence của Pháp và đã tồn tại từ khi người Hy Lạp Phocaean xâm chiếm vào khoảng năm 600 Trước Công nguyên. Đây là thành phố lớn thứ hai ở Pháp và lớn nhất ở vùng Provence-Alpes-Côte d’Azur, đồng thời là thành phố đông dân nhất ở Pháp sau Paris. Thành phố này được biết đến với lịch sử, văn hóa, ẩm thực phong phú và là nơi có nhiều điểm du lịch đẹp và nổi tiếng.
Marseille có tất cả cảnh đẹp của vùng đất Địa Trung Hải bao gồm Cảng Cũ của Marseille, nhà thờ Đức Bà De la Garde và Công viên Quốc gia Calanques. Thành phố này còn nổi tiếng với cuộc sống về đêm với nhiều quán bar, câu lạc bộ và nhà hàng. Marseille cũng là nơi có nhiều viện bảo tàng lịch sử với các phòng trưng bày di vật của các nền văn hóa khác. Nổi tiếng với khí hậu dịu mát của vùng Địa Trung Hải, những bãi biển tuyệt đẹp và phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Marseille là một nơi tuyệt vời để học hỏi thêm về nền văn hóa, lịch sử và ẩm thực độc đáo của Pháp. Các hoạt động ngoài trời như đi bộ, đi xe đạp và chèo thuyền cũng rất phổ biến. Công viên Quốc gia Calanques gần đó là địa điểm không thể bỏ qua đối với những người yêu thiên nhiên.
Cảng Cũ của Marseille là địa điểm không thể bỏ qua đối với bất kỳ hành khách du lịch nào đến thăm thành phố này. Bến cảng đẹp và là bến đậu của rất nhiều thuyền, nhà hàng và cửa hàng mua sắm, du khách có thể đi dạo dọc theo bờ sông, ngắm cảnh bằng thuyền hay thuyền Kayak. Calanques là một loạt vách đá vôi bao quanh vịnh nhỏ tuyệt đẹp nằm ngoài khơi Marseille. Calanques cũng là nơi có nhiều bãi biển hẻo lánh, khiến chúng trở thành địa điểm tuyệt vời để bơi lội và tắm nắng.
Nhà thờ Đức Bà de la Garde xinh đẹp này nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhìn ra thành phố, bến cảng cũng như các khu vực xung quanh. Vương cung thánh đường de la Garde với lối kiến trúc phức tạp và cũng là nơi trưng bày một số hiện vật tôn giáo và tác phẩm nghệ thuật.
Ẩm thực Marseille nổi tiếng với nhiều nhà hàng và quán cà phê phục vụ các món ăn truyền thống của vùng Provence. Nhiều nhà hàng được trao giải Michelin, phục vụ một số món ăn Pháp ngon nhất trong nước và nổi tiếng với các món ăn hải sản. Mua sắm tại các khu chợ ở Cảng Marseille (Provence) có nhiều loại sản phẩm địa phương tươi sống hay mua gia vị và hàng thủ công.
La Vieille Charite, Les Terrasses du Port và Le Panier Le Panier là những trung tâm mua sắm xinh đẹp nằm ở trung tâm thành phố Marseille. Nó cung cấp nhiều loại quà lưu niệm, từ các mặt hàng truyền thống của vùng Provence đến nghệ thuật và đồ trang sức hiện đại. Trung tâm cũng có nhiều nhà hàng và quán cà phê, khiến nơi đây trở thành một nơi tuyệt vời để ghé thăm.
Bãi biển ở Marseille (Provence), Pháp là nơi quy tụ của một số bãi biển đẹp nhất Địa Trung Hải với cát trắng, nước trong vắt và tầm nhìn tuyệt đẹp ra Biển Địa Trung Hải. Các bãi biển nổi tiếng nhất gần cảng là Les Goudes, Calanque de Sormiou và Calanque de Morgiou. Les Goudes là một bãi biển nhỏ với làng chài đẹp như tranh vẽ, trong khi Calanque de Sormiou và Calanque de Morgiou đều là những vịnh nhỏ tuyệt đẹp với làn nước trong vắt và những vách đá. Bãi biển Carry-le-Rouet, Les Goudes và Calanque de Sugiton có rất nhiều nhà hàng, quán bar và nhiều hoạt động khác chẳng hạn như chèo thuyền kayak, lướt ván và chèo thuyền. Bãi biển còn nổi tiếng với những khối đá tuyệt đẹp, khiến nơi đây trở thành một địa điểm tuyệt vời để chụp ảnh.
Khánh Lan, 2024
-
ÂU CHÂU, TRĂM NĂM CỔ KÍNH

Từ lúc trẻ được biết đến Âu Châu chỉ qua sách vở, lòng tôi hằng mơ ước được đặt chân đến trời Âu. Thật là vui, một chuyến thăm Âu Châu đã đến với tôi và một nhóm bạn vào
tháng 7 năm 1997. Đó là chuyến Tour Du Lịch COSMO. Mười chín ngày với nhóm 45 người. Riêng nhóm bạn chúng tôi gồm sáu người cùng làm chung một department tại Cali.
Chuyện du lịch được khởi hành với chuyến bay từ Los Angeles đến London.
Theo lịch trình chúng tôi sẽ tham quan sáu nước gồm:
– London, Anh quốc
– Đi tàu qua Belgium,
– Đi xe bus 18 ngày
– Luxembourg 1 ngày
– Thụy Sĩ. 2 ngày, một đêm
– Ý Đại Lợi. 4 ngày 3 đêm
– Pháp
Chuyến đi xe lửa qua đường hầm đi qua 101 hầm đến đất Pháp. Chuyến đi qua nhiều nơi nên phải rất nhanh và luôn sẵn sàng di chuyển mỗi buổi sáng sớm, nên có được tên vui là Pyjama Tour. Ngay sau khi máy bay đáp xuống, trạm đầu tiện là London, chúng tôi book hotel, mang tên là ROYAL HOTEL, khách sạn này không đẹp lắm. Tha hồ được viếng thành phố đẹp, đầu tiên chúng tôi đi ngang qua London Bridge, thấy rõ London Tower sừng sững. Nơi đây có nhà tù nổi tiếng của Anh từ vài trăm năm trước.
London, Anh Quốc

Điện Buckingham
London có nhiều lâu đài cổ xưa. Nổi tiếng nhất là điện Buckingham. Thật thú vị được xem đoàn vệ binh cỡi ngựa hoàng gia, xem lính gác đổi phiên trước cửa điện Buckingham của Nữ Hoàng Elisabeth II. Chúng tôi tham quan các Chateaux, các nhà thờ nói tiếng của England, Westminster Abbey, và nhiều nhà thờ đẹp của Anh Giáo.

Trung Tâm Luân Đôn Chúng tôi đi dạo trong thành phố thấy xe bus hai tầng. Chúng tôi đi dạo và ăn trưa rất ngon với món ăn phổ biến là “fish and chip”. Dạo phố nơi đâu cũng thấy người dân ăn mặc lịch sự, dáng người cao và thon. Chỗ nào cũng thấy nhiều cửa hàng với bảng hiệu có chữ Royal.
Chỉ trên một đoạn đường thôi đã có tới hai tiệm mang tên Bistro of the King và The King of Bistro.
Di chuyển thông dụng nhất là xe bus hai tầng. Dòng sông nổi tiếng, với nhà gare mang tên Thames, luôn tấp nập.
Hôm sau chúng tôi ra bến cảng, đi tàu qua Pas de Calais vào đất liền của Âu Châu. Pas de Calais hay Chanel 5, là một eo biển nhỏ giữa UK và đất liền Âu Châu. CaLais mang chứng tích lich sử của những trận chiến lớn của Âu Châu và thế giới, trong đó có Thế Chiến thứ 2.
Nơi đây đã ghi lại chiến tich vĩ đại của quân đội Đồng Minh đã đổ bộ lên bờ biển Normandie ngày 6 tháng 6, 1944. Cuộc chiến thắng này đã giải phóng Paris khỏi sự xâm lăng của quân đội Đức Quốc Xã.
Belgium là một đất nước nhỏ, văn minh. Người dân sống mức trung bình, êm ấm. Lâu đài của Hoàng gia thật to rộng, uy nghiêm và trang trọng.
Đoàn xe của chúng tôi đi ngang qua Bruges. Bruges là một dòng sông nhỏ có nhiều chiếc du thuyền đẹp. Đây cũng được gọi là Venice của Belgium. Chúng tôi ngủ lại đêm tại Belgium.
Rời Belgium. Qua đến Luxembourg một vương quốc nhỏ, đẹp nhưng rất giàu. Đã qua nhiều triều đại, ít chiến tranh với nếp sống yên bình, giàu sang.
SWITZERLAND
Đoàn xe di chuyển qua Thụy Sĩ ghé lại thăm Geneve. Chúng tôi ngủ lại đêm trong một hotel nhỏ trên một ngọn đồi vắng, rất yên tĩnh. Sáng hôm sau chúng tôi đến viếng Lucerne trung tâm biển hồ gồm bốn hồ gần nhau. Chung quanh là những ngọn núi đẹp nổi tiếng, thu hút người trượt tuyết vào mùa đông. Đất nước thanh bình, nhà cửa xinh đẹp. Người dân được sống yên ấm trong đất nước được mệnh danh là hòa bình nhất thế giới. Từ sáng sớm mặt trời vừa lên đã được ăn điểm tâm nhẹ với cafe sữa và bánh mì fromage. Chúng tôi đi thăm những thắng cảnh nổi tiếng. Trong đó có chiếc cầu treo dài và đẹp nhất nước. Được đi thăm Lucerne và đi du thuyền trên hồ, hồ đẹp với những căn nhà nhỏ xinh đẹp chung quanh hồ của các nhà tỷ phú trên thế giới.

Hôm nay sẽ đi vào một đất nước mà tất cả moi người đều mong đợi. Xe đi trên quốc lộ hai bên là đồng cỏ hay là những canh đồng hoa. Âu Châu rất đẹp, và rất nhỏ, chúng tôi được di chuyển theo ba biên giới. Trong đó có biên giới lịch sử chiến tranh Alsace Loraine giữa Đức và Pháp. Chúng tôi đang đi đến Italy.
ITALY.
Đến ranh giới Italy chúng tôi thấy những cánh đồng hoa, nhiều nhất là hoa hướng dương. Bên cạnh những cảnh sống gần với nông trại. Chặng đường dẫn đến một thanh phố nhỏ yên tĩnh, nhưng đã thu hút khách du lich với một tháp nghiêng.
PISA

Đoàn xe dừng lại tại Pisa. Thật lạ thay, tôi được chiêm ngưỡng Leaning Tower. Một kỷ niệm là một tháp bi nghiêng khoảng 30 degree mà vẫn đứng vững mãi. Chụp hình kỷ niệm và mua quà kỷ niệm.
Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình, tuy mệt nhưng vui và đầy thú vị.
Rome.

Thật cảm động khi được nhìn lịch sử oai hùng của thời La Mã xưa. Một đấu trường đã sụp đổ nhưng vẫn còn được để nguyên để moi người được chiêm ngưỡng sự tồn tại của lịch sử oai hùng thời La Mã.
Xe chạy giữa thành phố, chúng ta đang sống trong hiện tại và thấy được “đấu trường – Coliseum” của thời cổ La Mã hơn 2.000 năm trước.
Florence

Florence là trung tâm văn hoá, đầy di tích xưa. Chúng ta được chiêm ngưỡng những bức tượng của Leonardo Da Vince. Được thăm viếng các di tích văn hóa. Căn nhà với balcon lịch sử chuyện tình Romeo – Juliette. Nhưng bức tượng nam khoả thân. Nổi tiếng nhất là bức tượng David của Michael Angelo.
Vatican

là một quốc gia nhỏ riêng biệt và độc lập. Là nơi Đức Giáo Hoàng ban hành Thánh Lễ. Bước vào Toà Thánh, nhìn kiến trúc thật đẹp ngoài tưởng tượng. Trần nhà thật ý nghĩa với các tượng hình của Michael Angelo, Leonardo Da Vince.
Xe bus của chúng tôi đi đến Venice là một địa thế ở bờ biển phía bên khác.
Venice

Trên thuyền Gondola
Thành phố nổi trên cửa biển, đang bị xụp xuống dần gần mặt nước biển. Nhưng mức nước biển ngày càng cao hơn trước. Được thuê thuyền nhỏ Gondola, chèo tay, ngắm thành phố floating cảm giác thật thú vị. Nhưng, khi nhìn nước thấy vùng vịnh biển nước đen quá không sạch mà thấy mất cảm hứng. Đi thuyền giữa những tiệm buôn. Thú vị nhất là ghé vào xem nơi “thổi ve chai” với những sản phẩm đắt tiền viền vàng.
Chúng tôi ở lại đây ba ngày. Ngủ lại Italie ba đêm, sáng hôm sau về Pháp, băng đường xe lửa xuyên qua núi giữa hai biên giới. Một chuyến đi xe lửa thú vị.
MONACO

Trên bờ biển Monaco, Xe xuyên qua 101 hầm về Pháp
Chúng tôi ghé Monaco, một quốc gia nhỏ, độc lập. Trong thành phố được xem lâu đài trang trọng. Các đường đi lót gạch đỏ, sạch sẽ. Được viếng thăm Monte Carlo, một sòng bài nổi tiếng của Âu Châu. Vương quốc Monaco với những đường núi cao vòng vo bên biển đẹp. Nơi đây chúng tôi dừng lại ăn tối và đi viếng cảnh đẹp, với chiếc du thuyền lịch sử của Prince tặng hoàng hậu Grace Kelly khi đám cưới.
PHÁP
Lyon

Một thành phố yên tĩnh với sân bay xưa, với nhà gare mang tên Lyon mà nhà thơ Cung Trầm Tưởng đã viết.
“Lên xe tiễn em đi – Gare Lyon đèn vàng…
Đến đây tình cờ chúng tôi gặp được cuộc diễn binh Ngày Quốc Khánh Pháp 14 Juillet. Chúng tôi phải dừng lại hơn một tiếng để xem diễn binh. Rồi sau đó tiếp tục di chuyển về đến Paris.
Paris,
Trước khi đến Paris, chúng tôi dùng dinner tại restaurant Bạch Mã “White Horse / Cheval Blanc” và ngủ đêm tại Paris. Chặng đường dài đầy quyến rũ nhưng Paris vẫn là niềm hãnh diện của nước Pháp cho đến hôm nay.
– Tuy nhiên câu nói của người Pháp- “Voir Paris et Mourrir”. Có thể sẽ bị phai mờ vì phương tiện du lịch trên toàn cầu đã đưa hàng triệu người đến viếng Paris mỗi năm.
Vào đến trung tâm phải đi ngang đại lộ huy hoàng nhất, Champs Elysees. Con đường này dẫn đến cung điện Elysees, là nơi cư ngụ và làm việc của tổng thống Pháp. Cũng là nơi tiếp đón các nguyên thủ quốc gia trên khắp thế giới.
Arc de Triomphe

Khải Hoàn Môn được làm để chào đón Đại đế Napoleon thắng trận trở về nước. Trung Tâm Paris, Khải Hoàn Môn mở ra năm ngã đường lớn nhất Paris.
Eiffel Tower.

Chúng tôi mua vé lên xem kính viễn vọng thấy toàn cảnh Paris theo giòng sông Seine uốn khúc. Rất nhiều tỉnh và thành phố được mang tên ghép với sông Seine, ví dụ Neuilly Sur Seine.
Thủ đô Paris hình tròn, với một hệ thống đường hầm rất tiện việc di chuyển hàng ngày cho người dân sinh sống và cho khách du lịch đến từ các nước trên thế giới. Đường hầm Metro coi như là một phương tiện chung cho người
dân Pháp đến làm việc tại Paris. Phương tiện chung của Parisiens và của khách du lịch đến từ các nơi trên thế giới.
Kế đến chúng tôi đi ngang qua đại lộ Opera, với một nhà hát OPERA nổi tiếng, đi qua vườn cây Tuleries, cảnh đẹp.
Louvre
Paris là nơi có rất nhiều viện bảo tàng, vì nước Pháp yêu chuộng văn hóa. Paris là biểu tượng của văn hóa và nghệ thuật của cả thế giới. Từ xa chúng tôi đã thấy khuôn viên Louvre. Trước mặt Louvre là một kim tự tháp. Du khách trước khi vào xem, phải đi qua đường hầm. Hầu như tất cả công trình văn minh của thế giới được gom lại và tàng trữ nơi đây. Từ thời cổ đại Hy lạp, qua thời Phục Hưng, Baroque, rồi đến Hiện Đại đều hiện diện trong viện bảo tàng cổ kính này.
Cung Điện Versailles

Cung điện huy hoàng, của Hòang Gia xưa, qua nhiều đời vua thăng trầm trên 2.000 năm lịch sử. Trước cổng chính, ta nhìn thấy nhiều building to lớn, oai nghiêm với những cánh cổng mạ vàng. Bên trong với những bức hình nổi tiếng của các vị vua qua nhiều triều đại vàng son, chen lẫn với triều vua đau khổ. Tranh của Vua Louis 16, và hoàng hậu Marie Antoinette. Vua và hoàng hậu này bị chém đầu trong cuộc Cách Mạng Pháp 1789.
Đi thăm viếng Cung điện Versailles. Một hoàng cung hùng vĩ với cả chục toà buildings to lớn. Bên trong cung điện trang hoàng với hàng trăm chandeliers của thời vua xưa. Nét đẹp sáng láng. Trên tường những phòng rộng lớn với hàng trăm bức chân dung các vị vua và di tích lich sử tràn ngập. Hàng trăm năm đã trải qua nhưng kỳ tích vẫn còn ở lại Cung điện Versailles mãi mãi.
Vườn hoa Versailles
Phía sau Điện Versailles là Vườn Thượng Uyển của các Vị Vua xưa. Hồ nước phun, vườn cây cắt xén ngắn, gon và rất đẹp. Có một hồ nuôi rùa, có cả trăm con rùa nhỏ. Được biết là rùa nay đã được nuôi dưỡng liên tiếp sinh nở từ vài trăm năm qua. Lâu đài tráng lệ thì vẫn còn đây, nhưng nhiều thăng trầm của các triều vua đã qua.
Lê Nguyễn Nga 2012
-
Tu viện Benedictine và Vương Cung Thánh Đường Montserrat, Barcelona, Spain

Từ Barcelona, sau 90 phút lái xe qua con đường uốn quanh núi mang đến tầm nhìn tuyệt đẹp ra khắp thung lũng, cũng như vùng nông thôn đẹp như tranh vẽ và những ngôi làng nhỏ rải rác trên đồi thì đến ngọn núi Montserrat cao 4.051 feet. Quảng trường của Vương cung thánh đường Hoàng gia Montserrat xây trên vị trí bên vách đá, kiến trúc theo phong cách tân La Mã và là một kỳ quan tuyệt đẹp, một tác phẩm điêu khắc theo phong cách La Mã nổi tiếng thế kỷ 12 của Virgen Moreneta.
Montserrat là ngọn núi lởm chởm như răng cưa của Montserrat và Tu viện Benedictine. Tu viện Benedictine và Vương Cung Thánh Đường Montserrat đã từ lâu được Tây Ban Nha coi là bảo vật quốc gia, là khu bảo tồn về văn hóa và tôn giáo uy nghi này nằm cách thành phố Barcelona chừng 50 cây số về hướng đông-bắc. Giữa sơn thủy Địa Trung Hải du khách có dịp tản bộ qua hàng ngàn bậc thang và những con đường mòn để hướng về tu viện Benedictine, Montserrat. Nơi đây không chỉ đặc biệt nhờ vẻ kiến trúc, địa thế sơn thủy, mà còn bởi các huyền thoại với bức tượng linh thiêng Đức mẹ đồng trinh Black Madonna.
Lịch sử Tu viện bắt đầu vào năm 880 có một nhóm trẻ chăn cừu nhìn thấy luồng ánh sáng từ bầu trời ở vùng núi Montserrat. Và cùng lúc đó, các em bé chăn cừu đã nghe được tiếng hát của các thiên thần và những giai điệu trong các bản nhạc khiến các em được đón nhận với một niềm vui rạng rỡ. Một tháng sau đó, cha mẹ của các em cũng tận mắt chứng kiến những “phép lạ” tại đây. Các vị trưởng lão tôn giáo cũng đã chứng kiến hình ảnh của Đức Trinh Nữ Maria trong hang động nơi phát đi những ánh sáng kỳ lạ đó. Kể từ đó khu hang động này đã trở thành một nơi tôn nghiêm thánh thiện cho người dân bản xứ và khách hành hương đến thăm viếng và cầu nguyện.
Nói về lòng sùng kính Đức Mẹ Montserrat đã có từ xa xưa. Đó là vào thế kỷ thứ VII, khi vó ngựa của người Ả-rập chiếm đóng Tây Ban Nha. Bức tượng Đức Mẹ Black Madonna đã được cất giấu trong khi đội quân Hồi Giáo Ả-rập tấn công, và mãi cho đến thế kỷ thứ 9 thì người ta mới tìm lại đước bức tượng Đức Mẹ Black Madonna.

Statue of Black Madonna, Montserrat
Vào năm 1025, Đức Giám Mục cai quản địa phận Barcelona đã chính thức cho thành lập tu viện Montserrat. Trong hai thế kỷ 12 và 13, một Vương Cung Thánh Đường Santa Maria Basilica đã được xây cất tại Montserrat. Trong thời gian này du khách bắt đầu hành hương đến tu viện Montserrat mỗi ngày một đông. Một sự kiện lạ lùng xảy ra vào năm 1493, các tu sĩ của tu viện Montserrat đã tham gia cùng nhà thám hiểm Christopher Columbus đi chinh phục Mỹ Châu lần thứ hai và một trong những hòn đảo của khu vực Trung Mỹ được đặt theo tên Montserrat. Đảo Montserrat Trung Mỹ hiện nay là xứ tự trị thuộc Anh Quốc, tọa lạc trong quần đảo Leeward, thuộc vùng biển Caribbean.
Vương Cung Thánh Đường Santa Maria ở Montserrat với lối kiến trúc theo trường phái Gothic pha trộn với nét nghệ thuật kiến trúc Tây Ban Nha. Ngay trước tiền sảnh Vương Cung Thánh Đường là một khoảng sân có mái che 5 vòm. Trung tâm thánh đường luôn làm mê hoặc du khách với những bức tường đá cẩm thạch màu đen và màu trắng, như với Thánh đường Rome do danh họa Michelangelo thiết kế. Xung quanh nhà thờ, du khách bị cuốn hút bởi nhiều nếp trang trí công phu. Đây là một phong cách trang trí thắp sáng của Tây Ban Nha có từ sau cuộc nội chiến Tây Ban Nha năm 1811-1812. Những cột trụ trung tâm ở gian giữa là những tác phẩm điêu khắc của các nghệ sĩ bậc thầy như: Ezekial, Jerome, Isiah và Daniel.
Tác phẩm điêu khắc bằng gỗ Tượng Đức Mẹ Đồng Trinh Maria Màu Đen (The Black Madonna) nằm ở phía sau của nhà thờ. Theo truyền thuyết, khi khởi công xây Tu viện này, các thày tu dòng Benedictine có ý định di dời bức tượng Đức Mẹ đi một nơi khác để xây tu viện, nhưng khi bắt đầu đưa bức tượng Đức Mẹ đi thì trời đổ mưa, giông bão nổi lên và bức tượng Đức Mẹ Balck Madonna nặng tới độ không thể di dời được, và đó cũng chính là ý của Đức Mẹ nên mọi người quyết định không chuyển bức tượng Đức Mẹ đi nơi khác nữa mà đặt nguyên tại đó rồi xây tu viện. Và đó cũng chính là lý do mà Bệ Thánh và Cung Thánh của Tu viện lui về phía sau của Tu viện.

Santa Maria Basilica, Montserrat
Nói về bệ thánh hay bệ thờ Đức Mẹ, bức tượng được đóng khung trong một ô cửa sổ được trang trí tuyệt đẹp, và du khách có thể diện kiến Đức Mẹ ở mọi nơi, kể cả lúc ngồi nghỉ mệt trên băng ghế dài của nhà thờ. Ở hai bên tượng của Đức Mẹ có chín cái đèn bằng bạc, đại diện cho 8 Giáo phận của Catalunya và Montserrat. Tượng Đức Mẹ ở tu viện Montserrat có màu đen với tên gọi là The Black Madonna được giải thích theo các tu sĩ tại đây, thì màu đen đó không phải là màu da của phụ nữ Phi Châu mà là màu tối của gỗ theo thời gian. Cũng vì sắc đen của khuôn mặt Đức Mẹ nên người dân địa phương đã có biệt danh cho Đức Mẹ là La Moreneta (người phụ nữ da đen nhỏ).

Abbey of Montserrat
Vào năm 1844, Đức Giáo Hoàng Leo XIII trong lời rao giảng tin mừng đã nói “tượng Đức Mẹ Đồng Trinh Maria Màu Đen tại Montserrat là một trong những bức tượng Đức Mẹ nổi tiếng nhất thế giới”! Cố Đức Giáo Hoàng Joan-Phaolo đệ nhị, vào năm 1982 sau khi Ngài qua khỏi sau vụ ám sát năm 1981 đã tới đây để tạ ơn và dâng kính Đức Mẹ trước hồng ân “phép lạ” mà Ngài đã lãnh nhận từ Đức Mẹ.
Tượng Montserrat đã thu hút rất nhiều người đến vùng núi này. Vương cung thánh đường Hoàng gia là một trong những địa điểm hành hương quan trọng nhất ở Tây Ban Nha trong hàng trăm năm. Hầu hết các ngày trong tuần, ca đoàn thiếu nhi hát trong tu viện vào giữa trưa. Nơi đây có một bảo tàng, nhà hàng và cửa hàng.
Khánh Lan ghi lại di tích tu viện Benedictine và Vương Cung Thánh Đường Montserrat qua bài viết của tác giả Diễm Thi
-
DU LỊCH Ý ĐẠI LỢI
Dương viết Điền
Đúng 8:00 giờ sáng, xe buýt từ từ chuyển bánh để qua nước Ý đến thành phố Milan .
Milan là một trong những hành phố lớn nhất của nước Ý. Nơi đây có nhiều di tích lịch sử nên ông trưởng đoàn cho chúng tôi vào thành phố nầy để thưởng ngoạn. Thành phố nầy cũng là trung tâm của thời trang về nhiều loại sản phẩm nỗi tiếng nhất thế giới như áo quần, giày dép, crystal pha lê vv…Vì vậy chúng tôi được ông trưởng đoàn cho lên tàu vượt dòng sông để đến bờ bên kia xem trung tâm chế tạo ly, tách và những sản phẩm được chế tạo bằng cát rồi biến chế để trở thành trong sáng như thuỷ tinh, pha lê.
Sau đó để tiếp tục cuộc hành trình, chúng tôi được hướng dẫn đến thăm nhà thờ nỗi tiếng Milan, người Ý gọi là Dumo Di Milano. Nhà thờ này được xây dựng từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 19 nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành. Đây là một trong những nhà thờ lớn nhất thế giới, sau đền thánh Saint Peter ở La mã. Tôi và bà xã tôi cũng đã vào xem nhà thờ này trong khi nhiều người khác thích đi shopping ở ngoài hơn vì biết rằng nhà thờ này còn đang tiếp tục được xây cất chưa hoàn thành. Khi đến gần một cột trụ xây bằng đá ở trong nhà thờ, tôi dang tay ôm cột trụ để ước luợng khoảng bao nhiêu người ôm mới xuể. Sau đó tôi thấy rằng phải đến bốn người mới ôm hết cột trụ này. Điều này chứng tỏ cột trụ bằng đá trong nhà thờ Milan to đến chừng nào.

Thánh đường Dumo Di Milano (Hình trích từ Wikipedia)
Sau đó chúng tôi đến xem bức tượng của nhà danh họa Ý đại lợi, Da Vinci, người Ý gọi là Leonardo Da Vinci, tác giả của hai bức danh họa Mona Lisa và The last Supper. Ông trưởng đoàn cho chúng tôi biết rằng, Leonardo Da Vinci không những là một danh hoạ mà còn là một nhà toán học, một kiến trúc sư, một điêu khắc gia, một nhạc sĩ, và cũng là một văn sĩ nữa.

Nhà danh họa Leonardo Da Vinci (Hình trích từ Wikipedia)
Sau đó chúng tôi đến xem hý trường La scala nỗi tiếng của thành phố. Hý trường bị hoả hoạn vào tháng 02 năm 1776, sau đó được xây dựng lại và đã được khánh thành vào ngày 03 tháng 08 năm 1778. Đây là Opera House lớn nhất của thành phố Milan.

Hý trường La Scala (Hình trích từ Wikipedia)
Sau khi đi xem một số di tích lịch sử trong thành phố, chúng tôi nghỉ ngơi để ăn cơm trưa. Chiều hôm đó chúng tôi được ông trưởng đoàn hướng dẫn đến ngôi nhà cũ của nàng Juliete trong chuyện tình Romeo và Juliete mà văn sĩ nỗi tiếng Anh quốc Shakespear đã viết lại trong tác phẩm của ông ta.
Lúc bắt đầu bước vào ngõ hẻm dẫn vô nhà ở của nàng Juliete, tôi thấy một tấm bảng nho nhỏ vuông vắn gắn trên một cột bằng đồng nhỏ đề mấy chữ bằng tiếng Ý:
CASA DI GIULIETTA (Ngôi nhà của Juliete ).
Đi theo ngõ hẻm vào trong, chúng tôi thấy bức tượng bằng đồng của nàng Juliete đứng trước ngôi nhà nhìn ra ngoài đường.Nhiều du khách đang chụp hình bức tượng, kẻ khác lại đứng gần bức tượng rồi nhờ bạn bè chụp một tấm hình để làm kỷ niệm. Tôi và bà xã tôi cũng muốn chụp mỗi người một tấm hình để làm kỷ niệm. Tuy nhiên tôi phải đợi một du khách khác đang đứng sát bức tượng để nhờ bạn anh ta chụp xong tôi mới đến gần được. Nhưng ông du khách này lại đùa giởn thật kỳ quái làm mất thì giờ của những người khác đang chờ: ông ta cứ đưa tay vừa thoa vừa bóp cái vú bên phải của bức tượng, vừa cười một cách trơ trẻn. Sau khi bạn ông ta chụp xong, vợ chồng tôi mới thay phiên nhau tiến đến gần bức tượng để chụp hình làm kỷ niệm.

Bức tượng Juliete
Sau đó chúng tôi liền mua vé để vào trong ngôi nhà của nàng Juliete cách đây mấy trăm năm mà xem cho được tường tận khi nhớ lại chuyện tình của chàng Romeo và nàng Juliete sao mà buồn vời vợi. Một chuyện tình thật bi thương và cay đắng, một chuyện tình thật nghẹn ngào đầy nước mắt. Khi vào trong chúng tôi thấy một số đồ đạc của gia đình Juliete vẫn còn nguyên vẹn tuy có hơi cũ mà thôi. Chiếc giường của nàng còn đó. Trên giường có trải một tấm ra trắng .Cạnh chiếc giường là hai chiếc ghế bằng gỗ mà trên hai chiếc ghế này, đã nhiều lần Romeo trốn vào đây ngồi bên cạnh Juliete để tỏ bày tâm sự , để chàng và nàng cùng nhau nức nở lệ sầu. Vì cấm chụp hình lúc vào xem trong ngôi nhà này, nhưng vì một lần đi là một làn khó, biết bao giờ trở lại được nơi nầy nên nhanh như chớp, tôi đưa máy chụp hình cầm sẵn trên tay chụp liền hai hình để làm kỷ niệm: một hình chụp chiếc giường nàng Juliete nằm, một hình chụp hai chiếc ghế bằng gỗ nơi chàng Romeo và nàng Juliete ngồi tâm sự chuyện tình cách đây mấy trăm năm.

Chiếc giường gỗ của Juliete nằm.

Hai chiếc ghế đặt trong nhà Juliete.
Sau đó tôi và bà xã tôi ra đứng tại cửa sổ, nơi nàng Juliete đêm đêm đứng trông ngóng chàng Romeo đến thăm nàng. Bỗng bà xã tôi hỏi:
-Làm sao mà Romeo leo lên cửa sổ nầy được anh ?
Nghe bà xã tôi hỏi như vậy tôi không biết trả lời làm sao cả. Bởi vì khi đứng trên cửa sổ tầng thứ nhất của ngôi nhà Juliete nhìn xuống, tôi thấy khó mà leo lên được cửa sổ nầy thật. Tuy nhiên có một bức tường chung của nhà hàng xóm bên cạnh với nhà của nàng Juliete nằm phía bên phải cách cửa sổ của nhà nàng Juliete khoảng ba thước nên tôi nghĩ rằng, anh chàng Romeo có thể leo lên bức tường ấy rồi đu dây qua được cửa sổ nầy chăng?
Bỗng thấy chị Thu Hương đang cầm máy chụp hình đứng dưới nhìn lên cửa sổ chúng tôi đang đứng, tôi cất tiếng nói vọng xuống:
-Juliete đấy à, Juliete ơi ! Romeo đang đứng trên cửa sổ đây nè, chụp cho Romeo một tấm hình đi Juliete.
Sau khi nghe tôi nói xong, chị Thu Hương nhìn lên, điều chỉnh camera ba mươi dây rồi bấm nút. Khi tia flash loé sáng, chị ấy cười đắc chí vì đã chụp được một Romeo « dỏm » đứng bên cạnh một Juliete cũng « dỏm » là bà xã tôi, tại cửa sổ thật của nhà nàng Juliete thật ở tại thành phố Verona (Milan) trên đất nước Ý.
Sau khi từ giả nhà Juliete để ra ngoài, chúng tôi thấy trên mấy bức tường, hằng trăm câu viết, chữ ký của du khách viết để kỷ niệm nằm chằng chịt sát bên nhau. Thôi thì đủ loại mực, xanh, đỏ, tím, vàng vv…, và đủ các thứ ngôn ngữ trên cõi ta bà này.
Vì chuyện tình Romeo và Juliete là một chuyện tình buồn vời vợi mà tất cả mọi người trên thế giới đều biết từ lâu nên khi đã đến thăm đất Ý đại lợi, du khách của tất cả các nước với hằng chục ngôn ngữ khác nhau, không thể không ghé lại ngôi nhà của Juliete được bởi đây là cơ hội ngàn năm một thưở. Đó là lý do tại sao ta thấy quá nhiều ngôn ngữ được viết trên mấy bức tường này vậy.

Cửa sổ nhà Juliete (Hình trích từ Wikipedia)
Sau khi tham quan ngôi nhà của nàng Juliete, ông trưởng đoàn bảo anh em chúng tôi lên xe để đến thành phố Venice ăn cơm tối. Khoảng một giờ đồng hồ sau xe buýt đã đến khách sạn Sheraton Padova ở Corso Argentina 535129 Padova tại Ý. Sau khi ăn uống xong chúng tôi lên phòng ngủ để sáng mai tiếp tục cuộc hành trình của mấy ngày du lịch còn lại. Cũng giống như những lần khác, đúng 8:00 giờ sáng, sau khi ăn điểm tâm xong chúng tôi lại lên xe buýt để đi tham quan những danh lam thắng cảnh trong thành phố. Tại đây dưới sự hướng dẫn của ông trưởng đoàn, chúng tôi đến xem đại giáo đường thánh Mark, the Magical Piazza San
Marco và chiếc cầu Bridge of Sighs.

Thánh đường The Magical Piazza San Marco

The Bridge of Sighs (Hình tích từ Wikipedia)
Tên chiếc cầu nầy do thi sĩ Lord Byron đặt ra . Vì khi tội nhân nào vào nhà tù cũng đi ngang chiếc cầu nầy và khi đi qua cầu nầy, tội nhân hay than vắn thở dài nên nhà thơ Lord Byron đặt tên là cầu thở dài(Bridge of sighs). Sau đó, chúng tôi được hướng dẫn đến địa điểm bước xuống thuyền để đi vòng quanh trên lạch nước the Grand Canal thơ mộng nằm giữa thành phố Venice gọi là “Serenade Gondola Ride”. Du khách muốn được ngồi trên thuyền này phải mua vé, 35 Euro cho mỗi người. Nhóm chúng tôi vẫn 6 người như thường lệ ngồi trên một chiếc thuyền màu đen do một anh chàng người Ý khoẻ mạnh chèo thuyền đưa chúng tôi dạo quanh con lạch . Thuyền này cách thuyền kia khoảng mười thước. Thuyền nào ít người thì có ban nhạc ngồi chung. Họ vừa đàn vừa hát giúp vui cho du khách ngồi trên các thuyền thưởng thức. Dưới ánh nắng dịu hiền của mùa thu mới về trên đất Ý, chúng tôi ngồi trên thuyền nghe tiếng đàn, tiếng hát của mấy chàng ca sĩ người Ý ở chiếc thuyền trước mặt cũng khiến cho tâm hồn chúng tôi cảm thấy rộn ràng, hân hoan, cảm thấy hạnh phúc, vui tươi. Bất giác tôi cất tiếng hát bài Le Beau Danube Bleu của nhạc sĩ nổi tiếng Johann Strauss Jr mà nhạc sĩ Phạm Duy dịch sang tiếng Việt là Dòng Sông Xanh :
Một dòng xanh xanh, một dòng tràn mông mênh
Một dòng nồng ý biếc, một dòng sầu mấy kiếp
Một dòng trời xao xuyến, một dòng tình thương mến
Một dòng còn quyến luyến, một dòng nhớ
Quay về miền đời lúc mơ huyền
Ánh dương lên xôn xao, hai ven bờ sông sâu
Cười ròn tiếng người, đẹp lòng sớm mai.
Những cô em tươi môi ngồi giặt yếm yên vui
Thả ý thắm theo người chở gió về xuôi.
Hát vang lên cho vui, cô nàng ngồi bên tôi
……………………………………………..

Lạch nước The Grand Canal (Hình trích từ Wikipedia)

Ngồi trên thuyền dạo chơi trên lạch nước The Grand Canal tại thành phố Venice
Vì cảnh mấy chiếc thuyền đen đang lướt nhẹt trên lạch nước chảy quanh thành phố Venice dưới ánh nắng thu thật tuyệt đẹp nên chúng tôi thay phiên nhau quay phim, chụp hình. Thuyền này chụp thyền kia, người kia chụp người nọ liên hồi.
Khoảng nửa giờ sau anh chàng lái thuyền người Ý cho thuyền chúng tôi cập bến rồi gác mái chèo. Chúng tôi liền lên bờ và theo ông trưởng đoàn để đi ăn cơm trưa.
Thế rồi chiều hôm ấy, chúng tôi đến tham quan tháp nghiêng Pisa rồi chụp hình làm kỷ niệm. Vì tháp hơi nghiêng và lên tầng cấp hơi khó khăn, cũng như phải mua vé mới lên xem được, vì vậy rất nhiều người trong đoàn du lịch chúng tôi không muốn lên xem. Riêng nhóm 6 người chúng tôi nhất quyết lên xem cho được mặc dầu tôi bị đau lưng và bà xã tôi mới bị té sáng qua nên lưng bị sưng lên làm hơi đau đớn. Trước khi leo lên tháp Pisa, ông trưởng đoàn cũng nói cho chúng tôi biết sơ tiểu sử về di tích của tháp này. Tháp The Leaning Tower of Pisa tiếng Ý là Torre pendente di Pisa hay là La Torre di Pisa. Tháp này là cấu trúc thứ ba trong quãng trường Piazza del Duomo và được xây đứng một mình bên cạnh nhà thờ thành phố Pisa ở Ý. Lúc xây thì tháp thẳng đứng, nhưng sau khi xây xong vào năm 1173, tháp bị lệch hướng và nghiêng về phía đông nam vì có một nền móng của tháp bị yếu vì thiếu chất nền. Tháp cao 55.86 mét, rộng 4.09 mét, đỉnh rộng 2.48 mét. Từ dưới lên trên có tất cả 294 tầng cấp. Độ nghiêng của tháp 5.5 và nặng
14, 500 tấn. Tháp nầy được xây qua 3 giai đọan trong thời gian 177 năm. Sau khi xác định lại một lần nữa, các kiến trúc sư cho biết rằng tháp sẽ vẫn còn vững chắc ít nhất 300 năm nữa. Sau khi nghe ông trưởng đoàn trình bày xong, chúng tôi liền đến gần tháp để mua vé rồi leo lên tháp tham quan.

Tháp nghiêng Pisa (Hình trích từ Wikipedia)
Vì phải mua vé để lên cho kịp giờ nên anh Lê văn Chính đi nhanh đến chỗ bán vé để mua trước cho anh em chúng tôi trong lúc tôi, bà xã tôi và chị Thu Hương phụ giúp chúng tôi đi gởi xách và túi đeo lưng của tôi tại phòng gởi vì không được mang xách, túi đeo lưng lên tháp. Sau đó, tôi và bà xã tôi dìu tay nhau kẻ sau người trước vừa đi lên chầm chậm vừa nghỉ. Đến tầng thứ tư của tháp Pisa, vì quá đau lưng nên bà xã tôi không muốn đi lên nữa. Nhờ sự thuyết phục và động viên của tôi và nhờ tôi dìu bà xã tôi đi chầm chậm, cuối cùng chúng tôi đã lên được đỉnh của tháp Pisa. Lúc đứng trên tháp Pisa nhìn xuống, tôi nói với bà xã tôi rằng chúng mình đã chiến thắng nhờ cố gắng khắc phục được sự đau lưng nên mới lên tới đỉnh tháp Pisa. Thế rồi chúng tôi chụp vài bức hình làm kỷ niệm trước khi đi xuống.

Hình chụp trên đỉnh tháp Pisa.
Sau khi về khách sạn nằm nghĩ lại vụ leo lên tháp, tôi thấy tôi và bà xã tôi thật liều lĩnh và quá chịu đựng vì đã leo tất cả 294 tầng cấp (bậc thềm) đang trơn trợt vì có nước ở các tầng cấp trong khi lưng chúng tôi đau nhói lúc đang leo. Có lẽ một lần đi là một lần khó cũng như biết rằng chẳng bao giờ trở lại tháp Pisa nầy nữa nên phải quyết chí mà thôi .
Sau khi từ giả tháp nghiêng Pisa, chúng tôi được ông trưởng đoàn du lịch hướng dẫn về khách sạn Grand Hotel Guinigi ở tại Via Romana 1247, Lucca thuộc tỉnh Lucca nướcÝ để nghỉ ngơi và ăn cơm tối.
Sáng hôm sau ông trưởng đoàn du lịch đưa chúng tôi đi tham quan một số di tích lịch sử trong thành phố Florence. Chúng tôi đã đến xem Cổng Thiên Đàng (the Door of Paradise) hay còn gọi là the Bronze Door of the Baptistery, quãng trường Signoria, trung tâm thương mại Duomo và di tích “ the 13 Santa Crose”. Sau khi tham quan những di tích lịch sử nầy chúng tôi đuợc hướng dẫn đi xem các cửa tiệm bán áo quần, giày dép vv…làm bằng da thuộc của thú vật chính hiệu con nai vàng. Đến chiều, ông trưởng đoàn du lịch dẫn chúng tôi đến thành phố nổi tiếng nhất trên thế giới của Thiên chúa giáo, đó là thành phố La mã. Tại đây ông trưởng đoàn cho chúng tôi vào tham quan toà thánh Vatican trước. Sau khi mua vé vào cửa xong, 36 Euro cho mỗi một người, chúng tôi đứng sắp hàng nối đuôi nhau để vào xem. Vì hằng trăm đoàn du lịch từ khắp nơi trên thế giới đổ xô về đây để tham quan toà thánh La mã, nên chúng tôi tuy đã sắp hàng nối đuôi nhau rồi, nhưng vẫn di chuyển rất chậm chạp từng bước một và phải mất một giờ bốn mươi lăm phút mới vào được bên trong toà thánh La mã. Tại đây, chúng tôi được tham quan quãng trường và đại giáo đường Thánh St.Peter. Trong lúc nhìn kỹ lối kiến trúc và những bức tượng được đặt trong đền Thánh St.Peter, anh Lê văn Chính đi bên cạnh tôi ca ngợi liên tục. Anh nói:
-Điền thấy không, nhìn lối kiến trúc của ngôi đền từ ngoài vào trong từ trong ra ngoài, cũng như những nét điêu khắc, chạm trổ thật điêu luyện và tinh vi của mỗi bức tượng, mình phải thán phục những nghệ nhân cách đây mấy thế kỷ. Nếu so sánh nghệ thuật thưở ấy và bây giờ mình phải nói nghệ thuật của người xưa quá tuyệt vời.
Theo sự trình bày và giải thích của một cụ già ngườiÝ được ông trưởng đoàn du lịch giới thiệu cho chúng tôi, đại giáo đường Saint Peter tiếng Ý gọi là Basilica di San Pietro in Vaticano. Đây là một trong bốn đại giáo đường quan trọng nhất của La mã. Đại giáo đường này là biệt thự nỗi bật nhất bên trong thành phố Vatican và được xây dựng ngay trên nơi hoang tàn đổ nát của đại giáo đường cũ. Đại giáo đường này chiếm một diện tích 5.7 acres và có khả năng chứa trên 60,000 người.

Thánh đường Peter (Hình trích từ Wikipedia)
Tân ước không đề cập đến sự hiện diện của thánh Peter tại La mã, nhưng truyền thống của Thiên chúa giáo nghĩ rằng, ngôi mộ của thánh Peter được an táng ở phía dưới đền thờ của ngài. Vì lý do nầy, nhiều Giáo hoàng, bắt đầu với những vị đầu tiên, đã được an táng nơi đây. Đại giáo đường ngày hôm nay được xây trên chỗ hoang tàn đổ nát cũ bắt đầu ngày 18 tháng 04 năm 1506 và hoàn thành xong vào năm1626. Vào ngày 23 tháng 12 năm 1950, trong lần phát thanh trước lễ Giáng sinh trên toàn thế giới, đức Giáo Hoàng Pio 12 thông báo cho toàn thể thế giới biết rằng các nhà khảo cổ đã tìm ra ngôi mộ của Thánh Peter sau 10 năm tìm kiếm dưới hầm mộ của đại giáo đường.
Còn quãng trường Thánh Peter ( Piazza di San Pietro) nằm ở phía đông của nhà thờ do Gianlorenzo Bernini kiến tạo giữa năm 1656 và 1667. Quãng trường này được bao quanh bởi một số dãy cột hình bầu dục với hai đôi cột, theo kiểu thật giản dị của Hy lạp thưở trước, tạo thành chiều rộng của quãng trường. Mỗi cột mang một cái mũ trên cột theo lối kiến trúc cũ. Những dãy cột này như như dang rộng vòng tay quanh quãng trường, như ôm ấp niềm tin trong cánh tay của người mẹ ở trong giáo đường.

Quãng trường Thánh Peter(Hình trích từ Wikipedia)
Sáng nay đáng lẽ chúng tôi vào thăm di tích cổ thành La mã trước, nhưng khi đến nơi, các đoàn du lịch khác nối đuôi nhau vào xem quá đông nên ông trưởng đoàn sau khi hướng dẫn chúng tôi đi thăm một vài di tích ở bên ngoài thành liền thay đổi chương trình, qua thăm toà thánh La mã trước. Trong khi điểm danh lại trên xe buýt, ông trưởng đoàn thấy mất tích hai người. Ông liền chỉ thị cho tài xế xe buýt phải chờ hai vợ chồng người Hoa kia trở lại rồi mới khởi hành. Trong lúc đó, ông trưởng đoàn cầm cây cờ hãng du lịch Tour Ritz chạy tới chạy lui trong mấy đám đông mất mười lăm phút toát mồ hôi hột vẫn không tìm thấy hai người kia đâu cả. Cuối cùng, ông trưởng đoàn quyết định cho tài xế lái xe buýt qua thăm toà thánh La mã nếu không sẽ bị trễ dây chuyền ở những nơi khác. Cũng may là ông trưởng đoàn đã cho tất cả du khách trong đoàn biết số cell phone của ông ta nên khi hai vợ chồng người Hoa kia bị lạc, họ đã gọi cell phone cho ông trưởng đoàn . Sau đó nghe đâu ông chồng người Hoa này bị Tào tháo rượt nên phải tìm nơi đi cầu. Vì vậy bà vợ phải chờ ông ta nên khi ông trưởng đoàn tập họp du khách lại để lên đường, hai vợ chồng người Hoa này không ra kịp nên bị lạc. Đi du lịch kiểu này vợ chồng luôn luôn phải sát cánh bên nhau mới khỏi bị lạc nhau. Thà lạc đoàn du lịch rồi nhờ cảnh sát tìm cách liên lạc lại sau chứ vợ lạc chồng hay chồng lạc vợ thì rắc rối cho cuộc tình! Cuối cùng hai vợ chồng người Hoa này đã gọi tắc xi về khách sạn. Không hiểu đồ ăn thức uống tại các tiệm ăn như thế nào mà hết nửa đoàn du lịch chúng tôi đều bị Tào tháo rượt! Vì vậy vấn đề đi tìm phòng vệ sinh lắm lúc làm trở ngại cho cả đoàn. Dĩ nhiên đây là những trường hợp xảy ra ngoài ý muốn của mọi người.
Trở lại vấn đề trên, sau khi tham quan toà thánh La mã xong, chúng tôi liền lên xe buýt để đến xem cổ thành La mã. Tại đây ông trưởng đoàn hướng dẫn đi thăm những di tích lịch sử còn lại tại thành phố La mã như the eternal Colosseum, the Roman Forum, Constatine’s Triumphal Arch, Spanish Steps, và Trevi Fountain.
Cũng như những nơi khác, cứ mỗi lần đến thăm di tích nào ông trưởng đoàn cùng người hướng dẫn địa phương lại phải giải thích cũng như thuyết minh về nguồn gốc của từng thắng cảnh một. Chúng tôi khi thì lắng tai nghe khi thì đành bỏ nghe để chụp hình, quay phim những nơi chúng tôi đến tham quan vì mỗi lần đi là một lần khó nên phải nhanh tay chụp hình để làm kỷ niệm, nếu không lúc ông trưởng đoàn dẫn đến những thắng cảnh khác thì không sao chụp lại hình nơi mình đã đến được. Vì vậy nhiều lúc các du khách say sưa chụp hình nầy, chụp hình nọ nên đã bị đi lạc đoàn du lịch mấy lần khiến ông trưởng đoàn kêu trời không thấu!

The Roman Forum. ( Hình trích từ Wikipedia)

The Arch of Constatine. (Hình trích từ Wikipedia)

Cổ thành La mã (Hình trích từ Wikipedia)

The Spanish Steps. (Hình trích từ Wikipedia)


The Trevi Fountain. (Hình trích từ Wikipedia)
Cũng như những nơi khác, chúng tôi thay phiên nhau chụp hình, quay phim cổ thành La mã để làm kỷ niệm. Thế rồi chiều hôm ấy, sau mười mấy ngày đi du lịch qua 4 nước Anh, Pháp, Thuỵ sĩ, Ý, sau khi tham quan những nơi đã vạch sẵn trong chương trình du lịch, chúng tôi còn khoảng một đến hai giờ đồng hồ nữa là chấm dứt cuộc du lịch 4 nước Âu châu. Chỉ còn một hai giờ phù du còn lại, chúng tôi được ông trưởng đoàn cho đi shopping để mua sắm quà kỷ niệm tặng bạn bè và nhìn thành phố La mã lần cuối trước khi đi ăn cơm tối, rồi về khách sạn nghỉ ngơi để sáng mai lên máy bay trở lại quê nhà.
Cuối cùng ông trưởng đoàn tập họp điểm danh chúng tôi trước khi hướng dẫn chúng tôi về khách sạn Holiday Inn Rome Eur Parco dei Medici ở tại Viale Castello della Magliana 65, 00148 thành phố Rome tại Ý.
Tại đây, ông trưởng đoàn dẫn chúng tôi vào một tiệm ăn người Ý để dùng cơm tối. Vì đây là bữa cơm chung vui cuối cùng của tất cả du khách trong đoàn nên mỗi người đóng góp 45 Euro cho ông trưởng đoàn để ông ta đặt trước tại nhà hàng. Vì là một bữa tiệc ly biệt nên tối hôm ấy ông trưởng đoàn du lịch đã cùng anh em trong đoàn chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác say sưa bên nhau rất là vui vẻ. Vui nhất là các anh bồi bàn ngườiÝ. Họ luôn luôn diện veston, thắt cà vạt lúc bưng đồ ăn ra cho thực khách. Không biết đây có phải truyền thống đùa vui trong tiệm ăn của người Ý hay không mà mấy anh chàng bồi bàn này mỗi lần bưng một món ăn cho một phụ nữ, họ thường cầm theo một cánh hoa hồng để tặng cho người phụ nữ đó. Trước khi tặng cho người phụ nữ nào, các anh chàng này làm một dấu hiệu để xin các nàng một nụ hôn. Nhiều nàng chiều ý chàng để cho chàng hôn lên má, nhiều nàng lại không muốn chiều chàng vì có chồng bên cạnh nên chỉ biết cười rồi ngoảnh mặt đi. Tuy nhiên có một chàng bồi bàn lại liều lĩnh khi xin nàng một nụ hôn và vì thấy nàng cười có vẻ như ưng ý, chàng ta liền lấy một khăn trắng để sẵn trên bàn rồi thả nhẹ để phủ trên đầu và mắt người chồng ngồi bên cạnh nàng. Nhanh như chớp, anh chàng bồi bàn kia vừa hôn nhẹ lên má nàng vừa trao cánh hoa hồng cho nàng. Vì động tác của chàng bồi bàn quá nhanh nên nàng trở tay không kịp. Cuối cùng nàng chỉ biết ngồi cười hì hì trong lúc chồng nàng cũng vừa lấy chiếc khăn trắng ra khỏi đầu. Tất cả thực khách thấy thế đều cười to lên khiến người chồng của nàng kia cũng ngạc nhiên không biết tại sao mọi người lại cười như thế. Tiếp theo trò tặng hoa hồng của mấy anh chàng bồi bàn là những bài hát nhạc dạo của hai chàng ca sĩ ngườiÝ. Lúc chúng tôi đang ngồi chờ những thức ăn khác, có hai thanh niên người Ý bước vào. Anh chàng lớn tuổi hơn thì cầm kèn clarinet, anh chàng nhỏ tuổi hơn cầm đàn guitare. Cả hai vừa đàn vừa hát một bản nhạc của nước Ý. Sau khi họ hát xong chúng tôi vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Nhiều người lấy tiền tặng cho họ. Tôi cũng lấy 5 đô la để sẵn trong túi ra tặng cho họ. Sau đó tôi đề nghị họ hát bài “Torna A Surriento” của nhạc sĩ người Ý tên là Ernesto De Cutis, tức là bài Come back to Sorrento ( Trở về mái nhà xưa ). Anh chàng lớn tuổi hơn bảo tôi rằng họ không biết bài đó. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe chàng ta nói như vậy bởi vì bài này rất phổ biến tại nước Ý và đã ra đời cách đây hơn 100 năm cả thế giới đều biết.Tuy nhiên ba mươi giây sau họ nói với tôi rằng họ đùa chơi vậy thôi, để họ hát cho mà nghe! Có thế chứ ! Tôi liền nhìn anh Bùi Ty ngồi trước mặt rồi nói :
-Ca sĩ Ý mà không biết bài “Trở về mái nhà xưa” của nhạc sĩ Ernesto De Cutis thì đập vỡ cây đàn guitare đi là vừa Ty há.
Thế là anh chàng lớn tuổi thổi kèn clarinet trong lúc anh chàng cầm đàn guitare vừa đàn vừa hát bài “Trở về mái nhà xưa” bằng tiếng Ý thật du dương, nhẹ nhàng, thật khoan thai và điêu luyện.

Hai ca sĩ hát dạo người Ý đang trình diễn
Lúc tiếng hát vừa dứt anh em vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Sau đó anh chàng lớn tuổi hỏi chúng tôi rằng trong chúng tôi ai là người biết nhảy đầm, tôi liền chỉ ngay anh chị Bùi Ty ngồi trước mặt tôi. Thế là hai anh chàng này mời anh chị Bùi Ty đứng lên để họ đàn và hát cho anh chị Bùi Ty nhảy. Bài “Besame mucho” nhạc của Mễ tây cơ được hai anh chàng kia chọn để hát cho anh chị Bùi Ty nhảy. Họ đàn bản nhạc này theo điệu cha cha cha và anh chị Bùi Ty cứ thế nhảy liên tục cho đến hết bài làm cho phòng ăn trở nên vui nhộn khác thường. Sau khi tiếng hát vừa dứt, anh chị Bùi Ty vừa về lại chỗ ngồi thì ông trưởng đoàn du lịch thừa thắng xông lên rót rượu đỏ trong chai ra hết rồi mời anh chị em cùng nâng cốc chung vui. Sau khi cạn ly, chúng tôi liền có đôi lời từ biệt với nhau rồi tất cả lên xe buýt để về khách sạn nghỉ ngơi, sáng mai chuẩn bị lên đường trở về quê cũ. Theo lời dặn của ông Leung Reddy, trưởng đoàn du lịch, chúng tôi dậy thật sớm và đúng 5:00sáng , chúng tôi lên xe buýt để vào phi trường lên máy bay qua Thụy sĩ. Tại thuỵ sĩ, chúng tôi lại sang máy bay khác để về San Francisco. Sau khi dẫn toán chúng tôi vào phi trường, ông trưởng đoàn từ biệt chúng tôi để về lại khách sạn dẫn toán còn lại vào phi trường một lần nữa vì toán nầy phải qua Luân đôn rồi từ phi trường Heathrow tại Luân đôn, họ sẽ lên máy khác để bay về Los Angeles.
Lúc máy bay vừa cất cánh bay cao giữa mây trời bát ngát, tôi ngoái cổ nhìn xuống những lâu đài cổ kính, những biệt thự nguy nga của nước Ý mà lòng buồn vời vợi. Mới hôm qua đây, chúng tôi đã vào tham quan những kiến trúc thật tinh xảo, những nhà thờ thật vĩ đại, những công trình xây cất quá công phu và đầy nghệ thuật. Mới hôm qua đây chúng tôi đã cùng nhau chụp biết bao nhiêu tấm hình, quay biết bao nhiêu là phim ảnh khi vào trong toà thánh La mã, khi viếng thăm cổ thành, khi leo lên tháp Pisa, khi ngồi trên thuyền lướt nhẹ trên lạch nước trong thành phố Venice thật nên thơ và dịu hiền. Vậy mà giờ phút này đây tất cả đều xa dần, xa dần , chỉ còn thấy mây trời bay trong nắng. Chuyến du lịch bốn nước Âu châu giờ đây đã chấm dứt sau mười hai ngày phiêu bạt giang hồ để trở về mái nhà xưa, trở về nơi quê cũ . Không có gì thoải mái và tuyệt đẹp bằng quê nhà. Không có gì hiền hoà và ấm cúng bằng nơi ta ở. Bỗng đâu văng vẵng bên tai tôi giọng ca bài “Trở về mái nhà xưa” bằng tiếng Ý của hai anh chàng thanh niên người Ý cầm cây đàn guitare và cây kèn clarinet hát dạo trong đêm tiệc chia tay của chúng tôi ở nhà hàng tại nướcÝ chiều qua:
TORNA A SURRIENTO
Vide ‘o mare quant’è bello.
Spira tantu sentimento,
Comme tu a chi tiene mente,
Ca scetato ‘o faie sunnà.
Guarda, guá, chisto ciardino.
Siente, sié sti sciure arance,
Nu profumo accussì fino
Dinto ‘o core se ne va.E tu dice: “Í parto, ađio!”
T’alluntane a stu core,
Da sta terra de l’ammore
Tiene ‘o core ‘e nun turnà?
Ma nun me lassà,
Nun darme stu turmiento!
Torna a Surriento,
Famme campà!Vide ‘o mare de Surriento,
Che tesoro tene ‘nfunno,
Chie ha girato tutto ‘o mummo
Nun l’ha visto comm’a ccà.
Guarda attuorno sti Sserene,
Ca te vonno tantu bene
Te vulessero vasà.E tu dice: “Í parto, ađio!”
T’alluntane a stu core,
Da sta terra de l’ammore
Tiene ‘o core ‘e nun turnà?
Ma nun me lassà,
Nun darme stu turmiento!
Torna a Surriento,
Famme campà!Rồi cũng lại văng vẵng bên tai tôi giọng hát của ca sĩ Trần thái Hoà bài “Trở về mái nhà xưa “ bằng tiếng Việt:
Về đây khi mái tóc còn xanh xanh.
Về đây với mầu gió ngày lang thang
Về đây xác hiu hắt lạnh lùng.
Ôi lãng du quay về điêu tàn.
Đâu tiếng đàn ngoài hiên mưa?
Và đâu bướm tơ, vui cùng mùa?
Một mùa Xuân mới, mắt êm nắng hào hoa.
Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan.
Về đây lắng trầm khúc nhạc truy hoan.
Về đây nhé! Cắm xong chiếc thuyền hồn
Ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đờn.
Mái tóc nhà lưu luyến vạt trăng xanh.
Nếu mưa về yêu lấy hạt long lanh.
Chờ mong nắng cho tươi đời xuân xanh.
Người xa vắng biết đâu nấm nhà buồn
Đốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh.
Sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh.
Và nghe thấy kiếp xưa bước nhẹ về
Đang khóc than trên đường não nề.
Thôi nhé đừng hoài âm xưa
Giọt mưa đã gieo trên thềm nhà
Người ngồi im bóng
Lắng nghe tháng ngày qua.California, một chiều thu nhạt nắng .
Dương viết Điền (tháng 10 năm 2007)
(Trích từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Âu Châu và Hạ Uy Di” xuất bản năm 2009)
-
Du Lịch Alaska.

Để quý độc giả khỏi ngỡ ngàng và ngạc nhiên khi đọc mục này, tôi chỉ trích những đoạn văn, những hình ảnh quan trọng có ý nghiã cho cuộc du lịch mà thôi. Vì thế cứ mỗi đoạn văn được trích từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Alaska”, tôi đều để ký hiệu ba chấm (. . .) như là để tiếp nối những đoạn văn khác.Vì tác phẩm “ Ký Sự Du Lịch Alaska” dày mấy trăm trang nên không thể đăng hết vào đây được. Mong quý độc giả thông cảm.
Được biết Alaska là tiểu bang của Hoa Kỳ nằm về phía Tây Bắc của lục địa Bắc Mỹ. Biên giới phía Đông là thị trấn Yukon và tỉnh British Columbia nằm trong lãnh thổ Gia Nã Đại. Phía Bắc giáp Bắc Băng Dương, phía Tây và Nam giáp Thái Bình Dương. Alaska là tiểu bang lớn nhất của Hoa Kỳ. Khoảng một nửa dân số (735.132 người) sống tại thành phố Anchorage. Thủ đô là Juneau. Kinh tế của Alaska chuyên về dầu lửa, hơi đốt và ngư nghiệp. Du lịch cũng chiếm một vị trí quan trọng cho nền kinh tế của tiểu bang này. Mặc dầu hằng ngàn năm trước đây, Alaska do thổ dân nơi đây làm chủ, nhưng từ thế kỷ thứ 18 trở về sau, các cường quốc Âu châu đến đây chiếm đóng để khai thác và buôn bán làm ăn. Hoa Kỳ đã mua Alaska của Đế quốc Nga vào ngày 30 tháng 3 năm 1867 với giá 7.2 triệu dollars, khoảng 2 cent một mẫu Anh ($4.74/km2). Nhiều cơ quan hành chánh đổi thay tại
xứ này trước khi trở thành lãnh thổ chính thức vào ngày 11 tháng 5 năm 1912. Alaska chính thức được thừa nhận là tiểu bang thứ 49 của Hoa Kỳ vào ngày 3 tháng 1 năm 1959. Một vài sự kiện đặc biệt tại Alaska là nhiều lúc trăng tròn đúng 12 giờ trưa, đúng ngọ. Có khi quá 30 ngày mặt trời không lặn, không có đêm. Tại Ketchikan, mưa quanh năm suốt tháng đúng 365 ngày, và lắm lúc mưa bụi trong nắng gọi là liquid sunshine. Ngoài ra lại có chuyện tuyết ngược nữa: gió thổi mạnh làm tuyết bay lên trời, đến nơi khác tuyết lại rơi xuống đất.
Để độc giả biết thêm một vài chi tiết nữa về Alaska, tôi xin đăng bài sau đây của Dịch giả Phạm Khánh lấy từ trên mạng:
“Tại sao Nga lại bán Miếng Đất Vàng Alaska cho Hoa Kỳ ?”
“Cho đến nay, nhiều người vẫn nghĩ rằng: Mỹ đã ăn cướp Alaska từ Nga, hoặc chỉ mới thuê lãnh thổ này, mà đến một lúc nào đó sẽ trả lại. Tuy nhiên, sự thật là Nga đã bán Alaska cho Mỹ với giá 7,2 triệu USD vào năm 1867.
Tờ check được dùng để trả tiền mua Alaska,
mang mệnh giá 7,2 triệu dollar Mỹ (Source upsieutoc.com)
Có một điều nhiều người không hiểu là tại sao Nga lại bán miếng đất đầy vàng Alaska cho Mỹ?
Tờ Russia Beyond the Headlines (RBTH) của Nga đã có một bài phân tích về sự kiện trên.
* Alaska trước khi bán:
Trong thế kỷ 19, Alaska của Nga là một Trung tâm thương mại thế giới. Tại thủ phủ Novoarkhangelsk (nay là Sitka) của Alaska, các hoạt động giao dịch diễn ra rất nhộn nhịp với các mặt hàng như: vải Tàu Chệt, trà, và thậm chí là nước đá đông đặc, mặt hàng mà miền Nam nước Mỹ rất cần trước khi phát minh ra tủ lạnh. Ở đây cũng phát triển ngành đóng tàu, và có rất nhiều nhà máy, cũng như rất nhiều mỏ vàng. Do đó, việc bán vùng đất này được coi là một điều điên rồ.
Các thương nhân Nga kéo tới Alaska để mua ngà hải mã (một loại ngà đắt tiền như ngà voi) và lông rái cá biển có giá trị từ người dân địa phương.
Các giao dịch thương mại được kiểm soát bởi các Công ty Nga-Mỹ (RAC), do các nhà thám hiểm và doanh nhân Nga thành lập từ thế kỷ 18. Công ty này cũng kiểm soát tất cả các mỏ, và khoáng sản của Alaska. Nó có thể ký hiệp định thương mại với các nước khác một cách độc lập, có lá cờ, và tiền tệ riêng.
Sa Hòang cấp cho công ty này những đặc quyền trên. Tuy nhiên, chính phủ không chỉ thu các khoản thuế lớn, mà còn làm chủ một phần lớn công ty này – Sa Hòang và các thành viên trong gia đình là cổ đông của RAC.
Ông đã xây dựng trường học và các nhà máy, dạy dân địa phương cách trồng củ cải và khoai tây, xây dựng pháo đài, và nhà máy đóng tàu, mở rộng các hoạt động buôn bán rái cá biển. Ông yêu mến Alaska không chỉ vì nơi này giúp ông kiếm được nhiều tiền, mà còn bằng tình yêu thực sự nữa.
Dưới sự lãnh đạo của Baranov, RAC có khoản doanh thu khổng lồ: hơn 1.000% lợi nhuận. Khi Baranov nghỉ hưu, và rời bỏ vị trí của mình, sĩ quan quân đội Hagemeister đã lên thay ông. Hagemeister đã tuyển thêm nhiều nhân viên, và cổ đông mới trong quân đội. Thay vì chú trọng đến việc điều hành và phát triển công ty, ông này lại tìm cách chiếm đoạt lợi nhuận kinh doanh, và chính những hành động đó đã hủy hoại RAC.
* Lợi lộc bẩn thỉu:
Ban lãnh đạo mới của công ty này đã tự cho mình mức lương khổng lồ, những nhân viên quản lý thông thường có thể kiếm tới 1.500 rúp mỗi năm (tương đương với mức lương của các Bộ trưởng và các Thượng nghị sĩ), trong khi người đứng đầu của công ty có mức lương tới 150.000 rúp. Họ mua lông thú từ người dân địa phương với giá chỉ bằng một nửa. Kết quả, trong 20 năm sau, người dân ở đây đã giết chết gần như tất cả các con rái cá biển, khiến cho ngành thương mại có lợi nhuận nhất của Alaska bị dập tắt.
Trước tình hình đó, RAC bắt đầu tìm kiếm các nguồn thu nhập khác. Do đó việc buôn bán đá đông, và trà bắt đầu, nhưng những người lãnh đạo lại không đủ sức điều hành tốt công ty và cũng không bao giờ nghĩ đến việc giảm lương của chính mình. Kết quả, RAC đã phải nhận trợ cấp của nhà nước – 200.000 rúp mỗi năm. Nhưng cuối cùng công ty này cũng bị phá sản.
Sau đó, Chiến tranh Crimea (1853-1856) nổ ra, Anh, Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ cùng chống lại Nga. Với tình huống đó Nga không thể cung cấp cũng như bảo vệ Alaska, vì các tuyến đường biển ở đó đã bị kiểm soát bởi các tàu của quân đồng minh. Thậm chí cũng không thể khai thác vàng ỏ đây. Nga lo sợ rằng Alaska sẽ bị Anh cướp mất, và Nga sẽ chẳng được lợi lộc gì.
Căng thẳng giữa Moscow, và London tăng lên, trong khi mối quan hệ với các nhà chức trách Mỹ đang êm ấm hơn bao giờ hết. Cả hai gần như cùng có ý tưởng mua bán Alaska.
Vì vậy Baron Eduard de Stoeckl, phái viên của Nga tại Washington, đã thay mặt Sa Hoàng mở cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Mỹ William Seward.
* Cờ Nga bị hạ xuống:
Trong khi hai bên đang đàm phán, dư luận ở cả hai nước cùng phản đối thỏa thuận trên. Các phương tiện Nga tràn ngập những câu hỏi như: “Sao chúng ta có thể từ bỏ vùng đất mà chúng ta đã bỏ rất nhiều công sức và thời gian để phát triển, vùng đất đã có kết nối điện báo, và có nhiều vàng?”. Trong khi truyền thông Mỹ thì phẫn nộ: “Tại sao Mỹ cần vùng đất băng giá đó hả?”.
Không chỉ có báo chí, Quốc hội Mỹ cũng không chấp thuận việc mua bán này. Tuy nhiên, bất chấp tất cả những bất đồng đó, ngày 30/3/1867, tại Washington, hai bên đã ký thỏa thuận bán Alaska với diện tích 1,5 triệu ha cho Mỹ với giá 7,2 triệu USD, một khoản tiền được cho là chỉ mang tính tượng trưng.
Ở thời điểm đó, một vùng đất bình thường ở Siberia với diện tích tương tự có thể có giá gấp 1395 lần. Nhưng khi đang phải đối mặt với tình cảnh sẽ bị mất Alaska, mà không kiếm được đồng xu nào, thì có vẻ như việc chấp thuận thỏa thuận trên vẫn là một giải pháp tốt hơn nhiều đối với Nga.

Việc bàn giao chính thức Alaska cho Mỹ được thực hiện ở Novoarkhangelsk. Những người lính Mỹ và Nga xếp hàng bên cạnh cột cờ, lá cờ Nga bị hạ xuống, và được đánh dấu bằng phát súng đại bác. Sau đó, người Mỹ đã đổi tên thủ phủ Novoarkhangelsk thành Sitka. Hàng trăm người Nga quyết định không lấy quốc tịch Mỹ, đã phải đi khỏi khu vực này bằng tàu buôn.
Một thời gian ngắn trôi qua, vàng đã bắt đầu được khai thác. Các cơn sốt vàng bắt đầu nổi lên ở Alaska, giúp người Mỹ kiếm được hàng trăm triệu USD”.
(Phạm Khánh dịch)

……Bước ra khỏi phòng Art Gallery là đến phòng trà ngay. Phòng này tương đối đẹp mắt, lãng
mạn đầy nghệ sĩ tính. Một màn ảnh thật lớn trong phòng để máy chiếu khuếch đại hình ảnh của các nghệ sĩ trình diễn trên sân khấu nằm trước mặt.Tại đây ban nhạc của du thuyền trình diễn thường xuyên cho du khách đến thưởng thức. Cũng như nhiều show hài hước hay trò chơi cho các trẻ nhỏ để giải trí cho du khách từng giờ.
Một cầu thang bằng nhôm đã được thiết lập từ phòng nghe nhạc lên tầng trên, để du khách nào
muốn lên ngồi nghe nhạc trên ấy thì cứ tự nhiên như người Hà nội, với những chậu cây hoa lá cành thật thơ mộng nằm cuối cầu thang. Nhiều cặp tình nhân du khách trẻ tuổi đến đây thấy phòng này có vẻ ấm cúng và lãng mạn nên ngồi nghe nhạc suốt ngà. Họ
thường ngồi ở tầng trên để vừa nhâm nhi cà phê, vừa nghe nhạc cổ điển Tây phương của Mozart,
Strauss, Chopin, Bethoveen, Tchaikovsky v.v…, vừa nhìn sóng biển đang xô đuổi nhau giữa lòng đại dương dưới ánh nắng vàng. Lắm lúc có nhiều trò chơi tiêu khiển dành cho giới trẻ, hay hai nhân viên thuộc ngành hoả đầu vụ biểu diễn trên sân khấu làm cho du khách ngồi uống cà phê nơi đây được nhiều phen cười đùa thoả thích. Nhiều lần khán giả vỗ tay hoan hô nhiệt liệt vang dội cả một góc du thuyền. Nhiều du khách khoái chí kêu bia hay rượu uống thay vì gọi cà phê khi thấy hai nhân vật đóng kịch quá hấp dẫn và tài tình.
Sau khi rời phòng trà để đến những địa điểm giải trí khác, vừa đi khoảng một phút, tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy một cô gái ngồi uống cà phê chỉ một mình thôi giống hệt như chiều hôm qua, khi đi ngang qua đây, tôi cũng thấy cô ta chỉ ngồi một mình.
Đi du lịch mà thơ thẩn một mình chắc phải có uẩn khúc gì đây về cuộc sống chăng? Hay vì tuyệt vọng về chuyện tình yêu đôi lứa?
Nói đến tình tuyệt vọng, tôi bỗng nhớ đến bài thơ “Sonnet” của thi sĩ nổi tiếng người Pháp là Alexis Félix Arvers, sinh năm 1805, qua đời năm1850. Ông có xuất bản tập thơ “Mes heures perdues” nhưng ít người biết đến. Thi sĩ Alexis Félix Arvers chỉ nổi tiếng nhờ bài thơ “Sonnet” mà thôi. Nhờ cảm hứng thình lình mà ông ta đã sáng tác nên bài thơ này.
Thấy cô gái kia buồn bã ngồi nhìn ra biển cả bao la, tôi như cảm thông được chuyện tình buồn vời vợi của nàng, nên vừa đi vừa đọc bài thơ “Sonnet” của thi sĩ Alex Félix Arvers đầy cay đắng, ngậm ngùi.
S O N N E T
Mon âme a son secret, ma vie a son mystère,
Un amour éternel en un moment conçu.
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire,
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.
Hélas ! J’aurais passé près d’elle inaperçu,
Toujours à ses côtés et pourtant solitaire.
Et j’aurais jusqu’au bout fait mon temps sur la terre,
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.
Pour elle, quoique Dieu l’ait faite douce et tendre,
Elle ira son chemin, distraite et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.
A l’austère devoir pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d’elle:
-“Quelle est donc cette femme?” et ne comprendra pas.Alexis Félix Arvers
TÌNH TUYỆT VỌNG
Lòng ta chôn một khối tình,
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu.
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu,
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ơi ! Người đó ta đây,
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần,
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi.
Người dù ngọc nói hoa cười,
Nhìn ta như thể nhìn người không quen.
Đường đời lặng lẽ bước tiên,
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình.
Một niềm tiết liệt đoan trinh,
Xem thơ nào biết có mình ở trong.
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng :
-“Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?”
Khái Hưng dịch———————————————————-
……..Sau khoảng 30 phút băng qua rừng thưa và nghe cô Teresa giải thích sự hình thành và phát triển của một số loài thảo mộc đặc biệt, đoàn chúng tôi đã đến ven biển nên cô hướng dẫn viên cho đoàn dừng lại. Tại đây, cô Teresa chỉ cho chúng tôi thấy dãy núi bên kia eo biển bị tuyết phủ ngập thường xuyên quanh năm suốt tháng.

Dưới biển nổi trên mặt nước là những khối băng nho nhỏ nằm trơ gan cùng tuế nguyệt suốt tháng quanh năm và chỉ tan ra khi trời nắng gắt mà thôi. Thấy một khối băng nho nhỏ nằm ngay sát bờ, chúng tôi liền cầm lên quan sát rồi thay nhau chụp hình làm kỷ niệm, bởi mấy khi lên được xứ lạnh cóng triền miên ở tận vùng Bắc cực nầy.


Cô Teresa cho biết mẩu băng này nằm trơ gan cùng tuế nguyệt giữa đại dương đã 200 năm.
Sau thời gian băng rừng để nhìn tuyết phủ trên núi, chúng tôi liền theo hướng dẫn viên Teresa băng qua một con đường mòn trong rừng để ra lại bến xe buýt hồi nãy.
Tại đây, sau khi điểm danh lại số khách du lịch của đoàn chúng tôi, cô Teresa bảo mọi người lên xe và tài xế lái xe trực chỉ đến bờ biển để lên tàu nhỏ ra khơi xem cá voi theo chương trình đã vạch sẵn.
Khi xe buýt dừng lại, chúng tôi được hướng dẫn đi băng qua một chiếc cầu tương đối ngắn và nhỏ để đến bến tàu.
Đến bờ biển được khoảng mười lăm phút thì cô Teresa đã liên lạc được ca-nô.
Thế là chúng tôi nhảy ngay lên ca-nô nho nhỏ và ông tài công cho nổ máy rồi khởi hành ra biển ngay.
Tàu chạy với tốc độ nhanh làm cho sóng biển rẽ thành hai đường thật đẹp mắt. Trên tàu có một cửa kính được mở ra nên khi có cơn gió thổi mạnh nước biển theo gió tạt vào trong tàu làm ướt áo vài du khách ngồi xem sóng biển. Cô Teresa đứng ngay bên người tài công, vừa nhìn du khách, vừa giải thích và trình bày về địa điểm cũng như thời gian cá voi xuất hiện cho du khách biết. Lại chỉ có một du khách nho nhỏ có đầu óc thích tìm tòi, học hỏi và đam mê những điều mới lạ, nhất là bầy cá voi đang quậy trước cảnh đại dương bao la bát ngát, nên đã liên miên hỏi hướng dẫn viên Teresa về những điều cậu ta muốn biết. Đó là cậu David Châu, 8 tuổi, du khách đã chất vấn cô ta trong rừng thưa mấy giờ trước đây cả đoàn ai cũng biết. Dĩ nhiên cô Teresa cảm thấy rất thích thú khi có người nêu câu hỏ
Vì thế cô ta nhất định làm vừa lòng cậu du khách nho nhỏ này bằng cách từ từ trả lời những câu hỏi của cậu David Châu để làm cho cậu ta thoả mãn. Một du khác người ngoại quốc ngồi bên tôi khi thấy cậu nho nhỏ này cứ hỏi cô Teresa mãi cũng có vẻ thích thú nên nhìn tôi mỉm miệng cười hoài. Bỗng mọi người trên ca-nô la lên rồi chồm về mạn tàu bên phải để nhìn khi thấy mấy con cá voi nhảy lên trên không, lượn vòng đùa giỡn rồi lặn chìm lại xuống biển. Nhìn mấy con cá voi đang đùa giỡn trong nắng giữa biển cả bao la, tôi chợt nhớ đến một bài thơ mang tựa đề “What Whales and Infants Know” của Thi Sĩ Kim Cornwall sáng tác năm 2012:
What Whales and Infants Know (Kim Cornwall)
A beluga rising from the ocean’s muddy depths
reshapes its head to make a sound or take a breath.I want to come at air and light like this,
to make my heart
a white arc above the muck of certain days,
and from silence and strange airsend a song
to breach the surface
where what we most need lives.Tạm dịch:
Cá voi mẹ và con
Một con cá voi
nhô đầu lên từ lòng đại dương
tạo lại hình dáng của chiếc đầu
rồi phát thành tiếng kêu
hay là đang thở.
Tôi muốn đến giữa lòng đại dương
đầy ánh sáng như thế này,
để cho tâm hồn mình
được uốn lượn
thành hình cung màu trắng
một vài ngày,
từ sự tĩnh lặng
và bầu không khí lạ thường
gởi một bản tình ca
làm rối bời
khuôn mặt đại dương
Nơi đây chúng ta cần sự sống.
Tung tăng trên mặt nước, khi thì chúng đùa giỡn bên phải, khi thì chúng giỡn đùa bên trái. Tùy theo vị trí cá voi xuất hiện, người tài công cho tàu quay qua quay lại để du khách nhìn được dễ dàng. Vì tàu quay qua, quay lại, quay tới quay lui nên bị chóng mặt rồi say sóng vì chưa bao giờ đi biển cũng như tuổi còn quá nhỏ dại nên cậu David Châu, người thường xuyên làm cho cô Teresa có việc làm, đã phải đến nằm kê đầu vào bố nình vì cảm thấy buồn nôn.
Du khách trên tàu vẫn mỏi mắt nhìn ra khơi. Nếu người nào thấy cá voi xuất hiện ở đằng xa thì chỉ tay cho mọi người trên tàu cùng xem. Bỗng tàu di chuyển qua lại gần mấy thùng màu đỏ làm mốc định vị cho tàu bè đi ngang qua biết, chúng tôi thấy hai con cá voi đang nằm trên mấy thùng màu đỏ đó thật vui mắt.
Sau hơn một tiếng đồng hồ nhìn mấy con cá voi đùa giỡn trên biển, hướng dẫn viên Teresa báo cho ông tài công đã đến lúc rời địa điểm để trở lại du thuyền Norwegian Pearl dùng cơm trưa.
Cũng như thường lệ, mỗi lần dùng điểm tâm hay cơm trưa, tối, chúng tôi thường lên tầng 12 theo thói quen, ít khi đi địa điểm khác. Cứ mỗi lần du khách bước vào phòng ăn là có nhân viên của du thuyền đứng chờ sẵn trước cửa để xịt thuốc (alcohol) vào tay du khách hay trao một miếng giấy ẩm ướt cho du khách lau tay để khử trùng. Trưa ấy tôi tách khỏi gia đình để đi trước lên phòng ăn. Khi vừa bước vào phòng, tôi thấy một thanh niên đang đứng đánh đàn guitare ngay cửa ra vào để đón chào du khách vào dùng cơm trưa.

Chàng ta vừa đàn vừa hát, bên cạnh là một nữ nhân viên đứng cầm bình xịt alcohol để khử trùng hai bàn tay cho du khách.
Một du khách đang vỗ tay bên cạnh chàng guitarist Nhìn chàng thanh niên vừa đàn vừa hát làm cho một du khách vốn là một nghệ sĩ, cảm thấy hân hoan trong lòng nên anh du khách này liền mượn cây đàn guitare và cũng đứng ngay cửa ra vào, rồi vừa đàn vừa hát bản nhạc “ L’amour c’est pourrien” của Enrico Macias cho các du khách khác trên du thuyền Norwegian Pearl vào dùng cơm trưa nghe.

Một du khách mượn đàn để vừa đàn vừa hát bản nhạc L’amour, C’est pour rien.
Một du khách mượn đànđể đàn bản nhạst pour rien Một du khách mượn đànđể đàn bản nhạc“L’amour c’est pour rien” L’amour c’est pour rien(Enrico Macias)
Comme une salamandre, l’amour est merveilleux
Et renait de ses cendres comme l’oiseau de feu,
nul ne peut le contraindre
Pour lui donner la vie.
et rien ne peut l’eteindre
Sinon l’eau de l’oubli.
L’amour, c’est pour rien.
Tu ne peux pas le vendre.
L’amour, c’est pour rien.
Tu ne peux l’acheter.
Quand ton corps se revelille,
Tu te mets a trembler.
Mais si ton coeur s’eveille,
Tu te mets a rever.
Tu reves d’un echange avec un autre aveu,
Car ces frissons etranges
Ne vivent que par deux.
L’amour, c’est pour rien.
Tu ne peux pas le vendre.
L’amour, c’est pour rien.
Tu ne peux l’acheter.
L’amour, c’est l’esperance,
Sans raison et sans loi.
L’amour comme la chance
Ne se merite pas.
Il y a sur terre un etre
Qui t’aime a la folie,
Sans meme te reconnaitre
Pret a donner sa vie.
L’amour, c’est pour rien.
Tu ne peux pas le prendre.
L’amour, c’est pour rien.
Mais tu peux le doner.
L’amour, c’est pour rien.
L’amour, c’est pour rien.Tình cho không biếu không (Phạm Duy)
Ngon như là trái táo chín
Thơm như vườn hoa kín
Mong manh như dây tơ chìm
Nhẹ êm như là mây tím.
Tình là rất cao mù khơi
Tình là thấp như biển vơi
Tình tỏa khắp, khắp cuộc đời
Đi bao la khắp nơi nơi…
Tình cho không, biếu không
Ân tình ai cũng cho được nhiều.
Tình cho không, biếu không
Chớ nên mua bán tình yêu.
Khi em mơ niềm yêu dấu
Em run như là tơ liễu
Khi con tim em xoay động
Và tình yêu vừa lên tiếng
Tình cần có hai lời ca
Tình là bãi khô cần mưa
Diều chờ gió dong ngoài trời
Đêm khuya mong sáng yên vui.
Ta yêu nhau là mong nhớ
Không băn khoăn hoặc suy nghĩ
Như say mê như hi vọng
Tình yêu như là may mắn.
Tình là mắt ta vừa che
Tình là biết yêu người xa
Người tình vẫn nhớ mong dù
Ta không quen biết bao giờ.
Tình cho không không thiếu
Không bán mua tình yêu!Sáng ngày 20 tháng 6 năm 2015, như thường lệ, chúng tôi đến phòng điểm tâm để ăn sáng. Hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc du ngoạn nên chúng tôi đành phải từ giả Alaska để trở lại “quê nhà” ở California. Thế nên chúng tôi chẳng có gì phải bận rộn như những ngày qua, vì phải vội vàng theo chân các hướng dẫn viên để đi xem danh lam thắng cảnh. Lúc còi tàu hú vang rền và nhổ neo rồi lướt sóng đại dương để về bến cảng Seattle, chúng tôi ngồi nhìn phố xá của Alaska mà lòng buồn vời vợi, vì phải xa cách xứ sở của băng hà tuyết trắng, của sóng biển dạt dào giữa đại dương bao la bát ngát mà mới hôm qua đây, chúng tôi đã ngụp lặn và đắm chìm trong hạnh phúc và tràn đầy niềm vui của mấy ngày du ngoạn tại Alaska, và trên du thuyền Norwegian Pearl ở tận cực Bắc của địa cầu. Ngồi dùng điểm tâm sát bên cửa kính trên du thuyền, tôi đưa tay vẫy chào lần cuối bến cảng ở Alaska và thấy bến cảng xa dần, xa dần rồi mất hẳn ở tận chân trời đầy tuyết trắng.

Hình chụp từ trên du thuyền lúc tàu nhổ neo rời bến cảng

Lúc chiếc du thuyền ra giữa đại dương tràn ngập ánh bình minh đẹp tuyệt trần, tôi vẫn còn nhìn về phía chân trời xa vời vợi, nơi có dãy băng hà phủ cả một góc trời suốt tháng quanh năm và mãi mãi trơ gan cùng tuế nguyệt.
Bất giác tôi ngâm bài thơ “Alaska Trắng” của Thi Sĩ Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang đăng trong bài “Mười Điều Về Alaska, Đất, Mặt Trời Nửa Đêm”của chính tác giả, như để tiếc nuối thời gian du ngoạn quá ngắn ngủi ở xứ tuyết trắng băng hà nầy.
ALASKA TRẮNG
Yêu em trắng dải băng hà,
Trắng từ thiên cổ, trắng già muôn năm.
Yêu em trăng ngọ (1) rất rằm,
Muôn đom đóm tuyết (2) chỗ nằm đùa chơi.
Bắc quang nhẩy múa rạng ngời (3),
Hoàng hôn khuya tím, mặt trời nửa đêm (4).
Yêu em. Gió cứng. Bão mềm,
Sương treo. Nắng lỏng (5). Mây chìm. Khói hoang.
Yêu em. Tuyết ngược. Mưa ngang (6).
Bỏ thôi, hạ giới (7), nhân gian hồ đồ.
Đời ta trắng Eskimo,
Nghìn thu trang sử cột-thờ-totem (8).
Bao la riêng của anh, em.
* Ghi Chú (của Thi Sĩ Nguyễn Xuân Quang)
(1) Trăng ngọ: ở Alaska có ngày trăng tròn như trăng rằm còn thấy vào lúc đúng ngọ, giữa trưa.
(2) Những tinh thể tuyết lóng lánh như muôn ngàn đom đóm tuyết bay lượn.
(3) Bắc quang là áng sáng Bắc (aurora borealis, Northern lights)
(4) Ở Alaska có khi quá nửa đêm mặt trời mới lặn. Có chỗ có khi hơn ba mươi ngày mặt trời không lặn, không có đêm, lúc đó một ngày ở đó dài hơn ba mươi ngày «hạ giới».
(5) Nắng lỏng:ở Ketchikan một năm gần 360 ngày mưa, có năm độ mưa lên tới 3.900 mm. Mưa bụi hay giọt bụi nắng, mưa trong nắng gọi là ‘liquid sunshine’.
(6) Tuyết ngược: gió hất tung tuyết từ mặt đất lên trời mang đi chỗ khác rơi xuống thành tuyết ngược.
Mưa ngang: gió trên Bắc Cực thổi tạt ngang bưng những trận mưa từ phương xa lại tạo thành những trận mưa ngang.
(7) Dân Alaska gọi những người Mỹ ở 48 tiểu bang phía dưới là «dân 48 miệt dưới» (lower 48), hạ giới.
(8) Cột thờ totem có một khuôn mặt dùng ghi lại lịch sử, truyền thuyết, tình sử…
(Trích từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Alaska” xuất bản năm 2015).
Dương viết Điền
-
DU LICH PHI CHÂU

Châu Phi: South Africa, Zimbabwe và Boswana từ ngày 28/8 – 13/9/2023 với công ty du lịch Exoticca.
1. South Africa:
South Africa còn được gọi là Cộng hòa Nam Phi, nằm ở phía nam châu Phi. Thường mỗi quốc gia chỉ có một thủ đô nhưng Nam Phi có ba thủ đô: Pretoria – thủ đô hành chính (administrative capital), Cap Town – thủ đô lập pháp (legislative capital) và Bloemfontein – thủ đô tư pháp (judicial capital). Chưa kể Johannesburg tuy không chính thức nhưng cũng được mệnh danh là “thủ đô kính tế”… South Africa nổi tiếng với sự đa dạng về văn hóa, thiên nhiên, lịch sử và có nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng như Johannesburg, Cap Town, Kruger National Park….
Khởi hành từ phi trường Los Angelos, CA và sau gần 30 tiếng ngừng, nghỉ và chuyển máy bay ở London, chúng tôi đã đến thành phố Johannesburg, South Africa, được đưa về ăn tối và ngủ qua đêm ở khách sạn Garden Court. Sáng hôm sau, chúng tôi được xe của công ty chở đi Mpumalanga để thăm Kruger National Park. Chuyến đi này hơn 7 tiếng đồng hồ, dọc đường nghỉ ăn trưa và thăm ba thắng cảnh nổi tiếng thu hút nhiều du khách yêu vẻ đẹp thiên nhiên: Blyde River Canyon, Three Rondavels và God’s Window.
– Blyde River Canyon: là một trong những thung lũng với hẻm núi đẹp và lớn nhất trên thế giới, nằm ở tỉnh Mpumalanga, South Africa. Hẻm núi này có độ dài khoảng 25 km và được tạo ra bởi sông Blyde River, cung cấp cảnh quan đẹp tuyệt vời với những vách đá đỏ và cây cỏ xanh mướt. Dọc theo đường đi là những điểm đẹp nổi tiếng như Three Rondavels, God’s Window…
– Three Rondavels: là ba đỉnh đá đặc biệt có hình dáng giống với các lều tròn truyền thống của người Bantu, gọi là “rondavels”. Từ đỉnh cao này, chúng ta có thể thưởng ngoạn toàn cảnh tuyệt đẹp của thung lũng và sông Blyde.
– God’s Window (Cửa Sổ của Thượng Đế): là một địa điểm gần với Blyde River Canyon, nổi tiếng với khung cảnh tuyệt mỹ của sự hoang sơ và đa dạng trong thiên nhiên. Từ God’s Window, chúng ta có thể nhìn thấy những dãy núi, khe núi và rừng rậm trải dài đến tận chân trời, tạo nên một cảm giác như đang đứng trước một cửa sổ thiên đàng.
Chúng tôi đến Ingwenyama Resort vào lúc chạng vạng tối, sau khi về phòng, tắm rửa, chúng tôi đã có một bửa tối buffet thật ngon.
– Ingwenyama Conference & Sport Resort: ở thành phố nhỏ White Water trong tỉnh Mpumalanga, cách Johannesburg khoảng 5 tiếng và Kruger National Park 45 phút lái xe. Đây là khu nghỉ dưỡng yên tĩnh, đẹp trang nhã, lịch sự, thức ăn ngon. Chúng tôi sau khi thăm viếng Kruger Natonal Park đã có một ngày nghỉ nhàn hạ và chụp nhiều hình kỷ niệm ở resort này.
– Kruger National Park, South Africa: là một trong những công viên quốc gia hàng đầu của Nam Phi và cũng là một trong những khu bảo tồn động vật hoang dã lớn nhất trên thế giới, nơi du khách có thể trải nghiệm các chuyến safari thú vị và khám phá vẻ đẹp thiên nhiên cũng như có cơ hội thấy nhiều loại động vật hoang dã, bao gồm cả “Big Five” (sư tử, voi, trâu nước, báo, tê giác). Những con thú hoang này thường đi ra ngoài vào sáng sớm hay chiều muộn nên chúng tôi đã phải dậy sớm đi từ 5 giờ sáng. Rất may mắn trong chuyến safari này, chúng tôi đã thấy được nhiều thú hoang trong đó có voi, trâu rừng, báo, ngựa vằn, nai, hươu, linh dương, chó sói, khỉ đột, hươu cao cổ, heo rừng, gà rừng, diều hâu và nhiều loại chim khác… Đặc biệt trong chuyến đi này, chúng tôi đã nhìn thấy một con báo từ xa và một con nai đã bị con báo bắt ăn thịt và treo xác trên một cành cây để dành ăn dần…
Sau ba ngày ở Ingwenyama Resort, chúng tôi lên xe bus về lại phi trường Johannesburg để bay đi Cap Town. Trên đường ra phi trường Johannesburg, chúng tôi đã ngừng lại thăm thành phố Pretoria.
– Pretoria: là thủ đô hành chính của Nam Phi, thường là nơi làm việc của Tổng Thống, nằm ở phía bắc Nam Phi. Pretoria là một trung tâm về văn hóa, chính trị và giáo dục, nổi tiếng với kiến trúc đa dạng và vị trí lịch sử quan trọng. Pretoria còn là quê hương của loài phượng tím nở rộ vào cuối tháng 10, nhuộm tím cả thành phố lãng mạn cổ kính. Nếu Johannesburg sầm uất, hối hả và ngột ngạt thì Pretora ngược lại – có phần chậm rãi và yên tĩnh, cho chúng ta một cảm giác thanh bình êm ả.
Chuyến bay dài hơn 2 tiếng đã đưa chúng tôi từ phi trường Johannesburg đến Cap Town lào lúc 8 giờ tối, sau đó được đưa về khách sạn Cresta Grande nằm giữa trung tâm thành phố. Sau một ngày dài mệt mỏi, chúng tôi đi ngủ sớm sau khi dùng cơm tối ở khách sạn. Sáng hôm sau, chúng tôi bắt đầu đi thăm và khám phá Cap Town, một thủ đô của Cộng hòa Nam Phi từ lâu tôi đã được nghe danh nhưng mãi đến bây giờ mới có dịp viếng thăm và thấy thành phố này quả thực rất đẹp, văn minh, sạch sẽ (đặc biệt các toilet ở phi trường, sạch sẽ nhất trong những toilet trên thế giới nơi tôi từng đến) và người dân hiền lành, lịch sự và tốt bụng hơn trong trí tưởng tượng của tôi nhiều. Chúng tôi đã dùng phương tiện Hop-on Hop-Off Tour bus để đi thăm toàn cảnh Cap Town, đặc biệt ghé thăm những nơi nổi tiếng như Victoria & Alfred Waterfront Marina, Signal Hill, Kirstenbosch National Botanical Garden, Table Mountain, Chapman’s Peak Drive, Boulder Beach, Cape of Good Hope…, tất cả mọi nơi đều để lại cho chúng tôi những ấn tượng tuyệt đẹp.
– Cap Town: thủ đô lập pháp và là thành phố lớn nhất của Nam Phi, nằm ở cực Nam của châu Phi, nơi biển Đại Tây Dương và biển Ả Rập gặp nhau. Vị trí này tạo nên một cảnh quan hùng vĩ với dãy núi nổi tiếng như Table Mountain và 12 Apostles nằm bên cạnh biển xanh biếc, những bãi biển tuyệt đẹp như Camps Bay và Cliffton Beach với bãi cát trắng mịn. Thành phố này có một kiến trúc, lịch sử và văn hóa đa dạng, thể hiện qua nghệ thuật, âm nhạc và ẩm thực đa quốc gia. Đây là một nơi đến tuyệt vời cho những ai muốn khám phá vẻ đẹp và văn hóa của Nam Phi.
– Victoria & Alfred Waterfront Marina: là hải cảng đẹp với nhiều trung tâm thương mại và vui chơi hàng đầu của Cap Town, nơi du khách có thể mua sắm, ăn ngon, thăm bảo tàng viện, dạo chơi, ngắm hải cẩu phơi mình trên bờ trong nắng ấm hoặc đi du thuyền ngắm toàn bộ thương cảng rất đẹp.
– Signal Hill: nằm cạnh núi Table Mountain, là nơi du khách và dân địa phương thường đến để ngắm cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp và bắn pháo hoa vào mùa lễ hội. Đỉnh đồi này có một bảo tàng quân sự và nhiều pháo cổ điển, từng được sử dụng để phát tín hiệu giao thông và báo hiệu thời tiết cho thủy thủ đoàn.
– Kirstenbosch National Botanical Garden: nằm dưới chân núi Table Mountain, là một trong những vườn bách thảo quốc gia đẹp nổi tiếng nhất thế giới với trên 7,000 đủ loại thực vật bản địa được trồng trong khu viên rộng 36 hecta này. Chúng tôi đã có một buổi sáng thư giản yên bình đi trên những con đường mòn ngắm cây cảnh và nghe nhiều tiếng chim hót líu lo.
– Table Mountain: là một đỉnh núi nổi tiếng tại Nam Phi, nằm ở trung tâm của Cap Town, có thể nhìn thấy được gần khắp mọi nơi ở Cap Town. Nó được gọi là “Table Mountain” (Núi Bàn) là do hình dạng phẳng đỉnh của nó, trông giống như một tấm bàn lớn đặt ngang. Table Mountain có độ cao khoảng 1,085 m trên mực nước biển và từ đỉnh núi, có thể nhìn thấy cảnh quan của cả thành phố Cap Town và vịnh Table Bay tuyệt đẹp. Để lên đến đỉnh Table Mountain, chúng tôi đã dùng hệ thống cáp treo hiện đại. Nhưng chẳng may khi lên được đến đỉnh, nhìn xuống dưới chúng tôi chẳng thấy được gì vì lúc đó mây và sương mù bao phủ chung quanh, gió thổi mạnh và trời rét buốt nên chúng tôi chỉ chụp hình loanh quanh rồi một tiếng sau, vội vàng theo cáp treo xuống núi.
– Chapman’s Peak Drive: là một trong những con đường ngắn, 9 km, ngoạn mục nhất ở South Africa, nổi tiếng với các khúc cua quanh co và các chỗ dừng xe vị trí tuyệt vời để ngắm cảnh biển và núi.
– Boulders Beach: là bãi biển ở Simon’s Town, phía nam Cap Town, nơi sinh sống của một loài chim cánh cụt đặc biệt, được gọi là African Penguin hoặc Cape Penguin.
– Cap of Good Hope: nằm ở phía nam của bán đảo Cap Peninsula, là một biểu tượng của South Africa, nổi tiếng với việc có một bảo tàng và những con sóng mạnh mẽ của Đại Tây Dương gặp nhau với biển Ấn Độ Dương, được nhiều du khách viếng thăm và chiêm ngưỡng khung cảnh biển cả và các vách đá cao và đồng cỏ xanh tuyệt đẹp.
Sau 3 ngày 4 đêm ở Cap Town, chúng tôi đáp chuyến bay đế́n thăm một nước khác ở châu Phi: Zimbabwe.
2. Zimbabwe:
Zimbabwe là một quốc gia không giáp biển, nằm ở phía Bắc của South Africa, giữa hai nước South Africa và Zambia, thủ đô là Harare và có khoảng 15 triiệu dân, tiếng Anh là ngôn ngữ chính. Zimbabwe nổi tiếng với Hwange National Park và Victoria Falls, có di sản văn hóa và lịch sử phong phú. Đất nước tuy có nhiều tài nguyên nhưng chưa được phát triễn, phần đông dân chúng sống trong cảnh đói nghèo.
Chúng tôi đến phi trường Victoria Falls Airport của nước Zimbanwe vào khoảng 1:30 pm, được đưa về ở tại Nguni Lodge, cách phi trường không xa, rất xinh xắn, thơ mộng với những mái nhà lợp tranh, hồ bơi và cây cảnh xanh mát chung quanh. Chúng tôi chỉ ở đây có 1 ngày 2 đêm nhưng cũng đã xem được những cảnh đẹp nổi tiếng và có những kỷ niệm vui, buồn lẫn lộn.
– Sunset Cruise on the Zambezi River: chúng tôi đã có một buổi chiều tuyệt vời khi đi trên chuyến du thuyền ngắm hoàng hôn trên sông Zambezi, một trong những con sông lớn nổi tiếng nhất châu Phi. Chúng tôi đã uống rượu vang, thưởng thức những món khai vị bản xứ thật ngon, chiêm ngưỡng mặt trời lặn trên sông tuyệt đẹp và ngắm những con cò trắng, hươu, nai, voi, cá sấu, hà mã ngâm mình trong nước, phơi mình trong nắng hoặc lang thang trên cánh đồng hoang…
– Victoria Falls: thác nước lớn nhất thế giới có chiều rộng khoảng 1.7 km và chiều cao khoảng 108 m (Niagara Falls rộng khoảng 1.6 km va cao 51 m), nằm ở biên giới giữa Zimbabwe và Zambia, phía Nam của châu Phi. Thác Victoria được hình thành bởi nước sông Zambezi cung cấp, từ độ cao 108m đổ thẳng xuống một phiến đá lớn. Kẽ nứt được hình thành rộng khoảng 1.7 km. Từ đó nước sông bị hẫng nên tạo thành một thác nước vô cùng thú vị. Cảnh đẹp ấn tượng này được một nhà thám hiểm người Scotland tên David Livingstone tìm ra vào ngày 16/11/1855. Thác được lọt vào danh sách Di sản thế giới, 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên đẹp nhất.
– Kituso Primary School & Village: không nằm trong chương trình du lịch, chúng tôi yêu cầu được đi thăm một làng quê để tìm hiểu đời sống của người dân ở đây và được người tour guide đưa đi thăm trường tiểu học Kituso và một làng quê cách Victoria Falls khoảng 10 phút lái xe. Nói là “trường” nhưng thật ra đó là hai phòng nhỏ lợp mái tôn, trong lớp chỉ có hai cái bàn và vài ba cái ghế, các em bé thay phiên nhau ngồi đọc, viết ở bàn. Hôm chúng tôi đến thăm trúng vào ngày Thứ Bảy, trường nghỉ học nhưng vì được tin có du khách đến thăm nên cô giáo và các phụ huynh đã mang con em ̣mặc đồng phục đến trường, khoảng độ 30 em, tất cả ngồi ở sân đất sau trường, dưới bóng cây, chờ chúng tôi thăm viếng. Nhìn cảnh thiếu thốn của trường và các em, chúng tôi không khỏi xót xa và mọi người chúng tôi đã đóng góp ít nhiều giúp đỡ trường và mua quà bánh cho các em.
Rời trường, chúng tôi được đưa đến một làng nhỏ kế bên gồm 5,6 căn nhà cho 37 người dân ở đó. Một cô bé 14 tuổi và người mẹ được cử làm đại diện tiếp đón chúng tôi. Chúng tôi được cho biết làng không có điện, nước, người dân phải đi khiêng nước cách làng vài ba cây số. Nguyên cả làng chỉ có một cái bếp, một phòng chứa đồ ăn và tất cả mọi người trong làng tụ tập nơi đây để nấu nướng, ăn uống chung với nhau. Họ chỉ có ăn ngày hai bửa, sáng và chiều, thức ăn thường là những loại ngũ cốc địa phương nấu loãng như cháo, hiếm khi có rau trái, thịt thà trung bình 1-2 lần một tuần. Làng không có trường trung học, được cô bé kể phải đi bộ 5 km mới đến trường, trưa nhịn đói…
Chúng tôi ra về sau khi biếu một ́it tiền, lòng bồi hồi thương xót cảnh nghèo khó của dân làng ở đây cũng như của phần đông dân chúng trong xứ sở này và không khỏi liên tưởng cảnh nghèo khổ thiếu thốn tương tự ở những làng quê VN…
Hôm sau, sau khi ăn sáng, chúng tôi lên xe van đi mất hơn một tiếng, băng qua biên giới đến thành phố giáp ranh Kasane, ở hai đêm tại Chobe Safari Lodge nằm bên bờ sông Chobe nổi tiếng để thăm nước láng giềng: Botswana.
3. Botswana:
Botswana là một quộ́c gia không giáp biển, nằm ở phía Bắc của South Africa và giáp ranh với bốn nước Namibia, Zimbabwe, Zambia và South Africa, thủ đô là Gaborone và có khoảng 2.3 dân, ngôn ngữ chính là tiếng Anh. Botswana, trù phú hơn Zimbabwe, có một nền kinh tế mạnh mẽ, chủ yếu là khai thác mỏ kim cương và du lịch, nổi tiếng với động vật hoang dã và một trong những nơi thu hút khách du lịch hàng năm này là Chobe National Park.
– Chobe National Park: nằm ở phía Bắc của Botswana, gần biên giới với South Africa, Zimbabwe và Zambia và là công viên quốc gia lớn thứ ba ở Botswana, lấy tên từ con sông Chobe, chảy dọc theo ranh giới phía Bắc của công viên. Chobe National Park nổi tiếng khắp thế giới về sự đa dạng của động vật hoang dã, bao gồm cả “Big Five”. Cũng như chuyến safari ở Kruger National Park, South Africa chúng tôi ra đi từ lúc 5 giờ sáng, khi chưa rạng đông, trời lạnh như cắt và mỗi người trong xe được phát cho một cái mền quấn người cho ấm. Loài thú chúng tôi nhìn thấy đầu tiên là voi, rất nhiều voi, đi từng đàn, nhìn những chú voi con đi sát cạnh mẹ thấy thật thương và cảm độ̣ng. Đang mãi ngắm voi thì người tài xế nhận được tin có hai con báo, ông ta bảo chúng tôi
ngồi cẩn thận và chạy xe thật nhanh đến đ̣ịa điểm đó vì sợ đến chậm hai con báo bỏ đi mất. Ông chạy xe như bay trên những con đường mòn hẹp, lắm lúc cán trên những bụi cây để đi và đây là lần đầu tiên tôi thấy sự lợi hại của four-wheel drive… Khi đến nơi thì đã có mười mấy chiếc xe chen chúc ở đó để mọi người nh̀ìn ngắm hai con báo trong rừng, một con trên cành cây đang ăn thịt một con nai, một con dưới đất, cách xa mọi người khoảng 300 m. Tôi đã phải vất vả lắm mới nhìn thấy chúng vì quá xa và hình dáng chúng lẫn vào cây rừng, may mà máy ảnh tôi có ống kính dài nên tôi mới có thể trông thấy và chụp hình hai con báo đó. Hôm đó chúng tôi cũng đã nhìn thấy nhiều thú vật hoang dã, có lẽ còn nhiều hơn ở Kruger National Park, như hươu, nai, ngựa vằn, voi, cá sấu, linh dương, heo rừng, khỉ, trâu nước, gà rừng, ngựa vằn, hươu cao cổ… và nhiều loại chim đặc biệt. Chỉ tiếc là trong chuyến đi này chúng tôi đã không nhìn thấy sư tử và tê giác là hai loài thú ngày càng hiếm hoi trên thế giới.
– Sunset Cruise on the Chobe River: Buổi chiều chúng tôi ̣đi du thuyền để ngắm mặt trời lặn đẹp tuyệt vời trên sông Chobe, một trong những con sông nổi tiếng nhất châu Phi. Con sông này là nhịp tim của cả khu vực, tạo thành môi trường sống lý tưởng cho vô số động vật phụ thuộc vào nước, trong đó có hà mã, cá sấu… Trong chuyến cruise này chúng tôi đã thấy nhiều nai, cá sấu, heo rừng, trâu nước, hà mã, nhiều loại chim và nhất là voi, đặc biệt là cảnh đàn voi lội qua sông thật ngoạn mục, voi con dùng vòi quấn đuôi voi mẹ thấy thật thương và cảm động.
Buổi cơm tối tại Chobe Safari Lodge, tôi đã có dịp thưởng thức món đuôi cá sấu rất ngon mềm và những món ăn địa phương khác cũng thật ngon. Hôm sau chúng tôi được chở ra phi trường Victora Falls để bay đến Johannesburg, rồi từ Johannesburg đến London và từ London về lại Los Angelos, một chặng đường dài gần 30 tiếng, kết thúc một chuyến đi thăm châu Phi thật thú vị với những kỷ niệm tuyệt vời khó quên.
Xin mời quí Thầy Cô, quí anh cḥi và các bạn cùng PL đi thăm vài nước châu Phi qua hình ảnh cho vui.
https://photos.app.goo.gl/xZNwRqb5qpSA91UFA
Kính chúc sức khỏe và an lành.
Thân kính,
PLang
Phan Lang
