• Âm nhạc,  ĐIỂM SÁCH,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt,  Viet-Hải

    VĂN HỌC TẢN MẠN LINH TINH

    Càng về sau số bạn bè trong hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa & Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & tiếng Thời Gian, khiến tôi bị rung chân, yếu tim thêm. Chả nhẽ bà con bay lên trời xanh, ta mãi cu ky cô dơn dưới dương trần sao nhỉ?

    Còn nhớ câu danh ngôn, tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Hoặc là câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Khi một con ngựa đau, hãy đại diện cho những cá nhân gặp hoạn nạn, khó khăn, đau khổ hay bất hạnh trong cuộc sống, hãy làm một chút gì dó an ủi hay ủy lạo bạn bè, dồng bào, hay rộng hơn là những nạn nhân, sinh linh gặp nạn.

    Câu nói mang ý tưởng, mang giá trị biểu hiện và thông điệp đạo đức là tinh thần đoàn kết và sự gắn bó keo sơn giữa bằng hữu trong tổ chức nhỏ xíu trong chúng ta, có vị ke, có vị không ke, không hưởng ứng, không sao cả, vì ngày nay nỗi khổ người ta, ngày sau đến lượt phe ta thói đời. Lòng nhân ái, tình tương thân tương ái: Từ loài vật biết thương nhau đến đạo lý làm người, ông bà ta muốn nhắc nhở mỗi cá nhân phải có lòng trắc ẩn. Truyền thống này tương đồng với các câu thành ngữ, ca dao khác như “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”. Sức mạnh của sự đùm bọc: Sự quan tâm, giúp đỡ không chỉ là chiếc phao cứu sinh giúp cá nhân vượt qua nghịch cảnh, mà còn là nền tảng để xây dựng một tập thể vững mạnh, một xã hội văn minh, nhân ái và giàu tình người.

    Tôi nghe Nữ sĩ Quỳnh Giao vướng stroke bị coma nhẹ, nay đã khỏi, nhà thơ HAK Dương Viết Diền, anh Alain Đức, anh Hoàng Khuê… cũng dau yếu, nhưng 25 bằng hữu hội viên tôi nghiêm ra rằng buổi hội ngô vui tưới ấm áp cho những thành viên như chị Hoàng Vinh, nữ sĩ Dương Hồng Anh, cụ bà 96 tuổi vẫn ra thơ đều đều, cụ tâm sự tôi vui quá nên hết ốm rồi anh. 

    Tôi vẫn nhớ câu danh ngôn, tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Hoặc là câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Lời nhắc nhở cho thế hệ hôm nay: Trong đời sống hối hả, đôi khi con người dễ bị cuốn vào những lo toan cá nhân mà trở nên thờ ơ, ít ke bà con nhóm. May là nhóm juniors Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa gánh vàc phụ tay cùng nhóm seniors Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & tiếng Thời Gian.

    Một tuyệt tác khác là câu ca dao mang đậm hồn nét dân tộc là ý tưởng của câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Câu ca dao như một tinh hoa, định giá hướng tư tưởng sống kết đoàn mang giá trị cốt lõi của câu ca dao, như một thông điệp nhân văn Khuyên lơn con người về tinh thần đoàn kết, tình tương thân tương ái, biết đùm bọc và yêu thương nhau vượt qua mọi ranh giới về hoàn cảnh, dù khó khăn, đầy thử thách.

    Sự kiện của câu ca dao mang hình tượng nghệ thuật, như sự kết hợp hòa quyện giữa hình ảnh thiên nhiên quen thuộc thảo mộc dây leo bầu và bí với nghệ thuật ẩn dụ métaphore, nhân cách hóa và theo thể thơ lục bát uyển chuyển.

    Câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, mang giá trị nghệ thuật: Thể thơ lục bát nhịp nhàng, từ ngữ giản dị, thủ pháp nhân hóa (“bầu ơi”) giàu cảm xúc.

    Ý nghĩa thực tiễn: Bài học về tình đoàn kết trong gia đình, ngoài xã hội và trong cả những hoàn cảnh thử thách to lớn của đất nước như thiên tai, hay nạn đại dịch lây lan mầm bệnh cho nhân loại. Vous souvenez-vous de la quarantaine liée au coronavirus? (Have you ever remembered the coronavirus quarantine?)

    Ca sĩ Kiều Loan đã diễn ngâm bài thơ mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh ngâm theo phong cách Tao Đàn Saigon xưa:

    Đợi ngày ra sách

    Chiều nay ngồi đọc sách

    Nhìn trời xanh bát ngát

    Đợi ngày ra mắt thơ

    Đàn lên cung, se tơ.

    Nghe gió chiều lao xao

    Cho lòng tôi nao nao

    Nhớ. Nhân Văn Nghệ Thuật

    Tiếng Thời. Gian dạt dào.

    Bao tháng ngày chờ đợi

    Dòng đời trôi qua mau

    Sách thơ bầy ngăn nắp

    Bút mực ngồi nhìn nhau

    Tin vui vừa loan báo

    Ngày ra mắt đến rồi

    Vườn hoa thơ nhạc nở

    Thêm một đóa hồng tươi

    Phất phơ trời lộng gió

    Hoa nở giữa vườn đời

    Hoa nở giữa hồn tôi

    Hoàng hôn tươi nụ cười

    Dương Hồng Anh, 26-9-2026

    Kỷ niệm ngày ra tác phẩm của khánh Lan và Hồng Anh.

    Chương trình văn nghệ ngâm thơ và ca hát bỏ túi với Ngọc Hà và Dương Viết Đang qua bài ca giấc mơ hồi hương của vũ thành.

    Dưới đây là bản tóm tắt ý chính của bài nhận xét theo phong cách thẩm định tổng quan (literature review), được chắt lọc ngắn gọn và súc tích:

    Tác giả Vũ Thành (1926–1987) là một gương mặt tiêu biểu của tân nhạc Việt Nam giai đoạn trước và sau năm 1954. Dù xuất hiện ít trước công chúng và có số lượng tác phẩm để lại không nhiều,nhưng ông lại được giới chuyên môn (nhạc sĩ, ca sĩ) kính trọng bậc nhất nhờ tài năng toàn diện ở cả ba vai trò: sáng tác, nhạc trưởng và hòa âm phối khí.

    Vũ Thành là bậc thầy về hòa âm. Theo đánh giá của các đồng nghiệp như Quỳnh Giao và Phạm Duy, ông là người có công lớn trong việc nâng tầm các ca khúc phổ thông thành tác phẩm nghệ thuật thính phòng sang trọng thông qua phần phối khí công phu, làm nền tảng thẩm mỹ vững chắc cho nhiều tác giả lớn thời kỳ đó.

    Cứ theo phong cách sáng tác và dấu ấn bán cổ điển, ông cho đổi mới dòng tân nhạc: Khác với âm điệu ủ ê, sướt mướt phổ biến của thập niên 40 (cung Ré thứ), âm nhạc của Vũ Thành mang hơi hướng bán cổ điển phương Tây, thanh tao, óng ả và quý phái. Tính kỷ luật trong việc trinh diễn: Các tác phẩm của ông (như Say Nhạc Canh Tàn, Nhặt Cánh Sao Rơi, Nhớ Bạn…) đòi hỏi người nghệ sĩ sự tiết chế, cách giữ nhịp tinh tế (rubato) và phát âm chuẩn mực thay vì luyến láy bi lụy quá đà, tùy cảm hứng.

    Bài tình ca “Giấc Mơ Hồi Hương” và mạch nguồn hoài niệm dĩ vãng,…

    Biểu tượng tâm tư di cư, Nhạc ra đời năm 1956, ca khúc là khúc hát tiêu biểu cho tâm sự của dòng người di cư từ miền Bắc vào Nam. Điểm độc đáo trong bút pháp của Vũ Thành là nhân cách hóa Hà Nội thành hình ảnh “em” – vừa gần gũi như một tình khúc riêng tư, vừa bao la như nỗi niềm chung của cả một thế hệ lưu xứ tha hương.

    Giá trị nghệ thuật vượt thời gian của bài nhạc là một bài hát kết hợp nhuần nhuyễn giữa nỗi buồn thấm thía chia ly, sự hồi tưởng và niềm hy vọng vào một ngày mai thanh bình. Qua các sáng tác muộn hơn như Hoài Hương Dạ Khúc, nỗi đau đáu hướng về quê cũ của ông được đẩy lên đến tận cùng của cảm xúc tha hương.

    Xét về bối cảnh ca khúc viết về Hà Nội thập niên 1950

    Bài viết đặt tên Giấc Mơ Hồi Hương (1956) vào dòng chảy chung của các nhạc phẩm viết về Hà Nội thời kỳ đó, bên cạnh những Hà Nội 49 (Trần Văn Nhơn) và Hướng Về Hà Nội (Ngô Hoàng Dương), cho thấy sự phong phú trong phong cách cất tiếng khóc hòa cùng vận mệnh đất nước của các nhạc sĩ dòng nhạc tiền chiến.

    Sau đây là tóm lược ý chính và nhận định về bài ca do ca sĩ Kiều Loan trình bày, bài tình ca dâng nỗi tâm cảm xoay quanh tác phẩm “Gửi người em gái miền Nam” của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn:

    Tác phẩm ra đời vào mùa xuân năm 1956, là bản tình khúc về mùa xuân duy nhất trong sự nghiệp của “nhạc sĩ của mùa thu” Đoàn Chuẩn. Tên gốc chính xác là “Gửi người em gái miền Nam” chứ không phải “Gửi người em gái” như cách gọi phổ biến suốt nhiều thập kỷ qua.

    Trải qua thời gian và hoàn cảnh lịch sử chia cắt hai miền Nam – Bắc, bài hát từng bị cắt xén, bóp méo cấu trúc và ca từ. Bài viết đòi lại sự công bằng cho tác giả bằng cách công bố phần lời gốc đầy đủ gồm 2 phần (với những hình ảnh thơ mộng nhưng đượm buồn về nỗi đau chia ly và niềm hy vọng đoàn tụ bên cầu Hiền Lương).

    Bài hát mang tâm sự thời thế sâu sắc: phản ánh bức tranh vân cẩu xã hội và tâm trạng của con người trong những năm đầu đất nước bị chia cắt (1954–1956). Phần 2 của bài hát chứa đựng khát vọng hòa bình và đoàn tụ mãnh liệt, vượt lên trên những tình cảm lứa đôi thông thường.

    Về giai thoại “bóng hồng” và những ẩn số cuộc đời, bài ca chứa hồi ức và theo giai thoại từ gia đình nhạc sĩ (con trai Đoàn Đính), người bạn tri âm Từ Linh, cũng như các nhà nghiên cứu (Vương Trùng Dương, Trương Quý, Lê Hoàng Long…).

    Bài hát xoáy quanh nguồn cảm hứng của bài hát là hình bóng của những mỹ nhân, ca sĩ tên tuổi thời tiền chiến như Thanh Hằng (Lê Hằng) – nàng thơ trong nhiều tình khúc Đoàn Chuẩn, hay những đồn đoán liên quan đến ca sĩ Mộc Lan, Tâm Vấn. Đồng thời, bài cá được viết cũng ghi nhận sự bao dung, hy sinh lặng lẽ âm thầm của người vợ tào khang (bà Nguyễn Thị Xuyên) – hậu phương vững chắc dung dưỡng tâm hồn phóng khoáng, tài hoa của người nhạc sĩ bay bổng, bay bướm trong âm nhạc.

    Nhận xét về tác phẩm và giá trị miên viễn của bài ca. Có thể dịnh giá dây là một kiệt tác lãng mạn trong âm nhạc: “Gửi người em gái miền Nam” không đơn thuần là một bản tình ca lãng mạn cá nhân, mà đã trở thành một chứng nhân lịch sử mang âm hưởng thời đại. Sự kết hợp giữa giai điệu sang trọng, đạo dạt chất trữ tình và ca từ giàu hình ảnh đã định hình phong cách độc bản của “vua nhạc slow” (Le roi de la musique lento) là Đoàn Chuẩn trong làng tân nhạc Việt Nam.

    Hãy tôn trọng di sản nghệ thuật dù là thuộc về quá khứ, nhưng công chúng cũng nên lưu giữa tác phẩm hay ca từ gốc của người nghệ sĩ tài danh này.

    Một kỷ niệm dáng nhớ khi tôi viết bài Bài Thánh Ca Kỳ Diệu, Việt Hải, có GS. Quyên Di, Lm. André Trần Cao Tường, có Trần Trung Dạo.

    Bài Thánh Ca Kỳ Diệu, Việt Hải, Quyên Di, Lm. André Trần Cao Tường:

    http://chimviet.free.fr/truyenky/viethai/vhan100_LmTranCapTuong%20.htm

    Bài viết “Bài Thánh Ca Kỳ Diệu” của tác giả Việt Hải (đăng trên tạp chí Chim Việt Cành Nam) là một bài tùy bút mang đậm cảm xúc tưởng niệm, được viết vào dịp Giáng sinh năm 2010 nhằm tri ân và tưởng nhớ Linh mục André Trần Cao Tường – một nhà văn, học giả, dịch giả và là Giám đốc Mạng lưới Dũng Lạc vừa mới qua đời cách đó không lâu (ngày 21/11/2010).

    Dưới đây là phần giải thích và phân tích chi tiết nội dung bài viết:

    I. Tóm tắt nội dung bài viết

    Bài viết được chia thành các tầng ý chính xoay quanh nhân vật trung tâm là Linh mục Trần Cao Tường và nguồn gốc của một tuyệt phẩm Giáng sinh:

    • Lời tạ từ và nỗi niềm mất mát (Phần đầu):

    Tác giả Việt Hải mở đầu bằng nỗi buồn khi mùa Giáng sinh năm 2010 vắng bóng một cây bút lớn ở hải ngoại là Linh mục André Trần Cao Tường (người qua đời vì bệnh tai biến mạch máu não – một căn bệnh mà chính Việt Hải cũng từng trải qua và lo sợ).

    Tác giả hồi tưởng lại cơ duyên quen biết với Linh mục Tường qua các dịp ra mắt sách ở Houston, qua các bài viết triết lý, văn chương trên mạng lưới Dũng Lạc, cũng như qua sự kết nối văn học giữa các diễn đàn (như Tình Nghệ Sĩ và Chim Việt Cành Nam).

    Dù khác biệt về tôn giáo (Việt Hải là Phật tử, còn Lm. Tường là linh mục Công giáo), hai người vẫn dành cho nhau sự trân trọng, thấu cảm và gọi nhau là “hiền huynh – hiền đệ” rất đỗi thân tình.

    Top: Cha André Dũng Lạc Trần Cao Tường. Lower: đệ tử Phật tử Trần Trung Dạo và Trần Viêt Hải.

    • Góc nhìn đa chiều về chân dung Linh mục Trần Cao Tường:

    Bài viết điểm lại những đánh giá của các văn nghệ sĩ tên tuổi khác dành cho Lm. Trần Cao Tường như:

    Nhà văn Trần Trung Đạo: Viết bài tiễn đưa đầy xúc động.

    Nhà thơ Du Tử Lê: Viết lời tựa cho tác phẩm của Lm. Tường, bày tỏ sự kính trọng đối với một vị tu sĩ yêu nước, có quan điểm sâu sắc rằng “kẻ nào không yêu quê hương, nguồn cội của mình, kẻ đó cũng sẽ không yêu Thiên Chúa”.

    Nhà thơ Lm. Trăng Thập Tự: Gửi thơ tiễn biệt từ quê nhà Việt Nam.

    Vợ chồng nhà văn Nhã Ca – Trần Dạ Từ (qua bản tin Việt Báo): Ghi nhận Lm. Tường là một ngòi bút phong phú (tùy bút, bút ký, tiểu luận, nhiếp ảnh) có phong văn thuần túy Công giáo nhưng mang tính nhân bản, thơ mộng, dễ đi vào lòng người thuộc mọi tôn giáo.

    Sức sáng tác của Lm. Tường vô cùng dồi dào, bao trùm nhiều lĩnh vực từ triết học, khoa học, y khoa, công án thiền cho đến văn học nghệ thuật. Câu chuyện về “Bản Thánh Ca Kỳ Diệu” (Phần trọng tâm):

    Tác giả chuyển dòng cảm xúc sang bài viết cuối cùng của Lm. Trần Cao Tường mà ông rất ấn tượng trước mùa Giáng sinh: bài “Bản Thánh Ca Kỳ Lạ” (viết về nguồn gốc của bài thánh ca trứ danh toàn cầu Silent Night hay Stille Nacht / Đêm An Bình / Đêm Thánh Vô Cùng).

    Hoàn cảnh ra đời kỳ diệu: Vào đêm Giáng sinh năm 1818 tại một ngôi làng nhỏ ở Áo (Oberndorf), vị linh mục trẻ Josef Mohr đang lo lắng vì đàn phong cầm trong nhà thờ bị chuột gặm hỏng đúng lúc cha sở lâm bệnh nặng. Giữa lúc ấy, ông nhận được lời kêu gọi khẩn cấp phải đến ban phép rửa tội cho một đứa trẻ sinh non trong một túp lều nghèo nàn giữa trời tuyết lạnh.

    Trải nghiệm thực tế tại túp lều – nơi gia đình nghèo đón đứa con trong sự ấm áp, bình an và tình mẫu tử thiêng liêng – đã đánh thức tâm hồn nghệ sĩ của cha Josef Mohr. Trở về qua màn đêm tuyết phủ với nguồn cảm hứng dâng trào, ông ghé qua nhà người bạn thân là nhạc sĩ Franz Gruber. Chỉ trong một thời gian ngắn, phần lời thơ của cha Mohr và phần nhạc của Franz Gruber đã hòa quyện vào nhau, tạo nên khúc ca Stille Nacht.

    Bài thánh ca ấy lần đầu tiên được cất lên bằng tiếng đàn guitar trong lễ Nửa đêm Giáng sinh tại một làng quê nghèo, để rồi sau đó vang dội khắp hoàn cầu qua hàng trăm ngôn ngữ.

    • Phần lời kết:

    Khép lại bài viết, tác giả Việt Hải mượn ca từ bất hủ của bài Silent Night để dâng tặng, tưởng nhớ và gửi lời chúc bình an đến linh hồn Linh mục André Trần Cao Tường ở cõi vĩnh hằng.

    II. Phân tích ý nghĩa và giá trị của bài viết

    • Sự kết nối giữa đạo và đời, giữa các tôn giáo:

    Một điểm sáng lớn trong bài viết là sự vượt qua rào cản tôn giáo. Dù là một linh mục Công giáo, Lm. Trần Cao Tường lại có mối thâm tình sâu sắc với các văn nghệ sĩ, phật tử như Việt Hải, Trần Trung Đạo, Du Tử Lê… Điều này cho thấy văn chương và nghệ thuật có sức mạnh hóa giải khác biệt, kết nối những tâm hồn đồng điệu dựa trên lòng nhân ái và sự trân trọng con người.

    • Tinh thần nghệ thuật vị nhân sinh:

    Câu chuyện về cách bài thánh ca Silent Night ra đời phản ánh chính quan niệm sáng tác của Lm. Trần Cao Tường: nghệ thuật chân chính không nằm ở sự xa hoa, cầu kỳ mà bắt nguồn từ những khoảnh khắc đời thường, từ lòng bác ái, sự thấu cảm với nỗi đau và niềm khát khao hòa bình, an lạc của con người.

    • Bút pháp hoài niệm, dung dị nhưng giàu cảm xúc:

    Văn phong của Việt Hải trong bài viết này mang đậm chất tùy bút hoài niệm (memoir-style). Sự đan xen giữa tiếng lòng cá nhân, các trích đoạn thơ tưởng niệm của Quyên Di, Lm. Trăng Thập Tự, lời nhận định của Du Tử Lê và câu chuyện cảm động về bài thánh ca đã tạo nên một bức tranh tưởng niệm trọn vẹn, ấm áp tình người giữa mùa đông giá lạnh.

    Việt Hải và Trần Trung Đạo về Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm Tiễn Mẹ

    https://nhanvannghethuat.com/vi-khiem-nguyen-van-liem-tien-me%ef%bf%bc

    Nhà văn/nhà báo Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm.

    Bài viết trên trang Nhân Văn Nghệ Thuật ghi lại buổi lễ cầu nguyện và tiễn đưa cụ bà Ana Nguyễn Thị Tịnh (thân mẫu của nhà văn/nhà thơ Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm), người qua đời ở tuổi đại thọ 107 tuổi.

    Dưới đây là các ý chính và tư tưởng chủ đạo trong bài viết:

    Tuổi thọ phúc lộc và sự an nghỉ trong cõi vĩnh hằng:

    Cụ bà Ana Nguyễn Thị Tịnh đã sống qua ba thế kỷ (cuối thế kỷ 19, trọn thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21) và hưởng thọ 107 tuổi.

    Trong bài giảng thánh lễ, linh mục chủ sự nhắc nhở rằng một “cây tốt” (cụ bà) chắc chắn sẽ sinh ra những “trái tốt” – minh chứng qua người con trai là ông Nguyễn Văn Liêm, một giáo dân sống đạo đức, khiêm nhường và tận tụy với xứ đạo.

    Nỗi đau và sự tiếc nuối khôn nguôi của người con ở lại:

    Dù người mẹ đã ra đi ở tuổi đại thọ (107 tuổi) – điều khiến gia đình cảm thấy biết ơn Thiên Chúa và không còn mong cầu gì hơn – nhưng nhà văn Vi Khiêm vẫn bộc lộ nỗi đau lớn khi không thể ở bên cạnh mẹ trong những giờ phút cuối đời để nghe lời trăn trối.

    Sự tôn vinh tình mẫu tử qua thi ca và nghệ thuật:

    Tác giả bài viết mượn những câu thơ nổi tiếng đầy cảm xúc từ bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Lấy Tiếng Mẹ Cười” của thi sĩ Trần Trung Đạo để khắc họa sự thiêng liêng, vô giá của người mẹ và tiếng nói từ trái tim mẹ:

    “Ví mà tôi đổi thời gian được / Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.”

    Bài viết cũng điểm qua những tâm tình, nỗi nhớ mẹ qua các tác phẩm văn thơ của các văn nghệ sĩ khác như nhà văn Ngọc Cường (mất mẹ từ nhỏ) hay nhà giáo/nhà thơ Quyên Di (qua bài thơ “Giỗ Mẹ”), qua đó đồng điệu nỗi niềm chung của những người con chịu tang mẹ: dẫu có lớn khôn đến đâu, trước di ảnh của mẹ, họ vẫn mãi là những đứa con bé bỏng. Tóm lại, bài viết là một lời tri ân sâu sắc, một khúc ca tiễn biệt trang nghiêm và đầy xúc động dành cho một người mẹ hiền phúc thọ vẹn toàn, đồng thời phản ánh nỗi lòng khắc khoải, biết ơn và thương nhớ khôn nguôi của những người con đối với công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ.

    Nội dung bạn vừa chia sẻ bao gồm bài thơ nổi tiếng “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của nhà thơ Trần Trung Đạo cùng với bài bình thơ (lời bình) của tác giả Châu Thạch.

    Dưới đây là phần giải thích chi tiết, phân tích và bình luận tổng quan về tác phẩm và bài viết bình luận này để giúp bạn thấu hiểu trọn vẹn giá trị nghệ thuật cũng như cảm xúc sâu lắng ẩn chứa bên trong.

    1. Giới thiệu tổng quan
    • Bài thơ: “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của nhà thơ Trần Trung Đạo viết về tình mẫu tử thiêng liêng, nỗi đau chia cắt (thường thấy trong bối cảnh người Việt ly hương, xa xứ sau năm 1975) và sự day dứt của một người con không thể ở cạnh chăm sóc mẹ già.
    • Bài bình luận: Do tác giả Châu Thạch chấp bút, phân tích từng khổ thơ, giải mã các tầng nghĩa ngôn từ (như khái niệm “thiên thu”, hình ảnh “lá thu rơi”, chữ “trắng” thứ hai, v.v.) nhằm làm nổi bật cái hồn và tài hoa của nhà thơ Trần Trung Đạo.
    • Phân tích và Giải thích tác phẩm qua bài bình

    Bài thơ xoay quanh một mô-típ rất quen thuộc trong thơ ca ly hương: cuộc gọi điện thoại ngắn ngủi đường dài (nhắc chiếc phone lên) nhưng lại khơi gợi một khoảng trống mênh mông, cả một trời thương nhớ và dằn vặt.

    1. Hình ảnh và ý nghĩa nhan đề “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”
    • Thắc mắc thực dụng: Nhiều người cho rằng “thiên thu” là một ngàn năm (vô định), con người không thể sống đến chừng ấy để mà “đổi”, làm sao lấy cái không có để đổi cái có?
    • Lý giải tâm lý học nghệ thuật (Châu Thạch): “Thiên thu” ở đây không phải là thời gian vật lý (đếm bằng năm tháng), mà là thời gian tâm lý. Giống như câu “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” (một ngày trong tù dài như ngàn năm), thời gian tâm lý co giãn theo nỗi đau và nỗi nhớ.
    • “Thiên thu” còn tượng trưng cho sự bình tịnh, an lạc lâu dài trong tâm hồn. Nhà thơ sẵn sàng đánh đổi cả sự bình yên vĩnh cửu ấy — hay sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì lớn lao nhất — chỉ để đổi lấy khoảnh khắc nghe được tiếng mẹ cười, tức là biết mẹ đang hạnh phúc, bình an.
    • Tiếng gọi từ đầu dây và nỗi buồn chia ly

    “Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người Tiếng ai như tiếng lá thu rơi Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi”

    • “Tiếng ai”: Đại từ phiếm chỉ “ai” thường dùng cho người xa lạ, nhưng trong văn chương lại diễn tả sự nghẹn ngào khi đối diện với người thân thương nhất — một sự xa cách lâu ngày đến mức khi nghe lại giọng nói, ta có cảm giác ngỡ ngàng như tiếng của một người xa lạ mà lại vô cùng gần gũi.
    • “Như tiếng lá thu rơi”: Một hình ảnh so sánh tuyệt đẹp. Tiếng mẹ thầm thì, nhẹ nhàng, mong manh và buồn vô hạn, gợi lên cả một không gian mùa thu heo hắt, tĩnh lặng trong tâm hồn người con xa xứ.
    • Hoàn cảnh lưu vong và màu trắng của sự biệt ly

    “Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê Mười năm tóc mẹ màu tang trắng Trắng cả lòng con lúc nghĩ về”

    • Cuộc ra đi “chẳng hẹn thề” là cuộc ly biệt đành đoạn, bất đắc dĩ.
    • Hình ảnh “Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê” miêu tả sự hoảng loạn, bơ vơ của người con bị đẩy vào bước đường lưu lạc, mất phương hướng giữa dòng đời.
    • Chữ “trắng” thứ hai (“Trắng cả lòng con”): Bài bình luận giải thích rất hay rằng chữ “trắng” này không phải là vô cảm, mà là màu trắng của chiếc khăn tang trong tâm tưởng. Mẹ chưa mất nhưng sự chia cắt xa xôi lâu ngày tạo nên một nỗi trống vắng tột cùng, biến lòng con thành một cõi tang tóc, u hoài.
    • Hình ảnh người mẹ và nỗi đau đọng lại

    “Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn Bên đời gió tạt với mưa tuôn… Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ…”

    • Cụm từ “đan một nỗi buồn” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nỗi buồn vốn là thứ vô hình (tâm lý), nhưng qua ngòi bút Trần Trung Đạo, nó được cụ thể hóa thành một vật hữu hình có thể “đan” từng mũi kim, dệt nên chuỗi ngày mòn mỏi ngóng trông của người mẹ già cô độc bên ô cửa “gió tạt mưa tuôn”.
    • Người con chọn cách nén đau thương vào thơ ca, vào lá cây (“viết đau thương vào trong lá” – gợi nhắc đến sự bạt ngàn của nỗi buồn nhân lên qua từng chiếc lá vàng rụng), và tìm kiếm hơi ấm của mẹ trong những giấc mơ xa xôi.
    • Bình luận chung và Đánh giá
    • Giá trị nội dung:

    Bài thơ chạm đến góc khuất mềm yếu nhất của những người con xa xứ. Đó là thứ tình mẫu tử thiêng liêng vượt qua mọi khoảng cách không gian và thời gian. Tiếng mẹ cười ở đây không đơn thuần là âm thanh vui vẻ, mà là biểu tượng của sự bình yên, của cội nguồn, là điểm tựa tinh thần duy nhất cho người con bơ vơ giữa chốn ba ba chìm nổi.

    • Giá trị nghệ thuật:
      • Thể thơ thất ngôn (7 chữ) truyền thống nhưng được vận dụng với nhịp điệu chậm rãi, u buồn, thấm đẫm âm hưởng hoài niệm.
      • Các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh (tiếng lá thu rơi, đan một nỗi buồn, ngựa rừng lạc lối) vô cùng đắt giá, giúp cấu trúc bài thơ chặt chẽ từ câu mở đầu đến câu kết thúc (tạo thành một vòng tròn cảm xúc khép kín khi lặp lại câu thơ “Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người”).
    • Về bài bình của Châu Thạch:

    Bài bình luận đã làm tròn vai trò của một người “gỡ rối” câu chữ, phân tích sâu các lớp nghĩa triết lý (như thời gian tâm lý, ý nghĩa của chữ “trắng”, chữ “thiên thu”) giúp người đọc không chỉ cảm nhận bài thơ bằng cảm xúc thuần túy mà còn thấy được tư duy nghệ thuật sắc sảo của nhà thơ Trần Trung Đạo.

    Kết luận: Bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” thực sự là một nén tâm hương, một tiếng lòng thổn thức của triệu người con xa quê gửi về đấng sinh thành, và qua lời bình của Châu Thạch, giá trị nhân văn và nghệ thuật ấy lại càng được lan tỏa sâu sắc hơn nữa trong lòng người yêu thơ.

    Xem link sau:

    https://hung-viet.org/a22011/doc-doi-ca-thien-thu-tieng-me-cuoi-tho-tran-trung-dao

    Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, Nhạc Võ Tá Hân – Thơ Trần Trung Đạo – Ca sĩ Bảo Yến:

    —————

    Việt Hải- Văn Học-Vang Bóng Một Thời

    Dưới đây là phần tóm tắt và đánh giá về cuốn sách “Văn Học – Vang Bóng Một Thời” của tác giả Việt Hải (tên thật là Trần Việt Hải), dựa trên thông tin và bối cảnh được cung cấp.

    1. Tóm tắt tác phẩm

    Tên sách: Văn Học – Vang Bóng Một Thời

    Tác giả: Việt Hải (Trần Việt Hải)

    Tính chất tác phẩm: Đây là tuyển tập các bài tiểu luận, bài phê bình và các bài viết văn học tiêu biểu nhất của tác giả, được đúc kết qua gần ba thập kỷ miệt mài sáng tác và cống hiến cho nghệ thuật.

    Chủ đề cốt lõi: Tác phẩm là lời tri ân đầy tâm huyết dành cho nền văn học cổ điển Việt Nam, các cột mốc văn hóa và những nhân vật lỗi lạc của quá khứ. Cuốn sách đóng vai trò cầu nối giữa độc giả đương đại với di sản nghệ thuật, thi ca và triết học sâu sắc của lịch sử Việt Nam, khơi dậy niềm hoài niệm về những thời kỳ hoàng kim của văn chương và nghệ thuật.

    2. Đánh giá sách

    Chiều sâu và sự uyên bác: Qua từng trang viết, Việt Hải thể hiện sự am hiểu sâu sắc về nghệ thuật, văn hóa và lịch sử văn học Việt Nam. Lối viết của ông không chỉ dừng lại ở việc kể lại lịch sử đơn thuần; ông thổi hồn vào những chủ đề mình phân tích, phản ánh mối gắn kết mật thiết và trải nghiệm thực tế với văn chương.

    Sự bền bỉ và niềm đam mê: Điểm ấn tượng đặc biệt của tuyển tập này chính là tinh thần kiên trì bền bỉ ẩn chứa bên trong. Với hành trình sáng tác kéo dài gần ba mươi năm, cuốn sách là minh chứng cho lòng tận tụy không lay chuyển của tác giả đối với cộng đồng văn học Việt Nam cũng như cam kết gìn giữ những ký ức văn hóa giữa dòng chảy thời gian đầy biến động.

    Cầu nối ký ức: Bản thân nhan đề “Vang Bóng Một Thời” đã gợi lên phong cách văn xuôi cổ điển Việt Nam đầy cuốn hút và giàu chất thơ (gợi nhớ đến những nhà văn như Nguyễn Tuân). Việt Hải đã thành công trong việc nắm bắt những mảnh ghép tinh tế, thoáng qua của một thời văn chương đã qua, khiến chúng trở nên sống động và gần gũi với độc giả hiện đại – những người luôn trân trọng các giá trị di sản.

    3. Điểm đặc sắc và thú vị của cuốn sách

    Sự giao hòa giữa lịch sử và tâm hồn: Thay vì những bài phê bình mang tính học thuật khô khan, các bài tiểu luận của Việt Hải mang dáng dấp của những lời tri ân đầy cảm xúc và giàu tính tự sự. Tác giả làm sáng tỏ những sắc thái tinh tế, những dòng chảy cảm xúc ngầm và các giá trị thẩm mỹ ẩn sau cuộc đời cũng như các tác phẩm của những tên tuổi văn học lừng lẫy.

    Kho tư liệu sống động về một hành trình sự nghiệp: Nhờ tập hợp các bài viết được chắt lọc trong suốt gần 30 năm, cuốn sách mang đến cho độc giả cơ hội chiêm nghiệm sự trưởng thành trong tư duy của một cây bút đầy tâm huyết đối với văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc Việt Nam.

    Trải nghiệm tương tác: Như đã được giới thiệu trên chuyên mục Nhân Văn Nghệ Thuật, cuốn sách hiện diện dưới định dạng “flip-book” (sách lật trang) đầy cuốn hút trên nền tảng trực tuyến (heyzine.com). Định dạng này cho phép độc giả trải nghiệm cảm giác lật từng trang sách sống động như đang cầm trên tay một ấn phẩm giấy, qua đó kết hợp hài hòa giữa nét đẹp thưởng thức văn học truyền thống và sự tiện lợi của công nghệ số hiện đại.

    Trần Trung Đạo – Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời

    Bài viết “Trần Trung Đạo – Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời” của tác giả Lương Thư Trung (Hai Trầu) đăng trên trang của Trần Thị Nguyệt Mai là một bài tiểu luận, cảm nhận sâu sắc về cuộc đời, hành trình thơ ca và tư tưởng của nhà thơ/cư sĩ Trần Trung Đạo.

    Dưới đây là bản phân tích và giải thích chi tiết nội dung, ý nghĩa của bài viết theo từng khía cạnh:

    1. Hành trình tuổi thơ gian truân và bóng tối thời cuộc

    Tuổi thơ bất hạnh: Bài viết mở đầu bằng việc nhắc đến hoàn cảnh của Trần Trung Đạo – một đứa trẻ sinh ra tại làng Nghi Hạ (Duy Xuyên, Quảng Nam), phải rời xa gia đình và bươn chải giữa đời từ khi mới 14 tuổi.

    Vết hằn chiến tranh: Những năm tháng tuổi thơ sống trong khói lửa chiến tranh đã để lại những vết thương lòng sâu sắc trong tâm hồn tác giả:

    “Anh bỏ nhà đi năm mươi bốn tuổi / Học lọc lừa từ thuở tóc chưa xanh / Viên đạn nổ xé từng trang sách vở / Trụ đèn khuya thay thế ánh trăng rằm.”

    Cuộc đời lưu lạc, bấp bênh và những nỗi đau đầu đời ấy đã trở thành nguồn nguyên liệu chính để ông chắt chiu thành những vần thơ đượm buồn, chân thực và đầy nỗi niềm thao thức.

    2. Hình bóng người Mẹ và nỗi nhớ quê hương

    Mẹ trong thơ Trần Trung Đạo: Một phần linh hồn trong thơ ông là hình bóng người mẹ nghèo khó, tảo tần, chịu đựng trăm đắng ngàn cay (mẹ bán máu nuôi con, mẹ ở bến sông Thu Bồn, mẹ ngóng con bên kia nửa địa cầu…).

    Hình bóng người mẹ không chỉ là hiện thân của sự hy sinh vô bờ bến mà còn là biểu tượng của cội nguồn, của quê hương xứ Quảng xa xôi mà người con lưu vong luôn hướng về với tất cả lòng thành kính và nỗi xót xa:

    “Mười năm tóc mẹ màu tang trắng / Trắng cả lòng con lúc nghĩ về.”

    Ngay cả khi sống giữa nền văn minh hiện đại ở phương Tây, tâm hồn người con vẫn giữ trọn đạo hiếu, hướng về quê nhà bằng những hình ảnh bình dị nhất như chiếc khăn lụa Duy Xuyên để tiệp màu miếng trầu cay của mẹ.

    3. Tinh thần Phật giáo và sự hóa giải khổ đau

    Tâm thức từ bi: Trần Trung Đạo là một Phật tử thuần thành từ thuở nhỏ (từng sinh hoạt trong Gia đình Phật tử, gắn bó với cây đa chùa Viên Giác). Ảnh hưởng của đạo Phật thấm đượm vào thơ ông như một phương dược để xoa dịu những nhọc nhằn, bất trắc của kiếp nhân sinh.

    Ông nhìn đời qua lăng kính vô thường, nhân quả và luân hồi:

    “Ta vẫn biết thế gian là cõi tạm / Tấm thân này cát bụi sẽ về thôi…”

    Dù cuộc đời xô đẩy ngã gục, ông không mang lòng oán trách mà chọn cách mỉm cười với thế nhân, dùng lòng từ bi và sự kiên nhẫn để chuyển hóa phiền não, tìm thấy sự bình an trong tâm hồn.

    4. Biểu tượng “Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời”

    Hình tượng “người tiều phu” và “chiếc lá vàng” là ẩn dụ trung tâm xuyên suốt bài viết:

    Chiếc lá vàng tượng trưng cho những mảnh đời bèo giạt, cô đơn, vô định của tha nhân và cũng là hình ảnh phản chiếu chính cuộc đời lưu vong, đau buồn của tác giả (“Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn”).

    Người tiều phu là hình ảnh người nghệ sĩ âm thầm, nhẫn nại đi nhặt nhạnh từng nỗi buồn, từng mảnh đời rơi rớt, từng chiếc lá khô của nhân gian để nhóm lên ngọn lửa sưởi ấm tình người:

    “Con đi góp lá ngàn phương lại / Đốt lửa cho đời tan khói sương.”

    Hành động quét lá, nhặt lá không chỉ là việc làm đơn thuần mà là một sứ mệnh cao đẹp: mang trái tim nhân hậu, chân tình tha thiết để hiến dâng cho đời những vần thơ an ủi, xoa dịu những vết thương lòng trong cõi thế ô trọc.

    Tổng kết ý nghĩa bài viết

    Bài viết của Lương Thư Trung đã phác họa thành công bức chân dung tinh thần của nhà thơ Trần Trung Đạo: một người thơ mang nặng nỗi đau thời thế, hoài niệm khôn nguôi về mẹ và quê hương, nhưng đồng thời cũng là một tâm hồn từ bi, bao dung. Qua hình ảnh “người tiều phu quét lá”, bài viết tôn vinh những người nghệ sĩ âm thầm dùng văn chương, tình yêu thương và sự đồng cảm để sưởi ấm những cõi lòng lạnh lẽo giữa dòng đời dông bão.

    Một ngày trước buổi hẹn tại Lữ Quán Tri Âm, nhà văn Kiều My đã soạn xong hai bài nhạc cho 2 bài thơ tôi nhờ cô lo phần nhạc, Tạ ơn tình em (“Merci pour ton amitié”) và bài thơ tôi ghi tựa Nhớ em thu về (Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne), nhưng Kiều My đặt tên trại đi là Thu về nhớ em. Hai bài thơ lãng mạn này, một bằng tiếng Pháp (“Merci pour ton amitié”) và một phiên bản khác bằng tiếng Việt (“Cảm ơn cuộc đời”)—mang đến cái nhìn sâu sắc về sự giao thoa tinh tế nhưng mạnh mẽ giữa tình yêu lãng mạn và tình bạn sâu sắc (điều mà người Hy Lạp gọi là Philia, gắn bó mật thân thiết đam mê cùng với Eros).

    Sau đây là một số ý tưởng nhận định mới về góc nhìn sâu sắc khi nghe những ca khúc trên, được truyền cảm tác từ những bài thơ này, để làm phong phú thêm sự cảm thụ nhận biết qua giác quan nhạy cảm bẫm sinh về tình bạn yêu thương:

    Như xét qua trích đoạn từ bài thơ tiếng Pháp: «”e sais que tu es un être humain ; par-dessus tout, j’ai besoin de toi comme ami.” (“anh biết em là con người; trên hết, anh yêu em như một người bạn.”.

    Tình bạn yêu thương đích thực vượt lên trên sự lý tưởng hóa lãng mạn. Đó là việc nhận biết những khuyết điểm, quá khứ và thực tế của người kia, và vẫn chọn họ. Lời minh thị cuối vẫn không chỉ đơn giản là “Tôi mến bạn,” mà là “Tôi cần bạn như người bạn tâm đắc đồng hành trung thành nhất trong tôi.”, (“J’ai besoin de toi comme mon compagnon le plus fidèle et le plus loyal.”).

    Hãy cùng nhau vượt giông bão như chiếc mõ neo vững bền. (Câu thơ tiếng Pháp:  «Quand je suis dans le noir et que j’ai besoin de lumière, ta présence à mes côtés m’apporte la paix intérieure….

    Xét nghiệm khi phân tích lời thơ: Hai bài thơ này nhấn mạnh rằng tình bạn yêu thương không chỉ dành cho những ngày nắng đẹp; hay nhiều thử thách và vẻ đẹp thực sự của nó nằm ở việc trở thành ngọn hải đăng trong cơn bão tố. Tình bạn mang đến sự an toàn về mặt cảm xúc, trong khi tình yêu lại mang đến nỗi đắm say, l’amitié sincère n’est pas réservée aux beaux jours ; elle affronte de nombreux défis, et sa véritable beauté réside dans sa capacité à être un phare au milieu des tempêtes. L’amitié offre une sécurité affective, tandis que l’amour offre un dévouement passionné.).

    Phân tích tiếp về khái niệm tri kỷ trong văn hóa Việt Nam (người bạn tâm giao thực sự hiểu được con người bên trong bạn) tự nhiên kết nối tình yêu và tình bạn. Tác giả gợi ý rằng các mùa thay đổi – từ xuân sang thu, từ tuổi trẻ như xuân xanh cho đến tuổi già như thu vàng. Nhưng mối liên kết cơ bản vẫn luôn rực rỡ (“mùa xuân xanh”).

    Những ca từ vượt thời gian này lột tả trọn vẹn tâm hồn của sự mô tả chân phương sâu sắc, kiên định và bản chất về tình bạn đích thực. Dưới đây là những chia sẻ và góc nhìn về tình yêu đích thực qua lăng kính của ca khúc kinh điển kèm (nổi tiếng với tên gọi “Cuando Calienta el Sol” ( hoặc phiên bản tiếng Anh “Love Me with All Your Heart”). Bài hát thịnh hành trong những buổi tiệc cưới hay dịp lễ Valentine.

    Bài tinh ca Love Me with All Your Heart, luận bàn về một tình yêu chân phương, thực sự như về lời cam kết trọn vẹn như được tiểu biểu qua những câu mở đầu, không chấp nhận sự nửa vời hay những tình cảm hời hợt. Nó đòi hỏi sự đầu tư trọn vẹn về mặt cảm xúc. Điều này xác lập một chuẩn mực rằng tình yêu không phải là thú vui nhất thời hay sự tiện lợi tạm bợ, mà phải là một sự lựa chọn đầy tâm huyết.

    Về tinh yêu bền vững, sự kiên định qua thời gian và không gian (“Mỗi mùa đông, mùa hè, hay mùa thu”). Lời bài hát nhấn mạnh sự bền bỉ bất chấp mọi mùa trong năm hay khoảng cách địa lý—dù hai người ở gần hay xa cách. Tình yêu đích thực không phai nhạt theo những thay đổi của hoàn cảnh hay thời tiết; nó vẫn luôn vững vàng, kiên cường và trường tồn cùng dòng chảy thời gian.

    Về tình yêu vĩnh cửu thay vì nhất thời như “Not just for a moment or an hour” (“Không chỉ trong khoảnh khắc hay một giờ đồng hồ”.

    Tình yêu chân phương thữc sự khước từ những rung động thoáng qua. Dù đam mê có thể khởi đầu như một tia lửa, tình yêu đích thực sẽ chuyển hóa ngọn lửa ban đầu ấy thành một trạng thái gắn kết vĩnh cửu như “Just as I have loved you from the very beginning / With every beat of my heart”, (“luôn như cách em yêu anh từ thuở ban đầu / Với từng nhịp đập nơi trái tim em”). Nó hòa quyện vào chính nhịp sống thường nhật của mỗi người.

    Tôi vốn chuộng bù khú, tán hươu tán vượn hay tán gẫu phiếm luận trong phong văn tản mạn thi ca hòa quyện vào âm nhạc. Có lẽ tôi vốn thích bay bổng tâm hồn mình trong cõi thi ca và âm nhạc, thử hỏi thi ca Nguyên Sa hay Cung Trầm Tưởng, những thi ca vượt quá khổ lãng mạn tư duy. Đúng chứ?

    Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne:

    Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne Compositeurs Việt Hải & Kiều My

    Thanks For Friendship – Words_ Việt Hải- Music_ Kiều My:

    Thanks For Friendship Words Việt Hải Music Kiều My

    Merci Pour Ton Amitié – Compositeurs_ Việt Hải & Kiều My:

    Merci Pour Ton Amitié Compositeurs Việt Hải & Kiều My

    MERCI POUR TON AMITIÉ

    Darling, tu es mon meilleur ami ; tu as ta place dans mon cœur.
    Nous traversons des hauts et des bas, mais rien ne pourra nous séparer.
    Je te considère comme un membre de ma famille, et je veillerai toujours sur toi.
    Mon amour, respect et confiance sont ce que nous partageons.
    Je te connais en tant que personne ; j’ai surtout besoin de toi comme ami.
    Notre amitié est une chose qui ne finira jamais.
    En cet instant précis, en ce jour,
    Nos liens sont indéfectibles ; notre attachement est là pour durer.
    Mon amitié pour toi est unique et sincère.
    Quand nous sommes ensemble, nous sommes inséparables.
    Quand je suis dans l’obscurité et que j’ai besoin de lumière,
    Ta présence à mes côtés me rassure : tout ira bien.

    ƠN EM MỘT ĐỜI

    Cảm ơn em những ân tình

    Yêu em yêu mãi trong tim

    Báo cơn bão nỗi vẫn tìm nơi em

    Duyên tinh nợ kiếp ba sinh

    Có em như đã tự tình trong anh

    Bên em tri kỷ mộng lành

    Tình ta sẽ mãi xuân xanh thu vàng

    Giờ đây sánh bước đan tay

    Thênh thang cuối phố như mây cuối trời

    Yến anh vương vấn bên đời

    Lưu tâm lưu luyến nhớ lời thề xưa

    Hạ về giông bão trời mưa

    Bên nhau mãn kiếp tình vừa trăm năm.

    Thank you for your friendship

    You are my best friend; you hold a special place in my heart.
    We go through ups and downs, but nothing can ever tear us apart.
    I consider you family, and I will always look out for you.
    We share love, respect, and trust.
    I know you as a person, but above all, I need you as a friend.
    Ours is a friendship that will never end.
    At this very moment, on this day,
    Our bond is unbreakable; our connection is built to last.
    My friendship with you is unique and sincere.
    When we are together, we are inseparable.
    When I am in the darkness and need light,
    Your presence by my side reassures me: everything will be okay.

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM VĂN HỌC (TRẦN VIỆT HẢI):

    BUỔI RA MẮT TÁC PHẨM CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ VĂN THI SĨ KHÁNH LAN:

    Sans Toi Ce Soir Paroles Viet Hai Musique AI Kieu My:

    Em, em luôn vẫn là em, my song: Mon Amour, Tu Restes Toi,…

    Mon Amour, Tu Restes Toi, Paroles de Việt Hải LA, Musique – Kiều My:

    Bonne semaine à toutes et à tous…!

    Lời cuối cùng, tình bạn trong hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian họp nhau tại Lữ Quán Tri Âm, Anaheim. Phong cách pocket reunion, dù là bal des amis, hay bal de famille, họp nhau nho nhỏ, nơi chốn be bé, chỉ 12 dến 15 thân hữu như cõi giang san của Nữ sĩ Quỳnh Giao, tôi vốn kiêng kỵ chỗ đông người. C’est selon mes propres goûts.Ce sont mes propres préférences. Ce sont mes choix de bon goût.

    VHLA, California 2026

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Tin tức

    TƯỜNG TRÌNH VỀ BUỔI RA MẮT SÁCH CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ NHÀ VĂN KHÁNH LAN

    Khánh Lan

    Buổi ra mắt sách của tôi được tổ chức vào một buổi chiều cuối tuần ngày 20 tháng 9, 2026. Hôm ấy là đầu mùa Thu, những hàng cây bắt đầu thay lá, vài chiếc lá vàng nhẹ rơi theo làn gió, khoác lên chiếc áo mới “không gian” một vẻ đẹp lãng mạn, quyến rũ và đáng yêu. Thật thế, Nàng Thu đã đến, mang theo một màu trong xanh của bầu trời, và nắng không còn gay gắt mà trở nên ấm áp, dịu nhẹ. Những cơn gió thu khẽ lướt qua song cửa của khán phòng hội trường báo Người Việt đã cho tôi một cảm giác se se lạnh, dễ chịu, khiến lòng tôi bỗng thấy thư thái và bình yên…

    Nữ sĩ Dương Hồng Anh & Khánh Lan

    … Khi bước vào buổi ra mắt sách của chính mình, tôi cố giữ vẻ bình thản, tự nhiên, nhưng thực ra tâm trí tôi nặng trĩu những âu lo. Bởi cũng hôm ấy, có đến những 5 hội đoàn trong cộng đồng tổ chức (cùng ngày và cùng giờ). Trong đó có 3 tổ chức lớn, đó là Chiều Tưởng Niệm nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Đại Hội toàn quốc của trường trung học Chu Văn An, và Hội Sóc Trăng họp mặt hằng năm… khiến tôi nhủ thầm, những nơi ấy, chắc hẳn sẽ thu hút nhiều người đến tham dự… hơn là buổi Ra Mắt Sách của tôi…

    Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga & Nữ sĩ Đình Duy Phương

    Hàng ngồi: NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, Thi Sĩ Quỳnh Giao, Lệ Hoa (phu nhân của NV Việt Hải).

    Hàng đứng: Chị Trầm Hương, Chị Kim Đức, NS Lê Nguyễn Nga, Chị Kim Hương

    Nghĩ đến đây, lòng tôi bỗng như chùng xuống, bởi sau nhiều tháng ngày sống cùng bản thảo. Những lúc lặng lẽ ngồi viết, sửa, rồi lại viết, tôi hiểu rằng một cuốn sách, khi rời khỏi bàn viết, sẽ bắt đầu một đời sống khác và nó sẽ không còn hoàn toàn thuộc về tôi. Nó sẽ bước vào đời sống của những độc giả và tôi không thể biết trước nó sẽ được đón nhận như thế nào. Cho nên tôi không dám kỳ vọng quá nhiều…

    Những lúc lặng lẽ ngồi viết, sửa, rồi lại viết.

    Ban đầu, tôi chỉ mong ước có vài chục người đến tham dự, chủ yếu là bạn bè, người thân và một số độc giả quen thuộc… Nhưng rồi, khi cánh cửa hội trường mở ra, tôi đã thực sự ngỡ ngàng. Ngay từ khi chương trình bắt đầu, hội trường đã gần như kín chỗ, những hàng ghế nhanh chóng kín người. Có những độc giả tôi chưa từng gặp, và trong những gương mặt xa lạ ấy, có những người đã đi một quãng đường rất xa chỉ để có mặt trong buổi chiều ra mắt sách của tôi. Thậm chí, trên tay họ là cuốn sách mà tôi từng viết trong những đêm rất dài, giữa những khoảng vắng lặng chỉ có mình tôi và trang giấy.

    Quang cảnh quan khách tham dự

    Tôi thực sự xúc động khi nghe một độc giả nói về một đoạn văn trong tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” đã khiến họ nhìn thấy “chính cuộc đời của họ trong ấy” với những giọt nước mắt long lanh còn đọng trong khóe mắt, họ cám ơn tôi đã viết lên nỗi u uẩn mà họ đã lâu ngày tìm quên trong tiềm thức. Trong khoảnh khắc ấy, mắt tôi bỗng như cay cay và tôi chợt nhận ra rằng: điều tôi viết ra trong cô độc đã tìm được một nơi gọi là bến đậu, xoa dịu cơn thống khổ và gởi niềm thông cảm trong tâm tư những kẻ khốn cùng…những trang chữ viết vốn được hình thành trong những giờ phút cô độc, nay đã tìm thấy người đọc. Khiến tôi có cảm giác như mình đang đứng giữa một giấc mơ.

    Nhóm Tơ Vàng: Chị Khiêm Trinh, Jennifer Lâm, Bình Chi, Khánh Lan

    Anh Quốc Dân, Kim Hương, Khánh Lan, Đức Hạnh, Mạnh Bổng

    Đúng 1:30 chiều, GS Trần Mạnh Chi khai mạc buổi ra mắt sách và chào mừng quan khách. Sau phần Chào quốc kỳ Việt-Mỹ và Phút mặc niệm. Thi sĩ Minh Đức giới thiệu 3 MC gồm Mạnh Bổng,Hồng Quyên, Minh Thư. Chương trình ra mắt sách gồm có 2 phần: phần giới thiệu tác phẩm, xen lẫn phần văn nghệ chọn lọc với chủ đề về quê hương Việt Nam và những tình khúc nổi tiếng đã từng làm nên tên tuổi của nhiều nhạc sĩ. 

    Thúy Giao, Minh Thư, Hồng Phúc

    Trước khi vào phần văn học, mở đầu với ban tam ca Tiếng Thời Gian: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên với nhạc phẩm Bạn Bè Của Tôi. Thơ Dương Hồng Anh, nhạc Lâm Dung và Nhạc phẩm này đã trở thành Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian hành khúc năm 2019.

    Ban tam ca Tiếng Thời Gian với Ái Liên, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh

    Mở đầu phần văn học là phần giới thiệu về tiểu sử của NS Dương Hồng Anh: Nữ sĩ Dương Hồng Anh làm thơ rất sớm, bài thơ đầu tay của bà được đăng trên báo Cậu Ấm Cô Chiêu năm 1949 và một số bài thơ khác được đăng trên các báo gồm: Hồ Gươm, Sinh Lực, Giang Sơn, Giác Ngộ, v.v…

    Từ năm 1952 đến 1954, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh là thư ký tòa soạn báo Sinh Lực ở Hà Nội cho đến tháng 08, năm 1954, bà di cư vào Miền Nam Việt Nam cùng chồng. Vào Saigon, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh ngưng gởi thơ để đăng trên các báo chí, nhưng bà vẫn tiếp tục sinh hoạt văn thơ trong nhóm của các nhà thơ Linh Điểu, Vạn An, Bùi Khánh Đản, Trình Xuyên, v.v…

    Năm 1990, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh sang Hoa Kỳ, định cư tại tiểu bang California và từ Năm 2010, Nữ Sĩ sinh hoạt thi văn cùng với các nhóm gồm: Văn Chương phụ Nữ Việt Nam của Nhà Văn Bùi Bích Hà, Văn Đàn Hải Ngoại, Hạnh Ngộ và thường xuyên đăng thơ trên báo Đất Đứng ở Sacramento, California liên tục trong suốt 10 năm. Cho đến nay Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã xuất bản tổng cộng hơn 20 thi tập từ năm 1952-2026. (2.5’)

    Theo sau là vài nét về Văn thi sĩ Khánh Lan, tốt nghiệp cao học ngành cố vấn hôn nhân và gia đình năm 2002.  Hiện là trưởng nhóm văn học của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cũng như Văn Chương Việt và Tiếng Đàn Xưa. 

    Năm 2023, Khánh Lan được vinh danh trong 100 tác giả văn hóa Việt Nam trong quyển những khuôn mặt văn hóa Việt Nam hải ngoại của câu lạc bộ văn hóa Paris. Năm 2022, Khánh Lan là giám khảo của chương trình thi viết có thưởng về “Ứng dụng Phật pháp trong đời sống hằng ngày”, được tổ chức bởi chùa Hương Sen. Và là giám khảo trong chương trình thi viết “Tôi là ai 2026” do Viện bảo tàng di sản người Việt tổ chức năm 2026.  

    Từ 2020 đến 2026, Khánh Lan cộng tác trong ban biên tập các tổ chức văn học gồm tác phẩm văn học và thi ca phổ biến trên báo chí internet và nhiều tạp chí hải ngoại. Từ năm 2020-2026 khánh Lan đã cho ra mắt hơn 15 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: biên khảo và tham luận về các tác phẩm Nobel, Tam giáo đồng Nguyên, truyện dài, truyện ngắn, trinh thám, Tuyển tập thơ Bóng thời gian, Những nhà thơ hải ngoại, nghiên cứu về phân tâm học, siêu hình học, thuyết học hiện sinh, Góc nhìn văn học, Triết thuyết phương Đông và phương Tây.

    MC Minh Thư mời nhà văn Việt Hải, ông là người đã sáng lập ra liên nhóm Nhân văn Nghệ Thuật & tiếng thời gian, cũng như đồng sáng lập Liên nhóm Văn Chương Việt &Tiếng Đàn Xưa. Cô cũng mời nhạc sĩ Võ Tá Hân đưa nữ sĩ Dương Hồng Anh, và sau cùng là văn thi sĩ khánh Lan lên sân khấu để cùng chào đón quý khán giả cũng như khai mạc buổi Hội Ngộ Bút Duyên hôm nay.

    NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NV Khánh Lan– chào đón quý khán giả cũng như khai mạc buổi hội ngộ bút duyên.

    Trong phần phát biểu nữ sĩ Dương Hồng Anh đã đọc bài thơ “Nhớ” mà bà sáng tác mới nhất.

    Bà cũng nhờ nhà văn/thơ Khánh Lan ngâm giọng Tao Đàn, bài thơ như sau:

    Nhớ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

    Chung vui những buổi chiều tà

    Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

    Nắng vàng sưởi ấm thành đô

    Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Thư trang vẫn nở những vần thơ say

    Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

    Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

    Hồng Anh, Tháng 9, 2026.

    Nhóm Tây Ban Cầm: Tơ Vàng

    Xen kẽ với phần văn học là Nhóm Tây ban cầm Tơ Vàng, thuộc Fountain Valley Guitar Club, được thành lập và hướng dẫn bởi nhạc sĩ Võ Tá Hân. Các thành viên của nhóm đến từ 3 miền: Bắc, Trung, Nam gồm các chị: Sandy Lee, Lâm Dung, Khiên Trinh, Bình Chi, Jennifer Lâm, Thu Hồng. Nhạc phẩm: Hoài Thu.

    MỞ ĐẦU PHẦN VĂN HỌC, DIỄN GIẢ ĐẦU TIÊN LÀ THI SĨ MINH ĐỨC VỚI THI TẬP QUÊ HƯƠNG CÒN ĐÓ CỦA TÁC GIẢ NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH,

    Ông nói: Đó là một thi tập mới nhất của Nữ Sĩ, khái lược về yếu tố Quê hương, có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức. Quê hương là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận sự nhớ nhung về quê xưa, ấy là tình yêu quê hương.

    Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều.

    Hãy xem thơ ca Dương Hồng Anh:

    Tháng Tư nhớ quê hương

    Mặt trời đi vắng hôm nay

    Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương

    Năm mươi năm mấy đoạn trường

    Tình yêu quê hương không ngọt ngào, nhẹ nhàng, sâu lắng khiến ta khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người. Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ sau dây về quê cũ của người. Xem bài:

    Mơ Về Hà Nội

    Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

    Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

    Cho thơ nở giữa vườn thơ

    Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

    Hướng về cố lý xa xăm

    Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ

    Tơ đàn xao xuyến hồn thơ

    Tiếp theo là nhạc phẩm Trưa Hè Xanh Lá Me, thơ của NS Dương Hồng Anh, nhạc Võ Tá Hân do Ca Nhạc Sĩ Lâm Dung trình bay.

    VỊ DIỄN GIẢ THỨ 2 LÀ GIÁO SƯ QUYÊN DI, ÔNG GIỚI THIỆU VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ HAI TÁC PHẨM SIÊU HÌNH HỌC VÀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN. Bài diển văn rất hay và có giá trị văn học, nên người viết xin đăng trọn bài nói chuyện của ông.

    GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN

    QUYÊN DI

    Trước hết, cho phép tôi được nói đôi lời chân thật về chính mình.

    Khi còn là học sinh lớp Đệ Nhất và rồi sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có may mắn được học Triết Tây với những vị giáo sư mà tên tuổi đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống trí thức miền Nam: Linh mục Trần Văn Hiến Minh, Linh mục Trần Đức Huynh, Linh mục Lê Tôn Nghiêm, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Trần Bích Lan… Tôi cũng được học Triết Đông với cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Linh mục triết gia Kim Định và một số vị thầy đáng kính khác.

    Những năm tháng ấy, tôi cảm thấy mình giống như con chim chích bay vào một khu rừng mênh mông. Trước mắt tôi là biết bao kỳ hoa dị thảo của tư tưởng nhân loại: Socrates, Plato, Aristotle, Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Thánh Augustine, Descartes, Kant, Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger, Sartre, Camus, François Sagan… Tôi ngắm nhìn, say mê, thưởng thức và cố gắng tìm hiểu. Nhưng thú thật, càng đi sâu vào khu rừng triết học, tôi càng nhận ra sự mênh mông của nó. Tôi đã nhìn thấy nhiều con đường, nhưng không phải lúc nào cũng biết con đường nào sẽ đưa mình ra khỏi khu rừng ấy.

    Bây giờ tuổi đã cao, khi đọc hai công trình biên khảo của nhà văn Khánh Lan, một công trình về triết học hiện sinh và một công trình về siêu hình học, tôi lại có dịp trở về với những câu hỏi mà thời sinh viên từng làm tôi say mê, bối rối và nhiều khi hoang mang. Điều đáng mừng là lần này, tôi không còn đọc với tâm thế của một sinh viên đang cố ghi nhớ những khái niệm khó khăn, mà đọc như một người đã đi qua nhiều năm tháng của cuộc đời, từng chứng kiến những đổi thay của con người, xã hội và thời đại.

    Và thật bất ngờ, qua cách trình bày của Khánh Lan, tôi nhận ra một số điều tưởng đã quen thuộc nhưng trước đây chưa chắc mình đã nhìn thấy đầy đủ. Có những khái niệm từng nằm yên trong sách vở, nay bỗng liên hệ với đời sống. Có những câu hỏi triết học tưởng như xa xôi, nay lại trở thành những câu hỏi rất gần gũi: Tôi là ai? Tôi đang sống như thế nào? Tôi có thật sự tự do không? Tôi có trách nhiệm ra sao về những lựa chọn của mình? Thực tại là gì? Con người có thể hiểu được thế giới đến đâu? Và cuộc đời có ý nghĩa gì trước cái chết?

    Đó cũng là lý do tôi rất vui hôm nay được giới thiệu cùng quý vị hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan.

    Tác phẩm thứ nhất là Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng. Tác phẩm thứ hai là Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình. Hai cuốn sách có thể được đọc riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một cuộc đối thoại khá tự nhiên. Nếu siêu hình học đặt ra những câu hỏi căn bản về tồn tại, thực tại, con người và thế giới, thì triết học hiện sinh đưa những câu hỏi ấy trở lại với đời sống cụ thể của từng cá nhân.

    Nói một cách giản dị, siêu hình học thường hỏi: Cái gì là thực tại? Tồn tại có nghĩa là gì? Con người là gì? Thế giới được cấu tạo như thế nào? Còn triết học hiện sinh hỏi thêm: Con người đang sống thế nào trong thế giới ấy? Con người có quyền lựa chọn hay không? Tự do đem lại hạnh phúc hay lo âu? Chúng ta phải có trách nhiệm thế nào về đời sống của mình?

    Trong Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Khánh Lan bắt đầu từ lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, từ những tiền đề xa xưa trong tư tưởng Socrates, Montaigne, Pascal, rồi đi đến Kierkegaard và Nietzsche, những người thường được xem là đã đặt nền tảng quan trọng cho tư tưởng hiện sinh. Từ đó, tác giả trình bày sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỷ XX qua những tên tuổi như Husserl, Heidegger, Sartre, Camus và nhiều nhà tư tưởng khác.

    Một ưu điểm dễ nhận thấy của cuốn sách là Khánh Lan không xem chủ nghĩa hiện sinh chỉ như một hệ thống lý thuyết khép kín. Cô cố gắng cho người đọc thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh nảy sinh từ những khủng hoảng rất thật của con người: nỗi cô đơn, sự lo âu, cảm giác phi lý, sự sợ hãi trước cái chết, sự mất phương hướng, nhu cầu được sống chân thật và khát vọng tự quyết định đời mình.

    Khi trình bày quan niệm của Sartre rằng sự hiện hữu có trước bản chất, tác giả giúp người đọc hiểu rằng con người không phải là một vật thể đã được định nghĩa hoàn toàn từ trước. Con người được hình thành qua những lựa chọn, những hành động và trách nhiệm của chính mình. Tự do trong triết học hiện sinh vì thế không phải là một món quà dễ chấp nhận. Tự do cũng là một gánh nặng, bởi khi được tự do lựa chọn, con người không thể hoàn toàn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho xã hội hay cho người khác.

    Đây là một điểm rất đáng quý trong cách Khánh Lan tiến đến với chủ nghĩa hiện sinh. Cô không chỉ nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân, mà còn gắn tự do với trách nhiệm. Con người được tự do, nhưng không được sống một cách tuỳ tiện. Con người có quyền chọn lựa, nhưng mỗi lựa chọn đều tạo nên một phần con người mình và ảnh hưởng đến những người chung quanh.

    Khánh Lan cũng dành sự quan tâm thích đáng đến sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật. Qua văn chương, những khái niệm như phi lý, hư vô, cô đơn, tự do, tuyệt vọng hay tính chân thực không còn là những thuật ngữ khô khan. Chúng trở thành những nhân vật, những số phận, những cuộc đối thoại, những bi kịch nội tâm và những lựa chọn đau đớn của con người.

    Văn học giúp cho triết học có một gương mặt cụ thể. Một ý niệm trừu tượng có thể trở nên dễ hiểu hơn khi nó được thể hiện qua một nhân vật đang yêu, đang đau khổ, đang sợ hãi, đang phản kháng hoặc đang phải quyết định giữa hai con đường. Qua cách trình bày này, Khánh Lan cho thấy văn chương không chỉ minh hoạ cho triết học. Văn chương còn là một hình thức suy tư bằng hình tượng, bằng cảm xúc và bằng đời sống.

    Nhân đề cập đến triết học hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn chương, tôi nghĩ nên nhắc đến Françoise Sagan, một nhà văn nữ người Pháp đã để lại dấu ấn đặc biệt đối với thế hệ chúng tôi. Sagan không viết những khảo luận triết học, cũng không trình bày chủ nghĩa hiện sinh bằng những hệ thống khái niệm phức tạp. Bà đưa cảm thức hiện sinh vào những điều rất gần gũi: tuổi trẻ, tình yêu, gia đình, sự buồn chán, khát vọng tự do và những lựa chọn riêng tư của con người.

    Qua Bonjour tristesse, người đọc gặp một thế giới tưởng như nhẹ nhàng, thanh lịch và phóng túng, nhưng bên dưới bề mặt ấy là những câu hỏi nghiêm chỉnh về tự do, trách nhiệm và hậu quả của hành động. Nhân vật của Sagan muốn sống theo ý mình, nhưng càng tìm cách thoát khỏi những ràng buộc đạo đức, họ càng phải đối diện với sự bất an và mặc cảm. Ở đó, chủ nghĩa hiện sinh không hiện ra như một bài học lý thuyết, mà như một kinh nghiệm sống.

    Sagan đã làm cho nhiều người trẻ nhận ra rằng tự do không chỉ là được làm điều mình muốn. Tự do còn là phải sống với kết quả của điều mình đã chọn. Có lẽ vì thế, văn chương của bà đã ảnh hưởng rộng rãi đến thế hệ chúng tôi. Sagan nói bằng một giọng văn nhẹ, lạnh, đôi khi tưởng như dửng dưng, nhưng phía sau sự nhẹ nhàng ấy là một cái nhìn khá sâu sắc về sự cô đơn và trách nhiệm của con người hiện đại.

    Nếu Sartre đem chủ nghĩa hiện sinh vào triết học, Camus đem nó đến với cảm thức phi lý, thì Françoise Sagan đưa nó vào đời sống tình cảm và tâm lý của tuổi trẻ. Bà chứng minh rằng những câu hỏi triết học lớn đôi khi không xuất hiện trong giảng đường, mà xuất hiện trong một mái nhà, một cuộc tình, một sự phản bội, một nỗi buồn hay một quyết định tưởng như rất riêng tư.

    Trở lại Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng, một điểm khác cũng đáng ghi nhận là tác giả không né tránh những chỉ trích đối với chủ nghĩa hiện sinh. Bên cạnh việc trình bày những đóng góp của dòng tư tưởng này, cô cũng nhắc đến những quan điểm cho rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thái độ bi quan hoặc sự khinh miệt lý trí. Việc dành chỗ cho những ý kiến ngược chiều giúp tác phẩm có thêm chiều rộng, bởi tư tưởng chỉ thật sự sống động khi nó được đặt trong đối thoại và tranh luận.

    Phần Khánh Lan viết về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh cũng mở ra một hướng suy nghĩ đáng chú ý. Tôn giáo ở đây không chỉ được nhìn như một hệ thống điều răn từ bên ngoài, mà còn như một kinh nghiệm nội tâm, một cuộc gặp gỡ giữa con người với ý nghĩa tối hậu của đời sống. Câu hỏi về Thiên Chúa, đức tin, tự do và trách nhiệm được đặt trong mối quan hệ với một con người đang hiện hữu, đang chọn lựa và đang chịu trách nhiệm về chính mình.

    Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu về quyển sách thứ hai của Khánh Lan. Nếu cuốn sách về triết học hiện sinh giúp người đọc nhìn sâu vào đời sống của cá nhân, thì Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình lại đưa chúng ta trở về với những câu hỏi rộng lớn hơn về thực tại và tồn tại.

    Trong phần mở đầu, Khánh Lan khởi đi từ những câu hỏi tưởng như rất đơn giản nhưng không dễ trả lời: Thế giới mà chúng ta đang sống thực sự là gì? Con người hiện hữu trong thế giới ấy với tư cách nào? Thực tại có tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta hay không? Có điều gì còn tiếp diễn sau cái chết?

    Đó là những câu hỏi mà triết học đã theo đuổi từ thời cổ đại cho đến hiện nay. Và trong thời đại của AI – trí tuệ nhân tạo, thực tại ảo, những mô hình mô phỏng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, những câu hỏi ấy lại càng trở nên cấp thiết. Ranh giới giữa cái thật và cái dường như thật, giữa con người và máy móc, giữa ý thức và vật chất, giữa đời sống thực và đời sống ảo ngày càng trở nên phức tạp.

    Khánh Lan có công trong việc trình bày siêu hình học như một lãnh vực không phải chỉ dành cho những triết gia chuyên nghiệp. Siêu hình học hiện diện ngay trong những điều chúng ta tin tưởng, trong cách chúng ta hiểu về con người, tự do, đạo đức, trách nhiệm, sự sống và cái chết. Mỗi người, dù có ý thức hay không, đều mang trong mình một quan niệm nào đó về thế giới. Quan niệm ấy âm thầm ảnh hưởng đến cách ta lựa chọn, hành động và đánh giá đúng sai.

    Cuốn sách lần lượt giới thiệu siêu hình học cơ bản, lịch sử phát triển của siêu hình học từ thời cổ đại đến hiện đại, những khái niệm như tồn tại, hiện hữu, thực tại, bản chất, nguyên nhân và tự do. Tác giả cũng cố gắng đưa siêu hình học đến gần hơn với những lãnh vực cụ thể như khoa học pháp lý, văn học, đời sống, Phật học, đạo đức học và tâm lý học.

    Đây là điểm đáng khen của công trình biên khảo. Khánh Lan không để siêu hình học đứng yên trong thế giới của những khái niệm trừu tượng. Cô tìm cách cho thấy những nền tảng siêu hình học có thể ảnh hưởng đến cách một xã hội xây dựng luật pháp, cách con người hình thành quan niệm đạo đức, cách chúng ta nhìn về tâm trí, thân thể, ý thức và bản chất con người.

    Đặc biệt, phần nối kết giữa siêu hình học và văn học có nhiều ý nghĩa đối với người đọc yêu văn chương. Triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lập luận. Văn học lại cho phép chúng ta đi vào những vấn đề ấy qua nhân vật, câu chuyện, hình tượng và cảm xúc. Một tác phẩm văn học lớn thường không cần trực tiếp giảng giải về bản thể, nhưng vẫn có thể khiến người đọc tự hỏi mình là ai, vì sao mình đau khổ, thế nào là một đời sống có ý nghĩa và con người phải sống ra sao trước giới hạn của thời gian.

    Việc Khánh Lan đặt Phật học vào cuộc đối thoại với siêu hình học phương Tây cũng cho thấy một nỗ lực mở rộng tầm nhìn. Phật học không chỉ được trình bày như một hệ thống tín ngưỡng, mà còn như một con đường nhận thức và chuyển hoá nội tâm. Ở đó, hiểu biết không tách rời đời sống; tư tưởng không tách rời sự tu dưỡng; nhận thức không chỉ nhằm giải thích thế giới mà còn nhằm làm vơi bớt khổ đau.

    Chương viết về đạo đức và luân lý tiếp tục làm rõ một mối quan hệ quan trọng: cách chúng ta hiểu về thực tại và con người sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta sống. Nếu xem con người là một hữu thể có tự do, quan niệm của chúng ta về trách nhiệm sẽ khác. Nếu xem con người chỉ như một bộ máy bị chi phối hoàn toàn bởi vật chất và hoàn cảnh, quan niệm của chúng ta về đạo đức cũng sẽ khác.

    Phần viết về tồn tại và thời gian, về cái chết như một điều kiện làm cho đời sống có ý nghĩa, cũng đem lại nhiều suy nghĩ. Chính vì đời người hữu hạn, mỗi khoảnh khắc mới trở nên quý giá. Chính vì con người biết mình sẽ chết, con người mới phải tự hỏi mình đã sống thế nào và còn muốn làm gì trong phần đời còn lại.

    Ở cuối sách, khi trở về với Socrates, Plato và Aristotle, Khánh Lan như muốn nhắc người đọc rằng mọi cuộc hành trình triết học, dù đi qua bao nhiêu thế kỷ, cuối cùng vẫn trở về với những câu hỏi căn bản của con người: thế nào là chân lý, thế nào là đời sống tốt đẹp, thế nào là công bằng và con người phải sống ra sao trong cộng đồng.

    Tôi không nghĩ Khánh Lan viết hai cuốn sách này để đưa ra những câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề lớn của triết học. Chính tác giả cũng ý thức rằng những câu hỏi về tồn tại, thực tại, tự do, đức tin, đạo đức và ý nghĩa đời sống không thể được giải quyết một lần cho tất cả.

    Giá trị của hai công trình biên khảo này nằm ở chỗ chúng mở ra một không gian suy nghĩ. Chúng giúp người đọc bước vào triết học bằng những câu hỏi gần gũi, rồi từ đó đi dần đến những vấn đề rộng lớn hơn. Chúng cũng cho thấy một nhà văn, với năng lực cảm nhận đời sống và văn chương, có thể đưa những tư tưởng khó khăn đến gần hơn với người đọc phổ thông.

    Khánh Lan thuộc lớp những cây bút đang tiếp tục học hỏi và tìm kiếm con đường riêng của mình. Hai tác phẩm này cho thấy ở cô một niềm say mê đáng quý đối với triết học, một ý thức muốn chia sẻ tri thức và một nỗ lực kết nối giữa tư tưởng với đời sống. Trong một thời đại mà con người thường bị cuốn vào tốc độ, tiện nghi và những tin tức cô đọng, ngắn ngủi, việc có một người chịu khó dừng lại trước những câu hỏi lớn đã là một điều đáng trân trọng.

    Tôi xin chúc mừng nhà văn Khánh Lan đã hoàn thành hai công trình nhiều tâm huyết này. Mong rằng quý độc giả sẽ đón nhận Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng và Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình như những lời mời gọi bước vào một cuộc trò chuyện sâu sắc về con người và thế giới.

    Và tôi cũng mong rằng, sau khi đọc hai cuốn sách, mỗi chúng ta sẽ có lúc biết dừng lại để tự hỏi: Tôi đang sống như thế nào? Tôi có đang sống thật với chính mình không? Những lựa chọn của tôi đã đem lại điều gì cho bản thân và cho người khác? Tôi đang tìm kiếm điều gì trong cuộc đời hữu hạn này?

    Có lẽ, đó chính là lúc triết học không còn nằm yên trên trang sách. Nó bước vào đời sống, đi vào tâm hồn và bắt đầu làm thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới, nhìn người khác và nhìn chính mình.

    Xin trân trọng giới thiệu hai tác phẩm biên khảo về triết học của nhà văn Khánh Lan cùng quý vị.

    Phần văn nghệ xen kẽ là: The Duo guitar Cát Vàng với Minh Thư và Thúy Giao, trình diễn liên khúc Country Roads: 500 Miles and Take Me Home.

    Ngoài 2 tác phẩm Siêu Hình Học và Triết Học Hiện Sinh, NV Khánh Lan còn cho ra mắt một tác phẩm song ngữ Những đứa trẻ lạc loài/The unwanted children.

    BÀI DIỄN VĂN THỨ BA CỦA NHÀ VĂN, NHÀ BÁO PHẠM QUỐC BẢO

    Với diễn giả NV Phạm Quốc Bảo khi bàn về tác phẩm Những Đứa Trẻ Lạc Loài của nhà văn Khánh Lan. Ông nói:

    Tôi vẫn suy tưởng sau cuộc chiến tại Việt Nam, nay đã thấm thoát hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ tháng Tư, năm 1975, nhưng những vết hằn của lịch sử và nỗi đau ly hương vẫn là một phần nặng trĩu trong tâm khảm của những người con xa xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, việc Khánh Lan giới thiệu tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” cùng ca khúc “Kiếp Lạc Loài” (sáng tác: Phạm Thái, phổ thơ Phạm Thái) thực sự là một nén tâm hương đầy ý nghĩa để tưởng nhớ và chia sẻ nỗi trăn trở.(Trích trong phần nhận định tác phẩm của NV Việt Hài)

    Dưới đây là một số cảm nhận và bình luận chi tiết về cấu trúc 3 phần của tác phẩm cũng như điểm nhấn mạnh độc đáo của dự án nghệ thuật này:

    • Phần I: Hồi ký “Những đứa trẻ lạc loài”

    Cảm nhận: Đây là phần mang tính cá nhân và xúc động sâu sắc nhất khi chạm trực tiếp vào số phận của một đứa trẻ lai bị bỏ lại sau chiến tranh. Những mảnh đời “con lai” từng phải gánh chịu định kiến, sự thiếu vắng tình thương và muôn vàn trắc trở trên chính quê hương mình. Hồi ký không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là tiếng lòng đại diện cho cả một thế hệ sinh ra trong nghịch cảnh chiến tranh.

    • Phần II: Số phận qua chương trình Babylift và Homecoming Act

    Cảm nhận: Tác phẩm mở rộng lăng kính để nhìn nhận về những ngã rẽ khác nhau của các em bé được đưa đi theo chiến dịch Babylift (1975) hay những người con lai lớn lên tìm đường định cư nhờ Đạo luật Hồi hương (Amerasian Homecoming Act). Dù có cơ hội bước ra thế giới rộng lớn hơn, hành trình tìm kiếm cội nguồn, đối diện với khủng hoảng bản sắc và nỗi đau mất mát gốc gác vẫn luôn là vết thương khó lành.

    • Phần III: 50 năm nhìn lại vận mệnh đất nước

    Cảm nhận: Khép lại tác phẩm bằng cái nhìn tổng quan sau 50 năm, phần này mang chiều sâu chiêm nghiệm của thời gian. Đó là sự giao thoa giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; là nỗi niềm trăn trở về những gì đã xảy ra cho quê hương, đất nước và sự kiên cường vươn lên của những kiếp người viễn xứ.

    Diễn giả Phạm Quốc Bảo nêu ra sự tương quan liên hệ về xã hội Mỹ vẫn có những tuổi thơ, những trẻ em lạc loài, bơ vơ cần sự giúp đỡ. Vì dây là vấn nạn nhân văn xã hội. Về tác giả Khánh Lan thì trong nội dung sách gồm 3 phần của tác phẩm này được soạn khá kỹ, một khi những chia sẻ của mình có thể đồng điệu với góc nhìn sâu sắc và đầy tính nhân văn của chủ đề. Ví dụ như những suy tư, những trăn trở về gia đình, cộng đồng và số phận con người qua các tác phẩm văn nghệ, thi ca luôn mang một sức sống mãnh liệt, giúp chúng ta xích lại gần nhau hơn trong cuộc sống viễn xứ này.

    Điểm chú ý tiểu thuyết xã hội này được soạn lại do việc biên khảo dữ liệu trên liên mạng internet, do sự thực, tiểu thuyết “Những đứa trẻ lạc loài có 2 phiên bản là một ấn bản Việt Ngữ và một về phiên bản Anh Ngữ, tức hai cuốn.

    Ca khúc song ngữ “Kiếp Lạc Loài” và “The Forsaken Life” của NS Phạm Thái do lấy cảm hứng từ tiểu thuyết những đứa trẻ lạc loài của nhà văn khánh Lan. Đây là một bước thử nghiệm rất đáng chú ý khi toàn bộ phần hình ảnh, giọng hát và hòa âm đều được thực hiện thông qua công nghệ AI dựa trên lời thơ của anh Phạm Thái. Trên sân khấu ca sĩ Thụy Lan chuyển tải bài nhạc, phần Hòa âm và trong youtube clip ban đầu do giọng hát AI. Ca khúc mang lại màu sắc hoài niệm, da diết, tái hiện thành công nỗi cô đơn và khát vọng tìm về nguồn cội của những đứa trẻ lạc loài.

    Tóm lại, tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” và ca khúc “Kiếp Lạc Loài” không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật tưởng niệm tháng Tư Đen, mà còn là một thông điệp nhân văn sâu sắc về lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và hàn gắn những vết thương chiến tranh.

    Hai bài hát xen kẽ do ca sĩ Ngọc Hà, phu nhân của nhạc sĩ Lê Văn Khoa trong 2 nhạc phẩm. Tình cố hương của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Và Tình Cầm, thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy.

    Tiếp theo là phẩm diễn ngân của thi sĩ Hà Phương đã kết thúc phần văn học với hai bài thơ: Nàng Thơ Nàng Xuân tặng nữ sĩ Dương Hồng Anh và Cung Linh Khúc tặng văn thi sĩ khánh Lan.

    Tuyết Nga, Vee Hương, (Khánh Lan) Đức Hạnh, Kim Hương

    Sách bán được gần hết và nhanh hơn dự kiến. Nhưng điều khiến tôi xúc động không phải là số lượng sách được bán, mà là những cuộc trò chuyện sau buổi giao lưu. Sự thành công hôm ấy, với tôi, không nằm ở những con số mà nằm trong ánh mắt của độc giả, trong những cái bắt tay, những lời chia sẻ chân thành và cả sự im lặng đầy xúc động của chính tôi. Sự thành công đến quá bất ngờ, vượt xa mọi điều tôi mong ước.

    Khi hội trường dần vắng, tôi nhìn một số ít sách còn lại trên bàn và mỉm cười. Tôi hiểu rằng những tháng ngày miệt mài viết lách của mình đã được đáp lại bằng một món quà đẹp đẽ: sự yêu thương của độc giả. Đó là khoảnh khắc tôi sẽ không bao giờ quên.

    Trong cuộc đời của một người cầm viết không thể đo đếm bằng thành công mà bằng hạnh phúc vì những điều mình viết ra đã thực sự đến được với độc giả.

    Khi buổi ra mắt kết thúc, tôi đứng lại một mình trong hội trường đã vắng người. Tôi nhớ đến những ngày mình từng hoài nghi không biết liệu có ai muốn đọc câu chuyện này hay không. Vậy mà hôm nay, chính những bân bè, người xa lạ lại dành thời gian đến đây, lắng nghe và chia sẻ cảm xúc với tôi.

    Tối hôm ấy, trở về nhà, tôi ngồi một mình bên bàn viết, nhìn những cuốn sách còn lại và chợt hiểu rằng có những khoảnh khắc trong cuộc đời của một người cầm viết không thể đo đếm bằng thành công mà bằng hạnh phúc vì những điều mình viết ra đã thực sự đến được với độc giả. Tim óc tôi lúc ấy như dâng lên một niềm vui mừng tưởng chừng như bất tận, xen lẫn những cảm xúc dâng trào từ tận đáy lòng.

    Thành công của buổi ra mắt không nằm ở số sách được bán ra, mà ở khoảnh khắc tôi nhận ra rằng câu chuyện mình viết đã thực sự chạm đến người đọc/khác. Đó là một thành công hoàn toàn ngoài dự tính, bất ngờ đến mức tôi vẫn cảm thấy như mình đang nằm mơ. Và có lẽ, đây sẽ là một trong những ngày đáng nhớ nhất trên hành trình viết sách của tôi.

    PHẦN VĂN NGHỆ

    Sau phần văn học, một chương trình nhạc thính phòng với những nhạc phẩm vang bóng một thời trong nền âm nhạc Việt Nam đã cống hiến đến quý quan khách. Mở đầu phần văn nghệ, Ca sĩ Kim Đức, phu nhân của Bác Sĩ Vũ Thùy với nhạc phẩm “Paris tu m’as Pris dans tes bras”, xin được dịch nôm na là “Paris ơi, thành phố đã đón tôi trong vòng tay”. Một nhạc phẩm nổi tiếng của ca sĩ Enrico Macias, được ông sáng tác khi chính phủ Algeria trục xuất ông ra khỏi nước vì ông tham gia phản chiến và chính phủ Pháp đã dang rộng bằng vòng tay để đón chào ông.

    Và lần lượt đến sự trình diễn của các bạn bè và thân hữu.

    • Chế Tùng & Nguyệt Hân: Hoa Có Vàng Nơi Ấy. NS việt Anh
    • Đông Triều: Biết Bao Giờ Trở Lại, NS Ngô Thụy Miên.
    • Ngọc Quỳnh: Về Đây Nghe Em, NS Trần Quang Lộc 
    • Hồng Quyên: Thu Quyến Rũ. NS Đoàn Chuẩn 
    • Kim Đức: If You Go Away.
    • Mạnh Bổng: Dưới Giàn Hoa Cũ của nhạc sĩ Tuấn Khanh.
    • Chế Tùng & Nguyệt Hân: Còn Mùa Thu.

    Đông Triều trong nhạc phẩm Biết Bao Giờ Trở Lại

    Hồng Quyên vời Thu Quyến Rũ

    Ngọc Quỳnh với Về Đây Nghe Em 

    Mạnh Bổng với nhạc phẩm: Dưới Giàn Hoa Cũ

    4:30 pm: Bế mạc với ban hợp ca nhạc phẩm Còn Gặp Nhau với Minh Thư, Lâm Dung & Ngọc Quỳnh và nhóm tơ vàng. Nhạc phẩm Còn gặp nhau của nhạc sĩ Võ Tá Hân đã chấm dứt chương trình ra mắt sách.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Khánh Lan gởi lời cảm ơn chân tình đến quý Giáo Sư, Diễn Giả, Văn Thi Sĩ, Anh Chị Em và Thân Hữu đã đến chia vui và chúc mừng đến chúng tôi. Chúng tôi cũng gởi lời cám ơn đến các ca sĩ và bạn bè, thân hữu cũng như các anh chị em trong nhóm đã tham gia trong phần văn nghệ, đã trình diễn những nhạc phẩm tuyệt diệu và đã ở lại đến giây phút cuối.

    NS Dương Hồng Anh & Khánh Lan, California 2026

  • RA MẮT SÁCH,  VĂN HỌC,  Viet-Hải

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM

    Trần Việt Hải

    Trong ngày Ra Mắt tác phẩm của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Văn Thi Sĩ Khánh Lan tổ chức tại Hội Trường Báo Người Việt ngày 20 tháng 9, 2026. Hai văn thi sĩ đã trình làng 3 tác phẩm mà tôi cho là có giá trị trong lãnh vực văn học. Đó là Tuyển Tập Thi Ca Quê Hương Còn Đó của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và 3 tác phẩm của Văn Thi Sĩ Khánh Lan, gồm Siêu Hình Học, Triết Lý Hiện Sinh và Những Đứa Trẻ Lạc Loài (song ngữ Anh & Việt).

    Ba diễn giả được mời trong buổi ra mắt sách là: Giáo Sư Quyên Di, Nhà Văn, Nhà Báo Phạm Quốc Bảo và Thi Sĩ Minh Đức. Cả 3 bài diễn văn đều đem lại những chi tiết quan trọng mà tôi thiết tưởng cần được lưu trữ lại trong kho tàng văn học của chúng ta. Dưới đây là những nhận xét của tôi về 3 tác phẩm ấy cũng như nội dung của 3 bài diễn văn này.

    1. BÀI DIỄN VĂN THỨ NHẤT CỦA THI SĨ MINH ĐỨC

    Nhà văn Minh Đức đảm nhiệm nói về thi tập mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh là Quê Hương Còn Đó, diễn giả đi khái lược về yếu tố Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức nên rất khó quên. Hãy nhận định từ ngữ về vai trò của quê hương qua ba yếu tố sau:

    • Quê hương là mảnh đất chúng ta sinh ra, lớn lên, trau đồi bản thân và mang trong mình nhiều ước mơ, khát vọng để giúp đời, giúp người. Mỗi quê hương có nền văn hóa riêng, giao thoa độc đáo của văn hóa từng vùng miền, đóng góp vào đa dạng nền văn hóa của dân tộc. Quê hương là nơi con người trở về sau những khó khăn, mang lại cảm giác thanh thản và yên bình.
    • Quê hương không chỉ là nơi chúng ta lớn lên, mà còn là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận được sự thanh thản, yên bình bởi không khí quen thuộc và con người chân chất tại quê hương. Mỗi quê hương mang một bản sắc riêng, nuôi dưỡng tâm hồn con người với sự đa dạng phong phú. Mỗi quê hương cũng có một nền văn hóa riêng. Khi ta trưởng thành, ta mang theo nét đặc trưng của quê hương đi nơi khác, sẽ có sự giao thoa độc đáo giữa các nền văn hóa từng vùng miền, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.

    Sự nhớ nhung, suy tưởng miên viễn về quê xưa, ấy là một tình yêu quê hương. Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên và để trở về. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều. Hãy xem thơ ca Dương Hồng Anh:

    Tháng Tư nhớ quê hương

    Mặt trời đi vắng hôm nay

    Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương

    Năm mươi năm mấy đoạn trường

    Mỗi người có một quê hương riêng, và mỗi quê hương có một bản sắc khác nhau, nuôi dưỡng những tâm hồn con người đa dạng và phong phú. Tình yêu quê hương không phải là tình cảm trừu tượng, nó được biểu hiện rất cụ thể và rõ nét. Thật vậy, quê hương trong miền ký ức của mỗi người có luôn là những gì đơn giản đơn, mộc mạc nhưng cũng đầy thiêng liêng và đẹp đẽ. Tình yêu quê hương không ngọt ngào, trong trẻo tong nét nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng vẫn khiến con người ta phải dâng lên những niềm xúc cảm khôn nguôi, khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người.

    Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ sau dây về quê cũ của người. Xem bài:

    Mơ Về Hà Nội

    Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

    Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

    Cho thơ nở giữa vườn thơ

    Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

    Hướng về cố lý xa xăm

    Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ

    Tơ đàn xao xuyến hồn thơ

    Tình yêu quê hương, đất nước luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người, trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy văn học dân tộc, theo ý nghĩa sâu sắc và thiêng liêng. Quê hương là nơi mỗi con người cất tiếng khóc chào đời, là miền đất đầu tiên nâng bước ta trên hành trình làm người. Trong dòng chảy không ngừng của cuộc sống hiện đại, con người có thể đi rất xa, sống ở nhiều vùng đất khác nhau, nhưng quê hương vẫn luôn hiện diện như một phần máu thịt, âm thầm chi phối suy nghĩ, tình cảm và cách sống của mỗi người. Bởi vậy, vai trò của quê hương đối với cuộc đời con người là vô cùng sâu sắc và bền vững. Tình yêu quê hương không chỉ là nỗi nhớ thầm lặng mà còn là động lực thúc đẩy con người sống có ích. Ý thức về nguồn cội khiến mỗi người biết trân trọng những gì mình đang có và mong muốn đóng góp cho cộng đồng nơi mình sinh ra.

    Trong phần phát biểu nữ sĩ Dương Hồng Anh đã đọc bài thơ mới sáng tác, bà cũng nhờ nhà thơ Khánh Lan ngâm giọng Tao Đàn, bài thơ nhu sau:

    Nhớ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

    Chung vui những buổi chiều tà

    Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

    Nắng vàng sưởi ấm thành đô

    Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Thư trang vẫn nở những vần thơ say

    Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

    Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

    Hồng Anh, Tháng 9, 2026.

    Bài thơ “Nhớ” của tác giả Hồng Anh (sáng tác tháng 9/2026) là một khúc thi ca nhẹ nhàng, đong đầy cảm xúc hoài niệm, biểu hiện tình cảm sâu sắc gắn liền với nguồn cảm hứng sáng tác văn chương. Dưới đây là phân tích và cảm nhận chi tiết về thi phẩm:

    CHỦ ĐỀ ĐƯỢC NÊU RÕ VÀ NGUỒN CẢM HỨNG SÁNG TÁC

    Mạch nối cảm xúc xuyên suốt, bài thi phẩm được mở đầu với một điệp khúc quen thuộc “Mỗi lần cầm bút viết văn”, lặp lại ở đầu mỗi khổ thơ như một nhịp đập thổn thức của trái tim người nghệ sĩ. Đối với tác giả, khoảnh khắc cầm bút không chỉ là lúc lao động nghệ thuật mà còn là cánh cửa mở ra không gian của ký ức và hoài niệm.

    Nhắc về đối tượng là nỗi nhớ khôn nguôi. Nỗi nhớ trong bài thơ mang tính đa chiều, bao trùm cả tình bạn thắm thiết (“bạn gần bạn xa”), tình yêu quê hương đất nước, hình ảnh Thủ đô Hà Nội nên thơ, và cả những nỗi lòng xao xuyến, bâng khuâng rất riêng tư trong tâm hồn của bà.

    Đi xa hơn khi phân tích chi tiết từng khổ thơ như:

    • Khổ 1: Nỗi nhớ bạn bè và tình cảm tri kỷ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

    Chung vui những buổi chiều tà

    Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

    Không gian và thời gian: Thời điểm “chiều tà” thường là lúc con người dễ chùng xuống và hoài niệm nhất.

    Nội dung: Tác giả nhớ về những người bạn khắp muôn phương, những buổi tụ họp ấm cúng bên thi ca, âm nhạc. Nghệ thuật đối lập nhẹ nhàng giữa “bạn gần” và “bạn xa” kết hợp với các từ ngữ gợi âm thanh, hình ảnh (họa thơ, nhạc nở, đàn ca) tạo nên một bức tranh kỷ niệm rộn ràng, giàu tính nghệ thuật và sự gắn kết tâm hồn.

    • Về Khổ 2 là Nỗi nhớ Hà Nội và vẻ đẹp non sông

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

    Nắng vàng sưởi ấm thành đô

    Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

    Không gian địa lý: Từ tình bạn, mạch thơ dịch chuyển về không gian đậm chất trữ tình của Hà Nội với trăng Tây Hồ, thành đô ngập tràn nắng vàng, và biểu tượng thiêng liêng Hồ Gươm xưa. Hình ảnh thơ: Hình ảnh “Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa” mang đậm hồn Việt, vừa duyên dáng, hoài cổ vừa gợi lên sự gắn bó thiết tha giữa con người với mảnh đất nghìn năm văn hiến.

    • Và Khổ 3 là Sự thăng hoa của cảm xúc và nỗi lòng lữ thứ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Thư trang vẫn nở những vần thơ say

    Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

    Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

    Ý nghĩa: Trang giấy trắng lúc này không chỉ ghi lại con chữ mà như “nở” ra những vần thơ say đắm. Trạng thái “bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư” khép lại bài thơ bằng một dư âm lắng đọng, cho thấy tâm hồn nhạy cảm, giàu tình yêu thương của người cầm bút.

    XÉT VỀ YẾU TỐ TRÊN CĂN BẢN THI CA NGHỆ THUẬT

    Theo thể thơ Thất Ngôn, bảy chữ với nhịp điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, dễ đi vào lòng người, tâm cảm dễ nhớ.

    Bài thơ “Nhớ” là sự hòa quyện tuyệt vời giữa tình yêu văn chương và tình cảm con người. Qua những vần thơ mộc mạc nhưng chân thành, Hồng Anh đã thành công trong việc vẽ nên một bức tranh tâm hồn rộng mở, nơi ký ức về tình bạn, về Hà Nội và những rung động sâu kín được thăng hoa trọn vẹn qua ngòi bút.

    Phần thu hút sự suy nghĩ của tôi là bài thi ca sau cùng, Hoàng Hôn Nhớ Mẹ. Trong bài thơ mà nhà văn Minh Đức bình luận về Hoàng Hôn Nhớ Mẹ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, thì ông cho rằng tình thương của Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời, nơi ta chôn nhau cắt rún. Mẹ là tiếng nói quê hương, và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương…

    Hoàng Hôn Nhớ Mẹ

    Hè về cho trái chín cây

    Cho hoa vàng nở nhớ ngày xa xưa

    Trời trong gió mát hương đưa

    Vẳng nghe tiếng hát ban trưa êm đềm

    Nắng soi tà áo vai mềm

    Ai đi hong nắng, nón nghiêng mây trời

    Nhớ xưa dáng mẹ tuyệt vời

    Hạ vàng gợi nhớ những lời mẹ ru

    Ca dao lời ngọt thiên thu

    À ơi! tiếng mẹ hát ru năm nào

    À ơi! tiếng hát ngọt ngào

    Trôi theo ngày tháng quyện vào giấc mơ

    Mây Tần xao xuyến hồn thơ

    Hoàng hôn nhớ mẹ – ngẩn ngơ dáng chiều.

    Những vần thơ trong bài “Hoàng Hôn Nhớ Mẹ” trên, thì cùng câu nói đầy xúc động “Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời; Mẹ là tiếng nói quê hương, Và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương…” đã chạm đến những góc sâu kín và thiêng liêng nhất trong tâm hồn mỗi con người. Đó không chỉ là sự tưởng nhớ đấng sinh thành, mà còn là sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa tình mẫu tử và hồn thiêng sông núi.

    Mẹ là quê hương và bến đỗ bình yên của cội nguồn, là nơi chôn rau cắt rún. Quê hương còn dó không chỉ là khoảng không gian địa lý với những lũy tre làng, cánh đồng lúa hay con đê nhỏ, mà quê hương hóa thân trọn vẹn trong hình bóng của Mẹ. Mẹ chính là nhân chứng đầu tiên của cuộc đời ta, là bến bờ đầu tiên ta chạm tới khi cất tiếng khóc chào đời.

    Quê hương còn dó là không gian che chở cho ta, dù ta có đi đến phương trời nào, chỉ cần nghĩ về Mẹ là nghĩ về sự an yên tuyệt đối. Mẹ là gốc rễ, là nơi chốn dung dưỡng tâm hồn ta lớn khôn. Quê hương còn đó là tiếng nói và ngôn ngữ yêu thương của lòng mẹ

    • Lời ru nghìn năm: Như bài thơ đã hoài niệm qua câu “Ca dao lời ngọt thiên thu. À ơi! tiếng mẹ hát ru năm nào”, tiếng mẹ ru chính là tiếng nói đầu tiên dạy ta cảm nhận thế giới. Đó không chỉ là âm thanh, mà là thứ ngôn ngữ thuần khiết nhất của tình yêu thương, vượt qua mọi rào cản thời gian và không gian.
    • Ngôn ngữ không lời, do tình yêu của mẹ đôi khi không nằm ở lời hoa mỹ, mà hiện hữu qua “tà áo vai mềm”, qua “nón nghiêng mây trời”, qua giọt mồ hôi nhọc nhằn và sự hy sinh thầm lặng suốt năm tháng cuộc đời.

    Quê hương còn đó cho ta: Nỗi nhớ hoàng hôn và nỗi niềm khắc khoải qua những Khoảnh khắc giao mùa và lòng người, bài thơ trưng dẫn đã mở ra bằng khung cảnh mùa hè rực rỡ “trái chín cây”, “hoa vàng nở”, nhưng rồi tất cả lại lặng lẽ khép lại trong ánh chiều tà “Hoàng hôn nhớ mẹ – ngẩn ngơ dáng chiều”. Hoàng hôn là thời điểm lòng người dễ chùng xuống nhất. Khi ánh nắng ngày tàn buông xuống, nỗi cô đơn và niềm khao khát được trở về bên mẹ lại trào dâng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

    • Sự bất tử của tình mẫu tử: Thời gian có thể cuốn trôi mọi thứ, khiến tuổi xuân của mẹ phai tàn theo năm tháng, nhưng hình bóng tuyệt vời của mẹ và những khúc ca dao ngọt ngào ấy vẫn mãi “quyện vào giấc mơ”, trở thành hành trang tinh thần theo ta suốt cuộc đời.

    Tóm lại, tình thương của Mẹ là bản giao hưởng đẹp đẻ nhất của cuộc đời, nơi dung chứa cả sự bao dung, hy sinh và nguồn cội. Dù mai này có đi đâu xa, mỗi chúng ta vẫn luôn tìm thấy đường về nhà, bởi vì trong trái tim ta – Mẹ mãi mãi là quê hương.

    Những vẫn thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh cảm ác thực sự chạm đến sâu thẳm tâm can của bất kỳ ai từng có mẹ, từng lớn lên từ nôi quê nghèo khó mà đong đầy nghĩa tình. Sự hòa quyện giữa hình ảnh “Mẹ” và “Quê hương” không chỉ là một nghệ thuật ẩn dụ quen thuộc trong văn học Việt Nam, mà nó còn là một thứ đạo lý tâm linh, một cội nguồn thiêng liêng nhất của mỗi con người.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh & Văn Thi Sĩ Khánh Lan

    Thi ca Dương Hồng Anh vốn sâu sắc về bức tranh tuyệt đẹp như miêu tả bên trên:

    Mẹ là cội nguồn sinh dưỡng và là tiếng nói yêu thương, bởi Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời / Mẹ là tiếng nói quê hương, / Và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương,… Quê hương và Mẹ vốn là hai khái niệm hòa quyện vào nhau. 

    Mẹ là linh hồn của quê hương. Một khi thiếu vắng mẹ, quê hương dẫu có đầy đủ cũng hóa thành hoang lạnh, xa xôi. Có mẹ, có quê hương mới thực sự là “nơi chốn chôn rau cắt rún”, là nơi bình yên nhất để mỗi khi bão giông cuộc đời vây quanh, xô đẩy, những người con tha phương lại khao khát được quay về.

    Quê hương còn đó nêu lên sự thể khi cuộc đời dẫu có “nổi trôi” bao nhiêu dặm trường, con người ta có thể già đi, đến tóc bạc da mồi, nhưng hình bóng của Mẹ và quê hương vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn. Đọc những vần thơ Dương Hồng Anh để cho ta thấu hiểu nhiều thêm, thêm xót xa và biết thêm ơn nghĩa vô ngần trước công ơn sinh thành, dưỡng dục lớn lao như trời biển của Mẹ.

    1. BÀI DIỄN VĂN THỨ HAI CỦA GIÁO SƯ QUYÊN DI

    QUYÊN DI (Đăng nguyên bài)

    GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN

    Trước hết, cho phép tôi được nói đôi lời chân thật về chính mình.

    Khi còn là học sinh lớp Đệ Nhất và rồi sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có may mắn được học Triết Tây với những vị giáo sư mà tên tuổi đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống trí thức miền Nam: Linh mục Trần Văn Hiến Minh, Linh mục Trần Đức Huynh, Linh mục Lê Tôn Nghiêm, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Trần Bích Lan… Tôi cũng được học Triết Đông với cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Linh mục triết gia Kim Định và một số vị thầy đáng kính khác.

    Những năm tháng ấy, tôi cảm thấy mình giống như con chim chích bay vào một khu rừng mênh mông. Trước mắt tôi là biết bao kỳ hoa dị thảo của tư tưởng nhân loại: Socrates, Plato, Aristotle, Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Thánh Augustine, Descartes, Kant, Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger, Sartre, Camus, François Sagan… Tôi ngắm nhìn, say mê, thưởng thức và cố gắng tìm hiểu. Nhưng thú thật, càng đi sâu vào khu rừng triết học, tôi càng nhận ra sự mênh mông của nó. Tôi đã nhìn thấy nhiều con đường, nhưng không phải lúc nào cũng biết con đường nào sẽ đưa mình ra khỏi khu rừng ấy.

    Bây giờ tuổi đã cao, khi đọc hai công trình biên khảo của nhà văn Khánh Lan, một công trình về triết học hiện sinh và một công trình về siêu hình học, tôi lại có dịp trở về với những câu hỏi mà thời sinh viên từng làm tôi say mê, bối rối và nhiều khi hoang mang. Điều đáng mừng là lần này, tôi không còn đọc với tâm thế của một sinh viên đang cố ghi nhớ những khái niệm khó khăn, mà đọc như một người đã đi qua nhiều năm tháng của cuộc đời, từng chứng kiến những đổi thay của con người, xã hội và thời đại.

    Và thật bất ngờ, qua cách trình bày của Khánh Lan, tôi nhận ra một số điều tưởng đã quen thuộc nhưng trước đây chưa chắc mình đã nhìn thấy đầy đủ. Có những khái niệm từng nằm yên trong sách vở, nay bỗng liên hệ với đời sống. Có những câu hỏi triết học tưởng như xa xôi, nay lại trở thành những câu hỏi rất gần gũi: Tôi là ai? Tôi đang sống như thế nào? Tôi có thật sự tự do không? Tôi có trách nhiệm ra sao về những lựa chọn của mình? Thực tại là gì? Con người có thể hiểu được thế giới đến đâu? Và cuộc đời có ý nghĩa gì trước cái chết?

    Đó cũng là lý do tôi rất vui hôm nay được giới thiệu cùng quý vị hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan.

    Tác phẩm thứ nhất là Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng. Tác phẩm thứ hai là Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình. Hai cuốn sách có thể được đọc riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một cuộc đối thoại khá tự nhiên. Nếu siêu hình học đặt ra những câu hỏi căn bản về tồn tại, thực tại, con người và thế giới, thì triết học hiện sinh đưa những câu hỏi ấy trở lại với đời sống cụ thể của từng cá nhân.

    Nói một cách giản dị, siêu hình học thường hỏi: Cái gì là thực tại? Tồn tại có nghĩa là gì? Con người là gì? Thế giới được cấu tạo như thế nào? Còn triết học hiện sinh hỏi thêm: Con người đang sống thế nào trong thế giới ấy? Con người có quyền lựa chọn hay không? Tự do đem lại hạnh phúc hay lo âu? Chúng ta phải có trách nhiệm thế nào về đời sống của mình?

    Trong Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Khánh Lan bắt đầu từ lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, từ những tiền đề xa xưa trong tư tưởng Socrates, Montaigne, Pascal, rồi đi đến Kierkegaard và Nietzsche, những người thường được xem là đã đặt nền tảng quan trọng cho tư tưởng hiện sinh. Từ đó, tác giả trình bày sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỷ XX qua những tên tuổi như Husserl, Heidegger, Sartre, Camus và nhiều nhà tư tưởng khác.

    Một ưu điểm dễ nhận thấy của cuốn sách là Khánh Lan không xem chủ nghĩa hiện sinh chỉ như một hệ thống lý thuyết khép kín. Cô cố gắng cho người đọc thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh nảy sinh từ những khủng hoảng rất thật của con người: nỗi cô đơn, sự lo âu, cảm giác phi lý, sự sợ hãi trước cái chết, sự mất phương hướng, nhu cầu được sống chân thật và khát vọng tự quyết định đời mình.

    Khi trình bày quan niệm của Sartre rằng sự hiện hữu có trước bản chất, tác giả giúp người đọc hiểu rằng con người không phải là một vật thể đã được định nghĩa hoàn toàn từ trước. Con người được hình thành qua những lựa chọn, những hành động và trách nhiệm của chính mình. Tự do trong triết học hiện sinh vì thế không phải là một món quà dễ chấp nhận. Tự do cũng là một gánh nặng, bởi khi được tự do lựa chọn, con người không thể hoàn toàn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho xã hội hay cho người khác.

    Đây là một điểm rất đáng quý trong cách Khánh Lan tiến đến với chủ nghĩa hiện sinh. Cô không chỉ nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân, mà còn gắn tự do với trách nhiệm. Con người được tự do, nhưng không được sống một cách tuỳ tiện. Con người có quyền chọn lựa, nhưng mỗi lựa chọn đều tạo nên một phần con người mình và ảnh hưởng đến những người chung quanh.

    Khánh Lan cũng dành sự quan tâm thích đáng đến sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật. Qua văn chương, những khái niệm như phi lý, hư vô, cô đơn, tự do, tuyệt vọng hay tính chân thực không còn là những thuật ngữ khô khan. Chúng trở thành những nhân vật, những số phận, những cuộc đối thoại, những bi kịch nội tâm và những lựa chọn đau đớn của con người.

    Văn học giúp cho triết học có một gương mặt cụ thể. Một ý niệm trừu tượng có thể trở nên dễ hiểu hơn khi nó được thể hiện qua một nhân vật đang yêu, đang đau khổ, đang sợ hãi, đang phản kháng hoặc đang phải quyết định giữa hai con đường. Qua cách trình bày này, Khánh Lan cho thấy văn chương không chỉ minh hoạ cho triết học. Văn chương còn là một hình thức suy tư bằng hình tượng, bằng cảm xúc và bằng đời sống.

    Nhân đề cập đến triết học hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn chương, tôi nghĩ nên nhắc đến Françoise Sagan, một nhà văn nữ người Pháp đã để lại dấu ấn đặc biệt đối với thế hệ chúng tôi. Sagan không viết những khảo luận triết học, cũng không trình bày chủ nghĩa hiện sinh bằng những hệ thống khái niệm phức tạp. Bà đưa cảm thức hiện sinh vào những điều rất gần gũi: tuổi trẻ, tình yêu, gia đình, sự buồn chán, khát vọng tự do và những lựa chọn riêng tư của con người.

    Qua Bonjour tristesse, người đọc gặp một thế giới tưởng như nhẹ nhàng, thanh lịch và phóng túng, nhưng bên dưới bề mặt ấy là những câu hỏi nghiêm chỉnh về tự do, trách nhiệm và hậu quả của hành động. Nhân vật của Sagan muốn sống theo ý mình, nhưng càng tìm cách thoát khỏi những ràng buộc đạo đức, họ càng phải đối diện với sự bất an và mặc cảm. Ở đó, chủ nghĩa hiện sinh không hiện ra như một bài học lý thuyết, mà như một kinh nghiệm sống.

    Sagan đã làm cho nhiều người trẻ nhận ra rằng tự do không chỉ là được làm điều mình muốn. Tự do còn là phải sống với kết quả của điều mình đã chọn. Có lẽ vì thế, văn chương của bà đã ảnh hưởng rộng rãi đến thế hệ chúng tôi. Sagan nói bằng một giọng văn nhẹ, lạnh, đôi khi tưởng như dửng dưng, nhưng phía sau sự nhẹ nhàng ấy là một cái nhìn khá sâu sắc về sự cô đơn và trách nhiệm của con người hiện đại.

    Nếu Sartre đem chủ nghĩa hiện sinh vào triết học, Camus đem nó đến với cảm thức phi lý, thì Françoise Sagan đưa nó vào đời sống tình cảm và tâm lý của tuổi trẻ. Bà chứng minh rằng những câu hỏi triết học lớn đôi khi không xuất hiện trong giảng đường, mà xuất hiện trong một mái nhà, một cuộc tình, một sự phản bội, một nỗi buồn hay một quyết định tưởng như rất riêng tư.

    Trở lại Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng, một điểm khác cũng đáng ghi nhận là tác giả không né tránh những chỉ trích đối với chủ nghĩa hiện sinh. Bên cạnh việc trình bày những đóng góp của dòng tư tưởng này, cô cũng nhắc đến những quan điểm cho rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thái độ bi quan hoặc sự khinh miệt lý trí. Việc dành chỗ cho những ý kiến ngược chiều giúp tác phẩm có thêm chiều rộng, bởi tư tưởng chỉ thật sự sống động khi nó được đặt trong đối thoại và tranh luận.

    Phần Khánh Lan viết về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh cũng mở ra một hướng suy nghĩ đáng chú ý. Tôn giáo ở đây không chỉ được nhìn như một hệ thống điều răn từ bên ngoài, mà còn như một kinh nghiệm nội tâm, một cuộc gặp gỡ giữa con người với ý nghĩa tối hậu của đời sống. Câu hỏi về Thiên Chúa, đức tin, tự do và trách nhiệm được đặt trong mối quan hệ với một con người đang hiện hữu, đang chọn lựa và đang chịu trách nhiệm về chính mình.

    Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu về quyển sách thứ hai của Khánh Lan. Nếu cuốn sách về triết học hiện sinh giúp người đọc nhìn sâu vào đời sống của cá nhân, thì Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình lại đưa chúng ta trở về với những câu hỏi rộng lớn hơn về thực tại và tồn tại.

    Trong phần mở đầu, Khánh Lan khởi đi từ những câu hỏi tưởng như rất đơn giản nhưng không dễ trả lời: Thế giới mà chúng ta đang sống thực sự là gì? Con người hiện hữu trong thế giới ấy với tư cách nào? Thực tại có tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta hay không? Có điều gì còn tiếp diễn sau cái chết?

    Đó là những câu hỏi mà triết học đã theo đuổi từ thời cổ đại cho đến hiện nay. Và trong thời đại của AI – trí tuệ nhân tạo, thực tại ảo, những mô hình mô phỏng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, những câu hỏi ấy lại càng trở nên cấp thiết. Ranh giới giữa cái thật và cái dường như thật, giữa con người và máy móc, giữa ý thức và vật chất, giữa đời sống thực và đời sống ảo ngày càng trở nên phức tạp.

    Khánh Lan có công trong việc trình bày siêu hình học như một lãnh vực không phải chỉ dành cho những triết gia chuyên nghiệp. Siêu hình học hiện diện ngay trong những điều chúng ta tin tưởng, trong cách chúng ta hiểu về con người, tự do, đạo đức, trách nhiệm, sự sống và cái chết. Mỗi người, dù có ý thức hay không, đều mang trong mình một quan niệm nào đó về thế giới. Quan niệm ấy âm thầm ảnh hưởng đến cách ta lựa chọn, hành động và đánh giá đúng sai.

    Cuốn sách lần lượt giới thiệu siêu hình học cơ bản, lịch sử phát triển của siêu hình học từ thời cổ đại đến hiện đại, những khái niệm như tồn tại, hiện hữu, thực tại, bản chất, nguyên nhân và tự do. Tác giả cũng cố gắng đưa siêu hình học đến gần hơn với những lãnh vực cụ thể như khoa học pháp lý, văn học, đời sống, Phật học, đạo đức học và tâm lý học.

    Đây là điểm đáng khen của công trình biên khảo. Khánh Lan không để siêu hình học đứng yên trong thế giới của những khái niệm trừu tượng. Cô tìm cách cho thấy những nền tảng siêu hình học có thể ảnh hưởng đến cách một xã hội xây dựng luật pháp, cách con người hình thành quan niệm đạo đức, cách chúng ta nhìn về tâm trí, thân thể, ý thức và bản chất con người.

    Đặc biệt, phần nối kết giữa siêu hình học và văn học có nhiều ý nghĩa đối với người đọc yêu văn chương. Triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lập luận. Văn học lại cho phép chúng ta đi vào những vấn đề ấy qua nhân vật, câu chuyện, hình tượng và cảm xúc. Một tác phẩm văn học lớn thường không cần trực tiếp giảng giải về bản thể, nhưng vẫn có thể khiến người đọc tự hỏi mình là ai, vì sao mình đau khổ, thế nào là một đời sống có ý nghĩa và con người phải sống ra sao trước giới hạn của thời gian.

    Việc Khánh Lan đặt Phật học vào cuộc đối thoại với siêu hình học phương Tây cũng cho thấy một nỗ lực mở rộng tầm nhìn. Phật học không chỉ được trình bày như một hệ thống tín ngưỡng, mà còn như một con đường nhận thức và chuyển hoá nội tâm. Ở đó, hiểu biết không tách rời đời sống; tư tưởng không tách rời sự tu dưỡng; nhận thức không chỉ nhằm giải thích thế giới mà còn nhằm làm vơi bớt khổ đau.

    Chương viết về đạo đức và luân lý tiếp tục làm rõ một mối quan hệ quan trọng: cách chúng ta hiểu về thực tại và con người sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta sống. Nếu xem con người là một hữu thể có tự do, quan niệm của chúng ta về trách nhiệm sẽ khác. Nếu xem con người chỉ như một bộ máy bị chi phối hoàn toàn bởi vật chất và hoàn cảnh, quan niệm của chúng ta về đạo đức cũng sẽ khác.

    Phần viết về tồn tại và thời gian, về cái chết như một điều kiện làm cho đời sống có ý nghĩa, cũng đem lại nhiều suy nghĩ. Chính vì đời người hữu hạn, mỗi khoảnh khắc mới trở nên quý giá. Chính vì con người biết mình sẽ chết, con người mới phải tự hỏi mình đã sống thế nào và còn muốn làm gì trong phần đời còn lại.

    Ở cuối sách, khi trở về với Socrates, Plato và Aristotle, Khánh Lan như muốn nhắc người đọc rằng mọi cuộc hành trình triết học, dù đi qua bao nhiêu thế kỷ, cuối cùng vẫn trở về với những câu hỏi căn bản của con người: thế nào là chân lý, thế nào là đời sống tốt đẹp, thế nào là công bằng và con người phải sống ra sao trong cộng đồng.

    Tôi không nghĩ Khánh Lan viết hai cuốn sách này để đưa ra những câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề lớn của triết học. Chính tác giả cũng ý thức rằng những câu hỏi về tồn tại, thực tại, tự do, đức tin, đạo đức và ý nghĩa đời sống không thể được giải quyết một lần cho tất cả.

    Giá trị của hai công trình biên khảo này nằm ở chỗ chúng mở ra một không gian suy nghĩ. Chúng giúp người đọc bước vào triết học bằng những câu hỏi gần gũi, rồi từ đó đi dần đến những vấn đề rộng lớn hơn. Chúng cũng cho thấy một nhà văn, với năng lực cảm nhận đời sống và văn chương, có thể đưa những tư tưởng khó khăn đến gần hơn với người đọc phổ thông.

    Khánh Lan thuộc lớp những cây bút đang tiếp tục học hỏi và tìm kiếm con đường riêng của mình. Hai tác phẩm này cho thấy ở cô một niềm say mê đáng quý đối với triết học, một ý thức muốn chia sẻ tri thức và một nỗ lực kết nối giữa tư tưởng với đời sống. Trong một thời đại mà con người thường bị cuốn vào tốc độ, tiện nghi và những tin tức cô đọng, ngắn ngủi, việc có một người chịu khó dừng lại trước những câu hỏi lớn đã là một điều đáng trân trọng.

    Tôi xin chúc mừng nhà văn Khánh Lan đã hoàn thành hai công trình nhiều tâm huyết này. Mong rằng quý độc giả sẽ đón nhận Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng và Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình như những lời mời gọi bước vào một cuộc trò chuyện sâu sắc về con người và thế giới.

    Và tôi cũng mong rằng, sau khi đọc hai cuốn sách, mỗi chúng ta sẽ có lúc biết dừng lại để tự hỏi: Tôi đang sống như thế nào? Tôi có đang sống thật với chính mình không? Những lựa chọn của tôi đã đem lại điều gì cho bản thân và cho người khác? Tôi đang tìm kiếm điều gì trong cuộc đời hữu hạn này?

    Có lẽ, đó chính là lúc triết học không còn nằm yên trên trang sách. Nó bước vào đời sống, đi vào tâm hồn và bắt đầu làm thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới, nhìn người khác và nhìn chính mình.

    Xin trân trọng giới thiệu hai tác phẩm biên khảo về triết học của nhà văn Khánh Lan cùng quý vị.

    Phần luận bàn về phạm trù tư tưởng học do GS. Quyên Di giới thiệu, xin xem những link sau đây. Tóm lược và nhận định hai tác phẩm triết học là:

    Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Lưu Khánh Lan:

    https://heyzine.com/flip-book/a34a864bea.html#page/236

    Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình, Lưu Khánh Lan:

    https://heyzine.com/flip-book/d99de8b9be.html#page/20

    1. BÀI DIỄN VĂN THỨ BA CỦA NHÀ VĂN, NHÀ BÁO PHẠM QUỐC BẢO

    Với diễn giả GS. Phạm Quốc Bảo khi bàn về tác phẩm Những Đứa Trẻ Lạc Loài của nhà văn Khánh Lan. Ông nói

    Tôi vẫn suy tưởng sau cuộc chiến tại Việt Nam, nay đã thấm thoát hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ tháng Tư, năm 1975, nhưng những vết hằn của lịch sử và nỗi đau ly hương vẫn là một phần nặng trĩu trong tâm khảm của những người con xa xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, việc Khánh Lan giới thiệu tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” cùng ca khúc “Kiếp Lạc Loài” (sáng tác: Phạm Thái, phổ thơ Phạm Thái) thực sự là một nén tâm hương đầy ý nghĩa để tưởng nhớ và chia sẻ nỗi trăn trở.

    Dưới đây là một số cảm nhận và bình luận chi tiết về cấu trúc 3 phần của tác phẩm cũng như điểm nhấn mạnh độc đáo của dự án nghệ thuật này:

    • Điểm nhấn về nội dung và cấu trúc tác phẩm
    • Phần I: Hồi ký “Những đứa trẻ lạc loài”

    Cảm nhận: Đây là phần mang tính cá nhân và xúc động sâu sắc nhất khi chạm trực tiếp vào số phận của một đứa trẻ lai bị bỏ lại sau chiến tranh. Những mảnh đời “con lai” từng phải gánh chịu định kiến, sự thiếu vắng tình thương và muôn vàn trắc trở trên chính quê hương mình. Hồi ký không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là tiếng lòng đại diện cho cả một thế hệ sinh ra trong nghịch cảnh chiến tranh.

    • Phần II: Số phận qua chương trình Babylift và Homecoming Act

    Cảm nhận: Tác phẩm mở rộng lăng kính để nhìn nhận về những ngã rẽ khác nhau của các em bé được đưa đi theo chiến dịch Babylift (1975) hay những người con lai lớn lên tìm đường định cư nhờ Đạo luật Hồi hương (Amerasian Homecoming Act). Dù có cơ hội bước ra thế giới rộng lớn hơn, hành trình tìm kiếm cội nguồn, đối diện với khủng hoảng bản sắc và nỗi đau mất mát gốc gác vẫn luôn là vết thương khó lành.

    • Phần III: 50 năm nhìn lại vận mệnh đất nước

    Cảm nhận: Khép lại tác phẩm bằng cái nhìn tổng quan sau 50 năm, phần này mang chiều sâu chiêm nghiệm của thời gian. Đó là sự giao thoa giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; là nỗi niềm trăn trở về những gì đã xảy ra cho quê hương, đất nước và sự kiên cường vươn lên của những kiếp người viễn xứ.

    • Sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và công nghệ

    Ca khúc song ngữ “Kiếp Lạc Loài” và “The Forsaken Life” của NS Phạm Thái là một bước thử nghiệm rất đáng chú ý khi toàn bộ phần hình ảnh, giọng hát và hòa âm đều được thực hiện thông qua công nghệ AI dựa trên lời thơ của anh Phạm Thái. Trên sân khấu ca sĩ Thụy Lan chuyển tải bài nhạc, phần Hòa âm và trong youtube clip ban đầu do giọng hát AI. Ca khúc mang lại màu sắc hoài niệm, da diết, tái hiện thành công nỗi cô đơn và khát vọng tìm về nguồn cội của những đứa trẻ lạc loài.

    Tóm lại, tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” và ca khúc “Kiếp Lạc Loài” không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật tưởng niệm tháng Tư Đen, mà còn là một thông điệp nhân văn sâu sắc về lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và hàn gắn những vết thương chiến tranh.

    Diễn giả Phạm Quốc Bảo nêu ra sự tương quan liên hệ về xã hội Mỹ vẫn có những tuổi thơ, những trẻ em lạc loài, bơ vơ cần sự giúp đỡ. Vì dây là vấn nạn nhân văn xã hội. Về tác giả Khánh Lan thì trong nội dung sách gồm 3 phần của tác phẩm này được soạn khá kỹ, một khi những chia sẻ của mình có thể đồng điệu với góc nhìn sâu sắc và đầy tính nhân văn của chủ đề. Ví dụ như những suy tư, những trăn trở về gia đình, cộng đồng và số phận con người qua các tác phẩm văn nghệ, thi ca luôn mang một sức sống mãnh liệt, giúp chúng ta xích lại gần nhau hơn trong cuộc sống viễn xứ này.

    Điểm chú ý tiểu thuyết xã hội này được soạn lại do việc biên khảo dữ liệu trên liên mạng internet, do sự thực, tiểu thuyết “Những đứa trẻ lạc loài có 2 phiên bản là một ấn bản Việt Ngữ và một về phiên bản Anh Ngữ, tức hai cuốn.

    CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ

    Sau giờ văn học là chương trình phụ diễn văn nghệ. Tôi chú ý đôi song ca Minh Thư và Thúy Giao song tấu guitar và ca một medley gồm nhiều bài liên khúc như “Take Me Home, Country Road” của John Denver. Tôi nhớ câu chuyện ra đời của bài hát này.

    Đây là bài hát kiểu kinh điển. “Take Me Home, Country Roads” của John Denver ra mắt năm 1971, tức là đã hơn năm thập kỷ trôi qua. Bài hát nằm trong album Poems, Prayers & Promises của ông. Ban đầu, bài hát được viết bởi Bill Danoff và vợ ông, Taffy Nivert, dành cho Johnny Cash. Tuy nhiên, khi John Denver nghe về bài hát này, ông rất hào hứng và đề nghị giúp hoàn thiện nó. Ông thích bài hát đến nỗi quyết định đưa nó vào album của mình.

    Điều thú vị là John Denver không đến từ Tây Virginia, và cả Danoff lẫn Nivert đều chưa từng đến tiểu bang này trước khi viết bài hát. Trên thực tế, nguồn cảm hứng cho bài hát đến từ một tiểu bang khác. Đây là câu chuyện về cách một bài hát chiếm được trái tim của Tây Virginia trở thành một tác phẩm âm nhạc kinh điển.

    Vào cuối năm 1970, Danoff và Nivert đang lái xe đến một buổi họp mặt gia đình ở Quận Montgomery, Maryland. Để chuyến đi dài trở nên thú vị hơn, họ bắt đầu sáng tác một bài hát về những con đường quê. Họ sớm nhận ra rằng từ “Maryland” không hoàn toàn phù hợp với giai điệu mà họ đã hình dung. Danoff sau đó nghĩ đến việc sử dụng “Massachusetts”, nhưng cuối cùng quyết định chọn “West Virginia” vì nó dường như phù hợp với bài hát hơn. Mặc dù Danoff chưa từng đến West Virginia, anh ấy tưởng tượng nơi đó có những ngọn núi tuyệt đẹp và những con đường quanh co. Anh ấy nghĩ về nó như một nơi xa xôi và gần như kỳ diệu. “Tôi cảm thấy West Virginia xa xôi và kỳ lạ đối với tôi như châu Âu vậy,” Danoff nói.

    Vào thời điểm đó, Danoff và Nivert là những nhạc sĩ đang chật vật với ước mơ viết một bài hát ăn khách cho những nghệ sĩ nổi tiếng hơn. Cơ hội lớn của họ đến khi họ biểu diễn tại một câu lạc bộ tên là Cellar Door ở Georgetown, Washington, D.C., nơi họ mở màn cho John Denver. Sau màn trình diễn, họ đã chơi bài “Take Me Home, Country Roads” cho Denver nghe. Ông ấy ngay lập tức ấn tượng và yêu thích bài hát. Ba người họ đã thức cả đêm, cùng nhau hoàn thiện bài hát cho đến khi nó hoàn hảo. John Denver lần đầu tiên trình diễn bài hát này tại Cellar Door vào ngày 30 tháng 12 năm 1970. Khán giả đã vô cùng xúc động và dành cho ông tràng vỗ tay kéo dài năm phút. Danoff nhớ lại: “Khi chúng tôi lần đầu tiên cùng nhau hát bài hát này, cảm giác như tiếng vỗ tay sẽ không bao giờ dứt. Phản ứng của khán giả cho chúng tôi biết rằng chúng tôi đang sở hữu một điều gì đó đặc biệt.”

    Medley còn có ca khúc như “500 Miles” là ca khúc trở nên phổ biến tại Hoa Kỳ và Tây Âu trong phong trào hồi sinh nhạc dân gian vào thập niên 1960. Lời ca giản dị và mang tính lặp lại của bài hát biểu hiện nỗi niềm của một lữ khách đang ở xa nhà, cạn kiệt tiền bạc và cảm thấy quá xấu hổ để quay trở về. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 5 năm 1963 trên chương trình *Folk Music Worldwide*, Paul Stookey – thành viên nhóm Peter, Paul and Mary – đã mô tả ca khúc này (vốn nằm trong album đầu tay ra mắt năm 1962 của nhóm) là “sự phản ánh nỗi cô đơn”.

    Và bài ca “The Sound of Silence” (tên gốc là “The Sounds of Silence”) là một ca khúc của bộ đôi nhạc folk rock người Mỹ Simon & Garfunkel, do Paul Simon sáng tác. Buổi thử giọng tại phòng thu của cặp song ca này đã dẫn đến việc ký kết hợp đồng thu âm với hãng đĩa Columbia Records. Vào năm 1965, bài hát bắt đầu được phát sóng trên các đài phát thanh tại Boston và khắp bang Florida. Sự gia tăng tần suất phát sóng đã thôi thúc Tom Wilson, một nhà sản xuất của ca khúc – thực hiện bản phối âm lại (remix). Bản phối âm lại này đã vươn lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong tuần lễ kết thúc vào ngày 1 tháng 1 năm 1966, khiến bộ đôi tái hợp và nhanh chóng thu âm album thứ hai; Columbia đã đặt tên album này là *Sounds of Silence* nhằm tận dụng sức hút từ thành công của ca khúc.

    Tôi lắng nghe tiếp ca sĩ Kim Đức diễn tả bài ca “Paris, tu m’as pris dans tes bras” của Enrico Macias, ông là một ca sĩ nổi tiếng người Pháp gốc Algeria, được biết đến với bài hát “Paris, tu m’as pris dans tes bras” (Paris, tu m’as pris dans tes bras), phản ánh mối liên hệ sâu sắc về mặt cảm xúc của ông với thành phố Paris. Bài hát khắc họa chủ đề tình yêu và nỗi nhớ, thể hiện sự pha trộn độc đáo giữa ảnh hưởng âm nhạc Pháp và Địa Trung Hải trong âm nhạc của Macias.

    Tổng quan về Enrico Macias và bài hát của ông Âm nhạc của Enrico Macias thường đan xen những câu chuyện cá nhân và văn hóa. còn về tiểu sử, Enrico Macias, tên thật là Gaston Ghrenassia, sinh năm 1938, lớn lên ở Algeria và trở thành một nhân vật nổi bật trong làng nhạc Pháp sau khi chuyển đến Pháp do bất ổn chính trị.

    Khi Enrico Macias muốn có thêm một bài hát về Paris, thành phố đã chào đón ông sau khi ông buộc phải rời Algeria vì lý do chính trị vào ngày 29 tháng 7 năm 1961, vào kho nhạc của mình. Vì vậy, ngay từ đầu năm 1964, Enrico Macias đã móc liên lạc với Jean Peigné, giám đốc chương trình tại Europe 1 và là người viết lời bài hát không thường xuyên. Peigné từng viết lời cho Jean-Claude Pascal, Charles Aznavour, Les Djins Sisters, Pascal Danel và Mireille Mathieu.

    Ban đầu, Jean Peigné nói với ông rằng để viết một bài hát về Paris, bạn phải sinh ra ở đó. Ông nói thêm rằng đã có rất nhiều bài hát về thủ đô nước Pháp (của Francis Lemarque, Charles Trenet, Mick Micheyl, Charles Aznavour và những người khác).

    Nhưng Enrico không quan tâm và vẫn kiên trì. Và vì ông đã mang cây đàn guitar của mình đến Europe 1, ông đã chơi cho Jean Peigné nghe những nốt nhạc đầu tiên của một giai điệu mà ông đã nghĩ ra. Jean Peigné yêu cầu ca sĩ hát lại bài hát đó lần thứ hai.

    Và sau khoảng mười phút, Jean Peigné đã ghi lại những lời đầu tiên của bài hát sau này trở thành “Paris, tu m’as pris dans tes bras” (Paris, tu m’as pris dans tes bras). Bài hát được hoàn thành chỉ trong một buổi chiều tại phòng thu lịch sử Europe 1 trên đường Rue François 1er ở Paris.

    Hai ngày sau, Enrico Macias thu âm lời bài hát cùng dàn nhạc của Jean Claudric. Đó là bài hát đầu tiên ở mặt B của đĩa đơn. Vào ngày 21 tháng 2 năm 1964, Enrico Macias nhận được đĩa vàng cho bài hát “Paris, tu m’as pris dans tes bras”. Vài ngày sau, Enrico Macias mở màn cho Les Compagnons de la Chanson tại nhà hát Olympia ở Paris từ ngày 19 tháng 3 đến ngày 22 tháng 4 năm 1964.

    Chủ đề bài hát — “Paris, tu m’as pris dans tes bras” thể hiện nỗi nhớ nhung và tình cảm dành cho Paris, miêu tả thành phố như một sự hiện diện an ủi.

    Xét về phong cách âm nhạc cũng là phong cách của Macias kết hợp giữa âm nhạc Pháp quốc với ảnh hưởng từ Bắc Phi, tạo nên một âm thanh đặc trưng dộc dáo gây được tiếng vang với nhiều đối tượng khán giả. Tác động văn hóa — Các bài hát của ông thường phản ánh trải nghiệm của người nhập cư, điều này khiến ông trở thành một tiếng nói quan trọng trong nền âm nhạc Pháp.

    Về nhạc Pháp trong chương trinh ghi nhận còn có bài tình ca “Après toi”do ca sĩ Kiều My hát. Đây là ca khúc do nữ ca sĩ người Hy Lạp Vicky Leandros trình bày. Nhạc phẩm này được sáng tác bởi cha cô là ông Leo Leandros (dưới nghệ danh Mario Panas) phối hợp cùng nhà soạn nhạc người Đức Klaus Munro, với phần lời tiếng Pháp do Yves Dessca viết. Bài hát đã đại diện cho Luxembourg tham gia và giành chiến thắng tại cuộc thi Eurovision Song Contest năm 1972 tổ chức ở Edinburgh. Vắn tắt bản tin về quá trình sáng tác, “Après toi” được ghi nhận là một tuyệt phẩm tình ca. Đây là một bản ballad đầy cảm xúc, trong đó nữ ca sĩ bày tỏ với người yêu về viễn cảnh của bản thân sau khi anh rời bỏ cô để đến với người con gái khác: “Sau khi anh bỏ em, em sẽ chẳng còn là gì ngoài cái bóng của hình ảnh của anh”. Kiều My ca những bài khác như Bésame mucho, La Paloma, Il Faut Toujours un Perdant, Comment Ça Va, Adieu Sois Heureuse, Kiều My còn sáng tác nhạc Pháp như các tình ca như Sans Toi Ce Soir, Mon Amour, Tu Restes Toi, Ma Chérie: Je T’aime Tellement Fort, Un Automne Enchanteur,…

    Ngoài ra nhiều ca khúc Việt được hát, tôi thích bài ca của nhạc sĩ Lâm Dung phổ thơ Dương Hồng Anh như bài Bạn Bè Của Tôi qua link sau:

    Trời đẹp lắm, Ca li trời đẹp lắm

    Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi

    Bạn bè tôi, những nghệ sĩ yêu đời

    Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá

    Vì chúng ta không bao giờ xa lạ

    Những vần thơ ý nhạc kết nên duyên

    Đời có gì hơn được gặp bạn hiền

    Trên đất khách quê người tình tri kỷ

    Cùng vun sới mảnh vườn đầy thi vị

    Một vườn hoa văn nghệ đẹp như tranh

    Nắm tay nhau ca hát dười trời xanh

    Nhạc thơ đã sẵn sàng cùng cất bước

    Bạn bè của tôi chung lời nguyện ước

    Đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian

    Tình nghĩa văn chương tha thiết muôn vàn

    Là tiếng hát của cung đàn réo rắt

    Là nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt

    Các bạn ơi! thơ nhạc vẫn tràn đầy

    Khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say…

    (Dương Hồng Anh, 7/2020)

    Bài thơ “Bạn bè của tôi” (do nữ sĩ Dương Hồng Anh) cũng là một hành khúc của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Hành khúc mô tả không gian mở đầu và nỗi niềm vi xa xứ. Thi ca này đã mở ra với một không gian tươi sáng, rộng mở nhưng cũng mang đậm dấu ấn của những người con xa xứ: “Trời đẹp lắm, Cali trời đẹp lắm / Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi”. Miền đất California nắng ấm hiện lên qua những câu thơ rực rỡ, nhưng ẩn sâu trong cảnh sắc ấy chính là tâm hồn rộng mở, lạc quan của tác giả và những người bạn cùng chung chí hướng nghệ thuật.

    Hành khúc ballad biểu lộ môt tình cảm tri kỷ và sự gắn kết của những tâm hồn đồng điệu giữa đất khách quê người, tìm được một tri kỷ đã khó, hội tụ được cả một “vườn hoa văn nghệ” lại càng là một cơ duyên hiếm quý. Tình bạn văn chương mà tác giả trân trọng từng phút giây hội ngộ, xem đó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của đời người: “Đời có gì hơn được gặp bạn hiền / Trên đất khách quê người tình tri kỷ”. Lời hứa nguyện ước chung tay “đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian” thể hiện sứ mệnh đẹp đẽ của người cầm bút: dùng nghệ thuật để lưu giữ khoảnh khắc, kết nối con người và sưởi ấm những tâm hồn tha hương. Phải nói là bài thơ đã khép lại bằng những âm hưởng nhịp valse rộn ràng, tươi vui của “cung đàn réo rắt”, “nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt” và dư âm ngọt ngào của “khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say”. Bằng ngôn ngữ mộc mạc, giàu cảm xúc và hình ảnh thơ ca trong trẻo, Dương Hồng Anh đã khắc ghi sự thành công bức tranh chân thực và cảm động về tình bạn văn nghệ sĩ trên đất Mỹ, đồng thời ca ngợi sức mạnh kỳ diệu của thi ca trong việc gắn kết con người vượt qua mọi không gian và thời gian.

    Bài ca Ò E Con Ma Đánh Đu (Auld Lang Syne) khi mà đồng hồ đã 5 giờ chiều bế mạc chương trình. Bài ca áp chót là Còn Gặp Nhau, thơ của Tôn Nữ Hỷ Khương, nhạc Võ Tá Hân, ban hợp ca Tơ Vàng và nhóm Tiếng Thời Gian đồng trình bày trước sự hiện diện của nhạc sĩ tác giả bài ca.

    Link bài ca:

    Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

    Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,

    Lợi danh như bóng mây chìm nổi

    Chỉ có tình thương để lại đời.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ thương

    Tình người muôn thuở vẫn còn vương,

    Chắt chiu một chút tình thương ấy

    Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi

    Bao nhiêu thú vị ở trên đời,

    Vui chơi trong ý tình cao nhã

    Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ cười

    Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi

    Cho hương thêm ngát, đời thêm vị

    Cho đẹp lòng tất cả mọi người.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ chào

    Giữa miền đất rộng với trời cao,

    Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước

    Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ say

    Say tình, say nghĩa bấy lâu nay

    Say thơ, say nhạc, say bè bạn

    Quên cả không gian lẫn tháng ngày.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ đi

    Đi tìm chân lý – lẽ huyền vi

    An nhiên tự tại – lòng thanh thản

    Đời sống tâm linh thật diệu kỳ

    Bài thơ trên “Còn Gặp Nhau” của nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương (con gái của nhà thơ Ưng Bình Thức Vịnh Giác) qua sự phổ nhạc tinh tế, khéo léo soạn nhạc cùng hòa âm của nhạc sĩ Võ Tá Hân mang đến một âm hưởng triết lý sâu lắng, nhẹ nhàng nhưng vô cùng thiết tha về tình người và cuộc sống.

    Tôi suy nghiệm về chủ đề và ý nghĩa bài ca thì chính sự trân trọng hiện tại như tựa đề và điệp khúc mở đầu mỗi khổ thơ “Còn gặp nhau thì hãy…” là lời nhắc nhở về sự vô thường, tạm bợ của thời gian và duyên hội ngộ trong cõi đời. Cuộc sống ngắn ngủi ví như “nước chảy hoa trôi”, và danh lợi chỉ là “bóng mây chìm nổi”. Cái quan trọng vì tình người và sự gắn liền giữa dòng đời trôi nổi ấy, tác giả khẳng định giá trị cốt lõi và trường tồn duy nhất chính là tình thương yêu, sự gắn bó chân tình giữa bạn bè, tức giữa người với người.

    Một khi tâm hồn và thể xác được yên ổn, an nhiên, cởi mở như lời bài thơ hướng con người đến một lối sống tốt đẹp, biết vui chơi tao nhã, biết cười tươi để lan tỏa niềm vui, biết say sưa trong tình nghĩa, thi ca, bè bạn, và hơn hết là tìm kiếm sự bình yên, thanh thản trong tâm hồn qua một đời sống tâm linh an nhiên, tự tại,… Tôi nói với nhạc sĩ Võ Tá Hân tôi tâm đắc vô cùng tác phẩm này cho ta một nhân sinh quan vui sống, qua những ý tưởng tao nhã, tính thiền triết của nó hòa quyện vào âm nhạc.

    Bài ca Còn Gặp Nhau nói về tình bạn: “Còn gặp nhau, bạn ơi!”

    Câu thốt lên ấy tựa như một tiếng thở dài nhẹ nhõm giữa cõi người mênh mông. Trong dòng chảy vô thường của thời gian, việc chúng ta còn nhận ra nhau, còn ngồi lại bên nhau để chia sẻ một ly trà, một khúc ca hay vài vần thơ đã là một ân huệ lớn lao của định mệnh. Tình bạn chân thành không cần lúc nào cũng kề cận, mà nằm ở sự thấu cảm âm thầm — nơi những người tri kỷ dù đi qua dâu bể cuộc đời, khi quay đầu lại vẫn thấy ánh mắt và nụ cười của nhau chờ sẵn ở bến bờ của sự chân tình.

    Quan diểm về hạnh phúc và khổ đau: Hai mặt của một nhịp đập:

    Đoạn văn đã chạm đến cốt lõi của triết học hiện sinh: Hạnh phúc không phải là cái đích đến tĩnh lặng, mà là sự dấn thân và chuyển hóa. Nhưng nếu không có những giọt nước mắt và nỗi đau (khổ đau như một người thầy khắc nghiệt), ta sẽ mãi chỉ là những đứa trẻ chưa từng lớn trước thềm đời. Và chính sự tương phản ấy làm nên chiều sâu của tâm hồn nghệ sĩ. Chỉ khi nếm trải đủ thăng trầm, ta mới thực sự thấu cảm hết cái đẹp mong manh của một buổi chiều thu vàng, hay âm vang da diết của một bản nhạc tiền chiến.

    Theo triết nhà Phật về sự vô thường và hiện tại: Khoảnh khắc là cõi vĩnh hằng.

    Sự vô thường không đáng sợ như người ta tưởng; trái lại, nó chính là chiếc gương soi chiếu để ta biết trân quý từng giây phút hiện tại. Khi ta hiểu rằng mọi hữu hạn đều đang trôi đi, mỗi cái gật đầu chào nhau, mỗi tiếng đàn, lướt phím vang lên trong phòng trà hay mỗi dòng chữ viết ra đều mang giá trị của sự vĩnh cửu trong tâm tưởng. Sống trọn vẹn với hiện tại chính là cách chúng ta đối thoại đẹp nhất với thời gian.

    Bạn ơi, người bạn ta đang dạo bước giữa những hoài niệm và hiện tại, qua những trang văn, tiếng đàn và tình nghĩa gia đạo thâm trầm — một lời chúc an lạc.

    Mong rằng trên hành trình nghệ thuật và cuộc sống ấy, tiếng đàn và tình bạn của tất cả chúng ta vẫn luôn là chốn bình yên để trở về, xin gởi những câu kết:

    Trích đoạn tiêu biểu.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

    Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,

    Lợi danh như bóng mây chìm nổi

    Chỉ có tình thương để lại đời.

    (Tôn Nữ Hỷ Khương)

    Việt Hải Los Angeles-Tháng Chín Mùa Thu, 2026.

    Còn Gặp Nhau (photo: Võ Tá Hân – VHLA)

  • HUY ANH,  Khánh Lan,  MINH ĐỨC,  RA MẮT SÁCH,  TALK SHOW

    GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các Anh Chi Em vào xem talk show giới thiệu ngày ra mắt sách của Nữ sĩ Dương Hồng Anh và Khánh Lan trêm đài VNA TV 57.3. Đồng thời giới thiệu đến các bạn trẻ yêu văn, thi, nhạc Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa do hai thi sĩ Minh Đức và Huy Anh đảm trách.

    Khánh Lan, Minh Đức, Huy Anh kính mời

    TALK SHOW-PHẦN I:

    TALK SHOW-PHẦN II:

  • Kiều My,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt

    HỒI KÝ

    Kiều My

    Vào buổi chiều nắng ấm ngày 9 tháng Bảy năm 2026, một sự kiện đáng ghi nhớ về Hồi Ký CHA MÃI BÊN ĐỜI do nhà văn Phương Hiền sáng tác hân hạnh ra mắt cùng quý độc giả miền Nam California. Đây là một tác phẩm mang đậm nét văn hóa Việt và đầy tình người, do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức thật trang trọng.

    Tác giả Phương Hiền

    Khánh phòng tràn ngập tiếng cười và tiếng nói rộn rã như một ngày hội. Mọi người hân hoan đón nhận một tác phẩm  mang nỗi niềm chan chứa yêu thương của tình phụ tử vượt lên trên mọi giới hạn của thời gian, mà nữ văn sĩ Phương Hiền từ nửa vòng trái đất mang đến cho độc giả như món quà tinh thần ‎quý giá.

    CHÚC MỪNG NV PHƯƠNG HIỀN RA TÁC PHẨM

       Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa

    Những thành phần tham dự buổi ra mắt sách gồm: quý vị trưởng thượng, giáo sư, văn nhân thi sĩ, bác sĩ, kiến trúc sư, họa sĩ, ca sĩ, nhiếp ảnh gia, những thân hữu v.v…Cùng 2 liên nhóm: Nhân Văn Nghệ & Tiếng Thời Gian, Văn Chương Việt & Tiếng Dàn Xưa và đặc biệt có sự hiện diện của vị Linh mục Nguyễn Đức Thắng và anh chị em từ Việt Nam sang…đã tạo nên không khí thật ấm áp cho sự kiện bảo tồn văn hóa Việt tại hải ngoại.

    Khai mạc chương trình bằng những lời chào mừng nồng nhiệt đến quan khách qua các MC: Phạm Gia Đại, Trần Mạnh Chi, Huỳnh Út, Thụy Lan và Tường Vy.

    Mc: Phạm Gia Đại, Trần Mạnh Chi, Huỳnh Út, Thụy Lan, Tường Vy

    Kế tiếp là phần trình bày cảm nghĩ về hồi ký Cha Mãi Bên Đời của những nhà văn: Trần Việt Hải trưởng nhóm NVNT & TTG, Phương Hiền, Khánh Lan và Kiều My được trình bày ngắn gọn và thật xúc tích về tác phẩm này.

    Kiều My, Khánh Lan, Dương Viết Đang, Việt Hải, Phương Hiền, Trần Mạnh Chi

    Nv.Nguyễn Quang, Nv.Trần Việt Hải, Thi sĩ Minh Đức, KQ.Dương Viết Đang

    Tiếp theo là phần phát biểu của 3 diễn giả:

    Nhà báo Phạm Quốc Bảo:  Rất cảm động khi đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời. Tác giả viết  lại cuộc đời của chính mình, nhưng luôn nhắc đến người cha lúc sinh thời cũng như khi quá cố. Qua đó, hồi ký này cũng đã để lại chứng tích của dân tộc Việt suốt 20 năm chinh chiến mà chính người cha của tác giả đã góp phần hy sinh bảo vệ cho nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam

    Nhà báo Vương Trùng Dương, Ô. Nguyễn Chính, Nv. Vi Khiêm, nhà báo Phạm Quốc Bảo

    Nhà báo Vương Trùng Dương phát biểu: Nội dung cuốn hồi ký‎ này chỉ tập trung vào lòng hiếu thảo và thương nhớ của tác giả đối với người cha đã ra đi; nhưng có một số người hiểu nhầm ý nghĩa chính tốt đẹp của nó. Ông đã phản bác thật mạnh mẽ điều sai trái này trên báo chí.


    Nhà văn bình luận gia Phạm Gia Đại:  nói về tác giả và sự hiếu đạo của người con là nhà văn Phương Hiền đối với thân phụ đã quá cố. Nhưng nỗi thương tiếc cha vẫn không nguôi trong lòng tác giả. Vinh danh tác giả đã trao tặng món quà tinh thần về tình phụ tử qua hồi ký‎  “Cha Mãi Bên Đời”.

    Anh Vũ Hòa (Phu quân của Cs. Ngọc Quỳnh, Anh Alian Đức, Chị Ngọc Châu, Cô Vĩnh (Phu nhân của Hs. Hoàng Vinh)

    Khánh Lan, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, một vị Khách mời

    Khán phòng trở nên bừng sáng với những khúc hát ca ngợi tình cha như: Ơn Cha, Papa v.v…cùng với những ca khúc vui tươi sống động như: Ô Mê Ly, Hải Ngoại Thương Ca, Mộng Chiều Xuân,Lâu Đài Tình Ái, Chín Mươi Năm Cuộc Đời, Nếu Có Yêu Tôi v.v …đã làm cho không khí tươi mát hơn.

    Lệ Hoa, Khánh Lan, Thúy Giao, Minh Thư, Huy Anh

    Kiều My xin ghi lại vài nét chính trong quyển hồi ký Cha Mãi Bên Đời.

    Nhan đề CHA MÃI BÊN ĐỜI của quyển hồi ký, tự nó đã nói lên tất cả ý nghĩa về nội dung của quyển sách, đã gây một nỗi xúc cảm bồi hồi dù chưa một lần đọc qua. Tình thương và nỗi nhớ thương khôn nguôi người cha quá cố của tác giả Phương Hiền chính là chất xúc tác mạnh mẽ đã hình thành tác phẩm Cha Mãi Bên Đời này.

    Tác giả đã đưa chúng ta trở về những năm tháng chiến tranh đầy biến động của Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, một cô bé lớn lên bên người cha quân nhân, theo chân cha qua nhiều vùng đất khác nhau, nơi đơn vị của cha đóng quân. Những ngày tháng gian khó ấy đã tạo nên một tình cảm gắn bó đặc biệt giữa cha và con.

            Tưởng nhớ người cha quá cố  Nguyễn Gia Tĩnh của tác giả Phương Hiền “Lý do tại sao sao những cô con gái thương cha họ nhất, vì ít nhất có một người đàn ông trên thế giới này khiến cô không bị tổn thương”

    Người cha trong hồi ký hiện lên không phải như một anh hùng trên chiến trường, mà trước hết là một người cha tận tụy, yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Những bài học về nhân cách, lòng can đảm, sự hy sinh và trách nhiệm đã được truyền lại cho con không chỉ bằng lời nói mà bằng chính cuộc đời của ông.

    “Tình yêu thương của cha chính là nguồn cảm hứng truyền cho con một sức mạnh vô biên để con có thể làm những điều con hằng mơ ước”

    Khi người cha ra đi vì căn bệnh tim, nỗi mất mát ấy đã để lại khoảng trống không gì bù đắp được trong lòng người con gái…đó chính là tác giả Phương Hiền. Nhưng điều kỳ diệu là tình yêu thương không hề mất đi theo năm tháng. Trái lại, nó trở thành nguồn ký ức thiêng liêng, trở thành ngọn lửa âm thầm sưởi ấm cuộc đời người ở lại.

    “Cha mất vì trái tim ngừng đập. Nhưng tình thương của cha thì chưa bao giờ ngừng sống.”

    Một câu chăm ngôn rất hay tôn vinh người cha của vua Salomon:

    “The righteous man walks in his integrity; his children are blessed after him”

    Từng trang sách là từng giọt nước mắt nhớ thương, từng kỷ niệm được nâng niu như những báu vật của tâm hồn. Người đọc có thể bắt gặp trong đó hình ảnh của chính mình, của cha mình, hay của những người thân yêu đã từng hiện diện trong cuộc đời… nhưng nay chỉ còn trong ký ức.

    Điều làm nên giá trị đặc biệt của Cha Mãi Bên Đời… chính là sự chân thật. Tác giả không tô vẽ hay cường điệu cảm xúc. Bằng giọng văn giản dị và chân thành, tác giả đã kể lại câu chuyện đời mình như một lời tâm sự, để từ đó… chạm đến trái tim của người đọc.

    Nhà báo Phạm Quốc Bảo tặng hoa cho nhà văn Phương Hiền

    Cha Mãi Bên Đời  nhắc nhở chúng ta rằng: Cha mẹ có thể rời xa cõi đời này, nhưng tình yêu của cha mẹ sẽ sống mãi trong trái tim con cái. Những người thân yêu không thật sự mất đi… khi họ vẫn được nhớ đến bằng tình thương và lòng biết ơn.

    Trong cuộc sống bận rộn hôm nay, đôi khi chúng ta quên nói lời yêu thương với cha mẹ, quên dành thời gian cho những người thân đang còn bên cạnh. Vì thế, Cha Mãi Bên Đời không chỉ là một cuốn hồi ký để đọc, mà còn là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về đạo hiếu và tình thân gia đình, vì:

    “Family where life begins and love never ends” (unknown)

    “Gia đình là nơi cuộc sống bắt đầu và là nơi tình yêu không bao giờ kết thúc”

    Và cuốn hồi ký “Cha Mãi Bên Đời” mà chúng ta cùng tìm hiểu hôm nay chính là minh chứng đẹp đẽ cho điều ấy.

    Khi gấp lại những trang cuối của cuốn hồi ký này, chúng ta nhận ra rằng tác giả không chỉ viết về người cha đã khuất, mà đang viết về tình yêu. Một tình yêu không bị thời gian làm phai nhạt. Một tình yêu không bị sự chết chia lìa.

    Có lẽ đó cũng là ý nghĩa đẹp nhất của nhan đề “Cha Mãi Bên Đời“.

    Bởi có những người tuy đã đi xa, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời chúng ta. Có những người cha đã rời xa nhân thế, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời con cái.

    Chân thành cảm tạ tác giả đã trao tặng cho chúng ta món quà tinh thần quý giá này và mong rằng Hồi Ký Cha Mãi Bên Đời sẽ được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, để những thông điệp đẹp đẽ về tình phụ tử tiếp tục được lan tỏa.

    Nv. Khánh Lan & Nv. Phương Hiền

    Nv. Kiều My & Nv. Phương Hiền

    Kiều My, California, July 12, 2026

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt

    MANIFEST DESTINY, VOLUME 2 CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG

    Khánh Lan

    Manifest Destiny và Nhà Văn Nguyễn Quang

    Chẳng phải chỉ trên khuôn mặt của nhà văn Nguyễn Quang luôn nở một nụ cười tươi thắm mà ngay cả chúng tôi cũng hân hoan với nụ cười luôn nở trên môi. Những nụ cười sáng rực, hân hoan cho một buổi ra mắt sách thành công mỹ mãn, để đền bù cho những tháng ngày lo lắng cùa anh em chúng tôi, Ban Tổ Chức. Lo lắng bởi ngày mùng 5 tháng 7, 2026, khu Little Sài Gòn có đến 4 sinh hoạt trong cộng đồng. Đầu tiên là ngày kỷ niệm 250 năm thành lập của Hoa Kỳ tổ chức tại Đài kỷ niệm Việt-Mỹ trên đường American Way. Thứ 2 là buổi ra mắt sách của Nhà Văn Nguyễn Quang với tác phẩm Manifest Destiny, Volume 2 hay Vận Mệnh Hiển Nhiên. Thứ 3 là Đại hội Thủy Quân Lục Chiến và thứ tư là Đêm nhạc Sài-Gòn trong nỗi nhớ tại hội trường Lavender.

    Tuy nhiên, có lẽ đây là một phép màu mà Thượng Đế đã ưu ái dành cho nhà văn Nguyễn Quang, buổi ra mắt sách của ông đã thành công vượt bực trong niềm hân hoan của tất cả chúng tôi….

    … Vừa đi lấy cái bánh “Chúc mừng ngày ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang” tại tiệm bánh Van, tôi vội vã lái xe thẳng đến Museum Of The Republic Of VietNam, nơi mà nhà văn Nguyễn Quang tổ chức buổi ra mắt sách. Khê nệ bưng cái bánh vào phòng hội, tôi đã nhận thấy một số anh chị trong Ban Tổ Chức đã có mặt ở đó từ bao giờ, để chuẩn bị cho buổi ra mắt sách, nào là bỏ thức ăn vào bịch, nào là trải khăn bàn, nào là trưng bày sách ra bàn, v.v… mọi người làm việc thật đắc lực, có dây chuyền và có quy củ…

    Chị Minh Khai, em gái của nhạc sĩ Lam Phương là người lãnh trách nhiệm … “đi chợ” cho ngày ra mắt sách.

    Từ trái sang phải: Khánh Lan, Minh Khai, Kiều My, Lệ Hoa, Katherine Minh Thư. Và chỉ một thoáng thôi, những bịch thức ăn đã chuẩn bị xong…sẵn sàng để đãi khách tham dự buổi ra mắt tác phẩm.

    Anh Phạm Lưu Đạt thật chu đáo, anh là người đã bỏ ra rất nhiều thời gian để chuẩn bị cho buổi họp mặt này. Từ một bàn tay khéo léo, anh đã sắp xếp mọi công việc có thứ tự và nhìn rất “Professional“. .

    Từ những huy hiệu, bao đựng thực phẩm, biểu ngữ, hình ảnh, v.v… đã được anh Phạm Lưu Đạt tự tay thiết kế..

    Những tác phẩm được sắp xếp dưới bàn tay khéo léo của anh Phạm Lưu Đạt

    ĐÓN QUAN KHÁCH THAM DỰ

    Ông Frank Scotton

    Từ trái sang phải: NV Kiều My, GS Lê Văn Khoa, CS Ngọc Hà, NV Nguyễn Quang, NV Khánh Lan, NV Phương Hiền

    Nhóm Guitar Tơ Vàng

    Tiếp đón 2 chị cùng quê với NV Nguyễn Quang, Tỉnh Sóc Trăng

    Các anh chị trong Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Từ trái sang phải: NV Phạm Gia Đại, Chị Minh Khai, Lệ Hoa, NV Phương Hiền, NV Kiều My, NS Lê Nguyễn Nga, NV Khánh Lan, Anh Út Hiền, NS Dương Hồng Anh, Katherine Minh Thuu, GS Trần Mạnh Chi

    TÓM TẮT TÁC PHẨM

    Thật chu đáo, anh Phạm Lưu Đạt đã cho in ra một tờ tóm tắt về tác phẩm Manifest Destiny Volume 2– Định mệnh – Cuộc hành trình của nhân loại. Đây là một tác phẩm mang tính suy tư thâm thúy, kết hợp giữa lịch sử, triết học và dấu ấn cá nhân của tác giả Nguyễn Quang – một nhân chứng lịch sử của thế kỷ 20.

    Qua lăng kính của chính cuộc đời mình, tác giả dẫn dắt người đọc đi qua hành trình dài của nhân loại, từ lịch sử trái Đất cổ điển đến những thách thức của thời đại hiện đại. Trung tâm của cuốn sách là chiến tranh Việt Nam – một cuộc chiến ủy nhiệm bi thảm – được đặt trong bối cảnh rộng lớn của chiến tranh lạnh và khát vọng “Manifest Destiny” của Hoa Kỳ.

    Tác giả dựng lại một cách chân thực và xúc động những ký ức lịch sự: thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, nạn đói năm 1945, sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975, và hành trình lưu vong của hàng 1.000.000 người Việt Nam. Cuốn sách bày tỏ lòng tri ân đối với lòng dũng cảm và những hy sinh của 58.000 binh sĩ Hoa Kỳ cùng các đồng minh trong chiến tranh Việt Nam, sự kiên cường của cộng đồng người Việt hải ngoại, và giá trị biểu tượng trường tồn của lá cờ vàng 3 sọc đỏ.

    Vượt ra ngoài khuôn khổ lịch sử Việt Nam, tác giả mở rộng tầm nhìn đến những vấn đề lớn của nhân loại: chu kỳ lặp lại của sai lầm lịch sử, xung đột giữa các siêu cường, vai trò của công nghệ cần thiết về sự cân bằng giữa tiến bộ vật chất và giá trị đạo đức, tâm linh. Manifest Destiny, volume 2 không chỉ là một cuốn sách lịch sử, mà còn là tiếng lòng của một thế hệ đã trải qua chiến tranh và mất mát, vẫn kiên trì niềm tin và tự do, dân chủ và nhân phẩm con người. Đây là lời tri ân sâu sắc dành cho các cựu chiến binh, người tị nạn, và các lời nhắc nhở về trách nhiệm của mỗi thế hệ đối với tương lai chung của nhân loại.

    Nhìn lại quá khứ để định hướng tương lai – đó là sứ mệnh của chúng ta.

    Khoảng 30 phút trước giờ khai mạc, từ parking lot, đội trống chầu Thiên Ân lần lượt di chuyển vào phòng hội để chuẩn bị cho nghi thức khai mạc buổi ra mắt sách. Theo như anh Phạm Lưu Đạt, “Đây là một sự may mắn, hôm ấy, anh Đạt đến viện bảo tàng và gặp bác sĩ Quân về việc tổ chức buổi ra mắt sách tại đây. Bác sĩ Quân đã mời đội trống chầu Thiên Ân trình diễn trong ngày ra mắt sách của NV Nguyễn Quang…

    Tôi nhận thấy các em ở nhiều độ tuổi khác nhau, khoảng từ 5 đến 15 tuổi…các em súng sính trong trang phục cổ truyền Việt Nam, trông thật dễ thương và đáng yêu quá.

    Chuẩn bị sẵn sàng

    Các em trong đoàn trống chầu Thiên Ân chuẩn bị trước giờ trình diễn

    GIỜ KHAI MẠC

    Từng hồi trống liên tục của đoàn trống chầu Thiên Ân vang lên, khai mạc cho buổi ra mắt sách, một âm thanh hào hùng, mạnh mẽ với những bài ca dao thuần túy của quê hương đã làm thổn thức bao tâm tư của con dân Việt sau những năm tháng dài xa xứ.

    Chắc hẳn, tất cả quan khách cũng như chúng tôi, ngẩn người và đi từ ngạc nhiên này đến thích thú kia, bởi trong đoàn trống, các em tuy còn nhỏ, nhưng dưới sự tập luyện công phu và có nghệ thuật của các quý Thầy Cô, các em đã biểu diễn màn trống thật điêu luyện trong vai trò của mình.

    Chúng tôi và quan khách tham dự như chìm trong cái vui và hãnh diện ngắm nhìn một thế hệ “măng non“ trong tương lai với nhiều hy vọng cho việc gìn giữ và bảo tồn văn hóa Việt.

    Những “mầm non” của đất nước đang vươn lên cho một kỷ nguyên mới…

    Các em trong đoàn trống chầu Thiên Ân đang biểu diễn những màn trống ngoạn mục….

    Sau phần chào cờ Việt Mỹ và phút mặc niệm là phần giới thiệu tiể sử của tác giả Nguyễn Quang và lời chào của ông đến quý quan khách. Theo sau là phần trình diễn mở đầu của nhóm Tơ Vàng với hai nhạc phẩm: God Bless America và Tiếng Hát Đường Xa.

    Được biết nhóm guitar Tơ vàng do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân thành lập.

    Nhóm Guitar Tơ Vàng và Nhạc sĩ Võ Tá Hân và phu nhân, Cô Kim Châu

    Cũng không quên nhắc đến phần văn nghệ chọn lọc với màn trình diễn của ca sĩ Thanh Lan và ban văn nghệ tiếng thời gian.

    CS Thanh Lan với hai nhạc phẩm Pháp: Belsame Mucho và La plus belle pour aller danser.

    Tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Katherine Minh Thư
    trong Ghé Bến Saigon

    Tam Ca Ái Liên, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh trong Bức Họa Đồng Quê

    Diễn giả thứ nhất được mời là nhà văn Việt Hải, ngoài lời chúc mừng ra mắt tác phẩm Manifest Destiny, Volume 2 đến nhà văn Nguyễn Quang, sơ lược về tác phẩm, sau cùng ông ngỏ lời tâm sự về sự liên quan mật thiết giữa ông và nhà văn Nguyễn Quang.

    Kế đến là NV Khánh Lan được nhà văn Việt Hải đề cử lên chia sẻ cảm nghĩ của ông về tác phẩm Manifest Destiny, volume 2. Nguyên văn bài đọc như sau: 

    Kính Thưa quý quan khách, quý tao nhân mặc khách, NV Nguyễn Quang. Ngày 25 tháng 08, 2024, nhà văn Nguyễn Quang đã cho ra mắt tác phẩm: Manifest Destiny, tập 1, một tài liệu nghiên cứu lịch sử mà nhà văn Nguyễn Quang đã viết từ năm 2021 đến năm 2024 bằng Anh ngữ, sau được ông chuyển sang Việt ngữ với tựa: Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân loại. Hôm nay, ngày 5 tháng 7, 2026, Manifest Destiny, tập 2 (Vận mệnh Tất yếu Hiển nhiên) ra đời. Trong tác phẩm Manifest Destiny, tập 2, nhà văn Nguyễn Quang đã nghiên cứu về nhiều lãnh vực gồm: sử liệu, triết thuyết chính luận và chính trị qua ngòi bút uyên thâm, sắc sảo. Manifest Destiny, tập 2, với tựa đề phụ: “Một cuộc tường chinh của Văn minh và Vận mệnh”. Đó là sự mở rộng ra bên ngoài và sự tự vấn vào bên trong. Văn minh là những gì chúng ta xây dựng nên, là sự hiện hữu trong các thể chế, là sự phát minh và luật pháp. Vận mệnh là những gì chúng ta lựa chọn, được bộc lộ qua các giá trị, sự chừng mực, lòng dũng cảm và sự minh định về đạo đức. Chính vì thế, tác phẩm này đã mang đến một sự suy ngẫm có cấu trúc cho vận mệnh & tương lai của đất nước Hoa Kỳ.

    Xuyên qua các chương sách, nội dung ghi nhận lại những biến động về chính trị, những xung đột ý thức hệ, những truyền thống tôn giáo, những cuộc tranh luận triết học và cách mạng khoa học. Câu chuyện dẫn dắt người đọc từ Trái Đất vươn ra ngoài vũ trụ. Văn minh đi sâu vào lương tri. Thể chế xã hội đi vào đời sống nội tâm, niềm tin tôn giáo, tất cả đều ảnh hưởng vào phương cách tổ chức toàn cầu, xây dựng quốc gia và duy trì trật tự thế giới. Xét về ý niệm Manifest Destiny, tập 2 (Vận mệnh hiển nhiên) là niềm tin rằng Hoa Kỳ có vận mệnh mở rộng lãnh thổ từ duyên hải Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương. Tác giả Nguyễn Quang đã dựa theo tiền đề này, để mở rộng cho tác phẩm của ông. Theo ông, Khái niệm Manifest Destiny, tập 2 không chỉ được xem như một học thuyết lịch sử, mà còn có một ẩn dụ lớn. Trong quá khứ, nó từng được dùng để biện minh cho sự bành trướng lãnh thổ. Vậy, trong hiện tại, nhân loại đã phác họa một lộ trình nào chưa cho hướng đi của mình trong tương lai? Điều này rất quan trọng, bởi nếu sự tiến bộ thiếu vắng đạo đức sẽ dẫn đến hiểm họa. Quyền lực thiếu vắng sự tự vấn sẽ dẫn đến sự thái quá. Sự bành trướng thiếu vắng trách nhiệm, sẽ chỉ là sự lặp lại những sai lầm cũ dưới những cái tên mới. vậy, để tránh lặp lại này, chúng ta phải nhận thức rõ vai trò, ý chí và hành động của chính mình. Bởi, chúng ta không thể đơn thuần chỉ là những con rối trong một vở kịch lịch sử, mà chính những lựa chọn, giá trị và hành động của chúng ta mới là thứ định hình nên tương lai.

    Manifest” đề cập đến những áp lực lên môi trường và sự phân mảnh xã hội. Một nền văn minh hoàn hảo cần cả cấu trúc lẫn lương tri: Bởi một tương lai thuần túy vật chất sẽ mang lại sự tiện nghi, nhưng thiếu đi mục đích sống. Một tương lai thuần túy hệ tư tưởng sẽ mang lại niềm tin kiên định, nhưng lại thiếu đi lòng bao dung. Vì thế, Sự cân bằng không phải là một lựa chọn tùy ý, mà là điều kiện để sinh tồn. Sự mất cân bằng sẽ gây ra hậu quả vô lường. Destiny” là trao quyền tự chủ, là sự kết hợp có kỷ luật giữa tri thức và đạo đức, là sự hợp tác và lòng khiêm tốn. Qua những kinh nghiệm, chúng ta có thể rút ra bài học từ những sai lầm để nỗ lực vươn tới một tương lai như ý. Tác phẩm lập luận rằng: Destiny nếu thực sự tồn tại, thì đó không phải là một sự bảo đảm hoàn toàn. Vì nếu cuộc đời đã hoàn toàn được định đoạt sẵn, thì mọi nỗ lực, học hỏi đều sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, Destiny sẽ được định hình bởi sự kết hợp giữa các lực ngoại cảnh như: hoàn cảnh, cơ hội, thách thức, và các yếu tố nội tại như: giá trị sống, sự lựa chọn, và cách phản ứng của chúng ta.

    Manifest Destiny, tập 2 là những nhận định của con người về ý nghĩa và trật tự, tác phẩm phản ảnh về một sự kiện quan trọng của nước Mỹ ở cột mốc 250 năm, tuy không phải là một mô hình hoàn hảo, nhưng đó là một cuộc thử nghiệm liên tục, đã sinh ra cả thành tựu lẫn mâu thuẫn, sự lãnh đạo lẫn sự sai lầm, sự đổi mới lẫn sự xáo trộn. Tác phẩm cũng đề cập đến Thế kỷ 21 là một Kỷ nguyên Mới. Trong suốt 250 năm qua, (1776-2026) Hoa Kỳ đã nỗ lực xây dựng một môi trường sống hạnh phúc với những công sức và hy sinh của các thế hệ nối tiếp nhau, đồng thời đương đầu với những thứ thách của các cộng đồng quốc tế. Thế kỷ 21 là một Kỷ nguyên then chốt cho sự Khai sáng của Nhân loại, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện các biện pháp chủ động, nhằm tăng cường hợp tác quốc tế và cải cách các thể chế toàn cầu. Khi Hoa Kỳ đang tiến gần đến cột mốc kỷ niệm 250 năm thành lập, là lúc chúng ta cần xét lại những khiếm khuyết, hầu vạch ra một lộ trình để đưa đến một tương lai với công bằng, bình đẳng và bền vững hơn. Một di sản để trao lại cho các thế hệ kế cận. Lễ kỷ niệm 250 năm, chúng ta cũng không quên ghi nhớ đến công sức của những vị tiên phong, những người đã xây dựng và phát triển đất nước Hoa Kỳ. Vậy thì, những thành tựu cũng như những thất bại mà đất nước này đã mang lại cho thế giới là gì? Tất cả mọi giữ kiện này đều được ghi lại trong tác phẩm Manifest Destiny, tập 2.

    Tóm lại, tác phẩm Manifest Destiny, tập 2, hay Vận mệnh hiển nhiên của nhà văn Nguyễn Quang là một tiểu luận án chính trị học hữu ích, có liên đới với nhau do yếu tố lịch sử và chính trị. Nó cũng có giá trị về phương diện biên khảo, do sự góp nhặt những dữ kiện từ nhiều nguồn sử liệu, phân tích, chia đề tài theo dòng thời gian dựa theo địa hình chính trị và vận mệnh của từng quốc gia. Theo Khánh Lan, bài học lịch sử có thể tái lập nhiều lần, do đó, áp dụng nguyên tắc ôn cố tri tân giúp chúng ta rút tỉa kinh nghiệm, tránh những hệ lụy và những sai lầm đã xảy ra trong quá khứ. Và sau hết, khánh Lan xin chấm dứt bài diễn văn hôm nay bằng câu nói mà giáo sư Quyên Di đã nói trong buổi ra mắt sách lần trước: “Một tác phẩm có giá trị không phải vì bề dày của quyển sách, mà chính những gì chứa đựng ở trong quyển sách.“ Khánh Lan xin trân trọng giới thiệu Manifest Destiny, tập 2 và chúc mừng nhà văn Nguyễn Quang. Mong rằng trong tương lai chúng ta sẽ được đọc những tác phẩm kế tiếp của ông: Manifest Destiny, tập 3; Manifest Destiny, tập 4, v.v…

    NV Nguyễn Quang và Khánh Lan

    …Tiếng vỗ tay vang dội cả thính phòng sau khi tôi chấm dứt bài diễn đọc đã làm tôi vô cùng cảm động với cái vui vì mình đã làm tròn nhiệm vụ mà nhà văn Việt Hải đã giao phó và ưu ái dành cho tôi. 

    Diễn giả thứ 2 được giới thiệu là ông Frank Scotton.  Trong bài diễn văn ông Scotton chia sẻ quan điểm của ông về chiến tranh Việt Nam. Frank Scotton cũng đưa ra lập luận rằng trong tác phẩm Manifest Destiny, Volume 2, là tất cả những gì hiện tại và tương lai cho đất nước Hoa Kỳ. We are together ông nói: Tôi rất vui mừng đọc tác phẩm Manifest Destiny, Volume 2 và mong đợi được đọc tác phẩm Manifest Destiny, Volume 3, nó sẽ là một sự đổi mới trong chính phủ…..” Not repeated presidency but new presidency. Not services but truly work”…..

    Frank Scotton là một sĩ quan ngoại giao và tình báo của Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ (USIA), nổi tiếng với thời gian dài hoạt động tại Việt Nam từ năm 1962 đến năm 1975. Đến Sài Gòn vào năm 1962 ở tuổi 24, Frank Scotton, học tiếng Việt và dành phần lớn thời gian sống tại các vùng nông thôn. Năm 1964, ông tổ chức các trung đội cơ động để nhấn mạnh các khía cạnh chính trị của cuộc xung đột. Các nhóm đặc biệt này sau đó được CIA áp dụng và trở thành mô hình cho chương trình bình định quốc gia. Ông từng làm việc và cố vấn cho nhiều quan chức, tướng lĩnh hàng đầu của Mỹ tại chiến trường, bao gồm Tướng Westmoreland và John Paul Vann. 

    Diễn giả thứ 3 với nhà văn Phạm Gia Đại, nội dung của bài diễn văn nói về sự khác biệt giữa “FATE” (Số phận) và “DESTINY” (Vận mệnh)

    “Fate” hàm ý là một chuỗi sự kiện đã được an bài từ trước và không thể thay đổi. Trong khi “Destiny”  (vận mệnh) là trao tự chủ. Destiny” (vận mệnh) là mức độ ảnh hưởng, sự lựa chọn, sự hoàn thiện, và là kết quả của tiềm năng được định hình bởi chính những hành động, quyết định, và cách ta phản ứng trước các hoàn cảnh sống. Đó là một góc nhìn cân bằng và thấu đáo hơn về “số phận và định mệnh” …

    NV Việt Hải, NV Phạm Gia Đại (đứng ở giữa), NV Frank Scotton

    Lời cảm ơn của nhà văn Nguyễn Quang. Qua cơn xúc động ông nói:  Tôi sinh trưởng trong một gia đình khiêm tốn và nhà không giàu lắm. Năm 1950 Pháp tranh giành độc lập tự do, vì thế các thanh niên yêu nước thời đó và vì có tinh thần chống thực dân Pháp, thường gia nhập phong trào kháng chiến trong đó có cả tôi và anh trai tôi. Lúc ấy tôi mới 13 tuổi. Anh tôi đã tử nạn. Thân phụ vì lo cho sự an toàn của tôi, Người đã quyết định cho tôi ra nước ngoài và định mệnh đã đưa tôi sang Pháp. Cho đến nay, tôi cũng không hiểu là cha tôi đã lấy tiền ở đâu ra mà gởi tôi sang Pháp.….

    Khi được hỏi về cảm xúc của ông về gia đình. Nhà văn Nguyễn Quang tỏ vẻ như xúc động, giọng ông nghẹn lại, ông nói: nỗi khổ tâm của tôi là tôi rất yêu cha tôi nhưng tôi không biết làm thế nào để tỏ tình yêu đó với cha tôi. Không như ngày nay, phong tục Á Đông đã không cho phép tôi được ôm cha tôi vào lòng, để nói với cha tôi rằng tôi rất yêu ông… Hành trình về cuộc đời của tôi đã được ghi lại trong nhiều tác phẩm … qua nhiều năm…

    Từ trái sang phải: Nhạc Sĩ Võ Tá Hân và phu nhân, Cô Kim Châu, Nhà Văn Nguyễn Quang, Ông John Tạ và phu nhân, Chị Suzan Tạ

    Xong nhà văn Nguyễn Quang nói tiếp lời cảm ơn: Tôi cảm ơn quý vị, nhà văn Việt Hải, Phạm Lưu Đạt, anh Phạm Thái và Ban tổ chức, đã giúp tôi hoàn thành tác phẩm và tổ chức một buổi ra mắt sách thật vĩ đại, linh đình và hoàn hảo. Tôi thành tâm tri ân những người đứng sau, đã tận tụy giúp tôi như anh Phạm Thái, Phạm Lưu Đạt đã thiết kế bìa sách vào hoàn tất việc in ấn giúp tôi. Tôi cũng cảm ơn bác sĩ Khiêm phải chủ tịch Viện bảo tàng đã bảo trợ cho tôi phòng hội này không những lần trước và cả lần này nữa.

    Anh Phạm Lưu Đạt, NV Nguyễn Quang, Anh Trần Mạnh Chi và Mộng Thủy

    NV Phương Hiền, Anh Út Hiền và Thụy Lan

    Bán sách: Thụy Lan & Lệ Hoa thành công

    Bế mạc buổi ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang lúc 3:30 chiều với chiếc bánh “Chúc mừng ngày ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang, July 5, 2026.”

    Anh “Quang” ơi, có bao nhiêu…95 cuộc đời….

    Hai mươi năm đầu…và …100 năm sau thì sao?…

    CHÚC MỪNG NV NGUYỄN QUANG RA TÁC PHẨM FROM: LIÊN NHÓN NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN VÀ LIÊN NHÓM VĂN CHƯƠNG VIỆT & TIẾNG ĐÀN XƯA CHÚC MỪNG…CHÚC MỪNG...

    Khánh Lan, California 2026

  • Khánh Lan,  Kiều My,  PHƯƠNG HIỀN,  RA MẮT SÁCH,  Việt Hải,  Vương Trùng Dương

    GIỚI THIỆU TÁC PHẨM CHA MÃI BÊN ĐỜI CẢM CỦA NHÀ VĂN PHƯƠNG HIỀN

    (Thân tặng tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền) “Stay with me forever and ever, Papa!”

    Cha mãi bên đời, Thái Sơn cao cả

    Giúp con mạnh mẽ vượt mọi phong ba

    Tấm lòng hiếu thảo vầng trăng sáng ngà

    VINH HỒ

    Orlando, Mar. 19, 2026

    1. ĐÔI DÒNG VỀ CỐ THIẾU TÁ NGUYỄN GIA TĨNH (1931-1985):

    Người Cha trong tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!

    hồi ký của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền.

    Ông Nguyễn Gia Tĩnh, sinh ngày 8 tháng 5/1931, quê Hưng Yên, miền Bắc, là giáo viên, lập gia đình với Cô giáo Phạm Thị Phương Thảo cùng quê.

    Khi Phương Hiền (PH) được 1 tuổi, Cha là Thầy giáo Nguyễn Gia Tĩnh nhập ngũ thụ huấn Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (1/10/1953-1/6/954) cùng khoá với Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo (hạng 18), Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt,  Chuẩn tướng Trương Hữu Đức… – Khoá 10 có danh hiệu là Trần Bình Trọng: Nguyễn Tấn Đạt thủ khoa. -Khóa 10 Trần Bình Trọng là khóa đông nhất của 10 khóa đầu tiên của Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

    -Hiện trên mạng ở link: “Khóa 10 Flipbook – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam” có đăng danh sách 400 sĩ quan tốt nghiệp Khoá 10 Trần Bình Trọng vào ngày 1 tháng 6/1954 : Nguyễn Gia Tĩnh mang số thứ tự 359.

    *TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA ĐÀ LẠT:

    -Năm 1948, Chính phủ Quốc gia Việt Nam thành lập Trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế: có 2 khoá

    -Năm 1950: dời về Đà Lạt đổi tên thành Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt: có 14 khoá.

    -Năm 1959 Chính phủ Ngô Đình Diệm đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam cho tới 30/4/1975 : có 19 khoá

    Tổng cộng: có  35 khoá:  33 khóa đã ra trường với 6.583 sĩ quan hiện dịch (2 khóa 30 và 31 chưa ra trường). Trong số đó có 61 tướng lãnh (tại Huế 19 vị, tại Đà Lạt 42 vị).

    Năm 1954, Mẹ của Phượng Hiền đưa PH (mới 2 tuổi) từ Hưng Yên xuống Hải Phòng lên tàu há mồm di cư vào Nam, rồi lên Đà Lạt gặp chồng và cha, lúc ấy ông đang chuẩn bị Lễ tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Ông ra trường cấp bậc Thiếu uý, chọn binh chủng Biệt Động Quân khởi binh nghiệp tại Miền Tây, gia đình ở tại Sa Đéc.

    Từ Lục Tỉnh đổi về Sài Gòn, gia đình ở tại Cư xá Sĩ quan Quang Trung, ông gởi PH vào học nội trú tại Trường Dòng Thánh Mẫu, đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn.

    Ông rời SG, chuyển về Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang 1 năm, sau đó chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, gia đình ở tại thị trấn Ninh Hoà.

    Năm 1966 ông có nhà gần cầu Dục Mỹ.

    Năm 1969, ông chuyển lên Pleiku, trong lúc PH học Đệ Nhất C tại Trường Cường Để, Qui Nhơn.

    Năm 1973, ông làm việc tại Liên doàn IV Biệt Động Quân ở Căn cứ Long Bình thuộc Quân khu III, KBC 3264.

    Năm 1974, ông nhập viện Tổng Y Viện Cộng Hoà vì bệnh tim.

    Tháng 3/1975, ông ra Hội đồng Miễn dịch Sài Gòn chứng nhận miễn dịch vĩnh viễn với cấp độ tàn phế 60%, xếp loại 3 phế binh.

    Ngày 26/3/1975, Thiếu tá Nguyễn Gia Tĩnh, số quân 51/300 308 giải ngũ sau 22 năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân tính từ ngày 20/9/1953.

    Ngày 8/5/1975 ông đi tù cải tạo trên 1 chuyến xe lửa bít bùng đến trại tù Yên Bái, chuyển trại nhiều lần, trại cuối là Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Ở nhà, gia đình đã biệt vô âm tín gần 5 năm. Trong tù bệnh tim tái phát, ông đã nhiều lần chết đi sống lại, ông ra tù đầu năm 1980.

    Ông mất ngày 21 tháng Giêng năm 1985 tại Sài Gòn, hưởng dương 54 tuổi.

    Thiển nghĩ, là nam nhi, ông đã đặt Tổ quốc, danh dự và trách nhiệm lên trên tình nhà, dù đã có nghề nghiệp vững chắc, đã có vợ đẹp con ngoan, ông vẫn mạnh mẽ lên đường… Ôi chao giây phút chia tay sao mà cảm động!

    “Ai ra đi mà không từng bịn rịn

    Xa người yêu mà dễ mấy ai vui

    Em nhìn theo bằng nước mắt chia phôi

    Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ

      (Chuyện Giàn Thiên Lý – nhạc Anh Bằng)

    Trong lúc người Cha đầy khí phách anh hùng, thì người Mẹ vẫn một lòng chung thuỷ không ngại gian khổ đã bồng con di cư vào Nam để sum họp cùng chồng nơi vạn dặm. Cao đẹp thay một cuộc tình thời chinh chiến còn ghi trong tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa! hồi ký của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền và dịch giả Phạm Văn Bân.

    2. NGƯỜI CHA GƯƠNG MẪU VÀ CÔ CON GÁI HIẾU THẢO:

    Cố Thiếu Tá Nguyễn Gia Tĩnh, xuất thân nhà giáo, tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, suốt 22 năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân. Sau 1975 ông đi tù cải tạo tại miền Bắc.

    Theo tác phẩm Cha Mãi Bên Đới, ông là 1 người Cha gương mẫu, hết lòng yêu thương, chăm sóc, nuôi dạy con gái, có óc tân tiến và viễn kiến khi nghĩ đến tương lai của con, đã mời các bạn người Mỹ về nhà kèm con gái học tiếng Anh, nên thời gian ở nhà trường Trung học, Cô nữ sinh có thể giúp các Thầy Cô trong việc thông dịch khi có phái đoàn người Mỹ đến thăm trường.

    Theo bài viết Yêu Thương Còn Mãi, cô PH năm 13 tuổi (Tuổi Mộng Mơ -nhạc Phạm Duy, Tuổi Mười Ba -thơ Nguyên Sa), PH học lớp Đệ Lục trường TH Trần Bình Trọng Ninh Hoà, được Cha chở vô Nha Trang mua sách vở, ngang qua chân đèo Rọ Tượng, xa xa là Vịnh Nha Phu nơi 2 dòng sông chảy vào, “tất cả sẽ hoà lẫn vào đại dương bao la”, nhìn biển cả, ông hỏi con gái:

    -Con có thích biển, thích vượt trùng dương? Chăm học rồi lớn lên, Cha sẽ cho con đi Mỹ du học nhé!

    -Vâng con muốn lắm!

    Rồi cuộc đổi đời và biến cố thời cuộc đã không cho hai Cha con thực hiện được ước mơ đó. Thế nhưng Cô con gái đã không phụ lòng Cha: 

    1. Sau 1975 Cô PH nhiều lần du lịch đã đặt chân đến xứ sở Tự do mà Cha hằng mơ ước.

    2. Năm 2015, Cô PH bắt đầu viết cuốn hồi ký Cha Mãi Bên Đời, năm 2017 xuất bản và Ra mắt sách tại CA, Hoa Kỳ, tôi có bay qua dự.

    3. Năm 2025, Nhà văn Dịch giả Phạm Văn Bân ở CA đã bỏ ra 6 tháng giúp cô PH dịch cuốn sách Cha Mãi Bên Đời ra Anh ngữ: Stay With Me Forever And Ever, Papa! – Sách đã được:-Số kiểm soát của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ: 2025927934. Số đăng ký bản quyền Hoa Kỳ: 1-15064499201. Xuất bản và in tại Hoa Kỳ. Cô PH dự tính sẽ ra mắt sách tại CA và Florida, Hoa Kỳ.

    VH cũng nghĩ như dịch giả Phạm Văn Bân, ba việc mà Cô PH đã làm là vì tình thương và ước mơ của Papa, chắc chắn Cha cô bên kia thế giới rất vui và thoả nguyện. VH xin chúc mừng cô con gái hiếu thảo Phương Hiền đã làm được 3 điều mà không phải ai cũng có thể làm được.

    VINH HỒ, Orlando, Mar. 29, 2026

    Tham khảo:

    -Tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa! – hồi ký của tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền.

    -Yêu Thương Còn Mãi, tháng 11/2025, bài viết của tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền. -Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt – Bách khoa toàn thư mở.

    He is the father featured in the bilingual memoir *Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!* by author Nguyễn Thị Phương Hiền.

    Mr. Nguyễn Gia Tĩnh was born on May 8, 1931, and hailed from Hưng Yên province in Northern Vietnam. He was a teacher by profession and married a fellow teacher from the same province, Ms. Phạm Thị Phương Thảo.

    When Phương Hiền (PH) was one year old, her father—then a teacher—enlisted in the military and underwent training with Class 10 of the Da Lat Joint-Service Military Academy (October 1, 1953 – June 1, 1954). His classmates included Major General Lê Minh Đảo (ranked 18th), Brigadier General Vũ Văn Giai, Brigadier General Trần Văn Nhựt, and Brigadier General Trương Hữu Đức. Class 10 bore the honorary name “Trần Bình Trọng,” with Nguyễn Tấn Đạt graduating as valedictorian. The Trần Bình Trọng Class (Class 10) was the largest of the first ten classes at the National Military Academy of Da Lat.

    – A list of the 400 officers who graduated from Class 10 (Trần Bình Trọng) on ​​June 1, 1954, is currently available online at the link “Khóa 10 Flipbook – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam” (Class 10 Flipbook – National Military Academy of Vietnam); Nguyễn Gia Tĩnh is listed at number 359.

    * THE NATIONAL MILITARY ACADEMY OF DA LAT:

    – In 1948, the Government of the State of Vietnam established the Vietnam Officers’ School at Đập Đá, Huế; it produced two classes.

    – In 1950, the school relocated to Da Lat and was renamed the Da Lat Joint-Service Military Academy; it produced fourteen classes. – In 1959, the Ngo Dinh Diem government renamed the institution the Republic of Vietnam National Military Academy; it operated until April 30, 1975, spanning 19 classes.

    – In total, there were 35 classes; 33 classes graduated, producing 6,583 career officers (Classes 30 and 31 did not graduate). Among the graduates were 61 general officers (19 from the Hue era and 42 from the Da Lat era).

    – In 1954, Phuong Hien’s mother brought her (then only two years old) from Hung Yen to Hai Phong, where they boarded a landing ship to migrate South. They then traveled to Da Lat to reunite with her father, who was preparing for the graduation ceremony of Class 10 at the Da Lat Joint Military Academy. He graduated with the rank of Second Lieutenant, chose the Ranger branch to begin his military career in the Mekong Delta (the “Six Provinces” region), and the family lived in Sa Dec.

    – After transferring from the Mekong Delta to Saigon, the family lived at the Quang Trung Officers’ Housing Complex; he enrolled Phuong Hien as a boarder at the Thanh Mau Convent School on Le Van Duyet Street, Saigon.

    – He left Saigon for a one-year assignment at the Dong De Non-Commissioned Officer School in Nha Trang, followed by a transfer to the Duc My Ranger Training Center, with the family residing in the town of Ninh Hoa.

    – In 1966, he acquired a house near the Duc My Bridge.

    – In 1969, he was transferred to Pleiku, while Phuong Hien was studying in the *Đệ Nhất C* class (final year of high school) at Cuong De School in Qui Nhon.

    – In 1973, he served with the 4th Ranger Group at Long Binh Base in Military Region III (KBC 3264).

    – In 1974, he was admitted to the Republic General Hospital due to a heart condition. In March 1975, he appeared before the Saigon Disability Board, which certified his permanent disability at a 60% level, classifying him as a Class 3 disabled veteran.

    On March 26, 1975, Major Nguyen Gia Tinh (service number 51/300 308) was discharged after 22 years of service in the Ranger Corps, a tenure that had begun on September 20, 1953.

    On May 8, 1975, he was sent to a re-education camp, traveling in a sealed train car to the Yen Bai facility; he was subsequently transferred multiple times, finally ending up at the Nam Ha camp in Ha Nam Ninh province. Back home, his family lost all contact with him for nearly five years. While imprisoned, his heart condition recurred, bringing him to the brink of death on several occasions; he was released in early 1980.

    He passed away on the 21st day of the first lunar month in 1985 in Saigon, at the age of 54.

    It is my humble view that, as a man, he placed his country, honor, and duty above his domestic life; despite having a secure career and a beautiful wife and well-mannered children, he resolutely set out to serve… How deeply moving that moment of parting must have been!

    “Who leaves without a lingering pang of sorrow?

    Few find joy in parting from a lover.

    She gazes after me through tears of farewell;

    I stride away, yet my soul weeps within.”

    (From the song *Chuyện Giàn Thiên Lý* – Music by Anh Bằng)

    While the father embodied a heroic spirit, the mother remained steadfastly devoted; undeterred by hardship, she carried her child south to reunite with her husband across the vast distance. How noble was this wartime romance—a story immortalized in the bilingual memoir *Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!* by author Nguyễn Thị Phương Hiền and translator Phạm Văn Bân.

    2. AN EXEMPLARY FATHER AND A FILIAL DAUGHTER:

    The late Major Nguyễn Gia Tĩnh began his career as a teacher before graduating from Class 10 of the Da Lat Joint General Military Academy; he served for 22 years in the Ranger Corps (*Biệt Động Quân*). After 1975, he was sent to a re-education camp in the North.

    According to the memoir *Cha Mãi Bên Đời*, he was an exemplary father who loved, cared for, and raised his daughter wholeheartedly. Possessing a progressive and visionary mindset regarding her future, he invited American friends to their home to tutor her in English. Consequently, during her high school years, she was able to assist teachers with interpretation whenever American delegations visited the school.

    According to the article *Yêu Thương Còn Mãi* (Love Endures), when PH was thirteen—an age of dreams and youthful reverie—she was a student in the *Đệ Lục* class (equivalent to 7th grade) at Trần Bình Trọng High School in Ninh Hòa. Her father was driving her to Nha Trang to buy school supplies; as they passed the foot of Ro Tuong Pass, looking out toward the distant Nha Phu Bay—where two rivers converge and “all merge into the vast ocean”—he gazed at the sea and asked his daughter:

    “Do you love the sea? Do you like the idea of ​​crossing…” …cross the ocean? If you study hard, when you grow up, Dad will send you to the U.S. to study!

    -Yes, I’d love that!

    Then, life-altering changes and the upheavals of the times prevented father and daughter from realizing that dream. Yet, the daughter did not let her father down.

    1. QUELQUES MOTS SUR LE MAJOR NGUYEN GIA TINH (1931-1985) :

    Le père dans les mémoires bilingues « Reste avec moi pour toujours, Papa ! » de l’auteure Nguyen Thi Phuong Hien.

    Nu le 8 mai 1931 à Hung Yen, dans le nord du Vietnam, M. Nguyen Gia Tinh était un enseignant. Il avait épousé Mme Pham Thi Phuong Thao, elle aussi originaire de cette ville.

    Lorsque Phuong Hien (PH) avait un an, son père, l’instituteur Nguyen Gia Tinh, s’engagea dans l’armée et intégra la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Dalat (1er octobre 1953 – 1er juin 1954), aux côtés du major-général Le Minh Dao (18e de sa promotion), du général de brigade Vu Van Giai, du général de brigade Tran Van Nhut et du général de brigade Truong Huu Duc. La 10e promotion était baptisée Tran Binh Trong ; Nguyen Tan Dat en fut le major. La promotion Tran Binh Trong était la plus importante des dix premières promotions de l’Académie militaire nationale de Dalat.

    Actuellement, le lien en ligne « Class 10 Flipbook – Académie militaire nationale du Vietnam » recense 400 officiers diplômés de la promotion 10 Tran Binh Trong le 1er juin 1954 : Nguyen Gia Tinh y figure au numéro 359.

    *ACADÉMIE MILITAIRE NATIONALE DE DA LAT :

    En 1948, le gouvernement national vietnamien crée l’École d’officiers du Vietnam à Dap Da, Hué, avec deux promotions.

    En 1950, elle est transférée à Da Lat et rebaptisée Académie militaire conjointe de Da Lat, avec 14 promotions.

    En 1959, le gouvernement de Ngo Dinh Diem la renomme Académie militaire nationale du Vietnam, nom qu’elle conservera jusqu’au 30 avril 1975 ; elle compte alors 19 promotions.

    Au total, 35 promotions ont été formées : 33 promotions ont diplômé 6 583 officiers en service actif (les promotions 30 et 31 n’ont pas encore obtenu leur diplôme). Parmi eux, 61 généraux (19 à Hué, 42 à Da Lat).

    En 1954, la mère de Phuong Hien emmena sa fille (âgée de seulement 2 ans) de Hung Yen à Hai Phong, puis embarqua sur un navire à destination du Sud. Elle rejoignit ensuite son mari et son père à Da Lat, où ce dernier préparait la cérémonie de remise des diplômes de la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Da Lat. Il sortit diplômé avec le grade de sous-lieutenant, choisit les forces spéciales et commença sa carrière militaire dans l’Ouest. Sa famille s’installa à Sa Dec.

    Après avoir quitté le delta du Mékong pour Saïgon, sa famille vécut dans le complexe de logements pour officiers de Quang Trung. Il envoya sa femme étudier au collège du couvent de la Sainte-Mère, rue Le Van Duyet, à Saïgon.

    Il quitta ensuite Saïgon et fut muté à l’école de sous-officiers de Dong De à Nha Trang pendant un an, puis au centre d’entraînement des forces spéciales de Duc My, où sa famille résidait dans la ville de Ninh Hoa.

    En 1966, il possédait une maison près du pont Duc My.

    En 1969, il s’installa à Pleiku, tandis que son épouse poursuivait ses études en première année de primaire au collège Cuong De de Quy Nhon.

    En 1973, il travaillait au IVe régiment des forces spéciales, à la base de Long Binh, dans la région militaire III (KBC 3264).

    En 1974, il fut hospitalisé à l’hôpital général de la République pour une maladie cardiaque.

    En mars 1975, le Conseil d’immunisation de Saïgon lui certifia une immunité permanente, assortie d’un taux d’invalidité de 60 %, le classant comme ancien combattant handicapé de catégorie 3.

    Le 26 mars 1975, le major Nguyen Gia Tinh, matricule 51/300 308, fut démobilisé après 22 ans de service au sein des Forces spéciales, débuté le 20 septembre 1953.

    Le 8 mai 1975, il fut transféré dans un camp de rééducation par train fermé à destination de la prison de Yen Bai, où il subit plusieurs transferts, son dernier lieu de détention étant le camp de Nam Ha, dans la province de Ha Nam Ninh. Sa famille fut sans nouvelles de lui pendant près de cinq ans. Durant son incarcération, son état cardiaque se détériora et il frôla la mort à plusieurs reprises. Il fut libéré début 1980.

    Il décéda le 21 janvier 1985 à Saïgon, à l’âge de 54 ans.

    À mon avis, en tant qu’homme, il plaçait son pays, son honneur et son sens des responsabilités au-dessus des liens familiaux. Malgré une carrière stable, une épouse magnifique et des enfants obéissants, il a courageusement entrepris son voyage… Quel moment d’adieu poignant !

    Qui part sans éprouver un pincement au cœur ?

    Il est difficile d’être heureux loin de l’être aimé.

    Elle m’a regardé partir, les larmes aux yeux.

    J’ai continué mon chemin, le cœur lourd.

    (L’Histoire de la vigne de chèvrefeuille – musique d’Anh Bang)

    Tandis que le père était animé d’un courage héroïque, la mère, imperturbable face à l’adversité, portait son enfant et a migré vers le sud pour retrouver son mari au loin. Quelle belle histoire d’amour en temps de guerre ! Elle est racontée dans l’ouvrage bilingue *Reste avec moi pour toujours, papa !*, un récit autobiographique de l’auteure Nguyen Thi Phuong Hien et du traducteur Pham Van Ban.

    2. LE PÈRE EXEMPLAIRE ET SA FILLE FIDÈLE :

    Le regretté major Nguyen Gia Tinh, ancien enseignant, est sorti diplômé de la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Dalat et a servi dans les forces spéciales pendant 22 ans. Après 1975, il a été emprisonné. dans un camp de rééducation du Nord.

    Selon l’ouvrage *Reste avec moi pour toujours*, il était un père exemplaire, aimant et attentionné envers sa fille, et l’élevant avec dévouement. Il avait une vision progressiste et novatrice de son avenir. Il invitait des amis américains chez lui pour lui donner des cours d’anglais, ce qui lui permettait, au lycée, d’aider ses professeurs en traduisant lors des visites de délégations américaines.

    Selon l’article « L’amour dure toujours », à l’âge de 13 ans (Dreamy Age – musique de Pham Duy, Thirteen Years Old – poème de Nguyen Sa), PH, élève de sixième au lycée Tran Binh Trong de Ninh Hoa, fut emmenée par son père à Nha Trang pour acheter des livres et des fournitures scolaires. Passant au pied du col de Ro Tuong, ils aperçurent au loin la baie de Nha Phu, où deux rivières se jettent dans l’océan. Contemplant la mer, il demanda à son… Fille :

    « Aimes-tu la mer ? Aimes-tu traverser l’océan ? Travaille bien à l’école et, quand tu seras grande, je te laisserai partir étudier en Amérique ! »

    « Oui, je veux bien ! »

    Puis, les aléas de la vie et les vicissitudes de l’époque ont empêché le père et la fille de réaliser ce rêve. Mais la fille n’a pas déçu son père.

    HỒI KÝ CHA MÃI BÊN ĐỜI.

    Sau đây là hai bài đóng góp của tác giả điểm sách dược ghi nhận như sau:

    •       Bài của Nhà văn Lưu Khánh Lan

    NHẬN XÉT VỀ VĂN CHƯƠNG VÀ ĐỜI SỐNG TRONG TÁC PHẨM CHA VẪN BÊN ĐỜI

    CHA VẪN BÊN ĐỜI là những yếu tố khắng khít giữa tình mẫu tử, là vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là bản ngã con người. Có thể nói đây là tác phẩm bút ký ghi lại tình yêu thương thiêng liêng của con người trong cuộc sống. Tình yêu trong trường hợp của tác giả Phương Hiền là bà đã dùng đối tượng ghi nhận là người cha kính yêu mà bà nhớ về chặng đường đời được người cha dìu dắt, yêu thương, là hành trang quý báu để bà bước vào đời.

    Cũng trong tác phẩm hồi ký (hồi ức) này, tác giả xóay cảm nghĩ của mình về những bước thăng trầm của quê hương, của đất nước lẫn sự nhạy cảm của bà đối với những biến chuyển phức tạp của đời sống xã hội trong giai đoạn chiến tranh, cũng như ý thức được hướng đi của mình trong tương lai.

    Nội dung sách nêu lên những đổi thay của đất nước, những chao đảo trong cuộc sống với nhiều diễn biến xảy ra bất ngờ. Những nhân vật trong tác phẩm đã chi phối sự suy tư và nỗi trăn trở của tác giả khi nghĩ đến gia đình, bạn bè, trường học… Tác giả cũng tự vận động sức mạnh bản thân để giúp mình vươn lên trong cuộc sống và thành công trong đường đời. Khiến người đọc cảm nhận được một lối viết, một thể loại văn chương trung thực, chân phương qua tác phẩm hồi ký này.

    Nghệ thuật văn chương hay mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cái nhìn về sự trường tồn qua thời gian và góc nhìn vào thực tại. Cái vĩnh cửu đang nhìn qua cái bất biến của sự thực. Tác giả Phương Hiền đã không nên nhìn sự kiện đời sống xảy ra một cách đơn giản, bà đã nhìn thấu rõ bản thể của vấn đề qua lăng kính rộng lớn, bà đã phân tích, đào sâu bản sắc cuộc sống, tư duy bản chất con người vào các chuỗi sự kiện sâu thẵm theo thời gian, lịch sử đã xảy ra.

    Chúc mừng NV Phương Hiền ra tác  phẩm,

    Khánh Lan, California 2026.

    —————————————————————————-

    •       Bài của Nhà văn Kiều My

    Những cảm nghĩ về sách HỒI KÝ CHA MÃI BÊN ĐỜI

    Kiều My xin được góp phần cảm nghĩ của mình cho quyển hồi ký Cha Mãi Bên Đời của nhà văn Phương Hiền.

    Đây là một tác phẩm mang đậm tình người và chan chứa yêu thương của tình phụ tử vượt lên trên mọi giới hạn của thời gian.Tác giả đã đưa chúng ta trở về những năm tháng chiến tranh đầy biến động của Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, một cô bé lớn lên bên người cha quân nhân, theo chân cha qua nhiều vùng đất khác nhau, nơi đơn vị của cha đóng quân. Những ngày tháng gian khó ấy đã tạo nên một tình cảm gắn bó đặc biệt giữa cha và con.

    Người cha trong hồi ký hiện lên không phải như một anh hùng trên chiến trường, mà trước hết là một người cha tận tụy, yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Những bài học về nhân cách, lòng can đảm, sự hy sinh và trách nhiệm đã được truyền lại cho con không chỉ bằng lời nói mà bằng chính cuộc đời của ông.

    Khi người cha ra đi vì căn bệnh tim, nỗi mất mát ấy đã để lại khoảng trống không gì bù đắp được trong lòng người con gái…đó chính là tác giả Phương Hiền. Nhưng điều kỳ diệu là tình yêu thương không hề mất đi theo năm tháng. Trái lại, nó trở thành nguồn ký ức thiêng liêng, trở thành ngọn lửa âm thầm sưởi ấm cuộc đời người ở lại.

    “”Cha mất vì trái tim ngừng đập. Nhưng tình thương của cha thì chưa bao giờ ngừng sống.”

    Từng trang sách là từng giọt nước mắt nhớ thương, từng kỷ niệm được nâng niu như những báu vật của tâm hồn. Người đọc có thể bắt gặp trong đó hình ảnh của chính mình, của cha mình, hay của những người thân yêu đã từng hiện diện trong cuộc đời… nhưng nay chỉ còn trong ký ức.

    Điều làm nên giá trị đặc biệt của Cha Mãi Bên Đời… chính là sự chân thật. Tác giả không tô vẽ hay cường điệu cảm xúc. Bằng giọng văn giản dị và chân thành, tác giả đã kể lại câu chuyện đời mình như một lời tâm sự, để từ đó… chạm đến trái tim của người đọc.

    Cha Mãi Bên Đời  nhắc nhở chúng ta rằng: Cha mẹ có thể rời xa cõi đời này, nhưng tình yêu của cha mẹ sẽ sống mãi trong trái tim con cái. Những người thân yêu không thật sự mất đi… khi họ còn được nhớ đến bằng tình thương và lòng biết ơn.

    Trong cuộc sống bận rộn hôm nay, đôi khi chúng ta quên nói lời yêu thương với cha mẹ, quên dành thời gian cho những người thân đang còn bên cạnh. Vì thế, Cha Mãi Bên Đời không chỉ là một cuốn hồi ký để đọc, mà còn… là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về đạo hiếu và tình thân gia đình.

    Và cuốn hồi ký “Cha Mãi Bên Đời” mà chúng ta cùng tìm hiểu hôm nay chính là minh chứng đẹp đẽ cho điều ấy.

    Khi gấp lại những trang cuối của cuốn hồi ký này, chúng ta nhận ra rằng tác giả không chỉ viết về một người cha đã khuất, mà đang viết về tình yêu. Một tình yêu không bị thời gian làm phai nhạt. Một tình yêu không bị sự chết chia lìa.

    Có lẽ đó cũng là ý nghĩa đẹp nhất của nhan đề “Cha Mãi Bên Đời”.

    Bởi có những người tuy đã đi xa, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời chúng ta.

    Có những người cha đã rời xa nhân thế, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời con cái.

    Xin cảm ơn tác giả đã trao tặng cho chúng ta món quà tinh thần quý giá này.

    Xin chúc nhà văn Phương Hiền tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm giá trị, và mong rằng cuốn hồi ký Cha Mãi Bên Đời sẽ được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, để những thông điệp đẹp đẽ về tình phụ tử tiếp tục được lan tỏa.

    Trân trọng

    Kiều My.

    ————————————————————————-

    •       By Writer Lưu Khánh Lan

    The following are two contributions from the book reviewer:

    REFLECTIONS ON THE LITERATURE AND LIFE IN THE WORK *CHA VẪN BÊN ĐỜI* (Father Remains by My Side)

    *Cha Vẫn Bên Đời* embodies the intimate bonds of family love—specifically the paternal bond—forming concentric circles with the human self at the very center. It is, in essence, a memoir chronicling the sacred nature of human love. For author Phương Hiền, this love centers on her beloved father; she reflects on the journey of life where his guidance and affection served as the invaluable foundation for her own path into the world.

    In this memoir, the author also explores her thoughts on the nation’s turbulent history and the complex social shifts during wartime, while simultaneously gaining clarity regarding her own future direction. The book depicts the country’s transformations and the upheavals of life, marked by unexpected turns of events. The figures within the work shape the author’s reflections and deep concerns regarding family, friends, and school. Furthermore, the author draws upon her inner strength to rise above challenges and succeed in life. Through this memoir, readers perceive a writing style and literary genre that are honest and unpretentious.

    Literary art—and indeed any work of art—offers a perspective on endurance through time and a view of reality. It is the eternal gazing through the immutable nature of truth. Author Phương Hiền does not view life’s events superficially; rather, she perceives the true essence of matters through a broad lens. She analyzes and delves into the nature of life and the human spirit, examining a series of profound events that have unfolded across time and history.

    Congratulations to writer Phương Hiền on the release of her work,

    Khánh Lan, California 2026.

    —————————————————————————-

    •       By Writer Kiều My

    Reflections on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side)

    I would like to share my thoughts on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* by writer Phương Hiền.

    This is a work deeply imbued with humanity and the overflowing love of a father-daughter bond that transcends the limits of time. The author transports us back to the turbulent years of the war in Vietnam. Amidst those circumstances, a young girl grew up alongside her soldier father, following him to the various regions where his unit was stationed. Those arduous days forged a special, enduring bond between father and child.

    In the memoir, the father does not appear merely as a battlefield hero, but first and foremost as a devoted father who loved his child with all his heart. Lessons regarding character, courage, sacrifice, and responsibility were passed down to his daughter not only through words but through the example of his own life.

    When her father passed away due to heart disease, the loss left an irreplaceable void in the heart of his daughter—the author, Phương Hiền. Yet, miraculously, that love did not fade with the passing years. On the contrary, it became a source of sacred memories—a quiet flame warming the life of the one left behind.

    “Father passed away when his heart stopped beating.” “Yet, a father’s love never ceases to live on.”

    Each page holds tears of longing and memories cherished like treasures of the soul. Readers may catch glimpses of themselves, their own fathers, or loved ones who once graced their lives—yet now exist only in memory.

    What gives *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side) its special value is its authenticity. The author neither embellishes nor exaggerates emotions. Through a simple, sincere narrative style, the author shares their life story as a heartfelt confidence, thereby touching the reader’s heart.

    *Cha Mãi Bên Đời* reminds us that while parents may depart this world, their love lives on forever in the hearts of their children. Loved ones are never truly gone as long as they are remembered with affection and gratitude.

    In today’s busy world, we sometimes forget to express our love to our parents or neglect to spend time with the loved ones still by our side. Thus, *Cha Mãi Bên Đời* is not merely a memoir to be read; it is a gentle reminder of filial piety and the bonds of family.

    The memoir *Cha Mãi Bên Đời*, which we explore today, stands as a beautiful testament to this truth.

    As we close the final pages of this memoir, we realize that the author is writing not just about a departed father, but about love—a love undimmed by the passage of time and unbroken by death.

    Perhaps this is the most beautiful meaning behind the title *Cha Mãi Bên Đời*.

    For there are those who, though they have departed, never truly leave our lives.

    There are fathers who have left this world, yet never leave the lives of their children.

    Thank you to the author for gifting us this precious work.

    I wish writer Phuong Hien continued success in creating valuable works, and I hope that the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side) receives a warm reception from readers everywhere, allowing its beautiful messages about the father-child bond to spread far and wide.

    Sincerely,

    Kieu My.

    ——————————————————————————

    • Article de Luu Khanh Lan

    Voici deux contributions d’auteurs à la critique littéraire, comme indiqué :

    COMMENTAIRES SUR LA LITTÉRATURE ET LA VIE DANS L’ŒUVRE « PÈRE EST TOUJOURS LÀ »

    « PÈRE EST TOUJOURS LÀ » met en lumière le lien étroit entre l’amour maternel et l’identité humaine, un cercle concentrique centré sur l’ego. On peut dire qu’il s’agit d’un récit autobiographique témoignant de l’amour sacré qui unit les êtres humains. Pour l’auteure, Phuong Hien, l’objet de sa réflexion est son père bien-aimé, dont elle se souvient tout au long de son parcours de vie, guidée et aimée par lui, un précieux soutien à l’aube de l’âge adulte.

    Dans ce récit, l’auteure évoque les hauts et les bas de sa patrie et de son pays, ainsi que sa sensibilité aux bouleversements sociaux complexes survenus pendant la guerre et sa conscience de son avenir.

    Le livre met en évidence les transformations du pays et les bouleversements de la vie, ponctués de nombreux événements inattendus. Les personnages de l’œuvre ont influencé les pensées et les angoisses de l’auteure, qui s’est penchée sur sa famille, ses amis, son école, etc. Elle a également puisé dans ses propres ressources pour s’élever socialement et réussir. Le lecteur perçoit ainsi, à travers ce récit autobiographique, un style d’écriture et un genre littéraire d’une grande honnêteté et d’une grande simplicité.

    L’art littéraire, ou toute œuvre d’art, est une perspective sur la pérennité du temps et un point de vue sur la réalité. L’éternel se révèle à travers l’immuabilité du réel. Phuong Hien n’a pas appréhendé les événements de la vie de manière superficielle ; elle en a saisi l’essence avec une perspective globale. Elle a analysé et exploré l’identité de la vie et la nature fondamentale de la pensée humaine au sein du profond enchaînement des événements qui ont marqué le temps et l’histoire.

    Félicitations à l’auteure Phuong Hien pour la parution de son ouvrage,

    Khanh Lan, Californie 2026.

    —————————————————————————-

    • Article de l’écrivaine Kieu My

    Réflexions sur le livre *MÉMOIRES D’UN PÈRE QUI SERA TOUJOURS À MES CÔTÉS*

    Kieu My souhaite partager ses réflexions sur les mémoires de Phuong Hien, *Un père qui sera toujours à mes côtés*.

    Ce livre, empreint d’une grande humanité et débordant de l’amour d’un père pour sa fille, transcende le temps. L’auteure nous replonge dans les années tumultueuses de la guerre du Vietnam. Dans ce contexte, une jeune fille grandit aux côtés de son père militaire, le suivant dans les différentes régions où son unité était stationnée. Ces moments difficiles ont forgé un lien unique entre le père et la fille.

    Le père, dans ces mémoires, n’est pas présenté comme un héros de guerre, mais avant tout comme un père dévoué qui aimait sa fille de tout son cœur. Des leçons de caractère, de courage, de sacrifice et de responsabilité ont été transmises à sa fille non seulement par ses paroles, mais aussi par son propre exemple.

    Lorsque son père est décédé d’une maladie cardiaque, la perte a laissé un vide irremplaçable dans le cœur de sa fille… c’est-à-dire, de l’auteure, Phuong Hien. Mais miraculeusement, l’amour n’a pas faibli avec le temps. Au contraire, il est devenu un souvenir précieux, une flamme silencieuse qui réchauffe la vie de ceux qui restent.

    « Papa est mort parce que son cœur a cessé de battre. » Mais l’amour d’un père ne s’éteint jamais.

    Chaque page est une larme de nostalgie, chaque souvenir chéri comme un trésor de l’âme. Les lecteurs y reconnaîtront peut-être leur propre image, celle de leur père ou d’êtres chers qui ont jadis fait partie de leur vie… et qui ne subsistent plus que dans leurs souvenirs.

    Ce qui rend « Papa sera toujours avec toi » si particulier, c’est son authenticité. L’auteure ne cherche ni à embellir ni à exagérer les émotions. Avec un style d’écriture simple et sincère, l’auteur relate son histoire comme une confession à cœur ouvert, touchant ainsi le cœur des lecteurs.

    « Père sera toujours avec toi » nous rappelle que : si les parents quittent ce monde, leur amour demeure à jamais dans le cœur de leurs enfants. Les êtres chers ne disparaissent jamais vraiment… tant qu’on se souvient d’eux avec amour et gratitude.

    Dans le tourbillon de la vie moderne, il nous arrive d’oublier d’exprimer notre amour à nos parents, d’oublier de passer du temps avec ceux qui sont encore à nos côtés. C’est pourquoi « Père, tu es toujours là » n’est pas seulement un récit autobiographique, mais aussi un doux rappel de la piété filiale et de l’amour familial.

    Et ce récit, que nous explorons aujourd’hui, en est un magnifique témoignage.

    En refermant ce livre, nous comprenons que l’auteur n’écrit pas seulement sur un père disparu, mais sur l’amour. Un amour que le temps ne s’altère pas. Un amour que la mort ne peut séparer.

    C’est peut-être là le plus beau sens du titre « Père, tu es toujours là ».

    Car il y a des personnes qui, bien que disparues, restent à jamais présentes dans nos vies.

    Il y a des pères qui ont quitté ce monde, mais qui demeurent à jamais dans le cœur de leurs enfants.

    Merci à l’auteure pour ce précieux cadeau spirituel.

    Nous souhaitons à Phuong Hien beaucoup de succès dans la création de nombreuses œuvres de valeur et espérons que son récit autobiographique « Père toujours à mes côtés » sera chaleureusement accueilli par les lecteurs du monde entier, afin que le beau message de l’amour paternel continue de rayonner.

    Sincèrement,

    Kieu My.

    Đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền

    Vương Trùng Dương: Đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền

    (Sáng Thứ Ba 23/6 đang xem World Cup ở cà phê Gypsy, nhà văn Huy Anh mang cuốn Cha Mãi Bên Đời tặng nên đáp lễ, viết những dòng về tác phẩm nầy)

    *

    Trong mười tám năm qua, trong vai trò Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa, tôi đã đọc nhiều tác phẩm, bài viết và đăng tải trên tờ báo liên quan đến cuộc đời người con khi mất nước, cha vào chốn lao tù, vợ con sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã bên lề xã hội.

    Những hình ảnh bi thương, cảm động khi vật lộn với cuộc sống, bị đày vùng kinh tế mới, lặn lội thăm nuôi, vượt biên và khi được sống ở hải ngoại.

    Hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền là một trong những tác phẩm tiêu biểu trong hoàn cảnh đó, ấn hành năm 2017, và chín năm sau dịch sang Anh ngữ  Stay With Me Forever And Ever, Papa! Sẽ ra mắt tác phẩm vào thượng tuần tháng Bảy năm 2026 tại Little Saigon.

    Tuy thuộc thế hệ thứ hai (hậu duệ) trong QLVNCH nhưng Phương Hiền đã bước sang tuổi thất thập. Vì vậy tác phẩm nầy có thể dành cho người người Mỹ và thế hệ thứ hai cảm nhận tấm lòng của người con với thân phụ đã dấn thân trong thời chinh chiến, bị tù đày và không may đã ra người thiên cổ.

    Hồi ký gồm 20 phần: Hành Trình Đầu Tiên, Từ Lục Tỉnh Lên Sài Gòn, Người Bạn Nhỏ, Ninh Hòa Yêu Dấu, Đêm Trăng Miền Thơ Ấu, Trường Trung Học Trần Bình Trọng Ninh Hòa – Khánh Hòa, Những Bài Học Đầu Tiên, Ước Vọng Của Người Cha, Ký Ức Đẹp Mãi Không Phai, Quà Mùa Xuân Tặng Cha, Từ Ninh Hòa Đến Dục Mỹ, Từ Giã Ninh Hòa, Quy Nhơn, Mùa Xuân Pleiku, Vật Đổi Sao Dời, Ra Đi Mãi Mãi, Đồng Đội Của Cha Tôi, Dấu Ấn Của Những Người Cha, Kỷ Vật Một Thời, Cha Mãi Bên Đời…

    Với nội dung trên, Phương Hiền đã gói ghém và trang trải bối cảnh và cuộc sống từ ngày di cư vào Nam năm 1954, hai thập niên trong hoàn cảnh chiến tranh, sau ngày mất nước và thời gian vật đổi sao dời!.

    Trong Lời Ngỏ, Phương Hiền viết: “Với tôi, những kỷ niệm về cha không phải chỉ là quá khứ, mà còn tiếp diễn trong hiện tại, sống động và đẹp đẽ, đã thôi thúc tôi cầm bút – như giờ đây: cha tôi đã mỉm cười bao dung nghe tôi kể chuyện về người…

    Tôi là đứa con của tình yêu – tôi biết vì đã… lén đọc nhật ký thư từ của hai người trao nhau lúc… chưa có tôi”.

    Khi đề cập đến Ninh Hòa, với tôi có nhiều kỷ niệm, đầu năm 1971 tôi đổi về phục vụ ở Đại Đội CTCT (thuộc Tiểu Đoàn 20 CTCT ở Pleiku) thường ra công tác ở Ninh Hòa, gặp cô giáo và trở thành bạn đời cho đến nay. Những người bạn đã dạy nơi mái trường Phương Hiền theo học ở Trường Trung Học Trần Bình Trọng và Trường Trung Học Quy Nhơn… Với Ninh Hòa, Quy Nhơn, Pleiku đã gắn liền thời gian với tôi trong thời binh nghiệp nên khi đọc những dòng chữ của Phương Hiền trước kia phổ biến trên website ninh-hoa.com, tôi liên tưởng đến thời quá vãng.

    Về tiểu sử đã đề cập khái quát, Phương Hiền sinh ở Hưng Yên. Thân phụ là Nguyễn Gia Tĩnh, xuất thân Khóa 10 Trần Bình Trọng, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (1953-1954) vì vậy sau hiệp định Genève chia cắt đất nước, đơn vị di chuyển vào Nam. Chiến hữu Nguyễn Gia Tĩnh trong đơn vị tác chiến binh chủng Biệt Động Quân), nhận nhiều nhiệm sở trên 4 vùng chiến thuật của Việt Nam Cộng Hòa. Vì vậy mỗi nhiệm sở đem gia đình theo. Chính vì thế, cô con gái Phương Hiền đã theo cha di chuyển nhiều nơi, nhất là quãng thời gian ở Vùng 2 Chiến Thuật.

    Trong phần 16 Ra Đi Mãi Mãi, Phương Hiền viết: “Cha tôi bặt tin suốt thơi gian tù gần 5 năm. Sau nầy nghe cha kể lại, chúng tôi mới biết ông đã đi chuyến xe lửa bịt bùng lên mạn Yên Bái, chuyển trại nhiều lần, nơi cuối cùng là trại Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam.

    Nơi tù đày, cha tôi đã nhiều lần chết đi sống lại, vì bệnh tim quá nặng, hay vì những cảnh ngộ là trái tim ông đau đớn?!…”

    Sau khi ra tù “Sức khỏe cha tôi ngày càng kém. Trái tim của ông làm sao có thể hồi phục trong cảnh đời dâu bể! Một ngày cuối năm, cha tôi rời bỏ tôi, ra đi mãi mãi. Ông mất ngày 22 tháng Chạp năm Ất Sửu (21 tháng Giêng 1985), khi mới 54 tuổi”.

    Thật đáng tiếc, nếu sức khỏe của niên trưởng Nguyễn Gia Tĩnh được chữa trị và cầm cự được thời gian thì có cơ hội đi diện H.O, thay đổi cả cuộc đời trong gia đình.

    Từ khi mất người cha thân yêu, sau ba thập niên Phương Hiền mới cầm bút qua từng bài viết phổ biến trên trên website ninh-hoa.com, nơi đây cũng là kỷ niệm của thuở học sinh. Tại Ninh Hòa có Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ (Từ quận Ninh Hoà theo quốc lộ 21 đi Khánh Dương, tọa lạc tại xã Ninh Sim, Dục Mỹ, quận Ninh Hòa, gần núi Đeo). Đây gọi là “Lò Luyện Thép” đào tạo chiến hữu Biệt Động Quân về Rừng Núi Sình Lầy, Thám Báo… Một trong những binh chủng chiến đấu trong QL.VNCH. Đây là một yếu khu quân sự, bao gồm Trường Pháo Binh, Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn… Vì vậy thị trấn nhỏ nầy cuối tuần là “thị trấn lính”.

    Trong phần 15 Vật Đổi Sao Dời “Năm 1972, vì lý do sức khỏe, cha tôi được thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân đặt tại trại Đào Bá Phước, đường Tô Hiến Thành, quận 10. Tôi từ giã nhà bà Lạng (nhà mợ dâu của Phương Hiền trong hai năm học đại học) cùng mẹ và các em theo cha về ở trong cư xá gia binh Đào Bá Phước…

    Năm 1974, bệnh tim cha tôi trở nặng, nhiều lần phải nhập Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tháng 3-1975, cha tôi trình diện Hội Đồng Miễn Dịch Sài Gòn và được chứng nhận miễn dịch vĩnh viễn với cấp độ tàn phế 60% – xếp loại 3 phế binh”. Ngày 26-3-1975 được phép giải ngũ sau 22 năm phục vụ trong QLVNCH. Thế nhưng sau khi mất nước, thương phế binh cấp độ tàn phế 60% lại bị đày ra chốn lao tù tận núi rừng miền Bắc! “Tôi nhớ một ngày cuối tháng Tư năm 1975… cha tôi nằm trên giường bệnh nắm chặt tay tôi, ánh mắt đầy yêu thương ái ngại”. Hình ảnh nầy quá thương tâm!

    Với hồi ký, có vài tác phẩm với “Cái tôi đáng ghét” (Le moi est haïssable của triết gia Blaise Pascal) để cường điệu về bản thân nên dễ bị dị ứng. Với hồi ký với “cái tôi của Phương Hiền” là cái tôi phát xuất từ trái tim chân thành, hiếu thảo của con gái với cha trải dài theo năm tháng từ khi nhỏ “ lén đọc nhật ký thư từ của hai người trao nhau” cảm nhận cuộc tình song thân.

    Về văn phong, Phương Hiền viết ngắn gọn, mạch lạc, diễn tả trung thực với cảm xúc như những lời chia sẻ cùng độc giả. Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ thật bình dị “có sao viết vậy” nhưng sâu sắc mang tâm hồn nhân bản, trải dài qua 320 trang sách.

    Phương Hiền từ thời học sinh đã chịu khó đọc sách và hấp thụ những lời dạy bảo của song thân cũng như những vị thầy trong mái trường nên ảnh hưởng nhiều khi sáng tác.

    Với hồi ký thì nội dung từng mẩu chuyện gắn liền cùng thời gian cùng những hình ảnh trong gia đình, cuộc sống. Phương Hiền chỉ đề cập thuở học sinh nhưng không nói đến trong những năm ở Đại Học Dược Khoa Sài Gòn, trở thành Dược Sĩ, có lẽ đó là điều tế nhị và sự khiêm nhường với “cái tôi” như đã đề cập ở trên.

    Tuy đã đọc các bài viết trước đây mười năm, nay đọc lại trong tác phẩm nầy vẫn cảm thấy gần gũi với cây bút đầu tay, đáng trân trọng.

    Vương Trùng Dương.- (Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa) – Little Saigon, June 23, 2026

    CỐ THIẾU TÁ NGUYỄN GIA TĨNH (1931-1985)

    Reflections on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Stay With Me Forever And Ever, Papa!) by Nguyễn Thị Phương Hiền.

    Vương Trùng Dương

    (On the morning of Tuesday, June 23, while watching the World Cup at Gypsy Café, Huy Anh gifted me a copy of *Cha Mãi Bên Đời*; in return, I am writing these lines about the work.)

    ***

    Over the past eighteen years, in my role as Editor-in-Chief of the monthly publication *Chiến Sĩ Cộng Hòa* (Soldier of the Republic), I have read and published numerous works and articles recounting the lives of children whose fathers were imprisoned and whose families endured harsh, marginalized existences following the loss of their country.

    These stories capture poignant and heart-wrenching images: the struggle for survival, exile to “New Economic Zones,” the arduous journeys to visit imprisoned loved ones, the perilous escapes abroad, and life in the diaspora.

    The memoir *Cha Mãi Bên Đời* by Nguyễn Thị Phương Hiền is a standout work within this genre. Originally published in 2017, it was translated into English nine years later as *Stay With Me Forever And Ever, Papa!* The book is scheduled for its official launch in Little Saigon during the first ten days of July 2026.

    Although she belongs to the “second generation” of the Republic of Vietnam Military Forces (RVNMF) families, Phương Hiền has now reached the age of seventy. Consequently, this work offers American readers and the second generation a chance to deeply feel the devotion of a daughter toward her father—a man who committed himself to the cause during wartime, suffered imprisonment, and has since passed away. The memoir comprises twenty parts: The First Journey, From the Six Provinces to Saigon, A Little Friend, Beloved Ninh Hoa, A Moonlit Night of Childhood, Tran Binh Trong High School (Ninh Hoa, Khanh Hoa), First Lessons, A Father’s Aspirations, Memories That Never Fade, A Spring Gift for Father, From Ninh Hoa to Duc My, Bidding Farewell to Ninh Hoa, Quy Nhon, Spring in Pleiku, Times of Great Change, Departing Forever, My Father’s Comrades-in-Arms, The Legacy of Fathers, Keepsakes of an Era, Father Forever by My Side…

    Through these chapters, Phuong Hien encapsulates the settings and life experiences spanning the migration to the South in 1954, two decades of wartime, the aftermath of the country’s fall, and the tumultuous changes that followed.

    In the Foreword, Phuong Hien writes: “To me, memories of my father are not merely the past; they live on in the present—vivid and beautiful—compelling me to write. It feels as though, even now, my father smiles benevolently as he listens to me tell his story…

    I am a child of love—I know this because I… secretly read the diaries and letters they exchanged before… I was even born.”

    References to Ninh Hoa hold many memories for me as well; in early 1971, I was transferred to the Political Warfare Company (under the 20th Political Warfare Battalion in Pleiku). My duties frequently took me to Ninh Hoa, where I met a schoolteacher who would become my life partner. I recall the friends Phương Hiền made while attending Trần Bình Trọng High School and Quy Nhơn High School… Having spent my own military service years in Ninh Hòa, Quy Nhơn, and Pleiku, reading Phương Hiền’s writings—originally published on the website ninh-hoa.com—evokes memories of that bygone era.

    Regarding her background, Phương Hiền was born in Hưng Yên. Her father, Nguyễn Gia Tĩnh, was a graduate of the “Trần Bình Trọng” Class (Class 10) at the National Military Academy in Đà Lạt (1953–1954); following the Geneva Accords that partitioned the country, his unit relocated to the South. As a soldier in a combat unit—specifically the Ranger Corps (Biệt Động Quân)—Nguyễn Gia Tĩnh served in various posts across the four Tactical Zones of the Republic of Vietnam, taking his family along with him to each new assignment. Consequently, his daughter Phương Hiền moved frequently with her father, particularly during the time spent in the Second Tactical Zone.

    In Part 16, titled “Departing Forever” (Ra Đi Mãi Mãi), Phương Hiền writes: “We lost all contact with my father during his nearly five years of imprisonment. Only later, when he recounted his experiences, did we learn that he had been transported on a sealed train to the Yên Bái region and transferred between camps multiple times, ultimately ending up at the Nam Hà camp in Hà Nam province.

    In captivity, my father hovered between life and death many times—whether due to his severe heart condition or the anguish that tormented his heart…”

    After his release, “My father’s health steadily declined. How could his heart recover amidst such turbulent, tragic times? One day at the end of the year, my father left me, departing forever. He passed away on the 22nd day of the twelfth lunar month in the Year of the Ox (January 21, 1985), at the age of only 54.” It was only three decades after the loss of her beloved father that Phương Hiền took up the pen again, sharing her writings on the website ninh-hoa.com—a site that also holds memories of her school days. Ninh Hòa was home to the Dục Mỹ Ranger Training Center (located in Ninh Sim Commune, Dục Mỹ, Ninh Hòa District, near Đeo Mountain, along National Route 21 heading from Ninh Hòa town to Khánh Dương). Known as the “Steel Forge,” this facility trained Ranger comrades in jungle, swamp, and reconnaissance warfare—skills essential to one of the Republic of Vietnam Military Forces’ combat branches. It was a major military complex that also housed the Artillery School and the Lam Sơn Training Center; consequently, on weekends, this small town took on the atmosphere of a “soldiers’ town.”

    Some memoirs suffer from an “obnoxious self” (recalling philosopher Blaise Pascal’s *Le moi est haïssable*), where the author exaggerates their own importance, often provoking a negative reaction in the reader. In contrast, the “self” presented by Phương Hiền stems from a sincere and filial heart—a daughter’s perspective on her parents that spans years, beginning in childhood when she would “sneak peeks at the diaries and letters” they exchanged, thereby gaining insight into their romance.

    Regarding style, Phương Hiền writes concisely and coherently, expressing her emotions honestly—as if simply sharing her thoughts with the reader. She employs simple, unadorned language—writing exactly as things are—yet the work is profound and deeply humane throughout its 320 pages.

    Even as a student, Phương Hiền was an avid reader (despite also being fond of play); she absorbed the guidance of her parents and teachers, influences that clearly shape her writing.

    The memoir’s content weaves together various anecdotes with the passage of time and images of family life. Phương Hiền focuses on her school days but omits her time at the Saigon School of Pharmacy and her subsequent career as a pharmacist—perhaps out of discretion or the very humility regarding the “self” mentioned earlier.

    Although I read some of these pieces a decade ago, revisiting them in this book makes me feel a renewed closeness to this commendable early work.

    Little Saigon, June 23, 2026

    Vương Trùng Dương

    Editor-in-Chief, *Chiến Sĩ Cộng Hòa* (Republic Soldier) Monthly.

    ===================================================================

    Lecture du récit autobiographique « Père pour toujours, Papa ! » de Nguyen Thi Phuong Hien.

    Vuong Trung Duong

    (Le mardi 23 juin au matin, alors que nous regardions la Coupe du Monde au Gypsy Cafe, Huy Anh m’a offert un exemplaire de « Père pour toujours, Papa ! ». En guise de remerciement, j’ai écrit ces quelques lignes à propos de cet ouvrage.) – Pièce jointe

    ***

    Au cours des dix-huit dernières années, en tant que rédacteur en chef du magazine mensuel « Republican Soldier », j’ai lu de nombreux ouvrages, articles et publications relatant la vie d’enfants dont le pays a été perdu, dont les pères ont été emprisonnés et dont les femmes et les enfants vivent dans des conditions extrêmement difficiles, en marge de la société.

    Les images tragiques et émouvantes décrivent la lutte pour la survie, l’exil vers de nouvelles zones économiques, les voyages éprouvants pour leur rendre visite et les soutenir, la fuite à travers la frontière et, finalement, la survie à l’étranger.

    Les mémoires de Nguyen Thi Phuong Hien, « Père pour toujours, Papa ! », sont une œuvre emblématique du genre. Publiées en 2017, elles ont été traduites en anglais neuf ans plus tard sous le titre « Reste avec moi pour toujours, Papa !». Le livre paraîtra début juillet 2026 à Little Saigon.

    Bien qu’appartenant à la deuxième génération de l’armée sud-vietnamienne, Phuong Hien est aujourd’hui septuagénaire. De ce fait, son ouvrage peut être interprété par les Américains et les anciens combattants de la deuxième génération comme le reflet des sentiments d’un fils pour son père, qui s’est dévoué à la guerre, a été emprisonné et a tragiquement disparu.

    Ce récit autobiographique se compose de 20 parties : Le Premier Voyage, Des Provinces du Sud à Saïgon, Un Petit Ami, Ma Chère Ninh Hoa, Une Nuit de Lune dans l’Enfance, Le Lycée Tran Binh Trong à Ninh Hoa – Khanh Hoa, Premières Leçons, Le Vœu d’un Père, Souvenirs Inoubliables, Un Cadeau de Printemps pour Père, De Ninh Hoa à Duc My, Adieu à Ninh Hoa, Quy Nhon, Le Printemps à Pleiku, Les Choses Changent, Le Départ Pour Toujours, Les Compagnons de Mon Père, L’Emprise des Pères, Souvenirs du Passé, Père à Jamais dans Ma Vie…

    À travers ce récit, Phuong Hien retrace son parcours depuis son arrivée au Sud en 1954, en passant par les deux décennies de guerre qui ont suivi la chute du pays, et en évoquant le passage du temps et l’évolution des circonstances.

    Dans la préface, Phuong Hien écrit : « Pour moi, les souvenirs de mon père ne sont pas seulement du passé, mais se prolongent au présent, vifs et précieux, m’incitant à prendre la plume – comme aujourd’hui : mon père souriait avec bienveillance tandis que je lui racontais des histoires…

    Je suis un enfant de l’amour – je le sais car j’ai… lu en secret les lettres qu’ils ont échangées avant… ma naissance. »

    Évoquer Ninh Hoa me revient en mémoire. Début 1971, j’ai été muté au sein de la Compagnie de Guerre Politique (le 20e Bataillon de Guerre Politique de Pleiku) et me rendais souvent à Ninh Hoa pour le travail. C’est là que j’ai rencontré mon enseignante, qui est devenue ma compagne et avec qui je partage ma vie depuis. Mes amis enseignaient dans les lycées fréquentés par Phuong Hien : le lycée Tran Binh Trong et le lycée Quy Nhon… Ninh Hoa, Quy Nhon et Pleiku sont intimement liés à mon expérience militaire. Aussi, lorsque je relis les écrits de Phuong Hien, précédemment publiés sur le site ninh-hoa.com, je replonge dans le passé.

    Concernant sa biographie, Phuong Hien est née à Hung Yen. Son père, Nguyen Gia Tinh, est sorti diplômé de la 10e promotion Tran Binh Trong de l’Académie militaire nationale de Da Lat (1953-1954). Après la partition du pays suite aux accords de Genève, son unité fut mutée au Sud. Nguyen Gia Tinh, membre de la 9e unité des forces spéciales, fut affecté à de nombreuses reprises dans les quatre zones tactiques de la République du Viêt Nam. Il emmenait sa famille avec lui à chaque affectation. De ce fait, sa fille, Phuong Hien, a beaucoup déménagé avec son père, notamment pendant son séjour dans la 2e zone tactique.

    Dans la 16e partie, « Disparu à jamais », Phuong Hien écrit : « Mon père est resté injoignable pendant près de cinq ans, durant son incarcération. Plus tard, lorsqu’il nous a donné des nouvelles, nous avons appris qu’il avait pris le train pour Yen Bai, avait été transféré dans plusieurs camps, et que sa destination finale était le camp de Nam Ha, dans la province de Ha Nam.

    En prison, mon père est mort et revenu à la vie à de nombreuses reprises, peut-être à cause de sa grave maladie cardiaque, ou à cause des circonstances qui lui causaient tant de souffrances… »

    Après sa libération, « La santé de mon père s’est dégradée. Comment son cœur aurait-il pu se rétablir après une vie aussi tumultueuse ! Un jour, à la fin de l’année, mon père m’a quittée, parti pour toujours. Il est décédé le 22 du 12e mois lunaire de l’année du Buffle (21 janvier 1985), à l’âge de 54 ans. »

    Depuis le décès de son père bien-aimé, Phuong Hien a repris l’écriture il y a trente ans, publiant des articles sur le site web ninh-hoa.com, qui conserve également des souvenirs de ses années d’études. À Ninh Hoa se trouvait le Centre d’entraînement des forces spéciales de Duc My (situé dans la commune de Ninh Sim, district de Duc My, près du mont Deo, le long de la route nationale 21 en direction de Khanh Duong). Surnommé le « Four de forge », ce centre formait les soldats des forces spéciales au combat en jungle et en zone marécageuse, à la reconnaissance, etc., et constituait l’une des branches combattantes des forces armées de la République du Vietnam. Zone militaire stratégique, il abritait également l’École d’artillerie et le Centre d’entraînement de Lam Son… De ce fait, cette petite ville se transformait en « ville militaire » le week-end.

    En ce qui concerne les mémoires, certains ouvrages utilisent la figure du « moi haïssable » (Le moi est haïssable, du philosophe Blaise Pascal) pour exagérer l’image de soi, ce qui peut facilement rebuter. Cependant, les mémoires de Phuong Hien révèlent un « moi » né de la sincérité et de l’amour filial d’une fille pour son père, depuis son enfance où elle lisait en secret leurs journaux intimes et leurs lettres, et où elle a pu ressentir l’amour qui unissait ses parents.

    Dans les mémoires, certains auteurs utilisent la figure du « moi haïssable » (comme chez Blaise Pascal) pour exagérer la figure de l’auteur, ce qui peut les rendre rebutants. Cependant, dans les mémoires de Phương Hiền, le « moi » est celui d’une fille sincère et dévouée à son père, depuis son enfance où elle lisait en secret leurs journaux intimes et leurs lettres, découvrant ainsi leur histoire d’amour.

    Sur le plan du style, Phương Hiền écrit avec concision et clarté, exprimant ses émotions avec une grande sincérité, comme si elle les partageait avec le lecteur. L’auteure utilise un langage simple, direct et pourtant profondément humain, une qualité qui imprègne les 320 pages.

    Dès son plus jeune âge, Phương Hiền lisait assidûment (malgré son côté enjoué) et s’imprégnait des enseignements de ses parents et de ses professeurs, ce qui a grandement influencé son écriture.

    Dans ses mémoires, le contenu de chaque récit s’entremêle avec le temps et les images de sa famille et de sa vie. Phuong Hien évoque seulement ses années d’études, sans parler de ses années à l’Université de Pharmacie de Saigon, ni de sa formation de pharmacienne. Peut-être est-ce là une subtilité, une marque d’humilité face à son « ego », comme mentionné précédemment.

    Bien que j’aie lu ses écrits précédents il y a dix ans, les relire dans cet ouvrage me donne toujours l’impression d’être en présence de cette première auteure, ce qui force le respect.

    Petit Saigon, 23 juin 2026

    Vuong Trung Duong

    Rédacteur en chef du magazine mensuel Chien Si Cong Hoa (Soldat républicain).

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt,  Viet-Hải

    MỘT THOÁNG NHỚ

    Việt Hải & Khánh Lan

    Tại tư gia của nhà thơ Minh Đức Ngô Thiện Đức ngày 10 tháng 4, 2026, buổi hội ngộ văn chương và nghệ thuật do hai Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian thực hiện. Ghi nhận có sự góp mặt của nhiều gương mặt sinh hoạt về văn học và nghệ thuật.

    Ngọc Quỳnh, TS Quỳnh Giao, Cô Vĩnh (phu nhân cùa HS Hoàng Vinh, NS Dương Hồng Anh

    Nhóm Tây Ban Cầm, Tơ Vàng cùng KG NV Vương Trùng Dương, KG NV Phạm Quốc Bảo, Mạnh Bổng, HS Hoàng Vinh

    Nhóm Tơ Vàng Trình diễn với nhạc phẩm Lối Về Xóm Nhỏ

    KG NV Vương Trung Dương, NV Việt Hải, KG NV Du Miên, GS Dương Ngọc Sum, NS NV Dương Viết Điền

    Madame Phiến Đan, NV Khánh Lan, TS Minh Đức, NS Dương Hồng Anh, GS Dương Ngọc Sum, CNS Lâm Dung, GS Quyên Di

    Ngoài quý giáo sư và văn thi sĩ, ký giả tại vùng Orange County, nhóm Tây Ban Cầm Tơ Vàng do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân thành lập, cựu thiếu tá Cảnh Sát Phan Tấn Ngưu, ông cũng là người bạn tù suốt 17 năm cùng Nhà văn Phạm Gia Đại và ông Tế Hữu, niên trưởng của trường Trung Học Chu Văn An. Chúng tôi cũng nhận thấy một số ký giả và nhà văn tại vùng San Jose như Ký giả Lê Bình, Chủ tịch hội truyền thông báo chí Bắc California và phu nhân, nhà văn Bạch Phụng.

    Chúng tôi cho đây là chương trình văn học vì có sự trình làng 3 tác phẩm đặc sắc gồm: Tưởng Nhớ GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, Mừng Thọ & giới thiêu sách về GS Dương Ngọc Sum, và Tuyển Tập Tam Nữ Nhân gồm nữ sĩ Dương Hồng Anh, ca nhạc sĩ Lâm Dung và nhà văn Khánh Lan (NVNT MAGAZINE, số 1). Tham dự buổi RMS, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của Madame Xuân Vinh Phiến Đan, phu nhân của cố GS. Nguyễn Xuân Vinh. Chúng tôi cũng ghi nhận sự hiện diện Cô Dương Quỳnh Như, ái nữ của GS Dương Ngọc Sum, cháu ngoại và nhiều cựu học sinh Petrus Kỳ góp mặt như Đặng Quý Mão, Quỳnh như, v.v… 

    Madame Xuân Vinh Phiến Đan, Madame Lệ Hoa, NV Việt Hải, KG Du Miên, GS Dương Ngọc Sum, NV Dương Viết Điền, Cựu Thiếu tá Phan Tấn Ngưu

    CHUẨN BỊ CHO BỮA ĂN TRƯA

    KHAI MẠC CHƯƠNG TRINH RMS

    Trong bầu không khí thân mật và ấm cúng, Thi sĩ Minh Đúc Ngô Thiện Đức ngỏ lời chào mừng quý quan khách tham dự, đồng thời giới thiệu một chi nhánh mới của văn học, Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa. Mục đính của buổi RMS cũng được anh đề cập đến. Sau hết, anh mời quý quan khách dùng bữa ăn trưa thân mật trước khi khai mạc chương trình RMS.

    Chương trình bắt đầu với những bằng tưởng lục về đóng góp văn hóa của Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Westminster cấp, do bà Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Frances Nguyễn Thế Thủy nhờ GS Quyên Di chuyển Chương trình RMS khai mạc lúc 1:15 pm, 3 MC chính của buổi họp mặt là NV Phạm Gia Đại, GS Trần Mạnh Chi và Mộng Thủy.

    Các bằng tưởng lục này được các đại diện KG NV Phạm Quốc Bảo trao cho NV Khánh Lan, Nghệ sĩ Minh Khai em gái NS Lam Phương trao cho CNS Lâm Dung và HS Hoàng Vinh trao cho NS Dương Hồng Anh.

    Sau đó, bằng tưởng lục đóng góp về văn học nghệt thuật do Ban Sáng Lập và điều hành của hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cấp phát ghi nhận những thành quả về phạm trù chuyên môn của 3 hội viên trên.

    Do các Giáo Sư và Văn Thi Sĩ đại diện hội trao tặng cho NS Dương Hồng Anh, CNS Lâm Dung và NV Khánh Lan

    TƯỞNG NIỆM GS KHG NGUYỄN XUÂN VINH

    Tác phẩm tưởng nhớ do NVNT & TTG thực hiên & xuất bản

    GS Quyên Di đại diện hai liên nhóm mở đầu Phần tưởng niệm GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, ông nói về lý do vì sao lại có ngày tưởng niệm GS Vinh. Sau đó, NV Việt Hải nói ngắn gọn lòng kính phục và quý mến của ông đối với GS Vinh khi GS Vinh còn sinh thời và sự nuối tiếc một KHG vĩ đại của thế giới. Tiếp theo, NV Việt Hải trao tặng sách tưởng niệm GS Nguyễn Xuân Vinh do Liên Nhóm NVNT & TTG thực hiện.

    Trong giây phút ấy, chúng tôi nhận thấy mắt Madame Phiến Đan ngấn lệ, giọng nói của bà nghẹn lại như đang cố kìm lại cơn xúc động, khi ngỏ lời cám ơn đến những tấm lòng kính trọng và ngưỡng mộ một nhân tài của thế giới của hai nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG và VCV & TDX).

    Tiếp đến là GS Quyên Di đại diện cho bà Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Westminster, Frances Nguyễn Thế Thủy chuyển bằng tưởng lục đến cho Madame Xuân Vinh Phiến Đan qua tay cựu Thiếu Tá Phan Tấn Ngưu trao tặng cho bà.

    Đồng thời GS Quyên Di cũng chia sẻ những kỷ niệm của ông với gia đình GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, một mối thân tình mà chúng tôi cho là “rất kỳ ngộ”. Bởi GS Quyên Di là một người rất ngưỡng mộ tài năng của GS Vinh, vì thế GS Quyên Di thường hay đến thăm GS Vinh luôn, nhất là khi GS Vinh trở thành người công giáo để cùng tham khảo về Thiên Chứa Giáo. (GS Quyên Di cũng nhấn mạnh: “GS Vinh theo đạo công giáo không phải vì Madame Phiến Đan là người công giáo, mà vì GS Vinh từng nghiên cứu và am hiểu triết lý của đạo từ khi ông còn rất trè”).

    Và một lý do nữa để giải thích sự thân giao giữa hai gia đình này là trước năm 1975, khi ấy GS Quyên Di dạy học ở trường Nguyễn Bá Tòng và Madame Phiến Đan lại là học trò của ông. Chính vì thế hai vị giáo sư này rất kính trọng nhau và mỗi lần gặp nhau, họ gọi nhau bằng danh từ vô cùng cung kính: “Thưa Giáo Sư”.
     

    Tiếp lời của GS Quyên Di, Madame Phiến Đan cũng đã chia sẻ những kỷ niệm mà bà đã có được với GS KHG Nguyễn Xuân Vinh trong suốt 17 năm sống bên ông. Cũng như NV Quyên Di, bà nhấn mạnh về đức tính khiêm nhường và “nghe nhiều, nói ít” của GS Vinh.

    Tiếp tục chương trình, NV Khánh Lan đại diện Liên Nhóm NVNT & TTG và Liên Nhóm VCV & TĐX giới thiệu chủ đề khoa học không gia và Nguyễn Xuân Vinh, cô nói: “Trong nửa thế kỷ qua, khoa học đã phát triển với tốc độ thần tốc và đánh dấu một thành tựu đáng kinh ngạc của trí tuệ con người. Trong đó, chúng ta không thể không nhắc đến GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, ông không những là một KHG tài giỏi mà còn là một nhân vật xuất chúng trong ngành hàng không vũ trụ. Một người đã có những đóng góp vô giá cho khoa học không gian thế giới.

    Là người VN đầu tiên nhận bằng tiến sĩ kỹ thuật hàng không vũ trụ tại đại học Colorado Boulder năm 1965, GS KHG Nguyễn Xuân Vinh gia nhập cơ quan NASA và là người đã vẽ đường bay quỹ đạo cho các phi thuyền Mỹ đáp xuống mặt trăng. Đó là phương trình tối ưu cho phi thuyền Apollo của NASA Hoa Kỳ bay lên mặt trăng thành công, và thu hồi các phi thuyền con thoi trở về Trái Đất. Ông đã được cơ quan NASA trao tặng Huy chương đóng góp ngoại hạng và đã đạt được những giải thưởng của các tổ chức không gian Hoa Kỳ và thế giới, cũng như chức viện sĩ khoa học không gian tại một số nước Âu châu…và sau này, ông trở thành giáo sư ngành khoa học không gian tại đại học Michigan, Hoa kỳ.

    Nói đến GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, thiết tưởng chúng ta cũng nên nói đến 3 công trình nghiên cứu quan trọng đã làm nên tên tuổi của ông. Đó là:

    1. Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics (1980)
    2. Optimal Trafectories in Atmospheric Flight (1981)
    3. Flight Mechanics of Hight Performance Aircraft (1993)

    Đóng góp cơ bản nhất của ông là công thức toán học mang tên ông để phóng những phi thuyền không gian ra ngoài vũ trụ và thu hồi trở về trái đất an toàn. Công thức có tên Vinh’s Universal Entry Equations, Khánh Lan xin dịch nôm na là “Công thức Du Hành Vũ trụ của Vinh”. Công thức này đã được các khoa học gia không gian Hoa Kỳ áp dụng để đưa phi thuyền không gian bay tới mặt trăng.”

    NV Việt Hai góp thêm ý về đề tài toán học như sau: (Tài liệu lấy từ hồ sơ cua NASA)

    Dựa theo tài liệu nghiên cứu của NASA. Phương trình của Vinh là gì? Nó được vận dụng trong phương pháp dẫn đường dựa trên quỹ đạo danh định dành cho các phương tiện tái nhập khí quyển siêu thanh. Quỹ đạo danh định được thiết lập thông qua phương pháp giả phổ, sau đó được bám theo bằng phương pháp điều khiển chân trời trượt. Cụ thể, một số chiến lược đã được áp dụng nhằm đơn giản hóa quá trình ứng dụng thực tiễn.

    • Thứ nhất, bài toán tối ưu hóa chân trời trượt được xây dựng dưới dạng rời rạc, sử dụng mô hình động học sai số trạng thái tuyến tính rời rạc xấp xỉ. Nhờ đó, phương trình Riccati ma trận vi phân được thay thế bằng phương trình Riccati ma trận sai phân.
    • Thứ hai, ma trận trọng số trạng thái cuối được thiết lập với giá trị hữu hạn, mang lại sự linh hoạt trong việc điều chỉnh chu kỳ lấy mẫu và chân trời dự báo.
    • Thứ ba, mô hình động học sai số trạng thái biến thiên theo thời gian được xấp xỉ bằng một hệ thống bất biến theo thời gian.
    •  Cuối cùng, thay vì phải tìm các ma trận trọng số cuối thỏa mãn một bất đẳng thức ma trận tuyến tính (LMI) thông qua công cụ LMI toolbox, chúng tôi thiết lập các ma trận này đồng nhất là một ma trận hằng số. Tất nhiên, các mô phỏng số đã được thực hiện nhằm kiểm chứng tính xác đáng và hiệu quả của phương pháp được đề xuất này.

    Và sau đó, NV Khánh Lan giới thiệu NV Phạm Gia Đại kể chuyện về GS. Vinh qua dề tài không gian: “Từ Space Shuttle đến Starship“. NV Phạm Gia Đại cũng nói về sự thành công vượt bực của kỹ thuật hàng không hiện nay, cũng như sự trở về trái đất an toàn của phi thuyền ARTEMIS II sau sứ mệnh lịch sử lên mặt trăng (Historic MoonMission) của 4 phi hành gia. Hạ cánh xuống Thái Bình Dương hôm thứ Sáu, ngày 10 tháng 4, 2026 gần San Diego. Sứ mệnh Artemis II đã kết thúc thành công. Phi hành đoàn Artemis II đã di chuyển khoảng 4.700 dặm vượt ra ngoài phía xa của Mặt Trăng. Từ vị trí thuận lợi này, họ sẽ có thể nhìn thấy Trái Đất và Mặt Trăng qua các cửa sổ của tàu Orion, với Mặt Trăng ở gần phía trước và Trái Đất ở cách đó gần 250.000 dặm về phía sau. Chuyến hành trình đưa con người bay quanh Mặt Trăng lần đầu tiên kể từ năm 1972, bốn phi hành gia của sứ mệnh Artemis II của NASA đã đạt được nhiều hơn là chỉ một cột mốc lịch sử đưa con người trở lại không gian bay quanh Mặt Trăng.

    Tiếp theo sau là GS Trần Mạnh Chi nói về GS Vinh và lãnh vực toán học. Trong lãnh vực này, NV Việt Hải cũng đã góp thêm ý: (Tài liệu lấy từ hồ sơ cua NASA)

    “Với đẳng cấp quốc tế như những vĩ nhân khoa học gia xuất chúng, những tên tuổi lớn như Dr. Arthur B. Cuthbert Walker II, Vera Rubin,  Edwin Hubble, Stephen Hawking hay bên nhân văn như Jules Vern, Antoine de Saint-Exupéry, Herbert George Wells hay Arthur C Clarke, Robert Heinlein,… Bên Việt Nam dã có Dr. Nguyễn Xuân Vinh với đóng góp vinh hiển cho khoa học toán không gian như tác phẩm *A Life In Hypersonic Flight* được viết bởi Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, một nhà khoa học và nhà giáo dục người Mỹ gốc Việt lỗi lạc trong lĩnh vực hàng không vũ trụ. Những công trình mang tính nền tảng của ông về dẫn đường, động lực học và điều khiển tối ưu đối với các phương tiện không gian, cũng như sự tương tác của chúng với bầu khí quyển, đã đóng một vai trò thiết yếu trong công cuộc thám hiểm vũ trụ. Tiến sĩ Vinh đã là Giáo sư Danh dự ngành Kỹ thuật Hàng không Vũ trụ tại Đại học Michigan, nơi ông đã gắn bó với công tác giảng dạy trong suốt gần ba mươi năm. Trong số rất nhiều ấn phẩm của ông, cuốn sách “Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics””

    Space NASA Nguyen Xuan Vinh

    Đề tài toán học và Nguyễn Xuân Vinh được GS Trần Mạnh Chi trình bày, ông chia sẻ những cảm nghĩ của mình về giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Tuy không có may mắn được làm học trò của giáo sư Vinh, nhưng đối GS Chi, giáo sư Vinh là một người thầy đáng kính về cả tài năng lẫn đức độ.

    GS. Trần Mạnh Chi cho biết ở thế hệ thanh niên Việt Nam trong thập niên 1960 và 1970 đã có nhiều người “mê” và tình nguyện xin gia nhập vào binh chủng không quân sau khi đọc tác phẩm Đời Phi Công của Toàn Phong. GS Chi tiếp, thời trung học, đệ nhi cấp, thời đệ nhị Cộng hòa, hầu hết các sinh viên lớp 12 đều cầm quyển sách giáo khoa toán hình học không gian trên trước khi vào lớp.

    Về phần GS Chi, ông chia sẻ rằng có lần ông đã hỏi giáo sư Nguyễn Xuân Vinh “Thưa thầy, với thế hệ của thầy những yếu tố nào đã đưa thầy chọn vào ngành khoa học toán”. Đáp lại câu hỏi của của GS Chi là nụ cười hiền hậu của một nhà khoa học, đó là hồn thơ trong toán học. Phải, lịch sử văn học và toán học đã hòa quyện hài hòa để mang đến cho người đọc những hiểu biết căn bản đầy lý thú về thiên văn học, về âm dương lịch, về 4 mùa trong năm. Ngay cả trong lời thơ của GS Vinh, cho thấy cũng phảng phất những lời toán học.

    Anh tìm em trên vòng tròn lượng giác.

    Nét diễm kiều trong tọa độ không gian

    Bao ước mơ phải chi là nghịch đảo

    Bóng thời gian, quy chiếu xuống giản đồ.

    Nghiệm số tìm, giờ chỉ có hư vô.

    Đường hội tụ, hay phân kỳ giải tích.

    Hệ số đo cường độ của tình thương.

    Định lý đảo, tìm ra vì giao hoán.

    Nếu mai đây tương quan thành gián đoạn.

    Tính không ra phương chính của cấp thang.

    Anh ra đi theo hàm số ẩn tàng.

    Em trọn vẹn thành phương trình vô nghiệm

    Kết thúc phần tưởng niệm về GS KHG Nguyễn Xuân Vinh với nhạc phẩm Bay Theo Giải Ngân Hà, thơ Việt Hải, video Music: Thái Phạm

    NVNT MAGAZINE, SỐ ĐẶC BIỆT-DƯƠNG NGỌC SUM-HÀNH TRÌNH TRÍ THỨC XUYÊN THẾ KỶ

    Trứơc khi bước vào tiết mục giới thiệu sách viết về GS Dương Ngọc Sum và những tác phẩm văn chương Pháp mà ông yêu thích, thiết tưởng chúng ta cũng cần biết qua về GS Dương Ngọc Sum trước năm 1975. Trước biến cố VNCH cáo chung, một khúc quanh về ông Tổng trưởng Nguyễn Duy Xuân và ông phụ tá Tổng trưởng là GS. Dương Ngọc Sum. Giáo Sư Nguyễn Duy Xuân là tổng trưởng Văn Hóa – Giáo Dục – Thanh Niên cuối cùng của Chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Ông là cựu học sinh Collège de Cần Thơ. Sau khi đậu bằng Diploma (văn bằng thành chung). Ông sang Pháp du học tốt nghiệp cử nhân kinh tế. Ông tiếp tục theo học chương trình hậu đại học ở Anh, lấy bằng thạc sĩ về kinh tế học; tiếp đến sang Mỹ theo học ở đại học Vanderbilt, và lấy học vị tiến sĩ kinh tế học rồi trở về Việt Nam năm 1963.

    Ông Tổng trưởng Nguyễn Duy Xuân đã bổ nhiệm GS. Dương Ngọc Sum làm phụ tá Tổng trưởng và giữ vai trò trọng yếu là GS. Trưởng khối Nghiên Cứu và Phát Triển Đại Học Việt Nam nhằm nâng cao tiêu chuẩn văn minh, tiến bộ sánh với các quốc gia tân tiến trong cộng dồng thế giới. Như vậy cương vị và quyền hạn của GS Dương Ngọc Sum phải nói là quan trọng cho nước nhà. Ôn lại về dĩ vãng cơ hàn thuở thiếu thời, từ thuở tuổi thơ, GS. Dương Ngọc Sum là con nhà nghèo, nhưng rất thông minh và hiếu học. Nhà văn Vương Trùng Dương viết như sau: “Ông sinh ra ở Tân Uyên ngày xưa thuộc tỉnh Biên Hòa, cách Sài Gòn khoảng 50km về hướng tây bắc. Quê hương của nhà văn Bình Nguyên Lộc đã đề qua nhiều bài viết vùng đất nầy. Và là quê hương của Dương Ngọc Sum. Ông sinh năm 1935, thân phụ là nhà giáo qua đời năm 1946, vì lý do chính trị…”

    Mở dầu với GS Trần Huy Bích, Giáo Sư Bích lướt qua phần tiểu sử cùa GS Dương Ngọc Sum, đồng thời mời GS Sum lên chia sẻ vài lời về cuộc đời gian nan mà ông đã trải qua thời thơ ấu.

    Những mảnh bằng tưởng lục,.trang trọng trao đến Thày

    Trong một viết về người cha của mình, GS Dương Ngọc Sum viết: “Sau mấy tháng trốn tránh: ban ngày lính Tây ruồng bố, bắt bớ, ban đêm Việt Minh về phá hoại, đấp mô, đốt chợ, đốt trường học, dùng chày đập đầu các viên chức trong làng. Cha tôi mất đêm 29 sáng 30 tháng Chạp Ất Dậu (1/2/46). Chiều 30 Tết, gia đình tôi âm thầm chôn cha tôi trong vườn nhà, sáng hôm sau là Mùng Một Tết Bính Tuất (2/2/1946), thọ 40 tuổi. Chôn cất cha tôi nội ngày 30 Tết vì thứ nhất: nhà tôi nghèo, quá nên ông Ngoại tôi đã cho tiền lo đám tang. Lý do thứ hai là vì an ninh (bị Việt Minh và lính Tây theo dõi) và vì tập tục không để qua năm”.

    “Trong hoàn cảnh khó khăn, một Mẹ, sáu con nhỏ: Người anh lớn 14 tuổi, bị khuyết tật (cận thị nặng), em út, mới mấy tháng tuổi (sau là pilot trực thăng Phi Đoàn 2I9). Vừa mới đi học trường làng, ngày 9/3/45 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm đóng trường, phải nghỉ học. Trong trường tiểu học Tân Ba (chương trình Pháp), chỉ có tới Lớp Nhì, học giỏi nhất lớp nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên không thể vào Sài Gòn. Ở nhà giúp Mẹ gặt lúa, đập lúa, tỉa đậu, nhổ đậu, lên giồng khoai, giữ trâu, hốt phân, rửa chuồng. Gặp lúc có nhiều công việc, phải xin cho nghỉ học mấy hôm.” 

    Cựu học sinh Petrus Ký Đặng Quý Mão và Quỳnh Như, ái nữ của GS Dương Ngọc Sum. Cả hai đều là học sinh của năm cuối 1975 tại trường.

    Sau khi cô Dương Quỳnh Như và cựu học sinh Petrus Ký Đặng Quý Mão kể những kỷ niệm với thầy Dương Ngọc Sum, sách vở mới về GS. Dương Ngọc Sum được phát ra cho mọi người. MC Mộng Thủy cũng không quên vinh danh những mạnh thường quân đã biếu tặng phong bì mừng GS Sum trong ngày sinh nhật và RMS của Thày. (TS Đình Duy Phương, chủ tịch và TS TS Võ Ngọc Hoa, thủ quỹ hội Văn Bút VN Hải Ngoại vùng Tâ Nam Hoa Kỳ; NS Lê Nguyễn Nga, NVNT & TTG, Đặng Quý Mão)

    GS Dương Ngọc Sum có 4 người con, 3 gái và 1 trai, Quỳnh Như là người con thứ hai, gia đình cô ở rất gần GS, nên cô và người em gái Quỳnh Giao thay phiên nhau “take care” cha mẹ.

    Trong cơn xúc động, Thày nói không nên lời, thương Thày quá. Năm nay Thày đã 91, sức khỏe không còn khả quan như những năm trước. Cầu mong Thày mạnh khỏe. 

    Đã đến giờ cắt bánh sinh nhật, mừng thọ thứ 91 niên tuế của Thày Sum, được cử hành trong không khí thật vui nhộn và tràn đầy yêu thương.

    HAPPY BIRTHDAY THÀY, KÍNH CHÚC THÀY TRƯỜNG TRƯỜNG THỌ-YÊU ĐỜI VÀ YÊU NGƯỜI.

    Đặc biệt là “YÊU PHỤ NỮ”(Theo lời của GS Quyên Di)

    Hôm sau cũng là Birthday của NV Nguyễn Quang, nên chúng tôi mời NV Nguyễn Quang (95 xuân xanh) cùng cắt bánh và mọi người cùng hát mừng cả hai vị.

    Hai nhạc phẩm Happy Birthday và tâm ca về mùa len trâu, văn hóa miệt vườn được nhà văn Lê Bình từ San Jose cho những lời hoa mỹ Sau phần giới thiệu uyên bac của GS Trần Huy Bích, các ca sĩ Lưu Mạnh Bổng, Trần Mạnh Chi và Jenny Mộng Thủy, cùng cử tọa hát vang Tâm Khúc Thầy Sửu, nhạc cải biên, “tái chế”:

    Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn châu sướng lắm chứ!

    Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau. Và miệng hát nghêu ngao

    Vui thú không quên……..

    Dương Ngọc Sum – từ cậu bé chăn trâu trở thành giáo sư khả kính, Vương Trùng Dương: Xin xem bài viết ở link dưới đây.

    https://vietbao.com/a323895/duong-ngoc-sum-tu-cau-be-chan-trau-tro-thanh-giao-su-kha-kinh

    CẮT BÁNH XONG RỒI, TA CÙNG THƯỞNG THỨC THÔI CÁC TRÒ ƠI...

    CÁC BẠN BÈ CHIA SẺ NIỀM VUI

    Từ Họa sĩ Hoàng Vinh

    Nhà Văn Nguyễn Quang

    Ông Hoàng Khuê, chúng em cho hình anh lên trước đấy, kẻo lại trách là …”Sao tôi cứ phải là người …sau cùng…”

    Ký Giả Thanh Huy

    Ký Giả Lê Bình

    Ký giả Nhà Văn Du Miên

    KG NV Vương Trùng Dương

    TUYỂN TẬP TAM NỮ NHÂN: NS DƯƠNG HỒNG ANH, CNS LÂM DUNG, VTS KHÁNH LAN

    Thi sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành chia sẻ kinh nghiệm của anh khi thu bài và layout tuyển tập Tam Nữ nhân. Đây cũng là tờ NVNT MAGAZINE, số 1. Đặc San NVNT MAGAZINE dưới dạng flipbook và thực hiện mỗi 2 hoặc 3 tháng do ban biên tập NVNT và VCV thực hiện. NVNT MAGAZINE số 2 là số báo Xuân Bính Ngọ và đà ra mắt vào tháng 2, 2026.

    Thi sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành, anh cũng là con trai của NS Dương Hồng Anh và trong ban biên tập NVNT MAGAZINE cùng vối Phạm Thái, Kiều My và Khánh Lan

    NVNT MAGAZINE, SỐ 1

    NVNT MAGAZINE, SỐ 2, XUÂN BÍNH NGỌ ra mắt vào tháng 2, 2026.

    GS NV Quyên Di đại diện cho hai Liên Nhóm NVNT & TTG và VCV & TDX giới thiệu ba tam nhân tiêu biểu cho 3 lãnh vực: Thi ca NS Duong Hồng Anh, Âm nhạc CNS Lâm Dung và Văn thơ VTS Khánh Lan. Đồng thời giới thiệu nội dung của NVNT MAGAZINE, số 1.

    NV Việt hải nhận xét về người nữ sĩ tiền bối, cố vấn chuyên nghệ thuật thi ca, NS Dương Hồng Anh, ông đã mượn lời nhận xét của Giáo sư Trần Huy Bích hôm RMS “Cõi Thơ” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, GS Trần Huy Bích nhận xét như sau: “Thi tập “Cõi Thơ” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh như một tác phẩm tràn đầy sinh lực với những áng thơ yêu đời, yêu người, ngôn ngữ thi ca đậm nét nhân bản, nhân hậu.”

    Vâng, “Cõi Thơ” là một chốn thi ca, ca tụng nghệ thuật và triết lý trong đời sống, thi ca kết tụ những tinh túy trong cuộc sống, phản ảnh kinh nghiệm của người nghệ sĩ qua cuộc sống. Vì thế, nữ sĩ Dương Hồng Anh đã sáng tác nhiều áng thi ca rất đa dạng, thi vị, nhiều cảm xúc như về Saigon, Hanoi, California,,.. trong thiên nhiên như xuân, thu, hạ, đông, về gia đình như cha mẹ, chồng con, bè bạn,…

    Ví dụ trong bài thơ MƠ VỀ HÀ NỘI, khi nhớ về cố hương bỏ lại, hướng về cố lý xa xăm, Dương thi sĩ cho ra những dòng thơ như sau:

    “Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

    Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

    Cho thơ nở giữa vườn thơ

    Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

    Hướng về cố lý xa xăm

    Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ”

    Về thi tập NHỮNG GÌ ĐỂ NHỚ, nhà văn Khánh Lan cũng đã cho nhận định là thi ca Dương Hồng Anh cho thấy nét thi cảm tác bất tận trong thi ca, tiêu biểu giá trị nghệ thuật qua những câu thơ giản dị chan chứa tình yêu quê hương, mang theo trong tâm tưởng, hình ảnh đất nước hiện lên vừa thiêng liêng, vừa gần gũi. Thơ bà cho chúng ta sự khám phá qua những bài thơ tiêu biểu viết về quê hương,…

    Khánh Lan viết: “Nguồn thơ xuất phát từ trong tâm hồn của người nghệ sĩ, là những rung động, những cảm nhận tự nhiên. Đó là cả một quá trình thai nghén ý tưởng trong ký ức, nuôi dưỡng cảm xúc trong tâm tư, khiến cho thi nhân “xuất khâu thành thơ” và gởi ý thơ ấy thành lời trên trang giấy.”

    Còn thi phẩm QUÊ HƯƠNG CÒN ĐÓ của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, nhà thơ Kiều My cho nhận xét như sau: “Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, cho nên vì thế, thơ ca cũng đòi hỏi nhà thơ phải in dấu tâm hồn, trí tuệ mình vào đó thật sâu sắc, càng riêng biệt càng độc đáo, càng hay. Nhờ khả năng sáng tạo tuyệt vời mà các thi nhân luôn tìm ra những cách nói mới về những điều đã cũ,…”

    Phải, Hà nội hay Sài gòn đã cũ trong tâm thức chúng ta, nhưng thi nhân Dương Hồng Anh sáng tạo ra những cảm tác mới, những gợi cảm mới trong thi ca của bà. NS. Dương Hồng Anh cho biết bà vui khi chung vui cùng bạn bè. Xin kính chúc cô Dương Hồng Anh trường thọ, đại thọ và giữ mãi lửa sáng tác thi ca trong một tâm hồn tươi trẻ trong thơ văn.

    Cũng trong ngày hôm ấy, NS Dương Hồng Anh đã sáng tác bài thơ MỘNG LÒNG hai hôm trước, riêng tặng cho chúng tôi. Và Khánh Lan cũng chỉ được cô cho phép được diễn ngâm.

    Cuối xuân hoa bưởi, hoa cam

    Nhìn lên phố núi thênh thang mây trời

    Ai đi gom nắng vàng tươi

    Cho thơ tôi gởi mấy lời trong tim

    Đường chiều thơ nhạc giao duyên

    Cánh chim xa xứ một miền sắt son

    Gió lên bát ngát hoàng hôn

    Ru tình quê mẹ, ru hồn tha phương

    Tình thơ nghĩa bạn vấn vương

    Tao đàn họp mặt mến thương ngọt ngào

    Nhạc thơ tao nhã đón chào

    Con đò chở chữ dâng cao mộng lòng

    Khi nói về NV Khánh Lan, NB NV Phạm Quốc Bảo nhận xét về một nhà văn mới, một nhà văn đàn em trong lãnh vực văn học với khả năng sáng tác mà ông cho là “vượt quá sức tưởng tượng”, vì chỉ trong một thời gian ngắn mà cô đã cho ra đời khá nhiều tác phẩm dưới nhiều thể loại khác nhau. Thêm vào đó, Khánh Lan có một “trí nhớ khủng khiếp” mà tôi ghi nhận được qua tác phầm Sinh Lầm Thế Kỷ.

    Khánh Lan cám ơn KG NV Phạm Quốc Bảo và “quyển tự điển sống” Mạnh Bổng

    NV Việt Hai cũng nhận định hiện tượng Khánh Lan đã và đang mang một đôi “hia Bảy Dặm” trong làng văn học, mặc dù cô gia nhập vào làng văn không bao lâu, nhưng cô đã cho chào hàng hơn 15 tác phẩm, Gần đây, Khánh Lan mật mí là cô vừa nghiên cứu xong bộ sách triết học giá trị gồm Sieu Hhh Học và Hiện Sinh Học. Chúc Khánh Lan thành công.

    Ca nhạc sĩ Lâm Dung là trưởng nhóm văn nghệ âm nhạc, là người đã hòa âm bài thơ Bạn Bè Của Tôi của NS Dương Hồng Anh, cô cho ra nhạc phẩm mang cùng tên và bài hát này đã trở thành NVNT & TTG hành khúc từ năm 2019, ngay sau khi NS Dương Hồng Anh gia nhập nhóm.

    NV Phạm Gia Đại và GS Quyên Di mô tả CNS Lâm Dung như là một nhạc sĩ anh thư, tài hoa nhưng khiêm nhường. Những nhạc phẩm CSN Lâm Dung yêu thích được cô chọn lọc rất kỹ càng và có âm hưởng êm dịu. Khi được hỏi về bản nhạc nào cô yêu thích nhất và khả năng hòa âm. Với giọng nói nhỏ nhẹ và với nụ cười hiền dịu, Lâm Dung trả lời là không nhất định phải là bài nào, bởi còn tùy thuộc vào nguồn cảm hứng. Lâm Dung cũng không để ý mình đã hòa âm bao nhiêu bài. Tuy nhiên, Lâm Dung có rất nhiều bài thơ phổ nhạc do cô hòa âm và hát, đăng trên Youtube.

    Lâm Dung là người đứng đầu tiên từ trái sang phải và nhóm Tơ Vàng

    Riêng với Khánh Lan, Khánh Lan rất quý mến CNS Lâm Dung ở sự điềm đạm, chính chắn và dịu dàng của chị. Nhất là khi làm một việc gì hay khi cùng nhau soạn chương trình cho hội, thì Lâm Dung và Khánh Lan làm việc rất “tâm đầu ý hiệp”, nếu không muốn nói là “tâm đắc” lắm, từ cách suy nghỉ, đúng quy tắc, đúng hẹn “nộp bài” và chọn chủ đề nhạc cho buổi họp mặt, RMS, Christmas, New Year, v.v…

    Phần Văn học chấm dứt và tiếp theo là tối nhạc thính phòng do bạn bè và các anh chị em thành viên, cùng hát cho nhau nghe. Những bài hát thật hay và cô đọng. Buổi RMS bế mạc lúc 9:30 tối và chúng tôi bịn rịn chia tay.

    Việt Hải & Khánh Lan, California, April 10, 2026

  • RA MẮT SÁCH

    CHÚC MỪNG SINH NHẬT 72 (NVNT&TTG) RA MẮT T/PH VĂN HỌC “VANG BÓNG MỘT THỜI” CỦA NHÀ VĂN TRẦN VIỆT HẢI

    “Cho ta gởi đôi ba dòng tâm sự,

    Của những tháng cũ đã xa xôi,

    Mảnh tâm tình bao năm ta ấp ủ,

    Vương vấn trong tim suốt cả đời.”…

    (Khánh Lan)

    “Chủ nhật ngày 08 tháng 12, 2024. Nhà Văn Trần Việt Hải đã ra mắt tác phẩm VĂN HỌC “VANG BÓNG MỘT THỜI” trong ngày sinh nhật thứ 72 của ông sau hơn 25 năm cầm bút và gần 30 năm kể từ ngày ông bị tai biến mạch máu (1996-2024), tại Viet Life Club, số 15609 Beach Blvd, thành phố Westminster, Nam California.

    28 năm trước, Nhà văn Trần. Việt Hải đã trải qua bước ngoặt lớn khi ông bị hai lần đột quỵ ở tuổi 42. Cơn đột quỵ đã khiến anh gặp nhiều khó khăn trong việc đi đứng, nói chuyện, và chỉ còn có thể sử dụng một cánh tay trái. Với nhiều người, đây là một thử thách khó có thể vượt qua, nhưng đối với ông, đó là sự khởi đầu của một hành trình mới – hành trình tìm kiếm ý nghĩa và mục đích sống.

    Bên cạnh & được sự động viên, chăm sóc tận tình của người vợ hiền mà mọi người hay gọi là “cô tiên LỆ HOA” ông đã tìm lại được niềm tin và khám phá niềm vui trong thế giới văn chương, nơi ông kết nối với những người bạn văn thơ khắp nơi. Phải chăng trong cuộc đời có những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua, nhưng chính trong khoảnh khắc đen tối ấy tinh thần con người lại thể hiện ý chí phấn đấu mãnh liệt nhất!…”

    Phạm Thái & Khánh Lan

    Video: Tâm An

    http://chinhnghiavietnamconghoa.com/chuc-mung-sinh-nhat-72-nhan-van-nghe-thuat-tieng-thoi-gian-nvnt-ttg-ra-mat-tac-pham-van-hoc-vang-bong-mot-thoi-cua-nha-van-tran-viet-hai-12-2024/ 

  • Khánh Lan,  Phạm Hồng Thái,  RA MẮT SÁCH

    RA MẮT TÁC PHẨM VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI CỦA NHÀ VĂN TRẦN VIỆT HẢI

    Khánh Lan & Thái Phạm

    Cho ta gởi đôi ba dòng tâm sự

    Của những tháng cũ đã xa xôi

    Mảnh tâm tình bao năm ta ấp ủ

    Vương vấn trong tim suốt cả đời.

    Chủ nhật ngày 08 tháng 12, 2024. Nhà Văn Việt Hải đã ra mắt tác phẩm VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI trong ngày sinh nhật thứ 72 của ông sau hơn 25 năm cầm bút và gần 30 năm kể từ ngày ông bị tai biến mạch máu. (1996-2024) tại Viet Life Club, số 15609 Beach Blvd., Westminster, CA 92683. 

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật chào mừng quan khách

    28 năm trước, Nv. Việt Hải đã trải qua bước ngoặt lớn khi ông bị hai lần đột quỵ ở tuổi 42. Cơn đột quỵ đã khiến anh gặp nhiều khó khăn trong việc đi đứng, nói chuyện, và chỉ còn có thể sử dụng một cánh tay trái. Với nhiều người, đây là một thử thách khó có thể vượt qua, nhưng đối với anh, đó là sự khởi đầu của một hành trình mới – hành trình tìm kiếm ý nghĩa và mục đích sống. Anh đã tìm lại được niềm tin và khám phá niềm vui trong thế giới văn chương nơi ông kết nối với những người bạn văn thơ khắp nơi. Phải chăng trong cuộc đời có những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua, nhưng chính trong khoảnh khắc đen tối ấy tinh thần con người lại thể hiện ý chí phấn đấu mãnh liệt nhất!

    Click vào hình để đọc sách

    VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI là tập hợp những bài viết tiêu biểu của Nv. Việt Hải trong suốt gần ba thập niên qua. Mỗi bài viết không những chỉ chứa đựng kiến thức uyên bác về văn học nghệ thuật, mà còn là minh chứng cho sự kiên cường, lòng đam mê văn chương và tinh thần phục vụ nghệ thuật của tác giả. Điều đáng trân trọng là dù đã viết rất nhiều bài có giá trị trên nhiều bài báo, tuyển tập và trang website, facebook, v.v…Nv. việt Hải chưa từng nghĩ đến việc viết riêng cho mình một tác phẩm. Đây là biểu hiện cao đẹp của một tâm hồn luôn khiêm nhường, biết quý trọng, và hy sinh vì bạn bè.

    Món quà sinh nhật đặc biệt đầy ngạc nhiên, riêng tặng Nv. Việt Hải của Nv. Khánh Lan

    Những bài viết của Nv. Việt Hải đươc lưu trữ trong website ninhhoa.com lên đến cả ngàn bài. Chúng tôi rất vinh hạnh đã được Nv. Việt Hải đã cho phép chọn ra một số bài viết trong các bài viết của ông để thực hiện quyển sách đầu tiên này. Để tỏ lòng kính trọng tác giả, một món quà sinh nhật đặc biệt đầy ngạc nhiên với gần 1000 bài viết của anh do Nv. Khánh Lan edit và layout hai quyển sách dày gần 500 trang với tên TÂM TÌNH VÀ KỶ NIỆM I & II, in trên giấy màu, đẹp và trang nhã, để kính biếu đến một tâm hồn văn học “Nghệ thuật vị nghệ thuật” của Nv Việt Hải.

    QUAN KHÁCH THAM DỰ

    Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga, Thi Sĩ chủ tịch Đình Duy Phương và các thi sĩ trong hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ.

    Kiều My, Tuyết Nga, Ngọc Châu, Mạnh Bổng, Quốc Dân, Kim Hương và hai vị quan khách.

    Theo lời yêu cầu của Nv. Việt Hải, đây là một buổi giới thiệu tác phẩm xuất bản đầu tiên của ông trong bầu không khí thân mật và ấm cúng, nhưng tụ họp những bạn bè thân thiết mà ông yêu quý. Hiện diện trong buổi ra mắt sách, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của các vị như Gs. Ts. Trần huy bích, Gs. Ts. Quyên Di, Gs. Ts. Mai Thanh Truyết từ Texas, Gs. Đặng Ngọc Sun, Gs. Ns. Lê Văn Khoa và phu nhân, Ca Sĩ Ngọc Hà, Họa sĩ Hoàng Vinh và phu nhân, Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, Thi Sĩ Đình Duy Phương và các thi sĩ trong Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Miền Tây Nam Hoa Kỳ, các nhà văn & ký giả: Vương Trùng Dương, Phạm Quốc bảo và Thanh Huy, Nhiếp Ảnh Gia Nguyễn Thiệu Minh, Nv. Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm và phu nhân, Nv. Kiều My, Khoa Học Gia Lâm Quốc Dân và phu nhân, Kim Hương, Chủ Tịch Công Ty Dược Thảo Princess Lifestyle, John Tạ và phu nhân Suzan Tạ, cựu SVSQDL Hoàng Khuê và nhiều nhân vật nổi tiếng trong làng văn học cũng như các anh chị em trong liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.

    Sau phần chào quốc kỳ, giới thiệu quan khách tham dự là giây phút tâm tình cùng quý giáo sư và các văn thi sĩ.

    Nv. Việt Hải trò chuyện cùng quan khách trong vòng 1:30 phút trước khi bước vào phần văn học.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và MC CS Thụy Lan

    Trong dịp này, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã đọc tặng Nv. Việt Hải bài thơ “Mừng sinh nhật nhà văn Trần Việt Hải“:

    Mừng sinh nhật nhà văn Trần Việt Hải

    Cali nắng ấm chan hòa

    Mừng xuân đang đến mượt mà tươi xinh

    Dang tay ôm nắng bình minh

    Mừng anh Việt Hải cánh chim đầu đàn

    Tin vui ra sách vừa loan

    Văn chương thơ nhạc tao đàn nở hoa

    Tin vui lan khắp gần xa

    Tao nhân mặc khách đàn ca đón chào

    Tặng anh một đóa hồng đào

    Xây nền văn học biết bao chăng đuòng

    Tặng anh ngọn bút văn chương

    Thơ văn trẻ mãi muôn phương sáng ngời

    Vườn hoa văn nghệ tuyệt vời

    Nhân văn nghệ thuật bừng tươi suối hồn

    Chờ mai xuân đến xuân hồng

    Bút thơ dệt mộng non sông bốn mùa

    Tao đàn thơ nhạc niềm mơ

    Trời mây lãng đảng Hương đưa ngọt ngào.

    Dương Hồng Anh

    Anh Tiến Trần là em trai của Nv. Việt Hải, anh nói về ảnh hưởng của Phật giáo và anh Ngô Thiện Đức nói về ảnh hưởng của Đạo Cao Đài trong văn chương Việt Nam.

    Trước khi vào phần văn học, chương trình khai mạc với tứ ca Thụy Lan, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh và Ái Liên qua nhạc phẩm hào hùng “Việt Nam Minh Châu Trời Đông“.

    PHẦN VĂN HỌC

    Mở đầu phần văn học, MC Mộng Thủy giới thiệu vị diễn giả đầu tiên, Gs. Ts. Trần Huy Bích qua phần giới thiệu tác phẩm VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI. Sau phần tóm lược sách, Gs. Trần Huy Bích đã sử dụng một kỹ thuật mới lần đầu tiên và cũng là người tiên phong dùng AI  (Artificial Intelligence) nói về một nhân vật trong bài diễn văn tại buổi Ra Mắt Sách của NVNT & TTG. Gs. Bích đã dùng AI để phân tích về nhân vật: Trần Việt Hải, nghe rất hay, rất lạ, rất bùi tai và rất đúng.

    Gs. Trần Huy Bích giới thiệu tác phẩm

    AI phân tích về tiểu sử và lãnh vực đóng góp trong văn chương của Nv. Việt Hải như sau: Trần Việt Hải là người giữ vai trò quan trọn trong lãnh vực lưu giữ và quảng bá văn hóa Việt Nam trong bối cảnh xa quê hương. Trong lãnh vực nghiên cứu và viết lách, ông viết dưới nhiều chủ đề từ phân tích vấn đề văn hóa, lịch sử, giáo dục, khoa học thực tiễn, v.v… với tinh thần trách nhiệm, sâu sắc và truyền đạt, bảo tồn giá trị truyền thống thông qua các bài viết đến thế hệ trẻ tại hải ngoại. Ông tham gia, góp phần và có ảnh hưởng trong những sinh hoạt cộng đồng, hội thảo giao lưu và học hỏi của người Việt tại hải ngoại.

    Nói về Nhóm NVNT & TTG, AI phân tích như sau: Là một tập hợp trí thức bao gồm văn thi nghệ sĩ và văn nhân, thành lập sau năm 1975 tại hải ngoại với mục đích gìn giữ, phát triển, duy trì và quảng bá văn hóa và nghệ thuật Việt Nam do một số văn sĩ di cư ra hải ngoại. Với mục đính giữ gìn bản sắc văn hóa Việt và tập trung vào các tác phẩm có giá trị, sáng tác và nghiên cứu…

    Để kết luận, Gs. Trần Huy Bích nói: “Hữu xạ tự nhiên hương” có nghĩa là “Khi mình làm được nhiều điều tốt thì tự nhiên mọi người sẽ biết”. Sau cùng Gs. Trần Huy Bích chúc mừng sinh nhật và cầu chúc Nv. Việt Hải có nhiều sức khỏe để duy trì và truyền bá văn hóa Việt Nam.

    Diễn giả thứ hai là Gs. Quyên Di, ông nói về ba điểm quan trọng trong cuộc đời của Nv. Trần Việt Hải.

    1. Nhạc phẩm Niềm Vui Mới đánh dấu một kỳ niệm sâu đậm giữa Gs. Ns. Trần Quang Hải, Gs. Quyên Di và phu nhân, Ns. Hồng Trang và Nv. Việt Hải. Bài hát do Nv. Việt Hải viết lời, Gs. Ns. Trần Quang Hải hòa Âm với sự phụ giúp của Ns. Hồng Trang và Gs. Quyên Di. Bài nhạc gồm 3 phiên khúc: Phiên khúc I: Đề cao tình bạn. Phiên khúc II: Vinh danh Thiên Chúa và phiên khúc III: Vinh danh các thuyền nhân đã vượt biển đi tìm tự do trong năm 1975.
    2. Nhạc phẩm Và Con Tim Đã Vui Trở Lại của Ns. Đức Huy. Đây là bài hát mà ông đã nghe được trên con đường từ Nursing Home về nhà sau 4 tháng nằm liệt giường. Vâng, một niềm vui vô tận khi ông nhận ra rằng mình đã đánh bại lưỡi hái của tử thần. Thật đúng với bản nhạc “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại”.
    3. Gs. Quyên Di nói tiếp: Con người của Việt Hải có đến 5 cái dài: Thứ nhất là tay dài vì đã kết nối được nhiều bạn bè, ai cũng là người quen và ai cũng là bạn. Thứ hai là ngón tay dài vì đánh máy có một ngón tay và “cừ ” ra phết. Môi dài vì nói nhiều và dài quá đến nỗi môi cũng phải xưng “vếu” lên. Đầu dài hay đầu to vì cái gì, đề tài gì cũng viết được thế mới tài chứ (?). Chân dài vì đi đâu cũng đi, chẳng quản ngại đường xa (mà chỉ ngại cho người đẩy xe lăn cho anh như Mạnh Bổng và Lệ Hoa thôi, như có lần Lệ Hoa nói: Chỉ có anh Việt Hải là sung sướng và thoải mái thì Mạnh Bổng vội đáp lời Lệ Hoa là: Việt Hải càng thoải mái thì Mạnh Bổng càng đổ mồ hôi dầu & hết xí quách…)

    Bài diễn văn thứ ba của MC Mộng Thủy, cô MC duyên dáng, khả ái, văn hay chữ tốt và dí dỏm của NVNT & TTG luôn để lại trong lòng quan khách những trận cười nghiêng ngả với những mẩu chuyện “chưa từng kể, chưa ai biết, chẳng ai hay về những bí mật của cuộc đời Trần Việt Hải”. Bài diễn văn của Mộng Thủy tuy rất dài nhưng rất thu hút người nghe. Nhưng trong bài viết này, Khánh Lan chỉ xin tóm lược một vài đoạn như sau.

    “…5 “top secrets” quốc phòng do AI tiết lộ:

    1. Các “Miêu Miêu” từ New York và Paris yêu cầu Việt Hải làm rể phương xa nhưng ông phải gạt bỏ tình cảm riêng tư để chu toàn bổn phận giúp Mẹ nuôi các em. (Miêu Miêu ở đây có nghĩa là “EX-GIRLFRIEND”, Mộng Thủy giải thích)…
    2. 39 năm trước, trong một chuyến theo người anh họ thăm thành phố Sacramento. Nv. Việt Hải đã “bén mắt” vào Lệ Hoa. Vỉ thế nên: “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”. Và sau đó, Việt Hải trở về nhà tâm tư âu sầu, lòng lo trăm mối, trăm thương ngàn nhớ, tơ tình vương vấn…
    3. Nếu còn duyên nợ đợi chờ nhau, xin hẹn nghìn năm ở kiếp nào… Lệ Hoa có nợ từ tiền kiếp trước và …kiếp sau Việt Hải phải trả ơn bội hậu cho Lệ Hoa….Kết thúc là …Việt Hải xin nâng khăn sửa túi cùng người đẹp Lệ Hoa…còn Lệ Hoa thì kiếp sau mà lỡ có gặp lại Việt Hải thì nàng sẽ quay mặt làm ngơ…
    4. Đi cầu tự tại Chùa Vàng (Golden Temple) tại Thái Lan. Việt Hải đã đi 1993 cầu tự một mình và kết quả là Hải Nam chào đời và chỉ 14 tháng sau Hải Việt theo ra sau đó. Khiến vui vẻ cả nhà…
    5. Việt Hải trổ tài lái xe về nhà sau một party lúc 1 giờ sáng….và kết quả là…”RẦM“… xin quý độc giả đoán xem là chuyện gì đã xảy ra nhé.

    PHẦN CẮT BÁNH SINH NHẬT

    HAPPY BIRTHDAY VIỆT HẢI & VÀ CON TIM ĐÃ VUI TRỞ LẠI

    Đây mới là phần chính của chương trình: Đó là mừng sinh nhật thứ 72 của Nv. Việt Hải. Thật vậy, cả khánh phòng vang lên lời chúc tụng đến ông và bài hát Happy Birthday & Và Con Tim Đã Vui Trở Lại vang dội. Chưa bao giờ chúng tôi thấy Nv. Việt Hải vui như vậy, với vẻ mặt sáng ngời, với nụ cười “xả ga”, ông nói không lên lời. Trong buổi tiệc mừng sinh nhật này, toàn thể anh em trong nhóm và các thân hữu tham dự muốn gởi đến Nv. Việt Hải lòng tri ân về những gì ông đã đóng góp cho văn học Việt cũng như tấm gương nghị lực phi thường và tình yêu thương mà ông đã khơi dậy trong lòng mọi người.

    Nụ cười trong hạnh phúc và sung sướng

    Nếu còn duyên nợ đợi chờ nhau, xin hẹn nghìn năm ờ kiếp nào.

    Phu nhân Lệ Hoa tặng hoa cho phu quân Việt Hải kỷ niệm 39 năm “Hấp Hôn”

    NVNT & TTG kính chúc Nv. Việt Hải trường trường thọ, hạnh phúc và yêu đời mãi mãi.

    Nào cùng cạn ly chúc mùng Nv. Việt Hải….Anh ơi có bao nhiêu, 72 cuộc đời…cho thêm 28 năm nữa, sẽ là 100 thôi…Khó gì?

    Khánh Lan & Phạm Thái

  • Dương Viết Điền,  RA MẮT SÁCH

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức buổi ra mắt sách Tuyển Tập Thơ và Nhạc của Nhà Văn Dương Viết Điền

    Ký Giả Thanh Huy-Việt Báo Foundation

    Tại Viet Life Club số 15609 Beach Blvd, Thành Phố Westminster CA 92683.  Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức thành công buổi ra mắt sách Tuyển Tập Thơ và Nhạc của Nhà Văn Dương Viết Điền.

    Tham dự buổi ra mắt sách ngoài các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ trong  Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, về quan khách tham dự nhận thấy có: Giáo Sư Trần Huy Bích, GS. Dương Ngọc Sum, GS. Trần Mạnh Chi, Nhà Văn Nguyễn Quang Huy, Nhà thơ Phạm Quốc Bảo, Nhà thơ Nguyễn Tiến Quỳnh Giao, Nhà văn, nhà báo Vương Trùng Dương , Ông Hoàng Đình Khuê, Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt, Nhà văn Nguyễn Nga phu nhân cố Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn, Nhà Văn Việt Hải và phu nhân, nhà văn Kiều My, nhà văn Khánh Lan, nhà báo Nguyễn Văn Liêm, Ca sĩ Huỳnh Anh, Dương Viết Định, Anh Dương Viết Diền, Dương Viết Đang em Dương Viết Điền và một số những người thân trong gia đình nhà  văn Dương Viết Điền, Nhà truyền thông Tâm An cùng một số các cơ quan truyền thông và thân hữu…

    Điều hợp chương trình buổi ra mắt sách do 2 MC duyên dáng đó là Mộng Thủy và Thụy Lan.

    Trước khi bước vào chương trình chính thức, một số các ca sĩ trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cùng thân hữu đã hát những bản nhạc của Nhạc Sĩ Dương Viết Điền.

    Chương trình chính thức bắt đầu với nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm do MC. Mộng Thủy điều hợp. Sau phần nghi thức MC Mộng Thủy tuyên bố lý do buổi ra mắt sách, sau đó MC Mộng Thủy mời MC. Thụy Lan lên giới thiệu thành phần tham dự.

    Tiếp theo MC. Mộng Thủy và MC. Thụy Lan mời nhà văn Việt Hải, Trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian lên chào mừng, cảm ơn quan khách và những thân hữu tham dự.

    Nói về Tuyển Tập Thơ và Nhạc Dương Viết Điền nhà văn Việt Hải đã nói: “Trong CD Mấy tình khúc cho đời” và “Thi tập Nghẹn Ngào (Speechless). Nhà Văn Thanh Quang và Nhạc Sĩ Hồ Xuân Mai, đã khen là thi ca và âm nhạc của Dương Viết Điền như quyện vào nhau và đó là biệt tài đặc trưng của Dương Viết Điền, Năm 2013 ban tổ chức giải thi tuyển âm nhạc của Trung Tâm Asia bài hát “Thương Em” đã được chọn chấm giải nhạc hay và hai Nhạc Sĩ Lam Phương và Anh Bằng ngợi khen bài “Thương Em” và “Tóc Bay” của Dương Viết Điền. Riêng tôi, khi anh phổ nhạc cho hai bài thơ của tôi: “Dĩ Vãng Có Em”  theo thể điệu Bossanova Rumba và “Lệ Ước Hoen Mi”  theo nhịp điệu Tango Habanera, đã đánh dấu một kỷ niệm đẹp giữa hai chúng ta.”

    Sau đó MC. Mộng Thủy mời nhà văn Dương Viết Điền tác giả Tuyển Tập Thơ và Nhạc Dương Viết Điền lên có lời chào mừng và cảm ơn tất cả những người tham dự. Trong niềm xúc động, nhà văn Dương Viết Điền đã cảm ơn Nhà Văn Việt Hải và những anh chị em trong Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã hết lòng thực hiện tuyển tập Thơ và Nhạc Dương Viết Điền cũng như tổ chức buổi ra mắt sách ngày hôm nay, Ông không biết nói gì hơn chỉ chân thành cảm ơn tất cả.

    Hai anh em: Dương Viết Điền & Dương Viết Đan

    Tiếp theo,  GS. Trần Huy Bích nhuận sắc tác phẩm Nhạc và Thơ Dương Viết Điền, Ông nói: “ Những kỷ niệm về các nhạc sĩ mà nhà thơ, nhạc sĩ Dương Viết Điền, Hạ Ái Khanh đã kể bằng một lối văn có sao viết vậy không hư cấu. Tuyển tập Thơ, Nhạc Dương Viết Điền là thi ca, âm nhạc quyện vào nhau, sau đó GS Trần Huy Bích cũng đã trích đọc một số bài thơ gắn liền với giai đoạn lịch sử của quê hương mà Dương Viết Điền đã kể lại qua thơ nhạc…”

    MC. Mộng Thủy mời ca sĩ Thụy Lan hát bài Chạnh Lòng, thơ Hạ Ái Khanh,

    Tiếp theo, GS Trần Mạnh Chi có lời tâm tình gởi lời chúc lành đến NS Dương Việt Điền.

    Sau đó Ca Sĩ Thụy Lan hát nhạc phẩm “Thương Em”, NS. Dương Viết Điến sáng tác tặng hiền thê khi còn ở trong tù CS.

    Nhà văn Khánh Lan trình bày hoàn cảnh tù đầy bi thương của nhà văn Dương Viết Điền. Nhà thơ Khánh Lan ngâm tao đàn bài thơ nhớ hiền thê là Hoài Thê, thơ Hạ Ái Khanh. Nhà văn Khánh Lan cũng đã nói: “Có những phút ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.” Đó là hai câu nói đi vào lịch sử văn học của Nhà Thơ Phùng Quán viết khi ông trải qua quá nhiều biến động trong cuộc sống từ cảnh nghèo đói, đàn áp, cầm tù đến cầm viết lách. v.v… Hôm nay đọc những vần thơ trong tác phẩm mới nhất của Dương Viết Điền như bài thơ Đợi Anh Về. Mẹ ơi con đã về. Hẹn một ngày về như xé nát tâm tư người đọc. “Những người tù không bản án. Di chúc cho người tình cuối cùng”  khiến tôi rùng mình khiếp sợ và những “Nay ở quê người, Xuân nhớ quê hương” cho lòng tôi tê tái…

    Sau đó MC Mộng Thủy giới thiệu ban tam ca The Shellies 3 (Minh Thư, Thụy Lan, Lệ Hoa) qua ca khúc Bức Họa Đồng Quê:

    Viết về Dương Viết Điền, Nhà Văn nhà báo Vương Trùng Dương cho biết:

    Bước vào tuổi tám mươi nhà thơ Hạ Ái Khanh (Dương Viết Điền) sức khỏe rất yếu, không còn ngồi được để thực hiện tiếp những tác phẩm còn dang dở nên nhờ Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời gian giúp anh thực hiện tuyển tập Thơ & Nhạc.

    Sau 20 tác phẩm từ năm 1993 đến năm 2021 (trong đó có Nhật Ký Thuở Học Trò năm 2014 và 7 Nhật Ký Lúc Chiều Tà từ 2014 – 2021), anh ấn hành tác phẩm Những Kỷ Niệm Với Các Nhạc Sĩ Việt Nam năm 2022.

    Với tác phẩm nầy tôi được “vinh dự” thay anh viết Đôi Lời Phi Lộ (trang 5-8) vì trong 11 nhạc sĩ anh đề cập tôi quen biết những nhạc sĩ và đã viết bài.

    Trích: “Tác phẩm Những Kỷ Niệm Với Các Nhạc Sĩ Việt Nam của nhà văn Dương Viết Điền là tuyển tập hồi ký mười một nhạc sĩ đã viết trong thời gian qua. Từ những nhạc sĩ đã quen nhau từ thời học sinh ở Đà Nẵng như Nhật Ngân, trong ngành Chiến Tranh Chính Trị như Nguyễn Đức Quang, trong trại tù Bình Điền như Đinh Miên đến những nhạc sĩ ở hải ngoại như Nguyễn Hiền, Anh Bằng, Lam Phương, Lê Văn Khoa, Tuấn Khanh, Lê Trọng Nguyễn, Lê Dinh, Hồ Xuân Mai.

    Dương Viết Điền là bạn văn và cũng là bạn cùng khóa (Khóa Nguyễn Trãi I Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt) và cùng định cư tại Hoa Kỳ năm 1990 (Diện H.O). Anh ở Los Angeles, tôi ở Little Saigon nên có nhiều dịp gần gũi bạn bè cùng khóa và sinh hoạt văn học nghệ thuật. Thời gian sau nầy, anh không lái xe được, anh gom lại các bài viết, ấn hành tác phẩm nầy.

    Khi ra trường, anh phục vụ tại Tiểu Đoàn 10 CTCT, sau đó biệt phái sang Phòng Báo Chí, Khối CTCT Quân Đoàn I nên có cơ hội quen biết với giới cầm bút trong thời gian quân ngũ.

    Với bút hiệu Hạ Ái Khanh qua thi và và âm nhạc, với niềm đam mê và cảm hứng đã sáng tác một số ca khúc, khi tham gia trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ tạo thêm môi trường thuận lợi cho anh tiếp xúc với các nhạc sĩ được anh trang trải qua các bài viết…

    Nhà văn Dương Viết Điền qua những mẩu chuyện kể trong Những Kỷ Niệm Với Các Nhạc Sĩ Việt Nam. Tôi gọi là “mẩu chuyện” vì có sao viết vậy, không hư cấu, không cường điệu, màu mè… với bản chất thật thà, hiền lành ngay từ thuở ở quân trường”…

    Dương Viết Điền làm thơ (với bút hiệu Hạ Ái Khanh), viết văn, sáng tác nhạc và viết nhiều bài về văn học nghệ thuật…

    Khi bước vào tuổi bảy mươi, Dương Viết Điền dành hết thời gian để thực hiện Nhật Ký Lúc Chiều Tà gồm 7 quyển khoảng hai nghìn trang ghi lại quãng đời từ thời trai trẻ, trong quân trường, ngoài đơn vị, trong lao tù, ở hải ngoại với nhiều lần hội ngộ cùng bạn bè gần xa… Anh có trí nhớ rất tốt để hồi tưởng và viết rất chân tình. Anh còn dẫn chứng qua tất cả emails (nguyên văn) trao đổi với nhau… Nếu viết về anh qua nhật ký ghi lại, có lẽ vài chục trang cũng chưa nói hết.

    Với tuyển tập Thơ, Nhạc nầy chỉ là những sáng tác tượng trưng trong toàn bộ tác phẩm của anh. Và có lẽ ở tuổi tám mươi, tuổi hoàng hôn của cuộc đời, có thêm đứa con tinh thần lưu niệm. Khi anh gọi cho tôi, mày ngày nào cũng cà phê, thuốc lá liên miên nhưng vẫn còn khỏe, minh mẫn, viết văn phụ trách tờ báo. Tao bây giờ quá yếu, chờ ngày… tôi thật xúc động…

    Dương Viết Điền tên thật, Bút hiệu Hạ Ái Khanh, Cựu Sinh Viên Đại Học Luật Khoa Huế, Xuất thân Khóa I trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, Cựu tù nhân chính trị 10 năm trong tại tù cộng sản, hiện cư ngụ tại Tiểu Bang California.

    Trong tuyển tập Thơ Nhạc Dương Viết Điền có:Thơ: Nắng Xuân- Ngậm Ngùi-Di chúc cho người tình cuối cùng- Mấy dòng ngũ ngôn cho Huế- Nhớ Huế- Xuân Khóc Mẹ- Tình Chiều- Loving you- Bên Ni, Bên Nớ- Thôi Đành- Nếu Mùa Xuân Năm Ấy- Đi trong mưa- Vó ngựa hồi hương- The broken-hearted dream- Giấc mơ đau long- Người tình cuối cùng của một niên kỷ- Đón giao thừa- Tình sầu mây trôi- Chuyện tình thành huyền thoại- Tìm nơi đâu-Nhớ em- Về đi- Điếu văn nhạc sĩ Anh Bằng- Vương vấn- Nay ở quê người- Mùa thu nhớ thuở học trò- Xuân nhớ quê hương- Em chẳng cần chi- Hẹn một ngày về- Tình sầu- Hững hờ- Đợi Anh về- Nuối tiếc- Nếu mùa xuân năm ấy- Ta muốn- Vĩnh biệt.

    Về Nhạc có: Tình khúc thứ nhất cho người vợ hiền- Tình khúc thứ hai cho người vợ hiền- Đêm tù nhớ bạn- Người em tóc mây- Ai có về sông Đà- Thương em- Chạnh lòng- Nỗi buồn của người tù không án- Tóc bay- Lệ ướt hoen mi- Tình thu- Nhớ rừng- Hoa thơ- Em ra đi rồi- Chín mười năm biền biệt- Speechless- Mẹ ơi con đã về- Khi tình yêu đổ vỡ…

    Độc giả muốn có tuyển tập Thơ và Nhạc Dương Viết Điền xin liên lạc về nhà văn Việt Hải (818) 451-5157.

    Kết thúc chương trình, mọi người cùng chụp chung một tấm hình lưu niệm và cùng cắt bánh mừng sinh nhật nhà văn Dương Viết Điền.

    Một buổi chiều Chủ Nhật trời Nam California se lạnh nhưng trong phòng ra mắt sách thật ấm áp tình người, tình thân của các văn thi hữu, bằng hữu, những mẩu chuyện vui buồn sau nửa thế kỷ qua biến cố 30 tháng Tư 1975.

    Thanh Huy (Việt Báo Foundation)

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Vương Trùng Dương

    Ra mắt tuyển tập thơ nhạc của Dương Viết Điền

    Tường trình: Vương Trùng Dương & Khánh Lan

    Trưa Chủ Nhật 24/11/2024 nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức ra mắt tuyển tập Thơ & Nhạc của Dương Viết Điền trong vòng thân mật tại Viet Life Club, 15609 Beach Blvd., Westminster, CA 92683.

    Nhà Văn Dương Viết Điền ra mắt sách

    Sau phần chào Quốc Kỳ, Nhà Văn Việt Hải đại diện NVNT & TTG chào mừng quan khách tham dự, ông nói:

    “Đã không biết bao nhiều lần tôi lên đây để thưa chuyện cùng quan khách, thế mà lần này tôi run quá, có lẽ vì mối thân tình mà tôi và VTNS Dương Viết Điền quá thân thiết trong hơn 30 năm qua và chúng tôi coi nhau như anh em trong một nhà…..”

    Giáo Sư Trần Mạnh Chi cũng có mặt để chia vui cùng VTNS Dương Viết Điền nhưng ông phải về sớm vì có buổi họp quan trọng lúc 3:00 giờ chiều.

    VTNS Dương Viết Điền và GS Trần Mạnh Chi

    Các diễn giả gồm có sự góp mặt của Giáo Sư Trần Huy Bích, Văn Thi Sĩ Khánh Lan và MC Mộng Thủy. GS Trần Huy Bích nói về nội dung, ý thơ và những bản nhạc trong tuyển tập Thơ và Nhạc của Văn, Thơ, Nhạc Sĩ Dương Viết Điền,

    Tiếp theo, Khánh Lan chia sẻ về hình thức, kỹ thuật layout và vẻ đẹp của tuyển tập sau khi in ấn. Khánh Lan đã duyệt qua 3 lãnh vực chính trong Tuyển Tập Thơ và Nhạc của VTNS Hạ Ái Khanh Dương Viết Điền, gồm những bài thơ viết cho người vợ thủy chung, Hoàng Thị Kim Cúc qua hai bài thơ Thương Em và Thương Người Vợ Ở Quê Nhà.

    Thương em quá, lệ sầu thường nhỏ giọt

    Khóc cho em, mai một tuổi xuân thì

    Trời xanh kia, sao gây cảnh biệt ly

    Để kẻ ở, người đi không về được…

    …Ai xa vắng, mà không buồn tê tái

    Ai xa nhau, mà không mãi sầu thương

    Dù chuyện thần thoại, cũng vấn vương

    Nói chi nữa, đến tình thương chồng vợ

    Hay trong bài thơ THƯƠNG EM, DVD viết:

    Ngày ấy năm nào

    Thân cò lặn lội tìm vào Rừng sâu

    Nuôi chồng “Cải tạo”, âu sầu

    Đầm đìa giọt lệ, úa màu Thời gian

    Nắng mưa, Những mấy thu tàn

    Bao mùa lá rụng, triền miên ngậm ngùi….

    Nói về tình mẫu tử, về hình bóng Mẹ già lên trại cải tạo thăm con và chờ đợi ngày người con tù tội trở về qua bài thơ Ra Thăm Mẹ đã gây lên sự xúc động trong lòng quan khách tham dự.

    Chín năm biền biệt rừng sâu chưa về

    Nay gặp mẹ, vui tràn trề

    Mừng mừng, tủi tủi, mải mê chuyện trò

     Mẹ hỏi con: “Thế bao giờ

    Con về với mẹ, đợi chờ còn lâu?

    Hay sự bàng hoàng trong nỗi mừng tủi lẫn lộn khi nhìn thấy Mẹ.

     Thấy con mẹ khóc, ngẩng đầu nhìn chăm

    Con mừng nhìn mẹ đăm đăm

    Rưng rưng giọt lệ, chín năm mong chờ

    Thấy mẹ con thật không ngờ

    Mẹ nay khác hẳn, ngày xưa ở nhà

    Thảo nà, nhìn mẹ không ra

    Tóc mẹ bạc hết, tuổi già từ lâu

    Da nhăn, má hóp, mắt sâu

    Nhớ con mẹ khóc, mẹ sầu lắm không?

    Và sau cùng, trong nỗi xót xa, chua chát khi Dương Viết Điền nhớ về những người bạn đã cùng ông sống sót trong cảnh lao tù, ông đã ví các người tù như những con hổ bị nhốt trong cái bẫy lao lý, không bản án, không hẹn ngày trở về qua bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ tặng Nguyễn Tường Tam (Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

    Gặm một khối, căm hờn trong cũi sắt,
    Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
    Khinh lũ người kia, ngạo mạn, ngẩn ngơ,
    Giương mắt bé, riễu oai linh rừng thẳm

    Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
    Để làm trò, lạ mắt, thứ đồ chơi.
    Chịu ngang bầy, cùng bọn gấu dở hơi,
    Với cặp báo, chuồng bên vô tư lự.

    Ta sống mãi, trong tình thương nỗi nhớ,
    Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
    Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,

    Với khi thét khúc, trường ca dữ dội
    Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

    Lượm tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

    Vờn bóng âm-thầm, lá gai, có sắc

    Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc

    Là khiến cho mọi vật đều im hơi

    Ta biết ta, chúa tể của muôn loàiGiữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi…

    Diễn giả sau cùng là MC Mộng Thủy, hơn bao giờ hết, cô thật duyên dáng, dí dỏm và yêu kiều trong phần nói chuyện cùng khán giả về “Những điều chưa biết về VTNS Dương Viết Điền”. Ai có thể ngờ rằng VTNS họ Dương của chúng ta đã từng là Hollywood Movie Star đóng vai “Anh Thượng-sáu múi” nay chỉ còn “một múi” (theo lời NVKG Vương Trùng Dương).

    Hậu quả của 10 năm tù đầy, sức khỏe của VTNS Dương Viết Điền bị suy giảm rất nhiều trong thời gian gần đây, ông không còn tham dự vào nhiều sinh hoạt văn học trong cộng đồng như xưa cũng như với nhóm NVNT & TTG, nhưng lần nầy, ông đã cố gắng hiện diện trong buổi RMS.

    Ngoài phần văn học, phần văn nghệ cũng rất đặc biệt với những bài hát do VTNS Dương Viết Điền phổ nhạc qua những bài thơ của ông. Với giọng ca ấm và truyền cảm của Thụy Lan đã đi vào lòng người và Khánh Lan cũng đã có cơ hội ngâm bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ để tặng ông và quan khách. Đây là buổi RMS đầu tiên mà NVNT & TTG đã lồng vào phần văn học với những tác phẩm mà tác giả sáng tác. Phần văn nghệ, chúng tôi nhận thấy có sự góp mặt của Ca Sĩ Ngọc Hà, Mạnh Bổng, Ngọc Quỳnh, Lệ Hoa, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Anh Hiếu, Huỳnh Anh, v.v…

    DVĐ cùng Khóa Nguyễn Trãi I ở Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị với Nhà Văn Ký Giả Vương Trùng Dương và ông đã viết hai bài trong hồi ký Những Kỷ Niệm Với Các Nhạc Sĩ Việt Nam và trong tuyển tập nầy. Dương Viết Điền đã ấn hành khoảng hơn 20 tác phẩm gồm văn, thơ, nhạc từ khi định cư tại Los Angeles.

    Kết thúc buổi RMS là phần cắt bánh chúc VTNS Dương Viết Điền nhiều sức khỏe để cùng sinh hoạt văn hóa với NVNT & TTG.

  • KÝ SỰ,  RA MẮT SÁCH,  Vương Trùng Dương

    Lời Giới Thiệu Hồi Ký Sinh Lầm Thế Kỷ của Nhà Văn Khánh Lan

    Vương Trùng Dương (Bài viết vừa đăng trong mục Văn Nghệ nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số 184, tháng 12/2024)

    Trưa Chủ Nhật, 3 tháng 11 vừa, tại NT Studio, Westminster, ra mắt sách ba tác giả nữ Dương Hồng Anh, Khánh Lan và Kiều My, thuộc Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Buổi RMS đã được tường thuật của Văn Lan trên nhật báo Người Việt vào Thứ Thư 13/11/2024 và có buổi ra mắt năm tác và Khánh Lan, Kiều My trên trang mạng Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Buổi RMS với các diễn giả Trần Huy Bích (Cõi Thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh), Phạm Thị Huê (Thi tập Bóng Thời Gian của Khánh Lan), Quyên Di (thi phẩm Như Lá Cỏ Tàn Phai của Kiều My), Phạm Gia Đại (Sinh Lầm Thế Kỷ của Khánh Lan) và Hoàng Đình Khuê (Tản văn Thêm Ngày Nửa Để Yêu Thương). Với các diễn giả trên thường tham dự và giới thiệu trong những lần RMS các tác giả, tác phẩm là niềm vinh dự trong nhóm NVNT & TTG suốt thời gian qua.

    Với tác phẩm Sinh Lầm Thế Kỷ (Hồi ký của một linh hồn lạc lõng) của nhà văn Khánh Lan dày 146 trang, gồm 9 chương, trước khi ấn hành đã chuyển file M. Word cho nhà văn Phạm Quốc Bảo viết về cảm nghĩ và tôi viết Lời Giới Thiệu để in vào tác phẩm. Hồi ký không viết theo thứ tự thời gian các sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời.

    Tác giả cho biết viết tác phẩm nầy trong một tuần lễ để theo dòng suy tưởng liên tục. Và sau đó tác giả dịch ra tiếng Anh với tựa đề Born In The Wrong Century. Thân phụ tác giả đã phục vụ trong Ngự Lâm Quân dưới thời Vua Bảo Đại (Quốc Gia Việt Nam) và sĩ quan trong QLVNCH vì vậy coi như thế hệ thứ hai của người Việt tị nạn góp mặt trong dòng văn học hải ngoại trong nửa thế kỷ lưu vong.

    Lời Giới Thiệu (trang 13-20)

    Trong bài thơ Phương Xa của nhà thơ Vũ Hoàng Cương (1915-1976) có hai câu: “Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ. Một đôi người u uất nỗi chơ vơ”. Với hai câu thơ nầy, thế hệ chúng tôi trải qua thời chinh chiến, tù đày và lưu vong đã mượn ý thơ để viết về thân phận đời trai “sinh bất phùng thời” trên quê hương. Và lần nầy, nhà văn nữ Khánh Lan với tác phẩm Sinh Lầm Thế Kỷ khoảng một trăm bốn mươi trang, 9 chương từ “Ký Ức Ngày Cha Mất” đến “Khánh” (tác giả, con út trong 6 anh chị em). Theo lời tác giả là truyện dài (chỉ thay đổi nhân vật) với tôi là hồi ký vì qua chín chương, tác giả ghi lại tất cả sự kiện xảy ra rất thật, chân tình từ khi sinh ra đến nay.

    Khi đọc Sinh Lầm Thế Kỷ, cảm thấy xót xa, thương cảm… với từng giai đoạn vì đã trải qua bao nghịch cảnh, bi đát nhưng rồi cũng may mắn “hết bĩ cực đến thái lai”.

    Theo lời Khánh Lan “Quyển sách viết về cuộc đời bản thân, trong gia đình và vài  người bạn thân”  với “người thật việc thật” nhưng vì lý do riêng rất tế nhị nên khác tên.

    Trong quá khứ đã có những tác phẩm (hồi ký) của phái nữ được nổi tiếng như The Liars’ Club của Mary Karr, Fun Home: A Family Tragicomic của Alison Bechdel, Girl, Interrupted của Susanna Kaysen, Lucky của Alice Sebold, Men We Reaped của Jesmyn Ward, First They Killed My Father: A Daughter of Cambodia Remembers của Loung Ung, Mom & Me & Mom của Maya Angelou của Autobiography of A Face của Lucy Grealy…

    Trong 3 chương đầu của tác phẩm, Khánh Lan viết về hoàn cảnh gia đình, tác giả khi còn bé thơ đã chứng kiến nỗi đau: “Ngày tang lễ, chiếc quan tài của Cha tôi đặt giữa hai hàng nến và hai dàn sĩ quan đứng chào. Hôm sau, người ta đưa tiễn Cha tôi đến Nghĩa Trang Quân Đội, dưới cơn mưa nặng hạt của cuối tháng Tám…” (Chương I: Ký Ức Ngày Cha Mất)

    Thân mẫu phải lo chăm sóc nuôi nấng đàn con, may nhờ bà ngoại, có chỗ nương tựa nên các anh chị em được học hành, dấn thân trong cuộc sống.

    Với 6 chương kế tiếp, ghi lại giai đoạn vào thời điểm tháng Tư năm 1975 cho đến thời gian ở Mỹ, trong đó nhắc lại ngày tháng cũ, nỗi đau của người mẹ trong nghịch cảnh: “Lần cuối cùng anh Phương về lễ Cha tôi là năm 1967 và cũng là lần cuối cùng Mẹ tôi nhìn thấy con”. (Chương III: Buổi Chia Ly)

    Với trường hợp “Đương là một sinh viên y khoa của đại học Y Khoa Sài Gòn, anh Phương đột nhiên mất tích. Hay tin dữ, Mẹ tôi như chết điếng trong lòng, vật vã than trách đất trời và khóc hết nước mắt cho đến ngày Mẹ tôi nhắm mắt xuôi tay. Sự biến mất của anh Phương không ai hiểu vì sao, cho mãi đến sau này, khi anh Phương lén lút về thăm nhà trong ngày giỗ mãn tang của Cha tôi, Mẹ tôi mới biết được lý do tại sao anh Phương đã rời bỏ khuôn viên đại học để theo ‘cách mạng’ tập kết ra Bắc: rồi biệt tăm từ đó…” (Chương VI: Thảm Cảnh Gia Đình).

    Trong khi đó, hai người anh của Khánh Lan: “Ngày mất Sài Gòn cũng là ngày mà gia đình tôi tan nát, kẻ ở người đi. Gia đình tôi sau tháng 4, 1975 còn hai anh Tuấn, Bảo và hai chị Thu, Thảo còn kẹt lại Sài Gòn. Anh Phương đã hy sinh trong chiến dịch mùa Xuân, Mùa hè đỏ lửa 1972 và được nhà nước Việt Nam ghi vào danh sách “tổ quốc ghi công”. Anh Tuấn trở thành người tù không bản án. Anh Bảo là giáo chức nên chỉ phải đi học tập cải tạo 3 ngày. Hai chị Thu và Thảo rơi vào một cuộc sống lao đao lận đận như bao nhiêu người đàn bà còn ở lại Việt Nam, và tôi, Khánh sống cô đơn nơi đất khách quê người…

    “Anh Tuấn cũng rời bỏ mái trường cùng các bạn lên đường nhập ngũ… Biệt Động Quân. Cuối năm 1979, anh Tuấn được thả về sau 4 năm rưỡi tù cải tạo.

    Anh Bảo được tin Ngoại, Mẹ tôi và chị Oanh mất (khi định cư ở Mỹ), anh như người mất trí, sống lang thang như người không nhà (homeless). Anh bỏ Sài Gòn ra Phước Tỉnh, rồi lại tử Phước Tỉnh về Sài Gòn, có lẽ anh hy vọng là sẽ tìm lại được vợ và con lưu lạc nơi nào trở về chăng? Sau 2 tháng lăn lộn, sống nay đây mai đó, anh Bảo về sống chung với hai chị tôi, Thu và Thảo. Nhờ sự chăm xóc của hai em, anh Bảo nguôi ngoai và bớt đau khổ…”

    Thời điểm bỏ nước ra đi “Ngày 27/4/1975, vượt biên con tàu đánh cá tại Phước Tỉnh 1975 “Mang theo gia đình tôi gồm: Ngoại, Mẹ, chị Oanh, đứa con 8 tháng của chị và anh Bảo, và tôi. Tôi chưa đi biển bao giờ nên khi ra khơi bị say sóng và chẳng biết chuyện gì đã xảy ra cho gia đình mình. Khi tôi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trong phòng cấp cứu của Hàng Không Mẫu Hạm Hoa Kỳ USS Midway. Người y tá Mỹ cho tôi biết rằng tôi may mắn được mang lên tàu bởi một thủy thủ khi tôi nằm bất tỉnh trên boong tàu đánh cá. Tôi ngơ ngác nhìn quanh, không thấy gia đình tôi bên cạnh, tôi hoảng sơ, bật khóc!”

    (Chương IV: Những Ngày Đen Tối Của Đất Nước, 30 Tháng 4 Năm 1975)

    Ở Chương VII: Trái Tim Vụn Vỡ, đề cập đến người chị (Thu), theo lời kể với mối tình ngang trái với anh Hoài An, Thiếu Tá Cảnh Sát với bản án 13 năm tù ở núi rừng miền Bắc. Đây là chương tác giả viết dài nhất về người chị với anh Hoài An (tuy không chính thức) nhưng đã lặn lội thăm nuôi… Trong chuyến vượt biên, Thu cùng người em Thảo gặp phải hải tặc “Có 15 cô gái bị hiếp, nhiều cô mang bệnh giang mai, một cô có bầu, một cô nhảy xuống biển tự vẫn nhưng đã được cứu sống”. May mắn hai chị em nhờ lanh trí nên không lâm vào thảm cảnh đó. Khi định cư tại Mỹ, Thu đợi chờ Hoài An ra tù và sau đó được đoàn tụ ở Los Angeles.

    Chương VIII: Hồng Nhan Đa Truân với người chị (Thảo) “Cuối năm 1979 khi chị Thảo định cư tại Mỹ thì anh Đức cũng được gia đình bảo lãnh qua Canada.

    Một tháng sau, anh Đức đột nhiên biến mất mà không để lại một lời từ giã. Một tháng sau ngày anh Đức mất tích, chị Thảo nhận được một lá thư bí mật gởi từ Canada, tiết lộ là anh Đức hiện đang sống với một người đàn bà tại Texas… Chị Thảo như chết điếng trong lòng, chị khóc cả tuần, rồi cả tháng và buồn cả năm…”. Hết nỗi đau nầy đến nỗi đau khác, khi gặp Rahul, lái xe vận tải xuyên tiểu bang, tưởng chứng cuộc tình êm đẹp nhưng nào ngờ “Lần này chị mất cả chì lẫn chài vì khi đưa tiền cho Rahul chị không làm giấy tờ”. Và sau đó cũng rơi vào hoàn cảnh trớ trêu! Trong ba chị em thì người chị nầy của tác giả đáng thương hại nhất!

    Qua hình ảnh của Phương (bạn của anh ruột tác giả), Tuấn là chồng của bạn thân, Thu là bạn khi định cư ở Mỹ, Thảo là chị của dâu (vợ của người anh ruột Bảo)… qua từng mẩu chuyện được kể lại và chứng kiến, tác giả linh động lồng vào người thân trong gia đình như “tự truyện”.

    Chương IX: Khánh

    Khánh Lan rời quê hương vào thời điểm đen tối của lịch sử trong tháng 4 năm 1975, tuy rời quê hương với phương tiện khác nhưng trường hợp của gia đình người bạn thân trong hoàn cảnh bi thảm ra đi bằng đường biển, bất chấp mạng sống để tìm lối thoát…

    Dòng cuối của tác phẩm “Có lẽ trong 6 anh chị em tôi, tôi là người may mắn nhất và có một cuộc sống êm đềm không nhiều sóng gió”.

    Như đã đề cập ở trên, tác giả viết bởi cảm xúc, chân tình cả người và sự kiện xảy ra, không có gì hư cấu, cường điệu. Trong những nhân vật được đề cập cả tốt lẫn xấu, nỗi khổ và niềm vui.

    Với tựa đề Sinh Lầm Thế Kỷ, bản thân tác giả và trong gia đình cũng như những người thân đã lâm vào trường hợp như vậy cũng tương tự như nhiều gia đình khác trong thời kỳ chiến tranh, khi mất nước. Đây chỉ là vài ý chính trong tác phẩm, với cách hành văn và diễn đạt của tác giả sinh động và lôi cuốn, dẫn dắt người đọc cảm nhận những điều chia sẻ từ khổ đau đến hạnh phúc.

    Tác phẩm (truyện) nhưng ghi Hồi Ký Viết Dưới Hầm của nhà văn Nga Dostoevsk năm 1865 (Memoir from Underground – Note du Sous-sol), tác giả ghi, chép (memoir – note) từ những sự kiện “tai nghe mắt thấy” xảy ra trở thành chứng nhân của giai đoạn lịch sử.

    Và đây là tác phẩm thứ tám của nhà văn Khánh Lan. Trong bốn năm đã ấn hành tám tác phẩm gồm nhiều thể loại từ thơ, văn, tôn giáo, triết học… và sẽ ấn hành vài tác phẩm khác. Đọc tác phẩm Dĩ Vãng Khôn Nguôi, nay đọc Sinh Lầm Thế Kỷ, thật không ngờ nhà văn Khánh Lan trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã bước vào cõi văn chương nơi hải ngoại với “đôi hia bảy đạm”.

    (Little Saigon, July 24. 2024 – Vương Trùng Dương)

    *

    Ngày xưa học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898) với tác phẩm Nỗi Oan Thế Kỷ đề cập đến thời kỳ của cụ trong giai đoạn lịch sử đầy biến động và bi thương.

    Thời Việt Nam Cộng Hòa, người lính, nhà thơ Trần Hoài Thư đã viết nhiều bài thế hệ của anh (chúng tôi) sinh ra và lớn lên trong thời chinh chiến với vết sẹo từ một cuộc chiến tàn khốc. Vết sẹo từ những kẻ sinh lầm thế kỷ. Và hai câu thơ: “Thế hệ chúng tôi đã mang đầy vết sẹo. Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn”. Anh và tôi quen nhau khi ở trong Ban Biên Tập SVSQ ở trường Bộ Binh Thủ Đức khi tôi được gởi học giai đoạn đoạn I đầu năm 1967. Trong bài viết của tôi: Trần Hoài Thư & Thủ Đức Gọi Ta Về:

    “Là nhà giáo, nhà văn, nhà thơ, gầy gò, cận thị… nhưng khi ra trường BB Thủ Đức lại về đơn vị tác chiến trong cương vị Trung Đội Trưởng của Đại Đội Thám Kích 405. Trần Hoài Thư đã 3 lần bị thương ngoài mặt trận… Thế nhưng anh không oán hận. Người lính vừa đánh giặc vừa cầm bút, “Cảm thấy mình thật hãnh diện, bởi vì tôi nguyên một giáo sư đệ nhị cấp, với đôi mắt cận 7 độ, gầy như que củi, từng được hoãn dịch vì lý do sức khỏe, lại có mặt tại một đơn vị đã từng tạo nên một thành tích kỷ lục có một không hai trong QLVNCH. Khó có một ai trong bất cứ đơn vị nào được Tướng Đỗ Cao Trí thăng cấp hai lần trong vòng hai tháng ngay tại mặt trận.” (Về Một Đại Đội Cũ). Và “Từ 405, tôi cũng đã mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả”. Thật là “Đại Đội 405 là một dấu ấn đậm sâu vào tâm trí của một người lính cũ” (Về Một Đại Đội Cũ). Đây cũng là chất liệu, môi trường trong sự nghiệp cầm bút của anh.

    Tập truyện Ra Biển Gọi Thầm của Trần Hoài Thư gồm hai mươi truyện ngắn. Là người lính, Trần Hoài Thư thấm được cái đau của bản thân, cùng thế hệ trong cuộc chiến, của đồng đội khi vào sinh ra tử. Người lính bại trận bị đày đọa trong ngục tù, khi ra tù sống bất hạnh bên lề xã hội…

    Trong tập truyện nầy, anh đã nói lên nỗi đau, bi phẫn trước và sau cuộc chiến với thế hệ tuổi trẻ của chúng tôi phải gánh chịu. Và có nhiều tác phẩm của người lính VNCH đã nói lên trong giai đoạn lịch sử bi thương nầy.

    Với Khánh Lan tuy không trải qua “đoạn đường chiến binh” như chúng tôi trong thời chiến nhưng cũng là con người lính như bao cô gái khác chẳng may mang nỗi bất hạnh, bi thương, và thay mặt cho thế hệ hệ nầy của cô để trang trải nỗi đau đó qua Sinh Nhầm Thế Kỷ.

    Little Saigon, November 2024

    Vương Trùng Dương

  • Khánh Lan,  Kiều My,  RA MẮT SÁCH,  Tin tức

    BUỔI RA MẮT NĂM TÁC PHẨM VĂN THƠ TẠI LITTLE SAIGON CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH, NHÀ VĂN KIỀU MY & KHÁNH LAN

    Video do chị Tâm An thực hiện và phía dưới là XNV Phạm Khanh phỏng vấn Khánh Lan và anh John Tạ, chủ tịch công ty dược thảo Pricess Lifestyle.

    “Thơ văn là vẻ đẹp của đời sống, là ngôn ngữ của trái tim” – William Somerset Maugham từng viết như thế. Chính với tinh thần ấy, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi ra mắt năm tác phẩm của ba tác giả: nữ sĩ Dương Hồng Anh, văn thi sĩ Kiều My và văn thi sĩ Khánh Lan, góp phần làm phong phú thêm vườn hoa văn học Việt Nam hải ngoại.

    Để buổi RMS được hoàn hảo trong sự mong ước của chúng tôi, một ngày trước buổi RMS anh em chúng tôi đã có một buổi họp bỏ túi tại tư gia của nhà văn Nguyễn Quang, buổi họp gồm có Nv. Ngyễn Quang, anh Phạm Hồng Thái, chị Kiều My, Khánh Lan và Đại Thành. Một cái “list việc phải làm và phân chia bổn phận” được hoàn tất.

    Hôm RMS, chúng tôi và một số bạn bè của ba chúng tôi (Hồng Anh, Kiều My, Khánh Lan) đã đến NT STUDIO từ 10 giờ sáng để chuẩn bị thức ăn cho quan khách. Nhờ sự giúp đỡ của các bạn (Đức Hạnh, Bảo Trâm, Ngọc Châu, Đức Học, Tuyết Nga, Kim Hương và các cháu của Kiều My & Hồng Anh), thức ăn được bỏ vào hộp tươm tất. Các anh Mạnh Bổng, Duy Nhật, Đại Thành, Mạnh Chi lo việc treo Banner, dựng cờ, xếp bàn ghế, v.v…

    Kiều My, Vee Hương, Ngọc Châu Bảo Trâm, Đức Hạnh, Vee Hương

    Buổi ra mắt sách được tổ chức vào Chủ Nhật, ngày 3 tháng 11 năm 2024 tại Little Saigon, Nam California. Dù cùng thời điểm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng khác trong cộng đồng, như lễ giỗ tưởng niệm cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng buổi ra mắt sách vẫn thu hút được trên 125 quan khách tham dự, vượt ngoài mong đợi của ban tổ chức. Bãi đậu xe chật kín và khán phòng đông đúc là minh chứng cho sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng đối với văn học nghệ thuật.

    Buổi ra mắt sách vinh dự đón tiếp nhiều nhân vật quen thuộc trong cộng đồng. Trong số quan khách tham dự có các giáo sư Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Phạm Thị Huê, Quyên Di; các nhạc sĩ Lê Văn Khoa, Phạm Hồng Thái, Vũ Đình Ân; các bác sĩ Nguyễn Xuân Quang và phu nhân luật sư Michelle Thanh Mai, bác sĩ Phạm Quang Thùy và phu nhân Kim Đức, bác sĩ Dương Hồng Tạo. Khoa Học Gia Dân Quốc Lâm và phu nhân Kim Hương. Giới truyền thông báo chí chúng tôi thấy có có sự hiện diện của nhà văn ký giả Vương Trùng Dương, Văn Lan (Báo Người Việt), Thanh Huy,Thanh Phong (Báo Viễn Đông), Phạm Gia Đại, Tâm An, Thiều Minh, xướng ngôn viên Phạm Khanh và nhân viên thu hình của đài Little Saigon. Các văn thi sĩ chúng tôi nhận thấy có Trần Việt Hải, Lê Nguyễn Nga, Vũ Thùy Nhân. Hội văn thơ Tao Đàn Tài Tử có Hà Phương, Vũ Lang, Tha Nhân. Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ gồm các văn thi sĩ: Đình Duy Phương, Huỳnh Công Kình, Trần Huy Biên, và chủ tịch Viện Việt Học Cô Kim Ngân. Đặc biệt có sự góp mặt của các ca sĩ Ngọc Hà, Kim Đức, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Thụy Lan, Lyly, Giáng Tuyết, Minh Thư, Lệ Hoa, Mỹ Lan, Minh Phượng và Đình Khôi.

    Đặc biệt trong ngày ra mắt sách, NT Đình Duy Phương có gởi tặng Khánh Lan một bài thơ sau đây:

    Khánh Lan xinh đẹp và ngoan

    Cô nàng nhanh nhẹn, cao sang có tài

    Chịu thương chịu khó trình bày

    Sẵn lòng giúp đỡ, viết bài chỉnh chu

    Hôm nay trời chớm vào thu

    Không gian tươi mát mấy mùa đã tan

    Nắng chen sáng rọi huy hoàng

    Ngày ra mắt sách, rỡ ràng tặng em

    Chị Đình Duy Phương, VBVNHN vùng Tây Nam Hoa Kỳ

    Cali. Nov. 3, 2024

    Từ trái sang phải: Trần Mạnh Chi, Nguyễn Đại Thành, Phạm Hồng Thái, Lưu Mạnh Bổng, Lâm Quốc Dân

    Chương trình khai mạc với nghi thức chào cờ Hoa Kỳ qua giọng ca của Minh Thư, tiếp theo là Quốc thiều VNCH do Ukrainian National Presidental Orchestra trình bày, với phần hòa âm và phối khí của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Sau phút mặc niệm tưởng nhớ những người đã hy sinh vì tự do dân chủ của Việt Nam.

    Khai mạc chương trình, nhà văn Trần Việt Hải, trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chào mừng khán giả và giới thiệu ba nữ lưu: Nữ sĩ Dương Hồng Anh (tác giả thi tập CÕI THƠ); Kiều My (tác giả thi tập Như Lá Cỏ Tàn Phai và Tản Văn (Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương); Khánh Lan (tác giả thi tập Bóng Thời Gian và hồi ký Sinh Lầm Thế Kỷ hay Born In The Wrong Century). Sau đó, nhà văn Trần Việt Hải trao tặng những đóa hồng xinh tươi như lời chúc mừng cho ba vị nữ lưu.

    Phần văn học nghệ thuật được mở đầu bằng nhạc phẩm “Mẹ Việt Nam Ơi” của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, qua giọng ca của tam ca Lâm Dung, Ngọc Quỳnh và Ái Liên. Tiếp theo đó là phần giới thiệu tác phẩm của các diễn giả.

    Diễn giả mở đầu phần giới thiệu tác giả và tác phẩm là Giáo sư Trần Huy Bích, ông giới thiệu hi tập “Cõi Thơ” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh như một tác phẩm tràn đầy sinh lực với những áng thơ yêu đời, yêu người, ngôn ngữ thi ca đậm nét nhân hậu.

    Kế đến là Giáo sư Phạm Thị Huê giới thiệu tác giả Khánh Lan và thi tập “Bóng Thời Gian” của Cô, một tác phẩm thể hiện niềm tin mãnh liệt về tôn giáo, gia đình, tình bạn và tình yêu, ghi lại ký ức một nỗi nhớ quê hương khôn nguôi và những đổi thay tại quê nhà.

    Giáo sư Quyên Di nhận xét về thi tập “Như Lá Cỏ Tàn Phai” của Kiều My như một tác phẩm sâu sắc về tình cảm gia đình, tâm linh, thiên nhiên và quê hương, với vần điệu độc đáo.

    THI TẬP: CÕI THƠ (Dương Hồng Anh); NHƯ LÁ CỎ TÀN PHAI (Kiều My); BÓNG THỜI GIAN (Khánh Lan) là 3 thi tập với nội dung tôn vinh nét đẹp thi ca lãng mạn khi biểu đạt thi tính vào văn chương và nghệ thuật qua những áng thơ trong sáng, nhẹ nhàng đầy cảm xúc chứa chan tình yêu dành cho thiên nhiên, gia đình, bạn hữu, tha nhân và quê hương.

    Nói về tác phẩm văn học, nhà văn Phạm Gia Đại giới thiệu hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ” và bản dịch “Born In The Wrong Century” của Khánh Lan, một tác phẩm chân thực về cuộc sống hậu 1975, phản ảnh nỗi đau thương chiến tranh và khát vọng tự do. SINH LẦM THẾ KỶlà hồi ký của một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại trong ký ức những đau thương về chiến tranh và nỗi khốn khổ của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Đây cũng là một tác phẩm văn học phản ảnh các sự kiện lịch sử và bi kịch của dân tộc và đất nước Việt Nam. Tác giả bày tỏ nỗi tiếc thương cho dân tộc, với ước mơ về hòa bình và tự do đã bị thay thế bởi ngục tù và áp bức.

    Cuối cùng, cựu sĩ quan Đà Lạt Hoàng Đình Khuê đã nhận định về tản văn “Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương” của Kiều My như một tác phẩm phản ảnh nét đẹp của tình người và sự đồng cảm sâu sắc với số phận phụ nữ. Trong tiểu đề “Thế Giới Của Trẻ Em”, tác giả vinh danh sự đóng góp tài năng và lòng nhiệt thành của giáo sư, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đối với tương lai đất nước, qua sự đào tạo những mầm non trở thành những người hữu dụng cho xã hội mai sau. THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG là tuyển tập truyện ngắn cô đọng về nét đẹp của tình người với tấm lòng rộng mở, yêu thương với những xót xa cho kiếp hồng nhan mang nhiều khổ lụy. Thân phận con người rất đỗi mong manh, những hệ lụy của chiến tranh, gia đình ly tan, đất nước tang thương vỡ vụn!

    Bên cạnh phần giới thiệu các tác phẩm thu hút và lôi cuốn của diễn giả, khán giả cũng được thưởng thức những bản nhạc về quê hương qua phần trình bày đầy xúc cảm của các nghệ sĩ như Ngọc Hà trong ca khúc Tình Ca, Thụy Lan với Thương Về Miền Trung, Biết Bao Giờ Trở Lai với Kim Đức, và Về Đây Nghe Em với song ca Lily & Giáng Tuyết, v.v… Những ca khúc về quê hương đã được lựa chọn kỹ càng để phù hợp với chủ đề của tác phẩm.

    Thêm vào đấy, với sự điều khiển khéo léo của hai MC Mộng Thủy và Thanh Ngọc, buổi ra mắt sách khép lại trong không khí ấm áp, với những trang sách thấm đẫm cảm xúc và tâm tư. Mỗi độc giả ra về đều mang theo những tác phẩm văn chương giá trị, góp phần làm đẹp thêm đời sống tinh thần của cộng đồng người Việt hải ngoại.

    NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN TẠM BIỆT VÀ HẸN GẶP LẠI

    Please click to the below link and click on https:// photos.app ql/p next to see all of the pictures.

    https://photos.app.goo.gl/pkjyfrSDjuvvSq9K7

  • Kiều My,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt

    “TẤM HÌNH BIẾT NÓI”- Đã Nói lên Điều Gì?

    Ngày 10 tháng 8, 2024-Ngày RMS 4 tác phẩm với một mục đích nhân đạo và tràn ngập tình người. Theo như lời của NV Chinh Nguyên thì đây chính là buổi gây quỹ để giúp LM. Nguyễn Văn Lý hiện đang trị bịnh do kết quả của những ngày tháng lao tù dưới chế độ cay nghiệt của nhà nước cộng sản Việt Nam. Số tiền quyên được do bán 4 tác phẩm và quyên góp từ các thành viên của Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) và các nhà hảo tâm, sẽ được trao hết cho LM Nguyễn Văn Lý để Người lo việc thuốc thang và chữa trị bịnh. Buổi RMS và quyên góp lần này do sự hợp tác giữa hai nhóm, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Văn Thơ Lạc Việt (VTLV). Tại California, chúng tôi thu được gần $7,000, thật là quý giá và chúng tôi xin mượn giây phút này để cám ơn các nhà hảo tâm đã cùng chung một cánh tay với chúng tôi giúp cho buổi gây quỹ được thành công mỹ mãn.

    Từ hôm thứ sáu ngày 9 tháng 8, 2024, phái đoàn Văn Thơ Lạc Việt từ San Jose đã có mặt tại Orange County. 7 giờ tối, NVNT & TTG và VTLV họp cho việc RMS và dùng cơm tối tại tiệm phở Flavor vùng Fountain Valley.

    Thứ sáu ngày 9 tháng 8, 2024-thảo luận và dùng cơm tối tại tiệm Phở Flavor.

    Vừa đúng 11:30 am, phái đoàn San Jose cũng như GS Trần Mạnh Chị và NV Khánh Lan đã có mặt tại trước cửa của Thư Viện Việt Nam sách, nước, thức ăn. 12 giờ trưa NV Du Miên và phu nhân đến mở cửa và phụ anh em chúng tôi xếp bàn ghế, sách, v.v…và chuẩn bị đón khách tham dự.

    VN Du Miên

    Đón khách

    XNV Mỹ Linh phỏng vấn NV Chinh Nguyên

    Trong buổi ra mắt sách của nhà văn Chinh Nguyên tại THƯ VIỆN VIỆT NAM, nam California, một bích chương nổi bật với hàng chữ lớn “TẤM HÌNH BIẾT NÓI” trong khán phòng, đã gây ấn tượng sâu sa trong lòng quan khách tham dự. Vậy bốn chữ in đậm nét trong dấu ngoặc kép này đã nói lên điều gì?

    NV Kiều My

    Vào ngày thứ bảy 10 tháng 8, năm 2024, trong không khí nắng ấm của mùa hè vùng thủ đô người Việt tị nạn, Little Saigon…Người ta nhận thấy có các vị giáo sư, các văn nhân, thi sĩ, các cựu sĩ quan Không quân, các thân hữu, hội Đồng Hương và hội Học Sinh, tổng hội Ban Mê Thuộc, sư đoàn 5 Bộ Binh, đặc biệt có nhóm Văn Thơ Lạc Việt từ San Jose…đến Thư Viện Việt Nam tham dự buổi ra mắt 4 tác phẩm của nhà văn Chinh Nguyên. Những tác phẩm mang đậm nét văn hóa với những tư tưởng đầy tính nhân bản, mà tác giả Chinh Nguyên mong muốn cống hiến cùng độc giả yêu chuộng văn chương tại hải ngoại.

    4 MC điều khiển chương trình: DS Thanh Ngọc, NV Phạm Gia Đại, XNV Mỹ Linh, GS Trần Mạnh Chi

    Để khai mạc chương trình, nhà văn Phạm Gia Đại đã long trọng cử hành nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ, do ban Tiếng Thời Gian đồng ca. Tiếp đến là phút mặc niệm trong không khí trang nghiêm để tưởng nhớ đến những anh hùng vị nước vong thân, các dân quân cán chính đã chết trong những trại tù, cùng những nạn nhân đã thiệt mạng trên hành trình đi tìm tự do…

    Sau đó, MC. Mỹ Linh giới thiệu CHƯƠNG TRÌNH GÂY QUỸ “TẤM HÌNH BIẾT NÓI” và nhà văn Trần Việt Hải trưởng liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chào mừng và tri ân quan khách đã đến tham dự buổi ra mắt sách của nhà văn Chinh Nguyên.

     NV Chinh Nguyên, NV Việt Hải, Hội Trưởng nhóm Văn Thơ Lạc Việt, San Jose

    Khánh Lan & Mộng Thủy trao chi phiếu gần $7, 000 cho NV Chinh Nguyên

    Ông Lê Văn Hải, hội trưởng Văn Thơ Lạc Việt San Jose phát biểu cảm tưởng. Ông chân thành cảm tạ quan khách hiện diện như là một món quà tinh thần lớn lao dành cho Linh mục Nguyễn Văn Lý và nhà văn Chinh Nguyên. Cảm tạ nhà văn Trần Việt Hải và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật &Tiếng Thời Gian đã hợp tác với Văn Thơ Lạc Việt tổ chức cho sự kiện hôm nay thật tốt đẹp.

    XNV Mỹ Linh, NV Chinh Nguyên và phu nhân

    Nhà văn Chinh Nguyên phát biểu về tình trạng linh mục Nguyễn Văn Lý mang bệnh tật sau 4 lần bị cầm tù vì nói lên tiếng nói của lương tâm và nhân quyền. Ngoài linh mục Lý ra, ở trong nước còn rất nhiều người cũng bị giam cầm trong những trại tù khắc nghiệt chỉ vì tranh đấu cho tự do dân chủ. Vì thế, chúng ta là những người Việt hải ngoại có nợ với những người đã dám hy sinh mạng sống cho đồng bào trong nước cũng như cho dân tộc. Do đó, chúng ta nên làm bất cứ điều gì có thể để đền bù lại phần nào cho sự hy sinh quá lớn lao của họ, như trường hợp của linh mục Nguyễn văn Lý. Lm. Lý cũng gửi lời cảm tạ tất cả những quan khách đến tham dự buổi ra mắt sách và hổ trợ cho chương trình “Tấm Hình Biết Nói”. Đồng thời, Lm. Cũng nhắn nhủ rằng: Người Việt hải ngoại nên đoàn kết tranh đấu cho người Việt trong nước được tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và cho thế hệ mai sau.

    Bản hùng ca Việt Nam Việt Nam, sáng tác của cố nhạc sĩ Phạm Duy, vang lên trong hội trường qua tiếng hát của ban Tiếng Thời Gian, với những tà áo dài tha thướt truyền thống, hòa lẫn với tiếng ca hùng hồn của các nam ca sĩ; đã tạo nên một khí thế hùng hồn trong khoảng không gian ấm cúng của vùng trời tự do. “Việt Nam…Việt Nam” vọng lại bên tai… tiếng yêu thương, ngọt ngào …man mác nỗi ngậm ngùi cho quê hương khốn khổ đã bỏ lại sau lưng; nhưng không bao giờ lãng quên trong tâm tưởng, dù bất cứ nơi đâu trên hành tinh này của người Việt tha hương.

    Quà lưu niệm từ San Jose.

    Khách tham dự

    Sau phần bày tỏ cảm tưởng về buổi ra mắt sách hôm nay của nhà văn Du Miên, giám đốc Thư Viện Việt Nam là phần trình bày của nhà báo kiêm ký giả Kiều Mỹ Duyên, cô bày tỏ:

    Ký giả Kiều Mỹ Duyên

    “Vì sự cảm thông sâu sắc đối với những vị cao niên đau yếu trong các viện dưỡng lão mà không có thân nhân thăm viếng, rất đáng thương…Xin Chúa, Phật phù hộ cho họ được trải qua những ngày tháng hiu quạnh được bình an trong tâm hồn.”

    Nhà văn Trần Việt Hải và Dược sĩ Cao Thanh Ngọc nói về quyển song ngữ ANTI-AUTHORITARIAN (CẨM NANG CHỐNG ĐỘC TÀI) của nhà văn Phạm Đoan Trang. Thanh Ngọc là hậu duệ của VNCH, cô trình bày về tác phẩm Cẩm Nang Chống Độc Tài như sau:

    NV Việt Hải và DS Thanh Ngọc

    “Là cuốn sách nói lên sự thật về hiện tại của XHCNVN  Với tất cả tấm lòng yêu mến, Phạm Đoan Trang xin cống hiến quyển sách này cho những người đã đang và sẽ hy sinh vì dân tộc. PĐT ôm ấp hoài bão cho VN có được tự do, dân chủ và nhân quyền. Chính vì sự tranh đấu này mà tác giả đã bị nhà cầm quyền VN bỏ tù và bị ghép vào tội “có âm mưu lật đổ chính quyền”

    Việt Nam Minh Châu Trời Đông – nhạc sĩ Hùng Lân sáng tác. Ban Tiếng Thời Gian đã hùng hồn ca ngợi đất nước Việt anh hùng, lừng lẫy bên bờ Thái Bình Dương. Người con dân Việt mong báo đền ơn nước và thề hứa trung thành với sơn hà nước Nam.

    Diễn giả Mộng Thủy trình bày tác phẩm MY LIFE, một sáng tác của nhà văn Đông Anh, do nhà văn Chinh Nguyên chuyển sang Anh ngữ. Mộng Thủy đã diễn giải về tác phẩm My Life như sau:

    “Mặt trời mọc phương đông. Chiều lặn phương tây. Thời gian trôi không cảm xúc, nên lưu giữ trân trọng những kỷ niệm của thời gian của đời người, dù rằng kỷ niệm ấy khổ đau hay hạnh phúc. Tác giả Đông Anh đã gửi gấm những tư tưởng sâu lắng như một tiếng chuông gõ nhẹ vang vọng vào tiềm thức của con người để giúp chúng ta nâng niu những chân lý mới.”

    Tiếp theo, nhà văn Kiều My đảm trách vai trò diễn giả cho tác phẩm song ngữ Anh Việt “PLEASE COME IN…Có nghĩa là VÀO ĐI TÌNH ƠI…

    “Nói về một cô gái rất trẻ đi vào vùng núi rừng hoang vu để tìm người cha mà chưa bao giờ biết mặt. Cô đến xin tá túc nhà một người đàn ông đã đứng tuổi…và tình yêu đã nãy sinh giữa hai người dù tuổi tác quá chênh lệch. Chuyện trái cấm tình yêu này đã nói lên: tình yêu không biên giới dù ở trời đông hay trời tây, từ cổ chí kim cũng thế. Một triết gia đã từng nói: “Con tim có những lý lẽ riêng của nó, mà lý trí cũng không thể hiểu được.”

    Bài Ca Chiến Thắng được hát lên phá vỡ bầu không khí trang trọng của phần văn học. Gợi lại lòng người để hồi tưởng về một thời oanh liệt của chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    THORN IN THE HEART – tác phẩm thứ tư bằng Anh ngữ của nhà văn Chinh Nguyên, qua phần diễn giải của nhà văn Khánh Lan:

    “Nội dung từ một câu chuyện thật do tác giả ghi lại…THORN IN THE HEART là một tác phẩm viết bằng anh ngữ mà Khánh Lan xin tạm dịch nôm na là “Trái tim vụn vỡ” với mục đích giới thiệu đến thế hệ trẻ về những nỗi đau đớn mà ông cha của các em đã trải qua. Tác phẩm ghi lại cuộc đời của một chiến sĩ viễn du nơi đất khách quê người, cố tìm sống lại quãng thời gian đã mất, và quay ngược về quá khứ trải dài qua nhiều giai đoạn khác nhau. Từ những ngày tháng thanh bình của một thời thơ ấu đến những kỷ niệm vàng son, tràn gặp niềm vui của tuổi trưởng thành nhiều mơ ước và những ngày đen tối của chiến tranh với những biến cố tang thương, với âu lo, bom đạn và chiến tranh trường kỳ.

    NV Khánh Lan cũng nhắc đến Đại Văn Hào Marcel Proust đã viết trong tác phẩm À la recherche du temps perdu và cho rằng thời gian đã mất thì khó mà tìm lại được. Tiếc thương cho những hồn Việt và ước mơ cho một ngày thanh bình, độc lập, tự do, nay đã thay thế bởi “Ngục tù tăm tối và Người tù không bản án”…NV Khánh Lan cho rằng tác phẩm “Thorn in the Heart” hay “Trái tim vụn vỡ” là tiếng khóc trong tim của những chàng trai thế hệ nay vẫn sống lưu vong vì thời cuộc, binh biến trong giấc mộng Kinh Kha phục vụ quê hương. Chấm dứt bài diễn đọc, NV Khánh Lan gởi đến Đại Bàng Không Quân Chinh Nguyên với vần thơ kết sau đây.

    Chiến sĩ lưu vong tạm gác nghiệp binh

    Hồn Việt cơ đồ giấc điệp khôn nguôi.

    Giấc mộng kinh kha hận còn đậm nét

    Trong trái tim vụn vỡ sống lưu vong.

    Bản hùng ca “Cờ Ta Bay Trên Quảng Trị Thân yêu” đã bế mạc chương trình ra mắt sách của nhà văn Chinh Nguyên, thành công ngoài dự tính.

    Qua “TẤM HÌNH BIẾT NÓI” tự nó đã nói lên tất cả ý nghĩa, mà không cần từ ngữ nào để giải thích. Và nó đã bay đi khắp nơi trên thế giới này để phơi bày một “sự thật” sau bức màn sắt! Vì “Tấm Hình Biết Nói” này, mà nhà văn Chinh Nguyên đã nặng lòng, đem tim óc viết thành những tác phẩm để bán kiếm tiền gửi về cho nạn nhân trong tấm hình; đó là Linh mục Nguyễn Văn Lý. Người đang mang trọng bệnh sau nhiều năm bị tù đày vì nói lên tiếng nói của “lương tâm.” Mọi người ngưỡng mộ tấm lòng bác ái và hào phóng của nhà văn Chinh Nguyên đã thực hiện một nghĩa cử thật tuyệt vời!

    Kiều My, Nam California, August 8, 2024

    KHÁCH THAM DỰ

    CS Ngọc Hà, GS Lê Văn Khoa, NV Du Miên, NV Vương Trùng Dương

    NV Khánh Lan, GS Dương Ngọc Sum, NV Du Miên, NV Phạm Gia Đại

    NT Nguyễn Đại Thành & NS Dương Hồng Anh

    DS Thanh Ngọc & NV Khánh Lan

    KS Lân Pham, GS Dương Ngọc Sum, NS Dương Hồng Anh, GS Trần Huy Bích, KS Nguyên Hồng

  • Kiều My,  RA MẮT SÁCH

    RA MẮT TÁC PHẨM: NIỀM TIN & THƯƠNG YÊU

    NHÀ THƠ LÊ NGUYỄN NGA

    Bầu trời Nam California hôm nay nhiều mây, từng giọt nắng vàng võ đong đưa theo làn gió nhè nhẹ của những ngày cuối Xuân. Nhưng, nơi một góc phố của thành phố Westminster, Hoa Kỳ… chợt bừng sáng lên bởi NIỀM TIN & THƯƠNG YÊU – Niềm Tin & Thương Yêu là tên tác phẩm của nữ sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga được trình làng cùng quý độc giả yêu văn thơ ngày Chủ nhật 2 tháng 6 năm 2024 vừa qua.

    Quan khách tham dự buổi RMS

    Mạnh Bổng, GS Trần Huy Bích, Ông Hoàng Khuê, TS Đại Thành

    NT Nguyễn Tiến Quỳnh Giao, Anh Viết Đan, Ông Lâm Quách, Anh Tẩu.

    TS Đại Thành, NV Vương Trùng Dương, NV Khánh Lan, TS Quỳnh Giao, GS Trần Huy Bích, Ông Hoàng Khuê

    NV Vương Trùng Dương, Anh Viết Đan, MC Mộng Thủy, NV Khánh Lan, Lệ Hoa, NV Phạm Gia Đại, NV Nguyễn Thị Mắt Nâu.

    Những bạn hữu thân thương gần xa đã đến với nữ sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, trong bầu không khí vui tươi cởi mở. Mọi người chúc mừng nữ sĩ, cũng như mở rộng vòng tay chào đón tác phẩm Niềm Tin & Thương Yêu, mang nặng tâm huyết của tác giả đã trải qua 3 năm để hoàn thành.

    Trong sự kiện hôm nay với sự hiện diện của giới tinh hoa của nền văn học hải ngoại gồm nhóm NVNT&TTG như: Giáo sư Nhạc sĩ Lê Văn Khoa cùng phu nhân ca sĩ Ngọc Hà, Gs. Trần Huy Bích, Gs. Dương Ngọc Sum, nhà văn Nguyễn Quang, nữ sĩ Dương Hồng Anh, Nv. Vương Trùng Dương (chủ bút tập san Chiến Sĩ Cộng Hòa) Nv.Vi Khiêm (chủ bút báo Diễn Đàn Giáo Dân, giáo phận Orange County)  Nv. Trần Việt Hải (sáng lập viên NVNT&TTG) và phu nhân ca sĩ Lệ Hoa, Nv. Khánh Lan và phu quân ca sĩ Mạnh Bỗng, Nv. Phạm Gia Đại, MC Trần Mạnh Chi, Nv. ca sĩ Kiều My, ca sĩ Thụy Lan và phu quân ca sĩ Jean Michael, ông bà John Tạ (giám đốc Cty Princess Lifestyle), ca sĩ Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Minh Thư, Minh Khai, Ngọc Châu, Hùng Ngọc, ông Hoàng Đình Khuê (chủ tịch đảng Tân Đại Việt). Ông Bùi Văn Tẩu cựu Hải quân sĩ quan VNCH, ông bà Bs. Trần Du, dược sĩ Nguyễn Tường Anh, NV Nguyễn thị Mắt Nâu.  

    Ông Bà Chủ tịch công ty dược thảo Princess lifestyle, NT John Tạ & phu nhân Susan Tạ, GS Trần Mạnh Chi, NV Việt Hải, NV Kiều My.

    NV KIỀU MY, NV KHÁNH LAN, CS THỤY LAN, GS TRẦN MẠNH CHI, MC MỘNG THỦY, NV VIỆT HẢI

    LIÊN NHÓM NVNT & TTG: CS keyboard Ngọc Tú, Lệ Hoa, Ngọc Châu, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Katherine Minh Thư, một vị khách, Tường Anh, Mộng Thủy, Micheal, Thụy Lan, Viết Dan, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, GS Ngọc Sum, NT Lê Nguyễn Nga, NT khách hội VBHN

    Đặc biệt với sự tham dự của nhóm Văn Bút Việt Nam hải ngoại, gồm các vị: Hiếu Trần, Ngân Huỳnh, Ngô Thy Vân, Võ Ngọc Hoa, Năng Khiếu, Nguyễn Mắt Nâu và Chủ tịch hội Văn Bút Đinh Duy Phương. Ngoài ra, nữ giám đốc của VietLife TV và cũng là chủ tịch của tổ chức CHÍNH NGHĨA VIỆT NAM CỘNG HÒA là Tâm An, luôn hoàn thành tốt đẹp những video clip, để ghi lại khoảnh khắc đáng ghi nhớ trong những sự kiện quan trọng.

    NHÓM VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI

    Ngôi sao sáng của sự kiện hôm nay chính là: nữ sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga.

    Buổi ra mắt sách được khai mạc bằng những lời chào mừng thân ái đến tất cả quan khách bởi ái nữ và con trai của cố NS Lê Trọng Nguyễn là Katherine Minh Thư và Felix Trọng Phúc. Katherine Minh Thư cũng ngỏ lời cám ơn đến quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và quan khách hiện diện trong buổi RMS.

    Sau đó, nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ diễn ra trong sự cung kính trang nghiêm.  Giai điệu hùng hồn của quốc ca Việt Nam trổi lên đã làm xao xuyến lòng người Việt hải ngoại. Âm vang của hồn thiêng sông núi trong bản quốc ca, gợi lên nỗi nhớ xót xa về Tổ quốc bên kia Thái Bình Dương. Sau đó, quốc ca Hoa Kỳ vang lên trong thính phòng, đã gợi lên niềm cảm động và tri ân về đất nước cũng như người dân Hoa Kỳ, đã cưu mang người Việt tị nạn, đã bỏ nước ra đi tìm “tự do”. Kế tiếp là “phút mặc niệm” thật lắng đọng…Bồi hồi tưởng nhớ đến những chiến sĩ trong QLVNCH đã hy sinh vì Tổ quốc; những người tù đã chết đau đớn trong những trại cải tạo CS; những thuyền nhân chết tức tưởi trên những chiếc thuyền nhỏ bé mong manh, đã bỏ thây dưới lòng đại dương, hay những nơi rừng sâu nước độc… trên hành trình đi tìm “tự do”.

    Ý TƯỞNG VỀ NIỀM TIN và THƯƠNG YÊU

    Đọc tựa đề sách NIỀM TIN & THƯƠNG YÊU, mang đến cho tôi vài nhận xét về ý nghĩa sâu sắc của nó.

    NIỀM TIN: được hiểu là sự tin tưởng vào một điều gì đó tồn tại, đúng đắn  hoặc có giá trị. Điển hình như niềm tin tôn giáo, hay là sự tin tưởng vào bản thân, vào người khác, hay một thế lực thiên nhiên, hoặc một hệ thống giá trị. Niềm tin có thể được hình thành từ nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống. Chẳng hạn như: niềm tin bắt nguồn từ kinh nghiệm sống, từ giáo dục hay ảnh hưởng bởi những người xung quanh. Như vậy, niềm tin bắt nguồn từ nhiều khía cạnh khác nhau mà tạo thành.

    THƯƠNG YÊU: Thường là một cảm xúc thu hút mạnh mẽ và cũng là nhu cầu muốn được ràng buộc gắn bó. Ngoài ra, thương yêu được xem như một đức tính đại diện cho lòng tốt, lòng trắc ẩn xót thương và đó cũng chính là tình cảm của con người. Thương yêu là đức tính lương thiện được thể hiện qua hành động từ bi và tình cảm dành cho tha nhân cũng như động vật.

    Chương trình ra mắt sách có 2 phần: Văn Học và Văn nghệ & Khiêu vũ. MC phụ trách chương trình là CS Thụy Lan và GS Trần Mạnh Chi.

    PHẦN VĂN HỌC

    1/ Diễn giả Giáo sư Tiến sĩ Trần Huy Bích: Trình bày về nội dung của tác phẩm Niềm Tin & Thương Yêu gồm 4 phần:

    DIỄN GIẢ GS TRẦN HUY BÍCH

    A/ VĂN: có18 bài viết về tôn giáo, tình gia đình, tình quê hương và tình bạn hữu…Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga là một Phật tử thuần thành, lấy Phật pháp làm lẽ sống đời mình. Đối với quê hương, nữ sĩ luôn cầu mong cho đất nước sớm được thanh bình. Nữ sĩ là người rất trân quý tình gia đình với người phối ngẫu và con cháu. Đối với tình bạn hữu là những gì nữ sĩ luôn chắt chiu và gìn giữ, ngay cả những người bạn đã về bên kia thế giới.

    B/ THƠ: gồm 26 bài thơ chan chứa tình cảm dào dạt trong tình vợ chồng, tình yêu trong sáng của mối tình đầu, những cảnh đẹp thiên nhiên của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Những vần thơ mượt mà về những cảnh hữu tình của quê hương…

    C/ TRANH THƠ: Gồm những bài thơ trữ tình với những bức tranh và hình ảnh mang đầy ý nghĩa của những kỷ niệm khó quên được lồng vào trang thơ.

    D/ NHẠC: phổ từ thơ Lê Nguyễn Nga do những nhạc sĩ: Hồng Tước, Nguyễn Tuấn, Hạnh Cư, Phan Đình Minh, Lâm Dung, Lam Thủy qua 32 bài thơ dạt dào tình cảm trong cung nhạc êm ái du dương.

    Chương trình văn nghệ trong buổi RMS với sự đóng góp của các ca sĩ Tiếng Thời Gian, qua những ca khúc của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và những ca khúc được phổ từ thơ Lê Nguyễn Nga.

    HAI VÌ SAO LẠC: ca khúc do Ns. Hạnh Cư phổ nhạc từ thơ Lê Nguyễn Nga, do ca sĩ Minh Thư (ái nữ của tác giả) trình bày, trong giai điệu valse du dương, bay bổng lên cao như những vì sao trên bầu trời.

    KATHERINE MINH THU, ÁI NỮ CỦA NS LÊ TRỌNG NGUYỄN & NT LÊ NGUYỄN NGA

    2/ Diễn giả Mộng Thủy: trình bày về tiểu sử của nữ sĩ Lê Nguyễn Nga. Gia đình bà nguồn gốc Bắc Giang, miền Bắc Việt Nam; nhưng bà được sinh trưởng ở Cần Thơ vùngTây Đô, miền tây Nam Việt. Hồn thơ của nữ sĩ Lê Nguyễn Nga bàng bạc trải dài từ Bắc Giang, vùng đia linh nhân kiệt, nơi có nền văn hóa phong phú với dân ca Quan Họ; kết hợp với vùng đồng bằng sông Cửu Long, có đồng ruộng cò bay thẳng cánh với gạo trắng nước trong. Những yếu tố thiên nhiên tốt đẹp này đã đúc kết nên “hồn thơ” của nữ sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga – hầu sáng tác nên những vần thơ đẹp dâng cho đời và cho nền thi ca Việt Nam.

    DIỄN GIẢ MC MỘNG THỦY

    NẮNG CHIỀU NGỪNG TRÔI: thơ Lê Nguyễn Nga, nhạc Nguyễn Tuấn, được hát bởi giọng ca thu hút của ca sĩ Ái Liên.

    LÁ RƠI BÊN THỀM: ca khúc bán cổ điển do cố Ns. Lê Trọng Nguyễn & Nguyễn Hiền sáng tác vào năm 1962-1963, được trình bày qua giọng hát phong phú truyền cảm của ca sĩ Ngọc Quỳnh.

    3/ Diễn giả Nv. Khánh Lan: Trình bày về NẮNG CHIỀU QUA THỂ LOẠI BOLERO của cố Ns. Lê Trọng Nguyễn viết vào năm 1950 và hoàn tất năm 1953, trong giai điệu Bolero và xuất xứ của điệu nhạc này. Điệu Bolero được sáng tác do nghệ sĩ Tây ban cầm cổ điển Fernando Ferandiere (1740-1816) và lan truyền rộng rãi trên khắp thế giới, bởi sự lôi cuốn mãnh liệt của âm điệu trữ tình của dòng nhạc Bolero. Kiều My ghi nhận bài nói chuyện như sau do Nv. Khánh Lan cung cấp.

    NV KHÁNH LAN VÀ NẮNG CHIỀU QUA THỂ LOẠI BOLERO

    NẮNG CHIỀU là tên của một nhạc phẩm nổi tiếng của NS Lê Trọng Nguyễn viết trước năm 1950, và hoàn tất năm 1953. Bản nhạc được hai nhà xuất bản Sài Gòn, là An Phú và Tinh Hoa, in ra nhiều lần và mỗi lần in khoảng 3,000 bản.

    Năm 1953, Hãng đĩa Việt Nam (Sài Gòn), lần đầu tiên thu thanh tiếng hát của danh ca Minh Trang, và NS Lê Trọng Nguyễn là người đã soạn hòa âm và phối khí, cho dàn nhạc.

    Nắng chiều không chỉ chinh phục khán thính giả Việt mà còn vươn ra ngoài biên giới của VN.

    • Năm 1958, nữ ca sĩ Nhật Bản Satsuki Midori gặp Lê Trọng Nguyễn và đã dịch Nắng Chiều sang tiếng Nhật với tựa đề Việt Nam tình ca, thu thanh ở Tokyo. Cũng trong năm 1958, nhạc sĩ Nguyễn Hiền mời cô ca sĩ này trình diễn lần đầu tiên tại Hội ChợThị Nghè liên tiếp trong hai tuần lễ.
    • Năm 1960, nữ ca sĩ Đài Loan Kỷ Lộ Hà hát và thu thanh bài Nắng Chiều bằng tiếng Quan thoại, tựa đề là Tịch dương hay Việt Nam Tình Ca. Nhạc phẩm này đã được dân chúng Đài Loan và Hồng Kông đón nhận nồng nhiệt.
    • Sau đó, Nắng chiều còn được dịch qua tiếng Anh, tiếng Thái, tiếng Khmer và trở thành một bài Á châu tình ca!
    • Năm 1971, bài hát là nguồn cảm hứng cho bộ phim cùng tên, của đạo diễn Lê Mộng Hoàng.

    NS Lê Trọng Nguyễn với bài tình ca Nắng Chiều, viết dưới thể điệu rumba bolero đầu tiên, có sức chinh phục, cuốn hút người nghe, và đã đem đến một sự thành công vượt bực bởi: những ca từ trong bài hát giàu tính văn học, giàu chất thơ, nhẹ nhàng và lãng mạn, tạo nên một phong cách bolero Việt Nam chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo).

            Bolero là một thể loại âm nhạc, bắt nguồn từ thành phố Santiago de Cuba từ cuối thế kỷ 19. Bolero du nhập vào VN khoảng đầu thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Đặc trưng của Bolero khi vào Việt Nam được Việt hóa, cho hợp với lối phát âm của người Việt, hát theo kiểu truyền thống, ngân rung, làm cho bài hát vừa dễ hát vừa dễ thuộc. Ngoài ra nó còn rất hợp với chất cải lương, để hát tân cổ giao duyên.

    Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã thành công với ca khúc Nắng Chiều với phong cách rumba bolero đầu tiên và trở thành bài tình ca nổi tiếng trong thế kỷ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Cho đến nay, nhạc phẩm Nắng Chiều vẫn giữ một vị trí ưu ái, trong lòng khán giả mến yêu âm nhạc, và đó là điểm son của nhạc phẩm Nắng Chiều theo dòng thời gian. NS Lê Trọng Nguyễn được vinh dự là hội viên của các nhà soạn nhạc Pháp Quốc S.A.C.E.M (Societe des  Auteurs, Compositeurs, Editeurs de Musique).

    . Nắng Chiều là niềm hãnh diện của NS Lê Trọng Nguyễn nói riêng và của làng âm nhạc VN nói chung.

    NẮNG CHIỀU: Ban họp ca tiếng Thời Gian trình bày ca khúc Nắng Chiều qua ba ngôn ngữ: Hoa, Pháp và Việt, với những giọng ca:

    Ngọc Hà – Hoa ngữ; Kiều My – Pháp ngữ; Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư, Ngọc Quỳnh, Ái Liên – Việt ngữ…Ban họp ca đã làm sống động khánh phòng qua lời ca tiếng nhạc tuyệt đỉnh của Nắng Chiều…một ca khúc bất hủ của Ns Lê Trọng Nguyễn… được khán giả vỗ tay nhiệt liệt tán thưởng.

    GIẤC MƠ XUÂN: thơ Lê Nguyễn Nga, nhạc Nguyễn Tuấn, được trình bày qua tiếng hát mượt mà, gợi cảm của ca sĩ Thụy Lan.

    4/ Diễn giả Nv. Nguyễn Thị Mắt Nâu: nói về quan hệ tình bạn cũng như cơ duyên gặp gỡ giữa nữ sĩ Lê Nguyễn Nga và diễn giả. Một tình bạn bền chặt với những kỷ niệm khó quên dù thời gian đã trôi qua vài thập kỷ.

    CÁT BIỂN: Ban tam ca Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư… trong lối phục sức Hạ Uy Di với vòng hoa trên cổ, đã đồng diễn ngoạn mục ca khúc Cát Biển, sáng tác của Lê Trọng Nguyễn. Giai điệu của Cát Biển dào dạt như những con sóng nhấp nhô, mang đến cảm giác như ta đang đi dạo trên bãi cát trắng Hawaii.

    CS Ngọc Hà với nhạc phẩm Hải Ngoại Thương Ca

    *Cảm tạ

     Nữ Sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga đã bày tỏ lòng chân thành tri ân đối với những quan khách đến tham dự buổi ra mắt sách NIỀM TIN&THƯƠNG YÊU. Trong cuộc phỏng vấn ngắn gọn, nữ sĩ đã giải thích cho Kiều My ý nghĩa về chủ đề của tác phẩm.

     NIỀM TIN: là đặt niềm tin vào Thượng Đế, Thần Thánh bất luận là Thiên Chúa Giáo hay Phật Giáo và hãy sống một đời sống tốt đẹp.

     THƯƠNG YÊU: tình thương đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái, yêu thương bằng hữu hay tha nhân, yêu tổ quốc cũng như người dân Việt đang sống trong cảnh lầm than.

     HẢI NGOẠI THƯƠNG CA: sáng tác của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua tiếng hát cao vút, điêu luyện của ca sĩ Ngọc Hà.

    PHẦN VĂN NGHỆ & KHIÊU VŨ

     Sau phần trang nghiêm của VĂN HỌC, không khí chợt sôi động với điệu Chachacha trổi lên trong bản:

     IT’S NOW OR NEVER: qua giọng ca lôi cuốn của ca sĩ Mạnh Bỗng, như ca sĩ Elvis Presley một thời nổi tiếng qua bản nhạc này.

     ĐOÀN LỮ NHẠC: điệu quân hành Pasodoble qua hai giọng ca Ngọc Quỳnh và Ái Liên, cũng là những ca sĩ nồng cốt của ban Tiếng Thời Gian.

              THUYỀN HOA & AUTUMN LEAVES: ca sĩ Phạm Gia Đại đã diễn đạt ca khúc qua giọng hát trầm ấm lôi cuốn của anh qua điệu Valse và Rumba

    Ngọc Châu với …. “Thêm một bài nữa nhé????”

     ETERNALLY & BESAME MUCHO: là những nhạc phẩm lừng danh trên thế giới, với tiếng hát trữ tình của ca sĩ Kiều My qua điệu Boston và Chachacha.

             

    RIVERS OF BABYLON: do ban tam ca Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư trình diễn. Gợi lên nỗi nhớ về bản nhạc nổi tiếng này đã đưa ban nhạc Bonni M lên đài danh vọng.

    NGỌC TÚ & TƯỜNG ANH VỚI DANCING ALL NIGHT.….

    Ngọc Tú & Tường Anh

    Micheal, Minh Thư, Thụy Lan, Lệ Hoa

    Dancing all day and let’s it loud.

    Tiếp theo là những điệu nhạc vui nhộn của Dancing All Night, Twist, Chachacha…đã lôi cuốn bước chân mọi người ra sàn nhảy…nhảy đến mệt nhoài mà quên đi thời gian… Buổi ra mắt sách NIỀM TIN & THƯƠNG YÊU chan chứa niềm vui đã khép lại. Các bạn hữu trong hội Văn Bút đã cùng vui chơi với nhóm NVNT&TTG đến giờ chót; ngần ấy đã nói lên sự thành công tốt đẹp về buổi ra mắt sách của tác giả. Kiều My thay mặt NVNT&TTG cùng nữ sĩ Lê Trọng Nguyền Nga chân thành cảm tạ tất cả bạn hữu. Hẹn ngày tái ngộ!

    Kiều My, California, May 2024

  • Kiều My,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt,  Tin tức

    Buổi Ra Mắt Hồi Ký: NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ CỦA NV PHẠM GIA ĐẠI

    Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chào mừng NV Phạm Gia Đại ra tác phẩm

    Tập hồi ký “Người Muôn Năm Cũ” của nhà văn Phạm Gia Đại được ra mắt cùng độc giả ngày Chủ nhật 5 tháng Năm 2024 vừa qua, trong không khí vui tươi giữa không gian ấm cúng của Westminster Community Center tại thành phố Westminster, Nam California.

    Thiên nhiên đã ưu đãi cho thủ đô người Việt tị nạn một ngày đẹp trời của tiết Xuân…  mát mẻ dịu dàng. Người người nô nức về đây cùng tham dự buổi ra mắt sách của nhà văn, kiêm bình luận gia Phạm Gia Đại của đài truyền hình VCAL TV, mà mọi người rất quý mến. Bằng sự nhiệt tình, độc giả đã mở rộng vòng tay đón nhận quyển hồi ký thứ hai mang tên NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ của nhà văn Phạm Gia Đại, sau tập hồi ký thứ nhất NHỮNG NGƯỜI TÙ CUỐI CÙNG xuất bản năm 2011, thành công mỹ mãn.

     Với sự tham dự đông đảo của nhiều thành phần trong cộng đồng người Việt tại thủ đô tị nạn Hoa Kỳ, trong sự kiện đặc biệt này. Chúng ta nhận thấy có sự góp mặt của GS. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân Ngọc Hà, các cựu quân nhân Sư đoàn 5 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những cựu tù nhân chính trị và hình sự; nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm có: Thụy Lan, Mộng Thủy, Minh Khai, Minh Châu, Minh Thư v.v… Những nhà văn tên tuổi như: Nguyễn Quang,Vương Trùng Dương, nhà thơ Lê Nguyễn Nga, nhà văn Khánh Lan và phu quân Mạnh Bỗng,Nhà văn ký giả Kiều Mỹ Duyên và nhà văn Kiều My…các thân hữu, quan khách và những hội đoàn: đặc biệt với sự hổ trợ của gia đình tác giả từ khắp nơi tề tựu về; khiến khánh phòng trở nên rộn rịp như một ngày hội.

    GS Lê Văn Khoa & Phu Nhân, C Ngọc Hà và tác giả: NV Phạm Gia Đại

     Susan Tạ, Khánh Lan, Minh Khai, Thụy Lan, Kiều My, Minh Thư   

    Tác giả Phạm Gia Đại cùng những người bạn tù

    Quang Cảnh của hội trường Westminster trong ngày RMS

    Khai mạc chương trình là nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa kỳ trong sự trang nghiêm cung kính…Người Việt hải ngoại cùng một lòng hướng về Tổ quốc Việt Nam thân yêu, dù nghìn trùng xa cách. Cũng như thế, mọi người kính cẩn nghiêng mình trước lá cờ Hoa Kỳ, bày tỏ lòng tri ân đối với nhân dân và đất nước này đã cưu mang những người Việt tị nạn CS. Sau đó, một phút mặc niệm trong thinh lặng thật cảm động, bùi ngùi thương cảm cho những chiến sĩ QLVNCH, dân quân cán chính, những người tranh đấu cho tự do, nhân quyền đã hy sinh vì Tổ quốc. Ngoài ra, sau 1975, hàng trăm ngàn nạn nhân xấu số đã vùi thây dưới lòng biển cả hay những nơi rừng thiêng nước độc trên con đường thoát hiểm đi tìm Tự do.

    Ca khúc Ai Trở Về Xứ Việt: thơ cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc, mở đầu chương trình văn nghệ qua phần trình diễn của ca sĩ MC. Bích Ngọc…

    MC Ngọc Bich và NV Phạm Gia Đại

    Ký Giả Kiều Mỹ Duyên:

    Nữ ký giả tài ba Kiều Mỹ Duyên đảm trách nhiều vai trò, vừa là ký giả, nhà báo, đồng thời là nhà văn. Bà là tác giả của 2 tác phẩm xuất sắc đã được xuất bản, đó là: “Chinh Chiến Điêu Linh” và “Hoa Cỏ Bên Đường”.

    Nữ ký giả đã viết về hồi ký “Người Muôn Năm Cũ” như sau: “Nhà văn Phạm Gia Đại ở tù 17 năm vẫn còn sinh tiền, đã viết ra những nỗi khốn khổ nhất trên trần gian cho chúng ta đọc. Ông là người sống hết lòng với Tổ Quốc, có niềm tin tôn giáo mãnh liệt, yêu thương Mẹ và tha nhân, biết ơn cuộc đời, biết ơn mọi người đã giúp ông sống sót qua những năm tháng tối tăm nhất trong ngục tù CS. Người mà ông mang ơn nhất là thân mẫu của ông. Ông ngưỡng mộ những vị lãnh đạo tinh thần qua những việc làm bình thường nhưng rất phi thường của ngài Thượng tọa Thích Thanh Long.”

    Trong LỜI TỰA ở trang đầu của tác phẩm Người Muôn Năm Cũ, ký giả Kiều Mỹ Duyên đã viết: “Cố gắng để sinh tồn, để vươn lên dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã. Trong khốn cùng mới thấy nghị lực phi thường và sĩ khí của người tù. Hãy đọc hồi ký NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ của nhà văn Phạm Gia Đại để thấy đời vẫn đẹp sao, để thấy rằng mình vẫn còn may mắn và hạnh phúc. Hãy tu nhân tích đức để mai này ra đi nếu được trở lại trần gian sẽ không phải trầm luân và có cuộc đời an vui hạnh phúc.”

    Nhà Văn Ký giả Kiều Mỹ Duyên

    Nhà văn, diễn giả Phạm Gia Đại:

    Có thể nói: đây là tiết mục xuất sắc nhất trong chương trình. Nhà văn Phạm Gia Đại kiêm diễn giả, trình bày về hồi ký “Người Muôn Năm Cũ,” thật tuyệt vời! Trong suốt một giờ đồng hồ qua phần trình bày về tác phẩm của ông, mọi người trong khán phòng thinh lặng, lắng nghe…cảm động và thán phục!

    Cả hội trường cùng trở về quá khứ với ông trong “Người Muôn Năm Cũ”, để cùng chia sẻ những ngày tháng tù đày của những người tù khốn khổ trong những trại tù “cải tạo” của CSVN. Dưới ngòi bút với lối văn phong trong sáng của tác giả, nhưhọa sĩ tài ba, đã vẽ lại bức tranh u ám về thảm cảnh đau khổ tột cùng của những tù nhân còm cõi không còn dáng dấp của con người. Tâm trí cũng như thể xác họ đã bị tê liệt bởi sự đọa đày khủng khiếp của những tên cai ngục lòng lang dạ thú, với dã tâm giết người tù chính trị chết lần mòn trong những trại giam tập trung. Người tù bị tra tấn hằng ngày qua nhiều hình thức như: bỏ đói, hành xác, lao động khổ sai, kết hợp rất tinh vi với tra tấn tinh thần qua những buổi học tập để nghe chính trị viên khoác lác tô vẽ về thiên đường ảo tưởng “Xã hội chủ nghĩa.” Những tay sai này có cơ hội lên án tù nhân chế độ cũ, hầu biện minh cho việc chính quyền Hà Nội đã giam cầm họ quá lâu, so với sự tuyên truyền “khoan hồng nhân đạo” khi mới chiếm đoạt miền Nam.

    NV Phạm Gia Đại

    Những người tù cuối cùng được sống sót thoát khỏi trại giam giết người sau 17 năm, có thể nói, đó là “một phép mầu”! Nhờ vào nhiều yếu tố thiết yếu như: sự tiếp tế lương thực, thuốc men, quần áo ấm, các vật dụng cần thiết…từ gia đình; nhờ vào sự tranh đấu bền bỉ và khốc liệt của nhiều cá nhân và đoàn thể với chính phủ Hoa Kỳ; nhờ vào sức chịu đựng phi thường của người tù, vượt lên trên tất cả những gì bình thường nhất về sức người trong cuộc đời. Ngoài yếu tố gia đình, tình đồng đội, sức chịu đựng phi thường của người tù – niềm tin vào đấng thiêng liêng là sức mạnh đã giúp họ sống sót. Lại thêm tấm lòng nhân bản của người tù đã xoay chuyển được cơn sóng dữ trong thảm trạng, trở thành một sự thường tình để chấp nhận và chịu đựng trong hoàn cảnh thiếu sống thừa chết.

    Trải qua sóng gió của kiếp tù đày khổ sai trong ngục tù CS, nhà văn Phạm Gia Đại đã hít thở được không khí tự do, đã được nhìn thấy ánh bình minh cuối đời mình ở miền đất hứa…Đi lần về quá khứ để tìm những “Người Muôn Năm Cũ,” mà quãng đời còn lại của tác giả sẽ chẳng bao giờ quên. Hình ảnh gia đình thân thương từ những ngày còn ở Hải Phòng bên cha mẹ cùng những anh em, rồi di tản vào miền Nam qua hiệp định Geneve 1954, chia đôi đất nước. Sau khi di cư vào Nam, người cha qua đời vì bạo bệnh, Mẹ phải gánh vác hết mọi việc. Sau đó là biến cố miền Nam sụp đổ tháng 4, 1975. Tác giả đi tù khổ sai suốt 17 năm dài và hai người anh cũng đi tù nhưng được thả sớm hơn. Trong giai đoạn khó khăn sống chết này, chính người Mẹ đã chắt chiu từng đồng để gửi quà nuôi ba anh em trong tù. Ôi…tình thương của Mẹ dành cho con quá đổi bao la như biển cả, khiến ông luôn tưởng nhớ đến Mẹ, dù bà đã về cõi vĩnh hằng. Ngoài ra, còn gia đình những người em từ bên Mỹ cũng gửi quà về nuôi hai anh được kéo dài cuộc sống mõi mòn trong cảnh tù đày cho đến khi ra tù. Thuốc men, thực phẩm do gia đình gửi vào tù, nhờ vậy mà các bạn tù cũng được chia sẻ trong tình người (theo lời Mẹ ông căn dặn) – “một miếng khi đói bằng một gói khi no” vậy!

    Trở về những ngày tháng tuổi học trò dù đã xa xưa lắm, nhưng tác giả vẫn nhớ đến những người bạn cũ với những kỷ niệm tuy đơn sơ, nhưng chan chứa tình cảm dạt dào của thời niên thiếu. Cậu bé tên Nam, người bạn đầu tiên của những lớp tiểu học ở bến Chương Dương, khi mới di cư vào Nam. Hai bạn Nguyễn văn Duyệt và Đặng Trần Đắc là hai người bạn thân ở bậc trung học. Khi định cư ở Hoa Kỳ, tác giả có dịp hội ngộ với bạn Đắc tại California; và chính Đắc là người đầu tiên khuyến khích Phạm Gia Đại viết quyển hồi ký thứ nhất “Những Người Tù Cuối Cùng” Trong “Người Muôn Năm Cũ”, có Lâm Minh Hạnh là bạn đồng nghiệp của tác giả làm việc tại Trung Tâm Chiêu Hồi Thị Nghè vào những năm 1966-1970. Đã nhiều năm xa cách, và cũng có duyên hội ngộ tại California cách đây vài năm.

    Trong trận đại hồng thủy 1975, đã cuốn trôi một số lớn người vào những ngục tù tăm tối của CS, và họ nghĩ rằng cuộc đời mình sẽ vĩnh viễn chôn vùi trong đó. Nhưng may mắn thay! Tác giả đã gặp được những vị thầy, những ân nhân, những người bạn tù… đã giúp ông thêm kiến thức sâu sắc về chính trị và củng cố lập trường quốc gia vững chắc hơn. Những ân nhân này là thầy Tâm, Hòa thượng Thích Thiện Chánh và Thượng tọa Thích Thanh Long, là những bậc thầy đáng kính. Bên cạnh đó, còn có anh Thạnh, Lạng và Kiên trong tổ điện…là những người đã từng chia sẻ khổ đau với tác giả trong những ngày dài tù rạc.

    Ngày ra tù là ngày chan chứa bao nỗi vui mừng, biết rằng mình vẫn sống còn để chờ ngày đi định cư Hoa Kỳ đoàn tụ với những người thân yêu. Trong thời gian này, tác giả đã kết thân với Jum Bum Seo, là C.E.O Đại Hàn trong công ty sản xuất giày thể thao Hừng Sáng, nơi tác giả làm việc. Một tình bạn mà tác giả không hề quên vì lòng tốt của bạn, là người an ủi ông trong những ngày tháng cô đơn, buồn bã khi ra tù ở Saigon.

    Những “Người Muôn Năm Cũ” trong ký ức của tác giả còn có những người bạn tù đã cùng sống chết, chia sẻ với nhau trong những ngày đen tối, khổ ải của mười mấy năm chốn địa ngục. Họ là “những người tù cuối cùng” được thả sau 17 năm bị giam cầm gồm  những thành phần như: tình báo, cảnh sát đặc biệt, an ninh quân đội, quân báo , trinh sát v. v…Là những người bạn vong niên mà tác giả nhớ nhiều nhất như: Hoàng Lãm, Trần quang Lựu, Nguyễn văn Quí, Lê Hữu Minh v.v…anh hồi chánh Miên. Ngay cả con chó trung thành Pepsi, chủ nhân của nó là Hoàng Hiểu luôn đi lẽo đẽo với những người tù ra bãi lao động, hay chạy lăn xăn theo đội đứng chờ điểm danh nhập trai, cũng là một thành viên của “người muôn năm cũ” luôn hiện diện trong ký ức của tác giả.

    Sau cùng, chúng ta hãy luôn tưởng nhớ và tri ân hàng triệu quân dân cán chính VNCH, đã nằm xuống cho Tự Do, cho nền Dân chủ miền Nam, Việt Nam. Trong “Những Người Tù Cuối Cùng” đó, có những người đã là những ánh sao rơi rụng dưới bầu trời tự do, vì tuổi đã già, sức đã yếu sau những năm dài tù đày. Xin hãy an nghĩ chốn vĩnh hằng, nơi không còn đau thương đọa đày, không có chiến tranh tàn khốc, nơi có ánh sáng hiền hòa chào đón các anh! Nguyện thắp nén hương lòng để tưởng nhớ và tri ân các vị anh hùng đã hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam!

    Sau khi diễn giả chấm dứt bài nói chuyện, cả hội trường vỗ tay tán thưởng phần trình bày lưu loát, tường tận và xúc tích về “Người Muôn Năm Cũ” của chính tác giả Phạm Gia Đại, đã gây niềm xúc động sâu sắc trong lòng người. Vì ông là một trong những người tù cuối cùng, đã chôn vùi một phần đời mình trong cảnh tù đày cùng cực, là nhân chứng của nhà tù CS. còn sống sót.

    Ca khúc Trường Làng Tôi

    Ca sĩ Thụy Lan và Minh Thư

    Kết thúc phần văn nghệ cũng như chương trình ra mắt sách NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ bằng ca khúc Trường làng Tôi, với giai điệu vui tươi trong sáng qua tiếng hát Thụy Lan và Minh Thư, trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Ca khúc này gợi trong ta nỗi nhớ khôn nguôi thuở còn cắp sách đến trường… thật đẹp, thật bình yên trong 9 năm ngắn ngủi của nền đệ nhất Cộng Hòa miền Nam Việt Nam.

    Thời gian đã qua đi có bao giờ trở lại để dân Việt được hít thở không khí trong lành của TỰ DO và NHÂN BẢN! Xin ơn trên ban phúc lành cho tất cả những cựu tù nhân và toàn thể dân Việt khắp nơi trên thế giới cũng như trong nước, luôn được an vui trong cuộc sống! Hầu chờ đón một ngày mai tươi sáng rạng ngời trên quê hương Việt Nam.

    KIỀU MY

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt

    TIỆC MỪNG SINH NHẬT CỦA NHÀ VĂN BÁC SĨ NGUYỄN XUÂN QUANG

    Khánh Lan tường trình buổi RMS

    NV Kiều My, LS DS Michelle Thanh Mai, NV Khánh Lan, NV BS Nguyễn Xuân Quang (Ngồi)

    Quận Cam hôm nay có đến 3 buổi RMS khác nhau gồm: Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng, Nhà Văn Phạm Gia Đại, Nhà Văn Đặng Thơ Thơ và buổi mừng sinh nhật & giới thiệu các tác phẩm mới của Nhà Văn Bác Sĩ (NV BS) Nguyễn Xuân Quang. Sự trùng hợp ngày RMS này đã tạo nên sự lo lắng khả quan cho 4 tác giả nói riêng vì số quan khách tham dự sẽ bị phân chia ra 4 nơi khác nhau, cũng như tạo nên sự phân vân không ít cho nhiều độc giả yêu sách trong cộng đồng người Việt tại vùng Little Saigon là không biết nên tham dự buổi RMS của ai?

    Riêng phần chúng tôi (Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian) thì quen thân với cả hai nhà văn: NV BS Nguyễn Xuân Quang và NV Phạm Gia Đại. Chính vì vậy mà anh chúng tôi quyết định chia làm hai nhóm.

    Nhóm thứ nhất sẽ tham dự buổi mừng sinh nhật và giới thiệu sách mới của NV BS Nguyễn Xuân Quang được tổ chức từ 11:30 sáng-3:00 chiều tại Golden Sea Restaurant. Chúng tôi gồm NV Nguyễn Quang, phu quân của cố NV Minh Đức Hoài Trinh, GS Dương Ngọc Sum, GS Trần Mạnh Chi, NV Kiều My, CNS Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Khánh Lan và phu quân, Mạnh Bổng. (NV Việt Hải bị bệnh bất thình lình nên xin lỗi vắng mặt).

    Kiều My, Khánh Lan

    NV Nguyễn Quang, XNV Thanh Thảo, NV BS Nguyễn Xuân Quang, GS Dương Ngọc Sum, Mạnh Bổng, NV Khánh Lan, GS Trần Mạnh Chi.

    NV BS Nguyễn Xuân Quang và phu nhân, Luật Sư Dược Sĩ (LS DS) Michelle Thanh Mai Nguyễn đã rất chu đáo trong việc tiếp đãi quan khách. Đó là một bữa tiệc sinh nhật thịnh soạn tại nhà hàng Golden Sea. Hiện diện trong buổi tiệc Khánh Lan nhận thấy có rất nhiều quan khách và bạn hữu như NS Võ Tá Hân và phu nhân, GS Phạm Thị Huê và phu quân, XNV Thanh Thảo, XNV Hồng Vân và rất nhiều tao nhân mặc khách mà Khánh Lan xin lỗi không rõ quý danh…cũng trong số ấy, con gái trưởng của bác sĩ Quang là Luật sư Nguyễn Mai An và phu quân là Nguyễn Hữu Minh, cháu ngoại và cô con thứ của hai vị là Bác Sĩ Nguyễn Á Mỹ Amy cũng về để mừng tuổi “Bố”.

    Mở đầu buổi tiệc và sau khi ngỏ lời cám ơn quan khách tham dự, NV BS nói: “Tôi vốn nói ít viết nhiều” nên tôi xin nhường lời lại cho “nhà tôi”, Michelle Thanh Mai. NV BS cũng không quên cám ơn LS DS Michelle Thanh Mai đã luôn đứng cạnh bên ông để hỗ trợ (support) và giúp ông trong lúc ông hoàn thành công việc như thu thập các tài liệu, dữ kiện nghiên cứu, chụp hình tranh ảnh, hình tượng, v.v… trong bảo tàng viện hay trong thư viện.

    Tiếp lời NV BS Quang, LS DS Michelle Thanh Mai đã nói những lời thật cảm động đến BS Quang rằng bà rất vui đã được cùng BS sánh bước đi khắp nơi, thưởng ngoạn phong cảnh đẹp, bà hứa sẻ luôn ở bên ông và “support” BS Quang, để ông có thể hoàn thành những ước vọng của ông trong sự nghiệp văn chương, biên khảo… Kết luận, LS DS Michelle Thanh Mai với nụ cười luôn nở trên môi, rất duyên dáng, di dỏm, đáng yêu khi bà ví von: “Đằng sau sự thành công của người đàn ông, thì luôn luôn có người đàn bà ở bên cạnh để nhắc nhở”. (Phải chăng là những lúc NV BS quên không nhớ là định nói điều gì…)

    Cô Mai An và cô Á Mỹ Amy cũng đã chia sẻ cảm nghĩ của cô về sự thành công & chúc mừng BS Quang ra tác phẩm mới cũng như chúc sức khỏe cho Bố Mẹ. Trong ngày vui của “Bố Quang”, Cô Mai An đã đại diện cho gia đình mình và em gái Á Mỹ Amy tặng BS một bức ảnh phóng lớn những tác phẩm của ông. Cô nói: Cô và em gái không biết biếu “Bố” quà gì? “Bố” cần gì? nên hai cô nghĩ món quà này là quý nhất.

    Chương trình của buổi tiệc gồm hai phần: Phần đầu là giới thiệu 4 tác phẩm mới nhất của NV BS Nguyễn Xuân Quang và phần sau là văn nghệ phụ diễn của các anh chị trong nhóm Văn Nghệ Lạc Hồng, Nhóm Quan Họ Bắc Ninh và các thân hữu. Chen lẫn với chương trình văn nghệ là tiết mục giới thiệu tác phẩm “Trống Đồng” do chính tác giả trình bày trong hơn 45 phút, rất đặc biệt. Bộ sách Trống Đồng gồm 6 quyển, ghi lại tỉ mỉ từng chi tiết về di tích, lịch sử và nguồn gốc. Được biết NV BS Nguyễn Xuân Quang là nhà biên khảo duy nhất về trống đồng hiện nay và ông đã đi khắp nơi trên thế giới để nghiên cứu và thu thập tài liệu khi viết tác phẩm này. Ngoài bộ sách Trống Đồng, còn các loại sách khác như Tiếng Việt Huyền Diệu (2004), Ca Dao Tục Ngữ, tinh hoa dân Việt (2002), An Overview of The Ngọc Lũ, Bronze Drum, Through Its Bands, v.v…

    Khoảng 2:30 chiều, anh em chúng tôi xin phép rời buổi tiệc mừng sinh nhật của NV BS Nguyễn Xuân Quang để tham dự buổi RMS của NV Phạm Gia Đại.

    Nhóm thứ hai đã đến buổi RMS của NV Phạm Gia Đại được tổ chức từ 1:00 chiều đến 4:00 chiều gồm: Nhà thơ John Tạ & phu nhận Susan Tạ, Nhà Văn Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa & phu nhân, Ngọc Hà, Nhà Văn Vương Trùng Dương, NT Lê Nguyễn Nga, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Mộng Thủy.

    Mộng Thủy, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Châu, Susan Tạ, Minh Khai

    Chị Susan Tạ, Khánh Lan, Minh Khai, Thụy Lan, Kiều My, Minh Thư

    NV Phạm Gia Đại RMS với tác phẩm thứ hai của ông sau tác phẩm hồi ký “Những Người Tù Cuối Cùng” xuất bản năm 2017. Sách dầy 493 trang. Đây là một tài liệu sống và trung thực ghi lại những đắng cay, gian khổ mà những người tù thuộc hàng ngũ quân nhân cán chính của chế độ VNCH đã trải qua sau năm 1975 trong các trại tù tập chung của CS VN.

    Tác phẩm hồi ký thứ hai xuất bản năm nay, 2024, song ngữ Anh và Việt và có lẽ cũng là tác phẩm cuối cùng của NV Phạm Gia Đại, đó là lời tâm sự của tác giả. Tác phẩm thứ hai với tên gọi “Người Muôn Năm Cũ”, dầy 441 trang và là sự nối tiếp của tác phẩm thứ nhất, nhấn mạnh vào tấm lòng yêu tổ quốc, niềm tin tôn giáo, lòng yêu thương của cha mẹ & anh em, sau hết là lòng biết ơn của tác giả đến bạn bè cũng như tha nhân đã giúp ông vượt qua những khó khăn và sống sót qua những năm tháng tối tăm nơi cảnh tù đầy. (Mời quý độc giả đón xem bài tường trình về buổi RMS của NV Kiều My)

    Rời bữa tiệc mừng sinh nhật của NV BS Nguyễn Xuân Quang, anh em chùng tôi thẳng tiến đến Westminster Community Center để ủng hộ buổi RMS của NV Phạm Gia Đại. Lúc ấy NV Phạm Gia Đai đang nói về những khó khăn gian khổ và những kỷ niệm cười ra nước mắt của các anh em tù trong trại “cải tạo”. Hai mẩu chuyện NV Phạm Gia Đại kể nghe thật chua chát mà Khánh Lan nhớ mãi.

    • Chuyện thứ nhất là một người bạn tù của ông đã quấn 14 tờ báo (nhật trình) lên người để cho bớt lạnh, thế mà vẫn run lên cầm cập bởi cái “rét” (cái lạnh) buốt da, thấu xương thịt của miền Bắc.
    • Chuyện thứ hai là khi NV Phạm Gia Đại trở về sau 17 năm trong tù “Cải Tạo”, ông ở trọ tại nhà của người anh rể. Một hôm có người hàng xóm đến chơi nhà ông anh rể, khi nhìn thấy NV, bà buột miệng nói: “Lạ quá, người ta ở nước ngoài về thì trông khỏe mạnh và đẹp trai, thế mà sao anh Đại lại trông gầy và xấu xí thế nhỉ?” Câu nói khiến ông anh rể của NV phải bật cười trong nước mắt. “Ấy, bà lầm mất rồi, chú ấy vừa được thả tù về đấy.” Nghe sao thảm thương và chua chát làm sao?

    Mặc dù hôm nay có đến 4 buổi RMS nhưng lạ lùng thay hội trường Westminster Community Center lại đầy kín người là người và mọi người đã ở lại cho đến giờ phút cuối. Phần lớn quan khách là những bạn tù của nhà văn hoặc các chiến binh thuộc chương trình HO và các anh chị em cựu học sinh của trường Chu Văn An, Saigon. Chắc hẳn NV Phạm Gia Đại đã được các bạn đồng môn, đồng nghiệp lòng kính yêu rất nhiều trong quá khứ.

    Buổi RMS của NV Phạm Gia Đại kết thúc lúc 4:00 chiều, anh em chúng tôi cùng ở lại để chụp chung một tấm hình kỷ niệm cùng nhà văn.

    Tấm hình kỷ niệm ngày RMS của NV Phạm Gia Đại

    Chúc mừng NV BS Nguyễn Xuân Quang & LS DS Michelle Thanh Mai Nguyễn và NV Phạm Gia Đại thành công trong buổi RMS.

    Khánh Lan

    NV BS Nguyễn Xuân Quang, LS DS Michelle Thanh Mai Nguyễn và NV Khánh Lan

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt

    TIỆC MỪNG SINH NHẬT CỦA NHÀ VĂN BÁC SĨ NGUYỄN XUÂN QUANG

     Khánh Lan tường trình buổi RMS

    NV Kiều My, LS DS Michelle Thanh Mai, NV Khánh Lan, NV BS Nguyễn Xuân Quang (Ngồi)

    Quận Cam hôm nay có đến 3 buổi RMS khác nhau gồm: Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng, Nhà Văn Phạm Gia Đại, Nhà Văn Đặng Thơ Thơ và buổi mừng sinh nhật và giới thiệu các tác phẩm mới của Nhà Văn Bác Sĩ (NV BS) Nguyễn Xuân Quang. Sự trùng hợp ngày RMS này đã tạo nên sự lo lắng khả quan cho 4 tác giả nói riêng vì số quan khách tham dự sẽ bị phân chia và sự phân vân không ít cho nhiều độc giả yêu sách trong cộng đồng người Việt tại vùng Little Saigon là không biết nên tham dự buổi RMS của ai?

    Riêng phần chúng tôi (Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian thì quen thân với cả hai nhà văn: NV BS Nguyễn Xuân Quang và NV Phạm Gia Đại. Chính vì vậy mà anh chúng tôi quyết định chia làm hai nhóm.

    Nhóm thứ nhất sẽ tham dự buổi mừng sinh nhật và giới thiệu sách mới của NV BS Nguyễn Xuân Quang được tổ chức từ 11:30 sáng-3:00 chiều gồm NV Nguyễn Quang, phu quân của cố NV Minh Đức Hoài Trinh, GS Dương Ngọc Sum, GS Trần Mạnh Chi, NV Kiều My, CNS Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Khánh Lan và phu quân, Mạnh Bổng. (NV Việt Hải bị bệnh bất thình lình nên xin vắng mặt).

    Hình phía trên: Kiều My, Khánh Lan

    Hình phía dưới: NV Nguyễn Quang, XNV Thanh Thảo, NV BS Nguyễn Xuân Quang, GS Dương Ngọc Sum, Mạnh Bổng, NV Khánh Lan, GS Trần Mạnh Chi.

    NV BS Nguyễn Xuân Quang và phu nhân, Luật Sư Dược Sĩ (LS DS) Michelle Thanh Mai Nguyễn đã rất chu đáo trong việc tiếp đãi quan khách. Đó là một bữa tiệc sinh nhật thịnh soạn tại nhà hàng Golden Sea. Hiện diện trong buổi tiệc Khánh Lan nhận thấy có rất nhiều quan khách và bạn hữu như NS Võ Tá Hân và phu nhân, GS Phạm Thị Huê và phu quân, XNV Thanh Thảo, XNV Hồng Vân và rất nhiều tao nhân măc khách mà Khánh Lan không rõ quý danh…cũng trong số ấy, con gái trưởng của bác sĩ Quang là Luật sư Nguyễn Mai An và phu quân là Nguyễn Hữu Minh và cháu ngoại. Con thứ là Bác Sĩ Nguyễn Á Mỹ Amy cũng về để mừng tuổi “Bố”.

    Mở đầu buổi tiệc và sau khi ngỏ lời cám ơn quan khách tham dự, NV BS nói: “Tôi vốn nói ít viết nhiều” nên tôi xin nhường lời lại cho “nhà tôi”, Michelle Thanh Mai. NV BS cũng không quên cám ơn LS DS Michelle Thanh Mai đã luôn giúp ông trong lúc ông hoàn thành công việc thu nhập các tài liệu, dữ kiện nghiên cứu cũng như giúp chụp hình tài liệu, tranh ảnh, hình tượng, v.v… trong bảo tàng viện hay thư viện.

    Tiếp lời NV BS Quang, LS DS Michelle Thanh Mai đã nói những lời thật cảm động đến BS Quang rằng bà rất vui đã được cùng BS sánh bước đi khắp nơi, thưởng ngoạn phong cảnh đẹp, bà hứa sẻ luôn “support” BS hoàn thành những ước vọng của ông. Kết luận, LS DS Michelle Thanh Mai với nụ cười luôn nở trên môi, rất duyên dáng, di dỏm, đáng yêu khi bà ví von: “Đằng sau sự thành công của người đàn ông, thì luôn luôn có người đàn bà ở bên cạnh để nhắc nhở” những khi NV BS quên không nhớ là định nói điều gì…

    Cô Mai An và cô Á Mỹ Amy cũng đã chia sẻ cảm nghĩ của cô về sự thành công & chúc mừng BS Quang ra tác phẩm mới cũng như chúc sức khỏe cho Bố Mẹ. Trong ngày vui của “Bố Quang”, Cô Mai An đã đại diện cho gia đình mình và em gái Á Mỹ Amy tặng BS một bức ảnh phóng lớn những tác phẩm của ông. Cô nói: Cô và em gái không biết biếu “Bố” quà gì? “Bố” cần gì? nên hai cô nghĩ món quà này là quý nhất.

    Chương trình của buổi tiệc gồm hai phần: Phần đầu là giới thiệu 4 tác phẩm mới nhất của NV BS Nguyễn Xuân Quang và phần sau là văn nghệ phụ diễn của các anh chị trong nhóm Văn Nghệ Lạc Hồng, Nhóm Quan Họ Bắc Ninh và các thân hữu. Chen lẫn với chương trình văn nghệ là tiết mục giới thiệu tác phẩm “Trống Đồng” do chính tác giả trình bày trong hơn 45 phút, rất đặc biệt. Bộ sách Trống Đồng gồm 6 quyển, ghi lại tỉ mỉ từng chi tiết về di tích, lịch sử và nguồn gốc. Được biết NV BS Nguyễn Xuân Quang là nhà biên khảo duy nhật về trống đồng hiện nay và ông đã đi khắp nơi trên thế giới để nghiên cứu và thu thập tài liệu khi viết tác phẩm này.

    Ngoài bộ sách Trống Đồng, còn các loại sách khác như Tiếng Việt Huyền Diệu (2004), Ca Dao Tục Ngữ, tinh hoa dân Việt (2002), An Overview of The Ngọc Lũ, Bronze Drum, Through Its Bands, v.v…

    Khoảng 2:30 chiều, anh em chúng tôi xin phép rời buổi tiệc mừng sinh nhật của NV BS Nguyễn Xuân Quang để tham dự buổi RMS của NV Phạm Gia Đại.

    Nhóm thứ hai đã đến buổi RMS của NV Phạm Gia Đại được tổ chức từ 1:00 chiều đến 4:00 chiều gồm: Nhà thơ John Tạ & phu nhận Susan Tạ, Nhà Văn Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa & phu nhân, Ngọc Hà, Nhà Văn Vương Trùng Dương, NT Lê Nguyễn Nga, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Mộng Thủy.

    Chị Susan Tạ, Khánh Lan, Minh Khai, Thụy Lan, Kiều My, Minh Thư

    NV Phạm Gia Đại RMS với tác phẩm thứ hai của ông sau tác phẩm hồi ký “Những Người Tù Cuối Cùng” xuất bản năm 2017. Sách dầy 493 trang. Đây là một tài liệu sống và trung thực ghi lại những đắng cay, gian khổ mà những người tù thuộc hàng ngũ quân nhân cán chính của chế độ VNCH đã trải qua sau năm 1975 trong các trại tù tập chung của CS VN.

    Tác phẩm hồi ký thứ hai xuất bản năm nay, 2024, song ngữ Anh và Việt và có lẽ cũng là tác phẩm cuối cùng của NV Phạm Gia Đại, đó là lời tâm sự của tác giả. Tác phẩm thứ hai với tên gọi “Người Muôn Năm Cũ” là sự nối tiếp của tác phẩm thứ nhất, nhấn mạnh vào tấm lòng yêu tổ quốc và niềm tin tôn giáo, lòng yêu thương của cha mẹ & anh em và lòng biết ơn của bạn bè cũng như tha nhân đã giúp ông sống sót qua những năm tháng tối tăm nơi cảnh tù đầy. (Mời quý độc giả đón xem bài tường trình về buổi RMS của NV Kiều My)

    Rời bữa tiệc mừng sinh nhật của NV BS Nguyễn Xuân Quang, anh em chùng tôi thẳng tiến đến Westminster Community Center để ủng hộ buổi RMS của NV Phạm Gia Đại. Lúc ấy NV Phạm Gia Đai đang nói về những khó khăn gian khổ và những kỷ niệm cười ra nước mắt của các anh em tù trong trại “cải tạo”. Hai mẩu chuyện NV Phạm Gia Đại kể nghe thật chua chát mà Khánh Lan nhớ mãi.

    • Chuyện thứ nhất là người bạn tù đã quấn 14 tờ báo (nhật trình) lên người để cho bớt lạnh, thế mà vẫn run lên cầm cập bởi cái “rét” (cái lạnh) thấu xương thịt của miền Bắc.
    • Chuyện thứ hai là khi NV Phạm Gia Đại trở về sau 17 năm trong tù “Cải Tạo”, ông ở trọ tại nhà của người anh rể. Một hôm có người hàng xóm đến chơi nhà ông anh rể, khi nhìn thấy NV, bà buột miệng nói: “Lạ quá, người ta ở nước ngoài về thì trông khỏe mạnh và đẹp trai, thế mà sao anh Đại lại trông gầy và xấu xí thế nhỉ?” Câu nói khiến ông anh rể của NV phải bật cười trong nước mắt. “Ấy, bà lầm mất rồi, chú ấy vừa được thả tù về đấy.” Nghe sao thảm thương và chua chát làm sao?

    Tấm hình kỷ niệm ngày RMS của NV Phạm Gia Đại

    Buổi RMS của NV Phạm Gia Đại kết thúc lúc 4:00 chiều, anh em chúng tôi cùng ở lại để chụp chung một tấm hình kỷ niệm cùng nhà văn. Khánh Lan rất vui và mừng vì căn phòng đầy kín người là người và mọi người đã ở lại cho đến giờ phút cuối. Khánh Lan đoán có lẽ phần lớn quan khách là những bạn tù của nhà văn hoặc các chiến binh thuộc chương trình HO và các anh chị em cựu học sinh của trường Chu Văn An, Saigon. Chắc hẳn NV Phạm Gia Đại đã được các bạn đồng môn, đồng nghiệp kính yêu rất nhiều trong quá khứ.

    Chúc mừng NV BS Nguyễn Xuân Quang & LS DS Michelle Thanh Mai Nguyễn và NV Phạm Gia Đại thành công trong buổi RMS.

    Khánh Lan

    NV BS Nguyễn Xuân Quang, LS DS Michelle Thanh Mai Nguyễn và Khánh Lan

  • RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt,  Vương Trùng Dương

    Hồi Ký “Người Muôn Năm Cũ” của nhà văn Phạm Gia Đại

    Vương Trùng Dương

    Alexander Solzhenitsyn sau 8 năm lao tù  (1945-1953) trong chế độ Cộng Sản Liên Xô đã ghi lại hình ảnh kinh hoàng, đau thương đó trong các tác phẩm The First Circle (Tầng Đầu Địa Ngục), One Day in The Life of Ivan Denitsovich (Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denitsovich), Khu Ung Thư (Cancer Ward), Tầng Đầu Địa Ngục (The First Circle), Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago)… Những tác phẩm này đã được dịch sang Việt ngữ, ấn hành trước năm 1975 ở Sài Gòn. (Bài viết “Solzhenitsyn, Chiến Hữu Văn Nghệ” của tôi đăng trên Đặc San Ức Trai của Trường ĐH.CTCT Đà Lạt năm 1973, giới thiệu tổng quát về giá trị tác phẩm của người cầm bút đã sống trong gông cùm của guồng máy cai trị độc tài đảng trị được phổ biến trên văn đàn quốc tế).

    Ngày 10 tháng 12 năm 1970, Hàn Lâm Viện Thụy Điển tuyên bố trao tặng giải Nobel Văn Chương trong toàn bộ tác phẩm của ông đánh động lương tâm mọi người trên thế giới.

    Trong thời gian ở Hoa Kỳ, nhà văn Solzhenitsyn tiếp tục cho ra đời những tác phẩm: Russian Nights, 1977 (Đêm Nước Nga), The Mortal Danger, 1980 (Nguy Hiểm Tử Vong), The Red Whell (Bánh Xe Đỏ), August 1914 (Tháng Tám 1914),  October 1916 (Tháng Mười 1916), March 1917 (Tháng Ba 1917) và April 1917 (Tháng Tư  1917)…

    Sau khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam năm 1975, Quần Đảo Ngục Tù dựng lên từ Nam ba Bắc. Trong chốn lao tù nầy đã có nhiều tù nhân đã ấn hành tác phẩm, tiêu biểu như: Cùm Đỏ của Phạm Quốc Bảo, Đáy Địa Ngục của Tạ Tỵ, Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Cuối Tầng Địa Ngục của Đỗ Văn Phúc, Trại Ái Tử & Bình Điền của Dương Viết Điền… họ là những nhà văn nên viết hồi ký cũng là lẽ thường tình.

    Trải qua 17 năm trong lao tù, tác giả Phạm Gia Đại ấn hành hồi ký Người Tù Cuối Cùng năm 2011. Chương II với Cánh Cửa Địa Ngục, “Một năm ở trại Long Thành, họ đã để cửa ngỏ, bây giờ lần đầu tiên họ chính thức đối xử với chúng tôi như những tù nhân… Cánh cửa của Địa Ngục vừa mở rộng ra để đón nhận chúng tôi vào”. Chương Ngày Trở Về nơi trại tù Hàm Tân (Chương I Khu Rừng Lá Buông) có 3 chương. Chương XXIII (Kết). Danh sách hai mươi người cuối cùng còn sót lại bao gồm bốn ông tướng là Lê Minh Đảo, Lê Văn Thân, Đỗ Kế Giai và Trần Bá Di, mười lăm anh em nữa là hai anh Bửu Uy và trung úy Thắng trong Phủ Đặc Ủy; ba cảnh sát là hai trung tá NH Hải, TV Xoàn, thiếu tá PT Ngưu; người về từ Việt Nam Thương Tín Hoàng Hiểu; thiếu úy PRU trinh sát tỉnh Hòa “điếc”; anh Miên “hồi chánh viên”; ANQĐ là đại tá Sảo, Hãn, trung tá Hiếu, Kiên, thiếu tá Mẫn; lực lượng đặc biệt là thiếu tá LH Minh, nhà văn Thảo Trường TD Hinh và tôi thuộc tòa đại sứ HK”.

    Ngày trở về, anh không được niềm vui trọn vẹn vì người bạn đời “chia tay” trong lúc anh còn ở trong lao tù. Nhưng câu kết: “Anh muốn nói với em rằng anh còn thương yêu em, thương em rất nhiều dù cho kỷ niệm của chúng mình đã phần nào phai nhòa theo năm tháng”.

    Khi chúng tôi cùng làm chung tờ báo trong tòa soạn, tôi mới biết người bạn đời đó là em gái của người bạn cùng khóa với tôi và cùng học với anh ở trường trung học Chu Văn An.

    Tác phẩm Người Tù Cuối cùng với lối hành văn giản dị, nhẹ nhàng, không có gì hằn học nhưng qua từng chương sách với từng cảnh ngộ, nỗi xót xa, đau khổ qua tháng ngày nghịch cảnh và tình cảm cao đẹp của những người tù cư xử với nhau trong hoàn cảnh nghiệt ngã nên rất cảm động.

    Hồi Ký nầy do tác giả dịch sang Anh ngữ The Last Prioners để độc giả ngoại quốc và giới trẻ am hiểu.

    Tác phẩm Những Người Tù Cuối Cùng ra mắt ở Little Saigon ngày 18/5/2011 và The Last Prioners cũng ra mắt vào ngày 15/5/2016. Tác phẩm Người Muôn Năm Cũ sẽ ra mắt vào Chủ Nhật (từ 1 giờ chiều đến 4 giờ chiều) tại Westminster Community, 8200 Westminster Blvd. TP Westminster, đối diện Tượng Đài Việt-Mỹ. Tác giả chọn ngày ra mắt vào tháng 5 rất ý nghĩa vì đó là ngày mất nước.

    Hồi ký Người Muôn Năm Cũ dày trên 500 trang với 17 chương  là tác phẩm thứ nhì của nhà văn Phạm Gia Đại.

    Trải qua 17 năm lao tù với con người mảnh khảnh nhưng rất nghị lực, anh dấn thân trong lãnh vực truyền thông, xông xáo trong sinh hoạt cộng đồng trong những thập niên qua, thật đáng quý.

    Trong hai câu thơ của Vũ Đình Liên vào thời tiền chiến “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ” thường được nhắc đến qua các bài viết khi nhớ đến hình ảnh trong quá khứ, nay nhà văn Phạm Gia Đại chọn tựa đề trong tác phẩm qua 17 chương để độc giả nhớ lại ngày tháng cũ… Nếu gọi “văn tức là người” thì bản tính hiền hòa, nhân hậu của tác giả sẽ cùng đồng cảm với người đọc.

    Vương Trùng Dương–Little Saigon, March 28, 2024