• Âm nhạc,  ĐIỂM SÁCH,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt,  Viet-Hải

    VĂN HỌC TẢN MẠN LINH TINH

    Càng về sau số bạn bè trong hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa & Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & tiếng Thời Gian, khiến tôi bị rung chân, yếu tim thêm. Chả nhẽ bà con bay lên trời xanh, ta mãi cu ky cô dơn dưới dương trần sao nhỉ?

    Còn nhớ câu danh ngôn, tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Hoặc là câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Khi một con ngựa đau, hãy đại diện cho những cá nhân gặp hoạn nạn, khó khăn, đau khổ hay bất hạnh trong cuộc sống, hãy làm một chút gì dó an ủi hay ủy lạo bạn bè, dồng bào, hay rộng hơn là những nạn nhân, sinh linh gặp nạn.

    Câu nói mang ý tưởng, mang giá trị biểu hiện và thông điệp đạo đức là tinh thần đoàn kết và sự gắn bó keo sơn giữa bằng hữu trong tổ chức nhỏ xíu trong chúng ta, có vị ke, có vị không ke, không hưởng ứng, không sao cả, vì ngày nay nỗi khổ người ta, ngày sau đến lượt phe ta thói đời. Lòng nhân ái, tình tương thân tương ái: Từ loài vật biết thương nhau đến đạo lý làm người, ông bà ta muốn nhắc nhở mỗi cá nhân phải có lòng trắc ẩn. Truyền thống này tương đồng với các câu thành ngữ, ca dao khác như “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”. Sức mạnh của sự đùm bọc: Sự quan tâm, giúp đỡ không chỉ là chiếc phao cứu sinh giúp cá nhân vượt qua nghịch cảnh, mà còn là nền tảng để xây dựng một tập thể vững mạnh, một xã hội văn minh, nhân ái và giàu tình người.

    Tôi nghe Nữ sĩ Quỳnh Giao vướng stroke bị coma nhẹ, nay đã khỏi, nhà thơ HAK Dương Viết Diền, anh Alain Đức, anh Hoàng Khuê… cũng dau yếu, nhưng 25 bằng hữu hội viên tôi nghiêm ra rằng buổi hội ngô vui tưới ấm áp cho những thành viên như chị Hoàng Vinh, nữ sĩ Dương Hồng Anh, cụ bà 96 tuổi vẫn ra thơ đều đều, cụ tâm sự tôi vui quá nên hết ốm rồi anh. 

    Tôi vẫn nhớ câu danh ngôn, tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Hoặc là câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Lời nhắc nhở cho thế hệ hôm nay: Trong đời sống hối hả, đôi khi con người dễ bị cuốn vào những lo toan cá nhân mà trở nên thờ ơ, ít ke bà con nhóm. May là nhóm juniors Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa gánh vàc phụ tay cùng nhóm seniors Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & tiếng Thời Gian.

    Một tuyệt tác khác là câu ca dao mang đậm hồn nét dân tộc là ý tưởng của câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Câu ca dao như một tinh hoa, định giá hướng tư tưởng sống kết đoàn mang giá trị cốt lõi của câu ca dao, như một thông điệp nhân văn Khuyên lơn con người về tinh thần đoàn kết, tình tương thân tương ái, biết đùm bọc và yêu thương nhau vượt qua mọi ranh giới về hoàn cảnh, dù khó khăn, đầy thử thách.

    Sự kiện của câu ca dao mang hình tượng nghệ thuật, như sự kết hợp hòa quyện giữa hình ảnh thiên nhiên quen thuộc thảo mộc dây leo bầu và bí với nghệ thuật ẩn dụ métaphore, nhân cách hóa và theo thể thơ lục bát uyển chuyển.

    Câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, mang giá trị nghệ thuật: Thể thơ lục bát nhịp nhàng, từ ngữ giản dị, thủ pháp nhân hóa (“bầu ơi”) giàu cảm xúc.

    Ý nghĩa thực tiễn: Bài học về tình đoàn kết trong gia đình, ngoài xã hội và trong cả những hoàn cảnh thử thách to lớn của đất nước như thiên tai, hay nạn đại dịch lây lan mầm bệnh cho nhân loại. Vous souvenez-vous de la quarantaine liée au coronavirus? (Have you ever remembered the coronavirus quarantine?)

    Ca sĩ Kiều Loan đã diễn ngâm bài thơ mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh ngâm theo phong cách Tao Đàn Saigon xưa:

    Đợi ngày ra sách

    Chiều nay ngồi đọc sách

    Nhìn trời xanh bát ngát

    Đợi ngày ra mắt thơ

    Đàn lên cung, se tơ.

    Nghe gió chiều lao xao

    Cho lòng tôi nao nao

    Nhớ. Nhân Văn Nghệ Thuật

    Tiếng Thời. Gian dạt dào.

    Bao tháng ngày chờ đợi

    Dòng đời trôi qua mau

    Sách thơ bầy ngăn nắp

    Bút mực ngồi nhìn nhau

    Tin vui vừa loan báo

    Ngày ra mắt đến rồi

    Vườn hoa thơ nhạc nở

    Thêm một đóa hồng tươi

    Phất phơ trời lộng gió

    Hoa nở giữa vườn đời

    Hoa nở giữa hồn tôi

    Hoàng hôn tươi nụ cười

    Dương Hồng Anh, 26-9-2026

    Kỷ niệm ngày ra tác phẩm của khánh Lan và Hồng Anh.

    Chương trình văn nghệ ngâm thơ và ca hát bỏ túi với Ngọc Hà và Dương Viết Đang qua bài ca giấc mơ hồi hương của vũ thành.

    Dưới đây là bản tóm tắt ý chính của bài nhận xét theo phong cách thẩm định tổng quan (literature review), được chắt lọc ngắn gọn và súc tích:

    Tác giả Vũ Thành (1926–1987) là một gương mặt tiêu biểu của tân nhạc Việt Nam giai đoạn trước và sau năm 1954. Dù xuất hiện ít trước công chúng và có số lượng tác phẩm để lại không nhiều,nhưng ông lại được giới chuyên môn (nhạc sĩ, ca sĩ) kính trọng bậc nhất nhờ tài năng toàn diện ở cả ba vai trò: sáng tác, nhạc trưởng và hòa âm phối khí.

    Vũ Thành là bậc thầy về hòa âm. Theo đánh giá của các đồng nghiệp như Quỳnh Giao và Phạm Duy, ông là người có công lớn trong việc nâng tầm các ca khúc phổ thông thành tác phẩm nghệ thuật thính phòng sang trọng thông qua phần phối khí công phu, làm nền tảng thẩm mỹ vững chắc cho nhiều tác giả lớn thời kỳ đó.

    Cứ theo phong cách sáng tác và dấu ấn bán cổ điển, ông cho đổi mới dòng tân nhạc: Khác với âm điệu ủ ê, sướt mướt phổ biến của thập niên 40 (cung Ré thứ), âm nhạc của Vũ Thành mang hơi hướng bán cổ điển phương Tây, thanh tao, óng ả và quý phái. Tính kỷ luật trong việc trinh diễn: Các tác phẩm của ông (như Say Nhạc Canh Tàn, Nhặt Cánh Sao Rơi, Nhớ Bạn…) đòi hỏi người nghệ sĩ sự tiết chế, cách giữ nhịp tinh tế (rubato) và phát âm chuẩn mực thay vì luyến láy bi lụy quá đà, tùy cảm hứng.

    Bài tình ca “Giấc Mơ Hồi Hương” và mạch nguồn hoài niệm dĩ vãng,…

    Biểu tượng tâm tư di cư, Nhạc ra đời năm 1956, ca khúc là khúc hát tiêu biểu cho tâm sự của dòng người di cư từ miền Bắc vào Nam. Điểm độc đáo trong bút pháp của Vũ Thành là nhân cách hóa Hà Nội thành hình ảnh “em” – vừa gần gũi như một tình khúc riêng tư, vừa bao la như nỗi niềm chung của cả một thế hệ lưu xứ tha hương.

    Giá trị nghệ thuật vượt thời gian của bài nhạc là một bài hát kết hợp nhuần nhuyễn giữa nỗi buồn thấm thía chia ly, sự hồi tưởng và niềm hy vọng vào một ngày mai thanh bình. Qua các sáng tác muộn hơn như Hoài Hương Dạ Khúc, nỗi đau đáu hướng về quê cũ của ông được đẩy lên đến tận cùng của cảm xúc tha hương.

    Xét về bối cảnh ca khúc viết về Hà Nội thập niên 1950

    Bài viết đặt tên Giấc Mơ Hồi Hương (1956) vào dòng chảy chung của các nhạc phẩm viết về Hà Nội thời kỳ đó, bên cạnh những Hà Nội 49 (Trần Văn Nhơn) và Hướng Về Hà Nội (Ngô Hoàng Dương), cho thấy sự phong phú trong phong cách cất tiếng khóc hòa cùng vận mệnh đất nước của các nhạc sĩ dòng nhạc tiền chiến.

    Sau đây là tóm lược ý chính và nhận định về bài ca do ca sĩ Kiều Loan trình bày, bài tình ca dâng nỗi tâm cảm xoay quanh tác phẩm “Gửi người em gái miền Nam” của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn:

    Tác phẩm ra đời vào mùa xuân năm 1956, là bản tình khúc về mùa xuân duy nhất trong sự nghiệp của “nhạc sĩ của mùa thu” Đoàn Chuẩn. Tên gốc chính xác là “Gửi người em gái miền Nam” chứ không phải “Gửi người em gái” như cách gọi phổ biến suốt nhiều thập kỷ qua.

    Trải qua thời gian và hoàn cảnh lịch sử chia cắt hai miền Nam – Bắc, bài hát từng bị cắt xén, bóp méo cấu trúc và ca từ. Bài viết đòi lại sự công bằng cho tác giả bằng cách công bố phần lời gốc đầy đủ gồm 2 phần (với những hình ảnh thơ mộng nhưng đượm buồn về nỗi đau chia ly và niềm hy vọng đoàn tụ bên cầu Hiền Lương).

    Bài hát mang tâm sự thời thế sâu sắc: phản ánh bức tranh vân cẩu xã hội và tâm trạng của con người trong những năm đầu đất nước bị chia cắt (1954–1956). Phần 2 của bài hát chứa đựng khát vọng hòa bình và đoàn tụ mãnh liệt, vượt lên trên những tình cảm lứa đôi thông thường.

    Về giai thoại “bóng hồng” và những ẩn số cuộc đời, bài ca chứa hồi ức và theo giai thoại từ gia đình nhạc sĩ (con trai Đoàn Đính), người bạn tri âm Từ Linh, cũng như các nhà nghiên cứu (Vương Trùng Dương, Trương Quý, Lê Hoàng Long…).

    Bài hát xoáy quanh nguồn cảm hứng của bài hát là hình bóng của những mỹ nhân, ca sĩ tên tuổi thời tiền chiến như Thanh Hằng (Lê Hằng) – nàng thơ trong nhiều tình khúc Đoàn Chuẩn, hay những đồn đoán liên quan đến ca sĩ Mộc Lan, Tâm Vấn. Đồng thời, bài cá được viết cũng ghi nhận sự bao dung, hy sinh lặng lẽ âm thầm của người vợ tào khang (bà Nguyễn Thị Xuyên) – hậu phương vững chắc dung dưỡng tâm hồn phóng khoáng, tài hoa của người nhạc sĩ bay bổng, bay bướm trong âm nhạc.

    Nhận xét về tác phẩm và giá trị miên viễn của bài ca. Có thể dịnh giá dây là một kiệt tác lãng mạn trong âm nhạc: “Gửi người em gái miền Nam” không đơn thuần là một bản tình ca lãng mạn cá nhân, mà đã trở thành một chứng nhân lịch sử mang âm hưởng thời đại. Sự kết hợp giữa giai điệu sang trọng, đạo dạt chất trữ tình và ca từ giàu hình ảnh đã định hình phong cách độc bản của “vua nhạc slow” (Le roi de la musique lento) là Đoàn Chuẩn trong làng tân nhạc Việt Nam.

    Hãy tôn trọng di sản nghệ thuật dù là thuộc về quá khứ, nhưng công chúng cũng nên lưu giữa tác phẩm hay ca từ gốc của người nghệ sĩ tài danh này.

    Một kỷ niệm dáng nhớ khi tôi viết bài Bài Thánh Ca Kỳ Diệu, Việt Hải, có GS. Quyên Di, Lm. André Trần Cao Tường, có Trần Trung Dạo.

    Bài Thánh Ca Kỳ Diệu, Việt Hải, Quyên Di, Lm. André Trần Cao Tường:

    http://chimviet.free.fr/truyenky/viethai/vhan100_LmTranCapTuong%20.htm

    Bài viết “Bài Thánh Ca Kỳ Diệu” của tác giả Việt Hải (đăng trên tạp chí Chim Việt Cành Nam) là một bài tùy bút mang đậm cảm xúc tưởng niệm, được viết vào dịp Giáng sinh năm 2010 nhằm tri ân và tưởng nhớ Linh mục André Trần Cao Tường – một nhà văn, học giả, dịch giả và là Giám đốc Mạng lưới Dũng Lạc vừa mới qua đời cách đó không lâu (ngày 21/11/2010).

    Dưới đây là phần giải thích và phân tích chi tiết nội dung bài viết:

    I. Tóm tắt nội dung bài viết

    Bài viết được chia thành các tầng ý chính xoay quanh nhân vật trung tâm là Linh mục Trần Cao Tường và nguồn gốc của một tuyệt phẩm Giáng sinh:

    • Lời tạ từ và nỗi niềm mất mát (Phần đầu):

    Tác giả Việt Hải mở đầu bằng nỗi buồn khi mùa Giáng sinh năm 2010 vắng bóng một cây bút lớn ở hải ngoại là Linh mục André Trần Cao Tường (người qua đời vì bệnh tai biến mạch máu não – một căn bệnh mà chính Việt Hải cũng từng trải qua và lo sợ).

    Tác giả hồi tưởng lại cơ duyên quen biết với Linh mục Tường qua các dịp ra mắt sách ở Houston, qua các bài viết triết lý, văn chương trên mạng lưới Dũng Lạc, cũng như qua sự kết nối văn học giữa các diễn đàn (như Tình Nghệ Sĩ và Chim Việt Cành Nam).

    Dù khác biệt về tôn giáo (Việt Hải là Phật tử, còn Lm. Tường là linh mục Công giáo), hai người vẫn dành cho nhau sự trân trọng, thấu cảm và gọi nhau là “hiền huynh – hiền đệ” rất đỗi thân tình.

    Top: Cha André Dũng Lạc Trần Cao Tường. Lower: đệ tử Phật tử Trần Trung Dạo và Trần Viêt Hải.

    • Góc nhìn đa chiều về chân dung Linh mục Trần Cao Tường:

    Bài viết điểm lại những đánh giá của các văn nghệ sĩ tên tuổi khác dành cho Lm. Trần Cao Tường như:

    Nhà văn Trần Trung Đạo: Viết bài tiễn đưa đầy xúc động.

    Nhà thơ Du Tử Lê: Viết lời tựa cho tác phẩm của Lm. Tường, bày tỏ sự kính trọng đối với một vị tu sĩ yêu nước, có quan điểm sâu sắc rằng “kẻ nào không yêu quê hương, nguồn cội của mình, kẻ đó cũng sẽ không yêu Thiên Chúa”.

    Nhà thơ Lm. Trăng Thập Tự: Gửi thơ tiễn biệt từ quê nhà Việt Nam.

    Vợ chồng nhà văn Nhã Ca – Trần Dạ Từ (qua bản tin Việt Báo): Ghi nhận Lm. Tường là một ngòi bút phong phú (tùy bút, bút ký, tiểu luận, nhiếp ảnh) có phong văn thuần túy Công giáo nhưng mang tính nhân bản, thơ mộng, dễ đi vào lòng người thuộc mọi tôn giáo.

    Sức sáng tác của Lm. Tường vô cùng dồi dào, bao trùm nhiều lĩnh vực từ triết học, khoa học, y khoa, công án thiền cho đến văn học nghệ thuật. Câu chuyện về “Bản Thánh Ca Kỳ Diệu” (Phần trọng tâm):

    Tác giả chuyển dòng cảm xúc sang bài viết cuối cùng của Lm. Trần Cao Tường mà ông rất ấn tượng trước mùa Giáng sinh: bài “Bản Thánh Ca Kỳ Lạ” (viết về nguồn gốc của bài thánh ca trứ danh toàn cầu Silent Night hay Stille Nacht / Đêm An Bình / Đêm Thánh Vô Cùng).

    Hoàn cảnh ra đời kỳ diệu: Vào đêm Giáng sinh năm 1818 tại một ngôi làng nhỏ ở Áo (Oberndorf), vị linh mục trẻ Josef Mohr đang lo lắng vì đàn phong cầm trong nhà thờ bị chuột gặm hỏng đúng lúc cha sở lâm bệnh nặng. Giữa lúc ấy, ông nhận được lời kêu gọi khẩn cấp phải đến ban phép rửa tội cho một đứa trẻ sinh non trong một túp lều nghèo nàn giữa trời tuyết lạnh.

    Trải nghiệm thực tế tại túp lều – nơi gia đình nghèo đón đứa con trong sự ấm áp, bình an và tình mẫu tử thiêng liêng – đã đánh thức tâm hồn nghệ sĩ của cha Josef Mohr. Trở về qua màn đêm tuyết phủ với nguồn cảm hứng dâng trào, ông ghé qua nhà người bạn thân là nhạc sĩ Franz Gruber. Chỉ trong một thời gian ngắn, phần lời thơ của cha Mohr và phần nhạc của Franz Gruber đã hòa quyện vào nhau, tạo nên khúc ca Stille Nacht.

    Bài thánh ca ấy lần đầu tiên được cất lên bằng tiếng đàn guitar trong lễ Nửa đêm Giáng sinh tại một làng quê nghèo, để rồi sau đó vang dội khắp hoàn cầu qua hàng trăm ngôn ngữ.

    • Phần lời kết:

    Khép lại bài viết, tác giả Việt Hải mượn ca từ bất hủ của bài Silent Night để dâng tặng, tưởng nhớ và gửi lời chúc bình an đến linh hồn Linh mục André Trần Cao Tường ở cõi vĩnh hằng.

    II. Phân tích ý nghĩa và giá trị của bài viết

    • Sự kết nối giữa đạo và đời, giữa các tôn giáo:

    Một điểm sáng lớn trong bài viết là sự vượt qua rào cản tôn giáo. Dù là một linh mục Công giáo, Lm. Trần Cao Tường lại có mối thâm tình sâu sắc với các văn nghệ sĩ, phật tử như Việt Hải, Trần Trung Đạo, Du Tử Lê… Điều này cho thấy văn chương và nghệ thuật có sức mạnh hóa giải khác biệt, kết nối những tâm hồn đồng điệu dựa trên lòng nhân ái và sự trân trọng con người.

    • Tinh thần nghệ thuật vị nhân sinh:

    Câu chuyện về cách bài thánh ca Silent Night ra đời phản ánh chính quan niệm sáng tác của Lm. Trần Cao Tường: nghệ thuật chân chính không nằm ở sự xa hoa, cầu kỳ mà bắt nguồn từ những khoảnh khắc đời thường, từ lòng bác ái, sự thấu cảm với nỗi đau và niềm khát khao hòa bình, an lạc của con người.

    • Bút pháp hoài niệm, dung dị nhưng giàu cảm xúc:

    Văn phong của Việt Hải trong bài viết này mang đậm chất tùy bút hoài niệm (memoir-style). Sự đan xen giữa tiếng lòng cá nhân, các trích đoạn thơ tưởng niệm của Quyên Di, Lm. Trăng Thập Tự, lời nhận định của Du Tử Lê và câu chuyện cảm động về bài thánh ca đã tạo nên một bức tranh tưởng niệm trọn vẹn, ấm áp tình người giữa mùa đông giá lạnh.

    Việt Hải và Trần Trung Đạo về Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm Tiễn Mẹ

    https://nhanvannghethuat.com/vi-khiem-nguyen-van-liem-tien-me%ef%bf%bc

    Nhà văn/nhà báo Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm.

    Bài viết trên trang Nhân Văn Nghệ Thuật ghi lại buổi lễ cầu nguyện và tiễn đưa cụ bà Ana Nguyễn Thị Tịnh (thân mẫu của nhà văn/nhà thơ Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm), người qua đời ở tuổi đại thọ 107 tuổi.

    Dưới đây là các ý chính và tư tưởng chủ đạo trong bài viết:

    Tuổi thọ phúc lộc và sự an nghỉ trong cõi vĩnh hằng:

    Cụ bà Ana Nguyễn Thị Tịnh đã sống qua ba thế kỷ (cuối thế kỷ 19, trọn thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21) và hưởng thọ 107 tuổi.

    Trong bài giảng thánh lễ, linh mục chủ sự nhắc nhở rằng một “cây tốt” (cụ bà) chắc chắn sẽ sinh ra những “trái tốt” – minh chứng qua người con trai là ông Nguyễn Văn Liêm, một giáo dân sống đạo đức, khiêm nhường và tận tụy với xứ đạo.

    Nỗi đau và sự tiếc nuối khôn nguôi của người con ở lại:

    Dù người mẹ đã ra đi ở tuổi đại thọ (107 tuổi) – điều khiến gia đình cảm thấy biết ơn Thiên Chúa và không còn mong cầu gì hơn – nhưng nhà văn Vi Khiêm vẫn bộc lộ nỗi đau lớn khi không thể ở bên cạnh mẹ trong những giờ phút cuối đời để nghe lời trăn trối.

    Sự tôn vinh tình mẫu tử qua thi ca và nghệ thuật:

    Tác giả bài viết mượn những câu thơ nổi tiếng đầy cảm xúc từ bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Lấy Tiếng Mẹ Cười” của thi sĩ Trần Trung Đạo để khắc họa sự thiêng liêng, vô giá của người mẹ và tiếng nói từ trái tim mẹ:

    “Ví mà tôi đổi thời gian được / Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.”

    Bài viết cũng điểm qua những tâm tình, nỗi nhớ mẹ qua các tác phẩm văn thơ của các văn nghệ sĩ khác như nhà văn Ngọc Cường (mất mẹ từ nhỏ) hay nhà giáo/nhà thơ Quyên Di (qua bài thơ “Giỗ Mẹ”), qua đó đồng điệu nỗi niềm chung của những người con chịu tang mẹ: dẫu có lớn khôn đến đâu, trước di ảnh của mẹ, họ vẫn mãi là những đứa con bé bỏng. Tóm lại, bài viết là một lời tri ân sâu sắc, một khúc ca tiễn biệt trang nghiêm và đầy xúc động dành cho một người mẹ hiền phúc thọ vẹn toàn, đồng thời phản ánh nỗi lòng khắc khoải, biết ơn và thương nhớ khôn nguôi của những người con đối với công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ.

    Nội dung bạn vừa chia sẻ bao gồm bài thơ nổi tiếng “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của nhà thơ Trần Trung Đạo cùng với bài bình thơ (lời bình) của tác giả Châu Thạch.

    Dưới đây là phần giải thích chi tiết, phân tích và bình luận tổng quan về tác phẩm và bài viết bình luận này để giúp bạn thấu hiểu trọn vẹn giá trị nghệ thuật cũng như cảm xúc sâu lắng ẩn chứa bên trong.

    1. Giới thiệu tổng quan
    • Bài thơ: “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của nhà thơ Trần Trung Đạo viết về tình mẫu tử thiêng liêng, nỗi đau chia cắt (thường thấy trong bối cảnh người Việt ly hương, xa xứ sau năm 1975) và sự day dứt của một người con không thể ở cạnh chăm sóc mẹ già.
    • Bài bình luận: Do tác giả Châu Thạch chấp bút, phân tích từng khổ thơ, giải mã các tầng nghĩa ngôn từ (như khái niệm “thiên thu”, hình ảnh “lá thu rơi”, chữ “trắng” thứ hai, v.v.) nhằm làm nổi bật cái hồn và tài hoa của nhà thơ Trần Trung Đạo.
    • Phân tích và Giải thích tác phẩm qua bài bình

    Bài thơ xoay quanh một mô-típ rất quen thuộc trong thơ ca ly hương: cuộc gọi điện thoại ngắn ngủi đường dài (nhắc chiếc phone lên) nhưng lại khơi gợi một khoảng trống mênh mông, cả một trời thương nhớ và dằn vặt.

    1. Hình ảnh và ý nghĩa nhan đề “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”
    • Thắc mắc thực dụng: Nhiều người cho rằng “thiên thu” là một ngàn năm (vô định), con người không thể sống đến chừng ấy để mà “đổi”, làm sao lấy cái không có để đổi cái có?
    • Lý giải tâm lý học nghệ thuật (Châu Thạch): “Thiên thu” ở đây không phải là thời gian vật lý (đếm bằng năm tháng), mà là thời gian tâm lý. Giống như câu “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” (một ngày trong tù dài như ngàn năm), thời gian tâm lý co giãn theo nỗi đau và nỗi nhớ.
    • “Thiên thu” còn tượng trưng cho sự bình tịnh, an lạc lâu dài trong tâm hồn. Nhà thơ sẵn sàng đánh đổi cả sự bình yên vĩnh cửu ấy — hay sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì lớn lao nhất — chỉ để đổi lấy khoảnh khắc nghe được tiếng mẹ cười, tức là biết mẹ đang hạnh phúc, bình an.
    • Tiếng gọi từ đầu dây và nỗi buồn chia ly

    “Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người Tiếng ai như tiếng lá thu rơi Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi”

    • “Tiếng ai”: Đại từ phiếm chỉ “ai” thường dùng cho người xa lạ, nhưng trong văn chương lại diễn tả sự nghẹn ngào khi đối diện với người thân thương nhất — một sự xa cách lâu ngày đến mức khi nghe lại giọng nói, ta có cảm giác ngỡ ngàng như tiếng của một người xa lạ mà lại vô cùng gần gũi.
    • “Như tiếng lá thu rơi”: Một hình ảnh so sánh tuyệt đẹp. Tiếng mẹ thầm thì, nhẹ nhàng, mong manh và buồn vô hạn, gợi lên cả một không gian mùa thu heo hắt, tĩnh lặng trong tâm hồn người con xa xứ.
    • Hoàn cảnh lưu vong và màu trắng của sự biệt ly

    “Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê Mười năm tóc mẹ màu tang trắng Trắng cả lòng con lúc nghĩ về”

    • Cuộc ra đi “chẳng hẹn thề” là cuộc ly biệt đành đoạn, bất đắc dĩ.
    • Hình ảnh “Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê” miêu tả sự hoảng loạn, bơ vơ của người con bị đẩy vào bước đường lưu lạc, mất phương hướng giữa dòng đời.
    • Chữ “trắng” thứ hai (“Trắng cả lòng con”): Bài bình luận giải thích rất hay rằng chữ “trắng” này không phải là vô cảm, mà là màu trắng của chiếc khăn tang trong tâm tưởng. Mẹ chưa mất nhưng sự chia cắt xa xôi lâu ngày tạo nên một nỗi trống vắng tột cùng, biến lòng con thành một cõi tang tóc, u hoài.
    • Hình ảnh người mẹ và nỗi đau đọng lại

    “Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn Bên đời gió tạt với mưa tuôn… Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ…”

    • Cụm từ “đan một nỗi buồn” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nỗi buồn vốn là thứ vô hình (tâm lý), nhưng qua ngòi bút Trần Trung Đạo, nó được cụ thể hóa thành một vật hữu hình có thể “đan” từng mũi kim, dệt nên chuỗi ngày mòn mỏi ngóng trông của người mẹ già cô độc bên ô cửa “gió tạt mưa tuôn”.
    • Người con chọn cách nén đau thương vào thơ ca, vào lá cây (“viết đau thương vào trong lá” – gợi nhắc đến sự bạt ngàn của nỗi buồn nhân lên qua từng chiếc lá vàng rụng), và tìm kiếm hơi ấm của mẹ trong những giấc mơ xa xôi.
    • Bình luận chung và Đánh giá
    • Giá trị nội dung:

    Bài thơ chạm đến góc khuất mềm yếu nhất của những người con xa xứ. Đó là thứ tình mẫu tử thiêng liêng vượt qua mọi khoảng cách không gian và thời gian. Tiếng mẹ cười ở đây không đơn thuần là âm thanh vui vẻ, mà là biểu tượng của sự bình yên, của cội nguồn, là điểm tựa tinh thần duy nhất cho người con bơ vơ giữa chốn ba ba chìm nổi.

    • Giá trị nghệ thuật:
      • Thể thơ thất ngôn (7 chữ) truyền thống nhưng được vận dụng với nhịp điệu chậm rãi, u buồn, thấm đẫm âm hưởng hoài niệm.
      • Các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh (tiếng lá thu rơi, đan một nỗi buồn, ngựa rừng lạc lối) vô cùng đắt giá, giúp cấu trúc bài thơ chặt chẽ từ câu mở đầu đến câu kết thúc (tạo thành một vòng tròn cảm xúc khép kín khi lặp lại câu thơ “Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người”).
    • Về bài bình của Châu Thạch:

    Bài bình luận đã làm tròn vai trò của một người “gỡ rối” câu chữ, phân tích sâu các lớp nghĩa triết lý (như thời gian tâm lý, ý nghĩa của chữ “trắng”, chữ “thiên thu”) giúp người đọc không chỉ cảm nhận bài thơ bằng cảm xúc thuần túy mà còn thấy được tư duy nghệ thuật sắc sảo của nhà thơ Trần Trung Đạo.

    Kết luận: Bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” thực sự là một nén tâm hương, một tiếng lòng thổn thức của triệu người con xa quê gửi về đấng sinh thành, và qua lời bình của Châu Thạch, giá trị nhân văn và nghệ thuật ấy lại càng được lan tỏa sâu sắc hơn nữa trong lòng người yêu thơ.

    Xem link sau:

    https://hung-viet.org/a22011/doc-doi-ca-thien-thu-tieng-me-cuoi-tho-tran-trung-dao

    Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, Nhạc Võ Tá Hân – Thơ Trần Trung Đạo – Ca sĩ Bảo Yến:

    —————

    Việt Hải- Văn Học-Vang Bóng Một Thời

    Dưới đây là phần tóm tắt và đánh giá về cuốn sách “Văn Học – Vang Bóng Một Thời” của tác giả Việt Hải (tên thật là Trần Việt Hải), dựa trên thông tin và bối cảnh được cung cấp.

    1. Tóm tắt tác phẩm

    Tên sách: Văn Học – Vang Bóng Một Thời

    Tác giả: Việt Hải (Trần Việt Hải)

    Tính chất tác phẩm: Đây là tuyển tập các bài tiểu luận, bài phê bình và các bài viết văn học tiêu biểu nhất của tác giả, được đúc kết qua gần ba thập kỷ miệt mài sáng tác và cống hiến cho nghệ thuật.

    Chủ đề cốt lõi: Tác phẩm là lời tri ân đầy tâm huyết dành cho nền văn học cổ điển Việt Nam, các cột mốc văn hóa và những nhân vật lỗi lạc của quá khứ. Cuốn sách đóng vai trò cầu nối giữa độc giả đương đại với di sản nghệ thuật, thi ca và triết học sâu sắc của lịch sử Việt Nam, khơi dậy niềm hoài niệm về những thời kỳ hoàng kim của văn chương và nghệ thuật.

    2. Đánh giá sách

    Chiều sâu và sự uyên bác: Qua từng trang viết, Việt Hải thể hiện sự am hiểu sâu sắc về nghệ thuật, văn hóa và lịch sử văn học Việt Nam. Lối viết của ông không chỉ dừng lại ở việc kể lại lịch sử đơn thuần; ông thổi hồn vào những chủ đề mình phân tích, phản ánh mối gắn kết mật thiết và trải nghiệm thực tế với văn chương.

    Sự bền bỉ và niềm đam mê: Điểm ấn tượng đặc biệt của tuyển tập này chính là tinh thần kiên trì bền bỉ ẩn chứa bên trong. Với hành trình sáng tác kéo dài gần ba mươi năm, cuốn sách là minh chứng cho lòng tận tụy không lay chuyển của tác giả đối với cộng đồng văn học Việt Nam cũng như cam kết gìn giữ những ký ức văn hóa giữa dòng chảy thời gian đầy biến động.

    Cầu nối ký ức: Bản thân nhan đề “Vang Bóng Một Thời” đã gợi lên phong cách văn xuôi cổ điển Việt Nam đầy cuốn hút và giàu chất thơ (gợi nhớ đến những nhà văn như Nguyễn Tuân). Việt Hải đã thành công trong việc nắm bắt những mảnh ghép tinh tế, thoáng qua của một thời văn chương đã qua, khiến chúng trở nên sống động và gần gũi với độc giả hiện đại – những người luôn trân trọng các giá trị di sản.

    3. Điểm đặc sắc và thú vị của cuốn sách

    Sự giao hòa giữa lịch sử và tâm hồn: Thay vì những bài phê bình mang tính học thuật khô khan, các bài tiểu luận của Việt Hải mang dáng dấp của những lời tri ân đầy cảm xúc và giàu tính tự sự. Tác giả làm sáng tỏ những sắc thái tinh tế, những dòng chảy cảm xúc ngầm và các giá trị thẩm mỹ ẩn sau cuộc đời cũng như các tác phẩm của những tên tuổi văn học lừng lẫy.

    Kho tư liệu sống động về một hành trình sự nghiệp: Nhờ tập hợp các bài viết được chắt lọc trong suốt gần 30 năm, cuốn sách mang đến cho độc giả cơ hội chiêm nghiệm sự trưởng thành trong tư duy của một cây bút đầy tâm huyết đối với văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc Việt Nam.

    Trải nghiệm tương tác: Như đã được giới thiệu trên chuyên mục Nhân Văn Nghệ Thuật, cuốn sách hiện diện dưới định dạng “flip-book” (sách lật trang) đầy cuốn hút trên nền tảng trực tuyến (heyzine.com). Định dạng này cho phép độc giả trải nghiệm cảm giác lật từng trang sách sống động như đang cầm trên tay một ấn phẩm giấy, qua đó kết hợp hài hòa giữa nét đẹp thưởng thức văn học truyền thống và sự tiện lợi của công nghệ số hiện đại.

    Trần Trung Đạo – Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời

    Bài viết “Trần Trung Đạo – Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời” của tác giả Lương Thư Trung (Hai Trầu) đăng trên trang của Trần Thị Nguyệt Mai là một bài tiểu luận, cảm nhận sâu sắc về cuộc đời, hành trình thơ ca và tư tưởng của nhà thơ/cư sĩ Trần Trung Đạo.

    Dưới đây là bản phân tích và giải thích chi tiết nội dung, ý nghĩa của bài viết theo từng khía cạnh:

    1. Hành trình tuổi thơ gian truân và bóng tối thời cuộc

    Tuổi thơ bất hạnh: Bài viết mở đầu bằng việc nhắc đến hoàn cảnh của Trần Trung Đạo – một đứa trẻ sinh ra tại làng Nghi Hạ (Duy Xuyên, Quảng Nam), phải rời xa gia đình và bươn chải giữa đời từ khi mới 14 tuổi.

    Vết hằn chiến tranh: Những năm tháng tuổi thơ sống trong khói lửa chiến tranh đã để lại những vết thương lòng sâu sắc trong tâm hồn tác giả:

    “Anh bỏ nhà đi năm mươi bốn tuổi / Học lọc lừa từ thuở tóc chưa xanh / Viên đạn nổ xé từng trang sách vở / Trụ đèn khuya thay thế ánh trăng rằm.”

    Cuộc đời lưu lạc, bấp bênh và những nỗi đau đầu đời ấy đã trở thành nguồn nguyên liệu chính để ông chắt chiu thành những vần thơ đượm buồn, chân thực và đầy nỗi niềm thao thức.

    2. Hình bóng người Mẹ và nỗi nhớ quê hương

    Mẹ trong thơ Trần Trung Đạo: Một phần linh hồn trong thơ ông là hình bóng người mẹ nghèo khó, tảo tần, chịu đựng trăm đắng ngàn cay (mẹ bán máu nuôi con, mẹ ở bến sông Thu Bồn, mẹ ngóng con bên kia nửa địa cầu…).

    Hình bóng người mẹ không chỉ là hiện thân của sự hy sinh vô bờ bến mà còn là biểu tượng của cội nguồn, của quê hương xứ Quảng xa xôi mà người con lưu vong luôn hướng về với tất cả lòng thành kính và nỗi xót xa:

    “Mười năm tóc mẹ màu tang trắng / Trắng cả lòng con lúc nghĩ về.”

    Ngay cả khi sống giữa nền văn minh hiện đại ở phương Tây, tâm hồn người con vẫn giữ trọn đạo hiếu, hướng về quê nhà bằng những hình ảnh bình dị nhất như chiếc khăn lụa Duy Xuyên để tiệp màu miếng trầu cay của mẹ.

    3. Tinh thần Phật giáo và sự hóa giải khổ đau

    Tâm thức từ bi: Trần Trung Đạo là một Phật tử thuần thành từ thuở nhỏ (từng sinh hoạt trong Gia đình Phật tử, gắn bó với cây đa chùa Viên Giác). Ảnh hưởng của đạo Phật thấm đượm vào thơ ông như một phương dược để xoa dịu những nhọc nhằn, bất trắc của kiếp nhân sinh.

    Ông nhìn đời qua lăng kính vô thường, nhân quả và luân hồi:

    “Ta vẫn biết thế gian là cõi tạm / Tấm thân này cát bụi sẽ về thôi…”

    Dù cuộc đời xô đẩy ngã gục, ông không mang lòng oán trách mà chọn cách mỉm cười với thế nhân, dùng lòng từ bi và sự kiên nhẫn để chuyển hóa phiền não, tìm thấy sự bình an trong tâm hồn.

    4. Biểu tượng “Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời”

    Hình tượng “người tiều phu” và “chiếc lá vàng” là ẩn dụ trung tâm xuyên suốt bài viết:

    Chiếc lá vàng tượng trưng cho những mảnh đời bèo giạt, cô đơn, vô định của tha nhân và cũng là hình ảnh phản chiếu chính cuộc đời lưu vong, đau buồn của tác giả (“Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn”).

    Người tiều phu là hình ảnh người nghệ sĩ âm thầm, nhẫn nại đi nhặt nhạnh từng nỗi buồn, từng mảnh đời rơi rớt, từng chiếc lá khô của nhân gian để nhóm lên ngọn lửa sưởi ấm tình người:

    “Con đi góp lá ngàn phương lại / Đốt lửa cho đời tan khói sương.”

    Hành động quét lá, nhặt lá không chỉ là việc làm đơn thuần mà là một sứ mệnh cao đẹp: mang trái tim nhân hậu, chân tình tha thiết để hiến dâng cho đời những vần thơ an ủi, xoa dịu những vết thương lòng trong cõi thế ô trọc.

    Tổng kết ý nghĩa bài viết

    Bài viết của Lương Thư Trung đã phác họa thành công bức chân dung tinh thần của nhà thơ Trần Trung Đạo: một người thơ mang nặng nỗi đau thời thế, hoài niệm khôn nguôi về mẹ và quê hương, nhưng đồng thời cũng là một tâm hồn từ bi, bao dung. Qua hình ảnh “người tiều phu quét lá”, bài viết tôn vinh những người nghệ sĩ âm thầm dùng văn chương, tình yêu thương và sự đồng cảm để sưởi ấm những cõi lòng lạnh lẽo giữa dòng đời dông bão.

    Một ngày trước buổi hẹn tại Lữ Quán Tri Âm, nhà văn Kiều My đã soạn xong hai bài nhạc cho 2 bài thơ tôi nhờ cô lo phần nhạc, Tạ ơn tình em (“Merci pour ton amitié”) và bài thơ tôi ghi tựa Nhớ em thu về (Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne), nhưng Kiều My đặt tên trại đi là Thu về nhớ em. Hai bài thơ lãng mạn này, một bằng tiếng Pháp (“Merci pour ton amitié”) và một phiên bản khác bằng tiếng Việt (“Cảm ơn cuộc đời”)—mang đến cái nhìn sâu sắc về sự giao thoa tinh tế nhưng mạnh mẽ giữa tình yêu lãng mạn và tình bạn sâu sắc (điều mà người Hy Lạp gọi là Philia, gắn bó mật thân thiết đam mê cùng với Eros).

    Sau đây là một số ý tưởng nhận định mới về góc nhìn sâu sắc khi nghe những ca khúc trên, được truyền cảm tác từ những bài thơ này, để làm phong phú thêm sự cảm thụ nhận biết qua giác quan nhạy cảm bẫm sinh về tình bạn yêu thương:

    Như xét qua trích đoạn từ bài thơ tiếng Pháp: «”e sais que tu es un être humain ; par-dessus tout, j’ai besoin de toi comme ami.” (“anh biết em là con người; trên hết, anh yêu em như một người bạn.”.

    Tình bạn yêu thương đích thực vượt lên trên sự lý tưởng hóa lãng mạn. Đó là việc nhận biết những khuyết điểm, quá khứ và thực tế của người kia, và vẫn chọn họ. Lời minh thị cuối vẫn không chỉ đơn giản là “Tôi mến bạn,” mà là “Tôi cần bạn như người bạn tâm đắc đồng hành trung thành nhất trong tôi.”, (“J’ai besoin de toi comme mon compagnon le plus fidèle et le plus loyal.”).

    Hãy cùng nhau vượt giông bão như chiếc mõ neo vững bền. (Câu thơ tiếng Pháp:  «Quand je suis dans le noir et que j’ai besoin de lumière, ta présence à mes côtés m’apporte la paix intérieure….

    Xét nghiệm khi phân tích lời thơ: Hai bài thơ này nhấn mạnh rằng tình bạn yêu thương không chỉ dành cho những ngày nắng đẹp; hay nhiều thử thách và vẻ đẹp thực sự của nó nằm ở việc trở thành ngọn hải đăng trong cơn bão tố. Tình bạn mang đến sự an toàn về mặt cảm xúc, trong khi tình yêu lại mang đến nỗi đắm say, l’amitié sincère n’est pas réservée aux beaux jours ; elle affronte de nombreux défis, et sa véritable beauté réside dans sa capacité à être un phare au milieu des tempêtes. L’amitié offre une sécurité affective, tandis que l’amour offre un dévouement passionné.).

    Phân tích tiếp về khái niệm tri kỷ trong văn hóa Việt Nam (người bạn tâm giao thực sự hiểu được con người bên trong bạn) tự nhiên kết nối tình yêu và tình bạn. Tác giả gợi ý rằng các mùa thay đổi – từ xuân sang thu, từ tuổi trẻ như xuân xanh cho đến tuổi già như thu vàng. Nhưng mối liên kết cơ bản vẫn luôn rực rỡ (“mùa xuân xanh”).

    Những ca từ vượt thời gian này lột tả trọn vẹn tâm hồn của sự mô tả chân phương sâu sắc, kiên định và bản chất về tình bạn đích thực. Dưới đây là những chia sẻ và góc nhìn về tình yêu đích thực qua lăng kính của ca khúc kinh điển kèm (nổi tiếng với tên gọi “Cuando Calienta el Sol” ( hoặc phiên bản tiếng Anh “Love Me with All Your Heart”). Bài hát thịnh hành trong những buổi tiệc cưới hay dịp lễ Valentine.

    Bài tinh ca Love Me with All Your Heart, luận bàn về một tình yêu chân phương, thực sự như về lời cam kết trọn vẹn như được tiểu biểu qua những câu mở đầu, không chấp nhận sự nửa vời hay những tình cảm hời hợt. Nó đòi hỏi sự đầu tư trọn vẹn về mặt cảm xúc. Điều này xác lập một chuẩn mực rằng tình yêu không phải là thú vui nhất thời hay sự tiện lợi tạm bợ, mà phải là một sự lựa chọn đầy tâm huyết.

    Về tinh yêu bền vững, sự kiên định qua thời gian và không gian (“Mỗi mùa đông, mùa hè, hay mùa thu”). Lời bài hát nhấn mạnh sự bền bỉ bất chấp mọi mùa trong năm hay khoảng cách địa lý—dù hai người ở gần hay xa cách. Tình yêu đích thực không phai nhạt theo những thay đổi của hoàn cảnh hay thời tiết; nó vẫn luôn vững vàng, kiên cường và trường tồn cùng dòng chảy thời gian.

    Về tình yêu vĩnh cửu thay vì nhất thời như “Not just for a moment or an hour” (“Không chỉ trong khoảnh khắc hay một giờ đồng hồ”.

    Tình yêu chân phương thữc sự khước từ những rung động thoáng qua. Dù đam mê có thể khởi đầu như một tia lửa, tình yêu đích thực sẽ chuyển hóa ngọn lửa ban đầu ấy thành một trạng thái gắn kết vĩnh cửu như “Just as I have loved you from the very beginning / With every beat of my heart”, (“luôn như cách em yêu anh từ thuở ban đầu / Với từng nhịp đập nơi trái tim em”). Nó hòa quyện vào chính nhịp sống thường nhật của mỗi người.

    Tôi vốn chuộng bù khú, tán hươu tán vượn hay tán gẫu phiếm luận trong phong văn tản mạn thi ca hòa quyện vào âm nhạc. Có lẽ tôi vốn thích bay bổng tâm hồn mình trong cõi thi ca và âm nhạc, thử hỏi thi ca Nguyên Sa hay Cung Trầm Tưởng, những thi ca vượt quá khổ lãng mạn tư duy. Đúng chứ?

    Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne:

    Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne Compositeurs Việt Hải & Kiều My

    Thanks For Friendship – Words_ Việt Hải- Music_ Kiều My:

    Thanks For Friendship Words Việt Hải Music Kiều My

    Merci Pour Ton Amitié – Compositeurs_ Việt Hải & Kiều My:

    Merci Pour Ton Amitié Compositeurs Việt Hải & Kiều My

    MERCI POUR TON AMITIÉ

    Darling, tu es mon meilleur ami ; tu as ta place dans mon cœur.
    Nous traversons des hauts et des bas, mais rien ne pourra nous séparer.
    Je te considère comme un membre de ma famille, et je veillerai toujours sur toi.
    Mon amour, respect et confiance sont ce que nous partageons.
    Je te connais en tant que personne ; j’ai surtout besoin de toi comme ami.
    Notre amitié est une chose qui ne finira jamais.
    En cet instant précis, en ce jour,
    Nos liens sont indéfectibles ; notre attachement est là pour durer.
    Mon amitié pour toi est unique et sincère.
    Quand nous sommes ensemble, nous sommes inséparables.
    Quand je suis dans l’obscurité et que j’ai besoin de lumière,
    Ta présence à mes côtés me rassure : tout ira bien.

    ƠN EM MỘT ĐỜI

    Cảm ơn em những ân tình

    Yêu em yêu mãi trong tim

    Báo cơn bão nỗi vẫn tìm nơi em

    Duyên tinh nợ kiếp ba sinh

    Có em như đã tự tình trong anh

    Bên em tri kỷ mộng lành

    Tình ta sẽ mãi xuân xanh thu vàng

    Giờ đây sánh bước đan tay

    Thênh thang cuối phố như mây cuối trời

    Yến anh vương vấn bên đời

    Lưu tâm lưu luyến nhớ lời thề xưa

    Hạ về giông bão trời mưa

    Bên nhau mãn kiếp tình vừa trăm năm.

    Thank you for your friendship

    You are my best friend; you hold a special place in my heart.
    We go through ups and downs, but nothing can ever tear us apart.
    I consider you family, and I will always look out for you.
    We share love, respect, and trust.
    I know you as a person, but above all, I need you as a friend.
    Ours is a friendship that will never end.
    At this very moment, on this day,
    Our bond is unbreakable; our connection is built to last.
    My friendship with you is unique and sincere.
    When we are together, we are inseparable.
    When I am in the darkness and need light,
    Your presence by my side reassures me: everything will be okay.

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM VĂN HỌC (TRẦN VIỆT HẢI):

    BUỔI RA MẮT TÁC PHẨM CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ VĂN THI SĨ KHÁNH LAN:

    Sans Toi Ce Soir Paroles Viet Hai Musique AI Kieu My:

    Em, em luôn vẫn là em, my song: Mon Amour, Tu Restes Toi,…

    Mon Amour, Tu Restes Toi, Paroles de Việt Hải LA, Musique – Kiều My:

    Bonne semaine à toutes et à tous…!

    Lời cuối cùng, tình bạn trong hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian họp nhau tại Lữ Quán Tri Âm, Anaheim. Phong cách pocket reunion, dù là bal des amis, hay bal de famille, họp nhau nho nhỏ, nơi chốn be bé, chỉ 12 dến 15 thân hữu như cõi giang san của Nữ sĩ Quỳnh Giao, tôi vốn kiêng kỵ chỗ đông người. C’est selon mes propres goûts.Ce sont mes propres préférences. Ce sont mes choix de bon goût.

    VHLA, California 2026

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Tin tức

    TƯỜNG TRÌNH VỀ BUỔI RA MẮT SÁCH CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ NHÀ VĂN KHÁNH LAN

    Khánh Lan

    Buổi ra mắt sách của tôi được tổ chức vào một buổi chiều cuối tuần ngày 20 tháng 9, 2026. Hôm ấy là đầu mùa Thu, những hàng cây bắt đầu thay lá, vài chiếc lá vàng nhẹ rơi theo làn gió, khoác lên chiếc áo mới “không gian” một vẻ đẹp lãng mạn, quyến rũ và đáng yêu. Thật thế, Nàng Thu đã đến, mang theo một màu trong xanh của bầu trời, và nắng không còn gay gắt mà trở nên ấm áp, dịu nhẹ. Những cơn gió thu khẽ lướt qua song cửa của khán phòng hội trường báo Người Việt đã cho tôi một cảm giác se se lạnh, dễ chịu, khiến lòng tôi bỗng thấy thư thái và bình yên…

    Nữ sĩ Dương Hồng Anh & Khánh Lan

    … Khi bước vào buổi ra mắt sách của chính mình, tôi cố giữ vẻ bình thản, tự nhiên, nhưng thực ra tâm trí tôi nặng trĩu những âu lo. Bởi cũng hôm ấy, có đến những 5 hội đoàn trong cộng đồng tổ chức (cùng ngày và cùng giờ). Trong đó có 3 tổ chức lớn, đó là Chiều Tưởng Niệm nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Đại Hội toàn quốc của trường trung học Chu Văn An, và Hội Sóc Trăng họp mặt hằng năm… khiến tôi nhủ thầm, những nơi ấy, chắc hẳn sẽ thu hút nhiều người đến tham dự… hơn là buổi Ra Mắt Sách của tôi…

    Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga & Nữ sĩ Đình Duy Phương

    Hàng ngồi: NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, Thi Sĩ Quỳnh Giao, Lệ Hoa (phu nhân của NV Việt Hải).

    Hàng đứng: Chị Trầm Hương, Chị Kim Đức, NS Lê Nguyễn Nga, Chị Kim Hương

    Nghĩ đến đây, lòng tôi bỗng như chùng xuống, bởi sau nhiều tháng ngày sống cùng bản thảo. Những lúc lặng lẽ ngồi viết, sửa, rồi lại viết, tôi hiểu rằng một cuốn sách, khi rời khỏi bàn viết, sẽ bắt đầu một đời sống khác và nó sẽ không còn hoàn toàn thuộc về tôi. Nó sẽ bước vào đời sống của những độc giả và tôi không thể biết trước nó sẽ được đón nhận như thế nào. Cho nên tôi không dám kỳ vọng quá nhiều…

    Những lúc lặng lẽ ngồi viết, sửa, rồi lại viết.

    Ban đầu, tôi chỉ mong ước có vài chục người đến tham dự, chủ yếu là bạn bè, người thân và một số độc giả quen thuộc… Nhưng rồi, khi cánh cửa hội trường mở ra, tôi đã thực sự ngỡ ngàng. Ngay từ khi chương trình bắt đầu, hội trường đã gần như kín chỗ, những hàng ghế nhanh chóng kín người. Có những độc giả tôi chưa từng gặp, và trong những gương mặt xa lạ ấy, có những người đã đi một quãng đường rất xa chỉ để có mặt trong buổi chiều ra mắt sách của tôi. Thậm chí, trên tay họ là cuốn sách mà tôi từng viết trong những đêm rất dài, giữa những khoảng vắng lặng chỉ có mình tôi và trang giấy.

    Quang cảnh quan khách tham dự

    Tôi thực sự xúc động khi nghe một độc giả nói về một đoạn văn trong tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” đã khiến họ nhìn thấy “chính cuộc đời của họ trong ấy” với những giọt nước mắt long lanh còn đọng trong khóe mắt, họ cám ơn tôi đã viết lên nỗi u uẩn mà họ đã lâu ngày tìm quên trong tiềm thức. Trong khoảnh khắc ấy, mắt tôi bỗng như cay cay và tôi chợt nhận ra rằng: điều tôi viết ra trong cô độc đã tìm được một nơi gọi là bến đậu, xoa dịu cơn thống khổ và gởi niềm thông cảm trong tâm tư những kẻ khốn cùng…những trang chữ viết vốn được hình thành trong những giờ phút cô độc, nay đã tìm thấy người đọc. Khiến tôi có cảm giác như mình đang đứng giữa một giấc mơ.

    Nhóm Tơ Vàng: Chị Khiêm Trinh, Jennifer Lâm, Bình Chi, Khánh Lan

    Anh Quốc Dân, Kim Hương, Khánh Lan, Đức Hạnh, Mạnh Bổng

    Đúng 1:30 chiều, GS Trần Mạnh Chi khai mạc buổi ra mắt sách và chào mừng quan khách. Sau phần Chào quốc kỳ Việt-Mỹ và Phút mặc niệm. Thi sĩ Minh Đức giới thiệu 3 MC gồm Mạnh Bổng,Hồng Quyên, Minh Thư. Chương trình ra mắt sách gồm có 2 phần: phần giới thiệu tác phẩm, xen lẫn phần văn nghệ chọn lọc với chủ đề về quê hương Việt Nam và những tình khúc nổi tiếng đã từng làm nên tên tuổi của nhiều nhạc sĩ. 

    Thúy Giao, Minh Thư, Hồng Phúc

    Trước khi vào phần văn học, mở đầu với ban tam ca Tiếng Thời Gian: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên với nhạc phẩm Bạn Bè Của Tôi. Thơ Dương Hồng Anh, nhạc Lâm Dung và Nhạc phẩm này đã trở thành Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian hành khúc năm 2019.

    Ban tam ca Tiếng Thời Gian với Ái Liên, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh

    Mở đầu phần văn học là phần giới thiệu về tiểu sử của NS Dương Hồng Anh: Nữ sĩ Dương Hồng Anh làm thơ rất sớm, bài thơ đầu tay của bà được đăng trên báo Cậu Ấm Cô Chiêu năm 1949 và một số bài thơ khác được đăng trên các báo gồm: Hồ Gươm, Sinh Lực, Giang Sơn, Giác Ngộ, v.v…

    Từ năm 1952 đến 1954, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh là thư ký tòa soạn báo Sinh Lực ở Hà Nội cho đến tháng 08, năm 1954, bà di cư vào Miền Nam Việt Nam cùng chồng. Vào Saigon, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh ngưng gởi thơ để đăng trên các báo chí, nhưng bà vẫn tiếp tục sinh hoạt văn thơ trong nhóm của các nhà thơ Linh Điểu, Vạn An, Bùi Khánh Đản, Trình Xuyên, v.v…

    Năm 1990, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh sang Hoa Kỳ, định cư tại tiểu bang California và từ Năm 2010, Nữ Sĩ sinh hoạt thi văn cùng với các nhóm gồm: Văn Chương phụ Nữ Việt Nam của Nhà Văn Bùi Bích Hà, Văn Đàn Hải Ngoại, Hạnh Ngộ và thường xuyên đăng thơ trên báo Đất Đứng ở Sacramento, California liên tục trong suốt 10 năm. Cho đến nay Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã xuất bản tổng cộng hơn 20 thi tập từ năm 1952-2026. (2.5’)

    Theo sau là vài nét về Văn thi sĩ Khánh Lan, tốt nghiệp cao học ngành cố vấn hôn nhân và gia đình năm 2002.  Hiện là trưởng nhóm văn học của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cũng như Văn Chương Việt và Tiếng Đàn Xưa. 

    Năm 2023, Khánh Lan được vinh danh trong 100 tác giả văn hóa Việt Nam trong quyển những khuôn mặt văn hóa Việt Nam hải ngoại của câu lạc bộ văn hóa Paris. Năm 2022, Khánh Lan là giám khảo của chương trình thi viết có thưởng về “Ứng dụng Phật pháp trong đời sống hằng ngày”, được tổ chức bởi chùa Hương Sen. Và là giám khảo trong chương trình thi viết “Tôi là ai 2026” do Viện bảo tàng di sản người Việt tổ chức năm 2026.  

    Từ 2020 đến 2026, Khánh Lan cộng tác trong ban biên tập các tổ chức văn học gồm tác phẩm văn học và thi ca phổ biến trên báo chí internet và nhiều tạp chí hải ngoại. Từ năm 2020-2026 khánh Lan đã cho ra mắt hơn 15 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: biên khảo và tham luận về các tác phẩm Nobel, Tam giáo đồng Nguyên, truyện dài, truyện ngắn, trinh thám, Tuyển tập thơ Bóng thời gian, Những nhà thơ hải ngoại, nghiên cứu về phân tâm học, siêu hình học, thuyết học hiện sinh, Góc nhìn văn học, Triết thuyết phương Đông và phương Tây.

    MC Minh Thư mời nhà văn Việt Hải, ông là người đã sáng lập ra liên nhóm Nhân văn Nghệ Thuật & tiếng thời gian, cũng như đồng sáng lập Liên nhóm Văn Chương Việt &Tiếng Đàn Xưa. Cô cũng mời nhạc sĩ Võ Tá Hân đưa nữ sĩ Dương Hồng Anh, và sau cùng là văn thi sĩ khánh Lan lên sân khấu để cùng chào đón quý khán giả cũng như khai mạc buổi Hội Ngộ Bút Duyên hôm nay.

    NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NV Khánh Lan– chào đón quý khán giả cũng như khai mạc buổi hội ngộ bút duyên.

    Trong phần phát biểu nữ sĩ Dương Hồng Anh đã đọc bài thơ “Nhớ” mà bà sáng tác mới nhất.

    Bà cũng nhờ nhà văn/thơ Khánh Lan ngâm giọng Tao Đàn, bài thơ như sau:

    Nhớ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

    Chung vui những buổi chiều tà

    Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

    Nắng vàng sưởi ấm thành đô

    Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Thư trang vẫn nở những vần thơ say

    Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

    Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

    Hồng Anh, Tháng 9, 2026.

    Nhóm Tây Ban Cầm: Tơ Vàng

    Xen kẽ với phần văn học là Nhóm Tây ban cầm Tơ Vàng, thuộc Fountain Valley Guitar Club, được thành lập và hướng dẫn bởi nhạc sĩ Võ Tá Hân. Các thành viên của nhóm đến từ 3 miền: Bắc, Trung, Nam gồm các chị: Sandy Lee, Lâm Dung, Khiên Trinh, Bình Chi, Jennifer Lâm, Thu Hồng. Nhạc phẩm: Hoài Thu.

    MỞ ĐẦU PHẦN VĂN HỌC, DIỄN GIẢ ĐẦU TIÊN LÀ THI SĨ MINH ĐỨC VỚI THI TẬP QUÊ HƯƠNG CÒN ĐÓ CỦA TÁC GIẢ NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH,

    Ông nói: Đó là một thi tập mới nhất của Nữ Sĩ, khái lược về yếu tố Quê hương, có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức. Quê hương là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận sự nhớ nhung về quê xưa, ấy là tình yêu quê hương.

    Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều.

    Hãy xem thơ ca Dương Hồng Anh:

    Tháng Tư nhớ quê hương

    Mặt trời đi vắng hôm nay

    Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương

    Năm mươi năm mấy đoạn trường

    Tình yêu quê hương không ngọt ngào, nhẹ nhàng, sâu lắng khiến ta khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người. Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ sau dây về quê cũ của người. Xem bài:

    Mơ Về Hà Nội

    Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

    Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

    Cho thơ nở giữa vườn thơ

    Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

    Hướng về cố lý xa xăm

    Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ

    Tơ đàn xao xuyến hồn thơ

    Tiếp theo là nhạc phẩm Trưa Hè Xanh Lá Me, thơ của NS Dương Hồng Anh, nhạc Võ Tá Hân do Ca Nhạc Sĩ Lâm Dung trình bay.

    VỊ DIỄN GIẢ THỨ 2 LÀ GIÁO SƯ QUYÊN DI, ÔNG GIỚI THIỆU VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ HAI TÁC PHẨM SIÊU HÌNH HỌC VÀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN. Bài diển văn rất hay và có giá trị văn học, nên người viết xin đăng trọn bài nói chuyện của ông.

    GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN

    QUYÊN DI

    Trước hết, cho phép tôi được nói đôi lời chân thật về chính mình.

    Khi còn là học sinh lớp Đệ Nhất và rồi sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có may mắn được học Triết Tây với những vị giáo sư mà tên tuổi đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống trí thức miền Nam: Linh mục Trần Văn Hiến Minh, Linh mục Trần Đức Huynh, Linh mục Lê Tôn Nghiêm, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Trần Bích Lan… Tôi cũng được học Triết Đông với cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Linh mục triết gia Kim Định và một số vị thầy đáng kính khác.

    Những năm tháng ấy, tôi cảm thấy mình giống như con chim chích bay vào một khu rừng mênh mông. Trước mắt tôi là biết bao kỳ hoa dị thảo của tư tưởng nhân loại: Socrates, Plato, Aristotle, Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Thánh Augustine, Descartes, Kant, Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger, Sartre, Camus, François Sagan… Tôi ngắm nhìn, say mê, thưởng thức và cố gắng tìm hiểu. Nhưng thú thật, càng đi sâu vào khu rừng triết học, tôi càng nhận ra sự mênh mông của nó. Tôi đã nhìn thấy nhiều con đường, nhưng không phải lúc nào cũng biết con đường nào sẽ đưa mình ra khỏi khu rừng ấy.

    Bây giờ tuổi đã cao, khi đọc hai công trình biên khảo của nhà văn Khánh Lan, một công trình về triết học hiện sinh và một công trình về siêu hình học, tôi lại có dịp trở về với những câu hỏi mà thời sinh viên từng làm tôi say mê, bối rối và nhiều khi hoang mang. Điều đáng mừng là lần này, tôi không còn đọc với tâm thế của một sinh viên đang cố ghi nhớ những khái niệm khó khăn, mà đọc như một người đã đi qua nhiều năm tháng của cuộc đời, từng chứng kiến những đổi thay của con người, xã hội và thời đại.

    Và thật bất ngờ, qua cách trình bày của Khánh Lan, tôi nhận ra một số điều tưởng đã quen thuộc nhưng trước đây chưa chắc mình đã nhìn thấy đầy đủ. Có những khái niệm từng nằm yên trong sách vở, nay bỗng liên hệ với đời sống. Có những câu hỏi triết học tưởng như xa xôi, nay lại trở thành những câu hỏi rất gần gũi: Tôi là ai? Tôi đang sống như thế nào? Tôi có thật sự tự do không? Tôi có trách nhiệm ra sao về những lựa chọn của mình? Thực tại là gì? Con người có thể hiểu được thế giới đến đâu? Và cuộc đời có ý nghĩa gì trước cái chết?

    Đó cũng là lý do tôi rất vui hôm nay được giới thiệu cùng quý vị hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan.

    Tác phẩm thứ nhất là Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng. Tác phẩm thứ hai là Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình. Hai cuốn sách có thể được đọc riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một cuộc đối thoại khá tự nhiên. Nếu siêu hình học đặt ra những câu hỏi căn bản về tồn tại, thực tại, con người và thế giới, thì triết học hiện sinh đưa những câu hỏi ấy trở lại với đời sống cụ thể của từng cá nhân.

    Nói một cách giản dị, siêu hình học thường hỏi: Cái gì là thực tại? Tồn tại có nghĩa là gì? Con người là gì? Thế giới được cấu tạo như thế nào? Còn triết học hiện sinh hỏi thêm: Con người đang sống thế nào trong thế giới ấy? Con người có quyền lựa chọn hay không? Tự do đem lại hạnh phúc hay lo âu? Chúng ta phải có trách nhiệm thế nào về đời sống của mình?

    Trong Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Khánh Lan bắt đầu từ lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, từ những tiền đề xa xưa trong tư tưởng Socrates, Montaigne, Pascal, rồi đi đến Kierkegaard và Nietzsche, những người thường được xem là đã đặt nền tảng quan trọng cho tư tưởng hiện sinh. Từ đó, tác giả trình bày sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỷ XX qua những tên tuổi như Husserl, Heidegger, Sartre, Camus và nhiều nhà tư tưởng khác.

    Một ưu điểm dễ nhận thấy của cuốn sách là Khánh Lan không xem chủ nghĩa hiện sinh chỉ như một hệ thống lý thuyết khép kín. Cô cố gắng cho người đọc thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh nảy sinh từ những khủng hoảng rất thật của con người: nỗi cô đơn, sự lo âu, cảm giác phi lý, sự sợ hãi trước cái chết, sự mất phương hướng, nhu cầu được sống chân thật và khát vọng tự quyết định đời mình.

    Khi trình bày quan niệm của Sartre rằng sự hiện hữu có trước bản chất, tác giả giúp người đọc hiểu rằng con người không phải là một vật thể đã được định nghĩa hoàn toàn từ trước. Con người được hình thành qua những lựa chọn, những hành động và trách nhiệm của chính mình. Tự do trong triết học hiện sinh vì thế không phải là một món quà dễ chấp nhận. Tự do cũng là một gánh nặng, bởi khi được tự do lựa chọn, con người không thể hoàn toàn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho xã hội hay cho người khác.

    Đây là một điểm rất đáng quý trong cách Khánh Lan tiến đến với chủ nghĩa hiện sinh. Cô không chỉ nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân, mà còn gắn tự do với trách nhiệm. Con người được tự do, nhưng không được sống một cách tuỳ tiện. Con người có quyền chọn lựa, nhưng mỗi lựa chọn đều tạo nên một phần con người mình và ảnh hưởng đến những người chung quanh.

    Khánh Lan cũng dành sự quan tâm thích đáng đến sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật. Qua văn chương, những khái niệm như phi lý, hư vô, cô đơn, tự do, tuyệt vọng hay tính chân thực không còn là những thuật ngữ khô khan. Chúng trở thành những nhân vật, những số phận, những cuộc đối thoại, những bi kịch nội tâm và những lựa chọn đau đớn của con người.

    Văn học giúp cho triết học có một gương mặt cụ thể. Một ý niệm trừu tượng có thể trở nên dễ hiểu hơn khi nó được thể hiện qua một nhân vật đang yêu, đang đau khổ, đang sợ hãi, đang phản kháng hoặc đang phải quyết định giữa hai con đường. Qua cách trình bày này, Khánh Lan cho thấy văn chương không chỉ minh hoạ cho triết học. Văn chương còn là một hình thức suy tư bằng hình tượng, bằng cảm xúc và bằng đời sống.

    Nhân đề cập đến triết học hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn chương, tôi nghĩ nên nhắc đến Françoise Sagan, một nhà văn nữ người Pháp đã để lại dấu ấn đặc biệt đối với thế hệ chúng tôi. Sagan không viết những khảo luận triết học, cũng không trình bày chủ nghĩa hiện sinh bằng những hệ thống khái niệm phức tạp. Bà đưa cảm thức hiện sinh vào những điều rất gần gũi: tuổi trẻ, tình yêu, gia đình, sự buồn chán, khát vọng tự do và những lựa chọn riêng tư của con người.

    Qua Bonjour tristesse, người đọc gặp một thế giới tưởng như nhẹ nhàng, thanh lịch và phóng túng, nhưng bên dưới bề mặt ấy là những câu hỏi nghiêm chỉnh về tự do, trách nhiệm và hậu quả của hành động. Nhân vật của Sagan muốn sống theo ý mình, nhưng càng tìm cách thoát khỏi những ràng buộc đạo đức, họ càng phải đối diện với sự bất an và mặc cảm. Ở đó, chủ nghĩa hiện sinh không hiện ra như một bài học lý thuyết, mà như một kinh nghiệm sống.

    Sagan đã làm cho nhiều người trẻ nhận ra rằng tự do không chỉ là được làm điều mình muốn. Tự do còn là phải sống với kết quả của điều mình đã chọn. Có lẽ vì thế, văn chương của bà đã ảnh hưởng rộng rãi đến thế hệ chúng tôi. Sagan nói bằng một giọng văn nhẹ, lạnh, đôi khi tưởng như dửng dưng, nhưng phía sau sự nhẹ nhàng ấy là một cái nhìn khá sâu sắc về sự cô đơn và trách nhiệm của con người hiện đại.

    Nếu Sartre đem chủ nghĩa hiện sinh vào triết học, Camus đem nó đến với cảm thức phi lý, thì Françoise Sagan đưa nó vào đời sống tình cảm và tâm lý của tuổi trẻ. Bà chứng minh rằng những câu hỏi triết học lớn đôi khi không xuất hiện trong giảng đường, mà xuất hiện trong một mái nhà, một cuộc tình, một sự phản bội, một nỗi buồn hay một quyết định tưởng như rất riêng tư.

    Trở lại Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng, một điểm khác cũng đáng ghi nhận là tác giả không né tránh những chỉ trích đối với chủ nghĩa hiện sinh. Bên cạnh việc trình bày những đóng góp của dòng tư tưởng này, cô cũng nhắc đến những quan điểm cho rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thái độ bi quan hoặc sự khinh miệt lý trí. Việc dành chỗ cho những ý kiến ngược chiều giúp tác phẩm có thêm chiều rộng, bởi tư tưởng chỉ thật sự sống động khi nó được đặt trong đối thoại và tranh luận.

    Phần Khánh Lan viết về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh cũng mở ra một hướng suy nghĩ đáng chú ý. Tôn giáo ở đây không chỉ được nhìn như một hệ thống điều răn từ bên ngoài, mà còn như một kinh nghiệm nội tâm, một cuộc gặp gỡ giữa con người với ý nghĩa tối hậu của đời sống. Câu hỏi về Thiên Chúa, đức tin, tự do và trách nhiệm được đặt trong mối quan hệ với một con người đang hiện hữu, đang chọn lựa và đang chịu trách nhiệm về chính mình.

    Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu về quyển sách thứ hai của Khánh Lan. Nếu cuốn sách về triết học hiện sinh giúp người đọc nhìn sâu vào đời sống của cá nhân, thì Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình lại đưa chúng ta trở về với những câu hỏi rộng lớn hơn về thực tại và tồn tại.

    Trong phần mở đầu, Khánh Lan khởi đi từ những câu hỏi tưởng như rất đơn giản nhưng không dễ trả lời: Thế giới mà chúng ta đang sống thực sự là gì? Con người hiện hữu trong thế giới ấy với tư cách nào? Thực tại có tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta hay không? Có điều gì còn tiếp diễn sau cái chết?

    Đó là những câu hỏi mà triết học đã theo đuổi từ thời cổ đại cho đến hiện nay. Và trong thời đại của AI – trí tuệ nhân tạo, thực tại ảo, những mô hình mô phỏng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, những câu hỏi ấy lại càng trở nên cấp thiết. Ranh giới giữa cái thật và cái dường như thật, giữa con người và máy móc, giữa ý thức và vật chất, giữa đời sống thực và đời sống ảo ngày càng trở nên phức tạp.

    Khánh Lan có công trong việc trình bày siêu hình học như một lãnh vực không phải chỉ dành cho những triết gia chuyên nghiệp. Siêu hình học hiện diện ngay trong những điều chúng ta tin tưởng, trong cách chúng ta hiểu về con người, tự do, đạo đức, trách nhiệm, sự sống và cái chết. Mỗi người, dù có ý thức hay không, đều mang trong mình một quan niệm nào đó về thế giới. Quan niệm ấy âm thầm ảnh hưởng đến cách ta lựa chọn, hành động và đánh giá đúng sai.

    Cuốn sách lần lượt giới thiệu siêu hình học cơ bản, lịch sử phát triển của siêu hình học từ thời cổ đại đến hiện đại, những khái niệm như tồn tại, hiện hữu, thực tại, bản chất, nguyên nhân và tự do. Tác giả cũng cố gắng đưa siêu hình học đến gần hơn với những lãnh vực cụ thể như khoa học pháp lý, văn học, đời sống, Phật học, đạo đức học và tâm lý học.

    Đây là điểm đáng khen của công trình biên khảo. Khánh Lan không để siêu hình học đứng yên trong thế giới của những khái niệm trừu tượng. Cô tìm cách cho thấy những nền tảng siêu hình học có thể ảnh hưởng đến cách một xã hội xây dựng luật pháp, cách con người hình thành quan niệm đạo đức, cách chúng ta nhìn về tâm trí, thân thể, ý thức và bản chất con người.

    Đặc biệt, phần nối kết giữa siêu hình học và văn học có nhiều ý nghĩa đối với người đọc yêu văn chương. Triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lập luận. Văn học lại cho phép chúng ta đi vào những vấn đề ấy qua nhân vật, câu chuyện, hình tượng và cảm xúc. Một tác phẩm văn học lớn thường không cần trực tiếp giảng giải về bản thể, nhưng vẫn có thể khiến người đọc tự hỏi mình là ai, vì sao mình đau khổ, thế nào là một đời sống có ý nghĩa và con người phải sống ra sao trước giới hạn của thời gian.

    Việc Khánh Lan đặt Phật học vào cuộc đối thoại với siêu hình học phương Tây cũng cho thấy một nỗ lực mở rộng tầm nhìn. Phật học không chỉ được trình bày như một hệ thống tín ngưỡng, mà còn như một con đường nhận thức và chuyển hoá nội tâm. Ở đó, hiểu biết không tách rời đời sống; tư tưởng không tách rời sự tu dưỡng; nhận thức không chỉ nhằm giải thích thế giới mà còn nhằm làm vơi bớt khổ đau.

    Chương viết về đạo đức và luân lý tiếp tục làm rõ một mối quan hệ quan trọng: cách chúng ta hiểu về thực tại và con người sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta sống. Nếu xem con người là một hữu thể có tự do, quan niệm của chúng ta về trách nhiệm sẽ khác. Nếu xem con người chỉ như một bộ máy bị chi phối hoàn toàn bởi vật chất và hoàn cảnh, quan niệm của chúng ta về đạo đức cũng sẽ khác.

    Phần viết về tồn tại và thời gian, về cái chết như một điều kiện làm cho đời sống có ý nghĩa, cũng đem lại nhiều suy nghĩ. Chính vì đời người hữu hạn, mỗi khoảnh khắc mới trở nên quý giá. Chính vì con người biết mình sẽ chết, con người mới phải tự hỏi mình đã sống thế nào và còn muốn làm gì trong phần đời còn lại.

    Ở cuối sách, khi trở về với Socrates, Plato và Aristotle, Khánh Lan như muốn nhắc người đọc rằng mọi cuộc hành trình triết học, dù đi qua bao nhiêu thế kỷ, cuối cùng vẫn trở về với những câu hỏi căn bản của con người: thế nào là chân lý, thế nào là đời sống tốt đẹp, thế nào là công bằng và con người phải sống ra sao trong cộng đồng.

    Tôi không nghĩ Khánh Lan viết hai cuốn sách này để đưa ra những câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề lớn của triết học. Chính tác giả cũng ý thức rằng những câu hỏi về tồn tại, thực tại, tự do, đức tin, đạo đức và ý nghĩa đời sống không thể được giải quyết một lần cho tất cả.

    Giá trị của hai công trình biên khảo này nằm ở chỗ chúng mở ra một không gian suy nghĩ. Chúng giúp người đọc bước vào triết học bằng những câu hỏi gần gũi, rồi từ đó đi dần đến những vấn đề rộng lớn hơn. Chúng cũng cho thấy một nhà văn, với năng lực cảm nhận đời sống và văn chương, có thể đưa những tư tưởng khó khăn đến gần hơn với người đọc phổ thông.

    Khánh Lan thuộc lớp những cây bút đang tiếp tục học hỏi và tìm kiếm con đường riêng của mình. Hai tác phẩm này cho thấy ở cô một niềm say mê đáng quý đối với triết học, một ý thức muốn chia sẻ tri thức và một nỗ lực kết nối giữa tư tưởng với đời sống. Trong một thời đại mà con người thường bị cuốn vào tốc độ, tiện nghi và những tin tức cô đọng, ngắn ngủi, việc có một người chịu khó dừng lại trước những câu hỏi lớn đã là một điều đáng trân trọng.

    Tôi xin chúc mừng nhà văn Khánh Lan đã hoàn thành hai công trình nhiều tâm huyết này. Mong rằng quý độc giả sẽ đón nhận Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng và Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình như những lời mời gọi bước vào một cuộc trò chuyện sâu sắc về con người và thế giới.

    Và tôi cũng mong rằng, sau khi đọc hai cuốn sách, mỗi chúng ta sẽ có lúc biết dừng lại để tự hỏi: Tôi đang sống như thế nào? Tôi có đang sống thật với chính mình không? Những lựa chọn của tôi đã đem lại điều gì cho bản thân và cho người khác? Tôi đang tìm kiếm điều gì trong cuộc đời hữu hạn này?

    Có lẽ, đó chính là lúc triết học không còn nằm yên trên trang sách. Nó bước vào đời sống, đi vào tâm hồn và bắt đầu làm thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới, nhìn người khác và nhìn chính mình.

    Xin trân trọng giới thiệu hai tác phẩm biên khảo về triết học của nhà văn Khánh Lan cùng quý vị.

    Phần văn nghệ xen kẽ là: The Duo guitar Cát Vàng với Minh Thư và Thúy Giao, trình diễn liên khúc Country Roads: 500 Miles and Take Me Home.

    Ngoài 2 tác phẩm Siêu Hình Học và Triết Học Hiện Sinh, NV Khánh Lan còn cho ra mắt một tác phẩm song ngữ Những đứa trẻ lạc loài/The unwanted children.

    BÀI DIỄN VĂN THỨ BA CỦA NHÀ VĂN, NHÀ BÁO PHẠM QUỐC BẢO

    Với diễn giả NV Phạm Quốc Bảo khi bàn về tác phẩm Những Đứa Trẻ Lạc Loài của nhà văn Khánh Lan. Ông nói:

    Tôi vẫn suy tưởng sau cuộc chiến tại Việt Nam, nay đã thấm thoát hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ tháng Tư, năm 1975, nhưng những vết hằn của lịch sử và nỗi đau ly hương vẫn là một phần nặng trĩu trong tâm khảm của những người con xa xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, việc Khánh Lan giới thiệu tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” cùng ca khúc “Kiếp Lạc Loài” (sáng tác: Phạm Thái, phổ thơ Phạm Thái) thực sự là một nén tâm hương đầy ý nghĩa để tưởng nhớ và chia sẻ nỗi trăn trở.(Trích trong phần nhận định tác phẩm của NV Việt Hài)

    Dưới đây là một số cảm nhận và bình luận chi tiết về cấu trúc 3 phần của tác phẩm cũng như điểm nhấn mạnh độc đáo của dự án nghệ thuật này:

    • Phần I: Hồi ký “Những đứa trẻ lạc loài”

    Cảm nhận: Đây là phần mang tính cá nhân và xúc động sâu sắc nhất khi chạm trực tiếp vào số phận của một đứa trẻ lai bị bỏ lại sau chiến tranh. Những mảnh đời “con lai” từng phải gánh chịu định kiến, sự thiếu vắng tình thương và muôn vàn trắc trở trên chính quê hương mình. Hồi ký không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là tiếng lòng đại diện cho cả một thế hệ sinh ra trong nghịch cảnh chiến tranh.

    • Phần II: Số phận qua chương trình Babylift và Homecoming Act

    Cảm nhận: Tác phẩm mở rộng lăng kính để nhìn nhận về những ngã rẽ khác nhau của các em bé được đưa đi theo chiến dịch Babylift (1975) hay những người con lai lớn lên tìm đường định cư nhờ Đạo luật Hồi hương (Amerasian Homecoming Act). Dù có cơ hội bước ra thế giới rộng lớn hơn, hành trình tìm kiếm cội nguồn, đối diện với khủng hoảng bản sắc và nỗi đau mất mát gốc gác vẫn luôn là vết thương khó lành.

    • Phần III: 50 năm nhìn lại vận mệnh đất nước

    Cảm nhận: Khép lại tác phẩm bằng cái nhìn tổng quan sau 50 năm, phần này mang chiều sâu chiêm nghiệm của thời gian. Đó là sự giao thoa giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; là nỗi niềm trăn trở về những gì đã xảy ra cho quê hương, đất nước và sự kiên cường vươn lên của những kiếp người viễn xứ.

    Diễn giả Phạm Quốc Bảo nêu ra sự tương quan liên hệ về xã hội Mỹ vẫn có những tuổi thơ, những trẻ em lạc loài, bơ vơ cần sự giúp đỡ. Vì dây là vấn nạn nhân văn xã hội. Về tác giả Khánh Lan thì trong nội dung sách gồm 3 phần của tác phẩm này được soạn khá kỹ, một khi những chia sẻ của mình có thể đồng điệu với góc nhìn sâu sắc và đầy tính nhân văn của chủ đề. Ví dụ như những suy tư, những trăn trở về gia đình, cộng đồng và số phận con người qua các tác phẩm văn nghệ, thi ca luôn mang một sức sống mãnh liệt, giúp chúng ta xích lại gần nhau hơn trong cuộc sống viễn xứ này.

    Điểm chú ý tiểu thuyết xã hội này được soạn lại do việc biên khảo dữ liệu trên liên mạng internet, do sự thực, tiểu thuyết “Những đứa trẻ lạc loài có 2 phiên bản là một ấn bản Việt Ngữ và một về phiên bản Anh Ngữ, tức hai cuốn.

    Ca khúc song ngữ “Kiếp Lạc Loài” và “The Forsaken Life” của NS Phạm Thái do lấy cảm hứng từ tiểu thuyết những đứa trẻ lạc loài của nhà văn khánh Lan. Đây là một bước thử nghiệm rất đáng chú ý khi toàn bộ phần hình ảnh, giọng hát và hòa âm đều được thực hiện thông qua công nghệ AI dựa trên lời thơ của anh Phạm Thái. Trên sân khấu ca sĩ Thụy Lan chuyển tải bài nhạc, phần Hòa âm và trong youtube clip ban đầu do giọng hát AI. Ca khúc mang lại màu sắc hoài niệm, da diết, tái hiện thành công nỗi cô đơn và khát vọng tìm về nguồn cội của những đứa trẻ lạc loài.

    Tóm lại, tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” và ca khúc “Kiếp Lạc Loài” không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật tưởng niệm tháng Tư Đen, mà còn là một thông điệp nhân văn sâu sắc về lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và hàn gắn những vết thương chiến tranh.

    Hai bài hát xen kẽ do ca sĩ Ngọc Hà, phu nhân của nhạc sĩ Lê Văn Khoa trong 2 nhạc phẩm. Tình cố hương của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Và Tình Cầm, thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy.

    Tiếp theo là phẩm diễn ngân của thi sĩ Hà Phương đã kết thúc phần văn học với hai bài thơ: Nàng Thơ Nàng Xuân tặng nữ sĩ Dương Hồng Anh và Cung Linh Khúc tặng văn thi sĩ khánh Lan.

    Tuyết Nga, Vee Hương, (Khánh Lan) Đức Hạnh, Kim Hương

    Sách bán được gần hết và nhanh hơn dự kiến. Nhưng điều khiến tôi xúc động không phải là số lượng sách được bán, mà là những cuộc trò chuyện sau buổi giao lưu. Sự thành công hôm ấy, với tôi, không nằm ở những con số mà nằm trong ánh mắt của độc giả, trong những cái bắt tay, những lời chia sẻ chân thành và cả sự im lặng đầy xúc động của chính tôi. Sự thành công đến quá bất ngờ, vượt xa mọi điều tôi mong ước.

    Khi hội trường dần vắng, tôi nhìn một số ít sách còn lại trên bàn và mỉm cười. Tôi hiểu rằng những tháng ngày miệt mài viết lách của mình đã được đáp lại bằng một món quà đẹp đẽ: sự yêu thương của độc giả. Đó là khoảnh khắc tôi sẽ không bao giờ quên.

    Trong cuộc đời của một người cầm viết không thể đo đếm bằng thành công mà bằng hạnh phúc vì những điều mình viết ra đã thực sự đến được với độc giả.

    Khi buổi ra mắt kết thúc, tôi đứng lại một mình trong hội trường đã vắng người. Tôi nhớ đến những ngày mình từng hoài nghi không biết liệu có ai muốn đọc câu chuyện này hay không. Vậy mà hôm nay, chính những bân bè, người xa lạ lại dành thời gian đến đây, lắng nghe và chia sẻ cảm xúc với tôi.

    Tối hôm ấy, trở về nhà, tôi ngồi một mình bên bàn viết, nhìn những cuốn sách còn lại và chợt hiểu rằng có những khoảnh khắc trong cuộc đời của một người cầm viết không thể đo đếm bằng thành công mà bằng hạnh phúc vì những điều mình viết ra đã thực sự đến được với độc giả. Tim óc tôi lúc ấy như dâng lên một niềm vui mừng tưởng chừng như bất tận, xen lẫn những cảm xúc dâng trào từ tận đáy lòng.

    Thành công của buổi ra mắt không nằm ở số sách được bán ra, mà ở khoảnh khắc tôi nhận ra rằng câu chuyện mình viết đã thực sự chạm đến người đọc/khác. Đó là một thành công hoàn toàn ngoài dự tính, bất ngờ đến mức tôi vẫn cảm thấy như mình đang nằm mơ. Và có lẽ, đây sẽ là một trong những ngày đáng nhớ nhất trên hành trình viết sách của tôi.

    PHẦN VĂN NGHỆ

    Sau phần văn học, một chương trình nhạc thính phòng với những nhạc phẩm vang bóng một thời trong nền âm nhạc Việt Nam đã cống hiến đến quý quan khách. Mở đầu phần văn nghệ, Ca sĩ Kim Đức, phu nhân của Bác Sĩ Vũ Thùy với nhạc phẩm “Paris tu m’as Pris dans tes bras”, xin được dịch nôm na là “Paris ơi, thành phố đã đón tôi trong vòng tay”. Một nhạc phẩm nổi tiếng của ca sĩ Enrico Macias, được ông sáng tác khi chính phủ Algeria trục xuất ông ra khỏi nước vì ông tham gia phản chiến và chính phủ Pháp đã dang rộng bằng vòng tay để đón chào ông.

    Và lần lượt đến sự trình diễn của các bạn bè và thân hữu.

    • Chế Tùng & Nguyệt Hân: Hoa Có Vàng Nơi Ấy. NS việt Anh
    • Đông Triều: Biết Bao Giờ Trở Lại, NS Ngô Thụy Miên.
    • Ngọc Quỳnh: Về Đây Nghe Em, NS Trần Quang Lộc 
    • Hồng Quyên: Thu Quyến Rũ. NS Đoàn Chuẩn 
    • Kim Đức: If You Go Away.
    • Mạnh Bổng: Dưới Giàn Hoa Cũ của nhạc sĩ Tuấn Khanh.
    • Chế Tùng & Nguyệt Hân: Còn Mùa Thu.

    Đông Triều trong nhạc phẩm Biết Bao Giờ Trở Lại

    Hồng Quyên vời Thu Quyến Rũ

    Ngọc Quỳnh với Về Đây Nghe Em 

    Mạnh Bổng với nhạc phẩm: Dưới Giàn Hoa Cũ

    4:30 pm: Bế mạc với ban hợp ca nhạc phẩm Còn Gặp Nhau với Minh Thư, Lâm Dung & Ngọc Quỳnh và nhóm tơ vàng. Nhạc phẩm Còn gặp nhau của nhạc sĩ Võ Tá Hân đã chấm dứt chương trình ra mắt sách.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Khánh Lan gởi lời cảm ơn chân tình đến quý Giáo Sư, Diễn Giả, Văn Thi Sĩ, Anh Chị Em và Thân Hữu đã đến chia vui và chúc mừng đến chúng tôi. Chúng tôi cũng gởi lời cám ơn đến các ca sĩ và bạn bè, thân hữu cũng như các anh chị em trong nhóm đã tham gia trong phần văn nghệ, đã trình diễn những nhạc phẩm tuyệt diệu và đã ở lại đến giây phút cuối.

    NS Dương Hồng Anh & Khánh Lan, California 2026

  • RA MẮT SÁCH,  VĂN HỌC,  Viet-Hải

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM

    Trần Việt Hải

    Trong ngày Ra Mắt tác phẩm của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Văn Thi Sĩ Khánh Lan tổ chức tại Hội Trường Báo Người Việt ngày 20 tháng 9, 2026. Hai văn thi sĩ đã trình làng 3 tác phẩm mà tôi cho là có giá trị trong lãnh vực văn học. Đó là Tuyển Tập Thi Ca Quê Hương Còn Đó của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và 3 tác phẩm của Văn Thi Sĩ Khánh Lan, gồm Siêu Hình Học, Triết Lý Hiện Sinh và Những Đứa Trẻ Lạc Loài (song ngữ Anh & Việt).

    Ba diễn giả được mời trong buổi ra mắt sách là: Giáo Sư Quyên Di, Nhà Văn, Nhà Báo Phạm Quốc Bảo và Thi Sĩ Minh Đức. Cả 3 bài diễn văn đều đem lại những chi tiết quan trọng mà tôi thiết tưởng cần được lưu trữ lại trong kho tàng văn học của chúng ta. Dưới đây là những nhận xét của tôi về 3 tác phẩm ấy cũng như nội dung của 3 bài diễn văn này.

    1. BÀI DIỄN VĂN THỨ NHẤT CỦA THI SĨ MINH ĐỨC

    Nhà văn Minh Đức đảm nhiệm nói về thi tập mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh là Quê Hương Còn Đó, diễn giả đi khái lược về yếu tố Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức nên rất khó quên. Hãy nhận định từ ngữ về vai trò của quê hương qua ba yếu tố sau:

    • Quê hương là mảnh đất chúng ta sinh ra, lớn lên, trau đồi bản thân và mang trong mình nhiều ước mơ, khát vọng để giúp đời, giúp người. Mỗi quê hương có nền văn hóa riêng, giao thoa độc đáo của văn hóa từng vùng miền, đóng góp vào đa dạng nền văn hóa của dân tộc. Quê hương là nơi con người trở về sau những khó khăn, mang lại cảm giác thanh thản và yên bình.
    • Quê hương không chỉ là nơi chúng ta lớn lên, mà còn là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận được sự thanh thản, yên bình bởi không khí quen thuộc và con người chân chất tại quê hương. Mỗi quê hương mang một bản sắc riêng, nuôi dưỡng tâm hồn con người với sự đa dạng phong phú. Mỗi quê hương cũng có một nền văn hóa riêng. Khi ta trưởng thành, ta mang theo nét đặc trưng của quê hương đi nơi khác, sẽ có sự giao thoa độc đáo giữa các nền văn hóa từng vùng miền, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.

    Sự nhớ nhung, suy tưởng miên viễn về quê xưa, ấy là một tình yêu quê hương. Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên và để trở về. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều. Hãy xem thơ ca Dương Hồng Anh:

    Tháng Tư nhớ quê hương

    Mặt trời đi vắng hôm nay

    Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương

    Năm mươi năm mấy đoạn trường

    Mỗi người có một quê hương riêng, và mỗi quê hương có một bản sắc khác nhau, nuôi dưỡng những tâm hồn con người đa dạng và phong phú. Tình yêu quê hương không phải là tình cảm trừu tượng, nó được biểu hiện rất cụ thể và rõ nét. Thật vậy, quê hương trong miền ký ức của mỗi người có luôn là những gì đơn giản đơn, mộc mạc nhưng cũng đầy thiêng liêng và đẹp đẽ. Tình yêu quê hương không ngọt ngào, trong trẻo tong nét nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng vẫn khiến con người ta phải dâng lên những niềm xúc cảm khôn nguôi, khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người.

    Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ sau dây về quê cũ của người. Xem bài:

    Mơ Về Hà Nội

    Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

    Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

    Cho thơ nở giữa vườn thơ

    Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

    Hướng về cố lý xa xăm

    Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ

    Tơ đàn xao xuyến hồn thơ

    Tình yêu quê hương, đất nước luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người, trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy văn học dân tộc, theo ý nghĩa sâu sắc và thiêng liêng. Quê hương là nơi mỗi con người cất tiếng khóc chào đời, là miền đất đầu tiên nâng bước ta trên hành trình làm người. Trong dòng chảy không ngừng của cuộc sống hiện đại, con người có thể đi rất xa, sống ở nhiều vùng đất khác nhau, nhưng quê hương vẫn luôn hiện diện như một phần máu thịt, âm thầm chi phối suy nghĩ, tình cảm và cách sống của mỗi người. Bởi vậy, vai trò của quê hương đối với cuộc đời con người là vô cùng sâu sắc và bền vững. Tình yêu quê hương không chỉ là nỗi nhớ thầm lặng mà còn là động lực thúc đẩy con người sống có ích. Ý thức về nguồn cội khiến mỗi người biết trân trọng những gì mình đang có và mong muốn đóng góp cho cộng đồng nơi mình sinh ra.

    Trong phần phát biểu nữ sĩ Dương Hồng Anh đã đọc bài thơ mới sáng tác, bà cũng nhờ nhà thơ Khánh Lan ngâm giọng Tao Đàn, bài thơ nhu sau:

    Nhớ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

    Chung vui những buổi chiều tà

    Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

    Nắng vàng sưởi ấm thành đô

    Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Thư trang vẫn nở những vần thơ say

    Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

    Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

    Hồng Anh, Tháng 9, 2026.

    Bài thơ “Nhớ” của tác giả Hồng Anh (sáng tác tháng 9/2026) là một khúc thi ca nhẹ nhàng, đong đầy cảm xúc hoài niệm, biểu hiện tình cảm sâu sắc gắn liền với nguồn cảm hứng sáng tác văn chương. Dưới đây là phân tích và cảm nhận chi tiết về thi phẩm:

    CHỦ ĐỀ ĐƯỢC NÊU RÕ VÀ NGUỒN CẢM HỨNG SÁNG TÁC

    Mạch nối cảm xúc xuyên suốt, bài thi phẩm được mở đầu với một điệp khúc quen thuộc “Mỗi lần cầm bút viết văn”, lặp lại ở đầu mỗi khổ thơ như một nhịp đập thổn thức của trái tim người nghệ sĩ. Đối với tác giả, khoảnh khắc cầm bút không chỉ là lúc lao động nghệ thuật mà còn là cánh cửa mở ra không gian của ký ức và hoài niệm.

    Nhắc về đối tượng là nỗi nhớ khôn nguôi. Nỗi nhớ trong bài thơ mang tính đa chiều, bao trùm cả tình bạn thắm thiết (“bạn gần bạn xa”), tình yêu quê hương đất nước, hình ảnh Thủ đô Hà Nội nên thơ, và cả những nỗi lòng xao xuyến, bâng khuâng rất riêng tư trong tâm hồn của bà.

    Đi xa hơn khi phân tích chi tiết từng khổ thơ như:

    • Khổ 1: Nỗi nhớ bạn bè và tình cảm tri kỷ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

    Chung vui những buổi chiều tà

    Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

    Không gian và thời gian: Thời điểm “chiều tà” thường là lúc con người dễ chùng xuống và hoài niệm nhất.

    Nội dung: Tác giả nhớ về những người bạn khắp muôn phương, những buổi tụ họp ấm cúng bên thi ca, âm nhạc. Nghệ thuật đối lập nhẹ nhàng giữa “bạn gần” và “bạn xa” kết hợp với các từ ngữ gợi âm thanh, hình ảnh (họa thơ, nhạc nở, đàn ca) tạo nên một bức tranh kỷ niệm rộn ràng, giàu tính nghệ thuật và sự gắn kết tâm hồn.

    • Về Khổ 2 là Nỗi nhớ Hà Nội và vẻ đẹp non sông

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

    Nắng vàng sưởi ấm thành đô

    Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

    Không gian địa lý: Từ tình bạn, mạch thơ dịch chuyển về không gian đậm chất trữ tình của Hà Nội với trăng Tây Hồ, thành đô ngập tràn nắng vàng, và biểu tượng thiêng liêng Hồ Gươm xưa. Hình ảnh thơ: Hình ảnh “Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa” mang đậm hồn Việt, vừa duyên dáng, hoài cổ vừa gợi lên sự gắn bó thiết tha giữa con người với mảnh đất nghìn năm văn hiến.

    • Và Khổ 3 là Sự thăng hoa của cảm xúc và nỗi lòng lữ thứ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Thư trang vẫn nở những vần thơ say

    Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

    Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

    Ý nghĩa: Trang giấy trắng lúc này không chỉ ghi lại con chữ mà như “nở” ra những vần thơ say đắm. Trạng thái “bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư” khép lại bài thơ bằng một dư âm lắng đọng, cho thấy tâm hồn nhạy cảm, giàu tình yêu thương của người cầm bút.

    XÉT VỀ YẾU TỐ TRÊN CĂN BẢN THI CA NGHỆ THUẬT

    Theo thể thơ Thất Ngôn, bảy chữ với nhịp điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, dễ đi vào lòng người, tâm cảm dễ nhớ.

    Bài thơ “Nhớ” là sự hòa quyện tuyệt vời giữa tình yêu văn chương và tình cảm con người. Qua những vần thơ mộc mạc nhưng chân thành, Hồng Anh đã thành công trong việc vẽ nên một bức tranh tâm hồn rộng mở, nơi ký ức về tình bạn, về Hà Nội và những rung động sâu kín được thăng hoa trọn vẹn qua ngòi bút.

    Phần thu hút sự suy nghĩ của tôi là bài thi ca sau cùng, Hoàng Hôn Nhớ Mẹ. Trong bài thơ mà nhà văn Minh Đức bình luận về Hoàng Hôn Nhớ Mẹ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, thì ông cho rằng tình thương của Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời, nơi ta chôn nhau cắt rún. Mẹ là tiếng nói quê hương, và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương…

    Hoàng Hôn Nhớ Mẹ

    Hè về cho trái chín cây

    Cho hoa vàng nở nhớ ngày xa xưa

    Trời trong gió mát hương đưa

    Vẳng nghe tiếng hát ban trưa êm đềm

    Nắng soi tà áo vai mềm

    Ai đi hong nắng, nón nghiêng mây trời

    Nhớ xưa dáng mẹ tuyệt vời

    Hạ vàng gợi nhớ những lời mẹ ru

    Ca dao lời ngọt thiên thu

    À ơi! tiếng mẹ hát ru năm nào

    À ơi! tiếng hát ngọt ngào

    Trôi theo ngày tháng quyện vào giấc mơ

    Mây Tần xao xuyến hồn thơ

    Hoàng hôn nhớ mẹ – ngẩn ngơ dáng chiều.

    Những vần thơ trong bài “Hoàng Hôn Nhớ Mẹ” trên, thì cùng câu nói đầy xúc động “Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời; Mẹ là tiếng nói quê hương, Và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương…” đã chạm đến những góc sâu kín và thiêng liêng nhất trong tâm hồn mỗi con người. Đó không chỉ là sự tưởng nhớ đấng sinh thành, mà còn là sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa tình mẫu tử và hồn thiêng sông núi.

    Mẹ là quê hương và bến đỗ bình yên của cội nguồn, là nơi chôn rau cắt rún. Quê hương còn dó không chỉ là khoảng không gian địa lý với những lũy tre làng, cánh đồng lúa hay con đê nhỏ, mà quê hương hóa thân trọn vẹn trong hình bóng của Mẹ. Mẹ chính là nhân chứng đầu tiên của cuộc đời ta, là bến bờ đầu tiên ta chạm tới khi cất tiếng khóc chào đời.

    Quê hương còn dó là không gian che chở cho ta, dù ta có đi đến phương trời nào, chỉ cần nghĩ về Mẹ là nghĩ về sự an yên tuyệt đối. Mẹ là gốc rễ, là nơi chốn dung dưỡng tâm hồn ta lớn khôn. Quê hương còn đó là tiếng nói và ngôn ngữ yêu thương của lòng mẹ

    • Lời ru nghìn năm: Như bài thơ đã hoài niệm qua câu “Ca dao lời ngọt thiên thu. À ơi! tiếng mẹ hát ru năm nào”, tiếng mẹ ru chính là tiếng nói đầu tiên dạy ta cảm nhận thế giới. Đó không chỉ là âm thanh, mà là thứ ngôn ngữ thuần khiết nhất của tình yêu thương, vượt qua mọi rào cản thời gian và không gian.
    • Ngôn ngữ không lời, do tình yêu của mẹ đôi khi không nằm ở lời hoa mỹ, mà hiện hữu qua “tà áo vai mềm”, qua “nón nghiêng mây trời”, qua giọt mồ hôi nhọc nhằn và sự hy sinh thầm lặng suốt năm tháng cuộc đời.

    Quê hương còn đó cho ta: Nỗi nhớ hoàng hôn và nỗi niềm khắc khoải qua những Khoảnh khắc giao mùa và lòng người, bài thơ trưng dẫn đã mở ra bằng khung cảnh mùa hè rực rỡ “trái chín cây”, “hoa vàng nở”, nhưng rồi tất cả lại lặng lẽ khép lại trong ánh chiều tà “Hoàng hôn nhớ mẹ – ngẩn ngơ dáng chiều”. Hoàng hôn là thời điểm lòng người dễ chùng xuống nhất. Khi ánh nắng ngày tàn buông xuống, nỗi cô đơn và niềm khao khát được trở về bên mẹ lại trào dâng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

    • Sự bất tử của tình mẫu tử: Thời gian có thể cuốn trôi mọi thứ, khiến tuổi xuân của mẹ phai tàn theo năm tháng, nhưng hình bóng tuyệt vời của mẹ và những khúc ca dao ngọt ngào ấy vẫn mãi “quyện vào giấc mơ”, trở thành hành trang tinh thần theo ta suốt cuộc đời.

    Tóm lại, tình thương của Mẹ là bản giao hưởng đẹp đẻ nhất của cuộc đời, nơi dung chứa cả sự bao dung, hy sinh và nguồn cội. Dù mai này có đi đâu xa, mỗi chúng ta vẫn luôn tìm thấy đường về nhà, bởi vì trong trái tim ta – Mẹ mãi mãi là quê hương.

    Những vẫn thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh cảm ác thực sự chạm đến sâu thẳm tâm can của bất kỳ ai từng có mẹ, từng lớn lên từ nôi quê nghèo khó mà đong đầy nghĩa tình. Sự hòa quyện giữa hình ảnh “Mẹ” và “Quê hương” không chỉ là một nghệ thuật ẩn dụ quen thuộc trong văn học Việt Nam, mà nó còn là một thứ đạo lý tâm linh, một cội nguồn thiêng liêng nhất của mỗi con người.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh & Văn Thi Sĩ Khánh Lan

    Thi ca Dương Hồng Anh vốn sâu sắc về bức tranh tuyệt đẹp như miêu tả bên trên:

    Mẹ là cội nguồn sinh dưỡng và là tiếng nói yêu thương, bởi Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời / Mẹ là tiếng nói quê hương, / Và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương,… Quê hương và Mẹ vốn là hai khái niệm hòa quyện vào nhau. 

    Mẹ là linh hồn của quê hương. Một khi thiếu vắng mẹ, quê hương dẫu có đầy đủ cũng hóa thành hoang lạnh, xa xôi. Có mẹ, có quê hương mới thực sự là “nơi chốn chôn rau cắt rún”, là nơi bình yên nhất để mỗi khi bão giông cuộc đời vây quanh, xô đẩy, những người con tha phương lại khao khát được quay về.

    Quê hương còn đó nêu lên sự thể khi cuộc đời dẫu có “nổi trôi” bao nhiêu dặm trường, con người ta có thể già đi, đến tóc bạc da mồi, nhưng hình bóng của Mẹ và quê hương vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn. Đọc những vần thơ Dương Hồng Anh để cho ta thấu hiểu nhiều thêm, thêm xót xa và biết thêm ơn nghĩa vô ngần trước công ơn sinh thành, dưỡng dục lớn lao như trời biển của Mẹ.

    1. BÀI DIỄN VĂN THỨ HAI CỦA GIÁO SƯ QUYÊN DI

    QUYÊN DI (Đăng nguyên bài)

    GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN

    Trước hết, cho phép tôi được nói đôi lời chân thật về chính mình.

    Khi còn là học sinh lớp Đệ Nhất và rồi sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có may mắn được học Triết Tây với những vị giáo sư mà tên tuổi đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống trí thức miền Nam: Linh mục Trần Văn Hiến Minh, Linh mục Trần Đức Huynh, Linh mục Lê Tôn Nghiêm, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Trần Bích Lan… Tôi cũng được học Triết Đông với cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Linh mục triết gia Kim Định và một số vị thầy đáng kính khác.

    Những năm tháng ấy, tôi cảm thấy mình giống như con chim chích bay vào một khu rừng mênh mông. Trước mắt tôi là biết bao kỳ hoa dị thảo của tư tưởng nhân loại: Socrates, Plato, Aristotle, Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Thánh Augustine, Descartes, Kant, Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger, Sartre, Camus, François Sagan… Tôi ngắm nhìn, say mê, thưởng thức và cố gắng tìm hiểu. Nhưng thú thật, càng đi sâu vào khu rừng triết học, tôi càng nhận ra sự mênh mông của nó. Tôi đã nhìn thấy nhiều con đường, nhưng không phải lúc nào cũng biết con đường nào sẽ đưa mình ra khỏi khu rừng ấy.

    Bây giờ tuổi đã cao, khi đọc hai công trình biên khảo của nhà văn Khánh Lan, một công trình về triết học hiện sinh và một công trình về siêu hình học, tôi lại có dịp trở về với những câu hỏi mà thời sinh viên từng làm tôi say mê, bối rối và nhiều khi hoang mang. Điều đáng mừng là lần này, tôi không còn đọc với tâm thế của một sinh viên đang cố ghi nhớ những khái niệm khó khăn, mà đọc như một người đã đi qua nhiều năm tháng của cuộc đời, từng chứng kiến những đổi thay của con người, xã hội và thời đại.

    Và thật bất ngờ, qua cách trình bày của Khánh Lan, tôi nhận ra một số điều tưởng đã quen thuộc nhưng trước đây chưa chắc mình đã nhìn thấy đầy đủ. Có những khái niệm từng nằm yên trong sách vở, nay bỗng liên hệ với đời sống. Có những câu hỏi triết học tưởng như xa xôi, nay lại trở thành những câu hỏi rất gần gũi: Tôi là ai? Tôi đang sống như thế nào? Tôi có thật sự tự do không? Tôi có trách nhiệm ra sao về những lựa chọn của mình? Thực tại là gì? Con người có thể hiểu được thế giới đến đâu? Và cuộc đời có ý nghĩa gì trước cái chết?

    Đó cũng là lý do tôi rất vui hôm nay được giới thiệu cùng quý vị hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan.

    Tác phẩm thứ nhất là Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng. Tác phẩm thứ hai là Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình. Hai cuốn sách có thể được đọc riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một cuộc đối thoại khá tự nhiên. Nếu siêu hình học đặt ra những câu hỏi căn bản về tồn tại, thực tại, con người và thế giới, thì triết học hiện sinh đưa những câu hỏi ấy trở lại với đời sống cụ thể của từng cá nhân.

    Nói một cách giản dị, siêu hình học thường hỏi: Cái gì là thực tại? Tồn tại có nghĩa là gì? Con người là gì? Thế giới được cấu tạo như thế nào? Còn triết học hiện sinh hỏi thêm: Con người đang sống thế nào trong thế giới ấy? Con người có quyền lựa chọn hay không? Tự do đem lại hạnh phúc hay lo âu? Chúng ta phải có trách nhiệm thế nào về đời sống của mình?

    Trong Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Khánh Lan bắt đầu từ lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, từ những tiền đề xa xưa trong tư tưởng Socrates, Montaigne, Pascal, rồi đi đến Kierkegaard và Nietzsche, những người thường được xem là đã đặt nền tảng quan trọng cho tư tưởng hiện sinh. Từ đó, tác giả trình bày sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỷ XX qua những tên tuổi như Husserl, Heidegger, Sartre, Camus và nhiều nhà tư tưởng khác.

    Một ưu điểm dễ nhận thấy của cuốn sách là Khánh Lan không xem chủ nghĩa hiện sinh chỉ như một hệ thống lý thuyết khép kín. Cô cố gắng cho người đọc thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh nảy sinh từ những khủng hoảng rất thật của con người: nỗi cô đơn, sự lo âu, cảm giác phi lý, sự sợ hãi trước cái chết, sự mất phương hướng, nhu cầu được sống chân thật và khát vọng tự quyết định đời mình.

    Khi trình bày quan niệm của Sartre rằng sự hiện hữu có trước bản chất, tác giả giúp người đọc hiểu rằng con người không phải là một vật thể đã được định nghĩa hoàn toàn từ trước. Con người được hình thành qua những lựa chọn, những hành động và trách nhiệm của chính mình. Tự do trong triết học hiện sinh vì thế không phải là một món quà dễ chấp nhận. Tự do cũng là một gánh nặng, bởi khi được tự do lựa chọn, con người không thể hoàn toàn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho xã hội hay cho người khác.

    Đây là một điểm rất đáng quý trong cách Khánh Lan tiến đến với chủ nghĩa hiện sinh. Cô không chỉ nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân, mà còn gắn tự do với trách nhiệm. Con người được tự do, nhưng không được sống một cách tuỳ tiện. Con người có quyền chọn lựa, nhưng mỗi lựa chọn đều tạo nên một phần con người mình và ảnh hưởng đến những người chung quanh.

    Khánh Lan cũng dành sự quan tâm thích đáng đến sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật. Qua văn chương, những khái niệm như phi lý, hư vô, cô đơn, tự do, tuyệt vọng hay tính chân thực không còn là những thuật ngữ khô khan. Chúng trở thành những nhân vật, những số phận, những cuộc đối thoại, những bi kịch nội tâm và những lựa chọn đau đớn của con người.

    Văn học giúp cho triết học có một gương mặt cụ thể. Một ý niệm trừu tượng có thể trở nên dễ hiểu hơn khi nó được thể hiện qua một nhân vật đang yêu, đang đau khổ, đang sợ hãi, đang phản kháng hoặc đang phải quyết định giữa hai con đường. Qua cách trình bày này, Khánh Lan cho thấy văn chương không chỉ minh hoạ cho triết học. Văn chương còn là một hình thức suy tư bằng hình tượng, bằng cảm xúc và bằng đời sống.

    Nhân đề cập đến triết học hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn chương, tôi nghĩ nên nhắc đến Françoise Sagan, một nhà văn nữ người Pháp đã để lại dấu ấn đặc biệt đối với thế hệ chúng tôi. Sagan không viết những khảo luận triết học, cũng không trình bày chủ nghĩa hiện sinh bằng những hệ thống khái niệm phức tạp. Bà đưa cảm thức hiện sinh vào những điều rất gần gũi: tuổi trẻ, tình yêu, gia đình, sự buồn chán, khát vọng tự do và những lựa chọn riêng tư của con người.

    Qua Bonjour tristesse, người đọc gặp một thế giới tưởng như nhẹ nhàng, thanh lịch và phóng túng, nhưng bên dưới bề mặt ấy là những câu hỏi nghiêm chỉnh về tự do, trách nhiệm và hậu quả của hành động. Nhân vật của Sagan muốn sống theo ý mình, nhưng càng tìm cách thoát khỏi những ràng buộc đạo đức, họ càng phải đối diện với sự bất an và mặc cảm. Ở đó, chủ nghĩa hiện sinh không hiện ra như một bài học lý thuyết, mà như một kinh nghiệm sống.

    Sagan đã làm cho nhiều người trẻ nhận ra rằng tự do không chỉ là được làm điều mình muốn. Tự do còn là phải sống với kết quả của điều mình đã chọn. Có lẽ vì thế, văn chương của bà đã ảnh hưởng rộng rãi đến thế hệ chúng tôi. Sagan nói bằng một giọng văn nhẹ, lạnh, đôi khi tưởng như dửng dưng, nhưng phía sau sự nhẹ nhàng ấy là một cái nhìn khá sâu sắc về sự cô đơn và trách nhiệm của con người hiện đại.

    Nếu Sartre đem chủ nghĩa hiện sinh vào triết học, Camus đem nó đến với cảm thức phi lý, thì Françoise Sagan đưa nó vào đời sống tình cảm và tâm lý của tuổi trẻ. Bà chứng minh rằng những câu hỏi triết học lớn đôi khi không xuất hiện trong giảng đường, mà xuất hiện trong một mái nhà, một cuộc tình, một sự phản bội, một nỗi buồn hay một quyết định tưởng như rất riêng tư.

    Trở lại Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng, một điểm khác cũng đáng ghi nhận là tác giả không né tránh những chỉ trích đối với chủ nghĩa hiện sinh. Bên cạnh việc trình bày những đóng góp của dòng tư tưởng này, cô cũng nhắc đến những quan điểm cho rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thái độ bi quan hoặc sự khinh miệt lý trí. Việc dành chỗ cho những ý kiến ngược chiều giúp tác phẩm có thêm chiều rộng, bởi tư tưởng chỉ thật sự sống động khi nó được đặt trong đối thoại và tranh luận.

    Phần Khánh Lan viết về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh cũng mở ra một hướng suy nghĩ đáng chú ý. Tôn giáo ở đây không chỉ được nhìn như một hệ thống điều răn từ bên ngoài, mà còn như một kinh nghiệm nội tâm, một cuộc gặp gỡ giữa con người với ý nghĩa tối hậu của đời sống. Câu hỏi về Thiên Chúa, đức tin, tự do và trách nhiệm được đặt trong mối quan hệ với một con người đang hiện hữu, đang chọn lựa và đang chịu trách nhiệm về chính mình.

    Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu về quyển sách thứ hai của Khánh Lan. Nếu cuốn sách về triết học hiện sinh giúp người đọc nhìn sâu vào đời sống của cá nhân, thì Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình lại đưa chúng ta trở về với những câu hỏi rộng lớn hơn về thực tại và tồn tại.

    Trong phần mở đầu, Khánh Lan khởi đi từ những câu hỏi tưởng như rất đơn giản nhưng không dễ trả lời: Thế giới mà chúng ta đang sống thực sự là gì? Con người hiện hữu trong thế giới ấy với tư cách nào? Thực tại có tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta hay không? Có điều gì còn tiếp diễn sau cái chết?

    Đó là những câu hỏi mà triết học đã theo đuổi từ thời cổ đại cho đến hiện nay. Và trong thời đại của AI – trí tuệ nhân tạo, thực tại ảo, những mô hình mô phỏng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, những câu hỏi ấy lại càng trở nên cấp thiết. Ranh giới giữa cái thật và cái dường như thật, giữa con người và máy móc, giữa ý thức và vật chất, giữa đời sống thực và đời sống ảo ngày càng trở nên phức tạp.

    Khánh Lan có công trong việc trình bày siêu hình học như một lãnh vực không phải chỉ dành cho những triết gia chuyên nghiệp. Siêu hình học hiện diện ngay trong những điều chúng ta tin tưởng, trong cách chúng ta hiểu về con người, tự do, đạo đức, trách nhiệm, sự sống và cái chết. Mỗi người, dù có ý thức hay không, đều mang trong mình một quan niệm nào đó về thế giới. Quan niệm ấy âm thầm ảnh hưởng đến cách ta lựa chọn, hành động và đánh giá đúng sai.

    Cuốn sách lần lượt giới thiệu siêu hình học cơ bản, lịch sử phát triển của siêu hình học từ thời cổ đại đến hiện đại, những khái niệm như tồn tại, hiện hữu, thực tại, bản chất, nguyên nhân và tự do. Tác giả cũng cố gắng đưa siêu hình học đến gần hơn với những lãnh vực cụ thể như khoa học pháp lý, văn học, đời sống, Phật học, đạo đức học và tâm lý học.

    Đây là điểm đáng khen của công trình biên khảo. Khánh Lan không để siêu hình học đứng yên trong thế giới của những khái niệm trừu tượng. Cô tìm cách cho thấy những nền tảng siêu hình học có thể ảnh hưởng đến cách một xã hội xây dựng luật pháp, cách con người hình thành quan niệm đạo đức, cách chúng ta nhìn về tâm trí, thân thể, ý thức và bản chất con người.

    Đặc biệt, phần nối kết giữa siêu hình học và văn học có nhiều ý nghĩa đối với người đọc yêu văn chương. Triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lập luận. Văn học lại cho phép chúng ta đi vào những vấn đề ấy qua nhân vật, câu chuyện, hình tượng và cảm xúc. Một tác phẩm văn học lớn thường không cần trực tiếp giảng giải về bản thể, nhưng vẫn có thể khiến người đọc tự hỏi mình là ai, vì sao mình đau khổ, thế nào là một đời sống có ý nghĩa và con người phải sống ra sao trước giới hạn của thời gian.

    Việc Khánh Lan đặt Phật học vào cuộc đối thoại với siêu hình học phương Tây cũng cho thấy một nỗ lực mở rộng tầm nhìn. Phật học không chỉ được trình bày như một hệ thống tín ngưỡng, mà còn như một con đường nhận thức và chuyển hoá nội tâm. Ở đó, hiểu biết không tách rời đời sống; tư tưởng không tách rời sự tu dưỡng; nhận thức không chỉ nhằm giải thích thế giới mà còn nhằm làm vơi bớt khổ đau.

    Chương viết về đạo đức và luân lý tiếp tục làm rõ một mối quan hệ quan trọng: cách chúng ta hiểu về thực tại và con người sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta sống. Nếu xem con người là một hữu thể có tự do, quan niệm của chúng ta về trách nhiệm sẽ khác. Nếu xem con người chỉ như một bộ máy bị chi phối hoàn toàn bởi vật chất và hoàn cảnh, quan niệm của chúng ta về đạo đức cũng sẽ khác.

    Phần viết về tồn tại và thời gian, về cái chết như một điều kiện làm cho đời sống có ý nghĩa, cũng đem lại nhiều suy nghĩ. Chính vì đời người hữu hạn, mỗi khoảnh khắc mới trở nên quý giá. Chính vì con người biết mình sẽ chết, con người mới phải tự hỏi mình đã sống thế nào và còn muốn làm gì trong phần đời còn lại.

    Ở cuối sách, khi trở về với Socrates, Plato và Aristotle, Khánh Lan như muốn nhắc người đọc rằng mọi cuộc hành trình triết học, dù đi qua bao nhiêu thế kỷ, cuối cùng vẫn trở về với những câu hỏi căn bản của con người: thế nào là chân lý, thế nào là đời sống tốt đẹp, thế nào là công bằng và con người phải sống ra sao trong cộng đồng.

    Tôi không nghĩ Khánh Lan viết hai cuốn sách này để đưa ra những câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề lớn của triết học. Chính tác giả cũng ý thức rằng những câu hỏi về tồn tại, thực tại, tự do, đức tin, đạo đức và ý nghĩa đời sống không thể được giải quyết một lần cho tất cả.

    Giá trị của hai công trình biên khảo này nằm ở chỗ chúng mở ra một không gian suy nghĩ. Chúng giúp người đọc bước vào triết học bằng những câu hỏi gần gũi, rồi từ đó đi dần đến những vấn đề rộng lớn hơn. Chúng cũng cho thấy một nhà văn, với năng lực cảm nhận đời sống và văn chương, có thể đưa những tư tưởng khó khăn đến gần hơn với người đọc phổ thông.

    Khánh Lan thuộc lớp những cây bút đang tiếp tục học hỏi và tìm kiếm con đường riêng của mình. Hai tác phẩm này cho thấy ở cô một niềm say mê đáng quý đối với triết học, một ý thức muốn chia sẻ tri thức và một nỗ lực kết nối giữa tư tưởng với đời sống. Trong một thời đại mà con người thường bị cuốn vào tốc độ, tiện nghi và những tin tức cô đọng, ngắn ngủi, việc có một người chịu khó dừng lại trước những câu hỏi lớn đã là một điều đáng trân trọng.

    Tôi xin chúc mừng nhà văn Khánh Lan đã hoàn thành hai công trình nhiều tâm huyết này. Mong rằng quý độc giả sẽ đón nhận Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng và Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình như những lời mời gọi bước vào một cuộc trò chuyện sâu sắc về con người và thế giới.

    Và tôi cũng mong rằng, sau khi đọc hai cuốn sách, mỗi chúng ta sẽ có lúc biết dừng lại để tự hỏi: Tôi đang sống như thế nào? Tôi có đang sống thật với chính mình không? Những lựa chọn của tôi đã đem lại điều gì cho bản thân và cho người khác? Tôi đang tìm kiếm điều gì trong cuộc đời hữu hạn này?

    Có lẽ, đó chính là lúc triết học không còn nằm yên trên trang sách. Nó bước vào đời sống, đi vào tâm hồn và bắt đầu làm thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới, nhìn người khác và nhìn chính mình.

    Xin trân trọng giới thiệu hai tác phẩm biên khảo về triết học của nhà văn Khánh Lan cùng quý vị.

    Phần luận bàn về phạm trù tư tưởng học do GS. Quyên Di giới thiệu, xin xem những link sau đây. Tóm lược và nhận định hai tác phẩm triết học là:

    Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Lưu Khánh Lan:

    https://heyzine.com/flip-book/a34a864bea.html#page/236

    Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình, Lưu Khánh Lan:

    https://heyzine.com/flip-book/d99de8b9be.html#page/20

    1. BÀI DIỄN VĂN THỨ BA CỦA NHÀ VĂN, NHÀ BÁO PHẠM QUỐC BẢO

    Với diễn giả GS. Phạm Quốc Bảo khi bàn về tác phẩm Những Đứa Trẻ Lạc Loài của nhà văn Khánh Lan. Ông nói

    Tôi vẫn suy tưởng sau cuộc chiến tại Việt Nam, nay đã thấm thoát hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ tháng Tư, năm 1975, nhưng những vết hằn của lịch sử và nỗi đau ly hương vẫn là một phần nặng trĩu trong tâm khảm của những người con xa xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, việc Khánh Lan giới thiệu tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” cùng ca khúc “Kiếp Lạc Loài” (sáng tác: Phạm Thái, phổ thơ Phạm Thái) thực sự là một nén tâm hương đầy ý nghĩa để tưởng nhớ và chia sẻ nỗi trăn trở.

    Dưới đây là một số cảm nhận và bình luận chi tiết về cấu trúc 3 phần của tác phẩm cũng như điểm nhấn mạnh độc đáo của dự án nghệ thuật này:

    • Điểm nhấn về nội dung và cấu trúc tác phẩm
    • Phần I: Hồi ký “Những đứa trẻ lạc loài”

    Cảm nhận: Đây là phần mang tính cá nhân và xúc động sâu sắc nhất khi chạm trực tiếp vào số phận của một đứa trẻ lai bị bỏ lại sau chiến tranh. Những mảnh đời “con lai” từng phải gánh chịu định kiến, sự thiếu vắng tình thương và muôn vàn trắc trở trên chính quê hương mình. Hồi ký không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là tiếng lòng đại diện cho cả một thế hệ sinh ra trong nghịch cảnh chiến tranh.

    • Phần II: Số phận qua chương trình Babylift và Homecoming Act

    Cảm nhận: Tác phẩm mở rộng lăng kính để nhìn nhận về những ngã rẽ khác nhau của các em bé được đưa đi theo chiến dịch Babylift (1975) hay những người con lai lớn lên tìm đường định cư nhờ Đạo luật Hồi hương (Amerasian Homecoming Act). Dù có cơ hội bước ra thế giới rộng lớn hơn, hành trình tìm kiếm cội nguồn, đối diện với khủng hoảng bản sắc và nỗi đau mất mát gốc gác vẫn luôn là vết thương khó lành.

    • Phần III: 50 năm nhìn lại vận mệnh đất nước

    Cảm nhận: Khép lại tác phẩm bằng cái nhìn tổng quan sau 50 năm, phần này mang chiều sâu chiêm nghiệm của thời gian. Đó là sự giao thoa giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; là nỗi niềm trăn trở về những gì đã xảy ra cho quê hương, đất nước và sự kiên cường vươn lên của những kiếp người viễn xứ.

    • Sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và công nghệ

    Ca khúc song ngữ “Kiếp Lạc Loài” và “The Forsaken Life” của NS Phạm Thái là một bước thử nghiệm rất đáng chú ý khi toàn bộ phần hình ảnh, giọng hát và hòa âm đều được thực hiện thông qua công nghệ AI dựa trên lời thơ của anh Phạm Thái. Trên sân khấu ca sĩ Thụy Lan chuyển tải bài nhạc, phần Hòa âm và trong youtube clip ban đầu do giọng hát AI. Ca khúc mang lại màu sắc hoài niệm, da diết, tái hiện thành công nỗi cô đơn và khát vọng tìm về nguồn cội của những đứa trẻ lạc loài.

    Tóm lại, tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” và ca khúc “Kiếp Lạc Loài” không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật tưởng niệm tháng Tư Đen, mà còn là một thông điệp nhân văn sâu sắc về lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và hàn gắn những vết thương chiến tranh.

    Diễn giả Phạm Quốc Bảo nêu ra sự tương quan liên hệ về xã hội Mỹ vẫn có những tuổi thơ, những trẻ em lạc loài, bơ vơ cần sự giúp đỡ. Vì dây là vấn nạn nhân văn xã hội. Về tác giả Khánh Lan thì trong nội dung sách gồm 3 phần của tác phẩm này được soạn khá kỹ, một khi những chia sẻ của mình có thể đồng điệu với góc nhìn sâu sắc và đầy tính nhân văn của chủ đề. Ví dụ như những suy tư, những trăn trở về gia đình, cộng đồng và số phận con người qua các tác phẩm văn nghệ, thi ca luôn mang một sức sống mãnh liệt, giúp chúng ta xích lại gần nhau hơn trong cuộc sống viễn xứ này.

    Điểm chú ý tiểu thuyết xã hội này được soạn lại do việc biên khảo dữ liệu trên liên mạng internet, do sự thực, tiểu thuyết “Những đứa trẻ lạc loài có 2 phiên bản là một ấn bản Việt Ngữ và một về phiên bản Anh Ngữ, tức hai cuốn.

    CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ

    Sau giờ văn học là chương trình phụ diễn văn nghệ. Tôi chú ý đôi song ca Minh Thư và Thúy Giao song tấu guitar và ca một medley gồm nhiều bài liên khúc như “Take Me Home, Country Road” của John Denver. Tôi nhớ câu chuyện ra đời của bài hát này.

    Đây là bài hát kiểu kinh điển. “Take Me Home, Country Roads” của John Denver ra mắt năm 1971, tức là đã hơn năm thập kỷ trôi qua. Bài hát nằm trong album Poems, Prayers & Promises của ông. Ban đầu, bài hát được viết bởi Bill Danoff và vợ ông, Taffy Nivert, dành cho Johnny Cash. Tuy nhiên, khi John Denver nghe về bài hát này, ông rất hào hứng và đề nghị giúp hoàn thiện nó. Ông thích bài hát đến nỗi quyết định đưa nó vào album của mình.

    Điều thú vị là John Denver không đến từ Tây Virginia, và cả Danoff lẫn Nivert đều chưa từng đến tiểu bang này trước khi viết bài hát. Trên thực tế, nguồn cảm hứng cho bài hát đến từ một tiểu bang khác. Đây là câu chuyện về cách một bài hát chiếm được trái tim của Tây Virginia trở thành một tác phẩm âm nhạc kinh điển.

    Vào cuối năm 1970, Danoff và Nivert đang lái xe đến một buổi họp mặt gia đình ở Quận Montgomery, Maryland. Để chuyến đi dài trở nên thú vị hơn, họ bắt đầu sáng tác một bài hát về những con đường quê. Họ sớm nhận ra rằng từ “Maryland” không hoàn toàn phù hợp với giai điệu mà họ đã hình dung. Danoff sau đó nghĩ đến việc sử dụng “Massachusetts”, nhưng cuối cùng quyết định chọn “West Virginia” vì nó dường như phù hợp với bài hát hơn. Mặc dù Danoff chưa từng đến West Virginia, anh ấy tưởng tượng nơi đó có những ngọn núi tuyệt đẹp và những con đường quanh co. Anh ấy nghĩ về nó như một nơi xa xôi và gần như kỳ diệu. “Tôi cảm thấy West Virginia xa xôi và kỳ lạ đối với tôi như châu Âu vậy,” Danoff nói.

    Vào thời điểm đó, Danoff và Nivert là những nhạc sĩ đang chật vật với ước mơ viết một bài hát ăn khách cho những nghệ sĩ nổi tiếng hơn. Cơ hội lớn của họ đến khi họ biểu diễn tại một câu lạc bộ tên là Cellar Door ở Georgetown, Washington, D.C., nơi họ mở màn cho John Denver. Sau màn trình diễn, họ đã chơi bài “Take Me Home, Country Roads” cho Denver nghe. Ông ấy ngay lập tức ấn tượng và yêu thích bài hát. Ba người họ đã thức cả đêm, cùng nhau hoàn thiện bài hát cho đến khi nó hoàn hảo. John Denver lần đầu tiên trình diễn bài hát này tại Cellar Door vào ngày 30 tháng 12 năm 1970. Khán giả đã vô cùng xúc động và dành cho ông tràng vỗ tay kéo dài năm phút. Danoff nhớ lại: “Khi chúng tôi lần đầu tiên cùng nhau hát bài hát này, cảm giác như tiếng vỗ tay sẽ không bao giờ dứt. Phản ứng của khán giả cho chúng tôi biết rằng chúng tôi đang sở hữu một điều gì đó đặc biệt.”

    Medley còn có ca khúc như “500 Miles” là ca khúc trở nên phổ biến tại Hoa Kỳ và Tây Âu trong phong trào hồi sinh nhạc dân gian vào thập niên 1960. Lời ca giản dị và mang tính lặp lại của bài hát biểu hiện nỗi niềm của một lữ khách đang ở xa nhà, cạn kiệt tiền bạc và cảm thấy quá xấu hổ để quay trở về. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 5 năm 1963 trên chương trình *Folk Music Worldwide*, Paul Stookey – thành viên nhóm Peter, Paul and Mary – đã mô tả ca khúc này (vốn nằm trong album đầu tay ra mắt năm 1962 của nhóm) là “sự phản ánh nỗi cô đơn”.

    Và bài ca “The Sound of Silence” (tên gốc là “The Sounds of Silence”) là một ca khúc của bộ đôi nhạc folk rock người Mỹ Simon & Garfunkel, do Paul Simon sáng tác. Buổi thử giọng tại phòng thu của cặp song ca này đã dẫn đến việc ký kết hợp đồng thu âm với hãng đĩa Columbia Records. Vào năm 1965, bài hát bắt đầu được phát sóng trên các đài phát thanh tại Boston và khắp bang Florida. Sự gia tăng tần suất phát sóng đã thôi thúc Tom Wilson, một nhà sản xuất của ca khúc – thực hiện bản phối âm lại (remix). Bản phối âm lại này đã vươn lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong tuần lễ kết thúc vào ngày 1 tháng 1 năm 1966, khiến bộ đôi tái hợp và nhanh chóng thu âm album thứ hai; Columbia đã đặt tên album này là *Sounds of Silence* nhằm tận dụng sức hút từ thành công của ca khúc.

    Tôi lắng nghe tiếp ca sĩ Kim Đức diễn tả bài ca “Paris, tu m’as pris dans tes bras” của Enrico Macias, ông là một ca sĩ nổi tiếng người Pháp gốc Algeria, được biết đến với bài hát “Paris, tu m’as pris dans tes bras” (Paris, tu m’as pris dans tes bras), phản ánh mối liên hệ sâu sắc về mặt cảm xúc của ông với thành phố Paris. Bài hát khắc họa chủ đề tình yêu và nỗi nhớ, thể hiện sự pha trộn độc đáo giữa ảnh hưởng âm nhạc Pháp và Địa Trung Hải trong âm nhạc của Macias.

    Tổng quan về Enrico Macias và bài hát của ông Âm nhạc của Enrico Macias thường đan xen những câu chuyện cá nhân và văn hóa. còn về tiểu sử, Enrico Macias, tên thật là Gaston Ghrenassia, sinh năm 1938, lớn lên ở Algeria và trở thành một nhân vật nổi bật trong làng nhạc Pháp sau khi chuyển đến Pháp do bất ổn chính trị.

    Khi Enrico Macias muốn có thêm một bài hát về Paris, thành phố đã chào đón ông sau khi ông buộc phải rời Algeria vì lý do chính trị vào ngày 29 tháng 7 năm 1961, vào kho nhạc của mình. Vì vậy, ngay từ đầu năm 1964, Enrico Macias đã móc liên lạc với Jean Peigné, giám đốc chương trình tại Europe 1 và là người viết lời bài hát không thường xuyên. Peigné từng viết lời cho Jean-Claude Pascal, Charles Aznavour, Les Djins Sisters, Pascal Danel và Mireille Mathieu.

    Ban đầu, Jean Peigné nói với ông rằng để viết một bài hát về Paris, bạn phải sinh ra ở đó. Ông nói thêm rằng đã có rất nhiều bài hát về thủ đô nước Pháp (của Francis Lemarque, Charles Trenet, Mick Micheyl, Charles Aznavour và những người khác).

    Nhưng Enrico không quan tâm và vẫn kiên trì. Và vì ông đã mang cây đàn guitar của mình đến Europe 1, ông đã chơi cho Jean Peigné nghe những nốt nhạc đầu tiên của một giai điệu mà ông đã nghĩ ra. Jean Peigné yêu cầu ca sĩ hát lại bài hát đó lần thứ hai.

    Và sau khoảng mười phút, Jean Peigné đã ghi lại những lời đầu tiên của bài hát sau này trở thành “Paris, tu m’as pris dans tes bras” (Paris, tu m’as pris dans tes bras). Bài hát được hoàn thành chỉ trong một buổi chiều tại phòng thu lịch sử Europe 1 trên đường Rue François 1er ở Paris.

    Hai ngày sau, Enrico Macias thu âm lời bài hát cùng dàn nhạc của Jean Claudric. Đó là bài hát đầu tiên ở mặt B của đĩa đơn. Vào ngày 21 tháng 2 năm 1964, Enrico Macias nhận được đĩa vàng cho bài hát “Paris, tu m’as pris dans tes bras”. Vài ngày sau, Enrico Macias mở màn cho Les Compagnons de la Chanson tại nhà hát Olympia ở Paris từ ngày 19 tháng 3 đến ngày 22 tháng 4 năm 1964.

    Chủ đề bài hát — “Paris, tu m’as pris dans tes bras” thể hiện nỗi nhớ nhung và tình cảm dành cho Paris, miêu tả thành phố như một sự hiện diện an ủi.

    Xét về phong cách âm nhạc cũng là phong cách của Macias kết hợp giữa âm nhạc Pháp quốc với ảnh hưởng từ Bắc Phi, tạo nên một âm thanh đặc trưng dộc dáo gây được tiếng vang với nhiều đối tượng khán giả. Tác động văn hóa — Các bài hát của ông thường phản ánh trải nghiệm của người nhập cư, điều này khiến ông trở thành một tiếng nói quan trọng trong nền âm nhạc Pháp.

    Về nhạc Pháp trong chương trinh ghi nhận còn có bài tình ca “Après toi”do ca sĩ Kiều My hát. Đây là ca khúc do nữ ca sĩ người Hy Lạp Vicky Leandros trình bày. Nhạc phẩm này được sáng tác bởi cha cô là ông Leo Leandros (dưới nghệ danh Mario Panas) phối hợp cùng nhà soạn nhạc người Đức Klaus Munro, với phần lời tiếng Pháp do Yves Dessca viết. Bài hát đã đại diện cho Luxembourg tham gia và giành chiến thắng tại cuộc thi Eurovision Song Contest năm 1972 tổ chức ở Edinburgh. Vắn tắt bản tin về quá trình sáng tác, “Après toi” được ghi nhận là một tuyệt phẩm tình ca. Đây là một bản ballad đầy cảm xúc, trong đó nữ ca sĩ bày tỏ với người yêu về viễn cảnh của bản thân sau khi anh rời bỏ cô để đến với người con gái khác: “Sau khi anh bỏ em, em sẽ chẳng còn là gì ngoài cái bóng của hình ảnh của anh”. Kiều My ca những bài khác như Bésame mucho, La Paloma, Il Faut Toujours un Perdant, Comment Ça Va, Adieu Sois Heureuse, Kiều My còn sáng tác nhạc Pháp như các tình ca như Sans Toi Ce Soir, Mon Amour, Tu Restes Toi, Ma Chérie: Je T’aime Tellement Fort, Un Automne Enchanteur,…

    Ngoài ra nhiều ca khúc Việt được hát, tôi thích bài ca của nhạc sĩ Lâm Dung phổ thơ Dương Hồng Anh như bài Bạn Bè Của Tôi qua link sau:

    Trời đẹp lắm, Ca li trời đẹp lắm

    Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi

    Bạn bè tôi, những nghệ sĩ yêu đời

    Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá

    Vì chúng ta không bao giờ xa lạ

    Những vần thơ ý nhạc kết nên duyên

    Đời có gì hơn được gặp bạn hiền

    Trên đất khách quê người tình tri kỷ

    Cùng vun sới mảnh vườn đầy thi vị

    Một vườn hoa văn nghệ đẹp như tranh

    Nắm tay nhau ca hát dười trời xanh

    Nhạc thơ đã sẵn sàng cùng cất bước

    Bạn bè của tôi chung lời nguyện ước

    Đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian

    Tình nghĩa văn chương tha thiết muôn vàn

    Là tiếng hát của cung đàn réo rắt

    Là nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt

    Các bạn ơi! thơ nhạc vẫn tràn đầy

    Khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say…

    (Dương Hồng Anh, 7/2020)

    Bài thơ “Bạn bè của tôi” (do nữ sĩ Dương Hồng Anh) cũng là một hành khúc của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Hành khúc mô tả không gian mở đầu và nỗi niềm vi xa xứ. Thi ca này đã mở ra với một không gian tươi sáng, rộng mở nhưng cũng mang đậm dấu ấn của những người con xa xứ: “Trời đẹp lắm, Cali trời đẹp lắm / Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi”. Miền đất California nắng ấm hiện lên qua những câu thơ rực rỡ, nhưng ẩn sâu trong cảnh sắc ấy chính là tâm hồn rộng mở, lạc quan của tác giả và những người bạn cùng chung chí hướng nghệ thuật.

    Hành khúc ballad biểu lộ môt tình cảm tri kỷ và sự gắn kết của những tâm hồn đồng điệu giữa đất khách quê người, tìm được một tri kỷ đã khó, hội tụ được cả một “vườn hoa văn nghệ” lại càng là một cơ duyên hiếm quý. Tình bạn văn chương mà tác giả trân trọng từng phút giây hội ngộ, xem đó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của đời người: “Đời có gì hơn được gặp bạn hiền / Trên đất khách quê người tình tri kỷ”. Lời hứa nguyện ước chung tay “đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian” thể hiện sứ mệnh đẹp đẽ của người cầm bút: dùng nghệ thuật để lưu giữ khoảnh khắc, kết nối con người và sưởi ấm những tâm hồn tha hương. Phải nói là bài thơ đã khép lại bằng những âm hưởng nhịp valse rộn ràng, tươi vui của “cung đàn réo rắt”, “nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt” và dư âm ngọt ngào của “khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say”. Bằng ngôn ngữ mộc mạc, giàu cảm xúc và hình ảnh thơ ca trong trẻo, Dương Hồng Anh đã khắc ghi sự thành công bức tranh chân thực và cảm động về tình bạn văn nghệ sĩ trên đất Mỹ, đồng thời ca ngợi sức mạnh kỳ diệu của thi ca trong việc gắn kết con người vượt qua mọi không gian và thời gian.

    Bài ca Ò E Con Ma Đánh Đu (Auld Lang Syne) khi mà đồng hồ đã 5 giờ chiều bế mạc chương trình. Bài ca áp chót là Còn Gặp Nhau, thơ của Tôn Nữ Hỷ Khương, nhạc Võ Tá Hân, ban hợp ca Tơ Vàng và nhóm Tiếng Thời Gian đồng trình bày trước sự hiện diện của nhạc sĩ tác giả bài ca.

    Link bài ca:

    Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

    Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,

    Lợi danh như bóng mây chìm nổi

    Chỉ có tình thương để lại đời.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ thương

    Tình người muôn thuở vẫn còn vương,

    Chắt chiu một chút tình thương ấy

    Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi

    Bao nhiêu thú vị ở trên đời,

    Vui chơi trong ý tình cao nhã

    Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ cười

    Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi

    Cho hương thêm ngát, đời thêm vị

    Cho đẹp lòng tất cả mọi người.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ chào

    Giữa miền đất rộng với trời cao,

    Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước

    Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ say

    Say tình, say nghĩa bấy lâu nay

    Say thơ, say nhạc, say bè bạn

    Quên cả không gian lẫn tháng ngày.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ đi

    Đi tìm chân lý – lẽ huyền vi

    An nhiên tự tại – lòng thanh thản

    Đời sống tâm linh thật diệu kỳ

    Bài thơ trên “Còn Gặp Nhau” của nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương (con gái của nhà thơ Ưng Bình Thức Vịnh Giác) qua sự phổ nhạc tinh tế, khéo léo soạn nhạc cùng hòa âm của nhạc sĩ Võ Tá Hân mang đến một âm hưởng triết lý sâu lắng, nhẹ nhàng nhưng vô cùng thiết tha về tình người và cuộc sống.

    Tôi suy nghiệm về chủ đề và ý nghĩa bài ca thì chính sự trân trọng hiện tại như tựa đề và điệp khúc mở đầu mỗi khổ thơ “Còn gặp nhau thì hãy…” là lời nhắc nhở về sự vô thường, tạm bợ của thời gian và duyên hội ngộ trong cõi đời. Cuộc sống ngắn ngủi ví như “nước chảy hoa trôi”, và danh lợi chỉ là “bóng mây chìm nổi”. Cái quan trọng vì tình người và sự gắn liền giữa dòng đời trôi nổi ấy, tác giả khẳng định giá trị cốt lõi và trường tồn duy nhất chính là tình thương yêu, sự gắn bó chân tình giữa bạn bè, tức giữa người với người.

    Một khi tâm hồn và thể xác được yên ổn, an nhiên, cởi mở như lời bài thơ hướng con người đến một lối sống tốt đẹp, biết vui chơi tao nhã, biết cười tươi để lan tỏa niềm vui, biết say sưa trong tình nghĩa, thi ca, bè bạn, và hơn hết là tìm kiếm sự bình yên, thanh thản trong tâm hồn qua một đời sống tâm linh an nhiên, tự tại,… Tôi nói với nhạc sĩ Võ Tá Hân tôi tâm đắc vô cùng tác phẩm này cho ta một nhân sinh quan vui sống, qua những ý tưởng tao nhã, tính thiền triết của nó hòa quyện vào âm nhạc.

    Bài ca Còn Gặp Nhau nói về tình bạn: “Còn gặp nhau, bạn ơi!”

    Câu thốt lên ấy tựa như một tiếng thở dài nhẹ nhõm giữa cõi người mênh mông. Trong dòng chảy vô thường của thời gian, việc chúng ta còn nhận ra nhau, còn ngồi lại bên nhau để chia sẻ một ly trà, một khúc ca hay vài vần thơ đã là một ân huệ lớn lao của định mệnh. Tình bạn chân thành không cần lúc nào cũng kề cận, mà nằm ở sự thấu cảm âm thầm — nơi những người tri kỷ dù đi qua dâu bể cuộc đời, khi quay đầu lại vẫn thấy ánh mắt và nụ cười của nhau chờ sẵn ở bến bờ của sự chân tình.

    Quan diểm về hạnh phúc và khổ đau: Hai mặt của một nhịp đập:

    Đoạn văn đã chạm đến cốt lõi của triết học hiện sinh: Hạnh phúc không phải là cái đích đến tĩnh lặng, mà là sự dấn thân và chuyển hóa. Nhưng nếu không có những giọt nước mắt và nỗi đau (khổ đau như một người thầy khắc nghiệt), ta sẽ mãi chỉ là những đứa trẻ chưa từng lớn trước thềm đời. Và chính sự tương phản ấy làm nên chiều sâu của tâm hồn nghệ sĩ. Chỉ khi nếm trải đủ thăng trầm, ta mới thực sự thấu cảm hết cái đẹp mong manh của một buổi chiều thu vàng, hay âm vang da diết của một bản nhạc tiền chiến.

    Theo triết nhà Phật về sự vô thường và hiện tại: Khoảnh khắc là cõi vĩnh hằng.

    Sự vô thường không đáng sợ như người ta tưởng; trái lại, nó chính là chiếc gương soi chiếu để ta biết trân quý từng giây phút hiện tại. Khi ta hiểu rằng mọi hữu hạn đều đang trôi đi, mỗi cái gật đầu chào nhau, mỗi tiếng đàn, lướt phím vang lên trong phòng trà hay mỗi dòng chữ viết ra đều mang giá trị của sự vĩnh cửu trong tâm tưởng. Sống trọn vẹn với hiện tại chính là cách chúng ta đối thoại đẹp nhất với thời gian.

    Bạn ơi, người bạn ta đang dạo bước giữa những hoài niệm và hiện tại, qua những trang văn, tiếng đàn và tình nghĩa gia đạo thâm trầm — một lời chúc an lạc.

    Mong rằng trên hành trình nghệ thuật và cuộc sống ấy, tiếng đàn và tình bạn của tất cả chúng ta vẫn luôn là chốn bình yên để trở về, xin gởi những câu kết:

    Trích đoạn tiêu biểu.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

    Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,

    Lợi danh như bóng mây chìm nổi

    Chỉ có tình thương để lại đời.

    (Tôn Nữ Hỷ Khương)

    Việt Hải Los Angeles-Tháng Chín Mùa Thu, 2026.

    Còn Gặp Nhau (photo: Võ Tá Hân – VHLA)

  • TÁC GIẢ & TÁC PHẨM,  VĂN HỌC,  Viet-Hải

    TỪ ĐINH HÙNG ĐẾN VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    Khánh Lan

    Với khuôn mặt lẫy lừng trong thi ca Việt Nam từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam đã có nhiều tài liệu viết về hai nhà thơ Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Hôm nay, người viết lại được vinh hạnh viết về hai vị tiền bối đã được rất nhiều người ngưỡng mộ trong thế giới thi ca: Đó là Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, những thiên tài bạc mệnh của đất Sài Gòn, một thời nổi danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Một điều thật lạ lùng là sau khi duyệt qua tiểu sử và cuộc đời của hai thi nhân này, người viết nhận thấy hai vị tiền bối có nhiều điểm trùng hợp từ thân phận, chí khí, tài hoa đến văn chương và cuộc đời lại gặp quá nhiều nghiệt ngã, đau thương, bất công và bạc mệnh.

    Hình như có một sự kết nối mật thiết giữa cuộc đời của họ. Họ như bị ràng buộc từ trong một mối tương quan gia đình khi nhà thơ họ Vũ kết hôn với bà Đinh Thị Thục Oanh, chị ruột của Đinh Hùng. Họ là bạn chí thân từ khi còn sinh sống tại miền Bắc. Thuở thiếu thời, họ yêu văn, thích làm thơ, sáng tác thơ và trở thành nổi tiếng trong lĩnh vực thi ca. Họ là những thiên tài bạc mệnh, lãnh chịu một cuộc đời với nhiều gian nan, nghiệt ngã và nghèo túng. Tuy họ đã gặp nhiều sóng gió trong cuộc sống nhưng họ vẫn không rời xa nhau! Có lẽ, định mệnh đã an bài cho họ là phải như thế!

    Dưới đây là những điểm tương đồng:

    1. Trong lĩnh vực khoa bảng: Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nghê sĩ tài hoa, học cao hiểu rộng với bản tính rất ngang bướng, gan dạ, phóng túng, “thích gì làm nấy”. Họ không khuất phục trước gian nan, bất công và sẵn sàng đương đầu với khó khăn, nghiệt ngã trong cuộc sống nhưng lại đa sầu đa cảm và mềm lòng trong đường tình ái.
    • Trong lãnh vực văn chương thi phú: Hai thi nhân đi vào lĩnh vực văn học ở tuổi rất còn trẻ. Tác phẩm văn xuôi Đám Ma Tôi của Đinh Hùng viết trong năm 1943 ở tuổi 23 thì Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay của Vũ Hoàng Chương viết vào năm 1936-1939 khi ông 21 tuổi.
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nhà thơ nổi tiếng từ thời phong trào Thơ Mới thời tiền chiến. Trong khi Đinh Hùng (1920-1967) nổi tiếng với hai tập thơ Mê Hồn Ca (1954) và Đường Vào Tình Sử (1961), thì Vũ Hoàng Chương (1915-1976) với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, đó là tập thơ Hoa Đăng (1959) và 2 tập Thơ Say và Mây (sau in chung vào một tập mang tên Mây).
    • Năm 1959, Vũ Hoàng Chương đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca với tập thơ Hoa Đăng, một tập thơ được đánh giá rất cao, ông cũng là một trong 100 tác giả tên tuổi được đề cử giải Nobel Văn Chương năm 1972. Năm 1961, thi phẩm Đường vào tình sử của Đinh Hùng được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.
    • Sau khi mất hai thi nhân đều có tác phẩm xuất bản sau khi mất. Đinh Hùng với Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967, ngoài ra còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt. Về phần Vũ Hoàng Chương tập hồi ký Ta Đã Làm Chi Đời Ta doNXB Trương vĩnh Ký, Saigon năm 1970 được NXB Hội Nhà Văn tái bản năm 1993 tại TPHCM. Thi tấp Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, NXB An Tiêm, Sài Gòn (1970) in 2 lần và được Tái bản lại tại California, Mỹ sau năm 1975.
    • Trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn (1970) của họa sĩ Tạ Tỵ, người bạn văn nghệ chí thân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương gọi thơ Vũ Hoàng Chương là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc”, vì nhiều bài thơ của ông nói lên thân phận của kiếp người trên quê hương. Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau: “Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử”. Một lãng tử, có lẽ đúng bởi cái cuộc sống “Bất cần đời” của ông, chẳng tha thiết với danh vọng, hờ hững với vật chất xa hoa. 
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương đều chết trẻ. Đinh Hùng mất năm 47 tuổi và Vũ Hoàng Chương mất mất ở tuổi 61.

    THẾ GIỚI THI CA ĐINH HÙNG

    THI SĨ ĐINH HÙNG (1920-1967)

    “Trời cuối thu rồi em ở đâu  

     Nằm bên đất lạnh chắc em sầu 

     Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy 

     Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu …”

    Chúng ta có thể nói Đinh Hùng là nhà “khảo cổ thi ca” đầu tiên đi ngược dòng lịch sử của những mảnh hồn nhân loại bị quên lãng theo thời gian. Thơ Đinh Hùng nói lên vẻ đẹp siêu thực tế, một tình yêu linh thiêng, một thế giới mới dựa trên linh thị của siêu cảm và trực giác. Thơ Đinh Hùng xóa mờ bức tường ranh giới giữa không gian và thời gian, hòa nhập con người với cõi vô thường, với những cảm xúc dữ dội và khốc liệt, tư duy và sự khuấy đảo đến kinh hoàng của hình tượng qua những vần thơ. Để hiểu rõ về người nghệ sĩ đa tài Đinh Hùng, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu xem yếu tố nào đã khiến cho ông giải bày niềm cảm xúc qua trang giấy một cách mãnh liệt như thế.  

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Đinh Hùng là nhà thơ tiền chiến, bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết. Ông sinh ngày 3 tháng 7, 1920 tại làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ ông theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, trung học tại trường Bưởi. Theo thi sĩ Vũ Hoàng Chương, sau khi thi đậu “cao đẳng tiểu học“, hạng bình thứ, Đinh Hùng được học bổng và trong khi đang theo học ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì ông bỏ ngang đi viết văn và làm thơ.

    “Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi
    Xa vở bài, mở rộng sách ham mê
    Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về
    Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn”

     (Khi Mới Nhớn)

    Tuy nhiên, tuổi thơ của Đinh Hùng là chuỗi ngày sầu thảm, sự mất mát liên tục của những người thân trong gia đình đã để lại nhiều vết thương trong lòng ông. Năm 1931, người chị thứ ba của ông tên Tuyết Hồng đã tự vẫn tại hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng chết khi còn rất trẻ và sau hết là cái chết của người bạn gái yểu mệnh tên Bích Liên. Đó là những biến động kinh hoàng trong cuộc đời xảy ra cho một con người.

    Dưới ngòi bút thiên phú, Đinh Hùng trở nên nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” được nhà văn Thế Lữ chọn in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh của ông, một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết kinh dị, lãng mạn, rùng rợn nhưng cũng đầy chất thơ do NXB Đời Nay in ấn năm 1941. Năm 1943, Đinh Hùng đang sống với người chị là Thục Oanh tại Hà Nội thì tập văn xuôi đầu tiên ra đời: Đám ma tôi được đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, một Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn…

                Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa

              Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết 

                Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết 

                Rộn xuân tình lên bộ ngực thanh tân…” 

                                                       (Kỳ nữ)

    Năm 1944, Vũ Hoàng Chương cưới Thục Oanh rồi về Nam Định, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài với sự cộng tác của Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch…Cũng trong năm ấy, Đinh Hùng tản cư theo tờ báo Cứu Quốc nhưng sau đó, ông về Thái Bình dạy học cùng người vợ mới cưới là Nguyễn Thị Thanh. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con trở lại Hà Nội, tại đây, ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô Văn Nghệ (1952) và tập thơ Mê Hồn Ca (1954).

    Tháng 8, 1954, Đinh Hùng cùng vợ con vào Sài Gòn cùng với gia dình của Vũ Hoàng Chương. Trong thời gian đầu, ông nhận viết báo, viết tiểu thuyết dài từng kỳ cho các nhật báo Sài Gòn như “Kỳ Nữ gò Ôn Khâu”, “Đao phủ thành Đại La”, v.v… và bình thơ tại Đài phát thanh Sài Gòn. Ngoài ra ông còn vẽ tranh vui và giữ luôn mục thơ trào phúng “Đàn ngang cung” với bút hiệu Thần Đăng. Sau đó ông lập ra tờ nhật báo Tự Do, cộng tác cùng với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong…Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận. Năm 1961, ông cho in tập Đường Vào Tình Sử, tác phẩm này được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.

    Phải chăng “Nhân tài thường hay chết yểu” hay bởi Đinh Hùng luôn bị ám ảnh bởi sự chết, hay là vì nhân chứng của nhiều cái chết, nên dưới ngòi bút tài hoa sẵn có, ông đã phác họa một cáo phó về cái chết của mình qua bài thơ Cung Đàn Tưởng Niệm, và được coi như là một di chúc viết cho chính bản thân ông. Ngay cả trong tác phẩm văn xuôi đầu tay của ông, ông đã chọn tựa đề rất lạ lùng: Đám Ma Tôi, được nhà xuất bản Tân Việt in năm 1943, lúc ấy ông mới có 23 tuổi. 

    …”Khi anh chết, các em về đây nhé 

    Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa 

    Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ 

    Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”

    Tháng 08 năm 1967, Đinh Hùng qua đời vì bệnh ung thư gan tại bệnh viện Bình Dân, ông được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Một điều kỳ diệu đã xảy ra là lời ước nguyện của ông khi còn sinh tiền đã biến thành hiện thực: “…Khi anh chết, các em về đây nhé… Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”. Thật vậy, bạn bè của Đinh Hùng kể lại là trong đám tang của ông người ta thấy có hai chục cô thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng đi theo linh cữu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuồng lòng huyệt, ngậm ngùi tiễn đưa người thi sĩ.

    Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967. Ngoài những tác phẩm trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.

    NHẬN ĐỊNH VỀ THẾ GIỚI THI CA CỦA ĐINH HÙNG

    Nói đến những bài thơ làm nên tên tuổi của Đinh Hùng, chúng ta không thể nào không nhắc đến tác phẩm đầu tay của thi sĩ do nhà xuất bản Tiếng Phương Ðông ấn hành tại Hà Nội năm 1954: Mê Hồn Ca. Dựa theo bài viết của Thủy Nguyệt, Mê Hồn Ca gồm 40 bài thơ ca ngợi tình yêu cuồng nhiệt của một tâm hồn lạc lõng, bơ vơ muốn tìm về một thế giới hư vô. Qua phong cách diễn tả độc đáo của tác giả, chúng ta nhận thấy trong ý thơ của ông vừa có vị nồng nàn, tha thiết, đau khổ chen lẫn mê hoặc, mà trong đó chất chứa một vũ trụ hoang sơ, rừng rú. Ở phần đầu Mê Hồn Ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác từ cô độc đến bi thiết qua những bài thơ: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên… Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác mà chúng ta tìm thấy trong thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia như trong Gửi người dưới mộ, Tìm bóng tử thần. Bài thơ Cầu hồn là điển hình cho sự ám ảnh trong ý thơ.

    Hồn ơi! Hồn tỉnh giấc thần,
    Đêm nay lạc xuống dương trần mà vui.
    Nghìn yêu ma che bước cõi Luân Hồi,
    Nhìn nghiêng mặt đất thấy trời hiển linh.
    Giữa đêm đời sẽ hồi sinh.
    Nhân gian hát khúc vong tình lên non.
    Đôi ta vào hội oan hồn,
    Âm dương tái hợp …

    Có những lúc chúng ta tự hỏi: Trong thế giới thi ca, hỏi mấy ai có thể tạo dựng một nghĩa trang huyền ảo như trong văn thơ của thi sĩ Đinh Hùng? Phải chăng cái chết và sự sống, thường bị chia cắt và giới hạn bởi không gian vật lý?  Phải chăng trong cõi tâm linh của Đinh Hùng khát vọng sự giao hòa, ao ước rằng con người có thể vượt qua mọi ranh giới để hướng đến khoảng cách vô tận ấy?   Ai có thể hiểu được vì sao Đinh Hùng đã viết lên những vần thơ đi vào cõi chết? Có phải đó là kết quả của nhiều đau thương mất mát trong gia đình liên tục xảy đến với ông, hay chính ông đã nhìn thấy sự chết cho chính mình, và ở đâu đây, lưỡi hái tử thần đang chờ đón ông?

    Mặc dù Mê Hồn Ca xuất hiện trên thi đàn giữa thời loạn ly, khi đất nước chia đôi nhưng đã lôi cuốn rất nhiều độc giả bởi hình ảnh liêu trai, bởi sự sống đầy mộng mị của trần gian và sự hoang lạnh của chốn âm cảnh, qua trí tưởng tượng phong phú đầy sáng tạo của thi sĩ Đình Hùng và trong thế giới mê hoặc, mờ ảo với những ảo giác hư thực của tiền kiếp đã trở thành một tuyệt tác dưới ngòi bút của Đinh Hùng.  

    Nàng năm mộng suốt đêm hè dưới nguyệt,
    Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao.
    Xa nấm mộ, chúng ta cuồng dại hết,
    Để yêu tà về khóc dưới non cao.
    Hồn Vệ Nữ lạc loài bên cửa huyệt,
    Xuân bi thương – ôi má thắm, môi đào!
    Bốn mùa trăng vào một hội chiêm bao,
    Trong giấc ngủ đẫm mùi hương phấn lạ.

    (Tìm bóng tử thần)

    Cái bi kịch của tình yêu, của gia đình với những ràng buộc khắt khe của tạo hóa đã đưa người nghê sĩ tài hoa Đinh Hùng lạc lõng trong xã hội loài người, bị ám ảnh bởi cái chết đã đi vào tư tưởng của ông rồi bộc lộ qua thi ca. Bài Gửi Người Dưới Mộ đã cho chúng ta một cảm nhận rờn rợn trong hồn:

    “…Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?

    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?

    Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy

    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu…“

    (Gửi người dưới mộ)

    Thơ của ông có nhiều sắc thái khác nhau, khi là sự hiện hình của một thực tại huyễn tưởng, một ngôn ngữ đầy ma mị, đầy hư ảo, khi thì bộc lộ sự cô độc, thảm thiết gần như muốn tìm vào cõi chết, thể hiện qua những bài thơ:  Mê Hồn Ca, Bài Ca Man Rợ, Những Hướng Sao Rơi. Lại có những bài thơ nghiêng về tôn giáo, tâm linh, đôi lúc ông thi vị hóa tình yêu như trong bài Kỳ Nữ, Hoa Sử, Hương Trinh Bạch. Ở một khía cạnh khác, chúng ta thấy thơ của Đinh Hùng, hình như bị ám ảnh bởi thế giới bên kia, nhập tâm tìm kiếm một ngõ ngách giao hòa cùng người thiên cổ, thể hiện qua bài: Cầu Hồn, Gửi Người Dưới Mộ, Tìm Bóng Tử Thần….

              …”Trong mộng trần duyên 

                    Của người thiên cổ….”

                    …”Trời ơi, đây nguyệt vô biên 

                    Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ”.

                                                (Tìm Bóng Tử Thần)

    Đọc bài thơ Liên Tưởng, chúng ta có cảm tưởng đây là những vần thơ mà Đinh Hùng đã viết cho một người con gái xinh đẹp yểu mệnh tên Bích Liên mà ông đã yêu say đắm trong ngây ngất. Một mối tình tinh khiết nhưng mãnh liệt, kỳ ảo nhưng huyền hoặc.  Phải chăng chính mối tình ấy đã tạo nên một ảnh hưởng sâu đậm trong tâm khảm của nhà thơ và đã đi theo ông trong suốt cuộc đời. 

     … Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.

    Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,

    Lén bước trang đài tới gặp ta

    Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn,

    Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên.

    Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng,

    Lửa hạ lên rồi … Ôi Ý Liên!”

    (Liên Tưởng – ĐVTS)

    Đinh Hùng và Bích Liên yêu nhau trong tuyệt vọng, khi Bích Liên qua đời vì bệnh lao, Đinh Hùng mới 20 tuổi, cái tuổi chập chững bước vào đời với khát vọng yêu đương, với cuồng phong bão tố của mối tình đầu. Cái chết của Bích Liên, cũng là sự mất mát rất lớn trong đời ông và đã biến con người ông trở nên như điên dại, nỗi đau đớn ấy khiến ông sáng tác một loạt thơ mới:  Thơ Chiêu Niệm, Liên Tưởng và Gửi Người Dưới Mộ đã đưa ông hướng sâu vào cõi chết, phải chăng, theo ông chết là giải thoát những khổ đau.

    Em đã về chưa?
    Em sắp về chưa?
    Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
    Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.
    Em hãy cười lên vang cõi âm.
    Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
    Những hồn phiêu bạt bao năm trước.
    Nay đã vào chung một chỗ nằm.

    Theo tác giả Đỗ Tường, khi Bích Liên chết, Đinh Hùng xin đến nhìn mặt người yêu lần cuối, đứng trước xác người yêu, ông đã làm một cử chỉ khiến tất cả mọi người phải kinh hoàng bởi ông điềm nhiên lật tấm vải liệm phù mặt cô gái ra, rồi cuối xuống hôn một cách say đắm.

    Qua xứ ma sầu, ta mất trí
    thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
    trời ơi! trời ơi! làn tử khí
    lạc lõng hương thầm đoá Bạch Liên

                                   (Cầu hồn)

    Phải chăng sự ám ảnh với những nỗi đau và cái chết khiến thơ của ông đã vượt quá giới hạn, vượt quá sự tưởng tượng của con người. Với ông cái chết là sự cuồng si, là cái đẹp, nó không chỉ đẹp trong thơ mà còn đẹp trong cả tiềm thức của người nghệ sĩ với nỗi đau và sự rung động của trái tim qua bài thơ Gửi Người Dưới Mộ.

    Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
    Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
    Em mộng về đâu?
    Em mất về đâu?
    Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu,
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa.

    Trong bài viết “Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cho rằng biểu tượng mạnh mẽ nhất của Đinh Hùng là cái chết với “mặt trời máu”, với “nấm mồ”, “tử thần”, “hồn ma” … Quả nhiên, trong hai phần “Chiêu niệm”, “Mê hồn” và cả bài trường thi “Thần tụng” cũng tràn ngập không khí của cõi chết. Nhưng cái chết trong thơ Đinh Hùng không phải sự tàn lụi và đau thương mà cái chết trong thơ Đinh Hùng rạo rực xuân tình, đầy sức sống:

    Cười lên em! Khóc lên em!
    Đâu trăng tình sử,Nép áo trần duyên?

    … Ta gởi bài thơ anh linh
    Hỏi người trong mộ có rùng mình?
    Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
    Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?”

    (Gửi người dưới mộ)

    … Hỡi hồn tuyết trinh!
    Hỡi người tuyết trinh!
    Mê em, ta thoát thân hình,
    Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.
    Em có vui thêm? Em có buồn thêm?
    Ngồi bên cửa mộ,
    Kể cho ta biết nỗi niềm.

    Sau khi Bích Liên mất, thi sĩ Đinh Hùng sống một cuộc sống “Lăng bạt kỳ hồ“, khi thì ông đi dạy học ở Hà Đông, khi thì gia nhập một ban nhạc tài tử ở vùng Bắc cạn, ông như người quẫn trí, ông khóc như điên dại, bỏ Hà Nội, đi Hải Dương, vượt sông Hồng Hà, ông bỏ lại tất cả và chỉ ôm ấp bên mình, bức di ảnh của Bích Liên.  

    … “Thần chết cười trong bộ ngực điên,
    Ta nghe em thở tiếng ưu phiền.
    Nỗi lòng xưa dậy tan Thanh Vắng.
    Hơi đất mê người – Trăng hiện lên.”

     Những cái chết trong gia đình, nhất là cái chết của Bích Liên, thi sĩ Đinh Hùng cho rằng định mệnh quá cay nghiệt với ông, ông muốn xuất trần, rút mình vào một thế giới siêu tưởng, tránh sầu bi? Phải chăng, ông đã vượt ra ngoài vòng vũ trụ, nhìn xuống dương trần với đôi mắt dửng dưng và tìm đến cái thế giới riêng cho ông, thế giới vô hình. (Thi Vũ 1993). Có thể điều này đã giải thích được phần nào những văn thơ huyền bí của ông. Trong thế giới siêu tưởng, Đinh Hùng mâu thuẫn với chính ông, khi hiền thì thật là hiền, nhưng có lúc thì trở nên dữ tợn. Trong cái thế giới tình yêu giả tưởng, lãng mạn và tình tứ ấy, thi sĩ Đinh Hùng đã tìm ra chân lý của mình.

    …“Trong im lặng, tôi rung mình nín thở,

    Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa.

    Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da,

    Tình yêu rợn tự đầu mày chân tóc…”

    (Giáp Mặt Phù Dung)

    Ngược lại, trong bài “bài Ca Man Rợ” ông rất dữ tợn:

    …”Ta về đây, lạ hết các người rồi,

    Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống.

    Trong bỡ ngỡ duy long còn chút mộng,

    Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa.

    Nàng không mong, ta đi đến không ngờ,

    Giây phút ấy thực mắt nhìn tận mắt,

    Ta mỉm cười bỗng thấy nàng che mặt

    Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa…”

    (Bài Ca Man Rợ)

    Theo tài liệu Wikipedia, hai thi phẩm nổi bật của Đinh Hùng là Đường Vào Tình Sử và Mê Hồn Ca.  Nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca như sau:  “Đây là loại thơ nói ít hiểu nhiều, thi sĩ Đinh Hùng đã sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mát. Có thể nói là thi sĩ Đinh Hùng chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire và Rimbaud“.  Thơ của Đinh Hùng nghiêng về tâm linh, siêu hình, bí ẩn và có chiều hướng thoát ly ra khỏi thực tế. 

    …”Khi miếu đường kia phá bỏ rồi 

     Ta đi về những hướng sao rơi 

    Lạc loài theo hướng chân cầm thú 

     Từng vệt dương sa mọc khắp nơi…

    … Rồi những đêm sâu bỗng hiện về 

    Vượn lâm tuyền, khóc rợn trăng khuya

    Đâu đây u uất hồn sơ cổ 

    Từng bước ma rừng theo bước đi”……

     (Bài Ca Man Rợ)

    Tình yêu trong thơ Đinh Hùng không phải là những cảm xúc bình thường, mà là sự kết hợp của những mê dại nghiêng về tâm linh, huyền bí của thế giới kỳ diệu ái tình, một vũ trụ nhập nhòe giữa thực và ảo, chính là vũ trụ của một biển tình da diết trong thế giới âm dương.

               …“Ta thường có những buổi sầu ghê gớm 

                Ở bên em, ôi biển sắc rừng hương!

                Em rực rỡ như một ngàn hoa sớm 

                Em đến đây như đến tự thiên đường.

                                                    (Kỳ Nữ)

    “Kỳ Nữ” trong thơ của Đinh Hùng đã đưa chúng ta vào một không gian thần thoại với vẻ kỳ vĩ của trăng sao, của núi rừng. “Kỳ Nữ” với Đinh Hùng giống như nàng Galatae với chàng Pygmalion, nàng đại diện cho lý tưởng, cho cõi mơ, cho sự hoàn hảo mà người nghệ sĩ luôn tưởng đến.

    “Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo
    Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm
    Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm
    Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận”

    Khi bài Kỳ Nữ ra đời được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh, đã đưa tên tuổi của thi sĩ Đinh Hùng lên đỉnh cao nhất trong làng thi văn, và khẳng định rằng ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi từ đầy ma lực, điều này đã được thể hiện rõ rệt trong thi tập Mê Hồn Ca. Tuy nhiên, Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng là thế giới của say mê, hoang sơ man dại, chết chóc,  huyền bí, nhiệm mầu, của tình yêu tha thiết, mãnh liệt và kinh khủng của lứa đôi. 

    Anh sẽ tìm em, chiều nào tận thế
    Khi những sầu thương cất cánh xa bay
    Khi những giận hờn, khi những mê say
    Khi tất cả hiện nguyên hình ảo mộng:
    Giọt lệ hoa niên, cung đàn hoài vọng
    Và những hương thơm tình ái trao duyên
    Những không gian thăm thẳm mắt u huyền
    Những vạt áo bỗng trở màu sông biển

    (Đường Vào Tình Sử)

    Ngoài những bài thơ huyền bí, thi sĩ Đinh Hùng sáng tác một số bài thơ ca ngợi tình yêu, nhưng khi đọc Kỹ, chúng ta thấy phảng phất lời văn hoang tưởng và xa vời thực tế. Nổi bật trong thể loại thơ này là bài thơ Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng với lời thơ trong sáng, ca tụng tình yêu đôi lứa, được nhạc sĩ Phạm đình Chương góp nhặt, trau chuốt, viết bằng cảm xúc xúc thành nhạc phẩm Mộng dưới hoa.

     …”Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng 

     Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng 

     Tóc xanh là bóng dừa hoang dại 

     Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    …”Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu 

      Đêm nằm nghe giấc mộng trôi mau

      Gió ơi, gởi gió lời tâm niệm 

     Và nguyện muôn chiều ta có nhau…”

    (Nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa)                                                                                                                                                        Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng là hai bài thơ trong thi tập Đường vào từng sử, một tập thơ đầy nhạc tính. Trong hai bài thơ trên, Đinh Hùng muốn nói cuộc đời không phải lúc nào cũng là con đường đầy chông gai, tang thương, buồn thảm. Con đường ấy có khi cũng phủ đầy hoa gấm, mộng mị, yêu thương, dù là trong mộng tưởng.

    Nếu bước chân ngà có mỏi
    Xin em dựa sát lòng anh
    Ta đi vào tận rừng xanh
    Vớt cánh rong vàng bên suối

    (Xuôi dòng ảo mộng)

    … ‘Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,

    Nắng trong hoa, với gió bên hồ

    Dành riêng em đấy khi tình tự,

    Ta sẽ đi về những cảnh xưa…”

    (Tự Tình Dưới Hoa)

    Nhà văn Việt Haỉ viết “Mộng dưới hoa của Đinh Hùng và nhạc Phạm Đình Chương như hiểu nhau ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, những nốt nhạc ấy là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ”.  Nhà văn Việt Haỉ nhận định: “Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ”.

    …”Tóc xanh là bóng dừa hoang dại,

    Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    Trong bốn câu thơ dưới đây diễn tả một khoảnh khắc thời gian như dừng lại cho cặp tình nhân gặp nhau trong mộng.

    …”Nếu bước chân ngà có mỏi

    Xin em dựa sát long anh

    Ta đi vào tận rừ xanh

    Vớt cánh rong vàng bên suối…”

    Trong câu: Ta đưa nhau vào tận rừng xanh, vớt cánh rong vàng bên suối.

    “Cánh rong vàng” tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Hỏi ai có

    vớt được “cánh rong vàng”? hay đó chỉ là trong giấc mộng thôi.

    …“Bước khẽ cho long nói nhỏ

    Bao nhiêu mộng ước phù du

    Ta xây thành mộng nghìn thu

    Núi biếc song dài ghi nhớ.

    Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề

    Mây hồng giăng tám ngả sơn khê

    Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng

    Và mộng em cười như giấc mê…”

    Theo Võ Tấn Cường nhận định về thơ của thi si Đinh Hùng: “Đinh Hùng – một hồn thơ kỳ ảo với vũ trụ thơ thuần khiết, song hành với thực tại là hiện tượng thi ca đầy phức tạp và bí ẩn.  Số phận cuộc đời của Đinh Hùng và thi ca của ông chịu nhiều oan trái, bị chìm khuất dưới những dòng xoáy của thời cuộc cùng với những định kiến và quan niệm hẹp hòi về nghệ thuật”

    … Theo tôi, cái đẹp trong thơ Đinh Hùng huyền ảo, mầu nhiệm và gợn sắc màu sử thi như trong các bản trường ca Iliat và Ôđixê của  Hôme dưới thời kỳ lịch sử Hi Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ IX TCN (vì trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Hi Lạp trong giai đoạn này được phản ánh rõ nét trong 2 tập sử thi Iliát và Ôđixê, tương truyền là sáng tác của nhà thơ Hôme ở Tiểu Á. (Nguồn: https://bienniensu.com/thegioi/lich-su-hi-lap-thoi-ky-home/). Cái đẹp trong thơ Đinh Hùng mang bóng dáng và tinh thần nhân đạo của hình tượng người anh Hùng sử thi:

    …“Ta lảo đảo vùng đứng lên cười ngất

    Ghì chặt nàng cho chết giữa mê ly

    Rồi dày xéo lên song núi đô kỳ

    Bên thành quách ta ra tay tàn phá…”

    (Bài ca man rợ)

    Dưới ánh mắt của Đinh Hùng cái đẹp là một thế giới đầy cám dỗ, huyền ảo, nhiệm màu và siêu thoát, ông tôn thờ tình yêu và xem nó như một thứ tôn giáo, ông đặt sắc đẹp lên ngôi, xem nó là một thứ quyền năng chi phối tâm linh, sự sống và sự chết, nó ảo hóa với muôn sắc thái và ma mị nên dễ gây ấn tượng rờn rợn khi ta được nghe hay đọc nó.

    …“Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác

    Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma

    Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà

    Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết

    Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết

    Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn

    Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn…”

    (Kỳ Nữ)

    Thơ tình yêu của Đinh Hùng vượt qua nỗi khát khao dâng hiến, hướng về thế giới tâm linh huyền bí, siêu hình của tôn giáo, sự linh thiêng của cõi vô hình đã phủ lên thế giới tâm linh, hư ảo, huyễn hoặc trong thơ của ông qua vẻ đẹp lung linh, huyền bí trong thơ của Đinh Hùng:

    …“Ta hát bài kinh, thoảng dã hương

    Từng đêm chiêu niệm bắt hồn nàng

    Lời ra cửa biển tìm sao rụng

    Rỏ xuống mộ em giọt lệ thương…”

                        
    Cái gì đã đưa Đinh Hùng đến với ám ảnh về cái chết, về bóng ma? Trong đời sống tôn giáo tâm linh, quan trọng nhất là đời sống sau khi chết, là đời sống thực của linh hồn. Linh hồn con người thoát khỏi thể xác và khám phá thế giới cõi âm. Điều này được ghi lại trong các thư tịch của Tây Tạng, Ai Cập, Trung Quốc và báo chí phương Tây. Trong cơn hấp hối, trong trạng thái mơ màng, con người tiếp xúc với thế giới âm, gặp gỡ những linh hồn của người lạ hoặc người quen trong quá khứ. Krishnamurti, một bậc thầy tâm linh đương đại nổi tiếng được sự kính ngưỡng của cả giới tôn giáo và giới khoa học thế kỷ 20, cũng đã thường xuyên có trải nghiệm này. Trong những biến đổi mãnh liệt nhất về tâm linh, khi ở giữa ý thức và vô ý thức, ông nhìn thấy bóng ma người mẹ quá cố của mình cùng với nhiều linh hồn của các bậc chứng ngộ khác. Ở trường hợp Đinh Hùng, nhà thơ đã trải nghiệm sự việc này khi mơ màng trong màu sương khói của mây mù thuốc phiện:

    “Từng đêm tôi nguyện tôi cầu
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa”

                       (Gửi người dưới mộ)

    Này Biển Giác: mây trời nghiêng nét mặt
    cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu

                        (Tìm bóng tử thần)

    Ta hằng nghe rõ
    tiếng buồn trong sương
    hằng thấy trên tường
    hình ma bóng nhớ
    chỗ em ngồi cũ
    lên màu khói hương
    (Màu sương linh giác)

    Và chính Đinh Hùng cũng thừa nhận đó là một trạng thái mộng mị, tức là cõi ảo dưới con mắt người thường, có điều trong cõi ảo ấy, tất cả đều rất thật, rất đắm say, tới mức muốn vứt bỏ cả xác trần:

    “đôi ta vào hội oan hồn
    âm dương tái hợp –
    ồ! đây là cuộc tân hôn dị kỳ
    nguyệt hoa mặc áo huyền vi
    màu nghê thường đó – trời ơi! xiêm y biến hình
    tôi van lơn bầy nhạc nữ đồng trinh
    đừng cao giọng hát – hồn các em lạc tinh anh bốn trời!
    đừng cho thể chất phục hồi
    đừng cho tôi khóc, tôi cười vì điên!”

                                            (“Cầu hồn”)

    Tóm lại, phân tích về thế giới thi ca cũa Đinh Hùng tùy thuộc vào cái nhìn của từng cá nhân, dù rằng nó có thể hoàn toàn khác với mọi người. Đôi lúc, người ta cho rằng nhận định của chúng ta là hoang tưởng, nhưng một khi đã bước vào cõi hư ảo, dù theo cách này hay cách khác, tức là đã từng trải nghiệm đời sống linh hồn, thì khó có thể nhìn vạn sự bằng nhãn quan của thế giới hữu hình. Theo người viết, “thơ Đinh Hùng là một thế giới mang đầy mê cung kỳ ảo” và vẫn còn trong sự huyền bí chờ đợi sự giải bày của những khối óc quan tâm đến vận mệnh thi ca của dân tộc. 

    THI CA VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    VŨ HOÀNG CHƯƠNG-(1915-1976)

    Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
    Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
    Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

    Trong một sự tình cờ, ngày 03 tháng 11 năm 2024 người viết đã gởi đến quý độc giả một hồi ký với tựa đề “Sinh Lầm Thế Kỷ”, một câu chuyện chân thực về cuộc sống ở Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm kể về một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại những ký ức đau thương về chiến tranh và nỗi khổ đau của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Tưởng cũng xin giải thích rõ là tại sao người viết lại cho đó là một sự tình cờ? Xin thưa: Lúc chọn tựa đề cho quyển hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ” người viết không nhớ là thi nhân Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài thơ Phương Xa mà trong ấy cũng có câu “đầu thai lầm thế kỷ”.

    Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
    Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
    Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
    Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

    Dưới đây người viết xin lướt qua về:

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Vũ Hoàng Chương sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh–Na Sầm.

    Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, hồi cư về Hà Nội dạy văn cho đến 1975.

    Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam ở Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở các trường trung học và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1959 ông đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc” của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc tế tại Bỉ. Năm 1964 ông tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm 1965 tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire.

    Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai, lúc này tên tuổi của ông nổi bật trong phong trào Thơ Mới (1932-1945) và được gọi “Thi Bá Vũ Hoàng Chương”. Năm 1972, Vũ Hoàng Chương trong danh sách 100 tác giả được đề cử giải Nobel Văn Chương (The Nobel Prize in Literature), sự kiện này chỉ được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố ngày 11 tháng 02 năm 2023. (vì theo quy định thì sau 50 năm kể từ khi trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển mới công bố danh sách những người được đề cử Giải Nobel văn học của năm đó). Giải Nobel năm 1972 được trao cho cho nhà thơ Heinrich Böll của Đức, (Heinrich Böll đã từng được đề cử liên tục từ năm 1960 và mãi đến năm 1972 mới đoạt được giải).

    Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Theo Nhà văn Mai Thảo… Buổi sáng ngày 13 tháng 4 năm 1976 (theo lời chị Vũ Hoàng Chương thuật lại. Bốn chiếc Jeep đến từ phía Sài Gòn, chở đầy an ninh áo vàng mang súng ống, phóng thẳng tới phường Cây Bàng và ngừng lại trước con ngõ nhỏ dẫn vào căn gác của gia đình Vũ Hoàng Chương (Gác Bút). Khoảng 20 công an, nhẩy xuống xe, xô cửa ập vào đánh thức thi sĩ khỏi giấc ngủ chập chờn. Vũ Hoàng Chương gắng gượng ngồi dậy, lấy áo gấm mặc vào người, ngồi thật thẳng giữa chiếu, bất động, chờ đợi… Ông không kinh hãi, không phẫn nộ, không bất ngờ, cũng chẳng ngạc nhiên. Ông ngồi thẳng, mắt nhắm lại… Suốt thời gian này, thi sĩ không nói một lời nào khi ông nghe bản cáo trạng và lệnh bắt giữ, ông chỉ nhún vai rồi ngồi yên như cũ. Lý do bị bắt là phản động, làm thơ chống phá cách mạng phổ biến khắp Sài Gòn những bài thơ chống phá chế độ. Sau cuộc lục soát xong và tịch thu sách và bản thảo, hai công an xốc nách thi sĩ đứng lên, kèm ông xuống cầu thang và đưa thẳng ông vào khám lớn Chí Hòa…

    … Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối, không ai có tin tức của Vũ Hoàng Chương, ông được thả về khi trở bệnh nặng trong tù. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, nhưng thần trí của ông vẫn minh mẫn sáng suốt. Điều tuyệt đối là ông không nói một lời nào về bốn tháng bị giam trong Chí Hòa. Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại trong đau đớn và ngày thứ năm, ngày 17 tháng 9, 1976, thì ông mất tại Sài Gòn. Năm 1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp.

    Dưới đây là bài thơ cuối cùng của Vũ Hoàng Chương làm trong Khám Chí Hòa năm 1976:

    Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
    Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.
    Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
    Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
    Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
    Đêm về giấc ngủ lại thương con.
    Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
    Hồ dễ gì phai được tấc son!”

    Vũ Hoàng Chương có nhiều sáng tác để đời, được giới phê bình văn học đánh giá cao, và từng được xưng tụng là “Ngôi sao Bắc Ðẩu” của thi ca Việt Nam. 1975:

    Hơn bốn thập niên sau, thi ca Vũ Hoàng Chương không còn đề cập ở trong nước, một đời thơ của ông bị lãng quân, chôn vùi theo thân xác. Và ngay cả trong những tác phẩm đề cập đến những áng thơ hay trong Thi Ca Việt Nam cũng “quên” nhắc đến dòng thơ thi bá Vũ Hoàng Chương. (Vương Trùng Dương)

    NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG & THI CA

    Dựa theo tài liệu trên Internet, đã có rất nhiều bài bình luận nhận định về sự nghiệp văn chương & thi phú của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Họ cho rằng: Văn phong và phong cách của thi nhân được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc và chứa đựng sắc thái Đông phương. Vũ Hoàng Chương làm thơ rất sớm khi ông mới 25 tuổi (1940) và đã cho xuất bản rất nhiều thi tập.

    Tháng 10, 1936 ông xuất bản tập Die Achtundzwanzig Sterne, thơ dịch ra Đức ngữ, do nhà Hoffmann Und Campe, tỉnh Hamburg, Đức. Dịch giả là thi sĩ Áo Kosmas Ziegler. Trước 1945, ông có hai thi phẩm nổi tiếng vào thời tiền chiến là Thơ Say (1940) và Mây (1943). Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam đã nhận xét: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say nhưng “say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc”.

    Tập thơ đầu tay Thơ say gồm 32 bài thơ do tác giả tự xuất bản, nhà in Cộng Lực ấn loát và phát hành. Năm 1971, NXB Nguyễn Đình Vượng tái bản tập Thơ Say tại Sài Gòn, tập thơ chia làm nhiều phần như: Say, Mùa, Yêu, Cưới, Lỡ Làng, Lại Say. Bài thơ Say đi em, Phương xa, Chén rượu đôi đường, Mùa thu đã về và Quên là những bài thơ được nhiều người đọc và yêu thích nhất. Năm 1960, tại Sài Gòn Vũ Hoàng Chương tự tái bản 2 tập thơ Say gồm32 bài thơ và Mây gồm 25 bài thơ, in chung vào 1 tập mang tên Mây, Sài Gòn 1960. Người viết xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu:

    …“Say đi em! Say đi em!
     Say cho lơi lả ánh đèn,
    Cho cung bực ngả nghiêng

    Cho điên rồ xác thịt
    Rượu, rượu nữa!

    Và quên quên hết!
    Ta quá say rồi
    Sắc ngả mầu trôi…

                (Say đi em-1940)

    Và lại say nữa để mà quên.

    Đã hẹn với Em rồi, không tưởng tiếc
    Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
    Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu.

    Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
    Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
    Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.

                                    (Quên-1947)

    Năm 1948, Vũ Hoàng Chương xuất bản tập Thơ Lửa cùng với Đoàn Văn Cừ tại Thái Nguyên do cơ quan Kháng chiến Liên khu 3 đảm trách. Năm 1959, khi Vũ Hoàng Chương Tham dự Hội Nghị Thi Ca Quốc Tế, gặp gỡ nhà thơ nữ Ysabel Baes mới 15 tuổi đã có một thi tập được được Maison du Poète tại thủ đô Bruxelles xuất bản năm 1959. Bài thơ Công Chúa Mười Lăm, dài với 40 phân đoạn, mỗi đoạn 4 câu thơ thất ngôn. Toàn bài có 160 câu. Bài thơ “Công Chúa Mười Lăm” của Vũ Hoàng Chương tặng YSA không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là một hành trình vươn tới cái đẹp vĩnh hằng, là hình ảnh của một tình yêu và nghệ thuật. Tình yêu ấy là hành trình, là những cảm xúc, những giấc mơ và những hy vọng. Mối quan hệ giữa người thi sĩ và Công Chúa Mười Lăm là sự giao thoa giữa hai thế giới: thế giới của “thơ” và thế giới của “mộng”.

    Công Chúa Mười Lăm, nàng ở đâu?
    Tìm nàng, thôi đã nát Âu châu
    Ba Lê, Nhã Điển hay La Mã
    Đâu cũng rêu in lệnh Miễn Chầu…

    …Đê mê nhịp thở phút huyền ngưng
    Đôi lứa chìm sâu đáy Tượng trưng
    Ta nhủ: “Kìa em! Thơ mở lối
    Còn sâu hơn cả trái tim Rừng!”…

    Trong thời gian từ năm 1962 trở đi, Vũ Hoàng Chương đã cho xuất bản nhiều thi tập và tùy bút tại Sài Gòn gồm: Rừng Phong. 1970: Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, Tân Thi, Loạn Trung Bút, Ngồi Quán, Tâm sự phố phường, Tuổi Xanh, Ba Kiếp Lang Thang,Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai, Lửa Thiêng (Phần I: Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay 1936-1939), Ánh Trăng Đạo, Tập Bút Nở Hoa Đàm, Nhị Thập Bát Tú I & Tập II, Cành Mai Trắng Mộng. Đáng kể nhất là năm 1962, tập thơ Trời Một Phương trong đó có bài thơ Lửa Từ Bi ca ngợi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào tháng 07, do nhóm Thanh Tăng xuất bản vào tháng 12, 1962. Bài thơ Lửa Từ Bi Kính dâng lên BỒ-TÁT QUẢNG-ĐỨC đã được Hà Lan Phương và Nguyễn Hải phổ nhạc.

    Lửa! Lửa cháy ngất Toà Sen!
    Tám chín phương nhục thể trần tâm
    hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.
    Hai Vầng Sáng rưng rưng
    Đông Tây nhoà lệ ngọc
    Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,
    Ánh Đạo Vàng phơi phới
     đang bừng lên, dâng lên…

    1974: Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, NXB Rừng Trúc, Paris; Theo ông Hoàng Tấn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau” tặng nghệ nhân Quách Thị Hồ, người hát ca trù hay nhất Việtnam (danh hiệu NSND), xưa từng là bạn cố tri của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Hát ca trù cần có “đàn đáy”, do đó nội dung bài thơ sau đây đầy ắp những từ hát cô đầu, âm thanh vang tiếng “sênh, đàn, phách”.

    … Chúng ta mất hết cả rồi sao?

    Cả đến âm thanh một thuở nào!

    Da trống tơ đàn ôi trúc phách

    Đều khổ như khúc hát gầy hao

    Đàn mang tiếng đáy mà không đáy

    Mất hết rồi sao sợi nhớ thương

    Tay phách từ lâu nay lạc phách

    Không còn đựng mãi bến Tầm Dương…

    Bài Vịnh Tranh Gà Lợn của nhà thơ Vũ Hoàng Chương mà tác giả đã viết vào mùa xuân Bính Thìn (1976), cái tết cuối cùng của một đời thi bá.

    Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,

    Gà lợn, om sòm rối bức tranh.

    Rằng vách có tai, thơ có hoạ,

    Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.

    Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,

    Lòng lợn âm dương một tấc thành.

    Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,

    Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.

    Ngoài ra Vũ Hoàng Chương còn có một số tác phẩm được dịch qua Anh ngữ và Pháp ngữ như tập thơ Cảm Thông (nhan đề Anh ngữ là Communion); gồm 6 bài thơ mới sáng tác sau cuộc Âu du và 9 bài cũ lựa chọn lấy tính cách tiêu biểu; do Nguyễn Khang phiên dịch và xuất bản. Tập thơ Tâm Tình Người Đẹp (nhan đề Pháp ngữ là Les 28 Etoiles); gồm 42 bài thơ Nhị thập bát cú, kèm theo bản dịch của nữ thi sĩ Bỉ Simone Kuhnen de La Coeuillerie; Nguyễn Khang. Năm 1963, xuất bản tập Thi Tuyển (nhan đề Pháp ngữ là Poemes Choisis) kèm theo bản dịch của Simone Kuhnen de la Coeuillerie: do nhà xuất bản Nguyễn Khang vào tháng 03, 1963. Vũ Hoàng Chương đã dịch nhiều thơ chữ Hán từ nhiều tác gia Việt Nam và Trung quốc, khoảng 100 bài.

    Dưới đây là những bài thơ Vũ Hoàng Chương viết trong tập thơ Hoa đăng. Bài thơ Trả ta sông núi cho chúng ta cảm nhận tấm lòng yêu nước của con người dân Việt. Những bài thơ trong tập thơ Hoa Đăng rất dài nên người viết chỉ xin trích vài đoạn trong một số bài thơ của ông mà thôi.


    …Trả ta sông núi từng trang sử
    Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
    Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
    Không đòi, ai trả núi sông ta…


    …Trả ta sông núi! câu hùng tráng
    Là súng là gươm giữ đất đai

    Trông lên cao ngất phương trời
    Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.

    Bài thơ Đời Vắng Em Rồi của Vũ Hoàng Chương sau được đổi thành Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai. Tên này sau cũng được ông dùng đặt cho một tập thơ khác.

    Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu,
    Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu.
    Thôi rồi, tay nắm tay lần cuối,
    Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau.

    Gặp gỡ chừng như truyện Liểu Trai.
    Ra đi chẳng hứa một ngày mai.
    Em ơi! lửa tắt, bình khô rượu,
    Đời vắng em rồi, say với ai?
                                                 

    Yêu Mà Chẳng Biết là một trong những bài thơ mang tính thơ lãng mạng.

    Lâu rồi không nhớ bao nhiêu năm,
    Từ độ trông nhau hết lạ lùng,
    Từ hôm bên nhau thôi ngượng ngùng,
    Từ buổi xa nhau mà nhớ nhung.
    Em đã nao lòng, anh mê man!
    Đuôi mắt đầu môi tình chứa chan,
    Đêm thường mơ đêm, ngày đợi ngày.
    Nhưng không hề nói cho nhau hay.

    Bài thơ Giận Hờn là những cay đắng nhưng là bài thơ đặc biệt cho ta cảm giác nhẹ nhàng Của những điệp khúc tình yêu.

    Em đến hôm nào như hoa bay.

    Tình không độc dược mà đắng cay

    Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt

    Mùi hương sát nhân từng ngón tay

    Hay trong bài thơ Hờn Dỗi:

    … Anh vẫn nghe tiếng khóc

    Trong vạt áo len hồng.

    Anh vẫn nghe tiếng nấc.

    Dồn dập trên cgối nhung

    Sao em khóc vì đâu hờn dỗi

    Em buồn có phải lỗi anh không

    Hỏi em em chẳng nói

    Mặc anh xô cửa phòng…

    Một bài thơ Tình si.

    Vì ai làm một bài thơ
    Từ bao giờ đến bây giờ mới xong.

    Đầu trang vằng vặc gương trong
    Nhạc lơi cánh bướm hương phong nụ đào
    Cuối trang vần điệu xôn xao
    Lửa si mê bỗng cháy vào làn môi…
    Đền nhau một chiếc hôn rồi
    Mười lăm năm biết có nguôi giận hờn?…

    Cuối năm 1949, khi hai gia đình đang ở vùng Đống Năm, Thái Bình. Quân Pháp tràn tới, Việt Minh rút chạy. Hai gia đình Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng cũng chạy từ làng nọ tới làng kia. Cuối tháng 8 năm 1954, gia đình Vũ Hoàng Chương và gia đình thi sĩ Đinh Hùng di cư vào miền Nam, hai người thuê một căn nhà lợp tôn, vách ván tại xóm Hòa Hưng. Vũ Hoàng Chương cùng vợ ở trên gác, dưới nhà là tổ ấm của gia đình Đinh Hùng. Đất khách quê người, hai thi nhân sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo túng, họ tạm gác bút. Chán nản, họ vướng vào con đường nghiện hút (thuốc phiện). Lý tưởng tàn lụi, Vũ Hoàng Chương đã gởi niềm tâm sự vào trang giấy: Bài thơ Lý Tưởng.

    …Chàng họa sĩ hôm nay vừa ném bút.

    Bởi vì mơ và thực chẳng đi đôi.

    Nét hư Huyền thấp thoáng ở hồn thôi.

    Tài non kém chẳng đem vào lụa được…

    …Nhạc sĩ với thi nhân đều thế cả

    Dứt hết dây vò nát mấy mươi trang

    Xấu xa trong vần điệu ý huy hoàng

    Sai lạc nữa lúc phổ vào cung bậc…

    …Hồn nghệ sĩ vốn từ xưa nông nổi.

    Yêu thiết tha nhưng chẳng chịu thầm yêu.

    Kiếm hoài công bày giải ý cao siêu.

    Bằng gỗ lụa trơ trơ bằng thép rắn…

    NHẬN ĐỊNH VỀ LÃNH VỰC KỊCH NGHỆ

    Vũ Hoàng Chương đã xuất bản nhiều tập kịch thơ, 3 vở đầu tiên là Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp trong năm 1944, NXB Anh Hoa, Hà Nội. Tại Sài Gòn năm 1960, NXB Nguyễn Đình Vượng lại cho tái bản ba kịch bản này. Kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần, NXB Lửa Thiêng tại Sài Gòn cho ấn hành lần đầu năm 1951 và tái xuất bản năm 1961 ngay sau Cách mạng tháng 8. Năm 1946, Vũ Hoàng Chương tản cư về vùng duyên hải Nam Định (Khu Ba) nhưng đến năm 1950, ông cư về Hà nội để chuẩn bị cho diễn vở kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần năm 1951. Năm 1952, trinh diễn vở kịch thơ Thằng Cuội và năm 1953 ông cho đăng báo kịch thơ Cô Gái Ma.

    Tác phẩm Vân muội: Theo tác giả Phương Nghi, Vũ Hoàng Chương khi còn đang dạy học tại Hải Phòng và vào dịp rằm tháng bảy, ông cùng nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm, Lê Trọng Quỹ và Thế Lữ cùng đi nghe hát quan họ ở Kinh Bắc. Vũ Hoàng Chương đã từng làm xếp ga Bắc Ninh và có người yêu tên là Vân ở làng Dương Ổ. Vân chính là nàng thơ để Vũ Hoàng Chương viết kịch thơ “Vân muội” và ra tập thơ “Mây” năm 1943. Năm 1942, Vũ Hoàng Chương định lên thăm “nàng thơ”, nhưng khi đến ga Đầu Cầu thì gặp Tô Hoài và Nguyễn Bính và họ rủ nhau cùng đi lên Bắc Giang ghé thăm nhà thơ Bàng Bá Lân. Ba ông dự định khi gặp Bàng Bá Lân, họ sẽ rủ nhau di xem hát ả đào. Nhưng Bàng Bá Lân vốn tính tình hiền lành hiền việc đi xem hát ả dào đành phải bỏ và họ quyết định cùng nhau họa thơ.

    Duyên nợ không thành, Vũ Hoàng Chương phải chia tay “nàng thơ” xứ Quan Họ bởi vì nàng đã được gia đình gả chồng từ năm 12 tuổi. Kịch thơ “Vân muội” và tập thơ “Mây” ra đời là kết quả của cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa Huy Cận và Vũ Hoàng Chương ở Hàng Lược. Vừa gặp nhau, Huy Cận đã ngẫu hứng đọc hai câu lục bát: 

    “Đã lên gặp lại chàng sa.

    Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần”.

    Nghe xong, Vũ Hoàng Chương đối lại:

    “Mây kia chẳng chịu xuống trần.

    Lửa ơi! Theo khói lên gần với mây”. 

    KẾT LUẬN:

    Trong thế giới thi ca đã có những bài thơ nổi tiếng đã thu hút nhiền độc giả yêu thơ với những áng thơ nhẹ nhàng và tinh khiết như của Hồ dzếnh, Quang Dũng; những vần thơ tình tứ, lãng mạn như của Xuân Diệu, Nguyễn Bính; hay những lời thơ triết lý cao siêu của Cao Tiêu, Tô Đông Pha; cũng như những ý thơ nặng chất tuyệt vọng, cay đắng, khổ đau của TTKH, Hàn Mạc Tử… Nhưng chúng ta phải công nhận rằng, đọc thơ của Thi Nhân Đinh Hùng, chúng ta như bị lôi cuốn vào những vần thơ huyền bí của ông, những vần thơ khi thi biểu hiện lời êm ái, mộng mị, yêu thương lúc lại chen lẫn những vẻ liêu trai, ma quái và kinh dị. Và khi thưởng thức dòng thơ của Vũ Hoàng Chương chúng ta cảm nhận được hương vị đắng cay, bất mãn chen lẫn sự khinh miệt, chán chường của một nhân tài sống trong xã hội bất công.

    Đinh hùng là nhà thơ lớn của dân tộc mà còn là một nghệ sĩ đa tài đích thực trên cả lĩnh vực âm nhạc và hội họa. 47 năm của cuộc đời trên 20 tác phẩm với nhiều thể loại từ thơ ca văn xuôi tiểu thuyết ký và phê bình văn học. Đám ma tôi là thi tập đầu của ông và thi tập cuối là Tiếng ca bộ lạc, nhưng hai thi tập Mê hồn Ca và Đường vào tỉnh sử mới thực sự làm nên tên tuổi của người nghệ sĩ tài năng Đinh Hùng. Cho đến nay thơ của Đinh Hùng vẫn còn trong vòng bí ẩn như con người của ông, một con người gặp quá nhiều oan trái và hình như cái Định mệnh khất khe, nghiệt ngã luôn buộc chặt vào cuộc đời của ông.

    Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, ông có nhiều tập thơ nổi tiếng và được yêu thích, trong đó phải kể đến tập thơ Hoa Đăng do Văn Hữu Á Châu xuất bản tại Sài Gòn năm 1959. Đây là một tập thơ được đánh giá cao và đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca. Hai tập Thơ Say và Mây in chung vào một tập mang tên Mây là những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của ông. Tiếc thay, thời cuộc đảo điên, nhà thay chủ đã đưa người nghệ sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đi vào con đường tuyệt vọng. (Tạp Chí Văn Nghệ.)

    Sau bao năm vắng bóng trên thi đàn thơ nhạc của dân tộc Việt, nhưng dư âm và danh tiếng của hai thi nhân Đinh Hùng & Vũ Hoàng chương vẫn sống mãi trong lòng độc giả yêu thơ.

    Khánh Lan, California 2026

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Tạp chí Văn Học, Sài Gòn, số 97, 1969.
    • Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 150, 3/1970.
    • Lê Huy Oanh, Giai Phẩm Văn, Sài Gòn, 20/8/1974.
    • Phan Xuân Sanh. Tạp chí Đại Học, số 9, 1959, Huế.
    • Đoàn Thêm, Báo Văn Hóa Nguyệt san, Sài Gòn, 1964. 
    • Tạ Tỵ, Mười gương mặt văn nghệ, nxb Kim Lai, 1970 Sài Gòn.
    • Bàng Bá Lân : Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại, 1962, Sài Gòn.
    • Mai Thảo, Chân dung 15 nhà văn nhà thơ, Văn Khoa, 1985 California.
    • Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Thơ, nxb Văn nghệ, 1999 California.
    • Đỗ lai Thúy, Con Mắt thơ, nxb Lao Động, 1992, Hà Nội.
    • Chế lan Viên, Phê bình văn học, nxb Văn Học, 1962, Hà Nội.
    • Đặng Tiến, Từ điển văn học, tạp chí Thế Kỷ 21, 6/2005, California
  • ĐIỂM SÁCH,  Vương Trùng Dương

    CUỐN THEO CHIỀU GIÓ

    Vương Trùng Dương

    Theo dòng thời gian, từ trước công nguyên cho đến nay, nhiều nước trên thế giới đã từng xảy ra nội chiến (civil war – chiến tranh trong nước), những cuộc nội chiến đó trong quá khứ thường được nhắc đến trong những bài học lịch sử. Lịch sử nước ta thời Đại Việt cũng trải qua vài giai đoạn như nội chiến Nam Bắc triều (1533-1677) giữa nhà Mạc và nhà Hậu Lê. Thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1775) giữa chúa Trịnh ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn ở miền Nam (Đàng Trong). Chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn (1771-1785 và 1787-1802). Nguyễn Huệ (1753-1792) đánh Nam dẹp Bắc, lên ngôi Quang Trung Đại Đế nhưng chết khi còn trẻ, nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Phúc Ánh (1762-1820), tiến hành cuộc chiến, thống nhất sơn hà, năm 1802, lên ngôi Gia Long Hoàng Đế, quốc hiệu Việt Nam, chấm dứt cuộc nội chiến tranh kéo dài gần 270 năm.

    Nội chiến Hoa Kỳ (American Civil War 1861-1865), còn gọi là cuộc chiến tranh Bắc-Nam giữa chính phủ liên bang miền Bắc (Union) sau khi Abraham Lincoln đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1860 và liên bang phía Nam (Confederate States of America) với 11 tiểu bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam Hoa Kỳ đã tuyên bố ly khai khỏi Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Cuộc chiến khốc liệt đẫm máu kéo dài 4 năm, bắt đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 1861 và chấm dứt ngày 9 tháng 4 năm 1865, chế độ nô lệ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Vị tướng tư lệnh miền Bắc Tướng George B. McClellan ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với vị tướng tư lệnh miền Nam Tướng Robert Lee.

    Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng. Tự do trở về quê cũ như các dân thường. Tướng R. Lee đồng ý nhưng chỉ đòi hỏi một điều sau cùng là yêu cầu cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu. Tướng Ulysses S. Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà xây dựng lại nông trại. Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.

    Cuộc gặp gỡ của họ tại Appomattox, tiểu bang Virginia là khoảnh khắc tuyệt vời nhất của lịch sử nước Mỹ. Hình ảnh Tướng R. Lee cưỡi ngựa đi đến nơi họp mặt với đoàn quân nhạc miền Bắc chào đón. Khi Tướng Lee ký tên xong ra đi được sĩ quan và binh sĩ miền Bắc tiễn đưa và vẫy tay chào. Hình ảnh đó lưu lại ngày nay với tượng đài thể hiện sự trân trọng sau cuộc chiến. Với người đã hy sinh trên chiến trận, nghĩa trang quốc gia Arlington, của người miền Bắc trong trận chiến Bắc Nam. Sau cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam có hàng ngàn nghĩa trang lớn nhỏ chôn cất tử sĩ của phe bại trận.

    Năm 1900, mở đầu cho giai đoạn hòa giải dân tộc và năm 1991 thì các tử sĩ miền Nam được cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section. Tổng cộng gần 500 mộ phần quây tròn chung quanh một tượng đài do nhà tạc tượng danh tiếng là điêu khắc gia Moses Ezekiel thực hiện. Trước khi chết, TT Lincoln đã nói: “Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch sử của bậc anh hùng sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những con người vĩ đại đã ngã xuống”.

    (Cũng thời điểm tháng Tư kết thúc cuộc chiến tại Việt Nam, nhiều người cho rằng, nếu khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam mà học được bài học lịch sử nầy của Hoa Kỳ, xóa bỏ hận thù, xử dụng nhân tài và chất xám, cùng nhau chung tay xây dựng đất nước, bảo vệ giang sơn, chống quân xâm lược Trung Cộng thì ngày nay Việt Nam không bị lệ thuộc hoàn toàn dưới ách thống trị dã man của Trung Cộng).

    70 năm sau, cuộc nội chiến Hoa Kỳ được phác họa qua tác phẩm Gone with the Wind (Cuốn Theo Chiều Gió) của nhà văn Margaret Mitchell (1900-1949), ấn hành vào tháng 7 năm 1936, dày hơn 1,000 trang. Tác phẩm dựa vào bối cảnh và lịch sử cuộc chiến, tác giả dày công sưu tầm tài liệu, ròng rã trong 10 năm để hoàn thành. Không phải là tác phẩm lịch sử mà viết theo cách kể chuyện tự sự, tuy có hư cấu nhưng theo dòng sử liệu trong bối cảnh xã hội như chứng nhân của giai đoạn đương thời. Với các mối tình xảy ra chung quanh vài nhân vật ngang trái, éo le, cuồng nhiệt và hờ hững… lôi cuốn người đọc… Tác phẩm phẩm Gone with the Wind vừa ra mắt đã thành công, trong vòng 6 tháng, hơn 1 triệu ấn bản đã được bán hết với sức mua là 50,000 cuốn mỗi ngày vào thời điểm đó, ngoài sự tưởng tượng của tác giả và nhà xuất bản. Tác phẩm đoạt Giải Thưởng Pulitzer năm 1937 vì vậy giới đện ảnh Hollywood quan tâm và sách được nhà sản xuất phim David O. Selznick mua lại với giá 50.000 USD để được dựng thành phim cùng tên.

    Đây cũng là tác phẩm kinh điển của văn học Hoa Kỳ có số lượng cao nhất trong lịch sử xuất bản của Hoa Kỳ, của mọi thời đại đã vượt qua kỷ lục 12 triệu cuốn vào năm 1965, được dịch sang hơn 30 ngôn ngữ khác nhau và phổ biến trên 40 quốc gia. Margaret M. Mitchell sinh tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, sau bậc trung học, theo học tại Smith College nhưng năm 1918, không theo đuổi con đường học vấn, trở về Atlanta để lo công việc gia đình bà mẹ qua đời vì bệnh cúm. Sau đó không lâu, cô tham gia vào ban biên tập của tờ nhật báo Atlanta Journal, viết bài cho ấn bản ngày Chủ Nhật.

    Trong tai nạn bị gãy mắt cá chân, Margaret ở nhà điều trị, thời gia nầy cô tìm lại tài liệu về cuộc Nội Chiến Nam Bắc xảy ra trên quê hương. Năm 1929, khi vết thương đã lành và cuốn truyện đã được viết xong nhưng trước đó các truyện ngắn của cô không được quan tâm nên cũng nghĩ quyển sách nầy cũng mang số phận như vậy.

    Năm 1935, ông Howard Latham, phó giám đốc của nhà xuất bản MacMillan tới Atlanta để tìm kiếm các nhà văn mới của miền Nam Hoa Kỳ. Cơ hội cho Margaret Mitchell gặp ông Howard Latham để trao bản thảo Gone with the Wind. NXB MacMillan đã edit trong 6 tháng, tác phẩm được in xong vào ngày 30 tháng 6 năm 1936. Với sự thành công của tác phẩm đầu tay của nhà văn Margarett Mitchell, danh vọng nổi tiếng nhưng bà vẫn tiếp tục sống trong ngôi nhà tại Atlanta, tiếp tục một cuộc sống giản dị. Năm 49 tuổi, trong khi cùng chồng băng qua đường phố ở Atlanta, bị một chiếc xe tải đâm phải. Năm ngày sau bà qua đời, Margarett Mitchell vĩnh biệt cõi trần giữa muôn vàn thương tiếc của mọi người. Phim Gone with the Wind phỏng theo tiểu thuyết của Margaret Mitchell, phim được sản xuất bởi David O.Selznick, đạo diễn Victor Fleming và kịch bản gốc Sidney Howard. Bộ phim được quay ở miền Nam nước Mỹ (Atlanta, tiểu bang Georgia) trong thời gian xảy ra nội chiến.

    Các diễn viên chính bao gồm: Clark Gable (vai Rhett Butler), Vivien Leigh (Scarlett O’Hara), Leslie Howard (Ashley Wilkes), Thomas Mitchell (Gerald O’Hara), Barbara O’Neil (Ellen O’Hara), Evelyn Keyes (Suellen O’Hara), Ann Rutherford (Carreen O’Hara), Olivia de Havilland (Ilanie Hamilton), Hattie McDaniel (Mammy, vú nuôi da đen)…Phim dài 220 phút (thông thường chỉ 110 phút) được ra mắt tại Atlanta ngày 15 tháng 12 năm 1939, khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ.

    Năm 1940, giải Oscar lần thứ 12 (đầu tiên năm 1929) và cũng là lần đầu phim Gone with the Wind được 8 giải Oscar và phim màu đầu tiên. Phim được bình chọn là một trong vài bộ phim có nhiều khán giả nhất mọi thời đại kể từ khi được phát hành về doanh thu và rộng rãi khắp nơi trên thế giới. Đây là tác phẩm kinh điển của nền văn học và điện ảnh Hoa Kỳ, phim dàn dựng rất công phu của điện ảnh Hollywood được hàng tỷ người trên thế giới đọc và xem từ trước đến nay. Nhờ đó, mọi người mới hiểu được góc cạnh của cuộc nội chiến Nam-Bắc của Hoa Kỳ. Tình người với nhau để hàn gắn vết thương sau chiến tranh.

    Atlanta trước đây là thị trấn nông nghiệp trở thành trung tâm lịch sử với nhiểu bảo tàng, trong đó có ngôi nhà của Margaret Mitchell và phim Gone with the Wind… Ngôi nhà thời thơ ấu của MS Martin Luther King (1929-1968 ở Atlanta cùng các tòa nhà lân cận được công bố là di tích lịch sử Quốc Gia Martin Luther King, Jr.

    Ở Việt tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió được Vũ Kim Thư dịch từ đầu thập niên 50 (nay được tái bản nhiều lần và bản dịch của Dương Tường năm 2002). Phim Cuốn Theo Chiều Gió chiếu tại Sài Gòn và các thành phố lớn. Có lẽ cảm hứng từ cuốn phim, nhạc phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Anh Việt Thu sáng tác năm 1970.

    Tác phẩm lấy bối cảnh miền Nam nước Mỹ trong cuộc nội chiến Bắc-Nam. Câu chuyện trải dài mối tình của nàng Scarlett với những nhân tình với “hỉ, nộ, ái, ố” say đắm, yêu thương, dang dở, hững hờ và phản bội. Tiểu thư Scarlett tuổi trăng tròn, con gái cưng của chủ đồn điền Tara, tuy không sắc sảo nhưng trông quyến rũ, dễ thương. Hình ảnh mà Nguyên Sa tơ tưởng “Em gầy như liễu trong thơ cổ, Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường”. Tương lai đang đón chào nhưng cuộc nội chiến xảy ra, Scarlett bị loạn lạc trong cơn lốc rồi lận đận trong tình trường như lời thơ Hữu Loan “Lấy chồng thời chiến binh. Mấy người đi trở lại”… và nếu có trở về thì duyên phận trớ trêu! Scarlett bao năm theo đuổi cuộc tình để rồi cuối cùng bẽ bàng trước câu nói “My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần)!. Bạn bè với nhau mà chửi thề chữ a damn cũng nộ khí xung thiên xuống gì là tình nhân. Đau lòng cho cô tiểu thư con nhà khue các đã cuốn theo chiều gió!

    Với tác phẩm dày cả nghìn trang, khó tóm tắt ngắn gọn nên dựa theo Kiwipedia tóm lược Cuốn Theo Chiều Gió theo dòng thời gian: Tác phẩm mở đầu vào tháng 4 năm 1861 với nhân vật chính của truyện, Scarlett O’Hara đang ở đồn điền Tara nhà mình ở quận hạt Clayton, Georgia cùng với hai anh em sinh đôi Brent và Stuart Tarleton sống ở đồn điền kế bên. Qua cuộc nói chuyện này, Scarlett biết rằng người nàng thầm yêu từ lâu Ashley Wilkes nhưng chàng chuẩn bị đính hôn với cô em họ là Ilanie Hamilton ở Atlanta. Scarlett choáng váng khi nghe tin đó và cuộc nói chuyện cũng kết thúc. Nàng vội vã đi tìm cha mình, Gerald O’Hara, để xác minh lại câu chuyện và cha nàng khuyên nếu nàng và Ashley lấy nhau sẽ là một điều tồi tệ và nàng nên lấy một trong hai anh em sinh đôi trên.

    Scarlett cho rằng Ashley có ý định đính hôn vì chàng không biết nàng đã yêu mình.. Nàng quyết định trong buổi tiệc ngoài trời tại trại Twelve Oaks sẽ thổ lộ tình yêu với chàng và cùng chàng trốn đi. Nhưng mọi thứ không theo kế hoạch của Scarlett, tuy Ashley ân cần với nàng nhưng nói rằng chàng vẫn sẽ cưới Ilanie. Vị khách không mời trong buổi tiệc, Rhett Butler, người vô tình lắng nghe toàn bộ câu chuyện buông lời trêu chọc Scarlett làm nàng nổi điên, điều này lại ngẫu nhiên quyến rũ Rhett. Trong cơn tức giận cùng với việc nghe lén Honey Wilkes, vợ chưa cưới của Charles Hamilton nói xấu mình, Scarlett đã nhận lời lấy Charles Hamilton vừa làm Ashley ghen vừa trả thù Honey. Buổi tiệc kết thúc cũng là lúc có tin cuộc nội chiến Hoa Kỳ nổ ra và các chàng trai phải đi nhập ngũ.

    Đám cưới của Scarlett diễn ra nhanh chóng sau đó 2 tuần để Charles nhập ngũ, một ngày trước đám cưới giữa Ashley và Ilanie. Một tuần sau khi cưới, Charles nhập ngũ và 2 tuần sau, Ashley cùng đội kỵ binh của tiểu bang lên đường. Tuy nhiên, Charles đã chết vì bệnh đậu mùa ở căn cứ Nam Carolina trước khi có dịp được ra chiến trường. Sau đó, con trai Charles ra đời và được đặt tên là Wade Hampton Hamilton (theo tên chỉ huy của Charles là tướng Wade Hamilton).

    Góa phụ Scarlett lúc nào cũng mặc đồ tang, sống thầm lặng, nàng cảm thấy đau đớn vì sự buồn chán và việc phải làm mẹ hơn là cái chết của chồng. Mẹ nàng, Ellen O’Hara, muốn nàng vơi bớt nỗi buồn đã gửi nàng đến Atlanta sống cùng Ilanie và bà cô của Charles, Pittypat Hamilton. Scarlett đến Atlanta vào tháng 5 năm 1862. Tại đây, Scarlett nhanh chóng thích sự nhộn nhịp và hối hả của thành phố này. Nàng bị bắt buộc làm y tá tình nguyện ở dưỡng đường nhưng vô cùng chán ghét công việc này. Vì còn đang chịu tang chồng nên nàng bị cấm đoán đủ thứ, trong đó có cuộc bán đồ phúc thiện với sự góp mặt của nhiều cư dân thành phố, nhưng đến cuối cùng, Scarlett may mắn được dự vì để thay cho một bà khác có con bị bệnh. Tại đây, nàng gặp lại Rhett Butler, giờ đây là thuyền trưởng vượt phong tỏa, chuyên chở các mặt hàng thiết yếu cho miền Nam. Rhett Butler đã mời nàng khiêu vũ, mặc dù đang chịu tang nhưng Scarlett vẫn đồng ý vì nàng thèm muốn được khiêu vụ để thoát khỏi cái vỏ nhàm chán của một góa phụ.

    Kể từ đó mối qua hệ giữa Scarlett và Rhett với nhau. Rhett bản tính hài hước, hay trêu chọc Scarlett và cố làm cho nàng vui. Tuy nhiên gần như cả thành phố đều căm ghét hắn. Scarlett lại lúc nào cũng chỉ nghĩ đến Ashley. Tình hình ngoài mặt trận ngày càng căng thẳng. Thất bại của quân đội liên bang miền Nam trong trận Gettysburg trong cuộc nội chiến và thương vong của quân đội liên bang ngày càng nhiều. Giáng Sinh năm 1862, Ashley trở về nhưng trái với mong đợi của Scarlett, chàng chỉ quan tâm đến vợ mình, Ilanie. Ngày Ashley rời nhà trở lại chiến trường, Scarlett lại một lần nữa thổ lộ tình yêu với chàng hy vọng chàng sẽ bỏ vợ để cưới nàng nhưng chàng không nói gì và dặn dò nàng chăm sóc Ilanie nếu chàng có mệnh hệ gì ngoài chiến trường. Chàng vội vã ra đi và lần thứ hai, Scarlett vỡ mộng.

    Cuộc nội chiến ngày càng diễn biến bất lợi cho miền Nam. Sau những thất bại liên tiếp, quân đội liên bang miền Bắc đã tiến sát và bao vây Atlanta, do đó người dân thành phố phải tổ chức di tản. Tuy nhiên, Scarlett và Ilanie không thể đi cùng mọi người vì Ilanie đang có thai và có thể sinh con bất cứ lúc nào. Do các bác sĩ phải chăm sóc các thương binh nên Scarlett phải đỡ đẻ cho Ilanie. Sau khi Ilanie sinh xong, Scarlett phải cầu cứu Rhett và anh đã lấy cắp của quân đội cho nàng một chiếc xe ngựa nhưng con ngựa vô cùng ốm yếu. Anh chở Ilanie và con nàng là Prissy cùng Wade và Scarlett, chạy khỏi Atlanta. Tuy vậy, đi đến giữa đường thì Rhett bỏ mặc những người còn lại để gia nhập quân đội liên bang. Trước khi đi, anh hôn nàng và nói yêu nàng nhưng Scarlett giận dữ chửi rủa và tát hắn.

    Scarlett trở về đồn điền Tara và gặp những cảnh tượng kinh hoàng: Mẹ mất vì bệnh, ngôi nhà bị tàn phá nặng nề, phần lớn các nô lệ đã bỏ trốn, 2 người em gái bệnh nặng nằm liệt giường và người cha bị sốc vì cái chết của vợ cũng trở nên loạn trí. Giờ đây Scarlett trở thành chủ nhân của Tara. Với bản tính kiên cường và cách suy nghĩ thực tế, nàng dần vực dậy đồn điền Tara và làm mọi công việc, kể cả những việc mà khi xưa chỉ có nô lệ làm. Một tên lính Yankee đến ăn cắp đã bị nàng cầm súng bắn chết. Ilanie vẫn còn phải nằm trên giường sau khi sinh xong nhưng vẫn cầm thanh kiếm của Charles đến giúp tuy nàng không đủ sức nâng nó. Hành động này khiến Scarlett thán phục và tình cảm của cô dành cho Ilanie giờ đây bắt đầu trỗi dậy. Sau đó, Scarlett chôn tên lính ngay tại Tara.

    Chiến tranh gần kết thúc và đồn điền Tara lại bị tàn phá lần nữa khi quân đội liên bang miền Bắc đến. Một tháng sau thì cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi thuộc về liên bang miền Bắc. Những người lính bại trận trên đường trở về nhà đã ghé qua Tara để lấy thức ăn hoặc dưỡng thương. Trong số đó có một người lính bị thương nặng tên là Will Benteen, được em gái Scarlett là Carreen chăm sóc cẩn thận. Sau khi bình phục, Will đã ở lại Tara và giúp đỡ Scarlett vực dậy nó. Có Will, công việc của Scarlett đã được đỡ đần rất nhiều.

    Ashley sau khi chiến tranh kết thúc vẫn chưa về được vì còn là tù binh của liên bang miền Bắc. Rồi một ngày, chàng bất ngờ xuất hiện tại Tara. Cả Scarlett và Ilanie đều chạy ra đón chàng nhưng Will ngăn Scarlett lại khiến Scarlett bất đắc dĩ phải quay trở lại. Chiến tranh kết thúc nhưng một lần nữa số phận đồn điền Tara lại bị đe doạ khi chính phủ Yankee (người Anh gọi liên minh miền Nam) tăng tiền thuế của đồn điền lên để Scarlett không có tiền trả và phải nhượng lại Tara cho tên quản gia Yankee cặn bã Jonas Wilkerson và vợ hắn. Để có tiền cứu Tara, Scarlett phải đến Atlanta mượn tiền Rhett. Rhett vô cùng giàu có nhưng lúc này đang phải ngồi tù. Scarlett trang điểm và đến thăm Rhett để mượn một khoản tiền mà không để anh biết là nàng đang cố tán tỉnh anh vì tiền. Nàng đã gần như thuyết phục được Rhett cho đến khi đôi mắt sắc sảo của anh thấy đến bàn tay chai sần của Scarlett, bằng chứng cho những công việc nặng nhọc mà nàng đã làm và hoàn cảnh của gia đình, khiến cô phải thú nhận mục đích thật sự của chuyến viếng thăm. Cuối cùng, Rhett đã từ chối cho cô mượn tiền.

    Trong cơn tuyệt vọng, Scarlett tình cờ gặp Frank Kennedy, chồng chưa cưới của Suellen, chủ cửa hàng và có khoản tiền khá. Bằng cách nói dối Frank rằng Suellen đã lấy người khác, Scarlett đã quyến rũ Frank để ông lấy mình. Nàng đã thành công và có tiền cứu Tara. Sau khi ra tù, Rhett cho nàng mượn tiền để có thể mua thêm xưởng cưa với điều kiện là nàng không được dùng tiền giúp Ashley Wilkes.

    Scarlett điều hành xưởng cưa thành công nhưng nó cũng làm cho nàng bị nhiều dị nghị vì đó không phải là việc dành cho phụ nữ. Sau đó nàng đã có thai với Frank nhưng vẫn thường xuyên xuất hiện nơi công cộng nên ngày càng nhiều người khinh ghét. Sau đó không lâu, Gerald qua đời. Khi về Tara dự đám tang, nàng biết được rằng cái chết của cha mình có liên quan trực tiếp đến cô em gái Suellen. Will dù yêu Carreen nhưng cuối cùng đã lấy Suellen để làm dịu lại quan hệ gia đình. Carreen sau cái chết của Brent Tarleton vì quá đau khổ nên gửi mình vào tu viện. Sau đám tang cha, Scarlett đã mời Ashley trở lại Atlanta giúp nàng điều hành xưởng cưa và ngăn chàng lên miền bắc kiếm việc làm. Ashley lưỡng lự nhưng Ilanie kiên quyết đồng ý nên Ashley đành chiều theo ý vợ.

    Sau khi sinh con, Scarlett thường xuyên lái xe ngựa một mình đến xưởng cưa mặc dù đã nhiều lần được cảnh báo về sự nguy hiểm. Một ngày nọ nàng bị một tên da trắng nghèo khổ và một tên da đen tấn công và suýt bị cưỡng hiếp. May mắn là Big Sam, một nô lệ da đen từng làm việc ở Tara, đã cứu nàng kịp thời. Frank, Ashley và một số người đàn ông khác thuộc đảng Ku Klux Klan (KKK) phải đi trả thù và kết cục là Ashley bị thương và Frank bị giết. Còn các thành viên còn lại được Rhett, với sự giúp đỡ của Belle Watling, gái mại dâm ở Atlanta, đã dựng chuyện và tìm cách cứu họ. Từ đó mối qua hệ của Rhett và người dân thành phố dần dần được phục hồi. Sau cái chết của Frank, Rhett ngay lập tức cầu hôn Scarlet trước khi nàng có thể lấy một người nào khác.

    Scarlett lấy Rhett. Anh chiều chuộng nàng hết mức và tạo điều kiện cho nàng hưởng thụ những thú vui mà Scarlett chưa bao giờ biết đến ở New Orleans. Cũng qua Rhett mà Scarlett có được những người bạn mới: Những người Yankee và những kẻ giàu lên nhờ đầu cơ và làm ăn gian dối trong chiến tranh. Do đó mà mối qua hệ giữa vợ chồng Scarlett và những người bạn cũ ngày càng trở nên xấu đi và trong một buổi tiệc, vợ chồng Scarlett đã mời thống đốc tiểu bang thuộc đảng Cộng Hòa đến dự khiến tầng lớp thượng lưu miền Nam hoàn toàn cắt đứt mối qua hệ với hai người, ngoại trừ Ilanie.

    Scarlett sau đó cũng sinh cho Rhett một đứa con gái mặc dù nàng cũng không hề muốn. Đứa bé được đặt tên là Eugenia Victoria. Cô bé vô cùng xinh đẹp với đôi mắt xanh dương nên được đặt thêm biệt danh Bonnie Blue Butler, theo tên lá cờ liên bang Bonnie Blue Flag. Rhett vô cùng hạnh phúc và rất thương yêu con gái mình. Nhưng vì tình yêu với Ashley, Scarlett kiên quyết không ngủ chung với chồng nữa để tránh việc mang thai lần nữa. Rhett tức giận và cãi cọ liên tục với nàng về mối qua hệ bạn bè, cách nuôi dạy con cái. Anh muốn con gái mình sẽ trở thành một công chúa trong tầng lớp thượng lưu miền Nam cũ. Rồi Rhett cùng với con gái đi khỏi Atlanta một thời gian.

    Tại Georgia, Rhett cùng với những bạn bè xưa cũ khiến cho quan hệ giữa anh và họ ngày một tốt đẹp, thực chất là anh muốn gây dựng tương lai và thanh danh cho con gái Bonnie, mà giờ đây Rhett nổi tiếng là một người bố yêu thương con hết mực. Ilanie tổ chức bữa tiệc sinh nhật bất ngờ cho Ashley. Ilanie nhờ Scarlett đến xưởng cưa giữ chân Ashley để mình có thêm thời gian chuẩn bị. Tại đây, Ashley và Scarlett vì xúc động khi nhớ về những ngày xưa êm đềm, đã ôm nhau trong tình cảm trong sáng, nhưng lại bị India Wilkes, bà Elsing và Archie, đánh xe của Ilanie bắt gặp. Rhett biết được chuyện này từ Archie nhưng vẫn bắt Scarlett phải đến dự buổi sinh nhật của Ashley với phong thái kiêu hãnh và can đảm, để không huỷ hoại tương lai của Bonnie. Ilanie cũng nghe chuyện nhưng với tâm hồn trong sáng, nàng nhất mực không tin và ra sức bênh vực Scarlett. Ilanie một lòng tin tưởng Scarlett vì những gì Scarlett đã làm cho nàng. Cũng vì đứng về phía Scarlett, Ilanie đã gây chia rẽ trong gia đình và bạn bè thân hữu.

    Đêm hôm đó, Scarlett bắt gặp Rhett trong trạng thái say khướt. Sau đó, Rhett xốc bổng nàng lên cầu thang và cả hai trải qua một đêm ân ái đầy nồng nàn. Scarlett thức dậy một mình vào sáng hôm sau và háo hức muốn gặp chồng nhưng Rhett lẫn tránh nàng. Rhett đưa Bonnie đến Luân Đôn. Anh bỏ đi khiến Scarlett cảm thấy day dứt về những việc mình đã làm với anh và cả với hai đứa con đầu của mình. Nàng có thai lần nữa và đây là lần đầu tiên cảm thấy hạnh phúc vì điều đó. Ngày Rhett cùng Bonnie trở về, nàng đã háo hức muốn báo tin đó cho Rhett, nhưng không tin vào tình yêu mình nhìn thấy trong mắt Scarllet, anh giễu cợt nàng. Scarllet quá tức giận nên ngã cầu thang và sẩy thai.

    Sau tai nạn đó, Scarlett phải về Tara một thời gian để điều dưỡng. Rhett đã bàn với Ilanie tìm cách lừa Scarlett để cô nhượng lại hai xưởng cưa cho Ashley. Bonnie được Rhett cưng chiều, cô bé rất thích cưỡi ngựa. Một ngày, Bonnie gặp tai nạn trong khi cho ngựa vượt rào và gãy cổ. Rhett bị chấn động tâm lý nặng nề sau cái chết của Bonnie và chỉ có Ilanie mới giúp anh vượt qua cú sốc đó.

    Ilanie mang thai và giấu mọi người để sinh con, mặc dù đã bị bác sĩ cấm đoán. Nhưng do sức khỏe quá yếu, nàng lâm nguy kịch. Scarlett về sau khi nhận được điện khẩn của Rhett. Trên giường bệnh, Ilanie trăng trối lại với Scarlett hãy giúp nàng chăm sóc Ashley và Beau. Cuối cùng, Ilanie khuyên Scarlett hãy trân trọng Rhett và tình cảm của hắn. Scarlett bỏ chạy và gặp Ashley. Giờ đây nàng mới nhận ra Ilanie quan trọng với mình và suốt bao nhiêu năm qua, tình yêu của nàng đối với Ashley cũng chỉ như khi một đứa bé muốn với tới một mặt trăng hão huyền, đó là tình yêu do nàng tưởng tượng ra, chỉ là ảo huyền.

    Trong lúc tuyệt vọng, Scarlett nghĩ đến Rhett và chợt nhận ra Rhett mới là người nàng cần. Nàng đã dần yêu Rhett trong bao nhiêu năm qua nhưng cái bóng quá lớn của Ashley đã chặn tầm mắt nàng lại.. Rhett luôn luôn ở bên Scarlett mỗi khi nàng cần và giúp đỡ nàng theo cách tuyệt vời nhất, bằng sự thông hiểu sâu sắc. Nàng vội vã đi tìm Rhett nhưng giờ đây anh lại hoàn toàn ghẻ lạnh với nàng. Anh lạnh lùng bảo tình yêu bao năm qua anh dành cho nàng giờ đã lụi tàn cùng với sự thờ ơ anh nhận được, chỉ còn lại hai điều nàng ghét nhất là lòng thương hại và nhân từ.

    Choáng váng vì những gì nghe thấy nhưng Scarlett vẫn can đảm thổ lộ tình yêu với Rhett nhưng chàng lại phán “My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần), bạn bè khi giận nhau mà chửi thề dùng damn dễ gây ấu đả huống chi nói với nhân tình! Scarlett lặng lẽ nhìn Rhett bỏ đi và giờ đây nàng nhận ra, vì nàng không hiểu hai người mình yêu nên đã để tuột mất cả hai. Nàng quyết định sẽ trở về Tara, nơi nàng đã từng vực dậy từ trắng tay. Với tính tình mạnh mẽ cứng cỏi, Scarlett tin rằng mình có thể chiếm lại được Rhett. Chưa người đàn ông nào cưỡng lại nàng nếu nàng quyết tâm chinh phục.

    Tác phẩm kết thúc với hình ảnh Scarlett trải qua bão táp nên cương nghị đứng trước đồn điền Tara ngập nắng với câu tiếp sức mạnh quen thuộc của mình: “Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới” (After all, tomorrow is another day!). Ban đầu nhà văn muốn dùng câu nầy làm tựa đề nhưng nhà xuất bản chọn tên cho tác phẩm rất hay.

    Ngày nay nước Mỹ có 700 sắc tộc sinh sống với 5 nhóm là Dân Bản Địa (Native American), Người Mỹ gốc Châu Âu (European American), Người Mỹ gốc Phi (African American), Người Mỹ gốc Latinh (Hispa American) và người Mỹ gốc Châu Á (Asian American) vì vậy gọi là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Đề cập đến cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ (American Civil War, 1861–1865) trong nhiệm kỳ Tổng Thống Abraham Lincoln (1861-1865). Thời điếm lập quốc, lịch sử Hoa Kỳ đề cao vị Tổng Thống: George Washington (1789 đến 1797), John Adams (1735–1826) và Thomas Jefferson (1743–1826). TT George Washington được người dân Mỹ gọi là “cha già dân tộc” (sau nầy CSVN gọi HCM bắt chước tên gọi như vậy nên người Việt tị nạn CS dị ứng với tên gọi nầy), TT Thomas Jefferson có công lao lưu lại hậu thế với Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 4 tháng 7 năm 1776 và là người sáng lập ra đảng Dân Chủ.

    Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, HCM tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.. Câu nói nầy quen quen vì trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc.

    Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền & Dân Quyền của Cách Mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948

    Điều 1: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái”.

    Điều 7: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này”.

    Thế nhưng các nước Cộng Sản và độc tài đã vi phạm trầm trọng Tuyên Ngốn Quốc Tế Nhân Quyền nầy, trong đó có 5 nước trong thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ: Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc thì Nga và Trung Quốc đã không tuân thủ còn cố tình xâm nhập vào các nước khác như Hoa Kỳ hiện nay để gây cơn lốc “kỳ thị chủng tộc”.

    Hoa Kỳ trong thời điểm đối phó với đại dịch Virus Tàu Cộng lại xảy ra hai cái chết của hai người đàn ông da màu (gốc Phi) George Floyd ngày 25 tháng 5 tại Minneapolis, tiểu bang Minnesota và Rayshard Brooks ngày 14/6 vừa qua tại Atlanta, nơi chốn của tác giả Cuốn Theo Chiều Gió.

    Đây là đất nước thượng tôn pháp luật, kẻ thi hành pháp luật vi phạm sẽ bị tòa án xét xử công khai tội trạng nhưng vì động cơ chính trị trong thuyết âm mưu đã “mượn gió bẻ măng”, đổ dầu vào lửa để lấy lý do kỳ thị chủng tộc gây cơn bão táp trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Đây cũng là cơ hội cho một số cơ quan truyền thông khai thác tận gốc rễ trên chính trường Hoa Kỳ mà thời gian qua xảy ra hằng ngày. Cơn lốc còn xoáy trong giai đoạn bầu cử, sẽ hạ hồi phân giải nhưng những giá trị truyền thống của lịch sử đã và đang bị triệt hạ tưởng chừng những Vệ Binh Đỏ của Mao & Giang Thanh trong thời kỳ “Cách Mạng Văn Hóa” vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1966, nay lại xảy ra trên mảnh đất tự do!

    Ngày 9 tháng 6, HBO Max thông báo ngưng chiếu phim Gone with the Wind trên băng tần của họ. May mà di sản tác giả và tác phẩm của Cuốn Theo Chiều Gió không bị thiêu đốt như sau tháng 4/1975 tại Sài Gòn. Bàn chuyện chính trị ở Hoa Kỳ rất phức tạp, phe nầy phe nọ, kẻ bênh vực, người chống đối “miệng lưỡi thế gian, trăm đường lắt léo” khó phân biệt và phức tạp vì vậy tôi không đề cập. Đôi khi “chuyện làng mang vào nhà” vợ chồng, bạn bè thân tín tranh cãi, bất đồng quan điểm dẫn đến bất hòa thì chuyện xảy ra trên chính trường Hoa Kỳ như lằn ranh của hai bờ chiến tuyến.

    Trở lại tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió, nhà văn Margaret M. Mitchell rất tinh tế khi dẫn dắt qua từng mẩu chuyện, chẳng có gì đào sâu nạn kỳ thị chủng tộc nhưng sự tị hiềm nên “bé xé ra to”.

    Vương Trùng Dương

  • VĂN HỌC,  Việt Hải

    BOOK SUMMARY & REVIEW: TRIẾT HỌC HIỆN SINH VÀ SIÊU HÌNH HỌC

    Trần Việt Hải

    Hai quyển sách này là những món quà tinh thần vô giá dành cho những ai đang kiếm tìm sự tĩnh lặng, yên bình nơi tâm hồn, những học giả, những tinh hoa nghiên cứu, biên khảo gia về tư tưởng học và bất kỳ những ai đọc, hiểu…, hãy nhận thức lý do hiện hữu cúa ta và vũ trụ xung quanh, sự tồn tại của hữu thể theo thời gian muốn mở rộng chân trời nhận thức của bản thân chính mình.

    Xét về giá trị cốt lõi của triết siêu hình, ý tưởng siêu hình học, nhìn qua như là chân lý của hiện vật như những tư duy, tư tưởng của hữu thể tồn tại qua thời gian, cái nhìn khác từ sách của Khánh Lan, qua lăng kính hiện sinh, vốn là một trạng thái tâm lý sâu sắc, nơi cá nhân đối diện trực tiếp với những tư duy tự hỏi nền tảng về sự tồn tại. Hiện tượng này phát sinh ra khi người ta băn khoăn về ý nghĩa, mục đích sống, và vị trí của mình trong xã hội hay trong vũ trụ quan tạm bợ, vô thường.

    Đoạn tư tưởng trên về hai tác phẩm: Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh và Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình của nhà văn Khánh Lan là sự tóm lược bài viết này, và nó cũng chúc mừng đến tác giả Khánh Lan.

    TRIẾT HỌC HIỆN SINH: TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN ÁP DỤNG CỦA TÁC GIẢ KHÁNH LAN

    Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng là một công trình khảo cứu có phạm vi rộng, đưa người đọc đến với một trong những trào lưu tư tưởng quan trọng nhất của triết học hiện đại. Cuốn sách giới thiệu lịch sử hình thành và những khái niệm nền tảng của chủ nghĩa hiện sinh, cũng như khảo sát ảnh hưởng của nó đối với văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tâm lý học và đời sống con người.

    Khởi điểm của triết học hiện sinh là những câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản nhưng không bao giờ dễ trả lời chẳng hạn như: Tôi là ai? Tôi hiện hữu để làm gì? Con người có thật sự tự do không? Làm thế nào để sống một đời sống chân thực? Cái chết, cô đơn, đau khổ và sự phi lý có ý nghĩa gì đối với sự tồn tại của mỗi cá nhân, v.v…

    Từ những câu hỏi ấy, tác giả Khánh Lan dẫn người đọc bước vào thế giới hiện sinh—một thế giới không bắt đầu bằng những hệ thống lý thuyết, mà bằng chính kinh nghiệm sống của con người. Con người hiện sinh không phải là một khái niệm trừu tượng. Đó là do con người tự lựa chọn, hành động, lo âu, hy vọng, sai lầm và chịu trách nhiệm về cuộc đời mình.

    Hành trình hình thành của tư tưởng hiện sinh

    Những chương đầu của sách trình bày lịch sử phát triển của chủ nghĩa hiện sinh, từ các tư tưởng tiền thân cho đến khi nó trở thành một phong trào triết học và văn học có ảnh hưởng sâu rộng trong thế kỷ XX.

    Tinh thần “hãy tự biết mình” của Socrates được xem như một trong những khởi nguồn xa xưa của tư duy hiện sinh. Tiếp đó là những suy tư của Montaigne và Pascal về sự hữu hạn, bất an và mâu thuẫn trong bản tính con người. Đến thế kỷ XIX, Søren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche đã đặt những nền móng trực tiếp cho triết học hiện sinh.

    Kierkegaard chú trọng đến cá nhân đơn độc trước lựa chọn, tuyệt vọng và đức tin. Đối với ông, chân lý không chỉ là điều được hiểu bằng lý trí, mà còn là điều phải được sống bằng toàn bộ sự hiện hữu của một cá nhân. Nietzsche, trong khi đó, đặt vấn đề về sự sụp đổ của các giá trị truyền thống và kêu gọi con người tự vượt lên chính mình để sáng tạo những giá trị mới.

    Sang thế kỷ XX, tư tưởng hiện sinh được mở rộng qua những công trình của Martin Heidegger, Karl Jaspers, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir và Albert Camus. Hai cuộc thế chiến, sự đổ vỡ của các niềm tin truyền thống và cảm giác bất an của con người hiện đại đã tạo nên bối cảnh để triết học hiện sinh trở thành tiếng nói tiêu biểu của một thời đại khủng hoảng.

    Hiện hữu, tự do và trách nhiệm

    Một trong những luận điểm trung tâm được cuốn sách nhấn mạnh là lời tuyên bố nổi tiếng của Sartre: “Hiện hữu có trước bản chất.” Con người trước hết xuất hiện trong thế giới, rồi mới tự định nghĩa mình thông qua những hành động và lựa chọn.

    Theo cách nhìn ấy, con người không có một bản chất hoàn toàn được định sẵn. Hoàn cảnh, truyền thống và xã hội có thể ảnh hưởng đến cá nhân, nhưng không thể thay cá nhân quyết định mình sẽ trở thành người như thế nào. Tự do vì vậy vừa là khả năng, vừa là gánh nặng. Khi lựa chọn, con người đồng thời phải nhận trách nhiệm về hậu quả của điều mình đã chọn.

    Cuốn sách dành nhiều phần để phân tích các trạng thái đặc trưng của đời sống hiện sinh: lo âu, sợ hãi, tha hóa, tuyệt vọng, cô đơn và cảm giác hư vô. Đây không chỉ là những cảm xúc tiêu cực cần phải loại bỏ. Chúng có thể là dấu hiệu cho thấy con người đang đối diện với tự do, giới hạn và sự thật về chính mình.

    Lo âu xuất hiện vì con người hiểu rằng mình có nhiều khả năng nhưng không thể sống tất cả những khả năng ấy. Tuyệt vọng nảy sinh khi cá nhân không thể trở thành chính mình hoặc tìm cách trốn tránh bản thân. Sự tha hóa xảy ra khi con người sống theo những khuôn mẫu áp đặt, để cho đám đông, vai trò xã hội hay cái nhìn của người khác quyết định giá trị của mình.

    Đối diện với những trạng thái đó, triết học hiện sinh đề cao tính chân thực. Sống chân thực không có nghĩa là chỉ làm theo cảm xúc nhất thời, mà là nhìn nhận hoàn cảnh một cách thành thật, tự lựa chọn các giá trị và can đảm nhận trách nhiệm về cách sống của mình.

    Phi lý, cái chết và sự nổi loạn

    Tư tưởng về sự phi lý của Albert Camus là một điểm quan trọng trong cuốn sách. Sự phi lý xuất hiện từ cuộc đối đầu giữa khát vọng tìm kiếm ý nghĩa của con người và sự im lặng của vũ trụ. Thế giới không luôn cung cấp những lời giải đáp mà con người mong muốn.

    Tuy nhiên, nhận ra sự phi lý không nhất thiết dẫn đến bi quan hay buông xuôi. Camus đề nghị một thái độ nổi loạn: con người vẫn sống, vẫn hành động và vẫn kiến tạo ý nghĩa dù biết rằng không có một câu trả lời tuyệt đối nào được bảo đảm. Sự nổi loạn ấy là lời khẳng định phẩm giá và sức sống của con người trước một thế giới bất định.

    Cái chết cũng được trình bày như một vấn đề cốt lõi của hiện sinh. Ý thức về cái chết khiến con người nhận ra đời sống là hữu hạn. Nhưng chính vì hữu hạn, thời gian mới trở nên quý giá, lựa chọn mới mang trọng lượng và cuộc sống mới đòi hỏi sự dấn thân. Cái chết không chỉ là sự chấm dứt; nó còn là tấm gương khiến con người suy xét mình đang sống như thế nào.

    Tôn giáo và những con đường hiện sinh

    Cuốn sách dành một chương bàn về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh, qua đó làm rõ sự khác biệt giữa hiện sinh hữu thần và hiện sinh vô thần. Ở Kierkegaard, con người tìm thấy ý nghĩa trong mối quan hệ cá nhân với Thượng đế. Đức tin không đơn thuần là chấp nhận một hệ thống giáo lý, mà là một lựa chọn sâu sắc, đôi khi được thực hiện giữa bất định và lo âu. Trong khi đó, Sartre cho rằng nếu không có Thượng đế hay một bản chất được định trước, con người phải tự sáng tạo giá trị và hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc đời mình.

    Việc đặt hai khuynh hướng này bên cạnh nhau cho thấy chủ nghĩa hiện sinh không phải là một học thuyết đồng nhất. Các triết gia hiện sinh có thể khác biệt về tôn giáo, bản thể học và quan niệm tự do, nhưng cùng gặp nhau ở việc đặt cá nhân cụ thể và kinh nghiệm sống vào trung tâm của triết học.

    Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật

    Một trong những đóng góp nổi bật của tác phẩm là phần nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học hiện sinh với văn học. Tác giả cho thấy nhiều tư tưởng hiện sinh không chỉ được trình bày qua các công trình triết học mà còn được diễn đạt sống động trong tiểu thuyết, kịch nghệ và thơ ca.

    Dostoevsky được giới thiệu như một nhà văn tiền hiện sinh với những nhân vật luôn giằng co giữa tự do, tội lỗi, đức tin và trách nhiệm. Kafka khắc họa con người cô độc trước những cơ cấu quyền lực bí ẩn. Sartre đưa tự do và sự tự lừa dối vào tiểu thuyết và sân khấu. Camus dùng văn chương để diễn tả sự phi lý, cô lập và thái độ phản kháng của con người. Nietzsche truyền đạt triết lý của mình bằng hình tượng Zarathustra giàu chất thơ và biểu tượng.

    Cuốn sách còn mở rộng sự khảo sát đến sân khấu phi lý, văn học Mỹ, thơ ca hiện đại, văn học hậu hiện đại, văn học nữ quyền và tiểu thuyết đương đại. Đặc biệt, tư tưởng của Simone de Beauvoir cho thấy tự do không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn liên hệ với giới tính, xã hội và những điều kiện áp bức cụ thể.

    Trong nghệ thuật và điện ảnh, những câu hỏi về bản sắc, tự do, thực tại và sự tha hóa vẫn tiếp tục xuất hiện. Những tác phẩm như Ma Trận và Blade Runner chứng minh rằng tư tưởng hiện sinh không thuộc riêng một giai đoạn lịch sử; nó vẫn hiện diện trong văn hóa đương đại và thời đại kỹ thuật số.

    Bản thể luận và đời sống con người

    Chương cuối đi sâu vào bản thể luận hiện sinh và cấu trúc tồn tại của con người. Con người không phải là một thực thể biệt lập, khép kín, mà luôn hiện hữu trong thế giới, trong hoàn cảnh và trong quan hệ với người khác.

    Qua Heidegger, Jaspers và Sartre, cuốn sách phân tích những cách hiểu khác nhau về khả năng, hoàn cảnh, tự do, thân thể và mối quan hệ liên chủ thể. Con người vừa bị giới hạn bởi những điều kiện mình không lựa chọn, vừa có khả năng vượt khỏi các điều kiện ấy bằng dự phóng và hành động. Điều này làm nên nghịch lý của hiện sinh: chúng ta không hoàn toàn tự do trước mọi hoàn cảnh, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về thái độ và cách đáp lại hoàn cảnh của mình.

    Nhận định về tác phẩm

    Ưu điểm nổi bật của Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng là phạm vi khảo cứu phong phú. Tác phẩm kết nối lịch sử triết học với văn chương, nghệ thuật và những vấn đề thiết thân của đời sống. Người đọc biết được các triết gia đã suy nghĩ điều gì, và gợi ý để nhận ra những tư tưởng ấy đang hiện diện như thế nào trong lựa chọn và kinh nghiệm của chính mình. Sách cũng dành sự quan tâm đặc biệt cho văn học. Triết học hiện sinh được cảm nhận qua những định nghĩa, số phận của những con người phải sống giữa tự do và giới hạn, hy vọng, tuyệt vọng, ý nghĩa và phi lý.

    KẾT LUẬN

    Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng là một cuốn sách dành cho những người muốn tìm hiểu triết học từ chính những kinh nghiệm căn bản của đời người. Tác phẩm đặc biệt thích hợp với độc giả quan tâm đến triết học, văn học, tâm lý học và hành trình khám phá bản thân. Sách không thể cho chúng ta một giải đáp cho mọi vấn đề. Tác phẩm cho thấy sống là một quá trình liên tục lựa chọn và tự kiến tạo. Triết học hiện sinh đặt lại câu hỏi trực tiếp cho mỗi cá nhân: “Bạn sẽ sống như thế nào để tạo nên ý nghĩa cho cuộc đời mình?”

    TÌM HIỂU TRIẾT SIÊU HÌNH HỌC

    Siêu hình học là một công trình nhập môn có phạm vi rộng, giúp độc giả tiếp cận những câu hỏi căn bản nhất của triết học: Thực tại là gì? Tồn tại có ý nghĩa ra sao? Con người có thật sự tự do không? Tâm trí và thân thể liên hệ với nhau như thế nào? Thời gian có tồn tại độc lập hay chỉ là kinh nghiệm chủ quan? Và sau cùng, điều gì làm cho đời sống con người trở nên có ý nghĩa?

    Thay vì trình bày siêu hình học như một hệ thống lý thuyết khô khan, tác giả Khánh Lan đưa người đọc bước vào lĩnh vực này từ chính những băn khoăn quen thuộc của đời sống. Nhất là khi con người muốn biết sự vật vận hành như thế nào, hoặc muốn hiểu sự vật là gì và vì sao nó hiện hữu. Từ điểm khởi đầu ấy, sách giới thiệu siêu hình học như một hành trình suy tư về những nền tảng vô hình đang chi phối cách chúng ta nhận thức thế giới, phán đoán đúng sai và lựa chọn lối sống.

    Các chương đầu cung cấp kiến thức nhập môn về nguồn gốc, lịch sử và những khái niệm chủ yếu của siêu hình học. Từ các triết gia Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là Socrates, Plato và Aristotle, tác giả lần theo sự phát triển của tư tưởng siêu hình qua thời Trung đại, Cận đại và Hiện đại. Những quan điểm của Descartes, Kant, Heidegger, Sartre, Camus cùng nhiều trường phái khác được giới thiệu trong mối liên hệ với các vấn đề về bản thể, thực tại, nhân quả, đồng nhất, khả thể và tất yếu.

    Một điểm đáng chú ý của sách là tác giả không giới hạn siêu hình học trong lịch sử triết học phương Tây. Tác phẩm mở rộng cuộc đối thoại sang Phật học, Nho giáo, văn học, đạo đức học, pháp luật và tâm lý học. Cách tiếp cận liên ngành này cho thấy không những siêu hình học tồn tại biệt lập trong những khái niệm trừu tượng, mà chúng đồng thời suất hiện trong cách con người tổ chức xã hội, xây dựng luật pháp, xác định trách nhiệm và tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống.

    Chương viết về siêu hình học trong đời tác giả cho rằng mỗi người đều có một thứ “siêu hình học thực hành”—một tập hợp những niềm tin, đôi khi chưa được ý thức đầy đủ, về con người, tự do, giá trị, cái chết và mục đích sống. Những niềm tin ấy ảnh hưởng trực tiếp đến cách chúng ta chọn nghề nghiệp, xây dựng tình yêu, đối diện đau khổ, chăm sóc đời sống tinh thần và đưa ra những quyết định đạo đức. Nhờ vậy, siêu hình học được đưa ra khỏi giảng đường để trở thành một phương tiện tự nhận thức.

    Phần bàn về văn học và nghệ thuật cũng tạo nên nét riêng cho tác phẩm. Theo tác giả, nếu triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lý luận, thì văn học giúp con người sống cùng những vấn đề ấy qua nhân vật, biểu tượng, cảm xúc và tưởng tượng. Các tác phẩm như Tội Ác và Hình Phạt, 1984, Odyssey, cùng những bộ phim hiện đại như Blade Runner và Interstellar, được xem như những “thí nghiệm tư duy” về tự do, chân lý, bản sắc con người và bản chất của thực tại.

    Trong phần về Phật học, tác phẩm trình bày các tư tưởng vô thường, khổ, vô ngã, duyên khởi và tính Không như một cách nhìn khác về hiện hữu. Nếu nhiều hệ thống siêu hình học phương Tây chú trọng việc xác định bản thể của sự vật, thì Phật giáo đặt trọng tâm vào tính tương thuộc, biến đổi và sự chuyển hóa nhận thức. Hiểu biết, theo tinh thần này, không chỉ là hoạt động lý luận mà còn phải được kiểm nghiệm bằng thiền định, tu tập và đời sống thực hành.

    Các chương về đạo đức và tâm lý học tiếp tục làm rõ tính ứng dụng của siêu hình học. Tác giả đối chiếu nghĩa vụ luận của Kant, công lợi luận, đạo đức đức hạnh của Aristotle, đạo đức Nho giáo và những hướng tiếp cận đương đại. Những vấn đề như an tử, phá thai, môi trường, kinh doanh và trí tuệ nhân tạo được đặt trong mối quan hệ với các quan niệm khác nhau về con người, tự do và giá trị.

    Đặc biệt, phần nghiên cứu tâm trí và ý thức đưa tác phẩm đến gần những cuộc tranh luận của thế kỷ XXI. Mối quan hệ giữa tâm trí và não bộ, “vấn đề khó” của ý thức, qualia, tự do ý chí, khoa học thần kinh và khả năng xuất hiện ý thức nơi trí tuệ nhân tạo đều được giới thiệu một cách dễ hiểu. Tác giả đồng thời kết nối các vấn đề này với tâm lý trị liệu, chánh niệm, CBT và tâm lý học hiện sinh, cho thấy những giả định triết học có thể ảnh hưởng đến cách chúng ta hiểu và chữa lành con người.

    Về phương diện trình bày, ưu điểm nổi bật của cuốn sách là ngôn ngữ tương đối sáng rõ, cấu trúc có hệ thống và khả năng chuyển những vấn đề khó thành những câu hỏi gần gũi. Phần bảng thuật ngữ ở cuối sách là một bổ sung hữu ích, giúp người đọc tra cứu các khái niệm thuộc siêu hình học, hiện sinh, Phật học, đạo đức và tâm lý học. Danh mục tài liệu tham khảo cũng mở ra hướng đọc sâu hơn cho những ai muốn tiếp tục nghiên cứu.

    Do phạm vi bao quát nhiều truyền thống và ngành học, một số học thuyết trong sách được trình bày ở mức khái quát hơn là chuyên khảo. Tuy nhiên, đây cũng chính là lựa chọn phù hợp với mục tiêu nhập môn của tác phẩm: cung cấp một bản đồ tư tưởng, khơi dậy óc tò mò và tạo nền tảng để người đọc tự mình khám phá sâu hơn.

    Triết học siêu hình với tư tưởng xã hội và việc xây dựng quốc gia. Triết học siêu hình (nghiên cứu những vấn đề vượt ra ngoài vật lý học, bản chất tối hậu của thực tại) có mối liên hệ mật thiết và là nền tảng sâu xa hình thành nên cấu trúc xã hội. Kết nối tư tưởng xã hội: Các quan niệm siêu hình về con người (con người là bản tính thiện hay ác, con người có quyền tự nhiên hay không) trực tiếp định hình các khế ước xã hội, luật pháp và hệ tư tưởng chính trị.

    Cổ xúy xây dựng và điều hành quốc gia: Xuyên suốt lịch sử, siêu hình học đã cung cấp hệ thống lý luận để củng cố hoặc lật đổ các chế độ. Ở phương Tây, tư tưởng siêu hình về trật tự tự nhiên của Plato (Vua triết gia) hay các lý thuyết về Quyền tự nhiên của Khai sáng đã định hình các nhà nước cộng hòa hiện đại. Ở phương Đông, các học thuyết siêu hình về Thiên mệnh, Đạo pháp hay Âm dương ngũ hành được áp dụng trực tiếp vào nghệ thuật trị quốc, thiết lập kỷ cương xã hội và điều hành vương quốc.

    Triết học hiện sinh là triết học lý tưởng về bản ngã. Nền tảng của triết học hiện sinh khi mà con người sống trong hai thế giới: một con người của thế giới đời thực và một thế giới thứ hai siêu hình. Trong đời thực, con người phải làm việc, sản xuất, chiến đấu, mưu sinh, vui buồn, và sinh sản. Trong siêu hình, con người cô đơn đối diện với vũ trụ, với bản mệnh, sự bất toàn vận mệnh của mình cũng như sự sống ngắn hạn của mình. Nếu chỉ sống trong thế giới đời thực, con người và là một robot thông minh của tương lai không có nhiều điểm khác nhau. Con người được là con người khi còn có những cảm thức bâng khuâng về bản thể, bắn khoăn về thân phận, suy niệm về cái chết và tồn tại của mình. Ngay cả sau khi mất đi, những suy tư ấy vẫn còn, lưu lại trong các dấu vết họ để lại trong cuộc sống.

    Với cặp phạm trù “nhân sinh quan” và “vũ trụ quan”, nếu ta đặt sự ưu tiên nhìn nhận vào “nhân sinh quan” lên trước “vũ trụ quan”, câu chuyện của tồn tại người sẽ chỉ liên quan đến cá nhân người đó với những toan tính, lo lắng của đời thường và của thời đại nơi họ đang sống. Số phận lên trước thân phận. Không – thời gian thu hẹp trong khoảng hiện hữu của họ trên đời. Hiện hữu không phải là tồn tại, mà chỉ là một đặc tính của tồn tại. Khi xem xét con người với chỉ tư cách một cá thể trong bầy đàn, một mã số trong cuốn sổ, một vị trí trên một hàng thẳng chờ gọi đến lượt, con người không thực sự hiện tồn. Con người lúc ấy chỉ là một công cụ, cho người khác và cho chính mình, có thể thay thế bởi công cụ khác.

    Giá trị quan trọng nhất của Tìm Hiểu Triết Siêu Hình Học nằm ở lời mời gọi tự vấn. Cuốn sách không áp đặt một câu trả lời duy nhất, cũng không hứa hẹn đem lại sự chắc chắn tuyệt đối. Trái lại, tác phẩm giúp độc giả nhận diện và xem xét lại những điều lâu nay vẫn được coi là hiển nhiên. Qua đó, con người có thể hiểu rõ hơn nền tảng của niềm tin, sự lựa chọn và trách nhiệm của chính mình.

    GIỚI THIỆU VÀ NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM CỦA KHÁNH LAN

    Xuyên suốt các trang sách, tôi cho rằng tác giả Khánh Lan đã đứng ở vị trí của một nhà nghiên cứu hàn lâm, đối thoại với người đọc bằng lăng kính của một người quan sát xã hội sắc sảo. Sách giúp người đọc nhận ra rằng: Triết học hiện sinh không nằm ở các tháp ngà hàn lâm, mà nằm ngay trong từng lựa chọn hằng ngày của mỗi chúng ta.

    Điểm son trong ngòi bút của Khánh Lan là cách tác giả làm nổi bật khái niệm tự do. Trong triết học hiện sinh, tự do không phải là một đặc ân, mà là một thứ “gánh nặng” buộc con người phải tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về hành động và đường lối mà mình đã chọn.

    Thông qua tuyển tập này, tác giả khéo léo dẫn dắt độc giả vượt qua trạng thái “đại chúng hóa” – nơi con người dễ dàng ẩn mình, sống theo số đông để trốn tránh trách nhiệm cá nhân. Cuốn sách là một tiếng chuông thức tỉnh, kêu gọi mỗi cá nhân hãy dám dấn thân, dám đối diện với nỗi cô đơn hiện sinh để tự định nghĩa bản mệnh của chính mình.

    Cũng có người cho rằng chủ đề về triết học khô khan, khó hiểu, và trừu tượng. Tuy nhiên, “Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh” đã giải quyết bài toán này một cách tinh tế. Lập luận của tác giả chặt chẽ, ngôn từ mạch lạc, giàu tính biểu cảm nhưng vẫn giữ được sự chuẩn mực khoa học.

    Đặc biệt, trong thời đại mà các hội chứng tâm lý, sự định hướng ở giới trẻ không rõ ràng, mơ hồ, mông lung đang gia tăng, việc đọc những trang viết của Khánh Lan mang lại một liệu pháp tinh thần sâu sắc. Sách trao cho người đọc công cụ tư duy để tự vấn: “Tôi là ai?”, “Tôi đang sống vì điều gì?” và “Làm thế nào để sống một cuộc đời đích thực (authentic life)?”.

    Triết học hiện sinh là triết dạy ta suy nghĩ về thân phận làm người. Văn của triết học hiện sinh là văn mô tả – đôi khi tả chân quá – nhưng chủ ý thức tỉnh con người trỗi dậy, bỏ đi cách sống của sự vật để khai mở một đời sống nhân vị, nhân vị cao cả của con người tự do. Triết học hiện sinh là triết học nổi bật nhất của thế kỷ XX, đã đưa con người trở lại với con người, đã gợi hứng cho nhiều thanh niên biết suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời, đừng “sống thừa ra”, sống không lý tưởng, sống như cây cỏ, sống vô thường, ta bỏ quên bản ngã.

    Cho rằng chủ nghĩa hiện sinh đề chủ nghĩa cá nhân, nhưng theo một nghĩa triết học (không phải sự ích kỷ cá nhân). Các nhà hiện sinh như Jean-Paul Sartre, Albert Camus hay Søren Kierkegaard khẳng định rằng “sự tồn tại đi trước bản chất”. Con người sinh ra trước, không có một khuôn mẫu sẵn có nào định đoạt, tự do lựa chọn hành động và do đó phải chịu trách nhiệm tuyệt đối về chính mình. Cá nhân là trung tâm của kinh nghiệm, của sự chọn lựa giữa lo âu, phi lý và ý nghĩa tự tạo.

    Triết học hiện sinh không dạy chúng ta cách trốn chạy khỏi thực tại, mà dạy chúng ta cách đứng vững trước nghịch cảnh bằng lòng dũng cảm và ý thức tự chủ. Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh là một món quà tri thức dành cho những ai yêu mến triết học, là người bạn đồng hành cho bất cứ ai đang trên hành trình tìm kiếm bản ngã.

    Trong đời sống tinh thần của con người hiện đại, bên cạnh những nhịp sống hối hả và thực tế, con người luôn khao khát đi tìm ý nghĩa của sự tồn tại, bản chất của vũ trụ và điều vô hình chi phối vạn vật. Đó chính là lãnh địa của siêu hình học – nơi tư duy vượt qua giới hạn của thực nghiệm để chạm đến những câu hỏi nền tảng nhất của nhân loại. Siêu hình học từ lâu đã được xem là một trong những nhánh hóc búa và uyên thâm nhất của triết học phương Tây lẫn tư tưởng nhân loại. Tiếp cận đề tài này đòi hỏi không chỉ một nền tảng kiến thức vững chắc, tư duy logic sắc bén, mà còn cần một tấm lòng chiêm nghiệm sâu sắc trước cuộc đời.

    Với “Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình”, tác giả Khánh Lan đã khéo léo mở ra một cánh cửa giúp độc giả tiếp cận những khái niệm trừu tượng và với một lăng kính gần gũi, nhưng vẫn giữ nguyên vẹn sự trang nghiêm và chiều sâu triết lý. Tác phẩm không đơn thuần là sự tổng hợp các học thuyết hàn lâm, mà còn là kết quả của một quá trình trăn trở, suy ngẫm nội tâm và chắt lọc tri thức bền bỉ của tác giả.

    Những Điểm Nổi Bật Trong Tuyển Tập là Tính Hệ Thống và Khoa Học Trong Tư Duy: Tác phẩm dẫn dắt người đọc đi qua từng tầng bậc của nhận thức, từ những vấn đề căn bản về bản thể luận (ontology), bản chất của thực tại, cho đến mối quan hệ giữa con người, vũ trụ và các giá trị tinh thần siêu việt. Mỗi chương sách là một nấc thang tư duy, khuyến khích độc giả không ngừng đặt câu hỏi và tự vẫn đáp chính mình.

    Sự Hòa Quyện Giữa Lý Trí và Kinh Nghiệm Sống: Điểm đáng quý nhất ở ngòi bút Khánh Lan chính là việc biến những phạm trù triết học khô khan thành những trăn trở rất đỗi nhân văn. Triết học siêu hình qua góc nhìn của tác giả không nằm trên tháp ngà lý thuyết, mà gắn liền với hành trình tự vẫn về nhân sinh quan, ý nghĩa sống và giá trị chân – thiện – mỹ của mỗi cá nhân trong thế giới biến động.

    Ngôn Ngữ Sâu Lắng và Mạch Lạc: Tác giả đã thành công trong việc sử dụng ngôn từ tiếng Việt uyển chuyển, chính xác để truyền tải những khái niệm phức tạp vốn thường chỉ quen thuộc trong các thuật ngữ triết học. Nhờ đó, cuốn sách mở rộng được biên độ tiếp cận, phù hợp cho cả những nhà nghiên cứu lẫn những độc giả lần đầu bước chân vào thế giới của siêu hình học.

    TÓM LẠI:

    Tác phẩm Siêu Hình Học và Triết Học Hiện Sinh cùa tác giả Khánh Lan được biên soạn công phu và đúc kết từ quá trình nghiên cứu, tuyển tập là một bức tranh toàn cảnh nhưng cũng rất có chiều sâu về phong trào triết học hiện sinh. Hệ thống hóa các tư tưởng lớn bởi tác phẩm không đơn thuần là sự liệt kê khô khan các khái niệm, mà đi sâu, mổ xẻ những tư tưởng cốt lõi của các triết gia tiêu biểu định hình dòng chảy hiện sinh chủ nghĩa (như Kierkegaard, Sartre, Camus, Heidegger, v.v.). Về quan điểm nhân sinh quan, tác phẩm tập trung vào những phạm trù then chốt như: Sự tồn tại đi trước bản chất, Tự do và Trách nhiệm, Nỗi âu lo (Angst), Sự phi lý (The Absurd), và Cái chết.

    Trong một thế giới ngập tràn thông tin, việc để đọc, suy ngẫm và đối thoại với những tư tưởng siêu hình là một đặc ân và cũng là một nhu cầu tự vệ cho tâm hồn. “Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình” ra mắt như một lời nhắc nhở rằng con người không chỉ sống bằng vật chất hay nhịp sống thực tế, mà còn được nuôi dưỡng bởi chiều sâu tư tưởng và những kinh nghiệm đã đi qua trong cuộc sống.

    Xét về giá trị cốt lõi của triết siêu hình, ý tưởng siêu hình học, nhìn qua như là chân lý của hiện vật như những tư duy, tư tưởng của hữu thể tồn tại qua thời gian, cái nhìn khác từ sách của Khánh Lan, qua lăng kính hiện sinh, vốn là một trạng thái tâm lý sâu sắc, nơi cá nhân đối diện trực tiếp với những tư duy tự hỏi nền tảng về sự tồn tại. Hiện tượng này phát sinh ra khi người ta băn khoăn về ý nghĩa, mục đích sống, và vị trí của mình trong xã hội hay trong vũ trụ quan tạm bợ, vô thường.

    Đây là một tác phẩm thích hợp cho độc giả mới bước vào thế giới triết học, cũng như những người quan tâm đến văn học, Phật học, tâm lý học, đạo đức và các vấn đề về ý nghĩa cuộc sống. Siêu hình học, là nghiên cứu về thực tại, là hành trình con người tìm hiểu chính mình trong thực tại ấy.

    Chúc mừng Khánh Lan ra tác phẩm và chúc luôn thành công trong lãnh vực văn học.

    Trần Việt Hải, hội viên sáng lập và điều hành,

    Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa, và

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

  • Lê Nguyễn Nga

    TƯỞNG NHỚ NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ MẮT NÂU

    Hình  NV Mặt Nâu và Lê Nguyễn Nga tại Đại TV IBC 57.8 Westminster – 2013.

    Nv M. Nâu -giữa- qua phải -nữ sĩ Dương Hồng Anh, CT. DD Phương – Năng Khiếu, Lê Ng. Nga.Tham dự Tang Lê PCT  Ngô Thy Vân.  Tháng 2-2026. Tại OC.

    Nhà văn Mắt Nâu và tôi trước đây thỉnh thoảng được gặp nhau. Nhưng, vào đầu năm 2012, trong những dịp cùng đứng trên sân khấu Tình Nghệ Sĩ, chúng tôi được dịp gần gũi, thân nhau hơn.

    Vâng, chúng tôi cũng là “ca sĩ” trong Ban Hợp Ca TNS vào những ngày đầu tiên của năm 2012 ấy.

    Và tình cảm văn nghệ đã đem chúng tôi đến gần nhau hơn.

    Đúng là duyên hạnh ngộ.

    Vào đầu năm 2013, tôi có chương trình trên Đài Truyền hình IBC 57.8, mang tên Tình Quê Hương với Gina Nga Nguyễn.

    Cái duyên văn nghệ giữa tôi và Mắt Nâu bắt đầu rất bình thường, nhưng quả thật đó là một cái duyên đã gắn bó chúng tôi trong suốt nhiều năm.

    Tôi nhớ lần đầu tôi mời Mắt Nâu lên chương trình để nói về tác phẩm của chị,  quyển sách Mắt Nâu xuất bản trước năm 2013, mang tựa đề “Giọt Lệ Từ Bi.”

    Đọc tựa sách, có lẽ ai cũng nghĩ rằng tác giả viết thiên về Phật giáo.

    Tháng 3-2013, tôi phỏng vấn Mắt Nâu về xuất xứ của quyển sách, mặc dù trước đó tôi đã có dịp đọc qua tác phẩm này.

    Quyển sách kể về câu chuyện của một chiếc thuyền vượt biên đi tìm tự do nhưng bị hải tặc cướp. Tác giả lột trần những đau khổ, kinh hoàng và tang thương mà những phụ nữ trẻ phải gánh chịu khi bị làm nhục trong hành trình vượt biển.

    Chủ trương và mục đích của tác giả là, trước những cảnh đời đau thương ấy, mong người đọc hãy mở rộng tấm lòng Từ Bi.

    Vâng, chúng tôi cũng là “ca sĩ” trong Ban Hợp Ca TNS vào những ngày đầu năm 2012.

    Và tình cảm văn nghệ đã giúp chúng tôi đến gần nhau hơn.

    Đúng là duyên hạnh ngộ.

    Vào đầu năm 2013, tôi có chương trình trên Đài Truyền hình IBC 57.8, mang tên Tình Quê Hương với Gina Nga Nguyễn.

    Cái duyên văn nghệ giữa tôi và Mắt Nâu bắt đầu rất bình thường, nhưng quả thật đó là một cái duyên đã gắn bó chúng tôi trong suốt nhiều năm.

    Tôi nhớ lần đầu tôi mời Mắt Nâu lên chương trình để nói về tác phẩm của chị,  quyển sách Mắt Nâu xuất bản trước năm 2013, mang tựa đề “Giọt Lệ Từ Bi.”

    Đọc tựa sách, có lẽ ai cũng nghĩ rằng tác giả viết thiên về Phật giáo.

    Tháng 3-2013, tôi phỏng vấn Mắt Nâu về xuất xứ của quyển sách, mặc dù trước đó tôi đã có dịp đọc qua tác phẩm này.

    Quyển sách kể về câu chuyện của một chiếc thuyền vượt biên đi tìm tự do nhưng đã bị hải tặc cướp. Tác giả lột trần những đau khổ, kinh hoàng và tang thương

    mà những phụ nữ trẻ phải gánh chịu khi bị làm nhục trên hành trình vượt biển.

    Chủ trương và mục đích của tác giả là, trước những cảnh đời đau thương ấy, mong người đọc hãy mở rộng tấm lòng Từ Bi.

    Vâng, tác giả Mắt nâu là một Phật tử thuần thành. Phật tử Mắt Nâu thường xuyên lui tới làm công quả tại Thiền Viện Sùng Nghiêm, tại Orange County, California.

    Nv Mặt Nâu gần như thường trực đến tụng niệm và sinh hoạt với các Phật Sự. MN với vai trò MC trong nhiều video từ Thiện Viện Sùng Nghiêm.

    Vào khoảng ngày 20-3-2026, chúng tôi được tin Nv. Mắt Nâu qua đời, sau đó được một vị Sư Bà xác nhận.

    Ngày hôm sau đó, tại chùa Sùng Nghiêm đã có bàn thờ cho Phật tử Mắt Nâu trong Chánh Điện, dưới chân đài sen của Đức Phật.

    Cũng theo tin của Thiền Viện Sùng Nghiêm , nhà văn Mắt Nâu qua đời trong một chuyến đi ra nước ngoài cùng một nhóm bạn, trong đó có vài Phật tử.

    Tôi nghĩ rằng cái duyên của Mắt Nâu với chùa Sùng Nghiêm đã đưa chị về với cửa Phật trong phút cuối an lành. 

    Tôi đã nhiều lần mời Mắt Nâu lên truyền hình trong vai trò đảm thoại. Chúng tôi cùng thực hiện nhiều chương trình trong Tình Quê Hương với Gina Nga Nguyễn  trên Đài IBC 57.8.

    Từ đầu năm 2013, Mắt Nâu và tôi đã thực hiện nhiều chương trình. Trong số đó, tôi nhớ mãi những chương trình nói về Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiên, anh đã phổ nhạc hai tác phẩm như:

    – Đoạn Trường Tân Thanh – “Kim Vân Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du

    – Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn và nữ sĩ Đoàn Thị Điểm

    Trong hai chương trình này có sự cộng tác của Tiến sĩ Kim Long.

    Tôi thực sự có duyên với Mắt Nâu trong tình văn nghệ. Chính Mắt Nâu đã trực tiếp khuyến khích tôi tham gia VBVNHN Vùng Tây Nam Hoa Kỳ, vào đầu năm 2014.

    NV Mất Nâu thương tham dự trong những sinh hoạt với nhóm 

    Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian trong niềm vui với tình 

    bằng hữu và tình yêu văn thi 

    và ca nhạc.

    Gần đây, vào tháng 5 năm 2024, nhân dịp quyển sách tôi xuất bản mang tên “Niềm Tin và Thương Yêu”, Mắt Nâu đã dành hơn một trang để viết về tôi.

    Trong chương trình ra mắt sách của tôi, tại ViệtLife TV, nhà văn 

    Mắt Nâu cũng là một trong ba diễn giả nổi tiếng.

    Tình cảm giữa chúng tôi đã có từ lâu. Chính nhà văn Mắt Nâu đã luôn khuyến khích tôi tiếp tục cầm bút, tiếp tục viết. 

    NV Nguyễn thị Mắt Nâu là Cựu Chủ tịch VBVNHN Vùng Tây Nam Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 2014–2016.

    Đời sống của Nv M. Nâu trên đất Mỹ là sinh hoạt truyền thông . Rất ít thấy được một nhà văn có thể sống bằng ngòi bút và công việc truyền thông trong nhiều năm qua.

    Bài tôi viết tuy ngắn, nhưng tình cảm dành cho Mắt Nâu thì nhiều không kể xiết, và sẽ còn mãi trong tôi. 

    Xin được nhắc thêm.

    Cuối tháng 2-2026, Cựu Chủ tịch Mắt Nâu,  nữ sĩ Dương Hồng Anh, Nv Việt Hải – Lê Hoa  , Thuy Lan , Nv Huy Anh cùng CT đương nhiệm Đình Duy Phương và Ban Chấp Hành  VBVNHN TN đã đến viếng đám tang của đương nhiệm Phó Chủ Tịch Ngô Thy Vân.  PCT  Ngô Thy Vân là một VTS khả ái, rất dễ  mến và có những bài thơ tình cảm rào rạt đã được phổ nhạc. 

    Rồi chỉ một tháng sau, vào tháng 3-2026, Cựu Chủ tịch VBVNHN Vùng Tây Nam Hoa Kỳ, nhà văn Nguyễn thị Mắt Nâu, cũng qua đời.

    Cuộc đời thật vô thường!

    Hôm nay, viết lại những dòng kỷ niệm này, tôi vẫn nhớ đến cái duyên văn nghệ đã đưa chúng tôi gặp nhau từ những ngày đầu năm 2012. Từ sân khấu Tình Nghệ Sĩ, những chương trình truyền hình, những sinh hoạt văn học nghệ thuật, cho đến những lời khuyến khích nhau tiếp tục cầm bút. Tất cả đã trở thành những kỷ niệm quý giá.

    Người đã ra đi, nhưng tình văn nghệ và những kỷ niệm đẹp vẫn còn ở lại.

    Xin thành tâm cầu nguyện cho Nhà văn Nguyễn Thị Mắt Nâu sớm được an vui nơi miền An Lành Cực Lạc.

    Lê Nguyễn Nga

    California, tháng 8-2026

  • HUY ANH,  Khánh Lan,  MINH ĐỨC,  RA MẮT SÁCH,  TALK SHOW

    GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các Anh Chi Em vào xem talk show giới thiệu ngày ra mắt sách của Nữ sĩ Dương Hồng Anh và Khánh Lan trêm đài VNA TV 57.3. Đồng thời giới thiệu đến các bạn trẻ yêu văn, thi, nhạc Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa do hai thi sĩ Minh Đức và Huy Anh đảm trách.

    Khánh Lan, Minh Đức, Huy Anh kính mời

    TALK SHOW-PHẦN I:

    TALK SHOW-PHẦN II:

  • Âm nhạc,  Hà Phương,  HUY ANH

    BAO GIỜ TRỞ LẠI HÀ THÀNH

    Thơ: Hà Phương

    Tình riêng gửi chị kính yêu ơi!
    Quê cũ mờ xa một khoảng trời
    Năm cửa Ô xưa vào thành nội
    Thời gian thắm đậm những hương đời

    Mấy vần thơ, tặng chị thương ơi
    Em chị cùng ca ngợi đất trời
    Xướng họa đôi vần thơ lạc xứ
    Chạnh lòng thơ bỗng tiếng lòng rơi

    Hồ Tây êm ả cảnh chiều tà
    Thê Húc hội hè nay đã xa
    Kỷ niệm êm đềm ngày tháng cũ
    Của thời thơ ấu đã vui qua… 

    Ươm hồng tuổi ngọc, xanh thơ mộng
    Giọt nắng vàng thu đẹp một trời
    Mưa bụi chân vui mòn nẻo phố
    Hương thầm len lén tuổi đôi mươi

    Ngọc Sơn đền miếu linh Thần thánh
    Sương phủ hồ Gươm buổi sớm mai
    Nhớ cảnh di cư đường vắng vẻ*
    Ngày về biết có được thái lai

    Kim Quy là sự tích thần Rùa
    Rẽ nước hồ Gươm báu kiếm đưa
    Lê Lợi lẫy lừng trang sử Việt
    Lưu truyền con cháu chuyện đời xưa. 

    Thăng Long thành cổ còn ghi dấu
    Hà Nội thu về trải mộng mơ
    Mặc khách tao nhân cùng thưởng ngoạn
    Tao đàn ngân khúc ý tình thơ 

    Chị ơi! Nào biết có khi về
    Thân hạc hao gầy nặng bước đi
    Đất khách muối lòng vời cố quốc
    Yếu giòng thi phú chẳng còn chi…

    *Di cư 1954.
    *Chia đôi đất nước Di cư vào Nam 

     VTS Huy Anh phổ nhạc


    NGÀY ẤY nhạc AI không lời (nhân dịp ra mắt sách của thi sĩ Hà Phương)

  • VĂN HỌC,  Việt Hải

    Ánh Sáng Văn Chương

    Trần Việt Hải

    Ánh sáng trường tồn cùng thời gian.

    Dựa vào những tác phẩm đề cập đến cuộc đời của bảy nhà văn hóa lừng danh như sau:

    Những tác phẩm đề cập đến cuộc đời của bảy nhân vật lừng danh:

    1/ Johann Wolfgang von Goethe, Goethe’s Faust

    2/ Mark Twain, The Adventures of Tom Sawyer

    3/ Victor Hugo, Les Miserables

    4/ William Shakespeare, Romeo & Juliette

    5/ Alexander Sergeyevich Pushkin, The Captain’s Daughter

    6/ Leo Tolstoy, War and Peace

    7/ Nguyễn Du, (Truyện Kiều)

    Khai triển chủ đề trong tác phẩm Ánh sáng cờn lại vói thời gian

    Johann Wolfgang von Goethe (Faust): Hiện thân cho khát vọng tri thức không ngừng nghỉ, sự nỗ lực vươn lên của con người và hành trình bất tận đi tìm ý nghĩa của sự tồn tại.

    Mark Twain (Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer): Sử dụng sự hóm hỉnh sắc bén và khiếu hài hước như một biểu hiện của trí tuệ và lòng thấu cảm để thách thức thói đạo đức giả của xã hội và tôn vinh phẩm giá của những con người bình dị.

    Victor Hugo (Những người khốn khổ): Khẳng định rằng ngay cả trong bóng tối sâu thẳm nhất, lòng trắc ẩn và tình yêu thương vẫn có thể cứu rỗi nhân loại và khôi phục phẩm giá cho những người bị gạt ra bên lề xã hội.

    William Shakespeare (Romeo và Juliet / Các vở bi kịch lớn): Khám phá trọn vẹn các cung bậc của tâm hồn con người—cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối, giữa tham vọng và tuyệt vọng—mà không đưa ra những phán xét đạo đức đơn giản.

    Alexander Pushkin (Con gái viên đại úy / Thi ca): Tựa như mặt trời của thi ca Nga, ông tôn vinh tự do, công lý và sức mạnh bền bỉ của tinh thần con người.

    Leo Tolstoy (Chiến tranh và Hòa bình): Đóng vai trò là tiếng nói của lương tri, thôi thúc độc giả suy ngẫm về trách nhiệm đạo đức, chân lý và sự chuyển hóa nội tâm.

    Nguyễn Du (Truyện Kiều): Lấy “chữ Tâm” làm trọng tâm cho mọi sáng tạo, biến niềm cảm thông sâu sắc trước nỗi đau khổ thành nghệ thuật bất hủ.

    ÁNH SÁNG VĂN CHƯƠNG

    Ánh sáng trường tồn cùng thời gian, thi đây là một tác phẩm biên khảo, khảo cứu văn học cấp cao. Ánh Sáng Văn Chương cho thấy sự rực rỡ của những tượng đài văn học này không chỉ nằm ở di sản cuộc đời hay kỹ năng bậc thầy, mà còn ở chính sự mong manh, dễ tổn thương của họ. Họ không hiện lên như những bức tượng xa cách, bất khả xâm phạm; trái lại, họ xuất hiện như những con người bằng xương bằng thịt—biết yêu thương, tuyệt vọng, đau khổ và trăn trở với vận mệnh của đồng loại. Goethe theo đuổi chân lý tuyệt đối; Mark Twain vạch trần bất công bằng nụ cười; Hugo bênh vực những mảnh đời bất hạnh; Shakespeare phác họa những ngõ ngách đầy mâu thuẫn trong trái tim con người; Tolstoy đòi hỏi sự tự vấn nghiêm khắc; Pushkin cất tiếng hát vì tự do; …và Nguyễn Du đã đặt nền tảng cho sự bất tử trong nghệ thuật hoàn toàn vào sự trong sáng của tấm lòng từ bi (chữ Tâm).

    Suy cho cùng, tuyển tập này vượt xa khuôn khổ của một tập hợp tư liệu lịch sử đơn thuần. Giữa thời đại hối hả bị chi phối bởi công nghệ và sự kết nối tức thì—nơi thông tin thì tràn ngập nhưng sự thấu cảm chân thành lại khan hiếm—những kiệt tác văn học này dạy ta nghệ thuật sống chậm lại mà ta đã vô tình đánh mất. Chúng mời gọi ta dừng bước, lắng nghe tiếng lòng ai oán, nhận ra hình ảnh con người đằng sau những nỗi gian truân, và đánh thức lương tri đang ngủ yên trong mỗi chúng ta. Những thời đại sản sinh ra các tác phẩm này đã lùi xa vào dĩ vãng, nhưng những vấn đề cốt lõi về tình yêu, tự do, nỗi đau, phẩm giá và lòng trắc ẩn vẫn còn đó, vẹn nguyên giá trị.

    “Ánh Sáng Văn Chương” đóng vai trò như nhịp cầu thiết yếu kết nối di sản nghệ thuật huy hoàng của quá khứ với thế giới nội tâm của độc giả hiện đại, đồng thời gắn kết Đông và Tây thông qua một ngôn ngữ chung đầy sức lay động. Ngay cả khi trang sách đã khép lại từ lâu, chiến thắng đích thực của những tác giả vĩ đại ấy vẫn còn mãi: đó là niềm tin thầm lặng nhưng kiên định rằng cái đẹp, chân lý và lòng nhân ái vẫn luôn sở hữu sức mạnh để cứu rỗi thế giới này.

    TÓM LƯỢC TỔNG QUAN CHỦ ĐỀ: ÁNH SÁNG CÒN LẠI VỚI THỜI GIAN

    Đóng lại những trang cuối của Ánh Sáng Văn Chương, người đọc có cảm tưởng mình vừa đi qua một hành trình dài trong thế giới tinh thần của nhân loại. Đó là hành trình từ nước Đức của Johann Wolfgang von Goethe đến dòng Mississippi của Mark Twain; từ nước Pháp đầy biến động của Victor Hugo đến sân khấu nước Anh thời William Shakespeare; từ nước Nga mênh mông của Lev Tolstoy và Alexandr Sergeevich Pushkin, rồi trở về với tiếng thơ Nguyễn Du – tiếng nói sâu thẳm của tâm hồn và văn hóa Việt Nam.

    Bảy tên tuổi, bảy cuộc đời, bảy thế giới nghệ thuật khác nhau, nhưng cùng gặp nhau ở một điểm: họ đã dùng văn chương để soi sáng con người. Nhan đề Ánh Sáng Văn Chương vì thế không chỉ mang ý nghĩa tượng trưng. Ánh sáng ấy hiện diện trên từng chặng đường của cuốn sách. Đó là ánh sáng của tri thức trong Goethe, ánh sáng của tự do trong Mark Twain, ánh sáng của lòng nhân ái trong Victor Hugo, ánh sáng của sự thấu hiểu bản tính con người trong Shakespeare, ánh sáng của lương tri trong Tolstoy, ánh sáng của thi ca và khát vọng giải phóng trong Pushkin, cùng ánh sáng của chữ Tâm trong Nguyễn Du.

    Mỗi đại văn hào được giới thiệu trong tác phẩm không chỉ bằng tiểu sử, sự nghiệp hay những kiệt tác đã làm nên tên tuổi. Người biên khảo còn cố gắng đi sâu vào thế giới nội tâm của họ, tìm hiểu những trải nghiệm, những đau khổ, những khát vọng và những câu hỏi lớn đã thôi thúc họ cầm bút. Nhờ đó, các bậc thiên tài không hiện lên như những pho tượng xa cách trên đài cao, mà trở thành những con người gần gũi: từng yêu thương, từng thất vọng, từng cô đơn, từng đối diện với nghịch cảnh và từng khắc khoải trước số phận của đồng loại.

    Goethe bước vào cuốn sách như một biểu tượng của tinh thần khám phá không ngừng. Ở ông, văn chương, triết học, khoa học và nghệ thuật không tách rời nhau, mà cùng hướng đến khát vọng nhận thức thế giới và hoàn thiện con người. Faust không chỉ là hành trình của một cá nhân đi tìm tri thức và hạnh phúc; đó còn là hình ảnh của nhân loại trong cuộc kiếm tìm không bao giờ chấm dứt về ý nghĩa của sự sống.

    Mark Twain lại mang đến tiếng cười hóm hỉnh, phóng khoáng của một nước Mỹ đang trưởng thành. Nhưng phía sau tiếng cười ấy là đôi mắt tỉnh táo trước bất công, giả dối và thành kiến. Ông đưa những đứa trẻ, những người nghèo khổ và những con người bình thường vào văn học bằng tất cả sự trân trọng. Dưới ngòi bút của Mark Twain, tiếng cười không chỉ để mua vui; nó trở thành một hình thức của trí tuệ và lòng nhân hậu.

    Với Victor Hugo, văn chương là nơi con người bị tổn thương được trả lại phẩm giá. Những nhân vật như Jean Valjean, Fantine, Cosette, Quasimodo hay Esmeralda đã bước ra khỏi giới hạn của tiểu thuyết để trở thành biểu tượng cho những thân phận bị xã hội ruồng bỏ. Qua Nhà thờ Đức Bà Paris và Những người khốn khổ, Victor Hugo khẳng định rằng ngay cả trong bóng tối sâu nhất, tình thương vẫn có thể cứu chuộc con người. Quyền lực có thể dựng nên những lâu đài, nhưng chỉ lòng nhân ái mới xây dựng được một thế giới xứng đáng cho con người sinh sống.

    Shakespeare mở ra một sân khấu rộng lớn, nơi mọi trạng thái của tâm hồn đều được phơi bày: tình yêu và thù hận, trung thành và phản bội, khát vọng và tuyệt vọng, cao thượng và thấp hèn. Hamlet, Macbeth, King Lear, Romeo và Juliet vẫn sống mãi vì đó không chỉ là những nhân vật của một thời đại. Trong họ có những mâu thuẫn, những yếu đuối và những câu hỏi mà con người ở bất kỳ thế kỷ nào cũng có thể nhận ra nơi chính mình. Shakespeare không phán xét con người một cách đơn giản; ông giúp chúng ta hiểu rằng trong mỗi tâm hồn luôn tồn tại những vùng sáng và tối đan xen nhau.

    Lev Tolstoy đem đến một tiếng nói khác – tiếng nói của lương tri. Từ Chiến tranh và Hòa bình, Anna Karenina đến Phục sinh, ông luôn đặt con người trước những câu hỏi nghiêm khắc về tình yêu, trách nhiệm, đức tin, công lý và ý nghĩa của cuộc đời. Tolstoy không chỉ là một tiểu thuyết gia vĩ đại. Ông còn là người suốt đời đi tìm chân lý và tự đặt mình trước sự phán xét của lương tâm. Văn chương của ông nhắc chúng ta rằng muốn thay đổi thế giới, trước hết con người phải biết nhìn lại và thay đổi chính mình.

    Pushkin xuất hiện như mặt trời của thi ca Nga, người đã làm cho tiếng nói của dân tộc mình trở thành một ngôn ngữ nghệ thuật rực rỡ. Thơ ông chứa đựng tình yêu, nỗi cô đơn, vẻ đẹp thiên nhiên, tinh thần tự do và khát vọng công lý. Cuộc đời Pushkin tuy ngắn ngủi, nhưng ánh sáng mà ông để lại đã mở đường cho cả một nền văn học lớn, nơi những tên tuổi như Gogol, Dostoevsky, Tolstoy và Chekhov tiếp tục làm phong phú di sản tinh thần của nhân loại. Sau hành trình qua những đỉnh cao của văn chương thế giới, cuốn sách trở về với Nguyễn Du. Sự trở về ấy tạo nên một điểm kết vừa tự nhiên, vừa xúc động. Bởi bên cạnh Goethe, Shakespeare, Victor Hugo, Tolstoy, Pushkin hay Mark Twain, dân tộc Việt Nam cũng có một thiên tài đủ sức đối thoại với những tâm hồn lớn của nhân loại.

    Còn Nguyễn Du đã biến tiếng Việt thành tiếng khóc, tiếng yêu thương và tiếng nói của lương tri. Qua Truyện Kiều, ông không chỉ kể lại cuộc đời lưu lạc của một người con gái tài sắc. Ông cất tiếng thay cho những con người nhỏ bé, những thân phận bị vùi dập và những tâm hồn vẫn cố gìn giữ phẩm giá giữa nghịch cảnh. Nếu Goethe tôn vinh khát vọng vươn tới chân lý, Victor Hugo bảo vệ những người khốn khổ, Tolstoy tìm kiếm sự thức tỉnh của lương tâm, thì Nguyễn Du đặt tất cả vào một chữ giản dị mà cao quý: chữ Tâm.

    “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”

    Hai câu thơ ấy không chỉ là lời kết của Truyện Kiều. Đó còn có thể được xem là sợi chỉ đỏ xuyên suốt Ánh Sáng Văn Chương. Tài năng làm nên những tác phẩm lớn, nhưng chính trái tim nhân ái mới giúp tác phẩm vượt qua giới hạn của thời gian. Một nhà văn có thể được nhớ đến bởi nghệ thuật ngôn từ; nhưng một đại văn hào chỉ thực sự bất tử khi tiếng nói của họ trở thành một phần trong lương tri chung của nhân loại.

    Điều đáng quý của cuốn sách mơi nằy là người soạn những chương biên khảo không dùng loại văn chương như một kho kiến thức thô thiển, hay kém tinh tế, sâu sắc. Những trang viết được dẫn dắt bằng lòng dam mê ngưỡng mộva8n chương cấp cao. Sự suy tư và phân tích dữ kiện có chiều sâu, óc tinh tế và đầy trí tuệ. Tác giả Kiều My tin vào giá trị nhân văn của văn học. Tiểu sử, tác phẩm và tư tưởng của các đại nhân vật trích dẫn được kết nối với những vấn đề chưa bao giờ xưa cũ: con người phải sống như thế nào, phải đối diện ra sao với đau khổ, phải làm gì để không đánh mất phẩm giá và làm thế nào để giữ được lòng nhân ái giữa một thế giới nhiều biến động trong xã hội con người, như Truyện Kiều hay Les Miserables.

    Khi khép lại những trang cuối cùng của Ánh Sáng Văn Chương, độc giả như vừa bước qua một hành trình khám phá thế giới tinh thần bao la của nhân loại. Từ nước Đức của Goethe đến dòng Mississippi của Mark Twain; qua những biến động lịch sử của nước Pháp thời Victor Hugo, những sân khấu tráng lệ của nước Anh thời Shakespeare, những không gian rộng lớn của nước Nga thời Tolstoy và Pushkin, để rồi cuối cùng dừng chân tại tâm hồn thi ca sâu lắng của Nguyễn Du nơi đất Việt, mà hành trình này đã quy tụ bảy bậc thầy lừng danh, xuất chung dưới cùng một ngọn đèn: soi sáng bản chất kiếp người.

    Sự rực rỡ của những tượng đài văn học như tác phẩm di sản cuộc đời hay kỹ năng trươc tác hàn lâm của 7 vị danh nhân, mà còn ở chính sự mong manh, dễ tổn thương của họ. Họ không hiện lên như những bức tượng dài văn học không xa cách, bất khả xâm phạm; nhưng trái lại, những tượng dài xuất hiện như những con người bằng xương bằng thịt, biết yêu thương, tuyệt vọng, đau khổ và trăn trở với vận mệnh của đồng loại. Goethe theo đuổi chân lý tuyệt đối; Mark Twain vạch trần bất công bằng nụ cười; Hugo bênh vực những mảnh đời bất hạnh; Shakespeare phác họa ra những ngõ ngách đầy mâu thuẫn trong trái tim con người; Tolstoy đòi hỏi sự tự vấn nghiêm khắc; Pushkin cất tiếng hát qua thi ca tự do; …và sau hết, Nguyễn Du đã đặt nền tảng cho sự bất tử trong nghệ thuật hoàn toàn vào sự trong sáng của tấm lòng từ bi (qua chữ Tâm). Giữa thời đại hối hả bị chi phối bởi kỹ nghệ máy móc và sự kết nối liên mạng kỹ thuật số nhanh tức thì, mà nguồn thông tin khoa học thì tràn ngập những sự thấu cảm chân thành, hay những trực giác từ tư duy dễ dồng cảm (Empathy) nhưng lại khan hiếm những kiệt tác văn học này dạy ta ý thúc rằng nghệ thuật sống chậm lại mà nhận chân ra cái mỹ học của văn học, không máy móc vì xã hội đã vô tình đánh mất.

    Ánh Sáng Văn Chương chứa dựng những danh tác mang giá trị vĩnh cửu, những thời đại sản sinh ra các tác phẩm này đã lùi xa vào dĩ vãng, nhưng những vấn đề cốt lõi về tình yêu, tự do, nỗi đau, phẩm giá và lòng trắc ẩn vẫn còn đó, vẹn nguyên giá trị. Ánh Sáng Văn Chương đóng vai trò như nhịp cầu thiết yếu kết nối di sản nghệ thuật huy hoàng của quá khứ với thế giới nội tâm của độc giả hiện đại, đồng thời gắn kết Đông và Tây thông qua một ngôn ngữ chung đầy sức lay động. Ngay cả khi trang sách đã khép lại từ lâu, chiến thắng đích thực của những tác giả vĩ đại ấy vẫn còn mãi: đó là niềm tin thầm lặng nhưng kiên định rằng cái đẹp, chân lý và lòng nhân ái vẫn luôn sở hữu sức mạnh để cứu rỗi thế giới này.

    Tóm lại, Ánh Sáng Văn Chương là tác phẩm không những chỉ hướng dẫn người đọc nhìn về quá khứ. Cuốn sách còn mời gọi chúng ta suy ngẫm về hiện tại. Trong một thời đại mà khoa học và công nghệ phát triển từng ngày, con người có thể truyền đi thông tin chỉ trong khoảnh khắc, nhưng chưa chắc đã hiểu nhau sâu sắc hơn. Chúng ta có thể sở hữu nhiều kiến thức hơn, nhưng chưa chắc đã biết cảm thông nhiều hơn. Chính trong hoàn cảnh ấy, văn chương càng trở nên cần thiết.

    VĂN CHƯƠNG DẠY CON NGƯỜI BIẾT DỪNG LẠI

    Dừng lại để lắng nghe một tiếng khóc.Và hãy dừng lại để nhìn thấy một phận người. Dừng lại để nhận ra rằng phía sau mỗi cuộc đời đều có những nỗi niềm không dễ nói thành lời. Những tác phẩm lớn không trao cho chúng ta các câu trả lời có sẵn. Chúng mở ra những câu hỏi, đánh thức lương tâm và giúp mỗi người hung ta tự tìm thấy câu trả lời cho chính mình. Đó là lý do Faust, Hamlet, Những người khốn khổ, Chiến tranh và Hòa bình, những vần thi ca Pushkin, những câu chuyện của Mark Twain và Truyện Kiều vẫn tiếp tục được đọc qua nhiều thế hệ. Thời đại sản sinh ra chúng đã lùi xa, nhưng những vấn đề về tình yêu, tự do, công lý, đau khổ, phẩm giá và lòng nhân ái vẫn còn nguyên vẹn.

    Ánh Sáng Văn Chương vì thế cũng là một cây cầu. Một đầu cầu dẫn về những di sản rực rỡ của quá khứ; đầu kia mở ra thế giới tinh thần của người đọc hôm nay. Trên cây cầu ấy, Đông và Tây gặp gỡ, các thời đại đối thoại và những tâm hồn lớn nhận ra nhau qua một ngôn ngữ chung: tình yêu dành cho con người. Khi khép cuốn sách lại, có thể người đọc không nhớ hết mọi niên đại, mọi sự kiện hay mọi tác phẩm được nhắc đến. Nhưng điều quan trọng hơn có lẽ vẫn còn lưu lại: một niềm kính trọng đối với những người đã hiến dâng đời mình cho văn chương; một sự xúc động trước những thân phận mà họ đã nâng niu; và một niềm tin rằng cái đẹp, sự thật cùng lòng nhân ái vẫn có sức mạnh làm cho thế giới trở nên tốt lành hơn.

    Sách này có thể khép lại, nhưng ánh sáng từ những trang sách thì không.

    Ánh sáng ấy tiếp tục sống trong sự suy tư của người đọc, trong cách chúng ta nhìn người khác và trong những lựa chọn âm thầm của mỗi người trước cuộc đời. Đó là ánh sáng mà Goethe, Mark Twain, Victor Hugo, Shakespeare, Tolstoy, Pushkin và Nguyễn Du đã thắp lên. Đó cũng là ánh sáng mà người biên khảo trân trọng gom nhặt, kết nối và trao lại cho văn học ngày hôm nay. Và chừng nào con người còn biết xúc động trước cái đẹp, nét mỹ học còn biết đau trước nỗi đau của đồng loại, còn khao khát chân lý và còn tin vào lòng từ bi, tâm nhân ái, thì chừng ấy ánh sáng văn chương vẫn không bao giờ tắt.

    Trần Việt Hải, California 2026

  • Âm nhạc,  Phạm Hồng Thái

    VƯƠNG GIẢ ,TƯ TẾ VÀ NGÔN SỨ

    Thơ: Đình Duy Phương

    Cha cho con được mang dòng vương giả 

    Chúa trên trời chúng con gọi Vua Cha

    Cho dù đời ở trong cảnh bôn ba 

    Con vẫn giữ tư cách làm con Chúa . 

    Cha cho con được dự phần tư tế 

    Được thông công trong Thánh Lễ nhiệm mầu 

    Con nuốt thịt miếng Thánh Thể ngọt ngào 

    Và hớp rượu giọt máu đào hằng sống . 

    Môi miệng lưỡi ví cung đàn phím nhạc 

    Tiếng tơ lòng xin trổi nhịp thân thương 

    Tránh cho nhau những đay nghiến đoạn trường 

    Nhả ngọc châu, giữ luân thường đạo lý . 

    Vua Cha ơi, con sống đời hoàng hậu 

    Giữa cuộc đời với ân sủng cao sâu 

    Cùng một lúc bao bi lụy thương đau 

    Vẫn khát khao một tình yêu trần thế .

    Cha đã đến trong Bí Tích Thánh Thể

    Con mơ bước trên ngỏ hẹp đường về 

    Để biết tránh mọi cám dỗ đam mê 

    Trái tim mở rộng tình yêu hiến tế . 

    Đình Duy Phương

  • Tin tức

    Kỷ Niệm Anh Chị Ngọc Cường Ohio

    Trần Việt Hải

    Từ trái sang phải: NV Nguyễn Quang, NV & NB Phạm Quốc Bảo, Anh Trần Mạnh Chi, NV Ngọc Cuồng, Chị Bích Điệp (Phu nhân NV Ngọc Cướng), Khánh Lan, Lệ Hoa, NV Việt Hải, Chị Minh Khai, Mạnh Bổng, NS Lê Văn Khoa, CS Ngọc Hà (phu nhân NS Lê Văn Khoa)

    Party Đón Chào Ngọc Cường và Bích Điệp Ohio.

    Nhân dịp kỷ niệm anh chị Ngọc Cường và Bích Điệp gia nhập gia dình văn nghệ Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian được 10 năm, Khánh Lan và Mạnh Bổng có tổ chức buổi họp mặt bạn bè thân hữu khá thân mật và đầm ấm. Những buổi sinh hoạt văn học hay họp mặt tại tư gia, chúng tôi thường tổ chức potluck. Tôi nhớ nhà văn Ngọc Cường và phu nhân Bích Điệp tổ chức party ca hát ở tư gia nghệ sĩ Trần Lãng Minh, những buổi chung vui ở Paris, Barcelona hay Napoli, Italy, nay đã vào dĩ vãng tuyệt đẹp.

    Nhà văn Ngọc Cường là cháu thúc bá (oncles paternels) của các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam và Viễn Sơn. Ngọc Cường đã xuất bản nhiều sách và tôi cũng đã có dịp viết nhận định về anh như sau:

    “Nói đến Ngọc Cường hẳn nhiên không thể bỏ qua phạm trù chữ nghĩa hay sách vở, tổng quát hơn thì là khía cạnh văn học. Anh viết về nét văn hóa quanh chữ nghĩa như:

    “Sách được bầy bán nhiều quá, đầy trên kệ, còn la liệt trên bàn nữa. Không biết lựa chọn cuốn nào, dở trang đầu, đọc lướt qua mục “Lời Tựa”, tôi nhận thấy ở nhiều tác giả (thường là họ mới có tác phẩm đầu tay), hay nói về lý do cầm bút. Họ giải thích “tôi viết để mà viết …” , hoặc “tôi không dám tự nhận là một nhà văn …” Những câu tâm sự như vậy trở nên như một thông lệ ở phần đầu cuốn sách. Có thể do sự khiêm nhường hay dè dặt của họ, như để “rào trước đón sau”, phòng trường hợp có bị chê thì… vì tôi đâu phải một nhà văn? …Điều này theo tôi đáng tiếc, vì lẽ ít ra họ phải có chút tự tin, và cần được khích lệ vì một khi tác phẩm được xuất bản, hiển nhiên họ là một nhà văn (theo định nghĩa), không nên tự phủ nhận một tất yếu như vậy. Và một khi bỏ công ra viết là cố gắng hơn nhiều người, là điều đáng được khuyến khích, nếu không nên được khen thưởng? Người cầm bút không nên có mặc cảm. Mong độc giả rộng lượng, lên tiếng khuyến khích.

    Còn nếu nói viết chỉ để viết thì cũng không trọn nghĩa, vì một khi đã ra mắt, sách là để người khác đọc, nếu không, nên bỏ ở xó nhà chỉ là đống giấy lộn. J. P. Sartre trong bài tiểu luận“Văn Học Là Gì” đã khẳng định là một tác giả chỉ thành một nhà văn khi có người đọc. Thật vậy, tác giả nào chả mong có nhiều độc giả, còn nếu không thì đừng mang tác phẩm ra xuất bản – Sách bầy ra tất sẽ có người mua đọc. Và như vậy, động lực cầm bút (của một nhà văn), đầu tiên có thể chỉ là viết để mà viết, nhưng thật ra nó đã chứa đựng tiềm ẩn nhiều nguyên nhân: giải bày một tâm sự, chia sẻ một kỷ niệm .v.v…, và lý do khác như muốn thỏa mãn tự ái, kiếm chút danh vị… Nên, không thể nói: viết chỉ để viết đơn thuần, mà phải là viết cho người khác thưởng thức. Tất nhiên, cũng có nhiều cuốn hồi ký chỉ nhằm vào số nhóm độc giả chọn lọc nào đó …Một tác phẩm không xuất bản, để quên vùi một xó, không ai biết thì vốn không là một tác phẩm nghệ thuật.

    Theo Tolstoy: sự thông tin, giao cảm giữa tác giả và người đón nhận tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Nhật ký Anne Frank nếu không được ông bố cô bé đem ra in sau khi cô qua đời, thì cũng sẽ chỉ là một sản phẩm riêng tư, nó trở thành tác phẩm nghệ thuật khi được chia sẻ, có người thưởng thức. Sở dĩ nêu lên khía cạnh này, vì tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của độc giả. Theo tôi, dù tác giả có công sáng tạo, nhưng chính người đọc mới là sở hữu chủ của tác phẩm, ít ra thì đó là dưới quan điểm kinh tế của một cuốn sách. Còn về giá trị, hay hoặc dở là do chủ quan thưởng thức của người đọc quyết định. Một khi cuốn sách được xuất bản, nhiệm vụ nhà văn chấm dứt, như đứa con (tinh thần) đã trưởng thành.”

    Anh Phạm Quốc Bảo, anh Tường Cường, Việt Hải (3 vị bìa trái)

    Văn Thơ Việt Hải- Thử bàn về khía cạnh Nghệ Thuật qua bài của Ngọc Cường.

    Truyện Ngắn: Ba Chị Em và Hai Buổi Chia Tay Ở Gare Du Nord Của Ngọc Cường.

    Chị Ngọc Điệp (áo vàng), anh Tường Quý, anh Phạm Quốc Bảo( anh bìa phải)

    Ngược lại, anh cùng cho tôi những dòng hảo cảm hay mỹ từ về tình bạn của chúng tôi:

    “Anh Việt- Hải thân,

    Trước hết tôi xin gửi lời thăm hỏi đến anh và chị Lệ Hoa quý mến. Tôi xin mượn lá thư này, để bày tỏ cùng anh những suy tư, và tình cảm của tôi dành cho anh và quý anh chị trong Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và ban nhạc Tiếng Thời Gian.

    Điều đầu tiên cần phải thưa là tôi rất tiếc vì ở xa (Ohio) nên ít có dịp được gặp gỡ và sinh hoạt cùng các anh chị trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và ban nhạc Tiếng Thời Gian (do anh chủ xướng và hướng dẫn). Tuy nhiên, vẫn thường xuyên qua email và điện thoại, chúng mình vẫn giữ liên lạc thân tình; và riêng tôi, luôn theo dõi những sinh hoạt của nhóm dù không được trực tiếp tham gia.

    Qua mấy dòng chữ này, tôi muốn bầy tỏ rằng cá nhân tôi không bao giờ quên đến ơn của anh và quý thành viên trong nhóm, đã nhiều lần giúp đỡ tôi ra mắt sách ở Nam Cali. Tôi cũng thành thật cảm thấy vui là chúng ta đã có cơ hội cùng nhau làm việc trong cả thập niên qua hoàn thành được hai cuốn Tuyển Tập về Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ và Các Cây Bút Hậu Duệ tập I và II ).

    Như người ta thường nói tùy duyên. Tình bạn giữa tôi và anh cũng bắt đầu bằng một cái duyên, đó là do nhà văn Phạm Quốc Bảo giới thiệu tôi với anh để mong được anh giúp đỡ ra mắt cuốn Hệ Lụy (2016) của tôi. Anh Phạm Quốc Bảo là một người thân của gia đình tôi, một nhà văn đặc biệt đối với tôi và xin mạn phép đặt danh xưng là: một văn sĩ của văn sĩ, vì anh là một nhà văn luôn hăng hái giúp đỡ thân tình trong giới văn nghệ ( những ai muốn viết văn như tôi).

    Và như đã diễn ra: Anh đã huy động anh chị em trong và ngoài nhóm đến tham dự đông đảo, đóng góp cho sự thành công buổi Ra Mắt Sách của tôi (cuốn Hệ Lụy 2016). Sau đó là cuốn Bâng Khuâng (2019), Ba Chị Em (2022) quí văn thi hữu cũng đã giúp tổ chức từ việc kiếm địa điểm cho đến quảng cáo, vận động và tiếp tân.

    Hôm nay, tôi xin được phép gọi anh với danh xưng là nhà văn của nhà văn vì anh đã tận tình giúp nhiều người viết văn, viết sách – xuất bản và ra mắt sách cho họ.

    Tuy mới quen nhau được 10 năm , nhưng chúng ta cũng có nhiều kỷ niệm, như ngoài cộng tác viết sách, sinh hoạt văn nghệ, mà còn cùng nhau ngao du thế giới (đi du hành bờ biển Mexico, và tham quan Kinh Đô Ánh Sáng Paris…). Từ đấy, cụ thể mà nói, tình bạn này cũng có nét khác biệt: Chúng ta là hai văn sĩ, và tình bạn nghệ sĩ giữa chúng ta (theo tôi) cũng có nét đặc biệt hơn tình bạn đơn thuần.

    Thật ra tôi và anh chỉ ‘tự nhận’ là văn sĩ thôi. Vì theo định nghĩa thông thường, một nhà văn là một người viết văn có tác phẩm xuất bản và được nhiều người đọc. Nếu theo đúng định nghĩa này, anh và tôi chưa có thể được gọi là văn sĩ. Nhưng tôi không hoàn toàn đồng ý với định nghĩa cứng ngắc đó. Vì, ngay cả nghệ thuật, cho đến nay, vẫn còn chưa ai dám bảo là có thể định nghĩa một cách hoàn hảo rành rọt được. Như vậy tại sao lại phải o ép – eo hẹp với người viết văn như vậy. Tôi xin nhân danh nghệ thuật công nhận Việt-Hải là một nhà văn chính cống.

    Tiện đây, xin kể anh nghe về một mẩu chuyện nơi làng văn chúng ta : Khi tôi còn sinh hoạt với Văn Bút, có lần trong buổi họp bàn về bầu cử Ban Chấp Hành hội, tôi có đề nghị là ai muốn ra tranh cử chúng ta đều nên hoan nghênh cả. Nhưng có nhiều thành viên phản đối, họ nêu dẫn Nội Quy: Phải là thành viên chính thức và muốn gia nhập Văn Bút phải có hai tác phẩm xuất bản! Nghe vậy, tôi bèn nêu lên trường hợp của nhà thơ Hà Thượng Nhân, người được mệnh danh là một chưởng môn nhân, và trước đây ông là chủ nhiệm báo Tiền Tuyến của QLVNCH, khi đó ông cấp bậc Trung Tá ( Phạm Xuân Ninh ) phục vụ tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, nơi tôi cũng từng phục vụ; tất nhiên tôi chỉ là một Trung Úy cà nhổng ở Đài Phát Thanh Quân Đội. Điểm tôi nêu lên là ngay vị chưởng môn về thơ văn chưa hề có một tác phẩm xuất bản nào cả ! Như vậy chả lẽ ông không đủ điều kiện gia nhập Hội Văn Bút ? Chỉ khi về cuối đời, con cháu đã gom một số các bài thơ của ông và in ra một Tập Thơ; và theo chính yêu cầu của ông, không được bán ra ngoài cho công chúng. Do quen với anh Phạm Hoài Bắc, con trai của ông ( hiện ở San Jose ), tôi có đề nghị xuất bản tập thơ đó, nhưng gia đình ông không đồng ý vì muốn tôn trọng ý nguyện của ông. Tôi rất lấy làm tiếc về việc này…

    Câu chuyện này còn khiến tôi nhớ đến trường hợp của Kafka, nhà văn Hung Gia Lợi trước khi chết đã nhờ người bạn đốt hết bản thảo tác phẩm của ông. May mắn thay, người bạn đó đã không tuân lời và đem ra xuất bản, nhờ đó chúng ta mới có những tuyệt tác để đọc và thưởng thức.

    Như một đầu bếp, nấu xong một món ăn, nếu ngồi ăn một mình sẽ làm mất hết thú vị của món ăn và cũng trái ngược lại với văn hóa ẩm thực là chia sẻ. Cũng vậy, một tác giả sáng tác ra tác phẩm, nếu không cống hiến cho công chúng thưởng thức tức là kiêu căng và ích kỷ.

    Tình bạn thông thường nẩy nở do có cùng một công việc, sở thích hay sinh hoạt, như bạn đồng nghiệp, đồng đội, đồng môn.v.v.. Riêng trong vòng nghệ sĩ như anh và tôi, nó vượt lên trên những thứ mà thực tế đã và đang gây chia rẽ nhất, đó là tôn giáo và chính trị. (Religion, or US politics).

    Nếu thực sự chính trị và tôn giáo gây chia rẽ con người, thì thực tế cho thấy, khoa học và nghệ thuật kéo chúng ta lại gần nhau hơn. Nhà văn Antoine de Saint Exupery đã viết “ Yêu nhau không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhau nhìn về một hướng”. Câu nói này cũng có thể dẫn giải là hai người yêu thương nhau cần có cùng một ý hướng thượng, hay lý tưởng chung.Do vươt biên giới quốc gia mà bản Giao Hưởng số 9 của Beethoven đã được dùng làm điệp khúc chính thức cho Cộng Đồng Chung Âu Châu (EU).

    Xin nhắc lại đây: ngày đầu tiên tôi được diện kiến anh (qua lời giới thiệu của anh Phạm Quốc Bảo) là đêm trình diễn của ca sĩ Kim Tước (lần cuối cùng chị ấy ra mắt khán thính giả) tại hội quán báo Người Việt (Nam Cali) năm 2016. Như người ta vẫn hay công nhận : Nhận xét hay cảm nhận về một người trong buổi gặp gỡ lần đầu thường chính xác nhất; và đêm hôm đó, tôi nhận thấy nơi anh toát ra một sự lành lặn và cởi mở.

    Khi càng tiếp xúc – càng biết anh nhiều hơn: dù có cái bề ngoài bị giới hạn do bệnh tật nhưng ai cũng công nhận nội tâm anh chứa đựng một sức sống mãnh liệt và ý chí bền bỉ. Và cũng từ đó, khi làm việc chung với nhau qua nhiều sinh hoạt, tôi có cảm giác anh là một người đáng tin cậy như một người Sài-Gòn thủa xa xưa mà nay chắc khó kiếm trên đất “gió tanh mưa máu” Bolsa này…

    Anh là người đầu tiên tôi hân hạnh được biết là đã đậu Tú Tài hạng Ưu ! Quả thật ngạc nhiên vì tôi cố gắng lắm mới đậu với hạng Thứ. Qua nhiều cuộc trà đàm về chuyện trên trời dưới biển, văn nghệ , văn gừng , tôi và anh rồi cũng quay về với đề tài…. Paris, nơi nhà thơ Cung Trầm Tưởng của chúng ta đã thốt lên:

    Mùa thu Paris

    Trời buốt ra đi

    Hẹn em quán nhỏ

    Rưng rưng rượu đỏ tràn ly….

    Và lãng mạn như:

    Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế

    Trời mùa Đông Paris, suốt đời làm chia ly…

    Kinh Đô Của Ánh Sáng là niềm mơ ước của chúng ta…tới đó để cùng ngồi ở ven bờ ngắm con sông Seine êm đềm lãng mạn… dạo phố đại lộ Champs Elysee hoa lệ sầm uất…và rồi ngồi nhâm nhi ly cà phê ở quán De Flores, tưởng nhớ đến các nhà văn xa xưa Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, hay Ernest Hemingway, Jean Paul Sartre và thêm nữa, Simone de Bauvoir …

    Và mộng ước của chúng ta đã đến vào năm 2023… Kèm đây tấm hình chụp ở Paris gửi anh xem ( một hình ảnh giá trị như cả ngàn lời):

    Việt-Hải, Ngọc Cường và Bích Điệp, chụp dọc bờ sông Seine

    Môt số thành viên nhóm NVNT cùng Việt-Hải, chụp giữa đại lộ Champs Elysee trước Arc de Triomphe

    Và rồi như anh hằng ngày vẫn thông báo trên emails, anh và quý anh chị em trong nhóm NVNT và TTG còn lên đường thêm nhiều chuyến du ngoạn nữa. Nhưng vì lý do ngoài ý muốn ( sức khỏe, gia đình…) có những lần tôi đã không theo kịp bước của quý anh chị! Đây, một sự tình cờ thú vị : Tôi vừa tò mò vào ChatGTP hỏi về văn chương của anh và tôi, và AI đã so sánh như sau : (xin trích dẫn) Nếu đặt cạnh nhau, văn chương của họ cùng thuộc mạch văn chương giàu: hồi ức, tình người và suy tư về thân phận…

    Việt Hải : văn chương của hồi ức và tình người….

    Một đặc biệt…về tình bạn…trong văn Việt Hải họ trở thành một phần của lịch sử đời người….thời gian trôi qua, điều còn lại không phải là thành công hay thất bại, mà là cách con người đối xử với nhau. …..Nếu Việt-Hải thường nhìn quá khứ từ phía tình cảm, thì Ngọc Cường có xu hướng mổ xẻ quá khứ để tìm nguyên nhân của những đổ vỡ.

    ….Điều thú vị là cả hai, cuối cùng đều gặp nhau ở chủ nghĩa nhân văn.

    Việt Hải hỏi : “ Con người đã sống với nhau như thế nào?”

    Ngọc Cường hỏi:” Vì sao con người lại trở thành như thế ”

    ….Nếu Việt Hải giống như người ngồi bên dòng sông nhìn lại những người di qua đời mình, thì Ngọc Cường giống người quay lại dòng sông ấy để tìm xem vì sao mỗi người đã trôi về một hướng.

    Anh Hải thân,

    AI cũng là người khác nghĩ về mình, và chỉ có thể đúng một phần thôi. Riêng tôi cho là đã may mắn có được một người bạn tâm giao tri kỷ như anh, và xin cám ơn anh đã làm bạn với tôi. Thư đã dài, xin tạm dừng nơi đây với lời chúc anh và chị vui khỏe, an hưởng hạnh phúc bên gia đình.

    Thân mến,

    Ngọc Cường; 8/21/2026.”

    Bạn bè từ Mỹ ngao du Paris

    Tôi nhớ anh em chúng tôi lang thang bên xứ Mễ như Ensenada, Cabo San Lucas, Mazatlán, Puerto Vallarta, Jalisco, chuyện trò văn học những Guy de Maupassant, Gustave Flaubert, William Somerset Maugham, Edgar Allan Poe, Ernest Hemingway, Jacques Prévert, rồi khi anh em chúng tôi bú khú tại những tụ điểm café en terrasse, dù Les Deux Magots, hay café vỉa hè Café de Flore cùng cô em Hoàng Loan, ái nữ của PĐĐ Nguyễn Hữu Chí, tức thi sĩ Hữu Phương, anh em chúng tôi ban văn chương Tự Lực Văn Đoàn trong khuôn viên campus Sorbonne Văn Khoa, Sorbone Luật Khoa, kỷ niệm nào tìm trong dĩ vãng vui quá.

    Đến nhà Lưu Mạnh Bổng hẳn phải thưởng thức món ngon Hà Nội là Phở Bổng và nộm tôm thịt bà chef Bếp Hồng Tay Khéo Khánh Lan, hai nhà văn Phạm Quốc Bảo và Trần Mạnh Chi luận bàn về nguồn gốc món Phở Bắc từ hồng thư Thạch Lam, Hà Nội 36 Phố Phường, hoặc như bạn độc xem qua Món Ngon Hà Nội của Vũ Bằng. (Chủ nhân Phở Saigon Pearl ở khu mall Irvine Spectrum Center, chef Trần Mạnh Chi luận bàn nguồn gốc phở Bắc Nam Định, quê hương của người.)

    Phở Bổng gia chủ “buôn may bán đắt” vét cạn nồi. (Biệt tài cùa Việt Hải-vua AI picture…)

    Hai nơi được xem như snh quán món phở là Hà Nội và Nam Định. Con người có nguồn cội, phỏ cũng xêm xêm. Phở Hà Nội và Phở Nam Định cùng trở thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nhưng nếu tò mò tự hỏi liệu hai món phở Hà Nội và phở Nam Định có khởi nguồn từ đâuma2 ra. Xin xem nhé,… Nguồn gốc của phở.

    Nguồn gốc của phở đã được rất nhiều nhà nghiên cứu yêu thích món ăn này đưa ra. Các giả thuyết rất khác nhau. Một giải thuyết cho rằng tên “phở” được mượn từ chứ “feu” (tiếng Pháp có nghĩa là lửa) trong cụm từ chỉ món ăn pot-tau-fer (súp thịt bò) vốn được đưa vào Việt Nam trong giai đoạn người Pháp chiếm đóng. Thế nhưng, món súp thịt bò này vốn được hầm với nhiều loại rau củ như cà rốt, tỏi tây, củ cải… dùng kèm với bánh mì. Rõ ràng, từ nguyên liệu đến cách ăn uống, món ăn này không ăn nhập gì với món phở Việt cả về hình thức đến nội dung.

    Tiếp theo về nguồn gốc của hai món phở di sản Hà Nội và Nam Định, thì cũng có giả thuyết lại cho rằng phở do người dân trong các ngôi làng ở Nam Định sáng chế ra món vào năm 1898 khi thực dân Pháp khởi công xây dựng nhà máy dệt Nam Định. Các kỹ thuật viên người Pháp và hàng ngàn công nhân đã tràn về vùng này để làm việc cho nhà máy dệt lớn nhất Đông Dương khi ấy. Một số người dân am hiểu về ẩm thực đã tìm cách kết hợp và cải tiến món canh “xáo”, cho nấu cùng với phở trắng, hành lá, rau thơm và điều chỉnh gia vị cho phù hợp với khẩu vị của thực khách. Khi những công nhân xây dựng chuyển từ Nam Định ra Hà Nội để làm việc cho dự án cầu Long Biên, món phở nhanh chóng vươn tầm ra khỏi làng. Gánh những gánh hàng phở trên vai, những người dân nghèo theo chân những công nhân xây dựng, nhanh chóng kiếm được thu nhập khá từ việc bán phở, và cũng khiến món ăn này sớm trở thành niềm yêu thích của người dân Thủ đô.

    Nguồn gốc di sản Hà Nội và Nam Định ra sao. Theo những giải thuyết đó xem ra đều chỉ là giả thuyết. Nguồn gốc của phở là ở Việt Nam được cho là đã xuất hiện cách đây hơn 100 năm, do những người nông dân tài hoa sáng chế ra khi kết hợp những nguyên liệu đơn giản nhưng tinh tế lại với nhau, do người Việt Nam với những cung cách sáng tạo riêng mà thành. Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tiến cũng từng chỉ ra rằng, món phở đi từ món ăn cho người lao động ở bến sông đến một thức quà cầu kỳ vì người Thăng Long – Hà Nội do nhu cầu của tầng lớp trung lưu, lại có sự sáng tạo, có thời gian, khi đó đã “biến hóa” khá nhiều món ăn từ các vùng quê trở thành món ăn Hà Nội, có sự “tinh hóa”, cầu kỳ…Từ đây, phở phát triển theo những hướng rất khác nhau. Đối với “phở phiên bản Nam Định”, những lát thịt bò được xào với tỏi và vài miếng cà chua, sau đó đặt lên trên những sợi phở đã chần trước khi đầu bếp đổ một muôi nước dùng thơm phức vào bát. Trong khi đó, người Hà Nội có một cách tiếp cận tối giản đối với món ăn. Ở Hà Nội, phở chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng nước dùng, tạo cảm giác rằng ngay cả các loại rau thơm cũng có thể làm mất đi hương vị của phở.

    Nói về phở, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả trong cuốn “Hà Nội băm sáu phố phường”: “Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon”. Ông đánh giá “Phở ngon phải là phở “cổ điển”, nấu bằng thịt bò, “nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt với hành tây đủ cả”, “rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một ít cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ”.

    Vào thời những năm 1940, phở đã rất phổ biến ở Hà Nội, đò là thứ quà ăn suốt ngày của tất cả tầng lớp thế hệ, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta có thể ăn phở cả ngày, ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối. Phở đã đồng hành với đời sống thăng trầm của người dân trên đất Hà Thành suốt hơn trăm năm qua. Rồi cùng thời gian và những đẩy đưa của thời cuộc phở đã đi đến nhiều vùng miền. Từ nơi làng xã hay chốn thị thành, tại quê hương hay theo chân người dân Việt đi khắp năm châu. Từ những lúc khó khăn thiếu thốn, khi xã hội có nhiều biến động cũng như lúc ấm no thanh bình. Phở vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày, vẫn được nhiều lớp người dù là nam phụ lão ấu đều ưa dùng, thậm chí còn là món khoái khẩu của nhiều thực khách.

    Rồi hành trình xuyên thế kỷ của phở nhự sau,…

    Hành trình xuyên thế kỷ của phở đã được các bậc trưởng lão làng phở đúc kết như sau: Giai đoạn đầu những năm 1908-1930, xuất hiện và định hình món phở; Giai đoạn 1930 – 1954, phở phát triển và đạt đến cực thịnh; giai đoạn 1954 – 2000, ghi nhận một thời kỳ đầy biến động, mang lại cho phở một diện mạo đa sắc. Bước sang thế kỷ 21, có thể coi như phở đã chính thức đánh dấu thời kỳ hòa nhập, toàn cầu hóa, được kỹ nghiệp hóa phở như phở franchise, phở đóng gói,….

    Ông nhà văn Phạm Quốc Bảo chuộng goût văn nam kỳ quốc Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc, giáo ta khởi nghiệp tại miêt cố lý Ba Tri, Bến Tre, nghe như quen quen, ông giáo Ba Tri giảng bài cá lóc nướng trui như sau:

    Cá lóc hay còn gọi là cá quả, được chế biến thành nhiều món ăn ngon và phổ biến như: Lẫu cá lóc canh chua, cá lóc kho tộ, gỏi khô cá lóc, bún mắm cá lóc, cháo cá lóc,… Cá lóc chứa hàm lượng vitamin A super cao, giúp cho cơ thể những vị cao niên khỏe mạnh. Ngoài ra, do sống ở vùng nước ngọt và lành tính, cá lóc còn có tác dụng trừ thống phong, bổ phế dưỡng tỳ, giải độc toxins, giúp tăng cường khí huyết, đánh tan đờm trong cuống họng. Vì thế cá lóc thường được chế biến không chỉ trong bữa cơm gia đình hằng ngày mà giáo Ba Tri cho là món ăn đặc biệt giúp những người có bệnh về phế hoàn sớm có những cải thiện tốt. Ông giáo Phạm Quốc Bảo kể thêm món cá lóc nướng trui nên đi kèm vói vài xị xây chừng rượu gài nếp thang, sẽ có tính bổ dương, ông uống bà khen, không tin thử hỏi y sư lang ta miêt vườn Dương Viết Điền hay y sư lá đu đủ, lá khoai mì Mạc Phương Đình sẽ rõ như ban ngày thôi nhá.

    Cá lóc thường được chế biến vào mùa hè do nó có tính hàn, có tác dụng giúp hạn chế thân nhiệt, giải nhiệt cơ thể do thời tiết. Ông giáo Ba Tri còn giảng thuyết về món canh chua cá hú bông điên điển. Canh chua cá hú bông điên điển là sự kết hợp hài hòa giữa vị béo ngậy của cá hú và vị me chua thoảng nhẹ, cùng những loại rau xanh tươi mát. Ở Mỹ thì dùng catfish thay cho cá hú, xêm xêm vị béo ngậy vị giác. Canh chua bông điên điển là món đặc sản của vùng Tây Nam phần. Vị bùi, ngọt, thanh mát của bông điên điển kết hợp với cá beo béo ngậy cùng vị chua nhẹ thích ngay cách nấu canh chua cá cùng bông điên điển rất ngon này nhé bồ tèo.

    Theo ông giáo Bảo Ba Tri thì hể cứ đến mùa nước nổi, bông điển điển lại nở rộ rực rỡ cả một góc trời. Không những hoa vàng mang vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên, mà loài bông điên điển tươi rói lại được người dân dã đồng quê còn biến tấu thành những món ăn đặc sắc.

    Michael và Thụy Lan dinner party (Hoàng Đế AI picture-Việt Hải)

    Khoảng 8 giờ tối vợ chồng chúng tôi rời tư gia Lan Bổng vì Michael François Chánh phone cho hay Thụy Lan đã xuất viện sau khi điều trị 3 ngày do chúng áp huyết tuôt xuống qúa thấp, bệnh hypetension. Anh chị Ngọc Cường Bích Điệp tháp tùng chúng tôi ghé thăm Thụy Lan.

    Michael catering dinner party, 2 bạn  mời bạn bè, cùng gia đình 2 bạn. Lại tiếp tục đớp hít, ôi nào những crabes royaux, steak de queue de homard, et vin Casa del Blanco. Chúng tôi ôn lại nhũng ngày vui bên Âu châu từ Paris, Bordeaux, rồi về Aix-en Provence, và Marseille. Tôi hoạch định tổ chức landtours Paris, Bordeaux, Côte d’Azur (French Riviera)2027, cùng landtours Tokyo, Yokohama 2028 và Osaka, sau nữa là landtours 2029 Taipei, Hualien, Taichung, và Tainan.

    Với sự trợ giúp của AI … nên không nhận ra chính mình nữa … khổ chưa? Anh Việt Hải ơi…

    Tháng 11 anh chị Ngọc Cường trở lại Bolsa town tham dự đại hội RMS của 12 ngòi bút thuộc 2 tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, 12 bạn bè quen nhau thân thiết.

    Tôi nghĩ về bạn bè đau yếu, Rồi may đây ai đi, ai ở, hãy quy tụ bạn bè nhóm hãy “care” cho nhau. Tôi phone chit chat với chị Quỳnh Giao và anh Thanh Huy, party Quỳnh Giao tại Lữ Quán Tri Âm, pocket size, ấm áp, thân tình. Tôi bàn thảo cùng Khánh Lan, Kiều My, Vi Anh và Huy Anh, tôi chụộng pocket size 10-15 bạn bè thân thiết, size gia đình, private party và vui thú tình thân tao nhã.

    Kỷ niệm cùng Ngọc Cường và Bích Điệp,

    VHLA, 09/01/ 2026.

    VHLA thuở mần cu-li corporate officer

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Viet-Hải

    LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ((Theory and Criticism of Literature and Arts)

    Việt Hải Trần

    VIẾT VỀ VĂN HỌC TIỂU LUẬN VỀ NHÀ VĂN LƯU NGUYỄN TỪ THỨC TÔI XOÁY VÀO 3 ĐIỂM:

    Trước tiên hãy xét qua giá trị của Mỹ học trong văn học qua tác phẩm. Định nghĩa của Mỹ học, và quan niệm cùng bản sắc của mỹ học:

    Mỹ học (Aesthetics) là một ngành triết học chuyên nghiên cứu về bản chất của cái đẹp, nghệ thuật và trải nghiệm thẩm mỹ. Đây là lĩnh vực đặt ra những câu hỏi căn bản về việc làm thế nào con người nhận thức, đánh giá và phản ứng trước các hiện tượng mang tính thẩm mỹ trong tự nhiên, đời sống, và sáng tạo nghệ thuật.

    Trong mỹ học, trọng tâm nghiên cứu không chỉ là cái đẹp, mà còn là sự hài hòa, sự xúc động thẩm mỹ, và những hiện tượng nghệ thuật gây tranh luận về giá trị. Khác với cảm giác đơn thuần, kinh nghiệm thẩm mỹ thường bao hàm sự chú tâm, suy tưởng và cảm xúc sâu sắc.

    Tại nhiều trường đại học và trung tâm nghiên cứu triết học lớn như Harvard, Oxford hay Sorbonne, Mỹ học được giảng dạy như một chuyên ngành độc lập, với phạm vi mở rộng đến văn hóa thị giác, kiến trúc, công nghệ và truyền thông. Bạn có thể tìm hiểu thêm tại Stanford Encyclopedia of Philosophy.

    Lịch sử phát triển của mỹ học:

    Nguồn gốc của mỹ học gắn liền với triết học Hy Lạp cổ đại, nơi các nhà tư tưởng như Plato và Aristotle lần đầu tiên thảo luận về nghệ thuật, cảm xúc và cái đẹp. Tuy nhiên, thuật ngữ “Aesthetics” (do từ Hy Lạp “aisthēsis” – cảm nhận) chỉ được định danh thành một ngành khoa học độc lập vào thế kỷ 18 bởi triết gia người Đức Alexander Baumgarten.

    Baumgarten phân biệt giữa logic (lý trí) và mỹ học (cảm giác), xem mỹ học là “khoa học của tri thức cảm tính”. Từ đó, nhiều học giả châu Âu thế kỷ 18–19 như Kant, Hegel, Schopenhauer đã đóng góp các lý thuyết nền tảng cho lĩnh vực này.

    Mỹ học mang tính chất chân thiện mỹ.

    Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống, là tiếng nói của tâm hồn và khát vọng con người qua bao thế hệ. Từ thuở bình minh của nền văn minh nhân loại đến thời hiện đại, văn học không ngừng tìm kiếm và khẳng định những giá trị cốt lõi làm nên nhân cách và phẩm chất con người. Trong số đó, Chân – Thiện – Mỹ được xem là ba giá trị cao cả và bền vững nhất. Văn học chân chính không chỉ dừng lại ở việc kể chuyện hay mô tả cuộc sống, mà còn là hành trình dẫn dắt con người hướng đến cái chân thật, cái tốt đẹp, và cái đẹp đẽ trong đời sống cũng như trong tâm hồn. Những giá trị ấy là linh hồn của văn chương, là ánh sáng soi đường cho con người vươn tới nhân văn và nhân bản. Hãy cùng nhau tìm hiểu về những giá trị tốt đẹp này.

    Mỹ Học – Aesthetics

    “Chân” là cái thật, là yếu tố cốt lõi của nghệ thuật chân chính. Những câu chuyện, nhân vật, biến cố hay dòng suy tưởng trong tác phẩm đều mang trong mình khát vọng nói lên sự thật về con người, về đời sống, về xã hội. Qua đó, văn học thôi thúc người đọc sống trung thực, sống có lý tưởng và đối diện với bản thân mình.

    “Thiện” là đạo đức, là lòng nhân ái, là cách đối đãi bao dung giữa con người với nhau. Các tác phẩm văn chương, hội họa, âm nhạc luôn gieo vào lòng người những hạt mầm của sự yêu thương, của tinh thần trách nhiệm, sống vì cộng đồng, tôn trọng lẽ phải và đấu tranh cho công lý.

    “Mỹ” là cái đẹp, đẹp trong nghệ thuật tạo hình, đẹp trong ngôn từ và đẹp trong tư tưởng, hành vi, tâm hồn. Một bài thơ nhẹ nhàng, một bức tranh sâu sắc, hay một giai điệu dịu dàng… đều có thể đánh thức cảm xúc, giúp con người biết rung cảm trước cái hay, cái đúng, cái đẹp và sống tử tế, nhân hậu hơn.

    Tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức đề cập về quan niệm Mỹ Học cổ bên Ðông phương, trường hợp của Việt Nam, như về việc đọc để hiểu tác phẩm văn học cũng là việc tìm sự cảm thông giữa những tâm hồn đồng điệu, là việc tìm giao cảm giữa những tâm hồn tri kỷ, tri âm.

    Ví dụ trong niềm ưu tư đó mà Nguyễn Du khi kết thúc Truyện Kiều.

    Bất tri tam bách dư niên hậu

    Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

    Tư tưởng khóc Tố Như của ông là minh thị cho quan diểm triết thuyết nhân sinh quan Việt Nam, điểm nhân bản Việt Nam. Câu thơ chất chứa nét mỹ học trong văn học thi ca.

    Tác phẩm mượn câu chuyện của nàng Kiều để vẽ lên bức tranh toàn cảnh về hiện thực xã hội phong kiến bể dâu, bi thương, kim tiền, xấu xa, tồi bại và đầy rẫy bất công ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19; đồng thời tác phẩm biểu hiện ước mơ giải phóng con người, đòi quyền sống, quyền tự do, công lý, tình yêu và hạnh phúc. ”Truyện Kiều” được xem là tập “Đại thành ngôn ngữ” của văn học Việt Nam.

    Cái Mỹ học trong văn chương, hay những tác phẩm hay về mặt giá trị nghệ thuật xin nêu ra những danh tác sau.

    Hoàng Ngọc Phách trong tiểu thuyết Tố Tâm:

    Hoàng Ngọc Phách trong tiểu thuyết Tố Tâm (1924) đã dệt nên mối tình tuyệt đẹp giữa Đạm Thủy và Tố Tâm nhưng họ vẫn không bước qua được rào cản của lễ giáo phong kiến để xây ngôi nhà hạnh phúc. Chỉ vì “gia pháp nhà tôi còn nghiêm ngặt lắm, tình gia quyến tôi rất mạnh” nên khi cha mẹ định cho một nơi, Đạm Thủy phải lánh xa Tố Tâm, gạt nước mắt khuyên người yêu từ bỏ mình: “Ta yêu nhau, ta quý nhau như hạng người tri kỉ trên đời không thể có hai, thế nhưng cái bắt buộc của tình gia quyến tối thiêng liêng nó bảo ta phải bưng mắt ôm lòng mà chịu, biết nói sao đây. Thôi em yêu anh như thế cũng là yêu rồi, đừng yêu thêm nữa mà làm anh hối hận”. Còn Tố Tâm không dám cưỡng lại lời mẹ lúc “thập tử nhất sinh” đã phải lấy người mình không yêu để 36 ngày sau “chết vì hai chữ ái tình”.

    Mỹ học qua những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, ví dụ diển hình như tác phẩm Hồn bướm mơ tiên:

    Hồn bướm mơ tiên, quyển sách “có sức cám dỗ lạ lùng mà nhà phê bình sung sướng gặp được trong khi khảo cứu về văn học Việt Nam hiện đại” [5, tr. 60] đã đưa ra một vấn đề mới mẻ là đối lập tình yêu với hôn nhân: “Gia đình! Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ mà tiểu gia đình là… hai linh hồn của đôi ta ẩn núp dưới bóng từ bi Phật tổ”. Quan niệm này thời bấy giờ được coi là quan niệm có tính chất nhân văn, chống lại hôn nhân phong kiến. Mặt khác, bản thân tình yêu giữa Ngọc và tiểu Lan – một kẻ tu hành – đã mang tính phản phong sâu sắc.

    Ngoài danh tác sáng lạng như Truyện Kiều của Nguyễn Du, một tác phẩm văn chương hướng đến Chân – Thiện – Mỹ. Giá trị nghệ thuật của Mỹ học cũng có nhiệm vụ nghiên cứu các triết thuyết liên quan đến nghệ thuật, các phê bình có tính cách triết lý của các nghệ phẩm, và thẩm định đặc tính triết học của các hành động nghệ thuật. Các phản ứng tình cảm và tâm lý của con người đối với các yếu tố của nghệ thuật như màu sắc, âm thanh, đường nét, hình tượng, và ngôn ngữ.

    Một tác phẩm về văn học khác nên được lưu tâm như sau.

    Dương Quảng Hàm và sách giáo khoa Việt Nam Văn Học Sử Yếu:

    Việt Nam Văn Học Sử Yếu không những chỉ có giá trị khảo cứu về văn chương mà trong chừng mực nhất định còn có giá trị khảo cứu về văn hoá. Cuốn sách gối dầu làm nền cho văn học tham khảo hay bổ túc cải tiến dược hoàn chỉnh hơn bởi giới hậu bối.

    PHẦN KẾ TIẾP XIN DIỂM QUA GIAI THOẠI SỰ BIẾN DẠNG VĂN HỌC:

    Thưở nho học, hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục hành chánh ở bên Tàu từ thời Trung Hoa cổ đại, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc (770–221 TCN), và được du nhập vào Việt Nam từ đầu đời Hán đến thế kỷ 15, rồi nó trở thành Quốc giáo. Lịch sử văn học quanh khúc rẽ từ khi Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng lần thứ nhất là trận đánh mở đầu cho cuộc chiến tranh Pháp – Việt (1858 – 1884) và khi quân Pháp chiếm 3 tỉnh ở miền nam Viẻt Nam vào năm 1867, quân Pháp đã chiếm đóng các tỉnh ở Nam phần là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

    Sau thời kỳ này dần dần nền văn học nho học lu mờ nhường thời cơ cho văn học tây học, như thuở văn học phương tây như trường hợp nước Pháp, khi mà văn học rực rỡ ở Pháp vào những thế kỷ 18, 19, cũng là giai đoạn nước Pháp chiếm lĩnh Việt Nam, cái văn học rực rỡ ấy du hành sang Việt Nam, nước ta chịu ảnh hưởng văn học Pháp và bị ảnh hưởng nền văn hoc cổ đại nho học xứ Trung Hoa. Trong cái vận xui của lịch sử nước nhà, nhưng điểm chung cuộc, Việt Nam có nền văn hóa địa phương cá biệt hòa lẫn vào nền văn minh Pháp Hoa, những phần sau bài viết xin trình bày những tiểu tiết liên quan về văn học nho gia và văn học tây phương tại xứ ta.

    THỜI GIAN BIẾN DẠNG VĂN HỌC NHƯ TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM:

    Văn học Việt Nam từ thời nho học sang tây học, xét qua quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ xưa đến nay.

    Khám phá quá trình phát triển của văn học Việt Nam để tìm hiểu về sự phát triển của văn học Việt từ thời xưa đến nay. Cuộc hành trình này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những văn bản, tác phẩm và những diễn biến quan trọng trong lịch sử văn học Việt. Bạn sẽ được tìm hiểu về những nhà văn, nhà thơ… đã đóng góp cho sự phát triển của văn học Việt. Hãy cùng khám phá quá trình phát triển văn học Việt Nam trong nội dung này như sau.

    NGUỒN GỐC VĂN HỌC VIỆT: NHỮNG TÁC PHẨM CỔ ĐẠI.

    Quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hiện đại là một bức tranh lịch sử đầy thú vị. Nó cho thấy rằng, qua các thời kỳ khác nhau, văn học Việt đã đạt được nhiều thành tựu và đã đạt được những bước tiến lớn trong việc phát triển văn học. Khám phá quá trình phát triển văn học Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những gì đã xảy ra trong quá khứ và cũng giúp chúng ta cảm nhận được sự phát triển của văn học Việt.

    SỰ CHUYỂN GIAO TỪ NHO HỌC SANG TÂY HỌC.

    Nhà nho truyền thống. Lúc này đã bị thời đại thay thế, nên đã rút lui về ngõ hẻm, hoặc thôn quê, nhưng thỉnh thoảng từ hậu trường họ vẫn thốt ra những tiếng nói lạc lõng. Chủ trương không chấp nhận văn hóa phương Tây. Khi nhà tây học bị nho hóa, là nhà tây học nhưng vì công việc liên quan đến văn hóa, xã hội Việt Nam nên họ phải học thêm Nho học. Tiêu biểu là Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký. Chủ trương Đông Tây kết hợp cùng Đông học. Nhưng cũng có những nhà tây học thuần túy. Họ muốn cắt đứt quá khứ để nhẹ bước theo con đường Âu hóa. Canh tân hóa, hiện đại hóa. Tiêu biểu là Nguyễn Văn Vĩnh, như Nhất Linh, xa hơn là Trương Vĩnh Ký.

    NHỮNG NÉT ĐẠI CƯƠNG VỀ LÝ LUẬN – PHÊ BÌNH VỀ SỰ TIẾP NHẬN MỸ HỌC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG ĐÔNG.

    Khái niệm Mỹ học cổ điển (Classical aesthetics) được sử dụng ở đây nhằm chỉ di sản mỹ học của nhân loại, trước hết là mỹ học phương Đông và phương Tây, từ thế kỷ 19 đổ về trước. Với Việt Nam, nói tới mỹ học cổ điển phương Đông, trước hết phải kể đến mỹ học và thi học cổ điển Trung Hoa. Nhìn lại lịch sử tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài, có thể nhận thấy tư tưởng lý thuyết của Việt Nam không phải bao giờ cũng hứng thú với tư tưởng mỹ học của Trung Hoa nói riêng và phương Đông nói chung. Quả vậy, từ thế kỷ 10 cho tới hết thế kỷ 19, mỹ học cổ điển Trung Hoa có ảnh hưởng toàn diện, trực tiếp tới hệ thống tư tưởng văn nghệ cổ điển Việt Nam. Nhưng ở nửa đầu thế kỷ 20, khi Nho học thất thế, cánh Tây học Việt Nam hướng về châu Âu, chủ yếu là Pháp, tìm kiếm ở đó những tư tưởng mỹ học mới mẻ để canh tân hóa nền văn nghệ xứ sở.

    NHO GIÁO VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG CẬN ĐẠI.

    Sau đây là nội dung tiếp nhận quan trọng từ di sản mỹ học và lý luận văn học cổ điển Trung Hoa trong các công trình dịch thuật và khảo luận của các dịch giả và giới nghiên cứu Việt Nam. Nhiều vấn đề thi pháp văn xuôi cổ điển Trung Hoa được khảo sát kỹ lưỡng trong Thơ văn cổ Trung Hoa

    Tuyện Kiều Nguyễn Du cho thấy nét phong hóa nho gia mang dậm nét trong tác phẩm. Từ dây chủ đề văn hóa và sự du nhập cũng đã ảnh hưởng của Nho giáo đến giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam. Xét về học thuyết Nho giáo, quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo trong truyền thống văn hoá Việt Nam.

    Nhận định sơ lược về học thuyết Nho giáo bên Trung Hoa thuở xưa là trung tâm văn hoá lớn của nhân loại trong thời kỳ cổ trung đại trải qua gần bốn mươi thế kỷ phát triển liên tục, lịch sử triết học Trung Quốc bao hàm nội dung vô cùng phong phú với những hệ thống triết học đồ sộ và sâu sắc. Điển hình qua tác phẩm như Tứ Thư gồm: Luận ngữ, Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử, bộ sách này do các học trò của Khổng Tử đã tập hợp những lời dạy của thầy mà soạn ra.

    Vầ Ngũ Kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu. Mà nội dung của bộ sách này phần lớn có từ trước được Khổng Tử gia công san định, hiệu đính và giải thích. Do Khổng Tử có công đầu trong việc phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và truyền bá nên ông được xem là người sáng lập Nho giáo.

    Nho giáo từ đời Hán (Hán Nho) đã được cải tạo, biến đổi, nhằm mục đích phục vụ vương triều.Cho nên từ đời Hán Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống chi phối văn hoá Trung Hoa và làm nền tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ vương triều Trung Hoa cổ xưa xuyên suốt hai ngàn năm lịch sử.

    BÂY GIỜ HÃY XÉT VỀ NỀN VĂN HỌC VIỆT CHỊU ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHÁP:

    Việc thưởng thức tác phẩm cũng trở nên thuận lợi hơn; từ thanh niên trí thức đến thiếu niên học trường Tây học đều dễ dàng tiếp cận thơ La Fontaine, Lamartine, kịch Corneille, Racine… Các đô thị xuất hiện; tiểu tư sản, trí thức Việt thụ hưởng, tiếp nhận và trở thành nhân vật chính trong nền văn học: dân nghèo thành thị – loại nhân vật tiêu biểu trong các tác phẩm như Ngựa người người ngựa, Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan. Việc tiếp nhận thuận lợi thông qua thấu hiểu nền văn hóa phương Tây chính là cơ sở cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật đi từ đơn giản đến phức tạp; từ cách người Việt dịch thuật, viết văn bằng tiếng Pháp đến văn chương Pháp đi vào văn học Việt theo cách mà thơ lãng mạn của thơ Khái Hưng chuyển thể thi ca Avers, hay thi ca mang âm hưởng Baudelaire trong thơ Vũ Đình Liên… Như vậy rõ ràng là có sự tiếp nhận một cách sáng tạo, biểu hiện khuynh hướng của văn học Việt Nam xa văn hóa nho học dể bước vào ảnh hưởng bên phía tây học, thuộc Pháp.

    BÂY GIỜ HÃY XÉT VỀ NỀN VĂN HỌC VIỆT CHỊU ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHÁP:

    Pháp là quốc gia như dã nói bên trên, Pháp có nền văn chương rực rỡ nhất nhân loại, cống hiến nhiều tác phẩm kinh điển, đưa ra trào lưu, tư tưởng có sức lan tỏa, ảnh hưởng rộng khắp. Văn học Pháp khi vào Việt Nam đã đem tới những thể loại mới: thơ ngụ ngôn, tiểu thuyết, văn xuôi. Văn chương Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền văn chương Pháp, đã có nhiều cách tân về hình thức, thay đổi trong phong cách, đề xuất tư tưởng mới.

    Một số tài liệu nhận định cho rằng, Ngụ ngôn La Fontaine là tác phẩm văn học Pháp đầu tiên dịch thuật ở Việt Nam. Văn học Pháp đến với Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ 19. Theo một số nguồn tài liệu, tác phẩm đầu tiên của văn học Pháp được dịch ở Việt Nam là Chuyện Phang-sa diễn ra quốc ngữ (16 chuyện ngụ ngôn La Fontaine), xuất bản năm 1884 do Trương Minh Ký dịch. Năm 1885, Trương Minh Ký còn dịch Les aventures de Telemque với tên Tê-Lê-mạc phiêu lưu ký (đăng trên Gia Định báo).

    Những năm 1920, một loạt tác phẩm văn chương lớn của Pháp được giới thiệu tại Việt Nam qua bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh như: Truyện ba chàng ngự lâm pháo thủ (A. Dumas), Những kẻ khốn nạn (Les Misérables, Victor Hugo), Truyện trẻ con (Les Contes, Charles Perrault), Truyện miếng da lừa (La peau de Chagrin, Honoré de Balzac),… Văn học Pháp thịnh hành tại Việt Nam đầu thế kỷ 20, tới mức hình thành nên một thể loại phóng tác theo tác phẩm văn học Pháp. Hồ Biểu Chánh là tác giả tiêu biểu cho PHONG cách này, với những tiểu thuyết như: Chúa tàu Kim Quy (phỏng theo Bá tước Monte-Cristo, Le Comte de Monte-Cristo d’Alexandre Dumas). Cay đắng mùi đời (phỏng theo Không gia đình, L’amertume de la vie (adapté de *Sans famille.), Ngọn cỏ gió đùa (phỏng theo Những người khốn khổ,

    L’herbe qui ondule au vent (adapté des Misérables),…

    Một phân đoạn quan trọng trong bài viết nay, xin nhìn về Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả  Nguyễn Minh Triết, hay nhà văn Lưu Nguyễn Từ Thức, ông đề cập như sau.

    VỚI CHƯƠNG TÌM HIỂU DIỄN NGÔN VĂN CHƯƠNG HẬU THUỘC ĐỊA.

    Đây là một đề tài mà chúng tôi nghĩ văn chương Âu châu vốn đã có thuộc địa, nên nhiều trước tác phẩm văn chương phản ảnh thuở thuộc địa như những danh tác: L’Amant (Nguời Tình) của nhà văn Marguerite Duras, The Quiet American của Graham Greene, La Voie Royale của André Malraux (về vương triều Cao Miên), Between Tears and Laughter của Lin Yutang (Lâm Ngữ Đường), The Good Earth (Đất lành) của Pearl S. Buck, The Jungle Book của Rudyard Kipling… Lưu Nguyễn Từ Thức ghi nhận là chủ nghĩa thực dân là một hình thức khai thác thuộc địa được phát triển theo với sự bành trướng của châu Âu trong thời gian 400 năm qua. Từ xa xưa nhiều nền văn minh Âu châu đã có thuộc địa và từ lâu chánh quyền đế quốc trung ương luôn luôn có uy quyền tuyệt đối trên các tỉnh thành ngoại biên và các nền văn hoá sơ khai. Sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân tại Âu châu đồng nghĩa với sự phát triển của hệ thống kinh tế tư bản trong đó các vùng đất thuộc địa được thiết lập để cung cấp nguyên liệu cho sự phát triển và củng cố các nền kinh tế tại chánh quốc. Sự liên hệ giữa quốc gia đô hộ và các nước thuộc địa hoàn toàn bất bình đẳng trên mọi phương diện kinh tế, chánh trị, văn hoá cũng như xã hội. Các sắc dân tại các quốc gia thuộc địa thường là những chủng tộc khác với sắc dân chánh quốc và bị xem thuộc loại chủng tộc thấp kém.   

    Người viết bài xin nêu ra về chủ dề Văn học lưu vong, văn chương ly hương.

    Văn học lưu vong, văn chương ly hương (trường hợp như các ngòi bút ly hương xa xứ, dù bị bó buộc hay tự nguyện. Những văn tài từ Cuba, Nga, Do Thái, Việt Nam, Palestine, sang Phi Châu,…

    Văn học lưu vong, văn chương ly hương là một nỗi chấn thương văn hóa, khi chữ nghĩa chảy máu tâm hồn nhà văn trên những trang sách. Chấn thương là một thuật ngữ y học nhằm diễn tả trạng thái cơ thể bị tổn hại do những tác động bên ngoài gây nên. Chấn thương còn là thuật ngữ tâm lý học và bệnh học để diễn tả những những khủng hoảng tinh thần của con người xảy ra sau những tổn thương nghiêm trọng.

    Sự kiện rời bỏ đất nước ra đi- hành động di dời của hàng triệu người Việt Nam sau 1975, kéo dài trong cả hơn hai thập kỷ đã hình thành nên những cộng đồng Việt kiều tại hải ngoại, tạo nên những sự kiện chính trị- văn hóa- xã hội phức tạp. Văn học hải ngoại bắt nguồn từ việc kể lại những câu chuyện lưu vong thể hiện rất rõ những ám ảnh chấn thương của di dân Việt từ sau hành động di dời. “Chấn thương di dời” là một trong những nét đặc thù trong thi pháp tự sự lưu vong của văn học Việt Nam hải ngoại nói chung và truyện ngắn hải ngoại nói riêng.

    Nỗi đau tâm hồn hay thể xác, ta có “Chấn thương di dời” và bi kịch lưu vong phi xứ. Câu chuyện về chấn thương là câu chuyện bi ai về một thứ kinh nghiệm đến muộn: kinh nghiệm chấn thương. Đó là chứng nhận về sự tác động vô hạn của chấn thương lên một cuộc đời. Chấn thương, hoặc là đẩy con người đối mặt với cái chết (labor gulag, boat peple,… ), hoặc tồn tại trong trạng thái khổ sở ngấm ngầm, dai dẳng và liên tục tái diễn vết thương trong phần đời còn lại. Tự sự chấn thương. “Lưu vong” hôm nay mãi mãi không còn là một khái niệm gợi lòng thương cảm. “Lưu vong” sẽ là trách nhiệm lương tri, trách nhiệm cảnh tỉnh, trách nhiệm đưa ra những cái nhìn đa góc độ trên cùng một thực thể hiện hữu, trách nhiệm của nhà văn với đất nước với nền văn hóa đã hoài hương của tác giả.

    Giải Nobel 2000 dành cho một nhà văn lưu vong. Giải Nobel văn chương của Cao Hành Kiện, nhà văn đối lập lưu vong do sự kiện thảm sát Thiên An Môn, là cái kết đáng buồn cho cho một thế kỷ lưu vong. Cao Hành Kiện cho biết ông hầu như không đọc văn học Trung Cộng, du văn ở trong nước, cả văn học Trung Cộng tại hải ngoại. Ý ông muôn là hãy vượt lên trên biên giới quốc gia.

    NỖI ĐAU RỜI BỎ QUÊ HƯƠNG:

    Văn học lưu vong hay Văn học ly hương: Con người lưu vong như long thể treo lơ lửng trong khoảng trống giữa hai thế giới xa cách, ở hai xứ sở trong một tâm hồn và chính từ khoảng trống ấy, văn chương cất lên tiếng nói. Miền địa dư ký ức và chủ nghĩa quốc gia viễn cách, vì một nền văn học không nằm trên bản đồ. Một khi không thể thuộc về một lãnh thổ cụ thể bằng sự hiện diện thể xác, người lưu vong tự kiến tạo cho mình một nơi chốn bình yên, một không gian thích hợp để tác phẩm có nơi trú ngụ, ấy là không gian của những ký ức, những hoài niệm.

    Trước hết, cần xác định ngay văn học Việt Nam ở bất cứ quốc gia nào khác ngoài Việt Nam, tự bản chất là văn học lưu vong. Văn học lưu vong (diaspora, exile literature) là chỉ sự phân tán hoặc lan tỏa của một cộng đồng cư dân rời khỏi quê hương gốc của họ; ví dụ như: “Cha mẹ, gốc gác của anh ấy là một phần của cộng đồng người Việt hải ngoại”. Xem xét việc sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện để diễn tả cảm giác lạc lõng, xa lạ. Nghiên cứu cách biểu hiện tinh thần dân tộc, hay cộng đồng sắc tộc được đề cập và sự liên kết giữa những người lưu vong.

    Xét về ký ức và nỗi hoài hương, ký ức và nỗi hoài hương là những chủ đề mạnh mẽ trong văn học lưu vong, nơi các tác giả chiêm nghiệm về những trải nghiệm quá khứ và quê hương mà họ đã bỏ lại phía sau. Những chủ đề này thường xen lẫn với những kinh nghiệm do việc di tản viễn xứ, khi các tác giả phải đối mặt với những hồi ức nhiêu khê, vôn phức tạp trong sự việc muốn quên nhưng con tim ray rứt lại nhớ, muốn nhớ nhưng mỏi mệt lại quên.

    Lấy ví dụ trong những tác phẩm tiêu biểu như Literature and displacement của nhà văn Holli Levitsky, hay New Palestinian Writing on Exile and Home của tác giả Penny Johnson, Exile And The Jews cúa tác giả Nancy Berg, hoặc Born In The Wrong Century của của Nhà Văn Khánh Lan. Những tác phẩm nói ở đây mang nội dung do ly hương hay do lưu vong mà ra sự biến đổi của nhân vật chính có thể được xem như một ẩn dụ cho tình tiết bi ai, đầy chông chênh, mất phương hướng của kiếp lưu vong, cũng như nỗi hoài hương về một bản sắc hay quê hương đã mất.

    VĂN HỌC PHÊ BÌNH CỦA ROLAND BARTHES.

    Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn học phê bình của Roland Barthes, nhà ký hiệu học (semiotician) là người nghiên cứu ký hiệu học kiểu mẫu trong lãnh vực phân tích các ký hiệu và biểu tượng cũng như cách thức sử dụng hay diễn giải chúng. Lĩnh vực này khám phá cách thức ý nghĩa được kiến tạo và thấu hiểu thông qua các hình thức giao tiếp đa dạng, bao gồm ngôn ngữ, hình ảnh và cử chỉ.

    Ngoài học thuật phân tích, nhận xét theo khuôn mẫu hay như quan điểm về học thuật phê bình văn học như của Gustave Lanson, Jacques Derrida, Julia Kristéva, Northrop Frye, Maxim Gorky, Mikhail Bakhtin, Vissarion Belinsky, hay Roland Barthes, …

    Phân doạn kế tiếp xin điểm sang chủ đề Phê bình văn học, hay những sáng tác khảo luận văn học.

    Phê bình văn học được xem là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm dược nói tới.

    Theo dòng lịch sử, những phán đoán phê bình xuất hiện hầu như đồng thời với sự xuất hiện của văn học, ban đầu với tư cách là những ý kiến của các độc giả thuộc tầng lớp quan trọng và hiểu biết nhất, trong số đó không ít người là cũng đồng thời là người sáng tác văn học. Trong những giai đoạn về phê bình văn học vẫn mang một ứng dụng tương đối khiêm nhường: đánh giá khái quát về các tác phẩm, giới thiệu tác phẩm với độc giả, khích lệ hoặc chỉ trích tác giả. Với sự phát triển của văn học, những mục tiêu và tính chất của phê bình văn học trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi bộ môn phải được phân nhánh và đa dạng hóa.

    Từ thế kỷ 17 và nhất là từ thế kỷ 18, văn học trở thành lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù. Tương ứng với nó là sự hình thành các thiết chế xã hội của văn học như báo chí, xuất bản, công chúng, dư luận, là sự hình thành đời sống văn học như một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội. Phê bình văn học kiểu mới được phát triển trong bối cảnh đó của đời sống, trở thành một dạng thức xã hội của dư luận đối với văn học. Các mối liên hệ của phê bình văn học với văn học, đời sống xã hội nảy sinh tác phẩm văn học, công chúng văn học ngày càng phức tạp, đa dạng. Các trào lưu, khuynh hướng trong phê bình văn học nảy nở và phát triển mạnh mẽ tương ứng với sự nảy nở và phát triển của các trào lưu, khuynh hướng văn học.

    Từ cuối thế kỷ 19 và trong nửa đầu thế kỷ 20, một số trường phái phê bình văn học nổi tiếng có thể kể đến, như phê bình phân tâm học, phê bình mới, phê bình thần thoại, phê bình chủ đề, phê bình hiện tượng luận, phê bình với hoạt động, ngôn luận đặc thù, đã tác động vào đời sống văn học và đưa tới những thay đổi trong xu hướng phát triển của văn học đương đại. Phê bình văn học đã trở thành một bộ phận lập pháp về lý thuyết cho sáng tác và nhân tố tổ chức của quá trình văn học.

    GIAI ĐOẠN VĂN HỌC RỰC RỠ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA.

    Hành trình dấn thân truy tầm ẩn ngữ văn chương trong văn học thời kỳ văn học rực rỡ của Việt Nam Cộng Hòa. Trên căn bản ấy, sự góp phần minh chứng rõ nét nhất hãy lấy nền tảng tinh hoa tri thức văn hóa, triết học, mỹ học của quan diểm khai phóng, nhân bản làm nền tảng luận giải, hay dể bình luận. Trước năm 1975, miền Nam VNCH đã có những tác phẩm khảo luận, nghiên cứu về văn hóa, triết học, đạo đức, luân lý của những Kim Định, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Trung,…,  những danh tác uyên bác.

    Khi nước Việt Nam nói chung còn nghèo, văn học xứ ta cũng còn nghèo so với nền văn học của nhiều nước trên thế giới, vì vậy chúng ta không nên lại nở làm ngơ “bỏ đi” một bộ môn văn học rất phong phú đa dạng, rất nhiều giá trị về tiềm tàng như văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975. Và việc nghiên cứu một cách thấu đáo, thận trọng trên tinh thần khoa học, khách quan, công bằng về những giá trị của văn học miền Nam là một việc làm rất cần thiết và cần sự đóng góp, chung tay, góp sức của mọi người. Phải thành thật mà nói thì môn phê bình văn học trong làng văn học xứ mình khá ít người dấn thân vào, vì sự thể dòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên môn, trong khi các xứ Âu, Mỹ, Nhật, Hàn,… họ tiến xa chúng ta, cho nên trong tác phẩm Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học, tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức đề cập về quan niệm tiến bước thẻo xu thế chung của thế giới, ông kỳ vọng, mong mỏi như sau:

    “Tác giả sách Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học đề nghị nền văn học Việt Nam hãy sớm nhận thức để vượt ra khỏi các lũy tre để nhìn xem thế giới bên ngoài đang tiến bước hướng về phía trước và bỏ xa chúng ta, hãy khai phá các khu rừng thâm u kỳ bí của nền văn học thế giới.  Nếu không mau thức tỉnh hầu sánh vai cùng người để cải tiến và nâng cao các chuẩn mực cho giá trị của mỹ học thì văn học Việt Nam sẽ khó thoát ra khỏi các vòng rào nhỏ hẹp của các thôn làng hoặc các bức tường rào của các ghetto văn học.” 

    RUDYARD KIPLING: “PHƯƠNG ĐÔNG LÀ PHƯƠNG ĐÔNG, PHƯƠNG TÂY LÀ PHƯƠNG TÂY”.

    Nhà văn nổi tiếng đã viết câu “Phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai phương trời ấy chẳng bao giờ gặp nhau” chính là Rudyard Kipling. Câu này nằm trong bài thơ “The Ballad of East and West” (Khúc ballad về phương Đông và phương Tây) của ông, được xuất bản vào năm 1889. Thực ra khi mà thế giới sống chung toàn cầu hóa, quan niệm cổ hủ của Kipling không còn đúng nữa.

    VIỆC DUNG HÒA ĐÔNG – TÂY TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM.

    Trong thời đại ngày nay, quan niệm châu Âu trung tâm đã trở nên lỗi thời, trong lĩnh vực lý luận văn học cũng vậy. Nền lý luận có tính phân tích, khoa học của phương Tây cần phải được bổ sung cái uyên áo, thâm trầm và cách viết đầy tính nghệ thuật của lý luận phê bình văn học phương Đông. Chúng ta mơ ước có những bộ sách lý luận văn học, không chỉ trình bày tư tưởng lý luận phương Tây mà ngay cả phương Đông nữa, để thấy rằng, phương Tây và phương Đông gần nhau lắm bởi tính nhân loại phổ biến của nó, nhưng đồng thời cũng thấy văn hóa phương Tây và phương Đông cũng cho những bản sắc riêng, làm cho vườn hoa nhân loại thêm đa sắc nét đa dạng. Như thế có thể nói, thể nghiệm theo khuynh hướng tiểu thuyết mới của giới cầm bút ở miền Nam hẳn có ít nhiều đóng góp cho lịch sử phát triển của văn xuôi Việt Nam trong thế kỷ 20.

    Cách phân biệt lưu đày thực sự và lưu đày trong tâm trí từ lâu đã được các nhà phê bình và nghiên cứu văn học đã đựơc quan tâm. Trong không khí chung ấy, rõ ràng hai chữ lưu đày, lưu vong mang một ý nghĩa sâu sắc, hàm chứa một giá trị nhân bản. Văn chương lưu đày, theo suy nghĩ của những nhà đối kháng như Nadine Gordimer (Nam Phi), Cao Hành Kiện (tên Hán tự- 高行健), phe Việt Nam ta tị nạn muôn thuở có quý vị như: Lê Tất Điều, Phạm Quốc Bảo, Ngô Thế Vinh, Vương Trùng Dương, Lưu Khánh Lan, Phạm Gia Đại,…, Milan Kundera (Tiệp khắc), Svetlana Alexievich (Nga), Otero Alcántara (Cuba), Vladimir Sorokin (Nga), Breyten Breytenbach (Nam Phi),… tất cả họ cùng cất cao tiếng nói như những loài chim di xa quê xưa: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”,… trở thành những tiếng nói của lương tâm, trở thành sự phản kháng quyết liệt đối với mọi chế độ đàn áp tư tưởng, phủ nhận quyền sống của con người. Thi ca não nuột, buồn tênh:

    Một thủa Cao Tần bộc bạch tự hỏi:

    Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi

    Những hào hùng uất hận gối lên nhau

    Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới

    “Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”

    Hay,

    Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ

    Một đôi người u uất nỗi chơ vơ

    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị

    Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ

    (Bài thơ Phương Xa, Vũ Hoàng Chương).

    Văn Học Lưu Vong:

    Đất tạm dung là cõi ở trọ, cỡi trần gian cuộc đời cũng chỉ là cõi tạm quán trọ ven đường, xem thơ Cao gia nhé,… Văn học Việt Nam khi nào bạn ly hương và bạn ở bất cứ quốc gia nào khác ngoài Việt Nam, tự bản chất, bạn là văn học lưu vong (diaspora, exile literature).

    Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực

    Trên đường chênh chếch nắng mênh mang

    Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc

    Ðã chán nhân gian ở cuối đường.

    (Chốn tạm dung, thơ Cao Tần).

    Hay,

    Chỉ là hiện thân của một người tử tù

    Có gục đầu nhìn cuộc đời

    Cũng chỉ như nhìn khung cửa nhà giam

    Vẫn có một chút trời xanh

    Nhưng rất nhiều đơn độc

    (Di chúc, thơ Nguyên Sa)

    Những tác phẩm dược nêu trên đây mang nội dung ly hương hay do lưu vong mà ra sự biến đổi của nhân vật chính có thể được xem như một ẩn dụ cho tình tiết bi ai, đầy chông chênh, mất phương hướng của kiếp lưu vong, cũng như nỗi hoài hương về một bản sắc hay quê hương đã mất.Khi suy luận, nghiền ngẫm về nguyên nhân qua hành trình và ý nghĩa của sự ly hương trong các tác phẩm. Nhận diện các tác giả tiêu biểu cùng những góc nhìn độc đáo của họ về sự lưu vong.Viết tham luận về tính thời sự và ý nghĩa của các chủ đề này trong xã hội đương đại. Cái đẹp chính là cuộc sống:  muốn khẳng định nguồn gốc và đặc trưng của cái đẹp trong tác phẩm văn học. Cái đẹp ấy phải bắt nguồn từ đời sống, phải gắn bó và phục vụ đời sống.

    VĂN HỌC NGHỆ THUẬT – GUY DE MAUPASSANT.

    Văn học không thể không nói đến, hay không thể không quan tâm về vấn dề luận giải. Văn học chỉ có thể tồn sinh trong xã hội, khi văn học luôn quan tâm đến những vấn đề thuộc về con người với các mối liên hệ của nó. Khi xét trên bình diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Khi bàn về vấn đề phê bình văn học nghệ thuật, Guy de Maupassant cho rằng:

    “Nhà phê bình xứng đáng với danh từ cao đẹp của nó phải là người không thuộc về khuynh hướng nào cả, không có những ưa thích riêng tư nào cả, không thiên kiến gì cả, và như nhà chuyên môn xem tranh, họ chỉ nghiên cứu đánh giá các bức tranh theo giá trị nghệ thuật của mỗi thứ. Nhà phê bình không chỉ là người khám phá và sáng tạo cái đẹp mà còn giải mã cái đẹp văn chương để định hướng mỹ cảm cho người tiếp nhân”.

    KẾ NỮA HÃY DẰO SÂU VÀO CHUYÊN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC.

    Phân tích tác phẩm *Người mẹ* của Maxim Gorky.

    Trong số những tiểu thuyết quan trọng của Maxim Gorky (1868–1936), “Người mẹ” là tác phẩm nổi tiếng nhất. Tại Liên Xô, giới phê bình đã tôn vinh “Người mẹ” như một tác phẩm mẫu mực cho thể loại văn học mới – chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với các đặc điểm chính là ghi khắc xu hướng hiện thực trong quá trình phát triển cải cách xã hội, và tác phẩm “Người mẹ” là tác phẩm bắt buộc phải học tại các trường trung học, và nhiều thế hệ về sau.

    Quan diểm về Lý thuyết và Phê bình Văn học – Lý thuyết chính của Jacques Derrida.

    Jacques Derrida (1930-2004) nổi lên vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970 với việc xuất bản các tác phẩm Of Grammatology (1967), Writing and Difference (1967) và Margins of Philosophy (1972). Tên của Derrida gắn liền với thuật ngữ ‘Giải cấu trúc’.

    “Giải cấu trúc” (Deconstruction) của Jacques Derrida là gì?

    Déconstruction là một lý thuyết và là một phương pháp phê bình bắt nguồn  từ các công trình của nhà triết học Pháp Jacques Derrida (De la grammatologie, 1967), thuyết tạo ra những ảnh hưởng to lớn tại Hoa Kỳ trong những năm 1970-1980. Lý thuyết này liên quan đến việc làm phát lộ ra những áp lực, những mâu thuẫn xuyên suốt các văn bản, ngăn cản những văn bản này đạt tới một sự biểu hiện ý nghĩa trọn vẹn rõ ràng, có thể xác định được. Lý thuyết này cho rằng tất cả những phân tích văn chương xác quyết có thể đạt được ý nghĩa “hiển nhiên” của một văn bản luôn bắt nguồn từ một dạng thức quyền lực nào đó, do nhân danh một chủ thể nào đó, kẻ bảo đảm có được một sự dàn dựng kết nối chặt chẽ với ý đồ ban đầu. Người ta manh nha sửa đổi hầu bỏ qua những chi tiết làm sai lệch đi cái cấu trúc của một sự diễn đạt luôn không chấp nhận những vết nứt gẫy, hư sai ấy.

    Các nhà giải cấu trúc tự biện luận đánh giá mình là “đạo đức” bởi vì  họ thừa nhận tính khác biệt của văn bản, thừa nhận cái vị thế của văn bản như là một hiện tượng thuần túy ngữ nghĩa trước là đối tượng của một sự suy xét về mặt tư tưởng đạo đức. Quá trình cấu tạo văn chương trong văn bản ở đây được xem qua việc sửa sai hầu khắc phục sự thiếu sót của ngôn ngữ, để tránh né sự sai phạm trong việc giải thích về hiện trạng, đồng thời đó cũng luôn là một nỗ lực tuyệt vọng, khi bị kết án thất bại ngay ở bước khởi đầu, qua những ý nghĩa trọn vẹn. Giới chính trị, báo chí Hoa Kỳ dã dùng thuật ngữ “Deconstruction” phổ biến này.

    Tác phẩm Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học cũng đề cập khá rõ về lý thuyết của Derrida về Giải cấu trúc (Deconstruction).

    Việc phê bình văn học có nên được coi là một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt với lý thuyết văn học hay không là một vấn đề gây tranh cãi. Ví dụ, cuốn “Hướng dẫn về Lý thuyết và Phê bình Văn học của Đại học Johns Hopkins” không phân biệt giữa lý thuyết văn học và phê bình văn học, và hầu như luôn sử dụng các thuật ngữ này cùng nhau để mô tả cùng một khái niệm. Một số nhà phê bình coi phê bình văn học là một ứng dụng thực tiễn của lý thuyết văn học, bởi vì phê bình luôn trực tiếp đề cập đến các tác phẩm văn học cụ thể, trong khi lý thuyết có thể mang tính tổng quát hoặc trừu tượng hơn.

    Phê bình văn học thường được xuất bản dưới dạng tiểu luận hoặc sách. Các nhà phê bình văn học hàn lâm giảng dạy tại các khoa văn học và xuất bản trên các tạp chí học thuật, trong khi các nhà phê bình nổi tiếng hơn xuất bản các bài đánh giá của họ trên các tạp chí có lượng phát hành rộng rãi như The Times Literary Supplement, The New York Times Book Review, The New York Review of Books, London Review of Books, RadioFrance Critiques Littéraires,  Paris Review Book, Revue critique de fixxion française contemporaine, BibliObs Critiques de livres, Dublin Review of Books, và The New Yorker,…

    Tóm lại, sau những trang nhìn về Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức, người viết bài xin khép dề tài qua những dòng chừ sau đây.

    Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức cho người dọc một số kiến thức chính luận, tham luận về văn học nói chung, trên căn bản giáo khoa hàn lâm. Lý thuyết phê bình cung cấp một khung cửa về lý thuyết văn học phong phú và đa dạng cho việc phân tích văn học chuyên sâu, cho phép người đọc tiếp cận văn bản một cách thấu đáo và khám phá những tầng lớp lang chữ nghĩa đa chiều. Khi xét qua việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử, các hệ thống tư tưởng và các vấn đề mà chủ đềne6u ra, người đọc có thể phát triển, tự tìm hiểu mục tiêu sâu sắc và tinh tế mà tác phẩm luận bàn về văn học.

    Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức cho người dọc một số ý kiến cần thiết khi nhìn về văn học. Vì văn học chính là cầu nối giữa trái tim người và người, với trái tim giữa tâm hồn với tâm hồn. Văn học là chất xúc tác hay chất phù sa cho tâm hồn con người. Văn học luôn luôn thấu hiểu những tâm tư tình cảm những nỗi niềm sâu lắng từ tiềm thức, một ngưỡng cửa chan hòa rung cảm muôn thuở của nhân loại . Mà khát vọng muôn đời của nhân loại chính là đích điểm vươn đến những giá trị Chân – Thiện – Mỹ, vượt thoát khỏi giới hạn tồn tại của không gian và thời gian để hướng đến những giá trị vĩnh hằng, bất diệt.  Những cái đẹp độc đáo, khác thường đã xuất hiện trong văn học như một lẽ rất tự nhiên.

    Trần Việt Hải, California 2026

  • Kiều My,  Sinh Hoạt

    Lễ Mừng Kính Á Thánh Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

    Kiều My

    Trong niềm hân hoan và tạ ơn Thiên Chúa, ngày 25 tháng bảy năm 2026, tại giáo xứ Bonaventure, Huntington Beach, California, đã cử hành thánh lễ đồng tế trang trọng để tri ân Thiên Chúa vì Ngài ban cho Giáo hội hoàn vũ, cách riêng cho Giáo hội Việt Nam có được Á Thánh Phanxicô Trương Bửu Diệp sau bao năm dài mong đợi hồng ân lớn lao này của giáo dân Việt Nam, từ Tòa Thánh Vatican.

    Thánh lễ được cử hành trọng thể do bảy vị linh mục cùng đồng tế trong phẩm phục màu đỏ, để nói lên cuộc tử đạo, sự đổ máu của người hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên là Á Thánh Phanxicô Trương Bửu Diệp. Với sự tham dự đông đảo của tín hữu từ các họ đạo trong giáo phận Orange County, tôn giáo bạn, các đoàn thể, giới truyền thông và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian v.v…Tất cả cùng hiệp dâng thánh lễ với tấm lòng thành kính hướng lên Thiên Chúa và tân Chân phước Phanxi cô Xavier Trương Bửu Diệp.

     Ca đoàn Gloria ngân vang lên những bài Thánh ca đã tạo nên bầu không khí trong nhà thờ thật thánh thiêng, cùng những tiếng râm rang những lời kinh của giáo dân rất sốt sắng. Mọi người thật nức lòng đón mừng một vị thánh của giáo hội Việt Nam mà bấy lâu hằng mong đợi với liên lỉ cầu nguyện cùng Thiên Chúa.

    Cha Trương Bửu Diệp là vị tử đạo đầu tiên thế kỷ XX  được phong Á Thánh. Ngài là vị linh mục thánh thiện đáng kính đã can đảm làm chứng cho đức tin vào Chúa Kitô, hy sinh mạng sống cứu những giáo dân vô tội khỏi bị sát hại. Cuộc đời và cái chết của ngài đã làm cho ánh sáng đức tin tiếp tục tỏa sáng giữa lòng dân Chúa. Ngài là chứng nhân đức tin đã sống trọn vẹn lời mời gọi của Chúa Kitô: “Người mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”.


     Khi sinh thời, cha Diệp không chỉ chăm lo đời sống thiêng liêng mà còn quan tâm đến nhu cầu vật chất của giáo dân. Những người nghèo khó tìm đến ngài đề được trợ giúp; những người đau khổ tìm đến ngài đề được an ủi; những người bất hòa tìm đến ngài để được hòa giải. Điều đáng trân trọng là tình yêu mục tử của ngài không giới hạn nơi các tín hữu Công giáo, mà ngài đón nhận hết tất cả những người tôn giáo khác bằng tấm lòng bác ái rộng mở. Vì trong tầm nhìn đức tin của ngài – tất cả đều là con Thiên Chúa.

    Thánh lễ mừng kính Á Thánh Phanxicô Trương Bửu Diệp hôm nay đưa chúng ta về với giáo huấn của Chúa Ki tô về các “mối phúc thật”:

    “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì nước trời là của họ. Phúc thay khi anh em vì thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”

    Á Thánh Trương Bửu Diệp đã mời gọi chúng ta đáp lại tiếng gọi ấy: hãy chọn Chúa và nương tựa vào Người mỗi ngày trong cuộc sống. Hãy can đảm làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình.

    VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH TẮC SẬY

    Nét đẹp nhất trong cuộc đời cha Diệp chính là tình yêu của ngài dành cho đoàn chiên và những người chung quanh. Tình yêu này được thể hiện qua hai từ đơn sơ: Phục vụ và Hy sinh.

    “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết, cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”

    PHỤC VỤ: ngài thấu hiểu nổi đau của tha nhân. Ngài phục vụ người nghèo khổ không mệt mỏi với lòng bác ái và khiêm hạ.

    HY SINH: chấp nhận gian khổ để phục vụ tha nhân và cuối cùng là hy sinh mạng sống mình để bảo vệ đoàn chiên thoát chết trong cuộc bách hại. Trong giai đoạn dầu sôi lửa bổng của lịch sử miền Nam, Việt Nam (1945 – 1946), nhiều người khuyên ngài rời khỏi Tắc Sậy để bảo toàn tính mạng, nhưng ngài kiên quyết từ chối:

    “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết, cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”

    Đây không đơn thuần là lời nói suông mà thi hành sứ mệnh của một mục tử trung thành với ơn gọi; “Không tình yêu nào cao quy‎ hơn là hy sinh mạng sống cho người mình yêu.” Cha Diệp đã noi gương theo thầy chí thánh Giêsu! Đêm rạng sáng ngày 13 tháng 3 năm 1946, giữa hoàn cảnh biến loạn, cha Diệp đã bị sát hại dã man (chặt đầu và ném xác xuống ao). Theo lưu truyền: Cha Diệp từ chối hợp tác với Việt Minh và sẵn sàng chịu chết để nhiều giáo dân được tha mạng sống.

    Cha Diệp đã vĩnh viễn ra đi! Nhưng sao đến hôm nay và có lẽ mãi mãi, người Việt vẫn yêu mến cha Diệp với lòng cậy trông. Vì nơi cha Diệp, người ta gặp được một người cha vừa đáng kính vừa gần gũi; một mục tử nhân lành đã sống chết vì đoàn chiên. Và hơn thế nữa, theo niềm xác tín của biết bao người, cha Diệp vẫn tiếp tục cầu bàu cùng Thiên Chúa và chuyển ơn cho những ai thành tâm chạy đến cha qua nhiều phép lạ chữa lành mà giới y khoa không thể giải thích, cùng nhiều trường hợp đặc biệt khác.

    Soeur M. An Dũng Tuyết Ngân đã ghi lại bài thánh thi Giờ Kinh Sáng dưới đây:

    Đây linh mục, những con người thánh hiến

    Suốt cuộc đời làm chủ tế trung kiên

    Đem tình thương người mục tử nhân hiền

    Dâng trọn vẹn cho đoàn chiên chẳng tiếc

    Hồng ân Chúa, những hồng ân đặc biệt

    Lãnh nhận rồi, phân phát cả cho dân

    Thắt đai lưng như đầy tớ chuyên cần

    Chờ đợi chủ, tay cầm đèn sáng rực

    Không mỏi mệt nhưng kiên trì tỉnh thức

    Suốt đêm trường hay mãi tới canh khuya

    Miễn làm sao kịp khi chủ trở về

    Mở ngay cửa nghênh đón Người vội vã

    Đọc những câu thánh thi ấy, người ta dễ dàng nhìn thấy hình ảnh cha Diệp hiện lên qua từng dòng chữ: một linh mục hiền lành thánh thiện sống giữa giáo dân và cuối cùng hiến cả mạng sống mình cho đoàn chiên. Chính từ chứng tích ấy đã phát sinh ra biết bao hoa trái. Hàng ngàn bảng ghi “Tạ ơn cha Diệp”, cùng vô số lời chứng về những người được chữa lành bệnh tật, vượt qua tai nạn hiểm nguy, hay tìm lại bình an trong cuộc sống… Có một điều không thể phủ nhận là suốt mấy thập kỷ qua, dòng người hành hương vẫn không ngừng tìm đến cha Diệp, không những người Công giáo mà cả lương dân; không chỉ người trong nước mà cả những người Việt xa xứ cũng tìm về với cha.

    Giữa vùng đất miền Nam, Việt Nam chân chất và mộc mạc ấy, cha Diệp đã trở thành một hình ảnh rất đặc biệt trong đời sống tâm linh của nhiều người. Bởi tận đáy lòng, người ta cảm phục vị mục tử nhân lành đã sống theo giáo huấn của Chúa Kitô – sống vì đoàn chiên và cũng đã chết vì đoàn chiên.

    Nhà thờ Tắc Sậy, Bạc Liêu, cũng là nơi an nghỉ của Cha Trương Bửu Diệp

    Kết thúc thánh lễ, ca đoàn Gloria đã hát lên thánh ca Latin “Anima Christi” thật tuyệt vời giữa không khí thánh thiêng! Và khi ra về có lẽ mọi người mang trong tim  những lời nguyện cầu chân thành hòa lẫn tiếng hát thiên thần của buổi lễ mừng Á thánh Phanxi cô Trương Bửu Diệp hôm nay. Một khoảnh khắc thật khó quên!

    Ca đoàn Gloria

    Người viết chân thành cảm tạ quy linh mục, đặc biệt cha R.J. Trương Hữu Nhân, cha chánh xứ nhà thờ Bonaventure Phạm Ngọc Hùng, ông Nguyễn văn Liêm và ban tổ chức, ca đoàn Gloria, cùng tất cả quy vị đã góp công sức cho buổi lễ thành công tốt đẹp hầu dâng lên Thiên Chúa.

    Sau thánh lễ, quan khách cùng tham dự buổi tiệc thân mật tại nhà hàng White Palace với thức ăn rất ngon; đồng thời được thưởng thức những bản thánh ca qua giọng hát thật điêu luyện của ca đoàn Gloria làm say mê lòng người. Sau cùng:“Thân lạy Chân Phước Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp, xin cho chúng con luôn vững vàng trong niềm tin, nồng nàn trong lòng mến Chúa và quảng đại quên mình để phục vụ tha nhân.”

    Kiều My, California 2026

  • ĐIỂM SÁCH,  Viet-Hải

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM: NGƯỜI ĐI TÌM DĨ VÃNG

    Việt Hải

    Đây là một Tuyển tập gồm 24 truyện ngắn, sách mang đề tựa truyện ngắn Người Đi Tìm Dĩ Vãng, cốt truyện mô tả chuyện tình giữa 2 nhân vật, thương nhau trong thời chiến, chàng theo học khóa sĩ quan ở Nha Trang, nàng là học viên khóa Sư Phạm Qui Nhơn, họ yêu nhau trong mối tình ở miền thùy dương cát trắng, sau biến cố mất miền Nam Việt Nam, chàng di tù Việt Cộng, cha chàng theo CS tập kết ra bắc, nhưng ông không giúp gì được cho chàng. Chàng không đủ điều kiện sang Mỹ theo chương trình HO, vì số năm tháng ở tù không hội đủ, chàng phải sống bằng nghề nấu rượu lậu, trong cảnh chán nản cuộc đời chàng hay say xỉn, xỉn say. Kết quả chàng bị bệnh ung thư gan.

    Môt khi chọn hành nghề nấu rượu lậu, một vốn … bốn lời, ban đầu thì còn ngần ngừ, e ngạì, nhưng khi đói đầu gối cứ phải bò, ông vẫn phải làm những việc mà mình không hề muốn. Với những chén rượu hằng ngày tự bàn tay của chàng cất rượu ra, lâu dần đã gậm nhấm từng tế bào da thịt, biến chứng do cồn biến dạng từ hình hài lẫn tình cảm, giết chết hẳn một con người oai hùng, hiên ngang một thuở chinh chiến, giết luôn cả phần tương lai còn lại với chứng bịnh ung thư gan. Nguyên nhân do tâm sinh lý đều bịnh hoạn. Chàng ra di. Trút sạch nợ trần gian, như lời nói của ông chủ quán bán bên đường nói:

    “….. cũng nên đi sớm cho khoẻ tấm thân…”

    Còn người đàn bà ngồi trên xe trở về lại thành phố, bên tai vẫn còn nghe văng vẳng tiếng khóc và lời kể lể của người góa phụ vừa khoác áo tang chồng:

    “Từ lúc tui dìa làm dợ ổng, tui cứ thấy ổng buồn quài (hoài), nhưng hỏi ổng đâu có nói. Rồi thời cuộc đưa đẩy, ổng ở tù dià, cứ lầm lầm lỳ lỳ. Khi cha con gặp lại nhau, họ cãi nhau quá trời, nói cũng vì ông cha theo cộng sản mà ổng mất hết, sống cũng như chết, làm hại cả một đời mẹ con ổng, mà cuối cùng cũng chẳng được, dù quyền cao chức trọng gì, lại còn nghèo xác nghèo xơ. Hai cha con đã không có gần gũi đến khi cha ổng mất. Còn tài sản thì mấy đứa con riêng của ông cha chiếm hết, vì họ có quyền, nên anh em cũng không thựng (thuận) thảo, tới lui. Tui cứ nghĩ cộng sản dô nên ổng trở dìa làm dân, mất hết, tui đâu biết ổng nói xa nói gần, mãi đến khi gần chết, ổng mới kêu mẹ con tui lại, ổng xin lẫu (lỗi) đã không làm tròn bổn phận làm chồng, làm cha trong bao nhiêu năm qua, biểu tha lẫu (lỗi) cho ổng, rầu (rồi) ổng khóc nói hầu (hồi) trước ổng có yêu một ngừ (người), mà tại lý lịch cha ổng, nên ổng để mất ngừ (người) ta…. May mà chị đã dià nhằm ngày đưa đám tang ổng, chắc ổng cũng được ngậm cừ (cười) nơi chín suối… “(hêt)

    Câu truyện kể về một dĩ vãng u buồn, xót xa do số phận con người, theo nhà thơ Vũ Hoàng Chương cho là “sinh lầm thế kỷ” (theo bài thơ Phương xa), quá bi ai, bi đát. Tác giả Hoài Niệm khéo léo xây dựng cốt truyện dựa vào những dữ kiện thật đã xảy ra trong xã hội ở miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư. Tác giả cho đoạn kết luận mở (open conclusion, conclusion ouverte), kết luận dùng một đoản văn phương ngữ Ninh Hòa, khiến cho độc giả bật cười nhẹ nhàng, một cảm nhận thú vị hóm hĩnh và ý nhị vui tươi dí dỏm, tạo ra yếu tố hài hước tinh tế.

    Văn hào Nga Maxim Gorky nhận xét về lối văn xuôi, văn chương, người viết văn viết lên những câu chuyện phản ảnh những sinh hoạt xung quanh dời sống. Tôi cho là nhà văn Hoài Niệm là điển hình cho một ngòi bút về tiểu thuyết, hay truyện ngắn xuất sắc, cú pháp vững chắc, bà dùng lối văn viết rõ ràng, mạch lạc dễ hiểu, theo nguyên tắc sư phạm ứng dụng. Bố cục của nhiều câu truyện trong tuyển tập này, dựa theo những chuỗi sự kiện dược sắp xếp theo tuần tự hợp lý và vững chắc. Dĩ vãng hay hoài niệm là chuổi thời gian đã qua, dù khôn nguôi, nhớ hoài cho tôi liên tưởng đến tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” (Pháp ngữ là À la recherche du temps perdu) là bộ tiểu thuyết kễ về dĩ vãng dã qua, cuốn Tiểu thuyết này được xếp vào trong số 10 cuốn tiểu thuyết được thanh niên Pháp ưa thích nhất trong thế kỷ 20. Tạp chí Time cũng bình chọn Đi tìm thời gian đã mất nằm trong danh sách mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại.

    Thêm nữa, tôi liên tưởng tiểu thuyết sự gần gũi giữa tác phẩm Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm vã cuốn tiểu thuyết Dĩ Vãng Khôn Nguôi của nhà văn Khánh Lan do yếu tố có cùng dĩ vãng 30 tháng Tư năm 1975 của Việt Nam Cộng Hòa.

    Trong tập sách Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm có truyện ngắn mang tên là Tâm Sự Barbara. Đây là cốt truyện về con chó mang tên Barbara, Barbara sống trong một gia đình người Mỹ sung sướng, về sau Barbara lạc phận mệnh số, dù Barbara, bị gia chủ cho phẩu thuật triệt sản (sterilization surgery), no more sex impact mây mưa, trường chay mãn kiếp, tu thân tích đức. Rồi Barbara lạc phận vào một gia dình phật giáo Việt Nam, chó Barbara trải qua kiếp văn hóa Việt, nào những thi ca như Thịt cầy mà thiếu lá mơ, như thuyền không bến, như thơ không vần, hay thi ca về em Barbara, như sau:

    Riềng tươi thịt chó cũng tươi

    Lá mơ gói lại chúng cười với nhau

    Tu hành ta hãy mau mau

    Rót thêm chén rượu trước sau vẹn toàn

    ….

    Lá mơ mọc trước cổng chùa

    Khóm riềng hậu viện còn đùa gió thu

    Nửa đêm nghe tiếng chó tru

    Sáng ra đã thấy thợ tu nướng dồi

    Anh chỉ ước một thảo nguyên đầy Chó,

    Một cánh đồng bát ngát lá mơ xanh

    Một dãy sân sau đầy riềng, sả, ớt, hành

    Một dòng sông chứa đầy bia với rượu

    Ðể nơi ấy tháng ngày anh tu luyện

    Xa bụi trần gian đánh chén Barbara,…

    Bài thơ khác về Barbara.

    Nghe vẻ nghe ve…

    Nghe vè thịt chó

    Đứa nào chịu khó

    Nấu nước cạo lông

    Đứa nào ở không

    Đi mua đồ nấu

    Đứa nào xấu xấu

    Xắt sả nạo dừa

    Đứa nào không ưa

    Đi ra chỗ khác

    Tao làm một lát

    Xúm lại mà ăn

    Đừng có lăng xăng

    Thiên hạ đàm tiếu

    Con chó chút xíu

    Chín mười thằng ăn

    Đừng có xỉa răng

    Sau khi ăn chó

    Chút thịt dính đó

    Ba bữa còn thơm

    Xỉa ra ăn cơm

    Vẫn còn ngon chán!

    Nếu mà có ngán

    Rượu đế đưa cay

    Vừa đã vừa say

    Cao lương không đổi

    Thịt chó ăn tối

    Mát bụng ngủ ngon

    Vợ chồng thêm con

    Barbara tình em

    Nghe vẻ nghe ve

    Nghe vè thịt chó,…

    Barbara tinh em

    Hỡi em Barbara,

    Sống trên đời ăn miếng dồi chó

    Chết xuống âm phủ, biết có hay không?

    Tác giả Hoài Niệm cho em Barbara vào chùa Phật giáo nghe kinh kệ Nhân Quả Luân Hồi ,… Phần lớn người Việt dù có theo hay không theo đạo Phật thì trong thâm tâm vẫn hướng thiện, việc sát sinh hoặc ăn thịt cầy là những điều cấm kỵ. Trong một nghiên cứu về văn hóa học, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Chương của Viện Đại học Đà Lạt khi bàn về việc ăn thịt cầy và quy luật âm dương ngũ hành đối với sức khỏe con người, ông cho rằng, một mặt, giáo lý Phật giáo cấm sát sinh, một mặt thịt cầy là món ăn nhiều đạm, khi ăn thịt cầy thường phải uống rượu. Nhập vào cơ thể nhiều đạm lại có thêm rượu sẽ tạo nên hưng phấn, khiến con người có những hành vi mây mưa ong bướm, những hoạt động không chuẩn mực chân tâm thánh thiện như ngay trong ngày thường. Trong dân gian thường rất kiêng kỵ ăn thịt cầy, hay thịt chó, tức là con gái Barbara, của bà Hoài Niệm.

    Bây giờ hãy xét qua mối tương quan giữa nghiệp báo và sự kiện tái sinh. Luân hồi dựa trên nghiệp (karma) tức hành động có chủ đích. Với chó, một sinh vật có bản năng, nghiệp của nó chủ yếu do chủ nhân và môi trường tạo ra. Một con chó được dạy dỗ tử tế, bảo vệ chủ, giúp đỡ người khác, thì nghiệp lành của nó được tăng cường. Ngược lại, chó được huấn luyện để cắn, giết, sẽ tạo nghiệp ác, dẫn đến kiếp sau khó lên khi đầu thai hóa kiếp.

    Trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa, có câu chuyện về một con chó bị chủ đánh đập, nó chạy đến chân Đức Phật khóc. Đức Phật bảo: “Trong kiếp trước, con gái Barbara là người bóc lột người khác, nên nay rơi vào kiếp chó Barbara để trả nợ. Nhưng vì nó vẫn giữ được lòng trung thành, nên Barbara con gái sẽ được siêu thoát”. Điều này cho thấy nghiệp báo không tuyệt đối, sự hối cải và đức hạnh trong kiép hiện tại vẫn có thể thay đổi vận mệnh tương lai.

    Các nhà nghiên cứu tâm lý học và khoa học thần kinh động vật (Researchers in animal psychology and neuroscience) cũng đề cập đến khả năng “tái sinh” dưới góc độ ý thức và trí nhớ. Bác sĩ thú y và nhà hành vi học động vật, Dr. Alexandra Horowitz, trong cuốn “Inside of a Dog”, chỉ ra rằng chó có ký ức cảm xúc mạnh mẽ, trí nhớ lâu dài về con người và nơi sống. Một số người tin rằng, khi một con chó quá trung thành, ký ức và tình cảm của nó có thể “chuyển tiếp” sang một đời người mới, tạo nên cảm giác quen thuộc. Tuy vậy, từ góc độ khoa học, đây chỉ là giả thuyết, không có bằng chứng sinh học. Niềm tin vào luân hồi chủ yếu thuộc về tâm linh và văn hóa. Điều quan trọng là nó tác động tích cực đến hành vi của con người: đối xử tốt hơn với thú cưng, vì có thể họ đang đối xử với một linh hồn từ kiếp trước.

    Con gái Barbara, của bà Hoài Niệm ở phần kết luận khá thương tâm, u buồn như sau: “Con chó Barbara trong câu chuyện đã già và bịnh nặng không còn sức sống nữa, nên chủ nhà đã nhờ Bác sĩ thú y đến tận nhà, chích một mũi thuốc cho nó nhẹ nhàng ra đi. Và sau đó họ đem con chó đi hoả thiêu… Chỉ có người nuôi chó mới cảm thông nỗi đau khi tiễn con chó cưng Barbara nuôi mười lăm năm dài đã ra đi, không khác gì mất một người thân, nên chuyện khóc tiếc nuối không tránh khỏi.

    Adieu Barbara! Farewell Barbara! Sayonara Barbara!

    Cùng đề tài văn học Barbara của thi hào Pháp Jacques

    Prévert (*)

    ———————————————————————-

    (*): Jacques Prévert (1900 – 1977) là nhà thơ hiện đại nổi tiếng của Pháp, được công chúng yêu mến bởi ngôn từ bình dị nhưng không kém phần tinh tế. Ông cũng là tác giả gốc của bài hát nổi tiếng Lá Mùa Thu (Autumn Leaves).

    Thành Brest là nơi mà nhà thơ gặp cô gái có tên Barbara, nằm ở miền Bắc nước Pháp, là nơi có một căn cứ tàu ngầm của hải quân Đức trong thế chiến thứ hai. Vào những ngày cuối chiến tranh, Brest bị bom đạn san phẳng, chỉ còn lại ba ngôi nhà còn đứng vững. Bài thơ Barbara của Jacques Prevert gợi lên sự ám ảnh về tình yêu, mất mát và ký ức trong bối cảnh thành phố Brest nước Pháp bị phá hủy trong Thế chiến II. Nó kể về câu chuyện tình yêu nồng cháy, bị cắt đứt một cách bi thảm. Lời thơ giản dị mà trữ tình. Barbara có thể là người tình của tác giả, cũng có thể là nhân vật tượng trưng cho tình yêu thời chiến.

    Trích doạn thơ Barbara như sau:

    Barbara hỡi, hãy nhớ

    Em đừng quên

    Cơn mưa ngoan hiền hạnh phúc đó

    Trên khuôn mặt em hân hoan

    Trên thành phố bình an

    Cơn mưa trên mặt biển

    Trên xưởng tàu

    Trên con tàu ven đảo Ouessant.

    Rappelle-toi Barbara

    N’oublie pas

    Cette pluie sage et heureuse

    Sur ton visage heureux

    Sur cette ville heureuse

    Cette pluie sur la mer

    Sur l’arsenal

    Sur le bateau d’Ouessant

    Hỡi Barbara

    Cuộc chiến tranh xuẩn ngốc xiết bao

    Còn em giờ đã ra sao

    Dưới trận mưa lửa thép

    Dưới trận mưa máu trào

    Và người từng siết chặt em trong tay

    Tha thiết ngày nào

    Hiện sống còn đã mất hay biền biệt âm hao

    Hỡi Barbara.

    Oh Barbara

    Quelle connerie la guerre

    Qu’es-tu devenue maintenant

    Sous cette pluie de fer

    De feu d’acier de sang

    Et celui qui te serrait dans ses bras

    Amoureusement

    Est-il mort disparu ou bien encore vivant

    Oh Barbara

    Kết luận cả hai Barbara của Lê Thị Hoài Niệm, hay Barbara của Jacques Prévert đều cảm động và bi ai nổi lòng ở kết cuộc mang nhân bản tính. Xin cám ơn cả hai Barbara của Lê Thị Hoài Niệm, hay Barbara của Jacques Prévert trong văn học khai phóng nhân ái của con người.

    Việt Hải, California 2026

  • Lê Nguyễn Nga

    HỒNG TƯỚC:  MỘT CÁNH CHIM ĐÃ BAY VỀ MIỀN VIÊN MIỄN

    Ngày 16 tháng 4 năm 2026, tôi bàng hoàng nhận tin ca nhạc sĩ Hồng Tước đã vĩnh viễn ra đi.

    Chỉ vài ngày trước đó, tôi còn đọc trên Facebook những dòng trao đổi của Hồng Tước với nhóm bạn. Chị có nhắc rằng bác sĩ vừa đổi thuốc mới. Không ai ngờ chỉ hai ngày sau, tin buồn ấy lại đến. Ban đầu thật khó tin, nhưng rồi cũng phải chấp nhận quy luật vô thường của đời người.

    Không phải chỉ vì Hồng Tước đã ra đi mà tôi viết những dòng tưởng niệm này, mà còn bởi lòng thương tiếc, biết ơn và trân quý đối với một người bạn, một người nghệ sĩ tài hoa đã để lại nhiều dấu ấn đẹp trong cuộc đời tôi.

    Trong quyển sách tôi đã xuất bản, có một bài viết ngắn ghi lại những kỷ niệm với Hồng Tước. Hôm nay, tôi xin được nhắc lại như một nén hương lòng tưởng nhớ chị.

    Năm 2016, khi tôi còn mang bệnh nặng và đang dưỡng bệnh tại một dưỡng đường, nhà văn Việt Hải tổ chức chương trình Chiều Nhạc Lam Phương. Nhờ sự nhớ đến của anh Việt Hải cùng vợ chồng họa sĩ Lưu Anh Tuấn, tôi được đưa đến tham dự buổi sinh hoạt văn nghệ hôm ấy.

    Bước vào nhà hàng, tôi được sắp xếp ngồi cùng bàn với Hồng Tước. Trước đó, chúng tôi đã nhiều lần gặp nhau trong giới văn nghệ sĩ. Chị Kim Tước vốn là bạn thân của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cùng nhiều anh chị văn nghệ tiền bối, nên chúng tôi không hề xa lạ.

    Có lẽ đó chính là một cái duyên đẹp.

    Hôm ấy, tôi mang theo quyển sách đầu tiên của mình để tặng Hồng Tước. Tôi cũng khoe với chị bài thơ mới viết mang tên Khúc Thu Ca và đề tặng ngay trên trang đầu của sách. Sau khi về nhà, Hồng Tước đọc đi đọc lại bài thơ nhiều lần. Chỉ trong một thời gian ngắn, chị đã phổ nhạc bài thơ với tất cả cảm xúc của mình.

    Không lâu sau, Hồng Tước gửi cho tôi ca khúc mới cùng video qua tiếng hát của ca sĩ Kim Tước. Bài hát được nhiều bạn bè yêu thích và đón nhận.

    Một năm sau, chị lại phổ nhạc thêm bài thơ Chiều Thu Vàng. Ca khúc được anh chị nghệ sĩ Hùng Nguyễn – Phương Thảo hòa âm, thu âm tại Hoa Kỳ và đưa lên YouTube. Riêng bài Chiều Thu Vàng, Hồng Tước còn tặng tôi một bức tranh tuyệt đẹp do chính chị sáng tác.

    Ngoài vai trò ca sĩ và nhạc sĩ, Hồng Tước còn là một họa sĩ với nhiều tác phẩm mang gam màu nhẹ nhàng, thanh thoát và đầy chất thơ.

    Nhờ hai ca khúc Hồng Tước phổ nhạc từ thơ của tôi, tôi càng có thêm động lực sáng tác. Sau đó, nhiều bài thơ của tôi tiếp tục được các nhạc sĩ Lam Dung, Hạnh Cứ, Cao Minh Hưng, Phạm Cao Tùng, Nguyễn Tuấn cùng nhiều nhạc sĩ khác phổ nhạc. Từ đó, tôi có cơ duyên xuất bản quyển Thơ Nhạc Lê Nguyễn Nga.

    Đặc biệt, tôi vô cùng biết ơn Giáo sư Thái Phạm đã thực hiện quyển FlipBook Thơ Nhạc Lê Nguyễn Nga, trong đó có nhiều video âm nhạc quý giá, đặc biệt là những video Hồng Tước tự trình bày các ca khúc của mình cùng những phần thể hiện của nhiều ca sĩ khác.

    Một kỷ niệm đẹp khác mà tôi không bao giờ quên là buổi nhạc Nắng Chiều, được tổ chức vào năm 2016 nhờ tấm lòng của nhà văn Viết Hải và Giáo sư Thái Phạm, cùng toàn thể anh chị em trong nhóm NVNT-TTG, nhằm tưởng nhớ nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn.

    Chương trình được tổ chức tại Phòng Việt Ngữ Minh Đức với sự hiện diện đông đủ của bạn bè văn nghệ. Hồng Tước đã mời chị Kim Tước và ca sĩ Tâm Vấn, lúc ấy đang sang California, cùng tham dự. Ngoài ra còn có Ngọc Hà, Thanh Thanh và rất nhiều bạn hữu thân thiết khác.

    Đó là một buổi văn nghệ ấm áp, chan chứa tình nghệ sĩ và tình bạn. Những bài hát về Nắng Chiều vang lên trong niềm xúc động, để lại trong lòng mọi người những kỷ niệm thật đẹp. Hình ảnh Hồng Tước, Kim Tước, Ngọc Hà, Thanh Thanh cùng bạn bè văn nghệ hôm ấy sẽ mãi ở lại trong ký ức của chúng tôi.

    Những năm sau đó, Hồng Tước vẫn luôn đồng hành cùng các sinh hoạt của nhóm NVNT-TTG. Tháng 10 năm 2025, chị đến dự lễ kỷ niệm 10 năm thành lập nhóm. Đến chương trình Giáng Sinh năm 2025, chị vẫn ngồi cùng bàn với tôi, vui vẻ trò chuyện như mọi lần.

    Vậy mà chỉ ba tháng sau…

    Ngày 16 tháng 4 năm 2026, Hồng Tước đã lặng lẽ rời xa cõi tạm.

    Biết rằng cuộc đời là vô thường, nhưng sự ra đi của Hồng Tước vẫn để lại trong lòng tôi và bạn bè một khoảng trống khó bù đắp. Chúng ta đã mất đi một người bạn hiền, một ca nhạc sĩ tài hoa và một họa sĩ đầy tâm hồn của cộng đồng người Việt hải ngoại.

    Xin cầu chúc cánh chim Hồng Tước thanh thản bay về miền an nhiên, nơi không còn đau đớn, nơi tiếng hát và dòng nhạc của HT sẽ còn mãi ngân vang trong lòng những người yêu mến HT.

    Thành kính tưởng nhớ.

    Lê Nguyễn Nga

    California, tháng 4 năm 2026