-
CUỐN THEO CHIỀU GIÓ
Vương Trùng Dương

Theo dòng thời gian, từ trước công nguyên cho đến nay, nhiều nước trên thế giới đã từng xảy ra nội chiến (civil war – chiến tranh trong nước), những cuộc nội chiến đó trong quá khứ thường được nhắc đến trong những bài học lịch sử. Lịch sử nước ta thời Đại Việt cũng trải qua vài giai đoạn như nội chiến Nam Bắc triều (1533-1677) giữa nhà Mạc và nhà Hậu Lê. Thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1775) giữa chúa Trịnh ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn ở miền Nam (Đàng Trong). Chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn (1771-1785 và 1787-1802). Nguyễn Huệ (1753-1792) đánh Nam dẹp Bắc, lên ngôi Quang Trung Đại Đế nhưng chết khi còn trẻ, nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Phúc Ánh (1762-1820), tiến hành cuộc chiến, thống nhất sơn hà, năm 1802, lên ngôi Gia Long Hoàng Đế, quốc hiệu Việt Nam, chấm dứt cuộc nội chiến tranh kéo dài gần 270 năm.
Nội chiến Hoa Kỳ (American Civil War 1861-1865), còn gọi là cuộc chiến tranh Bắc-Nam giữa chính phủ liên bang miền Bắc (Union) sau khi Abraham Lincoln đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1860 và liên bang phía Nam (Confederate States of America) với 11 tiểu bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam Hoa Kỳ đã tuyên bố ly khai khỏi Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Cuộc chiến khốc liệt đẫm máu kéo dài 4 năm, bắt đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 1861 và chấm dứt ngày 9 tháng 4 năm 1865, chế độ nô lệ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Vị tướng tư lệnh miền Bắc Tướng George B. McClellan ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với vị tướng tư lệnh miền Nam Tướng Robert Lee.
Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng. Tự do trở về quê cũ như các dân thường. Tướng R. Lee đồng ý nhưng chỉ đòi hỏi một điều sau cùng là yêu cầu cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu. Tướng Ulysses S. Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà xây dựng lại nông trại. Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.
Cuộc gặp gỡ của họ tại Appomattox, tiểu bang Virginia là khoảnh khắc tuyệt vời nhất của lịch sử nước Mỹ. Hình ảnh Tướng R. Lee cưỡi ngựa đi đến nơi họp mặt với đoàn quân nhạc miền Bắc chào đón. Khi Tướng Lee ký tên xong ra đi được sĩ quan và binh sĩ miền Bắc tiễn đưa và vẫy tay chào. Hình ảnh đó lưu lại ngày nay với tượng đài thể hiện sự trân trọng sau cuộc chiến. Với người đã hy sinh trên chiến trận, nghĩa trang quốc gia Arlington, của người miền Bắc trong trận chiến Bắc Nam. Sau cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam có hàng ngàn nghĩa trang lớn nhỏ chôn cất tử sĩ của phe bại trận.
Năm 1900, mở đầu cho giai đoạn hòa giải dân tộc và năm 1991 thì các tử sĩ miền Nam được cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section. Tổng cộng gần 500 mộ phần quây tròn chung quanh một tượng đài do nhà tạc tượng danh tiếng là điêu khắc gia Moses Ezekiel thực hiện. Trước khi chết, TT Lincoln đã nói: “Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch sử của bậc anh hùng sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những con người vĩ đại đã ngã xuống”.
(Cũng thời điểm tháng Tư kết thúc cuộc chiến tại Việt Nam, nhiều người cho rằng, nếu khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam mà học được bài học lịch sử nầy của Hoa Kỳ, xóa bỏ hận thù, xử dụng nhân tài và chất xám, cùng nhau chung tay xây dựng đất nước, bảo vệ giang sơn, chống quân xâm lược Trung Cộng thì ngày nay Việt Nam không bị lệ thuộc hoàn toàn dưới ách thống trị dã man của Trung Cộng).
70 năm sau, cuộc nội chiến Hoa Kỳ được phác họa qua tác phẩm Gone with the Wind (Cuốn Theo Chiều Gió) của nhà văn Margaret Mitchell (1900-1949), ấn hành vào tháng 7 năm 1936, dày hơn 1,000 trang. Tác phẩm dựa vào bối cảnh và lịch sử cuộc chiến, tác giả dày công sưu tầm tài liệu, ròng rã trong 10 năm để hoàn thành. Không phải là tác phẩm lịch sử mà viết theo cách kể chuyện tự sự, tuy có hư cấu nhưng theo dòng sử liệu trong bối cảnh xã hội như chứng nhân của giai đoạn đương thời. Với các mối tình xảy ra chung quanh vài nhân vật ngang trái, éo le, cuồng nhiệt và hờ hững… lôi cuốn người đọc… Tác phẩm phẩm Gone with the Wind vừa ra mắt đã thành công, trong vòng 6 tháng, hơn 1 triệu ấn bản đã được bán hết với sức mua là 50,000 cuốn mỗi ngày vào thời điểm đó, ngoài sự tưởng tượng của tác giả và nhà xuất bản. Tác phẩm đoạt Giải Thưởng Pulitzer năm 1937 vì vậy giới đện ảnh Hollywood quan tâm và sách được nhà sản xuất phim David O. Selznick mua lại với giá 50.000 USD để được dựng thành phim cùng tên.
Đây cũng là tác phẩm kinh điển của văn học Hoa Kỳ có số lượng cao nhất trong lịch sử xuất bản của Hoa Kỳ, của mọi thời đại đã vượt qua kỷ lục 12 triệu cuốn vào năm 1965, được dịch sang hơn 30 ngôn ngữ khác nhau và phổ biến trên 40 quốc gia. Margaret M. Mitchell sinh tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, sau bậc trung học, theo học tại Smith College nhưng năm 1918, không theo đuổi con đường học vấn, trở về Atlanta để lo công việc gia đình bà mẹ qua đời vì bệnh cúm. Sau đó không lâu, cô tham gia vào ban biên tập của tờ nhật báo Atlanta Journal, viết bài cho ấn bản ngày Chủ Nhật.
Trong tai nạn bị gãy mắt cá chân, Margaret ở nhà điều trị, thời gia nầy cô tìm lại tài liệu về cuộc Nội Chiến Nam Bắc xảy ra trên quê hương. Năm 1929, khi vết thương đã lành và cuốn truyện đã được viết xong nhưng trước đó các truyện ngắn của cô không được quan tâm nên cũng nghĩ quyển sách nầy cũng mang số phận như vậy.
Năm 1935, ông Howard Latham, phó giám đốc của nhà xuất bản MacMillan tới Atlanta để tìm kiếm các nhà văn mới của miền Nam Hoa Kỳ. Cơ hội cho Margaret Mitchell gặp ông Howard Latham để trao bản thảo Gone with the Wind. NXB MacMillan đã edit trong 6 tháng, tác phẩm được in xong vào ngày 30 tháng 6 năm 1936. Với sự thành công của tác phẩm đầu tay của nhà văn Margarett Mitchell, danh vọng nổi tiếng nhưng bà vẫn tiếp tục sống trong ngôi nhà tại Atlanta, tiếp tục một cuộc sống giản dị. Năm 49 tuổi, trong khi cùng chồng băng qua đường phố ở Atlanta, bị một chiếc xe tải đâm phải. Năm ngày sau bà qua đời, Margarett Mitchell vĩnh biệt cõi trần giữa muôn vàn thương tiếc của mọi người. Phim Gone with the Wind phỏng theo tiểu thuyết của Margaret Mitchell, phim được sản xuất bởi David O.Selznick, đạo diễn Victor Fleming và kịch bản gốc Sidney Howard. Bộ phim được quay ở miền Nam nước Mỹ (Atlanta, tiểu bang Georgia) trong thời gian xảy ra nội chiến.
Các diễn viên chính bao gồm: Clark Gable (vai Rhett Butler), Vivien Leigh (Scarlett O’Hara), Leslie Howard (Ashley Wilkes), Thomas Mitchell (Gerald O’Hara), Barbara O’Neil (Ellen O’Hara), Evelyn Keyes (Suellen O’Hara), Ann Rutherford (Carreen O’Hara), Olivia de Havilland (Ilanie Hamilton), Hattie McDaniel (Mammy, vú nuôi da đen)…Phim dài 220 phút (thông thường chỉ 110 phút) được ra mắt tại Atlanta ngày 15 tháng 12 năm 1939, khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ.
Năm 1940, giải Oscar lần thứ 12 (đầu tiên năm 1929) và cũng là lần đầu phim Gone with the Wind được 8 giải Oscar và phim màu đầu tiên. Phim được bình chọn là một trong vài bộ phim có nhiều khán giả nhất mọi thời đại kể từ khi được phát hành về doanh thu và rộng rãi khắp nơi trên thế giới. Đây là tác phẩm kinh điển của nền văn học và điện ảnh Hoa Kỳ, phim dàn dựng rất công phu của điện ảnh Hollywood được hàng tỷ người trên thế giới đọc và xem từ trước đến nay. Nhờ đó, mọi người mới hiểu được góc cạnh của cuộc nội chiến Nam-Bắc của Hoa Kỳ. Tình người với nhau để hàn gắn vết thương sau chiến tranh.
Atlanta trước đây là thị trấn nông nghiệp trở thành trung tâm lịch sử với nhiểu bảo tàng, trong đó có ngôi nhà của Margaret Mitchell và phim Gone with the Wind… Ngôi nhà thời thơ ấu của MS Martin Luther King (1929-1968 ở Atlanta cùng các tòa nhà lân cận được công bố là di tích lịch sử Quốc Gia Martin Luther King, Jr.
Ở Việt tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió được Vũ Kim Thư dịch từ đầu thập niên 50 (nay được tái bản nhiều lần và bản dịch của Dương Tường năm 2002). Phim Cuốn Theo Chiều Gió chiếu tại Sài Gòn và các thành phố lớn. Có lẽ cảm hứng từ cuốn phim, nhạc phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Anh Việt Thu sáng tác năm 1970.
Tác phẩm lấy bối cảnh miền Nam nước Mỹ trong cuộc nội chiến Bắc-Nam. Câu chuyện trải dài mối tình của nàng Scarlett với những nhân tình với “hỉ, nộ, ái, ố” say đắm, yêu thương, dang dở, hững hờ và phản bội. Tiểu thư Scarlett tuổi trăng tròn, con gái cưng của chủ đồn điền Tara, tuy không sắc sảo nhưng trông quyến rũ, dễ thương. Hình ảnh mà Nguyên Sa tơ tưởng “Em gầy như liễu trong thơ cổ, Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường”. Tương lai đang đón chào nhưng cuộc nội chiến xảy ra, Scarlett bị loạn lạc trong cơn lốc rồi lận đận trong tình trường như lời thơ Hữu Loan “Lấy chồng thời chiến binh. Mấy người đi trở lại”… và nếu có trở về thì duyên phận trớ trêu! Scarlett bao năm theo đuổi cuộc tình để rồi cuối cùng bẽ bàng trước câu nói “My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần)!. Bạn bè với nhau mà chửi thề chữ a damn cũng nộ khí xung thiên xuống gì là tình nhân. Đau lòng cho cô tiểu thư con nhà khue các đã cuốn theo chiều gió!
Với tác phẩm dày cả nghìn trang, khó tóm tắt ngắn gọn nên dựa theo Kiwipedia tóm lược Cuốn Theo Chiều Gió theo dòng thời gian: Tác phẩm mở đầu vào tháng 4 năm 1861 với nhân vật chính của truyện, Scarlett O’Hara đang ở đồn điền Tara nhà mình ở quận hạt Clayton, Georgia cùng với hai anh em sinh đôi Brent và Stuart Tarleton sống ở đồn điền kế bên. Qua cuộc nói chuyện này, Scarlett biết rằng người nàng thầm yêu từ lâu Ashley Wilkes nhưng chàng chuẩn bị đính hôn với cô em họ là Ilanie Hamilton ở Atlanta. Scarlett choáng váng khi nghe tin đó và cuộc nói chuyện cũng kết thúc. Nàng vội vã đi tìm cha mình, Gerald O’Hara, để xác minh lại câu chuyện và cha nàng khuyên nếu nàng và Ashley lấy nhau sẽ là một điều tồi tệ và nàng nên lấy một trong hai anh em sinh đôi trên.
Scarlett cho rằng Ashley có ý định đính hôn vì chàng không biết nàng đã yêu mình.. Nàng quyết định trong buổi tiệc ngoài trời tại trại Twelve Oaks sẽ thổ lộ tình yêu với chàng và cùng chàng trốn đi. Nhưng mọi thứ không theo kế hoạch của Scarlett, tuy Ashley ân cần với nàng nhưng nói rằng chàng vẫn sẽ cưới Ilanie. Vị khách không mời trong buổi tiệc, Rhett Butler, người vô tình lắng nghe toàn bộ câu chuyện buông lời trêu chọc Scarlett làm nàng nổi điên, điều này lại ngẫu nhiên quyến rũ Rhett. Trong cơn tức giận cùng với việc nghe lén Honey Wilkes, vợ chưa cưới của Charles Hamilton nói xấu mình, Scarlett đã nhận lời lấy Charles Hamilton vừa làm Ashley ghen vừa trả thù Honey. Buổi tiệc kết thúc cũng là lúc có tin cuộc nội chiến Hoa Kỳ nổ ra và các chàng trai phải đi nhập ngũ.
Đám cưới của Scarlett diễn ra nhanh chóng sau đó 2 tuần để Charles nhập ngũ, một ngày trước đám cưới giữa Ashley và Ilanie. Một tuần sau khi cưới, Charles nhập ngũ và 2 tuần sau, Ashley cùng đội kỵ binh của tiểu bang lên đường. Tuy nhiên, Charles đã chết vì bệnh đậu mùa ở căn cứ Nam Carolina trước khi có dịp được ra chiến trường. Sau đó, con trai Charles ra đời và được đặt tên là Wade Hampton Hamilton (theo tên chỉ huy của Charles là tướng Wade Hamilton).
Góa phụ Scarlett lúc nào cũng mặc đồ tang, sống thầm lặng, nàng cảm thấy đau đớn vì sự buồn chán và việc phải làm mẹ hơn là cái chết của chồng. Mẹ nàng, Ellen O’Hara, muốn nàng vơi bớt nỗi buồn đã gửi nàng đến Atlanta sống cùng Ilanie và bà cô của Charles, Pittypat Hamilton. Scarlett đến Atlanta vào tháng 5 năm 1862. Tại đây, Scarlett nhanh chóng thích sự nhộn nhịp và hối hả của thành phố này. Nàng bị bắt buộc làm y tá tình nguyện ở dưỡng đường nhưng vô cùng chán ghét công việc này. Vì còn đang chịu tang chồng nên nàng bị cấm đoán đủ thứ, trong đó có cuộc bán đồ phúc thiện với sự góp mặt của nhiều cư dân thành phố, nhưng đến cuối cùng, Scarlett may mắn được dự vì để thay cho một bà khác có con bị bệnh. Tại đây, nàng gặp lại Rhett Butler, giờ đây là thuyền trưởng vượt phong tỏa, chuyên chở các mặt hàng thiết yếu cho miền Nam. Rhett Butler đã mời nàng khiêu vũ, mặc dù đang chịu tang nhưng Scarlett vẫn đồng ý vì nàng thèm muốn được khiêu vụ để thoát khỏi cái vỏ nhàm chán của một góa phụ.
Kể từ đó mối qua hệ giữa Scarlett và Rhett với nhau. Rhett bản tính hài hước, hay trêu chọc Scarlett và cố làm cho nàng vui. Tuy nhiên gần như cả thành phố đều căm ghét hắn. Scarlett lại lúc nào cũng chỉ nghĩ đến Ashley. Tình hình ngoài mặt trận ngày càng căng thẳng. Thất bại của quân đội liên bang miền Nam trong trận Gettysburg trong cuộc nội chiến và thương vong của quân đội liên bang ngày càng nhiều. Giáng Sinh năm 1862, Ashley trở về nhưng trái với mong đợi của Scarlett, chàng chỉ quan tâm đến vợ mình, Ilanie. Ngày Ashley rời nhà trở lại chiến trường, Scarlett lại một lần nữa thổ lộ tình yêu với chàng hy vọng chàng sẽ bỏ vợ để cưới nàng nhưng chàng không nói gì và dặn dò nàng chăm sóc Ilanie nếu chàng có mệnh hệ gì ngoài chiến trường. Chàng vội vã ra đi và lần thứ hai, Scarlett vỡ mộng.
Cuộc nội chiến ngày càng diễn biến bất lợi cho miền Nam. Sau những thất bại liên tiếp, quân đội liên bang miền Bắc đã tiến sát và bao vây Atlanta, do đó người dân thành phố phải tổ chức di tản. Tuy nhiên, Scarlett và Ilanie không thể đi cùng mọi người vì Ilanie đang có thai và có thể sinh con bất cứ lúc nào. Do các bác sĩ phải chăm sóc các thương binh nên Scarlett phải đỡ đẻ cho Ilanie. Sau khi Ilanie sinh xong, Scarlett phải cầu cứu Rhett và anh đã lấy cắp của quân đội cho nàng một chiếc xe ngựa nhưng con ngựa vô cùng ốm yếu. Anh chở Ilanie và con nàng là Prissy cùng Wade và Scarlett, chạy khỏi Atlanta. Tuy vậy, đi đến giữa đường thì Rhett bỏ mặc những người còn lại để gia nhập quân đội liên bang. Trước khi đi, anh hôn nàng và nói yêu nàng nhưng Scarlett giận dữ chửi rủa và tát hắn.
Scarlett trở về đồn điền Tara và gặp những cảnh tượng kinh hoàng: Mẹ mất vì bệnh, ngôi nhà bị tàn phá nặng nề, phần lớn các nô lệ đã bỏ trốn, 2 người em gái bệnh nặng nằm liệt giường và người cha bị sốc vì cái chết của vợ cũng trở nên loạn trí. Giờ đây Scarlett trở thành chủ nhân của Tara. Với bản tính kiên cường và cách suy nghĩ thực tế, nàng dần vực dậy đồn điền Tara và làm mọi công việc, kể cả những việc mà khi xưa chỉ có nô lệ làm. Một tên lính Yankee đến ăn cắp đã bị nàng cầm súng bắn chết. Ilanie vẫn còn phải nằm trên giường sau khi sinh xong nhưng vẫn cầm thanh kiếm của Charles đến giúp tuy nàng không đủ sức nâng nó. Hành động này khiến Scarlett thán phục và tình cảm của cô dành cho Ilanie giờ đây bắt đầu trỗi dậy. Sau đó, Scarlett chôn tên lính ngay tại Tara.
Chiến tranh gần kết thúc và đồn điền Tara lại bị tàn phá lần nữa khi quân đội liên bang miền Bắc đến. Một tháng sau thì cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi thuộc về liên bang miền Bắc. Những người lính bại trận trên đường trở về nhà đã ghé qua Tara để lấy thức ăn hoặc dưỡng thương. Trong số đó có một người lính bị thương nặng tên là Will Benteen, được em gái Scarlett là Carreen chăm sóc cẩn thận. Sau khi bình phục, Will đã ở lại Tara và giúp đỡ Scarlett vực dậy nó. Có Will, công việc của Scarlett đã được đỡ đần rất nhiều.
Ashley sau khi chiến tranh kết thúc vẫn chưa về được vì còn là tù binh của liên bang miền Bắc. Rồi một ngày, chàng bất ngờ xuất hiện tại Tara. Cả Scarlett và Ilanie đều chạy ra đón chàng nhưng Will ngăn Scarlett lại khiến Scarlett bất đắc dĩ phải quay trở lại. Chiến tranh kết thúc nhưng một lần nữa số phận đồn điền Tara lại bị đe doạ khi chính phủ Yankee (người Anh gọi liên minh miền Nam) tăng tiền thuế của đồn điền lên để Scarlett không có tiền trả và phải nhượng lại Tara cho tên quản gia Yankee cặn bã Jonas Wilkerson và vợ hắn. Để có tiền cứu Tara, Scarlett phải đến Atlanta mượn tiền Rhett. Rhett vô cùng giàu có nhưng lúc này đang phải ngồi tù. Scarlett trang điểm và đến thăm Rhett để mượn một khoản tiền mà không để anh biết là nàng đang cố tán tỉnh anh vì tiền. Nàng đã gần như thuyết phục được Rhett cho đến khi đôi mắt sắc sảo của anh thấy đến bàn tay chai sần của Scarlett, bằng chứng cho những công việc nặng nhọc mà nàng đã làm và hoàn cảnh của gia đình, khiến cô phải thú nhận mục đích thật sự của chuyến viếng thăm. Cuối cùng, Rhett đã từ chối cho cô mượn tiền.
Trong cơn tuyệt vọng, Scarlett tình cờ gặp Frank Kennedy, chồng chưa cưới của Suellen, chủ cửa hàng và có khoản tiền khá. Bằng cách nói dối Frank rằng Suellen đã lấy người khác, Scarlett đã quyến rũ Frank để ông lấy mình. Nàng đã thành công và có tiền cứu Tara. Sau khi ra tù, Rhett cho nàng mượn tiền để có thể mua thêm xưởng cưa với điều kiện là nàng không được dùng tiền giúp Ashley Wilkes.
Scarlett điều hành xưởng cưa thành công nhưng nó cũng làm cho nàng bị nhiều dị nghị vì đó không phải là việc dành cho phụ nữ. Sau đó nàng đã có thai với Frank nhưng vẫn thường xuyên xuất hiện nơi công cộng nên ngày càng nhiều người khinh ghét. Sau đó không lâu, Gerald qua đời. Khi về Tara dự đám tang, nàng biết được rằng cái chết của cha mình có liên quan trực tiếp đến cô em gái Suellen. Will dù yêu Carreen nhưng cuối cùng đã lấy Suellen để làm dịu lại quan hệ gia đình. Carreen sau cái chết của Brent Tarleton vì quá đau khổ nên gửi mình vào tu viện. Sau đám tang cha, Scarlett đã mời Ashley trở lại Atlanta giúp nàng điều hành xưởng cưa và ngăn chàng lên miền bắc kiếm việc làm. Ashley lưỡng lự nhưng Ilanie kiên quyết đồng ý nên Ashley đành chiều theo ý vợ.
Sau khi sinh con, Scarlett thường xuyên lái xe ngựa một mình đến xưởng cưa mặc dù đã nhiều lần được cảnh báo về sự nguy hiểm. Một ngày nọ nàng bị một tên da trắng nghèo khổ và một tên da đen tấn công và suýt bị cưỡng hiếp. May mắn là Big Sam, một nô lệ da đen từng làm việc ở Tara, đã cứu nàng kịp thời. Frank, Ashley và một số người đàn ông khác thuộc đảng Ku Klux Klan (KKK) phải đi trả thù và kết cục là Ashley bị thương và Frank bị giết. Còn các thành viên còn lại được Rhett, với sự giúp đỡ của Belle Watling, gái mại dâm ở Atlanta, đã dựng chuyện và tìm cách cứu họ. Từ đó mối qua hệ của Rhett và người dân thành phố dần dần được phục hồi. Sau cái chết của Frank, Rhett ngay lập tức cầu hôn Scarlet trước khi nàng có thể lấy một người nào khác.
Scarlett lấy Rhett. Anh chiều chuộng nàng hết mức và tạo điều kiện cho nàng hưởng thụ những thú vui mà Scarlett chưa bao giờ biết đến ở New Orleans. Cũng qua Rhett mà Scarlett có được những người bạn mới: Những người Yankee và những kẻ giàu lên nhờ đầu cơ và làm ăn gian dối trong chiến tranh. Do đó mà mối qua hệ giữa vợ chồng Scarlett và những người bạn cũ ngày càng trở nên xấu đi và trong một buổi tiệc, vợ chồng Scarlett đã mời thống đốc tiểu bang thuộc đảng Cộng Hòa đến dự khiến tầng lớp thượng lưu miền Nam hoàn toàn cắt đứt mối qua hệ với hai người, ngoại trừ Ilanie.
Scarlett sau đó cũng sinh cho Rhett một đứa con gái mặc dù nàng cũng không hề muốn. Đứa bé được đặt tên là Eugenia Victoria. Cô bé vô cùng xinh đẹp với đôi mắt xanh dương nên được đặt thêm biệt danh Bonnie Blue Butler, theo tên lá cờ liên bang Bonnie Blue Flag. Rhett vô cùng hạnh phúc và rất thương yêu con gái mình. Nhưng vì tình yêu với Ashley, Scarlett kiên quyết không ngủ chung với chồng nữa để tránh việc mang thai lần nữa. Rhett tức giận và cãi cọ liên tục với nàng về mối qua hệ bạn bè, cách nuôi dạy con cái. Anh muốn con gái mình sẽ trở thành một công chúa trong tầng lớp thượng lưu miền Nam cũ. Rồi Rhett cùng với con gái đi khỏi Atlanta một thời gian.
Tại Georgia, Rhett cùng với những bạn bè xưa cũ khiến cho quan hệ giữa anh và họ ngày một tốt đẹp, thực chất là anh muốn gây dựng tương lai và thanh danh cho con gái Bonnie, mà giờ đây Rhett nổi tiếng là một người bố yêu thương con hết mực. Ilanie tổ chức bữa tiệc sinh nhật bất ngờ cho Ashley. Ilanie nhờ Scarlett đến xưởng cưa giữ chân Ashley để mình có thêm thời gian chuẩn bị. Tại đây, Ashley và Scarlett vì xúc động khi nhớ về những ngày xưa êm đềm, đã ôm nhau trong tình cảm trong sáng, nhưng lại bị India Wilkes, bà Elsing và Archie, đánh xe của Ilanie bắt gặp. Rhett biết được chuyện này từ Archie nhưng vẫn bắt Scarlett phải đến dự buổi sinh nhật của Ashley với phong thái kiêu hãnh và can đảm, để không huỷ hoại tương lai của Bonnie. Ilanie cũng nghe chuyện nhưng với tâm hồn trong sáng, nàng nhất mực không tin và ra sức bênh vực Scarlett. Ilanie một lòng tin tưởng Scarlett vì những gì Scarlett đã làm cho nàng. Cũng vì đứng về phía Scarlett, Ilanie đã gây chia rẽ trong gia đình và bạn bè thân hữu.
Đêm hôm đó, Scarlett bắt gặp Rhett trong trạng thái say khướt. Sau đó, Rhett xốc bổng nàng lên cầu thang và cả hai trải qua một đêm ân ái đầy nồng nàn. Scarlett thức dậy một mình vào sáng hôm sau và háo hức muốn gặp chồng nhưng Rhett lẫn tránh nàng. Rhett đưa Bonnie đến Luân Đôn. Anh bỏ đi khiến Scarlett cảm thấy day dứt về những việc mình đã làm với anh và cả với hai đứa con đầu của mình. Nàng có thai lần nữa và đây là lần đầu tiên cảm thấy hạnh phúc vì điều đó. Ngày Rhett cùng Bonnie trở về, nàng đã háo hức muốn báo tin đó cho Rhett, nhưng không tin vào tình yêu mình nhìn thấy trong mắt Scarllet, anh giễu cợt nàng. Scarllet quá tức giận nên ngã cầu thang và sẩy thai.
Sau tai nạn đó, Scarlett phải về Tara một thời gian để điều dưỡng. Rhett đã bàn với Ilanie tìm cách lừa Scarlett để cô nhượng lại hai xưởng cưa cho Ashley. Bonnie được Rhett cưng chiều, cô bé rất thích cưỡi ngựa. Một ngày, Bonnie gặp tai nạn trong khi cho ngựa vượt rào và gãy cổ. Rhett bị chấn động tâm lý nặng nề sau cái chết của Bonnie và chỉ có Ilanie mới giúp anh vượt qua cú sốc đó.
Ilanie mang thai và giấu mọi người để sinh con, mặc dù đã bị bác sĩ cấm đoán. Nhưng do sức khỏe quá yếu, nàng lâm nguy kịch. Scarlett về sau khi nhận được điện khẩn của Rhett. Trên giường bệnh, Ilanie trăng trối lại với Scarlett hãy giúp nàng chăm sóc Ashley và Beau. Cuối cùng, Ilanie khuyên Scarlett hãy trân trọng Rhett và tình cảm của hắn. Scarlett bỏ chạy và gặp Ashley. Giờ đây nàng mới nhận ra Ilanie quan trọng với mình và suốt bao nhiêu năm qua, tình yêu của nàng đối với Ashley cũng chỉ như khi một đứa bé muốn với tới một mặt trăng hão huyền, đó là tình yêu do nàng tưởng tượng ra, chỉ là ảo huyền.
Trong lúc tuyệt vọng, Scarlett nghĩ đến Rhett và chợt nhận ra Rhett mới là người nàng cần. Nàng đã dần yêu Rhett trong bao nhiêu năm qua nhưng cái bóng quá lớn của Ashley đã chặn tầm mắt nàng lại.. Rhett luôn luôn ở bên Scarlett mỗi khi nàng cần và giúp đỡ nàng theo cách tuyệt vời nhất, bằng sự thông hiểu sâu sắc. Nàng vội vã đi tìm Rhett nhưng giờ đây anh lại hoàn toàn ghẻ lạnh với nàng. Anh lạnh lùng bảo tình yêu bao năm qua anh dành cho nàng giờ đã lụi tàn cùng với sự thờ ơ anh nhận được, chỉ còn lại hai điều nàng ghét nhất là lòng thương hại và nhân từ.
Choáng váng vì những gì nghe thấy nhưng Scarlett vẫn can đảm thổ lộ tình yêu với Rhett nhưng chàng lại phán “My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần), bạn bè khi giận nhau mà chửi thề dùng damn dễ gây ấu đả huống chi nói với nhân tình! Scarlett lặng lẽ nhìn Rhett bỏ đi và giờ đây nàng nhận ra, vì nàng không hiểu hai người mình yêu nên đã để tuột mất cả hai. Nàng quyết định sẽ trở về Tara, nơi nàng đã từng vực dậy từ trắng tay. Với tính tình mạnh mẽ cứng cỏi, Scarlett tin rằng mình có thể chiếm lại được Rhett. Chưa người đàn ông nào cưỡng lại nàng nếu nàng quyết tâm chinh phục.
Tác phẩm kết thúc với hình ảnh Scarlett trải qua bão táp nên cương nghị đứng trước đồn điền Tara ngập nắng với câu tiếp sức mạnh quen thuộc của mình: “Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới” (After all, tomorrow is another day!). Ban đầu nhà văn muốn dùng câu nầy làm tựa đề nhưng nhà xuất bản chọn tên cho tác phẩm rất hay.
Ngày nay nước Mỹ có 700 sắc tộc sinh sống với 5 nhóm là Dân Bản Địa (Native American), Người Mỹ gốc Châu Âu (European American), Người Mỹ gốc Phi (African American), Người Mỹ gốc Latinh (Hispa American) và người Mỹ gốc Châu Á (Asian American) vì vậy gọi là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Đề cập đến cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ (American Civil War, 1861–1865) trong nhiệm kỳ Tổng Thống Abraham Lincoln (1861-1865). Thời điếm lập quốc, lịch sử Hoa Kỳ đề cao vị Tổng Thống: George Washington (1789 đến 1797), John Adams (1735–1826) và Thomas Jefferson (1743–1826). TT George Washington được người dân Mỹ gọi là “cha già dân tộc” (sau nầy CSVN gọi HCM bắt chước tên gọi như vậy nên người Việt tị nạn CS dị ứng với tên gọi nầy), TT Thomas Jefferson có công lao lưu lại hậu thế với Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 4 tháng 7 năm 1776 và là người sáng lập ra đảng Dân Chủ.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, HCM tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.. Câu nói nầy quen quen vì trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc.
Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền & Dân Quyền của Cách Mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948
Điều 1: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái”.
Điều 7: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này”.
Thế nhưng các nước Cộng Sản và độc tài đã vi phạm trầm trọng Tuyên Ngốn Quốc Tế Nhân Quyền nầy, trong đó có 5 nước trong thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ: Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc thì Nga và Trung Quốc đã không tuân thủ còn cố tình xâm nhập vào các nước khác như Hoa Kỳ hiện nay để gây cơn lốc “kỳ thị chủng tộc”.
Hoa Kỳ trong thời điểm đối phó với đại dịch Virus Tàu Cộng lại xảy ra hai cái chết của hai người đàn ông da màu (gốc Phi) George Floyd ngày 25 tháng 5 tại Minneapolis, tiểu bang Minnesota và Rayshard Brooks ngày 14/6 vừa qua tại Atlanta, nơi chốn của tác giả Cuốn Theo Chiều Gió.
Đây là đất nước thượng tôn pháp luật, kẻ thi hành pháp luật vi phạm sẽ bị tòa án xét xử công khai tội trạng nhưng vì động cơ chính trị trong thuyết âm mưu đã “mượn gió bẻ măng”, đổ dầu vào lửa để lấy lý do kỳ thị chủng tộc gây cơn bão táp trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Đây cũng là cơ hội cho một số cơ quan truyền thông khai thác tận gốc rễ trên chính trường Hoa Kỳ mà thời gian qua xảy ra hằng ngày. Cơn lốc còn xoáy trong giai đoạn bầu cử, sẽ hạ hồi phân giải nhưng những giá trị truyền thống của lịch sử đã và đang bị triệt hạ tưởng chừng những Vệ Binh Đỏ của Mao & Giang Thanh trong thời kỳ “Cách Mạng Văn Hóa” vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1966, nay lại xảy ra trên mảnh đất tự do!
Ngày 9 tháng 6, HBO Max thông báo ngưng chiếu phim Gone with the Wind trên băng tần của họ. May mà di sản tác giả và tác phẩm của Cuốn Theo Chiều Gió không bị thiêu đốt như sau tháng 4/1975 tại Sài Gòn. Bàn chuyện chính trị ở Hoa Kỳ rất phức tạp, phe nầy phe nọ, kẻ bênh vực, người chống đối “miệng lưỡi thế gian, trăm đường lắt léo” khó phân biệt và phức tạp vì vậy tôi không đề cập. Đôi khi “chuyện làng mang vào nhà” vợ chồng, bạn bè thân tín tranh cãi, bất đồng quan điểm dẫn đến bất hòa thì chuyện xảy ra trên chính trường Hoa Kỳ như lằn ranh của hai bờ chiến tuyến.
Trở lại tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió, nhà văn Margaret M. Mitchell rất tinh tế khi dẫn dắt qua từng mẩu chuyện, chẳng có gì đào sâu nạn kỳ thị chủng tộc nhưng sự tị hiềm nên “bé xé ra to”.
Vương Trùng Dương
-
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM CHA MÃI BÊN ĐỜI CẢM CỦA NHÀ VĂN PHƯƠNG HIỀN

(Thân tặng tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền) “Stay with me forever and ever, Papa!”
Cha mãi bên đời, Thái Sơn cao cả
Giúp con mạnh mẽ vượt mọi phong ba
Tấm lòng hiếu thảo vầng trăng sáng ngà
VINH HỒ
Orlando, Mar. 19, 2026
1. ĐÔI DÒNG VỀ CỐ THIẾU TÁ NGUYỄN GIA TĨNH (1931-1985):

Người Cha trong tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!
hồi ký của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền.
Ông Nguyễn Gia Tĩnh, sinh ngày 8 tháng 5/1931, quê Hưng Yên, miền Bắc, là giáo viên, lập gia đình với Cô giáo Phạm Thị Phương Thảo cùng quê.
Khi Phương Hiền (PH) được 1 tuổi, Cha là Thầy giáo Nguyễn Gia Tĩnh nhập ngũ thụ huấn Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (1/10/1953-1/6/954) cùng khoá với Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo (hạng 18), Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, Chuẩn tướng Trương Hữu Đức… – Khoá 10 có danh hiệu là Trần Bình Trọng: Nguyễn Tấn Đạt thủ khoa. -Khóa 10 Trần Bình Trọng là khóa đông nhất của 10 khóa đầu tiên của Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
-Hiện trên mạng ở link: “Khóa 10 Flipbook – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam” có đăng danh sách 400 sĩ quan tốt nghiệp Khoá 10 Trần Bình Trọng vào ngày 1 tháng 6/1954 : Nguyễn Gia Tĩnh mang số thứ tự 359.
*TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA ĐÀ LẠT:
-Năm 1948, Chính phủ Quốc gia Việt Nam thành lập Trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế: có 2 khoá
-Năm 1950: dời về Đà Lạt đổi tên thành Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt: có 14 khoá.
-Năm 1959 Chính phủ Ngô Đình Diệm đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam cho tới 30/4/1975 : có 19 khoá
Tổng cộng: có 35 khoá: 33 khóa đã ra trường với 6.583 sĩ quan hiện dịch (2 khóa 30 và 31 chưa ra trường). Trong số đó có 61 tướng lãnh (tại Huế 19 vị, tại Đà Lạt 42 vị).
Năm 1954, Mẹ của Phượng Hiền đưa PH (mới 2 tuổi) từ Hưng Yên xuống Hải Phòng lên tàu há mồm di cư vào Nam, rồi lên Đà Lạt gặp chồng và cha, lúc ấy ông đang chuẩn bị Lễ tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Ông ra trường cấp bậc Thiếu uý, chọn binh chủng Biệt Động Quân khởi binh nghiệp tại Miền Tây, gia đình ở tại Sa Đéc.
Từ Lục Tỉnh đổi về Sài Gòn, gia đình ở tại Cư xá Sĩ quan Quang Trung, ông gởi PH vào học nội trú tại Trường Dòng Thánh Mẫu, đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn.
Ông rời SG, chuyển về Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang 1 năm, sau đó chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, gia đình ở tại thị trấn Ninh Hoà.
Năm 1966 ông có nhà gần cầu Dục Mỹ.
Năm 1969, ông chuyển lên Pleiku, trong lúc PH học Đệ Nhất C tại Trường Cường Để, Qui Nhơn.
Năm 1973, ông làm việc tại Liên doàn IV Biệt Động Quân ở Căn cứ Long Bình thuộc Quân khu III, KBC 3264.
Năm 1974, ông nhập viện Tổng Y Viện Cộng Hoà vì bệnh tim.
Tháng 3/1975, ông ra Hội đồng Miễn dịch Sài Gòn chứng nhận miễn dịch vĩnh viễn với cấp độ tàn phế 60%, xếp loại 3 phế binh.
Ngày 26/3/1975, Thiếu tá Nguyễn Gia Tĩnh, số quân 51/300 308 giải ngũ sau 22 năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân tính từ ngày 20/9/1953.
Ngày 8/5/1975 ông đi tù cải tạo trên 1 chuyến xe lửa bít bùng đến trại tù Yên Bái, chuyển trại nhiều lần, trại cuối là Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Ở nhà, gia đình đã biệt vô âm tín gần 5 năm. Trong tù bệnh tim tái phát, ông đã nhiều lần chết đi sống lại, ông ra tù đầu năm 1980.

Ông mất ngày 21 tháng Giêng năm 1985 tại Sài Gòn, hưởng dương 54 tuổi.
Thiển nghĩ, là nam nhi, ông đã đặt Tổ quốc, danh dự và trách nhiệm lên trên tình nhà, dù đã có nghề nghiệp vững chắc, đã có vợ đẹp con ngoan, ông vẫn mạnh mẽ lên đường… Ôi chao giây phút chia tay sao mà cảm động!
“Ai ra đi mà không từng bịn rịn
Xa người yêu mà dễ mấy ai vui
Em nhìn theo bằng nước mắt chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ
(Chuyện Giàn Thiên Lý – nhạc Anh Bằng)
Trong lúc người Cha đầy khí phách anh hùng, thì người Mẹ vẫn một lòng chung thuỷ không ngại gian khổ đã bồng con di cư vào Nam để sum họp cùng chồng nơi vạn dặm. Cao đẹp thay một cuộc tình thời chinh chiến còn ghi trong tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa! hồi ký của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền và dịch giả Phạm Văn Bân.
2. NGƯỜI CHA GƯƠNG MẪU VÀ CÔ CON GÁI HIẾU THẢO:
Cố Thiếu Tá Nguyễn Gia Tĩnh, xuất thân nhà giáo, tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, suốt 22 năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân. Sau 1975 ông đi tù cải tạo tại miền Bắc.
Theo tác phẩm Cha Mãi Bên Đới, ông là 1 người Cha gương mẫu, hết lòng yêu thương, chăm sóc, nuôi dạy con gái, có óc tân tiến và viễn kiến khi nghĩ đến tương lai của con, đã mời các bạn người Mỹ về nhà kèm con gái học tiếng Anh, nên thời gian ở nhà trường Trung học, Cô nữ sinh có thể giúp các Thầy Cô trong việc thông dịch khi có phái đoàn người Mỹ đến thăm trường.
Theo bài viết Yêu Thương Còn Mãi, cô PH năm 13 tuổi (Tuổi Mộng Mơ -nhạc Phạm Duy, Tuổi Mười Ba -thơ Nguyên Sa), PH học lớp Đệ Lục trường TH Trần Bình Trọng Ninh Hoà, được Cha chở vô Nha Trang mua sách vở, ngang qua chân đèo Rọ Tượng, xa xa là Vịnh Nha Phu nơi 2 dòng sông chảy vào, “tất cả sẽ hoà lẫn vào đại dương bao la”, nhìn biển cả, ông hỏi con gái:
-Con có thích biển, thích vượt trùng dương? Chăm học rồi lớn lên, Cha sẽ cho con đi Mỹ du học nhé!
-Vâng con muốn lắm!
Rồi cuộc đổi đời và biến cố thời cuộc đã không cho hai Cha con thực hiện được ước mơ đó. Thế nhưng Cô con gái đã không phụ lòng Cha:
1. Sau 1975 Cô PH nhiều lần du lịch đã đặt chân đến xứ sở Tự do mà Cha hằng mơ ước.
2. Năm 2015, Cô PH bắt đầu viết cuốn hồi ký Cha Mãi Bên Đời, năm 2017 xuất bản và Ra mắt sách tại CA, Hoa Kỳ, tôi có bay qua dự.
3. Năm 2025, Nhà văn Dịch giả Phạm Văn Bân ở CA đã bỏ ra 6 tháng giúp cô PH dịch cuốn sách Cha Mãi Bên Đời ra Anh ngữ: Stay With Me Forever And Ever, Papa! – Sách đã được:-Số kiểm soát của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ: 2025927934. Số đăng ký bản quyền Hoa Kỳ: 1-15064499201. Xuất bản và in tại Hoa Kỳ. Cô PH dự tính sẽ ra mắt sách tại CA và Florida, Hoa Kỳ.

VH cũng nghĩ như dịch giả Phạm Văn Bân, ba việc mà Cô PH đã làm là vì tình thương và ước mơ của Papa, chắc chắn Cha cô bên kia thế giới rất vui và thoả nguyện. VH xin chúc mừng cô con gái hiếu thảo Phương Hiền đã làm được 3 điều mà không phải ai cũng có thể làm được.
VINH HỒ, Orlando, Mar. 29, 2026
Tham khảo:
-Tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa! – hồi ký của tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền.
-Yêu Thương Còn Mãi, tháng 11/2025, bài viết của tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền. -Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt – Bách khoa toàn thư mở.
He is the father featured in the bilingual memoir *Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!* by author Nguyễn Thị Phương Hiền.
Mr. Nguyễn Gia Tĩnh was born on May 8, 1931, and hailed from Hưng Yên province in Northern Vietnam. He was a teacher by profession and married a fellow teacher from the same province, Ms. Phạm Thị Phương Thảo.
When Phương Hiền (PH) was one year old, her father—then a teacher—enlisted in the military and underwent training with Class 10 of the Da Lat Joint-Service Military Academy (October 1, 1953 – June 1, 1954). His classmates included Major General Lê Minh Đảo (ranked 18th), Brigadier General Vũ Văn Giai, Brigadier General Trần Văn Nhựt, and Brigadier General Trương Hữu Đức. Class 10 bore the honorary name “Trần Bình Trọng,” with Nguyễn Tấn Đạt graduating as valedictorian. The Trần Bình Trọng Class (Class 10) was the largest of the first ten classes at the National Military Academy of Da Lat.
– A list of the 400 officers who graduated from Class 10 (Trần Bình Trọng) on June 1, 1954, is currently available online at the link “Khóa 10 Flipbook – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam” (Class 10 Flipbook – National Military Academy of Vietnam); Nguyễn Gia Tĩnh is listed at number 359.
* THE NATIONAL MILITARY ACADEMY OF DA LAT:
– In 1948, the Government of the State of Vietnam established the Vietnam Officers’ School at Đập Đá, Huế; it produced two classes.
– In 1950, the school relocated to Da Lat and was renamed the Da Lat Joint-Service Military Academy; it produced fourteen classes. – In 1959, the Ngo Dinh Diem government renamed the institution the Republic of Vietnam National Military Academy; it operated until April 30, 1975, spanning 19 classes.
– In total, there were 35 classes; 33 classes graduated, producing 6,583 career officers (Classes 30 and 31 did not graduate). Among the graduates were 61 general officers (19 from the Hue era and 42 from the Da Lat era).
– In 1954, Phuong Hien’s mother brought her (then only two years old) from Hung Yen to Hai Phong, where they boarded a landing ship to migrate South. They then traveled to Da Lat to reunite with her father, who was preparing for the graduation ceremony of Class 10 at the Da Lat Joint Military Academy. He graduated with the rank of Second Lieutenant, chose the Ranger branch to begin his military career in the Mekong Delta (the “Six Provinces” region), and the family lived in Sa Dec.
– After transferring from the Mekong Delta to Saigon, the family lived at the Quang Trung Officers’ Housing Complex; he enrolled Phuong Hien as a boarder at the Thanh Mau Convent School on Le Van Duyet Street, Saigon.
– He left Saigon for a one-year assignment at the Dong De Non-Commissioned Officer School in Nha Trang, followed by a transfer to the Duc My Ranger Training Center, with the family residing in the town of Ninh Hoa.
– In 1966, he acquired a house near the Duc My Bridge.
– In 1969, he was transferred to Pleiku, while Phuong Hien was studying in the *Đệ Nhất C* class (final year of high school) at Cuong De School in Qui Nhon.
– In 1973, he served with the 4th Ranger Group at Long Binh Base in Military Region III (KBC 3264).
– In 1974, he was admitted to the Republic General Hospital due to a heart condition. In March 1975, he appeared before the Saigon Disability Board, which certified his permanent disability at a 60% level, classifying him as a Class 3 disabled veteran.
On March 26, 1975, Major Nguyen Gia Tinh (service number 51/300 308) was discharged after 22 years of service in the Ranger Corps, a tenure that had begun on September 20, 1953.
On May 8, 1975, he was sent to a re-education camp, traveling in a sealed train car to the Yen Bai facility; he was subsequently transferred multiple times, finally ending up at the Nam Ha camp in Ha Nam Ninh province. Back home, his family lost all contact with him for nearly five years. While imprisoned, his heart condition recurred, bringing him to the brink of death on several occasions; he was released in early 1980.
He passed away on the 21st day of the first lunar month in 1985 in Saigon, at the age of 54.
It is my humble view that, as a man, he placed his country, honor, and duty above his domestic life; despite having a secure career and a beautiful wife and well-mannered children, he resolutely set out to serve… How deeply moving that moment of parting must have been!
“Who leaves without a lingering pang of sorrow?
Few find joy in parting from a lover.
She gazes after me through tears of farewell;
I stride away, yet my soul weeps within.”
(From the song *Chuyện Giàn Thiên Lý* – Music by Anh Bằng)
While the father embodied a heroic spirit, the mother remained steadfastly devoted; undeterred by hardship, she carried her child south to reunite with her husband across the vast distance. How noble was this wartime romance—a story immortalized in the bilingual memoir *Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!* by author Nguyễn Thị Phương Hiền and translator Phạm Văn Bân.
2. AN EXEMPLARY FATHER AND A FILIAL DAUGHTER:
The late Major Nguyễn Gia Tĩnh began his career as a teacher before graduating from Class 10 of the Da Lat Joint General Military Academy; he served for 22 years in the Ranger Corps (*Biệt Động Quân*). After 1975, he was sent to a re-education camp in the North.
According to the memoir *Cha Mãi Bên Đời*, he was an exemplary father who loved, cared for, and raised his daughter wholeheartedly. Possessing a progressive and visionary mindset regarding her future, he invited American friends to their home to tutor her in English. Consequently, during her high school years, she was able to assist teachers with interpretation whenever American delegations visited the school.
According to the article *Yêu Thương Còn Mãi* (Love Endures), when PH was thirteen—an age of dreams and youthful reverie—she was a student in the *Đệ Lục* class (equivalent to 7th grade) at Trần Bình Trọng High School in Ninh Hòa. Her father was driving her to Nha Trang to buy school supplies; as they passed the foot of Ro Tuong Pass, looking out toward the distant Nha Phu Bay—where two rivers converge and “all merge into the vast ocean”—he gazed at the sea and asked his daughter:
“Do you love the sea? Do you like the idea of crossing…” …cross the ocean? If you study hard, when you grow up, Dad will send you to the U.S. to study!
-Yes, I’d love that!
Then, life-altering changes and the upheavals of the times prevented father and daughter from realizing that dream. Yet, the daughter did not let her father down.
1. QUELQUES MOTS SUR LE MAJOR NGUYEN GIA TINH (1931-1985) :
Le père dans les mémoires bilingues « Reste avec moi pour toujours, Papa ! » de l’auteure Nguyen Thi Phuong Hien.
Nu le 8 mai 1931 à Hung Yen, dans le nord du Vietnam, M. Nguyen Gia Tinh était un enseignant. Il avait épousé Mme Pham Thi Phuong Thao, elle aussi originaire de cette ville.
Lorsque Phuong Hien (PH) avait un an, son père, l’instituteur Nguyen Gia Tinh, s’engagea dans l’armée et intégra la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Dalat (1er octobre 1953 – 1er juin 1954), aux côtés du major-général Le Minh Dao (18e de sa promotion), du général de brigade Vu Van Giai, du général de brigade Tran Van Nhut et du général de brigade Truong Huu Duc. La 10e promotion était baptisée Tran Binh Trong ; Nguyen Tan Dat en fut le major. La promotion Tran Binh Trong était la plus importante des dix premières promotions de l’Académie militaire nationale de Dalat.
Actuellement, le lien en ligne « Class 10 Flipbook – Académie militaire nationale du Vietnam » recense 400 officiers diplômés de la promotion 10 Tran Binh Trong le 1er juin 1954 : Nguyen Gia Tinh y figure au numéro 359.
*ACADÉMIE MILITAIRE NATIONALE DE DA LAT :
En 1948, le gouvernement national vietnamien crée l’École d’officiers du Vietnam à Dap Da, Hué, avec deux promotions.
En 1950, elle est transférée à Da Lat et rebaptisée Académie militaire conjointe de Da Lat, avec 14 promotions.
En 1959, le gouvernement de Ngo Dinh Diem la renomme Académie militaire nationale du Vietnam, nom qu’elle conservera jusqu’au 30 avril 1975 ; elle compte alors 19 promotions.
Au total, 35 promotions ont été formées : 33 promotions ont diplômé 6 583 officiers en service actif (les promotions 30 et 31 n’ont pas encore obtenu leur diplôme). Parmi eux, 61 généraux (19 à Hué, 42 à Da Lat).
En 1954, la mère de Phuong Hien emmena sa fille (âgée de seulement 2 ans) de Hung Yen à Hai Phong, puis embarqua sur un navire à destination du Sud. Elle rejoignit ensuite son mari et son père à Da Lat, où ce dernier préparait la cérémonie de remise des diplômes de la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Da Lat. Il sortit diplômé avec le grade de sous-lieutenant, choisit les forces spéciales et commença sa carrière militaire dans l’Ouest. Sa famille s’installa à Sa Dec.
Après avoir quitté le delta du Mékong pour Saïgon, sa famille vécut dans le complexe de logements pour officiers de Quang Trung. Il envoya sa femme étudier au collège du couvent de la Sainte-Mère, rue Le Van Duyet, à Saïgon.
Il quitta ensuite Saïgon et fut muté à l’école de sous-officiers de Dong De à Nha Trang pendant un an, puis au centre d’entraînement des forces spéciales de Duc My, où sa famille résidait dans la ville de Ninh Hoa.
En 1966, il possédait une maison près du pont Duc My.
En 1969, il s’installa à Pleiku, tandis que son épouse poursuivait ses études en première année de primaire au collège Cuong De de Quy Nhon.
En 1973, il travaillait au IVe régiment des forces spéciales, à la base de Long Binh, dans la région militaire III (KBC 3264).
En 1974, il fut hospitalisé à l’hôpital général de la République pour une maladie cardiaque.
En mars 1975, le Conseil d’immunisation de Saïgon lui certifia une immunité permanente, assortie d’un taux d’invalidité de 60 %, le classant comme ancien combattant handicapé de catégorie 3.
Le 26 mars 1975, le major Nguyen Gia Tinh, matricule 51/300 308, fut démobilisé après 22 ans de service au sein des Forces spéciales, débuté le 20 septembre 1953.
Le 8 mai 1975, il fut transféré dans un camp de rééducation par train fermé à destination de la prison de Yen Bai, où il subit plusieurs transferts, son dernier lieu de détention étant le camp de Nam Ha, dans la province de Ha Nam Ninh. Sa famille fut sans nouvelles de lui pendant près de cinq ans. Durant son incarcération, son état cardiaque se détériora et il frôla la mort à plusieurs reprises. Il fut libéré début 1980.
Il décéda le 21 janvier 1985 à Saïgon, à l’âge de 54 ans.
À mon avis, en tant qu’homme, il plaçait son pays, son honneur et son sens des responsabilités au-dessus des liens familiaux. Malgré une carrière stable, une épouse magnifique et des enfants obéissants, il a courageusement entrepris son voyage… Quel moment d’adieu poignant !
Qui part sans éprouver un pincement au cœur ?
Il est difficile d’être heureux loin de l’être aimé.
Elle m’a regardé partir, les larmes aux yeux.
J’ai continué mon chemin, le cœur lourd.
(L’Histoire de la vigne de chèvrefeuille – musique d’Anh Bang)
Tandis que le père était animé d’un courage héroïque, la mère, imperturbable face à l’adversité, portait son enfant et a migré vers le sud pour retrouver son mari au loin. Quelle belle histoire d’amour en temps de guerre ! Elle est racontée dans l’ouvrage bilingue *Reste avec moi pour toujours, papa !*, un récit autobiographique de l’auteure Nguyen Thi Phuong Hien et du traducteur Pham Van Ban.
2. LE PÈRE EXEMPLAIRE ET SA FILLE FIDÈLE :
Le regretté major Nguyen Gia Tinh, ancien enseignant, est sorti diplômé de la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Dalat et a servi dans les forces spéciales pendant 22 ans. Après 1975, il a été emprisonné. dans un camp de rééducation du Nord.
Selon l’ouvrage *Reste avec moi pour toujours*, il était un père exemplaire, aimant et attentionné envers sa fille, et l’élevant avec dévouement. Il avait une vision progressiste et novatrice de son avenir. Il invitait des amis américains chez lui pour lui donner des cours d’anglais, ce qui lui permettait, au lycée, d’aider ses professeurs en traduisant lors des visites de délégations américaines.
Selon l’article « L’amour dure toujours », à l’âge de 13 ans (Dreamy Age – musique de Pham Duy, Thirteen Years Old – poème de Nguyen Sa), PH, élève de sixième au lycée Tran Binh Trong de Ninh Hoa, fut emmenée par son père à Nha Trang pour acheter des livres et des fournitures scolaires. Passant au pied du col de Ro Tuong, ils aperçurent au loin la baie de Nha Phu, où deux rivières se jettent dans l’océan. Contemplant la mer, il demanda à son… Fille :
« Aimes-tu la mer ? Aimes-tu traverser l’océan ? Travaille bien à l’école et, quand tu seras grande, je te laisserai partir étudier en Amérique ! »
« Oui, je veux bien ! »
Puis, les aléas de la vie et les vicissitudes de l’époque ont empêché le père et la fille de réaliser ce rêve. Mais la fille n’a pas déçu son père.

HỒI KÝ CHA MÃI BÊN ĐỜI.
Sau đây là hai bài đóng góp của tác giả điểm sách dược ghi nhận như sau:
• Bài của Nhà văn Lưu Khánh Lan
NHẬN XÉT VỀ VĂN CHƯƠNG VÀ ĐỜI SỐNG TRONG TÁC PHẨM CHA VẪN BÊN ĐỜI
CHA VẪN BÊN ĐỜI là những yếu tố khắng khít giữa tình mẫu tử, là vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là bản ngã con người. Có thể nói đây là tác phẩm bút ký ghi lại tình yêu thương thiêng liêng của con người trong cuộc sống. Tình yêu trong trường hợp của tác giả Phương Hiền là bà đã dùng đối tượng ghi nhận là người cha kính yêu mà bà nhớ về chặng đường đời được người cha dìu dắt, yêu thương, là hành trang quý báu để bà bước vào đời.
Cũng trong tác phẩm hồi ký (hồi ức) này, tác giả xóay cảm nghĩ của mình về những bước thăng trầm của quê hương, của đất nước lẫn sự nhạy cảm của bà đối với những biến chuyển phức tạp của đời sống xã hội trong giai đoạn chiến tranh, cũng như ý thức được hướng đi của mình trong tương lai.
Nội dung sách nêu lên những đổi thay của đất nước, những chao đảo trong cuộc sống với nhiều diễn biến xảy ra bất ngờ. Những nhân vật trong tác phẩm đã chi phối sự suy tư và nỗi trăn trở của tác giả khi nghĩ đến gia đình, bạn bè, trường học… Tác giả cũng tự vận động sức mạnh bản thân để giúp mình vươn lên trong cuộc sống và thành công trong đường đời. Khiến người đọc cảm nhận được một lối viết, một thể loại văn chương trung thực, chân phương qua tác phẩm hồi ký này.
Nghệ thuật văn chương hay mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cái nhìn về sự trường tồn qua thời gian và góc nhìn vào thực tại. Cái vĩnh cửu đang nhìn qua cái bất biến của sự thực. Tác giả Phương Hiền đã không nên nhìn sự kiện đời sống xảy ra một cách đơn giản, bà đã nhìn thấu rõ bản thể của vấn đề qua lăng kính rộng lớn, bà đã phân tích, đào sâu bản sắc cuộc sống, tư duy bản chất con người vào các chuỗi sự kiện sâu thẵm theo thời gian, lịch sử đã xảy ra.
Chúc mừng NV Phương Hiền ra tác phẩm,
Khánh Lan, California 2026.
—————————————————————————-
• Bài của Nhà văn Kiều My
Những cảm nghĩ về sách HỒI KÝ CHA MÃI BÊN ĐỜI
Kiều My xin được góp phần cảm nghĩ của mình cho quyển hồi ký Cha Mãi Bên Đời của nhà văn Phương Hiền.
Đây là một tác phẩm mang đậm tình người và chan chứa yêu thương của tình phụ tử vượt lên trên mọi giới hạn của thời gian.Tác giả đã đưa chúng ta trở về những năm tháng chiến tranh đầy biến động của Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, một cô bé lớn lên bên người cha quân nhân, theo chân cha qua nhiều vùng đất khác nhau, nơi đơn vị của cha đóng quân. Những ngày tháng gian khó ấy đã tạo nên một tình cảm gắn bó đặc biệt giữa cha và con.
Người cha trong hồi ký hiện lên không phải như một anh hùng trên chiến trường, mà trước hết là một người cha tận tụy, yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Những bài học về nhân cách, lòng can đảm, sự hy sinh và trách nhiệm đã được truyền lại cho con không chỉ bằng lời nói mà bằng chính cuộc đời của ông.
Khi người cha ra đi vì căn bệnh tim, nỗi mất mát ấy đã để lại khoảng trống không gì bù đắp được trong lòng người con gái…đó chính là tác giả Phương Hiền. Nhưng điều kỳ diệu là tình yêu thương không hề mất đi theo năm tháng. Trái lại, nó trở thành nguồn ký ức thiêng liêng, trở thành ngọn lửa âm thầm sưởi ấm cuộc đời người ở lại.
“”Cha mất vì trái tim ngừng đập. Nhưng tình thương của cha thì chưa bao giờ ngừng sống.”
Từng trang sách là từng giọt nước mắt nhớ thương, từng kỷ niệm được nâng niu như những báu vật của tâm hồn. Người đọc có thể bắt gặp trong đó hình ảnh của chính mình, của cha mình, hay của những người thân yêu đã từng hiện diện trong cuộc đời… nhưng nay chỉ còn trong ký ức.
Điều làm nên giá trị đặc biệt của Cha Mãi Bên Đời… chính là sự chân thật. Tác giả không tô vẽ hay cường điệu cảm xúc. Bằng giọng văn giản dị và chân thành, tác giả đã kể lại câu chuyện đời mình như một lời tâm sự, để từ đó… chạm đến trái tim của người đọc.
Cha Mãi Bên Đời nhắc nhở chúng ta rằng: Cha mẹ có thể rời xa cõi đời này, nhưng tình yêu của cha mẹ sẽ sống mãi trong trái tim con cái. Những người thân yêu không thật sự mất đi… khi họ còn được nhớ đến bằng tình thương và lòng biết ơn.
Trong cuộc sống bận rộn hôm nay, đôi khi chúng ta quên nói lời yêu thương với cha mẹ, quên dành thời gian cho những người thân đang còn bên cạnh. Vì thế, Cha Mãi Bên Đời không chỉ là một cuốn hồi ký để đọc, mà còn… là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về đạo hiếu và tình thân gia đình.
Và cuốn hồi ký “Cha Mãi Bên Đời” mà chúng ta cùng tìm hiểu hôm nay chính là minh chứng đẹp đẽ cho điều ấy.
Khi gấp lại những trang cuối của cuốn hồi ký này, chúng ta nhận ra rằng tác giả không chỉ viết về một người cha đã khuất, mà đang viết về tình yêu. Một tình yêu không bị thời gian làm phai nhạt. Một tình yêu không bị sự chết chia lìa.
Có lẽ đó cũng là ý nghĩa đẹp nhất của nhan đề “Cha Mãi Bên Đời”.
Bởi có những người tuy đã đi xa, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời chúng ta.
Có những người cha đã rời xa nhân thế, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời con cái.
Xin cảm ơn tác giả đã trao tặng cho chúng ta món quà tinh thần quý giá này.
Xin chúc nhà văn Phương Hiền tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm giá trị, và mong rằng cuốn hồi ký Cha Mãi Bên Đời sẽ được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, để những thông điệp đẹp đẽ về tình phụ tử tiếp tục được lan tỏa.
Trân trọng
Kiều My.
————————————————————————-
• By Writer Lưu Khánh Lan
The following are two contributions from the book reviewer:
REFLECTIONS ON THE LITERATURE AND LIFE IN THE WORK *CHA VẪN BÊN ĐỜI* (Father Remains by My Side)
*Cha Vẫn Bên Đời* embodies the intimate bonds of family love—specifically the paternal bond—forming concentric circles with the human self at the very center. It is, in essence, a memoir chronicling the sacred nature of human love. For author Phương Hiền, this love centers on her beloved father; she reflects on the journey of life where his guidance and affection served as the invaluable foundation for her own path into the world.
In this memoir, the author also explores her thoughts on the nation’s turbulent history and the complex social shifts during wartime, while simultaneously gaining clarity regarding her own future direction. The book depicts the country’s transformations and the upheavals of life, marked by unexpected turns of events. The figures within the work shape the author’s reflections and deep concerns regarding family, friends, and school. Furthermore, the author draws upon her inner strength to rise above challenges and succeed in life. Through this memoir, readers perceive a writing style and literary genre that are honest and unpretentious.
Literary art—and indeed any work of art—offers a perspective on endurance through time and a view of reality. It is the eternal gazing through the immutable nature of truth. Author Phương Hiền does not view life’s events superficially; rather, she perceives the true essence of matters through a broad lens. She analyzes and delves into the nature of life and the human spirit, examining a series of profound events that have unfolded across time and history.
Congratulations to writer Phương Hiền on the release of her work,
Khánh Lan, California 2026.
—————————————————————————-
• By Writer Kiều My
Reflections on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side)
I would like to share my thoughts on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* by writer Phương Hiền.
This is a work deeply imbued with humanity and the overflowing love of a father-daughter bond that transcends the limits of time. The author transports us back to the turbulent years of the war in Vietnam. Amidst those circumstances, a young girl grew up alongside her soldier father, following him to the various regions where his unit was stationed. Those arduous days forged a special, enduring bond between father and child.
In the memoir, the father does not appear merely as a battlefield hero, but first and foremost as a devoted father who loved his child with all his heart. Lessons regarding character, courage, sacrifice, and responsibility were passed down to his daughter not only through words but through the example of his own life.
When her father passed away due to heart disease, the loss left an irreplaceable void in the heart of his daughter—the author, Phương Hiền. Yet, miraculously, that love did not fade with the passing years. On the contrary, it became a source of sacred memories—a quiet flame warming the life of the one left behind.
“Father passed away when his heart stopped beating.” “Yet, a father’s love never ceases to live on.”
Each page holds tears of longing and memories cherished like treasures of the soul. Readers may catch glimpses of themselves, their own fathers, or loved ones who once graced their lives—yet now exist only in memory.
What gives *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side) its special value is its authenticity. The author neither embellishes nor exaggerates emotions. Through a simple, sincere narrative style, the author shares their life story as a heartfelt confidence, thereby touching the reader’s heart.
*Cha Mãi Bên Đời* reminds us that while parents may depart this world, their love lives on forever in the hearts of their children. Loved ones are never truly gone as long as they are remembered with affection and gratitude.
In today’s busy world, we sometimes forget to express our love to our parents or neglect to spend time with the loved ones still by our side. Thus, *Cha Mãi Bên Đời* is not merely a memoir to be read; it is a gentle reminder of filial piety and the bonds of family.
The memoir *Cha Mãi Bên Đời*, which we explore today, stands as a beautiful testament to this truth.
As we close the final pages of this memoir, we realize that the author is writing not just about a departed father, but about love—a love undimmed by the passage of time and unbroken by death.
Perhaps this is the most beautiful meaning behind the title *Cha Mãi Bên Đời*.
For there are those who, though they have departed, never truly leave our lives.
There are fathers who have left this world, yet never leave the lives of their children.
Thank you to the author for gifting us this precious work.
I wish writer Phuong Hien continued success in creating valuable works, and I hope that the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side) receives a warm reception from readers everywhere, allowing its beautiful messages about the father-child bond to spread far and wide.
Sincerely,
Kieu My.
——————————————————————————
• Article de Luu Khanh Lan
Voici deux contributions d’auteurs à la critique littéraire, comme indiqué :
COMMENTAIRES SUR LA LITTÉRATURE ET LA VIE DANS L’ŒUVRE « PÈRE EST TOUJOURS LÀ »
« PÈRE EST TOUJOURS LÀ » met en lumière le lien étroit entre l’amour maternel et l’identité humaine, un cercle concentrique centré sur l’ego. On peut dire qu’il s’agit d’un récit autobiographique témoignant de l’amour sacré qui unit les êtres humains. Pour l’auteure, Phuong Hien, l’objet de sa réflexion est son père bien-aimé, dont elle se souvient tout au long de son parcours de vie, guidée et aimée par lui, un précieux soutien à l’aube de l’âge adulte.
Dans ce récit, l’auteure évoque les hauts et les bas de sa patrie et de son pays, ainsi que sa sensibilité aux bouleversements sociaux complexes survenus pendant la guerre et sa conscience de son avenir.
Le livre met en évidence les transformations du pays et les bouleversements de la vie, ponctués de nombreux événements inattendus. Les personnages de l’œuvre ont influencé les pensées et les angoisses de l’auteure, qui s’est penchée sur sa famille, ses amis, son école, etc. Elle a également puisé dans ses propres ressources pour s’élever socialement et réussir. Le lecteur perçoit ainsi, à travers ce récit autobiographique, un style d’écriture et un genre littéraire d’une grande honnêteté et d’une grande simplicité.
L’art littéraire, ou toute œuvre d’art, est une perspective sur la pérennité du temps et un point de vue sur la réalité. L’éternel se révèle à travers l’immuabilité du réel. Phuong Hien n’a pas appréhendé les événements de la vie de manière superficielle ; elle en a saisi l’essence avec une perspective globale. Elle a analysé et exploré l’identité de la vie et la nature fondamentale de la pensée humaine au sein du profond enchaînement des événements qui ont marqué le temps et l’histoire.
Félicitations à l’auteure Phuong Hien pour la parution de son ouvrage,
Khanh Lan, Californie 2026.
—————————————————————————-
• Article de l’écrivaine Kieu My
Réflexions sur le livre *MÉMOIRES D’UN PÈRE QUI SERA TOUJOURS À MES CÔTÉS*
Kieu My souhaite partager ses réflexions sur les mémoires de Phuong Hien, *Un père qui sera toujours à mes côtés*.
Ce livre, empreint d’une grande humanité et débordant de l’amour d’un père pour sa fille, transcende le temps. L’auteure nous replonge dans les années tumultueuses de la guerre du Vietnam. Dans ce contexte, une jeune fille grandit aux côtés de son père militaire, le suivant dans les différentes régions où son unité était stationnée. Ces moments difficiles ont forgé un lien unique entre le père et la fille.
Le père, dans ces mémoires, n’est pas présenté comme un héros de guerre, mais avant tout comme un père dévoué qui aimait sa fille de tout son cœur. Des leçons de caractère, de courage, de sacrifice et de responsabilité ont été transmises à sa fille non seulement par ses paroles, mais aussi par son propre exemple.
Lorsque son père est décédé d’une maladie cardiaque, la perte a laissé un vide irremplaçable dans le cœur de sa fille… c’est-à-dire, de l’auteure, Phuong Hien. Mais miraculeusement, l’amour n’a pas faibli avec le temps. Au contraire, il est devenu un souvenir précieux, une flamme silencieuse qui réchauffe la vie de ceux qui restent.
« Papa est mort parce que son cœur a cessé de battre. » Mais l’amour d’un père ne s’éteint jamais.
Chaque page est une larme de nostalgie, chaque souvenir chéri comme un trésor de l’âme. Les lecteurs y reconnaîtront peut-être leur propre image, celle de leur père ou d’êtres chers qui ont jadis fait partie de leur vie… et qui ne subsistent plus que dans leurs souvenirs.
Ce qui rend « Papa sera toujours avec toi » si particulier, c’est son authenticité. L’auteure ne cherche ni à embellir ni à exagérer les émotions. Avec un style d’écriture simple et sincère, l’auteur relate son histoire comme une confession à cœur ouvert, touchant ainsi le cœur des lecteurs.
« Père sera toujours avec toi » nous rappelle que : si les parents quittent ce monde, leur amour demeure à jamais dans le cœur de leurs enfants. Les êtres chers ne disparaissent jamais vraiment… tant qu’on se souvient d’eux avec amour et gratitude.
Dans le tourbillon de la vie moderne, il nous arrive d’oublier d’exprimer notre amour à nos parents, d’oublier de passer du temps avec ceux qui sont encore à nos côtés. C’est pourquoi « Père, tu es toujours là » n’est pas seulement un récit autobiographique, mais aussi un doux rappel de la piété filiale et de l’amour familial.
Et ce récit, que nous explorons aujourd’hui, en est un magnifique témoignage.
En refermant ce livre, nous comprenons que l’auteur n’écrit pas seulement sur un père disparu, mais sur l’amour. Un amour que le temps ne s’altère pas. Un amour que la mort ne peut séparer.
C’est peut-être là le plus beau sens du titre « Père, tu es toujours là ».
Car il y a des personnes qui, bien que disparues, restent à jamais présentes dans nos vies.
Il y a des pères qui ont quitté ce monde, mais qui demeurent à jamais dans le cœur de leurs enfants.
Merci à l’auteure pour ce précieux cadeau spirituel.
Nous souhaitons à Phuong Hien beaucoup de succès dans la création de nombreuses œuvres de valeur et espérons que son récit autobiographique « Père toujours à mes côtés » sera chaleureusement accueilli par les lecteurs du monde entier, afin que le beau message de l’amour paternel continue de rayonner.
Sincèrement,
Kieu My.

Đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền
Vương Trùng Dương: Đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền
(Sáng Thứ Ba 23/6 đang xem World Cup ở cà phê Gypsy, nhà văn Huy Anh mang cuốn Cha Mãi Bên Đời tặng nên đáp lễ, viết những dòng về tác phẩm nầy)
*
Trong mười tám năm qua, trong vai trò Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa, tôi đã đọc nhiều tác phẩm, bài viết và đăng tải trên tờ báo liên quan đến cuộc đời người con khi mất nước, cha vào chốn lao tù, vợ con sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã bên lề xã hội.
Những hình ảnh bi thương, cảm động khi vật lộn với cuộc sống, bị đày vùng kinh tế mới, lặn lội thăm nuôi, vượt biên và khi được sống ở hải ngoại.
Hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền là một trong những tác phẩm tiêu biểu trong hoàn cảnh đó, ấn hành năm 2017, và chín năm sau dịch sang Anh ngữ Stay With Me Forever And Ever, Papa! Sẽ ra mắt tác phẩm vào thượng tuần tháng Bảy năm 2026 tại Little Saigon.
Tuy thuộc thế hệ thứ hai (hậu duệ) trong QLVNCH nhưng Phương Hiền đã bước sang tuổi thất thập. Vì vậy tác phẩm nầy có thể dành cho người người Mỹ và thế hệ thứ hai cảm nhận tấm lòng của người con với thân phụ đã dấn thân trong thời chinh chiến, bị tù đày và không may đã ra người thiên cổ.
Hồi ký gồm 20 phần: Hành Trình Đầu Tiên, Từ Lục Tỉnh Lên Sài Gòn, Người Bạn Nhỏ, Ninh Hòa Yêu Dấu, Đêm Trăng Miền Thơ Ấu, Trường Trung Học Trần Bình Trọng Ninh Hòa – Khánh Hòa, Những Bài Học Đầu Tiên, Ước Vọng Của Người Cha, Ký Ức Đẹp Mãi Không Phai, Quà Mùa Xuân Tặng Cha, Từ Ninh Hòa Đến Dục Mỹ, Từ Giã Ninh Hòa, Quy Nhơn, Mùa Xuân Pleiku, Vật Đổi Sao Dời, Ra Đi Mãi Mãi, Đồng Đội Của Cha Tôi, Dấu Ấn Của Những Người Cha, Kỷ Vật Một Thời, Cha Mãi Bên Đời…
Với nội dung trên, Phương Hiền đã gói ghém và trang trải bối cảnh và cuộc sống từ ngày di cư vào Nam năm 1954, hai thập niên trong hoàn cảnh chiến tranh, sau ngày mất nước và thời gian vật đổi sao dời!.
Trong Lời Ngỏ, Phương Hiền viết: “Với tôi, những kỷ niệm về cha không phải chỉ là quá khứ, mà còn tiếp diễn trong hiện tại, sống động và đẹp đẽ, đã thôi thúc tôi cầm bút – như giờ đây: cha tôi đã mỉm cười bao dung nghe tôi kể chuyện về người…
Tôi là đứa con của tình yêu – tôi biết vì đã… lén đọc nhật ký thư từ của hai người trao nhau lúc… chưa có tôi”.
Khi đề cập đến Ninh Hòa, với tôi có nhiều kỷ niệm, đầu năm 1971 tôi đổi về phục vụ ở Đại Đội CTCT (thuộc Tiểu Đoàn 20 CTCT ở Pleiku) thường ra công tác ở Ninh Hòa, gặp cô giáo và trở thành bạn đời cho đến nay. Những người bạn đã dạy nơi mái trường Phương Hiền theo học ở Trường Trung Học Trần Bình Trọng và Trường Trung Học Quy Nhơn… Với Ninh Hòa, Quy Nhơn, Pleiku đã gắn liền thời gian với tôi trong thời binh nghiệp nên khi đọc những dòng chữ của Phương Hiền trước kia phổ biến trên website ninh-hoa.com, tôi liên tưởng đến thời quá vãng.
Về tiểu sử đã đề cập khái quát, Phương Hiền sinh ở Hưng Yên. Thân phụ là Nguyễn Gia Tĩnh, xuất thân Khóa 10 Trần Bình Trọng, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (1953-1954) vì vậy sau hiệp định Genève chia cắt đất nước, đơn vị di chuyển vào Nam. Chiến hữu Nguyễn Gia Tĩnh trong đơn vị tác chiến binh chủng Biệt Động Quân), nhận nhiều nhiệm sở trên 4 vùng chiến thuật của Việt Nam Cộng Hòa. Vì vậy mỗi nhiệm sở đem gia đình theo. Chính vì thế, cô con gái Phương Hiền đã theo cha di chuyển nhiều nơi, nhất là quãng thời gian ở Vùng 2 Chiến Thuật.
Trong phần 16 Ra Đi Mãi Mãi, Phương Hiền viết: “Cha tôi bặt tin suốt thơi gian tù gần 5 năm. Sau nầy nghe cha kể lại, chúng tôi mới biết ông đã đi chuyến xe lửa bịt bùng lên mạn Yên Bái, chuyển trại nhiều lần, nơi cuối cùng là trại Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam.
Nơi tù đày, cha tôi đã nhiều lần chết đi sống lại, vì bệnh tim quá nặng, hay vì những cảnh ngộ là trái tim ông đau đớn?!…”
Sau khi ra tù “Sức khỏe cha tôi ngày càng kém. Trái tim của ông làm sao có thể hồi phục trong cảnh đời dâu bể! Một ngày cuối năm, cha tôi rời bỏ tôi, ra đi mãi mãi. Ông mất ngày 22 tháng Chạp năm Ất Sửu (21 tháng Giêng 1985), khi mới 54 tuổi”.
Thật đáng tiếc, nếu sức khỏe của niên trưởng Nguyễn Gia Tĩnh được chữa trị và cầm cự được thời gian thì có cơ hội đi diện H.O, thay đổi cả cuộc đời trong gia đình.
Từ khi mất người cha thân yêu, sau ba thập niên Phương Hiền mới cầm bút qua từng bài viết phổ biến trên trên website ninh-hoa.com, nơi đây cũng là kỷ niệm của thuở học sinh. Tại Ninh Hòa có Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ (Từ quận Ninh Hoà theo quốc lộ 21 đi Khánh Dương, tọa lạc tại xã Ninh Sim, Dục Mỹ, quận Ninh Hòa, gần núi Đeo). Đây gọi là “Lò Luyện Thép” đào tạo chiến hữu Biệt Động Quân về Rừng Núi Sình Lầy, Thám Báo… Một trong những binh chủng chiến đấu trong QL.VNCH. Đây là một yếu khu quân sự, bao gồm Trường Pháo Binh, Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn… Vì vậy thị trấn nhỏ nầy cuối tuần là “thị trấn lính”.
Trong phần 15 Vật Đổi Sao Dời “Năm 1972, vì lý do sức khỏe, cha tôi được thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân đặt tại trại Đào Bá Phước, đường Tô Hiến Thành, quận 10. Tôi từ giã nhà bà Lạng (nhà mợ dâu của Phương Hiền trong hai năm học đại học) cùng mẹ và các em theo cha về ở trong cư xá gia binh Đào Bá Phước…
Năm 1974, bệnh tim cha tôi trở nặng, nhiều lần phải nhập Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tháng 3-1975, cha tôi trình diện Hội Đồng Miễn Dịch Sài Gòn và được chứng nhận miễn dịch vĩnh viễn với cấp độ tàn phế 60% – xếp loại 3 phế binh”. Ngày 26-3-1975 được phép giải ngũ sau 22 năm phục vụ trong QLVNCH. Thế nhưng sau khi mất nước, thương phế binh cấp độ tàn phế 60% lại bị đày ra chốn lao tù tận núi rừng miền Bắc! “Tôi nhớ một ngày cuối tháng Tư năm 1975… cha tôi nằm trên giường bệnh nắm chặt tay tôi, ánh mắt đầy yêu thương ái ngại”. Hình ảnh nầy quá thương tâm!
Với hồi ký, có vài tác phẩm với “Cái tôi đáng ghét” (Le moi est haïssable của triết gia Blaise Pascal) để cường điệu về bản thân nên dễ bị dị ứng. Với hồi ký với “cái tôi của Phương Hiền” là cái tôi phát xuất từ trái tim chân thành, hiếu thảo của con gái với cha trải dài theo năm tháng từ khi nhỏ “ lén đọc nhật ký thư từ của hai người trao nhau” cảm nhận cuộc tình song thân.
Về văn phong, Phương Hiền viết ngắn gọn, mạch lạc, diễn tả trung thực với cảm xúc như những lời chia sẻ cùng độc giả. Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ thật bình dị “có sao viết vậy” nhưng sâu sắc mang tâm hồn nhân bản, trải dài qua 320 trang sách.
Phương Hiền từ thời học sinh đã chịu khó đọc sách và hấp thụ những lời dạy bảo của song thân cũng như những vị thầy trong mái trường nên ảnh hưởng nhiều khi sáng tác.
Với hồi ký thì nội dung từng mẩu chuyện gắn liền cùng thời gian cùng những hình ảnh trong gia đình, cuộc sống. Phương Hiền chỉ đề cập thuở học sinh nhưng không nói đến trong những năm ở Đại Học Dược Khoa Sài Gòn, trở thành Dược Sĩ, có lẽ đó là điều tế nhị và sự khiêm nhường với “cái tôi” như đã đề cập ở trên.
Tuy đã đọc các bài viết trước đây mười năm, nay đọc lại trong tác phẩm nầy vẫn cảm thấy gần gũi với cây bút đầu tay, đáng trân trọng.
Vương Trùng Dương.- (Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa) – Little Saigon, June 23, 2026


CỐ THIẾU TÁ NGUYỄN GIA TĨNH (1931-1985)
Reflections on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Stay With Me Forever And Ever, Papa!) by Nguyễn Thị Phương Hiền.
Vương Trùng Dương
(On the morning of Tuesday, June 23, while watching the World Cup at Gypsy Café, Huy Anh gifted me a copy of *Cha Mãi Bên Đời*; in return, I am writing these lines about the work.)
***
Over the past eighteen years, in my role as Editor-in-Chief of the monthly publication *Chiến Sĩ Cộng Hòa* (Soldier of the Republic), I have read and published numerous works and articles recounting the lives of children whose fathers were imprisoned and whose families endured harsh, marginalized existences following the loss of their country.
These stories capture poignant and heart-wrenching images: the struggle for survival, exile to “New Economic Zones,” the arduous journeys to visit imprisoned loved ones, the perilous escapes abroad, and life in the diaspora.
The memoir *Cha Mãi Bên Đời* by Nguyễn Thị Phương Hiền is a standout work within this genre. Originally published in 2017, it was translated into English nine years later as *Stay With Me Forever And Ever, Papa!* The book is scheduled for its official launch in Little Saigon during the first ten days of July 2026.
Although she belongs to the “second generation” of the Republic of Vietnam Military Forces (RVNMF) families, Phương Hiền has now reached the age of seventy. Consequently, this work offers American readers and the second generation a chance to deeply feel the devotion of a daughter toward her father—a man who committed himself to the cause during wartime, suffered imprisonment, and has since passed away. The memoir comprises twenty parts: The First Journey, From the Six Provinces to Saigon, A Little Friend, Beloved Ninh Hoa, A Moonlit Night of Childhood, Tran Binh Trong High School (Ninh Hoa, Khanh Hoa), First Lessons, A Father’s Aspirations, Memories That Never Fade, A Spring Gift for Father, From Ninh Hoa to Duc My, Bidding Farewell to Ninh Hoa, Quy Nhon, Spring in Pleiku, Times of Great Change, Departing Forever, My Father’s Comrades-in-Arms, The Legacy of Fathers, Keepsakes of an Era, Father Forever by My Side…
Through these chapters, Phuong Hien encapsulates the settings and life experiences spanning the migration to the South in 1954, two decades of wartime, the aftermath of the country’s fall, and the tumultuous changes that followed.
In the Foreword, Phuong Hien writes: “To me, memories of my father are not merely the past; they live on in the present—vivid and beautiful—compelling me to write. It feels as though, even now, my father smiles benevolently as he listens to me tell his story…
I am a child of love—I know this because I… secretly read the diaries and letters they exchanged before… I was even born.”
References to Ninh Hoa hold many memories for me as well; in early 1971, I was transferred to the Political Warfare Company (under the 20th Political Warfare Battalion in Pleiku). My duties frequently took me to Ninh Hoa, where I met a schoolteacher who would become my life partner. I recall the friends Phương Hiền made while attending Trần Bình Trọng High School and Quy Nhơn High School… Having spent my own military service years in Ninh Hòa, Quy Nhơn, and Pleiku, reading Phương Hiền’s writings—originally published on the website ninh-hoa.com—evokes memories of that bygone era.
Regarding her background, Phương Hiền was born in Hưng Yên. Her father, Nguyễn Gia Tĩnh, was a graduate of the “Trần Bình Trọng” Class (Class 10) at the National Military Academy in Đà Lạt (1953–1954); following the Geneva Accords that partitioned the country, his unit relocated to the South. As a soldier in a combat unit—specifically the Ranger Corps (Biệt Động Quân)—Nguyễn Gia Tĩnh served in various posts across the four Tactical Zones of the Republic of Vietnam, taking his family along with him to each new assignment. Consequently, his daughter Phương Hiền moved frequently with her father, particularly during the time spent in the Second Tactical Zone.
In Part 16, titled “Departing Forever” (Ra Đi Mãi Mãi), Phương Hiền writes: “We lost all contact with my father during his nearly five years of imprisonment. Only later, when he recounted his experiences, did we learn that he had been transported on a sealed train to the Yên Bái region and transferred between camps multiple times, ultimately ending up at the Nam Hà camp in Hà Nam province.
In captivity, my father hovered between life and death many times—whether due to his severe heart condition or the anguish that tormented his heart…”
After his release, “My father’s health steadily declined. How could his heart recover amidst such turbulent, tragic times? One day at the end of the year, my father left me, departing forever. He passed away on the 22nd day of the twelfth lunar month in the Year of the Ox (January 21, 1985), at the age of only 54.” It was only three decades after the loss of her beloved father that Phương Hiền took up the pen again, sharing her writings on the website ninh-hoa.com—a site that also holds memories of her school days. Ninh Hòa was home to the Dục Mỹ Ranger Training Center (located in Ninh Sim Commune, Dục Mỹ, Ninh Hòa District, near Đeo Mountain, along National Route 21 heading from Ninh Hòa town to Khánh Dương). Known as the “Steel Forge,” this facility trained Ranger comrades in jungle, swamp, and reconnaissance warfare—skills essential to one of the Republic of Vietnam Military Forces’ combat branches. It was a major military complex that also housed the Artillery School and the Lam Sơn Training Center; consequently, on weekends, this small town took on the atmosphere of a “soldiers’ town.”
Some memoirs suffer from an “obnoxious self” (recalling philosopher Blaise Pascal’s *Le moi est haïssable*), where the author exaggerates their own importance, often provoking a negative reaction in the reader. In contrast, the “self” presented by Phương Hiền stems from a sincere and filial heart—a daughter’s perspective on her parents that spans years, beginning in childhood when she would “sneak peeks at the diaries and letters” they exchanged, thereby gaining insight into their romance.
Regarding style, Phương Hiền writes concisely and coherently, expressing her emotions honestly—as if simply sharing her thoughts with the reader. She employs simple, unadorned language—writing exactly as things are—yet the work is profound and deeply humane throughout its 320 pages.
Even as a student, Phương Hiền was an avid reader (despite also being fond of play); she absorbed the guidance of her parents and teachers, influences that clearly shape her writing.
The memoir’s content weaves together various anecdotes with the passage of time and images of family life. Phương Hiền focuses on her school days but omits her time at the Saigon School of Pharmacy and her subsequent career as a pharmacist—perhaps out of discretion or the very humility regarding the “self” mentioned earlier.
Although I read some of these pieces a decade ago, revisiting them in this book makes me feel a renewed closeness to this commendable early work.
Little Saigon, June 23, 2026
Vương Trùng Dương
Editor-in-Chief, *Chiến Sĩ Cộng Hòa* (Republic Soldier) Monthly.
===================================================================
Lecture du récit autobiographique « Père pour toujours, Papa ! » de Nguyen Thi Phuong Hien.
Vuong Trung Duong
(Le mardi 23 juin au matin, alors que nous regardions la Coupe du Monde au Gypsy Cafe, Huy Anh m’a offert un exemplaire de « Père pour toujours, Papa ! ». En guise de remerciement, j’ai écrit ces quelques lignes à propos de cet ouvrage.) – Pièce jointe
***
Au cours des dix-huit dernières années, en tant que rédacteur en chef du magazine mensuel « Republican Soldier », j’ai lu de nombreux ouvrages, articles et publications relatant la vie d’enfants dont le pays a été perdu, dont les pères ont été emprisonnés et dont les femmes et les enfants vivent dans des conditions extrêmement difficiles, en marge de la société.
Les images tragiques et émouvantes décrivent la lutte pour la survie, l’exil vers de nouvelles zones économiques, les voyages éprouvants pour leur rendre visite et les soutenir, la fuite à travers la frontière et, finalement, la survie à l’étranger.
Les mémoires de Nguyen Thi Phuong Hien, « Père pour toujours, Papa ! », sont une œuvre emblématique du genre. Publiées en 2017, elles ont été traduites en anglais neuf ans plus tard sous le titre « Reste avec moi pour toujours, Papa !». Le livre paraîtra début juillet 2026 à Little Saigon.
Bien qu’appartenant à la deuxième génération de l’armée sud-vietnamienne, Phuong Hien est aujourd’hui septuagénaire. De ce fait, son ouvrage peut être interprété par les Américains et les anciens combattants de la deuxième génération comme le reflet des sentiments d’un fils pour son père, qui s’est dévoué à la guerre, a été emprisonné et a tragiquement disparu.
Ce récit autobiographique se compose de 20 parties : Le Premier Voyage, Des Provinces du Sud à Saïgon, Un Petit Ami, Ma Chère Ninh Hoa, Une Nuit de Lune dans l’Enfance, Le Lycée Tran Binh Trong à Ninh Hoa – Khanh Hoa, Premières Leçons, Le Vœu d’un Père, Souvenirs Inoubliables, Un Cadeau de Printemps pour Père, De Ninh Hoa à Duc My, Adieu à Ninh Hoa, Quy Nhon, Le Printemps à Pleiku, Les Choses Changent, Le Départ Pour Toujours, Les Compagnons de Mon Père, L’Emprise des Pères, Souvenirs du Passé, Père à Jamais dans Ma Vie…
À travers ce récit, Phuong Hien retrace son parcours depuis son arrivée au Sud en 1954, en passant par les deux décennies de guerre qui ont suivi la chute du pays, et en évoquant le passage du temps et l’évolution des circonstances.
Dans la préface, Phuong Hien écrit : « Pour moi, les souvenirs de mon père ne sont pas seulement du passé, mais se prolongent au présent, vifs et précieux, m’incitant à prendre la plume – comme aujourd’hui : mon père souriait avec bienveillance tandis que je lui racontais des histoires…
Je suis un enfant de l’amour – je le sais car j’ai… lu en secret les lettres qu’ils ont échangées avant… ma naissance. »
Évoquer Ninh Hoa me revient en mémoire. Début 1971, j’ai été muté au sein de la Compagnie de Guerre Politique (le 20e Bataillon de Guerre Politique de Pleiku) et me rendais souvent à Ninh Hoa pour le travail. C’est là que j’ai rencontré mon enseignante, qui est devenue ma compagne et avec qui je partage ma vie depuis. Mes amis enseignaient dans les lycées fréquentés par Phuong Hien : le lycée Tran Binh Trong et le lycée Quy Nhon… Ninh Hoa, Quy Nhon et Pleiku sont intimement liés à mon expérience militaire. Aussi, lorsque je relis les écrits de Phuong Hien, précédemment publiés sur le site ninh-hoa.com, je replonge dans le passé.
Concernant sa biographie, Phuong Hien est née à Hung Yen. Son père, Nguyen Gia Tinh, est sorti diplômé de la 10e promotion Tran Binh Trong de l’Académie militaire nationale de Da Lat (1953-1954). Après la partition du pays suite aux accords de Genève, son unité fut mutée au Sud. Nguyen Gia Tinh, membre de la 9e unité des forces spéciales, fut affecté à de nombreuses reprises dans les quatre zones tactiques de la République du Viêt Nam. Il emmenait sa famille avec lui à chaque affectation. De ce fait, sa fille, Phuong Hien, a beaucoup déménagé avec son père, notamment pendant son séjour dans la 2e zone tactique.
Dans la 16e partie, « Disparu à jamais », Phuong Hien écrit : « Mon père est resté injoignable pendant près de cinq ans, durant son incarcération. Plus tard, lorsqu’il nous a donné des nouvelles, nous avons appris qu’il avait pris le train pour Yen Bai, avait été transféré dans plusieurs camps, et que sa destination finale était le camp de Nam Ha, dans la province de Ha Nam.
En prison, mon père est mort et revenu à la vie à de nombreuses reprises, peut-être à cause de sa grave maladie cardiaque, ou à cause des circonstances qui lui causaient tant de souffrances… »
Après sa libération, « La santé de mon père s’est dégradée. Comment son cœur aurait-il pu se rétablir après une vie aussi tumultueuse ! Un jour, à la fin de l’année, mon père m’a quittée, parti pour toujours. Il est décédé le 22 du 12e mois lunaire de l’année du Buffle (21 janvier 1985), à l’âge de 54 ans. »
Depuis le décès de son père bien-aimé, Phuong Hien a repris l’écriture il y a trente ans, publiant des articles sur le site web ninh-hoa.com, qui conserve également des souvenirs de ses années d’études. À Ninh Hoa se trouvait le Centre d’entraînement des forces spéciales de Duc My (situé dans la commune de Ninh Sim, district de Duc My, près du mont Deo, le long de la route nationale 21 en direction de Khanh Duong). Surnommé le « Four de forge », ce centre formait les soldats des forces spéciales au combat en jungle et en zone marécageuse, à la reconnaissance, etc., et constituait l’une des branches combattantes des forces armées de la République du Vietnam. Zone militaire stratégique, il abritait également l’École d’artillerie et le Centre d’entraînement de Lam Son… De ce fait, cette petite ville se transformait en « ville militaire » le week-end.
En ce qui concerne les mémoires, certains ouvrages utilisent la figure du « moi haïssable » (Le moi est haïssable, du philosophe Blaise Pascal) pour exagérer l’image de soi, ce qui peut facilement rebuter. Cependant, les mémoires de Phuong Hien révèlent un « moi » né de la sincérité et de l’amour filial d’une fille pour son père, depuis son enfance où elle lisait en secret leurs journaux intimes et leurs lettres, et où elle a pu ressentir l’amour qui unissait ses parents.
Dans les mémoires, certains auteurs utilisent la figure du « moi haïssable » (comme chez Blaise Pascal) pour exagérer la figure de l’auteur, ce qui peut les rendre rebutants. Cependant, dans les mémoires de Phương Hiền, le « moi » est celui d’une fille sincère et dévouée à son père, depuis son enfance où elle lisait en secret leurs journaux intimes et leurs lettres, découvrant ainsi leur histoire d’amour.
Sur le plan du style, Phương Hiền écrit avec concision et clarté, exprimant ses émotions avec une grande sincérité, comme si elle les partageait avec le lecteur. L’auteure utilise un langage simple, direct et pourtant profondément humain, une qualité qui imprègne les 320 pages.
Dès son plus jeune âge, Phương Hiền lisait assidûment (malgré son côté enjoué) et s’imprégnait des enseignements de ses parents et de ses professeurs, ce qui a grandement influencé son écriture.
Dans ses mémoires, le contenu de chaque récit s’entremêle avec le temps et les images de sa famille et de sa vie. Phuong Hien évoque seulement ses années d’études, sans parler de ses années à l’Université de Pharmacie de Saigon, ni de sa formation de pharmacienne. Peut-être est-ce là une subtilité, une marque d’humilité face à son « ego », comme mentionné précédemment.
Bien que j’aie lu ses écrits précédents il y a dix ans, les relire dans cet ouvrage me donne toujours l’impression d’être en présence de cette première auteure, ce qui force le respect.
Petit Saigon, 23 juin 2026
Vuong Trung Duong
Rédacteur en chef du magazine mensuel Chien Si Cong Hoa (Soldat républicain).
-
Tam Ca AVT: Ban Nhạc Trào Phúng – Một Thời Để Nhớ
Vương Trùng Dương

Giữa thập niên 1950’, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH thành Phòng Tác Động Tinh Thần, sau đó với danh xưng Nha Chiến Tranh Tâm lý, năm 1965 trở thành Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.
Gần hai thập niên ở miền Nam VN, khán thính giả không xa lạ gì với ban tam ca trào phúng AVT.

Năm 1958, trong danh sách công tác của đơn vị Tâm Lý Chiến có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ: Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bày những bản nhạc trào phúng, vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT.
Anh Linh có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế giáo sư âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”.
Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ. “Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ A và V mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì tôi tình cờ đi tới. Khi hỏi thì được biết họ viết chữ Anh Vũ. Tôi nói ngay là ban tam ca không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T (chữ đầu của tên Tuấn Đăng) và bỏ 2 chữ NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT”.
Trong thời gian AVT hát nhạc ngọai quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho khán giả ngọai quốc dễ hiểu! Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả cao vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục cổ động! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát. Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.
Qua đầu thập niên 1960’, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bày, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đoàn Văn Nghệ Việt Nam) đặt tên làTam Nghiệp, mô tả 3 chàng thợ nhuộm, thợ sửa khóa và thầy bói để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Tống Nhất. Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962.
Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế. Hᴏànɡ Hải tên thật là Lưᴜ Dᴜyên, anh ɾᴜột ᴄủa ᴄhᴜẩn Tướnɡ Lưᴜ Kim Cươnɡ. Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc. Với bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông, lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động.
Khán giả hôm đó, phần lớn là anh em chiến hữu, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp. Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bày những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv…

Nhạc sĩ gia nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1957, ban đầu phục vụ trong ban biên tập đài phát thanh Quân đội, sau đó được biệt phái vào ngành kịch nghệ sân khấu thuộc Tiểu Đoàn 1 Tâm Lý Chiến. Sau khi giải ngũ, ông cộng tác với đài phát thanh Mẹ Việt Nam.
Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao. Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của Duy Nhượng là bài Ai Lên Xe Bus…
Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giá tại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hôi cùng các đài phát thanh và truyền hình. Có thể nói, AVT đã trở thành một “hiện tượng” trong sinh họat ca nhạc tại miền Nam Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó.
Nhạc sĩ Lữ Liên tiếp sáng tác cho ban AVT trình bày như Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv… Ngoài những lời lẽ châm biếm, ví von trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo…
Trong khoảng thời gian từ 60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai…
Vào năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó.
Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT. Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng. Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi. Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT. Ngoài ra, còn có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là loại bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.
Thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu, AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv…
Năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu. Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv… dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần. Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại, Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv…
Xen kẽ mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán thích thú thưởng thức. Nhất là trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng tỳ bà, nhị huyền và đàn đoản như hai nhạc khúc bất tử Tây phương của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Lần trình diễn đó của AVT đã gây tiếng vang Paris khi “đem chuông đi đấm xứ người”.
Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang trình diễn ở Thụy Sĩ và Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền nam. Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, Cộng Hòa Trung Phi trong thời kỳ lãnh đạo của Tổng Thống Bokassa.
Năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa… Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công tốt đẹp.
Bài hát Huynh Đệ Chi Binh của nhạc sĩ Anh Bằng vào giữa thập niên 1960’ hầu như rất quen thuộc với người lính VNCH:
“Huynh đệ chi binh là gì đó anh Hai?
Huynh đệ chi binh là là huynh đệ chi binh… a la la
Huynh đệ chi binh là mình cùng chung đời lính
Thương nhau khác chi nhân tình
Từ người deuxième cùi bắp
Và rồi đi lên thượng cấp đều là huynh đệ chi binh…
… Lúc sống có nhau là huynh đệ chi binh
Lúc chết có nhau là huynh đệ chi binh
Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh… a la la la…
Sướng khổ có nhau là huynh đệ chi binh
… Giúp đỡ lẫn nhau là huynh đệ chi binh
Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh…
… Từ người deuxième cà cuống
Và rồi đi lên Ðại Tướng đều là huynh đệ chi binh”
Hình ảnh Huynh Đệ Chi Binh nói lên tình chiến hữu rất đẹp vì vậy có nhiều bài viết về Huynh Đệ Chi Binh, nhà văn Tô Văn Cấp ấn hành quyển Huynh Đệ Chi Binh Thủy Quân Lục Chiến…
Trong bài viết Huynh Đệ Chi Binh của Trần Xuân Thời: “Tình huynh đệ chi binh, tình đồng hương, tri âm hay tri kỷ là cung bậc tiết tấu cảm thông toàn vẹn nhất của nhân tình… Biết bao chiến sĩ QLVNCH đã sống hiên ngang và hy sinh cho tổ quốc một cách oanh liệt! “Sống bên tình, hy sinh bên bạn”. Chết vì tổ quốc, chết vinh quang “Mourir pour la patrie c’est une gloire”…
*
Sau ngày Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, ban AVT tan ɾã, hai thành νiên ở lại νà ᴄhịᴜ số ρhận bi thảm. Vân Sơn bị công an khu vực rượt nên sợ quá phải nhảy vội xuống sông Thị Nghè. Vân Sơn chết vì đầu đập vào một cây gỗ, ɾa đi tɾᴏnɡ tứᴄ tưởi! Tᴜấn Đănɡ qᴜa đời năm 2016 tɾᴏnɡ nɡhèᴏ khó. Nhạᴄ sĩ Lữ Liên may mắn cùng vợ con được tàu bốc ra Phú Quốc rồi sau đó đến tỵ nạn tại trại Pendleton, đảo Guam. Tới tháng 12 năm 1975, sống ở Quận Cam, California. Sang đầu năm 1976, Hoàng Thi Thơ liên lạc được với Lữ Liên, rồi rủ ông thành lập lại ban tam ca trào phúng AVT để đi biểu diễn.
Ban AVT tại hải nɡᴏại, ɡồm Lữ Liên, Vũ Hᴜyến νà Nɡọᴄ Bíᴄh. Năm 1977, nɡhệ sĩ Tɾườnɡ Dᴜy thay thế Nɡọᴄ Bíᴄh, νới bộ 3 này, họ đi lưᴜ diễn Châᴜ Âᴜ tɾᴏnɡ 19 nɡày. Năm 1988, AVT được tăng cường thêm nữ nghệ sĩ Thúy Liểu đã sang Úc trình diễn tại Sydney trong một chương trình kịch vui kéo dài trong 10 ngày.
Năm 1987, nhạᴄ sĩ Anh Bằnɡ đã thựᴄ hiện ᴄᴜốn bănɡ AVT Hải Nɡᴏại đầᴜ tiên. Năm 1992, nɡhệ sĩ kịᴄh Hᴏànɡ Lᴏnɡ thay thế Vũ Hᴜyến. Như νậy 3 nɡhệ sĩ ᴄᴜối ᴄùnɡ ᴄủa ban AVT là Lữ Liên, Tɾườnɡ Dᴜy νà Hᴏànɡ Lᴏnɡ. Năm 1992, AVT có một sự thay đổi với Hoàng Long vào thay thế cho nhạc sĩ Vũ Huyến, đã cùng nhau thực hiện một băng cassette, thu thanh tại phòng thu Tùng Giang. Năm 1994, trung tâm Giáng Ngọc sản xuất cuốn video của AVT tại hải ngọai. Dựa theo một áng thơ tuyệt tác của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhạc sĩ Lữ Liên trình diễn chung với 2 nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương để trình bầy nhạc phẩm Đánh Đu, với phần nhạc do Lữ Liên tự đảm trách, nhạc sĩ Ngọc Bích hòa âm và sử dụng Keyboard.
Từ năm 1989, ông bắt đầu viết lời Việt một số ca khúc nhạc ngoại quốc để cho con mình biểu diễn. Một số bài vẫn được yêu thích đến tận nay như Dĩ Vãng Nhạt Nhòa, Lạc Mất Mùa Xuân, Niềm Đau Chôn Giấu, Tan Tác… Ông qua đời tháng 7 năm 2012 tại bệnh viện Garden Grove, đại thọ 92 tuổi. Thánɡ 9 năm 2019, nɡhệ sĩ Tɾườnɡ Dᴜy qᴜa đời ở tᴜổi 71. Thánɡ 11 năm 2020, nɡhệ sĩ Hᴏànɡ Lᴏnɡ đã qᴜa đời ở tᴜổi 84. Còn Anh Linh, người sáng lập ra AVT, từ khi qua Mỹ theo diện HO đến nay, ca đoàn trưởng của một giáo xứ ở San Jose. Vợ chồng anh còn là chủ của một tiệm phở…
Ban tam ca AVT từ năm 1958 ở Sài Gòn đến năm 2010 ở Mỹ, coi như ban tam ca lâu nhất. Nay tuy không còn nhưng những nhạc sĩ góp mặt trong AVT đã quen thuộc với giới thưởng ngoạn.
Little Saigon, May 2026
Vương Trùng Dương
-
Ái Ân, Ân Ái Qua Ca Khúc
Vương Trùng Dương
Có những chữ coi như “cấm kỵ” khi đề cập (nói, viết) trong bàn dân thiên hạ vì quá lộ liễu, sống sượng, thiếu tế nhị… với hành động “chăn gối” xảy ra nhưng trong thi ca và âm nhạc đã sử dụng cùng ý nghĩa đó nhẹ nhàng và dễ cảm thông.
Thi hào Nguyễn Du (1765-1820) trong Truyện Kiều đã đề cập đến hai chữ ái ân, ân ái. Tố Như tiên sinh đã sử dụng nhiều ngôn từ đầy văn vẻ để nói đến hình ảnh “gặp gỡ” chăn gối với nhau:
“Còn nhiều ân ái với nhau
Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì!”
“Bây giờ gương gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
Sau 15 Thúy Kiều lưu lạc trong chốn lầu xanh, trao thân cho hàng nghìn khách làng chơi nhưng gặp lại Kim Trọng, men tình vẫn say đắm:
“Còn nhiều ân ái chứa chan
Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi.
“… Chừng xuân tơ liễu còn xanh,
Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân”
Cùng thời, trong truyện thơ chữ Nôm như Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự (1743-1790) đã đề cập đến mối tình hoa mộng, lãng mạn, ngang trái, khổ đau, hòa hợp giữa Lương Sinh với hai người đẹp Dao Tiên & Ngọc Khanh. Và, hình ảnh người con gái thuở đó đã vượt qua hàng rào lễ nghi, vụng trộm chăn gối với nỗi niềm:
“Bấy lâu chút mảnh riêng tây
Ái ân nầy đến đêm nầy là xong”
Thời kỳ lãng mạn trong văn chương vào cuối thập niên 1930, bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn của T.T.Kh đã gây tiếng vang, xôn xao về mối tình say đắm, nồng nàn nhưng trắc trở, dám thổ lộ tâm trạng người con gái khi đã dâng hiến cho tình yêu để rồi sống với chuổi ngày còn lại:
“Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người”.
Bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn sau nầy được nhạc sĩ Trần Trịnh cảm tác với ca khúc cùng tên.
T.T.Kh còn nằm trong vòng bí ẩn, nữ sĩ Vân Đài xuất hiện với Hằng Phương, Anh Thơ, Mộng Tuyết trong thi phẩm Hương Xuân cũng dùng ngôn ngữ đó rất tự nhiên:
“Xin đừng nói đến ái ân chi
Ái ân lời suông có nghĩa gì!”.
“Ái ân giục giã gọi lên đường,
Nặng áo giang hồ bụi gió sương”.
Trong thời kỳ lãng mạn đó, Huy Thông du học ở Pháp, ảnh hưởng sâu đậm chất “lãng mạn trữ tình” nên trong những thi phẩm của ông bàng bạc ngôn ngữ ái ân; điển hình như Tần Ngọc xuất bản giữa thập niên 1930 với những bài như Tiếng Ái Ân, Chiều Hôm Qua, Trong Lúc Chia Tay, Gió Chiều, Mây Qua, Bấy Nhiêu Đêm, Gặp Gỡ… Có khi chỉ là mộng tưởng như:
“Niềm ái ân chưa được biết bao giờ,
Ta vừa biết phút giây trong giấc mộng”
Thế nhưng, đem mộng để tỏ bầy:
“Hứa cùng ta sẽ trăm năm ân ái,
Nỡ đi đâu để bạn đắng cay lòng?”.
Vào thập niên 1940, thi ca Vũ Hoàng Chương chất chứa cả khung trời lãng mạn, say đắm. Dù mang tựa Quên trong thi phẩm Mây, con tim vẫn dâng trào:
“Trên nẻo ấy, sẽ từ muôn đáy huyệt
Ái ân xưa vùng dậy níu chân anh”.
Có khi hợp rồi tan để bày tỏ niềm đau và oán trách như những dòng thơ của Thái Can trong bài Anh biết Em Đi:
“Em nhớ làm chi tiếng ái ân
Đàn xưa đẽ lỡ khúc dương cầm.
Dây loan chẳng đượm tình âu yếm
Em nhớ làm chi tiếng ái ân”.
Trong kho tàng văn chương Việt Nam, hình ảnh ái ân, ân ái được đề cập rất nhiều. Đặc biệt trong âm nhạc, hình ảnh đó cũng được thể hiện từ thuở “bình minh” chạy dài cho dến nay ở khung trời hải ngoại. Trong tình yêu trai, gái… ái ân để lại vết tích mà thời gian khó xóa đi vết tích ấy, nhất là ở mối tình đầu như cái nhìn của nhà thơ Pháp Lamartine. Say đắm, cuồng nhiệt, ngất ngây và chết lịm trong cơn mê của “tột đỉnh yêu thương”. Cảnh tượng, hình ảnh ấy dấu kín trong tận đáy lòng, mấy ai tâm sự, bày tỏ. Thế nhưng, bằng nhiều cách gọi từ sống sượng đến tao nhã, từ hình ảnh tầm thường, đen tối đến thanh tao, ngôn ngữ âm nhạc trở thành hình ảnh thân thương, quen thuộc được thể hiện qua nhiều ca khúc cả nam giới và nữ giới sáng tác.
Thiên Thai, ca khúc bất hủ của Văn Cao đã hình dung hình ảnh chăn gối trong yêu đương giữa nơi tiên cảnh:
“Thiên Thai ánh trăng xanh mơ lan thành suối trần gian,
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần”.
Trong ca khúc Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Đoàn Chuẩn mô tả qua lăng kính của màu sắc:
“Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi phím tơ đồng tìm duyên
Gửi thêm lá thư, màu xanh ái ân
Về đôi mắt như hồ thu”.
Với nhạc phẩm Lá Thư, Đoàn Chuẩn & Từ Linh than thở với nỗi niềm xa vắng khi đã “nếm mùi” luyến ái, giao hoan:
“Anh quay về đây, đốt tờ thư quên đi niềm ân ái ngàn xưa!
Ái ân theo tháng năm tàn,
Ái ân theo tháng năm vàng
Tình người nghệ sĩ phai rồi!”.
Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đề cập đến ái ân, ân ái với hình ảnh mơ hồ, lảng vảng với gió mây và cung bậc để tơ tưởng về hình ảnh giai nhân. Ca khúc Bóng Chiều Xưa, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đề cập đến hình ảnh cụ thể trong giây phút đắm say:
“Một chiều ái ân
Say hồn ta bao lần
Một trời đắm duyên tơ
Cho đời bao phút ơ thờ”
Cùng trong điệu nhạc tango vừa dồn dập, vừa nóng bỏng, với mối tình đầu mà Lamartine bày tỏ không thể nào quên, nhạc sĩ Ngọc Bích thể hiện niềm cảm xúc dạt dào trong ca khúc Mộng Chiều Xuân:
“Mối tình đầu xuân ai thấu chăng?
Lòng tha thiết vương theo tiếng đàn,
Mơ nguồn ái ân, những ngày phong trần
Sống trong mộng đẹp ngày mai”…
“Anh còn mong chờ
Ái ân kẻo tàn ngày mơ”
Ca khúc Người Em Sầu Mộng của nhạc sĩ Y Vân được phỏng theo dòng thơ của Lưu Trọng Lư trong bài Một Mùa Đông:
“Hãy xếp lại muôn vàn ân ái;
Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau”
Nói đến tình yêu, ngoài gió, trăng, mây, nước… có ái ân mới tạo “dấu ấn” và nhớ mãi… đâu đây, tìm gặp ở nhạc sĩ Văn Phụng đã tỏ bày trong ca khúc Yêu:
“Yêu là tình dâng cao, gió lao xao ngã hàng phi lao.
Phút ái ân đắm say tâm hồn,
Nhớ mãi đêm nào bên nhau”
Từ nhẹ nhàng, mơn trớn đến dồn dập như những thể điệu trong âm nhạc. Nếu âm điệu dồn dập của nhạc sĩ Lam Phương rất khích động, tôn thờ giây phút, hình ảnh đó thể hiện trong Thiên Đường Tình Ái:
“Đường nào vào thiên đường ái ân
Là đường vào nhịp thở lâng lâng.
Mùa xuân đang đi trong lời yêu mới
Có hoa vàng phủ đường mòn gót chân mềm”
Có lẽ Y Vân chỉ nhìn thấy màu đen cuộc tình dù đã trao thân cho nhau, qua điệu boston, chậm và buồn. Thể điệu nầy phù hợp với nỗi bi thương trong ca khúc Buồn:
“Đôi ta như bước lên đỉnh sầu
Mà đời luôn cao ngất thương đau.
Bao lâu ân ái chưa đậm màu
Toàn là cay đắng giết thương yêu!”.
Ái ân, ân ái trong phút giây nồng nàn không hoàn toàn ngọt lịm, có lúc giăng mắc sự cách biệt làm thấm vị đắng cay như bản nhạc Lời Đắng Trong Cuộc Tình của Hà Nguyên:
“Những ngày còn nồng nàn ân ái
Giữa đôi ta, giữa đôi ta
Có người thì mộng một trời mây bay
Người thì còn mãi trắng đôi tay”
Trữ tình, tha thiết, da diết khi đã chăn gối, tạo “dấu ấn tình yêu” trong đời ở Dạ Khúc Cho Tình Nhân của nhạc sĩ Lê Uyên Phương. Ở đây, bắt gặp niềm đau của cuộc tình từ hình ảnh thân thương, gắn bó tận khung trời Đà Lạt đến cảnh chia tay trong cuộc sống, rồi tái hợp trên sân khấu nơi hải ngoại như định mệnh khắc nghiệt, trớ trêu:
“Ái ân ơi, đừng phụ lòng ta,
Nhớ thương sau xin gửi người xa
Khóc nhau trong cuộc đời”
Một thoáng mê ly, ngất ngây, một thoáng ngậm ngùi khắc khoải ở lời ca của Lê Uyên Phương thấp thoáng trong lời thơ Đinh Hùng trong bài thơ Hương Trinh Bạch ở thi tập Mê Hồn Ca:
Ta không biết, em ơi! ta không biết,
Ai hững hờ, ai mộng với ai say?
Những ai kề môi ân ái vơi đầy
Những ai nói, ai cười như hứa hẹn?”
Mang tâm trạng của người con gái khi yêu, trao thân cho người tình, không tiếc gì “cái giá nghìn vàng” mà nhạc sĩ Ngọc Trọng tỏ bày qua ca khúc Em Vẫn Cần Anh:
“Dù mai xa cách chỉ biết yêu anh
Một lần ân ái, ngàn đời nhớ nhau hoài
Anh về bên ấy từng chiều có nghe ê chề
Tiếc nhau chi mảnh đời lúc xuân thì”.
Trong tình yêu với “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên” (Thế Lữ), chỉ trong giây phút, nhớ nhau trọn đời. Đôi khi tận cùng của tình yêu bằng sự chiếm đoạt hay mong đợi sự đòi hỏi chỉ ái ân, ân ái mới có biến chuyển lớn lao trong cuộc đời, nhất là nữ giới – chữ trinh – chỉ một lần trong đời thay đổi cả cuộc đời, chỉ một phút giây để thay đổi danh xưng, bước từ lằn ranh nầy sang lằn ranh khác; và, vết tích đó luôn luôn xâm chiếm.
Đôi khi bắt gặp nỗi xót xa, hờn dỗi bởi rơi vào tâm trạng chờ mong như dòng thơ Hồ Dzếnh:
“Em tôi ơi, tình nghĩa có gì đâu
Nếu là không lưu luyến buổi ban đầu
Thuở ân ái mong manh hơn nắng lụa”
Trong ca khúc Bão Tình, Hoàng Trọng đã đề cập đến “thuở lưu luyến” khó quên:
“Từ khi xa anh, lạnh xâm lấn tâm hồn em
Tìm trong đơn côi luyến mơ xưa đêm từng đêm
Mộng tình ân ái lúc ban đầu
Tìm đâu thấy đam mê nào về ray rứt thêm tâm tư ngày nối ngày”.
Vào thập niên 1940, Nguyễn Bính vang danh với nhiều thi phẩm, nhiều bài thơ được phổ nhạc rất được ái mộ. Bài thơ Hôn Nhau Lần Cuối:
“Ta sẽ là vợ chồng
Sẽ yêu nhau mãi mãi
Sẽ se sợi chỉ hồng,
Sẽ hát câu ân ái”
Bài thơ nầy được Văn Phụng sáng tác thành ca khúc vào thập niên 50.
Nhạc sĩ Lam Phương mang nỗi bi thương, tan nát khi người yêu trở thành “Tình Như Mây Khói”:
“Lời xưa âu yếm trao người như mây như khói tan rồi
Tựa kề vai em, sầu dâng muôn lối để nghe ái ân xa rời, tan nát lòng tôi!”.
Nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn tha thiết, cuồng si với tâm tư tình cảm của người tình đã dâng hiến cho nhau còn ngất ngây cám dỗ qua ca khúc Về Đây Anh:
“Em yêu anh trong giấc mơ nầy
Em yêu anh trong những mê say
Một trời ân ái mình hãy sống buông lơi thời gian”
Trong ngôn ngữ thường dùng, chữ ái ân, ân ái ít khi nhắc nhở, nhất là nữ giới, nhưng trong âm nhạc đều có sự cảm nhận qua sáng tác để trang trải qua lời hát.
Ca khúc Thao Thức nhạc Trần Đình Quân phổ theo thơ của Bùi Bích Hà:
“Chưa cùng em ngày tháng tới nhọc nhằn
Gối ân ái ru sợi buồn tóc rối
Người xa rồi, nghe lạ chiếu chăn
Giấc ngủ đêm qua anh về với nắng”.
Ca sĩ Lưu Bích (ái nữ của nhạc sĩ Lữ Liên) mặn nồng, tình tứ, chứa chan… rồi lại xót xa với nhạc phẩm Hãy Nói Yêu Em Đêm Nay:
“Tình nồng say… anh đã hứa trên môi
Ngày sau đôi ta thề không rời.
Vòng tay yêu thương ân ái đêm nao
Vì đâu nay bỗng xa nhau?”.
Nhạc phẩm Mối Tình Si của ca sĩ Mỹ Huyền (ái nữ của nhạc sĩ Thu Hồ) nói lên nỗi niềm “tận cùng đắng cay” bởi đã dâng trọn trái tim và thân xác “giữa lúc tình say” để rồi:
“Bao nhiêu niềm ái ân dâng tràn khắp nơi
Bao nhiêu niềm chua xót chất ngất hồn ta
Lang thang lòng tê tái bước hoang trên đời
Kêu than tình nhân thế giới giết chết niềm tin”.
Nhạc sĩ Khúc Lan (em ruột nhạc sĩ Phượng Vũ) viết lời ở ca khúc ngoại quốc vương vấn nỗi niềm tiếc nuối bởi Trái Tim Lầm Lỡ khi đã dâng hiến thân xác:
“Hởi trái tim lầm lỡ, hãy sống trong dại khờ,
Những ái ân rồi sẽ chìm vào thương nhớ;
Có nổi đau nào vẫn hoài niệm nhân gian,
Nước mắt đêm mồ côi sẽ không còn mang!”.
Nhạc phẩm Khi Mộng Tàn, nhạc ngoại quốc, lời Khúc Lan bầy tỏ nỗi niềm bi thương của cuộc tình đã “trao nhau” để rồi còn lại hình ảnh não nề lúc xa nhau:
“Có lúc nước mắt sao mặn môi
Vòng tay ân ái nay đâu rồi!”
Với ca khúc ngoại quốc, vào thập niên 1960, nhạc phẩm Histoire d’un Amour của nhạc sĩ Carlos Almaran đã trở thành bài ca bất hủ loan rộng khắp thế giới, giới trẻ Việt Nam đã một thời say đắm, Nguyễn Đình Toàn chuyển ngữ từ lời Pháp của Francis Blanch với cơn mê tình yêu chất ngất:
“Tình là cơn mơ khi ta còn thức chẳng cần ngủ say
Tình là cây cao vươn mình đứng lên
Nhựa đời căng da mềm ái ân
Đợi ngày đang về tới sau đêm”.
Đơn cử những ca khúc tiêu biểu đề cập đến ngôn từ quen thuộc được gọi bằng nhiều cách khác nhau nhưng chọn chữ có vẻ thanh tao để đưa vào ngôn ngữ âm nhạc, phổ thông, tự nhiên khi nghe và hát bất luận tuổi tác… để mô tả đến hình ảnh, động tác, giây phút riêng tư, kín đáo, cấm kỵ… như vô tình được hợp thức hóa trong đời sống, kể cả mặt đạo đức. Có khi lạm dụng ngôn từ nầy quá trớn như ở ca khúc Màu Xanh Noel với câu “Cho em gửi lại màu xanh ái ân”?.
Vẫn màu xanh ấy với nhạc sĩ Đỗ Thu qua ca khúc Gửi Về Anh tơ vương hình ảnh dễ thương, thân quen của thuở học trò:
“Thư xanh màu xanh ân ái
Em vẫn lạnh lùng vì vắng anh”.
Ca khúc Anh Không Chết Đâu Enh của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: “Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân. Giọt nước mắt nóng bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho anh” đã có nhiều ý kiến cho rằng dùng chữ ái ân trong tang lễ đau thương không phù hợp, nếu thay vào “lóng lánh bóng dáng anh” trân trọng, yêu quý hơn. Vì vậy khi viết lời ca khi nói về hình ảnh ái ân, ân ái phải phù hợp với môi trường, hoàn cảnh… Khi trình bày ca khúc với ca sĩ mọi lứa tuổi nam nữ cảm thấy tự nhiên, không có gì trần tục nên phù hợp. Và chứng tỏ độc giả, thính giả cũng không dễ dãi trong lời ca.
Trên đây, dẫn chứng qua thi ca và âm nhạc với bốn chữ “ái ân, ân ái” của các nhà thơ, nhạc sĩ tên tuổi để tạo nguồn cảm hứng khi viết.
Ca khúc I’ll Make Love to You của Mỹ năm 1994 với giai điệu nhẹ nhàng với lời ca: “I’ll make love to you. Like you want me to. And I’ll hold you tight. Baby all through the night” nhưng chữ make love tuy khác với have sex, go to bed with, sexual intercourse… nhưng không có vẻ văn chương như lời Việt ái ân, ân ái (?).
Về địa danh, ở Đà Lạt có rừng Ái Ân, cuối con đường lên viện Pasteur, gần dinh Bảo Đại, là một trong những nơi hẹn hò của tình nhân. Tác phẩm văn chương Rừng Ái Ân của nhà thơ Hà Huyền Chi, xuất bản năm 1970 ở Sài Gòn đã chọn địa danh nầy làm đề tài, gợi sự tò mò với độc giả.
Nói đến ái ân, ân ái để ngàn đời nhớ nhau, để tìm phút giây say đắm… là nói đến “nghệ thuật yêu đương, nghệ thuật chăn gối” mà từ nghìn xưa, ở Phương Đông khép kín đã từng đề cập. Hơn năm nghìn năm trước công nguyên ở Trung Hoa đã có những tập cổ thư đề cập đến nghệ thuật ái ân. Trong quyển Tố Nữ Kinh nói về hình ảnh Hoàng Đế và Tố Nữ song luyện theo âm dương, ngũ hành, dưỡng sinh luyện khí, từ điểm nóng đến huyệt đạo… Hoàng Đế là một trong Tam Hoàng, Ngũ Đế từ Phục Hy (4480-4365 trước công nguyên) đến Thần Nông (3220-3080) và Hoàng Đế (1700-2600 trước công nguyên). Với 9 cách ái ân (cửu pháp) được gọi bởi danh từ hoa mỹ của 9 loại cầm thú như Rồng, Hổ, Vượn, Ve, Rùa, Phượng, Thỏ, Cá, Hạc… để mường tượng hình ảnh yêu đương. Vấn đề quan hệ luyến ái giữa Phục Hy & Nữ Oa đã trở thành đề tài cho giới cầm bút hằng nghìn năm nay. Ngoài ra, phương pháp “tu luyện” nhằm tạo cảm giác lâu dài để “cho dài tiếc thương” còn là phương cách điều trị suy nhược tình dục, thoạt nghe có vẻ cấm kỵ nhưng cũng là niềm ước mong của người trần.
Theo Y sư Giang Hán Thanh, phương pháp Mật Tông trong vấn đề ái ân không phải là điều cấm kỵ mà chỉ là nguyên tắc “dĩ dục chế dục” nhằm điều hợp tính dục của con người. Phương pháp Mật Tông với nghi thức đơn luyện nam, nữ & song luyện để tạo năng lực khai mở luân xa (chakra) nhằm vấn đề “yêu đương” có được sự thông cảm tột cùng, sâu xa cho “say hồn… nhịp thở lâng lâng… ngàn đời nhớ nhau…” như lời ca của Dương Thiệu Tước, Lam Phương, Ngọc Trọng…
Theo sự nghiên cứu của Viện Y Học Đài Bắc, công cuộc khám phá, khai quật ở Tứ Xuyên, Trường An, Giang Tô, Tân Cương… cho thấy hình ảnh ái ân “ngoại giao, tọa giao, lập giao…” bằng hội họa và điêu khắc có từ thời Tây Hán & Đông Hán từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến thế kỷ thứ II sau công nguyên. Sau nầy được vẽ lại trong nhiều bức tranh cổ của Trung Hoa & Nhật Bản cách nay cũng vài thế kỷ.
Nghệ thuật ái ân của Ấn Độ cũng được hướng dẫn cách đây hơn hai nghìn năm nhưng trở thành “giáo khoa thư” vào thế kỷ XVI với danh xưng Kama Sutra với “bát thức”. Nghệ thuật nầy được giới điện ảnh Hollywood đưa vào nghệ thuật thứ bảy với hình ảnh của Declan, âm thanh của Michael Danna hư thực, thực hư thu hút hàng triệu triệu khán giả khắp thế giới. “Bát thức” của Kama Sutra “The Art of Making Love” từ “opening flower” đến “suspended” đã bắt gặp ở thi ca của Tố Như tiên sinh trong Truyện Kiều với bài học “vành trong tám nghề” từ “kích cổ thôi hoa” đến “nhiếp thần nhiệm tỏa” mà thuở học trò chỉ biết biết khái quát Tú Bà dạy cho Thúy Kiều.
linga và yoni là biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực
Ấn Độ Giáo thờ Linga và Yoni (bộ phận sinh dục của nam và nữ) trong các đền tháp, nhiều khối điêu khắc với hình tượng này. Linga và yoni được xem như là cội nguồn của sự sáng tạo, vị thần tối cao – thần Shiva – phổ nhiều nhất Đông Nam Á. Với nền văn hóa, truyền thống và thuần phong mỹ tục xa xưa của Việt Nam, không phổ biến hình tượng nầy, chỉ có vài nơi trong tháp của người Champa. Phương Tây thời xa xưa các nhà điêu khắc đã tạc hình ảnh ái ân ở nhiều nơi. Âu Mỹ dựa vào “nghệ thuật” hình tượng đó thời rồi sáng tạo thêm, phổ biến bừa bãi qua phim ảnh, video… tạo thành mối nguy đầu độc cho cả trẻ vị thành niên bị tiêm nhiệm, sa ngã vào con đường trụy lạc.
Với nước Nhật tôn trọng văn hóa truyền thống cao đẹp nhưng dựng những hình ảnh công khai về bộ phận sinh dục đàn ông, đàn bà và còn cả lễ hội (!).
Quyển Shunga dày khoảng 800 trang của Nhật, sưu tầm bức tranh từ đầu thế kỷ 18 về nghệ thuật hoa tình (erotic). Đầu tiên, Shunga xuất bản như những chỉ dẫn cho giới kỹ nữ (giống như Tú Bà dạy cho Kiều trong thi phẩm của cụ Nguyễn Du). Nhưng dần dà các kỹ viện phát tiển nhiều ở Edo (cố đô Tokyo). Các cửa tiệm trong “quận đèn đỏ” ở Edo, gọi là Yoshiwara, bày bán tranh và sách Shunga làm quà lưu niệm…
Đài Loan trước đây phản đối Nhật đã dựng những bức tường nô lệ tình dục, phụ nữ mua vui nơi công cộng! Nhưng khi Hàn Quốc vẫn mang mối hận với quân phiệt Nhật khi xâm chiếm lãnh thổ có hơn có cả trăm nghìn phụ nữ bị buộc phải làm việc trong các nhà thổ quân sự của Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến! Tháng 6/2017, Nhật triệu đại sứ tại Hàn Quốc về nước vì một bức tượng “phụ nữ mua vui” bị đặt bên ngoài lãnh sự quán Nhật tại thành phố Busan. Một bức tượng tương tự cũng bị đặt ngoài sứ quán Nhật tại Seoul và Tokyo muốn di dời cả hai bức tượng này.
Vào thời điểm cuối thế kỷ XX, môn thuốc được xem như “thần dược” được phổ biến khắp nơi trên trái đất để kéo dai giây phút ái ân. Thuốc Viagra của hãng bào chế Pfizer được tung ra trong thị trường Hoa Ky vào tháng 4-1988 như một hiện tượng làm rùm beng trong ngành truyền thông. Ba nhà nghiên cứu bào chế thuốc Viagra là GS R.F. Furchgott thuộc Viện đại học New York, GS Louis J. Ingarro thuộc Viện đại học Los Angeles, GS Ferid Murad thuộc Viện đại học Y Khoa Texas được trao giải Nobel về Y Khoa năm 1998.
Hình ảnh ái ân, ân ái qua điêu khắc, hội họa, phim ảnh không có tính cách trong sáng nếu gợi hình cụ thể, sống sượng kích thích tính dục… Tuy cho rằng nó mang tính chất nghệ thuật, lãng mạn khi thể hiện góc cạnh nào đó để cảm nhận. Nhưng với giới trẻ bị thành niên tạo hình ảnh sai trái!
Với ngôn ngữ âm nhạc vừa tượng thanh vừa tượng hình, có vẻ nhẹ nhàng, êm ái, thấp thoáng giây phút yêu đương như tơ vương giăng mắc mối giao hòa, giao cảm mà người nghệ sĩ ghi lại qua cung bậc bằng nhiều thể loại khác nhau. Hãy thả hồn vào cõi mộng mơ để “tìm lại hình ảnh đã qua” trong lời ca, tiếng nhạc để con tim rung động, ngất ngây cho cuộc tình “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt” có còn hơn không, khỏi tiếc nuối, khỏi ân hận vì thời gian là tên đồ tể với trái tim.
Với tên gọi ái ân, ân ái hay hai chữ khác có vẻ thoát tục nhưng với chỉ một tên gọi đa dạng (khoảng mười chữ) không được hay go, tục tĩu chỉ sử dụng ở phần tử hạ cấp, thiếu văn hóa. Với người đứng đắn, đường hoàng nghe cũng chói ta đừng nói gì nhắc đến trong văn chương, âm nhạc.
Nói về dục vọng có thanh dục và trọc dục (tham dục) và chữ nghĩa cũng vậy, điều đáng nói tùy theo đầu óc suy nghĩ ở mẩu người trong cuộc sống tốt hay xấu.
Vào thời kỳ đại chiến thứ II, trong chiến tranh Erich Maria Remarque đã viết tác phẩm văn chương lừng danh Le Temps d’Aimer et Le Temps de Mourir (Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết). Trong tình yêu của mỗi người làm sao mãi mãi trong êm đềm, “thà một phút huy hoàng” để yêu, nhỡ rơi vào “một thời để chết” thì cũng còn chút gì để nhớ.
Little Saigon. January 2025
Vương Trùng Dương
-
Nỗi Lòng Với “Chiếc Lá Cuối Cùng
Vương Trùng Dương
“La chanson que tu me chantais
C’est une chanson qui nous ressemble”
(Les Feuilles mortes. Nhạc Joseph Kosma, lời Jacques Prévert)
Có vài ca khúc khi nhạc sĩ đặt tên giống nhau, trong đó có Chiếc Lá Cuối Cùng của hai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (lời Từ Linh) & Tuấn Khanh.
Với ca khúc trữ tình Chiếc Lá Cuối Cùng, với tôi, đúng sáu thập niên với kỷ niệm xưa. Khi tôi sắp bước vào “Ngưỡng Cửa Quân Đội” từ Sài Gòn trở về thăm phố cổ Hội An, buổi tối hai đứa thả bộ qua An Hội, khi nói lời chia tay, chẳng biết nói gì hơn vì tâm trạng lúc đó như nỗi lòng trong ca khúc:
“Đêm chia ly buồn gì sao chẳng nói
Chỉ nghe em nói nhỏ trở về thôi…
Xa nhau chưa mà lòng nghe quạnh vắng…
Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”.
Hơn một thập niên, ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng đã đi vào lòng người ngưỡng mộ âm nhạc ở miền Nam Việt Nam, và sau đó với những cuộc chia ly kẻ ở người đi như “chiếc cuối bay xa”!
Với tâm hồn lãng mạn, giữa hai nhạc sĩ nầy liên quan đến bóng hồng trong ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng. Nhân kỳ thi hát của Đài Phát Thanh Pháp – Á năm 1953, Tuấn Khanh (Trần Trọng Ngọc, sinh năm 1933, khi ấy với bút danh Trần Ngọc) đoạt giải nhì sau nữ ca sĩ Thanh Hằng (Lê Lệ Hảo, sinh năm 1935 tại Hà Nội). Vào thời điểm đó Trần Ngọc chỉ là ca sĩ mới biết đến nên không chiếm được trái tim của ca sĩ khả ái, xinh đẹp Thanh Hằng mà cậu ấm nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (sinh năm 1924 ở Hải Phòng, lớn lên ở Hà Nội) với các ca khúc nổi tiếng trong đó với Tà Áo Xanh mang hình ảnh ca sĩ nầy… nhưng rồi “một chiếc lá bay xa”!
Theo giai thoại cho rằng nhạc phẩm Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh với hình bóng cô gái 13 tuổi, học trò thanh nhạc của ông trong thời gian dài đã ám ảnh tình cảm thầy trò lãng mạn… cho đến khi ông vào Nam. Với hình bóng đó, kẻ ở người đi “Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa”…
Hơn mười năm trước, tôi viết bài Đoàn Chuẩn & Bí Ẩn Bóng Hồng “Gửi Người Em Gái”. Bài viết nầy đăng trong quyển Nhân Văn & Tình Sử, ấn hành năm 2015. Trong đó đã liệt kê các ca khúc của ông, có Chiếc Lá Cuối Cùng nhưng nói về cuộc tình qua ca khúc Gửi Người Em Gái.
Trích lại bài viết về Đoàn Chuẩn:
Theo lời hiền thê của ông (bà Nguyễn Thị Xuyến) “… Đoàn Chuẩn rất đa tình. Ông đã sáng tác tặng một người đẹp của miền Bắc lúc đó sáu bài hát trong khi với vợ mình, ông chỉ viết tặng bà vỏn vẹn hai bài. Thời trẻ, ông đã từng dành ba năm thuê người mỗi ngày mang một bông hồng đến tặng người con gái mà ông yêu. Nhưng người bạn đời thông cảm tâm hồn lãng mạn của người nhạc sĩ…
Đời ông phóng khoáng. Nghe nhạc ông lúc nào tôi cũng ngạc nhiên – sao ông tài thế? Mỗi bài hát là kỷ niệm một mối tình đi qua đời ông. Ông chỉ viết một bài cho tôi, hồi đó ông chưa lơ mơ ai cả…”
… Người ta cho rằng nếu không bằng tình yêu một người đẹp nào đó chắc ông sẽ không thể viết ra những ca khúc hay như vậy. Không biết thực hư qua những mối tình lãng mạn của Đoàn Chuẩn ảnh hưởng đến ca khúc của ông đến đâu nhưng ông từng nói rằng, ông có một kỷ niệm sâu sắc với một nữ ca sĩ Huế từ hồi những năm 1950. Đó chính là ca sĩ Mộc Lan.
Đoàn Chuẩn chỉ sau một lần nghe Mộc Lan hát bài Đi Chơi Chùa Hương của Trần Văn Khê phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp ở nhà hát lớn Hà Nội, đã đem lòng thầm yêu trộm nhớ. Sau cuộc diễn ở Hà Nội, Mộc Lan trở lại Sài Gòn… Đoàn đã đáp máy bay vào chơi Sài Gòn, hy vọng làm quen với Mộc Lan vì biết cô đã chia tay với người chồng nhạc sĩ. Khi ấy, Đoàn Chuẩn vốn là ông chủ hãng nước mắm Vạn Vân, giàu có ở Hải Phòng, từng có xe hơi riêng hiệu Buick Hoa Kỳ mà lúc đó cả miền Bắc chỉ có hai chiếc.
Theo nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả Gợi Giấc Mơ Xưa – bạn của Đoàn Chuẩn – tiết lộ thì sau khi tới Sài Gòn, họ Đoàn đã tìm được địa chỉ của Mộc Lan trên đường Espagne ở Tân Định nhưng không trực tiếp “yết kiến” mà chỉ nhờ chủ một tiệm bán hoa tươi mang hoa đến tặng Mộc Lan mỗi sáng sớm, và không tiết lộ tung tích người gửi hoa. Đoàn Chuẩn đặt trước tiền hoa và tiền công cả tháng cho chủ hàng hoa tươi rồi trở lại Hải Phòng, không quên để lại địa chỉ liên lạc của mình.
Sau 3 tuần nhận được hoa đều đặn, ca sĩ hoa khôi Mộc Lan không cầm lòng được đã đề nghị người đưa hoa cho biết tên người tặng. Được sự đồng ý của Đoàn Chuẩn, chủ hàng hoa đã thông báo cho Mộc Lan biết người gửi tặng hoa cho nàng chính là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cùng với địa chỉ kèm theo. Sau đó, nhạc sĩ họ Đoàn nhận được lá thư của người đẹp với lời cảm ơn và hy vọng có ngày được hội ngộ. Thế là Đoàn Chuẩn lại gửi tiền để chủ hàng hoa tiếp tục tặng hoa cho người đẹp liền 2 tháng nữa.
Mấy tuần sau đó, Đoàn Chuẩn rất xúc động khi nhận được lá thư tiếp theo của Mộc Lan và ông đã biến tình cảm dâng trào của mình thành bản nhạc Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay với lời đề tặng M.L.
Gặp gỡ và chia tay… Theo lời hiền thê của ông “Nhiều mối tình đã đi qua tâm hồn người nhạc sĩ đa cảm đa tình. Lúc còn sống, ông từng thú nhận rằng đời ông chỉ viết tình khúc, bởi ông trọng nhất là tình yêu. Những năm cuối đời ông bị tai biến mạch máu não, nằm liệt trên giường. Người bạn đời của ông vẫn còn lưu lại vẻ đẹp của một thời hoàng kim xa lắc luôn có mặt bên cạnh. Lúc ấy, khi nhắc lại chuyện xưa, cả hai ông bà đều cười rất tươi…”
Cuối thập niên 40, Mộc Lan vào Sài Gòn, kết duyên với nhạc sĩ Châu Kỳ (1923-2008). Đôi uyên ương ra làm việc tại Đài Phát Thanh Huế. Năm 1954, trở lại Sài Gòn, ca sĩ Mộc Lan nổi tiếng hát hay và đẹp, trở thành đối tượng cho văn nghệ sỹ si tình nên… chia tay nhau. Sau thời gian sống trong khổ đau, u uất, Châu Kỳ gặp cô nữ sinh Kha Thị Đàng, 18 tuổi. Cô hoa khôi của trường nữ trung học Gia Long kết hôn với Châu Kỳ và sống bên nhau đến cuối đời.
Sau khi rời Sài Gòn trở lại Hà Nội, Đoàn Chuẩn viết ca khúc Gửi Người Em Gái Miền Nam vào dịp Tết Giáp Ngọ (đầu năm 1955) nhưng đến năm 1956 mới ấn hành nhạc phẩm nầy…
Trong bài viết của Hạ Đình Nguyên, phỏng vấn Mộc Lan và Tâm Vấn, cho biết, sau vài nghi vấn “Người viết đã có may mắn được gặp bà Tâm Vấn trong một cuộc triển lãm tranh ở đường Lê Thánh Tôn, bèn đánh bạo hỏi bà chuyện này. Bà cười xòa: “Không, ông ấy làm bài này là để tặng cho Mộc Lan, bạn tôi”…
Tình khúc Gửi Người Em Gái… là một trong những bản tình ca tuyệt vời nhất của âm nhạc Việt Nam. Hình ảnh người em gái được viết lên với giai điệu nhẹ nhàng, với ngôn ngữ hòa nhập trong con tim rung động. Nhạc sĩ tài hoa như vậy nhưng sau khi sáng tác ca khúc đó, tâm sự đã được bày tỏ tình cảm,, nỗi niềm rồi vô vọng để rồi im lặng qua ba thập niên. Nếu có nuối tiếc cho cuộc tình vô vọng, chỉ còn gặm nhấm theo thời gian”.
Với ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của Đoàn Chuẩn. Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng viết: “Rất ít người biết đến ca khúc có cùng tên do Đoàn Chuẩn & Từ Linh sáng tác năm 1955 trong tập Bài Ca Bị Xé… Có lẽ, một trong những lý do bài Chiếc Lá Cuối Cùng của Đoàn Chuẩn & Từ Linh có số phận hẩm hiu, ít người biết đến vì sau khi đất nước chia đôi, ở miền Bắc ai dám hát nhạc tình cảm ướt át từ một nhạc sĩ có gốc gác “tư sản” nặng như Đoàn Chuẩn? Bản nhạc này được tác giả cất giữ cho đến mãi sau 1986 – “thời kỳ đổi mới” – mới bắt đầu tiết lộ ra ngoài qua hai người con là Đoàn Đính và Đoàn Chính.
Những bài trong tập Bài Ca Bị Xé, ông viết tặng ca sĩ Thanh Hằng thời đó và theo nhạc sĩ Đoàn Đính, thứ nam của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn trong cuộc phỏng vấn với ký giả Ngọc Trần đã cho biết như sau: “Tuy yêu vợ nhưng bản chất của Đoàn Chuẩn là một nghệ sĩ đa tình. Vì thế khó trách cha tôi tội quá đào hoa. May mắn mẹ tôi là người đàn bà tinh tế, hết lòng vì chồng con… Mỗi bài hát là một mối tình đi qua đời ông”. Chính nhờ sự bao dung ấy của mẹ mà gia đình tôi được giữ trọn vẹn…”.
Năm 1955, tuy sống cũng gần nhau ở Hà Nội nhưng không được gặp gỡ như trước kia vì nhạc trữ tình của Đoàn Chuẩn – Từ Linh bị “ghép tội” ủy mị nên cấm phổ biến trong khi đó ca sĩ Thanh Hằng đổi thành Lệ Hằng để tiếp tục kiếp cầm ca.
Sống trong gia đình với vợ con nhưng Đoản Chuẩn vẫn tơ tưởng đến hình bóng “người đi qua đời tôi”:
“Em thời xa, sương gió phôi pha
Anh ngồi đây anh nhớ đến em
Như cành khô trước lúc xa cây, gọi lá…
Sao đôi tâm hồn đã quá xa xôi
Trên những con đường thoảng hương hoa sữa
Em đã nói gì, quá khứ? tương lai?
Trăng sao trên trời còn khi chia đôi
Nhưng tiếng ca nào còn lắng trong tôi…
Hà Nội chiều nay trời lên mây trắng
Chiếc lá cuối cùng rơi xuống chân em…
Chiếc lá cuối cùng là của em đó
Em hãy giữ gìn trước lúc chia tay”!
*
Vừa rồi, tôi nhận được email của người bạn thân từ ngày ở Đà Lạt, anh rất hiền, ít nói, chung thủy cả một đời khi lập gia đình và hình như chưa tâm sự với ai về chuyện tình cảm nhưng anh cho biết những dòng chia sẻ nầy nếu ngày nào anh vĩnh biệt cõi trần, tôi viết thêm hình bóng trong vài ca khúc của anh. Chưa biết ai sẽ ra đi trước nhưng sẽ ghi vào “giai thoại” để mỗi ca khúc mang tâm hồn lãng mạn.
Khi tôi viết loạt bài Văn Nhân & Tình Sử, nhà thơ Thái Tú Hạp (đồng hương ở Hội An) nói tại sao không viết tình sử của bản thân?. Có mấy ai tự “vạch áo cho người xem lưng”?. Trong bài viết đã lâu, tôi ghi lại khi về Hội An, thưa với mẹ chuyện lập gia đình, mẹ tôi hỏi “Ủa, con lấy ai?”… Rồi sau nầy “thành thật khai báo” nhưng hiền thê – như bà vợ Đoàn Chuẩn – phán “biết tỏng tòng tong” miễn là giữ trách nhiệm cho đến cuối đời.
Buổi tối cuối tuần, đang nghe Moonlight Sonata của Beethoven, thấy tin nhắn qua message cho biết, cả một đời thích âm nhạc, ca hát… mang lại niềm vui, an ủi cho bản thân và những người thưởng ngoạn, nhưng không ngờ ngược lại nên không còn tiếp tục!. Thật bất ngờ và hụt hẫng qua lời nhắn, khi nhắn lại thì bặt tin!
Với tôi, tiếng hát ngọt ngào, nhẹ nhàng, truyền cảm đi nhẹ vào lòng người, bỗng dưng lìa xa sân khấu! Lại một lần nữa “Les feuilles mortes se ramassent à la pelle. Les souvenirs et les regrets aussi” và tiếng hát đó như “Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”!. Nỗi buồn vây quanh!
Little Saigon, March 2025
Vương Trùng Dương
-
Chiếc Lá Trong Ca Khúc
Vương Trùng Dương
“Les feuilles mortes se ramassent à la pelle…
Tu vois je n’ai pas oublié
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle
Les souvenirs et les regrets aussi…”
((Jacques Prévert: Œuvres complètes Tome II)
Bạn tôi, nhà thơ Triều Hoa Đại ấn hành tác phẩm Lên Rừng Đếm Lá. Nhân dịp nầy, người bạn vong niên từ thời ở Đà Nẵng – Lê Bảo Hoàng (nhà thơ Luân Hoán) – hai nhà thơ thực hiện cuộc trò chuyện với nhau.
Theo Triều Hoa Đại thì khi rời bỏ đất nước ra đi, hình như một số anh, chị em trong đó có tôi đã bỏ “của” mà chạy lấy người nên đã không đem theo được một tác phẩm nào…
Tôi ở một nơi rất xa cách sinh hoạt cộng đồng (vì công việc) cho nên đó cũng là những thiệt thòi về đủ mọi phương diện, mà đặc biệt nhất là sách báo thì tôi thiếu thốn vô cùng, những ngày tháng trước đây khi còn sinh hoạt với chữ nghĩa ở trong nước tôi đã có được một tủ sách gia đình đáng kể, bạn bè mỗi khi in sách đều gửi cho, nhà xuất bản cũng thương tình cho một vài cuốn thành ra một tác phẩm thường thì tôi được hai, hay nhiều hơn thế nữa do tác giả và nhà xuất bản ký tặng, giờ đây nhìn thấy “tủ sách” gia đình mà mình có được thấy ngậm ngùi, tủi thân chi lạ. Mở hộp thư bưu điện hằng ngày chỉ là để trông mong sách báo, ngóng chờ thư từ bằng hữu như người đi giữa sa mạc mong ngóng những cơn mưa.
Vì vậy, tác phẩm đầu tiên của anh Lên Rừng Đếm Lá, anh đã “đếm” 17 chiếc lá, hầu hết là bạn văn với tác giả. Sau gần hai thập nhiên, có các chiếc lá đã lìa cành!
Trong âm nhạc, có nhiều ca khúc với hình ảnh chiếc lá, có lẽ biểu tượng cho đời người, tình yêu… ở giai đoạn nào đó mang nỗi buồn man mác khi chia ly! Mà “Lòng người như chiếc lá, nằm trong cơn gió vô tình…” (Ngăn Cách của Y Vân). “Lòng người như lá úa, trong cơn mưa chiều. Nhiều cơn gió cuốn, xoay xoay trong hồn. Và cơn đau này vẫn còn đấy” (Bài Không Tên Số 2 của Vũ Thành An)…
Vào thời tiền chiến, những tình khúc của Đoàn Chuẩn & Từ Linh được gọi nhạc sĩ của mùa Thu mà mùa Thu thường mang đến nỗi buồn. Mùa Thu là mùa của lá vàng rơi đã thể hiện qua nhiều bài thơ… Ca khúc Lá Đổ Muôn Chiều của Đoàn Chuẩn & Từ Linh:
“Lá đổ muôn chiều ôi lá úa
Phải chăng là những cánh đời em
Đêm đêm lìa xuống trần
Tình vương hoen úa ôi những cánh đời mong manh.
Than tiếc mà chi chiếc lá vàng bay về cuối trời
Làm lòng anh nhớ mãi người ơi.
Nhớ nhau từ làn môi đôi mắt.
Đành tìm trong nét bút xa xôi”.
Ca khúc Lá Thư và “lá thư” gửi cho người tình khi đã trao thân:
“Nhớ tới mùa thu năm nào
Mình anh lênh đênh rừng cùng sông
Chiếc lá thu dần vàng theo
Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu
Ngồi xõa tóc thề. Còn đâu ân ái chăng người xưa?”
Câu ca dao “Dã tràng xe cát biển Đông” với hình ảnh con dã tràng khi thủy triều xuống, xây cát làm nơi trú ẩn nhưng khi thủy triều lên bị san bằng, ngụ ý bỏ công sức nhưng chẳng được gì như công cốc! Ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của nhạc sĩ trong tình yêu ví như lâu đài trên cát:
“Hà Nội chiều nay còn như in bóng
Dấu vết lâu đài trên cát anh xây
Bóng dáng em về thấp thoáng đâu đây
Chiếc lá cuối cùng là của em đó
Em hãy giữ gìn trước lúc chia tay”
Và ca khúc Ánh Trăng Mùa Thu:
“Lòng hờn trăng cuốn thêm bao đời lá
Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa!”
Trong bài viết vừa qua Nỗi Lòng Với “Chiếc Lá Cuối Cùng” của tôi đề cập đến hai ca khúc của Đoàn Chuẩn và Tuấn Khanh cùng tên.
Với ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh, được nổi tiếng ở miền Nam VN vào thập niên 1960’:
“Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng
Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang
Chiều vào thu tiễn em sầu lạnh giá
Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa…
Xa nhau chưa mà lòng nghe quạnh vắng
Đường thênh thang gió lộng một mình ta
Rượu cạn ly uống say lòng còn giá
Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”.
Bài thơ L’Adieu của Apollinaire chỉ có 5 câu, Bùi Giáng dịch là Lời Vĩnh Biệt, Phạm Duy dựa vào ý thơ phổ thành ca khúc Mùa Thu Chết.
Như đã đề cập ở trên, trên quê hương ngày xưa, mùa Hè nóng bức, mùa Đông giá lạnh, mùa Thu giao mùa giữa nóng và lạnh, là mùa của nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trong tâm trạng buồn, nhớ thương.
Ca khúc Thu Vàng năm 1953, khi Cung Tiến chỉ mười lăm tuổi, mới rời Hà Nội vào Sài Gòn. Lời đề tặng: “Tặng Hà Nội của những ngày thơ ấu”. Với thể điệu valse như những bước chân chim nhảy nhót trên lá vàng với “màu tê tái”:
“Mùa Thu vàng tới là mùa lá vàng rơi
Và lá vàng rơi, khi tình Thu vừa khơi
Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi
Nghe chừng đâu đây màu tê tái”
Ca khúc Lá Rơi Bên Thềm của Lê Trọng Nguyễn & Nguyễn Hiền:
“Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương
Tìm trong lá thu vàng trên lối đi về dĩ vãng
Ngày thơ đã qua rồi sao vấn vương
Mỗi khi sương chiều xuống
Tìm bâng khuâng hình bóng năm nào…
Lá rơi cho lòng hoài cố nhân
Tìm trong lá thu vàng bao phút xưa đầm ấm
Niềm thương khó phai mờ theo tháng năm
Lá rơi bên thềm vắng
Yêu mãi dáng Thu về bên song”.
Lá Rụng Ven Sông của Hoàng Nguyên với thể điệu tango:
“Hôm nao nhìn lá úa
Rụng lác đác bên sông.
Mây trôi về viễn xứ
Gợi tiếc nhớ bâng khuâng…
Thương ai đã thương ai rồi
Dù tháng năm dần trôi
Dù lá hoa tàn phai
Lòng vẫn nhớ thương ai”.
Ca khúc Lá Rụng Ven Sông của Phạm Duy, thơ Thế Lữ với thể điệu valse:
“Còn đâu đêm sang lá đổ rộn ràng
Còn đâu sương tan trăng nội mơ màng
Còn đâu em ngoan tóc rối ngổn ngang
Tuổi em đôi mươi xuân mới vừa sang”.
Trong tùy bút trước đây của tôi với Đường Chiều Lá Rụng khi nói về cuộc chia tay nơi công viên lúc chiều tà, dựa theo tựa đề nhạc phẩm Đường Chiều Lá Rụng của Phạm Duy:
“Lá vàng bay! Lá vàng bay!
Như dĩ vãng gầy, tóc buông dài, bước ra khỏi tình phai
Lá vàng rơi! Lá vàng rơi!…
Lá vàng khô! Lá vàng khô!
Như nét môi già đã nhăn chờ lên nẻo đường băng giá”
Nhạc phẩm Thu Ca của Phạm Mạnh Cương trong phần điệp khúc:
“Nhớ ai chiều thu
Nhìn bao lá úa rơi đầy lối
Nhẹ rung tà áo
Làn môi cười thắm như cánh hoa đào
Cách xa vì đâu!
Dù bao lần lá hoa phai màu
Rung chi cành hoa lá
Khi tà dương đã khuất non xa”
Trích dẫn những ca khúc tiêu biểu của các nhạc sĩ từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam – trong hoàn cảnh chiến tranh – nhưng những ca khúc trữ tình, lãng mạn tuy buồn, bi thương đã in sâu trong tâm hồn giới thưởng ngoạn.
Sau năm 1975 lại đẻ ra tên gọi “nhạc Sến”, nhiều bài viết tranh luận quanh đề tài nầy và tôi cũng viết bài Dòng Nhạc Boléro, dòng nhạc phổ thông nhất trong hai thập niên đó bị “chụp mũ” vớ vẩn. Nay là dòng nhạc thịnh hành, ăn khách nhất trong nước. May thay những ca khúc về mùa Thu, lá vàng, lá khô… qua các giai điệu như đề cập ở trên không bị nằm trong “nhạc Sến”.
Còn nhiều ca khúc khác, gần đây Lại Một Chiếc Lá Rơi của Phạm Anh Dũng ở miền Đông nước Mỹ:
“Nhìn chiếc lá vàng rơi
Mới hay mùa thu tới
Trên từng ngày mong đợi
Em vẫn còn xa xôi…
Bao nhiêu năm xa người
Tìm về con phố cũ
Thu băng ngang giữa trời
Lại một chiếc lá rơi”
Năm 1990, khi mới tị nạn ở Nashville, tiểu bang Tennessee, lần đầu tiên trong đời vối rừng phong nhuộm vàng tuyệt đẹp mà thuở còn đi học chỉ mường tượng câu thơ “Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san” (Kiều – Nguyễn Du).
*
Ca khúc Les Feuilles Mortes, nhà thơ Jacques Prévert viết theo giai điệu do J. Kosma đã soạn sẵn. Ca khúc ra đời năm 1946, nội dung với kỷ niệm buồn cho tình yêu đã mất. Năm 1949, Johnny Mercer chuyển lời tiếng Anh Autumn Leaves, trở thành ca khúc nổi tiếng trên thế giới với các album của các danh ca. Theo GS Nguyễn Bảo Hưng (Jacques Prevert & Les Feuilles Mortes) cho rằng chủ đích của Kosma là soạn ra như là một nhạc phần (une partition) cho kịch vũ ba lê Le Rendez-Vous (Hẹn Hò). Lúc đầu Prévert định chỉ soạn lời cho nhạc phần của vở kịch vũ theo yêu cầu. Nhưng khi lắng nghe giai điệu để viết lời ca, Prévert đã bị thu hút bởi những nốt nhạc của giai điệu diễn tả một nỗi buồn thầm kín nhưng nồng nàn đằm thắm. Và ông đã không bỏ lỡ cơ hội, mượn giai điệu của Kosma để làm nền cho cuốn phim do chính ông soạn kịch bản và ‘lời thoại’, lấy tên Les Portes de la Nuit (Cửa Vào Đêm Tối), đêm tối ở đây mang ý nghĩa ẩn dụ “tử thần”), lấy nhạc Kosma làm nền cho phim… Nhạc Kosma trong Les Feuilles Mortes là một giai điệu buồn với những nốt nhạc khoan thai dìu dặt. Cộng thêm lời ca Prévert là những lời thơ chan chứa, nó càng có sức cuốn hút người nghe…
Có nhiều bài viết cho rằng ca khúc nầy phổ thơ của Jacques Prévert. Có lẽ Prévert cảm nhận vào lời của ca khúc đó để làm bài thơ.
Chẳng hạn như ca khúc Lệ Đá của Trần Trịnh. Theo lời Hà Huyền Chi, nhạc phẩm Lệ Đá trước hết không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của nhạc sĩ Trần Trịnh…
Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội, Trần Trịnh ngồi vào piano. Và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ đó, rất Pianissimo ấy. Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hương của bản nhạc.
Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hòa được cái rung cảm đích thực của thơ tôi vào nhạc Trần Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn…
Sau nầy Hà Huyền Chi cảm hứng viết thêm 4 lời cho ca khúc nầy. Nhiều người cho rằng thơ Hà Huyền Chi.
Với nhạc phổ thơ thì dựa vào thơ, ý thơ. Nhạc và lời thì khi nghe nhạc qua giai điệu để đặt lời, trước đây tôi đã đề cập qua bài viết về nhạc và thơ, thơ và nhạc.
Nhạc sĩ Phạm Duy có tài viết các ca khúc ngoại quốc lời Việt nhưng với ca khúc nầy trước năm 1975 và sau nầy hát theo lời Pháp, Anh.
Ngoài ca khúc Lá Rụng của Hoàng Trọng, tôi thích nhất ca khúc Nhặt Lá Vàng
“Mùa thu mây trắng lững lờ, không gian mờ mờ
Người đẹp đi trong mơ
Nhẹ nâng tà áo dịu dàng
Nhặt lá thu vàng, dệt mộng đón thu sang…
Lặng trầm gió trút lá, bỗng dưng sầu
Nhặt từng chiếc lá úa, nhớ thu nào
Chia ly muôn kiếp vẫn sầu
Ðể nhớ cho nhau nào ai có thấu
Người yêu xỏa tóc mong chờ
Dù xưa hẹn hò mà giờ đây bơ vơ
Mùa thu này cũng đẹp trời
Mà thiếu một người, nhặt lá vàng rơi!…
Mùa thu này khóc một mình
Mộng ước không thành, để buồn những ngày xanh”
Ngày đó, Mai Hân và nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo thực hiện vào mỗi tối Thứ Tư hàng tuần trên sóng đài phát thanh Quân Đội với chương trình Nghệ Sĩ Với Chiến Sĩ. Ngoài giọng đọc truyền cảm của xướng ngôn viên, ca sĩ Mai Hân hát với nhiều ca khúc, riêng tôi, Nhặt Lá Vàng thành công và hay nhất.
*
Tôi đã vài lần trao đổi với nhà thơ Triều Hoa Đại và các bạn văn khi bước vào tuổi già ở hải ngoại thường nhớ lại quá khứ của một thời trong văn chương nghệ thuật. Bước vào tuổi tám mươi, thời gian không còn dài… như lá vàng trên cây, chỉ cần cơn gió thoảng sẽ lìa cành rơi rụng. Với những tác giả nêu trên, hầu như đã chia sẻ qua các bài viết trong quá khứ.
Mỗi chiều yên ả, ra ngồi backyard nhìn những chiếc lá vàng trên hai cây magnolia (chi mộc lan) rơi rụng, nghĩ đến ngày mai “les feuilles mortes” để “les portes de la nuit” và rồi “Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa!, “Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương, hoài cố nhân”… Vàngày nào đó khi có chiếc lá rơi “cố nhân xa rồi” mấy ai gọi đến tên!
Little Saigon, April 2025
Vương Trùng Dương
-
Cái Tóc Là Góc Con Người
Vương Trùng Dương

Cái răng, cái tóc là góc con người
Nhưng cái tóc thường ám chỉ với nữ giới vì “người đẹp nhờ tóc”. Về nhân tướng học, có nhiều khuôn mặt thích ứng cùng với mắt, mũi, miệng… và kèm theo đó với răng và tóc. Trong Hồi Ức Một Đời Người của Nguyễn Ngọc Chính có chương đề cập đến mái tóc, và tùy theo nhãn quan của mỗi người với phái nữ về tóc ngắn, tóc dài.
Theo Nguyễn Ngọc Chính: “Tôi rất dễ bị ‘hớp hồn’ vì những mái tóc dài của phụ nữ. Điều này đồng nghĩa với việc tôi không thể dành cảm tình cho những mái tóc ngắn kiểu ‘demi-garcon’ như trong bài hát Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ của Phạm Duy, phổ nhạc theo thơ Nguyễn Tất Nhiên:
“Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ. Này cô em tóc demi garçon”…
Cô em Bắc Kỳ nho nhỏ thì được. Nhưng cô em tóc demi-garçon lại không phải là ‘gout’ của tôi. Một mái tóc ngắn làm sao tạo cảm giác hấp dẫn mỗi khi vuốt ve. Đó là chưa nói đến hình ảnh gợi cảm của một mái tóc dài, chỉ nhìn thôi cũng đã thấy quyến rũ hơn một cái đầu ngổ ngáo kiểu con trai. Biết đâu chừng, trong suốt cuộc đời chưa bị một người phụ nữ tóc ngắn kiểu ‘demi garçon’ nào ‘hớp hồn’ cho nên tới giờ này chuẩn bị ‘xuống lỗ’ mà vẫn còn… chung thủy với cái ‘gout’ tóc dài từ thời niên thiếu.
Có một dạo, khoảng thập niên 1960s, các cô gái Sài Gòn chuộng ‘mốt’ buộc thêm cái bandau lên mái tóc. Dẫu rằng bandau có những tác dụng thiết thực như giữ cho tóc khỏi lòa xòa trước trán nhưng tôi không cho như thế là đẹp. Bandau, nếu là màu trắng trên trán, khiến cho người đối diện liên tưởng đến vành khăn tang và như thế đâu còn nét quyến rũ của người phụ nữ trước cánh đàn ông nữa. Thay vào đó là ý nghĩ tang tóc đáng sợ!
Tóc cột theo kiểu ‘đuôi gà’ (queu de cheval – người phương Tây gọi là kiểu tóc đuôi ngựa) cũng là một ‘mốt’ của các cô thời đó, nhưng có điều chỉ thích hợp với những người còn trẻ…
… Thật không ngờ, mấy chục năm sau mái tóc đuôi gà lại xuất hiện trong đời tôi qua hình ảnh người tình. Dù chỉ là sự xuất hiện thoáng qua nhưng cũng để lại một kỷ niệm khó quên. Hôm đó là một buổi trưa móng bức giữa Sài Gòn, nàng sửa soạn đi dạy học và bước ra đường với một mái tóc kẹp lệch sang một bên cho đỡ nóng. Một thoáng rùng mình. Tôi ngây ngất đứng nhìn nàng bước ra khỏi nhà với mái tóc đuôi gà…
Mái tóc vén cao cũng là một hình ảnh quyến rũ của người phụ nữ, nhất là những người có vóc dáng quý phái, sang trọng. Tóc vén cao thường hợp với những làn da trắng nuốt trên gáy, nổi bật với vài sợi tóc lòa xòa trên cổ…
Vào thời đại hiện tại, văn minh tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp các bà các cô ‘duỗi tóc’ thật thẳng hay nhuộm tóc đủ màu và thậm chí còn ‘hilight’ pha màu từng cụm tóc trông như một ‘palette technicolor’ của người họa sĩ chuẩn bị vẽ một bức tranh. Tôi quan niệm, cái đẹp phải xuất phát từ tự nhiên. Đẹp tức là những gì tự bản thân mình có chứ không thể nào vay mượn từ những cái mình không có (?)…
… Tôi kỵ nhất khi phải đối diện với phụ nữ trên đầu chỉ toàn… ống cuốn tóc. Thường thì các ông chồng phải cam chịu ‘ngậm đắng nuốt cay’ với cảnh này. Các bà vợ muốn ra đường với một mái tóc đẹp nên rất chịu khó cuốn tóc khi còn ở trong nhà và các ông chồng là người chịu nhiều thiệt thòi nhất: phần xấu xí mình phải gánh chịu còn phần tốt đẹp thì thiên hạ được chiêm ngưỡng…”
Ca dao ta có câu “Tóc mai sợi ngắn (vắn) sợi dài. Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”. Tác phẩm Tóc Mai Sợi Ngắn Sợi Dài của Phạm Tú Uyên gồm 13 chương. Tác giả viết về cố đô Huế của thuở học trò với chân dung người tình qua mái tóc “Tôi mơ màng về lại ngày xưa, em hiện ra xinh xắn với mái tóc dài đen mượt, đang ngồi bàn trên lớp học. Mái tóc đong đưa, nhảy múa trước mặt và cả mùi hương từ tóc em đã cột chặt hồn tôi lại, đã đưa tôi bồng bềnh trong nỗi nhớ mênh mang” (Chương 6). Tác giả viết về cố đô Huế với những kỷ niệm bên cạnh người tình cho đến thời điểm tang thương vào tháng Ba năm 1975, chàng bị cụt chân, người tình ghé thăm với mái tóc ngày nào còn phảng phất mùi mùi hương…
Tác giả nầy yêu quá sớm, thuở đó thời học sinh ở trung học Đệ Nhất Cấp (Đệ Thất đến Đệ Tứ) nam nữ học chung, ngồi sau nữ sinh, chúng tôi thuộc loại “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” chưa yêu nên quậy tới bến, cột tóc dài của mấy cô ngồi trước… nên vài lần bị thầy/cô cho ra khỏi lớp. Khi lên Đệ Nhị Cấp ban C mới “Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Thơ Xuân Diệu).
Nhạc sĩ Phạm Duy lấy từ ca dao nầy soạn thành ca khúc Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài “Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc. Thuở ấy anh vừa thôi học xong”.
Tóc mai là phần tóc ở phía trước vành tai, và kéo dài đến cuối lỗ tai. Nam thì cắt tóc, chấn ngang giữ vành tai, nữ thì để tự nhiên, tăng thêm sự hài hòa, thanh thoát trên khuôn mặt.
Tròng bài thơ Màu Thời Gian của thi sĩ Đoàn Phú Tứ ca ngợi hình ảnh:
“Tóc mai một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương”.
Hai chữ dao vàng trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:
“Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi”.
(Trong Truyện Kiều chú giải: Dao vàng, vàng đây là dịch chữ kim trỏ kim loại, kim thuộc như đồng, sắt… Vậy dao vàng không nên hiểu kim loại bằng vàng, chỉ là con dao thường bằng sắt. Nói thế cho đẹp lời văn mà thôi. Kiều lấy dao cắt một ngụm tóc để thề).
Với phái nữ, tóc dài, tóc ngắn tùy theo khuôn mặt để có sự hài hòa, thanh thoát và tùy theo sở thích của mỗi người (nam, nữ) được diễn tả trong thi ca, âm nhạc…
Chuyện vãn lần nầy nói về tóc dài của thuở xa xưa ở quê nhà với nữ giới vì với Âu Mỹ thường là tóc ngắn nên không có sự phân biệt gì cả.
Nhân Ngày Hiền Mẫu, trước đây tôi viết bài về hình ảnh mẹ tôi của thời ấu thơ, mẹ tôi bán sạp vải ở chợ, buổi trưa giao cho con gái về nhà gội đầu chùm kết (bồ kết) và vỏ bưởi, khi hong tóc mùi thơm loan tỏa khắp nhà, tôi quạt cho tóc mẹ mau khô. Tóc mẹ rất dài và búi tóc (từ mái tóc đen cho đến khi bạc trắng) và từ đó hình ảnh tóc dài đã in sâu trong tâm hồn… Vì vậy (với cá nhân) thiện cảm với tóc dài. (Người Bắc thì quấn khăn vành dây bằng nhung).
Trong bài Những Sợi Tóc của Nguyễn Ngọc Chính: Xứ Huế có câu ca dao “Bớ cô tóc xõa kề bề. Cô mặc áo trắng, tóc thề ngang vai”… Nhiều người tự hỏi, tại sao gọi là “tóc thề”? Một giải thích cho rằng những cô gái miền Sông Hương, Núi Ngự để “tóc thề” để nói lên sự ngây thơ, khép kín. Rồi mái tóc thề xuông đuột xõa kín bờ vai đó sẽ có ngày biến mất khi nàng thơ sang ngang để lại một nỗi buồn man mác trong lòng kẻ tình si!”.
Tóc thề là những sợi tóc ngắn phất phơ hai bên trán và vành tai, tạo vẻ duyên dáng, thơ ngây. Tóc thề ngoài ý nghĩa thề hẹn, biểu tượng sự thủy chung, sắc son… Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du:
“Tóc thề đã chấm ngang vai
Nào lời non nước, nào lời sắc son”.
Với Huế, ca khúc Huế Ngọc của nhạc sĩ Võ Tá Hân:
“Huế có gì để tôi phải thương
Bên ni bên nớ mấy độ đường…
Mái tóc thề xõa trên bờ vai
Cho tôi nhung nhớ tháng năm dài
Nón lá nghiêng che đôi mắt ngọc
Cho tôi thờ thẫn mộng thiên thu”
Trong ca dao với hình ảnh:
“Một thương tóc xõa đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương đôi mắt như sao hiền mùa thu…”
Nhạc sĩ Châu Kỳ, người con xứ Huế với ca khúc Mái Tóc Thề:
“Tôi thương mái tóc thề dịu men tình trong nhân thế
Tôi thương mái tóc thề con đường màu thắm hương quê
Hình dáng đó còn mơ em tôi ơi đẹp thơ
Mái tóc thề tình xưa”.
Nhà thơ Kiên Giang với bài thơ Tóc Thề Xứ Huế
“Cuối tháng, thầy vô trường võ bị
Xa trời Đồng Khánh, học trò yêu.
Xa rời Bến Ngự sông An Cựu
Nắng đục, mưa trong lắng tiếng chiều…
Đêm nay em viết trong lưu bút
Xin gọi thầy bằng một tiếng anh.
Đuôi tóc thề kèm thư mới viết
Gởi về Gia Định, mộng ngày xanh”.
Ca khúc Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương:
“Em buông lơi tóc thề
Tình mình theo cơn lốc về
Em như mưa nắng hạ
Hôn bờ biển xanh sỏi đá…”
Với mái tóc thề khi thắt bím của tuổi nữ sinh với nhà thơ Kim Tuấn, người con xứ Huế trong bài thơ Ngày Em Còn Thắt Bím:
“Tóc bím nghĩa là tóc dễ thương
Tóc bâng khuâng lá rụng bên đường
Tóc chia đường gió, chia thương nhớ
Chia nỗi buồn cho ai vấn vương.
Tóc bím nghĩa là tóc mộng mơ
Để ai thương nhớ, để ai chờ
Để ai ngơ ngẩn giờ tan học
Em vẫn vô tình, em lửng lơ”.
Với mái tóc dài được mô tả như suối tóc. Ngày đó, nhà thơ Quang Dũng với hình ảnh Suối Tóc:
“Thuở ấy em ngồi trên cửa gác,
Tóc buông hong với gió đầu thu
Em mải mơ gì dưới nắng êm?
Tóc như suối mực chảy êm đềm”
Nhạc sĩ Văn Phụng qua ca khúc Suối Tóc:
Tìm cho thấy liễu xanh, xanh lả lơi
Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai
Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai
Anh với em một đêm thu êm ái…
Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau
Như chúng ta đôi lần hàng gắn thương yêu”.
Ca khúc Chiều Tím của nhạc sĩ Đan Thọ:
“Chiều tím, chiều nhớ thương ai
Người em tóc dài
Sầu lên phím đàn
Tình vương không gian
Mây bay quan san có hay?…
… Tóc bay dài, gió viễn khơi”
Trong bài viết Người Đẹp & Suối Tóc của ca sĩ Quỳnh Giao ghi nhận:
“… Ngẫm lại thì nhạc ngoại quốc có lời từ ca tụng nhiều nhất là đôi mắt, ngay sau đó tới… thân hình. Còn các nhà thơ và giới sáng tác của chúng ta chỉ cần mê đôi mắt và… ca tụng mái tóc thì “cũng đủ lãng quên đời”. Hèn chi mà Đinh Hùng viết “một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc….”
Vì vậy, xin nói về mái tóc trong các nhạc khúc xa xưa.
Từ thuở phôi thai của nền tân nhạc, Thẩm Oánh có bài Suối Huyền nhịp Slow, viết theo giai điệu Hạ Uy Di, nghe lả lướt óng chuốt, tiếc là đã lâu không còn ai hát lại nữa. Người viết thì còn nhớ hình bìa in ảnh cô Tâm Vấn với mái tóc dài, dợn sóng và khóe mắt hồ thu. Cũng theo lời thân mẫu kể lại thì ông viết để tặng mái tóc nổi tiếng ấy.
Suối huyền, lả buông làn tóc
Thướt tha, óng chuốt uốn lưng ong…
Nhớ lại thì cả Thẩm Oánh và Văn Phụng đều cùng thấy mái tóc óng mượt chảy xuôi như môt dòng suối.
Khi kết duyên cùng Châu Hà, nhạc sĩ Văn Phụng viết bài Suối Tóc, với lời của Thy Vân. Ca khúc có nét tân kỳ quý phái với điệu Boston dìu dặt như nhịp bước của đôi tình nhân. Không biết tác giả có lời yêu cầu với ông Thy Vân không, mà lời ca thì rõ là để tả mái tóc thời ấy của cô Châu Hà. Buông dài đến tận lưng, mầu nâu nhạt óng ả. Cho đến nay, ca khúc này vẫn còn được hát, đơn ca hay song ca, tam ca đều hay. Và dĩ nhiên người hát bài này tình tứ nhất là Châu Hà. Chứ còn ai nữa!… (sau nầy ca sĩ Châu Hà cắt tóc ngắn)
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền có nét nhạc bay bướm mềm mại và viết bài Mái Tóc Dạ Hương phổ thơ Đinh Hùng rất đạt. Nhịp Boston êm đềm và cung Trưởng trong sáng làm cho ca khúc dễ hát dễ nghe. Ngày xưa Thanh Lan hát bài này trong cassette của Phạm Mạnh Cương rất dễ thương.
Từ giã hoàng hôn trong mắt em
Tôi đi tìm những phố không đèn
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút ân tình hương tóc quen…
Hồi còn làm nhân viên cho phòng kỹ thuật cho đài phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ Hoài Linh có sáng tác bài Về Đâu Mái Tóc Người Thương, thường được Thanh Thúy trình bầy và thính giả rất thích vì tưởng tượng ngay ra mái tóc rất đặc biệt của người nữ ca sĩ có nét đẹp rất Liêu Trai…
Hồn lỡ sa vào đôi mắt em
Chiều nao xoã tóc ngồi bên rèm…
Cũng ở hải ngoại, nhạc sĩ Thanh Trang của Duyên Thề sáng tác thêm nhiều ca khúc trữ tình đẹp cả từ lẫn nhạc. Bài anh viết về mái tóc phổ thơ Hà Nguyên Dũng có tựa đề rất nên thơ là Tóc Em Vẫn Là Hương Của Mẹ. Nét nhạc mang âm hưởng cổ kính của đất Thần Kinh.
Trời đang nắng bỗng mưa nào ai biết
Mưa ướt rồi mái tóc sẽ phai hương
Anh yêu lắm mùi hương trên làn tóc
Em đi qua thơm ngát cả con đường…
Cho ai lời hẹn xưa…
Chắc là còn nhiều lắm mà khuôn khổ một bài tạp ghi không cho người viết kể lể nhiều hơn. Người Tây phương ít khi rưng rưng chỉ vì một sợi tóc, chứ người Việt chúng ta lãng mạn mà kín đáo. Thương mái tóc là nhớ cả dáng người. Phải chăng vì mái tóc là biểu tượng của sự dịu dàng thơm tho, và cả nét đẹp của tâm hồn người yêu mái tóc nữa?
Nghĩ lại thì lối ca tụng cái đẹp tinh khiết và thánh thiện đó là một phong cách văn minh mà mình nên gìn giữ” (Quỳnh Dao)
Theo lời kể Văn Phụng không biết đặt tên cho bản nhạc ấy là gì. Rồi bỗng nhìn mái tóc Châu Hà dài chấm đất của cô gái và nói: “Mái tóc cô đẹp quá, thật là suối tóc. Đặt tên bản nhạc là Suối tóc nhé!”. Ca khúc Suối Tóc ra đời từ buổi đó. Ban tam ca với các ca sĩ Châu Hà, Mộc Lan, Kim Tước trong ban Tiếng Tơ Đồng một thời nổi tiếng ở Sài Gòn, nay chỉ còn ca sĩ Kim Tước ở Quận Cam (Tôi rất thích ca khúc Cát Biển của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ban tam ca nầy, sau nầy có ban tam ca Kim Tước, Quỳnh Dao, Mai Hương ở Little Saigon, ngoài ra không thể nào có ban tam ca nữ nào như vậy).
Nhà thơ Đinh Hùng trong bài Mái Tóc Viễn Phương:
“Xa trời, lưu lạc hồn quê
Có phai, xin để ngày về hãy phai
Viễn phương mái tóc bay dài
Nghiêng vai sương lạnh, thương hoài vầng trăng”.
Và cuối cùng “Tóc em xõa xuống đôi bờ vai nhỏ. Dòng thác nào cuộn chảy giữa lòng tôi” (Cây Điệp Vàng, nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện, thơ: Nguyễn Thái Dương). Rồi “Một ngày nào đó tóc xanh xưa bạc màu” (Bản Tình Cuối của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên). Đến khi đó thì “Tình cờ đất khách gặp nhau. Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được?” (Tình Già của nhà thơ Phan Khôi). “Thôi em xanh mắt bồ câu. Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau” (Kiếp Sau của nhà thơ Cung Trầm Tưởng).
Vương Trùng Dương, Little Saigon, Valentine’s Day
-
Happy Valentine’s Day

Hôm Nay, Happy Valentine’s Day! Lời Chúc Lễ Tình Yêu 2025!
Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết:
“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều.
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,.
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu!”
Không ai định nghĩa được Tình Yêu cả! Thậm chí là không biết có thật hay không? Vì không ai thấy, không ai rờ, không ái nếm được cả! mơ hồ như thế, vậy mà thế giới vẫn dành một ngày đặc biệt, hôm nay! mừng cho thứ tình cảm này, mà mọi người đều công nhận, nó là thứ tình cảm êm ái, ngọt ngào, cần thiết nhất trong đời sống!
Hôm nay, Thứ Sáu, ngày 14 tháng 2, là Ngày Lễ Tình Yêu! Happy Valentine’s Day! Đây là một trong những ngày Lễ mà giới trẻ Mỹ yêu thích nhất, vì ý nghĩa của nó! Giờ thì đã lan ra khắp thế giới!
Tình Yêu, là món quà quý báu nhất, mà Thượng Đế ban cho con người. Nơi nào có tình yêu, nơi đó có an bình, hạnh phúc. Ngược lại, hận thù, chỉ gây chết chóc, chiến tranh!
Cuộc đời, tình yêu, cần như hơi thở. Chính vì thế mới có câu: “Người không có tình yêu, khác gì…xác chết! mà…biết thở!”
Nhân ngày Lễ Tình Nhân, xin gởi lời chúc tốt đẹp nhất, ngọt ngào, hạnh phúc nhất, cho những cặp tình nhân đang yêu nhau. Nhưng đây chỉ là nghĩa hẹp, mở rộng hơn, là tình yêu thương giữa con người và con người, tình cảm cao quý này, mang lại niềm vui hạnh phúc, an bình cho cuộc sống. Cần thiết nhất trong thời điểm hiện tại, vì bất cứ lúc nào, thế giới cũng có thể bùng nổ chiến tranh. Chỉ vì con người, vẫn còn thiếu chất tình yêu thương nhau. Ý nghĩa này, mới là cốt lõi, thông điệp của ngày lễ!


Chúc Mừng Ngày Lễ Tình Yêu 2025!
Lê V Hải
Dù Trời Mưa Như Trút Nước, Nhóm Mõ Nhân Ái, Vẫn Tưng Bừng Ăn Mừng Ngày Valentine Với Khách Không Nhà! (Homeless!)
-Sáng hôm qua, Thứ Năm, ngày 13 tháng 2/2025, Nhóm Mõ Nhân Ái (Lê văn Hải, San Jose, CA) đã có một sinh hoạt đặc biệt Mừng Ngày Lễ Tình Nhân, với những mảnh đời khốn khổ không nhà, trong bữa cơm nóng phục vụ hàng tuần. Trước đó trời mưa, nhưng giờ sinh hoạt, lạ lùng, thì lại tạnh!
Khách Không Nhà vui mừng khi được tặng quà, đó là 2 bao lì xì trong có chút tiền mặt. Một bà vui mừng ôm lấy anh trưởng nhóm tâm sự: “chồng con tôi, cũng quên ngày này, mà Nhóm lại nhớ! Điều này, làm tôi cảm động quá! cám ơn!”
Đây là mục đích hoạt động của Nhóm, đưa các không khí ngày lễ đến với họ, như một món quà tinh thần an ủi, những mảnh đời bơ vơ, không một người thân bên cạnh. Mà Nhóm đã bền bỉ thực hiện biết bao nhiêu năm nay. (trên 30 năm!) Sau đây là một vài hình ảnh:








Hình Ảnh Rộn Ràng, Tưng Bừng Mừng Valentine Trên Khắp Thế Giới!

– Ngày Valentine giờ đây không còn là nét văn hóa riêng của phương Tây. Ở khắp nơi trên thế giới, các bạn trẻ khắp các quốc gia, chào đón lễ tình yêu theo cách riêng của mình.

Hàng trăm cặp đôi ở Đài Loan đã tham gia cuộc thi hôn tại Đài Bắc nhân kỷ niệm ngày Valentine. Cặp đôi nào hôn lâu nhất sẽ nhận được một phần thưởng là cặp vé du lịch sang Hong Kong.

Không khí ngày lễ tình yêu tràn ngập mọi góc phố của thủ đô Baghdad, Iraq.

Một cặp đôi trẻ người Iran đang chọn những món quà nhân dịp Valentine.

Tham gia cuộc thi hôn cũng là cách các cặp đôi trẻ ở Thượng Hải, Trung Quốc chọn để kỷ niệm ngày lễ tình nhân.

Bóng bay hình trái tim được bày bán khắp nơi trên các đường phố ở Lahore, Pakistan.

Cuộc thi hôn tại Pattaya, Thái Lan

Chiếc giày làm bằng chocolate cao 2m và dài 3m được trưng bày ở thủ đô Seoul, Hàn Quốc nhân dịp lễ tình nhân năm nay

Một cửa hàng bán quà tặng Valentine tại Libăng

Lễ cưới tập thể được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan đúng vào ngày 14-2

Một công nhân tại Straelen, Đức nâng những giỏ hoa hồng chuẩn bị cho lễ tình nhân

Những lời yêu thương ngọt ngào như True love (Tình yêu thật sự), Kiss me (Hôn tôi đi), hay I’m yours (Em là của anh)… được in trên bóng bay bán tại đường phố Seoul, Hàn Quốc

Vườn thú ở Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã quyết định tổ chức lễ cưới cho Chunzi, một con hươu cái, và Changmao, một con cừu đực, đúng vào dịp Valentine
Nhân Lễ Tình Nhân, giới thiệu những mẫu truyện ngắn hay về tình yêu, rung động trái Tim!
Tờ tiền 100 USD
Trong một lễ cưới, người dẫn chương trình của lễ cưới lấy ra một tờ tiền, 100 đô la, hỏi tất cả những người trong hội trường rằng ai cần xin hãy giơ tay: “Nếu ai muốn xin hãy giơ tay”.
Cuối cùng cũng có người giơ tay, sau đó càng ngày càng có nhiều người giơ tay.
Người dẫn chương trình liền đổi tờ tiền lúc nãy thành tờ tiền cũ, những người giơ tay liền ít đi rất nhiều.
Người dẫn chương trình vừa cười vừa đổi lấy một tờ khác nhăn nheo cũ kỹ hơn, trong hội trường chỉ còn lác đác mấy người giơ tay.
Người dẫn chương trình mời một vị thanh niên lên sân khấu, và đưa tờ tiền cho anh ta, nói rằng:“ Tại vì anh giơ tay từ đầu đến cuối”, mọi người trong hội trường liền cười lớn. Người dẫn chương trình nói với cậu thanh niên: “Tôi đổi cho cậu tờ mới này lấy tờ cũ được không?”,
Cậu thanh niên nói: “Không cần đâu ạ, cũ mới đều giống nhau”.
Người dẫn chương trình gật đầu và mời cô dâu và chú rể đi lên sân khấu, anh nói: “Nhan sắc có đẹp thế nào đi nữa, rồi cũng sẽ có ngày già đi. Một cuộc tình lãng mạn thế nào đi nữa, rồi cũng thuận theo cuộc sống mà thay đổi. Giống như tờ tiền tôi cầm trên tay, cũng theo thời gian mà trở nên cũ kỹ nhăn nheo, giống như cậu thanh niên vừa rồi nói, cũ và mới thì giá trị của nó không vì những nếp nhăn trên bề mặt mà thay đổi. Có phải vậy không?”.
Cô dâu chú rể nhìn nhau gật đầu. Mọi người ở hội trường vỗ tay hồi lâu chúc mừng.
Chúng ta đôi khi có thể quên đi giá trị và ý nghĩa thực sự của tình yêu, đừng để đến lúc già liền quên đi lời thề hôm nay rằng sẽ yêu nhau trọn đời, đầu bạc răng long. Đừng để đến khi mất rồi mới biết trân trọng! Mà hãy trân trọng những gì bạn đang có hiện tại.
Tình yêu là không thể chờ đợi
Có một chàng trai thầm yêu cô gái chung lớp đã lâu, nhưng không dám bày tỏ. Chàng trai nhờ bạn bè và họ gợi ý chàng nên mua hoa và xếp thành hình trái tim trước sân trường và chờ cô gái đi học về rồi tỏ tình.
Chàng đã mua rất nhiều hoa hồng và làm theo gợi ý của bạn mình, nhưng sau khi xếp xong chàng trai lại quá nhút nhát, khi người yêu đi qua, không dám gọi tên người mình yêu. Những sinh viên tò mò đứng xem chật kín hành lang của trường đại học. Cuối cùng để phá đi không gian tò mò ngày một đông kia, chàng trai bèn đổi giọng nói: “Có ai mua hoa không?”.
Lỡ một lời tỏ tình có khi lỡ nhau cả đời! cô gái ấy lẽ ra là của chàng trai rồi, nhưng cuối cùng lại chỉ lướt qua nhau như người xa lạ mà thôi. Vì thế hãy nắm chặt lấy tình yêu của mình khi nó đến. Đừng để vuột mất cơ hội mà tiếc nuối cả đời bạn nhé. Biết bao nhiêu cuộc tình vuột mất, chỉ vì không dám nói!
Lễ Valentine Này, Hãy Quan Sát Những Gì Mà Mọi Hình Thức Tình Yêu Mang Lại Cho Đời Sống Mình
-Ngày lễ Tình nhân dành cho những người yêu nhau – nhưng bạn không cần một người bạn tâm giao lãng mạn để ăn mừng.
Ngày lễ là cơ hội để xem xét mọi hình thức tình yêu phong phú, đa dạng và có lợi như thế nào trong trải nghiệm của con người, cho dù tình yêu đó đến từ gia đình, bạn bè, thú cưng, hàng xóm hay cộng đồng của bạn.
Ba chuyên gia đã chia sẻ cách nuôi dưỡng tình yêu dưới mọi hình thức khi cô đơn là một “đại dịch”, chính trị gây chia rẽ và việc chuyển sang kỹ thuật thường dễ dàng hơn trong các tương tác xã hội ngoài đời thực.
Bạn Cần Nhiều Hơn Là Chỉ “Tình Yêu ấy” của Cuộc Đời Mình
Tình yêu lãng mạn – mối quan hệ sâu sắc, thân mật với một người hoặc nhiều người khác – là một phần giá trị của cuộc sống. Nhưng các chuyên gia cho biết chúng ta nên nhớ rằng chúng ta cần có nhiều nguồn kết nối.
“Đặc biệt là khi chúng ta già đi, chúng ta nhận ra rằng không có mối quan hệ nào có thể cung cấp cho chúng ta mọi thứ”, bà Mikaela Frissell, một nhân viên xã hội của UT Health Austin nói.
Tình yêu cũng không phải là thứ có thể dễ dàng được xác định bằng một định nghĩa hoặc hành vi duy nhất.
Theo nhà dịch tễ học Tyler VanderWeele, người chỉ đạo Chương trình Phát triển Con người của Đại học Harvard,nói. Là một động từ, tình yêu có hai tác dụng. Nó có thể là cả hai hoặc “hợp nhất” – nghĩa là bạn mong muốn và muốn ở bên người hoặc vật mà bạn yêu – hoặc “góp phần”, nghĩa là bạn muốn đóng góp thêm vào điều tốt đẹp của người mình yêu.
Các chuyên gia cũng cho biết một định nghĩa và quan điểm mở rộng về tình yêu mở ra khả năng bạn có thể hướng những cảm xúc “thống nhất” và “góp phần” này đến ai và đến điều gì.
Mối Liên Hệ Giữa Tình Yêu, Sự Cô Đơn và Sức Khỏe
Vào năm 2023, nguyên Tổng Y sĩ Hoa Kỳ Vivek Murthy đã tuyên bố sự cô đơn là một đại dịch sức khỏe cộng đồng.
Phúc trình của ông Murthy cho biết một nửa người Mỹ đã từng trải qua sự cô đơn và nó gây ra những rủi ro sức khỏe chết người như hút 15 điếu thuốc mỗi ngày. Nghiên cứu cũng phát giác ra rằng những người có mối quan hệ xã hội kém có nguy cơ đột quỵ và bệnh tim cao hơn, và sự cô lập làm tăng nguy cơ mắc chứng trầm cảm, lo âu và chứng mất trí nhớ của một người.
Bà Frissell nói, các mối quan hệ xã hội, sự gắn kết và hỗ trợ mạnh mẽ của tình yêu có liên quan đến sức khỏe tốt hơn, vì nó cho phép não bộ báo hiệu với cơ thể rằng bạn an toàn và đưa hệ thần kinh của bạn ra khỏi trạng thái “chiến đấu hoặc bỏ chạy”. Nghiên cứu cho thấy việc ở bên những người thân yêu có thể làm giảm huyết áp, hormone gây căng thẳng, giảm viêm – thậm chí giúp bạn ngủ ngon hơn và kiểm soát cơn đau tốt hơn.
Nghiên cứu về sự Phát triển của Người lớn của Harvard đang diễn ra, là nền tảng của cuốn sách “The Good Life”, đã chỉ ra giá trị của các mối quan hệ trong suốt cuộc đời.
Ông Anthony Chambers, một nhà tâm lý học và là Giám đốc học thuật tại Viện Gia đình thuộc Đại học Northwestern, cho biết một trong những phát giác của nghiên cứu Harvard là những người hạnh phúc nhất trong các mối quan hệ của họ ở tuổi 50 là những người khỏe mạnh nhất về mặt tinh thần và thể chất ở tuổi 80.
“Kết luận là gì? Xây dựng các mối quan hệ có ý nghĩa và thỏa mãn là chìa khóa cho sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta”, ông Chambers, người đã làm việc về nghiên cứu này vào giai đoạn đầu sự nghiệp của mình, nói.
Làm Thế Nào Tôi Có Thể Nuôi Dưỡng Tình Yêu?
Các chuyên gia cho biết, nói một cách đơn giản, hãy cố ý tìm kiếm các mối quan hệ trực tiếp.
Điều không đơn giản là lên kế hoạch cho mọi thứ với người khác. Có thể bạn sẽ thấy không thoải mái khi phải lướt qua lịch để tìm một cuộc hẹn ăn tối với một người bạn bận rộn hoặc gọi điện thoại cho anh chị em của mình, những người không có nhiều điều để nói. Có lẽ sẽ rất ngại khi bắt chuyện với người hàng xóm lớn tuổi mà bạn chưa từng gặp hoặc tham gia một đội bóng.
Bà Frissell cho biết hãy thừa nhận và thẩm vấn những nỗi sợ hãi hoặc giả định khiến bạn không thể tiếp cận trong những khoảnh khắc đó.
Cũng có thể làm những điều tốt đẹp cho người khác – ngay cả khi bạn không biết rõ về họ. Bà Frissell thách thức khách hàng khen ngợi ai đó mỗi ngày và sẵn sàng chấp nhận lời khen đáp lại. Bà cho biết lợi ích của việc nhận và trao tình yêu là như nhau.
Ông VanderWeele khuyên bạn nên thực hiện một bài tập mà ông thực hành: Chọn một ngày trong tuần, trong sáu tuần, để thực hiện năm hành động tử tế. Ông cho biết, điều này buộc bạn phải lên kế hoạch và ưu tiên lòng tốt một cách có chủ đích, giống như bất kỳ nhiệm vụ hàng ngày nào khác.
Tình Yêu Có Thể Xây Dựng Khả Năng Phục Hồi
Vào Ngày lễ Tình nhân năm nay, các chuyên gia khuyến khích bạn suy nghĩ vượt ra ngoài các mối quan hệ một-một và suy ngẫm về cộng đồng và thế giới của bạn. Họ nói thêm rằng việc cam kết với một mục đích hoặc nhóm sẽ xây dựng khả năng phục hồi về mặt tinh thần.
“Tất cả chúng ta đều muốn được hiểu và xác nhận, đặc biệt là trong những thời điểm khó khăn. Và các mối quan hệ được cho là bối cảnh quan trọng nhất để chữa lành cảm xúc”, ông Chambers nói. “Khi thế giới xung quanh chúng ta có vẻ hỗn loạn hoặc chúng ta cảm thấy cô đơn, các mối quan hệ mang đến cho chúng ta cơ hội để cảm thấy được xác nhận”.
Ông VanderWeele cũng cho biết điều quan trọng là phải “yêu kẻ thù” – những người mà chúng ta không đồng tình hoặc phản đối chúng ta.
Ông nói: “Mức độ chúng ta yêu thương người khác, yêu thương hàng xóm của mình sẽ định hình nên xã hội mà chúng ta đang sống”.
Món Quà Valentine Cuối Cùng
Trời tháng Hai vẫn mang cái lạnh khe khẽ, như một lời nhắc nhở về những ngày Lễ Tình Nhân đã qua. Ngồi bên cửa sổ, nhìn những cặp đôi dắt nhau trên đường, tôi không thể ngăn được cảm giác nhớ thương người đã xa.
Ngày 14/2/1985, đúng 40 năm trước, tôi có ca trực làm AOD (Administrative Officer of the Day) từ 4 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau tại bệnh viện quân đội Hoa Kỳ, Moncrief Army Medical Activity (MAMA), Fort Jackson, SC. Khi ấy, tôi đã gia nhập ngành Y của Lục quân Hoa Kỳ được 5 năm và mang cấp bậc Đại úy. MAMA cũng là nhiệm sở đầu tiên của tôi sau khi hoàn thành khóa huấn luyện quân sự và khóa Thực tập Dinh dưỡng gần hai năm.
Hôm đó, tôi tranh thủ hoàn thành công việc sớm hơn thường lệ và xin phép về nhà lúc 2:00 chiều để có thể trở lại bệnh viện nhận ca trực AOD lúc 4:00 chiều. Nhà tôi nằm trong khu cư xá sĩ quan, cách bệnh viện chỉ một dặm, nên tôi nhanh chóng về nhà chăm sóc mẹ chồng đang bị cảm (mẹ chồng tôi bị bệnh tiểu đường, áp huyết cao, bệnh tim và bệnh thận), giúp bà uống thuốc và tiêm insulin. Sau đó, tôi nấu sẵn bữa cơm chiều cho bố mẹ chồng và chồng con, rồi vội vã trở lại bệnh viện nhận ca trực trước khi chồng và con tôi đi làm và đi học về.
Đêm hôm đó, tôi rất bận rộn với trách nhiệm AOD. Ngoài những công việc thường trực, tôi còn lo thủ tục hành chính cho một binh sĩ tự tử bằng thuốc độc cần cấp cứu và hai bệnh nhân qua đời. Mãi đến gần 11 giờ đêm, tôi mới có cơ hội trở về phòng trực để nghỉ ngơi, người mệt nhoài và bụng đói meo vì từ trưa đến giờ chưa được ăn gì. Khi mở cửa phòng, tôi sững sờ ngạc nhiên khi thấy chồng tôi đã ngồi đó từ bao giờ. Bên cạnh anh là một lọ hoa với 12 đóa hồng nhung đỏ thắm, một hộp kẹo chocolate và bữa cơm chiều tôi đã nấu sẵn ở nhà. Anh đứng dậy, dịu dàng ôm tôi vào lòng, nhẹ nhàng hôn tôi và nói: “Happy Valentine vợ yêu của anh, chắc em mệt lắm. Anh đã mang hoa và cơm tối đến cho em đây. Anh đã đợi em từ lúc 7:00 tối để mình cùng ăn cơm với nhau…”
Tôi ngồi ăn cơm với chàng mà nước mắt cứ ứa ra vì lòng cảm động nghẹn ngào và hạnh phúc. Chúng tôi đã lấy nhau được 16 năm, có với nhau ba con 11, 13 và 15 tuổi, đã định cư ở Mỹ được 10 năm sau ngày miền Nam Việt Nam bị mất vào tay Cộng sản. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhận được hoa hồng trong ngày Lễ Tình Nhân từ chàng. Tôi biết không phải vì anh không yêu tôi – trái lại anh thương yêu tôi tha thiết – mà vì phong tục Việt Nam không có ngày lễ này, anh luôn cho rằng lòng yêu thương chân thành từ trái tim mới là điều đáng quý. Tôi cũng đã quen tính anh, không vì điều này mà buồn giận, cũng không mong nhận hoa hồng vào ngày Valentine.
Nhưng tôi nào ngờ đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh tặng hoa hồng cho tôi vào ngày Lễ Tình Nhân. Chỉ vài tháng sau đó, định mệnh cướp anh ra khỏi đời tôi vào ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ 4/7/1985, khi anh cố gắng cứu bốn đứa bé (trong đó có con gái út của tôi) bị sóng ngầm cuốn xa trong lần picnic cùng bạn bè bên bờ biển Folly Beach, Charleston, SC.
Sau khi chàng mất đi, trong ngày Lễ Tình Nhân năm sau, tôi đã mua 12 đóa hồng nhung đặt trên bàn thờ và mộ chàng. Đêm ấy, lần đầu tiên chàng hiện về trong giấc mơ…
CHIÊM BAO
Trong giấc mơ anh trở về mờ ảo
Dáng anh gầy tóc rối mắt hư hao
Anh nhìn em không nói một lời nào
Và cứ thế anh dần dần tan biến…Trong khói sương dáng anh mờ ẩn hiện
Em nghẹn ngào níu kéo bóng hình anh
Một tí thôi tí nữa đừng đi nhanh
Xin anh đó xin anh đừng đi vội….Anh mờ dần tia mắt anh bối rối
Lẫn ngậm ngùi chua xót và yêu thương
Anh đi rồi em ôm lấy mùi hương
Đừng tan mất xin hương đừng tan mất…
phamphanlang

Valentine’s Day & Những Tình Khúc
Ngày Lễ Tình Yêu – Valentine’s Day đã có từ lâu và trở thành ngày truyền thống được tổ chức khắp nơi trên thế giới vào ngày 14/2 hàng năm. Vào dịp nầy thường tặng cho nhau hoa hồng và chocolate. Hoa hồng biểu tượng cho tình yêu… Phương Tây, chocolate món quà tặng truyền thống cho ngày Valentine kể từ năm 1902. Chocolate được sử dụng rộng rãi trong các lễ đính hôn, tiệc cưới. Những hộp quà trang trí đẹp mắt, bên trong là viên socola nhiều hình dáng xinh xắn mang hình ảnh tấm chân tình của người gửi đến với người nhận. Năm nay vào Thứ Sáu, 14/2/2025, Little Saigon vào ngày mưa “Ðưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa. Ðưa em về dưới mưa, có nhau mà như xa…” (Phạm Duy). Hình ảnh thật lãng mạn, dễ thương nhưng sao lại trớt quớt!
Với những ca khúc tiêu biểu được các danh ca (-) trình diễn nổi tiếng khắp nơi và rất quen thuộc:
My Funny Valentine – Frank Sinatra
My Heart Will Go On – Celine Dion
I Will Always Love You – Whitney Houston
Unchained Melody – Righteous Brothers
Nothing’s Gonna Change My Love For You – George Benson
And I Love Her – The Beatles
Still Loving You – Scopricon
Tonight I Celebrate My Love For You – Roberta Flack & Peabo Bryson
I Just Called To Say I Love You – Stevie Wonder
Can’t Take My Eyes Off You – Frankie Valli
My Love – Westlife (thường hát trong đám cưới)
Everything I Do (I Do It For You) – Bryan Adams
My Love – Westlife (thường hát trong đám cưới)
Nothing Gonna Change My Love For You – Glenn Medeiros
Love Me Like You Do – Ellie Goulding
All of Me – John Legend (album Love In The Future)
Ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 có nhiều ca khúc trữ tình, lãng mạn trong tình yêu.
Vương Trùng Dương
Một Chuyện Tình Thời Chinh Chiến
-
Năm Thìn Nói Chuyện Rắn Trong Tác Phẩm Kim Dung
Vương Trùng Dương

Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.
Theo truyền thuyết phương Đông, Trung Hoa từ thời cổ đại cho rằng thần Nữ Oa đầu người thân con rắn là vị thần sáng thế, có quyền uy tối thượng, đội đá vá trời khi bầu trời rách toang, đất đai rung chuyển, núi rừng bốc cháy, nước ngập mênh mông, loài người hốt hoảng kéo nhau chạy trốn. Thần Nữ Oa luyện hơn ba mươi sáu nghìn viên đá ngũ sắc lấp lại bầu trời cho loài người cư ngụ.
Theo bài viết của BS Nguyễn Xuân Quang cho rằng Nữ Oa cũng không phải là người Tàu, Nữ Oa khi chết biến thành chim Tinh Vệ đội đá vá trời, tha đá lấp biển đông. Tương truyền rằng con gái vua Viêm Ðế ngày xưa vượt biển chết chìm, hóa ra chim Tinh Vệ, ngậm đá ở núi Tây về lấp biển Ðông… Tinh Vệ là con gái vua Viêm Ðế mà Viêm Ðế là tên hiệu của Thần Nông. Nữ Oa Tinh Vệ là con của Mẹ Trứng Nước Thần Nông Viêm Ðế. Như thế rõ như hai năm là mười Nữ Oa không phải là người Trung Hoa.
Thần thoại Việt Nam, Thần Nam Thần Nữ là hai vị thần đầu tiên sinh ra con người. Thần Nam tên là ông khổng lồ Tứ Tượng và Thần Nữ là bà Nữ Oa. Theo truyện này thì bà Nữ Oa có chồng là ông Tứ Tượng. Ông này ngỏ ý muốn lấy Nữ Oa. Bà Nữ Oa thách ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông đắp cao hơn bà sẽ lấy làm chồng. Kết quả ông Tứ Tượng đắp núi thua bà. Nữ Oa đắp một ngọn núi cao ngất trời, đứng trên đó có thể thấy khắp cõi trời đất. Dấu tích còn lại của ngọn núi cao của bà Nữ Oa đắp, dân gian cho là núi Nam giới ở Hà Tĩnh ngày nay. Ông Tứ Tượng đắp núi thua nhưng kiên gan trì chí đeo đuổi mãi, cuối cùng bà Nữ Oa cũng xiêu lòng lấy ông làm chồng.
Như thế rõ ràng theo thần thoại Việt Nam thì Nữ Oa là vị Thần Nữ đầu tiên. Và ta cũng thấy thần Nam thua tài thua sức Thần Nữ Nữ Oa. Nữ Oa chính vị Thần Nữ đầu tiên sinh ra loài người, trong đó chính yếu là Hừng Việt đúng như truyền thuyết Việt Nam.
Trong võ học cổ truyền, rắn là một trong những loài động vật tiêu biểu được các võ sư ngày xưa tìm hiểu, quan sát để hình thành các bí quyết võ công với tên gọi Xà Quyền. Xà Quyền có các bài múa: Rắn thần luyện trăng (xà thần luyện nguyệt), rắn vàng từ đất nhô lên (kim xà lục khởi), rắn quật động trời (xà phiên thiên chân), rắn trắng phun bọt (bạch xà phẫn mạt), rắn lăng lướt sương (xà đằng tẩu lộ), rắn sừng quẫy đuôi (giác xà ứng vĩ)… vừa nhu vừa cương với nhiều thế võ bí hiểm. Về kiếm pháp có xà hành đao, xà hành kiếm.
Môn võ nầy xuất xứ từ Trung Hoa và sau đó truyền sang Việt Nam cũng như các môn Long Quyền (Võ Rồng), Hổ Quyền (Võ Hổ), Hầu Quyền (Võ Khỉ), Hầu Quyền (Võ Khỉ), Hạc Quyền (Võ Hạc), Kê Quyền (Võ Gà)…
Các thế Xà Quyền với nhiều bộ thế linh động, bài võ liên hoàn, thủ và công linh hoạt khi chiến đấu sắc bén làm cho đối phương trở tay không kịp.
Nhà văn Kim Dung dựa vào môn võ nầy đã sáng tạo ra các nhân vật và võ công cái thế trong chốn võ lâm.
Năm 1955, ông bắt đầu viết tiểu thuyết võ hiệp. Bộ truyện đầu tay của ông là Thư Kiếm Ân Cừu Lục. Năm 1956, ông bộ thứ hai là Bích Huyết Kiếm. Năm 1957, bộ truyện thứ ba là Tuyết Sơn Phi Hồ và sau đó là Xạ Điêu Tam Bộ Khúc (gồm 3 bộ Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký, 1961). Năm 1963 với Thiên Long Bát Bộ gồm Lục Mạnh Thần Kiếm. Năm 1967 với Tiếu Ngạo Giang Hồ và năm 1969 với Lộc Đỉnh Ký. Toàn bộ tác phẩm của Kim Dung được tóm gọn thành hai câu đối:“Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc. Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên” (Phi Hồ Ngoại Truyện – Tuyết Sơn Phi Hồ – Liên Thành Quyết – Thiên Long Bát Bộ – Xạ Điêu Anh Hùng – Bạch Mã Khiếu Tây Phong – Lộc Đỉnh Ký – Tiếu Ngạo Giang Hồ – Thư Kiếm An Cừu Lục – Thần Điêu Hiệp Lữ – Ỷ Thiên Đồ Long – Bích Huyết Kiếm – Uyên Ưng Đao).
Trong các tác phẩm nầy, trích dẫn vài nhân vạt điển hình đã gây sóng gió trong chốn võ lâm.
* Bích Huyết Kiếm & Kim Xà Lang Quân

Vào cuối thời nhà Minh Viên Sùng Hoán bị cáo buộc thông đồng với ngoại phiên và bị hoàng đế Sùng Trinh xử tử. Con trai Viên Sùng Hoán là Viên Thừa Chí nhờ may mắn được đưa lên núi Hoa Sơn, được Mục Nhân Thanh và Mộc Tang đạo nhân truyền thụ võ nghệ. Trên núi Hoa Sơn, Viên Thừa Chí tình cờ phát hiện ra Kim Xà Kiếm và Kim Xà Bí Kíp – di vật của Hạ Tuyết Nghi và học được kiếm thuật vô địch – nổi danh với tên gọi Kim Xà Lang Quân.
Kim Xà Kiếm có nguồn gốc từ Ngũ Độc Giáo, thanh kiếm này khác với những thanh kiếm ở Trung Nguyên, nó không thẳng mà uốn lượn như hình con rắn, mỗi khi xuất chiêu vận nội công, thanh kiếm sẽ chuyển sắc vàng, đồng thời đầu kiếm tỏe ra như lưỡi rắn.
Với nọc độc của các loài động vật rất nhiều, nguy hiểm nhất như: bọ cạp, nhện phễu, rết, cóc… nhất là rắn, khoảng 450 loài rắn có nọc độc. Nọc rắn được tạo ra bởi các tuyến nước bọt hàm dưới chứa nhiều loại độc tố rất nguy hiểm.
Ngũ Độc Giáo nguồn gốc từ Tây Vực là tà phái với hai bí kíp võ công xuất hiện trong ba tiểu thuyết Tiếu Ngạo Giang Hồ, Bích Huyết KiếmvàLộc Đỉnh Ký. Ngũ Độc Giáo nổi tiếng với khả năng dùng độc cũng như các võ công có liên quan đến độc dược. Hà Thiết Thủ, giáo chủ Ngũ Độc Giáo, trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, chưởng môn nhân của Ngũ Độc Giáo là Lam Phượng Hoàng.
Ngũ Độc Giáo cho người trong giang hồ không tên thật của giáo phái này mà là Ngũ Tiên Giáo. Ngũ Độc Giáo có trụ sở tại vùng Miêu Cương, tỉnh Vân Nam và sau đó dưới trướng Nhật Nguyệt Thần Giáo.
Môn võ công trứ danh và lợi hại nhất của Ngũ Độc Giáo là Ngũ Thánh Tam Bảo. Ngũ thánh gồm rắn, rết, bọ cạp, nhện và cóc. Nếu phối hợp với các loại cỏ cây hoa lá lạ thì sẽ tạo ra loại rượu ngũ bảo hoa mật tửu, khi bị đầu độc thì hết thuốc chữa. Ngũ Độc Giáo có ba món bảo vật là Kim Xà Kiếm, Kim Xà Chùy và Tàng Bảo Đồ. Về sau 3 món bảo vật bị Hạ Tuyết Nghi dụ dỗ Hà Hồng Dược – công chúa của Ngũ Độc Giáo lấy cắp.
Từ đó Ngũ Độc Giáo có môn quy kỳ lạ nhất, theo đó, Ngũ Độc Giáo chỉ truyền chức giáo chủ cho nữ. Ngày lên ngôi, giáo chủ phải chặt bỏ một tay sau đó lắp tay giả bằng móc sắt. Bàn tay này vừa có dụng ý nhắc nhở các giáo chủ câu chuyện năm xưa của Hà Hồng Dược, vừa có tác dụng giúp luyện độc. Trên cánh tay giả được tẩm thêm nhiều loại độc dược mà không ai có thuốc giải.
Cả gia đình Hạ Tuyết Nghi bị Ôn Lão Lục của phái Ôn Gia giết hại. Hạ Tuyết Nghi may mắn sống sót trốn thoát và xâm nhập vào Ngũ Độc Giáo luyện tập bảo vật trấn bang của Ngũ Độc Giáo, nguồn gốc từ Tây Vực.
Kim Xà Kiếm hình dạng rất khác biệt. Lưỡi kiếm không thẳng mà uốn lượn như hình con rắn. Mỗi khi xuất chiêu vận nội công, thanh kiếm sẽ chuyển sắc vàng, lưỡi kiếm từ một tách ra làm đôi, hệt như hình lưỡi rắn. Kim Xà Kiếm có sát khí rất nặng, chém sắt như chém bùn. Bị kiếm này đâm, chất độc xâm nhập toàn thân tê liệt.
Hạ Tuyết Nghi nhờ thanh kiếm nầy đánh đâu thắng đó, nhưng cuối cùng bị Ôn Gia Phái hạ độc rồi vây khốn trong Ngũ hành trận. Mang mối thù không đội trời chung với Ôn Gia, Hạ Tuyết Nghi giết 50 người và làm nhục 10 phụ nữ khác trong gia đình họ Ôn. Tuy nhiên, sau khi bắt cóc được Ôn Nghi, ông bị vẻ đẹp bên trong của nàng cảm hóa. Tuy Hạ Tuyết Nghi võ nghệ cao thâm, nhiều lần bất phân thắng bại với Ôn Gia Ngũ Lão nhưng ông đã bị Ôn Gia Ngũ Lão đầu độc bằng Túy Tiên Mật trong bát canh hạt sen do Ôn Nghi đưa mà không biết có độc bên trong chén canh.
Cuối cùng Hạ Tuyết Nghi bị bắt, bị cắt hết gân tay, gân chân, trở thành phế nhân, trốn trong một hang đá ở Hoa Sơn, dành những ngày cuối đời để mài giũa Kim xà kiếm pháp và phá giải Ngũ hành trận của Ôn Gia nhưng bất thành và ôm hận mà chết trong hang đá, không người chôn cất. Ác lai ác báo.
* Tây Độc Âu Dương Phong

Trong Võ Lâm Ngũ Bá (Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp) xuất hiện 5 nhân vật bá chủ võ lâm là Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, Tây Độc Âu Dương Phong, Bắc Cái Hồng Thất Công, Đông Tà Hoàng Dược Sư và Nam Đế Đoàn Trí Hưng (sau nầy xuất gia là Nhất Đăng đại sư).
Âu Dương Phong là chủ nhân núi Bạch Đà ở Tây Vực, nhân vật độc ác, nhiều mưu mô thủ đoạn, gian trá. Võ công rất cao, thường dùng một cây gậy có thả hai con rắn độc ở đầu làm vũ khí. Ngoài tuyệt kỹ của y là Cáp Mô Công, ông chế ra các loại thuộc độc không ai giải được, ông bị người trong giang hồ gọi là Lão Độc Vật.
Âu Dương Phong người thô kệch, đầu đội khăn xanh như người Hồi, râu quai nón, da đen bóng, mắt to tròn. Sau lần Hoa Sơn luận kiếm thứ nhất, Âu Dương Phong được bầu vào Thiên hạ ngũ tuyệt, danh xưng là Tây Độc. Không có nhân vật nào địch nổi với Tây Độc.
Khi thấy Vương Trùng Dương (giả chết) ốm nặng sắp qua đời, y liền tìm đến nhằm lấy cắp Cửu Âm Chân Kinh, không ngờ Vương Trùng Dương đã chuẩn bị trước, đánh y trọng thương. Âu Dương Phong đành chạy về Tây Vực dưỡng thương suốt mười năm mới tái xuất giang hồ.
Âu Dương Phong và Dương Khang (con của Dương Thiết Tâm và Bao Tích Nhược nhận làm con nuôi) lên Đào Hoa đảo của Đông Tà và giết chết năm người trong nhóm Giang Nam Thất Quái, chỉ để lại một mình Kha Trấn Ác vốn bị mù để đổ tội cho Hoàng Dược Sư. Nhưng mưu kế này sau đó bị Hoàng Dung phát hiện. Tại Miếu Thiết Thương, Hoàng Dung thông qua lời kể của Cô Ngốc đã vạch tội Dương Khang giết Âu Dương Khắc (tuy gọi Âu Dương Phong là chú, nhưng chính là con ruột của Âu Dương Phong trong cuộc tình vụng trộm giữa Tây Độc và chị dâu mình sinh ra). Dương Khang sợ bị lộ chuyện nên định giết người diệt khẩu đánh một chưởng vào người Hoàng Dung, nhưng không ngờ lại trúng độc của Âu Dương Phong dính từ trước trên áo của Hoàng Dung. Âu Dương Phong đã bỏ mặc Dương Khang bị trúng độc chết mà không cứu.
Nói về vũ khí đáng sợ thâm độc nhất của Âu Dương Phong là Xà Nhi với con rắn trong tay gã. Âu Dương Phong đã dày công nghiên cứu hàng chục năm, kết hợp vô số thứ rắn độc nhất thiên hạ vào trong con rắn này khiến độc dược của nó trở nên vô cùng khủng khiếp.
Trúng loại độc này, nếu không được chính Âu Dương Phong giải thì chỉ có chết. Mà chết chưa phải là hết, sự đáng sợ của con Xà Vương này nằm ở chỗ nó biến nạn nhân của nó trở thành một nguồn độc lây bệnh mới. Bất cứ ai chạm vào cái xác đều sẽ bị nhiễm độc và chịu cái chết đau đớn.
Khi lão thổi tiêu thì bầy rắn độc đột nhiên xuất hiện đến tấn công địch thủ vì vậy lão không ngán “nan địch quần hùng”.
Có lần Âu Dương Phong và Chu Bá Thông rời Đào Hoa đảo. Chu Bá Thông thách Âu Dương Phong có thể giết hết cá mập trên biển. Âu Dương sai người bắt một con cá mập ở dưới biển lên, lấy nọc con rắn trên gậy đổ vào miệng, con cá chết ngay lập tức. Sau đó, con cá mập được thả xuống biển, các con cá khác lại ăn xác và cũng chết liền. Lần lượt, con sau ăn xác con trước, thế mà cuối cùng cả vùng biển xác cá mập nổi lên trắng xóa.
Trong lần thâm nhập vào phủ vương gia nước Kim, Quách Tĩnh vô tình uống được máu của con bảo xà mà Lương Tử Ông đã nuôi 20 năm. Sau đó, không chỉ công lực được gia tăng Quách Tĩnh cũng không bị trúng bất kỳ loại độc rắn nào khác trong thiên hạ.
Trên đảo Đào Hoa, Lão Ngoan Đồng (Chu Bá Thông, đệ tử của Vương Trùng Dương) với võ công tuyệt thế Cửu Âm Chân Kinh, Song Thủ Hỗ Bác làm cho Tây Độc ở thế bị động. Tây Độc dỡ thủ đoạn bá đạo cho mãng xà cắn, Lão Ngoan Đồng nhiễm độc toàn thân, Quách Tĩnh giúp ông hút chất độc ra ngoài nên bình an vô sự.
Với dĩ độc trị độc, có vài nhân vật không sợ độc. Ngoài Quách Tĩnh có Du Thản Chi còn có tên gọi khác là Trang Tụ Hiền, xuất hiện trong Thiên Long Bát Bộ. Du Thản Chi si mê A Tử (A Tử, đệ tử của Đinh Xuân Thu). Quá si tình nên gã mê muội cam tâm tình nguyện phục thị A Tử và cho rằng đó là lý tưởng, là mục tiêu, là hoài bão của cuộc đời mình. Du Thản Chi chấp nhận tất cả thủ đoạn tàn độc của A Tử, dù là bị đau đớn, sỉ nhục, hành hạ và hủy hoại thân xác lẫn linh hồn chỉ với tâm niệm được yêu nàng, dù là mối tình câm, chỉ mong được gần nàng.
A Tử cho người đem khuôn sắt nung chảy lên đầu Du Thản Chi, nỗi đau đớn tột cùng thế nhưng, trong cơm đau giày xé, tâm hồn gã vẫn hạnh phục và luôn hướng về A Tử mà không chút hối hận.
A Tử lấy cắp Bích Ngọc Vương Đỉnh trốn về trung thổ mang đỉnh ngọc trong mình, phóng ngựa ra ngoài thành, Du Thản Chi chạy theo. Đến góc rừng vắng vẻ, A Tử xuống ngựa, đốt hương thơm bỏ vào trong đỉnh. Mùi hương quyến gọi loài độc trùng rắn, rết, nhện, bọ cạp… quanh đó kéo đến. Độc trùng theo mùi hương mò vào đỉnh ngọc. A Tử bắt Du Thản Chi thò tay vào đỉnh cho độc trùng hút máu tươi. Khi độc trùng no máu, bụng căng phồng, rời cánh tay Du Thản Chi rơi xuống, A Tử đập chết độc trùng, lấy máu xoa vào hai lòng bàn tay, luyện công.
Trong một đêm bị nọc độc hành hạ khủng khiếp Du Thản Chi lăn lộn, quằn quại trên sàn đá. Tình cờ gã nhìn thấy hình vẽ trong một quyển sách mang theo. Hình vẽ người nằm trong tư thế giống như kiểu gã đang nằm. Trong lục phủ, ngũ tạng của người trong hình vẽ có một đường chỉ đỏ chạy qua những kinh mạch. Du Thản Chi hướng dẫn bằng tâm ý cơn ngứa trong người chàng theo đường chỉ đỏ ấy. Gã cảm thấy cơn ngứa hạ đi, dễ chịu. Từ đó mỗi đêm gã dùng cách đó để hoá giải… Vô tình gã đã học được phép luyện công theo Dịch Cân Kinh. Bí kíp Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm Tự bị đánh cắp, gã mang theo mà không ai biết. Gã vô tình luyện được bí kiếp nầy nên tích tụ một lượng độc tính âm hàn khủng khiếp. A Tử ngạc nhiên khi thấy Du Thản Chi bị loại độc trùng kịch độc như con Hàn Ngọc Băng Tầm cắn mà vẫn không chết.
Với khả năng hộ thể từ Dịch Cân Kinh, Du Thản Chi tiếp tục hấp thụ nhiều loại dị độc khác, đặc biệt là độc từ con Thiên Sơn Băng Tằm. Mọi loại hàn độc đều không có tác dụng với Du Thản Chi. Với tính chí âm chí hàn từ con vật quý hiếm này, nội công của Du Thản Chi gia tăng vượt bậc, thậm chí chưởng pháp âm độc của Tinh Túc lão quái Đinh Xuân Thu cũng không thể xâm nhập cơ thể Du Thản Chi.
Trương Vô Kỵ (con của Trương Thúy Sơn – chính phái và Ân Tố Tố – tà giáo) trong Ỷ Thiên Đồ Long. Khi Triệu Mẫn (Triệu Minh) người Mông Cổ xâm nhập vào Trùng Nguyên gây chấn động giang hồ với Thập Hương Nhuyễn Cân Tán loại chất độc này không màu, không mùi, không vị, cho dù có dùng kim châm cũng không thể phát hiện. Người bị trúng độc thân thể tê liệt, hoàn toàn vô lực, không còn khả năng kháng cự. Loại độc dược này nguy hiểm hơn ở chỗ có thể dễ dàng phát tán trong không khí, pha vào nước uống hoặc đồ ăn, khiến người trúng độc thậm chí không biết lý do tại sao gặp họa và trúng độc lúc nào… chính vì vậy, rất nhiều bậc đại cao thủ võ lâm kinh nghiệm đầy mình, cảnh giác cơ trí hơn người, nhưng khi đối mặt với Thập Hương Nhuyễn Cân Tán của Triệu Mẫn cũng đành bó tay chịu trói, giao phó tính mạng cho nàng.
Triệu Mẫn là người xinh đẹp, thông minh tài trí, mưu mẹo hơn người nhưng cũng không kém phần độc ác. Triệu Mẫn không chỉ bắt nhốt các môn phái, khiến cho võ lâm chao đảo, khiếp sợ và thù ghét, nàng còn suýt nữa là rạch khuôn mặt xinh đẹp của Chu Chỉ Nhược nếu không có Trương Vô Kỵ cứu.
Vô Kỵ bị trúng độc được Thường Ngộ Xuân dẫn đến Hồ Điệp cốc để gặp thần y Hồ Thanh Ngưu chữa hàn độc trong người, nhờ vậy Vô Kỵ đã lĩnh hội toàn bộ y thuật của Hồ Thanh Ngưu và trở thành lang trung giỏi.
Vô Kỵ bị cha con Chu Trường Linh lừa gạt, chàng tình cờ phát hiện ra âm mưu thâm độc này nên bỏ trốn rồi bị kẻ thù truy đuổi trên núi tuyết Côn Luân đã vô tình lạc vào một thung lũng, may mắn bò vào được sơn cốc thông qua một cái hang hẹp, mổ bụng cứu con vượn già và đã học được toàn bộ nội công Cửu Dương Chân Kinh (Cửu Dương Thần Công) nhờ đó đã thành công hóa giải hàn độc của Huyền Minh Thần Chưởng trong người và được miễn nhiễm độc dược.
Khi luyện thành Cửu Dương Chân Kinh có được nội công hùng hậu vào loại bậc nhất trong thiên hạ. Cửu Dương Chân Kinh giúp người luyện hoán gân chuyển cốt, khiến cơ thể bách độc bất xâm. Sau này Vô Kỵ nhờ vào nội lực Cửu Dương Chân Kinh thâm hậu cùng tâm pháp nội công Càn Khôn Đại Na Di nên Vô Kỵ đã học được nhiều tuyệt kỹ võ công thượng thừa, trở thành cao thủ có võ công và nội lực tuyệt đỉnh.
Trong Ỷ Thiên Kiếm Đồ Long Đao, Hân Thù Nhi luyện võ công Thiên Thù Tuyệt Hộ Thủ, lấy nọc độc của loài nhện độc để luyện công. Vì có nọc độc trong máu nên mặt và da thịt Hân Thù Nhi sần sùi, xanh đỏ dễ sợ. Vô Kỵ giải trừ chất độc và chỉ cho nàng cách khác để luyện võ công, Hân Thù Nhi trở lại xinh đẹp
Trong tác phẩm Kim Dung chỉ đề cập đến độc dược trong tà phái sử dụng trong ám khí, đao, kiếm, rượu, phấn… và cả võ công nên thược loại bá đạo, vì vậy trong chính phái không sử dụng đến.
* Dĩ Độc Trị Độc
Trong tác phẩm của Kim Dung có 5 cao thủ vạn độc bất xâm.
Quách Tĩnh
Quách Tĩnh là một trong những tuyệt thế cao thủ xuất hiện chính trong 2 tác phẩm Thần Điêu Đại Hiệp và Thần Điêu Hiệp Lữ. Không chỉ võ công siêu phàm, khả năng kháng độc của Quách Tĩnh cũng ít ai sánh bằng.
Trong lần thâm nhập vào phủ vương gia nước Kim, Quách Tĩnh vô tình uống được máu của con bảo xà mà Lương Tử Ông đã nuôi 20 năm. Sau đó, không chỉ công lực được gia tăng nhiều phần, mà Quách Tĩnh cũng không bị trúng bất kỳ loại độc rắn nào khác trong thiên hạ.
Trên đảo Đào Hoa của Đông Tà Hoàng Dược Sư, Lão Ngoan Đồng bị mãng xà của Âu Dương Phong cắn, Quách Tĩnh đã giúp ông hút chất độc ra ngoài mà vẫn bình an vô sự.
Trương Vô Kỵ
Giáo chủ đời thứ 34 của Minh Giáo trong Ỷ Thiên Đồ Long nhờ cơ duyên luyện được tuyệt thế võ công như Cưu Dương Thần Công, Càn Không Đại Na Di, Thái Cực Thần Công. Đặc biệt, kể từ sau khi luyện được trọn vẹn Cửu Dương Thần Công, khả năng kháng độc của Trương Vô Kỵ càng được gia tăng mạnh mẽ, có khả năng kháng độc.
Vô Kỵ khi bị trúng Huyền Minh thần chưởng của Huyền Minh nhị lão, Trương Vô Kỵ dù được Thái cực tôn sư Trương Tam Phong tìm mọi cách cứu chữa nhưng không thể nào bài trừ được chất độc trong người. Phải đến khi bị rơi xuống vực và vô tình luyện được Cửu Dương Thần Công lấy được trong bụng con bạch hầu, thì hàn độc của Huyền Minh thần chưởng mới tiêu tan.
Du Thản Chi
Trong quyển Thiên Long Bát Bộ, Du Thản Chi còn có tên gọi khác là Trang Tụ Hiền. Sau khi rời khỏi Tụ Hiền Trang và lưu lạc đến nước Liêu, cơ duyên kỳ ngộ đã giúp Du Thản chi luyện thành Dịch Cân Kinh. Với khả năng hộ thể từ Dịch Cân Kinh, Du Thản Chi tiếp tục hấp thụ nhiều loại dị độc khác, đặc biệt là độc từ con Thiên Sơn Băng tằm.
Với tính chí âm chí hàn từ con vật quý hiếm này, nội công của Du Thản Chi gia tăng vượt bậc, thậm chí chưởng pháp âm độc của Tinh Túc lão quái Đinh Xuân Thu cũng không thể xâm nhập cơ thể Du Thản Chi. Du Thản Chi là nhân vật đặc biệt si tình, chấp nhận mọi khổ hình độc ác của A Tử coi như “thú đau thương”!
Viên Thừa Chí
Trong quyển Bích Huyết Kiếm, Viên Thừa Chí nhờ Chu Thiên Bằng Thiềm hút mọi loại độc trong cơ thể. Chu Băng Thiềm sẽ tự động hút chất độc ra ngoài. Ngay cả Hà Thiết Thủ, giáo chủ Ngũ Độc Giáo khi nhìn thấy Băng Thiềm cũng không khỏi ngưỡng mộ.
Đoàn Dự
Trong quyển Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự nhờ cơ duyên may mắn nên học được Bắc Minh Thần Công có thể hút công lực của người khác. Đoàn Dự sau khi vô tình ăn được Mãng Cổ Chu Cáp, một con cóc thần thoại được xưng là Vạn Độc Chi Vương, cơ thể Đoàn Dự cũng tự nhiên trở nên vạn độc bất xâm. Bất kỳ loại độc nào trong thiên hạ, dù có độc tính mạnh mẽ tới đâu cũng hoàn toàn vô dụng với Đoàn Dự.
Trong các tác phẩm của Kim Dung, chính phái không luyện và sử dụng độc dược, chỉ có tà phái nhưng không khống chế võ lâm, đó là hậu ý của ông.
Nhân Năm Thìn, Nói Về Rắn Trong Tác Phẩm Kim Dung chỉ đề cập tổng quát vài nhân vật, môn phái xuất hiện trong chốn võ lâm liên quan đến độc hại của loài rắn.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, 1/2024
-
Vĩnh biệt anh Mạc Vũ Phạm Gia Cổn
Vương Trùng Dương

Bác Sĩ Phạm Gia Cổn qua đời vào sáng Thứ Tư, 30/11/2022 tại bệnh viện MemorialCare Orange Coast Medical Center, Fountain Valley, hưởng thọ 80 tuổi.
BS Phạm Gia Cổn là khuôn mặt rất quen thuộc trong sinh hoạt cộng đồng người Việt ở Little Saigon và hải ngoại. Giáo Sư tại Đại Học UCLA suốt 28 năm từ năm 1982 đến năm 2010. Anh từng là Chủ Tịch Hội Y Sĩ Việt Nam, Nam California. Tại Little Saigon, năm 2006, Bác Sĩ, Võ Sư Phạm Gia Cổn đã phối hợp y khoa và võ thuật, sáng lập ra môn phái Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc. Lớp học miễn phí, trong suốt thời gian qua, có cả ngàn môn sinh (học viên tham dự). Địa điểm 9032 Hazard Ave (Góc Hazard & Magnolia) với 4 buổi sáng trong tuần.
Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc được phổ biến ở Phần Lan, Úc Châu… và các nơi khác như Texas, Florida, San Jose… gọi là Gia Đình Hoàng Hạc TDKC (Thể Dục Khí Công). Đây cũng là dịp Chưởng Môn đi đây đi đó thăm các Gia Đình Hoàng Hạc và phổ biến trong cộng đồng người Việt.
Là con người tài hoa trên nhiều lãnh vực, tính tình điềm đạm, khiêm nhượng nên được mọi người cảm mến. Khi nhận tin BS Phạm Gia Cổn qua đời, mọi người không thể ngờ vì anh vẫn khỏe mạnh và hiện diện trong các buổi sinh hoạt hội đoàn trong tháng 11 vừa qua. Vĩnh biệt anh, ghi lại vài dòng kỷ niệm về nhạc sĩ Mạc Vũ Phạm Gia Cổn.
Năm 2016, anh Phạm Gia Cổn đã thực hiện xong 11 ca khúc do anh sáng tác và nhờ tôi thực hiện bìa của CD.
CD Hẹn Ước – thơ phổ nhạc – Mạc Vũ Phạm Gia Cổn – Hòa Âm: Ngọc Dũng
1.- Đã Một Lần (Cổ Tích Tôi) – Thơ: Định Nguyên – tiếng hát Tâm Thư. 2.- Hẹn Ước – Thơ: Phan Xuân Hiệp – Tâm Thư. 3.- Một Lá Thư – Thơ: Phạm Kim Khôi – Trung Hiếu. 4.- Lệ Hoa – Thơ: Phan Xuân Hiệp – Tâm Thư. 5.- Buổi Chiều, Nhớ – Thơ: Như Thường – Tâm Thư. 6.- Hai Bàn Tay – Thơ: TSN Ngọc Diệp – Quang Châu. 7.- Buổi Sáng – Thơ: Long Ân – Khánh Vy. 8.- Nhớ – Thơ: Sương Mai – Khánh Vy. 9.- Tiễn Anh – Thơ: Trần Đức Tường – Trung Hiếu. 10.- Phương Chờ Em – Thơ: Lan Đàm – Trung Hiếu
11.- Why I Write – Thơ: Amy Hồ – Cẩm Vân
Trong khi đang thực hiện CD, anh đưa cho tôi nghe vài ca khúc để có cảm hứng khi trình bày bìa.
Mời nghe những ca khúc trong CD Hẹn Ước thực hiện trên YouTube:
Trong thời gian anh đến nhà tôi để cùng nhau thực hiện cũng là lúc trò chuyện nhau thật thú vị vì gặp nhau ở quán cà phê đông người chỉ tán gẫu vài mẫu chuyện vui cùng bạn bè. Anh cho biết họ Mạc có sự liên quan đến tổ tiên ở thế kỷ 16 trong cuộc nội chiến Lê-Mạc và khi Trịnh Tùng truy sát họ Mạc đến cùng nên một số thay tên đổi họ ẩn cư. Đó cũng là bí ẩn của giai đoạn bi thương lịch sử.
Với võ sư bát đẳng Hiệp Khí Đạo (Hapkido) nên sức khỏe rất tốt luyện tập saxophone, clarinet. Với những nghệ sĩ saxophone tài danh tuyệt vời Sando Pharoah, Albert Ayler, Dexter Gordon, Charlie Parker, Dizzy Gillespie và Bud Powell… với tiếng kèn và phong cách trình diễn của họ đã mê hoặc niềm đam mê của anh…
Trước đây, Đêm Tưởng Niệm & Vinh Danh cố Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn được tổ chức tại phòng sinh hoạt nhật báo Viễn Đông, TP Westminster, tối Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4, 2005. Sở dĩ Đêm Tưởng Niệm sau ngày giỗ một năm vì gia đình thực hiện tuyển tập nhạc Lê Trọng Nguyễn vừa xong.
Ban nhạc The Star Band (Stars Band), với sự góp mặt của hai thế hệ như các nhạc sĩ: Nguyễn Hiền (accordeon), Trần Trịnh (Electric keyboard), Quang Anh (keyboard), Phạm Gia Cổn (saxophone, clarinet), Lý Văn Quý (lead guitar), Châu Hiệp (guitare), Nguyễn Đức Trịnh (drum), Bách Tùng Trịnh (trumpet), Deanna (trumpet), Tina Huỳnh (flute), Kim Chi (clarinet), Kim Ngân (trombone)… Nhạc sĩ Nguyễn Đức Lưu (violin nhưng về San Diego). Với sự góp mặt của các ca sĩ Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao…


The Star Band rất hạn chế khi đóng góp trong các buổi sinh hoạt văn nghệ. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Trần Trịnh, Phạm Gia Cổn… là những người sáng lập ra ban nhạc nầy.
Ngày 5/5/2005, tôi ra tờ Cali Weekly, tiếp xúc với các nhạc sĩ và viết về ban nhạc nầy. Thời gian đó BS Phạm Gia Cổn còn làm dạy ở UCLA nên cuối tuần mới gặp nhau ở Factory Coffee. Sau khi anh nghỉ hưu, mỗi sáng anh ra quán cà phê gặp anh em và “mở phòng mạch” để tán chuyện với những “bệnh nhân” thường trực “nhớ nhà châm điếu thuốc”…
Trở lại với các nhạc phẩm do anh phổ thơ, chỉ có một số bạn bè thân mới biết anh thích thi ca. Khi tôi hỏi anh, “Với bạn bè thân đã nổi tiếng trong lãnh vực thi ca, sao không chọn bài thơ nào để phổ thơ?”. Anh trả lời rất tế nhị và khiêm tốn với ý là thơ hay và cảm hứng sáng tác tùy lúc, và cũng không thích phải núp vào cái bóng nào… Đúng là nghệ sỹ với tinh thần võ sĩ đạo, y sỹ tiền tuyến trong binh chủng Nhảy Dù.
Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Hoàng Hạc Khí Công (2006-2016), anh Phạm Gia Cổn nói tôi viết bài cho đặc san kỷ niệm. Bài viết cho đặc san nầy: Từ “Ngàn Cánh Hạc” đến “Hoàng Hạc” (còn lưu trữ trên trang web https://www.dutule.com/a9062/vuong-trung-duong-ngan-canh-hac-tra-dao-tinh-duc).
Ngàn Cánh Hạc là một trong ba tác phẩm của nhà văn Nhật Kawabata được giải thưởng Văn Chương Nobel năm 1968. Xứ Tuyết (Yukigun – Snow Country, 1937), Ngàn Cánh Hạc (Sembazuru – Thousand Cranes, 1949). Cố Đô (Kyoto – The Old Capital, 1962)…
Với văn hóa Nhật Bản, xứ sở Phù Tang, chim hạc được coi là linh điểu, là biểu tượng của sự linh thiêng cao quý. Với phái nữ, chim hạc là biểu tượng sự thủy chung, hòa hợp với đạo nghĩa vợ chồng. Trang phục cưới kimono và nhiều đồ vật khác, với họa tiết hình chim hạc là hoa văn phổ biến và rất được ưa chuộng.
Từ những mẩu chuyện theo truyền thuyết, với ý nghĩa tâm linh hạc giấy trong nghệ thuật xếp hình ori-gami, người Nhật tin rằng, nếu ai đó xếp đủ 1.000 con hạc giấy thì họ sẽ có một điều ước cho sự may mắn, an lành và hạnh phúc. Với biểu tượng cao đẹp đó, chim hạc được đề cập rất nhiều trong thơ văn, điêu khắc, hội họa, công trình kiến trúc, trên đồng Yen, hãng hàng không…
Theo quan niệm Đông Phương từ ngàn xưa, hạc là chim tiên, người ta nói nó có khí phách và phong độ của bậc tiên nhân đạo sĩ. cuốn Tường Hạc Kinh gọi hạc là “thọ bất khả lượng” (sống lâu không thể tính được), cuốn Hoài Nam Tử nói “hạc thọ thiên tuế” (hạc sống nghìn năm). Cho nên đời sau thường dùng những từ như “hạc linh”, “hạc thọ”, “hạc toàn” để chúc trường thọ. Có người đã đặt tên mình là “hạc” để thể hiện ý muốn trường thọ, như “hạc thọ”, “hạc niên”, “hạc linh”… Cũng như vậy, hạc cũng được dùng để chúc thọ, phần nhiều là tranh chúc thọ, bình phong chúc thọ hoặc những tranh vẽ hoặc đồ chạm khắc khác. Tuổi già ngày nay được gọi là tuổi hạc…
Bác Sĩ Võ Sư Phạm Gia Cổn lấy biểu tượng Hạc Vàng cho môn Thể Dục Khí Công rất ý nghĩa.
Trưa Thứ Sáu, ngày 9/12 BS Phạm Gia Cổn yên giấc nghìn thu tại Gateway Crematory ở TP Fullerton. Vĩnh biệt anh, vĩnh biệt!
“Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản” Thôi Hiệu (704-754). Văn hào Kawabata vĩnh biệt Ngàn Cánh Hạc năm 1972, đúng 50 năm sau Chưởng Môn Phạm Gia Cổn vĩnh biệt Hoàng Hạc TDKC.
Little Saigon, December 03, 2022
Vương Trùng Dương
-
Pháo Tống, Pháo Chuột & Nổ
Vương Trùng Dương

“Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo;
Nhân tình trắng thế lại bôi vôi”
(Trần Tế Xương)
Từ thời cổ đại, triết gia Platon đã nói: “Cái vỏ rỗng kêu to nhất, nên người ít thông minh nhất cũng lắm lời nhiều nhất”. Triết gia Jean Jacques Rousseau nói: “Người biết ít thường nói nhiều, trong khi người biết nhiều thường nói ít”. Văn hào William Shakespeare nhận xét: “Cái vỏ rỗng tạo ra âm thanh lớn nhất”. Ivan Petrovich Pavlov, người đã đoạt giải Nobel sinh lý và y khoa năm 1904 với lời khuyên: “Đừng bao giờ kiêu ngạo. Bởi vì khi bạn kiêu ngạo, bạn sẽ trở nên cố chấp. Khi bạn kiêu ngạo, bạn sẽ từ chối những lời khuyên và sự giúp đỡ của người khác. Khi bạn kiêu ngạo, sự khách quan sẽ bị mất”.
*
Nhân dịp đầu năm 2025, tròn nửa thế kỷ năm mất nước với Chuyện Vãn: Pháo Tống, Pháo Chuột & Nổ. Năm 1975 Quân Cán Chính VNCH vào chốn lao tù không có pháo tống, pháo chuột để đốt nhưng lại nghe pháo nổ đinh tai nhức óc phát ra từ miệng!
Trong bài viết Khi Việt Cộng Nói Phét của Người Lính Già Oregon (người bạn cùng đơn vị với tối) trước đây:
“Trong một trại tù cải tạo ngoài Bắc, tên cán bộ răng đen mã tấu, không biết sinh đẻ ở vùng nào mà ngọng đặc, ngọng líu ngọng lô, đang hăng say lên lớp:
– Các anh biết không, nịch sử lước ta toàn nà anh hùng. Cứ ra ngõ nà gặp anh hùng. Nạ thật. Bắt đầu nà anh hùng Nạc Nong Quân nấy bà Triệu Ẩu đẻ ra một bọc trứng…
Cả hội trường cười ồ. Mất hứng, hắn có vẻ bực mình, quắc mắt, hỏi tại sao cười.
Một “cải tạo viên” (người tù) đứng lên, lịch sự trả lời thay cho tất cả:
– Thưa cán bộ, vua Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, chứ không phải bà Triệu Ẩu.
Hắn khó chịu, im lặng vài giây, và quay sang “hội ý” với tên cán bộ phụ tá, hai thằng rủ rỉ rù rì với nhau một hồi, rồi thằng phụ tá ngẩng đầu lên, dõng dạc nói:
– Nạc Nong Quân nà vua, ông ấy muốn nấy gái lào mà chả được. Bà Âu Cơ hay bà Triệu Ẩu gì cũng đều nà gái tốt cả, nao động tốt cả…
Trong hội trường của một trại tù cải tạo khác, lại một tên răng đen mã tấu, thao thao bất tuyệt:
– Các anh biết không, đất nước ta giàu có cực kỳ, tiền rừng bạc bể, mỏ dầu vô kể. Mà lạ quá, nhiều nơi trên miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa của ta, chỉ cần cắm ống nứa xuống đất là dầu hỏa phụt lên, thế là ta cứ việc mang thùng ra hứng đem về tha hồ đốt.
Cả lớp im lặng. Hắn hứng chí tiếp:
– Ngoài mỏ dầu, miền Bắc còn có đủ các loại mỏ khác như mỏ than, mỏ vàng, mỏ xăng, mỏ nhớt…
Mọi người cười ồ. Một anh tù già, gốc Bắc kỳ 9 nút, ưa xỏ xiên, giơ tay xin hỏi:
– Thưa cán bộ, có một thứ mỏ mà không biết miền Bắc có không, nhưng miền Nam nghèo đói của chúng tôi thì chắc chắn không thấy, đó là mỏ lết.
Hắn bỉu môi:
– Anh nói gì, mỏ lết hả? Cái gì chứ mỏ lết thì miền Bắc thiếu giống gì. Đảng và nhà nước ta đang có phương án khai và thu hoạch đấy.
Cũng lại một tên răng đen mã tấu nữa. Ngoài chuyện (quá nhàm) máy bay MIG 21 tắt máy phục kích trong mây, chờ B52 của đế quốc đến, chiến sĩ lái nhảy ra bắt sống, hắn kể một chuyện khác, ly kỳ hơn: – Năm 1962, Bác Hồ bị ốm. Nước Cuba anh em lúc ấy đang bị đế quốc Mỹ đe dọa bắn tên lửa. Tuy thế, nghe tin Bác ốm, đồng chí Fidel Castro cũng đã lấy máy bay đi thăm. Đến Hà Nội, để khỏi tốn thì giờ, đồng chí nhảy dù xuống quảng trường Ba Đình, và chưa kịp tháo dù, đã vội vàng chạy vào phòng Bác, hỏi thăm sức khỏe, và ôm hôn Bác thắm thiết. Bác liền trách đồng chí, như sau: “Nước chú đang bị đế quốc Mỹ đe dọa, sao chú lại bỏ đi thăm tôi? Chú nên về ngay đi”. Đồng chí Castro tuân lệnh, ra về.
Đến đây thì tên cán bộ không nói Castro về bằng cách nào. Bị cải tạo viên vặn hỏi, nó đáp tỉnh bơ:
– Máy bay bay ngang qua đón, và đồng chí Castro đã nhảy dù lên máy bay chứ còn làm gì nữa mà hỏi lôi thôi…
Một tên cán bộ khác, một hôm đang lên lớp về bài học “Đất nước ta giàu mạnh, tiền rừng bạc bể”, phun ra một hơi:
– Các anh biết không, mỏ than đá Hòn Gay của nước ta là tốt nhất, chất lượng số một trên thế giới. Các nước trên thế giới thèm lắm, gửi phái đoàn đến xin thương lượng khai thác, nhưng Đảng quang vinh của ta dứt khoát từ chối. Vừa rồi, nước Pháp cử đại diện đến xin mua than của ta, đem về làm khí đốt cho đầu máy xe hỏa, vì than của họ kém chất lượng, nhưng Đảng ta không bán…
Rồi hắn huyênh hoang tiếp:
– Bị từ chối, đại diện Pháp lại năn nỉ ta cho phép họ cạo lấy những lớp mọ hóng (bồ hóng) bám vào các ống khói xe hỏa của ta đem về vo thành viên than để đun nước, nấu ăn.
Một tên quản giáo đang kể lại trận đánh đồn Tây tại Điện Biên Phủ, năm 1954:
– Đồng chí anh hùng Núp bị thương nặng, ruột đổ ra ngoài, nhưng vẫn kiên cường bám trụ. Đồng chí đặt súng liên thanh vào ổ châu mai, vừa bắn vừa ném lựu đạn vừa ấn chùm ruột vào bụng trở lại, giết không biết bao nhiêu là địch…
Một cải tạo viên lên tiếng hỏi:
– Thưa cán bộ, như thế thì anh hùng Núp lấy tay nào bắn, tay nào ném lựu đạn, tay nào ấn chùm ruột vào bụng?
Tên cán bộ cười đắc chí:
– Thế mới tài chứ lị. Cái gì khó khăn, anh hùng ta đều khắc phục, làm được tất…
Một tối, tại K5 trại tù cải tạo Vĩnh Phú cho chiếu phim Liên Xô “Thép đã tôi thế đấy”. Trong phim, nhân vật chính, Pavel, là một thanh niên “phấn đấu” hết mình để trở thành một đảng viên. Về sau, giựt vợ của một đồng chí. Chiếu xong, trại trưởng muốn biết phản ứng cải tạo viên về cuốn phim. Ai cũng phải khen, cho có lệ. Nhưng một anh, gốc Quảng, giơ tay thắc mắc:
– Thưa coáng bộ, tui thấy đoảng viên mà đi lấy vợ người khoác lòa không được, kỳ quóa.
Trại trưởng hứa ngày mai sẽ trả lời. Hôm sau, hắn nói :
– Lấy vợ lại (tiếng lóng? hắn ám chỉ lấy vợ người khác?) đó là tập tục thông thường của Liên Xô và Tây Phương nên ta có thể chấp nhận được. Lại nữa, công lao của anh hùng đảng viên Pavel quá lớn, đồng chí muốn lấy ai cũng không vi phạm đạo đức…
Hết ý kiến. Trong hàng, một anh bạn thân rỉ vào tai tôi:
– Tiên sư cha chúng nó. Nói xuôi cũng nó, nói ngược cũng nó. Thằng X bạn tao ở đội C được thăm nuôi. Vợ nó là đầm lai. Thấy nhau, hai đứa vừa chạy lại ôm hôn nhau chùn chụt như xi-nê thì bị tên quản giáo đến tách ra, mắng mỏ: “Cách mạng rồi mà anh chị vẫn không chịu bỏ cái thói văn hóa đồi trụy khốn nạn của Mỹ ngụy”…
(Ngưng trích)
Còn nhiều mẩu chuyện nữa xảy tương tự như vậy, không hiểu được tuyên truyền thế nào mà các trại tù từ Bắc và Nam cán ngố đều nổ như nhau!
*
Với nghĩa thông thường trong dân gian thì “nổ” ám chỉ cho người nào tán phét, cương ẩu, nói điêu (nói những điều không có), khoác lác (nói hươu nói vượn), nói ngoa (phóng đại), nói nhăng nói cuội, nói đất nói trời (ba hoa chích chòe), nói lếu nói láo, nói thánh nói tướng, nói trời nói đất… nên khi nghe thì ví von “kho đạn Long Bình”. Nói nôm na là phịa, bựa!
Kho vũ khí Long Bình (diện tích khoảng 24 km vuông) nằm ở Biên Hòa (cách Sài Gòn khoảng 20 km), được Mỹ xây dựng từ giữa năm 1965. Đây cũng là kho bom, đạn lớn của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.
Xung quanh kho được bảo vệ rất kỹ, canh gác cẩn mật, có từ 7 đến 12 lớp hàng rào, ngoài ra có các lũy đắp bằng đất hoặc thùng phuy, container đổ đầy đất. Bên trong là đường tuần tra với nhiều tháp canh, lô cốt có đèn pha chiếu sáng. Giữa các khu kho cũng có hàng rào thép gai ngăn cách. Kho được quy hoạch một cách khoa học và ngăn nắp. Các kho trên mặt đất được lắp ghép bằng nhà thép tiền chế, lợp bằng tôn. Các kho dưới tấng đất rất kiên cố, tất cả các cửa với mã số đặc biệt. Để ra vào tổng kho có 12 cổng mở theo nhiều hướng khác nhau, được kiểm soát rất kỷ bảo vệ an ninh. Vài nguồn tin cho biết, sau khi VC cưỡng chiếm miền Nam không thể nào mở được các tầng hầm vì không có mã số, nếu phá cửa sẽ xảy ra những vụ nổ lớn. Khi VC nhờ Liên Xô nhưng cũng bó tay.
Vì vậy khi nghe ai nổ sảng, chỉ ví von nhà gần kho đạn Long Bình hay nhân viên kho đạn nầy!
Nổ như tạc đạn phát xuất từ hình ảnh súng liên thanh gắn băng đạn, khi siết cò nổ cả băng đạn trong tích tắc. Nhà văn Hoàng Hải Thủy phóng tác Après moi le Déluge nằm trong Série Noire với tựa đề Nổ Như Tạc Đạn đăng feuilleton trên báo Ngôn Luận và ấn hành năm 1964. Với lối hành văn dí dỏm, châm biếm nên quyển sách nầy rất ăn khách. Sau nầy trở thành câu nói thông dụng cho các “xạ thủ bất đắc dĩ” nổ sảng, nổi dai.
Trong nhiều lần ngồi quán cà phê tán gẫu với bạn hữu, bỗng dưng có xạ thủ mò đến “nổ như tạc đạn” làm cụt hứng, điếc con ráy nhưng vì tế nhị không bỏ đi chỗ khác, tội nghiệp cho lỗ nhĩ bị sách nhiễu hành hạ!
Về sách, sau ngày “bên thắng cuộc” có những cuốn sách “nổ như tạc đạn” ra đời coi “mục hạ vô nhân” tùy tiện phét lác còn hoang tưởng hơn trong truyện hư cấu kiếm hiệp.
Về văn bằng với “lò ấp Tiến Sĩ”, nhan nhản trong nước với biếm họa, bài viết về cái lò nầy, chưa xong trung học phổ thông vào “lò ấp” đầy dẫy tai to mặt lớn có ngay Tiến Sĩ giấy và cả thành phần giáo sư đại học… Ngoài ra với bằng mua ở Mỹ từ vài trăm đô trở lên để lộng kính treo tường… nổ cho thiên hạ lóa mắt.
Bài viết của Thành Lâm trên BBC ngày 11 tháng 5 năm 2022 “Thực trạng đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam?” cho thấy về cái lò trong nước:
“Những năm gần đây, vấn nạn “lò sản xuất tiến sĩ” và “tiến sĩ giấy” khiến dư luận Việt Nam quan tâm và đặt câu hỏi về chất lượng đào tạo tiến sĩ trong nước.
Trao đổi với BBC, Tiến Sĩ Đào Minh Hồng, Đại Học Kinh Tế Tài Chính (ở Sài Gòn) thẳng thắn đánh giá: “Thực trạng đào tạo tiến sĩ ở VN cho đến năm nay từ sau vụ ‘lò sản xuất tiến sĩ’ vẫn không hề thay đổi, mà càng ngày càng tệ hơn…
“Thực trạng đào tạo tiến sĩ ở VN cho đến năm nay từ sau vụ ‘lò sản xuất tiến sĩ’ vẫn không hề thay đổi, mà càng ngày càng tệ hơn”. Và cũng theo ông nguyên nhân dẫn đến sự “thụt lùi” của đào tạo tiến sĩ ở trong nước, cụ thể là trong chuyên ngành Khoa Học Xã Hội như: những người cầm cân nảy mực là những người chỉ “mua danh tiến sĩ”.
Câu nói dân gian mỉa mai “vô tiến sĩ bất thành nhân” vì vậy tiểu sử quan lớn, quan nhỏ từ thủ đô đến thành phố, huyện xã “thất học… nhảy bàn độc tiến sĩ”!
Cụ Tam nguyên Yên Đổ – nhà thơ Nguyễn Khuyến – giễu người đời “dại”, đốt pháo, pháo nổ, chó sợ chạy trốn, có khi trốn mất không về.
“Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó
Ông đây khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm khoèo”
Pháo có từ ngàn xưa, đại khái có rất nhiều loại thông dụng:
Các loại pháo lớn: Pháo tống, pháo cối, pháo đại, pháo đùng (to bằng cổ tay) khi nổ âm thanh rất lớn, xác pháo tung lên cao với hằng trăm mẩu giấy đỏ như hoa đào tung bay. Pháo đất, làm bằng đất nặn thành một cái nồi trống miệng. Pháo nâng lên cao rồi thảy xuống đất. Hơi nén trong nồi phá vỡ đáy nồi phát ra tiếng nổ. Pháo trúc nhồi thuốc súng vào đốt tre để làm pháo, treo cùng bùa trên cây nêu, đốt trong ngày Tết để trừ ma quỷ.
Các loại pháo nhỏ: Pháo chuột, pháo tôm, pháo tép… tiếng nổ nhỏ “Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột” (Trần Tế Xương)
Tràng pháo còn gọi là pháo phong, pháo bánh, pháo cuộn, pháo dây… thường kết với vài cái pháo tống cho đủ tiểu, đại để khi đốt nghe rộn ràng hơn.
Ngoài ra còn có pháo hoa, pháo bông, pháo thăng thiên… và cả pháo điện tử có remote điều khiển (Tôi có phong pháo nầy, ngày Tết đốt trước cửa rồi và đem vào back yard để khỏi có xác pháo dơ nhà, sử dụng từ năm nầy sang năm khác).
Đốt pháo không những trong ngày Tết mà trong các dịp cưới hỏi, khai trương business… Người Việt định cư tại Mỹ, điển hình như thành phố Westminster ở Little Saigon, trong những thập niên qua mang phong tục nầy ngày xưa trên xứ người, chính quyền địa phương cho phép cộng đồng người Việt đáp ứng theo điều kiện hợp pháp.
Trở lại chuyện vãn về “nổ” với pháo mang lại niềm vui và nghe khoái lỗ tai nhưng phát ra từ miệng thì chán ngấy!
Từ thời cổ đại, triết gia Platon đã nói: “Cái vỏ rỗng kêu to nhất, nên người ít thông minh nhất cũng lắm lời nhiều nhất”. Triết gia Jean Jacques Rousseau nói: “Người biết ít thường nói nhiều, trong khi người biết nhiều thường nói ít”. Văn hào William Shakespeare nhận xét: “Cái vỏ rỗng tạo ra âm thanh lớn nhất”. Ivan Petrovich Pavlov, người đã đoạt giải Nobel sinh lý và y khoa năm 1904 với lời khuyên: “Đừng bao giờ kiêu ngạo. Bởi vì khi bạn kiêu ngạo, bạn sẽ trở nên cố chấp. Khi bạn kiêu ngạo, bạn sẽ từ chối những lời khuyên và sự giúp đỡ của người khác. Khi bạn kiêu ngạo, sự khách quan sẽ bị mất”. Thành ngữ ta có câu: “Thùng rỗng kêu to”.
Ngẫm cho cùng tư tưởng của các bậc vĩ nhân trên thế giới rất hữu lý. Ông bà ta thường nói “Bệnh từ ngoài vào, bệnh từ miệng ra” và “nổ” coi như bệnh từ miệng ra, vì vậy những kẻ hay “nổ” coi như bệnh – bệnh nổ – hết thuốc chữa! Thiện tai! Bán trời không văn tự.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, January 2025
-
Chuyện Vãn: Giang Hồ, hai nghĩa tương phản

Hai chữ giang hồ không mấy xa lạ trong đời sống của mỗi người đều thường đề cập trong thơ, văn, điện ảnh… và cũng là câu nói thường tình với cá nhân, nhóm người trong xã hội.

Tác phẩm Thủy Hử ban đầu là Giang Hồ Khách Truyện, sau lấy tên là Thủy Hử vì “căn cứ địa” Lương Sơn là vùng đầm, hồ nên Thủy Hử (bến nước). Truyện nầy qua bản dịch của La Thần và Á Nam Trần Tuấn Khải, gồm 3 cuốn, năm 1973, sau đó với Tử Vi Lang nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam.
Trong truyện Thủy Hử của của nhà văn Thi Nại Am (1296-1372) ở Trung Hoa vào triều Nguyên-Mông (1295-1368), kể về câu chuyện của Tống Giang triều nhà Tống, nổi dậy kéo theo “giang hồ hảo hán” gồm 108 người đến núi Lương Sơn. Gọi là anh hùng Lương Sơn Bạc.
Tác giả phác họa chân dung từng nhân vật tầng lớp nông dân, võ biền “thế thiên hành đạo” chống lại ách độc tài của triều đình.
Sau khi Thi Nại Am đã sáng tác xong 70 hồi truyện Thủy Hử, vua nhà Nguyên tuy đã cướp ngôi nhà Tống nhưng đọc xong truyện đã nổi giận bắt giam Thi Nại Am và hạ lệnh phải viết tiếp đoạn sau, kể về việc Lương Sơn Bạc bị dẹp, nếu không sẽ bị xử tội. Lý do của vua Nguyên là sự nổi dậy của “nghĩa quân” sẽ ảnh hưởng cho chế độ hiện tại.
Thi Nại Am lo lắng, liên lạc với học trò là La Quán Trung (1330-1400, tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa) tới nhà lao cùng bàn bạc. Hai người cùng viết tiếp Hậu Thủy Hử kể việc thất bại của quân Tống Giang. Sau 1 năm, Hậu Thủy Hử hoàn thành, hai thầy trò mang dâng vua Nguyên. Vua Nguyên xem xong bằng lòng, hạ lệnh thả Thi Nại Am.
Chương đầu của Thủy Hử, khi kể về sự hình thành của nhóm hảo hán Lương Sơn Bạc, Thi Nại Am viết: “Những người trong giang hồ có nghĩa khí đều tụ hội ở Lương Sơn Bạc”.
Khi Chu Nguyên Chương (1328-1398), xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ, từng giữ dê chăn bò cho địa chủ, khi gia nhập nghĩa quân Quách Tử Hưng, dần dà lập công trạng tiêu diệt Trần Hữu Lượng rồi dẫn 25 vạn đại quân Bắc phạt chiếm được Sơn Đông. Quân nhà Nguyên chạy về Mông Cổ. Tháng Giêng năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng Đế, đặt quốc hiệu là Minh, trở thành vua Minh Thái Tổ. Chu Nguyên Chương gọi Thi Nại Am làm quan nhưng ông từ chối, ông nhuận sắc lại Thủy Hử viết chung với La Quán Trung (có tài viết chương, hồi và hư cấu) lưu lại hậu thế. Vì Chu Nguyên Chương gốc gác như như các nhân vật của Lương Sơn Bạc và sự đời “Được làm vua, thua làm giặc” nên chữ nghĩa văn chương biến hóa từ “giặc” (khi thua) thành “nghĩa quân” khi lật đổ quan quân, triều đình… Trong quyển Ỷ Thiên Đồ Long của Kim Dung đề cập đến Chu Nguyên Chương với hình ảnh hư cấu “Chu Nguyên Chương thống lĩnh Minh Giáo và nhờ binh pháp trong Vũ Mục Di Thư đánh đuổi người Mông Cổ, lập ra nhà Minh”.
“Giang hồ” từ Việt gốc Hán. Chữ “giang” thuộc bộ thủy, nghĩa là “sông”; “hồ” cũng thuộc bộ thủy nên “giang hồ” chính là “sông và hồ”. Danh từ “Giang” và “Hồ” khi đi với nhau thành tính từ, không còn liên quan gì đến nghĩa của từ gốc
Trong Tầm Nguyên Từ Điển của Bửu Kế (Sài Gòn 1955): “Giang là sông; Hồ là hồ nước… nghĩa bóng là người sống lang bạt, bất định. Cảnh sống nay đây mai đó, tự do, phóng túng như “thú giang hồ, giang hồ lãng tử” không bị ràng buộc trong phép vua, lệ làng…
Theo học giả Đào Duy Anh “Nghĩa đen là sông hồ, xuất phát từ chữ Tam Giang (sông Trường Giang, sông Hán Giang và hồ Bành Lãi; Ngũ Hồ (năm hồ lớn của Trung Hoa) nơi người ta hay đến chơi, sau đó chữ giang hồ chỉ những người ngao du nay đây mai đó, hoặc những người lang thang không theo triều đình. Khi áp dụng cho đàn bà, nó chỉ người làm gái điếm”.
Trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du đã linh động sử dụng hai chữ giang hồ uyển chuyển tùy theo mỗi trường hợp.
Từ Hải có ý chí độc lập ngang tàng, không chấp nhận sự khuất phục của triều đình nên:
“Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ, tên Hải vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thói vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”.
(Câu 1791-1793)
Nhưng khi Thúc Sinh nói với Hoạn Thư về nàng Kiều thì Nguyễn Du đã dùng giang hồ theo một hàm ý khác:
“Tiếc thay lưu lạc giang hồ,
Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài”.
(Câu 1989-1990)
Hay hình ảnh khi Hoạn Thư nổi cơn ghen vì vậy Thúy Kiều cảm thấy:
“Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
Một màu quan tái bốn mùa gió trăng”
(Câu 1595-1596)
Trong thi ca cũng thường đề cập đến hai chữ giang hồ, điển hình như các bậc tiền nhân:
Giang Hành, bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi
“Tây tân sơ nghĩ trạo
Phong cảnh tiện giang hồ
Vũ quá sơn dung sấu
Thiên trường nhạn ảnh cô…”
(Bến tây thuyền mới ghé mái,
Phong cảnh đã là giang hồ rồi.
Mưa qua rồi trông dáng núi gầy;
Trời rộng bóng nhạn như đơn chiếc…)
Bài thơ chữ Hán Giang Hồ Ngụ Hứng của Nguyễn Thượng Hiền:
“Giang hồ ngụ khách,
Thiên địa tản nhân.
Nhất tháp nhàn ngâm,
Chung niên lãn ngoạ…”
Quốc Kêu Cảm Hứng của nhà thơ Nguyễn Khuyến
“Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
Đây hồn Thục Đế thác bao giờ…
Ban đêm ròng rã kêu ai đó?
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ”.
Vào thời tiền chiến với các nhà thơ:
Bài thơ Dâng Tình của Vũ Hoàng Chương với hai chữ giang hồ:
“Lũ chúng em chờ chàng qua chín kiếp
Tình giang hồ phong nhụy vẫn nguyên hương…
… Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt
Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu”
Bài thơ Mộng Xuân Hương của Bích Khê:
“Nửa cánh giang hồ bạt nhớ thương
Đêm nay buồn lắm, gục bên giường
Ngoài ly Lý Bạch trời như mộng
Sau khói phù dung mộng cố hương”
Trong văn chương, ngày xưa hai chữ giang hồ liên quan với kiếm khách, điển hình như tác phẩm Giang Hồ Kiếm Khách của nhà văn Nhật Yoshikawa Eiji. Ban đầu truyện nầy đăng tải trên báo Asahi, tác giả dự tính chỉ vài chục chương nhưng rất lôi cuốn độc giả ái mộ nên tờ báo yêu cầu tác giả viết tiếp vì vậy đăng liên tục từ ngày 23 tháng 8 năm 1935 đến ngày 11 tháng 7 năm 1939. Sau đó in thành sách gồm năm tập khoảng một nghìn năm trăm trang.
Bối cảnh xảy ra ở thế kỷ 16 viết về cuộc đời kiếm sĩ Musashi từ thuở thiếu niên với nhiều bất trắc, quyết lập thân bằng kiếm đạo cho đến lúc trở thành kiếm sĩ vang danh thiên hạ. Kiếm khách thời đó dưới sự thống trị của kẻ quyền lực nên lộng hành trấn áp khắp nơi. Dĩ nhiên “tức nước vỡ bờ” nên có sự nổi dậy của kiếm sĩ chống lại ách độc tài. Đây là một trong những tác phẩm kinh điển nổi tiếng của Nhật.
Và, điển hình như tác phẩm hư cấu Tiếu Ngạo Giang Hồ của nhà văn Kim Dung trong chốn võ lâm. Nhà văn Cổ Long với Tuyệt Đại Song Kiêu hay Giang Hồ Thập Ác ở Đài Loan vào giữa thập niên 1960.
Tiếu Ngạo Giang Hồ là một trong những tác phẩm rất ăn khách với độc giả ở miền Nam Việt Nam cũng vào thập niên 1960’ ở Hồng Kông. Tác phẩm đặt theo bản nhạc cầm tiêu hợp tấu giữa hai cao thủ võ lâm chánh/tà. Lưu Chính Phong của phái Hành Sơn và Khúc Dương của Nhật Nguyệt Thần Giáo cảm thấy chốn võ lâm gió tanh mưa máu nên quyết định rời khỏi chốn võ lâm “gió tanh mưa máu” dùng âm nhạc ngao du với đất trời nhưng rồi bị hai phe chính/tà truy sát. Khúc nhạc đó truyền lại cho Lệnh Hồ Xung, chánh phái Võ Đang và Nhậm Doanh Doanh, tà phái Nhật Nguyệt Thần Giáo… Trải qua bao sóng gió, oan nghiệt, cuối cùng hai người trai tài, gái sắc chán cảnh thị phi, chém giết, dắt tay nhau tiếu ngạo giang hồ.
Thú vị nhất trong truyện, phim kiếm hiệp (chưởng) luôn nhắc đến hai chữ giang hồ hầu như dành cho chánh phái, ơn đền oán trả, nghĩa khí võ sĩ, trượng phu với kẻ ngã ngựa… Hình ảnh Cain Bang ăn mặc rách rưới, sống “đầu đường xó chợ” nhưng hành hiệp đạo nghĩa.
Về âm nhạc, ca khúc Dừng Bước Giang Hồ của nhạc sĩ Hoàng Trọng với ban hợp ca Thăng Long đã một thời vàng son với giới mộ điệu âm nhạc:
“Chiều nay sương gió, lữ khách dừng bên quán xưa
Mơ màng nghe tiếng chuông chiều, vương về bên quán tiêu điều…
Tới đây nơi xưa, gió êm êm đưa
Áng mây trôi tới xa xôi khuất nơi sau đồi
Quán tranh xiêu xiêu, chốn đây cô liêu,
Nhắc cho ta biết bao nhiêu dáng xưa yêu kiều…
Đã bao năm qua, sống nơi phương xa,
Về phương cũ đành dừng bước chân giang hồ”
Ca khúc Tình Kỹ Nữ của nhạc sĩ Phạm Duy
“Đêm nay đôi người khách giang hồ
Gặp nhau tình trăng nước
Sánh vai nhịp bước giang hồ
Kề vai ước xây nhà bên suối
Kề môi ước gây vài đường tơ…
… Đêm nay khi tàn giấc mơ vàng
Ngồi đây sầu ngơ ngác
Ngắm bao tình khách giang hồ
Lòng ta nhớ duyên tình kỹ nữ
Lòng ta nhớ cung đàn mùa xưa”.
Hai chữ giang hồ với những dòng trích trên với hình ảnh đẹp trong tâm hồn lãng tử, phiêu bồng, không vướng bụi trần với thiên nhiên hữu tình. Ngày đó. hai chữ giang hồ đi kèm với lãng tử, những chàng trai nét phong trần ưa lang bạt nay đây mai đó vì “Thời lai đồ điếu thành công dị. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa” (Cảm Hoài của danh sĩ Đặng Dung) hay đâu đó “Chí lớn trong thiên hạ đựng không đầy đôi mắt mỹ nhân” của Phạm Thái.
Trong bài viết của Hà Khánh Quân (Luân Hoán) về người bạn cùng cố hương với tựa đề: Nguyễn Đông Giang, Thơ Của Người Giang Hồ. “Người Giang Hồ của đám chiến sĩ sớm ngã ngựa, có tên thật Nguyễn Văn Ngọc. Anh được ra đời vào ngày 06 háng 02 năm 1943 tại làng An Hải, Đông Giang, quận 3 thành phố Đà Nẵng. Anh theo học tiểu học tại trường Hoàng Diệu rồi vào Khóa 19 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
Năm ngón tay của một bàn tay phải, là món quà lưu niệm, anh dành cho cuộc chiến tranh Việt Nam. Nguyễn Đông Giang thành thầy giáo tại các trung học Quốc Gia Nghĩa Tử, Đông Giang, Bồ Đề, Khiết Tâm,Vinh Sơn, Duy Nhân (Đà Nẵng), Trần Quý Cáp (Hội An)… Sau 1975, không thủ phận, nên anh có mặt trong tổ chức phục quốc. Được ghép vào thành phần “âm mưu lật đổ chế độ”, Nguyễn Đông Giang có cơ hội ăn cơm tù Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sáu năm. Ra tù bị quản chế tại gia, cấm vượt khỏi Đà Nẵng. Anh nhanh chóng trở thành một ông xe thồ lành nghề.
Ngoài cái thân trần, không có mảnh giấy nào lận lưng, kể cả bằng tốt nghiệp “cải tạo” tốt, Nguyễn Đông Giang đến Hồng Kông một mình năm 1991. Không có bất cứ thứ gì để chứng minh thân thế, sự nghiệp, anh bị giữ tại trại một thời gian năm năm. Có tay nghề tranh đấu, nên anh tiếp tục hành nghề trước những bất công trong trại tạm trú. Song song với công việc giúp mình, giúp người, anh làm thơ. “Cuối cùng, một số thơ, một số bài viết của ông, đã là đầu mối cho International Pen in London và Liên Hiệp Quốc can thiệp, vớt anh đến Hoa Kỳ vào năm 1996, theo diện nhà báo tị nạn chính trị”.
*
Giang hồ mang hình ảnh xấu với băng đảng, các tay anh chị sống ngoài vòng pháp luật, mạnh được yếu thua. Giang hồ nghĩa xấu chỉ bọn lưu manh, du đãng, du côn, du thủ du thực, đầu gấu, trộm cắp, đâm thuê chém mướn… Ngày nay, người ta nói rằng nhiều người tự xưng là giang hồ thực ra là du đãng, lưu manh, họ không có tư cách và phẩm chất của những giang hồ xưa.
Nhà văn Duyên Anh với các tác phẩm Nặng Nợ Giang Hồ, Điệu Ru Nước Mắt Luật Hè Phố, Dzũng Đa-Kao, Vết Thù Hằn Trên Lưng Con Ngựa. Nhà văn Nguyễn Thụy Long với Bước Giang Hồ, Loan Mắt Nhung, Nợ Máu… Tuy nhiện trong vài tác phẩm nầy, tác giả cũng đề cao vài nhân vật trong băng nhóm có tính nhân bản, sống chết có nhau để hài hòa trong xã hội đen.
Trong quyển Điệu Ru Nước Mắt với hình ảnh Trần Đại (Đại Cathya) đứng đầu “tứ đại giang hồ. Duyên Anh nghe Trần Đại kể lại cuộc đời giang hồ, những trận đấm đá, đem chém thư hùng đẫm máu trên đường phố, dựng nên tác phẩm.
Bài thơ tặng cho Đại Cathay
Trần Đại trong Điệu Ru Nước Mắt xuất thân là con nhà giàu, học giỏi nhưng chán ghét thời cuộc, bỏ nhà theo tiếng gọi giang hồ, làm đại ca nhưng vô cùng nghĩa hiệp, cứu giúp kẻ thân cô thế cô, dám đánh cảnh sát ăn hối lộ. Cuối cùng, vì chung thủy với mối tình cô gái (con nhà trâm anh thế phiệt, học trướng Tây ở Đà Lạt và Sài Gòn, chán ghét xã hội thượng lưu dối trá nên gia nhập vào băng nhóm) vô cùng lãng mạn, đã dũng cảm chết bi tráng trên hàng rào kẽm gai…
Trong quyển Loan Mắt Nhung của Nguyễn Thụy Long với hình ảnh Loan có đôi mắt đen huyền đẹp như nhung, do biến cố cuộc sộng, thời cuộc đẩy đưa, từ thiếu niên ngây thơ trong sáng thật thà gia nhập băng đãng, bản lĩnh lỳ lợm, trở thành đại ca giang hồ. Tuy sống trong xã hội đen nhưng bản chất lương thiện.
Hai nhà văn không đề cao xã hội đen, đâm thuê chém giết nhưng đề cập đến trong vũng lầy tội lỗi đó cũng có vài nhân vật có nghĩa, có tình trong giới giang hồ (?).
Trong ca dao có câu: “Trai tứ chiếng gái giang hồ. Gặp nhau làm nổi cơ đồ cũng nên” đề cập đến hình ảnh “trai tứ chiếng, gái giang hồ” thường bị khinh bỉ tùy theo môi trường và xã hội.
Thoạt đầu “trai tứ chiếng” xưa kia có nghĩa gốc là nơi quy tụ bốn kinh trấn xung quanh kinh đô Thăng Long, đã từng trải qua bốn phương trời tụ hội. Theo thời gian và môi trường xã hội xấu, nó trở thành trai “tứ cố vô thân” tụ tập nhau làm điều bất chính.
“Gái giang hồ” với nghĩa xấu ám chỉ hình ảnh gái làm điếm bụi đời, trùm băng đảng dụ dỗ, bắt cóc con gái vào tệ nạn buôn bán tình dục và cả móc túi… Trong những thập niên qua, báo chí trong nước đề cập rất nhiều loại “gái giang hồ” nầy từ nơi nầy đến nơi khác, qua mặt luật pháp, làm ăn phi pháp.
Như đề ở trên, giang hồ, hai nghĩa tương phản (tốt/xấu, tích cực/tiêu cực) vì vậy khi đề cập đến hai chữ nầy không nên nhìn phiến điện mà xét từng nhân vật, thời điểm cũng như vai trò của nó trong cuộc sống.
*
Sau năm 1975 ở trong Nam có hai bài thơ viết về Giang Hồ rất thú vị.
Nhà thơ Linh Phương, Thư ký tòa soạn tuần san Tinh Hoa Nữ Sinh 1967. Tác giả bài thơ Kỷ Vật Cho Em, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc trước năm 1975 được phổ biến rộng rãi. Tác phẩm đã xuất bản: Thơ Tình Linh Phương (Thơ – NXB. Ngựa Hồng – Sài Gòn 1967), Kỷ Vật Cho Em (Thơ – NXB. Động Đất – Sài Gòn 1971), anh đã phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến.
Giang Hồ
“Giang hồ từ thuở ta thất thế
Chí lớn không thành thà ẩn cư
Viễn xứ. Ờ! Thôi thì viễn xứ
Hết đời phiêu bạt chốn quê xa…
… Cha xưa cầm súng ra đánh trận
Bỏ xác trên rừng mấy mươi năm
Lần đi đưa tiễn – tay chưa nắm
Vạt áo che ngang mẹ khóc thầm…
… Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận
Vẫn thấy lòng đau rứt ruột đau
Thèm nghe tiếng dế thời thơ ấu
Ngắm cánh diều bay giữa vô cùng
Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận
Thầm hẹn mai này quy cố hương
Ta về làm bạn cùng chim chóc
Lẫn với muỗi mòng chín cửa sông”Bài thơ Giang Hồ của Phạm Hữu Quang, quê An Giang, cựu sinh viên Đại Học Sư Phạm Sài Gòn và Đại Học Cần Thơ, bị stroke lần thứ hai, qua đời ngày 28/4/2000 lúc 49 tuổi. Phạm Hữu Quang viết bài thơ vào tháng 5/1991.
Giang Hồ
“… Giang hồ đâu bận lo tiền túi
Ngày ta đi chỉ có tay không…
Giang hồ ta ghé nhờ cơm bạn
Đũa lệch mâm suông cũng gọi tình…
Giang hồ có buổi ta ngồi quán
Quán vắng mà ta chửa chịu về
Cô chủ giả đò nghiêng ghế trống
Đếm thấy thừa ra một gốc si
Giang hồ mấy bận say như chết
Rượu sáng chưa lưa đã rượu chiều
Chí cốt cầm ra chai rượu cốt
Ừ. Thôi. Trời đất cứ liêu xiêu
Giang hồ ta chẳng hay áo rách
Sá gì chải lược với soi gương…
Giang hồ ba bữa buồn một bữa
Thấy núi thành sông biển hoá rừng
Chân sẵn dép giày, trời sẵn gió
Ngựa về. Ta đứng. Bụi mù tung…
Giang hồ tay nải cầm chưa chắc
Hình như ta khóc mới hôm qua
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”.
Mấy câu thơ “Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận. Vẫn thấy lòng đau rứt ruột đau” (LP) và “Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt. Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà” (PHQ) quá tuyệt.
Hai bài thơ của Linh Phương và Phạm Hữu Quang trong hoàn cảnh xã hội lúc đó của bản thân tựa nhưi kẻ sĩ ngày xưa khi thất thế.
Lục Du viết “Chính xã hội thay đổi sau những biến cố lớn, quan niệm trong văn hóa truyền thống bị thay bằng những quan niệm duy vật, tôn sùng kim tiền, vật chất, không tin vào nhân quả, luân hồi đã tạo điều kiện cho cái xấu, cái ác lên ngôi, hình thành môi trường sống thuận lợi cho những người giỏi luồn lách ký ức”.
Trong quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ của nhà văn Khái Hưng ấn hành năm 1967, dày hơn bốn trăm trang gồm hồi.
Hồi 3: Tiêu Sơn Kết Nghĩa, “Trần Quang Ngọc, hai mươi nhăm tuổi, Phạm Thái hai mươi tuổi, Lê Báo mười chín tuổi, xin theo gương ngài cùng họ Lưu, họ Trương, kết nghĩa anh em, trước là để phò nhà Lê, sau nữa là để rửa thù cho cha chúng tôi. Tôi thề rằng tôi coi Phạm Thái, Lê Báo như hai anh em ruột, cũng hai người sống chết có nhau. Nếu tôi ở không đúng lời thề xin chết như thế nầy”. Hình ảnh 3 chàng trai trẻ với nghĩa khí vì vận mệnh đất nước lên vùng Kinh Bắc “kết nghĩa giang hồ” quá đẹp.
Hình ảnh Phạm Thái (1777-1813) quê làng Yên Thị, con của võ tướng Trạch Trung Hầu Phạm Đạt. Tuổi đôi mươi, Phạm Thái nối chí cha, kết giao với những người đồng chí hướng, khi bị truy nã thì cắt tóc, giả làm nhà sư vào tu ở chùa Tiêu Sơn, đặt đạo hiệu là Phổ Chiếu thiền sư. Đi tu được mấy năm, nhưng sự chưa đâu vào đâu thì Trương Đăng Thụ ốm chết, Phạm Thái hay tin liền vội vã về quê bạn ở làng Thanh Nê, Kiến Xương để điếu tang, rồi được gia chủ mến tài lưu lại trong nhà. Định mệnh run rủi, Phạm Thái gặp gỡ, xướng họa thơ văn rồi nảy lòng si tình Trương Quỳnh Như, em gái Trương Đăng Thụ. Cuộc tình không thuận, mẹ Trương Quỳnh Như nhất quyết muốn gả nàng cho gia đình giàu có Trịnh Nhị, khiến nàng phẫn uất tự vẫn. Đại nghiệp chưa thành, tình duyên đau khổ, Phạm Thái chẳng màng thế sự, trổ hết tài hoa làm thơ và lang bạt, rồi ốm đau tử tận ở Thanh Hóa lúc mới 36 tuổi”.
Trong tác phẩm nầy đề cập đến các tráng sĩ hoài Lê để chống lại nhà Tây Sơn. Nhân đây nhắc sơ về Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792) xuất thân từ Tây Sơn, Bình Định. Ba anh em Tây Sơn tam kiệt, lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chấm dứt cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh. Bắc Bình Vương Quang Trung đánh Nam dẹp Bắc lập nên nhiều chiến công hiển hách như Trận Ngọc Hồi – Đống Đa (Chiến Thắng Kỷ Dậu) làm quân Thanh xâm lược khiếp hồn bạt vía, và sau đó lên ngôi Hoàng Đế Quang Trung, chẳng may qua đời trong 4 năm làm vua, nên quân Tây Sơn như rắn mất đầu trong cuộc nội chiến và dẫn kết hậu quả thảm hại!
Trải qua một trăm năm mươi năm, Nguyễn Huệ không những chìm trong quên lãng mà lăng mộ thân xác cũng bị làm nhục! Từ danh tướng, hoàng đế trở thành tội đồ!…
Danh dự nhân vật lịch sử được phục hồi, vinh danh trở lại, ghi trang sử mới trong lịch sử Việt Nam. Thời Việt Nam Cộng Hòa Quang Trung – Nguyễn Huệ: Thánh Tổ binh chủng Quân Vận (hình ảnh ngảy xưa điều quân thần tốc). Chân dung Quang Trung được in trện tờ 200 đồng và nhiều con đường, ngôi trường mang tên Quang Trung, Nguyễn Huệ, ngay cả Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung… Đây cũng là giai đoạn bi thảm của lịch sử vì chỉ là chuyện vãn nên không đề cập nhiều sẽ lạc đề.
Giang hồ ngày xưa là vậy, giang hồ của kẻ sĩ trước hoàn cảnh nhiễu nhương của xã hội nên bôn ba kết nghĩa dấn thân cho đại cuộc. Giang hồ ngày xưa là hình ảnh những người chán cảnh ô trọc trong xã hội, không muốn vương lụy, bon chen nên tự chọn con đường phiêu lãng… Còn giang hồ ngày nay chỉ là phần tử “giá áo túi cơm” băng nhóm bất hảo, gian manh chỉ làm băng hoại xã hội!
Vương Trùng Dương, Little Saigon, December 2024
-
Ra mắt tuyển tập thơ nhạc của Dương Viết Điền
Tường trình: Vương Trùng Dương & Khánh Lan

Trưa Chủ Nhật 24/11/2024 nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức ra mắt tuyển tập Thơ & Nhạc của Dương Viết Điền trong vòng thân mật tại Viet Life Club, 15609 Beach Blvd., Westminster, CA 92683.

Nhà Văn Dương Viết Điền ra mắt sách

Sau phần chào Quốc Kỳ, Nhà Văn Việt Hải đại diện NVNT & TTG chào mừng quan khách tham dự, ông nói:

“Đã không biết bao nhiều lần tôi lên đây để thưa chuyện cùng quan khách, thế mà lần này tôi run quá, có lẽ vì mối thân tình mà tôi và VTNS Dương Viết Điền quá thân thiết trong hơn 30 năm qua và chúng tôi coi nhau như anh em trong một nhà…..”

Giáo Sư Trần Mạnh Chi cũng có mặt để chia vui cùng VTNS Dương Viết Điền nhưng ông phải về sớm vì có buổi họp quan trọng lúc 3:00 giờ chiều.

VTNS Dương Viết Điền và GS Trần Mạnh Chi

Các diễn giả gồm có sự góp mặt của Giáo Sư Trần Huy Bích, Văn Thi Sĩ Khánh Lan và MC Mộng Thủy. GS Trần Huy Bích nói về nội dung, ý thơ và những bản nhạc trong tuyển tập Thơ và Nhạc của Văn, Thơ, Nhạc Sĩ Dương Viết Điền,

Tiếp theo, Khánh Lan chia sẻ về hình thức, kỹ thuật layout và vẻ đẹp của tuyển tập sau khi in ấn. Khánh Lan đã duyệt qua 3 lãnh vực chính trong Tuyển Tập Thơ và Nhạc của VTNS Hạ Ái Khanh Dương Viết Điền, gồm những bài thơ viết cho người vợ thủy chung, Hoàng Thị Kim Cúc qua hai bài thơ Thương Em và Thương Người Vợ Ở Quê Nhà.
Thương em quá, lệ sầu thường nhỏ giọt
Khóc cho em, mai một tuổi xuân thì
Trời xanh kia, sao gây cảnh biệt ly
Để kẻ ở, người đi không về được…
…Ai xa vắng, mà không buồn tê tái
Ai xa nhau, mà không mãi sầu thương
Dù chuyện thần thoại, cũng vấn vương
Nói chi nữa, đến tình thương chồng vợ
Hay trong bài thơ THƯƠNG EM, DVD viết:
Ngày ấy năm nào
Thân cò lặn lội tìm vào Rừng sâu
Nuôi chồng “Cải tạo”, âu sầu
Đầm đìa giọt lệ, úa màu Thời gian
Nắng mưa, Những mấy thu tàn
Bao mùa lá rụng, triền miên ngậm ngùi….
Nói về tình mẫu tử, về hình bóng Mẹ già lên trại cải tạo thăm con và chờ đợi ngày người con tù tội trở về qua bài thơ Ra Thăm Mẹ đã gây lên sự xúc động trong lòng quan khách tham dự.
Chín năm biền biệt rừng sâu chưa về
Nay gặp mẹ, vui tràn trề
Mừng mừng, tủi tủi, mải mê chuyện trò
Mẹ hỏi con: “Thế bao giờ
Con về với mẹ, đợi chờ còn lâu?
Hay sự bàng hoàng trong nỗi mừng tủi lẫn lộn khi nhìn thấy Mẹ.
Thấy con mẹ khóc, ngẩng đầu nhìn chăm
Con mừng nhìn mẹ đăm đăm
Rưng rưng giọt lệ, chín năm mong chờ
Thấy mẹ con thật không ngờ
Mẹ nay khác hẳn, ngày xưa ở nhà
Thảo nà, nhìn mẹ không ra
Tóc mẹ bạc hết, tuổi già từ lâu
Da nhăn, má hóp, mắt sâu
Nhớ con mẹ khóc, mẹ sầu lắm không?

Và sau cùng, trong nỗi xót xa, chua chát khi Dương Viết Điền nhớ về những người bạn đã cùng ông sống sót trong cảnh lao tù, ông đã ví các người tù như những con hổ bị nhốt trong cái bẫy lao lý, không bản án, không hẹn ngày trở về qua bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ tặng Nguyễn Tường Tam (Lời con Hổ ở vườn Bách thú)
Gặm một khối, căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia, ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé, riễu oai linh rừng thẳmNay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò, lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy, cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo, chuồng bên vô tư lự.Ta sống mãi, trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,Với khi thét khúc, trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàngLượm tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm-thầm, lá gai, có sắc
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta, chúa tể của muôn loàiGiữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi…
Diễn giả sau cùng là MC Mộng Thủy, hơn bao giờ hết, cô thật duyên dáng, dí dỏm và yêu kiều trong phần nói chuyện cùng khán giả về “Những điều chưa biết về VTNS Dương Viết Điền”. Ai có thể ngờ rằng VTNS họ Dương của chúng ta đã từng là Hollywood Movie Star đóng vai “Anh Thượng-sáu múi” nay chỉ còn “một múi” (theo lời NVKG Vương Trùng Dương).
Hậu quả của 10 năm tù đầy, sức khỏe của VTNS Dương Viết Điền bị suy giảm rất nhiều trong thời gian gần đây, ông không còn tham dự vào nhiều sinh hoạt văn học trong cộng đồng như xưa cũng như với nhóm NVNT & TTG, nhưng lần nầy, ông đã cố gắng hiện diện trong buổi RMS.

Ngoài phần văn học, phần văn nghệ cũng rất đặc biệt với những bài hát do VTNS Dương Viết Điền phổ nhạc qua những bài thơ của ông. Với giọng ca ấm và truyền cảm của Thụy Lan đã đi vào lòng người và Khánh Lan cũng đã có cơ hội ngâm bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ để tặng ông và quan khách. Đây là buổi RMS đầu tiên mà NVNT & TTG đã lồng vào phần văn học với những tác phẩm mà tác giả sáng tác. Phần văn nghệ, chúng tôi nhận thấy có sự góp mặt của Ca Sĩ Ngọc Hà, Mạnh Bổng, Ngọc Quỳnh, Lệ Hoa, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Anh Hiếu, Huỳnh Anh, v.v…

DVĐ cùng Khóa Nguyễn Trãi I ở Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị với Nhà Văn Ký Giả Vương Trùng Dương và ông đã viết hai bài trong hồi ký Những Kỷ Niệm Với Các Nhạc Sĩ Việt Nam và trong tuyển tập nầy. Dương Viết Điền đã ấn hành khoảng hơn 20 tác phẩm gồm văn, thơ, nhạc từ khi định cư tại Los Angeles.
Kết thúc buổi RMS là phần cắt bánh chúc VTNS Dương Viết Điền nhiều sức khỏe để cùng sinh hoạt văn hóa với NVNT & TTG.

-
Lời Giới Thiệu Hồi Ký Sinh Lầm Thế Kỷ của Nhà Văn Khánh Lan
Vương Trùng Dương (Bài viết vừa đăng trong mục Văn Nghệ nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số 184, tháng 12/2024)

Trưa Chủ Nhật, 3 tháng 11 vừa, tại NT Studio, Westminster, ra mắt sách ba tác giả nữ Dương Hồng Anh, Khánh Lan và Kiều My, thuộc Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Buổi RMS đã được tường thuật của Văn Lan trên nhật báo Người Việt vào Thứ Thư 13/11/2024 và có buổi ra mắt năm tác và Khánh Lan, Kiều My trên trang mạng Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

Buổi RMS với các diễn giả Trần Huy Bích (Cõi Thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh), Phạm Thị Huê (Thi tập Bóng Thời Gian của Khánh Lan), Quyên Di (thi phẩm Như Lá Cỏ Tàn Phai của Kiều My), Phạm Gia Đại (Sinh Lầm Thế Kỷ của Khánh Lan) và Hoàng Đình Khuê (Tản văn Thêm Ngày Nửa Để Yêu Thương). Với các diễn giả trên thường tham dự và giới thiệu trong những lần RMS các tác giả, tác phẩm là niềm vinh dự trong nhóm NVNT & TTG suốt thời gian qua.
Với tác phẩm Sinh Lầm Thế Kỷ (Hồi ký của một linh hồn lạc lõng) của nhà văn Khánh Lan dày 146 trang, gồm 9 chương, trước khi ấn hành đã chuyển file M. Word cho nhà văn Phạm Quốc Bảo viết về cảm nghĩ và tôi viết Lời Giới Thiệu để in vào tác phẩm. Hồi ký không viết theo thứ tự thời gian các sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời.
Tác giả cho biết viết tác phẩm nầy trong một tuần lễ để theo dòng suy tưởng liên tục. Và sau đó tác giả dịch ra tiếng Anh với tựa đề Born In The Wrong Century. Thân phụ tác giả đã phục vụ trong Ngự Lâm Quân dưới thời Vua Bảo Đại (Quốc Gia Việt Nam) và sĩ quan trong QLVNCH vì vậy coi như thế hệ thứ hai của người Việt tị nạn góp mặt trong dòng văn học hải ngoại trong nửa thế kỷ lưu vong.

Lời Giới Thiệu (trang 13-20)
Trong bài thơ Phương Xa của nhà thơ Vũ Hoàng Cương (1915-1976) có hai câu: “Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ. Một đôi người u uất nỗi chơ vơ”. Với hai câu thơ nầy, thế hệ chúng tôi trải qua thời chinh chiến, tù đày và lưu vong đã mượn ý thơ để viết về thân phận đời trai “sinh bất phùng thời” trên quê hương. Và lần nầy, nhà văn nữ Khánh Lan với tác phẩm Sinh Lầm Thế Kỷ khoảng một trăm bốn mươi trang, 9 chương từ “Ký Ức Ngày Cha Mất” đến “Khánh” (tác giả, con út trong 6 anh chị em). Theo lời tác giả là truyện dài (chỉ thay đổi nhân vật) với tôi là hồi ký vì qua chín chương, tác giả ghi lại tất cả sự kiện xảy ra rất thật, chân tình từ khi sinh ra đến nay.
Khi đọc Sinh Lầm Thế Kỷ, cảm thấy xót xa, thương cảm… với từng giai đoạn vì đã trải qua bao nghịch cảnh, bi đát nhưng rồi cũng may mắn “hết bĩ cực đến thái lai”.
Theo lời Khánh Lan “Quyển sách viết về cuộc đời bản thân, trong gia đình và vài người bạn thân” với “người thật việc thật” nhưng vì lý do riêng rất tế nhị nên khác tên.
Trong quá khứ đã có những tác phẩm (hồi ký) của phái nữ được nổi tiếng như The Liars’ Club của Mary Karr, Fun Home: A Family Tragicomic của Alison Bechdel, Girl, Interrupted của Susanna Kaysen, Lucky của Alice Sebold, Men We Reaped của Jesmyn Ward, First They Killed My Father: A Daughter of Cambodia Remembers của Loung Ung, Mom & Me & Mom của Maya Angelou của Autobiography of A Face của Lucy Grealy…
Trong 3 chương đầu của tác phẩm, Khánh Lan viết về hoàn cảnh gia đình, tác giả khi còn bé thơ đã chứng kiến nỗi đau: “Ngày tang lễ, chiếc quan tài của Cha tôi đặt giữa hai hàng nến và hai dàn sĩ quan đứng chào. Hôm sau, người ta đưa tiễn Cha tôi đến Nghĩa Trang Quân Đội, dưới cơn mưa nặng hạt của cuối tháng Tám…” (Chương I: Ký Ức Ngày Cha Mất)
Thân mẫu phải lo chăm sóc nuôi nấng đàn con, may nhờ bà ngoại, có chỗ nương tựa nên các anh chị em được học hành, dấn thân trong cuộc sống.
Với 6 chương kế tiếp, ghi lại giai đoạn vào thời điểm tháng Tư năm 1975 cho đến thời gian ở Mỹ, trong đó nhắc lại ngày tháng cũ, nỗi đau của người mẹ trong nghịch cảnh: “Lần cuối cùng anh Phương về lễ Cha tôi là năm 1967 và cũng là lần cuối cùng Mẹ tôi nhìn thấy con”. (Chương III: Buổi Chia Ly)
Với trường hợp “Đương là một sinh viên y khoa của đại học Y Khoa Sài Gòn, anh Phương đột nhiên mất tích. Hay tin dữ, Mẹ tôi như chết điếng trong lòng, vật vã than trách đất trời và khóc hết nước mắt cho đến ngày Mẹ tôi nhắm mắt xuôi tay. Sự biến mất của anh Phương không ai hiểu vì sao, cho mãi đến sau này, khi anh Phương lén lút về thăm nhà trong ngày giỗ mãn tang của Cha tôi, Mẹ tôi mới biết được lý do tại sao anh Phương đã rời bỏ khuôn viên đại học để theo ‘cách mạng’ tập kết ra Bắc: rồi biệt tăm từ đó…” (Chương VI: Thảm Cảnh Gia Đình).
Trong khi đó, hai người anh của Khánh Lan: “Ngày mất Sài Gòn cũng là ngày mà gia đình tôi tan nát, kẻ ở người đi. Gia đình tôi sau tháng 4, 1975 còn hai anh Tuấn, Bảo và hai chị Thu, Thảo còn kẹt lại Sài Gòn. Anh Phương đã hy sinh trong chiến dịch mùa Xuân, Mùa hè đỏ lửa 1972 và được nhà nước Việt Nam ghi vào danh sách “tổ quốc ghi công”. Anh Tuấn trở thành người tù không bản án. Anh Bảo là giáo chức nên chỉ phải đi học tập cải tạo 3 ngày. Hai chị Thu và Thảo rơi vào một cuộc sống lao đao lận đận như bao nhiêu người đàn bà còn ở lại Việt Nam, và tôi, Khánh sống cô đơn nơi đất khách quê người…
“Anh Tuấn cũng rời bỏ mái trường cùng các bạn lên đường nhập ngũ… Biệt Động Quân. Cuối năm 1979, anh Tuấn được thả về sau 4 năm rưỡi tù cải tạo.
Anh Bảo được tin Ngoại, Mẹ tôi và chị Oanh mất (khi định cư ở Mỹ), anh như người mất trí, sống lang thang như người không nhà (homeless). Anh bỏ Sài Gòn ra Phước Tỉnh, rồi lại tử Phước Tỉnh về Sài Gòn, có lẽ anh hy vọng là sẽ tìm lại được vợ và con lưu lạc nơi nào trở về chăng? Sau 2 tháng lăn lộn, sống nay đây mai đó, anh Bảo về sống chung với hai chị tôi, Thu và Thảo. Nhờ sự chăm xóc của hai em, anh Bảo nguôi ngoai và bớt đau khổ…”
Thời điểm bỏ nước ra đi “Ngày 27/4/1975, vượt biên con tàu đánh cá tại Phước Tỉnh 1975 “Mang theo gia đình tôi gồm: Ngoại, Mẹ, chị Oanh, đứa con 8 tháng của chị và anh Bảo, và tôi. Tôi chưa đi biển bao giờ nên khi ra khơi bị say sóng và chẳng biết chuyện gì đã xảy ra cho gia đình mình. Khi tôi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trong phòng cấp cứu của Hàng Không Mẫu Hạm Hoa Kỳ USS Midway. Người y tá Mỹ cho tôi biết rằng tôi may mắn được mang lên tàu bởi một thủy thủ khi tôi nằm bất tỉnh trên boong tàu đánh cá. Tôi ngơ ngác nhìn quanh, không thấy gia đình tôi bên cạnh, tôi hoảng sơ, bật khóc!”
(Chương IV: Những Ngày Đen Tối Của Đất Nước, 30 Tháng 4 Năm 1975)
Ở Chương VII: Trái Tim Vụn Vỡ, đề cập đến người chị (Thu), theo lời kể với mối tình ngang trái với anh Hoài An, Thiếu Tá Cảnh Sát với bản án 13 năm tù ở núi rừng miền Bắc. Đây là chương tác giả viết dài nhất về người chị với anh Hoài An (tuy không chính thức) nhưng đã lặn lội thăm nuôi… Trong chuyến vượt biên, Thu cùng người em Thảo gặp phải hải tặc “Có 15 cô gái bị hiếp, nhiều cô mang bệnh giang mai, một cô có bầu, một cô nhảy xuống biển tự vẫn nhưng đã được cứu sống”. May mắn hai chị em nhờ lanh trí nên không lâm vào thảm cảnh đó. Khi định cư tại Mỹ, Thu đợi chờ Hoài An ra tù và sau đó được đoàn tụ ở Los Angeles.
Chương VIII: Hồng Nhan Đa Truân với người chị (Thảo) “Cuối năm 1979 khi chị Thảo định cư tại Mỹ thì anh Đức cũng được gia đình bảo lãnh qua Canada.
Một tháng sau, anh Đức đột nhiên biến mất mà không để lại một lời từ giã. Một tháng sau ngày anh Đức mất tích, chị Thảo nhận được một lá thư bí mật gởi từ Canada, tiết lộ là anh Đức hiện đang sống với một người đàn bà tại Texas… Chị Thảo như chết điếng trong lòng, chị khóc cả tuần, rồi cả tháng và buồn cả năm…”. Hết nỗi đau nầy đến nỗi đau khác, khi gặp Rahul, lái xe vận tải xuyên tiểu bang, tưởng chứng cuộc tình êm đẹp nhưng nào ngờ “Lần này chị mất cả chì lẫn chài vì khi đưa tiền cho Rahul chị không làm giấy tờ”. Và sau đó cũng rơi vào hoàn cảnh trớ trêu! Trong ba chị em thì người chị nầy của tác giả đáng thương hại nhất!
Qua hình ảnh của Phương (bạn của anh ruột tác giả), Tuấn là chồng của bạn thân, Thu là bạn khi định cư ở Mỹ, Thảo là chị của dâu (vợ của người anh ruột Bảo)… qua từng mẩu chuyện được kể lại và chứng kiến, tác giả linh động lồng vào người thân trong gia đình như “tự truyện”.
Chương IX: Khánh
Khánh Lan rời quê hương vào thời điểm đen tối của lịch sử trong tháng 4 năm 1975, tuy rời quê hương với phương tiện khác nhưng trường hợp của gia đình người bạn thân trong hoàn cảnh bi thảm ra đi bằng đường biển, bất chấp mạng sống để tìm lối thoát…
Dòng cuối của tác phẩm “Có lẽ trong 6 anh chị em tôi, tôi là người may mắn nhất và có một cuộc sống êm đềm không nhiều sóng gió”.
Như đã đề cập ở trên, tác giả viết bởi cảm xúc, chân tình cả người và sự kiện xảy ra, không có gì hư cấu, cường điệu. Trong những nhân vật được đề cập cả tốt lẫn xấu, nỗi khổ và niềm vui.
Với tựa đề Sinh Lầm Thế Kỷ, bản thân tác giả và trong gia đình cũng như những người thân đã lâm vào trường hợp như vậy cũng tương tự như nhiều gia đình khác trong thời kỳ chiến tranh, khi mất nước. Đây chỉ là vài ý chính trong tác phẩm, với cách hành văn và diễn đạt của tác giả sinh động và lôi cuốn, dẫn dắt người đọc cảm nhận những điều chia sẻ từ khổ đau đến hạnh phúc.
Tác phẩm (truyện) nhưng ghi Hồi Ký Viết Dưới Hầm của nhà văn Nga Dostoevsk năm 1865 (Memoir from Underground – Note du Sous-sol), tác giả ghi, chép (memoir – note) từ những sự kiện “tai nghe mắt thấy” xảy ra trở thành chứng nhân của giai đoạn lịch sử.
Và đây là tác phẩm thứ tám của nhà văn Khánh Lan. Trong bốn năm đã ấn hành tám tác phẩm gồm nhiều thể loại từ thơ, văn, tôn giáo, triết học… và sẽ ấn hành vài tác phẩm khác. Đọc tác phẩm Dĩ Vãng Khôn Nguôi, nay đọc Sinh Lầm Thế Kỷ, thật không ngờ nhà văn Khánh Lan trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã bước vào cõi văn chương nơi hải ngoại với “đôi hia bảy đạm”.
(Little Saigon, July 24. 2024 – Vương Trùng Dương)
*
Ngày xưa học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898) với tác phẩm Nỗi Oan Thế Kỷ đề cập đến thời kỳ của cụ trong giai đoạn lịch sử đầy biến động và bi thương.
Thời Việt Nam Cộng Hòa, người lính, nhà thơ Trần Hoài Thư đã viết nhiều bài thế hệ của anh (chúng tôi) sinh ra và lớn lên trong thời chinh chiến với vết sẹo từ một cuộc chiến tàn khốc. Vết sẹo từ những kẻ sinh lầm thế kỷ. Và hai câu thơ: “Thế hệ chúng tôi đã mang đầy vết sẹo. Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn”. Anh và tôi quen nhau khi ở trong Ban Biên Tập SVSQ ở trường Bộ Binh Thủ Đức khi tôi được gởi học giai đoạn đoạn I đầu năm 1967. Trong bài viết của tôi: Trần Hoài Thư & Thủ Đức Gọi Ta Về:
“Là nhà giáo, nhà văn, nhà thơ, gầy gò, cận thị… nhưng khi ra trường BB Thủ Đức lại về đơn vị tác chiến trong cương vị Trung Đội Trưởng của Đại Đội Thám Kích 405. Trần Hoài Thư đã 3 lần bị thương ngoài mặt trận… Thế nhưng anh không oán hận. Người lính vừa đánh giặc vừa cầm bút, “Cảm thấy mình thật hãnh diện, bởi vì tôi nguyên một giáo sư đệ nhị cấp, với đôi mắt cận 7 độ, gầy như que củi, từng được hoãn dịch vì lý do sức khỏe, lại có mặt tại một đơn vị đã từng tạo nên một thành tích kỷ lục có một không hai trong QLVNCH. Khó có một ai trong bất cứ đơn vị nào được Tướng Đỗ Cao Trí thăng cấp hai lần trong vòng hai tháng ngay tại mặt trận.” (Về Một Đại Đội Cũ). Và “Từ 405, tôi cũng đã mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả”. Thật là “Đại Đội 405 là một dấu ấn đậm sâu vào tâm trí của một người lính cũ” (Về Một Đại Đội Cũ). Đây cũng là chất liệu, môi trường trong sự nghiệp cầm bút của anh.
Tập truyện Ra Biển Gọi Thầm của Trần Hoài Thư gồm hai mươi truyện ngắn. Là người lính, Trần Hoài Thư thấm được cái đau của bản thân, cùng thế hệ trong cuộc chiến, của đồng đội khi vào sinh ra tử. Người lính bại trận bị đày đọa trong ngục tù, khi ra tù sống bất hạnh bên lề xã hội…
Trong tập truyện nầy, anh đã nói lên nỗi đau, bi phẫn trước và sau cuộc chiến với thế hệ tuổi trẻ của chúng tôi phải gánh chịu. Và có nhiều tác phẩm của người lính VNCH đã nói lên trong giai đoạn lịch sử bi thương nầy.
Với Khánh Lan tuy không trải qua “đoạn đường chiến binh” như chúng tôi trong thời chiến nhưng cũng là con người lính như bao cô gái khác chẳng may mang nỗi bất hạnh, bi thương, và thay mặt cho thế hệ hệ nầy của cô để trang trải nỗi đau đó qua Sinh Nhầm Thế Kỷ.
Little Saigon, November 2024
Vương Trùng Dương
-
Giới Thiệu Phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi
Tường Trình bởi NV Vương Trùng Dương

Vào 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 1/9/2024, tại Lavender (OC Entertainment), 14190 Beach Blvd, thành phố Westminster đã trình chiếu phim tài liệu My South Vietnam (song ngữ, lời Việt, phụ đề Anh ngữ).
Đầu năm 2022, Vietnam Film Club của đạo diễn Chu Lynh bắt đầu thực hiện bộ phim tài liệu My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi, phát hành tháng 12 năm 2022. Trong 2 năm qua, phim được trình chiếu khắp nơi và lần nầy ra mắt tại Little Saigon

Hình của buổi chiếu phim

Hơn 400 quan khách tham dự buổi chiếu phim
Vietnam Film Club được thành lập năm 2010 bởi giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và đạo diễn Chu Lynh.
GS Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016), năm 1954 du học tại Hoa Kỳ, sau nhiều năm làm việc ở ngoại quốc, về nước năm 1972 cùng với hiền thê là TS Đào Thị Hợi thành lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn, Cục Trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi, Tổng Giám Đốc sau cùng của Việt Tấn Xã.
Năm 1975 định cư ở Hoa Kỳ giảng dạy tại các đại học George Mason (1979-89), Trinity College (1979-81) và Georgetown University (1980-86). GS Nguyễn Ngọc Bích là Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) từ ngày thành lập cho đến lúc về hưu năm 2003.
Đạo diễn Chu Lynh, sinh năm 1945 tại Quảng Bình, 1954 di cư vào miền Nam. Theo học tại các trường Institut de la Providence Huế, Bình Minh Huế, Lê Bảo Tịnh Sài Gòn.

Đạo diễn Chu Lynh
Năm 1965 nhập ngũ khóa 22 tại Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức. Phục vụ trong ngành Quân Nhu. Sau năm 1975 bị tù nhiều năm.
Năm 1995, định cư tại Virginia, Hoa Kỳ theo diện H.O.
Năm 2005, thành lập Câu Lạc Bộ Đằng Phương (bút hiệu Đằng Phương của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy). Trước khi thành lập Vietnam Film Club đã thực hiện các phim tài liệu. Từ đó đến nay đã thực hiện nhiều phim tài liệu giá trị. Ngoài ra Chu Lynh cũng là tác giả với tác phẩm Mảnh Da Vàng…

Chu Lynh rất tâm huyết khi thực hiện bộ phim My South Vietnam 12 tập, mỗi tập một chủ đề riêng khoảng 30-50 phút, đề cập đến những lãnh vực của xã hội miền Nam trước năm 1975 và phần nào sau năm 1975.
Theo lời đạo diễn, bộ phim “Không những cho những người đã sống ở Miền Nam Việt Nam nhìn lại bức tranh miền Nam với những kỷ niệm, và những nỗ lực chiến đấu, xây dựng Miền Nam” của họ, mà còn cho người miền Bắc và giới trẻ không can dự vào chiến tranh hiểu được về xã hội thực của miền Nam. Và theo lời Chu Lynh VNCH đã thành quá khứ “Những cái gì xảy ra tại Miền Nam Việt Nam chỉ còn trong hồi tưởng và internet” vì vậy đạo diễn đã chịu khó đi khắp nơi phỏng vấn từ những vị thức giả, sĩ quan cao cấp, giới chức trong QLVNCH, những tù nhân chính trị, giới văn nghệ sỹ, giới truyền thông, giáo chức, thuyền nhân và người dân… tạo thành bức tranh toàn diện làm chứng nhân lịch sử.
Với tâm huyết của nhà làm phim, Vietnam Film Club không gây quỹ, không kêu gọi đóng góp, và cũng không có nhà bảo trợ. Các thành viên tự lo chi phí, và vì thế gặp nhiều khó khăn. Và khi trình diễn cũng “vào cửa miễn phí”.


Vẫn theo anh “Sở dĩ chúng tôi thực hiện các phim tài liệu, là vì chúng tôi thấy hải ngoại có nhiều video nói về lịch sử và chiến tranh Việt Nam trên internet, nhưng những video này chưa được thực hiện một cách có hệ thống về các khúc quanh lịch sử quan trọng”. Vả lại “Người Mỹ thường không hiểu và có cái nhìn sai lệch về cuộc chiến hoặc về Quân Đội VNCH, đa số những cuốn phim, những tác phẩm của họ là bào chữa cho sự rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam, và đổ lỗi cho Quân Đội VNCH.
… Lịch sử Việt Nam quá nhiều đau thương. Nói đến người dân Việt Nam là nói đến những thảm kịch của chịu đựng, đau khổ, chết chóc, tan nát trong chiến tranh và sau chiến tranh.
Chúng ta nên nhìn lại căn cước của mình thuộc về tổ tiên xây dựng đất nước và chống ngoại xâm. Nhìn nhau như vậy thì thấy gần gũi nhau hơn, và không lấy một chi tiết nhỏ như ‘anh theo đảng này, tôi đảng kia’ rồi trở thành đả kích, chia rẽ”.
Với tâm tư tình cảm của người con, người lính khi rời khỏi quê hương: “Người Việt Nam nên nghĩ thân phận dân tộc Việt Nam đã đau khổ quá nhiều trong chiến tranh. Tìm hiểu quá khứ để có những bài học, để lý giải được hiện tại, từ đó có cái viễn kiến về tương lai.
Người Việt Nam làm được việc nếu hiểu được quá khứ lịch sử của đất nước mình, và coi trọng tinh thần dân tộc hơn tất cả quyền lợi cá nhân và đảng phái.”

Phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi của đạo diện Chu Lynh tóm gọn 4 tập với từng chủ đề: Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – Văn Hóa Giáo Dục – Truyền Thông Báo Chí và Y Tế VNCH… Tất cả thể hiện tinh thần nhân bản, khai phóng của nền dân chủ tự do trong suốt hai thập niên qua. Sau năm 1975 nhìn lại các lãnh vực trên đã đảo ngược hoàn toàn.
Nếu đạo diễn Chu Lynh có cùng ê-kíp đủ điều kiện để khi khắp nơi trên thế giới, gặp gỡ thân hào nhân sĩ và đồng hương hải ngoại thì phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi trở thành tài liệu quý giá cho người Việt xa xứ. Không biết cuốn phim nầy đã phổ biến trên YouTube, người dân và giới trẻ có được theo dõi” Nếu được chuyển lửa là niềm vinh dự cho đạo diễn và cũng là hoài bão của chúng tôi.
Trước đây, khi phim My South Vietnam được trình chiếu, tôi viết tổng quát trong mục Văn Nghệ của tờ báo. Nay được trình chiếu ở Little Saigon nên viết đôi giòng giới thiệu với đồng hương.
Little Saigon, August 14, 2024
Vương Trùng Dương, Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa
Một vài hình ảnh trong buổi trình chiếu cuốn phim My South Vietnam

Dân Biểu Tạ Đức Trí và Cô Michelle Đỗ (đại diện cho văn phòng của bà Janet Nguyễn)


Các đại diện tiểu bang và học khu Westminster & Garden Grove
-
Nguyên Sa & Tám Phố Sài Gòn

Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường vào đầu thế kỷ XIX của khuyết danh chỉ đề cập tổng quát, được đề cập nhiều (Sau nầy có bài thơ của Nguyễn Bính nhưng không có gọi tên phố phường). Tác phẩm Hà Nội 36 Phố Phường của nhà văn Thạch Lam (1910-1942) ấn hành năm 1943 được phổ biến rộng rãi, được mọi người biết đến nếp sống, sinh hoạt… của Hà Nội xa xưa.
Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường trong tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang năm 1940:
“Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng có để một tơ vương.
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Góp lại đường đi: vạn dặm đường…
Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng đã dứt một tơ vương,
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác.
– Có một người đi giữa đám tang”.
Bài thơ chỉ là tâm trạng của chàng trai khi lang thang trên phố cổ, nếu không ghi “Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường” thì có thể nơi đó cũng gán cho cố đô Huế, phố cổ Hội An…
Bài thơ Hà Nội 36 Phố Phường của khuyết danh (?) in trong quyển Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của học giả Dương Quảng Hàm ấn hành năm 1942:
“Rủ nhau chơi khắp Long Thành,
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai,
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay,
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày,
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Ngang,
Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng,
Hàng Muối, Hàng Nón, cầu Đông,
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè,
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre,
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà.
Quanh đi đến phố Hàng Da,
Trải xem Hàng phố, thật là cũng xinh.
Phố hoa thứ nhất Long Thành,
Phố giăng mắc cửi, đàn quanh bàn cờ.
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền”
Như vậy hình ảnh Hà Nội vào thập niên 1940’ tiêu biểu qua tùy bút của Thạch Lam và hai bài thơ.
Với Sài Gòn đã có nhiều tác phẩm trước năm 1975 như hồi ký Địa Danh Cũ Sài Gòn của Bình Nguyên Lộc, Đất Gia Định – Bến Nghé Xưa & Người Sài Gòn, Giới Thiệu Sài Gòn Xưa (300 Năm)… của Sơn Nam, Sài Gòn Năm Xưa của Vương Hồng Sển… nhưng ít được biết đến như tác phẩm của Thạch Lam.
Thi ca về Sài Gòn từ năm 1975 trở về trước cũng khá nhiều nhưng đặc biệt với bài thơ Tám Phố Sài Gòn của Nguyên Sa.
Trong thời kỳ Việt Minh Trần Bích Lan (Nguyên Sa) bị bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài Pháp, học triết tại đại học Sorbonne, Paris. Năm 1955 lập gia đình với bà Trịnh Thúy Nga, gặp nhau trên đất Pháp năm 1953 (bà ở Hà Nội du học năm 1952). Đầu năm 1956, ông bà về sống tại Sài Gòn. Ông dạy triết tại Trường Trung học Chu Văn An, cũng có thời gian dạy triết tại Đại Học Văn khoa Sài Gòn. Ông mở hai trường tư thục là Văn Học và Văn Khôi và dạy triết các trường trung học ở Sài Gòn. Năm 1960, Nguyên Sa thành lập tờ Gió Mới (cùng với Trần Dzạ Từ) và cùng năm Nguyên Sa ra đời tạp chí Hiện Đại nhưng chỉ “thọ” được 9 số.
Nguyên Sa – Trần Bích Lan đã ấn hành những tác phẩm, sách nhiều thể loại Biên Khảo, Truyện Dài, Truyện Ngắn, Bút Ký & Hồi Ký, Sách Giáo Khoa, Triết… nhưng thường gọi là nhà thơ Nguyên Sa với 4 tập Thơ Nguyên Sa (1957-1998). Thơ Nguyên Sa toàn tập (2000) và Nguyên Sa, Cuộc Hành Trình Trên Là Lục Bát do hiền thê của ông ấn hành. Với bút hiệu Hư Trúc (nhân vật trong Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung) qua các bài viết phiếm, bút chiến, không ân hành tác phẩm nào. Riêng tập thơ Những Năm Sáu Mươi trong thời gian nhập ngũ. Tập thơ nầy không được Bộ Thông Tin cấp giấy phép xuất bản, năm 1971 nhà xuất bản Trình Bày của Thế Nguyên in lén qua hình thức quay roneo, phổ biến hạn chế trong thân hữu.
Tháng 12/1966 ông động viên vào khóa 24 Trường Bộ Binh Thủ Đức và ở trong Ban Biên Tập SVSQ liên khóa 23 & 24 của nguyệt san Bộ Binh Thủ Đức (tôi biết ông khi ở trong BBT nầy). Ông phục vụ tại Trường Quốc Gia Nghĩa Tử cho đến tháng 4/1975 định cư ở Pháp, sau đó về định cư tại Little Saigon.
(Năm 1998, tôi viết bài Nguyên Sa: Lời Thơ Ý Nhạc… trên tờ Thế Giới Nghệ Thuật, trước khi ông qua đời, ghi rõ về cuộc đời nhà thơ và những bài thơ được phổ nhạc). Vì vậy trong bài viết nầy chỉ đề cập với bài thơ Tám Phố Sài Gòn bài thơ 8 khổ 32 câu vào năm 1965.
Trong Hồi Ký Nguyên Sa (Đời, 1998), gồm bốn phần, không theo trình tự thời gian, ghi chép lại những biến cố trong cuộc sống trải qua những biến động của xã hội cùng những nhân vật thời thế… Trong đó ông đề cập đến bài thơ Tám Phố Sài Gòn, theo ông ghi lại trong hồi ký thì bài thơ nầy xuất hiện trên Số Xuân năm 1965 của tờ Văn theo lời yêu cầu của ông Nguyễn Đình Vượng. (Tạp chí Văn, do Trần Phong Giao đảm nhận từ số 1 năm 1964 đến cuối năm 1971. Ông Nguyễn Ðình Vượng mời hai nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng và Mai Thảo thực hiện cho đến tháng 4/1975).
Tám Phố Sài Gòn
“Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều
Cánh tay tà áo sát vòng eo
Có nghe đôi mắt vòng quanh áo
Năm ngón thơ buồn đứng ngó theo
Sài Gòn phóng solex rất nhanh
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants
Có nghe hơi thở cài vương miện
Lên tóc đen mềm nhung rất nhung
Sài Gòn ngồi thư viện rất nghiêm
Tờ hoa trong sách cũng nằm im
Đầu thư và cuối cùng trang giấy
Những chữ y dài trông rất ngoan
Sài Gòn tối đi học một mình
Cột đèn theo gót bóng lung linh
Mặt trăng theo ánh đèn: trăng sáng
Đôi mắt trông vời theo ánh trăng
Sài Gòn cười đôi môi rất tròn
Vòng cung mầu đỏ, nét thu cong
Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng
Hay đã đưa dần sang nhớ mong
Sài Gòn gối đầu trên cánh tay
Những năm mười sáu mắt nhìn mây
Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn
Tiếng nhạc đang về dang cánh bay
Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa
Thứ Bảy Sài Gòn đi Bonard
Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ
Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng
Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân
Lưng trời không có bầy chim én
Thành phố đi về cũng đã Xuân”
Bài thơ cho báo Xuân mà chỉ có chữ Xuân cuối bài thơ. Sài Gòn tám phố, tuy có mười lần nhắc đến tên Sài Gòn và hình ảnh con đường Bonard vào thời Pháp thuộc đã đổi tên đường Lê Lợi sau năm 1954.
Lúc đó nhà thơ Nguyên Sa đã nổi danh nên không có ai nói tám phố Sài Gòn mà chẳng thấy hình ảnh tám phố thế nào (như bài thơ về Hà Nội của Nguyễn Bính), ít ra như Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn của nhà thơ Du Tử Lê:
“Đêm về theo bánh xe qua
Nhớ em xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh…
Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giản trưa hè Tự Do
Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè
Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường”
Bài thơ nầy được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc cùng tên và tôi đã viết vào năm 2007 khi uống cà phê với nhau, được Du Tử Lê chia sẻ.
Về địa danh, ngày 22/10/1956 của Tổng Thống VNCH ban hành sắc lệnh Đô Thành Sài Gòn – Chợ Lớn đổi thành Đô Thành Sài Gòn có 8 quận: Quận Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy và Tám.
Ngày 10 tháng 10 năm 1965, Tổng Long Vĩnh Hạ lại được tách khỏi quận Dĩ An, nhập trở lại quận Thủ Đức. Năm 1967 xã An Khánh được cắt khỏi quận Thủ Đức, nhập vào Quận 1 của Đô Thành Sài Gòn và được chia thành hai phường là An Khánh và Thủ Thiêm. Sau, 2 phường An Khánh và Thủ Thiêm lại được tách ra để thành lập Quận 9 của Đô Thành Sài Gòn. Tuồng cải lương “Ông Cò Quận 9” hay “Tuyệt Tình Ca” của Hà Triều – Hoa Phượng vào năm 1965, lúc đó chưa có quận 9 nên đặt tên để tránh sự đụng chạm.
Sau Tết Mậu Thân 1968, người dân tản cư về Đô Thành sinh sống rất đông vì vậy Tòa Đô Chánh Sài Gòn thành lập thêm hai quận nầy vào khoảng tháng 7/1969, nâng số quận tại Đô Thành thành 11 quận.
Với bài thơ Paris Có Gì Lạ Không Em? và Tám Phố Sài Gòn là hai địa danh qua dòng thơ Nguyên Sa trải qua nhiều thập niên vẫn được yêu thích. Với tâm hồn lãng mạn với hình ảnh giai nhân trong Tám Phố Sài Dài Gòn như: Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants. Có nghe hơi thở cài vương miện. Lên tóc đen mềm nhung rất nhung… Guốc cao gót nhỏ mây vào gót. Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ”. Trong khi Paris Có Gì Lạ Không Em với hình ảnh: “Anh về giữa một giòng sông trắng, Là áo sương mù hay áo em?… Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay. Tóc em anh sẽ gọi là mây… Vì em hay một vừng trăng sáng. Đã đắm trong lòng cặp mắt em?”có lẽkhông dễ thương như bóng hồng ở Sài Gòn (?).
Tạp chí Văn Học số 99, ngày 15/12/1969 với chủ đề Nguyên Sa, thi sĩ của tình yêu. (Trong số nầy có cuộc phỏng vấn của Vũ Bằng, Thượng Sỹ, Phan Kim Thịnh với Nguyên Sa và nhà thơ nói đến quan điểm về thơ). Ngoài những nhà thơ từ thời tiền chiến, Nguyên Sa là một trong những nhà thơ trẻ ở miền Nam VN vào giữa thập niên 1950’ & 1960’ nổi bật về lãnh vực nầy. Tuy nhiên trong Hồi Ký Nguyên Sa “Tôi là người làm thơ, thơ tình, mà vẫn xúc động trước những khổ đau của quê hương, dân tộc tôi”
Những bài thơ tình lãng mạn của ông như “thông điệp tình yêu” (bài thơ Cần Thiết) của một thời sinh viên, học sinh đi vào lớp học “Không có anh lấy ai đưa em đi học về. Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học” hay “Thơ học trò anh chất lại thành non. Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu” và “Cả những giờ bên lớp học, trường thi. Tà áo khuất thì thầm: ‘chưa phải lúc…’. Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường”…
Bài thơ Buổi Sáng Học Trò với hình ảnh: “Trang sức bằng nụ cười phì nhiêu. Nhẩy bằng chân chim trên giòng suối cạn. Ấy là em trên đường đi buổi sáng. Trăng ở trên môi và gió ở trong hồn. Mái tóc mười lăm trên lá tung tăng. Em ném vào phố phường niềm vui rừng núi”. Nụ cười phì nhiêu không có trong tự điển và đây lần đầu tiên nhà thơ đề cập đến.
Bài thơ Áo Lụa Hà Đông với tuổi học trò mới chớm yêu mà “Gặp một bữa anh đã mừng một bữa. Gặp hai hôm thành nhị hỉ của tâm hồn. Thơ học trò anh chất lại thành non. Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu”. Nhiều bài thơ của Nguyên Sa đã được phổ nhạc, bài thơ nầy Ngô Thụy Miên phổ nhạc năm 1971 và sau nầy ở hải ngoại đến với nhau với nhiều tình khúc, điển hình như: Tháng Sáu Trời Mưa, Paris Có Gì Lạ Không Em, Tuổi Mười Ba, Cần Thiết… (Bài thơ Cần Thiết trước kia do Song Ngọc phổ nhạc, và nhạc sĩ Anh Bằng dựa theo ý thơ phổ thành ca khúc Nếu Vắng Anh vào năm 1971. Khi nhạc phẩm được ấn hành cũng là món quà của người lính tặng cho người yêu khi rời hậu phương).
Trong bài thơ Tám Phố Sài Gòn, nhà thơ không phải là người con của Nam Kỳ Lục Tỉnh mà viết “Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng”, chữ “cưng” là cách xưng hô quen thuộc, thân mật, trìu mến, thông dụng trong giao tiếp với nhau dù thân, sơ trong gia đình, ngoài xã hội của người miền Nam. Sau nầy rất phổ biến trong đôi lứa, bạn bè (nữ) và người thân. Trong các tác phẩm của Hồ Trường An thường dùng các gọi chữ “cưng” như “mèn ơi! Cưng”…
Nửa thế kỷ trôi qua, sống nơi xứ người, tuy không còn tên Sài Gòn nữa nhưng với nơi chốn đó “gọi nhau bằng cưng” cảm thấy như người thân.
Những lời ngắn ngủi, chân tình như: “Cưng ơi, chỉ dùm nhà của bà X… Chỗ này có ai ngồi không cưng?”, “Mua giùm dì đi cưng”… Khi thấy tai nạn xảy ra “Trời ơi, có sao hông cưng!”, “Tội nghiệp cưng quá”… Chỉ một chữ nhưng thể hiện nét đẹp trong văn hóa xử thế… Là dân Hà Nội, khi sống trong Nam, nhà thơ nhân cách hóa địa danh rất tuyệt.
Qua biến thiên của cuộc đời, nhà thơ Nguyễn Đình Toàn với nỗi niềm với Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên. Mất từng con phố đổi tên đường… Sài Gòn ơi! Tôi mất người như người đã mất tôi. Như trường xưa mất tuổi thiên thần… Còn gì đâu…”. Và nay, người con xa xứ vẫn coi nơi chốn nầy như câu thơ Nguyên Sa “Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng” khi nhà thơ nhân cách hóa rất tuyệt.
Sau thời gian lâm bệnh, sau khi giải phẫu, sức khỏe yếu kém, nhà thơ qua đời ngày 18/4/1998. Là nhà giáo, nhà văn với nhiều sách, tác phẩm nhưng thơ là tim, óc của Nguyên Sa, có lẽ bài thơ Sợi Tóc sáng tác cuối cùng như “di cảo” khắc trên mộ bia của nhà thơ ở Peek Funeral Home (Little Saigon) khắc 6 câu thơ lục bát:
“Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau?
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”
Nhà thơ Nguyên Sa của Sài Gòn năm xưa, khi định cư tại Paris có nhiều bạn bè, thân hữu nhưng bỏ “kinh đô ánh sáng” đến miền nắng ấm Nam California và an giấc nghìn thu tại nghĩa trang ở Little Saigon vĩnh viễn “Nằm chơi ở góc rừng này”. Trần Bích Lan trở về thuở nguyên sơ hạt cát (sa) nhưng hạt cát vĩnh cữu trong dòng sinh mệnh Văn Học Việt Nam.
Little Saigon, August, 2024
Vương Trùng Dương
-
MY SOUTH VIETNAM

Vào 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 1/9/2024, tại Lavender (OC Entertainment), 14190 Beach Blvd, thành phố Westminster sẽ trình chiếu phim tài liệu My South Vietnam (song ngữ, lời Việt, phụ đề Anh ngữ).
Đầu năm 2022, Vietnam Film Club của đạo diễn Chu Lynh bắt đầu thực hiện bộ phim tài liệu My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi, phát hành tháng 12 năm 2022. Trong 2 năm qua, phim được trình chiếu khắp nơi và lần nầy ra mắt tại Little Saigon
Vietnam Film Club được thành lập năm 2010 bởi giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và đạo diễn Chu Lynh.
GS Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016), năm 1954 du học tại Hoa Kỳ, sau nhiều năm làm việc ở ngoại quốc, về nước năm 1972 cùng với hiền thê là TS Đào Thị Hợi thành lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn, Cục Trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi, Tổng Giám Đốc sau cùng của Việt Tấn Xã.
Năm 1975 định cư ở Hoa Kỳ giảng dạy tại các đại học George Mason (1979-89), Trinity College (1979-81) và Georgetown University (1980-86). GS Nguyễn Ngọc Bích là Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) từ ngày thành lập cho đến lúc về hưu năm 2003.
Đạo diễn Chu Lynh, sinh năm 1945 tại Quảng Bình, 1954 di cư vào miền Nam. Theo học tại các trường Institut de la Providence Huế, Bình Minh Huế, Lê Bảo Tịnh Sài Gòn.
Năm 1965 nhập ngũ khóa 22 tại Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức. Phục vụ trong ngành Quân Nhu. Sau năm 1975 bị tù hơn 10 năm.
Năm 1995, định cư tại Virginia, Hoa Kỳ theo diện H.O.
Năm 2005, thành lập Câu Lạc Bộ Đằng Phương (bút hiệu Đằng Phương của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy). Trước khi thành lập Vietnam Film Club đã thực hiện các phim tài liệu. Từ đó đến nay đã thực hiện nhiều phim tài liệu giá trị. Ngoài ra Chu Lunh cũng là tác giả với tác phẩm Mảnh Da Vàng…
Chu Lynh rất tâm huyết khi thực hiện bộ phim My South Vietnam khoảng mười tập, mỗi tập một chủ đề riêng khoảng 30-50 phút, đề cập đến những lãnh vực của xã hội miền Nam trước năm 1975 và phần nào sau năm 1975.
Theo lời đạo diễn, bộ phim “Không những cho những người đã sống ở Miền Nam Việt Nam nhìn lại bức tranh miền Nam với những kỷ niệm, và những nỗ lực chiến đấu, xây dựng Miền Nam” của họ, mà còn cho người miền Bắc và giới trẻ không can dự vào chiến tranh hiểu được về xã hội thực của miền Nam. Và theo lời Chu Lynh VNCH đã thành quá khứ “Những cái gì xảy ra tại Miền Nam Việt Nam chỉ còn trong hồi tưởng và internet” vì vậy đạo diễn đã chịu khó đi khắp nơi phỏng vấn từ những vị thức giả, sĩ quan cao cấp, giới chức trong QLVNCH, những tù nhân chính trị, giới văn nghệ sỹ, giới truyền thông, giáo chức, thuyền nhân và người dân… tạo thành bức tranh toàn diện làm chứng nhân lịch sử.
Với tâm huyết của nhà làm phim, Vietnam Film Club không gây quỹ, không kêu gọi đóng góp, và cũng không có nhà bảo trợ. Các thành viên tự lo chi phí, và vì thế gặp nhiều khó khăn. Và khi trình diễn cũng “vào cửa miễn phí”.
Vẫn theo anh “Sở dĩ chúng tôi thực hiện các phim tài liệu, là vì chúng tôi thấy hải ngoại có nhiều video nói về lịch sử và chiến tranh Việt Nam trên internet, nhưng những video này chưa được thực hiện một cách có hệ thống về các khúc quanh lịch sử quan trọng”. Vả lại “Người Mỹ thường không hiểu và có cái nhìn sai lệch về cuộc chiến hoặc về Quân Đội VNCH, đa số những cuốn phim, những tác phẩm của họ là bào chữa cho sự rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam, và đổ lỗi cho Quân Đội VNCH.
… Lịch sử Việt Nam quá nhiều đau thương. Nói đến người dân Việt Nam là nói đến những thảm kịch của chịu đựng, đau khổ, chết chóc, tan nát trong chiến tranh và sau chiến tranh.
Chúng ta nên nhìn lại căn cước của mình thuộc về tổ tiên xây dựng đất nước và chống ngoại xâm. Nhìn nhau như vậy thì thấy gần gũi nhau hơn, và không lấy một chi tiết nhỏ như ‘anh theo đảng này, tôi đảng kia’ rồi trở thành đả kích, chia rẽ”.
Với tâm tư tình cảm của người con, người lính khi rời khỏi quê hương: “Người Việt Nam nên nghĩ thân phận dân tộc Việt Nam đã đau khổ quá nhiều trong chiến tranh. Tìm hiểu quá khứ để có những bài học, để lý giải được hiện tại, từ đó có cái viễn kiến về tương lai.
Người Việt Nam làm được việc nếu hiểu được quá khứ lịch sử của đất nước mình, và coi trọng tinh thần dân tộc hơn tất cả quyền lợi cá nhân và đảng phái.”
Phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi của đạo diện Chu Lynh tóm gọn 4 tập với từng chủ đề: Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – Văn Hóa Giáo Dục – Truyền Thông Báo Chí và Y Tế VNCH… Tất cả thể hiện tinh thần nhân bản, khai phóng của nền dân chủ tự do trong suốt hai thập niên qua. Sau năm 1975 nhìn lại các lãnh vực trên đã đảo ngược hoàn toàn.
Nếu đạo diễn Chu Lynh có cùng ê-kíp đủ điều kiện để khi khắp nơi trên thế giới, gặp gỡ thân hào nhân sĩ và đồng hương hải ngoại thì phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi trở thành tài liệu quý giá cho người Việt xa xứ. Không biết cuốn phim nầy đã phổ biến trên YouTube, người dân và giới trẻ có được theo dõi” Nếu được chuyển lửa là niềm vinh dự cho đạo diễn và cũng là hoài bão của chúng tôi.
Trước đây, khi phim My South Vietnam được trình chiếu, tôi viết tổng quát trong mục Văn Nghệ của tờ báo. Nay được trình chiếu ở Little Saigon nên viết đôi giòng giới thiệu với đồng hương.
Little Saigon, August 14, 2024
Vương Trùng Dương, Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa
-
VƯƠNG TRÙNG DƯƠNG, MỘT CÂY BÚT DA DIỆU

Hơn ba mươi năm trở lại đây, trên các báo Việt ngữ ở hải ngoại, độc giả đã quen biết bút hiệu Vương Trùng Dương, một cây bút viết nhanh, viết đều, đủ loại, viết những gì cần thiết, trên rất nhiều phương tiện thông tin, báo giấy, báo mạng, nhật báo lẫn tuần báo, tạp chí, những blog, web văn học.
– Viết nhanh, và đều. Rất nhanh, mỗi ngày có một sự kiện gì trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, âm nhạc, là chỉ cách một vài ngày sau đó, đã có ngay bài viết của Vương Trùng Dương. Dù một bản tin vẫn có ít nhiều tư/tài liệu cần biết về sự vụ ấy.
– Viết đủ loại. Một tác phẩm mới của một tác giả vừa ra mắt độc giả, một văn nghệ sĩ vừa qua đời, một cuộc triễn lãm hội họa, một đêm ca nhạc tầm cở, buổi thuyết trình văn học đáng lưu tâm, đều có bài viết của Vương Trùng Dương. Khi là tường thuật hiện tình, đôi khi là một bài nhận định, tiểu luận. Đương nhiên, theo cách viết “trường phái nhanh gọn” Vương Trùng Dương, không phải “chuyên sâu” như các phê bình gia chuyên nghiệp. Nhưng với Vương Trùng Dương, ta có ngay “Cái để đọc”.
Đây là một lợi điểm của Dương, trong một nhơn loại đương thì, cần thức ăn nhanh, ham cái “biết ngay tích tắc”. Thái độ chung hiện nay của quần chúng, qua mọi lĩnh vực, là lướt qua, lướt qua. Nhưng những qua nhanh này là biểu kiến của văn minh, của tiến hóa, không là cái lụp chụp kiểu ăn xổi ở thì.
– Viết những gì cần thiết. Mỗi ngày, mỗi tỉ sự vụ, làm sao viết cho hết. Sự phân loại, lựa ra những hiện tình cần thiết để loan, đề viết về, là một nghệ thuật. Vương Trùng Dương đã rất nhạy bén, nên đã có hằng trăm bài về các nhạc sĩ, văn gia, thi sĩ, những nhân vật nổi tiếng, xưa, tận nay.
Qua hàng chục năm cầm bút, Vương Trùng Dương, đã viết về những tên tuổi được liệt kê dưới đây:
– Nhạc sĩ, ca sĩ:
Hoàng Trọng, Đoàn Chuẩn, Lê Thương, Lê Trọng Nguyễn, Lan Đài, Trầm Tử Thiêng, Song Ngọc, Hoàng Nguyên, Lê Trạch Lựu, Nguyễn Văn Đông, Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nguyễn Hiền, Vũ Đức Nghiêm, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Đan Thọ… Thái Thanh, Mộc Lan, Thanh Thúy, Hà Thanh, Lệ Thanh, Lê Thu, Mai Hương…
– Nhà văn, nhà thơ:
Khái Hưng, Nhất Linh, Phan Khôi, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thạch Kiên, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Bà Tùng Long, Cung Tích Biền, Nguyện Thị Thụy Vũ, Linh Bảo, Văn Quang, Văn Phan, Nguyễn Quang, Hà Mai Anh, Nguyễn Thụy Long, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Mai Trung Tĩnh, Võ Thạnh Văn, Trạch Gầm, Trần Yên Hòa, Dương Viết Điền, Phan Xuân Sinh, Lê Đức Luận…
Hoàng Cầm, Quang Dũng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Hữu Loan, Nguyễn Bá Trác, Nguyên Sa, Lê Trạch Lựu, Lê Thương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đình Toàn, Du Tử Lê, Trần Tuấn Kiệt, Hà Huyền Chi, Phan Nhự Thức, Lê Văn Trung, Trần Văn Sơn…
– Nhà nghiên cứu, nhà giáo:
Hồ Biểu Chánh, Trần Huy Bích, Lê Văn Khoa, Lê Mộng Nguyên… Những đề tài liên quan về Văn học Nghệ thuật, Âm nhạc…
Nhìn chung, Cõi viết của Vương Trùng Dương thiên về âm nhạc. Tâm sự về ngọn nguồn “ma đưa lối quỷ dẫn đường” vào cái cõi réo rắc lênh đênh của dây tơ tiếng kèn, chính Dương đã có lời tâm sự. Rằng thì, từ thuở bé anh đã say mê lời ca tiếng hát. Âm nhạc giúp anh hiểu biết hơn, giải khuây khi buồn, làm dịu cơn đau, mở rộng tâm hồn để tiếp cận với cái đẹp của thiên nhiên, con người.
Xem ra, hơn nửa số lượng Dương đã viết là về âm nhạc. Món này nó đa đoan diễm lệ hơn chốn văn chương thơ phú, hội họa rất nhiều. Bởi vì nó luôn, anh anh em em, người tình già đầu non, cô tình trẻ chỗ cổng trường; trong thị thành con đường tình bóng mát lá me bay, nơi chiến trường lửa đạn xương gãy thịt rụng tùm lum, vầy mà qua âm nhạc, tình huống nào cũng gởi gắm được cái nhớ nhung quyến luyến, quanh quẩn với Chữ Tình. Nhà văn, bị người tình cho ra rìa, hiếm khi ngồi kỳ khu, ra công viết cái truyện tả oán. Nhưng với một nhạc sĩ, lời than van tình lỡ tình sầu, tình oan trái, tình thiên thu, tình trong giây phút, tình nghèo tình muộn tình xa’’… lắm khi lại trở thành những tuyệt tác.
Nhạc sĩ nói riêng, âm nhạc nói chung là vị thần tình ái. Đủ mùi ca ngâm chỗ biệt ly tái hội. Tiếng tơ đồng, nhịp phách, lời ca nó xoáy vào tâm can con người, đục thẳng và tức thì, hơn mắt phải đọc, mặt phải nhìn từng dòng từng trang chữ. Lại khổ chữ lớn chữ nhỏ trên giấy tốt giấy xấu, đeo kính vào gỡ kính ra. Viễn thị cận thị thậm chí đui mắt vẫn rung cảm khi nghe tiếng nhạc. Nấu bếp, nhậu nhẹt, ngủ với vợ, là lúc sách vở, tranh họa đi chỗ khác chơi, bấy giờ tiếng nhạc lời ca lên ngôi.
Vương Trùng Dương mê nhạc, viết về âm nhạc, là đúng vậy rồi.
Luôn luôn làm việc nhưng thấy Dương cũng khá thảnh thơi. Mỗi sáng luôn có mặt ở một quán cà phê quen thuộc, cùng anh em, ngay cả thời gian 7 năm, phụ trách Section B (bài vở và layout) nhật báo. Những câu chuyện văn nghệ, lan man những sự đời gió trăng mây nước. Dương luôn vui vẻ, khiêm tốn, hài hòa thân thiện với mọi người. Văn là người. Văn phong của Dương cũng nhẹ nhàng, thoáng đảng. Chữ nghĩa khá dể hiểu.
*
Một khối tình con. Vì đời còn là một bài thơ.
Vương Trùng Dương, tên khai sinh là Trần Ngọc Dưỡng, sinh đầu tháng 2 năm 1945 (âm lịch tuổi Giáp Thân) tại Quảng Nam. Gia đình của Dương, từ lâu, định cư tại Chợ Được, một ngôi chợ khang trang nằm bên bờ sông Trường. Chợ cũng là bến ghe thuyền. Đò dọc theo sông dài, đò ngang qua bên kia sông là vùng ven biển Đông. Gần biển, những đêm mùa đông, trong chiếu chăn hãy còn nghe tiếng sóng biển ầm vang.
Buổi chiều, đêm trăng, ngồi bến sông Chợ Được, nhìn sông dài trời rộng, những thuyền trôi, đẹp vô cùng. Sông Trường, non chín mươi năm trước, khi tôi tuổi lên mười, là con sông huyền hoặc, khá đặc biệt của Xứ Quảng.
Tại miền Trung Việt, hầu hết các con sông đều bắt nguồn từ cao, trong lòng dãy Trường Sơn, đổ xuống đồng bằng rồi ra cửa biển. Sông Trường không như thế. Nó chảy dọc theo bờ biển, gần như song song với con đường Cái quan, từ bắc vào nam. Nếu gọi nó có nguồn từ nam ra bắc cũng chẳng ai cãi cọ. Vì nó là một hợp dòng từ hai cửa biển chảy qua về với nhau. Phía bắc là cửa Đại, Hội An, phương nam là cửa An Hòa, Tam Kỳ.
Chẳng ai hiểu nó bắt nguồn từ cửa biển nào. Nên chẳng biết bờ sông bên nào là tả, hoặc là hữu ngạn của nó.
Hằng ngày, tuổi thơ, Dương nhìn ngắm sông, mê mây trôi lòng nước, cùng bọn nhóc nhảy ùm, tắm sông. Ký ức đã dìu dặt.
Sông Trường, có hai dòng nước từ hai cửa biển chảy vào ngược chiều nhau, An Hòa đổ ra, Hội An chảy vào. Mỗi khi thủy triều dâng, biển chảy vào mỗi cửa sông. Thủy triều hạ, nước biến cửa nào tự chảy trả về biển đó. Lúc triều dâng hay rút, nước sông Trường vẫn một dòng nước ngọt, không hề có cái lờ lợ vì pha nước biển. Nơi hai dòng nước ngược chiều đụng/gặp nhau là bến Tây Giang. Suốt chiều ngang sông từ bờ này sang bờ kia song, chỗ này, có một ngấn nước cao. Thủy triều hạ, ngấn nước tan. Sông lại hoàn sông. Chờ ngày mai, thủy triều lên, sự tình lại tái hiện.
Tuổi lên mười, tôi có dịp đến Chợ Được, may còn có dịp nhìn con sông rộng, những đêm trăng, thuyền bến, khu chợ đã vắng người, một vùng quê thơ mộng, bãng lãng vô cùng. Hôm nay Trường Giang đã cạn, chỉ là một con lạch nhỏ, những bùn lầy.
Hội An, một đô thị cổ, một thời rực rỡ cửa biển, mở ra đại dương với những thương thuyền Bồ Đào Nha, Y Pha Nho, Pháp Lang Sa, Nhựt Bổn… Hội An một thời ngủ dài, ngủ những mấy trăm năm, Hội An thức giấc với xiêm y, hình hài một di sản thế giới; Và, Sông Trường huyền hoặc bên này, Trường Sơn kỳ vĩ núi kia; những quần thể tháp Chàm Mỹ Sơn Đồng Dương; Và, Dòng sông Thu sức chảy bạt ngàn, phá bờ này thành vịnh nước sâu, bồi qua bờ kia thành những bãi dâu xanh chiều chiều; Quảng Nam, khí thiêng ấy đã giúp gì cho những danh nhân Xứ Quảng ở khắp mọi lĩnh vực?
*
Một lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước, theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em. Trong số này có hai người chị của Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi. Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi. Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông. Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy bóng mát, là do chính thân phụ Vương Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn đã lâu năm.
Hai tuần ở Chợ Được là những ngày vui, những giờ hạnh phúc của chúng tôi.
*
Thời thế đã mau chóng đổi trắng thay đen, chiến tranh, ly tán. Mỗi phận người bỗng là, “Một chiếc linh hinh hồn nhỏ / man man thiên cổ sầu” (Huy Cận). Xa nhau tưởng đã quên nhau. Hai mươi bảy năm sau, 1987, tôi tình cờ gặp lại Vương Trùng Dương từ Đà Lạt về Sài Gòn, lúc Dương ghé thăm tôi
Bấy giờ Dương đã là một sĩ quan quân đội Cộng Hòa. Xuất thân khóa I Nguyễn Trãi, Đại học Chiến tranh Chính trị Đà Lạt (12/1966-5/1969). Phục vụ ở Tiểu Đoàn 20, rồi Tiểu đoàn 10 CTCT, sau cùng trở về quân trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Năm 1975, một thời gian đi trại tù Cải tạo trở về, Dương ghé thăm tôi, chuẩn bị cho năm 1990, đi định cư theo diện H.O tại Mỹ.
Lại 29 năm sau, năm 2016 tôi gặp Dương tại Mỹ. Trên 55 năm (1959-2016) hai anh em chúng tôi chỉ gặp nhau một lần (1987) Sự quý hiếm ấy tạo ra cái tình thân thiết. Vàng này được thử lửa đời.
Lúc này, sau khi có mặt trên đất Mỹ, Vương Trùng Dương, đã có một bề dày hoạt động văn nghệ báo chí khá đáng khen. Là, thành viên trong Trung Tâm Văn Bút VN Nam California những năm đầu của thập niên 1990s và Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại. Tổng Thư Ký các tờ Việt Press, nguyệt san Thế Giới Nghệ Thuật, tuần báo Tình Thương, Đất Nước, Rạng Đông, bán nguyệt san KBC (2002-2005), nguyệt san văn học Tân Văn (một thời gian), nguyệt san Hồn Việt…
Năm 2005, Chủ Nhiệm Cali Weekly và trang web Cali Weekly. Năm 2008, phụ trách Section B của nhật báo Saigon Nhỏ (2008-2016, đảm trách bài vở và layout) & Tổng Thư Ký, Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa cho đến nay.
Hiện nay Vương Trùng Dương sống tại Little Saigon, nhà cửa khang trang, con cháu đông đúc, tất cả học hành giỏi dang.
Viết những dòng này, tôi đã ở thềm tuổi 90, người em Vương Trùng Dương đã 80. Nhưng còn viết, còn chuyện trò được, cười vui cùng hoa cỏ, nếu tất cả có thể, thì cứ là vui.
Vương Trùng Dương viết nhiều về bạn bè, thân hữu… Nhưng, theo lời tâm sự chỗ riêng tư, Dương cho biết đã từ chối phỏng vấn về bản thân (chỉ có 2 lần với nhà báo Uyên Vũ và nhà thơ Triều Hoa Đại). Với tôi, Dương vẫn luôn luôn coi tôi như một người anh, một Huynh Trưởng trong Gia Đình Phật Tử vào cuối thập niên 1950s nơi quê nhà, vì tôi và người chị thứ sáu của Dương cùng tuổi và trong GĐPT (nay đã ra người thiên cổ).
Cuộc đời gẫm lại, là một bài thơ. Bài thơ lung tung, không vần, không niêm luật bắt buộc, nhiều nắng vàng gió mưa tự động, bao rủi may bất ngờ, là một đời thanh thoát. Cứ là, tôi đến từ buổi sơ nguyên, và hẹn em ở thế kỷ sau. Lãng mạn dỏm, xem sao.
Cung Tích Biền, Senior Village Garden Grove, Orange County, July, 2024
-
Nhà Văn Nguyễn Quang, Văn Chương & Cuộc Tình Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh

Chiều Thứ Sáu, 17/5/2024, nhân ngày giỗ cố nhạc sĩ Lam Phương tại tư gia Minh Khai (em gái Lam Phương) thành phố Fountain Valley, Nam California. Vì trong tình thân hữu nên chỉ có ít thân hữu và Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tham dự.
Nhà văn Nguyễn Quang và tôi ra sân sau trò chuyện, ông cho biết sẽ thực hiện hồi ký lịch sử viết tiếng Anh vì cuộc đời đã trải qua giai đoạn thăng trầm từ thập niên 1940’ cho đến nay qua tám thập niên. Tôi nghĩ tác phẩm nầy sẽ có giá trị vì tác giả là chứng nhân thời cuộc ghi lại từ trong nước đến hải ngoại.
Cuối tháng 5/2024, người bạn gợi ý với tôi việc thực hiện tuyển tập (tổng quát) với các nhà văn, nhà thơ lão thành trên chín mươi tuổi còn sống và sáng tác vào năm 2025 để đánh dấu nửa thế kỷ văn học hải ngoại. Đây là ý kiến hay, ở Mỹ đã có chúng tôi và sẽ liên lạc với vài bạn văn phương xa.
Ở Little Saigon, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thọ 103 tuổi, lúc trên 90 tuổi vẫn còn sáng tác. Nữ sĩ Dương Hồng Anh, 93 tuổi ra mắt thi phẩm thứ 12 Những Gì Để Nhớ vào mùa xuân 2024… Nhà văn Nguyễn Quang (phu quân cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh) ở tuổi 93 vẫn còn minh mẫn, viết lách và sẽ ấn hành tác phẩm. Khi bạn tôi vào Google tìm “nhà văn Nguyễn Quang” thì không biết gì cả! Tôi cảm thấy đây là sự thiếu sót của chính bản thân và vài bạn cầm bút quen biết khi viết về nhà văn Nguyễn Quang mà không phổ biến rộng rãi trên các websites với nhà văn đã một thời dấn thân cho văn nghiệp nhưng bản tính khiêm nhường và chỉ quan tấm đến người bạn đời (tác phẩm và cuộc sống) nên có lẽ phần nào bị “đóng khung” trong sự nghiệp văn chương.
Tháng 6/2024 là ngày giỗ nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (nhà báo, nhà thơ, nhà văn) nên nhân dịp nầy tôi viết về cuộc tình của bà với nhà văn Nguyễn Quang. Nữ sĩ MĐHT nổi tiếng từ trong nước đến hải ngoại, và cũng là người phục hồi lại Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nên tên tuổi bà được mọi người biết đến nhưng “Đằng sau một người đàn bà thành công luôn có bóng dáng người đàn ông” ở trường hợp nầy. Trong thời gian qua, tôi thấy có vài tác phẩm về văn học hải ngoại không đề cập đến các tác giả đã hiện diện trong những thập niên qua (ngay cả nhà văn Linh Bảo).

Hơn mười năm qua, tôi không còn phụ trách mục sinh hoạt văn nghệ cho tờ báo nên ít tham dự trong những buổi ra mắt sách, ngoại trừ tác giả thân quen và trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời Gian (nhưng có các bài viết của Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My…)
Nhà văn Nguyễn Quang đã ấn hành nhiều tác phẩm và đã từng ra mắt sách (RMS) nhưng đến năm 2022, tôi mới ghi nhận: RMS Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân.
(Trích): “Ban Tổ Chức Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức buổi RMS hai tác phẩm Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang tại hội trường Thư Viện Việt Nam, thành phố Garden Grove. Nhà văn Nguyễn Quang là phu quân nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017). Tuy bước sang tuổi 90 nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn khỏe mạnh và hoàn thành hai tác phẩm thứ 8 & 9: Phận Đàn Bà & Ôn Cố Tri Tân.

Nhà văn Nguyễn Quang (Nguyễn Quang Huy) sinh quán tại Phú Nổ, làng Khánh Hưng, Tỉnh Sóc Trăng, du học tại Pháp từ năm 1950, đỗ Cử Nhân Toán. Năm 1955-1962, theo học tại đại học Cambridge ở Anh, đỗ Cao Học Kinh Tế (nay gọi là Thạc Sĩ). Ông trở lại Pháp, làm việc cho nhiều nhà xuất bản tuần báo ở Paris. Ông làm phó chủ bút cho tờ Paris Match…
Tuy xa quê hương gần bảy thập niên nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc. Cũng vào thời điểm nầy, Chủ Nhật, 13/4/2014 tại hội trường Thư Viện Việt Nam, nhân dịp sinh nhật 83 tuổi, nhà văn Nguyễn Quang đã ra mắt tác phẩm Một Giấc Mơ. Nhà văn Nguyễn Quang cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.
Trong tác phẩm Phận Đàn Bà (“Đau đớn thay phận đàn bà” – Nguyễn Du), nhà văn Nguyễn Quang đã khéo léo trong việc sử dụng những hình ảnh, ngôn ngữ, hoàn cảnh để so sánh, để ví von. Lời văn ẩn dụ những sinh hoạt quen thuộc hàng ngày trong một gia đình tưởng như hoàn mỹ, để truyền tải sâu sắc ý tưởng của mình. Đọc tác phẩm Phận Đàn Bà cho chúng ta ba ý niệm khác nhau, cả ba phần đều đề cặp đến cuộc đời, danh phận cũng như sự kiên nhẫn, nhịn nhục và chịu đựng của người đàn bà.
Phần một thuộc thể loại tình cảm xã hội về một gia đình được coi là lý tưởng nhưng lại trải qua nhiều uẩn khúc như sự giằng co giữa lương tâm nghề nghiệp, bổn phận với vợ con và trách nhiệm với người tình.
Trong phần thứ hai thì lại đặt nặng về phần văn hóa xoay quanh những tranh luận về phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia. Phần này rất có ích cho những ai muốn học hỏi, nghiên cứu để mở mang kiến thức.
Phần thứ ba là những câu chuyện qua từng mẩu chuyện mà tác giả đã thu nhận được từ bạn hữu, từ những mẩu chuyện “đàn ông đàn bà”, những chuyện do “mắt thấy tai nghe“, được ông ghi lại trên trang giấy. Trong từng mẩu chuyện, với tâm hồn nhận bản, phác thảo bức tranh về nhân tình thế thái…
Về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang ôn lại lịch sử nước Việt, từ thời Hồng Bàng với các vị vua Hùng Vương, rồi qua các triều đại Lý, Lê, Trần, Nguyễn… đất nước ta trải qua ngàn năm Bắc thuộc, gần 100 năm Pháp thuộc, chiến tranh Quốc Cộng, thời CSVN thống trị…
Thành ngữ “Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ” (ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay). Tác giả gợi lại bài học lịch sử từ thời lập quốc trải qua các thời kỳ Bắc thuộc từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên đến thế kỷ mười lăm sau công nguyên với các bậc anh thư, anh hùng dân tộc yêu nước đã đứng lên chống trả quân xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc với những sĩ phu yên nước dân thân cho đại cuộc… Thời kỳ Cộng Sản xâm nhập cho đến hiện tại với thảm họa như quá khứ… Với tinh thần bất khuất của người dân Việt, noi gương những bậc tiền nhân để xây dựng lại trang sử vàng son.
Tác phẩm văn chương mang tâm huyết của người Việt lưu vong cho thế hệ hiện tại và các thế hệ tiếp nối có giá trị về bài học lịch sử Việt Nam suy ngẫm để xây dựng đất nước trong tương lai thanh bình, thịnh vượng.
Những bài học từ quá khứ để suy nghiệm hiện tại. Trước đây, tôi có giới thiệu khái quát về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân, trong đó có nhắc đến: “Cụ Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942) tự Ôn Như là nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam. Tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ. Quyển Cổ Học Tinh Hoa (cùng Trần Lê Nhân) ấn hành năm 1928 đến nay gần một thế kỷ vẫn được ấn hành và lưu truyền. Hai vị biên soạn đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu những tinh hoa của nền cổ học phương Đông. Với 250 mẩu chuyện liên quan trong cuộc sống, con người, cách xử sự sao cho phù hợp với từng nơi từng lúc. Có thể nói đó là cuốn sách “dạy làm người” để biết nhìn nhận “cái xưa” để xử thế “cái nay” mà qua từng mẩu chuyện với lời bàn rất hữu ích.
Nhà văn, dịch giả Mộng Bình Sơn (1923–2011) đã viết nhiều tác phẩm, trong đó có quyển Ôn Cố Tri Tân gồm 3 tập, ấn hành năm 1967, Sống Mới xuất bản tại Sài Gòn. Dẫn chứng hai quyển sách của người xưa của nước ta về Ôn Cố Tri Tân vẫn còn giá trị trong cuộc sống. Sau nầy nửa thế kỷ ở hải ngoại, tác giả Nguyễn Quang nay ở tuổi chín mươi mốt vẫn mang hoài bão của bậc cao tuổi nơi quê người qua tác phẩm…
Trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang như Nhập Gia (2007), Ông Giáo Làng (2009), Ốc Mượn Hồn (2012), Một Giấc Mơ (2013), Ngoại Tình (2016), Thần Giao Cách Cảm (2017), Ôn Cố Tri Tân (2020) và Phận Đàn Bà (2022)… có vài tác phẩm đã RMS ở Trung Tâm Minh Đức và Thư Viện Việt Nam, Little Saigon.
Cuộc Tình cùng Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh
Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh (MĐHT) tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó biết sự lợi dụng của phong trào, bà bỏ về Huế tiếp tục học. Năm 1964, bà du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Á Đông La Sorbonne, Paris. Năm 1967, bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF (Office de la Radiodiffusion et Television Francaise, tiền thân đài RFI hiện nay), làm phóng sự nhiều nơi như Algérie (Bắc Phi) và Việt Nam.
Năm 1972, bà được cử theo dõi và tường thuật Hòa Đàm Paris. Năm 1973, bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, từ năm 1974 đến năm 1975. (Hai bài thơ của bà được Phạm Duy phổ thành ca khúc Kiếp Nào Có Yêu Nhau & Đừng Bỏ Em Một Mình. Ngoài ra nhạc sĩ Võ Tá Hân, cháu gọi cô, phổ những bài thơ qua ca khúc Mẹ bảo ta đừng nhìn qua cửa sổ, Mẹ bảo, Nhớ mẹ, Thức thêm một giờ nữa, Viết bài thơ này… Bài thơ Ai Trở Về Xứ Việt (1962) do Phan Văn Hưng phổ nhạc cũng nổi tiếng).
Sau biến cố tang thương 1975, bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí Hồn Việt Nam và trở lại cộng tác với đài ORTF. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhận tư cách hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế vào năm 1979. Với các tác phẩm của MĐHT như Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang, Paris 1976)… với sữ hỗ trợ của phu quân.
Mùa Xuân năm 1971, MDHT làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp (một trong những đài truyền hình lâu đời nhất thế giới), mời nhà văn Nguyễn Quang tới phỏng vấn trên đài. Từ buổi gặp gỡ đó, có sự đồng cảm với nhau.
Khi trở lại trong Hiệp Định Paris, trong tinh thần yêu nước của người Việt và nhóm sinh viên lúc tranh đấu cho Việt Nam Cộng Hòa, cùng lý tưởng, hai trái tim họ gặp nhau. Vì công việc bà trở lại Sài Gòn, năm 1975 định cư tại Paris, nhà văn Nguyễn Quang và nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh nên duyên vợ chồng (trước đó ông và bà đã có con riêng).
Năm 1980, nhà văn Nguyễn Quang sang Mỹ với người bạn đời Minh Đức Hoài Trinh (các con ở lại Pháp). Với bằng cấp chuyên môn ở Anh, ông tiếp tục với lãnh vực nầy. Với hoài bão sáng tác của nữ sĩ MĐHT, ông tận tình thực hiện và phổ biến. Những tác phẩm của nữ sĩ MĐHT đều do phu quân thực hiện như Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư I (tái bản 1987), Niệm Thư II (1988), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990), Bất Đáo Trường Thành Phi Hảo Hán (1990), Ngõ Trúc (1997), Chính Khí Của Người Cầm Bút (2014)… nhất là tác phẩm Văn Nghiệp & Cuộc Đời của Minh Đức Hoài Trinh, RMS tại Hội trường nhật báo Người Việt ngày 17/9/2005, tác phẩm nầy được RMS ở các nới khác (bà không viết hồi ký nên tác phẩm nầy với công việc biên soạn của ông đóng góp cho nền văn học). Ông viết: “
Nhà văn Nguyễn Quang chia sẻ về người bạn đời:
“Trong lúc tôi soạn đọc một số lớn tư liệu của Minh Đức Hoài Trinh, ngẫu nhiên tìm ra một mảnh giấy nhỏ viết tay viết từ ngoài chiến trường, dù bị gián đoạn, chỉ có một vài dòng nhưng tôi cảm nhận được tâm tư xót xa của một ký giả chiến trường, tôi rất xúc động nên muốn chia xẻ cùng quí độc giả như sau:
“Mùi hôi không cản được tình thương”, Minh Đức Hoài Trinh.
“Đi đếm xác chết đó là một công việc tôi hay làm trong những năm hành nghề ký giả. Ai nghe nói cũng nhắm mắt rùng mình, kêu ghê, kêu sợ, kêu eo ôi gì mà kinh thế. Nhưng mỗi người, nhất là mỗi đứa sống với cái nghề cầm bút thường mang một chứng điên khác nhau riêng biệt. Ở giai đoạn chiến tranh lịch sử nầy mà không cầm súng ra trận thì cũng phải làm một cái gì. Nói cầm súng ra trận không phải là tại thích nhìn cảnh bắn giết nhau, nhưng để nghe những tiếng khóc của chính trong lòng mình. Khóc người đang quằn quại, đang gục ngã, đang hấp hối. Đi tìm cảm giác lạ, mỗi người “viết sĩ đi tìm một nẻo khác nhau, bên bàn đèn, trong cánh tay, mái tóc tình nhân, trong hộp đêm trong điệu nhạc, hoặc là những đứa như tôi, thẩn thờ quanh quẩn bên mấy cái xác chết. Tại sao tôi không đi tìm cảm hứng ở những nơi khác, chính tôi cũng có lần đặt câu hỏi tại sao?
Có lẽ vì tò mò muốn nhìn xem những cái xác ấy mới hôm qua còn thơm sạch, còn cười nói, ăn uống, những sự học hỏi, suy nghĩ, những lời đùa vui dí dỏm mới ngày hôm trước đã phát ra từ cái mắt cái miệng ấy. Thế rồi chỉ một tiếng nổ, một lát gươm, tất cả đều tiêu tan, không phải được thành mây khói…“. “
Minh Đức Hoài Trinh lặn lội săn tin trên các vùng lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, ghi nhận những sự kiện giao tranh mất còn, từ miền Nam ra miền Trung. Miền Trung là nơi sinh quán và miền Nam là nơi trú quán.
Sau những cuộc chiến có những tử sĩ con yêu của miền Nam Việt Nam hay những chàng trai thế hệ của QLVNCH đã vĩnh viễn ra đi vì bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn”, trong bài viết “Mây Trên Đèo Hải Vân”, Minh Đức Hoài Trinh viết: “Trực Thăng từ từ hạ cánh chúng tôi trở về phòng đợi. Đợi mây tan nhận nụ cười an ủi trên môi người phi công kiên nhẫn, chỉ có thế không có cách gì khác. Mãi đến hai giờ chiều chúng tôi trở lên trực thăng. Chiếc áo quan vẫn còn nằm đấy, y nguyên…
Mây đã chịu tan bớt đi trên đỉnh đèo, trực thăng đã đủ sức vượt qua làn mây. Phi trường Phú Bài không mở chúng tôi đỗ ở phi trường Đại Nội trong thành Huế.
Trước khi ra khỏi phi cơ tôi quay lại nhìn cái hòm, nhìn cái hòm lần cuối cùng, nhìn người chết, nhìn lá cờ VNCH, thì thầm một lời vĩnh biệt. Anh ngủ cho yên và lá cờ hãy che chở cho anh”, Minh Đức Hoài Trinh.
Trong tác phẩm Ngoại tình của ông với câu chuyện tình rất lãng mạn, đẹp trích vài câu thơ tiếng Pháp để nói về tình yêu. Cuộc tình của ông, từ khi gặp nhau ở Pháp và sang Hoa Kỳ cũng vậy nhưng không ghi lại. Những năm cuối đời, nữ sĩ MĐHT ốm yếu, bệnh hoạn được phu quân tận tình chăm sóc cho đến khi bà về cõi vĩnh hằng. có người cho rằng nữ sĩ MĐHT nổi tiếng, “cây đại thụ” với ông (?) nhưng với tôi, ông chính là “cây đại thụ” chăm sóc cho những tác phẩm của bà qua những thập niên xuất hiện trên văn đàn hải ngoại. Ông chính là bạn văn, bạn đời tận tụy, thủy chung trong cuộc sống.
Nhà Văn Nguyễn Quang & NVNT – TTG
Khoảng mười năm nay, nhà văn Nguyễn Quang sinh hoạt với Nhân Ảnh Tân Văn và sau nầy thành Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

Với tuổi già tham gia cùng bạn trẻ (theo tuổi tác của ông) là niềm vui và cũng là niềm khích lệ trong sinh hoạt đời sống và văn nghệ. Mọi cuộc sinh hoạt trong nhóm nầy đều có sự hiện diện của ông. Khi nữ sĩ Minh Dức Hoài Trinh qua đời (chiều Thứ Sáu, 9 tháng Sáu, tại bệnh viện Huntington Valley Healthcare Center, Huntington Beach. Hỏa táng tại Peek Funeral Home, Chủ Nhật 25/6). Để an ủi nỗi buồn sống cô đơn của ông, nhóm nầy cũng thường đến hội ngộ tại tư gia của ông (tôi nhớ khoảng cuối năm 1990, vài lần ghé ngôi nhà của ông bà có hàng trúc phía trước nên gọi là “đường trúc thư quán” sau nầy chuyển về khu người già gấn đó cũng thuộc Midway City – Thị Trấn Giữa Đàng).
Theo nhà văn Việt Hải con chim đầu đàn, trong phần phát biểu và cám ơn quan khách, ông đã chia sẻ như sau: “Nói đến nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, năm 2015 khi đó chúng tôi chỉ có 5 người. Tôi, GS Trần Mạnh Chi, HS Lưu Anh Tuấn, Ngô Thiện Ðức và Lý Tòng Tôn. Ngày nay, bao gồm thành viên và các thân hữu ở khắp nơi chúng tôi có khoảng 4, 5 trăm người. Chủ trương chính của chúng tôi tập trung trên hai mảng văn học nghệ thuật và âm nhạc. Bên VHNT thì lo về in ấn, tưởng niệm và ra mắt sách của một số các nhà văn nổi tiếng và một số đã khuất núi. Bên Tiếng Thời Gian lo phần âm nhạc cho các buổi ra mắt sách. Ngoài ra chúng tôi cũng thành lập một khoá giảng dạy âm nhạc căn bản cho thành viên của nhóm…”
Nhà ăn Khánh Lan, người đảm trách blogpot NVNT & TTG từ tháng 5/2018 cho đến nay đã phổ biến vài trăm bài viết, sơ lược các sinh hoạt trong quá khứ của nhóm như tổ chức các buổi ra mắt sách của các văn, thi, nhạc sĩ… vinh danh và chúc thọ các vị tiền bối, tổ chức các buổi party và mừng sinh nhật.
Trong 9 năm qua, mỗi năm thường tổ chức 5, 6 lần từ Tất Niên đến Giáng Sinh trong đó có vài lần ra mắt sách, sinh nhật, chúc thọ… Với “cây nhà lá vườn” nhiều ca sĩ trong nhóm đóng góp cho chương trình văn nghệ đa dạng, phong phú vì vậy việc tổ chức dễ dàng.
Hơn ba thập niên làm báo, tôi đã tham dự nhiều lần sinh hoạt nhưng với nhóm nầy tôi cảm thấy sự đồng tình, thân thiện “mỗi người một tay” cùng nhau góp sức và tài chánh cho việc chung, rất quý. Với tinh thần tự nguyện và tự lập nên nhóm NVNT & TTG đã đóng góp nhiều lần sinh hoạt không bị tai tiếng…
Trở lại với nhà văn Nguyễn Quang, với tác phẩm Một Giấc Mơ (2013, RMS tại Thư Viện Việt Nam, tháng 5/2014) ông cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.
Hình bìa tác phẩm với cô gái mặc áo dài trắng với một bông hồng, tôi rất thích.
Nhạc sĩ Lê Văn Khoa là người Cần Thơ, khi giới thiệu tác giả đã nhắc đến phu nhân của tác giả là nhà thơ Minh Ðức Hoài Trinh mà ông rất ngưỡng phục từ lâu nay. Nhắc đến tác phẩm của Nguyễn Quang được ra mắt, ông nói: “Một Giấc Mơ” của Nguyễn Quang là một giấc mơ không chỉ của cá nhân tác giả, mà là một giấc mơ vừa thương đau vừa thơ mộng của cả một dân tộc, lồng trong một cuộc tình của đôi nam nữ thời chinh chiến”
Nhà giáo Lưu Trung Khảo nói: “Nhà văn Nguyễn Quang, xuất ngoại, xa đất nước từ năm 1950, hết ở Pháp, đến ở Anh rồi qua Hoa Kỳ mà vẫn còn nhớ đến tiếng Việt, không chỉ nhớ mà còn viết nên những tác phẩm cho các thế hệ sau muốn tìm hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của đất nước. Văn ông viết xuất sắc. Ngôn ngữ Việt Nam mà còn tồn tại được là chính từ những nhà văn của chúng ta còn sáng tác. Là một nhà giáo, tôi xin được trân trọng cảm ơn sự đóng góp của nhà văn Nguyễn Quang vào kho tàng văn học Việt Nam hải ngoại”
Tuy xa quê hương hơn bảy thập niên, nhà văn Nguyễn Quang vẫn luôn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc. Đó cũng là tâm thức của nữ sĩ MĐHT, cùng tâm hồn, đồng cảm, lý tưởng với nhau cuộc tình.
Hiện nay, theo tôi, chỉ có nhóm NVNT & TTG mới đủ tài liệu và gần gũi nhà văn Nguyễn Quang để thực hiện tác phẩm Nhà Văn Nguyễn Quang, Cuộc Đời, Tình Yêu & Sự Nghiệp để góp mặt trong văn đàn Việt Nam hải ngoại.
Vương Trùng Dương, Little Saigon , June 12, 2024
From Giáo Sư Trần Huy Bích
Tôi xin góp thêm một ý: Chúng ta không nên quên sự kiện từ nhiều năm nay, nhà văn Nguyễn Quang vẫn tích cực hoạt động trong Mạng Lưới Nhân Quyền VN (Vietnam Human Rights Network):
(Vietnam Human Rights Network.
vietnamhumanrights.net/viet/aboutus.htm
Tố chức này theo dõi và lên tiếng mạnh mẽ mỗi khi nhà cầm quyền CS vi phạm, rồi đàn áp những tiếng nói bênh vực cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở trong nước, soạn các bản Báo cáo hàng năm về tình trạng nhân quyền ở VN, và cấp Giải thưởng cho những chiến sĩ tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền.
Trong tổ chức này, nhà văn Nguyễn Quang giữ chức vụ Thủ Quỹ. Có nghĩa nếu chúng ta (hay bất cứ ai) ký một chi phiếu để ủng hộ các hoạt động của Mạng Lưới Nhân Quyền, thì người thay mặt tổ chức ấy ký bức thư cám ơn chúng ta, không ai khác hơn là nhà văn Nguyễn Quang:
vietnamhumanrights.net/English/aboutus.htm
vietnamhumanrights.net/viet/aboutus.htm -
Auld Lang Syne & Nhạc Chế

Nói về nhạc chế với tuổi trẻ thời đi học vào thập niên 1950’ ở miền Nam VN, thịnh hành nhất với bài ca dân ca với giai điệu đơn giản được nhà soạn nhạc Herbert Stothart đưa ca khúc Auld Lang Syne vào phim Waterloo Bridge (La Valse dans l’ombre) từ thập niên 1940’. Ca khúc nầy với nhiều lời nhạc chế, trong đó phổ biến nhất với “Tò te, ma le đánh đu, Tarzan nhảy dù, cao bồi bắn súng. Chết cha con ma nào đây, làm tao hết hồn, thằn lằn cụp đuôi…”.
Phim Waterloo Bridge (trắng đen) ra đời vào thập niên 1940’ (thế kỷ XX) ở Hollywood với hai diễn viên chính là Vivien Leigh và Robert Taylor. Phim được đạo diễn Mervyn LeRoy được chuyển thể từ một vở nhạc kịch trên sân khấu Broadway,
Vivien Leigh (Vivian Mary Hartley) sinh ra Tây Bengal, Ấn Độ (1913-1967), minh tinh điện ảnh nổi tiếng người Anh. Bà đã giành được 2 giải Oscar trong vai Scarlett O’Hara trong phim Gone with the Wind (Cuốn Theo Chiều Gió năm 1939).
Robert Taylor (1911-1969) là một trong những tài tử gạo cội của điện ảnh Mỹ. Ông được gọi ví von là Robert Tay Bưng… cho các anh bồi nhà hàng của Pháp ở Việt Nam.
Từ ngày người Pháp đem phim vào chiếu ở Việt Nam (những năm đầu là phim câm). Lúc đó Pháp nhập phim Mỹ vào Pháp, trong hợp đồng khai thác có thêm khoản sẽ đem những phim Mỹ ấy sang chiếu các nước khác, phim Mỹ vào Pháp được người Pháp chuyển âm sang nói tiếng Pháp hay phụ đề chữ Pháp… Vì vậy phim Waterloo Bridge qua tựa đề La Valse dans l’ombre (Điệu Vũ Trong Bóng Mờ) tiếng Pháp, phụ đề Việt ngữ, quen thuộc với khán giả trong nước.
Cốt truyện xảy ra trong hoàn cảnh chiến tranh Đệ Nhất Thế Chiến. Roy (chú của Roy là một công tước nước Anh) và Myra tình cờ gặp nhau trên cầu Waterloo (London) khi có còi báo động chiến tranh. Họ cùng nhau trú trong ga tàu điện ngầm, tại đây Myra (Vivien Leigh) mời Roy (Robert Taylor) đến xem vở balette Hồ Thiên Nga, cô tham gia diễn xuất tuy nhiên Roy đã rất tiếc không đến được vì có việc riêng. Nhưng Myra đã bất ngờ khi nhìn thấy Roy đến trong buổi trình chiếu. Tình yêu của họ nhanh chóng nảy nở sau buổi tối lãng mạn tại câu lạc bộ Candlelight. Ngày hôm sau, Roy và Myra quyết định làm đám cưới trước ngày anh lên đường ra chiến trận.
Vì không tham gia vào một buổi diễn, Myra bị đuổi khỏi đoàn, cô bạn Kitty bất bình cho Myra và quyết định ra đi cùng cô. Mẹ của Roy hẹn gặp Myra nhưng trong lúc chờ đợi mẹ anh đến, Myra bất ngờ đọc trên báo tin Roy đã hy sinh trên mặt trận, đầu óc cô choáng váng. Do quá đau khổ Myra đã có thái độ khiếm nhã với mẹ của Roy.
Đau khổ và thất nghiệp, Myra lao vào cuộc đời vũ nữ. Trong lúc chờ khách tại sân ga, cô lặng người khi nhìn thấy Roy trở về. Roy hân hoan khi gặp người yêu cũ còn Myra cảm thấy choáng váng và tủi thân nhưng cô vẫn quyết định vẫn tiếp tục tình yêu với Roy. Trở về lâu đài của Roy ở Scotland, Myra đã không hoà nhập vào cuộc sống ở đây vì mặc cảm không còn xứng đáng với người yêu, cô bỏ đi. Roy và cô bạn Kitty tìm Myra khắp các quán bar nhưng không thấy, Myra đã lao vào các đoàn xe đi ngược chiều để tự vẫn trên cây cầu Waterloo.
Cuộc tình quá bi thảm trong hoàn cảnh trớ trêu trong ca khúc tiếng Pháp là Ce n’est qu’un au Revoir (Chant des Adieux), thi hào Scotland, Robert Burns, viết vào năm 1788. Ca khúc vang vọng trong các lần chia tay và lần vĩnh biệt khi Roy đứng trên cây cầu Waterloo (nơi lần đầu tiên họ gặp nhau) tưởng nhớ hình ảnh người tình nơi lần đầu tiên họ gặp nhau. Cuốn phim nầy ban đầu không cho chiếu ở Anh vì Roy là sĩ quan và cháu của công tước lại say mê “gái làng chơi”!
Bài hát nầy rất thông dụng, được phổ biến hầu như khắp hoàn cầu nhưng lại được hát vào những dịp khác nhau. Nguyên thủy của bài hát là dùng để “mừng đón” niềm vui mới đến (Quảng Trường Time Square ở New York, khi quả cầu tụt xuống theo 12 tiếng chuông đồng hồ để rồi ngân vang ca khúc nầy), nhưng về sau nó lại được sử dụng để ngậm ngùi “tiễn đưa” trong luyến tiếc trong những cuộc chia tay.
Ca khúc nầy nguyên thủy theo ca dao của xứ Scotland (Tô Cách Lan), hai người bạn thân rất lâu không gặp nhau rồi rủ nhau nhậu bia, nhậu rượu, nhưng với điều kiện tiền ai nấy trả. Hai ông cùng lè nhè nhắc lại bao nhiêu chuyện cũ thuở năm xưa năm xửa như: Nào là cùng nhau leo đồi, nào là cùng nhau lội suối… Cứ nhắc xong một kỷ niệm thì họ lại cùng nâng ly nốc cạn. Uống cho đến say thì thôi. Trong cuộc đời lính tráng thuở trước, gặp nhau nhậu nhẹt “ Tò te, ta nâng cốc lên, nhậu cho đã đời, rồi mai xa cách. Uống đi, ai say thì say, rồi ra chiến trường, người còn người không!”…
Lời ca khúc Auld Lang Syne (Rod Stewart) tiếng Anh: In the Days gone by
“Should auld acquaintance be forgot and never brought to mind?
Should auld acquaintance be forgot and the days of auld lang syne?
For auld lang syne, my dear, fFor auld lang syne
We’ll drink a cup of kindness yet, for the sake of auld lang syne…”
Lời tiếng Pháp (Jacques Sevin): Joyeux Au Revoir
“Faut-il nous quitter sans espoir sans espoir de retour?
Faut-il nous quitter sans espoir de nous revoir un jour?
Ce n’est qu’un au revoir, mes frères, ce n’est qu’un au revoir.
Oui, nous nous reverrons, mes frềres, ce n’est qu’un au revoir!…”.
Năm 1940, nhà thơ Thế Lễ lần đầu tiên đã dịch sang tiếng Việt: Bài Ca Tạm Biệt
“Ngày nay sắp cùng bùi ngùi xa cách
Cớ sao ta không còn trông
Rồi đây có ngày mình còn gặp nhau
Cách nhau nhưng ta hằng vui
Vì nay biết sau còn ngày sung sướng
Cách xa nhưng ta hằng mong
Rồi đây có ngày lại còn gặp nhau…”
Phim tình cảm trong chiến tranh như tựa đề tiếng Anh Waterloo Bridge tưởng như phim thời sự, tựa đề tiếng Pháp La Valse dans l’ombre có vẻ lãng mạn và hấp dẫn hơn. Chẳng hạn phim Cầu Sông Kwai (tiếng Anh: The Bridge on the River Kwai, (tiếng Pháp: Le Pont de la Rivière Kwai) về đề tài chiến tranh vào Đệ Nhị Thế Chiến, quay ở Thái Lan. Nhạc phẩm nầy không có nhạc chế, đặc biệt huýt gió rất hay.
Thuở đó cụ bà Vivien Leigh được mệnh danh là người đẹp của thế kỷ, sáng chói danh vọng, thần tượng của nữ giới nhưng “hồng nhan đa truân” không những về bệnh tình mà những bi kịch trong cuộc đời tình yêu và hôn nhân. Ngoài những người đàn ông qua đời cụ, 3 mối tình từ lúc 19 tuổi với người chồng lớn hơn 13 tuổi cho đến khi 47 tuổi lấy người chồng kém hơn 4 tuổi… Vì nhan sắc và tài hoa trên nghệ thuật thứ bảy, ông chồng nào cũng ghen nên cuộc sống không được thoải mái… Cây càng cao thì hưng chịu nhiều gió. Cuộc đời là vậy.
Tình cờ được tin người bạn từ thuở xa xưa nơi cố hương vừa qua đời. Hồi đó tôi cũng sở trường với nhạc chế nhưng người bạn nầy được tôn làm “sư phụ” vì dám xâm mình nhạc chế bài “suy tôn” của nhạc sĩ Ngọc Bích, dễ bị tù như chơi! Ca khúc Auld Lang Syne qua nhạc chế của bạn tùy hứng theo đối tượng (cả thầy, cô) chọc cười trong lớp.
Bạn cũ ra đi, không biết nói gì, gởi bạn lời vĩnh biệt!
Nghe ca khúc ca khúc Auld Lang Syne, nhớ lời nhạc chế thuở nào với bạn cố hương.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, April 2024
