Âm nhạc,  Vương Trùng Dương

Lê Trạch Lựu, Tình Khúc Em Tôi

Vương Trùng Dương

Quan niệm nhạc tiền chiến đúng nghĩa là dòng nhạc đầu tiên của tân nhạc Việt Nam vào giữa thập niên 1930 & 40, mang âm hưởng khuynh hướng trữ tình lãng mạn theo âm luật của Tây Phương. Thế nhưng, một số ca khúc sáng tác trong giai đoạn 1945-1954 mang phong cách trữ tình lãng mạn từ giai điệu đến lời ca bày tỏ nỗi niềm rung động từ trái tim, được mọi người ái mộ qua tình khúc… nên được liệt kê vào nhạc tiền chiến. Nhạc phẩm Em Tôi của Lê Trạch Lựu ở trong thời kỳ đó.

Theo quan niệm của Tuyền Linh: “Định nghĩa một cách nôm na, dựa trên hai chữ ca khúc (pièce chantée), ta thấy rõ danh từ nầy được chia làm hai phần: lời ca và khúc nhạc. Cũng dựa theo định nghĩa và phân tích trên, ta thấy giá trị một ca khúc cũng chia làm hai phần: một nửa cho giai điệu tiết tấu và một nửa cho lời ca. Vậy để có một ca khúc có giá trị đích thực thì người viết ca khúc phải hoàn thành tác phẩm của mình có đủ cả hai phẩm chất nêu trên… Một ca khúc có phần hòa âm nghèo nàn, giai điệu tiết tấu gập ghềnh trắc trở, khi được tấu lên, cùng lắm làm cho người nghe nhàm chán, và tất nhiên, sau đó họ sẽ quên ngay… Một ca khúc hay không bắt buộc phải có lời cao xa, siêu thực mà cần có nội dung rõ ràng để người nghe cảm nhận được tình, ý của tác giả muốn nói gì, gởi gắm gì trong tác phẩm của mình…”.

Những ca khúc như Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa (1947) của Tô Vũ, Dư Âm (1950) của Nguyễn Văn Tý, Nỗi Lòng (1952) của Nguyễn Văn Khánh, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay (1952), Tiếng Đàn Tôi (1947) của Phạm Duy… sau nẩy trở thành tình ca bất tử của nhạc tiền chiến.

EM TÔI

“PK: Em tôi ưa đứng nhìn trời xanh xanh.

Mang theo đôi mắt buồn vương giấc mợ

Vu vơ đắm đuối, vương ngàn áng mây

Bao đêm thầm đếm trên trời đầy sao sáng.

Buồn vương man mác theo lời gió reo lời thơ

Trầm tư se sắt tơ lòng đắm theo đàn khóc

bao nhiêu nước mắt chôn sầu đắng cho lời thơ,

giờ này em hát câu chiều mơ…

ĐK: Bao giờ tôi về gần em

Cùng đếm này trăng này sao kia nhé em,

Trăng sao dâng ý thơ, mây bay khắp trời,

Thuyền tình lung linh trong khói sương lam,

Ngày về xa quá người ơi!

PK : Em mơ tiếng sáo, dập dìu bên trăng.

Đêm đêm u tối về đây thắp saọ

Dư âm tiếng hát, vương buồn mắt nhung,

Tôi xin gió biếc ca ngợi mầu suối tóc.

Đừng quên em nhé môi còn thắm duyên còn xanh,

Đàn trăng phô sắc huy hoàng sáng hơn màu nắng.

Cho anh rót thắm đem về nhớ nhung lời thơ,

Đường đời anh muốn em còn mơ…”.

Nguyễn Đình Toàn trong quyền Bông Hồng Tạ Ơn: “Thực ra, sau Em Tôi, Lê Trạch Lựu còn một sáng tác nữa đã được các ca sĩ đem hát trên các đài phát thanh, cũng rất hay, nhưng hình như nó đã bị cái bóng của Em Tôi che khuất, nên ít người biết, và cũng chưa thấy một ca sĩ nào tìm hát lại, đó là bài: Nhớ. Tình ca được viết nhiều nhất vào giai đoạn được gọi chung là nhạc tiền chiến của chúng ta”.

Sau hai ca khúc Nhớ và Thôn Chiều, ca khúc Em Tôi là bài thứ ba nhưng gắn liền với tên tuổi tác giả trong khu vườn âm nhạc Việt Nam.

Sau 20 năm, Lê Trạch Lựu mới sáng tác Cành Mai Tóc Ngắn để nhớ lại hình ảnh ngày xưa với cuộc tình vô vọng.

“Cành mai năm ấy xuân xanh mười lăm

Màu yêu thơm ngát tóc em cài hoa

Cành mai hoa trắng áo em lả mây

Theo em, theo em khi tan trường về…”.

“Sau 53 năm, ở vào tuổi 78, Lê Trạch Lựu mới viết về tình sử qua nhạc phẩm Em Tôi:

Năm 1946 là năm tôi đi trại hè Sầm Sơn, đi với đoàn Hướng Đạo, cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Tôi thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời. Không hiểu sao tôi thấy tôi như choáng váng, má tôi nóng bừng như lên cơn sốt; lần đầu tiên tôi thấy tôi có cái cảm giác lạ lùng này. Nhà đoàn tôi “đóng trại” to lớn, rộng rãi, đó là những biệt thự nghỉ mát của bọn Pháp thuộc điạ bỏ lại, trước nhà là bãi biển mênh mông, sau nhà có một cái giếng.

Trưa nào tôi cũng thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng chang chang rũ áo, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng tôi biết là cô ta đang nhìn tôi. Thú thật, tim tôi đập thình thình. Chao ơi, yêu đương là như vậy hay sao? Đây là một rung động đầu tiên, nào đâu tôi có biết cảm giác này từ thuở ra đời.

Về Hà nội tôi tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, cô ta ở gần nhà tôi. Bây giờ ta phải tìm biết tên cô ta nữa! Chiều nào tôi cũng đi qua nhà cô ta, để nhìn vào nhà, tìm lại đôi mắt đẹp. Tôi thấy có nhiều cậu trai cỡ bằng tuổi tôi đi qua đi lại trước cửa nhà, như tôi. Lúc đó tôi cũng thấy hơi hơi lo… sợ mất !

 Nhưng may cho tôi, hồi ấy có một chú bé đi theo tôi hoài, hỏi ra là chú Mỹ, em cô Phượng. Trời ơi là trời, đất ơi là đất! Chúng tôi đi chơi với nhau. Một hôm, tôi viết một lá thư và mạnh dạn tôi hăng hái ra đi, nhưng chiều hôm đó tôi không thấy cô ta ra đứng ngoài cửa hóng mát. Rồi chiều hôm sau, chiều sau nữa. Thế rồi một chiều nào đó, tôi lại thấy cô ta đứng rũ tóc bên thềm.

Tìm đủ nghị lực, tôi sán gần cô ta, tay đưa lá thư, miệng lắp bắp một câu: “Phượng… Phượng  cầm… cầm lấy cho… cho… tôi… tôi… lá thư này…”. Rồi xong, tôi cắm đầu đi mất, không dám quay lại, sợ nhìn thấy hoặc cô ta xé lá thư, hoặc quẳng xuống lề đường… tôi sẽ mắc cỡ…

 Để đỡ cho cái nặng nề đó, tôi tìm cách nói khéo với chú Mỹ, chú bằng lòng ngay. Thế là chú thành con chim xanh của tôi. Chiều nào chú cũng để một lá thư lên bàn. Bẩy tháng trời tôi viết đều đều, gần bẩy chục lá thư mà vẫn không thấy trả lời.

 Tôi đau khổ quá không biết cô ta có yêu tôi không, tại sao cô ta không trả lời tôi, dù thuận dù không… Lúc bấy giờ tôi mới biết là tình yêu, thế nào là đợi chờ, là có nhiều đau khổ. Héo hon con người.

 Thế rồi một hôm chú Mỹ tất tưởi chạy đến nhà tôi, đưa cho tôi một lá thư, hôm đó là một tuần trước ngày kháng chiến toàn quốc, tôi bồi hồi cầm lá thư, ở một góc có đề : Xin Trạch Lựu đừng giận Kim Phượng mà xé lá thư này…, tôi mở ra, đọc từng hàng chữ đều đều, tròn tròn, vuông vắn. Phượng nói yêu tôi từ ngay lúc đầu… nhưng muốn thử lòng tôi để xem tôi có phải là người đứng đắn rồi nói rằng ngày mai Phượng đi tản cư… ở Hà Đông, cách làng tôi mấy làng… Tôi bàng hoàng như tỉnh một giấc mơ lâu dài chờ đợi từ bao nhiêu giờ, bao nhiêu phút. Thế là hai hôm sau, tôi đi bộ từ Hà nội qua làng tôi tới làng tạm trú của gia đình nàng, chúng tôi đi chơi dọc dòng sông Nhuệ cùng chú Mỹ, mẹ của Phượng, bà cụ nhìn chúng tôi âu yếm từ đằng xa… đi chơi cùng nhau hết cả buổi chiều, tôi không dám cầm tay Phượng, tôi ân hận tới bây giờ.

Tôi trở về thành, thế rồi chiến tranh, ba năm sau tôi sang Pháp. Không rõ Phượng ở đâu, tôi vẫn nhớ Phượng hoài. Một hôm trong trường cái nhớ nó làm tôi điên đầu… trong giờ Etude cuối lớp có anh chàng Trần Bích Lan Nguyên Sa đang đọc Socrate hay sao, bên phải gần cửa sổ Hoàng Anh Tuấn… không biết hắn làm gì, chắc đang làm thơ, tôi cầm cây đàn bấm bấm… hai ngày sau thành bài Em Tôi… cả nhạc lẫn lời.

Chủ Nhật ra Paris, đường Volontaires, sau bữa cơm trưa, quây quần với nhau, trong đó có Anh Tuấn, Thi Liên, Thoa em gái Nguyên Sa về sau lấy Trần đình Hòa, Bội Liên đã nhận được bài tôi gửi tới trường, hồi đó cô ta có yêu tôi, nhưng tôi tránh vì cô ta con nhà giầu…, Bội Liên dạo nhac trên mấy phím ngà… Nhạc Em Tôi vang lên khắp cả căn phòng, tôi tê tái nghe nhạc tôi, tôi thấy là lạ, chưa quen… vì mỗi lần tôi đã nghe trong tôi hay nghe cây đàn bên tôi nói với tôi, bây giờ những ngón tay ngà chạy qua phím đàn đến với tôi, tôi như ngỡ ngàng đi vào cơn mê…

Thế rồi tôi chép lại nhạc và lời trên trang giấy học trò, trên những giòng như đã kẻ nhạc, tôi gửi tới nhà xuất bản Tinh Hoa… (Tinh Hoa ấn hành năm 1953, Tinh Hoa số 445)

Những tháng năm qua…

Khi “Em Tôi” được nổi tiếng, tôi không được sống cùng với thời đại đó vì tôi ở xa , tôi không được nhìn nhận rõ ràng thế nào là một bản hát được người đời yêu chuộng… trai hay gái, ai ai cũng tưởng là mình có một người yêu , hay mình được yêu , hay mình tưởng tượng chính mình là cô gái ấy , còn  cậu trai được yêu cô gái dịu dàng, thơ ngây, âu yếm , mơ màng cho nên ai ai cũng hát… cũng tưởng là mình… cũng cầm lấy cây đàn…

Rồi một hôm tôi tìm ra điạ chỉ của Kim Phượng, tôi viết về cho chú Mỹ, Mỹ trả lời tôi:

“Em nhận được thư anh, thế là anh vẫn mạnh, chị Phượng đợi anh trong một năm dài, thấy anh không về, tưởng anh chết, rồi ba năm sau chị Phượng để tang anh. Nhiều người đến hỏi chị, chị chỉ lắc đầu. Chị vẫn đợi anh, nhưng hôm qua chị Phượng đi lấy chồng, chị đã 26 tuổi rồi, ngày ngày thầy me thúc dục.”

Thế là tôi cắt đứt, để Phượng đi lấy chồng cho êm thấm, có bổn phận với chồng với con. Tôi không muốn ám ảnh Phượng nữa để cho nàng yên phận.

Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em,

Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm,

Nhớ người giặt áo bên bờ giếng,

Nhớ nhiều, nhớ mãi, mãi không quên…

Sáu chục năm sau, tôi được biết tin một người bạn cùng trường năm xưa, anh Nguyễn Thiệu Giang viết cùng một tờ báo với tôi hồi đó cùng Thanh Nam, tôi có nhờ anh ta đến căn nhà cũ, anh nói Phượng không còn ở đấy nữa. Nhưng có cho tôi số phone, tôi gọi Phượng, đầu giây Phượng trả lời, tôi nói là tôi, cô ta nhắc đi, nhắc lại ba lần, anh Lê Trạch Lựu hả, anh Lê Trạch Lựu hả, như không tin là có thật, khi tôi bảo là tôi thì cô ta òa ra khóc.

Nói chuyện cùng nhau hơn nửa tiếng, sau những lúc ân cần hỏi han. Phượng có nói, anh ấy có theo đuổi Phượng trong bốn năm trời, Phượng bảo Phượng có người, anh ta cứ đeo đẳng, Phượng có nói với anh ấy chuyện Phượng và anh. Anh ta chịu là trong lòng Phượng có một người. Tôi xin thành thật cảm ơn Phượng, tình yêu Phượng cho tôi. những năm đợi chờ, đau khổ. Một lúc sau tôi hỏi Phượng: “Thế Phượng còn giữ mấy lá thư ấy không?” Tôi muốn tìm hiểu văn thời 16 tôi viết ra sao chắc là văn lủng củng lắm. Phượng trả lời tôi:

“Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con, cháu em bữa đó tụi nó không có nhà…”

Thu Tao Ngộ – Tháng Mười năm 2009 –  Lê Trạch Lựu

*

Sau khi Lê Trạch Lựu tâm sự mối tình để viết ca khúc Em Tôi mà trước đây có vài bài viết chưa nói rõ “bí ẩn cuộc tình” trước sự im lặng của người trong cuộc vì tế nhị và kín đáo. Tháng 1 năm 2011, Lan Phương của đài VOA phỏng vấn Lê Trạch Lựu và viết bài Lê Trạch Lựu & Mối Tình Theo Mãi Một Đời

“… Lê Trạch Lựu rời Việt Nam thời loạn ly năm 1951, bỏ lại sau lưng một mối tình, không hiểu người yêu của mình ở phương nao khi mà khói lửa, chiến tranh, tản cư, ly tán đã đẩy mọi người vào tình huống chẳng biết những người thân của mình còn sống hay đã chết.

Ở Pháp, theo học nốt bậc trung học rồi vào ngành điện ảnh và làm truyền thông, ông vẫn nhớ hình bóng cũ, cô thiếu nữ tên Phượng mà ông đã gặp lần đầu trong một chuyến đi cắm trại của đoàn hướng đạo ở Sầm Sơn…

… Từ ngày rời Hà Nội năm 1951, nhạc sĩ họ Lê chưa một lần trở lại quê hương. Ông lập gia đình với một người vợ Pháp, gốc Ba Lan, mà theo lời ông thì bà là người rất đẹp, đoan trang, miệng cười tươi như hoa, và ông nhận là số ông may mắn, từ người yêu đến người vợ ai cũng đoan chính.

Thời còn trẻ cũng có người bạn rủ ông về miền Nam làm việc, và hãng thông tấn Pháp cũng muốn ông về để lập một cột trụ ở bên đó, nhưng nhạc sĩ họ Lê tâm sự: Tôi nghĩ rằng hồi đó tôi có đứa con nhỏ nhất mới 3 tuổi, nếu tôi về Việt Nam tôi sẽ mê một cô Việt nam, tôi sẽ lấy cô Việt Nam, sống với cô Việt Nam thì tôi sẽ không trở lại Pháp nữa. Tôi tự nghĩ: mình sinh ra con, mình không nuôi con, mình bỏ nó, sung sướng với cuộc sống của mình, rồi sau này con mình nó nhìn mình bằng cách gì mình không thể sống được. Vì thế tôi không đi. Mà nếu tôi đi, thì cũng không thể trở về được, nghề của tôi là ra chiến trường quay phim. Tôi vui thích với nghề đó lắm, mà có thể chết được, nên về thì không thể nào trở lại được nữa…”.

*

Nhạc sĩ lê trạch lựu đã qua đời tại Paris ngày 6 tháng 2, 2015, hưởng thọ 84 tuổi. Với công việc phóng viên vì ông tốt nghiệp ngành điện ảnh và truyền thông. (Theo nguồn tin cho biết, dạo đó có người bạn rủ ông về miền Nam Việt Nam hành nghề. Một hãng thông tấn của Pháp cũng đề nghị ông làm phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhưng ông từ chối). Với nhạc sĩ tài hoa nhưng ông không sinh hoạt trong môi trường âm nhạc, có lẽ sáng tạo khởi nguồn từ trái tim và nguồn cảm hứng… nhưng không còn!

Để tưởng nhớ nhạc sĩ gởi lại cho đời tình khúc tuyệt vời, xin trích những dòng trên để mỗi khi nghe tình khúc Em Tôi, nhớ lại hình bóng cũ.

Vương Trùng Dương

(Văn Nhân & Tình Sử, ấn hành 2015 trang 167-175)