• Âm nhạc,  ĐIỂM SÁCH,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt,  Viet-Hải

    VĂN HỌC TẢN MẠN LINH TINH

    Càng về sau số bạn bè trong hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa & Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & tiếng Thời Gian, khiến tôi bị rung chân, yếu tim thêm. Chả nhẽ bà con bay lên trời xanh, ta mãi cu ky cô dơn dưới dương trần sao nhỉ?

    Còn nhớ câu danh ngôn, tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Hoặc là câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Khi một con ngựa đau, hãy đại diện cho những cá nhân gặp hoạn nạn, khó khăn, đau khổ hay bất hạnh trong cuộc sống, hãy làm một chút gì dó an ủi hay ủy lạo bạn bè, dồng bào, hay rộng hơn là những nạn nhân, sinh linh gặp nạn.

    Câu nói mang ý tưởng, mang giá trị biểu hiện và thông điệp đạo đức là tinh thần đoàn kết và sự gắn bó keo sơn giữa bằng hữu trong tổ chức nhỏ xíu trong chúng ta, có vị ke, có vị không ke, không hưởng ứng, không sao cả, vì ngày nay nỗi khổ người ta, ngày sau đến lượt phe ta thói đời. Lòng nhân ái, tình tương thân tương ái: Từ loài vật biết thương nhau đến đạo lý làm người, ông bà ta muốn nhắc nhở mỗi cá nhân phải có lòng trắc ẩn. Truyền thống này tương đồng với các câu thành ngữ, ca dao khác như “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”. Sức mạnh của sự đùm bọc: Sự quan tâm, giúp đỡ không chỉ là chiếc phao cứu sinh giúp cá nhân vượt qua nghịch cảnh, mà còn là nền tảng để xây dựng một tập thể vững mạnh, một xã hội văn minh, nhân ái và giàu tình người.

    Tôi nghe Nữ sĩ Quỳnh Giao vướng stroke bị coma nhẹ, nay đã khỏi, nhà thơ HAK Dương Viết Diền, anh Alain Đức, anh Hoàng Khuê… cũng dau yếu, nhưng 25 bằng hữu hội viên tôi nghiêm ra rằng buổi hội ngô vui tưới ấm áp cho những thành viên như chị Hoàng Vinh, nữ sĩ Dương Hồng Anh, cụ bà 96 tuổi vẫn ra thơ đều đều, cụ tâm sự tôi vui quá nên hết ốm rồi anh. 

    Tôi vẫn nhớ câu danh ngôn, tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Hoặc là câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Lời nhắc nhở cho thế hệ hôm nay: Trong đời sống hối hả, đôi khi con người dễ bị cuốn vào những lo toan cá nhân mà trở nên thờ ơ, ít ke bà con nhóm. May là nhóm juniors Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa gánh vàc phụ tay cùng nhóm seniors Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & tiếng Thời Gian.

    Một tuyệt tác khác là câu ca dao mang đậm hồn nét dân tộc là ý tưởng của câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Câu ca dao như một tinh hoa, định giá hướng tư tưởng sống kết đoàn mang giá trị cốt lõi của câu ca dao, như một thông điệp nhân văn Khuyên lơn con người về tinh thần đoàn kết, tình tương thân tương ái, biết đùm bọc và yêu thương nhau vượt qua mọi ranh giới về hoàn cảnh, dù khó khăn, đầy thử thách.

    Sự kiện của câu ca dao mang hình tượng nghệ thuật, như sự kết hợp hòa quyện giữa hình ảnh thiên nhiên quen thuộc thảo mộc dây leo bầu và bí với nghệ thuật ẩn dụ métaphore, nhân cách hóa và theo thể thơ lục bát uyển chuyển.

    Câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, mang giá trị nghệ thuật: Thể thơ lục bát nhịp nhàng, từ ngữ giản dị, thủ pháp nhân hóa (“bầu ơi”) giàu cảm xúc.

    Ý nghĩa thực tiễn: Bài học về tình đoàn kết trong gia đình, ngoài xã hội và trong cả những hoàn cảnh thử thách to lớn của đất nước như thiên tai, hay nạn đại dịch lây lan mầm bệnh cho nhân loại. Vous souvenez-vous de la quarantaine liée au coronavirus? (Have you ever remembered the coronavirus quarantine?)

    Ca sĩ Kiều Loan đã diễn ngâm bài thơ mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh ngâm theo phong cách Tao Đàn Saigon xưa:

    Đợi ngày ra sách

    Chiều nay ngồi đọc sách

    Nhìn trời xanh bát ngát

    Đợi ngày ra mắt thơ

    Đàn lên cung, se tơ.

    Nghe gió chiều lao xao

    Cho lòng tôi nao nao

    Nhớ. Nhân Văn Nghệ Thuật

    Tiếng Thời. Gian dạt dào.

    Bao tháng ngày chờ đợi

    Dòng đời trôi qua mau

    Sách thơ bầy ngăn nắp

    Bút mực ngồi nhìn nhau

    Tin vui vừa loan báo

    Ngày ra mắt đến rồi

    Vườn hoa thơ nhạc nở

    Thêm một đóa hồng tươi

    Phất phơ trời lộng gió

    Hoa nở giữa vườn đời

    Hoa nở giữa hồn tôi

    Hoàng hôn tươi nụ cười

    Dương Hồng Anh, 26-9-2026

    Kỷ niệm ngày ra tác phẩm của khánh Lan và Hồng Anh.

    Chương trình văn nghệ ngâm thơ và ca hát bỏ túi với Ngọc Hà và Dương Viết Đang qua bài ca giấc mơ hồi hương của vũ thành.

    Dưới đây là bản tóm tắt ý chính của bài nhận xét theo phong cách thẩm định tổng quan (literature review), được chắt lọc ngắn gọn và súc tích:

    Tác giả Vũ Thành (1926–1987) là một gương mặt tiêu biểu của tân nhạc Việt Nam giai đoạn trước và sau năm 1954. Dù xuất hiện ít trước công chúng và có số lượng tác phẩm để lại không nhiều,nhưng ông lại được giới chuyên môn (nhạc sĩ, ca sĩ) kính trọng bậc nhất nhờ tài năng toàn diện ở cả ba vai trò: sáng tác, nhạc trưởng và hòa âm phối khí.

    Vũ Thành là bậc thầy về hòa âm. Theo đánh giá của các đồng nghiệp như Quỳnh Giao và Phạm Duy, ông là người có công lớn trong việc nâng tầm các ca khúc phổ thông thành tác phẩm nghệ thuật thính phòng sang trọng thông qua phần phối khí công phu, làm nền tảng thẩm mỹ vững chắc cho nhiều tác giả lớn thời kỳ đó.

    Cứ theo phong cách sáng tác và dấu ấn bán cổ điển, ông cho đổi mới dòng tân nhạc: Khác với âm điệu ủ ê, sướt mướt phổ biến của thập niên 40 (cung Ré thứ), âm nhạc của Vũ Thành mang hơi hướng bán cổ điển phương Tây, thanh tao, óng ả và quý phái. Tính kỷ luật trong việc trinh diễn: Các tác phẩm của ông (như Say Nhạc Canh Tàn, Nhặt Cánh Sao Rơi, Nhớ Bạn…) đòi hỏi người nghệ sĩ sự tiết chế, cách giữ nhịp tinh tế (rubato) và phát âm chuẩn mực thay vì luyến láy bi lụy quá đà, tùy cảm hứng.

    Bài tình ca “Giấc Mơ Hồi Hương” và mạch nguồn hoài niệm dĩ vãng,…

    Biểu tượng tâm tư di cư, Nhạc ra đời năm 1956, ca khúc là khúc hát tiêu biểu cho tâm sự của dòng người di cư từ miền Bắc vào Nam. Điểm độc đáo trong bút pháp của Vũ Thành là nhân cách hóa Hà Nội thành hình ảnh “em” – vừa gần gũi như một tình khúc riêng tư, vừa bao la như nỗi niềm chung của cả một thế hệ lưu xứ tha hương.

    Giá trị nghệ thuật vượt thời gian của bài nhạc là một bài hát kết hợp nhuần nhuyễn giữa nỗi buồn thấm thía chia ly, sự hồi tưởng và niềm hy vọng vào một ngày mai thanh bình. Qua các sáng tác muộn hơn như Hoài Hương Dạ Khúc, nỗi đau đáu hướng về quê cũ của ông được đẩy lên đến tận cùng của cảm xúc tha hương.

    Xét về bối cảnh ca khúc viết về Hà Nội thập niên 1950

    Bài viết đặt tên Giấc Mơ Hồi Hương (1956) vào dòng chảy chung của các nhạc phẩm viết về Hà Nội thời kỳ đó, bên cạnh những Hà Nội 49 (Trần Văn Nhơn) và Hướng Về Hà Nội (Ngô Hoàng Dương), cho thấy sự phong phú trong phong cách cất tiếng khóc hòa cùng vận mệnh đất nước của các nhạc sĩ dòng nhạc tiền chiến.

    Sau đây là tóm lược ý chính và nhận định về bài ca do ca sĩ Kiều Loan trình bày, bài tình ca dâng nỗi tâm cảm xoay quanh tác phẩm “Gửi người em gái miền Nam” của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn:

    Tác phẩm ra đời vào mùa xuân năm 1956, là bản tình khúc về mùa xuân duy nhất trong sự nghiệp của “nhạc sĩ của mùa thu” Đoàn Chuẩn. Tên gốc chính xác là “Gửi người em gái miền Nam” chứ không phải “Gửi người em gái” như cách gọi phổ biến suốt nhiều thập kỷ qua.

    Trải qua thời gian và hoàn cảnh lịch sử chia cắt hai miền Nam – Bắc, bài hát từng bị cắt xén, bóp méo cấu trúc và ca từ. Bài viết đòi lại sự công bằng cho tác giả bằng cách công bố phần lời gốc đầy đủ gồm 2 phần (với những hình ảnh thơ mộng nhưng đượm buồn về nỗi đau chia ly và niềm hy vọng đoàn tụ bên cầu Hiền Lương).

    Bài hát mang tâm sự thời thế sâu sắc: phản ánh bức tranh vân cẩu xã hội và tâm trạng của con người trong những năm đầu đất nước bị chia cắt (1954–1956). Phần 2 của bài hát chứa đựng khát vọng hòa bình và đoàn tụ mãnh liệt, vượt lên trên những tình cảm lứa đôi thông thường.

    Về giai thoại “bóng hồng” và những ẩn số cuộc đời, bài ca chứa hồi ức và theo giai thoại từ gia đình nhạc sĩ (con trai Đoàn Đính), người bạn tri âm Từ Linh, cũng như các nhà nghiên cứu (Vương Trùng Dương, Trương Quý, Lê Hoàng Long…).

    Bài hát xoáy quanh nguồn cảm hứng của bài hát là hình bóng của những mỹ nhân, ca sĩ tên tuổi thời tiền chiến như Thanh Hằng (Lê Hằng) – nàng thơ trong nhiều tình khúc Đoàn Chuẩn, hay những đồn đoán liên quan đến ca sĩ Mộc Lan, Tâm Vấn. Đồng thời, bài cá được viết cũng ghi nhận sự bao dung, hy sinh lặng lẽ âm thầm của người vợ tào khang (bà Nguyễn Thị Xuyên) – hậu phương vững chắc dung dưỡng tâm hồn phóng khoáng, tài hoa của người nhạc sĩ bay bổng, bay bướm trong âm nhạc.

    Nhận xét về tác phẩm và giá trị miên viễn của bài ca. Có thể dịnh giá dây là một kiệt tác lãng mạn trong âm nhạc: “Gửi người em gái miền Nam” không đơn thuần là một bản tình ca lãng mạn cá nhân, mà đã trở thành một chứng nhân lịch sử mang âm hưởng thời đại. Sự kết hợp giữa giai điệu sang trọng, đạo dạt chất trữ tình và ca từ giàu hình ảnh đã định hình phong cách độc bản của “vua nhạc slow” (Le roi de la musique lento) là Đoàn Chuẩn trong làng tân nhạc Việt Nam.

    Hãy tôn trọng di sản nghệ thuật dù là thuộc về quá khứ, nhưng công chúng cũng nên lưu giữa tác phẩm hay ca từ gốc của người nghệ sĩ tài danh này.

    Một kỷ niệm dáng nhớ khi tôi viết bài Bài Thánh Ca Kỳ Diệu, Việt Hải, có GS. Quyên Di, Lm. André Trần Cao Tường, có Trần Trung Dạo.

    Bài Thánh Ca Kỳ Diệu, Việt Hải, Quyên Di, Lm. André Trần Cao Tường:

    http://chimviet.free.fr/truyenky/viethai/vhan100_LmTranCapTuong%20.htm

    Bài viết “Bài Thánh Ca Kỳ Diệu” của tác giả Việt Hải (đăng trên tạp chí Chim Việt Cành Nam) là một bài tùy bút mang đậm cảm xúc tưởng niệm, được viết vào dịp Giáng sinh năm 2010 nhằm tri ân và tưởng nhớ Linh mục André Trần Cao Tường – một nhà văn, học giả, dịch giả và là Giám đốc Mạng lưới Dũng Lạc vừa mới qua đời cách đó không lâu (ngày 21/11/2010).

    Dưới đây là phần giải thích và phân tích chi tiết nội dung bài viết:

    I. Tóm tắt nội dung bài viết

    Bài viết được chia thành các tầng ý chính xoay quanh nhân vật trung tâm là Linh mục Trần Cao Tường và nguồn gốc của một tuyệt phẩm Giáng sinh:

    • Lời tạ từ và nỗi niềm mất mát (Phần đầu):

    Tác giả Việt Hải mở đầu bằng nỗi buồn khi mùa Giáng sinh năm 2010 vắng bóng một cây bút lớn ở hải ngoại là Linh mục André Trần Cao Tường (người qua đời vì bệnh tai biến mạch máu não – một căn bệnh mà chính Việt Hải cũng từng trải qua và lo sợ).

    Tác giả hồi tưởng lại cơ duyên quen biết với Linh mục Tường qua các dịp ra mắt sách ở Houston, qua các bài viết triết lý, văn chương trên mạng lưới Dũng Lạc, cũng như qua sự kết nối văn học giữa các diễn đàn (như Tình Nghệ Sĩ và Chim Việt Cành Nam).

    Dù khác biệt về tôn giáo (Việt Hải là Phật tử, còn Lm. Tường là linh mục Công giáo), hai người vẫn dành cho nhau sự trân trọng, thấu cảm và gọi nhau là “hiền huynh – hiền đệ” rất đỗi thân tình.

    Top: Cha André Dũng Lạc Trần Cao Tường. Lower: đệ tử Phật tử Trần Trung Dạo và Trần Viêt Hải.

    • Góc nhìn đa chiều về chân dung Linh mục Trần Cao Tường:

    Bài viết điểm lại những đánh giá của các văn nghệ sĩ tên tuổi khác dành cho Lm. Trần Cao Tường như:

    Nhà văn Trần Trung Đạo: Viết bài tiễn đưa đầy xúc động.

    Nhà thơ Du Tử Lê: Viết lời tựa cho tác phẩm của Lm. Tường, bày tỏ sự kính trọng đối với một vị tu sĩ yêu nước, có quan điểm sâu sắc rằng “kẻ nào không yêu quê hương, nguồn cội của mình, kẻ đó cũng sẽ không yêu Thiên Chúa”.

    Nhà thơ Lm. Trăng Thập Tự: Gửi thơ tiễn biệt từ quê nhà Việt Nam.

    Vợ chồng nhà văn Nhã Ca – Trần Dạ Từ (qua bản tin Việt Báo): Ghi nhận Lm. Tường là một ngòi bút phong phú (tùy bút, bút ký, tiểu luận, nhiếp ảnh) có phong văn thuần túy Công giáo nhưng mang tính nhân bản, thơ mộng, dễ đi vào lòng người thuộc mọi tôn giáo.

    Sức sáng tác của Lm. Tường vô cùng dồi dào, bao trùm nhiều lĩnh vực từ triết học, khoa học, y khoa, công án thiền cho đến văn học nghệ thuật. Câu chuyện về “Bản Thánh Ca Kỳ Diệu” (Phần trọng tâm):

    Tác giả chuyển dòng cảm xúc sang bài viết cuối cùng của Lm. Trần Cao Tường mà ông rất ấn tượng trước mùa Giáng sinh: bài “Bản Thánh Ca Kỳ Lạ” (viết về nguồn gốc của bài thánh ca trứ danh toàn cầu Silent Night hay Stille Nacht / Đêm An Bình / Đêm Thánh Vô Cùng).

    Hoàn cảnh ra đời kỳ diệu: Vào đêm Giáng sinh năm 1818 tại một ngôi làng nhỏ ở Áo (Oberndorf), vị linh mục trẻ Josef Mohr đang lo lắng vì đàn phong cầm trong nhà thờ bị chuột gặm hỏng đúng lúc cha sở lâm bệnh nặng. Giữa lúc ấy, ông nhận được lời kêu gọi khẩn cấp phải đến ban phép rửa tội cho một đứa trẻ sinh non trong một túp lều nghèo nàn giữa trời tuyết lạnh.

    Trải nghiệm thực tế tại túp lều – nơi gia đình nghèo đón đứa con trong sự ấm áp, bình an và tình mẫu tử thiêng liêng – đã đánh thức tâm hồn nghệ sĩ của cha Josef Mohr. Trở về qua màn đêm tuyết phủ với nguồn cảm hứng dâng trào, ông ghé qua nhà người bạn thân là nhạc sĩ Franz Gruber. Chỉ trong một thời gian ngắn, phần lời thơ của cha Mohr và phần nhạc của Franz Gruber đã hòa quyện vào nhau, tạo nên khúc ca Stille Nacht.

    Bài thánh ca ấy lần đầu tiên được cất lên bằng tiếng đàn guitar trong lễ Nửa đêm Giáng sinh tại một làng quê nghèo, để rồi sau đó vang dội khắp hoàn cầu qua hàng trăm ngôn ngữ.

    • Phần lời kết:

    Khép lại bài viết, tác giả Việt Hải mượn ca từ bất hủ của bài Silent Night để dâng tặng, tưởng nhớ và gửi lời chúc bình an đến linh hồn Linh mục André Trần Cao Tường ở cõi vĩnh hằng.

    II. Phân tích ý nghĩa và giá trị của bài viết

    • Sự kết nối giữa đạo và đời, giữa các tôn giáo:

    Một điểm sáng lớn trong bài viết là sự vượt qua rào cản tôn giáo. Dù là một linh mục Công giáo, Lm. Trần Cao Tường lại có mối thâm tình sâu sắc với các văn nghệ sĩ, phật tử như Việt Hải, Trần Trung Đạo, Du Tử Lê… Điều này cho thấy văn chương và nghệ thuật có sức mạnh hóa giải khác biệt, kết nối những tâm hồn đồng điệu dựa trên lòng nhân ái và sự trân trọng con người.

    • Tinh thần nghệ thuật vị nhân sinh:

    Câu chuyện về cách bài thánh ca Silent Night ra đời phản ánh chính quan niệm sáng tác của Lm. Trần Cao Tường: nghệ thuật chân chính không nằm ở sự xa hoa, cầu kỳ mà bắt nguồn từ những khoảnh khắc đời thường, từ lòng bác ái, sự thấu cảm với nỗi đau và niềm khát khao hòa bình, an lạc của con người.

    • Bút pháp hoài niệm, dung dị nhưng giàu cảm xúc:

    Văn phong của Việt Hải trong bài viết này mang đậm chất tùy bút hoài niệm (memoir-style). Sự đan xen giữa tiếng lòng cá nhân, các trích đoạn thơ tưởng niệm của Quyên Di, Lm. Trăng Thập Tự, lời nhận định của Du Tử Lê và câu chuyện cảm động về bài thánh ca đã tạo nên một bức tranh tưởng niệm trọn vẹn, ấm áp tình người giữa mùa đông giá lạnh.

    Việt Hải và Trần Trung Đạo về Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm Tiễn Mẹ

    https://nhanvannghethuat.com/vi-khiem-nguyen-van-liem-tien-me%ef%bf%bc

    Nhà văn/nhà báo Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm.

    Bài viết trên trang Nhân Văn Nghệ Thuật ghi lại buổi lễ cầu nguyện và tiễn đưa cụ bà Ana Nguyễn Thị Tịnh (thân mẫu của nhà văn/nhà thơ Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm), người qua đời ở tuổi đại thọ 107 tuổi.

    Dưới đây là các ý chính và tư tưởng chủ đạo trong bài viết:

    Tuổi thọ phúc lộc và sự an nghỉ trong cõi vĩnh hằng:

    Cụ bà Ana Nguyễn Thị Tịnh đã sống qua ba thế kỷ (cuối thế kỷ 19, trọn thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21) và hưởng thọ 107 tuổi.

    Trong bài giảng thánh lễ, linh mục chủ sự nhắc nhở rằng một “cây tốt” (cụ bà) chắc chắn sẽ sinh ra những “trái tốt” – minh chứng qua người con trai là ông Nguyễn Văn Liêm, một giáo dân sống đạo đức, khiêm nhường và tận tụy với xứ đạo.

    Nỗi đau và sự tiếc nuối khôn nguôi của người con ở lại:

    Dù người mẹ đã ra đi ở tuổi đại thọ (107 tuổi) – điều khiến gia đình cảm thấy biết ơn Thiên Chúa và không còn mong cầu gì hơn – nhưng nhà văn Vi Khiêm vẫn bộc lộ nỗi đau lớn khi không thể ở bên cạnh mẹ trong những giờ phút cuối đời để nghe lời trăn trối.

    Sự tôn vinh tình mẫu tử qua thi ca và nghệ thuật:

    Tác giả bài viết mượn những câu thơ nổi tiếng đầy cảm xúc từ bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Lấy Tiếng Mẹ Cười” của thi sĩ Trần Trung Đạo để khắc họa sự thiêng liêng, vô giá của người mẹ và tiếng nói từ trái tim mẹ:

    “Ví mà tôi đổi thời gian được / Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.”

    Bài viết cũng điểm qua những tâm tình, nỗi nhớ mẹ qua các tác phẩm văn thơ của các văn nghệ sĩ khác như nhà văn Ngọc Cường (mất mẹ từ nhỏ) hay nhà giáo/nhà thơ Quyên Di (qua bài thơ “Giỗ Mẹ”), qua đó đồng điệu nỗi niềm chung của những người con chịu tang mẹ: dẫu có lớn khôn đến đâu, trước di ảnh của mẹ, họ vẫn mãi là những đứa con bé bỏng. Tóm lại, bài viết là một lời tri ân sâu sắc, một khúc ca tiễn biệt trang nghiêm và đầy xúc động dành cho một người mẹ hiền phúc thọ vẹn toàn, đồng thời phản ánh nỗi lòng khắc khoải, biết ơn và thương nhớ khôn nguôi của những người con đối với công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ.

    Nội dung bạn vừa chia sẻ bao gồm bài thơ nổi tiếng “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của nhà thơ Trần Trung Đạo cùng với bài bình thơ (lời bình) của tác giả Châu Thạch.

    Dưới đây là phần giải thích chi tiết, phân tích và bình luận tổng quan về tác phẩm và bài viết bình luận này để giúp bạn thấu hiểu trọn vẹn giá trị nghệ thuật cũng như cảm xúc sâu lắng ẩn chứa bên trong.

    1. Giới thiệu tổng quan
    • Bài thơ: “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của nhà thơ Trần Trung Đạo viết về tình mẫu tử thiêng liêng, nỗi đau chia cắt (thường thấy trong bối cảnh người Việt ly hương, xa xứ sau năm 1975) và sự day dứt của một người con không thể ở cạnh chăm sóc mẹ già.
    • Bài bình luận: Do tác giả Châu Thạch chấp bút, phân tích từng khổ thơ, giải mã các tầng nghĩa ngôn từ (như khái niệm “thiên thu”, hình ảnh “lá thu rơi”, chữ “trắng” thứ hai, v.v.) nhằm làm nổi bật cái hồn và tài hoa của nhà thơ Trần Trung Đạo.
    • Phân tích và Giải thích tác phẩm qua bài bình

    Bài thơ xoay quanh một mô-típ rất quen thuộc trong thơ ca ly hương: cuộc gọi điện thoại ngắn ngủi đường dài (nhắc chiếc phone lên) nhưng lại khơi gợi một khoảng trống mênh mông, cả một trời thương nhớ và dằn vặt.

    1. Hình ảnh và ý nghĩa nhan đề “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”
    • Thắc mắc thực dụng: Nhiều người cho rằng “thiên thu” là một ngàn năm (vô định), con người không thể sống đến chừng ấy để mà “đổi”, làm sao lấy cái không có để đổi cái có?
    • Lý giải tâm lý học nghệ thuật (Châu Thạch): “Thiên thu” ở đây không phải là thời gian vật lý (đếm bằng năm tháng), mà là thời gian tâm lý. Giống như câu “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” (một ngày trong tù dài như ngàn năm), thời gian tâm lý co giãn theo nỗi đau và nỗi nhớ.
    • “Thiên thu” còn tượng trưng cho sự bình tịnh, an lạc lâu dài trong tâm hồn. Nhà thơ sẵn sàng đánh đổi cả sự bình yên vĩnh cửu ấy — hay sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì lớn lao nhất — chỉ để đổi lấy khoảnh khắc nghe được tiếng mẹ cười, tức là biết mẹ đang hạnh phúc, bình an.
    • Tiếng gọi từ đầu dây và nỗi buồn chia ly

    “Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người Tiếng ai như tiếng lá thu rơi Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi”

    • “Tiếng ai”: Đại từ phiếm chỉ “ai” thường dùng cho người xa lạ, nhưng trong văn chương lại diễn tả sự nghẹn ngào khi đối diện với người thân thương nhất — một sự xa cách lâu ngày đến mức khi nghe lại giọng nói, ta có cảm giác ngỡ ngàng như tiếng của một người xa lạ mà lại vô cùng gần gũi.
    • “Như tiếng lá thu rơi”: Một hình ảnh so sánh tuyệt đẹp. Tiếng mẹ thầm thì, nhẹ nhàng, mong manh và buồn vô hạn, gợi lên cả một không gian mùa thu heo hắt, tĩnh lặng trong tâm hồn người con xa xứ.
    • Hoàn cảnh lưu vong và màu trắng của sự biệt ly

    “Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê Mười năm tóc mẹ màu tang trắng Trắng cả lòng con lúc nghĩ về”

    • Cuộc ra đi “chẳng hẹn thề” là cuộc ly biệt đành đoạn, bất đắc dĩ.
    • Hình ảnh “Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê” miêu tả sự hoảng loạn, bơ vơ của người con bị đẩy vào bước đường lưu lạc, mất phương hướng giữa dòng đời.
    • Chữ “trắng” thứ hai (“Trắng cả lòng con”): Bài bình luận giải thích rất hay rằng chữ “trắng” này không phải là vô cảm, mà là màu trắng của chiếc khăn tang trong tâm tưởng. Mẹ chưa mất nhưng sự chia cắt xa xôi lâu ngày tạo nên một nỗi trống vắng tột cùng, biến lòng con thành một cõi tang tóc, u hoài.
    • Hình ảnh người mẹ và nỗi đau đọng lại

    “Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn Bên đời gió tạt với mưa tuôn… Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ…”

    • Cụm từ “đan một nỗi buồn” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nỗi buồn vốn là thứ vô hình (tâm lý), nhưng qua ngòi bút Trần Trung Đạo, nó được cụ thể hóa thành một vật hữu hình có thể “đan” từng mũi kim, dệt nên chuỗi ngày mòn mỏi ngóng trông của người mẹ già cô độc bên ô cửa “gió tạt mưa tuôn”.
    • Người con chọn cách nén đau thương vào thơ ca, vào lá cây (“viết đau thương vào trong lá” – gợi nhắc đến sự bạt ngàn của nỗi buồn nhân lên qua từng chiếc lá vàng rụng), và tìm kiếm hơi ấm của mẹ trong những giấc mơ xa xôi.
    • Bình luận chung và Đánh giá
    • Giá trị nội dung:

    Bài thơ chạm đến góc khuất mềm yếu nhất của những người con xa xứ. Đó là thứ tình mẫu tử thiêng liêng vượt qua mọi khoảng cách không gian và thời gian. Tiếng mẹ cười ở đây không đơn thuần là âm thanh vui vẻ, mà là biểu tượng của sự bình yên, của cội nguồn, là điểm tựa tinh thần duy nhất cho người con bơ vơ giữa chốn ba ba chìm nổi.

    • Giá trị nghệ thuật:
      • Thể thơ thất ngôn (7 chữ) truyền thống nhưng được vận dụng với nhịp điệu chậm rãi, u buồn, thấm đẫm âm hưởng hoài niệm.
      • Các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh (tiếng lá thu rơi, đan một nỗi buồn, ngựa rừng lạc lối) vô cùng đắt giá, giúp cấu trúc bài thơ chặt chẽ từ câu mở đầu đến câu kết thúc (tạo thành một vòng tròn cảm xúc khép kín khi lặp lại câu thơ “Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người”).
    • Về bài bình của Châu Thạch:

    Bài bình luận đã làm tròn vai trò của một người “gỡ rối” câu chữ, phân tích sâu các lớp nghĩa triết lý (như thời gian tâm lý, ý nghĩa của chữ “trắng”, chữ “thiên thu”) giúp người đọc không chỉ cảm nhận bài thơ bằng cảm xúc thuần túy mà còn thấy được tư duy nghệ thuật sắc sảo của nhà thơ Trần Trung Đạo.

    Kết luận: Bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” thực sự là một nén tâm hương, một tiếng lòng thổn thức của triệu người con xa quê gửi về đấng sinh thành, và qua lời bình của Châu Thạch, giá trị nhân văn và nghệ thuật ấy lại càng được lan tỏa sâu sắc hơn nữa trong lòng người yêu thơ.

    Xem link sau:

    https://hung-viet.org/a22011/doc-doi-ca-thien-thu-tieng-me-cuoi-tho-tran-trung-dao

    Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, Nhạc Võ Tá Hân – Thơ Trần Trung Đạo – Ca sĩ Bảo Yến:

    —————

    Việt Hải- Văn Học-Vang Bóng Một Thời

    Dưới đây là phần tóm tắt và đánh giá về cuốn sách “Văn Học – Vang Bóng Một Thời” của tác giả Việt Hải (tên thật là Trần Việt Hải), dựa trên thông tin và bối cảnh được cung cấp.

    1. Tóm tắt tác phẩm

    Tên sách: Văn Học – Vang Bóng Một Thời

    Tác giả: Việt Hải (Trần Việt Hải)

    Tính chất tác phẩm: Đây là tuyển tập các bài tiểu luận, bài phê bình và các bài viết văn học tiêu biểu nhất của tác giả, được đúc kết qua gần ba thập kỷ miệt mài sáng tác và cống hiến cho nghệ thuật.

    Chủ đề cốt lõi: Tác phẩm là lời tri ân đầy tâm huyết dành cho nền văn học cổ điển Việt Nam, các cột mốc văn hóa và những nhân vật lỗi lạc của quá khứ. Cuốn sách đóng vai trò cầu nối giữa độc giả đương đại với di sản nghệ thuật, thi ca và triết học sâu sắc của lịch sử Việt Nam, khơi dậy niềm hoài niệm về những thời kỳ hoàng kim của văn chương và nghệ thuật.

    2. Đánh giá sách

    Chiều sâu và sự uyên bác: Qua từng trang viết, Việt Hải thể hiện sự am hiểu sâu sắc về nghệ thuật, văn hóa và lịch sử văn học Việt Nam. Lối viết của ông không chỉ dừng lại ở việc kể lại lịch sử đơn thuần; ông thổi hồn vào những chủ đề mình phân tích, phản ánh mối gắn kết mật thiết và trải nghiệm thực tế với văn chương.

    Sự bền bỉ và niềm đam mê: Điểm ấn tượng đặc biệt của tuyển tập này chính là tinh thần kiên trì bền bỉ ẩn chứa bên trong. Với hành trình sáng tác kéo dài gần ba mươi năm, cuốn sách là minh chứng cho lòng tận tụy không lay chuyển của tác giả đối với cộng đồng văn học Việt Nam cũng như cam kết gìn giữ những ký ức văn hóa giữa dòng chảy thời gian đầy biến động.

    Cầu nối ký ức: Bản thân nhan đề “Vang Bóng Một Thời” đã gợi lên phong cách văn xuôi cổ điển Việt Nam đầy cuốn hút và giàu chất thơ (gợi nhớ đến những nhà văn như Nguyễn Tuân). Việt Hải đã thành công trong việc nắm bắt những mảnh ghép tinh tế, thoáng qua của một thời văn chương đã qua, khiến chúng trở nên sống động và gần gũi với độc giả hiện đại – những người luôn trân trọng các giá trị di sản.

    3. Điểm đặc sắc và thú vị của cuốn sách

    Sự giao hòa giữa lịch sử và tâm hồn: Thay vì những bài phê bình mang tính học thuật khô khan, các bài tiểu luận của Việt Hải mang dáng dấp của những lời tri ân đầy cảm xúc và giàu tính tự sự. Tác giả làm sáng tỏ những sắc thái tinh tế, những dòng chảy cảm xúc ngầm và các giá trị thẩm mỹ ẩn sau cuộc đời cũng như các tác phẩm của những tên tuổi văn học lừng lẫy.

    Kho tư liệu sống động về một hành trình sự nghiệp: Nhờ tập hợp các bài viết được chắt lọc trong suốt gần 30 năm, cuốn sách mang đến cho độc giả cơ hội chiêm nghiệm sự trưởng thành trong tư duy của một cây bút đầy tâm huyết đối với văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc Việt Nam.

    Trải nghiệm tương tác: Như đã được giới thiệu trên chuyên mục Nhân Văn Nghệ Thuật, cuốn sách hiện diện dưới định dạng “flip-book” (sách lật trang) đầy cuốn hút trên nền tảng trực tuyến (heyzine.com). Định dạng này cho phép độc giả trải nghiệm cảm giác lật từng trang sách sống động như đang cầm trên tay một ấn phẩm giấy, qua đó kết hợp hài hòa giữa nét đẹp thưởng thức văn học truyền thống và sự tiện lợi của công nghệ số hiện đại.

    Trần Trung Đạo – Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời

    Bài viết “Trần Trung Đạo – Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời” của tác giả Lương Thư Trung (Hai Trầu) đăng trên trang của Trần Thị Nguyệt Mai là một bài tiểu luận, cảm nhận sâu sắc về cuộc đời, hành trình thơ ca và tư tưởng của nhà thơ/cư sĩ Trần Trung Đạo.

    Dưới đây là bản phân tích và giải thích chi tiết nội dung, ý nghĩa của bài viết theo từng khía cạnh:

    1. Hành trình tuổi thơ gian truân và bóng tối thời cuộc

    Tuổi thơ bất hạnh: Bài viết mở đầu bằng việc nhắc đến hoàn cảnh của Trần Trung Đạo – một đứa trẻ sinh ra tại làng Nghi Hạ (Duy Xuyên, Quảng Nam), phải rời xa gia đình và bươn chải giữa đời từ khi mới 14 tuổi.

    Vết hằn chiến tranh: Những năm tháng tuổi thơ sống trong khói lửa chiến tranh đã để lại những vết thương lòng sâu sắc trong tâm hồn tác giả:

    “Anh bỏ nhà đi năm mươi bốn tuổi / Học lọc lừa từ thuở tóc chưa xanh / Viên đạn nổ xé từng trang sách vở / Trụ đèn khuya thay thế ánh trăng rằm.”

    Cuộc đời lưu lạc, bấp bênh và những nỗi đau đầu đời ấy đã trở thành nguồn nguyên liệu chính để ông chắt chiu thành những vần thơ đượm buồn, chân thực và đầy nỗi niềm thao thức.

    2. Hình bóng người Mẹ và nỗi nhớ quê hương

    Mẹ trong thơ Trần Trung Đạo: Một phần linh hồn trong thơ ông là hình bóng người mẹ nghèo khó, tảo tần, chịu đựng trăm đắng ngàn cay (mẹ bán máu nuôi con, mẹ ở bến sông Thu Bồn, mẹ ngóng con bên kia nửa địa cầu…).

    Hình bóng người mẹ không chỉ là hiện thân của sự hy sinh vô bờ bến mà còn là biểu tượng của cội nguồn, của quê hương xứ Quảng xa xôi mà người con lưu vong luôn hướng về với tất cả lòng thành kính và nỗi xót xa:

    “Mười năm tóc mẹ màu tang trắng / Trắng cả lòng con lúc nghĩ về.”

    Ngay cả khi sống giữa nền văn minh hiện đại ở phương Tây, tâm hồn người con vẫn giữ trọn đạo hiếu, hướng về quê nhà bằng những hình ảnh bình dị nhất như chiếc khăn lụa Duy Xuyên để tiệp màu miếng trầu cay của mẹ.

    3. Tinh thần Phật giáo và sự hóa giải khổ đau

    Tâm thức từ bi: Trần Trung Đạo là một Phật tử thuần thành từ thuở nhỏ (từng sinh hoạt trong Gia đình Phật tử, gắn bó với cây đa chùa Viên Giác). Ảnh hưởng của đạo Phật thấm đượm vào thơ ông như một phương dược để xoa dịu những nhọc nhằn, bất trắc của kiếp nhân sinh.

    Ông nhìn đời qua lăng kính vô thường, nhân quả và luân hồi:

    “Ta vẫn biết thế gian là cõi tạm / Tấm thân này cát bụi sẽ về thôi…”

    Dù cuộc đời xô đẩy ngã gục, ông không mang lòng oán trách mà chọn cách mỉm cười với thế nhân, dùng lòng từ bi và sự kiên nhẫn để chuyển hóa phiền não, tìm thấy sự bình an trong tâm hồn.

    4. Biểu tượng “Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời”

    Hình tượng “người tiều phu” và “chiếc lá vàng” là ẩn dụ trung tâm xuyên suốt bài viết:

    Chiếc lá vàng tượng trưng cho những mảnh đời bèo giạt, cô đơn, vô định của tha nhân và cũng là hình ảnh phản chiếu chính cuộc đời lưu vong, đau buồn của tác giả (“Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn”).

    Người tiều phu là hình ảnh người nghệ sĩ âm thầm, nhẫn nại đi nhặt nhạnh từng nỗi buồn, từng mảnh đời rơi rớt, từng chiếc lá khô của nhân gian để nhóm lên ngọn lửa sưởi ấm tình người:

    “Con đi góp lá ngàn phương lại / Đốt lửa cho đời tan khói sương.”

    Hành động quét lá, nhặt lá không chỉ là việc làm đơn thuần mà là một sứ mệnh cao đẹp: mang trái tim nhân hậu, chân tình tha thiết để hiến dâng cho đời những vần thơ an ủi, xoa dịu những vết thương lòng trong cõi thế ô trọc.

    Tổng kết ý nghĩa bài viết

    Bài viết của Lương Thư Trung đã phác họa thành công bức chân dung tinh thần của nhà thơ Trần Trung Đạo: một người thơ mang nặng nỗi đau thời thế, hoài niệm khôn nguôi về mẹ và quê hương, nhưng đồng thời cũng là một tâm hồn từ bi, bao dung. Qua hình ảnh “người tiều phu quét lá”, bài viết tôn vinh những người nghệ sĩ âm thầm dùng văn chương, tình yêu thương và sự đồng cảm để sưởi ấm những cõi lòng lạnh lẽo giữa dòng đời dông bão.

    Một ngày trước buổi hẹn tại Lữ Quán Tri Âm, nhà văn Kiều My đã soạn xong hai bài nhạc cho 2 bài thơ tôi nhờ cô lo phần nhạc, Tạ ơn tình em (“Merci pour ton amitié”) và bài thơ tôi ghi tựa Nhớ em thu về (Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne), nhưng Kiều My đặt tên trại đi là Thu về nhớ em. Hai bài thơ lãng mạn này, một bằng tiếng Pháp (“Merci pour ton amitié”) và một phiên bản khác bằng tiếng Việt (“Cảm ơn cuộc đời”)—mang đến cái nhìn sâu sắc về sự giao thoa tinh tế nhưng mạnh mẽ giữa tình yêu lãng mạn và tình bạn sâu sắc (điều mà người Hy Lạp gọi là Philia, gắn bó mật thân thiết đam mê cùng với Eros).

    Sau đây là một số ý tưởng nhận định mới về góc nhìn sâu sắc khi nghe những ca khúc trên, được truyền cảm tác từ những bài thơ này, để làm phong phú thêm sự cảm thụ nhận biết qua giác quan nhạy cảm bẫm sinh về tình bạn yêu thương:

    Như xét qua trích đoạn từ bài thơ tiếng Pháp: «”e sais que tu es un être humain ; par-dessus tout, j’ai besoin de toi comme ami.” (“anh biết em là con người; trên hết, anh yêu em như một người bạn.”.

    Tình bạn yêu thương đích thực vượt lên trên sự lý tưởng hóa lãng mạn. Đó là việc nhận biết những khuyết điểm, quá khứ và thực tế của người kia, và vẫn chọn họ. Lời minh thị cuối vẫn không chỉ đơn giản là “Tôi mến bạn,” mà là “Tôi cần bạn như người bạn tâm đắc đồng hành trung thành nhất trong tôi.”, (“J’ai besoin de toi comme mon compagnon le plus fidèle et le plus loyal.”).

    Hãy cùng nhau vượt giông bão như chiếc mõ neo vững bền. (Câu thơ tiếng Pháp:  «Quand je suis dans le noir et que j’ai besoin de lumière, ta présence à mes côtés m’apporte la paix intérieure….

    Xét nghiệm khi phân tích lời thơ: Hai bài thơ này nhấn mạnh rằng tình bạn yêu thương không chỉ dành cho những ngày nắng đẹp; hay nhiều thử thách và vẻ đẹp thực sự của nó nằm ở việc trở thành ngọn hải đăng trong cơn bão tố. Tình bạn mang đến sự an toàn về mặt cảm xúc, trong khi tình yêu lại mang đến nỗi đắm say, l’amitié sincère n’est pas réservée aux beaux jours ; elle affronte de nombreux défis, et sa véritable beauté réside dans sa capacité à être un phare au milieu des tempêtes. L’amitié offre une sécurité affective, tandis que l’amour offre un dévouement passionné.).

    Phân tích tiếp về khái niệm tri kỷ trong văn hóa Việt Nam (người bạn tâm giao thực sự hiểu được con người bên trong bạn) tự nhiên kết nối tình yêu và tình bạn. Tác giả gợi ý rằng các mùa thay đổi – từ xuân sang thu, từ tuổi trẻ như xuân xanh cho đến tuổi già như thu vàng. Nhưng mối liên kết cơ bản vẫn luôn rực rỡ (“mùa xuân xanh”).

    Những ca từ vượt thời gian này lột tả trọn vẹn tâm hồn của sự mô tả chân phương sâu sắc, kiên định và bản chất về tình bạn đích thực. Dưới đây là những chia sẻ và góc nhìn về tình yêu đích thực qua lăng kính của ca khúc kinh điển kèm (nổi tiếng với tên gọi “Cuando Calienta el Sol” ( hoặc phiên bản tiếng Anh “Love Me with All Your Heart”). Bài hát thịnh hành trong những buổi tiệc cưới hay dịp lễ Valentine.

    Bài tinh ca Love Me with All Your Heart, luận bàn về một tình yêu chân phương, thực sự như về lời cam kết trọn vẹn như được tiểu biểu qua những câu mở đầu, không chấp nhận sự nửa vời hay những tình cảm hời hợt. Nó đòi hỏi sự đầu tư trọn vẹn về mặt cảm xúc. Điều này xác lập một chuẩn mực rằng tình yêu không phải là thú vui nhất thời hay sự tiện lợi tạm bợ, mà phải là một sự lựa chọn đầy tâm huyết.

    Về tinh yêu bền vững, sự kiên định qua thời gian và không gian (“Mỗi mùa đông, mùa hè, hay mùa thu”). Lời bài hát nhấn mạnh sự bền bỉ bất chấp mọi mùa trong năm hay khoảng cách địa lý—dù hai người ở gần hay xa cách. Tình yêu đích thực không phai nhạt theo những thay đổi của hoàn cảnh hay thời tiết; nó vẫn luôn vững vàng, kiên cường và trường tồn cùng dòng chảy thời gian.

    Về tình yêu vĩnh cửu thay vì nhất thời như “Not just for a moment or an hour” (“Không chỉ trong khoảnh khắc hay một giờ đồng hồ”.

    Tình yêu chân phương thữc sự khước từ những rung động thoáng qua. Dù đam mê có thể khởi đầu như một tia lửa, tình yêu đích thực sẽ chuyển hóa ngọn lửa ban đầu ấy thành một trạng thái gắn kết vĩnh cửu như “Just as I have loved you from the very beginning / With every beat of my heart”, (“luôn như cách em yêu anh từ thuở ban đầu / Với từng nhịp đập nơi trái tim em”). Nó hòa quyện vào chính nhịp sống thường nhật của mỗi người.

    Tôi vốn chuộng bù khú, tán hươu tán vượn hay tán gẫu phiếm luận trong phong văn tản mạn thi ca hòa quyện vào âm nhạc. Có lẽ tôi vốn thích bay bổng tâm hồn mình trong cõi thi ca và âm nhạc, thử hỏi thi ca Nguyên Sa hay Cung Trầm Tưởng, những thi ca vượt quá khổ lãng mạn tư duy. Đúng chứ?

    Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne:

    Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne Compositeurs Việt Hải & Kiều My

    Thanks For Friendship – Words_ Việt Hải- Music_ Kiều My:

    Thanks For Friendship Words Việt Hải Music Kiều My

    Merci Pour Ton Amitié – Compositeurs_ Việt Hải & Kiều My:

    Merci Pour Ton Amitié Compositeurs Việt Hải & Kiều My

    MERCI POUR TON AMITIÉ

    Darling, tu es mon meilleur ami ; tu as ta place dans mon cœur.
    Nous traversons des hauts et des bas, mais rien ne pourra nous séparer.
    Je te considère comme un membre de ma famille, et je veillerai toujours sur toi.
    Mon amour, respect et confiance sont ce que nous partageons.
    Je te connais en tant que personne ; j’ai surtout besoin de toi comme ami.
    Notre amitié est une chose qui ne finira jamais.
    En cet instant précis, en ce jour,
    Nos liens sont indéfectibles ; notre attachement est là pour durer.
    Mon amitié pour toi est unique et sincère.
    Quand nous sommes ensemble, nous sommes inséparables.
    Quand je suis dans l’obscurité et que j’ai besoin de lumière,
    Ta présence à mes côtés me rassure : tout ira bien.

    ƠN EM MỘT ĐỜI

    Cảm ơn em những ân tình

    Yêu em yêu mãi trong tim

    Báo cơn bão nỗi vẫn tìm nơi em

    Duyên tinh nợ kiếp ba sinh

    Có em như đã tự tình trong anh

    Bên em tri kỷ mộng lành

    Tình ta sẽ mãi xuân xanh thu vàng

    Giờ đây sánh bước đan tay

    Thênh thang cuối phố như mây cuối trời

    Yến anh vương vấn bên đời

    Lưu tâm lưu luyến nhớ lời thề xưa

    Hạ về giông bão trời mưa

    Bên nhau mãn kiếp tình vừa trăm năm.

    Thank you for your friendship

    You are my best friend; you hold a special place in my heart.
    We go through ups and downs, but nothing can ever tear us apart.
    I consider you family, and I will always look out for you.
    We share love, respect, and trust.
    I know you as a person, but above all, I need you as a friend.
    Ours is a friendship that will never end.
    At this very moment, on this day,
    Our bond is unbreakable; our connection is built to last.
    My friendship with you is unique and sincere.
    When we are together, we are inseparable.
    When I am in the darkness and need light,
    Your presence by my side reassures me: everything will be okay.

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM VĂN HỌC (TRẦN VIỆT HẢI):

    BUỔI RA MẮT TÁC PHẨM CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ VĂN THI SĨ KHÁNH LAN:

    Sans Toi Ce Soir Paroles Viet Hai Musique AI Kieu My:

    Em, em luôn vẫn là em, my song: Mon Amour, Tu Restes Toi,…

    Mon Amour, Tu Restes Toi, Paroles de Việt Hải LA, Musique – Kiều My:

    Bonne semaine à toutes et à tous…!

    Lời cuối cùng, tình bạn trong hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian họp nhau tại Lữ Quán Tri Âm, Anaheim. Phong cách pocket reunion, dù là bal des amis, hay bal de famille, họp nhau nho nhỏ, nơi chốn be bé, chỉ 12 dến 15 thân hữu như cõi giang san của Nữ sĩ Quỳnh Giao, tôi vốn kiêng kỵ chỗ đông người. C’est selon mes propres goûts.Ce sont mes propres préférences. Ce sont mes choix de bon goût.

    VHLA, California 2026

  • Âm nhạc,  Hà Phương,  HUY ANH

    BAO GIỜ TRỞ LẠI HÀ THÀNH

    Thơ: Hà Phương

    Tình riêng gửi chị kính yêu ơi!
    Quê cũ mờ xa một khoảng trời
    Năm cửa Ô xưa vào thành nội
    Thời gian thắm đậm những hương đời

    Mấy vần thơ, tặng chị thương ơi
    Em chị cùng ca ngợi đất trời
    Xướng họa đôi vần thơ lạc xứ
    Chạnh lòng thơ bỗng tiếng lòng rơi

    Hồ Tây êm ả cảnh chiều tà
    Thê Húc hội hè nay đã xa
    Kỷ niệm êm đềm ngày tháng cũ
    Của thời thơ ấu đã vui qua… 

    Ươm hồng tuổi ngọc, xanh thơ mộng
    Giọt nắng vàng thu đẹp một trời
    Mưa bụi chân vui mòn nẻo phố
    Hương thầm len lén tuổi đôi mươi

    Ngọc Sơn đền miếu linh Thần thánh
    Sương phủ hồ Gươm buổi sớm mai
    Nhớ cảnh di cư đường vắng vẻ*
    Ngày về biết có được thái lai

    Kim Quy là sự tích thần Rùa
    Rẽ nước hồ Gươm báu kiếm đưa
    Lê Lợi lẫy lừng trang sử Việt
    Lưu truyền con cháu chuyện đời xưa. 

    Thăng Long thành cổ còn ghi dấu
    Hà Nội thu về trải mộng mơ
    Mặc khách tao nhân cùng thưởng ngoạn
    Tao đàn ngân khúc ý tình thơ 

    Chị ơi! Nào biết có khi về
    Thân hạc hao gầy nặng bước đi
    Đất khách muối lòng vời cố quốc
    Yếu giòng thi phú chẳng còn chi…

    *Di cư 1954.
    *Chia đôi đất nước Di cư vào Nam 

     VTS Huy Anh phổ nhạc


    NGÀY ẤY nhạc AI không lời (nhân dịp ra mắt sách của thi sĩ Hà Phương)

  • Âm nhạc,  Phạm Hồng Thái

    VƯƠNG GIẢ ,TƯ TẾ VÀ NGÔN SỨ

    Thơ: Đình Duy Phương

    Cha cho con được mang dòng vương giả 

    Chúa trên trời chúng con gọi Vua Cha

    Cho dù đời ở trong cảnh bôn ba 

    Con vẫn giữ tư cách làm con Chúa . 

    Cha cho con được dự phần tư tế 

    Được thông công trong Thánh Lễ nhiệm mầu 

    Con nuốt thịt miếng Thánh Thể ngọt ngào 

    Và hớp rượu giọt máu đào hằng sống . 

    Môi miệng lưỡi ví cung đàn phím nhạc 

    Tiếng tơ lòng xin trổi nhịp thân thương 

    Tránh cho nhau những đay nghiến đoạn trường 

    Nhả ngọc châu, giữ luân thường đạo lý . 

    Vua Cha ơi, con sống đời hoàng hậu 

    Giữa cuộc đời với ân sủng cao sâu 

    Cùng một lúc bao bi lụy thương đau 

    Vẫn khát khao một tình yêu trần thế .

    Cha đã đến trong Bí Tích Thánh Thể

    Con mơ bước trên ngỏ hẹp đường về 

    Để biết tránh mọi cám dỗ đam mê 

    Trái tim mở rộng tình yêu hiến tế . 

    Đình Duy Phương

  • Âm nhạc,  Vương Trùng Dương

    Tam Ca AVT: Ban Nhạc Trào Phúng – Một Thời Để Nhớ

    Vương Trùng Dương

    Giữa thập niên 1950’, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH thành Phòng Tác Động Tinh Thần, sau đó với danh xưng Nha Chiến Tranh Tâm lý, năm 1965 trở thành Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.

    Gần hai thập niên ở miền Nam VN, khán thính giả không xa lạ gì với ban tam ca trào phúng AVT.

    Năm 1958, trong danh sách công tác của đơn vị Tâm Lý Chiến có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ: Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bày những bản nhạc trào phúng, vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT.

    Anh Linh có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế giáo sư âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”.

    Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ. “Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ A và V mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì tôi tình cờ đi tới. Khi hỏi thì được biết họ viết chữ Anh Vũ. Tôi nói ngay là ban tam ca không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T (chữ đầu của tên Tuấn Đăng) và bỏ 2 chữ NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT”.

    Trong thời gian AVT hát nhạc ngọai quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho khán giả ngọai quốc dễ hiểu! Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả cao vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục cổ động! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

    Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát. Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.

    Qua đầu thập niên 1960’, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bày, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đoàn Văn Nghệ Việt Nam) đặt tên làTam Nghiệp, mô tả 3 chàng thợ nhuộm, thợ sửa khóa và thầy bói để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Tống Nhất. Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962.

    Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế. Hᴏànɡ Hải tên thật là Lưᴜ Dᴜyên, anh ɾᴜột ᴄủa ᴄhᴜẩn Tướnɡ Lưᴜ Kim Cươnɡ. Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc. Với bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông, lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động.

    Khán giả hôm đó, phần lớn là anh em chiến hữu, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp. Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bày những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv…

    Nhạc sĩ gia nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1957, ban đầu phục vụ trong ban biên tập đài phát thanh Quân đội, sau đó được biệt phái vào ngành kịch nghệ sân khấu thuộc Tiểu Đoàn 1 Tâm Lý Chiến. Sau khi giải ngũ, ông cộng tác với đài phát thanh Mẹ Việt Nam.

    Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao. Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của Duy Nhượng là bài Ai Lên Xe Bus…

    Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giá tại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hôi cùng các đài phát thanh và truyền hình. Có thể nói, AVT đã trở thành một “hiện tượng” trong sinh họat ca nhạc tại miền Nam Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó.

    Nhạc sĩ Lữ Liên tiếp sáng tác cho ban AVT trình bày như Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv… Ngoài những lời lẽ châm biếm, ví von trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo…

    Trong khoảng thời gian từ 60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai…

    Vào năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó.

    Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT. Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng. Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi. Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT. Ngoài ra, còn có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là loại bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.

    Thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu, AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv…

    Năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu. Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv… dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần. Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại, Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv…

    Xen kẽ mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán thích thú thưởng thức. Nhất là trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng tỳ bà, nhị huyền và đàn đoản như hai nhạc khúc bất tử Tây phương của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Lần trình diễn đó của AVT đã gây tiếng vang Paris khi “đem chuông đi đấm xứ người”.

    Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang trình diễn ở Thụy Sĩ và Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền nam. Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, Cộng Hòa Trung Phi trong thời kỳ lãnh đạo của Tổng Thống Bokassa.

    Năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa…  Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công tốt đẹp.

    Bài hát Huynh Đệ Chi Binh của nhạc sĩ Anh Bằng vào giữa thập niên 1960’ hầu như rất quen thuộc với người lính VNCH:

    “Huynh đệ chi binh là gì đó anh Hai?

    Huynh đệ chi binh là là huynh đệ chi binh… a la la

    Huynh đệ chi binh là mình cùng chung đời lính

    Thương nhau khác chi nhân tình

    Từ người deuxième cùi bắp

    Và rồi đi lên thượng cấp đều là huynh đệ chi binh…

    … Lúc sống có nhau là huynh đệ chi binh

    Lúc chết có nhau là huynh đệ chi binh

    Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh… a la la la…

    Sướng khổ có nhau là huynh đệ chi binh

    … Giúp đỡ lẫn nhau là huynh đệ chi binh

    Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh…

    … Từ người deuxième cà cuống

    Và rồi đi lên Ðại Tướng đều là huynh đệ chi binh”

    Hình ảnh Huynh Đệ Chi Binh nói lên tình chiến hữu rất đẹp vì vậy có nhiều bài viết về Huynh Đệ Chi Binh, nhà văn Tô Văn Cấp ấn hành quyển Huynh Đệ Chi Binh Thủy Quân Lục Chiến…

    Trong bài viết Huynh Đệ Chi Binh của Trần Xuân Thời: “Tình huynh đệ chi binh, tình đồng hương, tri âm hay tri kỷ là cung bậc tiết tấu cảm thông toàn vẹn nhất của nhân tình… Biết bao chiến sĩ QLVNCH đã sống hiên ngang và hy sinh cho tổ quốc một cách oanh liệt!  “Sống bên tình, hy sinh bên bạn”. Chết vì tổ quốc, chết vinh quang “Mourir pour la patrie c’est une gloire”…  

    *

    Sau ngày Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, ban AVT tan ɾã, hai thành νiên ở lại νà ᴄhịᴜ số ρhận bi thảm. Vân Sơn bị công an khu vực rượt nên sợ quá phải nhảy vội xuống sông Thị Nghè. Vân Sơn chết vì đầu đập vào một cây gỗ, ɾa đi tɾᴏnɡ tứᴄ tưởi! Tᴜấn Đănɡ qᴜa đời năm 2016 tɾᴏnɡ nɡhèᴏ khó. Nhạᴄ sĩ Lữ Liên may mắn cùng vợ con được tàu bốc ra Phú Quốc rồi sau đó đến tỵ nạn tại trại Pendleton, đảo Guam. Tới tháng 12 năm 1975, sống ở Quận Cam, California. Sang đầu năm 1976, Hoàng Thi Thơ liên lạc được với Lữ Liên, rồi rủ ông thành lập lại ban tam ca trào phúng AVT để đi biểu diễn.

    Ban AVT tại hải nɡᴏại, ɡồm Lữ Liên, Vũ Hᴜyến νà Nɡọᴄ Bíᴄh. Năm 1977, nɡhệ sĩ Tɾườnɡ Dᴜy thay thế Nɡọᴄ Bíᴄh, νới bộ 3 này, họ đi lưᴜ diễn Châᴜ Âᴜ tɾᴏnɡ 19 nɡày. Năm 1988, AVT được tăng cường thêm nữ nghệ sĩ Thúy Liểu đã sang Úc trình diễn tại Sydney trong một chương trình kịch vui kéo dài trong 10 ngày.

    Năm 1987, nhạᴄ sĩ Anh Bằnɡ đã thựᴄ hiện ᴄᴜốn bănɡ AVT Hải Nɡᴏại đầᴜ tiên. Năm 1992, nɡhệ sĩ kịᴄh Hᴏànɡ Lᴏnɡ thay thế Vũ Hᴜyến. Như νậy 3 nɡhệ sĩ ᴄᴜối ᴄùnɡ ᴄủa ban AVT là Lữ Liên, Tɾườnɡ Dᴜy νà Hᴏànɡ Lᴏnɡ. Năm 1992, AVT có một sự thay đổi với Hoàng Long vào thay thế cho nhạc sĩ Vũ Huyến, đã cùng nhau thực hiện một băng cassette, thu thanh tại phòng thu Tùng Giang. Năm 1994, trung tâm Giáng Ngọc sản xuất cuốn video của AVT tại hải ngọai. Dựa theo một áng thơ tuyệt tác của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhạc sĩ Lữ Liên trình diễn chung với 2 nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương để trình bầy nhạc phẩm Đánh Đu, với phần nhạc do Lữ Liên tự đảm trách, nhạc sĩ Ngọc Bích hòa âm và sử dụng Keyboard.

    Từ năm 1989, ông bắt đầu viết lời Việt một số ca khúc nhạc ngoại quốc để cho con mình biểu diễn. Một số bài vẫn được yêu thích đến tận nay như Dĩ Vãng Nhạt Nhòa, Lạc Mất Mùa Xuân, Niềm Đau Chôn Giấu, Tan Tác… Ông qua đời tháng 7 năm 2012 tại bệnh viện Garden Grove, đại thọ 92 tuổi. Thánɡ 9 năm 2019, nɡhệ sĩ Tɾườnɡ Dᴜy qᴜa đời ở tᴜổi 71. Thánɡ 11 năm 2020, nɡhệ sĩ Hᴏànɡ Lᴏnɡ đã qᴜa đời ở tᴜổi 84. Còn Anh Linh, người sáng lập ra AVT, từ khi qua Mỹ theo diện HO đến nay, ca đoàn trưởng của một giáo xứ ở San Jose. Vợ chồng anh còn là chủ của một tiệm phở…

    Ban tam ca AVT từ năm 1958 ở Sài Gòn đến năm 2010 ở Mỹ, coi  như ban tam ca lâu nhất. Nay tuy không còn nhưng những nhạc sĩ góp mặt trong AVT đã quen thuộc với giới thưởng ngoạn.

    Little Saigon, May 2026

    Vương Trùng Dương

  • Âm nhạc,  Tha Nhân,  Viet-Hải

    THƠ PHỔ NHẠC BỞI THI NHẠC SĨ THA NHÂN

    Thơ Việt Hải Khúc Hát Thuyền Nhân 2 versions

    Version 1:

    https://www.youtube.com/watch?v=iIqVeMl9ncA : bản Karaoke version 1

    Version 2

    https://www.youtube.com/watch?v=Wc5X1Agfh5E : bản karaoke Version 2.

    Thơ NS Dương Hồng Anh:

    1/. Ca khúc Dĩ Vãng: 

    https://www.youtube.com/watch?v=F-Q2nL7wBpA : Dĩ Vãng

    https://www.youtube.com/watch?v=j1U7AFM6mI4 : ck Dĩ Vãng bản Karaoke

    2/. Mừng XUÂN

    PQNpuMOXtDjrhNo6OGY7EX_QXUp3Bv_&index=16.

  • Âm nhạc,  HUY ANH NGUYỄN ĐẠI THÀNH

    THI SĨ ĐÌNH DUY PHƯƠNG

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa xin trân trong giới thiệu Văn Thi Sĩ Đình Duy Phương. Văn Thi Sĩ Đình Duy Phương hiện là chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại / Vùng Tây Nam Hoa Kỳ,  Dưới đây là bài thơ thơ Diễm Xuân được trích từ tuyển tập thi ca mới cùa bà: Trời Xanh Mây Trắng Hoàng Hôn Tím. 

    Nhạc phẩm DiỄM XUÂN -Thơ : Đình Duy Phương – Nhạc :  Huy Anh – Hòa Âm : SUNO .

    Thi Sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành là con trai của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh. Huy Anh và Minh Đức đồng sáng lập ra Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa.

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các Anh Chị em bấm vào Link phía dưới để nghe nhạc:

    Nhạc phẩm DiỄM XUÂN -Thơ : Đình Duy Phương – Nhạc : Huy Anh – Hòa Âm : SUNO

    VÀI NÉT VÊ VĂN THI SĨ ĐÌNH DUY PHƯƠNG

    Tiểu Sử Nhà Thơ  ĐÌNH DUY PHƯƠNG

     * Tên Khai  Sanh :  Phạm Quắc VânLoan 
    Sinh năm 1946  tại  205 , rue Frere Louis à Saigon VietNam .
    Thân phụ  là Ông Phạm Vân Đình tức soạn giả Vạn-Lý.
    Thân mẫu  là Bà Nguyễn Thị Lan Phương  tức Tiểu thuyết gia 
    Nữ Sĩ Lan Phương.
    Học sinh trường Lê Văn Minh Nhà Thờ Huyện Sĩ , Vương Gia Cần, Lê Quý Đôn , Việt Nam
    Năm 1994 – Định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO cùng  chồng với năm con . Học các trường Lincoln, Rancho Santiago College -USA.

    II  Tác Phẩm:
    * 
    Năm 1995 bắt đầu viết cho Tạp Chí Tiếng Việt & Thế Giới Phụ Nữ , Nam California  đến năm  2020 (25 năm ), Chủ nhiệm Nguyễn Viết Hưng .
    * Năm 2004 – Tác giả xuất bản Tập THƠ ĐÌNH DUY PHƯƠNG
    * Năm 2017 – Tác giả xuất bản Tập Thơ HY VỌNG 
    * Năm 2017 – Tác giả xuất bản  Truyện dài GIỮ ĐƯỢC THỜI GIAN . 
    * Năm 2018  – Cộng tác với Văn Hữu xuất bản Đặc San NƯỚC VIỆT THÂN YÊU – XUÂN MẬU TUẤT
    * Năm 2020  – Cộng tác xuất bản Đặc san XUÂN CANH TÝ . 
    * Tháng  7-2020 – Giai phẩm điện tử Ra mắt Ebook số 1  NẮNG HẠ MƯA THU .
    * Năm 2021 Cùng các Văn Hữu VB / Tây Nam Ebook số 2  HƯƠNG XUÂN NGỌT NGÀO . *
    * Năm 2021 – Tác giả xuất bản Tập Truyện Ngắn  và Thơ CA NGỢI TÌNH YÊU ( Ebook và sách ) 
    * Năm 2022 – Cùng các Văn Hữu VB / Tây Nam xuất bản Đặc San Xuân Nhâm Dần BỐN MÙA YÊU THƯƠNG.
    * Năm  2023 – Cùng với Hội Viên VB/Tây Nam ra mắt Đặc San TRỞ VỀ .
    * Năm 2024 – Cùng các Văn Hữu  VB/Tây Nam Ra mắt Đặc San ƯỚC VỌNG HOÀ BÌNH .

    Các tác phẩm phổ nhạc :  
    KHI EM CÒN CÓ ANH -NS Phạm Cao Tùng .
    MẾN TÌNH QUÊ HƯƠNG -NS Cao Minh Hưng .
    ĐÔNG LẠNH – NS Hạnh Cư .
    TÌNH YÊU MỚI LỚN – NS Hạnh Cư .
    NẮNG ẤM – NS Hạnh Cư .
    MƯA RƠI – NS Hạnh Cư .
    TRÊN ĐỈNH YÊU THƯƠNG -NS Hạnh Cư .
    TIÊN TRỞ VỀ TRỜI – Hạnh Cư .

    III- Sinh Hoạt Hội Thơ tại Hoa Kỳ
    :
    * 
    Năm 2000  – Hội viên Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại [ Vietnamese International  Poetry Society ]. 
    *Trong các Tuyển Tập  Cụm Hoa Tình Yêu  Flower of Love 
     số  7,8,9,10,12,14,15,  Tam ngữ do Hội Thơ Tài Tử VNHN xuất bản ( do VTS Như Hoa Lê Quang Sinh và VTS Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng thành lập Hội, thực hiện. 
    * Năm 2007 –  Hội Viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại ( VBVNHN ) 
     [ Vietnamese  Abroad  Pen Center ( VAPC ) ] Gia nhập năm 2007. 
    * Trong VĂN HỮU số 14.
    * Trong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại số 1,2,3,4,5 và 6,7,8,9,10 .Giai Phẩm Xuân Ất Dậu 2017.( do Chủ tịch VBVNHN Vũ Văn Tùng thực hiện .
    * Trong POEMS BY SELECTED VIETNAMESE. Và VIETNAMESE CHOICE POEMS Dịch giả Thanh-Thanh LXN.
    * Thơ đăng trong Nguyệt San Y-Tế , Hiệp-Nhất, Sống-Đạo , Linh-Sơn-Lĩnh, Xuân Đại Việt .* Phó. Chủ Tịch  Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ  Hai nhiệm kỳ : 2014-2017 và nhiệm kỳ  2017-2020.
    * Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 2020-2023.
    * Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2023-2026 
    * Trong Sách  VĂN NHÂN LỤC  VBVNHN   do Chủ Tịch  VBVNHN  Cung Thị Lan thực hiện .

    Khánh Lan

  • Âm nhạc,  Khánh Lan,  Viet-Hải

    TALK SHOW KỲ 15

    Do Khánh Lan phụ trách

    Âm nhạc giúp giảm căng thẳng, giảm đau, ngăn ngừa chứng trầm cảm, tăng thư giãn (relax) và giúp trí nhớ. Hơn thế nữa, âm nhạc giúp chúng ta quên những lo lắng, buồn bã và bon chen trong cuộc sống. Nghe những nhạc phẩm cổ điển, không lời, êm dịu, nhẹ nhàng như của Bach hay Mozart giúp chúng ta chìm vào giấc ngủ nhanh hơn.

    Nhạc Sĩ Võ Tá Hân, người sáng lập ra lớp nhạc Tây ban cầm tại California

    Lớp nhạc đầu tiên tại California năm 2017 tại Hội trường Người Việt: Guitar Vietnamese Senior Art do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân sáng lập và hướng dẫn

    Hiện nay, guitar là bộ môn âm nhạc được rất nhiều người yêu thích. Học guitar vừa là cách chinh phục đam mê, giải trí hiệu quả, đồng thời cũng là cách rèn luyện sự kiên nhẫn. Tuy nhiên, khi đến với bộ môn này, nhiều người lại e dè về việc học guitar có khó không? Thực ra học chơi đàn guitar khó hay không tùy thuộc vào đam mê, cảm nhận và mục tiêu của mỗi cá nhân. Tập đánh đàn guitar đòi hỏi sự kiên nhẫn và cố gắng tập luyện. Chúng ta biết rằng, bất cứ làm việc gì hay tập luyện một nhạc cụ nào cũng đòi hỏi sự kiên tâm, đam mê và mất rất nhiều thời gian.

    Lớp nhạc Fountain Valley Guitar Club do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân sáng lập và hướng dẫn

    Theo Nhạc Sĩ Võ Tá Hân thì học chơi guitar không khó nhưng cũng không quá đơn giản, bởi vì học guitar cơ bản là cả một quá trình tìm hiểu, sáng tạo và thử thách. Nếu thật sự yêu thích bộ môn nghệ thuật này, bạn sẽ đủ sức vượt qua những khó khăn ban đầu, và chính những thử thách này là những nền tảng kiến thức vững chắc giúp bạn thành công sau này

    Các chị trong nhóm TƠ VÀNG gồm có: Sandy Lee, Lâm Dung, Khiên Trinh, Bình Chi, Jennifer Lâm và Thu Hồng. Và rất đặc biệt là nhóm có sự tham gia của cả 3 miền: 2 chị người miền Bắc, 2 chị người miền Trung và 2 chị người miền Nam.

    Mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị vào link dưới đây để thưởng thức các bài nhạc do nhóm TƠ VÀNG trình diễn.

    Khánh Lan kính mời.

    PHẦN I 

    PHẦN II 

    PHẦN III 

  • Âm nhạc,  Tha Nhân

    MẮT BIẾC HỒ THU

    Thi sĩ Tha Nhân đã sáng tác nhạc phẫm Mắt Biếc Hồ Thư dựa theo thơ của Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh dể tưởng niệm vị Khoa Học Gia đã mang tiếng vang cho dân tộc Việt.

  • Âm nhạc,  Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    THƯ MỜI THAM DỰ NGÀY KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP CỦA LIÊN NHÓM NVNT & TTG

    Kính thưa Quý Trưởng Thượng, Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các Anh Chị Em cùng Thân Hữu,

    Tháng 5 năm 2025 đánh dấu cột mốc 10 năm thành lập của Liên nhóm NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN (NVNT & TTG) với sự hợp tác của Liên nhóm VĂN CHƯƠNG VIỆT & TIẾNG ĐÀN XƯA – một dấu ấn quan trọng trong hành trình tồn tại và phát triển của một nhóm văn học và âm nhạc. Năm nay, Ban Tổ Chức chọn ngày 24 tháng 8 năm 2025 để tổ chức buổi kỷ niệm 10 năm thành lập nhóm, với hy vọng đây sẽ là thời điểm thuận tiện để tất cả quý vị có thể tham dự buổi tiệc đặc biệt và ý nghĩa này. Kính mong Quý Trưởng Thượng, Giáo sư, Văn thi sĩ cùng toàn thể Anh Chị Em và thân hữu dành chút thời gian để đến chung vui với chúng tôi trong ngày trọng đại này.

    Ban Tổ Chức xin gửi đến quý quan khách bản tường trình “update” của chúng tôi để quý vị tiện việc theo dõi. Và cũng xin thưa, để giúp cho phần đón tiếp quan khách và cho việc xếp bàn cho hoàn hảo, xin quý thân hữu:

    1. Zelle lệ phí về cho Katherine Minh Thư Lê ở số: 626-927-7317.
    2. Hoặc gởi chi phiếu về: Katherine Minh Thư Lê  902 Looking Glass Dr. Diamond Bar, CA 91765

    Chương trình:

    1.              Đón quan khách: 10:30 AM-11:15 AM

     2.             Khai mạc: Đúng 11:15 AM

     3.             Ăn trưa: 11:30 AM – 12:30 PM  

    4.      Chụp hình kỷ niệm: 12:30 PM-12:45 PM

    Văn nghệ đặc biệt phần I: 12:45 PM-1:35 PM.

    • Trình diễn các bài hát do các thành viên của NVNT & TTG sáng tác.
    • Vũ nghệ thuật: do nhóm vũ Mây Thu trình diễn với nhạc phẩm Quay Tơ.
    • Line dance với Chachacha do ban văn nghệ Tiếng Thời Gian. 
    • Song tấu guitar với Lâm Dung & Minh Thư trong nhạc phẩm The Sound Of Silence của Paul Simon.
    • Tam tấu Guitar & Tambourine trong nhạc phẩm Every Little Thing của Carlene Carter do Minh Thư (Guitar), Thúy Giao (Guitar), Hồng Phúc (Tambourine).
    •  Ngâm Thơ: Tin Mừng Văn Học-Thơ NS Dương Hồng Anh do Khánh Lan diễn ngâm.

    Văn nghệ phần II-1:35 PM-3:00 PM: Văn nghệ và khiêu vũ. 

    Trân trọng kính mời,

    Ban Tổ Chức NVNT & TTG

  • Âm nhạc,  Viet-Hải

    PHÍM ĐÀN LÃNG MẠN BEETHOVEN VÀ TÌNH KHÚC “FÜR ELISE”

    Für Elise (hay For Elise), theo Đức ngữ có nghĩa là Gửi Elise, là tên của tấu khúc bagatelle, La thứ, 59, một tiểu phẩm cho piano độc tấu do Ludwig van Beethoven sáng tác vào khoảng năm 1810 khi ông 40 tuổi, đã nổi danh tiếng là một trong những nhà soạn nhạc lớn nhất trong mọi thời đại. Für Elise là bản nhạc viết với nét trong sáng và tràn đầy tình cảm, giai điệu dịu dàng, tha thiết. Nhưng không ai biết tại sao nhạc sĩ thiên tài lại đặt tên bản nhạc là ” Für Elise ” và Elise là ai? Đến nay, những nốt nhạc trong Für Elise dùng nhiều thể loại, từ rock, jazz, cho tới chuông điện thoại, một minh chứng cho thấy sự phổ biến của bản nhạc trong đời sống văn hóa đại chúng. Nếu Beethoven còn sống và được nhận tác quyền, nhà soạn nhạc tài hoa này hẳn sẽ là một quý ông giàu có.

    Với nguồn cảm xúc dạt dào của tình yêu Für Elise mang lại cho người nghe một sự cuốn hút khó kiềm chế. Bản nhạc không quá phức tạp về mặt kỹ thuật, thậm chí bạn có thể chơi nó bằng một tay trên phím dương cầm. Nhưng để đạt được tình cảm sâu lắng, tinh tế và đặc biệt rất trong sáng của Beethoven thể hiện trong bản nhạc là điều không đơn giản và rất khó khăn. Nhạc sĩ Beethoven đã sáng tác Für Elise, Beethoven đã 40 tuổi và đã bị điếc rồi. Vậy thì Für Elise đã được sáng tác trong cái sự “yên tĩnh” của nhạc sĩ.  Có phải “Tình yêu có chiều sâu hơn khi người ta lớn tuổi”. Für Elise mang lại sự sâu sắc như sự chiêm nghiệm của người đàn ông đã trải qua bao thăng trầm, cay đắng nhưng vẫn còn nguyên vẹn một tình yêu mãnh liệt và trong sáng trước một cô gái.

    Für Elise như một lời tỏ tình nhẹ nhàng du dương nhưng cháy bỏng. Tôi nghĩ rằng bạn không thể nghe nó một lần. Cũng giống như sự quyến rũ của tình yêu bạn cho phép mình được bay bổng và “phá cách” trong suy nghĩ và hành động để bày tỏ cảm xúc với người tình…Bạn có thể luyện kỹ thuật như: tốc độ cho đúng, hợp lý, âm thanh rõ ràng sau một thời gian tập luyện, nhưng một yêu cầu quan trọng khác không thấy được viết vào bản nhạc, đó là tinh thần, tư tưởng, tình cảm của cuộc đời của Beethoven. Và chính vì vậy đã hàng ngàn nghệ sĩ piano biểu diễn Für Elise vẫn miệt mài tập luyện, vì muốn thể hiện bản nhạc một cách “toàn vẹn”. Để đọa được sự “toàn vẹn” ấy cần rất nhiều thời gian hiểu biết, tích lũy, cảm nhận để làm sao thể hiện những dòng âm thanh trào dâng mà vẫn sâu lắng và đặc biệt là trong sáng một cách kỳ lạ của người đàn ông 40 tuổi trải qua quá nhiều vất vả, bi kịch trong cuộc đời mà vẫn đang yêu đắm say…

    ELISE LÀ AI?

    Và cái tên “Für Elise” do Beethoven viết trên bản thảo là cho người yêu? Bởi Beethoven đã không lập gia đình. Theo các nhà nghiên cứu thì trong khoảng thời gian Beethoven sáng tác bản nhạc này, ông đã yêu Therese Malfatti. Một tình yêu đơn chiếc vì Therese Malfatti đã từ chối lời cầu hôn của Beethoven. Tuy nhiên, nét chữ của tác giả ký tặng trên bản thảo đã nhàu nát theo thời gian (20 năm). Do vậy, một số học giả đã suy ra cái đầu đề của bản nhạc là do đọc nhầm từ chữ “Therese” thành “Elise” chăng? Vả lại, không một tài liệu, thư từ nào của những người cùng thời với Beethoven nhắc tới cái tên “Elise”, nhưng cũng không hẳn là không có cái tên này trong cuộc đời của nhạc sĩ?

    Với chứng bệnh điếc của mình, Beethoven đã dần dần tự mình rút lui ra khỏi đám đông. Tuy vậy, một số thư từ, tài liệu đã được tìm ra sau thời gian nhạc sĩ bị điếc, thì vào năm 1827 có bức thư cho “người tình bất hủ”. Mặc dù vậy, với rất nhiều nghiên cứu và phỏng đoán thì “người tình” này và Elise cũng chưa chưa chắc đã là một người. Và có thể cái tên Elise là một trong những điều bí hiểm ẩn còn phải nghiên cứu trong cuộc đời của Beethoven

    Elise, cho dù có là ai chăng nữa cũng không phải là nàng thơ bí ẩn duy nhất xuất hiện trong cuộc đời của Beethoven. Bức thư tình Immortal Beloved (Tình yêu Bất diệt) không có lời đề tặng của ông cũng đã được mang ra bàn luận rất nhiều. Với một chất thơ đầy trữ tình, chứa đựng trong mình những tình cảm sâu lắng và tinh tế của người đàn ông với một cuộc đời trải qua bao thăng trầm, Für Elise có thể được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Für Elise, mặc dù được công nhận trên toàn thế giới, đã trải qua nhiều năm tồn tại; mặc dù, ban đầu không được công nhận và giấu kín. Für Elise cũng là một trong nhiều tác phẩm dang dở của tác giả Beethoven, xét đến vị thế của nó thì đó chính là số phận của kiệt tác Für Elise trong suốt cuộc đời của Beethoven.

    Beethoven, một trong những nhà soạn nhạc sung mãn nhất trong lịch sử (1810), đó là thời kỳ Beethoven phải vật lộn với những nghịch cảnh cá nhân, chứng khiếm thính ngày càng trầm trọng, nhưng ông vẫn tiếp tục sáng tác vô số tác phẩm âm nhạc vượt qua những thử thách cá nhân. “Für Elise” ra đời trong giai đoạn sáng tác sung mãn này nhưng không được công nhận ngay lập tức nên nó đã nằm lẫn lộn giữa những giấy tờ cá nhân của Beethoven.

    Hơn nửa thế kỷ sau khi Für Elise được sáng tác, thế giới mới biết đến vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó, một khoảng thời gian đáng kể sau khi Beethoven qua đời vào năm 1827. Năm 1867, nhà âm nhạc học Ludwig Nohl đã tình cờ phát hiện ra kiệt tác này khi đang nghiên cứu những bản thảo bị lãng quên từ lâu của Beethoven. Nhận ra tầm quan trọng của những gì mình tìm thấy, Nohl đã tự mình xuất bản Für Elise. Với việc xuất bản, viên ngọc ẩn giấu này cuối cùng đã được hé lộ với thế giới.

    Ngay từ khi được khám phá, “Für Elise” đã bắt đầu thu hút khán giả. Mô-típ năm nốt nhạc đặc trưng, vốn là đặc điểm của tác phẩm, đã trở thành biểu tượng như những nốt nhạc mở đầu của Giao hưởng số 5 của Beethoven. Chính sự giản dị và dễ hiểu của tác phẩm đã khiến nó được nhiều người yêu thích, nhưng cũng chính chiều sâu và sự bí ẩn bao trùm khiến nó trở thành một câu đố thú vị, một đối tượng của sự say mê và nghiên cứu bất tận.

    HÒA ÂM, CẤU TRÚC VÀ GIAI ĐIỆU

    Xét về cấu trúc của tác phẩm “Für Elise”, nó là một tác phẩm ngắn gồm ba phần trong đó có hai phần chính. Phần đầu tiên, dưới dạng chủ đề và biến tấu, đặc trưng bởi giai điệu thanh thoát, du dương, được lặp lại và phát triển theo nhiều cách khác nhau. Phần thứ hai, dưới dạng tam tấu, giới thiệu một giai điệu mới, êm dịu hơn, trầm tư hơn. Tác phẩm kết thúc bằng việc trở lại phần đầu tiên, mang đến một kết thúc viên mãn và hài hòa. Sự giản dị trong cấu trúc của Für Elise không nên bị nhầm lẫn với sự thiếu tinh tế. Beethoven sử dụng các kỹ thuật âm nhạc tinh tế để tạo nên một trải nghiệm cảm xúc phong phú. Những thay đổi về nhịp điệu, sự chuyển điệu hòa âm và những điểm nhấn giai điệu tạo thêm chiều sâu và sự đa dạng cho tác phẩm, khiến nó vừa dễ tiếp cận vừa kích thích.

    Thêm một sự dặc biêt khác là có một điều lý thú nữa là giai điệu bản nhạc được bắt đầu là E (mi) – D# (rê thăng) – E (mi), có thể tương tự là E (mi) – Eb (mi giáng) – E (mi). Ba nốt nhạc này ở tiếng Đức được ký hiệu là E – Es – E, và những chữ cái này có trong chữ ThErESE hoặc là EliSE. Nhưng cho dù cái tên “Elise” là do đọc sai, hay là một mối tình bí mật nào đó, hay là một người phụ nữ nào đó đã đem lại nguồn cảm hứng sáng tác cho Beethoven.

    Điểm tinh tế của bản nhạc “Für Elise” được viết ở giọng La thứ buồn (A minor – a moll) và còn được goi là bản Bagatelle.Thế nào là giọng La thứ? Đi sâu vào lý thuyết âm nhạc thì hơi rắc rối. Nhưng để phân biệt sự khác nhau giữa các giọng, cơ bản người ta quy định ra 15 loại khác nhau. Đó là từ không có dấu gì ở đầu dòng nhạc đến 7 dấu thăng (#) hoặc dấu giáng (b) (tuy là có 3 cặp khác tên nhưng trùng âm thanh.) Ở đây, giọng La thứ là giọng không có dấu gì ở đầu dòng nhạc và gần như là giống với giọng Đô trưởng (C major – C dur), hay còn gọi là giọng Đô.Bản Bagatelle? Thường là tác phẩm ngắn và nội dung có thể là để thể hiện, mô tả những sự bất thường của thời tiết, sự thay đổi của thiên nhiên.Bắt đầu bản “Für Elise” là nét chuyển động nhẹ nhàng mềm mại. Nhưng sau đó được chia ra làm 2 hướng phát triển khác lạ, không đoán trước được, mà đều bắt nguồn từ nét nhạc đầu tiên của bản nhạc. Và nét nhạc chính thì luôn luôn được vang lên trong toàn bộ tác phẩm. Hình thức (form) của tác phẩm được viết theo hình thức rondo. Một hình thức mà sau khi hết phần giai điệu đầu tiên (A) tiếp theo là phần phát triển (B), sau khi hết phần B thì phần A được nhắc lại, và sau đó là một phần phát triển khác (C), kết thúc là phần A được nhắc lại lần nữa. Có thể viết tắt là A B A C A. Đây là mẫu thường được dùng nhất, nhưng hình thức rondo cũng có thể có thêm nhiều các phần phát triển khác nữa (D, E, F …vân vân), còn tùy thuộc vào ý đồ tác giả.

    Về Nhịp độ, mặc dù “Für Elise” thường được biểu diễn ở nhịp độ vừa phải, nhưng các nghệ sĩ piano giàu kinh nghiệm có thể thử nghiệm với những thay đổi nhỏ về tốc độ (rubato) để tăng thêm tính biểu cảm cho màn trình diễn. Kỹ thuật này có thể thổi hồn vào âm nhạc, khiến nó trở nên tự nhiên và cộng hưởng về mặt cảm xúc hơn. Xét về cường độ nhạc, “Für Elise” không cung cấp các dấu hiệu cường độ rõ ràng. Là một người chơi có trình độ cao, bạn có cơ hội thêm vào cách diễn giải và cường độ của riêng mình. Cường độ, hay các biến thể về âm lượng, có thể thêm chiều sâu và cảm xúc cho bản nhạc. Việc bạn quyết định chơi nhẹ nhàng (piano) hay mạnh mẽ (forte) có thể định hình tính cách và cảm xúc của bản nhạc. Crescendos (dần dần to hơn) và diminuendos (dần dần nhỏ hơn) có thể được sử dụng để xây dựng và giải tỏa sự căng thẳng trong âm nhạc.

    Như dã đề cập bên trên, tấu khúc gửi Elise là một bản nhạc bagatelle, một thuật ngữ âm nhạc có nghĩa là một bản nhạc ngắn, nhẹ nhàng. Nó được viết ở cung La thứ và sử dụng hình thức rondo tuần tự (A-B-A-C-A). Đoạn La, chủ đề chính, là đoạn nổi tiếng và dễ nhận biết nhất. Nó được đặc trưng bởi giai điệu đơn giản, lặp lại, dễ nhớ và dễ đàn.

    Xin thêm ý về rondo trong âm nhạc cổ điển. Rondo, trong âm nhạc, là một hình thức nhạc cụ đặc trưng bởi câu mở đầu và câu phát biểu lại sau đó của một giai điệu hoặc phần cụ thể, các câu phát biểu khác nhau được phân tách bằng cung cách tương phản. Pháp ngữ là rondeau (Anh ngữ rondo) là một hình thức âm nhạc chứa một chủ đề chính (đôi khi được gọi là “điệp khúc”) xen kẽ với một hoặc nhiều chủ đề tương phản (thường được gọi là “tập”, nhưng cũng được gọi là “đoạn lạc đề” hoặc “cặp đôi”). Một số mô hình có thể bao gồm: ABACA, ABACAB, ABACBA hoặc ABACABA (với chữ cái ‘A’ đại diện cho điệp khúc). Hình thức rondo xuất hiện trong thời kỳ Baroque và ngày càng trở nên phổ biến trong thời kỳ Cổ điển. Những ví dụ sớm nhất về các tác phẩm sử dụng hình thức rondo được tìm thấy trong các aria và hợp xướng opera Ý từ những năm đầu thế kỷ 17. Những ví dụ này sử dụng rondo nhiều cặp đôi hoặc “rondo chuỗi” (ABACAD) được gọi là rondo Ý. Hình thức rondo, còn được gọi trong tiếng Anh bằng cách viết tiếng Pháp là rondeau, không nên nhầm lẫn với hình thức không liên quan nhưng có tên gọi tương tự là forme fixe rondeau, một hình thức thơ ca và nhạc chanson của Pháp vào thế kỷ 14 và 15.

    “Für Elise” mang cấu trúc chi tiết như dạng của tác phẩm có thể được chia nhỏ như các phân doạn nhạc sau:

    Đoạn A (chủ đề chính): Giai điệu mang tính biểu tượng ở cung La thứ.

    Đoạn B: Một chủ đề tương phản, nhịp nhàng và năng động hơn.

    Đoạn A (trở về): Tái lập chủ đề chính.

    Đoạn C: Một chủ đề trữ tình và biểu cảm hơn, thường khó chơi hơn.

    Đoạn A (trở về cuối): Sự xuất hiện cuối cùng của chủ đề chính, kết thúc tác phẩm.

    Hòa âm của Für Elise tương đối đơn giản, chủ yếu sử dụng các hợp âm La thứ, Mi trưởng và Đô trưởng. Sự đơn giản về hòa âm này góp phần giúp tác phẩm dễ tiếp cận với người mới bắt đầu. Giai điệu, mặc dù đơn giản, nhưng cực kỳ hiệu quả và dễ nhớ. Việc sử dụng các đoạn lặp lại và biến tấu tinh tế giúp duy trì sự hứng thú của người nghe trong suốt tác phẩm. Bản nhạc gồm 103 ô nhịp và kéo dài khoảng 3 phút.

    “Thư gửi Elise” (La Lettre à Élise) gồm ba phần: một giai điệu đơn giản, trôi chảy được khi đàn bằng tay phải, một biến tấu của phần đầu được dàn bằng tay trái, và một đoạn lặp lại của phần đầu được chơi bằng tay phải. Đây là tác phẩm piano nổi tiếng nhất thế giới, và cũng là tác phẩm được chơi nhiều nhất bởi những người mới bắt đầu. Thậm chí, những người qua đường đam mê piano thường nghe thấy tác phẩm này được chơi trên đàn piano tại các nhà ga, giống như bản Canon nổi tiếng của Pachelbel. Nhưng nó được sáng tác như thế nào, dành cho ai và tại sao? Chúng tôi sẽ giải đáp tất cả những câu hỏi này thông qua bốn giai thoại ít được biết đến về lịch sử của Bức thư gửi Elise.

    ĐÔI NÉT VỀ BEETHOVEN:

    Tay đàn điêu luyện, Ludwig Van Beethoven (1770-1827), người Đức, một nhạc sĩ bị điếc. Beethoven được coi là một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng ông cũng nổi tiếng về tính cáu bẳn của mình, thật khó mà hình dung nổi những đau khổ vất vả mà người nhạc sĩ vĩ đại này đã từng trải qua trong đời.

    Tài năng biểu diễn âm nhạc của Beethoven đã bộc lộ rất sớm từ lúc còn nhỏ, và ông bị người cha ác nghiệt nghiện rượu đã tận dụng tài năng của đứa con để kiếm tiền. Kỹ thuật chơi đàn của Beethoven tiến bộ rất nhanh, nhưng tiền thì đã không kiếm được nhiều như mong muốn. Khi Beethoven 11 tuổi, ông có thể chơi đàn trong cung đình thay cho thầy của mình. Khi Beethoven 17 tuổi, ông đến Vienna. Theo dự định thì ông sẽ học sáng tác với Mozart, nhưng Beethoven lại phải quay về nhà ngay tức thì vì mẹ của ông đang hấp hối và qua đời.

    Vài năm sau, Beethoven trở lại Vienna, nhưng ông không còn cơ hội học sáng tác nữa, vì Mozart đã qua đời ở tuổi 35. Bố của nhạc sĩ Beethoven cũng qua đời sau đó và cùng năm ấy, Beethoven quay lại Vienna. Lúc đó, Beethoven ở độ tuổi hai mươi mấy, ông theo học với một số nhạc sĩ nổi tiếng. Trong thời gian này, Beethoven đã sáng tác một số nhạc phẩm, có những tác phẩm sáng tác của ông bắt đầu được chú ý tới với cả khen lẫn chê. Tuy vậy, Beethoven được khẳng định là một trong những người chơi đàn ngẫu hứng giỏi nhất thời đó. Người ta kể lại rằng tay đàn của ông đạt tới trình độ mà nhiều nghệ sĩ đàn piano mơ ước.

    Khoảng năm 1800, ông cho xuất bản 2 bản sonata, đó là bản Pathétique và bản Sonata Ánh trăng. Có thể coi cả 2 bản này đã là bước chuyển lớn từ thời kỳ cổ điển sang lãng mạn, cái thời mà các nhạc sĩ bắt đầu viết ra những cảm xúc riêng tư của mình mà không bị bó buộc vào việc sáng tác nhạc cho nhà thờ hoặc cho các cung điện đem đên sự lạc quan cho Beethoven, nhưng những tai ương trong cuộc đời lại đến với Beethoven. Tình trạng sức khỏe của Beethoven gia tang, ông đau yếu thường xuyên, ông bắt đầu cảm nhận khả năng nghe của mình càng ngày càng kém và đi đến tình trạng hoàn toàn điếc. Đây là thời gian thật kinh khủng đối với nhạc sĩ Beethoven và ông đã có lần viết di chúc và có ý định tự tử. Nhưng ông đã vượt qua và tiếp tục sự nghiệp âm nhạc vĩ đại của mình với một sự lạc quan đến diệu kỳ, ông đã viết như sau: “Linh hồn ta sẽ điều khiển cái thân thể yếu đuối của ta”.

    Với khả năng thật phi thường, kỹ thuật sáng tác của ông vẫn luôn tiếp tục phát triển, mặc dù ông bị điếc, nhưng một số lượng rất lớn tác phẩm của ông được viết ra trong khi ông không nghe được chút nào. Nhưng tinh thần, tư tưởng và sức sống mãnh liệt của ông thể hiện rất rõ trong từng tác phẩm. Dù rằng con đường âm nhạc của ông đã nổi tiếng khắp châu Âu, nhưng càng ngày ông càng xa lánh mọi người.

    Người đời kể lại rằng khi bị điếc Beethoven đã thèm được nghe tiếng đàn piano đến nỗi ông nằm áp tai xuống sàn nhà, và với tay lên đánh mạnh xuống phím đàn, để mong cảm nhận được sự rung động của âm thanh. Tuy tay đàn của ông vẫn hoàn hảo mỗi khi ông chơi đàn một mình, nhưng ông cũng đã không còn có thể biểu diễn cùng dàn nhạc được như trước nữa. Cũng có thể nói, Beethoven là một nhạc sĩ không hề biết mệt mỏi, trong đời ông, ông đã thay đổi địa chỉ đến 50 lần. Ông sống chủ yếu ở Bonn (Đức), là nơi ông sinh ra, và ở Vienna (Áo), thủ đô âm nhạc của thế giới. Ở Bonn, người ta làm một bảo tàng về ông. Không ai biết ngày sinh sủa Beethoven. Nhưng có tài liệu nói là ông được làm lễ rửa tội vào ngày 17 tháng 12. Mà lễ rửa tội thường được làm sau khi ra đời một ngày, cho nên nhiều người cho rằng ông sinh ngày 16. Với bao lần đổ vỡ trong tình yêu, cộng với cái tính nóng như lửa của ông đã làm ông suy sụp. Năm 1827, Beethoven qua đời. Ông đã để lại cho hậu thế những bản nhạc bất hủ và tiếp tục được lưu truyền tới hàng trăm năm sau…

    Nhận xét là tác phẩm được viết ở cung La thứ, một cung thường gắn liền với nỗi buồn và sự u sầu. Tuy nhiên, “Thư gửi Elise” không phải là một tác phẩm buồn. Ngược lại, nó thường được mô tả là ngọt ngào, tươi thắm, dịu dàng và lãng mạn.

    Phải nói là “Für Elise” vốn như một giai điệu vượt thời gian. Bản nhạc “Für Elise” không chỉ là một giai điệu nổi tiếng. Nó là một hành trình nghệ thuật và cảm xúc được tạo nên bởi một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại. Quá trình sáng tác của nó ẩn chứa một bức màn bí ẩn, giai điệu ám ảnh và khó quên, cùng với ảnh hưởng văn hóa sâu rộng và lan tỏa.Dù đã hơn 200 năm tuổi, tác phẩm âm nhạc này vẫn tiếp tục thu hút khán giả, truyền cảm hứng cho các nhạc sĩ và là cánh cổng dẫn vào thế giới âm nhạc cổ điển cho vô số cá nhân. Âm hưởng của nó là minh chứng cho khả năng phi thường của Beethoven trong việc thấu hiểu thân phận con người, vượt qua mọi rào cản về thời gian, văn hóa và ngôn ngữ.

    Bagatelle số 25, “Für Elise“, là minh chứng cho thiên tài của Beethoven và sức mạnh trường tồn của âm nhạc. Giai điệu đơn giản và những cảm xúc phức tạp của nó đã mê hoặc người nghe trong hơn hai thế kỷ, khiến nó trở thành một trong những tác phẩm được yêu thích nhất trong các tiết mục cổ điển. Bí ẩn xung quanh sự ra đời của nó và bản sắc của “Elise” càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của nó, khiến nó trở thành một chủ đề hấp dẫn đối với cả những người yêu âm nhạc và các nhà sử học. Âm nhạc Beethoven mang nétlãng mạn tinh và quyến rũ thính giác, Bài nhạc gửi người yêu dấu hình như là một tác phẩm bắc cầu nối liền giữa thời kỳ cổ điển và hiện đại, “Für Elise” là biểu tượng của nghệ thuật vượt thời gian và ngôn ngữ âm nhạc phổ quát. Câu chuyện của nó, đầy bí ẩn, cảm xúc và vẻ đẹp nghệ thuật rực rỡ, tiếp tục mê hoặc và truyền cảm hứng, khẳng định vị trí của nó trong lịch sử âm nhạc.

    Sau Mozart và Haydn, Bethoven là biểu tượng cuối cùng của phong trào mang tên Chủ nghĩa Cổ điển Vienna, và thông qua các sáng tác của mình, ông đã mở đường cho sự ra đời của Chủ nghĩa Lãng mạn. Ông cũng được coi là một trong những nghệ sĩ piano xuất sắc nhất mọi thời đại.

    VHLA, 12/07/ 2925.

    (Cet arti.cle est envoyé à mes copains qui aiment la musique classique ou semi-classique: Khánh Trang, Diễm Hạnh, Mỹ Hạnh, Khành Lan, Kiêu My, Phạn Hồng Thài, Cao Minh Tâm, Đỗ Bằng Lăng).

  • Âm nhạc,  Phạm Hồng Thái,  Phạm Phan Lang,  VIẾT VỀ CHA

    NHỚ CHA MÙA LỄ PHỤ THÂN – Ca khúc Thái Phạm phổ thơ PhamPhanLang

    Nhân ngày Lễ Phụ Thân, trong niềm thương nhớ khôn nguôi dành cho người Cha kính yêu đã khuất, PLang xin được chia sẻ với quý anh chị một bài thơ nhỏ – “Nhớ Cha Ngày Lễ Phụ Thân” – như một lời thì thầm từ trái tim của người con xa xứ.

    Hai mươi mốt năm trôi qua kể từ ngày Cha ra đi nơi quê nhà Việt Nam, nhưng ký ức về những ngày cuối cùng được trở về bên Cha – đút từng thìa cháo, xoa bóp đôi chân đau buốt, đẩy chiếc xe lăn quanh sân nhỏ – vẫn còn vẹn nguyên trong tim. Những ánh mắt dịu dàng của Cha, những cái nhìn lặng lẽ ngày ấy… đã hóa thành thơ.

    Bài thơ này được nhạc sĩ Thái Phạm phổ nhạc thành ca khúc cùng tên, và qua giọng ca tha thiết, nghẹn ngào của Đông Nguyễn – từng câu, từng chữ như được cất lên từ chính tận cùng sâu thẳm của nỗi nhớ, làm PL không tránh được giọt lệ rưng rưng.  Xin chân thành cám ơn nhạc sĩ Thái Phạm và ca sĩ Đông Nguyễn.

    NHỚ CHA NGÀY LỄ PHỤ THÂN             MISSING FATHER ON FATHER’S DAY

    Cha ơi, con gọi nghẹn lời,                         Oh Father, I call, choked with pain,
    Mùa Cha trở lại, một trời nhớ thương.                         As Father’s Day nears, I miss you again.
    Bao năm biệt xứ dặm trường                          Long years away, I still remain
    Ngày đi đòi đoạn quê hương xa dần.                        A child of a land I may not regain…

    Nhớ xưa Hè chớm vào sân,                         That summer, just as flowers came,
    Hay tin Cha yếu, đôi chân rã rời.                            I heard you grew weak, your legs tired and lame.
    Con xin gác lại việc đời,                             I laid aside rank, job, and name,
    Trở về quê mẹ sớm mơi phụng thờ.                       Returned to your side, no thought of acclaim.

    Ngày ngày đút cháo nâng cơ,                         Each day I fed you, eased your frame,
    Xoa chân run rẩy, đẩy xe quanh vườn.                        Massaged your frail legs, wheeled you through the lane.
    Cha nhìn con mắt lệ tuôn,                            You looked at me with eyes that rained—
    Ánh nhìn chan chứa tình thương thuở nào.                      Still filled with the love that through childhood remained.

    Thấy Cha đỡ bệnh mấy phần,                           When you seemed better, less in pain,
    Con đành tạm biệt cánh bằng bay cao.                        I left with regret to fly home again.
    Về chưa xong việc là bao,                            Not long had I tried to maintain
    Tin Cha hấp hối như dao xé lòng.                           My scattered tasks—then grief sliced like a chain.

    Vội vàng trở lại đêm đông,                            I rushed through the cold night and rain,
    Vượt bao cách trở, cầu mong ơn Trời.                        Through borders and skies, I whispered your name.
    Kịp bên Cha phút cuối đời,                              One last breath you spent just the same—
    Nhìn con lần cuối, Cha rồi… lặng im.                            You saw me… then silence. No word ever came.

    Cha đi… trời đất lặng chìm,                             You left… and the earth lost its frame,
    Lệ buồn nhỏ giọt đẫm tim não nề.                           My heart drenched in sorrow no words could tame.
    Bao năm bóng ngã trưa hè,                             Years fall like sunlight, just the same,
    Lòng con vẫn thấy Cha kề đâu đây.                        Yet I still feel you, beside me, so near.

    Dẫu Cha khuất nẻo mây bay,                          Though clouds may hide you from me here,
    Ơn Cha như biển đong đầy tim con.                         Your love fills my heart like oceans sincere.
    Mỗi mùa Lễ Phụ Thân còn,                             Each time Father’s Day reappears,
    Con dâng giọt lệ, thay tròn chữ yêu…                          I shed one more tear, for a love most dear.

    phamphanlang, 1/6/2025

  • Âm nhạc,  Khánh Lan

    DÒNG NHẠC BOLÉRO

    BOLERO VÀ NGUỒN GỐC

    Sánchez (guitar, left) and Emiliano Blez (tres) with three singers (standing)

    Bolero là một thể loại âm nhạc, kèm theo nhạc cụ và khiêu vũ, bắt nguồn từ thành phố Santiago de Cuba và lan rộng khắp Cuba. Santiago là một thành phố phía đông nam đảo quốc Cuba, nơi thịnh hành những nghệ sĩ du ca dùng guitar đàn hát để lưu diễn và kiếm sống trong ba thập niên cuối của thế kỷ 19.  Những sáng tạo đầu tiên của bolero đều từ Santiago. Một trong những người tiên phong, chủ xướng, định hình phong cách đặc trưng cho bolero là Pepe Sánchez (1856 – 1918), một nghệ sĩ – thầy giáo, người đã sáng tác bản bolero đầu tiên Tristezas (Những niềm đau) vào khoảng năm 1883.

    Pepe Sánchez (1856 – 1918)

    Với giai điệu sang trọng, tinh tế, những bài bolero với sức hấp dẫn của âm nhạc nhảy chậm buồn và lãng mạn, giai điệu bolero nhanh chóng lan truyền sang Mexico và các quốc đảo ở vùng Caribe cũng như các quốc gia Nam Mỹ như Brazil, Argentina, Colombia, Chile, Venezuela, Ecuador, Bolivia và Tây Ban Nha.

    Thời kỳ hoàng kim của bolero ở các quốc gia Mỹ Latin bắt đầu từ những năm 1930 và kéo dài liên tục trong suốt ba thập kỷ, với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Antonio Machin, cặp song ca Los Compadres (Cuba), nhóm nhạc Los Panchos, Los Hermanos Martínez Gil và Trío Tarácuri, Agustín Lara (Mexico),… , Lucho Gatica (Chile)… Thời kỳ này, bolero cũng ảnh hưởng sang thế giới nói tiếng Anh, được biểu diễn bởi nhiều nghệ sĩ Mỹ như: Bing Crosby, Nat King Cole hay Frank Sinatra.

    Bolero du nhập vào các quốc gia vùng Caribe và Nam Mỹ được đón nhận nồng nhiệt bởi nó gần gũi với kiểu chơi nhạc lãng mạn, trữ tình và phóng khoáng của người Mỹ Latin và đương nhiên Bolero trở thành âm nhạc của quần chúng. Những bản bolero nổi tiếng bậc nhất thế giới, minh chứng cho những đỉnh cao và sự bền bỉ của một trong những dòng nhạc đứng vững như một biểu tượng văn hóa đại chúng của các nước Mỹ La Tinh. Theo hai tác giả Lisa Shaw, Stephanie Dennison của cuốn sách Pop Culture Latin America: Media, Arts, and Lifestyle (Văn hóa đại chúng Mỹ La Tinh: Truyền thông, Nghệ thuật và Lối sống), hầu hết giới nghiên cứu cho rằng nhạc bolero xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 19. Những bài bolero đầu tiên khởi sinh từ Cuba, nhanh chóng lan tỏa sang các đảo quốc ở vùng biển Caribbean và Mexico.

    THĂNG TRẦM CỦA TRĂM NĂM

    Nhạc sĩ hai nước Cuba và Mexico có công phát triển bolero, biến tấu nó với các giai điệu tương tự viết theo phép ký âm 4/4, tạo ra một dòng nhạc bolero mới; xôn xao hơn, rực rỡ hơn, lãng mạn hơn và đậm chất Latin. Dòng nhạc bolero này bao gồm các điệu bolero, rumba, rumba bolero, mambo, calypso, baiao; kể cả tango, tango habanera, chachacha. Mẫu số chung là kiểu viết nhạc 4/4 tương tự nhau; chỗ khác nhau là cách thức biểu diễn ca khúc.

    Như các thể loại khác, bolero được cho là từ một điệu nhạc nhảy theo nhịp ¾ ở Tây Ban Nha vào thế kỷ 18, nhưng điệu bolero mới này đã thay đổi nhịp thành 2/4, và sau đó là nhịp 4/4. Tuy nhiên, nó cũng bị pha trộn bởi nhiều điệu nhạc gốc Châu Âu và Châu Phi như danza, habanera, trova, son bởi tiếng đệm đàn guitar ảnh hưởng lên giai điệu.

    Los Panchos là một trong những nhóm nhạc bolero nổi tiếng khu vực châu Mỹ La tinh vào những năm 30 của thế kỷ 20. Những bản tình ca sang đã làm rung động hàng triệu con tim như “Besame Mucho”, “Guantanamera”, “My Heart Will Go On” hay thậm chí “Yesterday” của nhóm nhạc lừng danh. Có lẽ bản bolero nổi tiếng nhất trong lịch sử chính là Bésame mucho (Hãy hôn em thật nhiều, 1941), được nữ nghệ sĩ người Mexico Consuelo Velásquez sáng tác vào năm cô chỉ mới 15 tuổi.

    BOLERO TẠI VIỆT NAM

    Bolero du nhập vào Việt Nam, khoảng đầu thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Nhiều nhạc sĩ bắt đầu sử dụng giai điệu phương Tây thay cho giai điệu truyền thống. Nền tân nhạc của Việt Nam đã nhanh chóng thẩm thấu giai điệu bolero và biến nó thành một dòng nhạc tình ca. Bolero được sử dụng phổ biến nhất trong các bài nhạc tại miền Nam Việt Nam, và trở thành một phần quan trọng của văn hóa âm nhạc dân gian Việt Nam.

    Đặc điểm của điệu Bolero trên thế giới được các nhạc sĩ áp dụng sáng tác trong cả nhạc cổ điển lẫn nhạc đại chúng. Ở Việt Nam, bolero được áp dụng để sáng tác cho loai nhạc nhẹ bởi khi Bolero du nhập vào Việt Nam được Việt hóa cho hợp với lối nói phát âm của người Việt. Boloro Việt Nam hát theo kiểu truyền thống, ngân rung, làm cho bài hát trở nên vừa dễ hát, vừa dễ thuộc. Ngoài ra nó còn rất hợp với chất cải lương, để hát tân cổ giao duyên.

    ĐẶC ĐIỂM QUAN TRỌNG CỦA NHỮNG BÀI HÁT VIẾT BẰNG ĐIỆU BOLERO VIỆT NAM LÀ:

    • Nhiều bài hát mang đậm chất dân ca Nam Bộ.
    • Giai điệu cấu trúc đơn giản, tiết tấu đều đều, chậm, thường là nhịp 4/4, ít biến đổi nhịp, ít quãng cao, dễ hát, khi hát thường luyến láy, cho mềm mại và mùi mẫn.
    • Lời ca bình dân, có nhiều vần và dễ thuộc, dễ nhớ.
    • Có các đặc điểm như khái quát, buồn.

    Nhạc Bolero rất phổ biến tại miền Nam Việt Nam, và trở thành một phần quan trọng của văn hóa âm nhạc dân gian Việt Nam. Một nhạc sĩ tài hoa kiêm nhà nghiên cứu âm nhạc đã thành công bài rumba bolero đầu tiên, và trở thành bài tình ca nổi tiếng trong thế kỷ 20. Đó là nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ca khúc Nắng chiều, NS Anh Hoa là người đã nối gót NS Lê Trọng Nguyễn với ca khúc “Trăng phương Nam”, và tiếp theo là “Chiều trong rừng thẳm” của Anh Việt sáng tác trước 1954.

    NẮNG CHIỀU QUA THỂ LOẠI BOLERO

    Nắng Chiều là tên của một nhạc phẩm nổi tiếng của NS Lê Trọng Nguyễn viết trước năm 1950 và hoàn tất năm 1953. NS Lê Trọng Nguyễn với bài tình ca viết dưới thể điệu rumba bolero đầu tiên có sức chinh phục, cuốn hút người nghe đã đem đến một sự thành công vượt bực bởi những ca từ trong Nắng chiều giàu tính văn học, giàu chất thơ, nhẹ nhàng và lãng mạn. Nó thoát ra hẳn phong cách xôn xao, rực rỡ và khá nhanh của dòng bolero Mỹ Latin; tạo nên một phong cách bolero Việt Nam chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo). Nắng chiều với phong cách rumba bolero đã trở thành bài tình ca đẹp của thế kỷ thứ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Nắng chiều không chỉ chinh phục khán thính giả Việt mà còn vươn ra ngoài biên giới.

    • Nhạc phẩm Nắng Chiều được các nhà xuất bản An Phú (Sài Gòn), Tinh Hoa Sài Gòn và Huế in ra nhiều lần thành bài rời; mỗi lần in khoảng 3.000 bản.
    • Ca khúc Nắng Chiều được thu thanh lần đầu tiên năm 1953 bằng đĩa do Hãng đĩa Việt Nam (Sài Gòn) sản xuất với tiếng hát của danh ca Minh Trang và NS Lê Trọng Nguyễn là người đã soạn hòa âm và phối khí cho dàn nhạc chơi bài này.
    • Năm 1958, nữ ca sĩ Nhật Bản Satsuki Midori gặp Lê Trọng Nguyễn và đã dịch bài hát sang tiếng Nhật với tựa đề Việt Nam tình ca, thu thanh ở Tokyo. Cũng trong năm 1958, nhạc sĩ Nguyễn Hiền là người điều hợp viên chương trình văn nghệ của Hội Chợ Thị Nghè, ông đã giới thiệu nhạc phẩm này với Midori Satsuki trong đoàn Ca Vũ Nhạc Nhật Bản Toho và mời cô sang trình diễn lần đầu tiên tại Hội Chợ liên tiếp trong hai tuần lễ.
    • Năm 1960, nữ ca sĩ Đài Loan Kỷ Lộ Hà cũng đã hát và thu thanh bài Nắng Chiều bằng tiếng Quan thoại, tựa đề là Tịch dương hay Việt Nam Tình Ca hay Nam Hải Tình Cado Thận Chi đặt lời. Nhạc phẩm này đã được dân chúng Đài Loan và Hồng Kông đón nhận nồng nhiệt cũng như báo chí tại hai nơi này đăng tin Nắng Chiều là một trong những bài tình ca hay nhất.
    • Sau đó, Nắng chiều còn được dịch qua tiếng Anh, tiếng Thái, tiếng Khmer và trở thành một bài Á châu tình ca!
    • Năm 1971, bài hát là nguồn cảm hứng cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Mộng Hoàng.
    • Ngày 20 tháng 8 năm 2005, “Nắng Chiều” được nữ ca sĩ trẻ Doanh Doanh trình bày bằng tiếng Trung Hoa trong chương trình video có thu hình của trung tâm Asia tại thành phố Houston.
    • Sau này,Nắng chiều được phát liên tục trên Đài phát thanh Sài Gòn, Đài Pháp Á và Đài phát thanh Huế qua các giọng ca của các ca sĩ nổi tiếng như Quỳnh Giao, Mai Hương, Kim Tước, Hà Thanh, Anh Ngọc, Ngọc và được người yêu nhạc tán thưởng.

    VÌ SAO NHẠC PHẨM NẮNG CHIỀU TRỞ NÊN NỔI TIẾNG?

    Bởi những ca từ trong nhạc phẩm Nắng Chiều giàu tính văn học, giàu chất thơ, chứng tỏ NS Lê Trọng Nguyễn là con người từng thấu hiểu một cách sâu đậm văn chương Việt Nam. Nắng chiều được viết dưới phong cách rumba bolero và đã trở thành bài tình ca đẹp của thế kỷ thứ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Bolero Việt Nam với phong cách chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo). Sau này, Lê Trọng Nguyễn tiếp tục lối sáng tác ấy để viết hai ca khúc Bến giang đầu (Nắng chiều 2) và Chim chiều không tổ. Hai ca khúc này đều viết với cung “re trưởng” với chất bolero thật đậm nét. Ông còn là người dung hợp các điệu nhạc đặc trưng của Mỹ và đảo Hawaii như jazz, blue, boston rock, slow để viết những bài tình ca khác. Cho đến ngày nay, nhạc phẩm Nắng Chiều vẫn giữ một vị trí ưu ái trong lòng khán giả mến yêu âm nhạc và đó là những điểm son của nhạc phẩm Nắng Chiều theo dòng thời gian.

    Tóm lại, Bolero đã trở thành một phần quan trọng của nền văn hóa âm nhạc Việt. Đem đến những giai điệu và lời bài hát sâu sắc, thể hiện những cảm xúc chân thành và tình yêu đích thực. Hy vọng qua bài viết trên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nhạc bolero và những giá trị mà dòng nhạc bolero mang sắc thái bolro tình tự dân tộc Việt Nam.

    Khánh Lan sưu tầm (May 25, 2024)

  • Âm nhạc,  Khánh Lan,  Lâm Dung

    SO SÁNH TRƯỞNG VÀ THỨ

    Bài viết này để ghi nhớ đến hai vị Giáo Sư Âm Nhạc, Cao Minh Tâm và Đỗ Bằng Lăng đã bỏ rất nhiều công sức để dìu dắt chúng tôi trong lớp hòa âm niên khóa 2022-2023.

    TẠI SAO GIỌNG TRƯỞNG VUI VÀ GIỌNG THỨ BUỒN

    Thông thường trong âm nhạc chúng ta thường nghe các nhạc sĩ hay ca sĩ nói một cách vắn tắt khi phân loại hợp âm trưởng và hợp âm thứ là trưởng và thứ. Vậy thì hợp âm trưởng và hợp âm thứ có nghĩa là gì? Trong âm nhạc, khái niệm “trưởng” và “thứ” dùng để mô tả một tác phẩm âm nhạc, Trưởng và thứ thường được ký hiệu trong những bài nhạc cổ điển, đặc biệt trong việc tìm điệu tính của cả bài nhạc.

    Trong Cycle Of Fifth (Vòng Tròn Bậc 5) phân chia rõ ràng các cặp trưởng và thứ. Vậy chúng có gì khác nhau? Hay cùng chúng tôi đi tìm lời giải thích nhé.

    So sánh Âm Giai Trưởng và Thứ

    Tại sao âm giai Trưởng hay giọng trưởng lại “vui” và âm giai thứ hay giọng thứ lại “buồn” là do đâu? Mặc dù, cả 2 âm giai đều có cùng bốn nốt nhạc là 1 2 4 5 giống nhau và ba nốt nhạc khác nhau là 3 6 7. Nguyên do sự đối lập cảm xúc giữa 2 âm giai trưởng và thứ nằm trong ba nốt nhạc khác nhau này. Các nốt thứ 3, 6 và 7 ở các âm giai thứ thấp hơn nửa cung so với các âm giai trưởng. (Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần phải hiểu Âm Giai là gì? Vị trí Âm giai trưởng & âm giai thứ và Nhạc Lý Căn Bản #2)

    So sánh Hợp âm Trưởng và Thứ

    Ở đây chúng ta sẽ so sánh hợp âm 3 nốt (Triads). Hợp âm được hình thành khi bạn đánh một nốt trong thang âm, bỏ nốt liền kề ở bên phải và đánh nốt phía trên nó. Sau đó lặp lại cho đến khi bạn có hợp âm mà bạn muốn. (Để hiểu rõ hơn, bạn có thể tìm đọc bài viết về hợp âm là gì? và nó được cấu tạo như thế nào?)

    Thí dụ:

    • A major triad gồm ba nốt trong Hợp âm A (La trưởng) là A C♯ E.
    • A minor triad gồm bộ nốt trong Hợp âm Am (La thứ) là A C E. Nghe có vẻ buồn.

    Hai hợp âm chỉ khác một nốt thứ 3 là C và C#, vậy mà cảm xúc lại trái ngược nhau. Điều này tiết lộ rằng nốt bậc ba, hoặc nốt thứ 3 là thành phần kỳ diệu trong âm nhạc tạo ra các hợp âm và bậc thang âm thanh vui hoặc buồn của chúng. Vậy thì tại sao hợp âm Trưởng nghe vui tai mà hợp âm Thứ lại nghe buồn bã thế? Như 2 phần trước chúng ta thấy:

    • Âm thứ 3 trong bộ ba thứ gần với nốt gốc hơn (ba nửa cung); do đó kém hài hòa hơn, gây ra âm thanh và cảm xúc bất hòa hoặc xung đột, dẫn đến cảm xúc buồn.
    • Âm thứ 3 trong bộ ba trưởng ở xa nốt gốc hơn (bốn nửa cung); do đó, rung động hài hòa hơn, gây ra một phụ âm hay và âm thanh dễ chịu dẫn đến cảm xúc vui.

    Nốt cuối của hai bộ ba này được gọi là nốt bậc 5 hoàn hảo, do tỷ lệ toán học hoàn hảo của nó với nốt gốc. Điều này cũng đúng về quãng tám, đó là lý do tại sao nó còn được gọi là quãng 8 hoàn hảo.

    TÌM CHỦ ÂM CỦA BÀI NHẠC

    Khi nhìn vào bộ khóa ở đầu bài nhạc, ta sẽ thấy có 3 trường hợp xảy ra:

    1. Bộ khóa không có dấu thăng giảm: Chủ âm của bài có thể là Do trưởng (C) hay La thứ (Am).  
    2. Bộ khóa có dấu thăng: Từ dấu thăng cuối cùng, cộng thêm nửa cung thì sẽ có tên chủ âm trưởng, rồi từ đó đếm xuống 2 nốt sẽ có tên âm giai tương ứng là chủ âm thứ.
    3. Bộ khóa có dấu giảm: Nếu có 1 dấu giảm (Bb) thì chủ âm của bài có thể là Fa trưởng (F) hay Re thứ (Dm). Nếu có hơn 1 dấu giảm (Bbb), thì dấu giảm ngay trước dấu giảm cuối sẽ là tên của chủ âm trưởng và sau đó đếm xuống 2 nốt sẽ có tên của chủ âm ở cung thứ.

    Thực tập:

    a) Bộ khóa có 3 dấu thăng: 3 dấu thăng này theo thứ tự là Fa, Do, Sol. Dấu thăng cuối cùng là Sol (G), vậy bài này có thể ở chủ âm (Sol # cộng ½ cung là La) La trưởng (A). Cha tên là La (A) thì bà mẹ (âm giai tương ứng) là gì? Từ La, đếm xuống Sol, rồi xuống Fa (F). Phải chăng bà mẹ tên là Fa thứ? Không hẳn vậy, vì nhìn nơi bộ khóa thì sẽ thấy có dấu F# ngĩa là tất cả các nốt Fa trong bài sẽ mang dấu thăng. Do đó bài này cũng có thể thuộc chủ âm Fa thăng thứ (F#m)

    b) Bộ khóa có 2 dấu giảm: 2 dấu giảm này là Si (B), Mi (E). Dấu giảm trước cuối cùng là Si (B), nên chủ âm bài này có thể là Si giảm trưởng (Bb major) hay Sol thứ (Gm)

    Ðến đây thì bạn đã tìm ra được bài nhạc này có thể thuộc một trong 2 chủ âm. (Ðiều này tương tự như người cha (trưởng), người mẹ (thứ) trong gia đình nhưng chưa biết ai là người … “cầm quyền” trong nhà?)

    TÌM CHỦ ÂM NÀO LÀ CHÍNH?

    Muốn vậy bạn chỉ cần nhìn vào nốt cuối cùng trong bài nhạc, nếu nó là nốt nào trong 2 nốt này thì đó là nốt chủ âm của bài.

    Thí dụ:

    a) Bộ khóa có 2 dấu thăng (Fa# và Do#) và tận cùng bằng nối Si (B): Bài này thuộc cung Si thứ (Bm) và âm giai tương ứng là Re trưởng (D). Nói một cách khác, trong gia đình này thì người vợ (Bm) cầm quyền (!) và người chống (D) chỉ đóng vai trò thứ yếu. Bài nhạc ở cung thứ thường có âm hưởng buồn

    b) Bộ khóa có 3 dấu giảm (Si b, Mi b, La b) và tận cùng bắng nốt Mi b (Eb): Bài này ở cung Eb major và âm giai tương ứng là Do thứ (Cm). Trong “gia đình” này thì người chồng (Eb) cầm quyền, và người vợ (Cm) giữ vai trò thứ yếu.

    Bài nhạc ở cung trưởng có âm hưởng vui tươi, mạnh mẽ

    TÌM CÁC HỢP ÂM TRONG BÀI NHẠC

    Thông thường thì các bài nhạc Việt chỉ dùng 6 hợp âm chính. Thử tưởng tượng trụng cho gia đình này có 4 con, 2 trai và 2 gái. Ta đã tìm được 2 hợp âm chủ nhà rồi thì chỉ cần tìm thêm 4 hợp âm còn lại (tên của 4 đứa con) bằng cách áp dụng luật 1 – 4 –5 như sau:

    Thí dụ:

    Bài nhạc thuộc cung Do trưởng (C) nghĩa là âm giai tương ứng là La thứ (Am). Nếu người cha là Do thì có thể tìm tên 2 đứa con trai bắng cách dùng 5 ngón của bàn tay trái mà đếm như sau:

    1. Ngón cái: 1 Do – ngón trỏ 2 Re bỏ – ngón giữa 3 Mi bỏ – ngón áp út 4 Fa OK – ngón út 5 Sol OK. Như vậy thì bên phía cha và 2 con trai, ta sẽ có 3 hợp âm: Do (C), Fa (F) và Sol (G).
    2. Qua phía người mẹ (âm giai tương ứng), tương tự như trên ta sẽ có tên của người mẹ và 2 con gái là La thứ (Am), Re thứ (Dm) và Mi trưởng (E).

    Thế thì tại sao 2 cô con gái lại là Re thứ (mà không la Re trưởng) và Mi trưởng (mà không là Mi thứ) thì phải biết về các nốt trong 1 âm giai (scale) và tên các quãng (interval). Trong âm giai Am thì các nốt là A-B-C-D-E-F-G#-A, Tên của cô con gái thứ nhất bắt đầu ở nốt thứ 4 (đếm La Si Do “Re”) Hợp âm Re co 3 nốt chồng lên nhau là Re Fa La (D F A) và nốt Fa không có dấu thăng.

    Quãng D-F là quãng 3 thứ, nên cô con gái thứ nhất tên là Re thứ (Dm). Trong khi đó tên của cô con gái thứ hai bắt đầu ở bậc 5 (đếm La Si Do Re “Mi”). Chồng 3 nốt lên nhau ở Mi (E) sẽ có E – G# – B (để ý G# trong âm giai La thứ) và vì quãng E G# là quãng 3 trưởng, nên cô con gái thứ hai sẽ mang tên Mi trưởng (E).

    Nếu muốn tìm 6 hợp âm chính cho bài nhạc chỉ cần nhớ luật 1 – 4 – 5 , đại khái là:

    a) Ba hợp âm theo chủ âm trưởng (cha & 2 trai) : 1 – 4 –5 (tất cả đều trưởng)

    b) Ba hợp âm theo chủ âm thứ (mẹ & 2 gái) : 1 thứ – 4 thứ – 5 trưởng

    Thí dụ:

    Tìm 6 hợp âm dùng trong 1 bài nhạc có 1 dấu thăng:

    a) Bài này có thể thuộc Sol trưởng (G) hay Mi thứ (Em)

    b) Dùng luật 1-4-5 theo nhánh G sẽ có 3 hợp âm G, C, D

    c) Dùng luật 1-4-5 theo nhánh Em sẽ có Em, Am, B

    Sáu hợp âm này là G – C – D – Em –Am – B. Ðây là 6 hợp âm căn bản của mỗi bài nhạc mà người mới chơi đàn cần nắm vững. Từ những hợp âm “gốc” này mà người ta thêm vào thành hàng trăm, hàng nghìn hợp âm mà các bạn có thể thấy trong các tập sách nhạc. Một trong những biến thể đó là loại hợp âm 7, được thành lập bằng cách đặt thêm 1 nốt thứ tư trên 3 nốt của hợp âm căn bản (tức là sẽ có 4 nốt ở bậc1-3-5-7). Để có thể tìm hợp âm nhanh, bạn chỉ cần nhớ 1 điểm nhỏ sau đây:

    Ðể nghe êm tai hơn, tên của người con trai thứ hai và người con gái thứ hai (D và B trong thí dụ trên) có thể đổi thành hợp âm 7. Như thế là tạm thời hoàn tất việc tìm tên 6 người trong gia đình, và theo thí dụ trên thì 6 hợp âm này sẽ là:

    G – C – D7 – Em – Am –B7

    ÐẶT CÁC HỢP ÂM VÀO BÀI NHẠC

    Biết được 6 hợp âm chính dùng trong bài rồi, câu hỏi kế tiếp là làm sao biết khi nào thì đổi hợp âm? Có mấy luật căn bản sau đây:

    a) Thông thường với các bài nhạc Việt thì mỗi ô nhịp dùng 1 hợp âm., đổi ở phách 1, đầu nhịp. Với những bài nhịp 4 thì đôi khi có thề dùng 2 hợp âm trong 1 ô nhịp, đổi ở phách 1 và 3.

    b) Bài nhạc bắt đầu bằng chủ âm và kết ở ô nhịp cuối bằng chủ âm

    c)Tùy theo chủ âm nào (trưởng hay thứ) mà những hợp âm của phe cha hay mẹ nắm đa số. Một bài bắt đầu ở cung La thứ (Am) thì hầu như 2 cô con gái (Dm và E7) sẽ theo sau. Mẹ và con gái hát đã đời các hợp âm Am-Dm-E7 rồi thì ông cha và 2 con trai (C- F-G7) lúc ấy mới … có thể lên tiếng … để thay đổi không khí! Tuy nhiên vì chủ âm là La thứ nên sau đó thì phải trở về cụm Am-Dm-E7 để chấm dứt ở Am

    Nếu nắm vững lý thuyết căn bản âm nhạc thì chỉ cần nhìn vào các nốt trong mỗi ô nhịp là cũng biết ngay ô nhịp ấy thuộc hợp âm gì? Trong trường hợp học đệm đàn “cấp tốc” như sau:

    • Tìm một bản ghi các hợp âm căn bản cho guitar. Bạn không cần những quyển sách dày cộm mà chỉ cần một trang căn bản, in vài chục hợp âm là đủ.
    • Dùng cây guitar đánh trải 6 hợp âm trên cho thật nhuyễn và quen tai.
    • Bắt đầu với chủ âm ở ô nhịp đầu tiên, hát ô nhịp kế tiếp và so với 6 hợp âm trên nghe xem hợp âm nào thuận tai nhất.
    • Nên nhớ theo đúng 3 lời khuyên ghi ở đầu bài 3 này và tránh đừng chuyển đổi hợp âm lung tung.

    Nói một cách vắn tắt, bạn chỉ cần theo mấy luật căn bản trong 3 bài trên đây là có thể tìm được các hợp âm căn bản khoảng … 90% những bài nhạc Việt.

    Chúc các bạn thành công,

    Khánh Lan, California 2024

  • Âm nhạc,  Việt Hải

    CANON IN D MAJOR

    Viên ngọc quý được tìm thấy sau một thời gian dài thất lạc, Canon in D major – bản luân khúc cung Rê trưởng của nhà soạn nhạc người Đức Johann Pachelbel, thường được gọi là Canon cung Rê trưởng. Được sáng tác ở thế kỷ 17, nhưng mãi tới thế kỷ 20 người ta mới tìm lại được viên ngọc quý này và vĩnh viễn nó đã trở thành bản nhạc bất hủ say mê…


    Nguồn cảm hứng dường như bất tận của Canon in D cho âm nhạc đương đại…

    Quả thật, Canon in D có sức hấp dẫn đặc biệt nhất trong lịch sử âm nhạc cổ điển ở thời hiện đại. Nếu tìm trên các trang nhạc trong hay ngoài nước thì những bản hòa âm lại của nó một cách chính thức có đến hàng trăm bản, chưa có một bản nhạc cổ điển nào trong lịch sử có sức ảnh hưởng đến thời cận đại như vậy.

    Canon in D thường vang lên réo rắt ở các nhà thờ, trong các lễ cưới, các buổi tập nhạc của những người mới đến với nhạc cổ điển, trên các chương trình truyền hình, những chiếc hộp nhạc dễ thương và tất nhiên là cả các CD tuyển chọn những bản nhạc hay nhất mọi thời đại…Khi giai điệu của Canon vang lên, cảm giác hạnh phúc tràn ngập được mang lại và sự hoài niệm đưa người nghe trở về những kỉ niệm đẹp nhất trong đời.

    Những ca khúc, những bộ phim, những đoạn video quảng cáo, music box… hoặc có sử dụng nhạc nền hoặc lấy cảm hứng từ Canon in D thì lên tới hàng trăm, hàng nghìn, hàng triệu triệu phiên bản… Tác phẩm này cũng được sử dụng làm nhạc chủ để trong rất nhiều bộ phim khác nhau như: “Father of the Bride” hay “Runaway bride”, “The Classic”…

    Dãy hợp âm nổi tiếng…

    Dãy hợp âm nổi tiếng của Canon, được các nhạc sĩ áp dụng rất nhiều trong sáng tác cũng bắt nguồn từ bài Canon in D mà ra. Có lẽ với những bạn từng học qua tác phẩm này sẽ không lạ gì chuỗi hợp âm: D-A-Bm-Fm-G-D-G-A7. Chuỗi hợp âm lừng danh được lặp đi lặp lại trong suốt tác phẩm với nhiều biến tấu cực kỳ khỏe khoắn, tạo nên cảm giác sảng khoái bay bổng. Nhiều tác phẩm nổi tiếng hiện đại cũng dùng lại chuỗi hợp âm này như: “Let it be” của The Beatles, hay “Crying” của Aeronsmith, “Our Canon in D” của Aaron Angello hát hay “Rain and Tear” của Aprodite’s Child, “Graduation (Friend Forever)” của Vitamin C…


    Viên ngọc quý tìm lại…

    Canon cung Rê trưởng, cũng như bản Adagio cung sol thứ của nhà soạn nhạc Ý Tomaso Albinoni, đều là những sáng tác của thời kỳ Baroque (tiền cổ điển). Cũng như Adagio cung sol thứ, tuy tác phẩm được sáng tác trong khoảng 1680-1706, nhưng mãi tới thế kỷ 20 người ta mới tìm lại viên ngọc quý này.

    Johann Pachelbel (1653-1706). Ảnh: Wikipedia

    Năm 1968 bản ghi âm bởi Jean-François Paillard cùng dàn nhạc đã trở nên bất ngờ phổ biến trong thập kỷ kế tiếp. Từ những năm 1970 đến đầu những năm 2000, các yếu tố của tác phẩm, đặc biệt là tiến trình hợp âm của nó, đã được sử dụng trong một loạt các bài hát nhạc pop. Và cũng như Adagio, tác phẩm đột nhiên trở nên nổi tiếng đến mức không thể hình dung.

    Sức ảnh hưởng kỳ lạ của Canon cung Rê trưởng

    Tên đầy đủ của Canon in D là Kanon und Gigue in D-Dur für drei Violinen und Basso Continuo, nghĩa là bản luân khúc rê trưởng dành cho vĩ cầm và bè trầm. Tác phẩm viết theo thể loại Gigue (Gigue là một điệu nhảy theo phong cách thời Baroque) cho 3 đàn vĩ cầm và basso, nên đôi khi tác phẩm còn được gọi là Gigue in D.

    (Photo Credit: Internet)

    Ban đầu, bản nhạc được viết dành cho đàn violin và bè trầm như vậy, và được chơi trong các nhà thờ ở hình thức thánh ca là chính. Tuy nhiên sau này, với sự quá nổi tiếng và được yêu thích trên toàn thế giới, Canon in D được thể hiện lại bằng nhiều nhạc cụ khác nhau, từ piano, violin, classical guitar, guitar điện, harp, flute, xylophone… đến những nhạc cụ truyền thống của các nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc v.v, thậm chí Pop, Rock, Acappella, Beatbox, Hip-hop, Dance…Nhiều người nhầm lẫn canon này với cannon (khẩu thần công), thực tế canon chỉ có nghĩa là luân khúc thôi.

    Người ta cảm thấy thế nào khi nghe Canon in D?

    Bản Canon in D – Cello & Piano, biểu diễn bởi nhóm nhạc Brooklyn Duo. Canon in D hội tụ rất nhiều yếu tố của một bản giao hưởng đỉnh cao khi đem lại sự thư thái, cảm xúc nhẹ nhàng cho người nghe ngay từ những nốt nhạc đầu tiên.

    Giai điệu của Canon đúng như cái tên dòng nhạc của nó, Relax Baroque.

    Khi giai điệu của Canon vang lên, cảm giác hạnh phúc tràn ngập được mang lại và sự hoài niệm đưa người nghe trở về những kỉ niệm đẹp nhất trong đời. Canon vui tươi, nhạc thái trong sáng dễ đi vào lòng người. Vì thế mà không gì thích hợp hơn cho một lễ cưới như Canon in D. Phần giai điệu được đánh giá là chuẩn mực với những phân đoạn chính được lặp lại 30 lần, không quá dài hay quá ngắn mà chỉ vừa đủ để người nghe có thể cảm nhận trọn vẹn bản giao hưởng tuyệt vời này.

    Những mỹ từ ca tụng Canon in D

    Mỗi lần thưởng thức Canon in D thì luôn có một cảm giác hết sức bay bổng, thư thái và dễ chịu… Đó là điều kỳ diệu “bẩm sinh” của Canon in D. Mặc dù có tiết tấu không thật sôi động nhưng nó sẽ luôn phát huy tác dụng như một liệu pháp âm nhạc mỗi khi bạn mệt mỏi. Bất kể lúc vui hay buồn, khi bạn thưởng thức Canon in D cũng không bao giờ khiến bạn cảm thấy buồn hơn, ngược lại bạn sẽ có những suy nghĩ tích cực hơn về cuộc sống vốn rất nhiều phiền muộn.

    Khi bạn vui, bạn sẽ thấy Canon in D vẽ ra cho bạn một bức tranh của một cuộc sống tuyệt đẹp, thật vui tươi giống như bạn đang được tung tăng nô đùa cùng những người mà bạn yêu quý trên một khoảng không gian thoáng đãng, và nó thật sự dịu ngọt như chính tình yêu, khiến bạn cảm thấy vui hơn. Còn khi bạn buồn cũng hãy đến với Canon in D để bạn tìm lại được những giá trị đã mất, bạn sẽ thấy một sự yên bình, thanh thản đến kì lạ. Nhẹ nhàng như một cơn gió, êm ái như một cánh hoa, một cảnh tượng thật đẹp, như thể bạn đang nằm ngả lưng giữa một cánh đồng đầy cỏ xanh mơn mởn và những bông hoa thơm ngát.

    Canon in D – violin & Piano, biểu diễn bởi nhóm nhạc Brooklyn Duo:

    Thế giới đã dành không biết bao nhiêu mỹ từ cho bản nhạc mà đã ra đời cách đây hơn 3 thế kỷ, có người nói Canon in D là “dòng suối mát cho tâm hồn”. Sẽ là rất lạ nếu một lần nghe qua Canon in D mà bạn không ấn tượng với nó… Nhưng sẽ rất bình thường nếu bạn cảm thấy yêu thích nó, thấy nhớ nó, không bao giờ quên được nó…Pachelbel đã để lại cho nhân loại một bản nhạc cổ điển có thể giúp những thính giả thông thường tiếp cận được dễ dàng đỉnh cao của âm nhạc cổ điển.

    Với bản Canon in D nhẹ nhàng, không quá khó đối với thính giả thông thường như những bản giao hưởng khác, nhiều người vì vậy đã đặt cho Canon in D những lời tán tụng “có cánh” như “đại kiệt tác âm nhạc siêu ngọt ngào”, “siêu lãng mạn”, “siêu cảm xúc”!

    Sau đây, mời quý độc giả thưởng thức “siêu tác phẩm” Canon in D major bản giao hưởng đầy đủ của dàn nhạc Navidas Ochestra. Xin vào các websites dưới đây.

    Beethoven – Für Elise (60 Minutes Version)- Concerto Ludwig van Beethoven:

    Beethoven – Für Elise (60 Minutes Version)

    The Best of Pachelbel. 1 Hour of Top Classical Baroque Music. HQ Recording Canon In D. Classical Tunes:

    The Best of Pachelbel. 1 Hour of Top Classical Baroque Music. HQ Recording Canon In D

    Canon in D (Pachelbel’s Canon) – Cello & Piano [BEST WEDDING VERSION]
    Canon in D (Pachelbel’s Canon) – Cello & Piano [BEST WEDDING VERSION]

    Canon1hour/Instrument Music/Pachelbel /Piano/Wedding Song:
    カノン1時間【勉強用・作業用・睡眠用BGM】ピアノ/パッヘルベル/楽譜あり/Canon1hour/Pachelbel /Piano/Instrument Music/CANACANA

    Ave Maria (Schubert) – Cello & Piano [BEST WEDDING VERSION]
    Ave Maria (Schubert) – Cello & Piano [BEST WEDDING VERSION]

    Schubert, AVE MARIA for Cello & Piano/Wedding Song:
    Schubert, AVE MARIA for Cello & Piano

    ÂM NHẠC, VIỆT HẢI: MẠN BÀN VIỆC PHỔ NHẠC CHO BÀI THƠ:

    MẠN BÀN VIỆC PHỔ NHẠC CHO BÀI THƠ – MẠN BÀN VIỆC PHỔ NHẠC CHO BÀI THƠ

    Việt Hải sưu tầm

  • Âm nhạc,  Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Kiều My,  Viet-Hải

    TƯỞNG NHỚ NHẠC SĨ Đỗ Lễ.

    Cô đơn không phải thứ cảm xúc dành riêng cho những người độc thân, sống một mình. Cả khi đang ở trong một mối tương quan tình cảm nghiêm túc, dài hạn, vẫn sẽ có những lúc ta thấy mình sao lẻ loi, cảm giác đơn độc. Cảm xúc cô đơn trong tình yêu có thể là dấu hiệu cảnh báo điều gì bất ổn đang xảy ra với mối quan hệ của hai người. Hoặc, nó cho thấy bạn đang mong mỏi người ấy giúp mình khỏa lấp một khoảng trống trong tâm hồn bấy lâu nay, nhưng đối phương vẫn chẳng nhận ra.

    Theo nhiều ý kiến cho là tình yêu là ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ dại dồng của những tâm hồn yêu nhau. Có lẽ bởi thế, phải chăng lý lẽ là thế, lập luận đến đâu, những vấn đề trong tình yêu vẫn sẽ là nỗi trăn trở, day dứt, sầu muộn, như những tình khúc dang dở, hay chia phôi.

    Sau đây là trích đoạn của 2 nhà văn Kiều My và Khánh Lan, góp ý nghĩ cho Văn Học Mới.

    Vào năm 1931 thuở cổ xưa ấy, khi bài tình ca Besame Mucho ra đời, ngay lập tức nó đã trở thành một quả bom, tán dương nụ hôn tưởng tượng lãng mạn dắm say, người thiếu nữ như van xin người tình khi thầm van nài ”hãy hôn em thật nhiều”. Giai điệu bolero cùng với những lời ca nồng cháy cứ len lỏi, chầm chậm nhưng thấm sâu vào tâm gan người nghe, làm nên một nỗi buồn man mác. Đấy là tình yêu là ngôn ngữ của trái tim, và rồi một bài tình ca van nài tình yêu khác của chàng ca sĩ Michel Polnareff, (nhạc Frank Gérald), lời của bài Love Me Please Love Me như sau:

    Nhạc phẩm “Love Me, Please Love Me” (Tác giả: Michel Polnareff, Frank Gérald)

    Love me, please love me
    Je suis fou de vous
    Pourquoi vous moquez-vous chaque jour
    De mon pauvre amour ?

    Love me, please love me
    Je suis fou de vous
    Vraiment prenez-vous tant de plaisir
    A me voir souffrir.

    Si j’en crois votre silence
    Vos yeux pleins d’ennui
    Nul espoir n’est permis
    Pourtant je veux jouer ma chance
    Même si, même si…
    Je devais why brûler ma vie.

    Love me, please love me
    Je suis fou de vous
    Mais vous moquerez-vous toujours
    De mon pauvre amour ?

    Devant tant d’indifférence
    Parfois j’ai envie
    De me fondre dans la nuit
    Au matin, je reprends confiance
    Je me dis, je me dis…
    Tout pourrait changer aujourd’hui.

    Love me, please love me
    Je suis fou de vous
    Pourtant votre lointaine froideur
    Déchire mon coeur.

    Love me, please love me
    Je suis fou de vous
    Mais vous moquerez-vous toujours
    De mes larmes d’amour ?

    Bài trích dẫn của Khánh Lan về Ca Nhạc Sĩ Lê Toàn viết lời việt.

    Theo Trần Chí Phúc / SBTN, CNS Lê Toàn với 40 năm cống hiến cho nền âm nhạc hài ngoải và với ngón đàn ghi ta ông đã nghe những đĩa nhạc ngọai quốc để tập, để đàn hát lúc còn trẻ và với năng khiếu trời cho ông có đôi tai thính về âm nhạc. Ông kể rằng khi đi xem một cuốn phim, nghe nhạc nền và ông có thể guitar và đàn theo giống gần hết. Chính vì thế, ông là đã giúp ban nhạc của ông mang đến cho khán giả Việt Nam một trào lưu ca nhạc quốc tế.

    Lê Toàn học trường Tabert Sài Gòn nên rất giỏi về tiếng Pháp, bài hát đầu tiên ông tự đàn guitar với Et Pourtant làm cho bạn bè kinh ngạc và tán thưởng trong buổi lễ phát thưởng cuối năm tại trường. Năm đệ tam, ông gia nhập một ban nhạc của trường chơi đàn Organ và đi trình diễn tại các trường trung học khác ở Sài Gòn. Năm 1971, Lê Trí trưởng ban nhạc The Family Love chính thức mời Lê Toàn gia nhập ban nhạc và giữ phần đệm guitar cùng với Minh Hải (ghi ta solo), Lê Trí (Organ), Tường Vân (Trống), Tường Nga (Bass), ca sĩ là Tami Lê và Christian Lê; chơi nhạc cho các câu lạc bộ Mỹ tại Sài Gòn. Từ lúc này Lê Tòan bắt đầu hát những bản tiếng Anh ngoài những bản nhạc Pháp. Năm 1974 ban nhạc Family Love chính thức chơi cho một vũ trường tại Sài Gòn. Lê Tòan cùng bằng hữu chơi cho những đám cưới tại các nhà hàng ở Sài Gòn sau khi trinh diễn tại một buổi hội chợ, ông đã hát bản Oh Darling ( Beatles) và được mọi người tán thưởng nhiệt liệt.

    Biến cố tháng 4 năm 1975, ban nhạc Family Love di tản sang Hawaii và tiếp tục chơi nhạc mỗi đêm cho một vũ trường do người Nam Hàn làm chủ suốt 5 năm. Ban nhạc lúc này gồm Lê Trí, Lê Tòan, Lê Thanh, Christian Lê, Quốc Hùng (bass) và Hùng Thuận (trống). Trong năm 1977-1978, ban nhạc Family Love lưu diễn các tiểu bang miền Trung Tây Hoa Kỳ gồm North Dakota, Chicago, Minesota, Ohio..trong một năm. Sau nhiều năm trình diễn quanh khói thuốc, thức đêm, Lê Tòan mắc bệnh suyễn và ông phải nghỉ ca hát trong vòng 3 năm, ông chuyển về sống tại Quận Cam năm 1980. Ở đây ông tham gia vào ban nhạc Dreamer và chính ca sĩ Duy Quang đã hướng dẫn ông hát nhạc Việt Nam và ông bắt đầu sáng tác nhiều ca khúc Việt Nam.

    Ông cũng đã thực hiện cuốn băng nhạc cassette với tiếng hát của Lê Tòan và Thái Hiền. Cuốn băng cassette Tình Vàng phát hành năm 1980 với một số sáng tác của Lê Tòan như Tình Vàng (Thái Hiền ca), Đường Tìm Tình Yêu, Chờ Trăng, Tiếng Ai Kêu, Cho Tâm Hồn Mộng Mơ… và được đón nhận nồng nhiệt.

    Năm 1981, ban nhạc Family Love dọn về San Jose và Lê Tòan trở lại sum họp với các anh chị em trong ban nhạc. Ban nhạc Family Love tái lập và trình diễn ở Bắc Cali và các tiểu bang khác. Năm 1984, tại San Jose Convention Center, Family Love tổ chức một buổi ca nhạc thành công với mấy ngàn khán giả tham dự. Lúc này Lê Tòan là solo guitar và hát.

    Năm 1985, vũ trường Lido khai trương trên đường số 2 trung tâm thành phố San Jose và ban Family Love đóng đô tại đây trong 5 năm, là nơi giải trí nghe nhạc và khiêu vũ của đồng hương San Jose đặc biệt trong sinh họat ca nhạc hải ngọai. Năm 1988, hai anh em Lê Trí và Lê Tòan có phòng thu âm riêng, thu băng cho một số ca nhạc sĩ như cuốn Mười Năm Tình Cũ (Trần Quảng Nam), cuốn tiếng hát Tuấn Anh, cuốn tíếng hát Diễm Châu…. Họ thực hiện những cuốn băng Cassette, mặt A có nhạc đệm và tiếng hát; mặt B chỉ tòan nhạc đệm để khán giả có thể hát theo; gọi là U Sing Along. Họ cũng ký hợp đồng với trung tâm Hải Âu để làm nhạc đệm cho cuốn nhiều cuốn Cassette U Sing Along. Phong trào hát U Sing Along sau một thời gian thì chuyển sang phong trào Karaoke.

    Năm 1990, ban Family Love ngưng cộng tác vũ trường Lido và họ chuyển sang thực hiện nhạc đệm cho các đĩa Laser Disc do công ty Bruce Đòan sản xuất, sự cộng tác kéo dài trong vòng 5 năm. Cần nói thêm rằng Bruce Đòan là công ty đầu tiên thực hiện Laser Disc cho đồng hương Việt Nam hát Karaoke và với phần nhạc đệm của hai anh em Lê Trí và Lê Tòan, rất thành công vào thời điểm 1990 – 1995. Năm 1995 Family Love tự sản xuất đĩa Laser Disc Karaoke nhưng không thành công trong việc phát hảnh. Cũng năm 1995, sinh họat ca nhạc của Lê Tòan rực sáng với sự xuất hiện lần đầu trên băng hình Thúy Nga, ra mắt cuốn băng nhạc Si Mê Tình Em tại hai miền Nam Bắc Cali rất thành công. Lúc ở San Jose, từ 1992 đên1997, Lê Tòan được mời làm MC cho các chương trình văn nghệ thi Hoa hậu Bắc Cali hàng năm. Cuối năm 1997, Lê Tòan từ giã San Jose và dọn xuống Quận Cam. Hiện nay anh có công việc kỹ sư điện tóan ở hãng và cuối tuần tham gia sinh họat ca nhạc. Từ năm 1997 cho đến nay, Lê Tòan vẫn lưu diễn ở một số tiểu bang vừa hát vừa làm MC, anh hát nhạc ngọai quốc và nhạc Việt Nam.

    Những cuốn Cassette gồm Tình Vàng 1980, Nhạc Trẻ Hiện Đại 1982, Mơ Ước Người Yêu 1983, Hey với 12 bài nhạc Pháp (Julio Iglesias hát) do Lê Tòan viết lời Việt, cuốn Ngày Ấy Nay Còn Đâu với các tiếng hát Family Love.

    Lê Toàn đã sáng tác khỏang 50 bản có Bên Bóng Dừa, Tình Vàng…. Nhiều chương trình như Lê Tòan 30 Năm Âm Nhạc, Lê Tòan 40 Năm Âm Nhạc và Lê Tòan 60 Tuổi đã được tổ chức tại Quận Cam. Anh cũng phát hành CD Tình Mơ năm 2013. Tháng 9 năm 2013 Lê Tòan và Vân Quỳnh thực hiện đêm nhạc thính phòng tại quán Lạc Cầm với chủ đề nhạc ngọai quốc rất thành công.

    Hiện nay Lê Toàn vẫn sáng tác , vẫn thu âm với một máy điện tóan cầm tay Laptop và Keyboard những bài hát cho riêng mình. Tuy đã lớn tuổi, nhưng ca nhạc sĩ Lê Tòan vẫn còn giữ nét sinh động của một nghệ sĩ với nhiều năm đàn hát trong dòng ca nhạc của cộng đồng người Việt Nam hải ngọai. Và niềm đam mê nghệ thuật trong anh vẫn còn nồng nàn.

    Ca nhạc sĩ Lê Toàn.

    Nhạc phẩm “Love Me, Please Love Me” (Lời Việt: Lê Toàn)

    Love me, please love me
    Lòng cuồng say với em
    Cớ sao mà em cứ trêu ghẹo tình tôi
    Cho trái tim này héo mòn

    Love me, please love me
    Lòng cuồng say với em
    Hỡi em, một khi biết tôi mang niềm cay đắng
    Em có thấy lòng sướng vui?

    Tuy tôi chưa nghe em trao duyên
    Nhưng bao lần trong mắt em
    Vẫn lóe lên nỗi u hoài
    Cho nên đôi khi tôi mong sao
    Dẫu mai sau đời tôi dở dang
    Mong cho được sánh đôi bên em

    Love me, please love me
    Lòng cuồng say với em
    Cớ sao mà em mãi trêu ghẹo tình tôi
    Cho trái tim này héo mòn…

    Không mong chi nơi tin yêu
    Tôi âm thầm trong bóng đêm
    Cứ ấp ôm một mối si tình
    Nhưng hôm sau con tim như vui hơn
    Vẫn yên tâm rằng khi nắng lên
    May ra đời đổi thay… hôm nay

    Love me, please love me
    Lòng cuồng say với em
    Cớ sao mà em vẫn như là băng giá
    để trái tim này nát tan

    Love me, please love me
    Lòng cuồng say với em
    Hỡi em, nhìn tôi đắng cay mong tình yêu tới
    Em cớ sao đành sướng vui

    Lòng cuồng say yêu ẹm. Cớ sao mà em cứ dang dở tình tôi. Cho trái tim này héo mò. Love me, please love me. Lòng cuồng say yêu em. Hỡi em, một khi biết tôi mang niềm cay đắng. Em có thấy lòng mình yên vui? Và tình yêu là ngôn ngữ dại dồng của những tâm hồn yêu nhau. Có lẽ bởi thế, phải chăng lý lẽ yêu yên vui, yêu trong sầu bi, tình lụy như bài tình ca sau đây:

    Mr. Lonely thuộc đề mục đau đầu vì tình yêu trắc trở, lời ca van lơn, xót xa tê tái cõi lòng. Mr. Lonely, hay “Người Cô Đơn” là một ca khúc đồng sáng tác và thu âm bởi . Bài hát ra đời trong năm 1962, nó vang dội được vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong tháng Mười cùng năm. Khi ca sĩ Bobby Vinton cho ra dĩa nhạc Greatest Hits của mình vào mùa thu năm 1964, bài nhạc leo thang tột đỉnh là hạng Top # 1 trên bảng xếp hạng Billboard trong tháng mười hai năm 1964. Hãy nghe người đàn ông cô đơn lạc hướng, tình si dương phương khổ lụy như thế nào nhé:

    Hỡi cô đơn…

    Tôi vốn mãi cô đơn,

    Tôi không còn ai cả,

    Nỗi niềm riêng tôi

    Tôi là người cô đơn

    Tôi không còn ai cả,

    Nỗi niềm riêng tôi.

    Này, bài hát này đã đi vào những đêm cô đơn của người cô dơn. Tuyệt tình làm làm saoo, khi người con gái ấy đã ra đi,..

    Việt Hải ghi nhận sau đây:

    Những tình khúc do yếu tố cô dơn, lẽ loi trong tình trường như trên. Tôi cũng xin dẫn nhập vào chủ dề nhạc sĩ Dỗ Lễ và những tình khúc do ông sáng tác. Trong chủ dề Tưởng Nhớ Nhạc Sĩ Đỗ Lễ, theo bài viết “Nhạc sĩ Đỗ Lễ và 3 ca khúc thất tình nổi tiếng: Sang Ngang, Chia Ly và Tình Phụ“, xin trích doạn như dưới đây:

    “Bài hát Sang Ngang ra đời vào năm tác giả được 24 tuổi thì công chúng mới biết đến tên của ông. Trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975, hầu như ai cũng biết mối tình si mà Đỗ Lễ dành cho ca sĩ Lệ Thanh vào khoảng đầu thập niên 1960. Khi đó Lệ Thanh đã là một trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất của phòng trà Sài Gòn, còn Đỗ Lễ chỉ là một anh sinh viên đa tình, đêm nào cũng đến trồng cây si ở các phòng trà Anh Vũ tới Bồng Lai, Hòa Bình… hoặc bất kỳ nơi nào có Lệ Thanh trình diễn. Đỗ Lễ rất yêu tiếng hát của Lệ Thanh, là một ca sĩ được nhận xét là chỉ có sắc vóc trung bình nhưng sở hữu giọng ca nồng nàn với những nốt vuốt độc đáo mà cho tới bây giờ chưa có người thay thế.

    Người ca sĩ trình diễn trên sân khấu, ánh mắt nhìn bâng quơ xuống hàng ghế khán giả, không chủ ý nhìn ai, nhưng nhạc sĩ Đỗ Lễ luôn tin rằng nàng ca sĩ đang nhìn mình, hát cho mình nghe, rồi ôm lòng tương tư. Rồi đến một ngày Lệ Thanh giã từ ca hát để đi lấy chồng, bỏ lại tất cả hào quang sân khấu và sự tiếc nuối của khán giả, và người hụt hẫng nhất chính là Đỗ Lễ. Dù chỉ là mối tình đơn phương, nhưng ông đã tưởng tượng rằng hai người đã yêu nhau thắm thiết, rồi người con gái ngoảnh mặt để sang ngang, để rồi sáng tác nên ca khúc gắn liền với sự nghiệp của ông với tựa đề là Sang Ngang: “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi… Mai bước sang ngang, lòng thêm nát tan, tình đã dở dang… Thôi khóc làm gì, đã lỡ duyên thề, thương nhau làm chi. Nỗi buồn ai hay, khi mình chia tay. Xa cách nhau rồi…”.

    Click để nghe Thái Thanh hát Sang Ngang trước 1975 Nữ danh ca Thanh Lan nhận xét về ca khúc này như sau: “Đỗ Lễ đã đến với khán thính giả yêu nhạc bằng đôi hia bảy dặm, chỉ cần đặt bút viết xuống đôi lời thủ thỉ “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi…”, anh đã trọn vẹn nắm được con tim của tất cả những ai đã từng nếm được hạnh phúc cũng như đau thương của tình yêu đích thực”.

    Ngay sau đó, nhạc sĩ Đỗ Lễ còn sáng tác một ca khúc khác, có nội dung gần giống với Sang Ngang, đó là Chia Ly, cũng với tâm trạng của một người phải tiễn người yêu sang ngang: “Mai lên xe hoa em sầu trong áo cưới Em lên xe hoa còn thương nhớ một người Ai gieo đau thương đếm từng đêm ướt gối Em đã đi rồi, em đã quên người tình xưa” Tuy nhiên, do một sự nhầm lẫn nào đó mà thời gian sau này, bài hát bị ghi nhầm tên thành Chuyện Buồn Tình Yêu…

    Khi Nữ ca sĩ Lệ Thanh theo chồng và mai danh ẩn tích, hoàn toàn không trở lại với ánh đèn sân khấu lần nào nữa, và mối tình đơn phương của nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng dần nguôi ngoai theo thời gian. Đỗ Lễ lập gia đình với ca sĩ ít tên tuổi là Hoài Xuân, được xem là người đầu tiên hát ca khúc Sang Ngang. Tuy nhiên cuộc hôn nhân đó chỉ kéo dài 6 năm thì kết thúc. Đó là thời gian mà nhạc sĩ Đỗ Lễ bị lâm vào nỗi buồn đau một lần nữa vì tình yêu, nên đã sáng tác bài Tình Phụ: Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi… Click để nghe Lệ Thu hát Tình Phụ trước 1975 Nhạc sĩ Đỗ Lễ còn sáng tác rất nhiều ca khúc khác nữa, được ông đưa vào trong 4 băng nhạc tuyển Đỗ Lễ, tuy nhiên 3 bài nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của ông là Sang Ngang, Chia Ly và Tình Phụ, đều là những bài nhạc thất tình nổi tiếng nhất của nhạc vàng. Ba bài hát này rất buồn, và nỗi buồn đó như là đã vẫn vào cuộc đời của người sáng tác, bởi vì nhạc sĩ Đỗ Lễ đã vĩnh viễn ra đi vào năm 1997 ở tuổi 56, khi ông đã tự kết liễu đời mình vì những nỗi buồn riêng không thể giải tỏa được.

    Người tình ở bên cạnh Đỗ Lễ những năm cuối đời là Vương Thị Lam Phương đã nhận xét về ông như sau: “Đỗ Lễ là một người rất ủy mị, con người anh ấy cũng rất yếu đuối, cứ gặp chuyện gì buồn là trở nên suy sụp, rất chán nản và không còn thiết hoạt động gì nữa, theo tôi nghĩ đó chính là điều đưa đến cái ᴄhếƭ của anh ấy!”.”

    Nguồn: Nhạc vàng Bolero.

    Sau dây là trích đoạn của nhà văn Kiều My, và chi tiết như sau:

    Đỗ Lễ, người nhạc sĩ tài ba, đã kết liễu cuộc đời vì chữ “tình”! Người nhạc sĩ bạc mệnh này được giới yêu nhạc biết đến qua những bản tình sầu thảm như: Sang Ngang, Tình phụ, Chia Ly v.v…Những lời ca đau thương, ray rứt đã chiếm trọn trái tim của những ai từng trải qua đau khổ thất vọng trong tình yêu. Nhạc của Đỗ Lễ cưu mang một tình yêu tuyệt vọng, chứa đựng sự đau thương, âm thầm lặng lẽ… trong những tình khúc reo hờn từ trái tim rướm máu. Vì thất tình ca sĩ Lệ Thanh, ông quá đau khổ đã trải lòng mình qua ca khúc SANG NGANG:

    “Thôi nín đi em lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi!

    Em hỡi đôi mình, mộng nay đã tan, tình đã dở dang

    Em khóc những chiều, anh xót xa nhiều, thương cho tình yêu…

    Lời bài hát “Sang Ngang” mang nỗi niềm của tác giả quá nặng tình, lưu luyến, sắt son và thủy chung với mối tình tuyệt vọng. Ông đã say trong nỗi đau với men rượu và sáng tác ca khúc TÌNH PHỤ:

    Chuyện tình mười mấy năm qua

    Nay bỗng xót xa mỗi khi sầu dâng

    Còn đâu ngày quen biết nhau

    Đã yêu em rồi, yêu cả một đời…

    Còn nỗi đau nào hơn trong cảnh “CHIA LY” với người mình yêu thương? Còn lời chua xót nào hơn bằng những giọt nước mắt chia xa?

    Nói đi em câu chuyện buồn tình yêu

    Nói đi em vì mình thương quá nhiều

    Khóc làm chi cho hoen úa rèm mi…

    Nhạc sĩ Đỗ Lễ đã từ giả cõi đời đầy đau khổ trong tình trường của ông. Nhờ thế, mà ông đã để lại cho đời “sự nghiệp âm nhạc Đỗ Lễ” bằng những tình khúc buồn…thật buồn!

    oOo

    Trong bài viết “Phận đời sầu thương của nhạc sĩ Đỗ Lễ” của tác giả Anh Nhi, chi tiết dược trích đoạn như sau:

    “Nhạc sĩ Đỗ Lễ tên thật là Đỗ Hữu Lễ, ông sinh ngày 12/10/1941 tại Hà Nội. Từ nhỏ, ông đã là một người thông minh, có nhiều tài năng, được gia đình đầu tư cho học ở các ngôi trường nổi tiếng. Ông từng học tại Trường Hàng Vôi, sau đó là Trường Chu Văn An vào những năm trung học. Đến khi gia đình chuyển vào Sài Gòn (TP HCM) sinh sống, ông lại tiếp tục theo học những ngôi trường danh tiếng lúc bấy giờ là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (1953 – 1954), Đại học Khoa học Sài Gòn (1959), Đại học Luật Khoa Sài Gòn (1963).

    Không những có nền tảng học vấn tốt, nhạc sĩ Đỗ Lễ còn có tài năng sáng tác âm nhạc từ bé. Từ năm 10 tuổi, ông đã tự học nhạc, đến năm 15 tuổi bắt đầu sáng tác những ca khúc đầu tiên. Tuy nhiên, trong giai đoạn thiếu thời, ông không gây được tiếng vang bằng tài năng âm nhạc của mình. Phải đến lúc ngoài hai mươi tuổi, trải qua mối tình day dứt với nữ ca sĩ Lệ Thanh, ông mới có những sáng tác để đời là chùm ba ca khúc “Sang ngang”, “Chia ly” và “Tình phụ”.

    Câu chuyện tình của Đỗ Lễ với Lệ Thanh bắt đầu khoảng những năm 50 của thế kỷ trước. Lúc bấy giờ, Lệ Thanh đã là một ca sĩ có tiếng. Bà nổi bật nhờ vẻ đẹp nhẹ nhàng, trong trẻo, giọng ca dịu dàng, ấm áp. Các nhà văn thời đó ca tụng bà giống như một nữ sinh e ấp, ngọt ngào trong những bộ váy, áo dài màu thiên thanh, màu trắng, xám bạc,… khiến biết bao người đàn ông say mê trồng “cây si”. Nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng như vậy, ông yêu tha thiết nàng kiều nữ Sài Gòn.

    Nữ danh ca Thanh Lan từng viết về nhạc sĩ Đỗ Lễ và ca khúc “Sang ngang” như sau: “Anh đến với khán thính giả yêu nhạc bằng đôi hia bảy dặm, chỉ cần đặt bút viết xuống đôi lời thủ thỉ “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi…”, anh đã trọn vẹn nắm được con tim của tất cả những ai đã từng nếm được hạnh phúc cũng như đau thương của tình yêu đích thực”…

    Lâm Tường Dũ viết: “Khoảng cuối năm 1964, ở tại một phòng trà nhỏ nằm gần đường Đinh Tiên Hoàng, Dakao, Tân Định có cái tên rất là Nhựt Bổn Kontiki. Nhạc khúc “Sang ngang” được một ca sĩ hạng B tên Hoài Xuân trình bày. Cô ca sĩ khoảng 17, 18 tuổi rất xinh, rất đẹp có đôi mắt buồn não nuột. Nàng cất giọng ca thê lương băng giá cả màn đêm. Bản nhạc này được giới thưởng ngoạn buổi đó khen ngợi nhiệt tình…”.

    Theo nhiều người kể lại, lần đầu chứng kiến ca sĩ Hoài Xuân hát ca khúc “Sang ngang”, Đỗ Lễ ngồi ở dưới không rời mắt khỏi vẻ đẹp u buồn, thoáng nét sầu mơ của cô. Từ đó về sau, dù cô đi diễn ở bất cứ phòng trà nào, ông cũng tham gia ngồi nghe. Đỗ Lễ ân cần đưa đón nữ ca sĩ trẻ về nhà, trở thành một điểm tựa cho cô. Tuy nhiên, một số người thân thiết với Đỗ Lễ cho rằng, ông tìm thấy những nét tương đồng của Hoài Xuân với Lệ Thanh khi cô trình diễn trong các phòng trà.

    Vì vậy, cuộc hôn nhân của Đỗ Lễ và nữ ca sĩ Hoài Xuân diễn ra rất ngắn ngủi, hai người chóng vánh kết hôn, nhanh chóng ly hôn sau 6 năm chung sống. Cặp đôi có với nhau ba người con. Khi chia tay, đời tư của họ không còn được nhắc đến nhiều nữa. Thời gian đau khổ này ông sáng tác bài “Tình phụ”. Bài hát cũng đã được tuyển chọn vào vòng chung kết những nhạc phim hay tại Đại hội Điện ảnh Á châu tổ chức tại Tokyo vào đầu thập niên 1970 và cũng là bài hát trong phim “Sóng tình” với diễn viên chính là Thẩm Thúy Hằng.

    Lời ca vận vào số phận

    Đỗ Lễ được mệnh danh là “cha đẻ của những bản tình ca dang dở”, nhạc của ông mang cái lặng lẽ, âm thầm, sự đau thương trong tình khúc reo hờn trầm buồn đi thẳng vào cuộc đời. Từ muôn trùng, mỗi lần nghe tiếng nhạc trỗi vang là mỗi lần cảm thấy lòng bùi ngùi, se sắt lại, tình bâng khuâng với dòng nước, hồn lơ lửng theo mây gió. Trong những phút tuyệt vời ấy, người ta lại thầm nghĩ tới người nghệ sĩ đã soạn thành những tình khúc dang dở của tình yêu, hình dung đến cái đẹp hào hoa, tao nhã của con người nhiều lãng mạn và mộng mơ, để lòng thổn thức với thế nhân. Và có lẽ lời ca đã “tiên đoán” trước số phận buồn của Đỗ Lễ.

    Chia Ly (Chuyện Buồn Tình Yêu)

    (Tác giả: Đỗ Lễ).

    Nói đi em câu chuyện buồn tình yêu

    Nói đi em vì mình thương quá nhiều

    Khóc làm chi cho hoen úa rèm mi

    Cho héo úa xuân thì

    Nhớ thương nhau rồi đi

    Nói đi em khi chuyện mình dở dang

    Nói đi em vì tình duyên lỡ làng

    Khóc làm chi cho chua xót tình yêu

    Cho cay đắng thêm nhiều

    Yêu chẳng được bao nhiêu

    Mai lên xe hoa em sầu trong áo cưới

    Mai lên xe hoa còn thương nhớ một người

    Ai gieo đau thương đếm từng đêm tiếc nuối

    Em đã đi rồi, em đã quên người tình rồi

    Nói đi em, cho vơi niềm thương đau

    Nói đi em, để lòng nguôi nỗi sầu

    Khóc làm chi, cho đau đớn người đi

    Cho héo úa xuân thì, ta âm thầm chia ly”.

    Về đường học vấn, ông học tiểu học ở trường Hàng Vôi, đến năm 11 tuổi được học trung học ở ngôi trường danh tiếng Chu Văn An (thường được gọi là trường Bưởi). Năm 1953, ông theo gia đình di cư vào Sài Gòn và từng theo học các trường Mỹ Thuật ở Sài Gòn và Gia Đình. Năm 1959, ông vào Đại học Khoa học Sài Gòn, sau đó học tiếp trường Đại học Luật khoa Sài Gòn vào năm 1963. Năm 1965, ông từng giành được huy chương vàng trong một cuộc thi Lực sĩ đẹp. Có thể nhận thấy nhạc sĩ Đỗ Lễ là một trí thức được đào tạo chính quy ở các trường học tiếng tăm nhất ở cả Hà Nội lần Sài Gòn. Ngoài ra, ông vốn có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ, từ năm 10 tuổi đã tự học nhạc, sau đó tập sáng tác năm 15 tuổi, với những bài hát đầu tay là Tình Mẹ Hiền, Tan Vỡ…, tuy nhiên phải đến năm 24 tuổi thì nhạc sĩ Đỗ Lễ mới được công chúng biết đến rộng rãi với ca khúc Sang Ngang, sáng tác cho mối tình đơn phương của tác giả với nữ danh ca Lệ Thanh.

    “Sang ngang”

    Thôi nín đi em!

    Lệ đẫm vai rồi

    Buồn thương nhớ ơi!

    Anh hỡi đôi mình

    Mộng nay đã tan

    Tình đã dở dang

    Em khóc những chiều

    Anh xót xa nhiều

    Thương cho tình yêu

    Nỗi buồn chua cay

    Khi lòng đổi thay

    Thôi hết sum vầy

    Điệp khúc:

    Nếu biết răng…tình là giây oan

    Nếu biết rằng… hợp rồi sẽ tan

    Nếu biết răng.. yêu là đau khổ

    Thà dương gian…đừng có chúng mình

    Lau mắt đi em

    Gần hết đêm rồi

    Buồn thêm nữa sao

    Mai bước sang ngang

    Lòng thêm nát tan

    Tình đã dở dang

    Thôi khóc làm gì

    Đã lỡ duyên thề

    Thương nhau làm chi?

    Nỗi buồn ai hay

    Khi mình chia tay

    Xa cách nhau rồi”

    Đỗ Lễ cha đẻ của những bài ca dang dở…như: Ai từng yêu nhạc mà không âm thầm nghĩ đến Đỗ Lễ, cái lặng lẽ âm thầm ấy… là sự đau thương trong tình khúc reo hờn trầm buồn đi thẳng vào cuộc đời. Từ muôn trùng, mỗi lần nghe tiếng nhạc trỗi vang là mỗi lần cảm thấy lòng bùi ngùi se sắt lại, tình bâng khuâng với giòng nước, hồn lơ lửng theo mây gió. Trong những phút tuyệt vời ấy, người ta lại thầm nghĩ tới người nghệ sĩ đã soạn thành những tình khúc dang dở của tình yêu, hình dung đến cái đẹp hào hoa tao nhã của con người nhiều lãng mạn và mộng mơ, để lòng thổn thức với thế nhân.

    Những hình ảnh đẹp rực rỡ huy hoàng của chàng nhạc sĩ Đỗ Lễ là người mang đầy những thơ mộng dày đặc những đau thương và sầu khổ đã phủ kín đời anh. Đỗ Lễ ra đời năm 1941 tại Hà nội, Trời đã phú cho Đỗ Lễ từ thuở nhỏ, năm 14 tuổi đã sáng tác, đến năm 18 tuổi nổi tiếng nhạc phẩm đầu tiên Tan Vỡ & Sang Ngang, tiếng nhạc trở nên réo rắt và tâm hồn trở nên tha thiết trong mối tình đầu dang dở ấy… Những tiếng nhạc buồn như mời mọc, van xin và sự sầu khổ man mác tạo thành những ca khúc tuyệt vời là tiếng lòng thổn thức của Đỗ Lễ. Tôi yêu nét nhạc đậm đà của Đỗ Lễ và Đỗ Lễ tiếp tục hát, nghe em!

    Tan Vỡ (Tác giả : Đỗ Lễ).

    “Bao nguồn vui đã mất, lòng chết theo ngàn tiếng ca

    Nghe niềm đau day dứt hoa lá nức nở xót xa

    Ôi làn da thơm hương trinh dâng lên tuyệt vời

    Ôi bờ môi thắm thơ ngây in trong nụ cười

    Khi tình yeu đã đến lòng đắm say ngàn ước mơ

    Ôi mộng tình đôi lứa êm ái như ngàn ý thơ

    Khi tình tan vỡ tan theo mơ uớc mot đời

    Trong niềm băng giá con tim thổn thức không nguôi

    Em ơi, nếu biet thế thà đừng quen nhau

    Đừng mơ phút ban đầu cho tình ta thêm lâu

    Em ơi, nếu biết thế thà dừng yêu nhau

    Đừng yêu phút ban đầu cho tình ta thêm sầu

    Phấn son chưa nhạt môi hồng

    Xa xôi em còn nhớ không

    Một chiều mưa bay giăng giăng

    Anh gửi màu hoa tím

    Như màu máu con tim đang tàn lửa hương duyên

    Một mai mang xuống tuyền đài

    Bóng hình em muôn kiếp không pha”

    Ôn về tiểu sử…

    Nhạc sĩ Đỗ Lễ tên thật là Đỗ Hữu Lễ, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1941 tại Hà Nội. Ông từng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (1953), Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định (1954), Đại học Khoa Học Sài Gòn (1959), Đại học Luật Khoa Sài Gòn (1963). Năm 1951, Đỗ Lễ tự học nhạc và bắt đầu sáng tác khi 15 tuổi. Bài Sang Ngang được ông viết trong tình cảnh tuyệt vọng khi người ông yêu (ca sĩ Lệ Thanh.) lên xe hoa. Sau đó ông kết hôn với nữ ca sĩ Hoài Xuân (người đầu tiên trình bày bài Sang Ngang), tuy nhiên cuộc tình này chỉ kéo dài 6 năm khi có với nhau 3 mặt con. Thời gian đau khổ này ông sáng tác bài Tình Phụ. Nhạc phẩm này cũng đã được tuyển chọn vào vòng chung kết những nhạc phim hay tại Đại hội Điện ảnh Á Châu tổ chức tại Tokyo vào đầu thập niên 70 và cũng là nhạc phẩm chính trong phim Sóng Tình với diễn viên chính là Thẩm Thúy Hằng. Nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng từng phụ trách một chương trình ca nhạc hàng tuần trên Đài Truyền hình Sài Gòn mang tên là Thời Trang Nhạc Tuyển. Chương trình này quy tụ các ca sĩ như Hoàng Oanh, Khánh Ly, Thanh Lan, Phương Hồng Hạnh, Ngọc Minh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan, Caroll Kim, Hoài Xuân, Xuân Đào, tam ca Sao Băng, 3 Con Mèo, 3 Trái Táo…

    Sau năm 1975, nhạc sĩ Đỗ Lễ sinh sống bằng cách mở lớp dạy nhạc, đến năm 1994 thì được thân nhân bảo lãnh qua Mỹ định cư tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Tháng 10 năm 1996, ông trở về thăm quê hương và đến ngày 24 tháng 3 năm 1997 thì đột ngột kết liễu đời mình bằng một liều Quinine cực mạnh trong căn nhà đang thuê trên đường Trần Đình Xu, Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông để lại 2 lá thư tuyệt mệnh, một cho vợ và một cho một người bạn thân.

    Theo bà Vương Thị Lam Phương thì Đỗ Lễ rất chán nản với cuộc sống tại Hoa Kỳ và ông “là một người rất ủy mị, con người anh ấy cũng rất yếu đuối, cứ gặp chuyện gì buồn là trở nên rất suy sụp, trở nên rất chán nản và không còn thiết hoạt động gì…theo tôi nghĩ đó chính là điều đưa đến cái chết của anh ấy…”

    Về tác phẩm, ông sáng tác khoảng 700 bài.Điển hình như các bài ca sau:

    Anh không muốn em buồn

    Bốn mùa yêu nhau

    Cay đắng

    Chia ly

    Khóc

    Lệ sầu

    Lụy tình

    Ly tan

    Niềm thương

    Nỗi niềm

    Nuối tiếc

    Oan trái

    Theo bài viết “Chuyện cuối đời về Nhạc Sĩ Đỗ Lễ” của tac giả Xuân Hòa xin trích doạn như sau:

    “Có lần ngồi hàn thuyên tâm sự. Tôi có chút thắc mắc về ”Chuyện tình Sang Ngang” của Anh . Có một chút ngại ngần nào đó.

    – Anh biết Xuân Hòa muốn hỏi gì rồi ! Đây không phải là chuyện tình “đơn phương” như người đời bạn bè đồn thổi đâu – Anh trả lời.

    Thôi thì cứ tin như vậy để cuộc đời thêm vui Ca sĩ Lệ thanh cũng ” Yêu ” anh, nhưng vì Anh nghèo quá và Lệ Thanh gia đình danh giá, vì nghe lời gia đình nên phải bỏ anh để lấy chồng. Đó là lý luận của chàng Nhạc sĩ si tình. Với mối tình đớn đau này chàng nhạc sĩ họ Đổ đã biện minh cho mối tình đơn phương này nhạc phẩm Sang Ngang:

    Thôi nín đi em! Lệ đẫm vai rồi Buồn thương nhớ ơi! Anh hỡi đôi mình Mộng nay đã tan Tình đã dở dang. Em khóc những chiều Anh xót xa nhiều Thương cho tình yêu Nỗi buồn chua cay Khi lòng đổi thay Thôi hết sum vầy.

    Tôi và mấy cô em thỉnh thoảng vẫn đến để xem anh làm việc, Người Nhạc sỉ hiền lành đến tội nghiệp. Anh quên hết sự đời khi trên tay có cây đàn Guitar. Đây là niềm an ủi vô tận của nhạc sĩ Đổ Lễ. Và Cô ca sĩ hát bài hát Sang Ngang hay nhất ( theo nhận xét của tác giả ):Ca sĩ Hoài Xuân đã trở thành người vợ của chàng nhạc sĩ lãng đãng, đa tình .

    Định mệnh một một lần nửa lại đùa cợt với chàng Nhạc Sĩ hiền lành đến ngơ ngác trong tình trường. Qua thời gian hạnh phúc với ba người con. Hoài Xuân cũng ôm cầm sang thuyền khác Và Người Nhạc Sĩ này lại một lần nửa chấp nhận với những đắng cay mà Định mệnh đã dành cho Anh. Không một lời oán trách Nhạc phẩm tình phụ đã xuất hiện trong thời điểm này không một lời trách móc oán hận:

    Chuyện tình mười mấy năm qua nay bỗng xót xa những khi sầu dâng. Còn đâu ngày quen biết nhau đã yêu em rồi, yêu cả cuộc đời. Khi em đã phụ lòng anh, nỡ phụ lòng anh, đau thương để lại xót xa vô vàn. Chỉ là bội ước những lời hẹn thề mà lòng tái tê.

    Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi. Thôi nhé em! người nào phụ tình! Lòng buồn một mình, ray rứt không thôi Khi phụ lòng, thì ngờ tình người Mang theo thương đau khi giã từ nhau! Chuyện mình tàn với năm qua mang thêm xót xa mỗi khi lệ rơi.

    Sầu dâng ngày tháng đớn đau trách ai phụ mình, trách ai bạc tình. Cho em vẫn phụ lòng anh, vẫn phụ lòng anh Cho anh vạn sầu đắng cay tình đầu. Còn lại màu trắng xóa mờ cuộc tình đời còn dở dang. Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mà thôi. Thôi nhé em! người nào phụ tình! Lòng buồn một mình, ray rứt khi phụ lòng Thì ngờ tình người mang theo thương đau khi giã từ nhau!”

    Tình Phụ

    (Tác giả: Đỗ Lễ).

    Chuyện tình mười mấy năm qua nay bỗng xót xa những khi sầu dâng.

    Còn đâu ngày quen biết nhau đã yêu em rồi, yêu cả cuộc đời.

    Khi em đã phụ lòng anh, nỡ phụ lòng anh,

    đau thương để lại xót xa vô vàn.

    Chỉ là bội ước những lời hẹn thề mà lòng tái tê.

    Điệp khúc:

    Thôi nhé em còn hận tình này,

    Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi

    Đem chôn vùi vào ngày thật buồn

    cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi.

    Thôi nhé em! người nào phụ tình!

    Lòng buồn một mình, ray rứt không thôi

    Khi phụ lòng, thì ngờ tình người

    Mang theo thương đau khi giã từ nhau!

    Chuyện mình tàn với năm qua mang thêm xót xa mỗi khi lệ rơi.

    Sầu dâng ngày tháng đớn đau trách ai phụ mình, trách ai bạc tình.

    Cho em vẫn phụ lòng anh, vẫn phụ lòng anh

    Cho anh vạn sầu đắng cay tình đầu.

    Còn lại màu trắng xóa mờ cuộc tình đời còn dở dang.

    Thôi nhé em còn hận tình này,

    Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi

    Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mà thôi.

    Thôi nhé em! người nào phụ tình!

    Lòng buồn một mình, ray rứt khi phụ lòng

    Thì ngờ tình người mang theo thương đau khi giã từ nhau!”.

    ***

    Phần kết luận tôi xin đem thơ Nguyễn Bính, một nhà thơ lãng mạn trong thi ca, như trong âm nhạc có nhạc sĩ Đỗ Lễ vậy. Nguyễn Bính sáng tác thơ tương tu, thất tình trong bài “Vì em”, nhà thơ bảo rằng vì em mà ông làm thơ, để rồi nhớ mong, để rồi mơ được ôm em vào lòng, và để rồi hôn em bằng sự thơ ngây trong tâm hồn:

    “Tôi xin ôm lấy vào lòng

    Tôi xin giữ lấy trọn vòng thời gian

    Tôi xin sung sướng vô vàn

    Để ca ngợi, để mơ màng em luôn

    Tôi xin dành một chiếc hôn

    Đặt lên tất cả tâm hồn thơ ngây”

    Cũng là “Vì Em” mà nhà thơ muốn kính cẩn “tôn thờ EM” sống mãi bên bờ sông yêu đương. Và bù lại chàng chỉ cần nàng ban cho nụ cười hay những lời ngọt ngào ái ân:

    “Tôi xin kính cẩn vọng thờ

    Thắp hương cầu nguyện bên bờ sông yêu

    Nhưng đau lòng biết bao nhiêu !

    Người tôi yêu chỉ biết yêu như người

    Chỉ cho tôi những nụ cười

    Chỉ cho được những lời ái ân…”

    Xin cảm ơn tạp chí Văn Học Mới và nhà thơ Hà Nguyên Du khi cho tôi góp bài Tưởng Nhớ NS. Đỗ Lễ là đây.  Hoàng Nam (VHLA)

    Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My. (20/05/2024).

  • Âm nhạc,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa & Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds)

    Tên tuổi Lê Văn Khoa, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, nhiếp ảnh gia, giáo sư… đã được đề cập rất nhiều trước năm 1975 ở trong nước và những thập niên ở hải ngoại.

    Chiều Thứ Bảy 13/11/2013, Hội Hiếu Nhạc và Tổng Hội Sinh Việt Nam đứng ra tổ chức “Lê Văn Khoa – Một Đời Âm Nhạc (A Lifetime of Music)” tại hí viện La Mirada Theatre mừng sinh nhật ông ở tuổi tám mươi và tri ân nguời nhạc sĩ đã dành cả đời hơn nửa thế kỷ phục vụ cho nghệ thuật, cho âm nhạc.

    Trước và sau đó đã có những buổi vinh danh và trình diễn những tác phẩm âm nhạc của ông từ tân nhạc, cổ nhạc đến nhạc cổ điển Tây phương.

    Người con sinh ra trên mảnh đất Tây Đô, Cần Thơ bước vào tuổi chín mươi mốt, tuy sức khỏe yếu nhưng với âm nhạc như “liều thuốc bổ” nên từ Orange County bay sang thành phố Allen, tiểu bang Texas để tham dự buổi trình diễn Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds) với dàn đại hoà tấu Allen Philharmonic và ban hợp xướng Allen Symphony Chorus, vào tối ngày 6 tháng Tư 2024 tại khán thính đường của Allen High School Performing Art Center. Chương trình được chuẩn bị từ tháng Hai năm nay, có sự chấp thuận và ủng hộ của Chủ Tịch Kathy Litinas cùng ban quản trị The Allen Philharmonic tại thành phố Allen cùng các nhạc trưởng, giám đốc âm nhạc như Ryan Ross, Rusty King…. Giám đốc điều hành chương trình, Ian Bùi, Diễm Tú, nghệ sĩ Hải Yến và Chủ Tịch The Allen Philharmonic Kathy Litinas. Cô Diễm Tú viết và đọc các mẩu giới thiệu Anh-Việt cho từng bản nhạc.

    Theo các bản tin, bài viết ghi nhận được, tổng hợp chương trình nhạc giao hưởng với các ca nhạc sĩ Việt Nam và Mỹ. Theo nhà thơ Đinh Yên Thảo:

    Theo lời Ban Tổ Chức, “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là sự kết hợp Đông-Tây độc đáo, mang những thang âm mới mẻ, chưa từng được công diễn bất cứ nơi nào qua những tiếng đàn bầu, đàn kìm, đàn tranh, đàn T’rưng hoà quyện cùng dàn nhạc giao hưởng và ban hợp xướng Tây phương. Từ vọng cổ Cao Văn Lầu cho đến opera, từ nhạc sĩ Lê Văn Khoa cùng các nhạc sĩ qua nhiều thế hệ… Từ những tài danh Việt-Mỹ từng đoạt giải thưởng âm nhạc Grammy danh giá cho đến các nhà soạn nhạc trẻ tài năng gốc Việt đang tạo tiếng vang tại hải ngoại, chương trình là câu chuyện kể về chiến tranh và ước vọng hoà bình, về những mất mát trong hành trình tìm tự do.

    “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là cuộc hội ngộ văn hóa hiếm hoi tại Mỹ, không chỉ giới thiệu nhạc Việt và những tài năng trình diễn và sáng tác nhạc cổ điển gốc Việt đến các khán giả Mỹ mà còn mang đến cho khán giả Việt một hành trình âm nhạc Việt Nam, những hoài niệm về lễ hội trăng rằm, những ngày quê hương thanh bình ngày xưa, cùng niềm tự hào và hy vọng về một thế hệ trẻ gốc Việt đang bước vào lãnh vực nghệ thuật chưa mấy được phổ biến trong cộng đồng…

    Với gần 20 tiết mục, mỗi tiết mục đều mang một sắc thái và phong cách riêng biệt, đã mang lại sự bất ngờ, thú vị lẫn cảm kích cho khán giả hiện diện, trong đó có không ít khán giả đến từ các thành phố trong và ngoài Texas.

    Ca sĩ Teresa Mai, nghệ danh Sangeeta Kaur, người Mỹ gốc Việt “Nàng công chúa âm nhạc và khúc thanh âm” đầu tiên đoạt giải Grammy vào năm 2022 với dĩa ‘Mythologies’, hạng mục Best Classical Vocal Album. Teresa có bằng Cử Nhân môn Opera Performance từ California State University và bằng Cao Học (MS) môn Vocal Performance từ Nhạc Viện Berklee danh tiếng ở Boston. và ca sĩ Hila Plitmann gốc Do Thái đã hai lần được trao giải Grammy.

    Ba ca khúc trong trường ca Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương được ban hợp xướng Allen trình bày dưới sự phụ họa các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam là một tiết mục thật xuất sắc.

    Nhạc trưởng Jon Lê Culpepper cho biết, anh lớn lên và theo đuổi đam mê trong môi trường không có nhiều nhạc sĩ cổ điển người Việt thì chương trình “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” có lẽ đã mang lại cho anh và khán giả người Việt một cơ hội được gặp gỡ không chỉ nhạc sĩ Lê Văn Khoa mà cả những tài năng gốc Việt còn rất trẻ trong lãnh vực âm nhạc cổ điển này.

    Nhạc sĩ Patrick Vũ, đang theo học cao học âm nhạc nhưng tác phẩm của anh đã được các dàn hợp xướng Mỹ trình diễn nhiều nơi và đã được National Concerts mời sáng tác một bản hợp xướng sẽ được trình diễn tại Carnegie Hall tại New York, là một trong những trung tâm trình diễn âm nhạc cổ điển uy tín và danh giá nhất thế giới.

    Dylan Trần từ Lousiana, nhà soạn nhạc và từng được nhiều giải thưởng sáng tác và có tác phẩm được trình diễn ra ngoài nước Mỹ, như tại Úc, Anh, Pháp, Áo, Phần Lan… cựu sinh viên cao học về nhạc phim tại USC và là nhà soạn nhạc có những khách hàng như Sony, Samsung…, các tác phẩm của anh từng xuất hiện trong các liên hoan phim như Sundance, Hollyshorts… Nhạc sĩ Duy Trần cũng là nhà sản xuất chương trình “Dòng Chuyển Của Âm Thanh”, người đã bỏ rất nhiều công sức để phân lại các tác phẩm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa cho từng nhạc cụ trong dàn giao hưởng, phối hợp cùng nhóm kỹ sư âm thanh và cùng với cô Diễm Tú làm MC với khán giả Việt-Mỹ.

    Jon Lê Culpepper là người sáng lập ca đoàn Dallas Chamber Choir và hiện là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị. Dưới sự điều khiển của Jon, DCC đã đoạt giải American Prize in Choral Performance – Professional Division năm 2019-2020. DCC từng trình diễn với Fort Worth Symphony, nhạc sĩ Hans Zimmer (2 Oscars, 4 Grammys) và Ramin Djawadi (“Game of Thrones”). Năm 2021 Jon được tặng American Prize của giải Dale Warland Award cho bộ môn Choral Conducting, hạng mục Professional Division. Jon sẽ điều khiển một ban hợp xướng học sinh chọn lọc từ ca đoàn của Allen High School.

    Chương trình kết thúc với nhạc phẩm “Việt Nam, Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Duy do nhạc sĩ Lê Văn Khoa hòa âm. Dàn hợp xướng Allen Symphony Chorus của Dallas, Texas đã kỳ công quyết định hát Việt Nam, Việt Nam bằng tiếng Việt cho bằng được, cho dù đã có lời đề nghị giảm khó khăn, chỉ hát với bản Anh ngữ của dịch giả Ian Bùi. Thời gian luyện tập phát âm, đã buộc các thành viên dàn hợp xướng làm việc gấp ba để có thể trọn vẹn trình diễn, và tạo những tràng pháo tay, và cả những giọt nước mắt của các khán giả Việt.

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã chia sẻ, điều ông vui nhất là chúng ta đã đưa nhạc Việt âm vang, hoà vào với nhạc giao hưởng Tây Phương và khán giả Việt lần đầu được nghe ban hợp ca Mỹ trình bày một số ca khúc Việt quen thuộc. Ông cũng nói thêm rằng, các nhạc sĩ Mỹ trong chương trình đều bày tỏ sự thích thú và cảm ơn ông đã biên soạn những tấu khúc Việt Nam mà lần đầu tiên họ trình diễn.

    Nghệ sĩ Hải Yến, người trình diễn nhiều tiết mục nhạc cụ dân tộc phối hợp với dàn nhạc giao hưởng, các thành viên ca đoàn ở Dallas nói “Tự nhiên chúng tôi có cảm giác rất thân thuộc với người Việt Nam, với văn hóa Việt Nam”.

    Ca sĩ Phạm Hà (họ Nguyễn) là một giọng ca Baritone khá quen thuộc trong những chương trình nhạc thính phòng tại Nam Cali từ năm 1999 đến nay. Anh thường xuyên xuất hiện cùng ban hợp xướng Ngàn Khơi hoặc trình diễn solo những ca khúc operatic cổ điển bằng tiếng Anh, Pháp, Ý… Khi hay tin có “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” anh tình nguyện tham gia, ví von với điều kiện “Chỉ cần bù cho mình tiền lương 3 ngày nghỉ việc!”.

    Đặc biệt Nguyễn Đức Đạt, khiếm thị từ nhỏ, sang Mỹ năm 1991 và được học bổng Âm Nhạc tại đại học Cal State Fullerton. Nguyễn Đức Đạt từng thắng nhiều giải Guitar như Disney Creative Challenge Award, National Panasonic Young Solo Artist Competition.

    Với nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa, không thể nào quên Symphony 1975 và ngôn ngữ âm nhạc phi biên giới của nó vang vọng ở mọi nơi và được cảm thấu về nỗi đau của một quốc gia đã bị bôi xóa. Năm 2005, khi biểu diễn tại Úc với ban đại hòa tấu và hợp xướng Royal Melbourne Philharmonic, khán phòng phải chứa đến 2,000 khách. Khi chấm dứt Symphony 1975, khán giả đứng lên vỗ tay không ngớt trong gần năm phút, khiến nhạc trưởng Andrew Wailes phải ra hiệu cho dàn nhạc chơi lại phần chót Ca Ngợi Tự Do để đáp ứng thịnh tình khán giả.

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa trong những thập niên qua, ngoài đất nước nầy, đã từng “đem chuông đi dấm xứ người” với nhiều quốc gia trên thé giới, đặc biệt với Ukraine, đã mang lại tiếng vang, đem lại niềm hãnh diện tài hoa nhạc sĩ Việt Nam lưu vong.

    Hy vọng, tuy tuổi hạc đã cao nhưng với tấm lòng nhiệt huyết và uy tín, hy vọng sẽ có những buổi Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds) được quy tụ ca nhạc sĩ Việt-Mỹ trong nay mai để được thưởng thức.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, April 12, 2024