-
Lễ Mừng Kính Á Thánh Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp
Kiều My

Trong niềm hân hoan và tạ ơn Thiên Chúa, ngày 25 tháng bảy năm 2026, tại giáo xứ Bonaventure, Huntington Beach, California, đã cử hành thánh lễ đồng tế trang trọng để tri ân Thiên Chúa vì Ngài ban cho Giáo hội hoàn vũ, cách riêng cho Giáo hội Việt Nam có được Á Thánh Phanxicô Trương Bửu Diệp sau bao năm dài mong đợi hồng ân lớn lao này của giáo dân Việt Nam, từ Tòa Thánh Vatican.
Thánh lễ được cử hành trọng thể do bảy vị linh mục cùng đồng tế trong phẩm phục màu đỏ, để nói lên cuộc tử đạo, sự đổ máu của người hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên là Á Thánh Phanxicô Trương Bửu Diệp. Với sự tham dự đông đảo của tín hữu từ các họ đạo trong giáo phận Orange County, tôn giáo bạn, các đoàn thể, giới truyền thông và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian v.v…Tất cả cùng hiệp dâng thánh lễ với tấm lòng thành kính hướng lên Thiên Chúa và tân Chân phước Phanxi cô Xavier Trương Bửu Diệp.
Ca đoàn Gloria ngân vang lên những bài Thánh ca đã tạo nên bầu không khí trong nhà thờ thật thánh thiêng, cùng những tiếng râm rang những lời kinh của giáo dân rất sốt sắng. Mọi người thật nức lòng đón mừng một vị thánh của giáo hội Việt Nam mà bấy lâu hằng mong đợi với liên lỉ cầu nguyện cùng Thiên Chúa.
Cha Trương Bửu Diệp là vị tử đạo đầu tiên thế kỷ XX được phong Á Thánh. Ngài là vị linh mục thánh thiện đáng kính đã can đảm làm chứng cho đức tin vào Chúa Kitô, hy sinh mạng sống cứu những giáo dân vô tội khỏi bị sát hại. Cuộc đời và cái chết của ngài đã làm cho ánh sáng đức tin tiếp tục tỏa sáng giữa lòng dân Chúa. Ngài là chứng nhân đức tin đã sống trọn vẹn lời mời gọi của Chúa Kitô: “Người mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”.
Khi sinh thời, cha Diệp không chỉ chăm lo đời sống thiêng liêng mà còn quan tâm đến nhu cầu vật chất của giáo dân. Những người nghèo khó tìm đến ngài đề được trợ giúp; những người đau khổ tìm đến ngài đề được an ủi; những người bất hòa tìm đến ngài để được hòa giải. Điều đáng trân trọng là tình yêu mục tử của ngài không giới hạn nơi các tín hữu Công giáo, mà ngài đón nhận hết tất cả những người tôn giáo khác bằng tấm lòng bác ái rộng mở. Vì trong tầm nhìn đức tin của ngài – tất cả đều là con Thiên Chúa.
Thánh lễ mừng kính Á Thánh Phanxicô Trương Bửu Diệp hôm nay đưa chúng ta về với giáo huấn của Chúa Ki tô về các “mối phúc thật”:
“Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì nước trời là của họ. Phúc thay khi anh em vì thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”
Á Thánh Trương Bửu Diệp đã mời gọi chúng ta đáp lại tiếng gọi ấy: hãy chọn Chúa và nương tựa vào Người mỗi ngày trong cuộc sống. Hãy can đảm làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình.
VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH TẮC SẬY
Nét đẹp nhất trong cuộc đời cha Diệp chính là tình yêu của ngài dành cho đoàn chiên và những người chung quanh. Tình yêu này được thể hiện qua hai từ đơn sơ: Phục vụ và Hy sinh.

“Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết, cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”
PHỤC VỤ: ngài thấu hiểu nổi đau của tha nhân. Ngài phục vụ người nghèo khổ không mệt mỏi với lòng bác ái và khiêm hạ.
HY SINH: chấp nhận gian khổ để phục vụ tha nhân và cuối cùng là hy sinh mạng sống mình để bảo vệ đoàn chiên thoát chết trong cuộc bách hại. Trong giai đoạn dầu sôi lửa bổng của lịch sử miền Nam, Việt Nam (1945 – 1946), nhiều người khuyên ngài rời khỏi Tắc Sậy để bảo toàn tính mạng, nhưng ngài kiên quyết từ chối:
“Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết, cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”
Đây không đơn thuần là lời nói suông mà thi hành sứ mệnh của một mục tử trung thành với ơn gọi; “Không tình yêu nào cao quy hơn là hy sinh mạng sống cho người mình yêu.” Cha Diệp đã noi gương theo thầy chí thánh Giêsu! Đêm rạng sáng ngày 13 tháng 3 năm 1946, giữa hoàn cảnh biến loạn, cha Diệp đã bị sát hại dã man (chặt đầu và ném xác xuống ao). Theo lưu truyền: Cha Diệp từ chối hợp tác với Việt Minh và sẵn sàng chịu chết để nhiều giáo dân được tha mạng sống.
Cha Diệp đã vĩnh viễn ra đi! Nhưng sao đến hôm nay và có lẽ mãi mãi, người Việt vẫn yêu mến cha Diệp với lòng cậy trông. Vì nơi cha Diệp, người ta gặp được một người cha vừa đáng kính vừa gần gũi; một mục tử nhân lành đã sống chết vì đoàn chiên. Và hơn thế nữa, theo niềm xác tín của biết bao người, cha Diệp vẫn tiếp tục cầu bàu cùng Thiên Chúa và chuyển ơn cho những ai thành tâm chạy đến cha qua nhiều phép lạ chữa lành mà giới y khoa không thể giải thích, cùng nhiều trường hợp đặc biệt khác.
Soeur M. An Dũng Tuyết Ngân đã ghi lại bài thánh thi Giờ Kinh Sáng dưới đây:
Đây linh mục, những con người thánh hiến
Suốt cuộc đời làm chủ tế trung kiên
Đem tình thương người mục tử nhân hiền
Dâng trọn vẹn cho đoàn chiên chẳng tiếc
Hồng ân Chúa, những hồng ân đặc biệt
Lãnh nhận rồi, phân phát cả cho dân
Thắt đai lưng như đầy tớ chuyên cần
Chờ đợi chủ, tay cầm đèn sáng rực
Không mỏi mệt nhưng kiên trì tỉnh thức
Suốt đêm trường hay mãi tới canh khuya
Miễn làm sao kịp khi chủ trở về
Mở ngay cửa nghênh đón Người vội vã
Đọc những câu thánh thi ấy, người ta dễ dàng nhìn thấy hình ảnh cha Diệp hiện lên qua từng dòng chữ: một linh mục hiền lành thánh thiện sống giữa giáo dân và cuối cùng hiến cả mạng sống mình cho đoàn chiên. Chính từ chứng tích ấy đã phát sinh ra biết bao hoa trái. Hàng ngàn bảng ghi “Tạ ơn cha Diệp”, cùng vô số lời chứng về những người được chữa lành bệnh tật, vượt qua tai nạn hiểm nguy, hay tìm lại bình an trong cuộc sống… Có một điều không thể phủ nhận là suốt mấy thập kỷ qua, dòng người hành hương vẫn không ngừng tìm đến cha Diệp, không những người Công giáo mà cả lương dân; không chỉ người trong nước mà cả những người Việt xa xứ cũng tìm về với cha.
Giữa vùng đất miền Nam, Việt Nam chân chất và mộc mạc ấy, cha Diệp đã trở thành một hình ảnh rất đặc biệt trong đời sống tâm linh của nhiều người. Bởi tận đáy lòng, người ta cảm phục vị mục tử nhân lành đã sống theo giáo huấn của Chúa Kitô – sống vì đoàn chiên và cũng đã chết vì đoàn chiên.

Nhà thờ Tắc Sậy, Bạc Liêu, cũng là nơi an nghỉ của Cha Trương Bửu Diệp
Kết thúc thánh lễ, ca đoàn Gloria đã hát lên thánh ca Latin “Anima Christi” thật tuyệt vời giữa không khí thánh thiêng! Và khi ra về có lẽ mọi người mang trong tim những lời nguyện cầu chân thành hòa lẫn tiếng hát thiên thần của buổi lễ mừng Á thánh Phanxi cô Trương Bửu Diệp hôm nay. Một khoảnh khắc thật khó quên!

Ca đoàn Gloria
Người viết chân thành cảm tạ quy linh mục, đặc biệt cha R.J. Trương Hữu Nhân, cha chánh xứ nhà thờ Bonaventure Phạm Ngọc Hùng, ông Nguyễn văn Liêm và ban tổ chức, ca đoàn Gloria, cùng tất cả quy vị đã góp công sức cho buổi lễ thành công tốt đẹp hầu dâng lên Thiên Chúa.

Sau thánh lễ, quan khách cùng tham dự buổi tiệc thân mật tại nhà hàng White Palace với thức ăn rất ngon; đồng thời được thưởng thức những bản thánh ca qua giọng hát thật điêu luyện của ca đoàn Gloria làm say mê lòng người. Sau cùng:“Thân lạy Chân Phước Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp, xin cho chúng con luôn vững vàng trong niềm tin, nồng nàn trong lòng mến Chúa và quảng đại quên mình để phục vụ tha nhân.”

Kiều My, California 2026
-
HỒI KÝ

Kiều My
Vào buổi chiều nắng ấm ngày 9 tháng Bảy năm 2026, một sự kiện đáng ghi nhớ về Hồi Ký CHA MÃI BÊN ĐỜI do nhà văn Phương Hiền sáng tác hân hạnh ra mắt cùng quý độc giả miền Nam California. Đây là một tác phẩm mang đậm nét văn hóa Việt và đầy tình người, do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức thật trang trọng.

Tác giả Phương Hiền
Khánh phòng tràn ngập tiếng cười và tiếng nói rộn rã như một ngày hội. Mọi người hân hoan đón nhận một tác phẩm mang nỗi niềm chan chứa yêu thương của tình phụ tử vượt lên trên mọi giới hạn của thời gian, mà nữ văn sĩ Phương Hiền từ nửa vòng trái đất mang đến cho độc giả như món quà tinh thần quý giá.

CHÚC MỪNG NV PHƯƠNG HIỀN RA TÁC PHẨM

Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa
Những thành phần tham dự buổi ra mắt sách gồm: quý vị trưởng thượng, giáo sư, văn nhân thi sĩ, bác sĩ, kiến trúc sư, họa sĩ, ca sĩ, nhiếp ảnh gia, những thân hữu v.v…Cùng 2 liên nhóm: Nhân Văn Nghệ & Tiếng Thời Gian, Văn Chương Việt & Tiếng Dàn Xưa và đặc biệt có sự hiện diện của vị Linh mục Nguyễn Đức Thắng và anh chị em từ Việt Nam sang…đã tạo nên không khí thật ấm áp cho sự kiện bảo tồn văn hóa Việt tại hải ngoại.
Khai mạc chương trình bằng những lời chào mừng nồng nhiệt đến quan khách qua các MC: Phạm Gia Đại, Trần Mạnh Chi, Huỳnh Út, Thụy Lan và Tường Vy.

Mc: Phạm Gia Đại, Trần Mạnh Chi, Huỳnh Út, Thụy Lan, Tường Vy
Kế tiếp là phần trình bày cảm nghĩ về hồi ký Cha Mãi Bên Đời của những nhà văn: Trần Việt Hải trưởng nhóm NVNT & TTG, Phương Hiền, Khánh Lan và Kiều My được trình bày ngắn gọn và thật xúc tích về tác phẩm này.

Kiều My, Khánh Lan, Dương Viết Đang, Việt Hải, Phương Hiền, Trần Mạnh Chi

Nv.Nguyễn Quang, Nv.Trần Việt Hải, Thi sĩ Minh Đức, KQ.Dương Viết Đang
Tiếp theo là phần phát biểu của 3 diễn giả:
Nhà báo Phạm Quốc Bảo: Rất cảm động khi đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời. Tác giả viết lại cuộc đời của chính mình, nhưng luôn nhắc đến người cha lúc sinh thời cũng như khi quá cố. Qua đó, hồi ký này cũng đã để lại chứng tích của dân tộc Việt suốt 20 năm chinh chiến mà chính người cha của tác giả đã góp phần hy sinh bảo vệ cho nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam

Nhà báo Vương Trùng Dương, Ô. Nguyễn Chính, Nv. Vi Khiêm, nhà báo Phạm Quốc Bảo
Nhà báo Vương Trùng Dương phát biểu: Nội dung cuốn hồi ký này chỉ tập trung vào lòng hiếu thảo và thương nhớ của tác giả đối với người cha đã ra đi; nhưng có một số người hiểu nhầm ý nghĩa chính tốt đẹp của nó. Ông đã phản bác thật mạnh mẽ điều sai trái này trên báo chí.
Nhà văn bình luận gia Phạm Gia Đại: nói về tác giả và sự hiếu đạo của người con là nhà văn Phương Hiền đối với thân phụ đã quá cố. Nhưng nỗi thương tiếc cha vẫn không nguôi trong lòng tác giả. Vinh danh tác giả đã trao tặng món quà tinh thần về tình phụ tử qua hồi ký “Cha Mãi Bên Đời”.

Anh Vũ Hòa (Phu quân của Cs. Ngọc Quỳnh, Anh Alian Đức, Chị Ngọc Châu, Cô Vĩnh (Phu nhân của Hs. Hoàng Vinh)

Khánh Lan, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, một vị Khách mời
Khán phòng trở nên bừng sáng với những khúc hát ca ngợi tình cha như: Ơn Cha, Papa v.v…cùng với những ca khúc vui tươi sống động như: Ô Mê Ly, Hải Ngoại Thương Ca, Mộng Chiều Xuân,Lâu Đài Tình Ái, Chín Mươi Năm Cuộc Đời, Nếu Có Yêu Tôi v.v …đã làm cho không khí tươi mát hơn.

Lệ Hoa, Khánh Lan, Thúy Giao, Minh Thư, Huy Anh
Kiều My xin ghi lại vài nét chính trong quyển hồi ký Cha Mãi Bên Đời.
Nhan đề CHA MÃI BÊN ĐỜI của quyển hồi ký, tự nó đã nói lên tất cả ý nghĩa về nội dung của quyển sách, đã gây một nỗi xúc cảm bồi hồi dù chưa một lần đọc qua. Tình thương và nỗi nhớ thương khôn nguôi người cha quá cố của tác giả Phương Hiền chính là chất xúc tác mạnh mẽ đã hình thành tác phẩm Cha Mãi Bên Đời này.
Tác giả đã đưa chúng ta trở về những năm tháng chiến tranh đầy biến động của Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, một cô bé lớn lên bên người cha quân nhân, theo chân cha qua nhiều vùng đất khác nhau, nơi đơn vị của cha đóng quân. Những ngày tháng gian khó ấy đã tạo nên một tình cảm gắn bó đặc biệt giữa cha và con.

Tưởng nhớ người cha quá cố Nguyễn Gia Tĩnh của tác giả Phương Hiền “Lý do tại sao sao những cô con gái thương cha họ nhất, vì ít nhất có một người đàn ông trên thế giới này khiến cô không bị tổn thương”
Người cha trong hồi ký hiện lên không phải như một anh hùng trên chiến trường, mà trước hết là một người cha tận tụy, yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Những bài học về nhân cách, lòng can đảm, sự hy sinh và trách nhiệm đã được truyền lại cho con không chỉ bằng lời nói mà bằng chính cuộc đời của ông.
“Tình yêu thương của cha chính là nguồn cảm hứng truyền cho con một sức mạnh vô biên để con có thể làm những điều con hằng mơ ước”
Khi người cha ra đi vì căn bệnh tim, nỗi mất mát ấy đã để lại khoảng trống không gì bù đắp được trong lòng người con gái…đó chính là tác giả Phương Hiền. Nhưng điều kỳ diệu là tình yêu thương không hề mất đi theo năm tháng. Trái lại, nó trở thành nguồn ký ức thiêng liêng, trở thành ngọn lửa âm thầm sưởi ấm cuộc đời người ở lại.

“Cha mất vì trái tim ngừng đập. Nhưng tình thương của cha thì chưa bao giờ ngừng sống.”
Một câu chăm ngôn rất hay tôn vinh người cha của vua Salomon:
“The righteous man walks in his integrity; his children are blessed after him”
Từng trang sách là từng giọt nước mắt nhớ thương, từng kỷ niệm được nâng niu như những báu vật của tâm hồn. Người đọc có thể bắt gặp trong đó hình ảnh của chính mình, của cha mình, hay của những người thân yêu đã từng hiện diện trong cuộc đời… nhưng nay chỉ còn trong ký ức.
Điều làm nên giá trị đặc biệt của Cha Mãi Bên Đời… chính là sự chân thật. Tác giả không tô vẽ hay cường điệu cảm xúc. Bằng giọng văn giản dị và chân thành, tác giả đã kể lại câu chuyện đời mình như một lời tâm sự, để từ đó… chạm đến trái tim của người đọc.

Nhà báo Phạm Quốc Bảo tặng hoa cho nhà văn Phương Hiền
Cha Mãi Bên Đời nhắc nhở chúng ta rằng: Cha mẹ có thể rời xa cõi đời này, nhưng tình yêu của cha mẹ sẽ sống mãi trong trái tim con cái. Những người thân yêu không thật sự mất đi… khi họ vẫn được nhớ đến bằng tình thương và lòng biết ơn.
Trong cuộc sống bận rộn hôm nay, đôi khi chúng ta quên nói lời yêu thương với cha mẹ, quên dành thời gian cho những người thân đang còn bên cạnh. Vì thế, Cha Mãi Bên Đời không chỉ là một cuốn hồi ký để đọc, mà còn là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về đạo hiếu và tình thân gia đình, vì:
“Family where life begins and love never ends” (unknown)
“Gia đình là nơi cuộc sống bắt đầu và là nơi tình yêu không bao giờ kết thúc”
Và cuốn hồi ký “Cha Mãi Bên Đời” mà chúng ta cùng tìm hiểu hôm nay chính là minh chứng đẹp đẽ cho điều ấy.
Khi gấp lại những trang cuối của cuốn hồi ký này, chúng ta nhận ra rằng tác giả không chỉ viết về người cha đã khuất, mà đang viết về tình yêu. Một tình yêu không bị thời gian làm phai nhạt. Một tình yêu không bị sự chết chia lìa.
Có lẽ đó cũng là ý nghĩa đẹp nhất của nhan đề “Cha Mãi Bên Đời“.
Bởi có những người tuy đã đi xa, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời chúng ta. Có những người cha đã rời xa nhân thế, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời con cái.
Chân thành cảm tạ tác giả đã trao tặng cho chúng ta món quà tinh thần quý giá này và mong rằng Hồi Ký Cha Mãi Bên Đời sẽ được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, để những thông điệp đẹp đẽ về tình phụ tử tiếp tục được lan tỏa.

Nv. Khánh Lan & Nv. Phương Hiền

Nv. Kiều My & Nv. Phương Hiền
Kiều My, California, July 12, 2026
-
Chùm nhạc Lê Nguyễn Nga
-
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM CHA MÃI BÊN ĐỜI CẢM CỦA NHÀ VĂN PHƯƠNG HIỀN

(Thân tặng tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền) “Stay with me forever and ever, Papa!”
Cha mãi bên đời, Thái Sơn cao cả
Giúp con mạnh mẽ vượt mọi phong ba
Tấm lòng hiếu thảo vầng trăng sáng ngà
VINH HỒ
Orlando, Mar. 19, 2026
1. ĐÔI DÒNG VỀ CỐ THIẾU TÁ NGUYỄN GIA TĨNH (1931-1985):

Người Cha trong tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!
hồi ký của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền.
Ông Nguyễn Gia Tĩnh, sinh ngày 8 tháng 5/1931, quê Hưng Yên, miền Bắc, là giáo viên, lập gia đình với Cô giáo Phạm Thị Phương Thảo cùng quê.
Khi Phương Hiền (PH) được 1 tuổi, Cha là Thầy giáo Nguyễn Gia Tĩnh nhập ngũ thụ huấn Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (1/10/1953-1/6/954) cùng khoá với Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo (hạng 18), Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, Chuẩn tướng Trương Hữu Đức… – Khoá 10 có danh hiệu là Trần Bình Trọng: Nguyễn Tấn Đạt thủ khoa. -Khóa 10 Trần Bình Trọng là khóa đông nhất của 10 khóa đầu tiên của Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
-Hiện trên mạng ở link: “Khóa 10 Flipbook – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam” có đăng danh sách 400 sĩ quan tốt nghiệp Khoá 10 Trần Bình Trọng vào ngày 1 tháng 6/1954 : Nguyễn Gia Tĩnh mang số thứ tự 359.
*TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA ĐÀ LẠT:
-Năm 1948, Chính phủ Quốc gia Việt Nam thành lập Trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế: có 2 khoá
-Năm 1950: dời về Đà Lạt đổi tên thành Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt: có 14 khoá.
-Năm 1959 Chính phủ Ngô Đình Diệm đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam cho tới 30/4/1975 : có 19 khoá
Tổng cộng: có 35 khoá: 33 khóa đã ra trường với 6.583 sĩ quan hiện dịch (2 khóa 30 và 31 chưa ra trường). Trong số đó có 61 tướng lãnh (tại Huế 19 vị, tại Đà Lạt 42 vị).
Năm 1954, Mẹ của Phượng Hiền đưa PH (mới 2 tuổi) từ Hưng Yên xuống Hải Phòng lên tàu há mồm di cư vào Nam, rồi lên Đà Lạt gặp chồng và cha, lúc ấy ông đang chuẩn bị Lễ tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Ông ra trường cấp bậc Thiếu uý, chọn binh chủng Biệt Động Quân khởi binh nghiệp tại Miền Tây, gia đình ở tại Sa Đéc.
Từ Lục Tỉnh đổi về Sài Gòn, gia đình ở tại Cư xá Sĩ quan Quang Trung, ông gởi PH vào học nội trú tại Trường Dòng Thánh Mẫu, đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn.
Ông rời SG, chuyển về Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang 1 năm, sau đó chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, gia đình ở tại thị trấn Ninh Hoà.
Năm 1966 ông có nhà gần cầu Dục Mỹ.
Năm 1969, ông chuyển lên Pleiku, trong lúc PH học Đệ Nhất C tại Trường Cường Để, Qui Nhơn.
Năm 1973, ông làm việc tại Liên doàn IV Biệt Động Quân ở Căn cứ Long Bình thuộc Quân khu III, KBC 3264.
Năm 1974, ông nhập viện Tổng Y Viện Cộng Hoà vì bệnh tim.
Tháng 3/1975, ông ra Hội đồng Miễn dịch Sài Gòn chứng nhận miễn dịch vĩnh viễn với cấp độ tàn phế 60%, xếp loại 3 phế binh.
Ngày 26/3/1975, Thiếu tá Nguyễn Gia Tĩnh, số quân 51/300 308 giải ngũ sau 22 năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân tính từ ngày 20/9/1953.
Ngày 8/5/1975 ông đi tù cải tạo trên 1 chuyến xe lửa bít bùng đến trại tù Yên Bái, chuyển trại nhiều lần, trại cuối là Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Ở nhà, gia đình đã biệt vô âm tín gần 5 năm. Trong tù bệnh tim tái phát, ông đã nhiều lần chết đi sống lại, ông ra tù đầu năm 1980.

Ông mất ngày 21 tháng Giêng năm 1985 tại Sài Gòn, hưởng dương 54 tuổi.
Thiển nghĩ, là nam nhi, ông đã đặt Tổ quốc, danh dự và trách nhiệm lên trên tình nhà, dù đã có nghề nghiệp vững chắc, đã có vợ đẹp con ngoan, ông vẫn mạnh mẽ lên đường… Ôi chao giây phút chia tay sao mà cảm động!
“Ai ra đi mà không từng bịn rịn
Xa người yêu mà dễ mấy ai vui
Em nhìn theo bằng nước mắt chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ
(Chuyện Giàn Thiên Lý – nhạc Anh Bằng)
Trong lúc người Cha đầy khí phách anh hùng, thì người Mẹ vẫn một lòng chung thuỷ không ngại gian khổ đã bồng con di cư vào Nam để sum họp cùng chồng nơi vạn dặm. Cao đẹp thay một cuộc tình thời chinh chiến còn ghi trong tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa! hồi ký của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền và dịch giả Phạm Văn Bân.
2. NGƯỜI CHA GƯƠNG MẪU VÀ CÔ CON GÁI HIẾU THẢO:
Cố Thiếu Tá Nguyễn Gia Tĩnh, xuất thân nhà giáo, tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, suốt 22 năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân. Sau 1975 ông đi tù cải tạo tại miền Bắc.
Theo tác phẩm Cha Mãi Bên Đới, ông là 1 người Cha gương mẫu, hết lòng yêu thương, chăm sóc, nuôi dạy con gái, có óc tân tiến và viễn kiến khi nghĩ đến tương lai của con, đã mời các bạn người Mỹ về nhà kèm con gái học tiếng Anh, nên thời gian ở nhà trường Trung học, Cô nữ sinh có thể giúp các Thầy Cô trong việc thông dịch khi có phái đoàn người Mỹ đến thăm trường.
Theo bài viết Yêu Thương Còn Mãi, cô PH năm 13 tuổi (Tuổi Mộng Mơ -nhạc Phạm Duy, Tuổi Mười Ba -thơ Nguyên Sa), PH học lớp Đệ Lục trường TH Trần Bình Trọng Ninh Hoà, được Cha chở vô Nha Trang mua sách vở, ngang qua chân đèo Rọ Tượng, xa xa là Vịnh Nha Phu nơi 2 dòng sông chảy vào, “tất cả sẽ hoà lẫn vào đại dương bao la”, nhìn biển cả, ông hỏi con gái:
-Con có thích biển, thích vượt trùng dương? Chăm học rồi lớn lên, Cha sẽ cho con đi Mỹ du học nhé!
-Vâng con muốn lắm!
Rồi cuộc đổi đời và biến cố thời cuộc đã không cho hai Cha con thực hiện được ước mơ đó. Thế nhưng Cô con gái đã không phụ lòng Cha:
1. Sau 1975 Cô PH nhiều lần du lịch đã đặt chân đến xứ sở Tự do mà Cha hằng mơ ước.
2. Năm 2015, Cô PH bắt đầu viết cuốn hồi ký Cha Mãi Bên Đời, năm 2017 xuất bản và Ra mắt sách tại CA, Hoa Kỳ, tôi có bay qua dự.
3. Năm 2025, Nhà văn Dịch giả Phạm Văn Bân ở CA đã bỏ ra 6 tháng giúp cô PH dịch cuốn sách Cha Mãi Bên Đời ra Anh ngữ: Stay With Me Forever And Ever, Papa! – Sách đã được:-Số kiểm soát của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ: 2025927934. Số đăng ký bản quyền Hoa Kỳ: 1-15064499201. Xuất bản và in tại Hoa Kỳ. Cô PH dự tính sẽ ra mắt sách tại CA và Florida, Hoa Kỳ.

VH cũng nghĩ như dịch giả Phạm Văn Bân, ba việc mà Cô PH đã làm là vì tình thương và ước mơ của Papa, chắc chắn Cha cô bên kia thế giới rất vui và thoả nguyện. VH xin chúc mừng cô con gái hiếu thảo Phương Hiền đã làm được 3 điều mà không phải ai cũng có thể làm được.
VINH HỒ, Orlando, Mar. 29, 2026
Tham khảo:
-Tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa! – hồi ký của tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền.
-Yêu Thương Còn Mãi, tháng 11/2025, bài viết của tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền. -Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt – Bách khoa toàn thư mở.
He is the father featured in the bilingual memoir *Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!* by author Nguyễn Thị Phương Hiền.
Mr. Nguyễn Gia Tĩnh was born on May 8, 1931, and hailed from Hưng Yên province in Northern Vietnam. He was a teacher by profession and married a fellow teacher from the same province, Ms. Phạm Thị Phương Thảo.
When Phương Hiền (PH) was one year old, her father—then a teacher—enlisted in the military and underwent training with Class 10 of the Da Lat Joint-Service Military Academy (October 1, 1953 – June 1, 1954). His classmates included Major General Lê Minh Đảo (ranked 18th), Brigadier General Vũ Văn Giai, Brigadier General Trần Văn Nhựt, and Brigadier General Trương Hữu Đức. Class 10 bore the honorary name “Trần Bình Trọng,” with Nguyễn Tấn Đạt graduating as valedictorian. The Trần Bình Trọng Class (Class 10) was the largest of the first ten classes at the National Military Academy of Da Lat.
– A list of the 400 officers who graduated from Class 10 (Trần Bình Trọng) on June 1, 1954, is currently available online at the link “Khóa 10 Flipbook – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam” (Class 10 Flipbook – National Military Academy of Vietnam); Nguyễn Gia Tĩnh is listed at number 359.
* THE NATIONAL MILITARY ACADEMY OF DA LAT:
– In 1948, the Government of the State of Vietnam established the Vietnam Officers’ School at Đập Đá, Huế; it produced two classes.
– In 1950, the school relocated to Da Lat and was renamed the Da Lat Joint-Service Military Academy; it produced fourteen classes. – In 1959, the Ngo Dinh Diem government renamed the institution the Republic of Vietnam National Military Academy; it operated until April 30, 1975, spanning 19 classes.
– In total, there were 35 classes; 33 classes graduated, producing 6,583 career officers (Classes 30 and 31 did not graduate). Among the graduates were 61 general officers (19 from the Hue era and 42 from the Da Lat era).
– In 1954, Phuong Hien’s mother brought her (then only two years old) from Hung Yen to Hai Phong, where they boarded a landing ship to migrate South. They then traveled to Da Lat to reunite with her father, who was preparing for the graduation ceremony of Class 10 at the Da Lat Joint Military Academy. He graduated with the rank of Second Lieutenant, chose the Ranger branch to begin his military career in the Mekong Delta (the “Six Provinces” region), and the family lived in Sa Dec.
– After transferring from the Mekong Delta to Saigon, the family lived at the Quang Trung Officers’ Housing Complex; he enrolled Phuong Hien as a boarder at the Thanh Mau Convent School on Le Van Duyet Street, Saigon.
– He left Saigon for a one-year assignment at the Dong De Non-Commissioned Officer School in Nha Trang, followed by a transfer to the Duc My Ranger Training Center, with the family residing in the town of Ninh Hoa.
– In 1966, he acquired a house near the Duc My Bridge.
– In 1969, he was transferred to Pleiku, while Phuong Hien was studying in the *Đệ Nhất C* class (final year of high school) at Cuong De School in Qui Nhon.
– In 1973, he served with the 4th Ranger Group at Long Binh Base in Military Region III (KBC 3264).
– In 1974, he was admitted to the Republic General Hospital due to a heart condition. In March 1975, he appeared before the Saigon Disability Board, which certified his permanent disability at a 60% level, classifying him as a Class 3 disabled veteran.
On March 26, 1975, Major Nguyen Gia Tinh (service number 51/300 308) was discharged after 22 years of service in the Ranger Corps, a tenure that had begun on September 20, 1953.
On May 8, 1975, he was sent to a re-education camp, traveling in a sealed train car to the Yen Bai facility; he was subsequently transferred multiple times, finally ending up at the Nam Ha camp in Ha Nam Ninh province. Back home, his family lost all contact with him for nearly five years. While imprisoned, his heart condition recurred, bringing him to the brink of death on several occasions; he was released in early 1980.
He passed away on the 21st day of the first lunar month in 1985 in Saigon, at the age of 54.
It is my humble view that, as a man, he placed his country, honor, and duty above his domestic life; despite having a secure career and a beautiful wife and well-mannered children, he resolutely set out to serve… How deeply moving that moment of parting must have been!
“Who leaves without a lingering pang of sorrow?
Few find joy in parting from a lover.
She gazes after me through tears of farewell;
I stride away, yet my soul weeps within.”
(From the song *Chuyện Giàn Thiên Lý* – Music by Anh Bằng)
While the father embodied a heroic spirit, the mother remained steadfastly devoted; undeterred by hardship, she carried her child south to reunite with her husband across the vast distance. How noble was this wartime romance—a story immortalized in the bilingual memoir *Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!* by author Nguyễn Thị Phương Hiền and translator Phạm Văn Bân.
2. AN EXEMPLARY FATHER AND A FILIAL DAUGHTER:
The late Major Nguyễn Gia Tĩnh began his career as a teacher before graduating from Class 10 of the Da Lat Joint General Military Academy; he served for 22 years in the Ranger Corps (*Biệt Động Quân*). After 1975, he was sent to a re-education camp in the North.
According to the memoir *Cha Mãi Bên Đời*, he was an exemplary father who loved, cared for, and raised his daughter wholeheartedly. Possessing a progressive and visionary mindset regarding her future, he invited American friends to their home to tutor her in English. Consequently, during her high school years, she was able to assist teachers with interpretation whenever American delegations visited the school.
According to the article *Yêu Thương Còn Mãi* (Love Endures), when PH was thirteen—an age of dreams and youthful reverie—she was a student in the *Đệ Lục* class (equivalent to 7th grade) at Trần Bình Trọng High School in Ninh Hòa. Her father was driving her to Nha Trang to buy school supplies; as they passed the foot of Ro Tuong Pass, looking out toward the distant Nha Phu Bay—where two rivers converge and “all merge into the vast ocean”—he gazed at the sea and asked his daughter:
“Do you love the sea? Do you like the idea of crossing…” …cross the ocean? If you study hard, when you grow up, Dad will send you to the U.S. to study!
-Yes, I’d love that!
Then, life-altering changes and the upheavals of the times prevented father and daughter from realizing that dream. Yet, the daughter did not let her father down.
1. QUELQUES MOTS SUR LE MAJOR NGUYEN GIA TINH (1931-1985) :
Le père dans les mémoires bilingues « Reste avec moi pour toujours, Papa ! » de l’auteure Nguyen Thi Phuong Hien.
Nu le 8 mai 1931 à Hung Yen, dans le nord du Vietnam, M. Nguyen Gia Tinh était un enseignant. Il avait épousé Mme Pham Thi Phuong Thao, elle aussi originaire de cette ville.
Lorsque Phuong Hien (PH) avait un an, son père, l’instituteur Nguyen Gia Tinh, s’engagea dans l’armée et intégra la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Dalat (1er octobre 1953 – 1er juin 1954), aux côtés du major-général Le Minh Dao (18e de sa promotion), du général de brigade Vu Van Giai, du général de brigade Tran Van Nhut et du général de brigade Truong Huu Duc. La 10e promotion était baptisée Tran Binh Trong ; Nguyen Tan Dat en fut le major. La promotion Tran Binh Trong était la plus importante des dix premières promotions de l’Académie militaire nationale de Dalat.
Actuellement, le lien en ligne « Class 10 Flipbook – Académie militaire nationale du Vietnam » recense 400 officiers diplômés de la promotion 10 Tran Binh Trong le 1er juin 1954 : Nguyen Gia Tinh y figure au numéro 359.
*ACADÉMIE MILITAIRE NATIONALE DE DA LAT :
En 1948, le gouvernement national vietnamien crée l’École d’officiers du Vietnam à Dap Da, Hué, avec deux promotions.
En 1950, elle est transférée à Da Lat et rebaptisée Académie militaire conjointe de Da Lat, avec 14 promotions.
En 1959, le gouvernement de Ngo Dinh Diem la renomme Académie militaire nationale du Vietnam, nom qu’elle conservera jusqu’au 30 avril 1975 ; elle compte alors 19 promotions.
Au total, 35 promotions ont été formées : 33 promotions ont diplômé 6 583 officiers en service actif (les promotions 30 et 31 n’ont pas encore obtenu leur diplôme). Parmi eux, 61 généraux (19 à Hué, 42 à Da Lat).
En 1954, la mère de Phuong Hien emmena sa fille (âgée de seulement 2 ans) de Hung Yen à Hai Phong, puis embarqua sur un navire à destination du Sud. Elle rejoignit ensuite son mari et son père à Da Lat, où ce dernier préparait la cérémonie de remise des diplômes de la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Da Lat. Il sortit diplômé avec le grade de sous-lieutenant, choisit les forces spéciales et commença sa carrière militaire dans l’Ouest. Sa famille s’installa à Sa Dec.
Après avoir quitté le delta du Mékong pour Saïgon, sa famille vécut dans le complexe de logements pour officiers de Quang Trung. Il envoya sa femme étudier au collège du couvent de la Sainte-Mère, rue Le Van Duyet, à Saïgon.
Il quitta ensuite Saïgon et fut muté à l’école de sous-officiers de Dong De à Nha Trang pendant un an, puis au centre d’entraînement des forces spéciales de Duc My, où sa famille résidait dans la ville de Ninh Hoa.
En 1966, il possédait une maison près du pont Duc My.
En 1969, il s’installa à Pleiku, tandis que son épouse poursuivait ses études en première année de primaire au collège Cuong De de Quy Nhon.
En 1973, il travaillait au IVe régiment des forces spéciales, à la base de Long Binh, dans la région militaire III (KBC 3264).
En 1974, il fut hospitalisé à l’hôpital général de la République pour une maladie cardiaque.
En mars 1975, le Conseil d’immunisation de Saïgon lui certifia une immunité permanente, assortie d’un taux d’invalidité de 60 %, le classant comme ancien combattant handicapé de catégorie 3.
Le 26 mars 1975, le major Nguyen Gia Tinh, matricule 51/300 308, fut démobilisé après 22 ans de service au sein des Forces spéciales, débuté le 20 septembre 1953.
Le 8 mai 1975, il fut transféré dans un camp de rééducation par train fermé à destination de la prison de Yen Bai, où il subit plusieurs transferts, son dernier lieu de détention étant le camp de Nam Ha, dans la province de Ha Nam Ninh. Sa famille fut sans nouvelles de lui pendant près de cinq ans. Durant son incarcération, son état cardiaque se détériora et il frôla la mort à plusieurs reprises. Il fut libéré début 1980.
Il décéda le 21 janvier 1985 à Saïgon, à l’âge de 54 ans.
À mon avis, en tant qu’homme, il plaçait son pays, son honneur et son sens des responsabilités au-dessus des liens familiaux. Malgré une carrière stable, une épouse magnifique et des enfants obéissants, il a courageusement entrepris son voyage… Quel moment d’adieu poignant !
Qui part sans éprouver un pincement au cœur ?
Il est difficile d’être heureux loin de l’être aimé.
Elle m’a regardé partir, les larmes aux yeux.
J’ai continué mon chemin, le cœur lourd.
(L’Histoire de la vigne de chèvrefeuille – musique d’Anh Bang)
Tandis que le père était animé d’un courage héroïque, la mère, imperturbable face à l’adversité, portait son enfant et a migré vers le sud pour retrouver son mari au loin. Quelle belle histoire d’amour en temps de guerre ! Elle est racontée dans l’ouvrage bilingue *Reste avec moi pour toujours, papa !*, un récit autobiographique de l’auteure Nguyen Thi Phuong Hien et du traducteur Pham Van Ban.
2. LE PÈRE EXEMPLAIRE ET SA FILLE FIDÈLE :
Le regretté major Nguyen Gia Tinh, ancien enseignant, est sorti diplômé de la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Dalat et a servi dans les forces spéciales pendant 22 ans. Après 1975, il a été emprisonné. dans un camp de rééducation du Nord.
Selon l’ouvrage *Reste avec moi pour toujours*, il était un père exemplaire, aimant et attentionné envers sa fille, et l’élevant avec dévouement. Il avait une vision progressiste et novatrice de son avenir. Il invitait des amis américains chez lui pour lui donner des cours d’anglais, ce qui lui permettait, au lycée, d’aider ses professeurs en traduisant lors des visites de délégations américaines.
Selon l’article « L’amour dure toujours », à l’âge de 13 ans (Dreamy Age – musique de Pham Duy, Thirteen Years Old – poème de Nguyen Sa), PH, élève de sixième au lycée Tran Binh Trong de Ninh Hoa, fut emmenée par son père à Nha Trang pour acheter des livres et des fournitures scolaires. Passant au pied du col de Ro Tuong, ils aperçurent au loin la baie de Nha Phu, où deux rivières se jettent dans l’océan. Contemplant la mer, il demanda à son… Fille :
« Aimes-tu la mer ? Aimes-tu traverser l’océan ? Travaille bien à l’école et, quand tu seras grande, je te laisserai partir étudier en Amérique ! »
« Oui, je veux bien ! »
Puis, les aléas de la vie et les vicissitudes de l’époque ont empêché le père et la fille de réaliser ce rêve. Mais la fille n’a pas déçu son père.

HỒI KÝ CHA MÃI BÊN ĐỜI.
Sau đây là hai bài đóng góp của tác giả điểm sách dược ghi nhận như sau:
• Bài của Nhà văn Lưu Khánh Lan
NHẬN XÉT VỀ VĂN CHƯƠNG VÀ ĐỜI SỐNG TRONG TÁC PHẨM CHA VẪN BÊN ĐỜI
CHA VẪN BÊN ĐỜI là những yếu tố khắng khít giữa tình mẫu tử, là vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là bản ngã con người. Có thể nói đây là tác phẩm bút ký ghi lại tình yêu thương thiêng liêng của con người trong cuộc sống. Tình yêu trong trường hợp của tác giả Phương Hiền là bà đã dùng đối tượng ghi nhận là người cha kính yêu mà bà nhớ về chặng đường đời được người cha dìu dắt, yêu thương, là hành trang quý báu để bà bước vào đời.
Cũng trong tác phẩm hồi ký (hồi ức) này, tác giả xóay cảm nghĩ của mình về những bước thăng trầm của quê hương, của đất nước lẫn sự nhạy cảm của bà đối với những biến chuyển phức tạp của đời sống xã hội trong giai đoạn chiến tranh, cũng như ý thức được hướng đi của mình trong tương lai.
Nội dung sách nêu lên những đổi thay của đất nước, những chao đảo trong cuộc sống với nhiều diễn biến xảy ra bất ngờ. Những nhân vật trong tác phẩm đã chi phối sự suy tư và nỗi trăn trở của tác giả khi nghĩ đến gia đình, bạn bè, trường học… Tác giả cũng tự vận động sức mạnh bản thân để giúp mình vươn lên trong cuộc sống và thành công trong đường đời. Khiến người đọc cảm nhận được một lối viết, một thể loại văn chương trung thực, chân phương qua tác phẩm hồi ký này.
Nghệ thuật văn chương hay mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cái nhìn về sự trường tồn qua thời gian và góc nhìn vào thực tại. Cái vĩnh cửu đang nhìn qua cái bất biến của sự thực. Tác giả Phương Hiền đã không nên nhìn sự kiện đời sống xảy ra một cách đơn giản, bà đã nhìn thấu rõ bản thể của vấn đề qua lăng kính rộng lớn, bà đã phân tích, đào sâu bản sắc cuộc sống, tư duy bản chất con người vào các chuỗi sự kiện sâu thẵm theo thời gian, lịch sử đã xảy ra.
Chúc mừng NV Phương Hiền ra tác phẩm,
Khánh Lan, California 2026.
—————————————————————————-
• Bài của Nhà văn Kiều My
Những cảm nghĩ về sách HỒI KÝ CHA MÃI BÊN ĐỜI
Kiều My xin được góp phần cảm nghĩ của mình cho quyển hồi ký Cha Mãi Bên Đời của nhà văn Phương Hiền.
Đây là một tác phẩm mang đậm tình người và chan chứa yêu thương của tình phụ tử vượt lên trên mọi giới hạn của thời gian.Tác giả đã đưa chúng ta trở về những năm tháng chiến tranh đầy biến động của Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, một cô bé lớn lên bên người cha quân nhân, theo chân cha qua nhiều vùng đất khác nhau, nơi đơn vị của cha đóng quân. Những ngày tháng gian khó ấy đã tạo nên một tình cảm gắn bó đặc biệt giữa cha và con.
Người cha trong hồi ký hiện lên không phải như một anh hùng trên chiến trường, mà trước hết là một người cha tận tụy, yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Những bài học về nhân cách, lòng can đảm, sự hy sinh và trách nhiệm đã được truyền lại cho con không chỉ bằng lời nói mà bằng chính cuộc đời của ông.
Khi người cha ra đi vì căn bệnh tim, nỗi mất mát ấy đã để lại khoảng trống không gì bù đắp được trong lòng người con gái…đó chính là tác giả Phương Hiền. Nhưng điều kỳ diệu là tình yêu thương không hề mất đi theo năm tháng. Trái lại, nó trở thành nguồn ký ức thiêng liêng, trở thành ngọn lửa âm thầm sưởi ấm cuộc đời người ở lại.
“”Cha mất vì trái tim ngừng đập. Nhưng tình thương của cha thì chưa bao giờ ngừng sống.”
Từng trang sách là từng giọt nước mắt nhớ thương, từng kỷ niệm được nâng niu như những báu vật của tâm hồn. Người đọc có thể bắt gặp trong đó hình ảnh của chính mình, của cha mình, hay của những người thân yêu đã từng hiện diện trong cuộc đời… nhưng nay chỉ còn trong ký ức.
Điều làm nên giá trị đặc biệt của Cha Mãi Bên Đời… chính là sự chân thật. Tác giả không tô vẽ hay cường điệu cảm xúc. Bằng giọng văn giản dị và chân thành, tác giả đã kể lại câu chuyện đời mình như một lời tâm sự, để từ đó… chạm đến trái tim của người đọc.
Cha Mãi Bên Đời nhắc nhở chúng ta rằng: Cha mẹ có thể rời xa cõi đời này, nhưng tình yêu của cha mẹ sẽ sống mãi trong trái tim con cái. Những người thân yêu không thật sự mất đi… khi họ còn được nhớ đến bằng tình thương và lòng biết ơn.
Trong cuộc sống bận rộn hôm nay, đôi khi chúng ta quên nói lời yêu thương với cha mẹ, quên dành thời gian cho những người thân đang còn bên cạnh. Vì thế, Cha Mãi Bên Đời không chỉ là một cuốn hồi ký để đọc, mà còn… là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về đạo hiếu và tình thân gia đình.
Và cuốn hồi ký “Cha Mãi Bên Đời” mà chúng ta cùng tìm hiểu hôm nay chính là minh chứng đẹp đẽ cho điều ấy.
Khi gấp lại những trang cuối của cuốn hồi ký này, chúng ta nhận ra rằng tác giả không chỉ viết về một người cha đã khuất, mà đang viết về tình yêu. Một tình yêu không bị thời gian làm phai nhạt. Một tình yêu không bị sự chết chia lìa.
Có lẽ đó cũng là ý nghĩa đẹp nhất của nhan đề “Cha Mãi Bên Đời”.
Bởi có những người tuy đã đi xa, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời chúng ta.
Có những người cha đã rời xa nhân thế, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời con cái.
Xin cảm ơn tác giả đã trao tặng cho chúng ta món quà tinh thần quý giá này.
Xin chúc nhà văn Phương Hiền tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm giá trị, và mong rằng cuốn hồi ký Cha Mãi Bên Đời sẽ được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, để những thông điệp đẹp đẽ về tình phụ tử tiếp tục được lan tỏa.
Trân trọng
Kiều My.
————————————————————————-
• By Writer Lưu Khánh Lan
The following are two contributions from the book reviewer:
REFLECTIONS ON THE LITERATURE AND LIFE IN THE WORK *CHA VẪN BÊN ĐỜI* (Father Remains by My Side)
*Cha Vẫn Bên Đời* embodies the intimate bonds of family love—specifically the paternal bond—forming concentric circles with the human self at the very center. It is, in essence, a memoir chronicling the sacred nature of human love. For author Phương Hiền, this love centers on her beloved father; she reflects on the journey of life where his guidance and affection served as the invaluable foundation for her own path into the world.
In this memoir, the author also explores her thoughts on the nation’s turbulent history and the complex social shifts during wartime, while simultaneously gaining clarity regarding her own future direction. The book depicts the country’s transformations and the upheavals of life, marked by unexpected turns of events. The figures within the work shape the author’s reflections and deep concerns regarding family, friends, and school. Furthermore, the author draws upon her inner strength to rise above challenges and succeed in life. Through this memoir, readers perceive a writing style and literary genre that are honest and unpretentious.
Literary art—and indeed any work of art—offers a perspective on endurance through time and a view of reality. It is the eternal gazing through the immutable nature of truth. Author Phương Hiền does not view life’s events superficially; rather, she perceives the true essence of matters through a broad lens. She analyzes and delves into the nature of life and the human spirit, examining a series of profound events that have unfolded across time and history.
Congratulations to writer Phương Hiền on the release of her work,
Khánh Lan, California 2026.
—————————————————————————-
• By Writer Kiều My
Reflections on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side)
I would like to share my thoughts on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* by writer Phương Hiền.
This is a work deeply imbued with humanity and the overflowing love of a father-daughter bond that transcends the limits of time. The author transports us back to the turbulent years of the war in Vietnam. Amidst those circumstances, a young girl grew up alongside her soldier father, following him to the various regions where his unit was stationed. Those arduous days forged a special, enduring bond between father and child.
In the memoir, the father does not appear merely as a battlefield hero, but first and foremost as a devoted father who loved his child with all his heart. Lessons regarding character, courage, sacrifice, and responsibility were passed down to his daughter not only through words but through the example of his own life.
When her father passed away due to heart disease, the loss left an irreplaceable void in the heart of his daughter—the author, Phương Hiền. Yet, miraculously, that love did not fade with the passing years. On the contrary, it became a source of sacred memories—a quiet flame warming the life of the one left behind.
“Father passed away when his heart stopped beating.” “Yet, a father’s love never ceases to live on.”
Each page holds tears of longing and memories cherished like treasures of the soul. Readers may catch glimpses of themselves, their own fathers, or loved ones who once graced their lives—yet now exist only in memory.
What gives *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side) its special value is its authenticity. The author neither embellishes nor exaggerates emotions. Through a simple, sincere narrative style, the author shares their life story as a heartfelt confidence, thereby touching the reader’s heart.
*Cha Mãi Bên Đời* reminds us that while parents may depart this world, their love lives on forever in the hearts of their children. Loved ones are never truly gone as long as they are remembered with affection and gratitude.
In today’s busy world, we sometimes forget to express our love to our parents or neglect to spend time with the loved ones still by our side. Thus, *Cha Mãi Bên Đời* is not merely a memoir to be read; it is a gentle reminder of filial piety and the bonds of family.
The memoir *Cha Mãi Bên Đời*, which we explore today, stands as a beautiful testament to this truth.
As we close the final pages of this memoir, we realize that the author is writing not just about a departed father, but about love—a love undimmed by the passage of time and unbroken by death.
Perhaps this is the most beautiful meaning behind the title *Cha Mãi Bên Đời*.
For there are those who, though they have departed, never truly leave our lives.
There are fathers who have left this world, yet never leave the lives of their children.
Thank you to the author for gifting us this precious work.
I wish writer Phuong Hien continued success in creating valuable works, and I hope that the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side) receives a warm reception from readers everywhere, allowing its beautiful messages about the father-child bond to spread far and wide.
Sincerely,
Kieu My.
——————————————————————————
• Article de Luu Khanh Lan
Voici deux contributions d’auteurs à la critique littéraire, comme indiqué :
COMMENTAIRES SUR LA LITTÉRATURE ET LA VIE DANS L’ŒUVRE « PÈRE EST TOUJOURS LÀ »
« PÈRE EST TOUJOURS LÀ » met en lumière le lien étroit entre l’amour maternel et l’identité humaine, un cercle concentrique centré sur l’ego. On peut dire qu’il s’agit d’un récit autobiographique témoignant de l’amour sacré qui unit les êtres humains. Pour l’auteure, Phuong Hien, l’objet de sa réflexion est son père bien-aimé, dont elle se souvient tout au long de son parcours de vie, guidée et aimée par lui, un précieux soutien à l’aube de l’âge adulte.
Dans ce récit, l’auteure évoque les hauts et les bas de sa patrie et de son pays, ainsi que sa sensibilité aux bouleversements sociaux complexes survenus pendant la guerre et sa conscience de son avenir.
Le livre met en évidence les transformations du pays et les bouleversements de la vie, ponctués de nombreux événements inattendus. Les personnages de l’œuvre ont influencé les pensées et les angoisses de l’auteure, qui s’est penchée sur sa famille, ses amis, son école, etc. Elle a également puisé dans ses propres ressources pour s’élever socialement et réussir. Le lecteur perçoit ainsi, à travers ce récit autobiographique, un style d’écriture et un genre littéraire d’une grande honnêteté et d’une grande simplicité.
L’art littéraire, ou toute œuvre d’art, est une perspective sur la pérennité du temps et un point de vue sur la réalité. L’éternel se révèle à travers l’immuabilité du réel. Phuong Hien n’a pas appréhendé les événements de la vie de manière superficielle ; elle en a saisi l’essence avec une perspective globale. Elle a analysé et exploré l’identité de la vie et la nature fondamentale de la pensée humaine au sein du profond enchaînement des événements qui ont marqué le temps et l’histoire.
Félicitations à l’auteure Phuong Hien pour la parution de son ouvrage,
Khanh Lan, Californie 2026.
—————————————————————————-
• Article de l’écrivaine Kieu My
Réflexions sur le livre *MÉMOIRES D’UN PÈRE QUI SERA TOUJOURS À MES CÔTÉS*
Kieu My souhaite partager ses réflexions sur les mémoires de Phuong Hien, *Un père qui sera toujours à mes côtés*.
Ce livre, empreint d’une grande humanité et débordant de l’amour d’un père pour sa fille, transcende le temps. L’auteure nous replonge dans les années tumultueuses de la guerre du Vietnam. Dans ce contexte, une jeune fille grandit aux côtés de son père militaire, le suivant dans les différentes régions où son unité était stationnée. Ces moments difficiles ont forgé un lien unique entre le père et la fille.
Le père, dans ces mémoires, n’est pas présenté comme un héros de guerre, mais avant tout comme un père dévoué qui aimait sa fille de tout son cœur. Des leçons de caractère, de courage, de sacrifice et de responsabilité ont été transmises à sa fille non seulement par ses paroles, mais aussi par son propre exemple.
Lorsque son père est décédé d’une maladie cardiaque, la perte a laissé un vide irremplaçable dans le cœur de sa fille… c’est-à-dire, de l’auteure, Phuong Hien. Mais miraculeusement, l’amour n’a pas faibli avec le temps. Au contraire, il est devenu un souvenir précieux, une flamme silencieuse qui réchauffe la vie de ceux qui restent.
« Papa est mort parce que son cœur a cessé de battre. » Mais l’amour d’un père ne s’éteint jamais.
Chaque page est une larme de nostalgie, chaque souvenir chéri comme un trésor de l’âme. Les lecteurs y reconnaîtront peut-être leur propre image, celle de leur père ou d’êtres chers qui ont jadis fait partie de leur vie… et qui ne subsistent plus que dans leurs souvenirs.
Ce qui rend « Papa sera toujours avec toi » si particulier, c’est son authenticité. L’auteure ne cherche ni à embellir ni à exagérer les émotions. Avec un style d’écriture simple et sincère, l’auteur relate son histoire comme une confession à cœur ouvert, touchant ainsi le cœur des lecteurs.
« Père sera toujours avec toi » nous rappelle que : si les parents quittent ce monde, leur amour demeure à jamais dans le cœur de leurs enfants. Les êtres chers ne disparaissent jamais vraiment… tant qu’on se souvient d’eux avec amour et gratitude.
Dans le tourbillon de la vie moderne, il nous arrive d’oublier d’exprimer notre amour à nos parents, d’oublier de passer du temps avec ceux qui sont encore à nos côtés. C’est pourquoi « Père, tu es toujours là » n’est pas seulement un récit autobiographique, mais aussi un doux rappel de la piété filiale et de l’amour familial.
Et ce récit, que nous explorons aujourd’hui, en est un magnifique témoignage.
En refermant ce livre, nous comprenons que l’auteur n’écrit pas seulement sur un père disparu, mais sur l’amour. Un amour que le temps ne s’altère pas. Un amour que la mort ne peut séparer.
C’est peut-être là le plus beau sens du titre « Père, tu es toujours là ».
Car il y a des personnes qui, bien que disparues, restent à jamais présentes dans nos vies.
Il y a des pères qui ont quitté ce monde, mais qui demeurent à jamais dans le cœur de leurs enfants.
Merci à l’auteure pour ce précieux cadeau spirituel.
Nous souhaitons à Phuong Hien beaucoup de succès dans la création de nombreuses œuvres de valeur et espérons que son récit autobiographique « Père toujours à mes côtés » sera chaleureusement accueilli par les lecteurs du monde entier, afin que le beau message de l’amour paternel continue de rayonner.
Sincèrement,
Kieu My.

Đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền
Vương Trùng Dương: Đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền
(Sáng Thứ Ba 23/6 đang xem World Cup ở cà phê Gypsy, nhà văn Huy Anh mang cuốn Cha Mãi Bên Đời tặng nên đáp lễ, viết những dòng về tác phẩm nầy)
*
Trong mười tám năm qua, trong vai trò Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa, tôi đã đọc nhiều tác phẩm, bài viết và đăng tải trên tờ báo liên quan đến cuộc đời người con khi mất nước, cha vào chốn lao tù, vợ con sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã bên lề xã hội.
Những hình ảnh bi thương, cảm động khi vật lộn với cuộc sống, bị đày vùng kinh tế mới, lặn lội thăm nuôi, vượt biên và khi được sống ở hải ngoại.
Hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền là một trong những tác phẩm tiêu biểu trong hoàn cảnh đó, ấn hành năm 2017, và chín năm sau dịch sang Anh ngữ Stay With Me Forever And Ever, Papa! Sẽ ra mắt tác phẩm vào thượng tuần tháng Bảy năm 2026 tại Little Saigon.
Tuy thuộc thế hệ thứ hai (hậu duệ) trong QLVNCH nhưng Phương Hiền đã bước sang tuổi thất thập. Vì vậy tác phẩm nầy có thể dành cho người người Mỹ và thế hệ thứ hai cảm nhận tấm lòng của người con với thân phụ đã dấn thân trong thời chinh chiến, bị tù đày và không may đã ra người thiên cổ.
Hồi ký gồm 20 phần: Hành Trình Đầu Tiên, Từ Lục Tỉnh Lên Sài Gòn, Người Bạn Nhỏ, Ninh Hòa Yêu Dấu, Đêm Trăng Miền Thơ Ấu, Trường Trung Học Trần Bình Trọng Ninh Hòa – Khánh Hòa, Những Bài Học Đầu Tiên, Ước Vọng Của Người Cha, Ký Ức Đẹp Mãi Không Phai, Quà Mùa Xuân Tặng Cha, Từ Ninh Hòa Đến Dục Mỹ, Từ Giã Ninh Hòa, Quy Nhơn, Mùa Xuân Pleiku, Vật Đổi Sao Dời, Ra Đi Mãi Mãi, Đồng Đội Của Cha Tôi, Dấu Ấn Của Những Người Cha, Kỷ Vật Một Thời, Cha Mãi Bên Đời…
Với nội dung trên, Phương Hiền đã gói ghém và trang trải bối cảnh và cuộc sống từ ngày di cư vào Nam năm 1954, hai thập niên trong hoàn cảnh chiến tranh, sau ngày mất nước và thời gian vật đổi sao dời!.
Trong Lời Ngỏ, Phương Hiền viết: “Với tôi, những kỷ niệm về cha không phải chỉ là quá khứ, mà còn tiếp diễn trong hiện tại, sống động và đẹp đẽ, đã thôi thúc tôi cầm bút – như giờ đây: cha tôi đã mỉm cười bao dung nghe tôi kể chuyện về người…
Tôi là đứa con của tình yêu – tôi biết vì đã… lén đọc nhật ký thư từ của hai người trao nhau lúc… chưa có tôi”.
Khi đề cập đến Ninh Hòa, với tôi có nhiều kỷ niệm, đầu năm 1971 tôi đổi về phục vụ ở Đại Đội CTCT (thuộc Tiểu Đoàn 20 CTCT ở Pleiku) thường ra công tác ở Ninh Hòa, gặp cô giáo và trở thành bạn đời cho đến nay. Những người bạn đã dạy nơi mái trường Phương Hiền theo học ở Trường Trung Học Trần Bình Trọng và Trường Trung Học Quy Nhơn… Với Ninh Hòa, Quy Nhơn, Pleiku đã gắn liền thời gian với tôi trong thời binh nghiệp nên khi đọc những dòng chữ của Phương Hiền trước kia phổ biến trên website ninh-hoa.com, tôi liên tưởng đến thời quá vãng.
Về tiểu sử đã đề cập khái quát, Phương Hiền sinh ở Hưng Yên. Thân phụ là Nguyễn Gia Tĩnh, xuất thân Khóa 10 Trần Bình Trọng, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (1953-1954) vì vậy sau hiệp định Genève chia cắt đất nước, đơn vị di chuyển vào Nam. Chiến hữu Nguyễn Gia Tĩnh trong đơn vị tác chiến binh chủng Biệt Động Quân), nhận nhiều nhiệm sở trên 4 vùng chiến thuật của Việt Nam Cộng Hòa. Vì vậy mỗi nhiệm sở đem gia đình theo. Chính vì thế, cô con gái Phương Hiền đã theo cha di chuyển nhiều nơi, nhất là quãng thời gian ở Vùng 2 Chiến Thuật.
Trong phần 16 Ra Đi Mãi Mãi, Phương Hiền viết: “Cha tôi bặt tin suốt thơi gian tù gần 5 năm. Sau nầy nghe cha kể lại, chúng tôi mới biết ông đã đi chuyến xe lửa bịt bùng lên mạn Yên Bái, chuyển trại nhiều lần, nơi cuối cùng là trại Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam.
Nơi tù đày, cha tôi đã nhiều lần chết đi sống lại, vì bệnh tim quá nặng, hay vì những cảnh ngộ là trái tim ông đau đớn?!…”
Sau khi ra tù “Sức khỏe cha tôi ngày càng kém. Trái tim của ông làm sao có thể hồi phục trong cảnh đời dâu bể! Một ngày cuối năm, cha tôi rời bỏ tôi, ra đi mãi mãi. Ông mất ngày 22 tháng Chạp năm Ất Sửu (21 tháng Giêng 1985), khi mới 54 tuổi”.
Thật đáng tiếc, nếu sức khỏe của niên trưởng Nguyễn Gia Tĩnh được chữa trị và cầm cự được thời gian thì có cơ hội đi diện H.O, thay đổi cả cuộc đời trong gia đình.
Từ khi mất người cha thân yêu, sau ba thập niên Phương Hiền mới cầm bút qua từng bài viết phổ biến trên trên website ninh-hoa.com, nơi đây cũng là kỷ niệm của thuở học sinh. Tại Ninh Hòa có Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ (Từ quận Ninh Hoà theo quốc lộ 21 đi Khánh Dương, tọa lạc tại xã Ninh Sim, Dục Mỹ, quận Ninh Hòa, gần núi Đeo). Đây gọi là “Lò Luyện Thép” đào tạo chiến hữu Biệt Động Quân về Rừng Núi Sình Lầy, Thám Báo… Một trong những binh chủng chiến đấu trong QL.VNCH. Đây là một yếu khu quân sự, bao gồm Trường Pháo Binh, Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn… Vì vậy thị trấn nhỏ nầy cuối tuần là “thị trấn lính”.
Trong phần 15 Vật Đổi Sao Dời “Năm 1972, vì lý do sức khỏe, cha tôi được thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân đặt tại trại Đào Bá Phước, đường Tô Hiến Thành, quận 10. Tôi từ giã nhà bà Lạng (nhà mợ dâu của Phương Hiền trong hai năm học đại học) cùng mẹ và các em theo cha về ở trong cư xá gia binh Đào Bá Phước…
Năm 1974, bệnh tim cha tôi trở nặng, nhiều lần phải nhập Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tháng 3-1975, cha tôi trình diện Hội Đồng Miễn Dịch Sài Gòn và được chứng nhận miễn dịch vĩnh viễn với cấp độ tàn phế 60% – xếp loại 3 phế binh”. Ngày 26-3-1975 được phép giải ngũ sau 22 năm phục vụ trong QLVNCH. Thế nhưng sau khi mất nước, thương phế binh cấp độ tàn phế 60% lại bị đày ra chốn lao tù tận núi rừng miền Bắc! “Tôi nhớ một ngày cuối tháng Tư năm 1975… cha tôi nằm trên giường bệnh nắm chặt tay tôi, ánh mắt đầy yêu thương ái ngại”. Hình ảnh nầy quá thương tâm!
Với hồi ký, có vài tác phẩm với “Cái tôi đáng ghét” (Le moi est haïssable của triết gia Blaise Pascal) để cường điệu về bản thân nên dễ bị dị ứng. Với hồi ký với “cái tôi của Phương Hiền” là cái tôi phát xuất từ trái tim chân thành, hiếu thảo của con gái với cha trải dài theo năm tháng từ khi nhỏ “ lén đọc nhật ký thư từ của hai người trao nhau” cảm nhận cuộc tình song thân.
Về văn phong, Phương Hiền viết ngắn gọn, mạch lạc, diễn tả trung thực với cảm xúc như những lời chia sẻ cùng độc giả. Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ thật bình dị “có sao viết vậy” nhưng sâu sắc mang tâm hồn nhân bản, trải dài qua 320 trang sách.
Phương Hiền từ thời học sinh đã chịu khó đọc sách và hấp thụ những lời dạy bảo của song thân cũng như những vị thầy trong mái trường nên ảnh hưởng nhiều khi sáng tác.
Với hồi ký thì nội dung từng mẩu chuyện gắn liền cùng thời gian cùng những hình ảnh trong gia đình, cuộc sống. Phương Hiền chỉ đề cập thuở học sinh nhưng không nói đến trong những năm ở Đại Học Dược Khoa Sài Gòn, trở thành Dược Sĩ, có lẽ đó là điều tế nhị và sự khiêm nhường với “cái tôi” như đã đề cập ở trên.
Tuy đã đọc các bài viết trước đây mười năm, nay đọc lại trong tác phẩm nầy vẫn cảm thấy gần gũi với cây bút đầu tay, đáng trân trọng.
Vương Trùng Dương.- (Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa) – Little Saigon, June 23, 2026


CỐ THIẾU TÁ NGUYỄN GIA TĨNH (1931-1985)
Reflections on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Stay With Me Forever And Ever, Papa!) by Nguyễn Thị Phương Hiền.
Vương Trùng Dương
(On the morning of Tuesday, June 23, while watching the World Cup at Gypsy Café, Huy Anh gifted me a copy of *Cha Mãi Bên Đời*; in return, I am writing these lines about the work.)
***
Over the past eighteen years, in my role as Editor-in-Chief of the monthly publication *Chiến Sĩ Cộng Hòa* (Soldier of the Republic), I have read and published numerous works and articles recounting the lives of children whose fathers were imprisoned and whose families endured harsh, marginalized existences following the loss of their country.
These stories capture poignant and heart-wrenching images: the struggle for survival, exile to “New Economic Zones,” the arduous journeys to visit imprisoned loved ones, the perilous escapes abroad, and life in the diaspora.
The memoir *Cha Mãi Bên Đời* by Nguyễn Thị Phương Hiền is a standout work within this genre. Originally published in 2017, it was translated into English nine years later as *Stay With Me Forever And Ever, Papa!* The book is scheduled for its official launch in Little Saigon during the first ten days of July 2026.
Although she belongs to the “second generation” of the Republic of Vietnam Military Forces (RVNMF) families, Phương Hiền has now reached the age of seventy. Consequently, this work offers American readers and the second generation a chance to deeply feel the devotion of a daughter toward her father—a man who committed himself to the cause during wartime, suffered imprisonment, and has since passed away. The memoir comprises twenty parts: The First Journey, From the Six Provinces to Saigon, A Little Friend, Beloved Ninh Hoa, A Moonlit Night of Childhood, Tran Binh Trong High School (Ninh Hoa, Khanh Hoa), First Lessons, A Father’s Aspirations, Memories That Never Fade, A Spring Gift for Father, From Ninh Hoa to Duc My, Bidding Farewell to Ninh Hoa, Quy Nhon, Spring in Pleiku, Times of Great Change, Departing Forever, My Father’s Comrades-in-Arms, The Legacy of Fathers, Keepsakes of an Era, Father Forever by My Side…
Through these chapters, Phuong Hien encapsulates the settings and life experiences spanning the migration to the South in 1954, two decades of wartime, the aftermath of the country’s fall, and the tumultuous changes that followed.
In the Foreword, Phuong Hien writes: “To me, memories of my father are not merely the past; they live on in the present—vivid and beautiful—compelling me to write. It feels as though, even now, my father smiles benevolently as he listens to me tell his story…
I am a child of love—I know this because I… secretly read the diaries and letters they exchanged before… I was even born.”
References to Ninh Hoa hold many memories for me as well; in early 1971, I was transferred to the Political Warfare Company (under the 20th Political Warfare Battalion in Pleiku). My duties frequently took me to Ninh Hoa, where I met a schoolteacher who would become my life partner. I recall the friends Phương Hiền made while attending Trần Bình Trọng High School and Quy Nhơn High School… Having spent my own military service years in Ninh Hòa, Quy Nhơn, and Pleiku, reading Phương Hiền’s writings—originally published on the website ninh-hoa.com—evokes memories of that bygone era.
Regarding her background, Phương Hiền was born in Hưng Yên. Her father, Nguyễn Gia Tĩnh, was a graduate of the “Trần Bình Trọng” Class (Class 10) at the National Military Academy in Đà Lạt (1953–1954); following the Geneva Accords that partitioned the country, his unit relocated to the South. As a soldier in a combat unit—specifically the Ranger Corps (Biệt Động Quân)—Nguyễn Gia Tĩnh served in various posts across the four Tactical Zones of the Republic of Vietnam, taking his family along with him to each new assignment. Consequently, his daughter Phương Hiền moved frequently with her father, particularly during the time spent in the Second Tactical Zone.
In Part 16, titled “Departing Forever” (Ra Đi Mãi Mãi), Phương Hiền writes: “We lost all contact with my father during his nearly five years of imprisonment. Only later, when he recounted his experiences, did we learn that he had been transported on a sealed train to the Yên Bái region and transferred between camps multiple times, ultimately ending up at the Nam Hà camp in Hà Nam province.
In captivity, my father hovered between life and death many times—whether due to his severe heart condition or the anguish that tormented his heart…”
After his release, “My father’s health steadily declined. How could his heart recover amidst such turbulent, tragic times? One day at the end of the year, my father left me, departing forever. He passed away on the 22nd day of the twelfth lunar month in the Year of the Ox (January 21, 1985), at the age of only 54.” It was only three decades after the loss of her beloved father that Phương Hiền took up the pen again, sharing her writings on the website ninh-hoa.com—a site that also holds memories of her school days. Ninh Hòa was home to the Dục Mỹ Ranger Training Center (located in Ninh Sim Commune, Dục Mỹ, Ninh Hòa District, near Đeo Mountain, along National Route 21 heading from Ninh Hòa town to Khánh Dương). Known as the “Steel Forge,” this facility trained Ranger comrades in jungle, swamp, and reconnaissance warfare—skills essential to one of the Republic of Vietnam Military Forces’ combat branches. It was a major military complex that also housed the Artillery School and the Lam Sơn Training Center; consequently, on weekends, this small town took on the atmosphere of a “soldiers’ town.”
Some memoirs suffer from an “obnoxious self” (recalling philosopher Blaise Pascal’s *Le moi est haïssable*), where the author exaggerates their own importance, often provoking a negative reaction in the reader. In contrast, the “self” presented by Phương Hiền stems from a sincere and filial heart—a daughter’s perspective on her parents that spans years, beginning in childhood when she would “sneak peeks at the diaries and letters” they exchanged, thereby gaining insight into their romance.
Regarding style, Phương Hiền writes concisely and coherently, expressing her emotions honestly—as if simply sharing her thoughts with the reader. She employs simple, unadorned language—writing exactly as things are—yet the work is profound and deeply humane throughout its 320 pages.
Even as a student, Phương Hiền was an avid reader (despite also being fond of play); she absorbed the guidance of her parents and teachers, influences that clearly shape her writing.
The memoir’s content weaves together various anecdotes with the passage of time and images of family life. Phương Hiền focuses on her school days but omits her time at the Saigon School of Pharmacy and her subsequent career as a pharmacist—perhaps out of discretion or the very humility regarding the “self” mentioned earlier.
Although I read some of these pieces a decade ago, revisiting them in this book makes me feel a renewed closeness to this commendable early work.
Little Saigon, June 23, 2026
Vương Trùng Dương
Editor-in-Chief, *Chiến Sĩ Cộng Hòa* (Republic Soldier) Monthly.
===================================================================
Lecture du récit autobiographique « Père pour toujours, Papa ! » de Nguyen Thi Phuong Hien.
Vuong Trung Duong
(Le mardi 23 juin au matin, alors que nous regardions la Coupe du Monde au Gypsy Cafe, Huy Anh m’a offert un exemplaire de « Père pour toujours, Papa ! ». En guise de remerciement, j’ai écrit ces quelques lignes à propos de cet ouvrage.) – Pièce jointe
***
Au cours des dix-huit dernières années, en tant que rédacteur en chef du magazine mensuel « Republican Soldier », j’ai lu de nombreux ouvrages, articles et publications relatant la vie d’enfants dont le pays a été perdu, dont les pères ont été emprisonnés et dont les femmes et les enfants vivent dans des conditions extrêmement difficiles, en marge de la société.
Les images tragiques et émouvantes décrivent la lutte pour la survie, l’exil vers de nouvelles zones économiques, les voyages éprouvants pour leur rendre visite et les soutenir, la fuite à travers la frontière et, finalement, la survie à l’étranger.
Les mémoires de Nguyen Thi Phuong Hien, « Père pour toujours, Papa ! », sont une œuvre emblématique du genre. Publiées en 2017, elles ont été traduites en anglais neuf ans plus tard sous le titre « Reste avec moi pour toujours, Papa !». Le livre paraîtra début juillet 2026 à Little Saigon.
Bien qu’appartenant à la deuxième génération de l’armée sud-vietnamienne, Phuong Hien est aujourd’hui septuagénaire. De ce fait, son ouvrage peut être interprété par les Américains et les anciens combattants de la deuxième génération comme le reflet des sentiments d’un fils pour son père, qui s’est dévoué à la guerre, a été emprisonné et a tragiquement disparu.
Ce récit autobiographique se compose de 20 parties : Le Premier Voyage, Des Provinces du Sud à Saïgon, Un Petit Ami, Ma Chère Ninh Hoa, Une Nuit de Lune dans l’Enfance, Le Lycée Tran Binh Trong à Ninh Hoa – Khanh Hoa, Premières Leçons, Le Vœu d’un Père, Souvenirs Inoubliables, Un Cadeau de Printemps pour Père, De Ninh Hoa à Duc My, Adieu à Ninh Hoa, Quy Nhon, Le Printemps à Pleiku, Les Choses Changent, Le Départ Pour Toujours, Les Compagnons de Mon Père, L’Emprise des Pères, Souvenirs du Passé, Père à Jamais dans Ma Vie…
À travers ce récit, Phuong Hien retrace son parcours depuis son arrivée au Sud en 1954, en passant par les deux décennies de guerre qui ont suivi la chute du pays, et en évoquant le passage du temps et l’évolution des circonstances.
Dans la préface, Phuong Hien écrit : « Pour moi, les souvenirs de mon père ne sont pas seulement du passé, mais se prolongent au présent, vifs et précieux, m’incitant à prendre la plume – comme aujourd’hui : mon père souriait avec bienveillance tandis que je lui racontais des histoires…
Je suis un enfant de l’amour – je le sais car j’ai… lu en secret les lettres qu’ils ont échangées avant… ma naissance. »
Évoquer Ninh Hoa me revient en mémoire. Début 1971, j’ai été muté au sein de la Compagnie de Guerre Politique (le 20e Bataillon de Guerre Politique de Pleiku) et me rendais souvent à Ninh Hoa pour le travail. C’est là que j’ai rencontré mon enseignante, qui est devenue ma compagne et avec qui je partage ma vie depuis. Mes amis enseignaient dans les lycées fréquentés par Phuong Hien : le lycée Tran Binh Trong et le lycée Quy Nhon… Ninh Hoa, Quy Nhon et Pleiku sont intimement liés à mon expérience militaire. Aussi, lorsque je relis les écrits de Phuong Hien, précédemment publiés sur le site ninh-hoa.com, je replonge dans le passé.
Concernant sa biographie, Phuong Hien est née à Hung Yen. Son père, Nguyen Gia Tinh, est sorti diplômé de la 10e promotion Tran Binh Trong de l’Académie militaire nationale de Da Lat (1953-1954). Après la partition du pays suite aux accords de Genève, son unité fut mutée au Sud. Nguyen Gia Tinh, membre de la 9e unité des forces spéciales, fut affecté à de nombreuses reprises dans les quatre zones tactiques de la République du Viêt Nam. Il emmenait sa famille avec lui à chaque affectation. De ce fait, sa fille, Phuong Hien, a beaucoup déménagé avec son père, notamment pendant son séjour dans la 2e zone tactique.
Dans la 16e partie, « Disparu à jamais », Phuong Hien écrit : « Mon père est resté injoignable pendant près de cinq ans, durant son incarcération. Plus tard, lorsqu’il nous a donné des nouvelles, nous avons appris qu’il avait pris le train pour Yen Bai, avait été transféré dans plusieurs camps, et que sa destination finale était le camp de Nam Ha, dans la province de Ha Nam.
En prison, mon père est mort et revenu à la vie à de nombreuses reprises, peut-être à cause de sa grave maladie cardiaque, ou à cause des circonstances qui lui causaient tant de souffrances… »
Après sa libération, « La santé de mon père s’est dégradée. Comment son cœur aurait-il pu se rétablir après une vie aussi tumultueuse ! Un jour, à la fin de l’année, mon père m’a quittée, parti pour toujours. Il est décédé le 22 du 12e mois lunaire de l’année du Buffle (21 janvier 1985), à l’âge de 54 ans. »
Depuis le décès de son père bien-aimé, Phuong Hien a repris l’écriture il y a trente ans, publiant des articles sur le site web ninh-hoa.com, qui conserve également des souvenirs de ses années d’études. À Ninh Hoa se trouvait le Centre d’entraînement des forces spéciales de Duc My (situé dans la commune de Ninh Sim, district de Duc My, près du mont Deo, le long de la route nationale 21 en direction de Khanh Duong). Surnommé le « Four de forge », ce centre formait les soldats des forces spéciales au combat en jungle et en zone marécageuse, à la reconnaissance, etc., et constituait l’une des branches combattantes des forces armées de la République du Vietnam. Zone militaire stratégique, il abritait également l’École d’artillerie et le Centre d’entraînement de Lam Son… De ce fait, cette petite ville se transformait en « ville militaire » le week-end.
En ce qui concerne les mémoires, certains ouvrages utilisent la figure du « moi haïssable » (Le moi est haïssable, du philosophe Blaise Pascal) pour exagérer l’image de soi, ce qui peut facilement rebuter. Cependant, les mémoires de Phuong Hien révèlent un « moi » né de la sincérité et de l’amour filial d’une fille pour son père, depuis son enfance où elle lisait en secret leurs journaux intimes et leurs lettres, et où elle a pu ressentir l’amour qui unissait ses parents.
Dans les mémoires, certains auteurs utilisent la figure du « moi haïssable » (comme chez Blaise Pascal) pour exagérer la figure de l’auteur, ce qui peut les rendre rebutants. Cependant, dans les mémoires de Phương Hiền, le « moi » est celui d’une fille sincère et dévouée à son père, depuis son enfance où elle lisait en secret leurs journaux intimes et leurs lettres, découvrant ainsi leur histoire d’amour.
Sur le plan du style, Phương Hiền écrit avec concision et clarté, exprimant ses émotions avec une grande sincérité, comme si elle les partageait avec le lecteur. L’auteure utilise un langage simple, direct et pourtant profondément humain, une qualité qui imprègne les 320 pages.
Dès son plus jeune âge, Phương Hiền lisait assidûment (malgré son côté enjoué) et s’imprégnait des enseignements de ses parents et de ses professeurs, ce qui a grandement influencé son écriture.
Dans ses mémoires, le contenu de chaque récit s’entremêle avec le temps et les images de sa famille et de sa vie. Phuong Hien évoque seulement ses années d’études, sans parler de ses années à l’Université de Pharmacie de Saigon, ni de sa formation de pharmacienne. Peut-être est-ce là une subtilité, une marque d’humilité face à son « ego », comme mentionné précédemment.
Bien que j’aie lu ses écrits précédents il y a dix ans, les relire dans cet ouvrage me donne toujours l’impression d’être en présence de cette première auteure, ce qui force le respect.
Petit Saigon, 23 juin 2026
Vuong Trung Duong
Rédacteur en chef du magazine mensuel Chien Si Cong Hoa (Soldat républicain).
-
NHỮNG CÁNH HOA HAWAII GIỮA LÒNG DIAMOND BAR
Kiều My

Chủ nhật vừa qua, giữa thành phố Diamond Bar hiền hòa của miền Nam California, một buổi tiệc sinh nhật tập thể thật đặc biệt diễn ra, không phải trong một nhà hàng sang trọng hay một hội trường lộng lẫy, mà là một không gian được trang hoàng theo phong cách Hawaii đầy màu sắc, mang đến cảm giác như mọi người đang cùng nhau du ngoạn đến một hòn đảo nhiệt đới giữa Thái Bình Dương.

Happy Birthday to you….

Điều còn đọng lại trong tôi không chỉ là những vòng hoa Hawaii rực rỡ hay những giai điệu vui tươi vang lên suốt buổi tiệc, mà còn là hình ảnh đẹp của nhiều thế hệ cùng ngồi bên nhau trong sự thân tình và hòa hợp tại tư gia khang trang của chủ nhân Katherine Minh Thư và Brian.

Ngay từ khi bước vào khuôn viên buổi tiệc, tôi đã cảm nhận được bầu không khí vui tươi và ấm áp. Những vòng hoa Lei nhiều màu sắc được đặt trên bàn tiếp đón như lời chào thân thiện của người Hawaii, hòa hợp cùng các vật trang trí mang đậm nét Polynesia.


Những vòng hoa Lei rực rỡ trên cổ mọi người và những đóa hoa cài trên mái tóc của phái đẹp…

Khiến không gian như bừng sáng dưới ánh nắng đầu hè California, làm tăng thêm vui tươi hào hứng cho sinh nhật của các bạn: Anh Thái Phạm, Minh Thư, Brian, Thụy Lan, Michael, Alain Đức, Ngọc Quỳnh, và đặc biệt là sinh nhật thứ 100 của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, tác giả của ca khúc nổi tiếng Nắng Chiều, và cũng là phu quân của thi sĩ Lê Nguyễn Nga.

Những con chim sơn ca với nhạc phẩm Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn

Và các anh trai với nhạc phẩm Ngày Hạnh Phúc của NS Lam Phương
Chủ nhân Minh Thư và Brian của buổi tiệc xuất hiện trong tiếng vỗ tay nồng nhiệt của mọi người. Trên gương mặt là niềm hạnh phúc giản dị khi được đón nhận tình cảm của gia đình và bạn bè. Trong ánh mắt ấy, tôi nhận ra một điều rất đẹp: tuổi tác chỉ là con số, còn tình yêu thương mới là điều làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa.

Chủ nhân Katherine Minh Thư và Brian
Khoảng bốn mươi khách tham dự, một con số không quá đông, nhưng vừa đủ để tạo nên bầu không khí ấm cúng. Điều đặc biệt là tuổi tác của khách mời trải dài qua nhiều thế hệ từ những lứa tuổi bốn mươi, năm mươi, sáu mươi, bảy mươi, tám mươi… cho đến một bậc cao niên đã bước sang tuổi chín mươi lăm. Nếu nhìn bằng con số, khoảng cách ấy lên đến hơn nửa thế kỷ. Thế nhưng trong buổi tiệc hôm đó, mọi khoảng cách của tuổi tác dường như xóa tan.

Với sự tham dự của những nhà văn: Nguyễn Quang, Phạm Gia Đại, Trần Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, Kiều My, Khánh Lan và phu quân Mạnh Bổng; thi sĩ Lê Nguyễn Nga với các bạn thâm giao trong Air Việt Nam gồm có: chị Liễu và phu quân, chị Vân, chị Thanh Mỹ và phu quân, chị Ngọc Hoa (Văn Bút) và Erlinda. Ban Tơ Vàng gồm có: ca nhạc sĩ Lâm Dung, chị Jennifer Lâm và anh chị Bình Chi & anh Anh….

Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm có: Ngọc Quỳnh, Vũ Hòa, Trần Mạnh Chi, Khánh Văn, Kim Thoa, Minh Khai, Thụy Lan và Michael, Peter Thạnh…

Những mái đầu bạc trắng ngồi bên cạnh những khuôn mặt còn đầy sức sống của tuổi trung niên. Những tiếng cười vang lên tự nhiên và thoải mái. Không ai cảm thấy lạc lõng. Không ai cảm thấy mình thuộc về một thế hệ khác.

Nhìn những người bạn già tóc bạc vẫn vui vẻ trò chuyện cùng những người trẻ hơn, tôi cảm nhận rõ giá trị của những buổi gặp gỡ như thế này. Cuộc sống nơi hải ngoại vốn bận rộn và nhiều lo toan. Thời gian đôi khi khiến con người xa nhau.

Nhưng chỉ cần một dịp hội ngộ, mọi người lại tìm về với nhau bằng sự chân thành giản dị nhất. Và bài thơ mộc mạc dưới đây đã nói lên tâm tình của người bạn mang tên Kiều My:
NÀY BẠN HỠI!
Này bạn hỡi!
Đời đưa bạn đến với ta
Cho nhau nụ cười hòa nhã
Chia sẻ những lúc băn khoăn
Ta cùng vui trong thi văn
Cùng say sưa bên tiếng đàn
Quanh ta đời bao thách đố
Có bạn ta vẫn cười vang
Tình bạn như tia nắng ấm
Chan hòa những ngày mưa rơi
Bên nhau hát khúc yêu đời
Tình viễn xứ tràn niềm vui
Ta gặp nhau nơi xứ người
Niềm an ủi thật khôn nguôi
Giang rộng đôi tay chào đón
Bạn hiền hãy đến với ta
Cùng nhau hát khúc chan hòa
Cùng nhau hát khúc… hòa vang…
Ánh nắng đầu hè trải nhẹ dưới bầu trời trong xanh như được gột rửa bởi những cơn gió biển từ phương xa. Khung cảnh ấy khiến lòng người cũng trở nên nhẹ nhàng hơn. Nhưng có lẽ linh hồn của buổi tiệc chính là âm nhạc.

Mạnh Bổng với Sway with me…..When marimba rhythms start to play. Dance with me, make me sway. Like the lazy ocean hugs the shore. Hold me close, sway memore….

Âm nhạc đã vang lên như một người bạn đồng hành thân thiết. Những ca khúc sôi động làm mọi người vỗ tay theo nhịp điệu và đôi chân đã nhún nhẩy theo hấp lực của của dòng nhạc vui tươi cuồng nhiệt. Có những lúc cả bàn tiệc cùng hòa giọng hát theo một bài hát quen thuộc. Những tiếng cười vang lên không ngớt.

Mộng dưới hoa với NV Phạm Gia Đại….
Rồi sau những giai điệu rộn ràng ấy lại là những bản nhạc nhẹ nhàng, sâu lắng. Âm nhạc như đưa mọi người trở về những miền ký ức khác nhau. Có người lặng lẽ ngân nga theo một ca khúc xưa. Có người mỉm cười khi nhớ lại những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ.

Trong những khoảnh khắc ấy, quả thật âm nhạc có một sức mạnh kỳ lạ. Nó kết nối những người thuộc nhiều thế hệ. Một bài hát có thể được người chín mươi lăm tuổi yêu thích, nhưng cũng có thể làm rung động trái tim người bốn mươi. Âm nhạc xóa nhòa khoảng cách của tuổi tác và tạo nên một ngôn ngữ chung của cảm xúc.

Con chim đầu đàn NV Việt Hải….và NV Nguyễn Quang.
Khi chiếc bánh sinh nhật được mang ra trong tiếng hát chúc mừng của tất cả mọi người, tôi nhìn thấy những ánh mắt rạng ngời quanh bàn tiệc. Có niềm vui, có sự trân trọng và có cả lòng biết ơn dành cho những tình cảm đã được vun đắp qua nhiều năm tháng.

Happy Birthday Anh Thái Phạm, Minh Thư, Brian, Thụy Lan, Michael, Alain Đức, Ngọc Quỳnh…
Tôi chợt nghĩ rằng những buổi họp mặt như thế này thật quý giá. Cuộc sống nơi xứ người thường bận rộn. Ai cũng có công việc, gia đình và những trách nhiệm riêng. Thế nhưng chỉ cần một dịp đặc biệt, mọi người lại tìm đến nhau, cùng chia sẻ tiếng cười, những câu chuyện và những tình cảm chân thành. Chính những cuộc gặp gỡ ấy đã làm cho cộng đồng người Việt nơi hải ngoại thêm gắn bó.

Buổi chiều dần trôi qua. Mặt trời từ từ ngả bóng trên bầu trời xanh của Diamond Bar. Những tia nắng cuối ngày nhẹ nhàng phủ lên khu vườn như một lớp mật vàng óng ánh. Những tia nắng cuối ngày nhuộm vàng không gian buổi tiệc. Tiếng nhạc vẫn còn vang lên đâu đó. Những câu chuyện vẫn tiếp tục được nối dài. Không ai muốn vội vã ra về. Đến khi màn đêm buông xuống, không khí thật êm dịu, xa xa dưới thung lũng kia, ánh đèn vàng lan tỏa khắp thành phố thật đẹp…thật tình…
Khi ra về, tôi mang theo không chỉ những bức ảnh đẹp mà còn là một cảm giác bình an khó tả. Đó là niềm vui khi được gặp gỡ bạn bè, được chứng kiến những khoảnh khắc hạnh phúc và được nhắc nhớ rằng tình người luôn là món quà quý giá nhất trong cuộc sống.

Buổi tiệc sinh nhật theo phong cách Hawaii giữa lòng Diamond Bar đã kết thúc, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại. Giữa những ngày tháng tất bật nơi đất khách, những giây phút sum vầy như thế giống như một làn gió mát từ biển khơi Hawaii thổi đến, mang theo niềm vui, sự ấm áp và những kỷ niệm đẹp sẽ còn lưu giữ mãi trong lòng mỗi người tham dự.

Riêng tôi, tôi mang về một cảm giác ấm áp đặc biệt.
Giữa thành phố Diamond Bar của miền Nam California, trong một buổi chiều mang hương sắc Hawaii, tôi đã được chứng kiến một điều thật đẹp: nhiều thế hệ cùng ngồi lại bên nhau, cùng thưởng thức những món ăn ngon, cùng hát, cùng cười và cùng chia sẻ những khoảnh khắc quý giá của tình thân, tình bạn. “95 đến 40 tuổi”. Nó làm mình liên tưởng đến một vòng hoa Hawaii gồm nhiều màu sắc khác nhau nhưng kết lại thành một tổng thể hài hòa.

Và có lẽ đó chính là món quà sinh nhật ý nghĩa nhất — không phải những món quà được gói trong giấy màu rực rỡ, mà là sự hiện diện của những người thân thương, những người đã góp phần làm cho cuộc đời nhau trở nên phong phú và đáng nhớ hơn. Như những cánh hoa Hawaii nhiều màu sắc kết thành một vòng hoa đẹp, mỗi người tham dự hôm ấy đã góp một sắc màu riêng để tạo nên một buổi tiệc sinh nhật tập thể khó quên giữa lòng Diamond Bar.
Mời vào xem thêm hình của anh Anh và Chị Bình Chi chụp ở link dưới đây:
https://drive.google.com/drive/folders/1z3O4_ZosDl8TQ4WJus1dDAlA1lc0o7ds?usp=sharing
Kiều My, California 2026
-
THÀNH PHỐ TRÊN BIỂN CẢ
Kiều My & Khánh Lan

Sáu ngày trên du thuyền Royal Caribbean, Quantum Of The Sea đã để lại cho chúng tôi biết bao niềm vui, tiếng cười và kỷ niệm. Có lẽ đây là một trong 3 chuyến du lịch do Liên nhóm NVNT & TTG tổ chức mà chúng tôi thích nhất. Bởi trong 6 ngày ngắn ngủi ấy đã cho chúng tôi một cảm giác gần như sống lại thời son trẻ đầy nhiệt huyết và năng động. Phải chăng sự tươi trẻ và năng nổ của thế hệ trẻ như Minh Thư, Thúy Giao, Minh Châu đã tạo một ảnh hưởng lớn trong tâm hồn chúng tôi?
Ngày 03 tháng 03, 2026–“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”
Chẳng hẹn mà lại gặp nhau trên cùng một chuyến hải hành đã cho chúng tôi tin rằng: Đó là mối duyên “kỳ Ngộ” giữa 2 nhóm Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) và Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG). Bởi trong chuyến du lịch này chúng tôi đã gặp các anh chị trong nhóm VTLV đi cùng.

Quả thật, tiếng đồn không sai khi nói về anh Lê Văn Hải, chủ tịch của nhóm VTLV. Có lẽ đây là lần thứ 3 chúng tôi gặp anh, và cả trong 3 lần ấy, anh rất chu đáo và “generous“. Cũng như những lần trước, buổi tối hội ngộ trước khi lên du thuyền Royal Caribbean anh đã tổ chức buổi họp mặt bỏ túi tại nhà hàng, Phở Seven với lì xì và hát cho nhau nghe. Keyboardist là anh Không quân Tuấn Nguyễn (?).

Trong không khí ấm cúng, vui và thân mật, chúng tôi đã có cơ hội gặp rất nhiều các văn thi sĩ thuộc nhóm VTLV mà trước kia chỉ nghe đến tên nhưng chưa hề gặp mặt. Thế mà lạ quá, tất cả chúng tôi tay bắt mặt mừng, coi nhau như anh em trong cùng một nhà, khiến lòng chúng tôi rộn lên niềm xúc động.
THÀNH PHỐ TRÊN BIỂN CẢ là cái tên mà Nhà Văn Kiều My đã dặn dò Khánh Lan trong email rằng: “KL đừng đổi tựa bài vì chị rất thích tựa này.”

ROYAL CARIBBEAN, QUANTUM OF THE SEA.
Con tàu khổng lồ từ từ rời bến, mang theo chúng tôi bước vào một hành trình kỳ thú. Trước mắt chúng tôi, đại dương mở ra mênh mông, xanh thẳm đến tận chân trời.

Chiều nay ra khơi….

Nhưng điều làm chúng tôi ngạc nhiên hơn cả không phải là biển rộng, mà là con tàu đang chở chúng tôi, một thế giới thu nhỏ với ánh đèn rực rỡ. Những nhà hàng, rạp hát, casino, shopping, những tụ điểm ca nhạc… xen lẫn tiếng nói tiếng cười rộn rã. Chúng tôi chợt nghĩ: À…mình đang sống trong một thành phố nổi và đang trôi lênh đênh trên biển cả.

Tình bằng hữu thân thương…

Con tàu khổng lồ, Royal Caribbean, Quantum of the Seas không chỉ là một phương tiện di chuyển. Nó thật sự giống như một thành phố rực rỡ ánh đèn đang trôi giữa đại dương. Ngay từ ngày đầu bước lên tàu, chúng tôi đã có cảm giác mình đang bước vào một thế giới kỳ bí nào đó. Những hành lang dài, những tầng lầu nối tiếp nhau, nhà hàng, quán cà phê, Royal Theater, hồ bơi, casino, shopping, hot spa, đủ trò chơi thể thao v.v…Buổi trưa có Movie on Deck trên tầng 14, tất cả tạo nên nhịp sống rộn ràng như trong một đô thị thực thụ. Nhưng điều kỳ lạ là thành phố ấy lại đang lênh đênh trên biển cả.

Buổi sáng, trước mắt tôi là một bầu trời xanh với những cụm mây trắng bay lững lờ trên đại dương mênh mông. Gió biển thổi nhẹ mang theo vị mặn dịu dàng.. Trong khi chúng tôi có những bữa ăn sáng kéo dài… vừa ăn vừa trò chuyện lại vừa ngắm cảnh biển buổi sáng thật êm đềm.

Ara bailar la bamba. Para bailar la bamba se necesita. Una poca de gracia. Una poca de gracia y otra cosita. Y arriba y arriba….

Ban ngày, mỗi người lại đi khám phá “thành phố nổi” theo cách riêng. Có người thích đi bộ quanh boong tàu để ngắm biển, hay tắm nắng của miền Nam Mỹ. Có người say mê các khu giải trí rộn rã tiếng nhạc. Có kẻ yêu rock climbing, bumper cars, picker ball, đánh vũ cầu, basketball, v.v…Phần chúng tôi “yêu quá Line Dancing“.

Nào cùng nhau Line dancing nhé.

Lại có nhiều người thích trầm mình trong hot spa hay bơi tung tăng trong những hồ bơi nước xanh rộng lớn. Ngoài ra, còn có những người già lẫn trẻ và cả chúng tôi nữa…giải khát bắng những icecream cone thơm ngát mùi vanila, coffee và “liếm” vị kem mát lạnh một cách ngon lành.

… Khi màn đêm bông xuống, con tàu như khoác lên mình một bộ áo sang trọng đủ kiểu đủ màu. Ánh đèn lung linh khắp nơi. Từ các phòng hòa nhạc vang lên những giai điệu sống động. Những sân khấu lớn mở màn các chương trình biểu diễn đầy màu sắc. Khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới tụ hội về đây, vừa thưởng thức nghệ thuật vừa hòa vào những điệu nhảy vui tươi hào hứng.

Giữa muôn vàn ánh hào quang lấp lánh cùng sự thăng hoa của âm nhạc & những kết cấu nghệ thuật tinh tế làm tôn vinh hình tượng của các vũ công trên sân khấu. Với sự quy tụ những tinh hoa xuất sắc nhất từ Los Angeles, New York, Paris và Las Vegas, kết hợp cùng những màn vũ đạo ngoạn mục và dàn nghệ sĩ biểu diễn thượng thặng đến từ khắp nơi trên thế giới.

Chuyến du lịch lần này đã đem đến cho chúng tôi từ những ngạc nhiên này đến thích thú khác qua các màn trình diễn độc đáo và lạ mắt như: Starwater Show. Thoạt nghe tên Starwater, chúng tôi liên tưởng đến màn trình diễn trên nước, nhưng không, đó là nghệ thuật biểu diễn cuộc sống qua cảm xúc của con người và được khám phá sự kết hợp giữa sự kỳ diệu của các vì sao và sự bí ẩn của biển cả.

Một trong những kỷ niệm làm chúng tôi nhớ mãi trong chuyến hải hành trên con tàu khổng lồ Royal Caribbean, Quantum of the Seas, chính là đêm thưởng thức chương trình Starwater, tại The Workshop (Two 70). Khi màn đêm buông xuống, cả không gian dường như biến thành một thế giới huyền ảo. Khán giả ngồi yên trong ánh đèn dịu, chờ đợi một điều kỳ diệu sắp xảy ra. Rồi âm nhạc vang lên. Từ bóng tối, những vũ công xuất hiện như những làn sóng mềm mại. Ánh sáng đổi màu liên tục, khi xanh thẳm như đáy biển, khi tím biếc như bầu trời đêm. Những màn hình lớn phía sau bỗng trở thành một đại dương mênh mông, nơi những vì sao, những dòng nước và những hình ảnh trừu tượng hòa vào nhau.

Chương trình Starwater không chỉ là một buổi biểu diễn ca múa bình thường. Nó như một giấc mơ được dệt bằng ánh sáng, âm nhạc và chuyển động. Các nghệ sĩ bay lượn trên không, xoay mình trong những động tác uyển chuyển, khi mạnh mẽ như gió biển, khi nhẹ nhàng như bọt sóng. Có những khoảnh khắc cả khán phòng gần như nín thở. Âm nhạc dâng cao, ánh sáng rực lên, rồi tất cả bỗng lắng xuống trong một khoảng lặng đầy mê hoặc. Chúng tôi ngồi giữa khán phòng mà có cảm giác như đang trôi trong một thế giới khác, nơi nghệ thuật và đại dương hòa quyện với nhau như mây với gió.

Khi chương trình kết thúc, ánh đèn dần sáng trở lại. Ngoài khung cửa kính, biển đêm vẫn mênh mông và lặng lẽ. Con tàu vẫn tiếp tục hành trình giữa đại dương, nhưng trong lòng tôi vẫn còn vang vọng những giai điệu và hình ảnh huyền ảo của Starwater — một khoảnh khắc nghệ thuật tuyệt đẹp giữa thành phố đang từ từ trôi trên biển cả.

Sonic Odyssey show thật tuyệt diệu giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật nguyên bản với tâm điểm là cây đàn Earth Harp. Nhạc cụ được thiết kế và chế tác bởi William Close, người từng lọt vào vòng bán kết thứ 7 của chương trình America’s Got Talent. Sonic Odyssey đã đưa chúng tôi bước vào một hành trình âm nhạc và âm thanh độc nhất vô nhị, cộng thêm sự quy tụ một dàn nghệ sĩ biểu diễn tài năng.

Nhạc cụ Earth Harp với nghệ sĩ William Close

William Close trình diễn đánh trống với sự phối hợp của các vũ công

Biểu diễn trống ngoạn mục

MO5AIC đến trực tiếp từ Las Vegas, là một nhóm nhạc độc nhất vô nhị, họ đã giành được danh hiệu là nhóm nhạc “MTV’s Top Pop Group” và tài năng của họ từng được giới thiệu trên chương trình America’s Got Talent.

MO5AIC với con số 5 ở giửa có nghĩa họ là 5 nghệ sĩ trong nhóm. Họ trình diễn các thể loại âm nhạc đặc biệt bằng miệng mà hoàn toàn không dùng đến sự hỗ trợ của bất cứ loại nhạc cụ nào. Họ đã đem lại sự ngạc nhiên, thích thú và lạ lẫm trong lòng du khách.

Trong bầu không khí ấy, chúng tôi cũng không đứng ngoài cuộc.

Ai trông giống như….Katherine Minh Thư nhà mình ấy nhỉ ?

Hàng trăm đốm sáng rực lên từ những chiếc điện thoại di động tựa như nhưng đốm hỏa châu trong màn đêm. Chúng tôi không chỉ lắng nghe nhạc mà đôi lúc cũng nhẩm hát theo những bài hát quen thuộc. MO5AIC đã tạo một đêm vui khó quên cho tất cả chúng tôi.
BRING THE BEAT BACK. A PARTY THROUGH THE DECADES, quả là vui nhộn bởi các màn trình diễn của các nhân viên trên du thuyền trong trang phục tùy theo từng thời. Họ đã đem âm nhạc từ những thập niên 1960, 1970, 1980, 1990 với MC kiêm Cruise Manager dí dỏm, duyên dáng trong bộ y phục màu hồng lóng lánh. Tiếng la, hét, hát vang dội cả khánh phòng Two 70. Có lẽ đây là party ồn ào, vui nhộn nhất trong chuyến đi.

Những màn biểu diễn của các nhân viên trong thủ thủy đoàn

Ngoạn mục quá làm say đắm lòng các du khách

HAPPY BIRTHDAY TO ALL FROM THE OFFICERS AND CRUISE MEMBER với chiếc bánh sinh nhật thật lớn mà trong đó Khánh Lan thật là “lucky” bời năm nay mình được mọi người hát “Happy Birthday” đến 3 lần cơ đấy.



Đây là một lần nhé…

Cái bánh to quá, phài cần đến hai người cắt bánh

Lần thứ 2 là trong bữa ăn tối tại Grande Restaurant

Và cuối cùng sẽ là “Belated Birthday” với gia đình … Thích nhỉ…
Có những tối chỉ ngồi nghe nhạc sống và trò chuyện hay cùng nhau bước ra sàn nhảy, để mặc cho âm nhạc dẫn dắt với Latin Dance Music trong khung cảnh huyền hoặc của phòng trà Boleros, do ban nhạc Latin Band The Latin Town trình diễn hàng đêm. Giữa đại dương bao la, những tiếng cười, những bước chân nhịp nhàng ấy làm cho “thành phố trên biển” trở nên ấm áp và gần gũi lạ thường.
NORTH STAR EXTENDED rất thú vị mà Chị Tường Anh đã mất $45 cho 15′ trong lúc ấy Katharine Minh Thư & Thúy Giao đã ghi danh cho cả nhóm được “Free” với 10′ ngắm cảnh từ trên cao. Thanks tới hai em gái.

Tham dự cuộc du hành trên không gian để nhìn toàn cảnh phố cảng Ensanada thật thú vị

10′ thật tuyệt diệu đề nhìn cả một thành phố bên dưới

Phục thiệt! 3 nàng Thúy Giao, Lệ Hoa, Minh Thư…với trò chơi mạo hiểm RIPCORD BY IFLY

Còn Khánh Lan & Minh Châu thì “chicken out” nên đứng ở ngoài: chụp hình, quay phim và…vỗ tay…

Và hồi hộp…..

AT SEA là những ngày chúng tôi “RELAX” để hưởng thụ những thú vui giải trí mà du thuyền cung cấp như: Love and marrige show với nhưng trận cười ngây ngất, FlowRider (Advanced Standup surfing) với Katherine Minh Thư và Thúy Giao, robot Show, Towel Animals, v.v…


Đua xe

Robot Show-tự pha rượu

FLOWRIDER ADVANCED STANDUP SURFING, FLOWRIDER dành cho hai bạn trẻ Katherine Minh Thư & Thúy Giao thôi, còn dân sợ nước, không biết bơi và nhảy sóng như Khánh Lan thì chỉ ngồi trên bờ để “enjoy” mà thôi.

Minh Thư trổ tài với towel folding và…

… Đố ai biết con gì đây?

KARAOKE dành cho những du khách thích ca hát có dịp phô trương tài năng như “Tiếng Thời Gain vô cùng can đảm Katherine Minh Thư”

Katherine Minh Thư với “I Will Survive” …

Ngắm cảnh qua màn hình “đại vĩ tuyến” với những sinh hoạt dưới đáy biển, nghệ thuật tạo hình bởi AI, v.v…


Chuyển động của con người…

Hình ảnh…

Robots….

…Và để cho buổi tối được vui trọn vẹn, hầu như tối nào chúng tôi cùng nhau tấp vào quán pizza, Cafe Promenade để thưởng thức hương vị của mùi cheese nóng chảy dưới những miếng pepperoni đỏ thơm lừng hấp dẫn…Đây là những giờ phút khá thú vị…mọi người cười nói xôn xao, chia sẻ với nhau những miếng pizza nóng hổi và những miếng cam tươi mát lạnh… hay cafe@Two70 để thưởng thức những miếng bánh mì Ý, Pháp, Spain thơm phức… trước khi trở về phòng ngủ sau một ngày vui chơi mệt nhoài.

Sau vài ngày lênh đênh trên đại dương, những dãy núi và bờ biển của Mexico dần hiện ra nơi chân trời. Con tàu đưa chúng tôi ghé thăm hai thành phố ven biển nổi tiếng: Cabo San Lucas và Ensenada. Mỗi nơi mang một vẻ đẹp riêng.

Cabo San Lucas hòa mình với biển xanh và những vách đá kỳ vĩ. Đây là nơi Thái Bình Dương gặp Vịnh Cortez, được bao quanh bởi những khối đá hùng vĩ như Cổng Vòm.

Thành phố tuyệt đẹp với những căn cao ốc được xây dựng như hình tổ ong

Thành phố biển Cabo San Lucas (còn gọi là “Mũi Thánh Luca”), hay đơn giản là Cabo, nằm ở mũi phía nam của bán đảo Baja California, thuộc tiểu bang Baja California Sur của Mexico.

Cabo San Lucas và thành phố lân cận San José del Cabo được gọi chung là Los Cabos. Cả hai tạo thành một khu vực đô thị ven biển.Vòm đá El Arco de Cabo San Lucas đặc trưng ở mũi đất Lands End là một biểu tượng địa phương. Thành phố cũng có một bảo tàng viên lịch sử thiên nhiên hải dương học, Museo de Historia Natural de Cabo San Lucas.

Để vào được đất liền, những chiếc tàu nhỏ (tender) đã chuyên chở chúng tôi vào thăm thành phố.

Cabo San Lucas-welcome us…

Đi lang thang ngắm phố và…

Go Shopping ….

Cabo San Lucas nổi tiếng với những bãi biển, địa điểm lặn biển, khu nghỉ dưỡng ven biển, vòm đá El Arco de Cabo San Lucas và hài lưu sinh thái biển phong phú hải sinh học. Vùng biển xung quanh Cabo là nơi lý tưởng để chiêm ngưỡng nhiều loài sinh vật biển khác nhau, bao gồm cá đuối, cá mập, cá mahi-mahi (cá nục dorado) và cá chim marlin sọc.

Đến ngày 6 của cuộc hành trình trên đường trở về cảng San Pedro, Hoa Kỳ, thành phố biển Ensanada hiện ra trước mắt. Đứng trên tàu nhìn qua Ensenada mang nét hiền hòa của một thành phố cảng với những con phố nhỏ và lá cờ Mexico bay phất phơ trong gió.

Ensenada có nghĩa là “vũng vịnh“, một thành phố thuộc Đô thị Ensenada, bang Baja California, nằm trên bờ biển Thái Bình Dương của Mexico. Tọa lạc bên vịnh Bahía de Todos Santos. Đây là một trung tâm thương mại quốc tế quan trọng và là nơi tọa lạc của Cảng Ensenada – cảng sầm uất thứ hai tại Mexico.

Ensenada có khí hậu ấm áp và vị trí gần Thái Bình Dương; thành phố này thường được biết đến với biệt danh *La Cenicienta del Pacífico* (“Nàng Lọ Lem của Thái Bình Dương”). Ensenada được thành lập vào năm 1882, khi cộng đồng nhỏ mang tên Rancho Ensenada de Santos được chọn làm thủ phủ khu vực cho phần phía bắc của Lãnh thổ Baja California. Thành phố đã phát triển mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ của các hoạt động khai thác mỏ tại những dãy núi bao quanh.

Danh tiếng của Ensenada như một thành phố nghỉ dưỡng đã được củng cố vững chắc trong thập niên 1950 và 1960, giai đoạn chứng kiến sự bùng nổ xây dựng cũng như sự vươn lên về tầm vóc quốc tế của thành phố này bên ngoài khu vực Bắc Mỹ.

Ngày nay, Ensenada đóng vai trò là một trung tâm kinh tế và văn hóa lớn của Baja California. Thành phố này là nơi tọa lạc của nhiều trường đại học, chẳng hạn như Viện Công nghệ Ensenada và Đại học Tự trị Baja California. Ensenada cũng là một trung tâm công nghệ sinh học quan trọng và là nơi đặt trụ sở của nhiều viện nghiên cứu, tiêu biểu là Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Ensenada. Thành phố này hiện là Thành phố Sáng tạo UNESCO.

Những nàng tiên áo trắng đón nhận “phong bì đỏ” lì xì từ anh Đại Gia Lê Văn Hải, báo hiệu một sự phát tài lớn trong năm Bính Ngọ 2026. Trúng số độc đắc Lottery chăng?

Giá mà được gặp Đại Gia Lê Văn Hải mỗi ngày nhỉ…

Trong chuyến hải hành ấy, điều làm tôi nhớ nhất không chỉ là những chương trình giải trí rực rỡ hay những thành phố ven biển xa lạ, mà chính là tình bạn giữa những người cùng đồng hành. Chúng tôi, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm 12 người ở Nam California, phối hợp với nhóm Văn Thơ Lạc Việt khoảng 20 người ở San Jose. Chúng tôi đến với chuyến đi này như những người bạn quen biết nhau qua văn chương. Ở đất liền, mỗi người có cuộc sống riêng, bận rộn với gia đình, với công việc, hoặc với những trang viết còn dang dở. Nhưng khi bước lên con tàu Royal Caribbean, Quantum of the Seas, dường như tất cả những lo toan thường nhật đều tạm lùi lại phía sau.

Chúng tôi cùng đi dạo trên những hành lang dài của “thành phố nổi”, cùng ngồi nghe những bản nhạc sống, cùng xem các chương trình biểu diễn rực rỡ ánh đèn. Có khi chỉ đơn giản là ngồi quanh một chiếc bàn dài trong nhà hàng Coastal Kitchen, vừa thưởng thức những bữa điểm tâm và những bữa ăn trưa, vừa kể cho nhau nghe những câu chuyện đời. Những tiếng cười vang lên rất tự nhiên. Không ai vội vàng. Không ai phải lo đến những công việc của ngày mai.

Nhà hàng American Icon trang trí tuyệt đẹp với bức tường bằng kinh ngoạn mục…

Và dành cho Khánh Lan chụp những tấm hình cho bạn bè…

Kiều My đấy…

Và đây là Minh Châu…

Katherine Minh Thư nè….
Có lẽ vì thế mà những niềm vui nhỏ bé trong chuyến đi trở nên đáng quý hơn bao giờ hết. Những điều tưởng chừng bình thường, cùng nhau xem một buổi biểu diễn, cùng bước ra sàn nhảy theo nhịp nhạc, hay cùng nâng ly chúc mừng một buổi tối vui vẻ, lại là những khoảnh khắc mà ở cuộc sống thường ngày chúng tôi hiếm khi có dịp thực hiện.

Giữa đại dương mênh mông, “thành phố trên biển” không chỉ mang đến cho chúng tôi những cảnh đẹp và những chương trình giải trí. Nó còn cho chúng tôi thời gian để ở bên nhau, để chia sẻ niềm vui, và để nhớ rằng: tình bạn cũng là một trong những món quà đẹp nhất của cuộc đời.

Dress code: White dress day

Những ngày lênh đênh trên đại dương rồi cũng trôi qua nhanh như một giấc mơ đẹp. Con tàu Royal Caribbean, Quantum of the Seas vẫn lặng lẽ rẽ sóng đưa chúng tôi trở về đất liền, như một thành phố rực rỡ đang từ từ khép lại cuộc phiêu lưu giữa biển khơi. Khi hành trình sắp kết thúc, tôi chợt nhận ra rằng điều còn lại trong ký ức không chỉ là những sân khấu rực rỡ ánh đèn, những buổi nhạc sống vui tươi hay những thành phố ven biển của Mexico như Cabo San Lucas và Ensenada.

Điều còn lại sâu đậm hơn chính là những khoảnh khắc đã cùng nhau trải qua những buổi sáng, buổi trưa sau khi ăn. Chúng tôi thong thả đi dạo trên boong tàu, hay trên các hành lang, rồi ghé qua quán kem để được tận hưởng icecream cone thơm ngon lành lạnh một cách say mê như trẻ con. Rồi chúng tôi diện thật đẹp để cùng thưởng thức bữa ăn thịnh soạn trong không gian ấm cúng và thân mật tại nhà hàng Grande Restaurant vào mỗi buổi chiều tối. Đây là khoảnh khắc đáng ghi nhớ khi ngồi bên nhau trò chuyện như thể thời gian vẫn còn rất dài phía trước.

FEREWELL PARTY…bao giờ cũng đặc biệt với màn diễn hành do các thủy thủ đoàn và nhân viên trong du thuyền diễn xuất. Những tiếng reo hò, vỗ tay, và mọi người cùng cất tiếng hát vang dội trong phòng ăn chính grande, American Icon, v.v… cũng như tại buffet restuarant trên lầu 14, Windjammer Maketplace.

Các nhân viên nhà hàng mặc y phục hóa trang đầy màu sắc

Diễn hành tai Windjammer Marketplace

Farawell party tại Grande Restaurant với những buồn vui lẫn lộn, vui vì sắp về lại “home sweet home” sau những ngày dài xa nhà, buồn vì phải giã từ cuộc vui với bạn bè cùng trang lứa.

NVNT & TTG “lì xì” lấy hên cho waiter Micheal và his assistant.

Trong cuộc sống thường ngày, mỗi người đều bận rộn với nhịp sống riêng. Nhưng trong vài ngày ngắn ngủi giữa đại dương, chúng tôi đã có dịp sống chậm lại, tận hưởng những niềm vui giản dị mà quý giá: được ở bên bạn bè, được cùng nhau thưởng thức những điều đẹp đẽ mà đôi khi ở nhà chúng tôi khó có dịp thực hiện.

Micheal còn một biệt tài nữa là hát rất hay và đàn rất giỏi….
Con tàu đã cập bến. Mỗi người lại trở về cuộc sống đời thường của mình.“Và thành phố trên biển ấy vẫn còn trôi mãi trong ký ức chúng tôi.” Nhưng chúng tôi tin rằng trong ký ức của mỗi người, vẫn sẽ còn mãi hình ảnh của một thành phố rực sáng giữa biển cả, nơi chúng tôi đã có những ngày thật vui, thật nhẹ nhàng, và đầy ắp tình bạn. Và biết đâu, một ngày nào đó, khi nhớ lại chuyến đi này, chúng tôi sẽ lại mỉm cười , vì đã từng cùng nhau sống những ngày đẹp như thế giữa đại dương bao la.
Con tàu đã cập bến từ lâu, nhưng thành phố trên biển ấy cùng những tiếng cười của bạn bè vẫn còn ở lại trong lòng chúng tôi.
Kiều My & Khánh Lan ghi lại đây những kỷ niệm cùng các bạn ttrong chuyến đi cruise trên tàu Roya Caribbean, Quantum Of The Seas, qua hai phố cảng Cabo San Lucas và Ensenada, Mexico, March 4 – 10, 2026
-
XUÂN HỌP MẶT
Khánh Lan & Mạnh Bổng

Mùa xuân luôn đem đến những niềm vui tiếng cười cho mọi người, nhất là trong những ngày Tết.

Tết năm nay, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) chọn họp mặt mừng Tân Niên tại tư gia của Khánh Lan & Mạnh Bổng chiều ngày 27 tháng 2, 2026. Các bạn có biết là Khánh Lan & Mạnh Bổng vui và cảm động lắm không? Bởi hôm nay là ngày thứ Sáu, thế mà, “thứ Sáu thì mặc thứ Sáu“, các anh chị và thân hữu vẫn có mặt tại tư gia của Khánh Lan & Mạnh Bổng thật đúng giờ.

Chị em chúng tôi, những thành viên ưu tú, đẹp gái, đàn hay hát giỏi, và quan trọng nhất của NVNT & TTG. Từ trái sang phải: Minh Khai (Em gái NS Lam Phương), Bích Điệp (Phu nhân NV Ngọc Cướng), Khánh Lan, Ngọc Quỳnh, Kim Hương (Phu nhân Kỹ sư Quốc Dân), Lâm Dung, Jennifer Lâm, Bình Chi, Thụy Lan. (Lệ Hoa & Minh Châu, Chị Mai đến sau vì kẹt xe trên freeway-Rất tiếc sự vắng mặt của anh Alain Đức & chị Ngọc Châu, chị Tường Anh, Mộng Thủy, Chị Kiều My, Ái Liên, Tuyết Nga)

Sự hiện diện của các giáo sư: Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Nhà văn Nguyễn Quang, Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga và anh Peter Thạnh Nguyễn, Nhạc sĩ Võ Tá Hân và phu nhân Kim Châu, nhóm Tây ban cầm Tơ Vàng (Lâm Dung, Bình Chi, Jennifer Lâm), Họa sĩ Hoàng Vinh và phu nhân, Nhà văn Phạm Gia Đại, Nhà văn Ký giả Vương Trùng Dương, Nhà văn Ký giả Phạm Quốc Bảo, Nhà văn Vi Khiêm, Thi sĩ Ngọc Hoa, Văn Thi Sĩ Dương Viết Điền, Thi sĩ Quỳnh Giao, Thi sĩ Huy Anh, Kỹ sư Lâm Quốc Dân và phu nhân Kim Hương, KQ Dương Viết Đang, Cô của Nhà văn Ngọc Cường cũng như Nhà văn Ngọc Cường và phu nhân, Bích Điệp đến từ Ohio. Sự có mặt của các quý Giáo sư & Văn Thi Sĩ là một khích lệ cho toàn thể Liên Nhóm NVNT & TTG.

Hàng đứng, từ trái sang phải: NS Võ Tá Hân, phu quân của chị Bình Chi, Anh Peter Thạnh Nguyễn, TS Huy Anh, KQ Vũ Hòa (Phu quân Ngọc Quỳnh), HS Hoàng Vinh, NV Phạm Gia Đại, KQ Dương Viết Đang, KS Lâm Quốc Dân, Michael (Phu quân Thụy Lan), KG NV Vương Trùng Dương, Cô của NV Ngọc Cường, KG NV Phạm Quốc Bảo, NV Vi Khiêm, KS Trần Mạnh Chi. Hàng ngồi, từ trái sang phải: Mạnh Bổng, NV Nguyễn Quang, GS Trần Huy Bích, NV Ngọc Cường, GS Dương Ngọc Sum, NS Lê Nguyễn Nga, TS Ngọc Hoa, TS Quỳnh Giao.
Rất tiếc sự vắng mặt của NS Dương Hồng Anh, NS Lê Văn Khoa & Chị Ngọc Hà, GS Quyên Di, TS Minh Đức, Anh Hoàng Đình Khuê, NV Hồng Thủy. (tiếc nhất là Nhà văn Hồng Thủy từ Washington DC đến trễ 2 ngày (March 2) nên không tham dự được). Đây là lần thứ 3 mà NVNT & TTG mất có cơ hội để tiếp đón bà. Thật là một điều thiếu sót.

Trong dịp này, thi sĩ Ngọc Hoa của hội Văn bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ đã “lì xì” cho NVNT & TTG $44 tiền $2 & $5 mới tinh, cũng như ông bà Họa sĩ Hoàng Vinh đã tặng cho hội của chúng tôi $100. Khánh Lan xin thay mặt cho Liên nhóm NVNT & TTG chân thành gởi lời cảm ơn đến tam vị mạnh thường quân.

Đây là buổi họp mặt mừng xuân thứ hai sau đại dịch COVID-2019 mà gia đình NVNT & TTG họp mặt mà có gần như đông đủ các thành viên và thân hữu tham dự. Và trong những dịp vui như thế này, dĩ nhiên là không thể thiếu bóng dáng của con chim đầu đàn Nhà Văn Việt Hải và phu nhân lệ Hoa. Tuy rằng lần này, từ thành phố Winnetka (nơi NV Việt Hải cư ngụ), Nhà văn Việt Hải, phu nhân Lệ Hoa và Nhà văn Dương Viết Điển đã mất 4 tiếng đồng hồ “than vắn thở dài” trên freeway, vì phải đổi từ xa lộ này qua xa lộ khác để đến họp mặt mừng Tân Niên Bính Ngọ.

Giời ơi! Xem kìa: “Gươm lạc giữa rừng hoa”

Những đóa hồng nở rộ trong vườn hoa văn nghệ Tiếng Thời Gian…

Những cái “hug” thân tình, những “hand shake” xiết chặt của bao ngày xa cách giữa ba anh cựu SVSQDL Phạm Quốc Bảo, Vương Trùng Dương, Dương Viết Điền đã gây bao xúc động trong lòng chúng tôi. Có lẽ trong chính các anh cũng đang cố nén cơn xúc động và giọt lệ hân hoan.

Phải, mới ngày nào, những mái tóc còn xanh nay đã thay màu đổi sắc theo thời gian…

Hàn huyên tâm sự xong giờ phút quan trọng đã đến: NHẬP TIỆC với thức ăn thật ngon. Ôi chao nhiều thứ quá! Nào là: bánh chưng, thịt đông, giò thủ, thịt kho trứng & dưa giá, dưa chua 2 miền Nam Bắc, dưa món, gà chiên bơ, gà hấp muối, xôi bắp, xôi mặn, bún thịt nướng, Korea kimbab, sâm bổ lượng, chea & nấm tuyết & dâu tươi, chuối chiên, càri gà & bánh mì Pháp, bánh bèo, bánh bột lọc, tôm hỏa tiễn, chả giò, cháo gà, bánh cake mừng xuân và rượu chát, v.v…

Bữa cơm mừng xuân….



Sau bữa ăn tối thân mật và tâm tình là phần văn nghệ,

Chúc Tết và chia sẻ cảm nghĩ về ngày Tết. Các quý giáo sư, Văn Thi Sĩ và thân hữu được mời lên để có đôi lời.

Nhà văn Ngọc Cường & phu nhân Bích Điệp

TS Ngọc Hoa, Thủ quỹ và đại diện cho Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ.

KS Lâm Quốc Dân, anh họ của NV Việt Hải

Hàng đứng và từ trái sang phải: HS Hoàng Vinh, NV KG Phạm Quốc Bảo, Mạnh Bổng, Anh Vũ Hòa. Hàng Ngồi từ trái sang phải: VTS Dương Viết Điền, GS Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang.
Hôm ấy, Khánh Lan cũng được phép thay mặt đọc lá thơ của anh Hoàng Khuê gởi lời chúc tết đến nhà văn Việt Hải và toàn thể các thành viên trong Liên nhóm NVNT & TTG. Nữ sĩ Dương Hồng Anh cũng không quên gởi tặng bài thơ chúc tết đến Nhà văn Việt Hải và Liên nhóm NVNT & TTG. Khánh Lan cũng đã thay mặt cho nữ sĩ để diễn ngâm bài thơ song thất lục bát:
KHAI BÚT XUÂN BÍNH NGỌ
Kính tặng nhà văn Trần Việt Hải và tất cả các bạn văn nghệ sĩ của tôi.
Xuân về hoa nở hương thơm gió
Rực rỡ hoa đào phơ phất bay
Giao thừa pháo nổ khuya nay
Mừng xuân Bính Ngọ đón ngày đang lên
Rượu đào nâng chén, thơ khai bút
Chuông võ âm vang thảo mấy vần
Bâng khuâng bút mực nhìn xuân
Cỏ cây hoa lá muôn vàn sắc hương
Tôi muốn nhìn xuân còn trẻ mãi
Như ngày xưa thân ái bốn mùa
Trắng trong tà áo lụa tơ
Sân trường lớp học ngây thơ nhìn đời
Xuân vẫn còn đây xuân hỡi xuân
Nàng thơ kiều diễm đẹp muôn vàn
Thơ say dòng mực tuôn tràn
Hoa thơ nhạc nở, cung đàn lên tơ
Giao thừa khai bút, bút khai xuân
Đốm lửa quê hương lộng gió ngàn
Tình xuân lai láng thư trang
Bóc tờ lịch mới mang mang suối hồn.
Dương Hồng Anh khai bút đầu xuân 2026
Sau phần khai mạc và chia sẻ tâm tình, tiếp theo là phần văn nghệ mừng xuân. Buổi tiệc hôm nay vắng bóng Mc mộng Thủy, Nhà văn Mc Phạm Gia Đại đã thay mặt Mộng Thủy giúp phần giới thiệu văn nghệ và anh cũng không quên giới thiệu, hai thành viên độc quyền cầm tinh con “NGỌ” cho năm nay: Chị Bích Điệp & Anh Mạnh Bổng. “Tuy……..nhưng xuân xanh vẫn còn tươi thắm lắm, phải không quý anh chị?”

Buổi họp mặt lần này, Kỹ sư Trần Mạnh Chi lãnh nhiệm vụ nặng nề nhất, anh đã có công “vác” dàn máy karaoke đến để mọi người ca hát cho vui. (và quý nhất là save $250 cho gia chủ, cảm ơn anh Chi, hihihi…)

Màn trình diễn của nhóm Tây ban cầm Tơ Vàng thật đặc sắc và thú vị, Khánh Lan cũng xin được thay mặt cho Liên nhóm NVNT & TTG gửi lời cảm ơn đến các chị trong nhóm tơ vàng. Mong rằng chúng ta sẽ có gặp nhau hoài hoài và dài dài, các chị nhé?

Nhóm Tây Ban Cầm Tơ Vàng

Bởi vì là buổi tiệc mừng xuân nên NVNT & TTG có thêm một tiết mục “đen đỏ” nữa là “bầu cua cá cọp“, do cô thủ quỹ đại tài “Katherine Minh Thư“ chủ xướng dưới sự phụ tá của anh Michael Lê.

Jesus Chris! Heaven and Earth!
Không ngờ cái “đỏ đen” ấy lại đánh bại cả phần “văn nghệ mừng xuân” mới đáng sợ chứ!

Tuy nhiên, dù “đen đỏ chi đó” nhưng các “con bạc” chỉ được phép cá cuộc từ 25 cents đến $1 là maximum mà thôi. Vui thật là vui…

Và đã thu hút tất cả chúng tôi…..Thế thì cuối cùng ai ăn ai thua đây? Chắc phải hỏi lại nhà cái Katherine Minh Thư và anh Michael quá.


Bế mặc buổi tiệc mừng Xuân Bính Ngọ với chiếc bánh do Văn thi sĩ Dương Viết Điền tặng.


Còn Khánh Lan thì ……thi hành nhiệm vụ: Cắt bánh mời bạn hữu thân tình

Cuộc vui nào rồi cũng đến lúc kết thúc … Đồng hồ điểm 11:15 tối, mọi người ra về trong luyến tiếc, vui vẻ, an bình và hạnh phúc. Chấm dứt một ngày vui và chúng tôi lưu luyến chia tay. Xin hẹn mùa xuân tới 2027.
TƯỜNG TRÌNH TỔNG KẾT TỪ NV VIỆT HẢI
Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 – lời ước hẹn sum họp của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

Tết Nguyên Đán không chỉ là khởi đầu mới mà còn mang ý nghĩa vui kết hợp, vui sum vầy, một thời gian thiêng liêng. Mỗi độ xuân về, người Việt lại nôn nao trở về, gửi gắm hy vọng và yêu thương trong không khí đoàn tụ ấm áp dón xuân. Tết Nguyên Đán được xem là lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất trong năm đối với truyên thống của người Việt Nam.
Tết Nguyên Đán còn được gọi là Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, hay chỉ gọi đơn giản là “Tết” – là Tết lớn nhất trong năm, diễn ra vào mùa xuân, thời điểm kết thúc một chu kỳ bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông để bước vào một chu kỳ mới, một khởi đầu mới. Vì vậy, ngày Tết rất quan trọng, như dịp không gian chuyển mùa. Trong tiếng Việt, Tết là dịp hội hè, cũng là dịp lễ vui vẻ, bát tiết của Việt Nam không phải là Lập xuân, Xuân phân…
Trong tám ngày Tết ấy, Nguyên Đán là ngày tết đầu năm, cho nên gọi là Tết hội ngộ, sum vầy bên nhau. Hai anh chị ca sĩ Lưu Mạnh Bổng và nghệ sĩ Khánh Lan, cả hai vui tánh, tốt với bận bè, giang sơn bên sau nhà ở Anaheim Hills là khu vườn Ngự Hoa Viên Thượng Uyển Có ngôi Gia Các Điện bé tí nho nhỏ xinh xinh, thảo nào hai anh chị Nguyễn Tiến Quỳnh Giao và Pilot Dương Viết Đang hè nhau chụp hàng trăm tấm hình deluxe paparazzi, dán đầy nhóc trên phếch bút.

Khu vườn Ngự Hoa Viên Thượng Uyển Có ngôi Gia Các Điện bé tí nho nhỏ xinh xinh.
Cuộc vui kéo dài do bói sư emcee Phạm Gia Đại Papillon số 17 Gulachamp.

Bình Luận Gia, Emcee Phạm Gia Đại Papillon Gulachamp cho màn thuyết minh về lá số tử vi phong thủy, dịch luận cân kinh về năm Bính Ngọ Mustang như sau:
LỜI BÀN CẢNH TỈNH 2026: NĂM BÍNH NGỌ (CUNG MỆNH HỎA) GẶP NĂM THẾ GIỚI SỐ 1 – CƠ HỘI BỨT PHÁ HAY NGUY CƠ BỊ “THIÊU RỤI”? CS Cuba, CS China, CS Nga Sô, CS Lâm Tô Pắc Pó,… trong Năm 2026 Bính Ngọ là năm mà Thiên Can Bính và Địa Chi Ngọ đều thuộc hành Hỏa. Người xưa gọi là Song Hỏa, hay Ngựa Lửa – hình ảnh của những tuấn mã lao đi với bờm bốc cháy, đầy nhiệt huyết và tốc độ, tự hủy diệt.

Trong văn hóa phương Đông, Anh Phạm Gia Đại Papillon số 17 Gulachamp bốc quẻ 60 năm mới có một lần Bính Ngọ, và lần gần nhất là 1966 – một năm được nhắc đến với nhiều biến động và thay đổi lớn. Năng lượng Hỏa mang đến sự bùng nổ, sáng tạo, nhưng cũng dễ thiêu rụi nếu không biết điều tiết. Nó giống như ngọn lửa mặt trời giữa trưa – rực rỡ nhưng có thể làm khô cằn nếu thiếu nước USA MAGA tưới mát cứu mạng.
Cùng lúc đó, theo khoa thần số học, năm 2026 được tính là Năm Thế giới số 1 (2+0+2+6=10, 1+0=1). Con số 1 tượng trưng cho sự khởi đầu, cho tinh thần tiên phong, cho những hạt giống được gieo xuống sau một chu kỳ 9 năm đầy biến động. Năm 2025 là năm số 9 – năm của sự kết thúc và thanh lọc, vậy nên 2026 chính là trang đầu tiên của cuốn sách mới. Hai năng lượng này gặp nhau: một bên là Hỏa của hành động mau lẹ, một bên là số 1 của khởi đầu táo bạo. Có người sẽ nghĩ đây là thời điểm lý tưởng để phi nước đại về phía trước, để đầu tư mạnh tay, để thay đổi cuộc đời chỉ trong một sớm một chiều.
Trong khi đó, năng lượng của số 1 không phải là sự vội vàng. Nó là sự khởi đầu có ý thức, là việc gieo hạt giống cho những mùa vụ sau. Người làm vườn giỏi không vội vã kéo cây lên để xem rễ dài chưa. Họ chuẩn bị đất, chọn hạt giống tốt, tưới nước đều đặn, và kiên nhẫn chờ đợi. Năm số 1 là năm để làm điều đó: xác định lại hướng đi, dọn dẹp những gì không còn phù hợp, và bắt đầu những dự án có tính dài hơi.
Lửa thì vốn không có lỗi. Lửa có thể sưởi ấm căn nhà trong đêm đông lạnh giá, giúp thức ăn chín mềm. Nhưng lửa cũng có thể thiêu rụi cả một cánh rừng chỉ trong chớp mắt nếu ta vô ý ném một tàn thuốc xuống lớp lá khô.
Cơ hội bứt phá hay nguy cơ cháy rụi không nằm ở việc năm nay là năm gì, mà nằm ở việc nội lực của bạn đang dung chứa điều gì. Nếu bạn mang một cái tâm đầy mong cầu, muốn giàu nhanh, muốn chứng khoáng tăng vọt hãy xét bản thân xuất chúng hơn người khác, năng lượng của năm nay sẽ đẩy bạn đi rất nhanh. Nhưng là đi nhanh đến bờ vực hố sâu không lối về nhá.
Sự nóng vội làm trí tuệ mờ mịt. Ta dễ dàng lao vào những khoản đầu tư đầy rủi ro, buông những lời làm tổn thương bạn đời chỉ vì áp lực công việc, hay tự vắt kiệt sinh lực của chính mình vì chạy theo những mục tiêu do xã hội định nghĩa. Đó là lúc ngọn lửa thiêu rụi đi phước báu và sự bình an của bạn.
Casino Dealer Kaytherine Minh Thư

Bầu cua cá cọp hay còn gọi là Bầu cua tôm cá hoặc Lắc” bầu cua”, là một trò chơi đánh bạc lành mạnh dip Tết của Việt Nam sử dụng ba con xúc xắc. Trò chơi này thường được chơi vào dịp Tết Nguyên đán của Việt Nam.
Thay vì xem những dấu chấm, ở các mặt của xúc xắc xí ngậu, trò chơi này là những hình vật và thú vật, mang có hình ảnh của cá; tôm; cua; gà trống; bầu; và nai (hoặc hổ). Người chơi đặt cược trên một bảng có sáu hình ảnh, đặt cược vào hình ảnh nào sẽ xuất hiện. Nếu một con xúc xắc trùng khớp với cược, người chơi nhận được số tiền bằng với số tiền đã đặt cược. Nếu hai con xúc xắc trùng khớp với cược, người chơi nhận được gấp đôi số tiền đã đặt cược. Nếu ba con xúc xắc trùng khớp với cược, người chơi nhận được gấp ba lần số tiền đã đặt cược. Nếu một người đặt 3 đồng vào cá, và người chia bài tung được 1 cá, 1 cua và 1 nai, thì người chơi sẽ nhận được 3 đồng trong khi vẫn giữ nguyên 3 đồng đã đặt cược. Bất kỳ khoản tiền nào không được thưởng cho vòng chơi sẽ được giữ trong một quỹ chung do người chia bài quản lý, người này sẽ tung xúc xắc.
Bầu cua cá cọp về cơ bản là phiên bản gốc tiếng Việt của Hoo Hey How (Cá-Tôm-Cua) được chơi ở bên Tàu, và Klah Klok/Kla Klouk là phiên bản của Campuchia, và trò chơi xúc xắc Crown and Anchor được các thủy thủ Anh áp dụng, hoặc chuck-a-luck được chơi ở Mỹ.
Ngược lại, nếu bạn dùng năm khởi đầu này để gieo những hạt giống thiện lành, lấy sự tỉnh thức làm la bàn, mọi thứ sẽ hoàn toàn khác. Bạn vẫn hành động, vẫn làm việc nhưng với tâm thế vững chãi. Hãy mang hết tiền của vô cho madame Casino Dealer Katherine Lê Minh Thư… Bạn sẽ hiểu rõ năng lực của mình muốn mau giàu đến dễ ẹc thôi, chung vốn hết một phùa gambling nhá, biết đích điểm dừng và biết nhẫn nại quan sát trước khi ra oánh cú chót khi quyết định bankcrupt chapter 11.
Khi đó, ngọn lửa Bính Ngọ sẽ soi sáng con đường bạn đi. Nó cho bạn dũng khí để cắt bỏ những thói quen nhát gan cũ kỹ, không dứt khoát rời xa những môi trường tươi mát, Casino Dealer Minh Thư không độc hại đã kìm hãm sự phát triển nội tâm làm giàu nhah chóng của bạn bấy lâu nay.
Vậy khi Song Hỏa gặp khởi đầu số 1, chúng ta cần làm gì?
Trước hết, hãy nhìn vào bên trong lá số xêm xêm lá bài tẩy nhá. Bính Ngọ tuy là Hỏa, nhưng nạp âm của năm này lại là Thiên Hà Thủy – nước trên trời. Đó là một thông điệp rất sâu sắc. Nước mưa từ trời rơi xuống có thể dập tắt lửa, nhưng cũng có thể nuôi dưỡng mầm sống. Vì vậy cho nên năm nay không dành cho những ai chỉ biết bùng cháy mà không thèm biết làm mát tiền của, gia bảo của mình. Nó dành cho những người biết kết hợp giữa nhiệt huyết và trí tuệ, giữa tốc độ và sự thấu hiểu, giữa hành động và tĩnh lặng.
Cũng trong năm nay, năng lượng số 1 khuyến khích sự độc lập và tự chủ. Nhưng độc lập không có nghĩa là cô lập. Nó là khả năng đứng vững trên đôi chân mình, nhưng vẫn giữ được sự kết nối với cộng đồng, với gia đình, với những người đồng hành. Nó là sự tự do nhưng không vô trách nhiệm. Nó là dám nghĩ dám làm, nhưng vẫn biết lắng nghe góp ý như sau,…
Thứ nhất, chậm lại trước khi quyết định nhanh. Một năm năng lượng cao càng cần nội tâm vững. Mỗi quyết định lớn, hãy hỏi thêm một câu. Việc này đến từ sợ hãi hay từ hiểu biết.
Thứ hai, xây nền trước khi xây tầng hốt cú chót casino. Nhiều người muốn đổi vận nhưng không chịu đổi thói quen. Nhân quả không vận hành theo cảm xúc nhất thời. Nó vận hành theo lặp lại mỗi ngày.
Thứ ba, giữ lửa oánh mau oánh bạo, nhưng đừng đốt vốn chủ cái, vì như vập không có người làm cái nhá. Trong mối tương quan khi học cách nói điều cần nói với tâm thế xây dựng sòng bạc sống vui sống khỏe, là năm năng lượng mạnh càng cần sự mềm mỏng của trí tuệ oanh bạc tinh khôn.
Với những ai đang tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, đang ở ngã rẽ của sự nghiệp hay hôn nhân, năm 2026 là cơ hội để bắt đầu lại. Nhưng bắt đầu lại không phải là xóa bỏ tất cả. Nó là chọn lọc: giữ lại những gì tốt đẹp, buông bỏ những gì độc hại, và dũng cảm bước về phía trước với một tầm nhìn rõ ràng hơn.
Năm số 1 là năm gieo hạt cho cả một chu kỳ 9 năm tiếp theo. Nếu hôm nay bạn gieo xuống hạt giống của lòng tham và sự bám víu, quả nhận lại trong tương lai sẽ là sự chông chênh mệt mỏi. Nhưng nếu bạn gieo xuống hạt giống của sự thấu hiểu, của sự khiêm nhường và tỉnh thức, bạn sẽ gặt hái được sự vững chãi đi qua mọi biến động.
Để làm được điều này không thể chỉ dựa vào vài dòng cảm xúc nhất thời. Chúng ta cần một hệ quy chiếu đúng đắn để soi rọi lại từng ngóc ngách của tâm trí, hiểu rõ cội rễ của những khổ đau và hạnh phúc mình đang tạo ra. Đó cũng là lý do tôi luôn mong muốn những người hữu duyên có thể bước vào hành trình Chánh kiến – Đánh thức ý nghĩa cuộc đời. Ở đây, chúng ta không dạy nhau chiêu trò để thành công nhanh hay hô hào những năng lượng sáo rỗng. Chúng ta cùng nhau đi sâu vào nội tâm, dùng luật nhân quả làm la bàn để gọt giũa lại chính mình.
Ghi nhận từ kim chỉ nam khi bạn đặt tụ, chôn vốn vững chắc của Casino Mentor, lý thuyết gia Bói Sư emcee Phạm Gia Đại Papillon số 17 Gulachamp.
Ghi vội by VHLA
NV Kiều My có gởi đôi lời chúc Tết đến qua Ánh Xuân Còn Mãi Trong Ta.
Xuân lại ghé thăm lần nữa! Xuân đã gõ cửa, như đôi cánh bay đến trước hiên nhà trong những ngày se lạnh cuối đông. Vậy chúng ta hãy cùng đồng hành trong mùa xuân có những đóa hoa tươi bắt đầu nở rộ, như tiếng nhạc ngân trong không gian có nắng hanh vàng êm dịu.
Cuộc họp mặt vui tươi ngày đầu xuân êm ấm làm sao! Những nụ cười rạng rỡ như những đóa hoa xuân tỏa hương đầu mùa trao đến nhau. Đó là niềm vui không bằng tiền, nhưng bằng tình người và đó cũng chính là mùa xuân đẹp nhất chúng ta có thể nhận được. Trong khoảnh khắc khó quên ấy, chắc hẵn tâm hồn chúng ta đã lặng đi một nhịp rồi đó, phải không, thưa quyGiáo sư, văn nhân thi sĩ…và quy bạn hữu thân thương…?
Kiều My rất tiếc nuối vì đã vắng mặt trong buổi sum họp đầu năm của NVNT & TTG. Nhưng bằng sự tưởng tượng và hình dung một khung cảnh ấm cúng và vui tươi cũng đủ làm lòng mình xao xuyến trong buổi chiều kỷ niệm hôm ấy. Để xoa dịu tâm hồn, KM mạo muội thân gửi những vần thơ Ánh Xuân Còn Mãi Trong Ta dưới đây, xin qúy vị đón nhận như những đóa hoa xuân… như hoa có đất để nở một cách trọn vẹn.
Xuân về trước ngõ rất nhẹ
Nắng hanh vàng…màu kỷ niệm
Rơi đầy trước mái hiên nhà
Ta ngồi nghe xuân trong gió
Nghe đời thức giấc dịu êm
Một năm thôi…xin chậm lại
Cho lòng kịp giữ bình yên
Xuân ơi! Xin về thật khẽ
Cho tim còn kịp yêu thương
Cho ta quên bao giông tố
Giữ nhau giữa cõi vô thường
Xuân ơi! Xin đừng vội tắt
Ánh xuân trong mắt nhau đây
Dẫu đời mong manh như khói
Vẫn tin…tình người còn say
Xuân ơi! Xin đừng vụt mất
Ánh xuân còn ở trong ta
Một đời đi qua bão tố
Vẫn tin… tình người không xa
Xuân ơi! Xin đừng vội tắt
Ánh xuân…còn mãi trong ta…
Kiều My, Xuân Bính Ngọ 2026

Thưa quý giáo sư, quý niên trưởng, và quý anh chị em,
Thật là một niềm vui khi một lần nữa chúng ta họp nhau, hội ngộ trong niềm vui đầu năm. Khi Khánh Lan đọc thư chúc Tết mà anh Hòang Đình Khuê gửi mọi ngườị, tôi có đề cập là nay đã có nhiều hội viên, hay thân hữu bị té ngã liên miên. GS Dương Ngọc Sum té 4 lần, nhà văn Nguyễn Quang té ngã, Nguyễn Nga té ngã, nữ sĩ Dương Hồng Anh té ngã. Đây chính là luật của tạo hóa khi con người đối diện với ánh hoàng hôn tuổi già, aging syndrome (hội chứng lão hóa).
Có điều sáng nay tôi được biết một sự kiện đã rồi biết khá trễ, dù hôm qua bao tiếng cười quanh casino bầu cua, bao tiếng hát ca vui vang mùa Tết thì trong lòng một gia chủ giấu diếm một nỗi buồn “đoạn trường“. Số là vì sáng thứ Tư ngày 25 tháng 2, 2026, Khánh Lan được tin người anh thứ hai bị té ngã nứt xương khá nặng nên lá phổi bị ép lại không mở ra khiến không thở được và lá lách bị dồn qua một phía. Bác sĩ của bệnh viện UCI đã mổ, đang trong tình trạng hồi phục và hiện đang điều dưỡng tại Mission Palm Medical Care Center. Tuy nhiên, hôm họp mặt mừng Xuân Bính Ngọ, Khánh Lan đã cố giữ bình tĩnh để tiếp đón bạn bè. Khánh Lan nói nếu cô nói cho mọi người biết thì cô sẽ khóc, như thế buổi họp mặt mừng xuân sẽ mang đến không khí u buồn và không vui. Anh của Khánh Lan đã 82 và như thế anh đang ở thế hệ tuổi tác như các anh Phạm Quốc Bảo, Dương Việt Điền, Phạm Gia Đại, Ngọc Cường, Hoàng Đình Khuê, v.v…. là những đàn anh sẽ đối diện với những khó khăn tuổi đời, bằng cách này hay cách khác,…

Lý Tòng Tôn, a friend of laughters.

Nói đến đây tôi chạnh lòng nhớ đến người bạn quá cố Lý Tòng Tôn (một GS. Toán trước 1975 dạy ở trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ, anh Tôn bằng tuổi tôi, hằng năm anh thường đi du lịch ở các xứ. Một lần, nhân khi anh đi du lịch bên Hawaii, tôi đề nghị phái đoàn anh cho vợ chồng tôi và bạn bè Nhân Văn Nghệ Thuật đi chung cho vui. Rồi tất cả chúng tôi cùng vui nơi biển cả Honolulu. Hôm đi tắm biển Waikiki, mọi người vui chơi, vui đùa sóng biển, anh Tôn đang vui sóng, anh thấy tôi ngồi trên bờ, lonely đăm chiêu ngó trời biển, anh bỗng chạy ùa đến tôi, anh nói:
– Ê, ông Hải tui kéo ông xuống biển cho dzui.
Tôi ngó biển sóng lớn liên tục dội vào bờ, tôi nói:
– Nhìn sóng lớn, không biết có ma gia, cá mập dưới nước không nữa, half paralyzed như tui chỉ có chết, Thôi đi ông,…tui chịu thua.
Anh Tôn nói lớn thách thức ra vẻ tự tin:
– Đừng lo tui lội, lặn sông Hậu Ô Môn (sông Cần Thơ, quê hương anh Tôn), tui dạy bạn bè bơi lội mà, ông ôm cổ tôi chật nghe.
Cuối cùng tôi xuống nước, biển Waikiki vào hè nước ấm, không lặng như nước biển Cali, anh Tôn cõng tôi ra xa, anh nói:
“Từ đây tôi nghĩ mình ở chiều sâu 3 thước”.
Lòng tôi lo sợ vì khá rung khi sóng vỗ liên hồi vào mặt, tôi đề nghị bỏ cuộc chơi liều lĩnh. Tuy anh Tôn bơi chó khá giỏi nhưng mang trên lưng một heavy load là tôi nữa… tôi hối anh Tôn:
– Thôi ông thầy, em xin dzô, ra sóng lớn nguy hiểm quá!
Thầy Tôn cười ha hả chê tôi “chicken dies“. Anh Tôn cũng như Khánh Lan, những người bạn vì bạn bè. Xin cám ơn Lý Tòng Tôn và Lưu Khành Lan!!!
VHLA
Sans Toi Ce Soir Paroles Viet Hai Musique Kieu My:https://www.youtube.com/watch?v=GEeDdodegm8&list=PL39hXPAmuV8qFvv7JnI47Pmkgt_3bnSVG&index=3
Tết năm này bạn bè hội tụ nơi tư gia Lan Bổng tại vùng đồi núi Anaheim Hills, khiến tôi nhớ mùa xuân năm cũ khi hội ngộ tại gia trang Từ Mai của GS. Trần Huy Bích, tôi xin trích doạn bài viết kỷ niệm của nhà văn Khánh Lan, tự đề:
Tình bạn tri kỷ, tâm giao … dư âm hoài niệm tại Từ Mai Gia Trang (GS Trần Huy Bích). March 16, 2024, bài Khánh Lan kể tiếp:
Theo danh nhân thi ca Kahlil Gibran (1883-1931), thi sĩ và họa sĩ người gốc Lebanese (Li-băng), được xem như một trong các đạo sư vĩ đại của thế kỷ 20. Các tác phẩm của ông chứa đựng những thông điệp cao cả, nhất quán và vượt thời gian về một thế giới đại đồng, tôn giáo hòa đồng, tình huynh đệ, một tình thương vĩnh hằng nối kết con người với nhau trong tình yêu thương nhân loại từ Thượng đế giữa một trần gian hiệp nhất với không gian. Do vậy, Ngôn sứ (prophet), được hiểu như một sứ giả chuyển giao một thông điệp bằng ngôn từ…” Về Tình bạn.”
Một người tuổi trẻ thưa, Hãy nói cho chúng tôi về tình bạn và Gibran đáp lại rằng:”Người bạn là những cần thiết của các bạn được đáp ứng”.
Phải chăng,Giáo sư Từ Mai Trần Huy Bích chính là cánh đồng bao la với con tim vĩ đại và Từ Mai Trang là điểm hẹn để các bạn gieo hạt yêu thương và sẽ gặt hái tình bạn chân thật với lòng biết ơn người đã vun tưới nó …
Cánh đồng Từ Mai Trang là bàn ăn đầy ắp thực phẩm và cái lò sưỡi kia là nơi ấp áp trong mùa đông lạnh giá. Đến gia trang của Thày Từ Mai Huy Bích hẳn các bạn đã tìm đến nơi tràn ngập sự bình an. Các bạn ơi, bạn có biết, bạn đã tìm đến một nơi để nghe thông điệp ngôn sứ của Thày Từ Mai Huy Bích về thế nào là tình bạn thực sự. Xin thưa rằng khi bạn đến với Từ Mai Gia Trang là bạn đã nghe The Prophet, một danh tác về tình bạn của cụ Khalil Gibran, giáng cơ qua Thày Từ Mai Trần Huy Bích….
Những niềm vui của tình bạn (The Pleasures of Friendship):
Niềm vui của tình bạn thật tuyệt vời,
Thật thú vị biết bao khi được đi thăm một người bạn!
Tôi đến bên bạn tôi, chúng tôi đi dạo trên bãi cỏ,
Và những giờ phút như phút trôi qua.
Phân tích bài thơ The Pleasures of Friendship: Bài thơ này ca ngợi những niềm vui giản dị của tình bạn, sự hài lòng trong những trải nghiệm được sẻ chia và thời gian trôi qua. So với những tác phẩm u ám hơn của Smith, nó mang đến một khoảng thời gian nghỉ ngơi sảng khoái với giọng điệu vui vẻ và tập trung vào những khía cạnh tích cực của sự kết nối tình bạn giữa con người với nhau. Nó phản ảnh của sự mong muốn được an ủi bằng sự thoải mái của thời hậu Thế chiến thứ hai, nhấn mạnh tầm quan trọng của mối liên kết giữa con người với nhau trong một thế giới đang phục hồi tái thiết sau chiến tranh và chịu dựng những mất mát.
Nói về tình bạn, Khánh Lan cũng đã sáng tác một bài thơ về tình bạn như sau:
Tình Bạn Vô Biên
Thời gian trôi lặng lẽ
Thấm thoát bảy thập niên
Văn thuần, thơ hiệp ý
Tâm đắc bạn văn chương.
Ước giao tình Tri kỷ
Xướng họa cùng ngâm nga
Thầm khen thơ ý lạ
Đáng yêu hạ bút thôi.
Nhớ mãi những buổi chiều
Cảm tác đôi vần thơ
Vô biên về tình bạn
Luôn đậm đà thiết tha.
Hỡi tâm hồn khoáng đạt
Mãi say đắm mộng mơ
Những dòng thơ hoa mỹ
Vằng vặc dưới trăng ngà.
Xuân về tại Từ Mai Gia Trang… Trong bữa tiệc Tân Niên tại Gia Trang của Giáo Sư Từ Mai Trần Huy Bích, Nhà Văn Khánh Lan đã chúc Tết quý Thày Cô qua mấy câu thơ và gởi lời chân thành cám ơn Giáo Sư Trần Huy Bích cùng quý vị niên trưởng và quý anh chị em…
Xuân về kính chúc quý thầy cô.
An khang, thịnh vượng, bao niên kỷ.
Trường thọ, Thanh Nhàn, khoáng đạt tâm
Văn chương, lịch sử thời thông suốt
Rạng danh nhà giáo khắp bốn phương.
Nhân dịp xuân về Khánh Lan đã thảo một bài thi ca Hán Việt, tứ ngôn tứ tuyệt thể biền ngẫu cân đối:
Mai khai phú quý.
Đào tải an khang
Thọ sinh vạn phúc
Lộc cung thắng lợiPhúc cầu toàn gia.
Mùa xuân đến, thiên nhiên chuyển mùa, không gian bừng sinh, Khánh Lan đã họa bài thơ chúc mừng xuân mới như sau:
Xuân nay trở về
Không gian tái sinh
May mắn vào cửa
Hoan hỉ tràn dầy.
Khánh Lan cho rằng không hẳn chỉ có mùa Xuân ở Trung Hoa hay Việt Nam, mà mùa Xuân còn ở những nơi như Teipei (Đài Bắc Đài Loan), Seoul (Đại Hàn) …
Đôi Nét về Thi Ca Truyền Thống Nhật Bản (Haiku) và thi ca Truyền Thông Đại Hàn (Sijo)
Dựa theo bài viết trên trang nhà KBS-World-Âm Điệu Ngàn Xưa thì “khi ta đề cập đến thi ca truyền thống Nhật Bản, người ta thường nghĩ về thể thơ Haiku (句) bởi lẽ đây là một thể thơ thịnh hành ở Nhật Bản. Haiku là sự dung nạp và kết tinh của nhiều giá trị văn hóa tinh thần của người phương Đông như Hoa, Nhật, Hàn hay Việt tộc. Tương tự như thơ Haiku của người Nhật Bản, thơ Sijo (소지) của Đại Hàn. Xét về thơ cổ Sijo là thể thơ truyền thống của dân tộc Hàn, một bài thơ thuộc thể loại này thường có bố cục ba dòng truyền thống. Thơ cổ Sijo là thể thơ truyền thống của dân tộc Hàn. Một bài thơ thuộc thể loại này thường có bố cục ba dòng. Mỗi dòng có hai nhịp, mỗi nhịp có từ 3 đến 4 chữ. Vậy nên thơ cổ Sijo còn được gọi là thể thơ ba dòng sáu nhịp.
동짓달 기나긴 밤을 한 허리 둘에 내어
춘풍 이불 아래 서리서리 넣었다가
임 오는 밤이어들란 구비구비 펴리라.
Bài viết của nhà văn Khánh Lan chạm vào 2 nguồn thơ Sijo và Haiku, cho thấy khi mùa xuân về như thế nào, như rồi cả hai Sijo và Haiku, cho dến cuồi bài thì vẫn gặp thi ca Việt Nam, đó là bài danh thi của Nguyễn Công Trứ. xin xem tiếp như sau:
Thơ cổ Sijo vừa là tác phẩm văn học vừa có thể trở thành lời của bài hát với những câu chữ ngắn gọn nhưng lại sâu sắc, có thể diễn tả mọi cung bậc của cảm quan, cảm xúc. Sau này bố cục truyền thống của thơ cổ Sijo dần biến đổi cách tân, thành thể loại có số âm tiết nhiều hơn được gọi là Saseolsijo. So với thơ cổ truyền Pyeongsijo, nhịp điệu và tiết tấu của thơ cổ Saseolsijo nhanh và sôi động hơn.
Thơ cổ phổ nhạc Pyeongsijo và Saseolsijo
Một bài thơ cổ Sijo thường có khoảng trên dưới 45 chữ. Đây là thể loại thơ cổ phổ biến và còn được gọi là Pyeongsijo. Sau này bố cục truyền thống của thơ cổ Sijo dần biến đổi thành thể loại có số âm tiết nhiều hơn được gọi là Saseolsijo. So với thơ cổ Pyeongsijo, nhịp điệu và tiết tấu của thơ cổ Saseolsijo nhanh và sôi động hơn.
Trong tên của thể loại thơ cổ phổ nhạc Saseoljireumsijo, từ “Saseol” có nghĩa là “ca từ nhiều chữ”, ám chỉ không theo quy tắc thơ ba bốn chữ mà sáng tác tự do. Còn “Jireum” có nghĩa là “hét lên”, ám chỉ là “phần đầu của khúc hát được hát với giọng cao”. Vốn dĩ thơ cổ Pyeongsijo được hát với giọng đều đều, không quá cao hay quá thấp. Nhưng trích đoạn “Sanjunghae” (Giữa rừng xanh) mà chúng ta vừa nghe lại có phần đầu được hát bằng giọng rất cao. Câu ca mượn lời thoại giữa người thợ săn và con ngỗng trời để ví von tâm trạng sầu thảm của những người yêu nhau khi chia tay. Ngỗng trời nói rằng:
Hỡi anh thợ săn vai đeo súng trong rừng xanh núi thẳm
Dù anh có vác súng bắn muôn thú
Thì cũng đừng bắn ngỗng trời đang khóc vì mất đôi
Nghe vậy, người thợ săn liền trả lời, rằng: “Dù có vô tình thế nào đi chăng nữa thì chúng tôi cũng đâu nỡ bắn những con vật đáng thương”.
Theo dòng chảy của thời gian, thơ cổ phổ nhạc chữ tình Pyeongsijo phát triển thành thể loại thơ cổ phổ nhạc tự do Saseolsijo trong sáng, đầy hứng khởi. Ví như “Saseol Nanbongga” (Lan phùng ca thể thơ tự do) có đoạn:
Cô gái trước nhà đi lấy chồng, chàng trai sau nhà đi treo cổ
Người chết thì không tiếc nhưng chẳng qua là không có dây thừng
Chàng bỏ thiếp đi, chưa đi được 10 dặm đã đổ bệnh
Chưa đi được 20 dặm đã gặp toán cướp
Chưa đi được 30 dặm đã phải quay về bên thiếp
Vài nét khác biệt giữa thơ cổ phổ nhạc Sijo và dân ca Minyo ở Hàn Quốc.
Trước hết ta hay xem quá trình hình thành nên các khúc dân ca Minyo ở Hàn Quốc. Dân ca Minyo thường không phải là những khúc hát có người phổ nhạc và người soạn lời riêng. Dân ca Minyo vốn là dòng nhạc mà ai cũng có thể nói lên tâm tư tình cảm của mình theo nhịp điệu nhất định nào đó. Và theo dòng chảy của thời gian, nó được nhiều người đồng cảm, hát theo và định hình thành khúc hát dân gian. Rồi mỗi người lại chỉnh sửa chút ít cho hợp với phong cách và tâm tư tình cảm của mình. Gần đây nghệ sĩ Lee Hee-mun đã biến tấu khúc ca “Saseol Nanbongga” thành khúc hát đại chúng“Saseol Nanbong” có phong cách và sắc thái khác hẳn với khúc ca gốc và còn được giới trẻ ngày nay hưởng ứng hơn nữa. Thế nên những người có tuổi khi nghe khúc hát này còn nói rằng “Liệu có thể gọi đây là khúc hát truyền thống hay không?”. Tuy nhiên, “Saseol Nanbong” của nghệ sĩ Lee Hee-mun vẫn được coi là một khúc hát truyền thống”.
Nguồn:
* Khúc thơ phổ nhạc “Pureun Sanjunghae” (Giữa rừng xanh) theo thể loại Saseoljireumsijo / Lee Jun-ah
* Khúc thơ cổ phổ nhạc “Lan phùng ca” theo thể loại thơ tự do Saseolsijo / Kim Yeong-im
* Khúc hát “Saseol Nanbong” mang âm hưởng hiện đại / Lee Hee-mun
Sau đây là bài đoãn thi chúc Tết theo thi ca Hàn ngữ: Bài “Vừa Đủ“. Bài “Vừa Đủ” là Thi Ca Biền Ngẫu Dạng Thức: 10-10-10-10. Ý tưởng khi Nếp sống vừa đủ là một triết lý hay nhân sinh quan của thi sĩ Nguyễn Công Trứ trong bài thơ nổi danh “Chữ nhàn “… trong chiều hướng tương đồng, bài thơ “Vừa Đủ” của Khánh Lan dưới đây như lời chúc đầu năm đến các mọi người: “Năm mới chúc mọi người vừa đủ, vừa đụ”
Bài thơ Vừa Đủ
Vừa đủ HẠNH PHÚC cho tâm hồn được bình an
Vừa đủ THÀNH CÔNG cho mình luôn mãi kiên cường
Vừa đủ HY VỌNG để thấy mình đủ hạnh phúc
Vừa đủ THÀNH CÔNG để giữ cho mình mãi nhiệt tâm.
Sau dây là phần trích dẩn thơ của Nguyễn Công Trứ: Bài “Chữ Nhàn”.
Link: Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc
Bài Thơ Chữ Nhàn của Thi Hào Nguyễn Công Trứ
Thị tại môn tiền náo,
Nguyệt lai môn hạ nhàn.
So lao tâm lao lực cũng một đàn,
Người trần thế muốn nhàn sao được?
Nên phải giữ lấy nhàn làm trước,
Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài.
Cuộc nhân sinh chừng bảy tám chín mười mươi,
Mười lăm trẻ, năm mươi già, không kể.
Thoắt sinh ra thì đà khóc choé,
Trần có vui sao chẳng cười khì?
Khi hỷ lạc, khi ái dục, lúc sầu bi,
Chứa chi lắm một bầu nhân dục.
Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc,
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?
Cầm kỳ thi tửu với giang san,
Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế.
Ngã kim nhật tại toạ chi địa,
Cổ chi nhân tằng tiên ngã toạ chi.
Ngàn muôn năm âu cũng thế ni,
Ai hay hát mà ai hay nghe hát?
Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất,
Để ông Tô riêng một thú thanh tao.
Chữ nhàn là chữ làm sao?
Dẫn giải ý thơ “TRI TÚC TIỆN TÚC”
“Tri túc tiện túc, đãi túc, hà thời túc”
(Biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì bao giờ mới đủ).
“Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn”
(biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn thì bao giờ mới nhàn)
Hai câu thơ trên có nghĩa là làm người phải biết thế nào là đủ thì mới có thể vui hưởng cuộc sống. Ai không biết thế nào là đủ sẽ luôn cố sức, lao tâm lao lực để có nhiều hơn, hay để thõa mãn tự ái và tham vọng của mình. Nhưng đời người không phải lúc nào cũng may mắn vì theo quy luật đời sống thì có nhiều biến thiên, thăng trầm như trăng tròn rồi lại khuyết, …không khéo, khi hết thời mà không biết dừng sẽ bị mất hết những cái mình đang có. Thật vậy, chỉ có những người sống phải đạo, có ân phước của thánh thần mới được che chở tránh được những cơn lốc bất ngờ của số mệnh. Người có tài mà ỷ tài, kiêu ngạo thì bao nhiêu nỗ lực để đạt tham vọng không đáy của cá nhân rốt cuộc cũng sẽ trở thành công dã tràng mà thôi.
Bài “Chữ Nhàn” được nhiều người coi là tuyệt tác trong các bài hát nói. Tác giả vạch rõ chữ nhàn rất dễ kiếm, ai cũng có thể có, dễ như thế mà các thi nhân từ xưa chưa ai tìm ra được. Những câu thơ cổ mà tác giả mượn dẫn vào thực là đắc cú, phân minh, chuyển đi láy lại tài tình. Vì thế, ngày xưa những khách phong lưu đi hát ưa nghe bài này, là có ý mượn tiếng giai nhân để kể lại áng văn chương danh cú.
Sự bình an là trạng thái tâm trí, tinh thần của một người khi cảm thấy yên tĩnh, thoải mái, không có lo lắng, căng thẳng hay áp lực. Nó thường được miêu tả như một cảm giác an tĩnh, yên bình và ổn định bên trong thân tâm ta. Sự bình an được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt là trong thời đại ngày nay với nhịp sống nhanh, áp lực của công việc và sự bận rộn trong cuộc sống. Sự bình an giúp chúng ta có thể tập trung, đạt hiệu quả khi làm những việc tốt hơn, tăng cường sức khỏe và tạo ra cảm giác hạnh phúc. Bình an là khi ta cần để tâm trí mình được nghỉ ngơi, nhìn sâu bên trong bản thân mình và tìm hiểu về bình an nội tâm. Vậy, giá trị của an bình, yên ổn là gì?
Xét về ý tưởng “Đi tìm sự bình yên trong tâm hồn“, ai trong chúng ta cũng đều mong ước có được một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Nếu không dành thời gian để nhìn nhận mọi việc một cách đầy đủ, chúng ta sẽ không thể cảm nhận được cảm giác yên bình. Muốn giữ được sự bình yên trong tâm, chúng ta biết giữ lấy sự tĩnh lặng của tâm hồn, sự buông lỏng những căng thẳng lo âu. Cố gắng trong công việc là điều cần thiết nhưng chúng ta cũng phải biết cho đi, sẵn sàng giúp đỡ người khác, thấy được những giá trị tốt đẹp của cuộc sống… Cho nên bình yên là cảm giác xuất phát từ nội tâm. Đó là khi chúng ta vui vẻ, thoải mái, cảm thấy hài lòng với những điều mình đang có; là khi ta sống lạc quan, tích cực; không tham lam, đấu đá, tranh giành; không suy nghĩ, ghen ghét, đố kỵ với những người xung quanh…
Bình yên giống như liều thuốc bổ giúp mỗi người thêm khỏe mạnh, hạnh phúc. Bình yên giúp mỗi người sẽ càng yêu và trân trọng hơn những điều bình dị quanh mình. Có được sự bình yên trong cuộc đời là vô cùng quý giá, là bởi vì dẫu cho chúng ta có công danh, sự nghiệp như ý nhưng trong lòng không có được sự bình yên thì cuộc đời cũng sẽ mất đi ý nghĩa đích thực. Trái lại, khi chúng ta luôn cảm thấy bình yên, tất thảy mọi điều tốt đẹp sẽ tới, cuộc đời mỗi người vì thế mới trọn vẹn, ý nghĩa. Khi cảm nhận vừa dủ là vừa đủ, hãy bình yên giúp mỗi người biết buông lối sống Đạo tự nhiên như nước chảy xuôi: ở thì chuộng chỗ thấp, ân tình thì chuộng thâm sâu, xử sự chuộng lòng nhân, nói thì chuộng chân thật, cai trị thì làm cho cuộc sống an bình, làm việc thì hợp với tài năng, hành động thì hợp thời đúng lúc. Đức tính của nước là làm lợi cho tất cả thiên hạ mà không tranh công đoạt lợi, gặp chỗ thiếu thì chảy vào, chỗ thừa thì chảy ra, trên đời làm mưa, dưới đất thành sông lạch: “Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh”. Lão Tử nhận ra ưu điểm của nước là tính vô kỷ, vị tha, “Nhu thắng cương“, như cung cách ứng xử: “Cường đại xử hạ, nhu nhược xử thượng”: cư xử mạnh bạo là hạng dưới, mềm dịu là hạng trên. Thực tế cho ta thấy thái độ khắt khe, cứng cỏi là tiêu biểu những tâm hồn cằn cỗi, thấp kém. Uyển chuyển, khéo léo, dịu dàng mới tiêu biểu những tâm hồn cao thượng. Bởi vậy có câu thơ:
“Phàm phu mới cứng, mới cương,
Dịu dàng mới thực lối đường người trên“
Bản chất của nước (l’eau, water) là như thế, không câu nệ vào một hình thức, khi tràn vào đủ nước ngưng lại trong trạng thái tĩnh lặng, bình yên. Đấy là nước, Nước lại còn có tính cách nén chịu, sự nén chịu của con đường Nhu: “Thọ quốc chi cấu”: nhận lấy cho mình bụi bặm của quốc gia. Đồng thời “Thọ quốc chi tường”: nhận lấy cho mình sự rủi ro của nước nhà. Đó cũng là tận cùng của vị tha, nhưng chính nhờ thế mới thực làm chủ được sơn hà, xã tắc. Nước nhà, xã hội cần thành công, gia dình cần hạnh phúc, với ý tưởng sao cho “vừa dủ“. Thi ca hạnh phúc, cho tâm hồn được bình an:
bỏ những thứ không cần thiết để có cuộc sống hạnh phúc. Có thể thấy là sự bình yên trở thành thứ tài sản vô giá mang đến cho con người cuộc sống viên mãn, từ đó sản sinh ra nhiều giá trị nhân sinh cao đẹp khác như: tình yêu thương, lòng vị tha, tính bao dung; loại bỏ những thói quen, giá trị tiêu cực mà không hề đắn đo, suy tính. Khi một cá nhân hạnh phúc thì xã hội sẽ hạnh phúc. Và khi xã hội hạnh phúc luôn là khát vọng luôn mơ ước của mỗi quốc gia và toàn thể nhân loại.
Bình yên là tấm gương phản chiếu của hạnh phúc. Muốn có được bình yên, bạn sẽ tự khắc biết cách đi tìm, bởi “không ai mang lại cho bạn sự bình yên ngoài chính bạn”. Dựa theo tư tưởng của Lão Tử trong Lão giáo; Hầu như toàn bộ Đạo Đức Kinh của Lão Tử nhằm nói đến sức mạnh của cái Nhu, của Vô Vi. Trong ý niệm đó, đặc biệt ở chương 8, Nước được coi như hình ảnh đặc thù để chuyển tải một triết lý sống và cũng chính là một nghệ thuật sống lý tưởng. Ông cho thấy đường
Tóm lại, thể thơ Haiku của người Nhật Bản, hay thơ Sijo của Đại Hàn là những loại thơ biền ngẫu, y như thơ Lục Bát của Việt Nam (6-8), chịu sự chi phối của quy luật sắp sẵn.
Sự bình an là trạng thái tâm trí luôn là diều cần thiết cho đời sống. Khánh Lan xin gửi những vần thơ về lời chúc bình an nhân dầu năm mới:
Mùa xuân ơi
Hãy chúc nhau mọi điều như ý
Cho dù cuộc sống dù khó ta vẫn cười
Xin chúc nhau đầu năm đón xuân hát vang mừng câu ca bình an
Mùa xuân ơi
Hãy chúc nhau mọi điều như ý
Cùng đón xuân ngày mới ta hãy cười
Xin chúc nhau đầu năm đón xuân hát vang mừng câu ca bình an…!!!
Mừng Tết gửi nhau một chữ NHÀN
cuộc đời này sẽ hết lầm than
Mọi người vui sống đầy hạnh phúc
Gia cảnh an nhàn dẫu muộn màng
Gửi tiếp cho nhau chữ bằng AN
Chúc nhau tâm AN những thời gian
Không còn lo lắng ưu phiền não
Cuộc sống muôn màu những AN khang
Với bài thơ thất ngôn bát cú nhái thể Dường Tăng trên, Khánh Lan xin ghi nhận Kỷ niệm từ Từ Mai gia trang xuân Nhâm Thìn 2024 về núi đồi Anaheim Hills với mùa Xuân Hội Ngộ Bính Ngọ 2026.
Hải Lan Jacqueline Kiều My. Mùa xuân, 28/02/2026.
Ngày 01 tháng 3, 2026. NV Việt Hải cũng gởi đến một bài viết Chúc Tết Bính Ngọ 2026 như sau:

Năm 2026 là Tết con Ngựa, tượng trưng cho sự bức phá, kiên trì và thành công vượt bực. Ngựa là loại đông vật thông minh, trung thành và có trí nhớ rất tốt. Ngựa còn có đặc tính cần mẫn, chịu khó, khả năng di chuyển mau lẹ và giác quan nhậy bén. Người sanh năm Ngọ nói chung thường năng động, nhiệt tình, thẳng thắn, ghét sự giả tạo, yêu tự do và thích khám phá. Họ có óc sáng tạo
nhưng bướng bỉnh và dễ nóng tánh.
Những người tưổi Ngọ thường là Tỷ phú và nổi tiếng trên chính trường
1. Tỷ phú Warren Buffett (1930)2. Tỷ phú Michael Bloomberg (1942)
3. Hồ Cẩm Đào (1942), Tổng Bí Thư đảng CS Trung quốc (2002-2012)
4. Bà Angela Dorothea Merkel (1954), Nữ Thủ tướng dầu tiên của nước Đức.
5. Shinzô Abe, Thủ tướng Nhật Bản.
Ngoài ra Ngựa có nhiều giống tùy theo màu lông và vùng Hy Lạp, Bắc Âu, trong Tam Quốc Chí và trong phim ảnh của Mỹ.
a) Ngựa sắt của Thánh Gióngb) Thần thoại Hy Lạp: Pegasus, ngựa trắng có cánh.
c) Thần thoại Bắc Âu: Sleipnir, ngựa 8 chân.
d) Trong phim ảnh Mỹ: Ngựa Trigger của Tài tử Roy Roger và Chó Lassie
e) Window- Maker/Lightning ngựa của Cowboy Pecos Bill.
f) Ngựa Duke của Tài tử John Wayn
g) TrongTam Quốc Chí: Ngựa Xích Thố, thần mã của Lữ Bố, chạy như bay.
h) Ngựa Tuyệt Ảnh của Tào Tháo hy sinh cứu Chủ.k) Ngựa Đích Lư nổi tiếng của Lưu Bị, được coi là ngựa quý, nhưng lại
mang điềm xấu cho Chủ.l) Ngựa Xích Thố, màu đỏ rực như lửa, lúc đầu Đổng Trác tặng cho
Lữ Bố. Khi Lữ Bố chết, Tào Tháo tặng lại cho Quan Vân Trường để
ca ngợi tánh dũng khí và lòng hiếu thảo với Chị dâu (vợ Lưu Bị)m) Ngựa Ô Hàn Đạp Tuyết của Trương Phi màu đen tuyền.
n) Ngựa Bạch Long của Triệu Vân
Những lời chúc Tết Bính Ngọ:- Xuân Bính Ngọ, xin Chúc tất cả Niên trưởng, Giáo sư, Thành viên trong Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cùng gia đình Mã Đáo Thành Công, Tấn Tài Tấn Lộc, sức khỏe mạnh mẽ như Ngựa chiến, sự nghiệp thành công như Ngựa bay.
- Riêng Việt Hải, Chim đầu đàn – Xin Chúc sức khỏe sung mãn, gia
đạo bình an, luôn vững tay cương, phi nước đại dẫn dắt Nhóm về đích. - Nhà Văn Nguyễn Quang: Xin chúc Anh môt mùa Xuân vui vẻ hoàn
thành tác phẩm, sức khỏe khả quan, tâm trí sáng suốt, sống lâu trên
trăm tuổi bên cạnh bạn bè và Con cháu. - Giáo sư Dương Ngọc Sum: Kính chúc Giáo sư “Phúc như Đông Hải, Thọ Tỷ Nam Sơn”, sức khỏe sung mãn, đi đứng mạnh mẽ, thân tâm
an lạc, sống lâu trăm tuổi để vui chơi với con cháu. - Giáo sư Trần Huy Bích: Một mùa Xuân An lành, kính chúc Giáo sư
cuộc sống thanh nhàn, tinh thần thoải mái và luôn được mọi người
kính trọng. - Thi sĩ Dương Hồng Anh và Nhà Văn Nguyễn Nga: Xin kính chúc hai Chị một Năm Mới An Khang, sức khỏe dồi dào, tinh thần thư thái, sống Thọ, hưởng trọn niềm vui bên cạnh Con Cháu. Rất hy vọng Chị Dương Hồng Anh mỗi tuần cho ra mắt một tập thơ.


Nhạc sĩ Võ Tá Hân
Hôm qua là ngày họp bạn dầu năm của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Vì có sự hiện diện của nhóm trình tấu tơ vàng, nên xin di qua đôi nét về góc nhìn tây ban cầm. Nhóm thành lập tại miềm nam Cali.
Trước năm 1975, tôi có đi nghe những buổi trình tấu tây ban cầm ở Hội Việt Mỹ trên đường Mạc Đĩnh Chi, hay hội Alliance Française trên đừơng Gia Long, Sài Gòn thưở xưa có GS Hoàng Bửu, ông dạy dàn cho trường Petrus Ký. Di sản của nhạc sĩ Hoàng Bửu là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều thế hệ nhạc sĩ và ca sĩ kế cận. Phong cách sáng tác trữ tình, lãng mạn cùng sự chân thành trong ca từ của ông đã khuyến khích các nghệ sĩ trẻ khám phá và phát triển bản thân.
Nhiều ca khúc của ông được các giọng ca nổi tiếng thuộc các thế hệ sau trình bày lại, không chỉ giúp tác phẩm sống mãi mà còn là bài học quý giá về kỹ thuật sáng tác, cách thể hiện cảm xúc và sự gắn bó với văn hóa dân tộc. Sự ảnh hưởng này lan tỏa qua việc học hỏi, kế thừa và phát triển những giá trị nghệ thuật mà ông đã tạo dựng.
Về cây đàn guitar vẫn âm thầm phát triển theo lịch sử thời gian. Với cảm hứng nghệ thuật từ cuộc sống bình dân, họa sĩ Michelangelo Merisi da Caravaggio đã sáng lập ra một trường phái nghệ thuật pha trộn giữa tĩnh vật và phồn thực mà tâm điểm của nó là tiếng đàn guitar phóng khoáng và những bước nhảy vui nhộn bên bàn tiệc của những cô nàng hầu gái và những anh chàng nông phu hồn hậu. Có thể nói đây cũng là tiền đề dần hình thành nên dòng nhạc flamenco vô cùng quyến rũ, đặc trưng Tây Ban Nha.
Những nhạc sĩ của bộ môn tây ban cầm string acoustic guitar tên tuổi nên nhắc về nhạc sư Đỗ Thế Phiệt, nhạc sĩ Đỗ Đình Phương, nhạc sĩ Võ Tá Hân… Riêng về những tên tuổi quốc tế lớn như Ferdinando Carulli (1770-1841), Fernando Sor (1778-1839), Mauro Giuliani (1781-1829), Matteo Carcassi (1792-1853) và đặc biệt là Francisco Tárrega (1852-1909) đẵ góp phần đưa tiếng đàn guitar trở lại đời sống âm nhạc hàn lâm. Những bản nhạc kinh điển không chỉ mô phạm mà còn tràn đầy tính biểu cảm và sự tinh tế. Với mong muốn cây guitar có một vị trí trong dàn nhạc giao hưởng, Tárrega đã không ngừng phát triển kỹ thuật chơi nhạc guitar, chuyển soạn các tác phẩm của Frédéric Chopin, Robert Schumann, Johann Sebastian Bach cho guitar. Sau này, tiếp nối con đường của Francisco Tárrega, Andrés Segovia (1893-1987) cùng với cây lục huyền cầm lần lượt chinh phục tất cả các phòng hòa nhạc.
Nói thêm về nhạc sĩ Francisco de Asís Tárrega y Eixea, thường gọi tắt là Francisco Tárrega, (21 tháng 11 năm 1852 – 15 tháng 12 năm 1909) là một nhà soạn nhạc, một tay chơi đàn guitar nổi tiếng người Tây Ban Nha. Ông được xem như là người đặt nền móng cho vị trí của cây đàn guitar là nhạc cụ dành cho độc tấu. Ngoài các bản nhạc do ông sáng tác cho đàn guitar ông còn chuyển soạn một số tác phẩm của các nhà soạn nhạc khác sang trình tấu với đàn guitar.
Ra hải ngoại tôi nghe Nhạc sĩ Đỗ Đình Phương và Nghệ Thuật Độc Tấu Tây Ban Cầm tại Miền Nam từ sau 1975. Về quá trình nghệ thuật Độc Tấu Tây Ban Cầm:
Đỗ Đình Phương khởi đầu sự nghiệp âm nhạc của mình bằng cách… mê bài “Leyenda”, do I. Albeniz đánh từ hồi anh còn rất nhỏ. Do mê bài này mà anh đã xin bố cho học đàn guitar, phần lớn là tự học từ những sách nhạc gửi mua từ Âu Châu. Sau đó anh đã đậu vào trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Anh là người đầu tiên tốt nghiệp môn guitar cổ điển của trường. Sau đó anh được bổ đi dạy guitar ở trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế, một ông thầy nhạc trẻ măng mới có 20 tuổi.
Hai năm sau, anh trở về Sài Gòn dậy guitar tại trường cũ. Suốt thời gian ở Việt Nam trước năm 1975, anh là nhạc sĩ guitar hiếm hoi soạn hòa âm cho những ca khúc lãng mạn Việt Nam theo lối cổ điển, để rồi nổi tiếng qua những buổi trình tấu khắp nơi.
Nhận định về sự thành công nhất của nhạc sĩ Đỗ Đình Phương là đem cái hương thi vị nhẹ nhàng của nhạc tình Việt Nam lồng vào từng giai điệu của Flamenco hay Classic qua tiếng đàn tây ban cầm mà anh trau chuốt bao nhiêu năm qua.
Trong khi dòng nhạc tây ban cầm trình tấu theo giai điệu tây phương sẽ mang đến cho người nghe chất xúc tác mãnh liệt của những cơn nóng bức vùng sa mạc, hay réo rắt âm hưởng của những làng mạc đậm chất du mục thì các note nhạc mà Đỗ Đình Phương mang vào tác phẩm Việt Nam lại lắng đọng hẳn lại trong trạng thái lãng mạn của một miền đất vừa buồn bã u hoài, vừa tĩnh lặng và đậm đặc nhớ nhung của những ai xa nó.
Rồi hôm nay nhạc sĩ string acoustic guitarist Võ Tá Hân chuyển cho tôi email có link sau. Mời xem:
Dear Việt Hải,
Tụi này rất vui khi gặp vợ chồng Việt Hải và các bạn tại buổi Xuân Họp Mặt tối qua.
Gửi tặng Việt Hải nghe mấy bài nhạc guitar để nhớ lại những ngày mình còn ở cư xá Hải quân . Lúc ấy chắc Việt Hải cũng đã thường nghe tôi tập đàn những bài này trên balcony, sau những giờ thức khuya học thi phải không?
Cheers,
Hân.
-
TIỆC GIÁNG SINH 2025-ÁNH SÁNG CỦA YÊU THƯƠNG VÀ HY VỌNG
Kiều My tường trình-Hình ảnh: Khánh Lan

Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa mừng Lễ Giáng Sinh 2025

Giáng Sinh lại về, mang theo không khí lành lạnh dịu dàng của mùa đông và hơi ấm lan tỏa trong lòng người. Giữa nhịp sống tất bật, Lễ Giáng Sinh như một khoảng lặng cần thiết, để chúng ta dừng lại, lắng nghe tiếng gọi của yêu thương, của bình an và của niềm hy vọng. Đó không chỉ là một ngày lễ mang ý nghĩa tôn giáo, mà còn là thời khắc để những người thân yêu, bạn hữu sum họp trong buổi tiệc thân mật và cùng chia sẻ niềm vui Giáng Sinh.
Buổi tiệc Giáng Sinh không đơn thuần là một sinh hoạt thường niên, mà là một dịp thiêng liêng để mọi người cùng nhau sống lại mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh. Trong bầu khí chan hòa ấy, người ta dễ dàng cảm nhận được rằng: Giáng Sinh không ở đâu xa, mà hiện diện rất gần, trong từng ánh mắt, nụ cười và lời chúc “Merry Christmas” trong không khí vui tươi và ấm cúng.

Ngay từ những giây phút đầu tiên của buổi tiệc, không gian đã tràn ngập sắc màu tưng bừng của Giáng Sinh lan tỏa trên nét mặt hân hoan của mọi người. Chương trình tiệc mừng Giáng Sinh 2025 của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian được khai mạc bằng những lời chào mừng nồng nhiệt, tiếp theo là phần nghi thức chào cờ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ, cùng một phút mặc niệm để tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh trên chiến trường để bảo vệ đất nước và các nạn nhân đã bỏ mạng trên đường đi tìm tự do.

Chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa & Hoa Kỳ
Tiếp theo, nhà văn Khánh Lan trình bày về ý nghĩa của ngày lễ Giáng Sinh: “Mùa đông đã về, đem theo làn không khí se se lạnh, ấy là lúc chúng ta đón chào những ngày vui sắp đến. Những ánh đèn lung linh bắt đầu tỏa sáng trên khắp nẻo đường, những giai điệu mừng Chúa Giáng sinh vang lên trong không gian. Đó chính là lúc tâm hồn chúng ta hòa điệu cùng nhân thế, cảm nhận được một điều thật thiêng liêng: mùa Giáng sinh đã đến.
Khắp nơi, nhạc phẩm “Silent Night” vang lên nhẹ nhàng. Bài hát ra đời năm 1818, khi linh mục người Áo Joseph Mohr viết lời, lấy cảm hứng từ không khí Giáng sinh yên bình và những trải nghiệm cá nhân của ông. Bài hát này đã được chuyển sang tiếng Việt với tên “Đêm Thánh Vô Cùng” và được hát vào mỗi dịp Giáng sinh. Tại Việt Nam, bài “Hang Bê-lem” của nhạc sĩ Hải Linh & Minh Châu cũng vang lên trong các giáo đường. Đây là ca khúc nhạc đạo sáng tác đầu tay của nhạc sĩ Hải Linh ở tuổi 25, năm 1945. Lời ca êm ái mà chân thật như một trang cổ tích, ca khúc tôn vinh niềm tin vĩnh cửu và tình thương bao la. Lấy nguồn cảm hứng từ lời thách đố của ông Minh Châu, chủ nhiệm báo “Đường Sống” ở Nam Định, nhạc sĩ Hải Linh đã sáng tác nhạc phẩm tuyệt diệu này chỉ trong ba ngày. Và gần nhất, nhạc phẩm Bài Thánh Ca Buồn của NS Nguyễn Vũ & Thanh Sơn, đã hoàn tất trong 2 tiếng đồng hồ vào tháng 10 năm 1972. Một ca khúc Giáng Sinh mang âm hưởng buồn man mác, hoài niệm về quá khứ lần đầu của trái tim rung động trước vẻ đẹp của một giai nhân. Ông đã qua đời ngày 24 tháng 9 năm, 2025, ở tuổi thọ 80. Và 2 trong 3 nhạc phẩn trên sẽ được các anh chị em trong Liên nhóm NVNT & TTG trình diễn trong phần I của chương trình.
Giáng Sinh là dịp kỷ niệm ngày Chúa ra đời, là biểu tượng của yêu thương, bao dung và hy vọng. Đó cũng là mùa của đoàn tụ, khi gia đình, bạn bè gặp nhau, tạm gác lại những âu lo trong cuộc sống, để mở rộng tấm lòng, trao nhau nụ cười và lời chúc lành đến với nhau. Giáng Sinh là thời khắc khiến mỗi người chúng ta biết trân trọng những giá trị tinh thần, biết lắng nghe và chia sẻ, bởi tình yêu thương là ánh sáng dẫn đường giữa cuộc đời đầy thử thách.
Thành lập từ năm 2015, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã và đang là một mái nhà chung cho những người yêu văn chương, âm nhạc và nghệ thuật. Trong suốt mười năm qua, nhóm đã không ngừng vun đắp tinh thần nhân văn, khơi gợi cảm hứng sáng tạo, và kết nối những tâm hồn đồng điệu trong cộng đồng người Việt hải và đem những trái tim đồng điệu lại gần nhau hơn. Hằng năm, chương trình Christmas Party của Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, không chỉ là buổi họp mặt cuối năm, mà còn là một không gian văn nghệ đầy cảm xúc, nơi những bài thơ, khúc hát và nụ cười cùng hòa chung trong niềm vui Giáng Sinh. Đây là dịp để chúng ta cùng nhau nhìn lại chặng đường đã qua, tri ân tình thân hữu, và chào đón một năm mới với niềm tin và hy vọng.
Trong bầu không khí ấm áp và rộn ràng của mùa Giáng Sinh, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian xin trân trọng chào mừng quý quan khách, quý văn thi sĩ, cùng toàn thể thân hữu đã hiện diện hôm nay. Sự có mặt của quý vị là niềm khích lệ lớn lao, giúp cho hoạt động văn học nghệ thuật của chúng ta ngày càng phong phú, đa dạng và bền vững hơn. Kính chúc quý vị một mùa Giáng Sinh an lành, tràn đầy yêu thương, và một năm mới hạnh phúc.”
Sau đó, nhà văn Trần Việt Hải ngỏ lời chào mừng và cảm tạ quan khách hiện diện trong khánh phòng gồm có: quý Giáo sư, văn nhân thi sĩ, Văn Bút Hải Ngoại, các bác sĩ, nhạc sĩ, khoa học gia, nhà báo, ký giả và thân hữu và keyboardist Ngọc Tú…Đặc biệt, cả khánh phòng rất hân hoan khi có sự hiện diện của Professor Stephen Young đi cùng ông chủ tịch Tân Đại Việt Hoàng Đình Khuê tham dự sự kiện. Trong dịp này, Gs. Young đã tỏ bày ông rất trân trọng truyện Kiều của Nguyễn Du và nhắc tới một vài kỷ niệm với Gs. Nguyễn Ngọc Huy và cho biết ông thích bài thơ Tâm Sự Tố Như, mà Gs Huy viết về Nguyễn Du.

Thi sĩ Huy Anh, Gs Stephen Young, nhà văn Trần Việt Hải

Với niềm cảm hứng sâu xa, Gs. Young ngân nga vài câu thơ trong truyện Kiều làm mọi người rất ngưỡng mộ: “Trăm năm trong cõi người ta. Chữ tài chữ mệnh khá là ghét nhau…”
Ông tiếp:
“…Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…”
Để tiếp nối ý tưởng trên của Gs Stephen Young, Gs Trần Huy Bích ngỏ ý rằng: “Gs. Young là một người Mỹ mà ông tỏ ra thích bài thơ Việt thì tôi nghĩ chúng ta cũng nên biết qua bài thơ Tâm Sự Tố Như. Nhất là bài thơ ấy đã do Gs Nguyễn Ngọc Huy sáng tác khi nghĩ đến đại văn hào Nguyễn Du.” Trong bài tường trình này, Gs. Trần Huy Bích có nhã ý gửi đến bạn đọc bài thơ rất nổi tiếng của cố Gs. Nguyễn Ngọc Huy dưới đây:

Thiếu niên lúc tuổi mới đôi mươi
Hăng hái từng ôm mộng chống trời
Một lưỡi gươm thiêng mài gió bụi
Sá chi lũ tục ở trong đời
Gặp lúc cương thường hóa đảo điên
Mang tài kinh tế giúp vua hiền
Quyết lòng xoay đổi càn khôn lại
Nâng đỡ trời Lê lúc ngửa nghiêng
Tuốt kiếm xong pha giữa chiến trường
Phong trần dạn mặt khách văn chương
Bao năm lăn lóc trong cau đắng
Mái tóc xanh dần nhuộm tuyết sương
Nhưng vận triều Lê có thế thôi
Sức người khôn đối được cơ trời
Anh hùng gặp mãi hồi suy bại
Nuốt hận nhìn dâu bể đổi đời
Hết sức mưu toan chẳng được rồi
Thôi cùng sông núi hẹn hò chơi
Thề lòng chẳng bợn công danh lợi
Gìn tấm cô trung đến trọn đời
Đã quyết đem thân gởi cỏ cây
Muối dưa thanh đạm cũng qua ngày
Ai hay cuộc thế dần luân chuyển
Non nước thêm lần thấy đổi thay
Thù chúa nhờ người trả sạch rồi
Nhưng thề xưa thả nước sông trôi
Buộc lòng hoạn lộ chen chân bước
Theo lịnh tân quân mấy lượt đòi
Mộng lớn tan tành đáng thảm thương
Lại không giữ vẹn mối luân thường
Trong vòng cường tỏa càn khôn hẹp
Thôi đã đành chôn chí bốn phương
Lạc giữa quan trường nhục lẫn vinh
Nghĩ mình thêm tủi thẹn cho mình
Tấm thân đã buộc vào xiêm áo
Thiên hạ còn ai thấu được tình?
Ai biết thân mình phận đáng thương
Khác chi liễu ngõ với hoa tường
Trăm năm đành chịu lời mai mỉa:
“Một lũ Di Tề xuống Thú Dương…”
Ai biết sau lời nói đẩy đưa
Lòng ta khắc khoải nhớ vua xưa
Mặc dù sự thế đà xa trước
Vật đổi sao dời mấy nắng mưa?
Tri kỷ cùng ta ai đó giờ?
Nỗi lòng đem gởi mấy vần thơ
Ba trăm năm nữa, người thiên hạ
Biết có ai còn khóc Tố Như?
Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy
Một tiết mục thật hay, khi ban tổ chức mời tất cả quan khách chụp chung bức ảnh lưu niệm và sau đó, ban cố vấn nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cắt chiếc bánh mừng Giáng Sinh trong tiếng nhạc đệm của keyboardist Ngọc Tú.

NV Việt Hải và các vị cố vấn cắt bánh khai mạc buổi tiệc Giáng Sinh
Điệu nhạc valse đã vang lên trong nhịp nhạc dịu dàng lả lướt của ca khúc Bạn Bè Của Tôi –Thơ: nữ sĩ Dương Hồng Anh – ca nhạc sĩ Lâm Dung phổ nhạc, qua phần trình diễn sống động của ban tam ca: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh và Ái Liên.
Giờ đây, một tiết mục đặc biệt mà mọi người đang chờ đợi! Đó là:
Phần 1- Nhạc Giáng Sinh
Những bản thánh ca Giáng Sinh quen thuộc, được trình bày trong bầu khí ấm áp đầy tình người. Tiếng hát vang lên không chỉ như lời ca tụng, mà còn như lời cầu chúc bình an gửi đến tất cả mọi người hiện diện. Những ánh đèn lung linh, những bài thánh ca quen thuộc vang lên như đưa mọi người trở về với đêm thánh năm xưa. Lời ca “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” không chỉ là một bản nhạc, mà là lời nhắn gửi xuyên suốt các thời đại, mời gọi con người sống trong hòa bình và yêu thương.

Liên khúc Silent Night & We Wish You A Merry Christmas phối hợp giữa hai nhóm NVNT & TTG và nhóm Tơ Vàng Fountain Valley Guitar Club. Silent Night – mang đến sự lắng đọng với âm điệu Christmas du dương nhẹ nhàng đi vào lòng người…Bỗng nhiên! Một giai điệu sống động mang âm hưởng Giáng Sinh vang lên…We Wish You A Merry Christmas…và niềm vui chợt như bừng nở trong tâm hồn.
Giai điệu Thánh ca Ave Maria cất lên … êm ái bay bổng ca tụng Mẹ Maria, như một lời kinh của âm nhạc và niềm phó thác qua tiếng hát Kiều My. Trong kho tàng thánh nhạc của nhân loại, Ave Maria của Franz Schubert không chỉ là một bản thánh ca, mà là một lời kinh được cất lên bằng âm nhạc, vượt qua mọi biên giới tôn giáo, ngôn ngữ và thời gian để chạm đến tận đáy tâm hồn con người.
Sau khoảnh khắc lắng đọng của bản Thánh ca Ave Maria, một lần nữa không khí trong khánh phòng chợt bừng sáng qua liên khúc Joy To The World & Jingle Bells được ban tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư trình diễn. Tiếng trống thật trầm, nhè nhẹ vang lên bản Little Drummer Boy & Santa Claus Is Coming To Town… qua phần trình diễn ngoạn mục của những female guitarist trong ban Tơ Vàng Fountain Valley Guitar Club đã gây sự ngạc nhiên thích thú cho mọi người.

Ban Tơ Vàng Fountain Valley Guitar Club do NS Võ Tá Hân thành lập.
Bài Thánh Ca Buồn – Bài Thánh ca đó còn nhớ không em?…Lời hát được cất lên qua giọng ca trầm ấm của Mạnh Bỗng…đã làm trái tim người bồi hồi, gợi nhớ về những mùa Giáng Sinh khi còn ở quê nhà. Hồi tưởng về ngôi giáo đường xưa, giữa không khí thánh thiêng trang nghiêm nhưng thật ấm cúng, chàng và nàng bên nhau trong Thánh lễ đêm Giáng Sinh, mà mãi mãi sẽ không phai trong ký ức.

Thúy Giao, Diane, Minh Thư
All I Want For Christmas Is You do ban tam ca Thúy Giao (Guitar) Minh Thư (Guitar) và Diane (Bells) trình diễn vô cùng thú vị trong trang phục Christmas trẻ trung và sống động. Một bản nhạc mang âm hưởng Thánh ca rất quen thuộc và được hát nhiều trong mùa Giáng Sinh mà Thụy Lan đã cống hiến cho khán giả trong buổi tiệc này qua thể điệu Ballad…đó là Mùa Đông Năm Ấy của Lm. Hoài Đức.
Mỗi mùa Giáng Sinh đến, trong không khí tưng bừng hòa cùng âm vang của những ca khúc Giáng Sinh bất hủ lan tỏa đi khắp mọi nơi, len vào ngỏ ngách tâm hồn mọi người. Giáng Sinh vì thế không chỉ dành riêng cho người Công giáo, mà đã trở thành ngày lễ của tình người và lòng nhân ái. Đó là dịp để gia đình sum họp sau những ngày bận rộn, để bạn bè tìm lại nhau trong niềm vui đoàn tụ, và cũng là lúc con người được mời gọi hướng lòng về những mảnh đời kém may mắn hơn. Ý nghĩa sâu xa của Giáng Sinh không nằm ở sự rộn ràng bên ngoài hay những món quà trao nhau, mà nằm ở tình yêu được trao đi trong thầm lặng, ở sự tha thứ được bắt đầu, và ở niềm hy vọng được nhen nhúm trong những tâm hồn đang mệt mỏi.
Phần 2 – Văn nghệ, Ăn trưa và xổ số:
Bàn tiệc được dọn lên những thức ăn thơm lừng trong bầu không khí thân mật, đầm ấm. Mọi người cùng quây quần bên bàn tiệc, trao nhau những lời chúc tốt đẹp cho mùa Giáng Sinh an lành và năm mới sắp đến. Những câu chuyện đời thường, những nụ cười chân thành và sự quan tâm dành cho nhau đã tạo nên một không gian gần gũi, xóa nhòa mọi khoảng cách.
Quan khách vừa thưởng thức những món ăn ngon vừa nghe âm nhạc của ban Tiếng Thời Gian thuộc nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật, lần lượt qua những giọng ca:
Phạm Gia Đại – Too Young. Dương Viết Đang – Ngàn Năm Mây Bay. Ngọc Châu – Chờ Đông. Hùng Ngọc – Xin Còn Gọi Tên Nhau. Alain Đức – Apres Toi. Erlinda Dương – Nếu Có Yêu Tôi. Tony Hiếu & Minh Khai – Đám Cưới Đầu Xuân. Jeff Tipton on Guitar – Papa
Tiếp theo là phần xổ số, một tiết mục đặc biệt mà không bao giờ thiếu sót trong bữa tiệc Christmas do Liên nhóm NVNT & TTG tổ chức như một món quà gởi đến quan khách và thành viên của chúng tôi. Lần nào cũng vậy, Katherine Minh Thư luôn có những ý tưởng thật hay, vui, lạ và gây nhiều thích thú cho mọi người. Khi tiếng nhạc nổi lên, nhưng đóa hoa Amaryllis được chuyển từ tay người này đến tay người kia, và kết quả trúng quà thay đổi tùy thuộc vào lời tuyên bố của Nv. Phạm Gia Đại. (Katherine và anh Đại phụ trách)

Nv. Vi Khiêm, Ái Liên và anh Hùng Ngọc trúng giải nên tươi như hoa…
Phần 3 – Văn nghệ & Khiêu vũ

Bản nhạc sống động Paso khai mạc chương trình khiêu vũ do ban tam ca: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh và Ái Liên đồng ca…đã mời gọi những bước chân ra sàn nhảy:
Ô Mê Ly – Paso – Ban tam ca. La Paloma Adieu- Kiều My – Rumba. Sway With Me – Mạnh Bỗng – Chachacha. It’s Now Or Never – Phạm Gia Đại – Chachacha. Twist – Let’s Twist Again, Thủy Thủ Và Biển Cả, Lính Đa Tình. Sáu Mươi Năm Cuộc Đời…
Buổi tiệc Giáng Sinh đã tàn, nhưng dư âm vẫn còn lắng đọng trong lòng tôi như một ngọn nến nhỏ, âm thầm mà bền bỉ tỏa sáng. Khi đó, Giáng Sinh sẽ không chỉ là một kỷ niệm đẹp, mà là một lối sống – lối sống của yêu thương, khiêm nhường và hy vọng. Khi ra về, mỗi người đều mang theo trong lòng không chỉ là những kỷ niệm đẹp, mà còn là cảm giác bình an và ấm áp – cảm giác của một mùa Giáng Sinh thật sự đã chạm đến trái tim.

California, Giáng Sinh 2025
Hình Ành:

Lệ Hoa, Minh Châu, Ngọc Châu, Kiều My, Kim Hương, Khánh Lan

Hàng đứng: Anh Chị Đức & Châu, Ông Bà John & Susan Tạ, …., Thúy Giao, Khánh Lan & Mạnh Bổng. Hàng Ngồi: Lệ Hoa, Nv. Việt Hải, Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga, Nv. Dương Viết Điền.

Ngọc Quỳnh, Minh Châu, Khánh Lan, Tuyết Nga, Kim Hương, Ngọc Châu, Lệ Hoa, Minh Khai, Minh Thư, Thúy Giao

Hàng đứng: Anh Dân Lâm, KG Phạm Quốc Bảo, Mạnh Bổng, anh John Tạ. Hàng ngồi: Nv, Việt Hải, ông bà Trọng, Nv. Nguyễn Quang

Khách mời, Nv. Phạm Gia Đại, Gs. Stephen Young, Ông Hoàng Khuê, Nv. Việt Hải

Anh Hòa, Ngọc Quỳnh, Ngọc Châu, Alain Đức, Nv. Việt Hải, Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga, Nv. Dương Viết Điền
-
BUỔI TIỆC LỄ TẠ ƠN & LỜI TRI ÂN TRONG CUỘC SỐNG
Tác giả: Kiều My & Hình ảnh và trang tri: Khánh Lan

Giữa cuộc sống tất bật, giữa những bề bộn mưu sinh, giữa những khao khát chưa thành, con người vẫn luôn cần một nơi để tâm hồn được nghỉ ngơi. Ngày Lễ Tạ Ơn chính là dịp để mỗi người nhìn lại quãng đường đã đi, nhìn những gương mặt thân thương ở quanh mình và khẽ thì thầm: “Tạ ơn vì tất cả.”

Buổi tiệc Thanksgiving ngày Chủ nhật 16 tháng 11 năm 2025 tại tư gia của nữ chủ nhân Mộng Thủy, vị nữ lưu này đã ưu ái mở rộng cửa chào đón các bạn hữu trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đến mừng lễ Tạ Ơn trong ngôi nhà ấm cúng và sang trọng. Giữa khung cảnh ấm áp, tiếng trò chuyện thân mật và sự hiện diện của những gương mặt thân yêu với những nụ cười rạng rỡ…chính là tấm gương phản chiếu tinh thần thiêng liêng của ngày lễ này. Và bài viết hôm nay là lời ghi chép lại những cảm xúc ấy: sâu lắng, chân thành và chan chứa yêu thương trong tình bạn tuyệt vời!

Vùng trời Nam California mấy hôm nay mưa nhiều, nhưng mọi người vượt qua mưa gió trên những con đường ướt đẫm để đến với nhau trong buổi tiệc Tạ Ơn, để sưởi ấm nhau trong tình bạn hữu thân thương.

Vui biết bao…khi Kiều My nhìn thấy có sự hiện diện của Cô Dương Hồng Anh, các anh: Nguyễn Quang, Phạm Quốc Bảo, Hoàng Đình Khuê, Vương Trùng Dương, Phạm Gia Đại, Trần Việt Hải, Alain Đức, chị Nguyễn Nga, cùng những người bạn: Hùng Ngọc, Khánh Lan, Mạnh Bỗng, Lệ Hoa, Thụy Lan, Michael, Tuyết Nga, Minh Châu, Minh Thư và keyboardist Ngọc Tú.

Mọi người thật vui vẻ, thân thiện cùng nhau chia sẻ một đêm vui chơi, ăn uống, ca hát, nhảy nhót…thật tưng bừng. Ngoài tình bạn hữu ra, nhóm Nhăn Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian còn có “tình nghĩa văn chương” như lời thơ trong “Bạn Bè Của Tôi” của nữ sĩ Dương Hồng Anh. Thật đẹp!

Những món ăn thơm ngon được nữ chủ nhân và cũng là chief cook Mộng Thủy khoản đãi rất chu đáo ân cần. Nào là, mì xào tôm với rau củ, bánh xèo miền Nam, hủ tiếu Mỹ Tho, xôi gấc (đây là những món tuyệt chiêu của Mộng Thủy). Cảm ơn Mộng Thủy thật nhiều đã tạo cơ hội cho cả nhóm có những khoảnh khắc tuyệt vời mà sẽ nhớ mãi trong lòng mọi người. Ngoài ra các bạn còn mang đến những món ăn thuần túy Việt như: bò kho, cơm chiên, chả giò, chè, appertizer v.v…

Quây quanh bàn ăn, chúng tôi cùng nâng ly, chia sẻ từng miếng ăn, chăm sóc cho nhau, kèm theo những nụ cười giòn tan, rạng rỡ trên gương mặt mọi người, dù cho tuổi đời đã đi thật xa. Tuổi tác và thời gian dường như dừng lại… để chiêm ngắm niềm vui lan tỏa trong sự thân thiện, ngọt ngào.

Kiều My rất thích thú khi nghe các bậc đàn anh bảo rằng: Các anh đã từng đi dự nhiều buổi tiệc họp mặt, nhưng không có nhóm nào vui vẻ và chân thành như nhóm NVNT&TTG.

Cảm tạ hảo ý của các anh. Thật vậy! Chúng ta đến với nhau bằng tấm chân tình, yêu thương và trân quý nhau, học hỏi nhau trên con đường văn chương.
Bữa tiệc đêm nay không chỉ là bữa ăn sum họp, mà còn là khoảnh khắc cảm nhận sự ấm áp lan tỏa trong trái tim mình. Tiếng cười của bạn bè, ánh mắt xúc động khi nâng ly chúc phúc, món ăn được chuẩn bị bằng cả tấm lòng – tất cả góp thành một bản hòa âm của hạnh phúc. Dưới ánh đèn, có lẽ các bạn đã thấy mình thật may mắn: sau bao năm tháng sống nơi đất khách, những kết nối này trở thành gia đình mở rộng – những vòng tay đỡ đần nhau trong một cuộc đời rộng lớn.Ta còn được yêu thương, còn được nhớ đến, còn được đồng hành. Đó là một phúc lành!

Nào cùng cạn ly…

Trong bữa tiệc Tạ Ơn tối nay cũng là dịp mừng sinh nhật anh Trần Việt Hải. Hai chiếc bánh cake thật đẹp: mừng Lễ Thanksgiving và chúc mừng Birthday của Việt Hải. Cả 2 chiếc bánh thơm ngon, ngọt ngào, đẹp mắt, đều mang ý nghĩa tốt đẹp cho sự chúc mừng.

Mừng Sinh nhật của Anh Trần Việt Hải

Happy birthday to you….and many more….

Happy birthday to ME ????

Buổi tiệc này không chỉ là bữa ăn, mà đó là kỷ niệm, là tiếng cười, là sự hiện diện của những tấm lòng chân thật, với những lời cầu chúc tốt đẹp cho ngày sinh nhật của anh Trần Việt Hải. Happy Birthday to you…Happy Birthday to You…

Trong ánh sáng lung linh và hương thơm của món ăn, ta đã cảm nhận được điều mà không sách vở nào có thể diễn tả.

Mừng Lễ tạ Ơn: Là cơ hội cho gia đình, bạn hữu sum họp để cùng cảm tạ vì tình người đã trao cho nhau, cùng quây quần bên nhau chuyện trò. Khi tiếng nói cười chan hòa trong căn phòng ấm áp, ta nhận ra rằng sự hiện diện của nhau chính là món quà quý giá nhất mà cuộc sống ban tặng. Hạnh phúc chính là được ngồi giữa những người thương yêu mình.
Vì sao có ngày lễ Tạ Ơn? Nguồn gốc ngày lễ Tạ Ơn như thế nào?
Ngày Lễ Tạ Ơn đã có mặt trong văn hóa Hoa Kỳ hơn bốn thế kỷ. Khi những người di dân đầu tiên đặt chân lên vùng đất mới xa lạ, họ đã phải đối mặt với giá lạnh, đói khát và muôn vàn thử thách. Với sự giúp đỡ của người bản địa, họ đã vượt qua mùa đông khắc nghiệt đầu tiên, gieo hạt, gặt hái mùa màng và tìm lại niềm hy vọng cho sự sống.
Ngày họ cùng nhau quây quần, dâng lời tạ ơn Thượng Đế vì sự chở che và cho một mùa màng bội thu, chính là khởi nguồn của Thanksgiving. Tinh thần ấy vẫn còn nguyên vẹn đến ngày nay: biết ơn vì mình còn sống, còn được yêu thương, còn có gia đình và cộng đồng để nương tựa.
Ý nghĩa thiêng liêng của ngày lễ Tạ Ơn
Ngày Lễ Tạ Ơn không chỉ là lời cảm tạ hướng lên Thượng Đế, mà còn là lời tri ân dành cho gia đình, cho bạn hữu, và cho chính cuộc đời đã cho ta cơ hội được yêu thương, được chia sẻ, được có mặt trên đời này. Ngày Lễ Tạ Ơn là ngày lễ truyền thống của người dân Hoa Kỳ, khởi nguồn từ thế kỷ XVII, không chỉ là là một lễ hội văn hóa, mà là một lời tạ ơn sâu sắc. Những người di dân đầu tiên, sau mùa đông khắc nghiệt với đói khát, bệnh tật và mất mát, đã dâng lời cảm tạ Thượng Đế khi mùa màng bội thu. Từ thời khắc ấy, truyền thống tạ ơn hình thành, giản dị nhưng bền vững. Ngày nay, giữa thế giới hiện đại, ý nghĩa ấy càng đẹp hơn. Bởi dù cuộc sống thay đổi, trái tim con người vẫn cần một nơi để trở về, để tự nhắc mình rằng: trong đời này không có gì là “đương nhiên”.
Lời tạ ơn Thượng Đế
Điểm chính yếu của Thanksgiving là lời tạ ơn hướng về Đấng Tối Cao. Dù mỗi người có một truyền thống và đức tin riêng, nhưng khi ta dâng lời “cảm tạ”, trái tim nào cũng cùng chung ánh sáng. Ta biết ơn Thượng Đế:
– Vì mỗi sáng còn được mở mắt, còn thở, còn sống
– Vì những điều tốt đẹp lẫn những thử thách, vì cả hai đều dạy ta trưởng thành.
– Vì những người Ngài đã đưa vào đời ta đúng lúc — để nâng đỡ, để yêu thương, để soi sáng.– Vì niềm hy vọng âm thầm Ngài gieo vào lòng ta mỗi khi ta tưởng như không còn đứng dậy được.
Thanksgiving vì thế không chỉ là một ngày lễ — mà là một lời cầu nguyện.
Tình thân gia đình – mái nhà của những yêu thương đầu tiên
Gia đình luôn là điểm xuất phát của mọi yêu thương. Dù mỗi người một phương trời, dù thời gian và tuổi tác có đổi thay, thì mỗi dịp Lễ Tạ Ơn, những sợi dây vô hình của tình thân lại kéo ta về gần nhau hơn. Ta biết ơn cha mẹ – những người trao ta sự sống, dạy ta nhân nghĩa. Ta biết ơn anh chị em – những người cùng ta đi qua tuổi thơ. Ta biết ơn con cháu – những mầm xanh cho ta hy vọng mới.
Trong mỗi gia đình đều có những câu chuyện không ai nói ra, nhưng ai cũng hiểu: những hy sinh thầm lặng, những nỗ lực không lời, những yêu thương bền bỉ theo năm tháng. Thanksgiving là lúc để nhìn lại và nói: “Cảm ơn”
Tình bạn – món quà đẹp đẽ của đời sống
Bạn hữu không chung huyết thống, nhưng lại chung nhịp đập tâm hồn.
Có những người bạn chỉ gặp vài lần nhưng trở nên thân thiết từ lúc nào.
Có những người bạn đi bên ta suốt mấy chục năm trời. Có những người bạn tri kỷ — như một món quà hiếm hoi trời dành riêng cho ta, là tình người, sự chia sẻ và lòng quý trọng nhau.
Hành trình 50 năm trên đất Mỹ
Đối với những người Việt tị nạn, Thanksgiving không chỉ là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của Hoa Kỳ; nó còn là một phần của hành trình dài 50 năm sinh sống, làm việc và trưởng thành ở xứ sở này. Chúng ta đã trải qua những mùa Thanksgiving đầu tiên còn bỡ ngỡ. Những mùa lễ tiếp theo là nỗi nhớ gia đình nơi quê nhà. Rồi những năm sau, chúng ta dần tìm được cộng đồng, tìm được những người bạn đồng hương và trở thành gia đình thứ hai.
Cứ thế, mỗi mùa Thanksgiving đi qua, trong ta lại lớn lên một niềm biết ơn mới — không chỉ vì những gì ta có, mà vì những điều ta đã vượt qua.
Trong niềm vui cùng ý nghĩa sâu sắc của lễ Tạ Ơn, lời ca tiếng nhạc trổi lên có lúc sống động, có lúc êm dịu qua tiếng hát của anh Vương Trùng Dương, Phạm Gia Đại, Mạnh Bỗng, Kiều My, Lệ Hoa, Thụy Lan, Minh Thư, Alain Đức, Minh Châu. Tiếng hát đi vào lòng người…đượm thắm nồng men rượu đỏ… làm ấm áp trái tim và làm hồng thêm đôi má.
Đêm đã tàn và cuộc vui cũng đã tan. Mọi người chia tay ra về và hẹn nhau mùa Lễ Tạ Ơn năm sau! Vì Thanksgiving đến là một cơ hội để ta mở lòng hơn, yêu thương nhiều hơn, và gắn bó với nhau sâu sắc hơn. Để thấy rằng hạnh phúc thật sự không nằm ở những điều lớn lao, mà ở những điều giản dị: một cái ôm, một nụ cười, một lời cầu chúc, một buổi tối quây quần bên những người bạn thân yêu…

Kiều My & Việt Hải-Mùa Lễ Tạ Ơn 2025
-
Tường Trình Buổi Ra Mắt Sách “Theo Giòng Sử Việt”
-
TRIẾT LÝ HÔN NHÂN TRONG CÔNG GIÁO
Kiều My

I. Nền tảng Kinh Thánh và Giáo lý về hôn nhân
Từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ, và trong công trình sáng tạo nhiệm mầu ấy, Ngài chúc phúc cho họ: “Cả hai sẽ nên một xương một thịt.” (St 2,24). Câu Kinh Thánh ấy không chỉ là lời mô tả về tình yêu đầu tiên của nhân loại, mà còn là mặc khải về ý định của Thiên Chúa dành cho con người — đó là một tình yêu hiệp nhất, bền vững, phản chiếu chính tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại.
Trong tầm nhìn của Công giáo, hôn nhân không chỉ là một khế ước xã hội, mà là một bí tích – dấu chỉ hữu hình của ân sủng vô hình. Bí tích này nâng tình yêu phàm trần lên hàng thánh thiện, làm cho sự kết hợp giữa hai người nam nữ trở thành biểu tượng của tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Khi đôi bạn trao cho nhau lời cam kết trong Thánh lễ Hôn phối, chính họ là thừa tác viên của bí tích, còn linh mục chỉ là chứng nhân. Điều đó diễn tả một chân lý sâu xa: hôn nhân là ơn gọi, là sứ mạng, và là hành trình nên thánh.
Nhìn dưới ánh sáng của Giáo lý, hôn nhân Công giáo có bốn đặc tính không thể tách rời: đơn nhất, trung tín, bất khả phân ly và hướng đến sinh sản – giáo dục con cái. Mỗi đặc tính là một chiều kích thiêng liêng của tình yêu, giúp con người sống trọn vẹn phẩm giá làm người và làm con Chúa. Trong thời đại hôm nay, khi giá trị hôn nhân bị thử thách bởi lối sống vội vàng và ích kỷ, triết lý hôn nhân Công giáo vẫn vang lên như một lời mời gọi trở về với cội nguồn của tình yêu chân thật – tình yêu có Thiên Chúa ở trung tâm.
II. Ý nghĩa thiêng liêng của sự kết hợp vợ chồng
Hôn nhân là một mầu nhiệm của hiệp thông. Hai người, dù khác biệt về tính cách, quá khứ, và hành trình sống, lại được Thiên Chúa se kết để cùng nhau bước đi trên cùng một con đường. Sự kết hợp ấy không chỉ để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, mà còn để cùng nhau hoàn thiện bản thân và giúp nhau nên thánh.

Thánh Phaolô đã diễn tả thật cảm động: “Người chồng hãy yêu vợ như chính Đức Kitô yêu Hội Thánh; và người vợ hãy tôn trọng chồng mình.” (Ep 5,25-33). Câu nói ấy không nhằm thiết lập một trật tự quyền lực, mà là lời mời gọi mỗi người yêu trong khiêm nhường, tôn trọng và hy sinh cho nhau.
Tình yêu vợ chồng trong Công giáo là tình yêu có tính thiêng liêng, vì nó phản chiếu tình yêu tự hiến của Đức Kitô trên thập giá. Khi người chồng biết quên mình để bảo vệ và chăm sóc người vợ, khi người vợ âm thầm nâng đỡ và gìn giữ tổ ấm, cả hai đang sống chính ơn gọi làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa giữa đời thường. Mỗi bữa cơm, mỗi lời tha thứ, mỗi cái nắm tay vượt qua nghịch cảnh – tất cả đều là những “phép lạ nhỏ” của đời sống hôn nhân, nơi ân sủng âm thầm hoạt động.
Chính trong sự kết hợp ấy, con người học được bài học lớn của đức tin: yêu không chỉ bằng cảm xúc, mà bằng hành động; không chỉ khi thuận lợi, mà cả khi bão giông. Và khi tình yêu ấy được đặt trong bàn tay Thiên Chúa, nó không còn sợ đổi thay, vì “ơn Ngài đủ cho anh em.”
III. Tình yêu – Hy sinh – Ơn gọi nên thánh qua hôn nhân
Triết học trong Kitô giáo, hôn nhân là một hành trình hiến dâng. Người ta thường nghĩ chỉ đời tu mới là con đường nên thánh, nhưng Giáo hội dạy rằng hôn nhân cũng là ơn gọi nên thánh giữa lòng thế gian.
Tình yêu vợ chồng, khi gắn bó trong Đức Kitô, trở thành một “phụng vụ đời sống”: mỗi cử chỉ yêu thương, mỗi lần tha thứ, mỗi ngày kiên nhẫn chịu đựng đều là một lời cầu nguyện thầm lặng. Hy sinh không còn là mất mát, mà là một cách để yêu sâu hơn. Tha thứ không còn là yếu đuối, mà là một hành vi của sức mạnh nội tâm được nuôi dưỡng bởi ân sủng.
Hôn nhân trong Công giáo dạy con người biết sống tình yêu như một ơn gọi: không chỉ là “được yêu”, mà là “được sai đi để yêu”. Người chồng và người vợ trở thành sứ giả của tình yêu Thiên Chúa giữa đời thường – nơi họ nuôi dạy con cái, chăm sóc nhau, và làm chứng cho đức tin bằng đời sống hiền lành, khiêm tốn.
Có thể nói, triết lý hôn nhân Công giáo là triết lý của tình yêu trưởng thành – tình yêu biết bước qua lãng mạn để đi vào hiệp thông, biết vượt qua “cái tôi” để sống cho “chúng ta”, biết quỳ gối cầu nguyện bên nhau trong những ngày bình yên cũng như sóng gió. Đó chính là con đường nên thánh của người sống giữa đời.
IV. Giá trị bền vững và thánh hóa của đời sống hôn nhân
Nếu thế giới hôm nay coi hôn nhân như một bản hợp đồng có thể hủy bỏ, thì trong Công giáo, hôn nhân là một giao ước thiêng liêng không thể phân ly. Sự bền vững ấy không xuất phát từ ý chí con người, mà từ chính Thiên Chúa – Đấng đã thánh hiến sự kết hợp này.
Một đôi vợ chồng Công giáo sống trọn lời cam kết của mình sẽ trở thành một “nhà thờ nhỏ”, nơi tình yêu được thờ phượng và ân sủng được truyền lan. Con cái lớn lên trong bầu khí ấy sẽ học được ý nghĩa của nhân đức, của lòng biết ơn, và của niềm tin. Như thế, hôn nhân không chỉ thánh hóa hai người, mà còn thánh hóa cả cộng đoàn và xã hội.
Trong chiều sâu triết lý, hôn nhân Công giáo là hình ảnh của mầu nhiệm Ba Ngôi: tình yêu Đức Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là một tình yêu trao hiến, luôn hướng ra ngoài để sinh hoa kết trái. Khi đôi vợ chồng sống yêu thương thật sự, họ đang phản chiếu chính tình yêu ấy trong thế giới này.
Tình yêu trong hôn nhân không dừng lại ở tuổi trẻ, không phai nhạt theo năm tháng. Nó trưởng thành qua thử thách, lắng đọng trong sự tĩnh lặng của những ngày về chiều, và tỏa hương như một chứng tá sống động rằng Thiên Chúa là Tình Yêu.
V. Vai trò của người chồng và người vợ trong đời sống hôn nhân Công giáo
Trong ánh sáng Tin Mừng, hôn nhân không đặt nền trên sự thống trị hay quyền lực, mà trên tình yêu và sự phục vụ lẫn nhau. Mỗi người được mời gọi sống đúng ơn gọi riêng của mình, để bổ túc cho người kia trong một sự hiệp thông trọn vẹn.
Người chồng, theo Thánh Phaolô, được mời gọi “yêu vợ như Đức Kitô yêu Hội Thánh” (Ep 5,25). Đó là tình yêu biết hiến thân, không chiếm hữu, sẵn sàng hy sinh cho hạnh phúc của người mình yêu. Trong khi đó, người vợ được mời gọi sống lòng tôn trọng, dịu dàng và đức tin sâu thẳm, để trở thành “nơi bình an” cho chồng và con cái.
Không ai cao hơn ai; cả hai bình đẳng trong phẩm giá, khác biệt trong ân sủng, như hai nửa của một toàn thể. Người chồng là mái che, người vợ là ngọn lửa ấm; cả hai cùng nâng đỡ, cùng hướng về Thiên Chúa.
Trong thực tế đời sống, khi vợ chồng cùng cầu nguyện, cùng đối thoại, cùng vượt qua thử thách, thì mỗi ngày của họ trở thành một “phụng vụ nhỏ” dâng lên Thiên Chúa. Chính ở đó, triết lý hôn nhân Công giáo được thể hiện rõ nhất: yêu là cùng nhau đi về phía ánh sáng.
VI. Hôn nhân và ơn gọi làm cha mẹ – giáo dục con cái trong đức tin
Thiên Chúa chúc phúc cho hôn nhân bằng món quà của sự sống. Khi hai người nam nữ đón nhận con cái, họ cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo. Vì thế, thiên chức làm cha mẹ không chỉ là trách nhiệm, mà là một ơn gọi linh thiêng.

Người làm cha được mời gọi trở nên hình ảnh của Chúa Cha – đầy yêu thương, nhưng cũng kiên định và dẫn dắt. Người làm mẹ phản chiếu lòng nhân hậu và dịu dàng của Thiên Chúa, như suối nguồn của sự sống và của đức tin trong gia đình.
Giáo dục con cái trong đức tin không chỉ là dạy con đọc kinh hay đi lễ, mà là truyền lại cho con niềm tin sống động bằng chính đời sống yêu thương, trung tín và nhân ái của cha mẹ. Khi đứa trẻ nhìn thấy cha mẹ nắm tay nhau cầu nguyện, khi thấy họ tha thứ, cảm thông và hy sinh cho nhau, thì nơi đó, đức tin đã được gieo hạt vào tâm hồn non trẻ bằng chứng từ sống động hơn mọi lời giảng dạy.
Một gia đình sống đức tin không phải là gia đình không có thử thách, mà là gia đình biết tin tưởng vào Chúa giữa gian nan, biết nhường nhịn khi bất đồng, và biết dâng hiến mọi niềm vui, nỗi buồn cho Thiên Chúa. Chính nhờ thế, mái ấm trở thành “Giáo hội tại gia” – nơi ân sủng Thiên Chúa đổ xuống chan hòa.
VII. Hôn nhân dưới ánh sáng của Tình yêu Thiên Chúa và mầu nhiệm Thập giá
Không có tình yêu nào chân thật mà không mang dấu ấn của thập giá. Trong hôn nhân, những thăng trầm, tổn thương, hiểu lầm hay mỏi mệt đều là những bước đường tất yếu của hành trình yêu thương. Nhưng chính trong những giọt nước mắt ấy, Thiên Chúa lại hiện diện cách sâu sắc nhất.
Đức Kitô đã yêu Hội Thánh đến nỗi hiến dâng chính mình trên Thập giá. Hôn nhân Công giáo cũng mang lấy tinh thần đó: yêu nghĩa là hiến thân, là tha thứ, là bền bỉ yêu ngay cả khi không được đáp trả. Khi vợ chồng biết ôm lấy nhau trong đau khổ, họ đang cùng nhau vác thập giá và bước theo Đức Kitô.
Triết lý hôn nhân, vì thế, không chỉ nói về hạnh phúc, mà còn nói về ơn cứu độ. Bởi lẽ, những hy sinh, những chịu đựng trong tình yêu không bao giờ vô nghĩa: chúng được thánh hóa, được kết hợp vào hy lễ của Đức Kitô để biến thành ân sủng.
Khi hai người biết quỳ gối cầu nguyện cùng nhau trong cơn bão, biết giữ lòng trung thành giữa thử thách, họ đang sống một “thần học của tình yêu”: nơi đau khổ không phá vỡ, mà làm tình yêu nên sâu, nơi thập giá không đè nặng, mà dẫn họ đến phục sinh.
VIII. Hình ảnh Đức Maria trong đời sống hôn nhân
Giữa bao mẫu gương thánh thiện của Hội Thánh, Đức Mẹ Maria là ánh sáng dịu hiền soi dẫn mọi gia đình Công giáo. Dù Mẹ không sống đời hôn nhân theo nghĩa trần thế, nhưng Mẹ lại là khuôn mẫu hoàn hảo của người nữ, người mẹ, và người bạn đồng hành trong đức tin.
Trong biến cố Truyền tin của Thiên thần Gabriel, Mẹ đã nói “Xin vâng” – một lời đáp trả trọn vẹn, khiêm nhu, nhưng mạnh mẽ. Lời “xin vâng” ấy cũng chính là linh đạo của mọi cuộc hôn nhân Công giáo: chấp nhận, tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa. Mỗi khi vợ chồng biết nói “xin vâng” với nhau – “xin vâng” với trách nhiệm, với tha thứ, với những giới hạn của người kia – thì họ đang sống cùng một tinh thần với Đức Maria.
Trong biến cố Thánh Gia ở Nadarét, Đức Maria đã sống âm thầm, chăm sóc và gìn giữ mái ấm cùng Thánh Giuse. Nơi ấy, Mẹ trở thành biểu tượng của tình yêu khiêm nhường, kiên nhẫn và hiến dâng – ba nhân đức nền tảng cho mọi đời sống hôn nhân.
Và trên đỉnh đồi Can-vê, khi đứng dưới chân Thập giá, Đức Maria đã chia sẻ trọn vẹn nỗi đau với Con mình – đó là hình ảnh của tình yêu biết chấp nhận, biết hiến mình đến tận cùng. Từ đó, Mẹ trở thành người Mẹ thiêng liêng của mọi gia đình, Đấng đồng hành và nâng đỡ những ai đang bước đi trong thử thách của tình yêu.
Khi vợ chồng biết đặt đời sống hôn nhân dưới sự che chở của Đức Mẹ, họ học được từ Mẹ sự dịu dàng trong lời nói, sự bền bỉ trong cầu nguyện và lòng trung thành đến cuối con đường. Chính Đức Maria là “Ngôi Sao Hôn Nhân” – soi sáng những mái ấm biết tìm về ơn Chúa.

Triết lý hôn nhân Công giáo, qua tất cả những chiều kích ấy, là một bài ca về tình yêu vĩnh cửu. Đó là tình yêu của Thiên Chúa được phản chiếu trong từng mái ấm, trong từng lời thề hứa, trong từng hy sinh thầm lặng. Hôn nhân không chỉ là chuyện của hai người, mà là một hành trình thiêng liêng – nơi Thiên Chúa đồng hành, Đức Maria nâng đỡ, và tình yêu được thánh hóa để trở thành lời chứng sống động.
Triết lý hôn nhân trong Công giáo, xét cho cùng, không chỉ là một hệ thống giáo huấn, mà là một triết lý của tình yêu và hy vọng. Nó mời gọi con người tin rằng tình yêu có thể tồn tại mãi, nếu được xây trên nền tảng của niềm tin, sự chung thủy và ơn Chúa. Hôn nhân, trong ánh sáng Đức tin, là hành trình hai người cùng nhau đi về Trời — nơi họ không chỉ là vợ chồng, mà là hai linh hồn đã cùng nhau học yêu và được biến đổi bởi Tình Yêu Thiên Chúa.
(Bài sưu khảo “Triết Ly Hôn Nhân Trong Công Giáo” tác giả soạn nhân dịp mừng Kim Khánh Hôn Nhân của GS Quyên Di và NS Hồng Trang.)
Kiều My, California, October 18, 2025
-
MỪNG KIM KHÁNH HÔN NHÂN: GIÁO SƯ QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG
Kiều My & Khánh Lan

“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không thể phân chia” đề cập đến sự thánh thiêng và bất khả phân ly của hôn nhân theo giáo lý Công giáo. Hôn nhân là sự kết hợp thiêng liêng bởi Chúa Giêsu giữa một người nam và một người nữ, họ kết hôn và trở nên “một xương một thịt” trong mắt Thiên Chúa.
Lễ Kỷ niệm 50 ngày cưới của Giáo Sư Quyên Di và Nhạc Sĩ Hồng Trang: 1975-2025
Hôm ấy, trời đẹp quá, một màu xanh lơ, bầu trời thật quang đãng dường như thiên nhiên cũng ưu ái chúc lành cho cuộc hôn nhân tốt đẹp này. Từ 9:30 sáng thứ Bảy, ngày 18 tháng 10 năm 2025 trong bầu không khí thánh thiêng tại Thánh đường Trung Tâm Mục Vụ Lambert đã đông nghẹt người, trong nhà thờ cũng như ngoài parking lot. Mọi người đều hân hoan, hiện diện tham dự thánh lễ kỷ niệm 50 năm thành hôn của Giáo sư Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang. Theo Gs Quyên Di, Trung Tâm Mục Vụ Lambert là do các nữ tu mua lại của một nhà thờ tin lành vào những năm trước. Đây là một trung tâm đẹp, khang trang gồm một nhà thờ nhỏ, khu nhà nguyện và một hội trường xinh xắn. Từ nhà thờ đến hội trường phải đi qua một vườn hoa do các nữ tu chăm xóc, xinh đẹp và rất đáng yêu, có lẽ nhờ vào những bàn tay khéo léo của các bà.
Những giây phút trôi qua thật lắng đọng! Giờ đây, trong nguyện đường thật ấm cúng tràn đầy tình thương của thân bằng quyến thuộc gần xa, hợp cùng 10 vị linh mục dâng lễ Tạ ơn Thiên Chúa. Đúng 10 giờ sáng, thánh lễ bắt đầu. Từ cuối nhà thờ các linh mục từ từ tiến lên bàn thánh, theo sau là Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang, các con của hai vị và sau cùng là cha chủ tế, Đức Ông Phạm Quốc Tuấn, Ngài là Pastor của nhà thờ San Antonio Catholic Church thuộc vùng Anaheim Hill.

Các linh mục từ từ tiến lên bàn thánh.

Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang

Theo sau là các con và cháu của hai vị.

Thánh lễ đồng tế diễn ra thật trang trọng, âm vang tiếng hát thiên thần của ca đoàn Hoa Biển và Ca Sĩ Như Mai lan tỏa trong không gian, phối hợp nhịp nhàng hòa cùng các vị Linh mục. Ca đoàn Hoa Biển do Ns Hồng Trang lập ra từ khi mới định cư tại Hoa Kỳ.

Linh mục Tạ Anh Kiệt mở đầu bài giảng thật linh động với câu ca dao: “Chim Quyên ăn trái nhãn lồng. Lia thia quen châu, vợ chồng quen hơi“. Sau đó linh mục đã giải thích tường tận ý nghĩa của câu ca dao, với phong cách và câu nói dí dỏm, Ngài đã làm cho bài giảng hôm ấy trở nên thú vị, thu hút người nghe. Được biết thêm, linh mục còn là học trò của Gs Quyên Di. Sau cùng, Ngài ngỏ lời chúc hôn và cảm tạ Thiên Chúa đã thương ban nhiều hồng ân đến cho Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang trong hành trình 50 năm “hồng phúc”. Ngài cầu xin cho họ được hưởng trọn hạnh phúc lứa đôi mãi mãi.

Thánh lễ được cử hành bởi cha chủ tế và các vị Linh mục Thánh hiến, mang trọn vẹn y nghĩa của phép bí tích Hôn phối thiêng liêng, mà Hội Thánh Công Giáo đã kết hợp đôi uyên ương gắn bó trung thành với nhau trong 50 năm qua và còn mãi mãi về sau.
Chủ tế: Đức ông Phạm Quốc Tuấn

Các Linh mục: Chu Vinh Quang, Bùi Quyết, Lê văn Quảng, Mai Khải Hoàn, Nguyễn Ngọc Hoàn, Nguyễn Trung Tuấn, Nguyễn Việt Hưng, ICM; Tạ Anh Kiệt, Trần Văn Kiểm và hai thày Phó tế: Thày Nguyễn Văn Phước và Thày Nguyễn Khiết.

Chúa ở cùng anh chị em.
Một đặc ân mà hai vị Linh mục Mai Khải Hoàn và Nguyễn Trung Tuấn đã trao phép lành Tòa Thánh Vatican từ Đức Giáo Hoàng Leo XIV, như bảo chứng của Hồng Ân Thiên Chúa qua lời khẩn cầu của Đức Trinh Nữ Maria cho GS Gioan Baotixita Quyên Di và Teresa Hồng Trang nhân dịp kỷ niệm 50 năm Hôn Phối. Hai tâm hồn đã cùng nhau đi trọn hành trình hôn nhân qua nửa thế kỷ trong ân sủng của Thiên Chúa.

Linh mục Mai Khải Hoàn và Nguyễn Trung Tín đã trao phép lành Tòa Thánh Vatican từ Đức Giáo Hoàng Leo XIV. Và vị chúc hôn là Linh Mục Nguyễn Việt Hưng thuộc dòng Tận Hiến.


“YOU MAY KISS THE BRIDE!“

Lời cám ơn của Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang
Thánh lễ Hôn phối mang ý nghĩa gì?
Hôn nhân Công giáo là bí tích Chúa Giêsu đã lập để kết hợp hai người tín hữu, một nam một nữ thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội thánh, cùng ban ơn giúp họ sống xứng đáng ơn gọi của mình. Khi một người nam và một người nữ kết hôn, họ trở thành vợ chồng theo luật tự nhiên. Hôn nhân của họ là một khế ước, có giá trị trước mặt Thiên Chúa.
“Qua bí tích hôn phối, tình yêu của vợ chồng được Thiên Chúa đóng ấn. Họ nhận được những ơn siêu nhiên giúp họ sống ơn gọi hôn nhân và gia đình. Bí tích là điều rất thiêng liêng và trở nên dấu chỉ màu nhiệm Đức Kitô kết hợp với Hội thánh”.
Nhìn lại năm mươi năm, qua đời sống hôn nhân được bền vững của người thầy hiền từ và nữ nhạc sĩ dịu dàng đã dựa vào niềm tin, với những hy sinh âm thầm…của những ngày nắng ấm, hay cả những mùa mưa gió…và vẫn không thiếu những thăng trầm trong cuộc sống. Nhưng trên tất cả là – tình yêu bền vững của đôi hôn nhân được dệt nên bằng lòng trung tín và ân sủng của Thiên Chúa. Đã minh chứng:

Một tình yêu không phai. Một đức tin không nguôi. Một gia đình tràn đầy phúc lành.

Trong dịp trọng đại này, với lòng cảm kích sâu xa Kiều My kính tặng Giáo sư Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang bài thơ đã dệt nên … Khúc Hát Ân Tình
Năm mươi năm – nửa thế kỷ ân tình
Lời thề xưa…nay vẫn vẹn nguyên son sắt
Bàn tay Chúa đã nối hai tim cùng nhịp đập
Để hôm nay…tình yêu ấy nở hoa vàng của mùa Kim Khánh
Bao mùa nắng mưa qua …vẫn còn đó nụ cười hiền
Vẫn đôi mắt sáng…niềm tin giữa bao thử thách
Từng ngày chung bước…là một lời cảm tạ
Vì có Chúa hiện diện trong từng hơi thở của …tình yêu
Xin dâng lên Thiên Chúa muôn lời chúc tụng
Đã cho đôi bạn tìm thấy nhau
Gắn bó đến hôm nay và mãi về sau
Khắng khít bên nhau…đến bạc đầu
Xin Chúa hãy nâng đỡ đôi bạn trong tuổi hoàng hôn
Đôi tim vàng của Kim Khánh Hôn Nhân

Thánh lễ đã hoàn tất, quan khách được mời đến hội trường tham dự bữa tiệc thân mật cùng chung vui với hai vì sao hạnh phúc nhất của nhân gian. Các bàn ăn được xép san sát nhau, chúng tôi đoán chắc có đến 400 người tham dự. Những đóa hồng màu vàng rải rác khắp căn phòng, một màu vàng của sự thủy chung, của hạnh phúc và của 50 năm an bình trong tình yêu Thiên Chúa.

Khách mời dự tiệc gồm các linh mục, các ca nhạc sĩ, hội đoàn, gia đình và bạn bè.

Nhạc Sĩ Từ Công Phụng dù rất yếu, nhưng ông cũng có mặt để tham dự tiệc mừng và hát một nhạc phẩm tặng Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang.

Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và con trai, Nguyễn Đại Thành (Thi sĩ Huy Anh)

Hàng đứng: Minh Khai, Lệ Hoa, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Ngọc Hà, Ngọc Châu. Hàng Ngồi: Đạt, Nguyễn Quang, Vương Trùng Dương, Dương Ngọc Sum.

Alain Đức, Ngọc Châu, Minh Châu

Khánh Lan, Dương Hồng Anh, Lê Nguyễn Nga, Katherine Minh Thư, Thụy Lan, Việt Hãi, Lệ Hoa, Ngọc Quỳnh, Kiều My.

Này Em, hãy cùng ta cạn ly “Hạnh Phúc”

Rượu mừng do Ns Hồng Trang tự làm-đặc biệt cho ngày tiệc.

Việt Hải, Khánh Lan, Lệ Hoa, Ngọc Quỳnh

Hãy cùng nâng ly chúc mừng cho đôi “Uyên Ương” 100 năm hạnh phúc.
MC Diệu Quyên ngõ lời chúc mừng và cảm tạ đến cử tọa tham dự gồm có: các vị Linh mục, các nữ tu, các bậc chức sắc, ca đoàn Hoa Biển, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa. Ca nhạc sĩ gồm có: Bs. Phạm Gia Nghị, Đình Thanh, Anh Dũng, Ý Lan, Như Mai, Quỳnh Hương, Hương Thơ, Ngọc Huệ, Thanh Thảo, Hồng Tước, Ngọc Hà, Từ Công Phụng v.v…họa sĩ Phan Chánh Khánh, nhóm cựu nữ sinh Trung học Nguyễn Bá Tòng và giới truyền thông…
Mở đầu chương trình văn nghệ, Ca sĩ Charies với solo Guitar & Sing, theo sau là những ca khúc vui tươi ca ngợi tình yêu trổi lên qua tiếng hát của những ca sĩ nam California để chúc mừng Gs. Quyên Di và cô Hồng Trang, đã tạo nên bầu không khí vui tươi và thân thiện của một sự kiện đáng ghi nhớ.
Ca khúc bất hủ Ave Maria của Frank Schubert được cất lên qua tiếng hát Thanh Thảo, trong lúc hai ngôi sao sáng chói nhất hôm nay cắt chiếc bánh 4 tầng được trang trí rất đẹp mắt, để cùng chia sẻ hương vị ngọt ngào thơm ngon của bánh cưới với mọi người.

Sau đó đại diện của mỗi nhóm chúc mừng và tặng kỷ vật lưu niệm cho đôi Kim Khánh Hôn Nhân giữa những tiếng vỗ tay và những nụ cười giòn.

Họa sĩ Phan Chánh Khánh và quà tặng cho ngày kỷ niệm 50 năm thành hôn.

Hai CS Ý Lan & Quỳnh Hương và các nữ sinh Nguyễn Bá Tòng

Quà tặng của các nữ sinh trường Nguyễn Bá Tòng
Tiếp đến là các anh chị trong ca đoàn Hoa Biển đã tặng Ns Hồng Trang một quyển Album ghi lại các hình ảnh về những buổi sinh hoạt cùng Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang từ khi ca đoàn được thành lập. Dựa theo lời của MC Diệu Quyên, Ns Hồng Trang là “Bà Mai” rất mát tay, bởi Bà đã mai mối cho nhiều anh chị trong ca đoàn thành vợ chồng. Cặp lấy nhau lâu nhất là MC Diệu Quyên & Trúc Hồ, họ đã cùng nhau chung sống hơn 37 năm.

Một hoạt cảnh Đám Cưới Trên Đường Quê do những cặp vợ chồng mà nhạc sĩ Hồng Trang trong ca đoàn Hoa Biển đã se duyên, trình diễn rất ngoạn mục. Phần sau hết dành cho Liên nhóm NVNT & TTG và VCV & TDX.

Khánh Lan đại diện cho Liên nhóm NVNT & TTG và Liên nhóm Kiều My đại diện cho VCV & TDX
Trên sân khấu, Khánh Lan đại diện NVNT & TTG gởi lời chúc mừng đến Gs Quyên Di và Ns. Hồng Trang, cô nói: “Kính thưa quý quan khách, tại sao chúng ta lại lấy vàng, để ví cho một hôn nhân trải qua sau 50 năm ngày cưới? Phải chăng 50 năm ấy, là biểu tượng của một chặng đường hôn nhân bền bỉ, quý giá và hạnh phúc của một đôi vợ chồng. Một cột mốc quan trọng trong đời sống hôn nhân, mà đôi vợ chồng đã cùng nhau trải qua, với nhiều thăng trầm trong cuộc sống. Một quan hệ sâu sắc, kiên cường, mà trong ấy ta thấy có tình yêu chân chính, có sự trân trọng, có sự chia sẻ, có sự hy sinh và rồi cùng nhau xây dựng để hướng về tương lai tốt đẹp. Hôm nay, đánh dấu ngày Kỷ niệm 50 năm lễ cưới vàng của GS Quyên Di và phu nhân, GS Hồng Trang. Khánh Lan xin được thay mặt Liên nhóm NVNT & TTG, nguyện xin Thiên Chúa toàn năng, ban nhiều Hồng ân đến cho giáo sư Quyên Di và phu nhân giáo sư Hồng Trang thật nhiều niềm vui, tiếng cười và hạnh phúc mãi mãi về sau.“

Quà tặng của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian rất đặc biệt gồm 50 đóa hoa hồng thể hiện cho 50 năm hạnh phúc được trao đến tận tay, kính quý tặng Ns Hồng Trang và một tấm plaque trạm màu vàng ghi lại ngày kỳ niệm 50 năm thành hôn của hai vị, tháng 10 ngày 26, 1975.

50 đóa hoa hồng thể hiện cho 50 năm hạnh phúc

Lệ Hoa đại diện NVNT & TTG trao tặng hoa cho phu nhân Ns Hồng Trang

Tấm plaque trạm màu vàng ghi lại ngày kỳ niệm 50 năm thành hôn, tháng 10 ngày 26, 1975.

Liên nhóm NVNT & TTG và VCV & TDX

Kiều My đại diện Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa tặng quà đến cho Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang bức hình Đức Mẹ từ Roma, Cô nói: “50 năm, một khoảng thời gian rất dài cho một cuộc hôn nhân đã trải qua những ngày tháng hạnh phúc, nhưng cũng có những lúc thăng trầm trong cuộc sống, nhưng Gs Quyên Di và Cô Hồng Trang đã trải qua những thời gian đó. Và hôm nay, ….Kiều my xin Thiên Chúa chúc lành cho hai Thày Cô luôn mãi mãi hạnh phúc và thương yêu nhau suốt đời…”

NVNT & TTG tham gia văn nghệ
Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian góp mặt trong chương trình văn nghệ qua những ca khúc: Ô Mê Ly, Yêu Em Dài Lâu, Và Con Tim Đã Vui Trở Lại…qua hai tam ca: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên và tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa và Katherine Minh Thư.

Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên với Ô Mê Ly

Yêu Em Dài Lâu, Và Con Tim Đã Vui Trở Lại…với Thụy Lan, Lệ Hoa, Katherine Minh Thư
Sau đó, Mạnh Bổng giúp vui với Love Me With All Your Heart của Carlos Rigual & Mario Rigual. Kế tiếp là bản nhạc Pháp trứ danh Oui Devant Dieu của Antonio Prieto và Maurice Tézé qua tiếng hát Kiều My, đặc biệt dành cho Giáo Sư Quyên Di và cô Hồng Trang… Để hồi tưởng lại giây phút tuyệt vời của 50 năm trước khi đôi uyên ương trao lời thề hứa yêu nhau suốt đời trước Thiên Chúa và những người chung quanh.
Tiếng nhạc rộn rã trong hội trường đã dứt, nhưng dư âm ngày kỷ niệm Kim Khánh Hôn Nhân của Giáo sư Quyên Di và nhạc sĩ Hồng Trang vẫn còn âm vang trong lòng người khi ra về. Cầu chúc đôi bạn vàng trong tình yêu thánh thiện vẫn luôn là chứng nhân sống động của lòng trung tín và ơn lành Thiên Chúa giữa đời.

9:37 pm ngày 24 tháng 10, 2025 Khánh Lan nhận được text của Gs Quyên Di, ông nói: “Hôm ấy hai Liên nhóm của chúng ta tham dự đông đảo khiến chúng tôi rất cảm động. Khánh Lan cho chúng tôi gửi lời cám ơn đến tất cả các anh em chúng ta”
Kiều My & Khánh Lan, California, October 18, 2025
-
KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP CỦA NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN
Kiều My & Khánh Lan tường trình
Vui lòng bấm vào hình để xem hình ảnh
Trong bầu không khí hân hoan và ấm áp ngày Chủ nhật 24 tháng tám, năm 2025 tại Nam California, buổi tiệc kỷ niệm 10 năm thành lập Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã diễn ra như một cột mốc đầy ý nghĩa. Đây không chỉ là dịp để nhìn lại chặng đường mười năm xây dựng, tồn tại và phát triển; mà còn là cơ hội để tri ân những tấm lòng đã chung tay góp sức, nuôi dưỡng tinh thần nghệ thuật và nhân văn; đồng thời thắt chặt hơn tình thân ái giữa những người cùng chung lý tưởng bảo tồn văn hóa Việt và niềm đam mê văn chương nghệ thuật.
Vừa bước vào khánh phòng chúng tôi đã nhận thấy sự hiện diện của hai phóng viên. Cô Nhã đại diện cho tòa báo Người Việt và Anh Phạm Khanh đại diện cho đài phát hình Little Saigon TV. Cả hai vị đều chia sẻ rằng họ biết được buổi họp mặt của NVNT & TTG trên TV và trang Facebook.

Đại diện của tòa báo Người Việt phỏng vấn Nv. Khánh Lan về buổi họp mặt kỷ niệm 10 năm thành lập của Liên nhóm NVNT & TTG.
Xin bấm vào link dưới đây để đọc bài tường trình của báo Người Việt viết về ngày kỷ niệm 10 năm thành lập của Liên Nhóm NVNT & TTG.

Xướng ngôn viên của đài Little Saigon TV, anh Phạm Khanh cũng có mặt rất sớm và kiên nhẫn chờ đợi để phỏng vấn Nv. Khánh Lan về hành trình cũng như thành quả mà Liên nhóm NVNT & TTG hoàn tất trong 10 năm qua (2015-2025)
CÁC THÀNH VIÊN CỦA NVNT & TTG CHÀO ĐÓN QUAN KHÁCH
Từ khi thành lập đến nay, Liên nhóm NVNT & TTG không có ban tiếp tân. Trong những buổi họp mặt, dù quan trọng hay không, tất cả chúng tôi đều có mặt tại khánh phòng từ rất sớm để cùng nhau chuẩn bị và góp sức hoàn tất công việc.

Từ trái sang phải: Hồng Phúc, Nv. Vân Bằng (Phu nhân của cựu thẩm phán Nguyễn Trọng Nho), Khánh Lan, Minh Thư, Xuân Mai, Lệ Hoa.

Gs. Mai Thanh Truyết (Texas), Khánh Lan, học trò của Gs. Truyết, anh Phạm Hồng Thái (San Jose), Xuân Mai (Sacramento), Lệ Hoa (phu nhân Nv. Việt Hải), và Ngọc Quỳnh.

Thi sĩ Quỳnh Giao, Khánh Lan, Mộng Thủy, Lệ Hoa, Kim Hương, Minh Thư, Hồng Phúc, Thúy Giao, Ngọc Quỳnh, em gái Thúy Giao.

Chương trình được bắt đầu bằng những lời chào mừng nồng nhiệt và cảm tạ chân thành đến hàng trăm quan khách hiện diện đông đảo trong khánh phòng.

Chúng tôi hân hạnh ghi nhận sự hiện diện của quý Tiến sĩ, Giáo sư, Bác sĩ, Dược sĩ; các văn nhân, thi sĩ thuộc Văn Bút và Tao Đàn Thời Đại; cùng các ca nhạc sĩ, giới truyền thông, ký giả, các tổ chức, hội đoàn, cựu quân nhân, sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đông đảo thân hữu gần xa.

Trong khoảnh khắc thiêng liêng và tĩnh lặng, nghi lễ chào quốc kỳ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa được cử hành trang trọng, biểu lộ niềm tự hào của cả hai dân tộc Mỹ–Việt. Tiếp nối trong bầu không khí trang nghiêm, phút mặc niệm lắng đọng diễn ra để tưởng nhớ các anh hùng vị quốc vong thân, những văn nhân thi sĩ đã quá cố, đồng bào bỏ mình trên đường tìm tự do, cùng tất cả những người đã tận hiến cho tiền đồ dân tộc.

Khai mạc buổi họp mặt, Giáo Sư Trần Mạnh Chi xin thay mặt liên nhóm NVNT & TTG hân hoan chào đón quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ, các Anh Chị Em và thân hữu. Ông nói: “Từ tháng 5 năm 2015 cho đến nay đánh dấu cột mốc 10 năm thành lập của Liên nhóm NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN, một dấu ấn quan trọng trong hành trình tồn tại và phát triển của một nhóm văn học. Sự hiện diện của quý vị hôm nay là một vinh hạnh cho chúng tôi”.

MC Mộng Thủy và GS Trần Mạnh Chi
Tiếp lời ông là MC Mộng Thủy, cô nói: “Trong không khí ấm áp và đầy ân tình của buổi tiệc ngày hôm nay, quý vị đã đến đây không chỉ vì để chia sẻ niềm vui cùng chúng tôi, mà còn là dịp để nhìn lại những giá trị sâu sắc qua từng chặng đường 10 năm mà NVNT & TTG đã thực hiệm. 10 năm, một hành trình không ngắn nhưng cũng chưa đủ dài. Nhưng đó là quãng thời gian đủ để liên nhóm của chúng tôi vun đắp những mối tương quan bền chặt, xây lên một nền tảng vững chắc, và cùng nhau vượt qua bao thử thách khó khăn với những niềm tin lý tưởng và sứ mệnh để phục vụ cộng đồng và văn chương Việt”.

Hàng dưới: Từ trái sang phải: Nv. Vi Khiêm, Gs. Trần Huy Bích, Gs. Dương Ngọc Sum, Nv. Việt Hải, Nv. Nguyễn Quang, Gs. Quyên Di, Thi sĩ Minh Đức. Hàng trên: MC Mạnh Bổng, Gs. Trần Mạnh Chi, MC Mộng Thủy.
Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian được thành lập năm 2015, với thành phần sáng lập và điều hành gồm:
Sáng lập viên: Nhà văn Trần Việt Hải, Giáo sư Trần Mạnh Chi, Họa sĩ Lưu Anh Tuấn, Giáo sư Lý Tòng Bá (quá vãng)
Cố vấn văn học: Nhà văn Nguyễn Quang, Giáo sư Dương Ngọc Sum, Giáo sư Trần Huy Bích, Giáo sư Quyên Di, Nhà văn Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm, Nhà văn Phạm Gia Đại
Cố vấn kỹ thuật: Giáo sư Phạm Hồng Thái.
Trưởng nhóm âm nhạc: Ca nhạc sĩ Lâm Dung
Trưởng nhóm văn học: Nhà văn Khánh Lan
Điều hành sân khấu: MC. Mộng Thủy
Thủ quỹ: Katherine Minh Thư

Trước khi bước vào chương trình chính, ba vị sáng lập viên cùng các giáo sư, nhà văn trong Ban Cố Vấn được mời lên phát biểu đôi lời với quý quan khách. Nhà văn Trần Việt Hải, đại diện các vị sáng lập, đã chân thành cảm ơn sự hiện diện của quan khách trong buổi kỷ niệm 10 năm thành lập Liên Nhóm NVNT & TTG.
Tiếp đó, Giáo sư Quyên Di, thay mặt Ban Cố Vấn, chia sẻ: Khởi đầu, liên nhóm mang tên Nhân Ảnh Tâm Văn. Một năm sau, khi nhóm đã đứng vững và có thể hoạt động độc lập, chính ông là người đặt tên Nhân Văn Nghệ Thuật, mở ra một môi trường sinh hoạt phong phú về văn học, thi ca, hội họa, âm nhạc và kịch nghệ.
Giáo sư cũng nhấn mạnh vai trò và trọng trách của người ‘cố vấn’ – không chỉ là chỗ dựa tinh thần mà còn là người dìu dắt, khích lệ và nâng bước các cây viết trẻ trên con đường văn học.

Cũng trong dịp này, thi sĩ Đình Duy Phương đại diện Nhóm Văn Bút Hải Ngoại trao tặng tấm plaque cho Nv. Việt Hải và Liên nhóm NVNT & TTG.
Những chiếc máy ảnh của nhiếp ảnh gia Nguyễn Thiều Minh, Chị Tâm An, Anh Trần Mạnh Chi “sáng” lên liên tục, lưu lại hình ảnh thân thương giữa quan khách và các thành viên trong liên nhóm.

Hàng ngồi: Gs. Dương Ngọc Sum, Gs. Trần Huy Bích, Nv. Việt Hải, Thi sĩ Minh Đức, Gs. Quyên Di, Nv. Nguyễn Quang. Hàng đứng: Nv. Khánh Lan, CNS Hồng Tước, Giám Đốc tòa báo Người Việt, Thi sĩ Xuân Mai, Nv. Phạm Gia Đại

Hàng ngồi: Thi sĩ Quỳnh Giao, Ns. Lê Nguyễn Nga, Ns. Dương Hồng Anh, Thi sĩ Đình Duy Phương. Hàng đứng: Mạnh Bổng, NAG Thiều Minh, Gs. Phạm Hồng Thái, CNS Hồng Tước, chị Trầm Hương, Thi sĩ Huy Anh.

Từ trái sang phải: KQ Vũ Hòa, Anh Alain Đức, chị Ngọc Châu, Ngọc Quỳnh, Kim Hương, KHG Lâm Quốc Dân, Gs Ts. Mai Thanh Truyết

Sau đó, các vị cố vấn và sáng lập viên đã cùng đặt tay và cùng cắt chiếc bánh sinh nhật 10 tuổi của Nhân văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, khai mạc buổi tiệc.

Chương trình kỷ niệm 10 năm đã được chúng tôi chuẩn bị chu đáo từ đầu năm 2025, với nội dung kết hợp hai phần:
- Phần I: Giới thiệu những nhạc phẩm do các thành viên Liên Nhóm NVNT & TTG sáng tác.
- Phần II: Khiêu vũ và văn nghệ do các thành viên cùng thân hữu trình diễn.
Mở đầu chương trình là nhạc phẩm Nắng Đẹp Miền Nam, sáng tác của cố nhạc sĩ Lam Phương, được nhạc sĩ Hồ Đình Phương đặt lời năm 1955. Bản nhạc khơi gợi trong ký ức chúng ta hình ảnh 70 năm trước, khi Hiệp định Geneva chia đôi đất nước và hàng triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam (1954–1955). Tiếp nối, năm 1975 trở thành cột mốc của 50 năm viễn xứ, khi làn sóng người Việt di tản khắp năm châu.
Bài hát đã đem lại không khí rộn ràng, phấn khởi cho khánh phòng qua phần trình diễn của Ban Hợp Ca Tiếng Thời Gian. Âm điệu tươi sáng ấy cũng gợi trong lòng người nỗi bồi hồi, nhớ về những ngày nắng đẹp nơi miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

NHỮNG THÀNH QUẢ 10 NĂM CỦA NVNT & TTG:
Đặc biệt kỳ nay, quan khách được mãn nhãn với background slideshow do Gs. cố vấn Kỹ thuật Phạm Hồng Thái và Nv. Khánh Lan thực hiện qua những hình ảnh sống động và màu sắc rực rỡ, ghi lại hình ảnh và hoạt động của liên nhóm trong 10 năm qua (2015-2025).

Giáo sư cố vấn kỹ thuật Phạm Hồng Thái
Phối hợp với phần trình chiếu slideshow là bài tường trình của nhà văn Khánh Lan và thi sĩ Huy Anh về bước tiến đáng kể trong việc bảo tồn văn hóa Việt Nam qua hai lĩnh vực: Văn Hóa & Âm Nhạc gồm có:

Nhà văn, nhà báo Vi Khiêm, nhà văn Khánh Lan, Thi sĩ Huy Anh
- Tổ chức hơn 50 buổi ra mắt sách cho các thành viên, bạn bè và thân hữu từ năm 2015- 2025
- Website: nhanvannghethuat.com – Ghi nhận những sinh hoạt của nhóm trong lĩnh vực: văn, thơ, nhạc…
- Xuất bản tác phẩm gồm: Tưởng Niệm Gs. Nguyễn Thanh Liêm (2018); Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút hậu Duệ (2019); Tuyển tập Những Đóa Hoa Trong Vườn Thi Ca Hải Ngoại (2021); Tự Lực Văn Đoàn, Hậu Duệ và Thân Hữu: Tưởng Nhớ Nhất Linh (2023); Những Bài Thơ Tiêu Biểu Trong Thi Ca Việt Nam (2024); Tuyển Tập Tưởng Nhớ Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh (2025).
- Giới thiệu những tác phẩm mới do NVNT xuất bản khởi đầu từ năm 2015 đến 2025. 3 tác phẩm mới nhất trong năm 2025 là Những Đứa Trẻ Lạc Loài dưới dạng flipbook. Tam cá nguyệt san NVNT số 1 và 2 dưới dạng flipbook. Những Con Chim Họa My và Sơn Ca Trong Vườn Cây NVNT & TTG và Tuyển tập Tưởng Nhớ GS Nguyễn Xuân Vinh.
- Mở lớp âm nhạc online cho các thành viên năm 2023 do Ca Nhạc Sĩ Minh Trí đảm trách.
- Mở lớp huấn luyện kỹ thuật năm 2025 gồm: Cách sử dụng Chat GPT; Photo Editing: chỉnh sửa hình ảnh; Canva 101: trình bày poster, card, bookcover, flipbook, layout, kênh Youtube; Suno: kỹ thuật sáng tác nhạc.
- Phụ trách chương trình “talkshow” Nhân Văn Nghệ Thuật trên đài Vietnam America Television năm 2025.
- Thành lập Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa, tháng 6 năm 2025.
- Xuất bản Tam Cá Nguyệt San Nhân Văn Nghệ Thuật 1 & 2m do sự kết hợp của hai nhóm NVNT & TTG và Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa năm 2025 dưới dạng Flipbook
- Tổ chức các chuyến du lịch tại: Mexico, Pháp, Arizona, Las Vegas, Napa Valley, Nhật Bản, Đại Hàn, Caribbeans.
VĂN NGHỆ PHẤN I:
Đây là phần văn nghệ rất đặc biệt được trình diễn những nhạc phẩm do các thành viên của nhóm NVNT & TTG sáng tác; đồng thời quan khách cũng được thưởng thức những món ăn ngon thơm lừng do nhà hàng Seafood Diamond 3 phục vụ. Cùng lúc ấy, giai điệu luân vũ nhẹ nhàng vui tươi đã trổi lên trong ca khúc đầu tiên:
- Bạn Bè Của Tôi – thơ nữ sĩ Dương Hồng Anh do ca nhạc sĩ Lâm Dung phổ nhạc và hòa âm qua điệu valse, với phần hợp xướng của nhóm NVNT & TTG. Ca khúc này đã trở thành NVNT & TTG HÀNH KHÚC từ năm 2019.
- Dòng Sông Muôn Thuở – thơ và nhạc của nhà văn Kiều qua thể điệu luân vũ uyển chuyển, trữ tình… gợi lại âm vang của bản nhạc nổi tiếng Danube Bleu do Johann Strauss II sáng tác 1867; gợi nhớ hình ảnh dòng sông Danube xanh biếc…mang y nghĩa tôn vinh vẻ đẹp thiên nhiên cũng như tình yêu cuộc sống. Nhạc phẩm này do Kiều My trình bày.
- Bay Theo Dải Ngân Hà – Thơ Trần Việt Hải; nhạc Phạm Hồng Thái qua giọng hát của nhà văn Phạm Gia Đại. Bản nhạc này để tưởng nhớ Gs. Khoa học gia tài ba Nguyễn Xuân Vinh, người đã mang lại niềm hãnh diện cho dân tộc Việt.
- Cô Gái Việt Nam – Thơ Khánh Lan, nhạc sĩ Phạm Hồng Thái phổ nhạc do Ngọc Quỳnh và Ái Liên trình bày. Bài hát đề cao người phụ nữ Việt Nam với tâm hồn trong sáng, nhu mì, thùy mị, vui tươi và chung thủy.
- Hạ Long Bay – Thơ John Tạ, do nhạc sĩ Vinh Nguyễn phổ nhạc. Phiên bản tiếng Anh do Thụy Lan trình bày. Trong cuộc du lịch Vịnh Hạ Long, nhà thơ John Tạ đã say mê vẻ đẹp thiên nhiên vào đêm trăng của vịnh, mà bài thơ Hạ Long Bay được sáng tác.
- Thương Em – thơ và nhạc của nhà văn Dương Viết Điền qua tiếng hát Ái Liên. “Thương em anh nhìn mây trời, chiều buồn hoang vắng đơn côi. Thương em thương mãi suốt đời, dù rằng không nói một lời. Tình chiều chắp cánh bay rồi, ôi buồn thương nhớ đầy vơi.” Thật cảm động!
- Hai Vì Sao Lạc – Thơ thi sĩ Lê Nguyễn Nga, phổ nhạc Hạnh Cư qua phần trình bày của Ngọc Quỳnh. “Mắt em đôi.. sao-sáng Rơi vào tâm hồn anh. Nhìn hai vì sao-lạc. Thương em tình mong-manh. Sao trời đẹp hơn tranh.Bên em, anh mơ tưởng.Ôm em vòng tay-ấm. Tóc em ngát mùi-hương…”

Lệ Hoa, Gs. Mai Thanh Truyết, Nv. Vương Trùng Dương, Ông Hoàng Khuê, Thụy Lan, Xuân Mai

Nv. Kiều My, Gs. Mai Thanh Truyết, Nv. Khánh Lan, Nv. Việt Hải

Khánh Lan và ông bà John & Susan Tạ, Chủ tịch công ty dược thảo Princesslife

Chị Kim Ngân, Giám Đốc Viện Việt Học và Nữ Sĩ Dương Hồng Anh

Gs. Phạm Hồng Thái, Nv. Du Miên, Nv. Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa

Hàng đứng: Gs. Trần Mạnh Chi, Gs. Phạm Hồng Thái, CNS Hồng Tước. Hàng Ngồi: Thi sĩ Quỳnh Giao, Ns. Lê Nguyễn Nga, Ns. Dương Hồng Anh
Giờ đây trên sân khấu, màn ca vũ Thoi Tơ do các diễn viên trong trang phục tứ thân của nhóm Mây Thu trình diễn; gồm có: Ánh Tuyết, Bá Thu, Cẩm Loan, Cẩm Tú, Ngọc Tuyết, Trực, Hòa …qua tiếng hát tuyệt vời của ca sĩ Ngọc Mai trong bản Thoi Tơ của nhạc sĩ Đức Quỳnh…rất ngoạn mục đã gây cho quan khách sự thích thú vô cùng.

Nhóm vũ Mây Thu với nhạc phẩm Thoi Tơ

Và Ca sĩ Ngọc Mai

Tiếp theo, với giọng ngâm đầy truyền cảm, nhà văn Khánh Lan diễn ngâm bài thơ Tin Mừng Văn Học do nữ sĩ Dương Hồng Anh sáng tác.
Tin mừng văn học niềm vui mới
Kỷ niệm vàng son đã đến rồi
Tôi thấy hồn tôi xao xuyến quá
Nhạc thơ bừng sáng bốn phương trời
Kỷ niệm 10 năm thành lập hội
Nhân Văn Nghệ Thuật Tiếng Thời Gian
Chim đầu đàn anh Trần Việt Hải
Vẫn miệt mài chẳng quản gian nan
Đem tim óc đắp xây văn học
Tao nhân mặc khách lại thêm đông
Nhạc thơ ra sách mừng sinh nhật
Tiến bước văn chương đẹp hội trường
Hân hoan chào đón trăm bạn mới
Lấp lánh sao bay rực rỡ đèn
Ánh mắt thân thương cùng chia sẻ
Tâm tình văn nghệ khắc trong tim.
Nhân ngày kỷ niệm thành lập liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, Thi sĩ Tha Nhân có gởi bài thơ góp vui cùng Việt Hải và các thân hữu nhân ngày kỷ niệm 10 năm. Bài thơ đã được Ngọc Quỳnh diễn ngâm.
KỶ NIỆM MƯỜI NĂM THÀNH LẬP NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT VÀ TIẾNG THỜI GIAN
KỶ vật em trao lúc mở đường
NIỆM điều nhân bản hãy còn vương
MƯỜI lăm mười sáu dài thêm nữa
NĂM đó lần đầu để khai trương
THÀNH bại trải qua rồi đứng vững
LẬP nên nền móng giữ Văn Chương
NHÂN cơ hội tốt gìn Chữ Nghĩa
VĂN hóa Việt Nam sẽ vĩnh trường
NGHỆ sĩ khắp nơi tể tựu hội
THUẬT mời gọi phô diễn yêu thương
VÀ người lèo lái đầy tâm huyết
TIẾNG dội xa gần khắp bốn phương
THỜI khắc đang cần cho phát triển
GIAN nan nào sá dẫu thơm Hương!
ThaNhân cảm tác góp vui với Việt Hải và quý thân hữu. Camthành August 24th, 2025
Thi sĩ Hà Phương cũng gởi tặng một bài thơ nhưng rất tiếc chúng tôi không có đủ thời gian để diễn ngâm.
CHÚC MỪNG “THẬP NHIÊN HỘI” (NVNT & TTG)
Biết bao năm, quê nhà cách biệt
Nhớ tre làng nhớ mái nhà xưa
Sợi thương, sợi nhớ đong đưa
Hồn dân tộc trong tình thơ Ý nhạc
Đã bao năm, quê người xứ lạ
Bên nhau ngọt bùi với thời gian
Chung lòng, chung sức hân hoan
Văn hóa Việt ta đồng thanh tương ứng
Quê hương còn đó
Canh cánh bên lòng
Bờ Tây mắt bờ Đông
Bao nhiêu thương nhớ
Chất chồng bao đêm
Hôm nay, tâm lắng ưu phiền
Tao nhân mặc khách trải niềm xa quê
Dù cho còn lắm bộn bề
Nhân văn nghệ thuật cũng về chung vui
Hà Phương cảm tác, Anaheim, 20-08-2025
Một tiết mục rất hấp dẫn gây sự chú ý của mọi người trong bản nhạc Every Litle Thing Của Carlene Carter, qua sự ca hát và đệm đàn Tây Ban Cầm của tam ca Minh Thư, Thúy Giao và Hồng Phúc trong y phục “cao-bồi Bolsa” rất ngoạn mục.

Tam ca Thúy Giao, Hồng Phúc, Minh Thư trong nhạc phẩm Every Litle Thing

Sau đó, ca sĩ Ngọc Quỳnh diễn ngâm thật điêu luyện bài thơ KỶ NIỆM MƯỜI NĂM THÀNH LẬP do thi sĩ Tha Nhân sáng tác với thiện ý của tác giả “ThaNhân cảm tác góp vui với Việt Hải và quý thân hữu nhân ngày kỷ niệm 10 năm thành lập.”
VĂN NGHỆ KHIÊU VŨ PHẦN II
Bước vào phần II của văn nghệ, ban hợp xướng NVNT & TTG đã làm sống dậy dư âm của mùa hè quê nhà trong ca khúc Hè Về vui tươi sống động của nhạc sĩ Hùng Lân. Tiếp diễn, là màn Line Dancing trong thể điệu chachacha, qua nhạc phẩm Sway do các thành viên NVNT & TTG trình diễn với tiếng hát mạnh mẽ của nam ca sĩ Mạnh Bổng.

Line dance with Ánh Tuyết, Thúy Giao, Minh Thư, Hồng Phúc và Bá Thu

Màn trình diễn cuốn hút với ngũ ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư, Hồng Phúc và Thúy Giao trong một nhạc phẩm nổi tiếng của ban nhạc Bonni M mang tên Rivers Of Babylon, đã mang đến sự thích thú cho mọi người. Tiếp theo là những bản nhạc khiêu vũ trổi lên làm nao nức lòng người kéo nhau ra sàn nhảy với các thể điệu trữ tình, sôi động… cho đến cuối giờ.

Ngũ ca Thụy Lan, Hồng phúc, Lệ Hoa, Thúy Giao, Minh Thư trong nhạc phẩm Rivers Of Babylon.

Và sau cùng là dancing all night…

Cuộc vui nào rồi cũng tàn! Mọi người chia tay ra về nhưng dư âm của buổi tiệc kỷ niệm vẫn còn vang vọng trong lòng người tham dự. Mười năm qua là một hành trình đáng tự hào, và mười năm tới hứa hẹn sẽ mở ra nhiều trang mới rực rỡ hơn. Với niềm tin, sự gắn bó và tình yêu nghệ thuật, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chắc chắn sẽ tiếp tục tỏa sáng, chẳng những mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc mà còn ghi lại dấu ấn bền lâu trong lòng mọi người.


-
50 Năm Quốc Hận – Nhìn Lại Lịch Sử Việt Nam

Kiều My
Có những khoảnh khắc lịch sử như vết khắc sâu vào tâm khảm dân tộc – Ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Nửa thế kỷ bụi thời gian phủ mờ, nhưng trong tim hàng triệu người Việt tha hương, mỗi độ tháng Tư về, ký ức lại ùa về như ngọn sóng xô bờ, mang theo nỗi quặn thắt một vết thương chưa lành. Đó không chỉ là ngày mất nước, mà còn là ngày Quốc Hận – Một ngày đen tối mà lịch sử không thể xóa, một nỗi niềm uất nghẹn mà người Việt không thể quên.
“50 Năm Quốc Hận: Nhìn Lại Lịch Sử Việt Nam” là một đề tài thấm đẫm ký ức với những nỗi ray rứt khôn nguôi trong lòng bao người Việt tị nạn trên khắp thế giới – Từ California nắng ấm đến trời Âu se lạnh, từ Úc châu xa xôi đến những ngôi nhà thờ và mái chùa nhỏ nơi xứ lạ – Tháng Tư hàng năm là tháng của cờ vàng, của tưởng niệm, của nước mắt, và của lời thầm nhủ: “Không bao giờ từ bỏ quê hương.”
Cuộc nội chiến Nam, Bắc kéo dài suốt 21 năm, không chỉ là chiến tranh ý thức hệ mà còn là bi kịch của một dân tộc – máu người Việt đổ xuống đất Việt. Để rồi khi tiếng súng ngừng nổ, chiến thắng thật sự không thuộc về ai – chỉ có “ nỗi đau” là còn đó. Cuộc nội chiến Việt Nam là cuộc xung đột giữa hai mô hình đối nghịch: một bên là Việt Nam Cộng Hòa – đại diện cho lý tưởng dân chủ, tự do; bên kia là miền Bắc cộng sản – theo chủ nghĩa Marx-Lenin, được hậu thuẫn mạnh mẽ từ khối cộng sản quốc tế.
Nhưng đây không chỉ là cuộc chiến trong lòng dân tộc, mà còn là chiến trường của “Chiến Tranh Lạnh”; nơi mà số phận Việt Nam bị cuốn vào những toan tính chính trị thâm độc toàn cầu. Chính trị, như một bàn cờ lớn, đã đẩy hàng triệu con người Việt vào vòng lửa đạn – và đến ngày định mệnh ấy, miền Nam sụp đổ không chỉ vì quân sự, mà còn vì những toan tính ngoại giao, những thay đổi chính trị bất ngờ và sự phản bội của đồng minh, và cả những sai lầm chiến lược bên trong chính quyền miền Nam, Việt Nam.
Khi bước sang đầu thập niên 1970, cục diện toàn cầu thay đổi nhanh chóng. Sau nhiều năm sa lầy tại Việt Nam, Mỹ bắt đầu có kế hoạch rút lui qua chính sách “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”. Sau Hiệp định Paris 1973, Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam, bỏ lại miền Nam trong tình thế cô độc giữa vòng vây cộng sản. Cùng thời điểm đó, Tổng thống Nixon bắt tay với Trung Cộng, Liên Xô để bước vào giai đoạn hòa dịu; còn Việt Nam – vốn từng là ưu tiên chiến lược – giờ trở thành con chốt hy sinh trên bàn cờ thế giới. Sự im lặng của cộng đồng quốc tế khi miền Bắc vi phạm Hiệp định Paris (hiệp định chấm dứt chiến tranh, ký tại Paris ngày 27/1/1973) đã cho thấy một điều cay đắng: Việt Nam Cộng Hòa bị bỏ rơi, không phải vì không chiến đấu, mà vì thế cờ chính trị toàn cầu đã đổi chiều.
Đến mùa xuân năm 1975, khi quân Bắc Việt tràn xuống với khí thế áp đảo, miền Nam không còn chỗ dựa, không còn phương tiện chiến đấu ngang bằng. Nội bộ tan rã, tướng lĩnh bất hòa và niềm tin lung lay, khiến cả một thể chế sụp đổ chỉ trong vòng 55 ngày – kết thúc ngày 30/4/1975. Đó là lúc chính trị đi trước, quân sự theo sau, và dân chúng là người cuối cùng chịu hậu quả.
Những ai từng sống dưới hai nền Việt Nam Cộng Hòa, vẫn luôn tiếc nhớ một miền Nam tuy non trẻ nhưng đầy sức sống, tự do, nghệ thuật, học thuật, báo chí, văn chương nở rộ – như một đóa hoa nở tuy ngắn ngủi nhưng rực rỡ. Và ngày đó – ngày 30/4/75 – chính là lúc đóa hoa ấy bị dẫm nát. Bao gia đình tan tác…và rồi là từng đoàn người vượt biển Đông, rừng sâu, trại cải tạo, trại tị nạn và cuộc sống lưu vong. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 không chỉ là ngày một chính quyền sụp đổ; đó là lúc cả một nếp sống văn minh, một nền văn hóa nhân bản, một khát vọng tự do bị vùi dập dưới chế độ mới. Và từ khoảnh khắc ấy, hệ lụy không chỉ đến ngay giai đoạn đó mà còn kéo dài suốt nhiều thập niên– chảy âm ỉ trong dòng máu Việt, cả trong nước lẫn hải ngoại. Các tổ chức, các hội đoàn, các cộng đồng vẫn giữ lá cờ vàng, vẫn tổ chức tưởng niệm mỗi tháng Tư hàng năm– không phải để nuôi hận, mà để giữ ký ức.Vì nếu không nhớ, ta sẽ lạc mất chính mình.
“50 NĂM QUỐC HẬN”, để đánh thức tinh thần dân tộc – như tiếng chuông ngân giữa đêm dài, và để giữ vững ngọn lửa trái tim mình. Đã đến lúc ta không thể im lặng. Không thể để quá khứ bị chôn vùi dưới lớp bụi thời gian, không thể để tiếng nói của những người đã ngã xuống chìm trong quên lãng. Thế hệ hôm nay – dù sống ở quê hương hay lưu vong – đều đang đứng trước một ngã rẽ: hoặc cúi đầu chấp nhận một tương lai mù mịt; hoặc đứng lên khơi lại ngọn lửa dân tộc từng thắp sáng bao thế hệ. Đừng để cờ vàng ba sọc đỏ chỉ còn là biểu tượng cũ. Hãy để nó trở thành ngọn đuốc của chính nghĩa, của lòng tin vào một ngày mai tươi sáng cho quê hương – Một Việt Nam tự do thật sự, nơi mỗi người dân có quyền cất lên tiếng nói, có quyền mưu cầu hạnh phúc mà không bị kiểm soát bởi thế lực và nỗi sợ hãi của gông cùm, áp bức.
Để tìm hiểu vì sao ngày 30 tháng 4 năm 1975 lại trở thành một vết thương đớn đau trong lịch sử dân tộc. Những lời giải thích xác đáng cho sự kiện này sẽ dành cho ba vị khách mời quan trọng và đặc biệt trong buổi hội luận vào ngày chủ nhật 25 tháng năm 2025 tại VietLife TV, Nam California, gồm có:
- CỰU CIA FRANK SCOTTON
- PROFESSOR STEPHEN B. YOUNG
- CỰU CIA FRANK SNEPP

Mr. Frank Scotton, Mr. Stephen B. Young, Mr. Frank Snepp
Giữa khánh phòng ấm cúng trong không khí hân hoan chào đón ba vị diễn giả đến từ ba tiểu bang Hoa Kỳ. Đây là một vinh dự lớn lao cho quan khách cũng như ban tổ chức, do: Cựu Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia khóa 16 Đà Lạt Hoàng Đình Khuê và Nhà văn Trần Việt Hải, trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian – cùng hợp tác để thực hiện buổi hội luận hiếm quí trong cộng đồng người Việt hải ngoại tại Nam California. Đây cũng là lần đầu tiên ba vị cùng hội luận với nhau trong một chương trình, mà cả ba vị có sự liên quan mật thiết đến chiến cuộc Việt Nam. Buổi hội luận hôm nay với sự tham dự đặc biệt của Đức Giám Mục Nguyễn Thành Vân, quý giáo sư, nhân văn thi sĩ, các cựu sĩ quan VNCH, nhóm NVNT&TTG, các đoàn thể, giới truyền thông và các thân hữu…

Nv Kiều My, Gs Trần Huy Bích, Nv Khánh lan, Cs Mạnh Bỗng, Mc Mộng Thủy, Mr. Young, Mr. Scotton, Mr. Snepp. Mr. Hoàng Đình Khuê
Sau phần chào quốc kỳ Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và phút mặc niệm trang trọng, quan khách hướng về ba vị khách quí Hoa Kỳ – Những người đã từng sống và vào sinh ra tử trên mãnh đất Việt trong những năm tháng mà dân tộc đáng thương của chúng ta oằn oại trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài. Ba diễn giả này đã lần lượt vạch trần những thâm cung bí sử giữa các chính khách; hay cục diện chính trị xoay chuyển không ngừng; hoặc sự phản bội của đồng minh và những lợi ích quốc gia…đã là những nguyên nhân gốc rễ dẫn đến biến cố sụp đổ miền Nam Việt Nam. Ba vị diễn giả trên là những nhân chứng sống của lịch sử Việt cận đại và ngay cả trong chính quyền Hoa Kỳ vào giai đoạn từ 1962 – 1975 (là những người bạn thân thiết lâu năm của ông Hoàng Đình Khuê), đã trực tiếp trả lời cho chúng ta biết vì sao miền Nam rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt.
TIẾNG NÓI TỪ NHÂN CHỨNG HOA KỲ– SỰ THẬT SAU MÀN SƯƠNG CHÍNH TRỊ
Để hiểu rõ nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta không thể không lắng nghe những lời tường trình của chính những người Mỹ đã từng làm việc trong guồng máy chiến lược, tình báo và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thời chiến tranh. Ba bài thuyết trình của ba diễn giả là sự tóm lượt ý tưởng từ ba quyển hồi ký dưới đây: UPHILL BATTLE (Frank Scotton) –KISSINGER’S BETRAYAL (Stephen Young) – DECENT INTERVAL (Frank Snepp) – Tuy được viết từ ba tác giả với ba góc nhìn khác nhau; nhưng đều đi đến cùng một kết luận:
“Miền Nam Việt Nam không thua vì không chiến đấu, mà vì bị đồng minh phản bội, bị bỏ rơi, và hy sinh trên bàn cờ chính trị quốc tế.”
Sau đây là phần thuyết trình của các diễn giả:
Frank Scotton

Frank Scotton – Như chúng ta biết, Ông Frank Scotton nhân viên ngoại vụ đặc biệt của USAID, đảm trách nhiều công tác dân sự và quân sự, cố vấn cho CIA, MACV/ CORDS. Ông từng làm việc trực tiếp với các lực lượng chống cộng sản ở miền Nam Việt Nam từ đầu thập niên 1960 đến năm 1975. Ông là tác giả cuốn Hồi ký “UPHILL BATTLE” (Cuộc Chiến Leo Thang)
Trả lời cho câu hỏi về nguyên nhân thảm bại của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh Việt Nam, như trong UPHILL BATTLE, Frank Scotton đã nói lên tiếng nói trung thực của người trong cuộc, nhận lỗi về những sai lầm của Hoa Kỳ với các chiến dịch đưa ra rất tỉ mỉ chi tiết trong văn phòng; nhưng khi đem áp dụng ở thực địa đã không phù hợp với tình hình địa phương. Ngoài ra, còn những điểm then chốt mà Frank Scotten đã trình bày cùng cử tọa cũng đã được ghi lại trong quyển hồi ký UPHILL BATTLE của ông.
Cuốn hồi ký này là cách nhìn trung thực và sâu sắc của một người trực tiếp tham gia các hoạt động bình định và chống nổi dậy, nhằm hỗ trợ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa xây dựng một nền tảng dân chủ, chống lại sự xâm nhập và tuyên truyền của cộng sản miền Bắc. Cuộc chiến là một “trận đánh chính trị” hơn cả quân sự. Là người từng gắn bó trực tiếp với chương trình bình định nông thôn tại miền Nam, Frank Scotton khẳng định:
“Miền Nam có những con người dũng cảm và lý tưởng, nhưng bị kìm hãm bởi nội bộ yếu kém và sự rút lui vội vã của đồng minh.”
Ông cho rằng Washington chưa bao giờ hiểu đầy đủ bản chất chính trị của cuộc chiến, và sự thất bại đến từ việc đánh giá sai lòng dân, cũng như rút quân quá sớm.
“This was never just a military war. It was fundamentally a political battle.”
Ông nhận xét: thắng bại không nằm ở súng đạn, mà ở khả năng xây dựng niềm tin nơi người dân – điều mà Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có tiềm năng nhưng thiếu sự thống nhất, quyết tâm và ngay cả thời gian.
THÔNG ĐIỆP CHÍNH CỦA “UPHILL BATTLE”
Cuộc chiến Việt Nam là một trận đánh chính trị, đòi hỏi sự kiên nhẫn, hiểu văn hóa và lòng tin từ nhân dân. Sự thất bại của miền Nam không đơn thuần là do súng đạn – mà do mất thế chiến lược, sự bỏ rơi từ đồng minh, và không kịp củng cố lòng dân trước khi quá muộn. Ông mô tả nỗi đau khi chứng kiến sự rút lui của Mỹ, sự suy sụp tinh thần trong nội bộ VNCH, và làn sóng quân Bắc Việt tràn vào như sự kết thúc đã được báo trước.
VỀ SỰ THIẾU QUYẾT TÂM VÀ CHIẾN LƯỢC NHẤT QUÁN CỦA HOA KỲ:
“Washington never truly understood that political legitimacy could not be imposed from the outside. We asked the Vietnamese to fight, but did not stay long enough to help them win peace.”
(Tạm dịch: Washington chưa bao giờ thực sự hiểu rằng tính chính danh chính trị không thể áp đặt từ bên ngoài. Chúng ta yêu cầu người Việt chiến đấu, nhưng không ở lại đủ lâu để giúp họ đạt được hòa bình.)VỀ YẾU TỐ NỘI BỘ MIỀN NAM VIỆT NAM:
“South Vietnam had brave people, but a weak structure. There was idealism in the field, but corruption at the top. The people wanted something to believe in, but they were often disappointed.”
(Tạm dịch: Miền Nam có những con người dũng cảm, nhưng cấu trúc yếu ớt. Ở tuyến đầu có lý tưởng, nhưng ở thượng tầng lại là tham nhũng. Dân chúng muốn có niềm tin, nhưng họ thường thất vọng.)ÁP LỰC TỪ MIỀN BẮC VÀ SỰ BỎ RƠI CỦA ĐỒNG MINH:
“When the North Vietnamese realized that the U.S. would not return in force, they pushed without restraint. And when Saigon fell, it fell not because the South stopped fighting, but because it stood alone.”
(Tạm dịch: Khi Bắc Việt biết rằng Mỹ sẽ không trở lại với lực lượng mạnh, họ liền tấn công không kiềm chế. Và khi Sài Gòn thất thủ, không phải vì miền Nam không còn chiến đấu, mà vì họ đã bị bỏ lại một mình.)MỘT CÂU KẾT LUẬN ĐẦY XÓT XA VÀ NHÂN BẢN:
“We lost Vietnam not only in the jungles or the cities, but in the hearts of those we failed to reach, to understand, to inspire.”
(Tạm dịch: Chúng ta đã đánh mất Việt Nam không chỉ trong rừng rậm hay thành thị, mà trong trái tim của những người mà chúng ta không thể chạm đến, không thể hiểu, không thể truyền cảm hứng.)
Stephen B. Young
Stephen B. Young –Trong chiến tranh Việt Nam, ông phục vụ cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ USAID từ 1968-1972, qua Chương trình Bình định và Phát triển Nông thôn. Ông là một trong những tiếng nói hiếm hoi tại Mỹ bênh vực VNCH bằng sự thật lịch sử, không bằng định kiến truyền thông.
Ông là luật gia, phụ tá Khoa trưởng của trường luật Havard; là Khoa trưởng và Giáo sư Luật của trường Đại học Luật Hamline. Hiện nay ông là Giám đốc Điều hành Toàn cầu của Tổ chức Bàn tròn (CRT) về Chủ nghĩa Tư bản Đạo đức.
Qua bài thuyết trình, Stephen Young thẳng thắn bày tỏ sự phản bội của đồng minh Hoa kỳ bởi Henry Kissinger – một nhân vật bất trung, là then chốt đưa đến việc sụp đổ miền Nam, Việt Nam. Những bằng chứng hùng hồn này ông đã ghi lại trong cuốn KISSINGER’ S BETRAYAL (Sự Phản Bội Của Kissinger). Cuốn sách nhằm phơi bày sự phản bội chiến lược của Henry Kissinger “Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War” của Stephen B. Young – một cuốn sách đầy dũng khí và thẳng thắn, được viết từ trái tim của một người từng gắn bó với Việt Nam Cộng Hòa và hiểu rõ những gì đã bị đánh đổi trên bàn cờ chính trị quốc tế. Kissinger, người mà theo Stephen Young, đã đánh đổi miền Nam Việt Nam để đạt được lợi ích chính trị với Trung Quốc và Liên Xô, qua các cuộc đàm phán thiếu minh bạch, dẫn đến Hiệp định chấm dứt chiến tranh Paris 1973.
“Hiệp định Paris 1973” – Văn kiện của sự phản bội
“The Paris Agreement did not preserve peace. It created the conditions for conquest.”
(Tạm dịch: Hiệp định Paris không bảo đảm hòa bình. Nó tạo điều kiện cho sự xâm lược.)Kissinger đã ký một hiệp định mà ông biết chắc sẽ bị Bắc Việt vi phạm, nhưng vẫn dùng nó để rút quân và tuyên bố “hòa bình trong danh dự”.
Kissinger ưu tiên bắt tay với Bắc Kinh và Mát-xcơ-va hơn là bảo vệ đồng minh Sài Gòn:
“Kissinger saw South Vietnam as expendable in the greater game of global diplomacy.”
(Tạm dịch: Kissinger xem miền Nam Việt Nam là một quân cờ có thể hy sinh trong ván bài ngoại giao toàn cầu.)Sai lầm của Kissinger là không hiểu cuộc chiến Việt Nam vì lý tưởng tự do, không phải là địa bàn chiến lược:
“He misunderstood the war. He thought it was a chess match; in truth, it was a fight for hearts and freedom.”(Tạm dịch: Ông ta hiểu sai về cuộc chiến. Ông tưởng đó chỉ là ván cờ, nhưng thật ra đó là cuộc chiến vì trái tim và tự do.)
Kissinger và các nhà hoạch định chính sách Mỹ thiếu cái nhìn nhân văn và đạo đức về cuộc chiến – họ không thấu hiểu người Việt miền Nam chiến đấu vì lý tưởng dân chủ.
Hoa Kỳ đã không giữ lời hứa bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa:
“The U.S. Congress cut off aid. South Vietnam fought bravely but ran out of supplies. We broke our word.”(Tạm dịch: Quốc hội Hoa Kỳ cắt viện trợ. Miền Nam đã chiến đấu anh dũng, nhưng cạn kiệt tiếp tế. Chúng ta đã thất hứa.)
THÔNG ĐIỆP CHÍNH CỦA “KISSINGER’S BETRAYAL”
Miền Nam Việt Nam không thua vì không chiến đấu, mà thua vì bị phản bội.
Hoa Kỳ – qua Kissinger – đã chọn quyền lợi cường quốc hơn là danh dự đồng minh, và cái giá phải trả là một dân tộc mất tự do, hàng triệu người vượt biên, và một chương đen tối trong lịch sử lương tâm Mỹ.“We lost not just an ally. We lost our honor.” (Tạm dịch: Chúng ta không chỉ đánh mất một đồng minh. Chúng ta đánh mất danh dự của chính mình.)
Là một trong những tiếng nói đạo đức hiếm hoi trong giới trí thức Mỹ, Stephen Young tố cáo Henry Kissinger:
“Miền Nam Việt Nam đã bị đem ra mặc cả để đổi lấy mối bang giao với Bắc Kinh và thỏa thuận với Liên Xô. VNCH là đồng minh bị bán đứng.”
Ông nhấn mạnh rằng Hiệp định Paris 1973 chỉ là một văn kiện trá hình, nhằm rút Mỹ khỏi cuộc chiến trong khi Bắc Việt được tự do chuẩn bị cuộc tổng tấn công.
Frank Snepp
Frank Snepp – Cựu sĩ quan tình báo CIA, từng là trưởng nhóm phân tích chiến lược tại Sài Gòn, phục vụ cho tòa Đại sứ Hoa Kỳ đến những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Chính ông đã đưa cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu rời Saigon đến Đài Loan ngày 27 tháng 4 năm 1975. Ông là nhà phân tích CIA, chuyên viên thẩm vấn và người dự đoán ý định của miền Bắc sẽ tấn công miền Nam vào tháng 4 năm 1975.
Ông là tác giả cuốn DECENT INTERVAL – (Khoảng Cách Hợp Lý) – Khoảng cách này là khoảng thời gian từ khi ký Hiệp định Paris (27/1/1973) cho đến ngày mất miền Nam (30/4/1975. Mang ý nghĩa: là khoảng thời gian để giúp giữ danh dự cho Tổng thống Nixon không mang tiếng là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ thua cuộc chiến. Nội dung của Decent Interval là lời cáo buộc nghiêm khắc và đau đớn về sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975, do sự phản bội của chính phủ Hoa Kỳ, đặc biệt là Đại sứ Graham Martin và Henry Kissinger Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ.
Đặc biệt trong bài thuyết trình, ông đề cập và ca tụng một điệp viên nhị trùng Võ Văn Ba bí danh X92, đã giúp Mỹ và tình báo miền Nam rất đắc lực – có thể nói đây là một điệp viên hàng đầu của CIA ở Viêt Nam. Chúng tôi nhận được những tin tức bí mật thật tuyệt vời, toàn những tin tức nội bộ của bên kia. Ông được hàng ngũ cộng sản tín nhiệm đến nổi được tham gia các cuộc họp trong Bộ chỉ huy ở núi Bà Đen. Võ Văn Ba ở vào vị trí lý tưởng giúp chúng tôi; để đáp lại, chúng tôi giúp ông hoàn thành vai trò tốt của một thành viên cộng sản trung thành. Bằng cách: CIA và Cảnh sát Đặc biệt VNCH đã dàn dựng nhiều vụ tấn công vào các trạm Cảnh sát VNCH để quy trách nhiệm cho Võ Văn Ba…
Frank Snepp đã viết về Võ Văn Ba gửi đến nhiều thư viện, viện bảo tàng để nói rằng: “quý vị phải cập nhật tài liệu về Chiến tranh Việt Nam, trong đó có sự đóng góp của vị anh hùng này, chính là Điệp viên xuất sắc Võ Văn Ba – người đã cống hiến cho chúng tôi những tin tức chính xác vào những thời điểm quan trọng của cuộc chiến.”
Vừa qua, có tin chính thức về cái chết của Võ Văn Ba, người được coi là điệp viên hàng đầu của CIA và VNCH; trong khi báo chí Hà Nội gọi đây là tên “Nội phản nguy hiểm”.
MỸ CHỦ ĐỘNG BỎ RƠI SÀI GÒN – VÌ SỢ MANG TIẾNG “THUA TRẬN” QUÁ SỚM
“The idea was to let the South fall – but slowly – so it wouldn’t look like we had engineered its collapse.”
(Tạm dịch: Ý định là để miền Nam sụp đổ – nhưng từ từ – để tránh mang tiếng là chúng ta đã chủ động phá hoại họ.)ĐẠI SỨ GRAHAM MARTIN CHE GIẤU THÔNG TIN, TỪ CHỐI CHO VIỆC DI TẢN
“Martin refused to believe the North Vietnamese would come. His illusions cost lives.”
(Tạm dịch: Martin từ chối tin rằng quân Bắc Việt sẽ tràn vào. Ảo tưởng của ông ấy đã khiến nhiều người phải chết.)Sự cố chấp và sai lầm cá nhân trong chính quyền Mỹ đã khiến hàng ngàn nhân viên Việt bị bỏ lại, bị bắt, bị giết.
DI TẢN HỖN LOẠN – MỘT VẾT NHƠ ĐẠO ĐỨC KHÔNG THỂ BIỆN MINH
“We abandoned tens of thousands who had worked for us, believing we would protect them. We broke that trust.”
(Tạm dịch: Chúng ta đã bỏ rơi hàng chục ngàn người từng làm việc cho ta, tin rằng ta sẽ bảo vệ họ. Chúng ta phản bội niềm tin ấy.)
Cuộc tháo chạy hỗn loạn ở Tòa Đại sứ không phải vì không đủ trực thăng – mà vì sự bất lực có hệ thống và thiếu ý chí chính trị.
KHÔNG PHẢI SÀI GÒN KHÔNG CHIẾN ĐẤU – MÀ LÀ BỊ “RÚT DÂY TIẾP MÁU”
“The South still had some capacity to resist. But we had already shut off the resupply – both in weapons and hope.”
(Tạm dịch: Miền Nam vẫn còn khả năng kháng cự. Nhưng chúng ta đã ngắt nguồn tiếp tế – cả về vũ khí lẫn hy vọng.)
Sài Gòn không đầu hàng vì hèn nhát, mà vì bị bóp nghẹt cả thể xác lẫn tinh thần.
THÔNG ĐIỆP CAY ĐẮNG – MỘT BÀI HỌC ĐẠO ĐỨC BỊ CHÔN VÙI
“We didn’t just lose a war. We lost a generation’s worth of trust – in ourselves and in what we claimed to stand for.”
(Tạm dịch: Chúng ta không chỉ thua một cuộc chiến. Chúng ta đánh mất cả một thế hệ niềm tin – vào chính mình, và vào những điều ta từng tuyên bố bảo vệ.)
“DECENT INTERVAL” của Frank Snepp – một cuốn sách rất quan trọng và gây chấn động khi xuất bản, vì tác giả là một cựu sĩ quan CIA từng làm việc sát cánh với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho đến những ngày cuối cùng của Sài Gòn. Ông vạch trần:
“Mỹ chủ động để miền Nam sụp đổ – nhưng phải đủ chậm, để không mang tiếng là kẻ phản bội.”
Ông kể lại sự hỗn loạn trong việc di tản, sự ngoảnh mặt của Đại sứ Martin, và nỗi hổ thẹn khi hàng ngàn cộng sự Việt Nam bị bỏ rơi, trong lúc chính phủ Mỹ chỉ lo giữ thể diện.
Thông điệp chung từ ba chứng nhân: Frank Scotton, Stephen Young và Frank Snepp
- Miền Nam không thiếu tinh thần.
- Không thiếu lý tưởng.
- Nhưng họ thiếu điều mà bất kỳ đồng minh nào cũng cần: – Sự đồng hành trọn vẹn, không bị điều kiện, và không bị tính toán thiệt hơn.
- Miền Nam không thua vì yếu, mà vì bị bỏ rơi, bị phản bội.
- Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến chính trị – đạo lý – nhân tâm, chớ không đơn thuần là chiến lược quân sự.
- Mỹ không thua cộng sản, mà thua vì thiếu – hiểu biết, niềm tin và kiên nhẫn.
Khi Hoa Kỳ quay lưng, lịch sử Việt Nam rẽ sang một ngả đau thương, kéo theo hàng triệu thân phận vượt biển, hàng trăm ngàn tù cải tạo, và một đất nước bị bức tử trong chính nền văn hóa của mình. Chứng cớ không thể chối cãi từ những người từng ở trong guồng máy Hoa Kỳ, để tăng thêm tính thuyết phục và sự minh bạch của lịch sử.
Sự sụp đổ miền Nam, Việt Nam không chỉ là của Việt Nam Cộng Hòa, mà là bài học đạo đức cho Hoa Kỳ và các nền dân chủ trên thế giới. 50 Năm Quốc Hận không phải ghi lại những dòng lịch sử lạnh lùng; mà như tiếng thở dài từ ký ức của một dân tộc từng bị chôn vùi giữa cơn lốc thời cuộc; cũng như để khơi lại ánh sáng từ những vết thương lịch sử. 50 Năm Quốc Hận đủ mạnh để gợi lại quá khứ đau thương và đánh thức niềm tin – về sự khôi phục lại cờ vàng ba sọc đỏ – biểu tượng ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.
Nv Nguyễn Quang, Nv Khánh Lan, phu nhân Thiều Minh, Nv Kiều My, Cs Lệ Hoa, Gs Dương Ngọc Sum, Nv Trần Việt Hải,

Nv Nguyễn Quang, Mr .Stephen Young, Nv Trần Việt Hải, Gs Dương Ngọc Sum, ĐGM Nguyễn Thành Vân,

Phu nhân Thiều Minh, Cs Lệ Hoa, Cs Minh Khai, Mc Mộng Thủy

Mr. Frank Snepp & MC Mộng Thủy

Ông Hoàng Đình Khuê
Kiều My
May 2025
-
Mẹ Ơi!

Tháng Năm lại về, mang theo nắng nhẹ và hương thơm của những cành hoa mẫu đơn – loài hoa tượng trưng cho tình mẹ. Giữa cuộc sống nơi xứ người, lòng con luôn hướng về Mẹ – người đã âm thầm nuôi con khôn lớn bằng cả một đời hy sinh. Dù Mẹ còn hay đã khuất, Mẹ vẫn là hình ảnh thiêng liêng không gì sánh bằng, hình bóng Mẹ vẫn luôn là nơi bình yên nhất trong trái tim con.

“Tình Mẹ” thật thiêng liêng và sâu lắng! Có lẽ trên đời này, không có tình cảm nào dịu dàng, bền bỉ và bao la như tình mẹ. Dù ta lớn lên, đi xa hay trải qua bao sóng gió, thì vòng tay và trái tim của mẹ vẫn luôn là nơi chốn bình yên nhất.
Khi con lớn khôn rời xa vòng tay Mẹ, đi đến những chân trời xa lạ rộng mở, con cảm thấy thấm thía nỗi nhớ mỗi lần nghe giọng Mẹ qua điện thoại, mỗi lần thấy bóng dáng ai đó giống Mẹ giữa chợ đông người. Những lời Mẹ dặn con năm nào, giờ đây vang vọng mãi trong tâm hồn con, như ngọn hải đăng soi lối giữa giông tố cuộc đời. Mẹ ơi, nếu có điều gì con luôn muốn nói – ấy là: Con thương Mẹ và con biết ơn từng phút giây được làm con của Mẹ. Dù Mẹ đã ra đi, con vẫn tin rằng tình yêu của Mẹ luôn dõi bước con đi trên đường đời đầy chông gai này và chở che con như thuở nào. Ngày Mother’s Day, con thầm nói: “Mẹ ơi… con thương Mẹ và nhớ Mẹ thật nhiều!”
Ngày Hiền Mẫu, để nhớ về người Mẹ đã ra đi trong nỗi ngậm ngùi– Người đã để lại trongcon một khoảng trống không gì lấp đầy; nhưng cũng là suối nguồn thương yêu bất tận, sống mãi trong tim con. Con nhận ra: Mẹ đã không còn nữa, Mẹ đã về cõi vĩnh hằng; nhưng tình yêu Mẹ để lại vẫn còn nguyên vẹn trong con như ngày nào. Con nhớ Mẹ từng khoảnh khắc sống trong đời, là khi con nấu món canh chua Mẹ từng ưa thích, nghe bài hát Mẹ hay hát không trọn vẹn, hay những câu nói ví von của Mẹ… Những điều nhỏ bé ấy cứ âm thầm nhắc con về Mẹ – về một hình bóng dịu dàng, thân thương mà vĩnh viễn con không thể gặp lại lần nữa.
Có những nỗi nhớ không thể gọi thành tên, chỉ biết rằng từ thẳm sâu trong tâm hồn, con luôn có một chỗ dành cho Mẹ – không ai có thể thay thế. Và con tin, ở một nơi nào đó thật bình yên và thanh thản, Mẹ vẫn dõi theo con. Mỗi lần con vấp ngã, con vẫn cảm nhận được bàn tay Mẹ vô hình đỡ con dậy. Mỗi lần con làm được điều tốt, dường như có nụ cười của Mẹ thoáng hiện trên nền trời mây trắng.
Ngày Mother’s Day, con không thể tặng Mẹ một bó hoa, không thể ôm Mẹ thật chặt; nhưng con có thể thắp lên một ngọn nến, một nén nhang và thì thầm với trời xanh: Mẹ ơi, con nhớ Mẹ vô cùng… và con sẽ sống sao cho xứng đáng với tình yêu Mẹ dành cho con cả một đời.
Ngày Hiền Mẫu, tôi nhớ lại ngày tôi rời nhà, Mẹ không khóc trước mặt tôi, đôi mắt Mẹ đỏ hoe và Mẹ nắm chặt tay tôi hơn thường lệ. Mẹ dặn dò đủ thứ –“Qua đó nhớ giữ gìn sức khỏe và cẩn thận mọi sự việc nơi xứ lạ quê người, nghe con…”; rồi Mẹ gói ghém từ cái áo ấm đến thuốc cảm cúm đặt trong giỏ xách cho tôi. Biết Mẹ lo, nhưng cũng biết Mẹ tự dặn lòng phải mạnh mẽ, để không làm tôi chùn bước. Mẹ tôi không biết nói những lời triết lý cao siêu, không giỏi thể hiện bằng những câu thơ văn, Mẹ chỉ lặng lẽ yêu thương bằng những chăm sóc chu đáo cho tôi. Tình Mẹ tưởng như giản dị mà hóa ra thiêng liêng vô cùng. Nhưng những ngày ấy đã lùi xa vào ký ức. Dù vậy, tôi biết tình mẹ chưa bao giờ xa tôi. Nó vẫn ở đây, trong từng nhịp thở, từng dòng chữ tôi viết, từng đêm trăn trở nhớ mẹ giữa mùa đông lạnh.
Ngày mẹ ngã bệnh, tôi đang ở xứ người và phải lo toan nhiều việc. Mẹ nói: “Đừng về vội, con à. Mẹ còn chịu được.” Tôi nghe mà nhói lòng, vì biết Mẹ sợ tôi lo lắng và bận tâm. Tôi cứ ngỡ còn thời gian một tháng nữa, hai tháng nữa, hay lâu hơn nữa… Rồi bỗng một ngày điện thoại reo giữa đêm khuya… Tôi lặng người! Thời gian không chờ ai, và Mẹ tôi… đã không chờ đợi được nữa!
Chuyến bay trở về nhà hôm ấy là chuyến đi dài nhất trong đời tôi. Không phải vì khoảng cách địa lý, mà vì lòng tôi nặng trĩu. Tôi không dám khóc giữa sân bay đông người, nhưng trong tim tôi, nước mắt đã chảy từ lâu – chảy từ khoảnh khắc tôi biết mình đã không kịp trở về, để nhìn Mẹ lần cuối và nghe Mẹ trối trăn!

Tôi đứng trước bàn thờ Mẹ, gục đầu, thì thầm: “Mẹ ơi, con về rồi đây… Nhưng muộn quá phảikhông Mẹ?”Mẹ lặng thinh! Chỉ có khói nhang bay lên di ảnh của Mẹ làm nhạt nhòe mắt Mẹ như ánh mắt Mẹ ngày tôi xa lìa gia đình. Từ ngày ấy, tôi sống với một vết thương không thể lành – vết thương của sự xa cách cuối cùng. Nhưng cũng từ đó, tôi hiểu sâu hơn về “tình mẹ”: đó là tình yêu không cần sự có mặt, vẫn âm thầm nâng đỡ tôi mỗi ngày, dù Mẹ đã đi xa. Giờ đây, mỗi khi nhìn lên bầu trời, tôi lại khẽ nói: “Mẹ ơi, con nhớ mẹ nhiều lắm.”Và tôi tin đâu đó, Mẹ vẫn mỉm cười nhẹ nhàng như những năm tháng xưa – khi Mẹ đứng trước cửa chờ tôi về, mái tóc bạc lấp lánh trong nắng chiều.
Mẹ –là hình dáng của tình yêu vĩnh cửu. Trong dòng đời hối hả, có một điều luôn âm ỉ cháy không tàn, đó là “ tình yêu của mẹ.” Tình yêu ấy không cần lý do để bắt đầu, cũng không chờ điều kiện để tồn tại. Mẹ là tiếng gọi đầu tiên ta thốt lên, là bóng hình cuối cùng ta giữ mãi trong tim. Có nhiều đại văn hào trên thế giới cũng đã từng ca ngợi “Tình Mẹ” như Bernard Shaw từng nói: “Vũ trụ có rất nhiều kỳ quan; nhưng kỳ qua vĩ đại nhất là trái tim người Mẹ”
Victor Hugo viết: “A mother’s arms are made of tenderness and children sleep soundly in them.”
(Vòng tay mẹ được dệt bằng sự dịu dàng, và trong đó con trẻ ngủ giấc bình an.)
Mẹ không chỉ là người sinh ra ta — mà còn là người chắp cánh cho ước mơ, dạy ta biết yêu thương, biết vươn lên giữa giông bão. Dù thời gian có đưa Mẹ đi xa, thì tiếng gọi “Mẹ ơi” vẫn mãi là lời thì thầm thiêng liêng nhất đời người.
Plato đã từng nói: “There is no greater love than that of a mother.”
(Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của một người mẹ.)
Trong mắt Mẹ, ta luôn là đứa trẻ nhỏ cần được vỗ về, dù ta đã là người trưởng thành giữa cuộc đời. Mẹ âm thầm lo lắng khi ta đi xa, thầm lặng vui mừng mỗi lần ta trở về. Mẹ cười sau lưng những thành công của ta, và khóc lặng lẽ cho những tổn thương mà ta chẳng hay biết.
Có một câu nói khuyết danh, nhưng hàm chứa một chân lý sâu xa:
“God could not be everywhere, and therefore he made mothers.”
(Thượng đế không thể có mặt ở khắp nơi, vì thế Ngài đã tạo ra người mẹ.)
Mother’s Day không chỉ là dịp để tặng hoa, gửi quà, mà là một khoảnh khắc để ta lắng động tâm hồn, gởi đến Mẹ một lời cảm tạ từ trái tim. Dù Mẹ còn trên đời hay đã về bên kia thế giới, tình mẹ vẫn là nơi ta hướng về, mỗi khi đời bão giông.
Abraham Lincoln đã nói:
“All that I am, or hope to be, I owe to my angel mother.”
(Tất cả những gì tôi có được, hay hy vọng đạt tới, tôi đều nhờ người mẹ thiên thần của tôi.)
Cùng một nỗi niềm chung về “Tình Mẹ”, ngay trong thế giới âm nhạc mênh mông không biên giới, cũng vẫn có chỗ cho những bài hát ca tụng “Tình Mẹ”. Như hai ca khúc tiêu biểu: Maman oh Maman và Lòng Mẹ – hai bản nhạc cảm động đến tận cùng trái tim, tuy đến từ hai nền văn hóa, địa ly khác nhau; nhưng lại cùng chan chứa một tình yêu vĩ đại; đó là: tình mẫu tử.
“MAMAN OH MAMAN” – LỜI GỌI TỪ TRÁI TIM
Maman oh Maman là một ca khúc Pháp nổi tiếng, một bản tình ca dành cho Mẹ với tất cả yêu thương và biết ơn. Giai điệu của bài hát mộc mạc, dịu dàng như lời thủ thỉ của một đứa con nói với mẹ, nhưng lại chứa đựng cả một trời yêu thương và khát khao. Ca khúc này vượt thời gian và biên giới vì nó chạm đến sợi dây thiêng liêng nhất của con người – đó là tình mẹ. Mỗi lần nghe, người ta như được trở về thuở ấu thơ, được nép vào vòng tay yêu thương nhất, nơi không có lo toan, chỉ có hơi ấm và tiếng ru ngọt ngào.
Maman oh Maman, toi qui m’as donné. Tant de tendresse depuis tant d’années
Tu le sais bien, quand je serai grand. Je penserai à toi, Maman
Maman oh Maman, le jour et la nuit. Je veillerai toujours sur ta vie
Je serai là à tout les instants. Pour te protéger, Maman…
LÒNG MẸ” – BẢN THÁNH CA CỦA TÌNH MẸ
Nếu Maman oh Maman là lời hát của đứa con dành cho mẹ, thì Lòng Mẹ – một ca khúc bất hủ của nhạc sĩ Y Vân – là khúc ngợi ca cao nhất tình mẹ Việt Nam: sâu như biển Thái Bình, bao la như trời lồng lộng. Với những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp:
“Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào
Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…
“Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu
Tình Mẹ âu yếm như làn gió đùa mặt hồ…”
Bản nhạc Lòng Mẹ rất tha thiết, mỗi khi âm điệu của bản nhạc cất lên làm rung động cả con tim và giọt lệ chợt ứa trong khóe mắt. Tình Mẹ sao quá đỗi ngọt ngào, Mẹ hy sinh cả một đời cho con, Mẹ luôn là người duy nhất không bao giờ bỏ rơi con, dù con thành công hay thất bại, giàu sang hay nghèo khó. Giai điệu ca khúc nhẹ nhàng, da diết, tràn đầy cảm xúc như lời ru vọng lại từ ký ức; khiến không ít người khi cất lên bài hát này đã không thể cầm được nước mắt.
Dù khác ngôn ngữ, khác văn hóa, nhưng Maman oh Maman và Lòng Mẹ đều chạm đến sâu thẳm trái tim người nghe. Mama oh Maman – như tiếng con trẻ nói với Mẹ với tất cả yêu thương hồn nhiên; Lòng Mẹ là tiếng hát thành kính, dạt dào như khúc thánh ca dâng lên người Mẹ hiền đã hy sinh cả cuộc đời cho con. Hai ca khúc – hai thế giới – nhưng chung một tình yêu: – đó là Tình Mẹ vĩnh cửu.

Happy Mother’s Day
DẤU CHÂN MẸ(Kính tặng những người Mẹ – còn đó hay đã xa…)
Trên đường đời con bước,
Có dấu chân ai quen…
Âm thầm như hơi thở,
Nhưng ấm từng bước lên.Có Mẹ là có nắng,
Chợt một ngày đông tan.
Có Mẹ là tiếng hát
Ru con suốt tháng năm.Mẹ xa rồi trăng khuyết,
Hương bếp cũ mơ hồ,
Bóng Mẹ như trong gió
Về bên cửa đợi chờ…Con ngồi nghe mưa rớt
Trên mái nhớ ngày xưa
Từng bữa ăn đạm bạc,
Mẹ nhường con hơn thừa.Dẫu Mẹ còn hay khuất,
Trong tim con vẫn đầy
Một vầng trăng không tắt,
Dẫn con suốt tháng ngày…Kiều My
Trong cuộc đời viễn xứ, đôi khi chúng ta không ngờ rằng giây phút chia xa cuối cùng với Mẹ lại đến quá đột ngột. Những dòng hồi tưởng này chan chứa nỗi ngậm ngùi của một người con sống xa quê nhà, mang trong tim nỗi ray rứt không thể ở cạnh Mẹ trong những ngày cuối đời của Mẹ. Nhưng cũng từ đó, ta nhận ra rằng tình mẹ vẫn luôn hiện hữu – âm thầm, bao la, và vĩnh viễn không rời xa. . Dù Mẹ còn trên đời hay đã đi xa, tình mẹ vẫn luôn là ánh sáng dịu dàng dẫn lối trong suốt hành trình của đời ta.
Kiều My
California, Mother’s Day 2025
-
Sài Gòn – Một Thời Để Nhớ.
Kiều My
Có những thành phố ta ghé qua một lần rồi chìm vào quên lãng. Có những nơi ta đi qua như một cơn gió thoảng. Nhưng có những nơi, dù thời gian trôi qua bao năm tháng, vẫn còn ở đó – nguyên vẹn trong tim ta – như một mảnh ký ức không thể phai mờ. Với tôi, nơi ấy chính là SàiGòn. Không phải Sài Gòn ồn ào náo nhiệt của những năm qua – mà là Sài Gòn củamột thời đã xa, một thời để nhớ, để thương, và để mãi mãi ẩn giấu trong vùng ký ức… như giữ gìn một ca khúc xưa cũ, chỉ cần ngân lên một nốt nhạc là lòng đã chùng xuống.
Tôi viết những dòng này không phải để níu kéo quá khứ, mà để gợi lại hình ảnh một thành phố đã để lại trong tôi biết bao nhiêu kỷ niệm của một thời áo trắng, những mái trường xưa – từng là nguồn hun đúc, nuôi dưỡng bao ước mơ của tuổi trẻ và lưu giữ biết bao kỷ niệm tuổi học trò; để nhớ lại một Sài Gòn với nhà thờ Đức Bà trầm mặc, Bưu điện cổ kính, dinh Độc Lập uy nghiêm, Thảo Cầm Viên mát xanh bóng lá, chợ Bến Thành nhộn nhịp, và bến Bạch Đằng lộng gió…
◊ ◊ ◊
Nhà thờ Đức Bà – Biểu tượng linh thiêng giữa lòng Sài Gòn

Nhà thờ Đức Bà
Nằm giữa giao lộ Tự Do, Duy Tân, Nguyễn Du, và Thống Nhất; nhà thờ Đức Bà, hay Vương Cung Thánh Đường, là một trong những biểu tượng nổi bật của Công giáo và cũng là niềm hãnh diện của Sài Gòn. Nhà thờ mang phong cách kiến trúc Romanesque kết hợp Gothic, theo thiết kế của kiến trúc sư người Pháp J. Boutard, với hai tháp chuông cao vút và mặt tiền bằng gạch đỏ, mô phỏng theo nhà thờ Notre – Dame De Paris, Pháp quốc. Những sáng sớm Sài Gòn xưa, ánh nắng dịu dàng len qua hàng me rọi xuống mặt đường còn vương sương sớm, tiếng chuông nhà thờ Đức Bà ngân vang như một bản thánh ca dịu dàng đánh thức thành phố còn ngáy ngủ. Ngôi thánh đường uy nghi, mái ngói đỏ giữa lòng đô thị, là điểm hẹn quen thuộc cho những giáo dân, và cũng là nơi của bao đôi lứa hẹn hò trong không gian linh thiêng và lặng lẽ ấy.
Bưu điện Sài Gòn – Giao lộ giữa ký ức và thời gian

Bưu điện Sài Gòn trước 1975
Bưu điện Sài Gòn nhìn qua nhà thờ Đức Bà, cách một con đường rộng, như đang chiêm ngưỡng vẻ đẹp nguy nga của nhà thờ Đức Bà vậy– Bưu Điện được xây dựng do công trình của kiến trúc sư người Pháp Gustave Eiffel thiết kế – Người đã tạo nên những kiến trúc nổi tiếng thế giới như: tháp Eiffel, tượng nữ thần Tự Do, cầu Tràng Tiền v.v … Bưu điện Sài Gòn được xây dựng vào cuối thế kỷ 19, tòa nhà mang phong cách kiến trúc tân cổ điển với mái vòm cao, cửa sổ lớn và các nét họa trang trí tinh xảo. Trước 1975, đây là nơi người dân đến gửi thư, điện tín và là biểu tượng của sự kết nối trong thời đại “đánh dây thép.”
Dinh Độc Lập – Chứng nhân lịch sử

Dinh Độc Lập trước 1975
Từ nhà thờ Đức Bà ta có thể tản bộ ngang qua một công viên nhỏ để đến Dinh Độc Lập ở điểm giao thoa giữa đường Công Lý và đại lộ Thống Nhất – là nơi ở và làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Dinh thự mang phong cách kiến trúc hiện đại phối hợp với các yếu tố truyền thống Việt Nam. Dinh Độc Lập, uy nghi giữa công viên xanh mướt, là biểu tượng quyền lực nhưng cũng là chứng nhân của những biến động thời cuộc. Tôi vẫn nhớ hàng phượng vĩ trước Dinh luôn đỏ rực vào mùa hè, thắp lên vẻ đẹp rực rỡ của màu cam phượng vĩ, gợi lên phút chia tay bạn học mùa bãi trường của thời học sinh.
Thảo Cầm Viên – Lá phổi xanh giữa lòng thành phố

Thảo Cầm Viên trước 1975
Từ Dinh Độc Lập đi sâu hơn một chút trên đại lộ Thống Nhất là Thảo Cầm Viên hay Sở Thú, hiện ra như một miền cổ tích, được thành lập vào năm 1864, là một trong những vườn thú lâu đời nhất thế giới. Nơi đây là điểm đến yêu thích của người dân thành phố, đặc biệt là vào dịp cuối tuần. Với không gian xanh mát, có nhiều loài động thực vật. Thảo Cầm Viên là nơi lưu giữ nhiều ký ức tuổi thơ qua bao thế hệ. Trẻ con ríu rít chạy theo bầy chim công, người lớn thì thong dong dưới những tàng cây sao, cây dầu cao vút. Ở đó, tiếng cười hòa trong tiếng lá lao xao, trong hương nắng nhè nhẹ và mùi đất ẩm mỗi khi mưa về.
Chợ Bến Thành – Trái tim thương mại của Sài Gòn xưa

Chợ Bến Thành trước 1975
Khi nhắc đến Sai Gòn, không thể không nhắc đến chợ Bến Thành – biểu tượng bất diệt của Sài Gòn. Mái chợ đỏ, chiếc đồng hồ bốn mặt, và dòng người tấp nập sáng chiều là minh chứng cho một thành phố thương mại sống động, nhưng cũng rất đỗi thân quen. Những tà áo dài lướt qua những quầy hàng như một bức tranh sinh động của đời sống thường nhật. Chợ Bến Thành, được xây dựng vào năm 1912, với kiến trúc độc đáo và những chiếc đồng hồ lớn ở bốn cửa: Đông, Tây, Nam, Bắc, là nét đặc biệt lâu đời của chợ Bến Thành. Nơi đây không những là trung tâm mua sắm, mà còn là nơi để thưởng thức những món ăn thuần túy dân tộc ba miền.
Bến Bạch Đằng – Dòng sông ký ức lặng lẽ của Sài Gòn

Bến Bạch Đằng xưa
Và kia là bến Bạch Đằng, nơi bến nước giao duyên cùng bầu trời rộng mở. Những chuyến phà qua lại giữa dòng sông – kết nối thành phố Sài Gòn hoa lệ với xã Thủ Thiêm còn mang nét mộc mạc của đồng quê. Bến Bạch Đằng được tô điểm thêm nét quyến rũ với những tà áo dài của các cô gái Sài Gòn bay bay trong chiều lộng gió bên cạnh người tình. – Tất cả là những nét dịu dàng của thủ đô Sài Gòn – một thành phố biết sống chậm, biết yêu và biết nhớ; là biểu tượng của Việt Nam Cộng Hòa – là Hòn Ngọc Viễn Đông trước 1975.
Tượng đài Đức Trần Hưng Đạo nổi bật ở đoạn giữa bến tại công trường Mê Linh hình bán nguyệt. Khung cảnh thơ mộng và nhộn nhịp của bến Bạch Đằng đã trở thành một phần không thể thiếu trong ký ức của người Sài Gòn xưa. – Vì nơi đó không chỉ là một địa danh, mà là một ký ứclặng lẽ của Sài Gòn xưa, là một góc trời mà những ai từng sống, từng yêu, từng bước qua Bến Bạch Đằng trước 1975 chắc hẳn đều giữ riêng cho mình một kỷ niệm khó quên.
Đêm xuống, Bến Bạch Đằng khoác lên mình một vẻ lãng mạn khó tả. Ánh đèn từ phía khách sạn Majestic phản chiếu trên mặt sông lấp lánh như hàng vạn vì sao sa xuống. Bến Bạch Đằng – với tôi – không chỉ là bến tàu. Đó là bến của những ký ức, những mối tình dang dở, những buổi chiều không hẹn mà gặp, và những đêm không ai gọi mà vẫn về…
◊ ◊ ◊
Với tôi, Sài Gòn còn là những mái trường – nơi lưu giữ giấc mộng tuổi học trò. Những trường nữ trung học khuôn mẫu không chỉ nổi tiếng về học vấn mà còn là biểu tượng của nét duyên thầm, kín đáo của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Những tà áo dài trắng tinh khôi, những bước chân nhẹ nhàng trên sân gạch đỏ, vẫn còn ẩn khuất đâu đây trong ký ức. Ngoài ra, còn nhiều trường nổi tiếng dành cho nam sinh, nơi đào tạo nhiều nhân tài đủ mọi ngành nghề phục vụ cho đất nước.
Trường Pétrus Ký
Với sân trường rộng và hàng cây xanh mát, nơi bao thế hệ nam sinh đã lớn lên cùng sách vở và hoài bão. Được thành lập năm 1927, trường Pétrus Ký là một trong những trường trung học danh tiếng nhất Sài Gòn, dành cho nam sinh. Trường nổi bật với kiến trúc Pháp cổ kính và là nơi đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước.

Trường Jean-Jacques Rousseau

Trường Jean-Jacques Rousseau, trước đó là Collège Chasseloup-Laubat, là một trong những trường trung học lâu đời nhất Sài Gòn, nằm giữa ba con đường trung tâm là Chasseloup Laubat, Testard và Palais. Trường nổi tiếng với chương trình giảng dạy theo hệ thống Pháp và là nơi học tập của nhiều học sinh ưu tú.
Trường La San Taberd
Trường La San Taberd, nằm tại số 53 đường Nguyễn Du, Quận 1, là một trong những trường trung học lâu đời nhất Sài Gòn, do Hội truyền giáo La San thành lập. Trường nổi tiếng dưới sự giảng dạy và kỷ luật nghiêm ngặt của những giáo sư chuyên nghiệp.

Trường Nguyễn Bá Tòng
Là trường tư thục do Giáo hội Công giáo điều hành, dạy cả nam lẫn nữ. Trường nổi tiếng với chương trình giảng dạy kết hợp giữa giáo dục phổ thông và giáo lý Công giáo, góp phần đào tạo nhiều thế hệ học sinh có đạo đức và tri thức.
Riêng tôi, Sài Gòn xưa còn nằm gọn dưới mái trường Nguyễn Bá Tòng thân thương – nơi tôi đã đi qua một thời áo trắng đầy mộng mơ. Ngôi trường nằm bên con đường rợp bóng cây, cổng vào đơn sơ nhưng ấm áp như vòng tay mẹ. Mỗi sáng, tiếng chuông báo vào lớp ngân lên như một khúc nhạc quen thuộc; còn tôi, tay ôm cặp sách cùng bạn nhanh nhẹn đi vào lớp. Những dãy hành lang dài, những lớp học với bàn ghế gỗ đã ngả màu thời gian;

Trường Nguyễn Bá Tòng
nơi đó tôi từng lặng im nghe thầy giảng bài, từng cười khúc khích với các bạn trong giờ ra chơi, hoặc qua nhà thờ Huyện Sĩ kế bên ngồi chuyện trò khi được nghỉ hai giờ sau. Thật thú vị lúc giờ tan trường đến, khi cánh cổng sắt mở toang –xuất hiện các chàng trai trong quân phục đủ mọi binh chủng hớn hở chờ đón người yêu áo trắng. Nguyễn Bá Tòng không chỉ là trường học, mà là nơi chắp cánh cho tôi bay vào đời – với hành trang là tri thức, lòng nhân ái, và một niềm tin vững chãi vào Chân, Thiện, Mỹ. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, chưa phai mờ.
Trường La San Đức Minh
Tọa lạc trên đường Hiền Vương, con đường nổi tiếng với những tiệm phở gà ngon và nổi tiếng, Lasan Đức Minh, thuộc về hội Truyền giáo Lasan, là một trong những trường tư thục Công giáo nổi tiếng tại Sài Gòn trước 1975, Lasan Đức Minh gồm cả hai bậc Tiểu học và Trung học, nổi bật với kiến trúc Pháp cổ kính, sân trường rộng rãi, hàng cây xanh mát, là nơi học tập của nhiều thế hệ học sinh Sài Gòn. Trường nổi tiếng với kỷ luật nghiêm khắc, chương trình giảng dạy song ngữ Pháp – Việt, chú trọng rèn luyện đạo đức và nhân cách.

Trường Saint Paul

Trường Saint Paul là một trường học dành cho nữ sinh, do các nữ tu Công giáo dòng Saint Paul điều hành. Trường nổi tiếng với môi trường học tập nghiêm túc và chương trình giảng dạy kết hợp giữa giáo dục phổ thông và giáo lý Công giáo, theo nền giáo dục Pháp quốc.
Trường Gia Long và Trưng Vương
Trường Gia Long và Trưng Vương dành cho nữ sinh, là những trường trung học công nổi tiếng nhất Sài Gòn trước 1975. Trường nổi bật với kiến trúc đẹp với môi trường học tập nghiêm túc và chương trình giảng dạy tốt , góp phần đào tạo nhiều thế hệ nữ sinh ưu tú.


Trường Marie Curie
Trường Marie Curie, dành cho nữ sinh, là một trong những trường trung học nổi tiếng của Sài Gòn. Trường nổi bật với kiến trúc đẹp và chương trình giảng dạy tiếng Pháp, góp phần đào tạo nhiều thế hệ nữ sinh ưu tú. Ngôi trường được bao phủ bởi những hàng cây cao xanh mát, có những không gian mang nhiều hoài niệm của một thời vàng son.
Tất cả những ngôi trường danh tiếng của thành phố Sài Gòn như những đóa hoa thơm trong khu vườn giáo dục; mỗi ngôi trường là một vết son trong lịch sử giáo dục miền Nam, nơi hội tụ không chỉ tri thức mà còn tinh thần tự do, cởi mở và nhân bản.
◊ ◊ ◊
Trước năm 1975, Sài Gòn được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Dông”. Trung tâm Sài Gòn là khu vực sầm uất, hội tụ những biểu tượng văn hóa, kiến trúc, giải trí và thương mại sầm uất, tạo nên sắc thái riêng biệt cho thành phố này. Dưới đây là những điểm nổi bật tiêu biểu:
Nhà sách Khai Trí
Người dân Sài Gòn rất quen thuộc với nhà sách Khai Trí, một nhà sách nổi tiếng trên đường Lê Lợi, là “thiên đường sách” của học sinh, sinh viên và dân trí thức Sài Gòn, nơi cập nhật sách báo mới nhất trong và ngoài nước. Chủ nhân tiệm sách là ông Nguyễn Hùng Trương, người say mê đọc sách đã đặt hết tâm hồn vào tài lực cũng như nhân lực, để hình thành một không gian “tri thức” cho mọi tầng lớp xã hội, nhất là trẻ em. Chủ nhân đã tạo cho những người hiếu học có cơ hội học hỏi và trau dồi kiến thức qua những loại sách vỡ lành mạnh trong nhiều lĩnh vực, kể cả sách trau dồi ngoại ngữ như Anh, Pháp, Hoa ngữ, Latin v.v…

Rồi những buổi tối cùng các bạn lang thang trên những con đường rực sáng dưới ánh đèn vàng của những con đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Lê Thánh Tôn…nghe tiếng nhạc từ quán cà phê vọng ra. Mỗi bài hát như gợi nhớ về một kỷ niệm, một người…đã thật xa!
Rạp hát Eden
Rạp Eden là một trong những rạp chiếu bóng nổi tiếng nhất Sài Gòn trước 1975, nằm trong khu thương xá Eden, mặt hướng về công viên Đống Đa, khách ghiền ciné có thể vào từ các đường Tự Do, Lê Lợi hoặc Nguyễn Huệ. Rạp được xây dựng theo kiến trúc cổ điển kiểu Pháp, có hai balcon, trong đó balcon 1 là vị trí ngồi lý tưởng nhất. Đặc biệt, balcon 2 nhỏ hơn, cao hơn và thường được gọi vui là “chuồng bồ câu” (pigeonnier). Eden từng là nơi ca sĩ Pháp Dalida biểu diễn khi đến Sài Gòn.
Rạp hát Rex
Rạp Rex tọa lạc trên đại lộ Nguyễn Huệ, đối diện công viên Đống Đa, nổi bật với thiết kế hiện đại, sang trọng nhất thời bấy giờ. Trên lầu thượng là khách sạn Rex, từng là điểm đến của nhiều du khách quốc tế và giới thượng lưu Sài Gòn. Rạp Rex là nơi trình chiếu những bộ phim nổi tiếng và là biểu tượng của đời sống văn hóa đô thị Sài Gòn.

Phòng trà Maxim’s

Maxim’s là một trong những phòng trà, vũ trường nổi tiếng nhất Sài Gòn. Sau nhiều lần đổi chủ, Maxim’s vẫn giữ được vị thế là nơi giải trí sang trọng dành cho giới công chức, trí thức và cả người nước ngoài. Những năm cuối thập niên 1960, Maxim’s nổi bật với các chương trình ca vũ nhạc, đặc biệt là đoàn ca vũ Hoàng Thi Thơ. Cho đến nay, Maxim’s vẫn là địa điểm mang đậm dấu ấn hoài niệm của Sài Gòn xưa.
Khách sạn Caravelle

Khách sạn Caravelle tọa lạc tại trung tâm Sài Gòn, bên cạnh Trụ sở Hạ Nghị Viện. Caravelle là nơi lưu trú của các chính khách, ký giả quốc tế và là địa điểm họp mặt, tiệc dạ vũ sang trọng của giới trí thức, chính trị gia Sài Gòn. Trên sân thượng tầng 10, khách có thể ngắm toàn cảnh thành phố. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của nhiều hãng truyền thông quốc tế như CBS, ABC, New York Time, và cũng là chứng nhân cho nhiều sự kiện lịch sử, văn hóa, chính trị mang tầm vóc quốc tế.
Thương xá TAX
Đây là trung tâm thương mại sầm uất, nổi tiếng lâu đời nhất Sài Gòn, được xem là biểu tượng của sự phát triển đô thị và thương mại từ cuối thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, góp phần tạo nên hình ảnh “Hòn ngọc Viễn Đông” của thành phố. Thập niên 1960, thương xá chính thức mang tên TAX và thuộc sở hữu của Tổng giáo phận Sài Gòn trước khi bị tịch thu sau đảo chính 1963.Thương xá TAX là nơi mua sắm quen thuộc của người dân và du khách, đồng thời là điểm hẹn văn hóa, thương mại trung tâm của Sài Gòn xưa.

Thương Xá Eden

Thương xá Eden
Passage Eden cũng là lối vào rạp ciné Eden nổi tiếng, cửa chính hướng ra đường Tự Do và hành lang thông qua các đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, thu hút đông đảo sinh viên, viên chức trung lưu và các cặp tình nhân đến xem phim và hẹn hò.
Tầng trệt thương xá Eden có quán cà phê Givral nổi tiếng, nơi tụ họp của giới văn nghệ sĩ, nhà báo và chính trị gia, cũng là địa điểm văn hóa lịch sử quan trọng của Sài Gòn xưa.
Thương xá TAX và Passage Eden là hai biểu tượng thương mại và văn hóa tiêu biểu của Sài Gòn trong giai đoạn 1970–1975, phản ảnh đời sống đô thị sôi động, phong cách phương Tây và nét đặc trưng của thành phố trước biến động lịch sử.
Crystal Palace

Còn được gọi là Thương xá Tam Đa, là một trung tâm thương mại nổi tiếng và hiện đại bậc nhất Sài Gòn trước 1975. Tòa nhà này tọa lạc tại vị trí dắt đỏ được bao bọc bởi các đường Công Lý, Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực và Lê Thánh Tôn, trung tâm Quận 1.
Crystal Palace được thiết kế bởi kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, nổi tiếng với nhiều công trình lớn như Dinh Độc Lập. Khác với các thương xá trước đó, Crystal Palace là nơi buôn bán mỹ phẩm, thời trang cao cấp và cũng là điểm hẹn của giới yêu văn hóa, nghệ thuật. Tầng trệt và các tầng trên có nhiều quầy hàng đa dạng, trong đó nổi bật là quầy sách của các nhà văn nổi tiếng, quầy băng nhạc của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, và phòng thu băng hiện đại của Jo Marcel – nơi sản xuất những cuộn băng nhạc trẻ được giới trẻ Sài Gòn ưa chuộng thời đó.
Crystal Palace (Thương xá Tam Đa) trước 1975 là một trung tâm thương mại hiện đại, đa chức năng, nổi bật với kiến trúc đẹp, không gian văn hóa – nghệ thuật sôi động, là điểm đến quen thuộc của người dân Sài Gòn và là một phần không thể thiếu trong ký ức đô thị thời kỳ này. Passage Eden là dãy hành lang mua sắm nằm trong khu thương xá Eden, một khu tứ giác thương mại nổi tiếng ở trung tâm Quận 1, giới hạn bởi bốn con đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Lê Thánh Tôn và Tự Do.
Khách sạn Continental

Đây là vị trí trung tâm và sầm uất bậc nhất Sài Gòn xưa, nơi hội tụ của giới thượng lưu, trí thức, nghệ sĩ, nhà báo quốc tế và các chính khách.
Kiến trúc khách sạn mang đậm phong cách Pháp cổ điển: mái ngói, tường gạch dày, trần cao, các cửa sổ lớn hướng ra phố hoặc sân vườn, tạo không gian thoáng mát phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Khuôn viên khách sạn hình chữ nhật, ở giữa là sân vườn rộng với ba cây hoa sứ được trồng từ năm 1880, đến nay vẫn xanh tốt và tỏa bóng mát. Continental là nơi lưu trú sang trọng, trung tâm gặp gỡ của giới trí thức, nhà báo, văn nghệ sĩ và các doanh nhân trong và ngoài nước. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, khách sạn là nơi lui tới của nhiều phóng viên quốc tế, các nhà ngoại giao, trở thành “trung tâm thông tin” không chính thức về tình hình Sài Gòn và miền Nam.
Buổi sáng, thực khách có thể thưởng thức bữa sáng kiểu Pháp hoặc Việt Nam trong không gian cổ kính, nhìn ra tòa nhà Quốc Hội – một nét đặc biệt của Sài Gòn thời ấy.
Khách sạn Continental là một phần không thể thiếu trong đời sống đô thị Sài Gòn trước 1975, gắn liền với hình ảnh con đường Tự Do nhộn nhịp, sang trọng. Đến nay, Continental vẫn giữ gần như nguyên vẹn dáng dấp kiến trúc xưa, là điểm đến hoài niệm cho những ai muốn tìm lại không khí Sài Gòn của một thời vàng son.
Với một một công trình kiến trúc di sản, Khách sạn Continental còn được coi như một nhân chứng sống cho lịch sử, văn hóa và nhịp sống của Sài Gòn từ cuối thế kỷ XIX đến tận ngày nay. Marc Phillip Yablonka, phóng viên chiến trường Mỹ từng làm việc tại Sài Gòn, đã nhận định: “Nếu những bức tường của khách sạn Continental biết nói, chúng sẽ kể cho bạn rất nhiều điều”.
Nhà hàng Brodard và Quán Kem Nguyễn Huệ
Nhà hàng Brodard trên đường Tự Do là nơi nổi tiếng với các món bánh Âu châu, cà phê và không gian sang trọng, thường lui tới bởi giới trí thức, doanh nhân, nghệ sĩ. Quán kem trên đường Nguyễn Huệ (như tiệm Pôle Nord) nổi tiếng với kem ly ăn trong phòng máy lạnh, là điểm hẹn lý tưởng của giới trẻ và gia đình Sài Gòn trong mùa hè oi bức.

Và không thể không nhắc đến Sài Gòn mùa mưa – những cơn mưa đổ bất chợt khiến người ta phải tấp vào mái hiên trú tạm; nhưng cũng là những cơn mưa khiến tim ai đó se lại. Có những mối tình chết lặng dưới cơn mưa như thế, mà những giọt mưa là những giọt nước mắt chia xa; thế rồi, hai bóng lặng lẽ quay lưng đi và không bao giờ gặp lại…
Sài Gòn… Một thời để nhớ – không phải vì nó hoàn hảo, mà vì nó đã là một phần đời của tôi. Những con đường xưa với hàng cây xanh rợp bóng, mái trường thân yêu, tiếng nhạc gợi nhớ, hay những cơn mưa ướt đẫm… tất cả đã hòa vào nhau, thành một bản giao hưởng ký ức. Và dù tôi có đi đến đâu, sống bao nhiêu năm xa xứ, trái tim tôi vẫn ở lại nơi ấy – Sài Gòn của một thời tuổi thơ, một thời yêu thương và một thời để nhớ…
***
Như một nốt lặng giữa những dòng hồi tưởng, Kiều My xin gửi đến quý độc giả bài thơ mộc mạc về Sài Gòn – thành phố của yêu thương, của ký ức, của những ngày xưa êm đềm. Vâng, một chút nắng, một chút gió, cũng đủ để Sài Gòn mãi là nơi để nhớ...
SÀI GÒN, MỘT THỜI ĐỂ NHỚ
Thương lắm… Sài Gòn một thuở xa
Tiếng rao khuya lạc giữa mưa sa
Rơi tí tách vang trong đêm vắng
Ánh đèn khuya thấp thoáng hiên nhàÁo dài ai thấp thoáng sân trường
Ve ngân nga gợi nhớ tình thương
Nhà thờ Đức Bà vang chuông sớm
Bước chân quen một thuở thân thương.Thảo Cầm Viên, Bưu điện vàng son
Dinh xưa đứng giữa lối mỏi mòn
Gió từ Bến Bạch Đằng hiu hắt
Nghe trong tim phố cũ vẫn còn…Dẫu xa xôi, lòng ta vẫn nhớ
Một trời hương nắng thuở mộng mơ
Sài Gòn đó – tiếng cười năm cũ
Ru đời nhau theo gió hững hờVà cũng trong tâm tình đó, Kiều My xin mời quý độc giả thưởng thức nhạc phẩm “Sài Gòn Ngày Ấy” của anh Thái Phạm.
Kiều My
California, một ngày buồn tháng 4-2025
-
QUÊ HƯƠNG…TRONG NỖI NHỚ
Kiều My

Đã năm mươi năm xa quê hương, nhưng nỗi nhớ về đất mẹ vẫn vẹn nguyên, như một dòng sông không bao giờ cạn. Quê hương Việt Nam, với những dãy núi trùng điệp, bờ biển mênh mông, với những con đường làng xưa, và những cảnh sắc thiên nhiên kỳ vĩ, với tình người đậm đà…là những hình ảnh luôn khắc sâu trong tâm trí tôi và thao thức mong ngày về được sống lại trên mảnh đất thân yêu.
Vậy chúng ta cùng đồng hành trên hành trình ký ức để hồi tưởng lại những địa danh đẹp muôn thuở của đất nước. Hãy bắt đầu từ thác Bản Giốc, nơi địa đầu Tổ quốc, rồi lần lượt men theo miền Trung, xuôi về phương Nam… như dòng sông chảy ngược về nguồn.
Thác Bản Giốc – khúc tình ca của núi rừng biên giới

Thác Bản Giốc – nơi dòng nước trong veo rì rào đổ xuống từ vách đá cao, tạo thành một khung cảnh huyền bí và hùng vĩ, nơi mây núi thì thầm chuyện tình biên giới. Mỗi lần nhắc đến thác Bản Giốc, tôi lại nhớ đến sự thanh bình của vùng đất phía Bắc, nơi những cánh đồng lúa mênh mông và những bản làng yên ả nằm bên dòng sông Quây Sơn.
Tôi vẫn nhớ như mới hôm qua, hình ảnh thác Bản Giốc đổ xuống giữa bốn bề núi non xanh ngát, bọt nước tung trắng xóa như mây trời tạo thành những dòng suối tóc. Ở nơi địa đầu tổ quốc ấy, thiên nhiên không nói bằng lời, mà thì thầm trong tiếng thác đổ, trong hơi sương mát rượi quyện theo từng bước chân người lữ khách. Thác Bản Giốc không chỉ là một thắng cảnh; đối với tôi, đó là biểu tượng của một miền ký ức mênh mang và trong trẻo, nơi tôi học cách yêu vẻ đẹp hoang sơ, tinh khôi của quê hương. Tiếng thác như nhịp tim của núi rừng, rì rầm không dứt, nhắc tôi nhớ về một phần hồn đất Việt – sâu lắng, bao dung, và kiêu hãnh.
Đứng nơi ấy, người ta thấy mình nhỏ bé giữa cảnh hùng vĩ của thiên nhiên, nhưng cũng thấy cõi lòng được mở rộng bởi niềm tự hào về quê hương. Tôi nhớ những cánh đồng lúa chín ven đường, nhớ ánh mắt hiền lành của người dân tộc Tày, Nùng với tiếng nói dịu dàng như khúc hát ru xa xưa. Dẫu đã năm mươi năm xa quê, thác Bản Giốc trong tôi vẫn chảy — không phải bằng dòng nước, mà bằng dòng nhớ, âm thầm và dai dẳng như một bài ca không lời mang tên: Quê Hương.
Mời bạn cùng tôi xuôi xuống vùng biển Đông Bắc, nơi kỳ quan thiên nhiên thế giới hiện lên như một bức thủy mặc sống động — Vịnh Hạ Long.
Vịnh Hạ Long – Khúc thủy mặc của quê hương
Có những buổi sớm mai tôi không bao giờ quên được – Khi mặt trời còn lấp ló sau làn sương, và từng vệt nắng nhẹ như buông tay lên mặt biển phẳng lặng của Vịnh Hạ Long. Những hòn đảo đá vôi chập chùng nhô lên giữa làn nước xanh ngọc, như hàng ngàn nét chấm phá kỳ ảo của một bức tranh thiên nhiên mà người họa sĩ tài hoa đã tô điểm. Vịnh Hạ Long, một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới, vẫn luôn hiện diện trong tâm trí tôi một khung trời huyền ảo tuyệt đẹp giữa vùng nước biển trong vắt phản chiếu ánh nắng vàng ươm.

Đây là nơi tôi từng thả hồn vào những cơn gió biển mát lạnh, quên đi mọi ưu phiền. Vẻ hùng vĩ mà thơ mộng của Vịnh Hạ Long, như một bản giao hưởng kỳ diệu giữa trời mây non nước. Hạ Long — cái tên vang lên như một lời thì thầm cổ tích. Tôi đã từng lênh đênh trên con thuyền nhỏ giữa vịnh, nghe sóng thì thào chuyện ngàn năm trong lòng hang động, trong tiếng gió lùa qua các vách núi, và trong ánh nhìn của người lái đò — người mà gương mặt hằn nắng gió vẫn ánh lên một nụ cười hiền lành.
Tôi nhớ buổi chiều tà, khi biển khoác lên mình màu rượu vang, những cánh buồm trắng lững lờ trôi như những giấc mơ mỏng manh. Hạ Long khi ấy không còn là một điểm đến, mà là một miền thơ, nơi tôi thấy lòng mình dịu lại, yên bình như một trang sách cũ giở lại giữa đời gió bụi tha hương.
Năm mươi năm, đã bao lần tôi mơ được một ngày quay về, đứng trên mũi thuyền, dang tay hứng làn gió mằn mặn, để nghe tim mình thổn thức giữa trời nước bao la – nơi tôi đã gửi lại thời tuổi trẻ, một phần hồn quê lặng lẽ và đầy thương nhớ.
Biển Đà Nẵng – nơi nắng gió hòa quyện cùng tình người
Biển Đà Nẵng hiện lên trong ký ức tôi như một bức tranh sống động, nơi bầu trời xanh biếc gặp gỡ mặt biển mênh mông, tạo nên một đường chân trời vô tận. Những con sóng nhẹ nhàng vỗ bờ, mang theo hương vị mặn mòi của biển cả và âm thanh rì rào như lời ru của mẹ.

Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời vừa ló dạng, ánh nắng vàng nhạt phủ lên bãi cát mịn màng, và những ngư dân cần mẫn kéo lưới, chuẩn bị cho một ngày mới. Tiếng cười nói rộn ràng, sự hối hả nhưng đầy thân thiện của người dân nơi đây, khiến lòng tôi ấm áp lạ thường.
Buổi chiều, khi hoàng hôn buông xuống, bầu trời nhuộm đỏ rực rỡ, phản chiếu lên mặt biển lấp lánh ánh vàng. Tôi thường dạo bước trên bãi biển, để gió biển thổi tung mái tóc, để tâm hồn được thả trôi theo từng con sóng, và để tình yêu quê hương ngập tràn theo tiếng sóng rì rào. Dù đã xa quê hương năm mươi năm, hình ảnh biển Đà Nẵng vẫn luôn sống động trong tâm trí tôi – như một phần máu thịt, như một khúc ca dịu dàng của miền Trung yêu dấu.
Đà Nẵng, thành phố biển hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp hoang sơ của những bãi biển dài và những ngọn núi kỳ vĩ. Tôi nhớ những chiều hoàng hôn dạo bước trên bãi biển Mỹ Khê, ngắm nhìn những cánh sóng vỗ về bờ cát. Đà Nẵng cũng là nơi tôi tìm thấy sự bình yên trong lòng khi ngắm nhìn vẻ đẹp thu hút của Bà Nà, nơi có những làn sương mờ ảo phủ lên những ngôi chùa và cây cầu vàng tuyệt đẹp.
Nào! Chúng ta cùng xuôi dọc xuống miền cát trắng đầy nắng gió, dừng chân nơi thành phố biển hiền hòa và xinh đẹp — Nha Trang, nơi mà mỗi con sóng như nhắc lại một đoạn thanh xuân, và mỗi ánh bình minh như một lời hẹn hò với ký ức.
Nha Trang – miền biển xanh trong như tuổi trẻ

Nha Trang, thành phố biển với bãi cát trắng mịn màng và nước biển trong xanh, là một thiên đường của những ngày hè nắng vàng. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp tự nhiên mà còn với sự ấm áp, hiếu khách của con người. Tôi nhớ những bữa hải sản tươi ngon, những chuyến thuyền ra khơi ngắm đảo Hòn Tằm, và đặc biệt là cảm giác thư giãn tuyệt vời khi ngâm mình trong làn nước biển trong vắt.
Tôi nhớ Nha Trang không phải bằng hình ảnh, mà bằng cảm giác. Một cảm giác dịu nhẹ, ngọt ngào như mùi gió biển buổi sớm, như màu trời trong veo phản chiếu trên làn nước ngọc bích. Nơi ấy, mọi thứ dường như chậm lại — từ nhịp thở của sóng, bước chân của khách dạo biển, đến ánh mắt đắm say của kẻ lần đầu nhìn thấy vẻ đẹp của biển quê hương.
Bờ cát trắng dài bất tận, nước biển xanh như chạm được đáy trời. Những chiếc thuyền nhỏ neo mình bên bờ, lặng lẽ như chính sự hiền hòa của con người miền biển. Hồn trôi dạt về quá khứ, tôi từng đứng đó để gió thổi tung áo, mắt dõi theo những cánh hải âu bay vút lên nền trời xanh thẳm; mà giờ đây cõi lòng như vỡ ra bởi nỗi nhớ — vừa ngọt ngào, vừa nhói đau.
Nha Trang không ồn ào, dù phố thị ngày nay đã đổi khác. Nhưng trong ký ức tôi, đó vẫn là một thành phố của sự bình yên, nơi có thể tìm được một buổi sáng bên ly cà phê, nghe sóng vỗ nhẹ và lòng chợt lắng đọng trong một thoáng thanh thản hiếm hoi giữa cuộc sống bề bộn.
Năm mươi năm nơi đất khách, có những đêm tôi mơ thấy mình trở về, đi chân trần trên cát ướt, và nghe tiếng gọi thì thầm của quê nhà vọng lên từ biển cả mênh mông ấy — Nha Trang, trong tôi mãi là một khúc tình ca chưa dứt.
Đà Lạt – thành phố mộng mơ giữa sương mù và thông reo

Đà Lạt hiện lên trong ký ức tôi như một bức tranh thủy mặc dịu dàng, nơi sương mù ôm ấp từng ngọn đồi, và rừng thông thì thầm những bản tình ca bất tận. Thành phố cao nguyên này, với độ cao khoảng 1.500 mét so với mực nước biển, mang đến khí hậu ôn hòa quanh năm, được mệnh danh là “Thành phố của mùa xuân vĩnh cửu”. ” Đà Lạt với sương mù và muôn hoa, như giấc mơ còn dang dở.
Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời vừa lố dạng, ánh nắng nhẹ nhàng xuyên qua làn sương mỏng, tạo nên một khung cảnh huyền ảo. Hồ Xuân Hương phẳng lặng như gương, phản chiếu bóng dáng của những hàng thông xanh rì rào trong gió. Dạo bước trên con đường quanh hồ, tôi cảm nhận được sự bình yên lạ thường, như thể thời gian cũng chậm lại để lắng nghe nhịp đập của trái tim.
Đà Lạt không chỉ nổi tiếng với khí hậu mát mẻ, mà còn bởi những công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn minh Pháp, như nhà thờ Con Gà, ga Đà Lạt, và dinh Bảo Đại. Mỗi công trình là một câu chuyện, một phần lịch sử được lưu giữ qua năm tháng. Đặc biệt, “Ngôi nhà điên” – một công trình kiến trúc độc đáo với thiết kế kỳ lạ, thu hút sự tò mò của du khách từ khắp nơi.
Tôi cũng không thể quên những buổi chiều se lạnh, khi thành phố lên đèn, ánh sáng vàng ấm áp len lỏi qua từng ô cửa sổ. Ngồi trong quán cà phê nhỏ, thưởng thức ly cà phê nóng thơm, ngắm nhìn phố xá nhộn nhịp… lòng tôi chợt dâng trào niềm yêu thương đất nước và ước mong thời gian đừng trôi mau, để tôi được tận hưởng khoảnh khắc đáng yêu này. Hình ảnh Đà Lạt với sương mù, thông reo, với ngàn hoa đẹp màu sắc rực rỡ và những con đường quanh co vẫn luôn sống trong tâm trí tôi – như một phần máu thịt, như một khúc ca dịu dàng của miền ký ức.
Vũng Tàu – Sơn thủy hữu tình
Là một điểm đến của thành phố biển đẹp tuyệt vời! Thành phố này không chỉ nổi tiếng với bãi biển đẹp mà còn có những cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời. Có núi Nghinh Phong kiêu hãnh che chắn phong ba cho Vũng Tàu. Vũng Tàu là một phố biển sầm uất thu hút rất nhiều du khách trong nước cũng như ngoại quốc, có những hàng quán, nhà hàng sang trọng, cùng những nơi vui chơi giải trí cho khách du lịch.
Bãi biển Vũng Tàu đúng là một điểm đến lý tưởng với cát vàng và nước biển trong xanh, nhất là bãi biển Thùy Vân hoặc bãi biển Thùy Dương – nơi rất phù hợp để thư giãn, tắm biển. Những bãi biển cát vàng thoai thoải, những con đường ven biển thơ mộng, và những món hải sản tươi ngon luôn làm tôi nhớ về nơi này. Vũng Tàu không chỉ có vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn có những dấu ấn lịch sử, văn hóa đặc sắc. Tượng Chúa Kitô uy nghiêm trên đỉnh núi, còn có ngọn hải đăng Vũng Tàu với ánh sáng dẫn đường, tất cả đều ghi dấu ấn trong lòng tôi. Bãi Dâu còn được gọi là bãi biển Hương Phong có vẻ đẹp hoang sơ, yên tĩnh…có tượng Đức Mẹ trên núi nhìn xuống biển cả mênh mông, thu hút rất nhiều du khách.
Đến Vũng tàu, du khách có cơ hội ngắm biển lúc bình minh và ngắm cảnh hoàng hôn trên biển thật tuyệt vời…hay lang thang đến những di tích lịch sử, văn hóa để có trải nghiệm khó quên về nét đẹp của thành phố biển Vũng Tàu.

Sài Gòn – Thành phố của những hoài niệm không tên
Saigon – thành phố nhỏ thân yêu, nơi tôi cảm nhận được nhịp sống sôi động không ngừng nghỉ. Những con phố đông đúc, những ánh đèn néon rực rỡ trong màn đêm; và đặc biệt là những quán cà phê vỉa hè ấm cúng nơi bạn có thể dừng lại, ngồi nhâm nhi cà phê thơm ngát, hay thưởng thức một ly kem mát lạnh…cảm nhận hương vị của sự hội nhập vào thành phố năng động này. Sài Gòn không chỉ là trung tâm kinh tế, mà còn là nơi pha trộn giữa những giá trị truyền thống và hiện đại, là nơi mà tôi cảm thấy mình không bao giờ cô đơn dù giữa đám đông tấp nập. Saigon là thành phố không ngủ, nơi thời gian mang hương vị riêng đến cho thủ đô Việt Nam Cộng Hòa trước 1975.

Nhà thờ Đức Bà Saigon
Sài Gòn – tên gọi thân thương mà bao người Việt trong và ngoài nước vẫn luôn giữ trong tim – là một nơi không chỉ mang đậm nét lịch sử, mà còn chan chứa hồn người, hơi thở ký ức, và vẻ đẹp của những đổi thay lặng lẽ theo thời gian. Sài Gòn không phải là một thành phố được định nghĩa bằng những con số hay bản đồ, mà là cảm giác, là nỗi nhớ, là một thứ hương ký ức khiến ai đã từng đi qua đều không thể quên.– Sài Gòn còn là giấc mộng dài, là tiếng rao hàng ban mai, là tiếng xe Honda vang rền, xen lẫn tiếng chuông nhà thờ Đức Bà ngân lên xa xa buổi bình minh.
Những địa danh mang linh hồn Saigon:
Nhà thờ Đức Bà và Bưu điện – Nơi hai kiến trúc Pháp cổ kính nằm cách nhau một con đường, kể những câu chuyện về một thời Đông Dương xa vắng. Vòm ngói đỏ, cửa sổ kính màu và chuông đồng ngân vang như mời gọi con chiên ngoan đạo tham dự buổi lễ sớm, khiến lòng người nao nao lạ thường.
Chợ Bến Thành – Không chỉ là một ngôi chợ, mà là trái tim thương mại, là nụ cười hiếu khách, là mùi thơm của phở, bánh xèo, cà phê đậm đặc và cả một chút xô bồ của xe cộ qua lại dập dìu rất Sài Gòn.
Dinh Độc Lập – Lặng lẽ nhưng đầy kiêu hãnh nằm giữa trung tâm thủ đô, là nơi chứng kiến bao biến chuyển lịch sử. Mỗi gian phòng, mỗi hành lang đều như ngân lên lời thì thầm của hưng suy đất nước qua năm tháng.
Đường Nguyễn Huệ – phố đi bộ hôm nay, đại lộ thơ mộng xưa – Nơi từng có những quán café vang vọng tiếng nhạc tiền chiến hay nhạc vàng… Giờ đây là không gian rực rỡ ánh sáng và nhịp sống hiện đại, nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của Sài Gòn qua từng bước chân chầm chậm của người hoài cổ.
Mưa Sài Gòn không lạnh lẽo, mà gợi cảm xúc – vừa buồn, vừa đẹp, vừa khiến người ta muốn ngồi trong một góc quán vỉa hè, uống ly cà phê sữa đá, ngắm dòng người qua lại và để lòng mình trôi theo một bản nhạc của Phạm Duy hay Cung Tiến…Những buổi chiều hè đi bộ dưới bến Bạch Đằng ngắm dòng sông êm đềm lặng lẽ trôi. Hay đi bộ trên đường Tự Do để hít thở làn không khí thoải mái của “tự do”. Vào mùa hè còn nghe tiếng ve sầu râm ran giữa sân trường Gia Long hay Pétrus Ký…Trong trái tim của những người xa xứ – “Saigon” vẫn là tiếng gọi thiêng liêng – là quê nhà và một nỗi nhớ không bao giờ ngủ. Để thắp sáng lại những ký ức tưởng chừng đã lùi xa, viết lại một cuốn nhật ký của tâm hồn, nơi mà từng con phố, từng bản nhạc, từng ánh đèn Sài Gòn đều trở thành câu thơ lấp lánh…

Miền Tây – Bát ngát sông nước và tình người ngọt như hương lúa chín.
Đồng Bằng Sông Cửu Long, vùng đất của những con kênh, con rạch uốn lượn như những tấm lụa mềm mại vắt qua những cánh đồng mênh mông. Những con sông dài đầy phù sa nuôi đất đai thêm màu mỡ, cho những cánh đồng lúa phì nhiêu. Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa lên cao, nước sông còn mát lạnh và những chiếc xuồng nhỏ tấp nập qua lại chở nông sản, trái cây tươi ngon. Tôi luôn nhớ về những chợ nổi nhộn nhịp, nơi từng chiếc ghe chở đầy trái cây, thủy sản, mang đến hương vị đặc trưng của vùng đất thành một thể thống nhất bình dị và yêu thương.
Bởi Đồng Bằng Sông Cửu Long là vựa lúa, là nơi cung cấp lúa gạo nuôi sống toàn dân và những vườn cây trái xum xuê đầy màu sắc. Và có lẽ, không gì có thể quên được hương vị ngọt ngào của những trái dừa tươi, những trái chôm chôm chua ngọt, hay những trái xoài, sầu riêng hương vị tuyệt hảo. Không thể quên hương vị của hủ tiếu Mỹ Tho nóng hổi, hay bún nước lèo Sóc Trăng hoặc cá lóc nướng trui thơm lừng. Miền Tây – nơi con người và thiên nhiên luôn hòa quyện với nhau.

Cảnh đẹp Hà Tiên
Hà Tiên, nơi mà cảnh sắc thiên nhiên hòa quyện với lịch sử, là vùng đất không thể thiếu trong ký ức của tôi. Những bãi biển vắng lặng, những ngọn núi xanh ngát, và những hang động huyền bí, tất cả đều tạo nên một không gian vừa hoang sơ, vừa huyền diệu. Mỗi lần nhắc đến Hà Tiên, tôi lại nhớ đến những con đường quanh co, những cánh đồng lúa bạt ngàn, và đặc biệt là hình ảnh những chiếc thuyền buồm lướt nhẹ trên mặt biển. Hà Tiên cũng là nơi có những di tích lịch sử nổi tiếng như chùa Tam Bảo, núi Bà Tấm, mà mỗi lần thăm viếng đều khiến tôi cảm thấy gần gũi với những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc.
Đảo Phú Quốc –Thiên đường biển đảo

Phú Quốc luôn hiện diện trong tâm trí tôi như một ốc đảo bình yên giữa biển khơi. Những bãi biển dài, cát trắng mịn màng , nước biển trong xanh như ngọc bích – Phú Quốc là nơi lý tưởng để tạm gác lại những thăng trầm của cuộc sống. Tôi nhớ những buổi chiều tà, khi ánh nắng vàng vọt rọi xuống mặt biển, tạo nên một khung cảnh huyền ảo khó quên. Những bữa ăn hải sản tươi ngon, đặc biệt là ghẹ, tôm hùm, hay cá mú, luôn là một phần không thể thiếu khi tôi đến với Phú Quốc. Và không thể không nhắc đến những con đường làng quanh co, những ngôi làng chài bình dị, nơi cuộc sống vẫn trôi qua một cách thong thả, đơn giản, như chính cái cách mà tôi vẫn mong. Saigon, Đồng Bằng Sông Cửu Long, Hà Tiên, đảo Phú Quốc – tất cả đều là những điểm tựa trong ký ức tôi, những miền đất thân thuộc mà dù có đi xa đến đâu, tôi vẫn luôn mang trong mình nỗi nhớ khôn nguôi. Quê hương không chỉ là nơi tôi sinh ra, mà còn là nơi tôi tìm thấy những hình ảnh, những kỷ niệm gắn bó với cuộc sống, những con người, và cả những hương vị quê hương mà mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn quyến luyến. Và Phú Quốc, viên ngọc nơi cuối trời, vẫn chờ bước chân tôi trở về.
Quê hương tôi, dù xa xôi nghìn trùng vẫn luôn hiện diện trong tâm trí với những cảnh sắc tuyệt vời và tình cảm sâu nặng. Những ngày tháng ấy, dù là một phần của vùng ký ức chìm sâu; nhưng vẫn luôn sống mãi trong tôi, như những làn sóng vỗ về trái tim, nhắc nhở tôi về một nơi đầy yêu thương – nơi có những dãy núi xanh ngát, biển cả mênh mông, với những con người nồng ấm và cả những món ăn thuần túy đậm tình. Quê hương vẫn mãi là ngọn lửa trong tâm hồn tôi, sáng rực dù bao nhiêu năm tháng trôi qua.
Kiều My, California tháng 4, 2025.
-
TÌNH YÊU & TIẾNG CƯỜI
Kiều My

Chủ nhật 13 tháng 4, 2025 trời thật êm dịu, nắng không gay gắt, gió cũng nhẹ đi – như thể vạn vật đang khẽ nhường chỗ cho một điều gì thật đẹp sắp được cất lên. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cùng những bạn hữu gần xa đến dự tiệc sinh nhật thứ 95 của người anh đáng kính – nhà văn Nguyễn Quang – mà cuộc đời ông là cuốn tiểu thuyết thầm lặng. Từng trang viết là hồi ức của một thời rực rỡ, yêu thương, băn khoăn…Và hôm nay giở lại trang viết cũ với chủ đề dịu dàng: Tình Yêu & Tiếng Cười.

Một tiết mục không thể thiếu trong chương trình – đó là chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ trong không khí trang nghiêm. Người Việt hải ngoại luôn tưởng nhớ đến Tổ quốc Việt Nam cũng như trân trọng và tri ân đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang những người Việt tị nạn. Sau đó, phút tưởng niệm lắng đọng, tưởng nhớ đến những anh hùng vị nước vong thân, những người đã bỏ mạng trong cuộc hành trình tìm Tự do.

Quan khách gồm có: trưởng nhóm NVNT&TTG, Nv Trần Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, các giáo sư Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Quyên Di; nhạc sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân Ngọc Hà, nhạc sĩ Võ Tá Hân và phu nhân; nữ sĩ Dương Hồng Anh, Lê Nguyễn Nga và các nhà văn Trạch Gầm và phu nhân, Vương Trùng Dương, Vi Khiêm, Khánh Lan, Kiều My, John Tạ, Nguyên Hồng; các ca sĩ: Quỳnh Giang, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Tony Hiếu, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Ngọc Châu, Alain Đức, Dương Viết Đang, Mạnh Bỗng, Chế Tùng, Hoàng Oanh, nhiếp ảnh gia Thiều Minh, kỹ thuật gia Tâm An, keyboardist Ngọc Tú v.v…

Buổi tiệc rất vui và thật ấm cúng. Mọi người đến không chỉ để chúc thọ mà để lắng nghe… một bản tình ca – Một chuyện “Tình Yêu và Tiếng Cười của nhà văn Nguyễn Quang và cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh. Người phối ngẫu đã vĩnh viễn về miền miên viễn, nhưng người còn ở lại vẫn gìn giữ yêu thương đó. Nhà văn Nguyễn Quang với mái tóc bạc trắng như sương mai, ánh mắt vẫn long lanh nét tinh anh của một thời tuổi trẻ – kể về bà. Người vợ quá cố, người tri kỷ, người bạn đời đồng hành cùng ông qua mấy mươi năm gió bụi: “Đôi uyên ương đến với nhau bằng thơ, yêu nhau bằng tấm chân tình, và cười cùng nhau qua bốn mùa…” Cuộc tình của ông bà đẹp như những đóa hoa hồng trong bản nhạc La Vie En Rose của Edith Piaf , mà đã được ca sĩ Ngọc Hà hát lên như một món quà sinh nhật dành tặng nhà văn Nguyễn Quang.

Tôi nhận ra: tuổi 95 không phải là con số của sự tàn phai, mà là nốt cao của một bản tình ca – bản tình ca viết bằng thơ, bằng âm nhạc, bằng ký ức và hơn hết… bằng tình yêu thuần khiết. Và tôi biết, tình yêu – nếu thật sự là tình yêu – sẽ luôn ở lại trong tim, như thơ, như nhạc, như tiếng cười vang vọng suốt một đời người…

Minh Châu, Minh Khai, Kiều My, Lâm Dung, Ái Liên, Ngọc Quỳnh, Khánh Lan, Minh Thư, Lệ Hoa, Thụy Lan
Một khoảnh khắc đáng ghi nhớ – khi ca sĩ Quỳnh Giang mang món quà từ San Jose do nhạc sĩ Phạm Hồng Thái gửi tặng Nv Nguyễn Quang. Đó là chiếc “cup pha lê” nhỏ xinh có in hình Nguyễn Quang và Hoài Trinh…rất độc đáo và đầy cảm xúc. Chiếc cup không phải để vinh danh thành tích, mà để vinh danh một chuyện tình, một đời sống gắn bó không rời. Hình ảnh ông và bà được in lên chiếc cup ấy chẳng khác nào khắc ghi vĩnh viễn một tình yêu – không chỉ trong lòng người, mà trong một vật thể có thể cầm nắm, chạm vào, nâng niu…Ông thì thầm trong tim:“La vie est faite de petits bonheurs…” – Cuộc đời được dệt nên từ những hạnh phúc bé nhỏ. Đó cũng là Giai điệu của một đời người!

NV Nguyễn Quang & Ca Sĩ Quỳnh Giang

Nv Nguyễn Quang, Ns Võ Tá Hân, Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga, nữ sĩ Dương Hồng Anh

GS NS Lê Văn Khoa, NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NV Nguyễn Quang, NS Lê Nguyễn Nga, GS Dương Ngọc Sum. Phía sau là NV Vi Khiêm đang đứng nói chuyện.
Ca sĩ Quỳnh Giang hát một ca khúc được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh – Kiếp Nào Có yêu Nhau – rất truyền cảm; đã làm sống lại hình ảnh của người bạn đời trong tâm hồn Nguyễn Quang, mà đã vĩnh viễn ra đi. Ban tứ ca: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Minh Thư trình bày bản nhạc mang chất xúc tác cho sự kiện hôm nay – Còn Gặp Nhau – thơ Tôn Nữ Hỷ Khương, nhạc Võ Tá Hân.

Phần tâm tình cùng NV Nguyễn Quang là các vị khách quý gồm: Đồng Hương Sóc Trăng, GS Trần Huy Bích, GS Quyên Di, GS Dương Ngọc Sum, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Lê Nguyễn Nga, NV Vi Khiêm, NS Võ Tá Hân và NV Khánh Lan. NV Khánh Lan đã thay mặt Thi Sĩ Tha Nhân diễn ngâm bài thơ Thất Ngôn Bát Cú (Dĩ Thủ Vi Đề) mừng sinh nhật Nv Nguyễn Quang.
MỪNG ĐẠI THỌ NV NGUYỄN HUY QUANG
MỪNG anh sinh nhật chín mươi lăm
ĐẠI đại rồi qua quá tuổi trăm
THỌ tỷ nam sơn người vẫn nói
NHÀ so tùng bách bạn thường thăm
VĂN chương sắc sảo xây nhân bản
NGUYỄN tộc danh lừng chống ngoại xâm
HUY động khí thiêng huynh khỏe mạnh
QUANG vinh đã đạt rạng ngời năm

NV Khánh Lan

Thụy Lan, Kiều My, Lệ Hoa, Minh Thư
Không khí trong hội trường bỗng vui nhộn lên khi ban tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư cùng cất tiếng hát – Nếu Có Yêu Tôi – sáng tác của nhạc sĩ Trần Duy Đức. Nói lên sự vô tình của thời gian, vì khi thời gian đã qua đi sẽ không bao giờ trở lại; vậy việc gì có thể làm hôm nay đừng để ngày mai – ngay cả tình yêu! Nhà văn, ca sĩ Kiều My cũng đã hát bản Après Toi ưu ái dành tặng ngôi sao sáng hôm nay – vì biết Nv Nguyễn Quang luôn yêu thích những giai điệu lãng mạn trữ tình của dòng nhạc Pháp, từ khi ông còn sống ở thành phố ánh sáng Paris đến khi tuổi đã về chiều.

Những lẵng hoa lan tươi đẹp dành cho những bông hoa biết nói
Những bạn hữu thân thương của Nv Nguyễn Quang cũng chia sẻ những thâm tình và dành cho ông những lời chúc tốt đẹp cho những ngày tháng còn lại của một đời người. Để tỏ lòng tri ân, ông cũng đáp lại bằng những lẵng hoa lan tươi đẹp dành cho những bông hoa biết nói – phái đẹp hiện diện trong khánh phòng. Ngoài ra, còn có cuộc xổ số rất hào hứng với những phần quà thật đẹp dành cho những ai may mắn được trúng giải.

Ca Sĩ Chế Tùng & Ca Sĩ Hoàng Oanh
Tiệc cũng đã tàn, nhưng tiếng nhạc vẫn còn vang như muốn níu kéo những khoảnh khắc đã ghi lại dấu ấn trong tâm khảm mọi người. Chân thành cầu chúc nhà văn Nguyễn Quang luôn được bình an để sống với những kỷ niệm đẹp của “tình yêu và tiếng cười”- Mà từ đó đã tạo nên nguồn cảm hứng cho những mảnh văn chương để đời.- Đó cũng là “giai điệu của một đời người” vậy!
Kiều My, California, ngày 13 tháng 4, năm 2025
-
50 năm…khát vọng !
Kiều my

Năm mươi năm đã trôi qua, đánh dấu sự kiện miền Nam Việt Nam sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Lịch sử Việt Nam đã sang trang và nền tự do dân chủ của miền Nam cũng chìm vào quá khứ. Tuy vậy, dù ở trong nước hay hải ngoại, người Việt vẫn luôn nhớ về những năm tháng êm đềm của hai nền Cộng Hòa nhân bản trước năm 1975.
Đối với những người Việt tị nạn đang sống cuộc đời lưu vong khắp hành tinh này, vẫn luôn nuôi khát vọng một ngày được trở về quê hương—Giống như dân tộc Do Thái, dù lưu lạc hơn 2000 năm khắp nơi trên thế giới, vẫn không ngừng khao khát trở về quê cha đất tổ. Và cuối cùng, họ đã đạt được ước nguyện!
Cũng vào một buổi sáng của tháng Tư cách đây 50 năm, Tổng thống lâm thời Dương Văn Minh đã tuyên bố: chính phủ Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng Mặt trận Giải phóng miền Nam. Toàn dân chìm trong bàng hoàng và sợ hãi như tiếng sét giữa trời quang, bầu trời tự do của miền Nam dường như đang sụp đổ trước mắt!
Trong khoảnh khắc chua xót ấy dù tuổi đời còn non nớt, tôi đã phần nào cảm nhận được sự mất mác to lớn cho một tương lai tươi sáng… và tôi đã bật khóc! Tôi khóc cho những người trai trẻ đã hy sinh tuổi xuân, tình yêu, hạnh phúc gia đình, thậm chí cả mạng sống, để trấn giữ biên cương, bảo vệ Tổ quốc và mang lại bình an cho dân lành ở hậu phương. Xương máu của họ đã đổ xuống vì lý tưởng Tự Do; nhưng giờ đây, sự hy sinh ấy dường như trở nên vô nghĩa! Đó là nỗi đau tột cùng của những kẻ thua cuộc!
Tôi khóc cho một tương lai mịt mù, u ám phủ bóng lên thế hệ hôm nay và mai sau. Những giọt nước mắt tuyệt vọng của tôi hòa cùng nỗi ám ảnh kinh hoàng về cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn, Gia Định dịp Tết Mậu Thân 1968, khi máu đổ tang thương tràn ngập, và tài sản bị tàn phá không kể xiết. Cùng thời khắc ấy, tại cố đô Huế, hàng ngàn người vô tội đã bị thảm sát dã man chôn vùi trong những nấm mồ tập thể—những hình ảnh ấy vẫn còn đó, chưa bao giờ phai mờ trong ký ức của người Việt.
Đi lần về quá khứ. Theo Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam bị chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17 bởi dòng sông Bến Hải: miền Bắc theo chế độ Cộng sản; miền Nam thuộc chế độ Tự do. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi từ năm 1954 đến năm 1975, miền Nam đã xây dựng và củng cố một thể chế chính trị Dân chủ dưới hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa. Dù còn non trẻ, nhưng nền Tự do Dân chủ miền Nam đã hình thành một cách tốt đẹp và vững vàng. Người dân được hưởng quyền bầu cử, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, và nhân quyền được tôn trọng. Nền giáo dục được xây dựng trên nền tảng đạo đức, hướng đến việc đào tạo thế hệ tương lai theo nền văn minh khoa học tiên tiến để bắt kịp nhịp phát triển của thế giới. Chính phủ đã đầu tư xây dựng nhiều trường học từ tiểu học đến đại học, mở mang tri thức cho mọi người, nhất là giới trẻ là những mầm non – tương lai của đất nước.

Hình ảnh đẹp của trường nữ trung học Gia Long trước 1975
Dù đất nước vẫn trong tình trạng khói lửa chiến tranh, nhưng chính phủ miền Nam vẫn mang đến cho người dân một cuộc sống sung túc và bình an trong nhịp sống thường nhật êm đềm chan chứa tình người. Sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của miền Nam trên mọi lĩnh vực—từ kinh tế đến văn hóa, giáo dục, chính trị, quân sự, và bang giao quốc tế…—Chỉ trong thời gian 20 năm ngắn ngủi đã biến thủ đô Sài Gòn trở thành “Hòn Ngọc Viễn Đông” của Đông Nam Á. Các quốc gia láng giềng trong khu vực không chỉ khâm phục, mà còn mơ ước đạt được sự phồn thịnh như miền Nam Việt Nam vậy.
Miền Nam không chỉ là vựa lúa dồi dào, cung cấp lương thực cho người dân nội địa, mà còn xuất cảng gạo sang các nước láng giềng. Nguồn thủy sản phong phú từ sông hồ đến biển cả đã giúp bảo đảm cuộc sống no ấm cho người dân. Dưới chế độ tự do, miền Nam trở nên trù phú và thịnh vượng. Người dân được quyền tự chủ về kinh tế, tư tưởng và tương lai của chính mình.

Nhưng sau năm 1975 khi đất nước thống nhất, hoàn cảnh Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn. Cả thế giới bàng hoàng trước cuộc di tản khổng lồ và làn sóng vượt biên đầy bi thương của hàng triệu người Việt Nam đi tìm tự do. Họ ra đi bằng mọi cách—máy bay, đường bộ, hay vượt biển trên những con thuyền mong manh giữa đại dương mênh mông. Trên hành trình tìm kiếm Tự do, họ phải đối mặt với muôn vàn hiểm nguy, thậm chí đánh đổi cả mạng sống. Nhiều người đã bỏ mình dưới lòng biển cả hay trong rừng thẳm. Trong số những nạn nhân xấu số đó, có cả người thân yêu của tôi. Đã mấy mươi năm trôi qua, nhưng mỗi khi nhớ lại biến cố đau thương này, tôi vẫn không khỏi ngậm ngùi!
Biết bao gia đình đã ly tán vì hệ lụy của cuộc đổi đời. Người cha, người chồng bị đưa vào các trại tù cải tạo, để lại vợ con nheo nhóc, bơ vơ. Nhiều người phải rời bỏ thành phố, nhà cửa để đi đến “vùng kinh tế mới”—nơi rừng thiêng nước độc, để khai hoang những vùng đất đai cằn cỗi hoang vu.
Sau năm 1975, ngay cả miền Nam là vựa lúa của cả nước cũng lâm vào hoàn cảnh đói khát. Người dân phải ăn độn ngô, khoai, bo bo… Cuộc sống trở nên cùng cực sau thời hậu chiến. Những khẩu hiệu tuyên truyền tốt đẹp không thể che lấp nỗi cơ cực, nghèo đói và đàn áp…đè nặng lên tinh thần người dân miền Nam; khiến họ phải tìm mọi cách để thoát khỏi đất nước bằng bất cứ giá nào.
Những ai không có cơ hội hay khả năng ra đi đành chấp nhận số phận trong cảnh khốn cùng. Thanh niên không có việc làm, nhà nước phải “xuất khẩu lao động” đưa họ ra nước ngoài kiếm sống; còn nhiều phụ nữ bạc phước bị đẩy vào con đường mại dâm nơi xứ người. Kinh tế kiệt quệ, xã hội suy đồi, văn hóa và đạo đức xuống cấp trầm trọng. Một đất nước từng được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông” giờ đây chỉ còn lại nỗi buồn và sự tủi hổ!
Hồi tưởng lại lần đầu tiên trở về thăm gia đình sau nhiều năm xa cách. Vừa bước ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, tôi sững sờ và hụt hẫng khi nhìn thấy một biển người đang chờ đón thân nhân từ nước ngoài. Họ trông xơ xác, làn da sạm đen, vẻ mặt hốc hác, bệnh hoạn… Một nỗi xót xa tràn ngập trong lòng, nước mắt tôi cứ tuôn rơi không sao ngăn được. Tôi đưa mắt tìm kiếm gia đình… Kìa, Ba Mẹ và các chị em đang đứng ngóng cao cổ chờ đón tôi. Cảm xúc càng dâng trào khi nhận ra những người thân yêu của mình cũng chẳng khác gì những người xung quanh – gầy gò, xanh xao… Tôi đau lòng đến nghẹn ngào. Người nước ngoài, dù sống ở đâu, da dẻ họ vẫn hồng hào, khỏe mạnh; còn gia đình tôi và đồng bào tôi giờ ra nông nỗi này sao? Họ tiều tụy đến mức tôi không dám nhìn thẳng vào mặt họ, kể cả người thân của tôi, e rằng họ sẽ tủi hổ.
Không chỉ gia đình tôi, mà biết bao người khác cũng mơ ước được sống trong bầu không khí tự do, được hưởng cuộc sống đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, để con cái họ có tương lai tươi sáng, không còn cảnh tha phương cầu thực, không còn bị áp bức … Đó là niềm khát vọng lớn lao vẫn luôn âm ỉ cháy trong lòng mọi người của từng giai cấp xã hội, là tia hy vọng duy nhất để họ bám víu mà sống qua ngày.

Cụ già bán hàng rong
Thật chua xót! Trên những con phố đông đúc, nhiều người buôn gánh bán bưng, kể cả những cụ già lưng còng gánh hàng buôn bán mưu sinh qua ngày. Những người đạp xích lô còm cõi chở khách dưới cái nắng gay gắt, hoặc dầm mình trong những cơn mưa dai dẳng. Thật tủi nhục! có cả những thầy giáo, giáo sư từng cầm phấn đứng trên bục giảng, nay phải lang thang mưu sinh bằng nghề đạp xích lô chỉ vì từng phục vụ trong chính quyền cũ. Họ trở thành những “trí thức đạp xích lô” – một hình ảnh thực tế đau lòng được nhắc đến trong tác phẩm “Sài Gòn: Một Góc Ký Ức và Bây Giờ” của tác giả Vũ Thế Thành.

Hình ảnh“Trí thức đạp xích lô”
Phải chăng nền giáo dục đương thời đã và đang xuống cấp trầm trọng? Tầng lớp trí thức bị bạc đãi vì chế độ chủ trương chính sách “ngu dân” để dễ dàng thống trị người dân? Ngay sau 30 tháng tư 1975, nền văn hóa cũ phải bị xóa sạch bằng cách đốt sách vở, báo chí, tài liệu giáo khoa trong các nhà sách, thư viện, trường học, nhà xuất bản… Một hành động thể hiện rõ sự thiếu hiểu biết và đố kỵ đối với nền văn hóa văn minh tiến bộ của miền Nam. Dưới chế độ Tự do Dân chủ, miền Nam đã đào tạo ra biết bao nhân tài, từ những tướng lãnh tài ba, những chiến binh dũng cảm trong quân đội, đến những Bác sĩ tận tâm, Kỹ sư, Kiến trúc sư, Luật sư, Giáo sư, Văn nghệ sĩ, Linh mục, Thượng tọa… Họ là những bộ óc sáng suốt, những người có năng lực có thể góp phần xây dựng đất nước; nhưng thay vì được trọng dụng, họ lại bị gạt ra bên lề xã hội. Xót xa hơn nữa, họ lại bị giam cầm, đày ải trong lao tù – chỉ vì họ là “trí thức”.
Nửa thế kỷ đã trôi qua, những đau thương của cuộc nội chiến đẫm máu vẫn chưa phai mờ trong lòng người Việt và trang sử đen tối vẫn chưa được khép lại. Người dân còn ở lại trong nước vẫn khắc khoải mong chờ một ngày mai tươi sáng, khát vọng được hít thở bầu không khí tự do, mong mỏi có một cuộc sống đầy đủ và bình an. Những người Việt viễn xứ khắp bốn phương trên thế giới, lòng vẫn luôn hướng về quê hương, vẫn nhớ về Sài Gòn yêu dấu – nơi có gia đình, bạn hữu, thầy cô, và những ký ức của một thời tuổi trẻ không thể phai nhòa! Vẫn luôn khát vọng ngày trở về mảnh đất quê hương Việt Nam dấu yêu!
Sai gon…Ngày Tháng Cũ
Saigon đẹp thuở nào…còn đâu nữa
Tan trường về những buổi chiều mưa
Hàng cây bên đường lá ướt đẫm
Mưa giăng giăng ướt lối trường xưa
Áo trắng học trò ngày tháng cũ
Con đường dài phủ lá me bay
Saigon êm đẹp…mộng mơ ấp ủ
Nắng vàng nhẹ dìu bước em đi
Saigon… giờ đây từng ngày thầm nhủ:
Con đường cũ sao nằm lặng thinh?
Đợi người xưa ôm ghì nỗi nhớ
Mỏi mòn dưới đèn vàng lung linh!
Saigon ơi! Gọi tên người mãi
Gắng đợi chờ tôi, ngày trở lại
Saigon nắng lụa vàng bay trên phố
Đón bước ai về …một ngày mai
California, tháng 4 năm 2025
-
NHỮNG KHOẢNH KHẮC KHÓ QUÊN
Kiều My
Cơn mưa ướt lạnh của những ngày cuối đông đã qua đi, nhường chỗ cho không gian xinh đẹp của miền Nam nắng ấm California. Dưới bầu trời xanh lơ, những tia nắng vàng chiếu sáng lớp thủy tinh bao bọc bên ngoài Nhà Thờ Chánh Tòa CHRIST CATHEDRAL trở nên rực rỡ, lóng lánh, trông như một khối kim cương khổng lồ… thật nguy nga!

CNS Lâm Dung, Minh Thư, anh chị Tony Hiếu, Minh Khai, NV Nguyễn Quang, GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, Sử Gia Pham Trần Anh và phu nhân, NV Kiều My, CS Huỳnh Anh (tại mộ phần của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh)
Hôm nay ngày Chủ nhật 16 tháng 2 năm 2025, Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm có: Gs. Dương Ngọc Sum, sử gia Phạm Trần Anh và phu nhân; các nhà văn Nguyễn Quang, Việt Hải, Kiều My, Hoàng Đình Khuê và các ca nhạc sĩ: Lâm Dung, Lệ Hoa, Tony Hiếu, Thanh Mai, Minh Khai, Minh Châu, Huỳnh Thu v.v…tụ họp về nhà thờ Christ Cathedral lúc 2:30 pm, để viếng mộ của cố Gs. Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, dưới sự hướng dẫn của Gs. Quyên Di.

Giáo Sư Quyên Di
Ngước nhìn lên bia đá khắc tên Profesor Anphonso Nguyễn Xuân Vinh, trong lòng mọi người chắc hẳn đều bùi ngùi thương tiếc một nhân tài đất Việt, tài đức vẹn toàn đã vĩnh viễn ra đi về bên kia thế giới. Nơi an nghỉ nghìn thu của ông thật trang trọng và bình an trong khu vườn The Memorial Garden rất trang nhã, tọa lạc trong khuôn viên của Christ Cathedral. Thật xứng đáng cho một danh nhân đã mang lại những điều tốt đẹp và hữu ích cho nước Việt và thế giới được an nghỉ trong nhà Chúa.

Nơi an nghỉ của GS Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh
Lúc sinh thời, ông đã nghiên cứu và khám phá về một kỳ công vĩ đại của vũ trụ bao la…đã làm kinh ngạc các khoa học gia; vì sự hiểu biết hạn hẹp của con người không thể hiểu thấu về sự kỳ bí của vũ trụ. Sự việc này đã nảy nở trong tâm hồn ông về niềm tin – có sự hiện hữu của Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hóa của toàn thể nhân loại và vũ trụ trường tồn. Chính vì thế, vào những ngày tháng cuối đời, Gs. Vinh đã trở thành người con khiêm hạ của Thiên Chúa và còn là một chứng nhân cho niềm tin mãnh liệt về Thiên Chúa Toàn Năng.
Từ thẳm sâu trong tâm hồn, tôi suy tư về sự chết – ví như sân ga cuối cùng của một đời người để trở về nhà… Chúa. Vì thế, “chết” không phải là dấu chấm hết; mà là sự bắt đầu cho một cuộc sống vĩnh cửu bên kia thế giới. Đây là niềm tin của Ki tô giáo! Vì thế, nếu chúng ta ước vọng có được cuộc sống miên viễn tốt đẹp sau khi từ giã cõi đời, hãy lắng nghe lời khuyên của Thánh nhân Francis Assisi rất ý nghĩa và thực tế dành cho mọi người:
“Hãy nhớ rằng khi rời khỏi mặt đất này, bạn không thể mang theo bất cứ thứ gì đã nhận được, chỉ những gì bạn đã cho đi.” (Remember that when you leave this earth, you can take with you nothing that have received- only what you have given.)
Trước khi từ giả Gs. Nguyễn Xuân Vinh, chúng tôi thành kính dâng lời kinh cầu nguyện cùng Thiên Chúa sớm đưa linh hồn Anphonso được hưởng vinh phúc vĩnh cửu thiên đàng. Sau đó, chúng tôi được nhiếp ảnh gia Thiều Minh chụp vài bức ảnh kỷ niệm dưới bia đá khắc tên của Giáo sư Vinh, để lưu lại trong sách TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ NGUYỄN XUÂN VINH. Dường như mọi người còn lưu luyến nơi này; một nơi thật đẹp, và bình an… nơi có Gs. Vinh được an nghỉ, mà không muốn rời đi.
Chào vĩnh biệt Gs. Anphonso Nguyễn Xuân Vinh
Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

Bước qua bãi cỏ xanh mướt, đối diện mộ phần của Gs. Vinh, là nơi đặt hài cốt thân phụ và anh trai của Gs. Quyên Di. Chúng tôi kính cẩn cúi đầu chào người quá cố và cùng cầu nguyện cho hai linh hồn Phêrô Bùi Văn Thư và Phaolô Bùi Văn Ngọc được sớm về nước Chúa.
Nhìn hai phần mộ người thân yêu của Gs. Quyên Di ẩn trong bức tường đá, nơi an nghỉ trang trọng và bình an trong khuôn viên của Christ Cathedral, lòng tôi thầm cảm kích về tấm lòng hiếu thảo và tình thương sâu sắc mà Gs. Quyên Di dành cho gia đình. Gs. phải về Việt Nam và vượt qua những khó khăn để mang hài cốt của Bố và anh trai sang Hoa Kỳ để đặt vào nhà Chúa, hầu GS được gần gũi và thăm viếng thường xuyên. Chắc hẵn linh hồn người quá cố rất được an ủi và thật ấm áp khi được về gần gia đình, dù đó là nơi đất khách, không phải nằm lạnh lẽo dưới lòng đất quê hương VN cách một đại dương. Riêng Gs. Quyên Di cũng an lòng và cảm thấy mãn nguyện vì đã làm tròn bổn phận của mình.
Xin thắp nén hương tưởng nhớ những người đã ra đi về miền vĩnh cửu.
MỪNG THƯỢNG THỌ CỦA CỰU SĨ QUAN VÕ BỊ ĐÀ LẠT: HOÀNG ĐÌNH KHUÊ
Kiều My

Happy birthday Bình Luận gia: Hoàng Đình Khuê
Một ngày trôi qua, bóng hoàng hôn thấp thoáng trên những hàng cây bên đường, là lúc từng nhóm nam thanh nữ tú đến tham dự tiệc sinh nhật thứ 85 của cựu SQVB Đà Lạt khóa 16 Hoàng Đình Khuê, tại Diamond Seafood Restaurant III, thành phố Westminster, Ca., được tổ chức thật tưng bừng.
Tiệc sinh nhật được diễn ra là cơ hội để những người thân yêu, bạn hữu tận hưởng những khoảnh khắc vui vẻ bên nhau và cũng không thiếu những lời chúc “Happy Birthday” vang lên. Tiếng cười nói rộn ràng chào hỏi nhau vui vẻ trong khánh phòng như một ngày hội lớn.

Nhân vật tỏa sáng trong buổi tiệc đình đám đêm nay là ông Hoàng Đình Khuê, trân trọng chào mừng và cảm tạ quan khách tham dự. Cựu Thiếu tá Hoàng Đình Khuê là người văn võ song toàn, là một bình luận gia lưu loát và am tường về chính trị Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới. Là một cựu sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với chức vụ sau cùng là Thiếu tá; vì thế, ông cũng phải thọ án tù Cộng Sản nhiều năm sau 1975. Hiện ông giữ chức vụ Chủ tịch đảng Tân Đại Việt, với trọng trách nối nghiệp và duy trì đường lối kỷ cương của đảng, do cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy tài đức dày công sáng lập
Nhiều thân hữu tham dự trong buổi tiệc gồm có: Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (ban tổ chức); Cựu Sĩ quan Võ Bị Đà Lạt; Thành viên đảng Tân Đại Việt; Việt Nam Quốc Dân đảng; Mạng Lưới Nhân Quyền; v.v…
Sau đó, những vị thay mặt từng nhóm lên phát biểu về cảm nghĩ, cũng như sự quan hệ với ông Hoàng Đình Khuê trong tình huynh đệ chi binh, bạn tù, hay trong những đảng phái chính trị tại Hoa kỳ, hoặc tình nghệ sĩ v.v…Riêng với Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, nhà văn Khánh Lan đọc 6 câu thơ lục bát thật vui tai khiến ai cũng thích, nhất là các đấng vào lứa tuổi dưới đây, rằng: Trong xã hội ngày nay:
Nhà văn Khánh Lan
60 chưa phải là già
60 là tuổi mới qua dậy thì
65 hết tuổi thiếu nhi
70 là tuổi mới đi vào đời
75 là tuổi ăn chơi
80 là tuổi yêu người yêu hoa
Vậy thì, bình luận gia Hoàng Đình Khuê vừa đến lứa tuổi “yêu người yêu hoa”??? Bài thơ dí dỏm này đã làm cho khách tham dự thích thú và phá lên cười dòn tan. Kế tiếp, Nv. Khánh Lan diễn ngâm bài thơ Xuân Về Chúc Thọ do văn thi sĩ Trần Việt Hải sáng tác để chúc mừng sinh nhật ngôi sao sáng đêm nay:
Tám chục an khang say thái bình
Hoàng Khuê chưa già, xuân vẫn mạnh
Người thông, sức khỏe, chúc phúc an
Tám chục vẫn còn ngàn tuổi thọ
Xuân về xin chúc chén trăm năm…
Tiếng nhạc bắt đầu trổi lên đã làm dậy sóng một quang cảnh vui tươi, được thể hiện qua những tiếng hát: Phạm Gia Đại, Lệ Hoa, Minh Khai, Tony Hiếu, Lâm Dung, Thụy Lan, Kiều My, Mạnh Bỗng, Kim Đức, Minh Thư, Thiên Phượng, Đình Khôi v.v… đồng thời mọi người cùng thưởng thức những món ăn ngon thơm lừng của nhà hàng chiêu đãi.
Nhà văn, ca sĩ Kiều My Ca sĩ: Lệ Hoa, Thụy Lan, Minh Thư
Nhà văn: Nguyễn Quang, Việt Hải, Lệ Hoa, nữ sĩ Lê Nguyễn Nga
Happy Birthday to you…Happy Birthday to you…
Mọi người cùng hát vang lên khúc nhạc rộn rã mừng sinh nhật rất quen thuộc, bỗng tiếng chai rượu champagne nổ tung như pháo nổ …văng bọt thơm ngon trắng xóa. Một vài bức ảnh kỷ niệm được chụp để lưu lại những “khoảnh khắc đáng ghi nhớ” ngày sinh nhật thứ 85 của cựu SQVB ĐÀ LẠT KHÓA 16 HOÀNG ĐÌNH KHUÊ.
Kiều My, California Feb, 16, 2025
TỪ CHỊ TÂM AN
Trong niềm vui – hạnh phúc & trong tâm tình mỗi ngày còn được nhìn thấy nhau bình yên & mạnh khỏe, Tiệc chúc mừng thượng thọ 85 VBĐL KHÓA 16 Ông HOÀNG ĐÌNH KHUÊ, do NVNT & TTG tổ chức trọng thể trong không khí thân mật gia đình và không gian trang trọng & đầm ấm với hơn 150 khách mời gồm Gia đình, bạn bè , thân hữu và Anh Em Đồng đội cũ vào chiều Chúa Nhật 16 tháng 2 năm 2025 tại nhà hàng Diamond Seafood III , thành phố Westminster, Nam California. Đặc biệt, có hơn 3 bàn với sự góp mặt của Gia đình VBĐL Nam California, nhiều Niên trưởng, đồng đội Gia đình VBĐL, đơn vị mà Cựu Thiếu tá Hoàng Đình Khuê đã sinh hoạt từ những ngày còn ở Trung tâm Thụ Huấn VBQG/ Đà Lạt. … Và cũng có sự tham dự của nhiều Hội đoàn, đoàn thể thường xuyên sinh hoạt trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia miền Nam California (MLNQVN, Tân Đại Việt, Việt Quốc, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Cách Mạng Đảng, Báo Tiếng Việt San Diego, Họp Mặt Dân Chủ, Cộng Đồng Nam Cali, …..v…v…)

