-
VĂN HỌC TẢN MẠN LINH TINH

Càng về sau số bạn bè trong hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa & Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & tiếng Thời Gian, khiến tôi bị rung chân, yếu tim thêm. Chả nhẽ bà con bay lên trời xanh, ta mãi cu ky cô dơn dưới dương trần sao nhỉ?
Còn nhớ câu danh ngôn, tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Hoặc là câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
Khi một con ngựa đau, hãy đại diện cho những cá nhân gặp hoạn nạn, khó khăn, đau khổ hay bất hạnh trong cuộc sống, hãy làm một chút gì dó an ủi hay ủy lạo bạn bè, dồng bào, hay rộng hơn là những nạn nhân, sinh linh gặp nạn.
Câu nói mang ý tưởng, mang giá trị biểu hiện và thông điệp đạo đức là tinh thần đoàn kết và sự gắn bó keo sơn giữa bằng hữu trong tổ chức nhỏ xíu trong chúng ta, có vị ke, có vị không ke, không hưởng ứng, không sao cả, vì ngày nay nỗi khổ người ta, ngày sau đến lượt phe ta thói đời. Lòng nhân ái, tình tương thân tương ái: Từ loài vật biết thương nhau đến đạo lý làm người, ông bà ta muốn nhắc nhở mỗi cá nhân phải có lòng trắc ẩn. Truyền thống này tương đồng với các câu thành ngữ, ca dao khác như “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”. Sức mạnh của sự đùm bọc: Sự quan tâm, giúp đỡ không chỉ là chiếc phao cứu sinh giúp cá nhân vượt qua nghịch cảnh, mà còn là nền tảng để xây dựng một tập thể vững mạnh, một xã hội văn minh, nhân ái và giàu tình người.
Tôi nghe Nữ sĩ Quỳnh Giao vướng stroke bị coma nhẹ, nay đã khỏi, nhà thơ HAK Dương Viết Diền, anh Alain Đức, anh Hoàng Khuê… cũng dau yếu, nhưng 25 bằng hữu hội viên tôi nghiêm ra rằng buổi hội ngô vui tưới ấm áp cho những thành viên như chị Hoàng Vinh, nữ sĩ Dương Hồng Anh, cụ bà 96 tuổi vẫn ra thơ đều đều, cụ tâm sự tôi vui quá nên hết ốm rồi anh.
Tôi vẫn nhớ câu danh ngôn, tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Hoặc là câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
Lời nhắc nhở cho thế hệ hôm nay: Trong đời sống hối hả, đôi khi con người dễ bị cuốn vào những lo toan cá nhân mà trở nên thờ ơ, ít ke bà con nhóm. May là nhóm juniors Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa gánh vàc phụ tay cùng nhóm seniors Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & tiếng Thời Gian.
Một tuyệt tác khác là câu ca dao mang đậm hồn nét dân tộc là ý tưởng của câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
Câu ca dao như một tinh hoa, định giá hướng tư tưởng sống kết đoàn mang giá trị cốt lõi của câu ca dao, như một thông điệp nhân văn Khuyên lơn con người về tinh thần đoàn kết, tình tương thân tương ái, biết đùm bọc và yêu thương nhau vượt qua mọi ranh giới về hoàn cảnh, dù khó khăn, đầy thử thách.
Sự kiện của câu ca dao mang hình tượng nghệ thuật, như sự kết hợp hòa quyện giữa hình ảnh thiên nhiên quen thuộc thảo mộc dây leo bầu và bí với nghệ thuật ẩn dụ métaphore, nhân cách hóa và theo thể thơ lục bát uyển chuyển.
Câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, mang giá trị nghệ thuật: Thể thơ lục bát nhịp nhàng, từ ngữ giản dị, thủ pháp nhân hóa (“bầu ơi”) giàu cảm xúc.
Ý nghĩa thực tiễn: Bài học về tình đoàn kết trong gia đình, ngoài xã hội và trong cả những hoàn cảnh thử thách to lớn của đất nước như thiên tai, hay nạn đại dịch lây lan mầm bệnh cho nhân loại. Vous souvenez-vous de la quarantaine liée au coronavirus? (Have you ever remembered the coronavirus quarantine?)

Ca sĩ Kiều Loan đã diễn ngâm bài thơ mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh ngâm theo phong cách Tao Đàn Saigon xưa:
Đợi ngày ra sách
Chiều nay ngồi đọc sách
Nhìn trời xanh bát ngát
Đợi ngày ra mắt thơ
Đàn lên cung, se tơ.
Nghe gió chiều lao xao
Cho lòng tôi nao nao
Nhớ. Nhân Văn Nghệ Thuật
Tiếng Thời. Gian dạt dào.
Bao tháng ngày chờ đợi
Dòng đời trôi qua mau
Sách thơ bầy ngăn nắp
Bút mực ngồi nhìn nhau
Tin vui vừa loan báo
Ngày ra mắt đến rồi
Vườn hoa thơ nhạc nở
Thêm một đóa hồng tươi
Phất phơ trời lộng gió
Hoa nở giữa vườn đời
Hoa nở giữa hồn tôi
Hoàng hôn tươi nụ cười
Dương Hồng Anh, 26-9-2026
Kỷ niệm ngày ra tác phẩm của khánh Lan và Hồng Anh.
Chương trình văn nghệ ngâm thơ và ca hát bỏ túi với Ngọc Hà và Dương Viết Đang qua bài ca giấc mơ hồi hương của vũ thành.
Dưới đây là bản tóm tắt ý chính của bài nhận xét theo phong cách thẩm định tổng quan (literature review), được chắt lọc ngắn gọn và súc tích:
Tác giả Vũ Thành (1926–1987) là một gương mặt tiêu biểu của tân nhạc Việt Nam giai đoạn trước và sau năm 1954. Dù xuất hiện ít trước công chúng và có số lượng tác phẩm để lại không nhiều,nhưng ông lại được giới chuyên môn (nhạc sĩ, ca sĩ) kính trọng bậc nhất nhờ tài năng toàn diện ở cả ba vai trò: sáng tác, nhạc trưởng và hòa âm phối khí.
Vũ Thành là bậc thầy về hòa âm. Theo đánh giá của các đồng nghiệp như Quỳnh Giao và Phạm Duy, ông là người có công lớn trong việc nâng tầm các ca khúc phổ thông thành tác phẩm nghệ thuật thính phòng sang trọng thông qua phần phối khí công phu, làm nền tảng thẩm mỹ vững chắc cho nhiều tác giả lớn thời kỳ đó.
Cứ theo phong cách sáng tác và dấu ấn bán cổ điển, ông cho đổi mới dòng tân nhạc: Khác với âm điệu ủ ê, sướt mướt phổ biến của thập niên 40 (cung Ré thứ), âm nhạc của Vũ Thành mang hơi hướng bán cổ điển phương Tây, thanh tao, óng ả và quý phái. Tính kỷ luật trong việc trinh diễn: Các tác phẩm của ông (như Say Nhạc Canh Tàn, Nhặt Cánh Sao Rơi, Nhớ Bạn…) đòi hỏi người nghệ sĩ sự tiết chế, cách giữ nhịp tinh tế (rubato) và phát âm chuẩn mực thay vì luyến láy bi lụy quá đà, tùy cảm hứng.
Bài tình ca “Giấc Mơ Hồi Hương” và mạch nguồn hoài niệm dĩ vãng,…
Biểu tượng tâm tư di cư, Nhạc ra đời năm 1956, ca khúc là khúc hát tiêu biểu cho tâm sự của dòng người di cư từ miền Bắc vào Nam. Điểm độc đáo trong bút pháp của Vũ Thành là nhân cách hóa Hà Nội thành hình ảnh “em” – vừa gần gũi như một tình khúc riêng tư, vừa bao la như nỗi niềm chung của cả một thế hệ lưu xứ tha hương.
Giá trị nghệ thuật vượt thời gian của bài nhạc là một bài hát kết hợp nhuần nhuyễn giữa nỗi buồn thấm thía chia ly, sự hồi tưởng và niềm hy vọng vào một ngày mai thanh bình. Qua các sáng tác muộn hơn như Hoài Hương Dạ Khúc, nỗi đau đáu hướng về quê cũ của ông được đẩy lên đến tận cùng của cảm xúc tha hương.
Xét về bối cảnh ca khúc viết về Hà Nội thập niên 1950
Bài viết đặt tên Giấc Mơ Hồi Hương (1956) vào dòng chảy chung của các nhạc phẩm viết về Hà Nội thời kỳ đó, bên cạnh những Hà Nội 49 (Trần Văn Nhơn) và Hướng Về Hà Nội (Ngô Hoàng Dương), cho thấy sự phong phú trong phong cách cất tiếng khóc hòa cùng vận mệnh đất nước của các nhạc sĩ dòng nhạc tiền chiến.
Sau đây là tóm lược ý chính và nhận định về bài ca do ca sĩ Kiều Loan trình bày, bài tình ca dâng nỗi tâm cảm xoay quanh tác phẩm “Gửi người em gái miền Nam” của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn:
Tác phẩm ra đời vào mùa xuân năm 1956, là bản tình khúc về mùa xuân duy nhất trong sự nghiệp của “nhạc sĩ của mùa thu” Đoàn Chuẩn. Tên gốc chính xác là “Gửi người em gái miền Nam” chứ không phải “Gửi người em gái” như cách gọi phổ biến suốt nhiều thập kỷ qua.
Trải qua thời gian và hoàn cảnh lịch sử chia cắt hai miền Nam – Bắc, bài hát từng bị cắt xén, bóp méo cấu trúc và ca từ. Bài viết đòi lại sự công bằng cho tác giả bằng cách công bố phần lời gốc đầy đủ gồm 2 phần (với những hình ảnh thơ mộng nhưng đượm buồn về nỗi đau chia ly và niềm hy vọng đoàn tụ bên cầu Hiền Lương).
Bài hát mang tâm sự thời thế sâu sắc: phản ánh bức tranh vân cẩu xã hội và tâm trạng của con người trong những năm đầu đất nước bị chia cắt (1954–1956). Phần 2 của bài hát chứa đựng khát vọng hòa bình và đoàn tụ mãnh liệt, vượt lên trên những tình cảm lứa đôi thông thường.
Về giai thoại “bóng hồng” và những ẩn số cuộc đời, bài ca chứa hồi ức và theo giai thoại từ gia đình nhạc sĩ (con trai Đoàn Đính), người bạn tri âm Từ Linh, cũng như các nhà nghiên cứu (Vương Trùng Dương, Trương Quý, Lê Hoàng Long…).
Bài hát xoáy quanh nguồn cảm hứng của bài hát là hình bóng của những mỹ nhân, ca sĩ tên tuổi thời tiền chiến như Thanh Hằng (Lê Hằng) – nàng thơ trong nhiều tình khúc Đoàn Chuẩn, hay những đồn đoán liên quan đến ca sĩ Mộc Lan, Tâm Vấn. Đồng thời, bài cá được viết cũng ghi nhận sự bao dung, hy sinh lặng lẽ âm thầm của người vợ tào khang (bà Nguyễn Thị Xuyên) – hậu phương vững chắc dung dưỡng tâm hồn phóng khoáng, tài hoa của người nhạc sĩ bay bổng, bay bướm trong âm nhạc.
Nhận xét về tác phẩm và giá trị miên viễn của bài ca. Có thể dịnh giá dây là một kiệt tác lãng mạn trong âm nhạc: “Gửi người em gái miền Nam” không đơn thuần là một bản tình ca lãng mạn cá nhân, mà đã trở thành một chứng nhân lịch sử mang âm hưởng thời đại. Sự kết hợp giữa giai điệu sang trọng, đạo dạt chất trữ tình và ca từ giàu hình ảnh đã định hình phong cách độc bản của “vua nhạc slow” (Le roi de la musique lento) là Đoàn Chuẩn trong làng tân nhạc Việt Nam.
Hãy tôn trọng di sản nghệ thuật dù là thuộc về quá khứ, nhưng công chúng cũng nên lưu giữa tác phẩm hay ca từ gốc của người nghệ sĩ tài danh này.

Một kỷ niệm dáng nhớ khi tôi viết bài Bài Thánh Ca Kỳ Diệu, Việt Hải, có GS. Quyên Di, Lm. André Trần Cao Tường, có Trần Trung Dạo.
Bài Thánh Ca Kỳ Diệu, Việt Hải, Quyên Di, Lm. André Trần Cao Tường:
http://chimviet.free.fr/truyenky/viethai/vhan100_LmTranCapTuong%20.htm
Bài viết “Bài Thánh Ca Kỳ Diệu” của tác giả Việt Hải (đăng trên tạp chí Chim Việt Cành Nam) là một bài tùy bút mang đậm cảm xúc tưởng niệm, được viết vào dịp Giáng sinh năm 2010 nhằm tri ân và tưởng nhớ Linh mục André Trần Cao Tường – một nhà văn, học giả, dịch giả và là Giám đốc Mạng lưới Dũng Lạc vừa mới qua đời cách đó không lâu (ngày 21/11/2010).
Dưới đây là phần giải thích và phân tích chi tiết nội dung bài viết:
I. Tóm tắt nội dung bài viết
Bài viết được chia thành các tầng ý chính xoay quanh nhân vật trung tâm là Linh mục Trần Cao Tường và nguồn gốc của một tuyệt phẩm Giáng sinh:
- Lời tạ từ và nỗi niềm mất mát (Phần đầu):
Tác giả Việt Hải mở đầu bằng nỗi buồn khi mùa Giáng sinh năm 2010 vắng bóng một cây bút lớn ở hải ngoại là Linh mục André Trần Cao Tường (người qua đời vì bệnh tai biến mạch máu não – một căn bệnh mà chính Việt Hải cũng từng trải qua và lo sợ).
Tác giả hồi tưởng lại cơ duyên quen biết với Linh mục Tường qua các dịp ra mắt sách ở Houston, qua các bài viết triết lý, văn chương trên mạng lưới Dũng Lạc, cũng như qua sự kết nối văn học giữa các diễn đàn (như Tình Nghệ Sĩ và Chim Việt Cành Nam).
Dù khác biệt về tôn giáo (Việt Hải là Phật tử, còn Lm. Tường là linh mục Công giáo), hai người vẫn dành cho nhau sự trân trọng, thấu cảm và gọi nhau là “hiền huynh – hiền đệ” rất đỗi thân tình.

Top: Cha André Dũng Lạc Trần Cao Tường. Lower: đệ tử Phật tử Trần Trung Dạo và Trần Viêt Hải.
- Góc nhìn đa chiều về chân dung Linh mục Trần Cao Tường:
Bài viết điểm lại những đánh giá của các văn nghệ sĩ tên tuổi khác dành cho Lm. Trần Cao Tường như:
Nhà văn Trần Trung Đạo: Viết bài tiễn đưa đầy xúc động.
Nhà thơ Du Tử Lê: Viết lời tựa cho tác phẩm của Lm. Tường, bày tỏ sự kính trọng đối với một vị tu sĩ yêu nước, có quan điểm sâu sắc rằng “kẻ nào không yêu quê hương, nguồn cội của mình, kẻ đó cũng sẽ không yêu Thiên Chúa”.
Nhà thơ Lm. Trăng Thập Tự: Gửi thơ tiễn biệt từ quê nhà Việt Nam.
Vợ chồng nhà văn Nhã Ca – Trần Dạ Từ (qua bản tin Việt Báo): Ghi nhận Lm. Tường là một ngòi bút phong phú (tùy bút, bút ký, tiểu luận, nhiếp ảnh) có phong văn thuần túy Công giáo nhưng mang tính nhân bản, thơ mộng, dễ đi vào lòng người thuộc mọi tôn giáo.
Sức sáng tác của Lm. Tường vô cùng dồi dào, bao trùm nhiều lĩnh vực từ triết học, khoa học, y khoa, công án thiền cho đến văn học nghệ thuật. Câu chuyện về “Bản Thánh Ca Kỳ Diệu” (Phần trọng tâm):
Tác giả chuyển dòng cảm xúc sang bài viết cuối cùng của Lm. Trần Cao Tường mà ông rất ấn tượng trước mùa Giáng sinh: bài “Bản Thánh Ca Kỳ Lạ” (viết về nguồn gốc của bài thánh ca trứ danh toàn cầu Silent Night hay Stille Nacht / Đêm An Bình / Đêm Thánh Vô Cùng).
Hoàn cảnh ra đời kỳ diệu: Vào đêm Giáng sinh năm 1818 tại một ngôi làng nhỏ ở Áo (Oberndorf), vị linh mục trẻ Josef Mohr đang lo lắng vì đàn phong cầm trong nhà thờ bị chuột gặm hỏng đúng lúc cha sở lâm bệnh nặng. Giữa lúc ấy, ông nhận được lời kêu gọi khẩn cấp phải đến ban phép rửa tội cho một đứa trẻ sinh non trong một túp lều nghèo nàn giữa trời tuyết lạnh.
Trải nghiệm thực tế tại túp lều – nơi gia đình nghèo đón đứa con trong sự ấm áp, bình an và tình mẫu tử thiêng liêng – đã đánh thức tâm hồn nghệ sĩ của cha Josef Mohr. Trở về qua màn đêm tuyết phủ với nguồn cảm hứng dâng trào, ông ghé qua nhà người bạn thân là nhạc sĩ Franz Gruber. Chỉ trong một thời gian ngắn, phần lời thơ của cha Mohr và phần nhạc của Franz Gruber đã hòa quyện vào nhau, tạo nên khúc ca Stille Nacht.
Bài thánh ca ấy lần đầu tiên được cất lên bằng tiếng đàn guitar trong lễ Nửa đêm Giáng sinh tại một làng quê nghèo, để rồi sau đó vang dội khắp hoàn cầu qua hàng trăm ngôn ngữ.
- Phần lời kết:
Khép lại bài viết, tác giả Việt Hải mượn ca từ bất hủ của bài Silent Night để dâng tặng, tưởng nhớ và gửi lời chúc bình an đến linh hồn Linh mục André Trần Cao Tường ở cõi vĩnh hằng.
II. Phân tích ý nghĩa và giá trị của bài viết
- Sự kết nối giữa đạo và đời, giữa các tôn giáo:
Một điểm sáng lớn trong bài viết là sự vượt qua rào cản tôn giáo. Dù là một linh mục Công giáo, Lm. Trần Cao Tường lại có mối thâm tình sâu sắc với các văn nghệ sĩ, phật tử như Việt Hải, Trần Trung Đạo, Du Tử Lê… Điều này cho thấy văn chương và nghệ thuật có sức mạnh hóa giải khác biệt, kết nối những tâm hồn đồng điệu dựa trên lòng nhân ái và sự trân trọng con người.
- Tinh thần nghệ thuật vị nhân sinh:
Câu chuyện về cách bài thánh ca Silent Night ra đời phản ánh chính quan niệm sáng tác của Lm. Trần Cao Tường: nghệ thuật chân chính không nằm ở sự xa hoa, cầu kỳ mà bắt nguồn từ những khoảnh khắc đời thường, từ lòng bác ái, sự thấu cảm với nỗi đau và niềm khát khao hòa bình, an lạc của con người.
- Bút pháp hoài niệm, dung dị nhưng giàu cảm xúc:
Văn phong của Việt Hải trong bài viết này mang đậm chất tùy bút hoài niệm (memoir-style). Sự đan xen giữa tiếng lòng cá nhân, các trích đoạn thơ tưởng niệm của Quyên Di, Lm. Trăng Thập Tự, lời nhận định của Du Tử Lê và câu chuyện cảm động về bài thánh ca đã tạo nên một bức tranh tưởng niệm trọn vẹn, ấm áp tình người giữa mùa đông giá lạnh.

Việt Hải và Trần Trung Đạo về Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm Tiễn Mẹ
https://nhanvannghethuat.com/vi-khiem-nguyen-van-liem-tien-me%ef%bf%bc

Nhà văn/nhà báo Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm.
Bài viết trên trang Nhân Văn Nghệ Thuật ghi lại buổi lễ cầu nguyện và tiễn đưa cụ bà Ana Nguyễn Thị Tịnh (thân mẫu của nhà văn/nhà thơ Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm), người qua đời ở tuổi đại thọ 107 tuổi.
Dưới đây là các ý chính và tư tưởng chủ đạo trong bài viết:
Tuổi thọ phúc lộc và sự an nghỉ trong cõi vĩnh hằng:
Cụ bà Ana Nguyễn Thị Tịnh đã sống qua ba thế kỷ (cuối thế kỷ 19, trọn thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21) và hưởng thọ 107 tuổi.
Trong bài giảng thánh lễ, linh mục chủ sự nhắc nhở rằng một “cây tốt” (cụ bà) chắc chắn sẽ sinh ra những “trái tốt” – minh chứng qua người con trai là ông Nguyễn Văn Liêm, một giáo dân sống đạo đức, khiêm nhường và tận tụy với xứ đạo.
Nỗi đau và sự tiếc nuối khôn nguôi của người con ở lại:
Dù người mẹ đã ra đi ở tuổi đại thọ (107 tuổi) – điều khiến gia đình cảm thấy biết ơn Thiên Chúa và không còn mong cầu gì hơn – nhưng nhà văn Vi Khiêm vẫn bộc lộ nỗi đau lớn khi không thể ở bên cạnh mẹ trong những giờ phút cuối đời để nghe lời trăn trối.
Sự tôn vinh tình mẫu tử qua thi ca và nghệ thuật:
Tác giả bài viết mượn những câu thơ nổi tiếng đầy cảm xúc từ bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Lấy Tiếng Mẹ Cười” của thi sĩ Trần Trung Đạo để khắc họa sự thiêng liêng, vô giá của người mẹ và tiếng nói từ trái tim mẹ:
“Ví mà tôi đổi thời gian được / Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.”
Bài viết cũng điểm qua những tâm tình, nỗi nhớ mẹ qua các tác phẩm văn thơ của các văn nghệ sĩ khác như nhà văn Ngọc Cường (mất mẹ từ nhỏ) hay nhà giáo/nhà thơ Quyên Di (qua bài thơ “Giỗ Mẹ”), qua đó đồng điệu nỗi niềm chung của những người con chịu tang mẹ: dẫu có lớn khôn đến đâu, trước di ảnh của mẹ, họ vẫn mãi là những đứa con bé bỏng. Tóm lại, bài viết là một lời tri ân sâu sắc, một khúc ca tiễn biệt trang nghiêm và đầy xúc động dành cho một người mẹ hiền phúc thọ vẹn toàn, đồng thời phản ánh nỗi lòng khắc khoải, biết ơn và thương nhớ khôn nguôi của những người con đối với công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ.

Nội dung bạn vừa chia sẻ bao gồm bài thơ nổi tiếng “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của nhà thơ Trần Trung Đạo cùng với bài bình thơ (lời bình) của tác giả Châu Thạch.
Dưới đây là phần giải thích chi tiết, phân tích và bình luận tổng quan về tác phẩm và bài viết bình luận này để giúp bạn thấu hiểu trọn vẹn giá trị nghệ thuật cũng như cảm xúc sâu lắng ẩn chứa bên trong.
- Giới thiệu tổng quan
- Bài thơ: “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của nhà thơ Trần Trung Đạo viết về tình mẫu tử thiêng liêng, nỗi đau chia cắt (thường thấy trong bối cảnh người Việt ly hương, xa xứ sau năm 1975) và sự day dứt của một người con không thể ở cạnh chăm sóc mẹ già.
- Bài bình luận: Do tác giả Châu Thạch chấp bút, phân tích từng khổ thơ, giải mã các tầng nghĩa ngôn từ (như khái niệm “thiên thu”, hình ảnh “lá thu rơi”, chữ “trắng” thứ hai, v.v.) nhằm làm nổi bật cái hồn và tài hoa của nhà thơ Trần Trung Đạo.
- Phân tích và Giải thích tác phẩm qua bài bình
Bài thơ xoay quanh một mô-típ rất quen thuộc trong thơ ca ly hương: cuộc gọi điện thoại ngắn ngủi đường dài (nhắc chiếc phone lên) nhưng lại khơi gợi một khoảng trống mênh mông, cả một trời thương nhớ và dằn vặt.
- Hình ảnh và ý nghĩa nhan đề “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”
- Thắc mắc thực dụng: Nhiều người cho rằng “thiên thu” là một ngàn năm (vô định), con người không thể sống đến chừng ấy để mà “đổi”, làm sao lấy cái không có để đổi cái có?
- Lý giải tâm lý học nghệ thuật (Châu Thạch): “Thiên thu” ở đây không phải là thời gian vật lý (đếm bằng năm tháng), mà là thời gian tâm lý. Giống như câu “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” (một ngày trong tù dài như ngàn năm), thời gian tâm lý co giãn theo nỗi đau và nỗi nhớ.
- “Thiên thu” còn tượng trưng cho sự bình tịnh, an lạc lâu dài trong tâm hồn. Nhà thơ sẵn sàng đánh đổi cả sự bình yên vĩnh cửu ấy — hay sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì lớn lao nhất — chỉ để đổi lấy khoảnh khắc nghe được tiếng mẹ cười, tức là biết mẹ đang hạnh phúc, bình an.
- Tiếng gọi từ đầu dây và nỗi buồn chia ly
“Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người Tiếng ai như tiếng lá thu rơi Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi”
- “Tiếng ai”: Đại từ phiếm chỉ “ai” thường dùng cho người xa lạ, nhưng trong văn chương lại diễn tả sự nghẹn ngào khi đối diện với người thân thương nhất — một sự xa cách lâu ngày đến mức khi nghe lại giọng nói, ta có cảm giác ngỡ ngàng như tiếng của một người xa lạ mà lại vô cùng gần gũi.
- “Như tiếng lá thu rơi”: Một hình ảnh so sánh tuyệt đẹp. Tiếng mẹ thầm thì, nhẹ nhàng, mong manh và buồn vô hạn, gợi lên cả một không gian mùa thu heo hắt, tĩnh lặng trong tâm hồn người con xa xứ.
- Hoàn cảnh lưu vong và màu trắng của sự biệt ly
“Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê Mười năm tóc mẹ màu tang trắng Trắng cả lòng con lúc nghĩ về”
- Cuộc ra đi “chẳng hẹn thề” là cuộc ly biệt đành đoạn, bất đắc dĩ.
- Hình ảnh “Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê” miêu tả sự hoảng loạn, bơ vơ của người con bị đẩy vào bước đường lưu lạc, mất phương hướng giữa dòng đời.
- Chữ “trắng” thứ hai (“Trắng cả lòng con”): Bài bình luận giải thích rất hay rằng chữ “trắng” này không phải là vô cảm, mà là màu trắng của chiếc khăn tang trong tâm tưởng. Mẹ chưa mất nhưng sự chia cắt xa xôi lâu ngày tạo nên một nỗi trống vắng tột cùng, biến lòng con thành một cõi tang tóc, u hoài.
- Hình ảnh người mẹ và nỗi đau đọng lại
“Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn Bên đời gió tạt với mưa tuôn… Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ…”
- Cụm từ “đan một nỗi buồn” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nỗi buồn vốn là thứ vô hình (tâm lý), nhưng qua ngòi bút Trần Trung Đạo, nó được cụ thể hóa thành một vật hữu hình có thể “đan” từng mũi kim, dệt nên chuỗi ngày mòn mỏi ngóng trông của người mẹ già cô độc bên ô cửa “gió tạt mưa tuôn”.
- Người con chọn cách nén đau thương vào thơ ca, vào lá cây (“viết đau thương vào trong lá” – gợi nhắc đến sự bạt ngàn của nỗi buồn nhân lên qua từng chiếc lá vàng rụng), và tìm kiếm hơi ấm của mẹ trong những giấc mơ xa xôi.
- Bình luận chung và Đánh giá
- Giá trị nội dung:
Bài thơ chạm đến góc khuất mềm yếu nhất của những người con xa xứ. Đó là thứ tình mẫu tử thiêng liêng vượt qua mọi khoảng cách không gian và thời gian. Tiếng mẹ cười ở đây không đơn thuần là âm thanh vui vẻ, mà là biểu tượng của sự bình yên, của cội nguồn, là điểm tựa tinh thần duy nhất cho người con bơ vơ giữa chốn ba ba chìm nổi.
- Giá trị nghệ thuật:
- Thể thơ thất ngôn (7 chữ) truyền thống nhưng được vận dụng với nhịp điệu chậm rãi, u buồn, thấm đẫm âm hưởng hoài niệm.
- Các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh (tiếng lá thu rơi, đan một nỗi buồn, ngựa rừng lạc lối) vô cùng đắt giá, giúp cấu trúc bài thơ chặt chẽ từ câu mở đầu đến câu kết thúc (tạo thành một vòng tròn cảm xúc khép kín khi lặp lại câu thơ “Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người”).
- Về bài bình của Châu Thạch:
Bài bình luận đã làm tròn vai trò của một người “gỡ rối” câu chữ, phân tích sâu các lớp nghĩa triết lý (như thời gian tâm lý, ý nghĩa của chữ “trắng”, chữ “thiên thu”) giúp người đọc không chỉ cảm nhận bài thơ bằng cảm xúc thuần túy mà còn thấy được tư duy nghệ thuật sắc sảo của nhà thơ Trần Trung Đạo.
Kết luận: Bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” thực sự là một nén tâm hương, một tiếng lòng thổn thức của triệu người con xa quê gửi về đấng sinh thành, và qua lời bình của Châu Thạch, giá trị nhân văn và nghệ thuật ấy lại càng được lan tỏa sâu sắc hơn nữa trong lòng người yêu thơ.
Xem link sau:
https://hung-viet.org/a22011/doc-doi-ca-thien-thu-tieng-me-cuoi-tho-tran-trung-dao
Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, Nhạc Võ Tá Hân – Thơ Trần Trung Đạo – Ca sĩ Bảo Yến:
—————
Việt Hải- Văn Học-Vang Bóng Một Thời

Dưới đây là phần tóm tắt và đánh giá về cuốn sách “Văn Học – Vang Bóng Một Thời” của tác giả Việt Hải (tên thật là Trần Việt Hải), dựa trên thông tin và bối cảnh được cung cấp.
1. Tóm tắt tác phẩm
Tên sách: Văn Học – Vang Bóng Một Thời
Tác giả: Việt Hải (Trần Việt Hải)
Tính chất tác phẩm: Đây là tuyển tập các bài tiểu luận, bài phê bình và các bài viết văn học tiêu biểu nhất của tác giả, được đúc kết qua gần ba thập kỷ miệt mài sáng tác và cống hiến cho nghệ thuật.
Chủ đề cốt lõi: Tác phẩm là lời tri ân đầy tâm huyết dành cho nền văn học cổ điển Việt Nam, các cột mốc văn hóa và những nhân vật lỗi lạc của quá khứ. Cuốn sách đóng vai trò cầu nối giữa độc giả đương đại với di sản nghệ thuật, thi ca và triết học sâu sắc của lịch sử Việt Nam, khơi dậy niềm hoài niệm về những thời kỳ hoàng kim của văn chương và nghệ thuật.
2. Đánh giá sách
Chiều sâu và sự uyên bác: Qua từng trang viết, Việt Hải thể hiện sự am hiểu sâu sắc về nghệ thuật, văn hóa và lịch sử văn học Việt Nam. Lối viết của ông không chỉ dừng lại ở việc kể lại lịch sử đơn thuần; ông thổi hồn vào những chủ đề mình phân tích, phản ánh mối gắn kết mật thiết và trải nghiệm thực tế với văn chương.
Sự bền bỉ và niềm đam mê: Điểm ấn tượng đặc biệt của tuyển tập này chính là tinh thần kiên trì bền bỉ ẩn chứa bên trong. Với hành trình sáng tác kéo dài gần ba mươi năm, cuốn sách là minh chứng cho lòng tận tụy không lay chuyển của tác giả đối với cộng đồng văn học Việt Nam cũng như cam kết gìn giữ những ký ức văn hóa giữa dòng chảy thời gian đầy biến động.
Cầu nối ký ức: Bản thân nhan đề “Vang Bóng Một Thời” đã gợi lên phong cách văn xuôi cổ điển Việt Nam đầy cuốn hút và giàu chất thơ (gợi nhớ đến những nhà văn như Nguyễn Tuân). Việt Hải đã thành công trong việc nắm bắt những mảnh ghép tinh tế, thoáng qua của một thời văn chương đã qua, khiến chúng trở nên sống động và gần gũi với độc giả hiện đại – những người luôn trân trọng các giá trị di sản.
3. Điểm đặc sắc và thú vị của cuốn sách
Sự giao hòa giữa lịch sử và tâm hồn: Thay vì những bài phê bình mang tính học thuật khô khan, các bài tiểu luận của Việt Hải mang dáng dấp của những lời tri ân đầy cảm xúc và giàu tính tự sự. Tác giả làm sáng tỏ những sắc thái tinh tế, những dòng chảy cảm xúc ngầm và các giá trị thẩm mỹ ẩn sau cuộc đời cũng như các tác phẩm của những tên tuổi văn học lừng lẫy.
Kho tư liệu sống động về một hành trình sự nghiệp: Nhờ tập hợp các bài viết được chắt lọc trong suốt gần 30 năm, cuốn sách mang đến cho độc giả cơ hội chiêm nghiệm sự trưởng thành trong tư duy của một cây bút đầy tâm huyết đối với văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc Việt Nam.
Trải nghiệm tương tác: Như đã được giới thiệu trên chuyên mục Nhân Văn Nghệ Thuật, cuốn sách hiện diện dưới định dạng “flip-book” (sách lật trang) đầy cuốn hút trên nền tảng trực tuyến (heyzine.com). Định dạng này cho phép độc giả trải nghiệm cảm giác lật từng trang sách sống động như đang cầm trên tay một ấn phẩm giấy, qua đó kết hợp hài hòa giữa nét đẹp thưởng thức văn học truyền thống và sự tiện lợi của công nghệ số hiện đại.

Trần Trung Đạo – Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời
Bài viết “Trần Trung Đạo – Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời” của tác giả Lương Thư Trung (Hai Trầu) đăng trên trang của Trần Thị Nguyệt Mai là một bài tiểu luận, cảm nhận sâu sắc về cuộc đời, hành trình thơ ca và tư tưởng của nhà thơ/cư sĩ Trần Trung Đạo.
Dưới đây là bản phân tích và giải thích chi tiết nội dung, ý nghĩa của bài viết theo từng khía cạnh:
1. Hành trình tuổi thơ gian truân và bóng tối thời cuộc
Tuổi thơ bất hạnh: Bài viết mở đầu bằng việc nhắc đến hoàn cảnh của Trần Trung Đạo – một đứa trẻ sinh ra tại làng Nghi Hạ (Duy Xuyên, Quảng Nam), phải rời xa gia đình và bươn chải giữa đời từ khi mới 14 tuổi.
Vết hằn chiến tranh: Những năm tháng tuổi thơ sống trong khói lửa chiến tranh đã để lại những vết thương lòng sâu sắc trong tâm hồn tác giả:
“Anh bỏ nhà đi năm mươi bốn tuổi / Học lọc lừa từ thuở tóc chưa xanh / Viên đạn nổ xé từng trang sách vở / Trụ đèn khuya thay thế ánh trăng rằm.”
Cuộc đời lưu lạc, bấp bênh và những nỗi đau đầu đời ấy đã trở thành nguồn nguyên liệu chính để ông chắt chiu thành những vần thơ đượm buồn, chân thực và đầy nỗi niềm thao thức.
2. Hình bóng người Mẹ và nỗi nhớ quê hương
Mẹ trong thơ Trần Trung Đạo: Một phần linh hồn trong thơ ông là hình bóng người mẹ nghèo khó, tảo tần, chịu đựng trăm đắng ngàn cay (mẹ bán máu nuôi con, mẹ ở bến sông Thu Bồn, mẹ ngóng con bên kia nửa địa cầu…).
Hình bóng người mẹ không chỉ là hiện thân của sự hy sinh vô bờ bến mà còn là biểu tượng của cội nguồn, của quê hương xứ Quảng xa xôi mà người con lưu vong luôn hướng về với tất cả lòng thành kính và nỗi xót xa:
“Mười năm tóc mẹ màu tang trắng / Trắng cả lòng con lúc nghĩ về.”
Ngay cả khi sống giữa nền văn minh hiện đại ở phương Tây, tâm hồn người con vẫn giữ trọn đạo hiếu, hướng về quê nhà bằng những hình ảnh bình dị nhất như chiếc khăn lụa Duy Xuyên để tiệp màu miếng trầu cay của mẹ.
3. Tinh thần Phật giáo và sự hóa giải khổ đau
Tâm thức từ bi: Trần Trung Đạo là một Phật tử thuần thành từ thuở nhỏ (từng sinh hoạt trong Gia đình Phật tử, gắn bó với cây đa chùa Viên Giác). Ảnh hưởng của đạo Phật thấm đượm vào thơ ông như một phương dược để xoa dịu những nhọc nhằn, bất trắc của kiếp nhân sinh.
Ông nhìn đời qua lăng kính vô thường, nhân quả và luân hồi:
“Ta vẫn biết thế gian là cõi tạm / Tấm thân này cát bụi sẽ về thôi…”
Dù cuộc đời xô đẩy ngã gục, ông không mang lòng oán trách mà chọn cách mỉm cười với thế nhân, dùng lòng từ bi và sự kiên nhẫn để chuyển hóa phiền não, tìm thấy sự bình an trong tâm hồn.
4. Biểu tượng “Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời”
Hình tượng “người tiều phu” và “chiếc lá vàng” là ẩn dụ trung tâm xuyên suốt bài viết:
Chiếc lá vàng tượng trưng cho những mảnh đời bèo giạt, cô đơn, vô định của tha nhân và cũng là hình ảnh phản chiếu chính cuộc đời lưu vong, đau buồn của tác giả (“Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn”).
Người tiều phu là hình ảnh người nghệ sĩ âm thầm, nhẫn nại đi nhặt nhạnh từng nỗi buồn, từng mảnh đời rơi rớt, từng chiếc lá khô của nhân gian để nhóm lên ngọn lửa sưởi ấm tình người:
“Con đi góp lá ngàn phương lại / Đốt lửa cho đời tan khói sương.”
Hành động quét lá, nhặt lá không chỉ là việc làm đơn thuần mà là một sứ mệnh cao đẹp: mang trái tim nhân hậu, chân tình tha thiết để hiến dâng cho đời những vần thơ an ủi, xoa dịu những vết thương lòng trong cõi thế ô trọc.
Tổng kết ý nghĩa bài viết
Bài viết của Lương Thư Trung đã phác họa thành công bức chân dung tinh thần của nhà thơ Trần Trung Đạo: một người thơ mang nặng nỗi đau thời thế, hoài niệm khôn nguôi về mẹ và quê hương, nhưng đồng thời cũng là một tâm hồn từ bi, bao dung. Qua hình ảnh “người tiều phu quét lá”, bài viết tôn vinh những người nghệ sĩ âm thầm dùng văn chương, tình yêu thương và sự đồng cảm để sưởi ấm những cõi lòng lạnh lẽo giữa dòng đời dông bão.
Một ngày trước buổi hẹn tại Lữ Quán Tri Âm, nhà văn Kiều My đã soạn xong hai bài nhạc cho 2 bài thơ tôi nhờ cô lo phần nhạc, Tạ ơn tình em (“Merci pour ton amitié”) và bài thơ tôi ghi tựa Nhớ em thu về (Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne), nhưng Kiều My đặt tên trại đi là Thu về nhớ em. Hai bài thơ lãng mạn này, một bằng tiếng Pháp (“Merci pour ton amitié”) và một phiên bản khác bằng tiếng Việt (“Cảm ơn cuộc đời”)—mang đến cái nhìn sâu sắc về sự giao thoa tinh tế nhưng mạnh mẽ giữa tình yêu lãng mạn và tình bạn sâu sắc (điều mà người Hy Lạp gọi là Philia, gắn bó mật thân thiết đam mê cùng với Eros).
Sau đây là một số ý tưởng nhận định mới về góc nhìn sâu sắc khi nghe những ca khúc trên, được truyền cảm tác từ những bài thơ này, để làm phong phú thêm sự cảm thụ nhận biết qua giác quan nhạy cảm bẫm sinh về tình bạn yêu thương:
Như xét qua trích đoạn từ bài thơ tiếng Pháp: «”e sais que tu es un être humain ; par-dessus tout, j’ai besoin de toi comme ami.” (“anh biết em là con người; trên hết, anh yêu em như một người bạn.”.
Tình bạn yêu thương đích thực vượt lên trên sự lý tưởng hóa lãng mạn. Đó là việc nhận biết những khuyết điểm, quá khứ và thực tế của người kia, và vẫn chọn họ. Lời minh thị cuối vẫn không chỉ đơn giản là “Tôi mến bạn,” mà là “Tôi cần bạn như người bạn tâm đắc đồng hành trung thành nhất trong tôi.”, (“J’ai besoin de toi comme mon compagnon le plus fidèle et le plus loyal.”).
Hãy cùng nhau vượt giông bão như chiếc mõ neo vững bền. (Câu thơ tiếng Pháp: «Quand je suis dans le noir et que j’ai besoin de lumière, ta présence à mes côtés m’apporte la paix intérieure….
Xét nghiệm khi phân tích lời thơ: Hai bài thơ này nhấn mạnh rằng tình bạn yêu thương không chỉ dành cho những ngày nắng đẹp; hay nhiều thử thách và vẻ đẹp thực sự của nó nằm ở việc trở thành ngọn hải đăng trong cơn bão tố. Tình bạn mang đến sự an toàn về mặt cảm xúc, trong khi tình yêu lại mang đến nỗi đắm say, l’amitié sincère n’est pas réservée aux beaux jours ; elle affronte de nombreux défis, et sa véritable beauté réside dans sa capacité à être un phare au milieu des tempêtes. L’amitié offre une sécurité affective, tandis que l’amour offre un dévouement passionné.).
Phân tích tiếp về khái niệm tri kỷ trong văn hóa Việt Nam (người bạn tâm giao thực sự hiểu được con người bên trong bạn) tự nhiên kết nối tình yêu và tình bạn. Tác giả gợi ý rằng các mùa thay đổi – từ xuân sang thu, từ tuổi trẻ như xuân xanh cho đến tuổi già như thu vàng. Nhưng mối liên kết cơ bản vẫn luôn rực rỡ (“mùa xuân xanh”).
Những ca từ vượt thời gian này lột tả trọn vẹn tâm hồn của sự mô tả chân phương sâu sắc, kiên định và bản chất về tình bạn đích thực. Dưới đây là những chia sẻ và góc nhìn về tình yêu đích thực qua lăng kính của ca khúc kinh điển kèm (nổi tiếng với tên gọi “Cuando Calienta el Sol” ( hoặc phiên bản tiếng Anh “Love Me with All Your Heart”). Bài hát thịnh hành trong những buổi tiệc cưới hay dịp lễ Valentine.
Bài tinh ca Love Me with All Your Heart, luận bàn về một tình yêu chân phương, thực sự như về lời cam kết trọn vẹn như được tiểu biểu qua những câu mở đầu, không chấp nhận sự nửa vời hay những tình cảm hời hợt. Nó đòi hỏi sự đầu tư trọn vẹn về mặt cảm xúc. Điều này xác lập một chuẩn mực rằng tình yêu không phải là thú vui nhất thời hay sự tiện lợi tạm bợ, mà phải là một sự lựa chọn đầy tâm huyết.
Về tinh yêu bền vững, sự kiên định qua thời gian và không gian (“Mỗi mùa đông, mùa hè, hay mùa thu”). Lời bài hát nhấn mạnh sự bền bỉ bất chấp mọi mùa trong năm hay khoảng cách địa lý—dù hai người ở gần hay xa cách. Tình yêu đích thực không phai nhạt theo những thay đổi của hoàn cảnh hay thời tiết; nó vẫn luôn vững vàng, kiên cường và trường tồn cùng dòng chảy thời gian.
Về tình yêu vĩnh cửu thay vì nhất thời như “Not just for a moment or an hour” (“Không chỉ trong khoảnh khắc hay một giờ đồng hồ”.
Tình yêu chân phương thữc sự khước từ những rung động thoáng qua. Dù đam mê có thể khởi đầu như một tia lửa, tình yêu đích thực sẽ chuyển hóa ngọn lửa ban đầu ấy thành một trạng thái gắn kết vĩnh cửu như “Just as I have loved you from the very beginning / With every beat of my heart”, (“luôn như cách em yêu anh từ thuở ban đầu / Với từng nhịp đập nơi trái tim em”). Nó hòa quyện vào chính nhịp sống thường nhật của mỗi người.
Tôi vốn chuộng bù khú, tán hươu tán vượn hay tán gẫu phiếm luận trong phong văn tản mạn thi ca hòa quyện vào âm nhạc. Có lẽ tôi vốn thích bay bổng tâm hồn mình trong cõi thi ca và âm nhạc, thử hỏi thi ca Nguyên Sa hay Cung Trầm Tưởng, những thi ca vượt quá khổ lãng mạn tư duy. Đúng chứ?
Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne:
Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne Compositeurs Việt Hải & Kiều My
Thanks For Friendship – Words_ Việt Hải- Music_ Kiều My:
Thanks For Friendship Words Việt Hải Music Kiều My
Merci Pour Ton Amitié – Compositeurs_ Việt Hải & Kiều My:
Merci Pour Ton Amitié Compositeurs Việt Hải & Kiều My
MERCI POUR TON AMITIÉ
Darling, tu es mon meilleur ami ; tu as ta place dans mon cœur.
Nous traversons des hauts et des bas, mais rien ne pourra nous séparer.
Je te considère comme un membre de ma famille, et je veillerai toujours sur toi.
Mon amour, respect et confiance sont ce que nous partageons.
Je te connais en tant que personne ; j’ai surtout besoin de toi comme ami.
Notre amitié est une chose qui ne finira jamais.
En cet instant précis, en ce jour,
Nos liens sont indéfectibles ; notre attachement est là pour durer.
Mon amitié pour toi est unique et sincère.
Quand nous sommes ensemble, nous sommes inséparables.
Quand je suis dans l’obscurité et que j’ai besoin de lumière,
Ta présence à mes côtés me rassure : tout ira bien.ƠN EM MỘT ĐỜI
Cảm ơn em những ân tình
Yêu em yêu mãi trong tim
Báo cơn bão nỗi vẫn tìm nơi em
Duyên tinh nợ kiếp ba sinh
Có em như đã tự tình trong anh
Bên em tri kỷ mộng lành
Tình ta sẽ mãi xuân xanh thu vàng
Giờ đây sánh bước đan tay
Thênh thang cuối phố như mây cuối trời
Yến anh vương vấn bên đời
Lưu tâm lưu luyến nhớ lời thề xưa
Hạ về giông bão trời mưa
Bên nhau mãn kiếp tình vừa trăm năm.
Thank you for your friendship
You are my best friend; you hold a special place in my heart.
We go through ups and downs, but nothing can ever tear us apart.
I consider you family, and I will always look out for you.
We share love, respect, and trust.
I know you as a person, but above all, I need you as a friend.
Ours is a friendship that will never end.
At this very moment, on this day,
Our bond is unbreakable; our connection is built to last.
My friendship with you is unique and sincere.
When we are together, we are inseparable.
When I am in the darkness and need light,
Your presence by my side reassures me: everything will be okay.
NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM VĂN HỌC (TRẦN VIỆT HẢI):
BUỔI RA MẮT TÁC PHẨM CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ VĂN THI SĨ KHÁNH LAN:
Sans Toi Ce Soir Paroles Viet Hai Musique AI Kieu My:
Em, em luôn vẫn là em, my song: Mon Amour, Tu Restes Toi,…
Mon Amour, Tu Restes Toi, Paroles de Việt Hải LA, Musique – Kiều My:
Bonne semaine à toutes et à tous…!

Lời cuối cùng, tình bạn trong hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian họp nhau tại Lữ Quán Tri Âm, Anaheim. Phong cách pocket reunion, dù là bal des amis, hay bal de famille, họp nhau nho nhỏ, nơi chốn be bé, chỉ 12 dến 15 thân hữu như cõi giang san của Nữ sĩ Quỳnh Giao, tôi vốn kiêng kỵ chỗ đông người. C’est selon mes propres goûts.Ce sont mes propres préférences. Ce sont mes choix de bon goût.
VHLA, California 2026

-
NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM
NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM
Trần Việt Hải
Trong ngày Ra Mắt tác phẩm của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Văn Thi Sĩ Khánh Lan tổ chức tại Hội Trường Báo Người Việt ngày 20 tháng 9, 2026. Hai văn thi sĩ đã trình làng 3 tác phẩm mà tôi cho là có giá trị trong lãnh vực văn học. Đó là Tuyển Tập Thi Ca Quê Hương Còn Đó của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và 3 tác phẩm của Văn Thi Sĩ Khánh Lan, gồm Siêu Hình Học, Triết Lý Hiện Sinh và Những Đứa Trẻ Lạc Loài (song ngữ Anh & Việt).

Ba diễn giả được mời trong buổi ra mắt sách là: Giáo Sư Quyên Di, Nhà Văn, Nhà Báo Phạm Quốc Bảo và Thi Sĩ Minh Đức. Cả 3 bài diễn văn đều đem lại những chi tiết quan trọng mà tôi thiết tưởng cần được lưu trữ lại trong kho tàng văn học của chúng ta. Dưới đây là những nhận xét của tôi về 3 tác phẩm ấy cũng như nội dung của 3 bài diễn văn này.
- BÀI DIỄN VĂN THỨ NHẤT CỦA THI SĨ MINH ĐỨC


Nhà văn Minh Đức đảm nhiệm nói về thi tập mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh là Quê Hương Còn Đó, diễn giả đi khái lược về yếu tố Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức nên rất khó quên. Hãy nhận định từ ngữ về vai trò của quê hương qua ba yếu tố sau:
- Quê hương là mảnh đất chúng ta sinh ra, lớn lên, trau đồi bản thân và mang trong mình nhiều ước mơ, khát vọng để giúp đời, giúp người. Mỗi quê hương có nền văn hóa riêng, giao thoa độc đáo của văn hóa từng vùng miền, đóng góp vào đa dạng nền văn hóa của dân tộc. Quê hương là nơi con người trở về sau những khó khăn, mang lại cảm giác thanh thản và yên bình.
- Quê hương không chỉ là nơi chúng ta lớn lên, mà còn là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận được sự thanh thản, yên bình bởi không khí quen thuộc và con người chân chất tại quê hương. Mỗi quê hương mang một bản sắc riêng, nuôi dưỡng tâm hồn con người với sự đa dạng phong phú. Mỗi quê hương cũng có một nền văn hóa riêng. Khi ta trưởng thành, ta mang theo nét đặc trưng của quê hương đi nơi khác, sẽ có sự giao thoa độc đáo giữa các nền văn hóa từng vùng miền, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.
Sự nhớ nhung, suy tưởng miên viễn về quê xưa, ấy là một tình yêu quê hương. Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên và để trở về. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều. Hãy xem thơ ca Dương Hồng Anh:
Tháng Tư nhớ quê hương
Mặt trời đi vắng hôm nay
Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương
Năm mươi năm mấy đoạn trường
Mỗi người có một quê hương riêng, và mỗi quê hương có một bản sắc khác nhau, nuôi dưỡng những tâm hồn con người đa dạng và phong phú. Tình yêu quê hương không phải là tình cảm trừu tượng, nó được biểu hiện rất cụ thể và rõ nét. Thật vậy, quê hương trong miền ký ức của mỗi người có luôn là những gì đơn giản đơn, mộc mạc nhưng cũng đầy thiêng liêng và đẹp đẽ. Tình yêu quê hương không ngọt ngào, trong trẻo tong nét nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng vẫn khiến con người ta phải dâng lên những niềm xúc cảm khôn nguôi, khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người.
Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ sau dây về quê cũ của người. Xem bài:
Mơ Về Hà Nội
Hà Nội ơi! Hà Nội đâu
Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa
Cho thơ nở giữa vườn thơ
Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần
Hướng về cố lý xa xăm
Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ
Tơ đàn xao xuyến hồn thơ
Tình yêu quê hương, đất nước luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người, trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy văn học dân tộc, theo ý nghĩa sâu sắc và thiêng liêng. Quê hương là nơi mỗi con người cất tiếng khóc chào đời, là miền đất đầu tiên nâng bước ta trên hành trình làm người. Trong dòng chảy không ngừng của cuộc sống hiện đại, con người có thể đi rất xa, sống ở nhiều vùng đất khác nhau, nhưng quê hương vẫn luôn hiện diện như một phần máu thịt, âm thầm chi phối suy nghĩ, tình cảm và cách sống của mỗi người. Bởi vậy, vai trò của quê hương đối với cuộc đời con người là vô cùng sâu sắc và bền vững. Tình yêu quê hương không chỉ là nỗi nhớ thầm lặng mà còn là động lực thúc đẩy con người sống có ích. Ý thức về nguồn cội khiến mỗi người biết trân trọng những gì mình đang có và mong muốn đóng góp cho cộng đồng nơi mình sinh ra.
Trong phần phát biểu nữ sĩ Dương Hồng Anh đã đọc bài thơ mới sáng tác, bà cũng nhờ nhà thơ Khánh Lan ngâm giọng Tao Đàn, bài thơ nhu sau:
Nhớ
Mỗi lần cầm bút viết văn
Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa
Chung vui những buổi chiều tà
Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.
Mỗi lần cầm bút viết văn
Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ
Nắng vàng sưởi ấm thành đô
Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.
Mỗi lần cầm bút viết văn
Thư trang vẫn nở những vần thơ say
Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai
Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.
Hồng Anh, Tháng 9, 2026.
Bài thơ “Nhớ” của tác giả Hồng Anh (sáng tác tháng 9/2026) là một khúc thi ca nhẹ nhàng, đong đầy cảm xúc hoài niệm, biểu hiện tình cảm sâu sắc gắn liền với nguồn cảm hứng sáng tác văn chương. Dưới đây là phân tích và cảm nhận chi tiết về thi phẩm:
CHỦ ĐỀ ĐƯỢC NÊU RÕ VÀ NGUỒN CẢM HỨNG SÁNG TÁC

Mạch nối cảm xúc xuyên suốt, bài thi phẩm được mở đầu với một điệp khúc quen thuộc “Mỗi lần cầm bút viết văn”, lặp lại ở đầu mỗi khổ thơ như một nhịp đập thổn thức của trái tim người nghệ sĩ. Đối với tác giả, khoảnh khắc cầm bút không chỉ là lúc lao động nghệ thuật mà còn là cánh cửa mở ra không gian của ký ức và hoài niệm.
Nhắc về đối tượng là nỗi nhớ khôn nguôi. Nỗi nhớ trong bài thơ mang tính đa chiều, bao trùm cả tình bạn thắm thiết (“bạn gần bạn xa”), tình yêu quê hương đất nước, hình ảnh Thủ đô Hà Nội nên thơ, và cả những nỗi lòng xao xuyến, bâng khuâng rất riêng tư trong tâm hồn của bà.
Đi xa hơn khi phân tích chi tiết từng khổ thơ như:
- Khổ 1: Nỗi nhớ bạn bè và tình cảm tri kỷ
Mỗi lần cầm bút viết văn
Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa
Chung vui những buổi chiều tà
Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.
Không gian và thời gian: Thời điểm “chiều tà” thường là lúc con người dễ chùng xuống và hoài niệm nhất.
Nội dung: Tác giả nhớ về những người bạn khắp muôn phương, những buổi tụ họp ấm cúng bên thi ca, âm nhạc. Nghệ thuật đối lập nhẹ nhàng giữa “bạn gần” và “bạn xa” kết hợp với các từ ngữ gợi âm thanh, hình ảnh (họa thơ, nhạc nở, đàn ca) tạo nên một bức tranh kỷ niệm rộn ràng, giàu tính nghệ thuật và sự gắn kết tâm hồn.
- Về Khổ 2 là Nỗi nhớ Hà Nội và vẻ đẹp non sông
Mỗi lần cầm bút viết văn
Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ
Nắng vàng sưởi ấm thành đô
Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.
Không gian địa lý: Từ tình bạn, mạch thơ dịch chuyển về không gian đậm chất trữ tình của Hà Nội với trăng Tây Hồ, thành đô ngập tràn nắng vàng, và biểu tượng thiêng liêng Hồ Gươm xưa. Hình ảnh thơ: Hình ảnh “Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa” mang đậm hồn Việt, vừa duyên dáng, hoài cổ vừa gợi lên sự gắn bó thiết tha giữa con người với mảnh đất nghìn năm văn hiến.
- Và Khổ 3 là Sự thăng hoa của cảm xúc và nỗi lòng lữ thứ
Mỗi lần cầm bút viết văn
Thư trang vẫn nở những vần thơ say
Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai
Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.
Ý nghĩa: Trang giấy trắng lúc này không chỉ ghi lại con chữ mà như “nở” ra những vần thơ say đắm. Trạng thái “bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư” khép lại bài thơ bằng một dư âm lắng đọng, cho thấy tâm hồn nhạy cảm, giàu tình yêu thương của người cầm bút.
XÉT VỀ YẾU TỐ TRÊN CĂN BẢN THI CA NGHỆ THUẬT
Theo thể thơ Thất Ngôn, bảy chữ với nhịp điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, dễ đi vào lòng người, tâm cảm dễ nhớ.
Bài thơ “Nhớ” là sự hòa quyện tuyệt vời giữa tình yêu văn chương và tình cảm con người. Qua những vần thơ mộc mạc nhưng chân thành, Hồng Anh đã thành công trong việc vẽ nên một bức tranh tâm hồn rộng mở, nơi ký ức về tình bạn, về Hà Nội và những rung động sâu kín được thăng hoa trọn vẹn qua ngòi bút.
Phần thu hút sự suy nghĩ của tôi là bài thi ca sau cùng, Hoàng Hôn Nhớ Mẹ. Trong bài thơ mà nhà văn Minh Đức bình luận về Hoàng Hôn Nhớ Mẹ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, thì ông cho rằng tình thương của Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời, nơi ta chôn nhau cắt rún. Mẹ là tiếng nói quê hương, và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương…
Hoàng Hôn Nhớ Mẹ
Hè về cho trái chín cây
Cho hoa vàng nở nhớ ngày xa xưa
Trời trong gió mát hương đưa
Vẳng nghe tiếng hát ban trưa êm đềm
Nắng soi tà áo vai mềm
Ai đi hong nắng, nón nghiêng mây trời
Nhớ xưa dáng mẹ tuyệt vời
Hạ vàng gợi nhớ những lời mẹ ru
Ca dao lời ngọt thiên thu
À ơi! tiếng mẹ hát ru năm nào
À ơi! tiếng hát ngọt ngào
Trôi theo ngày tháng quyện vào giấc mơ
Mây Tần xao xuyến hồn thơ
Hoàng hôn nhớ mẹ – ngẩn ngơ dáng chiều.
Những vần thơ trong bài “Hoàng Hôn Nhớ Mẹ” trên, thì cùng câu nói đầy xúc động “Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời; Mẹ là tiếng nói quê hương, Và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương…” đã chạm đến những góc sâu kín và thiêng liêng nhất trong tâm hồn mỗi con người. Đó không chỉ là sự tưởng nhớ đấng sinh thành, mà còn là sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa tình mẫu tử và hồn thiêng sông núi.
Mẹ là quê hương và bến đỗ bình yên của cội nguồn, là nơi chôn rau cắt rún. Quê hương còn dó không chỉ là khoảng không gian địa lý với những lũy tre làng, cánh đồng lúa hay con đê nhỏ, mà quê hương hóa thân trọn vẹn trong hình bóng của Mẹ. Mẹ chính là nhân chứng đầu tiên của cuộc đời ta, là bến bờ đầu tiên ta chạm tới khi cất tiếng khóc chào đời.
Quê hương còn dó là không gian che chở cho ta, dù ta có đi đến phương trời nào, chỉ cần nghĩ về Mẹ là nghĩ về sự an yên tuyệt đối. Mẹ là gốc rễ, là nơi chốn dung dưỡng tâm hồn ta lớn khôn. Quê hương còn đó là tiếng nói và ngôn ngữ yêu thương của lòng mẹ
- Lời ru nghìn năm: Như bài thơ đã hoài niệm qua câu “Ca dao lời ngọt thiên thu. À ơi! tiếng mẹ hát ru năm nào”, tiếng mẹ ru chính là tiếng nói đầu tiên dạy ta cảm nhận thế giới. Đó không chỉ là âm thanh, mà là thứ ngôn ngữ thuần khiết nhất của tình yêu thương, vượt qua mọi rào cản thời gian và không gian.
- Ngôn ngữ không lời, do tình yêu của mẹ đôi khi không nằm ở lời hoa mỹ, mà hiện hữu qua “tà áo vai mềm”, qua “nón nghiêng mây trời”, qua giọt mồ hôi nhọc nhằn và sự hy sinh thầm lặng suốt năm tháng cuộc đời.
Quê hương còn đó cho ta: Nỗi nhớ hoàng hôn và nỗi niềm khắc khoải qua những Khoảnh khắc giao mùa và lòng người, bài thơ trưng dẫn đã mở ra bằng khung cảnh mùa hè rực rỡ “trái chín cây”, “hoa vàng nở”, nhưng rồi tất cả lại lặng lẽ khép lại trong ánh chiều tà “Hoàng hôn nhớ mẹ – ngẩn ngơ dáng chiều”. Hoàng hôn là thời điểm lòng người dễ chùng xuống nhất. Khi ánh nắng ngày tàn buông xuống, nỗi cô đơn và niềm khao khát được trở về bên mẹ lại trào dâng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
- Sự bất tử của tình mẫu tử: Thời gian có thể cuốn trôi mọi thứ, khiến tuổi xuân của mẹ phai tàn theo năm tháng, nhưng hình bóng tuyệt vời của mẹ và những khúc ca dao ngọt ngào ấy vẫn mãi “quyện vào giấc mơ”, trở thành hành trang tinh thần theo ta suốt cuộc đời.
Tóm lại, tình thương của Mẹ là bản giao hưởng đẹp đẻ nhất của cuộc đời, nơi dung chứa cả sự bao dung, hy sinh và nguồn cội. Dù mai này có đi đâu xa, mỗi chúng ta vẫn luôn tìm thấy đường về nhà, bởi vì trong trái tim ta – Mẹ mãi mãi là quê hương.
Những vẫn thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh cảm ác thực sự chạm đến sâu thẳm tâm can của bất kỳ ai từng có mẹ, từng lớn lên từ nôi quê nghèo khó mà đong đầy nghĩa tình. Sự hòa quyện giữa hình ảnh “Mẹ” và “Quê hương” không chỉ là một nghệ thuật ẩn dụ quen thuộc trong văn học Việt Nam, mà nó còn là một thứ đạo lý tâm linh, một cội nguồn thiêng liêng nhất của mỗi con người.

Nữ Sĩ Dương Hồng Anh & Văn Thi Sĩ Khánh Lan
Thi ca Dương Hồng Anh vốn sâu sắc về bức tranh tuyệt đẹp như miêu tả bên trên:
Mẹ là cội nguồn sinh dưỡng và là tiếng nói yêu thương, bởi Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời / Mẹ là tiếng nói quê hương, / Và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương,… Quê hương và Mẹ vốn là hai khái niệm hòa quyện vào nhau.
Mẹ là linh hồn của quê hương. Một khi thiếu vắng mẹ, quê hương dẫu có đầy đủ cũng hóa thành hoang lạnh, xa xôi. Có mẹ, có quê hương mới thực sự là “nơi chốn chôn rau cắt rún”, là nơi bình yên nhất để mỗi khi bão giông cuộc đời vây quanh, xô đẩy, những người con tha phương lại khao khát được quay về.
Quê hương còn đó nêu lên sự thể khi cuộc đời dẫu có “nổi trôi” bao nhiêu dặm trường, con người ta có thể già đi, đến tóc bạc da mồi, nhưng hình bóng của Mẹ và quê hương vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn. Đọc những vần thơ Dương Hồng Anh để cho ta thấu hiểu nhiều thêm, thêm xót xa và biết thêm ơn nghĩa vô ngần trước công ơn sinh thành, dưỡng dục lớn lao như trời biển của Mẹ.
- BÀI DIỄN VĂN THỨ HAI CỦA GIÁO SƯ QUYÊN DI


QUYÊN DI (Đăng nguyên bài)
GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN
Trước hết, cho phép tôi được nói đôi lời chân thật về chính mình.
Khi còn là học sinh lớp Đệ Nhất và rồi sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có may mắn được học Triết Tây với những vị giáo sư mà tên tuổi đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống trí thức miền Nam: Linh mục Trần Văn Hiến Minh, Linh mục Trần Đức Huynh, Linh mục Lê Tôn Nghiêm, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Trần Bích Lan… Tôi cũng được học Triết Đông với cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Linh mục triết gia Kim Định và một số vị thầy đáng kính khác.
Những năm tháng ấy, tôi cảm thấy mình giống như con chim chích bay vào một khu rừng mênh mông. Trước mắt tôi là biết bao kỳ hoa dị thảo của tư tưởng nhân loại: Socrates, Plato, Aristotle, Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Thánh Augustine, Descartes, Kant, Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger, Sartre, Camus, François Sagan… Tôi ngắm nhìn, say mê, thưởng thức và cố gắng tìm hiểu. Nhưng thú thật, càng đi sâu vào khu rừng triết học, tôi càng nhận ra sự mênh mông của nó. Tôi đã nhìn thấy nhiều con đường, nhưng không phải lúc nào cũng biết con đường nào sẽ đưa mình ra khỏi khu rừng ấy.
Bây giờ tuổi đã cao, khi đọc hai công trình biên khảo của nhà văn Khánh Lan, một công trình về triết học hiện sinh và một công trình về siêu hình học, tôi lại có dịp trở về với những câu hỏi mà thời sinh viên từng làm tôi say mê, bối rối và nhiều khi hoang mang. Điều đáng mừng là lần này, tôi không còn đọc với tâm thế của một sinh viên đang cố ghi nhớ những khái niệm khó khăn, mà đọc như một người đã đi qua nhiều năm tháng của cuộc đời, từng chứng kiến những đổi thay của con người, xã hội và thời đại.
Và thật bất ngờ, qua cách trình bày của Khánh Lan, tôi nhận ra một số điều tưởng đã quen thuộc nhưng trước đây chưa chắc mình đã nhìn thấy đầy đủ. Có những khái niệm từng nằm yên trong sách vở, nay bỗng liên hệ với đời sống. Có những câu hỏi triết học tưởng như xa xôi, nay lại trở thành những câu hỏi rất gần gũi: Tôi là ai? Tôi đang sống như thế nào? Tôi có thật sự tự do không? Tôi có trách nhiệm ra sao về những lựa chọn của mình? Thực tại là gì? Con người có thể hiểu được thế giới đến đâu? Và cuộc đời có ý nghĩa gì trước cái chết?
Đó cũng là lý do tôi rất vui hôm nay được giới thiệu cùng quý vị hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan.

Tác phẩm thứ nhất là Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng. Tác phẩm thứ hai là Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình. Hai cuốn sách có thể được đọc riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một cuộc đối thoại khá tự nhiên. Nếu siêu hình học đặt ra những câu hỏi căn bản về tồn tại, thực tại, con người và thế giới, thì triết học hiện sinh đưa những câu hỏi ấy trở lại với đời sống cụ thể của từng cá nhân.
Nói một cách giản dị, siêu hình học thường hỏi: Cái gì là thực tại? Tồn tại có nghĩa là gì? Con người là gì? Thế giới được cấu tạo như thế nào? Còn triết học hiện sinh hỏi thêm: Con người đang sống thế nào trong thế giới ấy? Con người có quyền lựa chọn hay không? Tự do đem lại hạnh phúc hay lo âu? Chúng ta phải có trách nhiệm thế nào về đời sống của mình?
Trong Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Khánh Lan bắt đầu từ lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, từ những tiền đề xa xưa trong tư tưởng Socrates, Montaigne, Pascal, rồi đi đến Kierkegaard và Nietzsche, những người thường được xem là đã đặt nền tảng quan trọng cho tư tưởng hiện sinh. Từ đó, tác giả trình bày sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỷ XX qua những tên tuổi như Husserl, Heidegger, Sartre, Camus và nhiều nhà tư tưởng khác.
Một ưu điểm dễ nhận thấy của cuốn sách là Khánh Lan không xem chủ nghĩa hiện sinh chỉ như một hệ thống lý thuyết khép kín. Cô cố gắng cho người đọc thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh nảy sinh từ những khủng hoảng rất thật của con người: nỗi cô đơn, sự lo âu, cảm giác phi lý, sự sợ hãi trước cái chết, sự mất phương hướng, nhu cầu được sống chân thật và khát vọng tự quyết định đời mình.
Khi trình bày quan niệm của Sartre rằng sự hiện hữu có trước bản chất, tác giả giúp người đọc hiểu rằng con người không phải là một vật thể đã được định nghĩa hoàn toàn từ trước. Con người được hình thành qua những lựa chọn, những hành động và trách nhiệm của chính mình. Tự do trong triết học hiện sinh vì thế không phải là một món quà dễ chấp nhận. Tự do cũng là một gánh nặng, bởi khi được tự do lựa chọn, con người không thể hoàn toàn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho xã hội hay cho người khác.
Đây là một điểm rất đáng quý trong cách Khánh Lan tiến đến với chủ nghĩa hiện sinh. Cô không chỉ nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân, mà còn gắn tự do với trách nhiệm. Con người được tự do, nhưng không được sống một cách tuỳ tiện. Con người có quyền chọn lựa, nhưng mỗi lựa chọn đều tạo nên một phần con người mình và ảnh hưởng đến những người chung quanh.
Khánh Lan cũng dành sự quan tâm thích đáng đến sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật. Qua văn chương, những khái niệm như phi lý, hư vô, cô đơn, tự do, tuyệt vọng hay tính chân thực không còn là những thuật ngữ khô khan. Chúng trở thành những nhân vật, những số phận, những cuộc đối thoại, những bi kịch nội tâm và những lựa chọn đau đớn của con người.
Văn học giúp cho triết học có một gương mặt cụ thể. Một ý niệm trừu tượng có thể trở nên dễ hiểu hơn khi nó được thể hiện qua một nhân vật đang yêu, đang đau khổ, đang sợ hãi, đang phản kháng hoặc đang phải quyết định giữa hai con đường. Qua cách trình bày này, Khánh Lan cho thấy văn chương không chỉ minh hoạ cho triết học. Văn chương còn là một hình thức suy tư bằng hình tượng, bằng cảm xúc và bằng đời sống.
Nhân đề cập đến triết học hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn chương, tôi nghĩ nên nhắc đến Françoise Sagan, một nhà văn nữ người Pháp đã để lại dấu ấn đặc biệt đối với thế hệ chúng tôi. Sagan không viết những khảo luận triết học, cũng không trình bày chủ nghĩa hiện sinh bằng những hệ thống khái niệm phức tạp. Bà đưa cảm thức hiện sinh vào những điều rất gần gũi: tuổi trẻ, tình yêu, gia đình, sự buồn chán, khát vọng tự do và những lựa chọn riêng tư của con người.
Qua Bonjour tristesse, người đọc gặp một thế giới tưởng như nhẹ nhàng, thanh lịch và phóng túng, nhưng bên dưới bề mặt ấy là những câu hỏi nghiêm chỉnh về tự do, trách nhiệm và hậu quả của hành động. Nhân vật của Sagan muốn sống theo ý mình, nhưng càng tìm cách thoát khỏi những ràng buộc đạo đức, họ càng phải đối diện với sự bất an và mặc cảm. Ở đó, chủ nghĩa hiện sinh không hiện ra như một bài học lý thuyết, mà như một kinh nghiệm sống.
Sagan đã làm cho nhiều người trẻ nhận ra rằng tự do không chỉ là được làm điều mình muốn. Tự do còn là phải sống với kết quả của điều mình đã chọn. Có lẽ vì thế, văn chương của bà đã ảnh hưởng rộng rãi đến thế hệ chúng tôi. Sagan nói bằng một giọng văn nhẹ, lạnh, đôi khi tưởng như dửng dưng, nhưng phía sau sự nhẹ nhàng ấy là một cái nhìn khá sâu sắc về sự cô đơn và trách nhiệm của con người hiện đại.
Nếu Sartre đem chủ nghĩa hiện sinh vào triết học, Camus đem nó đến với cảm thức phi lý, thì Françoise Sagan đưa nó vào đời sống tình cảm và tâm lý của tuổi trẻ. Bà chứng minh rằng những câu hỏi triết học lớn đôi khi không xuất hiện trong giảng đường, mà xuất hiện trong một mái nhà, một cuộc tình, một sự phản bội, một nỗi buồn hay một quyết định tưởng như rất riêng tư.
Trở lại Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng, một điểm khác cũng đáng ghi nhận là tác giả không né tránh những chỉ trích đối với chủ nghĩa hiện sinh. Bên cạnh việc trình bày những đóng góp của dòng tư tưởng này, cô cũng nhắc đến những quan điểm cho rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thái độ bi quan hoặc sự khinh miệt lý trí. Việc dành chỗ cho những ý kiến ngược chiều giúp tác phẩm có thêm chiều rộng, bởi tư tưởng chỉ thật sự sống động khi nó được đặt trong đối thoại và tranh luận.
Phần Khánh Lan viết về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh cũng mở ra một hướng suy nghĩ đáng chú ý. Tôn giáo ở đây không chỉ được nhìn như một hệ thống điều răn từ bên ngoài, mà còn như một kinh nghiệm nội tâm, một cuộc gặp gỡ giữa con người với ý nghĩa tối hậu của đời sống. Câu hỏi về Thiên Chúa, đức tin, tự do và trách nhiệm được đặt trong mối quan hệ với một con người đang hiện hữu, đang chọn lựa và đang chịu trách nhiệm về chính mình.
Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu về quyển sách thứ hai của Khánh Lan. Nếu cuốn sách về triết học hiện sinh giúp người đọc nhìn sâu vào đời sống của cá nhân, thì Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình lại đưa chúng ta trở về với những câu hỏi rộng lớn hơn về thực tại và tồn tại.
Trong phần mở đầu, Khánh Lan khởi đi từ những câu hỏi tưởng như rất đơn giản nhưng không dễ trả lời: Thế giới mà chúng ta đang sống thực sự là gì? Con người hiện hữu trong thế giới ấy với tư cách nào? Thực tại có tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta hay không? Có điều gì còn tiếp diễn sau cái chết?
Đó là những câu hỏi mà triết học đã theo đuổi từ thời cổ đại cho đến hiện nay. Và trong thời đại của AI – trí tuệ nhân tạo, thực tại ảo, những mô hình mô phỏng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, những câu hỏi ấy lại càng trở nên cấp thiết. Ranh giới giữa cái thật và cái dường như thật, giữa con người và máy móc, giữa ý thức và vật chất, giữa đời sống thực và đời sống ảo ngày càng trở nên phức tạp.
Khánh Lan có công trong việc trình bày siêu hình học như một lãnh vực không phải chỉ dành cho những triết gia chuyên nghiệp. Siêu hình học hiện diện ngay trong những điều chúng ta tin tưởng, trong cách chúng ta hiểu về con người, tự do, đạo đức, trách nhiệm, sự sống và cái chết. Mỗi người, dù có ý thức hay không, đều mang trong mình một quan niệm nào đó về thế giới. Quan niệm ấy âm thầm ảnh hưởng đến cách ta lựa chọn, hành động và đánh giá đúng sai.
Cuốn sách lần lượt giới thiệu siêu hình học cơ bản, lịch sử phát triển của siêu hình học từ thời cổ đại đến hiện đại, những khái niệm như tồn tại, hiện hữu, thực tại, bản chất, nguyên nhân và tự do. Tác giả cũng cố gắng đưa siêu hình học đến gần hơn với những lãnh vực cụ thể như khoa học pháp lý, văn học, đời sống, Phật học, đạo đức học và tâm lý học.
Đây là điểm đáng khen của công trình biên khảo. Khánh Lan không để siêu hình học đứng yên trong thế giới của những khái niệm trừu tượng. Cô tìm cách cho thấy những nền tảng siêu hình học có thể ảnh hưởng đến cách một xã hội xây dựng luật pháp, cách con người hình thành quan niệm đạo đức, cách chúng ta nhìn về tâm trí, thân thể, ý thức và bản chất con người.
Đặc biệt, phần nối kết giữa siêu hình học và văn học có nhiều ý nghĩa đối với người đọc yêu văn chương. Triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lập luận. Văn học lại cho phép chúng ta đi vào những vấn đề ấy qua nhân vật, câu chuyện, hình tượng và cảm xúc. Một tác phẩm văn học lớn thường không cần trực tiếp giảng giải về bản thể, nhưng vẫn có thể khiến người đọc tự hỏi mình là ai, vì sao mình đau khổ, thế nào là một đời sống có ý nghĩa và con người phải sống ra sao trước giới hạn của thời gian.
Việc Khánh Lan đặt Phật học vào cuộc đối thoại với siêu hình học phương Tây cũng cho thấy một nỗ lực mở rộng tầm nhìn. Phật học không chỉ được trình bày như một hệ thống tín ngưỡng, mà còn như một con đường nhận thức và chuyển hoá nội tâm. Ở đó, hiểu biết không tách rời đời sống; tư tưởng không tách rời sự tu dưỡng; nhận thức không chỉ nhằm giải thích thế giới mà còn nhằm làm vơi bớt khổ đau.
Chương viết về đạo đức và luân lý tiếp tục làm rõ một mối quan hệ quan trọng: cách chúng ta hiểu về thực tại và con người sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta sống. Nếu xem con người là một hữu thể có tự do, quan niệm của chúng ta về trách nhiệm sẽ khác. Nếu xem con người chỉ như một bộ máy bị chi phối hoàn toàn bởi vật chất và hoàn cảnh, quan niệm của chúng ta về đạo đức cũng sẽ khác.
Phần viết về tồn tại và thời gian, về cái chết như một điều kiện làm cho đời sống có ý nghĩa, cũng đem lại nhiều suy nghĩ. Chính vì đời người hữu hạn, mỗi khoảnh khắc mới trở nên quý giá. Chính vì con người biết mình sẽ chết, con người mới phải tự hỏi mình đã sống thế nào và còn muốn làm gì trong phần đời còn lại.
Ở cuối sách, khi trở về với Socrates, Plato và Aristotle, Khánh Lan như muốn nhắc người đọc rằng mọi cuộc hành trình triết học, dù đi qua bao nhiêu thế kỷ, cuối cùng vẫn trở về với những câu hỏi căn bản của con người: thế nào là chân lý, thế nào là đời sống tốt đẹp, thế nào là công bằng và con người phải sống ra sao trong cộng đồng.
Tôi không nghĩ Khánh Lan viết hai cuốn sách này để đưa ra những câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề lớn của triết học. Chính tác giả cũng ý thức rằng những câu hỏi về tồn tại, thực tại, tự do, đức tin, đạo đức và ý nghĩa đời sống không thể được giải quyết một lần cho tất cả.
Giá trị của hai công trình biên khảo này nằm ở chỗ chúng mở ra một không gian suy nghĩ. Chúng giúp người đọc bước vào triết học bằng những câu hỏi gần gũi, rồi từ đó đi dần đến những vấn đề rộng lớn hơn. Chúng cũng cho thấy một nhà văn, với năng lực cảm nhận đời sống và văn chương, có thể đưa những tư tưởng khó khăn đến gần hơn với người đọc phổ thông.
Khánh Lan thuộc lớp những cây bút đang tiếp tục học hỏi và tìm kiếm con đường riêng của mình. Hai tác phẩm này cho thấy ở cô một niềm say mê đáng quý đối với triết học, một ý thức muốn chia sẻ tri thức và một nỗ lực kết nối giữa tư tưởng với đời sống. Trong một thời đại mà con người thường bị cuốn vào tốc độ, tiện nghi và những tin tức cô đọng, ngắn ngủi, việc có một người chịu khó dừng lại trước những câu hỏi lớn đã là một điều đáng trân trọng.
Tôi xin chúc mừng nhà văn Khánh Lan đã hoàn thành hai công trình nhiều tâm huyết này. Mong rằng quý độc giả sẽ đón nhận Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng và Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình như những lời mời gọi bước vào một cuộc trò chuyện sâu sắc về con người và thế giới.
Và tôi cũng mong rằng, sau khi đọc hai cuốn sách, mỗi chúng ta sẽ có lúc biết dừng lại để tự hỏi: Tôi đang sống như thế nào? Tôi có đang sống thật với chính mình không? Những lựa chọn của tôi đã đem lại điều gì cho bản thân và cho người khác? Tôi đang tìm kiếm điều gì trong cuộc đời hữu hạn này?
Có lẽ, đó chính là lúc triết học không còn nằm yên trên trang sách. Nó bước vào đời sống, đi vào tâm hồn và bắt đầu làm thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới, nhìn người khác và nhìn chính mình.
Xin trân trọng giới thiệu hai tác phẩm biên khảo về triết học của nhà văn Khánh Lan cùng quý vị.
Phần luận bàn về phạm trù tư tưởng học do GS. Quyên Di giới thiệu, xin xem những link sau đây. Tóm lược và nhận định hai tác phẩm triết học là:
Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Lưu Khánh Lan:
https://heyzine.com/flip-book/a34a864bea.html#page/236
Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình, Lưu Khánh Lan:
https://heyzine.com/flip-book/d99de8b9be.html#page/20
- BÀI DIỄN VĂN THỨ BA CỦA NHÀ VĂN, NHÀ BÁO PHẠM QUỐC BẢO

Với diễn giả GS. Phạm Quốc Bảo khi bàn về tác phẩm Những Đứa Trẻ Lạc Loài của nhà văn Khánh Lan. Ông nói
Tôi vẫn suy tưởng sau cuộc chiến tại Việt Nam, nay đã thấm thoát hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ tháng Tư, năm 1975, nhưng những vết hằn của lịch sử và nỗi đau ly hương vẫn là một phần nặng trĩu trong tâm khảm của những người con xa xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, việc Khánh Lan giới thiệu tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” cùng ca khúc “Kiếp Lạc Loài” (sáng tác: Phạm Thái, phổ thơ Phạm Thái) thực sự là một nén tâm hương đầy ý nghĩa để tưởng nhớ và chia sẻ nỗi trăn trở.
Dưới đây là một số cảm nhận và bình luận chi tiết về cấu trúc 3 phần của tác phẩm cũng như điểm nhấn mạnh độc đáo của dự án nghệ thuật này:
- Điểm nhấn về nội dung và cấu trúc tác phẩm
- Phần I: Hồi ký “Những đứa trẻ lạc loài”
Cảm nhận: Đây là phần mang tính cá nhân và xúc động sâu sắc nhất khi chạm trực tiếp vào số phận của một đứa trẻ lai bị bỏ lại sau chiến tranh. Những mảnh đời “con lai” từng phải gánh chịu định kiến, sự thiếu vắng tình thương và muôn vàn trắc trở trên chính quê hương mình. Hồi ký không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là tiếng lòng đại diện cho cả một thế hệ sinh ra trong nghịch cảnh chiến tranh.
- Phần II: Số phận qua chương trình Babylift và Homecoming Act
Cảm nhận: Tác phẩm mở rộng lăng kính để nhìn nhận về những ngã rẽ khác nhau của các em bé được đưa đi theo chiến dịch Babylift (1975) hay những người con lai lớn lên tìm đường định cư nhờ Đạo luật Hồi hương (Amerasian Homecoming Act). Dù có cơ hội bước ra thế giới rộng lớn hơn, hành trình tìm kiếm cội nguồn, đối diện với khủng hoảng bản sắc và nỗi đau mất mát gốc gác vẫn luôn là vết thương khó lành.
- Phần III: 50 năm nhìn lại vận mệnh đất nước
Cảm nhận: Khép lại tác phẩm bằng cái nhìn tổng quan sau 50 năm, phần này mang chiều sâu chiêm nghiệm của thời gian. Đó là sự giao thoa giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; là nỗi niềm trăn trở về những gì đã xảy ra cho quê hương, đất nước và sự kiên cường vươn lên của những kiếp người viễn xứ.

- Sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và công nghệ
Ca khúc song ngữ “Kiếp Lạc Loài” và “The Forsaken Life” của NS Phạm Thái là một bước thử nghiệm rất đáng chú ý khi toàn bộ phần hình ảnh, giọng hát và hòa âm đều được thực hiện thông qua công nghệ AI dựa trên lời thơ của anh Phạm Thái. Trên sân khấu ca sĩ Thụy Lan chuyển tải bài nhạc, phần Hòa âm và trong youtube clip ban đầu do giọng hát AI. Ca khúc mang lại màu sắc hoài niệm, da diết, tái hiện thành công nỗi cô đơn và khát vọng tìm về nguồn cội của những đứa trẻ lạc loài.
Tóm lại, tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” và ca khúc “Kiếp Lạc Loài” không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật tưởng niệm tháng Tư Đen, mà còn là một thông điệp nhân văn sâu sắc về lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và hàn gắn những vết thương chiến tranh.
Diễn giả Phạm Quốc Bảo nêu ra sự tương quan liên hệ về xã hội Mỹ vẫn có những tuổi thơ, những trẻ em lạc loài, bơ vơ cần sự giúp đỡ. Vì dây là vấn nạn nhân văn xã hội. Về tác giả Khánh Lan thì trong nội dung sách gồm 3 phần của tác phẩm này được soạn khá kỹ, một khi những chia sẻ của mình có thể đồng điệu với góc nhìn sâu sắc và đầy tính nhân văn của chủ đề. Ví dụ như những suy tư, những trăn trở về gia đình, cộng đồng và số phận con người qua các tác phẩm văn nghệ, thi ca luôn mang một sức sống mãnh liệt, giúp chúng ta xích lại gần nhau hơn trong cuộc sống viễn xứ này.
Điểm chú ý tiểu thuyết xã hội này được soạn lại do việc biên khảo dữ liệu trên liên mạng internet, do sự thực, tiểu thuyết “Những đứa trẻ lạc loài có 2 phiên bản là một ấn bản Việt Ngữ và một về phiên bản Anh Ngữ, tức hai cuốn.

CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ
Sau giờ văn học là chương trình phụ diễn văn nghệ. Tôi chú ý đôi song ca Minh Thư và Thúy Giao song tấu guitar và ca một medley gồm nhiều bài liên khúc như “Take Me Home, Country Road” của John Denver. Tôi nhớ câu chuyện ra đời của bài hát này.
Đây là bài hát kiểu kinh điển. “Take Me Home, Country Roads” của John Denver ra mắt năm 1971, tức là đã hơn năm thập kỷ trôi qua. Bài hát nằm trong album Poems, Prayers & Promises của ông. Ban đầu, bài hát được viết bởi Bill Danoff và vợ ông, Taffy Nivert, dành cho Johnny Cash. Tuy nhiên, khi John Denver nghe về bài hát này, ông rất hào hứng và đề nghị giúp hoàn thiện nó. Ông thích bài hát đến nỗi quyết định đưa nó vào album của mình.
Điều thú vị là John Denver không đến từ Tây Virginia, và cả Danoff lẫn Nivert đều chưa từng đến tiểu bang này trước khi viết bài hát. Trên thực tế, nguồn cảm hứng cho bài hát đến từ một tiểu bang khác. Đây là câu chuyện về cách một bài hát chiếm được trái tim của Tây Virginia trở thành một tác phẩm âm nhạc kinh điển.
Vào cuối năm 1970, Danoff và Nivert đang lái xe đến một buổi họp mặt gia đình ở Quận Montgomery, Maryland. Để chuyến đi dài trở nên thú vị hơn, họ bắt đầu sáng tác một bài hát về những con đường quê. Họ sớm nhận ra rằng từ “Maryland” không hoàn toàn phù hợp với giai điệu mà họ đã hình dung. Danoff sau đó nghĩ đến việc sử dụng “Massachusetts”, nhưng cuối cùng quyết định chọn “West Virginia” vì nó dường như phù hợp với bài hát hơn. Mặc dù Danoff chưa từng đến West Virginia, anh ấy tưởng tượng nơi đó có những ngọn núi tuyệt đẹp và những con đường quanh co. Anh ấy nghĩ về nó như một nơi xa xôi và gần như kỳ diệu. “Tôi cảm thấy West Virginia xa xôi và kỳ lạ đối với tôi như châu Âu vậy,” Danoff nói.
Vào thời điểm đó, Danoff và Nivert là những nhạc sĩ đang chật vật với ước mơ viết một bài hát ăn khách cho những nghệ sĩ nổi tiếng hơn. Cơ hội lớn của họ đến khi họ biểu diễn tại một câu lạc bộ tên là Cellar Door ở Georgetown, Washington, D.C., nơi họ mở màn cho John Denver. Sau màn trình diễn, họ đã chơi bài “Take Me Home, Country Roads” cho Denver nghe. Ông ấy ngay lập tức ấn tượng và yêu thích bài hát. Ba người họ đã thức cả đêm, cùng nhau hoàn thiện bài hát cho đến khi nó hoàn hảo. John Denver lần đầu tiên trình diễn bài hát này tại Cellar Door vào ngày 30 tháng 12 năm 1970. Khán giả đã vô cùng xúc động và dành cho ông tràng vỗ tay kéo dài năm phút. Danoff nhớ lại: “Khi chúng tôi lần đầu tiên cùng nhau hát bài hát này, cảm giác như tiếng vỗ tay sẽ không bao giờ dứt. Phản ứng của khán giả cho chúng tôi biết rằng chúng tôi đang sở hữu một điều gì đó đặc biệt.”
Medley còn có ca khúc như “500 Miles” là ca khúc trở nên phổ biến tại Hoa Kỳ và Tây Âu trong phong trào hồi sinh nhạc dân gian vào thập niên 1960. Lời ca giản dị và mang tính lặp lại của bài hát biểu hiện nỗi niềm của một lữ khách đang ở xa nhà, cạn kiệt tiền bạc và cảm thấy quá xấu hổ để quay trở về. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 5 năm 1963 trên chương trình *Folk Music Worldwide*, Paul Stookey – thành viên nhóm Peter, Paul and Mary – đã mô tả ca khúc này (vốn nằm trong album đầu tay ra mắt năm 1962 của nhóm) là “sự phản ánh nỗi cô đơn”.
Và bài ca “The Sound of Silence” (tên gốc là “The Sounds of Silence”) là một ca khúc của bộ đôi nhạc folk rock người Mỹ Simon & Garfunkel, do Paul Simon sáng tác. Buổi thử giọng tại phòng thu của cặp song ca này đã dẫn đến việc ký kết hợp đồng thu âm với hãng đĩa Columbia Records. Vào năm 1965, bài hát bắt đầu được phát sóng trên các đài phát thanh tại Boston và khắp bang Florida. Sự gia tăng tần suất phát sóng đã thôi thúc Tom Wilson, một nhà sản xuất của ca khúc – thực hiện bản phối âm lại (remix). Bản phối âm lại này đã vươn lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong tuần lễ kết thúc vào ngày 1 tháng 1 năm 1966, khiến bộ đôi tái hợp và nhanh chóng thu âm album thứ hai; Columbia đã đặt tên album này là *Sounds of Silence* nhằm tận dụng sức hút từ thành công của ca khúc.
Tôi lắng nghe tiếp ca sĩ Kim Đức diễn tả bài ca “Paris, tu m’as pris dans tes bras” của Enrico Macias, ông là một ca sĩ nổi tiếng người Pháp gốc Algeria, được biết đến với bài hát “Paris, tu m’as pris dans tes bras” (Paris, tu m’as pris dans tes bras), phản ánh mối liên hệ sâu sắc về mặt cảm xúc của ông với thành phố Paris. Bài hát khắc họa chủ đề tình yêu và nỗi nhớ, thể hiện sự pha trộn độc đáo giữa ảnh hưởng âm nhạc Pháp và Địa Trung Hải trong âm nhạc của Macias.
Tổng quan về Enrico Macias và bài hát của ông Âm nhạc của Enrico Macias thường đan xen những câu chuyện cá nhân và văn hóa. còn về tiểu sử, Enrico Macias, tên thật là Gaston Ghrenassia, sinh năm 1938, lớn lên ở Algeria và trở thành một nhân vật nổi bật trong làng nhạc Pháp sau khi chuyển đến Pháp do bất ổn chính trị.
Khi Enrico Macias muốn có thêm một bài hát về Paris, thành phố đã chào đón ông sau khi ông buộc phải rời Algeria vì lý do chính trị vào ngày 29 tháng 7 năm 1961, vào kho nhạc của mình. Vì vậy, ngay từ đầu năm 1964, Enrico Macias đã móc liên lạc với Jean Peigné, giám đốc chương trình tại Europe 1 và là người viết lời bài hát không thường xuyên. Peigné từng viết lời cho Jean-Claude Pascal, Charles Aznavour, Les Djins Sisters, Pascal Danel và Mireille Mathieu.
Ban đầu, Jean Peigné nói với ông rằng để viết một bài hát về Paris, bạn phải sinh ra ở đó. Ông nói thêm rằng đã có rất nhiều bài hát về thủ đô nước Pháp (của Francis Lemarque, Charles Trenet, Mick Micheyl, Charles Aznavour và những người khác).
Nhưng Enrico không quan tâm và vẫn kiên trì. Và vì ông đã mang cây đàn guitar của mình đến Europe 1, ông đã chơi cho Jean Peigné nghe những nốt nhạc đầu tiên của một giai điệu mà ông đã nghĩ ra. Jean Peigné yêu cầu ca sĩ hát lại bài hát đó lần thứ hai.
Và sau khoảng mười phút, Jean Peigné đã ghi lại những lời đầu tiên của bài hát sau này trở thành “Paris, tu m’as pris dans tes bras” (Paris, tu m’as pris dans tes bras). Bài hát được hoàn thành chỉ trong một buổi chiều tại phòng thu lịch sử Europe 1 trên đường Rue François 1er ở Paris.
Hai ngày sau, Enrico Macias thu âm lời bài hát cùng dàn nhạc của Jean Claudric. Đó là bài hát đầu tiên ở mặt B của đĩa đơn. Vào ngày 21 tháng 2 năm 1964, Enrico Macias nhận được đĩa vàng cho bài hát “Paris, tu m’as pris dans tes bras”. Vài ngày sau, Enrico Macias mở màn cho Les Compagnons de la Chanson tại nhà hát Olympia ở Paris từ ngày 19 tháng 3 đến ngày 22 tháng 4 năm 1964.
Chủ đề bài hát — “Paris, tu m’as pris dans tes bras” thể hiện nỗi nhớ nhung và tình cảm dành cho Paris, miêu tả thành phố như một sự hiện diện an ủi.
Xét về phong cách âm nhạc cũng là phong cách của Macias kết hợp giữa âm nhạc Pháp quốc với ảnh hưởng từ Bắc Phi, tạo nên một âm thanh đặc trưng dộc dáo gây được tiếng vang với nhiều đối tượng khán giả. Tác động văn hóa — Các bài hát của ông thường phản ánh trải nghiệm của người nhập cư, điều này khiến ông trở thành một tiếng nói quan trọng trong nền âm nhạc Pháp.
Về nhạc Pháp trong chương trinh ghi nhận còn có bài tình ca “Après toi”do ca sĩ Kiều My hát. Đây là ca khúc do nữ ca sĩ người Hy Lạp Vicky Leandros trình bày. Nhạc phẩm này được sáng tác bởi cha cô là ông Leo Leandros (dưới nghệ danh Mario Panas) phối hợp cùng nhà soạn nhạc người Đức Klaus Munro, với phần lời tiếng Pháp do Yves Dessca viết. Bài hát đã đại diện cho Luxembourg tham gia và giành chiến thắng tại cuộc thi Eurovision Song Contest năm 1972 tổ chức ở Edinburgh. Vắn tắt bản tin về quá trình sáng tác, “Après toi” được ghi nhận là một tuyệt phẩm tình ca. Đây là một bản ballad đầy cảm xúc, trong đó nữ ca sĩ bày tỏ với người yêu về viễn cảnh của bản thân sau khi anh rời bỏ cô để đến với người con gái khác: “Sau khi anh bỏ em, em sẽ chẳng còn là gì ngoài cái bóng của hình ảnh của anh”. Kiều My ca những bài khác như Bésame mucho, La Paloma, Il Faut Toujours un Perdant, Comment Ça Va, Adieu Sois Heureuse, Kiều My còn sáng tác nhạc Pháp như các tình ca như Sans Toi Ce Soir, Mon Amour, Tu Restes Toi, Ma Chérie: Je T’aime Tellement Fort, Un Automne Enchanteur,…
Ngoài ra nhiều ca khúc Việt được hát, tôi thích bài ca của nhạc sĩ Lâm Dung phổ thơ Dương Hồng Anh như bài Bạn Bè Của Tôi qua link sau:
Trời đẹp lắm, Ca li trời đẹp lắm
Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi
Bạn bè tôi, những nghệ sĩ yêu đời
Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá
Vì chúng ta không bao giờ xa lạ
Những vần thơ ý nhạc kết nên duyên
Đời có gì hơn được gặp bạn hiền
Trên đất khách quê người tình tri kỷ
Cùng vun sới mảnh vườn đầy thi vị
Một vườn hoa văn nghệ đẹp như tranh
Nắm tay nhau ca hát dười trời xanh
Nhạc thơ đã sẵn sàng cùng cất bước
Bạn bè của tôi chung lời nguyện ước
Đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian
Tình nghĩa văn chương tha thiết muôn vàn
Là tiếng hát của cung đàn réo rắt
Là nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt
Các bạn ơi! thơ nhạc vẫn tràn đầy
Khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say…
(Dương Hồng Anh, 7/2020)
Bài thơ “Bạn bè của tôi” (do nữ sĩ Dương Hồng Anh) cũng là một hành khúc của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.
Hành khúc mô tả không gian mở đầu và nỗi niềm vi xa xứ. Thi ca này đã mở ra với một không gian tươi sáng, rộng mở nhưng cũng mang đậm dấu ấn của những người con xa xứ: “Trời đẹp lắm, Cali trời đẹp lắm / Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi”. Miền đất California nắng ấm hiện lên qua những câu thơ rực rỡ, nhưng ẩn sâu trong cảnh sắc ấy chính là tâm hồn rộng mở, lạc quan của tác giả và những người bạn cùng chung chí hướng nghệ thuật.
Hành khúc ballad biểu lộ môt tình cảm tri kỷ và sự gắn kết của những tâm hồn đồng điệu giữa đất khách quê người, tìm được một tri kỷ đã khó, hội tụ được cả một “vườn hoa văn nghệ” lại càng là một cơ duyên hiếm quý. Tình bạn văn chương mà tác giả trân trọng từng phút giây hội ngộ, xem đó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của đời người: “Đời có gì hơn được gặp bạn hiền / Trên đất khách quê người tình tri kỷ”. Lời hứa nguyện ước chung tay “đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian” thể hiện sứ mệnh đẹp đẽ của người cầm bút: dùng nghệ thuật để lưu giữ khoảnh khắc, kết nối con người và sưởi ấm những tâm hồn tha hương. Phải nói là bài thơ đã khép lại bằng những âm hưởng nhịp valse rộn ràng, tươi vui của “cung đàn réo rắt”, “nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt” và dư âm ngọt ngào của “khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say”. Bằng ngôn ngữ mộc mạc, giàu cảm xúc và hình ảnh thơ ca trong trẻo, Dương Hồng Anh đã khắc ghi sự thành công bức tranh chân thực và cảm động về tình bạn văn nghệ sĩ trên đất Mỹ, đồng thời ca ngợi sức mạnh kỳ diệu của thi ca trong việc gắn kết con người vượt qua mọi không gian và thời gian.
Bài ca Ò E Con Ma Đánh Đu (Auld Lang Syne) khi mà đồng hồ đã 5 giờ chiều bế mạc chương trình. Bài ca áp chót là Còn Gặp Nhau, thơ của Tôn Nữ Hỷ Khương, nhạc Võ Tá Hân, ban hợp ca Tơ Vàng và nhóm Tiếng Thời Gian đồng trình bày trước sự hiện diện của nhạc sĩ tác giả bài ca.

Link bài ca:
Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời.
Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương,
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.
Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời,
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời.
Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người.
Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao,
Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.
Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc, say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày.
Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý – lẽ huyền vi
An nhiên tự tại – lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kỳ
Bài thơ trên “Còn Gặp Nhau” của nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương (con gái của nhà thơ Ưng Bình Thức Vịnh Giác) qua sự phổ nhạc tinh tế, khéo léo soạn nhạc cùng hòa âm của nhạc sĩ Võ Tá Hân mang đến một âm hưởng triết lý sâu lắng, nhẹ nhàng nhưng vô cùng thiết tha về tình người và cuộc sống.
Tôi suy nghiệm về chủ đề và ý nghĩa bài ca thì chính sự trân trọng hiện tại như tựa đề và điệp khúc mở đầu mỗi khổ thơ “Còn gặp nhau thì hãy…” là lời nhắc nhở về sự vô thường, tạm bợ của thời gian và duyên hội ngộ trong cõi đời. Cuộc sống ngắn ngủi ví như “nước chảy hoa trôi”, và danh lợi chỉ là “bóng mây chìm nổi”. Cái quan trọng vì tình người và sự gắn liền giữa dòng đời trôi nổi ấy, tác giả khẳng định giá trị cốt lõi và trường tồn duy nhất chính là tình thương yêu, sự gắn bó chân tình giữa bạn bè, tức giữa người với người.
Một khi tâm hồn và thể xác được yên ổn, an nhiên, cởi mở như lời bài thơ hướng con người đến một lối sống tốt đẹp, biết vui chơi tao nhã, biết cười tươi để lan tỏa niềm vui, biết say sưa trong tình nghĩa, thi ca, bè bạn, và hơn hết là tìm kiếm sự bình yên, thanh thản trong tâm hồn qua một đời sống tâm linh an nhiên, tự tại,… Tôi nói với nhạc sĩ Võ Tá Hân tôi tâm đắc vô cùng tác phẩm này cho ta một nhân sinh quan vui sống, qua những ý tưởng tao nhã, tính thiền triết của nó hòa quyện vào âm nhạc.
Bài ca Còn Gặp Nhau nói về tình bạn: “Còn gặp nhau, bạn ơi!”
Câu thốt lên ấy tựa như một tiếng thở dài nhẹ nhõm giữa cõi người mênh mông. Trong dòng chảy vô thường của thời gian, việc chúng ta còn nhận ra nhau, còn ngồi lại bên nhau để chia sẻ một ly trà, một khúc ca hay vài vần thơ đã là một ân huệ lớn lao của định mệnh. Tình bạn chân thành không cần lúc nào cũng kề cận, mà nằm ở sự thấu cảm âm thầm — nơi những người tri kỷ dù đi qua dâu bể cuộc đời, khi quay đầu lại vẫn thấy ánh mắt và nụ cười của nhau chờ sẵn ở bến bờ của sự chân tình.
Quan diểm về hạnh phúc và khổ đau: Hai mặt của một nhịp đập:
Đoạn văn đã chạm đến cốt lõi của triết học hiện sinh: Hạnh phúc không phải là cái đích đến tĩnh lặng, mà là sự dấn thân và chuyển hóa. Nhưng nếu không có những giọt nước mắt và nỗi đau (khổ đau như một người thầy khắc nghiệt), ta sẽ mãi chỉ là những đứa trẻ chưa từng lớn trước thềm đời. Và chính sự tương phản ấy làm nên chiều sâu của tâm hồn nghệ sĩ. Chỉ khi nếm trải đủ thăng trầm, ta mới thực sự thấu cảm hết cái đẹp mong manh của một buổi chiều thu vàng, hay âm vang da diết của một bản nhạc tiền chiến.
Theo triết nhà Phật về sự vô thường và hiện tại: Khoảnh khắc là cõi vĩnh hằng.
Sự vô thường không đáng sợ như người ta tưởng; trái lại, nó chính là chiếc gương soi chiếu để ta biết trân quý từng giây phút hiện tại. Khi ta hiểu rằng mọi hữu hạn đều đang trôi đi, mỗi cái gật đầu chào nhau, mỗi tiếng đàn, lướt phím vang lên trong phòng trà hay mỗi dòng chữ viết ra đều mang giá trị của sự vĩnh cửu trong tâm tưởng. Sống trọn vẹn với hiện tại chính là cách chúng ta đối thoại đẹp nhất với thời gian.
Bạn ơi, người bạn ta đang dạo bước giữa những hoài niệm và hiện tại, qua những trang văn, tiếng đàn và tình nghĩa gia đạo thâm trầm — một lời chúc an lạc.
Mong rằng trên hành trình nghệ thuật và cuộc sống ấy, tiếng đàn và tình bạn của tất cả chúng ta vẫn luôn là chốn bình yên để trở về, xin gởi những câu kết:
Trích đoạn tiêu biểu.
Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời.
(Tôn Nữ Hỷ Khương)
Việt Hải Los Angeles-Tháng Chín Mùa Thu, 2026.

Còn Gặp Nhau (photo: Võ Tá Hân – VHLA)
-
TỪ ĐINH HÙNG ĐẾN VŨ HOÀNG CHƯƠNG
Khánh Lan
Với khuôn mặt lẫy lừng trong thi ca Việt Nam từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam đã có nhiều tài liệu viết về hai nhà thơ Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Hôm nay, người viết lại được vinh hạnh viết về hai vị tiền bối đã được rất nhiều người ngưỡng mộ trong thế giới thi ca: Đó là Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, những thiên tài bạc mệnh của đất Sài Gòn, một thời nổi danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Một điều thật lạ lùng là sau khi duyệt qua tiểu sử và cuộc đời của hai thi nhân này, người viết nhận thấy hai vị tiền bối có nhiều điểm trùng hợp từ thân phận, chí khí, tài hoa đến văn chương và cuộc đời lại gặp quá nhiều nghiệt ngã, đau thương, bất công và bạc mệnh.
Hình như có một sự kết nối mật thiết giữa cuộc đời của họ. Họ như bị ràng buộc từ trong một mối tương quan gia đình khi nhà thơ họ Vũ kết hôn với bà Đinh Thị Thục Oanh, chị ruột của Đinh Hùng. Họ là bạn chí thân từ khi còn sinh sống tại miền Bắc. Thuở thiếu thời, họ yêu văn, thích làm thơ, sáng tác thơ và trở thành nổi tiếng trong lĩnh vực thi ca. Họ là những thiên tài bạc mệnh, lãnh chịu một cuộc đời với nhiều gian nan, nghiệt ngã và nghèo túng. Tuy họ đã gặp nhiều sóng gió trong cuộc sống nhưng họ vẫn không rời xa nhau! Có lẽ, định mệnh đã an bài cho họ là phải như thế!
Dưới đây là những điểm tương đồng:
- Trong lĩnh vực khoa bảng: Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nghê sĩ tài hoa, học cao hiểu rộng với bản tính rất ngang bướng, gan dạ, phóng túng, “thích gì làm nấy”. Họ không khuất phục trước gian nan, bất công và sẵn sàng đương đầu với khó khăn, nghiệt ngã trong cuộc sống nhưng lại đa sầu đa cảm và mềm lòng trong đường tình ái.
- Trong lãnh vực văn chương thi phú: Hai thi nhân đi vào lĩnh vực văn học ở tuổi rất còn trẻ. Tác phẩm văn xuôi Đám Ma Tôi của Đinh Hùng viết trong năm 1943 ở tuổi 23 thì Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay của Vũ Hoàng Chương viết vào năm 1936-1939 khi ông 21 tuổi.
- Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nhà thơ nổi tiếng từ thời phong trào Thơ Mới thời tiền chiến. Trong khi Đinh Hùng (1920-1967) nổi tiếng với hai tập thơ Mê Hồn Ca (1954) và Đường Vào Tình Sử (1961), thì Vũ Hoàng Chương (1915-1976) với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, đó là tập thơ Hoa Đăng (1959) và 2 tập Thơ Say và Mây (sau in chung vào một tập mang tên Mây).
- Năm 1959, Vũ Hoàng Chương đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca với tập thơ Hoa Đăng, một tập thơ được đánh giá rất cao, ông cũng là một trong 100 tác giả tên tuổi được đề cử giải Nobel Văn Chương năm 1972. Năm 1961, thi phẩm Đường vào tình sử của Đinh Hùng được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.
- Sau khi mất hai thi nhân đều có tác phẩm xuất bản sau khi mất. Đinh Hùng với Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967, ngoài ra còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt. Về phần Vũ Hoàng Chương tập hồi ký Ta Đã Làm Chi Đời Ta doNXB Trương vĩnh Ký, Saigon năm 1970 được NXB Hội Nhà Văn tái bản năm 1993 tại TPHCM. Thi tấp Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, NXB An Tiêm, Sài Gòn (1970) in 2 lần và được Tái bản lại tại California, Mỹ sau năm 1975.
- Trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn (1970) của họa sĩ Tạ Tỵ, người bạn văn nghệ chí thân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương gọi thơ Vũ Hoàng Chương là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc”, vì nhiều bài thơ của ông nói lên thân phận của kiếp người trên quê hương. Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau: “Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử”. Một lãng tử, có lẽ đúng bởi cái cuộc sống “Bất cần đời” của ông, chẳng tha thiết với danh vọng, hờ hững với vật chất xa hoa.
- Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương đều chết trẻ. Đinh Hùng mất năm 47 tuổi và Vũ Hoàng Chương mất mất ở tuổi 61.
THẾ GIỚI THI CA ĐINH HÙNG

THI SĨ ĐINH HÙNG (1920-1967)
“Trời cuối thu rồi em ở đâu
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu …”
Chúng ta có thể nói Đinh Hùng là nhà “khảo cổ thi ca” đầu tiên đi ngược dòng lịch sử của những mảnh hồn nhân loại bị quên lãng theo thời gian. Thơ Đinh Hùng nói lên vẻ đẹp siêu thực tế, một tình yêu linh thiêng, một thế giới mới dựa trên linh thị của siêu cảm và trực giác. Thơ Đinh Hùng xóa mờ bức tường ranh giới giữa không gian và thời gian, hòa nhập con người với cõi vô thường, với những cảm xúc dữ dội và khốc liệt, tư duy và sự khuấy đảo đến kinh hoàng của hình tượng qua những vần thơ. Để hiểu rõ về người nghệ sĩ đa tài Đinh Hùng, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu xem yếu tố nào đã khiến cho ông giải bày niềm cảm xúc qua trang giấy một cách mãnh liệt như thế.
TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
Đinh Hùng là nhà thơ tiền chiến, bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết. Ông sinh ngày 3 tháng 7, 1920 tại làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ ông theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, trung học tại trường Bưởi. Theo thi sĩ Vũ Hoàng Chương, sau khi thi đậu “cao đẳng tiểu học“, hạng bình thứ, Đinh Hùng được học bổng và trong khi đang theo học ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì ông bỏ ngang đi viết văn và làm thơ.
“Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi
Xa vở bài, mở rộng sách ham mê
Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về
Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn”(Khi Mới Nhớn)
Tuy nhiên, tuổi thơ của Đinh Hùng là chuỗi ngày sầu thảm, sự mất mát liên tục của những người thân trong gia đình đã để lại nhiều vết thương trong lòng ông. Năm 1931, người chị thứ ba của ông tên Tuyết Hồng đã tự vẫn tại hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng chết khi còn rất trẻ và sau hết là cái chết của người bạn gái yểu mệnh tên Bích Liên. Đó là những biến động kinh hoàng trong cuộc đời xảy ra cho một con người.
Dưới ngòi bút thiên phú, Đinh Hùng trở nên nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” được nhà văn Thế Lữ chọn in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh của ông, một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết kinh dị, lãng mạn, rùng rợn nhưng cũng đầy chất thơ do NXB Đời Nay in ấn năm 1941. Năm 1943, Đinh Hùng đang sống với người chị là Thục Oanh tại Hà Nội thì tập văn xuôi đầu tiên ra đời: Đám ma tôi được đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, một Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn…
Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa
Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết
Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết
Rộn xuân tình lên bộ ngực thanh tân…”
(Kỳ nữ)
Năm 1944, Vũ Hoàng Chương cưới Thục Oanh rồi về Nam Định, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài với sự cộng tác của Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch…Cũng trong năm ấy, Đinh Hùng tản cư theo tờ báo Cứu Quốc nhưng sau đó, ông về Thái Bình dạy học cùng người vợ mới cưới là Nguyễn Thị Thanh. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con trở lại Hà Nội, tại đây, ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô Văn Nghệ (1952) và tập thơ Mê Hồn Ca (1954).
Tháng 8, 1954, Đinh Hùng cùng vợ con vào Sài Gòn cùng với gia dình của Vũ Hoàng Chương. Trong thời gian đầu, ông nhận viết báo, viết tiểu thuyết dài từng kỳ cho các nhật báo Sài Gòn như “Kỳ Nữ gò Ôn Khâu”, “Đao phủ thành Đại La”, v.v… và bình thơ tại Đài phát thanh Sài Gòn. Ngoài ra ông còn vẽ tranh vui và giữ luôn mục thơ trào phúng “Đàn ngang cung” với bút hiệu Thần Đăng. Sau đó ông lập ra tờ nhật báo Tự Do, cộng tác cùng với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong…Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận. Năm 1961, ông cho in tập Đường Vào Tình Sử, tác phẩm này được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.
Phải chăng “Nhân tài thường hay chết yểu” hay bởi Đinh Hùng luôn bị ám ảnh bởi sự chết, hay là vì nhân chứng của nhiều cái chết, nên dưới ngòi bút tài hoa sẵn có, ông đã phác họa một cáo phó về cái chết của mình qua bài thơ Cung Đàn Tưởng Niệm, và được coi như là một di chúc viết cho chính bản thân ông. Ngay cả trong tác phẩm văn xuôi đầu tay của ông, ông đã chọn tựa đề rất lạ lùng: Đám Ma Tôi, được nhà xuất bản Tân Việt in năm 1943, lúc ấy ông mới có 23 tuổi.
…”Khi anh chết, các em về đây nhé
Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa
Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ
Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”
Tháng 08 năm 1967, Đinh Hùng qua đời vì bệnh ung thư gan tại bệnh viện Bình Dân, ông được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Một điều kỳ diệu đã xảy ra là lời ước nguyện của ông khi còn sinh tiền đã biến thành hiện thực: “…Khi anh chết, các em về đây nhé… Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”. Thật vậy, bạn bè của Đinh Hùng kể lại là trong đám tang của ông người ta thấy có hai chục cô thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng đi theo linh cữu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuồng lòng huyệt, ngậm ngùi tiễn đưa người thi sĩ.
Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967. Ngoài những tác phẩm trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.
NHẬN ĐỊNH VỀ THẾ GIỚI THI CA CỦA ĐINH HÙNG
Nói đến những bài thơ làm nên tên tuổi của Đinh Hùng, chúng ta không thể nào không nhắc đến tác phẩm đầu tay của thi sĩ do nhà xuất bản Tiếng Phương Ðông ấn hành tại Hà Nội năm 1954: Mê Hồn Ca. Dựa theo bài viết của Thủy Nguyệt, Mê Hồn Ca gồm 40 bài thơ ca ngợi tình yêu cuồng nhiệt của một tâm hồn lạc lõng, bơ vơ muốn tìm về một thế giới hư vô. Qua phong cách diễn tả độc đáo của tác giả, chúng ta nhận thấy trong ý thơ của ông vừa có vị nồng nàn, tha thiết, đau khổ chen lẫn mê hoặc, mà trong đó chất chứa một vũ trụ hoang sơ, rừng rú. Ở phần đầu Mê Hồn Ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác từ cô độc đến bi thiết qua những bài thơ: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên… Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác mà chúng ta tìm thấy trong thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia như trong Gửi người dưới mộ, Tìm bóng tử thần. Bài thơ Cầu hồn là điển hình cho sự ám ảnh trong ý thơ.
Hồn ơi! Hồn tỉnh giấc thần,
Đêm nay lạc xuống dương trần mà vui.
Nghìn yêu ma che bước cõi Luân Hồi,
Nhìn nghiêng mặt đất thấy trời hiển linh.
Giữa đêm đời sẽ hồi sinh.
Nhân gian hát khúc vong tình lên non.
Đôi ta vào hội oan hồn,
Âm dương tái hợp …Có những lúc chúng ta tự hỏi: Trong thế giới thi ca, hỏi mấy ai có thể tạo dựng một nghĩa trang huyền ảo như trong văn thơ của thi sĩ Đinh Hùng? Phải chăng cái chết và sự sống, thường bị chia cắt và giới hạn bởi không gian vật lý? Phải chăng trong cõi tâm linh của Đinh Hùng khát vọng sự giao hòa, ao ước rằng con người có thể vượt qua mọi ranh giới để hướng đến khoảng cách vô tận ấy? Ai có thể hiểu được vì sao Đinh Hùng đã viết lên những vần thơ đi vào cõi chết? Có phải đó là kết quả của nhiều đau thương mất mát trong gia đình liên tục xảy đến với ông, hay chính ông đã nhìn thấy sự chết cho chính mình, và ở đâu đây, lưỡi hái tử thần đang chờ đón ông?
Mặc dù Mê Hồn Ca xuất hiện trên thi đàn giữa thời loạn ly, khi đất nước chia đôi nhưng đã lôi cuốn rất nhiều độc giả bởi hình ảnh liêu trai, bởi sự sống đầy mộng mị của trần gian và sự hoang lạnh của chốn âm cảnh, qua trí tưởng tượng phong phú đầy sáng tạo của thi sĩ Đình Hùng và trong thế giới mê hoặc, mờ ảo với những ảo giác hư thực của tiền kiếp đã trở thành một tuyệt tác dưới ngòi bút của Đinh Hùng.
Nàng năm mộng suốt đêm hè dưới nguyệt,
Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao.
Xa nấm mộ, chúng ta cuồng dại hết,
Để yêu tà về khóc dưới non cao.
Hồn Vệ Nữ lạc loài bên cửa huyệt,
Xuân bi thương – ôi má thắm, môi đào!
Bốn mùa trăng vào một hội chiêm bao,
Trong giấc ngủ đẫm mùi hương phấn lạ.(Tìm bóng tử thần)
Cái bi kịch của tình yêu, của gia đình với những ràng buộc khắt khe của tạo hóa đã đưa người nghê sĩ tài hoa Đinh Hùng lạc lõng trong xã hội loài người, bị ám ảnh bởi cái chết đã đi vào tư tưởng của ông rồi bộc lộ qua thi ca. Bài Gửi Người Dưới Mộ đã cho chúng ta một cảm nhận rờn rợn trong hồn:
“…Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu…“
(Gửi người dưới mộ)
Thơ của ông có nhiều sắc thái khác nhau, khi là sự hiện hình của một thực tại huyễn tưởng, một ngôn ngữ đầy ma mị, đầy hư ảo, khi thì bộc lộ sự cô độc, thảm thiết gần như muốn tìm vào cõi chết, thể hiện qua những bài thơ: Mê Hồn Ca, Bài Ca Man Rợ, Những Hướng Sao Rơi. Lại có những bài thơ nghiêng về tôn giáo, tâm linh, đôi lúc ông thi vị hóa tình yêu như trong bài Kỳ Nữ, Hoa Sử, Hương Trinh Bạch. Ở một khía cạnh khác, chúng ta thấy thơ của Đinh Hùng, hình như bị ám ảnh bởi thế giới bên kia, nhập tâm tìm kiếm một ngõ ngách giao hòa cùng người thiên cổ, thể hiện qua bài: Cầu Hồn, Gửi Người Dưới Mộ, Tìm Bóng Tử Thần….
…”Trong mộng trần duyên
Của người thiên cổ….”
…”Trời ơi, đây nguyệt vô biên
Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ”.
(Tìm Bóng Tử Thần)
Đọc bài thơ Liên Tưởng, chúng ta có cảm tưởng đây là những vần thơ mà Đinh Hùng đã viết cho một người con gái xinh đẹp yểu mệnh tên Bích Liên mà ông đã yêu say đắm trong ngây ngất. Một mối tình tinh khiết nhưng mãnh liệt, kỳ ảo nhưng huyền hoặc. Phải chăng chính mối tình ấy đã tạo nên một ảnh hưởng sâu đậm trong tâm khảm của nhà thơ và đã đi theo ông trong suốt cuộc đời.
… Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.
Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,
Lén bước trang đài tới gặp ta
Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn,
Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên.
Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng,
Lửa hạ lên rồi … Ôi Ý Liên!”
(Liên Tưởng – ĐVTS)
Đinh Hùng và Bích Liên yêu nhau trong tuyệt vọng, khi Bích Liên qua đời vì bệnh lao, Đinh Hùng mới 20 tuổi, cái tuổi chập chững bước vào đời với khát vọng yêu đương, với cuồng phong bão tố của mối tình đầu. Cái chết của Bích Liên, cũng là sự mất mát rất lớn trong đời ông và đã biến con người ông trở nên như điên dại, nỗi đau đớn ấy khiến ông sáng tác một loạt thơ mới: Thơ Chiêu Niệm, Liên Tưởng và Gửi Người Dưới Mộ đã đưa ông hướng sâu vào cõi chết, phải chăng, theo ông chết là giải thoát những khổ đau.
Em đã về chưa?
Em sắp về chưa?
Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.
Em hãy cười lên vang cõi âm.
Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
Những hồn phiêu bạt bao năm trước.
Nay đã vào chung một chỗ nằm.Theo tác giả Đỗ Tường, khi Bích Liên chết, Đinh Hùng xin đến nhìn mặt người yêu lần cuối, đứng trước xác người yêu, ông đã làm một cử chỉ khiến tất cả mọi người phải kinh hoàng bởi ông điềm nhiên lật tấm vải liệm phù mặt cô gái ra, rồi cuối xuống hôn một cách say đắm.
Qua xứ ma sầu, ta mất trí
thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
trời ơi! trời ơi! làn tử khí
lạc lõng hương thầm đoá Bạch Liên
(Cầu hồn)Phải chăng sự ám ảnh với những nỗi đau và cái chết khiến thơ của ông đã vượt quá giới hạn, vượt quá sự tưởng tượng của con người. Với ông cái chết là sự cuồng si, là cái đẹp, nó không chỉ đẹp trong thơ mà còn đẹp trong cả tiềm thức của người nghệ sĩ với nỗi đau và sự rung động của trái tim qua bài thơ Gửi Người Dưới Mộ.
Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
Em mộng về đâu?
Em mất về đâu?
Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu,
Đấy màu hương khói là màu mắt xưa.
Trong bài viết “Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cho rằng biểu tượng mạnh mẽ nhất của Đinh Hùng là cái chết với “mặt trời máu”, với “nấm mồ”, “tử thần”, “hồn ma” … Quả nhiên, trong hai phần “Chiêu niệm”, “Mê hồn” và cả bài trường thi “Thần tụng” cũng tràn ngập không khí của cõi chết. Nhưng cái chết trong thơ Đinh Hùng không phải sự tàn lụi và đau thương mà cái chết trong thơ Đinh Hùng rạo rực xuân tình, đầy sức sống:Cười lên em! Khóc lên em!
Đâu trăng tình sử,Nép áo trần duyên?… Ta gởi bài thơ anh linh
Hỏi người trong mộ có rùng mình?
Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?”(Gửi người dưới mộ)
… Hỡi hồn tuyết trinh!
Hỡi người tuyết trinh!
Mê em, ta thoát thân hình,
Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.
Em có vui thêm? Em có buồn thêm?
Ngồi bên cửa mộ, Kể cho ta biết nỗi niềm.
Sau khi Bích Liên mất, thi sĩ Đinh Hùng sống một cuộc sống “Lăng bạt kỳ hồ“, khi thì ông đi dạy học ở Hà Đông, khi thì gia nhập một ban nhạc tài tử ở vùng Bắc cạn, ông như người quẫn trí, ông khóc như điên dại, bỏ Hà Nội, đi Hải Dương, vượt sông Hồng Hà, ông bỏ lại tất cả và chỉ ôm ấp bên mình, bức di ảnh của Bích Liên.… “Thần chết cười trong bộ ngực điên,
Ta nghe em thở tiếng ưu phiền.
Nỗi lòng xưa dậy tan Thanh Vắng.
Hơi đất mê người – Trăng hiện lên.”Những cái chết trong gia đình, nhất là cái chết của Bích Liên, thi sĩ Đinh Hùng cho rằng định mệnh quá cay nghiệt với ông, ông muốn xuất trần, rút mình vào một thế giới siêu tưởng, tránh sầu bi? Phải chăng, ông đã vượt ra ngoài vòng vũ trụ, nhìn xuống dương trần với đôi mắt dửng dưng và tìm đến cái thế giới riêng cho ông, thế giới vô hình. (Thi Vũ 1993). Có thể điều này đã giải thích được phần nào những văn thơ huyền bí của ông. Trong thế giới siêu tưởng, Đinh Hùng mâu thuẫn với chính ông, khi hiền thì thật là hiền, nhưng có lúc thì trở nên dữ tợn. Trong cái thế giới tình yêu giả tưởng, lãng mạn và tình tứ ấy, thi sĩ Đinh Hùng đã tìm ra chân lý của mình.
…“Trong im lặng, tôi rung mình nín thở,
Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa.
Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da,
Tình yêu rợn tự đầu mày chân tóc…”
(Giáp Mặt Phù Dung)
Ngược lại, trong bài “bài Ca Man Rợ” ông rất dữ tợn:
…”Ta về đây, lạ hết các người rồi,
Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống.
Trong bỡ ngỡ duy long còn chút mộng,
Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa.
Nàng không mong, ta đi đến không ngờ,
Giây phút ấy thực mắt nhìn tận mắt,
Ta mỉm cười bỗng thấy nàng che mặt
Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa…”
(Bài Ca Man Rợ)
Theo tài liệu Wikipedia, hai thi phẩm nổi bật của Đinh Hùng là Đường Vào Tình Sử và Mê Hồn Ca. Nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca như sau: “Đây là loại thơ nói ít hiểu nhiều, thi sĩ Đinh Hùng đã sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mát. Có thể nói là thi sĩ Đinh Hùng chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire và Rimbaud“. Thơ của Đinh Hùng nghiêng về tâm linh, siêu hình, bí ẩn và có chiều hướng thoát ly ra khỏi thực tế.
…”Khi miếu đường kia phá bỏ rồi
Ta đi về những hướng sao rơi
Lạc loài theo hướng chân cầm thú
Từng vệt dương sa mọc khắp nơi…
… Rồi những đêm sâu bỗng hiện về
Vượn lâm tuyền, khóc rợn trăng khuya
Đâu đây u uất hồn sơ cổ
Từng bước ma rừng theo bước đi”……
(Bài Ca Man Rợ)
Tình yêu trong thơ Đinh Hùng không phải là những cảm xúc bình thường, mà là sự kết hợp của những mê dại nghiêng về tâm linh, huyền bí của thế giới kỳ diệu ái tình, một vũ trụ nhập nhòe giữa thực và ảo, chính là vũ trụ của một biển tình da diết trong thế giới âm dương.
…“Ta thường có những buổi sầu ghê gớm
Ở bên em, ôi biển sắc rừng hương!
Em rực rỡ như một ngàn hoa sớm
Em đến đây như đến tự thiên đường.
(Kỳ Nữ)
“Kỳ Nữ” trong thơ của Đinh Hùng đã đưa chúng ta vào một không gian thần thoại với vẻ kỳ vĩ của trăng sao, của núi rừng. “Kỳ Nữ” với Đinh Hùng giống như nàng Galatae với chàng Pygmalion, nàng đại diện cho lý tưởng, cho cõi mơ, cho sự hoàn hảo mà người nghệ sĩ luôn tưởng đến.
“Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo
Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm
Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm
Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận”Khi bài Kỳ Nữ ra đời được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh, đã đưa tên tuổi của thi sĩ Đinh Hùng lên đỉnh cao nhất trong làng thi văn, và khẳng định rằng ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi từ đầy ma lực, điều này đã được thể hiện rõ rệt trong thi tập Mê Hồn Ca. Tuy nhiên, Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng là thế giới của say mê, hoang sơ man dại, chết chóc, huyền bí, nhiệm mầu, của tình yêu tha thiết, mãnh liệt và kinh khủng của lứa đôi.
Anh sẽ tìm em, chiều nào tận thế
Khi những sầu thương cất cánh xa bay
Khi những giận hờn, khi những mê say
Khi tất cả hiện nguyên hình ảo mộng:
Giọt lệ hoa niên, cung đàn hoài vọng
Và những hương thơm tình ái trao duyên
Những không gian thăm thẳm mắt u huyền
Những vạt áo bỗng trở màu sông biển(Đường Vào Tình Sử)
Ngoài những bài thơ huyền bí, thi sĩ Đinh Hùng sáng tác một số bài thơ ca ngợi tình yêu, nhưng khi đọc Kỹ, chúng ta thấy phảng phất lời văn hoang tưởng và xa vời thực tế. Nổi bật trong thể loại thơ này là bài thơ Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng với lời thơ trong sáng, ca tụng tình yêu đôi lứa, được nhạc sĩ Phạm đình Chương góp nhặt, trau chuốt, viết bằng cảm xúc xúc thành nhạc phẩm Mộng dưới hoa.
…”Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh là bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”
…”Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu
Đêm nằm nghe giấc mộng trôi mau
Gió ơi, gởi gió lời tâm niệm
Và nguyện muôn chiều ta có nhau…”
(Nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa) Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng là hai bài thơ trong thi tập Đường vào từng sử, một tập thơ đầy nhạc tính. Trong hai bài thơ trên, Đinh Hùng muốn nói cuộc đời không phải lúc nào cũng là con đường đầy chông gai, tang thương, buồn thảm. Con đường ấy có khi cũng phủ đầy hoa gấm, mộng mị, yêu thương, dù là trong mộng tưởng.
Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối(Xuôi dòng ảo mộng)
… ‘Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,
Nắng trong hoa, với gió bên hồ
Dành riêng em đấy khi tình tự,
Ta sẽ đi về những cảnh xưa…”
(Tự Tình Dưới Hoa)
Nhà văn Việt Haỉ viết “Mộng dưới hoa của Đinh Hùng và nhạc Phạm Đình Chương như hiểu nhau ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, những nốt nhạc ấy là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ”. Nhà văn Việt Haỉ nhận định: “Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ”.
…”Tóc xanh là bóng dừa hoang dại,
Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”
Trong bốn câu thơ dưới đây diễn tả một khoảnh khắc thời gian như dừng lại cho cặp tình nhân gặp nhau trong mộng.
…”Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát long anh
Ta đi vào tận rừ xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối…”
Trong câu: Ta đưa nhau vào tận rừng xanh, vớt cánh rong vàng bên suối.
“Cánh rong vàng” tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Hỏi ai có
vớt được “cánh rong vàng”? hay đó chỉ là trong giấc mộng thôi.
…“Bước khẽ cho long nói nhỏ
Bao nhiêu mộng ước phù du
Ta xây thành mộng nghìn thu
Núi biếc song dài ghi nhớ.
Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề
Mây hồng giăng tám ngả sơn khê
Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng
Và mộng em cười như giấc mê…”
Theo Võ Tấn Cường nhận định về thơ của thi si Đinh Hùng: “Đinh Hùng – một hồn thơ kỳ ảo với vũ trụ thơ thuần khiết, song hành với thực tại là hiện tượng thi ca đầy phức tạp và bí ẩn. Số phận cuộc đời của Đinh Hùng và thi ca của ông chịu nhiều oan trái, bị chìm khuất dưới những dòng xoáy của thời cuộc cùng với những định kiến và quan niệm hẹp hòi về nghệ thuật”
… Theo tôi, cái đẹp trong thơ Đinh Hùng huyền ảo, mầu nhiệm và gợn sắc màu sử thi như trong các bản trường ca Iliat và Ôđixê của Hôme dưới thời kỳ lịch sử Hi Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ IX TCN (vì trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Hi Lạp trong giai đoạn này được phản ánh rõ nét trong 2 tập sử thi Iliát và Ôđixê, tương truyền là sáng tác của nhà thơ Hôme ở Tiểu Á. (Nguồn: https://bienniensu.com/thegioi/lich-su-hi-lap-thoi-ky-home/). Cái đẹp trong thơ Đinh Hùng mang bóng dáng và tinh thần nhân đạo của hình tượng người anh Hùng sử thi:
…“Ta lảo đảo vùng đứng lên cười ngất
Ghì chặt nàng cho chết giữa mê ly
Rồi dày xéo lên song núi đô kỳ
Bên thành quách ta ra tay tàn phá…”
(Bài ca man rợ)
Dưới ánh mắt của Đinh Hùng cái đẹp là một thế giới đầy cám dỗ, huyền ảo, nhiệm màu và siêu thoát, ông tôn thờ tình yêu và xem nó như một thứ tôn giáo, ông đặt sắc đẹp lên ngôi, xem nó là một thứ quyền năng chi phối tâm linh, sự sống và sự chết, nó ảo hóa với muôn sắc thái và ma mị nên dễ gây ấn tượng rờn rợn khi ta được nghe hay đọc nó.
…“Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác
Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma
Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà
Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết
Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết
Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn
Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn…”
(Kỳ Nữ)
Thơ tình yêu của Đinh Hùng vượt qua nỗi khát khao dâng hiến, hướng về thế giới tâm linh huyền bí, siêu hình của tôn giáo, sự linh thiêng của cõi vô hình đã phủ lên thế giới tâm linh, hư ảo, huyễn hoặc trong thơ của ông qua vẻ đẹp lung linh, huyền bí trong thơ của Đinh Hùng:
…“Ta hát bài kinh, thoảng dã hương
Từng đêm chiêu niệm bắt hồn nàng
Lời ra cửa biển tìm sao rụng
Rỏ xuống mộ em giọt lệ thương…”
Cái gì đã đưa Đinh Hùng đến với ám ảnh về cái chết, về bóng ma? Trong đời sống tôn giáo tâm linh, quan trọng nhất là đời sống sau khi chết, là đời sống thực của linh hồn. Linh hồn con người thoát khỏi thể xác và khám phá thế giới cõi âm. Điều này được ghi lại trong các thư tịch của Tây Tạng, Ai Cập, Trung Quốc và báo chí phương Tây. Trong cơn hấp hối, trong trạng thái mơ màng, con người tiếp xúc với thế giới âm, gặp gỡ những linh hồn của người lạ hoặc người quen trong quá khứ. Krishnamurti, một bậc thầy tâm linh đương đại nổi tiếng được sự kính ngưỡng của cả giới tôn giáo và giới khoa học thế kỷ 20, cũng đã thường xuyên có trải nghiệm này. Trong những biến đổi mãnh liệt nhất về tâm linh, khi ở giữa ý thức và vô ý thức, ông nhìn thấy bóng ma người mẹ quá cố của mình cùng với nhiều linh hồn của các bậc chứng ngộ khác. Ở trường hợp Đinh Hùng, nhà thơ đã trải nghiệm sự việc này khi mơ màng trong màu sương khói của mây mù thuốc phiện:“Từng đêm tôi nguyện tôi cầu
Đấy màu hương khói là màu mắt xưa”
(Gửi người dưới mộ)
Này Biển Giác: mây trời nghiêng nét mặt
cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu
(Tìm bóng tử thần)
Ta hằng nghe rõ
tiếng buồn trong sương
hằng thấy trên tường
hình ma bóng nhớ
chỗ em ngồi cũ
lên màu khói hương
(Màu sương linh giác)
Và chính Đinh Hùng cũng thừa nhận đó là một trạng thái mộng mị, tức là cõi ảo dưới con mắt người thường, có điều trong cõi ảo ấy, tất cả đều rất thật, rất đắm say, tới mức muốn vứt bỏ cả xác trần:“đôi ta vào hội oan hồn
âm dương tái hợp –
ồ! đây là cuộc tân hôn dị kỳ
nguyệt hoa mặc áo huyền vi
màu nghê thường đó – trời ơi! xiêm y biến hình
tôi van lơn bầy nhạc nữ đồng trinh
đừng cao giọng hát – hồn các em lạc tinh anh bốn trời!
đừng cho thể chất phục hồi
đừng cho tôi khóc, tôi cười vì điên!”
(“Cầu hồn”)Tóm lại, phân tích về thế giới thi ca cũa Đinh Hùng tùy thuộc vào cái nhìn của từng cá nhân, dù rằng nó có thể hoàn toàn khác với mọi người. Đôi lúc, người ta cho rằng nhận định của chúng ta là hoang tưởng, nhưng một khi đã bước vào cõi hư ảo, dù theo cách này hay cách khác, tức là đã từng trải nghiệm đời sống linh hồn, thì khó có thể nhìn vạn sự bằng nhãn quan của thế giới hữu hình. Theo người viết, “thơ Đinh Hùng là một thế giới mang đầy mê cung kỳ ảo” và vẫn còn trong sự huyền bí chờ đợi sự giải bày của những khối óc quan tâm đến vận mệnh thi ca của dân tộc.
THI CA VŨ HOÀNG CHƯƠNG

VŨ HOÀNG CHƯƠNG-(1915-1976)
Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.Trong một sự tình cờ, ngày 03 tháng 11 năm 2024 người viết đã gởi đến quý độc giả một hồi ký với tựa đề “Sinh Lầm Thế Kỷ”, một câu chuyện chân thực về cuộc sống ở Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm kể về một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại những ký ức đau thương về chiến tranh và nỗi khổ đau của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Tưởng cũng xin giải thích rõ là tại sao người viết lại cho đó là một sự tình cờ? Xin thưa: Lúc chọn tựa đề cho quyển hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ” người viết không nhớ là thi nhân Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài thơ Phương Xa mà trong ấy cũng có câu “đầu thai lầm thế kỷ”.
Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.Dưới đây người viết xin lướt qua về:
TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
Vũ Hoàng Chương sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh–Na Sầm.
Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, hồi cư về Hà Nội dạy văn cho đến 1975.
Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam ở Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở các trường trung học và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1959 ông đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc” của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc tế tại Bỉ. Năm 1964 ông tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm 1965 tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire.
Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai, lúc này tên tuổi của ông nổi bật trong phong trào Thơ Mới (1932-1945) và được gọi “Thi Bá Vũ Hoàng Chương”. Năm 1972, Vũ Hoàng Chương trong danh sách 100 tác giả được đề cử giải Nobel Văn Chương (The Nobel Prize in Literature), sự kiện này chỉ được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố ngày 11 tháng 02 năm 2023. (vì theo quy định thì sau 50 năm kể từ khi trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển mới công bố danh sách những người được đề cử Giải Nobel văn học của năm đó). Giải Nobel năm 1972 được trao cho cho nhà thơ Heinrich Böll của Đức, (Heinrich Böll đã từng được đề cử liên tục từ năm 1960 và mãi đến năm 1972 mới đoạt được giải).
Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Theo Nhà văn Mai Thảo… Buổi sáng ngày 13 tháng 4 năm 1976 (theo lời chị Vũ Hoàng Chương thuật lại. Bốn chiếc Jeep đến từ phía Sài Gòn, chở đầy an ninh áo vàng mang súng ống, phóng thẳng tới phường Cây Bàng và ngừng lại trước con ngõ nhỏ dẫn vào căn gác của gia đình Vũ Hoàng Chương (Gác Bút). Khoảng 20 công an, nhẩy xuống xe, xô cửa ập vào đánh thức thi sĩ khỏi giấc ngủ chập chờn. Vũ Hoàng Chương gắng gượng ngồi dậy, lấy áo gấm mặc vào người, ngồi thật thẳng giữa chiếu, bất động, chờ đợi… Ông không kinh hãi, không phẫn nộ, không bất ngờ, cũng chẳng ngạc nhiên. Ông ngồi thẳng, mắt nhắm lại… Suốt thời gian này, thi sĩ không nói một lời nào khi ông nghe bản cáo trạng và lệnh bắt giữ, ông chỉ nhún vai rồi ngồi yên như cũ. Lý do bị bắt là phản động, làm thơ chống phá cách mạng phổ biến khắp Sài Gòn những bài thơ chống phá chế độ. Sau cuộc lục soát xong và tịch thu sách và bản thảo, hai công an xốc nách thi sĩ đứng lên, kèm ông xuống cầu thang và đưa thẳng ông vào khám lớn Chí Hòa…
… Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối, không ai có tin tức của Vũ Hoàng Chương, ông được thả về khi trở bệnh nặng trong tù. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, nhưng thần trí của ông vẫn minh mẫn sáng suốt. Điều tuyệt đối là ông không nói một lời nào về bốn tháng bị giam trong Chí Hòa. Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại trong đau đớn và ngày thứ năm, ngày 17 tháng 9, 1976, thì ông mất tại Sài Gòn. Năm 1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp.
Dưới đây là bài thơ cuối cùng của Vũ Hoàng Chương làm trong Khám Chí Hòa năm 1976:
Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.
Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
Đêm về giấc ngủ lại thương con.
Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
Hồ dễ gì phai được tấc son!”Vũ Hoàng Chương có nhiều sáng tác để đời, được giới phê bình văn học đánh giá cao, và từng được xưng tụng là “Ngôi sao Bắc Ðẩu” của thi ca Việt Nam. 1975:
Hơn bốn thập niên sau, thi ca Vũ Hoàng Chương không còn đề cập ở trong nước, một đời thơ của ông bị lãng quân, chôn vùi theo thân xác. Và ngay cả trong những tác phẩm đề cập đến những áng thơ hay trong Thi Ca Việt Nam cũng “quên” nhắc đến dòng thơ thi bá Vũ Hoàng Chương. (Vương Trùng Dương)
NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG & THI CA
Dựa theo tài liệu trên Internet, đã có rất nhiều bài bình luận nhận định về sự nghiệp văn chương & thi phú của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Họ cho rằng: Văn phong và phong cách của thi nhân được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc và chứa đựng sắc thái Đông phương. Vũ Hoàng Chương làm thơ rất sớm khi ông mới 25 tuổi (1940) và đã cho xuất bản rất nhiều thi tập.
Tháng 10, 1936 ông xuất bản tập Die Achtundzwanzig Sterne, thơ dịch ra Đức ngữ, do nhà Hoffmann Und Campe, tỉnh Hamburg, Đức. Dịch giả là thi sĩ Áo Kosmas Ziegler. Trước 1945, ông có hai thi phẩm nổi tiếng vào thời tiền chiến là Thơ Say (1940) và Mây (1943). Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam đã nhận xét: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say nhưng “say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc”.
Tập thơ đầu tay Thơ say gồm 32 bài thơ do tác giả tự xuất bản, nhà in Cộng Lực ấn loát và phát hành. Năm 1971, NXB Nguyễn Đình Vượng tái bản tập Thơ Say tại Sài Gòn, tập thơ chia làm nhiều phần như: Say, Mùa, Yêu, Cưới, Lỡ Làng, Lại Say. Bài thơ Say đi em, Phương xa, Chén rượu đôi đường, Mùa thu đã về và Quên là những bài thơ được nhiều người đọc và yêu thích nhất. Năm 1960, tại Sài Gòn Vũ Hoàng Chương tự tái bản 2 tập thơ Say gồm32 bài thơ và Mây gồm 25 bài thơ, in chung vào 1 tập mang tên Mây, Sài Gòn 1960. Người viết xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu:
…“Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn,
Cho cung bực ngả nghiêngCho điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa!Và quên quên hết!
Ta quá say rồi
Sắc ngả mầu trôi…(Say đi em-1940)
Và lại say nữa để mà quên.
Đã hẹn với Em rồi, không tưởng tiếc
Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,
Sát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu.Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,
Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.(Quên-1947)
Năm 1948, Vũ Hoàng Chương xuất bản tập Thơ Lửa cùng với Đoàn Văn Cừ tại Thái Nguyên do cơ quan Kháng chiến Liên khu 3 đảm trách. Năm 1959, khi Vũ Hoàng Chương Tham dự Hội Nghị Thi Ca Quốc Tế, gặp gỡ nhà thơ nữ Ysabel Baes mới 15 tuổi đã có một thi tập được được Maison du Poète tại thủ đô Bruxelles xuất bản năm 1959. Bài thơ Công Chúa Mười Lăm, dài với 40 phân đoạn, mỗi đoạn 4 câu thơ thất ngôn. Toàn bài có 160 câu. Bài thơ “Công Chúa Mười Lăm” của Vũ Hoàng Chương tặng YSA không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là một hành trình vươn tới cái đẹp vĩnh hằng, là hình ảnh của một tình yêu và nghệ thuật. Tình yêu ấy là hành trình, là những cảm xúc, những giấc mơ và những hy vọng. Mối quan hệ giữa người thi sĩ và Công Chúa Mười Lăm là sự giao thoa giữa hai thế giới: thế giới của “thơ” và thế giới của “mộng”.
Công Chúa Mười Lăm, nàng ở đâu?
Tìm nàng, thôi đã nát Âu châu
Ba Lê, Nhã Điển hay La Mã
Đâu cũng rêu in lệnh Miễn Chầu……Đê mê nhịp thở phút huyền ngưng
Đôi lứa chìm sâu đáy Tượng trưng
Ta nhủ: “Kìa em! Thơ mở lối
Còn sâu hơn cả trái tim Rừng!”…Trong thời gian từ năm 1962 trở đi, Vũ Hoàng Chương đã cho xuất bản nhiều thi tập và tùy bút tại Sài Gòn gồm: Rừng Phong. 1970: Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, Tân Thi, Loạn Trung Bút, Ngồi Quán, Tâm sự phố phường, Tuổi Xanh, Ba Kiếp Lang Thang,Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai, Lửa Thiêng (Phần I: Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay 1936-1939), Ánh Trăng Đạo, Tập Bút Nở Hoa Đàm, Nhị Thập Bát Tú I & Tập II, Cành Mai Trắng Mộng. Đáng kể nhất là năm 1962, tập thơ Trời Một Phương trong đó có bài thơ Lửa Từ Bi ca ngợi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào tháng 07, do nhóm Thanh Tăng xuất bản vào tháng 12, 1962. Bài thơ Lửa Từ Bi Kính dâng lên BỒ-TÁT QUẢNG-ĐỨC đã được Hà Lan Phương và Nguyễn Hải phổ nhạc.
Lửa! Lửa cháy ngất Toà Sen!
Tám chín phương nhục thể trần tâm
hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,
Ánh Đạo Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên…1974: Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, NXB Rừng Trúc, Paris; Theo ông Hoàng Tấn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau” tặng nghệ nhân Quách Thị Hồ, người hát ca trù hay nhất Việtnam (danh hiệu NSND), xưa từng là bạn cố tri của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Hát ca trù cần có “đàn đáy”, do đó nội dung bài thơ sau đây đầy ắp những từ hát cô đầu, âm thanh vang tiếng “sênh, đàn, phách”.
… Chúng ta mất hết cả rồi sao?
Cả đến âm thanh một thuở nào!
Da trống tơ đàn ôi trúc phách
Đều khổ như khúc hát gầy hao
Đàn mang tiếng đáy mà không đáy
Mất hết rồi sao sợi nhớ thương
Tay phách từ lâu nay lạc phách
Không còn đựng mãi bến Tầm Dương…
Bài Vịnh Tranh Gà Lợn của nhà thơ Vũ Hoàng Chương mà tác giả đã viết vào mùa xuân Bính Thìn (1976), cái tết cuối cùng của một đời thi bá.
Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,
Gà lợn, om sòm rối bức tranh.
Rằng vách có tai, thơ có hoạ,
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.
Ngoài ra Vũ Hoàng Chương còn có một số tác phẩm được dịch qua Anh ngữ và Pháp ngữ như tập thơ Cảm Thông (nhan đề Anh ngữ là Communion); gồm 6 bài thơ mới sáng tác sau cuộc Âu du và 9 bài cũ lựa chọn lấy tính cách tiêu biểu; do Nguyễn Khang phiên dịch và xuất bản. Tập thơ Tâm Tình Người Đẹp (nhan đề Pháp ngữ là Les 28 Etoiles); gồm 42 bài thơ Nhị thập bát cú, kèm theo bản dịch của nữ thi sĩ Bỉ Simone Kuhnen de La Coeuillerie; Nguyễn Khang. Năm 1963, xuất bản tập Thi Tuyển (nhan đề Pháp ngữ là Poemes Choisis) kèm theo bản dịch của Simone Kuhnen de la Coeuillerie: do nhà xuất bản Nguyễn Khang vào tháng 03, 1963. Vũ Hoàng Chương đã dịch nhiều thơ chữ Hán từ nhiều tác gia Việt Nam và Trung quốc, khoảng 100 bài.
Dưới đây là những bài thơ Vũ Hoàng Chương viết trong tập thơ Hoa đăng. Bài thơ Trả ta sông núi cho chúng ta cảm nhận tấm lòng yêu nước của con người dân Việt. Những bài thơ trong tập thơ Hoa Đăng rất dài nên người viết chỉ xin trích vài đoạn trong một số bài thơ của ông mà thôi.
…Trả ta sông núi từng trang sử
Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
Không đòi, ai trả núi sông ta…
…Trả ta sông núi! câu hùng tráng
Là súng là gươm giữ đất đaiTrông lên cao ngất phương trời
Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.Bài thơ Đời Vắng Em Rồi của Vũ Hoàng Chương sau được đổi thành Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai. Tên này sau cũng được ông dùng đặt cho một tập thơ khác.
Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu,
Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu.
Thôi rồi, tay nắm tay lần cuối,
Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau.Gặp gỡ chừng như truyện Liểu Trai.
Ra đi chẳng hứa một ngày mai.
Em ơi! lửa tắt, bình khô rượu,
Đời vắng em rồi, say với ai?Yêu Mà Chẳng Biết là một trong những bài thơ mang tính thơ lãng mạng.
Lâu rồi không nhớ bao nhiêu năm,
Từ độ trông nhau hết lạ lùng,
Từ hôm bên nhau thôi ngượng ngùng,
Từ buổi xa nhau mà nhớ nhung.
Em đã nao lòng, anh mê man!
Đuôi mắt đầu môi tình chứa chan,
Đêm thường mơ đêm, ngày đợi ngày.
Nhưng không hề nói cho nhau hay.Bài thơ Giận Hờn là những cay đắng nhưng là bài thơ đặc biệt cho ta cảm giác nhẹ nhàng Của những điệp khúc tình yêu.
Em đến hôm nào như hoa bay.
Tình không độc dược mà đắng cay
Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt
Mùi hương sát nhân từng ngón tay
Hay trong bài thơ Hờn Dỗi:
… Anh vẫn nghe tiếng khóc
Trong vạt áo len hồng.
Anh vẫn nghe tiếng nấc.
Dồn dập trên cgối nhung
Sao em khóc vì đâu hờn dỗi
Em buồn có phải lỗi anh không
Hỏi em em chẳng nói
Mặc anh xô cửa phòng…
Một bài thơ Tình si.
Vì ai làm một bài thơ
Từ bao giờ đến bây giờ mới xong.Đầu trang vằng vặc gương trong
Nhạc lơi cánh bướm hương phong nụ đào
Cuối trang vần điệu xôn xao
Lửa si mê bỗng cháy vào làn môi…
Đền nhau một chiếc hôn rồi
Mười lăm năm biết có nguôi giận hờn?…
Cuối năm 1949, khi hai gia đình đang ở vùng Đống Năm, Thái Bình. Quân Pháp tràn tới, Việt Minh rút chạy. Hai gia đình Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng cũng chạy từ làng nọ tới làng kia. Cuối tháng 8 năm 1954, gia đình Vũ Hoàng Chương và gia đình thi sĩ Đinh Hùng di cư vào miền Nam, hai người thuê một căn nhà lợp tôn, vách ván tại xóm Hòa Hưng. Vũ Hoàng Chương cùng vợ ở trên gác, dưới nhà là tổ ấm của gia đình Đinh Hùng. Đất khách quê người, hai thi nhân sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo túng, họ tạm gác bút. Chán nản, họ vướng vào con đường nghiện hút (thuốc phiện). Lý tưởng tàn lụi, Vũ Hoàng Chương đã gởi niềm tâm sự vào trang giấy: Bài thơ Lý Tưởng.…Chàng họa sĩ hôm nay vừa ném bút.
Bởi vì mơ và thực chẳng đi đôi.
Nét hư Huyền thấp thoáng ở hồn thôi.
Tài non kém chẳng đem vào lụa được…
…Nhạc sĩ với thi nhân đều thế cả
Dứt hết dây vò nát mấy mươi trang
Xấu xa trong vần điệu ý huy hoàng
Sai lạc nữa lúc phổ vào cung bậc…
…Hồn nghệ sĩ vốn từ xưa nông nổi.
Yêu thiết tha nhưng chẳng chịu thầm yêu.
Kiếm hoài công bày giải ý cao siêu.
Bằng gỗ lụa trơ trơ bằng thép rắn…
NHẬN ĐỊNH VỀ LÃNH VỰC KỊCH NGHỆ
Vũ Hoàng Chương đã xuất bản nhiều tập kịch thơ, 3 vở đầu tiên là Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp trong năm 1944, NXB Anh Hoa, Hà Nội. Tại Sài Gòn năm 1960, NXB Nguyễn Đình Vượng lại cho tái bản ba kịch bản này. Kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần, NXB Lửa Thiêng tại Sài Gòn cho ấn hành lần đầu năm 1951 và tái xuất bản năm 1961 ngay sau Cách mạng tháng 8. Năm 1946, Vũ Hoàng Chương tản cư về vùng duyên hải Nam Định (Khu Ba) nhưng đến năm 1950, ông cư về Hà nội để chuẩn bị cho diễn vở kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần năm 1951. Năm 1952, trinh diễn vở kịch thơ Thằng Cuội và năm 1953 ông cho đăng báo kịch thơ Cô Gái Ma.
Tác phẩm Vân muội: Theo tác giả Phương Nghi, Vũ Hoàng Chương khi còn đang dạy học tại Hải Phòng và vào dịp rằm tháng bảy, ông cùng nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm, Lê Trọng Quỹ và Thế Lữ cùng đi nghe hát quan họ ở Kinh Bắc. Vũ Hoàng Chương đã từng làm xếp ga Bắc Ninh và có người yêu tên là Vân ở làng Dương Ổ. Vân chính là nàng thơ để Vũ Hoàng Chương viết kịch thơ “Vân muội” và ra tập thơ “Mây” năm 1943. Năm 1942, Vũ Hoàng Chương định lên thăm “nàng thơ”, nhưng khi đến ga Đầu Cầu thì gặp Tô Hoài và Nguyễn Bính và họ rủ nhau cùng đi lên Bắc Giang ghé thăm nhà thơ Bàng Bá Lân. Ba ông dự định khi gặp Bàng Bá Lân, họ sẽ rủ nhau di xem hát ả đào. Nhưng Bàng Bá Lân vốn tính tình hiền lành hiền việc đi xem hát ả dào đành phải bỏ và họ quyết định cùng nhau họa thơ.
Duyên nợ không thành, Vũ Hoàng Chương phải chia tay “nàng thơ” xứ Quan Họ bởi vì nàng đã được gia đình gả chồng từ năm 12 tuổi. Kịch thơ “Vân muội” và tập thơ “Mây” ra đời là kết quả của cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa Huy Cận và Vũ Hoàng Chương ở Hàng Lược. Vừa gặp nhau, Huy Cận đã ngẫu hứng đọc hai câu lục bát:
“Đã lên gặp lại chàng sa.
Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần”.
Nghe xong, Vũ Hoàng Chương đối lại:
“Mây kia chẳng chịu xuống trần.
Lửa ơi! Theo khói lên gần với mây”.
KẾT LUẬN:
Trong thế giới thi ca đã có những bài thơ nổi tiếng đã thu hút nhiền độc giả yêu thơ với những áng thơ nhẹ nhàng và tinh khiết như của Hồ dzếnh, Quang Dũng; những vần thơ tình tứ, lãng mạn như của Xuân Diệu, Nguyễn Bính; hay những lời thơ triết lý cao siêu của Cao Tiêu, Tô Đông Pha; cũng như những ý thơ nặng chất tuyệt vọng, cay đắng, khổ đau của TTKH, Hàn Mạc Tử… Nhưng chúng ta phải công nhận rằng, đọc thơ của Thi Nhân Đinh Hùng, chúng ta như bị lôi cuốn vào những vần thơ huyền bí của ông, những vần thơ khi thi biểu hiện lời êm ái, mộng mị, yêu thương lúc lại chen lẫn những vẻ liêu trai, ma quái và kinh dị. Và khi thưởng thức dòng thơ của Vũ Hoàng Chương chúng ta cảm nhận được hương vị đắng cay, bất mãn chen lẫn sự khinh miệt, chán chường của một nhân tài sống trong xã hội bất công.
Đinh hùng là nhà thơ lớn của dân tộc mà còn là một nghệ sĩ đa tài đích thực trên cả lĩnh vực âm nhạc và hội họa. 47 năm của cuộc đời trên 20 tác phẩm với nhiều thể loại từ thơ ca văn xuôi tiểu thuyết ký và phê bình văn học. Đám ma tôi là thi tập đầu của ông và thi tập cuối là Tiếng ca bộ lạc, nhưng hai thi tập Mê hồn Ca và Đường vào tỉnh sử mới thực sự làm nên tên tuổi của người nghệ sĩ tài năng Đinh Hùng. Cho đến nay thơ của Đinh Hùng vẫn còn trong vòng bí ẩn như con người của ông, một con người gặp quá nhiều oan trái và hình như cái Định mệnh khất khe, nghiệt ngã luôn buộc chặt vào cuộc đời của ông.
Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, ông có nhiều tập thơ nổi tiếng và được yêu thích, trong đó phải kể đến tập thơ Hoa Đăng do Văn Hữu Á Châu xuất bản tại Sài Gòn năm 1959. Đây là một tập thơ được đánh giá cao và đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca. Hai tập Thơ Say và Mây in chung vào một tập mang tên Mây là những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của ông. Tiếc thay, thời cuộc đảo điên, nhà thay chủ đã đưa người nghệ sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đi vào con đường tuyệt vọng. (Tạp Chí Văn Nghệ.)
Sau bao năm vắng bóng trên thi đàn thơ nhạc của dân tộc Việt, nhưng dư âm và danh tiếng của hai thi nhân Đinh Hùng & Vũ Hoàng chương vẫn sống mãi trong lòng độc giả yêu thơ.
Khánh Lan, California 2026
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tạp chí Văn Học, Sài Gòn, số 97, 1969.
- Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 150, 3/1970.
- Lê Huy Oanh, Giai Phẩm Văn, Sài Gòn, 20/8/1974.
- Phan Xuân Sanh. Tạp chí Đại Học, số 9, 1959, Huế.
- Đoàn Thêm, Báo Văn Hóa Nguyệt san, Sài Gòn, 1964.
- Tạ Tỵ, Mười gương mặt văn nghệ, nxb Kim Lai, 1970 Sài Gòn.
- Bàng Bá Lân : Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại, 1962, Sài Gòn.
- Mai Thảo, Chân dung 15 nhà văn nhà thơ, Văn Khoa, 1985 California.
- Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Thơ, nxb Văn nghệ, 1999 California.
- Đỗ lai Thúy, Con Mắt thơ, nxb Lao Động, 1992, Hà Nội.
- Chế lan Viên, Phê bình văn học, nxb Văn Học, 1962, Hà Nội.
- Đặng Tiến, Từ điển văn học, tạp chí Thế Kỷ 21, 6/2005, California
-
LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ((Theory and Criticism of Literature and Arts)
Việt Hải Trần

VIẾT VỀ VĂN HỌC TIỂU LUẬN VỀ NHÀ VĂN LƯU NGUYỄN TỪ THỨC TÔI XOÁY VÀO 3 ĐIỂM:
Trước tiên hãy xét qua giá trị của Mỹ học trong văn học qua tác phẩm. Định nghĩa của Mỹ học, và quan niệm cùng bản sắc của mỹ học:
Mỹ học (Aesthetics) là một ngành triết học chuyên nghiên cứu về bản chất của cái đẹp, nghệ thuật và trải nghiệm thẩm mỹ. Đây là lĩnh vực đặt ra những câu hỏi căn bản về việc làm thế nào con người nhận thức, đánh giá và phản ứng trước các hiện tượng mang tính thẩm mỹ trong tự nhiên, đời sống, và sáng tạo nghệ thuật.
Trong mỹ học, trọng tâm nghiên cứu không chỉ là cái đẹp, mà còn là sự hài hòa, sự xúc động thẩm mỹ, và những hiện tượng nghệ thuật gây tranh luận về giá trị. Khác với cảm giác đơn thuần, kinh nghiệm thẩm mỹ thường bao hàm sự chú tâm, suy tưởng và cảm xúc sâu sắc.
Tại nhiều trường đại học và trung tâm nghiên cứu triết học lớn như Harvard, Oxford hay Sorbonne, Mỹ học được giảng dạy như một chuyên ngành độc lập, với phạm vi mở rộng đến văn hóa thị giác, kiến trúc, công nghệ và truyền thông. Bạn có thể tìm hiểu thêm tại Stanford Encyclopedia of Philosophy.
Lịch sử phát triển của mỹ học:
Nguồn gốc của mỹ học gắn liền với triết học Hy Lạp cổ đại, nơi các nhà tư tưởng như Plato và Aristotle lần đầu tiên thảo luận về nghệ thuật, cảm xúc và cái đẹp. Tuy nhiên, thuật ngữ “Aesthetics” (do từ Hy Lạp “aisthēsis” – cảm nhận) chỉ được định danh thành một ngành khoa học độc lập vào thế kỷ 18 bởi triết gia người Đức Alexander Baumgarten.
Baumgarten phân biệt giữa logic (lý trí) và mỹ học (cảm giác), xem mỹ học là “khoa học của tri thức cảm tính”. Từ đó, nhiều học giả châu Âu thế kỷ 18–19 như Kant, Hegel, Schopenhauer đã đóng góp các lý thuyết nền tảng cho lĩnh vực này.

Mỹ học mang tính chất chân thiện mỹ.
Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống, là tiếng nói của tâm hồn và khát vọng con người qua bao thế hệ. Từ thuở bình minh của nền văn minh nhân loại đến thời hiện đại, văn học không ngừng tìm kiếm và khẳng định những giá trị cốt lõi làm nên nhân cách và phẩm chất con người. Trong số đó, Chân – Thiện – Mỹ được xem là ba giá trị cao cả và bền vững nhất. Văn học chân chính không chỉ dừng lại ở việc kể chuyện hay mô tả cuộc sống, mà còn là hành trình dẫn dắt con người hướng đến cái chân thật, cái tốt đẹp, và cái đẹp đẽ trong đời sống cũng như trong tâm hồn. Những giá trị ấy là linh hồn của văn chương, là ánh sáng soi đường cho con người vươn tới nhân văn và nhân bản. Hãy cùng nhau tìm hiểu về những giá trị tốt đẹp này.
Mỹ Học – Aesthetics
“Chân” là cái thật, là yếu tố cốt lõi của nghệ thuật chân chính. Những câu chuyện, nhân vật, biến cố hay dòng suy tưởng trong tác phẩm đều mang trong mình khát vọng nói lên sự thật về con người, về đời sống, về xã hội. Qua đó, văn học thôi thúc người đọc sống trung thực, sống có lý tưởng và đối diện với bản thân mình.
“Thiện” là đạo đức, là lòng nhân ái, là cách đối đãi bao dung giữa con người với nhau. Các tác phẩm văn chương, hội họa, âm nhạc luôn gieo vào lòng người những hạt mầm của sự yêu thương, của tinh thần trách nhiệm, sống vì cộng đồng, tôn trọng lẽ phải và đấu tranh cho công lý.
“Mỹ” là cái đẹp, đẹp trong nghệ thuật tạo hình, đẹp trong ngôn từ và đẹp trong tư tưởng, hành vi, tâm hồn. Một bài thơ nhẹ nhàng, một bức tranh sâu sắc, hay một giai điệu dịu dàng… đều có thể đánh thức cảm xúc, giúp con người biết rung cảm trước cái hay, cái đúng, cái đẹp và sống tử tế, nhân hậu hơn.

Tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức đề cập về quan niệm Mỹ Học cổ bên Ðông phương, trường hợp của Việt Nam, như về việc đọc để hiểu tác phẩm văn học cũng là việc tìm sự cảm thông giữa những tâm hồn đồng điệu, là việc tìm giao cảm giữa những tâm hồn tri kỷ, tri âm.
Ví dụ trong niềm ưu tư đó mà Nguyễn Du khi kết thúc Truyện Kiều.
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Tư tưởng khóc Tố Như của ông là minh thị cho quan diểm triết thuyết nhân sinh quan Việt Nam, điểm nhân bản Việt Nam. Câu thơ chất chứa nét mỹ học trong văn học thi ca.
Tác phẩm mượn câu chuyện của nàng Kiều để vẽ lên bức tranh toàn cảnh về hiện thực xã hội phong kiến bể dâu, bi thương, kim tiền, xấu xa, tồi bại và đầy rẫy bất công ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19; đồng thời tác phẩm biểu hiện ước mơ giải phóng con người, đòi quyền sống, quyền tự do, công lý, tình yêu và hạnh phúc. ”Truyện Kiều” được xem là tập “Đại thành ngôn ngữ” của văn học Việt Nam.
Cái Mỹ học trong văn chương, hay những tác phẩm hay về mặt giá trị nghệ thuật xin nêu ra những danh tác sau.
Hoàng Ngọc Phách trong tiểu thuyết Tố Tâm:
Hoàng Ngọc Phách trong tiểu thuyết Tố Tâm (1924) đã dệt nên mối tình tuyệt đẹp giữa Đạm Thủy và Tố Tâm nhưng họ vẫn không bước qua được rào cản của lễ giáo phong kiến để xây ngôi nhà hạnh phúc. Chỉ vì “gia pháp nhà tôi còn nghiêm ngặt lắm, tình gia quyến tôi rất mạnh” nên khi cha mẹ định cho một nơi, Đạm Thủy phải lánh xa Tố Tâm, gạt nước mắt khuyên người yêu từ bỏ mình: “Ta yêu nhau, ta quý nhau như hạng người tri kỉ trên đời không thể có hai, thế nhưng cái bắt buộc của tình gia quyến tối thiêng liêng nó bảo ta phải bưng mắt ôm lòng mà chịu, biết nói sao đây. Thôi em yêu anh như thế cũng là yêu rồi, đừng yêu thêm nữa mà làm anh hối hận”. Còn Tố Tâm không dám cưỡng lại lời mẹ lúc “thập tử nhất sinh” đã phải lấy người mình không yêu để 36 ngày sau “chết vì hai chữ ái tình”.
Mỹ học qua những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, ví dụ diển hình như tác phẩm Hồn bướm mơ tiên:
Hồn bướm mơ tiên, quyển sách “có sức cám dỗ lạ lùng mà nhà phê bình sung sướng gặp được trong khi khảo cứu về văn học Việt Nam hiện đại” [5, tr. 60] đã đưa ra một vấn đề mới mẻ là đối lập tình yêu với hôn nhân: “Gia đình! Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ mà tiểu gia đình là… hai linh hồn của đôi ta ẩn núp dưới bóng từ bi Phật tổ”. Quan niệm này thời bấy giờ được coi là quan niệm có tính chất nhân văn, chống lại hôn nhân phong kiến. Mặt khác, bản thân tình yêu giữa Ngọc và tiểu Lan – một kẻ tu hành – đã mang tính phản phong sâu sắc.
Ngoài danh tác sáng lạng như Truyện Kiều của Nguyễn Du, một tác phẩm văn chương hướng đến Chân – Thiện – Mỹ. Giá trị nghệ thuật của Mỹ học cũng có nhiệm vụ nghiên cứu các triết thuyết liên quan đến nghệ thuật, các phê bình có tính cách triết lý của các nghệ phẩm, và thẩm định đặc tính triết học của các hành động nghệ thuật. Các phản ứng tình cảm và tâm lý của con người đối với các yếu tố của nghệ thuật như màu sắc, âm thanh, đường nét, hình tượng, và ngôn ngữ.
Một tác phẩm về văn học khác nên được lưu tâm như sau.
Dương Quảng Hàm và sách giáo khoa Việt Nam Văn Học Sử Yếu:
Việt Nam Văn Học Sử Yếu không những chỉ có giá trị khảo cứu về văn chương mà trong chừng mực nhất định còn có giá trị khảo cứu về văn hoá. Cuốn sách gối dầu làm nền cho văn học tham khảo hay bổ túc cải tiến dược hoàn chỉnh hơn bởi giới hậu bối.
PHẦN KẾ TIẾP XIN DIỂM QUA GIAI THOẠI SỰ BIẾN DẠNG VĂN HỌC:
Thưở nho học, hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục hành chánh ở bên Tàu từ thời Trung Hoa cổ đại, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc (770–221 TCN), và được du nhập vào Việt Nam từ đầu đời Hán đến thế kỷ 15, rồi nó trở thành Quốc giáo. Lịch sử văn học quanh khúc rẽ từ khi Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng lần thứ nhất là trận đánh mở đầu cho cuộc chiến tranh Pháp – Việt (1858 – 1884) và khi quân Pháp chiếm 3 tỉnh ở miền nam Viẻt Nam vào năm 1867, quân Pháp đã chiếm đóng các tỉnh ở Nam phần là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Sau thời kỳ này dần dần nền văn học nho học lu mờ nhường thời cơ cho văn học tây học, như thuở văn học phương tây như trường hợp nước Pháp, khi mà văn học rực rỡ ở Pháp vào những thế kỷ 18, 19, cũng là giai đoạn nước Pháp chiếm lĩnh Việt Nam, cái văn học rực rỡ ấy du hành sang Việt Nam, nước ta chịu ảnh hưởng văn học Pháp và bị ảnh hưởng nền văn hoc cổ đại nho học xứ Trung Hoa. Trong cái vận xui của lịch sử nước nhà, nhưng điểm chung cuộc, Việt Nam có nền văn hóa địa phương cá biệt hòa lẫn vào nền văn minh Pháp Hoa, những phần sau bài viết xin trình bày những tiểu tiết liên quan về văn học nho gia và văn học tây phương tại xứ ta.
THỜI GIAN BIẾN DẠNG VĂN HỌC NHƯ TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM:
Văn học Việt Nam từ thời nho học sang tây học, xét qua quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ xưa đến nay.
Khám phá quá trình phát triển của văn học Việt Nam để tìm hiểu về sự phát triển của văn học Việt từ thời xưa đến nay. Cuộc hành trình này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những văn bản, tác phẩm và những diễn biến quan trọng trong lịch sử văn học Việt. Bạn sẽ được tìm hiểu về những nhà văn, nhà thơ… đã đóng góp cho sự phát triển của văn học Việt. Hãy cùng khám phá quá trình phát triển văn học Việt Nam trong nội dung này như sau.
NGUỒN GỐC VĂN HỌC VIỆT: NHỮNG TÁC PHẨM CỔ ĐẠI.
Quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hiện đại là một bức tranh lịch sử đầy thú vị. Nó cho thấy rằng, qua các thời kỳ khác nhau, văn học Việt đã đạt được nhiều thành tựu và đã đạt được những bước tiến lớn trong việc phát triển văn học. Khám phá quá trình phát triển văn học Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những gì đã xảy ra trong quá khứ và cũng giúp chúng ta cảm nhận được sự phát triển của văn học Việt.
SỰ CHUYỂN GIAO TỪ NHO HỌC SANG TÂY HỌC.
Nhà nho truyền thống. Lúc này đã bị thời đại thay thế, nên đã rút lui về ngõ hẻm, hoặc thôn quê, nhưng thỉnh thoảng từ hậu trường họ vẫn thốt ra những tiếng nói lạc lõng. Chủ trương không chấp nhận văn hóa phương Tây. Khi nhà tây học bị nho hóa, là nhà tây học nhưng vì công việc liên quan đến văn hóa, xã hội Việt Nam nên họ phải học thêm Nho học. Tiêu biểu là Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký. Chủ trương Đông Tây kết hợp cùng Đông học. Nhưng cũng có những nhà tây học thuần túy. Họ muốn cắt đứt quá khứ để nhẹ bước theo con đường Âu hóa. Canh tân hóa, hiện đại hóa. Tiêu biểu là Nguyễn Văn Vĩnh, như Nhất Linh, xa hơn là Trương Vĩnh Ký.
NHỮNG NÉT ĐẠI CƯƠNG VỀ LÝ LUẬN – PHÊ BÌNH VỀ SỰ TIẾP NHẬN MỸ HỌC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG ĐÔNG.
Khái niệm Mỹ học cổ điển (Classical aesthetics) được sử dụng ở đây nhằm chỉ di sản mỹ học của nhân loại, trước hết là mỹ học phương Đông và phương Tây, từ thế kỷ 19 đổ về trước. Với Việt Nam, nói tới mỹ học cổ điển phương Đông, trước hết phải kể đến mỹ học và thi học cổ điển Trung Hoa. Nhìn lại lịch sử tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài, có thể nhận thấy tư tưởng lý thuyết của Việt Nam không phải bao giờ cũng hứng thú với tư tưởng mỹ học của Trung Hoa nói riêng và phương Đông nói chung. Quả vậy, từ thế kỷ 10 cho tới hết thế kỷ 19, mỹ học cổ điển Trung Hoa có ảnh hưởng toàn diện, trực tiếp tới hệ thống tư tưởng văn nghệ cổ điển Việt Nam. Nhưng ở nửa đầu thế kỷ 20, khi Nho học thất thế, cánh Tây học Việt Nam hướng về châu Âu, chủ yếu là Pháp, tìm kiếm ở đó những tư tưởng mỹ học mới mẻ để canh tân hóa nền văn nghệ xứ sở.
NHO GIÁO VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG CẬN ĐẠI.
Sau đây là nội dung tiếp nhận quan trọng từ di sản mỹ học và lý luận văn học cổ điển Trung Hoa trong các công trình dịch thuật và khảo luận của các dịch giả và giới nghiên cứu Việt Nam. Nhiều vấn đề thi pháp văn xuôi cổ điển Trung Hoa được khảo sát kỹ lưỡng trong Thơ văn cổ Trung Hoa
Tuyện Kiều Nguyễn Du cho thấy nét phong hóa nho gia mang dậm nét trong tác phẩm. Từ dây chủ đề văn hóa và sự du nhập cũng đã ảnh hưởng của Nho giáo đến giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam. Xét về học thuyết Nho giáo, quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo trong truyền thống văn hoá Việt Nam.
Nhận định sơ lược về học thuyết Nho giáo bên Trung Hoa thuở xưa là trung tâm văn hoá lớn của nhân loại trong thời kỳ cổ trung đại trải qua gần bốn mươi thế kỷ phát triển liên tục, lịch sử triết học Trung Quốc bao hàm nội dung vô cùng phong phú với những hệ thống triết học đồ sộ và sâu sắc. Điển hình qua tác phẩm như Tứ Thư gồm: Luận ngữ, Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử, bộ sách này do các học trò của Khổng Tử đã tập hợp những lời dạy của thầy mà soạn ra.
Vầ Ngũ Kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu. Mà nội dung của bộ sách này phần lớn có từ trước được Khổng Tử gia công san định, hiệu đính và giải thích. Do Khổng Tử có công đầu trong việc phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và truyền bá nên ông được xem là người sáng lập Nho giáo.
Nho giáo từ đời Hán (Hán Nho) đã được cải tạo, biến đổi, nhằm mục đích phục vụ vương triều.Cho nên từ đời Hán Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống chi phối văn hoá Trung Hoa và làm nền tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ vương triều Trung Hoa cổ xưa xuyên suốt hai ngàn năm lịch sử.
BÂY GIỜ HÃY XÉT VỀ NỀN VĂN HỌC VIỆT CHỊU ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHÁP:
Việc thưởng thức tác phẩm cũng trở nên thuận lợi hơn; từ thanh niên trí thức đến thiếu niên học trường Tây học đều dễ dàng tiếp cận thơ La Fontaine, Lamartine, kịch Corneille, Racine… Các đô thị xuất hiện; tiểu tư sản, trí thức Việt thụ hưởng, tiếp nhận và trở thành nhân vật chính trong nền văn học: dân nghèo thành thị – loại nhân vật tiêu biểu trong các tác phẩm như Ngựa người người ngựa, Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan. Việc tiếp nhận thuận lợi thông qua thấu hiểu nền văn hóa phương Tây chính là cơ sở cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật đi từ đơn giản đến phức tạp; từ cách người Việt dịch thuật, viết văn bằng tiếng Pháp đến văn chương Pháp đi vào văn học Việt theo cách mà thơ lãng mạn của thơ Khái Hưng chuyển thể thi ca Avers, hay thi ca mang âm hưởng Baudelaire trong thơ Vũ Đình Liên… Như vậy rõ ràng là có sự tiếp nhận một cách sáng tạo, biểu hiện khuynh hướng của văn học Việt Nam xa văn hóa nho học dể bước vào ảnh hưởng bên phía tây học, thuộc Pháp.
BÂY GIỜ HÃY XÉT VỀ NỀN VĂN HỌC VIỆT CHỊU ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHÁP:
Pháp là quốc gia như dã nói bên trên, Pháp có nền văn chương rực rỡ nhất nhân loại, cống hiến nhiều tác phẩm kinh điển, đưa ra trào lưu, tư tưởng có sức lan tỏa, ảnh hưởng rộng khắp. Văn học Pháp khi vào Việt Nam đã đem tới những thể loại mới: thơ ngụ ngôn, tiểu thuyết, văn xuôi. Văn chương Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền văn chương Pháp, đã có nhiều cách tân về hình thức, thay đổi trong phong cách, đề xuất tư tưởng mới.
Một số tài liệu nhận định cho rằng, Ngụ ngôn La Fontaine là tác phẩm văn học Pháp đầu tiên dịch thuật ở Việt Nam. Văn học Pháp đến với Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ 19. Theo một số nguồn tài liệu, tác phẩm đầu tiên của văn học Pháp được dịch ở Việt Nam là Chuyện Phang-sa diễn ra quốc ngữ (16 chuyện ngụ ngôn La Fontaine), xuất bản năm 1884 do Trương Minh Ký dịch. Năm 1885, Trương Minh Ký còn dịch Les aventures de Telemque với tên Tê-Lê-mạc phiêu lưu ký (đăng trên Gia Định báo).
Những năm 1920, một loạt tác phẩm văn chương lớn của Pháp được giới thiệu tại Việt Nam qua bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh như: Truyện ba chàng ngự lâm pháo thủ (A. Dumas), Những kẻ khốn nạn (Les Misérables, Victor Hugo), Truyện trẻ con (Les Contes, Charles Perrault), Truyện miếng da lừa (La peau de Chagrin, Honoré de Balzac),… Văn học Pháp thịnh hành tại Việt Nam đầu thế kỷ 20, tới mức hình thành nên một thể loại phóng tác theo tác phẩm văn học Pháp. Hồ Biểu Chánh là tác giả tiêu biểu cho PHONG cách này, với những tiểu thuyết như: Chúa tàu Kim Quy (phỏng theo Bá tước Monte-Cristo, Le Comte de Monte-Cristo d’Alexandre Dumas). Cay đắng mùi đời (phỏng theo Không gia đình, L’amertume de la vie (adapté de *Sans famille.), Ngọn cỏ gió đùa (phỏng theo Những người khốn khổ,
L’herbe qui ondule au vent (adapté des Misérables),…
Một phân đoạn quan trọng trong bài viết nay, xin nhìn về Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Nguyễn Minh Triết, hay nhà văn Lưu Nguyễn Từ Thức, ông đề cập như sau.
VỚI CHƯƠNG TÌM HIỂU DIỄN NGÔN VĂN CHƯƠNG HẬU THUỘC ĐỊA.
Đây là một đề tài mà chúng tôi nghĩ văn chương Âu châu vốn đã có thuộc địa, nên nhiều trước tác phẩm văn chương phản ảnh thuở thuộc địa như những danh tác: L’Amant (Nguời Tình) của nhà văn Marguerite Duras, The Quiet American của Graham Greene, La Voie Royale của André Malraux (về vương triều Cao Miên), Between Tears and Laughter của Lin Yutang (Lâm Ngữ Đường), The Good Earth (Đất lành) của Pearl S. Buck, The Jungle Book của Rudyard Kipling… Lưu Nguyễn Từ Thức ghi nhận là chủ nghĩa thực dân là một hình thức khai thác thuộc địa được phát triển theo với sự bành trướng của châu Âu trong thời gian 400 năm qua. Từ xa xưa nhiều nền văn minh Âu châu đã có thuộc địa và từ lâu chánh quyền đế quốc trung ương luôn luôn có uy quyền tuyệt đối trên các tỉnh thành ngoại biên và các nền văn hoá sơ khai. Sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân tại Âu châu đồng nghĩa với sự phát triển của hệ thống kinh tế tư bản trong đó các vùng đất thuộc địa được thiết lập để cung cấp nguyên liệu cho sự phát triển và củng cố các nền kinh tế tại chánh quốc. Sự liên hệ giữa quốc gia đô hộ và các nước thuộc địa hoàn toàn bất bình đẳng trên mọi phương diện kinh tế, chánh trị, văn hoá cũng như xã hội. Các sắc dân tại các quốc gia thuộc địa thường là những chủng tộc khác với sắc dân chánh quốc và bị xem thuộc loại chủng tộc thấp kém.
Người viết bài xin nêu ra về chủ dề Văn học lưu vong, văn chương ly hương.
Văn học lưu vong, văn chương ly hương (trường hợp như các ngòi bút ly hương xa xứ, dù bị bó buộc hay tự nguyện. Những văn tài từ Cuba, Nga, Do Thái, Việt Nam, Palestine, sang Phi Châu,…
Văn học lưu vong, văn chương ly hương là một nỗi chấn thương văn hóa, khi chữ nghĩa chảy máu tâm hồn nhà văn trên những trang sách. Chấn thương là một thuật ngữ y học nhằm diễn tả trạng thái cơ thể bị tổn hại do những tác động bên ngoài gây nên. Chấn thương còn là thuật ngữ tâm lý học và bệnh học để diễn tả những những khủng hoảng tinh thần của con người xảy ra sau những tổn thương nghiêm trọng.
Sự kiện rời bỏ đất nước ra đi- hành động di dời của hàng triệu người Việt Nam sau 1975, kéo dài trong cả hơn hai thập kỷ đã hình thành nên những cộng đồng Việt kiều tại hải ngoại, tạo nên những sự kiện chính trị- văn hóa- xã hội phức tạp. Văn học hải ngoại bắt nguồn từ việc kể lại những câu chuyện lưu vong thể hiện rất rõ những ám ảnh chấn thương của di dân Việt từ sau hành động di dời. “Chấn thương di dời” là một trong những nét đặc thù trong thi pháp tự sự lưu vong của văn học Việt Nam hải ngoại nói chung và truyện ngắn hải ngoại nói riêng.
Nỗi đau tâm hồn hay thể xác, ta có “Chấn thương di dời” và bi kịch lưu vong phi xứ. Câu chuyện về chấn thương là câu chuyện bi ai về một thứ kinh nghiệm đến muộn: kinh nghiệm chấn thương. Đó là chứng nhận về sự tác động vô hạn của chấn thương lên một cuộc đời. Chấn thương, hoặc là đẩy con người đối mặt với cái chết (labor gulag, boat peple,… ), hoặc tồn tại trong trạng thái khổ sở ngấm ngầm, dai dẳng và liên tục tái diễn vết thương trong phần đời còn lại. Tự sự chấn thương. “Lưu vong” hôm nay mãi mãi không còn là một khái niệm gợi lòng thương cảm. “Lưu vong” sẽ là trách nhiệm lương tri, trách nhiệm cảnh tỉnh, trách nhiệm đưa ra những cái nhìn đa góc độ trên cùng một thực thể hiện hữu, trách nhiệm của nhà văn với đất nước với nền văn hóa đã hoài hương của tác giả.
Giải Nobel 2000 dành cho một nhà văn lưu vong. Giải Nobel văn chương của Cao Hành Kiện, nhà văn đối lập lưu vong do sự kiện thảm sát Thiên An Môn, là cái kết đáng buồn cho cho một thế kỷ lưu vong. Cao Hành Kiện cho biết ông hầu như không đọc văn học Trung Cộng, du văn ở trong nước, cả văn học Trung Cộng tại hải ngoại. Ý ông muôn là hãy vượt lên trên biên giới quốc gia.

NỖI ĐAU RỜI BỎ QUÊ HƯƠNG:
Văn học lưu vong hay Văn học ly hương: Con người lưu vong như long thể treo lơ lửng trong khoảng trống giữa hai thế giới xa cách, ở hai xứ sở trong một tâm hồn và chính từ khoảng trống ấy, văn chương cất lên tiếng nói. Miền địa dư ký ức và chủ nghĩa quốc gia viễn cách, vì một nền văn học không nằm trên bản đồ. Một khi không thể thuộc về một lãnh thổ cụ thể bằng sự hiện diện thể xác, người lưu vong tự kiến tạo cho mình một nơi chốn bình yên, một không gian thích hợp để tác phẩm có nơi trú ngụ, ấy là không gian của những ký ức, những hoài niệm.
Trước hết, cần xác định ngay văn học Việt Nam ở bất cứ quốc gia nào khác ngoài Việt Nam, tự bản chất là văn học lưu vong. Văn học lưu vong (diaspora, exile literature) là chỉ sự phân tán hoặc lan tỏa của một cộng đồng cư dân rời khỏi quê hương gốc của họ; ví dụ như: “Cha mẹ, gốc gác của anh ấy là một phần của cộng đồng người Việt hải ngoại”. Xem xét việc sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện để diễn tả cảm giác lạc lõng, xa lạ. Nghiên cứu cách biểu hiện tinh thần dân tộc, hay cộng đồng sắc tộc được đề cập và sự liên kết giữa những người lưu vong.
Xét về ký ức và nỗi hoài hương, ký ức và nỗi hoài hương là những chủ đề mạnh mẽ trong văn học lưu vong, nơi các tác giả chiêm nghiệm về những trải nghiệm quá khứ và quê hương mà họ đã bỏ lại phía sau. Những chủ đề này thường xen lẫn với những kinh nghiệm do việc di tản viễn xứ, khi các tác giả phải đối mặt với những hồi ức nhiêu khê, vôn phức tạp trong sự việc muốn quên nhưng con tim ray rứt lại nhớ, muốn nhớ nhưng mỏi mệt lại quên.
Lấy ví dụ trong những tác phẩm tiêu biểu như Literature and displacement của nhà văn Holli Levitsky, hay New Palestinian Writing on Exile and Home của tác giả Penny Johnson, Exile And The Jews cúa tác giả Nancy Berg, hoặc Born In The Wrong Century của của Nhà Văn Khánh Lan. Những tác phẩm nói ở đây mang nội dung do ly hương hay do lưu vong mà ra sự biến đổi của nhân vật chính có thể được xem như một ẩn dụ cho tình tiết bi ai, đầy chông chênh, mất phương hướng của kiếp lưu vong, cũng như nỗi hoài hương về một bản sắc hay quê hương đã mất.
VĂN HỌC PHÊ BÌNH CỦA ROLAND BARTHES.
Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn học phê bình của Roland Barthes, nhà ký hiệu học (semiotician) là người nghiên cứu ký hiệu học kiểu mẫu trong lãnh vực phân tích các ký hiệu và biểu tượng cũng như cách thức sử dụng hay diễn giải chúng. Lĩnh vực này khám phá cách thức ý nghĩa được kiến tạo và thấu hiểu thông qua các hình thức giao tiếp đa dạng, bao gồm ngôn ngữ, hình ảnh và cử chỉ.
Ngoài học thuật phân tích, nhận xét theo khuôn mẫu hay như quan điểm về học thuật phê bình văn học như của Gustave Lanson, Jacques Derrida, Julia Kristéva, Northrop Frye, Maxim Gorky, Mikhail Bakhtin, Vissarion Belinsky, hay Roland Barthes, …
Phân doạn kế tiếp xin điểm sang chủ đề Phê bình văn học, hay những sáng tác khảo luận văn học.
Phê bình văn học được xem là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm dược nói tới.
Theo dòng lịch sử, những phán đoán phê bình xuất hiện hầu như đồng thời với sự xuất hiện của văn học, ban đầu với tư cách là những ý kiến của các độc giả thuộc tầng lớp quan trọng và hiểu biết nhất, trong số đó không ít người là cũng đồng thời là người sáng tác văn học. Trong những giai đoạn về phê bình văn học vẫn mang một ứng dụng tương đối khiêm nhường: đánh giá khái quát về các tác phẩm, giới thiệu tác phẩm với độc giả, khích lệ hoặc chỉ trích tác giả. Với sự phát triển của văn học, những mục tiêu và tính chất của phê bình văn học trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi bộ môn phải được phân nhánh và đa dạng hóa.
Từ thế kỷ 17 và nhất là từ thế kỷ 18, văn học trở thành lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù. Tương ứng với nó là sự hình thành các thiết chế xã hội của văn học như báo chí, xuất bản, công chúng, dư luận, là sự hình thành đời sống văn học như một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội. Phê bình văn học kiểu mới được phát triển trong bối cảnh đó của đời sống, trở thành một dạng thức xã hội của dư luận đối với văn học. Các mối liên hệ của phê bình văn học với văn học, đời sống xã hội nảy sinh tác phẩm văn học, công chúng văn học ngày càng phức tạp, đa dạng. Các trào lưu, khuynh hướng trong phê bình văn học nảy nở và phát triển mạnh mẽ tương ứng với sự nảy nở và phát triển của các trào lưu, khuynh hướng văn học.
Từ cuối thế kỷ 19 và trong nửa đầu thế kỷ 20, một số trường phái phê bình văn học nổi tiếng có thể kể đến, như phê bình phân tâm học, phê bình mới, phê bình thần thoại, phê bình chủ đề, phê bình hiện tượng luận, phê bình với hoạt động, ngôn luận đặc thù, đã tác động vào đời sống văn học và đưa tới những thay đổi trong xu hướng phát triển của văn học đương đại. Phê bình văn học đã trở thành một bộ phận lập pháp về lý thuyết cho sáng tác và nhân tố tổ chức của quá trình văn học.

GIAI ĐOẠN VĂN HỌC RỰC RỠ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA.
Hành trình dấn thân truy tầm ẩn ngữ văn chương trong văn học thời kỳ văn học rực rỡ của Việt Nam Cộng Hòa. Trên căn bản ấy, sự góp phần minh chứng rõ nét nhất hãy lấy nền tảng tinh hoa tri thức văn hóa, triết học, mỹ học của quan diểm khai phóng, nhân bản làm nền tảng luận giải, hay dể bình luận. Trước năm 1975, miền Nam VNCH đã có những tác phẩm khảo luận, nghiên cứu về văn hóa, triết học, đạo đức, luân lý của những Kim Định, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Trung,…, những danh tác uyên bác.
Khi nước Việt Nam nói chung còn nghèo, văn học xứ ta cũng còn nghèo so với nền văn học của nhiều nước trên thế giới, vì vậy chúng ta không nên lại nở làm ngơ “bỏ đi” một bộ môn văn học rất phong phú đa dạng, rất nhiều giá trị về tiềm tàng như văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975. Và việc nghiên cứu một cách thấu đáo, thận trọng trên tinh thần khoa học, khách quan, công bằng về những giá trị của văn học miền Nam là một việc làm rất cần thiết và cần sự đóng góp, chung tay, góp sức của mọi người. Phải thành thật mà nói thì môn phê bình văn học trong làng văn học xứ mình khá ít người dấn thân vào, vì sự thể dòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên môn, trong khi các xứ Âu, Mỹ, Nhật, Hàn,… họ tiến xa chúng ta, cho nên trong tác phẩm Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học, tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức đề cập về quan niệm tiến bước thẻo xu thế chung của thế giới, ông kỳ vọng, mong mỏi như sau:
“Tác giả sách Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học đề nghị nền văn học Việt Nam hãy sớm nhận thức để vượt ra khỏi các lũy tre để nhìn xem thế giới bên ngoài đang tiến bước hướng về phía trước và bỏ xa chúng ta, hãy khai phá các khu rừng thâm u kỳ bí của nền văn học thế giới. Nếu không mau thức tỉnh hầu sánh vai cùng người để cải tiến và nâng cao các chuẩn mực cho giá trị của mỹ học thì văn học Việt Nam sẽ khó thoát ra khỏi các vòng rào nhỏ hẹp của các thôn làng hoặc các bức tường rào của các ghetto văn học.”
RUDYARD KIPLING: “PHƯƠNG ĐÔNG LÀ PHƯƠNG ĐÔNG, PHƯƠNG TÂY LÀ PHƯƠNG TÂY”.
Nhà văn nổi tiếng đã viết câu “Phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai phương trời ấy chẳng bao giờ gặp nhau” chính là Rudyard Kipling. Câu này nằm trong bài thơ “The Ballad of East and West” (Khúc ballad về phương Đông và phương Tây) của ông, được xuất bản vào năm 1889. Thực ra khi mà thế giới sống chung toàn cầu hóa, quan niệm cổ hủ của Kipling không còn đúng nữa.
VIỆC DUNG HÒA ĐÔNG – TÂY TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM.
Trong thời đại ngày nay, quan niệm châu Âu trung tâm đã trở nên lỗi thời, trong lĩnh vực lý luận văn học cũng vậy. Nền lý luận có tính phân tích, khoa học của phương Tây cần phải được bổ sung cái uyên áo, thâm trầm và cách viết đầy tính nghệ thuật của lý luận phê bình văn học phương Đông. Chúng ta mơ ước có những bộ sách lý luận văn học, không chỉ trình bày tư tưởng lý luận phương Tây mà ngay cả phương Đông nữa, để thấy rằng, phương Tây và phương Đông gần nhau lắm bởi tính nhân loại phổ biến của nó, nhưng đồng thời cũng thấy văn hóa phương Tây và phương Đông cũng cho những bản sắc riêng, làm cho vườn hoa nhân loại thêm đa sắc nét đa dạng. Như thế có thể nói, thể nghiệm theo khuynh hướng tiểu thuyết mới của giới cầm bút ở miền Nam hẳn có ít nhiều đóng góp cho lịch sử phát triển của văn xuôi Việt Nam trong thế kỷ 20.
Cách phân biệt lưu đày thực sự và lưu đày trong tâm trí từ lâu đã được các nhà phê bình và nghiên cứu văn học đã đựơc quan tâm. Trong không khí chung ấy, rõ ràng hai chữ lưu đày, lưu vong mang một ý nghĩa sâu sắc, hàm chứa một giá trị nhân bản. Văn chương lưu đày, theo suy nghĩ của những nhà đối kháng như Nadine Gordimer (Nam Phi), Cao Hành Kiện (tên Hán tự- 高行健), phe Việt Nam ta tị nạn muôn thuở có quý vị như: Lê Tất Điều, Phạm Quốc Bảo, Ngô Thế Vinh, Vương Trùng Dương, Lưu Khánh Lan, Phạm Gia Đại,…, Milan Kundera (Tiệp khắc), Svetlana Alexievich (Nga), Otero Alcántara (Cuba), Vladimir Sorokin (Nga), Breyten Breytenbach (Nam Phi),… tất cả họ cùng cất cao tiếng nói như những loài chim di xa quê xưa: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”,… trở thành những tiếng nói của lương tâm, trở thành sự phản kháng quyết liệt đối với mọi chế độ đàn áp tư tưởng, phủ nhận quyền sống của con người. Thi ca não nuột, buồn tênh:
Một thủa Cao Tần bộc bạch tự hỏi:
Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới
“Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”
Hay,
Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ
(Bài thơ Phương Xa, Vũ Hoàng Chương).
Văn Học Lưu Vong:
Đất tạm dung là cõi ở trọ, cỡi trần gian cuộc đời cũng chỉ là cõi tạm quán trọ ven đường, xem thơ Cao gia nhé,… Văn học Việt Nam khi nào bạn ly hương và bạn ở bất cứ quốc gia nào khác ngoài Việt Nam, tự bản chất, bạn là văn học lưu vong (diaspora, exile literature).
Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực
Trên đường chênh chếch nắng mênh mang
Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc
Ðã chán nhân gian ở cuối đường.
(Chốn tạm dung, thơ Cao Tần).
Hay,
Chỉ là hiện thân của một người tử tù
Có gục đầu nhìn cuộc đời
Cũng chỉ như nhìn khung cửa nhà giam
Vẫn có một chút trời xanh
Nhưng rất nhiều đơn độc
(Di chúc, thơ Nguyên Sa)
Những tác phẩm dược nêu trên đây mang nội dung ly hương hay do lưu vong mà ra sự biến đổi của nhân vật chính có thể được xem như một ẩn dụ cho tình tiết bi ai, đầy chông chênh, mất phương hướng của kiếp lưu vong, cũng như nỗi hoài hương về một bản sắc hay quê hương đã mất.Khi suy luận, nghiền ngẫm về nguyên nhân qua hành trình và ý nghĩa của sự ly hương trong các tác phẩm. Nhận diện các tác giả tiêu biểu cùng những góc nhìn độc đáo của họ về sự lưu vong.Viết tham luận về tính thời sự và ý nghĩa của các chủ đề này trong xã hội đương đại. Cái đẹp chính là cuộc sống: muốn khẳng định nguồn gốc và đặc trưng của cái đẹp trong tác phẩm văn học. Cái đẹp ấy phải bắt nguồn từ đời sống, phải gắn bó và phục vụ đời sống.
VĂN HỌC NGHỆ THUẬT – GUY DE MAUPASSANT.
Văn học không thể không nói đến, hay không thể không quan tâm về vấn dề luận giải. Văn học chỉ có thể tồn sinh trong xã hội, khi văn học luôn quan tâm đến những vấn đề thuộc về con người với các mối liên hệ của nó. Khi xét trên bình diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Khi bàn về vấn đề phê bình văn học nghệ thuật, Guy de Maupassant cho rằng:
“Nhà phê bình xứng đáng với danh từ cao đẹp của nó phải là người không thuộc về khuynh hướng nào cả, không có những ưa thích riêng tư nào cả, không thiên kiến gì cả, và như nhà chuyên môn xem tranh, họ chỉ nghiên cứu đánh giá các bức tranh theo giá trị nghệ thuật của mỗi thứ. Nhà phê bình không chỉ là người khám phá và sáng tạo cái đẹp mà còn giải mã cái đẹp văn chương để định hướng mỹ cảm cho người tiếp nhân”.
KẾ NỮA HÃY DẰO SÂU VÀO CHUYÊN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC.
Phân tích tác phẩm *Người mẹ* của Maxim Gorky.
Trong số những tiểu thuyết quan trọng của Maxim Gorky (1868–1936), “Người mẹ” là tác phẩm nổi tiếng nhất. Tại Liên Xô, giới phê bình đã tôn vinh “Người mẹ” như một tác phẩm mẫu mực cho thể loại văn học mới – chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với các đặc điểm chính là ghi khắc xu hướng hiện thực trong quá trình phát triển cải cách xã hội, và tác phẩm “Người mẹ” là tác phẩm bắt buộc phải học tại các trường trung học, và nhiều thế hệ về sau.
Quan diểm về Lý thuyết và Phê bình Văn học – Lý thuyết chính của Jacques Derrida.
Jacques Derrida (1930-2004) nổi lên vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970 với việc xuất bản các tác phẩm Of Grammatology (1967), Writing and Difference (1967) và Margins of Philosophy (1972). Tên của Derrida gắn liền với thuật ngữ ‘Giải cấu trúc’.
“Giải cấu trúc” (Deconstruction) của Jacques Derrida là gì?
Déconstruction là một lý thuyết và là một phương pháp phê bình bắt nguồn từ các công trình của nhà triết học Pháp Jacques Derrida (De la grammatologie, 1967), thuyết tạo ra những ảnh hưởng to lớn tại Hoa Kỳ trong những năm 1970-1980. Lý thuyết này liên quan đến việc làm phát lộ ra những áp lực, những mâu thuẫn xuyên suốt các văn bản, ngăn cản những văn bản này đạt tới một sự biểu hiện ý nghĩa trọn vẹn rõ ràng, có thể xác định được. Lý thuyết này cho rằng tất cả những phân tích văn chương xác quyết có thể đạt được ý nghĩa “hiển nhiên” của một văn bản luôn bắt nguồn từ một dạng thức quyền lực nào đó, do nhân danh một chủ thể nào đó, kẻ bảo đảm có được một sự dàn dựng kết nối chặt chẽ với ý đồ ban đầu. Người ta manh nha sửa đổi hầu bỏ qua những chi tiết làm sai lệch đi cái cấu trúc của một sự diễn đạt luôn không chấp nhận những vết nứt gẫy, hư sai ấy.
Các nhà giải cấu trúc tự biện luận đánh giá mình là “đạo đức” bởi vì họ thừa nhận tính khác biệt của văn bản, thừa nhận cái vị thế của văn bản như là một hiện tượng thuần túy ngữ nghĩa trước là đối tượng của một sự suy xét về mặt tư tưởng đạo đức. Quá trình cấu tạo văn chương trong văn bản ở đây được xem qua việc sửa sai hầu khắc phục sự thiếu sót của ngôn ngữ, để tránh né sự sai phạm trong việc giải thích về hiện trạng, đồng thời đó cũng luôn là một nỗ lực tuyệt vọng, khi bị kết án thất bại ngay ở bước khởi đầu, qua những ý nghĩa trọn vẹn. Giới chính trị, báo chí Hoa Kỳ dã dùng thuật ngữ “Deconstruction” phổ biến này.
Tác phẩm Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học cũng đề cập khá rõ về lý thuyết của Derrida về Giải cấu trúc (Deconstruction).
Việc phê bình văn học có nên được coi là một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt với lý thuyết văn học hay không là một vấn đề gây tranh cãi. Ví dụ, cuốn “Hướng dẫn về Lý thuyết và Phê bình Văn học của Đại học Johns Hopkins” không phân biệt giữa lý thuyết văn học và phê bình văn học, và hầu như luôn sử dụng các thuật ngữ này cùng nhau để mô tả cùng một khái niệm. Một số nhà phê bình coi phê bình văn học là một ứng dụng thực tiễn của lý thuyết văn học, bởi vì phê bình luôn trực tiếp đề cập đến các tác phẩm văn học cụ thể, trong khi lý thuyết có thể mang tính tổng quát hoặc trừu tượng hơn.
Phê bình văn học thường được xuất bản dưới dạng tiểu luận hoặc sách. Các nhà phê bình văn học hàn lâm giảng dạy tại các khoa văn học và xuất bản trên các tạp chí học thuật, trong khi các nhà phê bình nổi tiếng hơn xuất bản các bài đánh giá của họ trên các tạp chí có lượng phát hành rộng rãi như The Times Literary Supplement, The New York Times Book Review, The New York Review of Books, London Review of Books, RadioFrance Critiques Littéraires, Paris Review Book, Revue critique de fixxion française contemporaine, BibliObs Critiques de livres, Dublin Review of Books, và The New Yorker,…

Tóm lại, sau những trang nhìn về Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức, người viết bài xin khép dề tài qua những dòng chừ sau đây.
Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức cho người dọc một số kiến thức chính luận, tham luận về văn học nói chung, trên căn bản giáo khoa hàn lâm. Lý thuyết phê bình cung cấp một khung cửa về lý thuyết văn học phong phú và đa dạng cho việc phân tích văn học chuyên sâu, cho phép người đọc tiếp cận văn bản một cách thấu đáo và khám phá những tầng lớp lang chữ nghĩa đa chiều. Khi xét qua việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử, các hệ thống tư tưởng và các vấn đề mà chủ đềne6u ra, người đọc có thể phát triển, tự tìm hiểu mục tiêu sâu sắc và tinh tế mà tác phẩm luận bàn về văn học.
Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức cho người dọc một số ý kiến cần thiết khi nhìn về văn học. Vì văn học chính là cầu nối giữa trái tim người và người, với trái tim giữa tâm hồn với tâm hồn. Văn học là chất xúc tác hay chất phù sa cho tâm hồn con người. Văn học luôn luôn thấu hiểu những tâm tư tình cảm những nỗi niềm sâu lắng từ tiềm thức, một ngưỡng cửa chan hòa rung cảm muôn thuở của nhân loại . Mà khát vọng muôn đời của nhân loại chính là đích điểm vươn đến những giá trị Chân – Thiện – Mỹ, vượt thoát khỏi giới hạn tồn tại của không gian và thời gian để hướng đến những giá trị vĩnh hằng, bất diệt. Những cái đẹp độc đáo, khác thường đã xuất hiện trong văn học như một lẽ rất tự nhiên.

Trần Việt Hải, California 2026
-
NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM: NGƯỜI ĐI TÌM DĨ VÃNG
Việt Hải

Đây là một Tuyển tập gồm 24 truyện ngắn, sách mang đề tựa truyện ngắn Người Đi Tìm Dĩ Vãng, cốt truyện mô tả chuyện tình giữa 2 nhân vật, thương nhau trong thời chiến, chàng theo học khóa sĩ quan ở Nha Trang, nàng là học viên khóa Sư Phạm Qui Nhơn, họ yêu nhau trong mối tình ở miền thùy dương cát trắng, sau biến cố mất miền Nam Việt Nam, chàng di tù Việt Cộng, cha chàng theo CS tập kết ra bắc, nhưng ông không giúp gì được cho chàng. Chàng không đủ điều kiện sang Mỹ theo chương trình HO, vì số năm tháng ở tù không hội đủ, chàng phải sống bằng nghề nấu rượu lậu, trong cảnh chán nản cuộc đời chàng hay say xỉn, xỉn say. Kết quả chàng bị bệnh ung thư gan.
Môt khi chọn hành nghề nấu rượu lậu, một vốn … bốn lời, ban đầu thì còn ngần ngừ, e ngạì, nhưng khi đói đầu gối cứ phải bò, ông vẫn phải làm những việc mà mình không hề muốn. Với những chén rượu hằng ngày tự bàn tay của chàng cất rượu ra, lâu dần đã gậm nhấm từng tế bào da thịt, biến chứng do cồn biến dạng từ hình hài lẫn tình cảm, giết chết hẳn một con người oai hùng, hiên ngang một thuở chinh chiến, giết luôn cả phần tương lai còn lại với chứng bịnh ung thư gan. Nguyên nhân do tâm sinh lý đều bịnh hoạn. Chàng ra di. Trút sạch nợ trần gian, như lời nói của ông chủ quán bán bên đường nói:
“….. cũng nên đi sớm cho khoẻ tấm thân…”
Còn người đàn bà ngồi trên xe trở về lại thành phố, bên tai vẫn còn nghe văng vẳng tiếng khóc và lời kể lể của người góa phụ vừa khoác áo tang chồng:
“Từ lúc tui dìa làm dợ ổng, tui cứ thấy ổng buồn quài (hoài), nhưng hỏi ổng đâu có nói. Rồi thời cuộc đưa đẩy, ổng ở tù dià, cứ lầm lầm lỳ lỳ. Khi cha con gặp lại nhau, họ cãi nhau quá trời, nói cũng vì ông cha theo cộng sản mà ổng mất hết, sống cũng như chết, làm hại cả một đời mẹ con ổng, mà cuối cùng cũng chẳng được, dù quyền cao chức trọng gì, lại còn nghèo xác nghèo xơ. Hai cha con đã không có gần gũi đến khi cha ổng mất. Còn tài sản thì mấy đứa con riêng của ông cha chiếm hết, vì họ có quyền, nên anh em cũng không thựng (thuận) thảo, tới lui. Tui cứ nghĩ cộng sản dô nên ổng trở dìa làm dân, mất hết, tui đâu biết ổng nói xa nói gần, mãi đến khi gần chết, ổng mới kêu mẹ con tui lại, ổng xin lẫu (lỗi) đã không làm tròn bổn phận làm chồng, làm cha trong bao nhiêu năm qua, biểu tha lẫu (lỗi) cho ổng, rầu (rồi) ổng khóc nói hầu (hồi) trước ổng có yêu một ngừ (người), mà tại lý lịch cha ổng, nên ổng để mất ngừ (người) ta…. May mà chị đã dià nhằm ngày đưa đám tang ổng, chắc ổng cũng được ngậm cừ (cười) nơi chín suối… “(hêt)
Câu truyện kể về một dĩ vãng u buồn, xót xa do số phận con người, theo nhà thơ Vũ Hoàng Chương cho là “sinh lầm thế kỷ” (theo bài thơ Phương xa), quá bi ai, bi đát. Tác giả Hoài Niệm khéo léo xây dựng cốt truyện dựa vào những dữ kiện thật đã xảy ra trong xã hội ở miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư. Tác giả cho đoạn kết luận mở (open conclusion, conclusion ouverte), kết luận dùng một đoản văn phương ngữ Ninh Hòa, khiến cho độc giả bật cười nhẹ nhàng, một cảm nhận thú vị hóm hĩnh và ý nhị vui tươi dí dỏm, tạo ra yếu tố hài hước tinh tế.
Văn hào Nga Maxim Gorky nhận xét về lối văn xuôi, văn chương, người viết văn viết lên những câu chuyện phản ảnh những sinh hoạt xung quanh dời sống. Tôi cho là nhà văn Hoài Niệm là điển hình cho một ngòi bút về tiểu thuyết, hay truyện ngắn xuất sắc, cú pháp vững chắc, bà dùng lối văn viết rõ ràng, mạch lạc dễ hiểu, theo nguyên tắc sư phạm ứng dụng. Bố cục của nhiều câu truyện trong tuyển tập này, dựa theo những chuỗi sự kiện dược sắp xếp theo tuần tự hợp lý và vững chắc. Dĩ vãng hay hoài niệm là chuổi thời gian đã qua, dù khôn nguôi, nhớ hoài cho tôi liên tưởng đến tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” (Pháp ngữ là À la recherche du temps perdu) là bộ tiểu thuyết kễ về dĩ vãng dã qua, cuốn Tiểu thuyết này được xếp vào trong số 10 cuốn tiểu thuyết được thanh niên Pháp ưa thích nhất trong thế kỷ 20. Tạp chí Time cũng bình chọn Đi tìm thời gian đã mất nằm trong danh sách mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại.
Thêm nữa, tôi liên tưởng tiểu thuyết sự gần gũi giữa tác phẩm Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm vã cuốn tiểu thuyết Dĩ Vãng Khôn Nguôi của nhà văn Khánh Lan do yếu tố có cùng dĩ vãng 30 tháng Tư năm 1975 của Việt Nam Cộng Hòa.

Trong tập sách Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm có truyện ngắn mang tên là Tâm Sự Barbara. Đây là cốt truyện về con chó mang tên Barbara, Barbara sống trong một gia đình người Mỹ sung sướng, về sau Barbara lạc phận mệnh số, dù Barbara, bị gia chủ cho phẩu thuật triệt sản (sterilization surgery), no more sex impact mây mưa, trường chay mãn kiếp, tu thân tích đức. Rồi Barbara lạc phận vào một gia dình phật giáo Việt Nam, chó Barbara trải qua kiếp văn hóa Việt, nào những thi ca như Thịt cầy mà thiếu lá mơ, như thuyền không bến, như thơ không vần, hay thi ca về em Barbara, như sau:
Riềng tươi thịt chó cũng tươi
Lá mơ gói lại chúng cười với nhau
Tu hành ta hãy mau mau
Rót thêm chén rượu trước sau vẹn toàn
….
Lá mơ mọc trước cổng chùa
Khóm riềng hậu viện còn đùa gió thu
Nửa đêm nghe tiếng chó tru
Sáng ra đã thấy thợ tu nướng dồi
Anh chỉ ước một thảo nguyên đầy Chó,
Một cánh đồng bát ngát lá mơ xanh
Một dãy sân sau đầy riềng, sả, ớt, hành
Một dòng sông chứa đầy bia với rượu
Ðể nơi ấy tháng ngày anh tu luyện
Xa bụi trần gian đánh chén Barbara,…
Bài thơ khác về Barbara.
Nghe vẻ nghe ve…
Nghe vè thịt chó
Đứa nào chịu khó
Nấu nước cạo lông
Đứa nào ở không
Đi mua đồ nấu
Đứa nào xấu xấu
Xắt sả nạo dừa
Đứa nào không ưa
Đi ra chỗ khác
Tao làm một lát
Xúm lại mà ăn
Đừng có lăng xăng
Thiên hạ đàm tiếu
Con chó chút xíu
Chín mười thằng ăn
Đừng có xỉa răng
Sau khi ăn chó
Chút thịt dính đó
Ba bữa còn thơm
Xỉa ra ăn cơm
Vẫn còn ngon chán!
Nếu mà có ngán
Rượu đế đưa cay
Vừa đã vừa say
Cao lương không đổi
Thịt chó ăn tối
Mát bụng ngủ ngon
Vợ chồng thêm con
Barbara tình em
Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè thịt chó,…
Barbara tinh em
Hỡi em Barbara,
Sống trên đời ăn miếng dồi chó
Chết xuống âm phủ, biết có hay không?
Tác giả Hoài Niệm cho em Barbara vào chùa Phật giáo nghe kinh kệ Nhân Quả Luân Hồi ,… Phần lớn người Việt dù có theo hay không theo đạo Phật thì trong thâm tâm vẫn hướng thiện, việc sát sinh hoặc ăn thịt cầy là những điều cấm kỵ. Trong một nghiên cứu về văn hóa học, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Chương của Viện Đại học Đà Lạt khi bàn về việc ăn thịt cầy và quy luật âm dương ngũ hành đối với sức khỏe con người, ông cho rằng, một mặt, giáo lý Phật giáo cấm sát sinh, một mặt thịt cầy là món ăn nhiều đạm, khi ăn thịt cầy thường phải uống rượu. Nhập vào cơ thể nhiều đạm lại có thêm rượu sẽ tạo nên hưng phấn, khiến con người có những hành vi mây mưa ong bướm, những hoạt động không chuẩn mực chân tâm thánh thiện như ngay trong ngày thường. Trong dân gian thường rất kiêng kỵ ăn thịt cầy, hay thịt chó, tức là con gái Barbara, của bà Hoài Niệm.
Bây giờ hãy xét qua mối tương quan giữa nghiệp báo và sự kiện tái sinh. Luân hồi dựa trên nghiệp (karma) tức hành động có chủ đích. Với chó, một sinh vật có bản năng, nghiệp của nó chủ yếu do chủ nhân và môi trường tạo ra. Một con chó được dạy dỗ tử tế, bảo vệ chủ, giúp đỡ người khác, thì nghiệp lành của nó được tăng cường. Ngược lại, chó được huấn luyện để cắn, giết, sẽ tạo nghiệp ác, dẫn đến kiếp sau khó lên khi đầu thai hóa kiếp.
Trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa, có câu chuyện về một con chó bị chủ đánh đập, nó chạy đến chân Đức Phật khóc. Đức Phật bảo: “Trong kiếp trước, con gái Barbara là người bóc lột người khác, nên nay rơi vào kiếp chó Barbara để trả nợ. Nhưng vì nó vẫn giữ được lòng trung thành, nên Barbara con gái sẽ được siêu thoát”. Điều này cho thấy nghiệp báo không tuyệt đối, sự hối cải và đức hạnh trong kiép hiện tại vẫn có thể thay đổi vận mệnh tương lai.
Các nhà nghiên cứu tâm lý học và khoa học thần kinh động vật (Researchers in animal psychology and neuroscience) cũng đề cập đến khả năng “tái sinh” dưới góc độ ý thức và trí nhớ. Bác sĩ thú y và nhà hành vi học động vật, Dr. Alexandra Horowitz, trong cuốn “Inside of a Dog”, chỉ ra rằng chó có ký ức cảm xúc mạnh mẽ, trí nhớ lâu dài về con người và nơi sống. Một số người tin rằng, khi một con chó quá trung thành, ký ức và tình cảm của nó có thể “chuyển tiếp” sang một đời người mới, tạo nên cảm giác quen thuộc. Tuy vậy, từ góc độ khoa học, đây chỉ là giả thuyết, không có bằng chứng sinh học. Niềm tin vào luân hồi chủ yếu thuộc về tâm linh và văn hóa. Điều quan trọng là nó tác động tích cực đến hành vi của con người: đối xử tốt hơn với thú cưng, vì có thể họ đang đối xử với một linh hồn từ kiếp trước.
Con gái Barbara, của bà Hoài Niệm ở phần kết luận khá thương tâm, u buồn như sau: “Con chó Barbara trong câu chuyện đã già và bịnh nặng không còn sức sống nữa, nên chủ nhà đã nhờ Bác sĩ thú y đến tận nhà, chích một mũi thuốc cho nó nhẹ nhàng ra đi. Và sau đó họ đem con chó đi hoả thiêu… Chỉ có người nuôi chó mới cảm thông nỗi đau khi tiễn con chó cưng Barbara nuôi mười lăm năm dài đã ra đi, không khác gì mất một người thân, nên chuyện khóc tiếc nuối không tránh khỏi.
Adieu Barbara! Farewell Barbara! Sayonara Barbara!
Cùng đề tài văn học Barbara của thi hào Pháp Jacques
Prévert (*)
———————————————————————-
(*): Jacques Prévert (1900 – 1977) là nhà thơ hiện đại nổi tiếng của Pháp, được công chúng yêu mến bởi ngôn từ bình dị nhưng không kém phần tinh tế. Ông cũng là tác giả gốc của bài hát nổi tiếng Lá Mùa Thu (Autumn Leaves).
Thành Brest là nơi mà nhà thơ gặp cô gái có tên Barbara, nằm ở miền Bắc nước Pháp, là nơi có một căn cứ tàu ngầm của hải quân Đức trong thế chiến thứ hai. Vào những ngày cuối chiến tranh, Brest bị bom đạn san phẳng, chỉ còn lại ba ngôi nhà còn đứng vững. Bài thơ Barbara của Jacques Prevert gợi lên sự ám ảnh về tình yêu, mất mát và ký ức trong bối cảnh thành phố Brest nước Pháp bị phá hủy trong Thế chiến II. Nó kể về câu chuyện tình yêu nồng cháy, bị cắt đứt một cách bi thảm. Lời thơ giản dị mà trữ tình. Barbara có thể là người tình của tác giả, cũng có thể là nhân vật tượng trưng cho tình yêu thời chiến.
Trích doạn thơ Barbara như sau:
Barbara hỡi, hãy nhớ
Em đừng quên
Cơn mưa ngoan hiền hạnh phúc đó
Trên khuôn mặt em hân hoan
Trên thành phố bình an
Cơn mưa trên mặt biển
Trên xưởng tàu
Trên con tàu ven đảo Ouessant.
Rappelle-toi Barbara
N’oublie pas
Cette pluie sage et heureuse
Sur ton visage heureux
Sur cette ville heureuse
Cette pluie sur la mer
Sur l’arsenal
Sur le bateau d’Ouessant
Hỡi Barbara
Cuộc chiến tranh xuẩn ngốc xiết bao
Còn em giờ đã ra sao
Dưới trận mưa lửa thép
Dưới trận mưa máu trào
Và người từng siết chặt em trong tay
Tha thiết ngày nào
Hiện sống còn đã mất hay biền biệt âm hao
Hỡi Barbara.
Oh Barbara
Quelle connerie la guerre
Qu’es-tu devenue maintenant
Sous cette pluie de fer
De feu d’acier de sang
Et celui qui te serrait dans ses bras
Amoureusement
Est-il mort disparu ou bien encore vivant
Oh Barbara
Kết luận cả hai Barbara của Lê Thị Hoài Niệm, hay Barbara của Jacques Prévert đều cảm động và bi ai nổi lòng ở kết cuộc mang nhân bản tính. Xin cám ơn cả hai Barbara của Lê Thị Hoài Niệm, hay Barbara của Jacques Prévert trong văn học khai phóng nhân ái của con người.
Việt Hải, California 2026
-
THƠ PHỔ NHẠC BỞI THI NHẠC SĨ THA NHÂN
Thơ Việt Hải Khúc Hát Thuyền Nhân 2 versions
Version 1:
https://www.youtube.com/watch?v=iIqVeMl9ncA : bản Karaoke version 1
Version 2
https://www.youtube.com/watch?v=Wc5X1Agfh5E : bản karaoke Version 2.
Thơ NS Dương Hồng Anh:
1/. Ca khúc Dĩ Vãng:
https://www.youtube.com/watch?v=F-Q2nL7wBpA : Dĩ Vãng
https://www.youtube.com/watch?v=j1U7AFM6mI4 : ck Dĩ Vãng bản Karaoke
2/. Mừng XUÂN
PQNpuMOXtDjrhNo6OGY7EX_QXUp3Bv_&index=16.
-
MỘT THOÁNG NHỚ
Việt Hải & Khánh Lan

Tại tư gia của nhà thơ Minh Đức Ngô Thiện Đức ngày 10 tháng 4, 2026, buổi hội ngộ văn chương và nghệ thuật do hai Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian thực hiện. Ghi nhận có sự góp mặt của nhiều gương mặt sinh hoạt về văn học và nghệ thuật.

Ngọc Quỳnh, TS Quỳnh Giao, Cô Vĩnh (phu nhân cùa HS Hoàng Vinh, NS Dương Hồng Anh

Nhóm Tây Ban Cầm, Tơ Vàng cùng KG NV Vương Trùng Dương, KG NV Phạm Quốc Bảo, Mạnh Bổng, HS Hoàng Vinh

Nhóm Tơ Vàng Trình diễn với nhạc phẩm Lối Về Xóm Nhỏ

KG NV Vương Trung Dương, NV Việt Hải, KG NV Du Miên, GS Dương Ngọc Sum, NS NV Dương Viết Điền

Madame Phiến Đan, NV Khánh Lan, TS Minh Đức, NS Dương Hồng Anh, GS Dương Ngọc Sum, CNS Lâm Dung, GS Quyên Di
Ngoài quý giáo sư và văn thi sĩ, ký giả tại vùng Orange County, nhóm Tây Ban Cầm Tơ Vàng do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân thành lập, cựu thiếu tá Cảnh Sát Phan Tấn Ngưu, ông cũng là người bạn tù suốt 17 năm cùng Nhà văn Phạm Gia Đại và ông Tế Hữu, niên trưởng của trường Trung Học Chu Văn An. Chúng tôi cũng nhận thấy một số ký giả và nhà văn tại vùng San Jose như Ký giả Lê Bình, Chủ tịch hội truyền thông báo chí Bắc California và phu nhân, nhà văn Bạch Phụng.

Chúng tôi cho đây là chương trình văn học vì có sự trình làng 3 tác phẩm đặc sắc gồm: Tưởng Nhớ GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, Mừng Thọ & giới thiêu sách về GS Dương Ngọc Sum, và Tuyển Tập Tam Nữ Nhân gồm nữ sĩ Dương Hồng Anh, ca nhạc sĩ Lâm Dung và nhà văn Khánh Lan (NVNT MAGAZINE, số 1). Tham dự buổi RMS, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của Madame Xuân Vinh Phiến Đan, phu nhân của cố GS. Nguyễn Xuân Vinh. Chúng tôi cũng ghi nhận sự hiện diện Cô Dương Quỳnh Như, ái nữ của GS Dương Ngọc Sum, cháu ngoại và nhiều cựu học sinh Petrus Kỳ góp mặt như Đặng Quý Mão, Quỳnh như, v.v…

Madame Xuân Vinh Phiến Đan, Madame Lệ Hoa, NV Việt Hải, KG Du Miên, GS Dương Ngọc Sum, NV Dương Viết Điền, Cựu Thiếu tá Phan Tấn Ngưu
CHUẨN BỊ CHO BỮA ĂN TRƯA

KHAI MẠC CHƯƠNG TRINH RMS
Trong bầu không khí thân mật và ấm cúng, Thi sĩ Minh Đúc Ngô Thiện Đức ngỏ lời chào mừng quý quan khách tham dự, đồng thời giới thiệu một chi nhánh mới của văn học, Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa. Mục đính của buổi RMS cũng được anh đề cập đến. Sau hết, anh mời quý quan khách dùng bữa ăn trưa thân mật trước khi khai mạc chương trình RMS.

Chương trình bắt đầu với những bằng tưởng lục về đóng góp văn hóa của Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Westminster cấp, do bà Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Frances Nguyễn Thế Thủy nhờ GS Quyên Di chuyển Chương trình RMS khai mạc lúc 1:15 pm, 3 MC chính của buổi họp mặt là NV Phạm Gia Đại, GS Trần Mạnh Chi và Mộng Thủy.

Các bằng tưởng lục này được các đại diện KG NV Phạm Quốc Bảo trao cho NV Khánh Lan, Nghệ sĩ Minh Khai em gái NS Lam Phương trao cho CNS Lâm Dung và HS Hoàng Vinh trao cho NS Dương Hồng Anh.

Sau đó, bằng tưởng lục đóng góp về văn học nghệt thuật do Ban Sáng Lập và điều hành của hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cấp phát ghi nhận những thành quả về phạm trù chuyên môn của 3 hội viên trên.

Do các Giáo Sư và Văn Thi Sĩ đại diện hội trao tặng cho NS Dương Hồng Anh, CNS Lâm Dung và NV Khánh Lan

TƯỞNG NIỆM GS KHG NGUYỄN XUÂN VINH

Tác phẩm tưởng nhớ do NVNT & TTG thực hiên & xuất bản
GS Quyên Di đại diện hai liên nhóm mở đầu Phần tưởng niệm GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, ông nói về lý do vì sao lại có ngày tưởng niệm GS Vinh. Sau đó, NV Việt Hải nói ngắn gọn lòng kính phục và quý mến của ông đối với GS Vinh khi GS Vinh còn sinh thời và sự nuối tiếc một KHG vĩ đại của thế giới. Tiếp theo, NV Việt Hải trao tặng sách tưởng niệm GS Nguyễn Xuân Vinh do Liên Nhóm NVNT & TTG thực hiện.

Trong giây phút ấy, chúng tôi nhận thấy mắt Madame Phiến Đan ngấn lệ, giọng nói của bà nghẹn lại như đang cố kìm lại cơn xúc động, khi ngỏ lời cám ơn đến những tấm lòng kính trọng và ngưỡng mộ một nhân tài của thế giới của hai nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG và VCV & TDX).

Tiếp đến là GS Quyên Di đại diện cho bà Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Westminster, Frances Nguyễn Thế Thủy chuyển bằng tưởng lục đến cho Madame Xuân Vinh Phiến Đan qua tay cựu Thiếu Tá Phan Tấn Ngưu trao tặng cho bà.

Đồng thời GS Quyên Di cũng chia sẻ những kỷ niệm của ông với gia đình GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, một mối thân tình mà chúng tôi cho là “rất kỳ ngộ”. Bởi GS Quyên Di là một người rất ngưỡng mộ tài năng của GS Vinh, vì thế GS Quyên Di thường hay đến thăm GS Vinh luôn, nhất là khi GS Vinh trở thành người công giáo để cùng tham khảo về Thiên Chứa Giáo. (GS Quyên Di cũng nhấn mạnh: “GS Vinh theo đạo công giáo không phải vì Madame Phiến Đan là người công giáo, mà vì GS Vinh từng nghiên cứu và am hiểu triết lý của đạo từ khi ông còn rất trè”).

Và một lý do nữa để giải thích sự thân giao giữa hai gia đình này là trước năm 1975, khi ấy GS Quyên Di dạy học ở trường Nguyễn Bá Tòng và Madame Phiến Đan lại là học trò của ông. Chính vì thế hai vị giáo sư này rất kính trọng nhau và mỗi lần gặp nhau, họ gọi nhau bằng danh từ vô cùng cung kính: “Thưa Giáo Sư”.

Tiếp lời của GS Quyên Di, Madame Phiến Đan cũng đã chia sẻ những kỷ niệm mà bà đã có được với GS KHG Nguyễn Xuân Vinh trong suốt 17 năm sống bên ông. Cũng như NV Quyên Di, bà nhấn mạnh về đức tính khiêm nhường và “nghe nhiều, nói ít” của GS Vinh.

Tiếp tục chương trình, NV Khánh Lan đại diện Liên Nhóm NVNT & TTG và Liên Nhóm VCV & TĐX giới thiệu chủ đề khoa học không gia và Nguyễn Xuân Vinh, cô nói: “Trong nửa thế kỷ qua, khoa học đã phát triển với tốc độ thần tốc và đánh dấu một thành tựu đáng kinh ngạc của trí tuệ con người. Trong đó, chúng ta không thể không nhắc đến GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, ông không những là một KHG tài giỏi mà còn là một nhân vật xuất chúng trong ngành hàng không vũ trụ. Một người đã có những đóng góp vô giá cho khoa học không gian thế giới.
Là người VN đầu tiên nhận bằng tiến sĩ kỹ thuật hàng không vũ trụ tại đại học Colorado Boulder năm 1965, GS KHG Nguyễn Xuân Vinh gia nhập cơ quan NASA và là người đã vẽ đường bay quỹ đạo cho các phi thuyền Mỹ đáp xuống mặt trăng. Đó là phương trình tối ưu cho phi thuyền Apollo của NASA Hoa Kỳ bay lên mặt trăng thành công, và thu hồi các phi thuyền con thoi trở về Trái Đất. Ông đã được cơ quan NASA trao tặng Huy chương đóng góp ngoại hạng và đã đạt được những giải thưởng của các tổ chức không gian Hoa Kỳ và thế giới, cũng như chức viện sĩ khoa học không gian tại một số nước Âu châu…và sau này, ông trở thành giáo sư ngành khoa học không gian tại đại học Michigan, Hoa kỳ.
Nói đến GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, thiết tưởng chúng ta cũng nên nói đến 3 công trình nghiên cứu quan trọng đã làm nên tên tuổi của ông. Đó là:
- Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics (1980)
- Optimal Trafectories in Atmospheric Flight (1981)
- Flight Mechanics of Hight Performance Aircraft (1993)
Đóng góp cơ bản nhất của ông là công thức toán học mang tên ông để phóng những phi thuyền không gian ra ngoài vũ trụ và thu hồi trở về trái đất an toàn. Công thức có tên Vinh’s Universal Entry Equations, Khánh Lan xin dịch nôm na là “Công thức Du Hành Vũ trụ của Vinh”. Công thức này đã được các khoa học gia không gian Hoa Kỳ áp dụng để đưa phi thuyền không gian bay tới mặt trăng.”
NV Việt Hai góp thêm ý về đề tài toán học như sau: (Tài liệu lấy từ hồ sơ cua NASA)

Dựa theo tài liệu nghiên cứu của NASA. Phương trình của Vinh là gì? Nó được vận dụng trong phương pháp dẫn đường dựa trên quỹ đạo danh định dành cho các phương tiện tái nhập khí quyển siêu thanh. Quỹ đạo danh định được thiết lập thông qua phương pháp giả phổ, sau đó được bám theo bằng phương pháp điều khiển chân trời trượt. Cụ thể, một số chiến lược đã được áp dụng nhằm đơn giản hóa quá trình ứng dụng thực tiễn.
- Thứ nhất, bài toán tối ưu hóa chân trời trượt được xây dựng dưới dạng rời rạc, sử dụng mô hình động học sai số trạng thái tuyến tính rời rạc xấp xỉ. Nhờ đó, phương trình Riccati ma trận vi phân được thay thế bằng phương trình Riccati ma trận sai phân.
- Thứ hai, ma trận trọng số trạng thái cuối được thiết lập với giá trị hữu hạn, mang lại sự linh hoạt trong việc điều chỉnh chu kỳ lấy mẫu và chân trời dự báo.
- Thứ ba, mô hình động học sai số trạng thái biến thiên theo thời gian được xấp xỉ bằng một hệ thống bất biến theo thời gian.
- Cuối cùng, thay vì phải tìm các ma trận trọng số cuối thỏa mãn một bất đẳng thức ma trận tuyến tính (LMI) thông qua công cụ LMI toolbox, chúng tôi thiết lập các ma trận này đồng nhất là một ma trận hằng số. Tất nhiên, các mô phỏng số đã được thực hiện nhằm kiểm chứng tính xác đáng và hiệu quả của phương pháp được đề xuất này.

Và sau đó, NV Khánh Lan giới thiệu NV Phạm Gia Đại kể chuyện về GS. Vinh qua dề tài không gian: “Từ Space Shuttle đến Starship“. NV Phạm Gia Đại cũng nói về sự thành công vượt bực của kỹ thuật hàng không hiện nay, cũng như sự trở về trái đất an toàn của phi thuyền ARTEMIS II sau sứ mệnh lịch sử lên mặt trăng (Historic MoonMission) của 4 phi hành gia. Hạ cánh xuống Thái Bình Dương hôm thứ Sáu, ngày 10 tháng 4, 2026 gần San Diego. Sứ mệnh Artemis II đã kết thúc thành công. Phi hành đoàn Artemis II đã di chuyển khoảng 4.700 dặm vượt ra ngoài phía xa của Mặt Trăng. Từ vị trí thuận lợi này, họ sẽ có thể nhìn thấy Trái Đất và Mặt Trăng qua các cửa sổ của tàu Orion, với Mặt Trăng ở gần phía trước và Trái Đất ở cách đó gần 250.000 dặm về phía sau. Chuyến hành trình đưa con người bay quanh Mặt Trăng lần đầu tiên kể từ năm 1972, bốn phi hành gia của sứ mệnh Artemis II của NASA đã đạt được nhiều hơn là chỉ một cột mốc lịch sử đưa con người trở lại không gian bay quanh Mặt Trăng.
Tiếp theo sau là GS Trần Mạnh Chi nói về GS Vinh và lãnh vực toán học. Trong lãnh vực này, NV Việt Hải cũng đã góp thêm ý: (Tài liệu lấy từ hồ sơ cua NASA)

“Với đẳng cấp quốc tế như những vĩ nhân khoa học gia xuất chúng, những tên tuổi lớn như Dr. Arthur B. Cuthbert Walker II, Vera Rubin, Edwin Hubble, Stephen Hawking hay bên nhân văn như Jules Vern, Antoine de Saint-Exupéry, Herbert George Wells hay Arthur C Clarke, Robert Heinlein,… Bên Việt Nam dã có Dr. Nguyễn Xuân Vinh với đóng góp vinh hiển cho khoa học toán không gian như tác phẩm *A Life In Hypersonic Flight* được viết bởi Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, một nhà khoa học và nhà giáo dục người Mỹ gốc Việt lỗi lạc trong lĩnh vực hàng không vũ trụ. Những công trình mang tính nền tảng của ông về dẫn đường, động lực học và điều khiển tối ưu đối với các phương tiện không gian, cũng như sự tương tác của chúng với bầu khí quyển, đã đóng một vai trò thiết yếu trong công cuộc thám hiểm vũ trụ. Tiến sĩ Vinh đã là Giáo sư Danh dự ngành Kỹ thuật Hàng không Vũ trụ tại Đại học Michigan, nơi ông đã gắn bó với công tác giảng dạy trong suốt gần ba mươi năm. Trong số rất nhiều ấn phẩm của ông, cuốn sách “Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics””

Space NASA Nguyen Xuan Vinh
Đề tài toán học và Nguyễn Xuân Vinh được GS Trần Mạnh Chi trình bày, ông chia sẻ những cảm nghĩ của mình về giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Tuy không có may mắn được làm học trò của giáo sư Vinh, nhưng đối GS Chi, giáo sư Vinh là một người thầy đáng kính về cả tài năng lẫn đức độ.

GS. Trần Mạnh Chi cho biết ở thế hệ thanh niên Việt Nam trong thập niên 1960 và 1970 đã có nhiều người “mê” và tình nguyện xin gia nhập vào binh chủng không quân sau khi đọc tác phẩm Đời Phi Công của Toàn Phong. GS Chi tiếp, thời trung học, đệ nhi cấp, thời đệ nhị Cộng hòa, hầu hết các sinh viên lớp 12 đều cầm quyển sách giáo khoa toán hình học không gian trên trước khi vào lớp.
Về phần GS Chi, ông chia sẻ rằng có lần ông đã hỏi giáo sư Nguyễn Xuân Vinh “Thưa thầy, với thế hệ của thầy những yếu tố nào đã đưa thầy chọn vào ngành khoa học toán”. Đáp lại câu hỏi của của GS Chi là nụ cười hiền hậu của một nhà khoa học, đó là hồn thơ trong toán học. Phải, lịch sử văn học và toán học đã hòa quyện hài hòa để mang đến cho người đọc những hiểu biết căn bản đầy lý thú về thiên văn học, về âm dương lịch, về 4 mùa trong năm. Ngay cả trong lời thơ của GS Vinh, cho thấy cũng phảng phất những lời toán học.
Anh tìm em trên vòng tròn lượng giác.
Nét diễm kiều trong tọa độ không gian
Bao ước mơ phải chi là nghịch đảo
Bóng thời gian, quy chiếu xuống giản đồ.
Nghiệm số tìm, giờ chỉ có hư vô.
Đường hội tụ, hay phân kỳ giải tích.
Hệ số đo cường độ của tình thương.
Định lý đảo, tìm ra vì giao hoán.
Nếu mai đây tương quan thành gián đoạn.
Tính không ra phương chính của cấp thang.
Anh ra đi theo hàm số ẩn tàng.
Em trọn vẹn thành phương trình vô nghiệm
Kết thúc phần tưởng niệm về GS KHG Nguyễn Xuân Vinh với nhạc phẩm Bay Theo Giải Ngân Hà, thơ Việt Hải, video Music: Thái Phạm
NVNT MAGAZINE, SỐ ĐẶC BIỆT-DƯƠNG NGỌC SUM-HÀNH TRÌNH TRÍ THỨC XUYÊN THẾ KỶ

Trứơc khi bước vào tiết mục giới thiệu sách viết về GS Dương Ngọc Sum và những tác phẩm văn chương Pháp mà ông yêu thích, thiết tưởng chúng ta cũng cần biết qua về GS Dương Ngọc Sum trước năm 1975. Trước biến cố VNCH cáo chung, một khúc quanh về ông Tổng trưởng Nguyễn Duy Xuân và ông phụ tá Tổng trưởng là GS. Dương Ngọc Sum. Giáo Sư Nguyễn Duy Xuân là tổng trưởng Văn Hóa – Giáo Dục – Thanh Niên cuối cùng của Chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Ông là cựu học sinh Collège de Cần Thơ. Sau khi đậu bằng Diploma (văn bằng thành chung). Ông sang Pháp du học tốt nghiệp cử nhân kinh tế. Ông tiếp tục theo học chương trình hậu đại học ở Anh, lấy bằng thạc sĩ về kinh tế học; tiếp đến sang Mỹ theo học ở đại học Vanderbilt, và lấy học vị tiến sĩ kinh tế học rồi trở về Việt Nam năm 1963.
Ông Tổng trưởng Nguyễn Duy Xuân đã bổ nhiệm GS. Dương Ngọc Sum làm phụ tá Tổng trưởng và giữ vai trò trọng yếu là GS. Trưởng khối Nghiên Cứu và Phát Triển Đại Học Việt Nam nhằm nâng cao tiêu chuẩn văn minh, tiến bộ sánh với các quốc gia tân tiến trong cộng dồng thế giới. Như vậy cương vị và quyền hạn của GS Dương Ngọc Sum phải nói là quan trọng cho nước nhà. Ôn lại về dĩ vãng cơ hàn thuở thiếu thời, từ thuở tuổi thơ, GS. Dương Ngọc Sum là con nhà nghèo, nhưng rất thông minh và hiếu học. Nhà văn Vương Trùng Dương viết như sau: “Ông sinh ra ở Tân Uyên ngày xưa thuộc tỉnh Biên Hòa, cách Sài Gòn khoảng 50km về hướng tây bắc. Quê hương của nhà văn Bình Nguyên Lộc đã đề qua nhiều bài viết vùng đất nầy. Và là quê hương của Dương Ngọc Sum. Ông sinh năm 1935, thân phụ là nhà giáo qua đời năm 1946, vì lý do chính trị…”

Mở dầu với GS Trần Huy Bích, Giáo Sư Bích lướt qua phần tiểu sử cùa GS Dương Ngọc Sum, đồng thời mời GS Sum lên chia sẻ vài lời về cuộc đời gian nan mà ông đã trải qua thời thơ ấu.

Những mảnh bằng tưởng lục,.trang trọng trao đến Thày

Trong một viết về người cha của mình, GS Dương Ngọc Sum viết: “Sau mấy tháng trốn tránh: ban ngày lính Tây ruồng bố, bắt bớ, ban đêm Việt Minh về phá hoại, đấp mô, đốt chợ, đốt trường học, dùng chày đập đầu các viên chức trong làng. Cha tôi mất đêm 29 sáng 30 tháng Chạp Ất Dậu (1/2/46). Chiều 30 Tết, gia đình tôi âm thầm chôn cha tôi trong vườn nhà, sáng hôm sau là Mùng Một Tết Bính Tuất (2/2/1946), thọ 40 tuổi. Chôn cất cha tôi nội ngày 30 Tết vì thứ nhất: nhà tôi nghèo, quá nên ông Ngoại tôi đã cho tiền lo đám tang. Lý do thứ hai là vì an ninh (bị Việt Minh và lính Tây theo dõi) và vì tập tục không để qua năm”.

“Trong hoàn cảnh khó khăn, một Mẹ, sáu con nhỏ: Người anh lớn 14 tuổi, bị khuyết tật (cận thị nặng), em út, mới mấy tháng tuổi (sau là pilot trực thăng Phi Đoàn 2I9). Vừa mới đi học trường làng, ngày 9/3/45 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm đóng trường, phải nghỉ học. Trong trường tiểu học Tân Ba (chương trình Pháp), chỉ có tới Lớp Nhì, học giỏi nhất lớp nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên không thể vào Sài Gòn. Ở nhà giúp Mẹ gặt lúa, đập lúa, tỉa đậu, nhổ đậu, lên giồng khoai, giữ trâu, hốt phân, rửa chuồng. Gặp lúc có nhiều công việc, phải xin cho nghỉ học mấy hôm.”

Cựu học sinh Petrus Ký Đặng Quý Mão và Quỳnh Như, ái nữ của GS Dương Ngọc Sum. Cả hai đều là học sinh của năm cuối 1975 tại trường.
Sau khi cô Dương Quỳnh Như và cựu học sinh Petrus Ký Đặng Quý Mão kể những kỷ niệm với thầy Dương Ngọc Sum, sách vở mới về GS. Dương Ngọc Sum được phát ra cho mọi người. MC Mộng Thủy cũng không quên vinh danh những mạnh thường quân đã biếu tặng phong bì mừng GS Sum trong ngày sinh nhật và RMS của Thày. (TS Đình Duy Phương, chủ tịch và TS TS Võ Ngọc Hoa, thủ quỹ hội Văn Bút VN Hải Ngoại vùng Tâ Nam Hoa Kỳ; NS Lê Nguyễn Nga, NVNT & TTG, Đặng Quý Mão)

GS Dương Ngọc Sum có 4 người con, 3 gái và 1 trai, Quỳnh Như là người con thứ hai, gia đình cô ở rất gần GS, nên cô và người em gái Quỳnh Giao thay phiên nhau “take care” cha mẹ.

Trong cơn xúc động, Thày nói không nên lời, thương Thày quá. Năm nay Thày đã 91, sức khỏe không còn khả quan như những năm trước. Cầu mong Thày mạnh khỏe.

Đã đến giờ cắt bánh sinh nhật, mừng thọ thứ 91 niên tuế của Thày Sum, được cử hành trong không khí thật vui nhộn và tràn đầy yêu thương.

HAPPY BIRTHDAY THÀY, KÍNH CHÚC THÀY TRƯỜNG TRƯỜNG THỌ-YÊU ĐỜI VÀ YÊU NGƯỜI.

Đặc biệt là “YÊU PHỤ NỮ”(Theo lời của GS Quyên Di)

Hôm sau cũng là Birthday của NV Nguyễn Quang, nên chúng tôi mời NV Nguyễn Quang (95 xuân xanh) cùng cắt bánh và mọi người cùng hát mừng cả hai vị.

Hai nhạc phẩm Happy Birthday và tâm ca về mùa len trâu, văn hóa miệt vườn được nhà văn Lê Bình từ San Jose cho những lời hoa mỹ Sau phần giới thiệu uyên bac của GS Trần Huy Bích, các ca sĩ Lưu Mạnh Bổng, Trần Mạnh Chi và Jenny Mộng Thủy, cùng cử tọa hát vang Tâm Khúc Thầy Sửu, nhạc cải biên, “tái chế”:
Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn châu sướng lắm chứ!

Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau. Và miệng hát nghêu ngao

Vui thú không quên……..

Dương Ngọc Sum – từ cậu bé chăn trâu trở thành giáo sư khả kính, Vương Trùng Dương: Xin xem bài viết ở link dưới đây.
https://vietbao.com/a323895/duong-ngoc-sum-tu-cau-be-chan-trau-tro-thanh-giao-su-kha-kinh
CẮT BÁNH XONG RỒI, TA CÙNG THƯỞNG THỨC THÔI CÁC TRÒ ƠI...

CÁC BẠN BÈ CHIA SẺ NIỀM VUI

Từ Họa sĩ Hoàng Vinh

Nhà Văn Nguyễn Quang

Ông Hoàng Khuê, chúng em cho hình anh lên trước đấy, kẻo lại trách là …”Sao tôi cứ phải là người …sau cùng…”

Ký Giả Thanh Huy

Ký Giả Lê Bình

Ký giả Nhà Văn Du Miên

KG NV Vương Trùng Dương
TUYỂN TẬP TAM NỮ NHÂN: NS DƯƠNG HỒNG ANH, CNS LÂM DUNG, VTS KHÁNH LAN
Thi sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành chia sẻ kinh nghiệm của anh khi thu bài và layout tuyển tập Tam Nữ nhân. Đây cũng là tờ NVNT MAGAZINE, số 1. Đặc San NVNT MAGAZINE dưới dạng flipbook và thực hiện mỗi 2 hoặc 3 tháng do ban biên tập NVNT và VCV thực hiện. NVNT MAGAZINE số 2 là số báo Xuân Bính Ngọ và đà ra mắt vào tháng 2, 2026.

Thi sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành, anh cũng là con trai của NS Dương Hồng Anh và trong ban biên tập NVNT MAGAZINE cùng vối Phạm Thái, Kiều My và Khánh Lan

NVNT MAGAZINE, SỐ 1

NVNT MAGAZINE, SỐ 2, XUÂN BÍNH NGỌ ra mắt vào tháng 2, 2026.
GS NV Quyên Di đại diện cho hai Liên Nhóm NVNT & TTG và VCV & TDX giới thiệu ba tam nhân tiêu biểu cho 3 lãnh vực: Thi ca NS Duong Hồng Anh, Âm nhạc CNS Lâm Dung và Văn thơ VTS Khánh Lan. Đồng thời giới thiệu nội dung của NVNT MAGAZINE, số 1.

NV Việt hải nhận xét về người nữ sĩ tiền bối, cố vấn chuyên nghệ thuật thi ca, NS Dương Hồng Anh, ông đã mượn lời nhận xét của Giáo sư Trần Huy Bích hôm RMS “Cõi Thơ” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, GS Trần Huy Bích nhận xét như sau: “Thi tập “Cõi Thơ” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh như một tác phẩm tràn đầy sinh lực với những áng thơ yêu đời, yêu người, ngôn ngữ thi ca đậm nét nhân bản, nhân hậu.”

Vâng, “Cõi Thơ” là một chốn thi ca, ca tụng nghệ thuật và triết lý trong đời sống, thi ca kết tụ những tinh túy trong cuộc sống, phản ảnh kinh nghiệm của người nghệ sĩ qua cuộc sống. Vì thế, nữ sĩ Dương Hồng Anh đã sáng tác nhiều áng thi ca rất đa dạng, thi vị, nhiều cảm xúc như về Saigon, Hanoi, California,,.. trong thiên nhiên như xuân, thu, hạ, đông, về gia đình như cha mẹ, chồng con, bè bạn,…
Ví dụ trong bài thơ MƠ VỀ HÀ NỘI, khi nhớ về cố hương bỏ lại, hướng về cố lý xa xăm, Dương thi sĩ cho ra những dòng thơ như sau:
“Hà Nội ơi! Hà Nội đâu
Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa
Cho thơ nở giữa vườn thơ
Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần
Hướng về cố lý xa xăm
Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ”
Về thi tập NHỮNG GÌ ĐỂ NHỚ, nhà văn Khánh Lan cũng đã cho nhận định là thi ca Dương Hồng Anh cho thấy nét thi cảm tác bất tận trong thi ca, tiêu biểu giá trị nghệ thuật qua những câu thơ giản dị chan chứa tình yêu quê hương, mang theo trong tâm tưởng, hình ảnh đất nước hiện lên vừa thiêng liêng, vừa gần gũi. Thơ bà cho chúng ta sự khám phá qua những bài thơ tiêu biểu viết về quê hương,…
Khánh Lan viết: “Nguồn thơ xuất phát từ trong tâm hồn của người nghệ sĩ, là những rung động, những cảm nhận tự nhiên. Đó là cả một quá trình thai nghén ý tưởng trong ký ức, nuôi dưỡng cảm xúc trong tâm tư, khiến cho thi nhân “xuất khâu thành thơ” và gởi ý thơ ấy thành lời trên trang giấy.”
Còn thi phẩm QUÊ HƯƠNG CÒN ĐÓ của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, nhà thơ Kiều My cho nhận xét như sau: “Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, cho nên vì thế, thơ ca cũng đòi hỏi nhà thơ phải in dấu tâm hồn, trí tuệ mình vào đó thật sâu sắc, càng riêng biệt càng độc đáo, càng hay. Nhờ khả năng sáng tạo tuyệt vời mà các thi nhân luôn tìm ra những cách nói mới về những điều đã cũ,…”
Phải, Hà nội hay Sài gòn đã cũ trong tâm thức chúng ta, nhưng thi nhân Dương Hồng Anh sáng tạo ra những cảm tác mới, những gợi cảm mới trong thi ca của bà. NS. Dương Hồng Anh cho biết bà vui khi chung vui cùng bạn bè. Xin kính chúc cô Dương Hồng Anh trường thọ, đại thọ và giữ mãi lửa sáng tác thi ca trong một tâm hồn tươi trẻ trong thơ văn.
Cũng trong ngày hôm ấy, NS Dương Hồng Anh đã sáng tác bài thơ MỘNG LÒNG hai hôm trước, riêng tặng cho chúng tôi. Và Khánh Lan cũng chỉ được cô cho phép được diễn ngâm.
Cuối xuân hoa bưởi, hoa cam
Nhìn lên phố núi thênh thang mây trời
Ai đi gom nắng vàng tươi
Cho thơ tôi gởi mấy lời trong tim
Đường chiều thơ nhạc giao duyên
Cánh chim xa xứ một miền sắt son
Gió lên bát ngát hoàng hôn
Ru tình quê mẹ, ru hồn tha phương
Tình thơ nghĩa bạn vấn vương
Tao đàn họp mặt mến thương ngọt ngào
Nhạc thơ tao nhã đón chào
Con đò chở chữ dâng cao mộng lòng

Khi nói về NV Khánh Lan, NB NV Phạm Quốc Bảo nhận xét về một nhà văn mới, một nhà văn đàn em trong lãnh vực văn học với khả năng sáng tác mà ông cho là “vượt quá sức tưởng tượng”, vì chỉ trong một thời gian ngắn mà cô đã cho ra đời khá nhiều tác phẩm dưới nhiều thể loại khác nhau. Thêm vào đó, Khánh Lan có một “trí nhớ khủng khiếp” mà tôi ghi nhận được qua tác phầm Sinh Lầm Thế Kỷ.

Khánh Lan cám ơn KG NV Phạm Quốc Bảo và “quyển tự điển sống” Mạnh Bổng
NV Việt Hai cũng nhận định hiện tượng Khánh Lan đã và đang mang một đôi “hia Bảy Dặm” trong làng văn học, mặc dù cô gia nhập vào làng văn không bao lâu, nhưng cô đã cho chào hàng hơn 15 tác phẩm, Gần đây, Khánh Lan mật mí là cô vừa nghiên cứu xong bộ sách triết học giá trị gồm Sieu Hhh Học và Hiện Sinh Học. Chúc Khánh Lan thành công.
Ca nhạc sĩ Lâm Dung là trưởng nhóm văn nghệ âm nhạc, là người đã hòa âm bài thơ Bạn Bè Của Tôi của NS Dương Hồng Anh, cô cho ra nhạc phẩm mang cùng tên và bài hát này đã trở thành NVNT & TTG hành khúc từ năm 2019, ngay sau khi NS Dương Hồng Anh gia nhập nhóm.
NV Phạm Gia Đại và GS Quyên Di mô tả CNS Lâm Dung như là một nhạc sĩ anh thư, tài hoa nhưng khiêm nhường. Những nhạc phẩm CSN Lâm Dung yêu thích được cô chọn lọc rất kỹ càng và có âm hưởng êm dịu. Khi được hỏi về bản nhạc nào cô yêu thích nhất và khả năng hòa âm. Với giọng nói nhỏ nhẹ và với nụ cười hiền dịu, Lâm Dung trả lời là không nhất định phải là bài nào, bởi còn tùy thuộc vào nguồn cảm hứng. Lâm Dung cũng không để ý mình đã hòa âm bao nhiêu bài. Tuy nhiên, Lâm Dung có rất nhiều bài thơ phổ nhạc do cô hòa âm và hát, đăng trên Youtube.

Lâm Dung là người đứng đầu tiên từ trái sang phải và nhóm Tơ Vàng
Riêng với Khánh Lan, Khánh Lan rất quý mến CNS Lâm Dung ở sự điềm đạm, chính chắn và dịu dàng của chị. Nhất là khi làm một việc gì hay khi cùng nhau soạn chương trình cho hội, thì Lâm Dung và Khánh Lan làm việc rất “tâm đầu ý hiệp”, nếu không muốn nói là “tâm đắc” lắm, từ cách suy nghỉ, đúng quy tắc, đúng hẹn “nộp bài” và chọn chủ đề nhạc cho buổi họp mặt, RMS, Christmas, New Year, v.v…
Phần Văn học chấm dứt và tiếp theo là tối nhạc thính phòng do bạn bè và các anh chị em thành viên, cùng hát cho nhau nghe. Những bài hát thật hay và cô đọng. Buổi RMS bế mạc lúc 9:30 tối và chúng tôi bịn rịn chia tay.
Việt Hải & Khánh Lan, California, April 10, 2026
-
XUÂN HỌP MẶT
Khánh Lan & Mạnh Bổng

Mùa xuân luôn đem đến những niềm vui tiếng cười cho mọi người, nhất là trong những ngày Tết.

Tết năm nay, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) chọn họp mặt mừng Tân Niên tại tư gia của Khánh Lan & Mạnh Bổng chiều ngày 27 tháng 2, 2026. Các bạn có biết là Khánh Lan & Mạnh Bổng vui và cảm động lắm không? Bởi hôm nay là ngày thứ Sáu, thế mà, “thứ Sáu thì mặc thứ Sáu“, các anh chị và thân hữu vẫn có mặt tại tư gia của Khánh Lan & Mạnh Bổng thật đúng giờ.

Chị em chúng tôi, những thành viên ưu tú, đẹp gái, đàn hay hát giỏi, và quan trọng nhất của NVNT & TTG. Từ trái sang phải: Minh Khai (Em gái NS Lam Phương), Bích Điệp (Phu nhân NV Ngọc Cướng), Khánh Lan, Ngọc Quỳnh, Kim Hương (Phu nhân Kỹ sư Quốc Dân), Lâm Dung, Jennifer Lâm, Bình Chi, Thụy Lan. (Lệ Hoa & Minh Châu, Chị Mai đến sau vì kẹt xe trên freeway-Rất tiếc sự vắng mặt của anh Alain Đức & chị Ngọc Châu, chị Tường Anh, Mộng Thủy, Chị Kiều My, Ái Liên, Tuyết Nga)

Sự hiện diện của các giáo sư: Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Nhà văn Nguyễn Quang, Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga và anh Peter Thạnh Nguyễn, Nhạc sĩ Võ Tá Hân và phu nhân Kim Châu, nhóm Tây ban cầm Tơ Vàng (Lâm Dung, Bình Chi, Jennifer Lâm), Họa sĩ Hoàng Vinh và phu nhân, Nhà văn Phạm Gia Đại, Nhà văn Ký giả Vương Trùng Dương, Nhà văn Ký giả Phạm Quốc Bảo, Nhà văn Vi Khiêm, Thi sĩ Ngọc Hoa, Văn Thi Sĩ Dương Viết Điền, Thi sĩ Quỳnh Giao, Thi sĩ Huy Anh, Kỹ sư Lâm Quốc Dân và phu nhân Kim Hương, KQ Dương Viết Đang, Cô của Nhà văn Ngọc Cường cũng như Nhà văn Ngọc Cường và phu nhân, Bích Điệp đến từ Ohio. Sự có mặt của các quý Giáo sư & Văn Thi Sĩ là một khích lệ cho toàn thể Liên Nhóm NVNT & TTG.

Hàng đứng, từ trái sang phải: NS Võ Tá Hân, phu quân của chị Bình Chi, Anh Peter Thạnh Nguyễn, TS Huy Anh, KQ Vũ Hòa (Phu quân Ngọc Quỳnh), HS Hoàng Vinh, NV Phạm Gia Đại, KQ Dương Viết Đang, KS Lâm Quốc Dân, Michael (Phu quân Thụy Lan), KG NV Vương Trùng Dương, Cô của NV Ngọc Cường, KG NV Phạm Quốc Bảo, NV Vi Khiêm, KS Trần Mạnh Chi. Hàng ngồi, từ trái sang phải: Mạnh Bổng, NV Nguyễn Quang, GS Trần Huy Bích, NV Ngọc Cường, GS Dương Ngọc Sum, NS Lê Nguyễn Nga, TS Ngọc Hoa, TS Quỳnh Giao.
Rất tiếc sự vắng mặt của NS Dương Hồng Anh, NS Lê Văn Khoa & Chị Ngọc Hà, GS Quyên Di, TS Minh Đức, Anh Hoàng Đình Khuê, NV Hồng Thủy. (tiếc nhất là Nhà văn Hồng Thủy từ Washington DC đến trễ 2 ngày (March 2) nên không tham dự được). Đây là lần thứ 3 mà NVNT & TTG mất có cơ hội để tiếp đón bà. Thật là một điều thiếu sót.

Trong dịp này, thi sĩ Ngọc Hoa của hội Văn bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ đã “lì xì” cho NVNT & TTG $44 tiền $2 & $5 mới tinh, cũng như ông bà Họa sĩ Hoàng Vinh đã tặng cho hội của chúng tôi $100. Khánh Lan xin thay mặt cho Liên nhóm NVNT & TTG chân thành gởi lời cảm ơn đến tam vị mạnh thường quân.

Đây là buổi họp mặt mừng xuân thứ hai sau đại dịch COVID-2019 mà gia đình NVNT & TTG họp mặt mà có gần như đông đủ các thành viên và thân hữu tham dự. Và trong những dịp vui như thế này, dĩ nhiên là không thể thiếu bóng dáng của con chim đầu đàn Nhà Văn Việt Hải và phu nhân lệ Hoa. Tuy rằng lần này, từ thành phố Winnetka (nơi NV Việt Hải cư ngụ), Nhà văn Việt Hải, phu nhân Lệ Hoa và Nhà văn Dương Viết Điển đã mất 4 tiếng đồng hồ “than vắn thở dài” trên freeway, vì phải đổi từ xa lộ này qua xa lộ khác để đến họp mặt mừng Tân Niên Bính Ngọ.

Giời ơi! Xem kìa: “Gươm lạc giữa rừng hoa”

Những đóa hồng nở rộ trong vườn hoa văn nghệ Tiếng Thời Gian…

Những cái “hug” thân tình, những “hand shake” xiết chặt của bao ngày xa cách giữa ba anh cựu SVSQDL Phạm Quốc Bảo, Vương Trùng Dương, Dương Viết Điền đã gây bao xúc động trong lòng chúng tôi. Có lẽ trong chính các anh cũng đang cố nén cơn xúc động và giọt lệ hân hoan.

Phải, mới ngày nào, những mái tóc còn xanh nay đã thay màu đổi sắc theo thời gian…

Hàn huyên tâm sự xong giờ phút quan trọng đã đến: NHẬP TIỆC với thức ăn thật ngon. Ôi chao nhiều thứ quá! Nào là: bánh chưng, thịt đông, giò thủ, thịt kho trứng & dưa giá, dưa chua 2 miền Nam Bắc, dưa món, gà chiên bơ, gà hấp muối, xôi bắp, xôi mặn, bún thịt nướng, Korea kimbab, sâm bổ lượng, chea & nấm tuyết & dâu tươi, chuối chiên, càri gà & bánh mì Pháp, bánh bèo, bánh bột lọc, tôm hỏa tiễn, chả giò, cháo gà, bánh cake mừng xuân và rượu chát, v.v…

Bữa cơm mừng xuân….



Sau bữa ăn tối thân mật và tâm tình là phần văn nghệ,

Chúc Tết và chia sẻ cảm nghĩ về ngày Tết. Các quý giáo sư, Văn Thi Sĩ và thân hữu được mời lên để có đôi lời.

Nhà văn Ngọc Cường & phu nhân Bích Điệp

TS Ngọc Hoa, Thủ quỹ và đại diện cho Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ.

KS Lâm Quốc Dân, anh họ của NV Việt Hải

Hàng đứng và từ trái sang phải: HS Hoàng Vinh, NV KG Phạm Quốc Bảo, Mạnh Bổng, Anh Vũ Hòa. Hàng Ngồi từ trái sang phải: VTS Dương Viết Điền, GS Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang.
Hôm ấy, Khánh Lan cũng được phép thay mặt đọc lá thơ của anh Hoàng Khuê gởi lời chúc tết đến nhà văn Việt Hải và toàn thể các thành viên trong Liên nhóm NVNT & TTG. Nữ sĩ Dương Hồng Anh cũng không quên gởi tặng bài thơ chúc tết đến Nhà văn Việt Hải và Liên nhóm NVNT & TTG. Khánh Lan cũng đã thay mặt cho nữ sĩ để diễn ngâm bài thơ song thất lục bát:
KHAI BÚT XUÂN BÍNH NGỌ
Kính tặng nhà văn Trần Việt Hải và tất cả các bạn văn nghệ sĩ của tôi.
Xuân về hoa nở hương thơm gió
Rực rỡ hoa đào phơ phất bay
Giao thừa pháo nổ khuya nay
Mừng xuân Bính Ngọ đón ngày đang lên
Rượu đào nâng chén, thơ khai bút
Chuông võ âm vang thảo mấy vần
Bâng khuâng bút mực nhìn xuân
Cỏ cây hoa lá muôn vàn sắc hương
Tôi muốn nhìn xuân còn trẻ mãi
Như ngày xưa thân ái bốn mùa
Trắng trong tà áo lụa tơ
Sân trường lớp học ngây thơ nhìn đời
Xuân vẫn còn đây xuân hỡi xuân
Nàng thơ kiều diễm đẹp muôn vàn
Thơ say dòng mực tuôn tràn
Hoa thơ nhạc nở, cung đàn lên tơ
Giao thừa khai bút, bút khai xuân
Đốm lửa quê hương lộng gió ngàn
Tình xuân lai láng thư trang
Bóc tờ lịch mới mang mang suối hồn.
Dương Hồng Anh khai bút đầu xuân 2026
Sau phần khai mạc và chia sẻ tâm tình, tiếp theo là phần văn nghệ mừng xuân. Buổi tiệc hôm nay vắng bóng Mc mộng Thủy, Nhà văn Mc Phạm Gia Đại đã thay mặt Mộng Thủy giúp phần giới thiệu văn nghệ và anh cũng không quên giới thiệu, hai thành viên độc quyền cầm tinh con “NGỌ” cho năm nay: Chị Bích Điệp & Anh Mạnh Bổng. “Tuy……..nhưng xuân xanh vẫn còn tươi thắm lắm, phải không quý anh chị?”

Buổi họp mặt lần này, Kỹ sư Trần Mạnh Chi lãnh nhiệm vụ nặng nề nhất, anh đã có công “vác” dàn máy karaoke đến để mọi người ca hát cho vui. (và quý nhất là save $250 cho gia chủ, cảm ơn anh Chi, hihihi…)

Màn trình diễn của nhóm Tây ban cầm Tơ Vàng thật đặc sắc và thú vị, Khánh Lan cũng xin được thay mặt cho Liên nhóm NVNT & TTG gửi lời cảm ơn đến các chị trong nhóm tơ vàng. Mong rằng chúng ta sẽ có gặp nhau hoài hoài và dài dài, các chị nhé?

Nhóm Tây Ban Cầm Tơ Vàng

Bởi vì là buổi tiệc mừng xuân nên NVNT & TTG có thêm một tiết mục “đen đỏ” nữa là “bầu cua cá cọp“, do cô thủ quỹ đại tài “Katherine Minh Thư“ chủ xướng dưới sự phụ tá của anh Michael Lê.

Jesus Chris! Heaven and Earth!
Không ngờ cái “đỏ đen” ấy lại đánh bại cả phần “văn nghệ mừng xuân” mới đáng sợ chứ!

Tuy nhiên, dù “đen đỏ chi đó” nhưng các “con bạc” chỉ được phép cá cuộc từ 25 cents đến $1 là maximum mà thôi. Vui thật là vui…

Và đã thu hút tất cả chúng tôi…..Thế thì cuối cùng ai ăn ai thua đây? Chắc phải hỏi lại nhà cái Katherine Minh Thư và anh Michael quá.


Bế mặc buổi tiệc mừng Xuân Bính Ngọ với chiếc bánh do Văn thi sĩ Dương Viết Điền tặng.


Còn Khánh Lan thì ……thi hành nhiệm vụ: Cắt bánh mời bạn hữu thân tình

Cuộc vui nào rồi cũng đến lúc kết thúc … Đồng hồ điểm 11:15 tối, mọi người ra về trong luyến tiếc, vui vẻ, an bình và hạnh phúc. Chấm dứt một ngày vui và chúng tôi lưu luyến chia tay. Xin hẹn mùa xuân tới 2027.
TƯỜNG TRÌNH TỔNG KẾT TỪ NV VIỆT HẢI
Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 – lời ước hẹn sum họp của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

Tết Nguyên Đán không chỉ là khởi đầu mới mà còn mang ý nghĩa vui kết hợp, vui sum vầy, một thời gian thiêng liêng. Mỗi độ xuân về, người Việt lại nôn nao trở về, gửi gắm hy vọng và yêu thương trong không khí đoàn tụ ấm áp dón xuân. Tết Nguyên Đán được xem là lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất trong năm đối với truyên thống của người Việt Nam.
Tết Nguyên Đán còn được gọi là Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, hay chỉ gọi đơn giản là “Tết” – là Tết lớn nhất trong năm, diễn ra vào mùa xuân, thời điểm kết thúc một chu kỳ bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông để bước vào một chu kỳ mới, một khởi đầu mới. Vì vậy, ngày Tết rất quan trọng, như dịp không gian chuyển mùa. Trong tiếng Việt, Tết là dịp hội hè, cũng là dịp lễ vui vẻ, bát tiết của Việt Nam không phải là Lập xuân, Xuân phân…
Trong tám ngày Tết ấy, Nguyên Đán là ngày tết đầu năm, cho nên gọi là Tết hội ngộ, sum vầy bên nhau. Hai anh chị ca sĩ Lưu Mạnh Bổng và nghệ sĩ Khánh Lan, cả hai vui tánh, tốt với bận bè, giang sơn bên sau nhà ở Anaheim Hills là khu vườn Ngự Hoa Viên Thượng Uyển Có ngôi Gia Các Điện bé tí nho nhỏ xinh xinh, thảo nào hai anh chị Nguyễn Tiến Quỳnh Giao và Pilot Dương Viết Đang hè nhau chụp hàng trăm tấm hình deluxe paparazzi, dán đầy nhóc trên phếch bút.

Khu vườn Ngự Hoa Viên Thượng Uyển Có ngôi Gia Các Điện bé tí nho nhỏ xinh xinh.
Cuộc vui kéo dài do bói sư emcee Phạm Gia Đại Papillon số 17 Gulachamp.

Bình Luận Gia, Emcee Phạm Gia Đại Papillon Gulachamp cho màn thuyết minh về lá số tử vi phong thủy, dịch luận cân kinh về năm Bính Ngọ Mustang như sau:
LỜI BÀN CẢNH TỈNH 2026: NĂM BÍNH NGỌ (CUNG MỆNH HỎA) GẶP NĂM THẾ GIỚI SỐ 1 – CƠ HỘI BỨT PHÁ HAY NGUY CƠ BỊ “THIÊU RỤI”? CS Cuba, CS China, CS Nga Sô, CS Lâm Tô Pắc Pó,… trong Năm 2026 Bính Ngọ là năm mà Thiên Can Bính và Địa Chi Ngọ đều thuộc hành Hỏa. Người xưa gọi là Song Hỏa, hay Ngựa Lửa – hình ảnh của những tuấn mã lao đi với bờm bốc cháy, đầy nhiệt huyết và tốc độ, tự hủy diệt.

Trong văn hóa phương Đông, Anh Phạm Gia Đại Papillon số 17 Gulachamp bốc quẻ 60 năm mới có một lần Bính Ngọ, và lần gần nhất là 1966 – một năm được nhắc đến với nhiều biến động và thay đổi lớn. Năng lượng Hỏa mang đến sự bùng nổ, sáng tạo, nhưng cũng dễ thiêu rụi nếu không biết điều tiết. Nó giống như ngọn lửa mặt trời giữa trưa – rực rỡ nhưng có thể làm khô cằn nếu thiếu nước USA MAGA tưới mát cứu mạng.
Cùng lúc đó, theo khoa thần số học, năm 2026 được tính là Năm Thế giới số 1 (2+0+2+6=10, 1+0=1). Con số 1 tượng trưng cho sự khởi đầu, cho tinh thần tiên phong, cho những hạt giống được gieo xuống sau một chu kỳ 9 năm đầy biến động. Năm 2025 là năm số 9 – năm của sự kết thúc và thanh lọc, vậy nên 2026 chính là trang đầu tiên của cuốn sách mới. Hai năng lượng này gặp nhau: một bên là Hỏa của hành động mau lẹ, một bên là số 1 của khởi đầu táo bạo. Có người sẽ nghĩ đây là thời điểm lý tưởng để phi nước đại về phía trước, để đầu tư mạnh tay, để thay đổi cuộc đời chỉ trong một sớm một chiều.
Trong khi đó, năng lượng của số 1 không phải là sự vội vàng. Nó là sự khởi đầu có ý thức, là việc gieo hạt giống cho những mùa vụ sau. Người làm vườn giỏi không vội vã kéo cây lên để xem rễ dài chưa. Họ chuẩn bị đất, chọn hạt giống tốt, tưới nước đều đặn, và kiên nhẫn chờ đợi. Năm số 1 là năm để làm điều đó: xác định lại hướng đi, dọn dẹp những gì không còn phù hợp, và bắt đầu những dự án có tính dài hơi.
Lửa thì vốn không có lỗi. Lửa có thể sưởi ấm căn nhà trong đêm đông lạnh giá, giúp thức ăn chín mềm. Nhưng lửa cũng có thể thiêu rụi cả một cánh rừng chỉ trong chớp mắt nếu ta vô ý ném một tàn thuốc xuống lớp lá khô.
Cơ hội bứt phá hay nguy cơ cháy rụi không nằm ở việc năm nay là năm gì, mà nằm ở việc nội lực của bạn đang dung chứa điều gì. Nếu bạn mang một cái tâm đầy mong cầu, muốn giàu nhanh, muốn chứng khoáng tăng vọt hãy xét bản thân xuất chúng hơn người khác, năng lượng của năm nay sẽ đẩy bạn đi rất nhanh. Nhưng là đi nhanh đến bờ vực hố sâu không lối về nhá.
Sự nóng vội làm trí tuệ mờ mịt. Ta dễ dàng lao vào những khoản đầu tư đầy rủi ro, buông những lời làm tổn thương bạn đời chỉ vì áp lực công việc, hay tự vắt kiệt sinh lực của chính mình vì chạy theo những mục tiêu do xã hội định nghĩa. Đó là lúc ngọn lửa thiêu rụi đi phước báu và sự bình an của bạn.
Casino Dealer Kaytherine Minh Thư

Bầu cua cá cọp hay còn gọi là Bầu cua tôm cá hoặc Lắc” bầu cua”, là một trò chơi đánh bạc lành mạnh dip Tết của Việt Nam sử dụng ba con xúc xắc. Trò chơi này thường được chơi vào dịp Tết Nguyên đán của Việt Nam.
Thay vì xem những dấu chấm, ở các mặt của xúc xắc xí ngậu, trò chơi này là những hình vật và thú vật, mang có hình ảnh của cá; tôm; cua; gà trống; bầu; và nai (hoặc hổ). Người chơi đặt cược trên một bảng có sáu hình ảnh, đặt cược vào hình ảnh nào sẽ xuất hiện. Nếu một con xúc xắc trùng khớp với cược, người chơi nhận được số tiền bằng với số tiền đã đặt cược. Nếu hai con xúc xắc trùng khớp với cược, người chơi nhận được gấp đôi số tiền đã đặt cược. Nếu ba con xúc xắc trùng khớp với cược, người chơi nhận được gấp ba lần số tiền đã đặt cược. Nếu một người đặt 3 đồng vào cá, và người chia bài tung được 1 cá, 1 cua và 1 nai, thì người chơi sẽ nhận được 3 đồng trong khi vẫn giữ nguyên 3 đồng đã đặt cược. Bất kỳ khoản tiền nào không được thưởng cho vòng chơi sẽ được giữ trong một quỹ chung do người chia bài quản lý, người này sẽ tung xúc xắc.
Bầu cua cá cọp về cơ bản là phiên bản gốc tiếng Việt của Hoo Hey How (Cá-Tôm-Cua) được chơi ở bên Tàu, và Klah Klok/Kla Klouk là phiên bản của Campuchia, và trò chơi xúc xắc Crown and Anchor được các thủy thủ Anh áp dụng, hoặc chuck-a-luck được chơi ở Mỹ.
Ngược lại, nếu bạn dùng năm khởi đầu này để gieo những hạt giống thiện lành, lấy sự tỉnh thức làm la bàn, mọi thứ sẽ hoàn toàn khác. Bạn vẫn hành động, vẫn làm việc nhưng với tâm thế vững chãi. Hãy mang hết tiền của vô cho madame Casino Dealer Katherine Lê Minh Thư… Bạn sẽ hiểu rõ năng lực của mình muốn mau giàu đến dễ ẹc thôi, chung vốn hết một phùa gambling nhá, biết đích điểm dừng và biết nhẫn nại quan sát trước khi ra oánh cú chót khi quyết định bankcrupt chapter 11.
Khi đó, ngọn lửa Bính Ngọ sẽ soi sáng con đường bạn đi. Nó cho bạn dũng khí để cắt bỏ những thói quen nhát gan cũ kỹ, không dứt khoát rời xa những môi trường tươi mát, Casino Dealer Minh Thư không độc hại đã kìm hãm sự phát triển nội tâm làm giàu nhah chóng của bạn bấy lâu nay.
Vậy khi Song Hỏa gặp khởi đầu số 1, chúng ta cần làm gì?
Trước hết, hãy nhìn vào bên trong lá số xêm xêm lá bài tẩy nhá. Bính Ngọ tuy là Hỏa, nhưng nạp âm của năm này lại là Thiên Hà Thủy – nước trên trời. Đó là một thông điệp rất sâu sắc. Nước mưa từ trời rơi xuống có thể dập tắt lửa, nhưng cũng có thể nuôi dưỡng mầm sống. Vì vậy cho nên năm nay không dành cho những ai chỉ biết bùng cháy mà không thèm biết làm mát tiền của, gia bảo của mình. Nó dành cho những người biết kết hợp giữa nhiệt huyết và trí tuệ, giữa tốc độ và sự thấu hiểu, giữa hành động và tĩnh lặng.
Cũng trong năm nay, năng lượng số 1 khuyến khích sự độc lập và tự chủ. Nhưng độc lập không có nghĩa là cô lập. Nó là khả năng đứng vững trên đôi chân mình, nhưng vẫn giữ được sự kết nối với cộng đồng, với gia đình, với những người đồng hành. Nó là sự tự do nhưng không vô trách nhiệm. Nó là dám nghĩ dám làm, nhưng vẫn biết lắng nghe góp ý như sau,…
Thứ nhất, chậm lại trước khi quyết định nhanh. Một năm năng lượng cao càng cần nội tâm vững. Mỗi quyết định lớn, hãy hỏi thêm một câu. Việc này đến từ sợ hãi hay từ hiểu biết.
Thứ hai, xây nền trước khi xây tầng hốt cú chót casino. Nhiều người muốn đổi vận nhưng không chịu đổi thói quen. Nhân quả không vận hành theo cảm xúc nhất thời. Nó vận hành theo lặp lại mỗi ngày.
Thứ ba, giữ lửa oánh mau oánh bạo, nhưng đừng đốt vốn chủ cái, vì như vập không có người làm cái nhá. Trong mối tương quan khi học cách nói điều cần nói với tâm thế xây dựng sòng bạc sống vui sống khỏe, là năm năng lượng mạnh càng cần sự mềm mỏng của trí tuệ oanh bạc tinh khôn.
Với những ai đang tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, đang ở ngã rẽ của sự nghiệp hay hôn nhân, năm 2026 là cơ hội để bắt đầu lại. Nhưng bắt đầu lại không phải là xóa bỏ tất cả. Nó là chọn lọc: giữ lại những gì tốt đẹp, buông bỏ những gì độc hại, và dũng cảm bước về phía trước với một tầm nhìn rõ ràng hơn.
Năm số 1 là năm gieo hạt cho cả một chu kỳ 9 năm tiếp theo. Nếu hôm nay bạn gieo xuống hạt giống của lòng tham và sự bám víu, quả nhận lại trong tương lai sẽ là sự chông chênh mệt mỏi. Nhưng nếu bạn gieo xuống hạt giống của sự thấu hiểu, của sự khiêm nhường và tỉnh thức, bạn sẽ gặt hái được sự vững chãi đi qua mọi biến động.
Để làm được điều này không thể chỉ dựa vào vài dòng cảm xúc nhất thời. Chúng ta cần một hệ quy chiếu đúng đắn để soi rọi lại từng ngóc ngách của tâm trí, hiểu rõ cội rễ của những khổ đau và hạnh phúc mình đang tạo ra. Đó cũng là lý do tôi luôn mong muốn những người hữu duyên có thể bước vào hành trình Chánh kiến – Đánh thức ý nghĩa cuộc đời. Ở đây, chúng ta không dạy nhau chiêu trò để thành công nhanh hay hô hào những năng lượng sáo rỗng. Chúng ta cùng nhau đi sâu vào nội tâm, dùng luật nhân quả làm la bàn để gọt giũa lại chính mình.
Ghi nhận từ kim chỉ nam khi bạn đặt tụ, chôn vốn vững chắc của Casino Mentor, lý thuyết gia Bói Sư emcee Phạm Gia Đại Papillon số 17 Gulachamp.
Ghi vội by VHLA
NV Kiều My có gởi đôi lời chúc Tết đến qua Ánh Xuân Còn Mãi Trong Ta.
Xuân lại ghé thăm lần nữa! Xuân đã gõ cửa, như đôi cánh bay đến trước hiên nhà trong những ngày se lạnh cuối đông. Vậy chúng ta hãy cùng đồng hành trong mùa xuân có những đóa hoa tươi bắt đầu nở rộ, như tiếng nhạc ngân trong không gian có nắng hanh vàng êm dịu.
Cuộc họp mặt vui tươi ngày đầu xuân êm ấm làm sao! Những nụ cười rạng rỡ như những đóa hoa xuân tỏa hương đầu mùa trao đến nhau. Đó là niềm vui không bằng tiền, nhưng bằng tình người và đó cũng chính là mùa xuân đẹp nhất chúng ta có thể nhận được. Trong khoảnh khắc khó quên ấy, chắc hẵn tâm hồn chúng ta đã lặng đi một nhịp rồi đó, phải không, thưa quyGiáo sư, văn nhân thi sĩ…và quy bạn hữu thân thương…?
Kiều My rất tiếc nuối vì đã vắng mặt trong buổi sum họp đầu năm của NVNT & TTG. Nhưng bằng sự tưởng tượng và hình dung một khung cảnh ấm cúng và vui tươi cũng đủ làm lòng mình xao xuyến trong buổi chiều kỷ niệm hôm ấy. Để xoa dịu tâm hồn, KM mạo muội thân gửi những vần thơ Ánh Xuân Còn Mãi Trong Ta dưới đây, xin qúy vị đón nhận như những đóa hoa xuân… như hoa có đất để nở một cách trọn vẹn.
Xuân về trước ngõ rất nhẹ
Nắng hanh vàng…màu kỷ niệm
Rơi đầy trước mái hiên nhà
Ta ngồi nghe xuân trong gió
Nghe đời thức giấc dịu êm
Một năm thôi…xin chậm lại
Cho lòng kịp giữ bình yên
Xuân ơi! Xin về thật khẽ
Cho tim còn kịp yêu thương
Cho ta quên bao giông tố
Giữ nhau giữa cõi vô thường
Xuân ơi! Xin đừng vội tắt
Ánh xuân trong mắt nhau đây
Dẫu đời mong manh như khói
Vẫn tin…tình người còn say
Xuân ơi! Xin đừng vụt mất
Ánh xuân còn ở trong ta
Một đời đi qua bão tố
Vẫn tin… tình người không xa
Xuân ơi! Xin đừng vội tắt
Ánh xuân…còn mãi trong ta…
Kiều My, Xuân Bính Ngọ 2026

Thưa quý giáo sư, quý niên trưởng, và quý anh chị em,
Thật là một niềm vui khi một lần nữa chúng ta họp nhau, hội ngộ trong niềm vui đầu năm. Khi Khánh Lan đọc thư chúc Tết mà anh Hòang Đình Khuê gửi mọi ngườị, tôi có đề cập là nay đã có nhiều hội viên, hay thân hữu bị té ngã liên miên. GS Dương Ngọc Sum té 4 lần, nhà văn Nguyễn Quang té ngã, Nguyễn Nga té ngã, nữ sĩ Dương Hồng Anh té ngã. Đây chính là luật của tạo hóa khi con người đối diện với ánh hoàng hôn tuổi già, aging syndrome (hội chứng lão hóa).
Có điều sáng nay tôi được biết một sự kiện đã rồi biết khá trễ, dù hôm qua bao tiếng cười quanh casino bầu cua, bao tiếng hát ca vui vang mùa Tết thì trong lòng một gia chủ giấu diếm một nỗi buồn “đoạn trường“. Số là vì sáng thứ Tư ngày 25 tháng 2, 2026, Khánh Lan được tin người anh thứ hai bị té ngã nứt xương khá nặng nên lá phổi bị ép lại không mở ra khiến không thở được và lá lách bị dồn qua một phía. Bác sĩ của bệnh viện UCI đã mổ, đang trong tình trạng hồi phục và hiện đang điều dưỡng tại Mission Palm Medical Care Center. Tuy nhiên, hôm họp mặt mừng Xuân Bính Ngọ, Khánh Lan đã cố giữ bình tĩnh để tiếp đón bạn bè. Khánh Lan nói nếu cô nói cho mọi người biết thì cô sẽ khóc, như thế buổi họp mặt mừng xuân sẽ mang đến không khí u buồn và không vui. Anh của Khánh Lan đã 82 và như thế anh đang ở thế hệ tuổi tác như các anh Phạm Quốc Bảo, Dương Việt Điền, Phạm Gia Đại, Ngọc Cường, Hoàng Đình Khuê, v.v…. là những đàn anh sẽ đối diện với những khó khăn tuổi đời, bằng cách này hay cách khác,…

Lý Tòng Tôn, a friend of laughters.

Nói đến đây tôi chạnh lòng nhớ đến người bạn quá cố Lý Tòng Tôn (một GS. Toán trước 1975 dạy ở trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ, anh Tôn bằng tuổi tôi, hằng năm anh thường đi du lịch ở các xứ. Một lần, nhân khi anh đi du lịch bên Hawaii, tôi đề nghị phái đoàn anh cho vợ chồng tôi và bạn bè Nhân Văn Nghệ Thuật đi chung cho vui. Rồi tất cả chúng tôi cùng vui nơi biển cả Honolulu. Hôm đi tắm biển Waikiki, mọi người vui chơi, vui đùa sóng biển, anh Tôn đang vui sóng, anh thấy tôi ngồi trên bờ, lonely đăm chiêu ngó trời biển, anh bỗng chạy ùa đến tôi, anh nói:
– Ê, ông Hải tui kéo ông xuống biển cho dzui.
Tôi ngó biển sóng lớn liên tục dội vào bờ, tôi nói:
– Nhìn sóng lớn, không biết có ma gia, cá mập dưới nước không nữa, half paralyzed như tui chỉ có chết, Thôi đi ông,…tui chịu thua.
Anh Tôn nói lớn thách thức ra vẻ tự tin:
– Đừng lo tui lội, lặn sông Hậu Ô Môn (sông Cần Thơ, quê hương anh Tôn), tui dạy bạn bè bơi lội mà, ông ôm cổ tôi chật nghe.
Cuối cùng tôi xuống nước, biển Waikiki vào hè nước ấm, không lặng như nước biển Cali, anh Tôn cõng tôi ra xa, anh nói:
“Từ đây tôi nghĩ mình ở chiều sâu 3 thước”.
Lòng tôi lo sợ vì khá rung khi sóng vỗ liên hồi vào mặt, tôi đề nghị bỏ cuộc chơi liều lĩnh. Tuy anh Tôn bơi chó khá giỏi nhưng mang trên lưng một heavy load là tôi nữa… tôi hối anh Tôn:
– Thôi ông thầy, em xin dzô, ra sóng lớn nguy hiểm quá!
Thầy Tôn cười ha hả chê tôi “chicken dies“. Anh Tôn cũng như Khánh Lan, những người bạn vì bạn bè. Xin cám ơn Lý Tòng Tôn và Lưu Khành Lan!!!
VHLA
Sans Toi Ce Soir Paroles Viet Hai Musique Kieu My:https://www.youtube.com/watch?v=GEeDdodegm8&list=PL39hXPAmuV8qFvv7JnI47Pmkgt_3bnSVG&index=3
Tết năm này bạn bè hội tụ nơi tư gia Lan Bổng tại vùng đồi núi Anaheim Hills, khiến tôi nhớ mùa xuân năm cũ khi hội ngộ tại gia trang Từ Mai của GS. Trần Huy Bích, tôi xin trích doạn bài viết kỷ niệm của nhà văn Khánh Lan, tự đề:
Tình bạn tri kỷ, tâm giao … dư âm hoài niệm tại Từ Mai Gia Trang (GS Trần Huy Bích). March 16, 2024, bài Khánh Lan kể tiếp:
Theo danh nhân thi ca Kahlil Gibran (1883-1931), thi sĩ và họa sĩ người gốc Lebanese (Li-băng), được xem như một trong các đạo sư vĩ đại của thế kỷ 20. Các tác phẩm của ông chứa đựng những thông điệp cao cả, nhất quán và vượt thời gian về một thế giới đại đồng, tôn giáo hòa đồng, tình huynh đệ, một tình thương vĩnh hằng nối kết con người với nhau trong tình yêu thương nhân loại từ Thượng đế giữa một trần gian hiệp nhất với không gian. Do vậy, Ngôn sứ (prophet), được hiểu như một sứ giả chuyển giao một thông điệp bằng ngôn từ…” Về Tình bạn.”
Một người tuổi trẻ thưa, Hãy nói cho chúng tôi về tình bạn và Gibran đáp lại rằng:”Người bạn là những cần thiết của các bạn được đáp ứng”.
Phải chăng,Giáo sư Từ Mai Trần Huy Bích chính là cánh đồng bao la với con tim vĩ đại và Từ Mai Trang là điểm hẹn để các bạn gieo hạt yêu thương và sẽ gặt hái tình bạn chân thật với lòng biết ơn người đã vun tưới nó …
Cánh đồng Từ Mai Trang là bàn ăn đầy ắp thực phẩm và cái lò sưỡi kia là nơi ấp áp trong mùa đông lạnh giá. Đến gia trang của Thày Từ Mai Huy Bích hẳn các bạn đã tìm đến nơi tràn ngập sự bình an. Các bạn ơi, bạn có biết, bạn đã tìm đến một nơi để nghe thông điệp ngôn sứ của Thày Từ Mai Huy Bích về thế nào là tình bạn thực sự. Xin thưa rằng khi bạn đến với Từ Mai Gia Trang là bạn đã nghe The Prophet, một danh tác về tình bạn của cụ Khalil Gibran, giáng cơ qua Thày Từ Mai Trần Huy Bích….
Những niềm vui của tình bạn (The Pleasures of Friendship):
Niềm vui của tình bạn thật tuyệt vời,
Thật thú vị biết bao khi được đi thăm một người bạn!
Tôi đến bên bạn tôi, chúng tôi đi dạo trên bãi cỏ,
Và những giờ phút như phút trôi qua.
Phân tích bài thơ The Pleasures of Friendship: Bài thơ này ca ngợi những niềm vui giản dị của tình bạn, sự hài lòng trong những trải nghiệm được sẻ chia và thời gian trôi qua. So với những tác phẩm u ám hơn của Smith, nó mang đến một khoảng thời gian nghỉ ngơi sảng khoái với giọng điệu vui vẻ và tập trung vào những khía cạnh tích cực của sự kết nối tình bạn giữa con người với nhau. Nó phản ảnh của sự mong muốn được an ủi bằng sự thoải mái của thời hậu Thế chiến thứ hai, nhấn mạnh tầm quan trọng của mối liên kết giữa con người với nhau trong một thế giới đang phục hồi tái thiết sau chiến tranh và chịu dựng những mất mát.
Nói về tình bạn, Khánh Lan cũng đã sáng tác một bài thơ về tình bạn như sau:
Tình Bạn Vô Biên
Thời gian trôi lặng lẽ
Thấm thoát bảy thập niên
Văn thuần, thơ hiệp ý
Tâm đắc bạn văn chương.
Ước giao tình Tri kỷ
Xướng họa cùng ngâm nga
Thầm khen thơ ý lạ
Đáng yêu hạ bút thôi.
Nhớ mãi những buổi chiều
Cảm tác đôi vần thơ
Vô biên về tình bạn
Luôn đậm đà thiết tha.
Hỡi tâm hồn khoáng đạt
Mãi say đắm mộng mơ
Những dòng thơ hoa mỹ
Vằng vặc dưới trăng ngà.
Xuân về tại Từ Mai Gia Trang… Trong bữa tiệc Tân Niên tại Gia Trang của Giáo Sư Từ Mai Trần Huy Bích, Nhà Văn Khánh Lan đã chúc Tết quý Thày Cô qua mấy câu thơ và gởi lời chân thành cám ơn Giáo Sư Trần Huy Bích cùng quý vị niên trưởng và quý anh chị em…
Xuân về kính chúc quý thầy cô.
An khang, thịnh vượng, bao niên kỷ.
Trường thọ, Thanh Nhàn, khoáng đạt tâm
Văn chương, lịch sử thời thông suốt
Rạng danh nhà giáo khắp bốn phương.
Nhân dịp xuân về Khánh Lan đã thảo một bài thi ca Hán Việt, tứ ngôn tứ tuyệt thể biền ngẫu cân đối:
Mai khai phú quý.
Đào tải an khang
Thọ sinh vạn phúc
Lộc cung thắng lợiPhúc cầu toàn gia.
Mùa xuân đến, thiên nhiên chuyển mùa, không gian bừng sinh, Khánh Lan đã họa bài thơ chúc mừng xuân mới như sau:
Xuân nay trở về
Không gian tái sinh
May mắn vào cửa
Hoan hỉ tràn dầy.
Khánh Lan cho rằng không hẳn chỉ có mùa Xuân ở Trung Hoa hay Việt Nam, mà mùa Xuân còn ở những nơi như Teipei (Đài Bắc Đài Loan), Seoul (Đại Hàn) …
Đôi Nét về Thi Ca Truyền Thống Nhật Bản (Haiku) và thi ca Truyền Thông Đại Hàn (Sijo)
Dựa theo bài viết trên trang nhà KBS-World-Âm Điệu Ngàn Xưa thì “khi ta đề cập đến thi ca truyền thống Nhật Bản, người ta thường nghĩ về thể thơ Haiku (句) bởi lẽ đây là một thể thơ thịnh hành ở Nhật Bản. Haiku là sự dung nạp và kết tinh của nhiều giá trị văn hóa tinh thần của người phương Đông như Hoa, Nhật, Hàn hay Việt tộc. Tương tự như thơ Haiku của người Nhật Bản, thơ Sijo (소지) của Đại Hàn. Xét về thơ cổ Sijo là thể thơ truyền thống của dân tộc Hàn, một bài thơ thuộc thể loại này thường có bố cục ba dòng truyền thống. Thơ cổ Sijo là thể thơ truyền thống của dân tộc Hàn. Một bài thơ thuộc thể loại này thường có bố cục ba dòng. Mỗi dòng có hai nhịp, mỗi nhịp có từ 3 đến 4 chữ. Vậy nên thơ cổ Sijo còn được gọi là thể thơ ba dòng sáu nhịp.
동짓달 기나긴 밤을 한 허리 둘에 내어
춘풍 이불 아래 서리서리 넣었다가
임 오는 밤이어들란 구비구비 펴리라.
Bài viết của nhà văn Khánh Lan chạm vào 2 nguồn thơ Sijo và Haiku, cho thấy khi mùa xuân về như thế nào, như rồi cả hai Sijo và Haiku, cho dến cuồi bài thì vẫn gặp thi ca Việt Nam, đó là bài danh thi của Nguyễn Công Trứ. xin xem tiếp như sau:
Thơ cổ Sijo vừa là tác phẩm văn học vừa có thể trở thành lời của bài hát với những câu chữ ngắn gọn nhưng lại sâu sắc, có thể diễn tả mọi cung bậc của cảm quan, cảm xúc. Sau này bố cục truyền thống của thơ cổ Sijo dần biến đổi cách tân, thành thể loại có số âm tiết nhiều hơn được gọi là Saseolsijo. So với thơ cổ truyền Pyeongsijo, nhịp điệu và tiết tấu của thơ cổ Saseolsijo nhanh và sôi động hơn.
Thơ cổ phổ nhạc Pyeongsijo và Saseolsijo
Một bài thơ cổ Sijo thường có khoảng trên dưới 45 chữ. Đây là thể loại thơ cổ phổ biến và còn được gọi là Pyeongsijo. Sau này bố cục truyền thống của thơ cổ Sijo dần biến đổi thành thể loại có số âm tiết nhiều hơn được gọi là Saseolsijo. So với thơ cổ Pyeongsijo, nhịp điệu và tiết tấu của thơ cổ Saseolsijo nhanh và sôi động hơn.
Trong tên của thể loại thơ cổ phổ nhạc Saseoljireumsijo, từ “Saseol” có nghĩa là “ca từ nhiều chữ”, ám chỉ không theo quy tắc thơ ba bốn chữ mà sáng tác tự do. Còn “Jireum” có nghĩa là “hét lên”, ám chỉ là “phần đầu của khúc hát được hát với giọng cao”. Vốn dĩ thơ cổ Pyeongsijo được hát với giọng đều đều, không quá cao hay quá thấp. Nhưng trích đoạn “Sanjunghae” (Giữa rừng xanh) mà chúng ta vừa nghe lại có phần đầu được hát bằng giọng rất cao. Câu ca mượn lời thoại giữa người thợ săn và con ngỗng trời để ví von tâm trạng sầu thảm của những người yêu nhau khi chia tay. Ngỗng trời nói rằng:
Hỡi anh thợ săn vai đeo súng trong rừng xanh núi thẳm
Dù anh có vác súng bắn muôn thú
Thì cũng đừng bắn ngỗng trời đang khóc vì mất đôi
Nghe vậy, người thợ săn liền trả lời, rằng: “Dù có vô tình thế nào đi chăng nữa thì chúng tôi cũng đâu nỡ bắn những con vật đáng thương”.
Theo dòng chảy của thời gian, thơ cổ phổ nhạc chữ tình Pyeongsijo phát triển thành thể loại thơ cổ phổ nhạc tự do Saseolsijo trong sáng, đầy hứng khởi. Ví như “Saseol Nanbongga” (Lan phùng ca thể thơ tự do) có đoạn:
Cô gái trước nhà đi lấy chồng, chàng trai sau nhà đi treo cổ
Người chết thì không tiếc nhưng chẳng qua là không có dây thừng
Chàng bỏ thiếp đi, chưa đi được 10 dặm đã đổ bệnh
Chưa đi được 20 dặm đã gặp toán cướp
Chưa đi được 30 dặm đã phải quay về bên thiếp
Vài nét khác biệt giữa thơ cổ phổ nhạc Sijo và dân ca Minyo ở Hàn Quốc.
Trước hết ta hay xem quá trình hình thành nên các khúc dân ca Minyo ở Hàn Quốc. Dân ca Minyo thường không phải là những khúc hát có người phổ nhạc và người soạn lời riêng. Dân ca Minyo vốn là dòng nhạc mà ai cũng có thể nói lên tâm tư tình cảm của mình theo nhịp điệu nhất định nào đó. Và theo dòng chảy của thời gian, nó được nhiều người đồng cảm, hát theo và định hình thành khúc hát dân gian. Rồi mỗi người lại chỉnh sửa chút ít cho hợp với phong cách và tâm tư tình cảm của mình. Gần đây nghệ sĩ Lee Hee-mun đã biến tấu khúc ca “Saseol Nanbongga” thành khúc hát đại chúng“Saseol Nanbong” có phong cách và sắc thái khác hẳn với khúc ca gốc và còn được giới trẻ ngày nay hưởng ứng hơn nữa. Thế nên những người có tuổi khi nghe khúc hát này còn nói rằng “Liệu có thể gọi đây là khúc hát truyền thống hay không?”. Tuy nhiên, “Saseol Nanbong” của nghệ sĩ Lee Hee-mun vẫn được coi là một khúc hát truyền thống”.
Nguồn:
* Khúc thơ phổ nhạc “Pureun Sanjunghae” (Giữa rừng xanh) theo thể loại Saseoljireumsijo / Lee Jun-ah
* Khúc thơ cổ phổ nhạc “Lan phùng ca” theo thể loại thơ tự do Saseolsijo / Kim Yeong-im
* Khúc hát “Saseol Nanbong” mang âm hưởng hiện đại / Lee Hee-mun
Sau đây là bài đoãn thi chúc Tết theo thi ca Hàn ngữ: Bài “Vừa Đủ“. Bài “Vừa Đủ” là Thi Ca Biền Ngẫu Dạng Thức: 10-10-10-10. Ý tưởng khi Nếp sống vừa đủ là một triết lý hay nhân sinh quan của thi sĩ Nguyễn Công Trứ trong bài thơ nổi danh “Chữ nhàn “… trong chiều hướng tương đồng, bài thơ “Vừa Đủ” của Khánh Lan dưới đây như lời chúc đầu năm đến các mọi người: “Năm mới chúc mọi người vừa đủ, vừa đụ”
Bài thơ Vừa Đủ
Vừa đủ HẠNH PHÚC cho tâm hồn được bình an
Vừa đủ THÀNH CÔNG cho mình luôn mãi kiên cường
Vừa đủ HY VỌNG để thấy mình đủ hạnh phúc
Vừa đủ THÀNH CÔNG để giữ cho mình mãi nhiệt tâm.
Sau dây là phần trích dẩn thơ của Nguyễn Công Trứ: Bài “Chữ Nhàn”.
Link: Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc
Bài Thơ Chữ Nhàn của Thi Hào Nguyễn Công Trứ
Thị tại môn tiền náo,
Nguyệt lai môn hạ nhàn.
So lao tâm lao lực cũng một đàn,
Người trần thế muốn nhàn sao được?
Nên phải giữ lấy nhàn làm trước,
Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài.
Cuộc nhân sinh chừng bảy tám chín mười mươi,
Mười lăm trẻ, năm mươi già, không kể.
Thoắt sinh ra thì đà khóc choé,
Trần có vui sao chẳng cười khì?
Khi hỷ lạc, khi ái dục, lúc sầu bi,
Chứa chi lắm một bầu nhân dục.
Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc,
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?
Cầm kỳ thi tửu với giang san,
Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế.
Ngã kim nhật tại toạ chi địa,
Cổ chi nhân tằng tiên ngã toạ chi.
Ngàn muôn năm âu cũng thế ni,
Ai hay hát mà ai hay nghe hát?
Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất,
Để ông Tô riêng một thú thanh tao.
Chữ nhàn là chữ làm sao?
Dẫn giải ý thơ “TRI TÚC TIỆN TÚC”
“Tri túc tiện túc, đãi túc, hà thời túc”
(Biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì bao giờ mới đủ).
“Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn”
(biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn thì bao giờ mới nhàn)
Hai câu thơ trên có nghĩa là làm người phải biết thế nào là đủ thì mới có thể vui hưởng cuộc sống. Ai không biết thế nào là đủ sẽ luôn cố sức, lao tâm lao lực để có nhiều hơn, hay để thõa mãn tự ái và tham vọng của mình. Nhưng đời người không phải lúc nào cũng may mắn vì theo quy luật đời sống thì có nhiều biến thiên, thăng trầm như trăng tròn rồi lại khuyết, …không khéo, khi hết thời mà không biết dừng sẽ bị mất hết những cái mình đang có. Thật vậy, chỉ có những người sống phải đạo, có ân phước của thánh thần mới được che chở tránh được những cơn lốc bất ngờ của số mệnh. Người có tài mà ỷ tài, kiêu ngạo thì bao nhiêu nỗ lực để đạt tham vọng không đáy của cá nhân rốt cuộc cũng sẽ trở thành công dã tràng mà thôi.
Bài “Chữ Nhàn” được nhiều người coi là tuyệt tác trong các bài hát nói. Tác giả vạch rõ chữ nhàn rất dễ kiếm, ai cũng có thể có, dễ như thế mà các thi nhân từ xưa chưa ai tìm ra được. Những câu thơ cổ mà tác giả mượn dẫn vào thực là đắc cú, phân minh, chuyển đi láy lại tài tình. Vì thế, ngày xưa những khách phong lưu đi hát ưa nghe bài này, là có ý mượn tiếng giai nhân để kể lại áng văn chương danh cú.
Sự bình an là trạng thái tâm trí, tinh thần của một người khi cảm thấy yên tĩnh, thoải mái, không có lo lắng, căng thẳng hay áp lực. Nó thường được miêu tả như một cảm giác an tĩnh, yên bình và ổn định bên trong thân tâm ta. Sự bình an được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt là trong thời đại ngày nay với nhịp sống nhanh, áp lực của công việc và sự bận rộn trong cuộc sống. Sự bình an giúp chúng ta có thể tập trung, đạt hiệu quả khi làm những việc tốt hơn, tăng cường sức khỏe và tạo ra cảm giác hạnh phúc. Bình an là khi ta cần để tâm trí mình được nghỉ ngơi, nhìn sâu bên trong bản thân mình và tìm hiểu về bình an nội tâm. Vậy, giá trị của an bình, yên ổn là gì?
Xét về ý tưởng “Đi tìm sự bình yên trong tâm hồn“, ai trong chúng ta cũng đều mong ước có được một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Nếu không dành thời gian để nhìn nhận mọi việc một cách đầy đủ, chúng ta sẽ không thể cảm nhận được cảm giác yên bình. Muốn giữ được sự bình yên trong tâm, chúng ta biết giữ lấy sự tĩnh lặng của tâm hồn, sự buông lỏng những căng thẳng lo âu. Cố gắng trong công việc là điều cần thiết nhưng chúng ta cũng phải biết cho đi, sẵn sàng giúp đỡ người khác, thấy được những giá trị tốt đẹp của cuộc sống… Cho nên bình yên là cảm giác xuất phát từ nội tâm. Đó là khi chúng ta vui vẻ, thoải mái, cảm thấy hài lòng với những điều mình đang có; là khi ta sống lạc quan, tích cực; không tham lam, đấu đá, tranh giành; không suy nghĩ, ghen ghét, đố kỵ với những người xung quanh…
Bình yên giống như liều thuốc bổ giúp mỗi người thêm khỏe mạnh, hạnh phúc. Bình yên giúp mỗi người sẽ càng yêu và trân trọng hơn những điều bình dị quanh mình. Có được sự bình yên trong cuộc đời là vô cùng quý giá, là bởi vì dẫu cho chúng ta có công danh, sự nghiệp như ý nhưng trong lòng không có được sự bình yên thì cuộc đời cũng sẽ mất đi ý nghĩa đích thực. Trái lại, khi chúng ta luôn cảm thấy bình yên, tất thảy mọi điều tốt đẹp sẽ tới, cuộc đời mỗi người vì thế mới trọn vẹn, ý nghĩa. Khi cảm nhận vừa dủ là vừa đủ, hãy bình yên giúp mỗi người biết buông lối sống Đạo tự nhiên như nước chảy xuôi: ở thì chuộng chỗ thấp, ân tình thì chuộng thâm sâu, xử sự chuộng lòng nhân, nói thì chuộng chân thật, cai trị thì làm cho cuộc sống an bình, làm việc thì hợp với tài năng, hành động thì hợp thời đúng lúc. Đức tính của nước là làm lợi cho tất cả thiên hạ mà không tranh công đoạt lợi, gặp chỗ thiếu thì chảy vào, chỗ thừa thì chảy ra, trên đời làm mưa, dưới đất thành sông lạch: “Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh”. Lão Tử nhận ra ưu điểm của nước là tính vô kỷ, vị tha, “Nhu thắng cương“, như cung cách ứng xử: “Cường đại xử hạ, nhu nhược xử thượng”: cư xử mạnh bạo là hạng dưới, mềm dịu là hạng trên. Thực tế cho ta thấy thái độ khắt khe, cứng cỏi là tiêu biểu những tâm hồn cằn cỗi, thấp kém. Uyển chuyển, khéo léo, dịu dàng mới tiêu biểu những tâm hồn cao thượng. Bởi vậy có câu thơ:
“Phàm phu mới cứng, mới cương,
Dịu dàng mới thực lối đường người trên“
Bản chất của nước (l’eau, water) là như thế, không câu nệ vào một hình thức, khi tràn vào đủ nước ngưng lại trong trạng thái tĩnh lặng, bình yên. Đấy là nước, Nước lại còn có tính cách nén chịu, sự nén chịu của con đường Nhu: “Thọ quốc chi cấu”: nhận lấy cho mình bụi bặm của quốc gia. Đồng thời “Thọ quốc chi tường”: nhận lấy cho mình sự rủi ro của nước nhà. Đó cũng là tận cùng của vị tha, nhưng chính nhờ thế mới thực làm chủ được sơn hà, xã tắc. Nước nhà, xã hội cần thành công, gia dình cần hạnh phúc, với ý tưởng sao cho “vừa dủ“. Thi ca hạnh phúc, cho tâm hồn được bình an:
bỏ những thứ không cần thiết để có cuộc sống hạnh phúc. Có thể thấy là sự bình yên trở thành thứ tài sản vô giá mang đến cho con người cuộc sống viên mãn, từ đó sản sinh ra nhiều giá trị nhân sinh cao đẹp khác như: tình yêu thương, lòng vị tha, tính bao dung; loại bỏ những thói quen, giá trị tiêu cực mà không hề đắn đo, suy tính. Khi một cá nhân hạnh phúc thì xã hội sẽ hạnh phúc. Và khi xã hội hạnh phúc luôn là khát vọng luôn mơ ước của mỗi quốc gia và toàn thể nhân loại.
Bình yên là tấm gương phản chiếu của hạnh phúc. Muốn có được bình yên, bạn sẽ tự khắc biết cách đi tìm, bởi “không ai mang lại cho bạn sự bình yên ngoài chính bạn”. Dựa theo tư tưởng của Lão Tử trong Lão giáo; Hầu như toàn bộ Đạo Đức Kinh của Lão Tử nhằm nói đến sức mạnh của cái Nhu, của Vô Vi. Trong ý niệm đó, đặc biệt ở chương 8, Nước được coi như hình ảnh đặc thù để chuyển tải một triết lý sống và cũng chính là một nghệ thuật sống lý tưởng. Ông cho thấy đường
Tóm lại, thể thơ Haiku của người Nhật Bản, hay thơ Sijo của Đại Hàn là những loại thơ biền ngẫu, y như thơ Lục Bát của Việt Nam (6-8), chịu sự chi phối của quy luật sắp sẵn.
Sự bình an là trạng thái tâm trí luôn là diều cần thiết cho đời sống. Khánh Lan xin gửi những vần thơ về lời chúc bình an nhân dầu năm mới:
Mùa xuân ơi
Hãy chúc nhau mọi điều như ý
Cho dù cuộc sống dù khó ta vẫn cười
Xin chúc nhau đầu năm đón xuân hát vang mừng câu ca bình an
Mùa xuân ơi
Hãy chúc nhau mọi điều như ý
Cùng đón xuân ngày mới ta hãy cười
Xin chúc nhau đầu năm đón xuân hát vang mừng câu ca bình an…!!!
Mừng Tết gửi nhau một chữ NHÀN
cuộc đời này sẽ hết lầm than
Mọi người vui sống đầy hạnh phúc
Gia cảnh an nhàn dẫu muộn màng
Gửi tiếp cho nhau chữ bằng AN
Chúc nhau tâm AN những thời gian
Không còn lo lắng ưu phiền não
Cuộc sống muôn màu những AN khang
Với bài thơ thất ngôn bát cú nhái thể Dường Tăng trên, Khánh Lan xin ghi nhận Kỷ niệm từ Từ Mai gia trang xuân Nhâm Thìn 2024 về núi đồi Anaheim Hills với mùa Xuân Hội Ngộ Bính Ngọ 2026.
Hải Lan Jacqueline Kiều My. Mùa xuân, 28/02/2026.
Ngày 01 tháng 3, 2026. NV Việt Hải cũng gởi đến một bài viết Chúc Tết Bính Ngọ 2026 như sau:

Năm 2026 là Tết con Ngựa, tượng trưng cho sự bức phá, kiên trì và thành công vượt bực. Ngựa là loại đông vật thông minh, trung thành và có trí nhớ rất tốt. Ngựa còn có đặc tính cần mẫn, chịu khó, khả năng di chuyển mau lẹ và giác quan nhậy bén. Người sanh năm Ngọ nói chung thường năng động, nhiệt tình, thẳng thắn, ghét sự giả tạo, yêu tự do và thích khám phá. Họ có óc sáng tạo
nhưng bướng bỉnh và dễ nóng tánh.
Những người tưổi Ngọ thường là Tỷ phú và nổi tiếng trên chính trường
1. Tỷ phú Warren Buffett (1930)2. Tỷ phú Michael Bloomberg (1942)
3. Hồ Cẩm Đào (1942), Tổng Bí Thư đảng CS Trung quốc (2002-2012)
4. Bà Angela Dorothea Merkel (1954), Nữ Thủ tướng dầu tiên của nước Đức.
5. Shinzô Abe, Thủ tướng Nhật Bản.
Ngoài ra Ngựa có nhiều giống tùy theo màu lông và vùng Hy Lạp, Bắc Âu, trong Tam Quốc Chí và trong phim ảnh của Mỹ.
a) Ngựa sắt của Thánh Gióngb) Thần thoại Hy Lạp: Pegasus, ngựa trắng có cánh.
c) Thần thoại Bắc Âu: Sleipnir, ngựa 8 chân.
d) Trong phim ảnh Mỹ: Ngựa Trigger của Tài tử Roy Roger và Chó Lassie
e) Window- Maker/Lightning ngựa của Cowboy Pecos Bill.
f) Ngựa Duke của Tài tử John Wayn
g) TrongTam Quốc Chí: Ngựa Xích Thố, thần mã của Lữ Bố, chạy như bay.
h) Ngựa Tuyệt Ảnh của Tào Tháo hy sinh cứu Chủ.k) Ngựa Đích Lư nổi tiếng của Lưu Bị, được coi là ngựa quý, nhưng lại
mang điềm xấu cho Chủ.l) Ngựa Xích Thố, màu đỏ rực như lửa, lúc đầu Đổng Trác tặng cho
Lữ Bố. Khi Lữ Bố chết, Tào Tháo tặng lại cho Quan Vân Trường để
ca ngợi tánh dũng khí và lòng hiếu thảo với Chị dâu (vợ Lưu Bị)m) Ngựa Ô Hàn Đạp Tuyết của Trương Phi màu đen tuyền.
n) Ngựa Bạch Long của Triệu Vân
Những lời chúc Tết Bính Ngọ:- Xuân Bính Ngọ, xin Chúc tất cả Niên trưởng, Giáo sư, Thành viên trong Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cùng gia đình Mã Đáo Thành Công, Tấn Tài Tấn Lộc, sức khỏe mạnh mẽ như Ngựa chiến, sự nghiệp thành công như Ngựa bay.
- Riêng Việt Hải, Chim đầu đàn – Xin Chúc sức khỏe sung mãn, gia
đạo bình an, luôn vững tay cương, phi nước đại dẫn dắt Nhóm về đích. - Nhà Văn Nguyễn Quang: Xin chúc Anh môt mùa Xuân vui vẻ hoàn
thành tác phẩm, sức khỏe khả quan, tâm trí sáng suốt, sống lâu trên
trăm tuổi bên cạnh bạn bè và Con cháu. - Giáo sư Dương Ngọc Sum: Kính chúc Giáo sư “Phúc như Đông Hải, Thọ Tỷ Nam Sơn”, sức khỏe sung mãn, đi đứng mạnh mẽ, thân tâm
an lạc, sống lâu trăm tuổi để vui chơi với con cháu. - Giáo sư Trần Huy Bích: Một mùa Xuân An lành, kính chúc Giáo sư
cuộc sống thanh nhàn, tinh thần thoải mái và luôn được mọi người
kính trọng. - Thi sĩ Dương Hồng Anh và Nhà Văn Nguyễn Nga: Xin kính chúc hai Chị một Năm Mới An Khang, sức khỏe dồi dào, tinh thần thư thái, sống Thọ, hưởng trọn niềm vui bên cạnh Con Cháu. Rất hy vọng Chị Dương Hồng Anh mỗi tuần cho ra mắt một tập thơ.


Nhạc sĩ Võ Tá Hân
Hôm qua là ngày họp bạn dầu năm của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Vì có sự hiện diện của nhóm trình tấu tơ vàng, nên xin di qua đôi nét về góc nhìn tây ban cầm. Nhóm thành lập tại miềm nam Cali.
Trước năm 1975, tôi có đi nghe những buổi trình tấu tây ban cầm ở Hội Việt Mỹ trên đường Mạc Đĩnh Chi, hay hội Alliance Française trên đừơng Gia Long, Sài Gòn thưở xưa có GS Hoàng Bửu, ông dạy dàn cho trường Petrus Ký. Di sản của nhạc sĩ Hoàng Bửu là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều thế hệ nhạc sĩ và ca sĩ kế cận. Phong cách sáng tác trữ tình, lãng mạn cùng sự chân thành trong ca từ của ông đã khuyến khích các nghệ sĩ trẻ khám phá và phát triển bản thân.
Nhiều ca khúc của ông được các giọng ca nổi tiếng thuộc các thế hệ sau trình bày lại, không chỉ giúp tác phẩm sống mãi mà còn là bài học quý giá về kỹ thuật sáng tác, cách thể hiện cảm xúc và sự gắn bó với văn hóa dân tộc. Sự ảnh hưởng này lan tỏa qua việc học hỏi, kế thừa và phát triển những giá trị nghệ thuật mà ông đã tạo dựng.
Về cây đàn guitar vẫn âm thầm phát triển theo lịch sử thời gian. Với cảm hứng nghệ thuật từ cuộc sống bình dân, họa sĩ Michelangelo Merisi da Caravaggio đã sáng lập ra một trường phái nghệ thuật pha trộn giữa tĩnh vật và phồn thực mà tâm điểm của nó là tiếng đàn guitar phóng khoáng và những bước nhảy vui nhộn bên bàn tiệc của những cô nàng hầu gái và những anh chàng nông phu hồn hậu. Có thể nói đây cũng là tiền đề dần hình thành nên dòng nhạc flamenco vô cùng quyến rũ, đặc trưng Tây Ban Nha.
Những nhạc sĩ của bộ môn tây ban cầm string acoustic guitar tên tuổi nên nhắc về nhạc sư Đỗ Thế Phiệt, nhạc sĩ Đỗ Đình Phương, nhạc sĩ Võ Tá Hân… Riêng về những tên tuổi quốc tế lớn như Ferdinando Carulli (1770-1841), Fernando Sor (1778-1839), Mauro Giuliani (1781-1829), Matteo Carcassi (1792-1853) và đặc biệt là Francisco Tárrega (1852-1909) đẵ góp phần đưa tiếng đàn guitar trở lại đời sống âm nhạc hàn lâm. Những bản nhạc kinh điển không chỉ mô phạm mà còn tràn đầy tính biểu cảm và sự tinh tế. Với mong muốn cây guitar có một vị trí trong dàn nhạc giao hưởng, Tárrega đã không ngừng phát triển kỹ thuật chơi nhạc guitar, chuyển soạn các tác phẩm của Frédéric Chopin, Robert Schumann, Johann Sebastian Bach cho guitar. Sau này, tiếp nối con đường của Francisco Tárrega, Andrés Segovia (1893-1987) cùng với cây lục huyền cầm lần lượt chinh phục tất cả các phòng hòa nhạc.
Nói thêm về nhạc sĩ Francisco de Asís Tárrega y Eixea, thường gọi tắt là Francisco Tárrega, (21 tháng 11 năm 1852 – 15 tháng 12 năm 1909) là một nhà soạn nhạc, một tay chơi đàn guitar nổi tiếng người Tây Ban Nha. Ông được xem như là người đặt nền móng cho vị trí của cây đàn guitar là nhạc cụ dành cho độc tấu. Ngoài các bản nhạc do ông sáng tác cho đàn guitar ông còn chuyển soạn một số tác phẩm của các nhà soạn nhạc khác sang trình tấu với đàn guitar.
Ra hải ngoại tôi nghe Nhạc sĩ Đỗ Đình Phương và Nghệ Thuật Độc Tấu Tây Ban Cầm tại Miền Nam từ sau 1975. Về quá trình nghệ thuật Độc Tấu Tây Ban Cầm:
Đỗ Đình Phương khởi đầu sự nghiệp âm nhạc của mình bằng cách… mê bài “Leyenda”, do I. Albeniz đánh từ hồi anh còn rất nhỏ. Do mê bài này mà anh đã xin bố cho học đàn guitar, phần lớn là tự học từ những sách nhạc gửi mua từ Âu Châu. Sau đó anh đã đậu vào trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Anh là người đầu tiên tốt nghiệp môn guitar cổ điển của trường. Sau đó anh được bổ đi dạy guitar ở trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế, một ông thầy nhạc trẻ măng mới có 20 tuổi.
Hai năm sau, anh trở về Sài Gòn dậy guitar tại trường cũ. Suốt thời gian ở Việt Nam trước năm 1975, anh là nhạc sĩ guitar hiếm hoi soạn hòa âm cho những ca khúc lãng mạn Việt Nam theo lối cổ điển, để rồi nổi tiếng qua những buổi trình tấu khắp nơi.
Nhận định về sự thành công nhất của nhạc sĩ Đỗ Đình Phương là đem cái hương thi vị nhẹ nhàng của nhạc tình Việt Nam lồng vào từng giai điệu của Flamenco hay Classic qua tiếng đàn tây ban cầm mà anh trau chuốt bao nhiêu năm qua.
Trong khi dòng nhạc tây ban cầm trình tấu theo giai điệu tây phương sẽ mang đến cho người nghe chất xúc tác mãnh liệt của những cơn nóng bức vùng sa mạc, hay réo rắt âm hưởng của những làng mạc đậm chất du mục thì các note nhạc mà Đỗ Đình Phương mang vào tác phẩm Việt Nam lại lắng đọng hẳn lại trong trạng thái lãng mạn của một miền đất vừa buồn bã u hoài, vừa tĩnh lặng và đậm đặc nhớ nhung của những ai xa nó.
Rồi hôm nay nhạc sĩ string acoustic guitarist Võ Tá Hân chuyển cho tôi email có link sau. Mời xem:
Dear Việt Hải,
Tụi này rất vui khi gặp vợ chồng Việt Hải và các bạn tại buổi Xuân Họp Mặt tối qua.
Gửi tặng Việt Hải nghe mấy bài nhạc guitar để nhớ lại những ngày mình còn ở cư xá Hải quân . Lúc ấy chắc Việt Hải cũng đã thường nghe tôi tập đàn những bài này trên balcony, sau những giờ thức khuya học thi phải không?
Cheers,
Hân.
-
QUÊ HƯƠNG LÀ GÌ? Ý NGHĨA
Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My nghiên cứu và sưu tầm

Việt Hải khởi đầu với thi tập “Quê Hương Còn Đó” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh

Tôi nhận thi phẩm mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh là Quê Hương Còn Đó, tôi miên man nghiền ngẩm, cuộc sống ly hương hơn nửa thế kỷ, trong tận đáy lòng ngậm ngùi thương nhớ. Như vậy, chúng ta hãy tự tìm hiểu về ý niệm quê hương.
Trong ý tưởng chung chung, quê hương hiện tại mang theo trong tâm tưởng của đại chúng: Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức nên rất khó quên. Lòng yêu mến quê hương trong danh tác “Tâm Hồn Cao Thượng” (Les Grands Coeurs, Cuore (Heart), 1886) của văn hào người Ý, Edmondo de Amicis, tác giả kể về lòng yêu nước và thương quê hương của cậu bé Thành Padova đã để lại một dấu ấn sâu sắc của một thuở đã qua cho chúng ta.
Đi xa hơn nữa khi nghĩ về vai trò của quê hương qua ba yếu tố sau:
- Quê hương là mảnh đất chúng ta sinh ra, lớn lên, trau dồi bản thân và mang trong mình nhiều ước mơ, khát vọng để giúp đời, giúp người.
- Mỗi quê hương có nền văn hóa riêng, giao thoa độc đáo của văn hóa từng vùng miền, đóng góp vào đa dạng nền văn hóa của dân tộc.
- Quê hương là nơi con người trở về sau những khó khăn, mang lại cảm giác thanh thản và yên bình.
Quê hương không chỉ là nơi chúng ta lớn lên, mà còn là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận được sự thanh thản, yên bình bởi không khí quen thuộc và con người chân chất tại quê hương. Mỗi quê hương mang một bản sắc riêng, nuôi dưỡng tâm hồn con người với sự đa dạng phong phú. Mỗi quê hương cũng có một nền văn hóa riêng. Khi ta trưởng thành, ta mang theo nét đặc trưng của quê hương đi nơi khác, sẽ có sự giao thoa độc đáo giữa các nền văn hóa từng vùng miền, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.
Sự nhớ nhung, suy tưởng miên viễn về quê xưa, ấy là một tình yêu quê hương. Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên và để trở về. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều.
Hãy xem thơ Dương Hồng Anh:
Tháng Tư nhớ quê hương
Mặt trời đi vắng hôm nay
Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương
Năm mươi năm mấy đoạn trường
Bể dâu biến đổi còn vương suối hồn
Nhìn theo vách cỏ mờ sương
Lao xao nghe gió bên đường gọi thơ
Bên hiên thanh vắng thẫn thờ
Đem tâm tình dệt ước mơ cuối mùa
Tháng tư cây cỏ ngóng chờ
Mai về thềm cũ ươm thơ thanh bình
Tháng tư khung cửa buồn tênh
Cánh chim xa xứ bồng bềnh nhớ quê
Biển Đông gợn sóng sơn khê
Bâng khuâng tâm sự đường về hỏi ai
Vần thơ lục bát trải dài
Nhớ thương nguồn cội u hoài cung tơ
Quê hương: Tiếng gọi thân thương ấy mỗi khi cất lên đều gợi ra những kỷ niệm tuổi thơ tươi đẹp, khơi dậy những cảm xúc bình dị, thân thuộc nhưng cũng thiêng liêng, đẹp đẽ nhất trong tâm hồn và trái tim của mỗi con người. Quê hương là miền nhớ, miền thương và là thế giới tình cảm đong đầy, ấm áp. Quê hương là nơi chúng ta được sinh ra ra và lớn lên, bởi vậy mà khi nhắc đến quê hương người ta thường nhớ về những gì thân thuộc, gần gũi nhất.
Dù cuộc sống có bao đổi thay, cuộc đời xoay vần khiến con người trở nên mệt mỏi thì quê hương vẫn thủy chung ở đó, mãi là chùm khế ngọt, là con đường đến trường thân thương và là vòng tay ấm áo, che chở đón chúng ta trở về. Và quê hương luôn là mảnh đất mà chúng ta gắn bó trong suốt cuộc đời, mang trong mình những kỷ niệm đẹp khó quên. Mỗi người có một quê hương riêng, và mỗi quê hương có một bản sắc khác nhau, nuôi dưỡng những tâm hồn con người đa dạng và phong phú. Tình yêu quê hương không phải là tình cảm trừu tượng, nó được biểu hiện rất cụ thể và rõ nét.
Theo nhà văn người Mỹ Dos Parsons đã từng nói một câu rất hay:
“Bạn có thể khiến mọi người rời bỏ quê hương họ,
nhưng bạn không thể cướp mất quê hương trong trái tim họ.”
Thật vậy, quê hương trong miền ký ức của mỗi người có luôn là những gì giản đơn, mộc mạc nhưng cũng đầy thiêng liêng và đẹp đẽ. Tình yêu quê hương không ngọt ngào, trong trẻo mà nó nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng vẫn khiến con người ta phải dâng lên những niềm xúc cảm khôn nguôi, khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người. Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ:
MƠ VỀ HÀ NỘI
Hà Nội ơi! Hà Nội đâu
Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa
Cho thơ nở giữa vườn thơ
Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần
Hướng về cố lý xa xăm
Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ
Tơ đàn xao xuyến hồn thơ
Vẫn còn đêm trắng thẫn thờ gió bay
Vẫn còn gối mộng trên tay
Cỏ cây hoa lá nhắc ngày tha hương
Tình quê lãng đãng thềm sương
Mơ về Hà Nội, một phương tâm tình.
Quê hương còn là những miền ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ, nơi đó luôn hiện hữu hình ảnh của cha, của mẹ, của những con người mà ta vẫn hằng yêu quý và nhớ đến. Tình yêu quê hương là thứ tình cảm bản năng, tự nhiên, xuất phát từ sự gắn bó và tình cảm sâu nặng, da diết của mỗi người đối với quê hương. Đó là thứ tình cảm đầu tiên được hình thành trong tiềm thức của mỗi người ngay từ lúc ta chỉ vừa mới biết nói, biết đi. Yêu quê hương là yêu những gì giản đơn, bình dị nhất, yêu gốc rễ, cội nguồn, và là những nét chấm phá đầy tính thi vị trong những bài thơ thấm đượm tình quê hương như bài “Quê hương” của Tế Hanh, “Hà Tiên” của Lê Dinh, “Quê tôi” của Nguyễn Bín…
“Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người.”
Tình yêu quê hương, đất nước luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người, trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy văn học dân tộc, theo ý nghĩa sâu sắc và thiêng liêng. Quê hương là nơi mỗi con người cất tiếng khóc chào đời, là miền đất đầu tiên nâng bước ta trên hành trình làm người. Trong dòng chảy không ngừng của cuộc sống hiện đại, con người có thể đi rất xa, sống ở nhiều vùng đất khác nhau, nhưng quê hương vẫn luôn hiện diện như một phần máu thịt, âm thầm chi phối suy nghĩ, tình cảm và cách sống của mỗi người. Bởi vậy, vai trò của quê hương đối với cuộc đời con người là vô cùng sâu sắc và bền vững. Tình yêu quê hương không chỉ là nỗi nhớ thầm lặng mà còn là động lực thúc đẩy con người sống có ích. Ý thức về nguồn cội khiến mỗi người biết trân trọng những gì mình đang có và mong muốn đóng góp cho cộng đồng nơi mình sinh ra.
Bây giờ, thử xem bài viết này như sự tản mạn thi ca Dương Hồng Anh khi đọc thi tập Quê Hương Còn Đó của bà. Do đó yếu tố thi ca sẽ được bàn rất nhiều qua nhiều góc cạnh, và tư tưởng khác nhau. Theo định nghĩa thơ ca, đó là thể loại văn học, sử dụng phương thức trữ tình, nhưng lại sử dụng những từ ngữ biểu cảm đa dạng để thể hiện lên tiếng nói, tâm hồn của người viết. Biết bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu nhà thơ đã từng đã thể ước nguyện, tấm lòng chân thành đẹp đẽ của nhà thơ khi gieo các vấn thơ hay cho đời.
Còn nói về nguồn gốc của thơ thì thơ cũng như bất cứ một loại hình nghệ thuật nào khác là tấm gương phản chiếu hiện thực đời sống, qua đó thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả. Các nhà thơ làm thơ khi tình cảm dâng trào mãnh liệt trong trái tim, họ có nhu cầu muốn được sẻ chia, tìm được sự đồng điệu từ phía người đọc. Thơ là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt đã được ý thức. Nhà thơ không chỉ muốn chia sẻ, bộc lộ tình cảm của cá nhân mình, mà muốn lan truyền những xúc cảm ấy tới trái tim người đọc, đem đến cho họ những xúc cảm mới. Từ đó, thơ kết nối những tâm hồn người đọc đến với nhau, cùng hướng đến những giá trị tốt đẹp. Bởi thế mà mỗi bài thơ phải mở tới tình yêu, đưa con người đến gần với nhau hơn.
Hồng Anh nữ sĩ trong thi tập này còn cho thi ca dưới phạm trù thiền thi. Thơ thiền rất thi cảm, mang chất thiền tĩnh, trầm mặc. Thơ Thiền cũng được hiểu như là một thể loại thơ được hình thành từ triết lý Thiền, nơi người viết tìm kiếm sự bình yên và sự kết nối sâu sắc với thế giới xung quanh thông qua từng vần thơ. Những bài thơ Thiền không tập trung vào hình thức, mà chú trọng vào cảm xúc và suy tư của tác giả về cuộc sống, sự vô thường và bản chất thật sự của con người.
Trong một ý nghĩa khác; Thơ thiền thiên về thiên nhiên thủy mặc, hay Thiền tính tâm linh. Thơ Thiền có thể là các bài kệ là thi phú bao hàm cả kệ và thơ, nêu lên một triết lý, một quan niệm thiền hay một bài học thiền nào đó hoặc vừa ảnh hưởng thiền vừa mang rung động thi ca có tính trần thế. Thơ thiền là thơ của các nhà sư và của cả những người không tu hành nhưng am hiểu, yêu thích triết lý Phật học, bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp giáo lý, hoặc cảm xúc hay tâm lý Thiền tĩnh.
Trích thơ Hồng Anh nữ sĩ:
DƯỚI TRỜI XUÂN ẤM
Gió reo sóng hát hoa cười
Dưới trời xuân ấm tôi ngồi se tơ
Xuân đi trên những vần thơ
Tình người lữ khách giấc mơ xa vời
Rung rinh sợi nắng vàng rơi
Đón xuân pháo nổ đầy trời sắc hương
Khai xuân nâng chén rượu nồng
Nghiêng tay bút thảo mấy giòng thơ say
Hoa tươi thắm nở trời mây
Bay bay theo gió giăng đầy ước mơ
Trở về năm tháng xa xưa
Khung trời bỏ ngỏ giấc mơ chập chờn…
Kế tiếp xin dẫn chứng cổ thi thiền triết, thiết tưởng nên có chút ghi nhận về Mãn Giác Thiền Sư. Ngài sinh năm 1052 và mất năm 1096, Mãn Giác thiền sư được xem là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời Lý Trần. Ngài xuất gia từ nhỏ và rất được vua Lý Nhân Tông mến chuộng. Năm bốn mươi lăm tuổi, ngài gọi tăng chúng đến nghe ngài đọc bài kệ. Đọc xong, ngài ngồi kiết già thị tịch. Bài kệ có tên Cáo Tật Thị Chúng.
Cáo Tật Thị Chúng không chỉ là một thi kệ xuất sắc, mà còn được xem là một tuyên ngôn triết học tiêu biểu thuộc thế kỷ XI của nước ta. Bài thơ mượn cảnh thị tình, miêu tả thực tại bằng hình ảnh đơn giản, sinh động, là cái nhãn tiền, sờ sờ trước mắt, tự nhiên, như nhiên, trực chỉ tâm chí, khai phóng nhân sinh.
Cáo Tật Thị Chúng là bài kệ chỉ vỏn vẹn sáu câu. Hai câu đầu, đăng đối, mô tả quy luật tuần hoàn của thời gian, của thay đổi bốn mùa. Hai câu kế, viết theo cấu trúc biền ngẫu, bàn về chuyện đời, chuyện người. Hai câu kết là tư tưởng, là quan niệm về vạn vật, về cuộc sống cõi nhân gian:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thiện lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Dịch nghĩa
Xuân đi, trăm hoa rụng
Xuân đến, trăm hoa nở
Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt
Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu
Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết
Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân.
Dịch Thơ
Xuân đi, trăm hoa rụng
Xuân đến, trăm hoa cười
Trước mắt, việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.
Nhất chi mai, hay Nhị Độ Mai… “Nhất chi mai” trong bài thơ được dịch ra là “một nhành mai”. Nhưng Nhất Chi Mai, còn là tên của một loại hoa rất đặc biệt, chúng có đến hai lần nở hoa trong mùa xuân. Lần nở hoa đầu tiên là lúc giáp Tết, và đó được xem là lần nở phụ. Mùa hoa chính là vào tháng hai âm lịch. Khi những cành hoa mai, hoa đào đã tàn phai và rụng hết, thì Nhất Chi Mai, hay còn gọi là Nhị Độ Mai, lại thay áo mới, nở ra những bông hoa trắng muốt, lần thứ hai.
Là tư tưởng Nhất Chi Mai.
Mãi xuân. Hay nói khác đi, mùa xuân của đất trời, mùa xuân trong lòng người, bất diệt!
Khi mùa xuân về là thời gian cho không gian dất trời khai mở, bông hoa khoe hương, phô sắc, thi ca Hồng Anh như sau trong bài thơ Cội Mai Già.
Ngày ngắn đêm dài nghe gió rơi
Thềm xưa ngõ nhỏ vắng môi cười
Cội mai già có còn ngồi đợi
Cố nhân về nâng cánh hoa tươi
(Dương Hồng Anh)
Thi ca về 2 loai hoa mai và dào của Hồng Anh nữ sĩ như sau:
Cáo tật thị chúng 告疾示眾 •
Cách đây hơn một nghìn năm, Mãn Giác thiền sư nước Việt đã viết:
“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.
Nghĩa là:
“Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai”.
告疾示眾
春去百花落,
春到百花開。
事逐眼前過,
老從頭上來。
莫謂春殘花落盡,
庭前昨夜一枝梅。
Cáo tật thị chúng
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Dịch nghĩa
Xuân đi, trăm hoa rụng,
Xuân đến, trăm hoa nở.
Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt,
Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu.
Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết,
Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân.
Nhành mai ấy đã để lại một khoảng lặng thi ca từ thế kỷ XI đến bây giờ. Hiện vẫn còn đang nở trước cửa Hoàng thành Hà Nội. Cái khoảng lặng ấy dù cách xa ngàn vạn dặm thời gian vẫn làm nên sự bất ngờ với người đọc bình thản nhất.
Xuân qua, trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa cười.
Trước mắt, việc đi mãi,
Trên đầu, già đến rồi.
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước một nhành mai.
Hay, Hồng Anh nữ sĩ có bài thơ ở nơi trang (96) rất ý nghĩa nghe tựa như thiền thi thủy mặc:
CỘI MAI GIÀ (老梅樹)
Ngày ngắn đêm dài nghe gió rơi
Thềm xưa ngõ nhỏ vắng môi cười
Cội mai già có còn ngồi đợi
Cố nhân về nâng cánh hoa tươi
Dương Hồng Anh (楊紅英)
Đấy là thơ về Hoa Mai của Nữ sĩ Dương Hồng Anh. Trong làng thi ca Việt, còn có những danh thi nhân sáng tác thơ hoa mai khác nữa. Hoa Mai trong thơ Lê Thánh Tôn, Mãn Giác thiền sư, Chu Mạnh Trinh, Trần Nhân Tông hay Sương Nguyệt Anh mang thanh âm hoa của mùa xuân, hoa chuyển mùa, hay hoa về thiền triết tính, về thiên nhiên, và cuộc sống.
Cây Mai Già là bài thơ của nhà thơ (vua) Lê Thánh Tông như sau:
CÂY MAI GIÀ (老梅樹)
Dòng dõi Giang Lăng tiếng đã đồn,
Già còn hơn nữa thuở còn non.
Xuân thêm cốt cách, hương càng bội,
Tuyết giúp tinh thần ngọc hãy còn
(黎聖宗)
Bài thơ khác của vua Lê Thánh Tông thuộc loại thiền thi:
Hoa Mai (梅花)
Trội cành mai chiếm một chồi,
Tin xuân mây mẩy điểm cành mai.
Tinh thần sáng thủa trăng lạnh,
Cốt cách đông khi gió thôi.
(黎聖宗)
Hay, Thi khảo dị:
Trội cành nam chiếm một chồi,
Tin xuân mãi mãi điểm cây mai.
Tinh thần sáng, thuở trăng tĩnh,
Cốt cách đông khi gió thôi.
Thềm xưa vẫy gọi mấy vần thơ reo
Lênh đênh ngày tháng rong rêu
Tao nhân mặc khách đàn ca đón chào
Trời mây lãng đãng, hương đưa ngạt ngào
Tình người lữ khách giấc mơ xa vời
Đón xuân pháo nổ đầy trời sắc hương
Nữ sĩ Dương Hồng Anh cho những áng thơ mang âm hưởng tựa như thi triết tính hay thiền thi về thiên nhiên môi trường xung quanh.
BÂNG KHUÂNG DÁNG CHIỀU
Thu đi dệt sợi tơ vàng
Mang theo nỗi nhớ mơ màng xa xăm
Mở trang thơ cũ tần ngần
Hướng về cố lý bâng khuâng dáng chiều
THƠ TÔI
Thơ tôi là những hao gầy
Những đêm trăn trở, những ngày vẩn vơ
Nhìn đời nửa thực nửa mơ
Nghiêng tay mực rỏ vần thơ cuối mùa
CHUYỂN MÙA
Bóng chiều nhè nhẹ lướt bên song
Nhạt nắng xuyên qua mấy bụi hồng
Se lạnh hàng cây thưa thớt lá
Thì thào gió mách sắp sang đông
ĐỐT NẾN LÀM THƠ
Tuổi đời lắng đọng sương pha tóc
Nhạc thơ tao nhã truyện hàn huyên
Bốn mùa hoa lá duyên văn nghệ
Đời có gì hơn có bạn hiền…
Mark Twain ví von:
“Tuổi tác là vấn đề của tâm trí hơn là thể chất.
Nếu bạn không bận tâm, thì nó không thành vấn đề.”
Hiểu được sự khôn ngoan trong câu nói mới là quan trọng. Những lời của Twain thách thức sự ám ảnh của xã hội chúng ta về tuổi trẻ. Trong khi nhiều nền văn hóa đẩy người lớn tuổi ra rìa, Twain cho rằng cách chúng ta nghĩ về tuổi già quan trọng hơn những thay đổi về thể chất. Câu nói của ông nhắc nhở chúng ta rằng tuổi tác không chỉ nên được đánh giá dựa trên vẻ bề ngoài hay những định kiến. Điều đáng nói là tuổi già không tự động dẫn đến sức khỏe tâm thần kém, bất chấp những gì nhiều người nghĩ.
Những người cao tuổi chấp nhận cách suy nghĩ này, và rồi các nghiên cứu cho thấy người lớn tuổi phát triển các kỹ năng theo thời gian để nhận được sự tự chăm sóc cần thiết. Họ cũng có nhiều thời gian hơn để tập trung vào sức khỏe tinh thần của mình do sự bương chải, tự thích ứng, như qua thi ca, hay những sở thích lành mạnh cùng bằng hữu.
Bài “Đốt Nến Làm thơ” (trang 87) phản ảnh tư tưởng của Mark Twain cững như John Lennon trong những ý nghĩ như sau. Quan điểm vượt thời gian của Mark Twain về tuổi già: Twain đã chia sẻ nhiều suy nghĩ về tuổi già, làm tăng thêm chiều sâu tâm hồn cho câu nói nổi tiếng của ông. Ông nói rằng:
“Nếp nhăn chỉ nên cho thấy những nơi nụ cười đã từng hiện diện”.
Điều này cho thấy chúng ta nên xem những dấu hiệu lão hóa như những dấu ấn của một cuộc sống trọn vẹn chứ không phải là những khuyết điểm cần che giấu. Twain cảm thấy rằng:
“Cuộc sống từng là một câu chuyện cổ tích, nhưng giờ đây tôi nhận ra điều đó cho thấy rằng thời gian trôi qua nhưng vẫn cảm thấy trẻ trung bên trong”.
Theo Frank Lloyd Wright.
“Càng sống lâu, cuộc sống càng trở nên tươi đẹp hơn.”
Câu nói của nhà tư tưởng Lloyd Wright mang một chân lý sâu sắc đối với những người cao tuổi đang tìm kiếm nguồn cảm hứng. Câu nói này nằm trong số những thông điệp truyền cảm hứng nhất dành cho những người đã bước sang tuổi xế chiều. Nó cho thấy quá trình lão hóa có thể giúp chúng ta nhìn thấy vẻ đẹp theo những cách không ngờ tới. Vẻ đẹp mà Wright nói đến xuất hiện trong những khoảnh khắc đơn giản:
Ánh sáng buổi sáng chiếu qua cửa sổ
Những cuộc trò chuyện với người thân yêu
Sự thay đổi của các mùa trong tự nhiên
Điều này cho ta thấy: Triết lý về cuộc sống và tuổi già của Wright và Hồng Anh nữ sĩ dường như chia chung tư tưởng.
Thi sĩ John Lennon chia sẻ tư duy như là:
“Hãy đếm tuổi bằng bạn bè, chứ không phải bằng năm tháng. Hãy đếm cuộc đời bằng nụ cười, chứ không phải bằng nước mắt”.
Nhạc sĩ Lennon cho cảm nghĩ hãy xây dựng các mối tưong quan bạn bè sẽ có ý nghĩa trong những năm tháng tuổi già, trong cuộc sống bằng những khoảnh khắc vui vẻ cho chính mình.
Khánh Lan với sự xuất hiện của thơ trong cuộc sống

Thơ được sinh ra từ trong hiện thực cuộc đời, cái đẹp trong thơ phải mang dấu ấn của cái đẹp trong sự thật đời sống.
Cuộc sống là điểm xuất phát, là đề tài vô tận, gợi nhiều cảm xúc phong phú cho người sáng tác cũng như người thưởng thức nó.
Thơ chính là đối tượng khám phá chủ yếu và cũng là cái đích cuối cùng của thi ca nghệ thuật. Điều này cho ta thấy:
- Thơ nghệ thuật luôn vận động và phát triển trong sự ràng buộc tự nhiên với đời sống xã hội. Những giá trị nghệ thuật chân chính xưa nay đều là những sáng tác bắt rễ sâu xa trong mảnh đất thực tế của thời đại mình. Thơ chỉ có ý nghĩa thẩm mỹ, chỉ chinh phục trái tim người đọc khi thể hiện những vấn đề, những cảm xúc mà con người hằng quan tâm, trăn trở.
- Nếu thơ không bắt nguồn từ hiện thực, xa rời cuộc đời, thoát ly thực tại, thơ sẽ không thể đến với người đọc, không thể tồn tại trong cuộc đời, khi ấy thơ đã tự đánh mất chức năng cao quý nghệ thuật vị nhân sinh của mình.
- Đối tượng của thơ là thế giới tâm hồn, là tình cảm của con người bộc lộ qua trang giấy. Những cảm xúc, rung động, những suy tư, trăn trở… đều có thể trở thành đối tượng khám phá và thể hiện qua thơ. Vẻ đẹp của thơ thể hiện ở những tư tưởng, tình cảm mà tác phẩm hàm chứa, bởi không có chất liệu trong đời sống thì không làm nên nội dung và giá trị của tác phẩm.
- Những sự việc trong đời sống mà không âm vang vào tâm hồn, không lay động sâu xa cảm xúc của người nghệ sĩ thì không thể hóa thân thành cái đẹp của nghệ thuật. Chính vì vậy, thơ là cuộc đời nhưng phải được cảm nhận và thanh lọc qua tâm hồn, trí tuệ của thi nhân để thành thơ.
Vì thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, như Ngô Thì Nhậm nhận định rằng: Là thi sĩ phải biểu lộ “xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”. Xuân Diệu lại khẳng định: “Thơ hay, lời thơ chín đỏ trong cảm xúc”. Thơ trong văn học vốn dĩ phản ảnh đời sống con người, với thơ cuộc sống không chỉ là hiện thực xã hội bên ngoài mà còn là đời sống tâm hồn, tình cảm phong phú của nhiều nhà thơ. Thơ gắn liền với thế giới nội tâm, vẻ đẹp mềm mại của tình cảm con người biểu hiện trong những trang thơ của Puskin như sau qua bài “Mùa xuân mùa của tình yêu” “Весна, весна, пора любви” Thơ Nga – Aleksandr Pushkin:
Mùa xuân mùa đẹp của tình yêu
Mà sao lòng nặng nỗi tiêu điều
Rã rời ngơ ngác trong tâm trí
Hồn lười chẳng thiết thú vui chi
Nguồn thơ xuất phát từ trong tâm hồn của người nghệ sĩ, là những rung động, những cảm nhận tự nhiên. Đó là cả một quá trình thai nghén ý tưởng trong ký ức, nuôi dưỡng cảm xúc trong tâm tư, khiến cho thi nhân “xuất khâu thành thơ” và gởi ý thơ ấy thành lời trên trang giấy. Thơ có khả năng biến những điều bình dị trở nên phi thường. Trong khối óc tinh túy lỗi lạc và tâm hồn lãng mạng, thi nhân đã chuyển đổi cánh hoa, làn gió, giọt mưa trở thành chủ thể của những vần thơ bất hủ.
Thật vậy, qua con mắt của thi sĩ, thế giới hiện ra lung linh, huyền ảo, thậm chí, mỗi vật thể đều có linh hồn, mỗi sự kiện đều ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa. Ta có thể nói: Ngôn từ trong thơ còn có sức mạnh kiến tạo, nó không chỉ mô tả hiện thực mà còn tạo ra một hiện thực mới, một thế giới riêng trong tâm trí người đọc.
Nhận định về thơ, Voltaire cho rằng:
“Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”
Vậy ta có thể kết luận rằng: Thơ là hình ảnh của đời sống tươi nguyên được tái hiện qua lăng kính tình cảm của người nghệ sĩ. Bởi nếu thơ không có tư tưởng, không có tình cảm trong ấy, thì đó chỉ là những lời sáo rỗng, nhạt nhẽo, vô vị, tầm thường, chỉ là những ngôn từ vụng không ý nghĩa. Thơ không chỉ đơn thuần là một nghệ thuật thi ca mà còn là tiếng nói của tâm hồn, nơi những rung động chân thật nhất được cất lên qua ngòi bút, chữ viết.
Thơ gắn liền với nhịp đập của con tim, cảm xúc của tâm hồn. Thơ khẳng định vai trò quan trọng trong việc sáng tạo thơ. Một bài thơ chỉ thực sự có sức sống khi nó được sinh ra từ những rung động mãnh liệt, từ một tâm hồn nhạy cảm biết yêu thương, trăn trở trước cuộc đời.
Về nghệ thuật thì ngôn ngữ trong thơ phải là ngôn ngữ trau chuốt, chính xác, giàu hình tượng và biểu cảm, vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ là vẻ đẹp của toàn bộ hình thức nghệ thuật. Thơ là tình đời, tình người ngân lên trong âm vang ngôn ngữ, kết cấu, hình ảnh, giọng điệu, nhịp điệu…
Chính vì thế, phải chăng: “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn”
Dưới đây là những nhận định về thi ca của một số danh nhân:
Thơ ca là sự bộc lộ cảm xúc bằng ngôn ngữ. Edgar Allan Poe
Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn. Voltaire
Thơ ca là nơi mà ý nghĩa của lời nói bị phá vỡ để tạo ra ý nghĩa khác. Jacques Derrida
Thơ ca là sự nỗ lực làm cho ngôn ngữ trở nên đáng nhớ hơn. W. H. Auden
Thơ ca là sự giải phóng những nỗi đau thầm kín của con người qua những từ ngữ đẹp đẽ. – Johann Wolfgang von Goethe
Thơ ca là sự vĩnh cửu của khoảnh khắc. – Wallace Stevens
Thơ ca là sự giao tiếp giữa linh hồn và vũ trụ. – Rabindranath Tagore
Thơ ca là sự giải thoát của nỗi buồn. – Charles Baudelaire
Thơ ca là ngôn ngữ của tình yêu. – William Shakespeare
Kiều My nhận định thể loại thơ và thơ trong tâm tư của thi nhân

Thơ là thể loại thiên về gợi ý nên nó phải gắn với sự cô đúc, trong một diện tích ngôn từ ít mà mở ra nhiều cảm xúc rộng lớn. Những điều nhà thơ muốn bộc lộ, ký thác được co nén lại trong ngôn từ giàu sức gợi, hình ảnh giàu biểu tượng.
Chính độc giả trong quá trình khám phá tác phẩm thơ sẽ khôi phục lại những khoảng trống, những chỗ bị “co” lại ấy.
Xuân Diệu mới trong tư tưởng, mới trong cách nghĩ và mới cả trong cách cảm nhận rõ nét nhất qua tác phẩm “Vội Vàng” ông viết năm 1938:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”
Hay,
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”.
Thi sĩ đã cố ý đưa vào trong thơ một sáng tạo rất mới, phá bỏ những khuôn khổ, những luật lệ cũ trong thơ xưa. Thường thì người ta khi miêu tả vẻ đẹp của con người, sẽ lấy thiên nhiên làm thước đo chuẩn mực, nhưng Xuân Diệu thì khác, ông mạnh dạn lấy con người làm khuôn mẫu để đo đếm vẻ đẹp của thiên nhiên.
Thơ phải có óc tưởng tượng phong phú. Nhà thơ trong quá trình sáng tác phải có đặc điểm này để không chỉ phản ảnh hiện thực có sẵn mà còn nói lên những điều cần phải nói, để thể hiện ước mơ, hy vọng… Vì thơ là sự thể hiện của trái tim và thế giới tâm hồn, tình cảm phức tạp của con người mà nhà thơ buộc phải liên tưởng, vận dụng triệt để trí tưởng tượng để làm hữu hình hóa những logic tình cảm ấy bằng hình ảnh, hình tượng trong trang viết như R.Tagore đã cho rằng:
“Giống như nụ cười và giọt nước mắt,
bản chất của thơ phản ánh điều gì đó hoàn hảo từ bên trong”.
Hay còn có rất nhiều danh nhân dưới đây đã nhận định:
“Thơ chớm nở từ trái tim con người”. (Lê Quý Đôn)
“Hãy để tâm hồn thơ xúc động cho cây bút mang đậm linh hồn”. (Ngô Thì Nhậm)
“Thơ là sự giao thoa giữa âm nhạc và tư tưởng”. Stéphane Mallarmé
“Thơ là cuộc đối thoại giữa linh hồn và lịch sử”. Pablo Neruda
“Thơ là ngôn ngữ của trái tim”. William Hazlitt
“Thơ là tiếng lòng của một dân tộc”. Victor Hugo
“Thơ là sự cô đọng của trí tuệ và cảm xúc”. Aristotle
“Thơ là một sự kiện của ngôn ngữ”. Paul Celan
“Thơ là sự khám phá những điều kỳ diệu trong cuộc sống thường nhật”. Mary Oliver
“Thơ là ánh sáng của trí tưởng tượng”. Percy Bysshe Shelley
Huy Cận đi lượm nhặt những chút buồn rơi rác trong nhân gian, để rồi sáng tạo nên những hồn thơ ảo não, nhưng ai có ngờ đâu, chỉ với một chút ít cát bụi tầm thường đó, thi sĩ đã đắp lên biết bao nhiêu là châm ngọc. Thật vậy, nỗi buồn trong thơ Huy Cận là châm là ngọc, là nỗi buồn tinh tế và điều ấy được thể hiện rõ nét nhất qua bài thơ “Tràng Giang”:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
(Tràng giang, Huy Cận » Lửa thiêng, năm 1940)
Hay trong bài thơ Mắt em dưới đây.
Mắt em anh chẳng dám nhìn lâu
Em đẹp, lòng anh bỗng thấy đau
Mới gặp sao mà như nhớ lại.
Hay dan díu tự kiếp xưa nào?
(bài Bâng khuâng, Huy Cận)
Vậy có phải:
“Thơ là sự thật làm đẹp lòng”. Khalil Gibran
“Thơ là tiếng vọng của vũ trụ”. Rabindranath Tagore
“Thơ là khoảnh khắc sự thật”. Virginia Woolf
“Thơ là một giấc mơ được viết ra”. Federico García Lorca
“Thơ là nụ cười của trí tuệ”. Joseph Joubert
Cái buồn của sự cô độc càng lớn, càng làm nhân lên nỗi nhớ nhà nhớ quê hương từ sâu trong lòng tác giả:
“Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Sở dĩ nói Huy Cận là một nhà thơ đa sầu đa cảm là bởi nếu như Thôi Hiệu trong thơ xưa nhìn bóng chiều, nhìn khói sóng mà động lòng nhớ quê hương, thì ở đây, dù không có tác động của ngoại cảnh, “không khói hoàng hôn” thì Huy Cận của chúng ta vẫn nhớ nhà đến da diết. Có lẽ là bởi, nỗi nhớ ấy vẫn luôn thường trực, vẫn luôn đau đáu trong lòng tác giả bấy lâu nay.
Huy Cận và Xuân Diệu là hai nhà thơ có hai phong cách viết hoàn toàn trái ngược, nhưng đều mang trong từng nét bút những tình cảm sâu sắc muốn gửi gắm đến người đọc. Như vậy người nghệ sĩ phải sống sâu sắc, gắn bó hết mình với cuộc đời chung để những tình yêu mở ra trong ô cửa thơ ca là những tình cảm mang ý nghĩa nhân văn. Đồng thời, người nghệ sĩ cũng phải có thực tài, thực tâm, không ngừng trau dồi năng lực nghệ thuật, phẩm chất thẩm mĩ của mình để mỗi bài thơ không chỉ dạt dào, lắng đọng triết ly, tình cảm mà còn đạt đến độ cô đúc, độc đáo của ngôn từ.
Ngược lại, người đọc cũng phải thực sự sống cùng tác phẩm, mở rộng tâm hồn để trái tim cùng giao thoa nhịp đập với trái tim thi sĩ. Bên cạnh đó, phẩm chất nghệ thuật, sự nhạy bén với cái đẹp và tinh thần sáng tạo không chỉ đòi hỏi ở nhà thơ mà chính bạn đọc trong quá trình khám phá tác phẩm cũng cần đến để cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật một cách hiệu quả nhất, góp phần hoàn thiện đời sống của thi phẩm.
Với người làm thơ, bài thơ là phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng. Chỉ có cảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệ thuật chân chính. Cảm xúc càng mãnh liệt, càng thăng hoa thì thơ càng có nhiều khả năng chinh phục, ám ảnh trái tim người đọc. Nhận xét rằng những cảm xúc trong thơ cũng không phải thứ cảm xúc nhàn nhạt. Đó phải là tình cảm ở mức độ mãnh liệt nhất thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút sáng tạo. Nhà thơ phải sống thật sâu với cuộc đời mới có thể viết nên những vần thơ có giá trị của sự trải nghiệm.
Những sinh động sáng tác thơ khi người thi sĩ trước hết phải là người có tâm hồn giàu rung cảm, sống sâu sắc, trọn vẹn với từng khoảnh khắc cuộc đời để có những cảm xúc mãnh liệt, dồi dào trên mỗi trang thơ; cội nguồn của sáng tác văn học, chính là cảm hứng đột khởi trong lòng của nhà văn. Nhu cầu giải thoát và bộc lộ tình cảm chính là nhu cầu thôi thúc đầu tiên của quá trình sáng tác của nhà thơ qua cây cầu ngôn ngữ.
Alphonse de Lamartine vốn nổi bật là thi sĩ của tình thơ, (1790-1869) là một trong những nhà thơ khởi xướng phong trào phái lãng mạn trong văn học Pháp vào thế kỷ 19. Bài thơ “Le Lac” được nhiều người ưa thích trong số các vần thơ của Lamartine. Trong “Le Lac”, thi sĩ trở lại chốn xưa, nơi đánh dấu cuộc tình với người tình Julie Charles (Elvire) nay đã mất, bài thơ này đã hơn nhiều thập kỷ qua. Lamartine, nhà thơ Pháp tâm sự: “Thế nào là thơ? Đó không phải chỉ là một nghệ thuật, đó là sự giải thoát của lòng tôi”. Thơ là “sự giải thoát của lòng tôi”, thơ là tiếng nói tâm hồn, tình cảm của nhà thơ với bao buồn, vui, ước mơ, hi vọng…Thơ không chỉ là sản phẩm kỳ diệu của nghệ thuật ngôn từ mà thơ là phương tiện giao tiếp, bộc bạch tình cảm của người nghệ sĩ với đời.
Trong ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi cũng khẳng định: “Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ – để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển khác thường”. Hay theo M. Gorki: “Lời và những dấu hiệu thay cho lời nói”, tức là chữ, chính là phương tiện hữu hiệu nhất, đắc dụng nhất để kết thành thơ vì “yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ”; để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển khác thường: nhà thơ ghi lại trạng thái tâm hồn mình đang có những biến chuyển, rung động sâu sắc, mạnh mẽ, căng thẳng nhưng say mê khác thường.
Những linh động sáng tác thơ nói riêng cũng như sáng tác văn học nói chung là một trạng thái tâm lý, nét thẩm mỹ phong phú và phức tạp, quá trình sáng tạo nghệ thuật đã chuyển tất cả những rung động, nhận thức của người nghệ sĩ về đời sống trở thành những hình tượng nghệ thuật ngôn từ. Đây là một quá trình lao động thầm lặng song cũng đầy vất vả, gian nan trong một niềm say mê vô tận của người nghệ sĩ.
Thơ ca là hơi thở của niềm tin. – Lý Bạch
Thơ ca là tiếng nói của lương tri. – Voltaire
Thơ ca là sự sống. – Octavio Paz
Thơ ca là sự tự do. – Emily Dickinson
Thơ ca là sự đổi mới. – Wallace Stevens
Thơ ca là tình yêu. – William Shakespeare
Thơ ca là trí tưởng tượng. – Samuel Taylor Coleridge
Sáng tạo sẽ đem đến cái mới, công phu tâm huyết sẽ tạo nên sự hoàn hảo và chiều sâu. Văn chương tồn tại bởi nội dung tư tưởng song tồn tại bằng ngôn từ nghệ thuật. Nếu chất liệu ngôn từ không được lựa chọn và gọt giũa, sức biểu đạt của nó kém đi sẽ khiến tư tưởng, tâm huyết của nghệ sĩ không thể hiện được trọn vẹn, tính nghệ thuật của tác phẩm giảm sút, sức hấp dẫn nghệ thuật kém sẽ khiến những giá trị còn lại dù có cũng khó phát huy tác dụng.
Thơ lại càng đòi hỏi điều này vì nó có những đặc trưng mang tính loại biệt (trong phạm vi dung lượng giới hạn, thơ cần biểu đạt một cách sâu sắc, tinh tế tư tưởng, tình cảm, khát vọng bằng hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ và có sức mê hoặc mạnh mẽ). Nguyễn Công Trứ tâm sự: “Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời”, “nợ” vừa là duyên nợ, vừa là trách nhiệm của người cầm bút với thơ ca, “chuốt” là chỉnh sửa, lựa chọn một cách công phu sao cho đạt tiêu chuẩn cao nhất về mặt thẩm mỹ. “Chuốt lời” vì thế sẽ là sự thể hiện của tài năng, cũng là sự thể hiện trách nhiệm của nhà thơ với thơ và với người đọc. Nói tóm lại: người nghệ sĩ phải sáng tác từ những xúc cảm chân thành nhất, tha thiết nhất, phải lựa chọn ngôn từ chính xác nhất, tinh lọc nhất.
Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, cho nên vì thế, thơ ca cũng đòi hỏi nhà thơ phải in dấu tâm hồn, trí tuệ mình vào đó thật sâu sắc, càng cá thể càng độc đáo, càng hay. Nhờ khả năng sáng tạo tuyệt vời mà các thi nhân luôn tìm ra những cách nói mới về những điều đã cũ. Nếu không có sáng tạo, không có phong cách riêng thì tác phẩm và tác giả đó sẽ không thể tồn tại trong văn chương. Những sáng tạo về hình thức biểu hiện rất phong phú qua thẻ loại, cấu tứ tác phẩm, ngôn ngữ thơ, hình ảnh thi phú.
Thơ ca là sự tĩnh lặng giữa tiếng ồn ào. – Lao Tử
Nhà thơ là người thắp lên ngọn lửa trong tâm hồn người khác. – Victor Hugo
Thơ ca là bản ngã được cất tiếng. – John Keats
Nhà thơ là người giữ gìn vẻ đẹp của ngôn ngữ. – T. S. Eliot
Thơ ca là sự khám phá. – Robert Frost
Thơ có tác dụng nuôi dưỡng tâm hồn con người cho nên ngoài là nơi dừng chân của tâm hồn thì nó còn có tác dụng sâu xa hơn nuôi dưỡng và hình thành nhân cách. Đọc thơ, làm thơ người ta là truyền tải những bài học bằng tình cảm nên có có tác dụng lay chuyển con người làm con người ta vươn tới cái chân, thiện, mỹ; nó tác động cải tạo tư tưởng, đạo đức của con người.
Thơ ca là nơi mà nỗi đau biến thành bài ca. – Kahlil Gibran
Nhà thơ là người biết lắng nghe tiếng thì thầm của gió. – Percy Bysshe Shelley
Thơ ca là sự tinh tế của tâm hồn. – Johann Wolfgang von Goethe
Nhà thơ là người mang đến hy vọng. – Maya Angelou
Xét về nội dung bài thơ này của nữ sĩ Dương Hồng Anh, bà dùng tạo nên giá trị đặc trưng của thơ, là nội dung tình cảm, cảm xúc của thơ. Từ ý nghĩa cụ thể của từ ngữ, có thể hiểu ý kiến của những danh nhân đề cập đến giá trị của thơ từ góc nhìn của người thưởng thức, tiếp nhận thơ: giá trị của thơ là giá trị của những tư tưởng tình cảm được biểu hiện trong thơ. Tình cảm, cảm xúc càng sâu sắc mạnh mẽ, càng lớn lao đẹp đẽ sẽ càng khiến thơ lay động lòng người. Do đó với người làm thơ, bài thơ là phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng. Chỉ có cảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệ thuật chân chính.
Thơ ca là những gì ta thì thầm vào tai vũ trụ. – Rumi
Thơ ca là ánh trăng trên đỉnh núi. – Matsuo Bashō
Thơ ca là bản giao hưởng của ngôn ngữ. – Pablo Neruda
Thơ ca là nơi mà mọi thứ đều có thể xảy ra. – Jorge Luis Borges
Thơ ca là sự tinh túy của nỗi buồn. – Charles Baudelaire
Thơ ca là tiếng chuông của tâm hồn. – Edgar Allan Poe
Thơ ca là cuộc cách mạng của ngôn từ. – Octavio Paz
Thơ ca là sự giải thoát khỏi nỗi sợ hãi. – Audre Lorde
Thơ ca là sự tĩnh lặng của tâm hồn. – Lao Tử
Thơ ca là ánh sáng của trí tưởng tượng. – Samuel Taylor Coleridge
Thơ ca là sự thật làm đẹp lòng. – Kahlil Gibran
Từng tiếng nói trong thơ ca tạo nên sự sống động cho nhũng năng lực mới rất diệu kỳ. Thơ là những rung động và cảm xúc của con người trước cuộc sống được bộc lộ một cách chân tình, tự nhiên. Nhà thơ viết lên những câu trữ tình say đắm làm si mê gây lưu luyến với trái tim tràn đầy tình yêu, với những tâm hồn tình cảm. Nhà văn Vissarion Belinsky đã từng nói: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật. Thơ phát sinh từ những tâm tư, nỗi niềm về cuộc đời. Nhà thơ là những người có tâm hồn vô cùng nhạy cảm, trái tim họ rất dễ rung động.
Thơ ca là sự cảm thông. – John Donne
Thơ ca là sự thật không lời. – Rumi
Thơ ca là tiếng nói của tình người. – Pablo Neruda
Thơ ca là sự biến đổi. – Carl Sandburg
Thơ ca là vẻ đẹp thuần khiết nhất. – Oscar Wilde
Thơ ca là sự thanh lọc tâm hồn. – Plato
Thơ ca là ánh sáng của buổi bình minh. – Lord Byron
Thơ ca là sự thật không cần chứng minh. – William Shakespeare
Thơ ca là sự tự do của tư tưởng. – Emily Dickinson
Những cảm xúc trong thơ luôn là lẽ chân thật hất, vui buồn yêu ghét rõ ràng. Cũng như lòng người có những cũng bậc cảm xúc khác nhau tùy theo hoàn cảnh, thì thơ cũng vậy. Dùng bằng tấm lòng để viết thơ, nên nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã khẳng định, “thơ là tiếng nói thứ nhất”. Nhà thơ là con ong hút nhụy từ những bông hoa của đời sống, không có sự tái tạo tài tình của con ong thì phấn hoa cũng không thể thành mật ngọt. Vì thế nói cho cùng thi thơ ca chính là tiếng nói của đời sống thực tại của nhân dân, nhập tâm được bao nhiêu là nhờ ở cuộc đời của mình gắn bó bao nhiêu.
Thơ ca là sự thật được viết bằng mực nước mắt. – George Sand
Thơ ca là ánh sáng trong bóng tối của cuộc đời. – Victor Hugo
Thơ ca là tiếng thì thầm của thiên nhiên. – Henry David Thoreau
Thơ ca là sự bay bổng của trí tưởng tượng. – Samuel Taylor Coleridge
Thơ ca là nguồn cảm hứng vĩnh cửu. – Percy Bysshe Shelley
Thơ ca là sự tinh tế của cảm xúc. – Johann Wolfgang von Goethe
Sức Mạnh Của Ngôn Từ Trong Thơ Ca, là ngôn từ là vật liệu cơ bản, là trái tim của thơ ca. Nhưng không phải ngôn từ nào cũng có thể trở thành thơ. Những câu nói hay về thơ thường xuyên đề cập đến cách mà các nhà thơ biến những từ ngữ đời thường thành những viên ngọc quý. Sức mạnh của ngôn từ trong thơ không chỉ nằm ở nghĩa đen mà còn ở nghĩa bóng, ở khả năng gợi hình, gợi cảm, ở nhịp điệu, âm hưởng và những khoảng lặng đầy ý nghĩa.
Thơ ca là lời ca của cuộc sống. – Maya Angelou
Thơ ca là tiếng lòng của nhân loại. – Lỗ Tấn
Thơ ca là phép màu của ngôn ngữ. – Jorge Luis Borges
Thơ ca là sự thật ẩn giấu. – Edgar Allan Poe
Thơ ca là sự hài hòa của âm thanh và ý nghĩa. – Aristotle
“Thơ ca là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tinh thần”
Thật vậy, mỗi bài thơ đều như một bản nhạc, một bản tình ca sâu lắng, hay một khúc tráng ca hào hùng. Voltare cũng từng nói: “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cạm” Thơ ca là niềm cảm nhận ban đầu, như là xúc cảm giâu phút chợt dến thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tới cuộc sống. Như từng nốt nhạc du dương trầm mặc của Bản Sonate Ánh trăng đều khiến lòng người lặng đi vì xúc động. Phải chăng Beethoven đã viết bản nhạc bằng những xúc cảm tinh tế mà mãnh liệt nhất ngay khi nhìn thấy cảnh sống của cha con cô gái mù. Quy luật của nghệ thuật nói chung là bắt nguồn từ dòng tình cảm. Thơ ca cũng thế.
Thơ Ca Như Một Tấm Gương Phản Chiếu Cuộc Đời: Một trong những vai trò quan trọng nhất của thơ ca, được nhiều những câu nói hay về thơ nhấn mạnh, là khả năng phản ánh chân thực cuộc đời. Thơ không đứng ngoài cuộc sống mà hòa mình vào dòng chảy của nó, ghi lại những khoảnh khắc, những cảm xúc, những suy tư của con người trước vũ trụ rộng lớn. Thơ ca là nơi con người tìm thấy sự đồng điệu, tìm thấy chính mình trong những vần thơ của người khác. Khi đọc một bài thơ về tình yêu, nỗi buồn, hay sự cô đơn, chúng ta có thể nhận ra những cảm xúc tương tự trong tâm hồn mình.
Thơ ca cũng là một công cụ mạnh mẽ để ghi lại lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Nhiều bài thơ không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn là tài liệu quý giá về đời sống xã hội, phong tục tập quán, và những biến động của thời đại. Goethe từng nói:
“Thơ ca là sự giải phóng những nỗi đau thầm kín
của con người qua những từ ngữ đẹp đẽ.”
Câu nói này cho thấy thơ ca có vai trò như một liệu pháp tinh thần, giúp con người đối diện và hóa giải những nỗi niềm sâu kín.
Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm. Vậy trước hết, ta hãy cùng nhau tìm hiểu về khái niệm thi ca, vì thơ là tiếng nói của tri âm”. Với Bibolay: “Thơ là thư kí trung thành của trái tim”. Thơ ca là các loại hình sáng tác văn học có đặc điểm ngắn gọn, súc tích. cô đọng. Một bài văn cũng có thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó súc tích và gây cảm xúc cho người đọc một cách nhanh chóng.
Vì sao lại nói “thơ ca là âm nhạc của tâm hồn”? Là vì vần điệu của nó hay là còn lý do sâu xa nào khác? Phải chăng là bởi, người ta chỉ chọn lọc những gì tinh túy nhất để đưa vào một khúc ca.
Thơ ca là sự tinh khiết của vẻ đẹp. – Oscar Wilde
Thơ ca là sự khám phá những điều chưa biết. – Robert Frost
Thơ ca là sự đồng điệu giữa người và người. – T. S. Eliot
Thơ ca là sự bình yên trong tâm hồn. – Lao Tử
Thơ ca là nghệ thuật của cảm xúc. Mọi những câu nói hay về thơ đều không thể bỏ qua khía cạnh này. Thơ có khả năng nắm bắt những cảm xúc thoáng qua nhất, những rung động sâu kín nhất của trái tim con người và lưu giữ chúng lại một cách vĩnh cửu. Từ niềm vui hân hoan đến nỗi buồn man mác, từ tình yêu nồng cháy đến sự cô đơn tột cùng, sự vĩnh cửu của cảm xúc trong thơ ca còn nằm ở khả năng truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Những bài thơ tình hàng trăm năm trước vẫn lay động trái tim người đọc hôm nay, những bài thơ về quê hương, đất nước vẫn khơi gợi lòng yêu nước mãnh liệt. Điều này chứng tỏ rằng, dù thời đại có đổi thay, dù ngôn ngữ có phát triển, những cảm xúc cốt lõi của con người vẫn không hề thay đổi. Thơ ca là minh chứng sống động cho sự bất biến của tình yêu, nỗi nhớ, niềm hy vọng và cả nỗi đau trong dòng chảy vô tận của thời gian. Nó là di sản tinh thần quý giá mà nhân loại mãi mãi trân trọng.
Thơ ca là sự thấu hiểu. – Mary Oliver
Thơ ca là sự kiên cường. – Langston Hughes
Thơ ca là những giọt nước mắt của linh hồn. – Kahlil Gibran
Thơ ca là sự bất tử của cảm xúc. – John Keats
Thơ ca là cầu nối giữa các thế giới. – Rumi
Thơ ca là tiếng gọi của sự thật. – Walt Whitman
Thơ ca là ánh sáng trên con đường đời. – Victor Hugo
Thơ ca là sự tự do của tâm hồn. – Emily Dickinson
Thơ Ca: Nguồn Cảm Hứng Bất Tận Cho Đời Sống. Thơ ca không chỉ là để đọc, để chiêm nghiệm mà còn là nguồn cảm hứng dồi dào cho mọi mặt của đời sống. Những câu nói hay về thơ thường khắc họa thơ ca như một ngọn hải đăng dẫn lối, một chất xúc tác cho sự sáng tạo và đổi mới. Đối với các ngành nghệ thuật khác, thơ ca cũng là một nguồn cảm hứng vô tận.
Âm nhạc thường lấy lời thơ làm ca từ, biến những giai điệu thành những bản tình ca bất hủ. Hội họa, điêu khắc cũng tìm thấy ý tưởng từ những hình ảnh, biểu tượng trong thơ.
Tóm lại: Thơ ca, với vai trò là tiếng nói của tâm hồn, tấm gương phản chiếu cuộc đời và nguồn cảm hứng bất tận, đã và đang tiếp tục khẳng định vị trí không thể thay thế của mình trong kho tàng văn hóa nhân loại. Mỗi khi ta dừng lại để chiêm nghiệm những câu nói hay về thơ, ta không chỉ thấy được sự phong phú trong cách nhìn nhận về thể loại nghệ thuật này mà còn cảm nhận được sức mạnh vĩnh cửu của ngôn từ trong việc chạm đến những tầng sâu nhất của cảm xúc và tư duy con người.
Thơ ca mãi mãi là cầu nối giữa các thế hệ, là nơi mà vẻ đẹp và sự thật được tôn vinh, nuôi dưỡng tâm hồn và làm cho cuộc sống trở nên đáng sống hơn.
Kết Luận: Qua nhận định của Việt Hải
Nhận định trên đã khẳng định bản chất và giá trị thực sự của thơ ca không chỉ là nghệ thuật của ngôn từ mà còn là tiếng nói của cảm xúc, là bản nhạc vang lên từ những tâm hồn nhạy cảm. Một bài thơ hay không chỉ để đọc mà còn để cảm, để sống cùng nó, để tìm thấy sự đồng điệu trong từng con chữ. Thơ ca sẽ mãi có sức sống nếu còn những con người biết yêu cái đẹp, biết lắng nghe những thanh âm tinh tế của tâm hồn qua từng vần thơ.
Thơ ca, suy cho cùng, chính là tiếng nói của tâm hồn, là giai điệu được cất lên từ những rung động chân thành của con người trước cuộc sống. Một bài thơ chỉ thực sự chạm đến trái tim người đọc khi nó mang theo cảm xúc mãnh liệt, sự đồng cảm sâu sắc và những suy tư tinh tế về nhân sinh. Ý kiến “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn” đã khẳng định rõ bản chất của thơ – một loại hình thức nghệ thuật không chỉ truyền tải ý nghĩa mà còn gợi lên những thanh âm đẹp đẽ trong tâm hồn mỗi người.
Khi đọc một bài thơ, ta không chỉ thưởng thức câu chữ mà còn lắng nghe những giai điệu xúc cảm vang vọng trong từng dòng thơ, để từ đó thêm yêu cuộc sống, thêm trân trọng những giá trị tinh thần mà thơ ca mang lại. Có lẽ, chính nhờ những tâm hồn đa cảm, những trái tim biết rung động với đời, thơ mới có thể trường tồn, trở thành một phần không thể thiếu trong hành trình tâm hồn của nhân loại.
Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My nghiên cứu và sưu tầm
Xuân Bính Ngọ, 2026
-
MỪNG SINH NHẬT THÁNG GIÊNG
Việt Hải tường trình-Hình ảnhHoàng Vinh, Vương Trùng Dương, Thụy Lan, Phạm Gia Đại và Khánh Lan

Ngày Chủ Nhật ngày 25 tháng 1, 2026 vừa qua, Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, tổ chức buổi sinh nhật cho 4 hội viên có ngày sinh nhật vào tháng Giêng là John Tạ, Nga Nguyễn, Lệ Hoa và Mộng Thủy. Nơi hội họp tỏ chức buổi lễ là tư gia của Mộng Thủy, gia trang của giai nhân Mộng Thủy tọa lạc ở một vùng Fashion Island, một khu gia trang sang trọng gồm nhiều ngôi biệt thư xem như loại elegant villas of luxury. Mỗi biệt thự xây theo tiêu chuẩn với thiết kế độc đáo và một khái niệm mới về cuộc sống classy sang trọng, vốn được thiết kế để tạo cảm giác trang nhã, rộng rãi và hài hòa với môi trường chung bao quanh như từ trần nhà cao đến cửa sổ lớn và ban công lan can kính mang lại ánh sáng tự nhiên và tầm nhìn toàn cảnh nhô ra khuôn viên lấy cảm hứng từ khu vực Hy La Địa Trung Hải, hoặc bờ biển Pháp, vùng Riviera Pháp, với cảnh sắc quyến rũ của Côte d’Azur, một khu nghĩ dưỡng getaway resort.

Cư dân có thể tận hưởng câu lạc bộ ăn uống sang trọng; bơi lội trong năm hồ bơi; gặp gỡ tại quán cà phê và quầy nước ép (cũng phục vụ bia và rượu vang); và dạo bước trên những con đường đi dạo rợp bóng cây xanh đẹp. Khu biệt thư kiểu một Fashion Island đã khéo léo kết hợp sự thanh lịch của vùng nắng ấm Nam Calif. với lối sống đô thị dọc ven biển. Xây theo lối kiến trúc Hy La Palladian lấy cảm hứng từ Ý và khuôn viên của khu dân cư gợi nhớ đến một ngôi làng mùa hè bên ngoài Roma, Napoli, Palermo, Milano hay Athens. Lối sống đặc trưng ở những ngôi biệt thư thiết kế Villas Fashion Island này vốn dành cho thấy những gia chủ nơi đây chịu chi đô mạnh tay miễn sao cho giấc ngủ của họ được thơ mộng êm đềm mỗi khi đêm về.

Khách tham dự hầu hết thuộc Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, một số khách dặc biệt và quen thuộc từ Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ và những thân hữu của gia chủ Mộng Thủy.

YEAH… 62 NEVER LOOKED SO GOOD…HAHAHA…

Món gì đây ta mà MC Mộng Thủy quảng cáo dữ vậy cà ????
Đi vào cửa chính vào phòng khách quẹo phải là một counter dành cho mục giải khát một tea/coffee drinking fountain bottles, bình fountain bottle chứa healthy peach mango smoothie blending juice, và bình boiling pot nước sâm nóng cinnamon honey lemon citrus cider.

Đi vòng sang gian nhà bếp lối state of the art kitchen, thức ăn đủ loại do gia chủ chuẩn bị trong hai tuần trước, một số lớn ẩm thực pot luck do bạn bè mang tới.

Từ 3 giờ sáng bà nhà tôi lục đục ra bếp, bà đã đi các chợ 99 Asian Ranch Market, Italian Middle-Eastern Market, Trader Joe’s, Greenland Korean Supermarket, Seafood Manila Supermarket, Pavilions Grocery Superket, Cost…Thức ăn phong phú, nhiều quá, hôm nay gia chủ và bạn bè chuẩn bị cho năm mới ôi thật dồi dào.

Nói theo chữ nghĩa của thi sĩ Cung Trầm Tưởng, ôi những “phồn thực”.

Ngày sinh nhật có từ bao giờ? Nguồn gốc của ngày sinh nhật ra sao? Trước hết, sinh nhật được coi là một dịp để tổ chức bữa tiệc và tạo ra sự kiện đặc biệt trong cuộc sống của mỗi người. Ngày này được dùng để mừng tuổi thêm của một người và chia sẻ niềm vui với gia đình và bạn bè. Bữa tiệc sinh nhật thường được tổ chức với đầy đủ các loại thức ăn, bánh kem và quà tặng cho người được kỷ niệm. Điều này mang lại cảm giác hạnh phúc và niềm vui cho người được tổ chức sinh nhật cũng như các khách mời.

Trở về lịch sử nguyên thủy, thì sinh nhật có từ bao giờ khi nhìn lại nguồn gốc cổ đại; Theo các nhà sử học, ngày sinh nhật được ghi nhận đầu tiên từ khoảng 3.000 năm trước Công nguyên tại Ai Cập cổ đại. Theo nghiên cứu của nhà sử học Joann Fletcher, các Pharaoh Ai Cập không tổ chức sinh nhật theo ngày sinh thật mà kỷ niệm ngày họ lên ngôi; Còn người Hy Lạp sau này đã tiếp nhận truyền thống này và thêm vào đó yếu tố tôn giáo. Họ tổ chức sinh nhật để tôn vinh các vị thần, đặc biệt là nữ thần Artemis, những nữ thần mặt trăng. Người Hy Lạp cũng là những người đầu tiên thắp nến trên bánh sinh nhật, tượng trưng cho ánh sáng của mặt trăng và những lời cầu nguyện. Ở thuở La Mã cổ đại và sinh nhật của người thường, khác với Ai Cập và Hy Lạp, người La Mã cổ đại đã mở rộng phong tục này cho cả thường dân. Đàn ông La Mã khi tròn 50 tuổi được tổ chức sinh nhật trọng thể với các nghi lễ linh đình, tiệc rượu và sự tham gia của gia đình, bạn bè. Đây là một dấu mốc quan trọng để đánh dấu sự trưởng thành và những đóng góp của họ cho xã hội.

Ngày hôm nay chúng tôi ăn mừng, chia vui sinh nhật của bốn hôi viên là Nguyễn Nga, John Tạ, Lệ Hoa và Mộng Thủy. Mọi người ca hát, cắt bánh sinh nhật thật vui vẻ.

Buổi tiệc hội ngộ bạn bè Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian xảy ra vào cuối năm âm lịch vạn niên 2025, bước sang mùa xuân hay Tết Âm Lịch 2026 Bính Ngọ. Không khí bên ngoài có chút se lạnh của mùa xuân như tiết trời còn sót lại của mùa đông đã qua rồi.

Nồi soup măng cua do đầu bếp “MC Mộng Thủy” nấu cả đêm….hahaha…

Theo chu kỳ của hiện tượng thiên nhiên, mùa xuân là mùa đầu tiên trong năm, đánh dấu sự khởi đầu mới với thiên nhiên tươi đẹp, cây cối đâm chồi nảy lộc và nhiều lễ hội truyền thống. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mùa xuân, thời gian diễn ra, đặc điểm, ý nghĩa, các lễ hội và sự kiện, cũng như hình ảnh mùa xuân trong văn học và nghệ thuật. Hãy nghe bài hợp ca vui Xuân đã về.

Đây ban hợp ca “SỐNG GIANG” ….

Lời bài hát Xuân đã về được nhạc sĩ Minh Kỳ vẽ nên khung cảnh mùa xuân vô cùng tươi đẹp đó là ánh xuân về tràn lan mênh mông, đó là cánh đồng chim hót vang lừng, vừa bay cừa vui say, nhạc sĩ Minh Kỳ đã nhắc đi nhắc lại cum từ xuân đã về, xuân đã về để nhấn mạnh sự chuyển mình hương sắc của mùa xuân, để mọi người có thể cùng nhau ngân vang lên khúc ca để cùng chào đón Xuân đã về. Lyrics Xuân đã về được nhạc sĩ viết trên nền nhạc vui tươi, rộn ràng tràn ngập sắc xuân, tạo nên niềm hứng khởi cho mọi người khi lắng nghe bài hát này.

Lời bài hát Xuân đã về, bạn bè ca hát:
Xuân đã về, xuân đã về
Kìa bao ánh xuân về tràn lan mênh mông
Trên cánh đồng chim hót mừng
Đang thiết tha từng đàn cùng bay vui say.
Xuân đã về, xuân đã về,…
Lệ Hoa góp vui khi hát vang bài hoan ca Xuân Yêu Thương, tức bài ca T’as le look coco theo nhịp diệu techno disco.
Xuân đã đến bên em
Dáng xuân tuyệt vời
Xuân đã đến bên người
Xin người hãy cùng em vui xuân.
Mang hạnh phúc cho đời
Gió xuân tuyệt vời
Mang say đắm cho người
Xin người hãy cùng em vui xuân.

Trong thiên Nhiên thì cây cối đâm chồi nảy lộc: Các loài cây bắt đầu ra lá mới và hoa đua nhau khoe sắc. Sinh vật như những chim muông ca hót và ong bướm bay lượn. Còn mùa xuân trong văn học và thơ ca, tiết xuân mùa Tết là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà thơ, nhà văn. Trong thơ ca, mùa xuân thường được miêu tả như một mùa của tình yêu, hy vọng và khởi đầu mới. Những hình ảnh hoa đào, hoa mai, những làn gió xuân nhẹ nhàng, những cánh đồng xanh tươi, hay những buổi sáng trong lành đều gợi lên những cảm xúc trong sáng, hân hoan. Nhiều tác phẩm văn học cũng thể hiện mùa xuân như một biểu tượng của sự tái sinh và tình yêu cuộc sống. Và mùa xuân về trong âm nhạc.

Rượu ngon phải có bạn hiền…

Nào cùng cạn ly…zo…zo…zo…

Mùa xuân là một chủ đề phổ biến và được thể hiện qua nhiều thể loại nhạc khác nhau. Những bài hát xuân vui tươi, tràn đầy năng lượng với giai điệu rộn ràng, nhí nhảnh thường được phát hành mỗi dịp Tết đến, xuân về. Mùa xuân cũng là chủ đề của nhiều bài hát nổi tiếng, trong đó các ca từ miêu tả cảnh sắc mùa xuân, tình yêu đôi lứa, và những ước mơ về một năm mới tươi đẹp. Bên cạnh đó, các tác phẩm nhạc cổ điển cũng thường xuyên lấy mùa xuân làm nguồn cảm hứng cho những bản giao hưởng nhẹ nhàng, du dương. Hoa đào thường nở vào dịp Tết Nguyên đán trong mùa xuân tại miền Bắc Việt Nam. Và hoa mai lại dược dùng vào dịp Tết Nguyên đán trong mùa xuân tại miền Nam Việt Nam.

Khúc giao mùa như hân hoan một mùa xuân mới. Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm nhắc về kỷ niệm mùa hoa anh dào, bài ca Ai Lên Xứ Hoa Đào, của nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Tác giả viết ở giọng ca trưởng với nhịp 4/4, mang âm hưởng của điệu Bolero.
Hình ảnh Đà Lạt, thành phố được mệnh danh là “xứ sở ngàn hoa” theo dòng nhạc ca ngợi hoa mùa xuân:
Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi,
Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi.
Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ,
Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.
Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.

Mùa xuân đẹp nhất vào lúc giao thoa của đất trời, khi những đợt rét khắc nghiệt của mùa đông nhường chỗ cho không khí ấm áp. Cây cối đâm chồi nảy lộc, con người kết thúc những tháng ngày tất bật để trở về nhà tận hưởng niềm hạnh phúc bên gia đình. Tình yêu và hương vị của mùa xuân đã tạo cảm hứng cho nhạc sĩ Nguyễn Hiền và bài tình ca Anh cho em mùa xuân.
KQ Viết Đang góp mặt qua lới ca:
Anh cho em mùa xuân, nụ hoa vàng mới nở,
chiều đông nào nhung nhớ
Đường lao xao lá đầy, chân bước mòn hè phố,
mắt buồn vin ngọn cây
Anh cho em mùa xuân, mùa xuân này tất cả,
lộc non vừa trẩy lá
Lời thơ thương cõi đời, bầy chim lùa vạt nắng
trong khói chiều chơi vơi
(Anh cho em mùa xuân).

Khúc giao mùa như hân hoan một mùa xuân mới. Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm nhắc về kỷ niệm mùa hoa anh dào, bài ca Ai Lên Xứ Hoa Đào, của nhạc sĩ Hoàng Nguyên.
tác giả viết ở giọng ca trưởng với nhịp 4/4, mang âm hưởng của điệu Boler.
Hình ảnh Đà Lạt, thành phố được mệnh danh là “xứ sở ngàn hoa” theo dòng nhạc ca ngợi hoa mùa xuân:
“Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi,
Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi.
Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ,
Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.
Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.”
Mùa xuân đẹp nhất vào lúc giao thoa của đất trời, khi những đợt rét khắc nghiệt của mùa đông nhường chỗ cho không khí ấm áp. Cây cối đâm chồi nảy lộc, con người kết thúc những tháng ngày tất bật để trở về nhà tận hưởng niềm hạnh phúc bên gia đình. Tình yêu và hương vị của mùa xuân đã tạo cảm hứng cho nhạc sĩ Nguyễn Hiền và bài tình ca Anh cho em mùa xuân.
Mùa xuân thường gắn với hình ảnh những cánh đào thắm tươi, những nhành mai vàng rực rỡ, những giọt mưa xuân lất phất và cả những giai điệu tình yêu. Chúng đưa con người vào một giấc mộng ngọt ngào, có chút nồng của hơi men. Một năm trôi qua thật nhanh cùng những kỷ niệm, những ký ức in dấu trong cuộc đời mỗi chúng ta.
Trong khoảnh khắc giao thừa, con người mới có dịp nhìn lại tháng ngày quá khứ và hồi tưởng lại. Chúng ta đã có lúc là những đứa trẻ, háo hức đón Tết về trong tiếng pháo rộn ràng và ngẩn nhơ nhìn ngắm xác pháo bên thềm. Rồi sau đó, chúng ta trở thành những thanh niên chìm đắm trong tình yêu, trong công việc, trong một guồng quay không ngừng, để rồi khi nhìn lại mới thấy thời gian đã trôi đi quá nhanh.

Mỗi mùa xuân về, hạnh phúc nhất của mỗi con người là được quây quần bên những người thân yêu, cùng nâng ly rượu Tết đầy hương vị và xúc cảm. Đó là thứ cảm giác thiêng liêng, đáng trân trọng nhất mà cho dù bao nhiêu năm trôi qua đi chăng nữa, không ai có thể quên được.
Sau khoảnh khắc giao thừa là một năm mới đầy mới mẻ đang chờ đón mỗi người ở phía trước. Xuân sẽ qua, hè đến, thu về, đông sang rồi lại xuân. Cuộc sống là một vòng tuần hoàn xoay vòng hết năm này qua năm khác. Cỏ cây, vạn vật và cả con người sẽ chẳng bao giờ có thể tồn tại mãi mãi. Nhưng cho “dù qua bao tháng năm dài” thì “tình người” vẫn là thứ luôn vẹn nguyên, không phôi phai theo thời gian. Những câu “chúc mừng năm mới” sẽ vẫn được con người trao nhau trong thời khắc thiêng liêng của đất trời, bây giờ và mãi mãi.
Từ hương vị xuân và tình yêu đôi lứa, nhạc sĩ Huy Tuấn đã viết nên những lời ca và giai điệu đầy cảm xúc, gắn với tâm trạng biết bao người khi sống trong những ngày cuối cùng của năm. Khúc giao mùa không chỉ là bài hát Việt phổ biến nhất trong dịp đầu xuân hơn một thập kỷ nay, mà còn là ca khúc đánh dấu khoảnh khắc đáng nhớ của biết bao đôi uyên ương trong ngày cưới.

Cảm Nghĩ Về Thời Khắc Giao Mùa Từ Đông Sang Xuân:
Khoảnh khắc giao thoa đẹp nhất của đất trời đó chính là mùa xuân. Khi những cơn gió nhẹ lướt qua cành lá, từng đàn chim nhỏ đang chấp cánh bay về tìm chút nắng ấm còn le lói hắt từ cuối trời xa. Đó chính là dấu hiệu của một mùa xuân.
Mùa xuân đến từ những ánh mắt chan chứa sự hân hoan, sự yêu thương. Những câu hát này đã thể hiện rõ cảm xúc của bao con người khi đón chào một năm mới tràn về với hy vọng, háo hức, niềm tin yêu vào cuộc sống.
Mỗi mùa xuân về, hạnh phúc nhất của mỗi con người là được quây quần bên những người thân yêu, cùng nâng ly rượu Tết đầy hương vị và xúc cảm.
Nguồn gốc và ý nghĩa của ngày tết cổ truyền Việt Nam. Ngày Tết cổ truyền, hay Tết nguyên đán, là dịp lễ quan trọng và ý nghĩa nhất đối với người Việt Nam. Đây không chỉ là thời điểm để mọi người đoàn tụ bên gia đình, tưởng nhớ tổ tiên mà còn là dịp để mọi người nghỉ ngơi, vui chơi, và chuẩn bị cho một khởi đầu mới đầy hy vọng.
Thời điểm này, đầu năm mới không chỉ là thời gian nghỉ ngơi mà còn là lúc chuẩn bị cho một mùa vụ mới với hy vọng sẽ có một năm mưa thuận gió hòa, cây trái sum suê và cuộc sống an lành, hạnh phúc.

Ý nghĩa của ngày Tết trong đời sống người Việt.
Tết cổ truyền không chỉ là dịp lễ đặc biệt mà còn mang ý nghĩa sâu sắc trong đời sống tinh thần của người Việt. Đầu tiên, đây là thời gian để mọi người tạm dừng các công việc thường ngày, quây quần bên gia đình và cùng nhau chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, tạo dựng sự gắn kết và yêu thương. Với nhiều người, Tết là dịp duy nhất trong năm để trở về quê hương.
Tết cổ truyền không chỉ là một ngày lễ mà còn là biểu tượng của tình yêu thương, sự gắn kết và niềm tin vào tương lai tốt đẹp của người Việt. Trong ngày Tết, mỗi gia đình Việt Nam đều tuân theo những phong tục riêng, tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc. Ngày Tết cổ truyền là biểu tượng của văn hóa, truyền thống và niềm hy vọng của người Việt Nam. Cuộc đời có nhiều mơ ước để chờ đợi. Tuy nhiên, có những thứ chờ mà không thấy, có những điều không đợi mà đến. Một trong những thứ người ta luôn mong đợi và luôn được tiếp đón là Mùa Xuân.
Với mùa Xuân, từ trẻ tới già, cả nam và nữ, kẻ buồn hoặc người vui, ai cũng chộn rộn và háo hức chờ đón Xuân về. Mỗi người mỗi kiểu, mỗi người mỗi cảm giác riêng biệt. Với NS Phạm Đình Chương, ông cũng có cách “Đón Xuân” của riêng ông. Bài hát Đón Xuân này được ông cho ra đời vào khoảng năm 1952. Ca khúc “Đón Xuân” được viết ở âm thể Trưởng, nhịp phách đơn giản nhưng vẫn khả dĩ chuyển tải niềm vui rộn rã và đầy màu sắc Mùa Xuân, ca từ diễn tả sự tích cực của cuộc sống. Bằng cảm nhận tinh tế của người mang tâm hồn âm nhạc, ông thấy thế này: “Xuân đã đến rồi, gieo rắc ngàn hồn hoa xuống đời”, và ông thấy mọi thứ cũng tươi vui khác thường: “Vui trong bình minh, muôn loài chim hát vang mọi nơi, đẹp trong tiếng cười, cho kiếp người tình thương đắm đuối, ánh Xuân đem vui với đời”.
Mùa Xuân là mùa yêu thương, mùa vui mừng, mùa thảnh thơi, mùa hạnh phúc. Khi Tết đến, Xuân về, người ta cố gắng loại bỏ những điều phiền não để mong được vui trọn vẹn. Tầm nhìn của ông khác người lắm, ông thấy mọi vật cũng đầy cảm xúc như con người vậy: “Kìa trong vạt nắng, mạch Xuân tràn dâng;, khóm hoa nhẹ rung, môi cười thẹn thùng cùng bao nguồn sống; bướm say duyên lành, thắm tô trời Xuân; bầy chim tung cánh, hót vui đón mừng mùa nắng tươi lan”.

Thụy Lan trình bày Đón Xuân, của Nhạc Sĩ Phạm Đình Chương:
Xuân đã đến rồi
Reo rắc ngàn hồn hoa xuống đời
Vui trong bình minh
Muôn loài chim hát vang mọi nơi
Đẹp trong tiếng cười
Cho kiếp người tình thương đắm đuối
Ánh xuân đem vui với đời.
Kìa trong vạt nắng
Mạch Xuân tràn dâng
Khóm hoa nhẹ rung
Môi cười thẹn thùng
Cùng bao nguồn sống.
Bướm say duyên lành
Thắm tô trời Xuân
Bầy chim tung cánh
Hát vui đón mừng mùa nắng tươi lan.
Mộng chiều xuân là khúc ca góp phần làm nên tên tuổi của nhạc sĩ Ngọc Bích, được ra mắt vào đầu thập niên 50. Với giai điệu tango dễ thương và ca từ du dương, bài hát đã chinh phục được trái tim của nhiều người yêu nhạc. Mộng Chiều Xuân là ca khúc xuân mang màu sắc lãng mạn, hoài niệm. Giai điệu trữ tình, ca từ nhẹ nhàng như một bức tranh xuân êm đềm, mơ mộng. Bài hát gợi lên hình ảnh mùa xuân dịu dàng, chậm rãi, phù hợp với những ai yêu thích không khí Tết xưa.

Emcee, ca sĩ Phạm Gia Đại góp tiếng hát trong ngày vui này, bài ca tango 2/4, nhưng dược chuyển nhịp sang 4/4.
Gió chiều thầm vương bao nhớ nhung
Người yêu thoáng qua trong giấc mộng
Vui nguồn sống mơ
Những ngày mong chờ
Trách ai đành tâm hững hờ
Mối tình đầu xuân ai thấu chăng?
Lòng tha thiết vương theo tiếng đàn
Mơ đời ái ân những ngày phong trần
Sống trong mộng đẹp ngày xuân
oOo
Luận bàn thi ca cổ vào mùa xuân
Vào thời Trần Nhân Tông (1258-1308) – Cư trần lạc đạo phú. Vua Trần Nhân Tông, vị Tổ đầu tiên của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đã để lại di sản văn học – tư tưởng Phật giáo độc đáo. Trong Cư trần lạc đạo phú, hình ảnh mùa xuân được nhắc đến như biểu tượng của tâm an nhiên, bất biến giữa dòng đời vô thường.
Xuân đến lòng người tự tại
Xuân đi tâm vẫn còn xuân.
Câu thơ mở ra với sự vận động của mùa xuân: “xuân đến”, “xuân đi”. Động từ “đến” và “đi” thể hiện sự chuyển hóa không ngừng, tương ứng với nguyên lý vô thường (anicca) trong Phật giáo. “Tâm vẫn còn xuân” là một hình ảnh tĩnh, thể hiện tâm thức an lạc không bị lay chuyển bởi sự đổi thay của ngoại cảnh.
Khi mà mùa Xuân là biểu tượng của pháp Duyên khởi, hiện diện nhờ duyên hợp và tan biến khi duyên tan. Nhưng tâm giác ngộ (Bồ-đề tâm, 菩提心, Bodhicitta) vẫn bất biến giữa sự thay đổi ấy. Đó là giải thoát tại trần gian: Triết lý “Cư trần lạc đạo” của Trần Nhân Tông khẳng định rằng giác ngộ không nằm ngoài đời sống mà chính trong sự hòa nhập với trần thế (Cư trần bất nhiễm trần, 居塵不染塵). “Tâm xuân” là biểu hiện của một trạng thái giải thoát ngay giữa đời thường.

Trong ý nghĩa của “Xuân đến lòng người tự tại” nhắn nhủ con người biết trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại, hãy xét qua tư tưởng của những thiền gia hay đạo gia, triết gia cho cảm nghĩ về mùa xuân như sau:
Vương Duy (701-761) – Xuân từ ký đề sơn tự
Vương Duy, cư sĩ Phật giáo nổi tiếng thời Đường, đã khắc họa hình ảnh mùa xuân trong bối cảnh ngôi chùa thanh tịnh. Tác phẩm Xuân từ ký đề sơn tự là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông.
Xuân về yên bình nơi cổ tự,
Hoa rụng trước sân như pháp ngộ.
(Xuân về yên bình nơi cổ tự).
春天靜靜地降臨古老的寺廟,
花朵如靈光般飄落在庭院。
(春天靜靜地降臨古老的寺廟)
Kế đến là, thiền gia kiêm thi hào Matsuo Bashō (1644-1694) – Oku no Hosomichi. Matsuo Bashō, một bậc thầy về thơ Haiku Nhật Bản, đã sử dụng hình ảnh mùa xuân trong Oku no Hosomichi để thể hiện tinh thần giác ngộ. Xin trích dẫn hai câu đặc sắc nhất:
Xuân về, chim hót bên rừng,
Lòng nhẹ nhàng như sương mai buổi sớm.
(Haiku Matsuo Bashō – Oku no Hosomichi)
春が訪れ、森では鳥が歌い、
私の心は朝露のように軽やかだ。
(鳥のさえずり」と「朝露」をイメージした俳句)

Kế nữa là thi hào Tố Như Thanh Hiên, tức danh thi nhân Nguyễn Du (1765-1820) – Mùa xuân trong Truyện Kiều. Nguyễn Du, một đại thi hào dân tộc Việt Nam, đã khắc họa hình ảnh mùa xuân trong Truyện Kiều để phản ánh triết lý Phật giáo và sự ngắn ngủi của kiếp nhân sinh. Mùa xuân trong Truyện Kiều không chỉ là khung cảnh thiên nhiên mà còn ẩn chứa những thông điệp sâu sắc về thời gian và cuộc đời. Xin trích hai câu sau:
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
(Cảnh ngày xuân – Truyện Kiều – Nguyễn Du.)
In the spring, swallows fly back and forth like shuttles,
The beautiful spring days, ninety in total, are already more than sixty days gone.
(Spring Scene – The Tale of Kieu – Nguyen Du).
Par une journée de printemps, les hirondelles volent de-ci de-là.
Le soleil éclatant a passé soixante jours sur quatre-vingt-dix.
(Scène de printemps – Le Conte de Kieu – Nguyen Du.)
Sau hết, ta hãy xét qua thơ xuân ý của thi hào thiền sư, một thi nhân của cổ thi Hàn quốc. Hyesim (1178-1234) là vị Thiền sư đầu tiên chuyên tâm về thi ca ở Dại Hàn; truyền thống thi ca Phật giáo Thiền tông thường được các nhà phê bình văn học Hàn Quốc cho rằng bắt đầu từ những tác phẩm của ông. Thuật ngữ “Zen” là một từ tiếng Nhật, vì vậy có thể không phải là từ thích hợp nhất để chỉ Hyesim. Tuy nhiên, từ “Seon” trong tiếng Hàn lại ít được biết đến hơn so với “Zen” trong thế giới phương Tây. Từ “Chan” trong tiếng Trung có cùng ý nghĩa với “Seon” trong tiếng Hàn và “Zen” trong tiếng Nhật. Thào thiền sư Hyesim sáng tác thơ thiền về Mùa xuân trong Xuân hoa thiền ý. Hyesim, vốn là vị thiền sư nổi tiếng của phái Tào Khê Hàn Quốc(한국의 조계파), đã sử dụng mùa xuân như một biểu tượng để diễn đạt trạng thái giác ngộ trong tâm thức. Bài thơ Xuân hoa thiền ý mang đậm triết lý thiền, khẳng định rằng mùa xuân thật sự không nằm ở ngoại cảnh mà là sự khai mở bên trong.
Trích dẫn:
Xuân về, hoa không nở trong ngoài,
Mà nở trong tâm, tĩnh tại không lời.
(Thiền sư Hyesim – Mùa xuân trong Xuân hoa thiền ý).
봄이 오면 꽃은 실내외에서 피어나지 않습니다.
지만 마음속에서 고요하고 말없이 피어납니다.
(선사 혜심 – 선꽃의 봄)

Mục thi ca Dương Hồng Anh, một nữ sĩ của những áng thi ca mượt mà, nhẹ nhàng đượm chất chất suy tư trâm mặc, chan chứa nét về hiện thực hồi tưởng. Dương Hồng Anh trong nhiều thi tập, bà cho thơ biền ngẫu và thi ca tự do, cả hai đều trác tuyệt. ThI ca là một trong những vẻ đẹp huyền diệu mang sắc nét chân thiện mỹ (chân thực, đạo hạnh và thẩm mỹ), hay nét mỹ học bẩm sinh (cái đẹp tự nhiên trong nghệ thuật), qua lăng kính thị giác thẩm mỹ sáng tạo. Thơ phú hay thi ca vốn góp phần nâng cao nền văn hóa kỳ vĩ của người Việt, do những tài năng như Hồng Anh nữ sĩ, nhà văn kiêm nhà thơ Khánh Lan dã ngâm tao đàn bài thi ca của họ Dương nữ sĩ như sau:
BỐN MÙA HOA NỞ
Nữ sĩ Dương Hồng Anh–
Kính tặng nhà văn Trần Việt Hải và Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.
Ơn trời tôi vẫn làm thơ
Còn lăn ngọn bút còn mơ mộng nhiều
Hoàng hôn tỏa sáng đường chiều
Tương tư ngồi đợi trăng treo bên thềm
Trăng xanh núi biếc êm đềm
Chợ hòn núi ráo khắp miền xa xôi
Cỏ cây hoa lá bừng tươi
Tình quê lai láng mây trời lãng du
Chung vui thơ nhạc đàn ca
Tô bội văn học mượt mà hương xưa
Vẫn còn đây những ước mơ
Nhân Văn Nghệ Thuật bốn mùa nở hoa.
Nữ sĩ Dương Hồng Anh có món quà kẹo ngọt từ Pháp cho 4 bằng hữu có ngày sinh nhật trong buổi lễ.

Nữ sĩ còn tặng bức tranh chữ Phúc dể cám ơn bà pháp sư gia chủ Mộng Thủy đã cứu mạng Nữ sĩ khi bị nuốt hàm răng giả vào cổ họng.

Mộng Thủy pháp sư y nhân (Patriarca legendario) dã theo khóa học cao cấp Medicina maya y Medicina mesoamericana, do linh năng thiên bẩm của Pháp sư y nhân tốt nghiệp khóa trị liệu từ Atzcapotzalc và Tenochtitlán, khóa dào tạo Gurú mexicano de la comedia terapéutica de la tribu azteca.

Chữ Phúc trên bức tranh được nhà văn Phạm Gia Đại, qua tranh thì hình tượng Phúc này, là quan niệm phát xuất từ Đạo giáo thời xưa. Đây là tượng trưng ba vị thần: Phúc tinh còn gọi là Phúc thần, là thần Tử vi đại đế, quản lĩnh phúc khí, ban phúc cho mọi người; Lộc tinh còn gọi là Văn xương thần, quản lĩnh việc học hành thi cử, đạt được danh vọng và lợi lộc; và Thọ tinh là Nam cực lão nhân tinh, biểu tượng sống lâu. Thọ là vì sao phía Nam, với hình ảnh râu tóc bạc biểu trưng trường thọ, tay cầm quả đào. Bức tranh chưng hay bức tranh thờ, và thể hiện trên nhiều dạng thức chất liệu. Quan niệm nhân sinh truyền thống người Á Đông cho rằng có Phúc, có Lộc, có Thọ đều thuộc vào biểu trưng của có phúc và là mục đích hướng đến của con người để cuộc sống hướng thiện và tốt lành hơn.
Còn theo người viết thì chữ Phúc trong ý niệm “Ngũ Phúc Lâm Môn” (五福临门), ý nghĩa nhóm chữ này được hiểu như sau:
Về ý nghĩa chung, thành ngữ này mang đến những điều trọn vẹn trong cuộc sống cũng như sức khỏe, bình an, phúc lộc, danh vọng và tiền tài. Trong cuộc sống, rất ít người đạt được những yếu tố trọn vẹn này. Bởi lẽ, có người sinh ra giàu có nhưng tuổi thọ ngắn, không thể hưởng thụ cuộc sống. Ngược lại, có người tiền đầy nhà nhưng tâm không bình an, nhẹ nhàng. Chính vì vậy, ngũ phúc mới là niềm mong ước của rất nhiều người. Chung quy, Ngũ Phúc Lâm Môn là năm phúc lành mà con người luôn khao khát. Để đạt được điều này, trước hết cần giữ tâm hồn trong sáng, hướng thiện và nhân ái. Hy vọng bài viết này đã mang đến cho bạn những kiến thức quý báu và ý nghĩa sâu sắc. Chữ Phúc là biểu tượng cho sự hạnh phúc tràn đầy, là ước mơ động lực vượt lên khó khăn trong cuộc sống trong mỗi gia đình người Việt.
Ý nghĩa chữ Phúc ghi theo chiết tự chữ Phúc như 福, đó là ý nghĩ mong muốn dược biểu hiện ước mơ của con người). Bên phải gồm 3 bộ chữ: Bộ miên 宀 chỉ một mái nhà (phải có nhà để ở, an cư rồi mới lạc nghiệp). Dưới là bộ khẩu nghĩa là miệng (trong nhà phải có người, cả gia đình sum họp vui vẻ, tiếng nói cười rộn rã, không khí gia đình phải vui tươi đầm ấm). Dưới cùng là bộ điền 田 (có nhà rồi phải có ruộng để cày cấy sinh sống. có ruộng, có đất đai là có tất cả.
Như vậy chữ Phúc 福 trong nhóm chữ “Ngũ Phúc Lâm Môn” chính là một ước mơ bình dị về một cuộc sống yên bình, mong sao cho gia đình có người, có nhà, nề nếp hiếu thuận, ấm êm; có ruộng để làm ăn sinh sống. Đó là ước mơ ngàn đời của những con người lao động, không mơ sự giàu sang, phú quý, mà chỉ ước mơ một cuộc sống giản dị tốt đẹp, bền lâu mãi mãi. Cuộc sống như thế chính là phúc – chỉ một chữ mà gợi lên cảnh sống yên bình, lương thiện, hiền hòa. Ngày nay chữ Phúc đã mở rộng nghĩa ra với tất cả mọi người, ai cũng xứng đáng có một cuộc sống hạnh phúc, may mắn và an lạc.

Một mục hợp ca nữ hát bài Ngày Hạnh Phúc (Lam Phương), bài Và Tôi Cũng Yêu Em (Đức Huy) do tất cả anh hơp ca nam. Emcee Mộng Thủy hâm nóng liên khúc twist 90 Năm Cuộc Đời với tất cả giọng ca tham dự.
Cuối chương trình là màn trao đổi kỹ thuật âm nhạc, cách sử dụng tây ban cầm và thanh nhạc do nhạc sị Tony Hiếu, Minh Thư và Thúy Giao, cả ba dều chơi dụng cụ guitar và có căn bản về nhạc lý, Tony Hiếu chơi keyboard synthesizer và Minh Thư còn sử dụng piano. Minh Thư và Thúy Giao hát từ partition de solfège. Phần đông hiện nay nhiều người ca theo lối tập karaoke, hát nhái nhạc MP3 hay MP4.
Tony Hiếu, Minh Thư song tấu guitar các bài Nắng Chiều và Ô Mể Ly. Minh Thư và Thúy Giao song ca và song tấu guitar Take me home, country roads và A cowboy’s work is never done. Đôi song ca Michael Chánh và Thụy Lan trình bày Nuối Tiết (Trịnh Nam Sơn), Thu Mai ca Thiên Đàng Ái Ân (Lam Phương), Michael Chánh hát Cây Đàn Bỏ Quên. Jean François Michael thương hát những bài như Dư Âm, Nỗi Lòng, Ai Về Sông Tương, và Xin một ngày mai có nhau.

Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa xin cám ơn Nhạc Sĩ Phạm Ngọc Tú luôn yểm trợ cho sinh hoạt cũa nhóm.
Lời cuối, Xin càm ơn bạn bè vẫn chung vui góp mặt cùng niêm vui của nhóm như tham dự những bài viết cho hàng loạt sách văn học, soạn thi ca, song lyrics (paroles de chansons), tham dự di du lịch chung của nhóm. Cám ơn Khánh Lan, Lưu Mạnh Bổng, Ngọc Quỳnh, Vi Khiêm, Vũ Hòa, Viết Đang, Thụy Lan, Michael Chánh, Minh Châu, 7 Minh Khai, Minh Thư, Thúy Giao cho bằng hữu nhóm phương tiện transportation ride trong buổi reunion party, càng ngày số người vì sức khỏe hay tuổi tác không còn lái xe nữa. Lực bất tòng tâm (The spirit is willing, but the flesh is weak, So much to do, so little get done, Unable to act as desired) .

Time to say goodbye..…….from ký giả Vương Trùng Dương
-
CUỘC SỐNG VÀ TÌNH BẠN
Tác giả: Việt Hải-Hình ảnh & Trình bày: Khánh Lan

Từ trái sang phải: NV Nguyễn Quang và NV Việt Hải

NGƯỜI BẠN CHÂN THÀNH CỦA TÔI
Bạn luôn đến với tôi khi tôi cần
Và giúp dỡ tôi đứng dậy khi tôi thất bại,
Nhưng bạn không bao giờ phàn nàn trách móc về tôi,
Hỡi người bạn chân thành của tôi!

Tu es toujours là pour moi quand j’ai besoin de toi,
Et tu me relèves quand je tombe,
Mais tu ne te plains jamais et tu ne me blâmes jamais,
Mon ami si fidèle!

You always come to me when I need you
And help me up when I fail,
But you never complain or blame me,
My true friend!
VHLA

TÌNH BẠN THÂN LÀ GÌ NHỈ?
Triết gia Aristotle cho rằng: “Bạn bè là gì nếu không phải là gì một tâm hồn đơn độc trú ngụ trong hai cơ thể.“
Trong tạp chí Pháp Madmoizelle có bài viết về tình bạn thân (L’amitié étroite, A close friendship). Ôi, tình bạn! Kho báu quý giá mà tất cả chúng ta đều muốn tìm thấy và được ở gần ngay bên nó, được gói gọn bằng một tình bạn lâu năm.
Bạn bè trước tiên và trên hết là một đồng minh, là người thực sự vui mừng trước hạnh phúc và thành công của bạn mình. Tình bạn thực sự là giúp đỡ người khác “miễn phí“, vì hạnh phúc của họ cũng là một phần nhỏ sự “cho đi” của bạn. Những người thực sự quý giá, những người truyền cho bạn năng lượng, cảm hứng, hỗ trợ và bổ sung cho bạn, nhiều hơn bạn nghĩ.

Hiện nay, con số hội viên bạn bè của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, khoảng trên dưới 40 người, nhưng rất thân tình và khắng khít bên nhau như anh em cùng một nhà. Trong đó bao hàm một tình thương mến, thông cảm và nâng đỡ lẫn nhau. Ta mừng khi thấy bạn phát triển trong mọi lãnh vực, ta buồn khi thấy bạn gặp phải khó khăn, hoạn nạn. Là những người bạn thân, ta thực sự có thể cảm nhận được những gì bạn ta đang trải qua, dù là ta đã từng trải qua hay chưa.

Bạn thân ơi! Có còn gì quý hơn tình bạn? Tình bạn thật tuyệt vời và luôn ở bên cạnh để khích lệ ta khi ta đang trong tình trạng chán nản, buồn bã, bạn ta là người cổ vũ tinh thần cho ta, bạn nhắc nhở ta về những điều tuyệt vời mà chỉ có bạn bè thân tình mới có thể mang lại cho ta một thế giới luôn tập trung vào những phẩm chất tích cực, giúp ta toại nguyện và tỏa sáng liên ngành hoạt động. Bạn thân của chúng ta luôn ủng hộ ta! Dù trong bất kỳ tình huống nào, bạn thân ta luôn ở bên cạnh ta, họ luôn có mặt.

Như nhạc của James Taylor và Carole King hát:
Bạn chỉ cần gọi tên tôi
Và bạn biết tôi ở đâu
Tôi sẽ chạy đến gặp bạn lần nữa
Đông, xuân, hạ hay thu
Tất cả những gì bạn cần làm là hãy gọi
Và tôi sẽ có mặt
Vâng, tôi sẽ có mặt
Bạn có một người bạn thân.

Người bạn thân là người mà ta có thể tin tưởng và cảm thấy thoải mái khi ở bên cạnh. Một người bạn thực sự luôn ủng hộ bạn bè và khiến bạn bè cảm thấy được trân trọng. Tình bạn chứng tỏ được sự quan tâm chân thành đến cuộc sống của ta, chấp nhận và tôn trọng con người ta, khiến tình bạn bè cảm thấy tốt đẹp hơn. Tình bạn đích thực bao gồm một loại tình thân mặc nhiên, luôn luôn đồng hành cùng chúng ta qua những thăng trầm của cuộc sống. Bạn có biết những sinh hoạt nhóm qua lâu ngày nối kết tình bạn thân thiết bền vững, rất có giá trị cho hạnh phúc và thành công cá nhân của từng bạn bè. Một người bạn tốt là người bạn muốn sinh hoạt chung, chia sẻ trách vụ, niềm tin khiến ta cảm thấy tuyệt vời khi tin tưởng nhau. Tình bạn cần sự cảm thông, hiểu tánh tình nhau, cho nhau tiếng cười, vì nụ cười là liều thuốc của cuộc sống.

Các bạn của tôi ơi! Uống cho say ngheng….. không say không zìa à ngheng….

Minh Thư: Hey, hey, ai nói chi đó …… Hông say hổng zìa à nghe……

Ừa….thì không say không Zìa….Dô..dô…dô…
Những người bạn tuyệt vời sẽ giúp chúng ta giảm bớt căng thẳng. Theo nghiên cứu được công bố trên tờ American Journal of Lifestyle Medicine (Tạp chí Y học Lối sống Hoa Kỳ), sự hài hước giúp giảm căng thẳng và cải thiện chứng trầm cảm, lo âu. Vậy nên, nếu bạn bè cho ta niềm vui, tiếng cười, giúp ta cải thiện sức khỏe và hạnh phúc cho chính ta và bạn bè.
Phải, “Best friends forever” là một ý tưởng mô tả tình bạn thân thiết kéo dài mãi mãi. “Mãi Mãi Tình Bạn” được viết tắt là MMTB.
Định nghĩa về MMTB là thuật ngữ chỉ bạn thân QUEN LÂU NGÀY hoặc bạn thân thiết của những ai đó và được đặc trưng bởi sự bền vững, bất kể ý nghĩa của tình bạn đã thay đổi bao nhiêu lần trong cuộc đời họ. MMTB thường có mối tương quan mật thiết và có những trải nghiệm chung, chẳng hạn như sinh hoạt chung nhóm hoặc cùng chia sẻ “goût” thi ca, văn học hay âm nhạc.

Nhà văn Sir Pelham Grenville nói: “Không có nền tảng nào vững chắc hơn cho một tình bạn đẹp hơn là cùng nhau thưởng thức goût văn chương văn học.”
Các mối liên quan được gọi là BFF hay MTMB được phổ biến ở trong các nhóm sinh hoạt đồng sở thích và tiệm tăng theo tháng năm sinh hoạt chung. Thuật ngữ BFF không nhất thiết mang ý nghĩa độc quyền; nhưng lại tùy thuộc vào cách hiểu hoặc triết lý riêng của mỗi người về khái niệm mãi mãi tình bạn, “BFF”, một người có thể không có nhiều hơn một bạn bè “BFF” cùng một lúc.
Nguồn gốc xuất phát từ trong tập phim “The One at the Beach” của loạt phim Friends, Phoebe sử dụng thuật ngữ MMTB hay BFF và phải giải thích với những người còn lại trong nhóm rằng nó có nghĩa là “best friends forever“.
Nhà văn Barbara Delinsky mô tả một người bạn thân là: “Một người mà bạn không cần phải gặp mặt mỗi ngày mà vẫn giữ được sự kết nối, một người thương mến bạn dù bạn có thường xuyên nói chuyện hay không, một người sẵn sàng bỏ mọi thứ và luôn bắt chuyện hay chia sẻ tiếp theo những gì bạn cần. Đó là một người không quan tâm đến việc bạn ấy ăn ở đâu hay ăn gì, miễn là bạn ta luôn quan tâm về bạn.”
Bạn bè là những người đặc biệt mang đến sự tích cực giúp đỡ nhau và hỗ trợ cho cuộc sống của chúng ta. Họ làm cho những khoảnh khắc vui vẻ trở nên ngọt ngào hơn và giúp chúng ta vượt qua những khó khăn. Nhưng trở thành một người bạn tốt cũng đáng trân trọng không kém! Điều đó có nghĩa là bạn cũng dành cho họ lòng tốt, sự kiên nhẫn và sự thấu hiểu mà bạn mong muốn nhận được, nuôi dưỡng một mối quan hệ được xây dựng trên tình yêu thương và sự tôn trọng lẫn nhau.

Bạn bè cho ta niềm vui, tiếng cười…..
Nhà văn Richelle Mead: “Chỉ có một người bạn thân thực sự mới có thể bảo vệ bạn khỏi những nguy hiểm không ngờ.” (Người dám hy sinh vì bạn).
Trong trường hợp của GS Luật ở Harvard Elisabeth Foley cho là: Thật là một khám phá thú vị, tuyệt vời nhất mà những người bạn thực sự tạo ra là họ có thể phát triển riêng biệt tài năng mà không ở xa cách bạn. Tình bạn đích thực vượt qua những cản trở về thời gian cho sự đổi thay. Bạn bè có thể theo đuổi những ước mơ khác nhau, dù ở xa nhau hoặc khám phá ra những sở thích mới, nhưng mối liên kết tình bạn với họ vẫn luôn bất biến.
Trong tình bạn bè chúng ta chấp nhận và trân trọng sự phát triển tài năng của nhau, biết rằng mối tương quan bằng hữu của họ đủ mạnh mẽ để vượt qua những biến động của cuộc sống. Ngay cả khi con đường của họ rẽ sang hướng khác, mối liên kết đặc biệt đó vẫn là điểm tựa của sự hỗ trợ và yêu thương.

Đối với triết gia Pháp Albert Camus ghi nhận là bạn đừng đi sau tôi; tôi có thể không dẫn đầu. Và bạn cũng đừng đi trước tôi, tôi có thể không theo sau bạn. Chỉ cần bạn đi bên cạnh tôi và làm bạn với tôi. Camus nhấn mạnh sự bình đẳng trong tình bạn. Ông mong muốn một người bạn thân đồng hành cùng mình, chứ không phải một người chỉ huy chỉ đạo hay đi theo mà không góp ý kiến.
Một người bạn thân thực sự là người luôn sát cánh bên bạn dù khó khăn, luôn dành cho bạn lòng trung thành và sự tin tưởng tuyệt đối. Họ là những người luôn ủng hộ bạn, bất kể những thử thách trong cuộc sống có thể xảy ra.Theo một nghiên cứu của tạp chí Psychology Today, lòng trung thành là một trong những phẩm chất được đánh giá cao nhất trong tình bạn, với 92% số người được hỏi cho rằng đây là điều thiết yếu. Một người bạn thân là người giữ bí mật cho bạn, bảo vệ bạn khi bạn vắng mặt và ăn mừng thành công của bạn như thể đó là thành công của chính họ.

Lời bài hát You’ve Got a Friend
Khi bạn buồn bã và đau khổ
Và bạn cần một bàn tay giúp đỡ
Và chẳng có gì, ôi, chẳng có gì suôn sẻ
Hãy Nhắm mắt lại và nghĩ về tôi
Và chẳng bao lâu nữa tôi sẽ ở đó
Để thắp sáng cả những đêm đen tối nhất của bạn
[Điệp khúc]
Bạn chỉ cần gọi tên tôi
Và bạn biết tôi ở đâu
Tôi sẽ chạy đến, ôi, yeah, em yêu
Để gặp lại bạn
Mùa đông, mùa xuân, mùa hè, hay mùa thu
Tất cả những gì bạn cần làm là hãygọi
Và tôi sẽ ở đó, yeah, yeah, yeah
Bạn có một người bạn thân.

Minh Thư: …Ái chà! Chú Vương Trùng Dương ui….say quá rồi….ca sao nổi nữa nè trời ……
You’ve Got a Friend Lyrics
When you’re down and troubled
And you need a helping hand
And nothing, oh, nothing is going right
Close your eyes and think of me
And soon I will be there
To brighten up even your darkest nights
[Chorus]
You just call out my name
And you know wherever I am
I’ll come running, oh, yeah, baby
To see you again
Winter, spring, summer, or fall
All you got to do is call
And I’ll be there, yeah, yeah, yeah
You’ve got a friend

Vương Trùng Dương: Ai muốn cưới “Cháu Mộng Thủy” của tui…hừ…, thì phải bước qua ….của tui các đã…..
Paroles de «Tu as un ami»
Quand tu es triste et que tu as des soucis
Et que tu as besoin d’aide
Et que rien, oh, rien ne va plus
Ferme les yeux et pense à moi
Et bientôt je serai là
Pour illuminer même tes nuits les plus sombres
[Refrain]
Il te suffit d’appeler mon nom
Et tu sais que où que je sois
J’accourrai, oh oui, bébé
Pour te revoir
Hiver, printemps, été ou automne
Il te suffit d’appeler
Et je serai là, oui, oui, oui
Tu as un ami

Theo tạp chí Pháp Philosophie, trong tất cả các mối tương quan liên kết khi triết gia Aristotle phân biệt ra ba loại tình bạn: tình bạn hữu ích, dựa trên lợi ích cá nhân; tình bạn dễ chịu, dựa trên niềm vui; và cuối cùng, tình bạn, hiếm hoi hơn và khắt khe hơn, dựa trên đức hạnh và hướng đến những giá trị tốt đẹp chân thiện mỹ. Trở lại chủ đề thế nào là bạn tốt thì đó là người luôn ở kề bên, trung thực và sẵn sàng chia sẻ, lắng nghe khi bạn cần. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những phẩm chất và cách duy trì một tình bạn bền vững, thực sự đầy ý nghĩa. Chúng ta trải nghiệm khi khám phá ra ngay để biết làm sao trở thành và có được những người bạn tốt trong cuộc sống.
Theo trên New Philosopher magazine thì một người bạn tốt là người không chỉ cùng ta chia sẻ niềm vui mà còn luôn sẵn sàng đồng hành trong những lúc khó khăn. Dưới đây là những đặc điểm nổi bật của một người bạn tốt luôn lắng nghe những gì bạn chia sẻ, bất kể đó là vấn đề lớn hay nhỏ. Họ sẽ tôn trọng ý kiến của bạn và sẵn lòng đưa ra những lời khuyên chân thành khi cần thiết.Thêm nữa, khi bạn trải qua những giai đoạn khó khăn, người bạn tốt sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn. Họ sẽ luôn sẵn lòng giúp đỡ bạn vượt qua thử thách, từ việc đơn giản như động viên tinh thần cho đến việc hỗ trợ thực tế khi cần. Và bạn tốt sẽ không ích kỷ và biết chia sẻ, dối với một tình bạn tốt đòi hỏi sự cho đi mà không mong nhận lại. Người bạn tốt không chỉ biết nhận mà còn sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ bạn khi bạn cần, không vì lợi ích cá nhân mà chỉ vì tình cảm chân thành.

Thụy Lan: Ba yếu tố sau cần nên suy xét:
– Lòng trung thực với người bạn tốt không quảng ngại nói ra sự thật, cho dù điều đó có thể khiến bạn bè khó chịu. Họ sẽ thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót để chúng ta có thể cải thiện và phát triển bản thân.Và sự tôn trọng: Người bạn tốt luôn tôn trọng ý kiến, sự khác biệt của nhau, không bao giờ cố tình áp đặt hay coi thường. Sự hỗ trợ về mặt tinh thần, đối với một người bạn tốt không chỉ giúp đỡ trong lúc khó khăn, mà còn là nguồn khích lệ tinh thần, giúp chúng ta vượt qua những thử thách và khó khăn trong cuộc sống.
– Tôn trọng quan diểm và không phán xét bài bác khắc khe nhau. Nên tôn trọng ý kiến và quyết định của bạn bè là điều cần thiết trong một mối tương quan lẫn nhau. Một người bạn tốt sẽ không phán xét mà thay vào đó hỗ trợ và đưa ra những lời khuyên tích cực.
– Rộng lượng và sẵn sàng tha thứ lỗi lầm. Một người bạn tốt không chỉ rộng lượng về vật chất mà còn cả về tinh thần. Họ biết tha thứ khi bạn mắc sai lầm và không để những lỗi lầm nhỏ làm ảnh hưởng đến mối liênn hệ tình bạn. Có ưu điểm công bằng và bình đẳng giữa bạn bè. Tình bạn dài lâu cần sự đối xử công bằng, không thiên vị và tôn trọng sự khác biệt của bạn bè. Điều này giúp ta duy trì sự hòa hợp và không có sự bất công trong mối tương quan bạn bè.

Nữ Sĩ Dương Hồng Anh cắt bánh khai mạc

Ngày Tạ Ơn Cám Ơn Bạn
Khi khó khăn ập đến, tôi biết bạn luôn ở bên cạnh
Và rồi bạn đã giúp dỡ tôi đứng vững trên mặt đất.
Bạn cứu giúp tôi vượt qua những ngày tháng đen tối nhất.
Vì vậy, tôi viết bài thơ ngắn này cho bạn
và nói với bạn từ tận đáy lòng chân thành tôi
Ngày Tạ Ơn tôi xin ngàn lân cám ơn bạn!

Thanksgiving Day Thank You
When times get tough, I know you’re there
And you’ve helped me get my firm feet on the ground.
You’ve helped me through the darkest of days.
So I’m writing this short poem for you
and telling you from the bottom of my heart
Thank you a thousand times on Thanksgiving Day!

Remerciements pour Thanksgiving
Quand les temps sont durs, je sais que tu es là.
Tu m’as aidé à garder les pieds sur terre.
Tu m’as soutenu dans les moments les plus sombres.
Alors, je t’écris ce court poème,
et je te dis du fond du cœur :
Merci mille fois en ce jour de Thanksgiving !
VHLA.

CÁM ƠN MỘNG THỦY ĐÃ TỔ CHỨC MỘT BUỔI HỌP MẶT TẠ ƠN BẠN BÈ-2025 THẬT VUI VÀ ẤM CÚNG. TOÀN THỂ CÁC BẠN BÈ TRONG LIÊN NHÓM NVNT & TTG.
CALIFORNIA, NOVEMBER 16. 2025
-
TALK SHOW KỲ 15
Do Khánh Lan phụ trách
Âm nhạc giúp giảm căng thẳng, giảm đau, ngăn ngừa chứng trầm cảm, tăng thư giãn (relax) và giúp trí nhớ. Hơn thế nữa, âm nhạc giúp chúng ta quên những lo lắng, buồn bã và bon chen trong cuộc sống. Nghe những nhạc phẩm cổ điển, không lời, êm dịu, nhẹ nhàng như của Bach hay Mozart giúp chúng ta chìm vào giấc ngủ nhanh hơn.

Nhạc Sĩ Võ Tá Hân, người sáng lập ra lớp nhạc Tây ban cầm tại California

Lớp nhạc đầu tiên tại California năm 2017 tại Hội trường Người Việt: Guitar Vietnamese Senior Art do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân sáng lập và hướng dẫn
Hiện nay, guitar là bộ môn âm nhạc được rất nhiều người yêu thích. Học guitar vừa là cách chinh phục đam mê, giải trí hiệu quả, đồng thời cũng là cách rèn luyện sự kiên nhẫn. Tuy nhiên, khi đến với bộ môn này, nhiều người lại e dè về việc học guitar có khó không? Thực ra học chơi đàn guitar khó hay không tùy thuộc vào đam mê, cảm nhận và mục tiêu của mỗi cá nhân. Tập đánh đàn guitar đòi hỏi sự kiên nhẫn và cố gắng tập luyện. Chúng ta biết rằng, bất cứ làm việc gì hay tập luyện một nhạc cụ nào cũng đòi hỏi sự kiên tâm, đam mê và mất rất nhiều thời gian.

Lớp nhạc Fountain Valley Guitar Club do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân sáng lập và hướng dẫn
Theo Nhạc Sĩ Võ Tá Hân thì học chơi guitar không khó nhưng cũng không quá đơn giản, bởi vì học guitar cơ bản là cả một quá trình tìm hiểu, sáng tạo và thử thách. Nếu thật sự yêu thích bộ môn nghệ thuật này, bạn sẽ đủ sức vượt qua những khó khăn ban đầu, và chính những thử thách này là những nền tảng kiến thức vững chắc giúp bạn thành công sau này
Các chị trong nhóm TƠ VÀNG gồm có: Sandy Lee, Lâm Dung, Khiên Trinh, Bình Chi, Jennifer Lâm và Thu Hồng. Và rất đặc biệt là nhóm có sự tham gia của cả 3 miền: 2 chị người miền Bắc, 2 chị người miền Trung và 2 chị người miền Nam.
Mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị vào link dưới đây để thưởng thức các bài nhạc do nhóm TƠ VÀNG trình diễn.
Khánh Lan kính mời.
PHẦN I
PHẦN II
PHẦN III
-
Chúc Mừng Ngày Kim Khánh Nhà Giáo QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG
Trần Việt Hải

First Love
Nhìn lại xã hội Hoa Kỳ nơi chúng ta sinh sống, tỷ lệ ly dị ở Hoa Kỳ đã giảm đều đặn trong gần hai thập kỷ qua, ngoại trừ một thành phần dân số lại có xu hướng gia tăng. Theo một nghiên cứu năm 2022 được công bố trên tờ The Journals of Gerontology, được gọi là ly dị “xám”, những người trên 50 tuổi đang rời bỏ vợ chồng của mình với tốc độ chóng mặt, cao hơn gấp đôi so với những năm 1990 và đối với những người trên 65 tuổi, tỷ lệ ly dị đã tăng gấp ba lần. Và không có người phối ngẫu nào thoát khỏi cuộc ly dị mà không bị tổn thương. Đàn ông lớn tuổi sống một mình thường cô đơn hơn so với phụ nữ, nhưng nói chung, phụ nữ lại bị thiệt hại nhiều hơn về mặt tài chính.
Lý do vì sao hôn nhân thời nay đổ vỡ nhiều như vậy, thì theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, khoảng 22% cuộc hôn nhân tan vỡ trong vòng 5 năm đầu. Nếu ta tính tổng thể, tỷ lệ ly hôn ở Mỹ vào khoảng 40%. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến gần 118 triệu người Mỹ, hay 46% người trên 18 tuổi, đang độc thân. Tỷ lệ nữ giới không kết hôn hoặc đã ly hôn chiếm 52%, tính đến năm 2021.
Có rất nhiều lý do khác nhau dẫn đến ly hôn, từ ngoại tình, mâu thuẫn tài chính, hay đơn giản là ngày càng nhàm chán, xa cách nhau. Bên cạnh những lý do quen thuộc, luật sư ly hôn Dennis R. Vetrano cho rằng có một số nguyên nhân khác cũng rất quan trọng mà ít được mọi người lưu ý.
Theo bải viết: “Chúng tôi vô cùng sửng sốt trước những khám phá ra những số liệu ly hôn. Hơn 1/3 số người ly hôn hiện nay đã ngoài 50 tuổi. Chúng ta không thể phớt lờ đối với nhóm đó được nữa”. Bài báo Today online cho biết tiếp, mặc dù tỷ lệ ly hôn trong tổng dân số đang giảm, nhưng “những người lớn tuổi lại đang đi ngược xu hướng này”. Ðối với những người trên 65 tuổi, tỷ lệ ly hôn vẫn đang tăng lên.
Theo tờ Today online, những khó khăn về tài chính sau cuộc “ly hôn xám” (sau 50 năm sống chung) mà các nhà nghiên cứu khác lo ngại. Một số người cho biết mức sống của họ thời hậu ly hôn giảm đáng kể. Ðiều này cùng với thực tế là tỷ lệ nghèo khổ nói chung có xu hướng cao hơn đối với người lớn tuổi, khiến tình trạng “ly hôn xám” trở thành vấn đề nan giải đáng lo ngại.
Lấy ví dụ như gia dình Al Gore vì những chặng đường khác biệt, vì cả hai người (Al và Tipper) đã sống những cuộc sống hoàn toàn riêng biệt, lịch trình riêng biệt đã đưa họ đi theo những đường hướng khác nhau. Bài báo nói thêm. “Họ nói rằng họ vừa mới xa nhau. Tipper yêu đời và muốn tận hưởng cuộc sống, còn Al vẫn là một người đàn ông rất năng động với rất nhiều dự án và kế hoạch sẽ phải thực hiện.”
Tôi (người viết bài) muốn đem ý nghĩa của sự cần thiết lễ hấp hôn. Vậy lễ hấp hôn là gì? Bí quyết làm lễ hấp hôn đơn giản và hiệu quả. Tình yêu của các cặp đôi sống chung lâu năm sẽ dần dà nhường chỗ cho sống chỉ vì nghĩa tình. Chính vì thế, khái niệm hấp hôn là những gì bắt đầu được nhắc đến như một cách để giữ gìn sự gắn bó bền lâu.
Nhiều cặp vợ chồng đã cưới lâu năm khi mà lối xưa thu thảo đâm ra nhàm chán, người ta cần một không khí mới tươi mát hơn. Do vậy ý niệm hấp hôn là hành động vợ chồng chủ động làm mới mối quan hệ sau một thời gian dài chung sống. Không có bất kỳ quy chuẩn cố định nào khi tổ chức hấp hôn mà chỉ đơn giản là những nỗ lực nhỏ để giữ cho tình cảm vợ chồng luôn ấm áp và gắn bó.
Khái niệm hấp hôn với người Việt hàm ý nghĩa gần giống với “vow renewal” trong văn hóa phương Tây. Tức là các đôi hôn nhân tổ chức lại lễ cưới nhỏ, và một buổi tiệc nhỏ là xong. Sau nhiều năm sống chung để hâm nóng lại tình yêu. Do đó lễ hấp hôn trong tiếng Anh có thể dịch là rekindle the marriage, renew the marital relationship hoặc reignite the spark in marriage.
Nhà văn Quyên Di, vừa qua tổ chức ngày lễ vàng Kim Khánh Hôn Phối (50 năm chung sống) vô cùng long trọng và rất ý nghĩa. Đông đảo thân hữu, hơn 400 quan khách tham dự chúc mừng ông bà GS Quyên Di và hiền nội là nhạc sĩ Hồng Trang.

Bài viết tường trình của nhà văn Jacqueline Kiều My và Khánh Lan về ngày lễ kỷ niệm 50 năm ngày cưới của Gs. Quyên Di và Ns Hồng Trang. Xin bấm vào link dưới đây để xem:
MỪNG KIM KHÁNH HÔN NHÂN: GIÁO SƯ QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG
Lễ Kim Khánh Hôn Phối mang màu sắc Công Giáo, như ơn gọi thánh hiến khởi đi từ tình yêu. Một tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa trên những người Ngài muốn và tuyển chọn. Một tình yêu cao quý mà ngôn ngữ con người không thể mở hết cánh cửa huyền nhiệm từ tiếng gọi của Thiên Chúa và lời đáp trả của con người.
Thêm youtube link về lễ mừng Kim Khánh Nhà Giáo Quyên Di và Nhạc Sĩ Hồng Trang:
Trong buổi lễ Kim Khánh Hôn Phối của GS. Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang, tôi xin ghi nhận ra điều quan trọng là tóm tắt đại ý bài giảng của linh mục Tạ Anh Kiệt như sau:
“Chim quyên ăn trái nhãn lồng,
Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.
“Hơi” đây là hơi gì?
Là hơi của yêu thương
Là hơi của chia sẻ
Là hơi của nâng đỡ lẫn nhau
Là hơi của tha thứ
Là hơi của mồ hôi và nước mắt
Khi cùng nhau vượt qua những đoạn đường gian khó của cuộc đời
Là hơi của hai nhịp thở cùng nhau lo cho con cái
Là hơi của tuổi xế chiều, cùng già đi với nhau
Là hơi cùng nhau trông cậy vào Thiên Chúa…”
Câu ca dao trích dẫn như trên về tình yêu đôi lứa thấm đượm tình cảm vợ chồng ân nghĩa, bên nhau thủy chung. Cho dù đời sống có vất vả, nghèo khó, họ vẫn vui vẻ chia sẻ cận kề bên nhau, gắn kết với nhau như keo sơn suốt đời. Trong cuộc sống tình nghĩa vợ chồng cần thấu hiểu nhau, thương nhau trong những lúc chênh vênh, khó khăn, hãy luôn luôn kề vai sát cánh bên nhau. Có sự đồng điệu, tương xứng với nhau, có như vậy thì mới sống chung vui vẻ, hạnh phúc và gắn bó lâu dài. Do vậy, câu ca dao miền Nam hàm nghĩa là chim quyên phải ăn trái nhãn lồng, hình ảnh thủy chung đôi bạn, vợ chồng quen hơi hám nhau chung tình cả đời.
Tôi ghi nhận điểm đặc biệt, Gs Quyên Di ngỏ lời tri ân vào cuối Thánh Lễ Tạ Ơn:
“Cám ơn các vị linh mục, phó tế đã dâng thánh lễ và cầu nguyện cho chúng tôi.
Cám ơn Ca Đoàn Hoa Biển, ca trưởng, Quỳnh Anh, ca sĩ Như Mai, pianist Phương Lan đã tấu lên những bản thánh ca nâng lòng người lên gần Thiên Chúa.”
(Xin xem thư kèm cảm tạ của gia đình GS. Quyên Di)

Bàn về nhạc cho dịp lễ cưới, tôi vốn thích các nhạc phẩm như sau:
Oui devant Dieu, Here comes the bride, Ave Maria, Endless love, Tonight I celebrate my love, Love me with all your heart, I will always love you.
Hôm mừng ngày kỷ niệm lễ cưới Quyên Di & Hồng Trang, 3 bài trong danh sách trên được hát như:

1/ Ave Maria (do Tawni Thanh Thảo, ca ngân giọng lirico soprano, “imitazione come” giọng nữ cao trữ tình, âm sắc nhẹ nhàng, trong sáng).

Eva Maria, Tawni Thanh Thảo
Đôi nét về nhạc khúc Schubert này, khi cảm hứng dâng lên để nhà soạn nhạc Franz Schubert người Áo, viết nhạc phẩm dạng Lied xuất sắc này là từ tập thơ Cô gái vùng hồ, được Adam Storck dịch sang tiếng Đức, trong đó nhân vật chính là nữ anh hùng Ellen Douglas trong thời gian trốn tránh quân thù bên một cái hồ, đã cầu nguyện Đức trinh nữ Maria bằng những lời thơ. Schubert vốn là người sùng đạo, lại nhớ đến người con gái mà ông yêu có khuôn mặt giống y đức Đức trinh nữ nên đã phổ nhạc cho tác phẩm này.
Như trên đã nói, Schubert đặt tên tác phẩm này là Ellens dritter Gesang, mà không phải là Ave Maria, điều này được khẳng định qua những lá thư ông gửi cho cha mẹ mình, báo tin về sự thành công của ca khúc.
Tuy nhiên, vì bài hát mở đầu và thường lặp lại hai từ “Ave Maria” nên người ta đã đổi tên tác phẩm, đồng thời nghĩ đến việc phổ giai điệu này vào Kinh Kính Mừng tiếng Latinh.
Nhưng Ave Maria cũng là một tình khúc được lựa chọn phổ biến cho đám cưới Công giáo. Bài hát là một lời cầu nguyện dâng lên Đức Trinh Nữ Maria, với lời ca bằng tiếng Latin. Bài hát thường được ưa chuộng hát trong đám rước hoặc sau khi lễ ban phước lành. Mặc dù một số người liên tưởng bài hát này thích hợp với đám tang, nhưng cuối cùng, việc lựa chọn nhạc cưới vẫn là quyền của những cặp yêu nhau.
2/ Oui Devant Dieu:
Ngày Tân Hôn (Oui Devant Dieu) Sáng tác: Maurice Tézé ,Jean Prieto; Lời Việt: Phạm Duy, do Ca sĩ: Jacqueline Kiều My trình bày song ngữ Pháp Việt.
Em bên mình anh, lặng im dưới bàn thờ
Và quanh chúng ta là vui sướng chan hoà
Tình duyên nhỏ bé thành đôi ước mơ già
Bao nhiêu tóc tơ, giờ đây đã kết se.
Ta bên mình nhau, rồi đi suối con đường
Đưa ta suốt đời về nơi xứ Thiên Đường
Về nơi tổ ấm nhờ ơn đức cao vời, ơn Mẹ Mari-a.
Người yêu ơi! Ơi người! Người yêu dấu ơi!
Cùng bên nhau suốt đời, cùng chia sớt nỗi vui
Hay nỗi sầu, cùng cho nhau biết bao là yêu
Ví dầu đời qua mau,
Hai mái đầu, rồi đây sẽ trắng phau.
Ôi vai kề vai, và tay nắm tay rồi
Đời thôi vắng tanh, lẻ loi kết đôi rồi
Từ nay nồng ấm, đời thôi hết u hoài
Ôi! Tình chăn gối bao la
Sẽ mang về mãi… tận cõi già
“Ngày Tân Hôn” (“La Novia”, “The Wedding”, “Oui Devant Dieu”) của Joaquin Prieto, Fred Jay, Maurice Tézé. Ns Phạm Duy chuyển ngữ.
“The Wedding”, còn được gọi là “The Wedding La Novia”, là một bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Joaquín Prieto được ca sĩ người Anh, Julie Rogers, thu âm từ năm 1964. Bài hát còn nằm trong vở kịch dài “The Wedding” của Julie Rogers từ năm 1964, và đã xuất hiện trong nhiều albums.
Joaquin Prieto (nhạc sĩ người Chí Lợi) sáng tác bài hát bằng tiếng Tây Ban Nha năm 1958 mang tựa đề “La Novia” (“The Bride”). Phiên bản tiếng Tây Ban Nha này được em trai của ông, Antonio Prieto, thu âm ở Argentina. Phiên bản tiếng Anh do nhạc sĩ Fred Jay dịch lại sau đó nổi tiếng cả ở Âu Châu lẫn Hoa Kỳ, do nhiều nghệ sĩ thu âm và phát hành đầu thập niên 1960s. Trong số các nghệ sĩ này có Anita Bryant và Malcolm Vaughan. Một phiên bản tiếng Nhật tựa đề nguyên thủy “La Novia” do Peggy Hayama trình diễn trở thành hit song ở Nhật. Ca sĩ Dickie Rock người Irish thu âm bài hát năm 1988.
Oui, devant Dieu (tiếng Pháp), Paroles:Maurice Tézé. Musique:J. Prieto 1961, Titre original: “La novia”

Oui Devant Dieu by Kiều My
Oui! devant Dieu, devant les hommes!
Oui! pour l’amour que tu me donnes!
Et pour qu’un jour je te pardonne
Si malgré toi tu m’abandonnes!
Oui! pour les joies et pour les peines!
Et pour les lois qui nous enchaînent!
Oui! je promets quoi qu’il advienne
Ave Maria!
Dans tes yeurs je vois tes larmes de jois
Et j’entends en moi monter une voix
Mon Dieu qui veillez sur ma vie
Protégez mon amour, je vous en prie
Oui, devant Dieu, devant les hommes
Oui, prends mes jours, je te les donne
Et plus que tout, mieux que personne
Je t’aimerais toujours.
Jusqu’à mon dernier jour
3/ Love Me With All Your Heart do ca sĩ Lưu Mạnh Bổng vốn nổi danh qua những tình khúc như O Sole Mio (It’s nơw or never), Foglie d’Autunno (Autumn Leaves),… Louis Lưu là một giọng nam cao.
Đôi chút về bài tình ca Yêu Em Bằng Cả Trái Tim (Love Me With All Of Your Heart). Nguồn gốc xuất xứ của bài ca này là một trong những bài tình ca phổ biến phỏng tác từ bài nhạc gốc tiếng Tây Ban Nha “Cuando calienta el sol” được viết bởi Rafael Gaston Perez một trưởng nhóm nhạc người Nicaraguan. Bài hát được the Rigual Brothers (Carlos Rigual and Mario Rigual) viết lời tiếng Tây Ban Nha, ngoài ra lời bài hát cũng có sự đóng góp của Carlos Albert Martinoli một nhà sọan nhạc người Argentine. Lời tiếng Anh được phỏng tác được cho là do Michael Vaughn (or Maurice Vaughn) và cũng có thể là Sunny Skylar một nhà soạn nhạc kiêm ca sĩ người Mỹ. Bài hát được phát hành năm 1961. Mặc dù với phiên bản tiếngTây Ban Nha hay tiếng Anh thì bài tình ca này không hẵn là bản dịch của nhau, tựa bài hát theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “Khi mặt trời sưởi ấm”, bản thu âm bởi ca sĩ “The Ray Charles” từng đứng vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng top 100 của Billboard Hot và đứng vị trí số 1 trên bảng xếp hạng The Pop-Standard singers trong 4 tuần của tháng 6 năm 1964.
Dưới đây là hai bài nói chuyện của Kiều My và Khánh Lan trong ngày lễ kỷ niệm 50 măn thành hôn của GS Quyên Di và NS Hồng Trang.
Khánh Lan đại diện cho Lien Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian:


Kiều My đại diện cho Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa
Hôm nay, trong bầu khí Thánh thiêng và tràn đầy yêu thương, chúng ta hân hoan cùng hiện diện nơi đây để chúc mừng đôi bạn đáng quý, hai tâm hồn đã cùng nhau đi trọn hành trình năm mươi năm trong ơn nghĩa Thiên Chúa.
Nhìn lại hành trình năm mươi năm đời sống hôn nhân của GS Quyên Di và Ns Hồng Trang…là
một nửa thế kỷ của niềm tin, của những hy sinh âm thầm, hay những ngày nắng ấm, hoặc những mùa mưa gió và ngay cả những thăng trầm trong cuộc sống.
Nhưng trên tất cả — là tình yêu bền vững của đôi lứa được dệt nên bằng lòng trung tín và ân sủng của Đấng Tối CaoNgày hôm nay, khi nhìn lại quãng đường dài ấy, chúng ta cùng tạ ơn Thiên Chúa vì một hôn nhân tốt đẹp như chứng từ sống động của Tin Mừng:
Một tình yêu không phai,
Một đức tin không nguôi,
Một gia đình tràn đầy phúc lành.Xin Thiên Chúa là Cha nhân lành tiếp tục chúc phúc cho GS Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang
để những năm tháng sắp tới vẫn đầy ắp tiếng cười, đầy ắp bình an và hạnh phúc trong Chúa.Nguyện xin Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse luôn đồng hành, nâng đỡ và giữ gìn mái ấm thân thương này trong yêu thương và thánh thiện.
Kính chúc đôi bạn vàng của hôn nhân thánh thiện
Mừng Kim Khánh Hôn Phối tràn đầy ơn phúc
Trong ánh sáng và tình yêu của Thiên Chúa!KIều My
Ghi nhận bài: Việt Hải Los Angeles,27/10/2025*.
——————————————————————–
*: Bài viết xin gửi ông anh Hoa Tím Quyên Di, hẹn gặp nhau mùa Kim Khánh kế tiếp, sẽ vui bạo nhé, con chim quyên mãi ăn trái nhãn lồng, giống ngọt cơm vàng ở xứ Cà Mau hay Long Xuyên nhé !!! VHLA.
-
VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

Nhận được cáo phó tin buồn bà Elaine Ngô Thị Thu Cúc, bào tỷ của Trưởng Minh Đức Ngô Thiện Đức, đã qui vị ngày 25 tháng 7 năm 2025. Tại Hoag Hospital, California, Hoa Kỳ
Nguyện cầu Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng độ trì cho chơn linh của bà Ngô Thị Thu Cúc được nhẹ nhàng siêu thăng về Cõi Diêu Trì Thiên Liêng Vĩnh Hằng.
Hỡi ơi!
Nhất tức bất hồi,
Thiên thu vĩnh biệt.
Tứ phước Thiên quan để những lời,
Cầu chư tỷ muội lánh trần ngơi,
Nêu gương cứu thế trong mai hậu,
Đạo hạnh ngàn thu sáng lạng ngời.
Chúng tôi thành kính chia buồn sâu sắc cùng toàn thể tang quyến. Cầu mong quý gia tang sớm vượt qua giai đoạn khó khăn này.
Thành Kính Phân Ưu, Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa. Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

Xin chào vĩnh biệt chị! Nếu sống khôn, thác linh, xin chị hãy về chứng giám.
Thưa quý vị trưởng thượng, quý anh chị em, ông bà cô bác hiện diện nơi đây hôm nay,
Cách đây không lâu, chị tôi, chị Ngô Thiện Tâm (tên đặt ví dụ) được bác sĩ chẩn đoán bị vướng vào căn bệnh hiểm nghèo, anh chị em chúng tôi trong gia đình vô cùng lo lắng, chỉ biết cầu xin ơn trên và sự tiến bộ y khoa như niềm hy vọng vượt qua chứng bệnh nguy hiểm này. Nhưng rồi kết quả không như mình mong muốn.
Bây giờ, khi chúng ta phải nói lời tạm biệt với chị Tâm, chúng tôi xin cám ơn sự có mặt của quý vị để tiễn đưa chị tôi.
Thưa quý vị người xưa có câu nói:
“Tình thương bao la ví Đông hải
Dưỡng dục cháu con Thái sơn cao”
Vâng, với gia đình tôi chịu ơn, chị nhiều, chị chăm sóc cho các con tôi như người mẹ, chị thương các cháu với tấm lòng tình mẫu tử khi vợ tôi, Liên phải đi làm, do vậy như người mẹ thì công lao nuôi nấng, dưỡng dục và nay các cháu đã khôn lớn, trưởng thành trong sự tri ân của vợ chồng con cái chúng tôi.
Dẫu biết rằng cuộc sống này vốn như cõi tạm, sống thác gởi về, khi người thân ra đi nỗi lòng chúng ta quặn thắt, đớn đau khi nhìn người thân sức khỏe suy tàn trong nỗi bất lực, và vì lực bất tòng tâm. Vậy nếu cuộc đời này vẫn vởi trần gian là tạm bợ, và xưa nay người Việt vẫn thường quan niệm: “Sống gửi, thác về”; Sau cái chết, con người về với ông bà tổ tiên, về cõi ngàn thu vĩnh hằng. Đại thi hào Nguyễn Du tóm tắt đạo lý đó trong câu thơ: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”; Nghĩa là khi chết, thân xác sẽ bị hủy hoại, nhưng tinh thần, chỉ có phần huơng linh hay linh hồn vẫn tồn tại mà thôi.
Tư tưởng cáo chung vẫn như câu thơ:
Ta là cát ta sẽ về với bụi
Trả trần gian những cay đắng muộn phiền
Hồn ta sẽ về nơi cao xanh ấy
Không còn buồn lo lắng chốn trần ai!
Chị Tâm là người con hiếu thảo, một người chị mẫu mực, và còn là người cô đạo đức vẹn toàn, khi con người ở sân ga đáp chuyến cuối đời để về bên kia thế giới, cái hương linh, hay cái di sản đạo hạnh chị lưu lại nhân thế trong sự tri ân của gia đình chúng tôi theo nghĩa rộng. Như lời chúc bình an cho chị ở cõi trên cao kia…
Hương lòng một nén xin kính dâng
Nguyện cầu chị về cõi vĩnh hằng
Siêu thoát tiêu điêu miền cực lạc
Phật đài, rực rỡ ánh hoa đăng…
Nam mô a di đà phật
Chị Tâm ơi, giờ phút chia tay vĩnh biệt buổi gặp gỡ cuối cùng của chúng ta sẽ như trang vở cuối và không còn nhiều giờ nữa! Chị sẽ đi về cõi an bình ngàn thu, không còn âu lo, như về bệnh hoạn, những khó khăn của cuộc sống, buông bỏ nỗi ưu phiền, bận tâm,… Chị ra đi nhẹ nhàng ung dung, thanh thản, bắt đầu cho một cuộc hành trình mới. Như một cánh “bồng lai” khi giũ áo bụi trần, quyện vào gió, nương theo mây, đi vào chốn hư không, về miền cực lạc. Kính chúc chi thượng lộ bình an, em xin gởi chị bài thơ tâm cảm của em như sau:
======================================
Từ nay chị đành giã biệt thế gian
Rời miền tục lụy gian nan
Chu du về cõi Niết Bàn thảnh thơi
Ngàn thu cực lạc cơ ngơi
Thân nhân còn lại chơi vơi nhớ người
Nhớ ơi từng tiếng chị cười
Nhớ từng giọng nói, nhớ lời thiết tha
Nhớ gương mặt chị hiền hoà
Nhớ nét đôn hậu sớm ngày nắng mai
Nhớ bao nhiêu buổi chiều phai
Chị em dạo bước cả hai tâm tình
Nay em còn lại một mình
Nhạt nhòa kỷ niệm bóng hình sớm bay
Luận trời chẳng chừa một ai
Thoát vòng chuyển hóa, thóat ngoài tử sinh
Tâm tư suy niệm chính mình
Phù vân số kiếp vô minh chị về
Buồn như ngày chị thăm quê
Uu phiền dĩ vãng nhiêu khê chuyện xưa
Chuyện đời gởi gió gởi mưa
Gió mưa man mác tâm vừa tiếc thương
Hoàng hôn cánh hạc tứ phương
Nhân gian rũ sạch bụi đường từ nay
Chị em mình dẫu chia tay
Nghĩa tình thương mến mãi đầy đầy vơi!
Ngô Thiện Đức, 27/07/2925.
-
PHÍM ĐÀN LÃNG MẠN BEETHOVEN VÀ TÌNH KHÚC “FÜR ELISE”

Für Elise (hay For Elise), theo Đức ngữ có nghĩa là Gửi Elise, là tên của tấu khúc bagatelle, La thứ, 59, một tiểu phẩm cho piano độc tấu do Ludwig van Beethoven sáng tác vào khoảng năm 1810 khi ông 40 tuổi, đã nổi danh tiếng là một trong những nhà soạn nhạc lớn nhất trong mọi thời đại. Für Elise là bản nhạc viết với nét trong sáng và tràn đầy tình cảm, giai điệu dịu dàng, tha thiết. Nhưng không ai biết tại sao nhạc sĩ thiên tài lại đặt tên bản nhạc là ” Für Elise ” và Elise là ai? Đến nay, những nốt nhạc trong Für Elise dùng nhiều thể loại, từ rock, jazz, cho tới chuông điện thoại, một minh chứng cho thấy sự phổ biến của bản nhạc trong đời sống văn hóa đại chúng. Nếu Beethoven còn sống và được nhận tác quyền, nhà soạn nhạc tài hoa này hẳn sẽ là một quý ông giàu có.
Với nguồn cảm xúc dạt dào của tình yêu Für Elise mang lại cho người nghe một sự cuốn hút khó kiềm chế. Bản nhạc không quá phức tạp về mặt kỹ thuật, thậm chí bạn có thể chơi nó bằng một tay trên phím dương cầm. Nhưng để đạt được tình cảm sâu lắng, tinh tế và đặc biệt rất trong sáng của Beethoven thể hiện trong bản nhạc là điều không đơn giản và rất khó khăn. Nhạc sĩ Beethoven đã sáng tác Für Elise, Beethoven đã 40 tuổi và đã bị điếc rồi. Vậy thì Für Elise đã được sáng tác trong cái sự “yên tĩnh” của nhạc sĩ. Có phải “Tình yêu có chiều sâu hơn khi người ta lớn tuổi”. Für Elise mang lại sự sâu sắc như sự chiêm nghiệm của người đàn ông đã trải qua bao thăng trầm, cay đắng nhưng vẫn còn nguyên vẹn một tình yêu mãnh liệt và trong sáng trước một cô gái.
Für Elise như một lời tỏ tình nhẹ nhàng du dương nhưng cháy bỏng. Tôi nghĩ rằng bạn không thể nghe nó một lần. Cũng giống như sự quyến rũ của tình yêu bạn cho phép mình được bay bổng và “phá cách” trong suy nghĩ và hành động để bày tỏ cảm xúc với người tình…Bạn có thể luyện kỹ thuật như: tốc độ cho đúng, hợp lý, âm thanh rõ ràng sau một thời gian tập luyện, nhưng một yêu cầu quan trọng khác không thấy được viết vào bản nhạc, đó là tinh thần, tư tưởng, tình cảm của cuộc đời của Beethoven. Và chính vì vậy đã hàng ngàn nghệ sĩ piano biểu diễn Für Elise vẫn miệt mài tập luyện, vì muốn thể hiện bản nhạc một cách “toàn vẹn”. Để đọa được sự “toàn vẹn” ấy cần rất nhiều thời gian hiểu biết, tích lũy, cảm nhận để làm sao thể hiện những dòng âm thanh trào dâng mà vẫn sâu lắng và đặc biệt là trong sáng một cách kỳ lạ của người đàn ông 40 tuổi trải qua quá nhiều vất vả, bi kịch trong cuộc đời mà vẫn đang yêu đắm say…
ELISE LÀ AI?
Và cái tên “Für Elise” do Beethoven viết trên bản thảo là cho người yêu? Bởi Beethoven đã không lập gia đình. Theo các nhà nghiên cứu thì trong khoảng thời gian Beethoven sáng tác bản nhạc này, ông đã yêu Therese Malfatti. Một tình yêu đơn chiếc vì Therese Malfatti đã từ chối lời cầu hôn của Beethoven. Tuy nhiên, nét chữ của tác giả ký tặng trên bản thảo đã nhàu nát theo thời gian (20 năm). Do vậy, một số học giả đã suy ra cái đầu đề của bản nhạc là do đọc nhầm từ chữ “Therese” thành “Elise” chăng? Vả lại, không một tài liệu, thư từ nào của những người cùng thời với Beethoven nhắc tới cái tên “Elise”, nhưng cũng không hẳn là không có cái tên này trong cuộc đời của nhạc sĩ?
Với chứng bệnh điếc của mình, Beethoven đã dần dần tự mình rút lui ra khỏi đám đông. Tuy vậy, một số thư từ, tài liệu đã được tìm ra sau thời gian nhạc sĩ bị điếc, thì vào năm 1827 có bức thư cho “người tình bất hủ”. Mặc dù vậy, với rất nhiều nghiên cứu và phỏng đoán thì “người tình” này và Elise cũng chưa chưa chắc đã là một người. Và có thể cái tên Elise là một trong những điều bí hiểm ẩn còn phải nghiên cứu trong cuộc đời của Beethoven
Elise, cho dù có là ai chăng nữa cũng không phải là nàng thơ bí ẩn duy nhất xuất hiện trong cuộc đời của Beethoven. Bức thư tình Immortal Beloved (Tình yêu Bất diệt) không có lời đề tặng của ông cũng đã được mang ra bàn luận rất nhiều. Với một chất thơ đầy trữ tình, chứa đựng trong mình những tình cảm sâu lắng và tinh tế của người đàn ông với một cuộc đời trải qua bao thăng trầm, Für Elise có thể được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Für Elise, mặc dù được công nhận trên toàn thế giới, đã trải qua nhiều năm tồn tại; mặc dù, ban đầu không được công nhận và giấu kín. Für Elise cũng là một trong nhiều tác phẩm dang dở của tác giả Beethoven, xét đến vị thế của nó thì đó chính là số phận của kiệt tác Für Elise trong suốt cuộc đời của Beethoven.
Beethoven, một trong những nhà soạn nhạc sung mãn nhất trong lịch sử (1810), đó là thời kỳ Beethoven phải vật lộn với những nghịch cảnh cá nhân, chứng khiếm thính ngày càng trầm trọng, nhưng ông vẫn tiếp tục sáng tác vô số tác phẩm âm nhạc vượt qua những thử thách cá nhân. “Für Elise” ra đời trong giai đoạn sáng tác sung mãn này nhưng không được công nhận ngay lập tức nên nó đã nằm lẫn lộn giữa những giấy tờ cá nhân của Beethoven.
Hơn nửa thế kỷ sau khi Für Elise được sáng tác, thế giới mới biết đến vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó, một khoảng thời gian đáng kể sau khi Beethoven qua đời vào năm 1827. Năm 1867, nhà âm nhạc học Ludwig Nohl đã tình cờ phát hiện ra kiệt tác này khi đang nghiên cứu những bản thảo bị lãng quên từ lâu của Beethoven. Nhận ra tầm quan trọng của những gì mình tìm thấy, Nohl đã tự mình xuất bản Für Elise. Với việc xuất bản, viên ngọc ẩn giấu này cuối cùng đã được hé lộ với thế giới.
Ngay từ khi được khám phá, “Für Elise” đã bắt đầu thu hút khán giả. Mô-típ năm nốt nhạc đặc trưng, vốn là đặc điểm của tác phẩm, đã trở thành biểu tượng như những nốt nhạc mở đầu của Giao hưởng số 5 của Beethoven. Chính sự giản dị và dễ hiểu của tác phẩm đã khiến nó được nhiều người yêu thích, nhưng cũng chính chiều sâu và sự bí ẩn bao trùm khiến nó trở thành một câu đố thú vị, một đối tượng của sự say mê và nghiên cứu bất tận.
HÒA ÂM, CẤU TRÚC VÀ GIAI ĐIỆU
Xét về cấu trúc của tác phẩm “Für Elise”, nó là một tác phẩm ngắn gồm ba phần trong đó có hai phần chính. Phần đầu tiên, dưới dạng chủ đề và biến tấu, đặc trưng bởi giai điệu thanh thoát, du dương, được lặp lại và phát triển theo nhiều cách khác nhau. Phần thứ hai, dưới dạng tam tấu, giới thiệu một giai điệu mới, êm dịu hơn, trầm tư hơn. Tác phẩm kết thúc bằng việc trở lại phần đầu tiên, mang đến một kết thúc viên mãn và hài hòa. Sự giản dị trong cấu trúc của Für Elise không nên bị nhầm lẫn với sự thiếu tinh tế. Beethoven sử dụng các kỹ thuật âm nhạc tinh tế để tạo nên một trải nghiệm cảm xúc phong phú. Những thay đổi về nhịp điệu, sự chuyển điệu hòa âm và những điểm nhấn giai điệu tạo thêm chiều sâu và sự đa dạng cho tác phẩm, khiến nó vừa dễ tiếp cận vừa kích thích.
Thêm một sự dặc biêt khác là có một điều lý thú nữa là giai điệu bản nhạc được bắt đầu là E (mi) – D# (rê thăng) – E (mi), có thể tương tự là E (mi) – Eb (mi giáng) – E (mi). Ba nốt nhạc này ở tiếng Đức được ký hiệu là E – Es – E, và những chữ cái này có trong chữ ThErESE hoặc là EliSE. Nhưng cho dù cái tên “Elise” là do đọc sai, hay là một mối tình bí mật nào đó, hay là một người phụ nữ nào đó đã đem lại nguồn cảm hứng sáng tác cho Beethoven.
Điểm tinh tế của bản nhạc “Für Elise” được viết ở giọng La thứ buồn (A minor – a moll) và còn được goi là bản Bagatelle.Thế nào là giọng La thứ? Đi sâu vào lý thuyết âm nhạc thì hơi rắc rối. Nhưng để phân biệt sự khác nhau giữa các giọng, cơ bản người ta quy định ra 15 loại khác nhau. Đó là từ không có dấu gì ở đầu dòng nhạc đến 7 dấu thăng (#) hoặc dấu giáng (b) (tuy là có 3 cặp khác tên nhưng trùng âm thanh.) Ở đây, giọng La thứ là giọng không có dấu gì ở đầu dòng nhạc và gần như là giống với giọng Đô trưởng (C major – C dur), hay còn gọi là giọng Đô.Bản Bagatelle? Thường là tác phẩm ngắn và nội dung có thể là để thể hiện, mô tả những sự bất thường của thời tiết, sự thay đổi của thiên nhiên.Bắt đầu bản “Für Elise” là nét chuyển động nhẹ nhàng mềm mại. Nhưng sau đó được chia ra làm 2 hướng phát triển khác lạ, không đoán trước được, mà đều bắt nguồn từ nét nhạc đầu tiên của bản nhạc. Và nét nhạc chính thì luôn luôn được vang lên trong toàn bộ tác phẩm. Hình thức (form) của tác phẩm được viết theo hình thức rondo. Một hình thức mà sau khi hết phần giai điệu đầu tiên (A) tiếp theo là phần phát triển (B), sau khi hết phần B thì phần A được nhắc lại, và sau đó là một phần phát triển khác (C), kết thúc là phần A được nhắc lại lần nữa. Có thể viết tắt là A B A C A. Đây là mẫu thường được dùng nhất, nhưng hình thức rondo cũng có thể có thêm nhiều các phần phát triển khác nữa (D, E, F …vân vân), còn tùy thuộc vào ý đồ tác giả.
Về Nhịp độ, mặc dù “Für Elise” thường được biểu diễn ở nhịp độ vừa phải, nhưng các nghệ sĩ piano giàu kinh nghiệm có thể thử nghiệm với những thay đổi nhỏ về tốc độ (rubato) để tăng thêm tính biểu cảm cho màn trình diễn. Kỹ thuật này có thể thổi hồn vào âm nhạc, khiến nó trở nên tự nhiên và cộng hưởng về mặt cảm xúc hơn. Xét về cường độ nhạc, “Für Elise” không cung cấp các dấu hiệu cường độ rõ ràng. Là một người chơi có trình độ cao, bạn có cơ hội thêm vào cách diễn giải và cường độ của riêng mình. Cường độ, hay các biến thể về âm lượng, có thể thêm chiều sâu và cảm xúc cho bản nhạc. Việc bạn quyết định chơi nhẹ nhàng (piano) hay mạnh mẽ (forte) có thể định hình tính cách và cảm xúc của bản nhạc. Crescendos (dần dần to hơn) và diminuendos (dần dần nhỏ hơn) có thể được sử dụng để xây dựng và giải tỏa sự căng thẳng trong âm nhạc.
Như dã đề cập bên trên, tấu khúc gửi Elise là một bản nhạc bagatelle, một thuật ngữ âm nhạc có nghĩa là một bản nhạc ngắn, nhẹ nhàng. Nó được viết ở cung La thứ và sử dụng hình thức rondo tuần tự (A-B-A-C-A). Đoạn La, chủ đề chính, là đoạn nổi tiếng và dễ nhận biết nhất. Nó được đặc trưng bởi giai điệu đơn giản, lặp lại, dễ nhớ và dễ đàn.
Xin thêm ý về rondo trong âm nhạc cổ điển. Rondo, trong âm nhạc, là một hình thức nhạc cụ đặc trưng bởi câu mở đầu và câu phát biểu lại sau đó của một giai điệu hoặc phần cụ thể, các câu phát biểu khác nhau được phân tách bằng cung cách tương phản. Pháp ngữ là rondeau (Anh ngữ rondo) là một hình thức âm nhạc chứa một chủ đề chính (đôi khi được gọi là “điệp khúc”) xen kẽ với một hoặc nhiều chủ đề tương phản (thường được gọi là “tập”, nhưng cũng được gọi là “đoạn lạc đề” hoặc “cặp đôi”). Một số mô hình có thể bao gồm: ABACA, ABACAB, ABACBA hoặc ABACABA (với chữ cái ‘A’ đại diện cho điệp khúc). Hình thức rondo xuất hiện trong thời kỳ Baroque và ngày càng trở nên phổ biến trong thời kỳ Cổ điển. Những ví dụ sớm nhất về các tác phẩm sử dụng hình thức rondo được tìm thấy trong các aria và hợp xướng opera Ý từ những năm đầu thế kỷ 17. Những ví dụ này sử dụng rondo nhiều cặp đôi hoặc “rondo chuỗi” (ABACAD) được gọi là rondo Ý. Hình thức rondo, còn được gọi trong tiếng Anh bằng cách viết tiếng Pháp là rondeau, không nên nhầm lẫn với hình thức không liên quan nhưng có tên gọi tương tự là forme fixe rondeau, một hình thức thơ ca và nhạc chanson của Pháp vào thế kỷ 14 và 15.
“Für Elise” mang cấu trúc chi tiết như dạng của tác phẩm có thể được chia nhỏ như các phân doạn nhạc sau:
Đoạn A (chủ đề chính): Giai điệu mang tính biểu tượng ở cung La thứ.
Đoạn B: Một chủ đề tương phản, nhịp nhàng và năng động hơn.
Đoạn A (trở về): Tái lập chủ đề chính.
Đoạn C: Một chủ đề trữ tình và biểu cảm hơn, thường khó chơi hơn.
Đoạn A (trở về cuối): Sự xuất hiện cuối cùng của chủ đề chính, kết thúc tác phẩm.
Hòa âm của Für Elise tương đối đơn giản, chủ yếu sử dụng các hợp âm La thứ, Mi trưởng và Đô trưởng. Sự đơn giản về hòa âm này góp phần giúp tác phẩm dễ tiếp cận với người mới bắt đầu. Giai điệu, mặc dù đơn giản, nhưng cực kỳ hiệu quả và dễ nhớ. Việc sử dụng các đoạn lặp lại và biến tấu tinh tế giúp duy trì sự hứng thú của người nghe trong suốt tác phẩm. Bản nhạc gồm 103 ô nhịp và kéo dài khoảng 3 phút.
“Thư gửi Elise” (La Lettre à Élise) gồm ba phần: một giai điệu đơn giản, trôi chảy được khi đàn bằng tay phải, một biến tấu của phần đầu được dàn bằng tay trái, và một đoạn lặp lại của phần đầu được chơi bằng tay phải. Đây là tác phẩm piano nổi tiếng nhất thế giới, và cũng là tác phẩm được chơi nhiều nhất bởi những người mới bắt đầu. Thậm chí, những người qua đường đam mê piano thường nghe thấy tác phẩm này được chơi trên đàn piano tại các nhà ga, giống như bản Canon nổi tiếng của Pachelbel. Nhưng nó được sáng tác như thế nào, dành cho ai và tại sao? Chúng tôi sẽ giải đáp tất cả những câu hỏi này thông qua bốn giai thoại ít được biết đến về lịch sử của Bức thư gửi Elise.
ĐÔI NÉT VỀ BEETHOVEN:

Tay đàn điêu luyện, Ludwig Van Beethoven (1770-1827), người Đức, một nhạc sĩ bị điếc. Beethoven được coi là một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng ông cũng nổi tiếng về tính cáu bẳn của mình, thật khó mà hình dung nổi những đau khổ vất vả mà người nhạc sĩ vĩ đại này đã từng trải qua trong đời.
Tài năng biểu diễn âm nhạc của Beethoven đã bộc lộ rất sớm từ lúc còn nhỏ, và ông bị người cha ác nghiệt nghiện rượu đã tận dụng tài năng của đứa con để kiếm tiền. Kỹ thuật chơi đàn của Beethoven tiến bộ rất nhanh, nhưng tiền thì đã không kiếm được nhiều như mong muốn. Khi Beethoven 11 tuổi, ông có thể chơi đàn trong cung đình thay cho thầy của mình. Khi Beethoven 17 tuổi, ông đến Vienna. Theo dự định thì ông sẽ học sáng tác với Mozart, nhưng Beethoven lại phải quay về nhà ngay tức thì vì mẹ của ông đang hấp hối và qua đời.
Vài năm sau, Beethoven trở lại Vienna, nhưng ông không còn cơ hội học sáng tác nữa, vì Mozart đã qua đời ở tuổi 35. Bố của nhạc sĩ Beethoven cũng qua đời sau đó và cùng năm ấy, Beethoven quay lại Vienna. Lúc đó, Beethoven ở độ tuổi hai mươi mấy, ông theo học với một số nhạc sĩ nổi tiếng. Trong thời gian này, Beethoven đã sáng tác một số nhạc phẩm, có những tác phẩm sáng tác của ông bắt đầu được chú ý tới với cả khen lẫn chê. Tuy vậy, Beethoven được khẳng định là một trong những người chơi đàn ngẫu hứng giỏi nhất thời đó. Người ta kể lại rằng tay đàn của ông đạt tới trình độ mà nhiều nghệ sĩ đàn piano mơ ước.
Khoảng năm 1800, ông cho xuất bản 2 bản sonata, đó là bản Pathétique và bản Sonata Ánh trăng. Có thể coi cả 2 bản này đã là bước chuyển lớn từ thời kỳ cổ điển sang lãng mạn, cái thời mà các nhạc sĩ bắt đầu viết ra những cảm xúc riêng tư của mình mà không bị bó buộc vào việc sáng tác nhạc cho nhà thờ hoặc cho các cung điện đem đên sự lạc quan cho Beethoven, nhưng những tai ương trong cuộc đời lại đến với Beethoven. Tình trạng sức khỏe của Beethoven gia tang, ông đau yếu thường xuyên, ông bắt đầu cảm nhận khả năng nghe của mình càng ngày càng kém và đi đến tình trạng hoàn toàn điếc. Đây là thời gian thật kinh khủng đối với nhạc sĩ Beethoven và ông đã có lần viết di chúc và có ý định tự tử. Nhưng ông đã vượt qua và tiếp tục sự nghiệp âm nhạc vĩ đại của mình với một sự lạc quan đến diệu kỳ, ông đã viết như sau: “Linh hồn ta sẽ điều khiển cái thân thể yếu đuối của ta”.
Với khả năng thật phi thường, kỹ thuật sáng tác của ông vẫn luôn tiếp tục phát triển, mặc dù ông bị điếc, nhưng một số lượng rất lớn tác phẩm của ông được viết ra trong khi ông không nghe được chút nào. Nhưng tinh thần, tư tưởng và sức sống mãnh liệt của ông thể hiện rất rõ trong từng tác phẩm. Dù rằng con đường âm nhạc của ông đã nổi tiếng khắp châu Âu, nhưng càng ngày ông càng xa lánh mọi người.
Người đời kể lại rằng khi bị điếc Beethoven đã thèm được nghe tiếng đàn piano đến nỗi ông nằm áp tai xuống sàn nhà, và với tay lên đánh mạnh xuống phím đàn, để mong cảm nhận được sự rung động của âm thanh. Tuy tay đàn của ông vẫn hoàn hảo mỗi khi ông chơi đàn một mình, nhưng ông cũng đã không còn có thể biểu diễn cùng dàn nhạc được như trước nữa. Cũng có thể nói, Beethoven là một nhạc sĩ không hề biết mệt mỏi, trong đời ông, ông đã thay đổi địa chỉ đến 50 lần. Ông sống chủ yếu ở Bonn (Đức), là nơi ông sinh ra, và ở Vienna (Áo), thủ đô âm nhạc của thế giới. Ở Bonn, người ta làm một bảo tàng về ông. Không ai biết ngày sinh sủa Beethoven. Nhưng có tài liệu nói là ông được làm lễ rửa tội vào ngày 17 tháng 12. Mà lễ rửa tội thường được làm sau khi ra đời một ngày, cho nên nhiều người cho rằng ông sinh ngày 16. Với bao lần đổ vỡ trong tình yêu, cộng với cái tính nóng như lửa của ông đã làm ông suy sụp. Năm 1827, Beethoven qua đời. Ông đã để lại cho hậu thế những bản nhạc bất hủ và tiếp tục được lưu truyền tới hàng trăm năm sau…
Nhận xét là tác phẩm được viết ở cung La thứ, một cung thường gắn liền với nỗi buồn và sự u sầu. Tuy nhiên, “Thư gửi Elise” không phải là một tác phẩm buồn. Ngược lại, nó thường được mô tả là ngọt ngào, tươi thắm, dịu dàng và lãng mạn.
Phải nói là “Für Elise” vốn như một giai điệu vượt thời gian. Bản nhạc “Für Elise” không chỉ là một giai điệu nổi tiếng. Nó là một hành trình nghệ thuật và cảm xúc được tạo nên bởi một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại. Quá trình sáng tác của nó ẩn chứa một bức màn bí ẩn, giai điệu ám ảnh và khó quên, cùng với ảnh hưởng văn hóa sâu rộng và lan tỏa.Dù đã hơn 200 năm tuổi, tác phẩm âm nhạc này vẫn tiếp tục thu hút khán giả, truyền cảm hứng cho các nhạc sĩ và là cánh cổng dẫn vào thế giới âm nhạc cổ điển cho vô số cá nhân. Âm hưởng của nó là minh chứng cho khả năng phi thường của Beethoven trong việc thấu hiểu thân phận con người, vượt qua mọi rào cản về thời gian, văn hóa và ngôn ngữ.
Bagatelle số 25, “Für Elise“, là minh chứng cho thiên tài của Beethoven và sức mạnh trường tồn của âm nhạc. Giai điệu đơn giản và những cảm xúc phức tạp của nó đã mê hoặc người nghe trong hơn hai thế kỷ, khiến nó trở thành một trong những tác phẩm được yêu thích nhất trong các tiết mục cổ điển. Bí ẩn xung quanh sự ra đời của nó và bản sắc của “Elise” càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của nó, khiến nó trở thành một chủ đề hấp dẫn đối với cả những người yêu âm nhạc và các nhà sử học. Âm nhạc Beethoven mang nétlãng mạn tinh và quyến rũ thính giác, Bài nhạc gửi người yêu dấu hình như là một tác phẩm bắc cầu nối liền giữa thời kỳ cổ điển và hiện đại, “Für Elise” là biểu tượng của nghệ thuật vượt thời gian và ngôn ngữ âm nhạc phổ quát. Câu chuyện của nó, đầy bí ẩn, cảm xúc và vẻ đẹp nghệ thuật rực rỡ, tiếp tục mê hoặc và truyền cảm hứng, khẳng định vị trí của nó trong lịch sử âm nhạc.
Sau Mozart và Haydn, Bethoven là biểu tượng cuối cùng của phong trào mang tên Chủ nghĩa Cổ điển Vienna, và thông qua các sáng tác của mình, ông đã mở đường cho sự ra đời của Chủ nghĩa Lãng mạn. Ông cũng được coi là một trong những nghệ sĩ piano xuất sắc nhất mọi thời đại.
VHLA, 12/07/ 2925.
(Cet arti.cle est envoyé à mes copains qui aiment la musique classique ou semi-classique: Khánh Trang, Diễm Hạnh, Mỹ Hạnh, Khành Lan, Kiêu My, Phạn Hồng Thài, Cao Minh Tâm, Đỗ Bằng Lăng).
-
Mạn đàm Người Lính Buông Súng,vẫn Ghì Bút mãn kiếp
Trần Việt Hải

Nhà văn Vương Trùng Dương, có tên thật là Trần Ngọc Dưỡng, sanh năm 1944 tại Quảng Nam, tuổi Giáp Thân, mạng Tuyền Trung Thủy. Anh là người thông minh, tinh tế, giỏi chữ nghĩa, có óc lãnh đạo. Có số làm quan nếu sanh ở Á châu, còn nếu sanh ở Âu châu hay Mỹ châu có chức phận cao như lãnh đạo quốc gia. Đối tượng này tiềm ẩn dưới các vì sao Văn Xương và Văn Khúc, thiên phú văn chương một kho chữ nghĩa, lại được vô số các vì sao Hóa Khoa và Hóa Lộc bổ sung cung mạng. Hóa Lộc vì thực lộc bất khuyết, phát triển tài năng thuận lợi hài hòa. Người Hóa Lộc vốn có trực giác bén nhậy, thông minh trí tuệ, có khả năng phát huy, phát triển mọi việc trong gia đình và ngoài xã hội là điểm son của người tài hoa. Hóa Khoa theo khoa chiêm tinh thuyết Âm Dương Ngũ Hành, vì sao Hóa Khoa thuộc hành Thủy, thuộc về mùa Thu ly hương, đối tượng mạng Thủy Faifo gặp đối tượng nữ Khánh Hòa biển cả, nam hầu tước sẽ ly hương mãn kiếp, nước hòa vào nước sẽ không thấy bến bờ đâu cả. Như người có sao Hóa Khoa phù trợ thường liêm chính, thanh liêm, văn chương làm báo mãn kiếp, tính chân chất, du xuề xòa mộc mạc, ngủ garage, café garage, Bastos xánh gấp, chơi với bạn bè một lòng một dạ, khuynh hướng thủy chung trước sau như một. Đối tượng nam tước này còn có vì sao Văn Xương chủ tế về khoa giáp, luôn luôn có những thành tựu to lớn về nghiệp văn chương chữ nghĩa. Sao Hóa Lộc mang sao Văn xương hợp nhất với sao Hóa Khoa đưa tài năng trong máu hợp phạm trù văn nghệ và học thuật graphics đesign càng được bộc lộ rõ nét mỹ thuật mát tay. Sao Văn Khúc ếm mạng tốt nhất suốt đời, gia đình hạnh phúc, vợ chồng hòa thuận, con cái khôn ngoan, hiếu hạnh.
Vương Trùng Dương sinh hoạt trong Trung Tâm Văn Bút Nam Cali (một nhiệm lỳ làm Tổng Thư Ký) và Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại (Một NK Ủy viên Thông Tin, 1 NK làm Phó Chủ Tịch Nội Vụ & I NK Tổng Thư Ký). Khoảng mười năm Trưởng Khối Báo Chí cho Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam Cali. Nhưng anh bỏ Văn Bút, tôi cũng bỏ theo bước chân anh. Trong một buổi họp hội đồng huong BT, tôi gặp ông Võ Long Triêu cùng anh ĐS Châu Văn Để và GS. Nguyễn Thanh Liêm, tôi bỗng nhớ ông bạn vàng VTrD một thuở báo chí.
Như vậy Trần Ngọc Dưỡng có gì để nhớ mãi? Thuua có nhiều chứ. Như trong tác phẩm tựa Kim Dung “Võ Lâm Ngũ Bá”, tên “Trùng Dương” do sư phụ Thanh Hư chân nhân đặt, lấy ý ông đã chết rồi còn được cứu sống lại. Cũng trong tác phẩm này, tên hồi nhỏ của ông là “Vương Tiêu Thu”. Xem Ngũ Lâm Võ Bá, thì Hoa Sơn luận kiếm lần thứ nhất, Vương Trùng Dương được bầu làm người võ công cao nhất, biệt hiệu là Trung Thần Thông, được giữ bộ Cửu Âm chân kinh. 4 người còn lại là Đông Tà Hoàng Dược Sư, Tây Độc Âu Dương Phong, Nam Đế Đoàn Trí Hưng và Bắc Cái Hồng Thất Công.
Riêng Âu Dương Phong (Trương Quốc Vinh) sau khi rời khỏi núi Bạch Đà, đã dừng chân tại một sa mạc, dựng quán và trở thành một kẻ môi giới chuyên giải quyết mọi vấn đề rắc rối của người khác. Những khách hàng lần lượt đến tìm tửu quán của Âu Dương Phong, không chỉ để đưa ra những yêu cầu đặc biệt hay nghỉ ngơi đơn thuần, mà còn để kể về những chuyện tình của họ… Những câu truyện của các nhân vật đan xen suốt nội dung phim, nhưng tất cả có thể chia làm bốn câu truyện chính. Ngòai đời ở Bolsatown, tôi nghe Âu Đông Tà super MAGA sao tôi nhớ Vương Tây Độc VTrD những nhị ba chưởng bang, rồi tôi lại nhớ thầy Bích và thầy Vinh qua chừng nè. Thầy Bích biết tôi chuộng goût Aztec charms, Yucatán mascots, thầy Bich bảo thôi đi, 不做壞事,你會得到祝福, ở hiền gặp lành.
Nhớ VTrD nhớ kỷ niệm gì? Nhớ sách Chiều Cuối Tuần bên “Văn Nhân & Tình Sử”. Tôi ghi nhận như sau:
” Hôm nay chiền thứ sáu cuối tuần ông đưa thư có hàm râu xồm xoàn như lão Fidel Castro bấm chuông trao colis sách. Cuốn sách mới của nhà văn Vương Trùng Dương, sách nóng hổi và dày cộm. Ông đưa thư quay gót đi, tôi “bóc nhãn” xem ngay ông bạn Dương Trần viết gì trong đấy. Nhân nhận được sách mới, cám ơn ông anh văn nghệ vui tính, một thuở làm báo chung, khi Vương Trùng Dương (thường được viết tắt VTrD), ra tờ tuần báo Caliweekly do anh làm chủ nhiệm tự layout báo lấy, Nguyễn Ngọc Chấn làm chủ bút, và tôi giữ “dốp” TTK. Khi ấy có bài vở của Phan Bá Thụy Dương, Vũ Uyên Giang, Phương Triều, Dương Viết Điền, Phan Nhật Nam, Trần Quang Hải, Thiết Trượng, Trạch Gầm, Trần Trung Đạo, Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Quý Đại, Tiểu Tử, Tiểu Thu, Hồ Trường An, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, Bùi Ngọc Tuấn, Phan Anh Dũng, Hoàng Thy, Quách Nam Dung, Khiếu Long, Đào Vũ Anh Hùng, Vũ Hối, Hồng Vũ Lan Nhi, Thái Tú Hạp, Trần Hoài Thư, Vũ Đình Trường, Mạc Phương Đình, Viên Luông, Hải Đà Vương Ngọc Long, Thanh Huy,… Nguyên băng l’amour yêu văn học è cổ ra viết bài, chủ nhiệm lo dốp quảng cáo, chủ nhiệm lo đánh đông dẹp bắc cả trăm thứ, chủ nhiệm mỏi mệt kiệt sức, đồng tiền ra nhiều mà vô ít, mà quảng cáo là huê lợi chính, báo mãi rỉ máu, bác sĩ chê bảo chúng tôi đình bản tờ Caliweekly sau gần 2 năm tung hoành.
VTrD yêu văn học, phải nói văn học nằm trong máu của VTrD, anh nhai nằm lòng những Thủy Hử, Tây Du Ký, Đông Châu Liệt Quôc, Tam Quốc Chí, rồi những tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung anh nhai nát cả. Đấy là bên văn chương HD891. Bên văn chương quốc văn phe ta, anh đọc Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chưong, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Sa, Bình Nguyên Lộc, Tự Lực Văn Đoàn, Hồ Biểu Chánh,… VTrD có sự hiểu biết rộng, sức viết khỏe, mỗi trưa thứ ba anh gọi phôn nhắc tuồng “Bài xong chưa bồ tèo?”, hay “Gần lễ noël cho mình bài giáng sinh nhe bạn hiền!”. VTrD đọc Ernest Hemingway, Mark Twain, Charles Dickens, Fyodor Dostoyevsky, Leo Tolstoy, Aleksandr Solzhenitsyn, William Faulkner… Truyện dịch hay nguyên bản Anh ngữ. Thật vậy, anh em chúng tôi thân nhau và còn thở được là do nguồn nhiệt năng ham vui chữ nghĩa văn học tiếp dẫn goût chơi chung.”
Tôi lại nhớ sách “Âm Nhạc: Người Muôn Năm Cũ”. VTrD cho lời ngỏ như sau:
“Trong 3 thập niên qua, trong lãnh vực văn học nghệ thuật với văn, thơ, âm nhạc… tôi đã viết về tác giả, tác phẩm cho các tờ báo cộng tác và đảm trách sau đó được phổ biến trên các website & blogspost… Quyển sách đầu tay với Ngẫm Chuyện Nhân Sinh, một thập niên sau, gom số bài viết đã ấn hành quyển Văn Nhân & Tình Sử năm 2015. Năm 2019, tôi chọn những bài viết liên quan đến Quân Đội, một thời đã dấn thân để thực hiện quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, đang layout dang dở thì bệnh dịch Covid-19 xảy ra, trước thảm họa nầy, tôi nghĩ mọi người bị ảm ảnh cảnh chết chóc, không còn bụng dạ nào để đọc nên bỏ ngang.
Tôi thích âm nhạc từ nhỏ nơi phố cổ, và trở thành người bạn đồng hành trong cuộc sống thăng trầm theo biến thiên của lịch sử. Nếu nhà thơ Phùng Quán cho rằng: “Có những phút ngã lòng. Tôi vịn câu thơ và đứng dậy…” thì những lần tôi lâm vào hoàn cảnh nghiệt ngã, cô đơn… âm nhạc như người bạn tri kỷ chia sẻ, an ủi nỗi buồn cho vơi bớt sự đơn độc, nỗi đau…Quyển sách nầy không mang màu sắc chính trị vì chính trị chỉ là giai đoạn, nghệ thuật mới lâu dài. Nhưng những nhạc sĩ đã được đề cập đã dấn thân cho nghệ thuật, họ phục vụ cho lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc và trong quân ngũ là lẽ đương nhiên, phải nhắc đến, đáng trân trọng. Vào thời tiền chiến xảy ra vụ tranh cãi giữa “nghệ thuật vị nghệ thuật & nghệ thuật vị nhân sinh” nhưng với âm nhạc thì cả nghệ thuật và nhân sinh mới in sâu vào tâm hồn giới thưởng ngoạn…”
Vương Trùng Dương cho kết luận:“Sách dày 324 trang trên giấy vàng nhạt 70lb, gồm các bài viết Lê Trọng Nguyễn, nôi âm nhạc phố cổ – Nguyễn Hiền, những kỷ niệm xa xưa – Lan Đài, đường trần quên lãng – Nguyễn Văn Đông, tình khúc thời chinh chiến – Trầm Tử Thiêng, những dòng chia sẻ – Nhạc Boléro, dòng nhạc bị bức tử được hồi sinh – Trần Thiện Thanh, người viết sử thi – Song Ngọc, dòng nhạc của một thời – Cung Tiến, một thoáng hương xưa – Phạm Đình Chương, ca khúc & định mệnh – Vũ Đức Nghiêm, gọi người yêu dấu – Đan Thọ, sầu trên phím đàn – Nguyễn Đình Toàn, nhạc chủ đề & áo mơ phai – Âm Nhạc & Cuộc Sống – Nhịp & Phách trong nhạc phẩm – Dạ Khúc (Sérénade), hai trăm năm cô đơn.”
Mới gần đây, Ngưởi Lính Già 8 Bó cho ra sách mới còn xao xuyến thơm mùi giấy “Người Lính và Chiến Hữu Văn Nghệ”. “Hơn ba thập niên qua, trong lãnh vực văn học nghệ thuật với văn, thơ, âm nhạc… tôi đã viết về tác giả, tác phẩm cho các tờ báo và sau đó được phổ biến trên các website & blogspost…Sau quyển Văn Nhân & Tình Sử năm 2015. Năm 2019, tôi chọn những bài viết liên quan đến Quân Đội để thực hiện quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, đang layout dang dở thì bệnh dịch Covid-19 xảy ra, trước thảm họa nầy, tôi nghĩ mọi người không còn bụng dạ nào để đọc trong hoàn cảnh tang thương đang gieo rắc thảm họa nên bỏ ngang.
Năm 2024, tôi ấn hành quyển Âm Nhạc & Người Muôn Năm Cũ, với những nhạc sĩ nổi tiếng, có công đóng góp nền tân nhạc ở Miền Nam Việt Nam và sau nầy ở hải ngoại. Ngoài ra, có 3 bài viết về âm nhạc. Với công việc đảm trách cho các tờ báo, hầu hết bài viết đã được đăng báo và sau đó phổ biến trên internet, theo gợi ý của các bạn văn và thân hữu nên gom lại để ấn hành sách để được đọc liên tục.Khi ấn hành quyển sách nào, với các bài viết trước đây đã phổ biến, để thích nghi với thời gian tính nên nhuận sắc lại và bổ túc thêm.Với quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, trong tình bạn, tình chiến hữu với nhau nên khi tác giả ấn hành tác phẩm, tôi giới thiệu, đề cập qua các bài viết, nay phải gom lại thành bài theo mỗi tác giả. Với 12 tác giả, ngoài nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, nhà thơ Hà Huyền Chi, nhà văn Văn Quang còn 8 tác giả là bạn thân từ ngày bước chân vào “Ngưỡng Cửa Quân Đội” và thời gian sống ở Mỹ. Phan Nhự Thức, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Dương Viết Điền, Thái Tú Hạp, Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, Trạch Gầm, Phạm Tín An Ninh.
Với quyển sách nầy ấn hành năm 2025 để đánh dấu 50 năm mất nước và 70 năm chia đôi đất nước, gây ra cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam nên trai thời loạn phải dấn thân vào Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để bảo vệ quê hương….Xin trich đoạn VTrD viết về: Thanh Tâm Tuyền như kỷ niệm,..”Tập thơ đầu tay là Tôi Không Còn Cô Độc vào năm 1955 đến năm 1964 mới xuất hiện thi phẩm Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy và Thơ Ở Đâu Xa được ấn hành năm 1990 tại Hoa Kỳ. Về văn, Thanh Tâm Tuyền có nhiều tác phẩm như Bếp Lửa (1957), Khuôn Mặt (1964), Dọc Đường (1966), Ba Chị Em (Kịch, 1967), Cát Lầy (1967), Mù Khơi (1970), Tiếng Động (1970), Tạp Ghi (1970)…Thanh Tâm Tuyền được nổi tiếng về thơ hơn văn vì ông là người làm sống lại thơ tự do được hình thành từ những thập niên về trước và mang làn gió gió mới trong thi ca Việt Nam hiện đại.
Ông dạy Việt Văn tại trường trung học Trường Sơn (Nguyễn Sỹ Tế, Hiệu Trưởng), năm 1962 nhập ngũ Khóa 14 Sĩ Quan Thủ Đức. Ông được thuyên chuyển về trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, phụ trách tờ Đa Hiệu và sau đó phụ trách nguyệt san Quốc Phòng. Bắt đầu con đường văn nghệ khá sớm, cùng bạn Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp… chủ trương nguyệt san Lửa Việt năm 1954. Một trong những cây bút nòng cốt của nhóm Sáng Tạo từ năm 1956 đến năm 1960. Nhập ngũ năm 62, giải ngũ năm 66, rồi tái ngũ năm 68. Sau 75 bị bắt đi tù “cải tạo” ở Việt Bắc. Sau năm 1975, ông trải qua 7 năm tù. Được định cư tại Minnesota, Hoa Kỳ trong suốt mười mấy năm qua.Tháng 4 năm 1990, định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO, lúc đầu ở tiểu bang Louisiana, sau định cư ở Roseville, tiểu bang Minnesota. Theo học Điện Toán và làm việc tại St. Paul Technical College đến khi về hưu năm 2001. TTT sống như người ẩn dật, viết rất ít, chỉ khi nào thật sự cần thiết mới viết, như dịp tưởng niệm các bạn ông: Mai Thảo, Ngọc Dũng, tuyên dương Doãn Quốc Sỹ… Theo lời người bạn thân Trần Thanh Hiệp, TTT cho rằng “Nếu không tìm được gì thật mới thì sẽ thôi hẳn không viết nữa”.
Bài viết Nhìn Lại Một Thời của nhà văn Doãn Quốc Sỹ vào tháng 5 năm 2005, đề cập đến giai đoạn hình thành của nhóm Sáng Tạo và sự hiện diện của Thanh Tâm Tuyền: “Năm 1954 hai vợ chồng tôi cùng hai đứa con gái đầu long và cô em gái – năm người cả thảy – ra phi trường di cư vô Nam. Danh từ thời thượng mệnh danh là Bắc Cờ Năm Mươi Tư. Thuở đó tôi còn là sinh viên, gặp Trần Thanh Hiệp – sinh viên Luật Khoa – chúng tôi bèn thành lập đoàn thể Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư, Trần Thanh Hiệp đứng ra làm chủ tịch…”
Xin trich đoạn VTrD viết về Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, từ Nhà Giáo Đến Chiến Hữu Cầm Bút. VTrD ghi nhận sau đây,…” Tôi vẫn nhớ mãi, kể từ đêm ấy. Rồi một số được thả về, phần đông là giới Y Dược, trong đó có năm chàng của tổ tôi. Còn lại, rất đông, bị “biên chế” phân tán đi các đội khác, để vài tháng sau được tàu Sông Hương chở ra Bắc giao cho Công An, bắt đầu một cuộc hành trình mới gian nan hơn, khắc nghiệt hơn, dành cho những tù nhân chính trị chánh hiệu…” (Đêm Giáng Sinh Trong Trại Tù Long Giao). Rồi thời gian sau, anh bị lưu đầy sang trại tù ở núi rừng Miền Bắc cũng như nhiều chiến hữu khác. Trong chốn lao tù, anh đã kể lại trong bài thuyết trình ở Pháp để minh chứng những gì xảy ra khi mất nước.
Trải qua 8 năm tù, sau khi thả về anh vượt biên lần thư nhất tại Cần Giuộc bị thất bại, Công An dùng khúc gỗ phang ngang lưng! Và lần thứ hai ở Nha Trang cùng với em gái, tị nạn tại Oregon. Nơi nầy, anh vừa đi “cày” vừa đi học, Hè năm 1990 tốt nghiệp Tiến Sĩ Văn Chương Pháp với luận án La prison dans l’œuvre romanesque de Stendhal (Tù Ngục Trong Tiểu Thuyết Của Stendhal) tại Eastern Washington University và University of Oregon. Theo lời anh chia sẻ thì trước năm 1975 ít người biết đến nhà văn Pháp Stendhal từ thế kỷ XIX hơn nữa những tác phẩm của anh đã in sâu trong tâm trí anh trong thời gian lao tù.
Trong bài viết Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam của tôi trong năm trong năm 2022. Không có bản dịch nào của nhà văn Pháp Stendhal (1783-1842). Ông là nhà văn nổi tiếng của chủ nghĩa hiện thực phê phán (réalisme) và lãng mạn (romantisme). Điển hình hai tác phẩm Rouge et le Noir, 1830 (Đỏ & Đen), La Chartreuse de Parme, 1839 (Tu Viện Thành Parma). Stendhal trở thành bậc thầy mở đầu cho dòng tiểu thuyết tâm lý ở Pháp, cũng như Dostoevsky ở Nga vào thế kỷ XIX. Cuốn La Chartreuse de Parme mô tả chiến tranh thời Napoléon vì ông là sĩ quan pháo binh trong trận chiến ở Sebastopol như trận đánh Waterloo đã đi vào lịch sử.
Nguyễn Kim Quý chọn nhà văn Stendhal để làm luận án tiến sĩ vì theo anh “Thế giới trong tiểu thuyết của Stendhal, kể cả những truyện về tù ngục, vì thế, ngạt ngào phấn hương nhờ tình yêu, hạnh phúc và hình bóng mỹ nhân. Lúc Stendhal còn sống, không ai đọc sách của ông. Mãi 50 năm sau khi chết, ông mới được nổi tiếng và trở thành một hiện tượng trong văn học sử Pháp”.
Cuối năm 1991, anh xuống Little Saigon thăm bạn bè, nhân dịp này tôi viết hai bài “Bông Hồng” Cho Người Cựu Tù Nhân Chính Trị và Giới Thiệu Luận An Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý (Luận án nầy dày 550 trang khổ 8.5×11 inches bằng tiếng Pháp nên anh nói tổng quát về nội dung để tôi ghi lại) đăng trên nhật báo Người Việt & tuần báo Saigon Times. Trong dịp nầy, anh có ghi “tặng” tôi hai bài và tôi cũng viết về anh một bài trên Đặc San Nha Trang.
Tháng 3, 1992, TS Nguyễn Kim Quý sang Pháp thuyết trình về đề tài Stendhal et mes saisons en enfer Communiste (Stendhal và Những Mùa Của Tôi Dưới Hỏa Ngục Cộng Sản, nhân ngày mất lần thứ 150 của văn sĩ được tổ chức tại Paris, dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Pháp François Mitterrand. Bài của các thuyết trình viên đều được in thành sách bán tại Paris. (Trước khi sang Pháp, anh xuống Little Saigon gặp gỡ thân hữu để chia sẻ với nhau)
Trong phần 3 của bài thuyết trình với cử tọa, nhân cơ hội nầy anh lại nhắc đến miền Nam Việt Nam sau ngày mất nước: “Chúng ta đang ở vào năm 1975. Nền hòa bình nhục nhã, áp đặt bởi những siêu cường lực trên đất nước chúng tôi ngày 30 tháng 4, chấm dứt một cuộc chiến cũng không kém nhục nhã và khai tử quốc gia VNCH từ nay bị trao vào tay bọn bạo tàn miền Bắc… Chế độ mới, tự gọi là “cách mạng”, đỏ từ đầu đến chân, nhanh chóng tự gắn cho mình một nhiệm vụ “vĩ đại”: lùa tất cả sĩ quan và cán bộ miền Nam vào tù. Tại đó bắt đầu mọi bất hạnh của chúng tôi. Nhưng rồi, lòng tin vào Thượng Đế bỗng nhiên thức dậy trong tôi và sự mê say không phai nhạt đối với Stendhal và những tiểu thuyết của ông thực sự đã cứu vớt tôi, không chỉ thoát khỏi những xấu xí của đời sống mà còn sự tàn nhẫn của cái chết -cái chết mà bây giờ tỏ ra ngàn lần đe dọa hơn trong lúc chiến tranh. Như thế, nhờ ơn Chúa và nhờ Stendhal, tôi đã có thể sống sót sau tám năm giam hãm, đói khát, đau khổ, thiếu thốn, trong những trại tù khác nhau và cuộc đọa đày khủng khiếp xuống dưới hỏa ngục…
… Bọn họ đã ra lệnh cho các sĩ quan phải trình diện những “ủy ban cách mạng nhân dân”, chuẩn bị một khóa học cải tạo mà theo thông cáo chính thức với lối hành văn mơ hồ và bịp bợm sẽ kéo dài chỉ mười ngày hoặc một tháng tùy theo cấp bậc. Lúc ấy vào tháng sáu 1975… Rồi một ngày đẹp trời, bọn họ quyết định chuyển ra núi rừng Miền Bắc khoảng một trăm ngàn “phần tử” bị xét là “phản động” nhất, nghĩa là nguy hiểm nhất… Trong vài chiếc tàu chở than cũ kỹ tịch thu của “ngụy quyền”. Chúng tôi bị còng tay, bị nhốt hàng ngàn người trong các hầm tàu, và như thể súc vật. Chuyến đi kéo dài ba ngày. Ba thế kỷ. Không khí thiếu. Nước cũng thiếu. Thức ăn cho cả ngày là một ảo tưởng: mỗi tù nhân được phát hai phong bánh bích qui mốc của lính made in China, lớn bằng hai hộp diêm, chỉ vừa đủ để khỏi chết đói. Phía trên, không có gì ngoài một vòm tối đen. Chung quanh, những thân xác bất động chất đống cạ vào nhau và mình mẩy dính đầy bụi than. Cái nóng kinh hồn hành hạ tù nhân. Ngay những giờ đầu, bốc lên một mùi hôi thối, làm ngộp thở, đầu độc căn hầm đầy người. Khắp nơi, im lặng như chết…
… Cuộc sống tại các trại Miền Bắc còn hơn là hỏa ngục. Không cách nào đào thoát được. Chúng tôi bị bao vây một cách tuyệt vọng bởi những rặng núi trùng điệp làm thành những tường lũy thiên nhiên kiên cố. Nhưng rồi, ngay cả nếu thoát được, làm sao, ở trên núi, có thể sống sót với cái lạnh, đói khát và sức kiệt! Chúng tôi bị giam trong những túp nhà cũ thấp mái rạ, nằm ngủ trên một thứ giường tập thể làm bằng những tấm gỗ thô, không chiếu, không gối, không đệm, để rồi sáng mai thức dậy mặt mày, mình mẩy rải đầy những vết rệp và muỗi cắn. Ngoài ra, cái lạnh tột độ, làm buốt xương. Về quần áo, người ta chỉ phát cho chúng tôi một bộ đồng phục màu xanh da trời bằng vải thô dùng trong kỳ hạn hai năm và một tấm chăn cũ nát nhỏ xíu bằng len xấu. Không săng đan, không tất vớ, không mũ nón. Những thứ này, chúng tôi phải tự xoay xở lấy, người ta bảo chúng tôi, hoặc là mặc kệ! Vào mùa đông hay mùa mưa, không tài nào ngủ được, vì cái lạnh và ẩm ướt khắc nghiệt, không thể chịu nổi nữa và chúng tôi bị cấm đốt lửa trong nhà!…
… Những người còn sống sót cứ tiếp tục nhai sắn khô bằng thích, tiếp tục đói, tiếp tục đau, và nhất là tiếp tục lao động khổ sai. Cai tù không ngớt lặp đi lặp lại rằng lao động là nguồn gốc mọi vinh quang, rằng khởi thủy, con người đầu tiên, nghĩa là ông tổ của chúng ta, là một con khỉ, rằng con khỉ ấy vì phải trèo lên cây hái trái, xuống ruộng trồng lúa, vào rừng săn thỏ, vắn tắt, lao động vất vả, đã dần dần mất bộ lông dài để trở thành đẹp đẽ, trơn tru như chúng ta hôm nay. Vì thế, người ta hét vào tai chúng tôi, hãy tống cổ những kẻ chây lười lao động, ăn bám, mình còn đầy lông lá, ra khỏi thiên đàng Cộng sản!
… Bấy giờ, tôi bắt đầu cầu nguyện trở lại, ban đêm, và đọc lại với sự say mê của một người tình cũ những tiểu thuyết Stendhal, nhưng bằng trí nhớ, dĩ nhiên. Từ đó, tôi sống một thực tế khác, tự xem mình đã chết đối với cuộc đời, như Octave trong Armance. Tôi quên, cố gắng quên, bọn cai ngục và trại tù, đói và bệnh, quần áo tả tơi và thân xác khô héo – tất cả những điều nhắc tôi không ngừng vẻ xấu xí của địa ngục. Tôi chiến thắng nỗi bất hạnh của tôi bằng cách thôi tưởng nhớ những người đàn bà đẹp mà tôi đã quen biết và có khi yêu thương trong cuộc đời và bây giờ đã trở thành một thực tế còn khó với nắm, còn xa xôi hơn cả chính mộng mơ. Trái lại, tôi chỉ nghĩ đến những nữ nhân vật của Stendhal: Mathilde, Mme de Rênal, Clélia, la Sanseverina, Armance, Mme de Chasteller, giữa những nàng khác – mà hình bóng trác tuyệt, vĩnh viễn trẻ và đẹp, đã đưa tôi rất nhẹ nhàng ra khỏi thực tế phũ phàng và tầm thường, cái thực tế mà tôi nghĩ tôi không phải sinh ra để ôm lấy, ngay cả thời trước khi vào tù… Cuộc sống của tôi, hay đúng hơn cái chết của tôi, một cách xứng đáng nhất, cho đến ngày 18 tháng Ba năm 1983, thời điểm tôi được thả. Sau tám năm trời!…”
Cuối cùng VTrD cho kết luận như sau:
“Trong vài năm sau nầy chỉ biết tình trạng sức khỏe của anh rất yếu không còn viết lách nữa và không liên lạc nhau vì vậy không biết nhiều về đời sống và sinh hoạt của anh sau nầy. Bỗng nhận được tin buồn: Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý (Kim Thanh, Người Lính Già Oregon) qua đời vào Thứ Tư, ngày 12 tháng Hai năm 2025 tại thành phố Portland, Oregon. Theo Mục Sư Huỳnh Quốc Bình, bà Nguyễn Kim Quý cho biết, lúc sinh tiền đã dặn dò vợ con khi lìa trần, tang lễ của ông phải hết sức đơn giản. Trong tang lễ không có điếu văn, không phủ cờ và không vòng hoa gì cả. Vợ con chỉ cần đưa xác đến nhà quàn để hỏa thiêu, sau đó báo cho anh chị em của anh và vài bạn hữu của anh biết mà thôi vì không muốn làm phiền bất cứ một ai khác trong tang lễ… Với bốn thập niên cư ngụ tại Oregon như quê hương thứ hai của người quá cố nên Thánh Lễ an táng ngày 18/2 được tổ chức long trọng với Giáo Xứ, tang quyến, thân hào nhân sĩ, các cựu SVSQ/ĐH. CTCT…
Khi xem video của Vũ Ngọc Hải, người bạn cùng khóa, tang lễ trân trọng và ấm cúng với sự hiện diện, chia sẻ của quý vị Linh Mục, thân hữu… thể hiện sự thương tiếc, quý mến với người quá cố, tôi rất xúc động. Những bài viết hồi ký của Kim Thanh và NLGO không in thành tác phẩm nào, với anh luận án về Văn Hào Stendhal coi như tác phẩm nhận định về văn học đã được giới thiệu qua hai lần thuyết trình tại Pháp. Trong số bài viết của anh có chút “lửa” cũng như bản tính năng động và máu người lính trong tâm hồn anh.” Xin trich đoạn tiếp khi VTrD viết về tác giả sách Tình Cao Thượn, Nguyễn Mạnh Côn như sự luyến tiêc, cái chết đểbảo toàn danh dự…”Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử.
Theo nhà văn Hoàng Hải Thủy, Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử xem như hồi ký của người trong cuộc vào thời điểm đó tham gia trong Tự Vệ Thành với tuổi trẻ khi chứng kiến nạn đói năm Ất Dậu (1945) “Ngót hai triệu người chết năm 1945 từ tháng Giêng đến tháng Tư… Ðó là hoàn cảnh cho phép đấu tranh bộc phát. Ðấu tranh lúc đó quy tụ cả vào mặt trận Việt Minh” do hậu quả của thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra. Tuổi trẻ dấn thân trong công cuộc giải phóng đòi tự do độc lập cho đất nước. Và, những lá thư đó viết từ Hà Nội đến những nơi khác: Hà Nội, nội thành, Liên Khu 1 ngày 3 tháng 9 năm 1945 (Việt Minh cướp chính quyền hớt tay trên các đảng phái quốc gia. Ngày 26 tháng 12 năm 1946 ở Hà Nội, trong nội ô thành phố, Tự Vệ Thành đã nổ súng đánh Pháp bắt đầu cho cuộc kháng chiến giành độc lập). Hà Ðông ngày 3 tháng 2 năm 1947 (Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức thành lập và cuộc đảng tranh đẫm máu và gay gắt nhất đã tạo những vết thương đau đớn cho dân tộc). Phú Thọ, Vũ Lao ngày 29 tháng 11 năm 1952 (khởi đầu cuộc cải cách ruộng đất và đấu tố để thực hiện đấu tranh giai cấp). Hải Phòng ngày 19 tháng 7 năm 1954, những dòng cuối thư vào ngày 1 tháng 8 năm 1954.
Trong bài viết của Nguyễn Mạnh Trinh, trích phần tóm tắt tác phẩm Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử và Kỳ Hoa Tử:
“Nội dung của Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử là những tâm sự của một chiến sĩ đang tranh đấu trực diện trong công cuộc giải phóng đòi tự do độc lập cho đất nước trong những bức thư viết ở những thời điểm quan trọng của lịch sử Việt Nam. Những không gian và thời gian như Hà Nội ngày 3 tháng 9 năm 1945… Hải phòng ngày 19 tháng 7 năm 1954, là những cột mốc đáng nhớ của một thời đại đầy biến động Việt Nam.
Từ thời điểm ấy, Nguyễn Kiên Trung kể cho bạn đọc nghe về cuộc đời của mình và thế hệ mình theo ngõ đẩy đưa của thời cuộc. Và từ đó như tấm gương phản chiếu thấy được sự bội phản lường lọc của những người Cộng Sản Việt Nam.Với kỹ thuật tranh đấu được huấn luyện từ hệ thống Cộng Sản thế giới, họ áp dụng vào thực tế và đã thành công trong việc nắm giữ chính quyền và thực hiện chính sách vô sản chuyên chính.
Tác giả Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử đã “trút ngay lên mặt giấy một sự cần thiết phaỉ gào thét, phải nức nở cho số phận những người bạn tôi sắp phải chết, ngoài kia, bên trên vỹ tuyến Bắc 17 độ. Nói là bạn, nhưng chỉ có một số nhỏ là bạn của tôi thật, còn nhiều người mới quen biết sơ qua trên con đường kháng chiến, nhiều người chưa hề được gặp mặt, nhiều người tôi đáng tôn lên là bậc thầy, Phan Khôi, Đào Duy Anh,Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, những người ấy sắp bị Việt Cộng mang ra xử án…”
… Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử được viết cách nay nửa thế kỷ và xem ra tới bây giờ, vẫn còn nhiều suy nghĩ đáng chú ý. Lịch sử đã bị chế độ hiện hữu bôi xóa và những bài học để thế hệ sau hiểu biết chứa đầy những giả trá. Từ năm 1945, tới nay không xa, khoảng cách lịch sử vẫn còn gần để nhận thức, thế mà đã có nhiều sai lạc…” Xin trích đoạn VTrD viết về nhà văn Dương Viết Điền, Hành Trình Với Văn Thơ Nhạc, một người bạn thân đồng môn trường Đại Học Chié6n Trasnh Chính Trị, và là dồng khóa I Nguyễn Trãi. Vương Trùng Dương tâm tình như sau,…
“Bước vào tuổi tám mươi, nhà văn Dương Viết Điền sức khỏe rất yếu, không còn ngồi được để thực hiện tiếp những tác phẩm còn dang dở nên nhờ Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời gian giúp anh thực hiện tuyển tập Thơ & Nhạc, ra mắt tác phẩm vào trưa Chủ Nhật 24/11/2024 tại VietLife Club, thành phố Westminster. Trong tuyển tập nầy có 3 bài viết của nhà văn Việt Hải, nhà văn Khánh Lan và tôi. Dương Viết Điền là bạn văn và cũng là bạn cùng khóa (Khóa Nguyễn Trãi I Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt) và cùng định cư tại Hoa Kỳ năm 1990 (Diện H.O). Khi ra trường, anh phục vụ tại Tiểu Đoàn 10 CTCT, sau đó biệt phái sang Phòng Báo Chí (phụ tá Trưởng Phòng), Khối CTCT Quân Đoàn I nên có cơ hội quen biết với giới cầm bút trong thời gian quân ngũ. Trong tình bạn tâm giao cố tri với nhau từ thời ở quân trường nên một số tác phẩm anh gợi ý tôi viết để chia sẻ cùng độc giả.
Trong ba thập niên, anh đã sáng tác hơn hai mươi tác phẩm, và một loạt tác phẩm Nhật Ký Lúc Chiều Tà (tập I năm 2014 đến tập VII năm 2019) ghi lại quãng đời của anh từ thời trai trẻ, trong quân ngũ, trong lao tù và năm tháng tị nạn ở Mỹ. Theo anh, muốn tiếp tục ấn hành với nhật ký nầy đánh dấu nửa thế kỷ mất nước và những tác phẩm khác nhưng vì bệnh tình nên đành dang dở. Tác phẩm đầu tiên với Hồi Ký Trại Ái Tử & Bình Điền ấn hành năm 1993. Đây là một trong những tác phẩm (hồi ký) viết về chốn lao tù sau năm 1975, trước và sau đó có: Đáy Địa Ngục (Tạ Tỵ), Đại Học Máu (Hà Thúc Sinh), Cùm Đỏ (Phạm Quốc Bảo), Tầng Cuối Địa Ngục (Đỗ Văn Phúc), Vùng Đất Ngục Tù (Nguyễn Vạn Hu8ng2), Những Người Tù Cuối Cùng (Phạm Gia Đại), Thép Đen (Đặng Chí Bình), Hối Ký Người Tù Cải Tạo của Đại Tá Nguyễn Huy Hùng, Trại Tập Trung của Duyên Anh, Tù Cải Tạo Hồi Ký (Nguyễn Đức Cung), Một Cuộc Đổi Đời KALE (Lê Anh Kiệt, Hồi Ký 17 năm trong các trại tù cải tạo của Cộng Sản), Vết Nám: Hồi Ký Tù Cải Tạo (Hoàng Long Hải), Đóa Hồng Gai (Nguyễn Thanh Nga), Hồi Ký Cải Tạo & Vượt Biên (Nguyễn Duy Chính), Lao Tù Cải Tạo & Những Phần Đời Của Định Mệnh (Nguyễn Kỳ Dzương, năm 2024)…Các trại tù thuộc vùng I & II trước kia không bị đày ra Bắc vì cũng hắc ám trong quần đảo ngục tù (tác phẩm Arkhipelag Gulag của văn hào Solzhenitsyn, Quần Đảo Gulag hay Quần Đảo Ngục). Ái Tử vừa là tên làng thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Năm 1971 là Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 bộ binh. Bình Điền là địa danh thuộc tỉnh Thừa Thiên, căn cứ thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Cộng Sản dùng hai nơi nầy làm trại tù. Dương Viết Điền bị 10 năm tù đã ghi lại năm tháng nơi lao tù.
Năm 2003, anh ấn hành quyển Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân, trong quyển nầy anh liệt kê những vị anh hùng tuẫn tiết trong ngày 30/4/1975, dựa vào các bài viết, hồi ký người tù từ Bắc chí Nam trở thành tài liệu đáng nhớ. (Nhạc sĩ Nguyễn Hiền là người rất thận trọng và khó tính nhưng là người giới thiệu về hai quyển sách nầy. Trong những lần cùng uống cà phê với ông, có vài tác giả đến nhờ ông viết nhưng ông từ chối rất tế nhị).
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết Lời Giới Thiệu “… Đương nhiên sau ngày vận nước suy vong đó, chúng ta đã có một dòng văn học gồm những tù nhân chính trị viết lại sinh hoạt của họ trong các trại giam Cộng Sản. Và do vậy những cây bút ấy đã góp phần phong phú hóa cho vườn hoa văn học nghệ thuật hải ngoại thêm nhiều màu sắc. Trong số đó có văn hữu Dương Viết Điền đã viết hồi ký Trại Ái Tử & Bình Biền xuất bản năn 1993 và nay lại tái bản theo yêu cầu của độc giả hải ngoại. Lối văn hồi ký ghi những kỷ niệm trong thời gian đi tù “cải tạo” như kể chuyện đã hấp dẫn người đọc tìm hiểu về tâm tư của tác giả cùng những bạn tù và chế độ các trại giam của Cộng Sản…” Và nhận vât cuối cùng xin đan cử từ sách mới của nhà văn VTrD, Xin trích đoạn VTrD viết về một chiến hữu đồng hương Quảng Đà, Thi sĩ Thái Tú Hạp, Tác giả của Hạt Bụi Nào Bay Qua, và Nhà Thơ Viễn Xứ:
Nặng Tình Với Quê Hương
Vương Trùng Dương
“Ta ở bên này đại dương nhớ
Thời gian nuôi mãi tấm lòng son
Trắng tay phiêu bạt đời hư ảo
Hiu hắt hồn thơ với nước non”
(Thái Tú Hạp)Hầu hết những bằng hữu của Thái Tú Hạp đều biết tuyển tập thi ca để đới của ông: ‘Suối Nguồn Tâm Thức,’ một đời thơ của Thái Tú Hạp. VTrD nhận xét về tác giả thji ca Thái Tú Hạp như sau:
“* Quê Hương, Lao Tù và Viễn Xứ.
Hầu như các thi phẩm của anh như đã đề cập ở trên đều mang nặng hình ảnh quê hương từ trong nước với tâm hồn người lính trong hoàn cảnh chiến tranh lan tràn nên cầu mong với “xin và cho”:
“Xin ngày cho thấy mặt nhau
Xin chuông chùa thức đêm sầu bi thương
Xin thôi chia nẻo chiến trường
Xin cơn đau đớn xa nguồn từ ly
Xin chiều mắt mẹ từ bi…
Xin em suối ngọc huyên vi
Xin cho thanh tịnh đời phi nghĩa này…”
(Nụ Chào Bao Dung, 1965)“Cho đêm bừng đóa mặt trời
Cho thân thể mẹ qua rồi đớn đau
Cho em tiếng hát ngọt ngào
Cho vùng suy tưởng chở vào giấc thương
Cho chim hoa bướm mùa xuân
Cho lời kinh kệ tan cơn oán thù
Cho tàn binh lửa đôi bờ
Cho cành dương nước cam lồ vô biên
Cho tiêu tan chuyện ưu phiền
Cho quê hương đẹp trăm miền tinh khôi”
(Lời Buồn Treo Cao, 1966)Hằng mơ tưởng mùa Xuân về trên quê hương “Để tìm lại bóng dáng của áo lụa Duy Xuyên, rừng quế Tiên Phước, rượu cần trên buôn sóc Trà Mi thưởng thức trà Tiên quế, Cam Đại Bình, bông Vạn Thọ”.
“… Miền quê hương có Ngũ Phụng Tề Phi
Núi Non Nước ngăn trời bão tố
Sông Thu Bồn hiền dịu đổ phù sa”và:
“Có nơi nào đẹp bằng quê hương ta đó
Bao đời lịch sử liệt oanh
Thăng trầm theo mệnh nước
Nhưng sông núi muôn thuở vẫn kiên trinh
(Từ Quê Hương Trở Về)Khi anh theo học Khóa Trung Cấp 3 tháng ở TĐH.CTCT Đà Lạt và hình ảnh nơi nầy:
“… Mây Lâm Viên huyễn tích ngàn
Non cao ẩn dụ loài hoang thú về
Từ chim lạc. Thác Đam Mê
Yersin khai lộ qua khe suối Chàm…
… Đệ huynh chung một lời thề
Nghìn năm bia đá không hề phôi pha”Khi định cư ở Mỹ với tâm thức nhà thơ bị đánh mất quê hương mang nặng nỗi niềm hoài cổ. Ngày xưa, trong bài thơ Lữ Dạ Thư Hoài, thi hào Đỗ Phủ đã bày tỏ:
“Phiêu diêu hà sở tự
Thiên địa nhất đa sầu”Ngày nay, hình ảnh ấy thoáng hiện nơi người viễn khách Thái Tú Hạp:
“Buổi chiều nơi quán khách
Lửa nến hắt hiu buồn
Ghế đời tri âm khuất
Vạn lý sầu cố hương”Hoặc:
“Con bên bờ vực thẳm
Ngắm mây sầu ly hương
(Nhớ Mẹ)Hay:
“Ta biền biệt quê hương
Mang niềm đau bất tử”
(Đêm Ở Quê Người)Sinh trưởng trong một thành phố cổ với mái ngói âm dương, rêu phong cổ kính, với đền chùa lăng miếu từ thuở xưa…ngoại cảnh đã ảnh hưởng đến tâm hồn thi sĩ. Đọc thơ anh làm nhớ lại những bài cổ phong, thi ca cổ điển… bàng bạc trong âm điệu lời thơ. Nhẹ nhàng và vương vấn nỗi buồn mang mác…Có lẽ cảm hứng từ ý thơ “Cử đầu vọng minh nguyệt. Đê đầu tư cố hương” trong bài thơ Tĩnh Dạ Từ của Lý Bạch, anh bày tỏ tâm trạng u hoài của con người đánh mất quê hương:
“Người xưa ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Ta giờ trăng chết ở trong tâm
Cố hương, trăng khuyết đìu hiu nhớ
Dạ lý hoa còn phảng phất hương”Để rồi:
“Thôi ngẩng đầu chi đêm trăng sáng
Một mình nghe biển động xương khô”
(Trăng Viễn Xứ)Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường:
“Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du…”
Thôi hiệu đề thi tại thượng đầu!”Hơn 1200 năm sau, trong bài Cảm Hứng Đường Thi của anh đã gởi gắm vào đó tâm trạng lạc loài của nhà thơ trước hoang tàn của thời gian:
“Thánh thi trên bia mục
Hoàng hạc đã bay rồi
Con trăng đồng trinh khuất
Bên trời ta lẻ loi”Với bản dịch lục bát tuyệt vời Gác Hoàng Hạc của thi sĩ Tản Đà, thơ Thái Tú Hạp có lẽ cũng sở trường và thành công với dòng thơ lục bát như áng thơ cổ:
“Đời tan rã bụi hư vô
Nhớ quê lòng cũng nao nao muốn về
Lòng ta ngậm mãi thương hoài…
Nắng trôi giạt nắng sông đòi đoạn sông”
(Cõi Chờ Mong)
“Đời như cát bụi đìu hiu
Cơn vui như tiếng sóng triều hư vô
Ngàn xưa sau cõi mịt mờ
Anh con thú vẫn hoài mơ nẻo về…”
(Nẻo Về)Cũng như nhiều nhà thơ khác trong quân đội viết về chốn lao tù, bài thơ Đêm Trong Trại Tù:
“Không đi tới mặt trời trước mắt
Nỗi buồn cao như núi thẳm vây quanh
Nỗi hờn căm cũng cao ngất rừng xanh
Nuôi hy vọng da người xanh như lá
Người tù binh khát khao nhớ mùa xuân
Nhớ đôi mắt tự do ngoài cổng đợi
Nhớ bóng chim vút cánh qua trời
Không để lại vết tăm nào yêu dấu
Đêm vẫn qua giữa trại tù mọi rợ
Người tù binh vẫn thao thức mong chờ…”Ngay trong trại tù, ta gặp lại tâm trạng bi đát, đau đớn, u buồn, xót xa như vần thơ trong Tự Tình Khúc:
“Sầu kia ai kẻ xiết lòng
Chiều thôi lại tối, đêm xong lại ngày”
Ở đây, ta lại chứng kiến giữa miền rừng núi Kỳ Sơn:
“Nửa đêm kiểng lạnh lùng khua
Trăng kinh hoàng động rừng khuya vỡ sầu
Đời vi diệu cũng nát nhầu
Trong ta biệt xứ cõi sâu non trùng
Sáng ra mới biết hư không
Một ngày qua nữa lòng mênh mông buồn”
(Trong Tù Nghe Tiếng Chim)* Tư Tưởng Phật Giáo
Bàng bạc trong các thi phẩm của anh đều nhuốm tư tưởng Phật Giáo. Tiếp thụ tinh thần đó, vì vậy trải qua nhiều thập niên sống ở hải ngoại trong “thế giới Văn Minh trả góp” như ngôn ngữ của Phạm Kinh Vinh, anh cảm thấy có điều gì lạc lõng giữa tâm hồn Đông phương, những tương tàn trong tình cảm bởi lối sống cá nhân, đeo đuổi theo vật chất, những toan tính lọc lừa, những ràng buộc dai dẳng vây quanh cuộc sống, con người tựa hồ chiếc kim đồng hồ… không có phút giây an nhàn, tự tại vì vậy tâm hồn lúc nào cũng vọng về Miền Yêu Dấu Phương Đông và coi như miền đất hứa vẫn là nơi yên nghỉ cuối cùng của cha mẹ, chan chứa tình người:
“Ta hẹn em trở về
Bên đồi lau xanh biếc
Chim rủ nhau quay quít trên ngàn cây
Cuối thôn rụng đầy trái đỏ
(Trở Lại Suối Nguồn)Nguyên Giác (Phan Tấn Hải) là Phật Tử thuần thành, am tường triết lý Phật Giáo vì vậy trong bài viết Thái Tú Hạp: Làm Thơ Như Chép Kinh: “Tôi đã đứng tim như thế, đã kinh ngạc đọc đi đọc lại các dòng thơ (bài thơ Sao Khuya trong tập thơ Suối Nguồn Tâm Thức). Tôi đã nghiêng đầu, áp tai sát trang giấy để nghe xem tiếng hạc buồn lê thê thế nào. Tôi đã nghiêng trang giấy qua lại để xem có ngôi sao nào rơi ra từ giữa những dòng thơ. Khi đó, tôi đã thắc mắc vì sao có hình ảnh cổng chùa chưa khép trong thơ, có phải vì nhà sư thi sĩ đã đi lạc nơi phố chợ và quên mất lối về…
Chỉ mở trang sách ra để đọc thơ Thái Tú Hạp thôi, cũng y hệt như mùa xuân bay qua để hiện lên những cánh đồng hoa bên đồi. Trong cõi đó, tôi ưa thích nhất, là những dòng thơ rất mực u hoài cổ tích của anh. Không gian thơ này là cái gì rất gần gũi với tôi: những mái chùa ở quê nhà, tiếng chim hót hòa vào lời kinh tụng. Đó là những hình ảnh không dễ tìm được nơi hải ngoại. Đối với Thái Tú Hạp, hình như làm thơ cũng là một pháp tu. Bởi vì có những dòng thơ như dường nhắc tới các pháp ấn. Như bài Một Thoáng Phù Vân ngay nhan đề đã nêu lên pháp ấn vô thường,…” Cá nhân người viết bài này rất chuộng loại thơ nặng tính thiề thi tâm linh của Thi sĩ Thái Tú Hạp, ví dụ như:Thanh Tịnh Khúc
Mai ta về giữa non cao
Xé mây làm áo lụa đào cho em
Nghiệp từ mấy thuở trần duyên
Nắng thanh xuân đậu ngoài hiên ta bà
Đưa nhau dạo giữa ngân hà
Bỏ nhân gian lại chốn tà huy câm
Mai sau tình vỡ hư không
Có nghe tiếng hót tiền thân chim ngàn
Từ trong thiên cổ tri âm
Tiễn nhau xuống núi cưu mang kiếp sầu
Mai về khép cánh biển dâu
Giở trang vô tự trắng nhòa sắc không
Chờ nhau dưới cội vô thường
Soi tâm tư hiện một vừng trăng xưa.[Thơ Thái Tú Hạp, Tập san Pháp Luân số 4, PL 2548]

Bài thiền thi trên cũng đã khép bài viết “Mạn đàm Người Lính Buông Súng – Vẫn Ghì Bút Mãn Kiếp.”, đặc biệt về tác phẩm Giới thiệu ‘Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ’ của Nhà văn Vương Trùung Dương, đại diện cho lớp hậu nhân, sóng sau Khánh Lan, Kiều My, Thanh Ngọc, Minh Đúc, Việt Hải và Huy Anh xin chia vui cùng tác giả Vương Trùng Dương cho ra văn tập mới này, mong sao Vương văin nhân vẫn mạnh tiến sáng tác thêm nhiêu ân phẩm giá trị khác nữa trong tương laị.
Trần Việt Hải, Nam Cali, 01/07/ 2025.
Tiểu sử Vương Trùng Dương:
https://vietvanmoi.fr/VUONGTRUNGDUONG.html
———————————————————————-
La littérature est un flux intarissable, aidons-la à s’écouler.
NGUYEN QUANG
Văn học là một dòng suối chảy không ngừng, hãy giúp nó luân lưu.
NGUYỄN QUANG
Literature is a never-ending stream, let’s help it flow.
NGUYEN QUANG -
TÂM BÚT VỀ MẸ
Việt Hải
-
TƯỞNG NHỚ NHẠC SĨ Đỗ Lễ.

Cô đơn không phải thứ cảm xúc dành riêng cho những người độc thân, sống một mình. Cả khi đang ở trong một mối tương quan tình cảm nghiêm túc, dài hạn, vẫn sẽ có những lúc ta thấy mình sao lẻ loi, cảm giác đơn độc. Cảm xúc cô đơn trong tình yêu có thể là dấu hiệu cảnh báo điều gì bất ổn đang xảy ra với mối quan hệ của hai người. Hoặc, nó cho thấy bạn đang mong mỏi người ấy giúp mình khỏa lấp một khoảng trống trong tâm hồn bấy lâu nay, nhưng đối phương vẫn chẳng nhận ra.
Theo nhiều ý kiến cho là tình yêu là ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ dại dồng của những tâm hồn yêu nhau. Có lẽ bởi thế, phải chăng lý lẽ là thế, lập luận đến đâu, những vấn đề trong tình yêu vẫn sẽ là nỗi trăn trở, day dứt, sầu muộn, như những tình khúc dang dở, hay chia phôi.
Sau đây là trích đoạn của 2 nhà văn Kiều My và Khánh Lan, góp ý nghĩ cho Văn Học Mới.
Vào năm 1931 thuở cổ xưa ấy, khi bài tình ca Besame Mucho ra đời, ngay lập tức nó đã trở thành một quả bom, tán dương nụ hôn tưởng tượng lãng mạn dắm say, người thiếu nữ như van xin người tình khi thầm van nài ”hãy hôn em thật nhiều”. Giai điệu bolero cùng với những lời ca nồng cháy cứ len lỏi, chầm chậm nhưng thấm sâu vào tâm gan người nghe, làm nên một nỗi buồn man mác. Đấy là tình yêu là ngôn ngữ của trái tim, và rồi một bài tình ca van nài tình yêu khác của chàng ca sĩ Michel Polnareff, (nhạc Frank Gérald), lời của bài Love Me Please Love Me như sau:

Nhạc phẩm “Love Me, Please Love Me” (Tác giả: Michel Polnareff, Frank Gérald)
Love me, please love me
Je suis fou de vous
Pourquoi vous moquez-vous chaque jour
De mon pauvre amour ?Love me, please love me
Je suis fou de vous
Vraiment prenez-vous tant de plaisir
A me voir souffrir.Si j’en crois votre silence
Vos yeux pleins d’ennui
Nul espoir n’est permis
Pourtant je veux jouer ma chance
Même si, même si…
Je devais why brûler ma vie.Love me, please love me
Je suis fou de vous
Mais vous moquerez-vous toujours
De mon pauvre amour ?Devant tant d’indifférence
Parfois j’ai envie
De me fondre dans la nuit
Au matin, je reprends confiance
Je me dis, je me dis…
Tout pourrait changer aujourd’hui.Love me, please love me
Je suis fou de vous
Pourtant votre lointaine froideur
Déchire mon coeur.Love me, please love me
Je suis fou de vous
Mais vous moquerez-vous toujours
De mes larmes d’amour ?Bài trích dẫn của Khánh Lan về Ca Nhạc Sĩ Lê Toàn viết lời việt.
Theo Trần Chí Phúc / SBTN, CNS Lê Toàn với 40 năm cống hiến cho nền âm nhạc hài ngoải và với ngón đàn ghi ta ông đã nghe những đĩa nhạc ngọai quốc để tập, để đàn hát lúc còn trẻ và với năng khiếu trời cho ông có đôi tai thính về âm nhạc. Ông kể rằng khi đi xem một cuốn phim, nghe nhạc nền và ông có thể guitar và đàn theo giống gần hết. Chính vì thế, ông là đã giúp ban nhạc của ông mang đến cho khán giả Việt Nam một trào lưu ca nhạc quốc tế.
Lê Toàn học trường Tabert Sài Gòn nên rất giỏi về tiếng Pháp, bài hát đầu tiên ông tự đàn guitar với Et Pourtant làm cho bạn bè kinh ngạc và tán thưởng trong buổi lễ phát thưởng cuối năm tại trường. Năm đệ tam, ông gia nhập một ban nhạc của trường chơi đàn Organ và đi trình diễn tại các trường trung học khác ở Sài Gòn. Năm 1971, Lê Trí trưởng ban nhạc The Family Love chính thức mời Lê Toàn gia nhập ban nhạc và giữ phần đệm guitar cùng với Minh Hải (ghi ta solo), Lê Trí (Organ), Tường Vân (Trống), Tường Nga (Bass), ca sĩ là Tami Lê và Christian Lê; chơi nhạc cho các câu lạc bộ Mỹ tại Sài Gòn. Từ lúc này Lê Tòan bắt đầu hát những bản tiếng Anh ngoài những bản nhạc Pháp. Năm 1974 ban nhạc Family Love chính thức chơi cho một vũ trường tại Sài Gòn. Lê Tòan cùng bằng hữu chơi cho những đám cưới tại các nhà hàng ở Sài Gòn sau khi trinh diễn tại một buổi hội chợ, ông đã hát bản Oh Darling ( Beatles) và được mọi người tán thưởng nhiệt liệt.
Biến cố tháng 4 năm 1975, ban nhạc Family Love di tản sang Hawaii và tiếp tục chơi nhạc mỗi đêm cho một vũ trường do người Nam Hàn làm chủ suốt 5 năm. Ban nhạc lúc này gồm Lê Trí, Lê Tòan, Lê Thanh, Christian Lê, Quốc Hùng (bass) và Hùng Thuận (trống). Trong năm 1977-1978, ban nhạc Family Love lưu diễn các tiểu bang miền Trung Tây Hoa Kỳ gồm North Dakota, Chicago, Minesota, Ohio..trong một năm. Sau nhiều năm trình diễn quanh khói thuốc, thức đêm, Lê Tòan mắc bệnh suyễn và ông phải nghỉ ca hát trong vòng 3 năm, ông chuyển về sống tại Quận Cam năm 1980. Ở đây ông tham gia vào ban nhạc Dreamer và chính ca sĩ Duy Quang đã hướng dẫn ông hát nhạc Việt Nam và ông bắt đầu sáng tác nhiều ca khúc Việt Nam.
Ông cũng đã thực hiện cuốn băng nhạc cassette với tiếng hát của Lê Tòan và Thái Hiền. Cuốn băng cassette Tình Vàng phát hành năm 1980 với một số sáng tác của Lê Tòan như Tình Vàng (Thái Hiền ca), Đường Tìm Tình Yêu, Chờ Trăng, Tiếng Ai Kêu, Cho Tâm Hồn Mộng Mơ… và được đón nhận nồng nhiệt.
Năm 1981, ban nhạc Family Love dọn về San Jose và Lê Tòan trở lại sum họp với các anh chị em trong ban nhạc. Ban nhạc Family Love tái lập và trình diễn ở Bắc Cali và các tiểu bang khác. Năm 1984, tại San Jose Convention Center, Family Love tổ chức một buổi ca nhạc thành công với mấy ngàn khán giả tham dự. Lúc này Lê Tòan là solo guitar và hát.
Năm 1985, vũ trường Lido khai trương trên đường số 2 trung tâm thành phố San Jose và ban Family Love đóng đô tại đây trong 5 năm, là nơi giải trí nghe nhạc và khiêu vũ của đồng hương San Jose đặc biệt trong sinh họat ca nhạc hải ngọai. Năm 1988, hai anh em Lê Trí và Lê Tòan có phòng thu âm riêng, thu băng cho một số ca nhạc sĩ như cuốn Mười Năm Tình Cũ (Trần Quảng Nam), cuốn tiếng hát Tuấn Anh, cuốn tíếng hát Diễm Châu…. Họ thực hiện những cuốn băng Cassette, mặt A có nhạc đệm và tiếng hát; mặt B chỉ tòan nhạc đệm để khán giả có thể hát theo; gọi là U Sing Along. Họ cũng ký hợp đồng với trung tâm Hải Âu để làm nhạc đệm cho cuốn nhiều cuốn Cassette U Sing Along. Phong trào hát U Sing Along sau một thời gian thì chuyển sang phong trào Karaoke.
Năm 1990, ban Family Love ngưng cộng tác vũ trường Lido và họ chuyển sang thực hiện nhạc đệm cho các đĩa Laser Disc do công ty Bruce Đòan sản xuất, sự cộng tác kéo dài trong vòng 5 năm. Cần nói thêm rằng Bruce Đòan là công ty đầu tiên thực hiện Laser Disc cho đồng hương Việt Nam hát Karaoke và với phần nhạc đệm của hai anh em Lê Trí và Lê Tòan, rất thành công vào thời điểm 1990 – 1995. Năm 1995 Family Love tự sản xuất đĩa Laser Disc Karaoke nhưng không thành công trong việc phát hảnh. Cũng năm 1995, sinh họat ca nhạc của Lê Tòan rực sáng với sự xuất hiện lần đầu trên băng hình Thúy Nga, ra mắt cuốn băng nhạc Si Mê Tình Em tại hai miền Nam Bắc Cali rất thành công. Lúc ở San Jose, từ 1992 đên1997, Lê Tòan được mời làm MC cho các chương trình văn nghệ thi Hoa hậu Bắc Cali hàng năm. Cuối năm 1997, Lê Tòan từ giã San Jose và dọn xuống Quận Cam. Hiện nay anh có công việc kỹ sư điện tóan ở hãng và cuối tuần tham gia sinh họat ca nhạc. Từ năm 1997 cho đến nay, Lê Tòan vẫn lưu diễn ở một số tiểu bang vừa hát vừa làm MC, anh hát nhạc ngọai quốc và nhạc Việt Nam.
Những cuốn Cassette gồm Tình Vàng 1980, Nhạc Trẻ Hiện Đại 1982, Mơ Ước Người Yêu 1983, Hey với 12 bài nhạc Pháp (Julio Iglesias hát) do Lê Tòan viết lời Việt, cuốn Ngày Ấy Nay Còn Đâu với các tiếng hát Family Love.
Lê Toàn đã sáng tác khỏang 50 bản có Bên Bóng Dừa, Tình Vàng…. Nhiều chương trình như Lê Tòan 30 Năm Âm Nhạc, Lê Tòan 40 Năm Âm Nhạc và Lê Tòan 60 Tuổi đã được tổ chức tại Quận Cam. Anh cũng phát hành CD Tình Mơ năm 2013. Tháng 9 năm 2013 Lê Tòan và Vân Quỳnh thực hiện đêm nhạc thính phòng tại quán Lạc Cầm với chủ đề nhạc ngọai quốc rất thành công.
Hiện nay Lê Toàn vẫn sáng tác , vẫn thu âm với một máy điện tóan cầm tay Laptop và Keyboard những bài hát cho riêng mình. Tuy đã lớn tuổi, nhưng ca nhạc sĩ Lê Tòan vẫn còn giữ nét sinh động của một nghệ sĩ với nhiều năm đàn hát trong dòng ca nhạc của cộng đồng người Việt Nam hải ngọai. Và niềm đam mê nghệ thuật trong anh vẫn còn nồng nàn.

Ca nhạc sĩ Lê Toàn.
Nhạc phẩm “Love Me, Please Love Me” (Lời Việt: Lê Toàn)
Love me, please love me
Lòng cuồng say với em
Cớ sao mà em cứ trêu ghẹo tình tôi
Cho trái tim này héo mònLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Hỡi em, một khi biết tôi mang niềm cay đắng
Em có thấy lòng sướng vui?Tuy tôi chưa nghe em trao duyên
Nhưng bao lần trong mắt em
Vẫn lóe lên nỗi u hoài
Cho nên đôi khi tôi mong sao
Dẫu mai sau đời tôi dở dang
Mong cho được sánh đôi bên emLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Cớ sao mà em mãi trêu ghẹo tình tôi
Cho trái tim này héo mòn…Không mong chi nơi tin yêu
Tôi âm thầm trong bóng đêm
Cứ ấp ôm một mối si tình
Nhưng hôm sau con tim như vui hơn
Vẫn yên tâm rằng khi nắng lên
May ra đời đổi thay… hôm nayLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Cớ sao mà em vẫn như là băng giá
để trái tim này nát tanLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Hỡi em, nhìn tôi đắng cay mong tình yêu tới
Em cớ sao đành sướng vuiLòng cuồng say yêu ẹm. Cớ sao mà em cứ dang dở tình tôi. Cho trái tim này héo mò. Love me, please love me. Lòng cuồng say yêu em. Hỡi em, một khi biết tôi mang niềm cay đắng. Em có thấy lòng mình yên vui? Và tình yêu là ngôn ngữ dại dồng của những tâm hồn yêu nhau. Có lẽ bởi thế, phải chăng lý lẽ yêu yên vui, yêu trong sầu bi, tình lụy như bài tình ca sau đây:
Mr. Lonely thuộc đề mục đau đầu vì tình yêu trắc trở, lời ca van lơn, xót xa tê tái cõi lòng. Mr. Lonely, hay “Người Cô Đơn” là một ca khúc đồng sáng tác và thu âm bởi . Bài hát ra đời trong năm 1962, nó vang dội được vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong tháng Mười cùng năm. Khi ca sĩ Bobby Vinton cho ra dĩa nhạc Greatest Hits của mình vào mùa thu năm 1964, bài nhạc leo thang tột đỉnh là hạng Top # 1 trên bảng xếp hạng Billboard trong tháng mười hai năm 1964. Hãy nghe người đàn ông cô đơn lạc hướng, tình si dương phương khổ lụy như thế nào nhé:
Hỡi cô đơn…
Tôi vốn mãi cô đơn,
Tôi không còn ai cả,
Nỗi niềm riêng tôi
Tôi là người cô đơn
Tôi không còn ai cả,
Nỗi niềm riêng tôi.
Này, bài hát này đã đi vào những đêm cô đơn của người cô dơn. Tuyệt tình làm làm saoo, khi người con gái ấy đã ra đi,..
Việt Hải ghi nhận sau đây:
Những tình khúc do yếu tố cô dơn, lẽ loi trong tình trường như trên. Tôi cũng xin dẫn nhập vào chủ dề nhạc sĩ Dỗ Lễ và những tình khúc do ông sáng tác. Trong chủ dề Tưởng Nhớ Nhạc Sĩ Đỗ Lễ, theo bài viết “Nhạc sĩ Đỗ Lễ và 3 ca khúc thất tình nổi tiếng: Sang Ngang, Chia Ly và Tình Phụ“, xin trích doạn như dưới đây:
“Bài hát Sang Ngang ra đời vào năm tác giả được 24 tuổi thì công chúng mới biết đến tên của ông. Trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975, hầu như ai cũng biết mối tình si mà Đỗ Lễ dành cho ca sĩ Lệ Thanh vào khoảng đầu thập niên 1960. Khi đó Lệ Thanh đã là một trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất của phòng trà Sài Gòn, còn Đỗ Lễ chỉ là một anh sinh viên đa tình, đêm nào cũng đến trồng cây si ở các phòng trà Anh Vũ tới Bồng Lai, Hòa Bình… hoặc bất kỳ nơi nào có Lệ Thanh trình diễn. Đỗ Lễ rất yêu tiếng hát của Lệ Thanh, là một ca sĩ được nhận xét là chỉ có sắc vóc trung bình nhưng sở hữu giọng ca nồng nàn với những nốt vuốt độc đáo mà cho tới bây giờ chưa có người thay thế.
Người ca sĩ trình diễn trên sân khấu, ánh mắt nhìn bâng quơ xuống hàng ghế khán giả, không chủ ý nhìn ai, nhưng nhạc sĩ Đỗ Lễ luôn tin rằng nàng ca sĩ đang nhìn mình, hát cho mình nghe, rồi ôm lòng tương tư. Rồi đến một ngày Lệ Thanh giã từ ca hát để đi lấy chồng, bỏ lại tất cả hào quang sân khấu và sự tiếc nuối của khán giả, và người hụt hẫng nhất chính là Đỗ Lễ. Dù chỉ là mối tình đơn phương, nhưng ông đã tưởng tượng rằng hai người đã yêu nhau thắm thiết, rồi người con gái ngoảnh mặt để sang ngang, để rồi sáng tác nên ca khúc gắn liền với sự nghiệp của ông với tựa đề là Sang Ngang: “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi… Mai bước sang ngang, lòng thêm nát tan, tình đã dở dang… Thôi khóc làm gì, đã lỡ duyên thề, thương nhau làm chi. Nỗi buồn ai hay, khi mình chia tay. Xa cách nhau rồi…”.
Click để nghe Thái Thanh hát Sang Ngang trước 1975 Nữ danh ca Thanh Lan nhận xét về ca khúc này như sau: “Đỗ Lễ đã đến với khán thính giả yêu nhạc bằng đôi hia bảy dặm, chỉ cần đặt bút viết xuống đôi lời thủ thỉ “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi…”, anh đã trọn vẹn nắm được con tim của tất cả những ai đã từng nếm được hạnh phúc cũng như đau thương của tình yêu đích thực”.
Ngay sau đó, nhạc sĩ Đỗ Lễ còn sáng tác một ca khúc khác, có nội dung gần giống với Sang Ngang, đó là Chia Ly, cũng với tâm trạng của một người phải tiễn người yêu sang ngang: “Mai lên xe hoa em sầu trong áo cưới Em lên xe hoa còn thương nhớ một người Ai gieo đau thương đếm từng đêm ướt gối Em đã đi rồi, em đã quên người tình xưa” Tuy nhiên, do một sự nhầm lẫn nào đó mà thời gian sau này, bài hát bị ghi nhầm tên thành Chuyện Buồn Tình Yêu…
Khi Nữ ca sĩ Lệ Thanh theo chồng và mai danh ẩn tích, hoàn toàn không trở lại với ánh đèn sân khấu lần nào nữa, và mối tình đơn phương của nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng dần nguôi ngoai theo thời gian. Đỗ Lễ lập gia đình với ca sĩ ít tên tuổi là Hoài Xuân, được xem là người đầu tiên hát ca khúc Sang Ngang. Tuy nhiên cuộc hôn nhân đó chỉ kéo dài 6 năm thì kết thúc. Đó là thời gian mà nhạc sĩ Đỗ Lễ bị lâm vào nỗi buồn đau một lần nữa vì tình yêu, nên đã sáng tác bài Tình Phụ: Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi… Click để nghe Lệ Thu hát Tình Phụ trước 1975 Nhạc sĩ Đỗ Lễ còn sáng tác rất nhiều ca khúc khác nữa, được ông đưa vào trong 4 băng nhạc tuyển Đỗ Lễ, tuy nhiên 3 bài nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của ông là Sang Ngang, Chia Ly và Tình Phụ, đều là những bài nhạc thất tình nổi tiếng nhất của nhạc vàng. Ba bài hát này rất buồn, và nỗi buồn đó như là đã vẫn vào cuộc đời của người sáng tác, bởi vì nhạc sĩ Đỗ Lễ đã vĩnh viễn ra đi vào năm 1997 ở tuổi 56, khi ông đã tự kết liễu đời mình vì những nỗi buồn riêng không thể giải tỏa được.
Người tình ở bên cạnh Đỗ Lễ những năm cuối đời là Vương Thị Lam Phương đã nhận xét về ông như sau: “Đỗ Lễ là một người rất ủy mị, con người anh ấy cũng rất yếu đuối, cứ gặp chuyện gì buồn là trở nên suy sụp, rất chán nản và không còn thiết hoạt động gì nữa, theo tôi nghĩ đó chính là điều đưa đến cái ᴄhếƭ của anh ấy!”.”
Nguồn: Nhạc vàng Bolero.
Sau dây là trích đoạn của nhà văn Kiều My, và chi tiết như sau:
Đỗ Lễ, người nhạc sĩ tài ba, đã kết liễu cuộc đời vì chữ “tình”! Người nhạc sĩ bạc mệnh này được giới yêu nhạc biết đến qua những bản tình sầu thảm như: Sang Ngang, Tình phụ, Chia Ly v.v…Những lời ca đau thương, ray rứt đã chiếm trọn trái tim của những ai từng trải qua đau khổ thất vọng trong tình yêu. Nhạc của Đỗ Lễ cưu mang một tình yêu tuyệt vọng, chứa đựng sự đau thương, âm thầm lặng lẽ… trong những tình khúc reo hờn từ trái tim rướm máu. Vì thất tình ca sĩ Lệ Thanh, ông quá đau khổ đã trải lòng mình qua ca khúc SANG NGANG:
“Thôi nín đi em lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi!
Em hỡi đôi mình, mộng nay đã tan, tình đã dở dang
Em khóc những chiều, anh xót xa nhiều, thương cho tình yêu…
Lời bài hát “Sang Ngang” mang nỗi niềm của tác giả quá nặng tình, lưu luyến, sắt son và thủy chung với mối tình tuyệt vọng. Ông đã say trong nỗi đau với men rượu và sáng tác ca khúc TÌNH PHỤ:
Chuyện tình mười mấy năm qua
Nay bỗng xót xa mỗi khi sầu dâng
Còn đâu ngày quen biết nhau
Đã yêu em rồi, yêu cả một đời…
Còn nỗi đau nào hơn trong cảnh “CHIA LY” với người mình yêu thương? Còn lời chua xót nào hơn bằng những giọt nước mắt chia xa?
Nói đi em câu chuyện buồn tình yêu
Nói đi em vì mình thương quá nhiều
Khóc làm chi cho hoen úa rèm mi…
Nhạc sĩ Đỗ Lễ đã từ giả cõi đời đầy đau khổ trong tình trường của ông. Nhờ thế, mà ông đã để lại cho đời “sự nghiệp âm nhạc Đỗ Lễ” bằng những tình khúc buồn…thật buồn!
oOo
Trong bài viết “Phận đời sầu thương của nhạc sĩ Đỗ Lễ” của tác giả Anh Nhi, chi tiết dược trích đoạn như sau:
“Nhạc sĩ Đỗ Lễ tên thật là Đỗ Hữu Lễ, ông sinh ngày 12/10/1941 tại Hà Nội. Từ nhỏ, ông đã là một người thông minh, có nhiều tài năng, được gia đình đầu tư cho học ở các ngôi trường nổi tiếng. Ông từng học tại Trường Hàng Vôi, sau đó là Trường Chu Văn An vào những năm trung học. Đến khi gia đình chuyển vào Sài Gòn (TP HCM) sinh sống, ông lại tiếp tục theo học những ngôi trường danh tiếng lúc bấy giờ là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (1953 – 1954), Đại học Khoa học Sài Gòn (1959), Đại học Luật Khoa Sài Gòn (1963).
Không những có nền tảng học vấn tốt, nhạc sĩ Đỗ Lễ còn có tài năng sáng tác âm nhạc từ bé. Từ năm 10 tuổi, ông đã tự học nhạc, đến năm 15 tuổi bắt đầu sáng tác những ca khúc đầu tiên. Tuy nhiên, trong giai đoạn thiếu thời, ông không gây được tiếng vang bằng tài năng âm nhạc của mình. Phải đến lúc ngoài hai mươi tuổi, trải qua mối tình day dứt với nữ ca sĩ Lệ Thanh, ông mới có những sáng tác để đời là chùm ba ca khúc “Sang ngang”, “Chia ly” và “Tình phụ”.
Câu chuyện tình của Đỗ Lễ với Lệ Thanh bắt đầu khoảng những năm 50 của thế kỷ trước. Lúc bấy giờ, Lệ Thanh đã là một ca sĩ có tiếng. Bà nổi bật nhờ vẻ đẹp nhẹ nhàng, trong trẻo, giọng ca dịu dàng, ấm áp. Các nhà văn thời đó ca tụng bà giống như một nữ sinh e ấp, ngọt ngào trong những bộ váy, áo dài màu thiên thanh, màu trắng, xám bạc,… khiến biết bao người đàn ông say mê trồng “cây si”. Nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng như vậy, ông yêu tha thiết nàng kiều nữ Sài Gòn.
Nữ danh ca Thanh Lan từng viết về nhạc sĩ Đỗ Lễ và ca khúc “Sang ngang” như sau: “Anh đến với khán thính giả yêu nhạc bằng đôi hia bảy dặm, chỉ cần đặt bút viết xuống đôi lời thủ thỉ “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi…”, anh đã trọn vẹn nắm được con tim của tất cả những ai đã từng nếm được hạnh phúc cũng như đau thương của tình yêu đích thực”…
Lâm Tường Dũ viết: “Khoảng cuối năm 1964, ở tại một phòng trà nhỏ nằm gần đường Đinh Tiên Hoàng, Dakao, Tân Định có cái tên rất là Nhựt Bổn Kontiki. Nhạc khúc “Sang ngang” được một ca sĩ hạng B tên Hoài Xuân trình bày. Cô ca sĩ khoảng 17, 18 tuổi rất xinh, rất đẹp có đôi mắt buồn não nuột. Nàng cất giọng ca thê lương băng giá cả màn đêm. Bản nhạc này được giới thưởng ngoạn buổi đó khen ngợi nhiệt tình…”.
Theo nhiều người kể lại, lần đầu chứng kiến ca sĩ Hoài Xuân hát ca khúc “Sang ngang”, Đỗ Lễ ngồi ở dưới không rời mắt khỏi vẻ đẹp u buồn, thoáng nét sầu mơ của cô. Từ đó về sau, dù cô đi diễn ở bất cứ phòng trà nào, ông cũng tham gia ngồi nghe. Đỗ Lễ ân cần đưa đón nữ ca sĩ trẻ về nhà, trở thành một điểm tựa cho cô. Tuy nhiên, một số người thân thiết với Đỗ Lễ cho rằng, ông tìm thấy những nét tương đồng của Hoài Xuân với Lệ Thanh khi cô trình diễn trong các phòng trà.
Vì vậy, cuộc hôn nhân của Đỗ Lễ và nữ ca sĩ Hoài Xuân diễn ra rất ngắn ngủi, hai người chóng vánh kết hôn, nhanh chóng ly hôn sau 6 năm chung sống. Cặp đôi có với nhau ba người con. Khi chia tay, đời tư của họ không còn được nhắc đến nhiều nữa. Thời gian đau khổ này ông sáng tác bài “Tình phụ”. Bài hát cũng đã được tuyển chọn vào vòng chung kết những nhạc phim hay tại Đại hội Điện ảnh Á châu tổ chức tại Tokyo vào đầu thập niên 1970 và cũng là bài hát trong phim “Sóng tình” với diễn viên chính là Thẩm Thúy Hằng.
Lời ca vận vào số phận
Đỗ Lễ được mệnh danh là “cha đẻ của những bản tình ca dang dở”, nhạc của ông mang cái lặng lẽ, âm thầm, sự đau thương trong tình khúc reo hờn trầm buồn đi thẳng vào cuộc đời. Từ muôn trùng, mỗi lần nghe tiếng nhạc trỗi vang là mỗi lần cảm thấy lòng bùi ngùi, se sắt lại, tình bâng khuâng với dòng nước, hồn lơ lửng theo mây gió. Trong những phút tuyệt vời ấy, người ta lại thầm nghĩ tới người nghệ sĩ đã soạn thành những tình khúc dang dở của tình yêu, hình dung đến cái đẹp hào hoa, tao nhã của con người nhiều lãng mạn và mộng mơ, để lòng thổn thức với thế nhân. Và có lẽ lời ca đã “tiên đoán” trước số phận buồn của Đỗ Lễ.
Chia Ly (Chuyện Buồn Tình Yêu)
(Tác giả: Đỗ Lễ).
Nói đi em câu chuyện buồn tình yêu
Nói đi em vì mình thương quá nhiều
Khóc làm chi cho hoen úa rèm mi
Cho héo úa xuân thì
Nhớ thương nhau rồi đi
Nói đi em khi chuyện mình dở dang
Nói đi em vì tình duyên lỡ làng
Khóc làm chi cho chua xót tình yêu
Cho cay đắng thêm nhiều
Yêu chẳng được bao nhiêu
Mai lên xe hoa em sầu trong áo cưới
Mai lên xe hoa còn thương nhớ một người
Ai gieo đau thương đếm từng đêm tiếc nuối
Em đã đi rồi, em đã quên người tình rồi
Nói đi em, cho vơi niềm thương đau
Nói đi em, để lòng nguôi nỗi sầu
Khóc làm chi, cho đau đớn người đi
Cho héo úa xuân thì, ta âm thầm chia ly”.
Về đường học vấn, ông học tiểu học ở trường Hàng Vôi, đến năm 11 tuổi được học trung học ở ngôi trường danh tiếng Chu Văn An (thường được gọi là trường Bưởi). Năm 1953, ông theo gia đình di cư vào Sài Gòn và từng theo học các trường Mỹ Thuật ở Sài Gòn và Gia Đình. Năm 1959, ông vào Đại học Khoa học Sài Gòn, sau đó học tiếp trường Đại học Luật khoa Sài Gòn vào năm 1963. Năm 1965, ông từng giành được huy chương vàng trong một cuộc thi Lực sĩ đẹp. Có thể nhận thấy nhạc sĩ Đỗ Lễ là một trí thức được đào tạo chính quy ở các trường học tiếng tăm nhất ở cả Hà Nội lần Sài Gòn. Ngoài ra, ông vốn có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ, từ năm 10 tuổi đã tự học nhạc, sau đó tập sáng tác năm 15 tuổi, với những bài hát đầu tay là Tình Mẹ Hiền, Tan Vỡ…, tuy nhiên phải đến năm 24 tuổi thì nhạc sĩ Đỗ Lễ mới được công chúng biết đến rộng rãi với ca khúc Sang Ngang, sáng tác cho mối tình đơn phương của tác giả với nữ danh ca Lệ Thanh.

“Sang ngang”
Thôi nín đi em!
Lệ đẫm vai rồi
Buồn thương nhớ ơi!
Anh hỡi đôi mình
Mộng nay đã tan
Tình đã dở dang
Em khóc những chiều
Anh xót xa nhiều
Thương cho tình yêu
Nỗi buồn chua cay
Khi lòng đổi thay
Thôi hết sum vầy
Điệp khúc:
Nếu biết răng…tình là giây oan
Nếu biết rằng… hợp rồi sẽ tan
Nếu biết răng.. yêu là đau khổ
Thà dương gian…đừng có chúng mình
Lau mắt đi em
Gần hết đêm rồi
Buồn thêm nữa sao
Mai bước sang ngang
Lòng thêm nát tan
Tình đã dở dang
Thôi khóc làm gì
Đã lỡ duyên thề
Thương nhau làm chi?
Nỗi buồn ai hay
Khi mình chia tay
Xa cách nhau rồi”
Đỗ Lễ cha đẻ của những bài ca dang dở…như: Ai từng yêu nhạc mà không âm thầm nghĩ đến Đỗ Lễ, cái lặng lẽ âm thầm ấy… là sự đau thương trong tình khúc reo hờn trầm buồn đi thẳng vào cuộc đời. Từ muôn trùng, mỗi lần nghe tiếng nhạc trỗi vang là mỗi lần cảm thấy lòng bùi ngùi se sắt lại, tình bâng khuâng với giòng nước, hồn lơ lửng theo mây gió. Trong những phút tuyệt vời ấy, người ta lại thầm nghĩ tới người nghệ sĩ đã soạn thành những tình khúc dang dở của tình yêu, hình dung đến cái đẹp hào hoa tao nhã của con người nhiều lãng mạn và mộng mơ, để lòng thổn thức với thế nhân.
Những hình ảnh đẹp rực rỡ huy hoàng của chàng nhạc sĩ Đỗ Lễ là người mang đầy những thơ mộng dày đặc những đau thương và sầu khổ đã phủ kín đời anh. Đỗ Lễ ra đời năm 1941 tại Hà nội, Trời đã phú cho Đỗ Lễ từ thuở nhỏ, năm 14 tuổi đã sáng tác, đến năm 18 tuổi nổi tiếng nhạc phẩm đầu tiên Tan Vỡ & Sang Ngang, tiếng nhạc trở nên réo rắt và tâm hồn trở nên tha thiết trong mối tình đầu dang dở ấy… Những tiếng nhạc buồn như mời mọc, van xin và sự sầu khổ man mác tạo thành những ca khúc tuyệt vời là tiếng lòng thổn thức của Đỗ Lễ. Tôi yêu nét nhạc đậm đà của Đỗ Lễ và Đỗ Lễ tiếp tục hát, nghe em!
Tan Vỡ (Tác giả : Đỗ Lễ).
“Bao nguồn vui đã mất, lòng chết theo ngàn tiếng ca
Nghe niềm đau day dứt hoa lá nức nở xót xa
Ôi làn da thơm hương trinh dâng lên tuyệt vời
Ôi bờ môi thắm thơ ngây in trong nụ cười
Khi tình yeu đã đến lòng đắm say ngàn ước mơ
Ôi mộng tình đôi lứa êm ái như ngàn ý thơ
Khi tình tan vỡ tan theo mơ uớc mot đời
Trong niềm băng giá con tim thổn thức không nguôi
Em ơi, nếu biet thế thà đừng quen nhau
Đừng mơ phút ban đầu cho tình ta thêm lâu
Em ơi, nếu biết thế thà dừng yêu nhau
Đừng yêu phút ban đầu cho tình ta thêm sầu
Phấn son chưa nhạt môi hồng
Xa xôi em còn nhớ không
Một chiều mưa bay giăng giăng
Anh gửi màu hoa tím
Như màu máu con tim đang tàn lửa hương duyên
Một mai mang xuống tuyền đài
Bóng hình em muôn kiếp không pha”
Ôn về tiểu sử…
Nhạc sĩ Đỗ Lễ tên thật là Đỗ Hữu Lễ, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1941 tại Hà Nội. Ông từng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (1953), Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định (1954), Đại học Khoa Học Sài Gòn (1959), Đại học Luật Khoa Sài Gòn (1963). Năm 1951, Đỗ Lễ tự học nhạc và bắt đầu sáng tác khi 15 tuổi. Bài Sang Ngang được ông viết trong tình cảnh tuyệt vọng khi người ông yêu (ca sĩ Lệ Thanh.) lên xe hoa. Sau đó ông kết hôn với nữ ca sĩ Hoài Xuân (người đầu tiên trình bày bài Sang Ngang), tuy nhiên cuộc tình này chỉ kéo dài 6 năm khi có với nhau 3 mặt con. Thời gian đau khổ này ông sáng tác bài Tình Phụ. Nhạc phẩm này cũng đã được tuyển chọn vào vòng chung kết những nhạc phim hay tại Đại hội Điện ảnh Á Châu tổ chức tại Tokyo vào đầu thập niên 70 và cũng là nhạc phẩm chính trong phim Sóng Tình với diễn viên chính là Thẩm Thúy Hằng. Nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng từng phụ trách một chương trình ca nhạc hàng tuần trên Đài Truyền hình Sài Gòn mang tên là Thời Trang Nhạc Tuyển. Chương trình này quy tụ các ca sĩ như Hoàng Oanh, Khánh Ly, Thanh Lan, Phương Hồng Hạnh, Ngọc Minh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan, Caroll Kim, Hoài Xuân, Xuân Đào, tam ca Sao Băng, 3 Con Mèo, 3 Trái Táo…
Sau năm 1975, nhạc sĩ Đỗ Lễ sinh sống bằng cách mở lớp dạy nhạc, đến năm 1994 thì được thân nhân bảo lãnh qua Mỹ định cư tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Tháng 10 năm 1996, ông trở về thăm quê hương và đến ngày 24 tháng 3 năm 1997 thì đột ngột kết liễu đời mình bằng một liều Quinine cực mạnh trong căn nhà đang thuê trên đường Trần Đình Xu, Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông để lại 2 lá thư tuyệt mệnh, một cho vợ và một cho một người bạn thân.
Theo bà Vương Thị Lam Phương thì Đỗ Lễ rất chán nản với cuộc sống tại Hoa Kỳ và ông “là một người rất ủy mị, con người anh ấy cũng rất yếu đuối, cứ gặp chuyện gì buồn là trở nên rất suy sụp, trở nên rất chán nản và không còn thiết hoạt động gì…theo tôi nghĩ đó chính là điều đưa đến cái chết của anh ấy…”
Về tác phẩm, ông sáng tác khoảng 700 bài.Điển hình như các bài ca sau:
Anh không muốn em buồn
Bốn mùa yêu nhau
Cay đắng
Chia ly
Khóc
Lệ sầu
Lụy tình
Ly tan
Niềm thương
Nỗi niềm
Nuối tiếc
Oan trái
Theo bài viết “Chuyện cuối đời về Nhạc Sĩ Đỗ Lễ” của tac giả Xuân Hòa xin trích doạn như sau:
“Có lần ngồi hàn thuyên tâm sự. Tôi có chút thắc mắc về ”Chuyện tình Sang Ngang” của Anh . Có một chút ngại ngần nào đó.
– Anh biết Xuân Hòa muốn hỏi gì rồi ! Đây không phải là chuyện tình “đơn phương” như người đời bạn bè đồn thổi đâu – Anh trả lời.
Thôi thì cứ tin như vậy để cuộc đời thêm vui Ca sĩ Lệ thanh cũng ” Yêu ” anh, nhưng vì Anh nghèo quá và Lệ Thanh gia đình danh giá, vì nghe lời gia đình nên phải bỏ anh để lấy chồng. Đó là lý luận của chàng Nhạc sĩ si tình. Với mối tình đớn đau này chàng nhạc sĩ họ Đổ đã biện minh cho mối tình đơn phương này nhạc phẩm Sang Ngang:
Thôi nín đi em! Lệ đẫm vai rồi Buồn thương nhớ ơi! Anh hỡi đôi mình Mộng nay đã tan Tình đã dở dang. Em khóc những chiều Anh xót xa nhiều Thương cho tình yêu Nỗi buồn chua cay Khi lòng đổi thay Thôi hết sum vầy.
Tôi và mấy cô em thỉnh thoảng vẫn đến để xem anh làm việc, Người Nhạc sỉ hiền lành đến tội nghiệp. Anh quên hết sự đời khi trên tay có cây đàn Guitar. Đây là niềm an ủi vô tận của nhạc sĩ Đổ Lễ. Và Cô ca sĩ hát bài hát Sang Ngang hay nhất ( theo nhận xét của tác giả ):Ca sĩ Hoài Xuân đã trở thành người vợ của chàng nhạc sĩ lãng đãng, đa tình .
Định mệnh một một lần nửa lại đùa cợt với chàng Nhạc Sĩ hiền lành đến ngơ ngác trong tình trường. Qua thời gian hạnh phúc với ba người con. Hoài Xuân cũng ôm cầm sang thuyền khác Và Người Nhạc Sĩ này lại một lần nửa chấp nhận với những đắng cay mà Định mệnh đã dành cho Anh. Không một lời oán trách Nhạc phẩm tình phụ đã xuất hiện trong thời điểm này không một lời trách móc oán hận:
Chuyện tình mười mấy năm qua nay bỗng xót xa những khi sầu dâng. Còn đâu ngày quen biết nhau đã yêu em rồi, yêu cả cuộc đời. Khi em đã phụ lòng anh, nỡ phụ lòng anh, đau thương để lại xót xa vô vàn. Chỉ là bội ước những lời hẹn thề mà lòng tái tê.
Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi. Thôi nhé em! người nào phụ tình! Lòng buồn một mình, ray rứt không thôi Khi phụ lòng, thì ngờ tình người Mang theo thương đau khi giã từ nhau! Chuyện mình tàn với năm qua mang thêm xót xa mỗi khi lệ rơi.
Sầu dâng ngày tháng đớn đau trách ai phụ mình, trách ai bạc tình. Cho em vẫn phụ lòng anh, vẫn phụ lòng anh Cho anh vạn sầu đắng cay tình đầu. Còn lại màu trắng xóa mờ cuộc tình đời còn dở dang. Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mà thôi. Thôi nhé em! người nào phụ tình! Lòng buồn một mình, ray rứt khi phụ lòng Thì ngờ tình người mang theo thương đau khi giã từ nhau!”
Tình Phụ
(Tác giả: Đỗ Lễ).
Chuyện tình mười mấy năm qua nay bỗng xót xa những khi sầu dâng.
Còn đâu ngày quen biết nhau đã yêu em rồi, yêu cả cuộc đời.
Khi em đã phụ lòng anh, nỡ phụ lòng anh,
đau thương để lại xót xa vô vàn.
Chỉ là bội ước những lời hẹn thề mà lòng tái tê.
Điệp khúc:
Thôi nhé em còn hận tình này,
Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi
Đem chôn vùi vào ngày thật buồn
cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi.
Thôi nhé em! người nào phụ tình!
Lòng buồn một mình, ray rứt không thôi
Khi phụ lòng, thì ngờ tình người
Mang theo thương đau khi giã từ nhau!
Chuyện mình tàn với năm qua mang thêm xót xa mỗi khi lệ rơi.
Sầu dâng ngày tháng đớn đau trách ai phụ mình, trách ai bạc tình.
Cho em vẫn phụ lòng anh, vẫn phụ lòng anh
Cho anh vạn sầu đắng cay tình đầu.
Còn lại màu trắng xóa mờ cuộc tình đời còn dở dang.
Thôi nhé em còn hận tình này,
Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi
Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mà thôi.
Thôi nhé em! người nào phụ tình!
Lòng buồn một mình, ray rứt khi phụ lòng
Thì ngờ tình người mang theo thương đau khi giã từ nhau!”.
***
Phần kết luận tôi xin đem thơ Nguyễn Bính, một nhà thơ lãng mạn trong thi ca, như trong âm nhạc có nhạc sĩ Đỗ Lễ vậy. Nguyễn Bính sáng tác thơ tương tu, thất tình trong bài “Vì em”, nhà thơ bảo rằng vì em mà ông làm thơ, để rồi nhớ mong, để rồi mơ được ôm em vào lòng, và để rồi hôn em bằng sự thơ ngây trong tâm hồn:
“Tôi xin ôm lấy vào lòng
Tôi xin giữ lấy trọn vòng thời gian
Tôi xin sung sướng vô vàn
Để ca ngợi, để mơ màng em luôn
Tôi xin dành một chiếc hôn
Đặt lên tất cả tâm hồn thơ ngây”
Cũng là “Vì Em” mà nhà thơ muốn kính cẩn “tôn thờ EM” sống mãi bên bờ sông yêu đương. Và bù lại chàng chỉ cần nàng ban cho nụ cười hay những lời ngọt ngào ái ân:
“Tôi xin kính cẩn vọng thờ
Thắp hương cầu nguyện bên bờ sông yêu
Nhưng đau lòng biết bao nhiêu !
Người tôi yêu chỉ biết yêu như người
Chỉ cho tôi những nụ cười
Chỉ cho được những lời ái ân…”

Xin cảm ơn tạp chí Văn Học Mới và nhà thơ Hà Nguyên Du khi cho tôi góp bài Tưởng Nhớ NS. Đỗ Lễ là đây. Hoàng Nam (VHLA)
Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My. (20/05/2024).
-
Mười Năm – Nhớ Nguyễn Xuân Hoàng

Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng thấm thoát ra đi được 10 năm (Sinh ngày 7 tháng 7, 1940 tại Nha Trang, Khánh Hòa, và Mát ngày 13 tháng 9, 2014 (74 tuổi) tại San Jose, California, Hoa Kỳ. Ông là cựu học sinh Võ Tánh Nha Trang và Pétrus Kỳ Sài Gòn, lên đại học có lúc ông học dự bị y khoa nhưng cuối cùng vào văn chương, triết học ở Đại học Đà Lạt. Ông kể kỷ niệm dạy học ở trường Ngô Quyền, Biên Hòa, rồi một năm sau đó về dạy tại trường Petrus Ký ở Sài Gòn, nơi ông gắn bó hơn một thập niên cho đến ngày Sài Gòn bị giặc pắc pó, bắc nô cưỡng chiếm.
Trong bài “Tháng Chín, nhớ Nguyễn Xuân Hoàng” của tác giả Trần Doãn Nho đăng trên báo online Người Việt. Kể về mục sổ tay của Nguyễn Xuân Hoàng, bài ghi nhận như sau:
“Sổ Tay trước hết là sự kiện: xã hội, văn học, chính trị, bóng đá, thời tiết, ra mắt sách, tác phẩm mới, tác giả mới, phim mới… Lan man. Tản mác. Rời rạc. Nhưng đầy hơi thở, đầy hiện thực: gặp bạn bè ở Paris, ở Houston, ở Sài Gòn, lụt ở miền Trung năm 1999, ra mắt sách người này người nọ, những người bạn đến thăm, những người bạn đau, những người bạn qua đời, những chuyến đi, Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Orange County, những tác phẩm vừa xuất bản, cảm giác về những ngày mưa, ngày nắng, ngày tuyết, về giải bóng đá thế giới, về chuyến đi của Clinton sang Tàu, vân vân…
Sổ Tay là những hồi ức sống động.
“Một buổi tối, trong căn phòng hẹp nằm sau ‘ngõ hẻm’ Song Long, chủ nhà Mai Thảo tiếp Thụy Khuê, Bùi Bảo Trúc, vợ chồng nhà báo Đỗ Ngọc Yến, vợ chồng luật sư Đỗ Xuân Hòa, Khánh Trường… Nhà có ba chiếc ghế. Khách ngồi bệt xuống sàn, xung quanh là những cuốn sách, những chai rượu. Mọi người nói đủ thứ chuyện: cuộc sống, văn chương, thời sự… nhưng tuyệt nhiên không ai nói về sức khỏe của Mai Thảo và Khánh Trường. Từ gần một năm nay, cả hai nhà văn này không khỏe. Khánh Trường luôn cười nói, lạc quan hơn một người có sức khỏe bình thường. Thế nhưng, người ta biết ông đang bị sa sút về thể lý. Trong một tháng, hơn ba lần Khánh Trường vào bệnh viện. Có đôi lúc, tiếng nói ông thấp xuống, không còn cái ‘ồn ào sang sảng’ mỗi khi trêu ghẹo bạn bè. Rõ ràng là Khánh Trường không muốn nói và cũng không muốn nghe ai nói về tình trạng sức khỏe của mình. Còn Mai Thảo, chuyện di chuyển của ông đã bắt đầu khó khăn. Ăn rất ít. Chỉ những giọt rượu là những thang thuốc bổ còn giữ được ông ở lại với chúng ta.” (Văn, Tháng Bảy, 1997). Sổ Tay là những nhận xét cô đọng về người, về văn.
Cái chết của một người bạn: “Tối thứ hai 24 tháng Năm, Phạm Phú Minh từ quận Cam gọi lên San Jose cho biết Lê Đình Điểu đã từ giã bạn bè ra đi. Giờ đó tôi vẫn còn ngồi trong tòa soạn. Đồng hồ chỉ 10 giờ hơn. (…) Điểu là người không hút xách, không rượu chè, không bài bạc, anh sống ngăn nắp và đàng hoàng. Sống ngăn nắp và đàng hoàng là một điều rất khó trong đời sống của chúng ta.” (Văn, Tháng Sáu, 1999)”.
Chữ nghĩa Nguyễn Văn Sâm: “Nguyễn Văn Sâm đã nhìn Sài Gòn từ cái phía trái của nó. Bóng tối và sự khốn khó. Sài Gòn của mồ hôi và nước mắt. (…) Nguyễn Văn Sâm là người kể chuyện hơi rề rà nhưng có duyên.” (Văn, Tháng Tư, 2000)
Một nhà thơ đã mất: “Cao Đông Khánh là một hiện tượng trong thi ca Việt Nam. Chữ nghĩa trong tác phẩm ông cũ một cách rất mới, nồng nàn và sôi nổi, say sưa và mê sảng. Ông có đôi mắt của một vị thần lưu linh, và có lối đọc thơ của một người đồng thiếp.” (Văn, Tháng Bảy, 1997),… Sổ Tay cũng là nơi của bạn bè văn nghệ, bạn cũ bạn mới bạn trong nước bạn ngoài nước bạn quen lâu bạn mới quen. Bạn, chao ôi là bạn. Ở đâu cũng có bạn, đi tới đâu cũng bạn. Đầy ắp bạn. Bạn, tự nó cũng là một thứ văn chương. Cái thế giới bạn bè của Nguyễn Xuân Hoàng cũng là thế giới của văn chương. Anh gặp bạn anh sống bạn anh uống bạn anh viết bạn…
Tôi đọc bài viết “Nguyễn Xuân Hoàng Trên Con Dốc Tử Sinh” của nhà văn Ngô Thế Vinh. Tác giả viết kỷ niệm với nhà văn bạn như sau:
“Quen được Nguyễn-Xuân Hoàng trong hoàn cảnh nào thì tôi không nhớ, nhưng đó là một tình bạn khá lâu năm. Khoảng giữa thập niên 1960-1970 Nguyễn-Xuân Hoàng đã cùng với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật và Nguyễn Quốc Trụ chủ trương nhà xuất bản Đêm Trắng. Họ đều ở lứa tuổi trên dưới 30, với sức sáng tác đang sung mãn với phong cách riêng mỗi người, được coi như là nhóm “Tiểu Thuyết Mới”, với quán La Pagode như một điểm hẹn sinh hoạt. Và tên tuổi mỗi người trong nhóm, sau này đều trở thành nhân dáng những nhân vật tiểu thuyết của Nguyễn-Xuân Hoàng.
Giữa những năm giông bão của cuộc chiến tranh lúc đó, thỉnh thoảng tôi được đọc và cả quen biết họ trong những giai đoạn và các hoàn cảnh khác nhau, do rất khác về môi trường sinh hoạt và tôi thì cũng ít có thời gian ở Sài Gòn. Ra tới hải ngoại, hai người trong nhóm Đêm Trắng mà tôi còn giữ được mối liên lạc là Nguyễn-Xuân Hoàng và Nguyễn Đình Toàn….
Mấy dòng viết vội và muộn màng này chỉ là những hồi tưởng đứt đoạn để gửi tới một người bạn là Nguyễn-Xuân Hoàng. Xong bậc trung học 1959, khởi đầu Hoàng có ý định học Y khoa, là sinh viên PCB Đại học Khoa học Sài Gòn một năm, thấy ngành học không thích hợp, Hoàng chuyển sang học ban Triết, Đại học Đà Lạt, sau Hoàng Ngọc Biên một năm. Tốt nghiệp 1962, là giáo sư Triết trung học Ngô Quyền ở Biên Hoà một niên khoá và rồi được thuyên chuyển về trường Petrus Ký Sài Gòn cho tới 1975. Nhưng Nguyễn Xuân Hoàng lại được biết tới nhiều hơn như một nhà văn một nhà báo tên tuổi từ những năm 1970. Hoàng là tổng thư ký tạp chí Văn Sài Gòn từ 1972, tiếp nối Trần Phong Giao, cùng với những tác phẩm đã xuất bản gồm tuyển tập truyện ngắn: Mù Sương, Sinh Nhật; tuỳ bút: Bất Cứ Lúc Nào Bất Cứ Ở Đâu; tạp ghi: Ý Nghĩ Trên Cỏ; và hai truyện dài: Khu Rừng Hực Lửa, Kẻ Tà Đạo…
Thực ra không ai có thể chọn lựa một căn bệnh để được chết theo ý mình, ngoại trừ thứ tự do chọn lựa rất bạo động là tự sát cũng thường thấy ở các nhà văn như: Ernest Hemingway Ngư Ông và Biển Cả bằng súng (1961), Yukio Mishima Đền Vàng bằng gươm (1970), Yasunari Kawabata Ngàn Cánh Hạc bằng hơi ngạt (1972), Nhất Linh Đoạn Tuyệt bằng thạch tín (1963), Tam Ích Nghệ Thuật và Nhân Sinh treo cổ (1972)…
Hoàng thì đã và đang sống một cuộc sống tràn đầy, nên tôi cũng hiểu rằng “bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu”, bạn tôi cũng đã sẵn sàng chuẩn bị cho dặm cuối của một chặng đường cheo leo trên con dốc tử sinh. Mark Twain thì bao giờ cũng với một cái nhìn rất nhẹ nhàng về cái chết: “A man who lives fully is prepared to die at any time.” Và rồi ra, đến một lúc nào đó, ở một nơi nào đó chắc Nguyễn-Xuân Hoàng cũng sẽ ngoảnh lại rồi mỉm cười mà nhắn với bằng hữu rằng: “Tường thuật về cái chết của tôi có phần quá đáng/ The report of my death was an exaggeration. Mark Twain”.”
Với nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, hay nhạc sĩ Trần Quang Hải, cả hai tôi biết qua sân trường Petrus Ký. Hai ông bị dèm pha liên hệ vee cees. Một ông kẹt bên vợ, ông kia kẹt người cha về sinh sống bên Việt Nam. Tôi hiểu họ, đầu óc họ có sạn cả, những tiểu xảo marxisme socialisme, hay thế giới vô sản, thế giới đại đồng (le monde prolétarien, le monde universel, la fraternité universelle), là những trò bịp, bọn cee cees nắm giữ quyền bính, chúng tôi giơ ngón tay giữa ra thôi.
Hãy dọc Aleksandr Solzhenitsyn, với những ác mộng như One Day of Ivan Denisovich, Gulag Archipelago, First Floor of Hell, Cancer Ward, và The Gulag Archipelago, hay những Cry from the Abyss, Chants de Prison, Flowers from Hell (Nguyen Chi Thien).
Trong bài tôi viết cho Đặc San trường Petrus Ký, năm 2014 đề cập về GS. Nguyễn Xuân Hoàng, bài “Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, Văn Chương và Quê Hương” và bài “Văn Chương, Triết Học và Nguyễn Xuân Hoàng”, kỷ niệm thì tôi theo học lớp 12B4, thầy Hoàng dạy lớp 12B1, cách lớp tôi gần lắm, tôi gặp ông hàng tuần sang Mỹ thì kỷ niệm trao đổi văn học nhiều hơn. Tôi viết về Nguyễn Xuân Hoàng với những: Người Đi Trên Mây, Một Người Ngồi Trong Ghế Bành, Bụi Và Rác, Tự Truyện Một Người Vô Tích Sự, Căn Nhà Ngói Đỏ, Barbara,… Hãy hiểu chiều sâu nét bút của nhà văn như ông có những u buồn, hãy bao dung, hãy rộng mở, chiều sâu ngòi viết đó chất chứa phong văn lương thiện của bóng mây thoáng mát, Dĩ Văn Tải Đạo, hay Văn Dĩ Quán Đạo, hoặc “Le style, c’est l’homme”, nét bút của nhà văn trung thành với chữ nghĩa, trân quý với sách vở và yêu thương văn học.
Tôi ngẫm nghĩ sự lương thiện và thành thật trong nét bút của Nguyễn Xuân Hoàng, ông khai về gia đình mình, thân phụ rượu chè say sưa, là can phạm “hạ sát” ông tây Gaulois nào đó ở Marseille, xong kéo bà đầm Gauloise tình nhân bỏ trốn, hay thành tâm của nét bút kể về người anh cả theo CS trong khi người anh khác là trung tá Không quân của QLVNCH hy sinh đền nợ nước,… Ông chia chung cái khổ tâm của những nhà văn như những Yung Krall Đặng Mỹ Dung, Phan Nhật Nam,…
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng tâm sự lòng trong ngòi viết:
“Năm học sau cùng tôi vào Sài Gòn, được nhận vào trường Petrus Ký. Tôi học ban B, là ban Toán, như cách phân loại thời đó. Ở Petrus Ký hầu hết học sinh đều giỏi. Tôi chạy đua mệt nghỉ với các bạn cùng lớp. Ra trường, tôi ghi danh vào Đại học Khoa học, lớp PCB (viết tắt các môn học Physique, Chimie và Biologie). Tôi có ý định theo ngành y khoa… Đó là năm đầu tiên tôi bắt đầu đọc truyện. Tôi đọc Võ Phiến, Nguyên Sa, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Doãn Quốc Sỹ, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc… Tôi cũng đọc Phạm Công Thiện và Nhất Hạnh. Rồi tôi đọc André Gide, St. Exupéry, Marcel Proust, Hermann Hesse, Francois Mauriac, André Maurois, Camus, Sartre, Dostoievsky, Tolstoi… Tôi đọc cả Hemingway, Faulkner, Tennessee Williams, Arthur Miller… Đọc bản dịch Việt ngữ lẫn bản tiếng Pháp… Gặp sách gì cũng đọc, ngấu nghiến. Có cuốn đọc hiểu. Có cuốn không hiểu gì cả. Tôi tìm kiếm mò mẫm để không bị lạc. Nhưng tôi bị lạc thật. Cuốn sách tôi thích lúc đó là Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền. Và tôi thấy các môn Vật lý, Hóa học và Sinh học ở nhà trường sao mà buồn chán. Thế giới văn chương kỳ ảo và đầy hấp lực, mặc dù lúc đó tôi ao ước mình trở thành nhạc sĩ hơn là nhà văn….”
Hãy đọc tiếp Nguyễn Xuân Hoàng mô tả kỷ niệm xưa có những yếu tố ảnh hưởng đời ông: Đà Lạt, Văn Chương và Triết Học:
“Chưa hết niên học, tôi quyết định bỏ lớp, vì một lý do mà khi có dịp tôi sẽ viết lại dưới hình thức một truyện ngắn. Tôi ghi danh thi vào ban Triết, Đại Học Đà Lạt. Kỳ thi có khoảng 300 thí sinh, nhà trường tuyển 28 người. Và tôi là người đội sổ. Có hai đề thi để chọn. Tôi không nhớ đề kia, vì nó dính dáng đến một triết gia mà tôi chưa bao giờ nghe tên (vì có học hành gì đâu!), tôi chọn đề với câu nói của André Gide, tác giả La Porte Étroite. Bài luận văn của tôi phải là một bài dở nhất thế giới. Tôi nghĩ, mình thi chơi không đậu thì thôi, vì tôi cũng đã thi vào một trường khác và tôi đã được nhận. Buổi học đầu tiên Linh Mục giáo sư Alexis Cras sau khi chào mừng cả lớp, đã gọi tên tôi đứng dậy cho Cha biết mặt và Cha mỉm cười nói bài luận văn của tôi là một trường hợp đặc biệt. Cha không giải thích thế nào là đặc biệt, nhưng tôi biết đó là một bài viết được vớt vì người viết chẳng có chút kiến thức giáo khoa nào về triết cả.”
Nguyễn Xuân Hoàng, ông thầy điển trai qua làn da hoa bưởi, nhân dáng bảnh bao mà tôi bắt gặp trong khu hành lang đệ nhất B trên lầu 2 của trường Petrus Ký lắm lần. Ông sang Mỹ muộn màng để cắp sách lại đại học để thi thố cấp bằng cao như nhiều bạn bè của ông, hay như những học trò của ông tại đây, tôi muốn ám chỉ cái đất nước này, “American land, the Land of Opportunity”. Sự nhiêu khê, ác nghiệt của cuộc sống xung quanh khiến ông ở ẩn, sống trong im lặng với sự nuôi dưỡng của văn chương theo 2 nghĩa đen và bóng. Tôi hiểu ông, tôi ước gì Nguyễn Xuân Hoàng sống lại những ngày niên thiếu tại Nha Trang tĩnh lặng và hồn nhiên không có bóng mây mờ xung quanh ông. Nguyễn Xuân Hoàng hiền hòa tự bản chất, Nguyễn Xuân Hoàng cô đơn trong ý nghĩ sau:
“Mười năm sau, đặt chân lên đất nước này, tôi đã không còn tuổi trẻ. Trong văn chương ở đây tôi gặp lại một nền văn chương ở đó. Người ta dụng văn như một phương tiện. Những chiếc áo ngụy bán trong kia, và những chiếc nón cối bán bên này. Những người chống đối nhau nhưng sử dụng chữ nghĩa giống nhau như hệt. Phỉ báng, lăng mạ, chửi rủa, buộc tội… Giống nhau cho cả người thua kẻ thắng. Văn học nghệ thuật đích thực chỉ còn là một vùng đất nhỏ, bên này cũng như bên kia. Tôi học rất nhiều bằng sự câm lặng. Tôi khám phá ra chữ nghĩa của tôi đã không còn Chàng và Nàng, tôi lược bỏ không thương tiếc những tĩnh từ trong câu văn tôi. Tôi sợ những chữ mình viết ra chưa ráo mực đã cũ, như tấm ảnh rửa bằng thứ nước thuốc xấu, bị ố vàng dưới ánh sáng. Nhiều cuốn sách viết trước 1975 giờ đọc lại đã thấy cũ. Những đề tài thời thượng nhanh chóng bị đào thải. Tôi sợ những trang chữ của mình. Tôi cố đơn giản cùng cực trong cách dùng chữ. Tôi tránh cái sướt mướt. Tôi muốn những câu văn khô. Tôi “không ưa một nhà văn nói lý quá nhiều. Họ chỉ làm như vậy khi họ không còn tin vào cái lực của ngòi bút họ. Khi một người đàn bà đã qua thời nhan sắc vẫn thường bình luận nhiều về tình yêu, ghen tuông nhiều hơn và chẳng chịu thừa nhận bất cứ sắc đẹp của ai.” Ai đã nói câu đó vậy?”
Trích dẫn câu nói của một nhà văn bạn, ông cho phần kết thúc bài viết như sau:
“Nhà văn nào mà chẳng bất lực trước trang giấy trắng? Giá trị đến như Truyện Kiều mà Nguyễn Du thiên tài cũng chỉ mơ ước “mua vui được vài trống canh.” Giá trị văn học thường chỉ được người ta nhắc đến khi người viết không còn nữa… Ai lấp đầy những khoảng trống trong tư tưởng nhà văn? Ai? Người nào? May ra chỉ có thiên nhiên. Thiên nhiên sẽ lấp bằng đất, như đã từng lấp mộ các bậc đế vương hoặc bất kỳ một kẻ vô danh không tuổi không tên, không quê hương, không sự nghiệp.
Xin tha lỗi cho những suy nghĩ luộm thuộm đầu Ngô mình Sở của một người đang chuẩn bị chuyến hành hương.”
Nguyễn Xuân Hoàng xác định rõ trong phong cách viết: “chữ nghĩa của tôi đã không còn Chàng và Nàng”, bần bút xem trong tác phẩm “Một người ngồi trong ghế bành”, thú thật ông diễn tả đôi bạn tình nhân tỏ tình, lãng mạn mà theo tôi hình như có khoảng hư không ngăn cách, tôi viết văn yêu thì cho đôi tình nhân ấy được yêu nhau tới bến, gần gũi tình yêu “xáp lá cà”, yêu thương kiểu “alasso”, tapis tới tấp, nào những pha l’épaule sur l’épaule, main dans la main, hay lèvres scellées lèvres,… nhưng ông giữ biên cương nào đó, nên viết chuyện tình platonic, như tác phẩm của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, không như Mối tình nồng cháy chênh lệch quá mức tuổi tác của chú Đạt và cháu Diễm trong truyện “Yêu” của Chu Tử, hay Mối tình dị chủng giữa Martha và Chương mà hồn ái ân dâng trào, môi liền môi như trong “Dấu Chân Cát Xóa” của Doãn Quốc Sỹ, hoặc Tình yêu taboo như “Forbidden love” giữa cô giáo Trâm và cậu học trò nhỏ Minh trong truyện “Vòng Táy Học Trò” của Nguyễn Thị Hoàng,… Như vậy, truyện tình của Nguyễn Xuân Hoàng có biên cương ranh giới hẳn hòi, có hố sâu ngăn cách, có thắng hơi an toàn, một “roman” khá hiền hòa như các câu ái tình trong bài viết:
“Diệp thả tay tôi ra, nhưng mùi thơm của tóc nàng bay tận mũi tôi… Diệp ôm chặt cánh tay tôi bên hông nàng…”, rồi kế nữa cú văn hiền khô, “Tôi đẩy cửa kính và đứng qua một bên nhường Diệp vào trước. Nàng lột khăn xuống rũ nước mưa và chúng tôi chọn một chiếc bàn hơi khuất trong góc phòng… Nhưng liền ngay khi đó tiếng cười của nàng chợt tắt sau câu nói và mắt Diệp mở lớn ngạc nhiên hướng về chiếc ghế bằng da màu đỏ.
Dù sao, tôi phải công nhận là Diệp đẹp. Có lẽ vì cái dáng cao cao của nàng, bộ ngực khoẻ mạnh trên một thân thể khá mong manh, cái vẻ lạnh lẽo ở khuôn mặt cẩm thạch, cùng với mớ tóc rối đen khô làm tôi choáng váng.”
Hãy hỏi Nguyễn Xuân Hoàng có chân thật trong văn chương?
Như đã trình bày, những tác phẩm Nguyễn Xuân Hoàng cho nội dung lành mạnh, xây dựng theo phong thái tốt đẹp, những mơ ước thực sự của con người. Trong văn chương của Leo Tolstoy với “La Guerre et la Paix” (War and Peace), hay Boris Pasternak với “Doctor Zhivago”, con người là nạn nhân của chiến tranh. Cả Jean Jacques Rousseau, Khổng Tử hay Sigmund Freud minh định trong ý tưởng con người ban sơ vốn mang tính thiện, hiếu hòa, nhưng rồi cuộc sống ganh đua, tranh giành sinh ra ác tính, trong bình diện tiểu phẩm chia sẻ quan điểm nhìn cuộc đời, Nguyễn Xuân Hoàng viết lên “Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Đâu”. Trong chiến cuộc con người ước mơ hòa bình. Tôi đọc như xem cuốn phim của Pasternak. “Có phải là một điều nhảm nhí không khi ta nói đến tình yêu trong một thời đại mà người ta chỉ đề cập đến sự chết. Tôi vẫn nghĩ rằng con người càng đến gần với tình yêu chính là tiến gần đến cái chết. Yêu là chết. Và trước cái chết, người ta bao giờ cũng ham muốn sự sống. Và sự sống là gì nếu không là tình yêu? Ngụy biện quá, phải không?”.
Nguyễn Xuân Hoàng thích bạn bè văn chương, sống nội tâm, nhưng cô đơn trong bài viết, nỗi trăn trở của ông khi mà cuộc chiến ông mất đi người anh, những bạn bè thân, Sài Gòn vẫn vui chơi, vẫn sinh hoạt dửng dưng. Chính sự cô đơn đã khiến ông thu mình trong vỏ ốc trầm mặc, nội tâm dằn co mâu thuẫn, và viết lên bài viết này. Đọc văn ông để hiểu tâm trạng ông hơn. Đọc tác phẩm, ta cố đi sâu vào từng ngõ ngách thầm kín của tâm hồn mà nội dung chuyên chở ý tưởng sâu xa của người viết đặt để cốt truyện được tạo ra vậy.
Trong bài “Nhà Văn và Thời Gian”, tác giả Nguyễn Xuân Hoàng viết:
“Ông đã cho tôi nhiều suy gẫm về những giá trị đạo đức tinh thần, những trăn trở của một chiều dài lịch sử, những khát vọng, những đớn đau của một thời tuổi trẻ, một thời đạn bom. Cảm ơn ông đã đưa triết lý vào đời sống văn chương thật tài tình, để những khô rốc của triết lý nở rộ trong đời sống hằng ngày. Tôi nghĩ là ông đã thành công trong sự nghiệp văn chương của ông không phải bằng số lượng mà bằng chất lượng ông đã cẩn thận chắt chiu. Tôi cũng xin nói thêm là những tác giả, những bài viết mà Văn đã chọn lựa đã xứng đáng đứng trong trời đất, của hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau.”
Nói đến Nguyễn Xuân Hoàng không nhắc đến tác phẩm “Người Đi Trên Mây” (NĐTM) e là thiếu sót. Tác giả mô tả nhân vật nam chính, tên Trần Lâm Thăng, là người ngoại giao rộng quen biết nhiều với giới văn nghệ sĩ thời 1970 tại một thuở Sài Gòn. Thăng có cơ hội tiếp xúc với một khuôn mặt chính trị sáng giá thuở ấy, nhân vật Phan thì là một người đam mê quyền lực vô cùng. Thăng có nhiều đàn bà đẹp theo đuổi bên cạnh anh. Từ Lan, con gái ông Lý, người giàu có có ảnh hưởng đến đời Thăng. Rồi người con gái tên Uyên, con gái của ông Phan, rồi người con gái khác là Quỳnh với nét quyến rũ trời cho, đã sống chung với Thăng giữa một Sài Gòn đầy rẫy những dèm pha, và những tiếng đồn dị nghị. Trong khi chuẩn bị chờ ra tòa ly dị với Lan, Thăng bước vào tá túc trong biệt thự của ông Phan để tránh những phiền nhiễu, phá rối gây ra từ phía Lan và ông Lý. Nhưng rồi lại bị gò bó trong sự giam hãm trong một khung cảnh lệ thuộc quá chu đáo của bà Phan và cô Uyên, Thăng quyết định rời bỏ ngôi biệt thự sang trọng, bay đi tìm không khí tự do. Thăng quen với Quỳnh, và về chung sống với nàng tại một khu ổ chuột tồi tàn của Sài Gòn.
Khi con người lý tưởng cuộc sống, ông vua có thể bỏ ngai vàng sống theo ý muốn riêng của mình. Đó là quan niệm của hiện sinh, existentialisme trong truyện NĐTM. Đọc tiếp Nguyễn Xuân Hoàng sáng tác tác phẩm “Bụi và Rác” sau biến cố đổi đời khi khúc phim Miền Nam bị đứt. Vào cuối những ngày cuối tháng tư 1975, khi thành phố Sài Gòn lao đao trong hỗn loạn trước nguy cơ đổi thay của lịch sử. Thăng và Quỳnh, như mọi người là chứng nhân mục kích những cảnh đổi đời phi lý và oan trái. Với giới cầm quyền mới thì lạm danh chính phủ cách mạng, đứng trước sự kiện trớ trêu này khiến cho một người như Trần Lâm Thăng vốn có tâm thức kinh điển về triết Tây phương ngao ngán. Cách mạng à ? Làm cách mạng có phải là để cướp bóc tài sản của người dân lành ư ? Cách mạng có phải là làm trống trải những căn nhà này cho đầy căn nhà kia. Làm cách mạng có phải là hạ thấp mức sống của một xã hội đang ngăn nắp bình yên xuống thành một xã hội thụt hậu, mà cuộc sống đã bị ngưng đọng như chìm vào đáy vực nghèo khổ.
Những ý tưởng mà Thăng cảm thấy buồn bã và sự sống của mình tựa như chung quanh những hạt bụi giữa những đống rác thối tha hay thứ rác rưỡi bẩn thỉu giữa cuộc đời đầy bụi bặm. Không thể sống với cái đổi thay mà người ta gọi là “cách mạng”, và không thể hòa nhập vào cái không gian đầy ngờ vực nhau, ám khí bao trùm lên cả đất nước, Thăng tìm cách ra đi như bao người khác. Sau lần bị bắt ở miền Tây, rồi về lại Sài Gòn, căn nhà Thăng trở nên trống rỗng, khi biết Quỳnh đã đem con lao ra biển đông vượt biên tìm Thăng, thế là anh mất hết điểm tựa, cuộc sống vất vưỡng trong nỗi lo âu phập phồng cho những dự định ra đi.
Trong hai cốt truyện “Người Đi Trên Mây” và “Bụi và Rác”, ta thấy ẩn ý của tác giả nói lên sự tự do bị mất đi hay bị tước đoạt, chút gì đó suy tư trong quan điểm existentilisme được ông ươm mầm. Còn đọc tự truyện Một người vô tích sự là kể chuyện gia đình, đọc nó để hiểu con người và nếp suy tư của nhà văn. Càng đọc văn Nguyễn Xuân Hoàng người đọc nghiệm ra rằng thuở ấu thơ của ông hình như không được như ý, ông cho biết người cha say sưa, anh cả ra đi biền biệt, mặt nội tâm thiếu vắng sự hồn nhiên của tuổi thơ, vốn cần sự thanh thản dễ chịu. Quá khứ là một nỗi buồn thơ ấu không bình yên luôn ám ảnh ông. Bãi biển Nha Trang quê nhà mà có những lúc ông ra ngồi một mình cô đơn đến độ dày vò tâm thức và cô độc lạnh lùng. Kỷ niệm mang theo vào văn chương, tôi nhận thấy khi viết về quê nhà Nha Trang ông tri ân vùng đất cũ cưu mang ông, dù nơi đó có những kỷ niệm buồn tênh, tuổi niên thiếu chôn vùi ngày tháng cũ man mác qua đi.
Có lúc tôi lang thang vào blogpage (website) VOA của Nguyễn Xuân Hoàng, bài vở nhiều lắm, thong thả đọc, có bài do ông giáo Petrus Ký dạy môn văn chương, GS. Nguyễn Văn Sâm, được GS. Nguyễn Xuân Hoàng cho đăng trên VOA, dĩ nhiên người trong xứ “truy cập” vào rất nhiều. Trong cái nhìn của tôi khi ai viết về những vị ân sư, những vị thầy mình hâm mộ, mến mộ là sự hãnh diện, GS. Nguyễn Văn Sâm viết về vị thầy toán học của ông, GS. Nguyễn Văn Phú. GS. Phú dạy môn toán học vốn khó nuốt, ôi những phương trình vi phân, những phương trình tích phân; những ngữ toán như équation différentielle, équation intégrale mà những năm đầu tiên ngành kỹ sư của anh em chúng tôi va chạm trong các campus Mỹ. GS. Nguyễn Văn Phú còn là nhà văn biên khảo rất uyên bác, đặc biệt về triết lý Phật học.
Tôi bắt gặp Nguyễn Xuân Hoàng viết về quê xưa, Nha Trang.
” Nhatrang, đó là một thành phố của tình yêu và chia biệt, thành phố của những mối tình mùa hè, của những con sóng biển vô tình, những con dã tràng trên cát, những dấu chân bị nước cuốn đi không để lại một vết tích nào như thể trước đó nó không hề tồn tại…
Tôi là người có hai quê: cha tôi ở bên Thành, mẹ tôi ở N.H. Nhatrang nằm ở giữa. Đường đi lên Thành-Citadelle gần, nhưng đường từ Nhatrang đi N.H. xa hơn, cách nhau tới hai ngọn đèo, đèo Rù Rì và đèo Rọ Tượng. Mẹ tôi người Minh Hương. Và N.H. có thể nói là thị trấn của những người Minh Hương. Tính chất Minh Hương ấy hiện lên rất rõ trong những ngày lễ lạc. Cả một thị trấn chiếm một khúc ngắn trên quốc lộ Một và tỉnh lộ Hai Mươi Mốt này gặp ngày lễ lớn người ta thấy bay rợp trời những lá cờ Trung Hoa, họa hoằn lắm mới thấy một vài lá cờ Việt Nam. Và ngay cả những người dân sống trên con lộ chính này cũng là những người Hoa. Bà dì tôi đúng là một người Hoa, Hoa một trăm phần trăm, Hoa từ mái tóc ngắn kiểu “bôm bê” đến giọng nói, từ cách sống đến lối nghĩ, từ quần áo của bà mặc đến lối trang trí nhà cửa … Thế nhưng mẹ tôi, lạ thay không có chút mảy may Tàu. Trái lại bà có cái vẻ bề ngoài của một phụ nữ tây phương hơn là một người Á đông. Chỉ có y phục, cách ăn uống, cách dạy con, sự xuề xòa, giọng nói của bà là Việt Nam mà thôi. Bà giống một phụ nữ Việt nghèo khổ hơn là một người Hoa giàu có….”
Văn phong của Nguyễn Xuân Hoàng nhắc nhớ tâm hồn tôi về chốn đẹp quê hương, văn chương của ông cho tôi chút xao xuyến, chút bâng khuâng, và chút bồi hồi khi moi góc nhớ quê hương từ tiềm thức cũ mà hinh như đã chìm sâu vào quên lãng. Bài ông ghi nhận tiếp:
“Tôi hiểu vì sao tôi yêu những khóm dương trên biển hơn ngôi nhà, yêu bãi cát trên biển hơn chiếc giường tôi nằm chung với một đứa khác mỗi đêm… Nhatrang, thành phố của biển xanh, và cát trắng, của rừng dương, rừng dừa, của Hòn Chồng, Cầu Đá, của cầu Hà Ra, Xóm Bống, của Tháp Bà, của Lương Sơn, Đồng Ðế, …Nhatrang, thành phố ấy bao giờ cũng dính chặt vào trí nhớ tôi…. Ngôi trường tiểu học là thiên đường của tuổi thơ, nơi đã cho tôi những tình bạn trong sáng mà giờ đây khi hồi tưởng lại tôi vẫn thấy ấm áp cả trái tim…”, hay
“Nhatrang, thành phố đó đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về lòng nhân ái. Ông chú bà thiếm tôi là những người nhân ái như thế. Những người con của chú thiếm tôi cũng là những người nhân ái như thế. Nhưng tôi giống như một con vật bị săn đuổi vì thiếu cha, thiếu mẹ, chui rúc vào những hang động của tuổi thơ. Bãi biển đẹp nhất trên thế giới là nơi tôi tìm đến những ngày trốn học. Núp dưới bóng những gốc cây dừa, nằm giữa lùm cây trong rừng dương, hay ẩn mình trong hốc đá Hòn Chồng, tôi khám phá ra đời sống là một chuỗi những hạnh phúc và đớn đau, hay những đớn đau-hạnh phúc. Tôi thấy sự cô đơn trong đám đông và thấy cả nỗi ấm áp tình người trong sự cô độc…”
Tôi liên tưởng Nha Trong, nơi tôi ở khi bé xíu, noi bố tôi làm viêc. Đấy cũng là quê xưa. Một quê hương mang theo trong tâm tưởng. Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn, quê hương tiềm ẩn trong ký ức, rất khó quên, lòng yêu mến quê hương mà quyển sách xưa của văn hào người Ý, Edmondo de Amicis, tác giả của danh tác “Tâm Hồn Cao Thượng” (Les Grands Coeurs, Cuore [Heart] 1886), kể về lòng yêu nước của cậu bé Thành Padova yêu thương quê hương, một dấu ấn cho nhiều chúng ta của một thuở đã qua. Một chế độ chính trị, một thể chế cầm quyền có thể vi phạm sai lầm bởi yếu tố nhân tai, nhưng quê hương bởi bản sắc không bao giờ sai trái cả. Hãy ca tụng nơi bạn sinh ra, dù quê làng thôn xóm có nghèo khổ, nhưng đó là quê hương bởi định nghĩa, bởi tình yêu cho quê hương, quê hương là nôi sưởi ấm trong góc nhớ trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương. Khi bỏ nước ra đi, chúng ta mang theo trong lòng một [những] khuôn mặt, một giọng nói, một màu áo, một tiếng rao quà … mà chúng ta không hề ngờ tới. Chỉ khi nào trái tim ta đau buốt vì thương cảm, hoặc nổ tung ra vì hạnh phúc ta mới chợt nhớ ra quê hương đang ở trong lòng ta. Cũng có khi quê hương sống dậy vì một chút nắng, hay một giọt mưa, một bãi cát [vàng] hay một con sóng biển, một mầu trời hay một tiếng nói mang âm hưởng của vùng quê ta, … lúc đó ta biết rằng không có chi ngăn nổi trí nhớ nóng bỏng của ta làm hiện ra những hình ảnh cũ. Bởi vì thật bất ngờ, đôi khi chỉ thoảng một “mùi hương” cũng đủ khơi dậy trong ta biết bao kỷ niệm quê hương.
Nguyễn Xuân Hoàng tiếp:
“Đối với tôi, thời tiết giá buốt những ngày cuối đông đầu xuân ở California gợi lại trong tôi biết bao điều về thành phố quê hương, nơi đã nhìn tôi lớn lên, đã thêu dệt trong tôi biết bao mộng ảo, đã đày đọa tôi tới chín tầng địa ngục.
Nhatrang, đó là một thành phố của tình yêu và chia biệt, thành phố của những mối tình mùa hè, của những con sóng biển vô tình, những con dã tràng trên cát, những dấu chân bị nước cuốn đi không để lại một vết tích nào như thể trước đó nó không hề tồn tại…
Tôi là người có hai quê: cha tôi ở bên Thành, mẹ tôi ở N.H. Nhatrang nằm ở giữa. Đường đi lên Thành-Citadelle gần, nhưng đường từ Nhatrang đi N.H. xa hơn, cách nhau tới hai ngọn đèo, đèo Rù Rì và đèo Rọ Tượng. Mẹ tôi người Minh Hương. Và N.H. có thể nói là thị trấn của những người Minh Hương. Tính chất Minh Hương ấy hiện lên rất rõ trong những ngày lễ lạc. Cả một thị trấn chiếm một khúc ngắn trên quốc lộ Một và tỉnh lộ Hai Mươi Mốt này gặp ngày lễ lớn người ta thấy bay rợp trời những lá cờ Trung Hoa, họa hoằn lắm mới thấy một vài lá cờ Việt Nam . Và ngay cả những người dân sống trên con lộ chính này cũng là những người Hoa. Bà dì tôi đúng là một người Hoa, Hoa một trăm phần trăm, Hoa từ mái tóc ngắn kiểu “bôm bê” đến giọng nói, từ cách sống đến lối nghĩ, từ quần áo của bà mặc đến lối trang trí nhà cửa … Thế nhưng mẹ tôi, lạ thay không có chút mảy may Tàu. Trái lại bà có cái vẻ bề ngoài của một phụ nữ tây phương hơn là một người Á đông. Chỉ có y phục, cách ăn uống, cách dạy con, sự xuề xòa, giọng nói của bà là Việt Nam mà thôi. Bà giống một phụ nữ Việt nghèo khổ hơn là một người Hoa giàu có. [Những người Hoa trong thị trấn nhỏ này chỉ có người giàu chớ không có người nghèo]. Nhưng thời gian tôi ở với mẹ và cha tôi ít hơn là thời gian tôi ở với chú thiếm tôi ở thành phố Nhatrang. Và làng Quang Thạnh, quê của cha tôi, nơi tôi còn có những thân thích ruột thịt khác, những ông chú hiền lành, những ông bác khó tính, những bà cô khắc nghiệt, những người anh em họ hàng cùng lứa tuổi tôi gần gũi một cách nhạt nhẽo,… Tôi là một người khách lạ trong ngôi nhà trọ.
Gần như cả ngôi làng đó chỉ gồm toàn những người trong dòng họ nhà tôi. Cái bánh xe nước trong phim “Chúng Tôi Muốn Sống” do Lê Quỳnh đóng với Mai Trâm và Thu Trang thuộc vùng đất nhà từ đường phía cha tôi. Tôi không ở với cha tôi, mà cũng không ở với mẹ tôi. Tôi xa gia đtình từ nhỏ. Tôi ở nhà chú tôi vì cha tôi muốn tôi ở nhà quê, và vì mẹ tôi muốn tôi “phải đi học”. Chú tôi làm việc ở toà tỉnh Nhatrang, lúc đầu nhà ở đường Hoàng Tử Cảnh, sau dọn về đường Yersin. Ông chỉ là một công chức thường, lương ba cọc ba đồng, còn thiếm tôi thì vì sức khoẻ kém, gần như chỉ suốt ngày quanh quẩn trong nhà lo cho đàn con. Vậy mà chú thiếm tôi phải nuôi thêm một miệng ăn ngoài một đàn con gần mười đứa, không một lời than văn. Chú thiếm tôi rất thương tôi, những đứa em tôi, con của chú thiếm tôi, cũng tử tế với tôi như một người anh ruột. Nhưng tôi sớm nhận ra mình chỉ là một đứa bé lạc loài, một kẻ ăn nhờ ở đậu, một miệng ăn gây nhiều khó khăn cho một gia đình đông đúc. Và thế đó mà tôi lớn lên, lớn lên trong một đời sống tâm hồn khốn khổ, giữa một thành phố thơ mộng và đẹp đẽ là Nhatrang. Tôi không ở lâu trong một ngôi nhà nào. Mỗi nhà chứa tôi trong một thời gian ngắn.
Nhatrang, thành phố của biển xanh, và cát trắng, của rừng dương, rừng dừa, của Hòn Chồng, Cầu Đá, của cầu Hà Ra, Xóm Bống, của Tháp Bà, của Lương Sơn, Đồng Đế, …Nhatrang, thành phố ấy bao giờ cũng dính chặt vào trí nhớ tôi. Ngôi trường tiểu học là thiên đường của tuổi thơ, nơi đã cho tôi những tình bạn trong sáng mà giờ đây khi hồi tưởng lại tôi vẫn thấy ấm áp cả trái tim. Những Đoàn Lân, Lê Văn Quyền, Tôn Thất Lưu, Trần Lâm Cao, và Hà Thúc Nhơn, Duy Năng, Trần Ngọc Bích, Dương Hồng Ngọc, Trương Hồng Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Huỳnh Tấn…những người bạn gái như Bích Ngô, Bích Hường, Hoàng Thị Ngọc Táo, Minh Nguyệt, …những ông anh bà chị như Như Phú, Tuý Hoa, Dạ Khê, Nguyễn Hữu Trí, …những đứa em Hoàng Bắc, Ngọc Trúc, Liên Châu, Chúc, …và cả những người “yêu” Odette, Bạch Mai, Bích nếu tôi được phép gọi như thế. Những bạn ấy có người vẫn còn ở thành phố này nơi tôi đang sống, cũng có người đang ở những tiểu bang khác, những quốc gia khác…. Có người còn sống có người đã chết, nhưng dù đang có mặt tại đây nơi xứ lạ quê người, hay vẫn còn ở quê nhà bao giờ gặp lại hay nhắc đến cũng đều gợi lại trong tôi những tình cảm tốt đẹp, trong sáng, và thơ dại, như thể chỉ có trong những chuyện cổ tích hơn là ngoài đời.
Nhatrang, tên gọi đó với tôi không phải chỉ một thành phố, đó là một gia đình. Không phải gia đình được định nghĩa là một tổ ấm gồm cha mẹ con cái và anh em. Gia đình tôi trong những ngày cắp sách đến trường là những ngôi nhà luôn luôn thay đổi. Có khi là nhà bà Dì trên Xóm Mã Lạng; có khi là nhà bà Cô ở Rạch Rau Muống. Có khi là nhà ông Chú ở Hoàng Tử Cảnh. Nếu những bữa cơm gia đình tôi đói tình thương thì chính những giờ học làm tôi no nê kiến thức và tình cảm. Những ông thầy bà cô tôi là những khuôn mẫu đẹp đẽ không bao giờ phai trong trí nhớ tôi. Cả một thành phố Nhatrang là gia đình tôi. Lớp học, bãi biển, rừng dương, bầu trời, ngọn gió, tình bạn,…. Đó mới chính là gia đình tôi…
Nhatrang, thành phố đó đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về lòng nhân ái. Ông chú bà thiếm tôi là những người nhân ái như thế. Những người con của chú thiếm tôi cũng là những người nhân ái như thế. Nhưng tôi giống như một con vật bị săn đuổi vì thiếu cha, thiếu mẹ, chui rúc vào những hang động của tuổi thơ. Bãi biển đẹp nhất trên thế giới là nơi tôi tìm đến những ngày trốn học. Núp dưới bóng những gốc cây dừa, nằm giữa lùm cây trong rừng dương, hay ẩn mình trong hốc đá Hòn Chồng, tôi khám phá ra đời sống là một chuỗi những hạnh phúc và đớn đau, hay những đớn đau-hạnh phúc. Tôi thấy sự cô đơn trong đám đông và thấy cả nỗi ấm áp tình người trong sự cô độc. Tôi không phải là học sinh giỏi. Tôi càng không phải là một học sinh thông minh. Tôi chỉ là một đứa bé thấy thích thứ gì thì cố mà đi tìm hiểu cho ra thứ đó. Thủa đó tôi không tìm ra chữ nào phù hợp với suy nghĩ của tôi, nhưng gần đây tôi giật mình đọc được tựa đề một cuốn truyện dịch từ tác phẩm của Colleen McCullogh, The Thorn Birds, mà tôi rất “thích”: Tôi là một trong “Những con chim ẩn mình chờ chết”.
Tôi xa Nhatrang đã lâu. Lâu lắm. Tôi đã đi nhiều nơi, nhiều thành phố, nhiều nước. Tôi đã gặp gỡ nhiều người. Những người thông minh, khôn ngoan, đẹp đẽ, giàu có, sang trọng. Những người nghèo khó, vô gia cư, vô nghề nghiệp. Những người tha phương cầu thực. Tôi đã sống với họ, đã chia xẻ nỗi đau với họ. Tôi khám phá ra hình như tôi gần gũi hơn với những ngưòi cùng khổ. Tôi cũng là nạn nhân của bọn người hãnh tiến, bọn ăn xổi ở thì. Nhưng thật ra, họ giàu hay họ nghèo, họ có chức tước danh vọng hay họ chỉ là những người thường dân vô danh …bao giờ tôi cũng yêu thương họ. Yêu thương những con người bị đọa đày và tội nghiệp cho sự hãnh tiến của những kẻ số đỏ. Yêu thương sự chân thật lòng nhân ái của người này, và tha thứ những dối trá lọc lừa của người kia. Yêu thương cả những người trưóc đây từng chà đạp lên nỗi đau khổ của tôi. Cũng như tôi đã từng yêu thương những lằn roi xé thịt của cha tôi nhiều lần giáng xuống thân thể run rẩy của tôi, yêu thương những giọt nước mắt của mẹ tôi từng khóc vì tôi làm mẹ khổ.
Chính thành phố Nhatrang với biển khơi mênh mông của nó, rừng dương xanh đầy gai góc của nó, …đã trở lại với tôi. Nhatrang ở trong trái tim tôi. Nó nhắc tôi nhìn ra sự phù du và phù phiếm, nó chỉ cho tôi “ngoài trời có trời”, “ngoài biển có biển”. Chiều nay, tôi đi một mình đến Huntington Beach, một chút biển ở Cali để tìm ra một chút biển Nhatrang. Trên chiếc cầu bắc cao trên bờ cát một buổi tối tôi đã nhìn thấy biển đêm, nhìn thấy quê hương tôi mờ mịt. Tôi quên mất quá khứ, tôi không có tương lai. Và hiện tại? Tôi là “con chim ẩn mình chờ chết”…(Nguyễn Xuân Hoàng, California 1 tháng Ba, 1996).
Để kết thúc bài viết “Mười Năm – Nhớ Nguyễn Xuân Hoàng” cho tạp san Văn Học Mới, nhà thơ Hà Nguyên Du bảo “Nhớ ông Hoàng quá, ông phải viết cho thầy Hoàng Petrus Ký. Tôi nghe anh Hà Nguyên Du, khi thầy Hoàng ở tuổi mới lớn, ông lấy bút danh là Hoang Vu. Có thể Nguyễn Xuân Hoàng vẫn thao thức với bài thơ duy nhất của mình. Tựa bài thơ là Mang Mang… Rất triết tính và rất thiền tính mặc dù xa gần nói đến cái chết…

Mang Mang
Từ xa phố chợ đến giờ
chân quen bỏ lệ gõ bờ lộ quen
hoang vu chín đến độ thèm
lạnh tàn nhẫn rót vào đêm lên đường
mùa sương phố núi mù sương
nhịp buồn hút gió hồn nương sao rừng
chuyện linh hồn với bản thân
bàn tay thượng đế mộ phần chiêm bao
đồi thông xanh tóc nghẹn ngào
ngập ngừng lạnh xuống từ bao lâu rồi
còn tôi, còn chỉ mình tôi
mây bay đầu núi kéo trời lên xa
bàn tay thoáng nổi da gà
thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi
Hoang Vu (Nguyễn Xuân Hoàng)
———————————————————————–
Kỷ niệm Mười năm Nguyễn Xuân Hoàng vãng sanh tiên giới và mây bay đầu núi kéo trời lên xa, thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi,…
Việt Hải Los Angeles, lớp 12B4, Promo 1972, Mùa Hè Đỏ Lửa, Petrus Ký của nước VNCH (NEVER HỒ).
-
Những tác dụng bất ngờ của hạt hồ đào đối với sức khỏe

Hạt Hồ Đào (Pecan)

Hạt Óc Chó (Walnut)
Hạt hồ đào (pecan) thường bị nhầm lẫn với hạt óc chó (Walnut). Đây là loại quả hạch có nhiều công dụng đối với sức khỏe. Loại hạt được giáo sư đại học Mỹ ngợi khen vì tác dụng giảm mỡ máu tuyệt vời: Có…
1. Giá trị dinh dưỡng của hạt hồ đào
Hồ đào đặc biệt giàu các chất dinh dưỡng quan trọng, điển hình như chất xơ, thiamine và kẽm. Khoảng 28g hạt hồ đào có chứa: 196 calo, 2,5g chất đạm, 20,5g chất béo, 4g tinh bột, 2,7g chất xơ, 38% DV đồng, 16% DV thiamine (vitamin B1), – 12% DV kẽm, 8% DV Magie, 6% DV phốt pho, 4% DV sắt.
Đồng được biết đến là một khoáng chất quan trong có liên quan tới chức năng tế bào thần kinh, sức khỏe hệ miễn dịch và tăng sinh tế bào hồng cầu. Trong khi đó thiamine rất cần thiết trong quá trình chuyển hóa carbohydrate thành năng lượng cung cấp cho các hoạt động của cơ thể. Kẽm trong hạt hồ đào cần thiết cho chức năng miễn dịch, sự phát triển của tế bào, chức năng não và thúc đẩy quá trình chữa lành vết thương.
2. Những tác dụng của hạt hồ đào đối với sức khỏe
Dưới đây là một số tác dụng của hạt hồ đào đối với sức khỏe dựa trên các nghiên cứu khoa học được đăng tải trên NCBI:
2.1. Chống tăng cân quá mức: Theo Medical News Today, mới đây các nhà nghiên cứu tại NIH cho biết, những con chuột được ăn chế độ ăn nhiều chất béo bao gồm hạt hồ đào nguyên hạt hoặc chiết xuất polyphenol từ hồ đào có thể chống lại bệnh béo phì và gan nhiễm mỡ so với những con chuột có chế độ ăn nhiều chất béo nhưng không có hạt hồ đào hay chiết xuất hạt hồ đào.
Theo nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí Nutritions hồi tháng 5 năm 2023 này thì các lợi ích thu được khi thêm hạt hồ đào vào chế độ ăn của chuột cho thấy quá trình đốt cháy năng lượng của cơ thể được tăng cường, từ đó giúp kiểm soát cân nặng và sức khỏe tổng thể. Bên cạnh đó, các lợi ích bổ sung bao gồm giảm cholesterol, kháng insulin và giảm viêm.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng khi quan sát có sự giảm kích thước và hiện diện của các tế bào miễn dịch ở cả tế bào mỡ dưới da và nội tạng – thường được biết tới là nguyên nhân gây viêm nhiễm và các biến chứng có liên quan tới béo phì.
2.2. Đặc tính chống viêm mạnh mẽ: Theo WebMD, hạt hồ đào chứa chất béo omega-3 có thể giúp giảm viêm do viêm khớp. Khi kết hợp với magie, canxi, chất xơ, viamin E và kẽm cho thấy loại hạt này có đặc tính chống viêm mạnh mẽ.
Trong bảng xếp hạng hơn 100 loại thực phẩm theo mức độ chống oxy hóa của USDA thì hạt hồ đào nằm ở top 20. Cũng nhờ giàu chất chống oxy hóa và kháng viêm mà bổ sung hạt hồ đào vào chế độ ăn cũng giúp nâng cao hệ miễn dịch để chống lại nhiễm trùng và sửa chữa các tổn thương sẵn có. Folate trong hạt hồ đào cũng đang được xem xét với công dụng bảo vệ chống lại những thay đổi đối với DNA – nguy cơ dẫn tới ung thư.
2.3. Cải thiện sức khỏe tim mạch: Theo Healthline, hạt hồ đào là một nguồn axit béo không bão hòa đơn tuyệt vời có lợi cho sức khỏe tim mạch. Theo đó, ăn 30g hạt hồ đào mỗi ngày trong 12 tuần giúp cải thiện tỷ lệ cholesterol có lợi so với cholesterol xấu ở những người mắc bệnh động mạch vành.
Một nghiên cứu khác ở những người có lượng cholesterol bình thường bổ sung 68g hạt hồ đào mỗi ngày cũng cho thấy lượng cholesterol có hại giảm đáng kể sau 8 tuần so với nhóm không thêm bất kì loại hạt nào vào chế độ ăn.
Bên cạnh đó, hạt hồ đào cũng giàu magie, canxi và kali tốt giúp giảm huyết áp hiệu quả. Hơn nữa việc giảm lượng cholesterol có hại sẽ giảm nguy cơ đột quỵ hoặc đau tim.
2.4. Ổn định đường huyết: Theo Healthline, hạt hồ đào có thể thúc đẩy việc kiểm soát lượng đường trong máu tốt hơn nhờ hàm lượng chất xơ dồi dào – giúp làm chậm quá trình hấp thụ đường vào máu. Tác dụng này đặc biệt có lợi đối với những người bị tiểu đường, nhóm bị thừa cân hoặc béo phì để cải thiện khả năng sử dụng insulin hiệu quả của cơ thể.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các loại hạt có thể giúp ngăn ngừa bệnh tim ở những người mắc bệnh tiểu đường. Ăn nhẹ các loại hạt khi đói sẽ giúp bạn cảm thấy no, giúp bạn dễ dàng tránh các thực phẩm giàu carb và kiểm soát lượng đường trong máu.
Hơn nữa chế độ ăn này cũng giúp cải thiện chức năng của các tế bào beta trong tuyến tụy, chịu trách nhiệm với việc sản xuất insulin.
Ngoài ra, hạt hồ đào có chỉ số đường huyết rất thấp, có nghĩa là ăn chúng không làm tăng lượng đường trong máu, ngay cả ở những người mắc bệnh tiểu đường. Ăn quả hồ đào thậm chí có thể bù đắp tác động của thực phẩm có chỉ số đường huyết cao hơn khi ăn như một phần của cùng một bữa ăn.
2.5. Thúc đẩy chức năng não bộ: Hạt hồ đào chứa nhiều chất dinh dưỡng đem lại những tác dụng liên quan tới việc cải thiện chức năng não bộ bao gồm cả người lớn tuổi bị suy giảm nhận thức chẳng hạn như axit béo không bão hòa đơn và đa.
Đặc biệt, axit béo không bão hòa đơn có liên quan tới việc giảm tỷ lệ suy giảm tinh thần và giảm viêm cho cơ thể. Tuy vậy những nghiên cứu về chức năng này vẫn đang hạn chế về các số liệu liên quan tới mức độ ảnh hưởng trực tiếp của hạt hồ đào tới chức năng não bộ như thế nào.
3. Nhược điểm tiềm ẩn:
Mặc dù hạt hồ đào có liên quan tới một số lợi ích sức khỏe tiềm năng nhưng có một số vấn đề cần lưu ý:
– Không nên ăn hạt hồ đào nếu bạn có tiền sử dị ứng với các hạt, quả hạch trước đó như hạnh nhân, hạt điều, hạt dẻ và quả óc chó
– Hàm lượng calo của 28g hạt hồ đào tương đương gần 200calo – tương đối cao nên việc ăn nhiều khẩu phần có thể làm tăng lượng calo tiêu thụ hàng ngày của bạn. Bạn cần cố gắng kiểm soát lượng calo bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống hoặc tăng mức độ hoạt động thể chất khi thêm hạt hồ đào vào chế độ ăn hàng ngay.
4. Phân biệt quả óc chó và hạt hồ đào
Hồ đào và óc chó đều thuộc nhóm quả hạch nhưng là hai loại khác nhau. Bạn có thể phân biệt dựa trên hình dáng và mùi vị, cụ thể:
– Hình dáng của hai loại hạt tương đối giống nhau đều có các rãnh nhăn nhưng khác nhau về màu sắc:
+ Hạt óc chó có màu vàng sáng (vàng sữa)
+ Hạt hồ đào có màu vàng hoặc nâu sẫm
– Mùi vị:
+ Hạt óc chó khi ăn có vị chát ở đầu lưỡi
+ Hạt hồ đào có vị ngọt hơn.
Nhìn chung, hồ đào là một loại hạt tốt cho sức khỏe nhưng bạn chỉ nên ăn tối đa mỗi ngày một khẩu phần khoảng 28g để tránh tiêu thụ quá nhiều chất xơ gây khó chịu cho hệ tiêu hóa. Nếu băn khoăn về dị ứng hay tình trạng sức khỏe, bạn nên liên hệ với bác sĩ để nhận được lời khuyên phù hợp.
——————————————————————
Pecan, hạt hồ đào giàu dinh dưỡng cho sức khỏe
May 9, 2024: SAN DIEGO, California (NV) – Nói đến “superfood” người ta thường nghĩ ngay đến pecan, hay còn biết đến với cái tên là hạt hồ đào với vị thơm bùi đặc trưng. Đây là một trong những thực phẩm rất phổ biến mà bạn có thể chế biến nhiều cách khác nhau, không chỉ dùng trong bánh nướng, các món ăn mặn mà còn có thể dùng như một ăn vặt, đem lại năng lượng cho cơ thể, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, theo trang mạng mindbodygreen hôm 14 Tháng Ba. Hạt pecan có chất xơ, thiamine, zinc và manganium, là các khoáng chất cần thiết cho quá trình trao đổi chất và sức khỏe của xương. (Hình minh họa: Antoni Shkraba/Pexels)
Thành phần dinh dưỡng của pecan
Mỗi 1 oz pecan có đến 3 gram protein, 4 gram carbohydrate và 18 gram chất béo không bão hòa đơn, bao gồm cả oleic acid và chỉ có 2 gram chất béo bão hòa. Ngoài ra, trong hồ đào còn có chất xơ, thiamine, zinc và manganium, là các khoáng chất cần thiết cho quá trình trao đổi chất và sức khỏe của xương.
Món ăn vặt lành mạnh không thể chê
Ngành công nghiệp thực phẩm luôn thay đổi không ngừng và họ luôn tìm ra những công nghệ và thực phẩm mới để làm sao vừa có thể tiện lợi cho người dùng nhưng cũng vừa bảo đảm lành mạnh cho cơ thể. Trong đó, pecan là loại hạt được để ý hơn cả vì nó có thể thay thế các món ăn vặt khác mà vẫn tạo cảm giác ngon miệng, thơm ngon mà vẫn đầy đủ dưỡng chất.
Ngoài ra, hạt pecan có chứa đến 3 gram protein, nhưng không có gì là ngạc nhiên khi nó trở thành nguồn thực phẩm cung cấp năng lượng cho các vận động viên mỗi khi tập luyện hay cần phải hồi phục lại sức lực để duy trì sự bền bỉ.
Bánh pie hồ đào rất phổ biến ở Mỹ.
Bạn có thể dùng hồ đào như một topping cho nhiều món ăn, từ món yến mạch điểm tâm, bánh pudding hay thậm chí là cả sữa chua. Thay vì uống các loại sữa hạt như sữa hạnh nhân, sữa đậu nành thì bạn có thể tìm kiếm sữa hồ đào để uống, đem lại hương vị béo béo, bùi bùi. Ngoài ra bạn còn có thể dùng sữa hồ đào để pha cà phê sữa hoặc làm sinh tố, đem lại một thức uống bổ dưỡng mà không có quá nhiều calories.
Thêm một bí quyết nữa là hạt pecan được dùng rất nhiều trong các món bánh tráng miệng, đặc biệt là dùng để làm bánh quy, bánh quế và các vỏ bánh pie đặc sắc của người Mỹ. Không chỉ vậy, hạt hồ đào hiện nay còn được dùng trong rất nhiều món ăn chay, là nguồn nguyên liệu lý tưởng để ăn kèm với bánh mì và các loại salad khác.
Việt Hải sưu tầm