• KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Viet-Hải

    LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ((Theory and Criticism of Literature and Arts)

    Việt Hải Trần

    VIẾT VỀ VĂN HỌC TIỂU LUẬN VỀ NHÀ VĂN LƯU NGUYỄN TỪ THỨC TÔI XOÁY VÀO 3 ĐIỂM:

    Trước tiên hãy xét qua giá trị của Mỹ học trong văn học qua tác phẩm. Định nghĩa của Mỹ học, và quan niệm cùng bản sắc của mỹ học:

    Mỹ học (Aesthetics) là một ngành triết học chuyên nghiên cứu về bản chất của cái đẹp, nghệ thuật và trải nghiệm thẩm mỹ. Đây là lĩnh vực đặt ra những câu hỏi căn bản về việc làm thế nào con người nhận thức, đánh giá và phản ứng trước các hiện tượng mang tính thẩm mỹ trong tự nhiên, đời sống, và sáng tạo nghệ thuật.

    Trong mỹ học, trọng tâm nghiên cứu không chỉ là cái đẹp, mà còn là sự hài hòa, sự xúc động thẩm mỹ, và những hiện tượng nghệ thuật gây tranh luận về giá trị. Khác với cảm giác đơn thuần, kinh nghiệm thẩm mỹ thường bao hàm sự chú tâm, suy tưởng và cảm xúc sâu sắc.

    Tại nhiều trường đại học và trung tâm nghiên cứu triết học lớn như Harvard, Oxford hay Sorbonne, Mỹ học được giảng dạy như một chuyên ngành độc lập, với phạm vi mở rộng đến văn hóa thị giác, kiến trúc, công nghệ và truyền thông. Bạn có thể tìm hiểu thêm tại Stanford Encyclopedia of Philosophy.

    Lịch sử phát triển của mỹ học:

    Nguồn gốc của mỹ học gắn liền với triết học Hy Lạp cổ đại, nơi các nhà tư tưởng như Plato và Aristotle lần đầu tiên thảo luận về nghệ thuật, cảm xúc và cái đẹp. Tuy nhiên, thuật ngữ “Aesthetics” (do từ Hy Lạp “aisthēsis” – cảm nhận) chỉ được định danh thành một ngành khoa học độc lập vào thế kỷ 18 bởi triết gia người Đức Alexander Baumgarten.

    Baumgarten phân biệt giữa logic (lý trí) và mỹ học (cảm giác), xem mỹ học là “khoa học của tri thức cảm tính”. Từ đó, nhiều học giả châu Âu thế kỷ 18–19 như Kant, Hegel, Schopenhauer đã đóng góp các lý thuyết nền tảng cho lĩnh vực này.

    Mỹ học mang tính chất chân thiện mỹ.

    Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống, là tiếng nói của tâm hồn và khát vọng con người qua bao thế hệ. Từ thuở bình minh của nền văn minh nhân loại đến thời hiện đại, văn học không ngừng tìm kiếm và khẳng định những giá trị cốt lõi làm nên nhân cách và phẩm chất con người. Trong số đó, Chân – Thiện – Mỹ được xem là ba giá trị cao cả và bền vững nhất. Văn học chân chính không chỉ dừng lại ở việc kể chuyện hay mô tả cuộc sống, mà còn là hành trình dẫn dắt con người hướng đến cái chân thật, cái tốt đẹp, và cái đẹp đẽ trong đời sống cũng như trong tâm hồn. Những giá trị ấy là linh hồn của văn chương, là ánh sáng soi đường cho con người vươn tới nhân văn và nhân bản. Hãy cùng nhau tìm hiểu về những giá trị tốt đẹp này.

    Mỹ Học – Aesthetics

    “Chân” là cái thật, là yếu tố cốt lõi của nghệ thuật chân chính. Những câu chuyện, nhân vật, biến cố hay dòng suy tưởng trong tác phẩm đều mang trong mình khát vọng nói lên sự thật về con người, về đời sống, về xã hội. Qua đó, văn học thôi thúc người đọc sống trung thực, sống có lý tưởng và đối diện với bản thân mình.

    “Thiện” là đạo đức, là lòng nhân ái, là cách đối đãi bao dung giữa con người với nhau. Các tác phẩm văn chương, hội họa, âm nhạc luôn gieo vào lòng người những hạt mầm của sự yêu thương, của tinh thần trách nhiệm, sống vì cộng đồng, tôn trọng lẽ phải và đấu tranh cho công lý.

    “Mỹ” là cái đẹp, đẹp trong nghệ thuật tạo hình, đẹp trong ngôn từ và đẹp trong tư tưởng, hành vi, tâm hồn. Một bài thơ nhẹ nhàng, một bức tranh sâu sắc, hay một giai điệu dịu dàng… đều có thể đánh thức cảm xúc, giúp con người biết rung cảm trước cái hay, cái đúng, cái đẹp và sống tử tế, nhân hậu hơn.

    Tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức đề cập về quan niệm Mỹ Học cổ bên Ðông phương, trường hợp của Việt Nam, như về việc đọc để hiểu tác phẩm văn học cũng là việc tìm sự cảm thông giữa những tâm hồn đồng điệu, là việc tìm giao cảm giữa những tâm hồn tri kỷ, tri âm.

    Ví dụ trong niềm ưu tư đó mà Nguyễn Du khi kết thúc Truyện Kiều.

    Bất tri tam bách dư niên hậu

    Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

    Tư tưởng khóc Tố Như của ông là minh thị cho quan diểm triết thuyết nhân sinh quan Việt Nam, điểm nhân bản Việt Nam. Câu thơ chất chứa nét mỹ học trong văn học thi ca.

    Tác phẩm mượn câu chuyện của nàng Kiều để vẽ lên bức tranh toàn cảnh về hiện thực xã hội phong kiến bể dâu, bi thương, kim tiền, xấu xa, tồi bại và đầy rẫy bất công ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19; đồng thời tác phẩm biểu hiện ước mơ giải phóng con người, đòi quyền sống, quyền tự do, công lý, tình yêu và hạnh phúc. ”Truyện Kiều” được xem là tập “Đại thành ngôn ngữ” của văn học Việt Nam.

    Cái Mỹ học trong văn chương, hay những tác phẩm hay về mặt giá trị nghệ thuật xin nêu ra những danh tác sau.

    Hoàng Ngọc Phách trong tiểu thuyết Tố Tâm:

    Hoàng Ngọc Phách trong tiểu thuyết Tố Tâm (1924) đã dệt nên mối tình tuyệt đẹp giữa Đạm Thủy và Tố Tâm nhưng họ vẫn không bước qua được rào cản của lễ giáo phong kiến để xây ngôi nhà hạnh phúc. Chỉ vì “gia pháp nhà tôi còn nghiêm ngặt lắm, tình gia quyến tôi rất mạnh” nên khi cha mẹ định cho một nơi, Đạm Thủy phải lánh xa Tố Tâm, gạt nước mắt khuyên người yêu từ bỏ mình: “Ta yêu nhau, ta quý nhau như hạng người tri kỉ trên đời không thể có hai, thế nhưng cái bắt buộc của tình gia quyến tối thiêng liêng nó bảo ta phải bưng mắt ôm lòng mà chịu, biết nói sao đây. Thôi em yêu anh như thế cũng là yêu rồi, đừng yêu thêm nữa mà làm anh hối hận”. Còn Tố Tâm không dám cưỡng lại lời mẹ lúc “thập tử nhất sinh” đã phải lấy người mình không yêu để 36 ngày sau “chết vì hai chữ ái tình”.

    Mỹ học qua những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, ví dụ diển hình như tác phẩm Hồn bướm mơ tiên:

    Hồn bướm mơ tiên, quyển sách “có sức cám dỗ lạ lùng mà nhà phê bình sung sướng gặp được trong khi khảo cứu về văn học Việt Nam hiện đại” [5, tr. 60] đã đưa ra một vấn đề mới mẻ là đối lập tình yêu với hôn nhân: “Gia đình! Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ mà tiểu gia đình là… hai linh hồn của đôi ta ẩn núp dưới bóng từ bi Phật tổ”. Quan niệm này thời bấy giờ được coi là quan niệm có tính chất nhân văn, chống lại hôn nhân phong kiến. Mặt khác, bản thân tình yêu giữa Ngọc và tiểu Lan – một kẻ tu hành – đã mang tính phản phong sâu sắc.

    Ngoài danh tác sáng lạng như Truyện Kiều của Nguyễn Du, một tác phẩm văn chương hướng đến Chân – Thiện – Mỹ. Giá trị nghệ thuật của Mỹ học cũng có nhiệm vụ nghiên cứu các triết thuyết liên quan đến nghệ thuật, các phê bình có tính cách triết lý của các nghệ phẩm, và thẩm định đặc tính triết học của các hành động nghệ thuật. Các phản ứng tình cảm và tâm lý của con người đối với các yếu tố của nghệ thuật như màu sắc, âm thanh, đường nét, hình tượng, và ngôn ngữ.

    Một tác phẩm về văn học khác nên được lưu tâm như sau.

    Dương Quảng Hàm và sách giáo khoa Việt Nam Văn Học Sử Yếu:

    Việt Nam Văn Học Sử Yếu không những chỉ có giá trị khảo cứu về văn chương mà trong chừng mực nhất định còn có giá trị khảo cứu về văn hoá. Cuốn sách gối dầu làm nền cho văn học tham khảo hay bổ túc cải tiến dược hoàn chỉnh hơn bởi giới hậu bối.

    PHẦN KẾ TIẾP XIN DIỂM QUA GIAI THOẠI SỰ BIẾN DẠNG VĂN HỌC:

    Thưở nho học, hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục hành chánh ở bên Tàu từ thời Trung Hoa cổ đại, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc (770–221 TCN), và được du nhập vào Việt Nam từ đầu đời Hán đến thế kỷ 15, rồi nó trở thành Quốc giáo. Lịch sử văn học quanh khúc rẽ từ khi Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng lần thứ nhất là trận đánh mở đầu cho cuộc chiến tranh Pháp – Việt (1858 – 1884) và khi quân Pháp chiếm 3 tỉnh ở miền nam Viẻt Nam vào năm 1867, quân Pháp đã chiếm đóng các tỉnh ở Nam phần là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

    Sau thời kỳ này dần dần nền văn học nho học lu mờ nhường thời cơ cho văn học tây học, như thuở văn học phương tây như trường hợp nước Pháp, khi mà văn học rực rỡ ở Pháp vào những thế kỷ 18, 19, cũng là giai đoạn nước Pháp chiếm lĩnh Việt Nam, cái văn học rực rỡ ấy du hành sang Việt Nam, nước ta chịu ảnh hưởng văn học Pháp và bị ảnh hưởng nền văn hoc cổ đại nho học xứ Trung Hoa. Trong cái vận xui của lịch sử nước nhà, nhưng điểm chung cuộc, Việt Nam có nền văn hóa địa phương cá biệt hòa lẫn vào nền văn minh Pháp Hoa, những phần sau bài viết xin trình bày những tiểu tiết liên quan về văn học nho gia và văn học tây phương tại xứ ta.

    THỜI GIAN BIẾN DẠNG VĂN HỌC NHƯ TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM:

    Văn học Việt Nam từ thời nho học sang tây học, xét qua quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ xưa đến nay.

    Khám phá quá trình phát triển của văn học Việt Nam để tìm hiểu về sự phát triển của văn học Việt từ thời xưa đến nay. Cuộc hành trình này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những văn bản, tác phẩm và những diễn biến quan trọng trong lịch sử văn học Việt. Bạn sẽ được tìm hiểu về những nhà văn, nhà thơ… đã đóng góp cho sự phát triển của văn học Việt. Hãy cùng khám phá quá trình phát triển văn học Việt Nam trong nội dung này như sau.

    NGUỒN GỐC VĂN HỌC VIỆT: NHỮNG TÁC PHẨM CỔ ĐẠI.

    Quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hiện đại là một bức tranh lịch sử đầy thú vị. Nó cho thấy rằng, qua các thời kỳ khác nhau, văn học Việt đã đạt được nhiều thành tựu và đã đạt được những bước tiến lớn trong việc phát triển văn học. Khám phá quá trình phát triển văn học Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những gì đã xảy ra trong quá khứ và cũng giúp chúng ta cảm nhận được sự phát triển của văn học Việt.

    SỰ CHUYỂN GIAO TỪ NHO HỌC SANG TÂY HỌC.

    Nhà nho truyền thống. Lúc này đã bị thời đại thay thế, nên đã rút lui về ngõ hẻm, hoặc thôn quê, nhưng thỉnh thoảng từ hậu trường họ vẫn thốt ra những tiếng nói lạc lõng. Chủ trương không chấp nhận văn hóa phương Tây. Khi nhà tây học bị nho hóa, là nhà tây học nhưng vì công việc liên quan đến văn hóa, xã hội Việt Nam nên họ phải học thêm Nho học. Tiêu biểu là Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký. Chủ trương Đông Tây kết hợp cùng Đông học. Nhưng cũng có những nhà tây học thuần túy. Họ muốn cắt đứt quá khứ để nhẹ bước theo con đường Âu hóa. Canh tân hóa, hiện đại hóa. Tiêu biểu là Nguyễn Văn Vĩnh, như Nhất Linh, xa hơn là Trương Vĩnh Ký.

    NHỮNG NÉT ĐẠI CƯƠNG VỀ LÝ LUẬN – PHÊ BÌNH VỀ SỰ TIẾP NHẬN MỸ HỌC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG ĐÔNG.

    Khái niệm Mỹ học cổ điển (Classical aesthetics) được sử dụng ở đây nhằm chỉ di sản mỹ học của nhân loại, trước hết là mỹ học phương Đông và phương Tây, từ thế kỷ 19 đổ về trước. Với Việt Nam, nói tới mỹ học cổ điển phương Đông, trước hết phải kể đến mỹ học và thi học cổ điển Trung Hoa. Nhìn lại lịch sử tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài, có thể nhận thấy tư tưởng lý thuyết của Việt Nam không phải bao giờ cũng hứng thú với tư tưởng mỹ học của Trung Hoa nói riêng và phương Đông nói chung. Quả vậy, từ thế kỷ 10 cho tới hết thế kỷ 19, mỹ học cổ điển Trung Hoa có ảnh hưởng toàn diện, trực tiếp tới hệ thống tư tưởng văn nghệ cổ điển Việt Nam. Nhưng ở nửa đầu thế kỷ 20, khi Nho học thất thế, cánh Tây học Việt Nam hướng về châu Âu, chủ yếu là Pháp, tìm kiếm ở đó những tư tưởng mỹ học mới mẻ để canh tân hóa nền văn nghệ xứ sở.

    NHO GIÁO VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG CẬN ĐẠI.

    Sau đây là nội dung tiếp nhận quan trọng từ di sản mỹ học và lý luận văn học cổ điển Trung Hoa trong các công trình dịch thuật và khảo luận của các dịch giả và giới nghiên cứu Việt Nam. Nhiều vấn đề thi pháp văn xuôi cổ điển Trung Hoa được khảo sát kỹ lưỡng trong Thơ văn cổ Trung Hoa

    Tuyện Kiều Nguyễn Du cho thấy nét phong hóa nho gia mang dậm nét trong tác phẩm. Từ dây chủ đề văn hóa và sự du nhập cũng đã ảnh hưởng của Nho giáo đến giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam. Xét về học thuyết Nho giáo, quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo trong truyền thống văn hoá Việt Nam.

    Nhận định sơ lược về học thuyết Nho giáo bên Trung Hoa thuở xưa là trung tâm văn hoá lớn của nhân loại trong thời kỳ cổ trung đại trải qua gần bốn mươi thế kỷ phát triển liên tục, lịch sử triết học Trung Quốc bao hàm nội dung vô cùng phong phú với những hệ thống triết học đồ sộ và sâu sắc. Điển hình qua tác phẩm như Tứ Thư gồm: Luận ngữ, Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử, bộ sách này do các học trò của Khổng Tử đã tập hợp những lời dạy của thầy mà soạn ra.

    Vầ Ngũ Kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu. Mà nội dung của bộ sách này phần lớn có từ trước được Khổng Tử gia công san định, hiệu đính và giải thích. Do Khổng Tử có công đầu trong việc phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và truyền bá nên ông được xem là người sáng lập Nho giáo.

    Nho giáo từ đời Hán (Hán Nho) đã được cải tạo, biến đổi, nhằm mục đích phục vụ vương triều.Cho nên từ đời Hán Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống chi phối văn hoá Trung Hoa và làm nền tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ vương triều Trung Hoa cổ xưa xuyên suốt hai ngàn năm lịch sử.

    BÂY GIỜ HÃY XÉT VỀ NỀN VĂN HỌC VIỆT CHỊU ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHÁP:

    Việc thưởng thức tác phẩm cũng trở nên thuận lợi hơn; từ thanh niên trí thức đến thiếu niên học trường Tây học đều dễ dàng tiếp cận thơ La Fontaine, Lamartine, kịch Corneille, Racine… Các đô thị xuất hiện; tiểu tư sản, trí thức Việt thụ hưởng, tiếp nhận và trở thành nhân vật chính trong nền văn học: dân nghèo thành thị – loại nhân vật tiêu biểu trong các tác phẩm như Ngựa người người ngựa, Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan. Việc tiếp nhận thuận lợi thông qua thấu hiểu nền văn hóa phương Tây chính là cơ sở cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật đi từ đơn giản đến phức tạp; từ cách người Việt dịch thuật, viết văn bằng tiếng Pháp đến văn chương Pháp đi vào văn học Việt theo cách mà thơ lãng mạn của thơ Khái Hưng chuyển thể thi ca Avers, hay thi ca mang âm hưởng Baudelaire trong thơ Vũ Đình Liên… Như vậy rõ ràng là có sự tiếp nhận một cách sáng tạo, biểu hiện khuynh hướng của văn học Việt Nam xa văn hóa nho học dể bước vào ảnh hưởng bên phía tây học, thuộc Pháp.

    BÂY GIỜ HÃY XÉT VỀ NỀN VĂN HỌC VIỆT CHỊU ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHÁP:

    Pháp là quốc gia như dã nói bên trên, Pháp có nền văn chương rực rỡ nhất nhân loại, cống hiến nhiều tác phẩm kinh điển, đưa ra trào lưu, tư tưởng có sức lan tỏa, ảnh hưởng rộng khắp. Văn học Pháp khi vào Việt Nam đã đem tới những thể loại mới: thơ ngụ ngôn, tiểu thuyết, văn xuôi. Văn chương Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền văn chương Pháp, đã có nhiều cách tân về hình thức, thay đổi trong phong cách, đề xuất tư tưởng mới.

    Một số tài liệu nhận định cho rằng, Ngụ ngôn La Fontaine là tác phẩm văn học Pháp đầu tiên dịch thuật ở Việt Nam. Văn học Pháp đến với Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ 19. Theo một số nguồn tài liệu, tác phẩm đầu tiên của văn học Pháp được dịch ở Việt Nam là Chuyện Phang-sa diễn ra quốc ngữ (16 chuyện ngụ ngôn La Fontaine), xuất bản năm 1884 do Trương Minh Ký dịch. Năm 1885, Trương Minh Ký còn dịch Les aventures de Telemque với tên Tê-Lê-mạc phiêu lưu ký (đăng trên Gia Định báo).

    Những năm 1920, một loạt tác phẩm văn chương lớn của Pháp được giới thiệu tại Việt Nam qua bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh như: Truyện ba chàng ngự lâm pháo thủ (A. Dumas), Những kẻ khốn nạn (Les Misérables, Victor Hugo), Truyện trẻ con (Les Contes, Charles Perrault), Truyện miếng da lừa (La peau de Chagrin, Honoré de Balzac),… Văn học Pháp thịnh hành tại Việt Nam đầu thế kỷ 20, tới mức hình thành nên một thể loại phóng tác theo tác phẩm văn học Pháp. Hồ Biểu Chánh là tác giả tiêu biểu cho PHONG cách này, với những tiểu thuyết như: Chúa tàu Kim Quy (phỏng theo Bá tước Monte-Cristo, Le Comte de Monte-Cristo d’Alexandre Dumas). Cay đắng mùi đời (phỏng theo Không gia đình, L’amertume de la vie (adapté de *Sans famille.), Ngọn cỏ gió đùa (phỏng theo Những người khốn khổ,

    L’herbe qui ondule au vent (adapté des Misérables),…

    Một phân đoạn quan trọng trong bài viết nay, xin nhìn về Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả  Nguyễn Minh Triết, hay nhà văn Lưu Nguyễn Từ Thức, ông đề cập như sau.

    VỚI CHƯƠNG TÌM HIỂU DIỄN NGÔN VĂN CHƯƠNG HẬU THUỘC ĐỊA.

    Đây là một đề tài mà chúng tôi nghĩ văn chương Âu châu vốn đã có thuộc địa, nên nhiều trước tác phẩm văn chương phản ảnh thuở thuộc địa như những danh tác: L’Amant (Nguời Tình) của nhà văn Marguerite Duras, The Quiet American của Graham Greene, La Voie Royale của André Malraux (về vương triều Cao Miên), Between Tears and Laughter của Lin Yutang (Lâm Ngữ Đường), The Good Earth (Đất lành) của Pearl S. Buck, The Jungle Book của Rudyard Kipling… Lưu Nguyễn Từ Thức ghi nhận là chủ nghĩa thực dân là một hình thức khai thác thuộc địa được phát triển theo với sự bành trướng của châu Âu trong thời gian 400 năm qua. Từ xa xưa nhiều nền văn minh Âu châu đã có thuộc địa và từ lâu chánh quyền đế quốc trung ương luôn luôn có uy quyền tuyệt đối trên các tỉnh thành ngoại biên và các nền văn hoá sơ khai. Sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân tại Âu châu đồng nghĩa với sự phát triển của hệ thống kinh tế tư bản trong đó các vùng đất thuộc địa được thiết lập để cung cấp nguyên liệu cho sự phát triển và củng cố các nền kinh tế tại chánh quốc. Sự liên hệ giữa quốc gia đô hộ và các nước thuộc địa hoàn toàn bất bình đẳng trên mọi phương diện kinh tế, chánh trị, văn hoá cũng như xã hội. Các sắc dân tại các quốc gia thuộc địa thường là những chủng tộc khác với sắc dân chánh quốc và bị xem thuộc loại chủng tộc thấp kém.   

    Người viết bài xin nêu ra về chủ dề Văn học lưu vong, văn chương ly hương.

    Văn học lưu vong, văn chương ly hương (trường hợp như các ngòi bút ly hương xa xứ, dù bị bó buộc hay tự nguyện. Những văn tài từ Cuba, Nga, Do Thái, Việt Nam, Palestine, sang Phi Châu,…

    Văn học lưu vong, văn chương ly hương là một nỗi chấn thương văn hóa, khi chữ nghĩa chảy máu tâm hồn nhà văn trên những trang sách. Chấn thương là một thuật ngữ y học nhằm diễn tả trạng thái cơ thể bị tổn hại do những tác động bên ngoài gây nên. Chấn thương còn là thuật ngữ tâm lý học và bệnh học để diễn tả những những khủng hoảng tinh thần của con người xảy ra sau những tổn thương nghiêm trọng.

    Sự kiện rời bỏ đất nước ra đi- hành động di dời của hàng triệu người Việt Nam sau 1975, kéo dài trong cả hơn hai thập kỷ đã hình thành nên những cộng đồng Việt kiều tại hải ngoại, tạo nên những sự kiện chính trị- văn hóa- xã hội phức tạp. Văn học hải ngoại bắt nguồn từ việc kể lại những câu chuyện lưu vong thể hiện rất rõ những ám ảnh chấn thương của di dân Việt từ sau hành động di dời. “Chấn thương di dời” là một trong những nét đặc thù trong thi pháp tự sự lưu vong của văn học Việt Nam hải ngoại nói chung và truyện ngắn hải ngoại nói riêng.

    Nỗi đau tâm hồn hay thể xác, ta có “Chấn thương di dời” và bi kịch lưu vong phi xứ. Câu chuyện về chấn thương là câu chuyện bi ai về một thứ kinh nghiệm đến muộn: kinh nghiệm chấn thương. Đó là chứng nhận về sự tác động vô hạn của chấn thương lên một cuộc đời. Chấn thương, hoặc là đẩy con người đối mặt với cái chết (labor gulag, boat peple,… ), hoặc tồn tại trong trạng thái khổ sở ngấm ngầm, dai dẳng và liên tục tái diễn vết thương trong phần đời còn lại. Tự sự chấn thương. “Lưu vong” hôm nay mãi mãi không còn là một khái niệm gợi lòng thương cảm. “Lưu vong” sẽ là trách nhiệm lương tri, trách nhiệm cảnh tỉnh, trách nhiệm đưa ra những cái nhìn đa góc độ trên cùng một thực thể hiện hữu, trách nhiệm của nhà văn với đất nước với nền văn hóa đã hoài hương của tác giả.

    Giải Nobel 2000 dành cho một nhà văn lưu vong. Giải Nobel văn chương của Cao Hành Kiện, nhà văn đối lập lưu vong do sự kiện thảm sát Thiên An Môn, là cái kết đáng buồn cho cho một thế kỷ lưu vong. Cao Hành Kiện cho biết ông hầu như không đọc văn học Trung Cộng, du văn ở trong nước, cả văn học Trung Cộng tại hải ngoại. Ý ông muôn là hãy vượt lên trên biên giới quốc gia.

    NỖI ĐAU RỜI BỎ QUÊ HƯƠNG:

    Văn học lưu vong hay Văn học ly hương: Con người lưu vong như long thể treo lơ lửng trong khoảng trống giữa hai thế giới xa cách, ở hai xứ sở trong một tâm hồn và chính từ khoảng trống ấy, văn chương cất lên tiếng nói. Miền địa dư ký ức và chủ nghĩa quốc gia viễn cách, vì một nền văn học không nằm trên bản đồ. Một khi không thể thuộc về một lãnh thổ cụ thể bằng sự hiện diện thể xác, người lưu vong tự kiến tạo cho mình một nơi chốn bình yên, một không gian thích hợp để tác phẩm có nơi trú ngụ, ấy là không gian của những ký ức, những hoài niệm.

    Trước hết, cần xác định ngay văn học Việt Nam ở bất cứ quốc gia nào khác ngoài Việt Nam, tự bản chất là văn học lưu vong. Văn học lưu vong (diaspora, exile literature) là chỉ sự phân tán hoặc lan tỏa của một cộng đồng cư dân rời khỏi quê hương gốc của họ; ví dụ như: “Cha mẹ, gốc gác của anh ấy là một phần của cộng đồng người Việt hải ngoại”. Xem xét việc sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện để diễn tả cảm giác lạc lõng, xa lạ. Nghiên cứu cách biểu hiện tinh thần dân tộc, hay cộng đồng sắc tộc được đề cập và sự liên kết giữa những người lưu vong.

    Xét về ký ức và nỗi hoài hương, ký ức và nỗi hoài hương là những chủ đề mạnh mẽ trong văn học lưu vong, nơi các tác giả chiêm nghiệm về những trải nghiệm quá khứ và quê hương mà họ đã bỏ lại phía sau. Những chủ đề này thường xen lẫn với những kinh nghiệm do việc di tản viễn xứ, khi các tác giả phải đối mặt với những hồi ức nhiêu khê, vôn phức tạp trong sự việc muốn quên nhưng con tim ray rứt lại nhớ, muốn nhớ nhưng mỏi mệt lại quên.

    Lấy ví dụ trong những tác phẩm tiêu biểu như Literature and displacement của nhà văn Holli Levitsky, hay New Palestinian Writing on Exile and Home của tác giả Penny Johnson, Exile And The Jews cúa tác giả Nancy Berg, hoặc Born In The Wrong Century của của Nhà Văn Khánh Lan. Những tác phẩm nói ở đây mang nội dung do ly hương hay do lưu vong mà ra sự biến đổi của nhân vật chính có thể được xem như một ẩn dụ cho tình tiết bi ai, đầy chông chênh, mất phương hướng của kiếp lưu vong, cũng như nỗi hoài hương về một bản sắc hay quê hương đã mất.

    VĂN HỌC PHÊ BÌNH CỦA ROLAND BARTHES.

    Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn học phê bình của Roland Barthes, nhà ký hiệu học (semiotician) là người nghiên cứu ký hiệu học kiểu mẫu trong lãnh vực phân tích các ký hiệu và biểu tượng cũng như cách thức sử dụng hay diễn giải chúng. Lĩnh vực này khám phá cách thức ý nghĩa được kiến tạo và thấu hiểu thông qua các hình thức giao tiếp đa dạng, bao gồm ngôn ngữ, hình ảnh và cử chỉ.

    Ngoài học thuật phân tích, nhận xét theo khuôn mẫu hay như quan điểm về học thuật phê bình văn học như của Gustave Lanson, Jacques Derrida, Julia Kristéva, Northrop Frye, Maxim Gorky, Mikhail Bakhtin, Vissarion Belinsky, hay Roland Barthes, …

    Phân doạn kế tiếp xin điểm sang chủ đề Phê bình văn học, hay những sáng tác khảo luận văn học.

    Phê bình văn học được xem là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm dược nói tới.

    Theo dòng lịch sử, những phán đoán phê bình xuất hiện hầu như đồng thời với sự xuất hiện của văn học, ban đầu với tư cách là những ý kiến của các độc giả thuộc tầng lớp quan trọng và hiểu biết nhất, trong số đó không ít người là cũng đồng thời là người sáng tác văn học. Trong những giai đoạn về phê bình văn học vẫn mang một ứng dụng tương đối khiêm nhường: đánh giá khái quát về các tác phẩm, giới thiệu tác phẩm với độc giả, khích lệ hoặc chỉ trích tác giả. Với sự phát triển của văn học, những mục tiêu và tính chất của phê bình văn học trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi bộ môn phải được phân nhánh và đa dạng hóa.

    Từ thế kỷ 17 và nhất là từ thế kỷ 18, văn học trở thành lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù. Tương ứng với nó là sự hình thành các thiết chế xã hội của văn học như báo chí, xuất bản, công chúng, dư luận, là sự hình thành đời sống văn học như một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội. Phê bình văn học kiểu mới được phát triển trong bối cảnh đó của đời sống, trở thành một dạng thức xã hội của dư luận đối với văn học. Các mối liên hệ của phê bình văn học với văn học, đời sống xã hội nảy sinh tác phẩm văn học, công chúng văn học ngày càng phức tạp, đa dạng. Các trào lưu, khuynh hướng trong phê bình văn học nảy nở và phát triển mạnh mẽ tương ứng với sự nảy nở và phát triển của các trào lưu, khuynh hướng văn học.

    Từ cuối thế kỷ 19 và trong nửa đầu thế kỷ 20, một số trường phái phê bình văn học nổi tiếng có thể kể đến, như phê bình phân tâm học, phê bình mới, phê bình thần thoại, phê bình chủ đề, phê bình hiện tượng luận, phê bình với hoạt động, ngôn luận đặc thù, đã tác động vào đời sống văn học và đưa tới những thay đổi trong xu hướng phát triển của văn học đương đại. Phê bình văn học đã trở thành một bộ phận lập pháp về lý thuyết cho sáng tác và nhân tố tổ chức của quá trình văn học.

    GIAI ĐOẠN VĂN HỌC RỰC RỠ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA.

    Hành trình dấn thân truy tầm ẩn ngữ văn chương trong văn học thời kỳ văn học rực rỡ của Việt Nam Cộng Hòa. Trên căn bản ấy, sự góp phần minh chứng rõ nét nhất hãy lấy nền tảng tinh hoa tri thức văn hóa, triết học, mỹ học của quan diểm khai phóng, nhân bản làm nền tảng luận giải, hay dể bình luận. Trước năm 1975, miền Nam VNCH đã có những tác phẩm khảo luận, nghiên cứu về văn hóa, triết học, đạo đức, luân lý của những Kim Định, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Trung,…,  những danh tác uyên bác.

    Khi nước Việt Nam nói chung còn nghèo, văn học xứ ta cũng còn nghèo so với nền văn học của nhiều nước trên thế giới, vì vậy chúng ta không nên lại nở làm ngơ “bỏ đi” một bộ môn văn học rất phong phú đa dạng, rất nhiều giá trị về tiềm tàng như văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975. Và việc nghiên cứu một cách thấu đáo, thận trọng trên tinh thần khoa học, khách quan, công bằng về những giá trị của văn học miền Nam là một việc làm rất cần thiết và cần sự đóng góp, chung tay, góp sức của mọi người. Phải thành thật mà nói thì môn phê bình văn học trong làng văn học xứ mình khá ít người dấn thân vào, vì sự thể dòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên môn, trong khi các xứ Âu, Mỹ, Nhật, Hàn,… họ tiến xa chúng ta, cho nên trong tác phẩm Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học, tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức đề cập về quan niệm tiến bước thẻo xu thế chung của thế giới, ông kỳ vọng, mong mỏi như sau:

    “Tác giả sách Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học đề nghị nền văn học Việt Nam hãy sớm nhận thức để vượt ra khỏi các lũy tre để nhìn xem thế giới bên ngoài đang tiến bước hướng về phía trước và bỏ xa chúng ta, hãy khai phá các khu rừng thâm u kỳ bí của nền văn học thế giới.  Nếu không mau thức tỉnh hầu sánh vai cùng người để cải tiến và nâng cao các chuẩn mực cho giá trị của mỹ học thì văn học Việt Nam sẽ khó thoát ra khỏi các vòng rào nhỏ hẹp của các thôn làng hoặc các bức tường rào của các ghetto văn học.” 

    RUDYARD KIPLING: “PHƯƠNG ĐÔNG LÀ PHƯƠNG ĐÔNG, PHƯƠNG TÂY LÀ PHƯƠNG TÂY”.

    Nhà văn nổi tiếng đã viết câu “Phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai phương trời ấy chẳng bao giờ gặp nhau” chính là Rudyard Kipling. Câu này nằm trong bài thơ “The Ballad of East and West” (Khúc ballad về phương Đông và phương Tây) của ông, được xuất bản vào năm 1889. Thực ra khi mà thế giới sống chung toàn cầu hóa, quan niệm cổ hủ của Kipling không còn đúng nữa.

    VIỆC DUNG HÒA ĐÔNG – TÂY TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM.

    Trong thời đại ngày nay, quan niệm châu Âu trung tâm đã trở nên lỗi thời, trong lĩnh vực lý luận văn học cũng vậy. Nền lý luận có tính phân tích, khoa học của phương Tây cần phải được bổ sung cái uyên áo, thâm trầm và cách viết đầy tính nghệ thuật của lý luận phê bình văn học phương Đông. Chúng ta mơ ước có những bộ sách lý luận văn học, không chỉ trình bày tư tưởng lý luận phương Tây mà ngay cả phương Đông nữa, để thấy rằng, phương Tây và phương Đông gần nhau lắm bởi tính nhân loại phổ biến của nó, nhưng đồng thời cũng thấy văn hóa phương Tây và phương Đông cũng cho những bản sắc riêng, làm cho vườn hoa nhân loại thêm đa sắc nét đa dạng. Như thế có thể nói, thể nghiệm theo khuynh hướng tiểu thuyết mới của giới cầm bút ở miền Nam hẳn có ít nhiều đóng góp cho lịch sử phát triển của văn xuôi Việt Nam trong thế kỷ 20.

    Cách phân biệt lưu đày thực sự và lưu đày trong tâm trí từ lâu đã được các nhà phê bình và nghiên cứu văn học đã đựơc quan tâm. Trong không khí chung ấy, rõ ràng hai chữ lưu đày, lưu vong mang một ý nghĩa sâu sắc, hàm chứa một giá trị nhân bản. Văn chương lưu đày, theo suy nghĩ của những nhà đối kháng như Nadine Gordimer (Nam Phi), Cao Hành Kiện (tên Hán tự- 高行健), phe Việt Nam ta tị nạn muôn thuở có quý vị như: Lê Tất Điều, Phạm Quốc Bảo, Ngô Thế Vinh, Vương Trùng Dương, Lưu Khánh Lan, Phạm Gia Đại,…, Milan Kundera (Tiệp khắc), Svetlana Alexievich (Nga), Otero Alcántara (Cuba), Vladimir Sorokin (Nga), Breyten Breytenbach (Nam Phi),… tất cả họ cùng cất cao tiếng nói như những loài chim di xa quê xưa: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”,… trở thành những tiếng nói của lương tâm, trở thành sự phản kháng quyết liệt đối với mọi chế độ đàn áp tư tưởng, phủ nhận quyền sống của con người. Thi ca não nuột, buồn tênh:

    Một thủa Cao Tần bộc bạch tự hỏi:

    Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi

    Những hào hùng uất hận gối lên nhau

    Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới

    “Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”

    Hay,

    Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ

    Một đôi người u uất nỗi chơ vơ

    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị

    Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ

    (Bài thơ Phương Xa, Vũ Hoàng Chương).

    Văn Học Lưu Vong:

    Đất tạm dung là cõi ở trọ, cỡi trần gian cuộc đời cũng chỉ là cõi tạm quán trọ ven đường, xem thơ Cao gia nhé,… Văn học Việt Nam khi nào bạn ly hương và bạn ở bất cứ quốc gia nào khác ngoài Việt Nam, tự bản chất, bạn là văn học lưu vong (diaspora, exile literature).

    Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực

    Trên đường chênh chếch nắng mênh mang

    Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc

    Ðã chán nhân gian ở cuối đường.

    (Chốn tạm dung, thơ Cao Tần).

    Hay,

    Chỉ là hiện thân của một người tử tù

    Có gục đầu nhìn cuộc đời

    Cũng chỉ như nhìn khung cửa nhà giam

    Vẫn có một chút trời xanh

    Nhưng rất nhiều đơn độc

    (Di chúc, thơ Nguyên Sa)

    Những tác phẩm dược nêu trên đây mang nội dung ly hương hay do lưu vong mà ra sự biến đổi của nhân vật chính có thể được xem như một ẩn dụ cho tình tiết bi ai, đầy chông chênh, mất phương hướng của kiếp lưu vong, cũng như nỗi hoài hương về một bản sắc hay quê hương đã mất.Khi suy luận, nghiền ngẫm về nguyên nhân qua hành trình và ý nghĩa của sự ly hương trong các tác phẩm. Nhận diện các tác giả tiêu biểu cùng những góc nhìn độc đáo của họ về sự lưu vong.Viết tham luận về tính thời sự và ý nghĩa của các chủ đề này trong xã hội đương đại. Cái đẹp chính là cuộc sống:  muốn khẳng định nguồn gốc và đặc trưng của cái đẹp trong tác phẩm văn học. Cái đẹp ấy phải bắt nguồn từ đời sống, phải gắn bó và phục vụ đời sống.

    VĂN HỌC NGHỆ THUẬT – GUY DE MAUPASSANT.

    Văn học không thể không nói đến, hay không thể không quan tâm về vấn dề luận giải. Văn học chỉ có thể tồn sinh trong xã hội, khi văn học luôn quan tâm đến những vấn đề thuộc về con người với các mối liên hệ của nó. Khi xét trên bình diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Khi bàn về vấn đề phê bình văn học nghệ thuật, Guy de Maupassant cho rằng:

    “Nhà phê bình xứng đáng với danh từ cao đẹp của nó phải là người không thuộc về khuynh hướng nào cả, không có những ưa thích riêng tư nào cả, không thiên kiến gì cả, và như nhà chuyên môn xem tranh, họ chỉ nghiên cứu đánh giá các bức tranh theo giá trị nghệ thuật của mỗi thứ. Nhà phê bình không chỉ là người khám phá và sáng tạo cái đẹp mà còn giải mã cái đẹp văn chương để định hướng mỹ cảm cho người tiếp nhân”.

    KẾ NỮA HÃY DẰO SÂU VÀO CHUYÊN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC.

    Phân tích tác phẩm *Người mẹ* của Maxim Gorky.

    Trong số những tiểu thuyết quan trọng của Maxim Gorky (1868–1936), “Người mẹ” là tác phẩm nổi tiếng nhất. Tại Liên Xô, giới phê bình đã tôn vinh “Người mẹ” như một tác phẩm mẫu mực cho thể loại văn học mới – chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với các đặc điểm chính là ghi khắc xu hướng hiện thực trong quá trình phát triển cải cách xã hội, và tác phẩm “Người mẹ” là tác phẩm bắt buộc phải học tại các trường trung học, và nhiều thế hệ về sau.

    Quan diểm về Lý thuyết và Phê bình Văn học – Lý thuyết chính của Jacques Derrida.

    Jacques Derrida (1930-2004) nổi lên vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970 với việc xuất bản các tác phẩm Of Grammatology (1967), Writing and Difference (1967) và Margins of Philosophy (1972). Tên của Derrida gắn liền với thuật ngữ ‘Giải cấu trúc’.

    “Giải cấu trúc” (Deconstruction) của Jacques Derrida là gì?

    Déconstruction là một lý thuyết và là một phương pháp phê bình bắt nguồn  từ các công trình của nhà triết học Pháp Jacques Derrida (De la grammatologie, 1967), thuyết tạo ra những ảnh hưởng to lớn tại Hoa Kỳ trong những năm 1970-1980. Lý thuyết này liên quan đến việc làm phát lộ ra những áp lực, những mâu thuẫn xuyên suốt các văn bản, ngăn cản những văn bản này đạt tới một sự biểu hiện ý nghĩa trọn vẹn rõ ràng, có thể xác định được. Lý thuyết này cho rằng tất cả những phân tích văn chương xác quyết có thể đạt được ý nghĩa “hiển nhiên” của một văn bản luôn bắt nguồn từ một dạng thức quyền lực nào đó, do nhân danh một chủ thể nào đó, kẻ bảo đảm có được một sự dàn dựng kết nối chặt chẽ với ý đồ ban đầu. Người ta manh nha sửa đổi hầu bỏ qua những chi tiết làm sai lệch đi cái cấu trúc của một sự diễn đạt luôn không chấp nhận những vết nứt gẫy, hư sai ấy.

    Các nhà giải cấu trúc tự biện luận đánh giá mình là “đạo đức” bởi vì  họ thừa nhận tính khác biệt của văn bản, thừa nhận cái vị thế của văn bản như là một hiện tượng thuần túy ngữ nghĩa trước là đối tượng của một sự suy xét về mặt tư tưởng đạo đức. Quá trình cấu tạo văn chương trong văn bản ở đây được xem qua việc sửa sai hầu khắc phục sự thiếu sót của ngôn ngữ, để tránh né sự sai phạm trong việc giải thích về hiện trạng, đồng thời đó cũng luôn là một nỗ lực tuyệt vọng, khi bị kết án thất bại ngay ở bước khởi đầu, qua những ý nghĩa trọn vẹn. Giới chính trị, báo chí Hoa Kỳ dã dùng thuật ngữ “Deconstruction” phổ biến này.

    Tác phẩm Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học cũng đề cập khá rõ về lý thuyết của Derrida về Giải cấu trúc (Deconstruction).

    Việc phê bình văn học có nên được coi là một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt với lý thuyết văn học hay không là một vấn đề gây tranh cãi. Ví dụ, cuốn “Hướng dẫn về Lý thuyết và Phê bình Văn học của Đại học Johns Hopkins” không phân biệt giữa lý thuyết văn học và phê bình văn học, và hầu như luôn sử dụng các thuật ngữ này cùng nhau để mô tả cùng một khái niệm. Một số nhà phê bình coi phê bình văn học là một ứng dụng thực tiễn của lý thuyết văn học, bởi vì phê bình luôn trực tiếp đề cập đến các tác phẩm văn học cụ thể, trong khi lý thuyết có thể mang tính tổng quát hoặc trừu tượng hơn.

    Phê bình văn học thường được xuất bản dưới dạng tiểu luận hoặc sách. Các nhà phê bình văn học hàn lâm giảng dạy tại các khoa văn học và xuất bản trên các tạp chí học thuật, trong khi các nhà phê bình nổi tiếng hơn xuất bản các bài đánh giá của họ trên các tạp chí có lượng phát hành rộng rãi như The Times Literary Supplement, The New York Times Book Review, The New York Review of Books, London Review of Books, RadioFrance Critiques Littéraires,  Paris Review Book, Revue critique de fixxion française contemporaine, BibliObs Critiques de livres, Dublin Review of Books, và The New Yorker,…

    Tóm lại, sau những trang nhìn về Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức, người viết bài xin khép dề tài qua những dòng chừ sau đây.

    Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức cho người dọc một số kiến thức chính luận, tham luận về văn học nói chung, trên căn bản giáo khoa hàn lâm. Lý thuyết phê bình cung cấp một khung cửa về lý thuyết văn học phong phú và đa dạng cho việc phân tích văn học chuyên sâu, cho phép người đọc tiếp cận văn bản một cách thấu đáo và khám phá những tầng lớp lang chữ nghĩa đa chiều. Khi xét qua việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử, các hệ thống tư tưởng và các vấn đề mà chủ đềne6u ra, người đọc có thể phát triển, tự tìm hiểu mục tiêu sâu sắc và tinh tế mà tác phẩm luận bàn về văn học.

    Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức cho người dọc một số ý kiến cần thiết khi nhìn về văn học. Vì văn học chính là cầu nối giữa trái tim người và người, với trái tim giữa tâm hồn với tâm hồn. Văn học là chất xúc tác hay chất phù sa cho tâm hồn con người. Văn học luôn luôn thấu hiểu những tâm tư tình cảm những nỗi niềm sâu lắng từ tiềm thức, một ngưỡng cửa chan hòa rung cảm muôn thuở của nhân loại . Mà khát vọng muôn đời của nhân loại chính là đích điểm vươn đến những giá trị Chân – Thiện – Mỹ, vượt thoát khỏi giới hạn tồn tại của không gian và thời gian để hướng đến những giá trị vĩnh hằng, bất diệt.  Những cái đẹp độc đáo, khác thường đã xuất hiện trong văn học như một lẽ rất tự nhiên.

    Trần Việt Hải, California 2026

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  LỊCH SỬ,  Tin tức

    THÁNH LỄ TUYÊN CHÂN PHƯỚC CHO CHA PHANXICO XAVIE TRƯƠNG BỬU DIỆP NGÀY 2 THÁNG 7, 2026 TẠI NHÀ THỜ TẮC SẬY, CÀ MÂU, VIỆT NAM

    Khánh Lan sưu tầm dựa theo tài liệu Wikipedia, lời phỏng vấn của các phóng viên và những người tham dự buổi Thánh Lễ phong Chân Phước Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp.

    Khuôn viên Nhà thờ Tắc Sậy và trung tâm hành hương

    Quang cảnh tại trung tâm hành hương Tắc Sậy
    trong ngày phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp

    Giáo Hội Việt Nam được chúc lành bởi Thiên Chúa và nhà thờ Tắc Sậy đã mở vòng tay chào đón hàng vạn bước chân của tín hữu Công giáo (Việt Nam hiện có hơn 7,5 triệu tín hữu Công giáo, chiếm khoảng 7.4% dân số) cùng các thân hữu thuộc tôn giáo bạn trở về. Dự đoán có khoảng hơn 70,000 người đã quy tụ tại Nhà thờ Tắc Sậy thuộc Giáo phận Cần Thơ vào ngày 2 tháng 7 để tham dự lễ phong chân phước cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Theo lời Linh mục Hồ Văn Xuân, đại diện Tổng Giáo phận Sài Gòn, đây có lẽ là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong gần 500 năm, một thánh lễ phong chân phước được cử hành ngay trên đất nước Việt Nam thay vì tại Vatican như thông lệ.

    Trong Giáo hội Công giáo, việc tuyên phong chân phước là việc chính thức công nhận một người có đời sống đức tin mẫu mực và đang hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa. Đây là giai đoạn thứ ba trong tiến trình phong thánh gồm: Tôi tớ Chúa – Đấng đáng kính – Chân phước – Hiển thánh.

    Bức tượng Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp trước khi được phong chân phước

    Bức tượng mới của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp với cành thiên tuế sau khi được phong chân phước

    Thánh lễ nghi thức phong chân phước lịch sử cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã do Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng và là đặc sứ của Đức Giáo hoàng Leo XIV chủ sự. Đồng tế trong Thánh lễ có Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam và các vị hồng y, giám mục đến từ Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia cùng gần 2,000 linh mục, hàng chục ngàn tu sĩ và giáo dân cũng đã tham dự sự kiện này.

    • Ngày 30 tháng 6, 2026 tại khuôn viên của nhà thờ Tắc Sậy.

    Tại trung tâm hành hương Tắc Sậy, hàng ngàn người đã đến vài hôm trước ngày khai mạc buổi lễ phong thánh, họ chờ đợi và thức trắng đêm để chờ khoảnh khắc lịch sự này. Tuy là trong mấy ngày liền mưa rất nặng hạt tại đây, nhưng không vì thế mà làm chùn bước chân họ, cho dù đêm mưa có lạnh nhưng không làm cho họ bỏ cuộc, họ dựng lều, trải chiếu khắp nơi. Trong số đó, có những người đến từ nhiều tỉnh rất xa, họ đem theo niềm tin và ao ước có mặt trong giây phút thiêng liêng của lịch sử.

    • Lá cờ Vatican hay cờ tòa thánh

    Là biểu tượng thiêng liêng của giáo hội công giáo Roma và Thanh Quốc Vatican. Được thông qua năm 1929, lá cờ bao gồm 2 màu: dọc vàng và trắng cùng quốc huy giáo hoàng ở dải giữa, mang đậm dấu ấn về mặt tôn giáo quyền năng và lịch sử, ý nghĩa của các mầu giải cờ chia làm 2 phần rõ rệt với 2 màu đặc trưng. 

    Dải màu vàng bên trái tượng trưng cho quyền lực thiêng liêng, sự thánh thiện và vinh quang của thiên đàng. Màu trắng dải bên phải tượng trưng cho sự thanh khiết và ánh sáng vĩnh cửu. Ý nghĩa Quốc Huy nằm ở giữa, màu trắng là huy hiệu của giáo hoàng gồm các thành phần: Mũ giáo hoàng: chiếc mũ 3 tầng tượng trưng cho 3 thẩm quyền tối cao của đấng kế vị Thánh Phero (Peter), chủ chân hoàng vũ tuyền giáo phổ quát và quyền lực trần thế. Hai chiếc khóa: Chìa khóa vàng tượng trưng cho quyền năng trên nước trời. Chìa khóa bạc tượng trưng cho quyền năng dưới trần gian được giao phó cho thánh Phero (Peter). Sợi dây thừng tượng trưng cho sự thắt chặt quyền năng của 2 nơi này.

    Lá cờ tòa thánh tung bay trong gió…

    Một số khác đã dựng lều và chờ sẵn bên quốc lộ. Những quán bên đường quanh khu Tắc Sậy đã không còn đủ chỗ và lương thực để đãi khách hành hương.

    Trên con đường đi đến trung tâm hành hương Tắc Sậy. Ông Vũ Đình Trọng, một khách đi đường ghi nhận cảnh tượng trên quốc lộ dài năm cây số, xe cộ phải tạm ngưng để nhường chỗ cho hàng chục ngàn người bỏ xe lại để đi bộ về khu nhà thờ và khu mộ phần, nơi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp an nghỉ. Mất gần 5 tiếng đồng hồ cho đoạn đường chỉ 15km.Trong bóng đêm, dòng người không ngừng tiến bước, mang theo lời cầu nguyện, lòng biết ơn và niềm vui được chứng kiến ngày mà Giáo hội chính thức tôn vinh vị mục tử đã hiến mạng sống của chính mình vì đoàn chiên. Trong dòng người ấy có những cụ già tóc bạc phơ, tay chống gậy lần đi từng bước, có những trẻ nhỏ còn được cha mẹ bồng trên tay, những thanh niên nam nữ và những người từ hải ngoại lặn lội trở về dự thánh lễ.

    Khu mộ phần, nơi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp an nghỉ.

    Giáo dân dâng lời cầu khẩn

    Quang cảnh ngoài và trong khuôn viên hành hương Tắc Sậy

    Ban tổ chức đã chuẩn bị 40,000 phần ăn sáng và 200,000 chai nước cho khách hành hương, thêm 14,000 phần ăn và trước khi thánh lễ khai mạc. Ông Trần Văn Tú, người Vĩnh Long, dựng lều bên quốc lộ một từ hai ngày trước khi thánh lễ bắt đầu. Sáng mùng 2 Tháng Bảy, gia đình ông ăn tạm bên đường vì quán xá quanh Tắc Sậy đã quá tải. Ông nói, “Sáng nay được phát miễn phí bánh mì và nước uống nên rất thuận tiện,” Những con số ấy tự chúng không nói lên điều gì thiêng liêng. Nhưng đằng sau mỗi con số là một người đứng chờ dưới nắng, chỉ vì muốn có mặt.

    Người tham dự thánh lễ dựng lều, trải chiếu khắp nơi

    Cũng tại trung tâm hành hương, Cha Phan Đình Tùng từ Vatican News đã phỏng vấn một giáo dân và anh ta đã tâm sự: “Tất cả con cái của chúa đều đến với ngày đại lễ hôm nay vì không biết là trong cuộc đời còn có nhiều cơ hội để dự lễ Phong chân phúc không, thì đây là cơ hội hiếm hoi và đây là dịp thôi thúc để đến với Chúa, để cảm nhận được hồng ân của Chúa thật là vĩ đại lớn lao mà đời sống Cha Trương bửu Diệp đã minh chứng với Chúa là vì yêu Chúa mà Cha Trương bửu Diệp sẵn sàng tử vì đạo và chết cho đoàn chiên.” 

    Simontu, một người cắm hoa cho buổi lễ, anh theo đạo Cao Đài bày tỏ cảm xúc về cuộc đời của cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp trong ngày phong thánh của Ngài. “Trong giáo hội Công giáo, bây giờ tôi mới hiểu, Chân Phước là sự nhìn nhận chính thức của Giáo hội dành cho một người đã qua đời, sau khi xét toàn bộ cuộc đời, đức tin, sự hy sinh của người ấy được điều tra, thẩm định rất nghiêm ngặt bởi tòa thánh Rome. Chân phước không phải là một phần thưởng. Đó là sự xác nhận rằng có những con người đã sống một cuộc đời đủ đẹp để trở thành tấm gương cho nhiều thế hệ sau. Với Cha Trương Bửu Diệp, điều Giáo hội nhìn nhận là ngài đã chọn ở lại với giáo dân trong thời điểm nguy hiểm nhất và chấp nhận hy sinh mạng sống của mình. Có lẽ vì vậy mà gần 80 năm sau ngày Ngài qua đời, hàng triệu người vẫn tìm về Tắc Sậy để cầu nguyện và tưởng nhớ.”

    • Chuẩn bị cho ngày đại lễ

    Trong việc chuẩn bị áo lễ cho các Hồng Y, Tổng Giám Mục và các Tu Sĩ: Nhà may Rosa Thiên Ân cho biết họ đã may gần 2.000 áo lễ dành cho các Hồng Y, Giám mục và Linh mục dự phần trong Thánh lễ đồng tế tuyên phong chân phước Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. Đây là một số lượng lớn lễ phục được hoàn tất trong một thời gian ngắn. Hai cơ sở của nhà may ở cả miền Bắc lẫn miền Nam đã phối hợp để thực hiện và để kịp phục vụ cho buổi đại lễ. Được biết, toàn bộ áo lễ được thực hiện theo đơn đặt hàng của Đức Giám mục Phêrô (Peter) Lê Tấn Lợi, Giám mục Giáo phận Cần Thơ. Ông Đinh Tường Dương nói: “Thực ra, đây không chỉ là một sự dặt hàng đơn thuần, mà Ngài còn trực tiếp cùng nhà may lên ý tưởng và tham gia thiết kế, nhằm tạo nên mẫu áo lễ mang dấu ấn riêng cho sự kiện trọng đại của Giáo hội Công giáo Việt Nam.”

    Cũng trong buổi phỏng vấn 2 ông Đinh Tường Dương và Đinh Tường Long và bà Anna Ngọc Anh, chủ nhà may Rosa Thiên Ân về công việc may áo lễ. Ông Dương chia sẻ: “Khi được Đức Cha Lợi ngỏ lời và lãnh trách nhiệm thiết kế áo lễ, chúng tôi tưởng chừng như đang sống trong mơ và không tin là được hội đồng giám mục giao cho trách nhiệm này”. Bà Anna Ngọc Anh cũng kể: “Đây thật là một sắc màu nhiêm và niềm vinh dự, niềm tự hào cho chúng tôi, lãnh nhận trọng trách này, được góp góp phần thiết kế và sản xuất áo lễ cho các đấng gồm 43 hồng y và tổng giám mục, 2.000 áo lễ cho linh mục.” Qua hình ảnh và video trên Facebook cho thấy: Áo lễ được kết hợp rất đẹp, màu đỏ và màu trắng tượng trưng cho mình và máu thánh Chúa. Chính giữa là hình cha Trương Bửu Diệp. Thật là một công trình sáng tạo.

    Phóng viên Tạ Biên Cương phỏng vấn chủ nhà may Rosa Thiên Ân

    . Ngày 30 tháng 6, 2026 tại Hà Nội 

    Theo lịch trình, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đáp xuống sân bay quốc tế Nội Bài tại Hà Nội lúc 15 giờ 14 phút. Đi theo phái đoàn đón tiếp Ngài gồm có tổng giám mục Marek Zelewsk, Đại diện thường trú tòa thánh tại Hà Nội. Đức tổng giám mục Giuse Nguyễn Năng, chủ tịch hội đồng giám mục Việt Nam. Đức tổng giám mục vũ Văn Thiên, phó Chủ tịch hội đồng giám mục Việt Nam cùng một số linh mục và giáo dân.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle xuống sân bay quốc tế Nội Bài tại Hà Nội

    Trong số đó có 2 em thiếu nhi trong trang phục cổ truyền Việt Nam tặng Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, bó hoa tươi thắm như một lời chào mừng nồng hậu và để thể hiện tình hiếu khách của giáo hội Việt Nam đối với vị đặc xứ của Đức Thánh Cha Leo XIV.

    Những bó hoa chào mừng nồng hậu và để thể hiện tình hiếu khách của giáo hội Việt Nam đối với vị đặc xứ của Đức Thánh Cha Leo XIV, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle và tổng giám mục Marek Zelewsk, Đại diện thường trú tòa thánh tại Hà Nội

    Sau khi rời sân bay quốc tế Nội Bài, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chuyển về tòa tổng giám mục Hà Nội, tại đây Đức cha phụ tá Giuse Vũ Công Viện cùng quý cha, quý tu sĩ và các chủng sinh đã nồng nhiệt chào đón Ngài trong bầu không khí vui tươi thân tình.

    • 5:01 giờ sáng ngày 01 tháng 7, 2026

    Sau đó Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đã đáp chuyến bay vào Cần Thơ lúc 12:30 chiều. Phái đoàn của Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Nhơn, Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, cùng Đức Tổng Giám Mục Giuse – Tổng Giáo phận Hà Nội, đã đáp xuống Sân bay Quốc tế Cần Thơ, bắt đầu cho chuyến thăm mục vụ tại miền Tây Nam Bộ nhân dịp Đại lễ Tuyên phong chân phước cho tôi tớ Chúa Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đáp chuyến bay vào Cần Thơ

    Một giáo hữu đi cùng chuyến bay với Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chia sẻ: “Hôm nay, tôi may mắn được đồng hành trên chuyến bay từ Hà Nội về Cần Thơ cùng Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Đức Hồng Y Nguyễn Nhơn, Đức tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, quý Đức Cha và quý Cha. Giữa khoang máy bay, nhìn những vị mục tử giản dị, gần gũi và hiền hòa, tôi càng cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp của một Giáo hội luôn hiệp nhất trong đức tin và tình yêu thương. Mỗi nụ cười, mỗi lời chào, mỗi khoảnh khắc được gặp gỡ đều là một hồng ân mà có lẽ nhiều năm sau tôi vẫn sẽ nhớ mãi.”

    • Chiều ngày 01 tháng 07, 2026

    Ngay sau đó, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle cùng phái đoàn tiếp tục di chuyển về Cà Mau để thực hiện chương trình công tác mục vụ theo lịch trình đã định. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Tổng trưởng Phân Bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV đã đến tỉnh Cà Mau trong khuôn khổ chương trình Thánh lễ Tuyên phong Chân Phước cho cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy – Giáo phận Cần Thơ. Hiện diện đón Đức Hồng Y và Đức Tổng Giám Mục tại sân bay có Đức cha Phêrô Lê Tấn Lợi, cùng quý cha và phái đoàn Tòa Giám mục Cần Thơ.

    Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau Nguyễn Hồ Hải đã tiếp đón Đức Hồng Y Tagle cùng phái đoàn Tòa Thánh và Giáo hội Công giáo Việt Nam, tại trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau.

    Tham dự buổi gặp gỡ có Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam; Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn; Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội; Đức Giám mục Phero Lê Tấn Lợi, Giám mục Giáo phận Cần Thơ, cùng quý linh mục.

    Trong cùng ngày 1 tháng 7, 2026 lúc 14h chiều, Đức cha Phêrô (Peter) Huỳnh Văn Hai giáo phận Vĩnh Long cùng Cha Chủ sở Anton (Anthony) Đặng Hữu Kha giám đốc trung tâm mục vụ giáo phận Cần Thơ cùng đồng tế trong buổi lễ.

    Ban kèn đồng đền thánh Đại Đồng – giáo phận Bùi Chu và ban phụng vụ đã tích cực tập luyện, phối hợp nhịp nhàng để phục vụ Thánh lễ nột cách sốt sắng và trang nghiêm.

    Quang cảnh bên trong thánh đường và các vị khách mời

    Đức cha Phêrô (Peter) Huỳnh Văn Hai giáo phận Vĩnh Long cử hành thánh lễ trong ngày 1 tháng 7, 2026

    Trong thánh lễ, Ngài nói: “Lạy cha xin cho họ được hợp nhất trong Kitô hữu và bình an của Chúa ở cùng anh chị em. Anh chị em thân mến, chúng ta tụ hợp nhau nơi đây tại nhà thờ Tắc Sậy tạ ơn Thiên Chúa. Chúng ta cầu nguyện cho các Kitô hữu được hiệp nhất là điều thiết yếu để đáp lại lời cầu nguyện của chính Chúa Kitô trước khi chịu khổ nạn. Xin cho họ được hợp nhất hầu cho thế giới tin rằng Cha đã sai con….Việc cầu nguyện này hàn gắn những bất bình chia rẽ gây ra cho dù chúng ta phải hy sinh cả sức lực và ngay cả con người của chúng ta. Xin chúa cho ….”

    Cầu xin được hợp nhất trong Kitô hữu và bình an của Chúa ở cùng anh chị em.

    Thánh lễ khai mạc

    “Này là Máu Ta, máu tân ướcvĩnh cửu đã đổ ra cho các con…..”

    “Này là Mình Ta các con hãy nhận lấy mà ăn….”

    Rồi Ngài cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: “Ðây là Mình Thầy, hiến tế vì các con. Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy (Lc 22,19-20)

    LẠY CHÚA, CON CHẲNG ĐÁNG CHÚA NGỰ VÀO NHÀ CON, NHƯNG XIN CHÚA PHÁN MỘT LỜI THÌ LINH HỒN CON SẼ LÀNH SẠCH

    Khoảng 200 linh mục trao Mình Thánh Chúa đã tạo nên một khung cảnh cảm động. Hàng trăm thừa tác viên của Bí tích Thánh Thể tỏa đi giữa 70 ngàn người, để không ai phải ra về mà thiếu lương thực thiêng liêng. Đó là hình ảnh đẹp về một Giáo hội hiệp thông, đông đảo nhưng vẫn quy hướng về một Bàn Tiệc duy nhất, một Đức Kitô duy nhất.

    Ca đoàn của nhà thờ Tắc Sậy hát dâng lễ

    Tín hữu tham dự thánh lễ

    Suốt chiều hôm trước và cả đêm qua, Tắc Sậy chìm trong những cơn mưa lớn. Nhiều người không khỏi lo lắng cho ngày đại lễ. Thế nhưng, khi bình minh lên, bầu trời quang đãng, nắng nhẹ, gió mát. Trong bầu khí an lành yên ả ấy, Hồng Y Luis Antonio Tagle chủ sự thánh lễ tuyên phong chân phước cho biển người hành hương xảy ra thật tốt đẹp … một khoảng lặng bình an tuyệt vời được dành riêng cho giờ phút trọng đại. Rồi những cơn mưa lại kéo đến khi Thánh Lễ đã chấm dứt. Thật là một điều kỳ diệu…Tạ ơn Thiên Chúa…

    Những giáo hữu có vé mời.

    • Sáng ngày 2 Tháng 7, 2026

    Theo lịch trình lúc 8 giờ sáng ngày 2 tháng 7, 2026. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle sẽ thay mặt Đức Thánh Cha Leo XIV chủ sự thánh lễ tiên phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại trung tâm hành hương Tắc Sậy. Giáo phận nhà thờ Cần Thơ biểu lộ sự hãnh diện và mối hiệp thông của Đức Giáo Hoàng với giáo hội Việt Nam trong sự cố trọng đại.

    Sáng ngày 2 Tháng 7, 2026 tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle. đặc sứ của Đức Giáo Hoàng Leo XIV, đọc quyết định tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lên hàng chân phước.Hàng ngàn thành viên đến từ giáo phận Bùi Chu đã quy tụ về Tắc Sậy để luyện tập các bài thánh ca, góp phần tạo nên bầu khí linh thiêng cho ngày trọng đại của Giáo hội Việt Nam .

    Tấm khăn che chân dung được kéo xuống. Trong khoảnh không gian tĩnh lặng, không một tiếng vỗ tay đã để lại một khoảnh khắc ling thiêng. Cả biển người cùng ngước nhìn, lặng lẽ đưa tay lau những giọt nước mắt hân hoan chen lẫn xúc động và tiếng nguyện kinh nho nhỏ.

    Giám mục Lê Tấn Lợi, người đứng đầu Giáo phận Cần Thơ, Ngài lên tiếng: “Ngài đã sống và chết cho con chiên.” Có những điều mà chúng ta chỉ cảm nhận được nhưng không nói ra. Phải, Cha Diệp chưa bao giờ là vị thánh của riêng người có đạo Công giáo, mà của tất cả nhân loại. Hôm ấy, đứng bên cạnh những giáo hữu là những người theo tôn giáo khác. Trong ấy, có một cụ Bà, người không theo đạo Công Giáo, bà cụ đứng lặng lẽ, chắp tay, trong làn khói nhang quyện quanh gương mặt, bà thì thầm cầu nguyện. Lời cầu nguyện ấy chẳng đã minh chứng cho sự kính trọng của những tâm hồn không phân biệt tôn giáo.

    • Mở đầu nghi thức phụng vụ

    Đức Giám mục Phêrô Lê Tấn Lợi của Giáo phận Cần Thơ (là người đã chính thức thỉnh cầu việc phong Chân phước cho Tôi tớ Chúa, Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp), đọc tiểu sử Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đã công bố Tông thư của Đức Giáo Hoàng bằng tiếng La tinh, chính thức tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là “Chân phước“. Tiếp đó, bức chân dung lớn của vị Tân Chân phước đã được công bố và tôn vinh bằng hoa tươi cùng hương trầm.

    • Khai mạc buổi lễ

     Hồng Y Luis Antonio Tagle xuất hiện với đôi mắt biết cười và nụ cười tươi vui, Ngài ngỏ lời chào đến công đoàn của nhà thờ Tắc Sậy bằng tiếng Việt: “Chào buổi sáng tất cả các bạn, các bạn có hiểu tôi đang nói tiếng Việt hay không?”. Xong Ngài chuyển lời chúc mừng và ban phép lành Tông tòa của Đức Giáo Hoàng đến cộng đồng Công giáo trên khắp đất nước Việt Nam. Ngài nói: “Đây là một ngày thực sự mang tính lịch sử trong đời sống Giáo hội”.

    Điều làm cho chúng ta suy nghĩ không nằm ở giáo điều của hội thánh mà nằm ở câu hỏi mà Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đặt ra trong bài giảng: “Vì sao một cái chết bị bách hại lại được gọi là phúc lành?” Ngài hỏi cộng đoàn: “Người anh em muốn chọn làm giàu bất chính hay cuộc sống chân thật? Chọn tích trữ của cải hay chia sẻ với người nghèo?.

    Không ai trả lời. Có lẽ sự im lặng mới chính là câu trả lời.

    Trong phần dâng lễ vật, thay vì chỉ có bánh và rượu theo nghi thức thông thường, giáo dân Tắc Sậy còn dâng lên những hạt lúa vàng và hạt muối trắng của vùng đất họ canh tác, kết tinh của mồ hôi đồng ruộng nơi họ sinh sống. Chúng được đặt cạnh mình thánh và máu thánh Chúa. Nhìn hạt lúa được dâng lên trên bàn thờ, gợi nhớ cho giáo dân đến cách Cha Diệp dâng lên Chúa sự sống của Ngài. Như một hạt lúa gieo vào lòng đất mục nát, đi để sinh ra hoa trái cho những người ở lại.

    Giáo dân Tắc Sậy dâng lên những hạt lúa vàng và hạt muối trắng của chính vùng đất họ đang sống.

    LẦN ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM

    Cà Mau, ngày 2 tháng 7, 2026: Đại Lễ tuyên phong chân phước đầu tiên được cử hành tại Việt Nam dành cho linh mục Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp. Sự việc này không chỉ là lần đầu tiên nghi thức tuyên phong chân phước được tổ chức tại Việt Nam mà buổi lễ tuyên phong chân phước còn là hành trình xét duyệt kéo dài hơn 13 năm cho sự hiện diện của một đặc sứ của Đức Giáo hoàng Leo XIV đến Việt Nam.

    Điều đặc biệt hơn nữa là Đức Giáo hoàng Leo XIV đã cử Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle sang Việt Nam để làm đặc sứ chủ trì thánh lễ và công bố tông sắc tuyên phong Chân phước cho linh mục Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. (Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle 69 tuổi, người Philippines), Bởi vì trước đây, các lễ phong chân phước liên quan đến người Việt đều được tổ chức tại Rome. Theo linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân, kể từ khi Công giáo được truyền vào Việt Nam năm 1533, đây là lần đầu tiên và cũng là trường hợp duy nhất Tòa Thánh Vatican cho phép tổ chức lễ phong Chân phước tại Trung tâm hành hương Tắc Sậy, Việt Nam.

    Đúng 8:00 giờ sáng ngày 2 tháng 7, 2026

    Khi tiếng kèn vang lên từ ban kèn đồng gồm 535 người và 200 anh chị em phục vụ thuộc Liên đoàn Kèn Hiệp Nhất Miền Đại Đồng, cũng như 500 người trong ban trống làm lay động cả không gian của Giáo phận Bùi Chu. Hơn 70,000 giáo dân trang nghiêm hướng về Lễ Tuyên Phong Chân Phước Tôi Tớ Chúa, Cha Phancico Xavie Trương Bửu Diệp. Cứ theo như anh Trưởng ban kèn đồng thì các anh chị em trong nhóm đã tích cực tập luyện các bài thánh ca trong hơn 6 tháng để góp phần tạo nên bầu khí linh thiêng cho ngày trọng đại của Giáo hội Việt Nam. Họ đã phối hợp nhịp nhàng để phục vụ cho Thánh lễ với tất cả tấm lòng tôn kính và trang nghiêm.

    Để chuẩn bị phần âm nhạc, ông Trần Văn Duy trưởng liên đoàn đại đồng hợp nhất giáo phận Bùi Chu chia sẻ: “Từ khi được các quý cha giao trách nhiệm nhiệm, đoàn trống cũng như 500 thành viên thổi kèn đã tập luyện hơn 6 tháng trước để chuẩn bị cho ngày đại lễ”.

    Họ đã thổi/đánh lên những âm nhạc ca ngợi Thiên Chúa và loan báo tin vui

    Sử dụng nhiều loại nhạc cụ như trumpet, saxophone, kèn bass và các loại trống, biểu diễn khoảng 15 tác phẩm phụng vụ trong gần 90 phút.

    Và khi đoàn chiên được ơn kêu gọi của Thiên Chúa bước vào thánh đường, một rực trời màu đỏ tựa như máu thánh Ngài lan tỏa mọi nơi. Áo lễ được kết hợp rất đẹp, màu đỏ và màu trắng tượng trưng cho mình và máu thánh Chúa. Chính giữa là hình cha Trương Bửu Diệp. Thật là một công trình sáng tạo.

    Những đứa con mà Thiên Chúa đã chọn….

    Nghi thức khai mạc bắt đầu tại Trung tâm hành hương Tắc Sậy, thuộc xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau. Ngoài Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chủ sự buổi lễ còn có sự tham dự của Hội đồng Giám mục Việt Nam cùng một số giám mục thuộc Liên Hội đồng Giám mục Á Châu.

    Thánh lễ phong chân phước cho Cha Phancico Xavie Trương Bửu Diệp bắt đầu.

    Cũng là lúc ban nhạc của thánh đường Tắc Sậy trổi lên khúc nhạc cúa các bài Thánh ca….

    Người hát đáp ca chính trong Thánh lễ tuyên phong chân phước Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp là Tiến Sĩ Nguyễn Khánh Trang, Giảng viên Khoa Thanh nhạc Nhạc viện tại Việt Nam. Điều chạm đến tâm hồn các giáo dân dự lễ không chỉ là giọng hát thánh thót của bà, mà còn là cách bà đưa mọi người vào tâm tình cầu nguyện. Đó chính là sự nhiệm mầu và vẻ đẹp thực sự của thánh nhạc.

    Tiến Sĩ Nguyễn Khánh Trang, Giảng viên Khoa Thanh nhạc Nhạc viện tại Việt Nam.

    “Con xin dâng Cha nén hương nguyện cầu. Xin soa dịu muôn ngàn nỗi đau. Hồn bình an chẳng còn u sầu.Ơn vẹn toàn muôn đức nhiệm màu. Cha Phanxico linh thiêng, chiếu soi như đuốc hồng, giữa đêm đơn côi. Ai hoang mang tâm tư lạc lối, đến cậy nhờ xin ơn sáng soi“.

    “Thắp sáng lên cho con tình yêu chúa. Thắp sáng lên cho con tình tuyệt vời.”

    Ngoài Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chủ sự buổi lễ còn có sự tham dự của Hội đồng Giám mục Việt Nam cùng một số giám mục thuộc Liên Hội đồng Giám mục Á Châu.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle ban phép lành cho giáo dân

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đọc lời nguyện trong Thánh lễ

    BÀI GIẢNG CỦA HỒNG Y TAGLE TRONG THÁNH LỄ TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC CHO TÔI TỚ CHÚA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

    Anh chị em thân mến,

    Chúng ta hãy ngợi khen Thiên Chúa, Đấng đã quy tụ chúng ta trong Thánh lễ tuyên phong Chân phước linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị mục tử của Tắc Sậy, chứng nhân đức tin và là vị tử đạo của Giáo hội Công giáo. Qua ngài, Giáo hội tại Việt Nam được Thiên Chúa chúc lành. Ngài cũng là hồng ân của Chúa dành cho toàn thể Hội Thánh và cho gia đình nhân loại.Nhiều người, kể cả các tín hữu Công giáo, vẫn đặt câu hỏi: Vì sao cái chết của linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lại được Giáo hội tôn vinh là Chân phước? Có lẽ, theo cái nhìn của thế gian, người ta sẽ gọi những người như Ngài là “những người xấu số” hơn là “chân phước”. Tuy nhiên, chúng ta hãy cùng suy nghĩ dưới ánh sáng đức tin.

    Thánh lễ hôm nay đưa chúng ta trở về với giáo huấn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh Matthêu, chương V, về các mối phúc thật: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai đã khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng, vì phần thưởng dành cho ai đã ở trên trời thật lớn lao.” Như vậy, những ai bị bách hại vì Danh Chúa, bị thế gian khước từ nhưng được Thiên Chúa đón nhận, chính là những người có phúc. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải mọi cuộc bách hại đều vì Danh Chúa. Chỉ khi một người chấp nhận đau khổ và thử thách vì Đức Giêsu, người ấy mới thực sự làm chứng rằng mình thuộc về Thiên Chúa hơn là thuộc về thế gian.

    Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu khẳng định rằng Người đã chọn chúng ta để thuộc về Người, chứ không thuộc về sự dữ. Người mời gọi chúng ta sống theo lời Người dạy, sống trong sự thật, không giả dối và luôn kết hợp với Người, ngay cả giữa những hiểm nguy. Người môn đệ đích thực là người yêu mến Chúa, ở lại với Chúa và trung thành với Người ngay trong những lúc bị bách hại. Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp mời gọi mỗi người chúng ta đáp lại tiếng gọi ấy: hãy chọn Chúa và nương tựa vào Người mỗi ngày trong cuộc sống.

    Giờ đây, tôi muốn hỏi anh chị em: Anh chị em sẽ chọn điều gì? Anh chị em sẽ làm giàu bằng những cách bất chính hay mưu sinh bằng sự chân thật? Anh chị em sẽ chỉ tích trữ của cải cho bản thân hay biết quảng đại chia sẻ với những người nghèo khó? Anh chị em sẽ chọn cuộc sống tiện nghi cho riêng mình hay sẵn sàng mang lấy đau khổ của tha nhân? Nếu chọn Đức Giêsu, anh chị em đã được chúc phúc. Phúc thay những ai chọn sống theo gương Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

    Giờ đây, chúng ta hãy cùng suy nghĩ về ý nghĩa của sự tử đạo. Thông thường, người ta nghĩ tử đạo chỉ đơn thuần là cái chết. Nhưng ý nghĩa sâu xa của tử đạo chính là chấp nhận chết vì chân lý, vì Danh Chúa và để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô. Các vị tử đạo loan báo Tin Mừng bằng chính lời nói, hành động và mối tương quan mật thiết với Chúa. Khi một người sẵn sàng hiến mạng sống vì Danh Chúa, chứng tá của họ trở nên đáng tin hơn bất cứ lời giảng dạy nào. Người tử đạo là một nhà truyền giáo tuyệt vời, bởi chính cuộc đời họ làm chứng cho Đức Kitô.

    Vậy ai là người làm chứng cho Đức Giêsu? Đó là những người sống trong sự thật vì Chúa. Trong bài đọc thứ hai, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô Tông đồ, chúng ta vừa nghe: “Anh chị em thân mến, anh chị em hãy tôn thờ Đức Kitô là Chúa trong lòng mình; hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh chị em. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với lòng kính cẩn; hãy giữ lương tâm ngay chính, để khi anh chị em bị vu khống thì những kẻ phỉ bang nếp sống tốt đẹp của anh chị em trong Đức Kitô phải xấu hổ.” Người tử đạo là người luôn sống vui tươi, hiền hòa, đầy lòng nhân hậu và can đảm, ngay cả khi phải đối diện với sự chống đối. Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp chưa bao giờ chần chừ trong việc sống đức ái và làm chứng cho chân lý. Ngài yêu thương người nghèo, tận tụy phục vụ tha nhân. Ngài sống tình yêu của Thiên Chúa bằng việc quan tâm, ôm lấy mọi người, kể cả những người chưa biết Chúa. Đặc biệt, ngài đã ở lại với đoàn chiên giữa lúc hiểm nguy thay vì tìm đường chạy trốn.

    Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp mời gọi chúng ta hãy can đảm làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình. Tôi muốn hỏi anh chị em một lần nữa: Anh chị em sẽ làm chứng cho Đức Kitô hay sẽ tiếp tục loan truyền những tin giả? Anh chị em sẽ chọn sống theo gương Đức Giêsu trong đức ái hay sẽ chọn những con đường khác? Anh chị em sẽ thỏa mãn với thành công và danh tiếng cá nhân hay sẽ hãnh diện vì được mang Danh Chúa? Người tử đạo chân chính giúp mọi người biết phân định điều gì đáng để lựa chọn.

    Thế giới hôm nay đang rất cần những con người dám làm chứng cho sự thật. Chúng ta đừng sống cho bạo lực, thù hận, chia rẽ, kích động hay những điều sai sự thật. Mối tương quan của người tử đạo với Thiên Chúa được thể hiện rõ qua niềm hy vọng mà họ luôn gìn giữ giữa những cuộc bách hại. Thánh Phêrô nói rằng người ta có thể giết chết thân xác, nhưng sự sống trong Thần Khí thì không bao giờ bị hủy diệt. Cuộc đời và sứ mạng của Đức Giêsu không kết thúc bằng khổ đau và cái chết, nhưng được hoàn tất trong ánh sáng Phục Sinh vinh hiển. Đức Kitô đã thực sự sống lại. Người đang hiển trị trong Nước của Người, ngự bên hữu Chúa Cha và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta. Chính niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đem lại cho chúng ta một niềm hy vọng vững chắc.

    Vinh quang mà Thiên Chúa hứa ban sẽ không bao giờ phai tàn. Chúng ta hãy nhớ đến người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu. Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, ông tha thiết thưa với Chúa: “Xin Ngài nhớ đến tôi khi vào Nước của Ngài.” Và Chúa Giêsu đã lập tức đáp lại lời cầu xin ấy. Người trộm chỉ xin được Chúa nhớ đến, và Chúa đã ghi nhớ ông trong chính trái tim của Người. Thế gian có thể quên lãng chúng ta, nhưng Đức Giêsu Phục Sinh sẽ không bao giờ quên những ai thuộc về Người.

    Thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi, giữa lúc chịu đau khổ đã được thấy nước trời mở ra và Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa. Vinh quang Nước Trời đang chờ đợi phía trước. Các vị tử đạo đã bước qua đau khổ, gươm giáo và cái chết để tiến vào vinh quang ấy. Chúng ta tin rằng Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã gặp gỡ Đức Giêsu và đang sống trong hạnh phúc vĩnh cửu với Người. Ngài mời gọi chúng ta đặt trọn niềm hy vọng nơi Đức Giêsu. Chính Chúa sẽ làm cho cuộc đời và sứ mạng của chúng ta được bền vững, chứ không phải của cải vật chất. Vì thế, tôi lại muốn hỏi anh chị em: Anh chị em sẽ chọn đặt nền tảng cuộc đời trên sự giàu có của thế gian hay trên sự giàu có của Thiên Chúa? Anh chị em sẽ tìm kiếm danh tiếng và những lượt thích, lượt chia sẻ trên mạng xã hội hay sẽ chọn nương tựa nơi Thiên Chúa? Anh chị em sẽ chọn những vũ khí gây nên chiến tranh hay sẽ đón nhận món quà là chính Đức Kitô, Đấng đem lại bình an đích thực?

    Linh mục Trần Văn Vinh, giáo sứ Hạc Châu, giáo phận Bùi Chu trông giống như Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp

    “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì Danh Chúa, vì Nước Trời là của họ.”

    Dàn nhạc khoảng 200 người đánh nhiều loại nhạc cụ: Organd, đàn Tranh, đàn Harp, Violin, Timpani, Sáo….

    Có Chúa ở bên con, con chẳng lo chi, con chẳng sợ gì ….

    Screenshot

    Giữa bầu khí trang trọng của đại lễ Tuyên phong chân phước hôm ấy, có lẽ ít ai để ý hình ảnh vị linh mục người Pháp, Ngài chính là Cha Roland Jacques (tên tiếng Việt là Dương Hữu Nhân, thuộc Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ – OMI) – vị Cáo thỉnh viên đã dành trọn tâm huyết, kiên trì đặt từng viên gạch cho hành trình dài phước đầy gian nan thử thách này. Sự viên mãn của ngày lễ hôm nay phần lớn nhờ công lao thầm lặng của ngài. Có lẽ vì vậy mà ở phần cuối thánh lễ, Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam, đã đặc biệt dành lời tri ân duy nhất cho Cha Roland: “Xin cảm ơn Cha Roland, người đã làm việc trong âm thầm, chính sự hy sinh khiêm hạ đó đã mang lại hoa trái ngày hôm nay“. Nhưng vị linh mục này đáp lại bằng một nụ cười hiền hậu và cái gật đầu nhẹ nhàng. Để Tòa Thánh có cơ sở công nhận cuộc tử đạo vì đức tin của Cha FX Trương Bửu Diệp, Cha Roland đã trải qua nhiều năm miệt mài nghiên cứu, đúc kết nên bộ hồ sơ Positio dày 400 trang. Đó là một công trình khoa học nghiêm túc, minh bạch, hệ thống hóa toàn bộ chứng cứ và tài liệu lịch sử. Lịch sử thường vinh danh những người đứng dưới ánh hào quang, nhưng chính những con người chọn đứng trong bóng tối như Cha Roland mới là những người dệt nên lịch sử.

    Chúng con xin cảm ơn cha, cha Roland.—

    Trong Công giáo, cáo thỉnh viên (Postulator) là người được Giáo hội giao trách nhiệm thu thập chứng cứ, thẩm định tài liệu, phỏng vấn nhân chứng và trình bày toàn bộ hồ sơ phong Chân phước hoặc phong Thánh trước Dicastery for the Causes of Saints. Có thể ví họ như “luật sư của hồ sơ“, nhưng nhiệm vụ là tìm kiếm và phục vụ sự thật với những bằng chứng chặt chẽ, khách quan và minh bạch. Một án phong Thánh thường kéo dài hàng chục năm, thậm chí nhiều thế hệ, và thành bại của tiến trình phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công việc của cáo thỉnh viên. Cha Roland Jacques, là cáo thỉnh viên trong nhiều án phong chân phước cho các vị tử đạo tại Đông Dương.

    BẾ MẠC THÁNH LỄ PHONG CHÂN PHƯỚC CHA PHANXICO XAVIE TRƯƠNG BỬU DIỆP

    Khi thánh lễ kết thúc, giao thông gần như vỡ trận. Đường sá đen đặc người và xe, kẹt cứng trong nhiều giờ. Sự quá tải ấy, tuy gây nhiều vất vả, cũng minh chứng rõ ràng sức lan tỏa đặc biệt của vị tân chân phước trong lòng dân Chúa.

    Có lẽ điều đáng nhớ nhất của ngày hôm nay không phải là nắng sau mưa hay mưa sau lễ, cũng không phải là những con số về lượng người tham dự. Điều còn đọng lại chính là đức tin của hàng trăm nghìn con người đã không quản đường xa, thức trắng đêm, chấp nhận kẹt xe hàng giờ, đi bộ nhiều cây số chỉ để hiện diện trong một biến cố của vị linh mục mà họ yêu mến. Nếu hôm nay có một “phép lạ” dễ nhận thấy nhất, thì đó chính là phép lạ của lòng tin. Một vị linh mục hiền lành đã qua đời gần một thế kỷ trước vẫn tiếp tục quy tụ biết bao tâm hồn về với Thiên Chúa. Và trong ngày Giáo hội long trọng tuyên phong ngài lên hàng chân phước, biển người tại Tắc Sậy đã trở thành một chứng từ sống động rằng: Các thánh là người có sức hấp dẫn, có thể dẫn đưa con người đến gần nhau và gần Đức Kitô hơn.

    Lần đầu tiên trong gần 500 năm, ánh sáng tin mừng được soi chiếu đến quê hương Việt Nam. Có lẽ đây là lần đầu tiên và là lần duy nhất tại tòa thánh Roma Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã cho phép cử hành thánh lễ Phong Thánh cho Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại trung tâm hành hương Tắc Sậy. Buổi chiều, khi nắng bắt đầu buông xuống những dòng kênh rạch miền Tây, dòng người vẫn chưa vãn hết. Nhiều người nán lại nhận một cuốn sách lưu niệm, một phần ăn nhỏ, hoặc chỉ để nhìn thánh đường lâu thêm một chút trước khi quay xe về. Câu hỏi để lại sau cùng không phải là Cha Diệp đã làm gì để được phong thánh. Mà là: điều gì khiến hàng vạn người, không phân biệt tôn giáo, vẫn tìm đường trở về với một người đã chết vì không chịu rời bỏ ai? Sau thánh lễ thì hàng chục ngàn người lần lượt kéo nhau ra về

    Chiều ngày 2 tháng 7, 2026

    Sau thánh lễ Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đáp chuyến bay ra Hà Nội lúc 19.00 giờ chiều để chủ sự thánh lễ tại nhà thờ chánh tòa Hà Nội ngày 03 tháng 7, 2026. 

    Nguyện xin Thiên Chúa ban nhiều hồng ân đến cùng anh chị em.

    Chuẩn bị cho Thánh lễ

    Bình an của Thiên Chúa đến cùng anh chị em.…

    Thiên Chúa ở cùng anh chị em….

    Trước giờ Thánh Lễ

    Thánh lễ tại nhà thờ chánh tòa Hà Nội

    Bước vào nhà Chúa

    Dâng Thánh lễ

    Chuẩn bị 3 ghế dành cho 3 đấng chủ sự

    Dâng hoa

    Sự hiện diện của Đức Hồng y Tagle tại Việt Nam vì thế mang nhiều ý nghĩa. Đó vừa là sự hiện diện của vị lãnh đạo một cơ quan quan trọng của Giáo triều Rome trong lĩnh vực truyền giáo, vừa là sự hiện diện của Đặc sứ Đức Thánh Cha, thay mặt Đức Giáo hoàng hiệp thông với Giáo hội Việt Nam trong niềm vui tuyên Chân phước cho một vị mục tử đã hiến dâng mạng sống vì đoàn chiên.

    Chức vụ hiện nay của Đức Hồng y Tagle cũng là sự tiếp nối truyền thống lâu đời của cơ quan từng mang tên Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide), được thành lập năm 1622 để điều phối công cuộc truyền giáo trên toàn thế giới. Qua nhiều thế kỷ, cơ quan này đã góp phần thiết lập các Giáo hội địa phương, đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ và hỗ trợ các hoạt động truyền giáo tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Sau nhiều lần cải tổ, Bộ Loan báo Tin Mừng ngày nay tiếp tục kế thừa sứ mạng ấy trong bối cảnh mới của Giáo hội hoàn vũ.

    BỮA CƠM THÂN TÌNH CÙNG GIÁO HỮU

    Ô! Cái bánh cho tôi đấy phải không? Quý hóa quá!
    Chân thành cám ơn

    TÂM TÌNH CÙNG ĐỨC HỒNG Y TAGLO

    Trong cuộc phỏng vấn Đức Hồng Y Luis Antonio Taglevề cảm hứng của cha khi nhận được thông báo và đặt Phong chấn phước cho cha phanxico Xavie. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle trả lời:

    Tử đạo trong cái sống và sự chết.

    “Tôi thực sự bất ngờ bởi vì thông thường vị tổng trưởng bộ liên thánh sẽ là người được chủ tọa buổi lễ dâng trân phước với tư cách là đặc xứ của Đức thánh cha. Tuy nhiên sau đó tôi cũng hiểu được sự bổ nhiệm này, bởi vì bộ truyền giáo nơi tôi đang phục vụ có trách nhiệm đồng hành với châu Á, châu Phi và châu đại dương. Mà Việt Nam là một phần của giáo hội châu Á. Và có thể nói đây là cơ hội tuyệt vời cho tôi để đại diện đức thánh cha, không chỉ trong thánh lễ tiên phong mà còn là cơ hội để chỉ ra cách mà cuộc truyền giáo được thực hiện tại Á châu, bởi các mục tử thánh thiện tử đạo, cái mà phúc tử đạo trong cái sống và sự chết. Đó là một phương thế rất mạnh mẽ của công cuộc truyền giáo, con người cũng như xứ điệp của chúa Giêsu tới mọi người. Một hồng ân khác mà tôi nhận được từ sự việc này là tôi đã tự hỏi cha Phan Cisco Savi là ai? Người mà tôi sẽ tiên phong. Tôi từng nghe nói về ngài, nhưng thực sự tôi chưa biết nhiều về cuộc đời của ngài. Đây chính là lời mời gọi của Đức thánh cha cho tôi được học hỏi về hành trình đức tin của ngài. Tôi rất xúc động và đã học được nơi ngài Đức bác ái mục tử, lòng trung thành đối với Đức kitô cũng như đối với mọi người.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle: Có thể nói Việt Nam là dân tộc mà Thiên chúa chúc phúc

    Trước hết tôi chân thành cảm ơn các tín hữu Việt Nam, đặc biệt là công đoàn công giáo Hà Nội vì sự tiếp đón nồng hậu dành cho tôi từ khi đặt chân đến sân bay. Tôi chưa bao giờ cảm giác mình ở một nơi xa lạ như cả thấy như ở chính ngôi nhà của mình. Tôi nghĩ đây làmột phần của niềm vui mà người dân Việt Nam đặc biệt là các tín hiệu công giáo đang cảm nghiệm trong thời điểm này. Với việc tiên phong một vị chân phức mới có thể nói Việt Nam là dân tộc mà Thiên chúa chúc phúc việc Thiên chúa ở cùng anh chị em. Giáo hội Việt Nam đang sinh nhiều hoa trái tốt ấn tượng đầu tiên của tôi là những người con tràn đầy niềm vui. Đây là thời điểm chúng ta bắt đầu gặt hái những hoa trái thiên nhiên được sinh ra từ đời sống của cha Francisco Savi Veer vee truong biểu diễn.

    Tôi chưa bao giờ cảm giác mình ở một nơi xa lạ như cảm thấy như ở chính ngôi nhà của mình.

    Trước hết tôi chân thành cảm ơn các tín hữu Việt Nam, đặc biệt là công đoàn công giáo Hà Nội vì sự đón tiếp nồng hậu dành cho tôi từ khi đặt chân đến sân bay. Tôi chưa bao giờ cảm giác mình ở một nơi xa lạ như cảm thấy như ở chính ngôi nhà của mình. Tôi nghĩ đây là một phần của niềm vui mà người dân Việt Nam đặc biệt là các tín Thiếu công giáo đang cảm nghiệm trong thời điểm này. Với việc Phong một vị chân phước mới có thể nói Việt Nam là dân tộc mà Thiên chúa chúc phúc. Việc khi chúa ở cùng anh chị em. Giáo hội Việt Nam đang sinh nhiều hoa trái tốt. Ấn tượng đầu tiên của tôi là những người tràn đầy niềm vui. Đây là thời điểm chúng ta bắt đầu gặt hái những hoa trái thiên nhiên được sinh ra từ đời sống của cha Francisco Xaviê.”

    Đây là thời điểm chúng ta bắt đầu gặt hái những hoa trái thiên nhiên được sinh ra từ đời sống của cha Francisco Xaviê.
    Chào tạm biệt Việt Nam

    CHÚA ĐÃ CHỌN CON

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle sinh năm 1957 tại Manila (Philippines), Đức Hồng y Tagle lớn lên trong môi trường giáo dục Công giáo và được đào tạo tại các chủng viện, đại học danh tiếng của Philippines trước khi tiếp tục nghiên cứu thần học tại Hoa Kỳ.

    Hình chụp cùng Mẹ và các anh

    Đức Hồng y Tagle lớn lên trong môi trường giáo dục Công giáo

    Sau khi chịu chức linh mục

    Sau khi chịu chức linh mục năm 1982, ngài phục vụ trong công tác mục vụ giáo xứ, đào tạo chủng sinh và giảng dạy triết học, thần học tại nhiều học viện. Sự kết hợp giữa đời sống mục tử và học thuật đã trở thành một nét nổi bật trong hành trình phục vụ của ngài. Không chỉ là một nhà đào tạo và thần học gia, Đức Hồng y Tagle còn tham gia nhiều hoạt động của Giáo hội tại Philippines cũng như trong khu vực Á châu. Ngài là thành viên Ủy ban Thần học Quốc tế, cộng tác trong công trình nghiên cứu về Công đồng Vatican II và tham dự Thượng Hội đồng Giám mục về Á châu với vai trò chuyên viên. Những đóng góp này cho thấy sự tín nhiệm mà Giáo hội dành cho ngài trong lĩnh vực thần học và mục vụ.

    Năm 2001, ngài được bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận Imus. Mười năm sau, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI cử ngài làm Tổng Giám mục Manila và nhận tước Hồng y vào năm 2012. Trong những năm tiếp theo, ngài tham dự các Mật nghị bầu giáo hoàng, đồng thời đảm nhận nhiều trách nhiệm quan trọng tại các Thượng Hội đồng Giám mục về gia đình. Đến năm 2019, Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm ngài lãnh đạo Bộ Loan báo Tin Mừng; sau cuộc cải tổ Giáo triều Rôma, ngài tiếp tục giữ cương vị Quyền Bộ trưởng của Bộ này, cơ quan giữ vai trò trung tâm trong sứ mạng truyền giáo của Giáo hội hoàn vũ.

    Dưới triều đại Đức Giáo hoàng Lêô XIV, Đức Hồng y Tagle tiếp tục hiện diện trong nhiều biến cố quan trọng của Giáo hội. Việc ngài được cử đến Việt Nam để chủ sự Thánh lễ tuyên Chân phước cho cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp không chỉ mang ý nghĩa nghi lễ, mà còn thể hiện sự hiệp thông giữa Giáo hội hoàn vũ với Giáo hội Việt Nam. Là một mục tử xuất thân từ Á châu và nhiều năm gắn bó với công cuộc truyền giáo, đào tạo và truyền thông, Đức Hồng y Tagle được xem như khuôn mặt tiêu biểu của một Giáo hội gần gũi, năng động và hướng đến việc loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay. Sự hiện diện của ngài tại Tắc Sậy vì thế mang ý nghĩa khích lệ các tín hữu Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh sự trân trọng của Giáo hội đối với chứng tá đức tin của cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

    TÀI LIỆU TÌM HIỂU THÊM

    • Phận sự và nhiệm vụ

    Ngày 02 tháng 7 năm 2026, tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy (Giáo phận Cần Thơ), Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle sẽ chủ sự Thánh lễ tuyên Chân phước cho cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Trong biến cố trọng đại này, ngài không chỉ hiện diện với tư cách là một vị Hồng y của Giáo hội, mà còn là Đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV. Đức Hồng Y Tagle được cử thay mặt Đức Giáo hoàng chủ sự nghi thức và biểu lộ sự hiệp thông của Tòa Thánh với Giáo hội tại Việt Nam.

    Đức Hồng y Tagle giữ chức vụ Tổng trưởng Phân Bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng thuộc Bộ Loan báo Tin Mừng của Giáo triều Rome. Đây là cơ quan được Đức Giáo hoàng trực tiếp điều hành sau cuộc cải tổ Giáo triều theo Tông hiến Praedicate Evangelium năm 2022. Bộ được tổ chức thành hai Phân Bộ:

    • Phân Bộ phụ trách những vấn đề nền tảng của việc loan báo Tin Mừng trên toàn thế giới.
    • Phân Bộ phụ trách việc thiết lập, đồng hành và phát triển các Giáo hội địa phương tại những vùng truyền giáo. Đức Hồng y Tagle là người đứng đầu Phân Bộ thứ hai này.

    Chức vụ hiện nay của Đức Hồng y Tagle cũng là sự tiếp nối truyền thống lâu đời của cơ quan từng mang tên Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide), được thành lập năm 1622 để điều phối công cuộc truyền giáo trên toàn thế giới. Qua nhiều thế kỷ, cơ quan này đã góp phần thiết lập các Giáo hội địa phương, đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ và hỗ trợ các hoạt động truyền giáo tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Sau nhiều lần cải tổ, Bộ Loan báo Tin Mừng ngày nay tiếp tục kế thừa sứ mạng ấy trong bối cảnh mới của Giáo hội hoàn vũ. Trong cương vị đó, Đức Hồng y Tagle đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các Giáo hội trẻ, đào tạo hàng giáo sĩ, chủng sinh và giáo lý viên, đồng thời hỗ trợ các miền truyền giáo về nhân sự cũng như các nguồn lực cần thiết. Chức vụ này phản ánh định hướng của Giáo hội ngày nay: đặt công cuộc loan báo Tin Mừng ở vị trí trung tâm trong đời sống và sứ mạng của mình.

    Tuy nhiên, việc Đức Hồng y Tagle chủ sự Thánh lễ Tuyên Chân phước không phát xuất từ trách nhiệm của Bộ Loan báo Tin Mừng. Theo quy định của Giáo hội, việc nghiên cứu và tiến hành các án Tuyên thánh thuộc thẩm quyền của Bộ Tuyên Thánh. Sở dĩ ngài chủ sự nghi thức tại Tắc Sậy là vì Đức Thánh Cha Leo XIV đã đích thân bổ nhiệm ngài làm Đặc sứ cho sự việc trọng đại này. Đây là một sự ủy nhiệm đặc biệt, giới hạn trong một sự kiện cụ thể, nhằm thay mặt Đức Giáo Hoàng thực hiện sứ vụ được trao. Vì thế, khi giới thiệu đầy đủ, có thể gọi ngài là: “Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle, Tổng trưởng Phân Bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV.” Sự hiện diện của Đức Hồng y Tagle tại Việt Nam vì thế mang nhiều ý nghĩa. Đó vừa là sự hiện diện của vị lãnh đạo một cơ quan quan trọng của Giáo triều Rome trong lĩnh vực truyền giáo, vừa là sự hiện diện của Đặc sứ Đức Thánh Cha, thay mặt Đức Giáo hoàng hiệp thông với Giáo hội Việt Nam trong niềm vui tuyên Chân phước cho một vị mục tử đã hiến dâng mạng sống vì đoàn chiên.

    • Hành trình thẩm vấn điều tra nhân chứng

    Phía sau đại lễ còn là một hành trình kéo dài nhiều năm, ít người nhắc tới. Từ 2011 đến 2017, Giáo phận Cần Thơ lập một ủy ban sử học để thẩm tra 23 nhân chứng, trong đó 13 người từng tận mắt chứng kiến cái chết của Cha Diệp. Tòa Thánh còn mời thêm một nhóm sử gia độc lập để đối chiếu. Không phải cứ được nhiều người sùng kính là đủ để phong chân phước. Giáo hội đòi hỏi bằng chứng, đòi hỏi thời gian, đòi hỏi sự thận trọng gần như khắc nghiệt trước khi gọi một cái chết là tử đạo.

    • Tiểu sử Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp

    Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp; sanh ngày 01 tháng 01, 1897 tại tỉnh An Giang và mất ngày 12 tháng 03, 1946. Ngài thụ phong linh mục năm 1924 sau khi hoàn thành việc học tại Chủng viện Phnom Penh ở Campuchia. Sau khi trở về Việt Nam, Ngài dạy học tại một chủng viện địa phương. Năm 1930, Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp được bổ nhiệm làm cha sở Giáo xứ Tắc Sậy. Trong 16 năm làm linh mục quản xứ của giáo xứ Tắc Sậy, Ngài nổi tiếng với sự tận tụy hết mình dành cho người nghèo, người bệnh và những ai đang chịu đau khổ giữa thời chiến. Ngài đã tử đạo sau khi bị sát hại bởi hai lính Nhật đào ngũ. Mặc dù trước đó đã có 117 vị tử đạo Việt Nam được phong Chân phước và Hiển thánh, nhưng đây là lần đầu tiên một nghi thức phong Chân phước được tổ chức ngay tại Việt Nam thay vì tại Vatican. Trong cuộc dời là linh mục, Ngài đã thành lập nhiều giáo xứ ở Campuchia và Việt Nam.

    Ngôi nhà cũ nhỏ bé của cha diệp nằm ở vùng quê chợ mới An Giang. Đây là căn nhà mà cha Trương bầu diệp trở về sau những ngày chăm sóc giáo dân ở sậy. Quê hương của cha là họ đạo cần phước, An Giang. Trang mồ côi từ năm bảy tuổi, tuổi thơ với nhiều gian khổ đã khôn đúc lên con người giàu lòng yêu thương và tận hiến cho Thiên chúa. Căn nhà chỉ cách 200 m là phần 1 của song thân cha, ông Trương Văn đặng và bà lê Thị Thanh.

    ScreNgôi nhà cũ nhỏ bé của cha diệp nằm ở vùng quê chợ mới An Giang.

    Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp bị bắt và giết năm 1946 bởi hai trong ba binh sĩ Nhật Bản, những người sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945 đã đào ngũ sang phe Cao Triều Phát, một thủ lĩnh kháng chiến Cao Đài chống Pháp, người có lực lượng gia nhập Việt Minh năm 1945, và bản thân ông cũng là một cán bộ Việt Minh địa phương. Sau Thế chiến II, với Sau khi Pháp bị đánh đuổi và Nhật Bản đầu hàng, người Việt Nam bị cuốn vào cuộc nội chiến tranh giành vận mệnh của nhà nước hậu thuộc địa, trong khi Pháp quay trở lại để đòi lại thuộc địa cũ của họ.

    Trước đó, Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp đã nhờ các nhà khảo sát đất người Pháp giúp nhà thờ của Tắc Sậy đòi lại đất bị lấn chiếm và gây thù oán với Trùm Cận, kẻ lấn chiếm. Cận đến gặp Phát và buộc tội Cha Diệp thông đồng với người Pháp. Hai thuộc hạ người Nhật của Phát và những binh lính khác, có thể do chính Phát phái đi, đã giam giữ các tín đồ công giáo trong một nhà kho và âm mưu thiêu sống tất cả bọn họ, nhưng Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp đã tự nguyện chết để những tín đồ công giáo được sống.

    Trong những năm 1945 lúc chiến tranh diễn ra tàn khốc loạn lạc mọi nơi, các cha bề trên thường khuyên Cha Trương Bửu Diệp nên đi vùng khác lánh mặt cho đến khi tình hình yên ổn thì hãy trở lại nhưng ngài từ chối và trả lời: “Tôi sống với đàn chiên và nếu có chết thì chết giữa đàn chiên vậy.”Vì vậy, Hai thuộc hạ người Nhật đã xông vào nhà thờ Tắc Sậy và bắt cha Trương Bửu Diệp cùng 70 người chức sắc và giáo dân với mục đích giết toàn bộ số người này nhưng cha Trương Bửu Diệp nói: “Ta là chủ chăn của các con chiên này, ta Nguyên chịu chết để đền chịu tội thay cho các con chiên của Thiên chúa.” Trong ngày hôm ấy đã có nhiều con triê quỳ xuống xin cha sửa tội lần cuối cùng.

    Trong đêm đó bọn ác đã chặt đầu Cha Trương Bửu Diệp. Đứng trước cái chết Cha Trương Bửu Diệp vẫn điềm tính không sợ hãi cha nhìn 2 tên đao phủ mỉm cười hiền hậu, Ngài nói: “Ta tha tội cho hành động của các con.” Sau khi giết Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp, đầu bị chặt lìa cổ. Hành quyết Cha Trương Bửu Diệp, 2 tên đau phủ này quỳ xuống run rẩy chạy như bay về phía rừng U Minh và biến mất. Không ai nghe tin tức gì về họ nữa. Lại có nguồn tin cho rằng Phát đã cho giết hai người Nhật, vì ông ta hoặc sợ họ sẽ phản bội và cũng giết ông ta dễ dàng như họ đã giết Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp, hoặc Phát muốn bịt miệng họ.

    Có người kể rằng đêm hôm ấy, Cha Trương Bửu Diệp đã về báo mộng và chỉ chỗ 2 tên kia ném thi thể của Ngài xuống một vũng nước nông. Chúng đã lột hết quần áo của ngài nhưng 2 tay của ngài vẫn chắc trước ngực như đang cầu nguyện. Ngài được giáo dân đem về chôn cất bí mật trong phòng thánh nhà thờ Tắc Sậy, lúc đó rất lụp xụp và nghèo nàn…Thi thể của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp sau đó được vớt lên và chôn cất. Năm 1969, thi thể của ngài được mang về an táng trong nhà thờ ắc sậy và từ đó có nhiều phép lạ xảy ra. Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại giáo xứ Tắc Sậy. Được gọi đơn giản là Cha Diệp (“Cha Điệp”), ngài được các tín đồ tôn kính và thậm chí cả những người không theo đạo Thiên Chúa ở Đồng bằng sông Cửu Long tôn kính. Ngày 12 tháng 3 năm 2016, Giáo phận Cần Thơ đã tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm ngày mất của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. Sự kiện có sự tham dự của đông đảo các giám mục, bao gồm Giám mục Cần Thơ, Stephano Trí Bửu Thiên; Giám mục Đà Lạt, Anton Vũ Huy Chương; Giám mục Mỹ Thọ, Pierre Nguyễn Văn Khảm; và Giám mục Đà Nẵng, Giuse Châu Ngọc Trí.

    Năm 2012, cuộc điều tra đã được tiến hành để chuẩn bị cho việc phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp trong Giáo hội Công giáo. Ngày 31 tháng 10 năm 2014, Bộ Giáo lý Đức tin đã ban hành một tuyên bố phê chuẩn quy trình phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. Vào tháng 11 năm 2024, Đức Giáo hoàng Phanxico đã ký sắc lệnh tử đạo, mở đường cho việc phong chân phước cho ngài, và ban cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp danh hiệu Chân phước. Vào ngày 18 tháng 12 năm 2025, Giám mục Peter Lê Tấn Lợi của Cần Thơ thông báo rằng Tòa Thánh đã xác nhận việc phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp và vào ngày 2 tháng 7 năm 2026, Ngài được Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Phó Tổng Giám đốc Bộ Truyền giáo, phong chân phước tại Nhà thờ Tắc Sậy ở Cà Mau.

    • Phép lạ

    Sau khi Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp mất, có rất nhiều phép lạ đã xảy ra, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra 3 trường hợp:

    1. Để có được sắc lệnh Phong chân ngày 02 tháng 7, 2026. Hồ sơ của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp đã phải đi qua một bộ máy điều tra quốc gia kéo dài suốt 13 năm. Các chuyên gia lịch sử các nhà thần học hay các luật sư của quỹ tìm tòi để bác bỏ hồ sơ tại Roma. Đã lật lại từng chi tiết trong cuộc đời ngài để bảo đảm rằng không có bất cứ tì vết nào về mặt đạo đức, chính trị hay gian lận thông tin. Việc Giáo Hoàng đặt bút ký sắc lệnh công nhận vị thế từ đạo. Khẳng định rằng tính pháp lý cao nhất thuyết phục nhất trên vi phạm toàn cầu.
    2. Thông thường 1 vị thánh Công giáo chỉ thu hút người công giáo đến cầu nguyện nhưng riêng trong trường hợp của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp, thi có đến 70% thân hữu đến xin ơn chuyển cầu không phải là người công giáo. Đại đa số người đến viếng mộ cha là những người theo đạo Phật giáo, đạo Cao Đài hay đạo Thờ Mẫu. Những người kinh doanh tự do hay không theo đạo giáo nào cũng đã đến cầu khấn Ngài. Niềm tin vững chắc của hàng triệu con người qua nhiều thế hệ chính là bằng chứng sống độc nhất.
    3. Bản thân cha diệp có rất nhiều cơ hội để di tản an toàn lên Sài Gòn hoặc Campuchia. Nhưng việc một linh mục nguyện ở lại, chấp nhận hậu quả xấu nhất để đổi lấy sự tự do cho 70 giáo dân là một sự thật lịch sự đã được ghi nhận, sự thuyết phục lớn nhất của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp không phải là những hào quang huyền bí mà chính là sự thuyết phục lớn nhất của Ngài. Không phải là những hào quang huyền bí mà chính là tình yêu thương đến tận cùng để bảo vệ đồng bào. Đó là giá trị cốt lõi thuyết phục của giáo hội 

    Khánh Lan, California 2026

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    Saigon Hòn Ngọc Viễn Đông

    Minh Tiết (Tài liệu của @Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)

    THỜI KỲ HOANG SƠ:

    Con người xuất hiện ở Sài Gòn từ khá sớm. Các cuộc khai quật khảo cổ trên địa phận Sài Gòn và khu vực lân cận cho thấy, ở đây đã tồn tại nhiều nền văn hóa từ thời kỳ đồ đá cho tới thời kim khí. Những cư dân cổ từ nhiều thiên niên kỷ về trước đã biết đến kỹ thuật canh tác nông nghiệp.

    Văn hóa Sa Huỳnh từng tồn tại trên khu vực này với những nét rất riêng. Thời kỳ văn hóa Óc Eo, từ đầu Công Nguyên cho tới thế kỷ 7, khu vực miền Nam Đông Dương có nhiều tiểu quốc và Sài Gòn khi đó là miền đất có quan hệ với những vương quốc này.

    Sau khi Đế quốc Khmer hình thành, lãnh thổ miền Nam Đông Dương thuộc quyền kiểm soát của đế chế này. Tuy nhiên, dân cư của Đế quốc Khmer sống ở vùng này rất thưa thớt, không có khu dân cư lớn nào hình thành tại đây. Sau khi Đế quốc Khmer sụp đổ, vùng đất này cũng trở thành vô chủ (không thuộc một nhà nước nào).

    Cho đến trước thế kỷ 16, vị trí tiếp giáp với các quốc gia cổ cũng khiến Sài Gòn trở thành nơi gặp gỡ của nhiều cộng đồng dân cư. Sài Gòn – Gia Định vẫn là địa bàn của một vài nhóm dân cư cổ cho tới khi người Việt xuất hiện.

    KHAI PHÁ:

    Những người Việt đầu tiên tự động vượt biển tới khai vùng đất này hoàn toàn không có sự tổ chức của Nhà Nguyễn. Nhờ cuộc hôn nhân giữa Công Nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II từ năm 1620, mối quan hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống.

    Khu vực Sài Gòn, Đồng Nai bắt đầu xuất hiện những người Việt định cư. Trước đó, người Khmer, người Chăm, người Man cũng sinh sống rải rác ở đây từ xa xưa.

    Giai đoạn từ 1623 tới 1698 được xem như thời kỳ hình thành của Sài Gòn sau này.

    Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu con rễ là vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prey Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Tuy đây là vùng rừng rậm hoang vắng, nhưng lại nằm trên đường giao thông của các thương nhân Việt Nam, Trung Quốc,… qua Campuchia và Xiêm.

    Hai sự kiện quan trọng tiếp theo của thời kỳ này là lập doanh trại và dinh thự của Phó vương Nặc Nộn và lập đồn dinh ở Tân Mỹ (gần ngã tư Cống Quỳnh – Nguyễn Trãi ngày nay). Có thể nói Sài Gòn hình thành từ 3 cơ quan chính quyền này.

    Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần cho một số nhóm người Hoa tị nạn triều Mãn Thanh tới Mỹ Tho, Biên Hòa và Sài Gòn để lánh nạn.

    Đến năm 1698, chúa Nguyễn sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý Miền Nam. Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tự phát tới khu vực này trước đó, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định và hai huyện Phước Long, Tân Bình. Vùng Đông Nam Bộ được sáp nhập vào cương vực Việt Nam.

    Thời điểm ban đầu này, khu vực Biên Hòa, Gia Định có khoảng 10.000 hộ với 200.000 khẩu. Công cuộc khai hoang được tiến hành theo những phương thức mới, mang lại hiệu quả hơn.

    Cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, Mỹ Tho và Cù lao Phố là hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ. Tuy nhiên, cuối thế kỷ 18, sau các biến loạn và chiến tranh, thương nhân dần chuyển về vùng Chợ Lớn. Khu vực Sài Gòn dần trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất Nam Bộ.

    Năm 1788, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) tái chiếm Sài Gòn, lấy nơi đây làm cơ sở để chống lại quân Tây Sơn. Năm 1790, với sự giúp đỡ của hai sĩ quan công binh người Pháp là kỹ sư Theodore Lebrun và Victor Olivier de Puymanel (1768–1799), Nguyễn Ánh cho xây dựng Thành Bát Quái làm trụ sở của chính quyền mới. “Gia Định Thành” khi đó được đổi thành “Gia Định Kinh”.

    Năm 1802, sau khi chiến thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi và đẩy mạnh công cuộc khai khẩn Miền Nam. Miền Nam được chia thành 5 trấn, gọi là “Gia Định ngũ trấn”. Các công trình kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, Vĩnh Tế… được thực hiện. Qua 300 năm, các trung tâm nông nghiệp phát triển bao quanh những đô thị sầm uất được hình thành.

    Sáu năm sau, 1808, “Gia Định Trấn” lại được đổi thành “Gia Định Thành”. Trong khoảng thời gian 1833 đến 1835, Lê Văn Khôi khởi binh chống lại Nhà Nguyễn, Thành Bát Quái trở thành địa điểm căn cứ. Sau khi trấn áp cuộc nổi dậy, năm 1835, vua Minh Mạng cho phá Thành Bát Quái, xây dựng Phụng Thành thay thế.

    THỜI KỲ PHÁP THUỘC:

    Ngay sau khi chiếm được thành Gia Định vào năm 1859, thực dân Pháp gấp rút quy hoạch lại Sài Gòn thành một đô thị lớn phục vụ mục đích khai thác thuộc địa. Đồ án thiết kế được Phó Đô đốc Pháp là Page (về sau là Charner) cử trung tá công binh Pháp là Paul Florent Lucien Coffyn (20/5/1810 – 5/8/1871), nguyên Lãnh sự Pháp ở Hoa Kỳ, thiết kế. Theo bản đồ của Coffyn được công bố vào ngày 13/5/1862, quy hoạch ban đầu của Sài Gòn bao gồm cả tỉnh Chợ Lớn với khoảng 500.000 dân (Saigon ville de 500.000 âmes), tức khoảng 20.000 dân/km².

    Quy hoạch này tương ứng với quy hoạch khu vực phòng thủ của tướng Nguyễn Cửu Đàm năm 1772, khi dân số Sài Gòn chỉ khoảng 20.000–30.000 người. Nhưng đến 1864, nhận thấy diện tích dự kiến của thành phố quá rộng, khó bảo đảm về an ninh, Soái phủ Pháp ở Nam Kỳ (Gouverneur Amiral de la Cochinchine) lúc đó là Chuẩn Đô Đốc Pierre Rose quyết định tách Chợ Lớn khỏi Sài Gòn.

    Ngày 3/10/1865, Pierre Rose ra lệnh quy hoạch lại Sài Gòn chỉ còn là khu vực nằm giữa rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé và đường mới khu cầu Ông Lãnh hiện nay. Toàn bộ quy hoạch chỉ còn rộng khoảng 3 km².

    Rất nhanh chóng, các công trình quan trọng của thành phố, như Dinh Thống đốc Nam Kỳ, Dinh Toàn Quyền, được Pháp thiết kế và huy động nhân công xây dựng. Sau 2 năm người Pháp xây dựng và cải tạo, khu quy hoạch rộng khoảng 3 km² nói trên đã hoàn toàn thay đổi.

    Thành phố Sài Gòn khi đó được thiết kế theo mô hình Châu Âu, nơi đặt văn phòng nhiều cơ quan công vụ như:

    Dinh Thống Đốc, Nha Giám Đốc Nội Vụ, Tòa Án, Tòa Thượng Thẩm, Tòa Sơ Thẩm, Tòa Án Thương Mại, Tòa Giám Mục,… Nam Kỳ Lục tỉnh là thuộc địa của Pháp và Sài Gòn nằm trong tỉnh Gia Định.

    Vào năm 1861, địa phận Sài Gòn được giới hạn bởi một bên là rạch Thị Nghè và rạch Bến Nghé với một bên là sông Sài Gòn cùng con đường nối liền chùa Cây Mai với những phòng tuyến cũ của đồn Kỳ Hòa.

    Đến năm 1867, việc quản lý Sài Gòn được giao cho Ủy ban Thành Phố gồm 1 ủy viên và 12 hội viên; đứng đầu là viên Thị trưởng người Pháp tên là Charles Marie Louis Turc (1867–1871). Cho tới nửa đầu thập niên 1870, thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định.

    Ngày 15 tháng 3 năm 1874, Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn.Đứng đầu là viên Thị Trưởng người Pháp, đầu tiên là G. Vinson (1874 –1876).

    Đến năm 1879 thì Pháp cho lập thêm Hội đồng thành phố Sài Gòn (hay đúng ra là Ủy hội thành phố – Commission municipale).

    HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG:

    Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Sài Gòn trở thành trung tâm quan trọng, cả về hành chính lẫn kinh tế, văn hóa, giáo dục của Liên bang Đông Dương, được thực dân Pháp mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông (“la perle de l’Extrême-Orient”) hoặc một Paris nhỏ ở Viễn Đông (“le petit Paris de l’Extrême-Orient”) trong số các thuộc địa của Pháp.Trước đó, thực dân Anh đã chiếm Ấn Độ và gọi nước này là “hòn ngọc trên vương miện của Nữ Hoàng Anh”, vì vậy Pháp đặt ra danh xưng này cho Sài Gòn để tỏ ý muốn cạnh tranh việc xâm chiếm thuộc địa với đối thủ Anh.

    Tuy được Pháp gọi là “Hòn Ngọc Viễn Đông”, nhưng thực ra thời ấy Sài Gòn rất nhỏ, chỉ cần đi xa 20 km là có thể săn thú rừng. Theo quy hoạch của Pháp, Sài Gòn khi đó chỉ rộng khoảng 3 km²; gần bằng một nửa Quận 1 hiện nay (rộng khoảng 8 km²), bao bọc bởi sông Sài Gòn,Chính quyền thuộc địa Pháp tập trung tất cả những gì sang trọng, giàu có nhất mà họ có được ở diện tích 3 km² này, phần còn lại của Sài Gòn thì vẫn còn rất hoang sơ, đầm lầy ngổn ngang.

    Theo Sơn Nam trong “Bến Nghé xưa” thì khi Chợ Bến Thành hoàn thành năm 1914, “trước mặt còn là ao vũng sình lầy. Giữa Sài Gòn và Chợ Lớn phía đất thấp (…), còn ruộng lúa với người cày, ao nuôi vịt, ngọn rạch cạn. Giữa Sài Gòn và ở phần đất cao còn nhiều chòm tre, cây da, mồ mả to xen vào những đám rẫy trồng rau cải và bông hoa, những xóm nhà ổ chuột; bầy bò,dê đi lang thang ăn cỏ”.

    Khu Hòa Hưng (Quận 10 hiện nay) cho đến ngã tư Bảy Hiền hiện nay có vô số nghĩa trang, mồ mả. Khu Nguyễn Thiện Thuật, Lý Thái Tổ, Nguyễn Đình Chiểu (Quận 3 hiện nay) toàn nhà lá nền đất xây dựng tạm bợ không theo quy hoạch nào. Khu Quận 4, Quận 7, khu Cầu Ông Lãnh, Cầu Kho,… sát cạnh chợ Bến Thành đa số là nhà tranh vách lá tạm bợ.

    Sau Thế Chiến thứ nhất, kiến trúc sư He’brerd được mời sang Đông Dương chỉnh lý lại các dự án quy hoạch Sài Gòn. Ông đề ra hướng phát triển công nghiệp và xuất khẩu cho Sài Gòn, điều chỉnh hệ thống kỹ thuật hạ tầng, củng cố thêm phố thị Khánh Hội và Nhà Bè. Nhưng kế hoạch bất thành do thiếu ngân sách.

    ĐÔ THÀNH SAIGON:

    Từ năm 1949, Sài Gòn đã là Thủ Đô của Quốc Gia Việt Nam. Đến năm 1955,Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa được thành lập, Sài Gòn khi đó là thành phố lớn nhất tại Miền Nam Việt Nam đã được chọn làm Thủ Đô với tên gọi chính thức “Đô Thành Sài Gòn” (lưu ý, cách viết thông dụng là “Saigon”). Chiến tranh Đông Dương tác động khiến việc di dân từ nông thôn lên thành thị tăng nhanh.

    Thời điểm 1948 dân số đã lên đến 1,179 triệu người, đến năm 1949 thì dân số khu vực đã tăng lên 1.200.000.

    Năm 1954 với hàng trăm nghìn người Bắc di cư vào Nam sau khi chia đội đất nước từ vĩ tuyến 17 thì dân số Sài Gòn leo cao, đạt 2.000.000.Dân di cư tập trung tại các khu vực như Xóm Mới – Gò Vấp, Bình An – Quận 8, và rải rác tại các quận khác.

    Với Nghị định số 110-NV ngày 27 tháng 3 năm 1959 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, từ 6 quận, Sài Gòn được chia lại thành 8 quận với tổng cộng 41 phường.

    Vào nửa cuối thập niên 1950, nhờ viện trợ của Chính phủ Hoa Kỳ, Sài Gòn trở thành một trung tâm về chính trị, kinh tế, văn hóa, giải trí tại Miền Nam Việt Nam, là thành phố lớn nhất của kinh tế Việt Nam Cộng Hòa.

    Từ giữa thập niên 1960 đến những năm đầu thập niên 1970, việc Quân đội Hoa Kỳ vào tham chiến tại Miền Nam Việt Nam nhiều công trình quân sự,cao ốc mọc lên.Lối sống của giới trẻ Sài Gòn cũng chịu ảnh hưởng bởi văn hóa phương Tây được du nhập từ binh lính và sách báo Mỹ.

    Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975

    Khi Quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chiếm được Saigon thì Những: Viên chức, Binh Lính, Sĩ Quan, Tướng Lãnh của Việt Nam Cộng Hòa và những người cộng tác với Mỹ, một số đã vượt biên số còn lại đều bị “chính quyền mới” bắt đi trình diện tập trung “học tập cải tạo”, rất nhiều người dân ở Saigon cũng tìm cách vượt biển, vượt biên, số còn lại bị đưa đi vùng kinh tế mới”

    Nền văn hóa, văn minh bị tàn lụi và cái tên “Saigon Hòn Ngọc Viễn Đông” đã bị lu mờ từ đây !

    Minh Tiết

    (Tài liệu của @Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Tin tức,  Viet-Hải

    Chúc Mừng Ngày Kim Khánh Nhà Giáo QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG

    Trần Việt Hải

            First Love

    Nhìn lại xã hội Hoa Kỳ nơi chúng ta sinh sống, tỷ lệ ly dị ở Hoa Kỳ đã giảm đều đặn trong gần hai thập kỷ qua, ngoại trừ một thành phần dân số lại có xu hướng gia tăng. Theo một nghiên cứu năm 2022 được công bố trên tờ The Journals of Gerontology, được gọi là ly dị “xám”, những người trên 50 tuổi đang rời bỏ vợ chồng của mình với tốc độ chóng mặt, cao hơn gấp đôi so với những năm 1990 và đối với những người trên 65 tuổi, tỷ lệ ly dị đã tăng gấp ba lần. Và không có người phối ngẫu nào thoát khỏi cuộc ly dị mà không bị tổn thương. Đàn ông lớn tuổi sống một mình thường cô đơn hơn so với phụ nữ, nhưng nói chung, phụ nữ lại bị thiệt hại nhiều hơn về mặt tài chính.

    Lý do vì sao hôn nhân thời nay đổ vỡ nhiều như vậy, thì theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, khoảng 22% cuộc hôn nhân tan vỡ trong vòng 5 năm đầu. Nếu ta tính tổng thể, tỷ lệ ly hôn ở Mỹ vào khoảng 40%. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến gần 118 triệu người Mỹ, hay 46% người trên 18 tuổi, đang độc thân. Tỷ lệ nữ giới không kết hôn hoặc đã ly hôn chiếm 52%, tính đến năm 2021.

    Có rất nhiều lý do khác nhau dẫn đến ly hôn, từ ngoại tình, mâu thuẫn tài chính, hay đơn giản là ngày càng nhàm chán, xa cách nhau. Bên cạnh những lý do quen thuộc, luật sư ly hôn Dennis R. Vetrano cho rằng có một số nguyên nhân khác cũng rất quan trọng mà ít được mọi người lưu ý.

    Theo bải viết: “Chúng tôi vô cùng sửng sốt trước những khám phá ra những số liệu ly hôn. Hơn 1/3 số người ly hôn hiện nay đã ngoài 50 tuổi. Chúng ta không thể phớt lờ đối với nhóm đó được nữa”. Bài báo Today online cho biết tiếp, mặc dù tỷ lệ ly hôn trong tổng dân số đang giảm, nhưng “những người lớn tuổi lại đang đi ngược xu hướng này”. Ðối với những người trên 65 tuổi, tỷ lệ ly hôn vẫn đang tăng lên.

    Theo tờ Today online, những khó khăn về tài chính sau cuộc “ly hôn xám” (sau 50 năm sống chung) mà các nhà nghiên cứu khác lo ngại. Một số người cho biết mức sống của họ thời hậu ly hôn giảm đáng kể. Ðiều này cùng với thực tế là tỷ lệ nghèo khổ nói chung có xu hướng cao hơn đối với người lớn tuổi, khiến tình trạng “ly hôn xám” trở thành vấn đề nan giải đáng lo ngại.

    Lấy ví dụ như gia dình Al Gore vì những chặng đường khác biệt, vì cả hai người (Al và Tipper) đã sống những cuộc sống hoàn toàn riêng biệt, lịch trình riêng biệt đã đưa họ đi theo những đường hướng khác nhau. Bài báo nói thêm. “Họ nói rằng họ vừa mới xa nhau. Tipper yêu đời và muốn tận hưởng cuộc sống, còn Al vẫn là một người đàn ông rất năng động với rất nhiều dự án và kế hoạch sẽ phải thực hiện.”

    Tôi (người viết bài) muốn đem ý nghĩa của sự cần thiết lễ hấp hôn. Vậy  lễ hấp hôn là gì? Bí quyết làm lễ hấp hôn đơn giản và hiệu quả. Tình yêu của các cặp đôi sống chung lâu năm sẽ dần dà nhường chỗ cho sống chỉ vì nghĩa tình. Chính vì thế, khái niệm hấp hôn là những gì bắt đầu được nhắc đến như một cách để giữ gìn sự gắn bó bền lâu.

    Nhiều cặp vợ chồng đã cưới lâu năm khi mà lối xưa thu thảo đâm ra nhàm chán, người ta cần một không khí mới tươi mát hơn. Do vậy ý niệm hấp hôn là hành động vợ chồng chủ động làm mới mối quan hệ sau một thời gian dài chung sống. Không có bất kỳ quy chuẩn cố định nào khi tổ chức hấp hôn mà chỉ đơn giản là những nỗ lực nhỏ để giữ cho tình cảm vợ chồng luôn ấm áp và gắn bó.

    Khái niệm hấp hôn với người Việt hàm ý nghĩa gần giống với “vow renewal” trong văn hóa phương Tây. Tức là các đôi hôn nhân tổ chức lại lễ cưới nhỏ, và một buổi tiệc nhỏ là xong. Sau nhiều năm sống chung để hâm nóng lại tình yêu. Do đó lễ hấp hôn trong tiếng Anh có thể dịch là rekindle the marriage, renew the marital relationship hoặc reignite the spark in marriage.

    Nhà văn Quyên Di, vừa qua tổ chức ngày lễ vàng Kim Khánh Hôn Phối (50 năm chung sống) vô cùng long trọng và rất ý nghĩa. Đông đảo thân hữu, hơn 400 quan khách tham dự chúc mừng ông bà GS Quyên Di và hiền nội là nhạc sĩ Hồng Trang.

    Bài viết tường trình của nhà văn Jacqueline Kiều My và Khánh Lan về ngày lễ kỷ niệm 50 năm ngày cưới của Gs. Quyên Di và Ns Hồng Trang. Xin bấm vào link dưới đây để xem:

    MỪNG KIM KHÁNH HÔN NHÂN: GIÁO SƯ QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG

    Lễ Kim Khánh Hôn Phối mang màu sắc Công Giáo, như ơn gọi thánh hiến khởi đi từ tình yêu. Một tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa trên những người Ngài muốn và tuyển chọn. Một tình yêu cao quý mà ngôn ngữ con người không thể mở hết cánh cửa huyền nhiệm từ tiếng gọi của Thiên Chúa và lời đáp trả của con người.

    Thêm youtube link về lễ mừng Kim Khánh Nhà Giáo Quyên Di và Nhạc Sĩ Hồng Trang:

    Trong buổi lễ Kim Khánh Hôn Phối của GS. Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang, tôi xin ghi nhận ra điều quan trọng là tóm tắt đại ý bài giảng của linh mục Tạ Anh Kiệt như sau:

    “Chim quyên ăn trái nhãn lồng,

    Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

    “Hơi” đây là hơi gì?

    Là hơi của yêu thương

    Là hơi của chia sẻ

    Là hơi của nâng đỡ lẫn nhau

    Là hơi của tha thứ

    Là hơi của mồ hôi và nước mắt

    Khi cùng nhau vượt qua những đoạn đường gian khó của cuộc đời

    Là hơi của hai nhịp thở cùng nhau lo cho con cái

    Là hơi của tuổi xế chiều, cùng già đi với nhau

    Là hơi cùng nhau trông cậy vào Thiên Chúa…”

    Câu ca dao trích dẫn như trên về tình yêu đôi lứa thấm đượm tình cảm vợ chồng ân nghĩa, bên nhau thủy chung. Cho dù đời sống có vất vả, nghèo khó, họ vẫn vui vẻ chia sẻ cận kề bên nhau, gắn kết với nhau như keo sơn suốt đời. Trong cuộc sống tình nghĩa vợ chồng cần thấu hiểu nhau, thương nhau trong những lúc chênh vênh, khó khăn, hãy luôn luôn kề vai sát cánh bên nhau. Có sự đồng điệu, tương xứng với nhau, có như vậy thì mới sống chung vui vẻ, hạnh phúc và gắn bó lâu dài. Do vậy, câu ca dao miền Nam hàm nghĩa là chim quyên phải ăn trái nhãn lồng, hình ảnh thủy chung đôi bạn, vợ chồng quen hơi hám nhau chung tình cả đời.

    Tôi ghi nhận điểm đặc biệt, Gs Quyên Di ngỏ lời  tri ân  vào cuối Thánh Lễ Tạ Ơn:

    “Cám ơn các vị linh mục, phó tế đã dâng thánh lễ và cầu nguyện cho chúng tôi.

    Cám ơn Ca Đoàn Hoa Biển, ca trưởng, Quỳnh Anh, ca sĩ Như Mai, pianist Phương Lan đã tấu lên những bản thánh ca nâng lòng người lên gần Thiên Chúa.”

    (Xin xem thư kèm cảm tạ của gia đình GS. Quyên Di)

    Bàn về nhạc cho dịp lễ cưới, tôi vốn thích các nhạc phẩm như sau:

    Oui devant Dieu, Here comes the bride, Ave Maria, Endless love, Tonight I celebrate my love, Love me with all your heart, I will always love you.

    Hôm mừng ngày kỷ niệm lễ cưới Quyên Di & Hồng Trang, 3 bài trong danh sách trên được hát như:

    1/ Ave Maria (do Tawni Thanh Thảo, ca ngân giọng lirico soprano, “imitazione come” giọng nữ cao trữ tình, âm sắc nhẹ nhàng, trong sáng).

                                                              Eva Maria, Tawni Thanh Thảo

    Đôi nét về nhạc khúc Schubert này, khi cảm hứng dâng lên để nhà soạn nhạc Franz Schubert người Áo, viết nhạc phẩm dạng Lied xuất sắc này là từ tập thơ Cô gái vùng hồ, được Adam Storck dịch sang tiếng Đức, trong đó nhân vật chính là nữ anh hùng Ellen Douglas trong thời gian trốn tránh quân thù bên một cái hồ, đã cầu nguyện Đức trinh nữ Maria bằng những lời thơ. Schubert vốn là người sùng đạo, lại nhớ đến người con gái mà ông yêu có khuôn mặt giống y đức Đức trinh nữ nên đã phổ nhạc cho tác phẩm này. 

    Như trên đã nói, Schubert đặt tên tác phẩm này là Ellens dritter Gesang, mà không phải là Ave Maria, điều này được khẳng định qua những lá thư ông gửi cho cha mẹ mình, báo tin về sự thành công của ca khúc.                                                                 

    Tuy nhiên, vì bài hát mở đầu và thường lặp lại hai từ “Ave Maria” nên người ta đã đổi tên tác phẩm, đồng thời nghĩ đến việc phổ giai điệu này vào Kinh Kính Mừng tiếng Latinh.

    Nhưng Ave Maria cũng là một tình khúc được lựa chọn phổ biến cho đám cưới Công giáo. Bài hát là một lời cầu nguyện dâng lên Đức Trinh Nữ Maria, với lời ca bằng tiếng Latin. Bài hát thường được ưa chuộng hát trong đám rước hoặc sau khi lễ ban phước lành. Mặc dù một số người liên tưởng bài hát này thích hợp với đám tang, nhưng cuối cùng, việc lựa chọn nhạc cưới vẫn là quyền của những cặp yêu nhau.

    2/ Oui Devant Dieu:

    Ngày Tân Hôn (Oui Devant Dieu) Sáng tác: Maurice Tézé ,Jean Prieto; Lời Việt: Phạm Duy, do Ca sĩ: Jacqueline Kiều My trình bày song ngữ Pháp Việt.

    Em bên mình anh, lặng im dưới bàn thờ

    Và quanh chúng ta là vui sướng chan hoà

    Tình duyên nhỏ bé thành đôi ước mơ già

    Bao nhiêu tóc tơ, giờ đây đã kết se.

    Ta bên mình nhau, rồi đi suối con đường

    Đưa ta suốt đời về nơi xứ Thiên Đường

    Về nơi tổ ấm nhờ ơn đức cao vời, ơn Mẹ Mari-a.

    Người yêu ơi! Ơi người! Người yêu dấu ơi!

    Cùng bên nhau suốt đời, cùng chia sớt nỗi vui

    Hay nỗi sầu, cùng cho nhau biết bao là yêu

    Ví dầu đời qua mau,

    Hai mái đầu, rồi đây sẽ trắng phau.

    Ôi vai kề vai, và tay nắm tay rồi

    Đời thôi vắng tanh, lẻ loi kết đôi rồi

    Từ nay nồng ấm, đời thôi hết u hoài

    Ôi! Tình chăn gối bao la

    Sẽ mang về mãi… tận cõi già

    “Ngày Tân Hôn” (“La Novia”, “The Wedding”, “Oui Devant Dieu”) của Joaquin Prieto, Fred Jay, Maurice Tézé. Ns Phạm Duy chuyển ngữ.

    “The Wedding”, còn được gọi là “The Wedding La Novia”, là một bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Joaquín Prieto được ca sĩ người Anh, Julie Rogers, thu âm từ năm 1964. Bài hát còn nằm trong vở kịch dài “The Wedding” của Julie Rogers từ năm 1964, và đã xuất hiện trong nhiều albums.

    Joaquin Prieto (nhạc sĩ người Chí Lợi) sáng tác bài hát bằng tiếng Tây Ban Nha năm 1958 mang tựa đề “La Novia” (“The Bride”). Phiên bản tiếng Tây Ban Nha này được em trai của ông, Antonio Prieto, thu âm ở Argentina. Phiên bản tiếng Anh do nhạc sĩ Fred Jay dịch lại sau đó nổi tiếng cả ở Âu Châu lẫn Hoa Kỳ, do nhiều nghệ sĩ thu âm và phát hành đầu thập niên 1960s. Trong số các nghệ sĩ này có Anita Bryant và Malcolm Vaughan. Một phiên bản tiếng Nhật tựa đề nguyên thủy “La Novia” do Peggy Hayama trình diễn trở thành hit song ở Nhật. Ca sĩ Dickie Rock người Irish thu âm bài hát năm 1988.

    Oui, devant Dieu (tiếng Pháp), Paroles:Maurice Tézé. Musique:J. Prieto 1961, Titre original: “La novia”

    Oui Devant Dieu by Kiều My

    Oui! devant Dieu, devant les hommes!

    Oui! pour l’amour que tu me donnes!

    Et pour qu’un jour je te pardonne

    Si malgré toi tu m’abandonnes!

    Oui! pour les joies et pour les peines!

    Et pour les lois qui nous enchaînent!

    Oui! je promets quoi qu’il advienne

    Ave Maria!

    Dans tes yeurs je vois tes larmes de jois

    Et j’entends en moi monter une voix

    Mon Dieu qui veillez sur ma vie

    Protégez mon amour, je vous en prie

    Oui, devant Dieu, devant les hommes

    Oui, prends mes jours, je te les donne

    Et plus que tout, mieux que personne

    Je t’aimerais toujours.

    Jusqu’à mon dernier jour                                    

    3/ Love Me With All Your Heart do ca sĩ Lưu Mạnh Bổng vốn nổi danh qua những tình khúc như O Sole Mio (It’s nơw or never), Foglie d’Autunno (Autumn Leaves),… Louis Lưu là một giọng nam cao.

    Đôi chút về bài tình ca Yêu Em Bằng Cả Trái Tim (Love Me With All Of Your Heart). Nguồn gốc xuất xứ của bài ca này là một trong những bài tình ca phổ biến phỏng tác từ bài nhạc gốc tiếng Tây Ban Nha “Cuando calienta el sol” được viết bởi Rafael Gaston Perez một trưởng nhóm nhạc người Nicaraguan. Bài hát được the Rigual Brothers (Carlos Rigual and Mario Rigual) viết lời tiếng Tây Ban Nha, ngoài ra lời bài hát cũng có sự đóng góp của Carlos Albert Martinoli một nhà sọan nhạc người Argentine. Lời tiếng Anh được phỏng tác được cho là do Michael Vaughn (or Maurice Vaughn) và cũng có thể là Sunny Skylar một nhà soạn nhạc kiêm ca sĩ người Mỹ. Bài hát được phát hành năm 1961. Mặc dù với phiên bản tiếngTây Ban Nha hay tiếng Anh thì bài tình ca này không hẵn là bản dịch của nhau, tựa bài hát theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “Khi mặt trời sưởi ấm”, bản thu âm bởi ca sĩ “The Ray Charles” từng đứng vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng top 100 của Billboard Hot và đứng vị trí số 1 trên bảng xếp hạng The Pop-Standard singers trong 4 tuần của tháng 6 năm 1964.

    Dưới đây là hai bài nói chuyện của Kiều My và Khánh Lan trong ngày lễ kỷ niệm 50 măn thành hôn của GS Quyên Di và NS Hồng Trang.

    Khánh Lan đại diện cho Lien Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian:

    Kiều My đại diện cho Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa

    Hôm nay, trong bầu khí Thánh thiêng và tràn đầy yêu thương, chúng ta hân hoan cùng hiện diện nơi đây để chúc mừng đôi bạn đáng quý, hai tâm hồn đã cùng nhau đi trọn hành trình năm mươi năm trong ơn nghĩa Thiên Chúa.

    Nhìn lại hành trình năm mươi năm đời sống hôn nhân của GS Quyên Di và Ns Hồng Trang…là
    một nửa thế kỷ của niềm tin, của
    những hy sinh âm thầm, hay những ngày nắng ấm, hoặc những mùa mưa gió và ngay cả những thăng trầm trong cuộc sống.
    Nhưng trên tất cả — là tình yêu bền vững
    của đôi lứa được dệt nên bằng lòng trung tín và ân sủng của Đấng Tối Cao

    Ngày hôm nay, khi nhìn lại quãng đường dài ấy, chúng ta cùng tạ ơn Thiên Chúa vì một hôn nhân tốt đẹp như chứng từ sống động của Tin Mừng:

                Một tình yêu không phai,
                Một đức tin không nguôi,
                Một gia đình tràn đầy phúc lành.

    Xin Thiên Chúa là Cha nhân lành tiếp tục chúc phúc cho GS Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang
    để những năm tháng sắp tới vẫn đầy ắp tiếng cười,
    đầy ắp bình an và hạnh phúc trong Chúa.

    Nguyện xin Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse luôn đồng hành, nâng đỡ và giữ gìn mái ấm thân thương này trong yêu thương và thánh thiện.

    Kính chúc đôi bạn vàng của hôn nhân thánh thiện
    Mừng Kim Khánh Hôn Phối tràn đầy ơn phúc
    Trong ánh sáng và tình yêu của Thiên Chúa!

    KIều My

    Ghi nhận bài: Việt Hải Los Angeles,27/10/2025*.

    ——————————————————————–

    *: Bài viết xin gửi ông anh Hoa Tím Quyên Di, hẹn gặp nhau mùa Kim Khánh kế tiếp, sẽ vui bạo nhé, con chim quyên mãi ăn trái nhãn lồng, giống ngọt cơm vàng ở xứ Cà Mau hay Long Xuyên nhé !!! VHLA.

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Kiều My

    TRIẾT LÝ HÔN NHÂN TRONG CÔNG GIÁO

    Kiều My

    I. Nền tảng Kinh Thánh và Giáo lý về hôn nhân

    Từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ, và trong công trình sáng tạo nhiệm mầu ấy, Ngài chúc phúc cho họ: “Cả hai sẽ nên một xương một thịt.” (St 2,24). Câu Kinh Thánh ấy không chỉ là lời mô tả về tình yêu đầu tiên của nhân loại, mà còn là mặc khải về ý định của Thiên Chúa dành cho con người — đó là một tình yêu hiệp nhất, bền vững, phản chiếu chính tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại.

    Trong tầm nhìn của Công giáo, hôn nhân không chỉ là một khế ước xã hội, mà là một bí tích – dấu chỉ hữu hình của ân sủng vô hình. Bí tích này nâng tình yêu phàm trần lên hàng thánh thiện, làm cho sự kết hợp giữa hai người nam nữ trở thành biểu tượng của tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Khi đôi bạn trao cho nhau lời cam kết trong Thánh lễ Hôn phối, chính họ là thừa tác viên của bí tích, còn linh mục chỉ là chứng nhân. Điều đó diễn tả một chân lý sâu xa: hôn nhân là ơn gọi, là sứ mạng, và là hành trình nên thánh.

    Nhìn dưới ánh sáng của Giáo lý, hôn nhân Công giáo có bốn đặc tính không thể tách rời: đơn nhất, trung tín, bất khả phân ly và hướng đến sinh sản – giáo dục con cái. Mỗi đặc tính là một chiều kích thiêng liêng của tình yêu, giúp con người sống trọn vẹn phẩm giá làm người và làm con Chúa. Trong thời đại hôm nay, khi giá trị hôn nhân bị thử thách bởi lối sống vội vàng và ích kỷ, triết lý hôn nhân Công giáo vẫn vang lên như một lời mời gọi trở về với cội nguồn của tình yêu chân thật – tình yêu có Thiên Chúa ở trung tâm.

    II. Ý nghĩa thiêng liêng của sự kết hợp vợ chồng

    Hôn nhân là một mầu nhiệm của hiệp thông. Hai người, dù khác biệt về tính cách, quá khứ, và hành trình sống, lại được Thiên Chúa se kết để cùng nhau bước đi trên cùng một con đường. Sự kết hợp ấy không chỉ để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, mà còn để cùng nhau hoàn thiện bản thân và giúp nhau nên thánh.

    Thánh Phaolô đã diễn tả thật cảm động: “Người chồng hãy yêu vợ như chính Đức Kitô yêu Hội Thánh; và người vợ hãy tôn trọng chồng mình.” (Ep 5,25-33). Câu nói ấy không nhằm thiết lập một trật tự quyền lực, mà là lời mời gọi mỗi người yêu trong khiêm nhường, tôn trọng và hy sinh cho nhau.

    Tình yêu vợ chồng trong Công giáo là tình yêu có tính thiêng liêng, vì nó phản chiếu tình yêu tự hiến của Đức Kitô trên thập giá. Khi người chồng biết quên mình để bảo vệ và chăm sóc người vợ, khi người vợ âm thầm nâng đỡ và gìn giữ tổ ấm, cả hai đang sống chính ơn gọi làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa giữa đời thường. Mỗi bữa cơm, mỗi lời tha thứ, mỗi cái nắm tay vượt qua nghịch cảnh – tất cả đều là những “phép lạ nhỏ” của đời sống hôn nhân, nơi ân sủng âm thầm hoạt động.

    Chính trong sự kết hợp ấy, con người học được bài học lớn của đức tin: yêu không chỉ bằng cảm xúc, mà bằng hành động; không chỉ khi thuận lợi, mà cả khi bão giông. Và khi tình yêu ấy được đặt trong bàn tay Thiên Chúa, nó không còn sợ đổi thay, vì “ơn Ngài đủ cho anh em.”

    III. Tình yêu – Hy sinh – Ơn gọi nên thánh qua hôn nhân

    Triết học trong Kitô giáo, hôn nhân là một hành trình hiến dâng. Người ta thường nghĩ chỉ đời tu mới là con đường nên thánh, nhưng Giáo hội dạy rằng hôn nhân cũng là ơn gọi nên thánh giữa lòng thế gian.

    Tình yêu vợ chồng, khi gắn bó trong Đức Kitô, trở thành một “phụng vụ đời sống”: mỗi cử chỉ yêu thương, mỗi lần tha thứ, mỗi ngày kiên nhẫn chịu đựng đều là một lời cầu nguyện thầm lặng. Hy sinh không còn là mất mát, mà là một cách để yêu sâu hơn. Tha thứ không còn là yếu đuối, mà là một hành vi của sức mạnh nội tâm được nuôi dưỡng bởi ân sủng.

    Hôn nhân trong Công giáo dạy con người biết sống tình yêu như một ơn gọi: không chỉ là “được yêu”, mà là “được sai đi để yêu”. Người chồng và người vợ trở thành sứ giả của tình yêu Thiên Chúa giữa đời thường – nơi họ nuôi dạy con cái, chăm sóc nhau, và làm chứng cho đức tin bằng đời sống hiền lành, khiêm tốn.

    Có thể nói, triết lý hôn nhân Công giáo là triết lý của tình yêu trưởng thành – tình yêu biết bước qua lãng mạn để đi vào hiệp thông, biết vượt qua “cái tôi” để sống cho “chúng ta”, biết quỳ gối cầu nguyện bên nhau trong những ngày bình yên cũng như sóng gió. Đó chính là con đường nên thánh của người sống giữa đời.

    IV. Giá trị bền vững và thánh hóa của đời sống hôn nhân

    Nếu thế giới hôm nay coi hôn nhân như một bản hợp đồng có thể hủy bỏ, thì trong Công giáo, hôn nhân là một giao ước thiêng liêng không thể phân ly. Sự bền vững ấy không xuất phát từ ý chí con người, mà từ chính Thiên Chúa – Đấng đã thánh hiến sự kết hợp này.

    Một đôi vợ chồng Công giáo sống trọn lời cam kết của mình sẽ trở thành một “nhà thờ nhỏ”, nơi tình yêu được thờ phượng và ân sủng được truyền lan. Con cái lớn lên trong bầu khí ấy sẽ học được ý nghĩa của nhân đức, của lòng biết ơn, và của niềm tin. Như thế, hôn nhân không chỉ thánh hóa hai người, mà còn thánh hóa cả cộng đoàn và xã hội.

    Trong chiều sâu triết lý, hôn nhân Công giáo là hình ảnh của mầu nhiệm Ba Ngôi: tình yêu Đức Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là một tình yêu trao hiến, luôn hướng ra ngoài để sinh hoa kết trái. Khi đôi vợ chồng sống yêu thương thật sự, họ đang phản chiếu chính tình yêu ấy trong thế giới này.

    Tình yêu trong hôn nhân không dừng lại ở tuổi trẻ, không phai nhạt theo năm tháng. Nó trưởng thành qua thử thách, lắng đọng trong sự tĩnh lặng của những ngày về chiều, và tỏa hương như một chứng tá sống động rằng Thiên Chúa là Tình Yêu.

    V. Vai trò của người chồng và người vợ trong đời sống hôn nhân Công giáo

    Trong ánh sáng Tin Mừng, hôn nhân không đặt nền trên sự thống trị hay quyền lực, mà trên tình yêu và sự phục vụ lẫn nhau. Mỗi người được mời gọi sống đúng ơn gọi riêng của mình, để bổ túc cho người kia trong một sự hiệp thông trọn vẹn.

    Người chồng, theo Thánh Phaolô, được mời gọi “yêu vợ như Đức Kitô yêu Hội Thánh” (Ep 5,25). Đó là tình yêu biết hiến thân, không chiếm hữu, sẵn sàng hy sinh cho hạnh phúc của người mình yêu. Trong khi đó, người vợ được mời gọi sống lòng tôn trọng, dịu dàng và đức tin sâu thẳm, để trở thành “nơi bình an” cho chồng và con cái.

    Không ai cao hơn ai; cả hai bình đẳng trong phẩm giá, khác biệt trong ân sủng, như hai nửa của một toàn thể. Người chồng là mái che, người vợ là ngọn lửa ấm; cả hai cùng nâng đỡ, cùng hướng về Thiên Chúa.

    Trong thực tế đời sống, khi vợ chồng cùng cầu nguyện, cùng đối thoại, cùng vượt qua thử thách, thì mỗi ngày của họ trở thành một “phụng vụ nhỏ” dâng lên Thiên Chúa. Chính ở đó, triết lý hôn nhân Công giáo được thể hiện rõ nhất: yêu là cùng nhau đi về phía ánh sáng.

    VI. Hôn nhân và ơn gọi làm cha mẹ – giáo dục con cái trong đức tin

    Thiên Chúa chúc phúc cho hôn nhân bằng món quà của sự sống. Khi hai người nam nữ đón nhận con cái, họ cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo. Vì thế, thiên chức làm cha mẹ không chỉ là trách nhiệm, mà là một ơn gọi linh thiêng.

    Người làm cha được mời gọi trở nên hình ảnh của Chúa Cha – đầy yêu thương, nhưng cũng kiên định và dẫn dắt. Người làm mẹ phản chiếu lòng nhân hậu và dịu dàng của Thiên Chúa, như suối nguồn của sự sống và của đức tin trong gia đình.

    Giáo dục con cái trong đức tin không chỉ là dạy con đọc kinh hay đi lễ, mà là truyền lại cho con niềm tin sống động bằng chính đời sống yêu thương, trung tín và nhân ái của cha mẹ. Khi đứa trẻ nhìn thấy cha mẹ nắm tay nhau cầu nguyện, khi thấy họ tha thứ, cảm thông và hy sinh cho nhau, thì nơi đó, đức tin đã được gieo hạt vào tâm hồn non trẻ bằng chứng từ sống động hơn mọi lời giảng dạy.

    Một gia đình sống đức tin không phải là gia đình không có thử thách, mà là gia đình biết tin tưởng vào Chúa giữa gian nan, biết nhường nhịn khi bất đồng, và biết dâng hiến mọi niềm vui, nỗi buồn cho Thiên Chúa. Chính nhờ thế, mái ấm trở thành “Giáo hội tại gia” – nơi ân sủng Thiên Chúa đổ xuống chan hòa.

    VII. Hôn nhân dưới ánh sáng của Tình yêu Thiên Chúa và mầu nhiệm Thập giá

    Không có tình yêu nào chân thật mà không mang dấu ấn của thập giá. Trong hôn nhân, những thăng trầm, tổn thương, hiểu lầm hay mỏi mệt đều là những bước đường tất yếu của hành trình yêu thương. Nhưng chính trong những giọt nước mắt ấy, Thiên Chúa lại hiện diện cách sâu sắc nhất.

    Đức Kitô đã yêu Hội Thánh đến nỗi hiến dâng chính mình trên Thập giá. Hôn nhân Công giáo cũng mang lấy tinh thần đó: yêu nghĩa là hiến thân, là tha thứ, là bền bỉ yêu ngay cả khi không được đáp trả. Khi vợ chồng biết ôm lấy nhau trong đau khổ, họ đang cùng nhau vác thập giá và bước theo Đức Kitô.

    Triết lý hôn nhân, vì thế, không chỉ nói về hạnh phúc, mà còn nói về ơn cứu độ. Bởi lẽ, những hy sinh, những chịu đựng trong tình yêu không bao giờ vô nghĩa: chúng được thánh hóa, được kết hợp vào hy lễ của Đức Kitô để biến thành ân sủng.

    Khi hai người biết quỳ gối cầu nguyện cùng nhau trong cơn bão, biết giữ lòng trung thành giữa thử thách, họ đang sống một “thần học của tình yêu”: nơi đau khổ không phá vỡ, mà làm tình yêu nên sâu, nơi thập giá không đè nặng, mà dẫn họ đến phục sinh.

    VIII. Hình ảnh Đức Maria trong đời sống hôn nhân

    Giữa bao mẫu gương thánh thiện của Hội Thánh, Đức Mẹ Maria là ánh sáng dịu hiền soi dẫn mọi gia đình Công giáo. Dù Mẹ không sống đời hôn nhân theo nghĩa trần thế, nhưng Mẹ lại là khuôn mẫu hoàn hảo của người nữ, người mẹ, và người bạn đồng hành trong đức tin.

    Trong biến cố Truyền tin của Thiên thần Gabriel, Mẹ đã nói “Xin vâng” – một lời đáp trả trọn vẹn, khiêm nhu, nhưng mạnh mẽ. Lời “xin vâng” ấy cũng chính là linh đạo của mọi cuộc hôn nhân Công giáo: chấp nhận, tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa. Mỗi khi vợ chồng biết nói “xin vâng” với nhau – “xin vâng” với trách nhiệm, với tha thứ, với những giới hạn của người kia – thì họ đang sống cùng một tinh thần với Đức Maria.

    Trong biến cố Thánh Gia ở Nadarét, Đức Maria đã sống âm thầm, chăm sóc và gìn giữ mái ấm cùng Thánh Giuse. Nơi ấy, Mẹ trở thành biểu tượng của tình yêu khiêm nhường, kiên nhẫn và hiến dâng – ba nhân đức nền tảng cho mọi đời sống hôn nhân.

    Và trên đỉnh đồi Can-vê, khi đứng dưới chân Thập giá, Đức Maria đã chia sẻ trọn vẹn nỗi đau với Con mình – đó là hình ảnh của tình yêu biết chấp nhận, biết hiến mình đến tận cùng. Từ đó, Mẹ trở thành người Mẹ thiêng liêng của mọi gia đình, Đấng đồng hành và nâng đỡ những ai đang bước đi trong thử thách của tình yêu.

    Khi vợ chồng biết đặt đời sống hôn nhân dưới sự che chở của Đức Mẹ, họ học được từ Mẹ sự dịu dàng trong lời nói, sự bền bỉ trong cầu nguyện và lòng trung thành đến cuối con đường. Chính Đức Maria là “Ngôi Sao Hôn Nhân” – soi sáng những mái ấm biết tìm về ơn Chúa.

    Triết lý hôn nhân Công giáo, qua tất cả những chiều kích ấy, là một bài ca về tình yêu vĩnh cửu. Đó là tình yêu của Thiên Chúa được phản chiếu trong từng mái ấm, trong từng lời thề hứa, trong từng hy sinh thầm lặng. Hôn nhân không chỉ là chuyện của hai người, mà là một hành trình thiêng liêng – nơi Thiên Chúa đồng hành, Đức Maria nâng đỡ, và tình yêu được thánh hóa để trở thành lời chứng sống động.

    Triết lý hôn nhân trong Công giáo, xét cho cùng, không chỉ là một hệ thống giáo huấn, mà là một triết lý của tình yêu và hy vọng. Nó mời gọi con người tin rằng tình yêu có thể tồn tại mãi, nếu được xây trên nền tảng của niềm tin, sự chung thủy và ơn Chúa. Hôn nhân, trong ánh sáng Đức tin, là hành trình hai người cùng nhau đi về Trời — nơi họ không chỉ là vợ chồng, mà là hai linh hồn đã cùng nhau học yêu và được biến đổi bởi Tình Yêu Thiên Chúa.

    (Bài sưu khảo “Triết Ly Hôn Nhân Trong Công Giáo” tác giả soạn nhân dịp mừng Kim Khánh Hôn Nhân của GS Quyên Di và NS Hồng Trang.)

    Kiều My, California, October 18, 2025

  • ĐỖ BÌNH, PARIS,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    TIỂU TỬ MỘT NHÀ VĂN NHÂN BẢN

    Ở xứ người, ngôn ngữ chúng ta dùng hàng ngày là tiếng bản xứ, tiếng mẹ đẻ ít được sử dụng nên dần dần bị quên lãng! Dù sống tha hương đã lâu nhưng chắc  hẳn trong mỗi người Việt khi ra đi đều mang trong tâm hồn hình bóng quê hương và văn hóa dân tộc, do đó họ đã sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật, và thành lập những trung tâm dạy Việt ngữ, các trung tâm phát hnàh những băng nhạc, các cơ sở truyền thanh, truyền hình, báo chí…
     Mười mấy năm qua trên các diễn đàn mạng, và tạp chí văn học hải ngoại xuất hiện một cây bút với lối văn rất đặc thù của miệt vườn, sông nước miền Nam. Miệt vườn ở đây là tác giả đã sử dụng bút pháp để diễn tả những tình cảm con người, lối sống, phong tục tập quán bằng những ngôn ngữ đặc sản địa phương của người dân Nam Kỳ Lục Tỉnh đã có từ hàng thế kỷ truước còn lưu truyền đến ngày nay, đó là sự thật thà và phóng khoáng.
     Trong kho tàng văn học Việt Nam có mấy loại văn chương, có thứ nhằm phục vụ đại chúng, có thứ văn chương mang tính đặc thù của miệt vườn địa phương,  có thứ văn chương dành cho giới tiểu tư sản thành thị, giới trí thức, tiêu biểu là các nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn,  các tạp chí Sáng Tạo, Bách Khoa, Hiện Đại, Văn Hoá Ngày Nay, Gió Mới, Văn Học, Thế kỷ 20 v.v… Ở miền Nam vào thế kỷ trước những nhà văn miệt vườn tiêu biểu như: Nhà văn Hồ Biểu Chánh, nhà văn Bình Nguyên Lộc, nhà văn Sơn Nam… sau này hải ngoại có một số nhà văn đã sử dụng văn phong miệt vườn. Canada: cố nhà văn Nguyễn Văn Ba, nhà văn Võ Kỳ Điền,  nhà vễn Tiểu Thu… ở Mỹ: nhà văn Bình Nguyên Lộc, nhà văn Trần Long Hồ, nhà văn Xuân Vũ, nhà văn Nguyễn Văn Sâm… ở Marseille Pháp: nhà văn An Khê, Rouen: nhà văn Hà Ngọc Bích, Troyes: nhà văn Hồ Trường An, Lille: nhà văn Võ Đức Trung, Paris có nhà văn Kiệt Tấn và nhà văn Tiểu Tử…
    Như các bạn đã biết nhà văn Tiểu Tử nguyên là một kỹ sư tốt nghiệp tại Pháp năm 1955, và về nước khởi đầu bằng nghề dạy học. Nguyên nhân nào từ một nhà khoa học, một nhà giáo Võ Hoài Nam lại trở thành nhà văn?
    Tôi may mắn được chính nhà văn Tiểu Tử và nhà báo Đặng Văn Nhâm kể:

    “Ngày từ thuở còn đi học ông Võ Hoài Nam đã được trời ban cho một tâm hồn đầy cảm xúc và đôi bàn tay khéo léo để vẽ những bức tranh sơn dầu bằng những đường nét ấn tượng. Ông vẽ rất đẹp và đã vẽ phông cho các tuồng tích cải lương, vẽ ký họa, biếm họa cho các nhật báo Sài Gòn thuở ấy, điển hình là tờ báo Tiến mà chủ nhiệm là nhà báo Đặng Văn Nhâm.

    Thời trẻ nhà văn Tiểu Tử đã đam mê nghệ thuật như hội họa, cải lương, và báo chí, những thứ đó đã cho ông nhiều chất liệu sống trong việc sáng tác văn chương sau này. Cải lương giúp cho ông có cái nhìn nội tâm về các nhân vật diễn tả những tình cảm ẩn chứa trong từng vai, nhất là cách trích đoạn tuồng. Hội họa giúp cho ông có cái nhìn về đường nét, màu sắc, cận ảnh, viễn ảnh, còn báo chí cho ông có cái óc quan sát và ghi nhận. Nhà văn Tiểu Tử đã tiếp thu những kiến thức, những cảm nhận đó trong tâm hồn mình làm chất liệu viết tiểu thuyết. Trong lãnh vực văn chương ông đã dùng một lối văn phong đặc thù miền Nam, câu văn giản dị nhưng ý tưởng sâu sắc. Để diễn tả tâm ý nhân vật trong tiểu thuyết, câu chữ trong đối thoại được chọn lọc có ẩn ý. Điểm đặc biệt trong những tiểu thuyết của nhà văn Tiểu Tử là ông đã dùng một lối văn phong hiện thực phê phán chế độ xã hội chủ nghĩa VN, ở đó đầy rẫy những bất công xã hội, chất ngất những lời than, tiếng dân ai oán..Từ văn hóa suy đồi, nhân quyền bị chà đạp thân phận con người bị ngược đãi…. Nhà văn đã thu những hình ảnh đó và đồng cảm với những nỗi đau của họ qua ngòi bút đã tạo một sắc thái riêng nhưng giữ được nét đặc thù của tiếng mẹ đẻ.
    Nhân dịp ngày ra mắt sách: “Tuyển Tập Tiểu Tử“ được các hội đoàn tổ chức tại Paris 05 tháng 6 năm 2016, tôi được hân hạnh cùng với các vị:  giáo sư Trần Văn Cảnh, tiến sĩ Nguyễn Văn Trần, nhà văn Từ Thức, giới thiệu về Tác phẩm và Tác giả Tiểu Tử.
    Với tính chất trong những tác phẩm tiểu thuyết của ông trong văn học, chúng tôi nhìn nhà văn Tiểu Tử là một nhà văn nhân bản, nhà văn hóa. Những cống hiến của ông đã lưu lại những trang sách Việt trên  xứ người góp phần vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa Việt hải ngoại.

    Đỗ Bình‘ Paris 05 tháng 6 năm 2016

    Tiểu Sử Nhà Văn Tiểu Tử

    NHÀ VĂN TIỂU TỬ, tên thật là Võ Hoài Nam, sinh quán Tây Ninh, Việt Nam, định cư tại Paris, Pháp quốc.
    Tốt nghiệp kỹ sư vào năm 1955 tại Marseille.
    Giáo sư các trường trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký niên khóa 1955-1956.

    Làm việc cho hãng xăng Shell Việt Nam từ tháng 10 năm 1956 đến 30 tháng tư năm 1975.
    Vượt biên năm 1979 và định cư tại Pháp.

    Làm việc cho công ty nhà nước tại Côte d’Ivoire. Hiện đang nghỉ hưu tại Paris.

    Khởi sự viết từ trước năm 1975 phụ trách mục biếm văn “Trò Đời“  trên nhật báo Tiến.
    Cộng tác với nhiều tập san, tạp chí ở hải ngoại.

    Tác phẩm đã xuất bản:

    Những Mảnh Vụn (Làng Văn 2004). Bài Ca Vọng Cổ (2006)
    Chị Tư Ù ( 2012). Chuyện Thuở Giao Thời (2014)
    Tuyển Tập Tiểu Tử (Người Việt 2016)
    Tiểu Tử Toàn Tập (Tác giả xuất bản 1917)
    Ông là thành viên Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris.

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Tin tức

    LIÊN HIỆP CÁC TRƯỜNG VIỆT NGỮ HẢI NGOẠI. (UNION OF OVERSIAS VIETNAMESE LANGUAGE SCHOOLS

    Tháng 12 năm 1988 Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Miền Nam California được thành lập như một tổ chức khởi đầu cho sinh hoạt Việt Ngữ tại Nam California. Ngày 30 tháng 10, 2000, Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California – The Association of Vietnamese Language & Culture Schools of Southern California được hình thành, đệ nạp lên chính phủ tiểu bang California và liên bang Hoa Kỳ để được chấp thuận như một tổ chức bất vụ lợi theo điều khoản 501(c) (3). Tính từ năm 1988 đến năm 2023 đã hoạt động liên tục được 35 năm. 

    Từ năm 2022 đổi danh xưng thành LIÊN HIỆP CÁC TRƯỜNG VIỆT NGỮ HẢI NGOẠI (LHCTVNHN) – UNION of OVERSEAS VIETNAMESE LANGUAGE SCHOOLS (UOVLS) với 33 thành viên trong Hội Đồng Quản Trị (HĐQT), cùng cộng tác với khoảng 3,000 thầy cô giảng dạy trên 300 trường Việt Ngữ khắp nơi cho khoảng 30,000 đến 40,000 học sinh từ mẫu giáo lên đến lớp 12 (K-12) phần lớn ở Hoa Kỳ và Canada.

    Sứ mệnh (tôn chỉ & mục đích) của hội là: 

    Bảo tồn và phát huy văn hoá  Việt Nam, dẫn dắt bởi triết lý giáo dục: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

    Tương trợ và trao đổi kinh nghiệm trong việc truyền bá Việt Ngữ.

    Liên Hiệp Các Trường Việt Ngữ Hải Ngoại là một tổ chức văn hoá và giáo dục bất vụ lợi, hoạt động cho lợi ích chung của Cộng Đồng Việt Nam và không lệ thuộc bất cứ tổ chức hoặc đảng phái chính trị nào.

     Trụ sở và địa chỉ chính  được đặt tại vùng Nam California, USA.    

    12221 BROOKHURST, # 210 GARDEN GROVE, CA 92840.

     ĐIỆN THOẠI: (714) 203-5777.        E-MAIL: info@taviet.org  

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    KHI CUỘC CHIẾN CHẤM DỨT

    Khánh Lan

    Bất kể cuộc chiến nào khi chấm dứt cũng để lại nhiều đau thương, nghiệt ngã cho những người còn sống sót, dù là ngoài xã hội hay trong thế giới văn chương. Sau cuộc chiến năm 1975, tại Việt Nam đã có biết bao quân nhân cán chính, giáo chức và các nhà văn hóa lao vào cảnh tù đầy không hẹn ngày trở về. Những trại tù trá hình “cải tạo” được mọc lên ở miền Bắc trước năm 1954 cũng như tại miền Nam sau năm 1975 đã chôn vùi thân xác của những đứa con trung thành của tổ quốc và những nhân tài của nền văn hóa nước nhà.

    Trong bài viết về “Khi Cuộc Chiến Chấm Dứt” người viết xin gởi đến quý độc giả một nhân tài lỗi lạc trong lĩnh vực văn học, một nhà thơ tiền chiến với những vần thơ cô đọng nhiều uẩn khúc của cuộc đời, một Phùng Quán với rất nhiều nhọc nhằn, đau thương và cay đắng xẩy ra cho ông trong quá khứ. Nếu, chúng ta đem Phùng Quán ra để so sánh với Nguyễn Chí Thiện thì chúng ta cũng không thể cho rằng ai là người yêu nước hơn ai? mặc dù cả hai đều là nhà thơ và là nạn nhân hiện hữu trong buổi giao thời ấy, nhưng trong tâm tư của mỗi người đều mang nặng một lý tưởng và một suy nghĩ khác nhau. Trong bài viết này, người viết chỉ xin bàn về nhà thơ Phùng Quán.

    Thi sĩ Phùng Quán là một nhà thơ được nhiều Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam về Văn học nghệ thuật nhất trong khoảng thời gian ngắn. Năm 1955, tác phẩm đầu tay của thi sĩ Phùng Quán, Tiểu thuyết Vượt Côn Đảo, được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam về Văn học nghệ thuật năm 2007. Tập thơ Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1955), được Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật, năm 2007. Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội (1987), được Giải A văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988, và nhận được Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990. Cùng năm 1990 tác phẩm này được đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn dựng thành phim, Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 2000 và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. 

    PHÙNG QUÁN (1932–1995)

    “Có những lúc ngã lòng

    Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”

    Đó là hai câu thơ bất hủ đã nói lên ngàn lời tâm sự của người nghệ sĩ tài ba Phùng Quán, một tài năng độc đáo trên văn đàn từ giữa thế kỷ XX, nhưng định mệnh trớ trêu đã đẩy ông qua nhiều gian nan và thử thách trong cuộc sống. Tên tuổi của Phùng Quán trở nên nổi tiếng rất sớm nhưng cũng xuống dốc khá nhanh “Đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian”. Phải chăng cái nhân cách quá ngay thẳng đã đưa cuộc đời của ông vào một số phận bi tráng như thế? Khiến ông sa vào từ thất vọng này đi đến tuyệt vọng kia? Nhưng cái gì đã giúp ông vượt qua chông gai mà số mạng bắt ông gánh chịu. Có phải “Có những lúc ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”? hay như một nhà thơ người Mỹ gốc Nga, Roman Jakobson, đã nói “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh”.

    Năm 1957, theo soạn giả Tân Linh: Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm với hai bài thơ Lời mẹ dặn và Chống tham ô lãng phí, hai thi phẩm đã đem rất nhiều tai hoạn lớn cho Phùng Quán (25 tuổi) sau tác phẩm Vượt Côn Đảo. Bài thơ Lời mẹ dặn khiến ông bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị đuổi ra khỏi quân đội. Phùng Quán rơi vào cảnh “tứ cố vô thân” bởi cha ông đã chết trong tù khi ông mới biết bò, mẹ ông thì sống bên kia giới tuyến (Huế), bạn bè và người thân xa lánh vì sợ liên lụy. Buồn và chán nản, có lúc Phùng Quán có ý định sẽ vào Quảng Bình sinh sống, nhưng cũng có những lúc qúa thất vọng, ông bảo: “Cá sông Nhật Lệ nhiều vô kể, thế nào cũng đủ sống, mà nếu chán quá, không muốn sống nữa thì… thôi”.  Và cũng đã có nhiều lần ông nghĩ đến cái chết. Sau đây là bài thơ Lời mẹ dặn (1957).

    … Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

    Đi trọn đời trên con đường chân thật.

    Yêu ai cứ bảo là yêu

    Ghét ai cứ bảo là ghét

    Dù ai ngon ngọt nuông chiều

    Cũng không nói yêu thành ghét

    Dù ai cầm dao dọa giết

    Cũng không nói ghét thành yêụ

    Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời

    Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

    Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

    Bút giấy tôi ai cướp giật đi

    Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

    (Lời mẹ dặn)

    Mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động thực tế ở nhiều nơi. Phùng Quán đã phải đánh đổi gần như cả cuộc đời mình với 15 năm lao động cải tạo và 32 năm treo bút bởi hai bài thơ đầu tiên trong văn học trỉ trích cách mạng, chống tệ quan liêu lãng phí.

    Ta đã đi qua
    Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt:

    Tôi đã gặp
    Những bà mẹ già quấn giẻ rách
    Da đen như củi cháy giữa rừng
    Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
    Bởi đồn giặc trồng ngô tỉa lúa…

    ….Tôi đã gặp
    Chị em công nhân đổ thùng
    Yếm rách chân trần
    Quần xắn quá gối
    Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
    Vác những thùng phân …

    …Trung ương Đảng ơi!
    Lũ chuột mặt người chưa hết
    Đảng lập đội quân trừ diệt
    – Có tôi!
    đi trong hàng ngũ tiền phong…

    Năm 1988 ông được khôi phục lại chức vị hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Tuy vậy, sau khi được hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhận lại vào thời kỳ đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản. Hơn 32 năm treo bút, ông phải mượn tên người khác viết “văn chui” và xuất bản một số tác phẩm dưới bút danh khác. Hơn 40 cuốn truyện tranh và khoảng 10 tác phẩm văn xuôi được in trong đó có 3 tập bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Tuổi thơ dữ dội”. Sống trong cảnh nghèo đói, ông đã câu trộm cá ở Hồ Tây để kiếm sống (theo nhà thơ Ngô Minh) và mua chịu ở quan rượu của bà Hai Hanh, làng Nghi Tàm. Vì thế, trong thời kỳ này, bạn bè văn nghệ đặt cho ông một biệt hiệu là: “cá trộm, rượu chịu, văn chui“. 

    Thơ tôi biết xin ai?
    Ai cho?
    Thơ với tôi là nước trên sa mạc
    Đã từ nhiều năm nay
    Tôi sống mà như chết
    Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi
    Tôi đã đi rao cùng thiên hạ:
    – Ai-đổi-thơ-lấy-máu!
    Không ai đổi
    Vì máu tôi không cùng nhóm máu họ

                                        (Cảm tạ)

     

    Năm 1998, ông được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam để rồi chính thức từ đó trở đi, cái tên Phùng Quán lại gắn liền với những tác phẩm nổi tiếng như “Thơ Phùng Quán”, tiểu thuyết “Trăng hoàng cung”, bộ tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội”… trên báo Đảng địa phương.

    “Ba mươi năm trước tôi chết giữa Hồng Hà sóng dữ

    Nay lại hồi sinh giữa xanh thẳm Hàn Giang

    Chính cây cà quê mùa lao lực

    Đã cho tôi dũng khí bền gan”.

    Báo QNĐN-Chủ nhật là nơi đã trả lại tên thật cho nhà văn-nhà thơ Phùng Quán sau 30 năm mất tích trên văn đàn Việt Nam. Tạp chí Sông Hương tiếp tục đăng những bài viết của Phùng Quán và để tên thật của ông. Một số tờ báo, tạp chí, NXB cũng lần lượt đăng những sáng tác với bút danh Phùng Quán một cách minh bạch – xóa nạn “in chui” cho ông. 

    TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC: QUÊ HƯƠNG & GIA ĐÌNH

    Phùng Quán được coi như là một người lính dấn thân vì nhân dân, vì đất nước cho dù ông đã trải qua những năm tháng bi thương khốc liệt nhất của đời người. Nhưng ông vẫn sắt son niềm tin vào Đảng, vào sự đổi mới phát triển của đất nước qua lời thơ:

    “…Tôi tin sẽ đến ngày tôi được Đảng hiểu”,

    “Tôi không nói lời vĩnh biệt. Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh…”.

    Theo Ngô Quy Nhơn, Phùng Quán đã sống và yêu đất nước đất nước đến tận cùng máu thịt cũng như tình yêu với người vợ hiền của ông, đó là một tình yêu đích thực, một tình yêu mà ông dám hy sinh cả cuộc đời của mình.  

    …”Ngày ra trận, tóc tôi còn để chỏm

    Nay trở về, Đầu đã hoa râm

    Sau cuộc trường chinh ba mươi năm…”

    Tại sao lại gọi đó là tình yêu quê hương đích thực và đến tận cùng máu thịt?  Phùng Quán đã cống hiến cả cuộc đời mình cho một chế độ mà ông tôn thờ bởi ngay từ thiếu thời, (13 tuổi) ông đã dấn thân theo cách mạng, từ một chiến sĩ liên lạc Trung đoàn Trần Cao Vân, đến làm Vệ quốc quân mặt trận khói lửa Bình Trị Thiên.   Năm 1953, khi Phùng Quán mới 22 tuổi, là người lính liên lạc trong Vệ quốc đoàn, ông viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo vàgây xúc động cho người đọc qua bao thế hệ. Vượt Côn Đảo là tác phẩm đầu tay của Phùng Quán, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời cầm bút của ông, xuất bản lần đầu năm 1954. Năm 2007, cùng với hai tác phẩm Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội ra đời, chứng tỏ ông chẳng những hy sinh cuộc sống, tuổi thanh xuân, và tình yêu cá nhân của mình cho đất nước mà còn tôn thờ tổ quốc trong tư tưởng cũng như trong văn thơ của ông.

    Theo soạn giả Tân Linh, chuyện tình của Phùng Quán là một tình yêu đẹp, lãng mạn, đầy sóng gió và xúc động, một mối tình cao quý dược thuật lại như sau: Khi Phùng Quán về làm văn nghệ ở Hà Nội trong Đại hội văn nghệ toàn quân tổ chức sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông đã gặp một cô giáo trẻ, tên Vũ Thị Bội Trâm, giảng dạy tại Trường PTTH Chu Văn An, Hà nội, người Hà Nội, nhà ở phố Hàng Cân đem lòng yêu ông. Bà Bội Trâm kể: “Anh yêu cũng dữ dội lắm: Viết tặng tôi bài thơ anh đã nói rất… liều”:

    “Khách tình yêu xưa nay ít lễ độ

    Bước vào buồng tim chẳng gõ cửa bao giờ…”.

     Phùng Quán bảo mỗi người đều có tình yêu và lý tưởng để tôn thờ, ông viết tặng vợ bài Kinh cầu nguyện buổi sáng như sau:

    “Tôi sẽ đi với em

    Cho đến mút chót con đường…

    … Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền

    Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường

    Tôi sẽ bị trời tru đất diệt

    Em là cây Thập tự của đời tôi

    Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc…“

    Phùng Quan khẳng định rằng đây là bài thơ tình hay nhất của ông. Năm 1960, đi lao động thâm nhập thực tế ở Thái Bình cùng các nhà văn Tô Hoài, Hoàng Trung Thông về, Phùng Quán bị nhiễm lao. Năm 1962, Phùng Quán và Bội Trâm đến đăng ký kết hôn ở ủy ban hành chính xã Quảng An huyện Từ Liêm Hà Nội. Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe cũng là bài thơ viết cho bà Bội Trâm. Trong bổn bài thơ tựa đề chỉ có một chữ: Say, Hôn, bài thơ Hôn được nhắc đến nhiều nhất và được in trong tuyển tập Panorama de la Littérature Vietnamism (do nhà văn hóa Hữu Ngọc dịch) cũng như được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc.  Bài thơ được coi như là tuyên ngôn tình yêu của người lính, âm hưởng diệu vợi, bi tráng và rất thực bởi bắt nguồn từ một tình yêu rất chân thực của một người lính, hay hơn thế nữa, một đồng đội, một người bác của ông:  Chiến sĩ cảm tử quân Phùng Huấn. (Theo tác giả Nguyễn Viết Chính).

    …”Trời đã sinh ra anh

    Ðể yêu em tha thiết…

    …Còn anh, anh yêu em

    Anh phải ra mặt trận…

    …Nhưng anh, anh không muốn

    Hôn em trong tủi sầu

    Em ơi rất có thể

    Anh chết giữa chiến trường

    Ðôi môi tươi đạn xé

    Chưa bao giờ được hôn

    Nhưng dù chết em ơi

    Yêu em anh không thể

    Hôn em bằng đôi môi

    Của một người nô lệ”.

                                 (Hôn1956)

    VỀ VĂN HỌC:   

    Phùng Quán đã cho xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng ở, người viết xin bàn về hai tác phẩm nổi tiếng của Phùng Quán: Đó là Vượt Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội.  Vượt Côn Đảo không những chỉ đề cao tinh thần yêu nước mà còn trân trọng những tâm hồn chân quý của thế hệ trẻ đã hy sinh bản thân, vượt qua mọi hoàn cảnh và xương máu cho hòa bình của đất nước. Nguồn cảm hứng để Phùng Quán viết Vượt Côn Đảo khi ông gặp gỡ những người tù cách mạng trở về từ Côn Đảo sau Hiệp định Genève 1954. Phùng Quán đã có mặt trong cuộc trao đổi tù binh ở Sầm Sơn và nghe những câu chuyện của họ về ý chí bất khuất, quật cường, lòng sắt đá, quả cảm và nghị lực của những chiến sĩ cách mạng với hai lần vượt ngục thất bại. Ông viết: “Người chiến sĩ khi đã quyết định dấn thân thì phải dấn thân đến cùng, không quay đầu lại, không rẽ ngang rẽ tắt, không được thối lui, không được bỏ cuộc, không có sự hèn hạ nào đáng ghê tởm hơn sự hèn hạ bỏ cuộc”. 

    Xin trích dẫn thêm một trích đoạn trong tác phẩm vượt Côn Đảo: 

    …”Tất cả tù Côn Đảo đều gọi Côn Đảo là địa ngục, một thứ địa ngục trần gian. Nghe người ta nói ở địa ngục, trên có Diêm Vương hung ác, dưới có bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa.  Để hành hạ người chết, có vạc dầu nấu sôi, sông lúc nhúc mãng xà rắn rết, có chỗ cưa chân xẻ tay, róc thịt chẻ xương.  Không biết có địa ngục và địa ngục có những cảnh đó không, nhưng ở Côn Đảo, những cảnh đó không thiếu gì, và còn gấp trăm gấp nghìn thế là khác…”

    PHÙNG QUÁN (1932–1995)

    “Có những lúc ngã lòng

    Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”

    Đó là hai câu thơ bất hủ đã nói lên ngàn lời tâm sự của người nghệ sĩ tài ba Phùng Quán, một tài năng độc đáo trên văn đàn từ giữa thế kỷ XX, nhưng định mệnh trớ trêu đã đẩy ông qua nhiều gian nan và thử thách trong cuộc sống. Tên tuổi của Phùng Quán trở nên nổi tiếng rất sớm nhưng cũng xuống dốc khá nhanh “Đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian”. Phải chăng cái nhân cách quá ngay thẳng đã đưa cuộc đời của ông vào một số phận bi tráng như thế? Khiến ông sa vào từ thất vọng này đi đến tuyệt vọng kia? Nhưng cái gì đã giúp ông vượt qua chông gai mà số mạng bắt ông gánh chịu. Có phải “Có những lúc ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”? hay như một nhà thơ người Mỹ gốc Nga, Roman Jakobson, đã nói “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh”.

    Năm 1957, theo soạn giả Tân Linh: Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm với hai bài thơ Lời mẹ dặn và Chống tham ô lãng phí, hai thi phẩm đã đem rất nhiều tai hoạn lớn cho Phùng Quán (25 tuổi) sau tác phẩm Vượt Côn Đảo. Bài thơ Lời mẹ dặn khiến ông bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị đuổi ra khỏi quân đội. Phùng Quán rơi vào cảnh “tứ cố vô thân” bởi cha ông đã chết trong tù khi ông mới biết bò, mẹ ông thì sống bên kia giới tuyến (Huế), bạn bè và người thân xa lánh vì sợ liên lụy. Buồn và chán nản, có lúc Phùng Quán có ý định sẽ vào Quảng Bình sinh sống, nhưng cũng có những lúc qúa thất vọng, ông bảo: “Cá sông Nhật Lệ nhiều vô kể, thế nào cũng đủ sống, mà nếu chán quá, không muốn sống nữa thì… thôi”.  Và cũng đã có nhiều lần ông nghĩ đến cái chết. Sau đây là bài thơ Lời mẹ dặn (1957).

    … Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

    Đi trọn đời trên con đường chân thật.

    Yêu ai cứ bảo là yêu

    Ghét ai cứ bảo là ghét

    Dù ai ngon ngọt nuông chiều

    Cũng không nói yêu thành ghét

    Dù ai cầm dao dọa giết

    Cũng không nói ghét thành yêụ

    Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời

    Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

    Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

    Bút giấy tôi ai cướp giật đi

    Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

    (Lời mẹ dặn)

    Mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động thực tế ở nhiều nơi. Phùng Quán đã phải đánh đổi gần như cả cuộc đời mình với 15 năm lao động cải tạo và 32 năm treo bút bởi hai bài thơ đầu tiên trong văn học trỉ trích cách mạng, chống tệ quan liêu lãng phí.

    Ta đã đi qua
    Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt:

    Tôi đã gặp
    Những bà mẹ già quấn giẻ rách
    Da đen như củi cháy giữa rừng
    Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
    Bởi đồn giặc trồng ngô tỉa lúa…

    ….Tôi đã gặp
    Chị em công nhân đổ thùng
    Yếm rách chân trần
    Quần xắn quá gối
    Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
    Vác những thùng phân …

    …Trung ương Đảng ơi!
    Lũ chuột mặt người chưa hết
    Đảng lập đội quân trừ diệt
    – Có tôi!
    đi trong hàng ngũ tiền phong…

    Năm 1988 ông được khôi phục lại chức vị hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Tuy vậy, sau khi được hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhận lại vào thời kỳ đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản. Hơn 32 năm treo bút, ông phải mượn tên người khác viết “văn chui” và xuất bản một số tác phẩm dưới bút danh khác. Hơn 40 cuốn truyện tranh và khoảng 10 tác phẩm văn xuôi được in trong đó có 3 tập bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Tuổi thơ dữ dội”. Sống trong cảnh nghèo đói, ông đã câu trộm cá ở Hồ Tây để kiếm sống (theo nhà thơ Ngô Minh) và mua chịu ở quan rượu của bà Hai Hanh, làng Nghi Tàm. Vì thế, trong thời kỳ này, bạn bè văn nghệ đặt cho ông một biệt hiệu là: “cá trộm, rượu chịu, văn chui“. 

    Thơ tôi biết xin ai?
    Ai cho?
    Thơ với tôi là nước trên sa mạc
    Đã từ nhiều năm nay
    Tôi sống mà như chết
    Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi
    Tôi đã đi rao cùng thiên hạ:
    – Ai-đổi-thơ-lấy-máu!
    Không ai đổi
    Vì máu tôi không cùng nhóm máu họ

                                        (Cảm tạ)

     

    Năm 1998, ông được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam để rồi chính thức từ đó trở đi, cái tên Phùng Quán lại gắn liền với những tác phẩm nổi tiếng như “Thơ Phùng Quán”, tiểu thuyết “Trăng hoàng cung”, bộ tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội”… trên báo Đảng địa phương.

    “Ba mươi năm trước tôi chết giữa Hồng Hà sóng dữ

    Nay lại hồi sinh giữa xanh thẳm Hàn Giang

    Chính cây cà quê mùa lao lực

    Đã cho tôi dũng khí bền gan”.

    Báo QNĐN-Chủ nhật là nơi đã trả lại tên thật cho nhà văn-nhà thơ Phùng Quán sau 30 năm mất tích trên văn đàn Việt Nam. Tạp chí Sông Hương tiếp tục đăng những bài viết của Phùng Quán và để tên thật của ông. Một số tờ báo, tạp chí, NXB cũng lần lượt đăng những sáng tác với bút danh Phùng Quán một cách minh bạch – xóa nạn “in chui” cho ông. 

    TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC: QUÊ HƯƠNG & GIA ĐÌNH

    Phùng Quán được coi như là một người lính dấn thân vì nhân dân, vì đất nước cho dù ông đã trải qua những năm tháng bi thương khốc liệt nhất của đời người. Nhưng ông vẫn sắt son niềm tin vào Đảng, vào sự đổi mới phát triển của đất nước qua lời thơ:

    “…Tôi tin sẽ đến ngày tôi được Đảng hiểu”,

    “Tôi không nói lời vĩnh biệt. Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh…”.

    Theo Ngô Quy Nhơn, Phùng Quán đã sống và yêu đất nước đất nước đến tận cùng máu thịt cũng như tình yêu với người vợ hiền của ông, đó là một tình yêu đích thực, một tình yêu mà ông dám hy sinh cả cuộc đời của mình.  

    …”Ngày ra trận, tóc tôi còn để chỏm

    Nay trở về, Đầu đã hoa râm

    Sau cuộc trường chinh ba mươi năm…”

    Tại sao lại gọi đó là tình yêu quê hương đích thực và đến tận cùng máu thịt?  Phùng Quán đã cống hiến cả cuộc đời mình cho một chế độ mà ông tôn thờ bởi ngay từ thiếu thời, (13 tuổi) ông đã dấn thân theo cách mạng, từ một chiến sĩ liên lạc Trung đoàn Trần Cao Vân, đến làm Vệ quốc quân mặt trận khói lửa Bình Trị Thiên.   Năm 1953, khi Phùng Quán mới 22 tuổi, là người lính liên lạc trong Vệ quốc đoàn, ông viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo vàgây xúc động cho người đọc qua bao thế hệ. Vượt Côn Đảo là tác phẩm đầu tay của Phùng Quán, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời cầm bút của ông, xuất bản lần đầu năm 1954. Năm 2007, cùng với hai tác phẩm Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội ra đời, chứng tỏ ông chẳng những hy sinh cuộc sống, tuổi thanh xuân, và tình yêu cá nhân của mình cho đất nước mà còn tôn thờ tổ quốc trong tư tưởng cũng như trong văn thơ của ông.

    Theo soạn giả Tân Linh, chuyện tình của Phùng Quán là một tình yêu đẹp, lãng mạn, đầy sóng gió và xúc động, một mối tình cao quý dược thuật lại như sau: Khi Phùng Quán về làm văn nghệ ở Hà Nội trong Đại hội văn nghệ toàn quân tổ chức sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông đã gặp một cô giáo trẻ, tên Vũ Thị Bội Trâm, giảng dạy tại Trường PTTH Chu Văn An, Hà nội, người Hà Nội, nhà ở phố Hàng Cân đem lòng yêu ông. Bà Bội Trâm kể: “Anh yêu cũng dữ dội lắm: Viết tặng tôi bài thơ anh đã nói rất… liều”:

    “Khách tình yêu xưa nay ít lễ độ

    Bước vào buồng tim chẳng gõ cửa bao giờ…”.

     Phùng Quán bảo mỗi người đều có tình yêu và lý tưởng để tôn thờ, ông viết tặng vợ bài Kinh cầu nguyện buổi sáng như sau:

    “Tôi sẽ đi với em

    Cho đến mút chót con đường…

    … Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền

    Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường

    Tôi sẽ bị trời tru đất diệt

    Em là cây Thập tự của đời tôi

    Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc…“

    Phùng Quan khẳng định rằng đây là bài thơ tình hay nhất của ông. Năm 1960, đi lao động thâm nhập thực tế ở Thái Bình cùng các nhà văn Tô Hoài, Hoàng Trung Thông về, Phùng Quán bị nhiễm lao. Năm 1962, Phùng Quán và Bội Trâm đến đăng ký kết hôn ở ủy ban hành chính xã Quảng An huyện Từ Liêm Hà Nội. Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe cũng là bài thơ viết cho bà Bội Trâm. Trong bổn bài thơ tựa đề chỉ có một chữ: Say, Hôn, bài thơ Hôn được nhắc đến nhiều nhất và được in trong tuyển tập Panorama de la Littérature Vietnamism (do nhà văn hóa Hữu Ngọc dịch) cũng như được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc.  Bài thơ được coi như là tuyên ngôn tình yêu của người lính, âm hưởng diệu vợi, bi tráng và rất thực bởi bắt nguồn từ một tình yêu rất chân thực của một người lính, hay hơn thế nữa, một đồng đội, một người bác của ông:  Chiến sĩ cảm tử quân Phùng Huấn. (Theo tác giả Nguyễn Viết Chính).

    …”Trời đã sinh ra anh

    Ðể yêu em tha thiết…

    …Còn anh, anh yêu em

    Anh phải ra mặt trận…

    …Nhưng anh, anh không muốn

    Hôn em trong tủi sầu

    Em ơi rất có thể

    Anh chết giữa chiến trường

    Ðôi môi tươi đạn xé

    Chưa bao giờ được hôn

    Nhưng dù chết em ơi

    Yêu em anh không thể

    Hôn em bằng đôi môi

    Của một người nô lệ”.

                                 (Hôn1956)

    VỀ VĂN HỌC:   

    Phùng Quán đã cho xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng ở, người viết xin bàn về hai tác phẩm nổi tiếng của Phùng Quán: Đó là Vượt Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội.  Vượt Côn Đảo không những chỉ đề cao tinh thần yêu nước mà còn trân trọng những tâm hồn chân quý của thế hệ trẻ đã hy sinh bản thân, vượt qua mọi hoàn cảnh và xương máu cho hòa bình của đất nước. Nguồn cảm hứng để Phùng Quán viết Vượt Côn Đảo khi ông gặp gỡ những người tù cách mạng trở về từ Côn Đảo sau Hiệp định Genève 1954. Phùng Quán đã có mặt trong cuộc trao đổi tù binh ở Sầm Sơn và nghe những câu chuyện của họ về ý chí bất khuất, quật cường, lòng sắt đá, quả cảm và nghị lực của những chiến sĩ cách mạng với hai lần vượt ngục thất bại. Ông viết: “Người chiến sĩ khi đã quyết định dấn thân thì phải dấn thân đến cùng, không quay đầu lại, không rẽ ngang rẽ tắt, không được thối lui, không được bỏ cuộc, không có sự hèn hạ nào đáng ghê tởm hơn sự hèn hạ bỏ cuộc”. 

    Xin trích dẫn thêm một trích đoạn trong tác phẩm vượt Côn Đảo: 

    …”Tất cả tù Côn Đảo đều gọi Côn Đảo là địa ngục, một thứ địa ngục trần gian. Nghe người ta nói ở địa ngục, trên có Diêm Vương hung ác, dưới có bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa.  Để hành hạ người chết, có vạc dầu nấu sôi, sông lúc nhúc mãng xà rắn rết, có chỗ cưa chân xẻ tay, róc thịt chẻ xương.  Không biết có địa ngục và địa ngục có những cảnh đó không, nhưng ở Côn Đảo, những cảnh đó không thiếu gì, và còn gấp trăm gấp nghìn thế là khác…”

    Theo tác giả Ngô Minh Thuyên lòng yêu nước trong Phùng Quán rất kiên định cho dù sau 32 năm bị án “nhân văn”, Phùng Quán vẫn cho ra đời Tuổi thơ dữ dội gây xúc động về chính cuộc đời ông và đồng đội mình. “Tuổi thơ dữ dội” là một tác phẩm truyện dài xoay quanh cuộc sống chiến đấu và sự hy sinh của những thiếu niên 13, 14 tuổi trong hàng ngũ Đội thiếu niên trinh sát của trung đoàn Trần Cao Vân. 

     “… Không thể ôm nhau mà nhìn thần chết đến cướp cùng một lúc. Giờ phút này phải đòi hỏi sự hy sinh. Anh Cả hội ý với Du và cuối cùng quyết định. – Cần năm đồng chí hy sinh để cho thuyền nhẹ bớt. Mười đồng chí giơ tay cùng một lúc. Trong đó có Bằng, Chức, lão Học. Anh Cả nhìn mười đồng chí một lượt, ngồi lặng đi một phút …”

    THẾ GIỚI THI CA:

    Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn để lại cho đời nhiều bài thơ được hàng triệu người Việt Nam ngưỡng mộ như: Tập thơ Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Báo Phụ nữ Liên Xô dịch và in, năm 1957. Địa Ngục Côn Đảo, một tác phẩm thơ ca ngợi nữ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu đã trở thành bài ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, của những thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc.

    “Côn Đảo bỗng rùng mình

    Ai cất lên tiếng hát?

     …Theo tiếng hát chơi vơi

    Mọc lên giữa địa ngục

    … Người tù sắp xử bắn

    Vẫn hát mắt mở to

    …Người đang hát: chị Sáu

                 Một cô gái miền Nam”.

    Thật đúng như nhận định của tác giả Nguyễn Viết Chính, thơ Phùng Quán là thơ có chiều sâu của tâm hồn, một tâm hồn luôn nhạy cảm đã đến từ sự rung động của trái tim, chất chứa những nỗi niềm, như một lời tâm sự và cũng chính những vần thơ ấy, ông đã cứu sống được bao tâm hồn đang trong nỗi tuyệt vọng.  Điển hình là nhà thơ Hoàng Cầm sau một tai nạn, ông bị lâm bệnh trầm cảm trong nhiều năm.  Một hôm, Phùng Quán đến thăm Hoàng Cầm, mang theo một chai rượu làng Vân, ngồi trước mặt Hoàng, Phùng Quán rót rượu và đọc bài thơ có tựa đề là “Phùng Quán gửi Hoàng Cầm mắc bệnh tâm thần nặng“.  Nghe xong bài thơ, nước mắt Hoàng Cầm lăn dài trên gò má hóp, tái xanh.  Phùng Quán nâng lên mời bạn và họ ôm nhau, hàn huyên. Sau ngày đó, Hoàng Cầm sống lại và từ đó mở đầu cho một loạt thơ mới. Dưới đây là bài thơ “thần dược” của Phùng Quán:

    “Tôi không tin một nhà thơ như Anh

    Lại ngã lòng suy sụp

    Một nhà thơ đã viết những dòng thơ lẫm liệt

    Tiểu đội anh, những ai còn, ai mất?

    Không, không ai còn ai mất…

    …Tôi tin chắc như đinh đóng cột

    Sau khi Anh mất đi

    Theo sau linh cữu anh

    Ngoài bạn hữu gia đình

     Có cả con sông Đuống

    Sông Đuống mặc đại tang…”

     (Hà Nội tháng 3-1987)

      

     Sau gần 35 năm xa quê hương, Phùng Quán trở về quê, làng Thanh Thủy Thượng, xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, Huế. “Ngày ra đi tóc còn để chỏm, ngày về tóc đã hoa râm”. Ông đã quỳ xuống trước đông đảo bà con đọc to bài thơ “Tạ”:

    Con tạ,

    Đất làng quê

    Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất

    Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt

    Không lá cây nào không mặn chát gian lao

    Con tạ, manh chiếu rách con nằm…

    Năm 1975 giải phóng miền Nam, Phùng Quán về Huế rồi vào thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 22 tháng 01, 1995 tại Hà Nội, nhưng mãi đến đầu năm 2011, ước nguyện của ông mới trở thành hiện thực. Nhà thơ Ngô Minh quyên góp từ những văn nghệ sỹ, trí thức, học sinh, sinh viên, nông dân, anh xe ôm, xích lô, Việt kiều… đã góp tiền xây dựng mộ cho nhà thơ Phùng Quán. …“Tôi sẽ đào nấm huyệt. Cạnh mồ cha mẹ tôi”…”. Sau khi xây mộ cho hai vợ chồng nhà thơ và do nguyện vọng của dòng họ Phùng, số tiền còn lại được lập “Quỹ khuyến học, khuyến tài” mang tên Phùng Quán, để phát thưởng cho học sinh giỏi hàng năm của xã Thủy Dương quê hương nhà thơ và khuyến khích các nhà văn, nhà thơ ở Thừa Thiên, Huế có những tác phẩm văn học đặc sắc.   Sau khi nhà thơ qua đời, Quỹ Phùng Quán đã tổ chức phát thưởng lần đầu tiên cho 41 em học sinh xuất sắc của các trường tiểu học, THCS Thủy Dương gồm một giấy chứng nhận Quỹ Phùng Quán, có ảnh nhà thơ và là 500.000 đồng Việt Nam. Quỹ Phùng Quán còn tặng thưởng cho 3 em học sinh họ Phùng xuất sắc nhất do dòng tộc Phùng ở Thủy Dương xét chọn. Đầu năm 2012, Quỹ Phùng Quán đã giải khuyến tài văn học Phùng Quán cho hai tác phẩm văn học: Tiểu thuyết “Vùng sâu” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, và “Xa Hà Nội” của Nhà Văn Nhất Lâm, giá trị mỗi giải thưởng là 2 triệu đồng Việt Nam. Lễ trao được Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên, Huế tổ chức ngay tại khu lăng mộ của nhà thơ Phùng Quán. Tên của ông cũng được UBND tỉnh Thừa Thiên, Huế quyết định đặt tên cho con đường mang tên Phùng Quán tại Thị xã Hương Thủy, quê hương ông, dài 5,850 km, từ Km 83, Quốc lộ 1A đối diện cổng làng Thanh Thủy Thượng, đi qua lăng mộ Phùng Quán, qua chiến khu Dương Hòa, nơi Phùng Quán đi theo bộ đội Việt Minh từ năm 1946. Trong “Trăng Hoàng Cung” của Phùng Quán viết 26 năm trước. Vâng, Phùng Quán đã ra đi và trở về trên chính con đường mang tên Phùng Quán. (CTV Ngô Minh Thuyên/VOV online)  

    …“Nhưng cuối cùng

    Quê hương nhận ra

    Trái – tim Thơ- trong-sạch

    Và gương – mặt – Thơ- bi – thiết – của tôi…”.

    Tóm lại, người ta thường cho rằng thực chất của sự thật bao giờ cũng tốt, nên được khuyến khích và áp dụng trong hầu hết mọi lãnh vực. Thế nhưng trên thực tế, ngoài đời cũng như trong văn chương có mấy ai dám nói sự thật hoàn toàn? Ngay trong thế giới văn học tại Việt Nam, chẳng phải chỉ Thi sĩ Phùng Quán hay Nguyễn Chí Thiện bị tẩy chay trong xã hội mà trên thế giới chúng ta đã từng nghe đến những nhà đại văn hào, từng được lãnh Giải thưởng Nobel như Erich Maria Remarque đã bị tước quốc tịch Đức năm 1939 vì bị cho là lời văn của ông có tính cách phỉ báng quân đội Đức. Nhà văn Nga Boris Leodovich Pasternak, tác phẩm của ông cũng bị cấm xuất bản và lưu hành tại Nga vì bị cho là nội dung bôi nhọ chính sách, ông bị buộc từ chối nhận đề cử lãnh Giải thưởng Nobel 1958 với lý do làm giảm uy tín của đảng Liên Xô, cho mãi đến năm 1989, con trai của ông là Yevgenii Borisovich Pasternak được phép đến Stockholm để nhận giải thưởng của cha cậu.  

    Vậy câu hỏi được đưa ra để tùy độc giả suy nghĩ.  Có nên nói hoàn toàn sự thật một cách nồng nhiệt hay không?

    Khánh Lan, California, kỷ niệm 50 năm nhìn lại, (1975-2025)

    TÀI LIỆU ĐỌC THÊM: TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA THI SĨ PHÙNG QUÁN:    Phùng Quán là một nhà văn, nhà thơ và bắt đầu viết trong khoảng thời gian của cuộc chiến tranh Đông Dương. Ông là cháu của Tố Hữu, sinh tháng 1 năm 1932, quê tại xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy (nay là phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy), tỉnh Thừa Thiên – Huế). Chưa học xong Tiểu học, Phùng Quán đã bỏ nhà đi theo cách mạng.  Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân ở tuổi 13, và trở thành chiến sĩ trinh sát của Trung đoàn 101, lừng danh ở chiến trường Bình-Trị-Thiên (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân). Sau đó Phùng Quán tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV. Năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội).   Phùng Quán có rất nhiều tác phẩm được xuất bản bắt đầu từ 1955 kéo dài đến 2007, bao gồm nhiều thể loại khác nhau như truyện dài, truyện ngắn, hồi ký, bút ký, v.v…có những tác phẩm được dịch và xuất bản tại Trung Quốc, NXB Thượng Hai dịch và in như: Bút ký (1955), Bên bờ Hiền Lương (1956). Thạch Sanh Cháu Bác Hồ truyện thiếu nhi (1955). Một số truyện thiếu nhi như: Cuộc Đời Một Đôi Dép Cao Su (1956), Như Con Cò Vàng Trong Cổ tích (tác phẩm ký bút danh Vũ Quang Khải, được Giải nhất cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật). Vĩnh Linh, Lịch Sử Văn Hóa (ký tên tác giả là Nguyễn Huy-1982). Dũng Sĩ Chép Còm(1987-với bút danh Trần Vỹ Dạ), Người Du Kích Hói Đầu (1990), Tiếng đàn trong rừng thẳm (1991). Đôi Bạn Tật Nguyền Kỳ Lạ (1991).  Thơ Phùng Quán (1995). Bản hùng ca về 17 Vệ quốc Đoàn (1993).   Trăng hoàng cung, Tiểu thuyết thơ, Nhà xuất bản Thanh Văn, USA năm 1993. Năm 2007, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản Trăng hoàng cung & Phùng Quán Viết Trăng Hoàng Cung (tiểu thuyết tình 13 chương của Phùng Quán & Hồi ức của nhà văn Hà Khánh Linh). Phùng Quán, Thơ, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003. Ba phút sự thật, Ký, (2006, tái bản 2009). Tôi Đã Trở Thành Nhà Văn Như Thế Nào?-Hồi ký (2007). Phùng Quán Còn Đây, Di cảo của Phùng Quán và Hồi ức của bạn bè, (2007-Hồi ký 0.      
  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    TỪ ĐINH HÙNG ĐẾN VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    Khánh Lan

    Với khuôn mặt lẫy lừng trong thi ca Việt Nam từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam đã có nhiều tài liệu viết về hai nhà thơ Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Hôm nay, người viết lại được vinh hạnh viết về hai vị tiền bối đã được rất nhiều người ngưỡng mộ trong thế giới thi ca: Đó là Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, những thiên tài bạc mệnh của đất Sài Gòn, một thời nổi danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Một điều thật lạ lùng là khi duyệt sau khi duyệt qua tiểu sử và cuộc đời của hai thi nhân này, người viết nhận thấy hai vị tiền bối có nhiều điểm trùng hợp từ thân phận, chí khí, tài hoa đến văn chương và cuộc đời lại gặp quá nhiều nghiệt ngã, đau thương, bất công và bạc mệnh. Hình như có một sự kết nối mật thiết giữa cuộc đời của họ. Họ như bị ràng buộc từ trong một mối tương quan gia đình khi nhà thơ họ Vũ kết hôn với bà Đinh Thị Thục Oanh, chị ruột của Đinh Hùng. Họ là bạn chí thân từ khi còn sinh sống tại miền Bắc. Thuở thiếu thời, họ yêu văn, thích làm thơ, sáng tác thơ và trở thành nổi tiếng trong lĩnh vực thi ca. Họ là những thiên tài bạc mệnh, lãnh chịu một cuộc đời với nhiều gian nan, nghiệt ngã và nghèo túng. Tuy họ đã gặp nhiều sóng gió trong cuộc sống nhưng họ vẫn không rời xa nhau! Có lẽ, định mệnh đã an bài cho họ là phải như thế!

    Dưới đây là những điểm tương đồng:

    1. Trong lĩnh vực khoa bảng: Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nghê sĩ tài hoa, học cao hiểu rộng với bản tính rất ngang bướng, gan dạ, phóng túng, “thích gì làm nấy”. Họ không khuất phục trước gian nan, bất công và sẵn sàng đương đầu với khó khăn, nghiệt ngã trong cuộc sống nhưng lại đa sầu đa cảm và mềm lòng trong đường tình ái.
    • Trong lãnh vực văn chương thi phú: Hai thi nhân đi vào lĩnh vực văn học ở tuổi rất còn trẻ. Tác phẩm văn xuôi Đám Ma Tôi của Đinh Hùng viết trong năm 1943 ở tuổi 23 thì Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay của Vũ Hoàng Chương viết vào năm 1936-1939 khi ông 21 tuổi.
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nhà thơ nổi tiếng từ thời phong trào Thơ Mới thời tiền chiến. Trong khi Đinh Hùng (1920-1967) nổi tiếng với hai tập thơ Mê Hồn Ca (1954) và Đường Vào Tình Sử (1961), thì Vũ Hoàng Chương (1915-1976) với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, đó là tập thơ Hoa Đăng (1959) và 2 tập Thơ Say và Mây (sau in chung vào một tập mang tên Mây).
    • Năm 1959, Vũ Hoàng Chương đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca với tập thơ Hoa Đăng, một tập thơ được đánh giá rất cao, ông cũng là một trong 100 tác giả tên tuổi được đề cử giải Nobel Văn Chương năm 1972. Năm 1961, thi phẩm Đường vào tình sử của Đinh Hùng được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.
    • Sau khi mất hai thi nhân đều có tác phẩm xuất bản sau khi mất. Đinh Hùng với Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967, ngoài ra còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt. Về phần Vũ Hoàng Chương tập hồi ký Ta Đã Làm Chi Đời Ta doNXB Trương vĩnh Ký, Saigon năm 1970 được NXB Hội Nhà Văn tái bản năm 1993 tại TPHCM. Thi tấp Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, NXB An Tiêm, Sài Gòn (1970) in 2 lần và được Tái bản lại tại California, Mỹ sau năm 1975.
    • Trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn (1970) của họa sĩ Tạ Tỵ, người bạn văn nghệ chí thân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương gọi thơ Vũ Hoàng Chương là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc”, vì nhiều bài thơ của ông nói lên thân phận của kiếp người trên quê hương. Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau: “Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử”. Một lãng tử, có lẽ đúng bởi cái cuộc sống “Bất cần đời” của ông, chẳng tha thiết với danh vọng, hờ hững với vật chất xa hoa. 
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương đều chết trẻ. Đinh Hùng mất năm 47 tuổi và Vũ Hoàng Chương mất mất ở tuổi 61.

    THẾ GIỚI THI CA ĐINH HÙNG

    THI SĨ ĐINH HÙNG–(1920-1967)

    “Trời cuối thu rồi em ở đâu  

     Nằm bên đất lạnh chắc em sầu 

     Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy 

     Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu …”

    Chúng ta có thể nói Đinh Hùng là nhà “khảo cổ thi ca” đầu tiên đi ngược dòng lịch sử của những mảnh hồn nhân loại bị quên lãng theo thời gian. Thơ Đinh Hùng nói lên vẻ đẹp siêu thực tế, một tình yêu linh thiêng, một thế giới mới dựa trên linh thị của siêu cảm và trực giác. Thơ Đinh Hùng xóa mờ bức tường ranh giới giữa không gian và thời gian, hòa nhập con người với cõi vô thường, với những cảm xúc dữ dội và khốc liệt, tư duy và sự khuấy đảo đến kinh hoàng của hình tượng qua những vần thơ. Để hiểu rõ về người nghệ sĩ đa tài Đinh Hùng, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu xem yếu tố nào đã khiến cho ông giải bày niềm cảm xúc qua trang giấy một cách mãnh liệt như thế.  

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Đinh Hùng là nhà thơ tiền chiến, bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết. Ông sinh ngày 3 tháng 7, 1920 tại làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ ông theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, trung học tại trường Bưởi. Theo thi sĩ Vũ Hoàng Chương, sau khi thi đậu “cao đẳng tiểu học“, hạng bình thứ, Đinh Hùng được học bổng và trong khi đang theo học ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì ông bỏ ngang đi viết văn và làm thơ.

    “Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi
    Xa vở bài, mở rộng sách ham mê
    Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về
    Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn”

                                        (Khi Mới Nhớn)

    Tuy nhiên, tuổi thơ của Đinh Hùng là chuỗi ngày sầu thảm, sự mất mát liên tục của những người thân trong gia đình đã để lại nhiều vết thương trong lòng ông. Năm 1931, người chị thứ ba của ông tên Tuyết Hồng đã tự vẫn tại hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng chết khi còn rất trẻ và sau hết là cái chết của người bạn gái yểu mệnh tên Bích Liên. Đó là những biến động kinh hoàng trong cuộc đời xảy ra cho một con người.

    Dưới ngòi bút thiên phú, Đinh Hùng trở nên nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” được nhà văn Thế Lữ chọn in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh của ông, một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết kinh dị, lãng mạn, rùng rợn nhưng cũng đầy chất thơ do NXB Đời Nay in ấn năm 1941. Năm 1943, Đinh Hùng đang sống với người chị là Thục Oanh tại Hà Nội thì tập văn xuôi đầu tiên ra đời: Đám ma tôi được đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, một Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn…

     Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa

     Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết 

     Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết 

     Rộn xuân tình lên bộ ngực thanh tân…” 

                            (Kỳ nữ)

    Năm 1944, Vũ Hoàng Chương cưới Thục Oanh rồi về Nam Định, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài với sự cộng tác của Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch…Cũng trong năm ấy, Đinh Hùng tản cư theo tờ báo Cứu Quốc nhưng sau đó, ông về Thái Bình dạy học cùng người vợ mới cưới là Nguyễn Thị Thanh. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con trở lại Hà Nội, tại đây, ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô Văn Nghệ (1952) và tập thơ Mê Hồn Ca (1954).

    Tháng 8, 1954, Đinh Hùng cùng vợ con vào Sài Gòn cùng với gia dình của Vũ Hoàng Chương. Trong thời gian đầu, ông nhận viết báo, viết tiểu thuyết dài từng kỳ cho các nhật báo Sài Gòn như “Kỳ Nữ gò Ôn Khâu”, “Đao phủ thành Đại La”, v.v… và bình thơ tại Đài phát thanh Sài Gòn. Ngoài ra ông còn vẽ tranh vui và giữ luôn mục thơ trào phúng “Đàn ngang cung” với bút hiệu Thần Đăng. Sau đó ông lập ra tờ nhật báo Tự Do, cộng tác cùng với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong…Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận. Năm 1961, ông cho in tập Đường Vào Tình Sử, tác phẩm này được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.

    Phải chăng “Nhân tài thường hay chết yểu” hay bởi Đinh Hùng luôn bị ám ảnh bởi sự chết, hay là vì nhân chứng của nhiều cái chết, nên dưới ngòi bút tài hoa sẵn có, ông đã phác họa một cáo phó về cái chết của mình qua bài thơ Cung Đàn Tưởng Niệm, và được coi như là một di chúc viết cho chính bản thân ông. Ngay cả trong tác phẩm văn xuôi đầu tay của ông, ông đã chọn tựa đề rất lạ lùng: Đám Ma Tôi, được nhà xuất bản Tân Việt in năm 1943, lúc ấy ông mới có 23 tuổi. 

    …”Khi anh chết, các em về đây nhé 

    Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa 

    Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ 

    Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”

    Tháng 08 năm 1967, Đinh Hùng qua đời vì bệnh ung thư gan tại bệnh viện Bình Dân, ông được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Một điều kỳ diệu đã xảy ra là lời ước nguyện của ông khi còn sinh tiền đã biến thành hiện thực: “…Khi anh chết, các em về đây nhé… Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”. Thật vậy, bạn bè của Đinh Hùng kể lại là trong đám tang của ông người ta thấy có hai chục cô thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng đi theo linh cữu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuồng lòng huyệt, ngậm ngùi tiễn đưa người thi sĩ.

    Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967. Ngoài những tác phẩm trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.

    NHẬN ĐỊNH VỀ THẾ GIỚI THI CA CỦA ĐINH HÙNG

    Nói đến những bài thơ làm nên tên tuổi của Đinh Hùng, chúng ta không thể nào không nhắc đến tác phẩm đầu tay của thi sĩ do nhà xuất bản Tiếng Phương Ðông ấn hành tại Hà Nội năm 1954: Mê Hồn Ca. Dựa theo bài viết của Thủy Nguyệt, Mê Hồn Ca gồm 40 bài thơ ca ngợi tình yêu cuồng nhiệt của một tâm hồn lạc lõng, bơ vơ muốn tìm về một thế giới hư vô. Qua phong cách diễn tả độc đáo của tác giả, chúng ta nhận thấy trong ý thơ của ông vừa có vị nồng nàn, tha thiết, đau khổ chen lẫn mê hoặc, mà trong đó chất chứa một vũ trụ hoang sơ, rừng rú. Ở phần đầu Mê Hồn Ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác từ cô độc đến bi thiết qua những bài thơ: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên… Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác mà chúng ta tìm thấy trong thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia như trong Gửi người dưới mộ, Tìm bóng tử thần. Bài thơ Cầu hồn là điển hình cho sự ám ảnh trong ý thơ.

    Hồn ơi! Hồn tỉnh giấc thần,
    Đêm nay lạc xuống dương trần mà vui.
    Nghìn yêu ma che bước cõi Luân Hồi,
    Nhìn nghiêng mặt đất thấy trời hiển linh.
    Giữa đêm đời sẽ hồi sinh.
    Nhân gian hát khúc vong tình lên non.
    Đôi ta vào hội oan hồn,
    Âm dương tái hợp …

    Có những lúc chúng ta tự hỏi: Trong thế giới thi ca, hỏi mấy ai có thể tạo dựng một nghĩa trang huyền ảo như trong văn thơ của thi sĩ Đinh Hùng? Phải chăng cái chết và sự sống, thường bị chia cắt và giới hạn bởi không gian vật lý?  Phải chăng trong cõi tâm linh của Đinh Hùng khát vọng sự giao hòa, ao ước rằng con người có thể vượt qua mọi ranh giới để hướng đến khoảng cách vô tận ấy?   Ai có thể hiểu được vì sao Đinh Hùng đã viết lên những vần thơ đi vào cõi chết? Có phải đó là kết quả của nhiều đau thương mất mát trong gia đình liên tục xảy đến với ông, hay chính ông đã nhìn thấy sự chết cho chính mình, và ở đâu đây, lưỡi hái tử thần đang chờ đón ông?

    Mặc dù Mê Hồn Ca xuất hiện trên thi đàn giữa thời loạn ly, khi đất nước chia đôi nhưng đã lôi cuốn rất nhiều độc giả bởi hình ảnh liêu trai, bởi sự sống đầy mộng mị của trần gian và sự hoang lạnh của chốn âm cảnh, qua trí tưởng tượng phong phú đầy sáng tạo của thi sĩ Đình Hùng và trong thế giới mê hoặc, mờ ảo với những ảo giác hư thực của tiền kiếp đã trở thành một tuyệt tác dưới ngòi bút của Đinh Hùng.  

    Nàng năm mộng suốt đêm hè dưới nguyệt,
    Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao.
    Xa nấm mộ, chúng ta cuồng dại hết,
    Để yêu tà về khóc dưới non cao.
    Hồn Vệ Nữ lạc loài bên cửa huyệt,
    Xuân bi thương – ôi má thắm, môi đào!
    Bốn mùa trăng vào một hội chiêm bao,
    Trong giấc ngủ đẫm mùi hương phấn lạ.

    (Tìm bóng tử thần)

    Cái bi kịch của tình yêu, của gia đình với những ràng buộc khắt khe của tạo hóa đã đưa người nghê sĩ tài hoa Đinh Hùng lạc lõng trong xã hội loài người, bị ám ảnh bởi cái chết đã đi vào tư tưởng của ông rồi bộc lộ qua thi ca. Bài Gửi Người Dưới Mộ đã cho chúng ta một cảm nhận rờn rợn trong hồn:

    “…Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?

    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?

    Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy

    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu…“

    (Gửi người dưới mộ)

    Thơ của ông có nhiều sắc thái khác nhau, khi là sự hiện hình của một thực tại huyễn tưởng, một ngôn ngữ đầy ma mị, đầy hư ảo, khi thì bộc lộ sự cô độc, thảm thiết gần như muốn tìm vào cõi chết, thể hiện qua những bài thơ:  Mê Hồn Ca, Bài Ca Man Rợ, Những Hướng Sao Rơi. Lại có những bài thơ nghiêng về tôn giáo, tâm linh, đôi lúc ông thi vị hóa tình yêu như trong bài Kỳ Nữ, Hoa Sử, Hương Trinh Bạch. Ở một khía cạnh khác, chúng ta thấy thơ của Đinh Hùng, hình như bị ám ảnh bởi thế giới bên kia, nhập tâm tìm kiếm một ngõ ngách giao hòa cùng người thiên cổ, thể hiện qua bài: Cầu Hồn, Gửi Người Dưới Mộ, Tìm Bóng Tử Thần….

    …”Trong mộng trần duyên 

    Của người thiên cổ….”

    …”Trời ơi, đây nguyệt vô biên 

    Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ”.

                         (Tìm Bóng Tử Thần)

    Đọc bài thơ Liên Tưởng, chúng ta có cảm tưởng đây là những vần thơ mà Đinh Hùng đã viết cho một người con gái xinh đẹp yểu mệnh tên Bích Liên mà ông đã yêu say đắm trong ngây ngất. Một mối tình tinh khiết nhưng mãnh liệt, kỳ ảo nhưng huyền hoặc.  Phải chăng chính mối tình ấy đã tạo nên một ảnh hưởng sâu đậm trong tâm khảm của nhà thơ và đã đi theo ông trong suốt cuộc đời. 

    … Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.

    Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,

    Lén bước trang đài tới gặp ta

    Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn,

    Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên.

    Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng,

    Lửa hạ lên rồi … Ôi Ý Liên!”

    (Liên Tưởng – ĐVTS)

    Đinh Hùng và Bích Liên yêu nhau trong tuyệt vọng, khi Bích Liên qua đời vì bệnh lao, Đinh Hùng mới 20 tuổi, cái tuổi chập chững bước vào đời với khát vọng yêu đương, với cuồng phong bão tố của mối tình đầu. Cái chết của Bích Liên, cũng là sự mất mát rất lớn trong đời ông và đã biến con người ông trở nên như điên dại, nỗi đau đớn ấy khiến ông sáng tác một loạt thơ mới:  Thơ Chiêu Niệm, Liên Tưởng và Gửi Người Dưới Mộ đã đưa ông hướng sâu vào cõi chết, phải chăng, theo ông chết là giải thoát những khổ đau.

    Em đã về chưa?
    Em sắp về chưa?
    Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
    Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.
    Em hãy cười lên vang cõi âm.
    Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
    Những hồn phiêu bạt bao năm trước.
    Nay đã vào chung một chỗ nằm.

    Theo tác giả Đỗ Tường, khi Bích Liên chết, Đinh Hùng xin đến nhìn mặt người yêu lần cuối, đứng trước xác người yêu, ông đã làm một cử chỉ khiến tất cả mọi người phải kinh hoàng bởi ông điềm nhiên lật tấm vải liệm phù mặt cô gái ra, rồi cuối xuống hôn một cách say đắm.

    Qua xứ ma sầu, ta mất trí
    thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
    trời ơi! trời ơi! làn tử khí
    lạc lõng hương thầm đoá Bạch Liên

                                   (Cầu hồn)
    Phải chăng sự ám ảnh với những nỗi đau và cái chết khiến thơ của ông đã vượt quá giới hạn, vượt quá sự tưởng tượng của con người. Với ông cái chết là sự cuồng si, là cái đẹp, nó không chỉ đẹp trong thơ mà còn đẹp trong cả tiềm thức của người nghệ sĩ với nỗi đau và sự rung động của trái tim qua bài thơ Gửi Người Dưới Mộ.

    Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
    Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
    Em mộng về đâu?
    Em mất về đâu?
    Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu,
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa.
    Trong bài viết “Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cho rằng biểu tượng mạnh mẽ nhất của Đinh Hùng là cái chết với “mặt trời máu”, với “nấm mồ”, “tử thần”, “hồn ma” … Quả nhiên, trong hai phần “Chiêu niệm”, “Mê hồn” và cả bài trường thi “Thần tụng” cũng tràn ngập không khí của cõi chết. Nhưng cái chết trong thơ Đinh Hùng không phải sự tàn lụi và đau thương mà cái chết trong thơ Đinh Hùng rạo rực xuân tình, đầy sức sống:

    Cười lên em!
    Khóc lên em!
    Đâu trăng tình sử,

    Nép áo trần duyên?

    … Ta gởi bài thơ anh linh
    Hỏi người trong mộ có rùng mình?
    Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
    Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?”

    (Gửi người dưới mộ)

    … Hỡi hồn tuyết trinh!
    Hỡi người tuyết trinh!
    Mê em, ta thoát thân hình,
    Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.
    Em có vui thêm?

    Em có buồn thêm?
    Ngồi bên cửa mộ,

    Kể cho ta biết nỗi niềm.

    Sau khi Bích Liên mất, thi sĩ Đinh Hùng sống một cuộc sống “Lăng bạt kỳ hồ“, khi thì ông đi dạy học ở Hà Đông, khi thì gia nhập một ban nhạc tài tử ở vùng Bắc cạn, ông như người quẫn trí, ông khóc như điên dại, bỏ Hà Nội, đi Hải Dương, vượt sông Hồng Hà, ông bỏ lại tất cả và chỉ ôm ấp bên mình, bức di ảnh của Bích Liên.  

    … “Thần chết cười trong bộ ngực điên,
    Ta nghe em thở tiếng ưu phiền.
    Nỗi lòng xưa dậy tan Thanh Vắng.
    Hơi đất mê người – Trăng hiện lên.”

    …”Qua xứ ma sầu ta mất trí 

    Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền 

    Trời ơi!  Trời ơi! Làn tử khí …”

    Những cái chết trong gia đình, nhất là cái chết của Bích Liên, thi sĩ Đinh Hùng cho rằng định mệnh quá cay nghiệt với ông, ông muốn xuất trần, rút mình vào một thế giới siêu tưởng, tránh sầu bi? Phải chăng, ông đã vượt ra ngoài vòng vũ trụ, nhìn xuống dương trần với đôi mắt dửng dưng và tìm đến cái thế giới riêng cho ông, thế giới vô hình. (Thi Vũ 1993). Có thể điều này đã giải thích được phần nào những văn thơ huyền bí của ông. Trong thế giới siêu tưởng, Đinh Hùng mâu thuẫn với chính ông, khi hiền thì thật là hiền, nhưng có lúc thì trở nên dữ tợn. Trong cái thế giới tình yêu giả tưởng, lãng mạn và tình tứ ấy, thi sĩ Đinh Hùng đã tìm ra chân lý của mình.

    …“Trong im lặng, tôi rung mình nín thở,

    Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa.

    Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da,

    Tình yêu rợn tự đầu mày chân tóc…”

    (Giáp Mặt Phù Dung)

    Ngược lại, trong bài “bài Ca Man Rợ” ông rất dữ tợn:

    …”Ta về đây, lạ hết các người rồi,

    Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống.

    Trong bỡ ngỡ duy long còn chút mộng,

    Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa.

    Nàng không mong, ta đi đến không ngờ,

    Giây phút ấy thực mắt nhìn tận mắt,

    Ta mỉm cười bỗng thấy nàng che mặt

    Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa…”

    (Bài Ca Man Rợ)

    Theo tài liệu Wikipedia, hai thi phẩm nổi bật của Đinh Hùng là Đường Vào Tình Sử và Mê Hồn Ca.  Nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca như sau:  “Đây là loại thơ nói ít hiểu nhiều, thi sĩ Đinh Hùng đã sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mát. Có thể nói là thi sĩ Đinh Hùng chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire và Rimbaud“.  Thơ của Đinh Hùng nghiêng về tâm linh, siêu hình, bí ẩn và có chiều hướng thoát ly ra khỏi thực tế. 

    …”Khi miếu đường kia phá bỏ rồi 

    Ta đi về những hướng sao rơi 

    Lạc loài theo hướng chân cầm thú 

    Từng vệt dương sa mọc khắp nơi…

    … Rồi những đêm sâu bỗng hiện về 

    Vượn lâm tuyền, khóc rợn trăng khuya

    Đâu đây u uất hồn sơ cổ 

    Từng bước ma rừng theo bước đi”……

                       (Bài Ca Man Rợ)

    Tình yêu trong thơ Đinh Hùng không phải là những cảm xúc bình thường, mà là sự kết hợp của những mê dại nghiêng về tâm linh, huyền bí của thế giới kỳ diệu ái tình, một vũ trụ nhập nhòe giữa thực và ảo, chính là vũ trụ của một biển tình da diết trong thế giới âm dương.

    …“Ta thường có những buổi sầu ghê gớm 

    Ở bên em, ôi biển sắc rừng hương!

    Em rực rỡ như một ngàn hoa sớm 

    Em đến đây như đến tự thiên đường.

                           (Kỳ Nữ)

    “Kỳ Nữ” trong thơ của Đinh Hùng đã đưa chúng ta vào một không gian thần thoại với vẻ kỳ vĩ của trăng sao, của núi rừng. “Kỳ Nữ” với Đinh Hùng giống như nàng Galatae với chàng Pygmalion, nàng đại diện cho lý tưởng, cho cõi mơ, cho sự hoàn hảo mà người nghệ sĩ luôn tưởng đến.

    “Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo
    Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm
    Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm
    Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận”

    Khi bài Kỳ Nữ ra đời được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh, đã đưa tên tuổi của thi sĩ Đinh Hùng lên đỉnh cao nhất trong làng thi văn, và khẳng định rằng ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi từ đầy ma lực, điều này đã được thể hiện rõ rệt trong thi tập Mê Hồn Ca. Tuy nhiên, Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng là thế giới của say mê, hoang sơ man dại, chết chóc,  huyền bí, nhiệm mầu, của tình yêu tha thiết, mãnh liệt và kinh khủng của lứa đôi. 

    Anh sẽ tìm em, chiều nào tận thế
    Khi những sầu thương cất cánh xa bay
    Khi những giận hờn, khi những mê say
    Khi tất cả hiện nguyên hình ảo mộng:
    Giọt lệ hoa niên, cung đàn hoài vọng
    Và những hương thơm tình ái trao duyên
    Những không gian thăm thẳm mắt u huyền
    Những vạt áo bỗng trở màu sông biển

                            (Đường Vào Tình Sử)

    Ngoài những bài thơ huyền bí, thi sĩ Đinh Hùng sáng tác một số bài thơ ca ngợi tình yêu, nhưng khi đọc Kỹ, chúng ta thấy phảng phất lời văn hoang tưởng và xa vời thực tế. Nổi bật trong thể loại thơ này là bài thơ Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng với lời thơ trong sáng, ca tụng tình yêu đôi lứa, được nhạc sĩ Phạm đình Chương góp nhặt, trau chuốt, viết bằng cảm xúc xúc thành nhạc phẩm Mộng dưới hoa.

     …”Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng 

     Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng 

     Tóc xanh là bóng dừa hoang dại 

     Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    …”Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu 

    Đêm nằm nghe giấc mộng trôi mau

    Gió ơi, gởi gió lời tâm niệm 

    Và nguyện muôn chiều ta có nhau…”

    (Nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa)                                    

    Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng là hai bài thơ trong thi tập Đường vào từng sử, một tập thơ đầy nhạc tính. Trong hai bài thơ trên, Đinh Hùng muốn nói cuộc đời không phải lúc nào cũng là con đường đầy chông gai, tang thương, buồn thảm. Con đường ấy có khi cũng phủ đầy hoa gấm, mộng mị, yêu thương, dù là trong mộng tưởng.

    Nếu bước chân ngà có mỏi
    Xin em dựa sát lòng anh
    Ta đi vào tận rừng xanh
    Vớt cánh rong vàng bên suối

    (Xuôi dòng ảo mộng)

    … ‘Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,

    Nắng trong hoa, với gió bên hồ

    Dành riêng em đấy khi tình tự,

    Ta sẽ đi về những cảnh xưa…”

    (Tự Tình Dưới Hoa)

    Nhà văn Việt Haỉ viết “Mộng dưới hoa của Đinh Hùng và nhạc Phạm Đình Chương như hiểu nhau ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, những nốt nhạc ấy là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ”.  Nhà văn Việt Haỉ nhận định: “Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ”.

    …”Tóc xanh là bóng dừa hoang dại,

    Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    Trong bốn câu thơ dưới đây diễn tả một khoảnh khắc thời gian như dừng lại cho cặp tình nhân gặp nhau trong mộng.

    …”Nếu bước chân ngà có mỏi

    Xin em dựa sát long anh

    Ta đi vào tận rừ xanh

    Vớt cánh rong vàng bên suối…”

    Trong câu: Ta đưa nhau vào tận rừng xanh, vớt cánh rong vàng bên suối.

    “Cánh rong vàng” tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Hỏi ai có

    vớt được “cánh rong vàng”? hay đó chỉ là trong giấc mộng thôi.

    …“Bước khẽ cho long nói nhỏ

    Bao nhiêu mộng ước phù du

    Ta xây thành mộng nghìn thu

    Núi biếc song dài ghi nhớ.

    Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề

    Mây hồng giăng tám ngả sơn khê

    Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng

    Và mộng em cười như giấc mê…”

    Theo Võ Tấn Cường nhận định về thơ của thi si Đinh Hùng: “Đinh Hùng – một hồn thơ kỳ ảo với vũ trụ thơ thuần khiết, song hành với thực tại là hiện tượng thi ca đầy phức tạp và bí ẩn.  Số phận cuộc đời của Đinh Hùng và thi ca của ông chịu nhiều oan trái, bị chìm khuất dưới những dòng xoáy của thời cuộc cùng với những định kiến và quan niệm hẹp hòi về nghệ thuật” … Theo tôi, cái đẹp trong thơ Đinh Hùng huyền ảo, mầu nhiệm và gợn sắc màu sử thi như trong các bản trường ca Iliat và Ôđixê của  Hôme dưới thời kỳ lịch sử Hi Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ IX TCN (vì trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Hi Lạp trong giai đoạn này được phản ánh rõ nét trong 2 tập sử thi Iliát và Ôđixê, tương truyền là sáng tác của nhà thơ Hôme ở Tiểu Á. (Nguồn: https://bienniensu.com/thegioi/lich-su-hi-lap-thoi-ky-home/). Cái đẹp trong thơ Đinh Hùng mang bóng dáng và tinh thần nhân đạo của hình tượng người anh Hùng sử thi:

    …“Ta lảo đảo vùng đứng lên cười ngất

    Ghì chặt nàng cho chết giữa mê ly

    Rồi dày xéo lên song núi đô kỳ

    Bên thành quách ta ra tay tàn phá…”

                         (Bài ca man rợ)

    Dưới ánh mắt của Đinh Hùng cái đẹp là một thế giới đầy cám dỗ, huyền ảo, nhiệm màu và siêu thoát, ông tôn thờ tình yêu và xem nó như một thứ tôn giáo, ông đặt sắc đẹp lên ngôi, xem nó là một thứ quyền năng chi phối tâm linh, sự sống và sự chết, nó ảo hóa với muôn sắc thái và ma mị nên dễ gây ấn tượng rờn rợn khi ta được nghe hay đọc nó.

    …“Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác

    Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma

    Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà

    Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết

    Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết

    Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn

    Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn…”

                      (Kỳ Nữ)

    Thơ tình yêu của Đinh Hùng vượt qua nỗi khát khao dâng hiến, hướng về thế giới tâm linh huyền bí, siêu hình của tôn giáo, sự linh thiêng của cõi vô hình đã phủ lên thế giới tâm linh, hư ảo, huyễn hoặc trong thơ của ông qua vẻ đẹp lung linh, huyền bí trong thơ của Đinh Hùng:

    …“Ta hát bài kinh, thoảng dã hương

    Từng đêm chiêu niệm bắt hồn nàng

    Lời ra cửa biển tìm sao rụng

    Rỏ xuống mộ em giọt lệ thương…”                    
    Cái gì đã đưa Đinh Hùng đến với ám ảnh về cái chết, về bóng ma? Trong đời sống tôn giáo tâm linh, quan trọng nhất là đời sống sau khi chết, là đời sống thực của linh hồn. Linh hồn con người thoát khỏi thể xác và khám phá thế giới cõi âm. Điều này được ghi lại trong các thư tịch của Tây Tạng, Ai Cập, Trung Quốc và báo chí phương Tây. Trong cơn hấp hối, trong trạng thái mơ màng, con người tiếp xúc với thế giới âm, gặp gỡ những linh hồn của người lạ hoặc người quen trong quá khứ. Krishnamurti, một bậc thầy tâm linh đương đại nổi tiếng được sự kính ngưỡng của cả giới tôn giáo và giới khoa học thế kỷ 20, cũng đã thường xuyên có trải nghiệm này. Trong những biến đổi mãnh liệt nhất về tâm linh, khi ở giữa ý thức và vô ý thức, ông nhìn thấy bóng ma người mẹ quá cố của mình cùng với nhiều linh hồn của các bậc chứng ngộ khác. Ở trường hợp Đinh Hùng, nhà thơ đã trải nghiệm sự việc này khi mơ màng trong màu sương khói của mây mù thuốc phiện:
    “Từng đêm tôi nguyện tôi cầu
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa”

                       (Gửi người dưới mộ)

    Này Biển Giác: mây trời nghiêng nét mặt
    cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu

                        (Tìm bóng tử thần)
    Ta hằng nghe rõ
    tiếng buồn trong sương
    hằng thấy trên tường
    hình ma bóng nhớ
    chỗ em ngồi cũ
    lên màu khói hương
    (Màu sương linh giác)
    Và chính Đinh Hùng cũng thừa nhận đó là một trạng thái mộng mị, tức là cõi ảo dưới con mắt người thường, có điều trong cõi ảo ấy, tất cả đều rất thật, rất đắm say, tới mức muốn vứt bỏ cả xác trần:

    “đôi ta vào hội oan hồn
    âm dương tái hợp –
    ồ! đây là cuộc tân hôn dị kỳ
    nguyệt hoa mặc áo huyền vi
    màu nghê thường đó – trời ơi! xiêm y biến hình
    tôi van lơn bầy nhạc nữ đồng trinh
    đừng cao giọng hát – hồn các em lạc tinh anh bốn trời!
    đừng cho thể chất phục hồi
    đừng cho tôi khóc, tôi cười vì điên!”

                                            (“Cầu hồn”)
    Tóm lại, phân tích về thế giới thi ca cũa Đinh Hùng tùy thuộc vào cái nhìn của từng cá nhân, dù rằng nó có thể hoàn toàn khác với mọi người. Đôi lúc, người ta cho rằng nhận định của chúng ta là hoang tưởng, nhưng một khi đã bước vào cõi hư ảo, dù theo cách này hay cách khác, tức là đã từng trải nghiệm đời sống linh hồn, thì khó có thể nhìn vạn sự bằng nhãn quan của thế giới hữu hình. Theo người viết, “thơ Đinh Hùng là một thế giới mang đầy mê cung kỳ ảo” và vẫn còn trong sự huyền bí chờ đợi sự giải bày của những khối óc quan tâm đến vận mệnh thi ca của dân tộc. 

    VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    VŨ HOÀNG CHƯƠNG-(1915-1976)

    Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
    Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
    Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

    Trong một sự tình cờ, ngày 03 tháng 11 năm 2024 người viết đã gởi đến quý độc giả một hồi ký với tựa đề “Sinh Lầm Thế Kỷ”, một câu chuyện chân thực về cuộc sống ở Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm kể về một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại những ký ức đau thương về chiến tranh và nỗi khổ đau của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Tưởng cũng xin giải thích rõ là tại sao người viết lại cho đó là một sự tình cờ? Xin thưa: Lúc chọn tựa đề cho quyển hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ” người viết không hề biết thi nhân Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài thơ Phương Xa mà trong ấy cũng có câu “đầu thai lầm thế kỷ”.

    Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
    Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
    Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
    Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

    Dưới đây người viết xin lướt qua về:

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Vũ Hoàng Chương sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh–Na Sầm.

    Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, hồi cư về Hà Nội dạy văn cho đến 1975.

    Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam ở Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở các trường trung học và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1959 ông đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc” của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc tế tại Bỉ. Năm 1964 ông tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm 1965 tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire.

    Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai, lúc này tên tuổi của ông nổi bật trong phong trào Thơ Mới (1932-1945) và được gọi “Thi Bá Vũ Hoàng Chương”. Năm 1972, Vũ Hoàng Chương trong danh sách 100 tác giả được đề cử giải Nobel Văn Chương (The Nobel Prize in Literature), sự kiện này chỉ được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố ngày 11 tháng 02 năm 2023. (vì theo quy định thì sau 50 năm kể từ khi trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển mới công bố danh sách những người được đề cử Giải Nobel văn học của năm đó). Giải Nobel năm 1972 được trao cho cho nhà thơ Heinrich Böll của Đức, (Heinrich Böll đã từng được đề cử liên tục từ năm 1960 và mãi đến năm 1972 mới đoạt được giải).

    Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Theo Nhà văn Mai Thảo… Buổi sáng ngày 13 tháng 4 năm 1976 (theo lời chị Vũ Hoàng Chương thuật lại. Bốn chiếc Jeep đến từ phía Sài Gòn, chở đầy an ninh áo vàng mang súng ống, phóng thẳng tới phường Cây Bàng và ngừng lại trước con ngõ nhỏ dẫn vào căn gác của gia đình Vũ Hoàng Chương (Gác Bút). Khoảng 20 công an, nhẩy xuống xe, xô cửa ập vào đánh thức thi sĩ khỏi giấc ngủ chập chờn. Vũ Hoàng Chương gắng gượng ngồi dậy, lấy áo gấm mặc vào người, ngồi thật thẳng giữa chiếu, bất động, chờ đợi… Ông không kinh hãi, không phẫn nộ, không bất ngờ, cũng chẳng ngạc nhiên. Ông ngồi thẳng, mắt nhắm lại… Suốt thời gian này, thi sĩ không nói một lời nào khi ông nghe bản cáo trạng và lệnh bắt giữ, ông chỉ nhún vai rồi ngồi yên như cũ. Lý do bị bắt là phản động, làm thơ chống phá cách mạng phổ biến khắp Sài Gòn những bài thơ chống phá chế độ. Sau cuộc lục soát xong và tịch thu sách và bản thảo, hai công an xốc nách thi sĩ đứng lên, kèm ông xuống cầu thang và đưa thẳng ông vào khám lớn Chí Hòa…

    … Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối, không ai có tin tức của Vũ Hoàng Chương, ông được thả về khi trở bệnh nặng trong tù. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, nhưng thần trí của ông vẫn minh mẫn sáng suốt. Điều tuyệt đối là ông không nói một lời nào về bốn tháng bị giam trong Chí Hòa. Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại trong đau đớn và ngày thứ năm, ngày 17 tháng 9, 1976, thì ông mất tại Sài Gòn. Năm 1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp.

    Dưới đây là bài thơ cuối cùng của Vũ Hoàng Chương làm trong Khám Chí Hòa năm 1976:

    Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
    Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.
    Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
    Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
    Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
    Đêm về giấc ngủ lại thương con.
    Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
    Hồ dễ gì phai được tấc son!”

    Vũ Hoàng Chương có nhiều sáng tác để đời, được giới phê bình văn học đánh giá cao, và từng được xưng tụng là “Ngôi sao Bắc Ðẩu” của thi ca Việt Nam. 1975:

    Hơn bốn thập niên sau, thi ca Vũ Hoàng Chương không còn đề cập ở trong nước, một đời thơ của ông bị lãng quân, chôn vùi theo thân xác. Và ngay cả trong những tác phẩm đề cập đến những áng thơ hay trong Thi Ca Việt Nam cũng “quên” nhắc đến dòng thơ thi bá Vũ Hoàng Chương. (Vương Trùng Dương)

    NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG & THI CA

    Dựa theo tài liệu trên Internet, đã có rất nhiều bài bình luận nhận định về sự nghiệp văn chương & thi phú của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Họ cho rằng: Văn phong và phong cách của thi nhân được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc và chứa đựng sắc thái Đông phương. Vũ Hoàng Chương làm thơ rất sớm khi ông mới 25 tuổi (1940) và đã cho xuất bản rất nhiều thi tập.

    Tháng 10, 1936 ông xuất bản tập Die Achtundzwanzig Sterne, thơ dịch ra Đức ngữ, do nhà Hoffmann Und Campe, tỉnh Hamburg, Đức. Dịch giả là thi sĩ Áo Kosmas Ziegler. Trước 1945, ông có hai thi phẩm nổi tiếng vào thời tiền chiến là Thơ Say (1940) và Mây (1943). Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam đã nhận xét: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say nhưng “say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc”.

    Tập thơ đầu tay Thơ say gồm 32 bài thơ do tác giả tự xuất bản, nhà in Cộng Lực ấn loát và phát hành. Năm 1971, NXB Nguyễn Đình Vượng tái bản tập Thơ Say tại Sài Gòn, tập thơ chia làm nhiều phần như: Say, Mùa, Yêu, Cưới, Lỡ Làng, Lại Say. Bài thơ Say đi em, Phương xa, Chén rượu đôi đường, Mùa thu đã về và Quên là những bài thơ được nhiều người đọc và yêu thích nhất. Năm 1960, tại Sài Gòn Vũ Hoàng Chương tự tái bản 2 tập thơ Say gồm32 bài thơ và Mây gồm 25 bài thơ, in chung vào 1 tập mang tên Mây, Sài Gòn 1960. Người viết xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu:

    …“Say đi em! Say đi em!
     Say cho lơi lả ánh đèn,
    Cho cung bực ngả nghiêng

    Cho điên rồ xác thịt
    Rượu, rượu nữa!

    Và quên quên hết!
    Ta quá say rồi
    Sắc ngả mầu trôi…

                (Say đi em-1940)

    Và lại say nữa để mà quên.

    Đã hẹn với Em rồi, không tưởng tiếc
    Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
    Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu.

    Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
    Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
    Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.

                                    (Quên-1947)

    Năm 1948, Vũ Hoàng Chương xuất bản tập Thơ Lửa cùng với Đoàn Văn Cừ tại Thái Nguyên do cơ quan Kháng chiến Liên khu 3 đảm trách. Năm 1959, khi Vũ Hoàng Chương Tham dự Hội Nghị Thi Ca Quốc Tế, gặp gỡ nhà thơ nữ Ysabel Baes mới 15 tuổi đã có một thi tập được được Maison du Poète tại thủ đô Bruxelles xuất bản năm 1959. Bài thơ Công Chúa Mười Lăm, dài với 40 phân đoạn, mỗi đoạn 4 câu thơ thất ngôn. Toàn bài có 160 câu. Bài thơ “Công Chúa Mười Lăm” của Vũ Hoàng Chương tặng YSA không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là một hành trình vươn tới cái đẹp vĩnh hằng, là hình ảnh của một tình yêu và nghệ thuật. Tình yêu ấy là hành trình, là những cảm xúc, những giấc mơ và những hy vọng. Mối quan hệ giữa người thi sĩ và Công Chúa Mười Lăm là sự giao thoa giữa hai thế giới: thế giới của “thơ” và thế giới của “mộng”.

    Công Chúa Mười Lăm, nàng ở đâu?
    Tìm nàng, thôi đã nát Âu châu
    Ba Lê, Nhã Điển hay La Mã
    Đâu cũng rêu in lệnh Miễn Chầu…

    …Đê mê nhịp thở phút huyền ngưng
    Đôi lứa chìm sâu đáy Tượng trưng
    Ta nhủ: “Kìa em! Thơ mở lối
    Còn sâu hơn cả trái tim Rừng!”…

    Trong thời gian từ năm 1962 trở đi, Vũ Hoàng Chương đã cho xuất bản nhiều thi tập và tùy bút tại Sài Gòn gồm: Rừng Phong. 1970: Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, Tân Thi, Loạn Trung Bút, Ngồi Quán, Tâm sự phố phường, Tuổi Xanh, Ba Kiếp Lang Thang,Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai, Lửa Thiêng (Phần I: Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay 1936-1939), Ánh Trăng Đạo, Tập Bút Nở Hoa Đàm, Nhị Thập Bát Tú I & Tập II, Cành Mai Trắng Mộng. Đáng kể nhất là năm 1962, tập thơ Trời Một Phương trong đó có bài thơ Lửa Từ Bi ca ngợi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào tháng 07, do nhóm Thanh Tăng xuất bản vào tháng 12, 1962. Bài thơ Lửa Từ Bi Kính dâng lên BỒ-TÁT QUẢNG-ĐỨC đã được Hà Lan Phương và Nguyễn Hải phổ nhạc.

    Lửa! Lửa cháy ngất Toà Sen!
    Tám chín phương nhục thể trần tâm
    hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.
    Hai Vầng Sáng rưng rưng
    Đông Tây nhoà lệ ngọc
    Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,
    Ánh Đạo Vàng phơi phới
     đang bừng lên, dâng lên…

    1974: Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, NXB Rừng Trúc, Paris; Theo ông Hoàng Tấn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau” tặng nghệ nhân Quách Thị Hồ, người hát ca trù hay nhất Việtnam (danh hiệu NSND), xưa từng là bạn cố tri của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Hát ca trù cần có “đàn đáy”, do đó nội dung bài thơ sau đây đầy ắp những từ hát cô đầu, âm thanh vang tiếng “sênh, đàn, phách”.

    … Chúng ta mất hết cả rồi sao?

    Cả đến âm thanh một thuở nào!

    Da trống tơ đàn ôi trúc phách

    Đều khổ như khúc hát gầy hao

    Đàn mang tiếng đáy mà không đáy

    Mất hết rồi sao sợi nhớ thương

    Tay phách từ lâu nay lạc phách

    Không còn đựng mãi bến Tầm Dương…

    Bài Vịnh Tranh Gà Lợn của nhà thơ Vũ Hoàng Chương mà tác giả đã viết vào mùa xuân Bính Thìn (1976), cái tết cuối cùng của một đời thi bá.

    Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,

    Gà lợn, om sòm rối bức tranh.

    Rằng vách có tai, thơ có hoạ,

    Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.

    Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,

    Lòng lợn âm dương một tấc thành.

    Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,

    Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.

    Ngoài ra Vũ Hoàng Chương còn có một số tác phẩm được dịch qua Anh ngữ và Pháp ngữ như tập thơ Cảm Thông (nhan đề Anh ngữ là Communion); gồm 6 bài thơ mới sáng tác sau cuộc Âu du và 9 bài cũ lựa chọn lấy tính cách tiêu biểu; do Nguyễn Khang phiên dịch và xuất bản. Tập thơ Tâm Tình Người Đẹp (nhan đề Pháp ngữ là Les 28 Etoiles); gồm 42 bài thơ Nhị thập bát cú, kèm theo bản dịch của nữ thi sĩ Bỉ Simone Kuhnen de La Coeuillerie; Nguyễn Khang. Năm 1963, xuất bản tập Thi Tuyển (nhan đề Pháp ngữ là Poemes Choisis) kèm theo bản dịch của Simone Kuhnen de la Coeuillerie: do nhà xuất bản Nguyễn Khang vào tháng 03, 1963. Vũ Hoàng Chương đã dịch nhiều thơ chữ Hán từ nhiều tác gia Việt Nam và Trung quốc, khoảng 100 bài.

    Dưới đây là những bài thơ Vũ Hoàng Chương viết trong tập thơ Hoa đăng. Bài thơ Trả ta sông núi cho chúng ta cảm nhận tấm lòng yêu nước của con người dân Việt. Những bài thơ trong tập thơ Hoa Đăng rất dài nên người viết chỉ xin trích vài đoạn trong một số bài thơ của ông mà thôi.


    …Trả ta sông núi từng trang sử
    Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
    Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
    Không đòi, ai trả núi sông ta…


    …Trả ta sông núi! câu hùng tráng
    Là súng là gươm giữ đất đai

    Trông lên cao ngất phương trời
    Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.

    Bài thơ Đời Vắng Em Rồi của Vũ Hoàng Chương sau được đổi thành Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai. Tên này sau cũng được ông dùng đặt cho một tập thơ khác.

    Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu,
    Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu.
    Thôi rồi, tay nắm tay lần cuối,
    Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau.

    Gặp gỡ chừng như truyện Liểu Trai.
    Ra đi chẳng hứa một ngày mai.
    Em ơi! lửa tắt, bình khô rượu,
    Đời vắng em rồi, say với ai?
                                                 

    Yêu Mà Chẳng Biết là một trong những bài thơ mang tính thơ lãng mạng.

    Lâu rồi không nhớ bao nhiêu năm,
    Từ độ trông nhau hết lạ lùng,
    Từ hôm bên nhau thôi ngượng ngùng,
    Từ buổi xa nhau mà nhớ nhung.
    Em đã nao lòng, anh mê man!
    Đuôi mắt đầu môi tình chứa chan,
    Đêm thường mơ đêm, ngày đợi ngày.
    Nhưng không hề nói cho nhau hay.

    Bài thơ Giận Hờn là những cay đắng nhưng là bài thơ đặc biệt cho ta cảm giác nhẹ nhàng Của những điệp khúc tình yêu.

    Em đến hôm nào như hoa bay.

    Tình không độc dược mà đắng cay

    Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt

    Mùi hương sát nhân từng ngón tay

    Hay trong bài thơ Hờn Dỗi:

    … Anh vẫn nghe tiếng khóc

    Trong vạt áo len hồng.

    Anh vẫn nghe tiếng nấc.

    Dồn dập trên cgối nhung

    Sao em khóc vì đâu hờn dỗi

    Em buồn có phải lỗi anh không

    Hỏi em em chẳng nói

    Mặc anh xô cửa phòng…

    Một bài thơ Tình si.

    Vì ai làm một bài thơ
    Từ bao giờ đến bây giờ mới xong.

    Đầu trang vằng vặc gương trong
    Nhạc lơi cánh bướm hương phong nụ đào
    Cuối trang vần điệu xôn xao
    Lửa si mê bỗng cháy vào làn môi…
    Đền nhau một chiếc hôn rồi
    Mười lăm năm biết có nguôi giận hờn?…

    Cuối năm 1949, khi hai gia đình đang ở vùng Đống Năm, Thái Bình. Quân Pháp tràn tới, Việt Minh rút chạy. Hai gia đình Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng cũng chạy từ làng nọ tới làng kia. Cuối tháng 8 năm 1954, gia đình Vũ Hoàng Chương và gia đình thi sĩ Đinh Hùng di cư vào miền Nam, hai người thuê một căn nhà lợp tôn, vách ván tại xóm Hòa Hưng. Vũ Hoàng Chương cùng vợ ở trên gác, dưới nhà là tổ ấm của gia đình Đinh Hùng. Đất khách quê người, hai thi nhân sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo túng, họ tạm gác bút. Chán nản, họ vướng vào con đường nghiện hút (thuốc phiện). Lý tưởng tàn lụi, Vũ Hoàng Chương đã gởi niềm tâm sự vào trang giấy: Bài thơ Lý Tưởng.

    …Chàng họa sĩ hôm nay vừa ném bút.

    Bởi vì mơ và thực chẳng đi đôi.

    Nét hư Huyền thấp thoáng ở hồn thôi.

    Tài non kém chẳng đem vào lụa được…

    …Nhạc sĩ với thi nhân đều thế cả

    Dứt hết dây vò nát mấy mươi trang

    Xấu xa trong vần điệu ý huy hoàng

    Sai lạc nữa lúc phổ vào cung bậc…

    …Hồn nghệ sĩ vốn từ xưa nông nổi.

    Yêu thiết tha nhưng chẳng chịu thầm yêu.

    Kiếm hoài công bày giải ý cao siêu.

    Bằng gỗ lụa trơ trơ bằng thép rắn…

    NHẬN ĐỊNH VỀ LÃNH VỰC KỊCH NGHỆ

    Vũ Hoàng Chương đã xuất bản nhiều tập kịch thơ, 3 vở đầu tiên là Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp trong năm 1944, NXB Anh Hoa, Hà Nội. Tại Sài Gòn năm 1960, NXB Nguyễn Đình Vượng lại cho tái bản ba kịch bản này. Kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần, NXB Lửa Thiêng tại Sài Gòn cho ấn hành lần đầu năm 1951 và tái xuất bản năm 1961 ngay sau Cách mạng tháng 8. Năm 1946, Vũ Hoàng Chương tản cư về vùng duyên hải Nam Định (Khu Ba) nhưng đến năm 1950, ông cư về Hà nội để chuẩn bị cho diễn vở kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần năm 1951. Năm 1952, trinh diễn vở kịch thơ Thằng Cuội và năm 1953 ông cho đăng báo kịch thơ Cô Gái Ma.

    Tác phẩm Vân muội: Theo tác giả Phương Nghi, Vũ Hoàng Chương khi còn đang dạy học tại Hải Phòng và vào dịp rằm tháng bảy, ông cùng nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm, Lê Trọng Quỹ và Thế Lữ cùng đi nghe hát quan họ ở Kinh Bắc. Vũ Hoàng Chương đã từng làm xếp ga Bắc Ninh và có người yêu tên là Vân ở làng Dương Ổ. Vân chính là nàng thơ để Vũ Hoàng Chương viết kịch thơ “Vân muội” và ra tập thơ “Mây” năm 1943. Năm 1942, Vũ Hoàng Chương định lên thăm “nàng thơ”, nhưng khi đến ga Đầu Cầu thì gặp Tô Hoài và Nguyễn Bính và họ rủ nhau cùng đi lên Bắc Giang ghé thăm nhà thơ Bàng Bá Lân. Ba ông dự định khi gặp Bàng Bá Lân, họ sẽ rủ nhau di xem hát ả đào. Nhưng Bàng Bá Lân vốn tính tình hiền lành hiền việc đi xem hát ả dào đành phải bỏ và họ quyết định cùng nhau họa thơ.

    Duyên nợ không thành, Vũ Hoàng Chương phải chia tay “nàng thơ” xứ Quan Họ bởi vì nàng đã được gia đình gả chồng từ năm 12 tuổi. Kịch thơ “Vân muội” và tập thơ “Mây” ra đời là kết quả của cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa Huy Cận và Vũ Hoàng Chương ở Hàng Lược. Vừa gặp nhau, Huy Cận đã ngẫu hứng đọc hai câu lục bát: 

    “Đã lên gặp lại chàng sa.

    Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần”.

    Nghe xong, Vũ Hoàng Chương đối lại:

    “Mây kia chẳng chịu xuống trần.

    Lửa ơi! Theo khói lên gần với mây”. 

    KẾT LUẬN:

    Trong thế giới thi ca đã có những bài thơ nổi tiếng đã thu hút nhiền độc giả yêu thơ với những áng thơ nhẹ nhàng và tinh khiết như của Hồ dzếnh, Quang Dũng; những vần thơ tình tứ, lãng mạn như của Xuân Diệu, Nguyễn Bính; hay những lời thơ triết lý cao siêu của Cao Tiêu, Tô Đông Pha; cũng như những ý thơ nặng chất tuyệt vọng, cay đắng, khổ đau của TTKH, Hàn Mạc Tử… Nhưng chúng ta phải công nhận rằng, đọc thơ của Thi Nhân Đinh Hùng, chúng ta như bị lôi cuốn vào những vần thơ huyền bí của ông, những vần thơ khi thi biểu hiện lời êm ái, mộng mị, yêu thương lúc lại chen lẫn những vẻ liêu trai, ma quái và kinh dị. Và khi thưởng thức dòng thơ của Vũ Hoàng Chương chúng ta cảm nhận được hương vị đắng cay, bất mãn chen lẫn sự khinh miệt, chán chường của một nhân tài sống trong xã hội bất công.

    Đinh hùng không chỉ là nhà thơ lớn của dân tộc mà còn là một nghệ sĩ đa tài đích thực trên cả lĩnh vực âm nhạc và hội họa. 47 năm của cuộc đời trên 20 tác phẩm với nhiều thể loại từ thơ ca văn xuôi tiểu thuyết ký và phê bình văn học. Đám ma tôi là thi tập đầu của ông và thi tập cuối là Tiếng ca bộ lạc, nhưng hai thi tập Mê hồn Ca và Đường vào tỉnh sử mới thực sự làm nên tên tuổi của người nghệ sĩ tài năng Đinh Hùng. Cho đến nay thơ của Đinh Hùng vẫn còn trong vòng bí ẩn như con người của ông, một con người gặp quá nhiều oan trái và hình như cái Định mệnh khất khe, nghiệt ngã luôn buộc chặt vào cuộc đời của ông.

    Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, ông có nhiều tập thơ nổi tiếng và được yêu thích, trong đó phải kể đến tập thơ Hoa Đăng do Văn Hữu Á Châu xuất bản tại Sài Gòn năm 1959. Đây là một tập thơ được đánh giá cao và đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca. Hai tập Thơ Say và Mây in chung vào một tập mang tên Mây là những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của ông. Tiếc thay, thời cuộc đảo điên, nhà thay chủ đã đưa người nghệ sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đi vào con đường tuyệt vọng. (Tạp Chí Văn Nghệ.)

    Sau bao năm vắng bóng trên thi đàn thơ nhạc của dân tộc Việt, nhưng dư âm và danh tiếng của hai thi nhân Đinh Hùng & Vũ Hoàng chương vẫn sống mãi trong lòng độc giả yêu thơ.

    Khánh Lan, tháng 4, 2025

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Tạp chí Văn Học, Sài Gòn, số 97, 1969.
    • Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 150, 3/1970.
    • Lê Huy Oanh, Giai Phẩm Văn, Sài Gòn, 20/8/1974.
    • Phan Xuân Sanh. Tạp chí Đại Học, số 9, 1959, Huế.
    • Đoàn Thêm, Báo Văn Hóa Nguyệt san, Sài Gòn, 1964. 
    • Tạ Tỵ, Mười gương mặt văn nghệ, nxb Kim Lai, 1970 Sài Gòn.
    • Bàng Bá Lân : Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại, 1962, Sài Gòn.
    • Mai Thảo, Chân dung 15 nhà văn nhà thơ, Văn Khoa, 1985 California.
    • Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Thơ, nxb Văn nghệ, 1999 California.
    • Đỗ lai Thúy, Con Mắt thơ, nxb Lao Động, 1992, Hà Nội.
    • Chế lan Viên, Phê bình văn học, nxb Văn Học, 1962, Hà Nội.
    • Đặng Tiến, Từ điển văn học, tạp chí Thế Kỷ 21, 6/2005, California
  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    UYÊN ƯƠNG GÃY CÁNH (The Broken Wings)

    Khánh Lan sưu tập

    Kahlil Gibran là tác giả của tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh hay The Broken Wings, ông là thi sĩ có số lượng độc giả đông nhất trong thế kỷ 20, những tác phẩm của ông bán chạy và xếp hàng thứ ba trong mọi thời đại, sau Shakespeare và Lão Tử. Ký họa và tranh màu của ông được triển lãm ở nhiều nơi trên thế giới. Về mặt triết học, ông được xem như một triết gia đại chúng và là điểm hội tụ của tư tưởng Đông-Tây.

    Tác phẩm của Gibran là những nguồn tư tưởng của Kitô giáo nhuốm màu sắc đông phương bí nhiệm bởi ông là con người tôn giáo kiên định với lòng mộ đạo sâu xa, ông kính ngưỡng Đức Giêsu như một tấm gương dũng cảm và hy sinh, nhân ái và lạc quan. Ông tin rằng lòng tử tế trong con người là chiếc bóng của Thượng đế, ông tin vào sự hiệp nhất của các tôn giáo. Ông kêu gọi xóa bỏ bản tính ngược đãi và lạm dụng tôn giáo thể hiện rõ trong cuốn Đám rước, ông viế :

    “Đối với con người, tôn giáo giống như cánh đồng,

    được gieo trồng với hy vọng, được canh tác bởi lòng ngoan đạo,

    được chăm sóc bởi trí óc mông muội sợ lửa hỏa ngục.”

    Do đó, ta có thể cho rằng : Văn chương của Gibran viết theo thể điệu và kiểu mẫu Kinh thánh, đặc biệt giống như sách của các ngôn sứ và Thánh vịnh trộn lẫn giữa thơ và văn xuôi. Trong các tác phẩm của Gibran, ông kịch liệt lên án những thảm họa của đất nước, những dịch bệnh khô kiệt tinh thần và gieo khốn khó vật chất trên quê hương của ông, ông hăm dọa toàn thể loài người đã gây nên tội ác. Một thứ kiến thức pha trộn cái đẹp và lòng mộ đạo mà về sau ông được biết tới như là trường phái Gibran (Gibranism).

    TÓM LƯỢC CÂU CHUYỆN UYÊN ƯƠNG GẪY CÁNH

    Trong tiểu thuyết thơUyên Ương Gẫy Cánh (The Broken Wings), Kahlil Gibran đưa độc giả vào hành trình qua tình yêu, sự mất mát và sự thức tỉnh tâm linh. Lấy bối cảnh ở Lebanon vào đầu thế kỷ 20, câu chuyện vượt thời gian này khám phá sự phức tạp của các mối quan hệ giữa con người và hành trình tìm kiếm sự viên mãn đích thực. Đây là một câu chuyện tình bi thảm kể về cuộc đời của một họa sĩ trẻ tên là Khalil. Tiểu thuyết lấy bối cảnh ở Beirut, Lebanon, vào đầu những năm 1900 khi đất nước này nằm dưới sự cai trị của Ottoman. Khalil đem lòng yêu một cô gái trẻ tên là Selma Karamy, người có vẻ đẹp quyến rũ anh ngay từ cái nhìn đầu tiên. Khalil và Selma đã phải vượt qua những thách thức của tình yêu, bị cấm đoán, bị ràng buộc bởi kỳ vọng của xã hội và nghĩa vụ gia đình. Dù bất chấp mọi khó khăn, họ vẫn cố gắng giữ cho tình yêu của mình luôn tươi đẹp, nhưng số phận đã an bài cho họ một hoàn cảnh của “đôi uyên ương gẫy cánh”.

    Trong đó tình yêu và sự hy sinh mà con người thực hiện vì tình yêu đã thể hiệm qua mối tình yêu đích thực của Khalil và Selma, họ đã trải qua bao thử thách bởi các chuẩn mực xã hội, kỳ vọng của gia đình và sự khác biệt về tôn giáo. Cả hai đều phải đối mặt với những quyết định khó khăn và phải lựa chọn giữa tình yêu và nghĩa vụ của mình. Cuốn tiểu thuyết cũng đi sâu vào chủ đề tự do và áp bức, đặc biệt là trong bối cảnh Lebanon dưới sự cai trị của Ottoman. Trong tác phẩm The Broken Wings, cái mong muốn tự do cá nhân và nghệ thuật của Khalil bị xung đột với những ràng buộc do xã hội và sự áp đạt của gia đình Khalil. Tâm linh và sự thức tỉnh của Khalil trong “The Broken Wings” không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là sự thức tỉnh về mặt tâm linh. Qua những đấu tranh và đau khổ, Khalil bắt đầu đặt câu hỏi về bản chất của tình yêu, ý nghĩa của cuộc sống và sự tồn tại của một thế lực cao hơn.

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Ước, người đã dịch cuốn Uyên Ương Gãy Cánh chia sẻ: Với những trang sách chan chứa tình người, tràn ngập hình ảnh thơ mộng, sóng sánh chất thơ và bát ngát hương vị cảm xúc, Uyên ương gãy cánh mang tình yêu xuống chiều sâu thẳm tận đáy hồn người với những lý luận ngọt ngào của trái tim, và nâng tình yêu lên độ cao nhất, bất diệt với thực tại siêu việt. Từ đó, người đang yêu đọc nó và mỗi sớm mai “Được thức dậy lúc rạng đông với con tim chắp cánh, đưa lời cảm tạ vì có thêm một ngày yêu thương nữa.”

    Uyên Ương Gãy Cánh được xếp vào loại sách Triết lý – Tư tưởng, thuộc dự án Tủ sách Đời người của Omega Plus. Đặc biệt là phiên bản này có bút tích đề tặng viết tay kèm chữ ký của Gibran bằng tiếng Ả Rập, một bản in đầu tiên bằng tiếng Ả Rập năm 1912, sử dụng bộ tranh của chính Gibran.

    KAHLIL GIBRAN–(1883-1931)

    CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM

    Kahlil Gibran là một tiểu thuyết gia, họa sĩ, thi sĩ tâm linh với cung giọng ngôn sứ và triết gia theo chủ nghĩa hiện sinh hữu thần. Ông sinh ngày 06 tháng 01, năm 1883 tại làng Bsharri, thuộc vùng núi Miền Bắc Lebanon. Vào thời ấy, xứ sở ấy Lebanon là một phần của Syria, chịu sự đô hộ khắc nghiệt của Đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ. Nằm sát phía bắc vùng hoạt động chính của Đức Giêsu là Ga-li-lê.

    Duyệt qua lịch sử gia đình của Gibran đã giải thích cho chúng ta hiểu về bản chất và con người của ông. Thân mẫu Gibran, bà Kamila Rameh, là con của một linh mục thuộc Giáo hội Maronite. Đây là một hội thánh Kitô giáo Đông phương chiếm đa số dân chúng tại Li-băng (Lebanon). Phát nguyên từ Syria vào thế kỷ thứ bảy và tuyên bố có nguồn gốc từ Thánh Maron (qua đời năm 407). Giáo hội Maronite lưu giữ truyền thuyết và nghi lễ cổ đại, sử dụng tiếng Aram trong phụng vụ. Sau những biệt đãi của các đoàn quân Thập tự chinh, Giáo hội Maronite hiệp nhất với Giáo hội Công giáo La Mã kể từ năm 1182 nhưng được quyền tự bổ nhiệm hàng giáo phẩm. Vì nghèo và trường học ở xa, việc học của Gibran chỉ dựa vào những chuyến viếng thăm đều đặn của các linh mục. Họ dạy ông về tôn giáo, tiếng Aram là ngôn ngữ Đức Giêsu sử dụng và thịnh hành trong thời Tân ước, tiếng A Rập, tiếng Syria và mở mắt cho Gibran về lịch sử và khoa học. Chính vì vậy mà ông đã bị ảnh hưởng rất nhiều về sự giáo dục của giáo hội Maronite.

    Ngày 25 tháng Sáu năm 1895, năm mẹ con Gibran cập bến Hoa Kỳ. Họ định cư tại nam thành phố Boston trong một khu vực có cộng đồng người Syria và Li-băng đông vào hàng thứ hai sau New York. Vài tháng sau khi tới Mỹ, Gibran được tới trường, theo học lớp Anh ngữ dành cho trẻ em di dân. Nhờ tham gia sinh hoạt chung, khả năng vẽ và các bức ký họa của Gibran lọt vào mắt một tác viên xã hội tại trung tâm cộng đồng của khu phố, Gibran được giới thiệu cho Fred Holland Day, một họa sĩ và nhiếp ảnh gia cấp tiến của Boston. Fred Holland Day dùng Gibran làm người mẫu và bắt đầu hướng dẫn cậu về hội họa, văn học. Tại cơ sở của Fred Holland Day, Gibran cũng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng, ông được học nghệ thuật và bắt đầu sự nghiệp văn chương.

    Năm 1898, Gibran trở lại Li-băng để theo học đọc và viết tiếng Ả Rập và hoàn tất chương trình căn bản giáo dục A Rập bốn năm tại Minh triết Học đường (College of Al-Hikmah) của Giáo hội Maronite. Năm 1902 Gibran trở về Hoa Kỳ nhưng cô em gái Sultana đã qua đời bốn tuần trước đó. Qua năm sau, tới lượt mẹ và người anh Peter của ông cũng lần lượt qua đời vì cả ba đều không thoát khỏi bệnh lao phổi, đó cũng là căn bệnh đeo đuổi Gibran lúc cuối đời.

    Thiên hướng nghệ thuật dẫn dắt Gibran vào cuộc sống văn hóa của Boston, tỏ cho ông thấy thế giới phong phú của kịch trường, nhà hát và các cuộc triển lãm nghệ thuật. Năm 1904, vào ngày cuối cuộc triển lãm tranh lần thứ nhất của mình, Gibran gặp Mary Elizabeth Haskell, hiệu trưởng một trường nữ cấp tiến tại Boston và trở thành người bảo trợ mọi mặt cho Gibran trong suốt hai mươi năm về sau và là người duyệt các bản thảo tiếng Anh cho ông.

    Hai năm ở Paris, Gibran học tập hội họa tại Viện Julien (Académie Julien) và Trường Mỹ thuật Paris (Ecole des Beaux Arts de Paris). Tại Paris, ông được sự chỉ bảo của nhà điêu khắc thiên tài Pháp Auguste Rodin (1840-1917. Năm 1911 Gibran về lại Boston, tới năm sau ông dọn New York và dành trọn thì giờ cho việc vẽ và viết. Từ năm 1903, Gibran bắt đầu viết các tiểu phẩm đầu tiên bằng tiếng A Rập trong đó có cuốn sách mỏng về âm nhạc Nubthah fi Fan Al-Musiqa (1905) và tập truyện ngắn Linh hồn nổi loạn (1908). Từ năm 1918 trở đi, hầu hết sách xuất bản của ông đều viết bằng tiếng An, chúng góp phần vào nỗ lực cách mạng hóa ngôn ngữ thi ca và làm ông trở thành một khuôn mặt nổi tiếng thế giới.

    Năm 1920, Gibran là Chủ tịch sáng lập Văn đoàn Arrabitah, một hội văn bút tại New York gồm khoảng 12 thành viên trong đó có các văn thi sĩ A Rập như Mikhail Naimy (1889-1988), Iliya Abu Madi (1889-1957), Naseeb Arida (1887-1946), Nada Haddad (1881-1950) và Ilyas Abu Sabaka (1903-47), v.v. Họ dần dà nổi tiếng khắp thế giới Ả Rập vì các nỗ lực cách tân văn chương bảo thủ Ả Rập. Diễn đàn chính của văn đoàn này là tạp chí Al-Mahajar (Người di dân), tờ báo đầu tiên bằng tiếng Ả Rập tại New York. Những sáng tác phẩm và bài phê bình văn học của họ trên tạp chí này và các tạp chí khác tại Trung Đông đã dọn đường cho một tự do mới trong diễn đạt thi ca.

    Lúc Gibran còn sống, tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn hai chục ngôn ngữ. Tại Hoa Kỳ, sách của Gibran bắt đầu tạo ảnh hưởng đặc biệt lên văn hóa đại chúng ở Bắc Mỹ kể từ thập niên 1960. Ký họa và tranh màu của Gibran, vốn được Auguste Rodin so sánh với thi sĩ và họa sĩ thần bí người Anh William Blake (1757-1827), được triển lãm khắp thế giới. Trong tác phẩm văn học của Gibran thường đề cập tới tinh thần siêu việt, nhưng chủ đề chính trong họa phẩm của ông là những hình người khỏa thân, có khuynh hướng quấn quít nhau. Là người sáng tác dồi dào thơ văn, Gibran tự tay minh họa tác phẩm bằng ký họa biểu thị cho niềm hứng khởi sâu xa của tâm hồn, tâm trí và tâm linh con người, đầy tinh thần nhân văn và tôn giáo.

    Haskell cũng tặng bộ sưu tập cá nhân hơn 100 bức họa của Gibran cho Nhà Bảo tàng Nghệ thuật Telfair tại Georgia. Đó là bộ sưu tập lớn nhất của ông tại Hoa Kỳ, gồm tranh sơn dầu, màu nước, ký họa và các bản thảo viết tay. Các bài thơ và văn của Gibran, bằng tiếng Ả Rập và tiếng Anh, được nhiều học giả hợp tuyển thành hàng chục cuốn sách có nhan đề khác nhau về tình yêu, tôn giáo, tư tưởng, tâm linh ngôn sứ, v.v. Số sách viết về tiểu sử và tư tưởng của Gibran cũng lên tới hàng chục cuốn.

    Công trạng của Kahlil Gibran được ghi nhận ở nhiều nơi.

    • Năm 1971, Bộ trưởng Bưu điện và Viễn thông Li-băng cho phát hành con tem mang hình Kahlil Gibran.
    • Nhà Bảo tàng Gibran được dựng lên ở Bsharri, Li-băng.
    • Vườn Kahlil Gibran được khánh thành tại Beirut, Li-băng.
    • Ngày 27 tháng Chín năm 2008, nhân dịp 125 năm ngày sinh của Kahlil Gibran, tai Quebec Canada, mở con đường mang tên Kahlil Gibran
    • Khu Trượt băng An dưỡng Bách hương (The Cedars Resort Ski) ở Li-băng mở đường trượt băng Gibran Khalil Gibran.
    • Năm 1990, Vườn Tưởng niệm Gibran được khánh thành ở Thủ đô Washington, Hoa Kỳ.
    • Tháng Chín năm 2007, tại Brooklyn, New York, khánh thành Quốc tế Học đường Kahlil Gibran (Khalil Gibran International Academy).
    • Kahlil Gibran được vinh danh ở Bucharest, Romania.
    • Một tượng đài Kahlil Gibran được dựng lên bằng đá cẩm thạch tại Cuntiba, Brazil.

    Tại Việt Nam, tác phẩm của Kahlil Gibran được dịch rải rác tứ thập niên 1970 tới nay với các dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu, Đỗ Đình Đồng, Trần Văn Điền, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Yến Anh, Trùng Dương, Giả Nghiệm, Trần Văn Phương, Châu Diên, Đỗ Tư Nghĩa, Đăng Quang, v.v. và được độc giả trung niên cũng như thanh niên thuộc nhiều tôn giáo khác nhau đón nhận nồng nhiệt. Bộ sách Kalil Gibran gồm 25 cuốn, một số do Gibran viết bằng tiếng Anh, một số do các dịch giả chuyển ngữ từ tiếng A Rập sang tiếng Anh, tiếng việt. Ngoài ra, cuốn Thơ xuôi (Prose Poems) do Andrew Ghareed dịch với sự hợp tác và Lời nói đầu của Barbara Young được xuất bản sau khi Gibran qua đời. Vì khi còn sống, Kahlil Gibran tỏ ra không thích các bản dịch ấy. Bản chuyển ngữ của Anthony R. Ferris được dịch ra Việt ngữ với nhan đề gốc trong tiếng Anh có nghĩa là Các nữ thần thung lũng. Riêng cuốn Gãy cánh uyên ương (The Broken Wings), của dịch giả Nguyễn Ngọc Minh (Nxb Nguồn Sáng, Sàigòn, 1970). (Nguyễn Ước)

    Kahlil Gibran và những tác phẩm nổi tiếng như Ngôn sứ, Uyên ương gãy cánh, Tâm linh toàn mãn, Nhã ca tình yêu, Mật khải, v.v…Trong bài này, người viết chỉ xin đề cập đến hai tác phẩm: Ngôn Sứ (The Prophet) và Uyên ương gãy cánh (The Broken Wings).

    The Broken Wings : (Uyên ương gãy cánh) trong Tủ sách Triết lý – Tư tưởng, thuộc dự án Tủ sách Đời người. Phiên bản này có bút tích đề tặng viết tay kèm chữ ký của Gibran bằng tiếng Ả Rập, sử dụng theo bản in đầu tiên bằng tiếng Ả Rập năm 1912. Sử dụng bộ tranh của chính Gibran. Theo tác giả Nguyễn Ước thì tác phẩm Ngôn sứ (The Prophet) là tác phẩm nổi tiếng nhất của Gibran. Cuốn ấy về phong cách, chịu ảnh hưởng của cuốn Thus Sparke Zarathustra (Zarathustra đã nói như thế) của Nietzsche. Nhưng đối cực với Zarathustra, Almustafa của Gibran là một nhân vật tôn giáo, tin vào con người và Thượng đế đồng thời lạc quan trong cuộc sống và tương lai của nhân loại. Ngôn sứ gồm 26 bài thơ xuôi, phát biểu về các vấn đề nhân sinh nhưng với tâm tình của một thi sĩ triết gia hiện sinh hữu thần. Cuốn Ngôn Sứ được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ và bán được trên 100 triệu ấn bản. Từ thập niên 1960. Cuốn Ngôn sứ được xem như một loại kinh thánh hay sách thủ bản cho phong trào phản văn hoá (counter-cultural movement) của giới trẻ Hoa Kỳ và trào lưu Thời đại mới (The New Age). Thậm chí có giáo sĩ Kitô giáo dùng nó trong thánh lễ hôn phối. Cuốn sách này bán chạy và được ưa chuộng vào những năm 1930 và đặc biệt là trong trào lưu phản văn hóa những năm 1960.

    Gibran qua tác phẩm The Broken Wings để nhớ tới những người dân đang sống trong tinh thần và túng thiếu vật chất, cũng như phê phán quyết liệt lòng tham và sức mạnh thế tục của một số chức sắc tôn giáo, một tệ trạng kéo dài hàng trăm năm tại Liban. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ước, người đã dịch cuốn Uyên ương gãy cánh cho rằng đó là “những trang sách chan chứa tình người, tràn ngập hình ảnh thơ mộng, sóng sánh chất thơ và bát ngát hương vị cảm xúc, Uyên ương gãy cánh mang tình yêu xuống chiều sâu thẳm tận đáy hồn người với những lý luận ngọt ngào của trái tim, và nâng tình yêu lên độ cao nhất, bất diệt với thực tại siêu việt.”

    Cũng theo dịch giả Nguyễn Ngọc Minh, ông cho là người Đông phương chúng ta đã đem vào huyền thoại loài chim Uyên ương sống từng đôi trống mái, mỗi con chỉ còn một cánh, phải chấp nhau mà bay cùng. Chúng ăn ở với nhau tình thâm nghĩa trọng đến nỗi nếu một trong đôi lứa có mệnh hệ nào thì con kia đành xếp cánh tuyệt vọng trước những từng trời thăm thẳm. Chim Uyên Kahlil Gibran đã nhỏ từng giọt máu trong tim chép lại chuyện tình của chính mình như một chúc thư cho những tình nhân mai sau. Mối tình đầu của con người tài hoa đa cảm đó cũng là mối tình không-thể-thay-thế của ông; sau khi bị quê hương hắt hủi lưu đày biệt xứ, tác giả suốt đời lang thang phiêu bạt và không bao giờ lập gia đình. Đủ thấy vết thương ở tim tác giả còn đau buốt mãi cho đến lúc vĩnh viễn nhắm mắt.

    Nhưng con chim Uyên của Gibran vốn cao thượng khác thường đó không phải chỉ biết cất tiếng hót sầu thảm để oán trách Trời Đất đã ghen với tài tử và hồng nhan. Cho nên người đời còn được đọc những tác phẩm hào sảng hùng tráng khác của Kahlil Gibran. Đó chính là nhờ ngọn lửa thiêng bất khả diệt trong tâm hồn tác giả. Và cũng nhờ sự hy sinh cao quý của chim Ương: tự mình cắt lìa chiếc cánh bị thương để chim Uyên có thể bay đi đem tiếng hót tặng cho đời…. Câu truyện tình yêu này nói lên sự thuỷ chung, sống cho trọn tình nghĩa.

    The Prophet: (Ngôn Sứ) Kahlil Gibran nổi tiếng nhất với tập thơ “The Prophet,” một tác phẩm về phong cách, một tiểu thuyết truyền cảm hứng cho hàng loạt các bài tiểu luận triết học và đã được dịch sang hơn 100 ngôn ngữ khác nhau. Phong văn của Kahlil Gibran hòa quyện giữa các truyền thống từ Đông sang Tây, từ Hồi giáo đến Kitô giáo và từ các tư tưởng cổ điển đến các luồng tư duy hiện đại. “The Prophet” gồm 26 đáp từ bằng lối nói đầy chất thơ chuyên chở những cái nhìn thấu suốt, ứng xử với các chủ đề lớn của cuộc đời trên nền tảng chân thiện mỹ, như hạnh phúc và đau khổ, tình yêu và cái chết, lao động và của cải, hôn nhân và con cái, tình bằng hữu và luật pháp, thiện ác và tôn giáo, ăn mặc và cầu nguyện, v.v.

    “The Prophet” kể về Almustafa, một giáo viên sống ở thành phố Orphalese trong 12 năm. Khi ông chuẩn bị lên tàu trở về quê hương, người dân thành phố tụ tập lại để chào tạm biệt ông và xin những lời khuyên cuối cùng của ông. Cuốn sách được cấu trúc với 26 bài thơ văn xuôi, mỗi bài đề cập đến một khía cạnh khác nhau dựa trên kinh nghiệm con người. Almustafa trả lời các câu hỏi của dân làng về các chủ đề như tình yêu & hôn nhân, niềm vui & nỗi buồn, tội ác & hình phạt và cái chết. Nội dung của The Prophet có vẻ nghiêng về tâm linh và triết học, chủ đề chính trong “The Prophet” là mối liên hệ cơ bản giữa mọi khía cạnh của cuộc sống. Gibran cho rằng những khái niệm có vẻ đối lập nhưng thực chất lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ví dụ, trong chương về Niềm vui và Nỗi buồn, ông viết:

    “Niềm vui của bạn chính là nỗi buồn được phơi bày.

    Và chính tiếng cười của bạn trào ra thường chứa đầy nước mắt của bạn.”

    Triết lý của Gibran thúc đẩy quan điểm toàn diện về cuộc sống, thúc giục tìm kiếm sự cân bằng và chấp nhận trong mọi tình huống. Bản chất của tình yêu Khám phá của Gibran về tình yêu trong “The Prophet” rất đa dạng, đề cập đến tình yêu lãng mạn, tình yêu bản thân và tình yêu phổ quát. Ông trình bày tình yêu như một sức mạnh biến đổi vừa thách thức vừa nuôi dưỡng sự phát triển cá nhân. Trong chương về Tình yêu, Almustafa khuyên: “Hãy yêu thương nhau, nhưng đừng tạo ra mối ràng buộc của tình yêu: Hãy để nó là một vùng biển chuyển động giữa bờ tâm hồn bạn.” Ẩn dụ này chính là quan điểm của Gibran về tình yêu như một sức mạnh năng động, luôn thay đổi, cho phép tự do cá nhân và sự phát triển trong các mối quan hệ tình cảm. Quan điểm của tác giả về tình yêu khuyến khích người đọc vun đắp những mối liên hệ sâu sắc trong khi vẫn duy trì ý thức về bản thân.

    Ở Ả Rập, Gibran được coi là một nhà văn mới, nghiêng về lĩnh vực chính trị. Phong cách lãng mạn của ông là trọng tâm của thời kỳ phục hưng trong văn học Ả Rập hiện đại, đặc biệt là thơ văn xuôi, thoát khỏi trường phái cổ điển. Gibran được muôn triệu người trên thế giới đánh giá là thiên tài bất tử, một tác giả tôn giáo và bí nhiệm, được đại chúng đọc nhiều nhất và được thảo luận rộng rãi nhất trong thế kỷ 20 cũng như sang thế kỷ 21. Ở Liban, ông vẫn được ca ngợi là một anh hùng văn học, được biết đến trên thế giới với cuốn sách The Prophet xuất bản năm 1923, một tiểu thuyết truyền cảm hứng bao gồm một loạt các bài tiểu luận triết học được viết bằng văn xuôi tiếng Anh đầy chất thơ.

    Khi còn sống, ước nguyện của Gibran là được vĩnh viễn trở về Bsharri nơi chào đời của mình mà nay đã thành một thị trấn. Cô em Mariana và người bạn tri kỷ Mary Haskell hoàn thành di nguyện ấy bằng cách mua lại Tu viện Mar-Sarkis để an táng ông. Nơi đó hiện nay còn có Nhà Bảo tàng Kahlil Gibran, và trở thành một địa điểm hành hương cho những kẻ ngưỡng mộ Gibran. Gibran cũng để lại tất cả tiền tác quyền của mình trong vòng 28 năm cho thị trấn Bsharri dùng vào sinh hoạt công ích. Bên phần mộ ông, người ta thấy có khắc dòng chữ :

    “Tôi đang sống giống như bạn, và tôi đang đứng cạnh bạn. Hãy nhắm mắt lại và nhìn quanh, bạn sẽ thấy tôi trước mặt bạn . . .”

    Theo di chúc, Gibran để lại cho Mary Haskell tất cả những gì đang có trong xưởng vẽ của ông ở New York. Trong những vật thu thập được, bà khám phá ra các lá thư mình đã gởi cho ông trong suốt hai mươi ba năm. Bỏ qua ý định ban đầu là chấp nhận đốt chúng thể theo lời đề nghị của Barbara Young nhằm thần thánh hóa Kahlil Gibran, bà kết hợp 600 bức thư của đôi bên cùng nhật ký của mình, làm thành cuốn sách viết về con người Kahlil Gibran, có nhan đề Ngôn sứ yêu dấu (The Beloved Prophet) được xuất bản năm 1972. Sau đó, bà trao tất cả di sản của Gibran cho Đại học North Carolina.

    Gibran qua đời năm 1931 tại New York vì bệnh xơ gan và lao phổi thời kỳ đầu. Buổi tiễn biệt ông trên bến tàu New York có đủ đại diện của các tôn giáo như Công giáo, Tin Lành, Do Thái giáo, Hồi giáo, v.v. Lễ tang ông tại Boston được tổ chức trang trọng và cảm động theo nghi thức Công giáo ở thánh đường tại Tyler Street. Sau đó, thi hài Gibran đưa về Li-băng, được chính quyền và dân chúng tổ chức liên hoan đón rước. Linh cửu được mang vào Nhà thờ Chánh toà St. George của Giáo hội Maronite tại Beirut với nghi lễ tiếp nhận do Đức Tổng giám mục Ignatius Mobarak chủ tế; sau đó, đem về Bsharri.

    KẾT LUẬN

    Kahlil Gibran được xem như một trong các đạo sư vĩ đại của thế kỷ 20, tên tuổi của ông được nhắc đến khi nói về triết học và văn chương. “The Broken Wings” và “The Prophet”  là những tác phẩm được viết về chiều sâu của tình yêu và tinh thần con người. Văn xuôi đầy chất thơ và cách kể chuyện sống động của Gibran đưa người đọc đến Lebanon đầu thế kỷ 20 về câu chuyện tình yêu, mất mát và tự khám phá. Các chủ đề về tình yêu, sự hy sinh và theo đuổi tự do gây được tiếng vang với độc giả, khiến cuốn sách này trở thành tác phẩm kinh điển vượt thời gian. “The Broken Wings”” và “The Prophet” của Kahlil Gibran là hai cuốn sách hấp dẫn và khơi gợi suy nghĩ, đi sâu vào sự phức tạp của tình yêu và trải nghiệm của con người. Thông qua câu chuyện của 2 tác phẩm, Gibran đưa ra những hiểu biết sâu sắc về bản chất của các mối quan hệ, việc theo đuổi tự do cá nhân và sức mạnh của tâm linh. Đây là một tác phẩm tình yêu và tình trạng của con người một cách đầy chất thơ và nội tâm.

    Tất cả các phẩm của Kahlil Gibran không chỉ là những dòng thơ mà còn là những lời khuyên, những bài học về cuộc sống, tình yêu, tự do và tâm hồn. Mỗi câu chuyện là một dụ ngôn trình bày những chân lý cao siêu, Kahlil Gibran được ví như một cầu nối giữa vũ trụ tinh thần và thế giới vật chất, giữa cái linh thiêng và cái phàm tục. 19 bài học trí tuệ là sự kết hợp tuyệt vời, ca tụng những vẻ đẹp hữu hình cũng như vô hình, chứa đựng thông điệp cao cả, vượt thời gian về một thế giới đại đồng, tôn giáo hòa đồng, loài người huynh đệ và một tình yêu hằng cửu nối kết con người với nhau trong tình yêu Thượng Đế, giữa một trần gian hiệp nhất với không gian.

    Thật vậy, dòng chữ để đời đã nói lên con người của Kahlil Gibran, một Gibran sống mãi trong lòng mọi người:

    “Tôi đang sống giống như bạn, và tôi đang đứng cạnh bạn.

    Hãy nhắm mắt lại và nhìn quanh, bạn sẽ thấy tôi trước mặt bạn . . .”

    Khánh Lan, April 30, 2025

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Kiều My

    QUÊ HƯƠNG…TRONG NỖI NHỚ

    Kiều My

    Đã năm mươi năm xa quê hương, nhưng nỗi nhớ về đất mẹ vẫn vẹn nguyên, như một dòng sông không bao giờ cạn. Quê hương Việt Nam, với những dãy núi trùng điệp, bờ biển mênh mông, với những con đường làng xưa, và những cảnh sắc thiên nhiên kỳ vĩ, với tình người đậm đà…là những hình ảnh luôn khắc sâu trong tâm trí tôi và thao thức mong ngày về được sống lại trên mảnh đất thân yêu.

    Vậy chúng ta cùng đồng hành  trên hành trình ký ức để hồi tưởng lại những địa danh đẹp muôn thuở của đất nước. Hãy bắt đầu từ thác Bản Giốc, nơi địa đầu Tổ quốc, rồi lần lượt men theo miền Trung, xuôi về phương Nam… như dòng sông chảy ngược về nguồn.

    Thác Bản Giốc – khúc tình ca của núi rừng biên giới

    Thác Bản Giốc – nơi dòng nước trong veo rì rào đổ xuống từ vách đá cao, tạo thành một khung cảnh huyền bí và hùng vĩ, nơi mây núi thì thầm chuyện tình biên giới. Mỗi lần nhắc đến thác Bản Giốc, tôi lại nhớ đến sự thanh bình của vùng đất phía Bắc, nơi những cánh đồng lúa mênh mông và những bản làng yên ả nằm bên dòng sông Quây Sơn.

    Tôi vẫn nhớ như mới hôm qua, hình ảnh thác Bản Giốc đổ xuống giữa bốn bề núi non xanh ngát, bọt nước tung trắng xóa như mây trời tạo thành những dòng suối tóc. Ở nơi địa đầu tổ quốc ấy, thiên nhiên không nói bằng lời, mà thì thầm trong tiếng thác đổ, trong hơi sương mát rượi quyện theo từng bước chân người lữ khách. Thác Bản Giốc không chỉ là một thắng cảnh; đối với tôi, đó là biểu tượng của một miền ký ức mênh mang và trong trẻo, nơi tôi học cách yêu vẻ đẹp hoang sơ, tinh khôi của quê hương. Tiếng thác như nhịp tim của núi rừng, rì rầm không dứt, nhắc tôi nhớ về một phần hồn đất Việt – sâu lắng, bao dung, và kiêu hãnh.

    Đứng nơi ấy, người ta thấy mình nhỏ bé giữa cảnh hùng vĩ của thiên nhiên, nhưng cũng thấy cõi  lòng được mở rộng bởi niềm tự hào về quê hương. Tôi nhớ những cánh đồng lúa chín ven đường, nhớ ánh mắt hiền lành của người dân tộc Tày, Nùng với tiếng nói dịu dàng như khúc hát ru xa xưa. Dẫu đã năm mươi năm xa quê, thác Bản Giốc trong tôi vẫn chảy — không phải bằng dòng nước, mà bằng dòng nhớ, âm thầm và dai dẳng như một bài ca không lời mang tên: Quê Hương.

    Mời bạn cùng tôi xuôi xuống vùng biển Đông Bắc, nơi kỳ quan thiên nhiên thế giới hiện lên như một bức thủy mặc sống động — Vịnh Hạ Long.

    Vịnh Hạ Long – Khúc thủy mặc của quê hương

    Có những buổi sớm mai tôi không bao giờ quên được – Khi mặt trời còn lấp ló sau làn sương, và từng vệt nắng nhẹ như buông tay lên mặt biển phẳng lặng của Vịnh Hạ Long. Những hòn đảo đá vôi chập chùng nhô lên giữa làn nước xanh ngọc, như hàng ngàn nét chấm phá kỳ ảo của một bức tranh thiên nhiên mà người họa sĩ tài hoa đã tô điểm. Vịnh Hạ Long, một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới, vẫn luôn hiện diện trong tâm trí tôi một khung trời huyền ảo tuyệt đẹp giữa vùng nước biển trong vắt phản chiếu ánh nắng vàng ươm.

    Đây là nơi tôi từng thả hồn vào những cơn gió biển mát lạnh, quên đi mọi ưu phiền. Vẻ hùng vĩ mà thơ mộng của Vịnh Hạ Long, như một bản giao hưởng kỳ diệu giữa trời mây non nước. Hạ Long — cái tên vang lên như một lời thì thầm cổ tích. Tôi đã từng lênh đênh trên con thuyền nhỏ giữa vịnh, nghe sóng thì thào chuyện ngàn năm trong lòng hang động, trong tiếng gió lùa qua các vách núi, và trong ánh nhìn của người lái đò — người mà gương mặt hằn nắng gió vẫn ánh lên một nụ cười hiền lành.

    Tôi nhớ buổi chiều tà, khi biển khoác lên mình màu rượu vang, những cánh buồm trắng lững lờ trôi như những giấc mơ mỏng manh. Hạ Long khi ấy không còn là một điểm đến, mà là một miền thơ, nơi tôi thấy lòng mình dịu lại, yên bình như một trang sách cũ giở lại giữa đời gió bụi tha hương.

    Năm mươi năm, đã bao lần tôi mơ được một ngày quay về, đứng trên mũi thuyền, dang tay hứng làn gió mằn mặn, để nghe tim mình thổn thức giữa trời nước bao la – nơi tôi đã gửi lại thời tuổi trẻ, một phần hồn quê lặng lẽ và đầy thương nhớ.

    Biển Đà Nẵng – nơi nắng gió hòa quyện cùng tình người

     Biển Đà Nẵng hiện lên trong ký ức tôi như một bức tranh sống động, nơi bầu trời xanh biếc gặp gỡ mặt biển mênh mông, tạo nên một đường chân trời vô tận. Những con sóng nhẹ nhàng vỗ bờ, mang theo hương vị mặn mòi của biển cả và âm thanh rì rào như lời ru của mẹ.​

    Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời vừa ló dạng, ánh nắng vàng nhạt phủ lên bãi cát mịn màng, và những ngư dân cần mẫn kéo lưới, chuẩn bị cho một ngày mới. Tiếng cười nói rộn ràng, sự hối hả nhưng đầy thân thiện của người dân nơi đây, khiến lòng tôi ấm áp lạ thường.​

    Buổi chiều, khi hoàng hôn buông xuống, bầu trời nhuộm đỏ rực rỡ, phản chiếu lên mặt biển lấp lánh ánh vàng. Tôi thường dạo bước trên bãi biển, để gió biển thổi tung mái tóc, để tâm hồn được thả trôi theo từng con sóng, và để tình yêu quê hương ngập tràn theo tiếng sóng rì rào. Dù đã xa quê hương năm mươi năm, hình ảnh biển Đà Nẵng vẫn luôn sống động trong tâm trí tôi – như một phần máu thịt, như một khúc ca dịu dàng của miền Trung yêu dấu.​

    Đà Nẵng, thành phố biển hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp hoang sơ của những bãi biển dài và những ngọn núi kỳ vĩ. Tôi nhớ những chiều hoàng hôn dạo bước trên bãi biển Mỹ Khê, ngắm nhìn những cánh sóng vỗ về bờ cát. Đà Nẵng cũng là nơi tôi tìm thấy sự bình yên trong lòng khi ngắm nhìn vẻ đẹp thu hút của Bà Nà, nơi có những làn sương mờ ảo phủ lên những ngôi chùa và cây cầu vàng tuyệt đẹp.

    Nào! Chúng ta cùng xuôi dọc xuống miền cát trắng đầy nắng gió, dừng chân nơi thành phố biển hiền hòa và xinh đẹp — Nha Trang, nơi mà mỗi con sóng như nhắc lại một đoạn thanh xuân, và mỗi ánh bình minh như một lời hẹn hò với ký ức.

    Nha Trang – miền biển xanh trong như tuổi trẻ

    Nha Trang, thành phố biển với bãi cát trắng mịn màng và nước biển trong xanh, là một thiên đường của những ngày hè nắng vàng. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp tự nhiên mà còn với sự ấm áp, hiếu khách của con người. Tôi nhớ những bữa hải sản tươi ngon, những chuyến thuyền ra khơi ngắm đảo Hòn Tằm, và đặc biệt là cảm giác thư giãn tuyệt vời khi ngâm mình trong làn nước biển trong vắt.

    Tôi nhớ Nha Trang không phải bằng hình ảnh, mà bằng cảm giác. Một cảm giác dịu nhẹ, ngọt ngào như mùi gió biển buổi sớm, như màu trời trong veo phản chiếu trên làn nước ngọc bích. Nơi ấy, mọi thứ dường như chậm lại — từ nhịp thở của sóng, bước chân của khách dạo biển, đến ánh mắt đắm say của kẻ lần đầu nhìn thấy vẻ đẹp của biển quê hương.

    Bờ cát trắng dài bất tận, nước biển xanh như chạm được đáy trời. Những chiếc thuyền nhỏ neo mình bên bờ, lặng lẽ như chính sự hiền hòa của con người miền biển. Hồn trôi dạt về quá khứ, tôi từng đứng đó để gió thổi tung áo, mắt dõi theo những cánh hải âu bay vút lên nền trời xanh thẳm; mà giờ đây cõi lòng như vỡ ra bởi nỗi nhớ — vừa ngọt ngào, vừa nhói đau.

    Nha Trang không ồn ào, dù phố thị ngày nay đã đổi khác. Nhưng trong ký ức tôi, đó vẫn là một thành phố của sự bình yên, nơi có thể tìm được một buổi sáng bên ly cà phê, nghe sóng vỗ nhẹ và lòng chợt lắng đọng trong một thoáng thanh thản hiếm hoi giữa cuộc sống bề bộn.

    Năm mươi năm nơi đất khách, có những đêm tôi mơ thấy mình trở về, đi chân trần trên cát ướt, và nghe tiếng gọi thì thầm của quê nhà vọng lên từ biển cả mênh mông ấy — Nha Trang, trong tôi mãi là một khúc tình ca chưa dứt.

    Đà Lạt – thành phố mộng mơ giữa sương mù và thông reo

    Đà Lạt hiện lên trong ký ức tôi như một bức tranh thủy mặc dịu dàng, nơi sương mù ôm ấp từng ngọn đồi, và rừng thông thì thầm những bản tình ca bất tận. Thành phố cao nguyên này, với độ cao khoảng 1.500 mét so với mực nước biển, mang đến khí hậu ôn hòa quanh năm, được mệnh danh là “Thành phố của mùa xuân vĩnh cửu”. ” Đà Lạt với sương mù và muôn hoa, như giấc mơ còn dang dở.

    Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời vừa lố dạng, ánh nắng nhẹ nhàng xuyên qua làn sương mỏng, tạo nên một khung cảnh huyền ảo. Hồ Xuân Hương phẳng lặng như gương, phản chiếu bóng dáng của những hàng thông xanh rì rào trong gió. Dạo bước trên con đường quanh hồ, tôi cảm nhận được sự bình yên lạ thường, như thể thời gian cũng chậm lại để lắng nghe nhịp đập của trái tim.

    Đà Lạt không chỉ nổi tiếng với khí hậu mát mẻ, mà còn bởi những công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn minh Pháp, như nhà thờ Con Gà, ga Đà Lạt, và dinh Bảo Đại. Mỗi công trình là một câu chuyện, một phần lịch sử được lưu giữ qua năm tháng. Đặc biệt, “Ngôi nhà điên” – một công trình kiến trúc độc đáo với thiết kế kỳ lạ, thu hút sự tò mò của du khách từ khắp nơi.

    Tôi cũng không thể quên những buổi chiều se lạnh, khi thành phố lên đèn, ánh sáng vàng ấm áp len lỏi qua từng ô cửa sổ. Ngồi trong quán cà phê nhỏ, thưởng thức ly cà phê nóng thơm, ngắm nhìn phố xá nhộn nhịp… lòng tôi chợt dâng trào niềm yêu thương đất nước và ước mong thời gian đừng trôi mau, để tôi được tận hưởng khoảnh khắc đáng yêu này. Hình ảnh Đà Lạt với sương mù, thông reo, với ngàn hoa đẹp màu sắc rực rỡ và những con đường quanh co vẫn luôn sống trong tâm trí tôi – như một phần máu thịt, như một khúc ca dịu dàng của miền ký ức.​

    Vũng Tàu – Sơn thủy hữu tình

    Là một điểm đến của thành phố biển đẹp tuyệt vời! Thành phố này không chỉ nổi tiếng với bãi biển đẹp mà còn có những cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời. Có núi Nghinh Phong kiêu hãnh che chắn phong ba cho Vũng Tàu. Vũng Tàu là một phố biển sầm uất thu hút rất nhiều du khách trong nước cũng như ngoại quốc, có những hàng quán, nhà hàng sang trọng, cùng những nơi vui chơi giải trí cho khách du lịch.

     Bãi biển Vũng Tàu đúng là một điểm đến lý tưởng với cát vàng và nước biển trong xanh, nhất là bãi biển Thùy Vân hoặc bãi biển Thùy Dương – nơi rất phù hợp để thư giãn, tắm biển. Những bãi biển cát vàng thoai thoải, những con đường ven biển thơ mộng, và những món hải sản tươi ngon luôn làm tôi nhớ về nơi này. Vũng Tàu không chỉ có vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn có những dấu ấn lịch sử, văn hóa đặc sắc. Tượng Chúa Kitô uy nghiêm trên đỉnh núi, còn có ngọn hải đăng Vũng Tàu với ánh sáng dẫn đường, tất cả đều ghi dấu ấn trong lòng tôi. Bãi Dâu còn được gọi là bãi biển Hương Phong có vẻ đẹp hoang sơ, yên tĩnh…có tượng Đức Mẹ trên núi nhìn xuống biển cả mênh mông, thu hút rất nhiều du khách.

    Đến Vũng tàu, du khách có cơ hội ngắm biển lúc bình minh và ngắm cảnh hoàng hôn trên biển thật tuyệt vời…hay lang thang đến những di tích lịch sử, văn hóa  để có trải nghiệm khó quên về nét đẹp của thành phố biển Vũng Tàu.

    Sài Gòn – Thành phố của những hoài niệm không tên

    Saigon – thành phố nhỏ thân yêu, nơi tôi cảm nhận được nhịp sống sôi động không ngừng nghỉ. Những con phố đông đúc, những ánh đèn néon rực rỡ trong màn đêm; và đặc biệt là những quán cà phê vỉa hè ấm cúng nơi bạn có thể dừng lại, ngồi  nhâm  nhi cà phê thơm ngát, hay thưởng thức một ly kem mát lạnh…cảm nhận hương vị của sự hội nhập vào thành phố năng động này. Sài Gòn không chỉ là trung tâm kinh tế, mà còn là nơi pha trộn giữa những giá trị truyền thống và hiện đại, là nơi mà tôi cảm thấy mình không bao giờ cô đơn dù giữa đám đông tấp nập. Saigon là thành phố không ngủ, nơi thời gian mang hương vị riêng đến cho thủ đô Việt Nam Cộng Hòa trước 1975.

    Nhà thờ Đức Bà Saigon

    Sài Gòn – tên gọi thân thương mà bao người Việt trong và ngoài nước vẫn luôn giữ trong tim – là một nơi không chỉ mang đậm nét lịch sử, mà còn chan chứa hồn người, hơi thở ký ức, và vẻ đẹp của những đổi thay lặng lẽ theo thời gian. Sài Gòn không phải là một thành phố được định nghĩa bằng những con số hay bản đồ, mà là cảm giác, là nỗi nhớ, là một thứ hương ký ức khiến ai đã từng đi qua đều không thể quên.– Sài Gòn còn là giấc mộng dài, là tiếng rao hàng ban mai, là tiếng xe Honda vang rền, xen lẫn tiếng chuông nhà thờ Đức Bà ngân lên xa xa buổi bình minh.

    Những địa danh mang linh hồn Saigon:

    Nhà thờ Đức Bà và Bưu điện – Nơi hai kiến trúc Pháp cổ kính nằm cách nhau một con đường, kể những câu chuyện về một thời Đông Dương xa vắng. Vòm ngói đỏ, cửa sổ kính màu và chuông đồng ngân vang như mời gọi con chiên ngoan đạo tham dự buổi lễ sớm, khiến lòng người nao nao lạ thường.

    Chợ Bến Thành – Không chỉ là một ngôi chợ, mà là trái tim thương mại, là nụ cười hiếu khách, là mùi thơm của phở, bánh xèo, cà phê đậm đặc và cả một chút xô bồ của xe cộ qua lại dập dìu rất Sài Gòn.

    Dinh Độc Lập – Lặng lẽ nhưng đầy kiêu hãnh nằm giữa trung tâm thủ đô, là nơi chứng kiến bao biến chuyển lịch sử. Mỗi gian phòng, mỗi hành lang đều như ngân lên lời thì thầm của hưng suy đất nước qua năm tháng.

    Đường Nguyễn Huệ – phố đi bộ hôm nay, đại lộ thơ mộng xưa – Nơi từng có những quán café vang vọng tiếng nhạc tiền chiến hay nhạc vàng… Giờ đây là không gian rực rỡ ánh sáng và nhịp sống hiện đại, nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của  Sài Gòn qua từng bước chân chầm chậm của người hoài cổ.

    Mưa Sài Gòn không lạnh lẽo, mà gợi cảm xúc – vừa buồn, vừa đẹp, vừa khiến người ta muốn ngồi trong một góc quán vỉa hè, uống ly cà phê sữa đá, ngắm dòng người qua lại và để lòng mình trôi theo một bản nhạc của Phạm Duy hay Cung Tiến…Những buổi chiều hè đi bộ dưới bến Bạch Đằng ngắm dòng sông êm đềm lặng lẽ trôi. Hay đi bộ trên đường Tự Do để hít thở làn không khí thoải mái của “tự do”. Vào mùa hè còn nghe tiếng ve sầu râm ran giữa sân trường Gia Long hay  Pétrus Ký…Trong trái tim của những người xa xứ – “Saigon” vẫn là tiếng gọi thiêng liêng – là quê nhà và một nỗi nhớ không bao giờ ngủ. Để thắp sáng lại những ký ức tưởng chừng đã lùi xa,  viết lại một cuốn nhật ký của tâm hồn, nơi mà từng con phố, từng bản nhạc, từng ánh đèn Sài Gòn đều trở thành câu thơ lấp lánh…

    Miền Tây – Bát ngát sông nước và tình người ngọt như hương lúa chín.

    Đồng Bằng Sông Cửu Long, vùng đất của những con kênh, con rạch uốn lượn như những tấm lụa mềm mại vắt qua những cánh đồng mênh mông. Những con sông dài đầy phù sa nuôi đất đai thêm màu mỡ, cho những cánh đồng lúa phì nhiêu. Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa lên cao, nước sông còn mát lạnh và những chiếc xuồng nhỏ tấp nập qua lại chở nông sản, trái cây tươi ngon. Tôi luôn nhớ về những chợ nổi nhộn nhịp, nơi từng chiếc ghe chở đầy trái cây, thủy sản, mang đến hương vị đặc trưng của vùng đất thành một thể thống nhất bình dị và yêu thương.

    Bởi Đồng Bằng Sông Cửu Long là vựa lúa, là nơi cung cấp lúa gạo nuôi sống toàn dân và những vườn cây trái xum xuê đầy màu sắc. Và có lẽ, không gì có thể quên được  hương vị ngọt ngào của những trái dừa tươi, những trái chôm chôm chua ngọt, hay những trái xoài, sầu riêng hương vị tuyệt hảo. Không thể quên hương vị của hủ tiếu Mỹ Tho nóng hổi, hay bún nước lèo Sóc Trăng hoặc cá lóc nướng trui thơm lừng. Miền Tây – nơi con người và thiên nhiên luôn hòa quyện với nhau.

    Cảnh đẹp Hà Tiên

    Hà Tiên, nơi mà cảnh sắc thiên nhiên hòa quyện với lịch sử, là vùng đất không thể thiếu trong ký ức của tôi. Những bãi biển vắng lặng, những ngọn núi xanh ngát, và những hang động huyền bí, tất cả đều tạo nên một không gian vừa hoang sơ, vừa huyền diệu. Mỗi lần nhắc đến Hà Tiên, tôi lại nhớ đến những con đường quanh co, những cánh đồng lúa bạt ngàn, và đặc biệt là hình ảnh những chiếc thuyền buồm lướt nhẹ trên mặt biển. Hà Tiên cũng là nơi có những di tích lịch sử nổi tiếng như chùa Tam Bảo, núi Bà Tấm, mà mỗi lần thăm viếng đều khiến tôi cảm thấy gần gũi với những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc.

    Đảo Phú Quốc –Thiên đường biển đảo

    Phú Quốc luôn hiện diện trong tâm trí tôi như một ốc đảo bình yên giữa biển khơi. Những bãi biển dài, cát trắng mịn màng , nước biển trong xanh như ngọc bích – Phú Quốc là nơi lý tưởng để tạm gác lại những thăng trầm của cuộc sống. Tôi nhớ những buổi chiều tà, khi ánh nắng vàng vọt rọi xuống mặt biển, tạo nên một khung cảnh huyền ảo khó quên. Những bữa ăn hải sản tươi ngon, đặc biệt là ghẹ, tôm hùm, hay cá mú, luôn là một phần không thể thiếu khi tôi đến với Phú Quốc. Và không thể không nhắc đến những con đường làng quanh co, những ngôi làng chài bình dị, nơi cuộc sống vẫn trôi qua một cách thong thả, đơn giản, như chính cái cách mà tôi vẫn mong. Saigon, Đồng Bằng Sông Cửu Long, Hà Tiên, đảo Phú Quốc – tất cả đều là những điểm tựa trong ký ức tôi, những miền đất thân thuộc mà dù có đi xa đến đâu, tôi vẫn luôn mang trong mình nỗi nhớ khôn nguôi. Quê hương không chỉ là nơi tôi sinh ra, mà còn là nơi tôi tìm thấy những hình ảnh, những kỷ niệm gắn bó với cuộc sống, những con người, và cả những hương vị quê hương mà mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn quyến luyến. Và Phú Quốc, viên ngọc nơi cuối trời, vẫn chờ bước chân tôi trở về.

    Quê hương tôi, dù xa xôi nghìn trùng vẫn luôn hiện diện trong tâm trí với những cảnh sắc tuyệt vời và tình cảm sâu nặng. Những ngày tháng ấy, dù là một phần của vùng ký ức chìm sâu; nhưng vẫn luôn sống mãi trong tôi, như những làn sóng vỗ về trái tim, nhắc nhở tôi về một nơi đầy yêu thương – nơi có những dãy núi xanh ngát, biển cả mênh mông, với những con người nồng ấm và cả những món ăn thuần túy đậm tình. Quê hương vẫn mãi là ngọn lửa trong tâm hồn tôi, sáng rực dù bao nhiêu năm tháng trôi qua.

    Kiều My, California tháng 4, 2025.

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TÂM AN

    50 NĂM VẬN NƯỚC & TÌNH KHÚC QUÂN NHÂN NGUYỄN VĂN ĐÔNG

    Tâm An

    Cố Đại tá Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (1932 – 2018) nguyên là một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Đại tá. Tuy nhiên, nhiều người biết đến ông với tư cách là một nhạc sĩ người Việt nổi tiếng trước năm 1975, với các ca khúc “Chiều mưa biên giới”, “Sắc hoa màu nhớ”… Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử .

    Ngoài Tân nhạc vốn là sở trường, ông còn lấn sân sang lĩnh vực cổ nhạc, với bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975 như Đoạn tuyệt, Mắt em là bể oan cừu, Mưa rừng, Nửa đời hương phấn, Sân khấu về khuya, Tiếng hạc trong trăng,… và vô số bản tân cổ giao duyên.

    Nguyên quán ông bà, cha mẹ ông ở huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Thuở nhỏ ông theo học trường Huỳnh Khương Ninh ở Đa Kao. Khi đất nước gặp phải những biến động lớn lao vào năm 1945, gia đình ông bị liệt vào thành phần địa chủ, cường hào nên lâm vào cảnh khuynh gia bại sản, gia đình ly tán. Do đo, tuổi thơ của ông là người con duy nhất trong gia đình cũng bị vùi dập để cuốn theo thời cuộc lúc bấy giờ.

    Trước khi theo học trung học ở trường Huỳnh Khương Ninh, nhờ gia đình khá giả nên ông đã được cho học ở nhà với thầy giáo riêng. Cho nên tuổi thơ của ông đến trường thì ít mà học ở nhà thì nhiều.

    Sau khi trường trung học mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo học là Hùynh Khương Ninh đóng cửa, ông tự ý xin gia nhập trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Đây là trường võ bị đầu tiên và lâu đời nhất của Việt Nam. Đó cũng là nơi đào tạo nhiều vị tướng lãnh tài ba của Quân Đội VNCH. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã trải qua 5 năm ăn học ở ngôi trường này. Và chính tại đó ông đã được học nhạc và văn hóa với những giáo sư người Pháp có thực tài. Đó là những giảng viên của Viện Âm Nhạc quốc gia Pháp được cử về trường Thiếu Sinh Quân giảng dạy. Chính vậy mà nền văn hóa Tây Phương đã ảnh hưởng đến ông rất nhiều.

    Sau khi ra trường Thiếu Sinh Quân, ông gia nhập trường Võ Bị Sĩ Quan Vũng Tầu và tốt nghiệp năm 1952 với cấp bậc thiếu úy. Kế đó ông nắm chức vụ trung đội trưởng tại trường Võ Bị Đà Lạt và tốt nghiệp năm 1953. Qua năm 1954, ông về trường Chiến Thuật tại Hà Nội để giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng. Trong hai năm 1955 và 1956, ông phục vụ tại Phân Khu Đồng Tháp Mười trong chức vụ trung úy Trưởng Phòng Hành Quân.

    Cũng trong thời gian này, ông kiêm nhiệm thêm chức vụ Trưởng Phòng 3 của Chiến Khu Đồng Tháp Mười do đại tá Nguyễn Văn Là làm chỉ huy trưởng, tham gia chiến dịch Thoại Ngọc Hầu do thiếu tướng Dương Văn Minh chỉ huy. Ông không sao quên được một kỷ niệm có lần tướng Minh đã đến bắt tay ông để tỏ lòng ngưỡng mộ tác giả của những ca khúc về đời lính chiến ngay tại mặt trận Chiến Khu Đồng Tháp. Và hình ảnh cái bắt tay này đã được in trên trang nhất của báo Chiến Sĩ Cộng Hoà.

    Đến năm 1957, ông theo học khóa Chỉ Huy Và Tham Mưu tại Hawaii. Và cũng trong thời gian này ông cho ra đời nhạc phẩm “Nhớ Một Chiều Xuân”.

    Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết ông chọn binh nghiệp là nghề nghiệp chính. Mặc dù ông được học nhạc chính quy ở trường, nhưng âm nhạc chỉ là nghề tay trái.

    Từ cấp bậc thiếu úy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bước dần lên cấp bậc đại tá. Ông từng được nhận huy chương cao quý nhất của Việt Nam Cộng Hòa là Bảo Quốc Huân Chương vào giữa thập niên 60. Sau biến cố tháng 4 năm 75, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã kết thúc cuộc đời binh nghiệp của mình trong tăm tối bằng 10 năm tù cải tạo. Đúng như ông đã dự đoán cuộc đời thăng trầm của mình bằng 2 câu kết của nhạc phẩm “Chiều Mưa Biên Giới: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng thì đường trần còn mưa bay gió cuốn còn nhiều anh ơi”.

    Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng nhấn mạnh thêm là chưa bao giờ ông phục vụ ở Cục Chiến Tranh Chính Trị như nhiều người lầm tưởng. Ông chỉ đích thực là một người lính tác chiến, rồi sau đó trở thành sĩ quan tham mưu cao cấp của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 75, đầu tiên nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bị đưa đi tù “cải tạo” tại trại Suối Máu. Nhưng không lâu sau, ông bị chuyển về nhà tù Chí Hòa cho đến khi được trả tự do vào năm 1985. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết ông đã rất đau buồn vì không được nhìn thấy mặt thân phụ lần cuối trong thời gian ông ở tù.

    Một trong những nét đặc thù của cõi nhạc Nguyễn Văn Ðông là hình ảnh cùng những cảm nhận của người nhạc sĩ về mùa Xuân. Ca khúc của họ Nguyễn viết về mùa Xuân chiếm một một con số không nhỏ, trong sự nghiệp âm nhạc của ông. Ngoài những ca khúc mùa Xuân xuất hiện ngay tự nhan đề của ca khúc như “Phiên Gác Ðêm Xuân,” “Nhớ Một Chiều Xuân,” “Dáng Xuân Xưa”… người nghe còn gặp thêm nhiều hình ảnh mùa Xuân trong nhiều ca khúc khác nữa, của ông.

    Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 26 tháng 2 năm 2018, Nguyễn Văn Đông qua đời tại bệnh viện Chợ Rẫy Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi. Tro cốt của ông được rải xuống biển Vũng Tàu thể theo di nguyện.

    Ông qua đời là mất đi một người chiến sĩ VNCH can trường, một nhạc sĩ tài hoa…Nếu không có biến cố năm 1975, chắc chắn ông sẽ còn cống hiến cho nền âm nhạc nước nhà nhiều tác phẩm đặc sắc hơn nữa …

    Với di sản đồ sộ đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN của Cố Đại tá nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, chúng ta thấy rõ hơn là những người chiến sĩ VNCH đúng là những người con ưu tu’ của đất nước, vừa có đời sống trí thức với lý tưởng của kẻ sĩ trong thời bình cũng như thời loạn, vừa tài hoa, vừa khí phách, mà nhạc sĩ cố đại tá Nguyễn Văn Đông là một trường hợp điển hình. Ước mong sao các thế hệ tiếp nối của người Việt Nam cũng sẽ có những con người hào hùng như thế.

    Tâm An, tháng Tư 2025

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Phạm Hồng Thái,  Tin tức

    NHỮNG ĐỨA TRẺ LẠC LOÀI

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em,

    Thấm thoát đã 50 năm, nỗi buồn ly hương vẫn vương vấn trong lòng người viễn xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, Khánh Lan xin mời quý vị thưởng thức chuyện ngắn “Những đứa trẻ lạc loài“. Tác phẩm gồm 3 phần: Phần I: Hồi ký Những Đứa Trẻ Lạc Loài, đây là một câu chuyện có thật về đứa con lai bị bỏ rơi ở VN sau 1975. Phần II: Số phận của những đứa trẻ đi theo chương trình Babylift và Home Coming Act. Phần III: 50 năm nhìn lại những gì đã xảy ra cho đất nước Việt Nam.

    Ca khúc “Kiếp Lạc Loài”, do anh Phạm Thái sáng tác dựa trên cảm hứng từ tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài”. Điểm đặc biệt là toàn bộ phần hình ảnh, tiếng hát và hòa âm được thực hiện bằng công nghệ AI, với lời thơ của anh Thái Phạm.

    Vui lòng click vào hình trên để đọc sách.

    Tác phẩm này đang trong tiến trình chuyển sang Anh ngữ và sẽ gởi đến quý độc giả sau Thanksgiving 2025.

    Khánh Lan kính mời,

    April 30, 2025-

    Kỷ niệm 50 năm viễn xứ. (1975-2025)

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Phạm Hồng Thái,  Tin tức

    CHƯƠNG TRÌNH NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT DO LIÊN NHÓM NVNT & TTG THỰC HIỆN

    Khánh Lan trân trọng thay mặt anh Việt Hải gửi đến quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ cùng quý anh chị em một tin vui:

    Hai tuần trước, ký giả Du Miên – đại diện của Đài Truyền Hình Vietnam American Television (VNA-57.3) – đã mời nhóm chúng ta đảm trách thực hiện một chương trình trên băng tầng của đài. Sau khi tham khảo ý kiến ban điều hành và nhận được sự khích lệ từ các vị cố vấn, anh Việt Hải đã chính thức quyết định hợp tác với đài 57.3, với mục tiêu giới thiệu Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đến quý khán thính giả.

    Chương trình “Nhân Văn Nghệ Thuật” sẽ được phát hình định kỳ hai tuần một lần trên băng tầng 57.3. Ngay khi có chương trình truyền hình cố định, Ban Điều Hành sẽ thông báo cụ thể ngày giờ đến quý vị. Chương trình sẽ được phát hành rộng rãi qua các nền tảng sau:

    • DirectTV tại toàn bộ 50 tiểu bang Hoa Kỳ và Canada
    • Roku Box
    • Facebook và YouTube
    • Website chính thức: vnatv.com

    Khánh Lan cũng xin gửi đến quý Giáo Sư, các Văn Thi Sĩ và quý anh chị em đoạn video buổi thu hình đầu tiên được thực hiện vào ngày 18 tháng Tư vừa qua, với sự tham gia của ký giả Du Miên, Giáo Sư Quyên Di và Khánh Lan.

    Chương trình mở đầu với video logo Nhân Văn Nghệ Thuật, do anh Thái Phạm thiết kế. Tiếp theo là phần giới thiệu tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” của Khánh Lan. Tác phẩm này trình bày dưới dạng eBook và sẽ được gửi tặng quý vị qua email như một món quà tinh thần nhân dịp tưởng niệm 50 năm nhìn lại quê hương Việt Nam (1975–2025). Ngoài ra, chương trình cũng giới thiệu ca khúc “Kiếp Lạc Loài”, do anh Phạm Thái sáng tác dựa trên cảm hứng từ tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài”. Điểm đặc biệt là toàn bộ phần hình ảnh, tiếng hát và hòa âm được thực hiện bằng công nghệ AI, với lời thơ của anh Thái Phạm.

    PHẦN 1

    PHẦN 2

    PHẦN 3

    Khánh Lan kính mời,

    Tháng 4, 2025

    Kỷ niệm 50 năm viễn xứ

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TS MAI THANH TRUYẾT

    Desire – Lý Thuyết Ham Muốn

    Danh từ: Một cảm giác mạnh mẽ “muốn có” một cái gì đó hoặc “mong muốn” một cái gì đó xảy ra.

    Động từ: Ham muốn mạnh mẽ trong việc “cho” hoặc “muốn’ một cái gì đó.

    Lý thuyết ham muốn cho rằng việc thực hiện một ham muốn đóng góp cho hạnh phúc của một người bất kể lượng niềm vui (hay sự không hài lòng). Một lợi thế rõ ràng của lý thuyết Desire là nó có thể hiểu theo cung cách diễn đạt của Wittgenstein. Ludwig Wittgenstein là một triết gia bị ám ảnh bởi những khó khăn về cách diễn đạt ngôn ngữ, muốn giúp chúng ta tìm cách thoát khỏi một số vũng bùn mà chúng ta gặp phải trong giao tế, trong diễn đạt, và ngay cả trong suy tư…

    Cung cách đó được hiểu theo “Meaning of Language” dưới đây:

    Từ đó, chúng ta thấy từ ngữ DESIRE được hiểu theo từng tâm cảm, từng thể trạng của mỗi con người.

    Và bài viết chỉ mong trình bày một số suy nghĩ góp nhặt cát đá, suy diễn theo suy nghĩ chủ quan của người viết  nhằm mục đích chia xẻ cùng bạn đọc về một khía cạnh của tư tưởng và tâm ý.

    1. Desire – Ham muốn là gì?

    Ham muốn – Desire, Thèm muốn – Craving, Khao khát – Longing. Những từ trên gợi ra cho chúng ta cái cảm giác thúc đẩy con người đạt được hoặc sở hữu một cái gì đó. Ham muốn là một cảm giác mạnh mẽ, xứng đáng hoặc không xứng đáng, đúng đắn hoặc không đúng đắn, thúc đẩy sự chiếm đoạt được hoặc sở hữu một cái gì đó (trong thực tế hoặc trí tưởng tượng).

    Ham muốn là ở trong một trạng thái đặc biệt của tâm lý. Đó là một trạng thái tâm lý quen thuộc với tất cả những người đã từng muốn uống nước, muốn ăn một món ăn… hoặc muốn biết những sự kiện gì đã xảy ra cho một người bạn cũ. Nhưng từ sự quen thuộc đó không làm cho chúng ta dễ dàng đưa ra một lý thuyết về ham muốn. Mặc dù có sự tranh chấp trong chính mỗi ham muốn của bản thân, nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tự khắc phục ham muốn của chính mình.

    Ham muốn là một trạng thái của tâm – ý (heartily spirit) (người viết tự nghĩ ra từ ngữ nầy, không biết có đúng không, xin nhờ chỉ giáo) thường liên quan đến một số hiệu ứng khác nhau: một người ham muốn có xu hướng hành động theo những cách nhất định, cảm nhận theo những cách nhất định và suy nghĩ theo những cách nhất định.

    Nếu tôi mong muốn uống trà chẳng hạn, thì tôi thường sẽ tự pha cho mình một tách trà; và nếu tôi không tự cảm thấy mình cần uống trà ngay lập tức, tôi sẽ không cảm thấy cái thôi thúc phải nấu nước sôi để pha trà… Tôi, lúc ấy sẽ thấy ý nghĩ về trà rất dễ chịu (vì không phải làm gì cả!). Từ đó, tôi sẽ thấy suy nghĩ của mình liên tục chuyển sang ý tưởng về trà. Từ đây, tôi sẽ đánh giá rằng trà có vẻ như là một ý tưởng tốt. Và như thế, như thế tiếp tục. Những hiệu ứng khác nhau này đã là trọng tâm trong tâm-ý của tôi về những nỗ lực để phát triển các lý thuyết; và đó chính là lý thuyết của ham muốn.

    • Triết lý về sự ham muốn

    Hiểu được ham muốn đòi hỏi ít nhất hai điều kiện:

    • Thứ nhất, có một lý thuyết về bản thân ham muốn – desire itself;
    • Thứ hai, có một số quen thuộc với các loại ham muốn có được – desire that there are.

    Một khi nắm được một sự hiểu biết về ham muốn, chính ta có thể làm sáng tỏ một số tranh cãi chung quanh những điều ham muốn.

    Lý thuyết thỏa mãn ham muốn là một dạng chủ nghĩa chủ quan về hạnh phúc theo nghĩa thông thường, theo đó, để có được một cuộc sống tốt (tốt theo suy nghĩ riêng của từng cá nhân) phải làm với thái độ của một người tạo dựng ra một cuộc sống theo lòng ham muốn của mình hơn là bản chất thực sự của cuộc sống.

    Có nhiều hình thức khác của chủ nghĩa “chủ quan” (subjectivism):

    • Lý thuyết mục tiêu thành tựu – Aim-achievement theories;
    • Lý thuyết hiện thực hóa giá trị – Value-realization theories;
    • Lý thuyết hạnh phúc – Happiness theories;
    • Và một số hình thức của chủ nghĩa khoái lạc – Hedonism.

    Nhưng thực sự, tựu trung tất cả những lý thuyết trên chỉ nhằm thực hiện mục tiêu của lý thuyết “hoàn tất ham muốn” – desire-fulfillment mà thôi.

    Còn đối với chủ nghĩa khách quan (objectivism) thì sao?

    Các lý thuyết khách quan về hạnh phúc – well-being gồm:

    • Lý thuyết cầu toàn – perfectionism;
    • Và lý thuyết “danh sách khách quan” – objective- list theories.

    Hai quan điểm trên trái ngược với chủ nghĩa chủ quan là: – Ít nhất một số điều liên quan đến bản chất tốt hay xấu (pro/con – attitudes) đối với chúng ta về căn bản nhưng không liên quan đến thái độ của chúng ta. Sự “hoàn tất ham muốn” cũng đóng một vai trò trung tâm trong một số lý thuyết về hạnh phúc, trong đó kết hợp lại các yếu tố chủ quan và khách quan.

    Vì vậy, lý thuyết thực hiện ham muốn ngày nay chắc chắn là một trong những lý thuyết hàng đầu về hạnh phúc.

    Một số nhà triết học coi “lý thuyết hoàn tất ham muốn” là lý thuyết hàng đầu.

    Nếu đó là lý thuyết ngự trị của thế kỷ 20 và 21, lý thuyết nầy không mang lại sự chú ý thời trước đó. Một số nhà triết học cổ đại và trung cổ hàng đầu đã đưa ra quan điểm để từ chối nó. Ví dụ, trong Plato’s Gorgias (C. 380 BCE), chính Callicles, một đệ tử của Socrates đã khẳng quyết rằng:”Ông, người thực sự muốn sống nhằm cho phép những ham muốn của mình được đánh bóng tối đa (he who would truly live ought to allow his desires to wax to the uttermost).

    Trong De Trinitate (C. 416 C.E.), Thánh Augustine đã thảo luận ngắn gọn về ý tưởng “tất cả đều được ban phước, bất cứ ai cùng sống như nhau” (all are blessed, whoever live as they will). Augustine tiếp tục khẳng quyết, tuy nhiên, lòng ham muốn (hoặc ý chí) đó là điều tối thiểu của sự cần thiết cho hạnh phúc.

    • Các căn bản trong việc/sự ham muốn
    1. Như vậy, thực sự ra, lòng ham muốn có căn bản nơi đâu và là gì?

    • Sự chấp nhận, nhu cầu cần được chuẩn duyệt – Acceptance, the need for approval.

    • Sự tò mò, nhu cầu học hỏi – Curiosity, the need to learn.

    • Nét ăn uống, nhu cầu thực phẩm – Eating, the need for food.

    • Gia đình, nhu cầu nuôi con – Family, the need to raise children.

    • Danh dự, sự cần thiết phải trung thành với các giá trị truyền thống – Honor, the need to be loyal to the tradition values.

    • Chủ nghĩa lý tưởng, sự cần thiết của công bằng xã hội – Idealism, the need for social justice.

    • Độc lập, nhu cần cần thiết cho mọi cá thể – Independence, the need for individuality.

    • Đặt hàng, nhu cầu cho (mọi việc) có tổ chức và ổn định – Order, the need for organized, stable,

    • Và một số ham muốn nguyên thủy (primal desire) của con người là gì?
    • “Sống còn”: Sống một cuộc sống bền lâu và khỏe mạnh – Survival: Live a long and healthy life.
    • Bảo vệ: An toàn, chăm sóc và bảo vệ cho chính bạn và những người thân yêu – Protection: Safety, care and protection for yourself and loved ones.
    • Tự do: Tự do khỏi sự nguy hiểm, sợ hãi và đau đớn – Freedom: Freedom from danger, fear and pain.
    • Tiện nghi: Điều kiện sống thoải mái – Comfort: Comfortable living conditions.
    • Niềm vui: Thưởng thức đồ ăn, đồ uống và trải nghiệm – Pleasure: Enjoy food, beverages and experiences.
    • Ham muốn thâm sâu nhứt của con người là gì?

    Ham muốn thâm sâu nhất (deepest desire) của bất kỳ con người nào là được Yêu Thương và được Trân Trọng.

    Không có ai trên thế giới này không muốn được xem là đẹp đẻ hay tài giỏi hết.

    Sẽ không có ai phải nhăn mặt (frown) khi được nghe “I love you” đến từ của miệng của người mình thương hết!

    • Ham muốn mạnh nhứt (strongest) của con người là gì?

    TS Erica Goodstone nhận định rằng:”Ham muốn tình dục là thứ ham muốn mạnh mẽ nhứt của con người. Khi được thúc đẩy bởi năng lực của ham muốn này, quý ông và quý bà phát triển một số phẩm chất đáng kinh ngạc, bao gồm nhãn quan và trí tưởng tượng, lòng can đảm và ý chí cùng khả năng kiên nhẫn liên tục bất chấp mọi trở ngại và khó khăn” (visualization and imagination, courage and willpower and ability to persist in spite of all obstacles and difficulties).

    e- Như vậy, có phải ham muốn có nghĩa là tình yêu?

    Tình yêu là ham muốn, không có định nghĩa nào khác hơn nữa… Đối với một số người, đó là sự đáp lại tình cảm của họ, một số người khao khát được gần gũi với người yêu. hoặc người mình yêu. Nhưng cũng có vài ngoại lệ, là ai đó nghĩ rằng “có thể chỉ muốn người mình yêu hạnh phúc mà thôi, không cần thiết để được đáp lại” (tình yêu đơn côi chăng?)

    Chỉ có những người dối lòng là những người nói

    rằng tình yêu đích thực không có ham muốn!

    • Ham muốn có ý nghĩa gì trong Phật giáo?

    Trong Phật giáo, dục vọng, vô minh, và chấp ngã nằm ở gốc rễ của mọi đau khổ. Theo dục vọng, Phật tử đề cập đến tham ái, vật chất và bất tử, tất cả đều là những ham muốn không bao giờ có thể được thỏa mãn cho mỗi con người.

    Làm thế nào để một Phật tử thoát khỏi phải “chấp ngã”?

    Có vài thực tiễn dưới đây để cho mỗi chúng ta cùng suy nghiệm nhằm “bớt đi” tính chấp ngã của chính mình:

    * Thiền – Meditation: Thiền chỉ đơn giản là ngồi yên và cố gắng chú ý đến thời điểm hiện tại cho dù đó là hơi thở của bạn, cơ thể bạn hay những gì đang xảy ra xung quanh bạn ngay bây giờ;

    * Từ bi – Compassion;

    * Sự phụ thuộc lẫn nhau – Inter-independence;

    * Chấp nhận – Accepting;

    * Mở rộng – Expansiveness.           

    5-Tam giác vàng

    Điều gì là tuyệt vời về tam giác này?

    Thực sự nó có ý nghĩa gì?

    Một số người thành công nhứt đã theo hướng nầy và họ thành công vì “Năng lực của một tư duy tuyệt vời”.

    Cuộc hành trình đến tam giác vàng bắt đầu với Ham muốn – Desire. Đó là sân ga từ nơi con tàu vận mạng bắt đầu lăn bánh. Con tàu sẽ dừng lại sau mỗi trạm và những người không có đủ kiên nhẫn sẽ rời khỏi tàu. Còn những người ở lại là người có đức tin (tùy theo suy nghĩ của bạn, có thể là đức tin (faith) mà cũng có thể là niềm tin (believe). Đây là một thuộc tính quan trọng thứ hai để thành công.

    Trong sự so sánh nầy, Đức tin kiên định – Consistent Faith và Khát vọng – Desire vững chắc chuyển Tâm Ý thành Hành động – Action.

    Hành động giúp chúng ta tăng thêm ham muốn. Kết quả của Hành động làm cho Đức tin mạnh mẽ hơn và thêm một lần nữa, Hành động được tăng thêm, và từ đó tiếp tục mãi mãi Hành động.

    Phản ứng dây chuyền không kiểm soát của hành động này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta thực sự thuộc về… (actually belong).

    • Thay lời kết

    Quý bạn vừa thả lòng với những định nghĩa, nhận đình cùng suy diễn hết sức trừu tượng về một danh từ hay động từ “Desire” tạm dịch là “Ham muốn” từ những suy nghĩ của các triết gia cho đến suy nghĩ của đời thường trong cõi ta bà nầy.

    Để rồi bạn chuyển qua một vài suy diễn trong tinh thần Phật giáo…

    Người viết không dám nói thêm nhiều nữa, chỉ mong mỗi người trong chúng ta nhìn về, nghĩ về “Ham muốn” trong chiều hướng nào?

    Và dù trong chiều hướng nào đi nữa chỉ mong Quý Bạn vẫn còn tỉnh táo để biết chính mình:

    • Đang nghĩ gì?
    • Đang làm gì?
    • Và suy nghĩ gì, làm gì đó có thích hợp với đạo lý của “Đời thường” không?

    Xin chia xẻ vài suy nghĩ cùng Bạn trong mùa chay tịnh của Thiên Chúa giáo và mùa “cách ly tự nguyện” vì cô Coronavirus.

    Và đây cũng là những suy nghĩ mà chính người viết cũng cần suy gẫm!

    Phổ Lập Mai Thanh Truyết

    An Nhiên Tự Tại

    Houston, 26/3/2020

    Phụ chú: Góp ý của một người bạn

    Kính Thưa Anh Truyết và các Chị Em,

    Bài viết anh phân tách về sự Ham Muốn rất hay.  Tôi xin góp một chút ý kiến.  Sau khi tất cả diễn biến về những thể loại ham muốn, thì chính ta nhìn lại chính mình, những ham muốn đó có đạt hiệu quả hay không, có khi được, nếu sự ham muốn đó trong tầm tay, có khi xa vời vì quá to lớn viển vông, có khi vì cái ta muốn thắng vì tự ái cá nhân.

    Nói chung tất cả ham muốn đó do ta tự vẽ ra để trở thành một mục đích mà ta phải thực hiện dù tốt hay xấu.

    Vậy làm sao sống cho có những mục tiêu tốt, chính là ta phải tự nhìn lại trong ta,  vì ta muốn cái này, muốn cái kia, nói chung muốn đủ thứ trên đời, khi không đạt được thì phiền muộn, bất bình, hoặc đau khổ.

    Như lời Phật dạy đó là Tham, Sân, Si.  Những thứ đó chỉ là trừu tượng và viễn vong, nhưng nếu không có Ý muốn đó, chúng ta sẽ đứng giữa ngã ba đường, mà ta phải chọn một con đường để đi.

    Vậy ta phải vạch ra con đường, sao cho dung hòa.  Đó là một con đường chính giữa không có dính mắc hai bên.. Phải luôn nhìn lại chính mình, cảnh giác cái ham muốn thắng, mà phải quên mình nghĩ đến cái chung trong hiện tai.

    Tôi đã luôn suy nghĩ (đó cũng là cái ta xấu xí) tai sao ta có mặt trong đời này, tai sao ta không là cây cỏ, con chim, cái kiến, hoặc là, người giàu có, hoặc nữ hoàng hay là những người nổi tiếng.  Vậy thì cuộc sống này phải có lý do, mổi người mổi nhiệm vụ, có trách nhiệm phải chu toàn đối với cha me sinh ra ta, với gia đình ta đang có mặt, lo cho con cái cháu chắt trong tương lai. Và với xã hội ta đang sống. Tai sao mình không sanh trong một nước khác mà mình sanh trong nước Việt Nam, vậy ta cũng có trách nhiệm đối với tổ quốc,

    Ta phải làm tất cả những gì trong đời này với tất cả lòng biết ơn, đã cho ta có cuộc sống có ý nghĩa, dù có phong ba bão táp, và vui sống.  Nếu những ai đã từng đi vượt biên, sẽ hiểu được cái chết trong tích tắc giữa đại dương mênh mông không bến bờ. Hoặc đi máy bay nhìn xuống thấy con người mất hút trong quả đất.Trời đất bao la , ta chỉ là một sinh vật nhỏ bé trong vũ trụ . 

    Chúng ta cũng may mắn là sanh ra được toàn vẹn, không tật nguyền, còn biết suy nghĩ phải trái, nếu không may sanh ra mà bị chứng bệnh vô não ngẩn ngơ thiếu hiểu biết, thì chúng ta sẽ ra sao.  Chúng ta lại được các đấng vĩ nhân hướng dẫn tâm linh biết nhân quả nghiệp báo, giống con rùa mù mà gặp bọng cây, đã mù làm sao thấy được bọng cây, Quả là may mắn. Chúng ta sanh ra không tự chọn, chúng ta chết đi cũng không biết được ngày. 

    Vậy chúng ta hôm nay gặp nhau đây là một cái duyên hanh ngộ thật đáng vui mừng, nên chúng ta phải quý trọng lẫn nhau.

    Câu hỏi: Sự khác biệt giữa mong muốn (Hissaron) và khát vọng (Ishtokekut) là gì?

    Trả lời: Mong muốn có nghĩa là tôi chỉ đơn giản là muốn một số sự hoàn thành. Ví dụ, tôi khát. Trong khi đó, một khát vọng phụ thuộc vào mức độ tôi thực sự cần nó tại một thời điểm nhất định, nghĩa là tôi đau khổ đến mức nào vì tôi thiếu sự thỏa mãn này.

    Khát vọng là sự bổ sung cho mong muốn và nó đo lường sức mạnh của mong muốn tại một thời điểm nhất định, mức độ bản ngã của tôi sẵn sàng chịu đựng để đạt được mục tiêu mong muốn.

    Nói cách khác, bạn sẵn sàng trả bao nhiêu cho việc này? Hãy xem nó ngay bây giờ. Bạn muốn lấy nó? Không vấn đề gì. Bạn có thể cho bao nhiêu? Chúng tôi có thể đo lường nguyện vọng của bạn theo câu trả lời của bạn. Bạn nói: “Chà, một trăm.” “Không, bạn nên cho một nghìn.” “Một nghìn?” Đây là nơi bạn được kiểm tra với số tiền bạn sẵn sàng trả. Đây là cách để đo lường khát vọng của bạn cho mục tiêu mong muốn.

    Đồng thời, một mong muốn tự nó là đơn giản. Nếu cái gì miễn phí, tôi sẽ lấy nó.

    Rõ ràng một người được đánh giá theo nguyện vọng của anh ta.

    Mong muốn đến với chúng ta từ Đấng Tạo Hóa, trong khi chúng ta thêm khát vọng thông qua môi trường.

    Một khát vọng là thành quả của công việc của chúng ta, là thành quả của những nỗ lực của chúng ta.

    Question: What is the difference between a desire (Hissaron) and an aspiration (Ishtokekut)?

    Answer: Desire means that I simply want some fulfillment. For example, I am thirsty. Whereas an aspiration depends on how much I really need it at a given moment, meaning how much I suffer now because I lack this fulfillment.

    Aspiration is an addition to a desire and it measures the strength of the desire at a given moment, how much my ego is ready to suffer for the sake of reaching the desired goal.

    In other words, how much are you ready to pay for this? Let’s see it now. You want to get it? No problem. How much can you give? We can measure your aspiration according to your answer. You say: “Well, a hundred.” “No, you should give a thousand.” “A thousand?” This is where you are tested with how much you are ready to pay. This is the way to measure your aspiration for the desired goal.

    At the same time, a desire itself is simple. If something is free, I will take it.

    Obviously, a person is evaluated according to his aspiration.

    A desire comes to us from the Creator, while we add aspiration through the environment.

    An aspiration is the fruit of our work, the result of our efforts.

    Huỳnh Quốc Bình:

    Tình yêu phải luôn là hai chiều bởi vì con người luôn luôn và muôn đời bất toàn. Chỉ có Thiên Chúa mới có tình yêu một chiều dành cho loài người không xứng đáng.

    Tình yêu “đơn côi” là loại tình yêu bất cần phải quấy. Yêu người không yêu mình nên đành phải “đơn côi”. Ha ha ha.

    Em chỉ yêu người nào yêu em. Ai hổng yêu em, em hổng yêu lại. Em chỉ dành thì giờ yêu người yêu mình mà thôi.

    Nhiều khi người ra yêu mình mà mình đáp lại còn không xong, nói chiyêu kẻ chẳng “iu ta” Ha, ha, ha.

    Mẹc xin ông anh đã có ý nghĩ rất cao thượng.

    HQB

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Ái Ân, Ân Ái Qua Ca Khúc

    Vương Trùng Dương

    Có những chữ coi như “cấm kỵ” khi đề cập (nói, viết) trong bàn dân thiên hạ vì quá lộ liễu, sống sượng, thiếu tế nhị… với hành động “chăn gối” xảy ra nhưng trong thi ca và âm nhạc đã sử dụng cùng ý nghĩa đó nhẹ nhàng và dễ cảm thông.

    Thi hào Nguyễn Du (1765-1820) trong Truyện Kiều đã đề cập đến hai chữ ái ân, ân ái. Tố Như tiên sinh đã sử dụng nhiều ngôn từ đầy văn vẻ để nói đến hình ảnh “gặp gỡ” chăn gối với nhau:

    “Còn nhiều ân ái với nhau

    Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì!”

    “Bây giờ gương gãy gương tan

    Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”

    Sau 15 Thúy Kiều lưu lạc trong chốn lầu xanh, trao thân cho hàng nghìn khách làng chơi nhưng gặp lại Kim Trọng, men tình vẫn say đắm:

    “Còn nhiều ân ái chứa chan

    Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi.

    “… Chừng xuân tơ liễu còn xanh,

    Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân”

    Cùng thời, trong truyện thơ chữ Nôm như Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự (1743-1790) đã đề cập đến mối tình hoa mộng, lãng mạn, ngang trái, khổ đau, hòa hợp giữa Lương Sinh với hai người đẹp Dao Tiên & Ngọc Khanh. Và, hình ảnh người con gái thuở đó đã vượt qua hàng rào lễ nghi, vụng trộm chăn gối với nỗi niềm:

    “Bấy lâu chút mảnh riêng tây

    Ái ân nầy đến đêm nầy là xong”

    Thời kỳ lãng mạn trong văn chương vào cuối thập niên 1930, bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn của T.T.Kh đã gây tiếng vang, xôn xao về mối tình say đắm, nồng nàn nhưng trắc trở, dám thổ lộ tâm trạng người con gái khi đã dâng hiến cho tình yêu để rồi sống với chuổi ngày còn lại:

    “Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi

    Mà từng thu chết, từng thu chết

    Vẫn giấu trong tim bóng một người”.

    Bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn sau nầy được nhạc sĩ Trần Trịnh cảm tác với ca khúc cùng tên.

    T.T.Kh còn nằm trong vòng bí ẩn, nữ sĩ Vân Đài xuất hiện với Hằng Phương, Anh Thơ, Mộng Tuyết trong thi phẩm Hương Xuân cũng dùng ngôn ngữ đó rất tự nhiên:

    “Xin đừng nói đến ái ân chi

    Ái ân lời suông có nghĩa gì!”.

    “Ái ân giục giã gọi lên đường,

    Nặng áo giang hồ bụi gió sương”.

    Trong thời kỳ lãng mạn đó, Huy Thông du học ở Pháp, ảnh hưởng sâu đậm chất “lãng mạn trữ tình” nên trong những thi phẩm của ông bàng bạc ngôn ngữ ái ân; điển hình như Tần Ngọc xuất bản giữa thập niên 1930 với những bài như Tiếng Ái Ân, Chiều Hôm Qua, Trong Lúc Chia Tay, Gió Chiều, Mây Qua, Bấy Nhiêu Đêm, Gặp Gỡ… Có khi chỉ là mộng tưởng như:

    “Niềm ái ân chưa được biết bao giờ,

    Ta vừa biết phút giây trong giấc mộng”

    Thế nhưng, đem mộng để tỏ bầy:

    “Hứa cùng ta sẽ trăm năm ân ái,

    Nỡ đi đâu để bạn đắng cay lòng?”.

    Vào thập niên 1940, thi ca Vũ Hoàng Chương chất chứa cả khung trời lãng mạn, say đắm. Dù mang tựa Quên trong thi phẩm Mây, con tim vẫn dâng trào:

    “Trên nẻo ấy, sẽ từ muôn đáy huyệt

    Ái ân xưa vùng dậy níu chân anh”.

    Có khi hợp rồi tan để bày tỏ niềm đau và oán trách như những dòng thơ của Thái Can trong bài Anh biết Em Đi:

    “Em nhớ làm chi tiếng ái ân

     Đàn xưa đẽ lỡ khúc dương cầm.

     Dây loan chẳng đượm tình âu yếm

     Em nhớ làm chi tiếng ái ân”.

    Trong kho tàng văn chương Việt Nam, hình ảnh ái ân, ân ái được đề cập rất nhiều. Đặc biệt trong âm nhạc, hình ảnh đó cũng được thể hiện từ thuở “bình minh” chạy dài cho dến nay ở khung trời hải ngoại. Trong tình yêu trai, gái… ái ân để lại vết tích mà thời gian khó xóa đi vết tích ấy, nhất là ở mối tình đầu như cái nhìn của nhà thơ Pháp Lamartine. Say đắm, cuồng nhiệt, ngất ngây và chết lịm trong cơn mê của “tột đỉnh yêu thương”. Cảnh tượng, hình ảnh ấy dấu kín trong tận đáy lòng, mấy ai tâm sự, bày tỏ. Thế nhưng, bằng nhiều cách gọi từ sống sượng đến tao nhã, từ hình ảnh tầm thường, đen tối đến thanh tao, ngôn ngữ âm nhạc trở thành hình ảnh thân thương, quen thuộc được thể hiện qua nhiều ca khúc cả nam giới và nữ giới sáng tác.

    Thiên Thai, ca khúc bất hủ của Văn Cao đã hình dung hình ảnh chăn gối trong yêu đương giữa nơi tiên cảnh:

    “Thiên Thai ánh trăng xanh mơ lan thành suối trần gian,

     Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần”.

    Trong ca khúc Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Đoàn Chuẩn mô tả qua lăng kính của màu sắc:

    “Gửi gió cho mây ngàn bay

    Gửi phím tơ đồng tìm duyên

    Gửi thêm lá thư, màu xanh ái ân

    Về đôi mắt như hồ thu”.

    Với nhạc phẩm Lá Thư, Đoàn Chuẩn & Từ Linh than thở với nỗi niềm xa vắng khi đã “nếm mùi” luyến ái, giao hoan:

    “Anh quay về đây, đốt tờ thư quên đi niềm ân ái ngàn xưa!

    Ái ân theo tháng năm tàn,

    Ái ân theo tháng năm vàng

    Tình người nghệ sĩ phai rồi!”.

    Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đề cập đến ái ân, ân ái với hình ảnh mơ hồ, lảng vảng với gió mây và cung bậc để tơ tưởng về hình ảnh giai nhân. Ca khúc Bóng Chiều Xưa, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đề cập đến hình ảnh cụ thể trong giây phút đắm say:

    “Một chiều ái ân

    Say hồn ta bao lần

    Một trời đắm duyên tơ

    Cho đời bao phút ơ thờ”

    Cùng trong điệu nhạc tango vừa dồn dập, vừa nóng bỏng, với mối tình đầu mà Lamartine bày tỏ không thể nào quên, nhạc sĩ Ngọc Bích thể hiện niềm cảm xúc dạt dào trong ca khúc Mộng Chiều Xuân:

    “Mối tình đầu xuân ai thấu chăng?

    Lòng tha thiết vương theo tiếng đàn,

    Mơ nguồn ái ân, những ngày phong trần

    Sống trong mộng đẹp ngày mai”…

    “Anh còn mong chờ

    Ái ân kẻo tàn ngày mơ”

    Ca khúc Người Em Sầu Mộng của nhạc sĩ Y Vân được phỏng theo dòng thơ của Lưu Trọng Lư trong bài Một Mùa Đông:

    “Hãy xếp lại muôn vàn ân ái;

     Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau”

    Nói đến tình yêu, ngoài gió, trăng, mây, nước… có ái ân mới tạo “dấu ấn” và nhớ mãi… đâu đây, tìm gặp ở nhạc sĩ Văn Phụng đã tỏ bày trong ca khúc Yêu:

    “Yêu là tình dâng cao, gió lao xao ngã hàng phi lao.

    Phút ái ân đắm say tâm hồn,

    Nhớ mãi đêm nào bên nhau”

    Từ nhẹ nhàng, mơn trớn đến dồn dập như những thể điệu trong âm nhạc. Nếu âm điệu dồn dập của nhạc sĩ Lam Phương rất khích động, tôn thờ giây phút, hình ảnh đó thể hiện trong Thiên Đường Tình Ái:

    “Đường nào vào thiên đường ái ân

    Là đường vào nhịp thở lâng lâng.

    Mùa xuân đang đi trong lời yêu mới

    Có hoa vàng phủ đường mòn gót chân mềm”

    Có lẽ Y Vân chỉ nhìn thấy màu đen cuộc tình dù đã trao thân cho nhau, qua điệu boston, chậm và buồn. Thể điệu nầy phù hợp với nỗi bi thương trong ca khúc Buồn:

    “Đôi ta như bước lên đỉnh sầu

    Mà đời luôn cao ngất thương đau.

    Bao lâu ân ái chưa đậm màu

    Toàn là cay đắng giết thương yêu!”.

    Ái ân, ân ái trong phút giây nồng nàn không hoàn toàn ngọt lịm, có lúc giăng mắc sự cách biệt làm thấm vị đắng cay như bản nhạc Lời Đắng Trong Cuộc Tình của Hà Nguyên:

    “Những ngày còn nồng nàn ân ái

    Giữa đôi ta, giữa đôi ta

    Có người thì mộng một trời mây bay

    Người thì còn mãi trắng đôi tay”

    Trữ tình, tha thiết, da diết khi đã chăn gối, tạo “dấu ấn tình yêu” trong đời ở Dạ Khúc Cho Tình Nhân của nhạc sĩ Lê Uyên Phương. Ở đây, bắt gặp niềm đau của cuộc tình từ hình ảnh thân thương, gắn bó tận khung trời Đà Lạt đến cảnh chia tay trong cuộc sống, rồi tái hợp trên sân khấu nơi hải ngoại như định mệnh khắc nghiệt, trớ trêu:

    “Ái ân ơi, đừng phụ lòng ta,

    Nhớ thương sau xin gửi người xa

    Khóc nhau trong cuộc đời”

    Một thoáng mê ly, ngất ngây, một thoáng ngậm ngùi khắc khoải ở lời ca của Lê Uyên Phương thấp thoáng trong lời thơ Đinh Hùng trong bài thơ Hương Trinh Bạch ở thi tập Mê Hồn Ca:

    Ta không biết, em ơi! ta không biết,

    Ai hững hờ, ai mộng với ai say?

    Những ai kề môi ân ái vơi đầy

    Những ai nói, ai cười như hứa hẹn?”

    Mang tâm trạng của người con gái khi yêu, trao thân cho người tình, không tiếc gì “cái giá nghìn vàng” mà nhạc sĩ Ngọc Trọng tỏ bày qua  ca khúc Em Vẫn Cần Anh:

    “Dù mai xa cách chỉ biết yêu anh

    Một lần ân ái, ngàn đời nhớ nhau hoài

    Anh về bên ấy từng chiều có nghe ê chề

    Tiếc nhau chi mảnh đời lúc xuân thì”.

    Trong tình yêu với “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên” (Thế Lữ), chỉ trong giây phút, nhớ nhau trọn đời. Đôi khi tận cùng của tình yêu bằng sự chiếm đoạt hay mong đợi sự đòi hỏi chỉ ái ân, ân ái mới có biến chuyển lớn lao trong cuộc đời, nhất là nữ giới – chữ trinh – chỉ một lần trong đời thay đổi cả cuộc đời, chỉ một phút giây để thay đổi danh xưng, bước từ lằn ranh nầy sang lằn ranh khác; và, vết tích đó luôn luôn xâm chiếm.

    Đôi khi bắt gặp nỗi xót xa, hờn dỗi bởi rơi vào tâm trạng chờ mong như dòng thơ Hồ Dzếnh:

    “Em tôi ơi, tình nghĩa có gì đâu

    Nếu là không lưu luyến buổi ban đầu

    Thuở ân ái mong manh hơn nắng lụa”

    Trong  ca khúc Bão Tình, Hoàng Trọng đã đề cập đến “thuở lưu luyến” khó quên:

    “Từ khi xa anh, lạnh xâm lấn tâm hồn em

    Tìm trong đơn côi luyến mơ xưa đêm từng đêm

    Mộng tình ân ái lúc ban đầu

    Tìm đâu thấy đam mê nào về ray rứt thêm tâm tư ngày nối ngày”.

    Vào thập niên 1940, Nguyễn Bính vang danh với nhiều thi phẩm, nhiều bài thơ được phổ nhạc rất được ái mộ. Bài thơ Hôn Nhau Lần Cuối:

    “Ta sẽ là vợ chồng

    Sẽ yêu nhau mãi mãi

    Sẽ se sợi chỉ hồng,

    Sẽ hát câu ân ái”

    Bài thơ nầy được Văn Phụng sáng tác thành ca khúc vào thập niên 50.

    Nhạc sĩ Lam Phương mang nỗi bi thương, tan nát khi người yêu trở thành “Tình Như Mây Khói”:

    “Lời xưa âu yếm trao người như mây như khói tan rồi

    Tựa kề vai em, sầu dâng muôn lối để nghe ái ân xa rời, tan nát lòng tôi!”.

    Nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn tha thiết, cuồng si với tâm tư tình cảm của người tình đã dâng hiến cho nhau còn ngất ngây cám dỗ qua ca khúc Về Đây Anh:

    “Em yêu anh trong giấc mơ nầy

    Em yêu anh trong những mê say

    Một trời ân ái mình hãy sống buông lơi thời gian”

    Trong ngôn ngữ thường dùng, chữ ái ân, ân ái ít khi nhắc nhở, nhất là nữ giới, nhưng trong âm nhạc đều có sự cảm nhận qua sáng tác để trang trải qua lời hát.

    Ca khúc Thao Thức nhạc Trần Đình Quân phổ theo thơ của Bùi Bích Hà:

    “Chưa cùng em ngày tháng tới nhọc nhằn

    Gối ân ái ru sợi buồn tóc rối

    Người xa rồi, nghe lạ chiếu chăn

    Giấc ngủ đêm qua anh về với nắng”.

    Ca sĩ Lưu Bích (ái nữ của nhạc sĩ Lữ Liên) mặn nồng, tình tứ, chứa chan… rồi lại xót xa với nhạc phẩm Hãy Nói Yêu Em Đêm Nay:

    “Tình nồng say… anh đã hứa trên môi

    Ngày sau đôi ta thề không rời.

    Vòng tay yêu thương ân ái đêm nao

    Vì đâu nay bỗng xa nhau?”.

    Nhạc phẩm Mối Tình Si của ca sĩ Mỹ Huyền (ái nữ của nhạc sĩ Thu Hồ) nói lên nỗi niềm “tận cùng đắng cay” bởi đã dâng trọn trái tim và thân xác “giữa lúc tình say” để rồi:

    “Bao nhiêu niềm ái ân dâng tràn khắp nơi

    Bao nhiêu niềm chua xót chất ngất hồn ta

    Lang thang lòng tê tái bước hoang trên đời

    Kêu than tình nhân thế giới giết chết niềm tin”.

    Nhạc sĩ Khúc Lan (em ruột nhạc sĩ Phượng Vũ) viết lời ở ca khúc ngoại quốc vương vấn nỗi niềm tiếc nuối bởi Trái Tim Lầm Lỡ khi đã dâng hiến thân xác:

    “Hởi trái tim lầm lỡ, hãy sống trong dại khờ,

    Những ái ân rồi sẽ chìm vào thương nhớ;

    Có nổi đau nào vẫn hoài niệm nhân gian,

    Nước mắt đêm mồ côi sẽ không còn mang!”.

    Nhạc phẩm Khi Mộng Tàn, nhạc ngoại quốc, lời Khúc Lan bầy tỏ nỗi niềm bi thương của cuộc tình đã “trao nhau” để rồi còn lại hình ảnh não nề lúc xa nhau:

    “Có lúc nước mắt sao mặn môi

    Vòng tay ân ái nay đâu rồi!”

    Với ca khúc ngoại quốc, vào thập niên 1960, nhạc phẩm Histoire d’un Amour của nhạc sĩ Carlos Almaran đã trở thành bài ca bất hủ loan rộng khắp thế giới, giới trẻ Việt Nam đã một thời say đắm, Nguyễn Đình Toàn chuyển ngữ từ lời Pháp của Francis Blanch với cơn mê tình yêu chất ngất:

    “Tình là cơn mơ khi ta còn thức chẳng cần ngủ say

    Tình là cây cao vươn mình đứng lên

    Nhựa đời căng da mềm ái ân

    Đợi ngày đang về tới sau đêm”.

    Đơn cử những ca khúc tiêu biểu đề cập đến ngôn từ quen thuộc được gọi bằng nhiều cách khác nhau nhưng chọn chữ có vẻ thanh tao để đưa vào ngôn ngữ âm nhạc, phổ thông, tự nhiên khi nghe và hát bất luận tuổi tác… để mô tả đến hình ảnh, động tác, giây phút riêng tư, kín đáo, cấm kỵ… như vô tình được hợp thức hóa trong đời sống, kể cả mặt đạo đức. Có khi lạm dụng ngôn từ nầy quá trớn như ở ca khúc Màu Xanh Noel với câu “Cho em gửi lại màu xanh ái ân”?.

    Vẫn màu xanh ấy với nhạc sĩ Đỗ Thu qua ca khúc Gửi Về Anh tơ vương hình ảnh dễ thương, thân quen của thuở học trò:

    “Thư xanh màu xanh ân ái

    Em vẫn lạnh lùng vì vắng anh”.

    Ca khúc Anh Không Chết Đâu Enh của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: “Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân. Giọt nước mắt nóng bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho anh” đã có nhiều ý kiến cho rằng dùng chữ ái ân trong tang lễ đau thương không phù hợp, nếu thay vào “lóng lánh bóng dáng anh” trân trọng, yêu quý hơn. Vì vậy khi viết lời ca khi nói về hình ảnh ái ân, ân ái phải phù hợp với môi trường, hoàn cảnh… Khi trình bày ca khúc với ca sĩ mọi lứa tuổi nam nữ cảm thấy tự nhiên, không có gì trần tục nên phù hợp. Và chứng tỏ độc giả, thính giả cũng không dễ dãi trong lời ca.

    Trên đây, dẫn chứng qua thi ca và âm nhạc với bốn chữ “ái ân, ân ái” của các nhà thơ, nhạc sĩ tên tuổi để tạo nguồn cảm hứng khi viết.

    Ca khúc I’ll Make Love to You của Mỹ năm 1994 với giai điệu nhẹ nhàng với lời ca: “I’ll make love to you. Like you want me to. And I’ll hold you tight. Baby all through the night” nhưng chữ make love tuy khác với have sex, go to bed with, sexual intercourse… nhưng không có vẻ văn chương như lời Việt ái ân, ân ái (?).

    Về địa danh, ở Đà Lạt có rừng Ái Ân, cuối con đường lên viện Pasteur, gần dinh Bảo Đại, là một trong những nơi hẹn hò của tình nhân. Tác phẩm văn chương Rừng Ái Ân của nhà thơ Hà Huyền Chi, xuất bản năm 1970 ở Sài Gòn đã chọn địa danh nầy làm đề tài, gợi sự tò mò với độc giả.

    Nói đến ái ân, ân ái để ngàn đời nhớ nhau, để tìm phút giây say đắm… là nói đến “nghệ thuật yêu đương, nghệ thuật chăn gối” mà từ nghìn xưa, ở Phương Đông khép kín đã từng đề cập. Hơn năm nghìn năm trước công nguyên ở Trung Hoa đã có những tập cổ thư đề cập đến nghệ thuật ái ân. Trong  quyển Tố Nữ Kinh nói về hình ảnh Hoàng Đế và Tố Nữ song luyện theo âm dương, ngũ hành, dưỡng sinh luyện khí, từ điểm nóng đến huyệt đạo… Hoàng Đế là một trong Tam Hoàng, Ngũ Đế từ Phục Hy (4480-4365 trước công nguyên) đến Thần Nông (3220-3080) và Hoàng Đế (1700-2600 trước công nguyên). Với 9 cách ái ân (cửu pháp) được gọi bởi danh từ hoa mỹ của 9 loại cầm thú như Rồng, Hổ, Vượn, Ve, Rùa, Phượng, Thỏ, Cá, Hạc… để mường tượng hình ảnh yêu đương. Vấn đề quan hệ luyến ái giữa Phục Hy & Nữ Oa đã trở thành đề tài cho giới cầm bút hằng nghìn năm nay. Ngoài ra, phương pháp “tu luyện” nhằm tạo cảm giác lâu dài để “cho dài tiếc thương” còn là phương cách điều trị suy nhược tình dục, thoạt nghe có vẻ cấm kỵ nhưng cũng là niềm ước mong của người trần.

    Theo Y sư Giang Hán Thanh, phương pháp Mật Tông trong vấn đề ái ân không phải là điều cấm kỵ mà chỉ là nguyên tắc “dĩ dục chế dục” nhằm điều hợp tính dục của con người. Phương pháp Mật Tông với nghi thức đơn luyện nam, nữ & song luyện để tạo năng lực khai mở luân xa (chakra) nhằm vấn đề “yêu đương” có được sự thông cảm tột cùng, sâu xa cho “say hồn… nhịp thở lâng lâng… ngàn đời nhớ nhau…” như lời ca của Dương Thiệu Tước, Lam Phương, Ngọc Trọng…

    Theo sự nghiên cứu của Viện Y Học Đài Bắc, công cuộc khám phá, khai quật ở Tứ Xuyên, Trường An, Giang Tô, Tân Cương… cho thấy hình ảnh ái ân “ngoại giao, tọa giao, lập giao…” bằng hội họa và điêu khắc có từ thời Tây Hán & Đông Hán từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến thế kỷ thứ II sau công nguyên. Sau nầy được vẽ lại trong nhiều bức tranh cổ của Trung Hoa & Nhật Bản cách nay cũng vài thế kỷ.

    Nghệ thuật ái ân của Ấn Độ cũng được hướng dẫn cách đây hơn hai nghìn năm nhưng trở thành “giáo khoa thư” vào thế kỷ XVI với danh xưng Kama Sutra với “bát thức”. Nghệ thuật nầy được giới điện ảnh Hollywood đưa vào nghệ thuật thứ bảy với hình ảnh của Declan, âm thanh của Michael Danna hư thực, thực hư thu hút hàng triệu triệu khán giả khắp thế giới. “Bát thức” của Kama Sutra “The Art of Making Love” từ “opening flower” đến “suspended” đã bắt gặp ở thi ca của Tố Như tiên sinh trong Truyện Kiều với bài học “vành trong tám nghề” từ “kích cổ thôi hoa” đến “nhiếp thần nhiệm tỏa” mà thuở học trò chỉ biết biết khái quát Tú Bà dạy cho Thúy Kiều.

    linga và yoni là biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực

    Ấn Độ Giáo thờ Linga và Yoni (bộ phận sinh dục của nam và nữ) trong các đền tháp, nhiều khối điêu khắc với hình tượng này. Linga và yoni được xem như là cội nguồn của sự sáng tạo, vị thần tối cao – thần Shiva – phổ nhiều nhất Đông Nam Á.  Với nền văn hóa, truyền thống và thuần phong mỹ tục xa xưa của Việt Nam, không phổ biến hình tượng nầy, chỉ có vài nơi trong tháp của người Champa.  Phương Tây thời xa xưa các nhà điêu khắc đã tạc hình ảnh ái ân ở nhiều nơi. Âu Mỹ dựa vào “nghệ thuật” hình tượng đó thời rồi sáng tạo thêm, phổ biến bừa bãi qua phim ảnh, video… tạo thành mối nguy đầu độc cho cả trẻ vị thành niên bị tiêm nhiệm, sa ngã vào con đường trụy lạc.

    Với nước Nhật tôn trọng văn hóa truyền thống cao đẹp nhưng dựng những hình ảnh công khai về bộ phận sinh dục đàn ông, đàn bà và còn cả lễ hội (!).

    Quyển Shunga dày khoảng 800 trang của Nhật, sưu tầm bức tranh từ đầu thế kỷ 18 về nghệ thuật hoa tình (erotic).  Đầu tiên, Shunga xuất bản như những chỉ dẫn cho giới kỹ nữ (giống như Tú Bà dạy cho Kiều trong thi phẩm của cụ Nguyễn Du). Nhưng dần dà các kỹ viện phát tiển nhiều ở Edo (cố đô Tokyo). Các cửa tiệm trong “quận đèn đỏ” ở Edo, gọi là Yoshiwara, bày bán tranh và sách Shunga làm quà lưu niệm…

    Đài Loan trước đây phản đối Nhật đã dựng những bức tường nô lệ tình dục, phụ nữ mua vui nơi công cộng! Nhưng khi Hàn Quốc vẫn mang mối hận với quân phiệt Nhật khi xâm chiếm lãnh thổ có hơn có cả trăm nghìn phụ nữ bị buộc phải làm việc trong các nhà thổ quân sự của Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến! Tháng 6/2017, Nhật triệu đại sứ tại Hàn Quốc về nước vì một bức tượng “phụ nữ mua vui” bị đặt bên ngoài lãnh sự quán Nhật tại thành phố Busan. Một bức tượng tương tự cũng bị đặt ngoài sứ quán Nhật tại Seoul và Tokyo muốn di dời cả hai bức tượng này.

    Vào thời điểm cuối thế kỷ XX, môn thuốc được xem như “thần dược” được phổ biến khắp nơi trên trái đất để kéo dai giây phút ái ân. Thuốc Viagra của hãng bào chế Pfizer được tung ra trong thị trường Hoa Ky vào tháng 4-1988 như một hiện tượng làm rùm beng trong ngành truyền thông. Ba nhà nghiên cứu bào chế thuốc Viagra là GS R.F. Furchgott thuộc Viện đại học New York, GS Louis J. Ingarro thuộc Viện đại học Los Angeles, GS Ferid Murad thuộc Viện đại học Y Khoa Texas được trao giải Nobel về Y Khoa năm 1998.

    Hình ảnh ái ân, ân ái qua điêu khắc, hội họa, phim ảnh không có tính cách trong sáng nếu gợi hình cụ thể, sống sượng kích thích tính dục… Tuy cho rằng nó mang tính chất nghệ thuật, lãng mạn khi thể hiện góc cạnh nào đó để cảm nhận. Nhưng với giới trẻ bị thành niên tạo hình ảnh sai trái!

    Với ngôn ngữ âm nhạc vừa tượng thanh vừa tượng hình, có vẻ nhẹ nhàng, êm ái, thấp thoáng giây phút yêu đương như tơ vương giăng mắc mối giao hòa, giao cảm mà người nghệ sĩ ghi lại qua cung bậc bằng nhiều thể loại khác nhau. Hãy thả hồn vào cõi mộng mơ để “tìm lại hình ảnh đã qua” trong lời ca, tiếng nhạc để con tim rung động, ngất ngây cho cuộc tình “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt” có còn hơn không, khỏi tiếc nuối, khỏi ân hận vì thời gian là tên đồ tể với trái tim.

    Với tên gọi ái ân, ân ái hay hai chữ khác có vẻ thoát tục nhưng với chỉ một tên gọi đa dạng (khoảng mười chữ) không được hay go, tục tĩu chỉ sử dụng ở phần tử hạ cấp, thiếu văn hóa. Với người đứng đắn, đường hoàng nghe cũng chói ta đừng nói gì nhắc đến trong văn chương, âm nhạc.

    Nói về dục vọng có thanh dục và trọc dục (tham dục) và chữ nghĩa cũng vậy, điều đáng nói tùy theo đầu óc suy nghĩ ở mẩu người trong cuộc sống tốt hay xấu.

    Vào thời kỳ đại chiến thứ II, trong chiến tranh Erich Maria Remarque đã viết tác phẩm văn chương lừng danh Le Temps d’Aimer et Le Temps de Mourir (Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết). Trong tình yêu của mỗi người làm sao mãi mãi trong êm đềm, “thà một phút huy hoàng” để yêu, nhỡ rơi vào “một thời để chết” thì cũng còn chút gì để nhớ.

    Little Saigon. January 2025

    Vương Trùng Dương

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    Sinh Tố K2 Cực Kỳ Quan Trọng 

    BS Phạm Hiếu Liêm

     Để phòng ngừa và chữa trị nhiều chứng bệnh của người già

    Từ hậu bán thế kỷ thứ 20 đến nay, tuổi thọ của con người đã tăng vọt, trung bình bây giờ là trên 80 tuổi. Với tuổi thọ gia tăng, các thứ bệnh như Ba Cao (Cao Mỡ, Cao Máu, Cao Đường loại 2), bệnh Suy Thận Mãn Tính, bệnh Tim Mạch, bệnh Xốp Xương và các bệnh Ung Thư cũng tăng theo.

    Y học tiến bộ mang đến các thuốc công hiệu giúp bệnh nhân sống lâu hơn như Statin cho Cao Mỡ, thuốc chống Angiotensin cho Cao Máu, thuốc Metformin cho Cao Đường loại 2 v.v.. Tuy nhiên, các chứng Ba Cao về lâu về dài vẫn gây suy thận mãn tính khiến một số không ít bệnh nhân phải cần đến giải phẫu ghép thận hay lọc máu (dialysis) để sống còn. Bất kể điều trị tinh vi và cẩn thận bởi các bác sĩ chuyên về thận đến đâu, nhiều bệnh nhân vẫn bị bệnh mạch vành tim sau khi đã lọc máu hay ghép thận vài năm mà nguyên nhân vẫn chưa được biết rõ.

    Trong khi đó, các bà sau tuổi tắt kinh bắt đầu mất dần calcium trong người đưa đến chứng xốp xương. Dùng hoóc môn estrogen có thể làm chậm sự lão hóa ấy nhưng có thể tăng nguy cơ bị ung thư vú. Quý bà được bác sĩ khuyên uống thêm calcium và sinh tố D để làm chậm sự tiến triển của xốp xương. Nhưng uống nhiều calcium là một con dao hai lưỡi: ngoài việc gây sạn thận, quá nhiều calcium khiến thành mạch máu bị đóng vôi gây bệnh tim mạch và tăng tử vong, trước đây tưởng chỉ gặp ở đàn ông uống calcium, nhưng gần đây cho thấy phụ nữ cũng bị như vậy.

    May thay, trong những năm gần đây khảo cứu cho thấy một loại sinh tố K, gọi là K2, có thể giúp phòng ngừa và chữa việc Calcium đi nhầm chỗ, đóng trên thành mạch máu gây tắc nghẽn, thay vì đóng lên xương giúp xương bớt xốp loãng.

    Sinh Tố K2 là gì ? Nguồn ở đâu?

    Từ lâu, chúng ta đã biết sinh tố K đóng vai trò quan trọng trong việc cầm máu và đông máu. Thật ra có hai loại sinh tố K: sinh tố K1 (Phylloquinone) chiếm 90% thành phần, là loại cần thiết cho máu đông, có nhiều trong các loại rau xanh như rau dền; 10% còn lại là sinh tố K2 (Menaquinone) đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển calcium từ máu đến đúng mục tiêu ở xương và răng thay vì phân phối bừa bãi khắp nơi gây nên các chứng bệnh đề cập trong phần dẫn đầu của bài này. Sinh tố K2 tổng hợp một số ít từ vi trùng trong ruột nhưng đa số đến từ thịt, sữa, lòng đỏ trứng gà, bơ và phó mát. Vì sinh tố K hòa tan trong mỡ, sữa và phó mát bị lấy mất mỡ sẽ không còn sinh tố K2. Hai thực phẩm có nhiều sinh tố K2 nhất là gan bò và món đậu nành lên men của người Nhật gọi là Natto. Sinh tố K2 có side chain isoprenoid từ MK-4 (chuỗi ngắn) đến MK-14 (chuỗi dài). Chuỗi trung bình MK-7 là loại thông dụng nhất vì dễ được hấp thụ qua đường ruột.

    Diagram Description automatically generated

    Trong các xứ kỹ nghệ, lượng sinh tố K2 từ thực phẩm chế biến ngày càng giảm thiểu bắt đầu từ thập niên 1950; và cho đến nay hầu như 100% người Mỹ không ăn đủ sinh tố K2 (cần tối thiểu khoảng 32mcg mỗi ngày). Những người Nhật có ăn đều món natto là nhóm dân duy nhất không thiếu K2 và họ sống lâu hơn, mạnh khỏe hơn với ít chứng bệnh lão suy hơn người Âu Mỹ.

    Tác dụng của sinh tố K2:

    Trên xương, sinh tố K2 tác động chất osteocalcin từ tế bào tạo xương osteoblast giúp điều động calcium kết với khoáng hydroxyapatite khiến xương thêm chắc và cứng, ngừa được xốp xương ở tuổi già.

    Trong mạch máu, sinh tố K2 có tác dụng vào chất đạm trên thành mạch máu Matrix GLA Protein (MGP), chống lại sự kết tụ của chất vôi trong mạch máu gây bệnh xơ cứng làm nghẽn tuần hoàn máu, đồng thời chống lại kết tụ calcium trong các mô mềm.

    Chúng ta có thể ví sinh tố K2 như cảnh sát lưu thông, giúp vận chuyển calcium trong máu đến đúng chỗ ở xương và răng thay vì đi lạc vào thành mạch máu và các mô mềm. Nhờ vậy mà răng và nướu răng cũng tốt hơn với sinh tố K2.

    Timeline Description automatically generated

    Bệnh nhân suy thận mãn tính uống sinh tố K2 phụ gia mỗi ngày được giảm cả suy thận lẫn bệnh tim mạch có lẽ do tuần hoàn máu đến thận tốt hơn; tác động của MGP khiến máu lưu thông đến da tốt giúp giảm các biến chứng ngoài da của người bệnh thận. Bệnh nhân tim mạch dùng K2 phụ gia sau hai năm thì lượng calcium đóng trong thành mạch máu cũng thuyên giảm đáng kể.

    Ngoài ra, sinh tố K2 còn có thể chống viêm, chống kháng insulin, và, mặc dù chưa có kết quả lâm sàng, trên lý thuyết có thể giúp ngừa và chữa Tiểu Đường loại 2.

    Diagram Description automatically generated

    Gần đây nhất, sinh tố K2 cho thấy khả năng chống ung thư, nhất là ung thư gan, một chứng bệnh không hiếm trên người già gốc Việt. Sinh tố K2 trên lý thuyết có tiềm năng kết hợp với hệ vi sinh vật ở ruột giúp ngừa các bệnh thoái hóa não bộ như Parkinson và Alzheimer nữa.

    Diagram Description automatically generated
    Diagram Description automatically generated

    Cách giản tiện nhất ở Mỹ để bảo đảm có đủ sinh tố K2 mỗi ngày là uống một viên từ 50mcg (micrograms) đến 100mcg Vitamin K2 MK-7 mỗi ngày, được bán trên thị trường mà không cần toa bác sĩ.

    Sinh tố K2 cùng với sinh tố D3 là hai phụ gia không thể thiếu để bảo đảm sức khỏe cho tuổi già. Nên bắt đầu dùng từ tuổi 50 trở lên (tuổi trung bình của phụ nữ tắt kinh). Các bệnh nhân bị xốp xương, bị bệnh tim mạch hay suy thận mãn tính nên uống sinh tố K2 ít nhất 100 mcg mỗi ngày để trị bệnh thay vì chỉ ngừa bệnh. Sinh tố K2 không làm giảm ảnh hưởng của thuốc chống đông máu trên các cụ có bệnh tim hay nghẽn mạch máu não.

    Trong những năm tới, chúng ta sẽ biết nhiều hơn về các lợi ích khác của sinh tố K2 trong tuổi già.

    Liem H. Pham, MD Former Jackson T. Stephens Professor and Vice-Chairman of the Donald W. Reynolds Department of Geriatrics, UAMS

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TS MAI THANH TRUYẾT

    Hygge – Sự Bình đẳng và Hạnh phúc của mọi Người

    Mai Thanh Truyết

    Khái niệm “hygge” của Ðan Mạch là một phần sâu sắc trong văn hóa của họ, tượng trưng cho nghệ thuật sống hạnh phúc và sự cân bằng trong cuộc sống. Hygge phản ảnh niềm thoải mái của Ðan Mạch mà chúng ta cần hơn bao giờ hết. Ðây là một thuật ngữ của người Bắc Âu – Scandinavia bao gồm cảm giác ấm cúng, hài lòng và khỏe mạnh tìm thấy thông qua việc trân trọng những điều nhỏ nhặt.

    Hygge không chỉ là về việc tạo ra một không gian ấm cúng, mà còn là trạng thái tâm lý khi con người cảm nhận được niềm vui từ những điều đơn giản chung quanh. Nó phản ánh các giá trị của Ðan Mạch về bình đẳng, hạnh phúc và tinh thần đồng thuận. Hygge là một cách sống thể hiện cảm giác ấm cúng, giản dị và hiện diện.

    16 ways to embrace hygge in Denmark …Ví dụ, hygge có thể là:

        Ngồi bên lò sưởi, cuộn tròn trong chiếc chăn ấm với một cuốn sách hay và một tách trà.
        Cùng bạn bè hay gia đình thưởng thức một bữa ăn ngon, với ánh nến lung linh tạo cảm giác gần gũi.
        Ði dạo dưới ánh sáng dịu dàng của buổi chiều tà, cảm nhận sự yên bình của thiên nhiên.
        Áp dụng lối sống đơn giản.
        Dọn dẹp đồ đạc lộn xộn và tạo không gian yên bình.
        Tập trung chỉ giữ lại những thứ quan trọng với bạn.
        Nhận thấy và tận hưởng với con người, môi trường và trải nghiệm tích cực mà bạn đã có chung quanh mình.

    Two-Girls-with-umbrella-on-bench
    Hygge nhấn mạnh vào việc trân trọng khoảnh khắc hiện tại, tìm kiếm hạnh phúc trong những chi tiết nhỏ bé và giảm thiểu căng thẳng. Không phải ngẫu nhiên mà Ðan Mạch luôn nằm trong đỉnh những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới; Cách sống hygge chính là một trong những yếu tố góp phần lớn vào điều đó.

    Các nhà nghiên cứu Smoyer và Miking định nghĩa hygge là một “thực hành phục hồi” “restorative practice” và nhấn mạnh cam kết mạnh mẽ của người Ðan Mạch đối với nó.

    Hygge là tạo ra bầu không khí và trải nghiệm để bạn cảm thấy thoải mái. Không phải là tiêu tiền hay lập kế hoạch lớn, mà là nhận ra và tận hưởng những con người, môi trường và trải nghiệm tích cực và tiếp tục nuôi dưỡng mà bạn đã có xung quanh mình.

    mother-reading-childrens-book
    Không lâu trước đây, khái niệm hygge của Ðan Mạch đã trở thành một từ ngữ cố định phổ biến trong tự điển toàn cầu. Chỉ tính riêng từ năm 2016 đến 2017, đã có hơn 30 cuốn sách được xuất bản về chủ đề lối sống “ấm cúng” của Ðan Mạch, và các ấn phẩm lớn như New York Times và Guardian đã phát hành các bài viết chuyên sâu về chủ đề này trong khi hầu như mọi công ty sản xuất đèn cầy, chăn mền và đồ mặc trong nhà đều xử dụng thuật ngữ này để tiếp thị sản phẩm của họ. Từ tiếng Ðan Mạch thậm chí còn lọt vào danh sách rút gọn năm 2016 cho Từ ngữ của năm của Oxford, danh sách này hàng năm nêu bật những cách diễn đạt được dùng rộng rãi nhất “có tiềm năng lâu dài cho ý nghĩa văn hóa”.

    Bạn có thấy triết lý này gần gũi hoặc có thể áp dụng trong cuộc sống của mình không?

    1.    Khái niệm hygge khó nắm bắt

    Khái niệm hygge của Ðan Mạch đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều bài viết và sách trong vài năm qua, được thúc đẩy bởi sự phổ biến của loạt phim truyền hình Ðan Mạch và tiểu thuyết tội phạm đen trắng Bắc Âu, cùng với nhu cầu về ẩm thực Bắc Âu mới. Chưa kể Ðan Mạch liên tục được xếp hạng là một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Hygge có xứng đáng được ghi nhận một phần công lao cho hạnh phúc đó không?

    Khái niệm hygge có thể bắt nguồn từ đầu những năm 1800 ở Ðan Mạch, Dane Meik Wiking, người sáng lập Viện nghiên cứu hạnh phúc Copenhagen, giải thích trong cuốn sách bán chạy nhất của tờ New York Times The Little Book of Hygge: Danish Secrets to Happy Living (William Morrow, 2017). Trong khi thuật ngữ hygge thực sự bắt nguồn từ một từ tiếng Na Uy, hugga, có nghĩa là “an ủi”, và cũng liên quan đến từ tiếng Anh “hug”.

    Roskilde Festival highfive
    Việc khái niệm hygge của Bắc Âu đạt đến mức độ hấp dẫn quốc tế trong thời kỳ Brexit ở Vương quốc Anh và cuộc bầu cử tổng thống của Trump tại Hoa Kỳ là điều phù hợp. Khái niệm này, bắt nguồn từ sự thoải mái, gắn kết và hạnh phúc, vốn có bản chất xoa dịu. Trong thời kỳ biến động, khi cả nhận thức của công chúng và cá nhân về sự an toàn và cộng đồng đều bị đe dọa, người ta thường khao khát một số giác quan mà hygge gợi lên. Bây giờ, trong một giai đoạn bất ổn toàn cầu khác, việc xem lại thuật ngữ này là điều phù hợp. Sau đây là mọi thứ bạn cần biết về khái niệm hygge của Ðan Mạch, bao gồm cách bạn có thể nắm bắt các khía cạnh của lối sống này trong thời điểm này, khi nhiều người trong chúng ta có thể cần đến nó.

    Rất khó phát âm, hygge (“hooga”) cũng khó giải thích. Tóm lại, hygge là dành thời gian thoát khỏi sự vội vã hàng ngày để ở bên những người bạn quan tâm – hoặc thậm chí là một mình – để thư giãn và tận hưởng những thú vui yên tĩnh hơn của cuộc sống.

    A group of people eating at a table Description automatically generated
    Ðối với đầu bếp người Na Uy Signe Johansen, tác giả của How to Hygge: The Nordic Secrets to a Happy Life (St. Martin’s Griffin, 2017), khái niệm hygge thường có thể liên quan đến các loại thực phẩm và đồ uống cụ thể, chẳng hạn như Rugbrødskage là bánh làm từ bánh mì lúa mạch đen (rugbrød) xay nhỏ, trộn với các nguyên liệu như sô-cô-la, trứng và đường, mang đến một hương vị đậm đà, hơi lạ miệng. hoặc Gløgg, một loại rượu vang nóng của Scandinavia với vỏ bạch đậu khấu và hoa hồi. Trong Hygge: The Danish Art of Happiness (Michael Joseph, 2017), tác giả người Ðan Mạch Marie Tourell Søderberg chỉ ra các vật dụng gia đình thường được coi là hyggelig, trong số đó có nến, lò sưởi, chăn đan tay và dép len nỉ.

    Không gian và thời gian Hygge thường là khoảng thời gian không chính thức cùng với gia đình hoặc bạn bè thân thiết. Thông thường, bối cảnh là ở nhà hoặc một địa điểm yên tĩnh khác, hoặc có thể là một buổi dã ngoại trong những tháng mùa hè. Nó thường bao gồm việc chia sẻ một bữa ăn và rượu vang hoặc bia, hoặc sô cô la nóng và một bát kẹo nếu có trẻ em. Không có chương trình nghị sự. Bạn ăn mừng những niềm vui nhỏ bé của cuộc sống, hoặc có thể thảo luận về những chủ đề sâu sắc hơn. Ðây là cơ hội để thư giãn và làm mọi thứ chậm lại.

    1.1.       Hygge | Yên Hy Set | Shopee Việt Nam Hygge trong sản phẩm và văn hóa đại chúng

    Các nhà thiết kế và nhà kinh doanh nhanh chóng tận dụng hiện tượng hygge. Có những cuốn sách về hygge – chánh yếu được người nước ngoài đọc – và đồ gia dụng hygge, đặc biệt là chăn ấm và nến thơm. Ngoài ra còn có quần áo hygge, chẳng hạn như chiếc áo len mềm mại tự nhiên mà nữ diễn viên Sofie Gråbøl mặc trong loạt phim truyền hình Ðan Mạch The Killing. Sự ấm áp và mềm mại của chiếc áo len được chọn để tạo sự tương phản với sự bạo lực đen tối trong cốt truyện của bộ phim.

    1.2.       Du lịch và hygge

    Khách du lịch đến thăm Ðan Mạch ngày càng muốn nếm thử hương vị hygge.

    Mặc dù hygge khó đạt được khi bạn không được bao quanh bởi những người bạn cũ và môi trường quen thuộc, nhưng một bữa tối thịnh soạn trong một nhà hàng lịch sử được bao quanh bởi những ngọn nến (như Duus Wine Cellar ở Aalborg, tọa lạc trong một tòa nhà từ năm 1624) là một cách tốt nhứt để bắt đầu.

    hygge eatery
    Cũng giống như một ngày nắng đẹp tại công viên giải trí Tivoli Gardens tuyệt đẹp ở Copenhagen, hoặc đi dạo cùng một người bạn dọc theo những bãi biển đầy gió ở bờ biển phía tây của Jutland.

    Hygge được coi là cuộc gặp gỡ của những người bình đẳng, ngay cả khi thực tế có sự mất cân bằng về quyền lực.

    2.    Văn hóa và Người Ðan Mạch như thế nào?

    Ðan Mạch là một xã hội bình đẳng, nghĩa là coi trọng sự bình đẳng, an toàn và tự do. …

    ·         Bình đẳng giới tính là một giá trị cốt lõi.

    ·         Thực hành Hygge trong cuộc sống hàng ngày của Ðan Mạch.

    ·         Cần giao tiếp với người Ðan Mạch và tìm hiểu về văn hóa Hygge của họ.

    ·         Sự hài hước và trung thực của Ðan Mạch cũng là một phần của văn hóa Ðan Mạch.

    Ðan Mạch nổi tiếng với sự hạnh phúc, những hòn đảo tuyệt đẹp, gạch Lego, bánh ngọt Ðan Mạch, văn hóa xe đạp và các công viên giải trí lâu đời nhất. Ðơn vị tiền tệ chính thức của Ðan Mạch là Krone Ðan Mạch hoặc DKK. Ðồng Euro cũng được chấp nhận ở các thành phố lớn.

    Người Ðan Mạch thường lịch sự và tử tế, mặc dù họ hiếm khi bắt chuyện với người lạ. Tuy nhiên, khi bạn tiếp cận một người Ðan Mạch với một câu hỏi cụ thể (chẳng hạn như hỏi đường), họ thường sẽ phản hồi tích cực và giúp bạn giải đáp mọi thắc mắc.

    Overhead view of cup of tea and small plate of lemon slices, with 3 white lit candles on tabletop
    Ở Ðan Mạch, đặc điểm là tin tưởng lẫn nhau khi nói đến kinh doanh, chính phủ hoặc các mối quan hệ cá nhân. Sự trung thực được mong đợi và tham nhũng trong kinh doanh hoặc giữa các công chức là rất hiếm.

    Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất ở Ðan Mạch. Tính đến năm 2024, 71,2% dân số Ðan Mạch là thành viên đã đăng ký của Giáo hội Ðan Mạch (Den Danske Folkekirke), nhà thờ được thành lập chính thức, có phân loại là Tin lành và định hướng là Luther.

    3.    Vài gợi ý trong cuộc sống

    Hygge là một khái niệm tuyệt đẹp và sâu sắc trong văn hóa Ðan Mạch, mang ý nghĩa về sự thoải mái, ấm áp và tận hưởng những khoảnh khắc giản dị trong cuộc sống. Ðây không chỉ là một từ ngữ, mà còn là một triết lý sống giúp con người tìm thấy hạnh phúc từ những điều nhỏ bé và gần gũi.

    What is Hygge Design? – JENRON DESIGNS Hygge có thể là việc ngồi bên ánh nến với một cuốn sách yêu thích, nhâm nhi một tách cà phê trong ngày mưa, hay quây quần cùng gia đình và bạn bè trong không gian thân mật. Những khoảnh khắc ấy giúp ta cảm nhận được sự kết nối và sự bình yên trong tâm hồn. Ðiểm đặc biệt của Hygge là nó không đòi hỏi sự xa hoa hay cầu kỳ, mà chỉ cần chú trọng vào việc tạo nên cảm giác thoải mái và hạnh phúc từ những điều đơn giản.

    Với người Ðan Mạch, Hygge cũng là cách để họ đối mặt với những tháng mùa đông lạnh giá và tối tăm. Thay vì chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, họ chọn cách sống hòa hợp với nó, tạo nên sự ấm áp từ bên trong, cả về vật chất lẫn tinh thần. Ðiều này có thể giải thích tại sao Ðan Mạch thường nằm trong danh sách các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới.

    Học hỏi từ Hygge, chúng ta có thể nhìn nhận cuộc sống theo cách chậm lại, yêu thương hơn và biết trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại.

    ·         Trong nhịp sống hiện đại bận rộn, đôi khi chúng ta quên mất giá trị của sự tĩnh lặng và những điều nhỏ bé.

    ·         Hygge nhắc nhở rằng hạnh phúc không nằm ở những gì lớn lao, mà nằm trong sự hài lòng với cuộc sống hàng ngày, với những điều thân thuộc quanh ta.

    Bạn cảm thấy triết lý Hygge có phù hợp với cách sống của bạn không?

    Cón sách sống Hygge như thế nào trong hiện tại?

    Cách sống Hygge thực sự có thể đem lại hạnh phúc cho con người, và điều này đã được chứng minh qua thực tế cuộc sống tại Ðan Mạch – một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Ðiều cốt lõi của Hygge không chỉ nằm ở việc tận hưởng những khoảnh khắc thoải mái, mà còn ở việc nuôi dưỡng cảm giác bình yên, sự kết nối và trân trọng hiện tại.

    The hygge conspiracy | Health …Dưới đây là những lý do tại sao Hygge có thể mang lại hạnh phúc:

    Trân trọng những điều giản dị: Hygge giúp con người tập trung vào những niềm vui nhỏ bé trong cuộc sống, từ một tách trà nóng, ánh nến dịu dàng, đến khoảnh khắc bên người thân. Khi chúng ta học cách yêu những điều đơn giản, hạnh phúc trở nên dễ dàng đạt được hơn, thay vì phụ thuộc vào vật chất xa hoa hay những mục tiêu lớn lao.

    Tạo ra cảm giác ấm áp và an toàn: Hygge khuyến khích tạo dựng không gian ấm cúng và thoải mái, nơi con người cảm thấy được bảo bọc và thư giãn. Trong một thế giới đầy căng thẳng và áp lực, cảm giác này giúp giảm bớt lo âu và mang lại trạng thái tinh thần cân bằng.

    Xây dựng kết nối xã hội: Một khía cạnh quan trọng của Hygge là dành thời gian với gia đình và bạn bè. Những buổi tối trò chuyện, ăn uống hay chơi trò chơi cùng nhau trong không gian thân mật giúp tăng cường sự gắn kết và hỗ trợ tinh thần, từ đó mang lại hạnh phúc bền vững.

    chair next to lit fireplace in dark roomKhuyến khích sống chậm và tận hưởng hiện tại: Trong thời đại mà con người thường bị cuốn vào nhịp sống nhanh và mục tiêu tương lai, Hygge là lời nhắc nhở quan trọng về giá trị của việc sống chậm lại, tận hưởng hiện tại và không để cuộc sống trôi qua vô nghĩa. Sự chánh niệm này giúp ta cảm nhận rõ hơn niềm vui và ý nghĩa của từng khoảnh khắc.

    Giảm áp lực về thành công hay cạnh tranh: Hygge không dựa trên sự so sánh hay thành tựu cá nhân. Thay vào đó, nó tập trung vào cảm giác hài lòng với cuộc sống mình đang có. Ðiều này giúp giảm căng thẳng và áp lực, tạo ra hạnh phúc từ sự bình yên trong tâm hồn.

    Thích nghi với khó khăn và biến chúng thành cơ hội: Người Ðan Mạch dùng Hygge như một cách để vượt qua mùa đông dài, lạnh lẽo và thiếu ánh sáng, vốn dễ gây ra cảm giác cô đơn và trầm cảm. Thay vì chống đối, họ biến thời gian này thành cơ hội để chăm sóc bản thân, tìm sự ấm áp trong gia đình và cộng đồng.

    Và sau cùng có phải Hygge sẽ phù hợp với mọi người?

    Mặc dù Hygge có thể mang lại hạnh phúc cho nhiều người, nhưng cách tiếp cận này cũng cần phù hợp với bối cảnh văn hóa và lối sống cá nhân. Ðối với những người quen với lối sống nhanh hoặc thích sự náo nhiệt, việc sống chậm và chú trọng vào sự bình yên có thể cần thời gian để thích nghi. Tuy nhiên, bất kỳ ai cũng có thể áp dụng những yếu tố nhỏ của Hygge, chẳng hạn như tạo không gian thoải mái trong nhà hoặc tận hưởng một buổi tối tĩnh lặng để cảm nhận hạnh phúc.

    Bạn có muốn thử một chút “Hygge” trong cuộc sống hàng ngày không?

    Chẳng hạn như dành thời gian thư giãn vào buổi tối hay tạo không gian ấm áp trong ngôi nhà của mình?

    Mai Thanh Truyết, Houston- Ðông chí 21/12/2024

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Nỗi Lòng Với “Chiếc Lá Cuối Cùng

    Vương Trùng Dương

     “La chanson que tu me chantais

    C’est une chanson qui nous ressemble”

    (Les Feuilles mortes. Nhạc Joseph Kosma, lời Jacques Prévert)

    Có vài ca khúc khi nhạc sĩ đặt tên giống nhau, trong đó có Chiếc Lá Cuối Cùng của hai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (lời Từ Linh) & Tuấn Khanh.

    Với ca khúc trữ tình Chiếc Lá Cuối Cùng, với tôi, đúng sáu thập niên với kỷ niệm xưa. Khi tôi sắp bước vào “Ngưỡng Cửa Quân Đội” từ Sài Gòn trở về thăm phố cổ Hội An, buổi tối hai đứa thả bộ qua An Hội, khi nói lời chia tay, chẳng biết nói gì hơn vì tâm trạng lúc đó như nỗi lòng trong ca khúc:

    “Đêm chia ly buồn gì sao chẳng nói

    Chỉ nghe em nói nhỏ trở về thôi…

    Xa nhau chưa mà lòng nghe quạnh vắng…

    Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”.

    Hơn một thập niên, ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng đã đi vào lòng người ngưỡng mộ âm nhạc ở miền Nam Việt Nam, và sau đó với những cuộc chia ly kẻ ở người đi như “chiếc cuối bay xa”!

    Với tâm hồn lãng mạn, giữa hai nhạc sĩ nầy liên quan đến bóng hồng trong ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng. Nhân kỳ thi hát của Đài Phát Thanh Pháp – Á năm 1953, Tuấn Khanh (Trần Trọng Ngọc, sinh năm 1933, khi ấy với bút danh Trần Ngọc) đoạt giải nhì sau nữ ca sĩ Thanh Hằng (Lê Lệ Hảo, sinh năm 1935 tại Hà Nội). Vào thời điểm đó Trần Ngọc chỉ là ca sĩ mới biết đến nên không chiếm được trái tim của ca sĩ khả ái, xinh đẹp Thanh Hằng mà cậu ấm nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (sinh năm 1924 ở Hải Phòng, lớn lên ở Hà Nội) với các ca khúc nổi tiếng trong đó với Tà Áo Xanh mang hình ảnh ca sĩ nầy… nhưng rồi “một chiếc lá bay xa”!

    Theo giai thoại cho rằng nhạc phẩm Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh với hình bóng   cô gái 13 tuổi, học trò thanh nhạc của ông trong thời gian dài đã ám ảnh tình cảm thầy trò lãng mạn… cho đến khi ông vào Nam. Với hình bóng đó, kẻ ở người đi “Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa”…

    Hơn mười năm trước, tôi viết bài Đoàn Chuẩn & Bí Ẩn Bóng Hồng “Gửi Người Em Gái”. Bài viết nầy đăng trong quyển Nhân Văn & Tình Sử, ấn hành năm 2015. Trong đó đã liệt kê các ca khúc của ông, có Chiếc Lá Cuối Cùng nhưng  nói về cuộc tình qua ca khúc Gửi Người Em Gái.

    Trích lại bài viết về Đoàn Chuẩn:

    Theo lời hiền thê của ông (bà Nguyễn Thị Xuyến) “… Đoàn Chuẩn rất đa tình. Ông đã sáng tác tặng một người đẹp của miền Bắc lúc đó sáu bài hát trong khi với vợ mình, ông chỉ viết tặng bà vỏn vẹn hai bài. Thời trẻ, ông đã từng dành ba năm thuê người mỗi ngày mang một bông hồng đến tặng người con gái mà ông yêu. Nhưng người bạn đời thông cảm tâm hồn lãng mạn của người nhạc sĩ…

    Đời ông phóng khoáng. Nghe nhạc ông lúc nào tôi cũng ngạc nhiên – sao ông tài thế? Mỗi bài hát là kỷ niệm một mối tình đi qua đời ông. Ông chỉ viết một bài cho tôi, hồi đó ông chưa lơ mơ ai cả…”

    … Người ta cho rằng nếu không bằng tình yêu một người đẹp nào đó chắc ông sẽ không thể viết ra những ca khúc hay như vậy. Không biết thực hư qua những mối tình lãng mạn của Đoàn Chuẩn ảnh hưởng đến ca khúc của ông đến đâu nhưng ông từng nói rằng, ông có một kỷ niệm sâu sắc với một nữ ca sĩ Huế từ hồi những năm 1950. Đó chính là ca sĩ Mộc Lan.

    Đoàn Chuẩn chỉ sau một lần nghe Mộc Lan hát bài Đi Chơi Chùa Hương của Trần Văn Khê phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp ở nhà hát lớn Hà Nội, đã đem lòng thầm yêu trộm nhớ. Sau cuộc diễn ở Hà Nội, Mộc Lan trở lại Sài Gòn… Đoàn đã đáp máy bay vào chơi Sài Gòn, hy vọng làm quen với Mộc Lan vì biết cô đã chia tay với người chồng nhạc sĩ. Khi ấy, Đoàn Chuẩn vốn là ông chủ hãng nước mắm Vạn Vân, giàu có ở Hải Phòng, từng có xe hơi riêng hiệu Buick Hoa Kỳ mà lúc đó cả miền Bắc chỉ có hai chiếc.

    Theo nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả Gợi Giấc Mơ Xưa – bạn của Đoàn Chuẩn – tiết lộ thì sau khi tới Sài Gòn, họ Đoàn đã tìm được địa chỉ của Mộc Lan trên đường Espagne ở Tân Định nhưng không trực tiếp “yết kiến” mà chỉ nhờ chủ một tiệm bán hoa tươi mang hoa đến tặng Mộc Lan mỗi sáng sớm, và không tiết lộ tung tích người gửi hoa. Đoàn Chuẩn đặt trước tiền hoa và tiền công cả tháng cho chủ hàng hoa tươi rồi trở lại Hải Phòng, không quên để lại địa chỉ liên lạc của mình.

    Sau 3 tuần nhận được hoa đều đặn, ca sĩ hoa khôi Mộc Lan không cầm lòng được đã đề nghị người đưa hoa cho biết tên người tặng. Được sự đồng ý của Đoàn Chuẩn, chủ hàng hoa đã thông báo cho Mộc Lan biết người gửi tặng hoa cho nàng chính là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cùng với địa chỉ kèm theo. Sau đó, nhạc sĩ họ Đoàn nhận được lá thư của người đẹp với lời cảm ơn và hy vọng có ngày được hội ngộ. Thế là Đoàn Chuẩn lại gửi tiền để chủ hàng hoa tiếp tục tặng hoa cho người đẹp liền 2 tháng nữa.

    Mấy tuần sau đó, Đoàn Chuẩn rất xúc động khi nhận được lá thư tiếp theo của Mộc Lan và ông đã biến tình cảm dâng trào của mình thành bản nhạc Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay với lời đề tặng M.L.

    Gặp gỡ và chia tay… Theo lời hiền thê của ông “Nhiều mối tình đã đi qua tâm hồn người nhạc sĩ đa cảm đa tình. Lúc còn sống, ông từng thú nhận rằng đời ông chỉ viết tình khúc, bởi ông trọng nhất là tình yêu. Những năm cuối đời ông bị tai biến mạch máu não, nằm liệt trên giường. Người bạn đời của ông vẫn còn lưu lại vẻ đẹp của một thời hoàng kim xa lắc luôn có mặt bên cạnh. Lúc ấy, khi nhắc lại chuyện xưa, cả hai ông bà đều cười rất tươi…”

    Cuối thập niên 40, Mộc Lan vào Sài Gòn, kết duyên với nhạc sĩ Châu Kỳ (1923-2008). Đôi uyên ương ra làm việc tại Đài Phát Thanh Huế. Năm 1954, trở lại Sài Gòn, ca sĩ Mộc Lan nổi tiếng hát hay và đẹp, trở thành đối tượng cho văn nghệ sỹ si tình nên… chia tay nhau. Sau thời gian sống trong khổ đau, u uất, Châu Kỳ gặp cô nữ sinh Kha Thị Đàng, 18 tuổi. Cô hoa khôi của trường nữ trung học Gia Long kết hôn với Châu Kỳ và sống bên nhau đến cuối đời.

    Sau khi rời Sài Gòn trở lại Hà Nội, Đoàn Chuẩn viết ca khúc Gửi Người Em Gái Miền Nam vào dịp Tết Giáp Ngọ (đầu năm 1955) nhưng đến năm 1956 mới ấn hành nhạc phẩm nầy…

    Trong bài viết của Hạ Đình Nguyên, phỏng vấn Mộc Lan và Tâm Vấn, cho biết, sau vài nghi vấn “Người viết đã có may mắn được gặp bà Tâm Vấn trong một cuộc triển lãm tranh ở đường Lê Thánh Tôn, bèn đánh bạo hỏi bà chuyện này. Bà cười xòa: “Không, ông ấy làm bài này là để tặng cho Mộc Lan, bạn tôi”…

    Tình khúc Gửi Người Em Gái… là một trong những bản tình ca tuyệt vời nhất của âm nhạc Việt Nam. Hình ảnh người em gái được viết lên với giai điệu nhẹ nhàng, với ngôn ngữ hòa nhập trong con tim rung động. Nhạc sĩ tài hoa như vậy nhưng sau khi sáng tác ca khúc đó, tâm sự đã được bày tỏ tình cảm,, nỗi niềm rồi vô vọng để rồi im lặng qua ba thập niên. Nếu có nuối tiếc cho cuộc tình vô vọng, chỉ còn gặm nhấm theo thời gian”.

    Với ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của Đoàn Chuẩn. Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng viết: “Rất ít người biết đến ca khúc có cùng tên do Đoàn Chuẩn & Từ Linh sáng tác năm 1955 trong tập Bài Ca Bị Xé… Có lẽ, một trong những lý do bài Chiếc Lá Cuối Cùng của Đoàn Chuẩn & Từ Linh có số phận hẩm hiu, ít người biết đến vì sau khi đất nước chia đôi, ở miền Bắc ai dám hát nhạc tình cảm ướt át từ một nhạc sĩ có gốc gác “tư sản” nặng như Đoàn Chuẩn? Bản nhạc này được tác giả cất giữ cho đến mãi sau 1986 – “thời kỳ đổi mới” – mới bắt đầu tiết lộ ra ngoài qua hai người con là Đoàn Đính và Đoàn Chính.

    Những bài trong tập Bài Ca Bị Xé, ông viết tặng ca sĩ Thanh Hằng  thời đó và theo nhạc sĩ Đoàn Đính, thứ nam của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn trong cuộc phỏng vấn với ký giả Ngọc Trần đã cho biết như sau: “Tuy yêu vợ nhưng bản chất của Đoàn Chuẩn là một nghệ sĩ đa tình. Vì thế khó trách cha tôi tội quá đào hoa. May mắn mẹ tôi là người đàn bà tinh tế, hết lòng vì chồng con… Mỗi bài hát là một mối tình đi qua đời ông”. Chính nhờ sự bao dung ấy của mẹ mà gia đình tôi được giữ trọn vẹn…”.

    Năm 1955, tuy sống cũng gần nhau ở Hà Nội nhưng không được gặp gỡ như trước kia vì nhạc trữ tình của Đoàn Chuẩn – Từ Linh bị “ghép tội” ủy mị nên cấm phổ biến trong khi đó ca sĩ Thanh Hằng đổi thành Lệ Hằng để tiếp tục kiếp cầm ca.

    Sống trong gia đình với vợ con nhưng Đoản Chuẩn vẫn tơ tưởng đến hình bóng “người đi qua đời tôi”:

    “Em thời xa, sương gió phôi pha

    Anh ngồi đây anh nhớ đến em

    Như cành khô trước lúc xa cây, gọi lá…

    Sao đôi tâm hồn đã quá xa xôi

    Trên những con đường thoảng hương hoa sữa

    Em đã nói gì, quá khứ? tương lai?

    Trăng sao trên trời còn khi chia đôi

    Nhưng tiếng ca nào còn lắng trong tôi…

    Hà Nội chiều nay trời lên mây trắng

    Chiếc lá cuối cùng rơi xuống chân em…

    Chiếc lá cuối cùng là của em đó

    Em hãy giữ gìn trước lúc chia tay”!

    *

    Vừa rồi, tôi nhận được email của người bạn thân từ ngày ở Đà Lạt, anh rất hiền, ít nói, chung thủy cả một đời khi lập gia đình và hình như chưa tâm sự với ai về chuyện tình cảm nhưng anh cho biết những dòng chia sẻ nầy nếu ngày nào anh vĩnh biệt cõi trần, tôi viết thêm hình bóng trong vài ca khúc của anh. Chưa biết ai sẽ ra đi trước nhưng sẽ ghi vào “giai thoại” để mỗi ca khúc mang tâm hồn lãng mạn.

    Khi tôi viết loạt bài Văn Nhân & Tình Sử, nhà thơ Thái Tú Hạp (đồng hương ở Hội An) nói tại sao không viết tình sử của bản thân?. Có mấy ai tự “vạch áo cho người xem lưng”?. Trong bài viết đã lâu, tôi ghi lại khi về Hội An, thưa với mẹ chuyện lập gia đình, mẹ tôi hỏi “Ủa, con lấy ai?”… Rồi sau nầy “thành thật khai báo” nhưng hiền thê – như bà vợ Đoàn Chuẩn – phán “biết tỏng tòng tong” miễn là giữ trách nhiệm cho đến cuối đời.

    Buổi tối cuối tuần, đang nghe Moonlight Sonata của Beethoven, thấy tin nhắn qua message cho biết, cả một đời thích âm nhạc, ca hát… mang lại niềm vui, an ủi cho bản thân và những người thưởng ngoạn, nhưng không ngờ ngược lại nên không còn tiếp tục!. Thật bất ngờ và hụt hẫng qua lời nhắn, khi nhắn lại thì bặt tin!

    Với tôi, tiếng hát ngọt ngào, nhẹ nhàng, truyền cảm đi nhẹ vào lòng người, bỗng dưng lìa xa sân khấu! Lại một lần nữa “Les feuilles mortes se ramassent à la pelle. Les souvenirs et les regrets aussi” và tiếng hát đó như “Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”!. Nỗi buồn vây quanh!

    Little Saigon, March 2025

    Vương Trùng Dương

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Chiếc Lá Trong Ca Khúc

    Vương Trùng Dương

    “Les feuilles mortes se ramassent à la pelle…

    Tu vois je n’ai pas oublié

    Les feuilles mortes se ramassent à la pelle

    Les souvenirs et les regrets aussi…”

    ((Jacques Prévert: Œuvres complètes Tome II)

    Bạn tôi, nhà thơ Triều Hoa Đại ấn hành tác phẩm Lên Rừng Đếm Lá. Nhân dịp nầy, người bạn vong niên từ thời ở Đà Nẵng – Lê Bảo Hoàng (nhà thơ Luân Hoán) – hai nhà thơ thực hiện cuộc trò chuyện với nhau.

    Theo Triều Hoa Đại thì khi rời bỏ đất nước ra đi, hình như một số anh, chị em trong đó có tôi đã bỏ “của” mà chạy lấy người nên đã không đem theo được một tác phẩm nào…

    Tôi ở một nơi rất xa cách sinh hoạt cộng đồng (vì công việc) cho nên đó cũng là những thiệt thòi về đủ mọi phương diện, mà đặc biệt nhất là sách báo thì tôi thiếu thốn vô cùng, những ngày tháng trước đây khi còn sinh hoạt với chữ nghĩa ở trong nước tôi đã có được một tủ sách gia đình đáng kể, bạn bè mỗi khi in sách đều gửi cho, nhà xuất bản cũng thương tình cho một vài cuốn thành ra một tác phẩm thường thì tôi được hai, hay nhiều hơn thế nữa do tác giả và nhà xuất bản ký tặng, giờ đây nhìn thấy “tủ sách” gia đình mà mình có được thấy ngậm ngùi, tủi thân chi lạ. Mở hộp thư bưu điện hằng ngày chỉ là để trông mong sách báo, ngóng chờ thư từ bằng hữu như người đi giữa sa mạc mong ngóng những cơn mưa.

    Vì vậy, tác phẩm đầu tiên của anh Lên Rừng Đếm Lá, anh đã “đếm” 17 chiếc lá, hầu hết là bạn văn với tác giả. Sau gần hai thập nhiên, có các chiếc lá đã lìa cành!

    Trong âm nhạc, có nhiều ca khúc với hình ảnh chiếc lá, có lẽ biểu tượng cho đời người, tình yêu… ở giai đoạn nào đó mang nỗi buồn man mác khi chia ly! Mà “Lòng người như chiếc lá, nằm trong cơn gió vô tình…” (Ngăn Cách của Y Vân). “Lòng người như lá úa, trong cơn mưa chiều. Nhiều cơn gió cuốn, xoay xoay trong hồn. Và cơn đau này vẫn còn đấy” (Bài Không Tên Số 2 của Vũ Thành An)…

    Vào thời tiền chiến, những tình khúc của Đoàn Chuẩn & Từ Linh được gọi nhạc sĩ của mùa Thu mà mùa Thu thường mang đến nỗi buồn. Mùa Thu là mùa của lá vàng rơi đã thể hiện qua nhiều bài thơ… Ca khúc Lá Đổ Muôn Chiều của Đoàn Chuẩn & Từ Linh:

    “Lá đổ muôn chiều ôi lá úa

    Phải chăng là những cánh đời em

    Đêm đêm lìa xuống trần

    Tình vương hoen úa ôi những cánh đời mong manh.

    Than tiếc mà chi chiếc lá vàng bay về cuối trời

    Làm lòng anh nhớ mãi người ơi.

    Nhớ nhau từ làn môi đôi mắt.

    Đành tìm trong nét bút xa xôi”.

    Ca khúc Lá Thư và “lá thư” gửi cho người tình khi đã trao thân:

    “Nhớ tới mùa thu năm nào

    Mình anh lênh đênh rừng cùng sông

    Chiếc lá thu dần vàng theo

    Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu

    Ngồi xõa tóc thề. Còn đâu ân ái chăng người xưa?”

    Câu ca dao “Dã tràng xe cát biển Đông” với hình ảnh con dã tràng khi thủy triều xuống, xây cát làm nơi trú ẩn nhưng khi thủy triều lên bị san bằng, ngụ ý bỏ công sức nhưng chẳng được gì như công cốc! Ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của nhạc sĩ trong tình yêu ví như lâu đài trên cát:

    “Hà Nội chiều nay còn như in bóng

    Dấu vết lâu đài trên cát anh xây

    Bóng dáng em về thấp thoáng đâu đây

    Chiếc lá cuối cùng là của em đó

    Em hãy giữ gìn trước lúc chia tay”

    Và ca khúc Ánh Trăng Mùa Thu:

    “Lòng hờn trăng cuốn thêm bao đời lá

    Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa!”

    Trong bài viết vừa qua Nỗi Lòng Với “Chiếc Lá Cuối Cùng” của tôi đề cập đến hai ca khúc của Đoàn Chuẩn và Tuấn Khanh cùng tên.

    Với ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh, được nổi tiếng ở miền Nam VN vào thập niên 1960’:

    “Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng

    Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang

    Chiều vào thu tiễn em sầu lạnh giá

    Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa…

    Xa nhau chưa mà lòng nghe quạnh vắng

    Đường thênh thang gió lộng một mình ta

    Rượu cạn ly uống say lòng còn giá

    Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”.

    Bài thơ L’Adieu của Apollinaire chỉ có 5 câu, Bùi Giáng dịch là Lời Vĩnh Biệt, Phạm Duy dựa vào ý thơ phổ thành ca khúc Mùa Thu Chết.

    Như đã đề cập ở trên, trên quê hương ngày xưa, mùa Hè nóng bức, mùa Đông giá lạnh, mùa Thu giao mùa giữa nóng và lạnh, là mùa của nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trong tâm trạng buồn, nhớ thương.

    Ca khúc Thu Vàng năm 1953, khi Cung Tiến chỉ mười lăm tuổi, mới rời Hà Nội vào Sài Gòn. Lời đề tặng: “Tặng Hà Nội của những ngày thơ ấu”. Với thể điệu valse như những bước chân chim nhảy nhót trên lá vàng với “màu tê tái”:

    “Mùa Thu vàng tới là mùa lá vàng rơi

    Và lá vàng rơi, khi tình Thu vừa khơi

    Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi

    Nghe chừng đâu đây màu tê tái”

    Ca khúc Lá Rơi Bên Thềm của Lê Trọng Nguyễn & Nguyễn Hiền:

    “Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương

    Tìm trong lá thu vàng trên lối đi về dĩ vãng

    Ngày thơ đã qua rồi sao vấn vương

    Mỗi khi sương chiều xuống

    Tìm bâng khuâng hình bóng năm nào…

    Lá rơi cho lòng hoài cố nhân

    Tìm trong lá thu vàng bao phút xưa đầm ấm

    Niềm thương khó phai mờ theo tháng năm

    Lá rơi bên thềm vắng

    Yêu mãi dáng Thu về bên song”.

    Lá Rụng Ven Sông của Hoàng Nguyên với thể điệu tango:

    “Hôm nao nhìn lá úa

    Rụng lác đác bên sông.

    Mây trôi về viễn xứ

    Gợi tiếc nhớ bâng khuâng…

    Thương ai đã thương ai rồi

    Dù tháng năm dần trôi

    Dù lá hoa tàn phai

    Lòng vẫn nhớ thương ai”.

    Ca khúc Lá Rụng Ven Sông của Phạm Duy, thơ Thế Lữ với thể điệu valse:

    “Còn đâu đêm sang lá đổ rộn ràng

    Còn đâu sương tan trăng nội mơ màng

    Còn đâu em ngoan tóc rối ngổn ngang

    Tuổi em đôi mươi xuân mới vừa sang”.

    Trong tùy bút trước đây của tôi với Đường Chiều Lá Rụng khi nói về cuộc chia tay nơi công viên lúc chiều tà, dựa theo tựa đề nhạc phẩm Đường Chiều Lá Rụng của Phạm Duy:

    “Lá vàng bay! Lá vàng bay!

    Như dĩ vãng gầy, tóc buông dài, bước ra khỏi tình phai

    Lá vàng rơi! Lá vàng rơi!…

    Lá vàng khô! Lá vàng khô!

    Như nét môi già đã nhăn chờ lên nẻo đường băng giá”

    Nhạc phẩm Thu Ca của Phạm Mạnh Cương trong phần điệp khúc:

    “Nhớ ai chiều thu

    Nhìn bao lá úa rơi đầy lối

    Nhẹ rung tà áo

    Làn môi cười thắm như cánh hoa đào

    Cách xa vì đâu!

    Dù bao lần lá hoa phai màu

    Rung chi cành hoa lá

    Khi tà dương đã khuất non xa”

    Trích dẫn những ca khúc tiêu biểu của các nhạc sĩ từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam – trong hoàn cảnh chiến tranh – nhưng những ca khúc trữ tình, lãng mạn tuy buồn, bi thương đã in sâu trong tâm hồn giới thưởng ngoạn.

    Sau năm 1975 lại đẻ ra tên gọi “nhạc Sến”, nhiều bài viết tranh luận quanh đề tài nầy và tôi cũng viết bài Dòng Nhạc Boléro, dòng nhạc phổ thông nhất trong hai thập niên đó bị “chụp mũ” vớ vẩn. Nay là dòng nhạc thịnh hành, ăn khách nhất trong nước. May thay những ca khúc về mùa Thu, lá vàng, lá khô… qua các giai điệu như đề cập ở trên không bị nằm trong “nhạc Sến”.

    Còn nhiều ca khúc khác, gần đây Lại Một Chiếc Lá Rơi của Phạm Anh Dũng ở miền Đông nước Mỹ:

    “Nhìn chiếc lá vàng rơi

    Mới hay mùa thu tới

    Trên từng ngày mong đợi

    Em vẫn còn xa xôi…

    Bao nhiêu năm xa người

    Tìm về con phố cũ

    Thu băng ngang giữa trời

    Lại một chiếc lá rơi”

    Năm 1990, khi mới tị nạn ở Nashville, tiểu bang Tennessee, lần đầu tiên trong đời vối rừng phong nhuộm vàng tuyệt đẹp mà thuở còn đi học chỉ mường tượng câu thơ “Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san” (Kiều – Nguyễn Du).

    *

    Ca khúc Les Feuilles Mortes, nhà thơ Jacques Prévert viết theo giai điệu do J. Kosma đã soạn sẵn. Ca khúc ra đời năm 1946, nội dung với kỷ niệm buồn cho tình yêu đã mất. Năm 1949, Johnny Mercer chuyển lời tiếng Anh Autumn Leaves, trở thành ca khúc nổi tiếng trên thế giới với các album của các danh ca. Theo GS Nguyễn Bảo Hưng (Jacques Prevert & Les Feuilles Mortes) cho rằng chủ đích của Kosma là soạn ra như là một nhạc phần (une partition) cho kịch vũ ba lê Le Rendez-Vous (Hẹn Hò). Lúc đầu Prévert định chỉ soạn lời cho nhạc phần của vở kịch vũ theo yêu cầu. Nhưng khi lắng nghe giai điệu để viết lời ca, Prévert đã bị thu hút bởi những nốt nhạc của giai điệu diễn tả một nỗi buồn thầm kín nhưng nồng nàn đằm thắm. Và ông đã không bỏ lỡ cơ hội, mượn giai điệu của Kosma để làm nền cho cuốn phim do chính ông soạn kịch bản và ‘lời thoại’, lấy tên Les Portes de la Nuit (Cửa Vào Đêm Tối), đêm tối ở đây mang ý nghĩa ẩn dụ “tử thần”), lấy nhạc Kosma làm nền cho phim… Nhạc Kosma trong Les Feuilles Mortes là một giai điệu buồn với những nốt nhạc khoan thai dìu dặt. Cộng thêm lời ca Prévert là những lời thơ chan chứa, nó càng có sức cuốn hút người nghe…

    Có nhiều bài viết cho rằng ca khúc nầy phổ thơ của Jacques Prévert. Có lẽ Prévert cảm nhận vào lời của ca khúc đó để làm bài thơ.

    Chẳng hạn như ca khúc Lệ Đá của Trần Trịnh. Theo lời Hà Huyền Chi, nhạc phẩm Lệ Đá trước hết không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của nhạc sĩ Trần Trịnh…

    Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội, Trần Trịnh ngồi vào piano. Và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ đó, rất Pianissimo ấy. Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hương của bản nhạc.

    Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hòa được cái rung cảm đích thực của thơ tôi vào nhạc Trần Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn…

    Sau nầy Hà Huyền Chi cảm hứng viết thêm 4 lời cho ca khúc nầy. Nhiều người cho rằng thơ Hà Huyền Chi.

    Với nhạc phổ thơ thì dựa vào thơ, ý thơ. Nhạc và lời thì khi nghe nhạc qua giai điệu để đặt lời, trước đây tôi đã đề cập qua bài viết về nhạc và thơ, thơ và nhạc.

    Nhạc sĩ Phạm Duy có tài viết các ca khúc ngoại quốc lời Việt nhưng với ca khúc nầy trước năm 1975 và sau nầy hát theo lời Pháp, Anh.

    Ngoài ca khúc Lá Rụng của Hoàng Trọng, tôi thích nhất ca khúc Nhặt Lá Vàng

    “Mùa thu mây trắng lững lờ, không gian mờ mờ

    Người đẹp đi trong mơ

    Nhẹ nâng tà áo dịu dàng

    Nhặt lá thu vàng, dệt mộng đón thu sang…

    Lặng trầm gió trút lá, bỗng dưng sầu

    Nhặt từng chiếc lá úa, nhớ thu nào

    Chia ly muôn kiếp vẫn sầu

    Ðể nhớ cho nhau nào ai có thấu

    Người yêu xỏa tóc mong chờ

    Dù xưa hẹn hò mà giờ đây bơ vơ

    Mùa thu này cũng đẹp trời

    Mà thiếu một người, nhặt lá vàng rơi!…

    Mùa thu này khóc một mình

    Mộng ước không thành, để buồn những ngày xanh”

    Ngày đó, Mai Hân và nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo thực hiện vào mỗi tối Thứ Tư hàng tuần trên sóng đài phát thanh Quân Đội với chương trình Nghệ Sĩ Với Chiến Sĩ. Ngoài giọng đọc truyền cảm của xướng ngôn viên, ca sĩ Mai Hân hát với nhiều ca khúc, riêng tôi, Nhặt Lá Vàng thành công và hay nhất.

    *

    Tôi đã vài lần trao đổi với nhà thơ Triều Hoa Đại và các bạn văn khi bước vào tuổi già ở hải ngoại thường nhớ lại quá khứ của một thời trong văn chương nghệ thuật. Bước vào tuổi tám mươi, thời gian không còn dài… như lá vàng trên cây, chỉ cần cơn gió thoảng sẽ lìa cành rơi rụng. Với những tác giả nêu trên, hầu như đã chia sẻ qua các bài viết trong quá khứ.

    Mỗi chiều yên ả, ra ngồi backyard nhìn những chiếc lá vàng trên hai cây magnolia (chi mộc lan) rơi rụng, nghĩ đến ngày mai “les feuilles mortes” để “les portes de la nuit” và rồi “Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa!, “Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương, hoài cố nhân”… Vàngày nào đó khi có chiếc lá rơi “cố nhân xa rồi” mấy ai gọi đến tên!

    Little Saigon, April 2025

    Vương Trùng Dương