-
Cái Tóc Là Góc Con Người
Vương Trùng Dương

Cái răng, cái tóc là góc con người
Nhưng cái tóc thường ám chỉ với nữ giới vì “người đẹp nhờ tóc”. Về nhân tướng học, có nhiều khuôn mặt thích ứng cùng với mắt, mũi, miệng… và kèm theo đó với răng và tóc. Trong Hồi Ức Một Đời Người của Nguyễn Ngọc Chính có chương đề cập đến mái tóc, và tùy theo nhãn quan của mỗi người với phái nữ về tóc ngắn, tóc dài.
Theo Nguyễn Ngọc Chính: “Tôi rất dễ bị ‘hớp hồn’ vì những mái tóc dài của phụ nữ. Điều này đồng nghĩa với việc tôi không thể dành cảm tình cho những mái tóc ngắn kiểu ‘demi-garcon’ như trong bài hát Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ của Phạm Duy, phổ nhạc theo thơ Nguyễn Tất Nhiên:
“Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ. Này cô em tóc demi garçon”…
Cô em Bắc Kỳ nho nhỏ thì được. Nhưng cô em tóc demi-garçon lại không phải là ‘gout’ của tôi. Một mái tóc ngắn làm sao tạo cảm giác hấp dẫn mỗi khi vuốt ve. Đó là chưa nói đến hình ảnh gợi cảm của một mái tóc dài, chỉ nhìn thôi cũng đã thấy quyến rũ hơn một cái đầu ngổ ngáo kiểu con trai. Biết đâu chừng, trong suốt cuộc đời chưa bị một người phụ nữ tóc ngắn kiểu ‘demi garçon’ nào ‘hớp hồn’ cho nên tới giờ này chuẩn bị ‘xuống lỗ’ mà vẫn còn… chung thủy với cái ‘gout’ tóc dài từ thời niên thiếu.
Có một dạo, khoảng thập niên 1960s, các cô gái Sài Gòn chuộng ‘mốt’ buộc thêm cái bandau lên mái tóc. Dẫu rằng bandau có những tác dụng thiết thực như giữ cho tóc khỏi lòa xòa trước trán nhưng tôi không cho như thế là đẹp. Bandau, nếu là màu trắng trên trán, khiến cho người đối diện liên tưởng đến vành khăn tang và như thế đâu còn nét quyến rũ của người phụ nữ trước cánh đàn ông nữa. Thay vào đó là ý nghĩ tang tóc đáng sợ!
Tóc cột theo kiểu ‘đuôi gà’ (queu de cheval – người phương Tây gọi là kiểu tóc đuôi ngựa) cũng là một ‘mốt’ của các cô thời đó, nhưng có điều chỉ thích hợp với những người còn trẻ…
… Thật không ngờ, mấy chục năm sau mái tóc đuôi gà lại xuất hiện trong đời tôi qua hình ảnh người tình. Dù chỉ là sự xuất hiện thoáng qua nhưng cũng để lại một kỷ niệm khó quên. Hôm đó là một buổi trưa móng bức giữa Sài Gòn, nàng sửa soạn đi dạy học và bước ra đường với một mái tóc kẹp lệch sang một bên cho đỡ nóng. Một thoáng rùng mình. Tôi ngây ngất đứng nhìn nàng bước ra khỏi nhà với mái tóc đuôi gà…
Mái tóc vén cao cũng là một hình ảnh quyến rũ của người phụ nữ, nhất là những người có vóc dáng quý phái, sang trọng. Tóc vén cao thường hợp với những làn da trắng nuốt trên gáy, nổi bật với vài sợi tóc lòa xòa trên cổ…
Vào thời đại hiện tại, văn minh tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp các bà các cô ‘duỗi tóc’ thật thẳng hay nhuộm tóc đủ màu và thậm chí còn ‘hilight’ pha màu từng cụm tóc trông như một ‘palette technicolor’ của người họa sĩ chuẩn bị vẽ một bức tranh. Tôi quan niệm, cái đẹp phải xuất phát từ tự nhiên. Đẹp tức là những gì tự bản thân mình có chứ không thể nào vay mượn từ những cái mình không có (?)…
… Tôi kỵ nhất khi phải đối diện với phụ nữ trên đầu chỉ toàn… ống cuốn tóc. Thường thì các ông chồng phải cam chịu ‘ngậm đắng nuốt cay’ với cảnh này. Các bà vợ muốn ra đường với một mái tóc đẹp nên rất chịu khó cuốn tóc khi còn ở trong nhà và các ông chồng là người chịu nhiều thiệt thòi nhất: phần xấu xí mình phải gánh chịu còn phần tốt đẹp thì thiên hạ được chiêm ngưỡng…”
Ca dao ta có câu “Tóc mai sợi ngắn (vắn) sợi dài. Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”. Tác phẩm Tóc Mai Sợi Ngắn Sợi Dài của Phạm Tú Uyên gồm 13 chương. Tác giả viết về cố đô Huế của thuở học trò với chân dung người tình qua mái tóc “Tôi mơ màng về lại ngày xưa, em hiện ra xinh xắn với mái tóc dài đen mượt, đang ngồi bàn trên lớp học. Mái tóc đong đưa, nhảy múa trước mặt và cả mùi hương từ tóc em đã cột chặt hồn tôi lại, đã đưa tôi bồng bềnh trong nỗi nhớ mênh mang” (Chương 6). Tác giả viết về cố đô Huế với những kỷ niệm bên cạnh người tình cho đến thời điểm tang thương vào tháng Ba năm 1975, chàng bị cụt chân, người tình ghé thăm với mái tóc ngày nào còn phảng phất mùi mùi hương…
Tác giả nầy yêu quá sớm, thuở đó thời học sinh ở trung học Đệ Nhất Cấp (Đệ Thất đến Đệ Tứ) nam nữ học chung, ngồi sau nữ sinh, chúng tôi thuộc loại “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” chưa yêu nên quậy tới bến, cột tóc dài của mấy cô ngồi trước… nên vài lần bị thầy/cô cho ra khỏi lớp. Khi lên Đệ Nhị Cấp ban C mới “Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Thơ Xuân Diệu).
Nhạc sĩ Phạm Duy lấy từ ca dao nầy soạn thành ca khúc Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài “Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc. Thuở ấy anh vừa thôi học xong”.
Tóc mai là phần tóc ở phía trước vành tai, và kéo dài đến cuối lỗ tai. Nam thì cắt tóc, chấn ngang giữ vành tai, nữ thì để tự nhiên, tăng thêm sự hài hòa, thanh thoát trên khuôn mặt.
Tròng bài thơ Màu Thời Gian của thi sĩ Đoàn Phú Tứ ca ngợi hình ảnh:
“Tóc mai một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương”.
Hai chữ dao vàng trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:
“Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi”.
(Trong Truyện Kiều chú giải: Dao vàng, vàng đây là dịch chữ kim trỏ kim loại, kim thuộc như đồng, sắt… Vậy dao vàng không nên hiểu kim loại bằng vàng, chỉ là con dao thường bằng sắt. Nói thế cho đẹp lời văn mà thôi. Kiều lấy dao cắt một ngụm tóc để thề).
Với phái nữ, tóc dài, tóc ngắn tùy theo khuôn mặt để có sự hài hòa, thanh thoát và tùy theo sở thích của mỗi người (nam, nữ) được diễn tả trong thi ca, âm nhạc…
Chuyện vãn lần nầy nói về tóc dài của thuở xa xưa ở quê nhà với nữ giới vì với Âu Mỹ thường là tóc ngắn nên không có sự phân biệt gì cả.
Nhân Ngày Hiền Mẫu, trước đây tôi viết bài về hình ảnh mẹ tôi của thời ấu thơ, mẹ tôi bán sạp vải ở chợ, buổi trưa giao cho con gái về nhà gội đầu chùm kết (bồ kết) và vỏ bưởi, khi hong tóc mùi thơm loan tỏa khắp nhà, tôi quạt cho tóc mẹ mau khô. Tóc mẹ rất dài và búi tóc (từ mái tóc đen cho đến khi bạc trắng) và từ đó hình ảnh tóc dài đã in sâu trong tâm hồn… Vì vậy (với cá nhân) thiện cảm với tóc dài. (Người Bắc thì quấn khăn vành dây bằng nhung).
Trong bài Những Sợi Tóc của Nguyễn Ngọc Chính: Xứ Huế có câu ca dao “Bớ cô tóc xõa kề bề. Cô mặc áo trắng, tóc thề ngang vai”… Nhiều người tự hỏi, tại sao gọi là “tóc thề”? Một giải thích cho rằng những cô gái miền Sông Hương, Núi Ngự để “tóc thề” để nói lên sự ngây thơ, khép kín. Rồi mái tóc thề xuông đuột xõa kín bờ vai đó sẽ có ngày biến mất khi nàng thơ sang ngang để lại một nỗi buồn man mác trong lòng kẻ tình si!”.
Tóc thề là những sợi tóc ngắn phất phơ hai bên trán và vành tai, tạo vẻ duyên dáng, thơ ngây. Tóc thề ngoài ý nghĩa thề hẹn, biểu tượng sự thủy chung, sắc son… Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du:
“Tóc thề đã chấm ngang vai
Nào lời non nước, nào lời sắc son”.
Với Huế, ca khúc Huế Ngọc của nhạc sĩ Võ Tá Hân:
“Huế có gì để tôi phải thương
Bên ni bên nớ mấy độ đường…
Mái tóc thề xõa trên bờ vai
Cho tôi nhung nhớ tháng năm dài
Nón lá nghiêng che đôi mắt ngọc
Cho tôi thờ thẫn mộng thiên thu”
Trong ca dao với hình ảnh:
“Một thương tóc xõa đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương đôi mắt như sao hiền mùa thu…”
Nhạc sĩ Châu Kỳ, người con xứ Huế với ca khúc Mái Tóc Thề:
“Tôi thương mái tóc thề dịu men tình trong nhân thế
Tôi thương mái tóc thề con đường màu thắm hương quê
Hình dáng đó còn mơ em tôi ơi đẹp thơ
Mái tóc thề tình xưa”.
Nhà thơ Kiên Giang với bài thơ Tóc Thề Xứ Huế
“Cuối tháng, thầy vô trường võ bị
Xa trời Đồng Khánh, học trò yêu.
Xa rời Bến Ngự sông An Cựu
Nắng đục, mưa trong lắng tiếng chiều…
Đêm nay em viết trong lưu bút
Xin gọi thầy bằng một tiếng anh.
Đuôi tóc thề kèm thư mới viết
Gởi về Gia Định, mộng ngày xanh”.
Ca khúc Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương:
“Em buông lơi tóc thề
Tình mình theo cơn lốc về
Em như mưa nắng hạ
Hôn bờ biển xanh sỏi đá…”
Với mái tóc thề khi thắt bím của tuổi nữ sinh với nhà thơ Kim Tuấn, người con xứ Huế trong bài thơ Ngày Em Còn Thắt Bím:
“Tóc bím nghĩa là tóc dễ thương
Tóc bâng khuâng lá rụng bên đường
Tóc chia đường gió, chia thương nhớ
Chia nỗi buồn cho ai vấn vương.
Tóc bím nghĩa là tóc mộng mơ
Để ai thương nhớ, để ai chờ
Để ai ngơ ngẩn giờ tan học
Em vẫn vô tình, em lửng lơ”.
Với mái tóc dài được mô tả như suối tóc. Ngày đó, nhà thơ Quang Dũng với hình ảnh Suối Tóc:
“Thuở ấy em ngồi trên cửa gác,
Tóc buông hong với gió đầu thu
Em mải mơ gì dưới nắng êm?
Tóc như suối mực chảy êm đềm”
Nhạc sĩ Văn Phụng qua ca khúc Suối Tóc:
Tìm cho thấy liễu xanh, xanh lả lơi
Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai
Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai
Anh với em một đêm thu êm ái…
Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau
Như chúng ta đôi lần hàng gắn thương yêu”.
Ca khúc Chiều Tím của nhạc sĩ Đan Thọ:
“Chiều tím, chiều nhớ thương ai
Người em tóc dài
Sầu lên phím đàn
Tình vương không gian
Mây bay quan san có hay?…
… Tóc bay dài, gió viễn khơi”
Trong bài viết Người Đẹp & Suối Tóc của ca sĩ Quỳnh Giao ghi nhận:
“… Ngẫm lại thì nhạc ngoại quốc có lời từ ca tụng nhiều nhất là đôi mắt, ngay sau đó tới… thân hình. Còn các nhà thơ và giới sáng tác của chúng ta chỉ cần mê đôi mắt và… ca tụng mái tóc thì “cũng đủ lãng quên đời”. Hèn chi mà Đinh Hùng viết “một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc….”
Vì vậy, xin nói về mái tóc trong các nhạc khúc xa xưa.
Từ thuở phôi thai của nền tân nhạc, Thẩm Oánh có bài Suối Huyền nhịp Slow, viết theo giai điệu Hạ Uy Di, nghe lả lướt óng chuốt, tiếc là đã lâu không còn ai hát lại nữa. Người viết thì còn nhớ hình bìa in ảnh cô Tâm Vấn với mái tóc dài, dợn sóng và khóe mắt hồ thu. Cũng theo lời thân mẫu kể lại thì ông viết để tặng mái tóc nổi tiếng ấy.
Suối huyền, lả buông làn tóc
Thướt tha, óng chuốt uốn lưng ong…
Nhớ lại thì cả Thẩm Oánh và Văn Phụng đều cùng thấy mái tóc óng mượt chảy xuôi như môt dòng suối.
Khi kết duyên cùng Châu Hà, nhạc sĩ Văn Phụng viết bài Suối Tóc, với lời của Thy Vân. Ca khúc có nét tân kỳ quý phái với điệu Boston dìu dặt như nhịp bước của đôi tình nhân. Không biết tác giả có lời yêu cầu với ông Thy Vân không, mà lời ca thì rõ là để tả mái tóc thời ấy của cô Châu Hà. Buông dài đến tận lưng, mầu nâu nhạt óng ả. Cho đến nay, ca khúc này vẫn còn được hát, đơn ca hay song ca, tam ca đều hay. Và dĩ nhiên người hát bài này tình tứ nhất là Châu Hà. Chứ còn ai nữa!… (sau nầy ca sĩ Châu Hà cắt tóc ngắn)
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền có nét nhạc bay bướm mềm mại và viết bài Mái Tóc Dạ Hương phổ thơ Đinh Hùng rất đạt. Nhịp Boston êm đềm và cung Trưởng trong sáng làm cho ca khúc dễ hát dễ nghe. Ngày xưa Thanh Lan hát bài này trong cassette của Phạm Mạnh Cương rất dễ thương.
Từ giã hoàng hôn trong mắt em
Tôi đi tìm những phố không đèn
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút ân tình hương tóc quen…
Hồi còn làm nhân viên cho phòng kỹ thuật cho đài phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ Hoài Linh có sáng tác bài Về Đâu Mái Tóc Người Thương, thường được Thanh Thúy trình bầy và thính giả rất thích vì tưởng tượng ngay ra mái tóc rất đặc biệt của người nữ ca sĩ có nét đẹp rất Liêu Trai…
Hồn lỡ sa vào đôi mắt em
Chiều nao xoã tóc ngồi bên rèm…
Cũng ở hải ngoại, nhạc sĩ Thanh Trang của Duyên Thề sáng tác thêm nhiều ca khúc trữ tình đẹp cả từ lẫn nhạc. Bài anh viết về mái tóc phổ thơ Hà Nguyên Dũng có tựa đề rất nên thơ là Tóc Em Vẫn Là Hương Của Mẹ. Nét nhạc mang âm hưởng cổ kính của đất Thần Kinh.
Trời đang nắng bỗng mưa nào ai biết
Mưa ướt rồi mái tóc sẽ phai hương
Anh yêu lắm mùi hương trên làn tóc
Em đi qua thơm ngát cả con đường…
Cho ai lời hẹn xưa…
Chắc là còn nhiều lắm mà khuôn khổ một bài tạp ghi không cho người viết kể lể nhiều hơn. Người Tây phương ít khi rưng rưng chỉ vì một sợi tóc, chứ người Việt chúng ta lãng mạn mà kín đáo. Thương mái tóc là nhớ cả dáng người. Phải chăng vì mái tóc là biểu tượng của sự dịu dàng thơm tho, và cả nét đẹp của tâm hồn người yêu mái tóc nữa?
Nghĩ lại thì lối ca tụng cái đẹp tinh khiết và thánh thiện đó là một phong cách văn minh mà mình nên gìn giữ” (Quỳnh Dao)
Theo lời kể Văn Phụng không biết đặt tên cho bản nhạc ấy là gì. Rồi bỗng nhìn mái tóc Châu Hà dài chấm đất của cô gái và nói: “Mái tóc cô đẹp quá, thật là suối tóc. Đặt tên bản nhạc là Suối tóc nhé!”. Ca khúc Suối Tóc ra đời từ buổi đó. Ban tam ca với các ca sĩ Châu Hà, Mộc Lan, Kim Tước trong ban Tiếng Tơ Đồng một thời nổi tiếng ở Sài Gòn, nay chỉ còn ca sĩ Kim Tước ở Quận Cam (Tôi rất thích ca khúc Cát Biển của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ban tam ca nầy, sau nầy có ban tam ca Kim Tước, Quỳnh Dao, Mai Hương ở Little Saigon, ngoài ra không thể nào có ban tam ca nữ nào như vậy).
Nhà thơ Đinh Hùng trong bài Mái Tóc Viễn Phương:
“Xa trời, lưu lạc hồn quê
Có phai, xin để ngày về hãy phai
Viễn phương mái tóc bay dài
Nghiêng vai sương lạnh, thương hoài vầng trăng”.
Và cuối cùng “Tóc em xõa xuống đôi bờ vai nhỏ. Dòng thác nào cuộn chảy giữa lòng tôi” (Cây Điệp Vàng, nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện, thơ: Nguyễn Thái Dương). Rồi “Một ngày nào đó tóc xanh xưa bạc màu” (Bản Tình Cuối của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên). Đến khi đó thì “Tình cờ đất khách gặp nhau. Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được?” (Tình Già của nhà thơ Phan Khôi). “Thôi em xanh mắt bồ câu. Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau” (Kiếp Sau của nhà thơ Cung Trầm Tưởng).
Vương Trùng Dương, Little Saigon, Valentine’s Day
-
Ngũ quả ngày Tết

Trong văn hóa Á Đông, số 5 có ý nghĩa tượng trưng đặc biệt.
Đó có thể là Ngũ Hành : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, và Thổ.
Đó có thể là Ngũ Phúc : Phú (giàu có), Quý (sang cả), Thọ (sống lâu), Khang (khỏe mạnh), và Ninh (an toàn).
Trong kinh Vu Lan Bồn do Đức Phật thuyết pháp. Để cứu mẹ khỏi kiếp ngạ quỷ, Mục Kiền Liên cần chuẩn bị các lễ vật để cúng dường chư Tăng. Trong đó, có ngũ quả.
Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ.
Mười phương Tăng đều dự lễ này.
Phải toan sắm sửa chớ chầy,
Thức ăn trăm món, trái cây năm màu.
Ngũ quả (5 loại trái cây) tượng trưng cho Ngũ Căn-Ngũ Lực : Tín, Tấn, Niệm, Định và Tuệ.
Trong việc chọn ngũ quả thể hiện lòng thành dâng cúng tổ tiên, thần thánh, người dân miền Nam Việt Nam đã có cách chơi chữ thú vị theo cách “đồng âm, khác nghĩa”.
Đó là dùng 5 loại trái cây : mãng cầu, thơm, dừa, đu đủ, và xoài.
Tên 5 loại trái cây đó ghép lại, đọc thành : Cầu Thơm Vừa Đủ Xài.

Bởi, theo cách phát âm của người miền Nam, “vừa” đọc là “dừa”, còn “xoài” đọc là “xài”.

Có người thay trái thơm bằng trái sung, khi ghép lại, thành : Cầu Sung Vừa Đủ Xài.

Cũng vì thế, người dân Nam bộ thường tránh chưng những thứ trái cây có tên “nghe” xui xẻo, như trái chuối, vì “chuối” đọc thành “chúi”, tức “chúi nhủi”, cắm đầu xuống, tức thất bại.
Trái lê là “lê lết”, hàm ý không khá nổi.
Trái táo, là trái nhập từ Pháp, có tên Tây là “pomme”. Người Việt đọc là “bom”, nghe lại giống tiếng Anh là “bomb”, tức trái bom nổ. Chơi chữ tới 3 tầng lận !
Sầu riêng không được chưng, vì có chữ “sầu”. Còn ớt chắc không được vì “cay như ớt”. Mướp lại càng không, vì là… “rách như xơ mướp” !
Cam, quýt thì sao ? Tục ngữ có câu : “Quýt làm, cam chịu”, hàm ý mình phải chịu oan ức vì lỗi người khác làm ra.
Thế nhưng, cũng có người cắc cớ, dùng những loại quả đặc biệt :
Vú sữa, Măng cụt, Dừa, Đu đủ, trái Vải, và Sầu riêng.
Mâm “lục quả” này, hẳn dành riêng cho quý vị đàn ông “hảo ngọt” ?
Tết Bình An
Cầu mong năm mới yên vui.
Vừa lòng tất cả mọi người lạ quen.
Đủ đầy gạo, muối, thuốc men.
Xài tiền làm phước, càng thêm nhiều tiền !
Tết Thịnh Vượng
Cầu cho thiên hạ nơi nơi.
Vừa giàu, vừa khỏe, lại vừa tâm an.
Đủ đầy hạnh phước thế gian.
Thơm danh người thiện đa mang việc đời.
Tết Thái Hòa
Cầu tình yêu ấy mãi tươi mầu.
Sung sướng bên nhau thật dài lâu.
Vừa nhiều tiền bạc, vừa nhiều phước.
Đủ cả cháu con, đủ rể dâu.
Xài hoài vẫn giầu…
Tôn Thiên Nguyễn, Xuân Ất Tỵ
-
TRỐNG ĐỒNG
Khánh Lan sưu tầm

Trống đồng là một trong những di vật của thế giới, một khảo cổ quan trọng được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á và vùng phía Nam nước Tàu như: Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, Malaysia, Philippines và Nhật Bản. Trống đồng được tìm thấy ở những vùng có nhóm người dân tộc từng sống tại đây và đã sử dụng trống đồng từ thời tiền sử cho đến ngày nay, một số lớn trống đồng được tìm thấy ở những khu vực quan trọng, nơi có những ngôi mộ của các nhân vật quan trọng được mai tang tại vùng này, một số lớn trống đồng được tìm thấy dọc theo các con sông hay dọc theo các đường thủy ở trong vùng Đông Nam Á vì có thể đây là đường giao thông chính của dân cư bản địa thời thời đó.
Từ ngàn xưa đã có nhiều truyền thuyết cho rằng trống đồng chính là nguồn gốc của lịch sử thế giới, trống đồng cũng đã được các sử gia ghi lại trong sách sử như quyển Việt Điện U Linh Tập, Lĩnh Nam Chích Quái thế kỷ 14, và ngay cả các cuốn sử như Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng nói đến trống đồng. Gần đây nhất, Nhà Biên Khảo, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang cũng đã bỏ ra một thời gian rất dài để tìm hiểu, nghiên cứu về trống đồng, đặc biết về loại trống đồng Đông Sơn. Ông cũng đã cho xuất bản một bộ sách gồm 7 tập chuyên về lĩnh vực này. Loại trống đồng do Nhà Biên Khảo, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang sưu khảo thuộc văn hóa Việt vùng Đông Sơn, một nền văn hóa được biết đến với những loại trống đồng: Đông Sơn và Ngọc Lũ.
TÌM HIỂU TRỐNG ĐỒNG QUA SÁCH VỞ CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN QUANG
Đó lả một công trình mang giá trị khảo cứu đồ xộ đòi hỏi công sức, thì giờ sưu khảo quy mô mà tác giả Nguyễn Xuân Quang thực hiện, khiến tôi đã đọc và tìm hiểu sâu hơn về công trình khảo luận của ông. Trong bộ sách 7 tập, tổng cộng 7 cuốn suýt soát 3000 trang font chữ 10; mà hai tập đầu ông tập trung vào chủ điểm: Giải Đọc Tổng Quát Về Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương). Do vì thời lượng có hạn, cho nên phần trình bày của tôi xin lượt qua những chủ điểm trong bộ sách này, chúng sẽ tập trung vào vấn đề chính cần biết về bộ sách gồm 7 tập khá chi tiết trong kho tài liệu của bộ sách.
TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU VÀ Ý NGHĨA CÓ GÌ?
Nguồn Gốc Trống Đồng Đông Sơn Và Ý Nghĩa Của Trống ĐồngTrống đồng Đông Sơn được xem là biểu tượng văn hóa dân tộc của người Việt Nam. Với lịch sử hình thành lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hiện nay trống đồng Đông Sơn được rất nhiều người dùng để trang trí trưng bày hay cũng như làm quà tặng. Tuy nhiên Trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc từ đâu và có ý nghĩa đặc biệt gì? Thì trong bài viết Xưởng đồng Đông Sơn sẽ giúp quý vị giải đáp những thắc mắc này.
Nguồn gốc của trống đồng Đông Sơn
Trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc từ Việt Nam, là loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (từ thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ I-II sau Công) và nền văn minh sông Hồng của người Việt cổ thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn Lang. Trống đồng đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của người Việt Nam.
Quê hương của trống đồng Đông Sơn là vùng đất Tổ trung du Phú Thọ và các tỉnh vùng Bắc bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam. Trống đồng Đông Sơn đã tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên đến thế kỷ 6 sau Công nguyên. Đây là sản phẩm đầy trí tuệ của người Việt cổ. Tổ tiên ta đã vượt lên những khắc nghiệt của thiên nhiên bằng sự dũng cảm, thông minh và sáng tạo, họ đã tạo nên kỹ thuật luyện kim đồng thau mang đậm yếu tố bản địa của người Việt. Từ đó tạo nên nền văn hóa đồng thau vào loại bậc nhất ở Đông Nam châu Á.
Ý nghĩa của trống đồng Đông Sơn
Trống đồng không chỉ là vật linh thiêng mà còn là thông điệp làm nên biểu tượng tập trung nhất những thành tựu trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội, và là quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên đất nước ta – Nhà nước Hùng Vương.
Đôi nét về Trống đồng Đông Sơn
Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100) của người Việt cổ. Nhiều chiếc trống loại này với quy mô đồ sộ, hình dáng cân đối, hài hoà đã thể hiện một trình độ rất cao về kỹ năng và nghệ thuật, đặc biệt là những hoa văn phong phú được khắc họa, miêu tả chân thật sinh hoạt của con người thời kỳ dựng nước. Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã lưu giữ một số lớn trống đồng Đông Sơn. Cho đến nay, theo các số liệu đã công bố, đây là bộ sưu tập lớn nhất thế giới.
Nguồn gốc trống đồng và hành trình lịch sử
Trống đồng là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển, là di vật tiêu biểu cho nền văn hóa của người Việt cổ thời kỳ dựng nước. Nổi bật trong số ấy phải kể đến hình ảnh Trống đồng Ngọc Lũ và trống đồng Đông Sơn. Trong bài viết này, hãy cũng Royal Gift tìm hiểu về Trống đồng Đông Sơn với họa tiết hoa văn vô cùng tinh xảo và độc đáo, thể hiện sự sáng tạo đỉnh cao về nghệ thuật từ những buổi đầu sơ khai của nền văn minh, văn hóa Âu Lạc.
Trống đồng Đông Sơn được phát hiện năm nào?
Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100) của người Việt cổ. Về nguồn gốc ra đời của trống đồng Đông Sơn, có 3 luồng ý kiến khác nhau.
- Tại phương Tây, người ta đã biết về trống đồng từ năm 1682 nhưng mãi đến thế kỷ 19, mới có học giả bàn về trống đồng: điển hình như học giả Hirth (1890) cho rằng trống đồng là của Trung Quốc, nhưng học giả De Grooth (1901) cho rằng nguồn gốc trống đồng của Việt Nam.
- Các học giả Trung Quốc cho rằng quê hương của trống đồng là ở Vân Nam, Trung Quốc.
- Các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng khẳng định xuất thân của trống đồng là ở vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Bộ Việt Nam.
Mặc dù chưa có một kết luận nào chắc chắn và được công nhận nhưng bài viết đi theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ học Việt Nam phân tích về nguồn gốc của trống đồng Đông Sơn. Trong cuốn sách Nguồn gốc và sự phát triển của trống đồng Đông Sơn, tác giả Tạ Đức đã đưa ra các luận cứ với nhiều bằng chứng, chứng minh quê hương trống đồng chính là thành Cổ Loa (Hà Nội). Theo đó, An Dương Vương trị vì vùng trung tâm, nơi đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, giao thông đường thủy thuận lợi. Với tư cách là thủ lĩnh uy quyền, An Dương Vương là vị vua duy nhất huy động được nhân lực, tài lực để tạo ra chiếc trống đồng lớn và đẹp nhất tượng trưng cho vương quyền và thần quyền Bách Việt…

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE KHÁC VỚI CHỮ NÒNG NỌC KHOA ĐẨU
Trước hết xin nói ngay để tránh khỏi lầm lẫn hay ngộ nhận là chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (cirle-rod writing) là loại chữ viết do tác giả Nguyễn Xuân Quang khám phá ra không phải là thứ chữ nòng nọc khoa đẩu (tadpole writing) mà hiện nay chúng ta thường nghe nói tới. Chữ viết nòng nọc hiện nay mà Hán ngữ gọi là chữ khoa đẩu tức là loại chữ viết có nét cong, ngoằn ngoèo trông như con lăng quăng bơi trong nước. Ví dụ như chữ Hán cổ, chữ Phạn, chữ Thái Lan, chữ Campuchia, v.v…Đúng ra Chữ khoa đẩu lăng quăng này chỉ là những chữ viết hậu duệ, những chữ viết con cháu của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thật sự do tác giả Nguyễn Xuân Quang khám phá ra. Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que là thứ chữ có hai mẫu tự căn bản là mẫu tự vòng tròn (O) giống thân con nòng nọc và mẫu tự nọc que (I) giống đuôi con nòng nọc.
Để hiểu rõ về sự thành hình chữ nòng nọc vòng tròn-que xin nói thật sơ lược qua sự thành hình chữ viết loài người nói chung. Sự thành hình chữ viết của loài người nói đại lược khởi đầu từ một vạch, một nét vẽ của người tiền sử, rồi tiến tới một dấu hiệu (sign), một hình (picture). Sau đó có mang thêm ý nghĩa. Vậy chữ là chữ nòng nọc vòng tròn-que là thứ chữ có hai mẫu tự căn bản là chữ cái Nòng vòng tròn (O) và chữ cái Nọc que (I) có mang ý nghĩa.
Trích trong hai quyển sách I và II trong bộ sách 7 quyển của tác giả Nguyễn Xuân Quang, ông giải thích: Chữ nòng vòng tròn (O) và chữ nọc que (I) là hai chữ cái cổ nhất của nhân loại có nguồn gốc nguyên khởi do hình vẽ diễn tả theo hình dạng của bộ phận sinh dục nường và nõ. Hình tự nường lỗ sinh dục phái nữ nòng tròn O và hình nõ nọc que I đàn ông còn thấy rất nhiều qua các hình vẽ trên đá (petroglyphs) thời tiền sử. Sau đó thấy trong tín ngưỡng thờ nường nõ như trong Ấn giáo thờ linga hình nõ nọc I que cắm trên bệ nường yoni hình nòng tròn O. Khi con người có một đời sống tâm linh cao hơn, hai chữ viết nòng nọc vòng tròn que trở thành hai chữ diễn tả cái đực, nường nõ, nòng nọc, âm dương, trở thành một thứ chữ căn bản có hệ thống của một tôn giáo cổ nhất của con người là vũ trụ giáo dựa trên cái đực, nòng nọc, âm dương, lưỡng hợp, vũ trụ tạo sinh, dịch học.
Tuy vậy không một nơi nào trên thế giới chữ nòng nọc vòng tròn-que được viết nhiều nhất, đầy đủ nhất, đa dạng nhất, chuẩn nhất, theo đúng ngữ pháp nhất như người Đông Sơn viết trên đồ đồng Đông Sơn, nhất là trên trống Đông Sơn, nó là Bộ Từ Điển Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que. Việt Dịch Đồng Đông Sơn là bộ dịch bằng hình viết bằng hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que duy nhất của nhân loại.
Trống đồng Đông Sơn được xét qua những điểm như là:
- Trống thiêng liêng, trống thờ, trống mang tính biểu tượng, không phải là trống làm ra có mục đích chính dùng làm bộ gõ trong âm nhạc.
- Trống Đông Sơn là một loại trống đặc biệt mang tính nhị nguyên nòng nọc (âm dương)
- Về hình thể: mặt kín dương. Mặt đáy hở âm. Nội dung: mặt trời dương nằm trong vòng không gian âm.
- Mặt trời cũng có mặt trời dương và mặt trời âm.
Trên trống Đông Sơn có tượng loài lưỡng cư cóc/ếch.
- Trống có tượng cóc (chỉ sống trên đất mang dương tính) là trống sấm dông gió (mang dương tính, thiếu âm)
- Trống có tượng ếch sống được dưới nước mang âm tính thái âm là trống sấm mưa (mưa mang tính thái âm).
Những nét khắc vẽ trên trống có hoa văn, hìng tượng như:
- Chim thú, vật tổ biểu tượng của người Việt đều có nghĩa là Việt, là mặt trời (chim Việt: chim mỏ sừng Cắt Hồng hoàng, Hươu Việt: hươu sừng, Cá sấu Việt: sấu Lạc mõm dao, Rắn Việt: rắn mồng, rắn có sừng).
- Phụ nữ Việt đội nón thúng quai thao cổ truyền hình mặt trời mà J. Cuisinier gọi là Chapeau de Soleil. Phụ nữ Việt mang dòng máu Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ, mặt trời rạng sáng (nhật tảo).
- Đền thờ Nhật Tảo ở làng Diềm, Viêm Xá, xã Hòa Long, huyện Yên Phong, Bắc Ninh thờ một vị thần làng nữ Nhữ Nhương, hình bóng của thái dương thần nữ Âu Cơ, mặt trời nhật tảo hừng rạng.
Tác giả Nguyễn Xuân Quang là người đích thân tìm vào Sử đồng như vào những khảo cổ học khác. Tác giả nghiệm ra rằng trống Đồng của đại tộc Đông Sơn là bộ sử đồng của Việt Nam trong Bách Việt. Ông giải thích: Sử đồng là hiện vật thấy được tận mắt, sờ thấy được tận tay cái căn cước Việt. Căn cước Việt đã được khắc ghi lại từ cách đây trên dưới 3.000 năm và được chôn vùi sâu dưới lòng đất không hề bị sửa đổi, không hề bị ảnh hưởng của các nền văn hóa ngoại lại khác. Sử đồng Việt Đông Sơn thuần Việt, tinh ròng Việt có độ xác tín rất cao.
Yếu tố nguồn gốc chữ viết hay nét hoa văn nòng nọc được tác giả khai triển khá rõ. Như tìm hiểu về Nòng nọc âm dương mang ý nghĩa như sau:
Nòng nọc âm dương là nguyên lý nhị nguyên căn bản (biểu hiện cho âm O và dương là I, yếu tố cơ bản của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học. Do vậy nhìn chung về vũ trụ quan trống đồng Đông Sơn biểu tượng vũ trụ giáo diễn đạt vũ trụ tạo sinh. Dịch học dựa trên nguyên lý nhị nguyên căn bản nòng nọc (âm dương). Nhìn riêng theo duy dương, ngành mặt trời vì trống có một khuôn mặt chủ là trống (đực: gà trống), dương, thì trống đồng là trống biểu tượng của mặt trời tạo hóa nhị nguyên thái dương.
Trống đồng là một hiện vật do con người làm ra. Vậy chủ nhân ông của trống là một đại tộc có vũ trụ quan là vũ trụ tạo sinh theo vũ trụ giáo, mặt trời giáo. Đó là biểu hiệu của người Việt làm ra, người Mặt Trời Thái Dương (tác giả ghi nhận là ông đã tìm ra trên 100 bằng chứng Người Việt là Người Mặt Trời) theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, mặt trời giáo dựa trên nguyên lý nhị nguyên căn bản nòng nọc (âm dương), Chim-Rắn, Tiên Rồng. Tổ Hùng Lang sinh ra từ Bọc Trứng Chim có một khuôn mặt là mặt trời tạo hóa nhị nguyên phân ra hai ngành. Như vậy thì người Việt chính là chủ nhân của loại trống đồng Đông Sơn. Lý do vì trống đồng được cho là làm ra vào thời đại Hùng Vương. Mỗi tộc người, mỗi bang người Việt trong liên bang Văn Lang thuở xưa có ít nhất một trống biểu riêng. Do đó ta mới có cả trăm trống khác nhau.
PHÂN LOAI TRỐNG ĐỒNG THEO NHÀ KHẢO CỔ HỌC NGƯỜI ÁO FRANZ HEGER
- Trống Heger I, còn được gọi với tên là trống đồng Đông Sơn, thuộc loại trống lớn và lâu đời nhất và đã giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong văn hóa Đông Sơn, một nền văn hóa được biết đến với những trống đồng trang trí cầu kỳ, được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á và Bắc Việt Nam. Số lượng lớn trống Đông Sơn đã được tìm thấy tại Mê Linh, trung tâm của văn hóa Đông Sơn và ở đồng bằng sông Hồng, vùng dân cư đông đúc thời cổ.
Trống Hegers I được phân phối ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, của Trung Quốc và ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà khảo cổ Trung Quốc tin rằng Vân Nam là vùng nguyên thủy có sự xuất hiện của trống đồng. Nhưng trên thực tế cho thấy một số trống có tuổi lâu đời hơn đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam nên không thể kết luận Vân Nam là cái nôi của trống đồng vì những lý do dưới đây:
a) Giai đoạn một: (thế kỷ thứ III-thế kỷ thứ I, TCN)
Nhiều chiếc trống thuộc loại hóa thạch (Thạch Sơn) đã được phát hiện ở miền Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ở Việt Nam có những chiếc trống thuộc văn hóa Đông Sơn đã được khai quật. Hai chiếc trống Thạch Sơn đã được tìm thấy ở Thái Lan, Indonesia và 10 chiếc trống Đông Sơn cũng tìm thấy ở hai nước này.
b) Giai đoạn hai (thế kỷ thứ I TCN-thế kỷ thứ I CN)
Trong giai đoạn này chỉ có bốn chiếc được phát hiện ở Vân Nam và Quảng Tây. Do đó có thể trống đồng đã biến mất khỏi miền Nam Trung Quốc và Văn hóa Đông Sơn của Việt Nam bắt đầu mở rộng vào tỉnh Quảng Tây và các vùng lân cận. Trong khi đó Việt Nam vẫn sản xuất trống đồng, mặc dù số lượng trống đồng ở Thanh Hóa đã giảm đi, nhưng ở Thái Lan, Mã Lai và nhất là Indonesia đã phát hiện với số lượng khá nhiều và với hình dáng, hoa văn trông giống với trống đồng tại Việt Nam.
c) Giai đoạn ba (thế kỷ II trở đi)
Người ta tìm được hai mẫu trống đồng phát xuất từ Việt Nam, nhưng ở khu vực miền Nam có ba chiếc trống được phát hiện theo tiêu chỉ của văn hóa Đông Sơn, cho thấy loại trống này có nguồn gốc từ khu vực miền nam Việt Nam. Tuy nhiên, loại trống Kham Cha từ Thái Lan, đã thay đổi rất nhiều so với truyền thống Đông Sơn, cho thấy chúng có cùng loại với trống Pejeng của Indonesia hơn.
- Trống Heger II, thân trống chỉ có 2 phần, trên mặt trống không có hình ảnh của người hoặc con vật, thay vào đó toàn là hoa văn hình học kinh tế. Trên mặt trống thường có 4 hoặc 6 con cóc và ngôi sao 8 cánh tượng trưng cho mặt trời. Loại trống này được tìm thấy ở Nam Trung Quốc và Bắc Việt. Ở miền Nam Trung Quốc, loại trống Heger II được tìm thấy phần lớn là ở vùng Quảng Đông và Quảng Tây. Ở Việt Nam, loại trống này xuất hiện tại các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa, phần lớn loại trống này được tìm thấy và khai quật tại các vùng của người Mường sinh sống. Hiện nay, có nhiều loại trống Heger II vẫn còn được người Mường sử dụng, nên chúng có tên là trống Mường. Nhưng cũng có một số nhà khảo cổ học cho rằng những chiếc trống này thông dụng ở các đời vua nhà Lý-Trần.
Trước đây, một số học giả chia loại trống này thành hai nhóm:
- Nhóm 1, thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Thanh Hóa.
- Nhóm 2, thuộc các tỉnh Nghệ An.
Hầu hết các nhà khảo cổ đều cho rằng niên đại của trống đồng Heger II Khoảng từ 1000 niên kỷ I SCN đến thế kỷ XVI-XVII. Tại Hội nghị Khoa học Trống đồng Việt Nam năm 1985, một số nhà khảo cổ học đã chia trống Heger II thành 3 nhóm có niên đại khác nhau:
- Nhóm từ năm 1005 SCN.
- Nhóm triều đại Lý-Trần
- Nhóm sau thời Lý-Trần.
- Trống Heger III, (trống đồng Tân Độ), hiện trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam. Trống Heger III có quai nhỏ đẹp, nổi bật với hoa văn hình học, đẹp và tinh tế, thân trống thường không cân đối, phần trên to phần dưới thon, đường kính của mặt trống lớn hơn các phần còn lại. Mặt trống được trang trí với ngôi sao 12 cánh tượng trưng cho mặt trời, 12 con cóc chia ra 4 góc, chung quanh là các hoa văn hình học. Dưới chân có đoàn voi đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống“. Đôi khi ốc thay voi. Được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanma và Vân Nam (Trung Quốc). Trống Heger III được tìm thấy ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Loại trống này được chia làm hai nhóm:
- Nhóm DânTộc thuộc hệ ngôn ngữ Khmer.
- Nhóm dân tộc thuộc ngôn ngữ thái cổ. Ở Việt Nam số lượng trống này ít hơn loại trống Heger I và Heger II.
- Trống đồng Heger IV (trống đồng Long Đọi Sơn), trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam. Trống Heger IV có kích thước và có quai nhỏ, không có cóc. Trang trí của trống này tương tự như trống Heger I, nhưng hình dáng không cân đối và họa tiết hình học không cầu kỳ. Hình mặt trời có 12 cánh sao tượng trưng cho 12 con giáp, 4 góc-mỗi góc có ba con cóc chồng lên nhau thành 12 con. Dưới chân có đoàn voi hay ốc đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống“. Loại trống Heger IV thường được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanmar và Vân Nam (Trung Quốc).
Có rất nhiều dân tộc sử dụng loại trống này trong đó có một số người phương Bắc như người Hán, người Mông Cổ. Loại trống này có liên quan mật thiết với các dân tộc bản địa như người Giày, Giao, Thái … Ở Việt Nam, nhiều loại trống này đã tìm thấy ở các vùng núi phía Bắc như Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La. Heger IV là loại trống đồng Nam Dương như Java, Sumatra, ảnh hưởng hồi giáo…
PHÂN LOAI TRỐNG ĐỒNG THEO TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN QUANG
Với tác giả Nguyễn Xuân Quang, ông phân loại trống đồng thành 6 loại như sau: NXQ I, NXQ II, NXQ III, NXQ IV, NXQ V, NXQ VI.
- Trống Trứng Vũ Trụ [Cosmic egg drums or Nguyen Xuan Quang type I (NXQ I)] drums. Tức trống Nguyễn Xuân Quang I (không có trong sự phân loại của Heger) có hình trứng giống như trống cái, trống thùng (barrel) bịt da nhưng hở đáy (mang tính nòng nọc, âm dương) ví dụ như trống đồng để ở chùa Cổ Lễ, chùa Keo, đền Hùng Vương… (4).
- Trống tượng Lửa [Fire-drums or Nguyen Xuan Quang type II (NXQ. II)]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang II (không có trong sự phân loại của Heger) hình trụ (tubular or cylindrical forms). Trống moko hình trụ có eo của Nam Dương là trống biểu tượng cho tượng Lửa của ngành nước.
- Trống tượng Gió [Yang Wind sun Drums or Parasol-Shaped drums or Nguyen Xuan Quang Type III (NXQ. III) or Heger III]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) hình lọng, dù, ô (thân và đế thẳng tuột như thân cây lọng), thấy nhiều ở tộc Shan thuộc sắc tộc Tai, nói tiếng Tai-Kadai. Tộc này có nhà hình vòm mu rùa biểu tượng cho bầu trời, bầu không gian, gió.
- Trống tượng Nước [Yang Water drums or Squat drums or Nguyen Xuan Quang Type IV (NXQ IV) or Heger IV]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) trông giống cái âu (vật đựng mang âm tính liên hệ với nước) không có thân trống nên trông lùn tịt gọi là trống trệt (squat drum) mang nhiều âm tính biểu tượng cho nước (trống này thấy nhiều ở Nam Trung Hoa nên Heger gọi là trống trệt Nam Trung Hoa). Có thể loại trống này thấy nhiều ở tộc Choang (Zhuang). Người Zhuang nhận mình là con cháu của Rồng và có một chi tộc tên là Shui (Thủy) liên hệ với Lạc Long Quân.
- Trống tượng Đất, núi Trụ Thế gian [Pillar-shaped drums or yang Earth-drums or Nguyen Xuan Quang type V (NXQ. V) or Heger II]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang V (Heger II, trống vùng cao, vùng núi ở Bắc Việt Nam).
- Trống Vũ Trụ Tạo Sinh, trống biểu của Vũ Trụ giáo [Cosmogenic drums or Cosmic Mushroom drums or Nguyen Xuan Quang Type VI (NXQ.VI) or H.I]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) có hình Cây Nấm Vũ Trụ, tức trống Đông Sơn của các tác giả Việt Nam. Trống này có nhiều nhất ở Việt Nam.

Trống Cây Nấm Vũ Trụ biểu tượng cho Vũ Trụ giáo có chu vi vòng ngoài hình trứng tức trống Trứng Vũ Trụ NXQ I (xem hình bìa quyển Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, tập I). Trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI nằm trong trống Trứng Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang I.
Như trên cho thấy sự khảo sát trống đồng dựa theo 2 tiêu chuẩn của Franz Heger và của Nguyễn Xuân Quang có điểm tương đồng như trong Trống tượng Gió (Heger III), Trống tượng Nước (Heger IV), Trống tượng Đất (Heger II), Trống vũ trụ tạo sinh (Heger I). Hầu như tất cả các trống đồng Đông Sơn được chia thành ba phần: phần trên, phần giữa và phần cuối. Chúng có thân hình trụ thẳng đứng, mặt dưới của chúng không có hình, mặt trên có hình sao được đúc nổi với 12 cánh. Một số trống đồng có tám cánh như trống đồng Quảng Xương, hoặc 14 cánh như trống đồng Ngọc lũ, Sông Đà, Thượng Lâm, thậm chí có khi lên đến 16 cánh như hoàng Hạ và Salayar.
Tóm lại: Việt Nam được xem là nơi tập trung nhiều trống đồng đa dạng nhất. Trống trống đồng Đông Sơn không chỉ là một biểu tượng nghệ thuật độc đáo mà còn là một cổ vật lịch sử phản ảnh văn hóa sâu sắc của Việt Nam. Từ kỹ thuật đúc chảy kim loại đến hình dáng tinh tế, mỗi chiếc trống là một tác phẩm nghệ thuật mang đậm dấu ấn của nền văn minh Đông Sơn. Nhiều khoa học gia cho rằng các nước lân cận có thể bị ảnh hưởng hoặc đã du nhập nền văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ vào nước của họ.
Khánh Lan, Mùa Xuân 2025
-
NVNT & TTG ĐÓN XUÂN VÀ MỪNG XUÂN ẤT TỴ TẠI TÒA BÁO NGƯỜI VIỆT
Khánh Lan
NVNT & TTG ĐÓN XUÂN ẤT TỴ TẠI VIETLIFE TV-NGÀY 02 THÁNG 02, 2025- MỒNG NĂM TẾT

Kính chúc quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em luôn vui tươi, hạnh phúc, khỏe mạnh, an bình và vạn sự như ý. NVNT & TTG.
Năm nay, chị Tâm An đứng lên tổ chức buổi họp mặt mừng Xuân tại trụ sở của chị. Đặc biệt năm nay có sự hiện diện của NV Nguyễn Tường Cường và phu nhân, Chị Bích Điệp đến từ Ohio, cũng như Thi Sĩ Lệ Hằng và phu quân đến từ Paris, Pháp Quốc. TS Lệ Hằng là thành viên của Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris mà chúng tôi có dịp gặp trong chuyến du lịch Pháp Quốc năm 2022 và tham dự buổi họp mặt văn hóa với các Văn Thi Sĩ của Câu Lạc Bộ.

Hàng đứng: Chị..?…, Lệ Hoa, Bích Điệp, Tường Cường, Mạnh Chi, Viết Đang, Lệ Hằng, OX của chị Lệ Hằng (?), Tô Châu, (?), Ngọc Châu, Khánh Lan, Vương Trùng Dương. Hàng ngồi: Mạnh Bổng, Cô Sang, Nguyễn Quang, Việt Hải.

Nhập tiệc mừng Xuân là những món ăn “Homemade food” do các chị nội trợ khéo tay trong nhóm nấu, đặc biệt là vừa ngon, bổ lại rẻ nữa. Tết năm nay, một số lớn các anh chị trong nhóm bận “chạy show” hoặc đi du lịch hoặc bận việc nhà nên không đến họp mặt đầy đủ như mọi khi. Dù vậy, không khí ngày Tết và đón khách phương xa vẫn vui nhộn và các anh chị “ca sĩ của TTG” tranh nhau hát ca mệt nghỉ.

Chương trình bế mạc lúc 11 giờ, chúng tôi phụ nhau dọn dẹp và kéo nhau đi ăn phở trước khi chia tay. Kết thúc một ngày vui.
NHẬT BÁO NGƯỜI VIỆT ĐÓN XUÂN-NGÀY 29 THÁNG 01, 2025–MỒNG MỘT TẾT

Tòa báo Người Việt mừng Xuân Ất Tỵ
Khai mạc buổi họp mặt với những tràng pháo nổ vang trời. Lúc đầu bà Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh mời quan khách ra sân để ngắm pháo mổ, nhưng chỉ trong khoàng một phút, mọi người đã chạy làng vì tiếng pháo nổ quá lớn, xác pháo bắn tung tué và khói pháo bao phủ cả một khoảng không gian quanh tòa báo khiến mọi người hoảng sợ…”bỏ chạy” vào trong khánh phòng. Sau màn đốt pháo là tiết mục lì xì và tặng Giai Phẩm Xuân Ất Tỵ-Người Việt 2025 với những tiết mục rất hay và hữu ích.

Các nhân viên & cộng tác viên và khách mời của tòa báo Người Việt-họp mặt mừng xuân Ất Tỵ
Đây là lần đầu tiên tôi đến dự buổi họp mặt mừng Xuân do tòa báo Người Việt tổ chức. Năm nay, buổi họp mặt vào đúng vào ngày mồng một Tết, nhằm ngày 29 tháng 01, 2025 thay vì mồng hai Tết như mọi năm. Theo thường lệ, hằng năm, Bà Giám Đốc Hoàng Vĩnh cho tổ chức 2 buỗi họp mặt quan trọng: Đó là mừng Xuân và mừng Chúa Giáng Sinh cho các nhân viên hay các cộng tác viên trong đó có tôi.
Chuyện là 3 năm trước, tôi được Giáo Sư Quyên Di đại diện cho tòa báo Người Việt mời đến cộng tác với các anh chị em trong Department of Education. Thế là từ ngày ấy, tôi đương nhiên trở thành cộng tác viên của tòa báo Người Việt (tôi đoán thế) và cứ thế, năm nào tôi cũng được hân hạnh đến tham dự những tiệc vui do tòa báo Người Việt tổ chức.

Múa lân khai mạc buổi tiệc

Cô Đỗ Bảo Anh, trưởng nữ của cố Nhà Báo Đỗ Ngọc Yến, Chủ Nhiệm kiêm sáng lập viên của tòa báo Người Việt
Vài hàng về bà Đỗ Ngọc Anh theo Ký Giả Thanh Phong, bà sinh trưởng tại Saigon, tốt nghiệp ngành báo chí và anh ngữ tại University of South California (USC). Bà hiện là một ký giả kỳ cựu của nhật báo The Los Angeles Times (LAT) từ năm 2012. Ngoài ra, bà còn từng làm việc cho các nhật báo khác gồm Seattle Times, Orange County Register và nhật báo Người Việt, tờ báo do thân phụ của bà là nhà báo Đỗ Ngọc Yến thành lập.
Bà viết về nhiều đề tài khác nhau như mối liên hệ chủng tộc, văn hóa Nam California, người nhập cư, v.v… Bà cũng được biết đến qua các bài viết về người Mỹ gốc Việt, cộng đồng LGBTQ, sự đánh giá của lớp người bị xã hội coi là thấp hèn. Qua những đề tài sâu sắc này, bà Anh Đỗ đã đoạt được nhiều giải thưởng từ Columbia University, học bổng báo chí của Yale University, và Hiệp Hội Ký Giả Người Việt gốc Á Châu.
Năm 2016, bà Anh Đỗ ở trong danh sách phóng viên LAT và đoạt giải Pulitzer qua bản tin về vụ khủng bố ở San Bernardino. Năm 2024, bà Anh Đỗ trong danh sách chung kết giải Pulitzer với bản tin về vụ xả súng ở Monterey Park.

Bà Hoàng Vĩnh, tổng giám đốc kiêm chủ nhiệm nhật báo Người Việt. và đại diện của ông Trí Tạ
Hôm ấy tôi đến sớm lắm vì sợ không có chỗ đậu xe hoặc phải đậu xe quá xa bởi tôi vốn “Ngại” đi bộ. Bước vào khánh phòng, vắng hoe, chỉ thấy có khoảng 5 hay 6 người gồm các anh đang gắn máy móc, gắn keyboard và các chị phụ bếp. Người đầu tiên tôi gặp là chị Minh Phú, thế là tôi được anh Philippe Dương chụp “ké” cho những tấm hình đẹp.

Khách tham dự

Quan khách tham dự buổi tiệc họp mặt mừng Xuân Ất Tỵ tại tòa báo Người Việt rất đông, tôi nhận thấy có sự hiện diện của rất nhiều nhân vật quan trọng trong cộng đồng gồm các vị đại diến và các vị nghị viên của tiểu bang, liên bang, thành phố và trường học, v.v…Các giáo chức như GS Phạm Thị Huê, GS Quyên Di, GS NS Lê Văn Khoa, v.v…Xướng Ngôn Viên Thanh Thảo và rất nhiều vị mà tôi không biết tên.

Nhập tiệc mừng Xuân–Chúc mừng năm mới

Phần văn nghệ tôi nhận thấy có Chị Thiên Hương của đoàn Du Ca, các ca sĩ: Ngọc Hà, Lê Uyên Phương, Hồng Tước, v.v…mở đầu với Ly Rượu Mừng rồi bài Đón Xuân của NS Phạm Đình Chương,…

CS Ngọc Hà, Chị Minh Phú, Khánh Lan, GS NS Lê Văn Khoa

Hợp ca: Ly Rượu Mừng

Hợp ca: Đón Xuân

Bài hợp ca bế mạc. Buổi họp mặt kết thúc lúc 3:00 pm, chấm dứt một ngày vui.
Khánh Lan, tháng 2 ngày 4, 2025
-
Năm Thìn Nói Chuyện Rắn Trong Tác Phẩm Kim Dung
Vương Trùng Dương

Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.
Theo truyền thuyết phương Đông, Trung Hoa từ thời cổ đại cho rằng thần Nữ Oa đầu người thân con rắn là vị thần sáng thế, có quyền uy tối thượng, đội đá vá trời khi bầu trời rách toang, đất đai rung chuyển, núi rừng bốc cháy, nước ngập mênh mông, loài người hốt hoảng kéo nhau chạy trốn. Thần Nữ Oa luyện hơn ba mươi sáu nghìn viên đá ngũ sắc lấp lại bầu trời cho loài người cư ngụ.
Theo bài viết của BS Nguyễn Xuân Quang cho rằng Nữ Oa cũng không phải là người Tàu, Nữ Oa khi chết biến thành chim Tinh Vệ đội đá vá trời, tha đá lấp biển đông. Tương truyền rằng con gái vua Viêm Ðế ngày xưa vượt biển chết chìm, hóa ra chim Tinh Vệ, ngậm đá ở núi Tây về lấp biển Ðông… Tinh Vệ là con gái vua Viêm Ðế mà Viêm Ðế là tên hiệu của Thần Nông. Nữ Oa Tinh Vệ là con của Mẹ Trứng Nước Thần Nông Viêm Ðế. Như thế rõ như hai năm là mười Nữ Oa không phải là người Trung Hoa.
Thần thoại Việt Nam, Thần Nam Thần Nữ là hai vị thần đầu tiên sinh ra con người. Thần Nam tên là ông khổng lồ Tứ Tượng và Thần Nữ là bà Nữ Oa. Theo truyện này thì bà Nữ Oa có chồng là ông Tứ Tượng. Ông này ngỏ ý muốn lấy Nữ Oa. Bà Nữ Oa thách ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông đắp cao hơn bà sẽ lấy làm chồng. Kết quả ông Tứ Tượng đắp núi thua bà. Nữ Oa đắp một ngọn núi cao ngất trời, đứng trên đó có thể thấy khắp cõi trời đất. Dấu tích còn lại của ngọn núi cao của bà Nữ Oa đắp, dân gian cho là núi Nam giới ở Hà Tĩnh ngày nay. Ông Tứ Tượng đắp núi thua nhưng kiên gan trì chí đeo đuổi mãi, cuối cùng bà Nữ Oa cũng xiêu lòng lấy ông làm chồng.
Như thế rõ ràng theo thần thoại Việt Nam thì Nữ Oa là vị Thần Nữ đầu tiên. Và ta cũng thấy thần Nam thua tài thua sức Thần Nữ Nữ Oa. Nữ Oa chính vị Thần Nữ đầu tiên sinh ra loài người, trong đó chính yếu là Hừng Việt đúng như truyền thuyết Việt Nam.
Trong võ học cổ truyền, rắn là một trong những loài động vật tiêu biểu được các võ sư ngày xưa tìm hiểu, quan sát để hình thành các bí quyết võ công với tên gọi Xà Quyền. Xà Quyền có các bài múa: Rắn thần luyện trăng (xà thần luyện nguyệt), rắn vàng từ đất nhô lên (kim xà lục khởi), rắn quật động trời (xà phiên thiên chân), rắn trắng phun bọt (bạch xà phẫn mạt), rắn lăng lướt sương (xà đằng tẩu lộ), rắn sừng quẫy đuôi (giác xà ứng vĩ)… vừa nhu vừa cương với nhiều thế võ bí hiểm. Về kiếm pháp có xà hành đao, xà hành kiếm.
Môn võ nầy xuất xứ từ Trung Hoa và sau đó truyền sang Việt Nam cũng như các môn Long Quyền (Võ Rồng), Hổ Quyền (Võ Hổ), Hầu Quyền (Võ Khỉ), Hầu Quyền (Võ Khỉ), Hạc Quyền (Võ Hạc), Kê Quyền (Võ Gà)…
Các thế Xà Quyền với nhiều bộ thế linh động, bài võ liên hoàn, thủ và công linh hoạt khi chiến đấu sắc bén làm cho đối phương trở tay không kịp.
Nhà văn Kim Dung dựa vào môn võ nầy đã sáng tạo ra các nhân vật và võ công cái thế trong chốn võ lâm.
Năm 1955, ông bắt đầu viết tiểu thuyết võ hiệp. Bộ truyện đầu tay của ông là Thư Kiếm Ân Cừu Lục. Năm 1956, ông bộ thứ hai là Bích Huyết Kiếm. Năm 1957, bộ truyện thứ ba là Tuyết Sơn Phi Hồ và sau đó là Xạ Điêu Tam Bộ Khúc (gồm 3 bộ Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký, 1961). Năm 1963 với Thiên Long Bát Bộ gồm Lục Mạnh Thần Kiếm. Năm 1967 với Tiếu Ngạo Giang Hồ và năm 1969 với Lộc Đỉnh Ký. Toàn bộ tác phẩm của Kim Dung được tóm gọn thành hai câu đối:“Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc. Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên” (Phi Hồ Ngoại Truyện – Tuyết Sơn Phi Hồ – Liên Thành Quyết – Thiên Long Bát Bộ – Xạ Điêu Anh Hùng – Bạch Mã Khiếu Tây Phong – Lộc Đỉnh Ký – Tiếu Ngạo Giang Hồ – Thư Kiếm An Cừu Lục – Thần Điêu Hiệp Lữ – Ỷ Thiên Đồ Long – Bích Huyết Kiếm – Uyên Ưng Đao).
Trong các tác phẩm nầy, trích dẫn vài nhân vạt điển hình đã gây sóng gió trong chốn võ lâm.
* Bích Huyết Kiếm & Kim Xà Lang Quân

Vào cuối thời nhà Minh Viên Sùng Hoán bị cáo buộc thông đồng với ngoại phiên và bị hoàng đế Sùng Trinh xử tử. Con trai Viên Sùng Hoán là Viên Thừa Chí nhờ may mắn được đưa lên núi Hoa Sơn, được Mục Nhân Thanh và Mộc Tang đạo nhân truyền thụ võ nghệ. Trên núi Hoa Sơn, Viên Thừa Chí tình cờ phát hiện ra Kim Xà Kiếm và Kim Xà Bí Kíp – di vật của Hạ Tuyết Nghi và học được kiếm thuật vô địch – nổi danh với tên gọi Kim Xà Lang Quân.
Kim Xà Kiếm có nguồn gốc từ Ngũ Độc Giáo, thanh kiếm này khác với những thanh kiếm ở Trung Nguyên, nó không thẳng mà uốn lượn như hình con rắn, mỗi khi xuất chiêu vận nội công, thanh kiếm sẽ chuyển sắc vàng, đồng thời đầu kiếm tỏe ra như lưỡi rắn.
Với nọc độc của các loài động vật rất nhiều, nguy hiểm nhất như: bọ cạp, nhện phễu, rết, cóc… nhất là rắn, khoảng 450 loài rắn có nọc độc. Nọc rắn được tạo ra bởi các tuyến nước bọt hàm dưới chứa nhiều loại độc tố rất nguy hiểm.
Ngũ Độc Giáo nguồn gốc từ Tây Vực là tà phái với hai bí kíp võ công xuất hiện trong ba tiểu thuyết Tiếu Ngạo Giang Hồ, Bích Huyết KiếmvàLộc Đỉnh Ký. Ngũ Độc Giáo nổi tiếng với khả năng dùng độc cũng như các võ công có liên quan đến độc dược. Hà Thiết Thủ, giáo chủ Ngũ Độc Giáo, trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, chưởng môn nhân của Ngũ Độc Giáo là Lam Phượng Hoàng.
Ngũ Độc Giáo cho người trong giang hồ không tên thật của giáo phái này mà là Ngũ Tiên Giáo. Ngũ Độc Giáo có trụ sở tại vùng Miêu Cương, tỉnh Vân Nam và sau đó dưới trướng Nhật Nguyệt Thần Giáo.
Môn võ công trứ danh và lợi hại nhất của Ngũ Độc Giáo là Ngũ Thánh Tam Bảo. Ngũ thánh gồm rắn, rết, bọ cạp, nhện và cóc. Nếu phối hợp với các loại cỏ cây hoa lá lạ thì sẽ tạo ra loại rượu ngũ bảo hoa mật tửu, khi bị đầu độc thì hết thuốc chữa. Ngũ Độc Giáo có ba món bảo vật là Kim Xà Kiếm, Kim Xà Chùy và Tàng Bảo Đồ. Về sau 3 món bảo vật bị Hạ Tuyết Nghi dụ dỗ Hà Hồng Dược – công chúa của Ngũ Độc Giáo lấy cắp.
Từ đó Ngũ Độc Giáo có môn quy kỳ lạ nhất, theo đó, Ngũ Độc Giáo chỉ truyền chức giáo chủ cho nữ. Ngày lên ngôi, giáo chủ phải chặt bỏ một tay sau đó lắp tay giả bằng móc sắt. Bàn tay này vừa có dụng ý nhắc nhở các giáo chủ câu chuyện năm xưa của Hà Hồng Dược, vừa có tác dụng giúp luyện độc. Trên cánh tay giả được tẩm thêm nhiều loại độc dược mà không ai có thuốc giải.
Cả gia đình Hạ Tuyết Nghi bị Ôn Lão Lục của phái Ôn Gia giết hại. Hạ Tuyết Nghi may mắn sống sót trốn thoát và xâm nhập vào Ngũ Độc Giáo luyện tập bảo vật trấn bang của Ngũ Độc Giáo, nguồn gốc từ Tây Vực.
Kim Xà Kiếm hình dạng rất khác biệt. Lưỡi kiếm không thẳng mà uốn lượn như hình con rắn. Mỗi khi xuất chiêu vận nội công, thanh kiếm sẽ chuyển sắc vàng, lưỡi kiếm từ một tách ra làm đôi, hệt như hình lưỡi rắn. Kim Xà Kiếm có sát khí rất nặng, chém sắt như chém bùn. Bị kiếm này đâm, chất độc xâm nhập toàn thân tê liệt.
Hạ Tuyết Nghi nhờ thanh kiếm nầy đánh đâu thắng đó, nhưng cuối cùng bị Ôn Gia Phái hạ độc rồi vây khốn trong Ngũ hành trận. Mang mối thù không đội trời chung với Ôn Gia, Hạ Tuyết Nghi giết 50 người và làm nhục 10 phụ nữ khác trong gia đình họ Ôn. Tuy nhiên, sau khi bắt cóc được Ôn Nghi, ông bị vẻ đẹp bên trong của nàng cảm hóa. Tuy Hạ Tuyết Nghi võ nghệ cao thâm, nhiều lần bất phân thắng bại với Ôn Gia Ngũ Lão nhưng ông đã bị Ôn Gia Ngũ Lão đầu độc bằng Túy Tiên Mật trong bát canh hạt sen do Ôn Nghi đưa mà không biết có độc bên trong chén canh.
Cuối cùng Hạ Tuyết Nghi bị bắt, bị cắt hết gân tay, gân chân, trở thành phế nhân, trốn trong một hang đá ở Hoa Sơn, dành những ngày cuối đời để mài giũa Kim xà kiếm pháp và phá giải Ngũ hành trận của Ôn Gia nhưng bất thành và ôm hận mà chết trong hang đá, không người chôn cất. Ác lai ác báo.
* Tây Độc Âu Dương Phong

Trong Võ Lâm Ngũ Bá (Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp) xuất hiện 5 nhân vật bá chủ võ lâm là Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, Tây Độc Âu Dương Phong, Bắc Cái Hồng Thất Công, Đông Tà Hoàng Dược Sư và Nam Đế Đoàn Trí Hưng (sau nầy xuất gia là Nhất Đăng đại sư).
Âu Dương Phong là chủ nhân núi Bạch Đà ở Tây Vực, nhân vật độc ác, nhiều mưu mô thủ đoạn, gian trá. Võ công rất cao, thường dùng một cây gậy có thả hai con rắn độc ở đầu làm vũ khí. Ngoài tuyệt kỹ của y là Cáp Mô Công, ông chế ra các loại thuộc độc không ai giải được, ông bị người trong giang hồ gọi là Lão Độc Vật.
Âu Dương Phong người thô kệch, đầu đội khăn xanh như người Hồi, râu quai nón, da đen bóng, mắt to tròn. Sau lần Hoa Sơn luận kiếm thứ nhất, Âu Dương Phong được bầu vào Thiên hạ ngũ tuyệt, danh xưng là Tây Độc. Không có nhân vật nào địch nổi với Tây Độc.
Khi thấy Vương Trùng Dương (giả chết) ốm nặng sắp qua đời, y liền tìm đến nhằm lấy cắp Cửu Âm Chân Kinh, không ngờ Vương Trùng Dương đã chuẩn bị trước, đánh y trọng thương. Âu Dương Phong đành chạy về Tây Vực dưỡng thương suốt mười năm mới tái xuất giang hồ.
Âu Dương Phong và Dương Khang (con của Dương Thiết Tâm và Bao Tích Nhược nhận làm con nuôi) lên Đào Hoa đảo của Đông Tà và giết chết năm người trong nhóm Giang Nam Thất Quái, chỉ để lại một mình Kha Trấn Ác vốn bị mù để đổ tội cho Hoàng Dược Sư. Nhưng mưu kế này sau đó bị Hoàng Dung phát hiện. Tại Miếu Thiết Thương, Hoàng Dung thông qua lời kể của Cô Ngốc đã vạch tội Dương Khang giết Âu Dương Khắc (tuy gọi Âu Dương Phong là chú, nhưng chính là con ruột của Âu Dương Phong trong cuộc tình vụng trộm giữa Tây Độc và chị dâu mình sinh ra). Dương Khang sợ bị lộ chuyện nên định giết người diệt khẩu đánh một chưởng vào người Hoàng Dung, nhưng không ngờ lại trúng độc của Âu Dương Phong dính từ trước trên áo của Hoàng Dung. Âu Dương Phong đã bỏ mặc Dương Khang bị trúng độc chết mà không cứu.
Nói về vũ khí đáng sợ thâm độc nhất của Âu Dương Phong là Xà Nhi với con rắn trong tay gã. Âu Dương Phong đã dày công nghiên cứu hàng chục năm, kết hợp vô số thứ rắn độc nhất thiên hạ vào trong con rắn này khiến độc dược của nó trở nên vô cùng khủng khiếp.
Trúng loại độc này, nếu không được chính Âu Dương Phong giải thì chỉ có chết. Mà chết chưa phải là hết, sự đáng sợ của con Xà Vương này nằm ở chỗ nó biến nạn nhân của nó trở thành một nguồn độc lây bệnh mới. Bất cứ ai chạm vào cái xác đều sẽ bị nhiễm độc và chịu cái chết đau đớn.
Khi lão thổi tiêu thì bầy rắn độc đột nhiên xuất hiện đến tấn công địch thủ vì vậy lão không ngán “nan địch quần hùng”.
Có lần Âu Dương Phong và Chu Bá Thông rời Đào Hoa đảo. Chu Bá Thông thách Âu Dương Phong có thể giết hết cá mập trên biển. Âu Dương sai người bắt một con cá mập ở dưới biển lên, lấy nọc con rắn trên gậy đổ vào miệng, con cá chết ngay lập tức. Sau đó, con cá mập được thả xuống biển, các con cá khác lại ăn xác và cũng chết liền. Lần lượt, con sau ăn xác con trước, thế mà cuối cùng cả vùng biển xác cá mập nổi lên trắng xóa.
Trong lần thâm nhập vào phủ vương gia nước Kim, Quách Tĩnh vô tình uống được máu của con bảo xà mà Lương Tử Ông đã nuôi 20 năm. Sau đó, không chỉ công lực được gia tăng Quách Tĩnh cũng không bị trúng bất kỳ loại độc rắn nào khác trong thiên hạ.
Trên đảo Đào Hoa, Lão Ngoan Đồng (Chu Bá Thông, đệ tử của Vương Trùng Dương) với võ công tuyệt thế Cửu Âm Chân Kinh, Song Thủ Hỗ Bác làm cho Tây Độc ở thế bị động. Tây Độc dỡ thủ đoạn bá đạo cho mãng xà cắn, Lão Ngoan Đồng nhiễm độc toàn thân, Quách Tĩnh giúp ông hút chất độc ra ngoài nên bình an vô sự.
Với dĩ độc trị độc, có vài nhân vật không sợ độc. Ngoài Quách Tĩnh có Du Thản Chi còn có tên gọi khác là Trang Tụ Hiền, xuất hiện trong Thiên Long Bát Bộ. Du Thản Chi si mê A Tử (A Tử, đệ tử của Đinh Xuân Thu). Quá si tình nên gã mê muội cam tâm tình nguyện phục thị A Tử và cho rằng đó là lý tưởng, là mục tiêu, là hoài bão của cuộc đời mình. Du Thản Chi chấp nhận tất cả thủ đoạn tàn độc của A Tử, dù là bị đau đớn, sỉ nhục, hành hạ và hủy hoại thân xác lẫn linh hồn chỉ với tâm niệm được yêu nàng, dù là mối tình câm, chỉ mong được gần nàng.
A Tử cho người đem khuôn sắt nung chảy lên đầu Du Thản Chi, nỗi đau đớn tột cùng thế nhưng, trong cơm đau giày xé, tâm hồn gã vẫn hạnh phục và luôn hướng về A Tử mà không chút hối hận.
A Tử lấy cắp Bích Ngọc Vương Đỉnh trốn về trung thổ mang đỉnh ngọc trong mình, phóng ngựa ra ngoài thành, Du Thản Chi chạy theo. Đến góc rừng vắng vẻ, A Tử xuống ngựa, đốt hương thơm bỏ vào trong đỉnh. Mùi hương quyến gọi loài độc trùng rắn, rết, nhện, bọ cạp… quanh đó kéo đến. Độc trùng theo mùi hương mò vào đỉnh ngọc. A Tử bắt Du Thản Chi thò tay vào đỉnh cho độc trùng hút máu tươi. Khi độc trùng no máu, bụng căng phồng, rời cánh tay Du Thản Chi rơi xuống, A Tử đập chết độc trùng, lấy máu xoa vào hai lòng bàn tay, luyện công.
Trong một đêm bị nọc độc hành hạ khủng khiếp Du Thản Chi lăn lộn, quằn quại trên sàn đá. Tình cờ gã nhìn thấy hình vẽ trong một quyển sách mang theo. Hình vẽ người nằm trong tư thế giống như kiểu gã đang nằm. Trong lục phủ, ngũ tạng của người trong hình vẽ có một đường chỉ đỏ chạy qua những kinh mạch. Du Thản Chi hướng dẫn bằng tâm ý cơn ngứa trong người chàng theo đường chỉ đỏ ấy. Gã cảm thấy cơn ngứa hạ đi, dễ chịu. Từ đó mỗi đêm gã dùng cách đó để hoá giải… Vô tình gã đã học được phép luyện công theo Dịch Cân Kinh. Bí kíp Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm Tự bị đánh cắp, gã mang theo mà không ai biết. Gã vô tình luyện được bí kiếp nầy nên tích tụ một lượng độc tính âm hàn khủng khiếp. A Tử ngạc nhiên khi thấy Du Thản Chi bị loại độc trùng kịch độc như con Hàn Ngọc Băng Tầm cắn mà vẫn không chết.
Với khả năng hộ thể từ Dịch Cân Kinh, Du Thản Chi tiếp tục hấp thụ nhiều loại dị độc khác, đặc biệt là độc từ con Thiên Sơn Băng Tằm. Mọi loại hàn độc đều không có tác dụng với Du Thản Chi. Với tính chí âm chí hàn từ con vật quý hiếm này, nội công của Du Thản Chi gia tăng vượt bậc, thậm chí chưởng pháp âm độc của Tinh Túc lão quái Đinh Xuân Thu cũng không thể xâm nhập cơ thể Du Thản Chi.
Trương Vô Kỵ (con của Trương Thúy Sơn – chính phái và Ân Tố Tố – tà giáo) trong Ỷ Thiên Đồ Long. Khi Triệu Mẫn (Triệu Minh) người Mông Cổ xâm nhập vào Trùng Nguyên gây chấn động giang hồ với Thập Hương Nhuyễn Cân Tán loại chất độc này không màu, không mùi, không vị, cho dù có dùng kim châm cũng không thể phát hiện. Người bị trúng độc thân thể tê liệt, hoàn toàn vô lực, không còn khả năng kháng cự. Loại độc dược này nguy hiểm hơn ở chỗ có thể dễ dàng phát tán trong không khí, pha vào nước uống hoặc đồ ăn, khiến người trúng độc thậm chí không biết lý do tại sao gặp họa và trúng độc lúc nào… chính vì vậy, rất nhiều bậc đại cao thủ võ lâm kinh nghiệm đầy mình, cảnh giác cơ trí hơn người, nhưng khi đối mặt với Thập Hương Nhuyễn Cân Tán của Triệu Mẫn cũng đành bó tay chịu trói, giao phó tính mạng cho nàng.
Triệu Mẫn là người xinh đẹp, thông minh tài trí, mưu mẹo hơn người nhưng cũng không kém phần độc ác. Triệu Mẫn không chỉ bắt nhốt các môn phái, khiến cho võ lâm chao đảo, khiếp sợ và thù ghét, nàng còn suýt nữa là rạch khuôn mặt xinh đẹp của Chu Chỉ Nhược nếu không có Trương Vô Kỵ cứu.
Vô Kỵ bị trúng độc được Thường Ngộ Xuân dẫn đến Hồ Điệp cốc để gặp thần y Hồ Thanh Ngưu chữa hàn độc trong người, nhờ vậy Vô Kỵ đã lĩnh hội toàn bộ y thuật của Hồ Thanh Ngưu và trở thành lang trung giỏi.
Vô Kỵ bị cha con Chu Trường Linh lừa gạt, chàng tình cờ phát hiện ra âm mưu thâm độc này nên bỏ trốn rồi bị kẻ thù truy đuổi trên núi tuyết Côn Luân đã vô tình lạc vào một thung lũng, may mắn bò vào được sơn cốc thông qua một cái hang hẹp, mổ bụng cứu con vượn già và đã học được toàn bộ nội công Cửu Dương Chân Kinh (Cửu Dương Thần Công) nhờ đó đã thành công hóa giải hàn độc của Huyền Minh Thần Chưởng trong người và được miễn nhiễm độc dược.
Khi luyện thành Cửu Dương Chân Kinh có được nội công hùng hậu vào loại bậc nhất trong thiên hạ. Cửu Dương Chân Kinh giúp người luyện hoán gân chuyển cốt, khiến cơ thể bách độc bất xâm. Sau này Vô Kỵ nhờ vào nội lực Cửu Dương Chân Kinh thâm hậu cùng tâm pháp nội công Càn Khôn Đại Na Di nên Vô Kỵ đã học được nhiều tuyệt kỹ võ công thượng thừa, trở thành cao thủ có võ công và nội lực tuyệt đỉnh.
Trong Ỷ Thiên Kiếm Đồ Long Đao, Hân Thù Nhi luyện võ công Thiên Thù Tuyệt Hộ Thủ, lấy nọc độc của loài nhện độc để luyện công. Vì có nọc độc trong máu nên mặt và da thịt Hân Thù Nhi sần sùi, xanh đỏ dễ sợ. Vô Kỵ giải trừ chất độc và chỉ cho nàng cách khác để luyện võ công, Hân Thù Nhi trở lại xinh đẹp
Trong tác phẩm Kim Dung chỉ đề cập đến độc dược trong tà phái sử dụng trong ám khí, đao, kiếm, rượu, phấn… và cả võ công nên thược loại bá đạo, vì vậy trong chính phái không sử dụng đến.
* Dĩ Độc Trị Độc
Trong tác phẩm của Kim Dung có 5 cao thủ vạn độc bất xâm.
Quách Tĩnh
Quách Tĩnh là một trong những tuyệt thế cao thủ xuất hiện chính trong 2 tác phẩm Thần Điêu Đại Hiệp và Thần Điêu Hiệp Lữ. Không chỉ võ công siêu phàm, khả năng kháng độc của Quách Tĩnh cũng ít ai sánh bằng.
Trong lần thâm nhập vào phủ vương gia nước Kim, Quách Tĩnh vô tình uống được máu của con bảo xà mà Lương Tử Ông đã nuôi 20 năm. Sau đó, không chỉ công lực được gia tăng nhiều phần, mà Quách Tĩnh cũng không bị trúng bất kỳ loại độc rắn nào khác trong thiên hạ.
Trên đảo Đào Hoa của Đông Tà Hoàng Dược Sư, Lão Ngoan Đồng bị mãng xà của Âu Dương Phong cắn, Quách Tĩnh đã giúp ông hút chất độc ra ngoài mà vẫn bình an vô sự.
Trương Vô Kỵ
Giáo chủ đời thứ 34 của Minh Giáo trong Ỷ Thiên Đồ Long nhờ cơ duyên luyện được tuyệt thế võ công như Cưu Dương Thần Công, Càn Không Đại Na Di, Thái Cực Thần Công. Đặc biệt, kể từ sau khi luyện được trọn vẹn Cửu Dương Thần Công, khả năng kháng độc của Trương Vô Kỵ càng được gia tăng mạnh mẽ, có khả năng kháng độc.
Vô Kỵ khi bị trúng Huyền Minh thần chưởng của Huyền Minh nhị lão, Trương Vô Kỵ dù được Thái cực tôn sư Trương Tam Phong tìm mọi cách cứu chữa nhưng không thể nào bài trừ được chất độc trong người. Phải đến khi bị rơi xuống vực và vô tình luyện được Cửu Dương Thần Công lấy được trong bụng con bạch hầu, thì hàn độc của Huyền Minh thần chưởng mới tiêu tan.
Du Thản Chi
Trong quyển Thiên Long Bát Bộ, Du Thản Chi còn có tên gọi khác là Trang Tụ Hiền. Sau khi rời khỏi Tụ Hiền Trang và lưu lạc đến nước Liêu, cơ duyên kỳ ngộ đã giúp Du Thản chi luyện thành Dịch Cân Kinh. Với khả năng hộ thể từ Dịch Cân Kinh, Du Thản Chi tiếp tục hấp thụ nhiều loại dị độc khác, đặc biệt là độc từ con Thiên Sơn Băng tằm.
Với tính chí âm chí hàn từ con vật quý hiếm này, nội công của Du Thản Chi gia tăng vượt bậc, thậm chí chưởng pháp âm độc của Tinh Túc lão quái Đinh Xuân Thu cũng không thể xâm nhập cơ thể Du Thản Chi. Du Thản Chi là nhân vật đặc biệt si tình, chấp nhận mọi khổ hình độc ác của A Tử coi như “thú đau thương”!
Viên Thừa Chí
Trong quyển Bích Huyết Kiếm, Viên Thừa Chí nhờ Chu Thiên Bằng Thiềm hút mọi loại độc trong cơ thể. Chu Băng Thiềm sẽ tự động hút chất độc ra ngoài. Ngay cả Hà Thiết Thủ, giáo chủ Ngũ Độc Giáo khi nhìn thấy Băng Thiềm cũng không khỏi ngưỡng mộ.
Đoàn Dự
Trong quyển Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự nhờ cơ duyên may mắn nên học được Bắc Minh Thần Công có thể hút công lực của người khác. Đoàn Dự sau khi vô tình ăn được Mãng Cổ Chu Cáp, một con cóc thần thoại được xưng là Vạn Độc Chi Vương, cơ thể Đoàn Dự cũng tự nhiên trở nên vạn độc bất xâm. Bất kỳ loại độc nào trong thiên hạ, dù có độc tính mạnh mẽ tới đâu cũng hoàn toàn vô dụng với Đoàn Dự.
Trong các tác phẩm của Kim Dung, chính phái không luyện và sử dụng độc dược, chỉ có tà phái nhưng không khống chế võ lâm, đó là hậu ý của ông.
Nhân Năm Thìn, Nói Về Rắn Trong Tác Phẩm Kim Dung chỉ đề cập tổng quát vài nhân vật, môn phái xuất hiện trong chốn võ lâm liên quan đến độc hại của loài rắn.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, 1/2024
-
Nói chuyện với Thiên nhiên
Mai Thanh Truyết

Qua cơn bão Yagi vừa qua với sức tàn phá kinh hoàng ở các tỉnh cực bắc của Việt Nam, với mức thiệt hại về nhân mạng và tài sản cá nhân nặng nề, cộng thêm nạn sạt lở, đất chuồi, lũ lụt … làm đảo lộn hệ sinh thái cả một vùng rộng lớn.
Chúng ta nghĩ gì? Thiên nhiên có phải là nguyên nhân tạo ra những cơn bão, hạn hán, lũ lụt hay có sự góp tay của con người hay không?
Từ những thắc mắc trên, câu hỏi được đặt ra là, thiên nhiên là sản phẩm của Thượng đế ban cho con người, và con người cần phải trân quý, bảo quản và gìn giữ như thế nào… Và câu chuyện trao đổi với Cô Trà My, VOA hôm nay sẽ xoay quanh đề tài “Trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên”.
Trước hết, để trả lời câu hỏi “Thiên nhiên có phải là nguyên nhân chính tạo ra những cơn bão, hạn hán, lũ lụt hay có sự góp tay của con người hay không?” Xin thưa, thiên nhiên và con người đều có vai trò trong việc hình thành và làm trầm trọng thêm các hiện tượng thời tiết như bão, hạn hán và lũ lụt. Dưới đây là những nguyên nhân điển hình chứng minh thiên nhiên và con người đã và đang tương tác:
- Thiên nhiên vớicác hiện tượng thời tiết như bão, hạn hán và lũ lụt chỉ là kết quả của các quy luật tự nhiên, như sự thay đổi nhiệt độ, áp suất không khí, và chu trình tuần hoàn nước. Sự biến đổi khí hậu tự nhiên theo thời gian cũng góp phần gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan. Cộng thêm sự tương tác giữa các yếu tố khí quyển như gió, mây và độ ẩm có thể tạo ra bão và mưa lớn.
- Còn về con người, các sinh hoạt của con người, như đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng, đã làm gia tăng lượng khí nhà kính trong khí quyển, dẫn đến biến đổi khí hậu và làm tăng tần suất và cường độ các hiện tượng thời tiết cực đoan.Việc thay đổi xử dụng đất, chẳng hạn như đô thị hóa và nông nghiệp không bền vững, phủ lấp các trũng tự nhiên trong xây dựng, các hồ thiên nhiên nhằm điều tiết một lượng nước mưa quá tải trong một thời gian ngắn…; tất cả có thể làm giảm khả năng hấp thụ nước, dẫn đến lũ lụt hoặc hạn hán. Và việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên và phá hủy hệ sinh thái làm suy giảm khả năng tự phục hồi của môi trường, khiến thiên nhiên dễ bị tổn thương hơn trước các hiện tượng thời tiết cực đoan kể trên.
Vì vậy, thiên nhiên có thể tạo ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhưng hoạt động của con người hiện đang làm trầm trọng thêm những hiện tượng này. Do đó, để giảm thiểu tác động tiêu cực, cần có sự kết hợp giữa hiểu biết về quy luật tự nhiên và quản lý bền vững từ phía con người.
Khái niệm về thiên nhiên
“Trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên” là một khái niệm chỉ việc bảo vệ, phục hồi và giữ gìn môi trường tự nhiên, để duy trì sự cân bằng và hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Các lý do quan trọng để trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên:
- Bảo vệ đa dạng sinh học: Thiên nhiên cung cấp môi trường sống cho hàng triệu loài động, thực vật. Việc trả lại thiên nhiên còn nguyên trạng là giúp duy trì sự đa dạng sinh học, bảo vệ các loài động thực vật khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
- Cân bằng hệ sinh thái: Các hệ sinh thái cần được giữ gìn để duy trì sự cân bằng tự nhiên, giúp các chuỗi thức ăn và vòng tuần hoàn tự nhiên hoạt động hiệu quả.
- Chống biến đổi khí hậu: Thiên nhiên giúp hấp thụ khí carbon dioxide. Khôi phục rừng, đầm lầy và các hệ sinh thái tự nhiên có thể hấp thụ carbon dioxide do sinh hoạt của con người tạo ra, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
- Thiên nhiên có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sức khỏe con người thông qua nhiều cách khác nhau. Rừng và cây xanh giúp việc lọc không khí, giảm ô nhiễm và cung cấp oxy, từ đó cải thiện sức khỏe hô hấp.
- Các hệ sinh thái như sông, hồ và đầm lầy đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước sạch, cần thiết cho sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày. Thiên nhiên cung cấp các nguồn thực phẩm đa dạng, bao gồm rau quả, hạt, và động vật, cung cấp dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể. Và, thiên nhiên mang lại cảm giác thư giãn và giảm căng thẳng. Việc tiếp xúc với thiên nhiên có thể cải thiện tâm trạng và sức khỏe tinh thần. Các hoạt động ngoài trời như đi bộ, chạy, hoặc đạp xe trong môi trường tự nhiên không chỉ giúp rèn luyện thể lực mà còn tăng cường sức khỏe tổng thể. Và sau cùng, một số nghiên cứu cho thấy các hợp chất tự nhiên trong cây cối và đất có thể hỗ trợ hệ miễn dịch, giúp cơ thể chống lại bệnh tật.
Tóm lại, thiên nhiên không chỉ là nguồn sống mà còn là yếu tố quan trọng trong việc duy trì và cải thiện sức khỏe con người.
- Tôn trọng quyền của các thế hệ tương lai: Con người có trách nhiệm bảo vệ hành tinh mà chúng ta đang sống. Việc trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên thể hiện sự tôn trọng đối với môi trường và các sinh vật khác. Bảo vệ thiên nhiên cho các thế hệ sau. Mỗi hành động nhỏ của chúng ta đều có thể góp phần bảo vệ thiên nhiên và tạo ra một tương lai bền vững.
Thiên nhiên có tự bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên hay không hay cần phải có bàn tay con người giúp sức?
Thiên nhiên có khả năng tự bảo vệ và phục hồi nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp, nhưng thông thường thì cần có sự can thiệp và quản lý của con người để bảo đảm sự bền vững. Dưới đây là một số điểm quan trọng:
Thiên nhiên tự bảo vệ qua những “hành động thiên nhiên” như: – Nhiều hệ sinh thái có khả năng tự phục hồi sau các tác động như thiên tai. Ví dụ, rừng có thể phục hồi sau hỏa hoạn hoặc lũ lụt. – Các loài động thực vật trong tự nhiên duy trì mối quan hệ cân bằng, giúp kiểm soát quần thể sinh vật và bảo vệ môi trường. – Sự tuần hoàn của nước, carbon, và các chất dinh dưỡng được tái chế qua các chu trình tự nhiên, bảo đảm sự tồn tại của hệ sinh thái nguyên thủy.
Tuy nhiên, con người cũng là tác nhân là suy giảm “sức khỏe” của thiên nhiên, cũng như giúp sức, tham dự, và can thiệp vào các sinh hoạt: – Hoạt động của con người như khai thác tài nguyên, đô thị hóa, và ô nhiễm có thể làm suy giảm hệ sinh thái. – Cần có các biện pháp bảo vệ và phục hồi để giữ cho thiên nhiên khỏe mạnh. – Con người cần áp dụng các phương pháp quản lý bền vững cho tài nguyên thiên nhiên, như bảo tồn rừng, quản lý nguồn nước, và nông nghiệp hữu cơ. – Con người cũng cần tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên sẽ giúp cộng đồng hành động tích cực hơn.
Tóm lại, thiên nhiên có khả năng tự bảo vệ, nhưng sự can thiệp và quản lý của con người là rất cần thiết để bảo đảm sự bền vững và phục hồi tài nguyên thiên nhiên.
Việc dân tộc Viking xuôi Nam vào cuối thế kỷ thứ 8 phải chăng là do sự biến đổi tuần hoàn của khí hậu từ chu kỳ ấm qua chu ky lạnh khiến họ phải xuôi Nam tìm nguồn sống?
Việc dân tộc Viking xuôi nam vào cuối thế kỷ thứ 8 không chỉ là kết quả của sự biến đổi khí hậu, mà còn do nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, khí hậu là một yếu tố quan trọng trong bối cảnh lịch sử này.
1. Do biến đổi khí hậu: Trước khi họ di cư, khu vực Bắc Âu trải qua một thời kỳ ấm hơn, cho phép nông nghiệp và chăn nuôi phát triển. Đến cuối thế kỷ thứ 8 và đầu thế kỷ thứ 9, nhiệt độ bầu khí quyển bắt đầu hạ thấp, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và khiến cuộc sống trở nên khó khăn hơn.
2. Tìm kiếm nguồn sống: Sự thay đổi khí hậu từ một chu kỳ ấm qua một chu kỳ lạnh, có thể đã thúc đẩy người Viking tìm kiếm vùng đất mới để khai thác tài nguyên và nguồn sống, dẫn đến các cuộc xâm lược và định cư tại các khu vực như Anh, Ireland và các vùng khác của châu Âu như Ukraina và Nga.
Việc dân tộc Viking xuôi nam vào cuối thế kỷ thứ 8 là một quá trình phức tạp, có sự tác động của biến đổi khí hậu, nhưng cũng bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế, chính trị và tinh thần khám phá. Sự kết hợp của những yếu tố này đã dẫn đến những cuộc di cư và xâm lược nổi tiếng của họ trong suốt một thời gian dài…
Có lẽ chúng ta cũng cần đem yếu tố di cư của dân tộc Viking từ cuối thế kỷ thứ 8, cũng như thời tiết bắt đầu nóng lên vào cuối thế kỷ 20 là những yếu tố nhằm giảm thích sự biến đổi khí hậu. Phải chăng thiên nhiên và sự thay đổi khí hậu chỉ là một chu kỳ tuần hoàn của trái đất: Chu kỳ ấm và chu kỳ lạnh và mỗi chu kỳ kéo dài khoảng 12 thế kỷ. Khoa học hiện đại chỉ có khả năng ghi nhận khoảng hàng trăm năm những sự thay đổi của quả đất, vì vậy không đủ dữ kiện để thiết lập một mô hình toán cho tương lai hàng trăm năm được. Thành thử, việc trái đất “nóng lên” đưa đến những hệ quả nguy hiểm cho con người vào thời điểm năm 2100 cũng chỉ là giả thuyết mà thôi.
Rốt cuộc rồi… trước thách thức của biến đổi khí hậu, “trở về với thiên nhiên” vẫn là một khái niệm then chốt. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái, kêu gọi mọi người tôn trọng các quy luật của thiên nhiên và giảm thiểu thiệt hại của con người đối với môi trường. Đây không chỉ là bảo vệ hệ sinh thái hiện tại mà còn là trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Phát triển bền vững có nghĩa là cân bằng nhu cầu của con người với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, cho phép thiên nhiên tự phục hồi và duy trì sự cân bằng hệ sinh thái của trái đất ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hóa của thế giới.
Mai Thanh Truyết, 23//9/2024
-
Trị liệu pháp logo: Sáng tạo một nền văn hóa có mục đích-Logotherapy: Creating a culture of purpose
Mai Thanh Truyết

Mọi thứ đều có thể bị lấy đi khỏi một người đàn ông ngoại trừ một thứ: quyền tự do cuối cùng của con người, quyền lựa chọn thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào” – Viktor Frankl
Everything can be taken from a man but one thing: the last of the human freedoms to choose one’s attitude in any given set of circumstances” – Viktor Frankl
Logotherapy dịch sang tiếng Việt là “Trị liệu pháp ý nghĩa” hoặc “Trị liệu pháp tìm kiếm ý nghĩa”. Đây là một phương pháp trị liệu tâm lý được Viktor Frankl phát triển, tập trung vào việc giúp cá nhân tìm kiếm và xác định ý nghĩa trong cuộc sống của họ, đặc biệt khi họ đối mặt với đau khổ, khủng hoảng, hoặc thử thách.
“Logotherapy” xuất phát từ từ Hy Lạp “logos,” có nghĩa là “ý nghĩa” hoặc “mục đích,” và “therapy,” có nghĩa là “trị liệu” hoặc “chữa trị.” Do đó, “Liệu pháp ý nghĩa” phản ánh mục tiêu chính của phương pháp này là giúp con người khám phá và kết nối với những yếu tố ý nghĩa và giá trị trong cuộc sống của họ.
- Bằng cách tạo ra một tác phẩm hoặc làm một việc gì đó;
- Bằng cách trải nghiệm điều gì đó hoặc gặp gỡ ai đó;
- Và bằng thái độ chúng ta dành cho nỗi đau khổ không thể tránh khỏi (unavoidable suffering).
Do đó, liệu pháp Logotherapy “ý chí hướng đến ý nghĩa – the will to meaning” rất phù hợp và có ý nghĩa trong cuộc sống của mỗi chúng ta.
- Logotherapy là gì?
Do đó, mục tiêu của logotherapy là giúp người bệnh tìm ra ý nghĩa và mục đích cá nhân của họ, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn.
Logotherapy có ba nguyên tắc chính:
- Tìm kiếm ý nghĩa: Theo Viktor Frankl, mỗi người có nhu cầu tìm kiếm một mục đích và ý nghĩa trong cuộc sống của mình. Việc này không chỉ giúp con người cảm thấy cuộc sống có giá trị mà còn cung cấp động lực trong những thời điểm khó khăn. Mỗi người có thể tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống của mình qua các trải nghiệm, mục tiêu và giá trị cá nhân.
- Tự do và trách nhiệm: Con người có quyền tự do và trách nhiệm trong việc lựa chọn cách họ phản ứng với hoàn cảnh và tìm kiếm ý nghĩa trong đó. Sự tự do này cho phép họ định hình cuộc sống của mình theo cách phù hợp với giá trị và mục tiêu cá nhân.
- Khả năng vượt qua đau khổ: Ngay cả khi đối mặt với đau khổ, người ta vẫn có thể tìm thấy ý nghĩa trong những trải nghiệm đó. Việc chấp nhận và hiểu rằng đau khổ có thể là một phần của cuộc sống có thể giúp tăng cường sự chịu đựng và phát triển cá nhân.
Logotherapy đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, từ trị liệu tâm lý đến tư vấn nghề nghiệp và phát triển cá nhân.

- Cách tiếp cận Logotherapy
- Bước 1: Suy ngẫm về lý do cốt lõi khi bước vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Bằng cách xem lại động lực ban đầu (ví dụ: mong muốn giúp đỡ người khác, tạo ra sự khác biệt hoặc mang lại sự an ủi), cá nhân có thể kết nối lại với các khía cạnh có ý nghĩa của vai trò của mình.
- Bước 2: Xác định những khoảnh khắc có ý nghĩa trong các nhiệm vụ hàng ngày. Ví dụ, nhận ra rằng hành động của họ đóng góp vào sự hồi phục của bệnh nhân hoặc mang lại sự thoải mái trong những thời điểm khó khăn có thể giúp thay đổi công việc của họ thành một nỗ lực ý nghĩa hơn là chỉ là một nguồn căng thẳng.
- Bước 3: Khám phá những con đường mới để hoàn thiện bản thân. Điều này có thể bao gồm đặt ra những mục tiêu nghề nghiệp mới, chẳng hạn như nâng cao kiến thức trong một lĩnh vực y tế cụ thể hoặc tình nguyện cho các sáng kiến sức khỏe cộng đồng, củng cố cảm giác về mục đích và phương hướng.
- Trong đời sống logotherapy giúp con người vượt qua những bất ổn tâm lý như thế nào?
Cách áp dụng liệu pháp logotherapy vào cuộc sống hàng ngày
1. Tạo ra thứ gì đó.
2. Xây dựng các mối quan hệ.
3. Tìm mục đích trong nỗi đau.
4. Hiểu và chấp nhận rằng cuộc sống là bất công.
5. Nắm bắt sự tự do để tìm kiếm ý nghĩa.
6. Tập trung vào người khác.
7. Chấp nhận điều tồi tệ nhất.
Logotherapy tập trung vào việc tìm kiếm và khôi phục ý nghĩa trong cuộc sống, đặc biệt trong các hoàn cảnh khó khăn hoặc khủng hoảng. Từ việc truy tìm ý nghĩa căn bản của cuộc sống, từ đó suy nghiệm ra cung cách thực hành logotherapy. Logotherapy còn có thể giúp con người vượt qua các bất ổn tâm lý bằng cách tập trung vào việc tìm kiếm và khôi phục ý nghĩa trong cuộc sống.
Trong đời sống, luôn có khoảng trống hiện sinh. Đây chính là trạng thái trống rỗng bên trong và thiếu mục đích, thường biểu hiện qua sự buồn chán, thờ ơ hoặc cảm giác vô nghĩa. Khi con người không thể tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống, họ có thể trải qua “rối loạn tâm lý – mental disorder,” đặc trưng bởi cảm giác vô nghĩa, dẫn đến các vấn đề tâm lý như trầm cảm, nghiện ngập hoặc lo âu.
Với trọng tâm là tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống, Logotherapy có thể hỗ trợ trong quá trình điều trị trầm cảm, nhưng không nên xem nó như là một phương pháp duy nhất hoặc thay thế cho các phương pháp điều trị khác. Đặc biệt trong trường hợp trầm cảm nghiêm trọng, việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ chuyên gia tâm lý học hoặc bác sĩ là cực kỳ quan trọng. Dưới đây là cách bạn có thể áp dụng logotherapy như một phần trong quá trình điều trị trầm cảm:cũng như việc hỗ trợ trong việc giải quyết và vượt qua các bất ổn tâm lý:
Trong trường hợp trầm cảm nặng hoặc kéo dài, logotherapy nên được xử dụng như một phần trong kế hoạch điều trị tổng thể, bao gồm tư vấn từ các chuyên gia tâm lý học, bác sĩ tâm thần, hoặc các phương pháp điều trị khác như thuốc hoặc liệu pháp tâm lý khác. Trầm cảm là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng và cần được điều trị toàn diện và chuyên nghiệp.
- Trị liệu pháp logotherapy có gì gây tranh cãi?
Ngày nay, liệu pháp logotherapy được Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ và Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ công nhận là một trong những trường phái trị liệu tâm lý có cơ sở khoa học.
Rollo May, một nhà phê bình trị liệu pháp logotherapy, tin rằng phương pháp nầy mang tính độc đoán và không cho phép cá nhân khám phá ý nghĩa. Những người khác chỉ trích tính tôn giáo của liệu pháp logotherapy, cho rằng nó chịu ảnh hưởng của tôn giáo Do Thái của Frankl.
Các nguyên tắc cốt lõi của trị liệu pháp logotherapy như sau:”Mỗi người là một con người độc nhất và không thể thay thế, sự tồn tại của họ là điều đặc trưng bởi sự tự do lựa chọn, trách nhiệm cá nhân và tinh thần nhân văn.”
Yếu tố chính là, mỗi người đều có quan điểm riêng, bạn có quan điểm của bạn, họ có quan điểm của họ. Và nếu chúng ta phân tích cả hai quan điểm này, thì mỗi quan điểm đều có vẻ hợp lệ và hợp lý như nhau. Do đó, mục tiêu là không để cuộc chiến trở thành cuộc chiến về quan điểm. Trên thực tế, mục tiêu của chúng ta là tham gia vào một cuộc thảo luận và hiểu được người kia cảm thấy bạn đã làm họ thất vọng ở đâu và tự kiểm tra xem bạn có thể hoàn thành những gì họ mong đợi ở bạn trong một tình huống nhất định hay không.
Người ta có thể nói rằng mỗi khoảnh khắc quyết định quỹ đạo cuộc sống của chúng ta, nhưng trị liệu pháp Logotherapy sẽ nói rằng, cách chúng ta phản ứng với từng khoảnh khắc trong cuộc sống sẽ quyết định cách nó diễn ra. Thật khó để sống với nhận thức này vì thông thường, chúng ta đang ở chế độ “lái tự động” và chúng ta cần ở chế độ đó để thích nghi với cuộc sống.
Trị liệu pháp logotherapy nhấn mạnh rằng có một thứ gì đó vượt ra ngoài con người, đó là sự sống. Nếu con người chọn cách vượt qua và thừa nhận sự hiện diện của một thứ gì đó vượt ra ngoài họ, con người sẽ có một cuộc sống có ý nghĩa.
- Kết luận
Cuộc sống vốn đã bất toàn. Đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống không phải là một chuyện làm dễ dàng, nhứt là trong những lúc tâm trạng bất an, rối bời vì chính cuộc sống mang lại.Làm sao mà hiểu được cái Đẹp trong sự bất toàn trong tinh thần Wabi-sabi của Nhựt? Người viết chỉ nhìn thấy được “cái đẹp” nầy trong vòng 10 năm trở lại đây thôi, nghĩa là tâm thức đã “mù lòa” trong suốt một chặng đường dài trong cuộc sống.
Người viết trong một mãn thời gian thật dài ước chừng khoảng trên dưới 60 năm, đã từng “cứng ngắt” với quan điểm về người “đàn ông” của chính mình, đã từng “cứng rắn” huấn luyện con khi còn rất nhỏ:”Là con trai, không bao giờ để lộ tình cảm của mình trước người khác, không cho ai thấy giọt nước mắt của mình cả, nhứt là trước một người con gái”. Với tinh thần đó, cuộc sống đã quá … khô cằn trong một thời gian … dài!.
Người viết đã từng để lỡ một mái gia đình êm ấm hạnh phúc. Tất cả cũng chỉ vì cái ngã của bản thân. Đã từng từ chối bước xuống tàu trong cơn can qua của đất nước vì muốn đứng trên bàn chân của mình, không lệ thuộc vào người khác, cho dù quyết định trên đã đánh đổi trên 7 năm sống dưới chế độ csBV.
Người viết đã từng “không chịu” quay đầu về núi, khuất phục VC theo lịnh của một người”!
Người viết, với quan niệm không bao giờ “looking back” mà chỉ biết “go forward”, nhưng hôm nay, nhìn lại chính mình khi suy nghĩ về… ý nghĩa đích thực của cuộc sống?
Không có gì mâu thuẫn cả, tất cả chỉ là một tiến trình chuyển hóa của con người theo thời gian mà thôi. Cái tôi, cái ngã, cái “đã từng chạy theo hào quang hào nhoáng” rồi cũng phải nhường chỗ cho bản năng tích thiện trong mỗi con người.
Hôm nay, nhân chia xẻ về việc tìm hiểu và “truy tìm” ý nghĩa của cuộc sống đích thực, đây cũng là lần đầu tiên, với tuổi trên 80, người viết một lần… nhìn lại bản thân.
Tóm lại, nhìn lại bản thân, tức là đã áp dụng những lới khuyên qua logotherapy dưới đây:
- Tìm hiểu về ý nghĩa cá nhân;
- Chấp nhận sự đau khổ;
- Tập trung vào sự tự do lựa chọn;
- Tạo giá trị qua hành động và quan hệ;
- Khám phá các tài liệu của Viktor Frankl.
Đọc các tác phẩm của Viktor Frankl, đặc biệt là cuốn “Man’s Search for Meaning” (Tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời), có thể giúp bạn hiểu sâu hơn về logotherapy và cách áp dụng nó trong cuộc sống hàng ngày.
Điểm mạnh của Logotherapy nằm ở việc tập trung vào ý nghĩa, điều này giúp cá nhân nhìn xa hơn những khó khăn hiện tại và chấp nhận giá trị nội tại của sự tồn tại của họ. Bằng cách tìm kiếm mục đích trong cuộc sống, con người có thể vượt qua đau khổ, nuôi dưỡng sức mạnh bên trong và đạt được sự bình an trong tâm hồn. Dù là qua công việc, các mối quan hệ hay vượt qua nghịch cảnh cá nhân, logotherapy cung cấp một lộ trình để điều hướng những thách thức của cuộc sống bằng cách làm nổi bật sức mạnh biến đổi của ý nghĩa.
Theo lời của Nietzsche, “Người có lý do để sống có thể chịu đựng hầu như bất kỳ hoàn cảnh nào” – “He who has a why to live for can bear almost any how”. Trong Man’s Search for Meaning, Viktor Frankl kể lại những trải nghiệm của mình trong các trại tập trung khác nhau của Đức Quốc xã để giải thích về khám phá của ông về liệu pháp logotherapy. Những lời của Nietzsche cho thấy giọng điệu mà Frankl xử dụng khi giải thích khái niệm trị liệu pháp logotherapy vì nó tóm tắt các trụ cột mà phương pháp nầy dựa trên trong một câu. Frankl định nghĩa trị liệu pháp logotherapy là một khái niệm tâm lý nhằm mục đích trao cho bệnh nhân khả năng nhìn thấy ý nghĩa trong cuộc sống của họ thay vì áp đặt một câu trả lời chắc chắn cho cuộc tìm kiếm của bệnh nhân trong cuộc sống. (Frankl defines logotherapy as a psychological concept that aims to confer the patient the ability to see meaning in their lives rather than imposing a definitive answer to the patient’s quest in life.)
Hy vọng những lời góp nhặt cát đá trên sẽ giúp bạn tiếp cận logotherapy một cách hiệu quả và tìm thấy sự bình yên cũng như ý nghĩa trong cuộc sống của chính mình.
Mai Thanh Truyết, Houston, 14/9/2024
-
SỰ HOÀI NGHI-MERCHANTS OF DOUBT
Mai Thanh Truyết, Houston

Lời người viết: Vừa qua, Elon Musk có nêu tên 6 cuốn sách và khuyên mọi người cần đọc để tìm hiểu thêm về thế giới. Người viết lưu ý đến cuốn Merchants of doubt của Naomi Oreskes, Giáo sư Harvard nghiên cứu về sự liên kết khoa học giữa trái đất và môi trường. Xin mạo muội chia xẻ cùng người đọc vài suy nghĩ cá nhân lẫn “góp nhặt cát đá” trên mạng toàn cầu.
- Về tác giả Naomi Oreskes
Naomi Oreskes, Giáo sư Liên kết Khoa học Trái đất và Hành tinh – Affiliated Professor of Earth and Planetary Sciences tại Đại học Harvard. Các lĩnh vực nghiên cứu chính:
-Agnotology (Thuyết vô thần (?));
– Kinh tế chính trị của Kiến thức khoa học;
– Lịch sử và Triết học của Khoa học Trái đất và Môi trường,
– Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ (STS);
– Lịch sử của Thông tin sai lệch về Biến đổi khí hậu.
Các lĩnh vực quan tâm thứ cấp: Chính sách khoa học, Khoa học và Tôn giáo, Nghiên cứu về Phụ nữ và Giới tinh. Là một nhà khoa học về Trái đất, nhà sử học và diễn giả nổi tiếng thế giới, bà là tác giả của cuốn sách bán chạy nhất, Merchants of Doubt (2010) và là tiếng nói hàng đầu về vai trò của khoa học trong xã hội, thực tế về biến đổi khí hậu do con người gây ra và vai trò của thông tin sai lệch trong việc ngăn chặn hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Oreskes là tác giả hoặc đồng tác giả của 9 cuốn sách và hơn 150 bài báo, tiểu luận và bài bình luận, bao gồm Merchants of Doubt (Bloomsbury, 2010), The Collapse of Western Civilization (Nhà xuất bản Đại học Columbia, 2014), Discerning Experts (Nhà xuất bản Đại học Chicago, 2019), Why Trust Science? (Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2019) và Science on a Mission: American Oceanography from the Cold War to Climate Change (Nhà xuất bản Đại học Chicago, 2021). Merchants of Doubt, đồng tác giả với Erik Conway, là chủ đề của một bộ phim tài liệu cùng tên do đơn vị tham gia Media sản xuất và được SONY Pictures Classics phân phối, và đã được dịch sang chín thứ tiếng. Một phiên bản mới của Merchants of Doubt, với lời giới thiệu của Al Gore, đã được xuất bản vào năm 2020.
Oreskes đã viết Lời giới thiệu cho ấn bản Melville House của Thông điệp của Giáo hoàng về Biến đổi khí hậu và Bất bình đẳng, Laudato Si, và các bài tiểu luận và bài bình luận của bà về biến đổi khí hậu đã xuất hiện trên các tờ báo hàng đầu trên toàn cầu, bao gồm The New York Times, The Washington Post, The Los Angeles Times, The Times (London) và Frankfurter Allgemeine. Nhiều giải thưởng và giải thưởng của bà bao gồm Giải thưởng Mary C. Rabbitt của Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ năm 2019, Giải thưởng Stephen Schneider năm 2016 cho Truyền thông Khoa học Khí hậu xuất sắc, Giải thưởng Dịch vụ Công cộng năm 2015 của Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ, Giải thưởng Herbert Feis năm 2015 của Hiệp hội Lịch sử Hoa Kỳ cho những đóng góp của bà cho lịch sử công cộng và Giải thưởng Trích dẫn của Tổng thống Liên minh Địa vật lý Hoa Kỳ năm 2014 cho Khoa học và Xã hội. Bà là thành viên của Liên đoàn Địa vật lý Hoa Kỳ, Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ, Hiệp hội vì sự tiến bộ của Khoa học Hoa Kỳ, Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Hoa Kỳ và Hiệp hội Triết học Hoa Kỳ. Năm 2018, bà được vinh danh là Học giả Guggenheim và năm 2019, bà được trao tặng Huy chương Viện Hàn lâm Anh.
Cuốn sách mới của bà, cùng với Erik Conway, là The Big Myth: How American Business Taught Us to Loathe Government and Love the Free Market, do Bloomsbury Press xuất bản.
Merchants of Doubt của Naomi Oreskes và Erik M. Conway khám phá cách một nhóm nhỏ các nhà khoa học và chuyên gia, nhiều người trong số họ có liên quan đến ngành công nghiệp thuốc lá, đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự nhầm lẫn và hoài nghi của công chúng xung quanh sự đồng thuận khoa học về một số vấn đề, bao gồm hút thuốc lá, mưa axit, suy giảm tầng ôzôn và biến đổi khí hậu. Cuốn sách nêu bật cách những cá nhân này, thường được các nhóm trong ngành hỗ trợ tài chính, cố tình gieo rắc sự nghi ngờ về các sự kiện khoa học đã được xác lập để bảo vệ lợi ích của công ty.
Nội dung cuốn sách:
Cuốn sách “Merchants of Doubt, tạm dịch: “Thương nhân của sự hoài nghi” của tác giả Naomi Oreskes và Erik M. Conway đã vạch trần chiến dịch tuyên truyền và bóp méo thông tin khoa học của các công ty và tổ chức có lợi ích liên quan đến các vấn đề môi trường và sức khỏe công cộng. Nội dung chính của cuốn sách bao gồm:
- Chiến dịch chống lại khoa học về biến đổi khí hậu: Các tác giả chỉ ra cách các công ty như ExxonMobil và các tổ chức như Viện Hoover đã tài trợ cho các nghiên cứu và tuyên truyền nhằm tạo ra sự hoài nghi về khoa học biến đổi khí hậu.
- Chiến dịch chống lại khoa học về tác hại của thuốc lá: Các tác giả chỉ ra cách các công ty thuốc lá đã tài trợ cho các nghiên cứu và tuyên truyền nhằm tạo ra sự hoài nghi về khoa học về tác hại của thuốc lá.
- Chiến dịch chống lại khoa học về ô nhiễm không khí: Các tác giả chỉ ra cách các công ty và tổ chức đã tài trợ cho các nghiên cứu và tuyên truyền nhằm tạo ra sự hoài nghi về khoa học về ô nhiễm không khí.
- Vai trò của các “thương nhân của sự hoài nghi”: Các tác giả chỉ ra cách các nhà khoa học và các chuyên gia đã được thuê để tạo ra sự hoài nghi về khoa học và tuyên truyền cho các lợi ích của các công ty và tổ chức. Cuốn sách “Merchants of Doubt” đã nhận được nhiều đánh giá tích cực và đã được coi là một trong những cuốn sách quan trọng nhất về khoa học và chính trị trong những năm gần đây.
Sau đây là những ý chính tác giả muốn trang trải:
- Vai trò của các nhà khoa học trong các chiến dịch phủ nhận
Luận điểm chính của cuốn sách là một nhóm các nhà khoa học có ảnh hưởng, thường được các tập đoàn tài trợ, đã sử dụng các chứng chỉ khoa học (scientific credentials) của họ để gieo rắc sự nghi ngờ về những phát hiện khoa học đã được xác lập. Những cá nhân này có thể tác động đến dư luận và chính sách của công chúng bằng cách đưa ra những tranh cãi khoa học ở những nơi không tồn tại. Họ thực sự hành động như những “thương nhân của sự nghi ngờ” để gây nhầm lẫn cho công chúng và các nhà hoạch định chính sách.
2.2- Ảnh hưởng của ngành công nghiệp thuốc lá đến khoa học sức khỏe cộng đồng
Hai tác giả khám phá cách ngành công nghiệp thuốc lá tiên phong trong các chiến thuật này để làm suy yếu sự đồng thuận khoa học liên kết hút thuốc với ung thư và các vấn đề sức khỏe khác. Bằng cách thuê các nhà khoa học để công khai đặt câu hỏi về bằng chứng, ngành công nghiệp thuốc lá đã trì hoãn thành công việc quản lý trong nhiều thập kỷ, mặc dù có bằng chứng khoa học áp đảo về mối nguy hiểm của việc hút thuốc.
- Lợi dụng lòng tin của công chúng vào khoa học
Những “thương nhân của sự nghi ngờ” đã lợi dụng lòng tin của công chúng vào khoa học, sử dụng các chứng chỉ học thuật và kiến thức về phương pháp khoa học của họ để khiến những nghi ngờ về sự đồng thuận khoa học có vẻ hợp lý. Họ sử dụng các chiến lược như chọn lọc dữ liệu, nhấn mạnh vào sự không chắc chắn và thúc đẩy ý tưởng rằng các vấn đề khoa học “vẫn còn để tranh luận”, ngay cả khi phần lớn cộng đồng khoa học đã đạt được sự đồng thuận.
- Mở rộng sự nghi ngờ sang các vấn đề khác
Sau thành công trong vụ thuốc lá, các nhà khoa học này đã mở rộng nỗ lực của mình sang các vấn đề khác về môi trường và sức khỏe cộng đồng, bao gồm:
• Mưa axit: Họ hạ thấp mối liên hệ giữa ô nhiễm không khí và mưa axit, đặt câu hỏi về bằng chứng khoa học và lập luận rằng vấn đề này đã bị cường điệu hóa (overstated).
• Suy giảm tầng ôzôn: Các chiến lược tương tự đã được sử dụng để gieo rắc sự nghi ngờ về tác động của CFC (chlorofluorocarbon) lên tầng ôzôn, mặc dù khoa học ngày càng đồng thuận rằng CFC đang gây ra sự suy giảm tầng ôzôn.
• Biến đổi khí hậu: Cuốn sách cũng nêu bật cách những cá nhân này, hoặc đồng minh của họ, sau đó đã tham gia vào việc gieo rắc sự nghi ngờ về sự đồng thuận khoa học về biến đổi khí hậu. Họ đã sử dụng các chiến thuật tương tự để đặt câu hỏi về bằng chứng về sự nóng lên toàn cầu do con người gây ra, thường coi đó là không chắc chắn hoặc phóng đại.
- Động cơ chính trị và ý thức hệ
Hai tác giả lập luận rằng nhiều “thương nhân nghi ngờ” này được thúc đẩy bởi một ý thức hệ chính trị phản đối quy định của chính phủ và tìm cách bảo vệ các nguyên tắc thị trường tự do. Họ thường liên kết với các nhóm nghiên cứu bảo thủ và các nhóm chính trị phản đối sự can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh doanh. Trong nhiều trường hợp, các chiến dịch phủ nhận của họ không chỉ liên quan đến khoa học mà còn liên quan đến việc bảo vệ một chương trình nghị sự chính trị và kinh tế cụ thể.
- Mối nguy hiểm của thông tin sai lệch
Oreskes và Conway nhấn mạnh rằng việc truyền bá sự nghi ngờ và thông tin sai lệch đã gây ra hậu quả thực tế. Bằng cách làm suy yếu lòng tin của công chúng vào khoa học, các chiến dịch này đã trì hoãn hành động chính sách cần thiết về các vấn đề môi trường, bao gồm quy định về thuốc lá, kiểm soát ô nhiễm và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Điều này đã gây hại cho sức khỏe cộng đồng và môi trường và làm chậm trễ các nỗ lực giải quyết các thách thức toàn cầu cấp bách.
- Hậu quả lâu dài của sự nghi ngờ
Cuốn sách thảo luận về cách những nỗ lực của những thương nhân nghi ngờ này đã gây ra những tác động lâu dài như thế nào đối với chính sách công và truyền thông khoa học. Nó chỉ ra rằng các chiến thuật mà họ sử dụng vẫn tiếp tục được các nhóm công nghiệp và nhóm lợi ích sử dụng ngày nay, đặc biệt là trong cuộc tranh luận về biến đổi khí hậu, nơi các chiến lược tương tự vẫn được sử dụng để ngăn chặn các hành động có ý nghĩa.
Tóm lại, Merchants of Doubt tiết lộ cách một nhóm cá nhân nhỏ nhưng có quyền lực, được hỗ trợ bởi các lợi ích của công ty, đã có hệ thống đánh lừa công chúng về các vấn đề khoa học để bảo vệ lợi ích kinh doanh. Cuốn sách đóng vai trò:
- Như một câu chuyện cảnh báo về những nguy cơ của việc thao túng khoa học và dư luận, thúc giục độc giả chỉ trích các chiến dịch tìm cách gieo rắc sự nghi ngờ về các sự kiện khoa học vì lý do ý thức hệ hoặc tài chính.
- Đồng thời, nó cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tin tưởng vào cộng đồng khoa học và việc ra quyết định dựa trên bằng chứng vì lợi ích của xã hội.
- Cuốn sách có thể có ý định cảnh báo thế giới không?
Đúng. Merchants of Doubt của Naomi Oreskes và Erik M. Conway có thể nhắm tới mục đích xa là cảnh báo thế giới về mối nguy cơ tiềm ẩn của một số khoa học gia muốn “bẽ lái” dư luận theo chiều hướng khoa học (?) phù hợp với những tập đoàn kỹ nghệ của phe nhóm thích hợp. Cuốn sách là một phân tích phê phán về cách một số cá nhân, nhiều người có quan hệ với các lợi ích của công ty và chính trị, đã cố tình phát tán thông tin sai lệch và gây nghi ngờ về những phát hiện khoa học đã được xác lập để bảo vệ chương trình nghị sự kinh tế hoặc ý thức hệ của họ. Mục đích chính của nó là làm nổi bật các chiến thuật được sử dụng bởi những “thương nhân nghi ngờ” này và tác động tiêu cực của họ đối với sự hiểu biết của công chúng về các vấn đề khoa học quan trọng, chẳng hạn như hút thuốc lá, mưa axit, suy giảm tầng ozon và biến đổi khí hậu.
- Trọng tâm của cuốn sách:
Cuốn sách không đề xuất một trật tự thế giới mới hoặc một phương pháp kiểm soát các vấn đề toàn cầu. Thay vào đó, nó tập trung vào cách một số cá nhân và nhóm nhất định đã lợi dụng lòng tin của công chúng vào khoa học để trục lợi cho riêng mình hay cho phe nhóm mình, thường sử dụng các động cơ chính trị và kinh tế.
Nó cung cấp một bản tường trình lịch sử về cách những “thương nhân của sự nghi ngờ” này đã nhiều lần làm suy yếu sự đồng thuận khoa học để trì hoãn hoặc ngăn chặn các quy định của các chính phủ có thể gây hại cho lợi ích của các tập đoàn, chẳng hạn như ngành công nghiệp thuốc lá hoặc các công ty nhiên liệu hóa thạch.
Oreskes và Conway sử dụng các ví dụ lịch sử để chỉ ra cách những nỗ lực này tác động đến chính sách công và hành động toàn cầu về các vấn đề quan trọng, chẳng hạn như rủi ro sức khỏe liên quan đến hút thuốc và biến đổi khí hậu.
Merchants of Doubt không phải là về việc kiểm soát thế giới mà là về việc tiết lộ những thế lực hùng mạnh đã tác động đến dư luận và chính sách của công chúng bằng cách gieo rắc sự nghi ngờ về khoa học. Mục đích của nó là giáo dục độc giả về tầm quan trọng của tính toàn vẹn khoa học và những rủi ro khi cho phép các lợi ích về mặt ý thức hệ hoặc doanh nghiệp định hình sự hiểu biết của công chúng về những sự kiện ảnh hưởng đến sức khỏe toàn cầu và môi trường.
- Tại sao Elon Musk giới thiệu cuốn sách này cho độc giả? Và mục đích của ông là gì?
Việc Elon Musk nhắc đến Merchants of Doubt có thể phục vụ cho mục đích chiến lược phù hợp với sở thích rộng hơn của ông về công nghệ, các vấn đề môi trường và sự hoài nghi về thông tin sai lệch. Musk nổi tiếng với quan điểm thẳng thắn về nhiều chủ đề, bao gồm biến đổi khí hậu, năng lượng tái tạo và vai trò của sự đồng thuận khoa học. Mặc dù không thể suy đoán động cơ chính xác của Musk khi giới thiệu cuốn sách này, nhưng có một số lý do được phác thảo thiết nghĩ hợp lý tại sao ông ta có thể giới thiệu nó cho độc giả. Đó là:
5.1- Làm nổi bật mối nguy hiểm của thông tin sai lệch và thao túng phương tiện truyền thông: Merchants of Doubt vạch trần cách các nhóm lợi ích hùng mạnh (thường có liên quan đến các tập đoàn) đã thao túng diễn ngôn khoa học để trì hoãn hành động đối với các vấn đề quan trọng như sử dụng thuốc lá, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Musk, một người ủng hộ mạnh mẽ cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu thông qua các công nghệ như xe điện (thông qua Tesla) và năng lượng mặt trời (thông qua SolarCity), có thể đang thu hút sự chú ý đến các chiến thuật được sử dụng bởi các nhóm trước đây đã hạ thấp hoặc phủ nhận khoa học về biến đổi khí hậu, cũng như những nhóm truyền thông khuynh tả truyền đạt những tin tức sai sự thật trong những ý định chính trị của phe nhóm.
Bằng cách giới thiệu cuốn sách, Musk có thể muốn nhấn mạnh đến những nguy cơ của thông tin sai lệch và cách các ngành công nghiệp, đặc biệt là các công ty nhiên liệu hóa thạch, đã sử dụng các chiến thuật tương tự để tạo ra sự nghi ngờ về biến đổi khí hậu, giống như các công ty thuốc lá đã làm liên quan đến rủi ro sức khỏe do hút thuốc.
5.2- Ủng hộ việc ra quyết định dựa trên bằng chứng
Musk là người ủng hộ mạnh mẽ việc ra quyết định dựa trên bằng chứng trong cả kinh doanh và chính sách. Bằng cách tham khảo Merchants of Doubt, ông có thể củng cố niềm tin của mình rằng sự đồng thuận khoa học nên hướng dẫn các quyết định chính sách, đặc biệt là về các vấn đề quan trọng như tính bền vững của môi trường và đổi mới công nghệ. Việc khám phá cách các ngành công nghiệp có thể thao túng nhận thức của công chúng có thể đồng điệu với sự nhấn mạnh của Musk về sự đổi mới giải quyết các vấn đề trong thế giới thực, đặc biệt là về năng lượng và khí hậu.
5.3- Khuyến khích tư duy phản biện và hoài nghi
Musk nổi tiếng với việc ủng hộ tư duy phản biện và thách thức hiện trạng, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp như hàng không vũ trụ, ô tô và năng lượng. Bằng cách tham khảo một cuốn sách tiết lộ cách một số nhà khoa học và nhóm ngành cố tình tạo ra sự nhầm lẫn xung quanh các sự kiện khoa học, Musk có thể đang khuyến khích những người theo dõi và độc giả của mình suy nghĩ phản biện về thông tin mà họ tiếp nhận. Điều này phù hợp với cách tiếp cận của Musk trong việc đặt câu hỏi về các chuẩn mực đã được thiết lập và thúc đẩy các cách tiếp cận minh bạch hơn, dựa trên thực tế để giải quyết vấn đề.
5.4- Liên kết lợi ích của doanh nghiệp với các vấn đề môi trường
Musk đã chỉ trích mạnh mẽ các ngành công nghiệp mà theo quan điểm của ông, ưu tiên lợi nhuận hơn tính bền vững lâu dài. Bằng cách đề cập đến Merchants of Doubt, Musk có thể đang vẽ ra sự tương đồng giữa các chiến thuật lịch sử mà các tập đoàn sử dụng để bảo vệ lợi ích tài chính của họ (như các công ty thuốc lá hoặc ngành công nghiệp nhiên liệu hóa thạch) và nhu cầu thay đổi các chính sách toàn cầu hướng tới năng lượng sạch hơn và tính bền vững. Ông có thể muốn độc giả nhận ra các lợi ích của doanh nghiệp có thể làm suy yếu các nỗ lực giải quyết các vấn đề cấp bách như biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường.
5.5- Định vị bản thân là Nhà vô địch của Tiến bộ và Đổi mới
Việc Musk tham khảo cuốn sách này cũng có thể là một cách định vị bản thân là người ủng hộ tiến bộ, đổi mới và tính toàn vẹn khoa học. Bằng cách thu hút sự chú ý đến những cách mà thông tin sai lệch và sự nghi ngờ đã được sử dụng để cản trở tiến bộ, ông có thể củng cố ý tưởng rằng các công ty của mình (như Tesla, SpaceX và Neuralink) đang tiến về phía trước với mục tiêu giải quyết những thách thức lớn nhất của nhân loại. Trong bối cảnh này, việc giới thiệu Merchants of Doubt đóng vai trò như một lời kêu gọi hành động để mọi người nhận ra tầm quan trọng của sự đổi mới và lòng tin vào khoa học.
5.6- Giải quyết cuộc tranh luận về biến đổi khí hậu
Với cam kết của Musk trong việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, việc tham chiếu đến Merchants of Doubt có thể là một nỗ lực nhằm làm nổi bật những cách thức mà sự phủ nhận biến đổi khí hậu đã được những người có ảnh hưởng với các lợi ích cố hữu truyền bá. Nội dung của cuốn sách về sự phủ nhận biến đổi khí hậu phù hợp với những nỗ lực của Musk nhằm chống lại tình trạng nóng lên toàn cầu thông qua việc phát triển các công nghệ bền vững. Bằng cách giới thiệu cuốn sách này, Musk có thể đang cố gắng vạch trần cách thức một số lợi ích nhất định hoạt động để che giấu sự thật về biến đổi khí hậu và tầm quan trọng của việc chuyển đổi sang năng lượng sạch.
- Kết luận
Từ một cậu bé con trong thời gian học tiểu học, cuộc đời của cậu Musk bắt đầu quan tâm đến máy tính và tự học cách lập trình. Khi 12 tuổi, Musk đã phát triển trò chơi của riêng mình có tên là Blastar và bán được với giá 500 đô la. Anh thường đắm chìm trong mơ mộng về những phát minh đến nỗi cha mẹ và bác sĩ đã yêu cầu kiểm tra thính giác của anh.
Cậu bé thấp bé, hướng nội và ham đọc sách này đã bị bắt nạt cho đến năm 15 tuổi. Vào thời điểm đó, anh đã trải qua một đợt tăng trưởng đột biến và học cách tự vệ bằng karate và đấu vật. Anh vẫn tiếp tục luyện võ khi trưởng thành. Vào năm 17 tuổi, năm 1988, Elon chuyển đến Canada bất chấp mong muốn của cha mẹ để theo học đại học và tránh nghĩa vụ quân sự bắt buộc trong quân đội Nam Phi. Anh đã có quốc tịch Canada vào năm đó, một phần vì anh cảm thấy sẽ dễ dàng hơn để có được quốc tịch Hoa Kỳ thông qua con đường đó. Elon chuyển đến Hoa Kỳ vài năm sau đó và chính thức trở thành công dân Hoa Kỳ vào năm 2002.
Ngoài công việc và cuộc sống gia đình, Musk còn là một người chơi trò chơi điện tử cuồng nhiệt. Nhà viết tiểu sử Walter Isaacson, người đã công bố một tài khoản được ủy quyền về cuộc đời của Musk vào năm 2023, thậm chí còn phân loại sở thích này là một “cơn nghiện”. Ông là một người hâm mộ lớn của Elden Ring, mà trước đây ông gọi là “tác phẩm nghệ thuật đẹp nhất mà tôi từng thấy”.
Quyển sách “Tiểu sử của Isaacson về Musk” từng là cuốn sách bán chạy nhất của New York Times, hiện đang trong quá trình trở thành phim tiểu sử. Đạo diễn Darren Aronofsky đã tham gia vào bộ phim. “Thật vui vì Darren đang làm điều đó”, Musk chia sẻ trên mạng xã hội sau khi tin tức về dự án này nổ ra vào cuối năm 2023. “Anh ấy là một trong những người giỏi nhất”.
Thế mà, việc Musk giới thiệu Merchants of Doubt có thể phản ảnh mong muốn của ông trong việc thúc đẩy tầm quan trọng của tính chính trực khoa học, mối nguy hiểm của thông tin sai lệch và nhu cầu ra quyết định dựa trên bằng chứng trong việc giải quyết các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu. Ông cũng có thể đang cố gắng làm nổi bật các chiến thuật mà các tập đoàn sử dụng để thao túng dư luận và trì hoãn hành động cần thiết đối với các vấn đề quan trọng. Cuối cùng, mục đích của ông có thể là khuyến khích người đọc suy nghĩ phản biện, nhận ra tác động của thông tin sai lệch và ủng hộ các chính sách dựa trên bằng chứng khoa học đáng tin cậy.
Alon musk, Ông là ai mà có những viễn kiến như vậy?
Và quyển sách Merchants of Doubt phải chăng sẽ là tiếng chuông cảnh tỉnh những bước chân lạc loài của “các nhà khoa học có định hướng”?
Mai Thanh Truyết, Houston, Ngày Chúa Chào Đời – 12-24-2024
-
Ý NGHĨA CỦA LỄ GIÁNG SINH

Lễ Giáng Sinh là ngày Christmas khá trọng đại. Trọng đại vì đây là ngày đã được mọi quốc gia, mọi tôn giáo coi như ngày vui chung của nhân loại, chứ không riêng gì đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo. Do đó, có người đã nói, Christmas là một cơ hội hãn hữu để nhắc nhở mọi người có bổn phận đối với những người mà ta không quen biết cũng như đôi khi không ưa thích.Và đồng thời mọi người cũng hân hoan hát các điệu nhạc Giáng sinh như “We wish you a Merry Christmas”, như “Silent Night”, Đêm Thánh Vô Cùng mừng Chúa Hài Đồng ra đời.
…Ôi Chúa thiên đàng, cam nếm cơ hàn
Nhấp chén phiền vương phong trần
Than ôi Chúa thương người đến quên mình
Bơ vơ chốn quên nhà lúc sinh thành
Ai đang sống trong lạc thú
Nhớ rằng Chúa đang đền bù…Theo lời ghi lại thì khi Chúa Jesus cất tiếng khóc chào đời trong một cái máng cỏ ở hang Bethlelem có ba vị Vua phương Đông mang ba món quà đến để bày tỏ sự thành kính của họ. Trong khi đó, những người chăn cừu nghèo khó cũng lòng thành tặng Chúa Jesus hoa quả và những món đồ chơi do chính họ làm ra…
Lễ Giáng Sinh Christmas là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Jesus. Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Christ là tước vị của Đức Giêsu, chữ Mas là Thánh lễ. Thượng Đế đã gửi con yêu quý của mình xuống thế để chuộc tội và mang lại tình thương, hòa bình, hạnh phúc cho nhân loại. Tuy là lễ riêng của tín đồ Cơ Đốc Giáo, nhưng hầu như mọi người đều trân trọng, chung vui. Với tất cả, Lễ Giáng Sinh là thời gian tuy ngắn ngủi nhưng tràn ngập thương yêu với những gói quà dưới cây Noel, sao sáng lung linh nơi cửa sổ, những cánh thiệp chúc tụng gửi đó đây, những bữa ăn đoàn tụ thân bằng quyến thuộc với tiếng cười nói hân hoan hạnh phúc, với tuyết trắng phủ kín sân nhà, đường phố…
Cho nên, tinh thần của Lễ Giáng Sinh là chia sẻ, bao dung, thương yêu và giảm thiểu giận hờn.
Tiểu thuyết gia Oren Arnold gợi ý về quà tặng Giáng Sinh như sau: “Với kẻ thù, cho sự Tha thứ; với đối thủ cho sự Chịu đựng; với bạn bè cho Trái Tim; với khách hàng cho Phục Vụ Chu Đáo; với các cháu bé Làm Gương Sáng để cháu noi theo và với chính mình, cho niềm Tự Trọng”.
Trong thông điệp gửi cho nhân dân Hoa Kỳ, vị Tổng Thống thứ 30 của quốc gia này là Calvin Coolidge (1872-1933), nhắn nhủ: “Christmas không phải là một thời gian hoặc một mùa nhưng là một tâm trạng. Để chào mừng hòa bình và thiện ý, để có đầy đủ tình yêu thương”.
Tiểu thuyết gia nước Anh là Charles Dickens ((1812–1870) cũng đồng ý với “ Tôi luôn nghĩ Christmas như là thời gian vui thú ; một thời gian thân tình, tha thứ, độ lượng, thoải mái; thời gian mà nam cũng như nữ dường như tự do rộng mở trái tim, do đó tôi xin Thượng Đế chúc lành cho Christmas”.
Tác giả Wilda English viết :”Thượng Đế ban cho ta ánh sáng của Christmas, đó là niềm tin; ấm áp của Chrismas, đó là tình yêu; rực rỡ của Christmas, đó là sự trong sáng; chính trực của Christmas, đó là công lý; lòng tin tưởng ở Christmas, đó là sự thật; mọi ý nghĩa của Christmas, đó là Chúa Giê Su”.
Kế cận những bên nhau hạnh phúc, Giáng Sinh còn quá nhiều người không mua, không nhận được quà tặng, không lo được bữa ăn ngon, những em bé bán diêm chết cóng trong đêm băng giá, những đứa con bị cha mẹ bỏ rơi, những người bệnh không được thuốc thang chăm sóc…
Nhưng có Mother Teresa, người được Chúa Jesus kêu gọi để phục vụ những kẻ bất hạnh từ Giáng Sinh năm 1948. Bà từng nói “Mỗi năm tôi khởi sự việc làm vào ngày Christmas”.
Vì, theo bà, “Là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta để Thượng Đế thương yêu người khác qua ta…và là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta mỉm cười với anh em của ta và cứu giúp họ”.
Đó là thánh ý Thiên Chúa.
Mà trong Lễ Giáng sinh, thường thường người ta cũng hay cầu nguyện
Cầu nguyện không phải chỉ là sự thờ phượng mà còn là một nguồn sinh lực dồi dào, mạnh mẽ mà con người có thể tạo ra. Ảnh hưởng của sự cầu nguyện lên tinh thần và thể chất có thể chứng minh được. Ảnh hưởng đó được đo lường bằng sự phục hồi thể xác, đưa tới một trí tuệ sáng suốt, một lương tri ổn định và sự thấu hiểu những mặt khàc nhau trong sự giao thiệp giữa mọi người.
Nếu ta thành thật tạo ra một thói quen cầu nguyện, cuộc sống của ta sẽ thay đổi rõ ràng. Lời cầu nguyện sẽ để lại trong hành động và thái độ của ta những dấu ấn khó xóa nhòa. Một tác phong bình thản, một nét mặt ung dung tự tại ở những ai đã có một nội tâm phong phú. Trong chiều xâu của lương tri là ngọn lửa của nhân ái. Và con người tự nhìn thấy mình. Họ nhìn ra tính ích kỷ, thái độ kiêu hãnh, tâm trạng sợ hãi, lòng tham lam, những sai lầm ngớ ngẩn của mình. Họ sẽ triển khai một nghĩa vụ đạo đức, một trí tuệ khiêm cung lâu dài.
Câu nói, “Hãy cầu xin và sẽ được đáp ứng” đã được chứng minh bằng kinh nghiệm của nhân loại.Thực ra, cầu nguyện không thể mang lại sự sống cho em bé đã chút hơi thở cuối cùng hoặc chấm dứt được cơn đau thể chất. Nhưng cầu nguyện, như hạt radium, là nguồn sinh lực tự tạo sáng chói không bao giờ hết. Khi cầu nguyện, ta đã kết nối bản thân với nguồn sức mạnh bất tận đang quay cuồng trong vũ trụ. Ta xin một phần năng lượng đó cho nhu cầu thiếu hụt của ta để tăng cường bổi bổ. Nhưng đừng cầu nguyện Thượng Đế để thỏa mãn lòng ham muốn nhất thời.
Ta có thể cầu nguyện bất cứ ở đâu, một mình hoặc với người khác. Hãy nghĩ tới Thượng Đế nhiều hơn là hơi thở khiến cho cầu nguyện trở thành một thói quen.Và đừng cầu nguyện vào buổi sáng rồi suốt ngày sống như một con người man rợ độc ác.
Hơn bao giờ hết, cầu nguyện bây giờ là một gắn bó cần thiết trong nếp sống của con người. Thiếu quan tâm tới ý nghĩa của tôn giáo đã đưa thế giới tới ngưỡng cửa của sự diệt vong. Nguồn sức mạnh xâu sắc, toàn hảo nhất của chúng ta đã bị lãng quên một cách thảm bại. Cầu nguyện phải được tích cực áp dụng trong nếp sống của chúng ta. Vì nếu sức mạnh của sự cầu nguyện được áp dụng trong đời sống thường nhật thì còn nhiều hy vọng rằng những lời cầu nguyện cho một thế giới tốt đẹp hơn sẽ được đáp ứng.
Để kết luận, xin mượn lời của nhà văn danh tiếng nước Anh Charles Dickens như sau, khi ông nói tới Christmas: “I will honor Christmas in my heart, and try to keep it all the year”, Tôi sẽ tôn vinh Christmas trong trái tim của tôi và trân trọng Christmas suốt năm”.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
-
Chuyện Vãn: Giang Hồ, hai nghĩa tương phản

Hai chữ giang hồ không mấy xa lạ trong đời sống của mỗi người đều thường đề cập trong thơ, văn, điện ảnh… và cũng là câu nói thường tình với cá nhân, nhóm người trong xã hội.

Tác phẩm Thủy Hử ban đầu là Giang Hồ Khách Truyện, sau lấy tên là Thủy Hử vì “căn cứ địa” Lương Sơn là vùng đầm, hồ nên Thủy Hử (bến nước). Truyện nầy qua bản dịch của La Thần và Á Nam Trần Tuấn Khải, gồm 3 cuốn, năm 1973, sau đó với Tử Vi Lang nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam.
Trong truyện Thủy Hử của của nhà văn Thi Nại Am (1296-1372) ở Trung Hoa vào triều Nguyên-Mông (1295-1368), kể về câu chuyện của Tống Giang triều nhà Tống, nổi dậy kéo theo “giang hồ hảo hán” gồm 108 người đến núi Lương Sơn. Gọi là anh hùng Lương Sơn Bạc.
Tác giả phác họa chân dung từng nhân vật tầng lớp nông dân, võ biền “thế thiên hành đạo” chống lại ách độc tài của triều đình.
Sau khi Thi Nại Am đã sáng tác xong 70 hồi truyện Thủy Hử, vua nhà Nguyên tuy đã cướp ngôi nhà Tống nhưng đọc xong truyện đã nổi giận bắt giam Thi Nại Am và hạ lệnh phải viết tiếp đoạn sau, kể về việc Lương Sơn Bạc bị dẹp, nếu không sẽ bị xử tội. Lý do của vua Nguyên là sự nổi dậy của “nghĩa quân” sẽ ảnh hưởng cho chế độ hiện tại.
Thi Nại Am lo lắng, liên lạc với học trò là La Quán Trung (1330-1400, tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa) tới nhà lao cùng bàn bạc. Hai người cùng viết tiếp Hậu Thủy Hử kể việc thất bại của quân Tống Giang. Sau 1 năm, Hậu Thủy Hử hoàn thành, hai thầy trò mang dâng vua Nguyên. Vua Nguyên xem xong bằng lòng, hạ lệnh thả Thi Nại Am.
Chương đầu của Thủy Hử, khi kể về sự hình thành của nhóm hảo hán Lương Sơn Bạc, Thi Nại Am viết: “Những người trong giang hồ có nghĩa khí đều tụ hội ở Lương Sơn Bạc”.
Khi Chu Nguyên Chương (1328-1398), xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ, từng giữ dê chăn bò cho địa chủ, khi gia nhập nghĩa quân Quách Tử Hưng, dần dà lập công trạng tiêu diệt Trần Hữu Lượng rồi dẫn 25 vạn đại quân Bắc phạt chiếm được Sơn Đông. Quân nhà Nguyên chạy về Mông Cổ. Tháng Giêng năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng Đế, đặt quốc hiệu là Minh, trở thành vua Minh Thái Tổ. Chu Nguyên Chương gọi Thi Nại Am làm quan nhưng ông từ chối, ông nhuận sắc lại Thủy Hử viết chung với La Quán Trung (có tài viết chương, hồi và hư cấu) lưu lại hậu thế. Vì Chu Nguyên Chương gốc gác như như các nhân vật của Lương Sơn Bạc và sự đời “Được làm vua, thua làm giặc” nên chữ nghĩa văn chương biến hóa từ “giặc” (khi thua) thành “nghĩa quân” khi lật đổ quan quân, triều đình… Trong quyển Ỷ Thiên Đồ Long của Kim Dung đề cập đến Chu Nguyên Chương với hình ảnh hư cấu “Chu Nguyên Chương thống lĩnh Minh Giáo và nhờ binh pháp trong Vũ Mục Di Thư đánh đuổi người Mông Cổ, lập ra nhà Minh”.
“Giang hồ” từ Việt gốc Hán. Chữ “giang” thuộc bộ thủy, nghĩa là “sông”; “hồ” cũng thuộc bộ thủy nên “giang hồ” chính là “sông và hồ”. Danh từ “Giang” và “Hồ” khi đi với nhau thành tính từ, không còn liên quan gì đến nghĩa của từ gốc
Trong Tầm Nguyên Từ Điển của Bửu Kế (Sài Gòn 1955): “Giang là sông; Hồ là hồ nước… nghĩa bóng là người sống lang bạt, bất định. Cảnh sống nay đây mai đó, tự do, phóng túng như “thú giang hồ, giang hồ lãng tử” không bị ràng buộc trong phép vua, lệ làng…
Theo học giả Đào Duy Anh “Nghĩa đen là sông hồ, xuất phát từ chữ Tam Giang (sông Trường Giang, sông Hán Giang và hồ Bành Lãi; Ngũ Hồ (năm hồ lớn của Trung Hoa) nơi người ta hay đến chơi, sau đó chữ giang hồ chỉ những người ngao du nay đây mai đó, hoặc những người lang thang không theo triều đình. Khi áp dụng cho đàn bà, nó chỉ người làm gái điếm”.
Trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du đã linh động sử dụng hai chữ giang hồ uyển chuyển tùy theo mỗi trường hợp.
Từ Hải có ý chí độc lập ngang tàng, không chấp nhận sự khuất phục của triều đình nên:
“Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ, tên Hải vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thói vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”.
(Câu 1791-1793)
Nhưng khi Thúc Sinh nói với Hoạn Thư về nàng Kiều thì Nguyễn Du đã dùng giang hồ theo một hàm ý khác:
“Tiếc thay lưu lạc giang hồ,
Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài”.
(Câu 1989-1990)
Hay hình ảnh khi Hoạn Thư nổi cơn ghen vì vậy Thúy Kiều cảm thấy:
“Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
Một màu quan tái bốn mùa gió trăng”
(Câu 1595-1596)
Trong thi ca cũng thường đề cập đến hai chữ giang hồ, điển hình như các bậc tiền nhân:
Giang Hành, bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi
“Tây tân sơ nghĩ trạo
Phong cảnh tiện giang hồ
Vũ quá sơn dung sấu
Thiên trường nhạn ảnh cô…”
(Bến tây thuyền mới ghé mái,
Phong cảnh đã là giang hồ rồi.
Mưa qua rồi trông dáng núi gầy;
Trời rộng bóng nhạn như đơn chiếc…)
Bài thơ chữ Hán Giang Hồ Ngụ Hứng của Nguyễn Thượng Hiền:
“Giang hồ ngụ khách,
Thiên địa tản nhân.
Nhất tháp nhàn ngâm,
Chung niên lãn ngoạ…”
Quốc Kêu Cảm Hứng của nhà thơ Nguyễn Khuyến
“Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
Đây hồn Thục Đế thác bao giờ…
Ban đêm ròng rã kêu ai đó?
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ”.
Vào thời tiền chiến với các nhà thơ:
Bài thơ Dâng Tình của Vũ Hoàng Chương với hai chữ giang hồ:
“Lũ chúng em chờ chàng qua chín kiếp
Tình giang hồ phong nhụy vẫn nguyên hương…
… Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt
Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu”
Bài thơ Mộng Xuân Hương của Bích Khê:
“Nửa cánh giang hồ bạt nhớ thương
Đêm nay buồn lắm, gục bên giường
Ngoài ly Lý Bạch trời như mộng
Sau khói phù dung mộng cố hương”
Trong văn chương, ngày xưa hai chữ giang hồ liên quan với kiếm khách, điển hình như tác phẩm Giang Hồ Kiếm Khách của nhà văn Nhật Yoshikawa Eiji. Ban đầu truyện nầy đăng tải trên báo Asahi, tác giả dự tính chỉ vài chục chương nhưng rất lôi cuốn độc giả ái mộ nên tờ báo yêu cầu tác giả viết tiếp vì vậy đăng liên tục từ ngày 23 tháng 8 năm 1935 đến ngày 11 tháng 7 năm 1939. Sau đó in thành sách gồm năm tập khoảng một nghìn năm trăm trang.
Bối cảnh xảy ra ở thế kỷ 16 viết về cuộc đời kiếm sĩ Musashi từ thuở thiếu niên với nhiều bất trắc, quyết lập thân bằng kiếm đạo cho đến lúc trở thành kiếm sĩ vang danh thiên hạ. Kiếm khách thời đó dưới sự thống trị của kẻ quyền lực nên lộng hành trấn áp khắp nơi. Dĩ nhiên “tức nước vỡ bờ” nên có sự nổi dậy của kiếm sĩ chống lại ách độc tài. Đây là một trong những tác phẩm kinh điển nổi tiếng của Nhật.
Và, điển hình như tác phẩm hư cấu Tiếu Ngạo Giang Hồ của nhà văn Kim Dung trong chốn võ lâm. Nhà văn Cổ Long với Tuyệt Đại Song Kiêu hay Giang Hồ Thập Ác ở Đài Loan vào giữa thập niên 1960.
Tiếu Ngạo Giang Hồ là một trong những tác phẩm rất ăn khách với độc giả ở miền Nam Việt Nam cũng vào thập niên 1960’ ở Hồng Kông. Tác phẩm đặt theo bản nhạc cầm tiêu hợp tấu giữa hai cao thủ võ lâm chánh/tà. Lưu Chính Phong của phái Hành Sơn và Khúc Dương của Nhật Nguyệt Thần Giáo cảm thấy chốn võ lâm gió tanh mưa máu nên quyết định rời khỏi chốn võ lâm “gió tanh mưa máu” dùng âm nhạc ngao du với đất trời nhưng rồi bị hai phe chính/tà truy sát. Khúc nhạc đó truyền lại cho Lệnh Hồ Xung, chánh phái Võ Đang và Nhậm Doanh Doanh, tà phái Nhật Nguyệt Thần Giáo… Trải qua bao sóng gió, oan nghiệt, cuối cùng hai người trai tài, gái sắc chán cảnh thị phi, chém giết, dắt tay nhau tiếu ngạo giang hồ.
Thú vị nhất trong truyện, phim kiếm hiệp (chưởng) luôn nhắc đến hai chữ giang hồ hầu như dành cho chánh phái, ơn đền oán trả, nghĩa khí võ sĩ, trượng phu với kẻ ngã ngựa… Hình ảnh Cain Bang ăn mặc rách rưới, sống “đầu đường xó chợ” nhưng hành hiệp đạo nghĩa.
Về âm nhạc, ca khúc Dừng Bước Giang Hồ của nhạc sĩ Hoàng Trọng với ban hợp ca Thăng Long đã một thời vàng son với giới mộ điệu âm nhạc:
“Chiều nay sương gió, lữ khách dừng bên quán xưa
Mơ màng nghe tiếng chuông chiều, vương về bên quán tiêu điều…
Tới đây nơi xưa, gió êm êm đưa
Áng mây trôi tới xa xôi khuất nơi sau đồi
Quán tranh xiêu xiêu, chốn đây cô liêu,
Nhắc cho ta biết bao nhiêu dáng xưa yêu kiều…
Đã bao năm qua, sống nơi phương xa,
Về phương cũ đành dừng bước chân giang hồ”
Ca khúc Tình Kỹ Nữ của nhạc sĩ Phạm Duy
“Đêm nay đôi người khách giang hồ
Gặp nhau tình trăng nước
Sánh vai nhịp bước giang hồ
Kề vai ước xây nhà bên suối
Kề môi ước gây vài đường tơ…
… Đêm nay khi tàn giấc mơ vàng
Ngồi đây sầu ngơ ngác
Ngắm bao tình khách giang hồ
Lòng ta nhớ duyên tình kỹ nữ
Lòng ta nhớ cung đàn mùa xưa”.
Hai chữ giang hồ với những dòng trích trên với hình ảnh đẹp trong tâm hồn lãng tử, phiêu bồng, không vướng bụi trần với thiên nhiên hữu tình. Ngày đó. hai chữ giang hồ đi kèm với lãng tử, những chàng trai nét phong trần ưa lang bạt nay đây mai đó vì “Thời lai đồ điếu thành công dị. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa” (Cảm Hoài của danh sĩ Đặng Dung) hay đâu đó “Chí lớn trong thiên hạ đựng không đầy đôi mắt mỹ nhân” của Phạm Thái.
Trong bài viết của Hà Khánh Quân (Luân Hoán) về người bạn cùng cố hương với tựa đề: Nguyễn Đông Giang, Thơ Của Người Giang Hồ. “Người Giang Hồ của đám chiến sĩ sớm ngã ngựa, có tên thật Nguyễn Văn Ngọc. Anh được ra đời vào ngày 06 háng 02 năm 1943 tại làng An Hải, Đông Giang, quận 3 thành phố Đà Nẵng. Anh theo học tiểu học tại trường Hoàng Diệu rồi vào Khóa 19 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
Năm ngón tay của một bàn tay phải, là món quà lưu niệm, anh dành cho cuộc chiến tranh Việt Nam. Nguyễn Đông Giang thành thầy giáo tại các trung học Quốc Gia Nghĩa Tử, Đông Giang, Bồ Đề, Khiết Tâm,Vinh Sơn, Duy Nhân (Đà Nẵng), Trần Quý Cáp (Hội An)… Sau 1975, không thủ phận, nên anh có mặt trong tổ chức phục quốc. Được ghép vào thành phần “âm mưu lật đổ chế độ”, Nguyễn Đông Giang có cơ hội ăn cơm tù Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sáu năm. Ra tù bị quản chế tại gia, cấm vượt khỏi Đà Nẵng. Anh nhanh chóng trở thành một ông xe thồ lành nghề.
Ngoài cái thân trần, không có mảnh giấy nào lận lưng, kể cả bằng tốt nghiệp “cải tạo” tốt, Nguyễn Đông Giang đến Hồng Kông một mình năm 1991. Không có bất cứ thứ gì để chứng minh thân thế, sự nghiệp, anh bị giữ tại trại một thời gian năm năm. Có tay nghề tranh đấu, nên anh tiếp tục hành nghề trước những bất công trong trại tạm trú. Song song với công việc giúp mình, giúp người, anh làm thơ. “Cuối cùng, một số thơ, một số bài viết của ông, đã là đầu mối cho International Pen in London và Liên Hiệp Quốc can thiệp, vớt anh đến Hoa Kỳ vào năm 1996, theo diện nhà báo tị nạn chính trị”.
*
Giang hồ mang hình ảnh xấu với băng đảng, các tay anh chị sống ngoài vòng pháp luật, mạnh được yếu thua. Giang hồ nghĩa xấu chỉ bọn lưu manh, du đãng, du côn, du thủ du thực, đầu gấu, trộm cắp, đâm thuê chém mướn… Ngày nay, người ta nói rằng nhiều người tự xưng là giang hồ thực ra là du đãng, lưu manh, họ không có tư cách và phẩm chất của những giang hồ xưa.
Nhà văn Duyên Anh với các tác phẩm Nặng Nợ Giang Hồ, Điệu Ru Nước Mắt Luật Hè Phố, Dzũng Đa-Kao, Vết Thù Hằn Trên Lưng Con Ngựa. Nhà văn Nguyễn Thụy Long với Bước Giang Hồ, Loan Mắt Nhung, Nợ Máu… Tuy nhiện trong vài tác phẩm nầy, tác giả cũng đề cao vài nhân vật trong băng nhóm có tính nhân bản, sống chết có nhau để hài hòa trong xã hội đen.
Trong quyển Điệu Ru Nước Mắt với hình ảnh Trần Đại (Đại Cathya) đứng đầu “tứ đại giang hồ. Duyên Anh nghe Trần Đại kể lại cuộc đời giang hồ, những trận đấm đá, đem chém thư hùng đẫm máu trên đường phố, dựng nên tác phẩm.
Bài thơ tặng cho Đại Cathay
Trần Đại trong Điệu Ru Nước Mắt xuất thân là con nhà giàu, học giỏi nhưng chán ghét thời cuộc, bỏ nhà theo tiếng gọi giang hồ, làm đại ca nhưng vô cùng nghĩa hiệp, cứu giúp kẻ thân cô thế cô, dám đánh cảnh sát ăn hối lộ. Cuối cùng, vì chung thủy với mối tình cô gái (con nhà trâm anh thế phiệt, học trướng Tây ở Đà Lạt và Sài Gòn, chán ghét xã hội thượng lưu dối trá nên gia nhập vào băng nhóm) vô cùng lãng mạn, đã dũng cảm chết bi tráng trên hàng rào kẽm gai…
Trong quyển Loan Mắt Nhung của Nguyễn Thụy Long với hình ảnh Loan có đôi mắt đen huyền đẹp như nhung, do biến cố cuộc sộng, thời cuộc đẩy đưa, từ thiếu niên ngây thơ trong sáng thật thà gia nhập băng đãng, bản lĩnh lỳ lợm, trở thành đại ca giang hồ. Tuy sống trong xã hội đen nhưng bản chất lương thiện.
Hai nhà văn không đề cao xã hội đen, đâm thuê chém giết nhưng đề cập đến trong vũng lầy tội lỗi đó cũng có vài nhân vật có nghĩa, có tình trong giới giang hồ (?).
Trong ca dao có câu: “Trai tứ chiếng gái giang hồ. Gặp nhau làm nổi cơ đồ cũng nên” đề cập đến hình ảnh “trai tứ chiếng, gái giang hồ” thường bị khinh bỉ tùy theo môi trường và xã hội.
Thoạt đầu “trai tứ chiếng” xưa kia có nghĩa gốc là nơi quy tụ bốn kinh trấn xung quanh kinh đô Thăng Long, đã từng trải qua bốn phương trời tụ hội. Theo thời gian và môi trường xã hội xấu, nó trở thành trai “tứ cố vô thân” tụ tập nhau làm điều bất chính.
“Gái giang hồ” với nghĩa xấu ám chỉ hình ảnh gái làm điếm bụi đời, trùm băng đảng dụ dỗ, bắt cóc con gái vào tệ nạn buôn bán tình dục và cả móc túi… Trong những thập niên qua, báo chí trong nước đề cập rất nhiều loại “gái giang hồ” nầy từ nơi nầy đến nơi khác, qua mặt luật pháp, làm ăn phi pháp.
Như đề ở trên, giang hồ, hai nghĩa tương phản (tốt/xấu, tích cực/tiêu cực) vì vậy khi đề cập đến hai chữ nầy không nên nhìn phiến điện mà xét từng nhân vật, thời điểm cũng như vai trò của nó trong cuộc sống.
*
Sau năm 1975 ở trong Nam có hai bài thơ viết về Giang Hồ rất thú vị.
Nhà thơ Linh Phương, Thư ký tòa soạn tuần san Tinh Hoa Nữ Sinh 1967. Tác giả bài thơ Kỷ Vật Cho Em, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc trước năm 1975 được phổ biến rộng rãi. Tác phẩm đã xuất bản: Thơ Tình Linh Phương (Thơ – NXB. Ngựa Hồng – Sài Gòn 1967), Kỷ Vật Cho Em (Thơ – NXB. Động Đất – Sài Gòn 1971), anh đã phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến.
Giang Hồ
“Giang hồ từ thuở ta thất thế
Chí lớn không thành thà ẩn cư
Viễn xứ. Ờ! Thôi thì viễn xứ
Hết đời phiêu bạt chốn quê xa…
… Cha xưa cầm súng ra đánh trận
Bỏ xác trên rừng mấy mươi năm
Lần đi đưa tiễn – tay chưa nắm
Vạt áo che ngang mẹ khóc thầm…
… Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận
Vẫn thấy lòng đau rứt ruột đau
Thèm nghe tiếng dế thời thơ ấu
Ngắm cánh diều bay giữa vô cùng
Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận
Thầm hẹn mai này quy cố hương
Ta về làm bạn cùng chim chóc
Lẫn với muỗi mòng chín cửa sông”Bài thơ Giang Hồ của Phạm Hữu Quang, quê An Giang, cựu sinh viên Đại Học Sư Phạm Sài Gòn và Đại Học Cần Thơ, bị stroke lần thứ hai, qua đời ngày 28/4/2000 lúc 49 tuổi. Phạm Hữu Quang viết bài thơ vào tháng 5/1991.
Giang Hồ
“… Giang hồ đâu bận lo tiền túi
Ngày ta đi chỉ có tay không…
Giang hồ ta ghé nhờ cơm bạn
Đũa lệch mâm suông cũng gọi tình…
Giang hồ có buổi ta ngồi quán
Quán vắng mà ta chửa chịu về
Cô chủ giả đò nghiêng ghế trống
Đếm thấy thừa ra một gốc si
Giang hồ mấy bận say như chết
Rượu sáng chưa lưa đã rượu chiều
Chí cốt cầm ra chai rượu cốt
Ừ. Thôi. Trời đất cứ liêu xiêu
Giang hồ ta chẳng hay áo rách
Sá gì chải lược với soi gương…
Giang hồ ba bữa buồn một bữa
Thấy núi thành sông biển hoá rừng
Chân sẵn dép giày, trời sẵn gió
Ngựa về. Ta đứng. Bụi mù tung…
Giang hồ tay nải cầm chưa chắc
Hình như ta khóc mới hôm qua
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”.
Mấy câu thơ “Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận. Vẫn thấy lòng đau rứt ruột đau” (LP) và “Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt. Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà” (PHQ) quá tuyệt.
Hai bài thơ của Linh Phương và Phạm Hữu Quang trong hoàn cảnh xã hội lúc đó của bản thân tựa nhưi kẻ sĩ ngày xưa khi thất thế.
Lục Du viết “Chính xã hội thay đổi sau những biến cố lớn, quan niệm trong văn hóa truyền thống bị thay bằng những quan niệm duy vật, tôn sùng kim tiền, vật chất, không tin vào nhân quả, luân hồi đã tạo điều kiện cho cái xấu, cái ác lên ngôi, hình thành môi trường sống thuận lợi cho những người giỏi luồn lách ký ức”.
Trong quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ của nhà văn Khái Hưng ấn hành năm 1967, dày hơn bốn trăm trang gồm hồi.
Hồi 3: Tiêu Sơn Kết Nghĩa, “Trần Quang Ngọc, hai mươi nhăm tuổi, Phạm Thái hai mươi tuổi, Lê Báo mười chín tuổi, xin theo gương ngài cùng họ Lưu, họ Trương, kết nghĩa anh em, trước là để phò nhà Lê, sau nữa là để rửa thù cho cha chúng tôi. Tôi thề rằng tôi coi Phạm Thái, Lê Báo như hai anh em ruột, cũng hai người sống chết có nhau. Nếu tôi ở không đúng lời thề xin chết như thế nầy”. Hình ảnh 3 chàng trai trẻ với nghĩa khí vì vận mệnh đất nước lên vùng Kinh Bắc “kết nghĩa giang hồ” quá đẹp.
Hình ảnh Phạm Thái (1777-1813) quê làng Yên Thị, con của võ tướng Trạch Trung Hầu Phạm Đạt. Tuổi đôi mươi, Phạm Thái nối chí cha, kết giao với những người đồng chí hướng, khi bị truy nã thì cắt tóc, giả làm nhà sư vào tu ở chùa Tiêu Sơn, đặt đạo hiệu là Phổ Chiếu thiền sư. Đi tu được mấy năm, nhưng sự chưa đâu vào đâu thì Trương Đăng Thụ ốm chết, Phạm Thái hay tin liền vội vã về quê bạn ở làng Thanh Nê, Kiến Xương để điếu tang, rồi được gia chủ mến tài lưu lại trong nhà. Định mệnh run rủi, Phạm Thái gặp gỡ, xướng họa thơ văn rồi nảy lòng si tình Trương Quỳnh Như, em gái Trương Đăng Thụ. Cuộc tình không thuận, mẹ Trương Quỳnh Như nhất quyết muốn gả nàng cho gia đình giàu có Trịnh Nhị, khiến nàng phẫn uất tự vẫn. Đại nghiệp chưa thành, tình duyên đau khổ, Phạm Thái chẳng màng thế sự, trổ hết tài hoa làm thơ và lang bạt, rồi ốm đau tử tận ở Thanh Hóa lúc mới 36 tuổi”.
Trong tác phẩm nầy đề cập đến các tráng sĩ hoài Lê để chống lại nhà Tây Sơn. Nhân đây nhắc sơ về Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792) xuất thân từ Tây Sơn, Bình Định. Ba anh em Tây Sơn tam kiệt, lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chấm dứt cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh. Bắc Bình Vương Quang Trung đánh Nam dẹp Bắc lập nên nhiều chiến công hiển hách như Trận Ngọc Hồi – Đống Đa (Chiến Thắng Kỷ Dậu) làm quân Thanh xâm lược khiếp hồn bạt vía, và sau đó lên ngôi Hoàng Đế Quang Trung, chẳng may qua đời trong 4 năm làm vua, nên quân Tây Sơn như rắn mất đầu trong cuộc nội chiến và dẫn kết hậu quả thảm hại!
Trải qua một trăm năm mươi năm, Nguyễn Huệ không những chìm trong quên lãng mà lăng mộ thân xác cũng bị làm nhục! Từ danh tướng, hoàng đế trở thành tội đồ!…
Danh dự nhân vật lịch sử được phục hồi, vinh danh trở lại, ghi trang sử mới trong lịch sử Việt Nam. Thời Việt Nam Cộng Hòa Quang Trung – Nguyễn Huệ: Thánh Tổ binh chủng Quân Vận (hình ảnh ngảy xưa điều quân thần tốc). Chân dung Quang Trung được in trện tờ 200 đồng và nhiều con đường, ngôi trường mang tên Quang Trung, Nguyễn Huệ, ngay cả Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung… Đây cũng là giai đoạn bi thảm của lịch sử vì chỉ là chuyện vãn nên không đề cập nhiều sẽ lạc đề.
Giang hồ ngày xưa là vậy, giang hồ của kẻ sĩ trước hoàn cảnh nhiễu nhương của xã hội nên bôn ba kết nghĩa dấn thân cho đại cuộc. Giang hồ ngày xưa là hình ảnh những người chán cảnh ô trọc trong xã hội, không muốn vương lụy, bon chen nên tự chọn con đường phiêu lãng… Còn giang hồ ngày nay chỉ là phần tử “giá áo túi cơm” băng nhóm bất hảo, gian manh chỉ làm băng hoại xã hội!
Vương Trùng Dương, Little Saigon, December 2024
-
WABI SABI – TRIẾT LÝ CỦA SỰ BẤT TOÀN
Knowing yourself is the beginning of all wisdom – Biết chính mình là điều khởi đầu cho trí tuệ. Aristotle

Kính dâng và tưởng nhớ GS Nguyễn Văn Trường, người luôn luôn tôn trọng và chấp nhận tất cả những bất toàn trong cuộc sống của người viết…
Wabi-Sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén. Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh. Các chén cổ trong phòng khách của bạn được đánh giá cao vì những vết nứt và sứt mẻ của nó?
Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách “phát giải thưởng” những bất toàn, vết nứt trong lòng và những khiếm khuyết trong cuộc sống lộn xộn của chúng ta?
- Khái niệm về Wabi-Sabi – Tại sao sự hoàn hảo là mục tiêu sai lầm
Wabi-Sabi (侘 寂) là một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu là sự chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ.
Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi của suốt cuộc đời bạn, việc theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!
Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…
Để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như: trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận.
Thực sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa? Do đó, sẽ còn những cái nhứt tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra. Tuy nhiên, nơi hoàn hảo nhứt đối với sự đổi mới là gì? Trong một thế giới hoàn hảo, những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến cơ hội không hoàn hảo!
Nếu chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời – nhưng cần phải mất một thập kỷ để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên được thực hiện để hành động như thể nó là hoàn hảo.
Chúng ta cần các số liệu mới, các quy trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng các căn bản hạ tầng để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới quan của mình. Chúng ta không chỉ phải thay đổi cách chúng ta nghĩ, mà là những gì chúng ta tin. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi mới trong ta.
Vài ý nghĩa của Wabi-sabi – Lối sống wabi sabi là gì?
Nguồn gốc của wabi-sabi xuất phát từ Thiền tông, có nghĩa là có một khía cạnh tâm linh quan trọng đối với nó. Wabi xuất phát từ gốc “wa” có nghĩa là hòa hợp, hòa bình, yên bình và cân bằng. “Sabi” có nghĩa là “sự nở rộ của thời gian“.
Nghệ thuật nhiếp ảnh Wabi-sabi là gì?
Wabi-sabi dành cho nhiếp ảnh gia. … Đơn giản chỉ cần đặt: “Wabi-sabi” là thẩm mỹ Nhật Bản Zen về vẻ đẹp của sự không hoàn hảo, vô thường, và tự nhiên”. Nếu bạn có một chiếc quần jean yêu thích đã “dính” vào cơ thể của bạn trong những năm dài đằng đẵng, đó là “wabi-sabi“.
Thẩm mỹ Nhật Bản là gì?
Thẩm mỹ Nhật Bản là một tập hợp các lý tưởng cổ xưa bao gồm wabi (vẻ đẹp thoáng qua và rõ rệt), sabi (vẻ đẹp của sự tự nhiên và thời gian), và yūgen (ân sủng sâu sắc và tinh tế). Những ý tưởng này, và những ý tưởng khác, nhấn mạnh đến nhiều tiêu chuẩn văn hóa và thẩm mỹ của Nhật Bản về những gì được coi là trang nhã và ôn nhu.
Phong cách Wabi-sabi là gì?
Trong tính thẩm mỹ truyền thống của Nhật Bản, wabi-sabi (侘 寂) là quan điểm của thế giới tập trung vào việc chấp nhận sự thoáng qua và không hoàn hảo. Thẩm mỹ đôi khi được mô tả là một trong những vẻ đẹp “không hoàn hảo, vô thường và không đầy đủ”.
- Hãy rời xa “hoàn hảo”
Các bạn hình dung trong một thời điểm nào đó, khi con cái của bạn còn trong thời kỳ tuổi thơ, chập chững trong các lớp thời tiểu học. Mỗi lần tan trường về, chúng lượm những lá cây khô, một vài hòn sỏi có góc cạnh “đẹp đẹp”. Đối với chúng, những vật thể trên rất quý giá, được chúng nâng niu, ít nhứt là trong một khoảnh khắc nào đó. Từ đó, bạn có thể nghĩ là, đó là những kho báu của chúng qua những kết cấu, hình dạng và màu sắc đặc biệt của các vật thể trên, mỗi thứ độc đáo mỗi vẽ. Vì vậy, điều kỳ diệu chỉ là cung cách chúng đang có, chỉ vậy thôi!
Trong cuộc sống và văn hóa Nhựt, “sự đơn giản” thường là hình thức bề ngoài cho một cuộc sống đã được tổ chức tỉ mỉ, tính toán cho sự hoàn hảo. Người Nhựt thường được dạy từ nhỏ trong gia đình, là cố gắng tối đa để làm cho tốt nhất, sáng nhất, và phi thường nhất.
Nhưng cái gì có thể nguyên thủy đơn giản hơn là chấp nhận? (But what could be more radically simple than acceptance?)
- Wabi-Sabi chào mừng bạn đang chia sẻ một ấm trà với bạn bè. Nó đang chuẩn bị thức ăn ngon để nuôi dưỡng, không phải để thể hiện. Nó giữ một giỏ dép ấm cúng ở cửa cho khách. Đó là bộ khăn trải giường đã mài mòn, bó hoa của cành cây được bó lại, muỗng nĩa không cùng bộ và chén bát gia truyền truyền với tinh thần của các bữa ăn được phục vụ với tình thương yêu.
- Richard Powell, tác giả của “Wabi Sabi Simple” nhận định: “Chấp nhận thế giới là không hoàn hảo, chưa hoàn thành, và thoáng qua, và sau đó đi sâu hơn và tung hê thực tế đó, cũng giống như sự tự do.” (“Accepting the world as imperfect, unfinished, and transient, and then going deeper and celebrating that reality, is something not unlike freedom”).
Do đó, ý tưởng từ bỏ “hoàn hảo” và thậm chí “đủ tốt” (good enough) không thể cưỡng lại sự hấp dẫn trong cuộc sống, thí dụ như các dấu vân tay, vết sẹo trên thân thể và những đường “xếp” trên mặt khi chúng ta cười. Tất cả hoàn toàn không hoàn hảo, và mỗi người trong chúng ta đều có thể ngắm lấy vẻ đẹp không hoàn hảo trong đó.
Nhìn về phía Đông
Wabi-sabi đại diện cho sự chấp nhận sự bất toàn (imperfection). Khái niệm này có nguồn gốc từ giáo lý Phật giáo và bao gồm việc công nhận sự bất đối xứng, bất thường, và khiêm tốn như các thuộc tính của sắc đẹp tùy theo nhản quan của mỗi người.
Từ thế kỷ thứ 15, người Nhật đã cũng nghĩ ra một nghệ thuật tên là Kintsugi (hoặc Kintsukuroi), có nghĩa là “sửa chữa vàng“. Nghệ thuật Nhật Bản sửa chữa đồ gốm bị phá vỡ với một sơn mài đặc biệt phủ bột vàng, bạc, hoặc bạch kim. Các đường nối vàng rực rỡ trong các vết nứt của đồ gốm, tạo ra một ngoại hình độc đáo cho mảnh ghép.
Phương pháp sửa chữa bảo tồn kỷ niệm lịch sử độc đáo của mỗi tạo tác bằng cách nhấn mạnh lịch sự “gãy xương” và bị phá vỡ của nó, thay vì che giấu hoặc ngụy trang những nét gẩy. Kintsugi thường làm cho mảnh được sửa chữa thậm chí đẹp hơn bản gốc, làm sống lại nó với cuộc sống mới.
Nhửng kỹ thuật này họ học từ thiền học, cái cũ và cái mới có thể sống chung với nhau để tạo nên cái gì đẹp hơn.
Trong một ý nghĩa rất thực tế, ý tưởng của wabi-sabi mời gọi người xem xét sự không hoàn hảo – một vết lõm trong một cái chén đồng hoặc một vết nứt trong một bình thủy tinh – hay những nét đổ nát qua thời gian của bức tượng Phật.
Tất cả như là một vật thể có giá trị.

Ý tưởng ôm lấy sự không hoàn hảo hoàn toàn là cái nhìn ngược lại của chúng ta có trong thế giới Tây phương.
Và như vậy, khi bạn chiêm nghiệm để tạo ra một nền văn hóa của sự đổi mới – để truyền cảm hứng cho những người tốt nhất và sáng nhất của bạn để đổi mới – biết rằng trước tiên bạn phải khuyến khích việc theo đuổi sự không hoàn hảo. Điều này không có nghĩa là chấp nhận thất bại. Nó có nghĩa là để nắm bắt học tập. Các nhà sáng tạo không có ý định thất bại từ ban đầu. Họ quyết định học hỏi, tìm tòi. Họ sử dụng sự không hoàn hảo như một phương tiện để kiểm tra các giả định của họ về những gì có thể. Và một ngày nào đó, họ sẽ có một sản phẩm hoàn hảo vào thời điểm đó.
- Robabi Griggs Lawrence, tác giả của cuốn sách “Bất toàn đơn giản: Xem xét lại ngôi nhà Wabi-Sabi” (Simply Imperfect: Revisiting the Wabi-Sabi House), trong đó, nếu một cái rương cũ có ý nghĩa với bạn, hay một ngăn kéo của bàn viết của bạn bị mất đi, thì những điều đó không nhất thiết phải là một chướng mắt. Nó cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy các mãnh (có vết tích trên) đã được xử dụng và rất được ưa thích. Utsukushii, một từ ngữ tiếng Nhật có ý nghĩa là cho “đẹp“, đã xuất phát từ ý nghĩa ban đầu là “được yêu.”
- Hãy suy nghĩ về màu sắc có trong tự nhiên: xanh, xám, tông màu đất và rỉ sét. Điều này tạo ra một bầu không khí yên bình và hài hòa. Wabi-sabi không có nghĩa là ôm lấy sự lộn xộn, mà là “có suy nghĩ và làm việc đằng sau nó, không bỏ bê.” Một ấm trà tinh tế không thể tỏa sáng nếu nó được nằm trong một tủ chất chứa đầy nghẹt những những vật thể khác; mà là bạn phải cần chuẩn bị một không gian để bạn có thể cho nó đứng riêng và thực sự đánh giá cao nó mỗi khi bạn đi qua đi lại. Mọi đồ vật trong nhà bạn phải đẹp, hữu ích, hoặc cả hai trong cái nghĩa wabi-sabi của bạn!
Sự chào đón sự không hoàn hảo này trong cuộc sống của bạn là trọng tâm của khái niệm wabi-sabi của Nhật Bản, có nghĩa là “vô thường, không hoàn hảo và không đầy đủ.” Từ này xuất phát từ hai từ riêng biệt. “Wabi” mô tả sự sáng tạo của vẻ đẹp hoàn hảo thông qua việc bao gồm các loại hoàn hảo đúng, chẳng hạn như một bất đối xứng trong một chén sứ thủ công (tương phản với độ chính xác của chén làm bằng máy). “Sabi” phản ánh loại vẻ đẹp phát triển theo độ tuổi, chẳng hạn như sự xuất hiện của quá trình oxy hóa bề mặt của một bức tượng đồng.
Thông thường, wabi-sabi được áp dụng cho các nguyên tắc thiết kế, chẳng hạn như tạo không gian sống để tránh các phòng khách trùng hợp với nhau vào những năm 1940 hoặc ’50. Điều này bao gồm tập trung vào các loại không đối xứng bạn sẽ tìm thấy trong tự nhiên – ghế bằng gỗ thủ công, sự rủ xuống tự nhiên của một cánh hoa khô trong một chiếc bình hoặc một chiếc túi da mòn đã được đi theo bạn trong suốt một thời gian dài.
Nhưng không phải tất cả wabi-sabi đều có chủ ý. Thiên nhiên là nguồn tốt nhất của thẩm mỹ wabi-sabi. Và khi bạn hòa hợp với thế giới bên ngoài, bạn bắt đầu thấy wabi-sabi ở những nơi khó xảy ra nhất. Đó là:
- Các vết nứt trong vỏ cây, một dấu hiệu của sự trưởng thành khỏe mạnh;
- Hoặc các vết nứt cằn cỗi trên khuôn mặt của chúng ta khi chúng ta già đi;
- Hoặc nét mặt rám nắng, tự tin khi chúng ta đạt được sự khôn ngoan trên suốt quảng đường dài;
- Và, Krishnamurti đi sâu hơn, nói rằng linh hồn chúng ta đều được cấu thành bằng cùng một loại giấy báo, xuất phát từ các nếp gấp trong bài báo và qua thời gian từ từ được gấp lại thành những nếp và khi mở ra, thì đó là những trải nghiệm của chính bạn.
Rốt ráo lại:
Hãy rung những chuông vẫn còn có thể rung
Hãy quên đi lời đón mời hoàn hảo của bạn
Trong mọi thứ đều có vết rạn nứt
Đó là cách ánh sáng len vào”
Leonard Cohen
(Ring the bells that still can ring
Forget your perfect offering
There’s a crack in everything
That’s how the light gets in.
Leonard Cohen
Hiện tại
Kết luận trong đời thường là:
- Ngày hôm nay chúng ta không còn thấy cần thiết phải lấy tư tưởng về giáo dục, luân lý, những lời giảng dạy của Khổng Tử làm mẩu mực trong cuộc sống nữa;
- Cũng không còn là lúc bình luận chiến lược, chiến thuật …đánh nhau qua các thế trận của …Binh pháp Tôn Tử nữa!
Chính vì vậy mà con người và Đất Nước Việt phải chịu sự trì trệ biết bao thế hệ, đặc biệt trong chiều dài lịch sử trong suốt hơn 45 năm qua.
Vì vậy,
- Chúng ta cần phải áp dụng ý tưởng dân tộc từ tiền nhân để lại cộng thêm chiều hướng đổi mới của dòng lịch sử dân tộc để tiến đến sự toàn hảo trong cái bất toàn của trời đất.
- Và một người bạn trên mạng đã góp ý như sau:” Nếu nói về sự ‘không hoàn hảo’ thì có thể lấy ngay trường hợp Việt Nam Cộng Hòa làm ví dụ là rất phù hợp. Nước VNCH từng nức tiếng là Hòn Ngọc Viễn Đông tức là VNCH là một đất nước xinh đẹp, tự do, phồn thịnh rồi, phải không ạ? Trước khi bị CS cướp nước, cũng có nhiều điều tiếng này nọ chê bai, chỉ trích nền Tự do, Dân chủ và các vị lãnh đạo của Nước VNCH. Nhưng đến hôm nay, sau mấy mươi năm nhìn lại, thì cũng chính các vị chê bai đấy, kể cả các vị từng ‘Ăn cơm Quốc gia, thờ ma CS’, thì hầu hết đều nhìn nhận Nước VNCH dù “không hoàn hảo” nhưng đã rất đẹp, rất Tự do, Dân chủ đấy sao??!!”
Xin hãy chấp nhận sự bất toàn của dân tộc để làm kim chỉ nam cho những hướng mới trong việc mưu tìm sự toàn bích trong cái bất toàn…
Mai Thanh Truyết–20-12-2020
-
Mười Năm Hoàng Hạc

Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, võ sư sáng lập Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc, qua đời vào lúc 10 giờ 15 phút sáng Thứ Tư, 30 Tháng 11, 2022, tại bệnh viện MemorialCare Orange Coast Medical Center, Fountain Valley, hưởng thọ 79 tuổi.
”Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc có bốn nguyên tắc căn bản mà những môn tập khác không có. Đó chính là: “BẤM, VÒNG, VƯƠN, BUÔNG”. Chính bốn nguyên tắc này, áp dụng vào những thế tập, giúp cho bạn đốt được năng lượng dư thừa, làm cho bắp thịt bạn săn chắc, giúp cho bạn giảm bớt đau nhức, khỏe mạnh hơn, không mang lại những nguy hiểm, giới hạn kể trên, mà còn giúp cho tinh thần của bạn được thanh thản, sảng khoái, điềm tĩnh, vui vẻ và yêu đời hơn.
1. Bấm: mười ngón chân luôn bấm xuống đất khi tập Hoàng Hạc. “Bấm”, phối hợp với “vươn” sẽ tiêu bớt đi những mỡ thừa trên cơ thể bạn, đồng thời tạo cho các bắp thịt thêm săn chắc. Có nhiều bạn còn khá trẻ, khi mới gia nhập Hoàng Hạc thường hay bị đau đầu gối, chân nặng, không co hoặc nhấc chân lên được. Khi bước đi, đầu gối còn phát ra những tiếng “pop”. Sau một thời gian tập “bấm” theo lời Bs Phạm-gia Cổn, sáng lập viên TDKCHH hướng dẫn, những vị này không còn thấy đau nữa, đầu gối không còn phát tiếng khi di chuyển. Đơn giản vì những thế bấm giúp các bắp thịt ở chân trở nên rắn chắc hơn, các khớp được cử động nhẹ nhàng, mang lại tính uyển chuyển đến khớp và cơ bắp, làm giảm đau nhức. Tốt hơn nữa là những vị này bây giờ lại có thể mang giầy cao gót một cách vô cùng thoải mái.
2. “Vòng”: Những thế vòng cổ tay và các ngón tay. Các thế vòng này giúp giảm nhức mỏi các ngón tay, cổ tay, vai và khuỷu tay. Thực tế có nhiều người, vì công việc làm hàng ngày phải dùng máy vi tính nhiều, bị chứng đau nhức cổ tay và tê các ngón tay. Chỉ sau một thời gian ngắn tập những thế vòng, chứng đau nhức này đã không còn nữa.
4. “Buông”: Buông lỏng cả người, từ tinh thần đến thể chất, buông lỏng vai. Thế nàygiúp bạn buông xả, thanh thản trong tĩnh lặng.
Bốn nguyên tắc “Bấm, Vòng, Vươn, Buông” đã được Bs Phạm-Gia Cổn ghép vào thành bài tập căn bản 7 thế giản dị. Bài 18 và 64 thế phức tạp hơn. Tất cả được thực tập một cách thật tự nhiên, khoan thai và liên tục, tạo nên những bài tập nhịp nhàng, hữu hiệu và đẹp mắt.”
Và với những chia xẻ với Bác sĩ Dương Đức Huyên khi phát biểu về ý nghĩa của khí công Hoàng hạc do Bs Phạm Gia Cổn chủ trương:”TDKC Hoàng Hạc là phương pháp phối hợp Y-Võ-Nhạc, mục đích giúp duy trì, bồi dưỡng sức khỏe con người trên 3 phương diện “Tinh Thần, Thể Chất và Xã Hội” với lối tập nhẹ nhàng và liên tục không phải chỉ là những thế đánh võ. Do đó không cần thiết đặt tên các từng thế một”.
Với cảm khái mới đặt tên từng thế để diễn tả “tình cảm”, “nghĩa tình” gắn bó với nhau, Hoàng hạc đã thi vị hóa từng mỗi thế luyện tập phần trung cấp qua 18 thế, tiếp theo sau phần 7 thế sơ cấp đã nêu ở phần trên:
Thế 1: Khung trời bao la
2: Hoàng hạc tung cánh
3: Trao tặng cánh hoa
4: Tình yêu lứa đôi
5: Khai song vọng nguyệt
6: Nhấn mạnh nghĩa tình
7: Vòng tay thân ái
8: Song đôi sánh bước
9: Trao tặng cuộc đời
10: Thiên địa chứng giám (a)
11: Thiên dịa chứng giám (b)
12: Xoa tai vuốt tóc (a)
13: Xoa tai vuốt tóc (b)
14: Tay phải yêu thương
15: Tay trái mặn nồng
16: Dắt tay du ngoạn
17: Hạnh phúc lứa đôi
18: Khắng khít trọn đời
Mới đây mà đã mười năm qua. Bs Phạm Gia Cổn, một người bạn thời trung học LPK lại gọi và “ra lệnh” cho tôi phải viết bài cho Đặc san Kỷ niệm Mười năm Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc. Tôi cũng là một thành viên trong những ngày đầu ngay sau khi bạn Cổn phát động phong trào Hoàng Hạc nầy tại trụ sở của võ đường Hapkido nằm ở góc đường Hazard và Magnolia, thành phố Westminster.
HH Đỗ Hải Minh – HH Nguyễn Văn Bon (Melbourne, Úc) – HH Chưởng môn Phạm Gia Cổn – HH Bùi Trọng Cường, Brisbane, Úc – HH Mai Thanh Truyết – 7/2016
Riêng cho năm nay, kỷ niệm mười năm làm tôi liên tưởng đến một bài hát của nhạc sĩ Trần Quảng Nam, bản “Mười năm tình cũ”. Nhưng tôi thấy nơi đây, nơi các Hoàng hạc gặp nhau ngày thứ bảy, chủ nhựt không thấy gì …là mười năm tình cũ, mà mỗi lần gặp nhau, thấy mặt nhau là niềm vui rạng rỡ trên môi mọi người. Chúng tôi, Hoàng hạc Houston gặp nhau tại Trung tâm cộng đồng Alief của thành phố Houston trong một phòng rộng có máy lạnh dùng để sinh hoạt, và một trung tâm thứ hai của Thể dục Hoàng hạc đặt trong Lạc Hồng, một trung tâm chăm sóc sức khỏe cho người cao niên.
Niềm vui đến từ mỗi thành viên của Hoàng Hạc là ngoài việc tập luyện ra, chúng tôi cùng chia sẻ với nhau rất nhiều chuyện, và bất cứ chuyện gì cũng là một câu chuyện tích cực từ việc thăm hỏi lẫn nhau giữa các thành viên hoàng hạc cho đến những trao đổi về việc vận hành của Đất và Nước của quê hương Việt. Từ câu chuyện dường như phép lạ của một hoàng hạc từ đi đứng khó khăn nay trở nên dễ dàng hơn, đến câu chuyện của một Hoàng Hạc khác hô hấp không được ổn định nay đã không còn cần phải dùng “inhaler”…Và chỉ sau một thời gian “vui chơi” thoải mái với Hoàng hạc, mọi sự trở lại bình thường, mang niềm vui đến với mọi Hoàng Hạc.
Riêng với người viết, trong bốn động thái Bấm – Vòng – Vươn – Buông, hai động thái sau cùng là Vươn và Buông chính là hai công áng để nghiềm ngẫm và luyện tập, chuẩn bị cho một tương lai buông xả trong tĩnh lặng ở những ngày cuối đời…
Xin trích đoạn vài tin vui khắp nơi qua kết quả của việc tập luyện Khí công Hoàng hạc như sau:
“Tôi đã bắt đầu tập HH khoảng 3 tháng nay sau khi gặp anh Cổn ở một đám tang…. Lúc đó tôi đang bị đau hông bên trái và chân trái đi đứng khó khăn. Anh Cổn đã giải thích thêm về HH và khuyến khích tôi tập. Chỉ sau 2 ngày tập tôi đã cảm thấy giảm đau 50%, và sau 2 tuần thì hết hẳn đau. Không những hết đau chân mà bệnh Acid Reflux (dịch vị trong bao tử trào lên họng khi nằm ngủ) đã làm tôi mất ngủ hằng đêm cũng đã hết hẳn. Tôi cũng gầy đi khoảng 6, 7 pound sau khi tập 1 tháng.”
Hoặc:
“Bốn năm về trước vợ tôi bị đau vai, physical therapy và châm cứu chẳng giúp được gì, tiền mất tật vẫn mang. Trong chuyến thăm Cali, chúng tôi có đến phòng tập học được một lần, vài ngày sau thì đã được anh cổn dạy thêm một lần nữa tại nhà riêng của anh. Lúc đó chưa có DVD để ôn các thế nên vợ tôi tập 7 thế chỉ năm bảy lần, nhưng sau đó vì quên nên chỉ làm 2 thế vòng ngửa và sấp thôi. Thế mà sau một hai tháng kiên trì, vợ tôi đã khỏi bệnh đau vai. Thỉnh thoảng (5, 6 tháng) khi cảm thấy đau nhẹ ở vai, bà ấy chỉ cần “múa” vòng chục lần thì hết đau.”
Riêng tại Houston, Bs Phạm Gia Cổn đã đến nơi nầy nhiều lần, đến không phải để “thị sát” một đơn vị mà đến để chia sẻ kinh nghiệm những gì Hoàng Hạc Houston gặt hái được. Mỗi lần đến, Hoàng hạc Houston được trang bị thêm nhiều suy nghĩ trong khi tập luyện, bổ túc cho những động tác không đúng cách cũng như đặt trọng tâm nhiều vào việc hít thở, để sự việc nầy đến tự nhiên trong tinh thần thực sự của Hoàng hạc. Vẫn 7 thế căn bản, nhưng nếu mỗi người chiêm nghiệm thêm tùy theo thể trạng của riêng mình sẽ có một thế tập thích ứng với từng cá nhân hơn.
Một suy nghĩ tôi đã hấp thụ được từ bạn tôi là:”Không có gì là PHẢI cả. Không cần phải tập trung trí nhớ để phải đi đúng bài bản. Không cần trả bài. Không cần phải làm giống người bên cạnh. Không cần phải cố gắng hít thở…” Mà, tất cả, tập trung vào việc bấm, vòng, vươn, buông…nhẹ nhàng và nhịp nhàng qua các động tác theo tiếng nhạc. Và từ đó, từ hơi thở đến bốn động tác căn bản trên sẽ chuyển vận hài hòa mà trí não của mình không cần tập trung để chỉ huy tứ chi.
Nói với những người có tuổi
Đối với những người “có tuổi” như chúng ta, từ sáu, bảy bó trở lên, ba kẻ thù rước mắt là mỡ, đường và áp huyết cao. Trong các xã hội dư thừa thực phẩm như ở xứ nầy, nhà sản xuất nghiên cứu những phương pháp tiếp thị tối đa để “dụ khị” người tiêu dùng là chúng ta trong dịch vụ ăn uống như nhản hiệu, hình ảnh, màu sắc, và mùi vị… Nếu chúng ta, không có đủ “Phật tánh” trong người để hạn chế được, tham, sân, si…trong môi trường “ăn uống”, chắc chắn chúng ta sẽ vướng vào ít nhứt là một trong ba kẻ thù trên. Nhưng khổ thay, kẻ thù của chúng ta it khi đến đơn độc mà hầu như luôn luôn xâm nhập vào cơ thể chúng ta cả ba, nghĩa là một khi “dính” đường thì khó tránh khỏi cao máu và cao cholesterol, và ngược lại.
Vì vậy, chúng ta cố gắng đừng để các lời mời gọi của các nhà hàng “fast food” với giá “sale”, với hàng mới, những nhà sản xuất các loại nước uống với các quảng cáo đầy hấp dẫn như nước tăng lực “Con bò Mộng”.
Xin thưa, tất cả đều không đúng sự thật như những lời quảng cáo.
Đó chỉ là hóa chất và hóa chất!
Những thức ăn, thức uống trên có thể làm chúng ta khoái khẩu, đả khát…nhưng vô tình chúng ta tự đầu độc lấy chính mình. Chúng ta tự “nạp” mỡ, đường vào cơ thể mình.
Một trong những kẻ thù khác của chúng ta là các tiệm ăn “all you can eat”. Các tiệm ăn nầy giá tương đối rẻ và dọn rất nhiều món, hàng trăm món ăn. Vì vậy, chúng ta cố ăn cho nhiều, ăn quá nhu cầu của cơ thể.
Có bao giờ bạn tự hỏi, càng cua sao nhiều quá, tôm sao nhiều quá, cua đá sao nhiều quá, sao có nhiều sò quá, nhiều oyster quá, chưa kể đến gà, vịt, heo, bò, đùi ếch. Chưa kể đến xíu mại, “hắc cảo”, bánh bao. Chưa kể đến đủ loại súp. Chưa kể đến shusi Nhựt Bổn, thậm chí đến phở bò nữa, hủ tiếu, bún bò Huế, mì thập cẩm, bánh canh cua, mì Quảng nữa… Và còn nhiều nữa bạn ơi! Chưa kể hàng mấy chục loại tráng miệng, từ trái cây cho đến đủ loại chè 3,4 màu, chè đậu, chè thưng, chè ba bốn màu, bánh đủ loại, đã được làm sẳn trong các hộp nhỏ.
Nhưng sao lại quá rẻ? Ở Houston, chỉ trả $10 cho một “Senior” trên 65 tuổi mà thôi!
Nhưng còn nhiều nữa bạn ơi. Với lứa tuổi trên sáu bó nầy, chúng ta còn tham gia hội đoàn cùng xứ sở, cùng trường, cùng đơn vị…chưa kể đám cưới của con cái, con cháu bè bạn khắp nơi. Bây giờ, bạn đã nghĩ làm cho việc “trả nợ áo cơm”, sao bạn lại tàn nhẫn bắt tim, gan, bao tử, lá lách, thận làm việc “overtime’ cho chính lòng đam mê “ăn uống” của bạn?
Thưa bạn,
Những điều tôi chia sẻ và viết ra đây là cũng để nhắc nhở cho chính mình. Thôi như vậy, mỗi người trong chúng ta cùng cố gắng gạt bỏ tham sân si trong “tiến trình ăn uống” nầy nghe!
Chúng ta đang đứng trước một nguy cơ của toàn cầu cho tham vọng ngự trị thế giới của cường quyền là…đầu độc thế giới bằng hóa chất độc hại trong thức ăn, hàng tiêu dùng trong nhà, và bất cứ một phương tiện nào cần thiết cho con người. Và cướng quyền đó chính là Trung Cộng với sự tiếp tay của dảng cộng sản Bắc Việt mà chúng ta nên luôn luôn đề cao cảnh giác.
Đó là mầm móng của các bịnh ung thư không kiểm soát được.
Phải chăng thế giới đang bước vào một giai đoạn Hạ Ngươn chăng?
Chỉ cần 10 phút làm những động tác thư giản, phối hợp với việc hạn chế lòng “đam mê” ăn uống, bảo đảm chúng ta sẽ đánh tan giặc thù ngoại xâm qua “khẩu nhập” qua sự kích thích thị giác, xúc giác, thính giác và cảm giác
Nhân dịp kỷ niệm mười năm ngày thành lập Hoàng Hạc, thân chúc tất cả bạn bè thân, sơ cùng nhau ý thức được rằng tập luyện Hoàng Hạc không phải chỉ ở ngày thứ bảy hay chủ nhựt mà phải làm ở nhà, hoặc trong sở làm, một hay nhiều lần mỗi ngày để tăng cường và bảo tồn sức khỏe vô giá của mỗi chúng ta.
HH Mai Thanh Truyết
Kỷ niệm 10 năm Th ể Dục Khí Công Hoàng Hạc, Houston, TX 2016
Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết

In France:
- Doctor in Structural Organic Chemistry, University of Besancon, France
- Assistant Professor, Institute of Chemistry, Besancon.
In Vietnam:
- Associate Professor – Dean of Chemistry Department, Faculty of Pedagogy, Saigon, Vietnam.
- Vice-President, Academic Affairs – University of Cao Đai, Tây Ninh, Vietnam.
In the USA:
- Post Doctorate, Research Associate – National Institute of Health, University of Minnesota, Minneapolis.
- Instructor – Chemistry Department, King College, Fresno.
- Laboratory Director – Toxic Liquid and Solid Waste Treatment Plant – Chemical Waste Management, Kettleman City, CA.
- QA/QC Director – Weck Environmental Laboratories – Industry City. CA.
- Director, Leachate Treatment Plant – BKK Corp., West Covina, CA.
- Consultant on Foods – Health Dept., City of Westminster, CA.
- Technical Director – Environment Services, Los Angeles, CA.
Retired in 2012:
- Pioneer – Writer – Lobbyist – Talk Show on Radio, TV – Guest Speaker for Vietnamese Communities around the world about Environmental Impacts in Vietnam, Toxins in Foods, and especially on “How to dethrone Vietnamese Communist”.
Professional NGOs:
- Chairman – Vietnamese American Science & Technology Society (VASTS) since 1997 – Present.
- Chairman – Vietnamese Environmental Protection Society (VEPS) since 2016 – Present.
- Group Leader – Nhóm Chống Tàu Diệt Việt Cộng (Anti-Communist of China and Vietnam Group) since 2011 – Present.
Books published:
- Câu Chuyện Da Cam/Dioxin ở Việt Nam (History of Orange Agent/Dioxin in Vietnam, 2008.
- Từ Bauxite đến Uranium: Tiến trình Đô hộ Việt Nam của Trung Cộng (From Bauxite to Uranium: The process of Colonization of China Communist), 2009 and 2012.
- Câu Chuyện Môi Trường Việt Nam (History of Vietnam’s Environment), 2010 and 2012.
- Tâm Tình Người Con Việt (Reflections of Viet’s Child), 2011.
- Việt Nam Tương Lai, Tập I & II (The Future of Vietnam Volume I & II), 2014.
- Thư Cho Con, Tập 13 – 35 (Letters to My Children, Volume 13 -29, 2005 – 2023).
- Lối Thoát Nào Cho Việt Nam? (What’s The Escape Route for Vietnam?), 2017.
- Lối Thoát Cho Việt Nam (The Escape Route for Vietnam), 2018.
- Tôi ( Myself), 2019.
-
Nguyên Sa & Tám Phố Sài Gòn

Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường vào đầu thế kỷ XIX của khuyết danh chỉ đề cập tổng quát, được đề cập nhiều (Sau nầy có bài thơ của Nguyễn Bính nhưng không có gọi tên phố phường). Tác phẩm Hà Nội 36 Phố Phường của nhà văn Thạch Lam (1910-1942) ấn hành năm 1943 được phổ biến rộng rãi, được mọi người biết đến nếp sống, sinh hoạt… của Hà Nội xa xưa.
Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường trong tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang năm 1940:
“Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng có để một tơ vương.
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Góp lại đường đi: vạn dặm đường…
Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng đã dứt một tơ vương,
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác.
– Có một người đi giữa đám tang”.
Bài thơ chỉ là tâm trạng của chàng trai khi lang thang trên phố cổ, nếu không ghi “Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường” thì có thể nơi đó cũng gán cho cố đô Huế, phố cổ Hội An…
Bài thơ Hà Nội 36 Phố Phường của khuyết danh (?) in trong quyển Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của học giả Dương Quảng Hàm ấn hành năm 1942:
“Rủ nhau chơi khắp Long Thành,
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai,
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay,
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày,
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Ngang,
Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng,
Hàng Muối, Hàng Nón, cầu Đông,
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè,
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre,
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà.
Quanh đi đến phố Hàng Da,
Trải xem Hàng phố, thật là cũng xinh.
Phố hoa thứ nhất Long Thành,
Phố giăng mắc cửi, đàn quanh bàn cờ.
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền”
Như vậy hình ảnh Hà Nội vào thập niên 1940’ tiêu biểu qua tùy bút của Thạch Lam và hai bài thơ.
Với Sài Gòn đã có nhiều tác phẩm trước năm 1975 như hồi ký Địa Danh Cũ Sài Gòn của Bình Nguyên Lộc, Đất Gia Định – Bến Nghé Xưa & Người Sài Gòn, Giới Thiệu Sài Gòn Xưa (300 Năm)… của Sơn Nam, Sài Gòn Năm Xưa của Vương Hồng Sển… nhưng ít được biết đến như tác phẩm của Thạch Lam.
Thi ca về Sài Gòn từ năm 1975 trở về trước cũng khá nhiều nhưng đặc biệt với bài thơ Tám Phố Sài Gòn của Nguyên Sa.
Trong thời kỳ Việt Minh Trần Bích Lan (Nguyên Sa) bị bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài Pháp, học triết tại đại học Sorbonne, Paris. Năm 1955 lập gia đình với bà Trịnh Thúy Nga, gặp nhau trên đất Pháp năm 1953 (bà ở Hà Nội du học năm 1952). Đầu năm 1956, ông bà về sống tại Sài Gòn. Ông dạy triết tại Trường Trung học Chu Văn An, cũng có thời gian dạy triết tại Đại Học Văn khoa Sài Gòn. Ông mở hai trường tư thục là Văn Học và Văn Khôi và dạy triết các trường trung học ở Sài Gòn. Năm 1960, Nguyên Sa thành lập tờ Gió Mới (cùng với Trần Dzạ Từ) và cùng năm Nguyên Sa ra đời tạp chí Hiện Đại nhưng chỉ “thọ” được 9 số.
Nguyên Sa – Trần Bích Lan đã ấn hành những tác phẩm, sách nhiều thể loại Biên Khảo, Truyện Dài, Truyện Ngắn, Bút Ký & Hồi Ký, Sách Giáo Khoa, Triết… nhưng thường gọi là nhà thơ Nguyên Sa với 4 tập Thơ Nguyên Sa (1957-1998). Thơ Nguyên Sa toàn tập (2000) và Nguyên Sa, Cuộc Hành Trình Trên Là Lục Bát do hiền thê của ông ấn hành. Với bút hiệu Hư Trúc (nhân vật trong Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung) qua các bài viết phiếm, bút chiến, không ân hành tác phẩm nào. Riêng tập thơ Những Năm Sáu Mươi trong thời gian nhập ngũ. Tập thơ nầy không được Bộ Thông Tin cấp giấy phép xuất bản, năm 1971 nhà xuất bản Trình Bày của Thế Nguyên in lén qua hình thức quay roneo, phổ biến hạn chế trong thân hữu.
Tháng 12/1966 ông động viên vào khóa 24 Trường Bộ Binh Thủ Đức và ở trong Ban Biên Tập SVSQ liên khóa 23 & 24 của nguyệt san Bộ Binh Thủ Đức (tôi biết ông khi ở trong BBT nầy). Ông phục vụ tại Trường Quốc Gia Nghĩa Tử cho đến tháng 4/1975 định cư ở Pháp, sau đó về định cư tại Little Saigon.
(Năm 1998, tôi viết bài Nguyên Sa: Lời Thơ Ý Nhạc… trên tờ Thế Giới Nghệ Thuật, trước khi ông qua đời, ghi rõ về cuộc đời nhà thơ và những bài thơ được phổ nhạc). Vì vậy trong bài viết nầy chỉ đề cập với bài thơ Tám Phố Sài Gòn bài thơ 8 khổ 32 câu vào năm 1965.
Trong Hồi Ký Nguyên Sa (Đời, 1998), gồm bốn phần, không theo trình tự thời gian, ghi chép lại những biến cố trong cuộc sống trải qua những biến động của xã hội cùng những nhân vật thời thế… Trong đó ông đề cập đến bài thơ Tám Phố Sài Gòn, theo ông ghi lại trong hồi ký thì bài thơ nầy xuất hiện trên Số Xuân năm 1965 của tờ Văn theo lời yêu cầu của ông Nguyễn Đình Vượng. (Tạp chí Văn, do Trần Phong Giao đảm nhận từ số 1 năm 1964 đến cuối năm 1971. Ông Nguyễn Ðình Vượng mời hai nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng và Mai Thảo thực hiện cho đến tháng 4/1975).
Tám Phố Sài Gòn
“Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều
Cánh tay tà áo sát vòng eo
Có nghe đôi mắt vòng quanh áo
Năm ngón thơ buồn đứng ngó theo
Sài Gòn phóng solex rất nhanh
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants
Có nghe hơi thở cài vương miện
Lên tóc đen mềm nhung rất nhung
Sài Gòn ngồi thư viện rất nghiêm
Tờ hoa trong sách cũng nằm im
Đầu thư và cuối cùng trang giấy
Những chữ y dài trông rất ngoan
Sài Gòn tối đi học một mình
Cột đèn theo gót bóng lung linh
Mặt trăng theo ánh đèn: trăng sáng
Đôi mắt trông vời theo ánh trăng
Sài Gòn cười đôi môi rất tròn
Vòng cung mầu đỏ, nét thu cong
Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng
Hay đã đưa dần sang nhớ mong
Sài Gòn gối đầu trên cánh tay
Những năm mười sáu mắt nhìn mây
Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn
Tiếng nhạc đang về dang cánh bay
Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa
Thứ Bảy Sài Gòn đi Bonard
Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ
Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng
Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân
Lưng trời không có bầy chim én
Thành phố đi về cũng đã Xuân”
Bài thơ cho báo Xuân mà chỉ có chữ Xuân cuối bài thơ. Sài Gòn tám phố, tuy có mười lần nhắc đến tên Sài Gòn và hình ảnh con đường Bonard vào thời Pháp thuộc đã đổi tên đường Lê Lợi sau năm 1954.
Lúc đó nhà thơ Nguyên Sa đã nổi danh nên không có ai nói tám phố Sài Gòn mà chẳng thấy hình ảnh tám phố thế nào (như bài thơ về Hà Nội của Nguyễn Bính), ít ra như Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn của nhà thơ Du Tử Lê:
“Đêm về theo bánh xe qua
Nhớ em xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh…
Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giản trưa hè Tự Do
Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè
Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường”
Bài thơ nầy được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc cùng tên và tôi đã viết vào năm 2007 khi uống cà phê với nhau, được Du Tử Lê chia sẻ.
Về địa danh, ngày 22/10/1956 của Tổng Thống VNCH ban hành sắc lệnh Đô Thành Sài Gòn – Chợ Lớn đổi thành Đô Thành Sài Gòn có 8 quận: Quận Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy và Tám.
Ngày 10 tháng 10 năm 1965, Tổng Long Vĩnh Hạ lại được tách khỏi quận Dĩ An, nhập trở lại quận Thủ Đức. Năm 1967 xã An Khánh được cắt khỏi quận Thủ Đức, nhập vào Quận 1 của Đô Thành Sài Gòn và được chia thành hai phường là An Khánh và Thủ Thiêm. Sau, 2 phường An Khánh và Thủ Thiêm lại được tách ra để thành lập Quận 9 của Đô Thành Sài Gòn. Tuồng cải lương “Ông Cò Quận 9” hay “Tuyệt Tình Ca” của Hà Triều – Hoa Phượng vào năm 1965, lúc đó chưa có quận 9 nên đặt tên để tránh sự đụng chạm.
Sau Tết Mậu Thân 1968, người dân tản cư về Đô Thành sinh sống rất đông vì vậy Tòa Đô Chánh Sài Gòn thành lập thêm hai quận nầy vào khoảng tháng 7/1969, nâng số quận tại Đô Thành thành 11 quận.
Với bài thơ Paris Có Gì Lạ Không Em? và Tám Phố Sài Gòn là hai địa danh qua dòng thơ Nguyên Sa trải qua nhiều thập niên vẫn được yêu thích. Với tâm hồn lãng mạn với hình ảnh giai nhân trong Tám Phố Sài Dài Gòn như: Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants. Có nghe hơi thở cài vương miện. Lên tóc đen mềm nhung rất nhung… Guốc cao gót nhỏ mây vào gót. Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ”. Trong khi Paris Có Gì Lạ Không Em với hình ảnh: “Anh về giữa một giòng sông trắng, Là áo sương mù hay áo em?… Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay. Tóc em anh sẽ gọi là mây… Vì em hay một vừng trăng sáng. Đã đắm trong lòng cặp mắt em?”có lẽkhông dễ thương như bóng hồng ở Sài Gòn (?).
Tạp chí Văn Học số 99, ngày 15/12/1969 với chủ đề Nguyên Sa, thi sĩ của tình yêu. (Trong số nầy có cuộc phỏng vấn của Vũ Bằng, Thượng Sỹ, Phan Kim Thịnh với Nguyên Sa và nhà thơ nói đến quan điểm về thơ). Ngoài những nhà thơ từ thời tiền chiến, Nguyên Sa là một trong những nhà thơ trẻ ở miền Nam VN vào giữa thập niên 1950’ & 1960’ nổi bật về lãnh vực nầy. Tuy nhiên trong Hồi Ký Nguyên Sa “Tôi là người làm thơ, thơ tình, mà vẫn xúc động trước những khổ đau của quê hương, dân tộc tôi”
Những bài thơ tình lãng mạn của ông như “thông điệp tình yêu” (bài thơ Cần Thiết) của một thời sinh viên, học sinh đi vào lớp học “Không có anh lấy ai đưa em đi học về. Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học” hay “Thơ học trò anh chất lại thành non. Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu” và “Cả những giờ bên lớp học, trường thi. Tà áo khuất thì thầm: ‘chưa phải lúc…’. Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường”…
Bài thơ Buổi Sáng Học Trò với hình ảnh: “Trang sức bằng nụ cười phì nhiêu. Nhẩy bằng chân chim trên giòng suối cạn. Ấy là em trên đường đi buổi sáng. Trăng ở trên môi và gió ở trong hồn. Mái tóc mười lăm trên lá tung tăng. Em ném vào phố phường niềm vui rừng núi”. Nụ cười phì nhiêu không có trong tự điển và đây lần đầu tiên nhà thơ đề cập đến.
Bài thơ Áo Lụa Hà Đông với tuổi học trò mới chớm yêu mà “Gặp một bữa anh đã mừng một bữa. Gặp hai hôm thành nhị hỉ của tâm hồn. Thơ học trò anh chất lại thành non. Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu”. Nhiều bài thơ của Nguyên Sa đã được phổ nhạc, bài thơ nầy Ngô Thụy Miên phổ nhạc năm 1971 và sau nầy ở hải ngoại đến với nhau với nhiều tình khúc, điển hình như: Tháng Sáu Trời Mưa, Paris Có Gì Lạ Không Em, Tuổi Mười Ba, Cần Thiết… (Bài thơ Cần Thiết trước kia do Song Ngọc phổ nhạc, và nhạc sĩ Anh Bằng dựa theo ý thơ phổ thành ca khúc Nếu Vắng Anh vào năm 1971. Khi nhạc phẩm được ấn hành cũng là món quà của người lính tặng cho người yêu khi rời hậu phương).
Trong bài thơ Tám Phố Sài Gòn, nhà thơ không phải là người con của Nam Kỳ Lục Tỉnh mà viết “Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng”, chữ “cưng” là cách xưng hô quen thuộc, thân mật, trìu mến, thông dụng trong giao tiếp với nhau dù thân, sơ trong gia đình, ngoài xã hội của người miền Nam. Sau nầy rất phổ biến trong đôi lứa, bạn bè (nữ) và người thân. Trong các tác phẩm của Hồ Trường An thường dùng các gọi chữ “cưng” như “mèn ơi! Cưng”…
Nửa thế kỷ trôi qua, sống nơi xứ người, tuy không còn tên Sài Gòn nữa nhưng với nơi chốn đó “gọi nhau bằng cưng” cảm thấy như người thân.
Những lời ngắn ngủi, chân tình như: “Cưng ơi, chỉ dùm nhà của bà X… Chỗ này có ai ngồi không cưng?”, “Mua giùm dì đi cưng”… Khi thấy tai nạn xảy ra “Trời ơi, có sao hông cưng!”, “Tội nghiệp cưng quá”… Chỉ một chữ nhưng thể hiện nét đẹp trong văn hóa xử thế… Là dân Hà Nội, khi sống trong Nam, nhà thơ nhân cách hóa địa danh rất tuyệt.
Qua biến thiên của cuộc đời, nhà thơ Nguyễn Đình Toàn với nỗi niềm với Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên. Mất từng con phố đổi tên đường… Sài Gòn ơi! Tôi mất người như người đã mất tôi. Như trường xưa mất tuổi thiên thần… Còn gì đâu…”. Và nay, người con xa xứ vẫn coi nơi chốn nầy như câu thơ Nguyên Sa “Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng” khi nhà thơ nhân cách hóa rất tuyệt.
Sau thời gian lâm bệnh, sau khi giải phẫu, sức khỏe yếu kém, nhà thơ qua đời ngày 18/4/1998. Là nhà giáo, nhà văn với nhiều sách, tác phẩm nhưng thơ là tim, óc của Nguyên Sa, có lẽ bài thơ Sợi Tóc sáng tác cuối cùng như “di cảo” khắc trên mộ bia của nhà thơ ở Peek Funeral Home (Little Saigon) khắc 6 câu thơ lục bát:
“Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau?
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”
Nhà thơ Nguyên Sa của Sài Gòn năm xưa, khi định cư tại Paris có nhiều bạn bè, thân hữu nhưng bỏ “kinh đô ánh sáng” đến miền nắng ấm Nam California và an giấc nghìn thu tại nghĩa trang ở Little Saigon vĩnh viễn “Nằm chơi ở góc rừng này”. Trần Bích Lan trở về thuở nguyên sơ hạt cát (sa) nhưng hạt cát vĩnh cữu trong dòng sinh mệnh Văn Học Việt Nam.
Little Saigon, August, 2024
Vương Trùng Dương
-
Ý Nghĩa Ngày Của Mẹ!

Mẹ là người có thể thay thế bất kỳ ai khác, nhưng không ai có thể thay thế được mẹ.
(Gaspard Mermillod)
- Mẹ là món quà yêu thương đặc biệt nhất, mà Thượng Đế ban cho mỗi con người.
-Mẹ là dòng suối dịu hiền, Mẹ là bài hát thần tiên, là bóng mát trên cao, là mắt sáng trăng sao, là ánh đuốc trong đêm, khi lạc lối.
-Mẹ là tất cả! Mẹ là người có thể thay thế tất cả những ai khác, nhưng không ai có thể thay thế được Mẹ!
-Mẹ chăm sóc ta cả cuộc đời, làm những việc cực nhọc nhất, mà không cần trả lương! Mẹ nắm tay những đứa con mình không phải chốc lát, mà giữ trong trái tim suốt cả cuộc đời! cho dù con lớn bao nhiêu tuổi cũng thế!
Nên Tình Mẹ Con, Mẫu Tử là một tình cảm vô cùng thiêng liêng, cao quý nhất. Tất cả mọi người mẹ trên cõi đời này, đều thương yêu con của mình, đấy là bản tính, là thiên tính Trời ban cho người phụ nữ. Chính nhờ tình thương của mẹ, mà người con được lớn lên. Tình thương yêu của mẹ, đã giúp cho người con quân bình, thành người, về các phương diện tâm sinh lý. Người Mẹ tuy âm thầm, nhưng có ảnh hưởng rất lớn trong mỗi cuộc đời con người!
Lịch Sử Ngày Lễ Hiền Mẫu Mother’s Day
Ngày của Mẹ (Mother’s Day) ấn định mừng vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5 hằng năm. Đây là ngày để tôn vinh các bà mẹ, bà nội, bà ngoại, vì những đóng góp to lớn của họ cho gia đình, cộng đồng và xã hội
Nguồn gốc ngày của Mẹ có từ rất lâu, vào thời kỳ cổ Hy Lạp và La Mã. Nhưng cái gốc lịch sử Ngày Của Mẹ, có thể tìm thấy ở Anh Quốc, nơi đó Chủ Nhật Ngày của Mẹ, đã được tổ chức tưng bừng, trước khi lễ mừng này được “di cư” thành hình, bên Hoa Kỳ.
Dầu vậy, việc ăn mừng liên quan của ngày này, lại được coi là một hiện tượng, chỉ mới gần đây, mới hơn một trăm năm.
Thật ra, phải cảm tạ công khó của những phụ nữ tiền phong, như Julia Ward Howe và Anna Jarvis, mà “ngày này” mới được chính thức thành hình.
Ngày nay, việc tổ chức, tiệc mừng cho Ngày của Mẹ, đã được trên 50 quốc gia của thế giới công nhận. (Mặc dầu vào những ngày khác nhau) Trở thành những Ngày Lễ ý nghĩa, mà mọi người yêu thích nhất! Hàng triệu người trên khắp thế giới, dùng cơ hội này để nhớ đến, kiếm cách trả ơn bà mẹ của mình, tri ân họ về việc sanh thành, dưỡng dục, để họ thành người.
Ngày của Mẹ, được tổ chức tưng bừng nhất ở những quốc gia như: Mỹ, Nga, Anh Quốc, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhỉ Kỳ, Úc Đại Lợi, Mễ Tây Cơ, Gia Nã Đại, Trung Hoa, Nhật Bản, và Bỉ. Người ta dùng cơ hội của ngày này, để tỏ lòng tôn kính mẹ của mình và tri ân họ về tình yêu thương, sự nâng đỡ của Mẹ trong đời sống.
Nhưng ngày này, càng ngày càng phai mờ ý nghĩa, vì bị thương mại hóa. Đường dây điện thoại thì bận rộn, kẹt cứng nhất trong năm. Tiêu thụ hoa, quà, card, nhiều nhất! Nhà hàng cũng có khách đông nhất vào ngày lễ này. Ngày của Mẹ trở thành ngày làm ăn hốt bạc, cho những tiệm cắm hoa, những nhà làm thiệp và người bán quà tặng, cho cả dịch vụ du lịch. Cơ hội hiếm có để kiếm tiền trong ngày này. Bằng chứng qua những cuộc quảng cáo quy mô, trước đó vài ba tháng, để thu hút khách hàng.
Thật là tiếc để ghi nhận rằng, bà Anna Jarvis đã bỏ hết cuộc đời, cho việc vinh danh ý nghĩa cao đẹp ngày của Mẹ. Giờ chỉ còn là dịp để vui chơi, quà cáp, ăn uống, trong ngày lễ. Những bà mẹ già, vẫn cô đơn mừng ngày này, trong các viện dưỡng lão. Trong khi các con của mình, tưng bừng hội hè ăn chơi phía ngoài, chẳng còn nhớ gì đến Mẹ của mình cả. Thật chua xót về tính cách thương mại hóa của ngày này. Mà đâu phải một lễ này đâu, lễ nào trên đất Mỹ này cũng thế!
Những câu danh ngôn về Mẹ nổi tiếng và ý nghĩa nhất
- Với mẹ, dù lớn bao nhiêu, con mãi là một đứa trẻ! trong trái tim mình. (Khuyết danh)
- Chúa không thể ở khắp mọi nơi, để ban tình thương, ơn lành, nên Ngài sinh ra người mẹ! (Proverbe Yiddish).
- Khi bạn nhìn vào mắt của một người mẹ, bạn sẽ nhận biết được, tình yêu tinh khiết nhất, tuyệt vời nhất, mà bạn có thể tìm thấy trên trái đất. (Mitch Albom).
- Tương lai của đứa con, luôn là công trình, tuyệt phẩm! hãnh diện nhất của người mẹ. (Napoleon).
- Tình thương của người mẹ, không bao giờ bị già nua, khi năm tháng trôi qua. (Tục ngữ Đức).
- Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt diệu, quý báu nhất, là trái tim người mẹ! (Bernard Shaw).
- Không tình yêu nào vĩ đại, như tình yêu của người mẹ, dành cho đứa con của mình. (Khuyết danh).
- Người mẹ thật sự chẳng bao giờ rảnh rỗi, hình bóng con, luôn luôn hiện diện trong đầu và trái tim của Bà suốt cả đời! (Balzac).
- Tình yêu của người mẹ là yên bình, bình đẳng. Nó không cần bạn phải thông minh, đẹp đẽ, giỏi giang. Nó không cần bạn phải xứng đáng hay không! Nhiều khi khuyết tật, bạn còn nhận được nhiều hơn nữa! (Erich Fromm).
- Mẹ hiền sinh con ngoan, cây tốt sinh trái ngọt, lúa tốt cho gạo ngon. (Ngạn ngữ Trung Quốc).
- Người ta không bao giờ hiểu hết, nói hết về Thượng Đế, cũng như nói hết về người Mẹ. (Ngạn ngữ Ấn Độ)
- Mẹ nuôi con biển bờ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày. (Tục ngữ Việt Nam)
- Con đi ngàn dặm mẹ lo âu, Mẹ đi ngàn dặm con chẳng sầu. (Ngạn ngữ Trung Quốc)
- Khi bạn là một người mẹ, bạn không bao giờ thực sự cô độc trong suy nghĩ của mình. Một người mẹ luôn phải nghĩ hai lần, một lần cho bản thân và một lần cho con cái. (Sophia Loren)
- Một người mẹ vẫn mãi là một người mẹ, luôn luôn quan tâm đến những đứa con. Cho dù những đứa con đó đã lớn lên, vẫn là những đứa trẻ của riêng mình. (Khuyết danh)
- Trái tim của người mẹ là vực sâu muôn trượng, mà ở dưới đáy, bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ. (Balzac)
- Làm mẹ là một thái độ sống, thiêng liêng, không chỉ là mối liên hệ về sinh học. (Robert A Heinlein)
Phong tục “Happy Mother’s Day!” tại các nước trên thế giới
Đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay, ăn mừng Ngày của Mẹ, với các phong tục bắt nguồn từ Bắc Mỹ và Châu Âu. Khi được phổ biến tại các nước khác, ngày của mẹ đôi khi được thay đổi đôi chút, để phản ảnh nền văn hóa từng nơi. Một số nước để hợp nhất ngày lễ này, với những sự kiện quan trọng của nhiều phong tục bản xứ (ví dụ như tôn giáo, lịch sử, và truyền thuyết)
*Ngày của mẹ ở Anh
Ngày của mẹ ở Anh cũng trùng vào ngày Chủ Nhật, bởi vậy mọi người thường tới nhà thờ làm lễ, sau đó mới trở về nhà của mình. Các thành viên trong gia đình, dù ở xa cũng sẽ cố gắng họp mặt đông đủ trong ngôi nhà của cha mẹ. Họ thường tổ chức một buổi tiệc có thiệp mừng, bánh gato, hoa quả, rượu và tặng quà cho những người mẹ.
*Ngày của mẹ ở Mỹ
Ngày của mẹ được khởi xướng trở lại sau thế chiến thứ hai tại Mỹ, do bà Anna Marie Jarvis đấu tranh xác lập, tại phố Grafton, tiểu bang Tây Virginia, Hoa Kỳ. Bà Anna Marie Jarvis quyết tâm thực hiện di nguyện của người mẹ quá cố. Người mẹ của bà Anna khi còn sống là một nhân viên an sinh, luôn đấu tranh không ngừng để làm rạng danh các bà mẹ, tri ân công sức của họ trong đời sống và vì hòa bình. Sau khi người mẹ mất, cộng thêm thái độ thờ ơ lãnh đạm của người dân Hoa Kỳ với thân mẫu của mình, càng thôi thúc quyết tâm của bà. Sau nhiều năm đấu tranh quyết liệt, vào năm 1911, Ngày Của Mẹ được tổ chức ở hầu hết các tiểu bang ở Mỹ. Vào ngày 8/5/1914, tổng thống Mỹ đã ký quyết định ấn định ngày Chủ nhật thứ hai của tháng Năm hàng năm là Ngày của Mẹ. Dần dần trở thành, một trong những ngày lễ được yêu thích nhất. Tiệc tùng cũng linh đình nhất!
*Ngày của mẹ ở Ấn Độ
Người Ấn Độ gọi ngày của mẹ là Durga Puja, trong đó “Durga” là tên của một nữ thần bảo vệ cho người dân Ấn Độ, khỏi mọi nguy hiểm trong cuộc sống. Họ tổ chức Ngày của mẹ như một lễ hội lớn vào tháng Mười, trong vòng… mười ngày! Đồng thời, với những người mẹ thật sự trong cuộc sống, mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày, cũng sẽ được người con vào bếp trổ tài nấu ăn và tặng quà cho mẹ.
*Ngày của mẹ ở Tây Ban Nha
Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng năm ở Tây Ban Nha. Người lớn thường tặng mẹ sôcôla, thiệp chúc mừng hay một số món quà ý nghĩa khác. Còn trẻ em thì tự tay làm tặng mẹ những tấm thiệp, hoặc làm món quà đơn giản.
*Ngày của mẹ ở Nhật Bản
Trong ngày của mẹ, trẻ em sẽ vẽ những bức tranh dành tặng cho mẹ của mình và tập hợp những bức ảnh đó thành một cuộc triển lãm nhỏ, với chủ đề tình cảm mẹ con và sự hi sinh thầm lặng của các bà mẹ Nhật.
*Ngày của mẹ ở Úc
Hoa cẩm chướng là loài hoa biểu trưng cho ngày của mẹ ở Úc. Bông hoa cẩm chướng vàng dùng để tặng người mẹ đang còn sống. Còn hoa cẩm chướng trắng được dành tặng một người mẹ đã quá cố. Vào ngày này, trẻ em thường dậy sớm, làm tặng mẹ đồ ăn sáng và mang đến bên giường ngủ, để mẹ thức dậy và thưởng thức.
Nghiên cứu khoa học xã hội: Các bà mẹ nuôi con, thành công, nên người, hay nhất!
Theo suy xét nhìn nhận từ xã hội, những đứa trẻ không cha, không mẹ thường gặp phải rắc rối trong cuộc sống. Chúng sẽ bị khinh bỉ, chọc ghẹo khi tới trường. Vì thế, mà khó làm chúng thành công trong cuộc sống trưởng thành. Nhưng theo thống kê, đứa trẻ ở với Mẹ, lại dễ thành công trong cuộc đời, hơn ở với người cha.
Hãy xét về trường hợp thành công ngoài sức tưởng tượng, như trường hợp của cựu tổng thống Barack Obama, vận động viên bơi lội Olympic Michael Phelps và rất nhiều người danh tiếng khác, khi chỉ sống với mẹ. Rồi tương tự như trường hợp của nhà vô địch môn xe đạp giải Tour de France Lance Armstrong, thị trưởng Massachusetts Deval Patrick và diễn viên Banjamin Bratt, đều thật sự trưởng thành như một người đàn ông chững chạc, ngay khi còn thanh niên dù cuộc sống không có cha, chỉ ở với mẹ!
Nhiều người cho rằng: “Sở dĩ những bà mẹ đó làm được điều kỳ diệu ấy, vì người mẹ nhạy bén, biết cách khuyến khích tài năng của con mình, kiên trì dùng tình thương định hướng, tập cho con sự tư duy độc lập và cảm giác phiêu lưu, muốn được chinh phục.”
Nên khi gia đình tan vỡ, đứa trẻ tốt hơn khi ở với mẹ, hơn là ở với cha.
Nghiên cứu: Thời gian 8 giờ sáng, là thời gian căng thẳng (stress) nhất với các bà Mẹ thế kỷ thứ 21
Một cuộc khảo sát cho thấy 8 giờ sáng là thời gian căng thẳng nhất, trong ngày của các bà mẹ bận rộn thế kỷ 21.
Tracey Hyem, giám đốc chi nhánh tại Anh, của công ty trang sức Bỉ Uniroyal cho biết: Qua cuộc khảo sát 2.000 bà mẹ nước này, cho thấy, việc chuẩn bị để đưa trẻ đến trường (đánh thức trẻ dậy, cho chúng ăn sáng và kiểm tra cặp sách của chúng) thường khiến các bà mẹ mất bình tĩnh, bối rối ngay cả trước khi rời nhà. Rồi còn kẹt xe…
Điều tra cũng cho thấy đa số các bà mẹ vừa lo đi làm, vừa lo quán xuyến việc gia đình hàng ngày, khiến họ luôn trong tình trạng stress, đặc biệt cao điểm nhất vào buổi sáng, lúc 8 giờ!
Một vài Truyện Ngắn, Câu Thơ Của Nhiều Tác Giả Về Mẹ
NÓ
Ba nó bỏ đi lúc nó còn đỏ hỏn. Ngoại và mẹ nuôi nó trong nghèo khó, đau khổ và cả hạnh phúc. Được vài năm, cái đói nghèo cướp mất bà ngoại. Thiếu hơi bà, nó thút thít khóc cả đêm, mẹ chỉ ôm nó vào lòng, để tay lên ngực trái dỗ dành:
– Ngoại có đi đâu! Ngoại ở đây mà!
Vậy là nó nín.
Rồi mẹ cũng theo bà! Hôm tang mẹ, nó thấy dì khóc, nó bảo:
– Mẹ có đi đâu, Mẹ ở đây mà!
Rồi lấy tay đặt lên ngực trái, chỗ trái tim.
Nó dỗ thế mà dì chẳng nín, lại ôm nó khóc to hơn nữa.
Lần này, nó không nghe lời mẹ nó, tay vẫn để ở trái tim, nhưng khóc theo dì! Gào lên Mẹ ơi! Sao bỏ con!
Quà sinh nhật
Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất, chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn nhau nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mỗi bàn bao nhiêu người.
Chị lặng lẽ đến bên má:
– Má ơi, má thèm gì? Để con nấu cho má ăn!
Chưa tan tiệc, má xin phép về sớm vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi:
– Sao má chẳng ăn gì?
Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn tô canh chua lá me và đĩa cá bống kho tiêu mà chị mang đến, ăn ngon lành!
KHÓC
Vừa sinh ra đời, không biết vì sao, chồng tôi đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm một lần nào nữa. Năm 20, qua nhiều khó khăn, anh tìm được mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa, bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ. Hôm nay 40 tuổi, đọc tin mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc, anh nói:
– Tội nghiệp mẹ! Chắc 40 năm qua mẹ còn khổ tâm hơn cả anh nhiều lắm.
NHỚ MẸ
Dưới quê học hành khó khăn, nên mới lớp 2, thằng Út đã được gởi lên thành phố ở với chị Hai. Lâu lắm mẹ mới ra thăm. Lần nào chị Hai cũng nhằn, vì mẹ cứ nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày, lại vứt bã trầu lung tung. Lần nào cũng vậy. Đưa mẹ ra bến xe về quê xong, chị Hai về thấy nhà vắng ngắt. Tìm mãi mới thấy thằng Út đứng sau kẹt cửa, tay cầm mấy cái bã trầu khô, nước mắt nhạt nhòa trên má! Thấy chị, nó òa lên khóc!
CON GÁI
Ngoại hấp hối, cả nhà dắt díu nhau về quê thăm ngoại. Ngoại mất. Từ thành phố, anh Ba đang dở mùa thi cũng vội về chịu tang.
Chị Hai lấy chồng quê ngoại, nhà cách có vài quãng đồng mà lại không về được.
Bố chép miệng xót xa:
– Con gái là con người ta.
Mẹ gục đầu nức nở. Hơn hai mươi năm theo chồng xa xứ, đây mới là lần đầu tiên mẹ được về với ngoại. Mẹ cũng là con gái…
LÒNG MẸ
Nhà nghèo, chạy vạy mãi mới được suất hợp tác lao động, Thanh coi đó như cách duy nhất để giúp đỡ gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan, xứ người chẳng phải thiên đường, Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng. Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong mơ.
Ngày về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống trong mơ. Đêm. Chỉ còn mẹ. Hết nắn tay nắn chân Thanh rồi mẹ lại sụt sùi. Thanh nghẹn ngào khi nghe mẹ nói:
– Dối mẹ làm gì. Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở con!
Lễ Mẹ, Sao Con Khóc!
Thui thủi mình con giữa chợ đời
Chiều nay nhớ Mẹ quá đi thôi
Hải hà công đức như sông biển
Thiên địa thương yêu tựa đất trời
Suốt kiếp chỉ lo con trượt ngã
Một đời quên mất Mẹ thân côi
Bao người Lễ Mẹ mừng vui chúc
Thơ thẩn con ngồi khóc Mẹ thôi
NHỚ MẸ
Cơm nghèo Mẹ nấu vậy mà ngon
Giọng nói thân thương mãi chẳng còn
Ước được sum vầy như thuở trước
Nụ cười ấm áp cõi lòng con.
Không màng đánh mất tuổi thanh xuân
Vất vả đắng cay mẹ đã từng…
Tất cả cho con không hoàn lại
Thương người khóe mắt trẻ rưng rưng.
Nhân Ngày “Lễ Mẹ”, Nghĩ Gì Về Những Bà Mẹ Cô Đơn?
Trong giờ lễ Chủ Nhật, nhằm ngày Lễ Mẹ, tại nhà thờ Saint Columban, linh mục T. đã làm nhiều người nghe phải nhỏ lệ khi ông kể một câu chuyện về một người Mẹ đã nuôi cả mười đứa con thành công về tài chánh, đứa Bác Sĩ, đứa Kỹ Sư, Dược Sĩ, nhưng rồi cả mười đứa con ấy, không nuôi nổi một bà Mẹ già. Đứa nào cũng có lý do để từ chối không muốn ở với Mẹ. Linh mục T. cũng kể lại lúc ông còn ở Chicago, có một lần trong thời tiết lạnh giá, đến thăm một bà Mẹ, thấy căn nhà rộng mông mênh, không có ai, vì hai vợ chồng đứa con đi làm cả.
Điều ông quan tâm là thấy trong nhà rất lạnh, bà Mẹ phải mặc hai áo nhưng vẫn lạnh cóng. Ông có hỏi bà mẹ tại sao không mở máy sưởi, thì bà Mẹ cho biết là không dám mở vì sợ khi con đi làm về, sẽ càm ràm là “tốn tiền điện quá!” Những đứa con sang trọng kia, có thể chờ đến ngày Lễ Mẹ, thì đưa mẹ ra ăn tô phở, hoặc gọi điện thoại về nhà, nói: “I love you, mom!” Thế là đủ bổn phận của một đứa con thành công ở Mỹ đối với người mẹ yêu dấu của mình.
Những Bà Mẹ ở đây là hiện thân của Mẹ Việt Nam đau khổ, đã hy sinh cả cuộc đời cho con cái, nhưng khi con cái phụ rẫy, bỏ bê, cũng im lặng chấp nhận cho đến hết cuộc đời.
Có biết bao nhiêu trường hợp như thế trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại? Biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng tất cả những đau khổ từ khi lấy chồng, sinh con, rồi ráng nuôi dậy con nên người, sau đó lại chấp nhận những đứa con bất hiếu như một định mệnh mà không hề thốt lời than vãn?
Một bà mẹ đã dành dụm bao năm buôn gánh bán bưng để cho con vượt biên một mình, sau đó, khi qua đến Mỹ, thằng con sợ vợ quá, không dám để mẹ ngủ trong phòng, mà bảo mẹ phải ngủ dưới đất trong phòng khách. Một lần, con chó xù của hai vợ chồng đứng đái ngay vào đầu mẹ. Bà mẹ kêu lên, thì đứa con dâu cười ha hả trong khi thằng chồng đứng yên, chẳng dám nói gì.
Bà mẹ khác, không được ở chung với con trai, phải thuê một phòng của người bạn, vì sức khoẻ yếu, lúc nào cũng lo là chết không có ai chôn. Khi nghe nói về bảo hiểm nhân thọ, bà có năn nỉ thằng con trai đứng tên mua giùm, để bà bớt chút tiền già và đóng hàng tháng để mai sau, con có tiền lo hậu sự cho bà, nhưng đứa con dâu nhất định không chịu, cho rằng “tốn tiền vô ích, chết thì thiêu, liệng tro xuống biển là xong, chôn làm quái gì cho mất thời giờ đi chăm sóc.” Bà cụ uất quá, phát bệnh và qua đời. Không biết rồi bà có được chôn cất đàng hoàng theo ý muốn, hay lại bị cô con dâu vứt tro ra biển.
Không thiếu những bà mẹ khi đến thăm con trai, phải ngồi nhìn vợ chồng chúng nó ăn uống ríu rít với nhau, vì con dâu không chịu dọn thêm một chén cơm mời mẹ. Một bà mẹ nhớ con nhớ cháu quá, đến thăm con, nhưng sợ con dâu sẽ nhiếc móc thằng chồng, nên vừa vào tới cửa đã vội thanh minh: “Mẹ không ăn cơm đâu! Mẹ vừa ăn phở xong, còn no đầy bụng. Mẹ chỉ đến cho thằng cháu nội món quà thôi!”
Không thiếu những bà mẹ vì lỡ đánh đổ một chút nước trên thảm mà bị con nhiếc móc tơi bời. “Trời đất ơi! Cái thảm của người ta cả vài ngàn bạc mà đánh đổ đánh tháo ra thế thì có chết không?” Có bà mẹ bị bệnh ung thư, biết là sắp chết, mong được con gái đưa về Việt Nam, nhưng con đổ thừa cho chồng không cho phép về, rồi biến mất tăm, sợ trách nhiệm. Mẹ phải nhờ người đưa ra phi trường, nhờ người dưng đi cùng chuyến bay chăm sóc cho đến khi về tới nhà. Từ lúc đó đến lúc mẹ mất, cả con gái lẫn con rể, cháu chắt cũng chẳng hề gọi điện thoại hỏi thăm một lần.
Một bà mẹ già trên 70 tuổi rồi, có thằng con trai thành công lẫy lừng, bốn năm căn nhà cho thuê, nhưng bà mẹ phải lụm cụm đi giữ trẻ, nói đúng ra là đi ở đợ vì phải lau nhà, rửa chén, nấu cơm, để có tiền tiêu vặt và để gộp với tiền già, đưa cả cho.. con trai, một thanh niên ham vui, nhẩy nhót tung trời, hai, ba bà vợ. Mỗi khi gặp bà con, chưa cần hỏi, bà đã thanh minh: “Ấy, tôi ngồi không cũng chả biết làm gì, thôi thì đi làm cho nó qua ngày, kẻo ở nhà rộng quá, một mình buồn lắm!”
Trong một cuộc hội thoại, một bà mẹ đã khóc nức nở vì chỉ đứa con gái phụ rẫy, bỏ bà một mình cô đơn. Bà chỉ có một đứa con gái duy nhất, chổng chết trong trại cải tạo. Trong bao nhiêu năm, bà đã gồng gánh nuôi con, rồi cùng vượt biên với con, tưởng mang hạnh phúc cho hai mẹ con, ai ngờ cô con chờ đúng 18 tuổi là lẳng lặng sắp vali ra đi. Nước mắt bà đã chảy cho chồng, nay lại chảy hết cho con.
Tại những nhà dưỡng lão gần trung tâm Thủ Đô Tị Nạn, có biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm ngóng con đến thăm nhưng vẫn biệt vô âm tín. Một bà cụ suốt ba năm dài, không bao giờ chịu bước xuống giường, vì biết rằng chẳng bao giờ có đứa con nào đến thăm. Bà đã lẳng lặng nằm suốt ngày trên giường như một sự trừng phạt chính mình vì đã thương yêu con cái quá sức để đến tình trạng bị bỏ bê như hiện tại. Sau ba năm, bà mất vì các vết lở, vì nỗi u uất, mà những người chăm sóc bà vẫn không biết gia cảnh bà như thế nào, vì bà không hề nhắc đến. Có điều chắc chắn là khi bà còn là một thiếu nữ, bà phải là một mẫu người làm cho nhiều người theo đuổi, quyến luyến, tôn sùng. Chắc chắn bà đã trải qua bao năm tháng thật tươi đẹp, vì cho đến khi mất, khuôn mặt bà, những ngón tay bà, và dáng dấp bà vẫn khoan thai, dịu dàng, pha một chút quý phái. Nhưng tất cả những bí ẩn đó đã được bà mang xuống mồ một cách trầm lặng.
Một buổi chiều tháng 5, tại một tiệm phở Việt Nam, một mẹ già đứng tần ngần bên cánh cửa. Khi được mời vào, mẹ cho biết mẹ không đói, nhưng chỉ muốn đứng nhìn những khuôn mặt vui vẻ, để nhớ đến con mình, đứa con đã bỏ bà đi tiểu bang khác, để mẹ ở với đứa cháu là một tên nghiện rượu, đã hăm dọa đánh mẹ hoài. Hắn đã lấy hết tiền trợ cấp của mẹ, lại còn xua đuổi mẹ như cùi hủi. Hôm nay, hắn lái xe chở mẹ đến đầu chợ, đẩy mẹ xuống và bảo mẹ cút đi! Mẹ biết đi đâu bây giờ?
Trong một căn phòng điều trị tại bệnh viện Ung Thư, một bà cụ đã gào lên nức nở khi người bệnh nằm bên được chuyển đi nơi khác. “Bà ơi! Bà bỏ tôi sao? Bà ơi! Đừng đi! Đừng bỏ tôi nằm một mình! Tôi sợ lắm, bà ơi!” Những tiếng kêu, tiếng khóc nấc nghẹn đó lặp đi lặp lại làm người bệnh sắp chuyển đi cũng khóc theo. Người y tá cũng khóc lặng lẽ. Anh con trai của người sắp đi xa, không cầm được giọt lệ, cũng đứng nức nở. Cả căn phòng như ngập nước mắt. Mầu trắng của những tấm trải giường, mầu trắng của tấm áo cánh của bà cụ như những tấm khăn liệm, tự nhiên sáng lên, buồn bã. Bà cụ nằm lại đó đã không có đứa con nào ở gần đây. Chúng đã mỗi đứa mỗi nơi, như những cánh chim không bao giờ trở lại.
Trên đại lộ Bolsa, thỉnh thoảng người ta thấy một bà mẹ già, đẩy chiếc xe chợ trên chứa đầy đồ linh tinh. Mẹ chỉ có một cái nón lá để che nắng che mưa. Khuôn mặt khắc khổ của mẹ như những đường rãnh bùn lầy nước đọng, đâu đó ở chợ Cầu Ông Lãnh, Thủ Thiêm, gần bến Ninh Kiều, Bắc Mỹ Thuận hay ở gần cầu Tràng Tiền, Chợ Đông Ba? Mẹ đi về đâu, hỡi Mẹ? Những đứa con của mẹ giờ chắc đang vui vầy trong nhà hàng nào đó, đón mừng ngày Lễ Mẹ, “Happy Mother’s Day!”
(C T Tiến)
BẢO VẬT CỦA MẸ
Mẹ thương con từ trong dạ
Chín tháng mười ngày êm ả trôi qua
Con chào đời khóc oa…oa…
Ôm ấp vào lòng món quà Chúa ban
Niềm vui hạnh phúc ngập tràn
Nâng niu bảo vật ngàn vàng là đây
Tâng tiu trong tay mẹ đầy
Mẹ ru con ngủ đêm ngày không ngơi
Thương con chẳng nói nên lời
Tuổi xanh mẹ đành đánh rơi bên đời
Mẹ thương con cao ngất trời
Không ngại bước trên đường đời chông gai
Cuộc đời sớm nắng chiều phai
Mong con được hưởng tháng ngày ấm êm
Lời ru mẹ hát êm đềm
Con say giấc ngủ những đêm canh trường
Một đời mẹ mãi yêu thương
Yêu con như nước đại dương tuôn tràn
“Vũ trụ có nhiều kỳ quan
Kỳ quan tim mẹ…vô vàn thương con!”
Jacqueline Kiều My.
Khánh Lan sưu tầm
-
TƯỞNG NHỚ NHẠC SĨ Đỗ Lễ.

Cô đơn không phải thứ cảm xúc dành riêng cho những người độc thân, sống một mình. Cả khi đang ở trong một mối tương quan tình cảm nghiêm túc, dài hạn, vẫn sẽ có những lúc ta thấy mình sao lẻ loi, cảm giác đơn độc. Cảm xúc cô đơn trong tình yêu có thể là dấu hiệu cảnh báo điều gì bất ổn đang xảy ra với mối quan hệ của hai người. Hoặc, nó cho thấy bạn đang mong mỏi người ấy giúp mình khỏa lấp một khoảng trống trong tâm hồn bấy lâu nay, nhưng đối phương vẫn chẳng nhận ra.
Theo nhiều ý kiến cho là tình yêu là ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ dại dồng của những tâm hồn yêu nhau. Có lẽ bởi thế, phải chăng lý lẽ là thế, lập luận đến đâu, những vấn đề trong tình yêu vẫn sẽ là nỗi trăn trở, day dứt, sầu muộn, như những tình khúc dang dở, hay chia phôi.
Sau đây là trích đoạn của 2 nhà văn Kiều My và Khánh Lan, góp ý nghĩ cho Văn Học Mới.
Vào năm 1931 thuở cổ xưa ấy, khi bài tình ca Besame Mucho ra đời, ngay lập tức nó đã trở thành một quả bom, tán dương nụ hôn tưởng tượng lãng mạn dắm say, người thiếu nữ như van xin người tình khi thầm van nài ”hãy hôn em thật nhiều”. Giai điệu bolero cùng với những lời ca nồng cháy cứ len lỏi, chầm chậm nhưng thấm sâu vào tâm gan người nghe, làm nên một nỗi buồn man mác. Đấy là tình yêu là ngôn ngữ của trái tim, và rồi một bài tình ca van nài tình yêu khác của chàng ca sĩ Michel Polnareff, (nhạc Frank Gérald), lời của bài Love Me Please Love Me như sau:

Nhạc phẩm “Love Me, Please Love Me” (Tác giả: Michel Polnareff, Frank Gérald)
Love me, please love me
Je suis fou de vous
Pourquoi vous moquez-vous chaque jour
De mon pauvre amour ?Love me, please love me
Je suis fou de vous
Vraiment prenez-vous tant de plaisir
A me voir souffrir.Si j’en crois votre silence
Vos yeux pleins d’ennui
Nul espoir n’est permis
Pourtant je veux jouer ma chance
Même si, même si…
Je devais why brûler ma vie.Love me, please love me
Je suis fou de vous
Mais vous moquerez-vous toujours
De mon pauvre amour ?Devant tant d’indifférence
Parfois j’ai envie
De me fondre dans la nuit
Au matin, je reprends confiance
Je me dis, je me dis…
Tout pourrait changer aujourd’hui.Love me, please love me
Je suis fou de vous
Pourtant votre lointaine froideur
Déchire mon coeur.Love me, please love me
Je suis fou de vous
Mais vous moquerez-vous toujours
De mes larmes d’amour ?Bài trích dẫn của Khánh Lan về Ca Nhạc Sĩ Lê Toàn viết lời việt.
Theo Trần Chí Phúc / SBTN, CNS Lê Toàn với 40 năm cống hiến cho nền âm nhạc hài ngoải và với ngón đàn ghi ta ông đã nghe những đĩa nhạc ngọai quốc để tập, để đàn hát lúc còn trẻ và với năng khiếu trời cho ông có đôi tai thính về âm nhạc. Ông kể rằng khi đi xem một cuốn phim, nghe nhạc nền và ông có thể guitar và đàn theo giống gần hết. Chính vì thế, ông là đã giúp ban nhạc của ông mang đến cho khán giả Việt Nam một trào lưu ca nhạc quốc tế.
Lê Toàn học trường Tabert Sài Gòn nên rất giỏi về tiếng Pháp, bài hát đầu tiên ông tự đàn guitar với Et Pourtant làm cho bạn bè kinh ngạc và tán thưởng trong buổi lễ phát thưởng cuối năm tại trường. Năm đệ tam, ông gia nhập một ban nhạc của trường chơi đàn Organ và đi trình diễn tại các trường trung học khác ở Sài Gòn. Năm 1971, Lê Trí trưởng ban nhạc The Family Love chính thức mời Lê Toàn gia nhập ban nhạc và giữ phần đệm guitar cùng với Minh Hải (ghi ta solo), Lê Trí (Organ), Tường Vân (Trống), Tường Nga (Bass), ca sĩ là Tami Lê và Christian Lê; chơi nhạc cho các câu lạc bộ Mỹ tại Sài Gòn. Từ lúc này Lê Tòan bắt đầu hát những bản tiếng Anh ngoài những bản nhạc Pháp. Năm 1974 ban nhạc Family Love chính thức chơi cho một vũ trường tại Sài Gòn. Lê Tòan cùng bằng hữu chơi cho những đám cưới tại các nhà hàng ở Sài Gòn sau khi trinh diễn tại một buổi hội chợ, ông đã hát bản Oh Darling ( Beatles) và được mọi người tán thưởng nhiệt liệt.
Biến cố tháng 4 năm 1975, ban nhạc Family Love di tản sang Hawaii và tiếp tục chơi nhạc mỗi đêm cho một vũ trường do người Nam Hàn làm chủ suốt 5 năm. Ban nhạc lúc này gồm Lê Trí, Lê Tòan, Lê Thanh, Christian Lê, Quốc Hùng (bass) và Hùng Thuận (trống). Trong năm 1977-1978, ban nhạc Family Love lưu diễn các tiểu bang miền Trung Tây Hoa Kỳ gồm North Dakota, Chicago, Minesota, Ohio..trong một năm. Sau nhiều năm trình diễn quanh khói thuốc, thức đêm, Lê Tòan mắc bệnh suyễn và ông phải nghỉ ca hát trong vòng 3 năm, ông chuyển về sống tại Quận Cam năm 1980. Ở đây ông tham gia vào ban nhạc Dreamer và chính ca sĩ Duy Quang đã hướng dẫn ông hát nhạc Việt Nam và ông bắt đầu sáng tác nhiều ca khúc Việt Nam.
Ông cũng đã thực hiện cuốn băng nhạc cassette với tiếng hát của Lê Tòan và Thái Hiền. Cuốn băng cassette Tình Vàng phát hành năm 1980 với một số sáng tác của Lê Tòan như Tình Vàng (Thái Hiền ca), Đường Tìm Tình Yêu, Chờ Trăng, Tiếng Ai Kêu, Cho Tâm Hồn Mộng Mơ… và được đón nhận nồng nhiệt.
Năm 1981, ban nhạc Family Love dọn về San Jose và Lê Tòan trở lại sum họp với các anh chị em trong ban nhạc. Ban nhạc Family Love tái lập và trình diễn ở Bắc Cali và các tiểu bang khác. Năm 1984, tại San Jose Convention Center, Family Love tổ chức một buổi ca nhạc thành công với mấy ngàn khán giả tham dự. Lúc này Lê Tòan là solo guitar và hát.
Năm 1985, vũ trường Lido khai trương trên đường số 2 trung tâm thành phố San Jose và ban Family Love đóng đô tại đây trong 5 năm, là nơi giải trí nghe nhạc và khiêu vũ của đồng hương San Jose đặc biệt trong sinh họat ca nhạc hải ngọai. Năm 1988, hai anh em Lê Trí và Lê Tòan có phòng thu âm riêng, thu băng cho một số ca nhạc sĩ như cuốn Mười Năm Tình Cũ (Trần Quảng Nam), cuốn tiếng hát Tuấn Anh, cuốn tíếng hát Diễm Châu…. Họ thực hiện những cuốn băng Cassette, mặt A có nhạc đệm và tiếng hát; mặt B chỉ tòan nhạc đệm để khán giả có thể hát theo; gọi là U Sing Along. Họ cũng ký hợp đồng với trung tâm Hải Âu để làm nhạc đệm cho cuốn nhiều cuốn Cassette U Sing Along. Phong trào hát U Sing Along sau một thời gian thì chuyển sang phong trào Karaoke.
Năm 1990, ban Family Love ngưng cộng tác vũ trường Lido và họ chuyển sang thực hiện nhạc đệm cho các đĩa Laser Disc do công ty Bruce Đòan sản xuất, sự cộng tác kéo dài trong vòng 5 năm. Cần nói thêm rằng Bruce Đòan là công ty đầu tiên thực hiện Laser Disc cho đồng hương Việt Nam hát Karaoke và với phần nhạc đệm của hai anh em Lê Trí và Lê Tòan, rất thành công vào thời điểm 1990 – 1995. Năm 1995 Family Love tự sản xuất đĩa Laser Disc Karaoke nhưng không thành công trong việc phát hảnh. Cũng năm 1995, sinh họat ca nhạc của Lê Tòan rực sáng với sự xuất hiện lần đầu trên băng hình Thúy Nga, ra mắt cuốn băng nhạc Si Mê Tình Em tại hai miền Nam Bắc Cali rất thành công. Lúc ở San Jose, từ 1992 đên1997, Lê Tòan được mời làm MC cho các chương trình văn nghệ thi Hoa hậu Bắc Cali hàng năm. Cuối năm 1997, Lê Tòan từ giã San Jose và dọn xuống Quận Cam. Hiện nay anh có công việc kỹ sư điện tóan ở hãng và cuối tuần tham gia sinh họat ca nhạc. Từ năm 1997 cho đến nay, Lê Tòan vẫn lưu diễn ở một số tiểu bang vừa hát vừa làm MC, anh hát nhạc ngọai quốc và nhạc Việt Nam.
Những cuốn Cassette gồm Tình Vàng 1980, Nhạc Trẻ Hiện Đại 1982, Mơ Ước Người Yêu 1983, Hey với 12 bài nhạc Pháp (Julio Iglesias hát) do Lê Tòan viết lời Việt, cuốn Ngày Ấy Nay Còn Đâu với các tiếng hát Family Love.
Lê Toàn đã sáng tác khỏang 50 bản có Bên Bóng Dừa, Tình Vàng…. Nhiều chương trình như Lê Tòan 30 Năm Âm Nhạc, Lê Tòan 40 Năm Âm Nhạc và Lê Tòan 60 Tuổi đã được tổ chức tại Quận Cam. Anh cũng phát hành CD Tình Mơ năm 2013. Tháng 9 năm 2013 Lê Tòan và Vân Quỳnh thực hiện đêm nhạc thính phòng tại quán Lạc Cầm với chủ đề nhạc ngọai quốc rất thành công.
Hiện nay Lê Toàn vẫn sáng tác , vẫn thu âm với một máy điện tóan cầm tay Laptop và Keyboard những bài hát cho riêng mình. Tuy đã lớn tuổi, nhưng ca nhạc sĩ Lê Tòan vẫn còn giữ nét sinh động của một nghệ sĩ với nhiều năm đàn hát trong dòng ca nhạc của cộng đồng người Việt Nam hải ngọai. Và niềm đam mê nghệ thuật trong anh vẫn còn nồng nàn.

Ca nhạc sĩ Lê Toàn.
Nhạc phẩm “Love Me, Please Love Me” (Lời Việt: Lê Toàn)
Love me, please love me
Lòng cuồng say với em
Cớ sao mà em cứ trêu ghẹo tình tôi
Cho trái tim này héo mònLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Hỡi em, một khi biết tôi mang niềm cay đắng
Em có thấy lòng sướng vui?Tuy tôi chưa nghe em trao duyên
Nhưng bao lần trong mắt em
Vẫn lóe lên nỗi u hoài
Cho nên đôi khi tôi mong sao
Dẫu mai sau đời tôi dở dang
Mong cho được sánh đôi bên emLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Cớ sao mà em mãi trêu ghẹo tình tôi
Cho trái tim này héo mòn…Không mong chi nơi tin yêu
Tôi âm thầm trong bóng đêm
Cứ ấp ôm một mối si tình
Nhưng hôm sau con tim như vui hơn
Vẫn yên tâm rằng khi nắng lên
May ra đời đổi thay… hôm nayLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Cớ sao mà em vẫn như là băng giá
để trái tim này nát tanLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Hỡi em, nhìn tôi đắng cay mong tình yêu tới
Em cớ sao đành sướng vuiLòng cuồng say yêu ẹm. Cớ sao mà em cứ dang dở tình tôi. Cho trái tim này héo mò. Love me, please love me. Lòng cuồng say yêu em. Hỡi em, một khi biết tôi mang niềm cay đắng. Em có thấy lòng mình yên vui? Và tình yêu là ngôn ngữ dại dồng của những tâm hồn yêu nhau. Có lẽ bởi thế, phải chăng lý lẽ yêu yên vui, yêu trong sầu bi, tình lụy như bài tình ca sau đây:
Mr. Lonely thuộc đề mục đau đầu vì tình yêu trắc trở, lời ca van lơn, xót xa tê tái cõi lòng. Mr. Lonely, hay “Người Cô Đơn” là một ca khúc đồng sáng tác và thu âm bởi . Bài hát ra đời trong năm 1962, nó vang dội được vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong tháng Mười cùng năm. Khi ca sĩ Bobby Vinton cho ra dĩa nhạc Greatest Hits của mình vào mùa thu năm 1964, bài nhạc leo thang tột đỉnh là hạng Top # 1 trên bảng xếp hạng Billboard trong tháng mười hai năm 1964. Hãy nghe người đàn ông cô đơn lạc hướng, tình si dương phương khổ lụy như thế nào nhé:
Hỡi cô đơn…
Tôi vốn mãi cô đơn,
Tôi không còn ai cả,
Nỗi niềm riêng tôi
Tôi là người cô đơn
Tôi không còn ai cả,
Nỗi niềm riêng tôi.
Này, bài hát này đã đi vào những đêm cô đơn của người cô dơn. Tuyệt tình làm làm saoo, khi người con gái ấy đã ra đi,..
Việt Hải ghi nhận sau đây:
Những tình khúc do yếu tố cô dơn, lẽ loi trong tình trường như trên. Tôi cũng xin dẫn nhập vào chủ dề nhạc sĩ Dỗ Lễ và những tình khúc do ông sáng tác. Trong chủ dề Tưởng Nhớ Nhạc Sĩ Đỗ Lễ, theo bài viết “Nhạc sĩ Đỗ Lễ và 3 ca khúc thất tình nổi tiếng: Sang Ngang, Chia Ly và Tình Phụ“, xin trích doạn như dưới đây:
“Bài hát Sang Ngang ra đời vào năm tác giả được 24 tuổi thì công chúng mới biết đến tên của ông. Trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975, hầu như ai cũng biết mối tình si mà Đỗ Lễ dành cho ca sĩ Lệ Thanh vào khoảng đầu thập niên 1960. Khi đó Lệ Thanh đã là một trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất của phòng trà Sài Gòn, còn Đỗ Lễ chỉ là một anh sinh viên đa tình, đêm nào cũng đến trồng cây si ở các phòng trà Anh Vũ tới Bồng Lai, Hòa Bình… hoặc bất kỳ nơi nào có Lệ Thanh trình diễn. Đỗ Lễ rất yêu tiếng hát của Lệ Thanh, là một ca sĩ được nhận xét là chỉ có sắc vóc trung bình nhưng sở hữu giọng ca nồng nàn với những nốt vuốt độc đáo mà cho tới bây giờ chưa có người thay thế.
Người ca sĩ trình diễn trên sân khấu, ánh mắt nhìn bâng quơ xuống hàng ghế khán giả, không chủ ý nhìn ai, nhưng nhạc sĩ Đỗ Lễ luôn tin rằng nàng ca sĩ đang nhìn mình, hát cho mình nghe, rồi ôm lòng tương tư. Rồi đến một ngày Lệ Thanh giã từ ca hát để đi lấy chồng, bỏ lại tất cả hào quang sân khấu và sự tiếc nuối của khán giả, và người hụt hẫng nhất chính là Đỗ Lễ. Dù chỉ là mối tình đơn phương, nhưng ông đã tưởng tượng rằng hai người đã yêu nhau thắm thiết, rồi người con gái ngoảnh mặt để sang ngang, để rồi sáng tác nên ca khúc gắn liền với sự nghiệp của ông với tựa đề là Sang Ngang: “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi… Mai bước sang ngang, lòng thêm nát tan, tình đã dở dang… Thôi khóc làm gì, đã lỡ duyên thề, thương nhau làm chi. Nỗi buồn ai hay, khi mình chia tay. Xa cách nhau rồi…”.
Click để nghe Thái Thanh hát Sang Ngang trước 1975 Nữ danh ca Thanh Lan nhận xét về ca khúc này như sau: “Đỗ Lễ đã đến với khán thính giả yêu nhạc bằng đôi hia bảy dặm, chỉ cần đặt bút viết xuống đôi lời thủ thỉ “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi…”, anh đã trọn vẹn nắm được con tim của tất cả những ai đã từng nếm được hạnh phúc cũng như đau thương của tình yêu đích thực”.
Ngay sau đó, nhạc sĩ Đỗ Lễ còn sáng tác một ca khúc khác, có nội dung gần giống với Sang Ngang, đó là Chia Ly, cũng với tâm trạng của một người phải tiễn người yêu sang ngang: “Mai lên xe hoa em sầu trong áo cưới Em lên xe hoa còn thương nhớ một người Ai gieo đau thương đếm từng đêm ướt gối Em đã đi rồi, em đã quên người tình xưa” Tuy nhiên, do một sự nhầm lẫn nào đó mà thời gian sau này, bài hát bị ghi nhầm tên thành Chuyện Buồn Tình Yêu…
Khi Nữ ca sĩ Lệ Thanh theo chồng và mai danh ẩn tích, hoàn toàn không trở lại với ánh đèn sân khấu lần nào nữa, và mối tình đơn phương của nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng dần nguôi ngoai theo thời gian. Đỗ Lễ lập gia đình với ca sĩ ít tên tuổi là Hoài Xuân, được xem là người đầu tiên hát ca khúc Sang Ngang. Tuy nhiên cuộc hôn nhân đó chỉ kéo dài 6 năm thì kết thúc. Đó là thời gian mà nhạc sĩ Đỗ Lễ bị lâm vào nỗi buồn đau một lần nữa vì tình yêu, nên đã sáng tác bài Tình Phụ: Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi… Click để nghe Lệ Thu hát Tình Phụ trước 1975 Nhạc sĩ Đỗ Lễ còn sáng tác rất nhiều ca khúc khác nữa, được ông đưa vào trong 4 băng nhạc tuyển Đỗ Lễ, tuy nhiên 3 bài nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của ông là Sang Ngang, Chia Ly và Tình Phụ, đều là những bài nhạc thất tình nổi tiếng nhất của nhạc vàng. Ba bài hát này rất buồn, và nỗi buồn đó như là đã vẫn vào cuộc đời của người sáng tác, bởi vì nhạc sĩ Đỗ Lễ đã vĩnh viễn ra đi vào năm 1997 ở tuổi 56, khi ông đã tự kết liễu đời mình vì những nỗi buồn riêng không thể giải tỏa được.
Người tình ở bên cạnh Đỗ Lễ những năm cuối đời là Vương Thị Lam Phương đã nhận xét về ông như sau: “Đỗ Lễ là một người rất ủy mị, con người anh ấy cũng rất yếu đuối, cứ gặp chuyện gì buồn là trở nên suy sụp, rất chán nản và không còn thiết hoạt động gì nữa, theo tôi nghĩ đó chính là điều đưa đến cái ᴄhếƭ của anh ấy!”.”
Nguồn: Nhạc vàng Bolero.
Sau dây là trích đoạn của nhà văn Kiều My, và chi tiết như sau:
Đỗ Lễ, người nhạc sĩ tài ba, đã kết liễu cuộc đời vì chữ “tình”! Người nhạc sĩ bạc mệnh này được giới yêu nhạc biết đến qua những bản tình sầu thảm như: Sang Ngang, Tình phụ, Chia Ly v.v…Những lời ca đau thương, ray rứt đã chiếm trọn trái tim của những ai từng trải qua đau khổ thất vọng trong tình yêu. Nhạc của Đỗ Lễ cưu mang một tình yêu tuyệt vọng, chứa đựng sự đau thương, âm thầm lặng lẽ… trong những tình khúc reo hờn từ trái tim rướm máu. Vì thất tình ca sĩ Lệ Thanh, ông quá đau khổ đã trải lòng mình qua ca khúc SANG NGANG:
“Thôi nín đi em lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi!
Em hỡi đôi mình, mộng nay đã tan, tình đã dở dang
Em khóc những chiều, anh xót xa nhiều, thương cho tình yêu…
Lời bài hát “Sang Ngang” mang nỗi niềm của tác giả quá nặng tình, lưu luyến, sắt son và thủy chung với mối tình tuyệt vọng. Ông đã say trong nỗi đau với men rượu và sáng tác ca khúc TÌNH PHỤ:
Chuyện tình mười mấy năm qua
Nay bỗng xót xa mỗi khi sầu dâng
Còn đâu ngày quen biết nhau
Đã yêu em rồi, yêu cả một đời…
Còn nỗi đau nào hơn trong cảnh “CHIA LY” với người mình yêu thương? Còn lời chua xót nào hơn bằng những giọt nước mắt chia xa?
Nói đi em câu chuyện buồn tình yêu
Nói đi em vì mình thương quá nhiều
Khóc làm chi cho hoen úa rèm mi…
Nhạc sĩ Đỗ Lễ đã từ giả cõi đời đầy đau khổ trong tình trường của ông. Nhờ thế, mà ông đã để lại cho đời “sự nghiệp âm nhạc Đỗ Lễ” bằng những tình khúc buồn…thật buồn!
oOo
Trong bài viết “Phận đời sầu thương của nhạc sĩ Đỗ Lễ” của tác giả Anh Nhi, chi tiết dược trích đoạn như sau:
“Nhạc sĩ Đỗ Lễ tên thật là Đỗ Hữu Lễ, ông sinh ngày 12/10/1941 tại Hà Nội. Từ nhỏ, ông đã là một người thông minh, có nhiều tài năng, được gia đình đầu tư cho học ở các ngôi trường nổi tiếng. Ông từng học tại Trường Hàng Vôi, sau đó là Trường Chu Văn An vào những năm trung học. Đến khi gia đình chuyển vào Sài Gòn (TP HCM) sinh sống, ông lại tiếp tục theo học những ngôi trường danh tiếng lúc bấy giờ là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (1953 – 1954), Đại học Khoa học Sài Gòn (1959), Đại học Luật Khoa Sài Gòn (1963).
Không những có nền tảng học vấn tốt, nhạc sĩ Đỗ Lễ còn có tài năng sáng tác âm nhạc từ bé. Từ năm 10 tuổi, ông đã tự học nhạc, đến năm 15 tuổi bắt đầu sáng tác những ca khúc đầu tiên. Tuy nhiên, trong giai đoạn thiếu thời, ông không gây được tiếng vang bằng tài năng âm nhạc của mình. Phải đến lúc ngoài hai mươi tuổi, trải qua mối tình day dứt với nữ ca sĩ Lệ Thanh, ông mới có những sáng tác để đời là chùm ba ca khúc “Sang ngang”, “Chia ly” và “Tình phụ”.
Câu chuyện tình của Đỗ Lễ với Lệ Thanh bắt đầu khoảng những năm 50 của thế kỷ trước. Lúc bấy giờ, Lệ Thanh đã là một ca sĩ có tiếng. Bà nổi bật nhờ vẻ đẹp nhẹ nhàng, trong trẻo, giọng ca dịu dàng, ấm áp. Các nhà văn thời đó ca tụng bà giống như một nữ sinh e ấp, ngọt ngào trong những bộ váy, áo dài màu thiên thanh, màu trắng, xám bạc,… khiến biết bao người đàn ông say mê trồng “cây si”. Nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng như vậy, ông yêu tha thiết nàng kiều nữ Sài Gòn.
Nữ danh ca Thanh Lan từng viết về nhạc sĩ Đỗ Lễ và ca khúc “Sang ngang” như sau: “Anh đến với khán thính giả yêu nhạc bằng đôi hia bảy dặm, chỉ cần đặt bút viết xuống đôi lời thủ thỉ “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi…”, anh đã trọn vẹn nắm được con tim của tất cả những ai đã từng nếm được hạnh phúc cũng như đau thương của tình yêu đích thực”…
Lâm Tường Dũ viết: “Khoảng cuối năm 1964, ở tại một phòng trà nhỏ nằm gần đường Đinh Tiên Hoàng, Dakao, Tân Định có cái tên rất là Nhựt Bổn Kontiki. Nhạc khúc “Sang ngang” được một ca sĩ hạng B tên Hoài Xuân trình bày. Cô ca sĩ khoảng 17, 18 tuổi rất xinh, rất đẹp có đôi mắt buồn não nuột. Nàng cất giọng ca thê lương băng giá cả màn đêm. Bản nhạc này được giới thưởng ngoạn buổi đó khen ngợi nhiệt tình…”.
Theo nhiều người kể lại, lần đầu chứng kiến ca sĩ Hoài Xuân hát ca khúc “Sang ngang”, Đỗ Lễ ngồi ở dưới không rời mắt khỏi vẻ đẹp u buồn, thoáng nét sầu mơ của cô. Từ đó về sau, dù cô đi diễn ở bất cứ phòng trà nào, ông cũng tham gia ngồi nghe. Đỗ Lễ ân cần đưa đón nữ ca sĩ trẻ về nhà, trở thành một điểm tựa cho cô. Tuy nhiên, một số người thân thiết với Đỗ Lễ cho rằng, ông tìm thấy những nét tương đồng của Hoài Xuân với Lệ Thanh khi cô trình diễn trong các phòng trà.
Vì vậy, cuộc hôn nhân của Đỗ Lễ và nữ ca sĩ Hoài Xuân diễn ra rất ngắn ngủi, hai người chóng vánh kết hôn, nhanh chóng ly hôn sau 6 năm chung sống. Cặp đôi có với nhau ba người con. Khi chia tay, đời tư của họ không còn được nhắc đến nhiều nữa. Thời gian đau khổ này ông sáng tác bài “Tình phụ”. Bài hát cũng đã được tuyển chọn vào vòng chung kết những nhạc phim hay tại Đại hội Điện ảnh Á châu tổ chức tại Tokyo vào đầu thập niên 1970 và cũng là bài hát trong phim “Sóng tình” với diễn viên chính là Thẩm Thúy Hằng.
Lời ca vận vào số phận
Đỗ Lễ được mệnh danh là “cha đẻ của những bản tình ca dang dở”, nhạc của ông mang cái lặng lẽ, âm thầm, sự đau thương trong tình khúc reo hờn trầm buồn đi thẳng vào cuộc đời. Từ muôn trùng, mỗi lần nghe tiếng nhạc trỗi vang là mỗi lần cảm thấy lòng bùi ngùi, se sắt lại, tình bâng khuâng với dòng nước, hồn lơ lửng theo mây gió. Trong những phút tuyệt vời ấy, người ta lại thầm nghĩ tới người nghệ sĩ đã soạn thành những tình khúc dang dở của tình yêu, hình dung đến cái đẹp hào hoa, tao nhã của con người nhiều lãng mạn và mộng mơ, để lòng thổn thức với thế nhân. Và có lẽ lời ca đã “tiên đoán” trước số phận buồn của Đỗ Lễ.
Chia Ly (Chuyện Buồn Tình Yêu)
(Tác giả: Đỗ Lễ).
Nói đi em câu chuyện buồn tình yêu
Nói đi em vì mình thương quá nhiều
Khóc làm chi cho hoen úa rèm mi
Cho héo úa xuân thì
Nhớ thương nhau rồi đi
Nói đi em khi chuyện mình dở dang
Nói đi em vì tình duyên lỡ làng
Khóc làm chi cho chua xót tình yêu
Cho cay đắng thêm nhiều
Yêu chẳng được bao nhiêu
Mai lên xe hoa em sầu trong áo cưới
Mai lên xe hoa còn thương nhớ một người
Ai gieo đau thương đếm từng đêm tiếc nuối
Em đã đi rồi, em đã quên người tình rồi
Nói đi em, cho vơi niềm thương đau
Nói đi em, để lòng nguôi nỗi sầu
Khóc làm chi, cho đau đớn người đi
Cho héo úa xuân thì, ta âm thầm chia ly”.
Về đường học vấn, ông học tiểu học ở trường Hàng Vôi, đến năm 11 tuổi được học trung học ở ngôi trường danh tiếng Chu Văn An (thường được gọi là trường Bưởi). Năm 1953, ông theo gia đình di cư vào Sài Gòn và từng theo học các trường Mỹ Thuật ở Sài Gòn và Gia Đình. Năm 1959, ông vào Đại học Khoa học Sài Gòn, sau đó học tiếp trường Đại học Luật khoa Sài Gòn vào năm 1963. Năm 1965, ông từng giành được huy chương vàng trong một cuộc thi Lực sĩ đẹp. Có thể nhận thấy nhạc sĩ Đỗ Lễ là một trí thức được đào tạo chính quy ở các trường học tiếng tăm nhất ở cả Hà Nội lần Sài Gòn. Ngoài ra, ông vốn có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ, từ năm 10 tuổi đã tự học nhạc, sau đó tập sáng tác năm 15 tuổi, với những bài hát đầu tay là Tình Mẹ Hiền, Tan Vỡ…, tuy nhiên phải đến năm 24 tuổi thì nhạc sĩ Đỗ Lễ mới được công chúng biết đến rộng rãi với ca khúc Sang Ngang, sáng tác cho mối tình đơn phương của tác giả với nữ danh ca Lệ Thanh.

“Sang ngang”
Thôi nín đi em!
Lệ đẫm vai rồi
Buồn thương nhớ ơi!
Anh hỡi đôi mình
Mộng nay đã tan
Tình đã dở dang
Em khóc những chiều
Anh xót xa nhiều
Thương cho tình yêu
Nỗi buồn chua cay
Khi lòng đổi thay
Thôi hết sum vầy
Điệp khúc:
Nếu biết răng…tình là giây oan
Nếu biết rằng… hợp rồi sẽ tan
Nếu biết răng.. yêu là đau khổ
Thà dương gian…đừng có chúng mình
Lau mắt đi em
Gần hết đêm rồi
Buồn thêm nữa sao
Mai bước sang ngang
Lòng thêm nát tan
Tình đã dở dang
Thôi khóc làm gì
Đã lỡ duyên thề
Thương nhau làm chi?
Nỗi buồn ai hay
Khi mình chia tay
Xa cách nhau rồi”
Đỗ Lễ cha đẻ của những bài ca dang dở…như: Ai từng yêu nhạc mà không âm thầm nghĩ đến Đỗ Lễ, cái lặng lẽ âm thầm ấy… là sự đau thương trong tình khúc reo hờn trầm buồn đi thẳng vào cuộc đời. Từ muôn trùng, mỗi lần nghe tiếng nhạc trỗi vang là mỗi lần cảm thấy lòng bùi ngùi se sắt lại, tình bâng khuâng với giòng nước, hồn lơ lửng theo mây gió. Trong những phút tuyệt vời ấy, người ta lại thầm nghĩ tới người nghệ sĩ đã soạn thành những tình khúc dang dở của tình yêu, hình dung đến cái đẹp hào hoa tao nhã của con người nhiều lãng mạn và mộng mơ, để lòng thổn thức với thế nhân.
Những hình ảnh đẹp rực rỡ huy hoàng của chàng nhạc sĩ Đỗ Lễ là người mang đầy những thơ mộng dày đặc những đau thương và sầu khổ đã phủ kín đời anh. Đỗ Lễ ra đời năm 1941 tại Hà nội, Trời đã phú cho Đỗ Lễ từ thuở nhỏ, năm 14 tuổi đã sáng tác, đến năm 18 tuổi nổi tiếng nhạc phẩm đầu tiên Tan Vỡ & Sang Ngang, tiếng nhạc trở nên réo rắt và tâm hồn trở nên tha thiết trong mối tình đầu dang dở ấy… Những tiếng nhạc buồn như mời mọc, van xin và sự sầu khổ man mác tạo thành những ca khúc tuyệt vời là tiếng lòng thổn thức của Đỗ Lễ. Tôi yêu nét nhạc đậm đà của Đỗ Lễ và Đỗ Lễ tiếp tục hát, nghe em!
Tan Vỡ (Tác giả : Đỗ Lễ).
“Bao nguồn vui đã mất, lòng chết theo ngàn tiếng ca
Nghe niềm đau day dứt hoa lá nức nở xót xa
Ôi làn da thơm hương trinh dâng lên tuyệt vời
Ôi bờ môi thắm thơ ngây in trong nụ cười
Khi tình yeu đã đến lòng đắm say ngàn ước mơ
Ôi mộng tình đôi lứa êm ái như ngàn ý thơ
Khi tình tan vỡ tan theo mơ uớc mot đời
Trong niềm băng giá con tim thổn thức không nguôi
Em ơi, nếu biet thế thà đừng quen nhau
Đừng mơ phút ban đầu cho tình ta thêm lâu
Em ơi, nếu biết thế thà dừng yêu nhau
Đừng yêu phút ban đầu cho tình ta thêm sầu
Phấn son chưa nhạt môi hồng
Xa xôi em còn nhớ không
Một chiều mưa bay giăng giăng
Anh gửi màu hoa tím
Như màu máu con tim đang tàn lửa hương duyên
Một mai mang xuống tuyền đài
Bóng hình em muôn kiếp không pha”
Ôn về tiểu sử…
Nhạc sĩ Đỗ Lễ tên thật là Đỗ Hữu Lễ, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1941 tại Hà Nội. Ông từng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (1953), Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định (1954), Đại học Khoa Học Sài Gòn (1959), Đại học Luật Khoa Sài Gòn (1963). Năm 1951, Đỗ Lễ tự học nhạc và bắt đầu sáng tác khi 15 tuổi. Bài Sang Ngang được ông viết trong tình cảnh tuyệt vọng khi người ông yêu (ca sĩ Lệ Thanh.) lên xe hoa. Sau đó ông kết hôn với nữ ca sĩ Hoài Xuân (người đầu tiên trình bày bài Sang Ngang), tuy nhiên cuộc tình này chỉ kéo dài 6 năm khi có với nhau 3 mặt con. Thời gian đau khổ này ông sáng tác bài Tình Phụ. Nhạc phẩm này cũng đã được tuyển chọn vào vòng chung kết những nhạc phim hay tại Đại hội Điện ảnh Á Châu tổ chức tại Tokyo vào đầu thập niên 70 và cũng là nhạc phẩm chính trong phim Sóng Tình với diễn viên chính là Thẩm Thúy Hằng. Nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng từng phụ trách một chương trình ca nhạc hàng tuần trên Đài Truyền hình Sài Gòn mang tên là Thời Trang Nhạc Tuyển. Chương trình này quy tụ các ca sĩ như Hoàng Oanh, Khánh Ly, Thanh Lan, Phương Hồng Hạnh, Ngọc Minh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan, Caroll Kim, Hoài Xuân, Xuân Đào, tam ca Sao Băng, 3 Con Mèo, 3 Trái Táo…
Sau năm 1975, nhạc sĩ Đỗ Lễ sinh sống bằng cách mở lớp dạy nhạc, đến năm 1994 thì được thân nhân bảo lãnh qua Mỹ định cư tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Tháng 10 năm 1996, ông trở về thăm quê hương và đến ngày 24 tháng 3 năm 1997 thì đột ngột kết liễu đời mình bằng một liều Quinine cực mạnh trong căn nhà đang thuê trên đường Trần Đình Xu, Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông để lại 2 lá thư tuyệt mệnh, một cho vợ và một cho một người bạn thân.
Theo bà Vương Thị Lam Phương thì Đỗ Lễ rất chán nản với cuộc sống tại Hoa Kỳ và ông “là một người rất ủy mị, con người anh ấy cũng rất yếu đuối, cứ gặp chuyện gì buồn là trở nên rất suy sụp, trở nên rất chán nản và không còn thiết hoạt động gì…theo tôi nghĩ đó chính là điều đưa đến cái chết của anh ấy…”
Về tác phẩm, ông sáng tác khoảng 700 bài.Điển hình như các bài ca sau:
Anh không muốn em buồn
Bốn mùa yêu nhau
Cay đắng
Chia ly
Khóc
Lệ sầu
Lụy tình
Ly tan
Niềm thương
Nỗi niềm
Nuối tiếc
Oan trái
Theo bài viết “Chuyện cuối đời về Nhạc Sĩ Đỗ Lễ” của tac giả Xuân Hòa xin trích doạn như sau:
“Có lần ngồi hàn thuyên tâm sự. Tôi có chút thắc mắc về ”Chuyện tình Sang Ngang” của Anh . Có một chút ngại ngần nào đó.
– Anh biết Xuân Hòa muốn hỏi gì rồi ! Đây không phải là chuyện tình “đơn phương” như người đời bạn bè đồn thổi đâu – Anh trả lời.
Thôi thì cứ tin như vậy để cuộc đời thêm vui Ca sĩ Lệ thanh cũng ” Yêu ” anh, nhưng vì Anh nghèo quá và Lệ Thanh gia đình danh giá, vì nghe lời gia đình nên phải bỏ anh để lấy chồng. Đó là lý luận của chàng Nhạc sĩ si tình. Với mối tình đớn đau này chàng nhạc sĩ họ Đổ đã biện minh cho mối tình đơn phương này nhạc phẩm Sang Ngang:
Thôi nín đi em! Lệ đẫm vai rồi Buồn thương nhớ ơi! Anh hỡi đôi mình Mộng nay đã tan Tình đã dở dang. Em khóc những chiều Anh xót xa nhiều Thương cho tình yêu Nỗi buồn chua cay Khi lòng đổi thay Thôi hết sum vầy.
Tôi và mấy cô em thỉnh thoảng vẫn đến để xem anh làm việc, Người Nhạc sỉ hiền lành đến tội nghiệp. Anh quên hết sự đời khi trên tay có cây đàn Guitar. Đây là niềm an ủi vô tận của nhạc sĩ Đổ Lễ. Và Cô ca sĩ hát bài hát Sang Ngang hay nhất ( theo nhận xét của tác giả ):Ca sĩ Hoài Xuân đã trở thành người vợ của chàng nhạc sĩ lãng đãng, đa tình .
Định mệnh một một lần nửa lại đùa cợt với chàng Nhạc Sĩ hiền lành đến ngơ ngác trong tình trường. Qua thời gian hạnh phúc với ba người con. Hoài Xuân cũng ôm cầm sang thuyền khác Và Người Nhạc Sĩ này lại một lần nửa chấp nhận với những đắng cay mà Định mệnh đã dành cho Anh. Không một lời oán trách Nhạc phẩm tình phụ đã xuất hiện trong thời điểm này không một lời trách móc oán hận:
Chuyện tình mười mấy năm qua nay bỗng xót xa những khi sầu dâng. Còn đâu ngày quen biết nhau đã yêu em rồi, yêu cả cuộc đời. Khi em đã phụ lòng anh, nỡ phụ lòng anh, đau thương để lại xót xa vô vàn. Chỉ là bội ước những lời hẹn thề mà lòng tái tê.
Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi. Thôi nhé em! người nào phụ tình! Lòng buồn một mình, ray rứt không thôi Khi phụ lòng, thì ngờ tình người Mang theo thương đau khi giã từ nhau! Chuyện mình tàn với năm qua mang thêm xót xa mỗi khi lệ rơi.
Sầu dâng ngày tháng đớn đau trách ai phụ mình, trách ai bạc tình. Cho em vẫn phụ lòng anh, vẫn phụ lòng anh Cho anh vạn sầu đắng cay tình đầu. Còn lại màu trắng xóa mờ cuộc tình đời còn dở dang. Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mà thôi. Thôi nhé em! người nào phụ tình! Lòng buồn một mình, ray rứt khi phụ lòng Thì ngờ tình người mang theo thương đau khi giã từ nhau!”
Tình Phụ
(Tác giả: Đỗ Lễ).
Chuyện tình mười mấy năm qua nay bỗng xót xa những khi sầu dâng.
Còn đâu ngày quen biết nhau đã yêu em rồi, yêu cả cuộc đời.
Khi em đã phụ lòng anh, nỡ phụ lòng anh,
đau thương để lại xót xa vô vàn.
Chỉ là bội ước những lời hẹn thề mà lòng tái tê.
Điệp khúc:
Thôi nhé em còn hận tình này,
Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi
Đem chôn vùi vào ngày thật buồn
cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi.
Thôi nhé em! người nào phụ tình!
Lòng buồn một mình, ray rứt không thôi
Khi phụ lòng, thì ngờ tình người
Mang theo thương đau khi giã từ nhau!
Chuyện mình tàn với năm qua mang thêm xót xa mỗi khi lệ rơi.
Sầu dâng ngày tháng đớn đau trách ai phụ mình, trách ai bạc tình.
Cho em vẫn phụ lòng anh, vẫn phụ lòng anh
Cho anh vạn sầu đắng cay tình đầu.
Còn lại màu trắng xóa mờ cuộc tình đời còn dở dang.
Thôi nhé em còn hận tình này,
Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi
Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mà thôi.
Thôi nhé em! người nào phụ tình!
Lòng buồn một mình, ray rứt khi phụ lòng
Thì ngờ tình người mang theo thương đau khi giã từ nhau!”.
***
Phần kết luận tôi xin đem thơ Nguyễn Bính, một nhà thơ lãng mạn trong thi ca, như trong âm nhạc có nhạc sĩ Đỗ Lễ vậy. Nguyễn Bính sáng tác thơ tương tu, thất tình trong bài “Vì em”, nhà thơ bảo rằng vì em mà ông làm thơ, để rồi nhớ mong, để rồi mơ được ôm em vào lòng, và để rồi hôn em bằng sự thơ ngây trong tâm hồn:
“Tôi xin ôm lấy vào lòng
Tôi xin giữ lấy trọn vòng thời gian
Tôi xin sung sướng vô vàn
Để ca ngợi, để mơ màng em luôn
Tôi xin dành một chiếc hôn
Đặt lên tất cả tâm hồn thơ ngây”
Cũng là “Vì Em” mà nhà thơ muốn kính cẩn “tôn thờ EM” sống mãi bên bờ sông yêu đương. Và bù lại chàng chỉ cần nàng ban cho nụ cười hay những lời ngọt ngào ái ân:
“Tôi xin kính cẩn vọng thờ
Thắp hương cầu nguyện bên bờ sông yêu
Nhưng đau lòng biết bao nhiêu !
Người tôi yêu chỉ biết yêu như người
Chỉ cho tôi những nụ cười
Chỉ cho được những lời ái ân…”

Xin cảm ơn tạp chí Văn Học Mới và nhà thơ Hà Nguyên Du khi cho tôi góp bài Tưởng Nhớ NS. Đỗ Lễ là đây. Hoàng Nam (VHLA)
Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My. (20/05/2024).
-
Những tác dụng bất ngờ của hạt hồ đào đối với sức khỏe

Hạt Hồ Đào (Pecan)

Hạt Óc Chó (Walnut)
Hạt hồ đào (pecan) thường bị nhầm lẫn với hạt óc chó (Walnut). Đây là loại quả hạch có nhiều công dụng đối với sức khỏe. Loại hạt được giáo sư đại học Mỹ ngợi khen vì tác dụng giảm mỡ máu tuyệt vời: Có…
1. Giá trị dinh dưỡng của hạt hồ đào
Hồ đào đặc biệt giàu các chất dinh dưỡng quan trọng, điển hình như chất xơ, thiamine và kẽm. Khoảng 28g hạt hồ đào có chứa: 196 calo, 2,5g chất đạm, 20,5g chất béo, 4g tinh bột, 2,7g chất xơ, 38% DV đồng, 16% DV thiamine (vitamin B1), – 12% DV kẽm, 8% DV Magie, 6% DV phốt pho, 4% DV sắt.
Đồng được biết đến là một khoáng chất quan trong có liên quan tới chức năng tế bào thần kinh, sức khỏe hệ miễn dịch và tăng sinh tế bào hồng cầu. Trong khi đó thiamine rất cần thiết trong quá trình chuyển hóa carbohydrate thành năng lượng cung cấp cho các hoạt động của cơ thể. Kẽm trong hạt hồ đào cần thiết cho chức năng miễn dịch, sự phát triển của tế bào, chức năng não và thúc đẩy quá trình chữa lành vết thương.
2. Những tác dụng của hạt hồ đào đối với sức khỏe
Dưới đây là một số tác dụng của hạt hồ đào đối với sức khỏe dựa trên các nghiên cứu khoa học được đăng tải trên NCBI:
2.1. Chống tăng cân quá mức: Theo Medical News Today, mới đây các nhà nghiên cứu tại NIH cho biết, những con chuột được ăn chế độ ăn nhiều chất béo bao gồm hạt hồ đào nguyên hạt hoặc chiết xuất polyphenol từ hồ đào có thể chống lại bệnh béo phì và gan nhiễm mỡ so với những con chuột có chế độ ăn nhiều chất béo nhưng không có hạt hồ đào hay chiết xuất hạt hồ đào.
Theo nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí Nutritions hồi tháng 5 năm 2023 này thì các lợi ích thu được khi thêm hạt hồ đào vào chế độ ăn của chuột cho thấy quá trình đốt cháy năng lượng của cơ thể được tăng cường, từ đó giúp kiểm soát cân nặng và sức khỏe tổng thể. Bên cạnh đó, các lợi ích bổ sung bao gồm giảm cholesterol, kháng insulin và giảm viêm.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng khi quan sát có sự giảm kích thước và hiện diện của các tế bào miễn dịch ở cả tế bào mỡ dưới da và nội tạng – thường được biết tới là nguyên nhân gây viêm nhiễm và các biến chứng có liên quan tới béo phì.
2.2. Đặc tính chống viêm mạnh mẽ: Theo WebMD, hạt hồ đào chứa chất béo omega-3 có thể giúp giảm viêm do viêm khớp. Khi kết hợp với magie, canxi, chất xơ, viamin E và kẽm cho thấy loại hạt này có đặc tính chống viêm mạnh mẽ.
Trong bảng xếp hạng hơn 100 loại thực phẩm theo mức độ chống oxy hóa của USDA thì hạt hồ đào nằm ở top 20. Cũng nhờ giàu chất chống oxy hóa và kháng viêm mà bổ sung hạt hồ đào vào chế độ ăn cũng giúp nâng cao hệ miễn dịch để chống lại nhiễm trùng và sửa chữa các tổn thương sẵn có. Folate trong hạt hồ đào cũng đang được xem xét với công dụng bảo vệ chống lại những thay đổi đối với DNA – nguy cơ dẫn tới ung thư.
2.3. Cải thiện sức khỏe tim mạch: Theo Healthline, hạt hồ đào là một nguồn axit béo không bão hòa đơn tuyệt vời có lợi cho sức khỏe tim mạch. Theo đó, ăn 30g hạt hồ đào mỗi ngày trong 12 tuần giúp cải thiện tỷ lệ cholesterol có lợi so với cholesterol xấu ở những người mắc bệnh động mạch vành.
Một nghiên cứu khác ở những người có lượng cholesterol bình thường bổ sung 68g hạt hồ đào mỗi ngày cũng cho thấy lượng cholesterol có hại giảm đáng kể sau 8 tuần so với nhóm không thêm bất kì loại hạt nào vào chế độ ăn.
Bên cạnh đó, hạt hồ đào cũng giàu magie, canxi và kali tốt giúp giảm huyết áp hiệu quả. Hơn nữa việc giảm lượng cholesterol có hại sẽ giảm nguy cơ đột quỵ hoặc đau tim.
2.4. Ổn định đường huyết: Theo Healthline, hạt hồ đào có thể thúc đẩy việc kiểm soát lượng đường trong máu tốt hơn nhờ hàm lượng chất xơ dồi dào – giúp làm chậm quá trình hấp thụ đường vào máu. Tác dụng này đặc biệt có lợi đối với những người bị tiểu đường, nhóm bị thừa cân hoặc béo phì để cải thiện khả năng sử dụng insulin hiệu quả của cơ thể.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các loại hạt có thể giúp ngăn ngừa bệnh tim ở những người mắc bệnh tiểu đường. Ăn nhẹ các loại hạt khi đói sẽ giúp bạn cảm thấy no, giúp bạn dễ dàng tránh các thực phẩm giàu carb và kiểm soát lượng đường trong máu.
Hơn nữa chế độ ăn này cũng giúp cải thiện chức năng của các tế bào beta trong tuyến tụy, chịu trách nhiệm với việc sản xuất insulin.
Ngoài ra, hạt hồ đào có chỉ số đường huyết rất thấp, có nghĩa là ăn chúng không làm tăng lượng đường trong máu, ngay cả ở những người mắc bệnh tiểu đường. Ăn quả hồ đào thậm chí có thể bù đắp tác động của thực phẩm có chỉ số đường huyết cao hơn khi ăn như một phần của cùng một bữa ăn.
2.5. Thúc đẩy chức năng não bộ: Hạt hồ đào chứa nhiều chất dinh dưỡng đem lại những tác dụng liên quan tới việc cải thiện chức năng não bộ bao gồm cả người lớn tuổi bị suy giảm nhận thức chẳng hạn như axit béo không bão hòa đơn và đa.
Đặc biệt, axit béo không bão hòa đơn có liên quan tới việc giảm tỷ lệ suy giảm tinh thần và giảm viêm cho cơ thể. Tuy vậy những nghiên cứu về chức năng này vẫn đang hạn chế về các số liệu liên quan tới mức độ ảnh hưởng trực tiếp của hạt hồ đào tới chức năng não bộ như thế nào.
3. Nhược điểm tiềm ẩn:
Mặc dù hạt hồ đào có liên quan tới một số lợi ích sức khỏe tiềm năng nhưng có một số vấn đề cần lưu ý:
– Không nên ăn hạt hồ đào nếu bạn có tiền sử dị ứng với các hạt, quả hạch trước đó như hạnh nhân, hạt điều, hạt dẻ và quả óc chó
– Hàm lượng calo của 28g hạt hồ đào tương đương gần 200calo – tương đối cao nên việc ăn nhiều khẩu phần có thể làm tăng lượng calo tiêu thụ hàng ngày của bạn. Bạn cần cố gắng kiểm soát lượng calo bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống hoặc tăng mức độ hoạt động thể chất khi thêm hạt hồ đào vào chế độ ăn hàng ngay.
4. Phân biệt quả óc chó và hạt hồ đào
Hồ đào và óc chó đều thuộc nhóm quả hạch nhưng là hai loại khác nhau. Bạn có thể phân biệt dựa trên hình dáng và mùi vị, cụ thể:
– Hình dáng của hai loại hạt tương đối giống nhau đều có các rãnh nhăn nhưng khác nhau về màu sắc:
+ Hạt óc chó có màu vàng sáng (vàng sữa)
+ Hạt hồ đào có màu vàng hoặc nâu sẫm
– Mùi vị:
+ Hạt óc chó khi ăn có vị chát ở đầu lưỡi
+ Hạt hồ đào có vị ngọt hơn.
Nhìn chung, hồ đào là một loại hạt tốt cho sức khỏe nhưng bạn chỉ nên ăn tối đa mỗi ngày một khẩu phần khoảng 28g để tránh tiêu thụ quá nhiều chất xơ gây khó chịu cho hệ tiêu hóa. Nếu băn khoăn về dị ứng hay tình trạng sức khỏe, bạn nên liên hệ với bác sĩ để nhận được lời khuyên phù hợp.
——————————————————————
Pecan, hạt hồ đào giàu dinh dưỡng cho sức khỏe
May 9, 2024: SAN DIEGO, California (NV) – Nói đến “superfood” người ta thường nghĩ ngay đến pecan, hay còn biết đến với cái tên là hạt hồ đào với vị thơm bùi đặc trưng. Đây là một trong những thực phẩm rất phổ biến mà bạn có thể chế biến nhiều cách khác nhau, không chỉ dùng trong bánh nướng, các món ăn mặn mà còn có thể dùng như một ăn vặt, đem lại năng lượng cho cơ thể, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, theo trang mạng mindbodygreen hôm 14 Tháng Ba. Hạt pecan có chất xơ, thiamine, zinc và manganium, là các khoáng chất cần thiết cho quá trình trao đổi chất và sức khỏe của xương. (Hình minh họa: Antoni Shkraba/Pexels)
Thành phần dinh dưỡng của pecan
Mỗi 1 oz pecan có đến 3 gram protein, 4 gram carbohydrate và 18 gram chất béo không bão hòa đơn, bao gồm cả oleic acid và chỉ có 2 gram chất béo bão hòa. Ngoài ra, trong hồ đào còn có chất xơ, thiamine, zinc và manganium, là các khoáng chất cần thiết cho quá trình trao đổi chất và sức khỏe của xương.
Món ăn vặt lành mạnh không thể chê
Ngành công nghiệp thực phẩm luôn thay đổi không ngừng và họ luôn tìm ra những công nghệ và thực phẩm mới để làm sao vừa có thể tiện lợi cho người dùng nhưng cũng vừa bảo đảm lành mạnh cho cơ thể. Trong đó, pecan là loại hạt được để ý hơn cả vì nó có thể thay thế các món ăn vặt khác mà vẫn tạo cảm giác ngon miệng, thơm ngon mà vẫn đầy đủ dưỡng chất.
Ngoài ra, hạt pecan có chứa đến 3 gram protein, nhưng không có gì là ngạc nhiên khi nó trở thành nguồn thực phẩm cung cấp năng lượng cho các vận động viên mỗi khi tập luyện hay cần phải hồi phục lại sức lực để duy trì sự bền bỉ.
Bánh pie hồ đào rất phổ biến ở Mỹ.
Bạn có thể dùng hồ đào như một topping cho nhiều món ăn, từ món yến mạch điểm tâm, bánh pudding hay thậm chí là cả sữa chua. Thay vì uống các loại sữa hạt như sữa hạnh nhân, sữa đậu nành thì bạn có thể tìm kiếm sữa hồ đào để uống, đem lại hương vị béo béo, bùi bùi. Ngoài ra bạn còn có thể dùng sữa hồ đào để pha cà phê sữa hoặc làm sinh tố, đem lại một thức uống bổ dưỡng mà không có quá nhiều calories.
Thêm một bí quyết nữa là hạt pecan được dùng rất nhiều trong các món bánh tráng miệng, đặc biệt là dùng để làm bánh quy, bánh quế và các vỏ bánh pie đặc sắc của người Mỹ. Không chỉ vậy, hạt hồ đào hiện nay còn được dùng trong rất nhiều món ăn chay, là nguồn nguyên liệu lý tưởng để ăn kèm với bánh mì và các loại salad khác.
Việt Hải sưu tầm
-
Auld Lang Syne & Nhạc Chế

Nói về nhạc chế với tuổi trẻ thời đi học vào thập niên 1950’ ở miền Nam VN, thịnh hành nhất với bài ca dân ca với giai điệu đơn giản được nhà soạn nhạc Herbert Stothart đưa ca khúc Auld Lang Syne vào phim Waterloo Bridge (La Valse dans l’ombre) từ thập niên 1940’. Ca khúc nầy với nhiều lời nhạc chế, trong đó phổ biến nhất với “Tò te, ma le đánh đu, Tarzan nhảy dù, cao bồi bắn súng. Chết cha con ma nào đây, làm tao hết hồn, thằn lằn cụp đuôi…”.
Phim Waterloo Bridge (trắng đen) ra đời vào thập niên 1940’ (thế kỷ XX) ở Hollywood với hai diễn viên chính là Vivien Leigh và Robert Taylor. Phim được đạo diễn Mervyn LeRoy được chuyển thể từ một vở nhạc kịch trên sân khấu Broadway,
Vivien Leigh (Vivian Mary Hartley) sinh ra Tây Bengal, Ấn Độ (1913-1967), minh tinh điện ảnh nổi tiếng người Anh. Bà đã giành được 2 giải Oscar trong vai Scarlett O’Hara trong phim Gone with the Wind (Cuốn Theo Chiều Gió năm 1939).
Robert Taylor (1911-1969) là một trong những tài tử gạo cội của điện ảnh Mỹ. Ông được gọi ví von là Robert Tay Bưng… cho các anh bồi nhà hàng của Pháp ở Việt Nam.
Từ ngày người Pháp đem phim vào chiếu ở Việt Nam (những năm đầu là phim câm). Lúc đó Pháp nhập phim Mỹ vào Pháp, trong hợp đồng khai thác có thêm khoản sẽ đem những phim Mỹ ấy sang chiếu các nước khác, phim Mỹ vào Pháp được người Pháp chuyển âm sang nói tiếng Pháp hay phụ đề chữ Pháp… Vì vậy phim Waterloo Bridge qua tựa đề La Valse dans l’ombre (Điệu Vũ Trong Bóng Mờ) tiếng Pháp, phụ đề Việt ngữ, quen thuộc với khán giả trong nước.
Cốt truyện xảy ra trong hoàn cảnh chiến tranh Đệ Nhất Thế Chiến. Roy (chú của Roy là một công tước nước Anh) và Myra tình cờ gặp nhau trên cầu Waterloo (London) khi có còi báo động chiến tranh. Họ cùng nhau trú trong ga tàu điện ngầm, tại đây Myra (Vivien Leigh) mời Roy (Robert Taylor) đến xem vở balette Hồ Thiên Nga, cô tham gia diễn xuất tuy nhiên Roy đã rất tiếc không đến được vì có việc riêng. Nhưng Myra đã bất ngờ khi nhìn thấy Roy đến trong buổi trình chiếu. Tình yêu của họ nhanh chóng nảy nở sau buổi tối lãng mạn tại câu lạc bộ Candlelight. Ngày hôm sau, Roy và Myra quyết định làm đám cưới trước ngày anh lên đường ra chiến trận.
Vì không tham gia vào một buổi diễn, Myra bị đuổi khỏi đoàn, cô bạn Kitty bất bình cho Myra và quyết định ra đi cùng cô. Mẹ của Roy hẹn gặp Myra nhưng trong lúc chờ đợi mẹ anh đến, Myra bất ngờ đọc trên báo tin Roy đã hy sinh trên mặt trận, đầu óc cô choáng váng. Do quá đau khổ Myra đã có thái độ khiếm nhã với mẹ của Roy.
Đau khổ và thất nghiệp, Myra lao vào cuộc đời vũ nữ. Trong lúc chờ khách tại sân ga, cô lặng người khi nhìn thấy Roy trở về. Roy hân hoan khi gặp người yêu cũ còn Myra cảm thấy choáng váng và tủi thân nhưng cô vẫn quyết định vẫn tiếp tục tình yêu với Roy. Trở về lâu đài của Roy ở Scotland, Myra đã không hoà nhập vào cuộc sống ở đây vì mặc cảm không còn xứng đáng với người yêu, cô bỏ đi. Roy và cô bạn Kitty tìm Myra khắp các quán bar nhưng không thấy, Myra đã lao vào các đoàn xe đi ngược chiều để tự vẫn trên cây cầu Waterloo.
Cuộc tình quá bi thảm trong hoàn cảnh trớ trêu trong ca khúc tiếng Pháp là Ce n’est qu’un au Revoir (Chant des Adieux), thi hào Scotland, Robert Burns, viết vào năm 1788. Ca khúc vang vọng trong các lần chia tay và lần vĩnh biệt khi Roy đứng trên cây cầu Waterloo (nơi lần đầu tiên họ gặp nhau) tưởng nhớ hình ảnh người tình nơi lần đầu tiên họ gặp nhau. Cuốn phim nầy ban đầu không cho chiếu ở Anh vì Roy là sĩ quan và cháu của công tước lại say mê “gái làng chơi”!
Bài hát nầy rất thông dụng, được phổ biến hầu như khắp hoàn cầu nhưng lại được hát vào những dịp khác nhau. Nguyên thủy của bài hát là dùng để “mừng đón” niềm vui mới đến (Quảng Trường Time Square ở New York, khi quả cầu tụt xuống theo 12 tiếng chuông đồng hồ để rồi ngân vang ca khúc nầy), nhưng về sau nó lại được sử dụng để ngậm ngùi “tiễn đưa” trong luyến tiếc trong những cuộc chia tay.
Ca khúc nầy nguyên thủy theo ca dao của xứ Scotland (Tô Cách Lan), hai người bạn thân rất lâu không gặp nhau rồi rủ nhau nhậu bia, nhậu rượu, nhưng với điều kiện tiền ai nấy trả. Hai ông cùng lè nhè nhắc lại bao nhiêu chuyện cũ thuở năm xưa năm xửa như: Nào là cùng nhau leo đồi, nào là cùng nhau lội suối… Cứ nhắc xong một kỷ niệm thì họ lại cùng nâng ly nốc cạn. Uống cho đến say thì thôi. Trong cuộc đời lính tráng thuở trước, gặp nhau nhậu nhẹt “ Tò te, ta nâng cốc lên, nhậu cho đã đời, rồi mai xa cách. Uống đi, ai say thì say, rồi ra chiến trường, người còn người không!”…
Lời ca khúc Auld Lang Syne (Rod Stewart) tiếng Anh: In the Days gone by
“Should auld acquaintance be forgot and never brought to mind?
Should auld acquaintance be forgot and the days of auld lang syne?
For auld lang syne, my dear, fFor auld lang syne
We’ll drink a cup of kindness yet, for the sake of auld lang syne…”
Lời tiếng Pháp (Jacques Sevin): Joyeux Au Revoir
“Faut-il nous quitter sans espoir sans espoir de retour?
Faut-il nous quitter sans espoir de nous revoir un jour?
Ce n’est qu’un au revoir, mes frères, ce n’est qu’un au revoir.
Oui, nous nous reverrons, mes frềres, ce n’est qu’un au revoir!…”.
Năm 1940, nhà thơ Thế Lễ lần đầu tiên đã dịch sang tiếng Việt: Bài Ca Tạm Biệt
“Ngày nay sắp cùng bùi ngùi xa cách
Cớ sao ta không còn trông
Rồi đây có ngày mình còn gặp nhau
Cách nhau nhưng ta hằng vui
Vì nay biết sau còn ngày sung sướng
Cách xa nhưng ta hằng mong
Rồi đây có ngày lại còn gặp nhau…”
Phim tình cảm trong chiến tranh như tựa đề tiếng Anh Waterloo Bridge tưởng như phim thời sự, tựa đề tiếng Pháp La Valse dans l’ombre có vẻ lãng mạn và hấp dẫn hơn. Chẳng hạn phim Cầu Sông Kwai (tiếng Anh: The Bridge on the River Kwai, (tiếng Pháp: Le Pont de la Rivière Kwai) về đề tài chiến tranh vào Đệ Nhị Thế Chiến, quay ở Thái Lan. Nhạc phẩm nầy không có nhạc chế, đặc biệt huýt gió rất hay.
Thuở đó cụ bà Vivien Leigh được mệnh danh là người đẹp của thế kỷ, sáng chói danh vọng, thần tượng của nữ giới nhưng “hồng nhan đa truân” không những về bệnh tình mà những bi kịch trong cuộc đời tình yêu và hôn nhân. Ngoài những người đàn ông qua đời cụ, 3 mối tình từ lúc 19 tuổi với người chồng lớn hơn 13 tuổi cho đến khi 47 tuổi lấy người chồng kém hơn 4 tuổi… Vì nhan sắc và tài hoa trên nghệ thuật thứ bảy, ông chồng nào cũng ghen nên cuộc sống không được thoải mái… Cây càng cao thì hưng chịu nhiều gió. Cuộc đời là vậy.
Tình cờ được tin người bạn từ thuở xa xưa nơi cố hương vừa qua đời. Hồi đó tôi cũng sở trường với nhạc chế nhưng người bạn nầy được tôn làm “sư phụ” vì dám xâm mình nhạc chế bài “suy tôn” của nhạc sĩ Ngọc Bích, dễ bị tù như chơi! Ca khúc Auld Lang Syne qua nhạc chế của bạn tùy hứng theo đối tượng (cả thầy, cô) chọc cười trong lớp.
Bạn cũ ra đi, không biết nói gì, gởi bạn lời vĩnh biệt!
Nghe ca khúc ca khúc Auld Lang Syne, nhớ lời nhạc chế thuở nào với bạn cố hương.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, April 2024
-
Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa & Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds)


Tên tuổi Lê Văn Khoa, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, nhiếp ảnh gia, giáo sư… đã được đề cập rất nhiều trước năm 1975 ở trong nước và những thập niên ở hải ngoại.
Chiều Thứ Bảy 13/11/2013, Hội Hiếu Nhạc và Tổng Hội Sinh Việt Nam đứng ra tổ chức “Lê Văn Khoa – Một Đời Âm Nhạc (A Lifetime of Music)” tại hí viện La Mirada Theatre mừng sinh nhật ông ở tuổi tám mươi và tri ân nguời nhạc sĩ đã dành cả đời hơn nửa thế kỷ phục vụ cho nghệ thuật, cho âm nhạc.
Trước và sau đó đã có những buổi vinh danh và trình diễn những tác phẩm âm nhạc của ông từ tân nhạc, cổ nhạc đến nhạc cổ điển Tây phương.
Người con sinh ra trên mảnh đất Tây Đô, Cần Thơ bước vào tuổi chín mươi mốt, tuy sức khỏe yếu nhưng với âm nhạc như “liều thuốc bổ” nên từ Orange County bay sang thành phố Allen, tiểu bang Texas để tham dự buổi trình diễn Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds) với dàn đại hoà tấu Allen Philharmonic và ban hợp xướng Allen Symphony Chorus, vào tối ngày 6 tháng Tư 2024 tại khán thính đường của Allen High School Performing Art Center. Chương trình được chuẩn bị từ tháng Hai năm nay, có sự chấp thuận và ủng hộ của Chủ Tịch Kathy Litinas cùng ban quản trị The Allen Philharmonic tại thành phố Allen cùng các nhạc trưởng, giám đốc âm nhạc như Ryan Ross, Rusty King…. Giám đốc điều hành chương trình, Ian Bùi, Diễm Tú, nghệ sĩ Hải Yến và Chủ Tịch The Allen Philharmonic Kathy Litinas. Cô Diễm Tú viết và đọc các mẩu giới thiệu Anh-Việt cho từng bản nhạc.
Theo các bản tin, bài viết ghi nhận được, tổng hợp chương trình nhạc giao hưởng với các ca nhạc sĩ Việt Nam và Mỹ. Theo nhà thơ Đinh Yên Thảo:
Theo lời Ban Tổ Chức, “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là sự kết hợp Đông-Tây độc đáo, mang những thang âm mới mẻ, chưa từng được công diễn bất cứ nơi nào qua những tiếng đàn bầu, đàn kìm, đàn tranh, đàn T’rưng hoà quyện cùng dàn nhạc giao hưởng và ban hợp xướng Tây phương. Từ vọng cổ Cao Văn Lầu cho đến opera, từ nhạc sĩ Lê Văn Khoa cùng các nhạc sĩ qua nhiều thế hệ… Từ những tài danh Việt-Mỹ từng đoạt giải thưởng âm nhạc Grammy danh giá cho đến các nhà soạn nhạc trẻ tài năng gốc Việt đang tạo tiếng vang tại hải ngoại, chương trình là câu chuyện kể về chiến tranh và ước vọng hoà bình, về những mất mát trong hành trình tìm tự do.
“Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là cuộc hội ngộ văn hóa hiếm hoi tại Mỹ, không chỉ giới thiệu nhạc Việt và những tài năng trình diễn và sáng tác nhạc cổ điển gốc Việt đến các khán giả Mỹ mà còn mang đến cho khán giả Việt một hành trình âm nhạc Việt Nam, những hoài niệm về lễ hội trăng rằm, những ngày quê hương thanh bình ngày xưa, cùng niềm tự hào và hy vọng về một thế hệ trẻ gốc Việt đang bước vào lãnh vực nghệ thuật chưa mấy được phổ biến trong cộng đồng…
Với gần 20 tiết mục, mỗi tiết mục đều mang một sắc thái và phong cách riêng biệt, đã mang lại sự bất ngờ, thú vị lẫn cảm kích cho khán giả hiện diện, trong đó có không ít khán giả đến từ các thành phố trong và ngoài Texas.
Ca sĩ Teresa Mai, nghệ danh Sangeeta Kaur, người Mỹ gốc Việt “Nàng công chúa âm nhạc và khúc thanh âm” đầu tiên đoạt giải Grammy vào năm 2022 với dĩa ‘Mythologies’, hạng mục Best Classical Vocal Album. Teresa có bằng Cử Nhân môn Opera Performance từ California State University và bằng Cao Học (MS) môn Vocal Performance từ Nhạc Viện Berklee danh tiếng ở Boston. và ca sĩ Hila Plitmann gốc Do Thái đã hai lần được trao giải Grammy.
Ba ca khúc trong trường ca Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương được ban hợp xướng Allen trình bày dưới sự phụ họa các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam là một tiết mục thật xuất sắc.
Nhạc trưởng Jon Lê Culpepper cho biết, anh lớn lên và theo đuổi đam mê trong môi trường không có nhiều nhạc sĩ cổ điển người Việt thì chương trình “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” có lẽ đã mang lại cho anh và khán giả người Việt một cơ hội được gặp gỡ không chỉ nhạc sĩ Lê Văn Khoa mà cả những tài năng gốc Việt còn rất trẻ trong lãnh vực âm nhạc cổ điển này.
Nhạc sĩ Patrick Vũ, đang theo học cao học âm nhạc nhưng tác phẩm của anh đã được các dàn hợp xướng Mỹ trình diễn nhiều nơi và đã được National Concerts mời sáng tác một bản hợp xướng sẽ được trình diễn tại Carnegie Hall tại New York, là một trong những trung tâm trình diễn âm nhạc cổ điển uy tín và danh giá nhất thế giới.
Dylan Trần từ Lousiana, nhà soạn nhạc và từng được nhiều giải thưởng sáng tác và có tác phẩm được trình diễn ra ngoài nước Mỹ, như tại Úc, Anh, Pháp, Áo, Phần Lan… cựu sinh viên cao học về nhạc phim tại USC và là nhà soạn nhạc có những khách hàng như Sony, Samsung…, các tác phẩm của anh từng xuất hiện trong các liên hoan phim như Sundance, Hollyshorts… Nhạc sĩ Duy Trần cũng là nhà sản xuất chương trình “Dòng Chuyển Của Âm Thanh”, người đã bỏ rất nhiều công sức để phân lại các tác phẩm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa cho từng nhạc cụ trong dàn giao hưởng, phối hợp cùng nhóm kỹ sư âm thanh và cùng với cô Diễm Tú làm MC với khán giả Việt-Mỹ.
Jon Lê Culpepper là người sáng lập ca đoàn Dallas Chamber Choir và hiện là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị. Dưới sự điều khiển của Jon, DCC đã đoạt giải American Prize in Choral Performance – Professional Division năm 2019-2020. DCC từng trình diễn với Fort Worth Symphony, nhạc sĩ Hans Zimmer (2 Oscars, 4 Grammys) và Ramin Djawadi (“Game of Thrones”). Năm 2021 Jon được tặng American Prize của giải Dale Warland Award cho bộ môn Choral Conducting, hạng mục Professional Division. Jon sẽ điều khiển một ban hợp xướng học sinh chọn lọc từ ca đoàn của Allen High School.
Chương trình kết thúc với nhạc phẩm “Việt Nam, Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Duy do nhạc sĩ Lê Văn Khoa hòa âm. Dàn hợp xướng Allen Symphony Chorus của Dallas, Texas đã kỳ công quyết định hát Việt Nam, Việt Nam bằng tiếng Việt cho bằng được, cho dù đã có lời đề nghị giảm khó khăn, chỉ hát với bản Anh ngữ của dịch giả Ian Bùi. Thời gian luyện tập phát âm, đã buộc các thành viên dàn hợp xướng làm việc gấp ba để có thể trọn vẹn trình diễn, và tạo những tràng pháo tay, và cả những giọt nước mắt của các khán giả Việt.
Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã chia sẻ, điều ông vui nhất là chúng ta đã đưa nhạc Việt âm vang, hoà vào với nhạc giao hưởng Tây Phương và khán giả Việt lần đầu được nghe ban hợp ca Mỹ trình bày một số ca khúc Việt quen thuộc. Ông cũng nói thêm rằng, các nhạc sĩ Mỹ trong chương trình đều bày tỏ sự thích thú và cảm ơn ông đã biên soạn những tấu khúc Việt Nam mà lần đầu tiên họ trình diễn.
Nghệ sĩ Hải Yến, người trình diễn nhiều tiết mục nhạc cụ dân tộc phối hợp với dàn nhạc giao hưởng, các thành viên ca đoàn ở Dallas nói “Tự nhiên chúng tôi có cảm giác rất thân thuộc với người Việt Nam, với văn hóa Việt Nam”.
Ca sĩ Phạm Hà (họ Nguyễn) là một giọng ca Baritone khá quen thuộc trong những chương trình nhạc thính phòng tại Nam Cali từ năm 1999 đến nay. Anh thường xuyên xuất hiện cùng ban hợp xướng Ngàn Khơi hoặc trình diễn solo những ca khúc operatic cổ điển bằng tiếng Anh, Pháp, Ý… Khi hay tin có “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” anh tình nguyện tham gia, ví von với điều kiện “Chỉ cần bù cho mình tiền lương 3 ngày nghỉ việc!”.
Đặc biệt Nguyễn Đức Đạt, khiếm thị từ nhỏ, sang Mỹ năm 1991 và được học bổng Âm Nhạc tại đại học Cal State Fullerton. Nguyễn Đức Đạt từng thắng nhiều giải Guitar như Disney Creative Challenge Award, National Panasonic Young Solo Artist Competition.
Với nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa, không thể nào quên Symphony 1975 và ngôn ngữ âm nhạc phi biên giới của nó vang vọng ở mọi nơi và được cảm thấu về nỗi đau của một quốc gia đã bị bôi xóa. Năm 2005, khi biểu diễn tại Úc với ban đại hòa tấu và hợp xướng Royal Melbourne Philharmonic, khán phòng phải chứa đến 2,000 khách. Khi chấm dứt Symphony 1975, khán giả đứng lên vỗ tay không ngớt trong gần năm phút, khiến nhạc trưởng Andrew Wailes phải ra hiệu cho dàn nhạc chơi lại phần chót Ca Ngợi Tự Do để đáp ứng thịnh tình khán giả.
Nhạc sĩ Lê Văn Khoa trong những thập niên qua, ngoài đất nước nầy, đã từng “đem chuông đi dấm xứ người” với nhiều quốc gia trên thé giới, đặc biệt với Ukraine, đã mang lại tiếng vang, đem lại niềm hãnh diện tài hoa nhạc sĩ Việt Nam lưu vong.
Hy vọng, tuy tuổi hạc đã cao nhưng với tấm lòng nhiệt huyết và uy tín, hy vọng sẽ có những buổi Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds) được quy tụ ca nhạc sĩ Việt-Mỹ trong nay mai để được thưởng thức.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, April 12, 2024
-
Những Huyền Thoại và Ý Nghĩa của Tuổi Thìn trong Năm Giáp Thìn

Rồng đã tồn tại từ thời xa xưa với những câu chuyện kỳ bí và những truyền thuyết đầy màu sắc. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực và sự thịnh vượng. Trong những nền văn minh khác nhau trên thế giới, rồng được tưởng tượng với những khả năng phi thường như biết bay, khạc ra lửa và hô mưa gọi gió…
Rồng phương Đông được tôn sùng và thờ cúng trong các quốc gia châu Á, nhưng hình ảnh của chúng thay đổi tùy theo địa lý và thời đại. Ở Việt Nam, rồng được mô tả với hình ảnh mềm mại, hiền hòa, thường xuất hiện trong kiến trúc và nghệ thuật dân gian. Trong khi đó, rồng phương Tây thường được xem là biểu tượng của sự độc ác và hủy diệt, được tưởng tượng với khả năng khắc ra lửa và gây ra tai họa.
Cũng theo truyền thuyết, rồng được chia thành bốn loại tượng trưng cho bốn yếu tố của thiên nhiên: lửa, nước, đất và gió. Bên cạnh đó, rồng còn có chín đứa con, mỗi đứa con mang một ý nghĩa riêng biệt và được tôn vinh theo cách khác nhau.
Trong hệ thống 12 con giáp, con Rồng đứng ở vị trí thứ năm và là linh vật duy nhất trong bộ tứ linh được tôn sùng.
Năm Giáp Thìn (1904, 1964, 2024) là năm con Rồng theo Âm lịch. Những người sinh năm này thường được coi là mạnh mẽ, sáng tạo và giàu trí tưởng tượng. Đối với những người sinh vào năm Giáp Thìn và các năm kết hợp như Bính Thìn, Mậu Thìn, Canh Thìn và Nhâm Thìn, con Rồng mang lại sức mạnh, quyền lực và may mắn trong cuộc sống.
Ngoài ra, tuổi Thìn cũng có những kết hợp tốt và xấu với các tuổi khác. Những người tuổi Thìn thường hợp với tuổi Dậu, Tý và Thân, trong khi kỵ những người tuổi Tuất, Sửu và Mùi.
Màu sắc
Về màu sắc, người tuổi Thìn thường hợp với màu xanh lá cây, đỏ, hồng và tím, tạo nên một sức hút đặc biệt và tạo nên may mắn cho cuộc sống.
Tính cách
Những người sinh năm Giáp Thìn thường có tính cách mạnh mẽ, quyết đoán và tự tin. Họ là những người có tham vọng lớn và luôn nỗ lực để đạt được mục tiêu của mình. Họ cũng rất sáng tạo và giàu trí tưởng tượng, luôn có nhiều ý tưởng mới mẻ và độc đáo.
Sự nghiệpNhững người sinh năm Giáp Thìn thường rất thành công trong sự nghiệp. Họ là những người thông minh, nhanh trí và có khả năng giải quyết vấn đề tốt. Họ cũng rất chăm chỉ và luôn nỗ lực hết mình để đạt được mục tiêu của mình. Những người này thường phù hợp với các công việc đòi hỏi sự sáng tạo, độc lập và khả năng lãnh đạo.
Tình yêu và gia đìnhNhững người sinh năm Giáp Thìn thường rất chung thủy và tận tụy trong tình yêu. Họ luôn hết lòng vì người mình yêu và luôn cố gắng vun vén cho gia đình. Họ cũng rất yêu thương con cái và luôn cố gắng dành thời gian cho gia đình.
Sức khỏeNhững người sinh năm Giáp Thìn thường có sức khỏe tốt. Họ là những người năng động và luôn cố gắng giữ gìn sức khỏe của mình. Tuy nhiên, họ cũng nên chú ý đến chế độ ăn uống và luyện tập thể dục để duy trì sức khỏe tốt.
Những người nổi tiếng sinh năm Giáp Thìn:
– Albert Einstein
– Sigmund Freud
– Adolf Hitler
– Martin Luther King Jr.
– Nelson Mandela
– Bill Gates
– Warren Buffett
– Oprah Winfrey
– Michael Jordan
– PeleTóm lại, tuổi Thìn không chỉ là một con giáp trong hệ thống 12 con giáp mà còn là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực và may mắn trong đời sống con người. Hình ảnh của con Rồng và những truyền thuyết xoay quanh nó đã và đang làm cho tuổi Thìn trở nên đặc biệt và có ý nghĩa sâu sắc trong lòng mỗi người.
Thái Phạm
-
HÁT QUAN HỌ BẮC NINH-ÂM NHẠC DÂN GIAN-CA TRÙ BẮC PHẦN

Trước tiên khi nói về nghệ thuật ca trù thì ca trù có nhiều tên gọi, tùy từng địa phương, từng thời điểm mà hát ca trù còn gọi là hát ả đào, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát cô đầu, hát nhà tơ, hát nhà trò và hát ca công. Đây là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt.
Ca trù là một hình thức “ca nhạc thính phòng”, thịnh hành từ thế kỷ 15, vốn là một loại ca nhạc trong cung đình, được sử dụng cho các buổi hát chúc thọ vua chúa và các buổi lễ trong triều đình, qua thời gian, ca trù dần dần phát triển rộng ra dân gian qua giới quan lại, đại gia, một số tầng lớp sĩ phu nho học giàu sang… và trở nên thông dụng. Tuy vậy ca trù khác với các loại hình dân ca khác ở chỗ nó có yêu cầu rất nghiêm ngặt quy định về số câu, số chữ, lời văn, quy định về đối ngẫu … có lẽ vì vậy mà ca trù vẫn được thưởng thức tập trung phần lớn ở tầng lớp có học thức cao rộng trong xã hội xưa.
Chữ trù có nghĩa là thẻ tre. Những người đào hát thường dùng các thanh tre làm phách khi hát và người nghe dùng “trù” (cái thẻ tre) để thưởng cho những chỗ hát hay, cuối cùng đếm thẻ để bình giá và thưởng tiền, vì thế mà có tên gọi là Ca trù. Tư liệu sớm nhất có nói đến những chữ Ca Trù và Ả Đào là vào thế kỷ XV, căn cứ vào bài thơ Nghĩ hộ tám giáp bài văn thưởng cho cô đào được giải sáng tác trước năm 1500 của Tiến sĩ Lê Đức Mao, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Bài thơ này chép trong Lê tộc gia phả (A.1855) có hai lần nhắc đến 2 chữ ca trù, cho biết: hát cửa đình là hát để thờ thần trong dịp đầu xuân và việc hát ca trù đã có dùng thẻ để thưởng cho đào nương (ả đào). Như vậy, đình Đông Ngạc, Hà Nội là nơi diễn ra lệ hát Cửa đình từ rất sớm. Và đây cũng là nơi gìn giữ được tục lệ thưởng đào rất đặc sắc.
Nghệ thuật ca trù được quốc tế công nhận:
Ca trù đã được Hội đồng thẩm định di sản của UNESCO đánh giá như sau:
Ca trù đã trải qua một quá trình phát triển ít nhất từ thế kỷ 15 đến nay, được biểu diễn trong không gian văn hóa đa dạng gắn liền, ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Ca trù thể hiện một ý thức về bản sắc và sự kế tục trong nghệ thuật biểu diễn, có tính sáng tạo, được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua các tổ chức giáo phường. Những giáo phường này đã duy trì các cộng đồng có quan hệ mật thiết, tạo nên nét đặc trưng cho ca trù. Mặc dù trải qua nhiều biến động lịch sử, xã hội nhưng ca trù vẫn có một sức sống riêng bởi giá trị nghệ thuật của nó đối với văn hóa Việt Nam.

Ca trù độc đáo ở không gian nghệ thuật riêng, nhạc cụ và thể thơ riêng biệt. Theo các nghệ nhân dân gian, ca trù có 56 thể thức hoặc giai điệu khác nhau, mỗi loại này được gọi là thể cách. Kỹ thuật hát rất tinh tế, công phu như thể ca sĩ nắn nót, trau chuốt từng chữ. Nhạc cụ được tinh giản với sự tương phản âm sắc đã làm tôn vẻ đẹp của từng thành phần tham gia hoà tấu.
Tham gia biểu diễn ca trù có ít nhất 3 người:
Một ca sĩ luôn là nữ (gọi là “đào” hay “ca nương”) hát theo lối nói và gõ phách lấy nhịp (phách là một nhạc cụ làm bằng gỗ hoặc tre, được gõ bằng 2 que).
Một nhạc công nam giới (gọi là “kép”) đệm đàn đáy cho người hát. Đán đáy là một loại đàn cổ, dài, với 3 sợi dây tơ và 10 phím đàn.
Ngoài ra, còn có một người chơi trống hoặc đánh trống chầu (gọi là “quan viên”, thường là tác giả bài hát). Sự tán thưởng mà “quan viên” dành cho người hát, hoặc bài hát được biểu lộ qua cách đánh trống. “Quan viên” đánh vào thành trống nhiều lần biểu lộ chỗ đắc ý. Nếu không hài lòng với người hát, “quan viên” đánh hai nhịp trống.
Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ và sự tham gia từ phía khán giả là rất cần thiết. Hát ca trù là nghệ thuật hát thơ, có một hệ bài bản phong phú quy định cho từng lối hát thờ, hát chơi và hát thi. Lời lẽ, ca từ của ca trù mang tính uyên bác, ít lời mà nhiều nghĩa, giàu chất thơ, mang nhiều cảm xúc, trầm ngâm, sâu lắng. Ca trù có đủ các thể loại từ trữ tình lãng mạn đến sử thi anh hùng, triết lý giáo huấn… đã thu hút sự tham gia sáng tác, thể nghiệm tài năng của nhiều văn sĩ và trí thức. Có hiểu thấu nội dung và nghệ thuật ngôn từ trong các bài ca cùng sự biểu hiện tinh tế của các ca nữ trong sự phối hợp nhịp nhàng với ngón đàn, khổ phách… mới thấy hết vẻ đẹp và giá trị của loại hình nghệ thuật này.
Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, đến giữa năm 2009 có 63 câu lạc bộ với khoảng 769 người (bao gồm 513 đào nương và 256 kép đàn và người đánh trống chầu) ở 14 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Ðịnh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, TP. Sài Gòn) trên cả nước có hoạt động thường xuyên và có kế hoạch luyện tập truyền nghề ca trù. Tuy nhiên, số nghệ nhân có thể hát được từ 10 làn điệu trở lên là rất hiếm. Tại Viện Âm nhạc hiện đã lưu trữ được 7 điệu múa ca trù và 42 bài bản ca trù. Các văn bản Hán Nôm về ca trù là 26 bản và khoảng 25 cuốn sách về ca trù.
Ca trù được công nhận là đã có đóng góp lớn vào văn hóa Việt Nam. Từ ca trù, một thể thơ độc đáo ra đời và trở nên có vị trí sáng giá trong dòng văn học chữ Nôm của dân tộc. Đó là thể thơ hát nói, được ưa chuộng qua nhiều thế kỷ. Ngoài ra, đàn Đáy và Phách đã trở thành những nhạc khí đặc trưng của ca trù, góp phần đưa ca trù trở nên một thể loại thanh nhạc kinh điển của Việt Nam. Với chiều dài về lịch sử, chiều sâu của nghệ thuật và mang bản sắc dân tộc rõ rệt ca trù đã khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới.
Lối hát Ca Trù được công nhận là Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể: (L’opéra de Ca Tru est un patrimoine culturel immatériel):
Ca trù là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt. Theo các nhà nghiên cứu khảo cổ, lịch sử, mỹ thuật, âm nhạc, vào thế kỷ XV, Ca trù đã có mặt trong văn hóa Việt Nam. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, Ca trù đã ngày càng thẩm nhập vào hầu hết các cuộc diện của đời sống từ quá khứ và hẳn đã khẳng định tư cách độc lập và độc đáo của nó trong bức tranh chung của văn hóa dân tộc. Nghệ thuật Ca trù diễn ra trong các không gian ở đình làng, đền thờ thần, nhà thờ tổ nghề, dinh thự và ca quán thính phòng. Cùng với đó là các hình thức hát thờ, hát thi, hát cúng tế lễ lạc, hát ca tài tử, không những đóng góp vào sinh hoạt của cộng đồng làng xã, của giới trí thức mà còn góp phần vào các hoạt động lễ tiết của quốc gia trong khuôn khổ của văn nghệ đón tiếp ngoại giao.
Ca trù được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể (intangible cultural heritage) cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại năm 2009. Phú Thọ nằm trong 17 tỉnh, thành vùng lan tỏa của Ca trù. Phú Thọ là một trong những vùng sớm được tiếp nhận và sử dụng lối hát Ca Trù trong các dịp lễ hội, đình đám, vui chơi giải trí và nó cũng là một sản phẩm tinh thần trong đời sống sinh hoạt văn nghệ dân gian của công chúng, tồn tại song hành với các làn điệu Hát Xoan, Hát Ghẹo ở vùng trung du đất Tổ. Trong 2 năm (năm 2013 – 2015), địa bàn tỉnh Phú Thọ thực hiện việc kiểm tra di sản văn hóa trong phạm vi tỉnh, trong đó có sự kiểm nhận đối với di sản Ca trù. Kết quả kiểm tra này cho thấy di sản văn hóa phi vật thể Ca trù đang được lưu giữ, thực hành ở thôn Trinh Nữ, xã Bình Bộ, huyện Phù Ninh và một số Câu lạc bộ hát dân ca địa phương.
Về Lịch Sử Và Nghệ Thuật Ca Trù…
Lịch sử và Nghệ thuật ca trù là công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Diện, ca trù được trình bày khá rõ nét, nhiều chi tiết quan trọng cần biết về ca trù, được ghi nhận trong luận án tiến sĩ của ông, in lần đầu năm 2007. Quyển sách này đã được tái bản ra mắt bạn đọc toàn quốc nhân kỷ niệm tròn 1 năm ngày nghệ thuật ca trù được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại (vào 01/10/2009). Thư tác này của nhà biên khảo Nguyễn Xuân Diện đã cho biết thêm rất nhiều chi tiết về loại hát Ca trù trong thư mục mà tác giả đã cho biết thêm bảy quyển sách khác có nội dung về nghệ thuật ca trù theo những thể thức khác, và lại còn liệt kê ra trên bảy chục văn bia viết bằng chữ Nôm đang được tàng trữ tại Viện Hán Nôm.
Nhờ đó, có nhiều khám phá mới mà từ trước đến nay chúng ta chưa được biết. Có những nghi vấn về Ông Tổ của Ca trù, về lúc nào danh từ “Ca trù” được dùng lần đầu tiên thì luận án văn hóa âm nhạc này đã đưa ra những bằng chứng đáng tin cậy. Mặc dầu đề tài luận án đặt trọng tâm vào nguồn tư liệu Hán Nôm về việc nghiên cứu ca trù, có lẽ tác giả sách nên ghi thêm một phụ lục vào những bài viết đáng kể về ca trù của các tác giả ngoại quốc như Samuel Baron vốn am tường về nghệ thuật ca trù, và cũng nên có một bảng ngữ vựng về những thuật ngữ chuyên môn trong nghệ thuật ca trù.
Ca trù chỉ một lối hát cổ truyền của người Việt. Tên gọi ca trù cũng đã được tài liệu cổ ghi nhận. Trên các tài liệu Hán Nôm chữ “trù” trong “ca trù” 歌 籌đều dùng chữ “trù” 籌. Theo đó Trù籌là thẻ làm bằng tre, trên thẻ có ghi số tiền (hoặc quy định ngầm với nhau là mỗi thẻ tương ứng với một khoản tiền), dùng để thưởng cho đào và kép ngay trong khi biểu diễn thay cho việc thưởng bằng tiền mặt; cuối chầu hát sẽ căn cứ vào số thẻ mà tính tiền trả cho đào và kép hoặc giáo phường. Người quyết định việc thưởng này chính là vị quan viên (khách nghe hát), sử dụng trống chầu (gọi là cầm chầu). Đó là nguồn gốc của tên gọi ca trù; cũng là thuật ngữ sử dụng trong chuyên khảo này. Tuy nhiên ca trù, với ý nghĩa là một lối hát có dùng thẻ để thưởng như đã nói ở trên thì chỉ có ở hát ca trù ở đình đền, tức là hát thờ.
Ca trù sử dụng ba nhạc khí đặc biệt (không chỉ về cấu tạo mà còn về cách thức diễn tấu) là đàn đáy, phách và trống chầu. Về mặt văn học ca trù làm nảy sinh một thể loại văn học độc đáo là hát nói. Đây là một bộ môn nghệ thuật ca nhạc “thính phòng” được hình thành trên nền tảng âm nhạc dân gian Bắc phần, người nghe cũng tham gia vào cuộc hát bằng việc cầm chầu. Ca trù còn có những cái tên khác như: hát cửa đình, hát nhà trò (hát ở đình, đền, miếu), hát cửa quyền (trong cung phủ), hát nhà tơ (hát ở dinh quan, tư gia các gia đình quyền quý), hát ả đào, hát cô đầu (hát ở các ca quán)…
Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định ca trù là một bộ môn nghệ thuật lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng ca nhạc của người Việt Nam. Ca trù gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt. Do vậy nghiên cứu ca trù cũng là góp phần vào việc nghiên cứu các giá trị truyền thống trong văn hóa Việt Nam. Thật vậy, nghệ thuật ca trù là một di sản văn hóa đặc trưng của Việt Nam. Đặc sắc ở sự phong phú làn điệu, thể cách, cả không gian, thời gian biểu diễn và phương thức thưởng thức; đặc sắc còn vì từ cội nguồn nó gắn bó mật thiết với lễ nghi, phong tục, với những sinh hoạt dân gian, với công chúng. Ca trù làm người ta nhớ tới những tao nhân mặc khách với lối chơi ngông, chơi sang, rất tinh tế và giàu cá tính sáng tạo của những danh nhân như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tản Đà…Và cùng với đó là mối quan hệ giữa văn nhân (nhà thơ, nhà báo, họa sĩ) với Ả đào – mối quan hệ quan trọng nhất của lối thưởng thức ca trù. Bởi quá trình tham gia sinh hoạt ca trù là quá trình văn nhân sáng tạo, thể nghiệm và thưởng thức các tác phẩm của mình.
Cũng theo TS. Nguyễn Xuân Diện trong tác phẩm khảo cứu Vị Trí Của Hát Nói (hay Ca Trù) Trong Dòng Văn Học Chữ Nôm, do Viện Nghiên cứu Hán-Nôm/ Hội thảo Quốc tế về chữ Nôm, Huế, 2006, các chi tiết quan trọng vê ca trù được ghi nhận như sau…

Nguồn gốc Hát nói:
Hát nói là một thể thi ca dân tộc được sinh ra từ nhu cầu của bộ môn nghệ thuật ca trù và trở nên một thể thơ độc đáo trong nền văn học Việt Nam nói chung, văn học chữ Nôm nói riêng. Trước nay cũng đã có một số công trình bài viết nghiên cứu về thơ hát nói ca trù và cũng đã có nhiều vấn đề của hát nói được làm sáng tỏ và khẳng định. Tuy nhiên vị trí và tầm vóc của hát nói trong văn học sử nói chung và trong dòng văn học chữ Nôm nói riêng thì vẫn chưa được khẳng định một cách mạnh mẽ.
Tên gọi, gốc gác, đặc điểm của thể hát nói
Trước đây, học giả Nguyễn Văn Ngọc trong Ðào nương ca nhắc rằng có người cho là hát nói là lối nói sử. Trương Tửu trong Văn nghệ bình dân Việt Nam cũng viết rằng điệu hát nói là những điệu nói sử. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ðức Mậu cho biết năm 1900 đã có tài liệu nói về ca trù và gọi hát nói là nói Nôm. Tuy nhiên, về vấn đề này, các tài liệu Hán Nôm cũng vẫn còn cho những thông tin đáng chú ý, góp phần làm sáng tỏ hơn nữa về tên gọi, gốc gác, đặc điểm của thể loại này. Sách Ca trù thể cách viết về hát nói như sau:
“Tiếng đàn của hát nói thuộc cung Nam. Nếu nữ hát thì gọi là hát nói, nam hát thì gọi là Hà nam. Lối văn này, xưa và nay đều có. Lối văn
này, mối bài chỉ có 11 câu mà thôi. Câu 1 và 2 gọi là tổng mạo. Câu 3 và 4 gọi là Thừa đề. Câu 5 và 6 thì dùng lối thất ngôn, hoặc cổ thi,
hoặc quốc âm; như là treo cái ý của toàn bài vào giữa bài thơ, để nói hết cái đại ý của toàn bài. Các câu 7, 8, 9 đều nối theo cái ý của câu 5
và 6 mà phô diễn thêm ra, để làm rõ ý nghĩa. Câu 11 là tổng kết ý nghĩa trong cả bài, mà cũng là một câu kết thúc. Cũng có khi đến đây,
lại thêm hai câu hoặc 4 câu nữa, liền sau đó nói dông dài thêm cái dư ý của bài thơ, ấy là muốn dẫn cho dài thêm. Người trong làng ca gọi là
Hát nối.” (trang 12b)…”
Theo sách trên thì thể thơ lục bát là một thể thơ được sử dụng phổ biến trong ca trù. Và thể thơ này lại được sử dụng chủ yếu trong làn điệu hát của ca trù. Các điệu hát được các nhà nghiên cứu ghi nhận là các điệu ca trù cổ đều có ca từ là thơ lục bát. Ðó là các làn điệu: Bắc phản, Chừ khi, Cung bắc, Dịp ba cung bắc, Ðại thạch, Hãm, Hồng hạnh, Non mai, Thư phòng, Mưỡu, Ngâm vọng và Thổng.
Trong các lối hát truyền thống như chèo, quan họ cũng sử dụng thơ lục bát trong nhiều làn điệu. Ðiều này càng cho thấy sự gần gũi của ca trù với các lối hát chèo và quan họ, nếu xét dưới góc độ thanh điệu ca từ. Tuy vậy cùng sử dụng thể thơ lục bát, nhưng các lối hát truyền thống này cũng đã tạo nên những vẻ đẹp khác nhau trong nhạc điệu làm phong phú cho vốn âm nhạc cổ truyền Việt Nam, và càng khẳng định sức sống của thơ lục bát trong văn học và văn hóa Việt Nam. Trong số các thể thơ được dùng trong ca trù, thể hát nói để lại số lượng tác phẩm lớn nhất, được ưa chuộng nhất. Hát nói đã gắn với những tên tuổi lớn trong lịch sử văn học Việt Nam như: Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Ðà, Phan Bội Châu, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, …

Nói thêm về thi nhân Dương Khuê là người văn hay, chữ tốt. Năm 1864, ông đỗ Cử nhân (cùng khoa này có Nguyễn Khuyến đỗ Giải nguyên). Năm Mậu Thìn (1868), thời vua Tự Đức, ông dự thi Đình đỗ Tiến sĩ. Đường hoạn lộ, thuở ban đầu, Dương Khuê được bổ làm Tri phủ Bình Giang (Hải Dương), rồi thăng làm Bố chính. Vào đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ 19, tay lái buôn Jean Dupuis uy hiếp các quan chức người Việt ở Bắc Kỳ để tự do sử dụng sông Hồng, ông ở trong nhóm những sĩ phu cương quyết chống lại. Ông dâng sớ về triều xin có thái độ quyết liệt với người Pháp, bị vua Tự Đức phê là “bất thức thời vụ” (không biết thời cuộc), rồi bị giáng xuống chức Chính sứ sơn phòng lo việc khai hoang. Năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất. Sau khi thương thuyết, họ chịu trả lại bốn thành cho triều đình Huế, thì Dương Khuê được điều động làm Án sát Hải Phòng. Năm 1878, nhân lễ “ngũ tuần khánh thọ ” của mình, vua Tự Đức xuống chỉ cho ông làm Đốc học Nam Định. Sau đó, ông lần lượt trải các chức vụ quan hành chính như: Bố chính, Tham tá Nha kinh lược Bắc Kỳ, Tổng đốc Nam Định-Ninh Bình. Năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer xóa bỏ điều 7 của Hòa ước Giáp Thân 1884, đặt cơ sở cho guồng máy cai trị của Chính phủ bảo hộ, thì Dương Khuê xin cáo quan, lúc 58 tuổi, được tặng hàm Thượng thư bộ Binh.
Khi ông mất (ngày 6 tháng 3 năm Nhâm Dần, 1902), nghe tin buồn bạn thân ra đi, Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ bất hủ Khóc Bạn (Khóc Dương Khuê) khi tang viếng. Bài thơ được vào văn học sử. Bài thơ có thể xem đây cũng là một bài văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy lệ lòng, gồm có 38 câu thơ. Mở đầu bài thơ là một tiếng than thở xót xa bùi ngùi:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) khóc bạn cũng là tự khóc mình, giọng thơ u uẩn thiết tha. Ông trách bạn “vội đi xa” để mình lẻ loi, cô đơn. Cuộc sống trở nên chán chường, vô nghĩa:, nhất là 2 câu sau rất phổ thông ở các bàn tiệc sau này:
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Khóc Dương Khuê (1839-1902) cho thấy một tình bạn đẹp và cảm động của giới nho gia thuở trước. Sau hơn một thế kỷ, chúng ta vẫn thấy nỗi bùi ngùi xúc động khi đọc bài thơ này. Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng là khóc cho một thế hệ nhà nho và cũng là tự khóc cho minh: “Ai chẳng biết chán đời là phải”…
Tác phẩm của Dương Khuê để lại có một số bài ca trù, bài văn, câu đối, trướng… Có lẽ nên đề cập bài Hồng Hồng Tuyết Tuyết,… bài ca trù nghe thanh thoát, bông đùa, dí dỏm và hóm hỉnh. Giới thiệu một bài ca trù dưới đây là bài ca trù tiêu biểu và nổi tiếng của nhà thơ Dương Khuê:
Gặp Lại Cô Đầu Cũ
Hồng Hồng Tuyết Tuyết,
Mới ngày nào chửa biết cái chi chi.
Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì!
Ngoảnh mặt lại, đã tới kỳ tơ liễu.
Ngã lãng du thời, quân thượng thiếu,
Kim quân hứa giá, ngã thành ông
Cười cười nói nói thẹn thùng,
Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại.
Riêng một thú Thanh Sơn đi lại,
Khéo ngây ngây dại dại với tình.
Đàn ai một tiếng dương tranh…
Hà Nội tức cảnh
Phất phơ ngọn trúc trăng tà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Tiếng chày An Thái, mặt gương Tây Hồ.
(bài thơ này nằm trong cuốn Vân Trì thi thảo).
Tham khảo một số sách báo và tiếp xúc với các nghệ nhân ca trù chúng ta được biết, trên thực tế ngoài hát nói đủ khổ (11 câu thơ) thì thể hát nói còn có một số biến thể khác như: Hát nói thiếu khổ (bài hát chỉ có 6 câu thơ); Hát nói dôi khổ tức là dôi thêm một hoặc nhiều khổ (mỗi khổ 4 câu thơ), Hát nói gối hạc (một vài câu thơ kéo dài ra, số chữ trong một câu thơ có thể lên tới 12, 18 hoặc thậm chí 24 chữ). Và hát nói thường hay đi kèm với hát mưỡu. Hát mưỡu ít khi được hát riêng rẽ với tư cách một bài hát trọn vẹn, mà thường được hát mở đầu hoặc kết thúc cho một bài hát nói. Do vậy khi hát mưỡu kết hợp với hát nói lại có các dạng Hát nói mưỡu tiền (hát mưỡu mở đầu rồi vào hát nói), Hát nói mưỡu hậu (hát mưỡu kết thúc sau khi hát nói); Hát nói mưỡu đơn (hát mưỡu bằng một câu thơ lục bát), Hát nói mưỡu kép (hát mưỡu bằng hai câu thơ lục bát).
Thể hát nói trong thơ ca trù
Trong nghệ thuật ca trù, thơ là một thành tố quan trọng. Ca trù có nhiều làn điệu, nhiều thể ca trù sử dụng các thể thơ quen thuộc và thuần Việt như lục bát, song thất lục bát. Trong số 34 thể ca trù mà thư tịch Hán Nôm có ghi nhận về lời thơ, thì các thể thơ được dùng là:
– Thể lục bát: dùng trong 17 thể ca trù
– Thể song thất lục bát: dùng trong 1 thể ca trù
– Thể hát nói là thể riêng của ca trù
– Thể thơ 7 chữ và một câu lục cuối bài: dùng trong 3 thể ca trù
– Thể thơ 7 chữ và một câu lục bát cuối bài: dùng trong 1 thể ca trù
– Thể thơ Ðường luật (thất ngôn, tứ tuyệt): dùng trong 8 thể ca trù
– Thể phú: dùng trong 1 thể ca trù
– Thơ Ðường luật trường thiên: dùng trong 2 thể ca trù (trong đó có bài Tỳ
bà hành của Bạch Cư Dị).

Nhắc lại, về thành phần trình diễn ca trù, với một chầu hát cần có ba thành phần chính:
Một nữ ca sĩ (gọi là “đào” hay “ca nương”) sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,
Một nhạc công nam giới (gọi là “kép”) chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát
Người thưởng ngoạn (gọi là “quan viên”, thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống. Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là “tức tịch,” nghĩa là “ngay ở chiếu.”
Âm nhạc ca trù hay hát nói thì ca trù vừa là loại thanh nhạc (vocal music), vừa là loại khí nhạc (instrumental music). Có một ngôn ngữ âm nhạc tế nhị, khá độc đáo và tinh vi. Vì là yếu tố thanh nhạc nên ca nương phải có giọng ca thanh thoắt, cao vút và âm vực rộng để ngân vang xa, khi hát phải biết ém hơi, nhả chữ và hát tròn vành rõ chữ, biết nảy hạt (đổ hột), đổ con kiến. Ca nương vừa hát, vừa gõ phách. Phải biết rành 5 khổ phách cơ bản, đánh lưu không, tiếng phách phải chắc và giòn, lời ca và tiếng phách phải ăn khớp với nhau.
Và vì sử dụng âm khí nhạc nên kép đàn dùng đàn đáy phụ họa. Bản đàn không nhất thiết phải đi theo bài hát, vì phải theo khổ đàn, nhưng khổ đàn – khổ phách – tiếng ca hợp nhau, hài hòa nhuần nhuyễn. Có những cách đàn ca chân phương- theo lề lối hay hàng hoa- sáng tạo và bay bướm. Quan viên là người cầm chầu, tiếng trống chầu vừa chấm câu khi tham gia vào cuộc diễn tấu, nhưng có tính chất phê phán, khen chê đúng chỗ, để khích lệ ca nương – kép đàn, giúp cho thính giả biết được đoạn nào hay – thật hay và như thế được giáo dục âm nhạc trong cách nghe.
Xét về một số tác phẩm nổi tiếng như sau…
Bài bản ca trù có nhiều loại. Phổ thông nhất là hát nói, một thể văn vần có tính cách văn học cao. Những bài hát nói nổi tiếng phải kể đến:
– Cao Bá Quát với “Tự tình”, “Hơn nhau một chữ thì”, “Phận hồng nhan có mong manh”, “Nhân sinh thấm thoắt”…
– Nguyễn Công Trứ với “Ngày tháng thanh nhàn”, “Kiếp nhân sinh”, “Chơi xuân kẻo hết xuân đi”, “Trần ai ai dễ biết ai”…
– Dương Khuê với “Hồng hồng, tuyết tuyết” tức “Gặp đào Hồng đào Tuyết”.
– Chu Mạnh Trinh với Hương Sơn phong cảnh.
– Tản Đà với “Gặp xuân”,”Xuân tình”, “Chưa say”
– Nguyễn Khuyến với “Hỏi phỗng đá”, “Duyên nợ”
– Nguyễn Thượng Hiền với “Chơi chùa Thầy”;
– Trần Tế Xương với “Hát cô đầu”.
Ngoài ra còn có những làn điệu cổ điển khác như “Tỳ bà hành” (bản diễn Nôm của Phan Huy Vịnh theo cổ bản của Bạch Cư Dị). Những điệu huê tình, gửi thư, bắc phản, hát giai… cũng thuộc thể ca trù.
Theo như đã trình bày trên, thể thơ lục bát là một thể thơ được sử dụng phổ biến trong ca trù. Và thể thơ này lại được sử dụng chủ yếu trong làn điệu hát của ca trù. Các điệu hát được các nhà nghiên cứu ghi nhận là các điệu ca trù cổ đều có ca từ là thơ lục bát. Ðó là các làn điệu: Bắc phản, Chừ khi, Cung bắc, Dịp ba cung bắc, Ðại thạch, Hãm, Hồng hạnh, Non mai, Thư phòng, Mưỡu, Ngâm vọng, Thổng.
Trong các lối hát truyền thống như chèo, quan họ cũng sử dụng thơ lục bát trong nhiều làn điệu. Ðiều này càng cho thấy sự gần gũi của ca trù với các lối hát… Xét tiếp về lối hát Ca trù – Hát dân ca Bắc Ninh. Ca trù hay Hát nói là biến thể của song thất lục bát. Các nhà viết sách thời xưa cho rằng Hát nói là một hình thức biến đổi của thể ngâm Song thất lục bát: Trong hát nói có Mưỡu là những câu thơ lục bát, nhiều câu 7 chữ có vần bằng, vần trắc, có cước vận, yêu vận. Nhưng khi đã phát triển, Hát nói là một thể tài hỗn hợp gồm: thơ, phú, lục bát, song thất, tứ tự, nói lối,… Trong lối Hát ca trù có nhiều loại như: Dâng hương, Giáo trống, Gửi thư, Thét nhạc thì Hát nói là lối thông dụng và có tính văn chương lý thú nhất.
Hát kể trong ca trù thường được mô tả là hát kể chuyện về một chuyện tình cảm trong thi ca văn học dân gian Việt Nam. Nói đến hát kể chuyện trong ca trù ví dụ như là bài Bèo Dạt Mây Trôi. Cốt truyện được kể lại bằng lối hát của ca trù trong bài Dân Ca Quan Họ tiêu biểu này như sau:
Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi,
Anh ơi, em vẫn đợi… í i ì… bèo dạt
Mây í i ì… trôi,
chim sa, tang tính tình… í i ì…, cao vời
Ngậm một tin trông, hai tin đợi, ba bốn tin chờ
sao chẳng thấy anh…
Một mảnh trăng treo, suốt năm canh,
Anh ơi, trăng đã ngã… a á à… ngang đầu
Thương nhớ… ờ ơ… ai, sao rơi… đêm sắp tàn… í i ì…
trăng tà,
Người ra đi có nhớ, (hay người xa có nhớ)
là nhớ ai ngồi trông cánh chim trời,
sao chẳng thấy anh…
Mòn mỏi thâu đêm, suốt năm canh
Anh ơi, em vẫn đợi… í i ì… mỏi mòn
Thương nhớ… ờ ơ… ai
Sao rơi, trăng sắp tàn .. í i ì… trăng tà
Cành tre đu trước ngõ
Là gió la đà em vẫn mong chờ, sao chẳng thấy anh…
Thương nhớ.. ờ ơ… ai
Sao rơi, trăng sắp tàn .. í i ì… trăng tà
Cành tre đu trước ngõ
Là gió la đà em vẫn mong chờ, sao chẳng thấy anh.

Hát dân ca Quan Họ vốn thịnh hành trong những ngày lễ Tết, vì cứ vào dịp trung tuần tháng giêng, khoảng từ 12 đến 14, ngay sau Tết Nguyên Đán, người dân vùng đất Quan Họ Bắc Ninh lại tổ chức lễ hội vui xuân đầu năm, là dịp để các liền anh, liền chị gặp mặt chúc tụng, hội hè và cũng là lúc để tiếng hát Quan Họ ở vùng đất kinh Bắc được ca vang khi du khách từ khắp nơi thưởng ngoạn văn nghệ qua âm thanh Quan Họ vào mùa Xuân về, mùa Xuân cũng bao hàm ý nghĩa là mùa lễ hội Quan Họ, là không gian vui tươi của Quan Họ; môi trường trẩy hội tưng bừng Quan Họ là vào mùa Xuân. Nhân dịp Xuân 2020, Tết Nguyên đán Canh Tý, bài viết này chúng tôi xin kính gửi Hội Bắc Ninh tại Nam California, Hoa Kỳ. Việt Hải và Khánh Lan đại diện Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian xin kính chúc quý đồng hương Một Năm Mới nhiều hạnh phúc, an lành và thịnh vượng.
Việt Hải & Khánh Lan