RA MẮT SÁCH,  VĂN HỌC,  Viet-Hải

NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM

NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM

Trần Việt Hải

Trong ngày Ra Mắt tác phẩm của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Văn Thi Sĩ Khánh Lan tổ chức tại Hội Trường Báo Người Việt ngày 20 tháng 9, 2026. Hai văn thi sĩ đã trình làng 3 tác phẩm mà tôi cho là có giá trị trong lãnh vực văn học. Đó là Tuyển Tập Thi Ca Quê Hương Còn Đó của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và 3 tác phẩm của Văn Thi Sĩ Khánh Lan, gồm Siêu Hình Học, Triết Lý Hiện Sinh và Những Đứa Trẻ Lạc Loài (song ngữ Anh & Việt).

Ba diễn giả được mời trong buổi ra mắt sách là: Giáo Sư Quyên Di, Nhà Văn, Nhà Báo Phạm Quốc Bảo và Thi Sĩ Minh Đức. Cả 3 bài diễn văn đều đem lại những chi tiết quan trọng mà tôi thiết tưởng cần được lưu trữ lại trong kho tàng văn học của chúng ta. Dưới đây là những nhận xét của tôi về 3 tác phẩm ấy cũng như nội dung của 3 bài diễn văn này.

  1. BÀI DIỄN VĂN THỨ NHẤT CỦA THI SĨ MINH ĐỨC

Nhà văn Minh Đức đảm nhiệm nói về thi tập mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh là Quê Hương Còn Đó, diễn giả đi khái lược về yếu tố Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức nên rất khó quên. Hãy nhận định từ ngữ về vai trò của quê hương qua ba yếu tố sau:

  • Quê hương là mảnh đất chúng ta sinh ra, lớn lên, trau đồi bản thân và mang trong mình nhiều ước mơ, khát vọng để giúp đời, giúp người. Mỗi quê hương có nền văn hóa riêng, giao thoa độc đáo của văn hóa từng vùng miền, đóng góp vào đa dạng nền văn hóa của dân tộc. Quê hương là nơi con người trở về sau những khó khăn, mang lại cảm giác thanh thản và yên bình.
  • Quê hương không chỉ là nơi chúng ta lớn lên, mà còn là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận được sự thanh thản, yên bình bởi không khí quen thuộc và con người chân chất tại quê hương. Mỗi quê hương mang một bản sắc riêng, nuôi dưỡng tâm hồn con người với sự đa dạng phong phú. Mỗi quê hương cũng có một nền văn hóa riêng. Khi ta trưởng thành, ta mang theo nét đặc trưng của quê hương đi nơi khác, sẽ có sự giao thoa độc đáo giữa các nền văn hóa từng vùng miền, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.

Sự nhớ nhung, suy tưởng miên viễn về quê xưa, ấy là một tình yêu quê hương. Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên và để trở về. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều. Hãy xem thơ ca Dương Hồng Anh:

Tháng Tư nhớ quê hương

Mặt trời đi vắng hôm nay

Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương

Năm mươi năm mấy đoạn trường

Mỗi người có một quê hương riêng, và mỗi quê hương có một bản sắc khác nhau, nuôi dưỡng những tâm hồn con người đa dạng và phong phú. Tình yêu quê hương không phải là tình cảm trừu tượng, nó được biểu hiện rất cụ thể và rõ nét. Thật vậy, quê hương trong miền ký ức của mỗi người có luôn là những gì đơn giản đơn, mộc mạc nhưng cũng đầy thiêng liêng và đẹp đẽ. Tình yêu quê hương không ngọt ngào, trong trẻo tong nét nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng vẫn khiến con người ta phải dâng lên những niềm xúc cảm khôn nguôi, khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người.

Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ sau dây về quê cũ của người. Xem bài:

Mơ Về Hà Nội

Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

Cho thơ nở giữa vườn thơ

Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

Hướng về cố lý xa xăm

Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ

Tơ đàn xao xuyến hồn thơ

Tình yêu quê hương, đất nước luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người, trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy văn học dân tộc, theo ý nghĩa sâu sắc và thiêng liêng. Quê hương là nơi mỗi con người cất tiếng khóc chào đời, là miền đất đầu tiên nâng bước ta trên hành trình làm người. Trong dòng chảy không ngừng của cuộc sống hiện đại, con người có thể đi rất xa, sống ở nhiều vùng đất khác nhau, nhưng quê hương vẫn luôn hiện diện như một phần máu thịt, âm thầm chi phối suy nghĩ, tình cảm và cách sống của mỗi người. Bởi vậy, vai trò của quê hương đối với cuộc đời con người là vô cùng sâu sắc và bền vững. Tình yêu quê hương không chỉ là nỗi nhớ thầm lặng mà còn là động lực thúc đẩy con người sống có ích. Ý thức về nguồn cội khiến mỗi người biết trân trọng những gì mình đang có và mong muốn đóng góp cho cộng đồng nơi mình sinh ra.

Trong phần phát biểu nữ sĩ Dương Hồng Anh đã đọc bài thơ mới sáng tác, bà cũng nhờ nhà thơ Khánh Lan ngâm giọng Tao Đàn, bài thơ nhu sau:

Nhớ

Mỗi lần cầm bút viết văn

Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

Chung vui những buổi chiều tà

Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

Mỗi lần cầm bút viết văn

Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

Nắng vàng sưởi ấm thành đô

Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

Mỗi lần cầm bút viết văn

Thư trang vẫn nở những vần thơ say

Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

Hồng Anh, Tháng 9, 2026.

Bài thơ “Nhớ” của tác giả Hồng Anh (sáng tác tháng 9/2026) là một khúc thi ca nhẹ nhàng, đong đầy cảm xúc hoài niệm, biểu hiện tình cảm sâu sắc gắn liền với nguồn cảm hứng sáng tác văn chương. Dưới đây là phân tích và cảm nhận chi tiết về thi phẩm:

CHỦ ĐỀ ĐƯỢC NÊU RÕ VÀ NGUỒN CẢM HỨNG SÁNG TÁC

Mạch nối cảm xúc xuyên suốt, bài thi phẩm được mở đầu với một điệp khúc quen thuộc “Mỗi lần cầm bút viết văn”, lặp lại ở đầu mỗi khổ thơ như một nhịp đập thổn thức của trái tim người nghệ sĩ. Đối với tác giả, khoảnh khắc cầm bút không chỉ là lúc lao động nghệ thuật mà còn là cánh cửa mở ra không gian của ký ức và hoài niệm.

Nhắc về đối tượng là nỗi nhớ khôn nguôi. Nỗi nhớ trong bài thơ mang tính đa chiều, bao trùm cả tình bạn thắm thiết (“bạn gần bạn xa”), tình yêu quê hương đất nước, hình ảnh Thủ đô Hà Nội nên thơ, và cả những nỗi lòng xao xuyến, bâng khuâng rất riêng tư trong tâm hồn của bà.

Đi xa hơn khi phân tích chi tiết từng khổ thơ như:

  • Khổ 1: Nỗi nhớ bạn bè và tình cảm tri kỷ

Mỗi lần cầm bút viết văn

Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

Chung vui những buổi chiều tà

Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

Không gian và thời gian: Thời điểm “chiều tà” thường là lúc con người dễ chùng xuống và hoài niệm nhất.

Nội dung: Tác giả nhớ về những người bạn khắp muôn phương, những buổi tụ họp ấm cúng bên thi ca, âm nhạc. Nghệ thuật đối lập nhẹ nhàng giữa “bạn gần” và “bạn xa” kết hợp với các từ ngữ gợi âm thanh, hình ảnh (họa thơ, nhạc nở, đàn ca) tạo nên một bức tranh kỷ niệm rộn ràng, giàu tính nghệ thuật và sự gắn kết tâm hồn.

  • Về Khổ 2 là Nỗi nhớ Hà Nội và vẻ đẹp non sông

Mỗi lần cầm bút viết văn

Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

Nắng vàng sưởi ấm thành đô

Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

Không gian địa lý: Từ tình bạn, mạch thơ dịch chuyển về không gian đậm chất trữ tình của Hà Nội với trăng Tây Hồ, thành đô ngập tràn nắng vàng, và biểu tượng thiêng liêng Hồ Gươm xưa. Hình ảnh thơ: Hình ảnh “Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa” mang đậm hồn Việt, vừa duyên dáng, hoài cổ vừa gợi lên sự gắn bó thiết tha giữa con người với mảnh đất nghìn năm văn hiến.

  • Và Khổ 3 là Sự thăng hoa của cảm xúc và nỗi lòng lữ thứ

Mỗi lần cầm bút viết văn

Thư trang vẫn nở những vần thơ say

Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

Ý nghĩa: Trang giấy trắng lúc này không chỉ ghi lại con chữ mà như “nở” ra những vần thơ say đắm. Trạng thái “bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư” khép lại bài thơ bằng một dư âm lắng đọng, cho thấy tâm hồn nhạy cảm, giàu tình yêu thương của người cầm bút.

XÉT VỀ YẾU TỐ TRÊN CĂN BẢN THI CA NGHỆ THUẬT

Theo thể thơ Thất Ngôn, bảy chữ với nhịp điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, dễ đi vào lòng người, tâm cảm dễ nhớ.

Bài thơ “Nhớ” là sự hòa quyện tuyệt vời giữa tình yêu văn chương và tình cảm con người. Qua những vần thơ mộc mạc nhưng chân thành, Hồng Anh đã thành công trong việc vẽ nên một bức tranh tâm hồn rộng mở, nơi ký ức về tình bạn, về Hà Nội và những rung động sâu kín được thăng hoa trọn vẹn qua ngòi bút.

Phần thu hút sự suy nghĩ của tôi là bài thi ca sau cùng, Hoàng Hôn Nhớ Mẹ. Trong bài thơ mà nhà văn Minh Đức bình luận về Hoàng Hôn Nhớ Mẹ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, thì ông cho rằng tình thương của Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời, nơi ta chôn nhau cắt rún. Mẹ là tiếng nói quê hương, và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương…

Hoàng Hôn Nhớ Mẹ

Hè về cho trái chín cây

Cho hoa vàng nở nhớ ngày xa xưa

Trời trong gió mát hương đưa

Vẳng nghe tiếng hát ban trưa êm đềm

Nắng soi tà áo vai mềm

Ai đi hong nắng, nón nghiêng mây trời

Nhớ xưa dáng mẹ tuyệt vời

Hạ vàng gợi nhớ những lời mẹ ru

Ca dao lời ngọt thiên thu

À ơi! tiếng mẹ hát ru năm nào

À ơi! tiếng hát ngọt ngào

Trôi theo ngày tháng quyện vào giấc mơ

Mây Tần xao xuyến hồn thơ

Hoàng hôn nhớ mẹ – ngẩn ngơ dáng chiều.

Những vần thơ trong bài “Hoàng Hôn Nhớ Mẹ” trên, thì cùng câu nói đầy xúc động “Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời; Mẹ là tiếng nói quê hương, Và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương…” đã chạm đến những góc sâu kín và thiêng liêng nhất trong tâm hồn mỗi con người. Đó không chỉ là sự tưởng nhớ đấng sinh thành, mà còn là sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa tình mẫu tử và hồn thiêng sông núi.

Mẹ là quê hương và bến đỗ bình yên của cội nguồn, là nơi chôn rau cắt rún. Quê hương còn dó không chỉ là khoảng không gian địa lý với những lũy tre làng, cánh đồng lúa hay con đê nhỏ, mà quê hương hóa thân trọn vẹn trong hình bóng của Mẹ. Mẹ chính là nhân chứng đầu tiên của cuộc đời ta, là bến bờ đầu tiên ta chạm tới khi cất tiếng khóc chào đời.

Quê hương còn dó là không gian che chở cho ta, dù ta có đi đến phương trời nào, chỉ cần nghĩ về Mẹ là nghĩ về sự an yên tuyệt đối. Mẹ là gốc rễ, là nơi chốn dung dưỡng tâm hồn ta lớn khôn. Quê hương còn đó là tiếng nói và ngôn ngữ yêu thương của lòng mẹ

  • Lời ru nghìn năm: Như bài thơ đã hoài niệm qua câu “Ca dao lời ngọt thiên thu. À ơi! tiếng mẹ hát ru năm nào”, tiếng mẹ ru chính là tiếng nói đầu tiên dạy ta cảm nhận thế giới. Đó không chỉ là âm thanh, mà là thứ ngôn ngữ thuần khiết nhất của tình yêu thương, vượt qua mọi rào cản thời gian và không gian.
  • Ngôn ngữ không lời, do tình yêu của mẹ đôi khi không nằm ở lời hoa mỹ, mà hiện hữu qua “tà áo vai mềm”, qua “nón nghiêng mây trời”, qua giọt mồ hôi nhọc nhằn và sự hy sinh thầm lặng suốt năm tháng cuộc đời.

Quê hương còn đó cho ta: Nỗi nhớ hoàng hôn và nỗi niềm khắc khoải qua những Khoảnh khắc giao mùa và lòng người, bài thơ trưng dẫn đã mở ra bằng khung cảnh mùa hè rực rỡ “trái chín cây”, “hoa vàng nở”, nhưng rồi tất cả lại lặng lẽ khép lại trong ánh chiều tà “Hoàng hôn nhớ mẹ – ngẩn ngơ dáng chiều”. Hoàng hôn là thời điểm lòng người dễ chùng xuống nhất. Khi ánh nắng ngày tàn buông xuống, nỗi cô đơn và niềm khao khát được trở về bên mẹ lại trào dâng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

  • Sự bất tử của tình mẫu tử: Thời gian có thể cuốn trôi mọi thứ, khiến tuổi xuân của mẹ phai tàn theo năm tháng, nhưng hình bóng tuyệt vời của mẹ và những khúc ca dao ngọt ngào ấy vẫn mãi “quyện vào giấc mơ”, trở thành hành trang tinh thần theo ta suốt cuộc đời.

Tóm lại, tình thương của Mẹ là bản giao hưởng đẹp đẻ nhất của cuộc đời, nơi dung chứa cả sự bao dung, hy sinh và nguồn cội. Dù mai này có đi đâu xa, mỗi chúng ta vẫn luôn tìm thấy đường về nhà, bởi vì trong trái tim ta – Mẹ mãi mãi là quê hương.

Những vẫn thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh cảm ác thực sự chạm đến sâu thẳm tâm can của bất kỳ ai từng có mẹ, từng lớn lên từ nôi quê nghèo khó mà đong đầy nghĩa tình. Sự hòa quyện giữa hình ảnh “Mẹ” và “Quê hương” không chỉ là một nghệ thuật ẩn dụ quen thuộc trong văn học Việt Nam, mà nó còn là một thứ đạo lý tâm linh, một cội nguồn thiêng liêng nhất của mỗi con người.

Nữ Sĩ Dương Hồng Anh & Văn Thi Sĩ Khánh Lan

Thi ca Dương Hồng Anh vốn sâu sắc về bức tranh tuyệt đẹp như miêu tả bên trên:

Mẹ là cội nguồn sinh dưỡng và là tiếng nói yêu thương, bởi Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời / Mẹ là tiếng nói quê hương, / Và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương,… Quê hương và Mẹ vốn là hai khái niệm hòa quyện vào nhau. 

Mẹ là linh hồn của quê hương. Một khi thiếu vắng mẹ, quê hương dẫu có đầy đủ cũng hóa thành hoang lạnh, xa xôi. Có mẹ, có quê hương mới thực sự là “nơi chốn chôn rau ct rún”, là nơi bình yên nhất để mỗi khi bão giông cuộc đời vây quanh, xô đẩy, những người con tha phương lại khao khát được quay về.

Quê hương còn đó nêu lên sự thể khi cuộc đời dẫu có “nổi trôi” bao nhiêu dặm trường, con người ta có thể già đi, đến tóc bạc da mồi, nhưng hình bóng của Mẹ và quê hương vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn. Đọc những vần thơ Dương Hồng Anh để cho ta thấu hiểu nhiều thêm, thêm xót xa và biết thêm ơn nghĩa vô ngần trước công ơn sinh thành, dưỡng dục lớn lao như trời biển của Mẹ.

  1. BÀI DIỄN VĂN THỨ HAI CỦA GIÁO SƯ QUYÊN DI

QUYÊN DI (Đăng nguyên bài)

GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN

Trước hết, cho phép tôi được nói đôi lời chân thật về chính mình.

Khi còn là học sinh lớp Đệ Nhất và rồi sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có may mắn được học Triết Tây với những vị giáo sư mà tên tuổi đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống trí thức miền Nam: Linh mục Trần Văn Hiến Minh, Linh mục Trần Đức Huynh, Linh mục Lê Tôn Nghiêm, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Trần Bích Lan… Tôi cũng được học Triết Đông với cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Linh mục triết gia Kim Định và một số vị thầy đáng kính khác.

Những năm tháng ấy, tôi cảm thấy mình giống như con chim chích bay vào một khu rừng mênh mông. Trước mắt tôi là biết bao kỳ hoa dị thảo của tư tưởng nhân loại: Socrates, Plato, Aristotle, Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Thánh Augustine, Descartes, Kant, Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger, Sartre, Camus, François Sagan… Tôi ngắm nhìn, say mê, thưởng thức và cố gắng tìm hiểu. Nhưng thú thật, càng đi sâu vào khu rừng triết học, tôi càng nhận ra sự mênh mông của nó. Tôi đã nhìn thấy nhiều con đường, nhưng không phải lúc nào cũng biết con đường nào sẽ đưa mình ra khỏi khu rừng ấy.

Bây giờ tuổi đã cao, khi đọc hai công trình biên khảo của nhà văn Khánh Lan, một công trình về triết học hiện sinh và một công trình về siêu hình học, tôi lại có dịp trở về với những câu hỏi mà thời sinh viên từng làm tôi say mê, bối rối và nhiều khi hoang mang. Điều đáng mừng là lần này, tôi không còn đọc với tâm thế của một sinh viên đang cố ghi nhớ những khái niệm khó khăn, mà đọc như một người đã đi qua nhiều năm tháng của cuộc đời, từng chứng kiến những đổi thay của con người, xã hội và thời đại.

Và thật bất ngờ, qua cách trình bày của Khánh Lan, tôi nhận ra một số điều tưởng đã quen thuộc nhưng trước đây chưa chắc mình đã nhìn thấy đầy đủ. Có những khái niệm từng nằm yên trong sách vở, nay bỗng liên hệ với đời sống. Có những câu hỏi triết học tưởng như xa xôi, nay lại trở thành những câu hỏi rất gần gũi: Tôi là ai? Tôi đang sống như thế nào? Tôi có thật sự tự do không? Tôi có trách nhiệm ra sao về những lựa chọn của mình? Thực tại là gì? Con người có thể hiểu được thế giới đến đâu? Và cuộc đời có ý nghĩa gì trước cái chết?

Đó cũng là lý do tôi rất vui hôm nay được giới thiệu cùng quý vị hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan.

Tác phẩm thứ nhất là Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng. Tác phẩm thứ hai là Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình. Hai cuốn sách có thể được đọc riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một cuộc đối thoại khá tự nhiên. Nếu siêu hình học đặt ra những câu hỏi căn bản về tồn tại, thực tại, con người và thế giới, thì triết học hiện sinh đưa những câu hỏi ấy trở lại với đời sống cụ thể của từng cá nhân.

Nói một cách giản dị, siêu hình học thường hỏi: Cái gì là thực tại? Tồn tại có nghĩa là gì? Con người là gì? Thế giới được cấu tạo như thế nào? Còn triết học hiện sinh hỏi thêm: Con người đang sống thế nào trong thế giới ấy? Con người có quyền lựa chọn hay không? Tự do đem lại hạnh phúc hay lo âu? Chúng ta phải có trách nhiệm thế nào về đời sống của mình?

Trong Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Khánh Lan bắt đầu từ lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, từ những tiền đề xa xưa trong tư tưởng Socrates, Montaigne, Pascal, rồi đi đến Kierkegaard và Nietzsche, những người thường được xem là đã đặt nền tảng quan trọng cho tư tưởng hiện sinh. Từ đó, tác giả trình bày sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỷ XX qua những tên tuổi như Husserl, Heidegger, Sartre, Camus và nhiều nhà tư tưởng khác.

Một ưu điểm dễ nhận thấy của cuốn sách là Khánh Lan không xem chủ nghĩa hiện sinh chỉ như một hệ thống lý thuyết khép kín. Cô cố gắng cho người đọc thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh nảy sinh từ những khủng hoảng rất thật của con người: nỗi cô đơn, sự lo âu, cảm giác phi lý, sự sợ hãi trước cái chết, sự mất phương hướng, nhu cầu được sống chân thật và khát vọng tự quyết định đời mình.

Khi trình bày quan niệm của Sartre rằng sự hiện hữu có trước bản chất, tác giả giúp người đọc hiểu rằng con người không phải là một vật thể đã được định nghĩa hoàn toàn từ trước. Con người được hình thành qua những lựa chọn, những hành động và trách nhiệm của chính mình. Tự do trong triết học hiện sinh vì thế không phải là một món quà dễ chấp nhận. Tự do cũng là một gánh nặng, bởi khi được tự do lựa chọn, con người không thể hoàn toàn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho xã hội hay cho người khác.

Đây là một điểm rất đáng quý trong cách Khánh Lan tiến đến với chủ nghĩa hiện sinh. Cô không chỉ nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân, mà còn gắn tự do với trách nhiệm. Con người được tự do, nhưng không được sống một cách tuỳ tiện. Con người có quyền chọn lựa, nhưng mỗi lựa chọn đều tạo nên một phần con người mình và ảnh hưởng đến những người chung quanh.

Khánh Lan cũng dành sự quan tâm thích đáng đến sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật. Qua văn chương, những khái niệm như phi lý, hư vô, cô đơn, tự do, tuyệt vọng hay tính chân thực không còn là những thuật ngữ khô khan. Chúng trở thành những nhân vật, những số phận, những cuộc đối thoại, những bi kịch nội tâm và những lựa chọn đau đớn của con người.

Văn học giúp cho triết học có một gương mặt cụ thể. Một ý niệm trừu tượng có thể trở nên dễ hiểu hơn khi nó được thể hiện qua một nhân vật đang yêu, đang đau khổ, đang sợ hãi, đang phản kháng hoặc đang phải quyết định giữa hai con đường. Qua cách trình bày này, Khánh Lan cho thấy văn chương không chỉ minh hoạ cho triết học. Văn chương còn là một hình thức suy tư bằng hình tượng, bằng cảm xúc và bằng đời sống.

Nhân đề cập đến triết học hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn chương, tôi nghĩ nên nhắc đến Françoise Sagan, một nhà văn nữ người Pháp đã để lại dấu ấn đặc biệt đối với thế hệ chúng tôi. Sagan không viết những khảo luận triết học, cũng không trình bày chủ nghĩa hiện sinh bằng những hệ thống khái niệm phức tạp. Bà đưa cảm thức hiện sinh vào những điều rất gần gũi: tuổi trẻ, tình yêu, gia đình, sự buồn chán, khát vọng tự do và những lựa chọn riêng tư của con người.

Qua Bonjour tristesse, người đọc gặp một thế giới tưởng như nhẹ nhàng, thanh lịch và phóng túng, nhưng bên dưới bề mặt ấy là những câu hỏi nghiêm chỉnh về tự do, trách nhiệm và hậu quả của hành động. Nhân vật của Sagan muốn sống theo ý mình, nhưng càng tìm cách thoát khỏi những ràng buộc đạo đức, họ càng phải đối diện với sự bất an và mặc cảm. Ở đó, chủ nghĩa hiện sinh không hiện ra như một bài học lý thuyết, mà như một kinh nghiệm sống.

Sagan đã làm cho nhiều người trẻ nhận ra rằng tự do không chỉ là được làm điều mình muốn. Tự do còn là phải sống với kết quả của điều mình đã chọn. Có lẽ vì thế, văn chương của bà đã ảnh hưởng rộng rãi đến thế hệ chúng tôi. Sagan nói bằng một giọng văn nhẹ, lạnh, đôi khi tưởng như dửng dưng, nhưng phía sau sự nhẹ nhàng ấy là một cái nhìn khá sâu sắc về sự cô đơn và trách nhiệm của con người hiện đại.

Nếu Sartre đem chủ nghĩa hiện sinh vào triết học, Camus đem nó đến với cảm thức phi lý, thì Françoise Sagan đưa nó vào đời sống tình cảm và tâm lý của tuổi trẻ. Bà chứng minh rằng những câu hỏi triết học lớn đôi khi không xuất hiện trong giảng đường, mà xuất hiện trong một mái nhà, một cuộc tình, một sự phản bội, một nỗi buồn hay một quyết định tưởng như rất riêng tư.

Trở lại Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng, một điểm khác cũng đáng ghi nhận là tác giả không né tránh những chỉ trích đối với chủ nghĩa hiện sinh. Bên cạnh việc trình bày những đóng góp của dòng tư tưởng này, cô cũng nhắc đến những quan điểm cho rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thái độ bi quan hoặc sự khinh miệt lý trí. Việc dành chỗ cho những ý kiến ngược chiều giúp tác phẩm có thêm chiều rộng, bởi tư tưởng chỉ thật sự sống động khi nó được đặt trong đối thoại và tranh luận.

Phần Khánh Lan viết về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh cũng mở ra một hướng suy nghĩ đáng chú ý. Tôn giáo ở đây không chỉ được nhìn như một hệ thống điều răn từ bên ngoài, mà còn như một kinh nghiệm nội tâm, một cuộc gặp gỡ giữa con người với ý nghĩa tối hậu của đời sống. Câu hỏi về Thiên Chúa, đức tin, tự do và trách nhiệm được đặt trong mối quan hệ với một con người đang hiện hữu, đang chọn lựa và đang chịu trách nhiệm về chính mình.

Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu về quyển sách thứ hai của Khánh Lan. Nếu cuốn sách về triết học hiện sinh giúp người đọc nhìn sâu vào đời sống của cá nhân, thì Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình lại đưa chúng ta trở về với những câu hỏi rộng lớn hơn về thực tại và tồn tại.

Trong phần mở đầu, Khánh Lan khởi đi từ những câu hỏi tưởng như rất đơn giản nhưng không dễ trả lời: Thế giới mà chúng ta đang sống thực sự là gì? Con người hiện hữu trong thế giới ấy với tư cách nào? Thực tại có tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta hay không? Có điều gì còn tiếp diễn sau cái chết?

Đó là những câu hỏi mà triết học đã theo đuổi từ thời cổ đại cho đến hiện nay. Và trong thời đại của AI – trí tuệ nhân tạo, thực tại ảo, những mô hình mô phỏng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, những câu hỏi ấy lại càng trở nên cấp thiết. Ranh giới giữa cái thật và cái dường như thật, giữa con người và máy móc, giữa ý thức và vật chất, giữa đời sống thực và đời sống ảo ngày càng trở nên phức tạp.

Khánh Lan có công trong việc trình bày siêu hình học như một lãnh vực không phải chỉ dành cho những triết gia chuyên nghiệp. Siêu hình học hiện diện ngay trong những điều chúng ta tin tưởng, trong cách chúng ta hiểu về con người, tự do, đạo đức, trách nhiệm, sự sống và cái chết. Mỗi người, dù có ý thức hay không, đều mang trong mình một quan niệm nào đó về thế giới. Quan niệm ấy âm thầm ảnh hưởng đến cách ta lựa chọn, hành động và đánh giá đúng sai.

Cuốn sách lần lượt giới thiệu siêu hình học cơ bản, lịch sử phát triển của siêu hình học từ thời cổ đại đến hiện đại, những khái niệm như tồn tại, hiện hữu, thực tại, bản chất, nguyên nhân và tự do. Tác giả cũng cố gắng đưa siêu hình học đến gần hơn với những lãnh vực cụ thể như khoa học pháp lý, văn học, đời sống, Phật học, đạo đức học và tâm lý học.

Đây là điểm đáng khen của công trình biên khảo. Khánh Lan không để siêu hình học đứng yên trong thế giới của những khái niệm trừu tượng. Cô tìm cách cho thấy những nền tảng siêu hình học có thể ảnh hưởng đến cách một xã hội xây dựng luật pháp, cách con người hình thành quan niệm đạo đức, cách chúng ta nhìn về tâm trí, thân thể, ý thức và bản chất con người.

Đặc biệt, phần nối kết giữa siêu hình học và văn học có nhiều ý nghĩa đối với người đọc yêu văn chương. Triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lập luận. Văn học lại cho phép chúng ta đi vào những vấn đề ấy qua nhân vật, câu chuyện, hình tượng và cảm xúc. Một tác phẩm văn học lớn thường không cần trực tiếp giảng giải về bản thể, nhưng vẫn có thể khiến người đọc tự hỏi mình là ai, vì sao mình đau khổ, thế nào là một đời sống có ý nghĩa và con người phải sống ra sao trước giới hạn của thời gian.

Việc Khánh Lan đặt Phật học vào cuộc đối thoại với siêu hình học phương Tây cũng cho thấy một nỗ lực mở rộng tầm nhìn. Phật học không chỉ được trình bày như một hệ thống tín ngưỡng, mà còn như một con đường nhận thức và chuyển hoá nội tâm. Ở đó, hiểu biết không tách rời đời sống; tư tưởng không tách rời sự tu dưỡng; nhận thức không chỉ nhằm giải thích thế giới mà còn nhằm làm vơi bớt khổ đau.

Chương viết về đạo đức và luân lý tiếp tục làm rõ một mối quan hệ quan trọng: cách chúng ta hiểu về thực tại và con người sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta sống. Nếu xem con người là một hữu thể có tự do, quan niệm của chúng ta về trách nhiệm sẽ khác. Nếu xem con người chỉ như một bộ máy bị chi phối hoàn toàn bởi vật chất và hoàn cảnh, quan niệm của chúng ta về đạo đức cũng sẽ khác.

Phần viết về tồn tại và thời gian, về cái chết như một điều kiện làm cho đời sống có ý nghĩa, cũng đem lại nhiều suy nghĩ. Chính vì đời người hữu hạn, mỗi khoảnh khắc mới trở nên quý giá. Chính vì con người biết mình sẽ chết, con người mới phải tự hỏi mình đã sống thế nào và còn muốn làm gì trong phần đời còn lại.

Ở cuối sách, khi trở về với Socrates, Plato và Aristotle, Khánh Lan như muốn nhắc người đọc rằng mọi cuộc hành trình triết học, dù đi qua bao nhiêu thế kỷ, cuối cùng vẫn trở về với những câu hỏi căn bản của con người: thế nào là chân lý, thế nào là đời sống tốt đẹp, thế nào là công bằng và con người phải sống ra sao trong cộng đồng.

Tôi không nghĩ Khánh Lan viết hai cuốn sách này để đưa ra những câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề lớn của triết học. Chính tác giả cũng ý thức rằng những câu hỏi về tồn tại, thực tại, tự do, đức tin, đạo đức và ý nghĩa đời sống không thể được giải quyết một lần cho tất cả.

Giá trị của hai công trình biên khảo này nằm ở chỗ chúng mở ra một không gian suy nghĩ. Chúng giúp người đọc bước vào triết học bằng những câu hỏi gần gũi, rồi từ đó đi dần đến những vấn đề rộng lớn hơn. Chúng cũng cho thấy một nhà văn, với năng lực cảm nhận đời sống và văn chương, có thể đưa những tư tưởng khó khăn đến gần hơn với người đọc phổ thông.

Khánh Lan thuộc lớp những cây bút đang tiếp tục học hỏi và tìm kiếm con đường riêng của mình. Hai tác phẩm này cho thấy ở cô một niềm say mê đáng quý đối với triết học, một ý thức muốn chia sẻ tri thức và một nỗ lực kết nối giữa tư tưởng với đời sống. Trong một thời đại mà con người thường bị cuốn vào tốc độ, tiện nghi và những tin tức cô đọng, ngắn ngủi, việc có một người chịu khó dừng lại trước những câu hỏi lớn đã là một điều đáng trân trọng.

Tôi xin chúc mừng nhà văn Khánh Lan đã hoàn thành hai công trình nhiều tâm huyết này. Mong rằng quý độc giả sẽ đón nhận Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp DụngTuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình như những lời mời gọi bước vào một cuộc trò chuyện sâu sắc về con người và thế giới.

Và tôi cũng mong rằng, sau khi đọc hai cuốn sách, mỗi chúng ta sẽ có lúc biết dừng lại để tự hỏi: Tôi đang sống như thế nào? Tôi có đang sống thật với chính mình không? Những lựa chọn của tôi đã đem lại điều gì cho bản thân và cho người khác? Tôi đang tìm kiếm điều gì trong cuộc đời hữu hạn này?

Có lẽ, đó chính là lúc triết học không còn nằm yên trên trang sách. Nó bước vào đời sống, đi vào tâm hồn và bắt đầu làm thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới, nhìn người khác và nhìn chính mình.

Xin trân trọng giới thiệu hai tác phẩm biên khảo về triết học của nhà văn Khánh Lan cùng quý vị.

Phần luận bàn về phạm trù tư tưởng học do GS. Quyên Di giới thiệu, xin xem những link sau đây. Tóm lược và nhận định hai tác phẩm triết học là:

Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Lưu Khánh Lan:

https://heyzine.com/flip-book/a34a864bea.html#page/236

Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình, Lưu Khánh Lan:

https://heyzine.com/flip-book/d99de8b9be.html#page/20

  1. BÀI DIỄN VĂN THỨ BA CỦA NHÀ VĂN, NHÀ BÁO PHẠM QUỐC BẢO

Với diễn giả GS. Phạm Quốc Bảo khi bàn về tác phẩm Những Đứa Trẻ Lạc Loài của nhà văn Khánh Lan. Ông nói

Tôi vẫn suy tưởng sau cuộc chiến tại Việt Nam, nay đã thấm thoát hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ tháng Tư, năm 1975, nhưng những vết hằn của lịch sử và nỗi đau ly hương vẫn là một phần nặng trĩu trong tâm khảm của những người con xa xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, việc Khánh Lan giới thiệu tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” cùng ca khúc “Kiếp Lạc Loài” (sáng tác: Phạm Thái, phổ thơ Phạm Thái) thực sự là một nén tâm hương đầy ý nghĩa để tưởng nhớ và chia sẻ nỗi trăn trở.

Dưới đây là một số cảm nhận và bình luận chi tiết về cấu trúc 3 phần của tác phẩm cũng như điểm nhấn mạnh độc đáo của dự án nghệ thuật này:

  • Điểm nhấn về nội dung và cấu trúc tác phẩm
  • Phần I: Hồi ký “Những đứa trẻ lạc loài”

Cảm nhận: Đây là phần mang tính cá nhân và xúc động sâu sắc nhất khi chạm trực tiếp vào số phận của một đứa tr lai bị bỏ lại sau chiến tranh. Những mảnh đời “con lai” từng phải gánh chịu định kiến, sự thiếu vắng tình thương và muôn vàn trắc trở trên chính quê hương mình. Hồi ký không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là tiếng lòng đi diện cho cả một thế hệ sinh ra trong nghịch cảnh chiến tranh.

  • Phần II: Số phận qua chương trình Babylift và Homecoming Act

Cảm nhận: Tác phẩm mở rộng lăng kính để nhìn nhận về những ngã rẽ khác nhau của các em bé được đưa đi theo chiến dịch Babylift (1975) hay những người con lai lớn lên tìm đường định cư nhờ Đạo luật Hồi hương (Amerasian Homecoming Act). Dù có cơ hội bước ra thế giới rộng lớn hơn, hành trình tìm kiếm cội nguồn, đối diện với khủng hoảng bản sắc và nỗi đau mất mát gốc gác vẫn luôn là vết thương khó lành.

  • Phần III: 50 năm nhìn lại vận mệnh đất nước

Cảm nhận: Khép lại tác phẩm bằng cái nhìn tổng quan sau 50 năm, phần này mang chiều sâu chiêm nghiệm của thời gian. Đó là sự giao thoa giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; là nỗi niềm trăn trở về những gì đã xảy ra cho quê hương, đất nước và sự kiên cường vươn lên của những kiếp người viễn xứ.

  • Sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và công nghệ

Ca khúc song ngữ “Kiếp Lạc Loài” và “The Forsaken Life” của NS Phạm Thái là một bước thử nghiệm rất đáng chú ý khi toàn bộ phần hình ảnh, giọng hát và hòa âm đều được thực hiện thông qua công nghệ AI dựa trên lời thơ của anh Phạm Thái. Trên sân khấu ca sĩ Thụy Lan chuyển tải bài nhạc, phần Hòa âm và trong youtube clip ban đầu do giọng hát AI. Ca khúc mang lại màu sắc hoài niệm, da diết, tái hiện thành công nỗi cô đơn và khát vọng tìm về nguồn cội của những đứa trẻ lạc loài.

Tóm lại, tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” và ca khúc “Kiếp Lạc Loài” không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật tưởng niệm tháng Tư Đen, mà còn là một thông điệp nhân văn sâu sắc về lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và hàn gắn những vết thương chiến tranh.

Diễn giả Phạm Quốc Bảo nêu ra sự tương quan liên hệ về xã hội Mỹ vẫn có những tuổi thơ, những trẻ em lạc loài, bơ vơ cần sự giúp đỡ. Vì dây là vấn nạn nhân văn xã hội. Về tác giả Khánh Lan thì trong nội dung sách gồm 3 phần của tác phẩm này được soạn khá kỹ, một khi những chia sẻ của mình có thể đồng điệu với góc nhìn sâu sắc và đầy tính nhân văn của chủ đề. Ví dụ như những suy tư, những trăn trở về gia đình, cộng đồng và số phận con người qua các tác phẩm văn nghệ, thi ca luôn mang một sức sống mãnh liệt, giúp chúng ta xích lại gần nhau hơn trong cuộc sống viễn xứ này.

Điểm chú ý tiểu thuyết xã hội này được soạn lại do việc biên khảo dữ liệu trên liên mạng internet, do sự thực, tiểu thuyết “Những đứa trẻ lạc loài có 2 phiên bản là một ấn bản Việt Ngữ và một về phiên bản Anh Ngữ, tức hai cuốn.

CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ

Sau giờ văn học là chương trình phụ diễn văn nghệ. Tôi chú ý đôi song ca Minh Thư và Thúy Giao song tấu guitar và ca một medley gồm nhiều bài liên khúc như “Take Me Home, Country Road” của John Denver. Tôi nhớ câu chuyện ra đời của bài hát này.

Đây là bài hát kiểu kinh điển. “Take Me Home, Country Roads” của John Denver ra mắt năm 1971, tức là đã hơn năm thập kỷ trôi qua. Bài hát nằm trong album Poems, Prayers & Promises của ông. Ban đầu, bài hát được viết bởi Bill Danoff và vợ ông, Taffy Nivert, dành cho Johnny Cash. Tuy nhiên, khi John Denver nghe về bài hát này, ông rất hào hứng và đề nghị giúp hoàn thiện nó. Ông thích bài hát đến nỗi quyết định đưa nó vào album của mình.

Điều thú vị là John Denver không đến từ Tây Virginia, và cả Danoff lẫn Nivert đều chưa từng đến tiểu bang này trước khi viết bài hát. Trên thực tế, nguồn cảm hứng cho bài hát đến từ một tiểu bang khác. Đây là câu chuyện về cách một bài hát chiếm được trái tim của Tây Virginia trở thành một tác phẩm âm nhạc kinh điển.

Vào cuối năm 1970, Danoff và Nivert đang lái xe đến một buổi họp mặt gia đình ở Quận Montgomery, Maryland. Để chuyến đi dài trở nên thú vị hơn, họ bắt đầu sáng tác một bài hát về những con đường quê. Họ sớm nhận ra rằng từ “Maryland” không hoàn toàn phù hợp với giai điệu mà họ đã hình dung. Danoff sau đó nghĩ đến việc sử dụng “Massachusetts”, nhưng cuối cùng quyết định chọn “West Virginia” vì nó dường như phù hợp với bài hát hơn. Mặc dù Danoff chưa từng đến West Virginia, anh ấy tưởng tượng nơi đó có những ngọn núi tuyệt đẹp và những con đường quanh co. Anh ấy nghĩ về nó như một nơi xa xôi và gần như kỳ diệu. “Tôi cảm thấy West Virginia xa xôi và kỳ lạ đối với tôi như châu Âu vậy,” Danoff nói.

Vào thời điểm đó, Danoff và Nivert là những nhạc sĩ đang chật vật với ước mơ viết một bài hát ăn khách cho những nghệ sĩ nổi tiếng hơn. Cơ hội lớn của họ đến khi họ biểu diễn tại một câu lạc bộ tên là Cellar Door ở Georgetown, Washington, D.C., nơi họ mở màn cho John Denver. Sau màn trình diễn, họ đã chơi bài “Take Me Home, Country Roads” cho Denver nghe. Ông ấy ngay lập tức ấn tượng và yêu thích bài hát. Ba người họ đã thức cả đêm, cùng nhau hoàn thiện bài hát cho đến khi nó hoàn hảo. John Denver lần đầu tiên trình diễn bài hát này tại Cellar Door vào ngày 30 tháng 12 năm 1970. Khán giả đã vô cùng xúc động và dành cho ông tràng vỗ tay kéo dài năm phút. Danoff nhớ lại: “Khi chúng tôi lần đầu tiên cùng nhau hát bài hát này, cảm giác như tiếng vỗ tay sẽ không bao giờ dứt. Phản ứng của khán giả cho chúng tôi biết rằng chúng tôi đang sở hữu một điều gì đó đặc biệt.”

Medley còn có ca khúc như “500 Miles” là ca khúc trở nên phổ biến tại Hoa Kỳ và Tây Âu trong phong trào hồi sinh nhạc dân gian vào thập niên 1960. Lời ca giản dị và mang tính lặp lại của bài hát biểu hiện nỗi niềm của một lữ khách đang ở xa nhà, cạn kiệt tiền bạc và cảm thấy quá xấu hổ để quay trở về. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 5 năm 1963 trên chương trình *Folk Music Worldwide*, Paul Stookey – thành viên nhóm Peter, Paul and Mary – đã mô tả ca khúc này (vốn nằm trong album đầu tay ra mắt năm 1962 của nhóm) là “sự phản ánh nỗi cô đơn”.

Và bài ca “The Sound of Silence” (tên gốc là “The Sounds of Silence”) là một ca khúc của bộ đôi nhạc folk rock người Mỹ Simon & Garfunkel, do Paul Simon sáng tác. Buổi thử giọng tại phòng thu của cặp song ca này đã dẫn đến việc ký kết hợp đồng thu âm với hãng đĩa Columbia Records. Vào năm 1965, bài hát bắt đầu được phát sóng trên các đài phát thanh tại Boston và khắp bang Florida. Sự gia tăng tần suất phát sóng đã thôi thúc Tom Wilson, một nhà sản xuất của ca khúc – thực hiện bản phối âm lại (remix). Bản phối âm lại này đã vươn lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong tuần lễ kết thúc vào ngày 1 tháng 1 năm 1966, khiến bộ đôi tái hợp và nhanh chóng thu âm album thứ hai; Columbia đã đặt tên album này là *Sounds of Silence* nhằm tận dụng sức hút từ thành công của ca khúc.

Tôi lắng nghe tiếp ca sĩ Kim Đức diễn tả bài ca “Paris, tu m’as pris dans tes bras” của Enrico Macias, ông là một ca sĩ nổi tiếng người Pháp gốc Algeria, được biết đến với bài hát “Paris, tu m’as pris dans tes bras” (Paris, tu m’as pris dans tes bras), phản ánh mối liên hệ sâu sắc về mặt cảm xúc của ông với thành phố Paris. Bài hát khắc họa chủ đề tình yêu và nỗi nhớ, thể hiện sự pha trộn độc đáo giữa ảnh hưởng âm nhạc Pháp và Địa Trung Hải trong âm nhạc của Macias.

Tổng quan về Enrico Macias và bài hát của ông Âm nhạc của Enrico Macias thường đan xen những câu chuyện cá nhân và văn hóa. còn về tiểu sử, Enrico Macias, tên thật là Gaston Ghrenassia, sinh năm 1938, lớn lên ở Algeria và trở thành một nhân vật nổi bật trong làng nhạc Pháp sau khi chuyển đến Pháp do bất ổn chính trị.

Khi Enrico Macias muốn có thêm một bài hát về Paris, thành phố đã chào đón ông sau khi ông buộc phải rời Algeria vì lý do chính trị vào ngày 29 tháng 7 năm 1961, vào kho nhạc của mình. Vì vậy, ngay từ đầu năm 1964, Enrico Macias đã móc liên lạc với Jean Peigné, giám đốc chương trình tại Europe 1 và là người viết lời bài hát không thường xuyên. Peigné từng viết lời cho Jean-Claude Pascal, Charles Aznavour, Les Djins Sisters, Pascal Danel và Mireille Mathieu.

Ban đầu, Jean Peigné nói với ông rằng để viết một bài hát về Paris, bạn phải sinh ra ở đó. Ông nói thêm rằng đã có rất nhiều bài hát về thủ đô nước Pháp (của Francis Lemarque, Charles Trenet, Mick Micheyl, Charles Aznavour và những người khác).

Nhưng Enrico không quan tâm và vẫn kiên trì. Và vì ông đã mang cây đàn guitar của mình đến Europe 1, ông đã chơi cho Jean Peigné nghe những nốt nhạc đầu tiên của một giai điệu mà ông đã nghĩ ra. Jean Peigné yêu cầu ca sĩ hát lại bài hát đó lần thứ hai.

Và sau khoảng mười phút, Jean Peigné đã ghi lại những lời đầu tiên của bài hát sau này trở thành “Paris, tu m’as pris dans tes bras” (Paris, tu m’as pris dans tes bras). Bài hát được hoàn thành chỉ trong một buổi chiều tại phòng thu lịch sử Europe 1 trên đường Rue François 1er ở Paris.

Hai ngày sau, Enrico Macias thu âm lời bài hát cùng dàn nhạc của Jean Claudric. Đó là bài hát đầu tiên ở mặt B của đĩa đơn. Vào ngày 21 tháng 2 năm 1964, Enrico Macias nhận được đĩa vàng cho bài hát “Paris, tu m’as pris dans tes bras”. Vài ngày sau, Enrico Macias mở màn cho Les Compagnons de la Chanson tại nhà hát Olympia ở Paris từ ngày 19 tháng 3 đến ngày 22 tháng 4 năm 1964.

Chủ đề bài hát — “Paris, tu m’as pris dans tes bras” thể hiện nỗi nhớ nhung và tình cảm dành cho Paris, miêu tả thành phố như một sự hiện diện an ủi.

Xét về phong cách âm nhạc cũng là phong cách của Macias kết hợp giữa âm nhạc Pháp quốc với ảnh hưởng từ Bắc Phi, tạo nên một âm thanh đặc trưng dộc dáo gây được tiếng vang với nhiều đối tượng khán giả. Tác động văn hóa — Các bài hát của ông thường phản ánh trải nghiệm của người nhập cư, điều này khiến ông trở thành một tiếng nói quan trọng trong nền âm nhạc Pháp.

Về nhạc Pháp trong chương trinh ghi nhận còn có bài tình ca “Après toi”do ca sĩ Kiều My hát. Đây là ca khúc do nữ ca sĩ người Hy Lạp Vicky Leandros trình bày. Nhạc phẩm này được sáng tác bởi cha cô là ông Leo Leandros (dưới nghệ danh Mario Panas) phối hợp cùng nhà soạn nhạc người Đức Klaus Munro, với phần lời tiếng Pháp do Yves Dessca viết. Bài hát đã đại diện cho Luxembourg tham gia và giành chiến thắng tại cuộc thi Eurovision Song Contest năm 1972 tổ chức ở Edinburgh. Vắn tắt bản tin về quá trình sáng tác, “Après toi” được ghi nhận là một tuyệt phẩm tình ca. Đây là một bản ballad đầy cảm xúc, trong đó nữ ca sĩ bày tỏ với người yêu về viễn cảnh của bản thân sau khi anh rời bỏ cô để đến với người con gái khác: “Sau khi anh bỏ em, em sẽ chẳng còn là ngoài cái bóng của hình ảnh của anh”. Kiều My ca những bài khác như Bésame mucho, La Paloma, Il Faut Toujours un Perdant, Comment Ça Va, Adieu Sois Heureuse, Kiều My còn sáng tác nhạc Pháp như các tình ca như Sans Toi Ce Soir, Mon Amour, Tu Restes Toi, Ma Chérie: Je T’aime Tellement Fort, Un Automne Enchanteur,…

Ngoài ra nhiều ca khúc Việt được hát, tôi thích bài ca của nhạc sĩ Lâm Dung phổ thơ Dương Hồng Anh như bài Bạn Bè Của Tôi qua link sau:

Trời đẹp lắm, Ca li trời đẹp lắm

Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi

Bạn bè tôi, những nghệ sĩ yêu đời

Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá

Vì chúng ta không bao giờ xa lạ

Những vần thơ ý nhạc kết nên duyên

Đời có gì hơn được gặp bạn hiền

Trên đất khách quê người tình tri kỷ

Cùng vun sới mảnh vườn đầy thi vị

Một vườn hoa văn nghệ đẹp như tranh

Nắm tay nhau ca hát dười trời xanh

Nhạc thơ đã sẵn sàng cùng cất bước

Bạn bè của tôi chung lời nguyện ước

Đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian

Tình nghĩa văn chương tha thiết muôn vàn

Là tiếng hát của cung đàn réo rắt

Là nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt

Các bạn ơi! thơ nhạc vẫn tràn đầy

Khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say…

(Dương Hồng Anh, 7/2020)

Bài thơ “Bạn bè của tôi” (do nữ sĩ Dương Hồng Anh) cũng là một hành khúc của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

Hành khúc mô tả không gian mở đầu và nỗi niềm vi xa xứ. Thi ca này đã mở ra với một không gian tươi sáng, rộng mở nhưng cũng mang đậm dấu ấn của những người con xa xứ: “Trời đẹp lắm, Cali trời đẹp lắm / Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi”. Miền đất California nắng ấm hiện lên qua những câu thơ rực rỡ, nhưng ẩn sâu trong cảnh sắc ấy chính là tâm hồn rộng mở, lạc quan của tác giả và những người bạn cùng chung chí hướng nghệ thuật.

Hành khúc ballad biểu lộ môt tình cảm tri kỷ và sự gắn kết của những tâm hồn đồng điệu giữa đất khách quê người, tìm được một tri kỷ đã khó, hội tụ được cả một “vườn hoa văn nghệ” lại càng là một cơ duyên hiếm quý. Tình bạn văn chương mà tác giả trân trọng từng phút giây hội ngộ, xem đó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của đời người: “Đời có gì hơn được gặp bạn hiền / Trên đất khách quê người tình tri kỷ”. Lời hứa nguyện ước chung tay “đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian” thể hiện sứ mệnh đẹp đẽ của người cầm bút: dùng nghệ thuật để lưu giữ khoảnh khắc, kết nối con người và sưởi ấm những tâm hồn tha hương. Phải nói là bài thơ đã khép lại bằng những âm hưởng nhịp valse rộn ràng, tươi vui của “cung đàn réo rắt”, “nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt” và dư âm ngọt ngào của “khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say”. Bằng ngôn ngữ mộc mạc, giàu cảm xúc và hình ảnh thơ ca trong trẻo, Dương Hồng Anh đã khắc ghi sự thành công bức tranh chân thực và cảm động về tình bạn văn nghệ sĩ trên đất Mỹ, đồng thời ca ngợi sức mạnh kỳ diệu của thi ca trong việc gắn kết con người vượt qua mọi không gian và thời gian.

Bài ca Ò E Con Ma Đánh Đu (Auld Lang Syne) khi mà đồng hồ đã 5 giờ chiều bế mạc chương trình. Bài ca áp chót là Còn Gặp Nhau, thơ của Tôn Nữ Hỷ Khương, nhạc Võ Tá Hân, ban hợp ca Tơ Vàng và nhóm Tiếng Thời Gian đồng trình bày trước sự hiện diện của nhạc sĩ tác giả bài ca.

Link bài ca:

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,

Lợi danh như bóng mây chìm nổi

Chỉ có tình thương để lại đời.

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương

Tình người muôn thuở vẫn còn vương,

Chắt chiu một chút tình thương ấy

Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi

Bao nhiêu thú vị ở trên đời,

Vui chơi trong ý tình cao nhã

Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời.

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười

Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi

Cho hương thêm ngát, đời thêm vị

Cho đẹp lòng tất cả mọi người.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào

Giữa miền đất rộng với trời cao,

Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước

Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.

Còn gặp nhau thì hãy cứ say

Say tình, say nghĩa bấy lâu nay

Say thơ, say nhạc, say bè bạn

Quên cả không gian lẫn tháng ngày.

Còn gặp nhau thì hãy cứ đi

Đi tìm chân lý – lẽ huyền vi

An nhiên tự tại – lòng thanh thản

Đời sống tâm linh thật diệu kỳ

Bài thơ trên “Còn Gặp Nhau” của nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương (con gái của nhà thơ Ưng Bình Thức Vịnh Giác) qua sự phổ nhạc tinh tế, khéo léo soạn nhạc cùng hòa âm của nhc sĩ Võ Tá Hân mang đến một âm hưởng triết lý sâu lắng, nhẹ nhàng nhưng vô cùng thiết tha về tình người và cuộc sống.

Tôi suy nghiệm về chủ đề và ý nghĩa bài ca thì chính sự trân trọng hiện tại như tựa đề và điệp khúc mở đầu mỗi khổ thơ “Còn gặp nhau thì hãy…” là lời nhắc nhở về sự vô thường, tạm bợ của thời gian và duyên hội ngộ trong cõi đời. Cuộc sống ngắn ngủi ví như “nước chảy hoa trôi”, và danh lợi chỉ là “bóng mây chìm nổi”. Cái quan trọng vì tình người và sự gắn liền giữa dòng đời trôi nổi ấy, tác giả khẳng định giá trị cốt lõi và trường tồn duy nhất chính là tình thương yêu, sự gắn bó chân tình giữa bạn bè, tức giữa người với người.

Một khi tâm hồn và thể xác được yên ổn, an nhiên, cởi mở như lời bài thơ hướng con người đến một lối sống tốt đẹp, biết vui chơi tao nhã, biết cười tươi để lan tỏa niềm vui, biết say sưa trong tình nghĩa, thi ca, bè bạn, và hơn hết là tìm kiếm sự bình yên, thanh thản trong tâm hồn qua một đời sống tâm linh an nhiên, tự tại,… Tôi nói với nhạc sĩ Võ Tá Hân tôi tâm đắc vô cùng tác phẩm này cho ta một nhân sinh quan vui sống, qua những ý tưởng tao nhã, tính thiền triết của nó hòa quyện vào âm nhạc.

Bài ca Còn Gặp Nhau nói về tình bạn: “Còn gặp nhau, bạn ơi!”

Câu thốt lên ấy tựa như một tiếng thở dài nhẹ nhõm giữa cõi người mênh mông. Trong dòng chảy vô thường của thời gian, việc chúng ta còn nhận ra nhau, còn ngồi lại bên nhau để chia sẻ một ly trà, một khúc ca hay vài vần thơ đã là một ân huệ lớn lao của định mệnh. Tình bạn chân thành không cần lúc nào cũng kề cận, mà nằm ở sự thấu cảm âm thầm — nơi những người tri kỷ dù đi qua dâu bể cuộc đời, khi quay đầu lại vẫn thấy ánh mắt và nụ cười của nhau chờ sẵn ở bến bờ của sự chân tình.

Quan diểm về hạnh phúc và khổ đau: Hai mặt của một nhịp đập:

Đoạn văn đã chạm đến cốt lõi của triết học hiện sinh: Hạnh phúc không phải là cái đích đến tĩnh lặng, mà là sự dấn thân và chuyển hóa. Nhưng nếu không có những giọt nước mắt và nỗi đau (khổ đau như một người thầy khắc nghiệt), ta sẽ mãi chỉ là những đứa trẻ chưa từng lớn trước thềm đời. Và chính sự tương phản ấy làm nên chiều sâu của tâm hồn nghệ sĩ. Chỉ khi nếm trải đủ thăng trầm, ta mới thực sự thấu cảm hết cái đẹp mong manh của một buổi chiều thu vàng, hay âm vang da diết của một bản nhạc tiền chiến.

Theo triết nhà Phật về sự vô thường và hiện tại: Khoảnh khắc là cõi vĩnh hằng.

Sự vô thường không đáng sợ như người ta tưởng; trái lại, nó chính là chiếc gương soi chiếu để ta biết trân quý từng giây phút hiện tại. Khi ta hiểu rằng mọi hữu hạn đều đang trôi đi, mỗi cái gật đầu chào nhau, mỗi tiếng đàn, lướt phím vang lên trong phòng trà hay mỗi dòng chữ viết ra đều mang giá trị của sự vĩnh cửu trong tâm tưởng. Sống trọn vẹn với hiện tại chính là cách chúng ta đối thoại đẹp nhất với thời gian.

Bạn ơi, người bạn ta đang dạo bước giữa những hoài niệm và hiện tại, qua những trang văn, tiếng đàn và tình nghĩa gia đạo thâm trầm — một lời chúc an lạc.

Mong rằng trên hành trình nghệ thuật và cuộc sống ấy, tiếng đàn và tình bạn của tất cả chúng ta vẫn luôn là chốn bình yên để trở về, xin gởi những câu kết:

Trích đoạn tiêu biểu.

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,

Lợi danh như bóng mây chìm nổi

Chỉ có tình thương để lại đời.

(Tôn Nữ Hỷ Khương)

Việt Hải Los Angeles-Tháng Chín Mùa Thu, 2026.

Còn Gặp Nhau (photo: Võ Tá Hân – VHLA)