Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Tin tức

TƯỜNG TRÌNH VỀ BUỔI RA MẮT SÁCH CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ NHÀ VĂN KHÁNH LAN

Khánh Lan

Buổi ra mắt sách của tôi được tổ chức vào một buổi chiều cuối tuần ngày 20 tháng 9, 2026. Hôm ấy là đầu mùa Thu, những hàng cây bắt đầu thay lá, vài chiếc lá vàng nhẹ rơi theo làn gió, khoác lên chiếc áo mới “không gian” một vẻ đẹp lãng mạn, quyến rũ và đáng yêu. Thật thế, Nàng Thu đã đến, mang theo một màu trong xanh của bầu trời, và nắng không còn gay gắt mà trở nên ấm áp, dịu nhẹ. Những cơn gió thu khẽ lướt qua song cửa của khán phòng hội trường báo Người Việt đã cho tôi một cảm giác se se lạnh, dễ chịu, khiến lòng tôi bỗng thấy thư thái và bình yên…

Nữ sĩ Dương Hồng Anh & Khánh Lan

… Khi bước vào buổi ra mắt sách của chính mình, tôi cố giữ vẻ bình thản, tự nhiên, nhưng thực ra tâm trí tôi nặng trĩu những âu lo. Bởi cũng hôm ấy, có đến những 5 hội đoàn trong cộng đồng tổ chức (cùng ngày và cùng giờ). Trong đó có 3 tổ chức lớn, đó là Chiều Tưởng Niệm nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Đại Hội toàn quốc của trường trung học Chu Văn An, và Hội Sóc Trăng họp mặt hằng năm… khiến tôi nhủ thầm, những nơi ấy, chắc hẳn sẽ thu hút nhiều người đến tham dự… hơn là buổi Ra Mắt Sách của tôi…

Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga & Nữ sĩ Đình Duy Phương

Hàng ngồi: NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, Thi Sĩ Quỳnh Giao, Lệ Hoa (phu nhân của NV Việt Hải).

Hàng đứng: Chị Trầm Hương, Chị Kim Đức, NS Lê Nguyễn Nga, Chị Kim Hương

Nghĩ đến đây, lòng tôi bỗng như chùng xuống, bởi sau nhiều tháng ngày sống cùng bản thảo. Những lúc lặng lẽ ngồi viết, sửa, rồi lại viết, tôi hiểu rằng một cuốn sách, khi rời khỏi bàn viết, sẽ bắt đầu một đời sống khác và nó sẽ không còn hoàn toàn thuộc về tôi. Nó sẽ bước vào đời sống của những độc giả và tôi không thể biết trước nó sẽ được đón nhận như thế nào. Cho nên tôi không dám kỳ vọng quá nhiều…

Những lúc lặng lẽ ngồi viết, sửa, rồi lại viết.

Ban đầu, tôi chỉ mong ước có vài chục người đến tham dự, chủ yếu là bạn bè, người thân và một số độc giả quen thuộc… Nhưng rồi, khi cánh cửa hội trường mở ra, tôi đã thực sự ngỡ ngàng. Ngay từ khi chương trình bắt đầu, hội trường đã gần như kín chỗ, những hàng ghế nhanh chóng kín người. Có những độc giả tôi chưa từng gặp, và trong những gương mặt xa lạ ấy, có những người đã đi một quãng đường rất xa chỉ để có mặt trong buổi chiều ra mắt sách của tôi. Thậm chí, trên tay họ là cuốn sách mà tôi từng viết trong những đêm rất dài, giữa những khoảng vắng lặng chỉ có mình tôi và trang giấy.

Quang cảnh quan khách tham dự

Tôi thực sự xúc động khi nghe một độc giả nói về một đoạn văn trong tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” đã khiến họ nhìn thấy “chính cuộc đời của họ trong ấy” với những giọt nước mắt long lanh còn đọng trong khóe mắt, họ cám ơn tôi đã viết lên nỗi u uẩn mà họ đã lâu ngày tìm quên trong tiềm thức. Trong khoảnh khắc ấy, mắt tôi bỗng như cay cay và tôi chợt nhận ra rằng: điều tôi viết ra trong cô độc đã tìm được một nơi gọi là bến đậu, xoa dịu cơn thống khổ và gởi niềm thông cảm trong tâm tư những kẻ khốn cùng…những trang chữ viết vốn được hình thành trong những giờ phút cô độc, nay đã tìm thấy người đọc. Khiến tôi có cảm giác như mình đang đứng giữa một giấc mơ.

Nhóm Tơ Vàng: Chị Khiêm Trinh, Jennifer Lâm, Bình Chi, Khánh Lan

Anh Quốc Dân, Kim Hương, Khánh Lan, Đức Hạnh, Mạnh Bổng

Đúng 1:30 chiều, GS Trần Mạnh Chi khai mạc buổi ra mắt sách và chào mừng quan khách. Sau phần Chào quốc kỳ Việt-Mỹ và Phút mặc niệm. Thi sĩ Minh Đức giới thiệu 3 MC gồm Mạnh Bổng,Hồng Quyên, Minh Thư. Chương trình ra mắt sách gồm có 2 phần: phần giới thiệu tác phẩm, xen lẫn phần văn nghệ chọn lọc với chủ đề về quê hương Việt Nam và những tình khúc nổi tiếng đã từng làm nên tên tuổi của nhiều nhạc sĩ. 

Thúy Giao, Minh Thư, Hồng Phúc

Trước khi vào phần văn học, mở đầu với ban tam ca Tiếng Thời Gian: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên với nhạc phẩm Bạn Bè Của Tôi. Thơ Dương Hồng Anh, nhạc Lâm Dung và Nhạc phẩm này đã trở thành Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian hành khúc năm 2019.

Ban tam ca Tiếng Thời Gian với Ái Liên, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh

Mở đầu phần văn học là phần giới thiệu về tiểu sử của NS Dương Hồng Anh: Nữ sĩ Dương Hồng Anh làm thơ rất sớm, bài thơ đầu tay của bà được đăng trên báo Cậu Ấm Cô Chiêu năm 1949 và một số bài thơ khác được đăng trên các báo gồm: Hồ Gươm, Sinh Lực, Giang Sơn, Giác Ngộ, v.v…

Từ năm 1952 đến 1954, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh là thư ký tòa soạn báo Sinh Lực ở Hà Nội cho đến tháng 08, năm 1954, bà di cư vào Miền Nam Việt Nam cùng chồng. Vào Saigon, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh ngưng gởi thơ để đăng trên các báo chí, nhưng bà vẫn tiếp tục sinh hoạt văn thơ trong nhóm của các nhà thơ Linh Điểu, Vạn An, Bùi Khánh Đản, Trình Xuyên, v.v…

Năm 1990, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh sang Hoa Kỳ, định cư tại tiểu bang California và từ Năm 2010, Nữ Sĩ sinh hoạt thi văn cùng với các nhóm gồm: Văn Chương phụ Nữ Việt Nam của Nhà Văn Bùi Bích Hà, Văn Đàn Hải Ngoại, Hạnh Ngộ và thường xuyên đăng thơ trên báo Đất Đứng ở Sacramento, California liên tục trong suốt 10 năm. Cho đến nay Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã xuất bản tổng cộng hơn 20 thi tập từ năm 1952-2026. (2.5’)

Theo sau là vài nét về Văn thi sĩ Khánh Lan, tốt nghiệp cao học ngành cố vấn hôn nhân và gia đình năm 2002.  Hiện là trưởng nhóm văn học của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cũng như Văn Chương Việt và Tiếng Đàn Xưa. 

Năm 2023, Khánh Lan được vinh danh trong 100 tác giả văn hóa Việt Nam trong quyển những khuôn mặt văn hóa Việt Nam hải ngoại của câu lạc bộ văn hóa Paris. Năm 2022, Khánh Lan là giám khảo của chương trình thi viết có thưởng về “Ứng dụng Phật pháp trong đời sống hằng ngày”, được tổ chức bởi chùa Hương Sen. Và là giám khảo trong chương trình thi viết “Tôi là ai 2026” do Viện bảo tàng di sản người Việt tổ chức năm 2026.  

Từ 2020 đến 2026, Khánh Lan cộng tác trong ban biên tập các tổ chức văn học gồm tác phẩm văn học và thi ca phổ biến trên báo chí internet và nhiều tạp chí hải ngoại. Từ năm 2020-2026 khánh Lan đã cho ra mắt hơn 15 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: biên khảo và tham luận về các tác phẩm Nobel, Tam giáo đồng Nguyên, truyện dài, truyện ngắn, trinh thám, Tuyển tập thơ Bóng thời gian, Những nhà thơ hải ngoại, nghiên cứu về phân tâm học, siêu hình học, thuyết học hiện sinh, Góc nhìn văn học, Triết thuyết phương Đông và phương Tây.

MC Minh Thư mời nhà văn Việt Hải, ông là người đã sáng lập ra liên nhóm Nhân văn Nghệ Thuật & tiếng thời gian, cũng như đồng sáng lập Liên nhóm Văn Chương Việt &Tiếng Đàn Xưa. Cô cũng mời nhạc sĩ Võ Tá Hân đưa nữ sĩ Dương Hồng Anh, và sau cùng là văn thi sĩ khánh Lan lên sân khấu để cùng chào đón quý khán giả cũng như khai mạc buổi Hội Ngộ Bút Duyên hôm nay.

NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NV Khánh Lan– chào đón quý khán giả cũng như khai mạc buổi hội ngộ bút duyên.

Trong phần phát biểu nữ sĩ Dương Hồng Anh đã đọc bài thơ “Nhớ” mà bà sáng tác mới nhất.

Bà cũng nhờ nhà văn/thơ Khánh Lan ngâm giọng Tao Đàn, bài thơ như sau:

Nhớ

Mỗi lần cầm bút viết văn

Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

Chung vui những buổi chiều tà

Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

Mỗi lần cầm bút viết văn

Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

Nắng vàng sưởi ấm thành đô

Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

Mỗi lần cầm bút viết văn

Thư trang vẫn nở những vần thơ say

Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

Hồng Anh, Tháng 9, 2026.

Nhóm Tây Ban Cầm: Tơ Vàng

Xen kẽ với phần văn học là Nhóm Tây ban cầm Tơ Vàng, thuộc Fountain Valley Guitar Club, được thành lập và hướng dẫn bởi nhạc sĩ Võ Tá Hân. Các thành viên của nhóm đến từ 3 miền: Bắc, Trung, Nam gồm các chị: Sandy Lee, Lâm Dung, Khiên Trinh, Bình Chi, Jennifer Lâm, Thu Hồng. Nhạc phẩm: Hoài Thu.

MỞ ĐẦU PHẦN VĂN HỌC, DIỄN GIẢ ĐẦU TIÊN LÀ THI SĨ MINH ĐỨC VỚI THI TẬP QUÊ HƯƠNG CÒN ĐÓ CỦA TÁC GIẢ NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH,

Ông nói: Đó là một thi tập mới nhất của Nữ Sĩ, khái lược về yếu tố Quê hương, có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức. Quê hương là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận sự nhớ nhung về quê xưa, ấy là tình yêu quê hương.

Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều.

Hãy xem thơ ca Dương Hồng Anh:

Tháng Tư nhớ quê hương

Mặt trời đi vắng hôm nay

Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương

Năm mươi năm mấy đoạn trường

Tình yêu quê hương không ngọt ngào, nhẹ nhàng, sâu lắng khiến ta khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người. Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ sau dây về quê cũ của người. Xem bài:

Mơ Về Hà Nội

Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

Cho thơ nở giữa vườn thơ

Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

Hướng về cố lý xa xăm

Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ

Tơ đàn xao xuyến hồn thơ

Tiếp theo là nhạc phẩm Trưa Hè Xanh Lá Me, thơ của NS Dương Hồng Anh, nhạc Võ Tá Hân do Ca Nhạc Sĩ Lâm Dung trình bay.

VỊ DIỄN GIẢ THỨ 2 LÀ GIÁO SƯ QUYÊN DI, ÔNG GIỚI THIỆU VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ HAI TÁC PHẨM SIÊU HÌNH HỌC VÀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN. Bài diển văn rất hay và có giá trị văn học, nên người viết xin đăng trọn bài nói chuyện của ông.

GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN

QUYÊN DI

Trước hết, cho phép tôi được nói đôi lời chân thật về chính mình.

Khi còn là học sinh lớp Đệ Nhất và rồi sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có may mắn được học Triết Tây với những vị giáo sư mà tên tuổi đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống trí thức miền Nam: Linh mục Trần Văn Hiến Minh, Linh mục Trần Đức Huynh, Linh mục Lê Tôn Nghiêm, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Trần Bích Lan… Tôi cũng được học Triết Đông với cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Linh mục triết gia Kim Định và một số vị thầy đáng kính khác.

Những năm tháng ấy, tôi cảm thấy mình giống như con chim chích bay vào một khu rừng mênh mông. Trước mắt tôi là biết bao kỳ hoa dị thảo của tư tưởng nhân loại: Socrates, Plato, Aristotle, Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Thánh Augustine, Descartes, Kant, Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger, Sartre, Camus, François Sagan… Tôi ngắm nhìn, say mê, thưởng thức và cố gắng tìm hiểu. Nhưng thú thật, càng đi sâu vào khu rừng triết học, tôi càng nhận ra sự mênh mông của nó. Tôi đã nhìn thấy nhiều con đường, nhưng không phải lúc nào cũng biết con đường nào sẽ đưa mình ra khỏi khu rừng ấy.

Bây giờ tuổi đã cao, khi đọc hai công trình biên khảo của nhà văn Khánh Lan, một công trình về triết học hiện sinh và một công trình về siêu hình học, tôi lại có dịp trở về với những câu hỏi mà thời sinh viên từng làm tôi say mê, bối rối và nhiều khi hoang mang. Điều đáng mừng là lần này, tôi không còn đọc với tâm thế của một sinh viên đang cố ghi nhớ những khái niệm khó khăn, mà đọc như một người đã đi qua nhiều năm tháng của cuộc đời, từng chứng kiến những đổi thay của con người, xã hội và thời đại.

Và thật bất ngờ, qua cách trình bày của Khánh Lan, tôi nhận ra một số điều tưởng đã quen thuộc nhưng trước đây chưa chắc mình đã nhìn thấy đầy đủ. Có những khái niệm từng nằm yên trong sách vở, nay bỗng liên hệ với đời sống. Có những câu hỏi triết học tưởng như xa xôi, nay lại trở thành những câu hỏi rất gần gũi: Tôi là ai? Tôi đang sống như thế nào? Tôi có thật sự tự do không? Tôi có trách nhiệm ra sao về những lựa chọn của mình? Thực tại là gì? Con người có thể hiểu được thế giới đến đâu? Và cuộc đời có ý nghĩa gì trước cái chết?

Đó cũng là lý do tôi rất vui hôm nay được giới thiệu cùng quý vị hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan.

Tác phẩm thứ nhất là Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng. Tác phẩm thứ hai là Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình. Hai cuốn sách có thể được đọc riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một cuộc đối thoại khá tự nhiên. Nếu siêu hình học đặt ra những câu hỏi căn bản về tồn tại, thực tại, con người và thế giới, thì triết học hiện sinh đưa những câu hỏi ấy trở lại với đời sống cụ thể của từng cá nhân.

Nói một cách giản dị, siêu hình học thường hỏi: Cái gì là thực tại? Tồn tại có nghĩa là gì? Con người là gì? Thế giới được cấu tạo như thế nào? Còn triết học hiện sinh hỏi thêm: Con người đang sống thế nào trong thế giới ấy? Con người có quyền lựa chọn hay không? Tự do đem lại hạnh phúc hay lo âu? Chúng ta phải có trách nhiệm thế nào về đời sống của mình?

Trong Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Khánh Lan bắt đầu từ lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, từ những tiền đề xa xưa trong tư tưởng Socrates, Montaigne, Pascal, rồi đi đến Kierkegaard và Nietzsche, những người thường được xem là đã đặt nền tảng quan trọng cho tư tưởng hiện sinh. Từ đó, tác giả trình bày sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỷ XX qua những tên tuổi như Husserl, Heidegger, Sartre, Camus và nhiều nhà tư tưởng khác.

Một ưu điểm dễ nhận thấy của cuốn sách là Khánh Lan không xem chủ nghĩa hiện sinh chỉ như một hệ thống lý thuyết khép kín. Cô cố gắng cho người đọc thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh nảy sinh từ những khủng hoảng rất thật của con người: nỗi cô đơn, sự lo âu, cảm giác phi lý, sự sợ hãi trước cái chết, sự mất phương hướng, nhu cầu được sống chân thật và khát vọng tự quyết định đời mình.

Khi trình bày quan niệm của Sartre rằng sự hiện hữu có trước bản chất, tác giả giúp người đọc hiểu rằng con người không phải là một vật thể đã được định nghĩa hoàn toàn từ trước. Con người được hình thành qua những lựa chọn, những hành động và trách nhiệm của chính mình. Tự do trong triết học hiện sinh vì thế không phải là một món quà dễ chấp nhận. Tự do cũng là một gánh nặng, bởi khi được tự do lựa chọn, con người không thể hoàn toàn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho xã hội hay cho người khác.

Đây là một điểm rất đáng quý trong cách Khánh Lan tiến đến với chủ nghĩa hiện sinh. Cô không chỉ nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân, mà còn gắn tự do với trách nhiệm. Con người được tự do, nhưng không được sống một cách tuỳ tiện. Con người có quyền chọn lựa, nhưng mỗi lựa chọn đều tạo nên một phần con người mình và ảnh hưởng đến những người chung quanh.

Khánh Lan cũng dành sự quan tâm thích đáng đến sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật. Qua văn chương, những khái niệm như phi lý, hư vô, cô đơn, tự do, tuyệt vọng hay tính chân thực không còn là những thuật ngữ khô khan. Chúng trở thành những nhân vật, những số phận, những cuộc đối thoại, những bi kịch nội tâm và những lựa chọn đau đớn của con người.

Văn học giúp cho triết học có một gương mặt cụ thể. Một ý niệm trừu tượng có thể trở nên dễ hiểu hơn khi nó được thể hiện qua một nhân vật đang yêu, đang đau khổ, đang sợ hãi, đang phản kháng hoặc đang phải quyết định giữa hai con đường. Qua cách trình bày này, Khánh Lan cho thấy văn chương không chỉ minh hoạ cho triết học. Văn chương còn là một hình thức suy tư bằng hình tượng, bằng cảm xúc và bằng đời sống.

Nhân đề cập đến triết học hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn chương, tôi nghĩ nên nhắc đến Françoise Sagan, một nhà văn nữ người Pháp đã để lại dấu ấn đặc biệt đối với thế hệ chúng tôi. Sagan không viết những khảo luận triết học, cũng không trình bày chủ nghĩa hiện sinh bằng những hệ thống khái niệm phức tạp. Bà đưa cảm thức hiện sinh vào những điều rất gần gũi: tuổi trẻ, tình yêu, gia đình, sự buồn chán, khát vọng tự do và những lựa chọn riêng tư của con người.

Qua Bonjour tristesse, người đọc gặp một thế giới tưởng như nhẹ nhàng, thanh lịch và phóng túng, nhưng bên dưới bề mặt ấy là những câu hỏi nghiêm chỉnh về tự do, trách nhiệm và hậu quả của hành động. Nhân vật của Sagan muốn sống theo ý mình, nhưng càng tìm cách thoát khỏi những ràng buộc đạo đức, họ càng phải đối diện với sự bất an và mặc cảm. Ở đó, chủ nghĩa hiện sinh không hiện ra như một bài học lý thuyết, mà như một kinh nghiệm sống.

Sagan đã làm cho nhiều người trẻ nhận ra rằng tự do không chỉ là được làm điều mình muốn. Tự do còn là phải sống với kết quả của điều mình đã chọn. Có lẽ vì thế, văn chương của bà đã ảnh hưởng rộng rãi đến thế hệ chúng tôi. Sagan nói bằng một giọng văn nhẹ, lạnh, đôi khi tưởng như dửng dưng, nhưng phía sau sự nhẹ nhàng ấy là một cái nhìn khá sâu sắc về sự cô đơn và trách nhiệm của con người hiện đại.

Nếu Sartre đem chủ nghĩa hiện sinh vào triết học, Camus đem nó đến với cảm thức phi lý, thì Françoise Sagan đưa nó vào đời sống tình cảm và tâm lý của tuổi trẻ. Bà chứng minh rằng những câu hỏi triết học lớn đôi khi không xuất hiện trong giảng đường, mà xuất hiện trong một mái nhà, một cuộc tình, một sự phản bội, một nỗi buồn hay một quyết định tưởng như rất riêng tư.

Trở lại Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng, một điểm khác cũng đáng ghi nhận là tác giả không né tránh những chỉ trích đối với chủ nghĩa hiện sinh. Bên cạnh việc trình bày những đóng góp của dòng tư tưởng này, cô cũng nhắc đến những quan điểm cho rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thái độ bi quan hoặc sự khinh miệt lý trí. Việc dành chỗ cho những ý kiến ngược chiều giúp tác phẩm có thêm chiều rộng, bởi tư tưởng chỉ thật sự sống động khi nó được đặt trong đối thoại và tranh luận.

Phần Khánh Lan viết về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh cũng mở ra một hướng suy nghĩ đáng chú ý. Tôn giáo ở đây không chỉ được nhìn như một hệ thống điều răn từ bên ngoài, mà còn như một kinh nghiệm nội tâm, một cuộc gặp gỡ giữa con người với ý nghĩa tối hậu của đời sống. Câu hỏi về Thiên Chúa, đức tin, tự do và trách nhiệm được đặt trong mối quan hệ với một con người đang hiện hữu, đang chọn lựa và đang chịu trách nhiệm về chính mình.

Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu về quyển sách thứ hai của Khánh Lan. Nếu cuốn sách về triết học hiện sinh giúp người đọc nhìn sâu vào đời sống của cá nhân, thì Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình lại đưa chúng ta trở về với những câu hỏi rộng lớn hơn về thực tại và tồn tại.

Trong phần mở đầu, Khánh Lan khởi đi từ những câu hỏi tưởng như rất đơn giản nhưng không dễ trả lời: Thế giới mà chúng ta đang sống thực sự là gì? Con người hiện hữu trong thế giới ấy với tư cách nào? Thực tại có tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta hay không? Có điều gì còn tiếp diễn sau cái chết?

Đó là những câu hỏi mà triết học đã theo đuổi từ thời cổ đại cho đến hiện nay. Và trong thời đại của AI – trí tuệ nhân tạo, thực tại ảo, những mô hình mô phỏng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, những câu hỏi ấy lại càng trở nên cấp thiết. Ranh giới giữa cái thật và cái dường như thật, giữa con người và máy móc, giữa ý thức và vật chất, giữa đời sống thực và đời sống ảo ngày càng trở nên phức tạp.

Khánh Lan có công trong việc trình bày siêu hình học như một lãnh vực không phải chỉ dành cho những triết gia chuyên nghiệp. Siêu hình học hiện diện ngay trong những điều chúng ta tin tưởng, trong cách chúng ta hiểu về con người, tự do, đạo đức, trách nhiệm, sự sống và cái chết. Mỗi người, dù có ý thức hay không, đều mang trong mình một quan niệm nào đó về thế giới. Quan niệm ấy âm thầm ảnh hưởng đến cách ta lựa chọn, hành động và đánh giá đúng sai.

Cuốn sách lần lượt giới thiệu siêu hình học cơ bản, lịch sử phát triển của siêu hình học từ thời cổ đại đến hiện đại, những khái niệm như tồn tại, hiện hữu, thực tại, bản chất, nguyên nhân và tự do. Tác giả cũng cố gắng đưa siêu hình học đến gần hơn với những lãnh vực cụ thể như khoa học pháp lý, văn học, đời sống, Phật học, đạo đức học và tâm lý học.

Đây là điểm đáng khen của công trình biên khảo. Khánh Lan không để siêu hình học đứng yên trong thế giới của những khái niệm trừu tượng. Cô tìm cách cho thấy những nền tảng siêu hình học có thể ảnh hưởng đến cách một xã hội xây dựng luật pháp, cách con người hình thành quan niệm đạo đức, cách chúng ta nhìn về tâm trí, thân thể, ý thức và bản chất con người.

Đặc biệt, phần nối kết giữa siêu hình học và văn học có nhiều ý nghĩa đối với người đọc yêu văn chương. Triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lập luận. Văn học lại cho phép chúng ta đi vào những vấn đề ấy qua nhân vật, câu chuyện, hình tượng và cảm xúc. Một tác phẩm văn học lớn thường không cần trực tiếp giảng giải về bản thể, nhưng vẫn có thể khiến người đọc tự hỏi mình là ai, vì sao mình đau khổ, thế nào là một đời sống có ý nghĩa và con người phải sống ra sao trước giới hạn của thời gian.

Việc Khánh Lan đặt Phật học vào cuộc đối thoại với siêu hình học phương Tây cũng cho thấy một nỗ lực mở rộng tầm nhìn. Phật học không chỉ được trình bày như một hệ thống tín ngưỡng, mà còn như một con đường nhận thức và chuyển hoá nội tâm. Ở đó, hiểu biết không tách rời đời sống; tư tưởng không tách rời sự tu dưỡng; nhận thức không chỉ nhằm giải thích thế giới mà còn nhằm làm vơi bớt khổ đau.

Chương viết về đạo đức và luân lý tiếp tục làm rõ một mối quan hệ quan trọng: cách chúng ta hiểu về thực tại và con người sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta sống. Nếu xem con người là một hữu thể có tự do, quan niệm của chúng ta về trách nhiệm sẽ khác. Nếu xem con người chỉ như một bộ máy bị chi phối hoàn toàn bởi vật chất và hoàn cảnh, quan niệm của chúng ta về đạo đức cũng sẽ khác.

Phần viết về tồn tại và thời gian, về cái chết như một điều kiện làm cho đời sống có ý nghĩa, cũng đem lại nhiều suy nghĩ. Chính vì đời người hữu hạn, mỗi khoảnh khắc mới trở nên quý giá. Chính vì con người biết mình sẽ chết, con người mới phải tự hỏi mình đã sống thế nào và còn muốn làm gì trong phần đời còn lại.

Ở cuối sách, khi trở về với Socrates, Plato và Aristotle, Khánh Lan như muốn nhắc người đọc rằng mọi cuộc hành trình triết học, dù đi qua bao nhiêu thế kỷ, cuối cùng vẫn trở về với những câu hỏi căn bản của con người: thế nào là chân lý, thế nào là đời sống tốt đẹp, thế nào là công bằng và con người phải sống ra sao trong cộng đồng.

Tôi không nghĩ Khánh Lan viết hai cuốn sách này để đưa ra những câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề lớn của triết học. Chính tác giả cũng ý thức rằng những câu hỏi về tồn tại, thực tại, tự do, đức tin, đạo đức và ý nghĩa đời sống không thể được giải quyết một lần cho tất cả.

Giá trị của hai công trình biên khảo này nằm ở chỗ chúng mở ra một không gian suy nghĩ. Chúng giúp người đọc bước vào triết học bằng những câu hỏi gần gũi, rồi từ đó đi dần đến những vấn đề rộng lớn hơn. Chúng cũng cho thấy một nhà văn, với năng lực cảm nhận đời sống và văn chương, có thể đưa những tư tưởng khó khăn đến gần hơn với người đọc phổ thông.

Khánh Lan thuộc lớp những cây bút đang tiếp tục học hỏi và tìm kiếm con đường riêng của mình. Hai tác phẩm này cho thấy ở cô một niềm say mê đáng quý đối với triết học, một ý thức muốn chia sẻ tri thức và một nỗ lực kết nối giữa tư tưởng với đời sống. Trong một thời đại mà con người thường bị cuốn vào tốc độ, tiện nghi và những tin tức cô đọng, ngắn ngủi, việc có một người chịu khó dừng lại trước những câu hỏi lớn đã là một điều đáng trân trọng.

Tôi xin chúc mừng nhà văn Khánh Lan đã hoàn thành hai công trình nhiều tâm huyết này. Mong rằng quý độc giả sẽ đón nhận Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng và Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình như những lời mời gọi bước vào một cuộc trò chuyện sâu sắc về con người và thế giới.

Và tôi cũng mong rằng, sau khi đọc hai cuốn sách, mỗi chúng ta sẽ có lúc biết dừng lại để tự hỏi: Tôi đang sống như thế nào? Tôi có đang sống thật với chính mình không? Những lựa chọn của tôi đã đem lại điều gì cho bản thân và cho người khác? Tôi đang tìm kiếm điều gì trong cuộc đời hữu hạn này?

Có lẽ, đó chính là lúc triết học không còn nằm yên trên trang sách. Nó bước vào đời sống, đi vào tâm hồn và bắt đầu làm thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới, nhìn người khác và nhìn chính mình.

Xin trân trọng giới thiệu hai tác phẩm biên khảo về triết học của nhà văn Khánh Lan cùng quý vị.

Phần văn nghệ xen kẽ là: The Duo guitar Cát Vàng với Minh Thư và Thúy Giao, trình diễn liên khúc Country Roads: 500 Miles and Take Me Home.

Ngoài 2 tác phẩm Siêu Hình Học và Triết Học Hiện Sinh, NV Khánh Lan còn cho ra mắt một tác phẩm song ngữ Những đứa trẻ lạc loài/The unwanted children.

BÀI DIỄN VĂN THỨ BA CỦA NHÀ VĂN, NHÀ BÁO PHẠM QUỐC BẢO

Với diễn giả NV Phạm Quốc Bảo khi bàn về tác phẩm Những Đứa Trẻ Lạc Loài của nhà văn Khánh Lan. Ông nói:

Tôi vẫn suy tưởng sau cuộc chiến tại Việt Nam, nay đã thấm thoát hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ tháng Tư, năm 1975, nhưng những vết hằn của lịch sử và nỗi đau ly hương vẫn là một phần nặng trĩu trong tâm khảm của những người con xa xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, việc Khánh Lan giới thiệu tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” cùng ca khúc “Kiếp Lạc Loài” (sáng tác: Phạm Thái, phổ thơ Phạm Thái) thực sự là một nén tâm hương đầy ý nghĩa để tưởng nhớ và chia sẻ nỗi trăn trở.(Trích trong phần nhận định tác phẩm của NV Việt Hài)

Dưới đây là một số cảm nhận và bình luận chi tiết về cấu trúc 3 phần của tác phẩm cũng như điểm nhấn mạnh độc đáo của dự án nghệ thuật này:

  • Phần I: Hồi ký “Những đứa trẻ lạc loài”

Cảm nhận: Đây là phần mang tính cá nhân và xúc động sâu sắc nhất khi chạm trực tiếp vào số phận của một đứa trẻ lai bị bỏ lại sau chiến tranh. Những mảnh đời “con lai” từng phải gánh chịu định kiến, sự thiếu vắng tình thương và muôn vàn trắc trở trên chính quê hương mình. Hồi ký không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là tiếng lòng đại diện cho cả một thế hệ sinh ra trong nghịch cảnh chiến tranh.

  • Phần II: Số phận qua chương trình Babylift và Homecoming Act

Cảm nhận: Tác phẩm mở rộng lăng kính để nhìn nhận về những ngã rẽ khác nhau của các em bé được đưa đi theo chiến dịch Babylift (1975) hay những người con lai lớn lên tìm đường định cư nhờ Đạo luật Hồi hương (Amerasian Homecoming Act). Dù có cơ hội bước ra thế giới rộng lớn hơn, hành trình tìm kiếm cội nguồn, đối diện với khủng hoảng bản sắc và nỗi đau mất mát gốc gác vẫn luôn là vết thương khó lành.

  • Phần III: 50 năm nhìn lại vận mệnh đất nước

Cảm nhận: Khép lại tác phẩm bằng cái nhìn tổng quan sau 50 năm, phần này mang chiều sâu chiêm nghiệm của thời gian. Đó là sự giao thoa giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; là nỗi niềm trăn trở về những gì đã xảy ra cho quê hương, đất nước và sự kiên cường vươn lên của những kiếp người viễn xứ.

Diễn giả Phạm Quốc Bảo nêu ra sự tương quan liên hệ về xã hội Mỹ vẫn có những tuổi thơ, những trẻ em lạc loài, bơ vơ cần sự giúp đỡ. Vì dây là vấn nạn nhân văn xã hội. Về tác giả Khánh Lan thì trong nội dung sách gồm 3 phần của tác phẩm này được soạn khá kỹ, một khi những chia sẻ của mình có thể đồng điệu với góc nhìn sâu sắc và đầy tính nhân văn của chủ đề. Ví dụ như những suy tư, những trăn trở về gia đình, cộng đồng và số phận con người qua các tác phẩm văn nghệ, thi ca luôn mang một sức sống mãnh liệt, giúp chúng ta xích lại gần nhau hơn trong cuộc sống viễn xứ này.

Điểm chú ý tiểu thuyết xã hội này được soạn lại do việc biên khảo dữ liệu trên liên mạng internet, do sự thực, tiểu thuyết “Những đứa trẻ lạc loài có 2 phiên bản là một ấn bản Việt Ngữ và một về phiên bản Anh Ngữ, tức hai cuốn.

Ca khúc song ngữ “Kiếp Lạc Loài” và “The Forsaken Life” của NS Phạm Thái do lấy cảm hứng từ tiểu thuyết những đứa trẻ lạc loài của nhà văn khánh Lan. Đây là một bước thử nghiệm rất đáng chú ý khi toàn bộ phần hình ảnh, giọng hát và hòa âm đều được thực hiện thông qua công nghệ AI dựa trên lời thơ của anh Phạm Thái. Trên sân khấu ca sĩ Thụy Lan chuyển tải bài nhạc, phần Hòa âm và trong youtube clip ban đầu do giọng hát AI. Ca khúc mang lại màu sắc hoài niệm, da diết, tái hiện thành công nỗi cô đơn và khát vọng tìm về nguồn cội của những đứa trẻ lạc loài.

Tóm lại, tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” và ca khúc “Kiếp Lạc Loài” không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật tưởng niệm tháng Tư Đen, mà còn là một thông điệp nhân văn sâu sắc về lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và hàn gắn những vết thương chiến tranh.

Hai bài hát xen kẽ do ca sĩ Ngọc Hà, phu nhân của nhạc sĩ Lê Văn Khoa trong 2 nhạc phẩm. Tình cố hương của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Và Tình Cầm, thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy.

Tiếp theo là phẩm diễn ngân của thi sĩ Hà Phương đã kết thúc phần văn học với hai bài thơ: Nàng Thơ Nàng Xuân tặng nữ sĩ Dương Hồng Anh và Cung Linh Khúc tặng văn thi sĩ khánh Lan.

Tuyết Nga, Vee Hương, (Khánh Lan) Đức Hạnh, Kim Hương

Sách bán được gần hết và nhanh hơn dự kiến. Nhưng điều khiến tôi xúc động không phải là số lượng sách được bán, mà là những cuộc trò chuyện sau buổi giao lưu. Sự thành công hôm ấy, với tôi, không nằm ở những con số mà nằm trong ánh mắt của độc giả, trong những cái bắt tay, những lời chia sẻ chân thành và cả sự im lặng đầy xúc động của chính tôi. Sự thành công đến quá bất ngờ, vượt xa mọi điều tôi mong ước.

Khi hội trường dần vắng, tôi nhìn một số ít sách còn lại trên bàn và mỉm cười. Tôi hiểu rằng những tháng ngày miệt mài viết lách của mình đã được đáp lại bằng một món quà đẹp đẽ: sự yêu thương của độc giả. Đó là khoảnh khắc tôi sẽ không bao giờ quên.

Trong cuộc đời của một người cầm viết không thể đo đếm bằng thành công mà bằng hạnh phúc vì những điều mình viết ra đã thực sự đến được với độc giả.

Khi buổi ra mắt kết thúc, tôi đứng lại một mình trong hội trường đã vắng người. Tôi nhớ đến những ngày mình từng hoài nghi không biết liệu có ai muốn đọc câu chuyện này hay không. Vậy mà hôm nay, chính những bân bè, người xa lạ lại dành thời gian đến đây, lắng nghe và chia sẻ cảm xúc với tôi.

Tối hôm ấy, trở về nhà, tôi ngồi một mình bên bàn viết, nhìn những cuốn sách còn lại và chợt hiểu rằng có những khoảnh khắc trong cuộc đời của một người cầm viết không thể đo đếm bằng thành công mà bằng hạnh phúc vì những điều mình viết ra đã thực sự đến được với độc giả. Tim óc tôi lúc ấy như dâng lên một niềm vui mừng tưởng chừng như bất tận, xen lẫn những cảm xúc dâng trào từ tận đáy lòng.

Thành công của buổi ra mắt không nằm ở số sách được bán ra, mà ở khoảnh khắc tôi nhận ra rằng câu chuyện mình viết đã thực sự chạm đến người đọc/khác. Đó là một thành công hoàn toàn ngoài dự tính, bất ngờ đến mức tôi vẫn cảm thấy như mình đang nằm mơ. Và có lẽ, đây sẽ là một trong những ngày đáng nhớ nhất trên hành trình viết sách của tôi.

PHẦN VĂN NGHỆ

Sau phần văn học, một chương trình nhạc thính phòng với những nhạc phẩm vang bóng một thời trong nền âm nhạc Việt Nam đã cống hiến đến quý quan khách. Mở đầu phần văn nghệ, Ca sĩ Kim Đức, phu nhân của Bác Sĩ Vũ Thùy với nhạc phẩm “Paris tu m’as Pris dans tes bras”, xin được dịch nôm na là “Paris ơi, thành phố đã đón tôi trong vòng tay”. Một nhạc phẩm nổi tiếng của ca sĩ Enrico Macias, được ông sáng tác khi chính phủ Algeria trục xuất ông ra khỏi nước vì ông tham gia phản chiến và chính phủ Pháp đã dang rộng bằng vòng tay để đón chào ông.

Và lần lượt đến sự trình diễn của các bạn bè và thân hữu.

  • Chế Tùng & Nguyệt Hân: Hoa Có Vàng Nơi Ấy. NS việt Anh
  • Đông Triều: Biết Bao Giờ Trở Lại, NS Ngô Thụy Miên.
  • Ngọc Quỳnh: Về Đây Nghe Em, NS Trần Quang Lộc 
  • Hồng Quyên: Thu Quyến Rũ. NS Đoàn Chuẩn 
  • Kim Đức: If You Go Away.
  • Mạnh Bổng: Dưới Giàn Hoa Cũ của nhạc sĩ Tuấn Khanh.
  • Chế Tùng & Nguyệt Hân: Còn Mùa Thu.

Đông Triều trong nhạc phẩm Biết Bao Giờ Trở Lại

Hồng Quyên vời Thu Quyến Rũ

Ngọc Quỳnh với Về Đây Nghe Em 

Mạnh Bổng với nhạc phẩm: Dưới Giàn Hoa Cũ

4:30 pm: Bế mạc với ban hợp ca nhạc phẩm Còn Gặp Nhau với Minh Thư, Lâm Dung & Ngọc Quỳnh và nhóm tơ vàng. Nhạc phẩm Còn gặp nhau của nhạc sĩ Võ Tá Hân đã chấm dứt chương trình ra mắt sách.

Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Khánh Lan gởi lời cảm ơn chân tình đến quý Giáo Sư, Diễn Giả, Văn Thi Sĩ, Anh Chị Em và Thân Hữu đã đến chia vui và chúc mừng đến chúng tôi. Chúng tôi cũng gởi lời cám ơn đến các ca sĩ và bạn bè, thân hữu cũng như các anh chị em trong nhóm đã tham gia trong phần văn nghệ, đã trình diễn những nhạc phẩm tuyệt diệu và đã ở lại đến giây phút cuối.

NS Dương Hồng Anh & Khánh Lan, California 2026