LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ((Theory and Criticism of Literature and Arts)
Việt Hải Trần

VIẾT VỀ VĂN HỌC TIỂU LUẬN VỀ NHÀ VĂN LƯU NGUYỄN TỪ THỨC TÔI XOÁY VÀO 3 ĐIỂM:
Trước tiên hãy xét qua giá trị của Mỹ học trong văn học qua tác phẩm. Định nghĩa của Mỹ học, và quan niệm cùng bản sắc của mỹ học:
Mỹ học (Aesthetics) là một ngành triết học chuyên nghiên cứu về bản chất của cái đẹp, nghệ thuật và trải nghiệm thẩm mỹ. Đây là lĩnh vực đặt ra những câu hỏi căn bản về việc làm thế nào con người nhận thức, đánh giá và phản ứng trước các hiện tượng mang tính thẩm mỹ trong tự nhiên, đời sống, và sáng tạo nghệ thuật.
Trong mỹ học, trọng tâm nghiên cứu không chỉ là cái đẹp, mà còn là sự hài hòa, sự xúc động thẩm mỹ, và những hiện tượng nghệ thuật gây tranh luận về giá trị. Khác với cảm giác đơn thuần, kinh nghiệm thẩm mỹ thường bao hàm sự chú tâm, suy tưởng và cảm xúc sâu sắc.
Tại nhiều trường đại học và trung tâm nghiên cứu triết học lớn như Harvard, Oxford hay Sorbonne, Mỹ học được giảng dạy như một chuyên ngành độc lập, với phạm vi mở rộng đến văn hóa thị giác, kiến trúc, công nghệ và truyền thông. Bạn có thể tìm hiểu thêm tại Stanford Encyclopedia of Philosophy.
Lịch sử phát triển của mỹ học:
Nguồn gốc của mỹ học gắn liền với triết học Hy Lạp cổ đại, nơi các nhà tư tưởng như Plato và Aristotle lần đầu tiên thảo luận về nghệ thuật, cảm xúc và cái đẹp. Tuy nhiên, thuật ngữ “Aesthetics” (do từ Hy Lạp “aisthēsis” – cảm nhận) chỉ được định danh thành một ngành khoa học độc lập vào thế kỷ 18 bởi triết gia người Đức Alexander Baumgarten.
Baumgarten phân biệt giữa logic (lý trí) và mỹ học (cảm giác), xem mỹ học là “khoa học của tri thức cảm tính”. Từ đó, nhiều học giả châu Âu thế kỷ 18–19 như Kant, Hegel, Schopenhauer đã đóng góp các lý thuyết nền tảng cho lĩnh vực này.

Mỹ học mang tính chất chân thiện mỹ.
Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống, là tiếng nói của tâm hồn và khát vọng con người qua bao thế hệ. Từ thuở bình minh của nền văn minh nhân loại đến thời hiện đại, văn học không ngừng tìm kiếm và khẳng định những giá trị cốt lõi làm nên nhân cách và phẩm chất con người. Trong số đó, Chân – Thiện – Mỹ được xem là ba giá trị cao cả và bền vững nhất. Văn học chân chính không chỉ dừng lại ở việc kể chuyện hay mô tả cuộc sống, mà còn là hành trình dẫn dắt con người hướng đến cái chân thật, cái tốt đẹp, và cái đẹp đẽ trong đời sống cũng như trong tâm hồn. Những giá trị ấy là linh hồn của văn chương, là ánh sáng soi đường cho con người vươn tới nhân văn và nhân bản. Hãy cùng nhau tìm hiểu về những giá trị tốt đẹp này.
Mỹ Học – Aesthetics
“Chân” là cái thật, là yếu tố cốt lõi của nghệ thuật chân chính. Những câu chuyện, nhân vật, biến cố hay dòng suy tưởng trong tác phẩm đều mang trong mình khát vọng nói lên sự thật về con người, về đời sống, về xã hội. Qua đó, văn học thôi thúc người đọc sống trung thực, sống có lý tưởng và đối diện với bản thân mình.
“Thiện” là đạo đức, là lòng nhân ái, là cách đối đãi bao dung giữa con người với nhau. Các tác phẩm văn chương, hội họa, âm nhạc luôn gieo vào lòng người những hạt mầm của sự yêu thương, của tinh thần trách nhiệm, sống vì cộng đồng, tôn trọng lẽ phải và đấu tranh cho công lý.
“Mỹ” là cái đẹp, đẹp trong nghệ thuật tạo hình, đẹp trong ngôn từ và đẹp trong tư tưởng, hành vi, tâm hồn. Một bài thơ nhẹ nhàng, một bức tranh sâu sắc, hay một giai điệu dịu dàng… đều có thể đánh thức cảm xúc, giúp con người biết rung cảm trước cái hay, cái đúng, cái đẹp và sống tử tế, nhân hậu hơn.

Tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức đề cập về quan niệm Mỹ Học cổ bên Ðông phương, trường hợp của Việt Nam, như về việc đọc để hiểu tác phẩm văn học cũng là việc tìm sự cảm thông giữa những tâm hồn đồng điệu, là việc tìm giao cảm giữa những tâm hồn tri kỷ, tri âm.
Ví dụ trong niềm ưu tư đó mà Nguyễn Du khi kết thúc Truyện Kiều.
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Tư tưởng khóc Tố Như của ông là minh thị cho quan diểm triết thuyết nhân sinh quan Việt Nam, điểm nhân bản Việt Nam. Câu thơ chất chứa nét mỹ học trong văn học thi ca.
Tác phẩm mượn câu chuyện của nàng Kiều để vẽ lên bức tranh toàn cảnh về hiện thực xã hội phong kiến bể dâu, bi thương, kim tiền, xấu xa, tồi bại và đầy rẫy bất công ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19; đồng thời tác phẩm biểu hiện ước mơ giải phóng con người, đòi quyền sống, quyền tự do, công lý, tình yêu và hạnh phúc. ”Truyện Kiều” được xem là tập “Đại thành ngôn ngữ” của văn học Việt Nam.
Cái Mỹ học trong văn chương, hay những tác phẩm hay về mặt giá trị nghệ thuật xin nêu ra những danh tác sau.
Hoàng Ngọc Phách trong tiểu thuyết Tố Tâm:
Hoàng Ngọc Phách trong tiểu thuyết Tố Tâm (1924) đã dệt nên mối tình tuyệt đẹp giữa Đạm Thủy và Tố Tâm nhưng họ vẫn không bước qua được rào cản của lễ giáo phong kiến để xây ngôi nhà hạnh phúc. Chỉ vì “gia pháp nhà tôi còn nghiêm ngặt lắm, tình gia quyến tôi rất mạnh” nên khi cha mẹ định cho một nơi, Đạm Thủy phải lánh xa Tố Tâm, gạt nước mắt khuyên người yêu từ bỏ mình: “Ta yêu nhau, ta quý nhau như hạng người tri kỉ trên đời không thể có hai, thế nhưng cái bắt buộc của tình gia quyến tối thiêng liêng nó bảo ta phải bưng mắt ôm lòng mà chịu, biết nói sao đây. Thôi em yêu anh như thế cũng là yêu rồi, đừng yêu thêm nữa mà làm anh hối hận”. Còn Tố Tâm không dám cưỡng lại lời mẹ lúc “thập tử nhất sinh” đã phải lấy người mình không yêu để 36 ngày sau “chết vì hai chữ ái tình”.
Mỹ học qua những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, ví dụ diển hình như tác phẩm Hồn bướm mơ tiên:
Hồn bướm mơ tiên, quyển sách “có sức cám dỗ lạ lùng mà nhà phê bình sung sướng gặp được trong khi khảo cứu về văn học Việt Nam hiện đại” [5, tr. 60] đã đưa ra một vấn đề mới mẻ là đối lập tình yêu với hôn nhân: “Gia đình! Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ mà tiểu gia đình là… hai linh hồn của đôi ta ẩn núp dưới bóng từ bi Phật tổ”. Quan niệm này thời bấy giờ được coi là quan niệm có tính chất nhân văn, chống lại hôn nhân phong kiến. Mặt khác, bản thân tình yêu giữa Ngọc và tiểu Lan – một kẻ tu hành – đã mang tính phản phong sâu sắc.
Ngoài danh tác sáng lạng như Truyện Kiều của Nguyễn Du, một tác phẩm văn chương hướng đến Chân – Thiện – Mỹ. Giá trị nghệ thuật của Mỹ học cũng có nhiệm vụ nghiên cứu các triết thuyết liên quan đến nghệ thuật, các phê bình có tính cách triết lý của các nghệ phẩm, và thẩm định đặc tính triết học của các hành động nghệ thuật. Các phản ứng tình cảm và tâm lý của con người đối với các yếu tố của nghệ thuật như màu sắc, âm thanh, đường nét, hình tượng, và ngôn ngữ.
Một tác phẩm về văn học khác nên được lưu tâm như sau.
Dương Quảng Hàm và sách giáo khoa Việt Nam Văn Học Sử Yếu:
Việt Nam Văn Học Sử Yếu không những chỉ có giá trị khảo cứu về văn chương mà trong chừng mực nhất định còn có giá trị khảo cứu về văn hoá. Cuốn sách gối dầu làm nền cho văn học tham khảo hay bổ túc cải tiến dược hoàn chỉnh hơn bởi giới hậu bối.
PHẦN KẾ TIẾP XIN DIỂM QUA GIAI THOẠI SỰ BIẾN DẠNG VĂN HỌC:
Thưở nho học, hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục hành chánh ở bên Tàu từ thời Trung Hoa cổ đại, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc (770–221 TCN), và được du nhập vào Việt Nam từ đầu đời Hán đến thế kỷ 15, rồi nó trở thành Quốc giáo. Lịch sử văn học quanh khúc rẽ từ khi Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng lần thứ nhất là trận đánh mở đầu cho cuộc chiến tranh Pháp – Việt (1858 – 1884) và khi quân Pháp chiếm 3 tỉnh ở miền nam Viẻt Nam vào năm 1867, quân Pháp đã chiếm đóng các tỉnh ở Nam phần là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Sau thời kỳ này dần dần nền văn học nho học lu mờ nhường thời cơ cho văn học tây học, như thuở văn học phương tây như trường hợp nước Pháp, khi mà văn học rực rỡ ở Pháp vào những thế kỷ 18, 19, cũng là giai đoạn nước Pháp chiếm lĩnh Việt Nam, cái văn học rực rỡ ấy du hành sang Việt Nam, nước ta chịu ảnh hưởng văn học Pháp và bị ảnh hưởng nền văn hoc cổ đại nho học xứ Trung Hoa. Trong cái vận xui của lịch sử nước nhà, nhưng điểm chung cuộc, Việt Nam có nền văn hóa địa phương cá biệt hòa lẫn vào nền văn minh Pháp Hoa, những phần sau bài viết xin trình bày những tiểu tiết liên quan về văn học nho gia và văn học tây phương tại xứ ta.
THỜI GIAN BIẾN DẠNG VĂN HỌC NHƯ TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM:
Văn học Việt Nam từ thời nho học sang tây học, xét qua quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ xưa đến nay.
Khám phá quá trình phát triển của văn học Việt Nam để tìm hiểu về sự phát triển của văn học Việt từ thời xưa đến nay. Cuộc hành trình này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những văn bản, tác phẩm và những diễn biến quan trọng trong lịch sử văn học Việt. Bạn sẽ được tìm hiểu về những nhà văn, nhà thơ… đã đóng góp cho sự phát triển của văn học Việt. Hãy cùng khám phá quá trình phát triển văn học Việt Nam trong nội dung này như sau.
NGUỒN GỐC VĂN HỌC VIỆT: NHỮNG TÁC PHẨM CỔ ĐẠI.
Quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hiện đại là một bức tranh lịch sử đầy thú vị. Nó cho thấy rằng, qua các thời kỳ khác nhau, văn học Việt đã đạt được nhiều thành tựu và đã đạt được những bước tiến lớn trong việc phát triển văn học. Khám phá quá trình phát triển văn học Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những gì đã xảy ra trong quá khứ và cũng giúp chúng ta cảm nhận được sự phát triển của văn học Việt.
SỰ CHUYỂN GIAO TỪ NHO HỌC SANG TÂY HỌC.
Nhà nho truyền thống. Lúc này đã bị thời đại thay thế, nên đã rút lui về ngõ hẻm, hoặc thôn quê, nhưng thỉnh thoảng từ hậu trường họ vẫn thốt ra những tiếng nói lạc lõng. Chủ trương không chấp nhận văn hóa phương Tây. Khi nhà tây học bị nho hóa, là nhà tây học nhưng vì công việc liên quan đến văn hóa, xã hội Việt Nam nên họ phải học thêm Nho học. Tiêu biểu là Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký. Chủ trương Đông Tây kết hợp cùng Đông học. Nhưng cũng có những nhà tây học thuần túy. Họ muốn cắt đứt quá khứ để nhẹ bước theo con đường Âu hóa. Canh tân hóa, hiện đại hóa. Tiêu biểu là Nguyễn Văn Vĩnh, như Nhất Linh, xa hơn là Trương Vĩnh Ký.
NHỮNG NÉT ĐẠI CƯƠNG VỀ LÝ LUẬN – PHÊ BÌNH VỀ SỰ TIẾP NHẬN MỸ HỌC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG ĐÔNG.
Khái niệm Mỹ học cổ điển (Classical aesthetics) được sử dụng ở đây nhằm chỉ di sản mỹ học của nhân loại, trước hết là mỹ học phương Đông và phương Tây, từ thế kỷ 19 đổ về trước. Với Việt Nam, nói tới mỹ học cổ điển phương Đông, trước hết phải kể đến mỹ học và thi học cổ điển Trung Hoa. Nhìn lại lịch sử tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài, có thể nhận thấy tư tưởng lý thuyết của Việt Nam không phải bao giờ cũng hứng thú với tư tưởng mỹ học của Trung Hoa nói riêng và phương Đông nói chung. Quả vậy, từ thế kỷ 10 cho tới hết thế kỷ 19, mỹ học cổ điển Trung Hoa có ảnh hưởng toàn diện, trực tiếp tới hệ thống tư tưởng văn nghệ cổ điển Việt Nam. Nhưng ở nửa đầu thế kỷ 20, khi Nho học thất thế, cánh Tây học Việt Nam hướng về châu Âu, chủ yếu là Pháp, tìm kiếm ở đó những tư tưởng mỹ học mới mẻ để canh tân hóa nền văn nghệ xứ sở.
NHO GIÁO VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG CẬN ĐẠI.
Sau đây là nội dung tiếp nhận quan trọng từ di sản mỹ học và lý luận văn học cổ điển Trung Hoa trong các công trình dịch thuật và khảo luận của các dịch giả và giới nghiên cứu Việt Nam. Nhiều vấn đề thi pháp văn xuôi cổ điển Trung Hoa được khảo sát kỹ lưỡng trong Thơ văn cổ Trung Hoa
Tuyện Kiều Nguyễn Du cho thấy nét phong hóa nho gia mang dậm nét trong tác phẩm. Từ dây chủ đề văn hóa và sự du nhập cũng đã ảnh hưởng của Nho giáo đến giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam. Xét về học thuyết Nho giáo, quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo trong truyền thống văn hoá Việt Nam.
Nhận định sơ lược về học thuyết Nho giáo bên Trung Hoa thuở xưa là trung tâm văn hoá lớn của nhân loại trong thời kỳ cổ trung đại trải qua gần bốn mươi thế kỷ phát triển liên tục, lịch sử triết học Trung Quốc bao hàm nội dung vô cùng phong phú với những hệ thống triết học đồ sộ và sâu sắc. Điển hình qua tác phẩm như Tứ Thư gồm: Luận ngữ, Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử, bộ sách này do các học trò của Khổng Tử đã tập hợp những lời dạy của thầy mà soạn ra.
Vầ Ngũ Kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu. Mà nội dung của bộ sách này phần lớn có từ trước được Khổng Tử gia công san định, hiệu đính và giải thích. Do Khổng Tử có công đầu trong việc phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và truyền bá nên ông được xem là người sáng lập Nho giáo.
Nho giáo từ đời Hán (Hán Nho) đã được cải tạo, biến đổi, nhằm mục đích phục vụ vương triều.Cho nên từ đời Hán Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống chi phối văn hoá Trung Hoa và làm nền tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ vương triều Trung Hoa cổ xưa xuyên suốt hai ngàn năm lịch sử.
BÂY GIỜ HÃY XÉT VỀ NỀN VĂN HỌC VIỆT CHỊU ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHÁP:
Việc thưởng thức tác phẩm cũng trở nên thuận lợi hơn; từ thanh niên trí thức đến thiếu niên học trường Tây học đều dễ dàng tiếp cận thơ La Fontaine, Lamartine, kịch Corneille, Racine… Các đô thị xuất hiện; tiểu tư sản, trí thức Việt thụ hưởng, tiếp nhận và trở thành nhân vật chính trong nền văn học: dân nghèo thành thị – loại nhân vật tiêu biểu trong các tác phẩm như Ngựa người người ngựa, Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan. Việc tiếp nhận thuận lợi thông qua thấu hiểu nền văn hóa phương Tây chính là cơ sở cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật đi từ đơn giản đến phức tạp; từ cách người Việt dịch thuật, viết văn bằng tiếng Pháp đến văn chương Pháp đi vào văn học Việt theo cách mà thơ lãng mạn của thơ Khái Hưng chuyển thể thi ca Avers, hay thi ca mang âm hưởng Baudelaire trong thơ Vũ Đình Liên… Như vậy rõ ràng là có sự tiếp nhận một cách sáng tạo, biểu hiện khuynh hướng của văn học Việt Nam xa văn hóa nho học dể bước vào ảnh hưởng bên phía tây học, thuộc Pháp.
BÂY GIỜ HÃY XÉT VỀ NỀN VĂN HỌC VIỆT CHỊU ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHÁP:
Pháp là quốc gia như dã nói bên trên, Pháp có nền văn chương rực rỡ nhất nhân loại, cống hiến nhiều tác phẩm kinh điển, đưa ra trào lưu, tư tưởng có sức lan tỏa, ảnh hưởng rộng khắp. Văn học Pháp khi vào Việt Nam đã đem tới những thể loại mới: thơ ngụ ngôn, tiểu thuyết, văn xuôi. Văn chương Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền văn chương Pháp, đã có nhiều cách tân về hình thức, thay đổi trong phong cách, đề xuất tư tưởng mới.
Một số tài liệu nhận định cho rằng, Ngụ ngôn La Fontaine là tác phẩm văn học Pháp đầu tiên dịch thuật ở Việt Nam. Văn học Pháp đến với Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ 19. Theo một số nguồn tài liệu, tác phẩm đầu tiên của văn học Pháp được dịch ở Việt Nam là Chuyện Phang-sa diễn ra quốc ngữ (16 chuyện ngụ ngôn La Fontaine), xuất bản năm 1884 do Trương Minh Ký dịch. Năm 1885, Trương Minh Ký còn dịch Les aventures de Telemque với tên Tê-Lê-mạc phiêu lưu ký (đăng trên Gia Định báo).
Những năm 1920, một loạt tác phẩm văn chương lớn của Pháp được giới thiệu tại Việt Nam qua bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh như: Truyện ba chàng ngự lâm pháo thủ (A. Dumas), Những kẻ khốn nạn (Les Misérables, Victor Hugo), Truyện trẻ con (Les Contes, Charles Perrault), Truyện miếng da lừa (La peau de Chagrin, Honoré de Balzac),… Văn học Pháp thịnh hành tại Việt Nam đầu thế kỷ 20, tới mức hình thành nên một thể loại phóng tác theo tác phẩm văn học Pháp. Hồ Biểu Chánh là tác giả tiêu biểu cho PHONG cách này, với những tiểu thuyết như: Chúa tàu Kim Quy (phỏng theo Bá tước Monte-Cristo, Le Comte de Monte-Cristo d’Alexandre Dumas). Cay đắng mùi đời (phỏng theo Không gia đình, L’amertume de la vie (adapté de *Sans famille.), Ngọn cỏ gió đùa (phỏng theo Những người khốn khổ,
L’herbe qui ondule au vent (adapté des Misérables),…
Một phân đoạn quan trọng trong bài viết nay, xin nhìn về Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Nguyễn Minh Triết, hay nhà văn Lưu Nguyễn Từ Thức, ông đề cập như sau.
VỚI CHƯƠNG TÌM HIỂU DIỄN NGÔN VĂN CHƯƠNG HẬU THUỘC ĐỊA.
Đây là một đề tài mà chúng tôi nghĩ văn chương Âu châu vốn đã có thuộc địa, nên nhiều trước tác phẩm văn chương phản ảnh thuở thuộc địa như những danh tác: L’Amant (Nguời Tình) của nhà văn Marguerite Duras, The Quiet American của Graham Greene, La Voie Royale của André Malraux (về vương triều Cao Miên), Between Tears and Laughter của Lin Yutang (Lâm Ngữ Đường), The Good Earth (Đất lành) của Pearl S. Buck, The Jungle Book của Rudyard Kipling… Lưu Nguyễn Từ Thức ghi nhận là chủ nghĩa thực dân là một hình thức khai thác thuộc địa được phát triển theo với sự bành trướng của châu Âu trong thời gian 400 năm qua. Từ xa xưa nhiều nền văn minh Âu châu đã có thuộc địa và từ lâu chánh quyền đế quốc trung ương luôn luôn có uy quyền tuyệt đối trên các tỉnh thành ngoại biên và các nền văn hoá sơ khai. Sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân tại Âu châu đồng nghĩa với sự phát triển của hệ thống kinh tế tư bản trong đó các vùng đất thuộc địa được thiết lập để cung cấp nguyên liệu cho sự phát triển và củng cố các nền kinh tế tại chánh quốc. Sự liên hệ giữa quốc gia đô hộ và các nước thuộc địa hoàn toàn bất bình đẳng trên mọi phương diện kinh tế, chánh trị, văn hoá cũng như xã hội. Các sắc dân tại các quốc gia thuộc địa thường là những chủng tộc khác với sắc dân chánh quốc và bị xem thuộc loại chủng tộc thấp kém.
Người viết bài xin nêu ra về chủ dề Văn học lưu vong, văn chương ly hương.
Văn học lưu vong, văn chương ly hương (trường hợp như các ngòi bút ly hương xa xứ, dù bị bó buộc hay tự nguyện. Những văn tài từ Cuba, Nga, Do Thái, Việt Nam, Palestine, sang Phi Châu,…
Văn học lưu vong, văn chương ly hương là một nỗi chấn thương văn hóa, khi chữ nghĩa chảy máu tâm hồn nhà văn trên những trang sách. Chấn thương là một thuật ngữ y học nhằm diễn tả trạng thái cơ thể bị tổn hại do những tác động bên ngoài gây nên. Chấn thương còn là thuật ngữ tâm lý học và bệnh học để diễn tả những những khủng hoảng tinh thần của con người xảy ra sau những tổn thương nghiêm trọng.
Sự kiện rời bỏ đất nước ra đi- hành động di dời của hàng triệu người Việt Nam sau 1975, kéo dài trong cả hơn hai thập kỷ đã hình thành nên những cộng đồng Việt kiều tại hải ngoại, tạo nên những sự kiện chính trị- văn hóa- xã hội phức tạp. Văn học hải ngoại bắt nguồn từ việc kể lại những câu chuyện lưu vong thể hiện rất rõ những ám ảnh chấn thương của di dân Việt từ sau hành động di dời. “Chấn thương di dời” là một trong những nét đặc thù trong thi pháp tự sự lưu vong của văn học Việt Nam hải ngoại nói chung và truyện ngắn hải ngoại nói riêng.
Nỗi đau tâm hồn hay thể xác, ta có “Chấn thương di dời” và bi kịch lưu vong phi xứ. Câu chuyện về chấn thương là câu chuyện bi ai về một thứ kinh nghiệm đến muộn: kinh nghiệm chấn thương. Đó là chứng nhận về sự tác động vô hạn của chấn thương lên một cuộc đời. Chấn thương, hoặc là đẩy con người đối mặt với cái chết (labor gulag, boat peple,… ), hoặc tồn tại trong trạng thái khổ sở ngấm ngầm, dai dẳng và liên tục tái diễn vết thương trong phần đời còn lại. Tự sự chấn thương. “Lưu vong” hôm nay mãi mãi không còn là một khái niệm gợi lòng thương cảm. “Lưu vong” sẽ là trách nhiệm lương tri, trách nhiệm cảnh tỉnh, trách nhiệm đưa ra những cái nhìn đa góc độ trên cùng một thực thể hiện hữu, trách nhiệm của nhà văn với đất nước với nền văn hóa đã hoài hương của tác giả.
Giải Nobel 2000 dành cho một nhà văn lưu vong. Giải Nobel văn chương của Cao Hành Kiện, nhà văn đối lập lưu vong do sự kiện thảm sát Thiên An Môn, là cái kết đáng buồn cho cho một thế kỷ lưu vong. Cao Hành Kiện cho biết ông hầu như không đọc văn học Trung Cộng, du văn ở trong nước, cả văn học Trung Cộng tại hải ngoại. Ý ông muôn là hãy vượt lên trên biên giới quốc gia.

NỖI ĐAU RỜI BỎ QUÊ HƯƠNG:
Văn học lưu vong hay Văn học ly hương: Con người lưu vong như long thể treo lơ lửng trong khoảng trống giữa hai thế giới xa cách, ở hai xứ sở trong một tâm hồn và chính từ khoảng trống ấy, văn chương cất lên tiếng nói. Miền địa dư ký ức và chủ nghĩa quốc gia viễn cách, vì một nền văn học không nằm trên bản đồ. Một khi không thể thuộc về một lãnh thổ cụ thể bằng sự hiện diện thể xác, người lưu vong tự kiến tạo cho mình một nơi chốn bình yên, một không gian thích hợp để tác phẩm có nơi trú ngụ, ấy là không gian của những ký ức, những hoài niệm.
Trước hết, cần xác định ngay văn học Việt Nam ở bất cứ quốc gia nào khác ngoài Việt Nam, tự bản chất là văn học lưu vong. Văn học lưu vong (diaspora, exile literature) là chỉ sự phân tán hoặc lan tỏa của một cộng đồng cư dân rời khỏi quê hương gốc của họ; ví dụ như: “Cha mẹ, gốc gác của anh ấy là một phần của cộng đồng người Việt hải ngoại”. Xem xét việc sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện để diễn tả cảm giác lạc lõng, xa lạ. Nghiên cứu cách biểu hiện tinh thần dân tộc, hay cộng đồng sắc tộc được đề cập và sự liên kết giữa những người lưu vong.
Xét về ký ức và nỗi hoài hương, ký ức và nỗi hoài hương là những chủ đề mạnh mẽ trong văn học lưu vong, nơi các tác giả chiêm nghiệm về những trải nghiệm quá khứ và quê hương mà họ đã bỏ lại phía sau. Những chủ đề này thường xen lẫn với những kinh nghiệm do việc di tản viễn xứ, khi các tác giả phải đối mặt với những hồi ức nhiêu khê, vôn phức tạp trong sự việc muốn quên nhưng con tim ray rứt lại nhớ, muốn nhớ nhưng mỏi mệt lại quên.
Lấy ví dụ trong những tác phẩm tiêu biểu như Literature and displacement của nhà văn Holli Levitsky, hay New Palestinian Writing on Exile and Home của tác giả Penny Johnson, Exile And The Jews cúa tác giả Nancy Berg, hoặc Born In The Wrong Century của của Nhà Văn Khánh Lan. Những tác phẩm nói ở đây mang nội dung do ly hương hay do lưu vong mà ra sự biến đổi của nhân vật chính có thể được xem như một ẩn dụ cho tình tiết bi ai, đầy chông chênh, mất phương hướng của kiếp lưu vong, cũng như nỗi hoài hương về một bản sắc hay quê hương đã mất.
VĂN HỌC PHÊ BÌNH CỦA ROLAND BARTHES.
Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn học phê bình của Roland Barthes, nhà ký hiệu học (semiotician) là người nghiên cứu ký hiệu học kiểu mẫu trong lãnh vực phân tích các ký hiệu và biểu tượng cũng như cách thức sử dụng hay diễn giải chúng. Lĩnh vực này khám phá cách thức ý nghĩa được kiến tạo và thấu hiểu thông qua các hình thức giao tiếp đa dạng, bao gồm ngôn ngữ, hình ảnh và cử chỉ.
Ngoài học thuật phân tích, nhận xét theo khuôn mẫu hay như quan điểm về học thuật phê bình văn học như của Gustave Lanson, Jacques Derrida, Julia Kristéva, Northrop Frye, Maxim Gorky, Mikhail Bakhtin, Vissarion Belinsky, hay Roland Barthes, …
Phân doạn kế tiếp xin điểm sang chủ đề Phê bình văn học, hay những sáng tác khảo luận văn học.
Phê bình văn học được xem là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm dược nói tới.
Theo dòng lịch sử, những phán đoán phê bình xuất hiện hầu như đồng thời với sự xuất hiện của văn học, ban đầu với tư cách là những ý kiến của các độc giả thuộc tầng lớp quan trọng và hiểu biết nhất, trong số đó không ít người là cũng đồng thời là người sáng tác văn học. Trong những giai đoạn về phê bình văn học vẫn mang một ứng dụng tương đối khiêm nhường: đánh giá khái quát về các tác phẩm, giới thiệu tác phẩm với độc giả, khích lệ hoặc chỉ trích tác giả. Với sự phát triển của văn học, những mục tiêu và tính chất của phê bình văn học trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi bộ môn phải được phân nhánh và đa dạng hóa.
Từ thế kỷ 17 và nhất là từ thế kỷ 18, văn học trở thành lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù. Tương ứng với nó là sự hình thành các thiết chế xã hội của văn học như báo chí, xuất bản, công chúng, dư luận, là sự hình thành đời sống văn học như một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội. Phê bình văn học kiểu mới được phát triển trong bối cảnh đó của đời sống, trở thành một dạng thức xã hội của dư luận đối với văn học. Các mối liên hệ của phê bình văn học với văn học, đời sống xã hội nảy sinh tác phẩm văn học, công chúng văn học ngày càng phức tạp, đa dạng. Các trào lưu, khuynh hướng trong phê bình văn học nảy nở và phát triển mạnh mẽ tương ứng với sự nảy nở và phát triển của các trào lưu, khuynh hướng văn học.
Từ cuối thế kỷ 19 và trong nửa đầu thế kỷ 20, một số trường phái phê bình văn học nổi tiếng có thể kể đến, như phê bình phân tâm học, phê bình mới, phê bình thần thoại, phê bình chủ đề, phê bình hiện tượng luận, phê bình với hoạt động, ngôn luận đặc thù, đã tác động vào đời sống văn học và đưa tới những thay đổi trong xu hướng phát triển của văn học đương đại. Phê bình văn học đã trở thành một bộ phận lập pháp về lý thuyết cho sáng tác và nhân tố tổ chức của quá trình văn học.

GIAI ĐOẠN VĂN HỌC RỰC RỠ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA.
Hành trình dấn thân truy tầm ẩn ngữ văn chương trong văn học thời kỳ văn học rực rỡ của Việt Nam Cộng Hòa. Trên căn bản ấy, sự góp phần minh chứng rõ nét nhất hãy lấy nền tảng tinh hoa tri thức văn hóa, triết học, mỹ học của quan diểm khai phóng, nhân bản làm nền tảng luận giải, hay dể bình luận. Trước năm 1975, miền Nam VNCH đã có những tác phẩm khảo luận, nghiên cứu về văn hóa, triết học, đạo đức, luân lý của những Kim Định, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Trung,…, những danh tác uyên bác.
Khi nước Việt Nam nói chung còn nghèo, văn học xứ ta cũng còn nghèo so với nền văn học của nhiều nước trên thế giới, vì vậy chúng ta không nên lại nở làm ngơ “bỏ đi” một bộ môn văn học rất phong phú đa dạng, rất nhiều giá trị về tiềm tàng như văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975. Và việc nghiên cứu một cách thấu đáo, thận trọng trên tinh thần khoa học, khách quan, công bằng về những giá trị của văn học miền Nam là một việc làm rất cần thiết và cần sự đóng góp, chung tay, góp sức của mọi người. Phải thành thật mà nói thì môn phê bình văn học trong làng văn học xứ mình khá ít người dấn thân vào, vì sự thể dòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên môn, trong khi các xứ Âu, Mỹ, Nhật, Hàn,… họ tiến xa chúng ta, cho nên trong tác phẩm Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học, tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức đề cập về quan niệm tiến bước thẻo xu thế chung của thế giới, ông kỳ vọng, mong mỏi như sau:
“Tác giả sách Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học đề nghị nền văn học Việt Nam hãy sớm nhận thức để vượt ra khỏi các lũy tre để nhìn xem thế giới bên ngoài đang tiến bước hướng về phía trước và bỏ xa chúng ta, hãy khai phá các khu rừng thâm u kỳ bí của nền văn học thế giới. Nếu không mau thức tỉnh hầu sánh vai cùng người để cải tiến và nâng cao các chuẩn mực cho giá trị của mỹ học thì văn học Việt Nam sẽ khó thoát ra khỏi các vòng rào nhỏ hẹp của các thôn làng hoặc các bức tường rào của các ghetto văn học.”
RUDYARD KIPLING: “PHƯƠNG ĐÔNG LÀ PHƯƠNG ĐÔNG, PHƯƠNG TÂY LÀ PHƯƠNG TÂY”.
Nhà văn nổi tiếng đã viết câu “Phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai phương trời ấy chẳng bao giờ gặp nhau” chính là Rudyard Kipling. Câu này nằm trong bài thơ “The Ballad of East and West” (Khúc ballad về phương Đông và phương Tây) của ông, được xuất bản vào năm 1889. Thực ra khi mà thế giới sống chung toàn cầu hóa, quan niệm cổ hủ của Kipling không còn đúng nữa.
VIỆC DUNG HÒA ĐÔNG – TÂY TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM.
Trong thời đại ngày nay, quan niệm châu Âu trung tâm đã trở nên lỗi thời, trong lĩnh vực lý luận văn học cũng vậy. Nền lý luận có tính phân tích, khoa học của phương Tây cần phải được bổ sung cái uyên áo, thâm trầm và cách viết đầy tính nghệ thuật của lý luận phê bình văn học phương Đông. Chúng ta mơ ước có những bộ sách lý luận văn học, không chỉ trình bày tư tưởng lý luận phương Tây mà ngay cả phương Đông nữa, để thấy rằng, phương Tây và phương Đông gần nhau lắm bởi tính nhân loại phổ biến của nó, nhưng đồng thời cũng thấy văn hóa phương Tây và phương Đông cũng cho những bản sắc riêng, làm cho vườn hoa nhân loại thêm đa sắc nét đa dạng. Như thế có thể nói, thể nghiệm theo khuynh hướng tiểu thuyết mới của giới cầm bút ở miền Nam hẳn có ít nhiều đóng góp cho lịch sử phát triển của văn xuôi Việt Nam trong thế kỷ 20.
Cách phân biệt lưu đày thực sự và lưu đày trong tâm trí từ lâu đã được các nhà phê bình và nghiên cứu văn học đã đựơc quan tâm. Trong không khí chung ấy, rõ ràng hai chữ lưu đày, lưu vong mang một ý nghĩa sâu sắc, hàm chứa một giá trị nhân bản. Văn chương lưu đày, theo suy nghĩ của những nhà đối kháng như Nadine Gordimer (Nam Phi), Cao Hành Kiện (tên Hán tự- 高行健), phe Việt Nam ta tị nạn muôn thuở có quý vị như: Lê Tất Điều, Phạm Quốc Bảo, Ngô Thế Vinh, Vương Trùng Dương, Lưu Khánh Lan, Phạm Gia Đại,…, Milan Kundera (Tiệp khắc), Svetlana Alexievich (Nga), Otero Alcántara (Cuba), Vladimir Sorokin (Nga), Breyten Breytenbach (Nam Phi),… tất cả họ cùng cất cao tiếng nói như những loài chim di xa quê xưa: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”,… trở thành những tiếng nói của lương tâm, trở thành sự phản kháng quyết liệt đối với mọi chế độ đàn áp tư tưởng, phủ nhận quyền sống của con người. Thi ca não nuột, buồn tênh:
Một thủa Cao Tần bộc bạch tự hỏi:
Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới
“Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”
Hay,
Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ
(Bài thơ Phương Xa, Vũ Hoàng Chương).
Văn Học Lưu Vong:
Đất tạm dung là cõi ở trọ, cỡi trần gian cuộc đời cũng chỉ là cõi tạm quán trọ ven đường, xem thơ Cao gia nhé,… Văn học Việt Nam khi nào bạn ly hương và bạn ở bất cứ quốc gia nào khác ngoài Việt Nam, tự bản chất, bạn là văn học lưu vong (diaspora, exile literature).
Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực
Trên đường chênh chếch nắng mênh mang
Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc
Ðã chán nhân gian ở cuối đường.
(Chốn tạm dung, thơ Cao Tần).
Hay,
Chỉ là hiện thân của một người tử tù
Có gục đầu nhìn cuộc đời
Cũng chỉ như nhìn khung cửa nhà giam
Vẫn có một chút trời xanh
Nhưng rất nhiều đơn độc
(Di chúc, thơ Nguyên Sa)
Những tác phẩm dược nêu trên đây mang nội dung ly hương hay do lưu vong mà ra sự biến đổi của nhân vật chính có thể được xem như một ẩn dụ cho tình tiết bi ai, đầy chông chênh, mất phương hướng của kiếp lưu vong, cũng như nỗi hoài hương về một bản sắc hay quê hương đã mất.Khi suy luận, nghiền ngẫm về nguyên nhân qua hành trình và ý nghĩa của sự ly hương trong các tác phẩm. Nhận diện các tác giả tiêu biểu cùng những góc nhìn độc đáo của họ về sự lưu vong.Viết tham luận về tính thời sự và ý nghĩa của các chủ đề này trong xã hội đương đại. Cái đẹp chính là cuộc sống: muốn khẳng định nguồn gốc và đặc trưng của cái đẹp trong tác phẩm văn học. Cái đẹp ấy phải bắt nguồn từ đời sống, phải gắn bó và phục vụ đời sống.
VĂN HỌC NGHỆ THUẬT – GUY DE MAUPASSANT.
Văn học không thể không nói đến, hay không thể không quan tâm về vấn dề luận giải. Văn học chỉ có thể tồn sinh trong xã hội, khi văn học luôn quan tâm đến những vấn đề thuộc về con người với các mối liên hệ của nó. Khi xét trên bình diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Khi bàn về vấn đề phê bình văn học nghệ thuật, Guy de Maupassant cho rằng:
“Nhà phê bình xứng đáng với danh từ cao đẹp của nó phải là người không thuộc về khuynh hướng nào cả, không có những ưa thích riêng tư nào cả, không thiên kiến gì cả, và như nhà chuyên môn xem tranh, họ chỉ nghiên cứu đánh giá các bức tranh theo giá trị nghệ thuật của mỗi thứ. Nhà phê bình không chỉ là người khám phá và sáng tạo cái đẹp mà còn giải mã cái đẹp văn chương để định hướng mỹ cảm cho người tiếp nhân”.
KẾ NỮA HÃY DẰO SÂU VÀO CHUYÊN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC.
Phân tích tác phẩm *Người mẹ* của Maxim Gorky.
Trong số những tiểu thuyết quan trọng của Maxim Gorky (1868–1936), “Người mẹ” là tác phẩm nổi tiếng nhất. Tại Liên Xô, giới phê bình đã tôn vinh “Người mẹ” như một tác phẩm mẫu mực cho thể loại văn học mới – chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với các đặc điểm chính là ghi khắc xu hướng hiện thực trong quá trình phát triển cải cách xã hội, và tác phẩm “Người mẹ” là tác phẩm bắt buộc phải học tại các trường trung học, và nhiều thế hệ về sau.
Quan diểm về Lý thuyết và Phê bình Văn học – Lý thuyết chính của Jacques Derrida.
Jacques Derrida (1930-2004) nổi lên vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970 với việc xuất bản các tác phẩm Of Grammatology (1967), Writing and Difference (1967) và Margins of Philosophy (1972). Tên của Derrida gắn liền với thuật ngữ ‘Giải cấu trúc’.
“Giải cấu trúc” (Deconstruction) của Jacques Derrida là gì?
Déconstruction là một lý thuyết và là một phương pháp phê bình bắt nguồn từ các công trình của nhà triết học Pháp Jacques Derrida (De la grammatologie, 1967), thuyết tạo ra những ảnh hưởng to lớn tại Hoa Kỳ trong những năm 1970-1980. Lý thuyết này liên quan đến việc làm phát lộ ra những áp lực, những mâu thuẫn xuyên suốt các văn bản, ngăn cản những văn bản này đạt tới một sự biểu hiện ý nghĩa trọn vẹn rõ ràng, có thể xác định được. Lý thuyết này cho rằng tất cả những phân tích văn chương xác quyết có thể đạt được ý nghĩa “hiển nhiên” của một văn bản luôn bắt nguồn từ một dạng thức quyền lực nào đó, do nhân danh một chủ thể nào đó, kẻ bảo đảm có được một sự dàn dựng kết nối chặt chẽ với ý đồ ban đầu. Người ta manh nha sửa đổi hầu bỏ qua những chi tiết làm sai lệch đi cái cấu trúc của một sự diễn đạt luôn không chấp nhận những vết nứt gẫy, hư sai ấy.
Các nhà giải cấu trúc tự biện luận đánh giá mình là “đạo đức” bởi vì họ thừa nhận tính khác biệt của văn bản, thừa nhận cái vị thế của văn bản như là một hiện tượng thuần túy ngữ nghĩa trước là đối tượng của một sự suy xét về mặt tư tưởng đạo đức. Quá trình cấu tạo văn chương trong văn bản ở đây được xem qua việc sửa sai hầu khắc phục sự thiếu sót của ngôn ngữ, để tránh né sự sai phạm trong việc giải thích về hiện trạng, đồng thời đó cũng luôn là một nỗ lực tuyệt vọng, khi bị kết án thất bại ngay ở bước khởi đầu, qua những ý nghĩa trọn vẹn. Giới chính trị, báo chí Hoa Kỳ dã dùng thuật ngữ “Deconstruction” phổ biến này.
Tác phẩm Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học cũng đề cập khá rõ về lý thuyết của Derrida về Giải cấu trúc (Deconstruction).
Việc phê bình văn học có nên được coi là một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt với lý thuyết văn học hay không là một vấn đề gây tranh cãi. Ví dụ, cuốn “Hướng dẫn về Lý thuyết và Phê bình Văn học của Đại học Johns Hopkins” không phân biệt giữa lý thuyết văn học và phê bình văn học, và hầu như luôn sử dụng các thuật ngữ này cùng nhau để mô tả cùng một khái niệm. Một số nhà phê bình coi phê bình văn học là một ứng dụng thực tiễn của lý thuyết văn học, bởi vì phê bình luôn trực tiếp đề cập đến các tác phẩm văn học cụ thể, trong khi lý thuyết có thể mang tính tổng quát hoặc trừu tượng hơn.
Phê bình văn học thường được xuất bản dưới dạng tiểu luận hoặc sách. Các nhà phê bình văn học hàn lâm giảng dạy tại các khoa văn học và xuất bản trên các tạp chí học thuật, trong khi các nhà phê bình nổi tiếng hơn xuất bản các bài đánh giá của họ trên các tạp chí có lượng phát hành rộng rãi như The Times Literary Supplement, The New York Times Book Review, The New York Review of Books, London Review of Books, RadioFrance Critiques Littéraires, Paris Review Book, Revue critique de fixxion française contemporaine, BibliObs Critiques de livres, Dublin Review of Books, và The New Yorker,…

Tóm lại, sau những trang nhìn về Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức, người viết bài xin khép dề tài qua những dòng chừ sau đây.
Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức cho người dọc một số kiến thức chính luận, tham luận về văn học nói chung, trên căn bản giáo khoa hàn lâm. Lý thuyết phê bình cung cấp một khung cửa về lý thuyết văn học phong phú và đa dạng cho việc phân tích văn học chuyên sâu, cho phép người đọc tiếp cận văn bản một cách thấu đáo và khám phá những tầng lớp lang chữ nghĩa đa chiều. Khi xét qua việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử, các hệ thống tư tưởng và các vấn đề mà chủ đềne6u ra, người đọc có thể phát triển, tự tìm hiểu mục tiêu sâu sắc và tinh tế mà tác phẩm luận bàn về văn học.
Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học của tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức cho người dọc một số ý kiến cần thiết khi nhìn về văn học. Vì văn học chính là cầu nối giữa trái tim người và người, với trái tim giữa tâm hồn với tâm hồn. Văn học là chất xúc tác hay chất phù sa cho tâm hồn con người. Văn học luôn luôn thấu hiểu những tâm tư tình cảm những nỗi niềm sâu lắng từ tiềm thức, một ngưỡng cửa chan hòa rung cảm muôn thuở của nhân loại . Mà khát vọng muôn đời của nhân loại chính là đích điểm vươn đến những giá trị Chân – Thiện – Mỹ, vượt thoát khỏi giới hạn tồn tại của không gian và thời gian để hướng đến những giá trị vĩnh hằng, bất diệt. Những cái đẹp độc đáo, khác thường đã xuất hiện trong văn học như một lẽ rất tự nhiên.

Trần Việt Hải, California 2026

