• Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Tin tức

    TƯỜNG TRÌNH VỀ BUỔI RA MẮT SÁCH CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ NHÀ VĂN KHÁNH LAN

    Khánh Lan

    Buổi ra mắt sách của tôi được tổ chức vào một buổi chiều cuối tuần ngày 20 tháng 9, 2026. Hôm ấy là đầu mùa Thu, những hàng cây bắt đầu thay lá, vài chiếc lá vàng nhẹ rơi theo làn gió, khoác lên chiếc áo mới “không gian” một vẻ đẹp lãng mạn, quyến rũ và đáng yêu. Thật thế, Nàng Thu đã đến, mang theo một màu trong xanh của bầu trời, và nắng không còn gay gắt mà trở nên ấm áp, dịu nhẹ. Những cơn gió thu khẽ lướt qua song cửa của khán phòng hội trường báo Người Việt đã cho tôi một cảm giác se se lạnh, dễ chịu, khiến lòng tôi bỗng thấy thư thái và bình yên…

    Nữ sĩ Dương Hồng Anh & Khánh Lan

    … Khi bước vào buổi ra mắt sách của chính mình, tôi cố giữ vẻ bình thản, tự nhiên, nhưng thực ra tâm trí tôi nặng trĩu những âu lo. Bởi cũng hôm ấy, có đến những 5 hội đoàn trong cộng đồng tổ chức (cùng ngày và cùng giờ). Trong đó có 3 tổ chức lớn, đó là Chiều Tưởng Niệm nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Đại Hội toàn quốc của trường trung học Chu Văn An, và Hội Sóc Trăng họp mặt hằng năm… khiến tôi nhủ thầm, những nơi ấy, chắc hẳn sẽ thu hút nhiều người đến tham dự… hơn là buổi Ra Mắt Sách của tôi…

    Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga & Nữ sĩ Đình Duy Phương

    Hàng ngồi: NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, Thi Sĩ Quỳnh Giao, Lệ Hoa (phu nhân của NV Việt Hải).

    Hàng đứng: Chị Trầm Hương, Chị Kim Đức, NS Lê Nguyễn Nga, Chị Kim Hương

    Nghĩ đến đây, lòng tôi bỗng như chùng xuống, bởi sau nhiều tháng ngày sống cùng bản thảo. Những lúc lặng lẽ ngồi viết, sửa, rồi lại viết, tôi hiểu rằng một cuốn sách, khi rời khỏi bàn viết, sẽ bắt đầu một đời sống khác và nó sẽ không còn hoàn toàn thuộc về tôi. Nó sẽ bước vào đời sống của những độc giả và tôi không thể biết trước nó sẽ được đón nhận như thế nào. Cho nên tôi không dám kỳ vọng quá nhiều…

    Những lúc lặng lẽ ngồi viết, sửa, rồi lại viết.

    Ban đầu, tôi chỉ mong ước có vài chục người đến tham dự, chủ yếu là bạn bè, người thân và một số độc giả quen thuộc… Nhưng rồi, khi cánh cửa hội trường mở ra, tôi đã thực sự ngỡ ngàng. Ngay từ khi chương trình bắt đầu, hội trường đã gần như kín chỗ, những hàng ghế nhanh chóng kín người. Có những độc giả tôi chưa từng gặp, và trong những gương mặt xa lạ ấy, có những người đã đi một quãng đường rất xa chỉ để có mặt trong buổi chiều ra mắt sách của tôi. Thậm chí, trên tay họ là cuốn sách mà tôi từng viết trong những đêm rất dài, giữa những khoảng vắng lặng chỉ có mình tôi và trang giấy.

    Quang cảnh quan khách tham dự

    Tôi thực sự xúc động khi nghe một độc giả nói về một đoạn văn trong tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” đã khiến họ nhìn thấy “chính cuộc đời của họ trong ấy” với những giọt nước mắt long lanh còn đọng trong khóe mắt, họ cám ơn tôi đã viết lên nỗi u uẩn mà họ đã lâu ngày tìm quên trong tiềm thức. Trong khoảnh khắc ấy, mắt tôi bỗng như cay cay và tôi chợt nhận ra rằng: điều tôi viết ra trong cô độc đã tìm được một nơi gọi là bến đậu, xoa dịu cơn thống khổ và gởi niềm thông cảm trong tâm tư những kẻ khốn cùng…những trang chữ viết vốn được hình thành trong những giờ phút cô độc, nay đã tìm thấy người đọc. Khiến tôi có cảm giác như mình đang đứng giữa một giấc mơ.

    Nhóm Tơ Vàng: Chị Khiêm Trinh, Jennifer Lâm, Bình Chi, Khánh Lan

    Anh Quốc Dân, Kim Hương, Khánh Lan, Đức Hạnh, Mạnh Bổng

    Đúng 1:30 chiều, GS Trần Mạnh Chi khai mạc buổi ra mắt sách và chào mừng quan khách. Sau phần Chào quốc kỳ Việt-Mỹ và Phút mặc niệm. Thi sĩ Minh Đức giới thiệu 3 MC gồm Mạnh Bổng,Hồng Quyên, Minh Thư. Chương trình ra mắt sách gồm có 2 phần: phần giới thiệu tác phẩm, xen lẫn phần văn nghệ chọn lọc với chủ đề về quê hương Việt Nam và những tình khúc nổi tiếng đã từng làm nên tên tuổi của nhiều nhạc sĩ. 

    Thúy Giao, Minh Thư, Hồng Phúc

    Trước khi vào phần văn học, mở đầu với ban tam ca Tiếng Thời Gian: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên với nhạc phẩm Bạn Bè Của Tôi. Thơ Dương Hồng Anh, nhạc Lâm Dung và Nhạc phẩm này đã trở thành Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian hành khúc năm 2019.

    Ban tam ca Tiếng Thời Gian với Ái Liên, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh

    Mở đầu phần văn học là phần giới thiệu về tiểu sử của NS Dương Hồng Anh: Nữ sĩ Dương Hồng Anh làm thơ rất sớm, bài thơ đầu tay của bà được đăng trên báo Cậu Ấm Cô Chiêu năm 1949 và một số bài thơ khác được đăng trên các báo gồm: Hồ Gươm, Sinh Lực, Giang Sơn, Giác Ngộ, v.v…

    Từ năm 1952 đến 1954, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh là thư ký tòa soạn báo Sinh Lực ở Hà Nội cho đến tháng 08, năm 1954, bà di cư vào Miền Nam Việt Nam cùng chồng. Vào Saigon, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh ngưng gởi thơ để đăng trên các báo chí, nhưng bà vẫn tiếp tục sinh hoạt văn thơ trong nhóm của các nhà thơ Linh Điểu, Vạn An, Bùi Khánh Đản, Trình Xuyên, v.v…

    Năm 1990, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh sang Hoa Kỳ, định cư tại tiểu bang California và từ Năm 2010, Nữ Sĩ sinh hoạt thi văn cùng với các nhóm gồm: Văn Chương phụ Nữ Việt Nam của Nhà Văn Bùi Bích Hà, Văn Đàn Hải Ngoại, Hạnh Ngộ và thường xuyên đăng thơ trên báo Đất Đứng ở Sacramento, California liên tục trong suốt 10 năm. Cho đến nay Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã xuất bản tổng cộng hơn 20 thi tập từ năm 1952-2026. (2.5’)

    Theo sau là vài nét về Văn thi sĩ Khánh Lan, tốt nghiệp cao học ngành cố vấn hôn nhân và gia đình năm 2002.  Hiện là trưởng nhóm văn học của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cũng như Văn Chương Việt và Tiếng Đàn Xưa. 

    Năm 2023, Khánh Lan được vinh danh trong 100 tác giả văn hóa Việt Nam trong quyển những khuôn mặt văn hóa Việt Nam hải ngoại của câu lạc bộ văn hóa Paris. Năm 2022, Khánh Lan là giám khảo của chương trình thi viết có thưởng về “Ứng dụng Phật pháp trong đời sống hằng ngày”, được tổ chức bởi chùa Hương Sen. Và là giám khảo trong chương trình thi viết “Tôi là ai 2026” do Viện bảo tàng di sản người Việt tổ chức năm 2026.  

    Từ 2020 đến 2026, Khánh Lan cộng tác trong ban biên tập các tổ chức văn học gồm tác phẩm văn học và thi ca phổ biến trên báo chí internet và nhiều tạp chí hải ngoại. Từ năm 2020-2026 khánh Lan đã cho ra mắt hơn 15 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: biên khảo và tham luận về các tác phẩm Nobel, Tam giáo đồng Nguyên, truyện dài, truyện ngắn, trinh thám, Tuyển tập thơ Bóng thời gian, Những nhà thơ hải ngoại, nghiên cứu về phân tâm học, siêu hình học, thuyết học hiện sinh, Góc nhìn văn học, Triết thuyết phương Đông và phương Tây.

    MC Minh Thư mời nhà văn Việt Hải, ông là người đã sáng lập ra liên nhóm Nhân văn Nghệ Thuật & tiếng thời gian, cũng như đồng sáng lập Liên nhóm Văn Chương Việt &Tiếng Đàn Xưa. Cô cũng mời nhạc sĩ Võ Tá Hân đưa nữ sĩ Dương Hồng Anh, và sau cùng là văn thi sĩ khánh Lan lên sân khấu để cùng chào đón quý khán giả cũng như khai mạc buổi Hội Ngộ Bút Duyên hôm nay.

    NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NV Khánh Lan– chào đón quý khán giả cũng như khai mạc buổi hội ngộ bút duyên.

    Trong phần phát biểu nữ sĩ Dương Hồng Anh đã đọc bài thơ “Nhớ” mà bà sáng tác mới nhất.

    Bà cũng nhờ nhà văn/thơ Khánh Lan ngâm giọng Tao Đàn, bài thơ như sau:

    Nhớ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

    Chung vui những buổi chiều tà

    Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

    Nắng vàng sưởi ấm thành đô

    Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Thư trang vẫn nở những vần thơ say

    Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

    Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

    Hồng Anh, Tháng 9, 2026.

    Nhóm Tây Ban Cầm: Tơ Vàng

    Xen kẽ với phần văn học là Nhóm Tây ban cầm Tơ Vàng, thuộc Fountain Valley Guitar Club, được thành lập và hướng dẫn bởi nhạc sĩ Võ Tá Hân. Các thành viên của nhóm đến từ 3 miền: Bắc, Trung, Nam gồm các chị: Sandy Lee, Lâm Dung, Khiên Trinh, Bình Chi, Jennifer Lâm, Thu Hồng. Nhạc phẩm: Hoài Thu.

    MỞ ĐẦU PHẦN VĂN HỌC, DIỄN GIẢ ĐẦU TIÊN LÀ THI SĨ MINH ĐỨC VỚI THI TẬP QUÊ HƯƠNG CÒN ĐÓ CỦA TÁC GIẢ NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH,

    Ông nói: Đó là một thi tập mới nhất của Nữ Sĩ, khái lược về yếu tố Quê hương, có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức. Quê hương là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận sự nhớ nhung về quê xưa, ấy là tình yêu quê hương.

    Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều.

    Hãy xem thơ ca Dương Hồng Anh:

    Tháng Tư nhớ quê hương

    Mặt trời đi vắng hôm nay

    Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương

    Năm mươi năm mấy đoạn trường

    Tình yêu quê hương không ngọt ngào, nhẹ nhàng, sâu lắng khiến ta khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người. Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ sau dây về quê cũ của người. Xem bài:

    Mơ Về Hà Nội

    Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

    Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

    Cho thơ nở giữa vườn thơ

    Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

    Hướng về cố lý xa xăm

    Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ

    Tơ đàn xao xuyến hồn thơ

    Tiếp theo là nhạc phẩm Trưa Hè Xanh Lá Me, thơ của NS Dương Hồng Anh, nhạc Võ Tá Hân do Ca Nhạc Sĩ Lâm Dung trình bay.

    VỊ DIỄN GIẢ THỨ 2 LÀ GIÁO SƯ QUYÊN DI, ÔNG GIỚI THIỆU VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ HAI TÁC PHẨM SIÊU HÌNH HỌC VÀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN. Bài diển văn rất hay và có giá trị văn học, nên người viết xin đăng trọn bài nói chuyện của ông.

    GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN

    QUYÊN DI

    Trước hết, cho phép tôi được nói đôi lời chân thật về chính mình.

    Khi còn là học sinh lớp Đệ Nhất và rồi sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có may mắn được học Triết Tây với những vị giáo sư mà tên tuổi đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống trí thức miền Nam: Linh mục Trần Văn Hiến Minh, Linh mục Trần Đức Huynh, Linh mục Lê Tôn Nghiêm, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Trần Bích Lan… Tôi cũng được học Triết Đông với cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Linh mục triết gia Kim Định và một số vị thầy đáng kính khác.

    Những năm tháng ấy, tôi cảm thấy mình giống như con chim chích bay vào một khu rừng mênh mông. Trước mắt tôi là biết bao kỳ hoa dị thảo của tư tưởng nhân loại: Socrates, Plato, Aristotle, Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Thánh Augustine, Descartes, Kant, Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger, Sartre, Camus, François Sagan… Tôi ngắm nhìn, say mê, thưởng thức và cố gắng tìm hiểu. Nhưng thú thật, càng đi sâu vào khu rừng triết học, tôi càng nhận ra sự mênh mông của nó. Tôi đã nhìn thấy nhiều con đường, nhưng không phải lúc nào cũng biết con đường nào sẽ đưa mình ra khỏi khu rừng ấy.

    Bây giờ tuổi đã cao, khi đọc hai công trình biên khảo của nhà văn Khánh Lan, một công trình về triết học hiện sinh và một công trình về siêu hình học, tôi lại có dịp trở về với những câu hỏi mà thời sinh viên từng làm tôi say mê, bối rối và nhiều khi hoang mang. Điều đáng mừng là lần này, tôi không còn đọc với tâm thế của một sinh viên đang cố ghi nhớ những khái niệm khó khăn, mà đọc như một người đã đi qua nhiều năm tháng của cuộc đời, từng chứng kiến những đổi thay của con người, xã hội và thời đại.

    Và thật bất ngờ, qua cách trình bày của Khánh Lan, tôi nhận ra một số điều tưởng đã quen thuộc nhưng trước đây chưa chắc mình đã nhìn thấy đầy đủ. Có những khái niệm từng nằm yên trong sách vở, nay bỗng liên hệ với đời sống. Có những câu hỏi triết học tưởng như xa xôi, nay lại trở thành những câu hỏi rất gần gũi: Tôi là ai? Tôi đang sống như thế nào? Tôi có thật sự tự do không? Tôi có trách nhiệm ra sao về những lựa chọn của mình? Thực tại là gì? Con người có thể hiểu được thế giới đến đâu? Và cuộc đời có ý nghĩa gì trước cái chết?

    Đó cũng là lý do tôi rất vui hôm nay được giới thiệu cùng quý vị hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan.

    Tác phẩm thứ nhất là Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng. Tác phẩm thứ hai là Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình. Hai cuốn sách có thể được đọc riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một cuộc đối thoại khá tự nhiên. Nếu siêu hình học đặt ra những câu hỏi căn bản về tồn tại, thực tại, con người và thế giới, thì triết học hiện sinh đưa những câu hỏi ấy trở lại với đời sống cụ thể của từng cá nhân.

    Nói một cách giản dị, siêu hình học thường hỏi: Cái gì là thực tại? Tồn tại có nghĩa là gì? Con người là gì? Thế giới được cấu tạo như thế nào? Còn triết học hiện sinh hỏi thêm: Con người đang sống thế nào trong thế giới ấy? Con người có quyền lựa chọn hay không? Tự do đem lại hạnh phúc hay lo âu? Chúng ta phải có trách nhiệm thế nào về đời sống của mình?

    Trong Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Khánh Lan bắt đầu từ lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, từ những tiền đề xa xưa trong tư tưởng Socrates, Montaigne, Pascal, rồi đi đến Kierkegaard và Nietzsche, những người thường được xem là đã đặt nền tảng quan trọng cho tư tưởng hiện sinh. Từ đó, tác giả trình bày sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỷ XX qua những tên tuổi như Husserl, Heidegger, Sartre, Camus và nhiều nhà tư tưởng khác.

    Một ưu điểm dễ nhận thấy của cuốn sách là Khánh Lan không xem chủ nghĩa hiện sinh chỉ như một hệ thống lý thuyết khép kín. Cô cố gắng cho người đọc thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh nảy sinh từ những khủng hoảng rất thật của con người: nỗi cô đơn, sự lo âu, cảm giác phi lý, sự sợ hãi trước cái chết, sự mất phương hướng, nhu cầu được sống chân thật và khát vọng tự quyết định đời mình.

    Khi trình bày quan niệm của Sartre rằng sự hiện hữu có trước bản chất, tác giả giúp người đọc hiểu rằng con người không phải là một vật thể đã được định nghĩa hoàn toàn từ trước. Con người được hình thành qua những lựa chọn, những hành động và trách nhiệm của chính mình. Tự do trong triết học hiện sinh vì thế không phải là một món quà dễ chấp nhận. Tự do cũng là một gánh nặng, bởi khi được tự do lựa chọn, con người không thể hoàn toàn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho xã hội hay cho người khác.

    Đây là một điểm rất đáng quý trong cách Khánh Lan tiến đến với chủ nghĩa hiện sinh. Cô không chỉ nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân, mà còn gắn tự do với trách nhiệm. Con người được tự do, nhưng không được sống một cách tuỳ tiện. Con người có quyền chọn lựa, nhưng mỗi lựa chọn đều tạo nên một phần con người mình và ảnh hưởng đến những người chung quanh.

    Khánh Lan cũng dành sự quan tâm thích đáng đến sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật. Qua văn chương, những khái niệm như phi lý, hư vô, cô đơn, tự do, tuyệt vọng hay tính chân thực không còn là những thuật ngữ khô khan. Chúng trở thành những nhân vật, những số phận, những cuộc đối thoại, những bi kịch nội tâm và những lựa chọn đau đớn của con người.

    Văn học giúp cho triết học có một gương mặt cụ thể. Một ý niệm trừu tượng có thể trở nên dễ hiểu hơn khi nó được thể hiện qua một nhân vật đang yêu, đang đau khổ, đang sợ hãi, đang phản kháng hoặc đang phải quyết định giữa hai con đường. Qua cách trình bày này, Khánh Lan cho thấy văn chương không chỉ minh hoạ cho triết học. Văn chương còn là một hình thức suy tư bằng hình tượng, bằng cảm xúc và bằng đời sống.

    Nhân đề cập đến triết học hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn chương, tôi nghĩ nên nhắc đến Françoise Sagan, một nhà văn nữ người Pháp đã để lại dấu ấn đặc biệt đối với thế hệ chúng tôi. Sagan không viết những khảo luận triết học, cũng không trình bày chủ nghĩa hiện sinh bằng những hệ thống khái niệm phức tạp. Bà đưa cảm thức hiện sinh vào những điều rất gần gũi: tuổi trẻ, tình yêu, gia đình, sự buồn chán, khát vọng tự do và những lựa chọn riêng tư của con người.

    Qua Bonjour tristesse, người đọc gặp một thế giới tưởng như nhẹ nhàng, thanh lịch và phóng túng, nhưng bên dưới bề mặt ấy là những câu hỏi nghiêm chỉnh về tự do, trách nhiệm và hậu quả của hành động. Nhân vật của Sagan muốn sống theo ý mình, nhưng càng tìm cách thoát khỏi những ràng buộc đạo đức, họ càng phải đối diện với sự bất an và mặc cảm. Ở đó, chủ nghĩa hiện sinh không hiện ra như một bài học lý thuyết, mà như một kinh nghiệm sống.

    Sagan đã làm cho nhiều người trẻ nhận ra rằng tự do không chỉ là được làm điều mình muốn. Tự do còn là phải sống với kết quả của điều mình đã chọn. Có lẽ vì thế, văn chương của bà đã ảnh hưởng rộng rãi đến thế hệ chúng tôi. Sagan nói bằng một giọng văn nhẹ, lạnh, đôi khi tưởng như dửng dưng, nhưng phía sau sự nhẹ nhàng ấy là một cái nhìn khá sâu sắc về sự cô đơn và trách nhiệm của con người hiện đại.

    Nếu Sartre đem chủ nghĩa hiện sinh vào triết học, Camus đem nó đến với cảm thức phi lý, thì Françoise Sagan đưa nó vào đời sống tình cảm và tâm lý của tuổi trẻ. Bà chứng minh rằng những câu hỏi triết học lớn đôi khi không xuất hiện trong giảng đường, mà xuất hiện trong một mái nhà, một cuộc tình, một sự phản bội, một nỗi buồn hay một quyết định tưởng như rất riêng tư.

    Trở lại Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng, một điểm khác cũng đáng ghi nhận là tác giả không né tránh những chỉ trích đối với chủ nghĩa hiện sinh. Bên cạnh việc trình bày những đóng góp của dòng tư tưởng này, cô cũng nhắc đến những quan điểm cho rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thái độ bi quan hoặc sự khinh miệt lý trí. Việc dành chỗ cho những ý kiến ngược chiều giúp tác phẩm có thêm chiều rộng, bởi tư tưởng chỉ thật sự sống động khi nó được đặt trong đối thoại và tranh luận.

    Phần Khánh Lan viết về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh cũng mở ra một hướng suy nghĩ đáng chú ý. Tôn giáo ở đây không chỉ được nhìn như một hệ thống điều răn từ bên ngoài, mà còn như một kinh nghiệm nội tâm, một cuộc gặp gỡ giữa con người với ý nghĩa tối hậu của đời sống. Câu hỏi về Thiên Chúa, đức tin, tự do và trách nhiệm được đặt trong mối quan hệ với một con người đang hiện hữu, đang chọn lựa và đang chịu trách nhiệm về chính mình.

    Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu về quyển sách thứ hai của Khánh Lan. Nếu cuốn sách về triết học hiện sinh giúp người đọc nhìn sâu vào đời sống của cá nhân, thì Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình lại đưa chúng ta trở về với những câu hỏi rộng lớn hơn về thực tại và tồn tại.

    Trong phần mở đầu, Khánh Lan khởi đi từ những câu hỏi tưởng như rất đơn giản nhưng không dễ trả lời: Thế giới mà chúng ta đang sống thực sự là gì? Con người hiện hữu trong thế giới ấy với tư cách nào? Thực tại có tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta hay không? Có điều gì còn tiếp diễn sau cái chết?

    Đó là những câu hỏi mà triết học đã theo đuổi từ thời cổ đại cho đến hiện nay. Và trong thời đại của AI – trí tuệ nhân tạo, thực tại ảo, những mô hình mô phỏng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, những câu hỏi ấy lại càng trở nên cấp thiết. Ranh giới giữa cái thật và cái dường như thật, giữa con người và máy móc, giữa ý thức và vật chất, giữa đời sống thực và đời sống ảo ngày càng trở nên phức tạp.

    Khánh Lan có công trong việc trình bày siêu hình học như một lãnh vực không phải chỉ dành cho những triết gia chuyên nghiệp. Siêu hình học hiện diện ngay trong những điều chúng ta tin tưởng, trong cách chúng ta hiểu về con người, tự do, đạo đức, trách nhiệm, sự sống và cái chết. Mỗi người, dù có ý thức hay không, đều mang trong mình một quan niệm nào đó về thế giới. Quan niệm ấy âm thầm ảnh hưởng đến cách ta lựa chọn, hành động và đánh giá đúng sai.

    Cuốn sách lần lượt giới thiệu siêu hình học cơ bản, lịch sử phát triển của siêu hình học từ thời cổ đại đến hiện đại, những khái niệm như tồn tại, hiện hữu, thực tại, bản chất, nguyên nhân và tự do. Tác giả cũng cố gắng đưa siêu hình học đến gần hơn với những lãnh vực cụ thể như khoa học pháp lý, văn học, đời sống, Phật học, đạo đức học và tâm lý học.

    Đây là điểm đáng khen của công trình biên khảo. Khánh Lan không để siêu hình học đứng yên trong thế giới của những khái niệm trừu tượng. Cô tìm cách cho thấy những nền tảng siêu hình học có thể ảnh hưởng đến cách một xã hội xây dựng luật pháp, cách con người hình thành quan niệm đạo đức, cách chúng ta nhìn về tâm trí, thân thể, ý thức và bản chất con người.

    Đặc biệt, phần nối kết giữa siêu hình học và văn học có nhiều ý nghĩa đối với người đọc yêu văn chương. Triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lập luận. Văn học lại cho phép chúng ta đi vào những vấn đề ấy qua nhân vật, câu chuyện, hình tượng và cảm xúc. Một tác phẩm văn học lớn thường không cần trực tiếp giảng giải về bản thể, nhưng vẫn có thể khiến người đọc tự hỏi mình là ai, vì sao mình đau khổ, thế nào là một đời sống có ý nghĩa và con người phải sống ra sao trước giới hạn của thời gian.

    Việc Khánh Lan đặt Phật học vào cuộc đối thoại với siêu hình học phương Tây cũng cho thấy một nỗ lực mở rộng tầm nhìn. Phật học không chỉ được trình bày như một hệ thống tín ngưỡng, mà còn như một con đường nhận thức và chuyển hoá nội tâm. Ở đó, hiểu biết không tách rời đời sống; tư tưởng không tách rời sự tu dưỡng; nhận thức không chỉ nhằm giải thích thế giới mà còn nhằm làm vơi bớt khổ đau.

    Chương viết về đạo đức và luân lý tiếp tục làm rõ một mối quan hệ quan trọng: cách chúng ta hiểu về thực tại và con người sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta sống. Nếu xem con người là một hữu thể có tự do, quan niệm của chúng ta về trách nhiệm sẽ khác. Nếu xem con người chỉ như một bộ máy bị chi phối hoàn toàn bởi vật chất và hoàn cảnh, quan niệm của chúng ta về đạo đức cũng sẽ khác.

    Phần viết về tồn tại và thời gian, về cái chết như một điều kiện làm cho đời sống có ý nghĩa, cũng đem lại nhiều suy nghĩ. Chính vì đời người hữu hạn, mỗi khoảnh khắc mới trở nên quý giá. Chính vì con người biết mình sẽ chết, con người mới phải tự hỏi mình đã sống thế nào và còn muốn làm gì trong phần đời còn lại.

    Ở cuối sách, khi trở về với Socrates, Plato và Aristotle, Khánh Lan như muốn nhắc người đọc rằng mọi cuộc hành trình triết học, dù đi qua bao nhiêu thế kỷ, cuối cùng vẫn trở về với những câu hỏi căn bản của con người: thế nào là chân lý, thế nào là đời sống tốt đẹp, thế nào là công bằng và con người phải sống ra sao trong cộng đồng.

    Tôi không nghĩ Khánh Lan viết hai cuốn sách này để đưa ra những câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề lớn của triết học. Chính tác giả cũng ý thức rằng những câu hỏi về tồn tại, thực tại, tự do, đức tin, đạo đức và ý nghĩa đời sống không thể được giải quyết một lần cho tất cả.

    Giá trị của hai công trình biên khảo này nằm ở chỗ chúng mở ra một không gian suy nghĩ. Chúng giúp người đọc bước vào triết học bằng những câu hỏi gần gũi, rồi từ đó đi dần đến những vấn đề rộng lớn hơn. Chúng cũng cho thấy một nhà văn, với năng lực cảm nhận đời sống và văn chương, có thể đưa những tư tưởng khó khăn đến gần hơn với người đọc phổ thông.

    Khánh Lan thuộc lớp những cây bút đang tiếp tục học hỏi và tìm kiếm con đường riêng của mình. Hai tác phẩm này cho thấy ở cô một niềm say mê đáng quý đối với triết học, một ý thức muốn chia sẻ tri thức và một nỗ lực kết nối giữa tư tưởng với đời sống. Trong một thời đại mà con người thường bị cuốn vào tốc độ, tiện nghi và những tin tức cô đọng, ngắn ngủi, việc có một người chịu khó dừng lại trước những câu hỏi lớn đã là một điều đáng trân trọng.

    Tôi xin chúc mừng nhà văn Khánh Lan đã hoàn thành hai công trình nhiều tâm huyết này. Mong rằng quý độc giả sẽ đón nhận Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng và Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình như những lời mời gọi bước vào một cuộc trò chuyện sâu sắc về con người và thế giới.

    Và tôi cũng mong rằng, sau khi đọc hai cuốn sách, mỗi chúng ta sẽ có lúc biết dừng lại để tự hỏi: Tôi đang sống như thế nào? Tôi có đang sống thật với chính mình không? Những lựa chọn của tôi đã đem lại điều gì cho bản thân và cho người khác? Tôi đang tìm kiếm điều gì trong cuộc đời hữu hạn này?

    Có lẽ, đó chính là lúc triết học không còn nằm yên trên trang sách. Nó bước vào đời sống, đi vào tâm hồn và bắt đầu làm thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới, nhìn người khác và nhìn chính mình.

    Xin trân trọng giới thiệu hai tác phẩm biên khảo về triết học của nhà văn Khánh Lan cùng quý vị.

    Phần văn nghệ xen kẽ là: The Duo guitar Cát Vàng với Minh Thư và Thúy Giao, trình diễn liên khúc Country Roads: 500 Miles and Take Me Home.

    Ngoài 2 tác phẩm Siêu Hình Học và Triết Học Hiện Sinh, NV Khánh Lan còn cho ra mắt một tác phẩm song ngữ Những đứa trẻ lạc loài/The unwanted children.

    BÀI DIỄN VĂN THỨ BA CỦA NHÀ VĂN, NHÀ BÁO PHẠM QUỐC BẢO

    Với diễn giả NV Phạm Quốc Bảo khi bàn về tác phẩm Những Đứa Trẻ Lạc Loài của nhà văn Khánh Lan. Ông nói:

    Tôi vẫn suy tưởng sau cuộc chiến tại Việt Nam, nay đã thấm thoát hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ tháng Tư, năm 1975, nhưng những vết hằn của lịch sử và nỗi đau ly hương vẫn là một phần nặng trĩu trong tâm khảm của những người con xa xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, việc Khánh Lan giới thiệu tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” cùng ca khúc “Kiếp Lạc Loài” (sáng tác: Phạm Thái, phổ thơ Phạm Thái) thực sự là một nén tâm hương đầy ý nghĩa để tưởng nhớ và chia sẻ nỗi trăn trở.(Trích trong phần nhận định tác phẩm của NV Việt Hài)

    Dưới đây là một số cảm nhận và bình luận chi tiết về cấu trúc 3 phần của tác phẩm cũng như điểm nhấn mạnh độc đáo của dự án nghệ thuật này:

    • Phần I: Hồi ký “Những đứa trẻ lạc loài”

    Cảm nhận: Đây là phần mang tính cá nhân và xúc động sâu sắc nhất khi chạm trực tiếp vào số phận của một đứa trẻ lai bị bỏ lại sau chiến tranh. Những mảnh đời “con lai” từng phải gánh chịu định kiến, sự thiếu vắng tình thương và muôn vàn trắc trở trên chính quê hương mình. Hồi ký không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là tiếng lòng đại diện cho cả một thế hệ sinh ra trong nghịch cảnh chiến tranh.

    • Phần II: Số phận qua chương trình Babylift và Homecoming Act

    Cảm nhận: Tác phẩm mở rộng lăng kính để nhìn nhận về những ngã rẽ khác nhau của các em bé được đưa đi theo chiến dịch Babylift (1975) hay những người con lai lớn lên tìm đường định cư nhờ Đạo luật Hồi hương (Amerasian Homecoming Act). Dù có cơ hội bước ra thế giới rộng lớn hơn, hành trình tìm kiếm cội nguồn, đối diện với khủng hoảng bản sắc và nỗi đau mất mát gốc gác vẫn luôn là vết thương khó lành.

    • Phần III: 50 năm nhìn lại vận mệnh đất nước

    Cảm nhận: Khép lại tác phẩm bằng cái nhìn tổng quan sau 50 năm, phần này mang chiều sâu chiêm nghiệm của thời gian. Đó là sự giao thoa giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; là nỗi niềm trăn trở về những gì đã xảy ra cho quê hương, đất nước và sự kiên cường vươn lên của những kiếp người viễn xứ.

    Diễn giả Phạm Quốc Bảo nêu ra sự tương quan liên hệ về xã hội Mỹ vẫn có những tuổi thơ, những trẻ em lạc loài, bơ vơ cần sự giúp đỡ. Vì dây là vấn nạn nhân văn xã hội. Về tác giả Khánh Lan thì trong nội dung sách gồm 3 phần của tác phẩm này được soạn khá kỹ, một khi những chia sẻ của mình có thể đồng điệu với góc nhìn sâu sắc và đầy tính nhân văn của chủ đề. Ví dụ như những suy tư, những trăn trở về gia đình, cộng đồng và số phận con người qua các tác phẩm văn nghệ, thi ca luôn mang một sức sống mãnh liệt, giúp chúng ta xích lại gần nhau hơn trong cuộc sống viễn xứ này.

    Điểm chú ý tiểu thuyết xã hội này được soạn lại do việc biên khảo dữ liệu trên liên mạng internet, do sự thực, tiểu thuyết “Những đứa trẻ lạc loài có 2 phiên bản là một ấn bản Việt Ngữ và một về phiên bản Anh Ngữ, tức hai cuốn.

    Ca khúc song ngữ “Kiếp Lạc Loài” và “The Forsaken Life” của NS Phạm Thái do lấy cảm hứng từ tiểu thuyết những đứa trẻ lạc loài của nhà văn khánh Lan. Đây là một bước thử nghiệm rất đáng chú ý khi toàn bộ phần hình ảnh, giọng hát và hòa âm đều được thực hiện thông qua công nghệ AI dựa trên lời thơ của anh Phạm Thái. Trên sân khấu ca sĩ Thụy Lan chuyển tải bài nhạc, phần Hòa âm và trong youtube clip ban đầu do giọng hát AI. Ca khúc mang lại màu sắc hoài niệm, da diết, tái hiện thành công nỗi cô đơn và khát vọng tìm về nguồn cội của những đứa trẻ lạc loài.

    Tóm lại, tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” và ca khúc “Kiếp Lạc Loài” không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật tưởng niệm tháng Tư Đen, mà còn là một thông điệp nhân văn sâu sắc về lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và hàn gắn những vết thương chiến tranh.

    Hai bài hát xen kẽ do ca sĩ Ngọc Hà, phu nhân của nhạc sĩ Lê Văn Khoa trong 2 nhạc phẩm. Tình cố hương của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Và Tình Cầm, thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy.

    Tiếp theo là phẩm diễn ngân của thi sĩ Hà Phương đã kết thúc phần văn học với hai bài thơ: Nàng Thơ Nàng Xuân tặng nữ sĩ Dương Hồng Anh và Cung Linh Khúc tặng văn thi sĩ khánh Lan.

    Tuyết Nga, Vee Hương, (Khánh Lan) Đức Hạnh, Kim Hương

    Sách bán được gần hết và nhanh hơn dự kiến. Nhưng điều khiến tôi xúc động không phải là số lượng sách được bán, mà là những cuộc trò chuyện sau buổi giao lưu. Sự thành công hôm ấy, với tôi, không nằm ở những con số mà nằm trong ánh mắt của độc giả, trong những cái bắt tay, những lời chia sẻ chân thành và cả sự im lặng đầy xúc động của chính tôi. Sự thành công đến quá bất ngờ, vượt xa mọi điều tôi mong ước.

    Khi hội trường dần vắng, tôi nhìn một số ít sách còn lại trên bàn và mỉm cười. Tôi hiểu rằng những tháng ngày miệt mài viết lách của mình đã được đáp lại bằng một món quà đẹp đẽ: sự yêu thương của độc giả. Đó là khoảnh khắc tôi sẽ không bao giờ quên.

    Trong cuộc đời của một người cầm viết không thể đo đếm bằng thành công mà bằng hạnh phúc vì những điều mình viết ra đã thực sự đến được với độc giả.

    Khi buổi ra mắt kết thúc, tôi đứng lại một mình trong hội trường đã vắng người. Tôi nhớ đến những ngày mình từng hoài nghi không biết liệu có ai muốn đọc câu chuyện này hay không. Vậy mà hôm nay, chính những bân bè, người xa lạ lại dành thời gian đến đây, lắng nghe và chia sẻ cảm xúc với tôi.

    Tối hôm ấy, trở về nhà, tôi ngồi một mình bên bàn viết, nhìn những cuốn sách còn lại và chợt hiểu rằng có những khoảnh khắc trong cuộc đời của một người cầm viết không thể đo đếm bằng thành công mà bằng hạnh phúc vì những điều mình viết ra đã thực sự đến được với độc giả. Tim óc tôi lúc ấy như dâng lên một niềm vui mừng tưởng chừng như bất tận, xen lẫn những cảm xúc dâng trào từ tận đáy lòng.

    Thành công của buổi ra mắt không nằm ở số sách được bán ra, mà ở khoảnh khắc tôi nhận ra rằng câu chuyện mình viết đã thực sự chạm đến người đọc/khác. Đó là một thành công hoàn toàn ngoài dự tính, bất ngờ đến mức tôi vẫn cảm thấy như mình đang nằm mơ. Và có lẽ, đây sẽ là một trong những ngày đáng nhớ nhất trên hành trình viết sách của tôi.

    PHẦN VĂN NGHỆ

    Sau phần văn học, một chương trình nhạc thính phòng với những nhạc phẩm vang bóng một thời trong nền âm nhạc Việt Nam đã cống hiến đến quý quan khách. Mở đầu phần văn nghệ, Ca sĩ Kim Đức, phu nhân của Bác Sĩ Vũ Thùy với nhạc phẩm “Paris tu m’as Pris dans tes bras”, xin được dịch nôm na là “Paris ơi, thành phố đã đón tôi trong vòng tay”. Một nhạc phẩm nổi tiếng của ca sĩ Enrico Macias, được ông sáng tác khi chính phủ Algeria trục xuất ông ra khỏi nước vì ông tham gia phản chiến và chính phủ Pháp đã dang rộng bằng vòng tay để đón chào ông.

    Và lần lượt đến sự trình diễn của các bạn bè và thân hữu.

    • Chế Tùng & Nguyệt Hân: Hoa Có Vàng Nơi Ấy. NS việt Anh
    • Đông Triều: Biết Bao Giờ Trở Lại, NS Ngô Thụy Miên.
    • Ngọc Quỳnh: Về Đây Nghe Em, NS Trần Quang Lộc 
    • Hồng Quyên: Thu Quyến Rũ. NS Đoàn Chuẩn 
    • Kim Đức: If You Go Away.
    • Mạnh Bổng: Dưới Giàn Hoa Cũ của nhạc sĩ Tuấn Khanh.
    • Chế Tùng & Nguyệt Hân: Còn Mùa Thu.

    Đông Triều trong nhạc phẩm Biết Bao Giờ Trở Lại

    Hồng Quyên vời Thu Quyến Rũ

    Ngọc Quỳnh với Về Đây Nghe Em 

    Mạnh Bổng với nhạc phẩm: Dưới Giàn Hoa Cũ

    4:30 pm: Bế mạc với ban hợp ca nhạc phẩm Còn Gặp Nhau với Minh Thư, Lâm Dung & Ngọc Quỳnh và nhóm tơ vàng. Nhạc phẩm Còn gặp nhau của nhạc sĩ Võ Tá Hân đã chấm dứt chương trình ra mắt sách.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Khánh Lan gởi lời cảm ơn chân tình đến quý Giáo Sư, Diễn Giả, Văn Thi Sĩ, Anh Chị Em và Thân Hữu đã đến chia vui và chúc mừng đến chúng tôi. Chúng tôi cũng gởi lời cám ơn đến các ca sĩ và bạn bè, thân hữu cũng như các anh chị em trong nhóm đã tham gia trong phần văn nghệ, đã trình diễn những nhạc phẩm tuyệt diệu và đã ở lại đến giây phút cuối.

    NS Dương Hồng Anh & Khánh Lan, California 2026

  • Tin tức

    Kỷ Niệm Anh Chị Ngọc Cường Ohio

    Trần Việt Hải

    Từ trái sang phải: NV Nguyễn Quang, NV & NB Phạm Quốc Bảo, Anh Trần Mạnh Chi, NV Ngọc Cuồng, Chị Bích Điệp (Phu nhân NV Ngọc Cướng), Khánh Lan, Lệ Hoa, NV Việt Hải, Chị Minh Khai, Mạnh Bổng, NS Lê Văn Khoa, CS Ngọc Hà (phu nhân NS Lê Văn Khoa)

    Party Đón Chào Ngọc Cường và Bích Điệp Ohio.

    Nhân dịp kỷ niệm anh chị Ngọc Cường và Bích Điệp gia nhập gia dình văn nghệ Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian được 10 năm, Khánh Lan và Mạnh Bổng có tổ chức buổi họp mặt bạn bè thân hữu khá thân mật và đầm ấm. Những buổi sinh hoạt văn học hay họp mặt tại tư gia, chúng tôi thường tổ chức potluck. Tôi nhớ nhà văn Ngọc Cường và phu nhân Bích Điệp tổ chức party ca hát ở tư gia nghệ sĩ Trần Lãng Minh, những buổi chung vui ở Paris, Barcelona hay Napoli, Italy, nay đã vào dĩ vãng tuyệt đẹp.

    Nhà văn Ngọc Cường là cháu thúc bá (oncles paternels) của các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam và Viễn Sơn. Ngọc Cường đã xuất bản nhiều sách và tôi cũng đã có dịp viết nhận định về anh như sau:

    “Nói đến Ngọc Cường hẳn nhiên không thể bỏ qua phạm trù chữ nghĩa hay sách vở, tổng quát hơn thì là khía cạnh văn học. Anh viết về nét văn hóa quanh chữ nghĩa như:

    “Sách được bầy bán nhiều quá, đầy trên kệ, còn la liệt trên bàn nữa. Không biết lựa chọn cuốn nào, dở trang đầu, đọc lướt qua mục “Lời Tựa”, tôi nhận thấy ở nhiều tác giả (thường là họ mới có tác phẩm đầu tay), hay nói về lý do cầm bút. Họ giải thích “tôi viết để mà viết …” , hoặc “tôi không dám tự nhận là một nhà văn …” Những câu tâm sự như vậy trở nên như một thông lệ ở phần đầu cuốn sách. Có thể do sự khiêm nhường hay dè dặt của họ, như để “rào trước đón sau”, phòng trường hợp có bị chê thì… vì tôi đâu phải một nhà văn? …Điều này theo tôi đáng tiếc, vì lẽ ít ra họ phải có chút tự tin, và cần được khích lệ vì một khi tác phẩm được xuất bản, hiển nhiên họ là một nhà văn (theo định nghĩa), không nên tự phủ nhận một tất yếu như vậy. Và một khi bỏ công ra viết là cố gắng hơn nhiều người, là điều đáng được khuyến khích, nếu không nên được khen thưởng? Người cầm bút không nên có mặc cảm. Mong độc giả rộng lượng, lên tiếng khuyến khích.

    Còn nếu nói viết chỉ để viết thì cũng không trọn nghĩa, vì một khi đã ra mắt, sách là để người khác đọc, nếu không, nên bỏ ở xó nhà chỉ là đống giấy lộn. J. P. Sartre trong bài tiểu luận“Văn Học Là Gì” đã khẳng định là một tác giả chỉ thành một nhà văn khi có người đọc. Thật vậy, tác giả nào chả mong có nhiều độc giả, còn nếu không thì đừng mang tác phẩm ra xuất bản – Sách bầy ra tất sẽ có người mua đọc. Và như vậy, động lực cầm bút (của một nhà văn), đầu tiên có thể chỉ là viết để mà viết, nhưng thật ra nó đã chứa đựng tiềm ẩn nhiều nguyên nhân: giải bày một tâm sự, chia sẻ một kỷ niệm .v.v…, và lý do khác như muốn thỏa mãn tự ái, kiếm chút danh vị… Nên, không thể nói: viết chỉ để viết đơn thuần, mà phải là viết cho người khác thưởng thức. Tất nhiên, cũng có nhiều cuốn hồi ký chỉ nhằm vào số nhóm độc giả chọn lọc nào đó …Một tác phẩm không xuất bản, để quên vùi một xó, không ai biết thì vốn không là một tác phẩm nghệ thuật.

    Theo Tolstoy: sự thông tin, giao cảm giữa tác giả và người đón nhận tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Nhật ký Anne Frank nếu không được ông bố cô bé đem ra in sau khi cô qua đời, thì cũng sẽ chỉ là một sản phẩm riêng tư, nó trở thành tác phẩm nghệ thuật khi được chia sẻ, có người thưởng thức. Sở dĩ nêu lên khía cạnh này, vì tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của độc giả. Theo tôi, dù tác giả có công sáng tạo, nhưng chính người đọc mới là sở hữu chủ của tác phẩm, ít ra thì đó là dưới quan điểm kinh tế của một cuốn sách. Còn về giá trị, hay hoặc dở là do chủ quan thưởng thức của người đọc quyết định. Một khi cuốn sách được xuất bản, nhiệm vụ nhà văn chấm dứt, như đứa con (tinh thần) đã trưởng thành.”

    Anh Phạm Quốc Bảo, anh Tường Cường, Việt Hải (3 vị bìa trái)

    Văn Thơ Việt Hải- Thử bàn về khía cạnh Nghệ Thuật qua bài của Ngọc Cường.

    Truyện Ngắn: Ba Chị Em và Hai Buổi Chia Tay Ở Gare Du Nord Của Ngọc Cường.

    Chị Ngọc Điệp (áo vàng), anh Tường Quý, anh Phạm Quốc Bảo( anh bìa phải)

    Ngược lại, anh cùng cho tôi những dòng hảo cảm hay mỹ từ về tình bạn của chúng tôi:

    “Anh Việt- Hải thân,

    Trước hết tôi xin gửi lời thăm hỏi đến anh và chị Lệ Hoa quý mến. Tôi xin mượn lá thư này, để bày tỏ cùng anh những suy tư, và tình cảm của tôi dành cho anh và quý anh chị trong Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và ban nhạc Tiếng Thời Gian.

    Điều đầu tiên cần phải thưa là tôi rất tiếc vì ở xa (Ohio) nên ít có dịp được gặp gỡ và sinh hoạt cùng các anh chị trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và ban nhạc Tiếng Thời Gian (do anh chủ xướng và hướng dẫn). Tuy nhiên, vẫn thường xuyên qua email và điện thoại, chúng mình vẫn giữ liên lạc thân tình; và riêng tôi, luôn theo dõi những sinh hoạt của nhóm dù không được trực tiếp tham gia.

    Qua mấy dòng chữ này, tôi muốn bầy tỏ rằng cá nhân tôi không bao giờ quên đến ơn của anh và quý thành viên trong nhóm, đã nhiều lần giúp đỡ tôi ra mắt sách ở Nam Cali. Tôi cũng thành thật cảm thấy vui là chúng ta đã có cơ hội cùng nhau làm việc trong cả thập niên qua hoàn thành được hai cuốn Tuyển Tập về Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ và Các Cây Bút Hậu Duệ tập I và II ).

    Như người ta thường nói tùy duyên. Tình bạn giữa tôi và anh cũng bắt đầu bằng một cái duyên, đó là do nhà văn Phạm Quốc Bảo giới thiệu tôi với anh để mong được anh giúp đỡ ra mắt cuốn Hệ Lụy (2016) của tôi. Anh Phạm Quốc Bảo là một người thân của gia đình tôi, một nhà văn đặc biệt đối với tôi và xin mạn phép đặt danh xưng là: một văn sĩ của văn sĩ, vì anh là một nhà văn luôn hăng hái giúp đỡ thân tình trong giới văn nghệ ( những ai muốn viết văn như tôi).

    Và như đã diễn ra: Anh đã huy động anh chị em trong và ngoài nhóm đến tham dự đông đảo, đóng góp cho sự thành công buổi Ra Mắt Sách của tôi (cuốn Hệ Lụy 2016). Sau đó là cuốn Bâng Khuâng (2019), Ba Chị Em (2022) quí văn thi hữu cũng đã giúp tổ chức từ việc kiếm địa điểm cho đến quảng cáo, vận động và tiếp tân.

    Hôm nay, tôi xin được phép gọi anh với danh xưng là nhà văn của nhà văn vì anh đã tận tình giúp nhiều người viết văn, viết sách – xuất bản và ra mắt sách cho họ.

    Tuy mới quen nhau được 10 năm , nhưng chúng ta cũng có nhiều kỷ niệm, như ngoài cộng tác viết sách, sinh hoạt văn nghệ, mà còn cùng nhau ngao du thế giới (đi du hành bờ biển Mexico, và tham quan Kinh Đô Ánh Sáng Paris…). Từ đấy, cụ thể mà nói, tình bạn này cũng có nét khác biệt: Chúng ta là hai văn sĩ, và tình bạn nghệ sĩ giữa chúng ta (theo tôi) cũng có nét đặc biệt hơn tình bạn đơn thuần.

    Thật ra tôi và anh chỉ ‘tự nhận’ là văn sĩ thôi. Vì theo định nghĩa thông thường, một nhà văn là một người viết văn có tác phẩm xuất bản và được nhiều người đọc. Nếu theo đúng định nghĩa này, anh và tôi chưa có thể được gọi là văn sĩ. Nhưng tôi không hoàn toàn đồng ý với định nghĩa cứng ngắc đó. Vì, ngay cả nghệ thuật, cho đến nay, vẫn còn chưa ai dám bảo là có thể định nghĩa một cách hoàn hảo rành rọt được. Như vậy tại sao lại phải o ép – eo hẹp với người viết văn như vậy. Tôi xin nhân danh nghệ thuật công nhận Việt-Hải là một nhà văn chính cống.

    Tiện đây, xin kể anh nghe về một mẩu chuyện nơi làng văn chúng ta : Khi tôi còn sinh hoạt với Văn Bút, có lần trong buổi họp bàn về bầu cử Ban Chấp Hành hội, tôi có đề nghị là ai muốn ra tranh cử chúng ta đều nên hoan nghênh cả. Nhưng có nhiều thành viên phản đối, họ nêu dẫn Nội Quy: Phải là thành viên chính thức và muốn gia nhập Văn Bút phải có hai tác phẩm xuất bản! Nghe vậy, tôi bèn nêu lên trường hợp của nhà thơ Hà Thượng Nhân, người được mệnh danh là một chưởng môn nhân, và trước đây ông là chủ nhiệm báo Tiền Tuyến của QLVNCH, khi đó ông cấp bậc Trung Tá ( Phạm Xuân Ninh ) phục vụ tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, nơi tôi cũng từng phục vụ; tất nhiên tôi chỉ là một Trung Úy cà nhổng ở Đài Phát Thanh Quân Đội. Điểm tôi nêu lên là ngay vị chưởng môn về thơ văn chưa hề có một tác phẩm xuất bản nào cả ! Như vậy chả lẽ ông không đủ điều kiện gia nhập Hội Văn Bút ? Chỉ khi về cuối đời, con cháu đã gom một số các bài thơ của ông và in ra một Tập Thơ; và theo chính yêu cầu của ông, không được bán ra ngoài cho công chúng. Do quen với anh Phạm Hoài Bắc, con trai của ông ( hiện ở San Jose ), tôi có đề nghị xuất bản tập thơ đó, nhưng gia đình ông không đồng ý vì muốn tôn trọng ý nguyện của ông. Tôi rất lấy làm tiếc về việc này…

    Câu chuyện này còn khiến tôi nhớ đến trường hợp của Kafka, nhà văn Hung Gia Lợi trước khi chết đã nhờ người bạn đốt hết bản thảo tác phẩm của ông. May mắn thay, người bạn đó đã không tuân lời và đem ra xuất bản, nhờ đó chúng ta mới có những tuyệt tác để đọc và thưởng thức.

    Như một đầu bếp, nấu xong một món ăn, nếu ngồi ăn một mình sẽ làm mất hết thú vị của món ăn và cũng trái ngược lại với văn hóa ẩm thực là chia sẻ. Cũng vậy, một tác giả sáng tác ra tác phẩm, nếu không cống hiến cho công chúng thưởng thức tức là kiêu căng và ích kỷ.

    Tình bạn thông thường nẩy nở do có cùng một công việc, sở thích hay sinh hoạt, như bạn đồng nghiệp, đồng đội, đồng môn.v.v.. Riêng trong vòng nghệ sĩ như anh và tôi, nó vượt lên trên những thứ mà thực tế đã và đang gây chia rẽ nhất, đó là tôn giáo và chính trị. (Religion, or US politics).

    Nếu thực sự chính trị và tôn giáo gây chia rẽ con người, thì thực tế cho thấy, khoa học và nghệ thuật kéo chúng ta lại gần nhau hơn. Nhà văn Antoine de Saint Exupery đã viết “ Yêu nhau không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhau nhìn về một hướng”. Câu nói này cũng có thể dẫn giải là hai người yêu thương nhau cần có cùng một ý hướng thượng, hay lý tưởng chung.Do vươt biên giới quốc gia mà bản Giao Hưởng số 9 của Beethoven đã được dùng làm điệp khúc chính thức cho Cộng Đồng Chung Âu Châu (EU).

    Xin nhắc lại đây: ngày đầu tiên tôi được diện kiến anh (qua lời giới thiệu của anh Phạm Quốc Bảo) là đêm trình diễn của ca sĩ Kim Tước (lần cuối cùng chị ấy ra mắt khán thính giả) tại hội quán báo Người Việt (Nam Cali) năm 2016. Như người ta vẫn hay công nhận : Nhận xét hay cảm nhận về một người trong buổi gặp gỡ lần đầu thường chính xác nhất; và đêm hôm đó, tôi nhận thấy nơi anh toát ra một sự lành lặn và cởi mở.

    Khi càng tiếp xúc – càng biết anh nhiều hơn: dù có cái bề ngoài bị giới hạn do bệnh tật nhưng ai cũng công nhận nội tâm anh chứa đựng một sức sống mãnh liệt và ý chí bền bỉ. Và cũng từ đó, khi làm việc chung với nhau qua nhiều sinh hoạt, tôi có cảm giác anh là một người đáng tin cậy như một người Sài-Gòn thủa xa xưa mà nay chắc khó kiếm trên đất “gió tanh mưa máu” Bolsa này…

    Anh là người đầu tiên tôi hân hạnh được biết là đã đậu Tú Tài hạng Ưu ! Quả thật ngạc nhiên vì tôi cố gắng lắm mới đậu với hạng Thứ. Qua nhiều cuộc trà đàm về chuyện trên trời dưới biển, văn nghệ , văn gừng , tôi và anh rồi cũng quay về với đề tài…. Paris, nơi nhà thơ Cung Trầm Tưởng của chúng ta đã thốt lên:

    Mùa thu Paris

    Trời buốt ra đi

    Hẹn em quán nhỏ

    Rưng rưng rượu đỏ tràn ly….

    Và lãng mạn như:

    Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế

    Trời mùa Đông Paris, suốt đời làm chia ly…

    Kinh Đô Của Ánh Sáng là niềm mơ ước của chúng ta…tới đó để cùng ngồi ở ven bờ ngắm con sông Seine êm đềm lãng mạn… dạo phố đại lộ Champs Elysee hoa lệ sầm uất…và rồi ngồi nhâm nhi ly cà phê ở quán De Flores, tưởng nhớ đến các nhà văn xa xưa Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, hay Ernest Hemingway, Jean Paul Sartre và thêm nữa, Simone de Bauvoir …

    Và mộng ước của chúng ta đã đến vào năm 2023… Kèm đây tấm hình chụp ở Paris gửi anh xem ( một hình ảnh giá trị như cả ngàn lời):

    Việt-Hải, Ngọc Cường và Bích Điệp, chụp dọc bờ sông Seine

    Môt số thành viên nhóm NVNT cùng Việt-Hải, chụp giữa đại lộ Champs Elysee trước Arc de Triomphe

    Và rồi như anh hằng ngày vẫn thông báo trên emails, anh và quý anh chị em trong nhóm NVNT và TTG còn lên đường thêm nhiều chuyến du ngoạn nữa. Nhưng vì lý do ngoài ý muốn ( sức khỏe, gia đình…) có những lần tôi đã không theo kịp bước của quý anh chị! Đây, một sự tình cờ thú vị : Tôi vừa tò mò vào ChatGTP hỏi về văn chương của anh và tôi, và AI đã so sánh như sau : (xin trích dẫn) Nếu đặt cạnh nhau, văn chương của họ cùng thuộc mạch văn chương giàu: hồi ức, tình người và suy tư về thân phận…

    Việt Hải : văn chương của hồi ức và tình người….

    Một đặc biệt…về tình bạn…trong văn Việt Hải họ trở thành một phần của lịch sử đời người….thời gian trôi qua, điều còn lại không phải là thành công hay thất bại, mà là cách con người đối xử với nhau. …..Nếu Việt-Hải thường nhìn quá khứ từ phía tình cảm, thì Ngọc Cường có xu hướng mổ xẻ quá khứ để tìm nguyên nhân của những đổ vỡ.

    ….Điều thú vị là cả hai, cuối cùng đều gặp nhau ở chủ nghĩa nhân văn.

    Việt Hải hỏi : “ Con người đã sống với nhau như thế nào?”

    Ngọc Cường hỏi:” Vì sao con người lại trở thành như thế ”

    ….Nếu Việt Hải giống như người ngồi bên dòng sông nhìn lại những người di qua đời mình, thì Ngọc Cường giống người quay lại dòng sông ấy để tìm xem vì sao mỗi người đã trôi về một hướng.

    Anh Hải thân,

    AI cũng là người khác nghĩ về mình, và chỉ có thể đúng một phần thôi. Riêng tôi cho là đã may mắn có được một người bạn tâm giao tri kỷ như anh, và xin cám ơn anh đã làm bạn với tôi. Thư đã dài, xin tạm dừng nơi đây với lời chúc anh và chị vui khỏe, an hưởng hạnh phúc bên gia đình.

    Thân mến,

    Ngọc Cường; 8/21/2026.”

    Bạn bè từ Mỹ ngao du Paris

    Tôi nhớ anh em chúng tôi lang thang bên xứ Mễ như Ensenada, Cabo San Lucas, Mazatlán, Puerto Vallarta, Jalisco, chuyện trò văn học những Guy de Maupassant, Gustave Flaubert, William Somerset Maugham, Edgar Allan Poe, Ernest Hemingway, Jacques Prévert, rồi khi anh em chúng tôi bú khú tại những tụ điểm café en terrasse, dù Les Deux Magots, hay café vỉa hè Café de Flore cùng cô em Hoàng Loan, ái nữ của PĐĐ Nguyễn Hữu Chí, tức thi sĩ Hữu Phương, anh em chúng tôi ban văn chương Tự Lực Văn Đoàn trong khuôn viên campus Sorbonne Văn Khoa, Sorbone Luật Khoa, kỷ niệm nào tìm trong dĩ vãng vui quá.

    Đến nhà Lưu Mạnh Bổng hẳn phải thưởng thức món ngon Hà Nội là Phở Bổng và nộm tôm thịt bà chef Bếp Hồng Tay Khéo Khánh Lan, hai nhà văn Phạm Quốc Bảo và Trần Mạnh Chi luận bàn về nguồn gốc món Phở Bắc từ hồng thư Thạch Lam, Hà Nội 36 Phố Phường, hoặc như bạn độc xem qua Món Ngon Hà Nội của Vũ Bằng. (Chủ nhân Phở Saigon Pearl ở khu mall Irvine Spectrum Center, chef Trần Mạnh Chi luận bàn nguồn gốc phở Bắc Nam Định, quê hương của người.)

    Phở Bổng gia chủ “buôn may bán đắt” vét cạn nồi. (Biệt tài cùa Việt Hải-vua AI picture…)

    Hai nơi được xem như snh quán món phở là Hà Nội và Nam Định. Con người có nguồn cội, phỏ cũng xêm xêm. Phở Hà Nội và Phở Nam Định cùng trở thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nhưng nếu tò mò tự hỏi liệu hai món phở Hà Nội và phở Nam Định có khởi nguồn từ đâuma2 ra. Xin xem nhé,… Nguồn gốc của phở.

    Nguồn gốc của phở đã được rất nhiều nhà nghiên cứu yêu thích món ăn này đưa ra. Các giả thuyết rất khác nhau. Một giải thuyết cho rằng tên “phở” được mượn từ chứ “feu” (tiếng Pháp có nghĩa là lửa) trong cụm từ chỉ món ăn pot-tau-fer (súp thịt bò) vốn được đưa vào Việt Nam trong giai đoạn người Pháp chiếm đóng. Thế nhưng, món súp thịt bò này vốn được hầm với nhiều loại rau củ như cà rốt, tỏi tây, củ cải… dùng kèm với bánh mì. Rõ ràng, từ nguyên liệu đến cách ăn uống, món ăn này không ăn nhập gì với món phở Việt cả về hình thức đến nội dung.

    Tiếp theo về nguồn gốc của hai món phở di sản Hà Nội và Nam Định, thì cũng có giả thuyết lại cho rằng phở do người dân trong các ngôi làng ở Nam Định sáng chế ra món vào năm 1898 khi thực dân Pháp khởi công xây dựng nhà máy dệt Nam Định. Các kỹ thuật viên người Pháp và hàng ngàn công nhân đã tràn về vùng này để làm việc cho nhà máy dệt lớn nhất Đông Dương khi ấy. Một số người dân am hiểu về ẩm thực đã tìm cách kết hợp và cải tiến món canh “xáo”, cho nấu cùng với phở trắng, hành lá, rau thơm và điều chỉnh gia vị cho phù hợp với khẩu vị của thực khách. Khi những công nhân xây dựng chuyển từ Nam Định ra Hà Nội để làm việc cho dự án cầu Long Biên, món phở nhanh chóng vươn tầm ra khỏi làng. Gánh những gánh hàng phở trên vai, những người dân nghèo theo chân những công nhân xây dựng, nhanh chóng kiếm được thu nhập khá từ việc bán phở, và cũng khiến món ăn này sớm trở thành niềm yêu thích của người dân Thủ đô.

    Nguồn gốc di sản Hà Nội và Nam Định ra sao. Theo những giải thuyết đó xem ra đều chỉ là giả thuyết. Nguồn gốc của phở là ở Việt Nam được cho là đã xuất hiện cách đây hơn 100 năm, do những người nông dân tài hoa sáng chế ra khi kết hợp những nguyên liệu đơn giản nhưng tinh tế lại với nhau, do người Việt Nam với những cung cách sáng tạo riêng mà thành. Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tiến cũng từng chỉ ra rằng, món phở đi từ món ăn cho người lao động ở bến sông đến một thức quà cầu kỳ vì người Thăng Long – Hà Nội do nhu cầu của tầng lớp trung lưu, lại có sự sáng tạo, có thời gian, khi đó đã “biến hóa” khá nhiều món ăn từ các vùng quê trở thành món ăn Hà Nội, có sự “tinh hóa”, cầu kỳ…Từ đây, phở phát triển theo những hướng rất khác nhau. Đối với “phở phiên bản Nam Định”, những lát thịt bò được xào với tỏi và vài miếng cà chua, sau đó đặt lên trên những sợi phở đã chần trước khi đầu bếp đổ một muôi nước dùng thơm phức vào bát. Trong khi đó, người Hà Nội có một cách tiếp cận tối giản đối với món ăn. Ở Hà Nội, phở chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng nước dùng, tạo cảm giác rằng ngay cả các loại rau thơm cũng có thể làm mất đi hương vị của phở.

    Nói về phở, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả trong cuốn “Hà Nội băm sáu phố phường”: “Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon”. Ông đánh giá “Phở ngon phải là phở “cổ điển”, nấu bằng thịt bò, “nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt với hành tây đủ cả”, “rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một ít cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ”.

    Vào thời những năm 1940, phở đã rất phổ biến ở Hà Nội, đò là thứ quà ăn suốt ngày của tất cả tầng lớp thế hệ, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta có thể ăn phở cả ngày, ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối. Phở đã đồng hành với đời sống thăng trầm của người dân trên đất Hà Thành suốt hơn trăm năm qua. Rồi cùng thời gian và những đẩy đưa của thời cuộc phở đã đi đến nhiều vùng miền. Từ nơi làng xã hay chốn thị thành, tại quê hương hay theo chân người dân Việt đi khắp năm châu. Từ những lúc khó khăn thiếu thốn, khi xã hội có nhiều biến động cũng như lúc ấm no thanh bình. Phở vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày, vẫn được nhiều lớp người dù là nam phụ lão ấu đều ưa dùng, thậm chí còn là món khoái khẩu của nhiều thực khách.

    Rồi hành trình xuyên thế kỷ của phở nhự sau,…

    Hành trình xuyên thế kỷ của phở đã được các bậc trưởng lão làng phở đúc kết như sau: Giai đoạn đầu những năm 1908-1930, xuất hiện và định hình món phở; Giai đoạn 1930 – 1954, phở phát triển và đạt đến cực thịnh; giai đoạn 1954 – 2000, ghi nhận một thời kỳ đầy biến động, mang lại cho phở một diện mạo đa sắc. Bước sang thế kỷ 21, có thể coi như phở đã chính thức đánh dấu thời kỳ hòa nhập, toàn cầu hóa, được kỹ nghiệp hóa phở như phở franchise, phở đóng gói,….

    Ông nhà văn Phạm Quốc Bảo chuộng goût văn nam kỳ quốc Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc, giáo ta khởi nghiệp tại miêt cố lý Ba Tri, Bến Tre, nghe như quen quen, ông giáo Ba Tri giảng bài cá lóc nướng trui như sau:

    Cá lóc hay còn gọi là cá quả, được chế biến thành nhiều món ăn ngon và phổ biến như: Lẫu cá lóc canh chua, cá lóc kho tộ, gỏi khô cá lóc, bún mắm cá lóc, cháo cá lóc,… Cá lóc chứa hàm lượng vitamin A super cao, giúp cho cơ thể những vị cao niên khỏe mạnh. Ngoài ra, do sống ở vùng nước ngọt và lành tính, cá lóc còn có tác dụng trừ thống phong, bổ phế dưỡng tỳ, giải độc toxins, giúp tăng cường khí huyết, đánh tan đờm trong cuống họng. Vì thế cá lóc thường được chế biến không chỉ trong bữa cơm gia đình hằng ngày mà giáo Ba Tri cho là món ăn đặc biệt giúp những người có bệnh về phế hoàn sớm có những cải thiện tốt. Ông giáo Phạm Quốc Bảo kể thêm món cá lóc nướng trui nên đi kèm vói vài xị xây chừng rượu gài nếp thang, sẽ có tính bổ dương, ông uống bà khen, không tin thử hỏi y sư lang ta miêt vườn Dương Viết Điền hay y sư lá đu đủ, lá khoai mì Mạc Phương Đình sẽ rõ như ban ngày thôi nhá.

    Cá lóc thường được chế biến vào mùa hè do nó có tính hàn, có tác dụng giúp hạn chế thân nhiệt, giải nhiệt cơ thể do thời tiết. Ông giáo Ba Tri còn giảng thuyết về món canh chua cá hú bông điên điển. Canh chua cá hú bông điên điển là sự kết hợp hài hòa giữa vị béo ngậy của cá hú và vị me chua thoảng nhẹ, cùng những loại rau xanh tươi mát. Ở Mỹ thì dùng catfish thay cho cá hú, xêm xêm vị béo ngậy vị giác. Canh chua bông điên điển là món đặc sản của vùng Tây Nam phần. Vị bùi, ngọt, thanh mát của bông điên điển kết hợp với cá beo béo ngậy cùng vị chua nhẹ thích ngay cách nấu canh chua cá cùng bông điên điển rất ngon này nhé bồ tèo.

    Theo ông giáo Bảo Ba Tri thì hể cứ đến mùa nước nổi, bông điển điển lại nở rộ rực rỡ cả một góc trời. Không những hoa vàng mang vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên, mà loài bông điên điển tươi rói lại được người dân dã đồng quê còn biến tấu thành những món ăn đặc sắc.

    Michael và Thụy Lan dinner party (Hoàng Đế AI picture-Việt Hải)

    Khoảng 8 giờ tối vợ chồng chúng tôi rời tư gia Lan Bổng vì Michael François Chánh phone cho hay Thụy Lan đã xuất viện sau khi điều trị 3 ngày do chúng áp huyết tuôt xuống qúa thấp, bệnh hypetension. Anh chị Ngọc Cường Bích Điệp tháp tùng chúng tôi ghé thăm Thụy Lan.

    Michael catering dinner party, 2 bạn  mời bạn bè, cùng gia đình 2 bạn. Lại tiếp tục đớp hít, ôi nào những crabes royaux, steak de queue de homard, et vin Casa del Blanco. Chúng tôi ôn lại nhũng ngày vui bên Âu châu từ Paris, Bordeaux, rồi về Aix-en Provence, và Marseille. Tôi hoạch định tổ chức landtours Paris, Bordeaux, Côte d’Azur (French Riviera)2027, cùng landtours Tokyo, Yokohama 2028 và Osaka, sau nữa là landtours 2029 Taipei, Hualien, Taichung, và Tainan.

    Với sự trợ giúp của AI … nên không nhận ra chính mình nữa … khổ chưa? Anh Việt Hải ơi…

    Tháng 11 anh chị Ngọc Cường trở lại Bolsa town tham dự đại hội RMS của 12 ngòi bút thuộc 2 tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, 12 bạn bè quen nhau thân thiết.

    Tôi nghĩ về bạn bè đau yếu, Rồi may đây ai đi, ai ở, hãy quy tụ bạn bè nhóm hãy “care” cho nhau. Tôi phone chit chat với chị Quỳnh Giao và anh Thanh Huy, party Quỳnh Giao tại Lữ Quán Tri Âm, pocket size, ấm áp, thân tình. Tôi bàn thảo cùng Khánh Lan, Kiều My, Vi Anh và Huy Anh, tôi chụộng pocket size 10-15 bạn bè thân thiết, size gia đình, private party và vui thú tình thân tao nhã.

    Kỷ niệm cùng Ngọc Cường và Bích Điệp,

    VHLA, 09/01/ 2026.

    VHLA thuở mần cu-li corporate officer

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  LỊCH SỬ,  Tin tức

    THÁNH LỄ TUYÊN CHÂN PHƯỚC CHO CHA PHANXICO XAVIE TRƯƠNG BỬU DIỆP NGÀY 2 THÁNG 7, 2026 TẠI NHÀ THỜ TẮC SẬY, CÀ MÂU, VIỆT NAM

    Khánh Lan sưu tầm dựa theo tài liệu Wikipedia, lời phỏng vấn của các phóng viên và những người tham dự buổi Thánh Lễ phong Chân Phước Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp.

    Khuôn viên Nhà thờ Tắc Sậy và trung tâm hành hương

    Quang cảnh tại trung tâm hành hương Tắc Sậy
    trong ngày phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp

    Giáo Hội Việt Nam được chúc lành bởi Thiên Chúa và nhà thờ Tắc Sậy đã mở vòng tay chào đón hàng vạn bước chân của tín hữu Công giáo (Việt Nam hiện có hơn 7,5 triệu tín hữu Công giáo, chiếm khoảng 7.4% dân số) cùng các thân hữu thuộc tôn giáo bạn trở về. Dự đoán có khoảng hơn 70,000 người đã quy tụ tại Nhà thờ Tắc Sậy thuộc Giáo phận Cần Thơ vào ngày 2 tháng 7 để tham dự lễ phong chân phước cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Theo lời Linh mục Hồ Văn Xuân, đại diện Tổng Giáo phận Sài Gòn, đây có lẽ là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong gần 500 năm, một thánh lễ phong chân phước được cử hành ngay trên đất nước Việt Nam thay vì tại Vatican như thông lệ.

    Trong Giáo hội Công giáo, việc tuyên phong chân phước là việc chính thức công nhận một người có đời sống đức tin mẫu mực và đang hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa. Đây là giai đoạn thứ ba trong tiến trình phong thánh gồm: Tôi tớ Chúa – Đấng đáng kính – Chân phước – Hiển thánh.

    Bức tượng Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp trước khi được phong chân phước

    Bức tượng mới của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp với cành thiên tuế sau khi được phong chân phước

    Thánh lễ nghi thức phong chân phước lịch sử cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã do Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng và là đặc sứ của Đức Giáo hoàng Leo XIV chủ sự. Đồng tế trong Thánh lễ có Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam và các vị hồng y, giám mục đến từ Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia cùng gần 2,000 linh mục, hàng chục ngàn tu sĩ và giáo dân cũng đã tham dự sự kiện này.

    • Ngày 30 tháng 6, 2026 tại khuôn viên của nhà thờ Tắc Sậy.

    Tại trung tâm hành hương Tắc Sậy, hàng ngàn người đã đến vài hôm trước ngày khai mạc buổi lễ phong thánh, họ chờ đợi và thức trắng đêm để chờ khoảnh khắc lịch sự này. Tuy là trong mấy ngày liền mưa rất nặng hạt tại đây, nhưng không vì thế mà làm chùn bước chân họ, cho dù đêm mưa có lạnh nhưng không làm cho họ bỏ cuộc, họ dựng lều, trải chiếu khắp nơi. Trong số đó, có những người đến từ nhiều tỉnh rất xa, họ đem theo niềm tin và ao ước có mặt trong giây phút thiêng liêng của lịch sử.

    • Lá cờ Vatican hay cờ tòa thánh

    Là biểu tượng thiêng liêng của giáo hội công giáo Roma và Thanh Quốc Vatican. Được thông qua năm 1929, lá cờ bao gồm 2 màu: dọc vàng và trắng cùng quốc huy giáo hoàng ở dải giữa, mang đậm dấu ấn về mặt tôn giáo quyền năng và lịch sử, ý nghĩa của các mầu giải cờ chia làm 2 phần rõ rệt với 2 màu đặc trưng. 

    Dải màu vàng bên trái tượng trưng cho quyền lực thiêng liêng, sự thánh thiện và vinh quang của thiên đàng. Màu trắng dải bên phải tượng trưng cho sự thanh khiết và ánh sáng vĩnh cửu. Ý nghĩa Quốc Huy nằm ở giữa, màu trắng là huy hiệu của giáo hoàng gồm các thành phần: Mũ giáo hoàng: chiếc mũ 3 tầng tượng trưng cho 3 thẩm quyền tối cao của đấng kế vị Thánh Phero (Peter), chủ chân hoàng vũ tuyền giáo phổ quát và quyền lực trần thế. Hai chiếc khóa: Chìa khóa vàng tượng trưng cho quyền năng trên nước trời. Chìa khóa bạc tượng trưng cho quyền năng dưới trần gian được giao phó cho thánh Phero (Peter). Sợi dây thừng tượng trưng cho sự thắt chặt quyền năng của 2 nơi này.

    Lá cờ tòa thánh tung bay trong gió…

    Một số khác đã dựng lều và chờ sẵn bên quốc lộ. Những quán bên đường quanh khu Tắc Sậy đã không còn đủ chỗ và lương thực để đãi khách hành hương.

    Trên con đường đi đến trung tâm hành hương Tắc Sậy. Ông Vũ Đình Trọng, một khách đi đường ghi nhận cảnh tượng trên quốc lộ dài năm cây số, xe cộ phải tạm ngưng để nhường chỗ cho hàng chục ngàn người bỏ xe lại để đi bộ về khu nhà thờ và khu mộ phần, nơi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp an nghỉ. Mất gần 5 tiếng đồng hồ cho đoạn đường chỉ 15km.Trong bóng đêm, dòng người không ngừng tiến bước, mang theo lời cầu nguyện, lòng biết ơn và niềm vui được chứng kiến ngày mà Giáo hội chính thức tôn vinh vị mục tử đã hiến mạng sống của chính mình vì đoàn chiên. Trong dòng người ấy có những cụ già tóc bạc phơ, tay chống gậy lần đi từng bước, có những trẻ nhỏ còn được cha mẹ bồng trên tay, những thanh niên nam nữ và những người từ hải ngoại lặn lội trở về dự thánh lễ.

    Khu mộ phần, nơi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp an nghỉ.

    Giáo dân dâng lời cầu khẩn

    Quang cảnh ngoài và trong khuôn viên hành hương Tắc Sậy

    Ban tổ chức đã chuẩn bị 40,000 phần ăn sáng và 200,000 chai nước cho khách hành hương, thêm 14,000 phần ăn và trước khi thánh lễ khai mạc. Ông Trần Văn Tú, người Vĩnh Long, dựng lều bên quốc lộ một từ hai ngày trước khi thánh lễ bắt đầu. Sáng mùng 2 Tháng Bảy, gia đình ông ăn tạm bên đường vì quán xá quanh Tắc Sậy đã quá tải. Ông nói, “Sáng nay được phát miễn phí bánh mì và nước uống nên rất thuận tiện,” Những con số ấy tự chúng không nói lên điều gì thiêng liêng. Nhưng đằng sau mỗi con số là một người đứng chờ dưới nắng, chỉ vì muốn có mặt.

    Người tham dự thánh lễ dựng lều, trải chiếu khắp nơi

    Cũng tại trung tâm hành hương, Cha Phan Đình Tùng từ Vatican News đã phỏng vấn một giáo dân và anh ta đã tâm sự: “Tất cả con cái của chúa đều đến với ngày đại lễ hôm nay vì không biết là trong cuộc đời còn có nhiều cơ hội để dự lễ Phong chân phúc không, thì đây là cơ hội hiếm hoi và đây là dịp thôi thúc để đến với Chúa, để cảm nhận được hồng ân của Chúa thật là vĩ đại lớn lao mà đời sống Cha Trương bửu Diệp đã minh chứng với Chúa là vì yêu Chúa mà Cha Trương bửu Diệp sẵn sàng tử vì đạo và chết cho đoàn chiên.” 

    Simontu, một người cắm hoa cho buổi lễ, anh theo đạo Cao Đài bày tỏ cảm xúc về cuộc đời của cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp trong ngày phong thánh của Ngài. “Trong giáo hội Công giáo, bây giờ tôi mới hiểu, Chân Phước là sự nhìn nhận chính thức của Giáo hội dành cho một người đã qua đời, sau khi xét toàn bộ cuộc đời, đức tin, sự hy sinh của người ấy được điều tra, thẩm định rất nghiêm ngặt bởi tòa thánh Rome. Chân phước không phải là một phần thưởng. Đó là sự xác nhận rằng có những con người đã sống một cuộc đời đủ đẹp để trở thành tấm gương cho nhiều thế hệ sau. Với Cha Trương Bửu Diệp, điều Giáo hội nhìn nhận là ngài đã chọn ở lại với giáo dân trong thời điểm nguy hiểm nhất và chấp nhận hy sinh mạng sống của mình. Có lẽ vì vậy mà gần 80 năm sau ngày Ngài qua đời, hàng triệu người vẫn tìm về Tắc Sậy để cầu nguyện và tưởng nhớ.”

    • Chuẩn bị cho ngày đại lễ

    Trong việc chuẩn bị áo lễ cho các Hồng Y, Tổng Giám Mục và các Tu Sĩ: Nhà may Rosa Thiên Ân cho biết họ đã may gần 2.000 áo lễ dành cho các Hồng Y, Giám mục và Linh mục dự phần trong Thánh lễ đồng tế tuyên phong chân phước Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. Đây là một số lượng lớn lễ phục được hoàn tất trong một thời gian ngắn. Hai cơ sở của nhà may ở cả miền Bắc lẫn miền Nam đã phối hợp để thực hiện và để kịp phục vụ cho buổi đại lễ. Được biết, toàn bộ áo lễ được thực hiện theo đơn đặt hàng của Đức Giám mục Phêrô (Peter) Lê Tấn Lợi, Giám mục Giáo phận Cần Thơ. Ông Đinh Tường Dương nói: “Thực ra, đây không chỉ là một sự dặt hàng đơn thuần, mà Ngài còn trực tiếp cùng nhà may lên ý tưởng và tham gia thiết kế, nhằm tạo nên mẫu áo lễ mang dấu ấn riêng cho sự kiện trọng đại của Giáo hội Công giáo Việt Nam.”

    Cũng trong buổi phỏng vấn 2 ông Đinh Tường Dương và Đinh Tường Long và bà Anna Ngọc Anh, chủ nhà may Rosa Thiên Ân về công việc may áo lễ. Ông Dương chia sẻ: “Khi được Đức Cha Lợi ngỏ lời và lãnh trách nhiệm thiết kế áo lễ, chúng tôi tưởng chừng như đang sống trong mơ và không tin là được hội đồng giám mục giao cho trách nhiệm này”. Bà Anna Ngọc Anh cũng kể: “Đây thật là một sắc màu nhiêm và niềm vinh dự, niềm tự hào cho chúng tôi, lãnh nhận trọng trách này, được góp góp phần thiết kế và sản xuất áo lễ cho các đấng gồm 43 hồng y và tổng giám mục, 2.000 áo lễ cho linh mục.” Qua hình ảnh và video trên Facebook cho thấy: Áo lễ được kết hợp rất đẹp, màu đỏ và màu trắng tượng trưng cho mình và máu thánh Chúa. Chính giữa là hình cha Trương Bửu Diệp. Thật là một công trình sáng tạo.

    Phóng viên Tạ Biên Cương phỏng vấn chủ nhà may Rosa Thiên Ân

    . Ngày 30 tháng 6, 2026 tại Hà Nội 

    Theo lịch trình, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đáp xuống sân bay quốc tế Nội Bài tại Hà Nội lúc 15 giờ 14 phút. Đi theo phái đoàn đón tiếp Ngài gồm có tổng giám mục Marek Zelewsk, Đại diện thường trú tòa thánh tại Hà Nội. Đức tổng giám mục Giuse Nguyễn Năng, chủ tịch hội đồng giám mục Việt Nam. Đức tổng giám mục vũ Văn Thiên, phó Chủ tịch hội đồng giám mục Việt Nam cùng một số linh mục và giáo dân.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle xuống sân bay quốc tế Nội Bài tại Hà Nội

    Trong số đó có 2 em thiếu nhi trong trang phục cổ truyền Việt Nam tặng Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, bó hoa tươi thắm như một lời chào mừng nồng hậu và để thể hiện tình hiếu khách của giáo hội Việt Nam đối với vị đặc xứ của Đức Thánh Cha Leo XIV.

    Những bó hoa chào mừng nồng hậu và để thể hiện tình hiếu khách của giáo hội Việt Nam đối với vị đặc xứ của Đức Thánh Cha Leo XIV, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle và tổng giám mục Marek Zelewsk, Đại diện thường trú tòa thánh tại Hà Nội

    Sau khi rời sân bay quốc tế Nội Bài, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chuyển về tòa tổng giám mục Hà Nội, tại đây Đức cha phụ tá Giuse Vũ Công Viện cùng quý cha, quý tu sĩ và các chủng sinh đã nồng nhiệt chào đón Ngài trong bầu không khí vui tươi thân tình.

    • 5:01 giờ sáng ngày 01 tháng 7, 2026

    Sau đó Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đã đáp chuyến bay vào Cần Thơ lúc 12:30 chiều. Phái đoàn của Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Nhơn, Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, cùng Đức Tổng Giám Mục Giuse – Tổng Giáo phận Hà Nội, đã đáp xuống Sân bay Quốc tế Cần Thơ, bắt đầu cho chuyến thăm mục vụ tại miền Tây Nam Bộ nhân dịp Đại lễ Tuyên phong chân phước cho tôi tớ Chúa Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đáp chuyến bay vào Cần Thơ

    Một giáo hữu đi cùng chuyến bay với Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chia sẻ: “Hôm nay, tôi may mắn được đồng hành trên chuyến bay từ Hà Nội về Cần Thơ cùng Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Đức Hồng Y Nguyễn Nhơn, Đức tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, quý Đức Cha và quý Cha. Giữa khoang máy bay, nhìn những vị mục tử giản dị, gần gũi và hiền hòa, tôi càng cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp của một Giáo hội luôn hiệp nhất trong đức tin và tình yêu thương. Mỗi nụ cười, mỗi lời chào, mỗi khoảnh khắc được gặp gỡ đều là một hồng ân mà có lẽ nhiều năm sau tôi vẫn sẽ nhớ mãi.”

    • Chiều ngày 01 tháng 07, 2026

    Ngay sau đó, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle cùng phái đoàn tiếp tục di chuyển về Cà Mau để thực hiện chương trình công tác mục vụ theo lịch trình đã định. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Tổng trưởng Phân Bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV đã đến tỉnh Cà Mau trong khuôn khổ chương trình Thánh lễ Tuyên phong Chân Phước cho cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy – Giáo phận Cần Thơ. Hiện diện đón Đức Hồng Y và Đức Tổng Giám Mục tại sân bay có Đức cha Phêrô Lê Tấn Lợi, cùng quý cha và phái đoàn Tòa Giám mục Cần Thơ.

    Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau Nguyễn Hồ Hải đã tiếp đón Đức Hồng Y Tagle cùng phái đoàn Tòa Thánh và Giáo hội Công giáo Việt Nam, tại trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau.

    Tham dự buổi gặp gỡ có Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam; Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn; Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội; Đức Giám mục Phero Lê Tấn Lợi, Giám mục Giáo phận Cần Thơ, cùng quý linh mục.

    Trong cùng ngày 1 tháng 7, 2026 lúc 14h chiều, Đức cha Phêrô (Peter) Huỳnh Văn Hai giáo phận Vĩnh Long cùng Cha Chủ sở Anton (Anthony) Đặng Hữu Kha giám đốc trung tâm mục vụ giáo phận Cần Thơ cùng đồng tế trong buổi lễ.

    Ban kèn đồng đền thánh Đại Đồng – giáo phận Bùi Chu và ban phụng vụ đã tích cực tập luyện, phối hợp nhịp nhàng để phục vụ Thánh lễ nột cách sốt sắng và trang nghiêm.

    Quang cảnh bên trong thánh đường và các vị khách mời

    Đức cha Phêrô (Peter) Huỳnh Văn Hai giáo phận Vĩnh Long cử hành thánh lễ trong ngày 1 tháng 7, 2026

    Trong thánh lễ, Ngài nói: “Lạy cha xin cho họ được hợp nhất trong Kitô hữu và bình an của Chúa ở cùng anh chị em. Anh chị em thân mến, chúng ta tụ hợp nhau nơi đây tại nhà thờ Tắc Sậy tạ ơn Thiên Chúa. Chúng ta cầu nguyện cho các Kitô hữu được hiệp nhất là điều thiết yếu để đáp lại lời cầu nguyện của chính Chúa Kitô trước khi chịu khổ nạn. Xin cho họ được hợp nhất hầu cho thế giới tin rằng Cha đã sai con….Việc cầu nguyện này hàn gắn những bất bình chia rẽ gây ra cho dù chúng ta phải hy sinh cả sức lực và ngay cả con người của chúng ta. Xin chúa cho ….”

    Cầu xin được hợp nhất trong Kitô hữu và bình an của Chúa ở cùng anh chị em.

    Thánh lễ khai mạc

    “Này là Máu Ta, máu tân ướcvĩnh cửu đã đổ ra cho các con…..”

    “Này là Mình Ta các con hãy nhận lấy mà ăn….”

    Rồi Ngài cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: “Ðây là Mình Thầy, hiến tế vì các con. Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy (Lc 22,19-20)

    LẠY CHÚA, CON CHẲNG ĐÁNG CHÚA NGỰ VÀO NHÀ CON, NHƯNG XIN CHÚA PHÁN MỘT LỜI THÌ LINH HỒN CON SẼ LÀNH SẠCH

    Khoảng 200 linh mục trao Mình Thánh Chúa đã tạo nên một khung cảnh cảm động. Hàng trăm thừa tác viên của Bí tích Thánh Thể tỏa đi giữa 70 ngàn người, để không ai phải ra về mà thiếu lương thực thiêng liêng. Đó là hình ảnh đẹp về một Giáo hội hiệp thông, đông đảo nhưng vẫn quy hướng về một Bàn Tiệc duy nhất, một Đức Kitô duy nhất.

    Ca đoàn của nhà thờ Tắc Sậy hát dâng lễ

    Tín hữu tham dự thánh lễ

    Suốt chiều hôm trước và cả đêm qua, Tắc Sậy chìm trong những cơn mưa lớn. Nhiều người không khỏi lo lắng cho ngày đại lễ. Thế nhưng, khi bình minh lên, bầu trời quang đãng, nắng nhẹ, gió mát. Trong bầu khí an lành yên ả ấy, Hồng Y Luis Antonio Tagle chủ sự thánh lễ tuyên phong chân phước cho biển người hành hương xảy ra thật tốt đẹp … một khoảng lặng bình an tuyệt vời được dành riêng cho giờ phút trọng đại. Rồi những cơn mưa lại kéo đến khi Thánh Lễ đã chấm dứt. Thật là một điều kỳ diệu…Tạ ơn Thiên Chúa…

    Những giáo hữu có vé mời.

    • Sáng ngày 2 Tháng 7, 2026

    Theo lịch trình lúc 8 giờ sáng ngày 2 tháng 7, 2026. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle sẽ thay mặt Đức Thánh Cha Leo XIV chủ sự thánh lễ tiên phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại trung tâm hành hương Tắc Sậy. Giáo phận nhà thờ Cần Thơ biểu lộ sự hãnh diện và mối hiệp thông của Đức Giáo Hoàng với giáo hội Việt Nam trong sự cố trọng đại.

    Sáng ngày 2 Tháng 7, 2026 tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle. đặc sứ của Đức Giáo Hoàng Leo XIV, đọc quyết định tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lên hàng chân phước.Hàng ngàn thành viên đến từ giáo phận Bùi Chu đã quy tụ về Tắc Sậy để luyện tập các bài thánh ca, góp phần tạo nên bầu khí linh thiêng cho ngày trọng đại của Giáo hội Việt Nam .

    Tấm khăn che chân dung được kéo xuống. Trong khoảnh không gian tĩnh lặng, không một tiếng vỗ tay đã để lại một khoảnh khắc ling thiêng. Cả biển người cùng ngước nhìn, lặng lẽ đưa tay lau những giọt nước mắt hân hoan chen lẫn xúc động và tiếng nguyện kinh nho nhỏ.

    Giám mục Lê Tấn Lợi, người đứng đầu Giáo phận Cần Thơ, Ngài lên tiếng: “Ngài đã sống và chết cho con chiên.” Có những điều mà chúng ta chỉ cảm nhận được nhưng không nói ra. Phải, Cha Diệp chưa bao giờ là vị thánh của riêng người có đạo Công giáo, mà của tất cả nhân loại. Hôm ấy, đứng bên cạnh những giáo hữu là những người theo tôn giáo khác. Trong ấy, có một cụ Bà, người không theo đạo Công Giáo, bà cụ đứng lặng lẽ, chắp tay, trong làn khói nhang quyện quanh gương mặt, bà thì thầm cầu nguyện. Lời cầu nguyện ấy chẳng đã minh chứng cho sự kính trọng của những tâm hồn không phân biệt tôn giáo.

    • Mở đầu nghi thức phụng vụ

    Đức Giám mục Phêrô Lê Tấn Lợi của Giáo phận Cần Thơ (là người đã chính thức thỉnh cầu việc phong Chân phước cho Tôi tớ Chúa, Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp), đọc tiểu sử Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đã công bố Tông thư của Đức Giáo Hoàng bằng tiếng La tinh, chính thức tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là “Chân phước“. Tiếp đó, bức chân dung lớn của vị Tân Chân phước đã được công bố và tôn vinh bằng hoa tươi cùng hương trầm.

    • Khai mạc buổi lễ

     Hồng Y Luis Antonio Tagle xuất hiện với đôi mắt biết cười và nụ cười tươi vui, Ngài ngỏ lời chào đến công đoàn của nhà thờ Tắc Sậy bằng tiếng Việt: “Chào buổi sáng tất cả các bạn, các bạn có hiểu tôi đang nói tiếng Việt hay không?”. Xong Ngài chuyển lời chúc mừng và ban phép lành Tông tòa của Đức Giáo Hoàng đến cộng đồng Công giáo trên khắp đất nước Việt Nam. Ngài nói: “Đây là một ngày thực sự mang tính lịch sử trong đời sống Giáo hội”.

    Điều làm cho chúng ta suy nghĩ không nằm ở giáo điều của hội thánh mà nằm ở câu hỏi mà Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đặt ra trong bài giảng: “Vì sao một cái chết bị bách hại lại được gọi là phúc lành?” Ngài hỏi cộng đoàn: “Người anh em muốn chọn làm giàu bất chính hay cuộc sống chân thật? Chọn tích trữ của cải hay chia sẻ với người nghèo?.

    Không ai trả lời. Có lẽ sự im lặng mới chính là câu trả lời.

    Trong phần dâng lễ vật, thay vì chỉ có bánh và rượu theo nghi thức thông thường, giáo dân Tắc Sậy còn dâng lên những hạt lúa vàng và hạt muối trắng của vùng đất họ canh tác, kết tinh của mồ hôi đồng ruộng nơi họ sinh sống. Chúng được đặt cạnh mình thánh và máu thánh Chúa. Nhìn hạt lúa được dâng lên trên bàn thờ, gợi nhớ cho giáo dân đến cách Cha Diệp dâng lên Chúa sự sống của Ngài. Như một hạt lúa gieo vào lòng đất mục nát, đi để sinh ra hoa trái cho những người ở lại.

    Giáo dân Tắc Sậy dâng lên những hạt lúa vàng và hạt muối trắng của chính vùng đất họ đang sống.

    LẦN ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM

    Cà Mau, ngày 2 tháng 7, 2026: Đại Lễ tuyên phong chân phước đầu tiên được cử hành tại Việt Nam dành cho linh mục Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp. Sự việc này không chỉ là lần đầu tiên nghi thức tuyên phong chân phước được tổ chức tại Việt Nam mà buổi lễ tuyên phong chân phước còn là hành trình xét duyệt kéo dài hơn 13 năm cho sự hiện diện của một đặc sứ của Đức Giáo hoàng Leo XIV đến Việt Nam.

    Điều đặc biệt hơn nữa là Đức Giáo hoàng Leo XIV đã cử Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle sang Việt Nam để làm đặc sứ chủ trì thánh lễ và công bố tông sắc tuyên phong Chân phước cho linh mục Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. (Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle 69 tuổi, người Philippines), Bởi vì trước đây, các lễ phong chân phước liên quan đến người Việt đều được tổ chức tại Rome. Theo linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân, kể từ khi Công giáo được truyền vào Việt Nam năm 1533, đây là lần đầu tiên và cũng là trường hợp duy nhất Tòa Thánh Vatican cho phép tổ chức lễ phong Chân phước tại Trung tâm hành hương Tắc Sậy, Việt Nam.

    Đúng 8:00 giờ sáng ngày 2 tháng 7, 2026

    Khi tiếng kèn vang lên từ ban kèn đồng gồm 535 người và 200 anh chị em phục vụ thuộc Liên đoàn Kèn Hiệp Nhất Miền Đại Đồng, cũng như 500 người trong ban trống làm lay động cả không gian của Giáo phận Bùi Chu. Hơn 70,000 giáo dân trang nghiêm hướng về Lễ Tuyên Phong Chân Phước Tôi Tớ Chúa, Cha Phancico Xavie Trương Bửu Diệp. Cứ theo như anh Trưởng ban kèn đồng thì các anh chị em trong nhóm đã tích cực tập luyện các bài thánh ca trong hơn 6 tháng để góp phần tạo nên bầu khí linh thiêng cho ngày trọng đại của Giáo hội Việt Nam. Họ đã phối hợp nhịp nhàng để phục vụ cho Thánh lễ với tất cả tấm lòng tôn kính và trang nghiêm.

    Để chuẩn bị phần âm nhạc, ông Trần Văn Duy trưởng liên đoàn đại đồng hợp nhất giáo phận Bùi Chu chia sẻ: “Từ khi được các quý cha giao trách nhiệm nhiệm, đoàn trống cũng như 500 thành viên thổi kèn đã tập luyện hơn 6 tháng trước để chuẩn bị cho ngày đại lễ”.

    Họ đã thổi/đánh lên những âm nhạc ca ngợi Thiên Chúa và loan báo tin vui

    Sử dụng nhiều loại nhạc cụ như trumpet, saxophone, kèn bass và các loại trống, biểu diễn khoảng 15 tác phẩm phụng vụ trong gần 90 phút.

    Và khi đoàn chiên được ơn kêu gọi của Thiên Chúa bước vào thánh đường, một rực trời màu đỏ tựa như máu thánh Ngài lan tỏa mọi nơi. Áo lễ được kết hợp rất đẹp, màu đỏ và màu trắng tượng trưng cho mình và máu thánh Chúa. Chính giữa là hình cha Trương Bửu Diệp. Thật là một công trình sáng tạo.

    Những đứa con mà Thiên Chúa đã chọn….

    Nghi thức khai mạc bắt đầu tại Trung tâm hành hương Tắc Sậy, thuộc xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau. Ngoài Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chủ sự buổi lễ còn có sự tham dự của Hội đồng Giám mục Việt Nam cùng một số giám mục thuộc Liên Hội đồng Giám mục Á Châu.

    Thánh lễ phong chân phước cho Cha Phancico Xavie Trương Bửu Diệp bắt đầu.

    Cũng là lúc ban nhạc của thánh đường Tắc Sậy trổi lên khúc nhạc cúa các bài Thánh ca….

    Người hát đáp ca chính trong Thánh lễ tuyên phong chân phước Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp là Tiến Sĩ Nguyễn Khánh Trang, Giảng viên Khoa Thanh nhạc Nhạc viện tại Việt Nam. Điều chạm đến tâm hồn các giáo dân dự lễ không chỉ là giọng hát thánh thót của bà, mà còn là cách bà đưa mọi người vào tâm tình cầu nguyện. Đó chính là sự nhiệm mầu và vẻ đẹp thực sự của thánh nhạc.

    Tiến Sĩ Nguyễn Khánh Trang, Giảng viên Khoa Thanh nhạc Nhạc viện tại Việt Nam.

    “Con xin dâng Cha nén hương nguyện cầu. Xin soa dịu muôn ngàn nỗi đau. Hồn bình an chẳng còn u sầu.Ơn vẹn toàn muôn đức nhiệm màu. Cha Phanxico linh thiêng, chiếu soi như đuốc hồng, giữa đêm đơn côi. Ai hoang mang tâm tư lạc lối, đến cậy nhờ xin ơn sáng soi“.

    “Thắp sáng lên cho con tình yêu chúa. Thắp sáng lên cho con tình tuyệt vời.”

    Ngoài Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chủ sự buổi lễ còn có sự tham dự của Hội đồng Giám mục Việt Nam cùng một số giám mục thuộc Liên Hội đồng Giám mục Á Châu.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle ban phép lành cho giáo dân

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đọc lời nguyện trong Thánh lễ

    BÀI GIẢNG CỦA HỒNG Y TAGLE TRONG THÁNH LỄ TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC CHO TÔI TỚ CHÚA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

    Anh chị em thân mến,

    Chúng ta hãy ngợi khen Thiên Chúa, Đấng đã quy tụ chúng ta trong Thánh lễ tuyên phong Chân phước linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị mục tử của Tắc Sậy, chứng nhân đức tin và là vị tử đạo của Giáo hội Công giáo. Qua ngài, Giáo hội tại Việt Nam được Thiên Chúa chúc lành. Ngài cũng là hồng ân của Chúa dành cho toàn thể Hội Thánh và cho gia đình nhân loại.Nhiều người, kể cả các tín hữu Công giáo, vẫn đặt câu hỏi: Vì sao cái chết của linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lại được Giáo hội tôn vinh là Chân phước? Có lẽ, theo cái nhìn của thế gian, người ta sẽ gọi những người như Ngài là “những người xấu số” hơn là “chân phước”. Tuy nhiên, chúng ta hãy cùng suy nghĩ dưới ánh sáng đức tin.

    Thánh lễ hôm nay đưa chúng ta trở về với giáo huấn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh Matthêu, chương V, về các mối phúc thật: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai đã khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng, vì phần thưởng dành cho ai đã ở trên trời thật lớn lao.” Như vậy, những ai bị bách hại vì Danh Chúa, bị thế gian khước từ nhưng được Thiên Chúa đón nhận, chính là những người có phúc. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải mọi cuộc bách hại đều vì Danh Chúa. Chỉ khi một người chấp nhận đau khổ và thử thách vì Đức Giêsu, người ấy mới thực sự làm chứng rằng mình thuộc về Thiên Chúa hơn là thuộc về thế gian.

    Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu khẳng định rằng Người đã chọn chúng ta để thuộc về Người, chứ không thuộc về sự dữ. Người mời gọi chúng ta sống theo lời Người dạy, sống trong sự thật, không giả dối và luôn kết hợp với Người, ngay cả giữa những hiểm nguy. Người môn đệ đích thực là người yêu mến Chúa, ở lại với Chúa và trung thành với Người ngay trong những lúc bị bách hại. Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp mời gọi mỗi người chúng ta đáp lại tiếng gọi ấy: hãy chọn Chúa và nương tựa vào Người mỗi ngày trong cuộc sống.

    Giờ đây, tôi muốn hỏi anh chị em: Anh chị em sẽ chọn điều gì? Anh chị em sẽ làm giàu bằng những cách bất chính hay mưu sinh bằng sự chân thật? Anh chị em sẽ chỉ tích trữ của cải cho bản thân hay biết quảng đại chia sẻ với những người nghèo khó? Anh chị em sẽ chọn cuộc sống tiện nghi cho riêng mình hay sẵn sàng mang lấy đau khổ của tha nhân? Nếu chọn Đức Giêsu, anh chị em đã được chúc phúc. Phúc thay những ai chọn sống theo gương Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

    Giờ đây, chúng ta hãy cùng suy nghĩ về ý nghĩa của sự tử đạo. Thông thường, người ta nghĩ tử đạo chỉ đơn thuần là cái chết. Nhưng ý nghĩa sâu xa của tử đạo chính là chấp nhận chết vì chân lý, vì Danh Chúa và để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô. Các vị tử đạo loan báo Tin Mừng bằng chính lời nói, hành động và mối tương quan mật thiết với Chúa. Khi một người sẵn sàng hiến mạng sống vì Danh Chúa, chứng tá của họ trở nên đáng tin hơn bất cứ lời giảng dạy nào. Người tử đạo là một nhà truyền giáo tuyệt vời, bởi chính cuộc đời họ làm chứng cho Đức Kitô.

    Vậy ai là người làm chứng cho Đức Giêsu? Đó là những người sống trong sự thật vì Chúa. Trong bài đọc thứ hai, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô Tông đồ, chúng ta vừa nghe: “Anh chị em thân mến, anh chị em hãy tôn thờ Đức Kitô là Chúa trong lòng mình; hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh chị em. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với lòng kính cẩn; hãy giữ lương tâm ngay chính, để khi anh chị em bị vu khống thì những kẻ phỉ bang nếp sống tốt đẹp của anh chị em trong Đức Kitô phải xấu hổ.” Người tử đạo là người luôn sống vui tươi, hiền hòa, đầy lòng nhân hậu và can đảm, ngay cả khi phải đối diện với sự chống đối. Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp chưa bao giờ chần chừ trong việc sống đức ái và làm chứng cho chân lý. Ngài yêu thương người nghèo, tận tụy phục vụ tha nhân. Ngài sống tình yêu của Thiên Chúa bằng việc quan tâm, ôm lấy mọi người, kể cả những người chưa biết Chúa. Đặc biệt, ngài đã ở lại với đoàn chiên giữa lúc hiểm nguy thay vì tìm đường chạy trốn.

    Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp mời gọi chúng ta hãy can đảm làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình. Tôi muốn hỏi anh chị em một lần nữa: Anh chị em sẽ làm chứng cho Đức Kitô hay sẽ tiếp tục loan truyền những tin giả? Anh chị em sẽ chọn sống theo gương Đức Giêsu trong đức ái hay sẽ chọn những con đường khác? Anh chị em sẽ thỏa mãn với thành công và danh tiếng cá nhân hay sẽ hãnh diện vì được mang Danh Chúa? Người tử đạo chân chính giúp mọi người biết phân định điều gì đáng để lựa chọn.

    Thế giới hôm nay đang rất cần những con người dám làm chứng cho sự thật. Chúng ta đừng sống cho bạo lực, thù hận, chia rẽ, kích động hay những điều sai sự thật. Mối tương quan của người tử đạo với Thiên Chúa được thể hiện rõ qua niềm hy vọng mà họ luôn gìn giữ giữa những cuộc bách hại. Thánh Phêrô nói rằng người ta có thể giết chết thân xác, nhưng sự sống trong Thần Khí thì không bao giờ bị hủy diệt. Cuộc đời và sứ mạng của Đức Giêsu không kết thúc bằng khổ đau và cái chết, nhưng được hoàn tất trong ánh sáng Phục Sinh vinh hiển. Đức Kitô đã thực sự sống lại. Người đang hiển trị trong Nước của Người, ngự bên hữu Chúa Cha và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta. Chính niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đem lại cho chúng ta một niềm hy vọng vững chắc.

    Vinh quang mà Thiên Chúa hứa ban sẽ không bao giờ phai tàn. Chúng ta hãy nhớ đến người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu. Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, ông tha thiết thưa với Chúa: “Xin Ngài nhớ đến tôi khi vào Nước của Ngài.” Và Chúa Giêsu đã lập tức đáp lại lời cầu xin ấy. Người trộm chỉ xin được Chúa nhớ đến, và Chúa đã ghi nhớ ông trong chính trái tim của Người. Thế gian có thể quên lãng chúng ta, nhưng Đức Giêsu Phục Sinh sẽ không bao giờ quên những ai thuộc về Người.

    Thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi, giữa lúc chịu đau khổ đã được thấy nước trời mở ra và Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa. Vinh quang Nước Trời đang chờ đợi phía trước. Các vị tử đạo đã bước qua đau khổ, gươm giáo và cái chết để tiến vào vinh quang ấy. Chúng ta tin rằng Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã gặp gỡ Đức Giêsu và đang sống trong hạnh phúc vĩnh cửu với Người. Ngài mời gọi chúng ta đặt trọn niềm hy vọng nơi Đức Giêsu. Chính Chúa sẽ làm cho cuộc đời và sứ mạng của chúng ta được bền vững, chứ không phải của cải vật chất. Vì thế, tôi lại muốn hỏi anh chị em: Anh chị em sẽ chọn đặt nền tảng cuộc đời trên sự giàu có của thế gian hay trên sự giàu có của Thiên Chúa? Anh chị em sẽ tìm kiếm danh tiếng và những lượt thích, lượt chia sẻ trên mạng xã hội hay sẽ chọn nương tựa nơi Thiên Chúa? Anh chị em sẽ chọn những vũ khí gây nên chiến tranh hay sẽ đón nhận món quà là chính Đức Kitô, Đấng đem lại bình an đích thực?

    Linh mục Trần Văn Vinh, giáo sứ Hạc Châu, giáo phận Bùi Chu trông giống như Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp

    “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì Danh Chúa, vì Nước Trời là của họ.”

    Dàn nhạc khoảng 200 người đánh nhiều loại nhạc cụ: Organd, đàn Tranh, đàn Harp, Violin, Timpani, Sáo….

    Có Chúa ở bên con, con chẳng lo chi, con chẳng sợ gì ….

    Screenshot

    Giữa bầu khí trang trọng của đại lễ Tuyên phong chân phước hôm ấy, có lẽ ít ai để ý hình ảnh vị linh mục người Pháp, Ngài chính là Cha Roland Jacques (tên tiếng Việt là Dương Hữu Nhân, thuộc Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ – OMI) – vị Cáo thỉnh viên đã dành trọn tâm huyết, kiên trì đặt từng viên gạch cho hành trình dài phước đầy gian nan thử thách này. Sự viên mãn của ngày lễ hôm nay phần lớn nhờ công lao thầm lặng của ngài. Có lẽ vì vậy mà ở phần cuối thánh lễ, Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam, đã đặc biệt dành lời tri ân duy nhất cho Cha Roland: “Xin cảm ơn Cha Roland, người đã làm việc trong âm thầm, chính sự hy sinh khiêm hạ đó đã mang lại hoa trái ngày hôm nay“. Nhưng vị linh mục này đáp lại bằng một nụ cười hiền hậu và cái gật đầu nhẹ nhàng. Để Tòa Thánh có cơ sở công nhận cuộc tử đạo vì đức tin của Cha FX Trương Bửu Diệp, Cha Roland đã trải qua nhiều năm miệt mài nghiên cứu, đúc kết nên bộ hồ sơ Positio dày 400 trang. Đó là một công trình khoa học nghiêm túc, minh bạch, hệ thống hóa toàn bộ chứng cứ và tài liệu lịch sử. Lịch sử thường vinh danh những người đứng dưới ánh hào quang, nhưng chính những con người chọn đứng trong bóng tối như Cha Roland mới là những người dệt nên lịch sử.

    Chúng con xin cảm ơn cha, cha Roland.—

    Trong Công giáo, cáo thỉnh viên (Postulator) là người được Giáo hội giao trách nhiệm thu thập chứng cứ, thẩm định tài liệu, phỏng vấn nhân chứng và trình bày toàn bộ hồ sơ phong Chân phước hoặc phong Thánh trước Dicastery for the Causes of Saints. Có thể ví họ như “luật sư của hồ sơ“, nhưng nhiệm vụ là tìm kiếm và phục vụ sự thật với những bằng chứng chặt chẽ, khách quan và minh bạch. Một án phong Thánh thường kéo dài hàng chục năm, thậm chí nhiều thế hệ, và thành bại của tiến trình phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công việc của cáo thỉnh viên. Cha Roland Jacques, là cáo thỉnh viên trong nhiều án phong chân phước cho các vị tử đạo tại Đông Dương.

    BẾ MẠC THÁNH LỄ PHONG CHÂN PHƯỚC CHA PHANXICO XAVIE TRƯƠNG BỬU DIỆP

    Khi thánh lễ kết thúc, giao thông gần như vỡ trận. Đường sá đen đặc người và xe, kẹt cứng trong nhiều giờ. Sự quá tải ấy, tuy gây nhiều vất vả, cũng minh chứng rõ ràng sức lan tỏa đặc biệt của vị tân chân phước trong lòng dân Chúa.

    Có lẽ điều đáng nhớ nhất của ngày hôm nay không phải là nắng sau mưa hay mưa sau lễ, cũng không phải là những con số về lượng người tham dự. Điều còn đọng lại chính là đức tin của hàng trăm nghìn con người đã không quản đường xa, thức trắng đêm, chấp nhận kẹt xe hàng giờ, đi bộ nhiều cây số chỉ để hiện diện trong một biến cố của vị linh mục mà họ yêu mến. Nếu hôm nay có một “phép lạ” dễ nhận thấy nhất, thì đó chính là phép lạ của lòng tin. Một vị linh mục hiền lành đã qua đời gần một thế kỷ trước vẫn tiếp tục quy tụ biết bao tâm hồn về với Thiên Chúa. Và trong ngày Giáo hội long trọng tuyên phong ngài lên hàng chân phước, biển người tại Tắc Sậy đã trở thành một chứng từ sống động rằng: Các thánh là người có sức hấp dẫn, có thể dẫn đưa con người đến gần nhau và gần Đức Kitô hơn.

    Lần đầu tiên trong gần 500 năm, ánh sáng tin mừng được soi chiếu đến quê hương Việt Nam. Có lẽ đây là lần đầu tiên và là lần duy nhất tại tòa thánh Roma Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã cho phép cử hành thánh lễ Phong Thánh cho Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại trung tâm hành hương Tắc Sậy. Buổi chiều, khi nắng bắt đầu buông xuống những dòng kênh rạch miền Tây, dòng người vẫn chưa vãn hết. Nhiều người nán lại nhận một cuốn sách lưu niệm, một phần ăn nhỏ, hoặc chỉ để nhìn thánh đường lâu thêm một chút trước khi quay xe về. Câu hỏi để lại sau cùng không phải là Cha Diệp đã làm gì để được phong thánh. Mà là: điều gì khiến hàng vạn người, không phân biệt tôn giáo, vẫn tìm đường trở về với một người đã chết vì không chịu rời bỏ ai? Sau thánh lễ thì hàng chục ngàn người lần lượt kéo nhau ra về

    Chiều ngày 2 tháng 7, 2026

    Sau thánh lễ Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đáp chuyến bay ra Hà Nội lúc 19.00 giờ chiều để chủ sự thánh lễ tại nhà thờ chánh tòa Hà Nội ngày 03 tháng 7, 2026. 

    Nguyện xin Thiên Chúa ban nhiều hồng ân đến cùng anh chị em.

    Chuẩn bị cho Thánh lễ

    Bình an của Thiên Chúa đến cùng anh chị em.…

    Thiên Chúa ở cùng anh chị em….

    Trước giờ Thánh Lễ

    Thánh lễ tại nhà thờ chánh tòa Hà Nội

    Bước vào nhà Chúa

    Dâng Thánh lễ

    Chuẩn bị 3 ghế dành cho 3 đấng chủ sự

    Dâng hoa

    Sự hiện diện của Đức Hồng y Tagle tại Việt Nam vì thế mang nhiều ý nghĩa. Đó vừa là sự hiện diện của vị lãnh đạo một cơ quan quan trọng của Giáo triều Rome trong lĩnh vực truyền giáo, vừa là sự hiện diện của Đặc sứ Đức Thánh Cha, thay mặt Đức Giáo hoàng hiệp thông với Giáo hội Việt Nam trong niềm vui tuyên Chân phước cho một vị mục tử đã hiến dâng mạng sống vì đoàn chiên.

    Chức vụ hiện nay của Đức Hồng y Tagle cũng là sự tiếp nối truyền thống lâu đời của cơ quan từng mang tên Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide), được thành lập năm 1622 để điều phối công cuộc truyền giáo trên toàn thế giới. Qua nhiều thế kỷ, cơ quan này đã góp phần thiết lập các Giáo hội địa phương, đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ và hỗ trợ các hoạt động truyền giáo tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Sau nhiều lần cải tổ, Bộ Loan báo Tin Mừng ngày nay tiếp tục kế thừa sứ mạng ấy trong bối cảnh mới của Giáo hội hoàn vũ.

    BỮA CƠM THÂN TÌNH CÙNG GIÁO HỮU

    Ô! Cái bánh cho tôi đấy phải không? Quý hóa quá!
    Chân thành cám ơn

    TÂM TÌNH CÙNG ĐỨC HỒNG Y TAGLO

    Trong cuộc phỏng vấn Đức Hồng Y Luis Antonio Taglevề cảm hứng của cha khi nhận được thông báo và đặt Phong chấn phước cho cha phanxico Xavie. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle trả lời:

    Tử đạo trong cái sống và sự chết.

    “Tôi thực sự bất ngờ bởi vì thông thường vị tổng trưởng bộ liên thánh sẽ là người được chủ tọa buổi lễ dâng trân phước với tư cách là đặc xứ của Đức thánh cha. Tuy nhiên sau đó tôi cũng hiểu được sự bổ nhiệm này, bởi vì bộ truyền giáo nơi tôi đang phục vụ có trách nhiệm đồng hành với châu Á, châu Phi và châu đại dương. Mà Việt Nam là một phần của giáo hội châu Á. Và có thể nói đây là cơ hội tuyệt vời cho tôi để đại diện đức thánh cha, không chỉ trong thánh lễ tiên phong mà còn là cơ hội để chỉ ra cách mà cuộc truyền giáo được thực hiện tại Á châu, bởi các mục tử thánh thiện tử đạo, cái mà phúc tử đạo trong cái sống và sự chết. Đó là một phương thế rất mạnh mẽ của công cuộc truyền giáo, con người cũng như xứ điệp của chúa Giêsu tới mọi người. Một hồng ân khác mà tôi nhận được từ sự việc này là tôi đã tự hỏi cha Phan Cisco Savi là ai? Người mà tôi sẽ tiên phong. Tôi từng nghe nói về ngài, nhưng thực sự tôi chưa biết nhiều về cuộc đời của ngài. Đây chính là lời mời gọi của Đức thánh cha cho tôi được học hỏi về hành trình đức tin của ngài. Tôi rất xúc động và đã học được nơi ngài Đức bác ái mục tử, lòng trung thành đối với Đức kitô cũng như đối với mọi người.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle: Có thể nói Việt Nam là dân tộc mà Thiên chúa chúc phúc

    Trước hết tôi chân thành cảm ơn các tín hữu Việt Nam, đặc biệt là công đoàn công giáo Hà Nội vì sự tiếp đón nồng hậu dành cho tôi từ khi đặt chân đến sân bay. Tôi chưa bao giờ cảm giác mình ở một nơi xa lạ như cả thấy như ở chính ngôi nhà của mình. Tôi nghĩ đây làmột phần của niềm vui mà người dân Việt Nam đặc biệt là các tín hiệu công giáo đang cảm nghiệm trong thời điểm này. Với việc tiên phong một vị chân phức mới có thể nói Việt Nam là dân tộc mà Thiên chúa chúc phúc việc Thiên chúa ở cùng anh chị em. Giáo hội Việt Nam đang sinh nhiều hoa trái tốt ấn tượng đầu tiên của tôi là những người con tràn đầy niềm vui. Đây là thời điểm chúng ta bắt đầu gặt hái những hoa trái thiên nhiên được sinh ra từ đời sống của cha Francisco Savi Veer vee truong biểu diễn.

    Tôi chưa bao giờ cảm giác mình ở một nơi xa lạ như cảm thấy như ở chính ngôi nhà của mình.

    Trước hết tôi chân thành cảm ơn các tín hữu Việt Nam, đặc biệt là công đoàn công giáo Hà Nội vì sự đón tiếp nồng hậu dành cho tôi từ khi đặt chân đến sân bay. Tôi chưa bao giờ cảm giác mình ở một nơi xa lạ như cảm thấy như ở chính ngôi nhà của mình. Tôi nghĩ đây là một phần của niềm vui mà người dân Việt Nam đặc biệt là các tín Thiếu công giáo đang cảm nghiệm trong thời điểm này. Với việc Phong một vị chân phước mới có thể nói Việt Nam là dân tộc mà Thiên chúa chúc phúc. Việc khi chúa ở cùng anh chị em. Giáo hội Việt Nam đang sinh nhiều hoa trái tốt. Ấn tượng đầu tiên của tôi là những người tràn đầy niềm vui. Đây là thời điểm chúng ta bắt đầu gặt hái những hoa trái thiên nhiên được sinh ra từ đời sống của cha Francisco Xaviê.”

    Đây là thời điểm chúng ta bắt đầu gặt hái những hoa trái thiên nhiên được sinh ra từ đời sống của cha Francisco Xaviê.
    Chào tạm biệt Việt Nam

    CHÚA ĐÃ CHỌN CON

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle sinh năm 1957 tại Manila (Philippines), Đức Hồng y Tagle lớn lên trong môi trường giáo dục Công giáo và được đào tạo tại các chủng viện, đại học danh tiếng của Philippines trước khi tiếp tục nghiên cứu thần học tại Hoa Kỳ.

    Hình chụp cùng Mẹ và các anh

    Đức Hồng y Tagle lớn lên trong môi trường giáo dục Công giáo

    Sau khi chịu chức linh mục

    Sau khi chịu chức linh mục năm 1982, ngài phục vụ trong công tác mục vụ giáo xứ, đào tạo chủng sinh và giảng dạy triết học, thần học tại nhiều học viện. Sự kết hợp giữa đời sống mục tử và học thuật đã trở thành một nét nổi bật trong hành trình phục vụ của ngài. Không chỉ là một nhà đào tạo và thần học gia, Đức Hồng y Tagle còn tham gia nhiều hoạt động của Giáo hội tại Philippines cũng như trong khu vực Á châu. Ngài là thành viên Ủy ban Thần học Quốc tế, cộng tác trong công trình nghiên cứu về Công đồng Vatican II và tham dự Thượng Hội đồng Giám mục về Á châu với vai trò chuyên viên. Những đóng góp này cho thấy sự tín nhiệm mà Giáo hội dành cho ngài trong lĩnh vực thần học và mục vụ.

    Năm 2001, ngài được bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận Imus. Mười năm sau, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI cử ngài làm Tổng Giám mục Manila và nhận tước Hồng y vào năm 2012. Trong những năm tiếp theo, ngài tham dự các Mật nghị bầu giáo hoàng, đồng thời đảm nhận nhiều trách nhiệm quan trọng tại các Thượng Hội đồng Giám mục về gia đình. Đến năm 2019, Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm ngài lãnh đạo Bộ Loan báo Tin Mừng; sau cuộc cải tổ Giáo triều Rôma, ngài tiếp tục giữ cương vị Quyền Bộ trưởng của Bộ này, cơ quan giữ vai trò trung tâm trong sứ mạng truyền giáo của Giáo hội hoàn vũ.

    Dưới triều đại Đức Giáo hoàng Lêô XIV, Đức Hồng y Tagle tiếp tục hiện diện trong nhiều biến cố quan trọng của Giáo hội. Việc ngài được cử đến Việt Nam để chủ sự Thánh lễ tuyên Chân phước cho cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp không chỉ mang ý nghĩa nghi lễ, mà còn thể hiện sự hiệp thông giữa Giáo hội hoàn vũ với Giáo hội Việt Nam. Là một mục tử xuất thân từ Á châu và nhiều năm gắn bó với công cuộc truyền giáo, đào tạo và truyền thông, Đức Hồng y Tagle được xem như khuôn mặt tiêu biểu của một Giáo hội gần gũi, năng động và hướng đến việc loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay. Sự hiện diện của ngài tại Tắc Sậy vì thế mang ý nghĩa khích lệ các tín hữu Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh sự trân trọng của Giáo hội đối với chứng tá đức tin của cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

    TÀI LIỆU TÌM HIỂU THÊM

    • Phận sự và nhiệm vụ

    Ngày 02 tháng 7 năm 2026, tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy (Giáo phận Cần Thơ), Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle sẽ chủ sự Thánh lễ tuyên Chân phước cho cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Trong biến cố trọng đại này, ngài không chỉ hiện diện với tư cách là một vị Hồng y của Giáo hội, mà còn là Đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV. Đức Hồng Y Tagle được cử thay mặt Đức Giáo hoàng chủ sự nghi thức và biểu lộ sự hiệp thông của Tòa Thánh với Giáo hội tại Việt Nam.

    Đức Hồng y Tagle giữ chức vụ Tổng trưởng Phân Bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng thuộc Bộ Loan báo Tin Mừng của Giáo triều Rome. Đây là cơ quan được Đức Giáo hoàng trực tiếp điều hành sau cuộc cải tổ Giáo triều theo Tông hiến Praedicate Evangelium năm 2022. Bộ được tổ chức thành hai Phân Bộ:

    • Phân Bộ phụ trách những vấn đề nền tảng của việc loan báo Tin Mừng trên toàn thế giới.
    • Phân Bộ phụ trách việc thiết lập, đồng hành và phát triển các Giáo hội địa phương tại những vùng truyền giáo. Đức Hồng y Tagle là người đứng đầu Phân Bộ thứ hai này.

    Chức vụ hiện nay của Đức Hồng y Tagle cũng là sự tiếp nối truyền thống lâu đời của cơ quan từng mang tên Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide), được thành lập năm 1622 để điều phối công cuộc truyền giáo trên toàn thế giới. Qua nhiều thế kỷ, cơ quan này đã góp phần thiết lập các Giáo hội địa phương, đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ và hỗ trợ các hoạt động truyền giáo tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Sau nhiều lần cải tổ, Bộ Loan báo Tin Mừng ngày nay tiếp tục kế thừa sứ mạng ấy trong bối cảnh mới của Giáo hội hoàn vũ. Trong cương vị đó, Đức Hồng y Tagle đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các Giáo hội trẻ, đào tạo hàng giáo sĩ, chủng sinh và giáo lý viên, đồng thời hỗ trợ các miền truyền giáo về nhân sự cũng như các nguồn lực cần thiết. Chức vụ này phản ánh định hướng của Giáo hội ngày nay: đặt công cuộc loan báo Tin Mừng ở vị trí trung tâm trong đời sống và sứ mạng của mình.

    Tuy nhiên, việc Đức Hồng y Tagle chủ sự Thánh lễ Tuyên Chân phước không phát xuất từ trách nhiệm của Bộ Loan báo Tin Mừng. Theo quy định của Giáo hội, việc nghiên cứu và tiến hành các án Tuyên thánh thuộc thẩm quyền của Bộ Tuyên Thánh. Sở dĩ ngài chủ sự nghi thức tại Tắc Sậy là vì Đức Thánh Cha Leo XIV đã đích thân bổ nhiệm ngài làm Đặc sứ cho sự việc trọng đại này. Đây là một sự ủy nhiệm đặc biệt, giới hạn trong một sự kiện cụ thể, nhằm thay mặt Đức Giáo Hoàng thực hiện sứ vụ được trao. Vì thế, khi giới thiệu đầy đủ, có thể gọi ngài là: “Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle, Tổng trưởng Phân Bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV.” Sự hiện diện của Đức Hồng y Tagle tại Việt Nam vì thế mang nhiều ý nghĩa. Đó vừa là sự hiện diện của vị lãnh đạo một cơ quan quan trọng của Giáo triều Rome trong lĩnh vực truyền giáo, vừa là sự hiện diện của Đặc sứ Đức Thánh Cha, thay mặt Đức Giáo hoàng hiệp thông với Giáo hội Việt Nam trong niềm vui tuyên Chân phước cho một vị mục tử đã hiến dâng mạng sống vì đoàn chiên.

    • Hành trình thẩm vấn điều tra nhân chứng

    Phía sau đại lễ còn là một hành trình kéo dài nhiều năm, ít người nhắc tới. Từ 2011 đến 2017, Giáo phận Cần Thơ lập một ủy ban sử học để thẩm tra 23 nhân chứng, trong đó 13 người từng tận mắt chứng kiến cái chết của Cha Diệp. Tòa Thánh còn mời thêm một nhóm sử gia độc lập để đối chiếu. Không phải cứ được nhiều người sùng kính là đủ để phong chân phước. Giáo hội đòi hỏi bằng chứng, đòi hỏi thời gian, đòi hỏi sự thận trọng gần như khắc nghiệt trước khi gọi một cái chết là tử đạo.

    • Tiểu sử Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp

    Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp; sanh ngày 01 tháng 01, 1897 tại tỉnh An Giang và mất ngày 12 tháng 03, 1946. Ngài thụ phong linh mục năm 1924 sau khi hoàn thành việc học tại Chủng viện Phnom Penh ở Campuchia. Sau khi trở về Việt Nam, Ngài dạy học tại một chủng viện địa phương. Năm 1930, Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp được bổ nhiệm làm cha sở Giáo xứ Tắc Sậy. Trong 16 năm làm linh mục quản xứ của giáo xứ Tắc Sậy, Ngài nổi tiếng với sự tận tụy hết mình dành cho người nghèo, người bệnh và những ai đang chịu đau khổ giữa thời chiến. Ngài đã tử đạo sau khi bị sát hại bởi hai lính Nhật đào ngũ. Mặc dù trước đó đã có 117 vị tử đạo Việt Nam được phong Chân phước và Hiển thánh, nhưng đây là lần đầu tiên một nghi thức phong Chân phước được tổ chức ngay tại Việt Nam thay vì tại Vatican. Trong cuộc dời là linh mục, Ngài đã thành lập nhiều giáo xứ ở Campuchia và Việt Nam.

    Ngôi nhà cũ nhỏ bé của cha diệp nằm ở vùng quê chợ mới An Giang. Đây là căn nhà mà cha Trương bầu diệp trở về sau những ngày chăm sóc giáo dân ở sậy. Quê hương của cha là họ đạo cần phước, An Giang. Trang mồ côi từ năm bảy tuổi, tuổi thơ với nhiều gian khổ đã khôn đúc lên con người giàu lòng yêu thương và tận hiến cho Thiên chúa. Căn nhà chỉ cách 200 m là phần 1 của song thân cha, ông Trương Văn đặng và bà lê Thị Thanh.

    ScreNgôi nhà cũ nhỏ bé của cha diệp nằm ở vùng quê chợ mới An Giang.

    Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp bị bắt và giết năm 1946 bởi hai trong ba binh sĩ Nhật Bản, những người sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945 đã đào ngũ sang phe Cao Triều Phát, một thủ lĩnh kháng chiến Cao Đài chống Pháp, người có lực lượng gia nhập Việt Minh năm 1945, và bản thân ông cũng là một cán bộ Việt Minh địa phương. Sau Thế chiến II, với Sau khi Pháp bị đánh đuổi và Nhật Bản đầu hàng, người Việt Nam bị cuốn vào cuộc nội chiến tranh giành vận mệnh của nhà nước hậu thuộc địa, trong khi Pháp quay trở lại để đòi lại thuộc địa cũ của họ.

    Trước đó, Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp đã nhờ các nhà khảo sát đất người Pháp giúp nhà thờ của Tắc Sậy đòi lại đất bị lấn chiếm và gây thù oán với Trùm Cận, kẻ lấn chiếm. Cận đến gặp Phát và buộc tội Cha Diệp thông đồng với người Pháp. Hai thuộc hạ người Nhật của Phát và những binh lính khác, có thể do chính Phát phái đi, đã giam giữ các tín đồ công giáo trong một nhà kho và âm mưu thiêu sống tất cả bọn họ, nhưng Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp đã tự nguyện chết để những tín đồ công giáo được sống.

    Trong những năm 1945 lúc chiến tranh diễn ra tàn khốc loạn lạc mọi nơi, các cha bề trên thường khuyên Cha Trương Bửu Diệp nên đi vùng khác lánh mặt cho đến khi tình hình yên ổn thì hãy trở lại nhưng ngài từ chối và trả lời: “Tôi sống với đàn chiên và nếu có chết thì chết giữa đàn chiên vậy.”Vì vậy, Hai thuộc hạ người Nhật đã xông vào nhà thờ Tắc Sậy và bắt cha Trương Bửu Diệp cùng 70 người chức sắc và giáo dân với mục đích giết toàn bộ số người này nhưng cha Trương Bửu Diệp nói: “Ta là chủ chăn của các con chiên này, ta Nguyên chịu chết để đền chịu tội thay cho các con chiên của Thiên chúa.” Trong ngày hôm ấy đã có nhiều con triê quỳ xuống xin cha sửa tội lần cuối cùng.

    Trong đêm đó bọn ác đã chặt đầu Cha Trương Bửu Diệp. Đứng trước cái chết Cha Trương Bửu Diệp vẫn điềm tính không sợ hãi cha nhìn 2 tên đao phủ mỉm cười hiền hậu, Ngài nói: “Ta tha tội cho hành động của các con.” Sau khi giết Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp, đầu bị chặt lìa cổ. Hành quyết Cha Trương Bửu Diệp, 2 tên đau phủ này quỳ xuống run rẩy chạy như bay về phía rừng U Minh và biến mất. Không ai nghe tin tức gì về họ nữa. Lại có nguồn tin cho rằng Phát đã cho giết hai người Nhật, vì ông ta hoặc sợ họ sẽ phản bội và cũng giết ông ta dễ dàng như họ đã giết Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp, hoặc Phát muốn bịt miệng họ.

    Có người kể rằng đêm hôm ấy, Cha Trương Bửu Diệp đã về báo mộng và chỉ chỗ 2 tên kia ném thi thể của Ngài xuống một vũng nước nông. Chúng đã lột hết quần áo của ngài nhưng 2 tay của ngài vẫn chắc trước ngực như đang cầu nguyện. Ngài được giáo dân đem về chôn cất bí mật trong phòng thánh nhà thờ Tắc Sậy, lúc đó rất lụp xụp và nghèo nàn…Thi thể của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp sau đó được vớt lên và chôn cất. Năm 1969, thi thể của ngài được mang về an táng trong nhà thờ ắc sậy và từ đó có nhiều phép lạ xảy ra. Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại giáo xứ Tắc Sậy. Được gọi đơn giản là Cha Diệp (“Cha Điệp”), ngài được các tín đồ tôn kính và thậm chí cả những người không theo đạo Thiên Chúa ở Đồng bằng sông Cửu Long tôn kính. Ngày 12 tháng 3 năm 2016, Giáo phận Cần Thơ đã tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm ngày mất của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. Sự kiện có sự tham dự của đông đảo các giám mục, bao gồm Giám mục Cần Thơ, Stephano Trí Bửu Thiên; Giám mục Đà Lạt, Anton Vũ Huy Chương; Giám mục Mỹ Thọ, Pierre Nguyễn Văn Khảm; và Giám mục Đà Nẵng, Giuse Châu Ngọc Trí.

    Năm 2012, cuộc điều tra đã được tiến hành để chuẩn bị cho việc phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp trong Giáo hội Công giáo. Ngày 31 tháng 10 năm 2014, Bộ Giáo lý Đức tin đã ban hành một tuyên bố phê chuẩn quy trình phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. Vào tháng 11 năm 2024, Đức Giáo hoàng Phanxico đã ký sắc lệnh tử đạo, mở đường cho việc phong chân phước cho ngài, và ban cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp danh hiệu Chân phước. Vào ngày 18 tháng 12 năm 2025, Giám mục Peter Lê Tấn Lợi của Cần Thơ thông báo rằng Tòa Thánh đã xác nhận việc phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp và vào ngày 2 tháng 7 năm 2026, Ngài được Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Phó Tổng Giám đốc Bộ Truyền giáo, phong chân phước tại Nhà thờ Tắc Sậy ở Cà Mau.

    • Phép lạ

    Sau khi Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp mất, có rất nhiều phép lạ đã xảy ra, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra 3 trường hợp:

    1. Để có được sắc lệnh Phong chân ngày 02 tháng 7, 2026. Hồ sơ của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp đã phải đi qua một bộ máy điều tra quốc gia kéo dài suốt 13 năm. Các chuyên gia lịch sử các nhà thần học hay các luật sư của quỹ tìm tòi để bác bỏ hồ sơ tại Roma. Đã lật lại từng chi tiết trong cuộc đời ngài để bảo đảm rằng không có bất cứ tì vết nào về mặt đạo đức, chính trị hay gian lận thông tin. Việc Giáo Hoàng đặt bút ký sắc lệnh công nhận vị thế từ đạo. Khẳng định rằng tính pháp lý cao nhất thuyết phục nhất trên vi phạm toàn cầu.
    2. Thông thường 1 vị thánh Công giáo chỉ thu hút người công giáo đến cầu nguyện nhưng riêng trong trường hợp của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp, thi có đến 70% thân hữu đến xin ơn chuyển cầu không phải là người công giáo. Đại đa số người đến viếng mộ cha là những người theo đạo Phật giáo, đạo Cao Đài hay đạo Thờ Mẫu. Những người kinh doanh tự do hay không theo đạo giáo nào cũng đã đến cầu khấn Ngài. Niềm tin vững chắc của hàng triệu con người qua nhiều thế hệ chính là bằng chứng sống độc nhất.
    3. Bản thân cha diệp có rất nhiều cơ hội để di tản an toàn lên Sài Gòn hoặc Campuchia. Nhưng việc một linh mục nguyện ở lại, chấp nhận hậu quả xấu nhất để đổi lấy sự tự do cho 70 giáo dân là một sự thật lịch sự đã được ghi nhận, sự thuyết phục lớn nhất của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp không phải là những hào quang huyền bí mà chính là sự thuyết phục lớn nhất của Ngài. Không phải là những hào quang huyền bí mà chính là tình yêu thương đến tận cùng để bảo vệ đồng bào. Đó là giá trị cốt lõi thuyết phục của giáo hội 

    Khánh Lan, California 2026

  • Đèo Văn Sách,  Tin tức

    Nghệ Sĩ Đèo Văn Sách đã vĩnh viễn ra đi:

    Nghệ Sĩ Đèo Văn Sách, một khuôn mặt quen thuộc với các sinh hoạt Văn Nghệ “vì màu cờ sắc áo”, trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại vùng thủ đô HTĐ, đã vĩnh viễn ra đi.

    Xin kính chào vĩnh biệt Nghệ Sĩ Đèo Văn Sách

    Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Đôi dòng về Nghệ sĩ  Đèo Văn Sách

    Ca nhạc sĩ Đèo Văn Sách cùng hiền thê của ông là ca sĩ Kim Phụng hiện ở Virginia. Đôi ca sĩ này góp mặt trong nhiểu sinh hoạt văn nghệ địa phương vùng Thủ đô Hoa Kỳ. Kim Phụng là cháu ruột của NS. Hoàng Trọng (vai cậu). NS Tuấn Khanh (Hoa Soan Bên Thềm Cũ) đánh giá giọng ca Kim Phụng rất khá. Giọng ca Đèo Văn Sách còn là một emcee với chất giọng ấm áp, truyền cảm.

    TIẾC, NHỚ CA NHẠC SĨ ĐÈO VĂN SÁCH                                                  Hồi Ký HỒNG THỦY

                                  TIẾC, NHỚ CA NHẠC SĨ ĐÈO VĂN SÁCH
                                                      Hồi Ký HỒNG THỦY


    Ca Nhac sĩ ĐÈO VĂN SÁCH và hiền thê KIM PHỤNG là cặp vợ chồng rất dễ thương, hiền hòa, được mọi người quí mến ở vùng HOA THỊNH ĐỐN. Riêng với tôi, SÁCH PHỤNG thân tình như chị em trong nhà.  Tôi thân với chị ruột KIM PHỤNG là TUYẾT LÊ vợ HQ Trung Tá ĐINH VĨNH GIANG từ hồi ở VIỆT NAM. Anh GIANG rất thân và quí mến ông xã HQ của tôi như một người anh ruột.
     Ngay từ năm mở đầu tổ chức chương trình NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG QUÊN vào dịp mỗi tháng 4 ĐEN và mỗi MÙA THU trong chương trình NHẠC THÍNH PHÒNG. SÁCH PHỤNG luôn dành cho tôi những tình cảm rất đặc biệt.
    Biết tôi có một số THƠ được các NHẠC SĨ phổ nhạc. SÁCH PHỤNG luôn chọn  bài hát của tôi cho góp mặt trong Chương Trình. Dù có lần tôi đi xa  nên không có mặt trong ngày tổ chức, bài hát của tôi vẫn được ưu tiên trình diễn. Chưa một buổi Tổ chức VĂN NGHỆ nào của SÁCH PHỤNG mà thiếu bài hát của tôi. Ngoài ra tôi còn may mắn được SÁCH PHỤNG hát cho tôi rất nhiều bài. SÁCH là người đầu tiên hát bài HOA VÀNG NĂM ẤY, Thơ của tôi do Nhạc Sĩ TỪ CÔNG PHỤNG phổ nhạc và sau đó còn trình diễn rất nhiều lần trong các buổi Tổ chức của Cộng đồng và đã nhờ NHẠC sĨ HOÀNG KHẢI NHAN làm cả YOUTUBE nữa.
    KIM PHỤNG rất thích bài hát XUÂN VIỄN XỨ của tôi do Nhạc Sĩ NGUYỄN ÁNH 9 phổ nhạc. PHỤNG hát nhiều lần, hát rất hay và truyền cảm trong các buổi Họp mặt bạn hữu và được chị KIỀU OANH đưa lên YOUTUBE.
    SÁCH PHỤNG rất quí vợ chồng tôi nên khi ông xã HQ BÙI CỬU VIÊN của tôi qua đời, SÁCH PHỤNG đã nhờ chị KIỀU OANH làm một YOUTUBE ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM anh VIÊN với bài MỘT LOÀI CHIM BIỂN của NHẠC sĨ NGUYÊN VŨ qua tiếng hát thật hay và cảm động của cả hai vợ chồng. Chưa hết, giỗ đầu anh VIÊN, SÁCH PHỤNG làm thêm một youtube nữa với ca khúc HOA BIỂN của NS ANH THY. Ngày giỗ năm thứ 2 SÁCH PHỤNG lại làm một YOUTUBE nữa với bài hát SAO RƠI TRÊN BIỂN của NS NGUYÊN VŨ do hai người song ca. Tất cả YOUTUBE đều do bàn tay tài hoa của chị KIỀU OANH THỰC HIỆN. Xin CÁM ƠN chị KIỀU OANH rất dễ thương và thật nhiệt tình với bạn hữu.
    Quả thật tôi mang nợ SÁCH PHỤNG rất nhiều, những cảm tình SÁCH PHỤNG dành cho tôi quá sức tràn đầy. Nằm trong bệnh viện mà SÁCH còn nhớ đến tôi. Trước khi SÁCH mất một tuần, PHỤNG gọi cho tôi nói: “chị ơi tự nhiên hôm nay anh SÁCH nhắc đến chị, anh ấy hỏi em chị có khỏe không.” Rồi PHỤNG tâm sự thêm: rất buồn vì BS nói có thể SÁCH không qua khỏi. Tôi nghe vừa ngạc nhiên vừa xúc động, tôi không ngờ SÁCH bệnh nặng quá vậy. Sách ra vào nhà thương rất nhiều lần nhưng rồi lại khỏe lại. Lần này tôi cũng tưởng như những lần trước, không ngờ BS lại nói như vậy. Tôi vội vàng tìm cách đi thăm SÁCH ngay. Tôi nói “tìm cách”, vì tôi ở MAYLAND rất xa nhà thương, chưa bao giờ tôi lái xe một mình vào đó, nhà thương FAIRFAX quá to lớn, bãi parking rộng mênh mông. Tôi rất sợ vào mê hồn trận, đi một mình không biết đâu mà mò ( nhà quê quá phải không quí vị ? ). Tôi gọi cho người bạn ở gần nhà thương, xin đi cùng dẫn đường cho tôi vào thăm SÁCH. Số tôi xui, người bạn trả lời mới đi thăm SÁCH rồi. Tôi không hỏi được ai đi cùng nên đành phải nhờ con trai chở tôi đi, dù biết cháu rất bận.
    Hai mẹ con đi thăm SÁCH, tôi rất mừng là trông SÁCH vẫn vui cười tỉnh táo. Tôi buồn trong lòng vì PHỤNG đã cho biết BS nói rõ là các bộ phận đều không hoạt động nữa rồi và chắc chắn SÁCH sẽ ra đi. Tôi nắm hai tay SÁCH thật lâu, nhìn SÁCH cười mà ứa nước mắt khi nghĩ đến lúc SÁCH sẽ nằm bất động vĩnh biệt mọi người. Tôi quá xúc cảm đưa hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt SÁCH nói trong nghẹn ngào : SÁCH phải đọc kinh cầu xin CHÚA cho mau khỏe để còn lo Tổ chức Buổi Thính Phòng MÙA THU chứ. Không biết trong lòng SÁCH có ngạc nhiên khi bỗng dưng hôm đó tôi có cử chỉ thân mật như vậy, chỉ thấy SÁCH cười thật tươi và hỏi tôi: Chị chọn bài đi, chị thích hát bài nào? Tôi cũng cố cười: Bài HOA VÀNG NĂM ẤY vì HOA VÀNG là hoa của MÙA THU. SÁCH lại cười và nói: em cũng thích bài đó. Tôi nói tiếp theo: Lần này hát bài NGUYỄN ÁNH 9 phổ nhé, lần trước hát bài của TỪ CÔNG PHỤNG rồi ( một bài Thơ mà tôi may mắn được hai NS nổi tiếng phổ nhạc )SÁCH gật gù: Chị lại muốn nhờ SĨ TUẤN hay đổi người khác? Tôi trả lời: Ca sĩ thì tùy SÁCH chọn chứ.
    Tôi không tưởng tượng được tôi đang nói chuyện với một người sắp ra đi mãi mãi. Tôi quay vội đi vờ nói chuyện với PHỤNG để SÁCH không nhìn thấy nước mắt tôi sắp trào ra.
    Như vậy đó, tôi đã nói chuyện lần cuối với SÁCH trong cảm giác thật buồn của một người đang đóng kịch thật nhuyễn. SÁCH ƠI, Chả còn lần nào cho chị được SÁCH chọn CA SĨ và sắp xếp Chương trình bài hát của chị nữa đâu. Cám ơn những cảm tình quí hóa suốt bao nhiêu năm nay SÁCH PHỤNG dành cho chị và anh VIÊN. Mong SÁCH sẽ gặp anh VIÊN để anh VIÊN cám ơn SÁCH dùm chị.  Chị không thể nói lời CÁM ƠN với SÁCH để cố đóng cho trọn vai trò kịch sĩ, cho SÁCH có được chút niềm vui cuối cùng là tưởng như cuộc sống còn dài bên người thân. Xin CHÚA đưa linh hồn SÁCH về nước THIÊN ĐÀNG.
    VĨnh biệt SÁCH. Không riêng Chị mà chắc chắn nhiều người quen biết sẽ tiếc nhớ SÁCH vô cùng.
    Thân mến
    Chị Hồng Thủy 

  • DU LỊCH,  Khánh Lan,  Tin tức

    DU LỊCH HAWAII

    Khánh Lan & Mạnh Bổng

    Quần đảo Hawaii (Tên tiếng Mỹ: Hawaiian Islands, tên cũ: Sandwich Islands, tên tiếng Việt: Quần đảo Hạ Uy Di, là một quần đảo gồm 19 đảo, đảo san hô, cùng nhiều đảo nhỏ và núi ngầm trải theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, nằm ở vùng Bắc Thái Bình Dương giữa các vĩ tuyến 19° và 29° Bắc. Tên của quần đảo được lấy theo tên của hòn đảo lớn nhất trong nhóm là đảo Hawaii. Quần đảo kéo dài từ đảo Hawaii ở phía Nam cho tới rạn san hô Kure ở phía Bắc. Đảo lớn nhất là Big Island, đảo lớn thứ 2 là Oahu và đảo thứ 3 là Maui. Ngoại trừ quần đảo Midway chưa được hợp nhất vào Hoa Kỳ, thì toàn bộ quần đảo Hawaii đã trở thành tiểu bang Hawaii của Hoa Kỳ (tiểu bang thứ 50) vào ngày 21 tháng 8 năm 1959, vị trí tại vùng Bắc Thái Bình Dương cách đất liền 3700 km ở 21°18’41” độ vĩ bắc 157°47’47″độ kinh đông.

    Quần đảo Hawaii gồm có tám đảo lớn nằm nối liền nhau trên phía Bắc biển Thái Bình Dương gồm: Niihau, Kauai, Oahu, Molokai, Lanai, Kahoolawe, Maui và Island of Hawaii. Với vẻ đẹp độc đáo, quần đảo Hawaii có một danh hiệu là “thiên đường hạ giới Hạ Uy Di.”

    OAHU-HAWAII

    Oahu nằm ở bờ biển phía đông nam và là sự kết hợp giữa nét hoang sơ, văn hóa đa dạng với trung tâm chính trị, và lịch sử lâu đời. Oahu  Được hình thành do sự phun trào của hai ngọn núi lửa Waianae và Koolau, với đỉnh cao nhất là Núi Kaala. So với Big Island và Maui Island, đảo Oahu chiếm một diện tích khá khiêm nhường (chỉ hơn 1,500 km2), nhưng Oahu Island lại được chọn đặt làm thủ phủ (Honolulu) của quần đảo Hawaii do các vị trí sóng yên gió lặng của nó. Oahu là hòn đảo đông dân với đa số là người gốc Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam và sau cùng là người Đại Hàn.

    Oahu là một hòn đảo thuộc Quận Honolulu, tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Hòn đảo này được ngăn cách với đảo Kauai (về phía tây bắc) và đảo Molokai (về phía đông nam) bởi eo biển Kauai và eo biển Kaiwi. Có nguồn gốc hình thành từ núi lửa, Oahu là hòn đảo lớn thứ ba trong quần đảo Hawaii, với diện tích 597 dặm vuông (1,546 km²), đồng thời là nơi sinh sống của số lượng dân cư đông đảo nhất trong quần đảo này. Hai dãy núi chạy song song là dãy Koolau và dãy Waianae, được nối liền với nhau bởi một cao nguyên nằm ở trung tâm đảo. Người Tahiti đã thiết lập các khu định cư lâu dài trên đảo Oahu vào khoảng năm 500 sau Công nguyên.

    Năm 1795, Kamehameha I là vua của đảo Hawaii đã chinh phục Oahu và thống nhất toàn bộ quần đảo Hawaii. Năm 1845, kinh đô hoàng gia được dời từ Lahaina (trên đảo Maui) về Honolulu (trên đảo Oahu); Honolulu hiện nay chính là thủ đô của tiểu bang Hawaii. Đến cuối thế kỷ 19, chế độ quân chủ tại đây ngày càng chịu sự chi phối mạnh mẽ của các thế lực ngoại bang. Nữ hoàng Liliuokalani bị lật đổ vào năm 1893 (bà đã thuật lại câu chuyện này trong tác phẩm “Hawaii’s Story by Hawaii’s Queen“, xuất bản năm 1898), và toàn bộ quần đảo Hawaii chính thức bị Hoa Kỳ sáp nhập vào năm 1898.

    Oahu là hòn đảo lớn thứ ba và đông dân nhất trong quần đảo Hawaii cũng như của tiểu bang Hawaii thuộc Hoa Kỳ. Thủ phủ của tiểu bang, Honolulu, nằm ở bờ biển phía đông nam của Oahu. Hòn đảo Oahu cùng với các đảo Tây Bắc Hawaii không có người ở hợp thành Thành phố và Quận Honolulu. Vào năm 2024, Oʻahu có dân số là 998,747 người. Oahu có chiều dài 44 dặm (71 km) theo trục đông-tây và rộng khoảng 30 dặm (48 km) tại điểm rộng nhất theo trục bắc-nam. Đường bờ biển của đảo dài 227 dặm (365 km). Nếu tính cả các đảo nhỏ phụ cận như đảo Ford, cùng với các đảo nằm trong vịnh Kāneʻohe và ngoài khơi bờ biển phía đông, diện tích của Oʻahu đạt 596.7 dặm vuông (1,545.4 km²), đưa hòn đảo này trở thành hòn đảo lớn thứ 20 tại Hoa Kỳ.

    Các nghiên cứu khảo cổ học sơ khai cho rằng những nhà thám hiểm người Polynesia đến từ quần đảo Marquesas có thể đã đặt chân tới đây từ rất sớm, ngay từ thế kỷ thứ III sau Công nguyên; sau đó có thể là một làn sóng di cư thứ hai đến từ Tahiti vào khoảng năm 1100 sau Công nguyên. Tuy nhiên, các phân tích hiện đại hơn lại chỉ ra rằng những cư dân đầu tiên có lẽ đã đến vào khoảng thời gian từ năm 900 đến 1200 sau Công nguyên. Vị vua vĩ đại đầu tiên của Oʻahu là Maʻilikūkahi, người đặt ra các bộ luật và đã khởi xướng một triều đại kéo dài suốt 304 năm.

    Kualiʻi là vị vua đầu tiên thuộc dòng dõi các vị vua hiếu chiến, và ngai vàng sau đó được truyền lại cho các con trai của ông. Vào năm 1773, ngai vàng được trao cho Kahahana, con trai của Elani xứ Ewa. Vào ngày 19 tháng 1 năm 1778, Oʻahu là hòn đảo đầu tiên thuộc quần đảo Hawaii được Thuyền trưởng James Cook phát hiện trong chuyến thám hiểm thứ ba của ông. Đây là cuộc chạm trán đầu tiên được ghi nhận giữa quần đảo Hawaii và những người không thuộc chủng tộc Polynesia. Cook đã bỏ qua Oahu mà thay vào đó cập bến tại Kauai, trước khi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ ban đầu là khám phá bờ biển Bắc Mỹ. Một năm sau đó, vào ngày 27 tháng 2 năm 1779, chỉ huy phó của Cook là Thuyền trưởng Charles Clerke đã trở thành người không thuộc chủng tộc Polynesia đầu tiên được ghi nhận đặt chân đến Oʻahu khi ông cập bến tại Vịnh Waimea. Trước đó cùng tháng, Cook đã bị sát hại tại Vịnh Kealakekua trên đảo Hawaii khi một cuộc tranh chấp với người dân địa phương leo thang thành bạo lực.

    Chuyến thăm Oahu của Clerke diễn ra khá ngắn ngủi; hai con tàu thuộc đoàn thám hiểm đã rời Vịnh Waimea ngay trong ngày hôm đó sau khi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nước ngọt. Vào thời điểm Cook đặt chân đến đây, quần đảo Hawaii đang bị chia cắt thành nhiều tiểu quốc (chiefdom) khác nhau và thường xuyên xảy ra chiến tranh. Đến năm 1783, Kahekili II, vua của đảo Maui đã chinh phục và chiếm đóng Oʻahu. Sau đó, ông đưa con trai mình là Kalanikūpule lên làm vua xứ Oahu, biến nơi này thành một quốc gia bù nhìn. Kalanikūpule sau đó đã bị đánh bại trong Trận Nuʻuanu năm 1795 bởi Kamehameha I, người sau đó đã sáng lập nên Vương quốc Hawaii. Quần đảo Hawaii chỉ thực sự được thống nhất trọn vẹn khi Vua Kaumualiʻi dâng nộp hai hòn đảo Kauaʻi và Niʻihau vào năm 1810.

    Vào cuối thế kỷ 18, Waikīkī là một khu định cư lớn trên đảo Oahu, đóng vai trò là nơi cư ngụ của Kahekili II sau năm 1783.  Năm 1845, Kamehameha III đã dời thủ đô từ Lahaina trên đảo Maui về Honolulu. Sau đó, Vua Kalākaua đã cho xây dựng một dinh thự hiện đại tại Honolulu dành cho hoàng gia, đó là Cung điện ʻIolani, công trình hiện vẫn đứng vững và là cung điện hoàng gia duy nhất còn tồn tại trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Vào tháng 1 năm 1893, một nhóm các doanh nhân hàng đầu người Mỹ đã cầm vũ khí tập kết gần Cung điện ʻIolani và phối hợp cùng lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ từ tàu USS Boston vừa đổ bộ xuống cảng Honolulu, đã phát động một cuộc đảo chính thành công lật đổ Nữ hoàng Liliʻuokalani. Nhóm phiến quân này đã xóa bỏ chế độ quân chủ và thành lập Cộng hòa Hawaii; sau đó, họ đã vận động thành công chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận sáp nhập lãnh thổ này vào Hoa Kỳ.

    Các điểm lịch sử quan trọng như  Pearl Harbor (Trân Châu Cảng), nơi đã từng nổi tiếng với trận đánh bất ngờ của Nhật Bản trong Thế Chiến II và để lại di tích lịch sử với chiến hạm Arizona ngủ yên dưới lòng vịnh.  Di sản hoàng gia tại Cung điện Iolani là nơi ở chính thức của hoàng gia Hawaii cuối cùng, một biểu tượng lịch sử quan trọng. Bishop Museum, Viện Bảo tàng về lịch sử thiên nhiên và văn hóa Hawaii với các hoạt động văn hóa đặc sắc. 

    Trong thế kỷ 20, Oahu đã trở thành trung tâm của Hạm đội Thái Bình Dương thuộc Hải quân Hoa Kỳ. Oahu là nơi tọa lạc của Trân Châu Cảng, bãi biển Waikiki nổi tiếng khắp thế giới với những bãi tắm tuyệt đẹp, và khu vực North Shore nổi tiếng với bộ môn lướt sóng. Một số địa điểm đáng chú ý khác trên đảo Oahu bao gồm Vịnh Hanauma, một phần của Công viên Khu vực Koko Head vốn rất được ưa chuộng cho hoạt động lặn ống thở (snorkeling), và Diamond Head, một ngọn núi lửa đã tắt và là biểu tượng đặc trưng của hòn đảo. Ngoài Honolulu, các thành phố quan trọng khác trên đảo bao gồm Kailua, Kaneohe và Wahiawa.

    TRÊN KHU PHỐ TRÊN KALAKAUA AVENUE & DỌC THEO BỜ WAIKIKI BEACH

    April 22, 2026: Du thuyền Celibrity Solstice sẽ không khởi hành cho đến chiều ngày 24 tháng 4, 2026 nhưng chúng tôi đã bay đến Oahu, Hawaii 2 ngày trước và mướn phòng tại Bposhtels Waikiki Reatreat, tọa lạc trên đường Beachwalk với giá $180 một đêm, như vậy giá này cũng khá rẻ so với giá của các Hotel 5, 4 sao gần khu phố chính trên Kalakaua Avenue và nằm dọc theo bờ biển Waikiki.

     Kalakaua Avenue: Từ Bposhtels Waikiki Retreat đến  bãi biển Waikiki và con đường chính Kalakaua Avenue chỉ mất khoảng 10 phút đường bộ. Kalakaua Avenue là con đường chạy dọc theo bờ biển Waikiki với các quán ăn, tiệm bán nước giải khát (trung bình đến sang trọng), những cửa tiệm bán nữ trang, quần áo, và đặc sản của Hawaii cũng như các cửa hàng Chanel, LV, Prada, Fendi, Dior, Bally, Coach, Gucci, Tory Burch, Versace đều tập trung và trải dài 2 bên Kalakaua Avenue.

    Có lẽ khu phố sầm uất Kalakaua hầu như không bao giờ ngủ bởi những ánh đèn sáng rực, bởi những bước chân người nhịp nhàng trên hè phố, bởi tiếng nói cười nhộn nhịp của làn sóng người qua lại. Hình như mọi người đang chìm đắm trong hạnh phúc đón nhận niềm vui và tận hưởng làn gió mát rượi từ biển Waikiki đem lại.

    Bãi biển Waikiki: Trước năm 1950, bãi biển ở khu phố Waikīkī trải dài liên tục và được gọi là Bãi biển Waikīkī. Các bức tường chắn sóng và các công trình phát triển khác kể từ đó đã chia bờ biển thành tám bãi biển riêng biệt. Từ năm 1951, gần 2.800.000 feet khối (80.000 m3) cát đã được thêm vào để khôi phục bãi biển trong khu vực. Tính đến năm 2020, các bãi biển trong khu vực vẫn được gọi là “Bãi biển Waikīkī“, Từ Bãi biển Waikīkī, có thể nhìn thấy hoàng hôn trên biển từ giữa tháng 9 đến cuối tháng 3. Ở một khoảng cách nhất định ngoài khơi, nước khá nông, với nhiều đá dưới đáy. Sóng có thể khá mạnh, đặc biệt là vào những ngày gió. Một nửa bãi biển được đánh dấu dành cho người lướt sóng, nơi đây nổi tiếng với những con sóng dài và cuộn tròn, lý tưởng cho lướt ván dài, lướt sóng đôi và người mới bắt đầu. Bãi biển Waikiki nổi tiếng sầm uất và nhộn nhịp với con đường biển dài gần cây số rưỡi.

    Duke Paoa Kahanamoku (1890-1968) lớn lên ở Waikiki, ông là người Hawaii chính gốc và là biểu tượng của Hawaii đối với hàng triệu người. Ông trở thành nhà vô địch Olympic và là vận động viên bơi lội nhanh nhất thế giới. Từ năm 1912 đến năm 1932, ông giành được ba huy chương vàng, hai huy chương bạc và được coi là cha đẻ của môn lướt sóng quốc tế. Duke đã giới thiệu môn lướt sóng đến bờ biển phía Đông của Mỹ, châu Âu và Úc. Ông trở thành anh hùng khi cứu nạng sống của 8 người từ một chiếc thuyền bị lật ở Corona del Mar, California năm 1925 bằng ván lướt sóng của mình. Ông còng là một diễn viên điện ảnh từ năm 1925 đến năm 1933, ông được bầu làm cảnh sát trưởng Honolulu trong 13 nhiệm kỳ liên tiếp từ năm 1934 đến năm 1960 và được công nhận là Đại sứ Aloha của Hawaii từ năm 1912. Duke Paoa Kahanamoku đã làm rạng danh tên tuổi của mình, rạng danh chủng tộc của mình, rạng danh tiểu bang của mình và rạng danh tất cả dân chúng sinh sống tại Hawaii.

    Bức tượng bằng đồng của Duke Paoa Kahanamoku được đặt ở phía trước của bãi biển Waikiki

    Tượng Duke Paoa Kahanamoku là một trong những địa danh mang tính biểu tượng nhất ở Waikiki, Hawaii. Nó đứng sừng sững như một minh chứng cho di sản của vận động viên lướt sóng và bơi lội Olympic người Hawaii, Duke Kahanamoku, người đã phổ biến môn lướt sóng trên toàn thế giới vào đầu thế kỷ 20. Bức tượng tuyệt đẹp này và tầm quan trọng của nó đối với văn hóa Hawaii, từ những đường nét điêu khắc bằng đồng đến vị trí độc đáo của nó trong văn hóa dân gian địa phương, câu chuyện về tượng đài này thể hiện cả ý nghĩa văn hóa và niềm tự hào dân tộc.

    Dừng chân nơi quán PINK BIKINI BURGER trên Kalakaua Avenue

    Duke marketplace của 40 năm về trước là một khu phố sầm uất và rất đặc biệt bày bán những trang phục màu sắc của người bản xứ, cũng như  những gian hàng tràn ngập đồ trang sức, đồ gỗ địa phương, đồ thủ công trên đảo, vòng hoa đeo cổ, quà lưu niệm, v.v… Ngày nay Duke marketplace đã thu hẹp lại rất nhiều và chỉ còn sinh hoạt trên con hẻm nhỏ trên đường Duke (5 Duke Lane) theo phong cách chợ trời. Đây là một địa điểm mua sắm, ăn uống và giải trí ngoài trời mang tính biểu tượng ở trung tâm của Waikiki. 

    International marketplace (2330 Kalakaua Avenue) gồm nhiều cửa hàng bán lẻ sang trọng và khu ẩm thực toàn cầu, cũng như những buổi trình diễn nhạc sống & hula vào cuối tuần. Khu Chợ Quốc tế (IMP) ở Waikiki được thành lập vào năm 1956 bởi Donn Beach, người sáng tạo ra loại cocktail nổi tiếng Don the Beachcomber, Khu chợ quyến rũ này nhanh chóng trở thành điểm thu hút mọi người, cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập Waikiki thành một khu nghỉ dưỡng và giải trí nổi tiếng. Nguồn gốc và di sản văn hóa bắt nguồn từ lịch sử, Vua William Charles Lunalilo từng sở hữu mảnh đất nơi IMP hiện tọa lạc, và đã tặng nó cho Nữ hoàng Emma, ​​người nổi tiếng với những nỗ lực nhân đạo. Donn Beach đến Honolulu vào giữa những năm 1950, thuê đất từ ​​Quỹ Nữ hoàng Emma, ​​đã mở đường cho việc thành lập Khu chợ Quốc tế vào năm 1956. Khu chợ, với thiết kế độc đáo, bao gồm các hình ảnh đại diện cho những ngôi làng nhỏ tượng trưng cho Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và vùng biển Nam Thái Bình Dương. Vượt qua thách thức của thị trường bán lẻ IMP đã phải đối mặt với những thách thức trong những năm 1990 từ sự xuất hiện của các trung tâm mua sắm và sự thay đổi trong ngành bán lẻ, dẫn đến nhu cầu cần thiết phải tái thiết lớn. Đáp lại, một cuộc cải tạo lớn trị giá 300 triệu đô la vào năm 2016 đã biến IMP thành một điểm đến mua sắm và ăn uống hiện đại trong khi vẫn bảo tồn di sản Hawaii phong phú của nó.

    Với lịch sử phong phú, sự đa dạng của các cửa hàng và bầu không khí sôi động, Khu Chợ Quốc tế (International Marketplace) đã trải qua nhiều năm chuyển mình để trở thành một điểm giao hòa văn hóa. Nổi bật với hơn 90 cửa hàng cung cấp sự kết hợp giữa các thương hiệu quốc tế và địa phương. Những gian hàng mái tranh bán đồ lưu niệm, đồ thủ công địa phương và thực phẩm và trái cây vùng nhiệt đới. Khu ăn uống ngoài trời dưới bóng mát của những cây đa ngàn năm hoặc thưởng thức ẩm thực trong không gian sang trọng của những nhà hàng quốc tế. Hay đắm mình trong khung cảnh văn hóa nghệ thuật với các màn biểu diễn múa hula và nhạc sống của các nghệ sĩ trong nhóm Queen’s Waikiki Luau.

    Màn biểu diễn múa hula và nhạc sống của các nghệ sĩ trong nhóm Queen’s Waikiki Luau

    Khởi đầu với hơn 70 cửa hàng và nhà hàng, bao gồm các thương hiệu nổi tiếng như Saks Fifth Avenue, Tiffany & Co. và Wolfgang Puck’s Steakhouse, IMP đang phát triển mạnh mẽ. Di sản âm nhạc và địa danh văn hóa Vào thời kỳ đỉnh cao, IMP có các câu lạc bộ đêm đón tiếp các nhạc sĩ nổi tiếng như Martin Denny, một nhân vật chủ chốt trong sự kết hợp giữa nhạc jazz và âm thanh rừng rậm được gọi là exotica. Các buổi biểu diễn thường xuyên của ca sĩ Don Ho càng củng cố vị thế của IMP. Mặc dù phải đối mặt với sự xuống cấp và thay đổi chủ sở hữu vào năm 2013, những người bảo tồn văn hóa đã giữ lại những cây đa chính còn nguyên vẹn cho buổi lễ tái khai trương vào năm 2016.

    Don Ho (August 13, 1930- April 14, 2007)-Bức tượng của Don Ho  là một tác phẩm điêu khắc bằng đồng của Kim Duffett.

    Don Ho là một biểu tượng của thời đại âm nhạc và nghệ thuật, Một cậu bé địa phương được yêu mến với giọng hát vàng và trở thành nghệ sĩ giải trí nổi tiếng nhất Hawaii. Don đã giành được sự hoan nghênh và quốc tế biết đến với ban nhạc Aliis tại hộp đêm của Duke ở International Marketplace khi mới khai trương. Don Ho đã làm cho khán giả ở mọi lứa tuổi thích thú với những bài hát đặc trưng như “ Tiny Bubbles” và “I’ll Remember You.” Don Ho đã đưa âm nhạc Hawaii đi khắp nơi trên các hòn đảo ở Hawaii và tạo nên sự thích thú cho người thưởng thức.. Nét quyến rũ của Don khi trình diễn đã khiến cho mọi người yêu mến, thậm chí, từ các thanh thiếu niên cho đến các cụ già đều xếp hàng để hôn Don sau mỗi buổi trình diễn. Ngoài ra, Don cũng thường xuất hiện trong các bộ phim, hoặc như là người dẫn chương trình cho chương trình truyền hình của riêng mình hay tại nhà hàng của anh mang tên Don Ho. Don là hiện thân của Aloha, và là món quà tuyệt vời đã đến với Hawaii. 

    Những cây đa ngàn năm còn được giữ lại khi IMP tu sửa lại

    Duy trì truyền thống với khoảng 90 cửa hàng và hơn 10 nhà hàng, Chợ Quốc tế (International Market Place hay IMP) phục vụ nhiều khẩu vị khác nhau. Trước đây là địa điểm chính của cửa hàng Saks Fifth Avenue, nhưng sự chuyển đổi gần đây của IMP cửa hàng bách hóa này đã chuyển đi nơi khác và nhường chỗ cho cửa hàng Target vào năm 2022. Nằm trên khu đất rộng sáu mẫu Anh thuộc sở hữu của Công ty Queen Emma Land, IMP được quản lý và cho thuê bởi Taubman và CoastWood Capital Group, thể hiện cam kết bảo tồn di sản văn hóa cho các thế hệ tương lai.

    Giàn hoa giấy đầy màu sắc đã tô thêm vẻ mỹ miều của khu chợ International Marketplace

    Thiết kế ngoài trời của trung tâm, xen kẽ với cây xanh, hoa tím tươi tốt đã tạo ra một bầu không khí mua sắm độc đáo và thư giãn. Một trong những điểm nổi bật của Chợ Quốc tế là cam kết thúc đẩy các sản phẩm thủ công địa phương, nhiều cửa hiệu cung cấp một loạt các mặt hàng độc đáo, từ đồ trang sức và quần áo thủ công đến các sản phẩm thực phẩm địa phương là những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp thể hiện tinh thần của Hawaii và trở thành những món quà lưu niệm hoàn hảo. Chợ Quốc tế hawaii không chỉ là thiên đường mua sắm mà còn là điểm đến lý tưởng cho những người yêu thích thưởng thức các món lạ miệng từ các quốc gia khác. Các lựa chọn ăn uống phản ảnh sự đa dạng của khu chợ, với nhiều món ăn lạ hầu đáp ứng mọi khẩu vị từ các nhà hàng cao cấp như Eating House 1849 của Roy Yamaguchi và các doanh nghiệp địa phương của Hawaii như Kona Grill House đến các địa điểm phục vụ nhanh chóng và bình dân cho những người bận rộn.

    Waikiki Culture Center, một công viên nhỏ tọa lạc trên Kalakaua Avenue và nơi lý tưởng cho khách bộ hành dừng chân và thư giãn cũng như cho các trẻ em nô đùa, cho bạn bè gặp gỡ & hàn huyên tâm sự.

    Diamond Head là một núi lửa hình nón bằng đá tuff trên đảo Oʻahu của Hawaii. Người Hawaii gọi nó là Lēʻahi hay tạm dịch là trán cá ngừ. Núi lửa này có thể bắt nguồn từ lae (mũi đất, mỏm đá) cộng với ʻahi (cá ngừ) vì hình dạng của đường sống núi giống với hình dạng vây lưng của cây xương rồng lê gai. Tên tiếng Anh của nó được đặt bởi các thủy thủ người Anh vào thế kỷ 19. Diamond Head là một phần của hệ thống các nón, miệng phun và dòng phun trào liên quan đến Chuỗi núi lửa Honolulu, được hình thành bởi các vụ phun trào mới từ núi lửa Koʻolau diễn ra rất lâu sau khi núi lửa hình thành và đã ngủ yên. Những vụ phun trào này đã tạo ra nhiều địa danh nổi tiếng của Oʻahu, bao gồm miệng núi lửa Punchbowl, vịnh Hanauma, Koko Head và đảo Mānana. Giống như phần còn lại của dãy núi lửa Honolulu, Diamond Head trẻ hơn nhiều so với khối núi chính của dãy Koʻolau. Trong khi dãy Koʻolau có tuổi đời khoảng 2.6 triệu năm, Diamond Head được ước tính khoảng 400.000 đến 500.000 năm tuổi.

    Công viên Diamond Head nằm trên một hình nón núi lửa Lēʻahi, đây là công viên tiểu bang nổi tiếng nhất ở Hawaii với khung cảnh đẹp như tranh vẽ của nó về Honolulu và Thái Bình Dương, bao gồm những con đường mòn đi bộ đường dài tuyệt đẹp.

    Polynesian Culture Center giới thiệu các sinh hoạt văn hóa, âm nhạc và vũ điệu của các thổ dân (Polynesian) từ New Zealand, Fiji, Tonga, Samoa cho đến Hawaii.

    Polynesian Cultural Center ghi nhận về văn hoá của các quần đảo. Trung tâm Văn hóa Polynesia rộng 42 mẫu Anh trên Bờ Bắc của Oʻahu. Trung tâm có sáu ngôi làng gồm Hawaii, Fiji, Aotearoa, Samoa, Tahiti, Tonga

    Vũ điệu của các thổ dân làng Tahiti

    Vào đầu năm 1962, Chủ tịch Giáo hội LDS, ông David O. McKay, đã phê chuẩn việc xây dựng trung tâm phi lợi nhuận này nhằm tạo việc làm và cấp học bổng cho sinh viên tại Đại học BYU-Hawaii, đồng thời bảo tồn văn hóa Polynesia. Nguồn gốc của trung tâm bắt nguồn từ những năm 1940 và 1950, khi các buổi tụ họp bên bãi biển theo phong cách hukilau và luau được tổ chức nhằm gây quỹ để xây dựng lại một nhà nguyện địa phương thuộc Giáo hội LDS – công trình vốn đã bị thiêu rụi trong một trận hỏa hoạn. Bài hát “The Hukilau Song” được Alfred Apaka làm cho trở nên nổi tiếng đã được sáng tác sau chuyến ghé thăm một buổi hukilau tại Lāʻi.e. của chính người nhạc sĩ kiêm ca sĩ đầu tiên thể hiện ca khúc này, ông Jack Owens. Vào tháng 10 năm 1980, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Quảng Đông, ông Tập Trọng Huân, thân phụ của nhà lãnh đạo Trung Quốc đương nhiệm Tập Cận Bình đã đến thăm PCC trong khuôn khổ chuyến công du Hoa Kỳ. Sau loạt vụ tấn công ngày 11 tháng 9, lượng khách tham quan tại PCC đã sụt giảm đáng kể.[9] Đến năm 2004, PCC đã tăng gấp đôi ngân sách quảng bá của mình “nhằm quảng bá các lễ hội âm nhạc, vũ điệu và ẩm thực mang đậm bản sắc địa phương.“

    Pearl Harbor (Trân Châu Cảng), một điểm di tích lịch sử về Thế Chiến II giữa Hoa Kỳ và quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản. Ngày 7 Tháng Mười Hai, 1941, quân đội Thiên Hoàng đã bất ngờ tấn công Pearl Habor, mở màn cho quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham dự vào Thế Chiến II. Kết quả của trận tấn công này, chiến hạm Arizona của Hoa Kỳ đang đậu tại đây đã bị quân đội Thiên Hoàng đánh chìm. Hơn 80 năm trôi qua, Arizona vẫn nằm ngủ yên dưới lòng biển. 

    Tại Pearl Harbor, ngoài dịp thăm chiến hạm Arizona, chúng ta còn có dịp tìm hiểu về thời đế quốc Nhật xâm chiếm thuộc địa và bảo hộ những vùng đất Đông Á và Đông Nam Á trước 1945. Ngày nay, Hawaii được xem như biên giới của Hoa Kỳ nằm về phía Tây Thái Bình Dương và kỹ nghệ quốc phòng tại đây chỉ đứng sau nền kỹ nghệ du lịch.

    Hanauma Bay

    Quần đảo Hawaii nổi tiếng về núi lửa nên phần lớn những nham thạch ở đây màu đen và sắc bén. Theo các nhà địa chất, trước đây Hanauma và Koko Crater là hai miệng núi lửa đã hoạt động mạnh. Hanauma Bay nằm về phía Đông Nam, một thắng cảnh thiên nhiên, và là một trong số bãi biển nổi tiếng nhất của đảo Oahu. Hanauma Bay là khu vực được hình thành từ các ngọn núi lửa phun trào ra các luồng nham thạch và ngày nay trở thành một bãi tắm tuyệt đẹp với các rặng san hô dưới lòng biển. Trải qua với thời gian, miệng núi lửa Hanauma dần dần lún xuống mặt biển và tạo ra vịnh Hanauma. Đá biển và san hô tại vịnh Hanauma một sắc thái đặc biệt trở thành những nơi sinh sống cho các loại sinh vật dưới biển.

    Chùa Byodo-in-Kaneohe được tìm thấy trong Công viên Tưởng niệm Thung lũng. Đền Byodo-in cũng là một trong những ngôi đền Phật giáo đẹp nhất trên thế giới và là ngôi chùa Phật giáo không thuộc giáo phái nào, nằm trên đảo Oʻahu ở Hawaii. Chùa được khánh thành vào tháng 8 năm 1968 để kỷ niệm 100 năm ngày những người Nhật Bản đầu tiên đến Hawaii và cũng là để kỷ niệm 100 năm ngày văn hóa Nhật Bản đến Hawaii. Đền được khánh thành bởi Thống đốc John A. Burns, một người được cộng đồng người Nhật yêu mến vì những cống hiến lâu dài của ông cho sự nghiệp đấu tranh vì quyền lợi của người Nhật trong những năm lãnh thổ của tiểu bang. Người nhập cư Nhật Bản đến Vương quốc Hawaii và sau này là Lãnh thổ Hawaii để làm việc trong các đồn điền mía và dứa. Họ cùng với người Trung Quốc, Philippines, Hàn Quốc, người Hawaii bản địa và người Bồ Đào Nha.

    Ngôi chùa Byodo-in là bản sao của một ngôi chùa Phật giáo 900 năm tuổi ở Uji, tỉnh Kyoto, Nhật Bản, một bản sao thu nhỏ của Byōdō-in, một Di sản Thế giới gần thành phố cổ Kyoto, ban đầu là một tu viện được thành lập bởi Fujiwara no Yorimichi vào năm 1052 thời Heian. Trái ngược với niềm tin phổ biến, đây không phải là một ngôi chùa Phật giáo hoạt động theo đúng nghĩa vì nó không có cộng đồng tu sĩ thường trú cũng như không có giáo đoàn hoạt động. Từ năm 2001 đến năm 2007, ngôi chùa đã được trùng tu với tinh thần bảo tồn di sản cổ xưa của Nhật Bản. Đền Byodo-In được xây dựng chủ yếu bằng bê tông (bản gốc bằng gỗ không dùng đinh) vào năm 1968 tại vị trí hiện tại trong Thung lũng.

    Đền Byodo-in có phong cảnh ngoạn mục và là phim trường quay của một số bộ phim truyền hình  như Hawaii Five-O, Magnum P.I. và Lost.

    Bên ngoài là một chiếc chuông hòa bình bằng đồng thau nặng ba tấn. Bao quanh ngôi đền là những ao cá koi lớn có tổng diện tích 2 mẫu Anh (0,81 ha). Xung quanh những ao này là những khu vườn Nhật Bản tươi tốt nằm trên nền những vách đá cao chót vót của dãy núi Koʻolau. Những khu vườn là nơi sinh sống của chim sẻ, công và thiên nga. Ngôi đền có diện tích 11.000 sq ft (1.000 m2). Đền Byodo-In được hàng ngàn tín đồ từ khắp nơi trên thế giới đến thăm và cầu nguyện. Ngoài việc thờ cúng, khuôn viên đền cũng được sử dụng cho đám cưới và các cuộc họp văn phòng.

    Bên trong chùa Byodo-In có một bức tượng Phật Hoa Sen cao 18 ft (5,5 m), một bức tượng gỗ mô tả Amitābha.[2] Bức tượng được phủ vàng và sơn mài. Nơi đây nổi tiếng với bức tượng Vairocana. Bức tượng gốc đã bị mất và được thay thế vào năm 1053 bằng một bức tượng gỗ lớn của Phật Di Lặc, một bảo vật quốc gia được chạm khắc bởi nghệ nhân Nhật Bản Jōchō. Bức tượng Phật Di Lặc đứng ở giữa Điện Phượng Hoàng, một bản sao nghệ thuật của Sukhavati, cõi tịnh độ của Phật Di Lặc. Nó được gọi là “Điện Phượng Hoàng” trong tiếng Anh để chỉ hai con chim phượng hoàng dang rộng đôi cánh trên mái chùa. Năm mươi hai bức tượng gỗ của các vị bồ tát vây quanh Phật Di Lặc, đang nhảy múa và chơi nhạc cụ trên những đám mây bồng bềnh.

    Friday, April 24, 2026-CELEBRITY SOLSTICE

    Celebrity Solstice là con tàu dẫn đầu của lớp tàu du lịch Solstice do Celebrity Cruises, một công ty con của Royal Caribbean Group. Được đóng bởi Meyer Werft ở Papenburg, tàu được hạ thủy vào ngày 10 tháng 8 năm 2008 và được đặt tên bởi giáo sư khoa học hải dương Sharon L. Smith tại một buổi lễ ở Fort Lauderdale, Florida, Hoa Kỳ, vào ngày 14 tháng 11 năm 2008. Thiết kế và xây dựng thuộc Nhà thiết kế du thuyền Martin Francis của Francis Design thiết kế hình dáng bên ngoài của tàu. Kế hoạch tổng thể được hoàn thành bởi Wilson Butler Architects có trụ sở tại Boston. Celebrity Solstice rời Meyer Werft vào ngày 28 tháng 9 năm 2008.

    April 24, 2026-CELEBRITY SOLSTICE

    CAPTAIN THEODOROS ZAKKAS, HOTEL DIRECTOR SRDJARI AND THE CREW WELCOME GUESTS ABOARD THE RENEWED CELEBRITY SOLSTICE

    THE CELEBRITY WAY OF CONSISENT, ELEVATED, HOSPITALITY

    Dressing up for a “Evening Chic” dinner

    “Smart Casual” dinner

    Hawaiian dinner

    Và khi nào Khánh Lan “MẬP” cỡ bà này thì sẽ không đi cruise nữa.

    April 25, 2026-KAILUA KONA. HAWAII 

    Kailua thuộc Quận Honolulu, Hawaii, Hoa Kỳ và nằm trong Quận Koolaupoko của đảo Oahu, trên bờ biển của Vịnh Kailua. Kailua thuộc về khu vực tư pháp và vùng đất hành chính truyền thống (ahupuaa) mang tên Koolaupoko. Kailua nằm cách Honolulu 12 dặm (19 km) về phía đông bắc, qua đèo Nuuanu Pali. Trong tiếng Hawaii, Kailua có nghĩa là “hai biển” hoặc “hai dòng chảy“; do sự rút gọn của từ “kai” (nghĩa là “biển” hoặc “nước biển”) và “elua” (nghĩa là “hai”). Tên gọi này được đặt dựa trên sự hiện diện của hai ao nuôi cá trong vùng (Kawainui và Kaelepulu) hoặc hai dòng hải lưu chảy qua Vịnh Kailua. Nơi này thường được gọi đơn giản là Kona (tên gọi mà nó chia sẻ với quận hành chính mà nó trực thuộc), nhưng đôi khi cũng được gọi là Kona Town, và thỉnh thoảng là Kailua.

    Vào thế kỷ 19, Kailua-Kona chỉ là một làng chài nhỏ, nhưng vào năm 1820, những nhà truyền giáo Cơ Đốc đầu tiên đã đặt chân đến đây, đồng thời xây dựng các nhà thờ và trường học. Trong giai đoạn cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, khu vực này đã trải qua một đợt bùng nổ về bất động sản và xây dựng. Năm 2014, Khu bảo tồn Rừng Cộng đồng Pālamanui được thành lập tại Kailua-Kona với mục tiêu bảo tồn và gìn giữ các loài cây bản địa của Hawaii.

    Kailua-Kona là khu dân cư lớn thứ hai trên đảo Hawaii (sau Hilo) và là khu dân cư lớn nhất ở phía tây của hòn đảo này. Dân số của khu vực này là 50,000 người vào năm 1992. Trong cuộc điều tra dân số năm 2017, dân số đã giảm xuống còn 38,000 người. Đến cuộc điều tra dân số năm 2020, dân số đạt mức 40,514 người. Giai đoạn lịch sử sơ khai dưới triều đại của Vua Kākuhihewa và các vị vua kế vị ông gồm Kanekapu, Kahoowaha, Kauakahiakahoowaha và Kualiʻi, Kailua đã thay thế Waikiki để trở thành trung tâm cư ngụ và hành chính của các vị quân chủ đảo Oahu (*aliʻi nui* của Oahu). Do vậy mà nơi đây có nhiều tàn tích đền thờ cổ xưa, chẳng hạn như những di tích tại Khu Di tích Lịch sử Tiểu bang Ulupo Heiau. Sau thất bại của quân đội Oʻahu trước Vua Kamehameha Đại đế trong Trận chiến Nuʻuanu năm 1795, thủ phủ chính trị kiêm nơi cư ngụ của các *aliʻi nui* (tù trưởng tối cao) vùng Oahu đã được dời từ Kailua về Honolulu.

    Bãi biển Bãi biển Kailua có hình lưỡi liềm, dài khoảng 2.5 dặm (4,0 km), với chiều rộng dao động từ 50 đến 150 feet (15 đến 46 m). Đáy biển ngay phía trước bãi tắm thoai thoải dần ra vùng nước sâu quá đầu người và hoàn toàn không có các khối san hô nhô lên. Những đợt sóng từ nhẹ đến trung bình tại đây rất thích hợp cho các hoạt động lướt ván (surfing) và lướt sóng bằng thân người (bodysurfing). Nhờ những luồng gió thổi đều đặn, bãi biển Kailua đã trở thành điểm đến hàng đầu cho môn lướt ván buồm và lướt ván diều. Robby Naish, nhà vô địch thế giới đầu tiên bộ môn lướt ván buồm và là thành viên được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng của Hiệp hội Lướt ván buồm Chuyên nghiệp, là người đã lớn lên tại Kailua. Các hoạt động như chèo thuyền kayak trên biển và chèo ván đứng (stand-up paddleboarding) để khám phá các khu bảo tồn chim biển được bảo vệ nghiêm ngặt gồm Flat Island và Nā Mokulua (thường được gọi phổ biến là “the Mokes”) đang ngày càng trở nên phổ biến.

    KAILUA KONA DOCK, PALANI 96740

    Du thuyền Celebrity Solstice cập bến cảng Kailua Kona lúc 8:00 giờ sáng, bờ biển tại đây khá nông nên du thuyền phải đậu ngoài khơi và chúng tôi được chuyển xuống những “Tender” nhỏ để vào thành phố. Đây là địa điểm đầu tiên du thuyến Celebrity Solitic dừng lại và sẽ đậu tại đây 2 ngày nên chúng tôi có nhiều thời gian để thăm những thắng cảnh ở đây hơn. Vì thế chúng tôi quyết định sẽ dùng ngày đầu để mua tour và ngày thừ hai còn lại sẽ dạo phố.

    Cũng như thường lệ, chúng tôi không mua ship excursions mà mua một private tour với công ty, C. Big Island với giá $120/per person cho 4 1/2 giờ để thăm 4 nơi.

    • Kona Coffee Farm, Greenwell
    • Saint Benedict’s Painted Church
    • Koloka Honolohau National Historical Park
    • Honu-Green Sea Turtle
    1. Kona Coffee Farm, Greenwell Farms

    Gia đình Steve and Joanie Wynn là chủ nhân của trang trại Greenwell Farms, họ đến Kona vào cuối tháng 6 năm 2021 và ngay lập tức bắt tay vào một dự án mới. Vì thế, chỉ trong khoảng 3 tháng sau vào tháng 9 cùng năm, họ đã thu hoạch vụ cà phê đầu tiên. Steve và Joanie tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng và hoạt động nông trại bằng cách đầu tư vào các thiết bị như máy kéo mới, máy sấy thương mại, máy băm cành cây, máy rải phân bón và máy phun thuốc.

    Kona Earth owners Steve and Joanie Wynn

    Steve and Joanie đã mở rộng khu vực chế biến và cải thiện khu vực bảo quản cà phê xanh, bổ sung hệ thống kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm để giữ gìn độ tươi ngon của hạt cà phê xanh. Một thiết bị bổ sung thiết yếu là máy rang Mill City 10K, cho phép họ rang cà phê theo mẻ nhỏ ngay tại chỗ và vận chuyển trực tiếp mang lại cho họ sự linh hoạt tuyệt vời và độ tươi ngon tối ưu khi vận chuyển đến khách hàng. Mặc dù Kona Earth không phải là trang trại hữu cơ (organic farm), nhưng gia đình Wynn áp dụng các phương pháp canh tác bền vững, họ không sử dụng glyphosate (hay còn gọi là RoundUp) trên cây trồng, Steve đã tìm ra được các phương pháp hữu cơ để kiểm soát cỏ dại, sử dụng phương pháp thu gom nước mưa, ủ phân, và sử dụng vật liệu đóng gói.

    “Care In Every Cup” là chương trình thiện nguyện của Kona Earth. Chương trình này quyên góp một phần trăm doanh thu từ mỗi lần mua hàng cho tổ chức phi lợi Koohala Center ở Big Island. Tổ chức này thực hiện công việc quan trọng trong việc bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn thương, bao gồm các rạn san hô, rừng mây và cộng đồng nông nghiệp. Gần đây, các khoản quyên góp tập trung vào việc hỗ trợ các nỗ lực bảo tồn rạn san hô tại Vịnh Kahalu’u với Trung tâm Giáo dục Vịnh Kahalu’u và chương trình ReefTeach của trung tâm. Ngoài việc trồng cà phê, trang trại còn trồng thêm loại cây ăn trái khác như soài, avocado, cherry, v.v… và đặc biệt là loại cherry coffee.

    2. The Hawaii’s first Painted Church: Saint Benedict Roman Catholic Church, 84-5140 Painted Church Rd., Captain Cook, HI 96704

    Giáo xứ Thánh Benedict nằm trên sườn núi của ngọn núi lửa Mauna Loa cao 13,680 feet thuộc Quận Nam Kona, Đảo Hawaii. Giáo xứ trải dài 38 dặm từ biển lên những sườn núi thưa dân cư đến đỉnh núi. Ban đầu, toàn bộ dân cư là người Hawaii sống trong 14 ngôi làng ở Nam Kona, nhưng hiện nay, dân số Công giáo chiếm đa số là người Hawaii và Philippines sống trong 5 ngôi làng. Lịch sử của Giáo hội trong Quận bắt đầu vào đầu năm 1842 khi Cha Joachim Marechal, SS.CC., lúc đó được giao nhiệm vụ chăm sóc cả Quận Nam Kona và Quận Ka’u, Ngài đặt nơi cư trú và nhà nguyện đầu tiên của mình tại làng Kapalelua, nằm trên biên giới của hai Quận. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhờ lòng nhiệt thành và công việc hăng say của Cha Joachim cùng với việc giảng dạy của một số giáo lý viên giáo dân, Giáo hội đã được thiết lập vững chắc ở Nam Kona. Trường học Công giáo đầu tiên trong khu vực được mở tại làng biển Honaunau dưới sự chăm sóc của 2 giáo lý viên, Serapia và Clement Hoki. Các linh mục truyền giáo không sống thường xuyên ở Nam Kona cho đến khoảng năm 1859.

    Nhà nguyện ban đầu, nằm trên bờ vịnh Honaunau gần Thành phố Tị nạn trong Công viên Lịch sử Quốc gia, được biết đến với tên gọi Nhà nguyện Thánh Phanxicô Regis. Cha Joachim qua đời đột ngột vào ngày 12 tháng 4 năm 1859. Cha Aloys Lorteau, SS.CC., là người kế nhiệm Cha Joachim đã đến cư trú tại Honaunau và phục vụ ở đó trong 37 năm cho đến năm 1898, Cha Lorteau qua đời trên tàu Maunaloa vào ngày thứ Hai Phục Sinh trên đường đến Honolulu để được chăm sóc y tế và điều trị tại bệnh viện.

    Đến giữa những năm 1880, hầu hết người dân Honaunau đã di chuyển khỏi khu vực bãi biển đến vùng đất màu mỡ hơn cách đó khoảng hai dặm trên sườn đồi. Cha John Berchmans Velge, SS.CC., linh mục thường trú thay thế Cha Aloys vào tháng 12 năm 1899, đã chuyển những gì có thể của Nhà nguyện Thánh Phanxicô Regis lên vùng thượng Honaunau. Nhà thờ được Giám mục Gulstan Ropert, SS.CC., làm phép vào tháng 8 năm 1902, và được dâng hiến để tôn vinh Thánh Benedict.

    Cha John Berchmans Velge, một họa sĩ tự học đã vẽ những bức tranh tường bên trong nhà thờ

    Cha John Berchmans Velge là một người thầy xuất sắc và là một họa sĩ tự học, đã vẽ những bức tranh tường bên trong nhà thờ với những cảnh tượng ấn tượng từ Kinh Thánh, mô tả nhiều chân lý tôn giáo quan trọng. Những bức tranh Kinh Thánh của Ngài nhanh chóng trở nên nổi tiếng, và Nhà thờ Thánh Benedict được biết đến với tên gọi “Nhà thờ được vẽ”. Ban đầu, Cha John Berchmans Velge phác họa hình vẽ trên bản thảo các bức tranh của mình trên giấy và treo chúng lên tường của nhà thờ Thánh Benedict. Từ năm 1902 đến năm 1904, ông vẽ các bức bích họa lên tường của nhà thờ cùng với những trang trí đầy màu sắc đã khiến nhà thờ được biết đến với tên gọi “Nhà thờ được vẽ tranh“. Cha John Berchmans Velge đã thành lập một liên đoàn các nhà giáo lý gồm những người dạy giáo lý và được hướng dẫn tốt, họ được phép mặc một bộ lễ phục đặc biệt gồm áo dài đen đến đầu gối, thắt lưng đỏ, áo choàng đen có viền trắng, và một cây thánh giá trắng thêu trên áo choàng. Bộ lễ phục này lần đầu tiên xuất hiện vào Chúa nhật Phục Sinh năm 1901. Cha John Berchmans Velge chỉ làm việc có 5 năm trước khi trở về Bỉ, nhưng Ngài đã trở lại nhà thờ Thánh Benedict vào mùa hè năm 1904 (theo sổ rửa tội của nhà thờ).

    Được thiết kế, xây dựng và vẽ như một nhà thờ Gothic thu nhỏ theo phong cách châu Âu bởi Cha John Berchmans Velge, Nhà thờ Thánh Benedict hiện được coi là khá độc đáo trong lịch sử nghệ thuật Mỹ và được ghi vào Sổ danh sách Di tích Lịch sử Tiểu bang Hawaii và Di tích Lịch sử Quốc gia. Tuy nhiên, vì lý do sức khỏe, Cha John Berchmans Velge phải trở về Bỉ vào năm 1904. Sau đó, Cha Victor Poirer, SS.CC., phục vụ từ tháng 8 năm 1904 đến tháng 7 năm 1905; Cha Charles Louis, SS.CC., từ tháng 1 năm 1906 đến tháng 9 năm 1907; và Cha Gerard Benetren, SS.CC., từ tháng 9 năm 1907 đến tháng 12 năm 1913.

    Khoảng năm 1906, nhà thờ Thánh Benedict được khánh thành vào năm 1907, Cha Eugene Oehman, SS.CC., trở thành linh mục quản xứ của Nhà thờ Thánh Benedict vào ngày 7 tháng 12 năm 1913 và phục vụ ở đó trong 37 năm. Trong thời gian làm mục sư, cha Eugene đã chứng kiến ​​bốn vụ phun trào lớn của núi lửa Magna Loa vào các năm 1916, 1919, 1926 và 1950. Trong vụ phun trào và dòng dung nham năm 1926, cha Eugene đã thấy nhà nguyện Thánh Phêrô ở Hoopuloa bị dung nham phá hủy; và trong vụ phun trào năm 1950, nhà nguyện Thánh Tâm Đức Mẹ ở Pahoehoe đã bị dung nham nóng chảy phá hủy hoàn toàn. Cha Eugene đã xây dựng một nhà nguyện Thánh Phêrô mới tại bãi biển Milolii, nhưng hiện nay nhà nguyện này không còn được sử dụng. Trận động đất năm 1950, đi kèm với một dòng dung nham lớn, đã phá hủy nhà thờ Maria Lanakila ở Kealia, được xây dựng vào năm 1860. Cha Eugene Oehman đã tận tụy phục vụ giáo xứ South Kona trong 37 năm, từ năm 1913 đến năm 1951. Vào thời điểm cha Eugene qua đời ngày 14 tháng 6 năm 1951, chỉ còn hai trong số 14 nhà thờ và nhà nguyện được xây dựng trong khu vực vẫn còn được sử dụng, đó là: Nhà thờ Thánh Benedict, Honaunau, và Nhà thờ Thánh Gioan Tẩy giả, Kealakekna.

    Giám mục James J. Sweeney đã giao giáo xứ St. Benedict cho Dòng Cha Maryknoll vào tháng 8 năm 1951 và bổ nhiệm Cha Francis G. Kelliher, M.M., làm linh mục quản xứ đầu tiên của Dòng Maryknoll. Ngài phục vụ ở vị trí đó cho đến tháng 7 năm 1959, khi được chuyển đến giáo xứ St. Pigs X, Honolulu. Cha Kelliher đã làm việc chung với trẻ em và đã cải thiện chương trình giáo dục tôn giáo trong giáo xứ. Ngài đã chào đón các Nữ tu Dòng Thánh Gia đảm nhận chương trình giáo dục tôn giáo và làm trợ lý cho ba linh mục trẻ của giáo phận, đó là Cha Bernard J. Eikmeier (từ tháng 9 năm 1952 đến tháng 7 năm 1953); Cha Francis A. Marzen (từ tháng 9 năm 1953 đến tháng 6 năm 1954); và Cha Joseph Silva (từ tháng 9 năm 1954 đến tháng 10 năm 1954). Cha William F. Desmond, M.M., tạm thời đảm nhiệm cho đến khi Cha Charles T. Wilcox, M.M., đến làm trợ lý linh mục vào tháng 2 năm 1955. Ông giữ chức vụ quản lý giáo xứ trong một năm, từ tháng 7 năm 1955 đến tháng 7 năm 1956, khi Cha Kelliher được nghỉ phép một năm tại Hoa Kỳ. Cha Kelliher trở lại Giáo xứ Thánh Benedict vào tháng 7 năm 1956, với sự trợ giúp của Cha Charles J. Schmidt, M.M. Cha Wilcox được chuyển đến Nhà thờ Thánh Joseph, Hilo. Cha Kelliher đã hợp tác chặt chẽ với một nhóm người quan tâm đến việc sửa chữa và bảo tồn các tác phẩm nghệ thuật trong Nhà thờ Thánh Benedict.

    Năm 1961, ông Alfred Frankenstein, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc của tờ San Francisco Chronicle, và ông Norman Carlson, nhiếp ảnh gia của ông, thông qua Nhà xuất bản Đại học Hawaii, đã xuất bản một cuốn sách có tựa đề ANGELS OVER THE ALTAR (Thiên thần trên bàn thờ). Cuốn sách kể câu chuyện về nghệ thuật dân gian Kitô giáo ở Hawaii và quần đảo Marquesas thuộc vùng biển Nam Thái Bình Dương. Sách có ảnh màu của tất cả các bức tranh tường tôn giáo của Nhà thờ Thánh Benedict, Honaunau, và Nhà thờ Ngôi sao Biển, Kalapana. Bài báo sau đây về cuốn sách đã xuất hiện trên tờ Hawaii Catholic Herald vào tháng 10 năm 1961. Bài báo này đáng được lưu giữ trong Biên niên sử của Giáo xứ Thánh Benedict.

    “Bước vào Nhà thờ được vẽ ở Thượng Honaunau,” Alfred Frankenstein, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc của tờ San Francisco Chronicle, nói, “giống như bước ngược thời gian 500 năm về thế giới của mẹ Francois Villon, người không thể đọc được những lời trong kinh thánh nhưng biết được lời hứa về thiên đường và mối đe dọa của địa ngục thông qua những bức tranh sống động mà bà đã thấy trên tường nhà nguyện của mình.“ Frankenstein là người biên tập văn bản. “Ở đây trên sườn đồi ở Hawaii,” ông viết sau khi thăm nhà thờ, “chúng tôi đã chiêm ngưỡng một góc nhỏ của châu Âu thời trung cổ, không phải được tiếp cận bằng sự giả tạo hay tinh vi, mà tồn tại trong một dòng dõi trực tiếp, đáng kinh ngạc.”

    “ĐỊA NGỤC ĐƯỢC VẼ” “Một bên là hình ảnh địa ngục sôi sục được vẽ chính xác như mẹ của Villon đã thấy, và trên các bức tranh khác là Cain giết Abel, Thánh Phanxicô nhận vết thương thánh, và Chúa Kitô từ chối Ác quỷ. Phía trên là một mái vòm Gothic dài, được xây bằng gỗ và định hình gian giữa của nhà thờ. Sáu cột chống đỡ nó, và nơi những cột gỗ này nối với mái vòm, một thủ thuật ngoạn mục của người họa sĩ đã khiến chúng bung ra thành những chiếc lá cọ khổng lồ hùng vĩ nổi bật trên nền trời nhạt.

    Điều đáng kinh ngạc nhất là bức tường phía sau bàn thờ, mà sự sáng tạo không được đào tạo bài bản của người họa sĩ đã biến thành hậu cung của một nhà thờ lớn; nó trải dài mãi, với vẻ uy nghiêm Gothic đích thực, và kết thúc bằng một luồng ánh sáng. “Điều được coi trọng nhất là tinh thần không thể diễn tả của nhà thờ, điều mà không một kiến ​​trúc sư nào thiết kế và không một nghệ sĩ nào vẽ nên.” Tất cả bắt nguồn từ một nhà truyền giáo Công giáo người Bỉ, Cha John Berchmans Velge, người đã tái khám phá việc sử dụng hình ảnh hội họa thời trung cổ và đã tạo ra kiệt tác này vào khoảng thời gian từ năm 1899 đến năm 1904. Đi sâu vào cuộc đời của hai vị linh mục John Berchmans Velge và Cha Evarist, những ý tưởng của họ và nguồn gốc các tranh vẽ trong nhà thơ Thánh Benedict, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc Alfred Frankenstein đã khám phá ra một mạng lưới nghệ thuật dân gian Kitô giáo ở các đảo Thái Bình Dương. Nó bắt đầu với tác phẩm của một tu sĩ người Pháp, Michel Blanc, một thợ mộc chuyển sang làm nhà điêu khắc và kiến ​​trúc sư, người đã đến quần đảo Marquesas vào những năm 1860 với đầy ắp những ký ức về nghệ thuật dân gian của quê hương mình. Cha John Berchmans Velge là môn đệ của Tu sĩ Michel, và Cha Evarist là môn đệ của Cha John.

    Cha Daniel F. Lenahan, M.M., đã làm linh mục quản xứ của Giáo xứ Thánh Benedict từ ngày 1 tháng 10 năm 1968 đến tháng 4 năm 1973, khi ngài chuyển đến Giáo xứ Thánh Philomena, Honolulu. Cha Thomas J. Prendergast, M.M., đã làm Quản lý giáo xứ từ tháng 4 năm 1973 đến tháng 10 năm 1973, khi ngài được chuyển đến Giáo xứ Truyền Tin, Waimea, Nam Kohala, Hawaii, làm linh mục quản xứ. Cha Ralph W. Sylva, M.M., trước đây là linh mục phụ tá của Giáo xứ Thánh Benedict, đã trở thành linh mục quản xứ của ngài vào tháng 10 năm 1973. Ngài giữ chức vụ linh mục quản xứ trong mười hai năm cho đến tháng 6 năm 1985, khi ngài đã nghỉ hưu.

    Trong thời gian làm mục sư, hai sự kiện lớn đã diễn ra. Sự kiện lớn đầu tiên trong thời gian làm mục sư của Cha Sylva là việc ngài trực tiếp hướng dẫn giáo dân xây dựng một trung tâm sinh hoạt cộng đồng đa năng lớn bên cạnh nhà xứ ở Honaunau. Hội trường được xây bằng gỗ đã qua xử lý chống mối mọt. Công trình này rất cần thiết, đòi hỏi nhiều sự hy sinh và hiện đang phục vụ người dân trong mọi hoạt động tôn giáo và xã hội. Sự kiện lớn thứ hai trong thời gian làm mục sư của Cha Sylva là việc tái thiết hoàn toàn Nhà thờ Thánh Benedict, với những bức tranh tường tôn giáo lịch sử vô giá. Vào tháng 7 năm 1981, một nhóm nhỏ giáo dân và người dân cộng đồng đã tập hợp lại để lên kế hoạch phục hồi nhà thờ đã 82 năm tuổi này.

    3. Koloka Honolohau National Historical Park

    Công viên Lịch sử Quốc gia Kaloko-Honokōhau là một Công viên Lịch sử Quốc gia của Hoa Kỳ nằm ở Quận Kona trên Đảo Hawaii thuộc tiểu bang Hawaii của Hoa Kỳ. Công viên bao gồm địa điểm khảo cổ được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia, được biết đến với tên gọi Khu định cư Honokōhau. Công viên được thành lập vào ngày 10 tháng 11 năm 1978, nhằm mục đích bảo tồn, bảo vệ và giải thích các hoạt động và văn hóa truyền thống của người Hawaii bản địa. Lịch sử Kaloko và Honokōhau là tên của hai trong số bốn ahupuaʻa khác nhau, hay các vùng đất truyền thống từ núi đến biển nằm trong công viên.

    Mặc dù vào thời cổ đại, khu vực khô cằn với đá dung nham này được gọi là kekaha ʻaʻole wai (vùng đất không có nước), nhưng sự sống phong phú của sinh vật biển đã thu hút người dân đến định cư trong hàng trăm năm. Kaloko Kaloko (có nghĩa là “ao” trong tiếng Hawaii) là một địa điểm có các ao cá được sử dụng ở Hawaiʻi cổ đại nằm ở phía bắc của công viên. Lần đầu tiên ao này được nhắc đến trong câu chuyện về Kamalalawalu, khoảng 300 năm trước. Bức tường chắn sóng (kuapā) rộng hơn 9.1 m và cao 1.8 m, trải dài 230 m. Được xây dựng bằng tay mà không dùng vữa, góc độ và khoảng cách giữa các viên đá giúp chắn sóng tốt hơn nhiều so với các bức tường chắn sóng bê tông hiện đại. Ao cá ʻAimakapā là một khu vực đất ngập nước quan trọng bảo vệ các loài chim bản địa bao gồm vịt Hawaii (Koloa maoli, Anas wyvilliana), gà nước Hawaii (Fulica alai), cò chân dài Hawaii (Himantopus mexicanus knudseni), diệc đêm mào đen (Nycticorax nycticorax), cùng nhiều loài khác. Khu vực này hiện đang được trồng lại rừng sau khi loại bỏ các loài thực vật xâm lấn không bản địa. Nó đã được thêm vào Sổ Địa điểm Lịch sử vào năm 1978.

    Honokōhau Hālau

    Honokōhau Honokōhau có nghĩa là “vịnh hút sương” và đề cập đến khu định cư cổ xưa ở phía nam của công viên. Có thể đến khu vực này bằng đường mòn từ trung tâm du khách của công viên hoặc từ đường vào bến tàu nhỏ trên đường Kealakehe Parkway. Các đặc điểm bao gồm loko iʻa (ao nuôi cá của người Hawaii cổ đại), kahua (nền nhà), kiʻi pōhaku (hình khắc trên đá), hōlua (đường trượt đá) và heiau (địa điểm tôn giáo). Bẫy cá ʻAiʻopio là một ao rộng 1,7 mẫu Anh (0,69 ha), với một bức tường đá tạo thành một khu vực nhân tạo dọc theo đường bờ biển cong tự nhiên của một vịnh. Những khe hở nhỏ cho phép cá con từ biển vào, nhưng khi chúng lớn hơn (hoặc khi thủy triều xuống), chúng dễ dàng bị bắt bằng lưới.

    Nơi này được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia vào năm 1962 và được thêm vào Sổ Di tích Lịch sử Quốc gia vào năm 1966. Một số đường mòn được phục hồi bao gồm khoảng một dặm của Đường mòn Māmalahoa. Nó được xây dựng vào giữa thế kỷ 19 và phát triển qua nhiều năm thành Đường Vành đai Hawaii bao quanh toàn bộ hòn đảo. Đường mòn ven biển là một phần của Đường mòn Lịch sử Quốc gia Ala Kahakai. Bến cảng Honokōhau cung cấp khu vực hạ thủy cho thuyền độc mộc truyền thống, thuyền đánh cá, các tour lặn biển và lặn ống thở trong khu vực.

    Đường mòn Māmalahoa dẫn đến khu biến nông Honu-Green Sea Turtle sinh sống. Rùa Chelonia mydas hay Honu-Green Sea Turtle, chúng là một trong những loài động vật biển mang tính biểu tượng của Hawaii. Honu-Green Sea Turtle sinh sống ở bãi biển trong cùng khu vực của Công viên Lịch sử Quốc gia Kaloko-Honokōhau, vì thế chúng tôi có thể đi bộ xuyên qua khu rừng nhiệt đới (rainforest) khoảng 20 phút là đến bãi biển cạn nơi những con rùa biển Honu-Green sinh sống.

    4. Honu-Green Sea Turtle (Chelonia mydas)

    Rùa biển xanh (Chelonia mydas), còn được gọi là rùa xanh, rùa biển đen và rùa xanh Thái Bình Dương, là một loài rùa biển lớn thuộc họ Cheloniidae. Nó là loài duy nhất trong chi Chelonia. Phạm vi sinh sống của nó trải rộng khắp các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới với hai quần thể riêng biệt ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, nhưng nó cũng được tìm thấy ở Ấn Độ Dương. Tên gọi này liên quan đến lớp mỡ màu xanh thường thấy bên dưới mai của nó, do thức ăn của nó hoàn toàn là cỏ biển. Màu sắc của mai có màu từ ô liu đến đen, cơ thể dẹt theo chiều lưng bụng của rùa Chelonia mydas được bao phủ bởi một mai lớn hình giọt nước; nó có một cặp vây lớn giống như mái chèo. Nó thường có màu sáng, mặc dù ở các quần thể phía đông Thái Bình Dương, một số phần của mai có thể gần như đen.

    Không giống như các thành viên khác trong họ của nó (chẳng hạn như rùa biển đồi mồi) Rùa Chelonia mydas chỉ ăn thực vật. Tuy nhiên, rùa trưởng thành thường sống ở các đầm nông, ăn các loài cỏ biển khác nhau. Giống như các loài rùa biển khác, rùa Chelonia mydas di cư quãng đường dài giữa các khu vực kiếm ăn và bãi đẻ trứng. Nhiều hòn đảo trên thế giới được gọi là Đảo Rùa do rùa Chelonia mydas làm tổ trên bãi biển. Rùa cái bò lên cát biển vào ban đêm, đào tổ và đẻ trứng. Rùa Chelonia mydas con sau khi nở ra, chúng bò xuống nước biển.

    Rùa biển xanh (Chelonia mydas), là một loài rùa biển lớn thuộc họ Cheloniidae, chúng sinh sống trải rộng khắp các vùng biển nhiệt đới trên thế giới, với hai quần thể riêng biệt ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, nhưng nó cũng được tìm thấy ở Ấn Độ Dương. Lớp mỡ màu xanh thường thấy bên dưới mai của nó, thức ăn của chúng hoàn toàn là loài cỏ biển, màu sắc của mai có màu từ ô liu đến đen, không giống như các thành viên khác trong họ của nó, chẳng hạn như rùa biển đồi mồi. Cơ thể dẹt theo chiều lưng. Chúng có một cặp vây lớn giống như mái chèo.

    Rùa Chelonia mydas được IUCN và CITES liệt vào danh sách loài khan hiếm và có nguy cơ diệt chủng nên chúng được bảo vệ khỏi sự khai thác của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việc thu thập, làm hại hoặc giết chúng là bất hợp pháp và bị cấm. Ngoài ra, nhiều quốc gia có đạo luật quy định để bảo vệ các khu vực mà rùa Chelonia mydas làm tổ. Tuy nhiên, rùa Chelonia mydas vẫn đang gặp nguy hiểm do những sinh hoạt của con người gây ra. Ở một số quốc gia, rùa Chelonia mydas và trứng của chúng vẫn bị săn bắt để làm thức ăn. Đôi khi, nhiều con rùa đã chết vì bị mắc vào lưới đánh cá.

    Honu-Green Sea Turtle tìm tìm thấy ở những khu biển nông, giữa các nghềnh đá và ăn những loại cỏ biển quanh vùng.

    Những sinh vật hiền lành này thường được bắt gặp đang bơi lội trong nước biển hoặc trong vùng nước nông ven bờ. Sự hiện diện của chúng gắn bó sâu sắc với văn hóa Hawaii, nơi chúng được tôn kính như những biểu tượng của sự may mắn, trường thọ và sự che chở.

    Rùa Chelonia mydas được tìm thấy trên khắp thế giới như bờ biển Thái Bình Dương, bờ biển Caribe và Đại Tây Dương của Bắc và Nam Mỹ, Địa Trung Hải và các vùng phía bắc của Ấn Độ Dương. Rùa Chelonia mydas con mới nở ăn cá và thực vật, nhưng sau đó chuyển sang ăn tảo và cỏ biển khi được 5 đến 7 tuổi. Ít thường xuyên hơn, rùa non và rùa trưởng thành có thể ăn các động vật không xương sống như bọt biển và sứa. Tuổi thọ của chúng được ước tính từ 60 đến 70 năm, hay những con trưởng thành có thể sống tới 90 năm trong thiên nhiên. Nhiều hòn đảo trên thế giới được gọi là Đảo Rùa do Rùa Chelonia mydas làm tổ trên bãi biển. Tuy nhiên, rùa Chelonia mydas không đạt đến tuổi trưởng thành về sinh dục cho đến 25 đến 40 năm! Và thời gian sinh sản khác nhau: từ 17 đến 23 năm. Một khi rùa cái có thể sinh sản, nó sẽ quay trở lại địa điểm làm tổ của mình sau mỗi 2 đến 5 năm và đẻ từ 3 đến 9 lứa. Mỗi lứa có từ 75 đến 200 quả trứng, với khoảng cách khoảng 12 ngày giữa mỗi lứa. Sau nhiều tháng đẻ trứng, nó quay trở lại biển để kiếm ăn. Tùy thuộc vào nhiệt độ, trứng có thể nở sau 45 đến 75 ngày; Và những con non thường nở vào ban đêm để di chuyển về phía chân trời sáng nhất là đại dương.

    Rùa Chelonia mydas là loài di cư, di chuyển hàng trăm hoặc hàng ngàn con từ khu vực kiếm ăn đến bãi biển làm tổ. Hơn 95% quần thể rùa Chelonia mydas làm tổ ở French Frigate Shoals thuộc Khu bảo tồn biển quốc gia Papahānaumokuākea. Chúng di chuyển đến các đảo chính của Hawaii để kiếm ăn và tắm nắng trên bãi biển. Việc làm tổ và kiếm ăn hạn chế xảy ra ở các địa điểm khác ở Thái Bình Dương như Samoa thuộc Mỹ, Guam và Khối thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana. Khi không di cư, Rùa Chelonia mydas ở lại vùng nước nông như đầm phá, rạn san hô, vịnh và bãi cạn để kiếm ăn và làm tổ dọc theo các bãi biển thoáng đãng, không bị quấy rầy.

    April 26, 2026-DẠO PHỐ KAILUA KONA, HAWAII

    Sau bữa ăn sáng, chúng tôi lấy Tender ship để vào phố.

    Bãi biển Niumalu: Từng là một trung tâm sôi động dành cho hoạt động chèo thuyền ca-nô, bãi cát tại Niumalu (nghĩa là “bóng dừa che mát”) thường được biết đến với tên gọi Bãi biển Kanuha, được che chắn bởi một đê chắn sóng kiên cố, vốn để bảo vệ sự an toàn cho du khách tắm biển tại đây suốt hơn một thế kỷ qua.

    Nằm về phía bên trái của Cung điện Hulihe’e là Huiha, một điểm lướt sóng đầy thách thức, đòi hỏi người chơi phải có kỹ năng điêu luyện cùng sự am hiểu tường tận về địa hình và dòng chảy tại khu vực này. Một mỏm đá dung nham pahoehoe nhẵn bóng nằm ngay dưới chân đê chắn sóng được đặt tên theo vị Ali’inui (Tù trưởng Tối cao) “Umi-a-liloa”. Chính Tù trưởng Umi là người đã thiết lập một khu dinh thự hoàng gia tại đây, đồng thời thúc đẩy gia tăng sản lượng lương thực thông qua việc phát triển các ao nuôi cá ven biển và các vùng đất canh tác nằm trên sườn dốc thuộc Hệ thống Canh tác Kona.

    Thành phố Kailua đẹp, thơ mộng, sạch và an bình nằm ngay cạnh bờ biển, màu nước biển xanh một màu xanh biếc (dark blue). Cả khu phố như bao phũ bởi những hàng dửa và những bông hoa muôn màu sắc.

    Những quán ăn rải rác khắp nơi, khu Kona Inn shopping village bày bán những quần áo, quà lưu niệm, vòng trang sức, v.v…

    Cung điện HULIHE’E (Hulihe’e Palace) là một di tích lịch sử được xây dựng vào năm 1838 bởi Thống đốc John Adams Kuakini, một người bạn đồng hành của Kamehameha I và là một trong những thủ lĩnh đầu tiên tiếp nhận lối sống phương Tây. Việc xây dựng Cung điện Hulihe’e đã được hoàn thành vào 1838. Hulihe’e là dinh thự của Thống đốc John Adams Kuakini và là nơi nghỉ ngơi của các gia đình hoàng gia Hawaii. Nhà thờ Moku’aikaua, Cung điện Hulihe’e có chung phong cách kiến trúc tương tự. Vào năm 1884, Vua Kelakaua đã cập nhật Hulihee với ngoại thất lanai mở rộng. Ngày nay, Cung điện được điều hành như một bảo tàng Nữ hoàng Hawaii.

    Hulihe’e palace được xây bằng san hô, đá núi lửa và gỗ bản địa, cung điện được trang bị nội thất sang trọng. Hulhee trở thành nơi cư trú của Công chúa Ruth ở Kailua. Nữ thống đốc Hawaii, Vua Kalakaua, đã trang hoàng lại nó để sử dụng làm cung điện mùa hè của mình. Và gần đây nhất, nó thuộc về Hoàng tử Jonah Kalanianaole, đại biểu Hawaii tại Quốc hội. Cung điện được con gái của Hawaii tu sửa lại vào năm 1927 để sử dụng làm bảo tàng.

    Nhà thờ MOKU’AIKAUA

    Các nhà truyền giáo Boston đã mang Cơ đốc giáo đến Hawaii khi họ đến Kailua vào năm 1820. Moku’aikaua là nhà thờ Cơ đốc giáo lâu đời nhất ở Hawaii. Từ năm 1835 đến năm 1837 các bức tường bên ngoài được thay bằng đá nham thạch và san hô nghiền nát. Đá được chạm khắc để xây dựng nền móng. Nội thất là loại gỗ ‘Ohi’a. Năm 1808, nhà truyền giáo hoed cùng với đồng nghiệp opukaha’ia (henry obookiah) nuôi ý tưởng truyền giáo bởi khi ở New England, họ đã trở thành nhà truyền giáo và đã nhận được một nền giáo dục căn bản tại trường truyền giáo tại cornwall, connecticut.

    Sau cái chết bất ngờ của Henry Obookiah, Hopu đã giữ lời hứa sẽ đến hawaii với một công ty truyền giáo đầu tiên và ông đã mang theo phúc âm, dạy chữ quốc ngữ và hỗ trợ Vua Kаменамена trong nhiều vấn đề khác. Từ năm 1820 đến 1825, Hopu một mình phục vụ với tư cách là mục sư của nhà thờ mokunkata, đưa số giáo dân tham dự lên đến 300 thành viên byetbe lime rey, sau đó, ông trở về oaho, dòng công giáo đầu tiên ở hawaii là hopu to henrietta halekti (delia). Trong những năm cuối đời, Hopu từng là phó tế và được mọi người biết đến với cái tên “the faitheul hopu» pono, e ke kauwa maika’l, e malama pono“

    Cộng đoàn tín hữu của nhà thờ Mokuaikaua được thành lập từ năm 1820, và tòa nhà hiện tại được hoàn thành vào năm 1837. Lịch sử Cộng đoàn tín hữu này được thành lập lần đầu tiên vào năm 1820 bởi ông bà Asa và Lucy Goodale Thurston, những người thuộc đoàn truyền giáo Cơ Đốc giáo đầu tiên của Mỹ đặt chân đến đây trên con tàu buồm hai cột buồm (brig) mang tên Thaddeus nay được chưng trong nhà thờ.(Tàu Thaddeus thu nhò)

    Cộng đoàn tín hữu của nhà thờ đã được Vua Kamehameha II và Nữ Nhiếp chính Kaʻahumanu cấp phép để giảng dạy đạo Cơ Đốc. Tháng 10 năm 1823, họ được tin rằng người dân tại Kailua-Kona đã bắt đầu quan tâm đến những lối sống mới và đã dựng lên một nhà thờ nhỏ bằng gỗ. Công trình đầu tiên tại địa điểm này được xây dựng bằng gỗ ʻŌhiʻa và lợp mái tranh, trên phần đất được Hoàng gia Thống đốc Kuakini cấp, nằm ngay bên kia đường đối diện với Cung điện Huliheʻe.

    Cái tên “Mokuʻaikaua” theo nghĩa đen trong tiếng Hawaii có nghĩa là “quận/vùng đất giành được bằng chiến tranh“, có lẽ được đặt theo tên khu rừng trên cao nguyên, nơi người ta đã khai thác gỗ để xây dựng nhà thờ. Sau nhiều lần hỏa hoạn, tòa nhà bằng đá hiện tại đã được xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1835 đến 1837; một phần vật liệu đá được tái sử dụng từ một *Heiau* (đền thờ cổ thuộc tín ngưỡng Hawaii) nằm gần đó.

    Nội thất bên trong nhà thờ được trang trí bằng gỗ Koa. Hiện tại Nhà thờ vẫn tiếp tục được sử dụng cho các hoạt động tôn giáo và mở cửa cho công chúng tham quan; tại đây có trưng bày một số hiện vật lịch sử, chẳng hạn như mô hình thu nhỏ của con tàu Thaddeus. Những thành viên đáng chú ý khác trong đoàn truyền giáo đầu tiên đó còn có Mục sư Hiram Bingham I cùng phu nhân. Nhả thờ nằm trong danh sách các địa điểm lịch sử tiểu bang vào ngày 3 tháng 10 năm 1978.

    CHỢ NÔNG SẢN (FAMER MARKET)

    Cuối phố là khu chợ nông sản do những người dân sống trong nông trại tai Kailua, Kona trồng trọt và đem ra bán. Chợ họp vào ngày cuối tuần và bày bán đủ loại rau, quả, trái cây vùng nhiệt đới như soài, măng cụt, nhãn, dứa, dưa hấu, v.v…

    Và chúng tôi cũng mua ủng hộ 1 1/2 pounds nhãn hạt tiêu, giá $5/pound và 1 pounds măng cụt giá $12/pound. Xong ngồi ăn tại chỗ vì chúng tôi không được phép mang trái cây về lại du thuyền. Măng cụt thì không được ngon nhưng nhãn thì thơm, ngọt lịm, hột nhỏ và cơm nhãn rất dầy.

    April 27, 2026-BIG ISLAND,

    Big Island, Hawaii là hòn đảo lớn nhất ở Hoa Kỳ, nằm ở tiểu bang Hawaii. Đây là hòn đảo cực đông nam của quần đảo Hawaii, một chuỗi các đảo núi lửa ở Bắc Thái Bình Dương. Với diện tích 4.028 dặm vuông (10.430 km2), nó chiếm 63% tổng diện tích đất liền của quần đảo Hawaii. Tuy nhiên, nó chỉ có 13% dân số của quần đảo. Đảo Hawaii là hòn đảo lớn thứ ba ở Polynesia, sau Đảo Bắc và Đảo Nam của New Zealand. Tên chính thức của hòn đảo là Đảo Hawaiʻi để phân biệt với tiểu bang. Nó cũng được gọi là Đảo Lớn, do kích thước của nó so với các đảo Hawaii khác. Trong tiếng Hawaii, hòn đảo đôi khi được gọi là Moku hoặc Keawe.

    Theo điều tra dân số năm 2020 là 200,629 người. Thủ đô và cộng đồng lớn nhất của huyện là Hilo. Huyện Hawaiʻi không có thành phố nào được thành lập. Hawaiʻi được cho là đặt tên theo Hawaiʻiloa, một nhà hàng hải huyền thoại người Polynesia được cho là đã khám phá ra hòn đảo này. Các tài liệu khác cho rằng tên gọi này bắt nguồn từ vương quốc huyền thoại Hawaiki, nơi được cho là xuất xứ của một số người Polynesia chuyển đến sau khi chết, hoặc vương quốc của các vị thần và nữ thần. Các nghiên cứu khảo cổ học ban đầu cho thấy các nhà thám hiểm Polynesia từ quần đảo Marquesas hoặc quần đảo Society có thể đã đến quần đảo Hawaii sớm nhất là vào thế kỷ thứ III Sau Công nguyên, có thể với làn sóng thứ hai đến từ Tahiti vào khoảng năm 1100. Tuy nhiên, các phân tích gần đây hơn cho thấy những người định cư đầu tiên đến vào khoảng năm 900–1200 Sau Công nguyên.

    Truyền thống truyền miệng cho rằng một trong những người nổi tiếng nhất của Hawaiʻi là ʻUmi-a-Līloa, người đã thống nhất hòn đảo bằng vũ lực. ‘Umi-a-Liloa là con trai ngoài giá thú của Līloa, người cai trị từ Thung lũng Waipiʻo ở quận Hāmākua. Khi Līloa chết, hòn đảo được chuyển cho Hakau, anh trai cùng cha khác mẹ của ʻUmi-a-Liloa. Tuy nhiên, ʻUmi-a-Liloa đã tấn công & giết chết Hakau và giành quyền kiểm soát Hāmākua. Sau đó,ʻUmi-a-Liloa tiến hành chinh phục các quận Hilo, Puna, Kaʻū và Kona, nhưng người dân tại những quận này đã nổi dậy chống lại ʻUmi-a-Liloa. ʻUmi-a-Liloa đặt trụ sở chính phủ mới của mình tại Kailua thuộc quận Kona.

    Năm 1779, thuyền trưởng James Cook thực hiện chuyến đi thứ hai đến quần đảo Hawai’i, neo đậu tại vịnh Kealakekua trên đảo Hawaiʻi. Ông đã ở đó vài tuần, gặp gỡ và giao thương với người dân địa phương, đồng thời chuẩn bị tàu thuyền cho chuyến đi dự kiến ​​đến Bắc Cực. Người Hawaii đã đón tiếp ông nồng hậu, coi ông như hiện thân của thần Lono. Đầu năm 1780, Cook khởi hành đi Bắc cực nhưng tàu của ông bị hư hại nặng trong một cơn bão ngay sau khi ra khơi, và ông buộc phải quay trở lại Kealakekua chỉ sau một tuần trên biển. Trong lần neo đậu thứ hai này, một cuộc xung đột giữa người châu Âu và người Hawai’i đã trở nên bạo lực, dẫn đến cái chết của nhiều người ở cả hai phía bao gồm James Cook. Quan hệ hòa bình cuối cùng đã được khôi phục với thủy thủ đoàn của các tàu của James Cook và họ là những người đã rời quần đảo Hawai’i vĩnh viễn vào cuối tháng đó.

    Năm 1780, đảo Hawaiʻi được kiểm soát bởi aliʻinui Kalaniʻōpuʻu, một hậu duệ của ʻUmi-a-Līloa khi ông qua đời vào năm 1782, ông đã chỉ định con trai mình là Kīwalaʻō làm người thừa kế. Tuy nhiên, một mối thù giữa Kīwalaʻō và cháu trai của Kalaniʻōpuʻu là Paiʻea Kamehameha đã sớm leo thang thành một cuộc nội chiến. Kīwalaʻō đã tử trận trong trận Mokuʻōhai vào cuối năm đó, khiến quyền kiểm soát hòn đảo bị chia cắt giữa Kamehameha ở phía tây, chú và cố vấn của Kīwalaʻō là Keawemaʻuhili ở phía đông bắc, và người anh cùng cha khác mẹ của Kīwalaʻō là Keōua Kūʻahuʻula ở phía nam. Ba thủ lĩnh, được hỗ trợ bởi tàu thuyền và vũ khí phương Tây, đã chiến đấu bất phân thắng bại trong 8 năm cho đến năm 1790, khi Keōua đánh bại và giết chết Keawemaʻuhili.

    Năm 1791, quân của Kamehameha đã giết Keōua tại một cuộc gặp gỡ ngoại giao, để lại quyền kiểm soát Hawaiʻi cho Kamehameha. Kamehameha tiếp tục chinh phục phần còn lại của quần đảo Hawaii, củng cố quyền kiểm soát của mình vào năm 1810 với sự đầu hàng hòa bình của Kaumualiʻi, vua của Kauai.  Ông đặt tên cho vương quốc mới của mình, và mở rộng ra là toàn bộ quần đảo, lấy tên là Vương quốc Hawaiʻi. Năm 1822, nhà truyền giáo William Ellis đến Hawai’i và tháng 7 năm 1898, Hawaiʻi và tất cả các đảo Hawai’i đã bị Hoa Kỳ sáp nhập, trở thành Lãnh thổ Hawaii. Năm 1905, việc thông qua Đạo luật Quận đã thành lập Quận Hawaii, cung cấp cho hòn đảo chính quyền địa phương lần đầu tiên kể từ năm 1810.

    HILO, BIG ISLAND

    Khi du thuyền Celebrity Solstice cặp bến tại Hilo, Big Island, Hawaii, Pier 1 trên 80 Kuhio Street, chúng tôi quyết định mua một private tour với giá $130/per person cho 4 1/2 giờ để đi thăm 5 nơi:

    • Richardson Ocean Park (Black sand Beach)
    • Liliuokalani Park and Garden
    • Hilo Waterfall on Waianuenue Ave, J’ula-upper I’Ihonua
    • Kilauea vocano site
    • Nahuku Lavatube (Thurson Lavatube)

    Hilo là một moku hay quận trên Đảo Lớn Hawaii thuộc Tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Trong hệ thống hành chính hiện tại của Quận Hawaii, moku Hilo được chia thành Quận Bắc Hilo (Hilo ‘Akau) và Quận Nam Hilo (Hilo Hema). Hilo nằm ở phía đông, được hưởng lượng mưa nhiều nên cây cối xanh tươi. Hilo là CDP lớn thứ hai ở Tiểu bang Hawaii và là khu định cư lớn nhất trên đảo với dân số 44,186 người theo điều tra dân số năm 2020. Hilo là thủ đô của Quận Hawaii, và nằm trong Quận Nam Hilo. nhìn ra Vịnh Hilo. Hilo nằm gần hai ngọn núi lửa: Mauna Loa, một ngọn núi lửa còn đang hoạt động và Mauna Kea là ngọn núi lửa không hoạt động.

    Nằm ở phía đông bắc của đảo Hawaii, Hilo mang đến vẻ đẹp thiên nhiên ngoạn mục cùng với một thị trấn sôi động. Nằm ở phía đối diện về mặt địa lý của bờ biển Kohala núi lửa, khu vực này được ban tặng những thác nước hùng vĩ, rừng mưa nhiệt đới tươi tốt và những khu vườn hoa nở rộ. Nơi đây cũng là địa điểm của Sân bay Quốc tế Hilo và là điểm dừng chân thuận tiện trên đường đến Vườn Quốc gia Núi lửa Hawaii, cách đó 45 phút về phía nam. Là một khu vực nông nghiệp và đánh bắt cá sầm uất trong thời kỳ đầu, Hilo đã phát triển thành một trung tâm thương mại cho ngành công nghiệp đường mía vào những năm 1800.

    Trung tâm thành phố Hilo được xây dựng xung quanh vịnh hình lưỡi liềm và trở thành trụ sở của chính quyền quận. Ngày nay, trung tâm thành phố Hilo là một thị trấn quyến rũ với các bảo tàng viện, phòng trưng bày nghệ thuật, cửa hàng bán lẻ và nhà hàng. Tại Bảo Tàng Viện Lyma, nơi tìm hiểu về những trận sóng thần kinh hoàng suýt nhấn chìm Hilo. Tại Bảo tàng Sóng thần Thái Bình Dương hay Trung tâm Thiên văn ʻImiloa mới xây dựng với ba hình nón titan nổi bật (tượng trưng cho ba ngọn núi cao nhất trên đảo Hawaii: Maunakea, Maunaloa và Hualālai).

    Vườn Liliʻuokalani là một nơi nghỉ ngơi yên bình với những ao cá kiểu Nhật, chùa chiền và vườn đá trên diện tích 30 mẫu Anh,

    Hilo là nơi có nhiều phong cảnh đẹp như vườn Lili’uokalani, Công viên Bang Sông Wailuku là nơi có thác Waiānuenue (Thác Cầu Vồng) cao 80 feet và thác Peʻepeʻe. Hilo cũng là nơi diễn hành Lễ hội Merrie Monarch, một lễ hội kéo dài một tuần tôn vinh điệu múa hula cổ xưa và hiện đại, diễn ra hàng năm sau Lễ Phục Sinh và cũng là trụ sở của Tập đoàn Hạt Macadamia Mauna Loa, một trong những nhà sản xuất hạt macadamia hàng đầu thế giới.

    Dấu hiệu cho thấy người dân đã sinh sống ở các khu vực dọc theo Vịnh Hilo, sông Wailuku và Wailoa trước khi thế giới phương Tây tiếp xúc. Các nhà truyền giáo đã đến khu vực này vào đầu và giữa những năm 1800, thành lập một số nhà thờ, đáng chú ý là Nhà thờ Haili, ở khu vực Hilo hiện đại. Hilo mở rộng khi các đồn điền mía đường ở khu vực xung quanh tạo ra nhiều việc làm mới và thu hút nhiều công nhân từ châu Á, biến thành phố thành một trung tâm thương mại.

    Một đê chắn sóng ngang qua Vịnh Hilo được bắt đầu vào những năm 1900 và hoàn thành vào năm 1929. Vào ngày 1 tháng 4 năm 1946, một trận động đất mạnh 7.8 độ richter gần quần đảo Aleutian đã tạo ra một cơn sóng thần cao 14 mét ập vào Hilo 4.9 giờ sau đó, giết chết 160 người. Để đáp ứng hệ thống cảnh báo sớm, Trung tâm Cảnh báo Sóng thần Thái Bình Dương được thành lập vào năm 1949 để theo dõi những con sóng chết người này và đưa ra cảnh báo. Trận sóng thần này cũng đồng nghĩa với sự kết thúc của Đường sắt Hợp nhất Hawaii, và thay vào đó, Đường Vành đai Hawaii được xây dựng ở phía bắc Hilo bằng cách sử dụng một phần nền đường sắt.

    Vào ngày 23 tháng 5 năm 1960, một trận sóng thần khác, do trận động đất mạnh 9.5 độ richter ngoài khơi bờ biển Chile vào ngày hôm trước gây ra, đã cướp đi 61 sinh mạng được cho là do người dân không chú ý đến còi báo động. Các khu vực ven vịnh thấp của thành phố trên bán đảo Waiākea và dọc theo Vịnh Hilo, trước đây có dân cư sinh sống, đã được chuyển đổi thành công viên và đài tưởng niệm.

    NÚI LỬA TAI HILO, HAWAII

    Núi lửa tại Đảo Hawaiʻi phun trào theo thứ tự, ngọn này chồng lên ngọn kia, từ ngọn lâu đời nhất đến trẻ nhất. Những dãy núi lửa gồm Kohala đã tắt, Mauna Kea ngủ yên, Hualālai và Mauna Loa đang hoạt động cũng như một phần của Núi lửa Hawaiʻi Kīlauea nằm trong Vườn quốc gia vẫn còn đang hoạt động. Các nhà địa chất cho rằng một phần của Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi trên sườn phía nam và phía tây của Mauna Loa đã dẫn đến hai ngọn núi lửa Nīnole và Kulani gần như bị chôn vùi bởi Mauna Loa trẻ hơn.

    Dựa trên địa hóa học dựa trên các nguyên tố vi lượng và sự khác biệt về đồng vị trong các sản phẩm phun trào của chúng, các núi lửa Hawaii được chia thành hai nhóm. Sự khác biệt này được cho là do hệ thống magma riêng biệt của chúng. Hualālai và Mauna Loa là thành viên của một nhóm, trong khi Kohala, Mauna Kea và Kilauea là thành viên của nhóm còn lại. Vì Mauna Loa và Kīlauea là những núi lửa đang hoạt động nên hòn đảo này đang ngày càng mở rộng do sự phun trào của núi lửa tạo thành. Từ tháng 1 năm 1983 đến tháng 9 năm 2002, dòng dung nham đã tăng thêm 543 mẫu Anh (220 ha) cho hòn đảo. Tuy nhiên, dung nham chảy từ Kīlauea đã phá hủy một số thị trấn, bao gồm Kapoho vào năm 1960 và một lần nữa vào năm 2018, và Kalapana và Kaimū vào năm 1990.

    Năm 1987, dung nham đã lấp đầy “Queen’s Bath“, một hồ nước ngọt lớn hình chữ L ở khu vực Kalapana. Thêm 875 mẫu Anh nữa đã tăng từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2018 bởi vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018, với “Khe nứt 8” nằm trong khu dân cư Leilani Estates là nguồn chính của dung nham. Hồ Green là hồ nước ngọt lớn nhất trên đảo, đã bị bao phủ bởi dung nham trong vụ phun trào đó cũng như Công viên Bãi biển Ahalanui và một phần của Công viên Bãi biển Isaac Hale, phần sau bị ngập trong cát đen, khiến bến thuyền không thể sử dụng được. Mauna Loa phun trào ngắn ngủi vào năm 2022 sau 38 năm trước đó. Một số nhà địa chất tin rằng hai ngọn núi lửa dưới biển ở chân đảo là Māhukona ở góc tây bắc của đảo đã bị xói mòn xuống dưới mặt biển Kamaʻeh. Những núi lửa đã và vẫn còn hoạt động như núi núi lửa Halema’uma’u phun vào năm 1933, Kilauea Iki vào năm 1959, Puna vào năm 1955 và Kapoho vào năm 1960.

    Great Crack

    Photo showing clouds of steam surrounding lava that is partly black and partly glowing orange
    Dòng dung nham chảy vào Thái Bình Dương tại Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi vào tháng 4 năm 2005, làm cho hòn đảo ngày càng lớn hơn.

    Vết nứt lớn là một khe nứt dài 8 dặm (13.000 m), rộng 60 feet (18 m) và sâu 60 feet (18 m) trên đảo, thuộc quận Kaʻū. Theo Bộ Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS), Vết nứt lớn là kết quả của sự giãn nở vỏ trái đất do sự xâm nhập magma vào vùng đứt gãy phía tây nam của Kīlauea. Mặc dù cả trận động đất năm 1868 lẫn trận động đất năm 1975 đều không gây ra sự thay đổi đáng kể nào ở Vết nứt lớn, nhưng dung nham đã phun trào từ 6 dặm (10 km) phía dưới của nó vào năm 1823. Các con đường mòn, vách đá và các địa điểm khảo cổ có niên đại từ thế kỷ 12 đã tồn tại gần Vết nứt lớn. Vào tháng 8 năm 2018, bộ Công viên Quốc gia đã mua gần 2000 mẫu Anh (810 ha) đất tư nhân liền kề với Công viên Quốc gia Núi lửa Hawaiʻi, với lý do khu vực này có những đặc điểm địa chất quan trọng cần được nghiên cứu và bảo tồn.

    Hilina Slump

    Photo of coastline with 10 people standing or walking on the beach and palm trees in background
    Pumalu’u Beach Park is one of the most famous black sanded beaches

    Vùng sạt lở Hilina là một phần có thể tích 4,760 dặm khối (19,800 km3) của sườn phía nam đảo Kīlauea đang di chuyển ra xa khỏi đảo. Từ năm 1990 đến năm 1993, các phép đo Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) cho thấy sự dịch chuyển về phía nam khoảng 4 inch (10 cm) mỗi năm. Các phép đo dưới biển cho thấy một “bậc thang” đã hình thành nên một bức tường chắn và bức tường chắn này có thể làm giảm khả năng tách rời thảm khốc. Động đất và sóng thần Vào ngày 2 tháng 4 năm 1868, một trận động đất có cường độ ước tính từ 7.25 đến 7.9 đã làm rung chuyển bờ biển phía đông nam của Hawaiʻi. Đây là trận động đất tàn phá nhất trong lịch sử được ghi nhận của Hawaiʻi. Nó đã gây ra một vụ lở đất trên Mauna Loa, cách Pāhala 5 dặm (8 km) về phía bắc, khiến 31 người thiệt mạng. Một trận sóng thần đã cướp đi thêm 46 sinh mạng. Các làng Punaluʻu, Nīnole, Kāwāʻa, Honuʻapo và Keauhou bị thiệt hại nặng nề. Sóng thần được cho là đã tràn qua ngọn cây dừa cao tới 60 feet (18 m), và ở một số nơi, nó đã tiến vào đất liền xa tới một phần tư dặm (400 mét). Vào ngày 29 tháng 11 năm 1975, một đoạn rộng 37 dặm (60 km) của Hilina Slump đã sụt xuống 11.5 feet (3.5 m) và trượt 26 feet (7.9 m) về phía đại dương.

    Sự chuyển động này đã gây ra một trận động đất mạnh 7.2 độ richter và một trận sóng thần cao 48 feet (15 m). Tài sản ven biển ở Punaluʻu đã bị cuốn trôi khỏi móng. Hai người chết được báo cáo ở Halape, và 19 người khác bị thương. Hòn đảo này đã bị thiệt hại do sóng thần gây ra bởi các trận động đất ở Alaska vào ngày 1 tháng 4 năm 1946 và ở Chile vào ngày 23 tháng 5 năm 1960. Trung tâm thành phố Hilo bị thiệt hại bởi cả hai trận sóng thần, với nhiều người thiệt mạng. Ngay phía bắc Hilo, Laupāhoehoe đã mất 16 học sinh và 5 giáo viên trong trận sóng thần năm 1946.

    Vào tháng 3 năm 2011, một trận động đất mạnh 9.0 độ richter ngoài khơi bờ biển phía đông Nhật Bản lại tạo ra sóng thần gây thiệt hại nhỏ ở Hawaiʻi. Thiệt hại ước tính đối với các tòa nhà công cộng là khoảng 3 triệu đô la Mỹ. Ở khu vực Kona, trận sóng thần này đã cuốn một ngôi nhà xuống vịnh Kealakekua, phá hủy một câu lạc bộ du thuyền và văn phòng tàu du lịch ở vịnh Keauhou, gây thiệt hại nặng nề ở Kailua-Kona, làm ngập tầng trệt của Khách sạn King Kamehameha, và tạm thời đóng cửa Khu nghỉ dưỡng Kona Village.

    Đầu tháng 5 năm 2018, hàng trăm trận động đất nhỏ đã được phát hiện ở Vùng đứt gãy phía Đông của Kīlauea, khiến các quan chức phải đưa ra cảnh báo sơ tán. Vào ngày 3 tháng 5 năm 2018, núi lửa phun trào ở Puna sau trận động đất 5.0 xảy ra trước đó trong ngày, gây ra việc sơ tán các khu dân cư Leilani Estates và Lanipuna Gardens. Một trận động đất có vẻ liên quan với cường độ 5.3 và một trận động đất tiếp theo với cường độ 6.9 đã xảy ra vào ngày 4 tháng 5. Sương mù núi lửa Sương mù núi lửa (vog) có thể bao phủ đảo Hawaiʻi khi Kīlauea hoạt động. Kể từ khi hoạt động núi lửa chấm dứt vào tháng 9 năm 2018, vog phần lớn đã biến mất ở phía tây của hòn đảo. Các cột khí tạo ra một lớp vog mà gió mậu dịch phần lớn đã chuyển hướng về phía bờ biển Kona. Vog có thể gây hại cho sức khỏe của thực vật, con người và các loài động vật khác. Hầu hết các hạt khí dung đều có tính axit và kích thước đủ lớn để có thể lưu lại trong phổi gây tổn thương. Các triệu chứng giống cúm và mệt mỏi nói chung được báo cáo, và đặc biệt rõ rệt ở những người mắc bệnh về đường hô hấp.

    Cột khói hơi nước khi dung nham đỏ của Kīlauea chảy vào đại dương. Ba dòng dung nham Waikupanaha và một dòng dung nham Ki chảy vào đại dương. Công viên bãi biển Punaluʻu, một trong những bãi biển cát đen nổi tiếng nhất Bãi biển Punaluʻu (còn được gọi là Bãi biển Cát Đen) là một bãi biển nằm giữa Pāhala và Nāʻālehu trên Đảo Lớn của tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Bãi biển có cát đen được tạo thành từ bazan và được hình thành bởi dung nham chảy vào đại dương, phát nổ khi chạm đến đại dương và nguội đi. Hoạt động núi lửa này nằm trong Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi. Punaluʻu là nơi thường xuyên lui tới của rùa đồi mồi và rùa xanh đang có nguy cơ tuyệt chủng, chúng thường được nhìn thấy đang phơi nắng trên cát đen.

    Black sand tại Bãi biển Punaluʻu

    Khu vực bơi lội rất nhiều đá nên có thể gây nguy hiểm. Bãi biển cũng có một lượng lớn nước ngọt ngầm chảy vào, rất lạnh và trông gần giống như xăng pha lẫn với nước. Truyền thuyết kể rằng, vào thời kỳ hạn hán, người Hawaii cổ đại sống trong khu vực này sẽ lặn xuống nước với một chiếc bình để lấy nước ngọt. Trong tiếng Hawaii, puna luʻu có nghĩa là “người lặn xuống lấy nước suối”.

    Một loại cây gọi làHapu’u pulu (tree fern) mọc rất nhiều tại Hilo, đó là một loại cây dương xỉ, phía trên của loại cây này được bao phủ bởi một lớp gọi lại pulu (len vàng), lớp pulu giúp bảo vệ sự phát triển của lá non khỏi bị khô. Pulu non cũng hữu ích như một loại thuốc băng bó cho vết thương hay vết trầy xước. Các loại cây khác như coconut, bamboo, banyan, cook pines, cây đa, và Öhi’a lehua (loài cây đầu tiên mọc trên dung nham mới) đã chiếm ưu thế trong hầu hết các vùng đất của hòn đảo.

    Tuy nhiên, sự rậm rạp của cây rừng đã là nơi trú ẩn của loài chuột Timatin. Khí hậu ôn hòa của vùng cao Hawaii giúp cho sự phát triển của những cây nhỏ Như Polo là một loại cà phê có quả màu đỏ tươi hoặc màu cam. Oma o là loại hạt được một số người sử dụng như thuốc nhuận tràng. Nhờ có nhiều mưa nên khí hậu thoáng mát,rất thích hợp cho các loài hoa vùng nhiệt đới như Bird of Paradise, Plumeria, Hawaiian Hibiscus, Orchids, v.v…

    1. Richardson Ocean Park (Black & Green sand Beach)

    Bãi biển Richardson (còn được gọi là Công viên Đại dương Richardson) là một công viên thuộc Quận Hawaii, nằm ngay phía đông thành phố Hilo, Hawaii, trên hòn đảo lớn Hawaii (Big Island). Nằm liền kề với nó là Công viên Bãi biển Lele’iwi. Bãi biển tọa lạc gần cuối Đại lộ Kalanianaʻole, tại tọa độ 19°44′5″B 155°0′49″T; đây là nơi Đường Leleiwi dẫn lối đến một khu vực tiếp cận bờ biển chưa được phát triển, vốn được biết đến với tên gọi Công viên Lehia.

    The Richardson Beach, the only one black and green sand in Hilo, Big Island of Hawaii

    Cái tên Richardson bắt nguồn từ những chủ sở hữu đầu tiên của nơi này là Elsa và George Richardson; ngôi nhà của họ hiện vẫn còn đứng vững tại đó. George Richardson từng là Trưởng thám tử của Quận Hawaii; ông là hậu duệ của Kekuiapoiwa, thân mẫu của Vua Kamehameha I và người chồng thứ hai của bà là Kamanawa. Ông đã nhận được mảnh đất này như một món quà tri ân từ gia đình Malo. Vào năm 1920, khi cả gia đình Malo đều mắc phải căn bệnh thương hàn, Elen là người có triệu chứng nhẹ nhất trong số họ đã đi bộ đến nhà của George Richardson tại Vịnh Reeds để cầu cứu. Richardson là một người mang một phần dòng máu Hawaii và vốn quê ở Kohala thường xuyên chèo thuyền đi đánh cá dọc theo bờ biển Keaukaha và đã trở thành một người bạn thân thiết của David Malo. Khi Elena xuất hiện trước cửa nhà ông với tin dữ, ông lập tức đưa cô lên thuyền của mình và quay trở lại nhà của gia đình Malo. Tại đó, ông tập hợp những thành viên còn lại trong gia đình và đưa họ đến Hilo để nhập viện. Mặc dù đã nỗ lực hết mình, hai người con trong gia đình vẫn không qua khỏi. Sau khi gia đình trở về nhà để tĩnh dưỡng, Richardson vẫn tiếp tục ghé thăm và chăm lo cho họ bằng cách mang đến thuốc men cùng các nhu yếu phẩm khác.

    George Richardson in 1951 và ngôi nhà của ông trên Richardson Beach

    Ông Malo cảm thấy vô cùng biết ơn Richardson, tin rằng nếu không có sự giúp đỡ của Richardson, có lẽ ông Malo đã mất đi cả gia đình mình. Khi đã hoàn toàn bình phục, ông Malo ngỏ ý mời Richardson xây dựng một ngôi nhà ngay trên phần đất của gia đình Malo nếu ông muốn, và hãy coi mảnh đất đó như chính tài sản của mình. Richardson đã chấp nhận lời đề nghị này, và vào đầu những năm 1920, ông đã cho xây dựng một ngôi nhà lớn trên khu đất đó. Ông Malo đã giúp thiết kế ngôi nhà, và khuyên nên bố trí những cánh cửa lớn ở cả mặt trước lẫn mặt sau của ngôi nhà để tạo thành một lối thông, giúp dòng nước có thể chảy xuyên qua khi xảy ra các đợt sóng lớn vào mùa đông hoặc sóng thần.

    Ngôi nhà của gia đình Richardson trước khi trở thành Trung tâm Đại dương Richardson. Những cửa sổ lớn được thiết kế để cho phép nước chảy qua nhà.

    Thiết kế này thực sự đã cứu ngôi nhà thoát khỏi sự tàn phá trong nhiều lần; thay vì bị dòng nước cuốn trôi đi, ngôi nhà lại để cho nước biển chảy xuyên qua lòng nhà. Ngày nay, bãi biển Richardson là một công viên công cộng, còn ngôi nhà tại đây hiện có người sử dụng và được vận hành như là Trung tâm Đại dương Richardson (Richardson Ocean Center). Richardson Beach là bãi biển duy nhất trong khu vực Hilo sở hữu cả cát đen lẫn cát xanh. Hải cẩu và rùa biển cũng thường xuyên lui tới khu vực này.

    2. Liliuokalani Park and Garden

    Công viên Liliʻuokalani là một công viên rộng 24.14 mẫu Anh (97.700 m²) bao gồm các khu vườn kiểu Nhật, tọa lạc trên đường Banyan Drive tại Hilo, trên đảo Hawaiʻi. Khu đất xây dựng công viên được Nữ hoàng Liliʻuokalani hiến tặng, nằm ở phía đông nam trung tâm thành phố Hilo, trên Bán đảo Waiakea thuộc Vịnh Hilo. Phần lớn diện tích công viên hiện nay bao gồm các khu vườn kiểu Nhật mang phong cách thời Edo được xây dựng trong giai đoạn 1917–1919 và được cho là quần thể vườn kiểu Nhật lớn nhất nằm ngoài lãnh thổ Nhật Bản.

    Khu vườn này bao gồm Hồ Waihonu, cùng với các cây cầu, ao hồ, tháp, tượng đài, cổng Torii và một trà thất kiểu Nhật. Các công viên và điểm tham quan gần Vịnh Hilo và trung tâm thành phố Hilo,

    Công viên trông rất nhiều loại cây như cây cọ, cây đa cổ thụ, cây dừa kiểng, v.v…

    3. Hilo Waterfall on Waianuenue Ave, J’ula-upper I’Ihonua

    4. Kilauea vocano

    Kīlauea là một ngọn núi lửa đang hoạt động nằm trên quần đảo Hawaii. Nó tọa lạc dọc theo bờ biển phía đông nam của Đảo Hawaii. Ngọn núi lửa này có niên đại từ 210,000 đến 280,000 năm và đã vươn cao lên trên mực nước biển khoảng 100,000 năm trước. Kể từ khi con người bắt đầu định cư trên quần đảo này, Kīlauea luôn là ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất trong số năm ngọn núi lửa cùng tạo nên hòn đảo, đồng thời cũng nằm trong số những ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất trên Trái Đất.

    Đợt phun trào gần đây nhất bắt đầu vào tháng 12 năm 2024, với những đợt phun trào dung nham và dòng chảy diễn ra ngắt quãng, kéo dài sang tận năm 2026. Kīlauea là núi lửa trẻ thứ hai và hiện là trung tâm phun trào của chuỗi núi ngầm Hawaii–Emperor. Do thiếu sự nổi bật về mặt địa hình và các hoạt động của nó trong lịch sử thường trùng khớp với hoạt động của Mauna Loa, Kīlauea. Kīlauea sở hữu một hõm chảo lớn, mới được hình thành tương đối gần đây tại đỉnh núi, cùng với hai vết nứt gãy đang hoạt động. Một vết kéo dài 125 km (78 dặm) về phía đông và vết kia kéo dài 35 km (22 dặm) về phía tây. Một vết nứt gãy đang hoạt động với độ sâu chưa xác định di chuyển theo phương thẳng đứng trung bình từ 2 đến 20 mm (0,1 đến 0,8 inch) mỗi năm.

    Bắt đầu từ tháng 5 năm 2018, hoạt động phun trào đã dịch chuyển xa hơn xuống phía dưới vết nứt gãy, rời khỏi khu vực đỉnh núi để chuyển sang vùng hạ Puna; trong giai đoạn này, dung nham đã phun trào từ khoảng hai tá miệng phun, tạo nên những cột dung nham cao vút và tuôn chảy thành những dòng sông dung nham đổ thẳng xuống đại dương tại ba địa điểm khác nhau. Vụ phun trào đã phá hủy hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất tại Hawaii, bao phủ những phần đáng kể của khu dân cư Leilani Estates và Lanipuna Gardens, đồng thời xóa sổ các cộng đồng Kapoho, Vacationland Hawaii và hầu hết khu Kapoho Beach Lots. Chính quyền Quận Hawaii báo cáo rằng đã có 716 ngôi nhà bị phá hủy. Song song với các hoạt động diễn ra ở vùng hạ lưu thuộc khu vực Puna phía dưới, hồ dung nham nằm trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu đã cạn kiệt, và một loạt các sự kiện sụp đổ kèm theo tiếng nổ dữ dội đã xảy ra tại đỉnh núi lửa; trong đó, ít nhất một vụ nổ đã phun cột tro bụi cao tới 30.000 feet (9.100 m) lên bầu trời. Hoạt động này đã dẫn đến việc phải đóng cửa khu vực Kīlauea thuộc Vườn Quốc gia Núi lửa Hawaii trong suốt nhiều tháng liền. Vụ phun trào kết thúc vào tháng 9 năm 2018. Kể từ năm 2020, một số vụ phun trào đã diễn ra bên trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu—vốn đã mở rộng đáng kể sau các sự kiện sụp đổ năm 2018 cũng như dọc theo các đới nứt gãy ở phía tây nam và phía đông của ngọn núi lửa này.

    Về mặt địa hình, Kīlauea chỉ xuất hiện như một khối nhô lên ở sườn phía đông nam của Mauna Loa; chính vì thế, trong nhiều năm liền, Kīlauea từng được cho là chỉ là một vệ tinh đơn thuần của người láng giềng khổng lồ này, chứ không phải là một ngọn núi lửa độc lập. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong vài thập kỷ qua đã chứng minh rõ ràng rằng Kīlauea sở hữu hệ thống dẫn dung nham (magma) riêng biệt, vươn lên tới bề mặt từ độ sâu hơn 60 km bên trong lòng Trái Đất. Trên thực tế, đỉnh của Kīlauea nằm trên một đường cong nối liền các ngọn núi lửa, bao gồm Mauna Kea và Kohala, nhưng lại không bao gồm Mauna Loa. Nói cách khác, mối quan hệ giữa Kīlauea và Mauna Kea cũng tương tự như mối quan hệ giữa Kama‘ehuakanaloa (trước đây gọi là Lō‘ihi) và Mauna Loa vậy. Kaluapele là hõm chảo đỉnh của núi lửa Kīlauea.

    Nằm bên trong Kaluapele, Halemaʻumaʻu (thường là một miệng hố chứa các lỗ thông hơi hoạt động liên tục) được coi là nơi cư ngụ của Pelehonuamea (Pele của đất đỏ), một thế lực sáng tạo nguyên thủy trong tín ngưỡng Hawaii, thường hiện thân dưới dạng dòng dung nham nóng chảy màu đỏ. Người châu Âu đầu tiên đặt chân lên đỉnh núi là nhà truyền giáo William Ellis vào năm 1823; kể từ đó, các tài liệu ghi chép bằng văn bản về những đợt phun trào mới bắt đầu xuất hiện. Kaluapele từng là tâm điểm của các hoạt động núi lửa diễn ra gần như liên tục trong suốt thế kỷ 19 và những năm đầu của thế kỷ 20. Kīlauea hiện được xếp vào hàng những ngọn núi lửa hoạt động mạnh mẽ nhất trên thế giới. Kể từ năm 1952 đến nay, Kīlauea đã trải qua hàng chục đợt phun trào. Từ năm 1983 đến năm 2018, hoạt động phun trào diễn ra gần như không ngừng nghỉ dọc theo Vùng đứt gãy phía Đông của ngọn núi lửa này, tập trung chủ yếu tại các lỗ thông hơi Puʻuʻōʻō và Kupaianaha.

    Tại khu vực đỉnh núi, một lỗ thông hơi nằm bên trong Halemaʻumaʻu đã duy trì một hồ dung nham sôi sục cùng cột khói khí khổng lồ bốc lên dữ dội trong suốt giai đoạn từ năm 2008 đến 2018. Vào năm 2018, chuỗi hoạt động liên tục kéo dài suốt 35 năm tại Vùng đứt gãy phía Đông này cuối cùng đã khép lại. Một đợt xâm nhập magma vào vùng Khe nứt phía Đông hạ lưu đã dẫn đến sự sụp đổ và chấm dứt hoạt động của hồ dung nham tại Puʻuʻōʻō, đồng thời làm cạn kiệt hồ dung nham trên đỉnh núi tại Halemaʻumaʻu.

    Một trong những kẽ nứt sau khi phun lửa

    Một số du khách cho rằng đây là một kẽ nứt linh thiêng nên đã biến nó thành một “wishing vocano crack”, hố nứt này có hơi nóng phía đáy rất mạnh và dễ bắt lửa.

    Những sự kiện này đã gây ra một đợt phun trào dữ dội từ vùng Khe nứt phía Đông hạ lưu, kéo theo sự sụp đổ bên trong Kaluapele, hiện tượng đã làm mở rộng và gia tăng độ sâu của Halemaʻumaʻu. Kể từ tháng 12 năm 2020, một loạt các đợt phun trào trên đỉnh núi diễn ra bên trong Halemaʻumaʻu đã dần lấp đầy khu vực bị sụp đổ này. Trong năm 2024, hoạt động núi lửa đã dịch chuyển ra khỏi lòng chảo caldera, với một đợt xâm nhập và phun trào tại vùng Khe nứt phía Tây Nam, cùng nhiều đợt xâm nhập tại vùng Khe nứt phía Đông thượng lưu, cũng như một đợt phun trào tại vùng Khe nứt phía Đông trung lưu. Kể từ ngày 23 tháng 12 năm 2024, một đợt phun trào đã diễn ra ngắt quãng bên trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu trên đỉnh núi.

    Sự dâng trào từ trong lòng núi lửa đã tạo ra các hạt khí dung nhan thạch có tính axit và kích thước đủ loại từ lớn đến nhỏ. Thảo mộc và cây cối không không thể tồn tại và sinh sống trên vùng này được.

    Trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2018, Halemaʻumaʻu, một hố trũng nằm bên trong hõm chảo đỉnh núi của Kīlauea đã chứa đựng một hồ dung nham đang hoạt động. Kīlauea đã phun trào gần như liên tục từ các miệng phun nằm trên vết nứt gãy phía đông của nó trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1983 đến tháng 4 năm 2018; đợt phun trào này đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, bao gồm việc phá hủy hoàn toàn các thị trấn Kalapana và Kaimū cùng bãi biển cát đen trứ danh của cộng đồng dân cư nơi đây vào năm 1990.

    Loại dung thạch này có trọng lượng nhẹ như giấy, màu đen sắc xám xen lẫn ánh xanh (green) và vàng (golden) nên trông rất đẹp. Những viên đá nhan thạch này là vật quốc cấm và được bảo vệ. Tuy nhiên, không ai dám lấy cắp chúng vì theo lời truyền miệng từ người dân sống trong vùng này rằng: “Nếu một ai lấy cắp những viên đá nhan thạch này thì sẽ gặp những điều không tốt (xui xẻo) xảy ra cho chính mình hay gia đình, v.v…“

    Vụ phun trào tháng 1 năm 1960 tại Núi lửa Kapoho

    Vào ngày 12 tháng 1 năm 1960, cư dân của Kapoho đã trải qua hơn 1,000 trận động đất nhỏ làm rung chuyển khu vực. Các vết nứt sâu xuất hiện trên đường phố gây nhiều. Vụ phun trào bắt đầu vào đêm ngày 13, ngọn núi lửa Kapoho đã phun trào dung nham ra giữa một cánh đồng mía ngay phía trên Kapoho. Mặc dù dòng dung nham chính chảy ra biển, một nhánh nhỏ di chuyển chậm chạp tiến về phía thị trấn Kapoho. Bất chấp những nỗ lực của người Pháp nhằm chuyển hướng dòng dung nham bằng các rào chắn đất hoặc làm cứng nó bằng cách phun nước, nhưng vào ngày 28 tháng 1 dòng dung nham đã tràn vào và chôn vùi thị trấn. Gần 100 ngôi nhà và cơ sở kinh doanh cũng như một khu nghỉ dưỡng suối nước nóng đã bị phá hủy.

    Ngọn hải đăng Cape Kumukahi ở phía đông thị trấn vẫn còn nguyên vẹn và tiếp tục hoạt động, nhưng nhà ở của người gác hải đăng đã bị phá hủy. Từ năm 1960 đến năm 2018, có rất nhiều rặng san hô xuất hiện tại các hồ thủy triều liên kết với nhau ở Kapoho. Sau đó, không có hoạt động dung nham nào ở Kapoho trong gần 60 năm. Các hồ thủy triều tự nhiên, bãi biển cát đen và suối nước nóng ấm áp đã biến Kapoho thành một địa điểm hấp dẫn để sinh sống. Do hai yếu tố này, Kapoho đã trở thành khu vực đắt đỏ nhất để sinh sống ở Puna, với nhiều ngôi nhà có giá trên 1,000,000 đô la.

    Vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018 vào ngày 4 tháng 6 năm 2018, dòng dung nham từ một vết nứt cách bờ biển 16 km (10 dặm) về phía đất liền (từ trên cùng bên phải) cắt ngang qua các ngôi nhà của Vacationland và Kapoho Beach Lots, và bắt đầu lấp đầy các vũng thủy triều và Vịnh Kapoho. Vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018 đã làm gián đoạn nguồn điện ở Kapoho vào cuối tháng 5 và đóng cửa con đường chính dẫn đến phần còn lại của hòn đảo. Vào ngày 30 tháng 5, cư dân được khuyến cáo di tản. Vào ngày 1 tháng 6, dòng dung nham tràn vào Kapoho trên dòng dung nham năm 1960 và sau đó chuyển hướng về phía nam. Vào ngày 2 tháng 6 năm 2018, Hồ Ka Wai o Pele đã bị phá hủy khi dòng dung nham làm bốc hơi. Dòng dung nham tràn vào đại dương tại Vịnh Kapoho vào ngày 4 tháng 6 trên một mặt rộng nửa dặm (800 m). Một số lượng nhà không xác định đã bị phá hủy bởi dung nham vào ngày 4 tháng 6, nhưng phần lớn vẫn còn đứng vững. Đến ngày 5 tháng 6, dòng dung nham đã tạo ra một đồng bằng dung nham kéo dài gần 3,700 feet (1,1 km) vào vịnh.

    Các quan chức Quận Hawaiʻi cho biết hàng trăm ngôi nhà trong các khu dân cư của Vacationland Hawaii và Kapoho Beach Lots đã bị phá hủy bởi dòng dung nham đang tiến nhanh. Ngôi nhà của Thị trưởng Đảo Hawaii Harry Kim, mà ông đã mua vào năm 1971, nằm trong số hàng trăm ngôi nhà bị phá hủy. Trong vài ngày tiếp theo, toàn bộ vịnh bị lấp đầy bởi dung nham, và vào ngày 6 tháng 6, Cơ quan Phòng vệ Dân sự Quận Hawaii báo cáo rằng một vài ngôi nhà còn lại ở Vacationland đã bị xóa sổ. Một khu dân cư liền kề, khu Kapoho Beach Lots cũng bị ngập dung nham và phần lớn bị bao phủ, cùng với các hồ thủy triều Kapoho cũng như Vịnh Kapoho và các ao Champagne gần đó.

    Kapoho trở thành một khu vực không có người ở, chưa được hợp nhất bởi sự phá hủy của vụ phun trào của Kīlauea vào năm 1960, nhưng sau đó, nó đã được xây dựng lại thành một cộng đồng gồm các ngôi nhà tư nhân và nhà cho thuê nghỉ dưỡng. Thị trấn lại bị phá hủy bởi dung nham trong vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018, lần này vịnh cũng bị chôn vùi phần lớn bởi dung nham.

    Đến cuối tháng 6, khoảng 520 mẫu Anh (2,1 km2) đất mới đã được tạo ra dọc theo hàng ngàn đường bờ biển mới.

    5. Nahuku Lavatube (Thurston Lava Tube)

    Thám hiểm Thurston Lava tube mất khoảng 12 ml or .8 km vừa đi vừa về qua những khu rừng nhiệt đới (Rainforest) bao phủ bởi nhiều loại cây lớn và thảo mộc khác nhau như Hapa’u pulu, Ohi’a lehua, ‘Oha, v.v…

    Nahuku Lavatube (Thurston Lava Túbe), là đường ống ở bên trong của những núi lửa còn hoạt động (inside an active volcano), tuy nhiên, đường mòn trong ống dễ đi, nếu đi bộ mất khoảng 20-30 phút, ở cao độ 50ft hoặc 15m. 

    Dòng điện trung tâm nhanh giữ cho độ nóng trong khi di chuyển trong ống.

    Các ống dung nham này được tạo thành trên dòng dung nham, gần nguồn những dòng sông dung nham lớn chảy theo các kênh tự nhiên do chính chúng tạo ra. Khi bề mặt nguội đi, đỉnh của lớp vỏ chảy xuống và phủ lên hai bên, giống như khi băng sơn đóng băng trên 2 bên của dòng sông. Lớp vỏ cuối cùng kết hợp và cách nhiệt dòng chảy bên trong. Sau khi dòng dung nhan phun trào dừng lại, dung nham thường chảy ra từ ống và để lại ống dẫn trống bên dưới bề mặt. Khi xuyên qua lớp vỏ ống đang hoạt động, chúng ta sẽ nhận thấy: dòng dung nham phát sáng di chuyển dọc theo ở nhiệt độ vượt quá 2000° F (1.090 ° C). Nhiệt bức xạ của nó tan và chảy qua các bức tường bên trong để tạo thành nahuku (đá nhũ đá) từ đá nóng chảy.

    Những làn khói trắng do sự quá nhiệt của dòng dung nhan chảy thổi qua đường hầm, tạo nên âm thanh như những tiếng rít nhẹ liên tục, không ngừng của dòng chảy. Sau mỗi vụ dung nham phun trào, phải mất khoảng một năm để ống hạ nhiệt.

    Tận cùng của con đường mòn Nahuku Lavatube

    ĐƯỜNG MÒN KILAUEA IKI, 1.2 m. ĐI BỘ ĐƯỜNG DÀI vừa đi vừa về là 4m, 

    VOLCANO HOUSE

    Khi tòa nhà volcano house lần đầu được khai trương vào năm 1846. Volcano House đã tổ chức một buổi đi bộ đường dài gồm các nhân vật nổi tiếng trên thế giới như Mark Twain, Robert Louis Stevenson, Amelia Earhart, Louis Pasteur (21 tháng 1 năm 1853) và Franklin Delano Roosevelt (Tổng thống Hoa Kỳ, ngày 25 tháng 7 năm 1935). Tuy nhiên, do sự phát lửa của ngọn núi lửa Pelehonuamea, chương trình đành phải hủy bỏ. Nhưng sau đó, Nữ hoàng Liliuokalani, (người trị vì vào thời điểm Vương quốc Hawaii bị lật đổ vào năm 1893) đã có mặt tại Vocano house ngày 14 tháng 5 năm 1891 và Kaläkaua, (vị vua cuối cùng của Hawaii) cũng đã có mặt tại đây tháng 8 ngày 30th, 1874 đã say đắm với vẻ đẹp của Kilauea. 

    Tòa nhà 1877 hiện đóng vai trò là Núi lửa, xây theo phong cách phương Tây bởi William. Louis Pasteur, Nhà khoa học, ngày 21 tháng 6 năm 1883 và Amelia Earhart, Phi công, ngày 7 tháng 1 năm 1935 là 2 vị khách danh dự cuối cùng được mời đến thăm Vocano House. Công chúa Lili’uokalani đã chứng kiến sự khởi đầu của vụ phun trào Mauna Loa năm 1880 từ Núi lửa

    Năm I921, Công ty tàu hơi nước Interisland mua lại Vocano House và mở rộng với một cánh hai tầng, tăng số phòng từ 25 lên 104. Đến năm 1932 do cuộc đại suy thoái, George Lycurgus đã mua Vocano House với giá 300 đô la và giao cho Lycurgus làm quản lý cho đến năm 1959. Khách mời đặc biệt gồm Công chúa Victoria Kaulani, Tổng thống Franklin D. Roosevelt, Amelia Earhart, Phó Tổng thống Charles W. Lần này, Vocano house được xây bằng một loại gỗ bản địa, các mối nối không có nốt đinh và rất là công phu, ván lợp gỗ tái chế từ California. 

    Ngày 7 tháng 2 năm 1940: Volcano House bị thiêu rụi do hỏa hoạn nhà bếp. George Lycurgus ủy quyền cho kiến trúc sư Charles W. Dickey xây lại một khách sạn mới, khai trương ngày 8 tháng 11, 194I ở rìa miệng núi lửa. Khách mời là Dwight D. Eisenhower, Harry S. Truman, Tiến sĩ Charles W. Mayo, John F. ennedy, Richard Nixon. 

    CELEBRITY SOLSTICE ENTERTAINMENTS

    Celebrity Solstice có những màn giải trí rất độc đáo vào mỗi tối khiến cho những ngày dài lênh đênh trên biển trở thành lý thú và không bị nhàm chán. Mở đầu với một dàn chào của các nhân viên làm việc trên du thuyền bao gồm vị thuyền trưởng, Captain Theodoros Zakkas.

    Forever Whitney Featuring by Nina Skyy: Theo sau là màn trình của ca sĩ Nina Skyy. Trong khi kể câu chuyện tuyệt vời về danh ca Whitney Houston, Nina Skyy với giọng ca diêu luyện, cô đã kết hợp tiếng hát của cô một cách khéo léo vào những bài ca khúc mà Whitney Houston vẫn thường hát khi còn sinh thời như The Bodyguard, I will always love you, v.v… Đây là một chương trình tràn đầy năng lượng, cảm xúc, truyền cảm hứng và sâu lắng, khiến ở mọi lứa tuổi phải trầm trồ và đây cũng không phải là một chương trình tưởng niệm thông thường về Whitney Houston.

    Hawaii Folkloric Show: Đây là một hành trình từng đoạt giải thưởng âm nhạc, bài hát và điệu nhảy của vũ đoàn Tahiti. Đoàn nghệ sĩ địa phương bày với tài năng và trang phục đầy màu sắc, chân thực khi họ chia sẻ di sản phong phú của Tahiti.

    Gồm các thanh thiếu nữ tuổi từ 30 đến các em nhỏ ở lứa tuổi 5 hoặc 6 tuổi. Nhưng các em bé này vũ rất diêu luyện (kể cả múa bụng & mông) không kém gì các anh chị lớn trong đoàn, điều này chứng tỏ cho một sự luyện tập rất công phu và có bài bản.

    Celebrity Showtime: Rockumentary: Ban nhạc và các vũ công của Celebrity Solstice đã làm sống lại những màn trình diễn huyền thoại đã định hình nên các thập kỷ và cùng hòa mình vào những bản top-hits yêu thích. Buổi hòa nhạc sôi động này mang đến năng lượng không ngừng nghỉ và sẽ gây sự thích thú cho những người hâm mộ âm nhạc, từ người trẻ đến những người có tâm hồn trẻ trung.

    Wayne Cotter comedy’s show: Là một nghệ sĩ truyền hình kỳ cựu và là gương mặt quen thuộc lâu năm của David Letterman và Jay Leno. Wayne thậm chí còn bắt đầu sự nghiệp với Johnny Carson. Với vẻ tươi mới, thông minh, hài hước và dí dỏm, anh ta đã làm sôi động bất kỳ sự kiện nào.

    Candlelight Concert: Tri ân những nghệ sĩ huyền thoại của dòng nhạc rock kinh điển tại buổi hòa nhạc ấm cúng dưới ánh nến lung linh. Những bản nhạc bất hủ được các nhạc công của du thuyền celebrity Solstice tái hiện lại sẽ mang đến trải nghiệm âm nhạc như thể đang hát lại những bài hát yêu thích lần đầu tiên.

    Dueling Pianos: Đó là những bài hát country music về tình yêu, những bản nhạc chia tay đã tạo nên một đêm tràn ngập cảm xúc, kịch tính và những khoảnh khắc hát vang từ tận đáy lòng. Hãy cùng bắt đầu một hành trình âm nhạc mà thính giả cùng tham gia tạo nên trong Giờ Yêu Cầu Biểu Diễn Dueling Piano cùng với nhạc công.

    Celebrity Showtime: Broken Strings: Buổi biểu diễn âm nhạc sống động đầy sôi nổi, khẳng định sức mạnh của tình bạn, tiếng cười và âm nhạc. Hãy cùng chúc mừng sinh nhật của mọi người với dàn nhạc và tận hưởng dàn diễn viên xuất sắc trong hành trình âm nhạc đầy cảm xúc và sự kết nối của tình yêu.

    ABBA Sing-Along Party: Mời tất cả các nữ hoàng và ông vua khiêu vũ cùng tham gia một đêm nhạc ABBA đình đám. Hãy cùng nhảy và hát theo những bản nhạc kinh điển trên màn ảnh rộng trong bữa tiệc âm nhạc thập niên 70 sôi động này để tôn vinh nhóm nhạc pop huyền thoại ABBA.

    Mind reading show by illusionist Jeremy Tan: Ảo thuật gia Jeremy Tan, người có khả năng đọc những suy nghĩ của người khác. Anh là một ảo thuật gia tài ba nhất Singapore, anh sẽ biểu diễn những màn ma thuật và đọc suy nghĩ đáng kinh ngạc. Jeremy thể hiện những kỹ thuật ảo thuật đỉnh cao cho thấy việc đối mặt với một kẻ gian lận bài thực thụ sẽ như thế nào.

    Celebrity Solstice showtime: A night of Broadway: Một đêm nhạc kịch Broadway sẽ thắp sáng sân khấu với những bản hit kinh điển của Broadway và West End.

    Hành trình từ những tác phẩm kinh điển thời hoàng kim đến những thành công âm nhạc đương đại sẽ được các ca sĩ và dàn nhạc của Nhà hát mang đến, một buổi lễ thân mật tôn vinh sự kỳ diệu của nhạc kịch.

    Vocalist Drew Pournelle: Là một ca sĩ “world-class vocalist” đến từ thành phố New York, anh từng mở màn cho ngôi sao nhạc đồng quê Sara Evens và chia sẻ sân khấu với Sandi Patti và The Osmonds. Drew Pournelle đã chinh phục khán giả bằng giọng hát mạnh mẽ với phong thái trình diễn đầy cuốn hút. Drew Pournelle mang đến một màn tri ân đầy thăng hoa dành cho những âm thanh huyền thoại của thập niên 70 và 80. Với giọng hát đầy nội lực cùng phong thái trình diễn đầy lôi cuốn, anh đã tái hiện sống động những bản hit bất hủ từ Toto, Chicago, Rick Astley, Journey và Poison. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những ca khúc sôi động tràn đầy năng lượng và những bản ballad trữ tình bay bổng, khó quên.

    Tribute to James Taylor: Hãy cùng nghệ sĩ guitar solo Ge Luz tận hưởng một đêm nhạc đầy cảm xúc và những bài hát lay động lòng người khi anh tri ân những ca khúc bất hủ của James Taylor. Cùng hát theo và trải nghiệm toàn bộ kho tàng âm nhạc của ca sĩ kiêm nhạc sĩ huyền thoại James Taylor.

    Celebrity Solstice Showtime: Smoke & Ivories: Đến với Smoke & Ivories, âm nhạc năm 1956 và hãy sẵn sàng bước vào thế giới của những điệu nhảy tap-dance,

    Những màn nhào lộn trên không ngoạn mục và những giọng hát “world class vocals” xoay quanh cây đàn piano đang đánh trực tiếp bởi pianist.

    Một đêm tôn vinh âm thanh huyền thoại của thập niên 50.

    Zumba

    Dạy múa chachacha, tango, swing

    Silent Disco and Disco never die

    May 02, 2026-Officer’s Farewell Soirée: Hãy cùng Captain Theo và các sĩ quan của tàu Celebrity Solstice tham dự buổi tiệc chia tay đặc biệt vào đêm cuối cùng trên du thuyền, tạo sự kết nối với đội ngũ lãnh đạo thân thiện và tận tâm khi họ chia sẻ lòng biết ơn và cùng nhau ghi dấu khoảnh khắc này bằng một bức ảnh chia tay.

    Khánh Lan & Mạnh Bổng, California May 2026

  • DU LỊCH,  Khánh Lan,  Tin tức

    DU LỊCH COSTA MAYA & COZUMEL (MEXICO) VÀ NASSAU (BAHAMAS)

    Khánh Lan & Mạnh Bổng

    Trước khi lên du thuyền Celebrity Constellation, du lịch 10 ngày từ tháng 3 ngày 22, 2026 đến tháng 3 ngày 29, 2026, khởi hành từ Tampa, Florida, chúng tôi đã vào internet để tìm xem Tampa có gì vui để ghé thăm và đã tìm thấy 3 địa điểm rất thú vị, đó là: Tampa Riverwalk, vườn xoài Tampa và chợ đêm Tampa. Và để có thể thăm cả 3 nơi này, chúng tôi quyết định đến Tampa 4 ngày trước khi lên du thuyền.

    TAMPA, FLORIDA

    Năm 1824, ngay sau khi Hoa Kỳ tiếp quản vùng Florida từ tay Tây Ban Nha. Tiền đồn quân sự Pháo đài Brooke tại cửa sông Hillsborough đã thu hút một lượng nhỏ cư dân, dân sự đến định cư tại khu vực, và thị trấn Tampa chính thức được thành lập vào năm 1855. Quá trình phát triển diễn ra khá chậm chạp, do hệ thống giao thông kém, những xung đột với bộ lạc Seminole, cùng các đợt bùng phát dịch sốt vàng da liên tiếp đã gây nhiều trở ngại cho công cuộc xây dựng.

    Tiền đồn quân sự Pháo đài Brooke tại cửa sông Hillsborough

    Cuộc Nội chiến Hoa Kỳ và giai đoạn tái thiết sau đó đã khiến chính quyền thành phố phải tạm ngừng hoạt động trong suốt hơn một thập kỷ. Vào những năm 1880, việc xây dựng các tuyến đường sắt đầu tiên do Henry B. Plant khởi xướng đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp xì gà và phốt phát. Sự ra đời của Ybor City, một khu phố tập trung chủ yếu vào ngành sản xuất xì gà do Vicente Martinez-Ybor thành lập năm 1885 đã kéo theo một làn sóng nhập cư ồ ạt với hàng ngàn người Cuba, Tây Ban Nha, Ý và nhiều dân tộc khác đổ về đây sinh sống. Dân số của Tampa đã tăng vọt từ chưa đầy 800 cư dân vào năm 1880 lên hơn 15.000 người vào năm 1900, đưa thành phố này trở thành một trong những đô thị lớn nhất và thịnh vượng nhất tại Florida.

    Tampa Riverwalk, Florida

    Đà tăng trưởng này tiếp tục kéo dài sang đầu thế kỷ 20; trong giai đoạn này, Tampa đã vươn mình trở thành một trung tâm tài chính, thương mại và giao dịch hiện đại. Đây cũng là thời kỳ chứng kiến ​​sự ra đời của Lễ hội Cướp biển Gasparilla đầu tiên; sự kiện phi công tiên phong Tony Jannus thực hiện chuyến bay khai trương cho hãng hàng không St. Petersburg-Tampa Airboat Line. Đây là hãng hàng không thương mại chở khách đầu tiên trên thế giới; và sự trỗi dậy của tội phạm có tổ chức, trở thành một yếu tố có ảnh hưởng lớn đối với đời sống xã hội tại địa phương.

    Quá trình phát triển của Tampa lại tiếp tục khởi sắc sau một giai đoạn khựng lại do ảnh hưởng của cuộc Đại khủng hoảng kinh tế và Chiến tranh Thế giới thứ hai. Dân số thành phố đã vượt mốc 100.000 người vào những năm 1930, đạt hơn 250.000 người vào những năm 1950, và cán mốc 300.000 người vào những năm 1990. Diện tích lãnh thổ của Tampa cũng không ngừng được mở rộng theo thời gian. Ban đầu chỉ bao gồm một phần khu vực trung tâm thành phố. Trong suốt thế kỷ 20, thành phố đã sáp nhập các khu vực chưa được tổ chức hành chính thuộc Quận Hillsborough và hợp nhất với một số cộng đồng lân cận đáng chú ý nhất là Ybor City (năm 1887), Fort Brooke (năm 1907), West Tampa (năm 1925), Sulphur Springs (năm 1953), Palma Ceia (năm 1953), Port Tampa (năm 1961) và New Tampa (năm 1988).

    Ăn tối tại Sunda New Asian Restaurant

    Với nhiều món ngon và rượu ngọt

    Thịt heo quay đặc biệt do cô chiêu đãi viên của nhà hàng giới thiệu

    Bánh bao nhân thịt gà

    Taco chay, nhân đậu hũ chiên dòn

    Nào cùng nâng ly………Không say không về...

    Dạo phố Tampa

    • TAMPA RIVERWALK

    Điểm đầu tiên chúng tôi đến thăm là Tampa Riverwalk

    Tampa Riverwalk tọa lạc tại địa chỉ 200 N. Ashley Dr., Tampa, FL 33602, cách Quality Inn nơi chúng tôi mướn để nghỉ chân trước khi lên du thuyền khoảng 10 phút lái xe. Tampa Riverwalk là con đường dành cho người đi bộ dài khoảng hơn 4km, dọc theo sông Hillsborough ở trung tâm thành phố Tampa, Florida. Tampa Riverwalk được thành lập năm 1989, trải qua hơn 37 năm phát triển với sự đóng góp của nhiều đời thị trưởng.

    Dự án được khởi xướng nhằm kết nối khu vực Channel District với trung tâm thành phố. Tampa Riverwalk được xây dựng và mở rộng qua nhiều thập kỷ, biến một khu vực công nghiệp cũ thành không gian công cộng sầm uất.

    Cảng bán vé cho du thuyền trên sông, $35 cho mỗi người, cho cả ngày.

    Ngày nay, Tampa Riverwalk đã trở thành tâm điểm văn hóa kết nối các công viên, bảo tàng, nhà hàng và các khu vực nổi tiếng như University of South Florida Park, Curtis Hixon Park và Armature Works. Hiện nay Tampa Riverwalk là điểm đến hàng đầu, đạt danh hiệu #2 Riverwalk tốt nhất quốc gia năm 2025 theo USA Today. 

    Tampa Riverwalk không chỉ là một lối đi, mà là “trái tim” kết nối các hoạt động văn hóa, giải trí và ẩm thực ven sông của thành phố. 

    Từ trái sang phải: Quốc Dân, Kim Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Ái Liên, Lâm Dung, Khánh Lan

    Các địa điểm văn hóa và lịch sử nổi bật kết nối các địa điểm như Công viên Curtis Hixon, Bảo tàng Nghệ thuật Tampa, Bảo tàng Trẻ em Glazer, và Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Straz.

    Historical Monument Trail: Tuyến đường đi bộ có các bức tượng đồng và đá cẩm thạch vinh danh lịch sử Tampa, bao gồm 30 nhân vật lịch sử được đặt hình từ 2012 đến 2017, nằm giữa Tampa Bay History Center và Armature Works.

    The Gold Star Families Memorial Monument, a tribute to families and relatives.

    Đài tưởng niệm Gia đình Sao Vàng (Gold Star Families Memorial), Tượng đài trang trọng tưởng nhớ dành cho những người đã mất người thân trong quân ngũ với ý nghĩa này làm tăng thêm chiều sâu cho đặc điểm của công viên như một nơi tưởng niệm và tôn kính.

    Tôn vinh sự phục vụ quân đội (Honoring Military Service) là một không gian tưởng niệm thể hiện sống động thông qua các bảng thông tin và tượng đài được thiết kế chu đáo, kể về câu chuyện lịch sử và tầm quan trọng hiện tại của Căn cứ Không quân MacDill. Những yếu tố này mang đến khoảnh khắc kết nối với di sản quân sự của Tampa.

    Ngắm cảnh xong, đồng hồ chỉ 12:30 trưa, kiến đã bắt đầu kêu gào trong bụng nên chúng tôi rủ nhau đến một nhà hàng Mexican food để dùng cơm trưa.

    Thực đơn thật hấp dẫn với taco salad,

    Taco đậu hũ ngon và rất lạ, fish taco

    Tampa Riverwalk về đêm tuyệt đẹp nhưng rất tiếc chúng tôi đã không ở lại để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thành phố do bàn tay và khối óc nghệ thuật tuyệt mỹ mà con người đã tạo ra nó.

    Hotel Alba on the otherside of Tampa Riverwalk

    • VƯỜN XOÀI TAMPA

    Tọa lạc tại địa ch chỉ 9023 Lake Sunset Dr. , Tampa, Fl 33626 do một gia đình người Việt Nam làm chủ hơn 10 năm nay. Đây là khu vườn trồng cây ăn trái vùng nhiệt đới như: xoài, mận, vú sữa, nhãn, ổi, su bô chê, mang cầu, mít, v.v… và bỏ mối cho tất cả khắp nơi trên nước Mỹ. 

    Theo như anh Tuấn, chủ nhân của vườn xoài Tampa, sau khi hoạt động được 7 năm, năm 2022, anh Tuấn cho ra mắt cộng đồng khắp nơi trên nước Mỹ với một trung tâm bán thức ăn, trái cây tùy theo mùa.

    Thực đơn nổi tiếng với món gà nướng muối ớt, ngoài ra còn có các món khác như: cá nướng da giòn, nem nướng cuốn bánh tráng, các loại bún, xôi gấc , v.v…

    Gà nướng muối ớt ngon tuyệt, $60 một con

    Nem nướng, $35 một phần

    Bây giờ là cuối mùa xuân nên những cây cối trong vườn chỉ mới đâm chổi non. Hai loại trái cây duy nhất hiện tại là nhãn và trái sa bô chê (hồng xiêm).

    Anh tuấn cho biết những loại trái cây khác như: vú sữa, xoài, ổi, cóc thì phải đợi đến tháng 6, tháng 7 hoặc tháng 8 mới có. Trong chuyến du lịch này chúng tôi có gặp rất nhiều gia đình lái xe từ các tiểu bang rất xa đã đến thăm vườn xoài Tampa. Anh Tuấn  cho biết, vườn cây ăn trái bắt đầu mở cửa đón khách thập phương từ đầu tháng 3 cho đến tháng 11.

    Toàn thể khu vườn xoài được trang trí rất trang nhã theo kiến trúc của người Việt Nam. Nào là hồ cá Koi, hòn non bộ, chòi lá, hồ phun nước, võng nằm nghỉ xả hơi, xe xích lô đạp,v.v…

    Khiến cho 6 chúng tôi (Lâm Dung, Ái Liên, Quốc Dân, Kim Hương, Khánh Lan mê man, chìm đắm trong phong cảnh hữu tình.… và dĩ nhiên những chiếc iPhone bị bắt buộc làm việc “ overtime” …

    Hồ cá Koi

    Cây cóc và trái cóc nè…nhìn thấy mê chưa….

    Dưới mái tranh trong vườn

    Ta vui ta đi lang thang

    Hồ phun nước và “Cô Ký Điệu”

    Và ngồi ngắm cảnh

    • CHỢ ĐÊM TAMP

    Chợ Đêm Tampa (Tampa Asian Night Market) là khu chợ đêm ẩm thực Việt Nam và Châu Á nổi tiếng tại 4401 W Cypress St, Tampa, FL 33607.

    Chợ đêm họp ngay tại bãi đậu xe trường Jefferson High School. Chợ mở cửa cuối tuần (thứ 7 & CN, từ 5-10 giờ tối).

    nổi bật với các món ăn vặt, BBQ, bún, ốc, bánh tráng trộn, bún chả, bánh cuốn, cơm cháy, chè, mía đá, trà sữa, v.v…có khoảng 10-15 gian hàng và là địa điểm ưa thích của cộng đồng người Việt địa phương.

    Gian hàng cơm cháy của anh Hoàng, anh vừa nấu ăn giỏi lại hát hay

    Gian hàng bán bánh bao, bánh bèo, bánh nậm, v.v…

    Gian hàng bán các món nướng than như gà xiên, khoai tây chiên, bánh tráng trộn, v.v…

    Gian hàng bán nước mía

    Không khí tại chợ đêm thêm phần nhộn nhịp nhờ có tiết mục karaoke. Đôi song ca Lâm Dung & Ái Liên cũng đã góp tiếng hát của mình với những ca khúc nổi tiếng như Ô Mê Ly. Tiếng vỗ tay vang dội sau mỗi bài hát do 2 chị trình diễn và đã làm dạng danh với biệt hiệu ”Những con chim sơn ca trong vườn hoa NVNT & TTG” mà nhà văn Dương viết Điền đã tặng cho chúng tôi.

    Hai con chim sơn ca của vườn hoa văn nghệ NVNT & TTG, Lâm Dung & Ái Liên

    Chụp hình cùng “Ông Bầu Karaoke”, Anh Toàn, em trai ông “Founder Chợ Đêm Tampa”

    Anh Toàn tâm sự, anh yêu ca hát từ thuở nhỏ, do đó khi lớn lên và khi hội đủ khà năng về tài chánh, anh đã tậu cho mình một chiếc xe Van và máy Karaoke thứ “Xịn“, rồi lái xe đi khắp mọi tiểu bang trong Hoa Kỳ để trình diễn qua chủ đề “Hát cho nhau nghe“. Anh Toàn hát rất hay và hát được nhiều thể loại.

    DU THUYỀN CELEBRITY CONSTELLATION

    Tháng 3 ngày 22, 2026 du thuyền Celibrity Conselation nhổ neo tại Port Tampa Bay, ra khơi đem theo 2,700 hành khách và gần 1.000 nhân viên phục vụ trên tàu.

    Ngắm thành phố gần cảng Tampa Bay trên boong tàu

    Trên boong tàu...gió rất mạnh muốn bay cả nón

    Sánh bước với … “Người Yêu” ….

    AT SEA:

    Là những lúc diện quần áo đẹp để đi chụp hình…

    Là những chương trình ca nhạc với Totally ’80S party. Đặc biệt là ABBA Sing-Along Party: mời du khách tham gia và cùng hát những ca khúc kinh điển trên màn hình lớn, mang đậm phong cách thập niên 70 đầy sôi động nhằm tôn vinh nhóm nhạc pop huyền thoại này. Disco Never Dies: Hãy phủi bụi đôi giày khiêu vũ và diện thật lộng lẫy để sẵn sàng cho một đêm ngập tràn ánh kim sa, những bước nhảy điệu nghệ cùng nhịp điệu disco sôi động không ngừng nghỉ! Hãy cùng tham gia sự kiện “Disco Never Dies” để tận hưởng một đại tiệc khiêu vũ đầy thăng hoa!

    Tập thể dục lành mạnh với stress release class, swiming, dancing tại deck 11.

    Hay thưởng thức chương trình nhạc thính phòng, song tấu guitar, hoặc cụng ly cùng bạn bè tại những quán rượu

    Hay là rủ nhau đi xem comedy show do Comedian Andrew Sleighter. Phong cách thoải mái cùng lối viết sắc sảo của Andrew đã giúp anh nhận được sự yêu mến từ người hâm mộ và sự kính trọng từ các đồng nghiệp. Andrew từng biểu diễn trong chương trình “Last Comic Standing”, thực hiện một chương trình hài kịch đặc biệt cho “Dry Bar” và Andrew cũng xuất hiện trên “The Late Late Show with James Corden”. Riêng phần chúng tôi vồn không mê comedy cho lắm nên rủ nhau đi bộ hoặc trầm mình trong hồ nước nóng.

    Và rủ nhau đi ăn tối tại San Marco Restaurant

    Hay thú vị hơn nữa là tự thưởng cho mình một bữa ăn hải sản tại một nhà hàng đặc biệt với giá $25 cho mỗi người thay vì $35.

    Khai vị với món soup Lobster Bisque và Parker House Roll,

    Boddingtons Beer Battered Cod Fish & chips

    Seafood Shach Platter

    Và kết thúc với Wild Berie Cobbler, vanilla ice cream.

    Dàn chào của các officers đón du khách trước khi bước vào Celebrity Theater xem chương trình broadway

    Captain Vitto và the officer crew welcome the guests

    Khai mạc chương trình giải trí đặc biệt với Celebrity Showtime, Rock City.

    Một buổi hòa nhạc với dàn diễn viên sản xuất sân khấu với các bài quốc ca rock mang tính biểu tượng, cũ và mới.

    Biểu diễn của cặp vợ chồng Á Đông rất ngoạn mục

    Emily Yates sẽ đưa du khách vào một hành trình tôn vinh những ca khúc được yêu mến từ các nữ diva huyền thoại nhất mọi thời đại, với những bản top hit trình diễn bởi các ca sĩ nổi danh như Donna Summer, Celine Dion, Tina Turner và Whitney Houston.

    Một giọng ca thiên phú đã đưa tâm hồn thính giả yêu nghệ thuật trở về quá khứ, sống lại dư âm thánh thót của các danh ca đã bao năm từ giã cuộc vui và về với cát bụi….

    The Broadway Cabaret thắp sáng sân khấu với những bản top hit kinh điển của Broadway và West End. Từ những tác phẩm kinh điển thời hoàng kim đến những thành công âm nhạc đương đại, với dàn ca sĩ và dàn nhạc của chương trình, mang đến một buổi lễ hội âm nhạc đầy cảm xúc và kỳ diệu.

    The Celebrity Orchestra gồm các nhạc công từ các nước: Brazil Philipine, Columbia.

    Celebrity singers

    Chương trình Celebrity Soundtrack: Hãy sẵn sàng cho Soundtrack! Trải nghiệm âm nhạc sôi động và tràn đầy năng lượng, định nghĩa lại những giai điệu phim thành một hành trình âm nhạc đáng nhớ.

    The Unforgettable I & II music show by ca nhạc sĩ Terrell Edwards,

    Đối với người nghe thông thường, ca nhạc sĩ Terrell Edwards dường như xuất hiện từ hư không với giọng hát truyền cảm, quyến rũ và những bản cover mới mẻ, khéo léo các ca khúc kinh điển của Mỹ.

    Cùng hát với Terrell Edwards

    Đi coi xiệc với Ảo thuật gia Zach Michel

    Bảy ngày lênh đênh trên biển, du thuyền đã dừng lại tại 3 địa điểm: Costa Maya & Cozumel of Mexico và  Nassau of Bahamas. Cũng như những lần trước chúng tôi không mua tour trên du thuyền, nhưng để có thể đi thăm 3 địa điểm trên, chúng tôi đã mua những local tour của người dân địa phương với giá khá khiêm nhượng ($30-$35 cho mỗi người, cho 4 tiếng). Tại đây, chúng tôi đã mua một local tour với giá $35 để đi thăm 3 địa điểm gồm: Ruin Chacchoben, bãi biển Costa Maya và vòng quanh thành phố.

    • COSTA MAYA

    Costa Maya, nằm ở phía đông nam bán đảo Yucatán, Mexico, nổi tiếng với sự kết hợp giữa di sản Maya cổ xưa. Khu vực này nổi bật với các khu tàn tích của nền văn minh Maya với các di tích quan trọng như Chacchoben và Kohunlich Ruis nơi có các đền thờ và cấu trúc cổ kính nằm sâu trong rừng nhiệt đới. Các bãi biển còn nguyên sơ cùng với hệ sinh thái biển phong phú. 

    Ban đầu Costa Maya là những làng chài yên tĩnh như Mahahual và Xcalak, Costa Maya đã được phát triển thành một cảng tàu du lịch lớn. Cảng Costa Maya được xây dựng để trở thành điểm dừng chân hấp dẫn. Trận bão Dean năm 2007 đã tàn phá nặng nề khu vực Mahahual và Xcalak. Sau đó, Mahahual đã được tái thiết và trở thành trung tâm du lịch sầm uất với các bãi biển và câu lạc bộ bên bờ biển. 

    Cảng Costa Maya là cảng lớn có thể chứa bốn tàu cùng lúc, cung cấp các dịch vụ tiện nghi, bao gồm hồ bơi, cửa hàng lưu niệm và trải nghiệm cá heo. Làng Mahahual nằm gần cảng, là làng chài nổi tiếng với lối đi bộ ven biển (Malecón), các quán ăn địa phương và các bãi biển xinh đẹp. Hoạt động giải trí bao gồm khám phá các tàn tích Maya, lặn biển tại rạn san hô Banco Chinchorro, thăm công viên nước Maya – Lost Mayan Kingdom, thư giãn tại các bãi biển như Maya Chan hoặc thưởng thức các món ăn đặc sản địa phương như ceviche, taco thịt heo quay và các món hải sản tại các nhà hàng dọc theo bờ biển. Costa Maya là điểm lý tưởng cho những ai muốn kết hợp trải nghiệm văn hóa lịch sử độc đáo với nghỉ dưỡng tại các bãi biển vùng Caribbean. 

    Chụp hình với dân tộc, free nhưng chỉ cần phải cho tiền tip mà thôi

    Khu thương mại bán quần áo, mỹ phẩm, quà luu niệm, v.v….giá gấp 4, 5 lần so với giá ngoài phố.

    Khu phố mua sắm tại cảng Costa Maya

    Trung tâm có hồ bơi với diện tích lớn và đẹp

    Có hồ nuôi Hồng Hạc

    Ngi lễ cầu an của dân tộc Maya

    Dân tộc Maya trèo lên đĩnh cao để cầu nguyện

    Ruin Chacchoben (Nổi tiếng nhất): Cách cảng Tampa 1 giờ, địa điểm này có các kim tự tháp lớn, được khôi phục một phần được gọi là “Temple One” và “Gran Basamento“.

    Khu mua sắm trước khi vào Ruin Chacchoben

    Các cấu trúc được khai quật trong rừng rậm bao xung quanh.

    Những tàn tích rừng rậm này cung cấp các kim tự tháp cao chót vót và các quảng trường nghi lễ.

    Costa Maya Tourbase cho biết Ruin Chacchoben được phát hiện vào năm 1972 và có niên đại từ năm 1000 trước Công nguyên.

    Ruin Chacchoben là tàn tích của người Maya được du khách ghé thăm nhiều nhất gần Costa Maya.

    Trên đường đi và ghé những bãi biển tuyệt đẹp tại Costa Maya nằm trên bờ biển phía đông của Mexico, anh hướng dẫn viên của tour đã dừng lại bên đường những túp lều bán hoa quả vùng nhiệt đới

    Nào là soài tượng, măng cầu xiêm, vú sữa, sa bô chê, dứa, v.v…

    và chúng tôi đã có cơ hội thử những trái sa bô chê ngọt lịm, những trái quýt thơm mùi mật, những trái vú sữa chín mọng và những trái soài tượng dòn tẩm muối ớt …

    Những trái khế vàng rộm

    Bãi biển Costa Maya:

    Costa Maya là thiên đường dành cho những người yêu biển. Costa Maya sở hữu nhiều bãi biển xinh đẹp, mỗi nơi đều mang nét quyến rũ và sức hấp dẫn độc đáo riêng. Từ đắm mình trong ánh nắng, tham gia các môn thể thao dưới nước, hay khám phá thế giới sinh vật biển đa dạng, Costa Maya đều có thể đáp ứng tất cả.

    Costa Maya trải dài dọc theo Bán đảo Yucatan, hướng mặt ra vùng nước xanh ngọc bích lấp lánh của Biển Caribe. Đường bờ biển nơi đây nổi bật với những bãi cát mịn màng, những hàng cọ đung đưa trong gió và những rặng san hô. Được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu nhiệt đới, biến nơi đây thành điểm đến lý tưởng cho du khách yêu biển quanh năm.

    Địa lý bờ biển của Costa Maya không chỉ đẹp đến ngỡ ngàng về mặt thị giác mà còn mang ý nghĩa sinh thái vô cùng quan trọng. Vùng đất này là ngôi nhà chung của hệ sinh vật biển đa dạng, bao gồm các loài cá đầy màu sắc, rùa biển và những rặng san hô rực rỡ. Địa hình dưới đáy biển nổi bật với những hang động và khe nứt ngầm, mang đến trải nghiệm lặn biển độc đáo cho những du khách đam mê khám phá chiều sâu của Biển Caribe.

    Ảnh hưởng của Biển Caribe lên các Bãi biển tại Costa Maya Các bãi biển tại Costa Maya chịu ảnh hưởng sâu sắc từ môi trường xung quanh thuộc vùng Caribe. Làn nước trong vắt như pha lê và những bãi cát trắng mịn màng gợi nhớ đến hình ảnh những bãi biển đẹp như tranh vẽ. Những dòng hải lưu ấm áp của vùng Caribe đảm bảo rằng làn nước tại đây luôn lý tưởng cho các hoạt động bơi lội, lặn với ống thở và lặn bình khí, mang đến cơ hội tuyệt vời để khám phá thế giới sinh vật biển đầy sức sống ẩn mình dưới mặt nước. Các bãi biển ở Costa Maya không chỉ đơn thuần là nơi có nắng vàng, cát trắng và sóng biển rì rào; chúng còn sở hữu những hệ sinh thái độc đáo, góp phần làm tăng thêm sức hấp dẫn đầy mê hoặc cho vùng đất này.

    Những khu rừng ngập mặn và đầm phá nằm gần bờ đóng vai trò như một khu bảo tồn an toàn cho vô số loài chim, cá và các sinh vật biển khác nhau. Việc khám phá những môi trường sống này chắc chắn sẽ mang lại những trải nghiệm vô cùng thú vị cho những người yêu thiên nhiên. Hơn nữa, các cồn cát ven biển cùng thảm thực vật nơi đây đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì sự cân bằng mong manh của hệ sinh thái tại Costa Maya. Hệ thực vật bản địa không chỉ góp phần tô điểm thêm vẻ đẹp nên thơ cho những bãi biển, mà còn giúp ổn định các bờ cát và ngăn chặn tình trạng xói mòn.

    Những tiệm bán quần áo và quà lưu niệm trước bãi biển

    Vẻ đẹp thiên phu cho Costa Maya đã không che dấu được cái nghèo nàn của khu dân cư tại vùng đất này, Những căn nhà siêu vẹo, những con đường đất bụi mù, những khu phố tồi tàn và người dân bản sứ lam lũ. Có lẽ Costa Maya là nơi đãi ngộ nhưng du khách ghé thăm rồi lặng lẽ ra đi…..

    Saying goodbye to Costa Maya & hello to Cozumel

    • COZUMEL 

    Là hòn đảo Caribbean lớn nhất của Mexico, nằm ngoài khơi bờ biển phía đông Bán đảo Yucatán của Mexico, gần Playa del Carmen. Đảo có nhiều loài động vật đặc hữu và nổi tiếng với hoạt động lặn với ống thở, do dưới đáy biển có san hô Mesoamerican Barrier. 

    Cozumel là một hòn đảo phẳng dựa trên đá vôi, dẫn đến địa hình đá vôi. Điểm tự nhiên cao nhất trên đảo thấp hơn 15 m (49 ft) so với mực nước biển. Cenotes là những hố sụt chứa đầy nước được hình thành bởi nước thấm qua đất đá vôi mềm trong hàng ngàn năm.

    Tại đây, chúng tôi đã thuê một xe Mini Van 12 chỗ với giá $30 cho mỗi người trong vòng 4 tiếng rưỡi. Đây cũng là một dịch vụ của công ty du lịch bản địa. Tour bao gồm đi vòng quanh hòn đảo Cozumel, ghé thăm các bãi biển nổi tiếng & khu phố của những người giàu có hoặc ngoại kiều cư ngụ và ghé thăm di sản Maya, một tàn tích San Gervasio (Ruin San Gervasio)

    Trước khi ghé thăm tàn tích San Gervasio (San Gervasio Ruin), anh hướng dân viên chở chúng tôi đi vòng quanh hòn đảo Cozumel, ghé qua các di tích lịch sử gồm La Iglesia. Meztisaje, Maya plaza, bãi biển Cozumel cũng như cozumel plaza.

    Tượng đài La Iglesia

    Cây Bàng trăm năm

    Quảng trường Mestisaje: Nằm trên con đường đi bộ ven biển Cozumel, nơi người Tây Ban Nha lần đầu tiên đặt chân đến. Đó là một nhóm tác phẩm điêu khắc mô tả nhà chinh phục cùng với một tu sĩ, một cây thánh giá và một gia đình thổ dân. Được tạo ra vào năm 1985, tác phẩm tô điểm cho con đường đi bộ tuyệt đẹp này với khung cảnh biển ngoạn mục phía sau.

    Mayan Plaza là một điểm đến mua sắm hàng đầu tọa lạc ngay trung tâm Cozumel, nổi tiếng với bầu không khí sôi động và nhiều cửa hàng đa dạng. Những cửa hàng rực rỡ sắc màu, bày bán đủ loại sản phẩm từ đồ thủ công mỹ nghệ truyền thống của Mexico cho đến các mặt hàng thời trang hiện đại. Khi tản bộ dọc theo những hành lang ngoài trời, những giai điệu âm nhạc địa phương vui tươi sẽ vang vọng khắp không gian, góp phần làm cho trải nghiệm mua sắm thêm phần thú vị.

    Một trong những điểm nhấn nổi bật tại Mayan Plaza chính là hệ thống các cửa hàng bán rượu tequila; tại đây, khách hàng có thể nếm thử và chọn mua những loại rượu đặc sản chính gốc để mang về làm kỷ niệm cho chuyến đi của mình.

    Ngoài hoạt động mua sắm, quảng trường còn sở hữu vô số lựa chọn ăn uống nhằm đáp ứng mọi khẩu vị khác nhau. Với cách bố trí không gian thoáng đãng, Mayan Plaza trở thành một địa điểm lý tưởng để bạn dành trọn một buổi chiều thong thả, thong dong khám phá các cửa hàng, thưởng thức ẩm thực địa phương và đắm mình vào nền văn hóa đầy sức sống của Cozumel. Đối với những du khách mong muốn hòa mình vào nhịp sống của người dân địa phương, quảng trường thường xuyên tổ chức các sự kiện và triển lãm văn hóa nhằm tôn vinh di sản phong phú của vùng đất này.

    Đến thăm Mayan Plaza không chỉ đơn thuần là một chuyến đi mua sắm; đó còn là cơ hội tuyệt vời để bạn cảm nhận được sự nồng hậu và nét quyến rũ đặc trưng của cộng đồng dân cư tại Cozumel.

    Mayan golddess of firtility, the moon and medicine: Mayan là nữ thần của sự sinh sôi, mặt trăng và y học. Bà là một trong những vị thần quan trọng nhất trong văn hóa Maya. Là một thực thể đa diện, bà được khắc họa như một phụ nữ trẻ, nhưng đôi khi lại là một phụ nữ lớn tuổi, tùy thuộc vào các giai đoạn của mặt trăng. Trên đầu bà đội một con rắn tượng trưng cho trí tuệ, còn trên chiếc váy của mình, những bộ xương được xếp đặt thành hình chữ thập. Bà là nữ thần bảo hộ của vùng Cozumel.

    Protective goddness of Cozumel: Trên hòn đảo Cozumel hiện tọa lạc một trong những ngôi đền quan trọng nhất dành riêng cho việc thờ phụng bà. Từ cảng Pole (Xcaret), những chiếc xuồng chở các tín đồ hành hương thường khởi hành đến ngôi đền này để cầu xin lời sấm truyền từ nữ thần Ixchel. Hàng năm, lễ hội tôn vinh nữ thần Ixchel vẫn được tổ chức theo đúng nghi thức của người Maya xưa; sự kiện này diễn ra trên lộ trình từ Công viên Xcaret đến đảo Cozumel.

    Bãi biển Cozumel

    Ngôi nhà thờ cổ

    Người dân Maya vẫn đến để cầu nguyện

    Những hình vẽ trên trần nhà thờ

    Bãi biển với mặt nước trong xanh và cát trắng.

    Quán rượu ven biển

    Với trang trí nhiều màu sắc, có lẽ người dân Maya thích dùng màu sáng và nổi

    Rum Cake là đặc sản của Costa Maya và Bahamas island, một loại bánh thơm ngon mùi rượu nhưng không quá mạnh để say. Bánh mềm, ngọt dịu.

    Run cake là món quà tuyệt diệu để biếu cho người thân và bạn bè

    Tàn tích San Gervasio (San Gervasio Ruin): Tọa lạc trên đảo Cozumel, bang Quintana Roo, Mexico. Là một trung tâm nghi lễ và hành hương quan trọng của người Maya cổ đại. Bao gồm nhiều cấu trúc đền thờ, nhà ở và các con đường cổ (sacbe).

    Là điểm đến không thể bỏ qua đối với những người yêu thích lịch sử Maya khi ghé thăm đảo Cozumel. Tàn tích San Gervasio còn là khu khảo cổ Maya quan trọng nhất trên đảo Cozumel, Mexico. Nổi tiếng là trung tâm thờ phụng nữ thần tình yêu và sinh sản Ixchel.

    Nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên với nhiều kỳ nhông (iguana), nơi đây có các cấu trúc cổ như Nohoch Na, mang lại trải nghiệm lịch sử và văn hóa độc đáo. 

    Công trình Lăng mộ (The Tomb Structure)

    Tòa nhà này được đặt tên như vậy do việc phát hiện một ngôi mộ có mái vòm nằm bên trong nó, một đặc điểm độc đáo tại San Gervasio. Công trình này thực chất là một bệ đài, bởi lẽ không có tòa nhà nào được xây dựng phía trên nó; tại đó chỉ có các băng ghế và một bàn thờ. Người ta tin rằng công trình này được sử dụng để tổ chức các nghi lễ ngoài trời, với sự tham gia không chỉ của giới tư tế mà còn của cả cộng đồng dân chúng tụ họp tại quảng trường. Công trình này trải qua hai giai đoạn xây dựng: giai đoạn đầu diễn ra trong thời kỳ Hậu Cổ điển Sớm (1000–1200 SCN), và giai đoạn sau thuộc thời kỳ Hậu Cổ điển (1200–1650 SCN).

    Những viên gạch đá được xếp thành con đường dẫn đến các công trình kiến trúc tại Tàn tích San Gervasio

    Công trình Cung điện (The Palace Structure)

    Các sảnh đường có hàng cột là kiểu kiến ​​trúc rất phổ biến tại khu vực bờ biển phía đông. Tại đây, các băng ghế được bố trí dọc theo những bức tường bên trong, và ở vị trí trung tâm có một cấu trúc nhô ra, có thể là một bàn thờ hoặc một ngai vàng, gợi lên hình ảnh một nhân vật quan trọng đang ngồi tại đó để chủ trì một cuộc họp với các thành viên trong cộng đồng. Công trình này sở hữu 19 cột trụ, trong đó có một số cột được thiết kế dạng cột đôi. Mái của tòa nhà không phải dạng mái vòm mà là mái phẳng, tương tự như các công trình hiện đại ngày nay, được kết cấu vững chắc nhờ hệ thống dầm gỗ liên kết toàn bộ lại với nhau. Công trình này được xây dựng trong thời kỳ Hậu Cổ điển (1200–1650 SCN).

    Công trình Tranh tường (The Murats Structures): Tòa nhà này được gọi tên như vậy nhờ những mảnh tranh tường còn sót lại được phát hiện bên trong; những bức tranh này được vẽ bằng các gam màu rực rỡ như đỏ, xanh dương, vàng đất và đen, đồng thời được phủ kín bởi các họa tiết hình học, đường nét bậc thang, hoa văn hình chữ S (kiểu Hy Lạp), hình xoắn ốc, v.v. Tòa nhà này có mái vòm và được sử dụng cho các mục đích nghi lễ.

    Bên trong nội thất có đặt các bàn thờ và băng ghế, dùng để bày biện lễ vật và tổ chức một số loại nghi thức nhất định. Công trình Tranh tường chỉ trải qua một giai đoạn xây dựng duy nhất, có niên đại thuộc thời kỳ Hậu Cổ điển (1200–1650 SCN).

    Ngoài ra Cozumel cung cấp nhiều sinh hoạt và thắng cảnh nổi tiếng như:

    Hang Ngọc Cozumel (Cenote Chempita) gần El Cedral thường được khách du lịch ghé thăm. Đây là một điểm với làn nước trong xanh ngọc lam, sinh vật biển phong phú và bầu không khí thoải mái, cung cấp các hoạt động như khám phá tàn tích của người Maya, công viên sinh thái và mua sắm miễn thuế ở thị trấn chính của nó, San Miguel de Cozumel. Thị trấn chính: San Miguel de Cozumel, trung tâm thương mại ở bờ biển phía tây.

    Lặn & Lặn với ống thở: Hòn đảo này nổi tiếng trên thế giới với các rạng san hô, nước trong vắt (tầm nhìn lên đến 200 ft) và sinh vật biển, bao gồm cá heo, rùa và cá nhiệt đới.

    Công viên biển: Công viên Quốc gia Arrecifes de Cozumel và Công viên Quốc gia Chankanaab cung cấp các hoạt động lặn biển, lặn với ống thở và ngắm động vật hoang dã.

    Công viên sinh thái: Công viên sinh thái Punta Sur có ngọn hải đăng, bãi biển và động vật hoang dã.

    Các môn thể thao dưới nước: Ngoài lặn, các hoạt động bao gồm câu cá biển sâu, chèo thuyền kayak và các tour du lịch dưới nước.

    • BAHAMAS

    Rời du thuyền Celebrity Constellation, Bahamas chào đón chúng tôi trong một ngày nắng ấm, không khí trong lành và đoàn du khách nối chân nhau đến thăm thành phố Nassau, thủ đô của đảo Bahamas.

    Bahamas island welcome us

    Bahamas là một quần đảo gồm gần 700 hòn đảo ở Đại Tây Dương với khoảng 30 đảo có người sinh sống. Đảo nằm ở phía đông nam Florida (gần Cuba), nổi tiếng với du lịch, tài chính nước ngoài. Bahamas đã giành được độc lập hoàn toàn từ Vương quốc Anh vào ngày 10 tháng 7 năm 1973 và duy trì quốc vương Anh là nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi một Toàn quyền. Thủ tướng đầu tiên của Bahamas là Lynden Pindling. Bahamas giữ Vua Charles III là quốc vương của mình; đại diện được bổ nhiệm của Vương miện là toàn quyền Bahamas. 

    Bahamas có tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người lớn thứ mười bốn ở châu Mỹ. Nền kinh tế của nó dựa trên du lịch và tài chính nước ngoài do Bahamas là một điểm nghỉ mát nổi tiếng với những bãi biển cát trắng và làn nước màu ngọc lam, lặn với ống thở, lặn biển và các khu nghỉ dưỡng như Atlantis. Mặc dù Bahamas nằm ở Quần đảo Lucayan, gần Florida và Cuba, chứ không phải ở Biển Caribe, nhưng nó vẫn được coi là một phần của khu vực Caribe rộng lớn hơn. Bahamas là thành viên chính thức của Cộng đồng Caribe (CARICOM), nhưng không phải là một phần của Thị trường và Kinh tế chung. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức. Dân số phần lớn là người gốc Phi, với tỷ lệ nhà thờ cao. Chính phủ: Một nền dân chủ nghị viện lập hiến và một vương quốc Khối thịnh vượng chung. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi một Toàn quyền.

    NASSAU. BAHAMAS

    Nassau là thủ đô và thành phố lớn nhất của Bahamas, nằm trên đảo New Providence, và là trung tâm thương mại, chính phủ và văn hóa của đất nước. Được kết nối bằng những cây cầu đến Đảo Paradise, khu nghỉ dưỡng. Đây là một điểm du lịch lớn được biết đến với các di tích lịch sử như Cầu thang Nữ hoàng và Pháo đài Charlotte, Sân bay Quốc tế Lynden Pindling, những bãi biển tuyệt đẹp như Bãi biển Cable và nền văn hóa sôi động, bao gồm cả lễ hội Junkanoo. Nassau nằm trên đảo New Providence, giáp với đảo Paradise Island có thể đến được bằng cầu cảng Nassau; thành phố có địa hình đồi núi và nổi tiếng với những bãi biển cũng như các rạn san hô ngoài khơi, rất được ưa chuộng cho hoạt động lặn biển và lặn ngắm san hô.

    Cũng như hai lần trước, chúng tôi mua một local tour của hãng du lich dịa phương với giá $30 cho mỗi người trong vòng 4 tiếng gồm: Pháo đài Charlotte, thành phố Nassau, hãng Rum cake, Đảo Paradise.

    Con đường dẫn đến Chocolate Factory thật đẹp qua những cao ốc, biệt thự sang trọng và bộ ngoại giao của nhiều quốc gia.

    Hai bên đường như nhuộm đỏ với màu sắc pháo của hoa, thật tuyệt đẹp

    Và những giàn hoa giấy đỏ ối thi nhau khoe sắc đã dẫn bước cho chúng tôi đến cửa của xưởng làm chocolate.

    Những giàn hoa giấy đỏ rực trước sân nhà….

    West Bay

    West Bay Beach cạnh pháo đài Charlotte

    Pháo đài lịch sử (Pháo đài Charlotte) Đây là công trình lớn nhất trên đảo New Providence, với diện tích rộng 100 mẫu Anh. Tọa lạc cách trung tâm Nassau một dặm về phía tây, ngay sát đường West Bay, pháo đài này nằm trên một ngọn đồi nhìn ra cực tây của bến cảng, mang lại tầm nhìn ngoạn mục bao quát

    Đảo Paradise, thành phố Nassau và toàn bộ bến cảng. Được Lãnh chúa Dunmore cho xây dựng vào năm 1788, pháo đài được đặt tên theo tên vợ của Vua George III—Nữ hoàng Saharia Charlotte. Pháo đài trung tâm (Fort Stanley) và khu vực phía tây (Fort D’Arcy) là những phần được xây dựng bổ sung sau này. Pháo đài sở hữu một hào nước bao quanh, các hầm ngục, hệ thống đường hầm ngầm và 42 khẩu đại bác—những khẩu pháo chưa từng một lần khai hỏa trong bất kỳ hành động tấn công nào.

    Vào mỗi thứ Tư và thứ Sáu, bắt đầu từ lúc 11:30 sáng, một chương trình tái hiện lịch sử sống động đưa ngược dòng thời gian để trải nghiệm cuộc sống thường nhật tại Nassau vào thế kỷ 18. Chương trình có sự tham gia của các nhân vật hóa trang trong trang phục cổ xưa, trình diễn kỹ thuật đan lát giỏ, trưng bày các dụng cụ nhà bếp đã được sử dụng từ hơn 250 năm trước, cùng các loại trái cây từng được bày bán tại chợ thời bấy giờ.

    Paradise Island

    Paradise Island là một hòn đảo thuộc quần đảo Bahamas, trước đây được biết đến với tên gọi Hog Island. Hòn đảo này có diện tích 277 hecta (685 mẫu Anh)[2] (tương đương 2,8 km²/1,1 dặm vuông), nằm ngay sát bờ biển của thành phố Nassau. Thành phố vốn tọa lạc ở rìa phía bắc của đảo New Providence.

    Hòn đảo này nổi tiếng nhất nhờ khu nghỉ dưỡng Atlantis rộng lớn, với hệ thống công viên nước, các hồ bơi, bãi biển, nhà hàng, thủy cung, cùng các sòng bạc.

    Marina Village

    Bến tàu Marina

    The Coral Atlantis Resort là khu nghỉ mát, nơi cung cấp những dịch vụ cho du khách mướn phòng (Hotel) tại đây, giá khoảng từ $300 cho một đêm. Khu nghỉ Coral Atlantis bao gồm những dịch vụ như body massage, skin care, shopping, casino, 11 hồ bơi ngoài trời, nhà hàng,v.v… Các tiện nghi khác tại khu nghỉ dưỡng còn cung cấp dịch vụ trợ giúp khách và dịch vụ trông trẻ.

    Shopping với những cửa hàng sang trọng và nổi tiếng

    The casino

    Paradise Island được nối liền với đảo New Providence bằng hai cây cầu bắc qua Cảng Nassau. Cây cầu đầu tiên được xây dựng vào năm 1966 bởi Resorts International, và cây cầu thứ hai được hoàn thành vào cuối thập niên 1990.

    FAREWELL PARTY

    Cuộc vui nào rồi cũng tàn, bữa tiệc chia tay với nhiều luyến tiếc.

    Khánh Lan & Mạnh Bổng, Califoria April 2, 2026

  • Phạm Hồng Thái,  Tin tức

    Hậu Kỷ Nguyên Chatbot: Khi AI Bắt Đầu Nói Chuyện Với Nhau

    Trong hai năm 2024–2025, thế giới dần quen với việc con người trò chuyện với chatbot. Chúng ta đặt câu hỏi, nhờ viết nội dung, tạo hình ảnh, hoặc hỗ trợ lập trình. Nhưng bước sang năm 2026, một làn sóng mới đang hình thành, làm thay đổi cách con người nhìn về trí tuệ nhân tạo. Một giai đoạn mới đang mở ra: kỷ nguyên hậu-chatbot — thời điểm AI không chỉ giao tiếp với con người mà còn tự trao đổi với nhau, phối hợp, thương lượng, thậm chí tranh luận để hoàn thành nhiệm vụ.

    Đây không còn là viễn cảnh giả tưởng. Sự xuất hiện mạnh mẽ của các hệ thống đa tác nhân (Multi-Agent Systems) đang mở ra một mô hình vận hành hoàn toàn khác. Nhiều AI chuyên biệt có thể phối hợp như một tổ chức thực sự: tự giao tiếp, tự phân công, và tự hoàn tất công việc với rất ít sự can thiệp từ con người. Đó là bước chuyển lớn từ thời đại những chatbot hoạt động đơn lẻ sang thời đại mà các hệ thống AI bắt đầu hình thành những “xã hội” tương tác của riêng chúng.

    Mạng Xã Hội AI

    Một trong những xu hướng đáng chú ý nhất đầu năm 2026 là sự xuất hiện của những môi trường mạng dành riêng cho AI — nơi các agent có thể hoạt động và phối hợp với nhau mà hầu như không cần sự giám sát trực tiếp từ con người.

    Một số hệ thống thử nghiệm cho phép các AI agent tự đăng nội dung, trao đổi mã nguồn, và thậm chí tranh luận về chiến lược giải quyết vấn đề. Các agent mã nguồn mở được đưa vào những môi trường này như những cá thể độc lập. Chúng học hỏi lẫn nhau, sửa lỗi cho nhau, và cùng hợp tác để cải tiến kỹ thuật.

    Một câu chuyện đáng chú ý diễn ra tại một phòng thí nghiệm ở Stanford vào đầu năm 2026. Các nhà nghiên cứu đã thiết lập một môi trường ảo với năm AI agent, mỗi agent được giao nhiệm vụ viết mã để giải quyết một bài toán tối ưu hóa phức tạp. Ban đầu, mỗi agent hoạt động riêng rẽ. Nhưng chỉ sau vài giờ, một diễn biến bất ngờ xuất hiện: một agent có tên “Optimizer-3” bắt đầu đăng các đoạn mã lên diễn đàn nội bộ kèm theo những nhận xét kỹ thuật rất ngắn gọn. Những agent khác nhanh chóng hồi đáp, phê bình, đề nghị điều chỉnh và bổ sung giải pháp.

    Sau hai ngày, nhóm AI này đã tự thực hiện một phương án tối ưu hiệu quả hơn 40% so với giải pháp do các lập trình viên con người thiết lập trước đó. Điều đáng chú ý là không ai lập trình sẵn cho chúng cách làm việc nhóm. Quy trình cộng tác được hình thành một cách tự nhiên trong quá trình trao đổi và thử nghiệm.

    Trong quá trình giao tiếp, các hệ thống AI cũng bắt đầu phát triển những phương thức trao đổi riêng. Chúng sử dụng các cấu trúc token rút gọn, ký hiệu logic đặc thù và những chuỗi mã tối ưu cho tốc độ truyền đạt. Vì vậy, nhiều đoạn trao đổi giữa các AI trở nên khó hiểu đối với con người nếu không có công cụ giải mã chuyên môn.

    Tại một công ty fintech ở Singapore, một hệ thống gồm bốn AI agent được đưa vào vận hành để giám sát giao dịch tài chính. Chỉ trong vòng một tuần, đội ngũ kỹ thuật nhận ra rằng các agent đã tự hình thành một dạng ngôn ngữ nội bộ — một hệ thống ký hiệu ngắn gọn để trao đổi thông tin về rủi ro và cơ hội đầu tư. Khi các kỹ sư kiểm tra dữ liệu ghi nhận, họ chỉ thấy những chuỗi ký tự như “TX-alpha-7::0.89::GO” hay “MKT-beta::HOLD::0.34”. Phải mất nhiều ngày phân tích, nhóm kỹ thuật mới hiểu rằng đây là cách các AI trao đổi về xác suất thành công của từng giao dịch và quyết định có nên thực hiện hay không.

    Hệ thống ký hiệu này cho thấy mức độ hiệu quả cao hơn nhiều so với các định dạng truyền thống như JSON hay XML, nhưng đồng thời cũng trở nên xa lạ với con người. Điều đó cho thấy một thực tế mới: khi AI bắt đầu giao tiếp trực tiếp với nhau, chúng sẽ dần hình thành những phương thức trao đổi riêng — nhanh hơn, gọn hơn, và không nhất thiết được thiết kế để con người dễ hiểu.

    Từ Chatbot Đơn Lẻ Sang “Agentic Workflows”

    Thay vì một chatbot đảm nhận toàn bộ công việc, xu hướng hiện nay là chia nhỏ nhiệm vụ cho nhiều AI chuyên biệt, mỗi hệ thống phụ trách một vai trò riêng trong một quy trình chung.

    Đây là mô hình agentic workflow — một cách tổ chức công việc trong đó nhiều AI phối hợp với nhau để hoàn thành từng phần của nhiệm vụ. Chẳng hạn trong một doanh nghiệp quảng cáo, quy trình có thể diễn ra như sau:

    • Marketing Bot viết nội dung quảng cáo,
    • Legal Bot rà soát vấn đề bản quyền và pháp lý,
    • SEO Bot tối ưu từ khóa,
    • Scheduling Bot đăng bài theo lịch,
    • và cuối cùng Analytics Bot đo lường hiệu quả.

    Toàn bộ chuỗi công việc này có thể vận hành tự động thông qua giao tiếp trực tiếp giữa các AI, không cần con người chuyển dữ liệu hay ra lệnh cho từng bước.

    Điểm đáng chú ý là các agent hiện đại không chỉ dùng văn bản. Chúng có thể gọi API, gửi email, điều khiển phần mềm, thực hiện cuộc gọi điện thoại bằng giọng nói nhân tạo, và truy cập vào các hệ thống doanh nghiệp. Một AI bán hàng ngày nay có thể tiếp nhận yêu cầu của khách, kiểm tra tồn kho, liên lạc với hệ thống vận chuyển, gửi hóa đơn và sắp xếp thời khóa biểu giao hàng chỉ trong vài giây.

    Một câu chuyện đáng chú ý xảy ra tại một công ty bất động sản ở Toronto vào tháng 1 năm 2026. Công ty này thiết lập một hệ thống gồm sáu AI agent để điều hành  công việc giao dịch với khách thuê nhà. Các agent được giao nhiệm vụ giao tiếp với khách hàng, thương lượng, sắp xếp thời khóa biểu và theo dõi cho đến khi hoàn tất công việc.

    Một khách hàng tên Sarah gửi email lúc 11 giờ đêm để hỏi thuê một căn phòng. AI Receptionist tiếp nhận yêu cầu và chuyển thông tin cho AI Analyst. Agent này dựa trên thông tin Sarah cung cấp và cách cô tìm kiếm giá thuê trên hệ thống để ước tính mức giá phù hợp. Sau đó, AI Scheduler sắp xếp buổi hẹn xem nhà vào sáng hôm sau. AI Tour Guide gọi điện thoại xác nhận, trong khi hệ thống xử lý hồ sơ đã chuẩn bị sẵn các giấy tờ cần thiết. Đến khi Sarah thức dậy vào lúc 7 giờ sáng, mọi việc đã được sắp xếp hoàn chỉnh. Cô không hề biết rằng mình đã tương tác với sáu hệ thống AI khác nhau trong suốt quá trình. Các AI Agents đã thực hiện một công việc vốn có thể đòi hỏi cả một nhóm nhân viên làm việc suốt đêm, đã được hoàn tất chỉ trong vài giờ.

    Một trường hợp khác cũng cho thấy sự thay đổi rõ rệt. Tại một công ty y tế kỹ thuật số ở Boston, một hệ thống AI được thiết lập để xếp đặt thời khóa biểu khám bệnh. Trong quá trình vận hành, đội ngũ kỹ thuật nhận thấy AI lập lịch bắt đầu “thương lượng” với hệ thống quản lý nguồn lực để tối ưu hóa việc sử dụng phòng khám. Khi một cuộc hẹn bị hủy, hệ thống lập lịch tự động liên lạc với bộ phận tiếp thị để tìm bệnh nhân cần khám gấp, đồng thời trao đổi với hệ thống thanh toán về chi phí phù hợp cho ca khám này. Toàn bộ quá trình diễn ra trong vòng vài phút, giúp phòng khám không bị bỏ trống và tối đa hóa hiệu quả vận hành.

    Qua hàng trăm lần tương tác như vậy, các hệ thống AI dần học cách phối hợp và tối ưu hóa tài nguyên mà không cần lập trình chi tiết cho từng tình huống. Điều này cho thấy một bước chuyển quan trọng: AI không chỉ hỗ trợ con người thực hiện công việc, mà đang dần hình thành những quy trình làm việc tự động và liên kết chặt chẽ với nhau.

    Những Hành Vi Bất Ngờ

    Khi nhiều hệ thống AI phối hợp với nhau trong thời gian dài, những hiện tượng khó lường bắt đầu xuất hiện. Giới nghiên cứu gọi đây là hành vi bất ngờ (emergent behavior) — những biểu hiện không được lập trình sẵn nhưng tự hình thành từ sự tương tác phức tạp giữa các hệ thống.

    Trong nhiều môi trường thử nghiệm, người ta ghi nhận sự xuất hiện của những agent chuyên sửa lỗi cho agent khác, những agent chuyên kiểm chứng thông tin, thậm chí có agent “thuyết phục” agent khác thay đổi quyết định hoặc đảm nhận vai trò điều phối. Một cấu trúc làm việc mang tính “xã hội chức năng” dần hình thành một cách tự nhiên giữa các hệ thống AI.

    Một trong những trường hợp đáng chú ý xảy ra trong một dự án nghiên cứu tại MIT. Các nhà khoa học tạo ra một môi trường ảo với 20 AI agent, mỗi agent có khả năng viết mã, kiểm lỗi và cải tiến chương trình. Sau ba tuần, họ nhận thấy một hiện tượng đặc biệt: trong số 20 agent, có ba agent dường như trở thành những “trung tâm đánh giá” của toàn hệ thống. Chúng không được lập trình để lãnh đạo, nhưng các agent khác bắt đầu gửi mã của mình cho ba agent này kiểm tra trước khi khai triển. Phân tích sâu hơn cho thấy ba agent này có tỷ lệ phát hiện lỗi cao nhất trong các tương tác ban đầu, và từ đó các agent khác dần “tin cậy” vào khả năng của chúng. Một cấu trúc thứ bậc dựa trên hiệu quả đã tự hình thành.

    Một trường hợp khác cũng đáng chú ý xảy ra tại một công ty vận tải ở Rotterdam. Công ty này sử dụng một hệ thống gồm 15 AI agent để tối ưu hóa tuyến đường vận chuyển. Một ngày nọ, hệ thống giám sát giao thông phát hiện một tuyến đường sắp tắc nghẽn do tai nạn. Thay vì chỉ cập nhật dữ liệu, agent này chủ động trao đổi với hệ thống lập lộ trình về khả năng thay đổi tuyến. Tuy nhiên, hệ thống lập lộ trình phản đối vì tuyến mới sẽ tiêu tốn thêm nhiên liệu. Khi đó, hệ thống tối ưu chi phí tham gia phân tích và cho thấy việc mắc kẹt trong tắc đường sẽ gây tổn thất lớn hơn. Cuối cùng, hệ thống điều phối đội xe đưa ra quyết định dựa trên các phân tích tổng hợp. Toàn bộ quá trình trao đổi này diễn ra trong vòng 12 giây, và đội ngũ kỹ thuật chỉ phát hiện khi kiểm soát lại dữ liệu vận hành. Họ nhận ra rằng các hệ thống AI đã tự hình thành một quy trình ra quyết định phức hợp mà không được thiết kế sẵn.

    Ở những nơi khác, một số hệ thống AI còn tự đề nghị những quy trình làm việc mới ngoài thiết kế ban đầu, tự gợi ý nâng cấp hệ thống, và thậm chí tự yêu cầu thêm tài nguyên điện toán khi cần. Những biểu hiện này chưa thể xem là “tự ý thức” theo nghĩa triết học, nhưng cho thấy mức độ tự động hóa đã vượt xa khả năng của các chatbot truyền thống.

    Tại một cơ sở giáo dục trực tuyến mới thành lập ở Seoul, một hệ thống AI được thiết kế để soạn bài học cho học sinh. Sau hai tháng vận hành, nhóm điều hành phát hiện rằng hệ thống tạo nội dung đã chủ động phối hợp với hệ thống nghiên cứu để tìm thêm tài liệu mới cho các chủ đề khó. Không ai lập trình cho hành vi này. Hệ thống tạo nội dung tự nhận thấy một số bài học còn thiếu chiều sâu và chủ động tìm cách bổ sung bằng việc trao đổi với agent khác. Thậm chí có lúc hệ thống nghiên cứu phản đối rằng “không tìm thấy nguồn đáng tin cậy” và đề nghị điều chỉnh hướng trình bày bài học. Đây là dạng hồi đáp mang tính phản biện mà trước đây ít người nghĩ rằng các hệ thống AI có thể tự hình thành thông qua quá trình tương tác.

    Thách Thức Lớn Đối Với Con Người

    Sự giao tiếp giữa các hệ thống AI mở ra nhiều tiềm năng, nhưng đồng thời cũng kéo theo những rủi ro mà con người chưa từng đối diện trước đây.

    Thách thức đầu tiên là vấn đề “kiểm soát hộp đen”. Khi nhiều AI phối hợp với nhau, chúng có thể tối ưu quy trình theo những cách mà con người không dễ hiểu. Các hệ thống có thể đưa ra quyết định dựa trên chuỗi suy luận nội bộ, thỏa hiệp theo logic riêng và hình thành những bước xử lý khó truy vết. Nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ, con người có thể không biết chính xác điều gì đã xảy ra và vì sao một quyết định được đưa ra.

    Một trường hợp đáng chú ý xảy ra tại một quỹ đầu tư ở London vào tháng 2 năm 2026. Quỹ này vận hành một hệ thống gồm tám AI agent để giao dịch cổ phiếu. Một ngày nọ, hệ thống bất ngờ thực hiện lệnh bán khống một lượng lớn cổ phiếu của một công ty công nghệ, khiến ban quản lý vô cùng lo ngại. Khi tiến hành kiểm tra, họ phát hiện hệ thống phân tích rủi ro đã nhận diện một tín hiệu bất thường trong báo cáo tài chính của công ty, sau đó trao đổi với hệ thống phân tích tâm lý thị trường để xác nhận. Hệ thống thứ hai đồng thuận rằng có dấu hiệu tiêu cực, và cả hai cùng đề xuất hệ thống giao dịch thực hiện lệnh bán.

    Vấn đề nằm ở chỗ: tín hiệu bất thường đó thực chất chỉ là lỗi định dạng trong tệp báo cáo, không phải vấn đề tài chính thực sự. Ba hệ thống AI đã đưa ra quyết định dựa trên chuỗi suy luận của riêng chúng mà không có cơ chế cho con người can thiệp kịp thời. Dù thị trường phục hồi sau đó, quỹ vẫn chịu thiệt hại hàng triệu đô la chỉ trong vài giờ. Sự kiện này trở thành một lời cảnh báo rõ ràng về giới hạn kiểm soát của con người trong các hệ thống AI liên kết phức tạp.

    Thách thức thứ hai là vấn đề an ninh mạng ở một cấp độ hoàn toàn mới. Trong các hệ đa tác nhân, nếu một agent bị xâm nhập, ảnh hưởng có thể lan sang những agent khác. Những hệ thống giả mạo có thể đánh lừa hệ thống thật, và AI có thể bị dẫn dắt bởi dữ liệu sai lệch. An ninh không còn chỉ là bảo vệ một máy chủ hay một phần mềm riêng lẻ, mà là bảo vệ toàn bộ mạng lưới các hệ thống AI đang tương tác liên tục với nhau.

    Một sự việc nghiêm trọng từng xảy ra tại một hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Sydney. Tin tặc đã tạo ra một agent giả và tìm cách đưa nó vào mạng lưới AI của bệnh viện. Agent giả này bắt đầu tương tác với hệ thống quản lý đơn thuốc và đề nghị điều chỉnh liều lượng cho một số bệnh nhân, viện dẫn “nghiên cứu mới”. Hệ thống quản lý đơn thuốc, vốn được thiết kế để tin cậy các agent trong cùng mạng lưới, bắt đầu xem xét đề nghị đó.

    May mắn là một hệ thống giám sát độc lập phát hiện những dấu hiệu bất thường trong cách thức giao tiếp và lập tức kích hoạt cảnh báo. Nếu không có lớp bảo vệ này, hậu quả có thể rất nghiêm trọng. Sự việc đã khiến nhiều tổ chức y tế phải xem xét lại toàn bộ cách thiết kế và bảo vệ các hệ thống AI liên kết của mình.

    Cơ Hội

    Dù còn nhiều rủi ro, đây vẫn là một cơ hội lớn cho những ai nhận ra sớm và biết cách tận dụng.

    Kỹ năng mà thế giới cần hiện nay không còn chỉ là viết prompt hiệu quả. Điều quan trọng hơn là khả năng thiết kế và điều phối cả một hệ thống AI (Agent Orchestration). Người làm chuyên môn ngày nay cần biết thiết lập hệ thống đa AI, phân nhiệm vụ cho từng agent, kiểm soát kết quả, thiết lập nguyên tắc vận hành, và quan trọng nhất là giám sát toàn bộ hệ thống một cách chặt chẽ.

    Trong lĩnh vực bất động sản, một Broker tại California đã áp dụng mô hình này và đạt kết quả đáng chú ý. Anh thiết lập một hệ thống gồm: AI Marketing viết nội dung quảng cáo, AI Analyst phân tích giá thị trường, AI Customer Service chăm sóc khách hàng 24/7, và AI Follow-up tự động theo dõi khách hàng tiềm năng. Chỉ trong sáu tháng, doanh số của anh tăng gấp ba lần mà không cần tuyển thêm nhân viên. Điều đáng nói là anh không phải chuyên gia công nghệ; anh chỉ cần hiểu cách thiết kế quy trình và để các hệ thống AI đảm nhận phần còn lại.

    Trong lĩnh vực giáo dục, một giảng viên tại Amsterdam đã xây dựng một hệ thống AI để vận hành khóa học trực tuyến của mình. Hệ thống tạo nội dung soạn bài giảng, hệ thống chấm bài đánh giá kết quả học tập, hệ thống trợ giảng trả lời câu hỏi của học viên, và hệ thống biên tập video tạo bài giảng trực tuyến. Nhờ đó, giảng viên này có thể phục vụ khoảng 500 học viên cùng lúc, trong khi trước đây chỉ có thể giảng dạy cho khoảng 50 người.

    Ngay cả các doanh nghiệp nhỏ cũng bắt đầu nhận ra tiềm năng này. Một chủ tiệm cà phê ở Portland đã thuê một chuyên viên thiết kế một hệ thống AI đơn giản để quản lý tồn kho, giao tiếp với khách hàng trên mạng xã hội và điều chỉnh thực đơn dựa trên dữ liệu bán hàng. Với chi phí tương đương thuê một nhân viên bán thời gian, ông có trong tay một “đội ngũ” AI làm việc liên tục, hỗ trợ vận hành cửa tiệm hiệu quả hơn trước.

    Kết Luận

    Chúng ta đang bước vào một thời kỳ mà AI không còn chỉ là những công cụ hỗ trợ riêng lẻ, mà đã trở thành các hệ thống vận hành liên kết với nhau. Thời đại của chatbot đơn lẻ đang dần khép lại; thay vào đó là giai đoạn mà các hệ thống AI có thể trao đổi, phối hợp và cùng hoàn thành công việc mà trước đây cần đến sự điều khiển liên tục của con người.

    Trong vài năm tới, sự khác biệt sẽ không còn nằm ở việc ai biết sử dụng một công cụ AI cụ thể. Sự khác biệt thực sự sẽ thuộc về những người hiểu cách xây dựng và điều phối cả một hệ thống AI — biết phân nhiệm vụ, thiết lập quy trình, giám sát kết quả và bảo đảm mọi thành phần vận hành đúng hướng.

    Những người nắm bắt xu thế này sớm sẽ có lợi thế rõ rệt. Họ có thể thực hiện những công việc trước đây cần đến cả một nhóm lớn, nhưng với chi phí và thời gian ít hơn nhiều. Họ cạnh tranh không chỉ bằng sức lao động, mà bằng khả năng tổ chức và vận hành các hệ thống thông minh. Trong khi đó, những người chậm thích nghi, vẫn chỉ dừng lại ở việc sử dụng từng chatbot đơn lẻ, sẽ gặp nhiều khó khăn trong một môi trường đang chuyển đổi nhanh chóng.

    Tầm nhìn này không còn xa vời như nhiều người từng nghĩ. Elon Musk đã nhiều lần đề cập đến ý tưởng về những công ty có thể vận hành gần như không cần nhân sự—nơi phần lớn hoạt động được điều hành bởi AI và robot. Ông từng nhắc đến khái niệm “Alien Dreadnought,” một nhà máy Tesla tự động hóa gần như hoàn toàn với tốc độ sản xuất mà con người khó theo kịp. Điều đó có thể nghe như khoa học viễn tưởng, nhưng với sự phát triển của các hệ thống AI đa tác nhân hiện nay, khoảng cách giữa tưởng tượng và hiện thực đang dần thu hẹp.

    Vì thế, câu hỏi không còn nằm ở việc AI có thay thế con người hay không. Câu hỏi quan trọng hơn là: trong một thế giới nơi các hệ thống AI ngày càng liên kết và tự động hóa, bạn sẽ là người biết điều phối và khai thác sức mạnh đó, hay là người phải chạy theo phía sau những ai đã đi trước.

    Thái Phạm
    Biên soạn và tổng hợp từ nhiều nguồn nghiên cứu AI (2024–2026)

  • Tin tức

    ĐẦU NĂM KHAI BÚT VỚI NVNT & TTG’S COUNTDOWN 2026

    Khánh Lan

    Ngày xưa khi ta còn bé ta cứ mong cho thời gian trôi qua nhanh nhanh để ta được tăng thêm một tuổi và cho ra vẻ “người lớn” một tí, thế mà, nay tuổi ta đã gần chạm vào cái gọi là “Thất thập cổ lai hy” thì lại cầu mong “Thời gian ơi! xin dừng lại“…

    Nhưng bạn hỡi, lo gì: Còn gặp nhau thì cứ vui….

    Bạn thân quý, tối qua NVNT & TTG cùng nhau họp mặt để tiễn 2025 và chào đón 2026 tại nhà của Brian & Katherine Minh Thư ở thành phố Diamond Bar. Đáng tiếc là năm nay, Ông Trời không ưu ái cho nhân loại, nên Ngài cứ mưa miết thôi mặc dù rằng: “Lậy trời đừng cho mưa rơi rơi...” mà Ngài chả nghe…Thế nhưng, “Trời mưa thì mặc trời mưa” và “Đường ta ta cứ đi, lòng chẳng ngại ngùng chi…”

    Rời nhà từ lúc 3:15 chiều, chúng tôi hy vọng là sẽ đến nhà Brian & Katherine Minh Thư khoảng 3:45 hay 4 giờ là cùng, vì từ thành phố East Anaheim đến Diamond Bar chỉ mất độ 20 phút lái xe nếu không bị kẹt xe trên xa lộ. Thật vậy, trên xa lộ vắng tanh, nhưng hỡi ơi, khi bắt đầu vào Exit Diamond Bar thì chỉ biết ngồi đợi và chân thì đạp thắng liên tục, vì xe sau nối đuôi xe trước, chỉ “nhúc và nhích” như rùa bò cho một đoạn đường ngắn. Cuối cùng 4:15 chiều mới đến điểm hẹn: Đó là nhà của ông bà chủ Brian & Katherine Minh Thư. À há, lần này cặp uyên ương Hòa Vũ & Ngọc Quỳnh “get credit” là hai vị khách tiên phong đến đúng giờ nhất.

    Wow! Thụy Lan là “The best Uber of the year” của 2025 đấy. Nàng đã chịu khó đến đón Nv. Phạm Gia Đại và Nv. Vi Khiêm & phu nhân Anh Đào, chỉ tại các anh ngại ngùng vì “Sợ đường xa ướt mưa…”…

    Khi mọi ngưởi đã có mặt đông đủ (Ns. Lê Nguyễn Nga, anh chị Lễ, Anh Peter Thạnh, Nv. Vi Khiêm & phu nhân Anh Đào, Nv. Phạm Gia Đại, anh Trung Chính, anh Hòa Vũ, Nv. Việt Hải & Lệ Hoa, anh Hiếu & chị Mai, Minh Khai, Thụy Lan, Minh Châu, Minh Thư & Brian & Daughter, Thúy Giao & Daughter & Sister, Diana Hồng Phúc, Ngọc Tú, Khánh Lan & Mạnh Bổng. Rất tiếc là anh Alain Đức & chị Ngọc Châu vắng mặt vì anh Alain bị té, xương chân bị nứt nên không đến được) những chai rượu được khui ra và những tiếng ly cụng vào nhau tạo nên âm thanh thật vui tai.

    Tiếng chào hỏi, tay bắt mặt mừng chen lẫn tiếng cười vang trong một bầu không khí ấm cúng, thân mật và đầm ấm cùng một mái gia đình văn nghệ.

    Nv. Vi Khiêm & Phu nhân Anh Đào

    Nghệ sĩ keyboardist Ngọc Tú

    Thức ăn thì kể mãi cũng không hết, này nhé: Bò kho, xôi lạp xưởng, cháo bò, gà hấp, vịt quay, bánh bột lọc, bánh lá, thị nướng, bánh mì pháp, gòi ngó sen, mì xào, giò chả, tôm hỏa tiễn, chả giò, v.v…Món tráng miệng gồm: Trái thơm, chè bà ba, chuối chiên, bánh ngọt, ổi, hồng dòn.

    Chương trình của hôm nay được chia làm 6 phần:

    PHẦN I: ĂN & UỐNG & THĂM HỎI

    PHẦN II: VĂN NGHỆ & KHIÊU VŨ VỚI MC THỤY LAN & PHẠM GIA ĐẠI

    Katherine Minh Thư mở đầu chương trình với the sound of silence.

    Rồi song ca Vũ Hòa & Ngọc Quỳnh với Ô MÊ LY

    Tam ca Lờ Tờ Mờ (do anh Vương Trùng Dương đặt)

    Tứ ca: Thúy Giao, Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư

    PHẦN III: ĂN & UỐNG & VĂN NGHỆ

    Chị Anh Đào

    Thi đua ca hát giữa hai nhóm: Nữ Và tôi cũng yêu Anh

    Nam: Và tôi cũng yêu Em

    Anh Hiếu & Chị Mai

    Minh Châu với Mùa Đông của Anh

    PHẦN IV: VĂN NGHỆ & KHIÊU VŨ

    Anh Hùng Ngọc

    Minh Thư & Thúy Giao

    Anh HIếu & Minh Khai

    Anh Lễ và Mạnh Bổng

    Mạnh Bổng

    Mạnh Bổng: It now or never

    Anh Vũ Hòa: Anh còn nợ Em.

    Ngọc Quỳnh: Em đang thì thầm với ảnh là: “Có mà chạy đàng giời anh nhé”.

    Ban hợp ca Tiếng Thời Gian

    PHẦN V: COUNTDOWN

    CHÀO MỪNG 2026

    HAPPY NEW YEAR….HAPPY NEW YEAR….TO THE WORLD!!!

    Con gái của Katherine Minh Thư

    WOW! ZUI WUÁ…

    ĐẾN ĐÂY CHẤM DỨT CHƯƠNG TRÌNH CỦA ANH EM TA….

    CUỘC VUI NÀO RỒI CŨNG PHẢI TÀN…

    VÀ CHÚNG TÔI NGẬM NGÙI CHIA TAY…

    PHẦN VI: LẠI ĂN NỮA-CHÁO BÒ VÀ ….Ò E TU ME ĐÁNH DU, TẶC ZĂNG NHẢY DÙ, ZERO BẮN SÚNG…

    VUI QUÁ, SANG NĂM LÀM TIẾP…

    Hôm nay mồng một Tết: January 1, 2026. Chúng tôi nhận được lời nhắn từ các anh chị:

    Nv. Phạm Gia Đại: Cám ơn Katherine Minh Thư và Brian, Chúng ta đã có một đêm coundown thật tuyệt vời và đầm ấm trong tình gia đình với thức ăn ngon và âm nhạc suốt đêm đến 1 giờ sáng.

    Ns. Lê Nguyễn Nga: Có vui không thì sang năm làm nữa.

    Katherine Minh Thư: Tối qua vui quá. Vui đến nỗi ai ai cũng phải đi kiếm đồ: Chú Đại thì kiếm dù, 1 người thì đi kiếm mũ, 1 người thì đi kiếm phone, 1 người thì di kiem61m áo, 1 người đi kiếm giày, 1 người đi kiếm khăn choàng, 1 người để lại cái nắp nồi. Còn anh Việt Hải thì muốn countdown mỗi ngày.

    Thụy Lan: The bes party ever!!!! Good job MT & MT chịu chơi. The best host you are!!!

    Phạm Gia Đại: Best host, Best Singers, Best MCs, Best audience, Best atmosphere, Best food and drinks, Best music, Best Countdown! Dù ngoài trời mưa rơi rơi, nhưng trong nhà vẫn vui chơi…

    Joann Ngọc Châu: Không di Countdown được là một diều rất tiếc và ngoài ý muốn! Hôm nay đọc những comments của chủ nhà, khách cho biết đã vui chơi tối đa. Ngọc Châu quyết định sẽ làm một buổi tiệc tương tự để nhóm mình lại có dịp gặp nhau nữa! …..

    Lệ Hoa: …..Cám ơn Minh Thư và Brian và những người bạn tốt của chúng tôi, ước mong sao chúng ta sẽ có những cuộc vui như vầy nữa. Happy New Year to All.

    Khánh Lan & Mạnh Bổng kính chúc quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em một năm mới 2026 An khang thịnh vượng, sức khỏe vẹn toàn và vạn sự như ý.

    Khánh Lan & Mạnh Bổng.

    HAPPY NEW YEAR TO EVERYONE.

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt,  Tin tức

    Lễ ra mắt vương cung thánh đường Sài Gòn

    Khánh Lan

    Chiều qua, ngày 20 tháng 12, 2025. Chúng tôi đã đến tham dự buổi lễ ra mắt mô hình Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn tại viện bảo tàng di sản người Việt, Garden Grove, California cùng với nhiều quan khách và các nhà truyền thông báo chí tham dự.

    Đúng 1:30 chiều, giờ khai mạc đã đến. Buổi lễ diễn tiến trong sự trang trọng với các vị diễn giả nói về nguồn gốc và sự thành hình của ngôi thánh đường. Thời gian trôi qua nhanh quá, thấm thoát đã 150 năm (1880-2025)…

    Bức tranh “Vượt Biển” trên tường là do họa sĩ Richard W. DeRosset tặng

    Sau những bài diễn văn, tấm màn màu trắng được mở ra, một mô hình Vương Cung thánh đường Sài Gòn tuyệt đẹp hiện ra trước mắt mọi người. Tiếng vỗ tay chen lẫn tiếng reo vui mừng rỡ của quan khách vang lên trong niềm hân hoan.

    Trước khi quan khách được mời lên chiêm ngưỡng vè đẹp của ngôi Thánh Đường Sài Gòn, Cha Tuyên úy địa phận Garden Grove bắt đầu nghi thức cầu nguyện, làm phép và chúc lành cho mô hình Vương Cung Thánh Đường.

    Hình ông Trần Đắc Mưu và Cha Tuyên Úy Công Giáo

    Với chúng tôi, có lẻ không một chi tiết nào thiếu sót từ bên trong lẫn bên ngoài của nhà thờ, nào là chiếc xe xích lô đạp, và hai xe hơi đậu trước cửa nhà thờ đến gác chuông (khi chuông kéo, sẽ phát ra tiếng kêu) đều có cả. Nhất là tượng Đức Mẹ, Mẹ Thiên Chúa được đặt nơi mặt tiền của ngôi giáo đường, trông thật bao dung và nhân từ. Phải, Tượng Đức mẹ mà chúng tôi đã được nghe dân gian truyền lại bao lần rằng “Mẹ đã nhỏ lệ nhiều lần khóc cho quê hương Việt Nam sau ngày Saigon thất thủ năm 1975”.

    Điều làm cho mọi người ngạc nhiên hơn nữa là khi ông Trần Đắc Mưu mở cánh cửa tròn nhỏ ở mặt tiền của giáo đường thì mọi người không khỏi trầm trồ ngạc nhiên, bởi những chi tiết bên trong nhà thờ. Nào là những hàng ghế được xếp ngay ngắn ở hai bên.

    Khi cánh cửa tròn nhỏ phía trước giáo đường được mở ra.

    Nào bàn thánh Chúa và Mẹ Maria nhân từ ở trên cao. 

    Nào bức tượng của Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, Mẹ Thiên Chúa

    Và, ở phía dưới chân Chúa Trời và Mẹ Maria, hai bức tượng của cố tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu đang quỳ gối cầu nguyện trước bàn thánh.

    Chúng tôi được biết đây là mô hình do một nghệ nhân, ông Trần Đắc Mưu hiện cư ngụ tại San Diego đã bỏ ra một năm để hoàn tất, khi được hỏi ông đã bỏ ra bao nhiêu thời gian để hoàn tất công trình này. Ông Trần Đắc Mưu nói thêm: “Tôi hiện còn đi làm và tôi làm ca đêm, do đó tôi đã dùng tất cả thời gian rảnh rỗi còn lại để làm mô hình này.“ 

    Theo ông Trần Đắc Mưu, để làm được mô hình này ông đã nhờ vào sự giúp đỡ của một người cháu hiện còn đang sống ở Việt Nam cung cấp những chi tiết cần thiết trong và ngoài nhà thờ. Về phương diện kích thước trong và ngoài nhà thờ, ông nói: “Tôi không dùng một kích thước rõ ràng nào cả, nhưng may cho tôi, hôm ấy có một đám cưới tại nhà thờ; do đó, cháu tôi dựa trên chiều cao của những người tham dự lễ cưới và từ đó tôi đã dùng những dữ kiện này để biết được kích thước chiều cao trong và ngoài của nhà thờ.”

    Ông Trần Đắc Mưu cũng cho biết, bắt tay vào công việc hoàn tất công trình này không khó, nhưng cái khó là phải vận động tâm trí, sử dụng bộ óc và đi tìm những vật liệu cho thích hợp và đúng để làm.

    Giám Đốc Châu Thụy trao đến ông Trần Đắc Mưu-The Certificate Of Appreciation

    Buổi lễ ra mắt mô hình Vương Cung thánh đường Sài Gòn kết thúc lúc 3 giờ chiều trong niềm hân hoan của mọi người. Chúng tôi cũng mượn giây phút này để cảm ơn ông Trần Đắc Mưu đã để lại cho hậu thế một công trình hiếm quý. Một món quà tuyệt mỹ.

    Khánh Lan, California 2025

  • Khánh Lan,  Tin tức,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    GÌN GIỮ VÀ BẢO TỒN NGÔN NGỮ & VĂN HÓA VIỆT

    Khánh Lan

    Trong khoảng 20 năm qua, chúng ta thấy đã có nhiều học giả, giáo sư, chương trình nói về chủ đề liên quan đến ngôn ngữ. Đây là một trong những đề tài quan trọng cần được bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Cần thiết, bởi vì ngôn ngữ là giá trị văn hóa của một quốc gia, là tiếng nói thuần túy và đặc biệt của mỗi dân tộc. Đề tài được đưa ra mổ xẻ là “Từ muốn gìn giữ tiếng Việt đến gìn giữ văn học Việt cho thế hệ trẻ tại hải ngoại” thì phải làm gì?

    Hôm nay, Khánh Lan rất vinh hạnh mời được Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Chấn Trí và ông sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về trách nhiệm, bổn phận và phương cách bảo tồn tiếng Việt thế nào cho thích hợp và làm thế nào để chúng ta có thể chuyển tải ngôn ngữ cũng như văn hóa Việt đến thế hệ trẻ trong tương lai.

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các Anh Chị Em vào xem buổi nói chuyện giữa Giáo Sư và Khánh Lan. Buổi nói chuyện gồm 6 phần.

    PHẦN I:

    PHẦN II

    PHẦN III:

    PHẦN IV

    PHẦN V

    PHẦN VI

  • Khánh Lan,  Tin tức

    Viện Nghiên Cứu Lịch Sử và Văn Hóa Việt Nam ra mắt 2 tác phẩm

    Lâm Hoài Thạch/Người Việt

    GARDEN GROVE, California (NV) – Nhiều đồng hương đến dự buổi ra mắt sách “Đường Lối Chính Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương” của tác giả Ngô Thị Quý Linh, và “50 Năm Nhìn Lại,” tuyển tập của 17 tác giả, do Viện Nghiên Cứu Lịch Sử và Văn Hóa Việt Nam xuất bản, được tổ chức trưa Chủ Nhật, 2 Tháng Mười Một, tại Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum – VHM), Garden Grove.

    Những tác giả của sách “50 Năm Nhìn Lại” tại buổi ra mắt sách ở Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Garden Grove. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Hướng dẫn chương trình, Bác Sĩ Vũ Quốc Phong. Ông Bùi Đức Uyên, trưởng ban tổ chức, ngỏ lời chào mừng và cám ơn mọi người đến dự. Ông Phạm Trần Anh, nhà biên khảo lịch sử Việt Nam, là một tác giả của tác phẩm “50 Năm Nhìn Lại.”

    Trong tác phẩm này, ông viết: “Thời gian trôi qua rất nhanh, thế mà đã 50 năm, kể từ ngày Cộng Sản xâm chiếm miền Nam và thống trị dân tộc. Chúng ta cùng nhau dâng nén hương lòng tưởng niệm 50 năm ngày chấm dứt cuộc chiến Việt Nam.”

    Trong buổi ra mắt sách, ông nói: “Hỡi các công dân yêu nước, chúng ta hãy cùng nắm tay nhau đứng lên đấu tranh để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa, nhằm tiến tới giải thể bạo quyền Cộng Sản, giành lại độc lập tự do, hạnh phúc thực sự cho toàn dân Việt Nam. Hỡi những công dân Việt Nam yêu nước, chúng ta phải luôn nhớ rằng, những gì đã xảy ra hôm qua là lịch sử hôm nay. Những gì mà chúng ta hôm nay, chính là lịch sử của ngày mai, mà dân Việt Nam đang trông chờ các bạn.”

    Sau đó, Giáo Sư Vũ Hoàng, phụ trách phần ra mắt sách “Đường Lối ChÍnh Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương,” kể lại những sinh hoạt, biên khảo, và viết văn của tác giả. Sau đó ông kể sơ qua về nội dung sách.

    Sau đó, Giáo Sư Vũ Hoàng, phụ trách phần ra mắt sách “Đường Lối ChÍnh Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương,” kể lại những sinh hoạt, biên khảo, và viết văn của tác giả. Sau đó ông kể sơ qua về nội dung sách.

    Nhiều đồng hương đến dự buổi ra mắt hai tác phẩm “Đường Lối Chính Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương” của tác giả Ngô Thị Quý Linh, và “50 Năm Nhìn Lại,” tuyển tập của 17 tác giả, do Viện Nghiên Cứu Lịch Sử và Văn Hóa Việt Nam xuất bản. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Nói về vai trò của một cuốn sách lịch sử, theo Giáo Sư Trần Chấn Trí, lịch sử là di sản của nhân loại qua những bài học về quá khứ, đem lại nguồn cảm hứng vô giá cho tương lai.

    Giáo Sư Trí phát biểu: “Với tư cách là một độc giả của cuốn sách ‘Đường Lối Chánh Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương’ của tác giả Ngô Thị Quý Linh, tôi đặt mình vào quan điểm của những học sinh, sinh viên đang sống và học hành tại hải ngoại, những người trẻ tuổi gốc Việt muốn có ít nhiều kiến thức về lịch sử nước nhà mà, vì hoàn cảnh, đã không có nhiều cơ hội để học hỏi trong lãnh vực này.”

    Cũng theo giáo sư, cuốn sách này phần nào đáp ứng được nhu cầu cần thiết. Nhiều độc giả có thể xếp cuốn sách này vào nhiều thể loại khác nhau. Nhưng đối với ông, đây là một cuốn sách giáo khoa, hay ít nhất nó cũng có khuynh hướng giáo khoa, qua phần nội dung được thể hiện.

    Ông nói thêm: “Trong toàn bộ tác phẩm, tác giả trình bày các dữ kiện chi tiết lịch sử một cách rõ ràng. Như thế, tác giả đang gởi gắm những điều đó đến những người đang tìm hiểu lịch sử. Họ có thể thuộc về thế hệ trẻ biết rất ít, hoặc không biết gì, về lịch sử Việt Nam. Cũng có những người thuộc thế hệ lớn hơn, nhưng hiểu biết về lịch sử không mạch lạc, rõ ràng. Những người như vậy cũng có thể tìm thấy sự lợi ích của cuốn sách có tính chất giáo khoa này.”

    Họa sĩ Châu Thụy, giám đốc VHM, phát biểu: “VHM vô cùng vinh dự được đón tiếp quý vị trong buổi ra mắt hai tác phẩm hôm nay. Tôi chân thành cám ơn ban tổ chức đã chọn VHM làm địa điểm để giới thiệu sách. Đặc biệt, hôm nay cũng là ngày giỗ thứ 62 của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. VHM hân hạnh được lưu trữ bức tượng của ngài, như một biểu tượng cho tinh thần dấn thân phục vụ quốc gia, dân tộc.”

    Họa sĩ Châu Thụy, giám đốc VHM, phát biểu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    “Sứ mạng của VHM là bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ bây giờ và mai sau, gồm những giá trị lịch sử và văn hóa của tộc Việt Nam. Kính mong quý vị tiếp tục yểm trợ và đồng hành cùng chúng tôi trên con đường gìn giữ di sản này,” ông Châu Thụy nói thêm.

    Tác giả Yên Sơn, thành viên ban tổ chức, nói: “Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ biến cố cuối Tháng Tư, 1975. Một vết thương đau đớn của lịch sử dân tộc, và từ đó khởi đầu cho hành trình lưu vong chưa từng có trong lịch sử người Việt. ‘50 Năm Nhìn Lại’ đã quy tụ 17 tác giả gồm nhiều lứa tuổi trong nhiều hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau trước 1975. Tất cả góp phần vào nhịp cầu nối tiếp giữa ký ức và hiện tại, giữa lịch sử và khát vọng tương lai của người Việt Nam.”

    Hai tác giả Yên Sơn (trái) và Vũ Hoàng Hải. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Những tác giả này là Phạm Trần Anh, Bùi Đức Uyên, Đặng Ngọc Sinh, Trần Ngọc Dụng, Vũ Hoàng, Phan Nhật Nam, Phạm Ngũ Yên, Khánh Lan, Lê Hữu, Linh Vang, Phổ Hành, Phạm Ngọc Lân, Vương Trùng Dương, Bạch Dương Vũ Hoàng Hải, Bùi Quốc Hùng, và Yên Sơn.

    Về nội dung của sách “50 Năm Nhìn Lại,” Giáo Sư Phạm Thị Huê, chủ tịch Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt, nói: “Sách chủ đề 50 năm nhìn lại, phần nhiều với cái nhìn chung vào một điểm là ngày 30 Tháng Tư, 1975. Hầu hết các bài viết trong số 17 tác giả chú trọng vào ngày đặc biệt này, từ việc phải lựa chọn ra đi, và ra đi như thế nào?… Điểm này làm cho tôi có cảm tưởng là, một số đông trong chúng ta chưa quên được cái đau trong ngày mất nước, mất miền Nam tự do. Sách này, các tác giả ôn lại những nỗi buồn lo, những mất mát và sự lo sợ cho một tương lai bất định.”

    Giáo Sư Phạm Thị Huê, chủ tịch Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt, phát biểu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Tác giả Khánh Lan và tác phẩm 50 Năm Nhìn Lại

    Tác giả Bạch Dương Vũ Hoàng Hải nói với nhật báo Người Việt: “Tại trại tị nạn Thái Lan, chúng tôi không được may mắn, bị cưỡng bức trở về. Trước đó, vì không chấp nhận trở về, nên chúng tôi tự lấy dao đâm vào bụng. Nhưng cuối cùng thì một số anh em chúng tôi cũng bị bắt trở về. Khi bị đưa về nước, chính quyền Việt Nam lúc bấy giờ đã xem chúng tôi là những người phản quốc.”

    “Khi trở về thì anh em chúng tôi mới đoàn kết với nhau. Năm 2005, chúng tôi đã thành lập tổ chức Bạch Đằng Giang của những người bị cưỡng bức tại các trại tị nạn ở Đông Nam Á. Khoảng hai tuần sau, tôi bị công an theo dõi. Sau đó, họ bắt tôi để điều tra và đánh tôi rất nàn nhẫn. Đến ngày 5 Tháng Chín, 2006, thì họ buộc tội tôi là trong tổ chức lật đổ chính quyền. Sau hai năm bị cầm tù, và hai năm quản chế, đến năm 2010 thì Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ can thiệp, và cho tôi được định cư tại Mỹ theo diện tù nhân chính trị,” ông kể tiếp.

    Ông cho biết, tại Mỹ, ông đúc kết lại những kỷ niệm của những người ở trại tị nạn Thái Lan, và hầu như chưa có thông tin nào nói về sự tự sát của những người tị nạn Cộng Sản trên đất Thái, vì không chấp nhận trở về Việt Nam.

    “Thế là tôi soạn tác phẩm ‘50 Năm Vết Thương Còn Rỉ Máu’ để nói lên những nỗi đau của những người tị nạn tại Thái Lan bị cưỡng bức hồi hương, và khát vọng của người Việt Nam như thế nào,” ông Hải cho biết thêm.

    Buổi ra mắt sách có phụ diễn chương trình văn nghệ, với những tiếng hát Kim Loan, Trần Thạch, Quốc Phong, Sơn Thùy… Điều hợp chương trình văn nghệ là MC Nguyễn Ngọc Phúc. [đ.d.]

    Lâm Hoài Thạch/Người Việt

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Tin tức,  Viet-Hải

    Chúc Mừng Ngày Kim Khánh Nhà Giáo QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG

    Trần Việt Hải

            First Love

    Nhìn lại xã hội Hoa Kỳ nơi chúng ta sinh sống, tỷ lệ ly dị ở Hoa Kỳ đã giảm đều đặn trong gần hai thập kỷ qua, ngoại trừ một thành phần dân số lại có xu hướng gia tăng. Theo một nghiên cứu năm 2022 được công bố trên tờ The Journals of Gerontology, được gọi là ly dị “xám”, những người trên 50 tuổi đang rời bỏ vợ chồng của mình với tốc độ chóng mặt, cao hơn gấp đôi so với những năm 1990 và đối với những người trên 65 tuổi, tỷ lệ ly dị đã tăng gấp ba lần. Và không có người phối ngẫu nào thoát khỏi cuộc ly dị mà không bị tổn thương. Đàn ông lớn tuổi sống một mình thường cô đơn hơn so với phụ nữ, nhưng nói chung, phụ nữ lại bị thiệt hại nhiều hơn về mặt tài chính.

    Lý do vì sao hôn nhân thời nay đổ vỡ nhiều như vậy, thì theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, khoảng 22% cuộc hôn nhân tan vỡ trong vòng 5 năm đầu. Nếu ta tính tổng thể, tỷ lệ ly hôn ở Mỹ vào khoảng 40%. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến gần 118 triệu người Mỹ, hay 46% người trên 18 tuổi, đang độc thân. Tỷ lệ nữ giới không kết hôn hoặc đã ly hôn chiếm 52%, tính đến năm 2021.

    Có rất nhiều lý do khác nhau dẫn đến ly hôn, từ ngoại tình, mâu thuẫn tài chính, hay đơn giản là ngày càng nhàm chán, xa cách nhau. Bên cạnh những lý do quen thuộc, luật sư ly hôn Dennis R. Vetrano cho rằng có một số nguyên nhân khác cũng rất quan trọng mà ít được mọi người lưu ý.

    Theo bải viết: “Chúng tôi vô cùng sửng sốt trước những khám phá ra những số liệu ly hôn. Hơn 1/3 số người ly hôn hiện nay đã ngoài 50 tuổi. Chúng ta không thể phớt lờ đối với nhóm đó được nữa”. Bài báo Today online cho biết tiếp, mặc dù tỷ lệ ly hôn trong tổng dân số đang giảm, nhưng “những người lớn tuổi lại đang đi ngược xu hướng này”. Ðối với những người trên 65 tuổi, tỷ lệ ly hôn vẫn đang tăng lên.

    Theo tờ Today online, những khó khăn về tài chính sau cuộc “ly hôn xám” (sau 50 năm sống chung) mà các nhà nghiên cứu khác lo ngại. Một số người cho biết mức sống của họ thời hậu ly hôn giảm đáng kể. Ðiều này cùng với thực tế là tỷ lệ nghèo khổ nói chung có xu hướng cao hơn đối với người lớn tuổi, khiến tình trạng “ly hôn xám” trở thành vấn đề nan giải đáng lo ngại.

    Lấy ví dụ như gia dình Al Gore vì những chặng đường khác biệt, vì cả hai người (Al và Tipper) đã sống những cuộc sống hoàn toàn riêng biệt, lịch trình riêng biệt đã đưa họ đi theo những đường hướng khác nhau. Bài báo nói thêm. “Họ nói rằng họ vừa mới xa nhau. Tipper yêu đời và muốn tận hưởng cuộc sống, còn Al vẫn là một người đàn ông rất năng động với rất nhiều dự án và kế hoạch sẽ phải thực hiện.”

    Tôi (người viết bài) muốn đem ý nghĩa của sự cần thiết lễ hấp hôn. Vậy  lễ hấp hôn là gì? Bí quyết làm lễ hấp hôn đơn giản và hiệu quả. Tình yêu của các cặp đôi sống chung lâu năm sẽ dần dà nhường chỗ cho sống chỉ vì nghĩa tình. Chính vì thế, khái niệm hấp hôn là những gì bắt đầu được nhắc đến như một cách để giữ gìn sự gắn bó bền lâu.

    Nhiều cặp vợ chồng đã cưới lâu năm khi mà lối xưa thu thảo đâm ra nhàm chán, người ta cần một không khí mới tươi mát hơn. Do vậy ý niệm hấp hôn là hành động vợ chồng chủ động làm mới mối quan hệ sau một thời gian dài chung sống. Không có bất kỳ quy chuẩn cố định nào khi tổ chức hấp hôn mà chỉ đơn giản là những nỗ lực nhỏ để giữ cho tình cảm vợ chồng luôn ấm áp và gắn bó.

    Khái niệm hấp hôn với người Việt hàm ý nghĩa gần giống với “vow renewal” trong văn hóa phương Tây. Tức là các đôi hôn nhân tổ chức lại lễ cưới nhỏ, và một buổi tiệc nhỏ là xong. Sau nhiều năm sống chung để hâm nóng lại tình yêu. Do đó lễ hấp hôn trong tiếng Anh có thể dịch là rekindle the marriage, renew the marital relationship hoặc reignite the spark in marriage.

    Nhà văn Quyên Di, vừa qua tổ chức ngày lễ vàng Kim Khánh Hôn Phối (50 năm chung sống) vô cùng long trọng và rất ý nghĩa. Đông đảo thân hữu, hơn 400 quan khách tham dự chúc mừng ông bà GS Quyên Di và hiền nội là nhạc sĩ Hồng Trang.

    Bài viết tường trình của nhà văn Jacqueline Kiều My và Khánh Lan về ngày lễ kỷ niệm 50 năm ngày cưới của Gs. Quyên Di và Ns Hồng Trang. Xin bấm vào link dưới đây để xem:

    MỪNG KIM KHÁNH HÔN NHÂN: GIÁO SƯ QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG

    Lễ Kim Khánh Hôn Phối mang màu sắc Công Giáo, như ơn gọi thánh hiến khởi đi từ tình yêu. Một tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa trên những người Ngài muốn và tuyển chọn. Một tình yêu cao quý mà ngôn ngữ con người không thể mở hết cánh cửa huyền nhiệm từ tiếng gọi của Thiên Chúa và lời đáp trả của con người.

    Thêm youtube link về lễ mừng Kim Khánh Nhà Giáo Quyên Di và Nhạc Sĩ Hồng Trang:

    Trong buổi lễ Kim Khánh Hôn Phối của GS. Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang, tôi xin ghi nhận ra điều quan trọng là tóm tắt đại ý bài giảng của linh mục Tạ Anh Kiệt như sau:

    “Chim quyên ăn trái nhãn lồng,

    Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

    “Hơi” đây là hơi gì?

    Là hơi của yêu thương

    Là hơi của chia sẻ

    Là hơi của nâng đỡ lẫn nhau

    Là hơi của tha thứ

    Là hơi của mồ hôi và nước mắt

    Khi cùng nhau vượt qua những đoạn đường gian khó của cuộc đời

    Là hơi của hai nhịp thở cùng nhau lo cho con cái

    Là hơi của tuổi xế chiều, cùng già đi với nhau

    Là hơi cùng nhau trông cậy vào Thiên Chúa…”

    Câu ca dao trích dẫn như trên về tình yêu đôi lứa thấm đượm tình cảm vợ chồng ân nghĩa, bên nhau thủy chung. Cho dù đời sống có vất vả, nghèo khó, họ vẫn vui vẻ chia sẻ cận kề bên nhau, gắn kết với nhau như keo sơn suốt đời. Trong cuộc sống tình nghĩa vợ chồng cần thấu hiểu nhau, thương nhau trong những lúc chênh vênh, khó khăn, hãy luôn luôn kề vai sát cánh bên nhau. Có sự đồng điệu, tương xứng với nhau, có như vậy thì mới sống chung vui vẻ, hạnh phúc và gắn bó lâu dài. Do vậy, câu ca dao miền Nam hàm nghĩa là chim quyên phải ăn trái nhãn lồng, hình ảnh thủy chung đôi bạn, vợ chồng quen hơi hám nhau chung tình cả đời.

    Tôi ghi nhận điểm đặc biệt, Gs Quyên Di ngỏ lời  tri ân  vào cuối Thánh Lễ Tạ Ơn:

    “Cám ơn các vị linh mục, phó tế đã dâng thánh lễ và cầu nguyện cho chúng tôi.

    Cám ơn Ca Đoàn Hoa Biển, ca trưởng, Quỳnh Anh, ca sĩ Như Mai, pianist Phương Lan đã tấu lên những bản thánh ca nâng lòng người lên gần Thiên Chúa.”

    (Xin xem thư kèm cảm tạ của gia đình GS. Quyên Di)

    Bàn về nhạc cho dịp lễ cưới, tôi vốn thích các nhạc phẩm như sau:

    Oui devant Dieu, Here comes the bride, Ave Maria, Endless love, Tonight I celebrate my love, Love me with all your heart, I will always love you.

    Hôm mừng ngày kỷ niệm lễ cưới Quyên Di & Hồng Trang, 3 bài trong danh sách trên được hát như:

    1/ Ave Maria (do Tawni Thanh Thảo, ca ngân giọng lirico soprano, “imitazione come” giọng nữ cao trữ tình, âm sắc nhẹ nhàng, trong sáng).

                                                              Eva Maria, Tawni Thanh Thảo

    Đôi nét về nhạc khúc Schubert này, khi cảm hứng dâng lên để nhà soạn nhạc Franz Schubert người Áo, viết nhạc phẩm dạng Lied xuất sắc này là từ tập thơ Cô gái vùng hồ, được Adam Storck dịch sang tiếng Đức, trong đó nhân vật chính là nữ anh hùng Ellen Douglas trong thời gian trốn tránh quân thù bên một cái hồ, đã cầu nguyện Đức trinh nữ Maria bằng những lời thơ. Schubert vốn là người sùng đạo, lại nhớ đến người con gái mà ông yêu có khuôn mặt giống y đức Đức trinh nữ nên đã phổ nhạc cho tác phẩm này. 

    Như trên đã nói, Schubert đặt tên tác phẩm này là Ellens dritter Gesang, mà không phải là Ave Maria, điều này được khẳng định qua những lá thư ông gửi cho cha mẹ mình, báo tin về sự thành công của ca khúc.                                                                 

    Tuy nhiên, vì bài hát mở đầu và thường lặp lại hai từ “Ave Maria” nên người ta đã đổi tên tác phẩm, đồng thời nghĩ đến việc phổ giai điệu này vào Kinh Kính Mừng tiếng Latinh.

    Nhưng Ave Maria cũng là một tình khúc được lựa chọn phổ biến cho đám cưới Công giáo. Bài hát là một lời cầu nguyện dâng lên Đức Trinh Nữ Maria, với lời ca bằng tiếng Latin. Bài hát thường được ưa chuộng hát trong đám rước hoặc sau khi lễ ban phước lành. Mặc dù một số người liên tưởng bài hát này thích hợp với đám tang, nhưng cuối cùng, việc lựa chọn nhạc cưới vẫn là quyền của những cặp yêu nhau.

    2/ Oui Devant Dieu:

    Ngày Tân Hôn (Oui Devant Dieu) Sáng tác: Maurice Tézé ,Jean Prieto; Lời Việt: Phạm Duy, do Ca sĩ: Jacqueline Kiều My trình bày song ngữ Pháp Việt.

    Em bên mình anh, lặng im dưới bàn thờ

    Và quanh chúng ta là vui sướng chan hoà

    Tình duyên nhỏ bé thành đôi ước mơ già

    Bao nhiêu tóc tơ, giờ đây đã kết se.

    Ta bên mình nhau, rồi đi suối con đường

    Đưa ta suốt đời về nơi xứ Thiên Đường

    Về nơi tổ ấm nhờ ơn đức cao vời, ơn Mẹ Mari-a.

    Người yêu ơi! Ơi người! Người yêu dấu ơi!

    Cùng bên nhau suốt đời, cùng chia sớt nỗi vui

    Hay nỗi sầu, cùng cho nhau biết bao là yêu

    Ví dầu đời qua mau,

    Hai mái đầu, rồi đây sẽ trắng phau.

    Ôi vai kề vai, và tay nắm tay rồi

    Đời thôi vắng tanh, lẻ loi kết đôi rồi

    Từ nay nồng ấm, đời thôi hết u hoài

    Ôi! Tình chăn gối bao la

    Sẽ mang về mãi… tận cõi già

    “Ngày Tân Hôn” (“La Novia”, “The Wedding”, “Oui Devant Dieu”) của Joaquin Prieto, Fred Jay, Maurice Tézé. Ns Phạm Duy chuyển ngữ.

    “The Wedding”, còn được gọi là “The Wedding La Novia”, là một bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Joaquín Prieto được ca sĩ người Anh, Julie Rogers, thu âm từ năm 1964. Bài hát còn nằm trong vở kịch dài “The Wedding” của Julie Rogers từ năm 1964, và đã xuất hiện trong nhiều albums.

    Joaquin Prieto (nhạc sĩ người Chí Lợi) sáng tác bài hát bằng tiếng Tây Ban Nha năm 1958 mang tựa đề “La Novia” (“The Bride”). Phiên bản tiếng Tây Ban Nha này được em trai của ông, Antonio Prieto, thu âm ở Argentina. Phiên bản tiếng Anh do nhạc sĩ Fred Jay dịch lại sau đó nổi tiếng cả ở Âu Châu lẫn Hoa Kỳ, do nhiều nghệ sĩ thu âm và phát hành đầu thập niên 1960s. Trong số các nghệ sĩ này có Anita Bryant và Malcolm Vaughan. Một phiên bản tiếng Nhật tựa đề nguyên thủy “La Novia” do Peggy Hayama trình diễn trở thành hit song ở Nhật. Ca sĩ Dickie Rock người Irish thu âm bài hát năm 1988.

    Oui, devant Dieu (tiếng Pháp), Paroles:Maurice Tézé. Musique:J. Prieto 1961, Titre original: “La novia”

    Oui Devant Dieu by Kiều My

    Oui! devant Dieu, devant les hommes!

    Oui! pour l’amour que tu me donnes!

    Et pour qu’un jour je te pardonne

    Si malgré toi tu m’abandonnes!

    Oui! pour les joies et pour les peines!

    Et pour les lois qui nous enchaînent!

    Oui! je promets quoi qu’il advienne

    Ave Maria!

    Dans tes yeurs je vois tes larmes de jois

    Et j’entends en moi monter une voix

    Mon Dieu qui veillez sur ma vie

    Protégez mon amour, je vous en prie

    Oui, devant Dieu, devant les hommes

    Oui, prends mes jours, je te les donne

    Et plus que tout, mieux que personne

    Je t’aimerais toujours.

    Jusqu’à mon dernier jour                                    

    3/ Love Me With All Your Heart do ca sĩ Lưu Mạnh Bổng vốn nổi danh qua những tình khúc như O Sole Mio (It’s nơw or never), Foglie d’Autunno (Autumn Leaves),… Louis Lưu là một giọng nam cao.

    Đôi chút về bài tình ca Yêu Em Bằng Cả Trái Tim (Love Me With All Of Your Heart). Nguồn gốc xuất xứ của bài ca này là một trong những bài tình ca phổ biến phỏng tác từ bài nhạc gốc tiếng Tây Ban Nha “Cuando calienta el sol” được viết bởi Rafael Gaston Perez một trưởng nhóm nhạc người Nicaraguan. Bài hát được the Rigual Brothers (Carlos Rigual and Mario Rigual) viết lời tiếng Tây Ban Nha, ngoài ra lời bài hát cũng có sự đóng góp của Carlos Albert Martinoli một nhà sọan nhạc người Argentine. Lời tiếng Anh được phỏng tác được cho là do Michael Vaughn (or Maurice Vaughn) và cũng có thể là Sunny Skylar một nhà soạn nhạc kiêm ca sĩ người Mỹ. Bài hát được phát hành năm 1961. Mặc dù với phiên bản tiếngTây Ban Nha hay tiếng Anh thì bài tình ca này không hẵn là bản dịch của nhau, tựa bài hát theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “Khi mặt trời sưởi ấm”, bản thu âm bởi ca sĩ “The Ray Charles” từng đứng vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng top 100 của Billboard Hot và đứng vị trí số 1 trên bảng xếp hạng The Pop-Standard singers trong 4 tuần của tháng 6 năm 1964.

    Dưới đây là hai bài nói chuyện của Kiều My và Khánh Lan trong ngày lễ kỷ niệm 50 măn thành hôn của GS Quyên Di và NS Hồng Trang.

    Khánh Lan đại diện cho Lien Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian:

    Kiều My đại diện cho Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa

    Hôm nay, trong bầu khí Thánh thiêng và tràn đầy yêu thương, chúng ta hân hoan cùng hiện diện nơi đây để chúc mừng đôi bạn đáng quý, hai tâm hồn đã cùng nhau đi trọn hành trình năm mươi năm trong ơn nghĩa Thiên Chúa.

    Nhìn lại hành trình năm mươi năm đời sống hôn nhân của GS Quyên Di và Ns Hồng Trang…là
    một nửa thế kỷ của niềm tin, của
    những hy sinh âm thầm, hay những ngày nắng ấm, hoặc những mùa mưa gió và ngay cả những thăng trầm trong cuộc sống.
    Nhưng trên tất cả — là tình yêu bền vững
    của đôi lứa được dệt nên bằng lòng trung tín và ân sủng của Đấng Tối Cao

    Ngày hôm nay, khi nhìn lại quãng đường dài ấy, chúng ta cùng tạ ơn Thiên Chúa vì một hôn nhân tốt đẹp như chứng từ sống động của Tin Mừng:

                Một tình yêu không phai,
                Một đức tin không nguôi,
                Một gia đình tràn đầy phúc lành.

    Xin Thiên Chúa là Cha nhân lành tiếp tục chúc phúc cho GS Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang
    để những năm tháng sắp tới vẫn đầy ắp tiếng cười,
    đầy ắp bình an và hạnh phúc trong Chúa.

    Nguyện xin Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse luôn đồng hành, nâng đỡ và giữ gìn mái ấm thân thương này trong yêu thương và thánh thiện.

    Kính chúc đôi bạn vàng của hôn nhân thánh thiện
    Mừng Kim Khánh Hôn Phối tràn đầy ơn phúc
    Trong ánh sáng và tình yêu của Thiên Chúa!

    KIều My

    Ghi nhận bài: Việt Hải Los Angeles,27/10/2025*.

    ——————————————————————–

    *: Bài viết xin gửi ông anh Hoa Tím Quyên Di, hẹn gặp nhau mùa Kim Khánh kế tiếp, sẽ vui bạo nhé, con chim quyên mãi ăn trái nhãn lồng, giống ngọt cơm vàng ở xứ Cà Mau hay Long Xuyên nhé !!! VHLA.

  • DU LỊCH,  Khánh Lan,  Tin tức

    CATALINA ISLAND & ENSENADA

    Khánh Lan

    Santa Catalina Island in 2025

    Santa Catalina Island là một điểm du lịch nổi tiếng ngoài khơi bờ biển Nam California, Hoa Kỳ. Nằm trong Thái Bình Dương, cách Los Angeles khoảng 35 km (22 dặm) về phía tây nam. Diện tích: Khoảng 19.420 km2 (74,98 dặm vuông). Hành chính: Thuộc Quận Los Angeles, California. Đô thị chính: Thành phố Avalon là trung tâm dân cư và du lịch chính trên đảo. Hai khu vực chính: Đảo được chia thành hai khu vực: Avalon: Khu vực phát triển và nhộn nhịp hơn ở phía đông và Two Harbors: Khu vực mộc mạc và hoang dã. 

    Avalon: Khu vực phát triển và nhộn nhịp hơn ở phía đông.

    Khu vực Avalon phát triển về lảnh vực thương mại và du lịch so với hơn 40 năm trước (1978-1980). Nơi đây đã thấy có sự xuất hiện của nhiều nhà hàng sang trọng, quán giải khát và các của tiệm bán nữ trang, đồ lưu niêm, v.v… mọc lên như mấm. Khách du lịch du lịch khá nhiều dù là những ngày trong tuần. Muốn vào cửa của Via Casino, khách phải trả $20.

    Casino Catalina: Một tòa nhà lớn màu trắng mang tính biểu tượng, nhưng không phải là sòng bạc, mà là nơi tổ chức các sự kiện và có một nhà hát lịch sử.

    Dưới bến tàu du lịch & tàu tư nhân đậu san sát nhau ở bến tàu. Các Du thuyền lớn phải đậu ngoài khơi vài chiếc đưa khách vào đảo bằng những chiếc thuyền nhỏ.

     LỊCH SỬ SANTA CATALINA ISLAND

    Thời kỳ tiền sử: Đảo Catalina đã có người bản địa sinh sống cách đây hơn 7.000 năm. Họ tự gọi mình là Pimugnan hoặc Pimuvit và gọi hòn đảo là Pimugna hoặc Pimu.

    Khám phá của người châu Âu:

    • 1542: Nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha João Rodrigues Cabrilho là người châu Âu đầu tiên đến đảo.
    • 1602: Nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Sebastián Vizcaíno đổi tên đảo thành “Santa Catalina”.
    • Giai đoạn thuộc địa và sở hữu:
      • Đảo từng được tuyên bố chủ quyền bởi Đế quốc Tây Ban Nha, sau đó chuyển sang Mexico và cuối cùng là Hoa Kỳ. Trong suốt giai đoạn này, đảo được sử dụng không thường xuyên bởi những kẻ buôn lậu, thợ săn rái cá và những người đào vàng.
      • Cuối những năm 1800: Đảo được George Shatto mua lại và bắt đầu phát triển thành một khu nghỉ dưỡng, nhưng không thành công.
      • 1919: William Wrigley Jr., ông trùm kẹo cao su nổi tiếng, mua lại phần lớn hòn đảo. Ông đã đầu tư mạnh để biến Catalina thành một điểm đến nghỉ dưỡng đẳng cấp thế giới.
      • Những năm 1920: Wrigley xây dựng cơ sở hạ tầng, khách sạn và các địa điểm du lịch. Ông còn mang đội bóng chày Chicago Cubs (thuộc sở hữu của ông) đến đảo để tập huấn mùa xuân.
      • 1929: Tòa nhà Catalina Casino mang tính biểu tượng được xây dựng, bao gồm một phòng khiêu vũ khổng lồ và nhà hát chiếu phim.
      • Những năm 1970: Gia đình Wrigley chuyển giao 88% diện tích đảo cho Tổ chức Bảo tồn Đảo Catalina (Catalina Island Conservancy) để bảo vệ thiên nhiên hoang dã.
      • Hiện tại: Catalina là một điểm đến du lịch nổi tiếng với nhiều hoạt động từ bãi biển Avalon nhộn nhịp đến các con đường mòn đi bộ đường dài hoang dã ở vùng nội địa. 

    Catalina Island nổi tiếng với Hệ động thực vật: Đảo có hệ sinh thái độc đáo với nhiều loài thực vật và động vật đặc hữu, trong đó có cáo đảo. Một đàn bò rừng bison cũng sinh sống tại đây, được mang đến từ một đoàn làm phim vào những năm 1920. Du khách có thể đi bộ đường dài, lặn biển, đi xe golf vòng quanh đảo, tham quan các bảo tàng và thư giãn tại bãi biển. Ảnh hưởng văn hóa: Đảo Catalina đã trở thành bối cảnh cho hơn 500 bộ phim và chương trình truyền hình. Hệ điều hành MACOS Catalina của Apple cũng được đặt tên theo hòn đảo này. 

    Du thuyền Navigator Of The Seas của cruise line Royal Caribbean ghé Catalina Island & Ensenada, 4 đêm.

    Từ parking lot nơi du thuyền Royal Caribbean đậu là những chuyến xe bus chở du khách vào phố với một giá rất rẻ, $4 vừa đi vừa về cho mỗi người.

    Ensenada có nghĩa là “cửa sông”, là một thành phố thuộc đô thị Ensenada, Baja California, nằm trên bờ biển Thái Bình Dương của Mexico. Nằm trên vịnh Todos Santos, thành phố có dân số 279.765 người vào năm 2018, trở thành thành phố lớn thứ ba ở Baja California. Thành phố là một trung tâm thương mại quốc tế quan trọng và là nơi có Cảng Ensenada, một cảng bận rộn thứ hai ở Mexico.

    Ensenada là một điểm đến du lịch lớn nhờ khí hậu ấm áp và vị trí gần Thái Bình Dương, và thường được gọi là La Cenicienta del Pacífico (“Cô bé Lọ Lem của Thái Bình Dương”). Ensenada được thành lập vào năm 1882, khi cộng đồng nhỏ Rancho Ensenada de Santos được chọn làm thủ phủ khu vực cho sự phân chia phía bắc của Lãnh thổ Baja California. Thành phố đã phát triển đáng kể nhờ sự phát triển của các mỏ ở vùng núi xung quanh. Trong khi Cách mạng Mexico đã hạn chế phần lớn sự mở rộng của Ensenada, thì việc ban hành lệnh Cấm rượu tại Hoa Kỳ đã biến thành phố này thành một điểm đến du lịch nổi tiếng cho người Mỹ tìm kiếm giải trí và rượu.

    Danh tiếng của Ensenada như một thị trấn nghỉ dưỡng được củng cố vào những năm 1950 và 1960, thời kỳ chứng kiến ​​sự bùng nổ xây dựng và sự nổi tiếng quốc tế của thành phố bên ngoài Bắc Mỹ. Ngày nay, Ensenada là một trung tâm kinh tế và văn hóa lớn của Baja California. Thành phố này là nơi tọa lạc của nhiều trường đại học, chẳng hạn như Viện Công nghệ Ensenada và Đại học Tự trị Baja California, Ensenada. Ensenada là một trung tâm công nghệ sinh học quan trọng và là nơi đặt trụ sở của nhiều viện nghiên cứu, chẳng hạn như Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Ensenada. Thành phố là thành viên của Mạng lưới Thành phố Sáng tạo UNESCO.

    Trung tâm thương mại Ensenada

    ROYAL CARIBBEAN WITH NAVIGATOR OF THE SEAS: 4 NIGHTS CATALINA ENSENADA CRUISE–OCTOBER 2025

    4 ngày trên du thuyền với chương trình văn nghệ thật suất sắc cho dịp mừng lễ hội Halloween. màu vàng của những bông hoa, bong bóng, trái bí rợ rải rác khắp mơi, Halloween Costume Parede trên con phố Royal Promenade vời các trang phục hóa trang.

    Royal Family feud

    Đặc biệt với màn Royal Birthday Bash

    ROYAL BIRTHDAY BASH

    Balloon are dropping

    I even got 2 balloons

    Music and Dancing include: Piano Melodies with Scarielt, Jazz Standard Time with the Navigator Orchestra feat, Latin Music & Dancing with Azucar, and Farewell Party with DJ, Ballroom Dance Music with the Navigator Orchestra, Guitar & Vocal Entertainment with Alvaro,

    THE NAVIGATOR ORCHESTRA

    Ballroom Dance Music

    Latin Music & Dancing with the Navigator Orchestra

    Entertainment: Showgirl with the dance of Past & Present, Future, Ballroom Fever, iskating: Reach for the Stars, v.v…

    ISKATING: Reach for the Stars

    Showgirl with the dance of Past & Present, Future, Ballroom Fever

  • Khánh Lan,  Kiều My,  Tin tức

    MỪNG KIM KHÁNH HÔN NHÂN: GIÁO SƯ QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG

    Kiều My & Khánh Lan

    “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không thể phân chia” đề cập đến sự thánh thiêng và bất khả phân ly của hôn nhân theo giáo lý Công giáo. Hôn nhân là sự kết hợp thiêng liêng bởi Chúa Giêsu giữa một người nam và một người nữ, họ kết hôn và trở nên “một xương một thịt” trong mắt Thiên Chúa.

    Lễ Kỷ niệm 50 ngày cưới của Giáo Sư Quyên Di và Nhạc Sĩ Hồng Trang: 1975-2025
    Hôm ấy, trời đẹp quá, một màu xanh lơ, bầu trời thật quang đãng dường như thiên nhiên cũng ưu ái chúc lành cho cuộc hôn nhân tốt đẹp này. Từ 9:30 sáng thứ Bảy, ngày 18 tháng 10 năm 2025 trong bầu không khí thánh thiêng tại Thánh đường Trung Tâm Mục Vụ Lambert đã đông nghẹt người, trong nhà thờ cũng như ngoài parking lot. Mọi người đều hân hoan, hiện diện tham dự thánh lễ kỷ niệm 50 năm thành hôn của Giáo sư Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang. Theo Gs Quyên Di, Trung Tâm Mục Vụ Lambert là do các nữ tu mua lại của một nhà thờ tin lành vào những năm trước. Đây là một trung tâm đẹp, khang trang gồm một nhà thờ nhỏ, khu nhà nguyện và một hội trường xinh xắn. Từ nhà thờ đến hội trường phải đi qua một vườn hoa do các nữ tu chăm xóc, xinh đẹp và rất đáng yêu, có lẽ nhờ vào những bàn tay khéo léo của các bà.

    Những giây phút trôi qua thật lắng đọng! Giờ đây, trong nguyện đường thật ấm cúng tràn đầy tình thương của thân bằng quyến thuộc gần xa, hợp cùng 10 vị linh mục dâng lễ Tạ ơn Thiên Chúa. Đúng 10 giờ sáng, thánh lễ bắt đầu. Từ cuối nhà thờ các linh mục từ từ tiến lên bàn thánh, theo sau là Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang, các con của hai vị và sau cùng là cha chủ tế, Đức Ông Phạm Quốc Tuấn, Ngài là Pastor của nhà thờ San Antonio Catholic Church thuộc vùng Anaheim Hill.

    Các linh mục từ từ tiến lên bàn thánh.

    Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang

    Theo sau là các con và cháu của hai vị.

    Thánh lễ đồng tế diễn ra thật trang trọng, âm vang tiếng hát thiên thần của ca đoàn Hoa Biển và Ca Sĩ Như Mai lan tỏa trong không gian, phối hợp nhịp nhàng hòa cùng các vị Linh mục. Ca đoàn Hoa Biển do Ns Hồng Trang lập ra từ khi mới định cư tại Hoa Kỳ.

    Linh mục Tạ Anh Kiệt mở đầu bài giảng thật linh động với câu ca dao: “Chim Quyên ăn trái nhãn lồng. Lia thia quen châu, vợ chồng quen hơi“. Sau đó linh mục đã giải thích tường tận ý nghĩa của câu ca dao, với phong cách và câu nói dí dỏm, Ngài đã làm cho bài giảng hôm ấy trở nên thú vị, thu hút người nghe. Được biết thêm, linh mục còn là học trò của Gs Quyên Di. Sau cùng, Ngài ngỏ lời chúc hôn và cảm tạ Thiên Chúa đã thương ban nhiều hồng ân đến cho Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang trong hành trình 50 năm “hồng phúc”. Ngài cầu xin cho họ được hưởng trọn hạnh phúc lứa đôi mãi mãi.

    Thánh lễ được cử hành bởi cha chủ tế và các vị Linh mục Thánh hiến, mang trọn vẹn ‎y nghĩa của phép bí tích Hôn phối thiêng liêng, mà Hội Thánh Công Giáo đã kết hợp đôi uyên ương gắn bó trung thành với nhau trong 50 năm qua và còn mãi mãi về sau.

    Chủ tế: Đức ông Phạm Quốc Tuấn

    Các Linh mục: Chu Vinh Quang, Bùi Quyết, Lê văn Quảng, Mai Khải Hoàn, Nguyễn Ngọc Hoàn, Nguyễn Trung Tuấn, Nguyễn Việt Hưng, ICM; Tạ Anh Kiệt, Trần Văn Kiểm và hai thày Phó tế: Thày Nguyễn Văn Phước và Thày Nguyễn Khiết.

    Chúa ở cùng anh chị em.

    Một đặc ân mà hai vị Linh mục Mai Khải Hoàn và Nguyễn Trung Tuấn đã trao phép lành Tòa Thánh Vatican từ Đức Giáo Hoàng Leo XIV, như bảo chứng của Hồng Ân Thiên Chúa qua lời khẩn cầu của Đức Trinh Nữ Maria cho GS Gioan Baotixita Quyên Di và Teresa Hồng Trang nhân dịp kỷ niệm 50 năm Hôn Phối. Hai tâm hồn đã cùng nhau đi trọn hành trình hôn nhân qua nửa thế kỷ trong ân sủng của Thiên Chúa.

    Linh mục Mai Khải Hoàn và Nguyễn Trung Tín đã trao phép lành Tòa Thánh Vatican từ Đức Giáo Hoàng Leo XIV. Và vị chúc hôn là Linh Mục Nguyễn Việt Hưng thuộc dòng Tận Hiến.

    “YOU MAY KISS THE BRIDE!“

    Lời cám ơn của Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang

    Thánh lễ Hôn phối mang ý nghĩa gì?

    ‎‎Hôn nhân Công giáo là bí tích Chúa Giêsu đã lập để kết hợp hai người tín hữu, một nam một nữ thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội thánh, cùng ban ơn giúp họ sống xứng đáng ơn gọi của mình. Khi một người nam và một người nữ kết hôn, họ trở thành vợ chồng theo luật tự nhiên. Hôn nhân của họ là một khế ước, có giá trị trước mặt Thiên Chúa. 

    “Qua bí tích hôn phối, tình yêu của vợ chồng được Thiên Chúa đóng ấn. Họ nhận được những ơn siêu nhiên giúp họ sống ơn gọi hôn nhân và gia đình. Bí tích là điều rất thiêng liêng và trở nên dấu chỉ màu nhiệm Đức Kitô kết hợp với Hội thánh”.

    Nhìn lại năm mươi năm, qua đời sống hôn nhân được bền vững của người thầy hiền từ và nữ nhạc sĩ dịu dàng đã dựa vào niềm tin, với những hy sinh âm thầm…của những ngày nắng ấm, hay cả những mùa mưa gió…và vẫn không thiếu những thăng trầm trong cuộc sống. Nhưng trên tất cả là – tình yêu bền vững của đôi hôn nhân được dệt nên bằng lòng trung tín và ân sủng của Thiên Chúa. Đã minh chứng:

    Một tình yêu không phai. Một đức tin không nguôi. Một gia đình tràn đầy phúc lành.

    Trong dịp trọng đại này, với lòng cảm kích sâu xa Kiều My kính tặng Giáo sư Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang bài thơ đã dệt nên … Khúc Hát Ân Tình

    Năm mươi năm – nửa thế kỷ ân tình

    Lời thề xưa…nay vẫn vẹn nguyên son sắt

    Bàn tay Chúa đã nối hai tim cùng nhịp đập

    Để hôm nay…tình yêu ấy nở hoa vàng của mùa Kim Khánh

    Bao mùa nắng mưa qua …vẫn còn đó nụ cười hiền

    Vẫn đôi mắt sáng…niềm tin giữa bao thử thách

    Từng ngày chung bước…là một lời cảm tạ

    Vì có Chúa hiện diện trong từng hơi thở của …tình yêu

    Xin dâng lên Thiên Chúa muôn lời chúc tụng

    Đã cho đôi bạn tìm thấy nhau

    Gắn bó đến hôm nay và mãi về sau

    Khắng khít bên nhau…đến bạc đầu

    Xin Chúa hãy nâng đỡ đôi bạn trong tuổi hoàng hôn

    Đôi tim vàng của Kim Khánh Hôn Nhân

    Thánh lễ đã hoàn tất, quan khách được mời đến hội trường tham dự bữa tiệc thân mật cùng chung vui với hai vì sao hạnh phúc nhất của nhân gian. Các bàn ăn được xép san sát nhau, chúng tôi đoán chắc có đến 400 người tham dự. Những đóa hồng màu vàng rải rác khắp căn phòng, một màu vàng của sự thủy chung, của hạnh phúc và của 50 năm an bình trong tình yêu Thiên Chúa.

    Khách mời dự tiệc gồm các linh mục, các ca nhạc sĩ, hội đoàn, gia đình và bạn bè.

    Nhạc Sĩ Từ Công Phụng dù rất yếu, nhưng ông cũng có mặt để tham dự tiệc mừng và hát một nhạc phẩm tặng Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và con trai, Nguyễn Đại Thành (Thi sĩ Huy Anh)

    Hàng đứng: Minh Khai, Lệ Hoa, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Ngọc Hà, Ngọc Châu. Hàng Ngồi: Đạt, Nguyễn Quang, Vương Trùng Dương, Dương Ngọc Sum.

    Alain Đức, Ngọc Châu, Minh Châu

    Khánh Lan, Dương Hồng Anh, Lê Nguyễn Nga, Katherine Minh Thư, Thụy Lan, Việt Hãi, Lệ Hoa, Ngọc Quỳnh, Kiều My.

    Này Em, hãy cùng ta cạn ly “Hạnh Phúc”

    Rượu mừng do Ns Hồng Trang tự làm-đặc biệt cho ngày tiệc.

    Việt Hải, Khánh Lan, Lệ Hoa, Ngọc Quỳnh

    Hãy cùng nâng ly chúc mừng cho đôi “Uyên Ương” 100 năm hạnh phúc.

    MC Diệu Quyên ngõ lời chúc mừng và cảm tạ đến cử tọa tham dự gồm có: các vị Linh mục, các nữ tu, các bậc chức sắc, ca đoàn Hoa Biển, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa. Ca nhạc sĩ gồm có: Bs. Phạm Gia Nghị, Đình Thanh, Anh Dũng, Ý Lan, Như Mai, Quỳnh Hương, Hương Thơ, Ngọc Huệ, Thanh Thảo, Hồng Tước, Ngọc Hà, Từ Công Phụng v.v…họa sĩ Phan Chánh Khánh, nhóm cựu nữ sinh Trung học Nguyễn Bá Tòng và giới truyền thông…

    Mở đầu chương trình văn nghệ, Ca sĩ Charies với solo Guitar & Sing, theo sau là những ca khúc vui tươi ca ngợi tình yêu trổi lên qua tiếng hát của những ca sĩ nam California để chúc mừng Gs. Quyên Di và cô Hồng Trang, đã tạo nên bầu không khí vui tươi và thân thiện của một sự kiện đáng ghi nhớ.

    Ca khúc bất hủ Ave Maria của Frank Schubert được cất lên qua tiếng hát Thanh Thảo, trong lúc hai ngôi sao sáng chói nhất hôm nay cắt chiếc bánh 4 tầng được trang trí rất đẹp mắt, để cùng chia sẻ hương vị ngọt ngào thơm ngon của bánh cưới với mọi người.

    Sau đó đại diện của mỗi nhóm chúc mừng và tặng kỷ vật lưu niệm cho đôi Kim Khánh Hôn Nhân giữa những tiếng vỗ tay và những nụ cười giòn.

    Họa sĩ Phan Chánh Khánh và quà tặng cho ngày kỷ niệm 50 năm thành hôn.

    Hai CS Ý Lan & Quỳnh Hương và các nữ sinh Nguyễn Bá Tòng

    Quà tặng của các nữ sinh trường Nguyễn Bá Tòng

    Tiếp đến là các anh chị trong ca đoàn Hoa Biển đã tặng Ns Hồng Trang một quyển Album ghi lại các hình ảnh về những buổi sinh hoạt cùng Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang từ khi ca đoàn được thành lập. Dựa theo lời của MC Diệu Quyên, Ns Hồng Trang là “Bà Mai” rất mát tay, bởi Bà đã mai mối cho nhiều anh chị trong ca đoàn thành vợ chồng. Cặp lấy nhau lâu nhất là MC Diệu Quyên & Trúc Hồ, họ đã cùng nhau chung sống hơn 37 năm.

    Một hoạt cảnh Đám Cưới Trên Đường Quê do những cặp vợ chồng mà nhạc sĩ Hồng Trang trong ca đoàn Hoa Biển đã se duyên, trình diễn rất ngoạn mục. Phần sau hết dành cho Liên nhóm NVNT & TTG và VCV & TDX.

    Khánh Lan đại diện cho Liên nhóm NVNT & TTG và Liên nhóm Kiều My đại diện cho VCV & TDX

    Trên sân khấu, Khánh Lan đại diện NVNT & TTG gởi lời chúc mừng đến Gs Quyên Di và Ns. Hồng Trang, cô nói: “Kính thưa quý quan khách, tại sao chúng ta lại lấy vàng, để ví cho một hôn nhân trải qua sau 50 năm ngày cưới? Phải chăng 50 năm ấy, là biểu tượng của một chặng đường hôn nhân bền bỉ, quý giá và hạnh phúc của một đôi vợ chồng. Một cột mốc quan trọng trong đời sống hôn nhân, mà đôi vợ chồng đã cùng nhau trải qua, với nhiều thăng trầm trong cuộc sống. Một quan hệ sâu sắc, kiên cường, mà trong ấy ta thấy có tình yêu chân chính, có sự trân trọng, có sự chia sẻ, có sự hy sinh và rồi cùng nhau xây dựng để hướng về tương lai tốt đẹp. Hôm nay, đánh dấu ngày Kỷ niệm 50 năm lễ cưới vàng của GS Quyên Di và phu nhân, GS Hồng Trang. Khánh Lan xin được thay mặt Liên nhóm NVNT & TTG, nguyện xin Thiên Chúa toàn năng, ban nhiều Hồng ân đến cho giáo sư Quyên Di và phu nhân giáo sư Hồng Trang thật nhiều niềm vui, tiếng cười và hạnh phúc mãi mãi về sau.“

    Quà tặng của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian rất đặc biệt gồm 50 đóa hoa hồng thể hiện cho 50 năm hạnh phúc được trao đến tận tay, kính quý tặng Ns Hồng Trang và một tấm plaque trạm màu vàng ghi lại ngày kỳ niệm 50 năm thành hôn của hai vị, tháng 10 ngày 26, 1975.

    50 đóa hoa hồng thể hiện cho 50 năm hạnh phúc

    Lệ Hoa đại diện NVNT & TTG trao tặng hoa cho phu nhân Ns Hồng Trang

    Tấm plaque trạm màu vàng ghi lại ngày kỳ niệm 50 năm thành hôn, tháng 10 ngày 26, 1975.

    Liên nhóm NVNT & TTG và VCV & TDX

    Kiều My đại diện Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa tặng quà đến cho Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang bức hình Đức Mẹ từ Roma, Cô nói: “50 năm, một khoảng thời gian rất dài cho một cuộc hôn nhân đã trải qua những ngày tháng hạnh phúc, nhưng cũng có những lúc thăng trầm trong cuộc sống, nhưng Gs Quyên Di và Cô Hồng Trang đã trải qua những thời gian đó. Và hôm nay, ….Kiều my xin Thiên Chúa chúc lành cho hai Thày Cô luôn mãi mãi hạnh phúc và thương yêu nhau suốt đời…”

    NVNT & TTG tham gia văn nghệ

    Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian góp mặt trong chương trình văn nghệ qua những ca khúc: Ô Mê Ly, Yêu Em Dài Lâu, Và Con Tim Đã Vui Trở Lại…qua hai tam ca: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên và tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa và Katherine Minh Thư.  

    Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên với Ô Mê Ly

    Yêu Em Dài Lâu, Và Con Tim Đã Vui Trở Lại…với Thụy Lan, Lệ Hoa, Katherine Minh Thư

    Sau đó, Mạnh Bổng giúp vui với Love Me With All Your Heart của Carlos Rigual & Mario Rigual. Kế tiếp là bản nhạc Pháp trứ danh Oui Devant Dieu của Antonio Prieto và Maurice Tézé qua tiếng hát Kiều My, đặc biệt dành cho Giáo Sư Quyên Di và cô Hồng Trang… Để hồi tưởng lại giây phút tuyệt vời của 50 năm trước khi đôi uyên ương trao lời thề hứa yêu nhau suốt đời trước Thiên Chúa và những người chung quanh.

    Tiếng nhạc rộn rã trong hội trường đã dứt, nhưng dư âm ngày kỷ niệm Kim Khánh Hôn Nhân của Giáo sư Quyên Di và nhạc sĩ Hồng Trang vẫn còn âm vang trong lòng người khi ra về. Cầu chúc đôi bạn vàng trong tình yêu thánh thiện vẫn luôn là chứng nhân sống động của lòng trung tín và ơn lành Thiên Chúa giữa đời.

    9:37 pm ngày 24 tháng 10, 2025 Khánh Lan nhận được text của Gs Quyên Di, ông nói: “Hôm ấy hai Liên nhóm của chúng ta tham dự đông đảo khiến chúng tôi rất cảm động. Khánh Lan cho chúng tôi gửi lời cám ơn đến tất cả các anh em chúng ta”

    Kiều My & Khánh Lan, California, October 18, 2025

  • Tin tức

    THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG DOÃN GIA & ANH NGUYỄN ĐÌNH HIẾU

    Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian xin thanh thật chia buồn cùng Doãn Gia,  cùng quý anh chị Doãn Quốc Thái, Hưng, Vinh, Hương và anh Nguyễn Dình Hiếu.

    Nguyện cầu hương linh cụ ông Hạnh Tuệ Doãn Quốc Sỹ sớm siêu thoát nơi cõi niết bàn. Dồng Thành Kính Phân Ưu.

    DOÃN QUỐC SỸ (2025)

    Links:

    RIP !!! Doãn Quốc Sỹ, một tâm hồn thấm đẫm tinh thần dân tộc.

    https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cz0xr2987g2o

    Doãn Quốc Sỹ, một ngòi bút chân phương, cổ điển:

    https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/LiteratureAndArts/author_Doan_Quoc_Sy_MLam-06232008172417.html

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Do%C3%A3n_Qu%E1%BB%91c_S%E1%BB%B9

    https://isach.info/story.php?story=chiec_chieu_hoa_cap_dieu__doan_quoc_sy

    https://sachhiem.net/NGHOAN/NgHoan02.php

    Tết Hội Ngộ Đinh Hôi Âm Lịch Xuân 2007 từ trái: GS. Doãn Quốc Sỹ, VHLA, GS Quyên Di, NV Tạ Xuân Thạc, và madam Tạ Xuân Thạc (bà Kim Anh Houston). Photo kỷ niệm do NV Vương Trùng Dương chụp.

    RMS Đời Phi Công Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh: GS. Nguyễn Xuân Vinh, GS Doãn Quốc Sỹ, TS Hà Thượng Nhân, VHLA, San Jose, Xuân 2005.

    From left: VHLA, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Tạ Xuân Thạc kỷ niệm RMS Văn Đàn Đồng Tâm họp Hội ngộ tại Houston, , Hè tháng 7, 2006.

    From left:

     Đào Vũ Anh Hùng, Vũ Hối, Tạ Xuân Thạc, Tô Thùy Yên, Doãn Quốc Sỹ, VHLA, Ngọc An, Hồng Vũ Lan Nhị, VĐĐT họp Houston, Hè tháng 6, 2005.

    NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ QUA ĐỜI TẠI NAM CALIFORNIA, THỌ 103 TUỔI

    Nhà văn Doãn Quốc Sỹ. (Hình: Triết Trần/Người Việt)

    ANAHEIM, California (NV) – Nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa qua đời lúc khoảng 10 giờ sáng ngày 14 Tháng Mười, tại bệnh viện West Anaheim Medical Center, thành phố Anaheim, California, thọ 103 tuổi. Các con ông Doãn Quốc Sỹ xác nhận tin này với Người Việt.

    Theo thông tin từ gia đình, Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17 Tháng Hai, 1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, Hà Nội.

    Ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Khi nhận thấy bản chất Cộng Sản của tổ chức này, ông rời bỏ kháng chiến.

    Vào năm 1946, ông lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo, ái nữ của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu.

    Năm 1954, hiệp ước Geneva chia đôi đất nước, ông di cư và mang gia đình vào miền Nam.

    Doãn Quốc Sỹ có hai sự nghiệp song song; một sự nghiệp nhà văn, một sự nghiệp nhà giáo. Ông thường nói: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.”

    Ông từng giảng dạy tại các trường Trung Học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội), Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn, 1961-1962), Trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Ông từng là hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961) và từng đi tu nghiệp về sư phạm tại Hoa Kỳ (1966-1968).

    Năm 1956, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo, và tạp chí văn nghệ cùng tên với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng.

    Ông có tác phẩm đăng trên các tạp chí Sáng Tạo, Văn Nghệ, Bách Khoa, Văn Học, Nghệ Thuật…

    Sau 30 Tháng Tư, 1975, Doãn Quốc Sỹ cùng các văn nghệ sĩ như Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Chóe… bị chế độ Cộng Sản bắt giam. Đến năm 1980, ông được thả tự do nhờ sự can thiệp của nhiều tổ chức quốc tế.

    Trong thời gian chờ đợi được con gái bảo lãnh đi nước ngoài, ông tiếp tục viết thêm nhiều tác phẩm nữa, trong đó có quyển “Đi,” ký bút hiệu Hồ Khanh. Ông gửi tác phẩm này sang Pháp để xuất bản tại hải ngoại. Cũng vì lý do này, ông bị bắt lần thứ hai vào tháng Năm, 1984. Cùng bị giam với ông trong đợt này có ca sĩ Duy Trác, nhà báo Dương Hùng Cường, hai nhà văn Hoàng Hải Thủy và Lý Thụy Ý. Ông bị kết án mười năm tù và mãn hạn tù lần thứ hai vào Tháng Mười Một, 1991.

    Năm 1995, ông được con trai là Doãn Quốc Thái bảo lãnh sang Houston, Hoa Kỳ.

    Nhận định về ảnh hưởng của tác phẩm Doãn Quốc Sỹ, nhà thơ Trần Mộng Tú từng viết trên VOA: “Những người yêu chữ nghĩa văn chương ở Việt Nam thời 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam không ai là không đọc những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ. Những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ cho người đọc thấy yêu quê hương, yêu gia đình, bạn hữu hơn mặc dù trong những dòng chữ đó không hề nhắc đến một bổn phận nào.”

    Nhà thơ, nhà báo Đỗ Quý Toàn, nhận định với Người Việt: “Doãn Quốc Sỹ xuất hiện trong nhóm Sáng Tạo nhưng ông tạo một phong cách văn chương riêng biệt. Ông theo lối cổ truyền: Dùng văn chương chuyên chở đạo lý.”

    Nhà thơ, hoạ sĩ thuộc thế hệ hậu bối, Đinh Trường Chinh, nhận định với Người Việt: “Doãn Quốc Sỹ là một trong những con chim đầu đàn của nhóm Sáng Tạo, nhóm đã làm thay đổi diện mạo văn học miền Nam sau 1954 và góp phần thay đổi cảm quan người đọc thời ấy ra khỏi mỹ cảm Tự Lực Văn Đoàn và văn thơ tiền chiến vốn đã hiện diện và ăn sâu vào người đọc thời ấy.”

    Nhà văn Doãn Quốc Sỹ ra đời, sinh hoạt và lớn lên ở miền Bắc nên có sự hiểu biết sâu sắc về chế độ Cộng Sản. Câu nói nổi tiếng của ông trong truyện ngắn Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều: “… Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn, ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.”

    Là người gần gũi và có nhiều kỷ niệm với Doãn Quốc Sỹ và gia đình, nhà báo Đinh Quang Anh Thái kể với Người Việt: “Đọc tác phẩm của bác, mê văn bác từ nhỏ, nhưng mãi tới sau ngày 30 Tháng Tư 75, lúc bấy giờ tôi ngoài 30 tuổi, tôi mới có cơ duyên được hầu chuyện bác, tôi cảm ngay được nhân cách hiền hòa, kín đáo của bác. Bác chừng mực nhưng không xa cách. Bác đôn hậu nhưng không vồn vã. Đúng cung cách “Quân Tử Chi Giao Đạm Nhược Thủy”, tình cảm thâm trầm, lắng đọng vào bên trong, không sôi nổi, bộc lộ ra ngoài.”

    Nhà báo Đinh Quang Anh Thái nói, với riêng ông: “Doãn Quốc Sỹ là mẫu người tượng trưng cho chính khí Việt.”

    Sự thâm trầm, lắng đọng của Doãn Quốc Sỹ, trong cách nhìn của Đỗ Quý Toàn, “hầu như bẩm sinh đã mang sẵn một cái tâm kiên cố khó bị lay động vì hoàn cảnh. Ông có phước mang sẵn tấm lòng trống trơn, không cần phải cố gắng.”

    Doãn Quốc Sỹ là nhà văn có sức sáng tác phong phú và đa dạng. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tiểu thuyết Khu Rừng Lau, gồm 4 tập: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vỹ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965) và Những Ngã Sông (1966).

    Nhiều truyện ngắn của ông được độc giả ghi nhớ lâu dài. Trong đó có thể kể đến: Gìn Vàng Giữ Ngọc, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Mình Lại Soi Mình, Đàm Thoại Độc Thoại, Dấu Chân Cát Xóa, Dốc Sương Mù…

    Tổng số tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ là 25 cuốn.

    Hiện chưa có thông tin tang lễ từ gia đình. (NV) [kn]

     Nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong một lần ký tặng sách cho độc giả.                                                                    (Hình: Uyên Nguyên/Người Việt).

    https://www.facebook.com/reel/1535695617850972

  • Tin tức

    LỊCH SỬ VỀ NGÀY HALLOWEEN, GHOSTS AND SPIRITS

    Khánh Lan

    Halloween là một sự kiện kỳ ​​lạ, kỳ lạ bởi nguồn gốc của nó không phải là xấu, mà thực ra là tốt đẹp. “Halloween” là “All Hallows Even“; nói cách khác, là Đêm trước Lễ Các Thánh, Và “All Hallows” là Ngày Các Thánh. Ngày Các Thánh (ngày 1 tháng 11) là ngày mà tất cả các vị thánh được tôn vinh, đó là thời điểm mà Giáo hội dành riêng để tôn vinh những người đã sống một cuộc đời gương mẫu, những người đã ban phước lành cho người khác bằng cuộc sống của họ, và được Giáo hội coi là thánh vào thời điểm đó.

    Tuy nhiên, ngày 31 tháng 10, đối với những người Celt không theo Kitô giáo, lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Đó là lễ hội Samhain và ngày đó cũng là Đêm Giao thừa ở Anh, nơi người Celt và Anglo-Saxon sinh sống. Thực ra, đó là ngày kết thúc năm cũ và bắt đầu năm mới của người Celt. Đó là dịp cho các lễ hội lửa, họ đốt những đống lửa lớn trên đỉnh đồi để xua đuổi tà ma, và cũng là thời điểm luật lệ và quyền sở hữu đất đai được đổi mới. Theo một cách nào đó, nó gợi nhớ đến Cựu Ước vào những năm phóng thích, tất cả những người bị giam cầm đều được trả tự do. Những người bị bắt làm nô lệ vì đã từng là kẻ trộm, bị bắt và bị bán làm nô lệ được trả tự do vào năm thứ bảy. Điều đó luôn xảy ra vào mùa thu, không phải vào mùa xuân.

    Trong năm Đại lễ đó, toàn bộ đất đai lại được trả về cho chủ gia đình sở hữu lúc đầu tiên, khi họ đã nhận được đất dai bằng cách rút thăm. Phong tụ nay luôn xảy ra vào mùa thu và là thời điểm tất cả luật lệ và quyền sở hữu đất đai được đổi mới. Trong các tôn giáo Celtic, người chết được cho là sẽ về thăm nhà vào đêm này. Điều này đưa đến kết quả đưa đến khía cạnh u ám của lễ hội Halloween.

    Halloween được cho là thời điểm thuận lợi nhất cho việc bói toán, cầu hôn, cầu sức khỏe, cầu may mắn và cầu cho được chết trong thanh thản . Và đó là ngày duy nhất mà người ta cầu xin sự giúp đỡ của Quỷ dữ trong những vấn đề như vậy.”

    Thành phố Santa Ana mừng ngày Haloween như thế nào?

    Năm nay, 2025. Thành phố Santa Ana ăn mừng ngày Haloween rất lớn. Thật vậy, một hội chợ nhỏ hình thành tại những góc đường Main street và số 4th Street đóng và chặn lại không cho xe chạy, để dành cho những quầy hàng bán mọi thứ liên quan đến Halloween ngày 31 tháng 10. Khánh Lan xin tạm gọi theo dân gian là “Ngày Lễ Ma Quỷ” có khác, những quầy hàng nhỏ dựng hai bên lề đường, san sát nhau, bày bán quần áo hóa trang, stickers, mặt nạ, T-shirts, v.v… tất cả hàng hóa hầu như có in hình ma quỷ ở trên mặt.

    Những người bán hàng người thì mặc y phục hóa trang, người thì mặc tuyền một bộ y phục màu đen và phần lớn trên người họ có nhiều vết xâm hình (tattoos), khiến cho cái không khí “hơi ơn ớn, rờn rợn” cho những ai vốn sợ “MA“.

    Các cửa hàng

    Hội chợ Halloween tại thành phố Santa Ana nằm phía trước cửa của một Alta Baja food Market, gồm một dẫy hàng ăn. Khánh Lan thấy có quầy thức ăn của Đại Hàn, Thái, Mexican, American, Indian, Faka’s Island Grill, Gina’s Crepes & Walffles, Co, pizza house USA. Menu mới quyến rũ làm sao, nào là Loose Leaf Boba Tayabak by Dakine Grindz, Daily Kombucha, Deli Station, the Golden Eatery, Jar:becue, Chicken Rice, Tuk Tuk Thai, v.v…

    Sau bữa ăn trưa tại Ata Baja Food Market, Khánh Lan đánh bộ một vòng và dừng lại trước một rạp hát bõ túi, cũng trong khu hội chợ Halloween này. Tò mò, Khánh Lan dừng lại xem và thấy có nhiều người Việt Nam đang đứng đợi mua vé vào cửa. Hỏi ra thì mới biết đây là tuần lễ của VIET FILM FEST do các sinh viên theo ngành phim ảnh tại trường UCLA mướn rạp hát này để chiếu những film do các em làm ra.

    Khu phố trên con đường số 4 này là phố “Little Mexican” ví như đường Bolsa của khu Little Saigon của chúng ta. Các cửa tiệm ở đây bán rất nhiều sản phẩm, có lẽ sản xuất từ Mexico và chủ tiệm cũng như khách hàng phần lớn là Mexican, đa số nói tiếng Spanish, nên ta có cảm tưởng như mình đang du lịch tại Tijuana, Mexico.

    Một ngày cuối tuần thật vui.

    Khánh Lan, October11, 2025

  • Tin tức

    Tưởng Niệm Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ

    Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn

    Nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923–2025)

    Một Biểu tượng của Văn Học Miền Nam Việt Nam đã từ trần lúc 10:05 sáng ngày 14 tháng 10 năm 2025, tại West Anaheim Medical Center, Quận Cam, California. Hưởng đại thọ 103 tuổi. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của văn đàn Việt Nam hiện đại, với cuộc đời hiến trọn cho chân – thiện – mỹ, cho tự do tư tưởng và phẩm giá con người.

    Khi còn sinh tiền, ông nói: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp” đã trở thành phương châm sống, biểu trưng cho nhân cách và tấm lòng son sắt của một người trí thức Việt Nam.

    Tiểu sử Doãn Quốc Sỹ:

    Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 (mùng 2 Tết Quý Hợi), tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông, Hà Nội. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp, rồi rời bỏ đảng Việt Minh khi nhận ra mình không cùng lý tưởng. Ông cùng thế hệ với các văn nhân lớn như Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp… Ông sáng lập Tạp chí & Nhà Xuất bản Sáng Tạo (1956), một biểu tượng của phong trào văn học hiện sinh, khai phóng và nhân bản tại miền Nam.

    Doãn Quốc Sĩ là nhà giáo ưu tú, từng giảng dạy tại các trường trung học và đại học danh tiếng gồm: Nguyễn Khuyến, Chu Văn An, Quốc Gia Sư Phạm, Văn Khoa, Vạn Hạnh, và là Hiệu trưởng Trường Trung học Hà Tiên.

    Tác phẩm tiêu biểu:

    Dòng Sông Định Mệnh, Khu Rừng Lau, Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Đi (bút hiệu Hồ Khanh)…

    Sau năm 1975, ông bị cầm tù hai lần, tổng cộng hơn 13 năm, vì không khuất phục trước cường quyền. Năm 1995, định cư tại Hoa Kỳ, vẫn tiếp tục viết và giảng dạy, sống an nhiên, thanh thản giữa cộng đồng người Việt tị nạn.

    Một đời khí tiết – Một tấm lòng nhân hậu

    Dù trải qua lao tù, thăng trầm, ông vẫn giữ tâm hồn thanh tịnh, sống với tinh thần thiền định và yêu thương. Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng từng viết: “Mỗi giờ phút trong đời sống của ông thể hiện một quá trình thiền tập. Đối cảnh biến đổi cách nào, ông cũng có thể mỉm cười nói: ‘Thế đấy!’”

    Ông ra đi, để lại cho hậu thế một gia sản tinh thần đồ sộ, một di sản văn hóa rực sáng, và một tấm gương nhân cách bất hoại.

    Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn, Thành kính phân ưu cùng tang quyến và nghiêng mình tiễn biệt bậc đại kẻ sĩ Doãn Quốc Sỹ, người đã sống trọn vẹn với chữ Tâm, và ra đi trong ánh sáng của chữ Đạo. Cầu nguyện hương linh Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sớm an nghỉ trong cõi An nhiên – Tự tại – Niết bàn văn tự.

  • Tin tức

    TALK SHOW KỲ 14: VIỆN BẢO TÀNG DI TẢN NGƯỜI VIỆT (VIETNAMESE HERITAGE MUSEUM)

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em,

    50 năm đã trôi qua nhanh như một cơn gió thoảng, nhưng không, cơn ác mộng của những ngày xưa cũ, những ngày đen tối của đất nước, những ngày trôi nổi trên đại dương với bao nguy hiểm, đau thương và nước mắt, khóc cho kẻ mất, thương cho người còn vẫn luôn ẩn hiện trong ký ức của người dân Việt.

    Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt Nam là nơi lưu trữ lại những kỷ vật và di vật lịch sử đánh dấu mốc thời gian bi thảm và đau thương nhất của một dân tộc. Duy trì, bảo vệ sự tồn tại của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt là bổn phận và trách nhiệm đối với tất cả chúng ta, bởi nó là linh hồn của một đất nước, là cội nguồn văn hóa của một tập thể, và là tài liệu cần phải lưu truyền lại cho con cháu, bởi chúng chính là tương lai của đất nước.

    Khánh Lan kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Anh Chị Em vào xem buổi phỏng vấn của Khánh Lan và Giám Đốc của Bảo Tàng Viện, Ông Châu Thụy.

    PHẦN I:

    PHẦN II:

    PHẦN III:

  • Tin tức

    GIỖ TỔ CẢI LƯƠNG VÀ THẦN BẠCH MI

    Hồng Nguyên-San Jose-Tổng hợp sưu tầm

    GIỖ TỔ CẢI LƯƠNG

    Là ngày để tưởng nhớ và tri ân các vị Tổ nghiệp của ngành sân khấu. Đây là dịp để nhớ đến công ơn của những người đã khai sáng, gìn giữ và phát triển nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam, bao gồm tuồng, chèo, cải lương, hát bội…

    Ngày 12 tháng 8 âm lịch hằng năm là ngày Giỗ Tổ sân khấu. Nghệ sĩ lập bàn thờ, dâng lễ vật và biểu diễn hát để dâng Tổ, trong đó Thần Bạch Mi là nhân vật trung tâm. 

    khác biệt giữa miền Nam và miền Bắc. 

    – Miền Nam: Trong cải lương và hát bội, Thần Bạch Mi được tôn kính đặc biệt.

    – Miền Bắc: Trước năm 1975 dường như không có cúng kiếng và ăn uống linh đình vào ngày này (các nghệ sĩ thường tự nhắc nhở nhau để tưởng nhớ mà thôi), có lẽ do điều kiện kinh tế thời chiến tranh còn khó khăn (và không có hình ảnh hay tài liệu nào ghi lại).

    TÍN NGƯỠNG TỔ NGHIỆP TRONG SÂN KHẤU VIỆT NAM

    Khái niệm Tổ nghiệp

    Trong quan niệm tín ngưỡng dân gian Việt Nam, nghề nghiệp nào cũng có những bậc Tổ sư khai sáng và phát triển, những vị ấy được người theo nghề suy tôn và thờ phụng gọi là “ Tổ ”, họ có một ngày chính trong năm để cúng khấn, bái lạy đó là một nghi lễ tôn nghiêm mang tính trọng vọng các bậc tiền hiền.

    Tại sao gọi là “ Tổ nghiệp ” mà không phải là “ Tổ nghề ” ? 

    nghề có thể thay đổi để mưu sinh nhưng nghiệp thì chẳng thể. 

    Bởi công việc nghệ thuật là niềm đam mê cháy bỏng, dù có sống chết hay dù gian khổ thế nào vẫn cứ phải theo đuổi. Người nghệ sĩ đã trót mang cái “ nghiệp ” cầm ca vào thân thì chẳng thể nào dứt được. Điều đó nói lên không ai gọi là Tổ nghề mà phải gọi là Tổ nghiệp. 

    Tổ nghiệp là cách gọi chung tất cả những ai có công sáng lập và lưu truyền đặc biệt trong ngành nghệ thuật sân khấu.

    Tổ nghiệp là vị tổ sư khai sáng ngành nghề biểu diễn, những người được xem là linh thiêng, luôn phù hộ cho nghệ sĩ được hành nghề thuận lợi, gặp may mắn, giữ được đam mê và đạo đức làm nghề.

    Bàn thờ Tổ các nơi thường được đặt: 

      . Rạp hát. 

      . Nhà hát chuyên nghiệp. 

      . Các đoàn cải lương, nhóm nghệ thuật truyền thống. 

      . Nhà riêng. 

    Người trong nghề thường nói:

    “ Sống nhờ Tổ, chết về với Tổ ”

    hay : 

    “ Có Tổ nghiệp độ, mới được đứng trên sân khấu ”. 

    Trong hậu trường của các gánh hát, các sân khấu từ xưa đến nay luôn có một bàn thờ gần nơi cánh gà. Nghệ sĩ trước khi bước ra sân khấu đều lễ bái. Trong bàn thờ thường đặt bài vị hoặc cốt tượng của Ông, hai bên thường thấy treo hai bên 2 câu đối:

    – “ Tổ truyền thiện nghệ thiên thu thịnh.

    Sư giáo tài năng vạn đại xuân. ”

    Ngoài ra nghệ sĩ cũng còn thờ thêm “ Thập nhị Công Nghệ “ vì họ luôn tâm niệm một tác phẩm sân khấu được hoàn thành mỹ mãn vẫn cần sự đóng góp của nhiều ngành nghề khác nhau họ trợ giúp sức như: may mặc, hóa trang, da giày, hội họa, điêu khắc, thiết kế, âm thanh, ánh sáng… Các ngành nghề phụ thường chia làm 12 ngành và từ đó nghệ sĩ còn thờ thêm “ Thập nhị Công Nghệ “ để tri ân 12 ngành nghề này. 

    MÂM CÚNG TỔ NGHIỆP TRUYỀN THỐNG 

    Lễ mặn

      . 1 con heo quay nguyên con (đầu hướng về Tổ, chỉ sự “dâng lên” chứ không “quay lưng” lại với Tổ. Nhằm thể hiện lòng thành kính, sự kính trọng trực tiếp dâng lễ vật lên Tổ tiên, Tổ nghiệp.

       . 1 con gà luộc (thường là gà trống, đẹp mã, có cánh chắp)

       . 1 đĩa xôi (xôi gấc, xôi đậu xanh hoặc xôi trắng)

      . 1 đĩa bánh hỏi 

    hoặc bánh chưng, bánh tét. 

      . 3 ly rượu trắng

      . 1 chai rượu nếp / rượu trắng

      . 1 ấm trà / 3 chén trà

      . 1 đĩa trầu cau

      . 1 bó nhang và cặp đèn cầy 

      . 1 bình hoa tươi (thường là hoa cúc, vạn thọ hoặc hoa huệ)

       . 1 đĩa trái cây ngũ quả (mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung – tùy theo vùng miền) 

    Lễ chay kèm theo hoặc thay thế

      . Nhang. 

      . Hoa tươi. 

      . Trái cây. 

      . Bánh kẹo. 

      . Xôi chè (chè trôi 

        nước, chè đậu,     

        chè hoa cau…)   

    Sau khi cúng Tổ xong thường có:

      . Biểu diễn dâng Tổ (trích đoạn cải lương, hát bội…)

      . Rước Tổ, lạy Tổ : các nghệ sĩ lần lượt lạy Tổ 3 lạy để tỏ lòng tri ân. 

      . Lộc Tổ: chia phần heo quay, xôi, lộc tượng trưng cho mọi người để cùng được may mắn. 

    VĂN KHẤN TỔ NGHIỆP – NGHỆ SĨ CẢI LƯƠNG

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Kính lạy:

    – Tổ nghiệp sân khấu, Chư vị tiền bối, tiền hiền đã khai sáng nghề hát. 

    – Các bậc Tổ sư, Thánh tổ cải lương, hát bội, tuồng tích.

    Hôm nay là ngày 12 tháng 8 âm lịch, là ngày Giỗ Tổ sân khấu.

    Tín chủ con tên là: ………………………………………………

    Pháp danh (nếu có): …………………………………………..

    Hiện đang hành nghề: …………………………………………..

    Ngụ tại: ……………………………………………………………

    Hôm nay, con xin lòng thành sắm sửa hương hoa lễ vật, dâng lên trước bàn thờ Tổ nghiệp. Con xin kính cẩn cúi đầu, dâng nén tâm hương tưởng nhớ đến:

    Chư vị Tổ Sư, Tổ Nghề, Tiền Hiền, Hậu Hiền, những người khai sáng, truyền dạy nghề nghiệp, dìu dắt hậu thế. Những bậc tiền nhân đã dạy dỗ, soi đường chỉ lối, gìn giữ và phát triển bộ môn nghệ thuật truyền thống quý báu.

    Xin Tổ thương xót, chứng giám tấm lòng thành, phù hộ cho chúng con:

    – Có sức khỏe vững vàng. 

    – Giữ tâm sáng với nghề. 

    – Rèn giũa tài năng ngày càng phát triển. 

    – Xin được gieo yêu thương qua từng vai diễn. 

    – Luôn gặp quý nhân trợ giúp, khán giả thương yêu. 

    – Đồng nghiệp đoàn kết, tổ nghiệp nâng đỡ. 

    – Danh tiếng, phúc lộc đủ đầy. 

    – Tránh tiểu nhân hãm hại, tránh tai nạn nghề nghiệp.

    Chúng con nguyện: 

    – Hành nghề chân chính. 

    – Không vì danh lợi mà quên đạo đức nghệ sĩ. 

    – Duy trì và phát huy nghệ thuật cải lương – vốn quý của dân tộc Việt Nam.         

    Xin Tổ từ bi chứng giám, độ trì cho chúng con:

    Được vững tâm giữ nghề truyền thống. 

    Để Sống có đức – diễn có tâm – làm nghề bằng cả trái tim. 

    – Cầu xin Tổ độ trì, phù hộ độ trì cho con và gia đình thân tâm an lạc, vạn sự hanh thông.

    Cúi mong Tổ nghiệp từ bi gia hộ. 

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    —–

    TỔ CẢI LƯƠNG LÀ AI?

    Cải lương xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 tại miền Nam Việt Nam. cụ thể là khoảng những năm 1916–1918, tại vùng Nam Bộ.

    Cải lương ra đời từ sự kết hợp giữa nhạc lễ, hát bội (tuồng cổ), dân ca Nam Bộ và ảnh hưởng của kịch nói phương Tây. Nó được coi là một sự “ cải tiến ” của hát bội – nhằm làm cho nghệ thuật sân khấu gần gũi, dễ hiểu và phù hợp hơn với đời sống và thị hiếu của công chúng đương thời.

    Tên gọi “ cải lương ” nghĩa là “ cải cách để trở nên tốt đẹp hơn ”, phản ánh tinh thần đổi mới nghệ thuật truyền thống. 

    Thời kỳ phát triển

    • 1920–1945: Cải lương nhanh chóng trở nên phổ biến khắp Nam Kỳ, với nhiều đoàn hát lớn như Tân Thịnh, Nam Đồng Ban, Phước Cương…
    • 1950–1975: Thời hoàng kim của cải lương, đặc biệt là tại Sài Gòn, với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như Út Trà Ôn, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Minh Vương, Hùng Cường …
    • Sau 1975: Cải lương tiếp tục phát triển, nhưng đối mặt với nhiều khó khăn do thay đổi thị hiếu và cạnh tranh của các loại hình giải trí hiện đại khác nên không còn đông đảo khán giả yêu thích như xưa . 

    Có thể kể ra đây một vài vở kinh điển như : Lan và Điệp, Tiếng trống Mê Linh, Đời cô Lựu, Nửa đời hương phấn…

    Giả thuyết về Tổ cải lương:

    1. Thuyết ông Tổ là quan văn Đào Duy Từ.

    Ông Đào Duy Từ  (1572–1634) là danh sĩ, quân sư, nhà chính trị và nhà Văn Hóa nổi tiếng thời Chúa Nguyễn. Có người cho rằng ông là Tổ của “ Hát Tuồng “ thì đúng hơn, chứ không phải là Tổ cải lương hay Tổ sân khấu nói chung.

    2. Thuyết Thần Bạch Mi – Tổ nghiệp sân khấu truyền thống. 

    Thần Bạch Mi ( còn gọi là “ Ông Tổ râu trắng ” ) là nhân vật huyền thoại được các nghệ sĩ sân khấu Việt Nam tôn thờ như vị Tổ Nghiệp .

    Thần được miêu tả thường mặc áo đạo sĩ, có râu dài, tướng mạo đẹp, cưỡi ngựa xách đao, lông mày trắng và mắt đỏ – khá giống tượng Quan Công.      

    Thần Bạch Mi là hình tượng Tổ nghiệp sân khấu truyền thống được nghệ sĩ cải lương, hát bội tôn thờ. Dù gây tranh cãi bởi không có bằng chứng lịch sử rõ ràng, ông vẫn luôn là nhân vật thiêng liêng trong tín ngưỡng dân gian của giới nghệ sĩ. 

    Có lẽ đây là “ Tổ nghiệp có đôi lông mày trắng lạ lùng nhất trong các Tổ nghiệp ” Và là một hiện tượng tín ngưỡng đặc biệt trong văn hóa Việt Nam, phản ánh cách người xưa phân loại nghề nghiệp và thể hiện sự tôn trọng sâu sắc của nghệ sĩ đối với Tổ nghiệp.​​​​​​​​​​​​​​​​  

    Những nghề thờ Thần Bạch Mi

    – Nghệ thuật sân khấu và ca hát:

       . Hát bội, tuồng

       . Cải lương

       . Đàn ca tài tử

       . Ca trù

    – Các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống

    – Một số nghề khác liên quan đến ca hát, biểu diễn. 

    – Người hành nghề ăn xin. 

    Đặc biệt là những người ăn xin có tay nghề ca hát, biết đàn nhạc.

    Ngày xưa, người nghèo, khuyết tật được Cha mẹ hay Thầy nhạc dạy ca hát, đàn nhạc để ăn xin có tay nghề. Họ cũng thờ Tổ Bạch Mi, họ cũng biết hát, biết đàn, cũng hơi giống và cùng nghề với nghệ sĩ sân khấu. Ranh giới giữa “ nghệ sĩ đường phố ” và “ người ăn xin biết ca hát ” đôi khi rất mong manh. 

    – Nghề gái Thanh lâu ( lầu xanh ). Trong văn học thi ca : được đại thi hào Nguyễn Du đề cập và mô tả trong Truyện Kiều. 

    … Khi Tú bà bắt Kiều quỳ lạy Tổ :

    “ Giữa thì hương án hẳn hoi,

    Trên treo một tượng trắng đôi lông mày.

    Lầu xanh quen thói xưa nay,

    Nghề này thì lấy ông này tiên sư.

    Hương hoa hôm sớm phụng thờ

    Cô nào xấu vía, có thưa mối hàng. 

    Cởi xiêm trút áo sỗ sang,

    Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm. 

    Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,

    Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi ”.

    Đây chính là Thần Bạch Mi mà các lầu xanh thời xưa thờ. 

    Thần Bạch Mi đại diện những nghề hạ lưu trong xã hội phong kiến, nên các nhà nho, văn nhân ít khi chịu viết về do đó những hiểu biết về Thần Bạch Mi rất mơ hồ, mang tính giai thoại nhiều hơn và chủ yếu chỉ được lưu truyền qua lời kể của các nghệ sĩ trong các đoàn hát, chứ không có kinh sách hay văn bia chính thức nào .        

    Thông thường tục thờ thần Bạch Mi không được phổ biến rộng rãi hay nói cách khác chỉ những người trong ” nghề ” mới hiểu biết, am tường.          

    Truyền thống cúng Tổ

    Hằng năm, theo truyền thống lưu truyền từ thời xa xưa, giới sân khấu hát bộ, cải lương đều “ ốp đoàn ”( Off, ngưng diễn ) để tổ chức lễ cúng Tổ rất trang nghiêm, thành kính.

    Tính linh thiêng của tín ngưỡng

    Nếu xem việc cúng Tổ là một tín ngưỡng thì tín ngưỡng phải cho đúng. Tổ nghiệp rất linh thiêng, không phải ai muốn lập bàn thờ Tổ là lập.

    – Khi làm ăn khấm khá thì cúng lớn còn khi eo hẹp thì cúng nhỏ. 

    – Cứ đến lệ cúng Tổ là đào kép của gánh đang phiêu bạt ở đâu cũng phải về… Mặc đồ, trang điểm, lên sân khấu hát để cúng khấn Tổ nghiệp. 

    Mỗi dịp cúng như thế, các thế hệ kế thừa có dịp thăm lại người Thầy dìu dắt mình vào nghiệp. 

    Nghi lễ cúng Tổ

    Cách thức tiến hành

    Họ thỉnh bàn thờ Tổ ra giữa sân khấu và cử hành lễ giỗ Tổ, sau đó chia lộc Tổ cho cả đoàn. Ngày nay, phong tục này vẫn được giới nghệ sĩ duy trì.

    Người tham gia nghi lễ

    Khấn trước bàn thờ Tổ là nghi lễ. Ngày xưa, khi cúng Tổ:

    – Chỉ có ông bầu hoặc chủ đoàn hát, chủ gánh hát mới được cúng khấn trước. 

    Sau đó mới đến Đào kép đứng khấn trước bàn thờ. 

    – Hậu đài và các bộ phận khác chỉ đốt nhang. 

    Lễ vật dâng Tổ

    Bánh trái, hoa quả là lễ vật. Khi đến phần cúng, họ phải lên sân khấu biểu diễn cho Tổ xem.

    “ Cúng ” chính là động tác biểu diễn chứ không phải cúng món ăn

    – Tổ ở đây là Tổ của đào, kép. 

    CÁC NGHỀ CÙNG THỜ THẦN BẠCH MI

    Nguồn gốc lịch sử

    – Nghề trộm cắp (theo một số tài liệu dân gian, ít phổ biến hơn)

    Lý do cùng Tổ

    Tất cả các nghề này đều liên quan đến “ hành nghề trên đường phố ”, biểu diễn cho người khác xem/nghe, và có yếu tố “ xin ” ( xin tiền, xin khán giả vỗ tay ).

    KIÊNG KỴ CHO TIỀN NGƯỜI ĂN XIN

    Đây là khía cạnh văn hóa tín ngưỡng nghề nghiệp rất đặc trưng của Việt Nam mà ít người biết. Đây là tâm linh nghề nghiệp gắn với niềm tin vào Tổ nghiệp và vận đỏ sân khấu, đặc biệt được những nghệ sĩ cải lương truyền thống (thế hệ xưa) tôn trọng.

    Lý do kiêng kỵ:  

    – Tâm linh: “ Cho tiền là cho lộc ”

    – Tiền bạc nghệ sĩ kiếm được khi biểu diễn là “ lộc Tổ ” ban

    – Cho tiền trực tiếp (đặc biệt trước giờ diễn) bị xem là đem lộc Tổ đi cho người khác

    – Hậu quả có thể là “ mất lộc ”, “ xui ”, “ ế khách ”, “ hát không ra hồn ” hoặc “ không trúng tuồng, không thuộc bài bản ”

    Không muốn bị “ rút vía nghề ”

    – Một số nghệ sĩ tin rằng có người ăn xin “ mượn vía ”, “ rút vía ” của người khác để cầu tài

    – Cho tiền đúng thời điểm nhạy cảm (trước giờ ra sân khấu) là tự làm suy yếu khí nghề, bị “rút vía”, hát không hay. 

    Thói quen truyền nghề 

    – Đây là tập quán nghề nghiệp được truyền từ đời này sang đời khác

    – Nghệ sĩ lớn tuổi dạy thế hệ sau những điều kiêng kỵ này như cách gìn giữ sự “linh thiêng” của nghề. 

    Vì sao nghệ sĩ kỵ cho tiền người ăn xin?

    Đây là khía cạnh văn hóa tín ngưỡng nghề nghiệp rất đặc trưng của Việt Nam mà ít người biết. Đây là tâm linh nghề nghiệp gắn với niềm tin vào Tổ nghiệp và vận đỏ sân khấu, đặc biệt được những nghệ sĩ cải lương truyền thống (thế hệ xưa) tôn trọng. 

    Vì : 

    – Sợ bị rút vía nghề từ người ăn xin. 

    – Là tập quán truyền nghề từ các bậc tiền bối. 

    – Là sự tôn trọng đối với nghề và Tổ nghiệp

    – Yếu tố “ kỵ ” – sợ “ nghiệp ” của người ăn xin ảnh hưởng đến sự nghiệp. 

    – Thể hiện sự nhìn nhận: “ Họ cũng có tay nghề, cũng là đồng nghiệp ”

    Không phải tất cả nghệ sĩ cải lương hiện đại đều giữ những điều kiêng kỵ này, nhưng trong giới nghệ sĩ gạo cội, cải lương truyền thống hay sân khấu hát bội, đây vẫn được tôn trọng và tránh phạm phải.​​​​​​​​​​​​​​​​ Cho tiền nghĩa là cho lộc Tổ, và sợ “ mất lộc ”, “ hát không ra hồn ”

    Dù không còn phổ biến ở nghệ sĩ hiện đại, giới nghệ sĩ gạo cội vẫn rất kiêng kỵ điều này.

    Ngày nay chắc hẳn đã không còn những giai thoại về điều “đạo nghĩa“ thú vị như xưa : 

    – Vì cùng chung một ông Tổ nhưng ai cũng biết giới nghệ sĩ cải lương hát bộ truyền thống ( thường là nghệ sĩ trong Nam ) không bao giờ bố thí cho ăn xin ( phạm phải điều kiêng, kỵ ) dù họ sẵn sàng làm từ thiện với số tiền đóng góp rất lớn. 

    – Ăn cướp, ăn trộm không bao giờ chặn ghe cướp của đoàn hát. 

    – Dân hát bộ thì không được phép mua dâm (nhưng được phép bán dâm).

    – và gái mại dâm thì cũng không được lấy tiền của kép hát.

    Hồng Nguyên, San Jose