• KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Tin tức

    LIÊN HIỆP CÁC TRƯỜNG VIỆT NGỮ HẢI NGOẠI. (UNION OF OVERSIAS VIETNAMESE LANGUAGE SCHOOLS

    Tháng 12 năm 1988 Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Miền Nam California được thành lập như một tổ chức khởi đầu cho sinh hoạt Việt Ngữ tại Nam California. Ngày 30 tháng 10, 2000, Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California – The Association of Vietnamese Language & Culture Schools of Southern California được hình thành, đệ nạp lên chính phủ tiểu bang California và liên bang Hoa Kỳ để được chấp thuận như một tổ chức bất vụ lợi theo điều khoản 501(c) (3). Tính từ năm 1988 đến năm 2023 đã hoạt động liên tục được 35 năm. 

    Từ năm 2022 đổi danh xưng thành LIÊN HIỆP CÁC TRƯỜNG VIỆT NGỮ HẢI NGOẠI (LHCTVNHN) – UNION of OVERSEAS VIETNAMESE LANGUAGE SCHOOLS (UOVLS) với 33 thành viên trong Hội Đồng Quản Trị (HĐQT), cùng cộng tác với khoảng 3,000 thầy cô giảng dạy trên 300 trường Việt Ngữ khắp nơi cho khoảng 30,000 đến 40,000 học sinh từ mẫu giáo lên đến lớp 12 (K-12) phần lớn ở Hoa Kỳ và Canada.

    Sứ mệnh (tôn chỉ & mục đích) của hội là: 

    Bảo tồn và phát huy văn hoá  Việt Nam, dẫn dắt bởi triết lý giáo dục: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

    Tương trợ và trao đổi kinh nghiệm trong việc truyền bá Việt Ngữ.

    Liên Hiệp Các Trường Việt Ngữ Hải Ngoại là một tổ chức văn hoá và giáo dục bất vụ lợi, hoạt động cho lợi ích chung của Cộng Đồng Việt Nam và không lệ thuộc bất cứ tổ chức hoặc đảng phái chính trị nào.

     Trụ sở và địa chỉ chính  được đặt tại vùng Nam California, USA.    

    12221 BROOKHURST, # 210 GARDEN GROVE, CA 92840.

     ĐIỆN THOẠI: (714) 203-5777.        E-MAIL: info@taviet.org  

  • Khánh Lan,  LỊCH SỬ,  Tin tức

    Đâu Là Sự Thật Ý Nghĩa Ngày 19/8 & 2/9 Đối Với Người Việt Hiện Nay

    Kính thưa quý Giáo sư, Văn thi sĩ và các anh chị em,

    NVNT & TTG xin trân trọng giới thiệu một tài liệu lịch sử quý báu của tác giả Minh Phương. Theo như tờ nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số 194, “Tác giả Minh Phương (Cựu sĩ quan QLVNCH, du học Mỹ, tốt nghiệp tiến sĩ) là giáo sư, thức giả với hành văn ôn hòa đã dựa vào các tài liệu, sự kiện chính xác qua các bài biên khảo để dẫn chứng.”

    Đây là một công trình được biên soạn công phu, với nhiều tâm huyết, ghi lại diễn biến gần 80 năm lịch sử hiện đại của đất nước Việt Nam. Bài viết sử dụng dẫn chứng cụ thể từ người thật, việc thật, cùng những tư liệu của các chứng nhân lịch sử, mang đến giá trị đặc biệt cho việc tìm hiểu và ghi nhớ những chặng đường đã qua. 

    Bài viết của tác giả Minh Phương, đăng trong trang Việt Báo Foundation ngày 25 tháng 9, 2025

    “Mấy chục năm sau nhìn lại, theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, cuộc “Cách mạng tháng Tám” của Mặt trận Việt Minh năm 1945, thực ra chỉ là một chuyện cướp chính quyền.” Minh họa: Đinh Trường Chinh.

    LTS: Tuần qua, tòa soạn nhận được bản tin từ trang VTMP có tựa đề: Picnic “Mừng” Cách Mạng Tháng Tám Ngay Thủ Đô Tị Nạn của Tổ Chức VietRise. Bản tin viết: Ngày 16 tháng 8, VietRise đã tổ chức một buổi picnic mùa hè, với chủ đề về Cách Mạng Tháng Tám (CMT8) và Hồ Chí Minh (HCM), nhấn mạnh  ‘thành tích’ giành lại chủ quyền dân tộc cho Việt Nam và phong trào này đã ‘thành công’ ra sao.

    Cũng trong thời điểm này, nhà văn Nguyễn Phan Quế Mai – một ngòi bút Việt nổi bật trong những năm gần đây, người được mời tham dự chương trình “50 Năm Chấm Dứt Chiến Tranh Việt Nam” do Đại học Columbia tổ chức hồi tháng 5, 2025 – đã đăng trên trang Facebook cá nhân (ngày 18 tháng 8) của Cô: “Tập thơ mới của tôi, Màu Hòa Bình, sẽ được Black Ocean Publishing xuất bản tại Hoa Kỳ đúng vào ngày 2 tháng 9 (ngày Quốc khánh Việt Nam).”

    Những sự việc nối tiếp ấy đã làm dấy lên nhiều thư từ và bài viết phản biện, khơi lại ý nghĩa lịch sử thật sự của ngày 19 tháng 8 và ngày 2 tháng 9 đối với cộng đồng người Việt tị nạn. Bài viết dưới đây của tác giả Minh Phương là một biên soạn công phu, góp phần vào cuộc đối thoại này. (Bài cập nhật ngày 10 tháng 9, kèm thêm bản Anh Ngữ).

    Hàng năm, cứ đến tháng 8 dương lịch là chế độ CS Việt Nam tưng bừng tổ chức ăn mừng ngày 19 tháng 8, ngày họ cướp được chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945, và ngày 2 tháng 9, ngày ông Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” tại công trường Ba Đình, Hà Nội. Ít hàng phía sau nhằm cung cấp chút hiểu biết cần thiết cho một số bạn ở thế hệ trẻ, những người chưa có hoàn cảnh biết nhiều về hai sự kiện lịch sử ấy.

    Những người Cộng sản Việt Nam cũng luôn luôn khoa trương rằng họ có công lãnh đạo dân tộc trong hai cuộc chiến tranh lớn: 1) Đánh Pháp để giành độc lập, và 2) Đánh Mỹ để thống nhất đất nước. Vì thế họ có quyền – và được độc quyền — lãnh đạo đất nước. Họ đồng hóa thể chế của họ với Tổ quốc Việt Nam. Ở trong nước, ai lên tiếng phê phán chế độ sẽ bị ghép  vào tội phản quốc.

    Năm nay 2025, đúng 80 năm sau khi những người CS Việt Nam giành được chính quyền năm 1945 và đưa dân tộc vào hai cuộc chiến tranh thảm khốc, tuy chấm dứt năm 1975 nhưng hậu quả và tình trạng phân hóa tới nay vẫn còn trầm trọng, chúng ta cũng nên bình tâm xét lại thực chất của cuộc “cách mạng” cùng nguyên do của hai cuộc chiến tranh ấy, rồi nhận định một cách khách quan xem công nghiệp của đảng CS Việt Nam lớn đến mức nào.

    1. “Đánh Pháp để giành độc lập”

    Sau khi Thế chiến thứ 2 (World War II) chấm dứt năm 1945, các cường quốc Âu Mỹ ý thức được rằng trong hoàn cảnh mới, việc tiếp tục giữ các nước châu Á làm thuộc địa là điều không chấp nhận được nữa. Chế độ thuộc địa đã đến lúc phải cáo chung. Vì thế:

    — Hoa Kỳ trả độc lập cho Philippines. Philippines tuyên bố độc lập ngày 4 tháng 7 năm 1945.

    — Anh trả độc lập cho Ấn Độ. Ấn Độ độc lập từ năm 1947.

    — Anh trả độc lập cho Miến Điện (tên cũ Burma, tên hiện nay Myanmar). Miến Điện độc lập từ tháng 1-1948.

    — Anh trả độc lập cho Mã Lai (tên cũ Malaya, tên hiện nay Malaysia). Vốn do nhiều tiểu bang hợp lại, khung cảnh chính trị có phần phức tạp, Mã Lai được tự trị năm 1948, và hoàn toàn độc lập năm 1957.

    — Hòa Lan trả độc lập cho Nam Dương. Lúc đầu, giới thực dân Hòa Lan tham lam không chịu trả, dân Nam Dương phải tranh đấu bằng võ lực trong 4 năm. Sau nhờ áp lực của thế giới, nhất là từ Hoa Kỳ, Nam Dương được hoàn toàn độc lập từ tháng 12-1949.

    — Dân tộc duy nhất ở châu Á phải tranh đấu gian khổ đến năm 1954 và sau đó, đất nước bị chia cắt, là Việt Nam. Tuy có cảm tình với nền độc lập của Việt Nam, Hoa Kỳ đã không làm áp lực với chính phủ Pháp như đã làm với chính phủ Hòa Lan tại Nam Dương, không ép họ phải trả độc lập cho chính phủ Hồ Chí Minh. Lý do: Đó là một chính thể Cộng sản, và Hồ Chí Minh với nhiều bí danh khác nhau, đã được phát hiện là một chuyên viên của Cộng sản quốc tế, từng được huấn luyện ở Nga. Theo Gs. Tường Vũ, trong cuốn Vietnam’s Communist Revolution (New York: Cambridge University Press, 2017), sau khi tìm đọc thật kỹ trong Văn Kiện Đảng Toàn Tập của chế độ CS Hà Nội, vị giáo sư Chính trị học và Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Á châu tại University of Oregon đã phát hiện rằng ngay từ năm 1946, trước khi Mao Trạch Đông thành công ở Trung Hoa, trong các văn kiện Đảng, chính thể Hồ Chí Minh luôn luôn ca ngợi “các lực lượng của xã hội chủ nghĩa” do Liên Xô dẫn đầu và kịch liệt đả kích “chủ nghĩa đế quốc” (chỉ Hoa Kỳ) ¹. Tuy cộng tác với một số sĩ quan OSS của Hoa Kỳ năm 1945, tuy dùng một tấm hình mang chữ ký của tướng Claire L. Chennault để khoe với nhiều người là “được Mỹ giúp,” tuy dẫn lời bản “Tuyên ngôn độc lập” của Hoa Kỳ cho bản Tuyên ngôn do mình soạn, ông Hồ Chí Minh không phủ nhận sự kiện là một người Cộng sản. Trong những năm 1945, 1946, bên cạnh việc viết thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, ông cũng viết thư kêu gọi sự giúp đỡ của lãnh tụ Liên Xô Stalin, và cùng không được trả lời. Ngay từ những năm 1941, 1942, báo Việt Nam Độc Lập do Hồ Chí Minh chủ trương, đã đăng những bài ca tụng nước Nga như một thiên đường, và viết, “Chỉ khi nào nước Nga toàn thắng, thế giới mới được thấy những ngày vinh quang” ². Cuối năm 1945, tuy tuyên bố “đảng Cộng sản tự ý giải tán” để che mắt dư luận, báo Sự Thật của “Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác” do Trường Chinh điều hành, trong số ra ngày 5 tháng 12, 1945, vẫn xác quyết, “Con đường duy nhất có thể đưa nhân loại đến tự do, hòa bình, và hạnh phúc, là ‘thực hiện triệt để’ chủ nghĩa Mác” (các trang 104-105) ³.

    Mấy chục năm sau nhìn lại, theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, cuộc “Cách mạng tháng Tám” của Mặt trận Việt Minh năm 1945, thực ra chỉ là một hành động cướp chính quyền, và những người CS cũng dùng động từ “cướp.” Đáng buồn hơn, việc cướp ấy không cần thiết vì ở Việt Nam, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, ở Việt Nam có một khoảng trống quyền lực:

    — Người Pháp: Đã bị người Nhật gạt ra bên lề sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945, các nhân vật trọng yếu bị Nhật bắt giam.

    — Người Nhật: Đã đầu hàng sau khi thua trận, nhất là sau khi nước Nhật bị hai quả bom nguyên tử.  Họ đang chuẩn bị giao nộp võ khí để sẽ được đưa về nước.

    — Chính phủ Trần Trọng Kim: Gồm một số nhà giáo, trí thức … không có tham vọng chính trị, được kêu gọi đứng ra quản trị đất nước sau khi chính quyền Pháp bị Nhật đánh đổ, chỉ quan tâm đến các vấn đề xã hội, cứu tế (đang có nạn đói trầm trọng), y tế, giáo dục …. Các vị sẵn sàng từ chức khi có người thay, và sau đó đã từ chức.

    — Vua Bảo Đại: sẵn sàng thoái vị, tuyên bố “Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”

    Trong cuốn Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California : Truyền Thống Việt, 2017), Gs. Phạm Cao Dương đưa ra nhiều tài liệu cho thấy trong phiên họp giữa Hoàng đế Bảo Đại và Nội các Trần Trọng Kim ở  Huế ngày  17 tháng 8 năm 1945, bên cạnh ý kiến giao hẳn quyền cho Việt Minh, có ý kiến của Luật sư Vũ Văn Hiền, Bộ trưởng Tài chánh, là: Việt Nam cần có một chính phủ hợp pháp để bảo đảm được trật tự, và để khi Đồng Minh tới, có sẵn một chính phủ đúng danh nghĩa pháp lý, có tư thế và thẩm quyền đối thoại với họ, không để họ mượn cớ là Việt Nam đang hỗn loạn, vô chính phủ mà giúp thực dân Pháp trở lại Việt Nam. Để đạt mục đích ấy, nên trao cho lực lượng Việt Minh quyền lập chính phủ, nhưng giữ lại thể chế quân chủ hiện có (đổi thành quân chủ lập hiến) ⁴. Ý kiến ấy được các vị Bộ trưởng am hiểu về luật, các ông Trịnh Đình Thảo, Trần Văn Chương và Phan Anh tán thành. Một đạo Dụ được soạn thảo ngay sau đó: Dụ số 105 ngày 17 tháng 8 năm 1945. Vua Bảo Đại sẵn sàng giao chính quyền cho Việt Minh là một tổ chức đấu tranh, và mời các lãnh tụ Việt Minh tới Huế để thành lập Nội các ⁵ .

    Ngay từ đầu tháng 8 năm 1945, trong cương vị người cầm đầu Chính phủ, Thủ tướng Trần Trọng Kim cũng đã có ý định mời những người Việt Minh cộng tác. Nhân từ Huế ra Hà Nội, cụ nhờ Khâm sai Phan Kế Toại bắn tiếng mời Việt Minh cử đại diện đến nói chuyện. Tuy người tới gặp cụ còn rất trẻ, nhà giáo lão thành, tác giả Việt Nam Sử Lược đã nói như sau:

    “Chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau nhưng cũng một mục đích như nhau. Các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài, để cứu nước được không?”  Trong những hàng phía sau, cụ Trần Trọng Kim tóm lược cuộc đối thoại giữa cụ và người đại diện của Việt Minh:

    Người ấy nói: “Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trình nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm lấy được.”

    —  “Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi, nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.”

    —  “Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai.”

    —  “Theo như ý các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được.”

    —  “Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù người trong nước mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại, còn hơn với chín phần kia” (nhấn mạnh của người chép lại).

    Rồi người ấy ngồi đọc một bài hình như đã thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Thấy thái độ người ấy như thế, tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được. Tôi nói:

    —  “Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, sao các ông không vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?”

    —  “Chúng tôi sẽ cướp lấy quyền để tỏ cho các nước Đồng Minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu để ai nhường.”

    —  “Các ông có chắc là các nước Đồng Minh tin ở sức mạnh của các ông không?”

    —  “Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.”

    —  “Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử ” ⁶.

    Theo Gs. Phạm Cao Dương, người thay mặt Việt Minh đến gặp cụ Trần Trọng Kim hôm ấy là Lê Trọng Nghĩa. Các tài liệu về ông Nghĩa cho thấy ông sinh năm 1922 (năm 1945 mới 23 tuổi). Sau khi Việt Minh thành công ông được bầu vào Quốc Hội, rồi làm Cục trưởng cục Quân báo. Ông được thăng đến Đại tá Chánh Văn phòng, làm Trợ tá cho tướng Võ Nguyên Giáp. Năm 1968 ông bị bắt vì bị coi là có liên quan đến nhóm “Xét lại chống Đảng,” bị giam và phải “lao động cải tạo” từ 1968 đến 1976. Ông bị khai trừ khỏi đảng CS, mất hết chức vụ và quyền lợi. Sau 47 năm giữ im lặng, trước khi qua đời năm 2015 ông để lại di chúc yêu cầu được minh oan. Theo một bạn thân của ông là Trần Đĩnh (Đèn Cù, Quyển 2, trang 535-549), ông Nghĩa rất đau lòng vì nỗi khổ của các con: trong lý lịch, họ bị coi là con một người phản Đảng. “Nghĩa sau đó vào Cầu Giấy kể lại với tôi. Rồi ngơ ngác, ‘Thế là mất hết à’?” ⁷

    Lệ Trọng Nghĩa còn được mời tới gặp Khâm sai Phan Kế Toại  sáng ngày 16 tháng 8 năm 1945. Lần này ông Toại chính thức mời Mặt trận Việt Minh cộng tác với chính phủ Trần Trọng Kim, và “vui lòng chờ Mặt trận cử người tham gia chính phủ.” Người cùng đi với ông Nghĩa, ông Nguyễn Khang (Chủ tịch Ủy ban Quân sự Cách mạng Hà Nội) dứt khoát trả lời, “Tốt nhất ông Toại nên từ chức, trao chính quyền lại cho Việt Minh” ⁸.

    Theo nhà biên khảo David G. Marr trong cuốn Vietnam 1945 (Berkeley, CA : University of California Press, 1995), dựa theo các tài liệu từ phía Hà Nội, thì trước khi gặp ông Lê Trọng Nghĩa ngày 16 tháng 8, Khâm sai Phan Kế Toại đã tiếp một phái đoàn của Việt Minh do ông Nguyễn Khang cầm đầu ngày 13 tháng 8. Qua ông Khang, Khâm sai Toại mời Việt Minh giữ một số chức vụ trong chính quyền, nhưng ông Khang nhất quyết từ chối ⁹.

    Trong lần tiếp xúc sau, xảy ra lúc 8 giờ sáng ngày 18 tháng 8 năm 1945, tại một biệt thự ở số 101 đường Gambetta, nay là đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội, đại diện chính phủ Trần Trọng Kim là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật, một học giả lỗi lạc và uy tín đương thời.  Giáo sư Hãn tự giới thiệu là “người đại diện cao cấp nhất của Thủ tướng Chính phủ tại Hà Nội,” và tới để báo tin, “Chúng tôi biết chắc chắn có tin quân đội Đồng Minh đã bắt đầu lên đường, chia nhau vào chiếm Nam Bắc vĩ tuyến 16 nước ta rồi. Đất nước đang có nguy cơ đe dọa lại bị xâm chiếm và chia cắt một lần nữa.” Giáo sư Hãn gợi ý, “Chúng ta hãy tiếp tục thương thảo, nói chuyện với nhau. Việt Minh các ông cứ nắm tất cả các vùng nông thôn, nhưng để cho chính phủ quản lý một số thành phố lớn, cốt để có danh nghĩa mà nói chuyện với Đồng Minh trong lúc này, không thì nguy cả” ¹⁰.

    Các học giả Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn không phải là những người có tham vọng chính trị. Khi đề nghị Việt Minh duy trì thể chế quân chủ nhưng được quyền lập chính phủ điều hành việc nước, cũng như khi đề nghị Việt Minh để lại cho chính phủ đương thời một số thành phố lớn để có tư thế đối thoại với các lực lượng Đồng Minh sắp đến Việt Nam, các ông chỉ nghĩ đến quyền lợi của quốc gia. Hành động “cướp chính quyền” của Việt Minh đã khiến chính phủ do họ lập ra năm 1945 không được nhìn nhận là một chính phủ có căn bản pháp lý. Giữa tháng 9 năm 1945, khi tướng Douglas Gracey của Anh đem quân tới Sài gòn để tước khí giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16, đối mặt với những cuộc biểu tình hỗn loạn và tranh chấp bạo động dẫn tới đổ máu diễn ra quanh Sài gòn nhưng không tìm được người đại điện hợp pháp của Việt Nam để đối thoại, ông ta đã có những hành động thuận lợi cho người Pháp.  

    Theo Gs. Phạm Cao Dương, Lê Trọng Nghĩa còn đến dinh Khâm sai một lần nữa vào chiều ngày 18 tháng 8 để gặp bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, người đại diện chính phủ thay Khâm sai Phan Kế Toại đã từ chức, nhưng không phải để thảo luận mà chỉ cốt thăm dò tình hình.

    Trong các lần tiếp xúc, trừ lần cuối cùng, các cụ Trần Trọng Kim, Phan Kế Toại và giáo sư Hoàng Xuân Hãn đều chân thành mời Việt Minh vào chính phủ làm việc để “cùng lo cho quyền lợi đất nước” nhưng tất cả đều bị từ chối. Lý do là Việt Minh, với nòng cốt là đảng Cộng sản, đã chủ trương “cướp chính quyển” để một mình lãnh đạo đất nước hầu thực hiện một cuộc cách mạng theo đường lối riêng, bất chấp những tai hại và nguy hiểm có thể xảy tới cho dân tộc, đúng như lời tuyên bố của Lê Trọng Nghĩa, “Dù người trong nước mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại, còn hơn với chín phần kia.”  Đó cũng là lý do trong những năm 1945, 1946, trước và sau khi giành được chính quyền, Việt Minh đã tìm cách tiêu diệt toàn bộ các nhà trí thức có uy tín và những người hoạt động chính trị không phải là Cộng sản. Chúng ta có thể kể Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, Ls. Dương Văn Giáo, bs. Hồ Vĩnh Ký và vợ là bs. Nguyễn Ngọc Sương, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Nhượng Tống… Các lãnh tụ tôn giáo có ảnh hưởng như Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ của Phật giáo Hòa Hảo cũng bị sát hại.

    Ngày 17 tháng 8-1945 ở Hà Nội, lúc 3 giờ chiều, nhân một cuộc biểu tình của Tổng hội Công chức trước Nhà hát lớn để ủng hộ chính phủ sau khi Nhật đầu hàng, cán bộ Việt Minh tới cướp máy vi âm, hô “Hoan hô Việt Minh” và trương cờ đỏ sao vàng. Nhà biên chép lịch sử Đoàn Thêm cho biết như sau, “Rồi đoàn biểu tình được lệnh chuyển bước, tuần hành qua nhiều đường lớn… Tới ngã sáu Cửa Nam, vài anh áo cộc quần đen, chắc chắn không phải là công chức, vừa chạy vừa phất lá cờ đỏ giữa có ngôi sao vàng, anh khác giơ một vật ít thấy ở thời đó là khẩu súng lục, bắn vài phát như để thị uy: “Anh em hãy cùng tôi hô ‘Mặt trận Giải phóng muôn năm’.” Vài công chức, có lẽ hoảng sợ quá, đành “Muôn năm” theo một cách gượng gạo và máy móc” ¹¹.

    Ngày 19 tháng 8, từ sáng sớm, Việt Minh tổ chức biểu tình tuần hành từ trước Nhà hát lớn để đi “cướp chính quyền.” Theo hồi ký của nhà biên khảo Hoàng Tường trong Việt Nam Đấu Tranh (Westminster, CA : Văn Khoa, 1987), “Lúc mới xuất phát chỉ độ 500 người, nhưng sau đó cứ mỗi khu phố đi qua lại có dân chúng hiếu kỳ đi theo, nên đoàn biểu tình trở nên đông đảo, ước độ 2000 người, đa số là thanh niên, thiếu nữ, thiếu nhi. Dẫn đầu là một lá cờ lớn (nền đỏ sao vàng), rồi đến biểu ngữ lớn nhỏ… Hai bên đoàn người biểu tình diễn hành còn có một đám người cỡi xe đạp cắm cờ trên ghi đông, vừa đạp vừa hô, “Ủng hộ Việt Minh nắm chính quyền” ¹² . Bác sĩ Nguyễn Tường Bách kể lại, “Có người cầm cờ đỏ, nhỏ, bằng giấy, có người hô khẩu hiệu, “Ủng hộ độc lập, Đả đảo thực dân Pháp.” Thỉnh thoảng có vài người đi kèm, họ chia nhau rẽ vào các nhà bên đường xua người ra phố tham dự biểu tình. Vì vậy người xuống đường càng ngày càng đông, nam nữ già trẻ đều có; vì nếu không hồ hởi để đi biểu tình, cũng khó mà từ chối không dự vào một hoạt động để ủng hộ độc lập” ¹³.

    Nhà biên khảo Hoàng Tường viết tiếp, “Đầu tiên đoàn biểu tình dừng lại trước phủ Khâm sai. Trong khi tiếng hô “Ủng hộ Việt Minh nắm chính quyền” vang dậy thì một bọn chừng hơn 10 người tách khỏi đoàn biểu tình tiến vào trong dinh, trước bộ mặt ngơ ngác của một anh Bảo an binh đứng gác. Đi đầu là hai người tay cầm lăm lăm khẩu súng sáu, và hai người khác khiêng một lá cờ đại, nền đỏ sao vàng. Thế rồi chỉ một lát sau, lá cờ được kéo lên trước cửa dinh, ngạo nghễ tung bay trước gió. Anh Bảo an binh gác ngoài cửa cũng được thay thế luôn: một người trong đám biểu tình tách ra, nhận lấy cây súng trường anh Bảo an binh trao cho, và đứng gác trước dinh.¹⁴ ” Khâm sai Phan Kế Toại có cảm tình với Việt Minh, nhất là sau khi Phan Kế An, con trai ông, gia nhập và hoạt động cho họ. Tối 17 tháng 8, sau khi biết việc xin từ chức đã được chấp thuận, ông rời dinh Khâm sai về nhà riêng. Trước khi đi, ông dặn viên Chánh quản và một Bảo an binh có nhiệm vụ canh giữ dinh, “Không nổ súng” để tránh đổ máu một cách vô ích.

    Sau đó, đoàn biểu tình lần lượt diễn hành đến tòa Thị chính, nhà máy đèn, nhà bưu điện, rồi đến các ty sở khác, đài phát thanh. Cuối cùng họ kéo đến trại Bảo an binh … Cuộc đoạt chính quyền diễn ra êm ru. Đảng viên Cộng sản xuất hiện rất đông đảo, khoa tay múa chân, miệng hô: “Cách mạng thành công! Cách mạng thành công!” ¹⁵

    Thật ra, nếu đáp ứng lời mời của vua Bảo Đại, vào Huế lập chính phủ trong tinh thần đạo Dụ số 105 ngày 17-8-1945 như đã nói trên, những người Cộng sản cũng sẽ làm chủ tất cả những dinh thự ấy cũng như các dinh thự khác trên toàn quốc, vì trong thể chế quân chủ lập hiến, ngôi vua chỉ mang tính cách biểu tượng quốc gia. Nhưng điều họ muốn là có thanh thế thật mạnh (cướp được chính quyền) để sau đó có thể thực hiện thêm nhiều hành động “ngày long trời, đêm lở đất” khác.

    Trong hồi ký Một Cơn Gió Bụi, học giả Trần Trọng Kim cho biết, “Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: “Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng Minh đến thay. Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự”. Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Đồng Minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa, và lại mang tiếng “cõng rắn cắn gà nhà”. Tôi từ chối không nhận” ¹⁶.

    Gần 70 năm sau, Trần Đĩnh, một nhà văn và biên khảo trưởng thành trong chế độ Hà Nội, cũng viết: “Tổng tư lệnh Nhật vào Huế, gặp Bảo Đại và Trần Trọng Kim, nói, ‘Nếu các vị yêu cầu, Nhật với 50,000 quân tinh nhuệ, có thể dẹp Việt Minh trong một đêm. Việt Minh có quá lắm là 5000 người, còn súng ống lại càng quá ít.’ Nhưng hai ông này từ chối” ¹⁷.

    Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8-1945, vua Bảo Đại thoái vị, trao kiếm và ấn tượng trưng vương quyền cho đại diện của họ (Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận) ngày 25 tháng 8-1945. Một tuần sau, ngày 2 tháng 9-1945, ông Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn độc lập.

    Nhưng niềm vui không được lâu. Hơn 10 hôm sau, ngày 13 tháng 9-1945, theo tinh thần Thỏa ước Potsdam, Thiếu tướng Douglas Gracey của Anh đem quân tới Sài gòn để tước khí giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16. Tình trạng chính trị ở miền nam Việt Nam những năm 1945-1946 không ổn định. Nhiều nhân sĩ trí thức ái quốc, nhiều tổ chức tôn giáo không chấp nhận sự thao túng và những biện pháp khống chế của các nhân vật Cộng sản. Phía Cộng sản khủng bố, hạ sát nhiều nhân vật ưu tú của miền Nam, đưa tới việc nhiều tổ chức tôn giáo và nhân sĩ (như nhà giáo Trần Văn Hương) vừa lo sợ vừa bất mãn, tách khỏi phong trào kháng chiến do CS chỉ huy. Tình trạng mất an ninh quanh khu vực Sài gòn – Chợ Lớn khiến tướng Gracey ban lệnh thiết quân luật và cho võ trang một số thường dân Pháp, giúp Pháp có lợi thế. Sau khi tướng Leclerc của Pháp đem quân tới vào tháng 10-1945, ông mở rộng phạm vi kiểm soát của Pháp đến hầu hết các thị trấn và tỉnh lỵ miền Nam, dồn lực lượng Việt Minh vào thế co cụm, phải lẩn tránh vào các vùng hẻo lánh, bưng biền. Một trong những tài liệu đáng tin cậy, giúp chúng ta biết một cách khái quát vể tình trạng miền Nam những năm ấy là cuốn Gió Mùa Đông Bắc của bác sĩ Trần Nguơn Phiêu (Amarillo, TX : Hải Mã, 2008). Sinh năm 1927, ở đúng tuổi 18 năm 1945, ông đã tích cực dấn thân vào phong trào tranh đấu cho độc lập trong mấy năm đầu ¹⁸.

    Sau khi tạm ổn định trong Nam, tướng Leclerc đem quân ra Bắc, chuẩn bị đổ bộ ở Hải Phòng. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, đại diện của Pháp là Jean Sainteny ký với ông Hồ Chí Minh một Hiệp ước sơ bộ, trong đó Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do trong khối Liên hiệp Pháp và trong Liên bang Đông Dương. Để đổi lại, chính phủ Hồ Chí Minh đồng ý cho Pháp đưa 15,000 quân vào miền Bắc trong vòng 5 năm. Mâu thuẫn Việt-Pháp sau đó gia tăng. Đêm 19 tháng 12-1946, Việt Minh tấn công quân đội Pháp ở Hà Nội, mở màn cho cuộc chiến tranh Việt Minh – Pháp kéo dài tới Hiệp định Geneva tháng 7 năm 1954.

    Khi Việt Minh khởi sự giao tranh với Pháp cuối năm 1946 rồi bỏ Hà Nội và các đô thị chạy lên chiến khu, chỉ một tỷ lệ nhỏ dân chúng có phương tiện chạy theo hay tản cư tới những vùng tương đối an ninh gần quanh. Cư dân còn ở lại các thành phố vẫn cần được bảo vệ, trong đó có những trí thức và thành phần tư sản sẽ bị sát hại hoặc đàn áp nếu tới sống ở vùng do Việt Minh kiểm soát. Việc nhiều nước Á Châu được trả lại độc lập đã khiến một số không nhỏ người Việt nhận thấy nếu tập hợp quanh một nhân vật có uy tín, đủ tư thế đại diện, có thể tiến tới việc điều đình với người Pháp để thu hồi độc lập dần dần. Tháng 5 năm 1947, Cao ủy Pháp tại Đông Dương là Émile Bollaert đọc một bài diễn văn quan trọng ở Hà Đông, đưa ra quan niệm “độc lập trong sự liên lập,” và tuyên bố “sẵn sàng tham khảo tất cả các phe phái chính trị ở Việt Nam.” Đó là lý do khiến cựu hoàng Bảo Đại, người đã tự nguyện thoái vị năm 1945 với câu “Không muốn làm vua một nước nô lệ” được nhiều khuynh hướng chính trị người Việt tìm tới yết kiến, thỉnh cầu đứng ra làm đại diện. Cuộc chiến tranh cũng bị dư luận Pháp lên án. Vì thế Pháp và Việt Nam dần dần tiến tới Thỏa ước Hạ Long năm 1948, rồi Hiệp định Élysée năm 1949, trong đó Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam. Năm 1949 cũng là năm Cộng sản toàn thắng trên lục địa Trung Hoa. Hai khuynh hướng chính trị thành hình ở Việt Nam. Một bên là đoàn kết quanh một nhân vật có uy tín để điều đình với Pháp hầu thu hồi độc lập qua từng giai đoạn (phe Quốc gia), một bên là dựa vào sự giúp đỡ của Trung Cộng để đánh Pháp (phe Cộng sản).   

    Hiệp định Elysée chưa phải một hiệp định toàn hảo. Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập “trong Liên hiệp Pháp,” và xác nhận Nam Kỳ trở về lãnh thổ Việt Nam, nhưng về ngoại giao Việt Nam chưa hoàn toàn tự do. Việt Nam còn phải “phối hợp hoạt động với đường lối chung của Liên hiệp Pháp,” “các quốc gia được Việt Nam cử phái đoàn ngoại giao phải có sự tương đồng của chính phủ Cộng hòa Pháp.” Nói cách khác, năm 1949 khi ký Hiệp định Elysée, chính thể Quốc gia Việt Nam chưa được độc lập về phương diện đối ngoại.

    Được tin Pháp ký Hiệp định Elysée với cựu hoàng Bảo Đại, ông Hồ Chí Minh phẫn nộ, tuyên bố “đó chỉ là một tờ giấy lộn.” Nhưng so với bản Hiệp định do chính ông ký với Pháp ngày 6 tháng 3 năm 1946, thì Hiệp định Elysée là một bước tiến xa và ở một cấp cao hơn.

    —  Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do “trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp.” Trong Hiệp định Elysée, Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập “trong Liên hiệp Pháp.” Liên hiệp Pháp là một hình thức kết hợp giữa một số quốc gia từng là thuộc địa của Pháp, cũng tương tự khối Liên hiệp Anh (British Commonwealth), gồm một số quốc gia từng có những gắn bó với Anh (như Úc, Tân Tây Lan [New Zealand], Canada, South Africa, và một số quốc gia nhỏ).

    — Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, Pháp không cam kết sẽ trả Nam Kỳ cho Việt Nam, chỉ nói rằng “chính phủ Pháp hứa sẽ thừa nhận những quyết định của dân chúng qua cuộc trưng cầu dân ý.”  Trong Hiệp định Elysée, Pháp xác nhận Nam Kỳ trở về lãnh thổ Việt Nam.

    —  Người ký Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946 với Hồ Chí Minh là Jean Sainteny, trong tư cách “phái viên của phủ Cao ủy Pháp, được sự ủy quyền của Đô đốc d’Argenlieu, đặc sứ toàn quyền của Cộng hòa Pháp.” Người ký Hiệp định Elysée với Cựu hoàng Bảo Đại là Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc Vincent Auriol.

    —  Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, ông Hồ Chí Minh nhận đón 15,000 quân Pháp vào đóng ở miền Bắc Việt Nam. Nói cách khác, ông không chống lại mà hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp trong lãnh thổ Việt Nam.

    Từ đó trên đất nước Việt Nam hiện diện hai chính phủ song hành là chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, và chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu. Chính thể Quốc gia là một lối thoát cho nhiều nhà hoạt động chính trị với tinh thần dân tộc và cho những người dân không thể sống dưới chế độ Cộng sản. Những năm sau đó, dân chúng bỏ vùng Việt Minh, hồi cư về các thành phố để sống dưới chính thể Quốc gia càng ngày càng đông.

    Nhờ sự tận lực  giúp đỡ của Trung Cộng, phe Cộng sản thắng Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954 và đất nước Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17. Miền Bắc theo chế độ Cộng sản. Những người tự thấy không thể sống với Cộng sản ở miền Bắc phải lánh vào miền Nam.  

    Trong cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp từ 1946 đến 1954, theo tài liệu của Việt Minh, số quân nhân tử trận và mất tích là 191,605 người. Theo các sử gia Tây phương, con số ấy từ 175,000 tới 300,000 người. Số thường dân Việt Nam bị chết được ước lượng từ 125,000 tới 400,000 ¹⁹. Việt Minh theo chính sách tiêu thổ kháng chiến, nên tất cả các đô thị bị đập phá tan hoang.

    1. “Đánh Mỹ để thống nhất đất nước”

    Những hàng phía trên đã cho ta thấy khi Thế chiến thứ 2 chấm dứt năm 1945, nếu ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản không khăng khăng đưa đất nước vào con đường Cộng sản, Việt Nam có thể đã độc lập, nếu không sớm như Philippines và Ấn Độ (từ 1945 đến 1947), thì cũng tương tự Nam Dương (năm 1949), hay trễ lắm như Mã Lai (năm 1957). Đâu cần phải cầu xin Trung Cộng giúp đỡ để đánh Pháp rồi sau đó bị họ khống chế? Nếu các nhà lãnh đạo miền Bắc không khăng khăng áp dụng chủ thuyết Cộng sản, đất nước đâu đến nỗi phân đôi? Đâu cần một cuộc nội chiến thảm khốc để thống nhất đất nước?

    Mặt khác, trong cuộc Chiến Tranh Lạnh (the Cold War) giữa hai đại cường quốc Nga – Mỹ (1947-1991), Việt Nam không phải quốc gia duy nhất bị chia đôi. Chúng ta cũng thấy có Đông – Tây Đức và Nam – Bắc Hàn. Đông – Tây Đức giữ tình trạng chia cắt cho đến khi thống nhất trong hòa bình năm 1990. Bắc Hàn chủ động tấn công năm 1950, gây nên cuộc chiến tranh Cao Ly (the Korean War) trong những năm 1950-53, nhưng sau tháng 7-1953 cũng chấp nhận chia cắt ở vĩ tuyến 38, giới hạn cuộc tranh chấp ở mức độ “chiến tranh miệng.” Việt Nam là quốc gia duy nhất trải qua một cuộc chiến thảm khốc với:

    —  Ở miền Bắc:

    —  Trên 849,000 quân nhân tử trận

    —  Trên 600,000 quân nhân bị thương

    —  Trên 232,000 quân nhân mất tích

    —  Số thường dân ở vùng do CS kiểm soát bị chết vì chiến tranh: từ 30 ngàn tới 182 ngàn.

    — Ở miền Nam:

                – 313,000 quân nhân tử trận

                – 1,170,000 quân nhân bị thương

                – Từ 195 đến 430 ngàn thường dân bị chết oan ²⁰.

    Đúng là “nhất tướng công thành, vạn cốt khô”. Dân trong nước đã đưa ra lời nhận xét, “Con đường Bác đi là con đường bi đát.”

    Đầu thập niên 1980, khi tướng Võ Nguyên Giáp bị đổi sang phụ trách “Ủy ban Sinh đẻ có kế hoạch,” trông coi việc hạn chế sinh đẻ và ngừa thai, người dân miền Bắc cũng đưa ra cặp câu đối:

                Tướng Võ không còn Nguyên Giáp nữa,

                Bác Hồ cũng chẳng Chí Minh đâu!

    Đất nước hiện đã thống nhất nhưng lòng người vẫn chưa thổng nhất. Việt Nam bị tàn phá, trở nên lạc hậu, thua kém xa các lân bang. Trong khoảng đầu thập niên 1960, mức sống ở Hàn Quốc, Thái Lan, Mã Lai … thấp hơn ở Nam Việt Nam. Hiện nay họ tiến hơn rất xa. Có phải đó là “sự nghiệp vĩ đại” để các nhà lãnh đạo đảng CSVN muốn dân Việt phải “nhớ ơn?”

    Để ép dân miền Bắc hi sinh, những người Cộng sản dùng tinh thần dân tộc và phương pháp lừa dối. Họ xuyên tạc là dân miền Nam bị “đế quốc Mỹ và tay sai” áp bức, vô cùng cực khổ, không có gì để ăn, nên thanh niên thiếu nữ miền Bắc cần hi sinh vào để “cứu” bà con ruột thịt miền Nam, như tinh thần câu thơ của Bùi Minh Quốc:

    Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy

    Dầu xa xôi gấp mấy cũng lên đường

    Bùi Minh Quốc đã cùng vợ, nhà văn Dương Thị Xuân Quý, vào chiến trường miền Nam, gửi người con duy nhất của hai người là Bùi Dương Hương Ly nhờ bà ngoại nuôi hộ. Nhà văn Xuân Quý hi sinh ở miền Nam khi mới 28 tuổi, và khi con của hai người mới được 2 tuổi.  

    Ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo chân đoàn quân chiến thắng vào tiếp thu Sài Gòn, nhà văn Dương Thu Hương đã “ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết,” vì nhận ra rằng, “Cái mô hình xã hội của miền đất bại trận mới chính là mô hình của nền văn minh, và chúng tôi, người trong đội ngũ chiến thắng, thì thực ra đã chiến đấu cho một mô hình xã hội man rợ.” “Điều đó khiến tôi hết sức cay đắng. Cả thế hệ của chúng tôi đã bị lừa…”. Theo bà, “Dân Việt Nam đã bị đẩy vào một cuộc chiến vô nghĩa.”   Phía sau là đường dẫn đưa một số lời phát biểu đặc sắc của bà:

    Little Saigon Radio Phỏng Vấn Nhà Văn Dương Thu Hương: Dân Vn, Dù Mù Chữ Đều Xấu Hổ Vì Đảng Quá Tối Tăm Ngu Dốt – Tin Trong Ngày – Việt Báo Foundation – A Nonprofit 501 (c)(3) Organization

    Đứng về phương diện kinh tế, mặc dầu trong hoàn cảnh chiến tranh, mức sống tại miền Nam vẫn cao hơn tại miền Bắc nhiều. Ca sĩ Ái Vân kể lại ngày đầu tiên bà từ Hà Nội đến thăm gia đình người chị ruột của thân phụ ở Sài gòn: 

    “Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Chị Nga, … là con dâu trưởng của cô Cả, hỏi, “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?” Tôi trịnh trọng vừa mở bọc vừa nói, “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần.”

    Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả, chị Nga cười đến nỗi suýt té từ trên ghế xuống sàn. Chị nói, “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em.” Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác, cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có trong bất kỳ nhà nào ở miền Bắc tại thời điểm đấy…” ²¹.

    Không riêng gì mức sống vật chất, nếp sống về tinh thần ở miền Nam năm 1975 cũng cao hơn ở miền Bắc. Ca sĩ Ái Vân cho biết tiếp:

    “Trước đây cứ nghe nói đồng bào miền Nam “bị Mỹ Ngụy kìm kẹp,” khổ lắm, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi nilon đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc” ²².

    Phía sau là những hàng tự thuật và nhận xét của một chuyên viên kỹ thuật miền Bắc được cử vào để “tiếp thu” miền Nam, Trương Minh:

    “Xe vừa vào địa giới miền Nam, chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới. Nhà cửa người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn miền Bắc. Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hòa. Có quá nhiều nhà máy tại đây. Đoàn 18 người  chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này, và tuy không ai nói với ai, đều trầm trồ trước công nghiệp miền Nam.

    “… Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài Gòn, tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh, lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam.

    “… Sài Gòn, hay nói rộng ra cả miền Nam, không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo đài Hà Nội mô tả… Đây là mô hình của một xã hội văn minh, và người nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội XHCN tại miền Bắc. Tiếc thay! Một xã hội như thế lại vừa bị cướp mất đi” ²³.

    Theo nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn, “Không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn. Không chỉ đường xá tốt mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc. Trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật tốt. Giữa người với người có quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.” ²⁴

    Trong bài “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” đăng trong tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 7-8 (114-115) năm 2014, với chuyên đề “Giáo dục miền Nam Việt Nam 1954-1975,” ông nhận xét thêm: “Trong khi khác biệt với giáo dục miền Nam, thì giáo dục miền Bắc cũng khác nhiều so với thế giới. Đủ hiểu tại sao sau khi đào tạo trong nước, ra tiếp xúc với xã hội hiện đại, cánh học sinh, sinh viên miền Bắc bọn tôi thường ú ớ, lạc lõng, trong khi những người được giáo dục miền Nam đào tạo thì hội nhập rất tự nhiên và hiệu quả” ²⁵ Phía sau là đường dẫn đưa tới trang blog đăng những bài suy tư của ông:

    Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc

    Xã hội miền Nam năm 1975 chưa phải là một xã hội toàn hảo. Nền dân chủ miền Nam đang xây dựng năm 1975 chưa phải là một nền dân chủ kiện toàn. Nhưng theo nhận xét của một nhà văn (Dương Thu Hương), một nghệ sĩ (Ái Vân), một chuyên viên kỹ thuật (Trương Minh), một nhà nghiên cứu văn hóa (Vương Trí Nhàn) cùng tới từ miền Bắc, xã hội ấy không cần các lãnh tụ Cộng sản tại Hà Nội xua quân vượt Trường Sơn để “giải phóng.” Hơn hai triệu người Việt đã bị hi sinh trong một cuộc chiến huynh đệ tương tàn thảm khốc và vô nghĩa. Như vậy ngày 19 tháng 8 năm 1945, ngày Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim ở Hà Nội, trong khi vua Bảo Đại và các cụ Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn … nhiều lần mời cộng tác, có đáng được coi là một ngày để dân Việt “hân hoan kỷ niệm” hay không?

    Minh Phương biên soạn

    GHI CHÚ

    1.         Tường Vũ, Vietnam’s Communist Revolution (New York : Cambridge Univ. Press, 2017), trang 105.

    2.         Sách đã dẫn, trang 95-96.

    3.         Sách đã dẫn, trang 104-105.

    4.         Phạm Cao Dương, Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California : Truyền Thống Việt, 2017), pp. 288-289. Xem thêm Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế đến Chiến Khu Việt Bắc (Tp HCM : NXB Trẻ, 1996), pp. 76-77.

    5.         Phạm Cao Dương, op. cit, pp. 289-290.

    6.         Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi  (Saigon: Vĩnh Sơn, 1969), pp. 86–88.

    7.         Trần Đĩnh, Đèn Cù, Vol. 2 (Westminster, CA : Người Việt Books, 2014), pp. 545–547.

    8.         Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 307–309.

    9.         Marr, David G. Vietnam 1945 (Berkeley: University of California Press, 1995), p. 374.

    10.       Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 309-311.

    11.       Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, 1939–1954 (Sài Gòn: Nam Chi Tùng Thư. Reprinted Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1969), pp. 47–48.

    12.       Hoàng Tường, Việt Nam Đấu Tranh (Westminster, CA : Văn Khoa, 1987), p. 68.

    13.       Nguyễn Tường Bách, Việt Nam Một Thế Kỷ Qua: Hồi Ký, Vol. I. (Westminster, CA: Thạch Ngữ, 1998), p. 169).

    14.       Hoàng Tường, op. cit, p. 68-69.

    15.       Ibid., p. 69.

    16.       Trần Trọng Kim, op. cit., p. 93.

    17.       Trần Đĩnh, op. cit., p. 478.

    18.       Trần Nguơn Phiêu, Gió Mùa Đông Bắc (Amarillo, TX: Hải Mã, 2008).

    19.       From Wikipedia:

    First Indochina War – Wikipedia

    20.       From Wikipedia:

    Vietnam War – Wikipedia

    21.       Ái Vân, Để Gió Cuốn Đi: Autobiography (Saigon: Hội Nhà Văn Pub., 2016), pp. 156–157).

    22.       Ibid., p. 156.

    23.       Trương Minh, “Chuyện kể của một người chiến thắng khi vào Nam” (Story of a victor entering the South.” In Nguyễn Tường Tâm, Cuộc Chiến Việt Nam 50 Ngày Cuối Cùng (San Jose, CA : NT Tâm, 2025), pp. 509–512.

    24.       “Cú sốc giáo dục khi vào Nam tiếp quản” (The educational shock when entering the South for takeover). In Nguyễn Tường Tâm, op. cit., pp. 517-518.

    25.       Vương Trí Nhàn, “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” (Some reflections on the differences between southern and northern education), in Nghiên Cứu và Phát Triển (Research and Development), Nos. 7–8 (114–115), 2014, p. 267.

    ***
    (English version)

    The Meanings of the August 19th and September 2nd Celebrations

    to the Vietnamese People Today

    Every year when August comes, the Vietnamese Communist regime jubilantly celebrates August 19th — the day they seized power from the government of Trần Trọng Kim in 1945 — and September 2nd, when Hồ Chí Minh read the “Declaration of Independence” at Ba Đình Square in Hà Nội.

    The following lines aim to provide some basic knowledge for younger Vietnamese, those who have not had the opportunity to know much about these two historical events.

    Meanwhile, the Vietnamese Communists have always boasted that they successfully led the nation in two great wars:

    1. The war against France to gain independence, and
    2. The war against the United States to unify the country.

    Therefore, they claim the right — and the monopoly — to rule the nation. They equate their regime with the Vietnamese Fatherland. Inside the country, anyone who speaks out to criticize the regime is accused of treason.

    This year, 2025, marks the 80th year since the Vietnamese Communists seized power in 1945 and dragged the nation into two devastating wars, which ended in 1975 but whose consequences and deep divisions remain severe to this day. It is therefore appropriate for us to calmly re-examine the true nature of the Vietnamese communist revolution and the origins of those wars, and then objectively assess just how great the achievements of the Vietnamese Communist Party really were.

    I. “Fighting the French to Gain Independence”

    After World War II ended in 1945, the Western powers became aware that in the new global context, continuing to hold Asian nations as colonies was no longer acceptable. The colonial system had reached its end. For that reason:

    • The United States granted independence to the Philippines. The Philippines declared independence on July 4, 1945.
    • Britain granted independence to India. India became independent in 1947.
    • Britain granted independence to Burma (now Myanmar). Burma became independent in January 1948.
    • Britain granted independence to Malaya (now Malaysia). Since Malaya consisted of several states and territories, its politics were complex. Malaya was granted self-rule in 1948 and full independence in 1957.
    • The Netherlands granted independence to Indonesia. At first, the Dutch colonialists greedily refused, forcing the Indonesians to wage armed struggle for four years. Under global pressure, especially from the United States, Indonesia finally achieved full independence in December 1949.
    • The only Asian nation that had to fight bitterly until 1954 and then suffered partition was Vietnam.


    Although the U.S. sympathized with Vietnam’s independence, it did not pressure France the way it pressured the Dutch in Indonesia. There were several reasons, but the main one was: the Hồ Chí Minh’s regime was communist, and under various pseudonyms Hồ had already been identified as an agent of the international Communist movement, trained by the Comintern in Moscow.

    According to Prof. Tường Vũ in his book Vietnam’s Communist Revolution (New York: Cambridge University Press, 2017), after carefully examining the Văn Kiện Đảng Toàn Tập (Collected Party Documents) of the Hanoi regime, the professor — a political scientist and director of the Center for Asian Studies at the University of Oregon — discovered that as early as 1946, three years before Mao Zedong’s victory in China, secret party documents of the Viet Minh regime had always praised the “socialist forces” led by the Soviet Union, and  criticized “American imperialism” ¹.

    Although Hồ collaborated with some U.S. OSS officers in 1945, although he used a signed photo of General Claire L. Chennault to claim he had “American backing,” and he quoted the U.S. Declaration of Independence in his own declaration, he never denied being a Communist.

    In 1945–1946, alongside writing letters to U.S. President Harry Truman, Hồ also wrote to Soviet leader Stalin asking for support — and received no reply in either case. As early as 1941–1942, the Việt Nam Độc Lập newspaper, founded by Hồ, praised the Soviet Union as a paradise and wrote: “Only when Russia wins completely will the world see glorious days.” ²

    In late 1945, although Hồ publicly announced the “voluntary dissolution” of the Vietnamese Communist Party to deceive public opinion, Sự Thật (Truth), the biweekly journal of the “Association for Marxist Studies,” run by Trường Chinh, still declared in its debut issue of December 5, 1945: “The only path that can lead humanity to freedom, peace, and happiness is the thorough implementation of Marxism.” ³

    Looking back decades later, many historians have concluded that the so-called “August Revolution” of the Việt Minh in 1945 was in fact nothing more than a power grab, and the Communists themselves used the verb “cướp” (to seize, to rob). Even more sadly, that “cướp” action was not necessary, because after Japan surrendered to the Allies on August 15, 1945, a political power vacuum existed in Vietnam:

    • The French: sidelined by the Japanese coup of March 9, 1945; key officials were imprisoned.
    • The Japanese: having surrendered, especially after the atomic bombings, they were preparing to hand over weapons and be repatriated.
    • The Trần Trọng Kim government: composed of teachers and intellectuals with no political ambition, formed to administer the country after the French collapse. They focused only on social issues, famine relief, health, and education. They were ready to resign when others could replace them, and eventually did resign.
    • Emperor Bảo Đại: ready to abdicate, declaring, “I would rather be a citizen of an independent country than a king of a subjugated one.”

    In the book Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California: Truyền Thống Việt, 2017), Prof. Phạm Cao Dương let us know that in the meeting between Emperor Bảo Đại and the Trần Trọng Kim Cabinet in Huế on August 17, 1945, alongside the opinion of handing full power to the Việt Minh, there was also the view of Lawyer Vũ Văn Hiền, Minister of Finance, who argued: Vietnam needed a legitimate government to guarantee order, and so that when the Allies arrived there would already be a legally constituted government, with status and authority to deal with them. Otherwise, they might use the pretext that Vietnam was in chaos and without a legitimate government as a reason of helping the French colonialists return. To achieve that, the power to form a government should be granted to the Việt Minh, but the monarchical institution should be retained (transformed into a constitutional monarchy) ⁴.

    This opinion was supported by legally knowledgeable ministers such as Trịnh Đình Thảo, Trần Văn Chương, and Phan Anh. A royal decree was immediately drafted: Decree No. 105, dated August 17, 1945. In it, Emperor Bảo Đại expressed the readiness to hand power to the Việt Minh as a national liberation organization, and invited their leaders to Huế to form a cabinet ⁵.

    As early as the beginning of August 1945, Prime Minister Trần Trọng Kim, in his capacity as head of government, had already intended to invite Việt Minh representatives to cooperate. While traveling from Huế to Hanoi, he asked Khâm sai (Royal commissioner) Phan Kế Toại to discreetly sound out the Việt Minh. The one who came to meet him was still very young, but the elderly teacher, author of Việt Nam Sử Lược (A Brief History of Vietnam), said:

    • “We are working only for the country, not seeking fame or profit. I am sure your party also acts for the nation. If so, then though we travel different paths, we share the same goal. Let us see if we can cooperate—some inside, some outside—to save the country, can’t we?”

    In subsequent lines, Trần Trọng Kim summarized the dialogue between him and the Việt Minh representative:

    • The representative said: “Our actions are based on our own ideology and program to bring the country to complete independence. We can achieve it ourselves.”
    • Trần Trọng Kim: “The pursuit of independence is also our goal, but since the straight path has many obstacles, we must take a winding route, slowly, perhaps more securely.”
    • The representative: “We have only one straight path to full independence, not two.”
    • Trần Trọng Kim: “According to your way, I fear it will greatly harm the people, and it is uncertain whether you will succeed.”
    • The representative: “We are certain to succeed. If harm comes, it does not matter—only after harm comes benefit. Even if nine out of ten people die, we will build a new society from those who remain, which is better than keeping the other nine parts.” (emphasis by the chronicler)


    Then the representative recited from memory a monologue outlining Việt Minh activities. Seeing such an attitude, I knew reason could not prevail. I said:

    • “If you are sure of securing independence, why don’t you enter the government to work, instead of causing upheavals to the people’s sufferings?”
    • The representative: “We will seize power to show the Allies that we are strong, not accept anyone handing it to us.”
    • “Are you sure the Allies will believe in your strength?”
    • “Absolutely sure. One hundred percent.”
    • “The future is long; you take responsibility before the nation and history” ⁶.


    According to Prof. Phạm Cao Dương, the Việt Minh envoy who met Trần Trọng Kim on that day was Lê Trọng Nghĩa. Records show he was born in 1922 (only 23 years old in 1945). After the Việt Minh’s success, he was elected to the National Assembly, then became Director of Military Intelligence, later rising to Colonel, Chief of Staff, and aide to General Võ Nguyên Giáp. In 1968 he was arrested, accused of ties to the “Nhóm Xét lại chống Đảng”  (“Revisionist Anti-Party” group), imprisoned and sent to “reeducation labor” until 1976. He was expelled from the Communist Party and stripped of rank and privileges. After 47 years of silence, before his death in 2015, he left a will requesting exoneration. His close friend Trần Đĩnh, in the book Đèn Cù, recorded Nghĩa’s grief over his children’s suffering: in their dossiers they were branded “children of an anti-Party traitor.” Trần Đĩnh recalled Nghĩa’s words in bewilderment: “So, it’s all gone?” ⁷

    Lê Trọng Nghĩa was also received by Commissioner Phan Kế Toại in the morning of August 16, 1945. This time, Toại officially invited the Việt Minh Front to cooperate with the Trần Trọng Kim government, “gladly awaiting the Front to appoint participants to the cabinet.” But Nguyễn Khang (Chairman of the Hanoi Revolutionary Military Committee), coming with Nghĩa, bluntly replied: “It is best that you resign and hand power over to the Việt Minh” ⁸.

    The historian David G. Marr, in Vietnam 1945 (Berkeley: University of California Press, 1995), based on Hanoi sources, notes that before the August 16 meeting with Lê Trọng Nghĩa, Commissioner Phan Kế Toại had already received a Việt Minh delegation led by Nguyễn Khang on August 13. Through Khang, Toại invited Việt Minh to hold positions in government, but Khang firmly refused ⁹.

    The next contact occurred at 8 a.m. on August 18, 1945, at a villa at 101 Gambetta Street (now Trần Hưng Đạo Street, Hanoi). The government representative was Professor Hoàng Xuân Hãn, Minister of Education and Fine Arts, a highly respected scholar. He introduced himself as “the highest-ranking representative of the Prime Minister in Hanoi,” and announced: “We are certain that Allied troops have begun moving, dividing to occupy our country north and south of the 16th parallel. The nation faces the threat of re-occupation and partition once again.”

    Professor Hãn suggested: “Let us continue negotiating. You, the Việt Minh, may control all rural areas, but allow the government to administer some major cities—simply for legitimacy in dealing with the Allies now, otherwise the danger is grave” ¹⁰.

    Neither Trần Trọng Kim nor Hoàng Xuân Hãn were men of political ambition. Their proposals—that the Việt Minh maintain the monarchy while forming the government, or that they leave the cabinet a few major cities for holding dialogue with the Allies—were solely for the sake of national interest. The Việt Minh’s act of “seizing power” meant that the government they formed afterwards lacked a solid legal basis.

    By mid-September 1945, when the British General Douglas Gracey arrived in Saigon to disarm Japanese troops south of the 16th parallel, facing chaotic protests and bloody clashes around Saigon but finding no recognized legal Vietnamese authority to deal with, he acted in ways favorable to the French.

    According to Prof. Phạm Cao Dương, Lê Trọng Nghĩa went once more to the Khâm Sai Palace on the afternoon of August 18 to meet with Dr. Nguyễn Xuân Chữ, who was representing the government in place of Khâm Sai Phan Kế Toại (after the latter had resigned). But the purpose was not discussion, only to probe the situation.

    In these meetings—except for the last—Trần Trọng Kim, Phan Kế Toại, and Prof. Hoàng Xuân Hãn all sincerely invited the Việt Minh to join the government, to “work together for the interests of the nation.” But all such offers were refused. The reason was that the Việt Minh, whose core was the Communist Party, had already determined to “seize power” (cướp chính quyền) in order to lead the country alone and carry out a revolution according to their own line—regardless of the harms and dangers this might bring to the nation. Lê Trọng Nghĩa himself declared:

    “Even if nine out of ten people die, we will build a new society from those who remain, which is better than keeping the other nine parts.”

    This was also the reason that in 1945–1946, before and after seizing power, the Việt Minh systematically sought to eliminate all prominent intellectuals and non-Communist political activists. We can list: Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, lawyer Dương Văn Giáo, Dr. Hồ Vĩnh Ký and his wife Dr. Nguyễn Ngọc Sương, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Nhượng Tống… Even influential religious leaders such as Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ of Hòa Hảo Buddhism were assassinated.

    On August 17, 1945 in Hanoi, at 3 p.m., during a rally of the Civil Servants’ Association in front of the Opera House—organized to support the government after Japan’s surrender—Việt Minh cadres stormed the loudspeakers, shouted “Long live Việt Minh!” and raised the red flag with the yellow star. Historian Đoàn Thêm recorded:

    “Then the demonstration was ordered to march, parading through many major streets… At Cửa Nam six-way intersection, a few young men in short shirts and black trousers, clearly not civil servants, ran while waving the red flag with yellow star. Another raised an object rarely seen at that time—a revolver—and fired several shots as if to intimidate, ‘Comrades, let us shout together: Long live the Liberation Front!’ Some civil servants, perhaps too frightened, reluctantly and mechanically shouted ‘Long live’!”¹¹

    On August 19, early in the morning, the Việt Minh organized a mass rally in front of the Opera House with the aim of “seizing power.” According to the memoirs of the researcher Hoàng Tường in the book Việt Nam Đấu Tranh:

    “At first there were only about 500 people, but as the march passed through each street section, onlookers joined in. The demonstration grew to about 2,000 people, mostly youth. At the head was a large flag (red background with yellow star), followed by banners big and small… Alongside the marchers was a group riding bicycles with flags attached to their handlebars, shouting, ‘Support Việt Minh to seize power’.” ¹²


    Dr. Nguyễn Tường Bách recalled:

    “Some people carried small red paper flags, some shouted slogans: ‘Support independence, Down with French colonialism.’ From time to time, a few would peel off into nearby houses, urging people to come out and join the rally. Thus the number of people in the street grew larger and larger, men and women, old and young. For even if one was not eager to march, it was hard to refuse participation in an activity to support independence.”¹³

    Hoàng Tường continued:

    “The march first stopped at the Khâm Sai Palace. As the chants ‘Support Việt Minh to seize power’ thundered, a group of about 10 people broke off and entered the palace, before the bewildered face of a single Bảo An guard at his post. Leading were two men with revolvers, followed by two others carrying a large red flag with yellow star. Moments later, the flag was raised in front of the palace, fluttering arrogantly in the wind. The Bảo An guard at the gate was immediately replaced: one demonstrator took the rifle from him and stood guard in his place.” ¹⁴

    Khâm Sai Phan Kế Toại had sympathies with the Việt Minh, especially after his son, Phan Kế An, joined them. On the evening of August 17, once his resignation was accepted, he left the Khâm Sai Palace for his private home. Before leaving, he instructed the commander of the Bảo An guards and another trusted guard: “Do not fire” in order to avoid needless bloodshed.

    Afterwards, the demonstration marched in turn to the City Hall, the power plant, the post office, and other offices, including the radio station. Finally, they went to the Bảo An barracks… The takeover unfolded smoothly. Communist Party members appeared in great numbers, waving their arms and shouting: “Revolution successful! Revolution successful!” ¹⁵.

    In truth, had the Communists accepted Emperor Bảo Đại’s invitation (through Imperial Edict no. 105 of August 17, 1945) to come to Huế to form a government within the constitutional monarchy framework, they would have the control of all these palaces and institutions anyway, since the emperor’s role in a constitutional monarchy was only symbolic. But what they wanted was to gain prestige by “seizing power” forcefully, so that later they could launch further “earth-shaking” actions.

    In his memoir Một Cơn Gió Bụi, the scholar Trần Trọng Kim wrote:

    “At that time the Japanese came and told me: ‘The Japanese army is still responsible for maintaining order until the Allies arrive. If the Vietnamese government openly requests Japanese help, the Japanese can still maintain order.’ I thought: the Japanese have already surrendered, the Allies are about to arrive, so why should we ask the Japanese to suppress our own people? That would be disgraceful—‘bringing snakes in to harm your own chickens.’ I refused” ¹⁶.

    Nearly 70 years later, the writer Trần Đĩnh, who grew up under the Hanoi government, also recorded:

    “The Japanese Commander-in-Chief went to Huế, met Bảo Đại and Trần Trọng Kim, and said: ‘If you wish, Japan, with 50,000 elite troops, can crush the Việt Minh in one night. The Việt Minh have at most 5,000 people, and even fewer weapons.’ But both men declined” ¹⁷.

    After the Việt Minh seized power in Hanoi on August 19, 1945, Emperor Bảo Đại abdicated, handing the imperial sword and seal—the symbols of royal authority—to their representatives (Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận) on August 25, 1945. A week later, on September 2, 1945, Hồ Chí Minh read the Declaration of Independence.

    But the joy was short-lived. Barely ten days later, on September 13, 1945, in accordance with the Potsdam Agreement, British Major General Douglas Gracey brought troops into Saigon to disarm the Japanese south of the 16th parallel.

    The political situation in southern Vietnam in 1945–1946 was unstable. Many patriotic intellectuals and religious organizations did not accept the Communist leaders’ manipulations and control. The Communists responded with terror, assassinating and executing many prominent southern figures. This caused many religious groups and intellectuals (such as the prominent educator Trần Văn Hương) to withdraw from the Communist-led resistance, out of both fear and resentment.

    The insecurity around Saigon–Chợ Lớn led General Gracey to impose martial law and to  arm certain French civilians, giving the French an advantage. When General Leclerc arrived in October 1945 with French forces, he expanded French control to most towns and provincial capitals in the South, driving the Việt Minh into retreat, hiding in remote forests and swamps.

    One reliable source that gives us a broad picture of conditions in the South during those years is Dr. Trần Nguơn Phiêu’s Gió Mùa Đông Bắc. Born in 1927, at the age of 18 in 1945, he actively engaged in the struggle for independence during those early years ¹⁸.

    Having the South stabilized, General Leclerc moved his troops north, preparing to land at Hải Phòng. On March 6, 1946, French representative Jean Sainteny signed with Hồ Chí Minh a Preliminary Agreement in which France recognized Vietnam as a “free state” within the French Union and within the Indochinese Federation. In return, Hồ’s government agreed to allow 15,000 French troops into the North for five years.

    Vietnam–France tensions then escalated. On the night of December 19, 1946, the Việt Minh attacked French forces in Hanoi, opening the war that would last until the Geneva Agreement of July 1954.

    When fighting began and the Việt Minh abandoned Hanoi and other cities for the resistance zones, only a small portion of the population could flee with them. Most city residents remained, still needing protection—among them intellectuals and the middle commercial class, who would have been killed or repressed had they go to Việt Minh areas.

    The wave of decolonization in Asia led many Vietnamese intellectuals to believe that, if united behind a reputable leader capable of representing them, they could negotiate with the French for the gaining of independence step by step. In May 1947, the French High Commissioner Émile Bollaert gave a major speech in Hà Đông, proposing the concept of “independence in cooperation,” and declared himself “ready to consult all political factions in Vietnam.”

    That was why former emperor Bảo Đại—who had voluntarily abdicated in 1945 with the statement “I do not want to be the ruler of a nation in bondage”—was sought out by many Vietnamese nationalist factions and politico-religious groups, urging him to serve as their representative.

    Public opinion in France also condemned the war. Gradually, France and Vietnam reached the Hạ Long Agreements of 1948 and then the Élysée Accords of 1949, in which France recognized the independence of Vietnam.

    1949 was also the year the Communists triumphed in mainland China. Two political lines crystallized in Vietnam: one rallying around a respected figure to negotiate independence step by step with France (the Nationalist side), the other relying on Chinese Communist aid to fight France (the Communist side).

    For Vietnam, the Élysée Accords were not perfect. France recognized Vietnam as an independent nation “within the French Union” and confirmed the return of Cochinchina to Vietnam. But in foreign affairs, Vietnam was not fully free yet: it still had to “coordinate with the common policy of the French Union,” and any states with which Vietnam wished to establish diplomatic relations had to be in line with France. In other words, in 1949, when the Élysée Accords was signed, the State of Vietnam was not fully independent in foreign affairs.

    When Hồ Chí Minh learned of the Élysée Accords, he was furious and angrily dismissed it as “just a scrap of paper.” But compared to the agreement he himself had signed on March 6, 1946, the Élysée Accords was a far greater step forward.

    In the March 6, 1946 Agreement, France recognized Vietnam as “a free state,” “within the Indochinese Federation and the French Union.” In the Élysée Accords, France recognized Vietnam as an independent nation “within the French Union.” The French Union was a looser association of former French colonies, similar to the British Commonwealth.

    In the March 6, 1946 Agreement signed with Ho Chi Minh, France made no promise to return Cochinchina, only that “the people might decide via referendum.” In the 1949 Élysée Accords, France confirmed Cochinchina’s return to Vietnam.

    The 1946 Agreement was signed by Jean Sainteny, envoy of the French High Commissioner, with authorization from Admiral d’ Argenlieu, French Special Commissioner. The Élysée Accords was signed by the President of the French Republic, Vincent Auriol.

    In the 1946 Agreement, Hồ Chí Minh accepted the stationing of 15,000 French troops in northern Vietnam, thus legitimizing their presence.

    From then on, Vietnam had two governments: the Democratic Republic of Vietnam under Hồ Chí Minh, and the State of Vietnam under Chief of State Bảo Đại. The State of Vietnam became a refuge for nationalists and for the people unable to live under Communism. Over the following years, several groups of people abandoned the Việt Minh areas to return to the cities under the Nationalist government.

    Thanks to massive Chinese Communist aids and the participation of Chinese Communist military advisors, the Vietnamese Communists defeated French forces at Điện Biên Phủ in 1954. Vietnam was partitioned at the 17th parallel: the North under Communism, the South as a non-Communist state. Those unable to live under Communism fled southward.

    During the war with France (1946–1954), Việt Minh sources admit 191,605 troops killed or missing. Western historians estimate between 175,000 and 300,000. Civilian deaths are estimated at 125,000–400,000 ¹⁹. The Việt Minh’s “scorched earth” policy left all cities devastated.

    II.              
    “Fighting the Americans to Unify the Country”

    The preceding paragraphs showed us that when World War II ended in 1945, if Hồ Chí Minh and the Communist Party had not dogmatically forced the country down the Communist path, Vietnam could have become independent—if not as early as the Philippines and India (from 1945 to 1947), then at least like Indonesia (in 1949), or at the latest like Malaya (in 1957).

    There would have been no need to beg Communist China for help to fight the French, only to then fall under their control. If the northern leaders had not insisted on imposing Communist ideology, the country would not have been divided in two. There would have been no need for a catastrophic civil war to unify the nation.

    On the other hand, during the Cold War (1947–1991) between the two superpowers, the United States and the Soviet Union, Vietnam was not the only country to be partitioned. We also saw East and West Germany, and North and South Korea.

    East and West Germany remained divided until they peacefully reunified in 1990.

    Although North Korea launched an attack in 1950, igniting the Korean War (1950–53), after July 1953, they too accepted division at the 38th parallel, limiting the conflict to a “war of words.”

    Vietnam was the only country that endured a catastrophic war, with casualties as follows:

    In the North:

    • Over 849,000 soldiers killed in action
    • Over 600,000 soldiers wounded
    • Over 232,000 soldiers missing
    • Civilian deaths in Communist-controlled areas due to the war: between 30,000 and 182,000


    In the South:

    • 313,000 soldiers killed in action
    • 1,170,000 soldiers wounded
    • Between 195,000 and 430,000 civilians killed ²⁰.


    Indeed, it was truly a case of “When one general succeeds, ten thousand bones are left to dry.”

    People inside the country have remarked: “Con đường Bác đi là con đường bi đát” (The path Uncle Ho chose to take was a tragic one).

    In the early 1980s, when General Võ Nguyên Giáp was reassigned to head the “Committee for Birth Control and Family Planning”—overseeing contraception and population limits—people in the North came up with a satirical couplet:

                Tướng Võ không còn Nguyên Giáp nữa

                Bác Hồ cũng chẳng Chí Minh đâu

    (General Võ, no longer the Prime Armor
    Uncle Hồ, no longer the Bright Mind)


    The nation is now unified, but hearts and minds remain divided. Vietnam has been devastated, left backward, lagging far behind its neighbors. In the early 1960s, living standards in South Korea, Thailand, and Malaya were lower than those of South Vietnam. Today, they are far ahead. Is this really the “great achievement” for which the leaders of the Communist Party of Vietnam expect the Vietnamese people to be “grateful”?


    To force the North’s population to sacrifice, the Communists exploited nationalism and used deception. They distorted reality, claiming that Southerners were oppressed by “American imperialists and their puppets,” living in utter misery with nothing to eat. Therefore, the youth of the North had to sacrifice themselves to “rescue” their southern brethren, in the spirit of the lines by the poet Bùi Minh Quốc:


    “At twenty years old, when one sees the meaning of life,
    However distant, one sets out on the road.”


    Bùi Minh Quốc himself, together with his wife, the writer Dương Thị Xuân Quý, went to the southern battlefield, entrusting their only child, Bùi Dương Hương Ly, to the grandmother’s care. Writer Xuân Quý died in the South at the age of only 28, when their child was just two years old.

    On April 30, 1975, following the victorious troops into Saigon, the writer Dương Thu Hương sat down on the sidewalk, covering her face and weeping like at the funeral of her father, because she realized:

    “The model of society in the defeated South was in fact the true model of civilization, while we, the victors, had fought for a barbaric model of society.”


    She continued:

    “That realization filled me with bitterness. Our entire generation had been deceived… The Vietnamese people were pushed into a meaningless war.”

    (Little Saigon Radio Interview with Writer Dương Thu Hương: ‘Vietnamese People, Even the Illiterate, Are Ashamed Because the Party Is Too Dark and Ignorant’ – Việt Báo Foundation, a Nonprofit 501(c)(3) Organization).


    From an economic perspective, even in wartime conditions, the standard of living in the South in 1975 was far higher than in the North.

    The singer Ái Vân recounted her first trip from Hanoi to visit her paternal aunt’s family in Saigon:

    “When coming to visit Aunt Cả, the poor student Ái Vân also brought a small gift for the family, from my food ration. My cousin-in-law, chị Nga, the eldest daughter-in-law of Aunt Cả, asked: ‘What did you bring us as a gift?’ I solemnly opened the package and said: ‘I brought two kilos of rice for the family, since I thought you might be in need.’ Oh dear, the whole house burst out laughing, chị Nga laughed so hard she nearly fell off her chair. She said: ‘Goodness me, you’ve even brought us relief rice! Poor child.’ Then she led me to a huge plastic rice bin, full to the brim with snowy white, fragrant, tender rice. Only then did I notice the television, refrigerator, washing machine, and many other unfamiliar things in the house, showing a life of great convenience—something unimaginable in any northern home at that time”  ²¹.

    Not only material life, but also the cultural and social life in the South in 1975 was superior to that in the North. Ái Vân continued:

    “Before, we always heard that southern compatriots were ‘oppressed by Mỹ-Ngụy,’ living in misery. I always imagined Saigonese to be destitute. But when I first entered Saigon, I was utterly astonished. Just by looking at the way people dressed, wore makeup, moved about, spoke gently; just by going to the market, where every purchase came with a ‘thank you’ and a plastic bag, one could immediately tell that we did not belong to the same level of civilization. I realized then that I had been deceived by distorted information” ²².

    Following are the personal accounts and reflections of a Northern technical specialist who was sent into the South for the takeover, Trương Minh:

    “As soon as the vehicle crossed into Southern territory, we squeezed each other’s hands, marveling at the new scene. The houses of the people and the urban constructions such as bridges and roads near the main highways looked far more beautiful and civilized than those in the North. We traveled, rested, and traveled again until our convoy reached the Biên Hòa industrial zone. There were so many factories there. The 18 of us looked left and right at each row of factories in the area, and although no one said anything aloud, all were in awe of Southern industry.

    “… Already, while still sitting on the bus, watching the scenery along the roads and the neighborhoods leading into Saigon, I could see that it was many times more advanced than the capital Hanoi. A bright, civilized appearance radiated from the clothing, lifestyle, and manners of the Southern people.

    “… Saigon—or to speak more broadly, the entire South—was not a backward, poor, starving society, full of exploitation as the Hanoi press and radio had for so long told (or forced upon) the Northern people… This was the model of a civilized society, and anyone who lived in this society was truly more fortunate than living in the socialist society in the North. What a pity! Such a society has just been stolen away” ²³.

    According to the cultural researcher Vương Trí Nhàn:

    “Not only was the economy better, but education in the South at that time was also superior. Not only were the roads better, but the personal conduct of the people there in general was more mature than that of Northerners. Their level of knowledge and respect for the law was high. People treated each other decently; the youth at that time were eager to study and knew how to study better” ²⁴.

    In his essay “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” (Some reflections on the differences between southern and northern education), Vương Trí Nhàn further observed:

    “Just as different from Southern education, Northern education was alsovery different from the rest of the world. It is enough to understand why, after being trained in the North, when we came into contact with modern society, Northern students like us were often tongue-tied, out of place, while those who had been educated in the South integrated very naturally and effectively” ²⁵.

    Here is the blog link that collects some of his reflections:

    “Some Reflections on the Differences between Southern and Northern Education.”


    South Vietnamese society in 1975 was by no means a perfect society. The democracy being built in the South in 1975 was not yet a fully consolidated democracy. But according to the reflections of a writer (Dương Thu Hương), an artist (Ái Vân), a technical specialist (Trương Minh), and a cultural researcher (Vương Trí Nhàn)—all of whom came from the North—that society and the people living in it did not need the Communist leaders in Hanoi to send troops across the Trường Sơn mountains to “liberate” them. More than two million Vietnamese were sacrificed in a fratricidal war, both catastrophic and meaningless. Thus August 19, 1945, the day the Việt Minh seized power from the Trần Trọng Kim government in Hanoi—while Emperor Bảo Đại and elder statesmen such as Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn … had repeatedly invited them to cooperate—should really be regarded as a day for the Vietnamese people to commemorate with joy?

    Minh Phương 


    Notes

    1. Tường Vũ, Vietnam’s Communist Revolution (New York : Cambridge Univ. Press, 2017), p. 105.
    2. Ibid., pp. 95-96.
    3. Ibid., pp. 104-105.
    4. Phạm Cao Dương, Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California : Truyền Thống Việt, 2017), pp. 288-289. See also Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế đến Chiến Khu Việt Bắc (Tp HCM : NXB Trẻ, 1996), pp. 76-77.
    5. Phạm Cao Dương, op. cit, pp. 289-290.
    6. Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi  (Saigon: Vĩnh Sơn, 1969), pp. 86–88.
    7. Trần Đĩnh, Đèn Cù, Vol. 2 (Westminster, CA : Người Việt Books, 2014), pp. 545–547.
    8. Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 307–309.
    9. Marr, David G. Vietnam 1945 (Berkeley: University of California Press, 1995), p. 374.

    10. Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 309-311.

    11. Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, 1939–1954 (Sài Gòn: Nam Chi Tùng Thư. Reprinted Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1969), pp. 47–48.

    12. Hoàng Tường, Việt Nam Đấu Tranh (Westminster, CA : Văn Khoa, 1987), p. 68.

    13. Nguyễn Tường Bách, Việt Nam Một Thế Kỷ Qua: Hồi Ký, Vol. I. (Westminster, CA: Thạch Ngữ, 1998), p. 169).

    14. Hoàng Tường, op. cit, p. 68-69.

    15. Ibid., p. 69.

    16. Trần Trọng Kim, op. cit., p. 93.

    17. Trần Đĩnh, op. cit., p. 478.

    18. Trần Nguơn Phiêu, Gió Mùa Đông Bắc (Amarillo, TX: Hải Mã, 2008).

    19. From Wikipedia:

    First Indochina War – Wikipedia

    20. From Wikipedia:

    Vietnam War – Wikipedia

    1. Ái Vân, Để Gió Cuốn Đi: Autobiography (Saigon: Hội Nhà Văn Pub., 2016), pp. 156–157).

    22. Ibid., p. 156.

    23. Trương Minh, “Chuyện kể của một người chiến thắng khi vào Nam” (Story of a victor entering the South.” In Nguyễn Tường Tâm, Cuộc Chiến Việt Nam 50 Ngày Cuối Cùng (San Jose, CA : NT Tâm, 2025), pp. 509–512.

    24. “Cú sốc giáo dục khi vào Nam tiếp quản” (The educational shock when entering the South for takeover). In Nguyễn Tường Tâm, op. cit., pp. 517-518.

    25. Vương Trí Nhàn, “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” (Some reflections on the differences between southern and northern education), in Nghiên Cứu và Phát Triển (Research and Development), Nos. 7–8 (114–115), 2014, p. 267.

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt,  Tin tức

    Lễ Trùng Tu Động Thổ Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu Westminster, Orange County

    Khánh Lan tường trình

    Thành phố Westminster hôm nay đã diễn ra một buổi lễ rất quan trọng đó là lễ động thổ công trình trùng tu thánh thất và điện thờ Phật mẫu Orange tọa lạc trên đường Chestnut. Đây là niềm ước mơ của tất cả các quý vị đồng đạo thuộc tiểu bang California nói riêng và tất cả mọi nơi trên thế giới nói chung.

    Mô hình trùng tu Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu Orange. (Hình: Ban tổ chức cung cấp)

    Ngay từ sáng sớm khánh Lan đã thấy các vị đồng đạo trong y phục màu trắng, xếp hàng ngay ngắn trước building để chuẩn bị cho chương trình nghi lễ.

    Trước giờ hành lễ, khánh Lan thấy có sự hiện diện của Ký giả Trà Nhiên, ký giả của tòa báo người Việt, anh Phạm khanh của đài Little Saigon TV, PhocalibolsaTV, anh John Trần đang phỏng vấn một số viên chức trong phòng hội và các đầu bếp.

    Từ Xướng ngôn viên Phạm Khanh của đài Little Saigon TV

    Từ PhocaliBolsaTV

    Video từ John Trần

    Khánh Lan tiếp tục: Chương trình nghi lễ dự định sẽ bắt đầu lúc 10.30 sáng và đã khai mạc rất đúng giờ đã dự định. Khánh phòng đã tràn đầy quan khách và các vị Đầu Tộc Đạo từ Arizona, San Diego, Sacramento, San Jose, Orange County, v.v…

    đến tham dự trong đó Liên Nhóm NVNT & TTG cũng có mặt. Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của NV Việt Hải & phu nhân Lệ Hoa, NV Kiều My, NV NB Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm, NT Nguyễn Đại Thành, GS Dương Ngọc Sum, Ngọc Quỳnh, v.v…Sau phần chào quốc kỳ và phú mặc niêm, Hiền Tài Ngô Thiện Đức khai mạc buổi lễ Động Thổ.

    Hiền Tài Ngô Thiện Đức

    Theo như Hiền Tài ngô Thiện Đức thì đây là niềm mong ước của tất cả các huynh trưởng và các huynh muội từ khi rời khỏi quê hương Việt Nam sau năm 1975, đều mong ước có một nơi để thờ phượng Đức Chí Tôn đúng theo hình mẫu của Tòa thánh Cao đài, cũng như để duy trì và phát triển đạo tại Hải ngoại. Ngày nay, niềm ước mơ của các vị huynh trưởng đã ra đi sắp thành hiện thực, bởi sau ngày Lễ động thổ hôm nay, hy vọng sang năm, Thánh Thất và Điện thờ Phật Mẫu sẽ hoàn tất. Đó là điều hân hoan, vui mừng của tất cả các đồng đạo ở đây nói riêng và tất cả các đồng đạo trên khắp nơi nói chung, vì đó là sự chứng minh rằng Đạo Cao Đài ở hải ngoại phát triển đúng như theo ý của Đức Chí Tôn.

    Một vị huynh trưởng khác tiếp lời: Trước khi mua lại mảnh đất này, chúng tôi sinh hoạt tại một căn nhà ở trên đường Lamson và dùng nơi ấy để thờ cúng Đức Chí Tôn và Phật Mẫu. Tuy nhiên, vì các đạo hữu đến càng ngày càng đông, các sinh hoạt ngày càng thêm phát triển. Đôi lúc có đến gần 200 em thanh thiếu niên, mỗi cuối tuần đến sinh hoạt, gây ồn ào, nên lối xóm than phiền và cảnh sát đến không cho sinh hoạt nữa.

    Đầu Tộc Đạo Orange County

    Chính Trị Sự Hà Vũ Băng cũng như Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu trước khi trình bày về công trình dự án xây cất Thánh Thất, hai vị đã ngỏ lời chào đón và cảm ơn tất cả các quý vị đã đến đây để dự lễ Động Thổ. “Kính thưa quý vị, nơi đây, nơi mà chúng ta đang hiện diện là do chúng tôi đã mua lại của một nhà thờ tin lành vào năm 1999, rất cũ kỹ và mục nát. Sau đó, ngôi nhà này được sửa lại để làm nơi thờ phượng cúng kiếng cũng như là để sinh hoạt. Bởi là một cơ sở quá lâu đời và cũ, nên hư hại rất nặng và mỗi khi trời mưa xuống thì mái nhà bị dột, ướt khiến cho việc cúng kiếng và sinh hoạt đạo khó khăn vô cùng. Chính vì những trở ngại đó nên đồng đạo chúng tôi đã quyết định là xin phép thành phố Westminster để trùng tu lại. Số tiền chi phí cũng khá cao nên tất cả chúng tôi đã gom tiền.”

    Qua hai vị, Khánh Lan còn được biết, ngoài mục đích khác là nhằm giới thiệu những hình ảnh độc đáo của tôn giáo Cao Đài với xã hội Hoa Kỳ, một xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa. Đồng thời để tiếp tục thực hiện khát vọng lớn lao trong Tam kỳ Phổ độ. Đây không phải là buổi gây quỹ, nhưng ban tổ chức không khỏi ngạc nhiên khi số tiền từ các nhà hảo tâm, mạnh thường quân tự nguyện ủng hộ lên đến trên $120,000.

    Các vị đại diện thành phố

    Các dân cử tham dự gồm có Dân Biểu Trí Tạ của California, Nghị Viên Cindy Trần của Garden Grove, Ủy Viên Frances Nguyễn Thế Thủy của Học Khu Westminster, Luật Sư Nguyễn Quốc Lân – chủ tịch Học Khu Garden Grove, ông Tony Bùi – ủy viên Quy Hoạch Westminster, và cựu Nghị Viên Kimberly Hồ của Westminster… 

    Đại diện thành phố Westminster

    Ban Tổ Chức chia sẻ, “Hôm nay không phải là tiệc gây quỹ mà là một bữa tiệc chay do tất cả các chị em ở đây đã bỏ hết tâm huyết vào những món ăn chúc cho quý vị, những món ăn thật là ngon miệng để mời quý vị dùng. Sau đó  cũng chúc quý vị khi ra về thượng lộ bình an, khi về đến nhà vẫn còn phản phất những kỷ niệm của buổi tiệc hôm nay và cũng hy vọng là gặp lại quý vị trong những buổi tiệc khác trong tương lai.“

    Khánh Lan & NV Vi Khiêm đại diện NVNT & TTG chúc mừng cho sự thành công.

    Khi được hỏi về diện tích của thánh Thất, Hiền Tài ngô Thiện trả lời: quận orange chỉ cho phép được sử dụng tối đa là 5000 feet, gồm hai tầng, tầng dưới và tầng trên. Tầng dưới là những buổi sinh hoạt trong những ngày lễ, và tầng trên lầu để thờ Đức chí tôn và phật mẫu. Hai bên sẽ là lầu chuông lầu trống giống như mô hình của thánh khách cao đài tại Tây Ninh, Việt Nam.

    Sau đó, toàn thể khách mời bước ra trước tòa nhà để chứng kiến nghi thức động thổ. 

    Tiến hành buổi Lễ Động Thổ

    Liên Nhóm NVNT & TTG

    Tiệc chay và văn nghệ: Sau buổi lễ Động Thổ, phần khoản đãi tiệc chay thân mật thắm tình đồng đạo, Ban Tổ Chức khai mạc bữa tiệc: “Đây là ước mơ của tất cả đồng đạo ở khắp nơi, địa phương này có một hình thể của Đức Chí Tôn tại thế để chúng ta giới thiệu tôn giáo Cao Đài và khi đi qua đây tất cả mọi người nhìn vào là biết đây là tôn giáo cao đài. Đó là một biểu tượng riêng biệt và rất đặc sắc của đạo cao đài. Vì vậy, mà tất cả mọi người đều mong ước. Dù hôm nay không phải là bữa tiệc gây quỹ nhưng chúng tôi vô cùng cảm động và biết ơn những mạnh thường quân đã giúp một cánh tay để cho ngôi thánh thất này sớm được hoàn thành.”

    Tiệc chay do các anh chị em “đầu bếp” chuyên nghiệp nấu.

    Và phần văn nghệ

    Lời cảm tạ của Ban Tổ Chức và chương trình bế mạc khoảng 3 giờ chiều. Chúc mừng buổi Lễ Động Thổ thành công.

    Khánh Lan, California Sept. 2025

    BÀI ĐỌC THÊM:

    Ý NGHĨA CỦA LỄ CÚNG ĐỘNG THỔ TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

    Trần Việt Hải sưu tầm

    Lễ cúng động thổ là một nghi thức truyền thống quan trọng trong văn hóa Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng và nông nghiệp. Nghi lễ này không chỉ mang tính tâm linh mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với đất đai và các vị thần linh cai quản.

    Trong văn hóa dân gian, người Việt tin rằng mỗi mảnh đất đều có thần Thổ Công cai quản. Trước khi bắt đầu xây dựng hay canh tác, việc cúng động thổ nhằm xin phép và cầu mong sự chấp thuận của các vị thần, từ đó mang lại sự thuận lợi và bình an cho công trình hoặc mùa vụ.

    Lễ cúng động thổ thường được tổ chức vào những ngày đầu năm hoặc trước khi khởi công xây dựng. Nghi lễ này bao gồm việc chuẩn bị mâm cúng với các lễ vật truyền thống và thực hiện các nghi thức cầu khấn trang trọng.

    Thất Thánh Cao Đài Westminster, OC: 14072 Chestnut St., Westminster, CA 92683; Phone: (714) 899-2886

    Thánh Thất Cao Đài là một ngôi đền của đạo Cao Đài nằm tại thành phố Westminster, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Ngôi đền được thành lập vào năm 1976 và là một trong những ngôi đền lớn nhất và nổi tiếng nhất tại khu vực Nam California.

    Khi bước vào Thánh Thất Cao Đài, tôi cảm nhận được sự uy nghi linh thiêng do những kiến trúc độc đáo của ngôi đền. Thánh Thất được xây dựng theo phong cách kiến trúc truyền thống của đạo Cao Đài, với các mái đình và tường rào được chạm khắc tỉ mỉ. Bên trong ngôi đền, có nhiều bức tượng của các vị thần Cao Đài, các vị sư huynh và bậc thầy được làm từ đá, gỗ và đồng, tất cả đều được chạm khắc với tinh tế và tôn trọng.

    Thánh Thất Cao Đài là nơi để tìm kiếm sự bình an và cảm nhận sự thanh tịnh trong cuộc sống. Nơi đây có nhiều không gian tĩnh lặng để người ta cầu nguyện và thực hành các nghi lễ của đạo Cao Đài. Thánh Thất cũng tổ chức các khóa học và buổi tĩnh tâm, giúp mọi người tìm lại sự cân bằng và bình yên trong cuộc sống. Thánh Thất Cao Đài cũng là nơi tổ chức nhiều hoạt động tôn giáo như các lễ hội Vu Lan, lễ Tết Nguyên Tiêu và lễ Tết Đại Lễ Cao Đài. Ngoài ra, đền còn cung cấp các dịch vụ tâm linh khác như thăm dò mệnh, đốt nhang cầu nguyện cho các vong linh và tư vấn tâm linh cho người đến thăm.

    Ngoài các hoạt động tôn giáo, Thánh Thất Cao Đài cũng có nhiều chương trình xã hội hữu ích cho cộng đồng như cung cấp những buổi lễ tâm linh tôn giáo hằng tuần, nni sinh hoạt hảnh dạo, hỗ trợ giáo dục dạy Việt ngữ cho trẻ em và cũng như sinh hoạt hướng đạo, sinh hoạt thể thao cho thanh thiếu niên,… Đây là một sự đóng góp quan trọng của Thánh Thất Cao Đài trong việc cải thiện cuộc sống của cộng đồng địa phương.

    Động thổ trùng tu Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu Orange

    Phần dưới đây, Khánh Lan xin trích dẫn toàn bài của Ký Giả Trà Nhiên của tòa báo Người Việt bởi bài tường trình rất chi tiết và đầy đủ.

    September 13, 2025 : 10:02 PM

    Trà Nhiên/Người Việt

    WESTMINSTER, California (NV) – Lễ động thổ trùng tu Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu Orange, Châu Đạo California, diễn ra long trọng vào sáng Chủ Nhật, 7 Tháng Chín, với sự hiện diện đông đảo của đồng đạo từ nhiều châu đạo khắp California và các tiểu bang lân cận, cùng các vị dân cử, trong không khí trang nghiêm. 

    Dân cử và đại diện các châu đạo thực hiện nghi thức động thổ. (Hình: Trà Nhiên/Người Việt)

    Buổi lễ được cử hành tại Châu Đạo California, Westminster, và bắt đầu với nghi thức hát quốc ca VNCH và Hoa Kỳ.

    Chánh Trị Sự Hà Vũ Băng, quyền Đầu Tộc Đạo Orange County, cho biết buổi lễ động thổ để cầu nguyện ơn trên theo niềm tin tôn giáo ban ơn lành, cúng hữu cảnh, đất đai và dương trạch chuẩn bị cho việc khởi công, xây dựng lại trong hai tuần tới.

    “Hôm nay là một ngày rất vui của đồng đạo chúng tôi. Tòa nhà nơi đây đã cũ, mục nát, và đôi chỗ bị dột mỗi khi trời mưa ảnh hưởng đến việc cúng kiếng và sinh hoạt của đồng đạo, nên chúng tôi xin phép thành phố trùng tu lại Thánh Thất cho khang trang hơn như một nén nhang tri ân tiền nhân,” chánh trị sự nói.

    Ban tổ chức cho biết tòa nhà được xây dựng năm 1967. Vào năm 1999, với sự quyên góp từ những tín đồ Cao Đài và bạn bè thân hữu, tòa nhà thuộc nhà thờ Tin Lành tại địa chỉ 14072 Chestnut St., Westminster, được mua lại và tu sửa làm Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu, để tín đồ có nơi cúng kiếng và sinh hoạt đạo.

    Ông cũng tri ân các mạnh thường quân và các vị dân cử ủng hộ tinh thần và đóng góp vật chất để có được ngày hôm nay.  

    “Theo lời kiến trúc sư và kỹ sư cho biết, trong vòng chín tháng cho tới một năm thì công trình sẽ hoàn tất và hy vọng sau này Westminster có một ngôi Thánh Thất uy nghi,” Chánh Trị Sự Hà Vũ Băng chia sẻ.

    Chánh Trị Sự Ngô Thiện Đức cho hay: “Không bút mực nào tả xiết niềm vui tại lễ động thổ hôm nay vì đây là ước mơ của cha mẹ tôi và cô chú bác đi trước cùng mong có một Điện Thờ Phật Mẫu ở Westminster, để quảng bá nền tân tôn giáo của chí tôn ở hải ngoại.”

    Ông tiếp: “Đây cũng là một di tích văn hóa của tôn giáo, đặc biệt là của đạo Cao Đài.”

    Chánh Trị Sự Ngô Thiện Đức nói tính theo năm đạo thì năm nay đúng 100 năm khai đạo Cao Đài nên thực hiện buổi lễ động thổ vào đúng cột mốc này thì càng thêm ý nghĩa cho tộc đạo.      

    Tại buổi lễ, ban tổ chức cũng trình bày sơ lược về tiểu sử Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu, đồng thời giới thiệu ban xây dựng công trình.

    Theo ban tổ chức, Tháng Bảy, 2023, toàn thể đồng đạo Tộc Đạo Orange County quyết định nộp đơn xin giấy phép trùng tu tòa nhà để có nơi thờ phượng trang nghiêm. Đến Tháng Chín, 2024, thành phố Westminster chấp thuận và cấp giấy phép. 

    Tổng kinh phí trùng tu khoảng $2 triệu. Ban tổ chức cho biết, hiện đã quyên góp được 50% số tiền.

    Tiếp đến, đại diện các châu đạo và dân cử có đôi lời chúc mừng cầu chúc công trình thành công.

    Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu nói: “Hội Đồng Liên Tôn Hoa Kỳ từng dùng bữa cơm thân mật ở tòa nhà này mấy lần, và tôi sẽ báo lại với Hội Đồng rằng năm sau chúng ta sẽ có ngôi nhà mới để ăn các bữa cơm chay có thể nói là ngon nhất.”

    “Xin được chúc mừng các tín hữu Cao Đài sắp có ngôi mới khang trang và ngày càng phát triển,” vị giáo sư cười nói.

    Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu là hội trưởng Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Trung Ương Hải Ngoại và là phó chủ tịch ngoại vụ Hội Đồng Liên Tôn Hoa Kỳ. 

    Các dân cử tham dự gồm có Dân Biểu Trí Tạ của California, Nghị Viên Cindy Trần của Garden Grove, Ủy Viên Frances Nguyễn Thế Thủy của Học Khu Westminster, Luật Sư Nguyễn Quốc Lân – chủ tịch Học Khu Garden Grove, ông Tony Bùi – ủy viên Quy Hoạch Westminster, và cựu Nghị Viên Kimberly Hồ của Westminster…  

    Sau đó, toàn thể khách mời bước ra trước tòa nhà để chứng kiến nghi thức động thổ được các dân cử và đại diện các châu đạo cùng thực hiện. 

    Buổi lễ khép lại với phần khoản đãi tiệc chay thân mật thắm tình đồng đạo, nơi mọi người quây quần chuyện trò, chia sẻ niềm vui và cùng nhau hướng về công trình trùng tu đầy ý nghĩa. [đ.d.]

  • Khánh Lan,  TALK SHOW,  Tin tức,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    TALK SHOW KỲ 11-CHỌN MỘT HƯỚNG ĐI CHO TƯƠNG LAI

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các anh chị em,

    Đề tài talk show kỳ 11 đã để lại cho chúng ta một miềm hy vọng trong tương lai rằng văn chương Việt sẽ luôn mãi lưu truyền qua các thế hệ con cháu của chúng ta sau này. Trong kỳ talk show này, Khánh Lan rất vinh hạnh chào đón Giáo sư Trang Đài và sự tham gia của thế hệ trẻ vào vườn hoa văn hóa & giáo dục Việt Nam. Giáo Sư Tiến sĩ Trang Đài còn rất trẻ nên Khánh Lan xin mạn phép gọi Giáo Sư bằng Cô trong lúc phỏng vấn.

    Giáo Sư Tiến Sĩ Trang Đài Glassey Tranguyen

    Với những thành công vượt bực trong lãnh vực giáo dục, Giáo sư Tiến sĩ Trang Đài Glassey, Trầnguyễn hẳn là một thần đồng của nước Việt với nhiều khả năng và kỹ năng phú bẩm. Sanh ra sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975 trong một gia đình có cha là Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, Giáo sư Trang Đài đã chịu nhiều thiệt thòi và gặp nhiều gian nan trong cuộc sống, nhất là không được hưởng quy chế theo học trường đại học, vì là con của chế độ cũ. Tuy vậy, những khó khăn ấy đã không làm chùng lòng và huy diệt giấc mơ của Giáo sư Trang Đài. Sau 19 năm sống tại Viêt Nam, GS Trang Đài đã định cư tại Hoa Kỳ, và Cô đã dùng tất cả thời gian còn lại để đạt được một thành công tuyệt diệu như ngày hôm nay.

    Giáo sư Trang Đài hiện là Founder/Director, Vietnamese Diasporas Projects, Life Member, Fullbright Association và Dana Point Historical Society. Điều đáng thán phục là với một thời gian ngắn, GS Trang Đài đã hoàn tất 4 bằng cử nhân cùng một lúc về Phát Triển Thanh Thiếu Niên, Anh Ngữ, Nhân Văn Đa Khoa, và Sắc tộc học; Tốt nghiệp Cao học ngành Lịch Sử với hai giải xuất sắc toàn trường, Cao học ngành Nhân chủng học tại Đại học Stanford và Cao học ngành Đông Nam Á.

    Với bằng Tiến sĩ ngành Nhân chủng học, GS Trang Đài đã nghiên cứu về người Việt hải ngoại, là học giả đa ngành đầu tiên thực hiện nghiên cứu thực tế và phỏng vấn lịch sử truyền khẩu tại Little Saigon, Quận Cam, California, tại Stockholm năm 2004-2005, đồng thời Cô đã lãnh học bổng Fulbright toàn phần, bậc tối ưu. Tiến sĩ Trangđài Glassey-Trầnguyễn (trangdai.net) là một tác giả song ngữ đoạt nhiều giải thưởng. Với khả năng sáng tạo, kỹ năng lãnh đạo, và phục vụ cộng đồng với trên 50 giải thưởng. Không những thế, Cô còn đảm trách chức vụ Giám Đốc Sáng Lập của Dự Án Người Việt Hải Ngoại và là học giả duy nhất trên thế giới đã thực hiện hàng trăm cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu và các dự án nghiên cứu về người Việt ở cả bốn châu lục Á, Âu, Úc, và Mỹ trong ba thập niên qua.

    Là Giáo Sư giảng dạy, nghiên cứu, xuất bản, và thuyết trình song ngữ: Việt và Anh về những đề tài liên quan đến văn hoá Việt Nam, tiếng Việt, và người Việt hải ngoại trong 30 năm qua trên khắp thế giới. Trong lãnh vực văn chương, GS Trang Đài bắt đầu sáng tác văn thơ từ đầu thập niên 1990 và là một tác giả đã xuất bản trên 3,000 tác phẩm thơ, gồm 7 tập thơ song ngữ với bản dịch mười ba thứ tiếng. Với óc sáng tạo, Cô đã dịch các tài liệu học thuật, sách giáo khoa từ Kindergarten đến lớp 12, các tuyển tập và đăng bài  trên báo chí trên thế giới bằng tiếng Anh và Việt.

    Mặc dù với những thành công trong cuộc sống và có một sự nghiệp vẻ vang, nhưng GS Trang Đài lại rất giản dị, lễ độ, khiêm nhường và rất dễ mến. Kính mời quý Giáo sư, Văn Thi Sĩ cùng anh chị em vào xem buổi phỏng vấn Tiến sĩ Trang Đài Glassey Tranguyen dưới đây.

    Khánh Lan kính mời

    PHẦN I:

    PHẦN II:

    PHẦN III:

  • Tin tức

    Trang Đặc biệt Lễ Vu Lan

    Lễ Vu Lan – Mùa hiếu hạnh và tri ân

    Lễ Vu Lan, diễn ra vào rằm tháng Bảy âm lịch, từ lâu đã trở thành một trong những ngày lễ quan trọng và thiêng liêng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam. Đây không chỉ là ngày lễ lớn của Phật giáo mà còn là dịp để mọi người con thể hiện lòng hiếu thảo, tưởng nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, tri ân ông bà tổ tiên. Đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” đã gắn bó với dân tộc qua bao đời, và lễ Vu Lan chính là dịp cụ thể hóa truyền thống cao quý đó.

    Nguồn gốc của lễ Vu Lan bắt nguồn từ câu chuyện cảm động về Bồ Tát Mục Kiền Liên. Dù sở hữu thần thông quảng đại, ông vẫn bất lực trước cảnh khổ của mẹ mình nơi địa ngục. Khi ấy, Đức Phật dạy rằng chỉ có sức mạnh cộng đồng – sức mạnh của chư Tăng trong ngày rằm tháng Bảy – mới có thể cứu vớt mẹ ông. Từ đó, lễ Vu Lan trở thành ngày báo hiếu, nhắc nhở con người ở mọi thời đại rằng hiếu hạnh chính là nền tảng của đạo làm người.

    Trong ngày Vu Lan, người ta thường đến chùa tụng kinh, cầu siêu cho cha mẹ và tổ tiên. Nghi thức cài bông hồng trên áo đã trở thành biểu tượng đẹp: bông hồng đỏ cho những ai còn cha mẹ, bông hồng trắng cho những ai cha mẹ đã khuất. Hình ảnh ấy không chỉ gây xúc động mà còn đánh thức trong mỗi người niềm biết ơn và sự trân trọng đối với tình mẫu tử, phụ tử thiêng liêng. Ngoài ra, nhiều gia đình chuẩn bị mâm cơm chay, làm việc thiện và hồi hướng công đức cho cha mẹ, ông bà. Những việc làm tuy giản dị nhưng chất chứa tình thương, lòng hiếu kính.

    Vu Lan trong so sánh với các nền văn hóa Á Đông

    Điều đặc biệt là tinh thần báo hiếu của Vu Lan không chỉ giới hạn trong văn hóa Việt Nam, mà còn hiện diện trong nhiều nền văn hóa Á Đông khác, dưới những hình thức riêng biệt:

    • Lễ Obon ở Nhật Bản: Cũng diễn ra vào tháng Bảy (theo lịch âm hoặc dương tùy vùng), Obon là dịp để người Nhật tưởng nhớ tổ tiên. Họ dọn dẹp mộ phần, thắp đèn lồng để dẫn linh hồn tổ tiên về thăm gia đình. Các điệu múa Bon Odori truyền thống cũng là cách để cộng đồng gắn kết, chia sẻ niềm tri ân.
    • Tết Trung Nguyên ở Trung Hoa: Diễn ra cùng thời điểm với Vu Lan, Trung Nguyên được xem là ngày “xá tội vong nhân”. Người Hoa cúng tế để cầu siêu cho những linh hồn cô đơn, đồng thời cũng là dịp tưởng nhớ tổ tiên. Tín ngưỡng này nhấn mạnh đến tinh thần từ bi, cứu độ những vong linh không nơi nương tựa.
    • Chuseok ở Hàn Quốc: Tuy không hoàn toàn giống Vu Lan, nhưng Chuseok (lễ hội mùa thu, rằm tháng Tám) cũng mang đậm tinh thần tri ân tổ tiên. Người Hàn thường về quê quây quần bên gia đình, dâng cúng tổ tiên và tỏ lòng biết ơn.

    Những nét tương đồng này cho thấy, trong văn hóa Á Đông, tình cảm gia đình và lòng hiếu thảo luôn được coi trọng. Tuy mỗi quốc gia có nghi thức và phong tục riêng, nhưng tất cả đều chung một điểm: hướng con người về cội nguồn, nuôi dưỡng lòng biết ơn và tình đoàn kết gia đình.

    Giá trị của Vu Lan trong đời sống hiện đại

    Ngày nay, trong guồng quay hối hả của cuộc sống, lễ Vu Lan mang giá trị như một hồi chuông nhắc nhở. Nó giúp con người dừng lại, nghĩ về mái nhà, dành thời gian cho cha mẹ, ông bà. Vu Lan không chỉ dừng lại ở nghi thức cúng lễ, mà còn khuyến khích con cháu thể hiện hiếu hạnh bằng hành động thiết thực: một lời thăm hỏi, một vòng tay ấm áp, hay đơn giản là dành thời gian ở bên cha mẹ khi họ còn sống.

    Lễ Vu Lan, vì thế, không chỉ là ngày lễ Phật giáo mà còn là một phần của di sản tinh thần dân tộc. Nó nuôi dưỡng lòng nhân ái, khơi gợi sự gắn bó giữa các thế hệ, và giữ cho sợi dây truyền thống gia đình luôn bền chặt. Mỗi mùa Vu Lan đi qua, chúng ta lại thêm một lần được nhắc nhở rằng: công cha nghĩa mẹ như trời biển, và hiếu hạnh chính là con đường trở về với nhân bản, nhân văn.

    Sưu tầm online

  • Tin tức,  Việt Hải

    Giáo sư Tiến sĩ Cao Văn Hở

    Trần Việt Hải

    Chúng tôi vừa nhận được tin buồn từ anh Nguyễn An Ninh, thông báo: GS Tiến Sĩ Cao Văn Hở, Pháp danh Quảng Thức, nguyên là Phụ Tá Tổng Trưởng Tài Chánh Việt Nam Cộng Hòa, Cựu Giáo Sư Đại Học Kinh Thương Minh Đức Sài Gòn, đã mệnh chung ngày 19 tháng 6 năm 2025 (nhằm ngày 24 tháng 5, năm Ất Tỵ. Hưởng thọ 82 niên tuế).

    Chúng tôi, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gia xin phân ưu cùng bà quả phụ Cao Văn Hở, khuê danh Huỳnh Xuân Thanh, và cùng toàn thể quý tang quyến trong sự mất mát to lớn này. Hẳn biết rằng không có lời nào có thể xoa dịu nỗi đau mất mát của quý vị, nhưng xin hãy biết rằng tình cảm và tình thân của Giáo sư Tiến sĩ Cao Văn Hở vẫn còn đọng lại trong kỷ niệm của của mỗi chúng ta. Nguyện cầu hương linh của cụ ông Quảng Thức sớm an nghỉ ngàn thu ở cõi vĩnh hằng. 

    NIỆM THI ĐIẾU TIỄN

    Cuộc đời cõi tạm dừng chân trú

    Vui chẳng an bình trọn kiếp người

    Vô thường buông bỏ tài danh vọng

    Phù vân phúc chốc quẳng gánh đời

    Tóc pha sương tuyết tâm Quảng Thức

    Luyến lưu hoài niệm nay vĩnh biệt.

    Lời đưa kính tiễn.

    Lặng lờ gió ngủ bên thềm

    Bâng khuâng hương khói chỉ thêm ngậm ngùi.

    Người đi lòng giã biệt buông xuôi

    Hết cơn bỉ cực sầu nguôi ưu phiền

    Quảng Thức đáo cõi linh thiêng

    Vĩnh hằng an nghỉ cửa thiền ngàn thu.

    Kính tiễn: Đồng Thành Kính Phân Ưu.

    Nguyễn Hải Bình, Nguyễn Thanh Trang, Mai Thanh Truyết, Nguyễn Văn Viễn, Quách Hòa Đạt, Nga Lâm, Hạnh Nguyễn, Nguyễn An Ninh, Phạm Quang Hải, Trần Thanh Long, Lưu Mạnh Bổng, Lưu Khánh Lan, Cao Thái Hải, Phó Đức Trường, Trang Sĩ Phước, Tăng Lệ Hoa, Trần Việt Hải.

    From: Thanh Huynh <thanhxhuynh2003@yahoo.com>;Date: July 17, 2025 at 8:22:26 PM PDT
    To: Melinda Luu <melindalluu@yahoo.com>, thanh huynh <thanhxhuynh@yahoo.com>;Cc: MELINDA KHÁNH LAN LUU <melindalluu@yahoo.com>; Subject: Chân thảnh cảm tạ

    Kính thưa quí vị,

    Tôi xin cảm tạ quý vị đã gởi phân ưu cùng gia đình chúng tôi trong sự mất mát đau đớn này. Trên cõi vĩnh hằng anh Hở sẽ rất vui và ấm áp khi được các bạn thân thương chia sẽ niềm thương tiếc và an ủi tôi và các cháu trong lùc này.

    Thành thật xin lỗi quý vị là theo di ước của anh Hở nếu có ra đi thì gia đình hãy cứ hành tang lễ đơn sơ trong vòng gia đình mà thôi, do dó chúng tôi không có phổ biến cáo phó trên báo chí hay trên internet. Nay tin do bằng hữu, bạn bè loan báo, xin một lần nữa cám ơn tấm thạnh tình quý báu cúa quý vị đã dành cho gia dình chúng tôi.

    Kính bái,
    Hùynh Xuân Thanh

  • Tin tức

    NHỮNG BÀI VIẾT CỦA BA TÁC GIẢ: TRẦN VIỆT HẢI – HUY ANH – NGUYỄN AN NINH

    Vào ngày chủ nhật 25 tháng 5 , năm 2025, nhóm Hoàng Đình Khuê và thân hữu  tổ chức buổi hội thảo với chủ đề “50 năm Quốc Hận Nhìn Về Lịch Sử Việt Nam”
    với 3 diễn giả nặng ký người Hoa Kỳ là giáo Sư Stephen Young, tác giả của tác phẩm Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War; tác giả Frank Scotton của tác phẩm Uphill Battle; và diễn giả thứ ba là tác giả Frank Snepp của tác phẩm Decent Interval. Đây là buôi hội thảo về chiến tranh Việt Nam, và sự kết cuộc của nó, hầu rút tỉa kinh nghiệm những gì xảy ra, để những thế hệ về sau hiểu rõ lịch sử, về những rủi ro, những sai lầm nên tránh. Hội trường Việt Life studio với sự hiện diện khá đông những gương mặt chính giới quen thuộc và dồng hương vốn gắn bó với chuyện Việt Nam, những u buồn của tháng năm ly hương, xa xứ.

    Sơ lược lý lịch và nội dung thảo luận, bài viết ghi nhận như sau:

    Tiểu sử của Stephen B. Young:

     Ông tốt nghiệp Đại học Havard và Trường Luật Havard. Ông từng là Trợ lý Trưởng khoa Trường Luật Havard và là Trưởng khoa của Đại Học Luật Hamline; là Giám đốc Điều hành Toàn cầu của tổ chức Bàn Tròn Caux (CRT) về Chủ nghĩa Tư Bản Đạo Đức., một mạng lưới quốc tế gồm các nhà lãnh đạo doanh nghiệp giàu kinh nghiệm, những người ủng hộ cách tiếp cận nguyên tắc về kinh doanh trong nền kinh tế toàn cầu. Trong cuốn sách xã hội Những người tạo ra ra sự khác biệt: Cách các doanh nhân xã hội và thể chế xây dựng phong trào trách nhiệm doanh nghiệp của Tiến sĩ Sandra Waddock thuộc Đại học Boston. Ông Young được công nhận là một trong 23 người đã tạo ra phong trào trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trong chiến tranh Việt Nam, ông Young phục vụ trong Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USIA) tại Nam Việt nam từ 1968 đwến 1972 trong Chương trình Bình Định và Phát triển Nông thôn.Ông từng giữ chức vụ Trợ Lý Đặc biệt chuyên trách về Kinh tế thuộc Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Vào tháng 4 năm 1975, ông Young bắt đầu đề xuất môt chương trình định cư người tỵ nạn Nam Việt Nam tại Hoa Kỳ.Năm 1978, Ủy ban Công dân về Tỵ nạn Đông Dương-mà ông Young là thành viên -đã thuyết phục thành công Chính phủ Carter và Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Tỵ nạn 1980, cho phép Tuyền nhân Việt Nam và Lào Campuchia được định cư tại Hoa Kỳ. Giáo sư Stephen B. Young đã cùng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy viết sách Truyền thống Nhân Quyền tại Trung Quốc và Việt Nam, xuất bản năm 1989. Ông Young và vợ là Bà Phạm Thị Hòa đã dịch sang Anh ngữ tác phẩm “Đỉnh Cao Chói Lọi” của Dương Thu Hương.

    Professor Stephen B. Young

    Giáo Sư Stephen Young, với tác phẩm Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War. Sau dây là những trích doạn và links liên quan đến quyển sách của tác giả Stephen Young. Mời theo dõi như sau…

    Hòa đàm Paris đã bắt đầu từ năm 1968, nhưng hiệp định là kết quả cuộc thương lượng bí mật giữa ông Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Thống Richard Nixon, và phái đoàn CSBV do ông Lê Đức Thọ, ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) cầm đầu. Phía VNCH bị gạt ra ngoài các cuộc đàm phán bí mật do có quan điểm hoàn toàn trái ngược với ý đồ của ông Kissinger. Hiệp Định Paris 1973 có chín chương và 23 điều. Nội dung chính là Hoa Kỳ rút toàn bộ quân đội ra khỏi miền Nam trong vòng 60 ngày, chấm dứt hoạt động quân sự chống miền Bắc, đổi lại CSBV trả tự do cho tất cả tù binh Mỹ cũng trong 60 ngày. Trong khi đó CSBV vẫn tiếp tục được duy trì 140,000 bộ đội ở miền Nam – trái với lập trường của VNCH là các lực lượng bên ngoài (Hoa Kỳ và Bắc Việt) đều phải rút ra khỏi miền Nam cùng lúc. Một hiệp định như vậy rõ ràng là “án tử” cho VNCH, đặt căn cứ cho cuộc thôn tính miền Nam của các lực lượng cộng sản trong hơn hai năm sau đó. Đảng CSVN đánh giá Hiệp Định Paris là một “thắng lợi vĩ đại,” năm nào cũng tổ chức ăn mừng và tuyên truyền rầm rộ, nhưng thực chất thắng lợi của cộng sản là do quyết định của ông Henry Kissinger.
    Mục đích chính của ông Kissinger tại hòa đàm Paris là rút hết quân Mỹ “trong danh dự” và để đạt được điều đó ông sẵn sàng nhượng bộ cộng sản tối đa. Bản thân ông Kissinger biết rõ sự nhân nhượng ấy gần như là một sự phản bội” (sell-out) như bản ghi cuộc đối thoại Nixon-Kissinger ngày 14 Tháng Mười Hai, 1972 mới được giải mật cho thấy, nhưng ông ấy vẫn theo đuổi. Cuộc đối thoại này cũng tiết lộ ông Kissinger và ông Nixon biết Hiệp Định Paris không phải là “một văn kiện hòa bình mà là văn kiện cho một cuộc chiến tranh vĩnh viễn ở miền Nam Việt Nam, là Hoa Kỳ giúp áp đặt một chính phủ cộng sản lên người dân miền Nam Việt Nam trái với ý chí của họ.”

    Đặng Tiểu Bình Và TT Jimmy Carter

    Theo Giáo Sư Stephen Young, cựu khoa trưởng Khoa Luật, đại học Hamline University ở Minnesota, trong cuốn sách sắp phát hành “Sự phản bội của Kissinger: Hoa Kỳ thua cuộc chiến Việt Nam như thế nào,” ý đồ đi với cộng sản của ông Kissinger đã có từ lâu nhưng ông cố che giấu, cả với Tổng Thống Nixon.

    Cuối Tháng Giêng, 1971, đại sứ Liên Xô tại Hà Nội chuyển cho thủ tướng CSBV báo cáo của ông Dobrynin kèm theo chỉ thị của Moscow: “Nếu Hoa Kỳ cam kết rút toàn bộ lực lượng trong một thời hạn nhất định và có thể không yêu cầu rút đồng thời các lực lượng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khỏi miền Nam Việt Nam thì Bắc Việt phải cam kết tôn trọng lệnh ngừng bắn trong thời gian Hoa Kỳ rút quân cộng với một một thời gian nhất định, không quá dài… Nếu sau đó lại nổ ra chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam thì cuộc xung đột đó sẽ không còn là chuyện của Hoa Kỳ nữa.”. Sau khi được Moscow chỉ dẫn, CSBV đã sử dụng một cựu quan chức thuộc địa của Pháp, ông Jean Sainteny, để thông báo cho ông Kissinger trong bữa ăn trưa ngày 25 Tháng Năm, 1971 rằng Hà Nội chấp nhận đề nghị của ông. Ông Kissinger báo cáo với ông Nixon rằng ông đã gặp ông Sainteny nhưng không nói chi tiết nội dung cuộc trò chuyện. Ngày 31 Tháng Năm, 1971, trong cuộc gặp bí mật với ông Lê Đức Thọ tại Paris, ông Kissinger đưa ra đề nghị CSBV không cần phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và kết thúc bài phát biểu của mình bằng câu nói: “Khi các lực lượng Hoa Kỳ cuối cùng rút đi, tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam sẽ phải được giao cho người Việt Nam.” Ông Kissinger đã không báo cáo đề nghị này với ông Nixon.

    Tháng Bảy, 1971, ông Kissinger bí mật đến Bắc Kinh gặp Thủ Tướng Chu Ân Lai để sắp xếp cho chuyến đi lịch sử của Tổng Thống Nixon gặp Chủ Tịch Mao Trạch Đông. Nhân tiện, ông Kissinger nói với ông Chu Ân Lai đề nghị mà trước đó ông tiết lộ với đại sứ Dobrynin. Trang số 5 trong tài liệu tóm tắt của ông Kissinger chuẩn bị cho cuộc gặp với ông Chu có đoạn: “Thay mặt Tổng Thống Nixon, tôi muốn trân trọng bảo đảm với thủ tướng rằng Hoa Kỳ sẵn sàng thực hiện một cuộc dàn xếp sẽ thực sự giao sự phát triển chính trị của Việt Nam cho người Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng rút toàn bộ lực lượng vào một ngày ấn định và để cho thực tế khách quan định hình tương lai chính trị đó.”.

    Henry Kissinger và Lê Đức Thọ

    Ông Kissinger đã không báo cáo với Tổng Thống Nixon cam kết của ông với những người Cộng Sản Trung Quốc. Ở lề trái của trang đó, ông Kissinger viết: “Chúng tôi muốn có một khoảng thời gian hợp lý.”
    Điều trái khoáy là thỏa thuận để CSBV tiếp tục duy trì lực lượng ở miền Nam Việt Nam được ông Kissinger thông báo rất sớm tới Moscow, Bắc Kinh, và Hà Nội trong khi chính quyền Hoa Kỳ chưa hay biết gì cả. Trong suốt năm 1971, Tổng Thống Nixon vẫn trình bày công khai quan điểm của Hoa Kỳ là các lực lượng Hoa Kỳ và CSBV đều phải rút ra khỏi miền Nam, để cho người dân miền Nam quyết định tương lai của họ qua đàm phán. Lập trường của ông Nixon đã nhiều lần được đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, ông Ellsworth Bunker, thông báo cho chính phủ VNCH để thuyết phục Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử phái đoàn tham gia hội nghị Paris.

    Chính phủ VNCH và ông Nixon không biết đầy đủ về thủ đoạn tráo trở của ông Kissinger cho đến Tháng Mười, 1972, sau khi ông Kissinger được CSBV đồng ý về văn bản của hiệp định và trình bày dự thảo ấy cho hai tổng thống Thiệu và Nixon. Đến thời điểm đó, ông Nixon không thể rút lại sự nhượng bộ của ông Kissinger nữa. Phải ký Hiệp Định Paris nhưng ông Nixon đã cố gắng một cách tuyệt vọng để vừa sửa đổi dự thảo hiệp định theo cách có thể gia tăng khả năng chống cự của VNCH vừa thúc đẩy Quốc Hội Mỹ phê duyệt các khoản viện trợ quân sự mới…. Sau cùng Bắc Việt xua quân xé hiệp ước xâm chiếm miền Nam.

    Lý lịch của Frank Scotton

    Frank Scotton được gởi đến Sài Gòn-Việt Nam năm 1962 với tư cách là Cán bộ ngoại giao đặc biệt ở Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USIA).
    Tuy nhiên ông còn phụ trách nhiều nhiệm vụ quan trọng tùy theo nhu cầu của Chánh quyền Mỹ như nhân viên CIA, cố vấn lãnh đạo cấp cao, phụ tá Giám đốc USIA khu vực Đông Á, phụ tá Robert Komer tổ chức MACV/CORDS, phụ tá William Colby Giám đốc CORDS (1970), làm việc với John Paul Van, Trung tướng cố vấn Tư lệnh Quân Đoàn II, được mời điều hành và huấn luyện Nhóm Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force) số 5, với công tác đặc biệt ở Cao nguyên Trung phần và 4 Vùng Chiến thuật.Ông đã thực hiện nhiều công tác nguy hiểm, hành quân với các đơn vị Biệt kích, chạm súng với Việt Cộng và rớt Trực thăng …
    Ông cũng nhận nhiệm vụ ở Đài Loan, Mã Lai, Miến Điện, Thái Lan, Trung quốc.
    Ông nói thông thạo tiếng Việt, Trung hoa và Lào…Ông cũng là tác giả cuốn Hồi ký “UPHILL BATTLE”, (Cuộc Chiến Leo Thang)- 1962: Đến Sài Gòn, Cán bộ đặc biệt Ngoại giao (USIA)- 1963: Làm việc tại Quy Nhơn.- Tháng 8/1963: Chuyển đến Đàlạt tổ chức cuộc họp giữa Đại sứ Cabodge Lodge và Tổng thống Ngô Đình Diệm.
    – Tháng 12/1963: Lãnh đạo cuộc khảo sát đầu tiên Thôn Ấp ở Long An.
    – 1964: Tổ chức các đơn vị ở Quảng Ngãi, tiền thân của các Đội Hành Động CIA.
    – 1965: Tổ chức huấn luyện các đơn vị Lực Lượng Đặc biệt của Quân đoàn III và
    Quân Đoàn IV. – 1966: Tiếp tục huấn luyện với Nhóm Số 5 Lực Lượng Đặc Biệt (biên giới Châu Đốc- 1967: Phụ tá Robert Komer tổ chức MACV/ CORDS, tuyển mộ và thuyên chuyển Lực Lượng Đặc Biệt về MACV/CORDS
    – 1970: Phụ tà đặc biệt cho William Colby (Headquarter MACV/CORDS)
    – 1972: Trợ Lý Giám Đốc USIS/Sài Gòn.- 1976-1998: Công tác ở các quốc gia khác, làm việc ở Washington, Fort Bragg và USSOCO. NGHỈ HƯU: Sống ở California.

    Tác giả Frank Scotton và tác phẩm Uphill Battle

    Những dòng sau giới thiệu tác giả cùng tác phẩm như sau,… Sách Uphill Battle: Reflections on Viet Nam Counterinsurgency” (Cuộc Chiến Leo Dốc: Suy nghiệm về Chiến tranh Chống du kích tại Việt Nam) là hồi ký của Frank Scotton. Ông đã đến làm việc tại Việt Nam từ năm 1962 đến 1975, hoạt động như một ký giả săn tin nhưng cũng nhận công tác biệt phái mỗi khi có yêu cầu của các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ – như Phái Bộ Quân Viện MACV, Sở Tình Báo, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Frank Scotton đã đi khắp bốn vùng chiến thuật, tiếp xúc với người dân ở các thôn ấp, ngủ chung với Dân Vệ, vào các buôn làng Thượng để sinh hoạt với các dân tộc thiểu số. Nếu cảm thấy cần thiết, ông không ngần ngại tự lái xe đi qua những vùng không an ninh, hay nhảy trực thăng xuống một tiền đồn đang bị bao vây để tìm hiểu tình hình, có khi băng rừng qua những đường mòn không hề được vẽ trên bản đồ mà ở đó có thể bị chính “phe ta bắn lầm”. Tác phẩm này là quyển sách Uphill Battle – Reflections on Viet Nam, khi Uphill Battle cùng bản dịch là Cuộc chiến leo thang, Cuộc chiến nhọc nhằn. Trả lời cho câu hỏi về nguyên nhân thảm bại của Mỹ và VNCH trong Chiến tranh Việt Nam nhiều quyển sách, bài viết, báo chí đã nhắc đến sự bất lực, không có khả năng của nhà cầm quyền Miền Nam thời đó và ảnh hưởng của các vận động Phản Chiến trong giới Truyền thanh, báo chí cùng Thành phần thứ ba.

    “Việt Nam Cuộc chiến leo dốc” là tiếng nói trung thực của người trong cuộc đứng lên nhận lỗi về chính mình, những sai lầm của người Mỹ với các chiến dịch đưa ra hầu như được vẽ trong văn phòng thật cẩn thận, chi tiết, nhưng khi đem ra áp dụng ở thực địa đã cho thấy đổ vỡ ngay từ đầu, vì không phù hợp với tình hình địa phương. Làm thế nào chiến thắng được “ Việt cộng” một khi ngay trong các “Ấp chiến lược “ gần như đã có mặt của Việt cộng khắp nơi, thậm chí không chỉ có người dân đi theo Việt cộng, mà một số cấp chỉ huy và binh sĩ VNCH cũng đã “ngã” về phe Việt cộng hay sợ phải đối đầu cùng Việt cộng? Điểm quyết định thua cuộc tệ hại hơn nữa, là khi phải cùng chiến đấu với nhà cầm quyền đầy dẫy tham nhũng, lũng đoạn và cấu kết bao che cho nhau. Sau 75 có nhiều bài viết đã oán trách người Mỹ bỏ rơi bạn đồng minh, bỏ rơi VNCH. Nhưng có bao nhiêu bài viết từ những người thuộc VNCH viết lên được những điều VNCH đã làm sai, để dẫn đến việc thua trận trong cuộc chiến ? Qua quyển Uphill Battle, Frank Scotton đã chỉ ra được rằng Chính phủ VNCH chưa bao giờ vận động được sự ủng hộ của toàn thể dân chúng và không giúp binh sĩ sử dụng vũ khí có hiệu quả và đấu tranh chính trị quá thua kém trước một đối thủ đầy bản lĩnh trong lĩnh vực này. Qua đó cho thấy, cuộc chiến thất bại vì không được toàn dân ủng hộ và sai lầm của người Mỹ và VNCH là chỉ tin vào lực lượng vũ trang mà quên đi sức mạnh của nhân dân quần chúng. Qua đó cho thấy cách nhìn sáng suốt của TT Ngô Đình Diệm khi cương quyết tránh xa sự can thiệp của người Mỹ vào Việt Nam. Và có thể nói VNCH trong chiến tranh Việt Nam đã lãnh phần chiến bại ngay từ sau cái chết của VNCH đệ nhất. Qua cách kể chuyện về những sinh hoạt hàng ngày của tác giả trong Uphill Battle khiến nhớ đến tựa đề quyển sách “ Người Mỹ trầm lặng”. Có còn bao nhiêu người Việt Nam nhớ đến những “người Mỹ thầm lặng” khi xưa ở Việt Nam? Về sự sụp đổ của Nam Việt Nam, tác giả thẳng thắn bày tỏ:

    “Mục đích của một cuộc chiến là bắt đối phương phải phục tòng ý mình. Mục đích của chúng ta ngay từ đầu là giữ vững miền Nam, không để miền Bắc thống nhất đất nước theo điều kiện Cộng sản. Sau nhiều năm chiến đấu, chúng ta đã ký một hiệp định cho phép quân đội miền Bắc hiện diện ở miền Nam. Chúng ta rút lui vì không còn ý chí. Chúng ta thua.”

    Tiểu sử FRANK SNEPP

    Frank Snepp – Nhà phân tích CIA, chuyên viên thẩm vấn, người dự đoán ý định của Địch ở Việt Nam. Ông tốt nghiệp Trường Bang giao Quốc tế của Đại học Columbia.

     Sơ lược về tác giả sách “Khoảng Khắc Thích Họp”, mời xem như sau:

    Frank Snepp sinh ngày 3 tháng 5 năm 1943 tại Kinston, bang North Carolina, Hoa Kỳ. Sau khi  xong trung học, ông vào Đại học Columbia học Văn chương Anh và tốt nghiệp cử nhân vào năm 1965. Sau một năm làm việc cho hãng tin CBS News, anh trở về Đại học Columbia, học cao học ở Trường Quan hệ quốc tế và chính sách công School of International and Public Affairs và tốt nghiệp năm 1968. Năm 1968, Philip Mosely, phó khoa trưởng School of International and Public Affairs, đã giúp Cục Tình báo Trung ương CIA tuyển dụng ông.  Ông được phái sang châu Âu, trở thành chuyên gia phân tích các vấn đề của NATO và an ninh ở châu Âu, nhưng chỉ một năm sau được phái sang Việt Nam, làm chuyên gia phản gián và phân tích tình báo ở Đại sứ quán Mỹ tại Saigon. Ông được giao nhiệm vụ hỏi cung những tù binh Cộng sản và thu thập tin tức tình báo vào thời kỳ cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chuyển sang một bước ngoặt sau Tết Mậu Thân 1968.

     Sau khi trở về Mỹ vào năm 1971 làm việc trong Vietnam Task Force ở tổng hành dinh của CIA, ông trở lại Việt Nam vào tháng 10 năm 1972, tiếp tục làm chuyên gia phân tích tình báo cho tới tháng 4 năm 1975, là một trong những người Mỹ cuối cùng lên máy bay trực thăng di tản khỏi Đại sứ quán Mỹ tại Saigon.
    Trở về Mỹ, vào tháng 12 năm 1975, ông được tặng thưởng huy chương vì có công  trong ngành tình báo, nhưng đến tháng 1 năm 1976, ông nghỉ việc ở CIA, cáo buộc giới lãnh đạo của CIA đã không thừa nhận những sai lầm của họ ở Việt Nam và cáo buộc Chính phủ Mỹ đã bỏ mặc số phận của nhiều người Việt đã từng hợp tác hay có mối liên hệ với người Mỹ, trong đó có người vợ Việt và đứa con nhỏ của ông đã tự sát khi ông không thể đến cứu họ vào những ngày cuối cùng tháng 4 năm 1975.

    Năm 1977, ông cho in cuốn sách “Decent Interval” (Thời hạn chấp nhận được) được viết suốt 18 tháng dựa theo một bản báo cáo mà ông đã gởi cho CIA nhưng không được chấp nhận. Sau khi cuốn sách ra mắt, Giám đốc CIA lúc ấy là Stansfield Turner đã kiện anh ra tòa về tội không tôn trọng cam kết không tiết lộ những bí mật của CIA trong thời gian công tác. Tổng thống Jimmy Carter cũng đứng về phía Giám đốc CIA, cáo buộc anh đã tiết lộ “những bí mật của quốc gia”. Phiên tòa thượng thẩm vào năm 1980 đã xử Stansfield Turner thắng kiện, toàn bộ tiền tác quyền cuốn sách “Decent Interval” là 300.000 đô la phải chuyển hết cho CIA. Sau năm 1980, anh viết cho các báo như The New York Times, The Washington Post, Village Voice và thực hiện các chương trình truyền hình như World News Tonight (1987–1992) cho đài ABC và các chương trình cho đài CBS (2003–2005) và đài NBC. Đến cuối thập niên 1980, anh dạy môn báo chí ở Đại học California và năm 2001 cho in cuốn sách “Irreparable Harm” (Sự tồn hại không thể cứu vãn) kể về cuộc chiến pháp lý với CIA.

    Trần Việt Hải

    Huy Anh comemnted:

    Tham dự buổi hội thảo ngày 25 tháng 5, 2025 tại Vietlife TV với chủ đề 50 Năm Quốc Hận: Nhìn Lại Việt Nam, tôi nhận thấy có nhiều điều thú vị và cũng học thêm kiến thức lịch sử về Cuộc Chiến Việt Nam. Có lẽ hai vị đứng ra tổ chức (Hoàng Đình Khuê & Trần Việt Hải) bỏ nhiều thời gian và được sự hổ trợ của nhóm bạn nên sự kiện này có ý nghĩa và hào hứng.

     Cô MC Mộng Thủy mở đầu chương trình ngắn và gọn, gồm có quốc ca và giới thiệu tiểu sử vắn tắt của ba diễn giả – Frank Scotton, G. Stephen Young, và Frank Snepp. Ba vị này chia sẻ những kinh nghiệm và nhận xét của họ về Cuộc Chiến Việt Nam. Từ ông Frank Scotton, người đã làm việc nhiều với quân đội, tôi đã học được rằng chương trình Ấp Chiến Lược ở Việt Nam gặp những khó khăn vì địa lý các miền khác nhau, đặc biệt ở miền Nam sông rạch nhiều nên khó lập ấp chiến lược mà không ảnh hưởng tới đời sống của người dân. Tuy nhiên, cả 3 diễn giả đều nhận xét rằng chương trình Ấp Chiến Lược không phải là yếu tố chính đưa đến kết quả của cuộc chiến. Yếu tố chính là số quân lớn và số vũ khí lớn được Bắc Việt điều động vào miền Nam. Yếu tố thứ nhì là đa số truyền thông tại Mỹ phản chiến và không ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa.

    Ông Frank Snepp nói về người điệp viên tài ba Võ Văn Ba trong khía cạnh lịch sừ. (Quý vị có thể tìm hiểu thêm về điệp viên Võ Văn Ba qua Youtube clip này): Jackie Bong – South Vietnam’s Greatest Spy Vo Van Ba / Ex-CIA Frank Snepp kể về Điệp viên Võ Văn Ba. Ông Stephen Young nói về sự phản bội của ông Henry Kissinger góp phần vào sự thua cuộc của miền nam… Bình luận gia Nguyễn Kim Bình thông dịch các câu hỏi và trả lời và làm việc tốt đẹp.

     Có lẽ vì buổi hội thảo có ý nghĩa nên sau 3 tiếng (sau 4 giờ) mà còn khoảng 80% của người tham dự còn ở lại… Tôi đã chứng kiến một số người mua sách của Gs. Stephen Young với tác giả ký tên tại chỗ, trong số đó có nhà văn Kiều My của chúng ta.

    Huy Anh.

    Mr. Hoàng Đình Khuê, Mr. Scotton, Mr. Young, Mr. Snepp

    Những Nhận Xét, Ghi Nhận Của Cử Tọa Nguyễn An Ninh:

    FRANK SCOTTON

    Cha đẻ của Ấp chiến lược là đứa con tinh thần của Ngài Robert Thompson. Ông từng là cố vấn cho 5 đời tổng thống Mỹ. Chiến dịch Hamlet Chiến lược đã thất bại vì người Mỹ không hiểu văn hóa Việt Nam. Hầu hết người Việt không muốn rời xa quê hương và những ngôi mộ tổ tiên thân yêu của họ. Mặt trận Cách mạng Dân tộc (MTGPMN) đã sử dụng điều này để tuyên truyền rằng chính phủ Diệm đã đưa bạn vào nhà tù mở và sử dụng những bức ảnh có hình ảnh tàn bạo rằng người Mỹ đã thực dân hóa đất nước chúng ta giống như người Pháp. Những người đàn ông địa phương muốn ở gần nhà để họ có thể gần gia đình ông ta, đó là lý do tại sao họ tham gia NFRVN (MTGPMN).

    Theo Stuart Herrington, chương trình Phoenix đã bị các thành viên nhỏ lạm dụng. Họ đã sử dụng chương trình này để tống tiền và hãm hiếp phụ nữ bằng cách cáo buộc họ là những người ủng hộ cộng sản. Trong cuốn sách của mình, Scotton tuyên bố John Paul Vann đã chết trên trực thăng do thời tiết xấu, nhưng tôi nghi ngờ điều đó vì tôi nghe từ một người có câu chuyện khác mà tôi không biết.

    NFRVN đã sử dụng tuyên truyền để truyền bá mục đích của họ vì hầu hết mọi người sống sau bức màn tre của làng để xác định ranh giới từ thôn này sang thôn khác với khả năng giao tiếp hạn chế.

    Pro. Stephen Young và Ô, Hoàng Đình Khuê

    Trong cuốn sách “Những năm tháng biến động” của Kissinger, Giáo sư Young quên không nhắc đến việc Kissinger đã yêu cầu học trò của mình là người Pháp sắp xếp một cuộc hẹn với Bắc Việt để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Khó khăn nhất là khi người Mỹ rút khỏi Việt Nam không gặp phải sự kháng cự nào từ Nam Việt Nam. Khi người lính TQLC cuối cùng rời khỏi Việt Nam thì Gerald Ford và Kissinger ôm nhau và mỉm cười vì nhiệm vụ đã hoàn thành.

    Chúng ta có thể lên án Kissinger bán rẻ Việt Nam với tư cách là công dân Việt Nam, nhưng xét theo quan điểm của người Mỹ thì Kissinger đã hoàn thành nhiệm vụ mà Tổng thống Nixon giao phó. “Hòa bình trong danh dự”

    Người lính TQLC trẻ nhất tên là Dan Bullock đã hy sinh ở Việt Nam khi mới 15 tuổi vì McNamara đã gửi gần 300.000 binh lính với trình độ học vấn 7-8 không thể dạy được. Khi chúng tôi ở Việt Nam, chúng tôi thấy hầu hết binh lính là người Mỹ gốc Phi, người Mỹ Latinh và một số ít người da trắng.

    Westmoreland phản đối việc cung cấp súng trường M-16 cho binh lính Việt Nam. Cuối cùng, ông đã cung cấp Thủy quân lục chiến và M-16 Nhảy dù vào cuối năm 1967. Khi Thượng nghị sĩ Hollings từ tiểu bang Nam Carolina đến thăm VN, Westmoreland tuyên bố 10:1 nghĩa là chúng ta giết được mười VC và chỉ mất một. Thượng nghị sĩ Hollings trả lời ông rằng “Tôi chỉ quan tâm đến một”.

    Vào năm 1975, hầu hết người Việt Nam không biết chính phủ Hoa Kỳ hoạt động như thế nào, ngay cả với những người dân của chúng ta tốt nghiệp từ các trường danh tiếng, nhưng họ không sống ở Hoa Kỳ đủ lâu để hiểu được điều đó.

    Chiến tranh Việt Nam được hỗ trợ bởi Nghị quyết nhưng không phải là Đạo luật vì Quốc hội Hoa Kỳ chỉ cung cấp tiền và muốn cắt bất cứ lúc nào họ cắt.

    Westmoreland: Vị tướng bị đổ lỗi là đã đánh mất Việt Nam, nhưng vấn dề lại do sự điên rồ của BTQP McNamara: Việc sử dụng quân đội có chỉ số IQ thấp trong Chiến tranh Việt Nam.

    Mr. Young, ĐGM Nguyễn Thành Vân, Gs Dương Ngọc Sum

    FRANK SNEPP

    Snepp đã nói về Võ Văn Ba, một điệp viên người Mỹ. Ông đã cung cấp hầu hết thông tin từ phía đối phương. Frank Snepp dựa vào thông tin của mình để phân tích động thái tiếp theo của Nam Việt Nam.

    Võ Văn Ba đã mắc phải một sai lầm chết người là thói quen xấu khi uống Budweiser và hút thuốc lá Salem. Hãy tưởng tượng khi bạn thở ra mùi thuốc lá sẽ bốc lên trong không khí và mọi người có thể ngửi thấy. check DNA xác định danh tính của điệp viên.


    Nguyễn An Ninh

  • Kiều My,  Tin tức

    50 Năm Quốc Hận – Nhìn Lại Lịch Sử Việt Nam

    Kiều My

    Có những khoảnh khắc lịch sử như vết khắc sâu vào tâm khảm dân tộc – Ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Nửa thế kỷ bụi thời gian phủ mờ, nhưng trong tim hàng triệu người Việt tha hương, mỗi độ tháng Tư về, ký ức lại ùa về như ngọn sóng xô bờ, mang theo nỗi quặn thắt một vết thương chưa lành. Đó không chỉ là ngày mất nước, mà còn là ngày Quốc Hận – Một ngày đen tối mà lịch sử không thể xóa, một nỗi niềm uất nghẹn mà người Việt không thể quên.

    “50 Năm Quốc Hận: Nhìn Lại Lịch Sử Việt Nam” là một đề tài thấm đẫm ký ức với những nỗi ray rứt khôn nguôi trong lòng bao người Việt tị nạn trên khắp thế giới – Từ California nắng ấm đến trời Âu se lạnh, từ Úc châu xa xôi đến những ngôi nhà thờ và mái chùa nhỏ nơi xứ lạ – Tháng Tư hàng năm là tháng của cờ vàng, của tưởng niệm, của nước mắt, và của lời thầm nhủ: “Không bao giờ từ bỏ quê hương.”

    Cuộc nội chiến Nam, Bắc kéo dài suốt 21 năm, không chỉ là chiến tranh ý thức hệ mà còn là bi kịch của một dân tộc –  máu người Việt đổ xuống đất Việt. Để rồi khi tiếng súng ngừng nổ, chiến thắng thật sự không thuộc về ai  – chỉ có “ nỗi đau” là còn đó. Cuộc nội chiến Việt Nam là cuộc xung đột giữa hai mô hình đối nghịch: một bên là Việt Nam Cộng Hòa – đại diện cho lý tưởng dân chủ, tự do; bên kia là miền Bắc cộng sản – theo chủ nghĩa Marx-Lenin, được hậu thuẫn mạnh mẽ từ khối cộng sản quốc tế.

    Nhưng đây không chỉ là cuộc chiến trong lòng dân tộc, mà còn là chiến trường của  “Chiến Tranh Lạnh”; nơi mà số phận Việt Nam bị cuốn vào những toan tính chính trị thâm độc toàn cầu. Chính trị, như một bàn cờ lớn, đã đẩy hàng triệu con người Việt vào vòng lửa đạn – và đến ngày định mệnh ấy, miền Nam sụp đổ không chỉ vì quân sự, mà còn vì những toan tính ngoại giao, những thay đổi ‎‎chính trị bất ngờ và sự phản bội của đồng minh, và cả những sai lầm chiến lược bên trong chính quyền miền Nam, Việt Nam.

    Khi bước sang đầu thập niên 1970, cục diện toàn cầu thay đổi nhanh chóng. Sau nhiều năm sa lầy tại Việt Nam, Mỹ bắt đầu có kế hoạch rút lui qua chính sách “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”. Sau Hiệp định Paris 1973, Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam, bỏ lại miền Nam trong tình thế cô độc giữa vòng vây cộng sản. Cùng thời điểm đó, Tổng thống Nixon bắt tay với Trung Cộng,  Liên Xô để bước vào giai đoạn hòa dịu; còn Việt Nam – vốn từng là ưu tiên chiến lược – giờ trở thành con chốt hy sinh trên bàn cờ thế giới. Sự im lặng của cộng đồng quốc tế khi miền Bắc vi phạm Hiệp định Paris (hiệp định chấm dứt chiến tranh, k‎ý tại Paris ngày 27/1/1973) đã cho thấy một điều cay đắng: Việt Nam Cộng Hòa bị bỏ rơi, không phải vì không chiến đấu, mà vì thế cờ chính trị toàn cầu đã đổi chiều.

    Đến mùa xuân năm 1975, khi quân Bắc Việt tràn xuống với khí thế áp đảo, miền Nam không còn chỗ dựa, không còn phương tiện chiến đấu ngang bằng. Nội bộ tan rã, tướng lĩnh bất hòa và niềm tin lung lay, khiến cả một thể chế sụp đổ chỉ trong vòng 55 ngày – kết thúc ngày 30/4/1975. Đó là lúc chính trị đi trước, quân sự theo sau, và dân chúng là người cuối cùng chịu hậu quả.

    Những ai từng sống dưới hai nền Việt Nam Cộng Hòa, vẫn luôn tiếc nhớ một miền Nam tuy non trẻ nhưng đầy sức sống, tự do, nghệ thuật, học thuật, báo chí, văn chương nở rộ – như một đóa hoa nở tuy ngắn ngủi nhưng rực rỡ. Và ngày đó – ngày 30/4/75 – chính là lúc đóa hoa ấy bị dẫm nát. Bao gia đình tan tác…và rồi là từng đoàn người vượt biển Đông,  rừng sâu, trại cải tạo, trại tị nạn và cuộc sống lưu vong. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 không chỉ là ngày một chính quyền sụp đổ; đó là lúc cả một nếp sống văn minh, một nền văn hóa nhân bản, một khát vọng tự do bị vùi dập dưới chế độ mới. Và từ khoảnh khắc ấy, hệ lụy không chỉ đến ngay giai đoạn đó mà còn kéo dài suốt nhiều thập niên– chảy âm ỉ trong dòng máu Việt, cả trong nước lẫn hải ngoại. Các tổ chức, các hội đoàn, các cộng đồng vẫn giữ lá cờ vàng, vẫn tổ chức tưởng niệm mỗi tháng Tư hàng năm– không phải để nuôi hận, mà để giữ ký ức.Vì nếu không nhớ, ta sẽ lạc mất chính mình.

    “50 NĂM QUỐC HẬN”, để đánh thức tinh thần dân tộc – như tiếng chuông ngân giữa đêm dài, và để giữ vững ngọn lửa trái tim mình. Đã đến lúc ta không thể im lặng. Không thể để quá khứ bị chôn vùi dưới lớp bụi thời gian, không thể để tiếng nói của những người đã ngã xuống chìm trong quên lãng. Thế hệ hôm nay – dù sống ở quê hương hay lưu vong – đều đang đứng trước một ngã rẽ: hoặc cúi đầu chấp nhận một tương lai mù mịt; hoặc đứng lên khơi lại ngọn lửa dân tộc từng thắp sáng bao thế hệ. Đừng để cờ vàng ba sọc đỏ chỉ còn là biểu tượng cũ. Hãy để nó trở thành ngọn đuốc của chính nghĩa, của lòng tin vào một ngày mai tươi sáng cho quê hương – Một Việt Nam tự do thật sự, nơi mỗi người dân có quyền cất lên tiếng nói, có quyền mưu cầu hạnh phúc mà không bị kiểm soát bởi thế lực và nỗi sợ hãi của gông cùm, áp bức.

    Để tìm hiểu vì sao ngày 30 tháng 4 năm 1975 lại trở thành một vết thương đớn đau trong lịch sử dân tộc. Những lời giải thích xác đáng cho sự kiện này sẽ dành cho ba vị khách mời quan trọng và đặc biệt trong buổi hội luận vào ngày chủ nhật 25 tháng năm 2025 tại VietLife TV, Nam California, gồm có:

    • CỰU CIA FRANK SCOTTON
    • PROFESSOR STEPHEN B. YOUNG
    • CỰU CIA FRANK SNEPP

    Mr. Frank Scotton, Mr. Stephen B. Young, Mr. Frank Snepp

    Giữa khánh phòng ấm cúng trong không khí hân hoan chào đón ba vị diễn giả đến từ ba tiểu bang Hoa Kỳ. Đây là một vinh dự lớn lao cho quan khách cũng như  ban tổ chức, do: Cựu Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia khóa 16 Đà Lạt Hoàng Đình Khuê và Nhà văn Trần Việt Hải, trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian – cùng hợp tác để thực hiện buổi hội luận hiếm qu‎í  trong cộng đồng người Việt hải ngoại tại Nam California. Đây cũng là lần đầu tiên ba vị cùng hội luận với nhau trong một chương trình, mà cả ba vị có sự liên quan mật thiết đến chiến cuộc Việt Nam. Buổi hội luận hôm nay với sự tham dự đặc biệt của Đức Giám Mục Nguyễn Thành Vân, qu‎ý giáo sư, nhân văn thi sĩ, các cựu sĩ quan VNCH, nhóm NVNT&TTG, các đoàn thể, giới truyền thông và các thân hữu…

    Nv Kiều My, Gs Trần Huy Bích, Nv Khánh lan, Cs Mạnh Bỗng, Mc Mộng Thủy, Mr. Young, Mr. Scotton, Mr. Snepp. Mr. Hoàng Đình Khuê

    Sau phần chào quốc kỳ Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và phút mặc niệm trang trọng, quan khách  hướng về ba vị khách quí Hoa Kỳ –  Những người đã từng sống và vào sinh ra tử trên mãnh đất Việt trong những năm tháng mà dân tộc đáng thương của chúng ta oằn oại trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài. Ba diễn giả này đã lần lượt vạch trần những thâm cung bí sử giữa các chính khách; hay cục diện chính trị xoay chuyển không ngừng; hoặc sự phản bội của đồng minh và những lợi ích quốc gia…đã là những nguyên nhân gốc rễ dẫn đến biến cố sụp đổ miền Nam Việt Nam. Ba vị diễn giả trên là những nhân chứng sống của lịch sử Việt cận đại và ngay cả trong chính quyền Hoa Kỳ vào giai đoạn từ 1962 – 1975 (là những người bạn thân thiết lâu năm của ông Hoàng Đình Khuê), đã trực tiếp trả lời cho chúng ta biết vì sao miền Nam rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt.

    TIẾNG NÓI TỪ NHÂN CHỨNG HOA KỲ– SỰ THẬT SAU MÀN SƯƠNG CHÍNH TRỊ

    Để hiểu rõ nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta không thể không lắng nghe những lời tường trình của chính những người Mỹ đã từng làm việc trong guồng máy chiến lược, tình báo và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thời chiến tranh. Ba bài thuyết trình của ba diễn giả là sự tóm lượt ‎ý tưởng từ  ba quyển hồi ký dưới đây: UPHILL BATTLE (Frank Scotton) –KISSINGER’S BETRAYAL (Stephen Young) – DECENT INTERVAL (Frank Snepp) – Tuy được viết từ ba tác giả với ba góc nhìn khác nhau; nhưng đều đi đến cùng một kết luận:

    “Miền Nam Việt Nam không thua vì không chiến đấu, mà vì bị đồng minh phản bội, bị bỏ rơi, và hy sinh trên bàn cờ chính trị quốc tế.”

    Sau đây là phần thuyết trình của các diễn giả:

    Frank Scotton

    Frank Scotton – Như chúng ta biết, Ông Frank Scotton nhân viên ngoại vụ đặc biệt của USAID, đảm trách nhiều công tác dân sự và quân sự, cố vấn cho CIA, MACV/ CORDS. Ông từng làm việc trực tiếp với các lực lượng chống cộng sản ở miền Nam Việt Nam từ đầu thập niên 1960 đến năm 1975. Ông là tác giả cuốn Hồi ký “UPHILL BATTLE” (Cuộc Chiến Leo Thang)

    Trả lời cho câu hỏi về nguyên nhân thảm bại của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh Việt Nam, như trong UPHILL BATTLE, Frank Scotton đã nói lên tiếng nói trung thực của người trong cuộc, nhận lỗi về những sai lầm của Hoa Kỳ với các chiến dịch đưa ra rất tỉ mỉ chi tiết trong văn phòng; nhưng khi đem áp dụng ở thực địa đã không phù hợp với tình hình địa phương. Ngoài ra, còn những điểm then chốt mà Frank Scotten đã trình bày cùng cử tọa cũng đã được ghi lại trong quyển  hồi ký UPHILL BATTLE  của ông.

    Cuốn hồi ký này là cách nhìn trung thực và sâu sắc của một người trực tiếp tham gia các hoạt động bình định và chống nổi dậy, nhằm hỗ trợ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa xây dựng một nền tảng dân chủ, chống lại sự xâm nhập và tuyên truyền của cộng sản miền Bắc. Cuộc chiến là một “trận đánh chính trị” hơn cả quân sự. Là người từng gắn bó trực tiếp với chương trình bình định nông thôn tại miền Nam, Frank Scotton khẳng định:

    “Miền Nam có những con người dũng cảm và lý tưởng, nhưng bị kìm hãm bởi nội bộ yếu kém và sự rút lui vội vã của đồng minh.”

    Ông cho rằng Washington chưa bao giờ hiểu đầy đủ bản chất chính trị của cuộc chiến, và sự thất bại đến từ việc đánh giá sai lòng dân, cũng như rút quân quá sớm.

    “This was never just a military war. It was fundamentally a political battle.”

    Ông nhận xét: thắng bại không nằm ở súng đạn, mà ở khả năng xây dựng niềm tin nơi người dân – điều mà Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có tiềm năng nhưng thiếu sự thống nhất, quyết tâm và ngay cả thời gian.

    THÔNG ĐIỆP CHÍNH CỦA “UPHILL BATTLE”

    Cuộc chiến Việt Nam là một trận đánh chính trị, đòi hỏi sự kiên nhẫn, hiểu văn hóa và lòng tin từ nhân dân. Sự thất bại của miền Nam không đơn thuần là do súng đạn – mà do mất thế chiến lược, sự bỏ rơi từ đồng minh, và không kịp củng cố lòng dân trước khi quá muộn. Ông mô tả nỗi đau khi chứng kiến sự rút lui của Mỹ, sự suy sụp tinh thần trong nội bộ VNCH, và làn sóng quân Bắc Việt tràn vào như sự kết thúc đã được báo trước.

    VỀ SỰ THIẾU QUYẾT TÂM VÀ CHIẾN LƯỢC NHẤT QUÁN CỦA HOA KỲ:

    “Washington never truly understood that political legitimacy could not be imposed from the outside. We asked the Vietnamese to fight, but did not stay long enough to help them win peace.”
    (Tạm dịch: Washington chưa bao giờ thực sự hiểu rằng tính chính danh chính trị không thể áp đặt từ bên ngoài. Chúng ta yêu cầu người Việt chiến đấu, nhưng không ở lại đủ lâu để giúp họ đạt được hòa bình.)

    VỀ YẾU TỐ NỘI BỘ MIỀN NAM VIỆT NAM:

    “South Vietnam had brave people, but a weak structure. There was idealism in the field, but corruption at the top. The people wanted something to believe in, but they were often disappointed.”
    (Tạm dịch: Miền Nam có những con người dũng cảm, nhưng cấu trúc yếu ớt. Ở tuyến đầu có lý tưởng, nhưng ở thượng tầng lại là tham nhũng. Dân chúng muốn có niềm tin, nhưng họ thường thất vọng.)

     ÁP LỰC TỪ MIỀN BẮC VÀ SỰ BỎ RƠI CỦA ĐỒNG MINH:

    “When the North Vietnamese realized that the U.S. would not return in force, they pushed without restraint. And when Saigon fell, it fell not because the South stopped fighting, but because it stood alone.”
    (Tạm dịch: Khi Bắc Việt biết rằng Mỹ sẽ không trở lại với lực lượng mạnh, họ liền tấn công không kiềm chế. Và khi Sài Gòn thất thủ, không phải vì miền Nam không còn chiến đấu, mà vì họ đã bị bỏ lại một mình.)

     MỘT CÂU KẾT LUẬN ĐẦY XÓT XA VÀ NHÂN BẢN:

    “We lost Vietnam not only in the jungles or the cities, but in the hearts of those we failed to reach, to understand, to inspire.”

    (Tạm dịch: Chúng ta đã đánh mất Việt Nam không chỉ trong rừng rậm hay thành thị, mà trong trái tim của những người mà chúng ta không thể chạm đến, không thể hiểu, không thể truyền cảm hứng.)


    Stephen B. Young

    Stephen B. Young –Trong chiến tranh Việt Nam, ông phục vụ cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ USAID từ 1968-1972, qua Chương trình Bình định và Phát triển Nông thôn.  Ông là một trong những tiếng nói hiếm hoi tại Mỹ bênh vực VNCH bằng sự thật lịch sử, không bằng định kiến truyền thông.

    Ông là luật gia, phụ tá Khoa trưởng của trường luật Havard; là Khoa trưởng và Giáo sư Luật của trường Đại học Luật Hamline. Hiện nay ông là Giám đốc Điều hành Toàn cầu của Tổ chức Bàn tròn (CRT) về Chủ nghĩa Tư bản Đạo đức.

    Qua bài thuyết trình, Stephen Young thẳng thắn bày tỏ sự phản bội của đồng minh Hoa kỳ bởi Henry Kissinger – một nhân vật bất trung, là then chốt đưa đến việc sụp đổ miền Nam, Việt Nam. Những bằng chứng hùng hồn này ông đã ghi lại trong cuốn KISSINGER’ S BETRAYAL (Sự Phản Bội Của Kissinger). Cuốn sách nhằm phơi bày sự phản bội chiến lược của Henry Kissinger  “Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War” của Stephen B. Young – một cuốn sách đầy dũng khí và thẳng thắn, được viết từ trái tim của một người từng gắn bó với Việt Nam Cộng Hòa và hiểu rõ những gì đã bị đánh đổi trên bàn cờ chính trị quốc tế. Kissinger, người mà theo Stephen Young, đã đánh đổi miền Nam Việt Nam để đạt được lợi ích chính trị với Trung Quốc và Liên Xô, qua các cuộc đàm phán thiếu minh bạch, dẫn đến Hiệp định chấm dứt chiến tranh Paris 1973.

    “Hiệp định Paris 1973” – Văn kiện của sự phản bội

    “The Paris Agreement did not preserve peace. It created the conditions for conquest.”
    (Tạm dịch: Hiệp định Paris không bảo đảm hòa bình. Nó tạo điều kiện cho sự xâm lược.)

     Kissinger đã ký một hiệp định mà ông biết chắc sẽ bị Bắc Việt vi phạm, nhưng vẫn dùng nó để rút quân và tuyên bố “hòa bình trong danh dự”.

     Kissinger ưu tiên bắt tay với Bắc Kinh và Mát-xcơ-va hơn là bảo vệ đồng minh Sài Gòn:

    “Kissinger saw South Vietnam as expendable in the greater game of global diplomacy.”
    (Tạm dịch: Kissinger xem miền Nam Việt Nam là một quân cờ có thể hy sinh trong ván bài ngoại giao toàn cầu.)

      Sai lầm của Kissinger là không hiểu cuộc chiến Việt Nam vì lý tưởng tự do, không phải là địa bàn chiến lược:

    “He misunderstood the war. He thought it was a chess match; in truth, it was a fight for hearts and freedom.”(Tạm dịch: Ông ta hiểu sai về cuộc chiến. Ông tưởng đó chỉ là ván cờ, nhưng thật ra đó là cuộc chiến vì trái tim và tự do.)

     Kissinger và các nhà hoạch định chính sách Mỹ thiếu cái nhìn nhân văn và đạo đức về cuộc chiến – họ không thấu hiểu người Việt miền Nam chiến đấu vì lý tưởng dân chủ.

     Hoa Kỳ đã không giữ lời hứa bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa:

    “The U.S. Congress cut off aid. South Vietnam fought bravely but ran out of supplies. We broke our word.”(Tạm dịch: Quốc hội Hoa Kỳ cắt viện trợ. Miền Nam đã chiến đấu anh dũng, nhưng cạn kiệt tiếp tế. Chúng ta đã thất hứa.)

    THÔNG ĐIỆP CHÍNH CỦA “KISSINGER’S BETRAYAL”

    Miền Nam Việt Nam không thua vì không chiến đấu, mà thua vì bị phản bội.
    Hoa Kỳ – qua Kissinger – đã chọn quyền lợi cường quốc hơn là danh dự đồng minh, và cái giá phải trả là một dân tộc mất tự do, hàng triệu người vượt biên, và một chương đen tối trong lịch sử lương tâm Mỹ.

    “We lost not just an ally. We lost our honor.” (Tạm dịch: Chúng ta không chỉ đánh mất một đồng minh. Chúng ta đánh mất danh dự của chính mình.)

    Là một trong những tiếng nói đạo đức hiếm hoi trong giới trí thức Mỹ, Stephen Young tố cáo Henry Kissinger:

    “Miền Nam Việt Nam đã bị đem ra mặc cả để đổi lấy mối bang giao với Bắc Kinh và thỏa thuận với Liên Xô. VNCH là đồng minh bị bán đứng.”

    Ông nhấn mạnh rằng Hiệp định Paris 1973 chỉ là một văn kiện trá hình, nhằm rút Mỹ khỏi cuộc chiến trong khi Bắc Việt được tự do chuẩn bị cuộc tổng tấn công.


    Frank Snepp

    Frank Snepp – Cựu sĩ quan tình báo CIA, từng là trưởng nhóm phân tích chiến lược tại Sài Gòn, phục vụ cho tòa Đại sứ Hoa Kỳ đến những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Chính ông đã đưa cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu rời Saigon đến Đài Loan ngày 27 tháng 4 năm 1975. Ông là nhà phân tích CIA, chuyên viên thẩm vấn và người dự đoán ý định của miền Bắc sẽ tấn công miền Nam vào tháng 4 năm 1975.

    Ông là tác giả cuốn DECENT INTERVAL – (Khoảng Cách Hợp Lý) – Khoảng cách này là khoảng thời gian từ khi ký Hiệp định Paris (27/1/1973) cho đến ngày mất miền Nam (30/4/1975.  Mang ý ‎nghĩa:  là khoảng thời gian để giúp giữ danh dự cho Tổng thống Nixon không mang tiếng là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ thua cuộc chiến. Nội dung của Decent Interval  là lời cáo buộc nghiêm khắc và đau đớn về sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975, do sự phản bội của chính phủ Hoa Kỳ, đặc biệt là Đại sứ Graham Martin và Henry Kissinger Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ.

    Đặc biệt trong bài thuyết trình, ông đề cập và ca tụng một điệp viên nhị trùng Võ Văn Ba bí danh X92, đã giúp Mỹ và tình báo miền Nam rất đắc lực – có thể nói đây là một điệp viên hàng đầu của CIA ở Viêt Nam. Chúng tôi nhận được những tin tức bí mật thật tuyệt vời, toàn những tin tức nội bộ của bên kia. Ông được hàng ngũ cộng sản tín nhiệm đến nổi được tham gia các cuộc họp trong Bộ chỉ huy ở núi Bà Đen. Võ Văn Ba ở vào vị trí lý tưởng giúp chúng tôi; để đáp lại, chúng tôi giúp ông hoàn thành vai trò tốt của một thành viên cộng sản trung thành. Bằng cách: CIA và Cảnh sát Đặc biệt VNCH đã dàn dựng nhiều vụ tấn công vào các trạm Cảnh sát VNCH để quy trách nhiệm cho Võ Văn Ba…

    Frank Snepp đã viết về Võ Văn Ba gửi đến nhiều thư viện, viện bảo tàng để nói rằng: “quý vị phải cập nhật tài liệu về Chiến tranh Việt Nam, trong đó có sự đóng góp của vị anh hùng này, chính là Điệp viên xuất sắc Võ Văn Ba – người đã cống hiến cho chúng tôi những tin tức chính xác vào những thời điểm quan trọng của cuộc chiến.”

    Vừa qua, có tin chính thức về cái chết của Võ Văn Ba, người được coi là điệp viên hàng đầu  của CIA và VNCH; trong khi báo chí Hà Nội gọi đây là tên “Nội phản nguy hiểm”.

    MỸ CHỦ ĐỘNG BỎ RƠI SÀI GÒN – VÌ SỢ MANG TIẾNG “THUA TRẬN” QUÁ SỚM

    “The idea was to let the South fall – but slowly – so it wouldn’t look like we had engineered its collapse.”
    (Tạm dịch: Ý định là để miền Nam sụp đổ – nhưng từ từ – để tránh mang tiếng là chúng ta đã chủ động phá hoại họ.)

    ĐẠI SỨ GRAHAM MARTIN CHE GIẤU THÔNG TIN, TỪ CHỐI CHO VIỆC DI TẢN

    “Martin refused to believe the North Vietnamese would come. His illusions cost lives.”
    (Tạm dịch: Martin từ chối tin rằng quân Bắc Việt sẽ tràn vào. Ảo tưởng của ông ấy đã khiến nhiều người phải chết.)

    Sự cố chấp và sai lầm cá nhân trong chính quyền Mỹ đã khiến hàng ngàn nhân viên Việt bị bỏ lại, bị bắt, bị giết.

    DI TẢN HỖN LOẠN – MỘT VẾT NHƠ ĐẠO ĐỨC KHÔNG THỂ BIỆN MINH

    “We abandoned tens of thousands who had worked for us, believing we would protect them. We broke that trust.”

    (Tạm dịch: Chúng ta đã bỏ rơi hàng chục ngàn người từng làm việc cho ta, tin rằng ta sẽ bảo vệ họ. Chúng ta phản bội niềm tin ấy.)

     Cuộc tháo chạy hỗn loạn ở Tòa Đại sứ không phải vì không đủ trực thăng – mà vì sự bất lực có hệ thống và thiếu ý chí chính trị.

     KHÔNG PHẢI SÀI GÒN KHÔNG CHIẾN ĐẤU – MÀ LÀ BỊ “RÚT DÂY TIẾP MÁU”

    “The South still had some capacity to resist. But we had already shut off the resupply – both in weapons and hope.”

    (Tạm dịch: Miền Nam vẫn còn khả năng kháng cự. Nhưng chúng ta đã ngắt nguồn tiếp tế – cả về vũ khí lẫn hy vọng.)

     Sài Gòn không đầu hàng vì hèn nhát, mà vì bị bóp nghẹt cả thể xác lẫn tinh thần.

     THÔNG ĐIỆP CAY ĐẮNG – MỘT BÀI HỌC ĐẠO ĐỨC BỊ CHÔN VÙI

    “We didn’t just lose a war. We lost a generation’s worth of trust – in ourselves and in what we claimed to stand for.”

    (Tạm dịch: Chúng ta không chỉ thua một cuộc chiến. Chúng ta đánh mất cả một thế hệ niềm tin – vào chính mình, và vào những điều ta từng tuyên bố bảo vệ.)

    “DECENT INTERVAL” của Frank Snepp – một cuốn sách rất quan trọng và gây chấn động khi xuất bản, vì tác giả là một cựu sĩ quan CIA từng làm việc sát cánh với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho đến những ngày cuối cùng của Sài Gòn. Ông vạch trần:

    “Mỹ  chủ động để miền Nam sụp đổ – nhưng phải đủ chậm, để không mang tiếng là kẻ phản bội.”

    Ông kể lại sự hỗn loạn trong việc di tản, sự ngoảnh mặt của Đại sứ Martin, và nỗi hổ thẹn khi hàng ngàn cộng sự Việt Nam bị bỏ rơi, trong lúc chính phủ Mỹ chỉ lo giữ thể diện.

     Thông điệp chung từ ba chứng nhân: Frank Scotton, Stephen Young và Frank Snepp

    • Miền Nam không thiếu tinh thần.
    • Không thiếu lý tưởng.
    • Nhưng họ thiếu điều mà bất kỳ đồng minh nào cũng cần: – Sự đồng hành trọn vẹn, không bị điều kiện, và không bị tính toán thiệt hơn.
    • Miền Nam không thua vì yếu, mà vì bị bỏ rơi, bị phản bội.
    • Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến chính trị – đạo lý – nhân tâm, chớ không đơn thuần là chiến lược quân sự.
    • Mỹ không thua cộng sản, mà thua vì thiếu – hiểu biết,  niềm tin và kiên nhẫn.

    Khi Hoa Kỳ quay lưng, lịch sử Việt Nam rẽ sang một ngả đau thương, kéo theo hàng triệu thân phận vượt biển, hàng trăm ngàn tù cải tạo, và một đất nước bị bức tử trong chính nền văn hóa của mình. Chứng cớ không thể chối cãi từ những người từng ở trong guồng máy Hoa Kỳ, để tăng thêm  tính thuyết phục và sự minh bạch của lịch sử.


    Sự sụp đổ miền Nam, Việt Nam không chỉ là của Việt Nam Cộng Hòa, mà là bài học đạo đức cho Hoa Kỳ và các nền dân chủ trên thế giới. 50 Năm Quốc Hận không phải ghi lại những dòng lịch sử lạnh lùng;  mà như tiếng thở dài từ ký ức của một dân tộc từng bị chôn vùi giữa cơn lốc thời cuộc; cũng như để khơi lại ánh sáng từ những vết thương lịch sử. 50 Năm Quốc Hận đủ mạnh để gợi lại quá khứ đau thương và đánh thức niềm tin – về sự khôi phục lại cờ vàng ba sọc đỏ – biểu tượng ‎ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.

    Nv Nguyễn Quang, Nv Khánh Lan, phu nhân Thiều Minh, Nv Kiều My, Cs Lệ Hoa, Gs Dương Ngọc Sum, Nv Trần Việt Hải,

    Nv Nguyễn Quang, Mr .Stephen Young, Nv Trần Việt Hải, Gs Dương Ngọc Sum, ĐGM Nguyễn Thành Vân,

    Phu nhân Thiều Minh, Cs Lệ Hoa, Cs Minh Khai, Mc Mộng Thủy

    Mr. Frank Snepp & MC Mộng Thủy

    Ông Hoàng Đình Khuê

    Kiều My

    May 2025

  • Tin tức

    TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: ỨNG DỤNG, TÁC ĐỘNG VÀ TƯƠNG LAI.

    thaiphamacademy.com

    Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. AI là lĩnh vực khoa học điện toántập trung vào việc phát triển các hệ thống phần mềm có khả năng thực hiện những nhiệm vụ đòi hỏi trí thông minh của con người, như học tập, suy luận, phân tích dữ liệu và đưa ra các quyết định thông minh, chính xác. (Đọc tiếp…)

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Phạm Hồng Thái,  Tin tức

    NHỮNG ĐỨA TRẺ LẠC LOÀI

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em,

    Thấm thoát đã 50 năm, nỗi buồn ly hương vẫn vương vấn trong lòng người viễn xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, Khánh Lan xin mời quý vị thưởng thức chuyện ngắn “Những đứa trẻ lạc loài“. Tác phẩm gồm 3 phần: Phần I: Hồi ký Những Đứa Trẻ Lạc Loài, đây là một câu chuyện có thật về đứa con lai bị bỏ rơi ở VN sau 1975. Phần II: Số phận của những đứa trẻ đi theo chương trình Babylift và Home Coming Act. Phần III: 50 năm nhìn lại những gì đã xảy ra cho đất nước Việt Nam.

    Ca khúc “Kiếp Lạc Loài”, do anh Phạm Thái sáng tác dựa trên cảm hứng từ tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài”. Điểm đặc biệt là toàn bộ phần hình ảnh, tiếng hát và hòa âm được thực hiện bằng công nghệ AI, với lời thơ của anh Thái Phạm.

    Vui lòng click vào hình trên để đọc sách.

    Tác phẩm này đang trong tiến trình chuyển sang Anh ngữ và sẽ gởi đến quý độc giả sau Thanksgiving 2025.

    Khánh Lan kính mời,

    April 30, 2025-

    Kỷ niệm 50 năm viễn xứ. (1975-2025)

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Phạm Hồng Thái,  Tin tức

    CHƯƠNG TRÌNH NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT DO LIÊN NHÓM NVNT & TTG THỰC HIỆN

    Khánh Lan trân trọng thay mặt anh Việt Hải gửi đến quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ cùng quý anh chị em một tin vui:

    Hai tuần trước, ký giả Du Miên – đại diện của Đài Truyền Hình Vietnam American Television (VNA-57.3) – đã mời nhóm chúng ta đảm trách thực hiện một chương trình trên băng tầng của đài. Sau khi tham khảo ý kiến ban điều hành và nhận được sự khích lệ từ các vị cố vấn, anh Việt Hải đã chính thức quyết định hợp tác với đài 57.3, với mục tiêu giới thiệu Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đến quý khán thính giả.

    Chương trình “Nhân Văn Nghệ Thuật” sẽ được phát hình định kỳ hai tuần một lần trên băng tầng 57.3. Ngay khi có chương trình truyền hình cố định, Ban Điều Hành sẽ thông báo cụ thể ngày giờ đến quý vị. Chương trình sẽ được phát hành rộng rãi qua các nền tảng sau:

    • DirectTV tại toàn bộ 50 tiểu bang Hoa Kỳ và Canada
    • Roku Box
    • Facebook và YouTube
    • Website chính thức: vnatv.com

    Khánh Lan cũng xin gửi đến quý Giáo Sư, các Văn Thi Sĩ và quý anh chị em đoạn video buổi thu hình đầu tiên được thực hiện vào ngày 18 tháng Tư vừa qua, với sự tham gia của ký giả Du Miên, Giáo Sư Quyên Di và Khánh Lan.

    Chương trình mở đầu với video logo Nhân Văn Nghệ Thuật, do anh Thái Phạm thiết kế. Tiếp theo là phần giới thiệu tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” của Khánh Lan. Tác phẩm này trình bày dưới dạng eBook và sẽ được gửi tặng quý vị qua email như một món quà tinh thần nhân dịp tưởng niệm 50 năm nhìn lại quê hương Việt Nam (1975–2025). Ngoài ra, chương trình cũng giới thiệu ca khúc “Kiếp Lạc Loài”, do anh Phạm Thái sáng tác dựa trên cảm hứng từ tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài”. Điểm đặc biệt là toàn bộ phần hình ảnh, tiếng hát và hòa âm được thực hiện bằng công nghệ AI, với lời thơ của anh Thái Phạm.

    PHẦN 1

    PHẦN 2

    PHẦN 3

    Khánh Lan kính mời,

    Tháng 4, 2025

    Kỷ niệm 50 năm viễn xứ

  • Kiều My,  Sinh Hoạt,  Tin tức

    TÌNH YÊU & TIẾNG CƯỜI

    Kiều My

    Chủ nhật 13 tháng 4, 2025 trời thật êm dịu, nắng không gay gắt, gió cũng nhẹ đi – như thể vạn vật đang khẽ nhường chỗ cho một điều gì thật đẹp sắp được cất lên. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cùng những bạn hữu gần xa đến dự tiệc sinh nhật thứ 95 của người anh đáng kính –  nhà văn Nguyễn Quang – mà cuộc đời ông là cuốn tiểu thuyết thầm lặng. Từng trang viết là hồi ức của một thời rực rỡ, yêu thương, băn khoăn…Và hôm nay giở lại trang viết cũ với chủ đề dịu dàng: Tình Yêu & Tiếng Cười.

    Một tiết mục không thể thiếu trong chương trình – đó là chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ trong không khí trang nghiêm. Người Việt hải ngoại luôn tưởng nhớ đến Tổ quốc Việt Nam cũng như trân trọng và tri ân đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang những người Việt tị nạn. Sau đó, phút tưởng niệm lắng đọng, tưởng nhớ đến những anh hùng vị nước vong thân, những người đã bỏ mạng trong cuộc hành trình tìm Tự do.

    Quan khách gồm có: trưởng nhóm NVNT&TTG, Nv Trần Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, các giáo sư Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Quyên Di; nhạc sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân Ngọc Hà, nhạc sĩ Võ Tá Hân và phu nhân; nữ sĩ Dương Hồng Anh, Lê Nguyễn Nga và các nhà văn Trạch Gầm và phu nhân, Vương Trùng Dương, Vi Khiêm, Khánh Lan, Kiều My, John Tạ, Nguyên Hồng; các ca sĩ: Quỳnh Giang, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Tony Hiếu, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Ngọc Châu, Alain Đức, Dương Viết Đang, Mạnh Bỗng, Chế Tùng, Hoàng Oanh, nhiếp ảnh gia Thiều Minh, kỹ thuật gia Tâm An, keyboardist Ngọc Tú v.v…

    Buổi tiệc rất vui và thật ấm cúng. Mọi người đến không chỉ để chúc thọ mà để lắng nghe… một bản tình ca – Một chuyện “Tình Yêu và Tiếng Cười của nhà văn Nguyễn Quang và cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh. Người phối ngẫu đã vĩnh viễn về miền miên viễn, nhưng người còn ở lại vẫn gìn giữ yêu thương đó. Nhà văn Nguyễn Quang với mái tóc bạc trắng như sương mai, ánh mắt vẫn long lanh nét tinh anh của một thời tuổi trẻ – kể về bà. Người vợ quá cố, người tri kỷ, người bạn đời đồng hành cùng ông qua mấy mươi năm gió bụi: “Đôi uyên ương đến với nhau bằng thơ, yêu nhau bằng tấm chân tình, và cười cùng nhau qua bốn mùa…” Cuộc tình của ông bà đẹp như những đóa hoa hồng trong bản nhạc La Vie En Rose của Edith Piaf , mà đã được ca sĩ Ngọc Hà hát lên như một món quà sinh nhật dành tặng nhà văn Nguyễn Quang.

    Tôi nhận ra: tuổi 95 không phải là con số của sự tàn phai, mà là nốt cao của một bản tình ca – bản tình ca viết bằng thơ, bằng âm nhạc, bằng ký ức và hơn hết… bằng tình yêu thuần khiết. Và tôi biết, tình yêu – nếu thật sự là tình yêu – sẽ luôn ở lại trong tim, như thơ, như nhạc, như tiếng cười vang vọng suốt một đời người…

    Minh Châu, Minh Khai, Kiều My, Lâm Dung, Ái Liên, Ngọc Quỳnh, Khánh Lan, Minh Thư, Lệ Hoa, Thụy Lan

    Một khoảnh khắc đáng ghi nhớ – khi ca sĩ Quỳnh Giang mang món quà từ San Jose do nhạc sĩ Phạm Hồng Thái gửi tặng Nv Nguyễn Quang. Đó là chiếc “cup pha lê” nhỏ xinh có in hình Nguyễn Quang và Hoài Trinh…rất độc đáo và đầy cảm xúc. Chiếc cup không phải để vinh danh thành tích, mà để vinh danh một chuyện tình, một đời sống gắn bó không rời. Hình ảnh ông và bà được in lên chiếc cup ấy chẳng khác nào khắc ghi vĩnh viễn một tình yêu – không chỉ trong lòng người, mà trong một vật thể có thể cầm nắm, chạm vào, nâng niu…Ông thì thầm trong tim:“La vie est faite de petits bonheurs…” – Cuộc đời được dệt nên từ những hạnh phúc bé nhỏ. Đó cũng là Giai điệu của một đời người!

    NV Nguyễn Quang & Ca Sĩ Quỳnh Giang

    Nv Nguyễn Quang, Ns Võ Tá Hân, Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga, nữ sĩ Dương Hồng Anh

    GS NS Lê Văn Khoa, NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NV Nguyễn Quang, NS Lê Nguyễn Nga, GS Dương Ngọc Sum. Phía sau là NV Vi Khiêm đang đứng nói chuyện.

    Ca sĩ Quỳnh Giang hát một ca khúc được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh – Kiếp Nào Có yêu Nhau –  rất truyền cảm; đã làm sống lại hình ảnh của người bạn đời trong tâm hồn Nguyễn Quang, mà đã vĩnh viễn ra đi. Ban tứ ca: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Minh Thư  trình bày bản nhạc mang chất ‎xúc tác cho sự kiện hôm nay – Còn Gặp Nhau – thơ Tôn Nữ Hỷ Khương, nhạc Võ Tá Hân.

    Phần tâm tình cùng NV Nguyễn Quang là các vị khách quý gồm: Đồng Hương Sóc Trăng, GS Trần Huy Bích, GS Quyên Di, GS Dương Ngọc Sum, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Lê Nguyễn Nga, NV Vi Khiêm, NS Võ Tá Hân và NV Khánh Lan. NV Khánh Lan đã thay mặt Thi Sĩ Tha Nhân diễn ngâm bài thơ Thất Ngôn Bát Cú (Dĩ Thủ Vi Đề) mừng sinh nhật Nv Nguyễn Quang.

    MỪNG ĐẠI THỌ NV NGUYỄN HUY QUANG

    MỪNG anh sinh nhật chín mươi lăm

    ĐẠI đại rồi qua quá tuổi trăm

    THỌ tỷ nam sơn người vẫn nói

    NHÀ so tùng bách bạn thường thăm

    VĂN chương sắc sảo xây nhân bản

    NGUYỄN tộc danh lừng chống ngoại xâm

    HUY động khí thiêng huynh khỏe mạnh

    QUANG vinh đã đạt rạng ngời năm

    NV Khánh Lan

    Thụy Lan, Kiều My, Lệ Hoa, Minh Thư

    Không khí trong hội trường bỗng vui nhộn lên khi ban tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư cùng cất tiếng hát – Nếu Có Yêu Tôi – sáng tác của nhạc sĩ Trần Duy Đức. Nói lên sự vô tình của thời gian, vì khi thời gian đã qua đi sẽ không bao giờ trở lại; vậy việc gì có thể làm hôm nay đừng để ngày mai – ngay cả tình yêu! Nhà văn, ca sĩ Kiều My cũng đã hát bản Après Toi ưu ái dành tặng ngôi sao sáng hôm nay – vì biết Nv Nguyễn Quang luôn yêu thích những giai điệu lãng mạn trữ tình của dòng nhạc Pháp, từ khi ông còn sống ở thành phố ánh sáng Paris đến khi tuổi đã về chiều.

    Những lẵng hoa lan tươi đẹp dành cho những bông hoa biết nói

    Những bạn hữu thân thương của Nv Nguyễn Quang cũng chia sẻ những thâm tình và dành cho ông những lời chúc tốt đẹp cho những ngày tháng còn lại của một đời người. Để tỏ lòng tri ân, ông cũng đáp lại bằng những lẵng hoa lan tươi đẹp dành cho những bông hoa biết nói – phái đẹp hiện diện trong khánh phòng. Ngoài ra, còn có cuộc xổ số rất hào hứng với những phần quà thật đẹp dành cho những ai may mắn được trúng giải.

    Ca Sĩ Chế Tùng & Ca Sĩ Hoàng Oanh

    Tiệc cũng đã tàn, nhưng tiếng nhạc vẫn còn vang như muốn níu kéo những khoảnh khắc đã ghi lại dấu ấn trong tâm khảm mọi người. Chân thành cầu chúc nhà văn Nguyễn Quang luôn được bình an để sống với những kỷ niệm đẹp của “tình yêu và tiếng cười”- Mà từ đó đã tạo nên nguồn cảm hứng cho những mảnh văn chương để đời.- Đó cũng là “giai điệu của một đời người” vậy!

    Kiều My, California, ngày 13 tháng 4, năm 2025

  • Tin tức,  Vương Trùng Dương

    Vĩnh biệt anh Mạc Vũ Phạm Gia Cổn

    Vương Trùng Dương

    Bác Sĩ Phạm Gia Cổn qua đời vào sáng Thứ Tư, 30/11/2022 tại bệnh viện MemorialCare Orange Coast Medical Center, Fountain Valley, hưởng thọ 80 tuổi.

    BS Phạm Gia Cổn là khuôn mặt rất quen thuộc trong sinh hoạt cộng đồng người Việt ở Little Saigon và hải ngoại. Giáo Sư tại Đại Học UCLA suốt 28 năm từ năm 1982 đến năm 2010. Anh từng là Chủ Tịch Hội Y Sĩ Việt Nam, Nam California. Tại Little Saigon, năm 2006, Bác Sĩ, Võ Sư Phạm Gia Cổn đã phối hợp y khoa và võ thuật, sáng lập ra môn phái Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc. Lớp học miễn phí, trong suốt thời gian qua, có cả ngàn môn sinh (học viên tham dự). Địa điểm 9032 Hazard Ave (Góc Hazard & Magnolia) với 4 buổi sáng trong tuần.

    Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc được phổ biến ở Phần Lan, Úc Châu… và các nơi khác như Texas, Florida, San Jose… gọi là Gia Đình Hoàng Hạc TDKC (Thể Dục Khí Công). Đây cũng là dịp Chưởng Môn đi đây đi đó thăm các Gia Đình Hoàng Hạc và phổ biến trong cộng đồng người Việt.

    Là con người tài hoa trên nhiều lãnh vực, tính tình điềm đạm, khiêm nhượng nên được mọi người cảm mến. Khi nhận tin BS Phạm Gia Cổn qua đời, mọi người không thể ngờ vì anh vẫn khỏe mạnh và hiện diện trong các buổi sinh hoạt hội đoàn trong tháng 11 vừa qua. Vĩnh biệt anh, ghi lại vài dòng kỷ niệm về nhạc sĩ Mạc Vũ Phạm Gia Cổn.

    Năm 2016, anh Phạm Gia Cổn đã thực hiện xong 11 ca khúc do anh sáng tác và nhờ tôi thực hiện bìa của CD.

    CD Hẹn Ước – thơ phổ nhạc – Mạc Vũ Phạm Gia Cổn – Hòa Âm: Ngọc Dũng

    1.- Đã Một Lần (Cổ Tích Tôi) – Thơ: Định Nguyên – tiếng hát Tâm Thư. 2.- Hẹn Ước – Thơ: Phan Xuân Hiệp – Tâm Thư. 3.- Một Lá Thư – Thơ: Phạm Kim Khôi                         – Trung Hiếu. 4.- Lệ Hoa  – Thơ: Phan Xuân Hiệp – Tâm Thư. 5.- Buổi Chiều, Nhớ – Thơ: Như Thường – Tâm Thư. 6.- Hai Bàn Tay – Thơ: TSN Ngọc Diệp – Quang Châu. 7.- Buổi Sáng – Thơ: Long Ân – Khánh Vy. 8.- Nhớ – Thơ: Sương Mai – Khánh Vy. 9.- Tiễn Anh – Thơ: Trần Đức Tường – Trung Hiếu. 10.- Phương Chờ Em – Thơ: Lan Đàm – Trung Hiếu

    11.- Why I Write – Thơ: Amy Hồ – Cẩm Vân

    Trong khi đang thực hiện CD, anh đưa cho tôi nghe vài ca khúc để có cảm hứng khi trình bày bìa.

    Mời nghe những ca khúc trong CD Hẹn Ước thực hiện trên YouTube:

    Trong thời gian anh đến nhà tôi để cùng nhau thực hiện cũng là lúc trò chuyện nhau thật thú vị vì gặp nhau ở quán cà phê đông người chỉ tán gẫu vài mẫu chuyện vui cùng bạn bè. Anh cho biết họ Mạc có sự liên quan đến tổ tiên ở thế kỷ 16 trong cuộc nội chiến Lê-Mạc và khi Trịnh Tùng truy sát họ Mạc đến cùng nên một số thay tên đổi họ ẩn cư. Đó cũng là bí ẩn của giai đoạn bi thương lịch sử.

    Với võ sư bát đẳng Hiệp Khí Đạo (Hapkido) nên sức khỏe rất tốt luyện tập saxophone, clarinet. Với những nghệ sĩ saxophone tài danh tuyệt vời Sando Pharoah, Albert Ayler, Dexter Gordon, Charlie Parker, Dizzy Gillespie và Bud Powell… với tiếng kèn và phong cách trình diễn của họ đã mê hoặc niềm đam mê của anh…

    Trước đây, Đêm Tưởng Niệm & Vinh Danh cố Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn được tổ chức tại phòng sinh hoạt nhật báo Viễn Đông, TP Westminster, tối Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4, 2005. Sở dĩ Đêm Tưởng Niệm sau ngày giỗ một năm vì gia đình thực hiện tuyển tập nhạc Lê Trọng Nguyễn vừa xong.

    Ban nhạc The Star Band (Stars Band), với sự góp mặt của hai thế hệ như các nhạc sĩ: Nguyễn Hiền (accordeon), Trần Trịnh (Electric keyboard), Quang Anh (keyboard), Phạm Gia Cổn (saxophone, clarinet), Lý Văn Quý (lead guitar), Châu Hiệp (guitare), Nguyễn Đức Trịnh (drum), Bách Tùng Trịnh (trumpet), Deanna (trumpet), Tina Huỳnh (flute), Kim Chi (clarinet), Kim Ngân (trombone)… Nhạc sĩ Nguyễn Đức Lưu (violin nhưng về San Diego). Với sự góp mặt của các ca sĩ Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao…

    The Star Band rất hạn chế khi đóng góp trong các buổi sinh hoạt văn nghệ. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Trần Trịnh, Phạm Gia Cổn… là những người sáng lập ra ban nhạc nầy.

    Ngày 5/5/2005, tôi ra tờ Cali Weekly, tiếp xúc với các nhạc sĩ và viết về ban nhạc nầy. Thời gian đó BS Phạm Gia Cổn còn làm dạy ở UCLA nên cuối tuần mới gặp nhau ở Factory Coffee. Sau khi anh nghỉ hưu, mỗi sáng anh ra quán cà phê gặp anh em và “mở phòng mạch” để tán chuyện với những “bệnh nhân” thường trực “nhớ nhà châm điếu thuốc”…

    Trở lại với các nhạc phẩm do anh phổ thơ, chỉ có một số bạn bè thân mới biết anh thích thi ca. Khi tôi hỏi anh, “Với bạn bè thân đã nổi tiếng trong lãnh vực thi ca, sao không chọn bài thơ nào để phổ thơ?”. Anh trả lời rất tế nhị và khiêm tốn với ý là thơ hay và cảm hứng sáng tác tùy lúc, và cũng không thích phải núp vào cái bóng nào… Đúng là nghệ sỹ với tinh thần võ sĩ đạo, y sỹ tiền tuyến trong binh chủng Nhảy Dù.

    Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Hoàng Hạc Khí Công (2006-2016), anh Phạm Gia Cổn nói tôi viết bài cho đặc san kỷ niệm. Bài viết cho đặc san nầy: Từ “Ngàn Cánh Hạc” đến “Hoàng Hạc” (còn lưu trữ trên trang web https://www.dutule.com/a9062/vuong-trung-duong-ngan-canh-hac-tra-dao-tinh-duc).

    Ngàn Cánh Hạc là một trong ba tác phẩm của nhà văn Nhật Kawabata được giải thưởng Văn Chương Nobel năm 1968. Xứ Tuyết (Yukigun – Snow Country, 1937), Ngàn Cánh Hạc (Sembazuru – Thousand Cranes, 1949). Cố Đô (Kyoto – The Old Capital, 1962)…

    Với văn hóa Nhật Bản, xứ sở Phù Tang, chim hạc được coi là linh điểu, là biểu tượng của sự linh thiêng cao quý. Với phái nữ, chim hạc là biểu tượng sự thủy chung, hòa hợp với đạo nghĩa vợ chồng. Trang phục cưới kimono và nhiều đồ vật khác, với họa tiết hình chim hạc là hoa văn phổ biến và rất được ưa chuộng.

    Từ những mẩu chuyện theo truyền thuyết, với ý nghĩa tâm linh hạc giấy trong nghệ thuật xếp hình ori-gami, người Nhật tin rằng, nếu ai đó xếp đủ 1.000 con hạc giấy thì họ sẽ có một điều ước cho sự may mắn, an lành và hạnh phúc. Với biểu tượng cao đẹp đó, chim hạc được đề cập rất nhiều trong thơ văn, điêu khắc, hội họa, công trình kiến trúc, trên đồng Yen, hãng hàng không…

    Theo quan niệm Đông Phương từ ngàn xưa, hạc là chim tiên, người ta nói nó có khí phách và phong độ của bậc tiên nhân đạo sĩ. cuốn Tường Hạc Kinh gọi hạc là “thọ bất khả lượng” (sống lâu không thể tính được), cuốn Hoài Nam Tử nói “hạc thọ thiên tuế” (hạc sống nghìn năm). Cho nên đời sau thường dùng những từ như “hạc linh”, “hạc thọ”, “hạc toàn” để chúc trường thọ. Có người đã đặt tên mình là “hạc” để thể hiện ý muốn trường thọ, như “hạc thọ”, “hạc niên”, “hạc linh”… Cũng như vậy, hạc cũng được dùng để chúc thọ, phần nhiều là tranh chúc thọ, bình phong chúc thọ hoặc những tranh vẽ hoặc đồ chạm khắc khác. Tuổi già ngày nay được gọi là tuổi hạc…

    Bác Sĩ Võ Sư Phạm Gia Cổn lấy biểu tượng Hạc Vàng cho môn Thể Dục Khí Công  rất ý nghĩa.

    Trưa Thứ Sáu, ngày 9/12 BS Phạm Gia Cổn yên giấc nghìn thu tại Gateway Crematory ở TP Fullerton. Vĩnh biệt anh, vĩnh biệt!

    “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản” Thôi Hiệu (704-754). Văn hào Kawabata vĩnh biệt Ngàn Cánh Hạc năm 1972, đúng 50 năm sau Chưởng Môn Phạm Gia Cổn vĩnh biệt Hoàng Hạc TDKC.

    Little Saigon, December 03, 2022

    Vương Trùng Dương

  • Tin tức

    Uống cà phê để giảm nguy cơ các chứng bệnh Alzheimer, Parkinson và Đãng Trí Lewy Body ở tuổi già

    Phạm Hiếu Liêm, MD

    Trước đây vài năm, khảo cứu từ kho dữ liệu đã cho thấy người uống cà phê mỗi ngày có 30% cơ may sống thọ hơn những người không uống cà phê. Nguy cơ tử vong ở tuổi già thường là do bệnh tim mạch, các chứng ung thư và các bệnh đãng trí do suy thoái não bộ. 

    Trong óc người lớn tuổi, một vài loại protein trước đây được đào thải tự nhiên lại bị tích tụ do hư hỏng ở tuổi già. Ví dụ chất beta-amyloid precursor có thể bị hư do sản xuất quá nhiều trên trẻ em có hội chứng Down (Mongoloid, Trisomie-21), hay trên các nạn nhân Hậu Chấn Thương Sọ Não có di truyền Gen Apoe4, bệnh nhân Tiểu Đường loại 2 lớn tuổi vân vân….khiến precursor trở thành dimer và polymer rồi kết mãng (plaque) gây phản ứng viêm hư hại các tế bào não bộ kế bên. Các protein khác như ubiquitin và neurofibrin trong tế bào cũng thoái hóa thành Tau protein gây ra rối rắm cấu trúc trong tế bào não (neurofibrillary tangles) khiến não bộ mất hoạt động đúng cách. Mãng beta-amyloid và rối do Tau là hai sự bất thường trong óc có bệnh Alzheimer, chứng bệnh gây đa số (hơn 60%) trong các bệnh đãng trí trên người già.

    Một protein khác là alpha-synuclein khi suy thoái trên tuổi già lại trở thành thành Hình Thể Lewy (Lewy Body) khi tích tụ nhiều trong vùng basal ganglia của não làm hư hỏng các tế bào não chứa dopamine gây ra bệnh Parkinson, khi tích tụ nhiều ở thùy thái dương lại gây bệnh Đãng Trí  Lewy Body.

    May thay cho nhân loại, các khảo cứu trên mô hình thú vật, trên người và phân tích dữ liệu cho thấy uống cà phê mỗi ngày, nhất là từ hai tách (ly) trở lên làm giảm sự thoái hóa và tích tụ của các protein độc hại beta-amyloid, Tau và alpha-synuclein trong não bộ. Do đó cà phê có thể làm giảm nguy cơ của bệnh Alzheimer khoảng 30% và bệnh Parkinson cùng bệnh Đãng Trí Lewy Body khoảng 35%.

    Khảo cứu trên tế bào, mô và thú vật cho thấy cà phê rang sậm (dark roast) có nhiều công hiệu nhất và cà phê pha theo cách Espresso có thể là công hiệu hơn để ngăn chặn Tau protein. Y học và Dược khoa hiện nay chưa có cách nào để ngừa các chứng bệnh suy thoái não bộ người già kể trên với bằng chứng tốt hơn cà phê.

    Xin đừng nhầm lẫn cà phê với caffeine. Cà phê có hai ngàn hóa chất mà trong đó caffeine chỉ là một chất có khả năng kích thích nhịp tim và não bộ. Khả năng ngăn chặn sự phát huy của mãng beta-amyloid, rối fibril do Tau và ngăn ngừa Lewy Body đến từ các hóa chất khác sinh ra do rang hạt cà phê. Dữ liệu cho thấy uống cà phê decaf vẫn có công hiệu gần bằng cà phê có caffeine. Uống hai ly cho đến năm ly mỗi ngày là tốt nhất tùy sở thích cá nhân với mục đích muốn phòng ngừa và bảo vệ não bộ khi lớn tuổi.

    Cà phê có khả năng chống chứng Kháng Insulin ở tuổi trung niên và già nhiều hơn socola sẫm và trà, có lẽ vì vậy mà trà và sô-cô-la không có bằng chứng bảo vệ được sự suy thoái não bộ ở tuổi già như cà phê. 

    Phạm Hiếu Liêm, MD  

  • Tin tức

    NHỮNG GÌ CÒN LẠI

    Nhạc sĩ TUẤN KHANH

    Rằm tháng Giêng Mậu Tuất, tức ngày 2/3/2018 tại Sài Gòn, đám tang của nhạc sĩ, đại tá Nguyễn Văn Đông xuất hiện một cảnh tượng xúc động, khi lễ di quan diễn ra, nhiều người đàn ông mặc thường phục, không ai bảo ai, đã bất ngờ đưa tay lên chào theo kiểu nhà binh. Thấp thoáng trong những hàng khác, cũng có những cá nhân im lặng đưa tay chào, không cần hiệu lệnh. Hầu hết đó là những cựu thiếu sinh quân VNCH cùng trường với ông, và những người khác là cựu quân nhân đã chào tiễn biệt ngài đại tá Chánh Văn phòng của Tổng Tham mưu Phó quân lực Việt Nam Cộng Hòa về nơi an nghỉ cuối cùng. Hàng người đứng chào theo kiểu nhà binh trước đám tang của nhạc sĩ – đại tá Nguyễn Văn Đông. Nhưng có lẽ còn đặc biệt hơn với câu chuyện Việt Nam, khi mọi thứ về con người và hệ thống của chính quyền miền Nam bị săn lùng, giam giữ và hủy diệt nhiều năm, nhưng vẫn ẩn khuất đâu đó, rồi bất ngờ hiển lộ. Nhưng ngoài âm nhạc, vẫn còn đôi chuyện về đại tá Nguyễn Văn Đông chưa được nói hết. Bài viết này là những gì còn lại, chưa kể, sau cuộc tiễn đưa đó.Đọc tiểu sử cá nhân sau năm 1975, người ta chỉ biết ngắn gọn rằng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đi trại tù của Nhà nước Bắc Việt trong 10 năm, và sau đó không đi Mỹ theo diện H.O (Humanitarian Operation). Đó là một chiến dịch nhân đạo do tổng thống Mỹ Ronald Reagan bật đèn xanh nhằm giải thoát hàng trăm ngàn quân nhân cựu quân nhân VNCH bị đưa đi tù, dưới danh nghĩa cải tạo (Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program). Mọi thứ về đời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, lâu nay vẫn được mô tả thoáng qua, y như cách mà báo chí Nhà nước đưa tin ông mất. Ấy vậy mà vài ngày sau đám tang, nhiều tờ báo vẫn còn bị khiển trách vì đã có thái độ trân trọng thái quá với một “sĩ quan ngụy”. Năm 1975, ngay sau khi đại tá Nguyễn Văn Đông ra trình diện, dù được chính quyền quân quản tuyên bố là chỉ đi “học tập tư tưởng mới” trong vài tháng. Thế nhưng, sự thật sau đó là 10 năm dài tù đày ở trại Suối Máu, Biên Hòa. Cho đến sau năm 1980 thì đưa về Chí Hòa. Đại tá Nguyễn Văn Đông được trả về nhà vào năm 1985 để được chết ở nhà, theo chính sách khoan hồng của cách mạng. Bà Nguyệt Thu, vợ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông kể rằng khi chia tay ông 10 năm trước, bà vẫn còn nhớ hình dáng một người đàn ông gầy nhưng khỏe mạnh, để rồi khi nhận lại ông, thì lúc đó gần như chỉ là một cái xác, chỉ còn thoi thóp.Bà Nguyệt Thu, vợ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông kể lại rằng gia đình lúc đó chỉ còn đợi ngày để chôn ông, vì do ông mang quá nhiều căn bệnh cũng như thuốc men lại quá đắt đỏ và khan hiếm vào thời đó. Rồi nhiều năm sau, ông sống lại như một kỳ tích, khỏe mạnh. Hai người im lặng sống trong căn nhà nhỏ chỉ có đôi vợ chồng già, không con cái, không nhiều sinh hoạt với xã hội. Bà Nguyệt Thư nói rằng cho đến nhiều năm sau khi ông được thả về, bà vẫn còn khả năng sinh con nhưng ông không còn có thể. Vì vậy hai người đã chọn sống cô đơn cùng nhau đến ngày chung cuộc.Lời của bà kể như tiếng chuông chùa xa xăm về một nỗi đau không lời. Về với ông được 2 năm, thì bà bị chia cắt với đại tá bởi 10 năm tù không hề tòa án, cũng như không hề có lời giải thích. Khi được trả về nhà, thì ông đã như một phế nhân. Bà nói rằng không muốn sinh con vì ông quá yếu. Nhưng cũng có thể bà không muốn có một đứa con, bởi cuộc sống như ác mộng mà bà và ông trãi qua, nếu có đơm hoa kết trái thì chắc cũng không thể có được lúc tỏa hương.Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bị đưa đến trại Suối Máu ngay sau khi trình diện. Thực tế là trại này tên là trại Tân Hiệp, Biên Hòa, từng là nơi giam giữ các binh sĩ Bắc Việt chờ trao trả theo các thỏa ước. Tên Suối Máu là do các tù nhân sau năm 1975 gọi thành quen mặc dù bị quản giáo cấm. Bởi năm 1968, cuộc đột kích thất bại ở cứ điểm này, mà dân trong vùng mô tả máu dân thường và của hai bên Nam Bắc chảy như suối, từ đó mà thành tên.Trại Suối Máu giam giữ khoảng 5000 người, chia làm năm trại theo ký hiệu K. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ở K5.Chỉ một năm ở trại này, do điều kiện giam giữ và ăn uống khắc nghiệt, không chỉ đại tá Nguyễn Văn Đông mang bệnh, mà rất nhiều người cũng đổ ra đủ thứ bệnh từ nội khoa đến ngoại khoa. Mà thuốc thì chủ yếu là một loại dược phẩm dân tộc được bào chế ở miền bắc có tên là Xuyên Tâm Liên. Bệnh gì cũng uống một loại ấy.Nhà văn Hà Thúc Sinh, tác giả của tác phẩm Đại Học Máu, đã kể rằng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vì bị mang bệnh ghẻ nhầy nhụa kỳ lạ, khiến cả mảng lưng của ông lở loét. Đã vậy nhiều chứng bệnh khác như đau bao tử, thấp khớp, huyết áp… ập tới hành hạ ông liên tục nhiều năm. Vào lúc thập tử nhất sinh, anh em khiêng lên trạm xá được ít bữa thì y tá ở đó đuổi về. Lý do là ở bệnh xá không có thuốc điều trị, cũng như cho về thì khỏi mang trách nhiệm.Nhà văn Hà Thúc Sinh viết rằng mấy người bạn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông khiêng ông ra hố nước để tắm lại sau nhiều ngày nằm liệt, như một cách giúp duy nhất có thể. Nhưng do phải đi lao động nên mọi người chỉ kịp nhìn thấy ông Nguyễn Văn Đông nằm sấp trên mặt đất, chứ không còn đứng nổi, cố múc nước rồi nằm quơ quào cố tắm rửa một mình như vậy.Nói về sáng tác trong giai đoạn đó, đại tá Nguyễn Văn Đông đã cố giữ lại cảm hứng của mình trong những năm đầu bị tù, vì nghĩ rằng cùng lắm 2-3 năm gì đó sẽ ra. Nhưng rồi dần dần mọi thứ thui chột theo sức khỏe và niềm hy vọng. Ngay lúc bệnh đã nặng, nhưng phát hiện tù nhân Đỗ Văn Phúc là em họ của ca sĩ Duy Khánh cũng bị tù chung trại, ông đã vui đến mức sáng tác lại. Cảm mến giọng hát của người này mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông viết riêng một bài hát để tặng, có tựa đề là “Sài Gòn trong trái tim tôi”. Tác phẩm này, giờ chắc đã tuyệt bút, chỉ còn được nhắc lại với đôi ba câu với những ai từng nghe qua như “Sài Gòn tiếc nuối không thôi, Hà Nội héo hắt răng môi, cho nhớ thương vời vợi. Ôi, Sài gòn trong trái tim tôi…”Năm 1985, khi khiêng ông về nhà, bà Nguyệt Thu nói rằng không nghĩ ông sống qua được năm đó. Sự tuyệt vọng tràn ngập đến mức khi nhận được hồ sơ ghi danh đi chương trình H.O ngay trong nhóm đầu, ông đã từ chối vì muốn được chết trên quê hương mình. Bà cũng thuận theo ý ông. Ấy vậy mà với sự chăm sóc nhẫn nại và yêu thương của người vợ hiền, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã chậm chạp sống lại một lần nữa, cho đến ngày buộc phải chia tay trần thế. Buổi chia tay nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không có nhiều người khóc. Chỉ có những cánh tay đưa lên, im lặng chào đưa tiễn ông. Động tác rất quen thuộc khiến những người xa lạ nhau như gần lại. Có điều gì đó dâng lên trong suy nghĩ, đầy xúc động. Quả là có những triều đại nguy nga lộng lẫy, nhưng mọi thứ đã không còn. Nhưng cũng có những chế độ đã mất nhưng con người và tinh thần quốc gia thì còn sống mãi.

  • Tin tức

    Đ Ê M T H Á N H V Ô C Ù N G (S i l e n t N i g h t)

    Thủy Nguyễn

    Sáng tác Josef Mohr & Franz Xaver Gruber

    Ðêm Thánh vô cùng, giây phút tưng bừng

    Ðất với trời se chữ Ðồng

    Ðêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ

    Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa….!

    ….”Đêm Thánh vô cùng” hoặc “Đêm yên lặng” (tiếng Đức: “Stille Nacht”; tiếng Anh: “Silent Night”) là một trong những ca khúc Giáng sinh nổi tiếng, với phần lời gốc do linh mục Josef Mohr viết bằng tiếng Đức và phần giai điệu do nghệ sĩ organ Franz Xaver Gruber sáng tác năm 1818, cả hai đều là người Áo. Phiên bản đang được sử dụng rộng rãi ngày nay có đôi chút khác biệt với nguyên bản của Gruber. Ca khúc này đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào tháng 3 năm 2011.

    – Ca khúc được sáng tác hoàn tất vào ngày 25 tháng 12 năm 1818 và được trình diễn lần đầu tại Nhà thờ Thánh Nicôla (Nicola-Kirche) ở Obendorf thuộc nước Áo. Linh mục Mohr viết lời cho bài hát từ năm 1816, nhưng mãi đến đêm vọng Lễ Giáng Sinh năm 1818 mới tìm gặp nghệ sĩ Gruber để nhờ soạn phần giai điệu cũng như phần phối âm cho đàn ghita. Có lẽ linh mục Mohr muốn có một ca khúc Giáng Sinh mới dành cho Thánh lễ nửa đêm Giáng Sinh, nhưng đàn phong cầm của nhà thờ đã bị hỏng. Lúc đầu, Gruber không đồng ý với đề nghị của Mohr vì e rằng giáo dân đến dự lễ sẽ không thích loại âm nhạc được trình bày với đàn ghita, bởi lẽ lúc đó quy chế về nhạc cụ trình diễn thánh ca phải là phong cầm. Nhưng vì không còn sự lựa chọn nào khác, Gruber phải chấp nhận và bắt tay vào việc. Chỉ trong vài giờ đồng hồ, phần nhạc của ca khúc được hoàn tất. Lúc đầu, người dự lễ tỏ ra kinh ngạc khi nghe ca khúc được trình bày với đàn ghita, nhưng chẳng bao lâu mọi người bị mê hoặc bởi giai điệu ngọt ngào của bài hát.

    – Từ đầu thập niên 1900, Nhà thờ Thánh Nicôla bị lũ lụt tàn phá, thị trấn được dời lên một nơi an toàn hơn ở thượng nguồn dòng sông, một ngôi nhà thờ mới được xây dựng bên cạnh một chiếc cầu. Một nhà nguyện nhỏ gọi là Stille-Nacht-Gedächtniskapelle (Nhà nguyện Tưởng nhớ Ca khúc Đêm Yên Lặng) được dựng lên ngay tại địa điểm của ngôi nhà thờ cũ bị phá hủy, và ngôi nhà kế cận được biến thành nhà bảo tàng, quanh năm thu hút du khách đến từ khắp nơi trên thế giới, nhưng đông nhất vẫn là trong tháng 12.

    – Mặc dù bản gốc của ca khúc đã bị thất lạc, một bản viết tay của Mohr đã được tìm thấy vào năm 1995, các nhà nghiên cứu xác định nó thuộc vào khoảng năm 1820. Điều này cho thấy linh mục Mohr đã viết lời bài hát vào năm 1816 khi ông được phân công đến một nhà thờ hành hương ở Mariapfarr (Áo), và phần nhạc được sáng tác bởi Gruber vào năm 1818. Đây là bản cổ nhất, cũng là bản viết tay duy nhất của Mohr. Giai điệu được sáng tác bởi Gruber chịu ảnh hưởng của âm nhạc truyền thống tại các vùng nông thôn, phảng phất những nét đặc trưng của dân ca Áo.

    – Năm 1859, John Freeman Young (Giám mục Giáo phận Florida, Hoa Kỳ) cho ra đời bản dịch tiếng Anh của ca khúc, và nó trở thành bản được nhiều người biết đến nhất hiện nay. Nói chung, các phiên bản hiện nay có giai điệu được sử dụng thường là chậm, theo lối hát ru, có một chút khác biệt so với bản nguyên gốc của Gruber (đặc biệt là ở các dòng cuối cùng) có tiết tấu linh hoạt, gần như nhạc khiêu vũ. Ngày nay, lời và giai điệu ca khúc đã được đưa vào phạm vi công cộng của điều luật tác quyền.

    – Ca khúc vẫn thường được trình diễn không cần nhạc đệm theo lối a cappella. Mặc dù được sáng tác bởi hai tín hữu Công giáo, bài hát này cũng có một vị trí đặc biệt trong các nhà thờ thuộc Giáo hội Luther. Người ta tin rằng ca khúc Giáng Sinh này đã được dịch ra hơn 140 ngôn ngữ trên khắp thế giới, và là một trong những bài hát được yêu thích nhất mọi thời đại.Phần chuyển ngữ và đặt tựa tiếng Việt của nhạc sĩ Hùng Lân.

    – Ca khúc này cũng từng được hát cùng một lúc bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Đức trong ngày hưu chiến đêm Giáng sinh năm 1914 trong Chiến tranh thế giới thứ I, vì đây là một thánh ca mà các binh sĩ của cả hai bên của cuộc chiến đều biết.’/.

    Đ ê m T h á n h. V ô C ù n g

    Lời Việt Hùng. Lân

    Ðêm Thánh vô cùng, giây phút tưng bừng

    Ðất với trời se chữ Ðồng

    Ðêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ

    Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa

    Ơn châu báu không bờ bến

    Biết tìm kiếm của chi đền

    Ôi Chúa thiên đàng, cam nếm cơ hàn

    Nhấp chén phiền vương phong trần

    Than ôi Chúa thương người đến quên mình

    Bơ vơ chốn quê nhà lúc sinh thành

    Ai đang sống trong lạc thú

    Nhớ rằng Chúa đang đền bù

    Tinh tú trên trời, sông núi trên đời

    Với thánh thần mau kết lời

    Cao sao hóa công đã khéo an bài

    Sai con hiến thân để cứu nhân loại

    Hang chiên máng rêu tạm trú

    Bốn bề tuyết sương mịt mù…!

    THUY NGUYEN

  • Tin tức

    NAMASTE – I BOW TO THE DIVINE IN YOU

    Namaste – Tôi Cúi Đầu Trước Sự Thiêng Liêng Trong Bạn

    Những suy nghĩ dưới đây được người viết “góp nhặt cát đá” và đúc kết lại. Đây không phải là một suy nghĩ hay diễn giảng có tính cách tôn giáo mà là, theo người viết, một cách thể hiện “cái Tâm lành” sẳn có trong mỗi chúng ta. Thể hiện cái Tâm lành trên tức là chúng ta …đang đi trên con đường tự sám hối. Đã là một con người, ai không là người KHÔNG CÓ TỘI?

    Trời đất giao thoa đem giác ngộ

    Gió trăng hòa điệu xóa mê bờ

    Thơ Phương Hoa CĐ

    Namaste (/ ˈnɑːməsteɪ /, hay Devanagari: रमस तत, đây là biển hiện của một lời chào trong văn hóa Ấn Độ. Namasta thường được biểu hiện với một cái cúi nhẹ và hai bàn tay ấp vào nhau, hai lòng bàn tay chạm vào nhau và ngón tay hướng lên trên, ngón cái áp sát vào ngực và nhắm mắt lại. Cử chỉ này được gọi là Añjali Mudrā; tư thế đứng kết hợp nó là Pranamasana.

    Trong Ấn Độ giáo, nó có nghĩa là “Tôi cúi đầu trước sự thiêng liêng trong bạn“. Namasta cũng có thể được nói mà không có cử chỉ hay động tác nào, hoặc cử chỉ có thể được thực hiện bằng lời nói.

    Thuật ngữ namas được tìm thấy trong văn học Vệ Đà (Vedic). Namas-krita và các thuật ngữ liên quan xuất hiện trong kinh điển Rigveda của Ấn Độ giáo như trong Vivaha Sukta, theo nghĩa “thờ phượng, tôn thờ” (workship, adore). Đó là một biểu hiện của sự tôn kính, thờ phượng, tôn kính, một “sự tôn kính” và “chầu” trong văn học Vệ Đà và các văn bản hậu Vệ Đà như Mahabharata.

    Trong thời đại đương đại, “Namaḥ” có nghĩa là “cúi đầu’, ‘vâng lời”, “chào hỏi tôn kính” hoặc “chầu” và “te” có nghĩa là “với bạn”. Do đó, Namaste có nghĩa đen là “cúi chào bạn”.  Trong Ấn Độ giáo, nó cũng có một phần tâm linh phản ánh niềm tin rằng “thần thánh và linh hồn -divine and soul” cũng tương tự như là trong “bạn và tôi – you and me“, hay diễn nôm na và có hàm ý là: “Tôi cúi đầu trước sự thiêng liêng trong bạn”. Và nếu diễn giảng theo nhà thần học Oxhandler, đó là một thuật ngữ của Ấn Độ giáo có nghĩa là: ”sự linh thiêng trong tôi nhận ra sự thiêng liêng trong bạn – the sacred in me recognizes the sacred in you”.

    Trong văn hóa đương đại, Namaste có liên hệ chặt chẽ với yoga và gắn liền với yoga, trong đó một tôn hành giả có thể bắt đầu hoặc kết thúc một phiên với Namaste với một  cử chỉ giống như cầu nguyện đi kèm. Trong yoga phương Tây, Namaste thường có các ứng dụng tâm linh, một cách để nhận ra sự thiêng liêng trong tâm khảm (inner divinity) hoặc sự bình an (peace) bên trong của một người.

    Bạn có thể sử dụng Namaste để nói lời tạm biệt?

    Namaste có thể được sử dụng để nói “tạm biệt“. Điều này là bởi vì điều đó không có nghĩa là “xin chào” hay “tạm biệt“, mà là: ”Tôi cúi đầu trước sự thiêng liêng trong bạn”. Vì vậy, đó là một điều tôn trọng và tích cực để nói cả trong lời chào lẫn chia tay. Như khi nó được sử dụng như một lời chào, khi bạn nói Namaste khi chia tay, nghĩa là cùng với cử chỉ cúi đầu của bạn kèm theo.

    Namaste và đời sống

    Dưới đây là một vài cách giải thích về Namaste có thể ảnh hưởng và thay đổi tích cực cuộc sống của bạn.

    1. Đây là một nguyên tắc vàng (golden rule) khuyến khích chúng ta đối xử với người khác theo cách chúng ta muốn được đối xử. Nếu bạn thừa nhận sự đồng nhất của bản thân với Namaste, rõ ràng là bạn dễ dàng đối xử với mọi người bằng sự tôn trọng mà chính bản thân mong muốn.
    • Tất cả những gì tốt nhất và trang trọng nhất trong tôi đều chào đón tất cả những gì tốt nhất và trang trọng nhất trong bạn.  Như vậy, chúng ta thấy vui khi tập trung suy nghĩ vào những gì tốt nhất và trang trọng nhất trong nhau không?

    Thay vì chỉ phản ứng lại những gì tha nhân đang nói hay hành động có thể làm tổn thương bản thân hoặc gây ra phản ứng tiêu cực, bạn có thể tập trung vào một sự suy nghĩ tích cực hơn là: “Thay vì phản ứng lại, bạn có thể dừng lại và nhận thức rằng có lẽ người này đang sợ hãi hoặc đang bị một cảm xúc quá nặng”. Từ đó, phản ứng của bạn có thể thay đổi diễn tiến  của câu chuyện, và có thể làm dịu lại cảm xúc của người đối diện.

    • Nếu mỗi bản thân điều có cùng suy nghĩ: ”Tôi tôn vinh cả một vũ trụ trong bạn, tôi tôn vinh Tình yêu, Sự thật, Ánh sáng, và Bình an chất chứa trong bạn”. Khi bạn và tôi đều nói và nghĩ như vậy: Namaste đã ở trong bạn và tôi. Chúng ta là Một.

    Có một nơi thiêng liêng trong tất cả chúng ta, nơi tình yêu, sự thật, ánh sáng và bình yên ngự trị. Nếu chúng ta có thể tập trung vào những phần đó trong chính chúng ta và ở những người khác cùng một lúc, chúng ta đã thực sự hành xử trong cung cách Namaste.

    Thực hành Namaste

    Mỗi lần suy nghĩ về Namaste, bản thân đã thấy “ánh sáng trong tôi nhìn thấy ánh sáng trong bạn”. Bản thân nên tự hỏi điều gì sẽ thay đổi đối với mỗi chúng ta nếu chúng ta thực hiện hành vi Namaste thành một động tác áp dụng hàng ngày.

    Điều này có nghĩa là chúng ta có thể chọn xem sự thật của một ai đó bất kể họ đang hành động như thế nào…như vui, buồn, giận, tức! Chúng ta có thể thấy họ sống đầy đủ, nhà ở nguy nga tráng lệ, tình yêu dạt dào, phong phú, v.v.

    Nghĩ đến những điều trên, không có nghĩa là nếu một người đang làm điều gì đó khiến chúng ta không thích, chúng ta từ khước những hành vi hiện tại của họ. Mà, điều này chỉ có nghĩa là chúng ta được ở trong một không gian yêu thương ngự trị trong bản thân để nhìn thấy chân lý cao nhất, đẹp nhất ở người khác.

    Khi chúng ta đang phán xét người khác, chúng ta cũng đang nhận lại bản án đó. Như:

    • Sự phán xét mà chúng ta cảm thấy đối với người khác “đã” được cảm nhận trong bản thể chúng ta.
    • Nhưng khi chúng ta chọn nhìn thấy Chân lý cao nhất ở người khác, bất kể ngoại hình/ thói quen bên ngoài, chúng ta cũng “đã” chọn điều này cho chính mình.

    Điều tương tự cũng đúng khi chúng ta tự nhiên ngưỡng một sự thành đạt lớn ở người khác – những người cố vấn, anh hùng, bạn bè, gia đình của chúng ta, v.v. – nhưng có thể thấy “tự” bản thân mình không được như tha nhân. Nếu giảng giải theo Namaste, có nghĩa là “ánh sáng trong tôi nhìn thấy ánh sáng trong bạn”. Nó không có nghĩa là nói rằng ánh sáng yếu hơn của tôi nhìn thấy ánh sáng “sáng hơn” trong bạn. Mà là: ”Chúng ta có cùng một ánh sáng”.

    Vì vậy, khi chúng ta ngưỡng mộ những phẩm chất có trong người khác, chúng ta cũng thấy những gì cũng có trong chúng ta. Chúng ta đang cộng hưởng với nhau (resonance)

    Nhìn thấy sự “lớn mạnh” ở người khác một cách vô điều kiện cũng có nghĩa là tự thấy thấy sự “lớn mạnh” trong bản thân mình vô điều kiện.

    Tạm kết luận

    Từ đây, để tạm kết luận, có một tư thế thực sự cho thuật ngữ Namaste:

    • Để thực hiện Namaste, chúng ta đặt hai bàn tay vào nhau ở trung tâm trái tim, nhắm mắt và cúi đầu.
    • Nó cũng có thể được thực hiện bằng cách đặt hai bàn tay áp vào nhau trước mắt/trán, cúi đầu và sau đó đưa hai bàn tay xuống trái tim.

    Đây là một hình thức đặc biệt sâu sắc của sự tôn trọng. Từ đó, mọi người sẽ hiểu rằng chính cử chỉ đã thể hiện cho Namaste và do đó, không cần thiết phải nói gì cả…Và, trong khi cúi đầu, bạn đã nói hết lời và…tha nhân đã hiểu và sẽ cùng đáp lại. Chúng ta đã cùng thể hiệm một Tâm lành đối với nhau.

    Thực hành những cử chỉ trên trước tha nhân hay trước một đối tượng nào đó, và trong bất cứ tình huống nào, bạn luôn luôn cảm thấy trong Tâm có…Ánh sáng, Tình yêu, Sự thật và, Bình an. Như vậy là bạn đã hiểu và thấm nhuần Namaste rồi đó…

    Mai Thanh Truyết, July 2023