• RA MẮT SÁCH,  VĂN HỌC,  Viet-Hải

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM

    Trần Việt Hải

    Trong ngày Ra Mắt tác phẩm của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Văn Thi Sĩ Khánh Lan tổ chức tại Hội Trường Báo Người Việt ngày 20 tháng 9, 2026. Hai văn thi sĩ đã trình làng 3 tác phẩm mà tôi cho là có giá trị trong lãnh vực văn học. Đó là Tuyển Tập Thi Ca Quê Hương Còn Đó của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và 3 tác phẩm của Văn Thi Sĩ Khánh Lan, gồm Siêu Hình Học, Triết Lý Hiện Sinh và Những Đứa Trẻ Lạc Loài (song ngữ Anh & Việt).

    Ba diễn giả được mời trong buổi ra mắt sách là: Giáo Sư Quyên Di, Nhà Văn, Nhà Báo Phạm Quốc Bảo và Thi Sĩ Minh Đức. Cả 3 bài diễn văn đều đem lại những chi tiết quan trọng mà tôi thiết tưởng cần được lưu trữ lại trong kho tàng văn học của chúng ta. Dưới đây là những nhận xét của tôi về 3 tác phẩm ấy cũng như nội dung của 3 bài diễn văn này.

    1. BÀI DIỄN VĂN THỨ NHẤT CỦA THI SĨ MINH ĐỨC

    Nhà văn Minh Đức đảm nhiệm nói về thi tập mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh là Quê Hương Còn Đó, diễn giả đi khái lược về yếu tố Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức nên rất khó quên. Hãy nhận định từ ngữ về vai trò của quê hương qua ba yếu tố sau:

    • Quê hương là mảnh đất chúng ta sinh ra, lớn lên, trau đồi bản thân và mang trong mình nhiều ước mơ, khát vọng để giúp đời, giúp người. Mỗi quê hương có nền văn hóa riêng, giao thoa độc đáo của văn hóa từng vùng miền, đóng góp vào đa dạng nền văn hóa của dân tộc. Quê hương là nơi con người trở về sau những khó khăn, mang lại cảm giác thanh thản và yên bình.
    • Quê hương không chỉ là nơi chúng ta lớn lên, mà còn là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận được sự thanh thản, yên bình bởi không khí quen thuộc và con người chân chất tại quê hương. Mỗi quê hương mang một bản sắc riêng, nuôi dưỡng tâm hồn con người với sự đa dạng phong phú. Mỗi quê hương cũng có một nền văn hóa riêng. Khi ta trưởng thành, ta mang theo nét đặc trưng của quê hương đi nơi khác, sẽ có sự giao thoa độc đáo giữa các nền văn hóa từng vùng miền, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.

    Sự nhớ nhung, suy tưởng miên viễn về quê xưa, ấy là một tình yêu quê hương. Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên và để trở về. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều. Hãy xem thơ ca Dương Hồng Anh:

    Tháng Tư nhớ quê hương

    Mặt trời đi vắng hôm nay

    Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương

    Năm mươi năm mấy đoạn trường

    Mỗi người có một quê hương riêng, và mỗi quê hương có một bản sắc khác nhau, nuôi dưỡng những tâm hồn con người đa dạng và phong phú. Tình yêu quê hương không phải là tình cảm trừu tượng, nó được biểu hiện rất cụ thể và rõ nét. Thật vậy, quê hương trong miền ký ức của mỗi người có luôn là những gì đơn giản đơn, mộc mạc nhưng cũng đầy thiêng liêng và đẹp đẽ. Tình yêu quê hương không ngọt ngào, trong trẻo tong nét nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng vẫn khiến con người ta phải dâng lên những niềm xúc cảm khôn nguôi, khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người.

    Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ sau dây về quê cũ của người. Xem bài:

    Mơ Về Hà Nội

    Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

    Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

    Cho thơ nở giữa vườn thơ

    Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

    Hướng về cố lý xa xăm

    Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ

    Tơ đàn xao xuyến hồn thơ

    Tình yêu quê hương, đất nước luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người, trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy văn học dân tộc, theo ý nghĩa sâu sắc và thiêng liêng. Quê hương là nơi mỗi con người cất tiếng khóc chào đời, là miền đất đầu tiên nâng bước ta trên hành trình làm người. Trong dòng chảy không ngừng của cuộc sống hiện đại, con người có thể đi rất xa, sống ở nhiều vùng đất khác nhau, nhưng quê hương vẫn luôn hiện diện như một phần máu thịt, âm thầm chi phối suy nghĩ, tình cảm và cách sống của mỗi người. Bởi vậy, vai trò của quê hương đối với cuộc đời con người là vô cùng sâu sắc và bền vững. Tình yêu quê hương không chỉ là nỗi nhớ thầm lặng mà còn là động lực thúc đẩy con người sống có ích. Ý thức về nguồn cội khiến mỗi người biết trân trọng những gì mình đang có và mong muốn đóng góp cho cộng đồng nơi mình sinh ra.

    Trong phần phát biểu nữ sĩ Dương Hồng Anh đã đọc bài thơ mới sáng tác, bà cũng nhờ nhà thơ Khánh Lan ngâm giọng Tao Đàn, bài thơ nhu sau:

    Nhớ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

    Chung vui những buổi chiều tà

    Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

    Nắng vàng sưởi ấm thành đô

    Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Thư trang vẫn nở những vần thơ say

    Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

    Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

    Hồng Anh, Tháng 9, 2026.

    Bài thơ “Nhớ” của tác giả Hồng Anh (sáng tác tháng 9/2026) là một khúc thi ca nhẹ nhàng, đong đầy cảm xúc hoài niệm, biểu hiện tình cảm sâu sắc gắn liền với nguồn cảm hứng sáng tác văn chương. Dưới đây là phân tích và cảm nhận chi tiết về thi phẩm:

    CHỦ ĐỀ ĐƯỢC NÊU RÕ VÀ NGUỒN CẢM HỨNG SÁNG TÁC

    Mạch nối cảm xúc xuyên suốt, bài thi phẩm được mở đầu với một điệp khúc quen thuộc “Mỗi lần cầm bút viết văn”, lặp lại ở đầu mỗi khổ thơ như một nhịp đập thổn thức của trái tim người nghệ sĩ. Đối với tác giả, khoảnh khắc cầm bút không chỉ là lúc lao động nghệ thuật mà còn là cánh cửa mở ra không gian của ký ức và hoài niệm.

    Nhắc về đối tượng là nỗi nhớ khôn nguôi. Nỗi nhớ trong bài thơ mang tính đa chiều, bao trùm cả tình bạn thắm thiết (“bạn gần bạn xa”), tình yêu quê hương đất nước, hình ảnh Thủ đô Hà Nội nên thơ, và cả những nỗi lòng xao xuyến, bâng khuâng rất riêng tư trong tâm hồn của bà.

    Đi xa hơn khi phân tích chi tiết từng khổ thơ như:

    • Khổ 1: Nỗi nhớ bạn bè và tình cảm tri kỷ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Là tôi lại nhớ bạn gần bạn xa

    Chung vui những buổi chiều tà

    Họa thơ nhạc nở đàn ca tuyệt vời.

    Không gian và thời gian: Thời điểm “chiều tà” thường là lúc con người dễ chùng xuống và hoài niệm nhất.

    Nội dung: Tác giả nhớ về những người bạn khắp muôn phương, những buổi tụ họp ấm cúng bên thi ca, âm nhạc. Nghệ thuật đối lập nhẹ nhàng giữa “bạn gần” và “bạn xa” kết hợp với các từ ngữ gợi âm thanh, hình ảnh (họa thơ, nhạc nở, đàn ca) tạo nên một bức tranh kỷ niệm rộn ràng, giàu tính nghệ thuật và sự gắn kết tâm hồn.

    • Về Khổ 2 là Nỗi nhớ Hà Nội và vẻ đẹp non sông

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Nhớ em Hà Nội – nhớ trăng Tây Hồ

    Nắng vàng sưởi ấm thành đô

    Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa.

    Không gian địa lý: Từ tình bạn, mạch thơ dịch chuyển về không gian đậm chất trữ tình của Hà Nội với trăng Tây Hồ, thành đô ngập tràn nắng vàng, và biểu tượng thiêng liêng Hồ Gươm xưa. Hình ảnh thơ: Hình ảnh “Nghiêng vành nón lá, ngắm Hồ Gươm xưa” mang đậm hồn Việt, vừa duyên dáng, hoài cổ vừa gợi lên sự gắn bó thiết tha giữa con người với mảnh đất nghìn năm văn hiến.

    • Và Khổ 3 là Sự thăng hoa của cảm xúc và nỗi lòng lữ thứ

    Mỗi lần cầm bút viết văn

    Thư trang vẫn nở những vần thơ say

    Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ ai

    Bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư.

    Ý nghĩa: Trang giấy trắng lúc này không chỉ ghi lại con chữ mà như “nở” ra những vần thơ say đắm. Trạng thái “bâng khuâng gối mộng, trải dài tâm tư” khép lại bài thơ bằng một dư âm lắng đọng, cho thấy tâm hồn nhạy cảm, giàu tình yêu thương của người cầm bút.

    XÉT VỀ YẾU TỐ TRÊN CĂN BẢN THI CA NGHỆ THUẬT

    Theo thể thơ Thất Ngôn, bảy chữ với nhịp điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, dễ đi vào lòng người, tâm cảm dễ nhớ.

    Bài thơ “Nhớ” là sự hòa quyện tuyệt vời giữa tình yêu văn chương và tình cảm con người. Qua những vần thơ mộc mạc nhưng chân thành, Hồng Anh đã thành công trong việc vẽ nên một bức tranh tâm hồn rộng mở, nơi ký ức về tình bạn, về Hà Nội và những rung động sâu kín được thăng hoa trọn vẹn qua ngòi bút.

    Phần thu hút sự suy nghĩ của tôi là bài thi ca sau cùng, Hoàng Hôn Nhớ Mẹ. Trong bài thơ mà nhà văn Minh Đức bình luận về Hoàng Hôn Nhớ Mẹ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, thì ông cho rằng tình thương của Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời, nơi ta chôn nhau cắt rún. Mẹ là tiếng nói quê hương, và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương…

    Hoàng Hôn Nhớ Mẹ

    Hè về cho trái chín cây

    Cho hoa vàng nở nhớ ngày xa xưa

    Trời trong gió mát hương đưa

    Vẳng nghe tiếng hát ban trưa êm đềm

    Nắng soi tà áo vai mềm

    Ai đi hong nắng, nón nghiêng mây trời

    Nhớ xưa dáng mẹ tuyệt vời

    Hạ vàng gợi nhớ những lời mẹ ru

    Ca dao lời ngọt thiên thu

    À ơi! tiếng mẹ hát ru năm nào

    À ơi! tiếng hát ngọt ngào

    Trôi theo ngày tháng quyện vào giấc mơ

    Mây Tần xao xuyến hồn thơ

    Hoàng hôn nhớ mẹ – ngẩn ngơ dáng chiều.

    Những vần thơ trong bài “Hoàng Hôn Nhớ Mẹ” trên, thì cùng câu nói đầy xúc động “Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời; Mẹ là tiếng nói quê hương, Và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương…” đã chạm đến những góc sâu kín và thiêng liêng nhất trong tâm hồn mỗi con người. Đó không chỉ là sự tưởng nhớ đấng sinh thành, mà còn là sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa tình mẫu tử và hồn thiêng sông núi.

    Mẹ là quê hương và bến đỗ bình yên của cội nguồn, là nơi chôn rau cắt rún. Quê hương còn dó không chỉ là khoảng không gian địa lý với những lũy tre làng, cánh đồng lúa hay con đê nhỏ, mà quê hương hóa thân trọn vẹn trong hình bóng của Mẹ. Mẹ chính là nhân chứng đầu tiên của cuộc đời ta, là bến bờ đầu tiên ta chạm tới khi cất tiếng khóc chào đời.

    Quê hương còn dó là không gian che chở cho ta, dù ta có đi đến phương trời nào, chỉ cần nghĩ về Mẹ là nghĩ về sự an yên tuyệt đối. Mẹ là gốc rễ, là nơi chốn dung dưỡng tâm hồn ta lớn khôn. Quê hương còn đó là tiếng nói và ngôn ngữ yêu thương của lòng mẹ

    • Lời ru nghìn năm: Như bài thơ đã hoài niệm qua câu “Ca dao lời ngọt thiên thu. À ơi! tiếng mẹ hát ru năm nào”, tiếng mẹ ru chính là tiếng nói đầu tiên dạy ta cảm nhận thế giới. Đó không chỉ là âm thanh, mà là thứ ngôn ngữ thuần khiết nhất của tình yêu thương, vượt qua mọi rào cản thời gian và không gian.
    • Ngôn ngữ không lời, do tình yêu của mẹ đôi khi không nằm ở lời hoa mỹ, mà hiện hữu qua “tà áo vai mềm”, qua “nón nghiêng mây trời”, qua giọt mồ hôi nhọc nhằn và sự hy sinh thầm lặng suốt năm tháng cuộc đời.

    Quê hương còn đó cho ta: Nỗi nhớ hoàng hôn và nỗi niềm khắc khoải qua những Khoảnh khắc giao mùa và lòng người, bài thơ trưng dẫn đã mở ra bằng khung cảnh mùa hè rực rỡ “trái chín cây”, “hoa vàng nở”, nhưng rồi tất cả lại lặng lẽ khép lại trong ánh chiều tà “Hoàng hôn nhớ mẹ – ngẩn ngơ dáng chiều”. Hoàng hôn là thời điểm lòng người dễ chùng xuống nhất. Khi ánh nắng ngày tàn buông xuống, nỗi cô đơn và niềm khao khát được trở về bên mẹ lại trào dâng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

    • Sự bất tử của tình mẫu tử: Thời gian có thể cuốn trôi mọi thứ, khiến tuổi xuân của mẹ phai tàn theo năm tháng, nhưng hình bóng tuyệt vời của mẹ và những khúc ca dao ngọt ngào ấy vẫn mãi “quyện vào giấc mơ”, trở thành hành trang tinh thần theo ta suốt cuộc đời.

    Tóm lại, tình thương của Mẹ là bản giao hưởng đẹp đẻ nhất của cuộc đời, nơi dung chứa cả sự bao dung, hy sinh và nguồn cội. Dù mai này có đi đâu xa, mỗi chúng ta vẫn luôn tìm thấy đường về nhà, bởi vì trong trái tim ta – Mẹ mãi mãi là quê hương.

    Những vẫn thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh cảm ác thực sự chạm đến sâu thẳm tâm can của bất kỳ ai từng có mẹ, từng lớn lên từ nôi quê nghèo khó mà đong đầy nghĩa tình. Sự hòa quyện giữa hình ảnh “Mẹ” và “Quê hương” không chỉ là một nghệ thuật ẩn dụ quen thuộc trong văn học Việt Nam, mà nó còn là một thứ đạo lý tâm linh, một cội nguồn thiêng liêng nhất của mỗi con người.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh & Văn Thi Sĩ Khánh Lan

    Thi ca Dương Hồng Anh vốn sâu sắc về bức tranh tuyệt đẹp như miêu tả bên trên:

    Mẹ là cội nguồn sinh dưỡng và là tiếng nói yêu thương, bởi Mẹ là quê hương, nơi ta sinh ra đời / Mẹ là tiếng nói quê hương, / Và Mẹ là ngôn ngữ yêu thương,… Quê hương và Mẹ vốn là hai khái niệm hòa quyện vào nhau. 

    Mẹ là linh hồn của quê hương. Một khi thiếu vắng mẹ, quê hương dẫu có đầy đủ cũng hóa thành hoang lạnh, xa xôi. Có mẹ, có quê hương mới thực sự là “nơi chốn chôn rau cắt rún”, là nơi bình yên nhất để mỗi khi bão giông cuộc đời vây quanh, xô đẩy, những người con tha phương lại khao khát được quay về.

    Quê hương còn đó nêu lên sự thể khi cuộc đời dẫu có “nổi trôi” bao nhiêu dặm trường, con người ta có thể già đi, đến tóc bạc da mồi, nhưng hình bóng của Mẹ và quê hương vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn. Đọc những vần thơ Dương Hồng Anh để cho ta thấu hiểu nhiều thêm, thêm xót xa và biết thêm ơn nghĩa vô ngần trước công ơn sinh thành, dưỡng dục lớn lao như trời biển của Mẹ.

    1. BÀI DIỄN VĂN THỨ HAI CỦA GIÁO SƯ QUYÊN DI

    QUYÊN DI (Đăng nguyên bài)

    GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHÀ VĂN KHÁNH LAN

    Trước hết, cho phép tôi được nói đôi lời chân thật về chính mình.

    Khi còn là học sinh lớp Đệ Nhất và rồi sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có may mắn được học Triết Tây với những vị giáo sư mà tên tuổi đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống trí thức miền Nam: Linh mục Trần Văn Hiến Minh, Linh mục Trần Đức Huynh, Linh mục Lê Tôn Nghiêm, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Trần Bích Lan… Tôi cũng được học Triết Đông với cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Linh mục triết gia Kim Định và một số vị thầy đáng kính khác.

    Những năm tháng ấy, tôi cảm thấy mình giống như con chim chích bay vào một khu rừng mênh mông. Trước mắt tôi là biết bao kỳ hoa dị thảo của tư tưởng nhân loại: Socrates, Plato, Aristotle, Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Thánh Augustine, Descartes, Kant, Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger, Sartre, Camus, François Sagan… Tôi ngắm nhìn, say mê, thưởng thức và cố gắng tìm hiểu. Nhưng thú thật, càng đi sâu vào khu rừng triết học, tôi càng nhận ra sự mênh mông của nó. Tôi đã nhìn thấy nhiều con đường, nhưng không phải lúc nào cũng biết con đường nào sẽ đưa mình ra khỏi khu rừng ấy.

    Bây giờ tuổi đã cao, khi đọc hai công trình biên khảo của nhà văn Khánh Lan, một công trình về triết học hiện sinh và một công trình về siêu hình học, tôi lại có dịp trở về với những câu hỏi mà thời sinh viên từng làm tôi say mê, bối rối và nhiều khi hoang mang. Điều đáng mừng là lần này, tôi không còn đọc với tâm thế của một sinh viên đang cố ghi nhớ những khái niệm khó khăn, mà đọc như một người đã đi qua nhiều năm tháng của cuộc đời, từng chứng kiến những đổi thay của con người, xã hội và thời đại.

    Và thật bất ngờ, qua cách trình bày của Khánh Lan, tôi nhận ra một số điều tưởng đã quen thuộc nhưng trước đây chưa chắc mình đã nhìn thấy đầy đủ. Có những khái niệm từng nằm yên trong sách vở, nay bỗng liên hệ với đời sống. Có những câu hỏi triết học tưởng như xa xôi, nay lại trở thành những câu hỏi rất gần gũi: Tôi là ai? Tôi đang sống như thế nào? Tôi có thật sự tự do không? Tôi có trách nhiệm ra sao về những lựa chọn của mình? Thực tại là gì? Con người có thể hiểu được thế giới đến đâu? Và cuộc đời có ý nghĩa gì trước cái chết?

    Đó cũng là lý do tôi rất vui hôm nay được giới thiệu cùng quý vị hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan.

    Tác phẩm thứ nhất là Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng. Tác phẩm thứ hai là Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình. Hai cuốn sách có thể được đọc riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một cuộc đối thoại khá tự nhiên. Nếu siêu hình học đặt ra những câu hỏi căn bản về tồn tại, thực tại, con người và thế giới, thì triết học hiện sinh đưa những câu hỏi ấy trở lại với đời sống cụ thể của từng cá nhân.

    Nói một cách giản dị, siêu hình học thường hỏi: Cái gì là thực tại? Tồn tại có nghĩa là gì? Con người là gì? Thế giới được cấu tạo như thế nào? Còn triết học hiện sinh hỏi thêm: Con người đang sống thế nào trong thế giới ấy? Con người có quyền lựa chọn hay không? Tự do đem lại hạnh phúc hay lo âu? Chúng ta phải có trách nhiệm thế nào về đời sống của mình?

    Trong Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Khánh Lan bắt đầu từ lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, từ những tiền đề xa xưa trong tư tưởng Socrates, Montaigne, Pascal, rồi đi đến Kierkegaard và Nietzsche, những người thường được xem là đã đặt nền tảng quan trọng cho tư tưởng hiện sinh. Từ đó, tác giả trình bày sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỷ XX qua những tên tuổi như Husserl, Heidegger, Sartre, Camus và nhiều nhà tư tưởng khác.

    Một ưu điểm dễ nhận thấy của cuốn sách là Khánh Lan không xem chủ nghĩa hiện sinh chỉ như một hệ thống lý thuyết khép kín. Cô cố gắng cho người đọc thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh nảy sinh từ những khủng hoảng rất thật của con người: nỗi cô đơn, sự lo âu, cảm giác phi lý, sự sợ hãi trước cái chết, sự mất phương hướng, nhu cầu được sống chân thật và khát vọng tự quyết định đời mình.

    Khi trình bày quan niệm của Sartre rằng sự hiện hữu có trước bản chất, tác giả giúp người đọc hiểu rằng con người không phải là một vật thể đã được định nghĩa hoàn toàn từ trước. Con người được hình thành qua những lựa chọn, những hành động và trách nhiệm của chính mình. Tự do trong triết học hiện sinh vì thế không phải là một món quà dễ chấp nhận. Tự do cũng là một gánh nặng, bởi khi được tự do lựa chọn, con người không thể hoàn toàn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho xã hội hay cho người khác.

    Đây là một điểm rất đáng quý trong cách Khánh Lan tiến đến với chủ nghĩa hiện sinh. Cô không chỉ nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân, mà còn gắn tự do với trách nhiệm. Con người được tự do, nhưng không được sống một cách tuỳ tiện. Con người có quyền chọn lựa, nhưng mỗi lựa chọn đều tạo nên một phần con người mình và ảnh hưởng đến những người chung quanh.

    Khánh Lan cũng dành sự quan tâm thích đáng đến sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật. Qua văn chương, những khái niệm như phi lý, hư vô, cô đơn, tự do, tuyệt vọng hay tính chân thực không còn là những thuật ngữ khô khan. Chúng trở thành những nhân vật, những số phận, những cuộc đối thoại, những bi kịch nội tâm và những lựa chọn đau đớn của con người.

    Văn học giúp cho triết học có một gương mặt cụ thể. Một ý niệm trừu tượng có thể trở nên dễ hiểu hơn khi nó được thể hiện qua một nhân vật đang yêu, đang đau khổ, đang sợ hãi, đang phản kháng hoặc đang phải quyết định giữa hai con đường. Qua cách trình bày này, Khánh Lan cho thấy văn chương không chỉ minh hoạ cho triết học. Văn chương còn là một hình thức suy tư bằng hình tượng, bằng cảm xúc và bằng đời sống.

    Nhân đề cập đến triết học hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn chương, tôi nghĩ nên nhắc đến Françoise Sagan, một nhà văn nữ người Pháp đã để lại dấu ấn đặc biệt đối với thế hệ chúng tôi. Sagan không viết những khảo luận triết học, cũng không trình bày chủ nghĩa hiện sinh bằng những hệ thống khái niệm phức tạp. Bà đưa cảm thức hiện sinh vào những điều rất gần gũi: tuổi trẻ, tình yêu, gia đình, sự buồn chán, khát vọng tự do và những lựa chọn riêng tư của con người.

    Qua Bonjour tristesse, người đọc gặp một thế giới tưởng như nhẹ nhàng, thanh lịch và phóng túng, nhưng bên dưới bề mặt ấy là những câu hỏi nghiêm chỉnh về tự do, trách nhiệm và hậu quả của hành động. Nhân vật của Sagan muốn sống theo ý mình, nhưng càng tìm cách thoát khỏi những ràng buộc đạo đức, họ càng phải đối diện với sự bất an và mặc cảm. Ở đó, chủ nghĩa hiện sinh không hiện ra như một bài học lý thuyết, mà như một kinh nghiệm sống.

    Sagan đã làm cho nhiều người trẻ nhận ra rằng tự do không chỉ là được làm điều mình muốn. Tự do còn là phải sống với kết quả của điều mình đã chọn. Có lẽ vì thế, văn chương của bà đã ảnh hưởng rộng rãi đến thế hệ chúng tôi. Sagan nói bằng một giọng văn nhẹ, lạnh, đôi khi tưởng như dửng dưng, nhưng phía sau sự nhẹ nhàng ấy là một cái nhìn khá sâu sắc về sự cô đơn và trách nhiệm của con người hiện đại.

    Nếu Sartre đem chủ nghĩa hiện sinh vào triết học, Camus đem nó đến với cảm thức phi lý, thì Françoise Sagan đưa nó vào đời sống tình cảm và tâm lý của tuổi trẻ. Bà chứng minh rằng những câu hỏi triết học lớn đôi khi không xuất hiện trong giảng đường, mà xuất hiện trong một mái nhà, một cuộc tình, một sự phản bội, một nỗi buồn hay một quyết định tưởng như rất riêng tư.

    Trở lại Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng, một điểm khác cũng đáng ghi nhận là tác giả không né tránh những chỉ trích đối với chủ nghĩa hiện sinh. Bên cạnh việc trình bày những đóng góp của dòng tư tưởng này, cô cũng nhắc đến những quan điểm cho rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thái độ bi quan hoặc sự khinh miệt lý trí. Việc dành chỗ cho những ý kiến ngược chiều giúp tác phẩm có thêm chiều rộng, bởi tư tưởng chỉ thật sự sống động khi nó được đặt trong đối thoại và tranh luận.

    Phần Khánh Lan viết về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh cũng mở ra một hướng suy nghĩ đáng chú ý. Tôn giáo ở đây không chỉ được nhìn như một hệ thống điều răn từ bên ngoài, mà còn như một kinh nghiệm nội tâm, một cuộc gặp gỡ giữa con người với ý nghĩa tối hậu của đời sống. Câu hỏi về Thiên Chúa, đức tin, tự do và trách nhiệm được đặt trong mối quan hệ với một con người đang hiện hữu, đang chọn lựa và đang chịu trách nhiệm về chính mình.

    Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu về quyển sách thứ hai của Khánh Lan. Nếu cuốn sách về triết học hiện sinh giúp người đọc nhìn sâu vào đời sống của cá nhân, thì Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình lại đưa chúng ta trở về với những câu hỏi rộng lớn hơn về thực tại và tồn tại.

    Trong phần mở đầu, Khánh Lan khởi đi từ những câu hỏi tưởng như rất đơn giản nhưng không dễ trả lời: Thế giới mà chúng ta đang sống thực sự là gì? Con người hiện hữu trong thế giới ấy với tư cách nào? Thực tại có tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta hay không? Có điều gì còn tiếp diễn sau cái chết?

    Đó là những câu hỏi mà triết học đã theo đuổi từ thời cổ đại cho đến hiện nay. Và trong thời đại của AI – trí tuệ nhân tạo, thực tại ảo, những mô hình mô phỏng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, những câu hỏi ấy lại càng trở nên cấp thiết. Ranh giới giữa cái thật và cái dường như thật, giữa con người và máy móc, giữa ý thức và vật chất, giữa đời sống thực và đời sống ảo ngày càng trở nên phức tạp.

    Khánh Lan có công trong việc trình bày siêu hình học như một lãnh vực không phải chỉ dành cho những triết gia chuyên nghiệp. Siêu hình học hiện diện ngay trong những điều chúng ta tin tưởng, trong cách chúng ta hiểu về con người, tự do, đạo đức, trách nhiệm, sự sống và cái chết. Mỗi người, dù có ý thức hay không, đều mang trong mình một quan niệm nào đó về thế giới. Quan niệm ấy âm thầm ảnh hưởng đến cách ta lựa chọn, hành động và đánh giá đúng sai.

    Cuốn sách lần lượt giới thiệu siêu hình học cơ bản, lịch sử phát triển của siêu hình học từ thời cổ đại đến hiện đại, những khái niệm như tồn tại, hiện hữu, thực tại, bản chất, nguyên nhân và tự do. Tác giả cũng cố gắng đưa siêu hình học đến gần hơn với những lãnh vực cụ thể như khoa học pháp lý, văn học, đời sống, Phật học, đạo đức học và tâm lý học.

    Đây là điểm đáng khen của công trình biên khảo. Khánh Lan không để siêu hình học đứng yên trong thế giới của những khái niệm trừu tượng. Cô tìm cách cho thấy những nền tảng siêu hình học có thể ảnh hưởng đến cách một xã hội xây dựng luật pháp, cách con người hình thành quan niệm đạo đức, cách chúng ta nhìn về tâm trí, thân thể, ý thức và bản chất con người.

    Đặc biệt, phần nối kết giữa siêu hình học và văn học có nhiều ý nghĩa đối với người đọc yêu văn chương. Triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lập luận. Văn học lại cho phép chúng ta đi vào những vấn đề ấy qua nhân vật, câu chuyện, hình tượng và cảm xúc. Một tác phẩm văn học lớn thường không cần trực tiếp giảng giải về bản thể, nhưng vẫn có thể khiến người đọc tự hỏi mình là ai, vì sao mình đau khổ, thế nào là một đời sống có ý nghĩa và con người phải sống ra sao trước giới hạn của thời gian.

    Việc Khánh Lan đặt Phật học vào cuộc đối thoại với siêu hình học phương Tây cũng cho thấy một nỗ lực mở rộng tầm nhìn. Phật học không chỉ được trình bày như một hệ thống tín ngưỡng, mà còn như một con đường nhận thức và chuyển hoá nội tâm. Ở đó, hiểu biết không tách rời đời sống; tư tưởng không tách rời sự tu dưỡng; nhận thức không chỉ nhằm giải thích thế giới mà còn nhằm làm vơi bớt khổ đau.

    Chương viết về đạo đức và luân lý tiếp tục làm rõ một mối quan hệ quan trọng: cách chúng ta hiểu về thực tại và con người sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta sống. Nếu xem con người là một hữu thể có tự do, quan niệm của chúng ta về trách nhiệm sẽ khác. Nếu xem con người chỉ như một bộ máy bị chi phối hoàn toàn bởi vật chất và hoàn cảnh, quan niệm của chúng ta về đạo đức cũng sẽ khác.

    Phần viết về tồn tại và thời gian, về cái chết như một điều kiện làm cho đời sống có ý nghĩa, cũng đem lại nhiều suy nghĩ. Chính vì đời người hữu hạn, mỗi khoảnh khắc mới trở nên quý giá. Chính vì con người biết mình sẽ chết, con người mới phải tự hỏi mình đã sống thế nào và còn muốn làm gì trong phần đời còn lại.

    Ở cuối sách, khi trở về với Socrates, Plato và Aristotle, Khánh Lan như muốn nhắc người đọc rằng mọi cuộc hành trình triết học, dù đi qua bao nhiêu thế kỷ, cuối cùng vẫn trở về với những câu hỏi căn bản của con người: thế nào là chân lý, thế nào là đời sống tốt đẹp, thế nào là công bằng và con người phải sống ra sao trong cộng đồng.

    Tôi không nghĩ Khánh Lan viết hai cuốn sách này để đưa ra những câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề lớn của triết học. Chính tác giả cũng ý thức rằng những câu hỏi về tồn tại, thực tại, tự do, đức tin, đạo đức và ý nghĩa đời sống không thể được giải quyết một lần cho tất cả.

    Giá trị của hai công trình biên khảo này nằm ở chỗ chúng mở ra một không gian suy nghĩ. Chúng giúp người đọc bước vào triết học bằng những câu hỏi gần gũi, rồi từ đó đi dần đến những vấn đề rộng lớn hơn. Chúng cũng cho thấy một nhà văn, với năng lực cảm nhận đời sống và văn chương, có thể đưa những tư tưởng khó khăn đến gần hơn với người đọc phổ thông.

    Khánh Lan thuộc lớp những cây bút đang tiếp tục học hỏi và tìm kiếm con đường riêng của mình. Hai tác phẩm này cho thấy ở cô một niềm say mê đáng quý đối với triết học, một ý thức muốn chia sẻ tri thức và một nỗ lực kết nối giữa tư tưởng với đời sống. Trong một thời đại mà con người thường bị cuốn vào tốc độ, tiện nghi và những tin tức cô đọng, ngắn ngủi, việc có một người chịu khó dừng lại trước những câu hỏi lớn đã là một điều đáng trân trọng.

    Tôi xin chúc mừng nhà văn Khánh Lan đã hoàn thành hai công trình nhiều tâm huyết này. Mong rằng quý độc giả sẽ đón nhận Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng và Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình như những lời mời gọi bước vào một cuộc trò chuyện sâu sắc về con người và thế giới.

    Và tôi cũng mong rằng, sau khi đọc hai cuốn sách, mỗi chúng ta sẽ có lúc biết dừng lại để tự hỏi: Tôi đang sống như thế nào? Tôi có đang sống thật với chính mình không? Những lựa chọn của tôi đã đem lại điều gì cho bản thân và cho người khác? Tôi đang tìm kiếm điều gì trong cuộc đời hữu hạn này?

    Có lẽ, đó chính là lúc triết học không còn nằm yên trên trang sách. Nó bước vào đời sống, đi vào tâm hồn và bắt đầu làm thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới, nhìn người khác và nhìn chính mình.

    Xin trân trọng giới thiệu hai tác phẩm biên khảo về triết học của nhà văn Khánh Lan cùng quý vị.

    Phần luận bàn về phạm trù tư tưởng học do GS. Quyên Di giới thiệu, xin xem những link sau đây. Tóm lược và nhận định hai tác phẩm triết học là:

    Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh, Lưu Khánh Lan:

    https://heyzine.com/flip-book/a34a864bea.html#page/236

    Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình, Lưu Khánh Lan:

    https://heyzine.com/flip-book/d99de8b9be.html#page/20

    1. BÀI DIỄN VĂN THỨ BA CỦA NHÀ VĂN, NHÀ BÁO PHẠM QUỐC BẢO

    Với diễn giả GS. Phạm Quốc Bảo khi bàn về tác phẩm Những Đứa Trẻ Lạc Loài của nhà văn Khánh Lan. Ông nói

    Tôi vẫn suy tưởng sau cuộc chiến tại Việt Nam, nay đã thấm thoát hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ tháng Tư, năm 1975, nhưng những vết hằn của lịch sử và nỗi đau ly hương vẫn là một phần nặng trĩu trong tâm khảm của những người con xa xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, việc Khánh Lan giới thiệu tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” cùng ca khúc “Kiếp Lạc Loài” (sáng tác: Phạm Thái, phổ thơ Phạm Thái) thực sự là một nén tâm hương đầy ý nghĩa để tưởng nhớ và chia sẻ nỗi trăn trở.

    Dưới đây là một số cảm nhận và bình luận chi tiết về cấu trúc 3 phần của tác phẩm cũng như điểm nhấn mạnh độc đáo của dự án nghệ thuật này:

    • Điểm nhấn về nội dung và cấu trúc tác phẩm
    • Phần I: Hồi ký “Những đứa trẻ lạc loài”

    Cảm nhận: Đây là phần mang tính cá nhân và xúc động sâu sắc nhất khi chạm trực tiếp vào số phận của một đứa trẻ lai bị bỏ lại sau chiến tranh. Những mảnh đời “con lai” từng phải gánh chịu định kiến, sự thiếu vắng tình thương và muôn vàn trắc trở trên chính quê hương mình. Hồi ký không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là tiếng lòng đại diện cho cả một thế hệ sinh ra trong nghịch cảnh chiến tranh.

    • Phần II: Số phận qua chương trình Babylift và Homecoming Act

    Cảm nhận: Tác phẩm mở rộng lăng kính để nhìn nhận về những ngã rẽ khác nhau của các em bé được đưa đi theo chiến dịch Babylift (1975) hay những người con lai lớn lên tìm đường định cư nhờ Đạo luật Hồi hương (Amerasian Homecoming Act). Dù có cơ hội bước ra thế giới rộng lớn hơn, hành trình tìm kiếm cội nguồn, đối diện với khủng hoảng bản sắc và nỗi đau mất mát gốc gác vẫn luôn là vết thương khó lành.

    • Phần III: 50 năm nhìn lại vận mệnh đất nước

    Cảm nhận: Khép lại tác phẩm bằng cái nhìn tổng quan sau 50 năm, phần này mang chiều sâu chiêm nghiệm của thời gian. Đó là sự giao thoa giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; là nỗi niềm trăn trở về những gì đã xảy ra cho quê hương, đất nước và sự kiên cường vươn lên của những kiếp người viễn xứ.

    • Sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và công nghệ

    Ca khúc song ngữ “Kiếp Lạc Loài” và “The Forsaken Life” của NS Phạm Thái là một bước thử nghiệm rất đáng chú ý khi toàn bộ phần hình ảnh, giọng hát và hòa âm đều được thực hiện thông qua công nghệ AI dựa trên lời thơ của anh Phạm Thái. Trên sân khấu ca sĩ Thụy Lan chuyển tải bài nhạc, phần Hòa âm và trong youtube clip ban đầu do giọng hát AI. Ca khúc mang lại màu sắc hoài niệm, da diết, tái hiện thành công nỗi cô đơn và khát vọng tìm về nguồn cội của những đứa trẻ lạc loài.

    Tóm lại, tác phẩm “Những đứa trẻ lạc loài” và ca khúc “Kiếp Lạc Loài” không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật tưởng niệm tháng Tư Đen, mà còn là một thông điệp nhân văn sâu sắc về lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và hàn gắn những vết thương chiến tranh.

    Diễn giả Phạm Quốc Bảo nêu ra sự tương quan liên hệ về xã hội Mỹ vẫn có những tuổi thơ, những trẻ em lạc loài, bơ vơ cần sự giúp đỡ. Vì dây là vấn nạn nhân văn xã hội. Về tác giả Khánh Lan thì trong nội dung sách gồm 3 phần của tác phẩm này được soạn khá kỹ, một khi những chia sẻ của mình có thể đồng điệu với góc nhìn sâu sắc và đầy tính nhân văn của chủ đề. Ví dụ như những suy tư, những trăn trở về gia đình, cộng đồng và số phận con người qua các tác phẩm văn nghệ, thi ca luôn mang một sức sống mãnh liệt, giúp chúng ta xích lại gần nhau hơn trong cuộc sống viễn xứ này.

    Điểm chú ý tiểu thuyết xã hội này được soạn lại do việc biên khảo dữ liệu trên liên mạng internet, do sự thực, tiểu thuyết “Những đứa trẻ lạc loài có 2 phiên bản là một ấn bản Việt Ngữ và một về phiên bản Anh Ngữ, tức hai cuốn.

    CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ

    Sau giờ văn học là chương trình phụ diễn văn nghệ. Tôi chú ý đôi song ca Minh Thư và Thúy Giao song tấu guitar và ca một medley gồm nhiều bài liên khúc như “Take Me Home, Country Road” của John Denver. Tôi nhớ câu chuyện ra đời của bài hát này.

    Đây là bài hát kiểu kinh điển. “Take Me Home, Country Roads” của John Denver ra mắt năm 1971, tức là đã hơn năm thập kỷ trôi qua. Bài hát nằm trong album Poems, Prayers & Promises của ông. Ban đầu, bài hát được viết bởi Bill Danoff và vợ ông, Taffy Nivert, dành cho Johnny Cash. Tuy nhiên, khi John Denver nghe về bài hát này, ông rất hào hứng và đề nghị giúp hoàn thiện nó. Ông thích bài hát đến nỗi quyết định đưa nó vào album của mình.

    Điều thú vị là John Denver không đến từ Tây Virginia, và cả Danoff lẫn Nivert đều chưa từng đến tiểu bang này trước khi viết bài hát. Trên thực tế, nguồn cảm hứng cho bài hát đến từ một tiểu bang khác. Đây là câu chuyện về cách một bài hát chiếm được trái tim của Tây Virginia trở thành một tác phẩm âm nhạc kinh điển.

    Vào cuối năm 1970, Danoff và Nivert đang lái xe đến một buổi họp mặt gia đình ở Quận Montgomery, Maryland. Để chuyến đi dài trở nên thú vị hơn, họ bắt đầu sáng tác một bài hát về những con đường quê. Họ sớm nhận ra rằng từ “Maryland” không hoàn toàn phù hợp với giai điệu mà họ đã hình dung. Danoff sau đó nghĩ đến việc sử dụng “Massachusetts”, nhưng cuối cùng quyết định chọn “West Virginia” vì nó dường như phù hợp với bài hát hơn. Mặc dù Danoff chưa từng đến West Virginia, anh ấy tưởng tượng nơi đó có những ngọn núi tuyệt đẹp và những con đường quanh co. Anh ấy nghĩ về nó như một nơi xa xôi và gần như kỳ diệu. “Tôi cảm thấy West Virginia xa xôi và kỳ lạ đối với tôi như châu Âu vậy,” Danoff nói.

    Vào thời điểm đó, Danoff và Nivert là những nhạc sĩ đang chật vật với ước mơ viết một bài hát ăn khách cho những nghệ sĩ nổi tiếng hơn. Cơ hội lớn của họ đến khi họ biểu diễn tại một câu lạc bộ tên là Cellar Door ở Georgetown, Washington, D.C., nơi họ mở màn cho John Denver. Sau màn trình diễn, họ đã chơi bài “Take Me Home, Country Roads” cho Denver nghe. Ông ấy ngay lập tức ấn tượng và yêu thích bài hát. Ba người họ đã thức cả đêm, cùng nhau hoàn thiện bài hát cho đến khi nó hoàn hảo. John Denver lần đầu tiên trình diễn bài hát này tại Cellar Door vào ngày 30 tháng 12 năm 1970. Khán giả đã vô cùng xúc động và dành cho ông tràng vỗ tay kéo dài năm phút. Danoff nhớ lại: “Khi chúng tôi lần đầu tiên cùng nhau hát bài hát này, cảm giác như tiếng vỗ tay sẽ không bao giờ dứt. Phản ứng của khán giả cho chúng tôi biết rằng chúng tôi đang sở hữu một điều gì đó đặc biệt.”

    Medley còn có ca khúc như “500 Miles” là ca khúc trở nên phổ biến tại Hoa Kỳ và Tây Âu trong phong trào hồi sinh nhạc dân gian vào thập niên 1960. Lời ca giản dị và mang tính lặp lại của bài hát biểu hiện nỗi niềm của một lữ khách đang ở xa nhà, cạn kiệt tiền bạc và cảm thấy quá xấu hổ để quay trở về. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 5 năm 1963 trên chương trình *Folk Music Worldwide*, Paul Stookey – thành viên nhóm Peter, Paul and Mary – đã mô tả ca khúc này (vốn nằm trong album đầu tay ra mắt năm 1962 của nhóm) là “sự phản ánh nỗi cô đơn”.

    Và bài ca “The Sound of Silence” (tên gốc là “The Sounds of Silence”) là một ca khúc của bộ đôi nhạc folk rock người Mỹ Simon & Garfunkel, do Paul Simon sáng tác. Buổi thử giọng tại phòng thu của cặp song ca này đã dẫn đến việc ký kết hợp đồng thu âm với hãng đĩa Columbia Records. Vào năm 1965, bài hát bắt đầu được phát sóng trên các đài phát thanh tại Boston và khắp bang Florida. Sự gia tăng tần suất phát sóng đã thôi thúc Tom Wilson, một nhà sản xuất của ca khúc – thực hiện bản phối âm lại (remix). Bản phối âm lại này đã vươn lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong tuần lễ kết thúc vào ngày 1 tháng 1 năm 1966, khiến bộ đôi tái hợp và nhanh chóng thu âm album thứ hai; Columbia đã đặt tên album này là *Sounds of Silence* nhằm tận dụng sức hút từ thành công của ca khúc.

    Tôi lắng nghe tiếp ca sĩ Kim Đức diễn tả bài ca “Paris, tu m’as pris dans tes bras” của Enrico Macias, ông là một ca sĩ nổi tiếng người Pháp gốc Algeria, được biết đến với bài hát “Paris, tu m’as pris dans tes bras” (Paris, tu m’as pris dans tes bras), phản ánh mối liên hệ sâu sắc về mặt cảm xúc của ông với thành phố Paris. Bài hát khắc họa chủ đề tình yêu và nỗi nhớ, thể hiện sự pha trộn độc đáo giữa ảnh hưởng âm nhạc Pháp và Địa Trung Hải trong âm nhạc của Macias.

    Tổng quan về Enrico Macias và bài hát của ông Âm nhạc của Enrico Macias thường đan xen những câu chuyện cá nhân và văn hóa. còn về tiểu sử, Enrico Macias, tên thật là Gaston Ghrenassia, sinh năm 1938, lớn lên ở Algeria và trở thành một nhân vật nổi bật trong làng nhạc Pháp sau khi chuyển đến Pháp do bất ổn chính trị.

    Khi Enrico Macias muốn có thêm một bài hát về Paris, thành phố đã chào đón ông sau khi ông buộc phải rời Algeria vì lý do chính trị vào ngày 29 tháng 7 năm 1961, vào kho nhạc của mình. Vì vậy, ngay từ đầu năm 1964, Enrico Macias đã móc liên lạc với Jean Peigné, giám đốc chương trình tại Europe 1 và là người viết lời bài hát không thường xuyên. Peigné từng viết lời cho Jean-Claude Pascal, Charles Aznavour, Les Djins Sisters, Pascal Danel và Mireille Mathieu.

    Ban đầu, Jean Peigné nói với ông rằng để viết một bài hát về Paris, bạn phải sinh ra ở đó. Ông nói thêm rằng đã có rất nhiều bài hát về thủ đô nước Pháp (của Francis Lemarque, Charles Trenet, Mick Micheyl, Charles Aznavour và những người khác).

    Nhưng Enrico không quan tâm và vẫn kiên trì. Và vì ông đã mang cây đàn guitar của mình đến Europe 1, ông đã chơi cho Jean Peigné nghe những nốt nhạc đầu tiên của một giai điệu mà ông đã nghĩ ra. Jean Peigné yêu cầu ca sĩ hát lại bài hát đó lần thứ hai.

    Và sau khoảng mười phút, Jean Peigné đã ghi lại những lời đầu tiên của bài hát sau này trở thành “Paris, tu m’as pris dans tes bras” (Paris, tu m’as pris dans tes bras). Bài hát được hoàn thành chỉ trong một buổi chiều tại phòng thu lịch sử Europe 1 trên đường Rue François 1er ở Paris.

    Hai ngày sau, Enrico Macias thu âm lời bài hát cùng dàn nhạc của Jean Claudric. Đó là bài hát đầu tiên ở mặt B của đĩa đơn. Vào ngày 21 tháng 2 năm 1964, Enrico Macias nhận được đĩa vàng cho bài hát “Paris, tu m’as pris dans tes bras”. Vài ngày sau, Enrico Macias mở màn cho Les Compagnons de la Chanson tại nhà hát Olympia ở Paris từ ngày 19 tháng 3 đến ngày 22 tháng 4 năm 1964.

    Chủ đề bài hát — “Paris, tu m’as pris dans tes bras” thể hiện nỗi nhớ nhung và tình cảm dành cho Paris, miêu tả thành phố như một sự hiện diện an ủi.

    Xét về phong cách âm nhạc cũng là phong cách của Macias kết hợp giữa âm nhạc Pháp quốc với ảnh hưởng từ Bắc Phi, tạo nên một âm thanh đặc trưng dộc dáo gây được tiếng vang với nhiều đối tượng khán giả. Tác động văn hóa — Các bài hát của ông thường phản ánh trải nghiệm của người nhập cư, điều này khiến ông trở thành một tiếng nói quan trọng trong nền âm nhạc Pháp.

    Về nhạc Pháp trong chương trinh ghi nhận còn có bài tình ca “Après toi”do ca sĩ Kiều My hát. Đây là ca khúc do nữ ca sĩ người Hy Lạp Vicky Leandros trình bày. Nhạc phẩm này được sáng tác bởi cha cô là ông Leo Leandros (dưới nghệ danh Mario Panas) phối hợp cùng nhà soạn nhạc người Đức Klaus Munro, với phần lời tiếng Pháp do Yves Dessca viết. Bài hát đã đại diện cho Luxembourg tham gia và giành chiến thắng tại cuộc thi Eurovision Song Contest năm 1972 tổ chức ở Edinburgh. Vắn tắt bản tin về quá trình sáng tác, “Après toi” được ghi nhận là một tuyệt phẩm tình ca. Đây là một bản ballad đầy cảm xúc, trong đó nữ ca sĩ bày tỏ với người yêu về viễn cảnh của bản thân sau khi anh rời bỏ cô để đến với người con gái khác: “Sau khi anh bỏ em, em sẽ chẳng còn là gì ngoài cái bóng của hình ảnh của anh”. Kiều My ca những bài khác như Bésame mucho, La Paloma, Il Faut Toujours un Perdant, Comment Ça Va, Adieu Sois Heureuse, Kiều My còn sáng tác nhạc Pháp như các tình ca như Sans Toi Ce Soir, Mon Amour, Tu Restes Toi, Ma Chérie: Je T’aime Tellement Fort, Un Automne Enchanteur,…

    Ngoài ra nhiều ca khúc Việt được hát, tôi thích bài ca của nhạc sĩ Lâm Dung phổ thơ Dương Hồng Anh như bài Bạn Bè Của Tôi qua link sau:

    Trời đẹp lắm, Ca li trời đẹp lắm

    Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi

    Bạn bè tôi, những nghệ sĩ yêu đời

    Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá

    Vì chúng ta không bao giờ xa lạ

    Những vần thơ ý nhạc kết nên duyên

    Đời có gì hơn được gặp bạn hiền

    Trên đất khách quê người tình tri kỷ

    Cùng vun sới mảnh vườn đầy thi vị

    Một vườn hoa văn nghệ đẹp như tranh

    Nắm tay nhau ca hát dười trời xanh

    Nhạc thơ đã sẵn sàng cùng cất bước

    Bạn bè của tôi chung lời nguyện ước

    Đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian

    Tình nghĩa văn chương tha thiết muôn vàn

    Là tiếng hát của cung đàn réo rắt

    Là nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt

    Các bạn ơi! thơ nhạc vẫn tràn đầy

    Khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say…

    (Dương Hồng Anh, 7/2020)

    Bài thơ “Bạn bè của tôi” (do nữ sĩ Dương Hồng Anh) cũng là một hành khúc của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Hành khúc mô tả không gian mở đầu và nỗi niềm vi xa xứ. Thi ca này đã mở ra với một không gian tươi sáng, rộng mở nhưng cũng mang đậm dấu ấn của những người con xa xứ: “Trời đẹp lắm, Cali trời đẹp lắm / Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi”. Miền đất California nắng ấm hiện lên qua những câu thơ rực rỡ, nhưng ẩn sâu trong cảnh sắc ấy chính là tâm hồn rộng mở, lạc quan của tác giả và những người bạn cùng chung chí hướng nghệ thuật.

    Hành khúc ballad biểu lộ môt tình cảm tri kỷ và sự gắn kết của những tâm hồn đồng điệu giữa đất khách quê người, tìm được một tri kỷ đã khó, hội tụ được cả một “vườn hoa văn nghệ” lại càng là một cơ duyên hiếm quý. Tình bạn văn chương mà tác giả trân trọng từng phút giây hội ngộ, xem đó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của đời người: “Đời có gì hơn được gặp bạn hiền / Trên đất khách quê người tình tri kỷ”. Lời hứa nguyện ước chung tay “đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian” thể hiện sứ mệnh đẹp đẽ của người cầm bút: dùng nghệ thuật để lưu giữ khoảnh khắc, kết nối con người và sưởi ấm những tâm hồn tha hương. Phải nói là bài thơ đã khép lại bằng những âm hưởng nhịp valse rộn ràng, tươi vui của “cung đàn réo rắt”, “nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt” và dư âm ngọt ngào của “khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say”. Bằng ngôn ngữ mộc mạc, giàu cảm xúc và hình ảnh thơ ca trong trẻo, Dương Hồng Anh đã khắc ghi sự thành công bức tranh chân thực và cảm động về tình bạn văn nghệ sĩ trên đất Mỹ, đồng thời ca ngợi sức mạnh kỳ diệu của thi ca trong việc gắn kết con người vượt qua mọi không gian và thời gian.

    Bài ca Ò E Con Ma Đánh Đu (Auld Lang Syne) khi mà đồng hồ đã 5 giờ chiều bế mạc chương trình. Bài ca áp chót là Còn Gặp Nhau, thơ của Tôn Nữ Hỷ Khương, nhạc Võ Tá Hân, ban hợp ca Tơ Vàng và nhóm Tiếng Thời Gian đồng trình bày trước sự hiện diện của nhạc sĩ tác giả bài ca.

    Link bài ca:

    Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

    Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,

    Lợi danh như bóng mây chìm nổi

    Chỉ có tình thương để lại đời.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ thương

    Tình người muôn thuở vẫn còn vương,

    Chắt chiu một chút tình thương ấy

    Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi

    Bao nhiêu thú vị ở trên đời,

    Vui chơi trong ý tình cao nhã

    Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ cười

    Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi

    Cho hương thêm ngát, đời thêm vị

    Cho đẹp lòng tất cả mọi người.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ chào

    Giữa miền đất rộng với trời cao,

    Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước

    Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ say

    Say tình, say nghĩa bấy lâu nay

    Say thơ, say nhạc, say bè bạn

    Quên cả không gian lẫn tháng ngày.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ đi

    Đi tìm chân lý – lẽ huyền vi

    An nhiên tự tại – lòng thanh thản

    Đời sống tâm linh thật diệu kỳ

    Bài thơ trên “Còn Gặp Nhau” của nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương (con gái của nhà thơ Ưng Bình Thức Vịnh Giác) qua sự phổ nhạc tinh tế, khéo léo soạn nhạc cùng hòa âm của nhạc sĩ Võ Tá Hân mang đến một âm hưởng triết lý sâu lắng, nhẹ nhàng nhưng vô cùng thiết tha về tình người và cuộc sống.

    Tôi suy nghiệm về chủ đề và ý nghĩa bài ca thì chính sự trân trọng hiện tại như tựa đề và điệp khúc mở đầu mỗi khổ thơ “Còn gặp nhau thì hãy…” là lời nhắc nhở về sự vô thường, tạm bợ của thời gian và duyên hội ngộ trong cõi đời. Cuộc sống ngắn ngủi ví như “nước chảy hoa trôi”, và danh lợi chỉ là “bóng mây chìm nổi”. Cái quan trọng vì tình người và sự gắn liền giữa dòng đời trôi nổi ấy, tác giả khẳng định giá trị cốt lõi và trường tồn duy nhất chính là tình thương yêu, sự gắn bó chân tình giữa bạn bè, tức giữa người với người.

    Một khi tâm hồn và thể xác được yên ổn, an nhiên, cởi mở như lời bài thơ hướng con người đến một lối sống tốt đẹp, biết vui chơi tao nhã, biết cười tươi để lan tỏa niềm vui, biết say sưa trong tình nghĩa, thi ca, bè bạn, và hơn hết là tìm kiếm sự bình yên, thanh thản trong tâm hồn qua một đời sống tâm linh an nhiên, tự tại,… Tôi nói với nhạc sĩ Võ Tá Hân tôi tâm đắc vô cùng tác phẩm này cho ta một nhân sinh quan vui sống, qua những ý tưởng tao nhã, tính thiền triết của nó hòa quyện vào âm nhạc.

    Bài ca Còn Gặp Nhau nói về tình bạn: “Còn gặp nhau, bạn ơi!”

    Câu thốt lên ấy tựa như một tiếng thở dài nhẹ nhõm giữa cõi người mênh mông. Trong dòng chảy vô thường của thời gian, việc chúng ta còn nhận ra nhau, còn ngồi lại bên nhau để chia sẻ một ly trà, một khúc ca hay vài vần thơ đã là một ân huệ lớn lao của định mệnh. Tình bạn chân thành không cần lúc nào cũng kề cận, mà nằm ở sự thấu cảm âm thầm — nơi những người tri kỷ dù đi qua dâu bể cuộc đời, khi quay đầu lại vẫn thấy ánh mắt và nụ cười của nhau chờ sẵn ở bến bờ của sự chân tình.

    Quan diểm về hạnh phúc và khổ đau: Hai mặt của một nhịp đập:

    Đoạn văn đã chạm đến cốt lõi của triết học hiện sinh: Hạnh phúc không phải là cái đích đến tĩnh lặng, mà là sự dấn thân và chuyển hóa. Nhưng nếu không có những giọt nước mắt và nỗi đau (khổ đau như một người thầy khắc nghiệt), ta sẽ mãi chỉ là những đứa trẻ chưa từng lớn trước thềm đời. Và chính sự tương phản ấy làm nên chiều sâu của tâm hồn nghệ sĩ. Chỉ khi nếm trải đủ thăng trầm, ta mới thực sự thấu cảm hết cái đẹp mong manh của một buổi chiều thu vàng, hay âm vang da diết của một bản nhạc tiền chiến.

    Theo triết nhà Phật về sự vô thường và hiện tại: Khoảnh khắc là cõi vĩnh hằng.

    Sự vô thường không đáng sợ như người ta tưởng; trái lại, nó chính là chiếc gương soi chiếu để ta biết trân quý từng giây phút hiện tại. Khi ta hiểu rằng mọi hữu hạn đều đang trôi đi, mỗi cái gật đầu chào nhau, mỗi tiếng đàn, lướt phím vang lên trong phòng trà hay mỗi dòng chữ viết ra đều mang giá trị của sự vĩnh cửu trong tâm tưởng. Sống trọn vẹn với hiện tại chính là cách chúng ta đối thoại đẹp nhất với thời gian.

    Bạn ơi, người bạn ta đang dạo bước giữa những hoài niệm và hiện tại, qua những trang văn, tiếng đàn và tình nghĩa gia đạo thâm trầm — một lời chúc an lạc.

    Mong rằng trên hành trình nghệ thuật và cuộc sống ấy, tiếng đàn và tình bạn của tất cả chúng ta vẫn luôn là chốn bình yên để trở về, xin gởi những câu kết:

    Trích đoạn tiêu biểu.

    Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

    Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,

    Lợi danh như bóng mây chìm nổi

    Chỉ có tình thương để lại đời.

    (Tôn Nữ Hỷ Khương)

    Việt Hải Los Angeles-Tháng Chín Mùa Thu, 2026.

    Còn Gặp Nhau (photo: Võ Tá Hân – VHLA)

  • TÁC GIẢ & TÁC PHẨM,  VĂN HỌC,  Viet-Hải

    TỪ ĐINH HÙNG ĐẾN VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    Khánh Lan

    Với khuôn mặt lẫy lừng trong thi ca Việt Nam từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam đã có nhiều tài liệu viết về hai nhà thơ Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Hôm nay, người viết lại được vinh hạnh viết về hai vị tiền bối đã được rất nhiều người ngưỡng mộ trong thế giới thi ca: Đó là Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, những thiên tài bạc mệnh của đất Sài Gòn, một thời nổi danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Một điều thật lạ lùng là sau khi duyệt qua tiểu sử và cuộc đời của hai thi nhân này, người viết nhận thấy hai vị tiền bối có nhiều điểm trùng hợp từ thân phận, chí khí, tài hoa đến văn chương và cuộc đời lại gặp quá nhiều nghiệt ngã, đau thương, bất công và bạc mệnh.

    Hình như có một sự kết nối mật thiết giữa cuộc đời của họ. Họ như bị ràng buộc từ trong một mối tương quan gia đình khi nhà thơ họ Vũ kết hôn với bà Đinh Thị Thục Oanh, chị ruột của Đinh Hùng. Họ là bạn chí thân từ khi còn sinh sống tại miền Bắc. Thuở thiếu thời, họ yêu văn, thích làm thơ, sáng tác thơ và trở thành nổi tiếng trong lĩnh vực thi ca. Họ là những thiên tài bạc mệnh, lãnh chịu một cuộc đời với nhiều gian nan, nghiệt ngã và nghèo túng. Tuy họ đã gặp nhiều sóng gió trong cuộc sống nhưng họ vẫn không rời xa nhau! Có lẽ, định mệnh đã an bài cho họ là phải như thế!

    Dưới đây là những điểm tương đồng:

    1. Trong lĩnh vực khoa bảng: Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nghê sĩ tài hoa, học cao hiểu rộng với bản tính rất ngang bướng, gan dạ, phóng túng, “thích gì làm nấy”. Họ không khuất phục trước gian nan, bất công và sẵn sàng đương đầu với khó khăn, nghiệt ngã trong cuộc sống nhưng lại đa sầu đa cảm và mềm lòng trong đường tình ái.
    • Trong lãnh vực văn chương thi phú: Hai thi nhân đi vào lĩnh vực văn học ở tuổi rất còn trẻ. Tác phẩm văn xuôi Đám Ma Tôi của Đinh Hùng viết trong năm 1943 ở tuổi 23 thì Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay của Vũ Hoàng Chương viết vào năm 1936-1939 khi ông 21 tuổi.
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nhà thơ nổi tiếng từ thời phong trào Thơ Mới thời tiền chiến. Trong khi Đinh Hùng (1920-1967) nổi tiếng với hai tập thơ Mê Hồn Ca (1954) và Đường Vào Tình Sử (1961), thì Vũ Hoàng Chương (1915-1976) với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, đó là tập thơ Hoa Đăng (1959) và 2 tập Thơ Say và Mây (sau in chung vào một tập mang tên Mây).
    • Năm 1959, Vũ Hoàng Chương đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca với tập thơ Hoa Đăng, một tập thơ được đánh giá rất cao, ông cũng là một trong 100 tác giả tên tuổi được đề cử giải Nobel Văn Chương năm 1972. Năm 1961, thi phẩm Đường vào tình sử của Đinh Hùng được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.
    • Sau khi mất hai thi nhân đều có tác phẩm xuất bản sau khi mất. Đinh Hùng với Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967, ngoài ra còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt. Về phần Vũ Hoàng Chương tập hồi ký Ta Đã Làm Chi Đời Ta doNXB Trương vĩnh Ký, Saigon năm 1970 được NXB Hội Nhà Văn tái bản năm 1993 tại TPHCM. Thi tấp Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, NXB An Tiêm, Sài Gòn (1970) in 2 lần và được Tái bản lại tại California, Mỹ sau năm 1975.
    • Trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn (1970) của họa sĩ Tạ Tỵ, người bạn văn nghệ chí thân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương gọi thơ Vũ Hoàng Chương là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc”, vì nhiều bài thơ của ông nói lên thân phận của kiếp người trên quê hương. Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau: “Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử”. Một lãng tử, có lẽ đúng bởi cái cuộc sống “Bất cần đời” của ông, chẳng tha thiết với danh vọng, hờ hững với vật chất xa hoa. 
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương đều chết trẻ. Đinh Hùng mất năm 47 tuổi và Vũ Hoàng Chương mất mất ở tuổi 61.

    THẾ GIỚI THI CA ĐINH HÙNG

    THI SĨ ĐINH HÙNG (1920-1967)

    “Trời cuối thu rồi em ở đâu  

     Nằm bên đất lạnh chắc em sầu 

     Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy 

     Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu …”

    Chúng ta có thể nói Đinh Hùng là nhà “khảo cổ thi ca” đầu tiên đi ngược dòng lịch sử của những mảnh hồn nhân loại bị quên lãng theo thời gian. Thơ Đinh Hùng nói lên vẻ đẹp siêu thực tế, một tình yêu linh thiêng, một thế giới mới dựa trên linh thị của siêu cảm và trực giác. Thơ Đinh Hùng xóa mờ bức tường ranh giới giữa không gian và thời gian, hòa nhập con người với cõi vô thường, với những cảm xúc dữ dội và khốc liệt, tư duy và sự khuấy đảo đến kinh hoàng của hình tượng qua những vần thơ. Để hiểu rõ về người nghệ sĩ đa tài Đinh Hùng, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu xem yếu tố nào đã khiến cho ông giải bày niềm cảm xúc qua trang giấy một cách mãnh liệt như thế.  

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Đinh Hùng là nhà thơ tiền chiến, bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết. Ông sinh ngày 3 tháng 7, 1920 tại làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ ông theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, trung học tại trường Bưởi. Theo thi sĩ Vũ Hoàng Chương, sau khi thi đậu “cao đẳng tiểu học“, hạng bình thứ, Đinh Hùng được học bổng và trong khi đang theo học ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì ông bỏ ngang đi viết văn và làm thơ.

    “Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi
    Xa vở bài, mở rộng sách ham mê
    Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về
    Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn”

     (Khi Mới Nhớn)

    Tuy nhiên, tuổi thơ của Đinh Hùng là chuỗi ngày sầu thảm, sự mất mát liên tục của những người thân trong gia đình đã để lại nhiều vết thương trong lòng ông. Năm 1931, người chị thứ ba của ông tên Tuyết Hồng đã tự vẫn tại hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng chết khi còn rất trẻ và sau hết là cái chết của người bạn gái yểu mệnh tên Bích Liên. Đó là những biến động kinh hoàng trong cuộc đời xảy ra cho một con người.

    Dưới ngòi bút thiên phú, Đinh Hùng trở nên nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” được nhà văn Thế Lữ chọn in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh của ông, một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết kinh dị, lãng mạn, rùng rợn nhưng cũng đầy chất thơ do NXB Đời Nay in ấn năm 1941. Năm 1943, Đinh Hùng đang sống với người chị là Thục Oanh tại Hà Nội thì tập văn xuôi đầu tiên ra đời: Đám ma tôi được đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, một Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn…

                Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa

              Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết 

                Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết 

                Rộn xuân tình lên bộ ngực thanh tân…” 

                                                       (Kỳ nữ)

    Năm 1944, Vũ Hoàng Chương cưới Thục Oanh rồi về Nam Định, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài với sự cộng tác của Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch…Cũng trong năm ấy, Đinh Hùng tản cư theo tờ báo Cứu Quốc nhưng sau đó, ông về Thái Bình dạy học cùng người vợ mới cưới là Nguyễn Thị Thanh. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con trở lại Hà Nội, tại đây, ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô Văn Nghệ (1952) và tập thơ Mê Hồn Ca (1954).

    Tháng 8, 1954, Đinh Hùng cùng vợ con vào Sài Gòn cùng với gia dình của Vũ Hoàng Chương. Trong thời gian đầu, ông nhận viết báo, viết tiểu thuyết dài từng kỳ cho các nhật báo Sài Gòn như “Kỳ Nữ gò Ôn Khâu”, “Đao phủ thành Đại La”, v.v… và bình thơ tại Đài phát thanh Sài Gòn. Ngoài ra ông còn vẽ tranh vui và giữ luôn mục thơ trào phúng “Đàn ngang cung” với bút hiệu Thần Đăng. Sau đó ông lập ra tờ nhật báo Tự Do, cộng tác cùng với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong…Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận. Năm 1961, ông cho in tập Đường Vào Tình Sử, tác phẩm này được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.

    Phải chăng “Nhân tài thường hay chết yểu” hay bởi Đinh Hùng luôn bị ám ảnh bởi sự chết, hay là vì nhân chứng của nhiều cái chết, nên dưới ngòi bút tài hoa sẵn có, ông đã phác họa một cáo phó về cái chết của mình qua bài thơ Cung Đàn Tưởng Niệm, và được coi như là một di chúc viết cho chính bản thân ông. Ngay cả trong tác phẩm văn xuôi đầu tay của ông, ông đã chọn tựa đề rất lạ lùng: Đám Ma Tôi, được nhà xuất bản Tân Việt in năm 1943, lúc ấy ông mới có 23 tuổi. 

    …”Khi anh chết, các em về đây nhé 

    Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa 

    Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ 

    Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”

    Tháng 08 năm 1967, Đinh Hùng qua đời vì bệnh ung thư gan tại bệnh viện Bình Dân, ông được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Một điều kỳ diệu đã xảy ra là lời ước nguyện của ông khi còn sinh tiền đã biến thành hiện thực: “…Khi anh chết, các em về đây nhé… Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”. Thật vậy, bạn bè của Đinh Hùng kể lại là trong đám tang của ông người ta thấy có hai chục cô thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng đi theo linh cữu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuồng lòng huyệt, ngậm ngùi tiễn đưa người thi sĩ.

    Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967. Ngoài những tác phẩm trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.

    NHẬN ĐỊNH VỀ THẾ GIỚI THI CA CỦA ĐINH HÙNG

    Nói đến những bài thơ làm nên tên tuổi của Đinh Hùng, chúng ta không thể nào không nhắc đến tác phẩm đầu tay của thi sĩ do nhà xuất bản Tiếng Phương Ðông ấn hành tại Hà Nội năm 1954: Mê Hồn Ca. Dựa theo bài viết của Thủy Nguyệt, Mê Hồn Ca gồm 40 bài thơ ca ngợi tình yêu cuồng nhiệt của một tâm hồn lạc lõng, bơ vơ muốn tìm về một thế giới hư vô. Qua phong cách diễn tả độc đáo của tác giả, chúng ta nhận thấy trong ý thơ của ông vừa có vị nồng nàn, tha thiết, đau khổ chen lẫn mê hoặc, mà trong đó chất chứa một vũ trụ hoang sơ, rừng rú. Ở phần đầu Mê Hồn Ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác từ cô độc đến bi thiết qua những bài thơ: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên… Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác mà chúng ta tìm thấy trong thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia như trong Gửi người dưới mộ, Tìm bóng tử thần. Bài thơ Cầu hồn là điển hình cho sự ám ảnh trong ý thơ.

    Hồn ơi! Hồn tỉnh giấc thần,
    Đêm nay lạc xuống dương trần mà vui.
    Nghìn yêu ma che bước cõi Luân Hồi,
    Nhìn nghiêng mặt đất thấy trời hiển linh.
    Giữa đêm đời sẽ hồi sinh.
    Nhân gian hát khúc vong tình lên non.
    Đôi ta vào hội oan hồn,
    Âm dương tái hợp …

    Có những lúc chúng ta tự hỏi: Trong thế giới thi ca, hỏi mấy ai có thể tạo dựng một nghĩa trang huyền ảo như trong văn thơ của thi sĩ Đinh Hùng? Phải chăng cái chết và sự sống, thường bị chia cắt và giới hạn bởi không gian vật lý?  Phải chăng trong cõi tâm linh của Đinh Hùng khát vọng sự giao hòa, ao ước rằng con người có thể vượt qua mọi ranh giới để hướng đến khoảng cách vô tận ấy?   Ai có thể hiểu được vì sao Đinh Hùng đã viết lên những vần thơ đi vào cõi chết? Có phải đó là kết quả của nhiều đau thương mất mát trong gia đình liên tục xảy đến với ông, hay chính ông đã nhìn thấy sự chết cho chính mình, và ở đâu đây, lưỡi hái tử thần đang chờ đón ông?

    Mặc dù Mê Hồn Ca xuất hiện trên thi đàn giữa thời loạn ly, khi đất nước chia đôi nhưng đã lôi cuốn rất nhiều độc giả bởi hình ảnh liêu trai, bởi sự sống đầy mộng mị của trần gian và sự hoang lạnh của chốn âm cảnh, qua trí tưởng tượng phong phú đầy sáng tạo của thi sĩ Đình Hùng và trong thế giới mê hoặc, mờ ảo với những ảo giác hư thực của tiền kiếp đã trở thành một tuyệt tác dưới ngòi bút của Đinh Hùng.  

    Nàng năm mộng suốt đêm hè dưới nguyệt,
    Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao.
    Xa nấm mộ, chúng ta cuồng dại hết,
    Để yêu tà về khóc dưới non cao.
    Hồn Vệ Nữ lạc loài bên cửa huyệt,
    Xuân bi thương – ôi má thắm, môi đào!
    Bốn mùa trăng vào một hội chiêm bao,
    Trong giấc ngủ đẫm mùi hương phấn lạ.

    (Tìm bóng tử thần)

    Cái bi kịch của tình yêu, của gia đình với những ràng buộc khắt khe của tạo hóa đã đưa người nghê sĩ tài hoa Đinh Hùng lạc lõng trong xã hội loài người, bị ám ảnh bởi cái chết đã đi vào tư tưởng của ông rồi bộc lộ qua thi ca. Bài Gửi Người Dưới Mộ đã cho chúng ta một cảm nhận rờn rợn trong hồn:

    “…Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?

    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?

    Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy

    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu…“

    (Gửi người dưới mộ)

    Thơ của ông có nhiều sắc thái khác nhau, khi là sự hiện hình của một thực tại huyễn tưởng, một ngôn ngữ đầy ma mị, đầy hư ảo, khi thì bộc lộ sự cô độc, thảm thiết gần như muốn tìm vào cõi chết, thể hiện qua những bài thơ:  Mê Hồn Ca, Bài Ca Man Rợ, Những Hướng Sao Rơi. Lại có những bài thơ nghiêng về tôn giáo, tâm linh, đôi lúc ông thi vị hóa tình yêu như trong bài Kỳ Nữ, Hoa Sử, Hương Trinh Bạch. Ở một khía cạnh khác, chúng ta thấy thơ của Đinh Hùng, hình như bị ám ảnh bởi thế giới bên kia, nhập tâm tìm kiếm một ngõ ngách giao hòa cùng người thiên cổ, thể hiện qua bài: Cầu Hồn, Gửi Người Dưới Mộ, Tìm Bóng Tử Thần….

              …”Trong mộng trần duyên 

                    Của người thiên cổ….”

                    …”Trời ơi, đây nguyệt vô biên 

                    Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ”.

                                                (Tìm Bóng Tử Thần)

    Đọc bài thơ Liên Tưởng, chúng ta có cảm tưởng đây là những vần thơ mà Đinh Hùng đã viết cho một người con gái xinh đẹp yểu mệnh tên Bích Liên mà ông đã yêu say đắm trong ngây ngất. Một mối tình tinh khiết nhưng mãnh liệt, kỳ ảo nhưng huyền hoặc.  Phải chăng chính mối tình ấy đã tạo nên một ảnh hưởng sâu đậm trong tâm khảm của nhà thơ và đã đi theo ông trong suốt cuộc đời. 

     … Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.

    Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,

    Lén bước trang đài tới gặp ta

    Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn,

    Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên.

    Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng,

    Lửa hạ lên rồi … Ôi Ý Liên!”

    (Liên Tưởng – ĐVTS)

    Đinh Hùng và Bích Liên yêu nhau trong tuyệt vọng, khi Bích Liên qua đời vì bệnh lao, Đinh Hùng mới 20 tuổi, cái tuổi chập chững bước vào đời với khát vọng yêu đương, với cuồng phong bão tố của mối tình đầu. Cái chết của Bích Liên, cũng là sự mất mát rất lớn trong đời ông và đã biến con người ông trở nên như điên dại, nỗi đau đớn ấy khiến ông sáng tác một loạt thơ mới:  Thơ Chiêu Niệm, Liên Tưởng và Gửi Người Dưới Mộ đã đưa ông hướng sâu vào cõi chết, phải chăng, theo ông chết là giải thoát những khổ đau.

    Em đã về chưa?
    Em sắp về chưa?
    Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
    Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.
    Em hãy cười lên vang cõi âm.
    Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
    Những hồn phiêu bạt bao năm trước.
    Nay đã vào chung một chỗ nằm.

    Theo tác giả Đỗ Tường, khi Bích Liên chết, Đinh Hùng xin đến nhìn mặt người yêu lần cuối, đứng trước xác người yêu, ông đã làm một cử chỉ khiến tất cả mọi người phải kinh hoàng bởi ông điềm nhiên lật tấm vải liệm phù mặt cô gái ra, rồi cuối xuống hôn một cách say đắm.

    Qua xứ ma sầu, ta mất trí
    thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
    trời ơi! trời ơi! làn tử khí
    lạc lõng hương thầm đoá Bạch Liên

                                   (Cầu hồn)

    Phải chăng sự ám ảnh với những nỗi đau và cái chết khiến thơ của ông đã vượt quá giới hạn, vượt quá sự tưởng tượng của con người. Với ông cái chết là sự cuồng si, là cái đẹp, nó không chỉ đẹp trong thơ mà còn đẹp trong cả tiềm thức của người nghệ sĩ với nỗi đau và sự rung động của trái tim qua bài thơ Gửi Người Dưới Mộ.

    Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
    Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
    Em mộng về đâu?
    Em mất về đâu?
    Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu,
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa.

    Trong bài viết “Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cho rằng biểu tượng mạnh mẽ nhất của Đinh Hùng là cái chết với “mặt trời máu”, với “nấm mồ”, “tử thần”, “hồn ma” … Quả nhiên, trong hai phần “Chiêu niệm”, “Mê hồn” và cả bài trường thi “Thần tụng” cũng tràn ngập không khí của cõi chết. Nhưng cái chết trong thơ Đinh Hùng không phải sự tàn lụi và đau thương mà cái chết trong thơ Đinh Hùng rạo rực xuân tình, đầy sức sống:

    Cười lên em! Khóc lên em!
    Đâu trăng tình sử,Nép áo trần duyên?

    … Ta gởi bài thơ anh linh
    Hỏi người trong mộ có rùng mình?
    Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
    Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?”

    (Gửi người dưới mộ)

    … Hỡi hồn tuyết trinh!
    Hỡi người tuyết trinh!
    Mê em, ta thoát thân hình,
    Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.
    Em có vui thêm? Em có buồn thêm?
    Ngồi bên cửa mộ,
    Kể cho ta biết nỗi niềm.

    Sau khi Bích Liên mất, thi sĩ Đinh Hùng sống một cuộc sống “Lăng bạt kỳ hồ“, khi thì ông đi dạy học ở Hà Đông, khi thì gia nhập một ban nhạc tài tử ở vùng Bắc cạn, ông như người quẫn trí, ông khóc như điên dại, bỏ Hà Nội, đi Hải Dương, vượt sông Hồng Hà, ông bỏ lại tất cả và chỉ ôm ấp bên mình, bức di ảnh của Bích Liên.  

    … “Thần chết cười trong bộ ngực điên,
    Ta nghe em thở tiếng ưu phiền.
    Nỗi lòng xưa dậy tan Thanh Vắng.
    Hơi đất mê người – Trăng hiện lên.”

     Những cái chết trong gia đình, nhất là cái chết của Bích Liên, thi sĩ Đinh Hùng cho rằng định mệnh quá cay nghiệt với ông, ông muốn xuất trần, rút mình vào một thế giới siêu tưởng, tránh sầu bi? Phải chăng, ông đã vượt ra ngoài vòng vũ trụ, nhìn xuống dương trần với đôi mắt dửng dưng và tìm đến cái thế giới riêng cho ông, thế giới vô hình. (Thi Vũ 1993). Có thể điều này đã giải thích được phần nào những văn thơ huyền bí của ông. Trong thế giới siêu tưởng, Đinh Hùng mâu thuẫn với chính ông, khi hiền thì thật là hiền, nhưng có lúc thì trở nên dữ tợn. Trong cái thế giới tình yêu giả tưởng, lãng mạn và tình tứ ấy, thi sĩ Đinh Hùng đã tìm ra chân lý của mình.

    …“Trong im lặng, tôi rung mình nín thở,

    Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa.

    Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da,

    Tình yêu rợn tự đầu mày chân tóc…”

    (Giáp Mặt Phù Dung)

    Ngược lại, trong bài “bài Ca Man Rợ” ông rất dữ tợn:

    …”Ta về đây, lạ hết các người rồi,

    Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống.

    Trong bỡ ngỡ duy long còn chút mộng,

    Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa.

    Nàng không mong, ta đi đến không ngờ,

    Giây phút ấy thực mắt nhìn tận mắt,

    Ta mỉm cười bỗng thấy nàng che mặt

    Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa…”

    (Bài Ca Man Rợ)

    Theo tài liệu Wikipedia, hai thi phẩm nổi bật của Đinh Hùng là Đường Vào Tình Sử và Mê Hồn Ca.  Nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca như sau:  “Đây là loại thơ nói ít hiểu nhiều, thi sĩ Đinh Hùng đã sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mát. Có thể nói là thi sĩ Đinh Hùng chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire và Rimbaud“.  Thơ của Đinh Hùng nghiêng về tâm linh, siêu hình, bí ẩn và có chiều hướng thoát ly ra khỏi thực tế. 

    …”Khi miếu đường kia phá bỏ rồi 

     Ta đi về những hướng sao rơi 

    Lạc loài theo hướng chân cầm thú 

     Từng vệt dương sa mọc khắp nơi…

    … Rồi những đêm sâu bỗng hiện về 

    Vượn lâm tuyền, khóc rợn trăng khuya

    Đâu đây u uất hồn sơ cổ 

    Từng bước ma rừng theo bước đi”……

     (Bài Ca Man Rợ)

    Tình yêu trong thơ Đinh Hùng không phải là những cảm xúc bình thường, mà là sự kết hợp của những mê dại nghiêng về tâm linh, huyền bí của thế giới kỳ diệu ái tình, một vũ trụ nhập nhòe giữa thực và ảo, chính là vũ trụ của một biển tình da diết trong thế giới âm dương.

               …“Ta thường có những buổi sầu ghê gớm 

                Ở bên em, ôi biển sắc rừng hương!

                Em rực rỡ như một ngàn hoa sớm 

                Em đến đây như đến tự thiên đường.

                                                    (Kỳ Nữ)

    “Kỳ Nữ” trong thơ của Đinh Hùng đã đưa chúng ta vào một không gian thần thoại với vẻ kỳ vĩ của trăng sao, của núi rừng. “Kỳ Nữ” với Đinh Hùng giống như nàng Galatae với chàng Pygmalion, nàng đại diện cho lý tưởng, cho cõi mơ, cho sự hoàn hảo mà người nghệ sĩ luôn tưởng đến.

    “Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo
    Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm
    Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm
    Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận”

    Khi bài Kỳ Nữ ra đời được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh, đã đưa tên tuổi của thi sĩ Đinh Hùng lên đỉnh cao nhất trong làng thi văn, và khẳng định rằng ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi từ đầy ma lực, điều này đã được thể hiện rõ rệt trong thi tập Mê Hồn Ca. Tuy nhiên, Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng là thế giới của say mê, hoang sơ man dại, chết chóc,  huyền bí, nhiệm mầu, của tình yêu tha thiết, mãnh liệt và kinh khủng của lứa đôi. 

    Anh sẽ tìm em, chiều nào tận thế
    Khi những sầu thương cất cánh xa bay
    Khi những giận hờn, khi những mê say
    Khi tất cả hiện nguyên hình ảo mộng:
    Giọt lệ hoa niên, cung đàn hoài vọng
    Và những hương thơm tình ái trao duyên
    Những không gian thăm thẳm mắt u huyền
    Những vạt áo bỗng trở màu sông biển

    (Đường Vào Tình Sử)

    Ngoài những bài thơ huyền bí, thi sĩ Đinh Hùng sáng tác một số bài thơ ca ngợi tình yêu, nhưng khi đọc Kỹ, chúng ta thấy phảng phất lời văn hoang tưởng và xa vời thực tế. Nổi bật trong thể loại thơ này là bài thơ Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng với lời thơ trong sáng, ca tụng tình yêu đôi lứa, được nhạc sĩ Phạm đình Chương góp nhặt, trau chuốt, viết bằng cảm xúc xúc thành nhạc phẩm Mộng dưới hoa.

     …”Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng 

     Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng 

     Tóc xanh là bóng dừa hoang dại 

     Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    …”Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu 

      Đêm nằm nghe giấc mộng trôi mau

      Gió ơi, gởi gió lời tâm niệm 

     Và nguyện muôn chiều ta có nhau…”

    (Nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa)                                                                                                                                                        Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng là hai bài thơ trong thi tập Đường vào từng sử, một tập thơ đầy nhạc tính. Trong hai bài thơ trên, Đinh Hùng muốn nói cuộc đời không phải lúc nào cũng là con đường đầy chông gai, tang thương, buồn thảm. Con đường ấy có khi cũng phủ đầy hoa gấm, mộng mị, yêu thương, dù là trong mộng tưởng.

    Nếu bước chân ngà có mỏi
    Xin em dựa sát lòng anh
    Ta đi vào tận rừng xanh
    Vớt cánh rong vàng bên suối

    (Xuôi dòng ảo mộng)

    … ‘Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,

    Nắng trong hoa, với gió bên hồ

    Dành riêng em đấy khi tình tự,

    Ta sẽ đi về những cảnh xưa…”

    (Tự Tình Dưới Hoa)

    Nhà văn Việt Haỉ viết “Mộng dưới hoa của Đinh Hùng và nhạc Phạm Đình Chương như hiểu nhau ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, những nốt nhạc ấy là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ”.  Nhà văn Việt Haỉ nhận định: “Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ”.

    …”Tóc xanh là bóng dừa hoang dại,

    Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    Trong bốn câu thơ dưới đây diễn tả một khoảnh khắc thời gian như dừng lại cho cặp tình nhân gặp nhau trong mộng.

    …”Nếu bước chân ngà có mỏi

    Xin em dựa sát long anh

    Ta đi vào tận rừ xanh

    Vớt cánh rong vàng bên suối…”

    Trong câu: Ta đưa nhau vào tận rừng xanh, vớt cánh rong vàng bên suối.

    “Cánh rong vàng” tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Hỏi ai có

    vớt được “cánh rong vàng”? hay đó chỉ là trong giấc mộng thôi.

    …“Bước khẽ cho long nói nhỏ

    Bao nhiêu mộng ước phù du

    Ta xây thành mộng nghìn thu

    Núi biếc song dài ghi nhớ.

    Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề

    Mây hồng giăng tám ngả sơn khê

    Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng

    Và mộng em cười như giấc mê…”

    Theo Võ Tấn Cường nhận định về thơ của thi si Đinh Hùng: “Đinh Hùng – một hồn thơ kỳ ảo với vũ trụ thơ thuần khiết, song hành với thực tại là hiện tượng thi ca đầy phức tạp và bí ẩn.  Số phận cuộc đời của Đinh Hùng và thi ca của ông chịu nhiều oan trái, bị chìm khuất dưới những dòng xoáy của thời cuộc cùng với những định kiến và quan niệm hẹp hòi về nghệ thuật”

    … Theo tôi, cái đẹp trong thơ Đinh Hùng huyền ảo, mầu nhiệm và gợn sắc màu sử thi như trong các bản trường ca Iliat và Ôđixê của  Hôme dưới thời kỳ lịch sử Hi Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ IX TCN (vì trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Hi Lạp trong giai đoạn này được phản ánh rõ nét trong 2 tập sử thi Iliát và Ôđixê, tương truyền là sáng tác của nhà thơ Hôme ở Tiểu Á. (Nguồn: https://bienniensu.com/thegioi/lich-su-hi-lap-thoi-ky-home/). Cái đẹp trong thơ Đinh Hùng mang bóng dáng và tinh thần nhân đạo của hình tượng người anh Hùng sử thi:

    …“Ta lảo đảo vùng đứng lên cười ngất

    Ghì chặt nàng cho chết giữa mê ly

    Rồi dày xéo lên song núi đô kỳ

    Bên thành quách ta ra tay tàn phá…”

    (Bài ca man rợ)

    Dưới ánh mắt của Đinh Hùng cái đẹp là một thế giới đầy cám dỗ, huyền ảo, nhiệm màu và siêu thoát, ông tôn thờ tình yêu và xem nó như một thứ tôn giáo, ông đặt sắc đẹp lên ngôi, xem nó là một thứ quyền năng chi phối tâm linh, sự sống và sự chết, nó ảo hóa với muôn sắc thái và ma mị nên dễ gây ấn tượng rờn rợn khi ta được nghe hay đọc nó.

    …“Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác

    Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma

    Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà

    Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết

    Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết

    Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn

    Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn…”

    (Kỳ Nữ)

    Thơ tình yêu của Đinh Hùng vượt qua nỗi khát khao dâng hiến, hướng về thế giới tâm linh huyền bí, siêu hình của tôn giáo, sự linh thiêng của cõi vô hình đã phủ lên thế giới tâm linh, hư ảo, huyễn hoặc trong thơ của ông qua vẻ đẹp lung linh, huyền bí trong thơ của Đinh Hùng:

    …“Ta hát bài kinh, thoảng dã hương

    Từng đêm chiêu niệm bắt hồn nàng

    Lời ra cửa biển tìm sao rụng

    Rỏ xuống mộ em giọt lệ thương…”

                        
    Cái gì đã đưa Đinh Hùng đến với ám ảnh về cái chết, về bóng ma? Trong đời sống tôn giáo tâm linh, quan trọng nhất là đời sống sau khi chết, là đời sống thực của linh hồn. Linh hồn con người thoát khỏi thể xác và khám phá thế giới cõi âm. Điều này được ghi lại trong các thư tịch của Tây Tạng, Ai Cập, Trung Quốc và báo chí phương Tây. Trong cơn hấp hối, trong trạng thái mơ màng, con người tiếp xúc với thế giới âm, gặp gỡ những linh hồn của người lạ hoặc người quen trong quá khứ. Krishnamurti, một bậc thầy tâm linh đương đại nổi tiếng được sự kính ngưỡng của cả giới tôn giáo và giới khoa học thế kỷ 20, cũng đã thường xuyên có trải nghiệm này. Trong những biến đổi mãnh liệt nhất về tâm linh, khi ở giữa ý thức và vô ý thức, ông nhìn thấy bóng ma người mẹ quá cố của mình cùng với nhiều linh hồn của các bậc chứng ngộ khác. Ở trường hợp Đinh Hùng, nhà thơ đã trải nghiệm sự việc này khi mơ màng trong màu sương khói của mây mù thuốc phiện:

    “Từng đêm tôi nguyện tôi cầu
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa”

                       (Gửi người dưới mộ)

    Này Biển Giác: mây trời nghiêng nét mặt
    cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu

                        (Tìm bóng tử thần)

    Ta hằng nghe rõ
    tiếng buồn trong sương
    hằng thấy trên tường
    hình ma bóng nhớ
    chỗ em ngồi cũ
    lên màu khói hương
    (Màu sương linh giác)

    Và chính Đinh Hùng cũng thừa nhận đó là một trạng thái mộng mị, tức là cõi ảo dưới con mắt người thường, có điều trong cõi ảo ấy, tất cả đều rất thật, rất đắm say, tới mức muốn vứt bỏ cả xác trần:

    “đôi ta vào hội oan hồn
    âm dương tái hợp –
    ồ! đây là cuộc tân hôn dị kỳ
    nguyệt hoa mặc áo huyền vi
    màu nghê thường đó – trời ơi! xiêm y biến hình
    tôi van lơn bầy nhạc nữ đồng trinh
    đừng cao giọng hát – hồn các em lạc tinh anh bốn trời!
    đừng cho thể chất phục hồi
    đừng cho tôi khóc, tôi cười vì điên!”

                                            (“Cầu hồn”)

    Tóm lại, phân tích về thế giới thi ca cũa Đinh Hùng tùy thuộc vào cái nhìn của từng cá nhân, dù rằng nó có thể hoàn toàn khác với mọi người. Đôi lúc, người ta cho rằng nhận định của chúng ta là hoang tưởng, nhưng một khi đã bước vào cõi hư ảo, dù theo cách này hay cách khác, tức là đã từng trải nghiệm đời sống linh hồn, thì khó có thể nhìn vạn sự bằng nhãn quan của thế giới hữu hình. Theo người viết, “thơ Đinh Hùng là một thế giới mang đầy mê cung kỳ ảo” và vẫn còn trong sự huyền bí chờ đợi sự giải bày của những khối óc quan tâm đến vận mệnh thi ca của dân tộc. 

    THI CA VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    VŨ HOÀNG CHƯƠNG-(1915-1976)

    Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
    Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
    Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

    Trong một sự tình cờ, ngày 03 tháng 11 năm 2024 người viết đã gởi đến quý độc giả một hồi ký với tựa đề “Sinh Lầm Thế Kỷ”, một câu chuyện chân thực về cuộc sống ở Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm kể về một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại những ký ức đau thương về chiến tranh và nỗi khổ đau của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Tưởng cũng xin giải thích rõ là tại sao người viết lại cho đó là một sự tình cờ? Xin thưa: Lúc chọn tựa đề cho quyển hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ” người viết không nhớ là thi nhân Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài thơ Phương Xa mà trong ấy cũng có câu “đầu thai lầm thế kỷ”.

    Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
    Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
    Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
    Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

    Dưới đây người viết xin lướt qua về:

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Vũ Hoàng Chương sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh–Na Sầm.

    Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, hồi cư về Hà Nội dạy văn cho đến 1975.

    Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam ở Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở các trường trung học và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1959 ông đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc” của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc tế tại Bỉ. Năm 1964 ông tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm 1965 tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire.

    Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai, lúc này tên tuổi của ông nổi bật trong phong trào Thơ Mới (1932-1945) và được gọi “Thi Bá Vũ Hoàng Chương”. Năm 1972, Vũ Hoàng Chương trong danh sách 100 tác giả được đề cử giải Nobel Văn Chương (The Nobel Prize in Literature), sự kiện này chỉ được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố ngày 11 tháng 02 năm 2023. (vì theo quy định thì sau 50 năm kể từ khi trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển mới công bố danh sách những người được đề cử Giải Nobel văn học của năm đó). Giải Nobel năm 1972 được trao cho cho nhà thơ Heinrich Böll của Đức, (Heinrich Böll đã từng được đề cử liên tục từ năm 1960 và mãi đến năm 1972 mới đoạt được giải).

    Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Theo Nhà văn Mai Thảo… Buổi sáng ngày 13 tháng 4 năm 1976 (theo lời chị Vũ Hoàng Chương thuật lại. Bốn chiếc Jeep đến từ phía Sài Gòn, chở đầy an ninh áo vàng mang súng ống, phóng thẳng tới phường Cây Bàng và ngừng lại trước con ngõ nhỏ dẫn vào căn gác của gia đình Vũ Hoàng Chương (Gác Bút). Khoảng 20 công an, nhẩy xuống xe, xô cửa ập vào đánh thức thi sĩ khỏi giấc ngủ chập chờn. Vũ Hoàng Chương gắng gượng ngồi dậy, lấy áo gấm mặc vào người, ngồi thật thẳng giữa chiếu, bất động, chờ đợi… Ông không kinh hãi, không phẫn nộ, không bất ngờ, cũng chẳng ngạc nhiên. Ông ngồi thẳng, mắt nhắm lại… Suốt thời gian này, thi sĩ không nói một lời nào khi ông nghe bản cáo trạng và lệnh bắt giữ, ông chỉ nhún vai rồi ngồi yên như cũ. Lý do bị bắt là phản động, làm thơ chống phá cách mạng phổ biến khắp Sài Gòn những bài thơ chống phá chế độ. Sau cuộc lục soát xong và tịch thu sách và bản thảo, hai công an xốc nách thi sĩ đứng lên, kèm ông xuống cầu thang và đưa thẳng ông vào khám lớn Chí Hòa…

    … Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối, không ai có tin tức của Vũ Hoàng Chương, ông được thả về khi trở bệnh nặng trong tù. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, nhưng thần trí của ông vẫn minh mẫn sáng suốt. Điều tuyệt đối là ông không nói một lời nào về bốn tháng bị giam trong Chí Hòa. Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại trong đau đớn và ngày thứ năm, ngày 17 tháng 9, 1976, thì ông mất tại Sài Gòn. Năm 1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp.

    Dưới đây là bài thơ cuối cùng của Vũ Hoàng Chương làm trong Khám Chí Hòa năm 1976:

    Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
    Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.
    Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
    Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
    Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
    Đêm về giấc ngủ lại thương con.
    Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
    Hồ dễ gì phai được tấc son!”

    Vũ Hoàng Chương có nhiều sáng tác để đời, được giới phê bình văn học đánh giá cao, và từng được xưng tụng là “Ngôi sao Bắc Ðẩu” của thi ca Việt Nam. 1975:

    Hơn bốn thập niên sau, thi ca Vũ Hoàng Chương không còn đề cập ở trong nước, một đời thơ của ông bị lãng quân, chôn vùi theo thân xác. Và ngay cả trong những tác phẩm đề cập đến những áng thơ hay trong Thi Ca Việt Nam cũng “quên” nhắc đến dòng thơ thi bá Vũ Hoàng Chương. (Vương Trùng Dương)

    NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG & THI CA

    Dựa theo tài liệu trên Internet, đã có rất nhiều bài bình luận nhận định về sự nghiệp văn chương & thi phú của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Họ cho rằng: Văn phong và phong cách của thi nhân được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc và chứa đựng sắc thái Đông phương. Vũ Hoàng Chương làm thơ rất sớm khi ông mới 25 tuổi (1940) và đã cho xuất bản rất nhiều thi tập.

    Tháng 10, 1936 ông xuất bản tập Die Achtundzwanzig Sterne, thơ dịch ra Đức ngữ, do nhà Hoffmann Und Campe, tỉnh Hamburg, Đức. Dịch giả là thi sĩ Áo Kosmas Ziegler. Trước 1945, ông có hai thi phẩm nổi tiếng vào thời tiền chiến là Thơ Say (1940) và Mây (1943). Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam đã nhận xét: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say nhưng “say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc”.

    Tập thơ đầu tay Thơ say gồm 32 bài thơ do tác giả tự xuất bản, nhà in Cộng Lực ấn loát và phát hành. Năm 1971, NXB Nguyễn Đình Vượng tái bản tập Thơ Say tại Sài Gòn, tập thơ chia làm nhiều phần như: Say, Mùa, Yêu, Cưới, Lỡ Làng, Lại Say. Bài thơ Say đi em, Phương xa, Chén rượu đôi đường, Mùa thu đã về và Quên là những bài thơ được nhiều người đọc và yêu thích nhất. Năm 1960, tại Sài Gòn Vũ Hoàng Chương tự tái bản 2 tập thơ Say gồm32 bài thơ và Mây gồm 25 bài thơ, in chung vào 1 tập mang tên Mây, Sài Gòn 1960. Người viết xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu:

    …“Say đi em! Say đi em!
     Say cho lơi lả ánh đèn,
    Cho cung bực ngả nghiêng

    Cho điên rồ xác thịt
    Rượu, rượu nữa!

    Và quên quên hết!
    Ta quá say rồi
    Sắc ngả mầu trôi…

                (Say đi em-1940)

    Và lại say nữa để mà quên.

    Đã hẹn với Em rồi, không tưởng tiếc
    Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
    Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu.

    Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
    Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
    Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.

                                    (Quên-1947)

    Năm 1948, Vũ Hoàng Chương xuất bản tập Thơ Lửa cùng với Đoàn Văn Cừ tại Thái Nguyên do cơ quan Kháng chiến Liên khu 3 đảm trách. Năm 1959, khi Vũ Hoàng Chương Tham dự Hội Nghị Thi Ca Quốc Tế, gặp gỡ nhà thơ nữ Ysabel Baes mới 15 tuổi đã có một thi tập được được Maison du Poète tại thủ đô Bruxelles xuất bản năm 1959. Bài thơ Công Chúa Mười Lăm, dài với 40 phân đoạn, mỗi đoạn 4 câu thơ thất ngôn. Toàn bài có 160 câu. Bài thơ “Công Chúa Mười Lăm” của Vũ Hoàng Chương tặng YSA không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là một hành trình vươn tới cái đẹp vĩnh hằng, là hình ảnh của một tình yêu và nghệ thuật. Tình yêu ấy là hành trình, là những cảm xúc, những giấc mơ và những hy vọng. Mối quan hệ giữa người thi sĩ và Công Chúa Mười Lăm là sự giao thoa giữa hai thế giới: thế giới của “thơ” và thế giới của “mộng”.

    Công Chúa Mười Lăm, nàng ở đâu?
    Tìm nàng, thôi đã nát Âu châu
    Ba Lê, Nhã Điển hay La Mã
    Đâu cũng rêu in lệnh Miễn Chầu…

    …Đê mê nhịp thở phút huyền ngưng
    Đôi lứa chìm sâu đáy Tượng trưng
    Ta nhủ: “Kìa em! Thơ mở lối
    Còn sâu hơn cả trái tim Rừng!”…

    Trong thời gian từ năm 1962 trở đi, Vũ Hoàng Chương đã cho xuất bản nhiều thi tập và tùy bút tại Sài Gòn gồm: Rừng Phong. 1970: Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, Tân Thi, Loạn Trung Bút, Ngồi Quán, Tâm sự phố phường, Tuổi Xanh, Ba Kiếp Lang Thang,Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai, Lửa Thiêng (Phần I: Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay 1936-1939), Ánh Trăng Đạo, Tập Bút Nở Hoa Đàm, Nhị Thập Bát Tú I & Tập II, Cành Mai Trắng Mộng. Đáng kể nhất là năm 1962, tập thơ Trời Một Phương trong đó có bài thơ Lửa Từ Bi ca ngợi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào tháng 07, do nhóm Thanh Tăng xuất bản vào tháng 12, 1962. Bài thơ Lửa Từ Bi Kính dâng lên BỒ-TÁT QUẢNG-ĐỨC đã được Hà Lan Phương và Nguyễn Hải phổ nhạc.

    Lửa! Lửa cháy ngất Toà Sen!
    Tám chín phương nhục thể trần tâm
    hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.
    Hai Vầng Sáng rưng rưng
    Đông Tây nhoà lệ ngọc
    Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,
    Ánh Đạo Vàng phơi phới
     đang bừng lên, dâng lên…

    1974: Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, NXB Rừng Trúc, Paris; Theo ông Hoàng Tấn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau” tặng nghệ nhân Quách Thị Hồ, người hát ca trù hay nhất Việtnam (danh hiệu NSND), xưa từng là bạn cố tri của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Hát ca trù cần có “đàn đáy”, do đó nội dung bài thơ sau đây đầy ắp những từ hát cô đầu, âm thanh vang tiếng “sênh, đàn, phách”.

    … Chúng ta mất hết cả rồi sao?

    Cả đến âm thanh một thuở nào!

    Da trống tơ đàn ôi trúc phách

    Đều khổ như khúc hát gầy hao

    Đàn mang tiếng đáy mà không đáy

    Mất hết rồi sao sợi nhớ thương

    Tay phách từ lâu nay lạc phách

    Không còn đựng mãi bến Tầm Dương…

    Bài Vịnh Tranh Gà Lợn của nhà thơ Vũ Hoàng Chương mà tác giả đã viết vào mùa xuân Bính Thìn (1976), cái tết cuối cùng của một đời thi bá.

    Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,

    Gà lợn, om sòm rối bức tranh.

    Rằng vách có tai, thơ có hoạ,

    Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.

    Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,

    Lòng lợn âm dương một tấc thành.

    Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,

    Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.

    Ngoài ra Vũ Hoàng Chương còn có một số tác phẩm được dịch qua Anh ngữ và Pháp ngữ như tập thơ Cảm Thông (nhan đề Anh ngữ là Communion); gồm 6 bài thơ mới sáng tác sau cuộc Âu du và 9 bài cũ lựa chọn lấy tính cách tiêu biểu; do Nguyễn Khang phiên dịch và xuất bản. Tập thơ Tâm Tình Người Đẹp (nhan đề Pháp ngữ là Les 28 Etoiles); gồm 42 bài thơ Nhị thập bát cú, kèm theo bản dịch của nữ thi sĩ Bỉ Simone Kuhnen de La Coeuillerie; Nguyễn Khang. Năm 1963, xuất bản tập Thi Tuyển (nhan đề Pháp ngữ là Poemes Choisis) kèm theo bản dịch của Simone Kuhnen de la Coeuillerie: do nhà xuất bản Nguyễn Khang vào tháng 03, 1963. Vũ Hoàng Chương đã dịch nhiều thơ chữ Hán từ nhiều tác gia Việt Nam và Trung quốc, khoảng 100 bài.

    Dưới đây là những bài thơ Vũ Hoàng Chương viết trong tập thơ Hoa đăng. Bài thơ Trả ta sông núi cho chúng ta cảm nhận tấm lòng yêu nước của con người dân Việt. Những bài thơ trong tập thơ Hoa Đăng rất dài nên người viết chỉ xin trích vài đoạn trong một số bài thơ của ông mà thôi.


    …Trả ta sông núi từng trang sử
    Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
    Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
    Không đòi, ai trả núi sông ta…


    …Trả ta sông núi! câu hùng tráng
    Là súng là gươm giữ đất đai

    Trông lên cao ngất phương trời
    Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.

    Bài thơ Đời Vắng Em Rồi của Vũ Hoàng Chương sau được đổi thành Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai. Tên này sau cũng được ông dùng đặt cho một tập thơ khác.

    Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu,
    Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu.
    Thôi rồi, tay nắm tay lần cuối,
    Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau.

    Gặp gỡ chừng như truyện Liểu Trai.
    Ra đi chẳng hứa một ngày mai.
    Em ơi! lửa tắt, bình khô rượu,
    Đời vắng em rồi, say với ai?
                                                 

    Yêu Mà Chẳng Biết là một trong những bài thơ mang tính thơ lãng mạng.

    Lâu rồi không nhớ bao nhiêu năm,
    Từ độ trông nhau hết lạ lùng,
    Từ hôm bên nhau thôi ngượng ngùng,
    Từ buổi xa nhau mà nhớ nhung.
    Em đã nao lòng, anh mê man!
    Đuôi mắt đầu môi tình chứa chan,
    Đêm thường mơ đêm, ngày đợi ngày.
    Nhưng không hề nói cho nhau hay.

    Bài thơ Giận Hờn là những cay đắng nhưng là bài thơ đặc biệt cho ta cảm giác nhẹ nhàng Của những điệp khúc tình yêu.

    Em đến hôm nào như hoa bay.

    Tình không độc dược mà đắng cay

    Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt

    Mùi hương sát nhân từng ngón tay

    Hay trong bài thơ Hờn Dỗi:

    … Anh vẫn nghe tiếng khóc

    Trong vạt áo len hồng.

    Anh vẫn nghe tiếng nấc.

    Dồn dập trên cgối nhung

    Sao em khóc vì đâu hờn dỗi

    Em buồn có phải lỗi anh không

    Hỏi em em chẳng nói

    Mặc anh xô cửa phòng…

    Một bài thơ Tình si.

    Vì ai làm một bài thơ
    Từ bao giờ đến bây giờ mới xong.

    Đầu trang vằng vặc gương trong
    Nhạc lơi cánh bướm hương phong nụ đào
    Cuối trang vần điệu xôn xao
    Lửa si mê bỗng cháy vào làn môi…
    Đền nhau một chiếc hôn rồi
    Mười lăm năm biết có nguôi giận hờn?…

    Cuối năm 1949, khi hai gia đình đang ở vùng Đống Năm, Thái Bình. Quân Pháp tràn tới, Việt Minh rút chạy. Hai gia đình Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng cũng chạy từ làng nọ tới làng kia. Cuối tháng 8 năm 1954, gia đình Vũ Hoàng Chương và gia đình thi sĩ Đinh Hùng di cư vào miền Nam, hai người thuê một căn nhà lợp tôn, vách ván tại xóm Hòa Hưng. Vũ Hoàng Chương cùng vợ ở trên gác, dưới nhà là tổ ấm của gia đình Đinh Hùng. Đất khách quê người, hai thi nhân sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo túng, họ tạm gác bút. Chán nản, họ vướng vào con đường nghiện hút (thuốc phiện). Lý tưởng tàn lụi, Vũ Hoàng Chương đã gởi niềm tâm sự vào trang giấy: Bài thơ Lý Tưởng.

    …Chàng họa sĩ hôm nay vừa ném bút.

    Bởi vì mơ và thực chẳng đi đôi.

    Nét hư Huyền thấp thoáng ở hồn thôi.

    Tài non kém chẳng đem vào lụa được…

    …Nhạc sĩ với thi nhân đều thế cả

    Dứt hết dây vò nát mấy mươi trang

    Xấu xa trong vần điệu ý huy hoàng

    Sai lạc nữa lúc phổ vào cung bậc…

    …Hồn nghệ sĩ vốn từ xưa nông nổi.

    Yêu thiết tha nhưng chẳng chịu thầm yêu.

    Kiếm hoài công bày giải ý cao siêu.

    Bằng gỗ lụa trơ trơ bằng thép rắn…

    NHẬN ĐỊNH VỀ LÃNH VỰC KỊCH NGHỆ

    Vũ Hoàng Chương đã xuất bản nhiều tập kịch thơ, 3 vở đầu tiên là Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp trong năm 1944, NXB Anh Hoa, Hà Nội. Tại Sài Gòn năm 1960, NXB Nguyễn Đình Vượng lại cho tái bản ba kịch bản này. Kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần, NXB Lửa Thiêng tại Sài Gòn cho ấn hành lần đầu năm 1951 và tái xuất bản năm 1961 ngay sau Cách mạng tháng 8. Năm 1946, Vũ Hoàng Chương tản cư về vùng duyên hải Nam Định (Khu Ba) nhưng đến năm 1950, ông cư về Hà nội để chuẩn bị cho diễn vở kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần năm 1951. Năm 1952, trinh diễn vở kịch thơ Thằng Cuội và năm 1953 ông cho đăng báo kịch thơ Cô Gái Ma.

    Tác phẩm Vân muội: Theo tác giả Phương Nghi, Vũ Hoàng Chương khi còn đang dạy học tại Hải Phòng và vào dịp rằm tháng bảy, ông cùng nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm, Lê Trọng Quỹ và Thế Lữ cùng đi nghe hát quan họ ở Kinh Bắc. Vũ Hoàng Chương đã từng làm xếp ga Bắc Ninh và có người yêu tên là Vân ở làng Dương Ổ. Vân chính là nàng thơ để Vũ Hoàng Chương viết kịch thơ “Vân muội” và ra tập thơ “Mây” năm 1943. Năm 1942, Vũ Hoàng Chương định lên thăm “nàng thơ”, nhưng khi đến ga Đầu Cầu thì gặp Tô Hoài và Nguyễn Bính và họ rủ nhau cùng đi lên Bắc Giang ghé thăm nhà thơ Bàng Bá Lân. Ba ông dự định khi gặp Bàng Bá Lân, họ sẽ rủ nhau di xem hát ả đào. Nhưng Bàng Bá Lân vốn tính tình hiền lành hiền việc đi xem hát ả dào đành phải bỏ và họ quyết định cùng nhau họa thơ.

    Duyên nợ không thành, Vũ Hoàng Chương phải chia tay “nàng thơ” xứ Quan Họ bởi vì nàng đã được gia đình gả chồng từ năm 12 tuổi. Kịch thơ “Vân muội” và tập thơ “Mây” ra đời là kết quả của cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa Huy Cận và Vũ Hoàng Chương ở Hàng Lược. Vừa gặp nhau, Huy Cận đã ngẫu hứng đọc hai câu lục bát: 

    “Đã lên gặp lại chàng sa.

    Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần”.

    Nghe xong, Vũ Hoàng Chương đối lại:

    “Mây kia chẳng chịu xuống trần.

    Lửa ơi! Theo khói lên gần với mây”. 

    KẾT LUẬN:

    Trong thế giới thi ca đã có những bài thơ nổi tiếng đã thu hút nhiền độc giả yêu thơ với những áng thơ nhẹ nhàng và tinh khiết như của Hồ dzếnh, Quang Dũng; những vần thơ tình tứ, lãng mạn như của Xuân Diệu, Nguyễn Bính; hay những lời thơ triết lý cao siêu của Cao Tiêu, Tô Đông Pha; cũng như những ý thơ nặng chất tuyệt vọng, cay đắng, khổ đau của TTKH, Hàn Mạc Tử… Nhưng chúng ta phải công nhận rằng, đọc thơ của Thi Nhân Đinh Hùng, chúng ta như bị lôi cuốn vào những vần thơ huyền bí của ông, những vần thơ khi thi biểu hiện lời êm ái, mộng mị, yêu thương lúc lại chen lẫn những vẻ liêu trai, ma quái và kinh dị. Và khi thưởng thức dòng thơ của Vũ Hoàng Chương chúng ta cảm nhận được hương vị đắng cay, bất mãn chen lẫn sự khinh miệt, chán chường của một nhân tài sống trong xã hội bất công.

    Đinh hùng là nhà thơ lớn của dân tộc mà còn là một nghệ sĩ đa tài đích thực trên cả lĩnh vực âm nhạc và hội họa. 47 năm của cuộc đời trên 20 tác phẩm với nhiều thể loại từ thơ ca văn xuôi tiểu thuyết ký và phê bình văn học. Đám ma tôi là thi tập đầu của ông và thi tập cuối là Tiếng ca bộ lạc, nhưng hai thi tập Mê hồn Ca và Đường vào tỉnh sử mới thực sự làm nên tên tuổi của người nghệ sĩ tài năng Đinh Hùng. Cho đến nay thơ của Đinh Hùng vẫn còn trong vòng bí ẩn như con người của ông, một con người gặp quá nhiều oan trái và hình như cái Định mệnh khất khe, nghiệt ngã luôn buộc chặt vào cuộc đời của ông.

    Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, ông có nhiều tập thơ nổi tiếng và được yêu thích, trong đó phải kể đến tập thơ Hoa Đăng do Văn Hữu Á Châu xuất bản tại Sài Gòn năm 1959. Đây là một tập thơ được đánh giá cao và đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca. Hai tập Thơ Say và Mây in chung vào một tập mang tên Mây là những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của ông. Tiếc thay, thời cuộc đảo điên, nhà thay chủ đã đưa người nghệ sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đi vào con đường tuyệt vọng. (Tạp Chí Văn Nghệ.)

    Sau bao năm vắng bóng trên thi đàn thơ nhạc của dân tộc Việt, nhưng dư âm và danh tiếng của hai thi nhân Đinh Hùng & Vũ Hoàng chương vẫn sống mãi trong lòng độc giả yêu thơ.

    Khánh Lan, California 2026

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Tạp chí Văn Học, Sài Gòn, số 97, 1969.
    • Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 150, 3/1970.
    • Lê Huy Oanh, Giai Phẩm Văn, Sài Gòn, 20/8/1974.
    • Phan Xuân Sanh. Tạp chí Đại Học, số 9, 1959, Huế.
    • Đoàn Thêm, Báo Văn Hóa Nguyệt san, Sài Gòn, 1964. 
    • Tạ Tỵ, Mười gương mặt văn nghệ, nxb Kim Lai, 1970 Sài Gòn.
    • Bàng Bá Lân : Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại, 1962, Sài Gòn.
    • Mai Thảo, Chân dung 15 nhà văn nhà thơ, Văn Khoa, 1985 California.
    • Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Thơ, nxb Văn nghệ, 1999 California.
    • Đỗ lai Thúy, Con Mắt thơ, nxb Lao Động, 1992, Hà Nội.
    • Chế lan Viên, Phê bình văn học, nxb Văn Học, 1962, Hà Nội.
    • Đặng Tiến, Từ điển văn học, tạp chí Thế Kỷ 21, 6/2005, California
  • VĂN HỌC,  Việt Hải

    BOOK SUMMARY & REVIEW: TRIẾT HỌC HIỆN SINH VÀ SIÊU HÌNH HỌC

    Trần Việt Hải

    Hai quyển sách này là những món quà tinh thần vô giá dành cho những ai đang kiếm tìm sự tĩnh lặng, yên bình nơi tâm hồn, những học giả, những tinh hoa nghiên cứu, biên khảo gia về tư tưởng học và bất kỳ những ai đọc, hiểu…, hãy nhận thức lý do hiện hữu cúa ta và vũ trụ xung quanh, sự tồn tại của hữu thể theo thời gian muốn mở rộng chân trời nhận thức của bản thân chính mình.

    Xét về giá trị cốt lõi của triết siêu hình, ý tưởng siêu hình học, nhìn qua như là chân lý của hiện vật như những tư duy, tư tưởng của hữu thể tồn tại qua thời gian, cái nhìn khác từ sách của Khánh Lan, qua lăng kính hiện sinh, vốn là một trạng thái tâm lý sâu sắc, nơi cá nhân đối diện trực tiếp với những tư duy tự hỏi nền tảng về sự tồn tại. Hiện tượng này phát sinh ra khi người ta băn khoăn về ý nghĩa, mục đích sống, và vị trí của mình trong xã hội hay trong vũ trụ quan tạm bợ, vô thường.

    Đoạn tư tưởng trên về hai tác phẩm: Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh và Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình của nhà văn Khánh Lan là sự tóm lược bài viết này, và nó cũng chúc mừng đến tác giả Khánh Lan.

    TRIẾT HỌC HIỆN SINH: TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN ÁP DỤNG CỦA TÁC GIẢ KHÁNH LAN

    Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng là một công trình khảo cứu có phạm vi rộng, đưa người đọc đến với một trong những trào lưu tư tưởng quan trọng nhất của triết học hiện đại. Cuốn sách giới thiệu lịch sử hình thành và những khái niệm nền tảng của chủ nghĩa hiện sinh, cũng như khảo sát ảnh hưởng của nó đối với văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tâm lý học và đời sống con người.

    Khởi điểm của triết học hiện sinh là những câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản nhưng không bao giờ dễ trả lời chẳng hạn như: Tôi là ai? Tôi hiện hữu để làm gì? Con người có thật sự tự do không? Làm thế nào để sống một đời sống chân thực? Cái chết, cô đơn, đau khổ và sự phi lý có ý nghĩa gì đối với sự tồn tại của mỗi cá nhân, v.v…

    Từ những câu hỏi ấy, tác giả Khánh Lan dẫn người đọc bước vào thế giới hiện sinh—một thế giới không bắt đầu bằng những hệ thống lý thuyết, mà bằng chính kinh nghiệm sống của con người. Con người hiện sinh không phải là một khái niệm trừu tượng. Đó là do con người tự lựa chọn, hành động, lo âu, hy vọng, sai lầm và chịu trách nhiệm về cuộc đời mình.

    Hành trình hình thành của tư tưởng hiện sinh

    Những chương đầu của sách trình bày lịch sử phát triển của chủ nghĩa hiện sinh, từ các tư tưởng tiền thân cho đến khi nó trở thành một phong trào triết học và văn học có ảnh hưởng sâu rộng trong thế kỷ XX.

    Tinh thần “hãy tự biết mình” của Socrates được xem như một trong những khởi nguồn xa xưa của tư duy hiện sinh. Tiếp đó là những suy tư của Montaigne và Pascal về sự hữu hạn, bất an và mâu thuẫn trong bản tính con người. Đến thế kỷ XIX, Søren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche đã đặt những nền móng trực tiếp cho triết học hiện sinh.

    Kierkegaard chú trọng đến cá nhân đơn độc trước lựa chọn, tuyệt vọng và đức tin. Đối với ông, chân lý không chỉ là điều được hiểu bằng lý trí, mà còn là điều phải được sống bằng toàn bộ sự hiện hữu của một cá nhân. Nietzsche, trong khi đó, đặt vấn đề về sự sụp đổ của các giá trị truyền thống và kêu gọi con người tự vượt lên chính mình để sáng tạo những giá trị mới.

    Sang thế kỷ XX, tư tưởng hiện sinh được mở rộng qua những công trình của Martin Heidegger, Karl Jaspers, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir và Albert Camus. Hai cuộc thế chiến, sự đổ vỡ của các niềm tin truyền thống và cảm giác bất an của con người hiện đại đã tạo nên bối cảnh để triết học hiện sinh trở thành tiếng nói tiêu biểu của một thời đại khủng hoảng.

    Hiện hữu, tự do và trách nhiệm

    Một trong những luận điểm trung tâm được cuốn sách nhấn mạnh là lời tuyên bố nổi tiếng của Sartre: “Hiện hữu có trước bản chất.” Con người trước hết xuất hiện trong thế giới, rồi mới tự định nghĩa mình thông qua những hành động và lựa chọn.

    Theo cách nhìn ấy, con người không có một bản chất hoàn toàn được định sẵn. Hoàn cảnh, truyền thống và xã hội có thể ảnh hưởng đến cá nhân, nhưng không thể thay cá nhân quyết định mình sẽ trở thành người như thế nào. Tự do vì vậy vừa là khả năng, vừa là gánh nặng. Khi lựa chọn, con người đồng thời phải nhận trách nhiệm về hậu quả của điều mình đã chọn.

    Cuốn sách dành nhiều phần để phân tích các trạng thái đặc trưng của đời sống hiện sinh: lo âu, sợ hãi, tha hóa, tuyệt vọng, cô đơn và cảm giác hư vô. Đây không chỉ là những cảm xúc tiêu cực cần phải loại bỏ. Chúng có thể là dấu hiệu cho thấy con người đang đối diện với tự do, giới hạn và sự thật về chính mình.

    Lo âu xuất hiện vì con người hiểu rằng mình có nhiều khả năng nhưng không thể sống tất cả những khả năng ấy. Tuyệt vọng nảy sinh khi cá nhân không thể trở thành chính mình hoặc tìm cách trốn tránh bản thân. Sự tha hóa xảy ra khi con người sống theo những khuôn mẫu áp đặt, để cho đám đông, vai trò xã hội hay cái nhìn của người khác quyết định giá trị của mình.

    Đối diện với những trạng thái đó, triết học hiện sinh đề cao tính chân thực. Sống chân thực không có nghĩa là chỉ làm theo cảm xúc nhất thời, mà là nhìn nhận hoàn cảnh một cách thành thật, tự lựa chọn các giá trị và can đảm nhận trách nhiệm về cách sống của mình.

    Phi lý, cái chết và sự nổi loạn

    Tư tưởng về sự phi lý của Albert Camus là một điểm quan trọng trong cuốn sách. Sự phi lý xuất hiện từ cuộc đối đầu giữa khát vọng tìm kiếm ý nghĩa của con người và sự im lặng của vũ trụ. Thế giới không luôn cung cấp những lời giải đáp mà con người mong muốn.

    Tuy nhiên, nhận ra sự phi lý không nhất thiết dẫn đến bi quan hay buông xuôi. Camus đề nghị một thái độ nổi loạn: con người vẫn sống, vẫn hành động và vẫn kiến tạo ý nghĩa dù biết rằng không có một câu trả lời tuyệt đối nào được bảo đảm. Sự nổi loạn ấy là lời khẳng định phẩm giá và sức sống của con người trước một thế giới bất định.

    Cái chết cũng được trình bày như một vấn đề cốt lõi của hiện sinh. Ý thức về cái chết khiến con người nhận ra đời sống là hữu hạn. Nhưng chính vì hữu hạn, thời gian mới trở nên quý giá, lựa chọn mới mang trọng lượng và cuộc sống mới đòi hỏi sự dấn thân. Cái chết không chỉ là sự chấm dứt; nó còn là tấm gương khiến con người suy xét mình đang sống như thế nào.

    Tôn giáo và những con đường hiện sinh

    Cuốn sách dành một chương bàn về tôn giáo trong quan điểm hiện sinh, qua đó làm rõ sự khác biệt giữa hiện sinh hữu thần và hiện sinh vô thần. Ở Kierkegaard, con người tìm thấy ý nghĩa trong mối quan hệ cá nhân với Thượng đế. Đức tin không đơn thuần là chấp nhận một hệ thống giáo lý, mà là một lựa chọn sâu sắc, đôi khi được thực hiện giữa bất định và lo âu. Trong khi đó, Sartre cho rằng nếu không có Thượng đế hay một bản chất được định trước, con người phải tự sáng tạo giá trị và hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc đời mình.

    Việc đặt hai khuynh hướng này bên cạnh nhau cho thấy chủ nghĩa hiện sinh không phải là một học thuyết đồng nhất. Các triết gia hiện sinh có thể khác biệt về tôn giáo, bản thể học và quan niệm tự do, nhưng cùng gặp nhau ở việc đặt cá nhân cụ thể và kinh nghiệm sống vào trung tâm của triết học.

    Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nghệ thuật

    Một trong những đóng góp nổi bật của tác phẩm là phần nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học hiện sinh với văn học. Tác giả cho thấy nhiều tư tưởng hiện sinh không chỉ được trình bày qua các công trình triết học mà còn được diễn đạt sống động trong tiểu thuyết, kịch nghệ và thơ ca.

    Dostoevsky được giới thiệu như một nhà văn tiền hiện sinh với những nhân vật luôn giằng co giữa tự do, tội lỗi, đức tin và trách nhiệm. Kafka khắc họa con người cô độc trước những cơ cấu quyền lực bí ẩn. Sartre đưa tự do và sự tự lừa dối vào tiểu thuyết và sân khấu. Camus dùng văn chương để diễn tả sự phi lý, cô lập và thái độ phản kháng của con người. Nietzsche truyền đạt triết lý của mình bằng hình tượng Zarathustra giàu chất thơ và biểu tượng.

    Cuốn sách còn mở rộng sự khảo sát đến sân khấu phi lý, văn học Mỹ, thơ ca hiện đại, văn học hậu hiện đại, văn học nữ quyền và tiểu thuyết đương đại. Đặc biệt, tư tưởng của Simone de Beauvoir cho thấy tự do không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn liên hệ với giới tính, xã hội và những điều kiện áp bức cụ thể.

    Trong nghệ thuật và điện ảnh, những câu hỏi về bản sắc, tự do, thực tại và sự tha hóa vẫn tiếp tục xuất hiện. Những tác phẩm như Ma Trận và Blade Runner chứng minh rằng tư tưởng hiện sinh không thuộc riêng một giai đoạn lịch sử; nó vẫn hiện diện trong văn hóa đương đại và thời đại kỹ thuật số.

    Bản thể luận và đời sống con người

    Chương cuối đi sâu vào bản thể luận hiện sinh và cấu trúc tồn tại của con người. Con người không phải là một thực thể biệt lập, khép kín, mà luôn hiện hữu trong thế giới, trong hoàn cảnh và trong quan hệ với người khác.

    Qua Heidegger, Jaspers và Sartre, cuốn sách phân tích những cách hiểu khác nhau về khả năng, hoàn cảnh, tự do, thân thể và mối quan hệ liên chủ thể. Con người vừa bị giới hạn bởi những điều kiện mình không lựa chọn, vừa có khả năng vượt khỏi các điều kiện ấy bằng dự phóng và hành động. Điều này làm nên nghịch lý của hiện sinh: chúng ta không hoàn toàn tự do trước mọi hoàn cảnh, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về thái độ và cách đáp lại hoàn cảnh của mình.

    Nhận định về tác phẩm

    Ưu điểm nổi bật của Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng là phạm vi khảo cứu phong phú. Tác phẩm kết nối lịch sử triết học với văn chương, nghệ thuật và những vấn đề thiết thân của đời sống. Người đọc biết được các triết gia đã suy nghĩ điều gì, và gợi ý để nhận ra những tư tưởng ấy đang hiện diện như thế nào trong lựa chọn và kinh nghiệm của chính mình. Sách cũng dành sự quan tâm đặc biệt cho văn học. Triết học hiện sinh được cảm nhận qua những định nghĩa, số phận của những con người phải sống giữa tự do và giới hạn, hy vọng, tuyệt vọng, ý nghĩa và phi lý.

    KẾT LUẬN

    Triết Học Hiện Sinh: Từ Lý Thuyết Đến Áp Dụng là một cuốn sách dành cho những người muốn tìm hiểu triết học từ chính những kinh nghiệm căn bản của đời người. Tác phẩm đặc biệt thích hợp với độc giả quan tâm đến triết học, văn học, tâm lý học và hành trình khám phá bản thân. Sách không thể cho chúng ta một giải đáp cho mọi vấn đề. Tác phẩm cho thấy sống là một quá trình liên tục lựa chọn và tự kiến tạo. Triết học hiện sinh đặt lại câu hỏi trực tiếp cho mỗi cá nhân: “Bạn sẽ sống như thế nào để tạo nên ý nghĩa cho cuộc đời mình?”

    TÌM HIỂU TRIẾT SIÊU HÌNH HỌC

    Siêu hình học là một công trình nhập môn có phạm vi rộng, giúp độc giả tiếp cận những câu hỏi căn bản nhất của triết học: Thực tại là gì? Tồn tại có ý nghĩa ra sao? Con người có thật sự tự do không? Tâm trí và thân thể liên hệ với nhau như thế nào? Thời gian có tồn tại độc lập hay chỉ là kinh nghiệm chủ quan? Và sau cùng, điều gì làm cho đời sống con người trở nên có ý nghĩa?

    Thay vì trình bày siêu hình học như một hệ thống lý thuyết khô khan, tác giả Khánh Lan đưa người đọc bước vào lĩnh vực này từ chính những băn khoăn quen thuộc của đời sống. Nhất là khi con người muốn biết sự vật vận hành như thế nào, hoặc muốn hiểu sự vật là gì và vì sao nó hiện hữu. Từ điểm khởi đầu ấy, sách giới thiệu siêu hình học như một hành trình suy tư về những nền tảng vô hình đang chi phối cách chúng ta nhận thức thế giới, phán đoán đúng sai và lựa chọn lối sống.

    Các chương đầu cung cấp kiến thức nhập môn về nguồn gốc, lịch sử và những khái niệm chủ yếu của siêu hình học. Từ các triết gia Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là Socrates, Plato và Aristotle, tác giả lần theo sự phát triển của tư tưởng siêu hình qua thời Trung đại, Cận đại và Hiện đại. Những quan điểm của Descartes, Kant, Heidegger, Sartre, Camus cùng nhiều trường phái khác được giới thiệu trong mối liên hệ với các vấn đề về bản thể, thực tại, nhân quả, đồng nhất, khả thể và tất yếu.

    Một điểm đáng chú ý của sách là tác giả không giới hạn siêu hình học trong lịch sử triết học phương Tây. Tác phẩm mở rộng cuộc đối thoại sang Phật học, Nho giáo, văn học, đạo đức học, pháp luật và tâm lý học. Cách tiếp cận liên ngành này cho thấy không những siêu hình học tồn tại biệt lập trong những khái niệm trừu tượng, mà chúng đồng thời suất hiện trong cách con người tổ chức xã hội, xây dựng luật pháp, xác định trách nhiệm và tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống.

    Chương viết về siêu hình học trong đời tác giả cho rằng mỗi người đều có một thứ “siêu hình học thực hành”—một tập hợp những niềm tin, đôi khi chưa được ý thức đầy đủ, về con người, tự do, giá trị, cái chết và mục đích sống. Những niềm tin ấy ảnh hưởng trực tiếp đến cách chúng ta chọn nghề nghiệp, xây dựng tình yêu, đối diện đau khổ, chăm sóc đời sống tinh thần và đưa ra những quyết định đạo đức. Nhờ vậy, siêu hình học được đưa ra khỏi giảng đường để trở thành một phương tiện tự nhận thức.

    Phần bàn về văn học và nghệ thuật cũng tạo nên nét riêng cho tác phẩm. Theo tác giả, nếu triết học diễn đạt những vấn đề về tồn tại bằng khái niệm và lý luận, thì văn học giúp con người sống cùng những vấn đề ấy qua nhân vật, biểu tượng, cảm xúc và tưởng tượng. Các tác phẩm như Tội Ác và Hình Phạt, 1984, Odyssey, cùng những bộ phim hiện đại như Blade Runner và Interstellar, được xem như những “thí nghiệm tư duy” về tự do, chân lý, bản sắc con người và bản chất của thực tại.

    Trong phần về Phật học, tác phẩm trình bày các tư tưởng vô thường, khổ, vô ngã, duyên khởi và tính Không như một cách nhìn khác về hiện hữu. Nếu nhiều hệ thống siêu hình học phương Tây chú trọng việc xác định bản thể của sự vật, thì Phật giáo đặt trọng tâm vào tính tương thuộc, biến đổi và sự chuyển hóa nhận thức. Hiểu biết, theo tinh thần này, không chỉ là hoạt động lý luận mà còn phải được kiểm nghiệm bằng thiền định, tu tập và đời sống thực hành.

    Các chương về đạo đức và tâm lý học tiếp tục làm rõ tính ứng dụng của siêu hình học. Tác giả đối chiếu nghĩa vụ luận của Kant, công lợi luận, đạo đức đức hạnh của Aristotle, đạo đức Nho giáo và những hướng tiếp cận đương đại. Những vấn đề như an tử, phá thai, môi trường, kinh doanh và trí tuệ nhân tạo được đặt trong mối quan hệ với các quan niệm khác nhau về con người, tự do và giá trị.

    Đặc biệt, phần nghiên cứu tâm trí và ý thức đưa tác phẩm đến gần những cuộc tranh luận của thế kỷ XXI. Mối quan hệ giữa tâm trí và não bộ, “vấn đề khó” của ý thức, qualia, tự do ý chí, khoa học thần kinh và khả năng xuất hiện ý thức nơi trí tuệ nhân tạo đều được giới thiệu một cách dễ hiểu. Tác giả đồng thời kết nối các vấn đề này với tâm lý trị liệu, chánh niệm, CBT và tâm lý học hiện sinh, cho thấy những giả định triết học có thể ảnh hưởng đến cách chúng ta hiểu và chữa lành con người.

    Về phương diện trình bày, ưu điểm nổi bật của cuốn sách là ngôn ngữ tương đối sáng rõ, cấu trúc có hệ thống và khả năng chuyển những vấn đề khó thành những câu hỏi gần gũi. Phần bảng thuật ngữ ở cuối sách là một bổ sung hữu ích, giúp người đọc tra cứu các khái niệm thuộc siêu hình học, hiện sinh, Phật học, đạo đức và tâm lý học. Danh mục tài liệu tham khảo cũng mở ra hướng đọc sâu hơn cho những ai muốn tiếp tục nghiên cứu.

    Do phạm vi bao quát nhiều truyền thống và ngành học, một số học thuyết trong sách được trình bày ở mức khái quát hơn là chuyên khảo. Tuy nhiên, đây cũng chính là lựa chọn phù hợp với mục tiêu nhập môn của tác phẩm: cung cấp một bản đồ tư tưởng, khơi dậy óc tò mò và tạo nền tảng để người đọc tự mình khám phá sâu hơn.

    Triết học siêu hình với tư tưởng xã hội và việc xây dựng quốc gia. Triết học siêu hình (nghiên cứu những vấn đề vượt ra ngoài vật lý học, bản chất tối hậu của thực tại) có mối liên hệ mật thiết và là nền tảng sâu xa hình thành nên cấu trúc xã hội. Kết nối tư tưởng xã hội: Các quan niệm siêu hình về con người (con người là bản tính thiện hay ác, con người có quyền tự nhiên hay không) trực tiếp định hình các khế ước xã hội, luật pháp và hệ tư tưởng chính trị.

    Cổ xúy xây dựng và điều hành quốc gia: Xuyên suốt lịch sử, siêu hình học đã cung cấp hệ thống lý luận để củng cố hoặc lật đổ các chế độ. Ở phương Tây, tư tưởng siêu hình về trật tự tự nhiên của Plato (Vua triết gia) hay các lý thuyết về Quyền tự nhiên của Khai sáng đã định hình các nhà nước cộng hòa hiện đại. Ở phương Đông, các học thuyết siêu hình về Thiên mệnh, Đạo pháp hay Âm dương ngũ hành được áp dụng trực tiếp vào nghệ thuật trị quốc, thiết lập kỷ cương xã hội và điều hành vương quốc.

    Triết học hiện sinh là triết học lý tưởng về bản ngã. Nền tảng của triết học hiện sinh khi mà con người sống trong hai thế giới: một con người của thế giới đời thực và một thế giới thứ hai siêu hình. Trong đời thực, con người phải làm việc, sản xuất, chiến đấu, mưu sinh, vui buồn, và sinh sản. Trong siêu hình, con người cô đơn đối diện với vũ trụ, với bản mệnh, sự bất toàn vận mệnh của mình cũng như sự sống ngắn hạn của mình. Nếu chỉ sống trong thế giới đời thực, con người và là một robot thông minh của tương lai không có nhiều điểm khác nhau. Con người được là con người khi còn có những cảm thức bâng khuâng về bản thể, bắn khoăn về thân phận, suy niệm về cái chết và tồn tại của mình. Ngay cả sau khi mất đi, những suy tư ấy vẫn còn, lưu lại trong các dấu vết họ để lại trong cuộc sống.

    Với cặp phạm trù “nhân sinh quan” và “vũ trụ quan”, nếu ta đặt sự ưu tiên nhìn nhận vào “nhân sinh quan” lên trước “vũ trụ quan”, câu chuyện của tồn tại người sẽ chỉ liên quan đến cá nhân người đó với những toan tính, lo lắng của đời thường và của thời đại nơi họ đang sống. Số phận lên trước thân phận. Không – thời gian thu hẹp trong khoảng hiện hữu của họ trên đời. Hiện hữu không phải là tồn tại, mà chỉ là một đặc tính của tồn tại. Khi xem xét con người với chỉ tư cách một cá thể trong bầy đàn, một mã số trong cuốn sổ, một vị trí trên một hàng thẳng chờ gọi đến lượt, con người không thực sự hiện tồn. Con người lúc ấy chỉ là một công cụ, cho người khác và cho chính mình, có thể thay thế bởi công cụ khác.

    Giá trị quan trọng nhất của Tìm Hiểu Triết Siêu Hình Học nằm ở lời mời gọi tự vấn. Cuốn sách không áp đặt một câu trả lời duy nhất, cũng không hứa hẹn đem lại sự chắc chắn tuyệt đối. Trái lại, tác phẩm giúp độc giả nhận diện và xem xét lại những điều lâu nay vẫn được coi là hiển nhiên. Qua đó, con người có thể hiểu rõ hơn nền tảng của niềm tin, sự lựa chọn và trách nhiệm của chính mình.

    GIỚI THIỆU VÀ NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM CỦA KHÁNH LAN

    Xuyên suốt các trang sách, tôi cho rằng tác giả Khánh Lan đã đứng ở vị trí của một nhà nghiên cứu hàn lâm, đối thoại với người đọc bằng lăng kính của một người quan sát xã hội sắc sảo. Sách giúp người đọc nhận ra rằng: Triết học hiện sinh không nằm ở các tháp ngà hàn lâm, mà nằm ngay trong từng lựa chọn hằng ngày của mỗi chúng ta.

    Điểm son trong ngòi bút của Khánh Lan là cách tác giả làm nổi bật khái niệm tự do. Trong triết học hiện sinh, tự do không phải là một đặc ân, mà là một thứ “gánh nặng” buộc con người phải tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về hành động và đường lối mà mình đã chọn.

    Thông qua tuyển tập này, tác giả khéo léo dẫn dắt độc giả vượt qua trạng thái “đại chúng hóa” – nơi con người dễ dàng ẩn mình, sống theo số đông để trốn tránh trách nhiệm cá nhân. Cuốn sách là một tiếng chuông thức tỉnh, kêu gọi mỗi cá nhân hãy dám dấn thân, dám đối diện với nỗi cô đơn hiện sinh để tự định nghĩa bản mệnh của chính mình.

    Cũng có người cho rằng chủ đề về triết học khô khan, khó hiểu, và trừu tượng. Tuy nhiên, “Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh” đã giải quyết bài toán này một cách tinh tế. Lập luận của tác giả chặt chẽ, ngôn từ mạch lạc, giàu tính biểu cảm nhưng vẫn giữ được sự chuẩn mực khoa học.

    Đặc biệt, trong thời đại mà các hội chứng tâm lý, sự định hướng ở giới trẻ không rõ ràng, mơ hồ, mông lung đang gia tăng, việc đọc những trang viết của Khánh Lan mang lại một liệu pháp tinh thần sâu sắc. Sách trao cho người đọc công cụ tư duy để tự vấn: “Tôi là ai?”, “Tôi đang sống vì điều gì?” và “Làm thế nào để sống một cuộc đời đích thực (authentic life)?”.

    Triết học hiện sinh là triết dạy ta suy nghĩ về thân phận làm người. Văn của triết học hiện sinh là văn mô tả – đôi khi tả chân quá – nhưng chủ ý thức tỉnh con người trỗi dậy, bỏ đi cách sống của sự vật để khai mở một đời sống nhân vị, nhân vị cao cả của con người tự do. Triết học hiện sinh là triết học nổi bật nhất của thế kỷ XX, đã đưa con người trở lại với con người, đã gợi hứng cho nhiều thanh niên biết suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời, đừng “sống thừa ra”, sống không lý tưởng, sống như cây cỏ, sống vô thường, ta bỏ quên bản ngã.

    Cho rằng chủ nghĩa hiện sinh đề chủ nghĩa cá nhân, nhưng theo một nghĩa triết học (không phải sự ích kỷ cá nhân). Các nhà hiện sinh như Jean-Paul Sartre, Albert Camus hay Søren Kierkegaard khẳng định rằng “sự tồn tại đi trước bản chất”. Con người sinh ra trước, không có một khuôn mẫu sẵn có nào định đoạt, tự do lựa chọn hành động và do đó phải chịu trách nhiệm tuyệt đối về chính mình. Cá nhân là trung tâm của kinh nghiệm, của sự chọn lựa giữa lo âu, phi lý và ý nghĩa tự tạo.

    Triết học hiện sinh không dạy chúng ta cách trốn chạy khỏi thực tại, mà dạy chúng ta cách đứng vững trước nghịch cảnh bằng lòng dũng cảm và ý thức tự chủ. Tuyển Tập Nghiên Cứu Triết Học Hiện Sinh là một món quà tri thức dành cho những ai yêu mến triết học, là người bạn đồng hành cho bất cứ ai đang trên hành trình tìm kiếm bản ngã.

    Trong đời sống tinh thần của con người hiện đại, bên cạnh những nhịp sống hối hả và thực tế, con người luôn khao khát đi tìm ý nghĩa của sự tồn tại, bản chất của vũ trụ và điều vô hình chi phối vạn vật. Đó chính là lãnh địa của siêu hình học – nơi tư duy vượt qua giới hạn của thực nghiệm để chạm đến những câu hỏi nền tảng nhất của nhân loại. Siêu hình học từ lâu đã được xem là một trong những nhánh hóc búa và uyên thâm nhất của triết học phương Tây lẫn tư tưởng nhân loại. Tiếp cận đề tài này đòi hỏi không chỉ một nền tảng kiến thức vững chắc, tư duy logic sắc bén, mà còn cần một tấm lòng chiêm nghiệm sâu sắc trước cuộc đời.

    Với “Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình”, tác giả Khánh Lan đã khéo léo mở ra một cánh cửa giúp độc giả tiếp cận những khái niệm trừu tượng và với một lăng kính gần gũi, nhưng vẫn giữ nguyên vẹn sự trang nghiêm và chiều sâu triết lý. Tác phẩm không đơn thuần là sự tổng hợp các học thuyết hàn lâm, mà còn là kết quả của một quá trình trăn trở, suy ngẫm nội tâm và chắt lọc tri thức bền bỉ của tác giả.

    Những Điểm Nổi Bật Trong Tuyển Tập là Tính Hệ Thống và Khoa Học Trong Tư Duy: Tác phẩm dẫn dắt người đọc đi qua từng tầng bậc của nhận thức, từ những vấn đề căn bản về bản thể luận (ontology), bản chất của thực tại, cho đến mối quan hệ giữa con người, vũ trụ và các giá trị tinh thần siêu việt. Mỗi chương sách là một nấc thang tư duy, khuyến khích độc giả không ngừng đặt câu hỏi và tự vẫn đáp chính mình.

    Sự Hòa Quyện Giữa Lý Trí và Kinh Nghiệm Sống: Điểm đáng quý nhất ở ngòi bút Khánh Lan chính là việc biến những phạm trù triết học khô khan thành những trăn trở rất đỗi nhân văn. Triết học siêu hình qua góc nhìn của tác giả không nằm trên tháp ngà lý thuyết, mà gắn liền với hành trình tự vẫn về nhân sinh quan, ý nghĩa sống và giá trị chân – thiện – mỹ của mỗi cá nhân trong thế giới biến động.

    Ngôn Ngữ Sâu Lắng và Mạch Lạc: Tác giả đã thành công trong việc sử dụng ngôn từ tiếng Việt uyển chuyển, chính xác để truyền tải những khái niệm phức tạp vốn thường chỉ quen thuộc trong các thuật ngữ triết học. Nhờ đó, cuốn sách mở rộng được biên độ tiếp cận, phù hợp cho cả những nhà nghiên cứu lẫn những độc giả lần đầu bước chân vào thế giới của siêu hình học.

    TÓM LẠI:

    Tác phẩm Siêu Hình Học và Triết Học Hiện Sinh cùa tác giả Khánh Lan được biên soạn công phu và đúc kết từ quá trình nghiên cứu, tuyển tập là một bức tranh toàn cảnh nhưng cũng rất có chiều sâu về phong trào triết học hiện sinh. Hệ thống hóa các tư tưởng lớn bởi tác phẩm không đơn thuần là sự liệt kê khô khan các khái niệm, mà đi sâu, mổ xẻ những tư tưởng cốt lõi của các triết gia tiêu biểu định hình dòng chảy hiện sinh chủ nghĩa (như Kierkegaard, Sartre, Camus, Heidegger, v.v.). Về quan điểm nhân sinh quan, tác phẩm tập trung vào những phạm trù then chốt như: Sự tồn tại đi trước bản chất, Tự do và Trách nhiệm, Nỗi âu lo (Angst), Sự phi lý (The Absurd), và Cái chết.

    Trong một thế giới ngập tràn thông tin, việc để đọc, suy ngẫm và đối thoại với những tư tưởng siêu hình là một đặc ân và cũng là một nhu cầu tự vệ cho tâm hồn. “Tuyển Tập Tìm Hiểu Triết Học Siêu Hình” ra mắt như một lời nhắc nhở rằng con người không chỉ sống bằng vật chất hay nhịp sống thực tế, mà còn được nuôi dưỡng bởi chiều sâu tư tưởng và những kinh nghiệm đã đi qua trong cuộc sống.

    Xét về giá trị cốt lõi của triết siêu hình, ý tưởng siêu hình học, nhìn qua như là chân lý của hiện vật như những tư duy, tư tưởng của hữu thể tồn tại qua thời gian, cái nhìn khác từ sách của Khánh Lan, qua lăng kính hiện sinh, vốn là một trạng thái tâm lý sâu sắc, nơi cá nhân đối diện trực tiếp với những tư duy tự hỏi nền tảng về sự tồn tại. Hiện tượng này phát sinh ra khi người ta băn khoăn về ý nghĩa, mục đích sống, và vị trí của mình trong xã hội hay trong vũ trụ quan tạm bợ, vô thường.

    Đây là một tác phẩm thích hợp cho độc giả mới bước vào thế giới triết học, cũng như những người quan tâm đến văn học, Phật học, tâm lý học, đạo đức và các vấn đề về ý nghĩa cuộc sống. Siêu hình học, là nghiên cứu về thực tại, là hành trình con người tìm hiểu chính mình trong thực tại ấy.

    Chúc mừng Khánh Lan ra tác phẩm và chúc luôn thành công trong lãnh vực văn học.

    Trần Việt Hải, hội viên sáng lập và điều hành,

    Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa, và

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

  • VĂN HỌC,  Việt Hải

    Ánh Sáng Văn Chương

    Trần Việt Hải

    Ánh sáng trường tồn cùng thời gian.

    Dựa vào những tác phẩm đề cập đến cuộc đời của bảy nhà văn hóa lừng danh như sau:

    Những tác phẩm đề cập đến cuộc đời của bảy nhân vật lừng danh:

    1/ Johann Wolfgang von Goethe, Goethe’s Faust

    2/ Mark Twain, The Adventures of Tom Sawyer

    3/ Victor Hugo, Les Miserables

    4/ William Shakespeare, Romeo & Juliette

    5/ Alexander Sergeyevich Pushkin, The Captain’s Daughter

    6/ Leo Tolstoy, War and Peace

    7/ Nguyễn Du, (Truyện Kiều)

    Khai triển chủ đề trong tác phẩm Ánh sáng cờn lại vói thời gian

    Johann Wolfgang von Goethe (Faust): Hiện thân cho khát vọng tri thức không ngừng nghỉ, sự nỗ lực vươn lên của con người và hành trình bất tận đi tìm ý nghĩa của sự tồn tại.

    Mark Twain (Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer): Sử dụng sự hóm hỉnh sắc bén và khiếu hài hước như một biểu hiện của trí tuệ và lòng thấu cảm để thách thức thói đạo đức giả của xã hội và tôn vinh phẩm giá của những con người bình dị.

    Victor Hugo (Những người khốn khổ): Khẳng định rằng ngay cả trong bóng tối sâu thẳm nhất, lòng trắc ẩn và tình yêu thương vẫn có thể cứu rỗi nhân loại và khôi phục phẩm giá cho những người bị gạt ra bên lề xã hội.

    William Shakespeare (Romeo và Juliet / Các vở bi kịch lớn): Khám phá trọn vẹn các cung bậc của tâm hồn con người—cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối, giữa tham vọng và tuyệt vọng—mà không đưa ra những phán xét đạo đức đơn giản.

    Alexander Pushkin (Con gái viên đại úy / Thi ca): Tựa như mặt trời của thi ca Nga, ông tôn vinh tự do, công lý và sức mạnh bền bỉ của tinh thần con người.

    Leo Tolstoy (Chiến tranh và Hòa bình): Đóng vai trò là tiếng nói của lương tri, thôi thúc độc giả suy ngẫm về trách nhiệm đạo đức, chân lý và sự chuyển hóa nội tâm.

    Nguyễn Du (Truyện Kiều): Lấy “chữ Tâm” làm trọng tâm cho mọi sáng tạo, biến niềm cảm thông sâu sắc trước nỗi đau khổ thành nghệ thuật bất hủ.

    ÁNH SÁNG VĂN CHƯƠNG

    Ánh sáng trường tồn cùng thời gian, thi đây là một tác phẩm biên khảo, khảo cứu văn học cấp cao. Ánh Sáng Văn Chương cho thấy sự rực rỡ của những tượng đài văn học này không chỉ nằm ở di sản cuộc đời hay kỹ năng bậc thầy, mà còn ở chính sự mong manh, dễ tổn thương của họ. Họ không hiện lên như những bức tượng xa cách, bất khả xâm phạm; trái lại, họ xuất hiện như những con người bằng xương bằng thịt—biết yêu thương, tuyệt vọng, đau khổ và trăn trở với vận mệnh của đồng loại. Goethe theo đuổi chân lý tuyệt đối; Mark Twain vạch trần bất công bằng nụ cười; Hugo bênh vực những mảnh đời bất hạnh; Shakespeare phác họa những ngõ ngách đầy mâu thuẫn trong trái tim con người; Tolstoy đòi hỏi sự tự vấn nghiêm khắc; Pushkin cất tiếng hát vì tự do; …và Nguyễn Du đã đặt nền tảng cho sự bất tử trong nghệ thuật hoàn toàn vào sự trong sáng của tấm lòng từ bi (chữ Tâm).

    Suy cho cùng, tuyển tập này vượt xa khuôn khổ của một tập hợp tư liệu lịch sử đơn thuần. Giữa thời đại hối hả bị chi phối bởi công nghệ và sự kết nối tức thì—nơi thông tin thì tràn ngập nhưng sự thấu cảm chân thành lại khan hiếm—những kiệt tác văn học này dạy ta nghệ thuật sống chậm lại mà ta đã vô tình đánh mất. Chúng mời gọi ta dừng bước, lắng nghe tiếng lòng ai oán, nhận ra hình ảnh con người đằng sau những nỗi gian truân, và đánh thức lương tri đang ngủ yên trong mỗi chúng ta. Những thời đại sản sinh ra các tác phẩm này đã lùi xa vào dĩ vãng, nhưng những vấn đề cốt lõi về tình yêu, tự do, nỗi đau, phẩm giá và lòng trắc ẩn vẫn còn đó, vẹn nguyên giá trị.

    “Ánh Sáng Văn Chương” đóng vai trò như nhịp cầu thiết yếu kết nối di sản nghệ thuật huy hoàng của quá khứ với thế giới nội tâm của độc giả hiện đại, đồng thời gắn kết Đông và Tây thông qua một ngôn ngữ chung đầy sức lay động. Ngay cả khi trang sách đã khép lại từ lâu, chiến thắng đích thực của những tác giả vĩ đại ấy vẫn còn mãi: đó là niềm tin thầm lặng nhưng kiên định rằng cái đẹp, chân lý và lòng nhân ái vẫn luôn sở hữu sức mạnh để cứu rỗi thế giới này.

    TÓM LƯỢC TỔNG QUAN CHỦ ĐỀ: ÁNH SÁNG CÒN LẠI VỚI THỜI GIAN

    Đóng lại những trang cuối của Ánh Sáng Văn Chương, người đọc có cảm tưởng mình vừa đi qua một hành trình dài trong thế giới tinh thần của nhân loại. Đó là hành trình từ nước Đức của Johann Wolfgang von Goethe đến dòng Mississippi của Mark Twain; từ nước Pháp đầy biến động của Victor Hugo đến sân khấu nước Anh thời William Shakespeare; từ nước Nga mênh mông của Lev Tolstoy và Alexandr Sergeevich Pushkin, rồi trở về với tiếng thơ Nguyễn Du – tiếng nói sâu thẳm của tâm hồn và văn hóa Việt Nam.

    Bảy tên tuổi, bảy cuộc đời, bảy thế giới nghệ thuật khác nhau, nhưng cùng gặp nhau ở một điểm: họ đã dùng văn chương để soi sáng con người. Nhan đề Ánh Sáng Văn Chương vì thế không chỉ mang ý nghĩa tượng trưng. Ánh sáng ấy hiện diện trên từng chặng đường của cuốn sách. Đó là ánh sáng của tri thức trong Goethe, ánh sáng của tự do trong Mark Twain, ánh sáng của lòng nhân ái trong Victor Hugo, ánh sáng của sự thấu hiểu bản tính con người trong Shakespeare, ánh sáng của lương tri trong Tolstoy, ánh sáng của thi ca và khát vọng giải phóng trong Pushkin, cùng ánh sáng của chữ Tâm trong Nguyễn Du.

    Mỗi đại văn hào được giới thiệu trong tác phẩm không chỉ bằng tiểu sử, sự nghiệp hay những kiệt tác đã làm nên tên tuổi. Người biên khảo còn cố gắng đi sâu vào thế giới nội tâm của họ, tìm hiểu những trải nghiệm, những đau khổ, những khát vọng và những câu hỏi lớn đã thôi thúc họ cầm bút. Nhờ đó, các bậc thiên tài không hiện lên như những pho tượng xa cách trên đài cao, mà trở thành những con người gần gũi: từng yêu thương, từng thất vọng, từng cô đơn, từng đối diện với nghịch cảnh và từng khắc khoải trước số phận của đồng loại.

    Goethe bước vào cuốn sách như một biểu tượng của tinh thần khám phá không ngừng. Ở ông, văn chương, triết học, khoa học và nghệ thuật không tách rời nhau, mà cùng hướng đến khát vọng nhận thức thế giới và hoàn thiện con người. Faust không chỉ là hành trình của một cá nhân đi tìm tri thức và hạnh phúc; đó còn là hình ảnh của nhân loại trong cuộc kiếm tìm không bao giờ chấm dứt về ý nghĩa của sự sống.

    Mark Twain lại mang đến tiếng cười hóm hỉnh, phóng khoáng của một nước Mỹ đang trưởng thành. Nhưng phía sau tiếng cười ấy là đôi mắt tỉnh táo trước bất công, giả dối và thành kiến. Ông đưa những đứa trẻ, những người nghèo khổ và những con người bình thường vào văn học bằng tất cả sự trân trọng. Dưới ngòi bút của Mark Twain, tiếng cười không chỉ để mua vui; nó trở thành một hình thức của trí tuệ và lòng nhân hậu.

    Với Victor Hugo, văn chương là nơi con người bị tổn thương được trả lại phẩm giá. Những nhân vật như Jean Valjean, Fantine, Cosette, Quasimodo hay Esmeralda đã bước ra khỏi giới hạn của tiểu thuyết để trở thành biểu tượng cho những thân phận bị xã hội ruồng bỏ. Qua Nhà thờ Đức Bà Paris và Những người khốn khổ, Victor Hugo khẳng định rằng ngay cả trong bóng tối sâu nhất, tình thương vẫn có thể cứu chuộc con người. Quyền lực có thể dựng nên những lâu đài, nhưng chỉ lòng nhân ái mới xây dựng được một thế giới xứng đáng cho con người sinh sống.

    Shakespeare mở ra một sân khấu rộng lớn, nơi mọi trạng thái của tâm hồn đều được phơi bày: tình yêu và thù hận, trung thành và phản bội, khát vọng và tuyệt vọng, cao thượng và thấp hèn. Hamlet, Macbeth, King Lear, Romeo và Juliet vẫn sống mãi vì đó không chỉ là những nhân vật của một thời đại. Trong họ có những mâu thuẫn, những yếu đuối và những câu hỏi mà con người ở bất kỳ thế kỷ nào cũng có thể nhận ra nơi chính mình. Shakespeare không phán xét con người một cách đơn giản; ông giúp chúng ta hiểu rằng trong mỗi tâm hồn luôn tồn tại những vùng sáng và tối đan xen nhau.

    Lev Tolstoy đem đến một tiếng nói khác – tiếng nói của lương tri. Từ Chiến tranh và Hòa bình, Anna Karenina đến Phục sinh, ông luôn đặt con người trước những câu hỏi nghiêm khắc về tình yêu, trách nhiệm, đức tin, công lý và ý nghĩa của cuộc đời. Tolstoy không chỉ là một tiểu thuyết gia vĩ đại. Ông còn là người suốt đời đi tìm chân lý và tự đặt mình trước sự phán xét của lương tâm. Văn chương của ông nhắc chúng ta rằng muốn thay đổi thế giới, trước hết con người phải biết nhìn lại và thay đổi chính mình.

    Pushkin xuất hiện như mặt trời của thi ca Nga, người đã làm cho tiếng nói của dân tộc mình trở thành một ngôn ngữ nghệ thuật rực rỡ. Thơ ông chứa đựng tình yêu, nỗi cô đơn, vẻ đẹp thiên nhiên, tinh thần tự do và khát vọng công lý. Cuộc đời Pushkin tuy ngắn ngủi, nhưng ánh sáng mà ông để lại đã mở đường cho cả một nền văn học lớn, nơi những tên tuổi như Gogol, Dostoevsky, Tolstoy và Chekhov tiếp tục làm phong phú di sản tinh thần của nhân loại. Sau hành trình qua những đỉnh cao của văn chương thế giới, cuốn sách trở về với Nguyễn Du. Sự trở về ấy tạo nên một điểm kết vừa tự nhiên, vừa xúc động. Bởi bên cạnh Goethe, Shakespeare, Victor Hugo, Tolstoy, Pushkin hay Mark Twain, dân tộc Việt Nam cũng có một thiên tài đủ sức đối thoại với những tâm hồn lớn của nhân loại.

    Còn Nguyễn Du đã biến tiếng Việt thành tiếng khóc, tiếng yêu thương và tiếng nói của lương tri. Qua Truyện Kiều, ông không chỉ kể lại cuộc đời lưu lạc của một người con gái tài sắc. Ông cất tiếng thay cho những con người nhỏ bé, những thân phận bị vùi dập và những tâm hồn vẫn cố gìn giữ phẩm giá giữa nghịch cảnh. Nếu Goethe tôn vinh khát vọng vươn tới chân lý, Victor Hugo bảo vệ những người khốn khổ, Tolstoy tìm kiếm sự thức tỉnh của lương tâm, thì Nguyễn Du đặt tất cả vào một chữ giản dị mà cao quý: chữ Tâm.

    “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”

    Hai câu thơ ấy không chỉ là lời kết của Truyện Kiều. Đó còn có thể được xem là sợi chỉ đỏ xuyên suốt Ánh Sáng Văn Chương. Tài năng làm nên những tác phẩm lớn, nhưng chính trái tim nhân ái mới giúp tác phẩm vượt qua giới hạn của thời gian. Một nhà văn có thể được nhớ đến bởi nghệ thuật ngôn từ; nhưng một đại văn hào chỉ thực sự bất tử khi tiếng nói của họ trở thành một phần trong lương tri chung của nhân loại.

    Điều đáng quý của cuốn sách mơi nằy là người soạn những chương biên khảo không dùng loại văn chương như một kho kiến thức thô thiển, hay kém tinh tế, sâu sắc. Những trang viết được dẫn dắt bằng lòng dam mê ngưỡng mộva8n chương cấp cao. Sự suy tư và phân tích dữ kiện có chiều sâu, óc tinh tế và đầy trí tuệ. Tác giả Kiều My tin vào giá trị nhân văn của văn học. Tiểu sử, tác phẩm và tư tưởng của các đại nhân vật trích dẫn được kết nối với những vấn đề chưa bao giờ xưa cũ: con người phải sống như thế nào, phải đối diện ra sao với đau khổ, phải làm gì để không đánh mất phẩm giá và làm thế nào để giữ được lòng nhân ái giữa một thế giới nhiều biến động trong xã hội con người, như Truyện Kiều hay Les Miserables.

    Khi khép lại những trang cuối cùng của Ánh Sáng Văn Chương, độc giả như vừa bước qua một hành trình khám phá thế giới tinh thần bao la của nhân loại. Từ nước Đức của Goethe đến dòng Mississippi của Mark Twain; qua những biến động lịch sử của nước Pháp thời Victor Hugo, những sân khấu tráng lệ của nước Anh thời Shakespeare, những không gian rộng lớn của nước Nga thời Tolstoy và Pushkin, để rồi cuối cùng dừng chân tại tâm hồn thi ca sâu lắng của Nguyễn Du nơi đất Việt, mà hành trình này đã quy tụ bảy bậc thầy lừng danh, xuất chung dưới cùng một ngọn đèn: soi sáng bản chất kiếp người.

    Sự rực rỡ của những tượng đài văn học như tác phẩm di sản cuộc đời hay kỹ năng trươc tác hàn lâm của 7 vị danh nhân, mà còn ở chính sự mong manh, dễ tổn thương của họ. Họ không hiện lên như những bức tượng dài văn học không xa cách, bất khả xâm phạm; nhưng trái lại, những tượng dài xuất hiện như những con người bằng xương bằng thịt, biết yêu thương, tuyệt vọng, đau khổ và trăn trở với vận mệnh của đồng loại. Goethe theo đuổi chân lý tuyệt đối; Mark Twain vạch trần bất công bằng nụ cười; Hugo bênh vực những mảnh đời bất hạnh; Shakespeare phác họa ra những ngõ ngách đầy mâu thuẫn trong trái tim con người; Tolstoy đòi hỏi sự tự vấn nghiêm khắc; Pushkin cất tiếng hát qua thi ca tự do; …và sau hết, Nguyễn Du đã đặt nền tảng cho sự bất tử trong nghệ thuật hoàn toàn vào sự trong sáng của tấm lòng từ bi (qua chữ Tâm). Giữa thời đại hối hả bị chi phối bởi kỹ nghệ máy móc và sự kết nối liên mạng kỹ thuật số nhanh tức thì, mà nguồn thông tin khoa học thì tràn ngập những sự thấu cảm chân thành, hay những trực giác từ tư duy dễ dồng cảm (Empathy) nhưng lại khan hiếm những kiệt tác văn học này dạy ta ý thúc rằng nghệ thuật sống chậm lại mà nhận chân ra cái mỹ học của văn học, không máy móc vì xã hội đã vô tình đánh mất.

    Ánh Sáng Văn Chương chứa dựng những danh tác mang giá trị vĩnh cửu, những thời đại sản sinh ra các tác phẩm này đã lùi xa vào dĩ vãng, nhưng những vấn đề cốt lõi về tình yêu, tự do, nỗi đau, phẩm giá và lòng trắc ẩn vẫn còn đó, vẹn nguyên giá trị. Ánh Sáng Văn Chương đóng vai trò như nhịp cầu thiết yếu kết nối di sản nghệ thuật huy hoàng của quá khứ với thế giới nội tâm của độc giả hiện đại, đồng thời gắn kết Đông và Tây thông qua một ngôn ngữ chung đầy sức lay động. Ngay cả khi trang sách đã khép lại từ lâu, chiến thắng đích thực của những tác giả vĩ đại ấy vẫn còn mãi: đó là niềm tin thầm lặng nhưng kiên định rằng cái đẹp, chân lý và lòng nhân ái vẫn luôn sở hữu sức mạnh để cứu rỗi thế giới này.

    Tóm lại, Ánh Sáng Văn Chương là tác phẩm không những chỉ hướng dẫn người đọc nhìn về quá khứ. Cuốn sách còn mời gọi chúng ta suy ngẫm về hiện tại. Trong một thời đại mà khoa học và công nghệ phát triển từng ngày, con người có thể truyền đi thông tin chỉ trong khoảnh khắc, nhưng chưa chắc đã hiểu nhau sâu sắc hơn. Chúng ta có thể sở hữu nhiều kiến thức hơn, nhưng chưa chắc đã biết cảm thông nhiều hơn. Chính trong hoàn cảnh ấy, văn chương càng trở nên cần thiết.

    VĂN CHƯƠNG DẠY CON NGƯỜI BIẾT DỪNG LẠI

    Dừng lại để lắng nghe một tiếng khóc.Và hãy dừng lại để nhìn thấy một phận người. Dừng lại để nhận ra rằng phía sau mỗi cuộc đời đều có những nỗi niềm không dễ nói thành lời. Những tác phẩm lớn không trao cho chúng ta các câu trả lời có sẵn. Chúng mở ra những câu hỏi, đánh thức lương tâm và giúp mỗi người hung ta tự tìm thấy câu trả lời cho chính mình. Đó là lý do Faust, Hamlet, Những người khốn khổ, Chiến tranh và Hòa bình, những vần thi ca Pushkin, những câu chuyện của Mark Twain và Truyện Kiều vẫn tiếp tục được đọc qua nhiều thế hệ. Thời đại sản sinh ra chúng đã lùi xa, nhưng những vấn đề về tình yêu, tự do, công lý, đau khổ, phẩm giá và lòng nhân ái vẫn còn nguyên vẹn.

    Ánh Sáng Văn Chương vì thế cũng là một cây cầu. Một đầu cầu dẫn về những di sản rực rỡ của quá khứ; đầu kia mở ra thế giới tinh thần của người đọc hôm nay. Trên cây cầu ấy, Đông và Tây gặp gỡ, các thời đại đối thoại và những tâm hồn lớn nhận ra nhau qua một ngôn ngữ chung: tình yêu dành cho con người. Khi khép cuốn sách lại, có thể người đọc không nhớ hết mọi niên đại, mọi sự kiện hay mọi tác phẩm được nhắc đến. Nhưng điều quan trọng hơn có lẽ vẫn còn lưu lại: một niềm kính trọng đối với những người đã hiến dâng đời mình cho văn chương; một sự xúc động trước những thân phận mà họ đã nâng niu; và một niềm tin rằng cái đẹp, sự thật cùng lòng nhân ái vẫn có sức mạnh làm cho thế giới trở nên tốt lành hơn.

    Sách này có thể khép lại, nhưng ánh sáng từ những trang sách thì không.

    Ánh sáng ấy tiếp tục sống trong sự suy tư của người đọc, trong cách chúng ta nhìn người khác và trong những lựa chọn âm thầm của mỗi người trước cuộc đời. Đó là ánh sáng mà Goethe, Mark Twain, Victor Hugo, Shakespeare, Tolstoy, Pushkin và Nguyễn Du đã thắp lên. Đó cũng là ánh sáng mà người biên khảo trân trọng gom nhặt, kết nối và trao lại cho văn học ngày hôm nay. Và chừng nào con người còn biết xúc động trước cái đẹp, nét mỹ học còn biết đau trước nỗi đau của đồng loại, còn khao khát chân lý và còn tin vào lòng từ bi, tâm nhân ái, thì chừng ấy ánh sáng văn chương vẫn không bao giờ tắt.

    Trần Việt Hải, California 2026