• TÁC GIẢ & TÁC PHẨM,  VĂN HỌC,  Viet-Hải

    TỪ ĐINH HÙNG ĐẾN VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    Khánh Lan

    Với khuôn mặt lẫy lừng trong thi ca Việt Nam từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam đã có nhiều tài liệu viết về hai nhà thơ Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Hôm nay, người viết lại được vinh hạnh viết về hai vị tiền bối đã được rất nhiều người ngưỡng mộ trong thế giới thi ca: Đó là Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, những thiên tài bạc mệnh của đất Sài Gòn, một thời nổi danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Một điều thật lạ lùng là sau khi duyệt qua tiểu sử và cuộc đời của hai thi nhân này, người viết nhận thấy hai vị tiền bối có nhiều điểm trùng hợp từ thân phận, chí khí, tài hoa đến văn chương và cuộc đời lại gặp quá nhiều nghiệt ngã, đau thương, bất công và bạc mệnh.

    Hình như có một sự kết nối mật thiết giữa cuộc đời của họ. Họ như bị ràng buộc từ trong một mối tương quan gia đình khi nhà thơ họ Vũ kết hôn với bà Đinh Thị Thục Oanh, chị ruột của Đinh Hùng. Họ là bạn chí thân từ khi còn sinh sống tại miền Bắc. Thuở thiếu thời, họ yêu văn, thích làm thơ, sáng tác thơ và trở thành nổi tiếng trong lĩnh vực thi ca. Họ là những thiên tài bạc mệnh, lãnh chịu một cuộc đời với nhiều gian nan, nghiệt ngã và nghèo túng. Tuy họ đã gặp nhiều sóng gió trong cuộc sống nhưng họ vẫn không rời xa nhau! Có lẽ, định mệnh đã an bài cho họ là phải như thế!

    Dưới đây là những điểm tương đồng:

    1. Trong lĩnh vực khoa bảng: Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nghê sĩ tài hoa, học cao hiểu rộng với bản tính rất ngang bướng, gan dạ, phóng túng, “thích gì làm nấy”. Họ không khuất phục trước gian nan, bất công và sẵn sàng đương đầu với khó khăn, nghiệt ngã trong cuộc sống nhưng lại đa sầu đa cảm và mềm lòng trong đường tình ái.
    • Trong lãnh vực văn chương thi phú: Hai thi nhân đi vào lĩnh vực văn học ở tuổi rất còn trẻ. Tác phẩm văn xuôi Đám Ma Tôi của Đinh Hùng viết trong năm 1943 ở tuổi 23 thì Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay của Vũ Hoàng Chương viết vào năm 1936-1939 khi ông 21 tuổi.
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nhà thơ nổi tiếng từ thời phong trào Thơ Mới thời tiền chiến. Trong khi Đinh Hùng (1920-1967) nổi tiếng với hai tập thơ Mê Hồn Ca (1954) và Đường Vào Tình Sử (1961), thì Vũ Hoàng Chương (1915-1976) với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, đó là tập thơ Hoa Đăng (1959) và 2 tập Thơ Say và Mây (sau in chung vào một tập mang tên Mây).
    • Năm 1959, Vũ Hoàng Chương đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca với tập thơ Hoa Đăng, một tập thơ được đánh giá rất cao, ông cũng là một trong 100 tác giả tên tuổi được đề cử giải Nobel Văn Chương năm 1972. Năm 1961, thi phẩm Đường vào tình sử của Đinh Hùng được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.
    • Sau khi mất hai thi nhân đều có tác phẩm xuất bản sau khi mất. Đinh Hùng với Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967, ngoài ra còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt. Về phần Vũ Hoàng Chương tập hồi ký Ta Đã Làm Chi Đời Ta doNXB Trương vĩnh Ký, Saigon năm 1970 được NXB Hội Nhà Văn tái bản năm 1993 tại TPHCM. Thi tấp Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, NXB An Tiêm, Sài Gòn (1970) in 2 lần và được Tái bản lại tại California, Mỹ sau năm 1975.
    • Trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn (1970) của họa sĩ Tạ Tỵ, người bạn văn nghệ chí thân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương gọi thơ Vũ Hoàng Chương là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc”, vì nhiều bài thơ của ông nói lên thân phận của kiếp người trên quê hương. Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau: “Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử”. Một lãng tử, có lẽ đúng bởi cái cuộc sống “Bất cần đời” của ông, chẳng tha thiết với danh vọng, hờ hững với vật chất xa hoa. 
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương đều chết trẻ. Đinh Hùng mất năm 47 tuổi và Vũ Hoàng Chương mất mất ở tuổi 61.

    THẾ GIỚI THI CA ĐINH HÙNG

    THI SĨ ĐINH HÙNG (1920-1967)

    “Trời cuối thu rồi em ở đâu  

     Nằm bên đất lạnh chắc em sầu 

     Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy 

     Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu …”

    Chúng ta có thể nói Đinh Hùng là nhà “khảo cổ thi ca” đầu tiên đi ngược dòng lịch sử của những mảnh hồn nhân loại bị quên lãng theo thời gian. Thơ Đinh Hùng nói lên vẻ đẹp siêu thực tế, một tình yêu linh thiêng, một thế giới mới dựa trên linh thị của siêu cảm và trực giác. Thơ Đinh Hùng xóa mờ bức tường ranh giới giữa không gian và thời gian, hòa nhập con người với cõi vô thường, với những cảm xúc dữ dội và khốc liệt, tư duy và sự khuấy đảo đến kinh hoàng của hình tượng qua những vần thơ. Để hiểu rõ về người nghệ sĩ đa tài Đinh Hùng, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu xem yếu tố nào đã khiến cho ông giải bày niềm cảm xúc qua trang giấy một cách mãnh liệt như thế.  

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Đinh Hùng là nhà thơ tiền chiến, bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết. Ông sinh ngày 3 tháng 7, 1920 tại làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ ông theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, trung học tại trường Bưởi. Theo thi sĩ Vũ Hoàng Chương, sau khi thi đậu “cao đẳng tiểu học“, hạng bình thứ, Đinh Hùng được học bổng và trong khi đang theo học ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì ông bỏ ngang đi viết văn và làm thơ.

    “Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi
    Xa vở bài, mở rộng sách ham mê
    Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về
    Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn”

     (Khi Mới Nhớn)

    Tuy nhiên, tuổi thơ của Đinh Hùng là chuỗi ngày sầu thảm, sự mất mát liên tục của những người thân trong gia đình đã để lại nhiều vết thương trong lòng ông. Năm 1931, người chị thứ ba của ông tên Tuyết Hồng đã tự vẫn tại hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng chết khi còn rất trẻ và sau hết là cái chết của người bạn gái yểu mệnh tên Bích Liên. Đó là những biến động kinh hoàng trong cuộc đời xảy ra cho một con người.

    Dưới ngòi bút thiên phú, Đinh Hùng trở nên nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” được nhà văn Thế Lữ chọn in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh của ông, một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết kinh dị, lãng mạn, rùng rợn nhưng cũng đầy chất thơ do NXB Đời Nay in ấn năm 1941. Năm 1943, Đinh Hùng đang sống với người chị là Thục Oanh tại Hà Nội thì tập văn xuôi đầu tiên ra đời: Đám ma tôi được đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, một Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn…

                Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa

              Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết 

                Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết 

                Rộn xuân tình lên bộ ngực thanh tân…” 

                                                       (Kỳ nữ)

    Năm 1944, Vũ Hoàng Chương cưới Thục Oanh rồi về Nam Định, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài với sự cộng tác của Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch…Cũng trong năm ấy, Đinh Hùng tản cư theo tờ báo Cứu Quốc nhưng sau đó, ông về Thái Bình dạy học cùng người vợ mới cưới là Nguyễn Thị Thanh. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con trở lại Hà Nội, tại đây, ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô Văn Nghệ (1952) và tập thơ Mê Hồn Ca (1954).

    Tháng 8, 1954, Đinh Hùng cùng vợ con vào Sài Gòn cùng với gia dình của Vũ Hoàng Chương. Trong thời gian đầu, ông nhận viết báo, viết tiểu thuyết dài từng kỳ cho các nhật báo Sài Gòn như “Kỳ Nữ gò Ôn Khâu”, “Đao phủ thành Đại La”, v.v… và bình thơ tại Đài phát thanh Sài Gòn. Ngoài ra ông còn vẽ tranh vui và giữ luôn mục thơ trào phúng “Đàn ngang cung” với bút hiệu Thần Đăng. Sau đó ông lập ra tờ nhật báo Tự Do, cộng tác cùng với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong…Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận. Năm 1961, ông cho in tập Đường Vào Tình Sử, tác phẩm này được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.

    Phải chăng “Nhân tài thường hay chết yểu” hay bởi Đinh Hùng luôn bị ám ảnh bởi sự chết, hay là vì nhân chứng của nhiều cái chết, nên dưới ngòi bút tài hoa sẵn có, ông đã phác họa một cáo phó về cái chết của mình qua bài thơ Cung Đàn Tưởng Niệm, và được coi như là một di chúc viết cho chính bản thân ông. Ngay cả trong tác phẩm văn xuôi đầu tay của ông, ông đã chọn tựa đề rất lạ lùng: Đám Ma Tôi, được nhà xuất bản Tân Việt in năm 1943, lúc ấy ông mới có 23 tuổi. 

    …”Khi anh chết, các em về đây nhé 

    Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa 

    Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ 

    Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”

    Tháng 08 năm 1967, Đinh Hùng qua đời vì bệnh ung thư gan tại bệnh viện Bình Dân, ông được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Một điều kỳ diệu đã xảy ra là lời ước nguyện của ông khi còn sinh tiền đã biến thành hiện thực: “…Khi anh chết, các em về đây nhé… Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”. Thật vậy, bạn bè của Đinh Hùng kể lại là trong đám tang của ông người ta thấy có hai chục cô thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng đi theo linh cữu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuồng lòng huyệt, ngậm ngùi tiễn đưa người thi sĩ.

    Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967. Ngoài những tác phẩm trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.

    NHẬN ĐỊNH VỀ THẾ GIỚI THI CA CỦA ĐINH HÙNG

    Nói đến những bài thơ làm nên tên tuổi của Đinh Hùng, chúng ta không thể nào không nhắc đến tác phẩm đầu tay của thi sĩ do nhà xuất bản Tiếng Phương Ðông ấn hành tại Hà Nội năm 1954: Mê Hồn Ca. Dựa theo bài viết của Thủy Nguyệt, Mê Hồn Ca gồm 40 bài thơ ca ngợi tình yêu cuồng nhiệt của một tâm hồn lạc lõng, bơ vơ muốn tìm về một thế giới hư vô. Qua phong cách diễn tả độc đáo của tác giả, chúng ta nhận thấy trong ý thơ của ông vừa có vị nồng nàn, tha thiết, đau khổ chen lẫn mê hoặc, mà trong đó chất chứa một vũ trụ hoang sơ, rừng rú. Ở phần đầu Mê Hồn Ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác từ cô độc đến bi thiết qua những bài thơ: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên… Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác mà chúng ta tìm thấy trong thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia như trong Gửi người dưới mộ, Tìm bóng tử thần. Bài thơ Cầu hồn là điển hình cho sự ám ảnh trong ý thơ.

    Hồn ơi! Hồn tỉnh giấc thần,
    Đêm nay lạc xuống dương trần mà vui.
    Nghìn yêu ma che bước cõi Luân Hồi,
    Nhìn nghiêng mặt đất thấy trời hiển linh.
    Giữa đêm đời sẽ hồi sinh.
    Nhân gian hát khúc vong tình lên non.
    Đôi ta vào hội oan hồn,
    Âm dương tái hợp …

    Có những lúc chúng ta tự hỏi: Trong thế giới thi ca, hỏi mấy ai có thể tạo dựng một nghĩa trang huyền ảo như trong văn thơ của thi sĩ Đinh Hùng? Phải chăng cái chết và sự sống, thường bị chia cắt và giới hạn bởi không gian vật lý?  Phải chăng trong cõi tâm linh của Đinh Hùng khát vọng sự giao hòa, ao ước rằng con người có thể vượt qua mọi ranh giới để hướng đến khoảng cách vô tận ấy?   Ai có thể hiểu được vì sao Đinh Hùng đã viết lên những vần thơ đi vào cõi chết? Có phải đó là kết quả của nhiều đau thương mất mát trong gia đình liên tục xảy đến với ông, hay chính ông đã nhìn thấy sự chết cho chính mình, và ở đâu đây, lưỡi hái tử thần đang chờ đón ông?

    Mặc dù Mê Hồn Ca xuất hiện trên thi đàn giữa thời loạn ly, khi đất nước chia đôi nhưng đã lôi cuốn rất nhiều độc giả bởi hình ảnh liêu trai, bởi sự sống đầy mộng mị của trần gian và sự hoang lạnh của chốn âm cảnh, qua trí tưởng tượng phong phú đầy sáng tạo của thi sĩ Đình Hùng và trong thế giới mê hoặc, mờ ảo với những ảo giác hư thực của tiền kiếp đã trở thành một tuyệt tác dưới ngòi bút của Đinh Hùng.  

    Nàng năm mộng suốt đêm hè dưới nguyệt,
    Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao.
    Xa nấm mộ, chúng ta cuồng dại hết,
    Để yêu tà về khóc dưới non cao.
    Hồn Vệ Nữ lạc loài bên cửa huyệt,
    Xuân bi thương – ôi má thắm, môi đào!
    Bốn mùa trăng vào một hội chiêm bao,
    Trong giấc ngủ đẫm mùi hương phấn lạ.

    (Tìm bóng tử thần)

    Cái bi kịch của tình yêu, của gia đình với những ràng buộc khắt khe của tạo hóa đã đưa người nghê sĩ tài hoa Đinh Hùng lạc lõng trong xã hội loài người, bị ám ảnh bởi cái chết đã đi vào tư tưởng của ông rồi bộc lộ qua thi ca. Bài Gửi Người Dưới Mộ đã cho chúng ta một cảm nhận rờn rợn trong hồn:

    “…Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?

    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?

    Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy

    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu…“

    (Gửi người dưới mộ)

    Thơ của ông có nhiều sắc thái khác nhau, khi là sự hiện hình của một thực tại huyễn tưởng, một ngôn ngữ đầy ma mị, đầy hư ảo, khi thì bộc lộ sự cô độc, thảm thiết gần như muốn tìm vào cõi chết, thể hiện qua những bài thơ:  Mê Hồn Ca, Bài Ca Man Rợ, Những Hướng Sao Rơi. Lại có những bài thơ nghiêng về tôn giáo, tâm linh, đôi lúc ông thi vị hóa tình yêu như trong bài Kỳ Nữ, Hoa Sử, Hương Trinh Bạch. Ở một khía cạnh khác, chúng ta thấy thơ của Đinh Hùng, hình như bị ám ảnh bởi thế giới bên kia, nhập tâm tìm kiếm một ngõ ngách giao hòa cùng người thiên cổ, thể hiện qua bài: Cầu Hồn, Gửi Người Dưới Mộ, Tìm Bóng Tử Thần….

              …”Trong mộng trần duyên 

                    Của người thiên cổ….”

                    …”Trời ơi, đây nguyệt vô biên 

                    Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ”.

                                                (Tìm Bóng Tử Thần)

    Đọc bài thơ Liên Tưởng, chúng ta có cảm tưởng đây là những vần thơ mà Đinh Hùng đã viết cho một người con gái xinh đẹp yểu mệnh tên Bích Liên mà ông đã yêu say đắm trong ngây ngất. Một mối tình tinh khiết nhưng mãnh liệt, kỳ ảo nhưng huyền hoặc.  Phải chăng chính mối tình ấy đã tạo nên một ảnh hưởng sâu đậm trong tâm khảm của nhà thơ và đã đi theo ông trong suốt cuộc đời. 

     … Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.

    Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,

    Lén bước trang đài tới gặp ta

    Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn,

    Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên.

    Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng,

    Lửa hạ lên rồi … Ôi Ý Liên!”

    (Liên Tưởng – ĐVTS)

    Đinh Hùng và Bích Liên yêu nhau trong tuyệt vọng, khi Bích Liên qua đời vì bệnh lao, Đinh Hùng mới 20 tuổi, cái tuổi chập chững bước vào đời với khát vọng yêu đương, với cuồng phong bão tố của mối tình đầu. Cái chết của Bích Liên, cũng là sự mất mát rất lớn trong đời ông và đã biến con người ông trở nên như điên dại, nỗi đau đớn ấy khiến ông sáng tác một loạt thơ mới:  Thơ Chiêu Niệm, Liên Tưởng và Gửi Người Dưới Mộ đã đưa ông hướng sâu vào cõi chết, phải chăng, theo ông chết là giải thoát những khổ đau.

    Em đã về chưa?
    Em sắp về chưa?
    Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
    Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.
    Em hãy cười lên vang cõi âm.
    Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
    Những hồn phiêu bạt bao năm trước.
    Nay đã vào chung một chỗ nằm.

    Theo tác giả Đỗ Tường, khi Bích Liên chết, Đinh Hùng xin đến nhìn mặt người yêu lần cuối, đứng trước xác người yêu, ông đã làm một cử chỉ khiến tất cả mọi người phải kinh hoàng bởi ông điềm nhiên lật tấm vải liệm phù mặt cô gái ra, rồi cuối xuống hôn một cách say đắm.

    Qua xứ ma sầu, ta mất trí
    thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
    trời ơi! trời ơi! làn tử khí
    lạc lõng hương thầm đoá Bạch Liên

                                   (Cầu hồn)

    Phải chăng sự ám ảnh với những nỗi đau và cái chết khiến thơ của ông đã vượt quá giới hạn, vượt quá sự tưởng tượng của con người. Với ông cái chết là sự cuồng si, là cái đẹp, nó không chỉ đẹp trong thơ mà còn đẹp trong cả tiềm thức của người nghệ sĩ với nỗi đau và sự rung động của trái tim qua bài thơ Gửi Người Dưới Mộ.

    Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
    Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
    Em mộng về đâu?
    Em mất về đâu?
    Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu,
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa.

    Trong bài viết “Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cho rằng biểu tượng mạnh mẽ nhất của Đinh Hùng là cái chết với “mặt trời máu”, với “nấm mồ”, “tử thần”, “hồn ma” … Quả nhiên, trong hai phần “Chiêu niệm”, “Mê hồn” và cả bài trường thi “Thần tụng” cũng tràn ngập không khí của cõi chết. Nhưng cái chết trong thơ Đinh Hùng không phải sự tàn lụi và đau thương mà cái chết trong thơ Đinh Hùng rạo rực xuân tình, đầy sức sống:

    Cười lên em! Khóc lên em!
    Đâu trăng tình sử,Nép áo trần duyên?

    … Ta gởi bài thơ anh linh
    Hỏi người trong mộ có rùng mình?
    Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
    Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?”

    (Gửi người dưới mộ)

    … Hỡi hồn tuyết trinh!
    Hỡi người tuyết trinh!
    Mê em, ta thoát thân hình,
    Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.
    Em có vui thêm? Em có buồn thêm?
    Ngồi bên cửa mộ,
    Kể cho ta biết nỗi niềm.

    Sau khi Bích Liên mất, thi sĩ Đinh Hùng sống một cuộc sống “Lăng bạt kỳ hồ“, khi thì ông đi dạy học ở Hà Đông, khi thì gia nhập một ban nhạc tài tử ở vùng Bắc cạn, ông như người quẫn trí, ông khóc như điên dại, bỏ Hà Nội, đi Hải Dương, vượt sông Hồng Hà, ông bỏ lại tất cả và chỉ ôm ấp bên mình, bức di ảnh của Bích Liên.  

    … “Thần chết cười trong bộ ngực điên,
    Ta nghe em thở tiếng ưu phiền.
    Nỗi lòng xưa dậy tan Thanh Vắng.
    Hơi đất mê người – Trăng hiện lên.”

     Những cái chết trong gia đình, nhất là cái chết của Bích Liên, thi sĩ Đinh Hùng cho rằng định mệnh quá cay nghiệt với ông, ông muốn xuất trần, rút mình vào một thế giới siêu tưởng, tránh sầu bi? Phải chăng, ông đã vượt ra ngoài vòng vũ trụ, nhìn xuống dương trần với đôi mắt dửng dưng và tìm đến cái thế giới riêng cho ông, thế giới vô hình. (Thi Vũ 1993). Có thể điều này đã giải thích được phần nào những văn thơ huyền bí của ông. Trong thế giới siêu tưởng, Đinh Hùng mâu thuẫn với chính ông, khi hiền thì thật là hiền, nhưng có lúc thì trở nên dữ tợn. Trong cái thế giới tình yêu giả tưởng, lãng mạn và tình tứ ấy, thi sĩ Đinh Hùng đã tìm ra chân lý của mình.

    …“Trong im lặng, tôi rung mình nín thở,

    Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa.

    Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da,

    Tình yêu rợn tự đầu mày chân tóc…”

    (Giáp Mặt Phù Dung)

    Ngược lại, trong bài “bài Ca Man Rợ” ông rất dữ tợn:

    …”Ta về đây, lạ hết các người rồi,

    Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống.

    Trong bỡ ngỡ duy long còn chút mộng,

    Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa.

    Nàng không mong, ta đi đến không ngờ,

    Giây phút ấy thực mắt nhìn tận mắt,

    Ta mỉm cười bỗng thấy nàng che mặt

    Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa…”

    (Bài Ca Man Rợ)

    Theo tài liệu Wikipedia, hai thi phẩm nổi bật của Đinh Hùng là Đường Vào Tình Sử và Mê Hồn Ca.  Nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca như sau:  “Đây là loại thơ nói ít hiểu nhiều, thi sĩ Đinh Hùng đã sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mát. Có thể nói là thi sĩ Đinh Hùng chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire và Rimbaud“.  Thơ của Đinh Hùng nghiêng về tâm linh, siêu hình, bí ẩn và có chiều hướng thoát ly ra khỏi thực tế. 

    …”Khi miếu đường kia phá bỏ rồi 

     Ta đi về những hướng sao rơi 

    Lạc loài theo hướng chân cầm thú 

     Từng vệt dương sa mọc khắp nơi…

    … Rồi những đêm sâu bỗng hiện về 

    Vượn lâm tuyền, khóc rợn trăng khuya

    Đâu đây u uất hồn sơ cổ 

    Từng bước ma rừng theo bước đi”……

     (Bài Ca Man Rợ)

    Tình yêu trong thơ Đinh Hùng không phải là những cảm xúc bình thường, mà là sự kết hợp của những mê dại nghiêng về tâm linh, huyền bí của thế giới kỳ diệu ái tình, một vũ trụ nhập nhòe giữa thực và ảo, chính là vũ trụ của một biển tình da diết trong thế giới âm dương.

               …“Ta thường có những buổi sầu ghê gớm 

                Ở bên em, ôi biển sắc rừng hương!

                Em rực rỡ như một ngàn hoa sớm 

                Em đến đây như đến tự thiên đường.

                                                    (Kỳ Nữ)

    “Kỳ Nữ” trong thơ của Đinh Hùng đã đưa chúng ta vào một không gian thần thoại với vẻ kỳ vĩ của trăng sao, của núi rừng. “Kỳ Nữ” với Đinh Hùng giống như nàng Galatae với chàng Pygmalion, nàng đại diện cho lý tưởng, cho cõi mơ, cho sự hoàn hảo mà người nghệ sĩ luôn tưởng đến.

    “Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo
    Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm
    Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm
    Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận”

    Khi bài Kỳ Nữ ra đời được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh, đã đưa tên tuổi của thi sĩ Đinh Hùng lên đỉnh cao nhất trong làng thi văn, và khẳng định rằng ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi từ đầy ma lực, điều này đã được thể hiện rõ rệt trong thi tập Mê Hồn Ca. Tuy nhiên, Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng là thế giới của say mê, hoang sơ man dại, chết chóc,  huyền bí, nhiệm mầu, của tình yêu tha thiết, mãnh liệt và kinh khủng của lứa đôi. 

    Anh sẽ tìm em, chiều nào tận thế
    Khi những sầu thương cất cánh xa bay
    Khi những giận hờn, khi những mê say
    Khi tất cả hiện nguyên hình ảo mộng:
    Giọt lệ hoa niên, cung đàn hoài vọng
    Và những hương thơm tình ái trao duyên
    Những không gian thăm thẳm mắt u huyền
    Những vạt áo bỗng trở màu sông biển

    (Đường Vào Tình Sử)

    Ngoài những bài thơ huyền bí, thi sĩ Đinh Hùng sáng tác một số bài thơ ca ngợi tình yêu, nhưng khi đọc Kỹ, chúng ta thấy phảng phất lời văn hoang tưởng và xa vời thực tế. Nổi bật trong thể loại thơ này là bài thơ Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng với lời thơ trong sáng, ca tụng tình yêu đôi lứa, được nhạc sĩ Phạm đình Chương góp nhặt, trau chuốt, viết bằng cảm xúc xúc thành nhạc phẩm Mộng dưới hoa.

     …”Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng 

     Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng 

     Tóc xanh là bóng dừa hoang dại 

     Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    …”Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu 

      Đêm nằm nghe giấc mộng trôi mau

      Gió ơi, gởi gió lời tâm niệm 

     Và nguyện muôn chiều ta có nhau…”

    (Nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa)                                                                                                                                                        Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng là hai bài thơ trong thi tập Đường vào từng sử, một tập thơ đầy nhạc tính. Trong hai bài thơ trên, Đinh Hùng muốn nói cuộc đời không phải lúc nào cũng là con đường đầy chông gai, tang thương, buồn thảm. Con đường ấy có khi cũng phủ đầy hoa gấm, mộng mị, yêu thương, dù là trong mộng tưởng.

    Nếu bước chân ngà có mỏi
    Xin em dựa sát lòng anh
    Ta đi vào tận rừng xanh
    Vớt cánh rong vàng bên suối

    (Xuôi dòng ảo mộng)

    … ‘Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,

    Nắng trong hoa, với gió bên hồ

    Dành riêng em đấy khi tình tự,

    Ta sẽ đi về những cảnh xưa…”

    (Tự Tình Dưới Hoa)

    Nhà văn Việt Haỉ viết “Mộng dưới hoa của Đinh Hùng và nhạc Phạm Đình Chương như hiểu nhau ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, những nốt nhạc ấy là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ”.  Nhà văn Việt Haỉ nhận định: “Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ”.

    …”Tóc xanh là bóng dừa hoang dại,

    Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    Trong bốn câu thơ dưới đây diễn tả một khoảnh khắc thời gian như dừng lại cho cặp tình nhân gặp nhau trong mộng.

    …”Nếu bước chân ngà có mỏi

    Xin em dựa sát long anh

    Ta đi vào tận rừ xanh

    Vớt cánh rong vàng bên suối…”

    Trong câu: Ta đưa nhau vào tận rừng xanh, vớt cánh rong vàng bên suối.

    “Cánh rong vàng” tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Hỏi ai có

    vớt được “cánh rong vàng”? hay đó chỉ là trong giấc mộng thôi.

    …“Bước khẽ cho long nói nhỏ

    Bao nhiêu mộng ước phù du

    Ta xây thành mộng nghìn thu

    Núi biếc song dài ghi nhớ.

    Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề

    Mây hồng giăng tám ngả sơn khê

    Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng

    Và mộng em cười như giấc mê…”

    Theo Võ Tấn Cường nhận định về thơ của thi si Đinh Hùng: “Đinh Hùng – một hồn thơ kỳ ảo với vũ trụ thơ thuần khiết, song hành với thực tại là hiện tượng thi ca đầy phức tạp và bí ẩn.  Số phận cuộc đời của Đinh Hùng và thi ca của ông chịu nhiều oan trái, bị chìm khuất dưới những dòng xoáy của thời cuộc cùng với những định kiến và quan niệm hẹp hòi về nghệ thuật”

    … Theo tôi, cái đẹp trong thơ Đinh Hùng huyền ảo, mầu nhiệm và gợn sắc màu sử thi như trong các bản trường ca Iliat và Ôđixê của  Hôme dưới thời kỳ lịch sử Hi Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ IX TCN (vì trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Hi Lạp trong giai đoạn này được phản ánh rõ nét trong 2 tập sử thi Iliát và Ôđixê, tương truyền là sáng tác của nhà thơ Hôme ở Tiểu Á. (Nguồn: https://bienniensu.com/thegioi/lich-su-hi-lap-thoi-ky-home/). Cái đẹp trong thơ Đinh Hùng mang bóng dáng và tinh thần nhân đạo của hình tượng người anh Hùng sử thi:

    …“Ta lảo đảo vùng đứng lên cười ngất

    Ghì chặt nàng cho chết giữa mê ly

    Rồi dày xéo lên song núi đô kỳ

    Bên thành quách ta ra tay tàn phá…”

    (Bài ca man rợ)

    Dưới ánh mắt của Đinh Hùng cái đẹp là một thế giới đầy cám dỗ, huyền ảo, nhiệm màu và siêu thoát, ông tôn thờ tình yêu và xem nó như một thứ tôn giáo, ông đặt sắc đẹp lên ngôi, xem nó là một thứ quyền năng chi phối tâm linh, sự sống và sự chết, nó ảo hóa với muôn sắc thái và ma mị nên dễ gây ấn tượng rờn rợn khi ta được nghe hay đọc nó.

    …“Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác

    Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma

    Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà

    Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết

    Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết

    Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn

    Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn…”

    (Kỳ Nữ)

    Thơ tình yêu của Đinh Hùng vượt qua nỗi khát khao dâng hiến, hướng về thế giới tâm linh huyền bí, siêu hình của tôn giáo, sự linh thiêng của cõi vô hình đã phủ lên thế giới tâm linh, hư ảo, huyễn hoặc trong thơ của ông qua vẻ đẹp lung linh, huyền bí trong thơ của Đinh Hùng:

    …“Ta hát bài kinh, thoảng dã hương

    Từng đêm chiêu niệm bắt hồn nàng

    Lời ra cửa biển tìm sao rụng

    Rỏ xuống mộ em giọt lệ thương…”

                        
    Cái gì đã đưa Đinh Hùng đến với ám ảnh về cái chết, về bóng ma? Trong đời sống tôn giáo tâm linh, quan trọng nhất là đời sống sau khi chết, là đời sống thực của linh hồn. Linh hồn con người thoát khỏi thể xác và khám phá thế giới cõi âm. Điều này được ghi lại trong các thư tịch của Tây Tạng, Ai Cập, Trung Quốc và báo chí phương Tây. Trong cơn hấp hối, trong trạng thái mơ màng, con người tiếp xúc với thế giới âm, gặp gỡ những linh hồn của người lạ hoặc người quen trong quá khứ. Krishnamurti, một bậc thầy tâm linh đương đại nổi tiếng được sự kính ngưỡng của cả giới tôn giáo và giới khoa học thế kỷ 20, cũng đã thường xuyên có trải nghiệm này. Trong những biến đổi mãnh liệt nhất về tâm linh, khi ở giữa ý thức và vô ý thức, ông nhìn thấy bóng ma người mẹ quá cố của mình cùng với nhiều linh hồn của các bậc chứng ngộ khác. Ở trường hợp Đinh Hùng, nhà thơ đã trải nghiệm sự việc này khi mơ màng trong màu sương khói của mây mù thuốc phiện:

    “Từng đêm tôi nguyện tôi cầu
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa”

                       (Gửi người dưới mộ)

    Này Biển Giác: mây trời nghiêng nét mặt
    cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu

                        (Tìm bóng tử thần)

    Ta hằng nghe rõ
    tiếng buồn trong sương
    hằng thấy trên tường
    hình ma bóng nhớ
    chỗ em ngồi cũ
    lên màu khói hương
    (Màu sương linh giác)

    Và chính Đinh Hùng cũng thừa nhận đó là một trạng thái mộng mị, tức là cõi ảo dưới con mắt người thường, có điều trong cõi ảo ấy, tất cả đều rất thật, rất đắm say, tới mức muốn vứt bỏ cả xác trần:

    “đôi ta vào hội oan hồn
    âm dương tái hợp –
    ồ! đây là cuộc tân hôn dị kỳ
    nguyệt hoa mặc áo huyền vi
    màu nghê thường đó – trời ơi! xiêm y biến hình
    tôi van lơn bầy nhạc nữ đồng trinh
    đừng cao giọng hát – hồn các em lạc tinh anh bốn trời!
    đừng cho thể chất phục hồi
    đừng cho tôi khóc, tôi cười vì điên!”

                                            (“Cầu hồn”)

    Tóm lại, phân tích về thế giới thi ca cũa Đinh Hùng tùy thuộc vào cái nhìn của từng cá nhân, dù rằng nó có thể hoàn toàn khác với mọi người. Đôi lúc, người ta cho rằng nhận định của chúng ta là hoang tưởng, nhưng một khi đã bước vào cõi hư ảo, dù theo cách này hay cách khác, tức là đã từng trải nghiệm đời sống linh hồn, thì khó có thể nhìn vạn sự bằng nhãn quan của thế giới hữu hình. Theo người viết, “thơ Đinh Hùng là một thế giới mang đầy mê cung kỳ ảo” và vẫn còn trong sự huyền bí chờ đợi sự giải bày của những khối óc quan tâm đến vận mệnh thi ca của dân tộc. 

    THI CA VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    VŨ HOÀNG CHƯƠNG-(1915-1976)

    Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
    Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
    Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

    Trong một sự tình cờ, ngày 03 tháng 11 năm 2024 người viết đã gởi đến quý độc giả một hồi ký với tựa đề “Sinh Lầm Thế Kỷ”, một câu chuyện chân thực về cuộc sống ở Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm kể về một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại những ký ức đau thương về chiến tranh và nỗi khổ đau của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Tưởng cũng xin giải thích rõ là tại sao người viết lại cho đó là một sự tình cờ? Xin thưa: Lúc chọn tựa đề cho quyển hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ” người viết không nhớ là thi nhân Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài thơ Phương Xa mà trong ấy cũng có câu “đầu thai lầm thế kỷ”.

    Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
    Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
    Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
    Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

    Dưới đây người viết xin lướt qua về:

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Vũ Hoàng Chương sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh–Na Sầm.

    Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, hồi cư về Hà Nội dạy văn cho đến 1975.

    Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam ở Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở các trường trung học và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1959 ông đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc” của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc tế tại Bỉ. Năm 1964 ông tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm 1965 tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire.

    Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai, lúc này tên tuổi của ông nổi bật trong phong trào Thơ Mới (1932-1945) và được gọi “Thi Bá Vũ Hoàng Chương”. Năm 1972, Vũ Hoàng Chương trong danh sách 100 tác giả được đề cử giải Nobel Văn Chương (The Nobel Prize in Literature), sự kiện này chỉ được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố ngày 11 tháng 02 năm 2023. (vì theo quy định thì sau 50 năm kể từ khi trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển mới công bố danh sách những người được đề cử Giải Nobel văn học của năm đó). Giải Nobel năm 1972 được trao cho cho nhà thơ Heinrich Böll của Đức, (Heinrich Böll đã từng được đề cử liên tục từ năm 1960 và mãi đến năm 1972 mới đoạt được giải).

    Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Theo Nhà văn Mai Thảo… Buổi sáng ngày 13 tháng 4 năm 1976 (theo lời chị Vũ Hoàng Chương thuật lại. Bốn chiếc Jeep đến từ phía Sài Gòn, chở đầy an ninh áo vàng mang súng ống, phóng thẳng tới phường Cây Bàng và ngừng lại trước con ngõ nhỏ dẫn vào căn gác của gia đình Vũ Hoàng Chương (Gác Bút). Khoảng 20 công an, nhẩy xuống xe, xô cửa ập vào đánh thức thi sĩ khỏi giấc ngủ chập chờn. Vũ Hoàng Chương gắng gượng ngồi dậy, lấy áo gấm mặc vào người, ngồi thật thẳng giữa chiếu, bất động, chờ đợi… Ông không kinh hãi, không phẫn nộ, không bất ngờ, cũng chẳng ngạc nhiên. Ông ngồi thẳng, mắt nhắm lại… Suốt thời gian này, thi sĩ không nói một lời nào khi ông nghe bản cáo trạng và lệnh bắt giữ, ông chỉ nhún vai rồi ngồi yên như cũ. Lý do bị bắt là phản động, làm thơ chống phá cách mạng phổ biến khắp Sài Gòn những bài thơ chống phá chế độ. Sau cuộc lục soát xong và tịch thu sách và bản thảo, hai công an xốc nách thi sĩ đứng lên, kèm ông xuống cầu thang và đưa thẳng ông vào khám lớn Chí Hòa…

    … Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối, không ai có tin tức của Vũ Hoàng Chương, ông được thả về khi trở bệnh nặng trong tù. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, nhưng thần trí của ông vẫn minh mẫn sáng suốt. Điều tuyệt đối là ông không nói một lời nào về bốn tháng bị giam trong Chí Hòa. Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại trong đau đớn và ngày thứ năm, ngày 17 tháng 9, 1976, thì ông mất tại Sài Gòn. Năm 1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp.

    Dưới đây là bài thơ cuối cùng của Vũ Hoàng Chương làm trong Khám Chí Hòa năm 1976:

    Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
    Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.
    Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
    Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
    Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
    Đêm về giấc ngủ lại thương con.
    Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
    Hồ dễ gì phai được tấc son!”

    Vũ Hoàng Chương có nhiều sáng tác để đời, được giới phê bình văn học đánh giá cao, và từng được xưng tụng là “Ngôi sao Bắc Ðẩu” của thi ca Việt Nam. 1975:

    Hơn bốn thập niên sau, thi ca Vũ Hoàng Chương không còn đề cập ở trong nước, một đời thơ của ông bị lãng quân, chôn vùi theo thân xác. Và ngay cả trong những tác phẩm đề cập đến những áng thơ hay trong Thi Ca Việt Nam cũng “quên” nhắc đến dòng thơ thi bá Vũ Hoàng Chương. (Vương Trùng Dương)

    NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG & THI CA

    Dựa theo tài liệu trên Internet, đã có rất nhiều bài bình luận nhận định về sự nghiệp văn chương & thi phú của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Họ cho rằng: Văn phong và phong cách của thi nhân được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc và chứa đựng sắc thái Đông phương. Vũ Hoàng Chương làm thơ rất sớm khi ông mới 25 tuổi (1940) và đã cho xuất bản rất nhiều thi tập.

    Tháng 10, 1936 ông xuất bản tập Die Achtundzwanzig Sterne, thơ dịch ra Đức ngữ, do nhà Hoffmann Und Campe, tỉnh Hamburg, Đức. Dịch giả là thi sĩ Áo Kosmas Ziegler. Trước 1945, ông có hai thi phẩm nổi tiếng vào thời tiền chiến là Thơ Say (1940) và Mây (1943). Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam đã nhận xét: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say nhưng “say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc”.

    Tập thơ đầu tay Thơ say gồm 32 bài thơ do tác giả tự xuất bản, nhà in Cộng Lực ấn loát và phát hành. Năm 1971, NXB Nguyễn Đình Vượng tái bản tập Thơ Say tại Sài Gòn, tập thơ chia làm nhiều phần như: Say, Mùa, Yêu, Cưới, Lỡ Làng, Lại Say. Bài thơ Say đi em, Phương xa, Chén rượu đôi đường, Mùa thu đã về và Quên là những bài thơ được nhiều người đọc và yêu thích nhất. Năm 1960, tại Sài Gòn Vũ Hoàng Chương tự tái bản 2 tập thơ Say gồm32 bài thơ và Mây gồm 25 bài thơ, in chung vào 1 tập mang tên Mây, Sài Gòn 1960. Người viết xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu:

    …“Say đi em! Say đi em!
     Say cho lơi lả ánh đèn,
    Cho cung bực ngả nghiêng

    Cho điên rồ xác thịt
    Rượu, rượu nữa!

    Và quên quên hết!
    Ta quá say rồi
    Sắc ngả mầu trôi…

                (Say đi em-1940)

    Và lại say nữa để mà quên.

    Đã hẹn với Em rồi, không tưởng tiếc
    Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
    Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu.

    Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
    Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
    Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.

                                    (Quên-1947)

    Năm 1948, Vũ Hoàng Chương xuất bản tập Thơ Lửa cùng với Đoàn Văn Cừ tại Thái Nguyên do cơ quan Kháng chiến Liên khu 3 đảm trách. Năm 1959, khi Vũ Hoàng Chương Tham dự Hội Nghị Thi Ca Quốc Tế, gặp gỡ nhà thơ nữ Ysabel Baes mới 15 tuổi đã có một thi tập được được Maison du Poète tại thủ đô Bruxelles xuất bản năm 1959. Bài thơ Công Chúa Mười Lăm, dài với 40 phân đoạn, mỗi đoạn 4 câu thơ thất ngôn. Toàn bài có 160 câu. Bài thơ “Công Chúa Mười Lăm” của Vũ Hoàng Chương tặng YSA không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là một hành trình vươn tới cái đẹp vĩnh hằng, là hình ảnh của một tình yêu và nghệ thuật. Tình yêu ấy là hành trình, là những cảm xúc, những giấc mơ và những hy vọng. Mối quan hệ giữa người thi sĩ và Công Chúa Mười Lăm là sự giao thoa giữa hai thế giới: thế giới của “thơ” và thế giới của “mộng”.

    Công Chúa Mười Lăm, nàng ở đâu?
    Tìm nàng, thôi đã nát Âu châu
    Ba Lê, Nhã Điển hay La Mã
    Đâu cũng rêu in lệnh Miễn Chầu…

    …Đê mê nhịp thở phút huyền ngưng
    Đôi lứa chìm sâu đáy Tượng trưng
    Ta nhủ: “Kìa em! Thơ mở lối
    Còn sâu hơn cả trái tim Rừng!”…

    Trong thời gian từ năm 1962 trở đi, Vũ Hoàng Chương đã cho xuất bản nhiều thi tập và tùy bút tại Sài Gòn gồm: Rừng Phong. 1970: Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, Tân Thi, Loạn Trung Bút, Ngồi Quán, Tâm sự phố phường, Tuổi Xanh, Ba Kiếp Lang Thang,Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai, Lửa Thiêng (Phần I: Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay 1936-1939), Ánh Trăng Đạo, Tập Bút Nở Hoa Đàm, Nhị Thập Bát Tú I & Tập II, Cành Mai Trắng Mộng. Đáng kể nhất là năm 1962, tập thơ Trời Một Phương trong đó có bài thơ Lửa Từ Bi ca ngợi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào tháng 07, do nhóm Thanh Tăng xuất bản vào tháng 12, 1962. Bài thơ Lửa Từ Bi Kính dâng lên BỒ-TÁT QUẢNG-ĐỨC đã được Hà Lan Phương và Nguyễn Hải phổ nhạc.

    Lửa! Lửa cháy ngất Toà Sen!
    Tám chín phương nhục thể trần tâm
    hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.
    Hai Vầng Sáng rưng rưng
    Đông Tây nhoà lệ ngọc
    Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,
    Ánh Đạo Vàng phơi phới
     đang bừng lên, dâng lên…

    1974: Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, NXB Rừng Trúc, Paris; Theo ông Hoàng Tấn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau” tặng nghệ nhân Quách Thị Hồ, người hát ca trù hay nhất Việtnam (danh hiệu NSND), xưa từng là bạn cố tri của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Hát ca trù cần có “đàn đáy”, do đó nội dung bài thơ sau đây đầy ắp những từ hát cô đầu, âm thanh vang tiếng “sênh, đàn, phách”.

    … Chúng ta mất hết cả rồi sao?

    Cả đến âm thanh một thuở nào!

    Da trống tơ đàn ôi trúc phách

    Đều khổ như khúc hát gầy hao

    Đàn mang tiếng đáy mà không đáy

    Mất hết rồi sao sợi nhớ thương

    Tay phách từ lâu nay lạc phách

    Không còn đựng mãi bến Tầm Dương…

    Bài Vịnh Tranh Gà Lợn của nhà thơ Vũ Hoàng Chương mà tác giả đã viết vào mùa xuân Bính Thìn (1976), cái tết cuối cùng của một đời thi bá.

    Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,

    Gà lợn, om sòm rối bức tranh.

    Rằng vách có tai, thơ có hoạ,

    Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.

    Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,

    Lòng lợn âm dương một tấc thành.

    Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,

    Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.

    Ngoài ra Vũ Hoàng Chương còn có một số tác phẩm được dịch qua Anh ngữ và Pháp ngữ như tập thơ Cảm Thông (nhan đề Anh ngữ là Communion); gồm 6 bài thơ mới sáng tác sau cuộc Âu du và 9 bài cũ lựa chọn lấy tính cách tiêu biểu; do Nguyễn Khang phiên dịch và xuất bản. Tập thơ Tâm Tình Người Đẹp (nhan đề Pháp ngữ là Les 28 Etoiles); gồm 42 bài thơ Nhị thập bát cú, kèm theo bản dịch của nữ thi sĩ Bỉ Simone Kuhnen de La Coeuillerie; Nguyễn Khang. Năm 1963, xuất bản tập Thi Tuyển (nhan đề Pháp ngữ là Poemes Choisis) kèm theo bản dịch của Simone Kuhnen de la Coeuillerie: do nhà xuất bản Nguyễn Khang vào tháng 03, 1963. Vũ Hoàng Chương đã dịch nhiều thơ chữ Hán từ nhiều tác gia Việt Nam và Trung quốc, khoảng 100 bài.

    Dưới đây là những bài thơ Vũ Hoàng Chương viết trong tập thơ Hoa đăng. Bài thơ Trả ta sông núi cho chúng ta cảm nhận tấm lòng yêu nước của con người dân Việt. Những bài thơ trong tập thơ Hoa Đăng rất dài nên người viết chỉ xin trích vài đoạn trong một số bài thơ của ông mà thôi.


    …Trả ta sông núi từng trang sử
    Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
    Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
    Không đòi, ai trả núi sông ta…


    …Trả ta sông núi! câu hùng tráng
    Là súng là gươm giữ đất đai

    Trông lên cao ngất phương trời
    Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.

    Bài thơ Đời Vắng Em Rồi của Vũ Hoàng Chương sau được đổi thành Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai. Tên này sau cũng được ông dùng đặt cho một tập thơ khác.

    Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu,
    Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu.
    Thôi rồi, tay nắm tay lần cuối,
    Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau.

    Gặp gỡ chừng như truyện Liểu Trai.
    Ra đi chẳng hứa một ngày mai.
    Em ơi! lửa tắt, bình khô rượu,
    Đời vắng em rồi, say với ai?
                                                 

    Yêu Mà Chẳng Biết là một trong những bài thơ mang tính thơ lãng mạng.

    Lâu rồi không nhớ bao nhiêu năm,
    Từ độ trông nhau hết lạ lùng,
    Từ hôm bên nhau thôi ngượng ngùng,
    Từ buổi xa nhau mà nhớ nhung.
    Em đã nao lòng, anh mê man!
    Đuôi mắt đầu môi tình chứa chan,
    Đêm thường mơ đêm, ngày đợi ngày.
    Nhưng không hề nói cho nhau hay.

    Bài thơ Giận Hờn là những cay đắng nhưng là bài thơ đặc biệt cho ta cảm giác nhẹ nhàng Của những điệp khúc tình yêu.

    Em đến hôm nào như hoa bay.

    Tình không độc dược mà đắng cay

    Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt

    Mùi hương sát nhân từng ngón tay

    Hay trong bài thơ Hờn Dỗi:

    … Anh vẫn nghe tiếng khóc

    Trong vạt áo len hồng.

    Anh vẫn nghe tiếng nấc.

    Dồn dập trên cgối nhung

    Sao em khóc vì đâu hờn dỗi

    Em buồn có phải lỗi anh không

    Hỏi em em chẳng nói

    Mặc anh xô cửa phòng…

    Một bài thơ Tình si.

    Vì ai làm một bài thơ
    Từ bao giờ đến bây giờ mới xong.

    Đầu trang vằng vặc gương trong
    Nhạc lơi cánh bướm hương phong nụ đào
    Cuối trang vần điệu xôn xao
    Lửa si mê bỗng cháy vào làn môi…
    Đền nhau một chiếc hôn rồi
    Mười lăm năm biết có nguôi giận hờn?…

    Cuối năm 1949, khi hai gia đình đang ở vùng Đống Năm, Thái Bình. Quân Pháp tràn tới, Việt Minh rút chạy. Hai gia đình Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng cũng chạy từ làng nọ tới làng kia. Cuối tháng 8 năm 1954, gia đình Vũ Hoàng Chương và gia đình thi sĩ Đinh Hùng di cư vào miền Nam, hai người thuê một căn nhà lợp tôn, vách ván tại xóm Hòa Hưng. Vũ Hoàng Chương cùng vợ ở trên gác, dưới nhà là tổ ấm của gia đình Đinh Hùng. Đất khách quê người, hai thi nhân sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo túng, họ tạm gác bút. Chán nản, họ vướng vào con đường nghiện hút (thuốc phiện). Lý tưởng tàn lụi, Vũ Hoàng Chương đã gởi niềm tâm sự vào trang giấy: Bài thơ Lý Tưởng.

    …Chàng họa sĩ hôm nay vừa ném bút.

    Bởi vì mơ và thực chẳng đi đôi.

    Nét hư Huyền thấp thoáng ở hồn thôi.

    Tài non kém chẳng đem vào lụa được…

    …Nhạc sĩ với thi nhân đều thế cả

    Dứt hết dây vò nát mấy mươi trang

    Xấu xa trong vần điệu ý huy hoàng

    Sai lạc nữa lúc phổ vào cung bậc…

    …Hồn nghệ sĩ vốn từ xưa nông nổi.

    Yêu thiết tha nhưng chẳng chịu thầm yêu.

    Kiếm hoài công bày giải ý cao siêu.

    Bằng gỗ lụa trơ trơ bằng thép rắn…

    NHẬN ĐỊNH VỀ LÃNH VỰC KỊCH NGHỆ

    Vũ Hoàng Chương đã xuất bản nhiều tập kịch thơ, 3 vở đầu tiên là Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp trong năm 1944, NXB Anh Hoa, Hà Nội. Tại Sài Gòn năm 1960, NXB Nguyễn Đình Vượng lại cho tái bản ba kịch bản này. Kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần, NXB Lửa Thiêng tại Sài Gòn cho ấn hành lần đầu năm 1951 và tái xuất bản năm 1961 ngay sau Cách mạng tháng 8. Năm 1946, Vũ Hoàng Chương tản cư về vùng duyên hải Nam Định (Khu Ba) nhưng đến năm 1950, ông cư về Hà nội để chuẩn bị cho diễn vở kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần năm 1951. Năm 1952, trinh diễn vở kịch thơ Thằng Cuội và năm 1953 ông cho đăng báo kịch thơ Cô Gái Ma.

    Tác phẩm Vân muội: Theo tác giả Phương Nghi, Vũ Hoàng Chương khi còn đang dạy học tại Hải Phòng và vào dịp rằm tháng bảy, ông cùng nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm, Lê Trọng Quỹ và Thế Lữ cùng đi nghe hát quan họ ở Kinh Bắc. Vũ Hoàng Chương đã từng làm xếp ga Bắc Ninh và có người yêu tên là Vân ở làng Dương Ổ. Vân chính là nàng thơ để Vũ Hoàng Chương viết kịch thơ “Vân muội” và ra tập thơ “Mây” năm 1943. Năm 1942, Vũ Hoàng Chương định lên thăm “nàng thơ”, nhưng khi đến ga Đầu Cầu thì gặp Tô Hoài và Nguyễn Bính và họ rủ nhau cùng đi lên Bắc Giang ghé thăm nhà thơ Bàng Bá Lân. Ba ông dự định khi gặp Bàng Bá Lân, họ sẽ rủ nhau di xem hát ả đào. Nhưng Bàng Bá Lân vốn tính tình hiền lành hiền việc đi xem hát ả dào đành phải bỏ và họ quyết định cùng nhau họa thơ.

    Duyên nợ không thành, Vũ Hoàng Chương phải chia tay “nàng thơ” xứ Quan Họ bởi vì nàng đã được gia đình gả chồng từ năm 12 tuổi. Kịch thơ “Vân muội” và tập thơ “Mây” ra đời là kết quả của cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa Huy Cận và Vũ Hoàng Chương ở Hàng Lược. Vừa gặp nhau, Huy Cận đã ngẫu hứng đọc hai câu lục bát: 

    “Đã lên gặp lại chàng sa.

    Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần”.

    Nghe xong, Vũ Hoàng Chương đối lại:

    “Mây kia chẳng chịu xuống trần.

    Lửa ơi! Theo khói lên gần với mây”. 

    KẾT LUẬN:

    Trong thế giới thi ca đã có những bài thơ nổi tiếng đã thu hút nhiền độc giả yêu thơ với những áng thơ nhẹ nhàng và tinh khiết như của Hồ dzếnh, Quang Dũng; những vần thơ tình tứ, lãng mạn như của Xuân Diệu, Nguyễn Bính; hay những lời thơ triết lý cao siêu của Cao Tiêu, Tô Đông Pha; cũng như những ý thơ nặng chất tuyệt vọng, cay đắng, khổ đau của TTKH, Hàn Mạc Tử… Nhưng chúng ta phải công nhận rằng, đọc thơ của Thi Nhân Đinh Hùng, chúng ta như bị lôi cuốn vào những vần thơ huyền bí của ông, những vần thơ khi thi biểu hiện lời êm ái, mộng mị, yêu thương lúc lại chen lẫn những vẻ liêu trai, ma quái và kinh dị. Và khi thưởng thức dòng thơ của Vũ Hoàng Chương chúng ta cảm nhận được hương vị đắng cay, bất mãn chen lẫn sự khinh miệt, chán chường của một nhân tài sống trong xã hội bất công.

    Đinh hùng là nhà thơ lớn của dân tộc mà còn là một nghệ sĩ đa tài đích thực trên cả lĩnh vực âm nhạc và hội họa. 47 năm của cuộc đời trên 20 tác phẩm với nhiều thể loại từ thơ ca văn xuôi tiểu thuyết ký và phê bình văn học. Đám ma tôi là thi tập đầu của ông và thi tập cuối là Tiếng ca bộ lạc, nhưng hai thi tập Mê hồn Ca và Đường vào tỉnh sử mới thực sự làm nên tên tuổi của người nghệ sĩ tài năng Đinh Hùng. Cho đến nay thơ của Đinh Hùng vẫn còn trong vòng bí ẩn như con người của ông, một con người gặp quá nhiều oan trái và hình như cái Định mệnh khất khe, nghiệt ngã luôn buộc chặt vào cuộc đời của ông.

    Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, ông có nhiều tập thơ nổi tiếng và được yêu thích, trong đó phải kể đến tập thơ Hoa Đăng do Văn Hữu Á Châu xuất bản tại Sài Gòn năm 1959. Đây là một tập thơ được đánh giá cao và đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca. Hai tập Thơ Say và Mây in chung vào một tập mang tên Mây là những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của ông. Tiếc thay, thời cuộc đảo điên, nhà thay chủ đã đưa người nghệ sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đi vào con đường tuyệt vọng. (Tạp Chí Văn Nghệ.)

    Sau bao năm vắng bóng trên thi đàn thơ nhạc của dân tộc Việt, nhưng dư âm và danh tiếng của hai thi nhân Đinh Hùng & Vũ Hoàng chương vẫn sống mãi trong lòng độc giả yêu thơ.

    Khánh Lan, California 2026

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Tạp chí Văn Học, Sài Gòn, số 97, 1969.
    • Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 150, 3/1970.
    • Lê Huy Oanh, Giai Phẩm Văn, Sài Gòn, 20/8/1974.
    • Phan Xuân Sanh. Tạp chí Đại Học, số 9, 1959, Huế.
    • Đoàn Thêm, Báo Văn Hóa Nguyệt san, Sài Gòn, 1964. 
    • Tạ Tỵ, Mười gương mặt văn nghệ, nxb Kim Lai, 1970 Sài Gòn.
    • Bàng Bá Lân : Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại, 1962, Sài Gòn.
    • Mai Thảo, Chân dung 15 nhà văn nhà thơ, Văn Khoa, 1985 California.
    • Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Thơ, nxb Văn nghệ, 1999 California.
    • Đỗ lai Thúy, Con Mắt thơ, nxb Lao Động, 1992, Hà Nội.
    • Chế lan Viên, Phê bình văn học, nxb Văn Học, 1962, Hà Nội.
    • Đặng Tiến, Từ điển văn học, tạp chí Thế Kỷ 21, 6/2005, California
  • TÁC GIẢ & TÁC PHẨM,  Viet-Hải

    Mạn đàm Người Lính Buông Súng,vẫn Ghì Bút mãn kiếp

    Trần Việt Hải

    Nhà văn Vương Trùng Dương, có tên thật là Trần Ngọc Dưỡng, sanh năm 1944 tại Quảng Nam, tuổi Giáp Thân, mạng Tuyền Trung Thủy. Anh là người thông minh, tinh tế, giỏi chữ nghĩa, có óc lãnh đạo. Có số làm quan nếu sanh ở Á châu, còn nếu sanh ở Âu châu hay Mỹ châu có chức phận cao như lãnh đạo quốc gia. Đối tượng này tiềm ẩn dưới các vì sao Văn Xương và Văn Khúc, thiên phú văn chương một kho chữ nghĩa, lại được vô số các vì sao Hóa Khoa và Hóa Lộc bổ sung cung mạng. Hóa Lộc vì thực lộc bất khuyết, phát triển tài năng thuận lợi hài hòa. Người Hóa Lộc vốn có trực giác bén nhậy, thông minh trí tuệ, có khả năng phát huy, phát triển mọi việc trong gia đình và ngoài xã hội là điểm son của người tài hoa. Hóa Khoa theo khoa chiêm tinh thuyết Âm Dương Ngũ Hành, vì sao Hóa Khoa thuộc hành Thủy, thuộc về mùa Thu ly hương, đối tượng mạng Thủy Faifo gặp đối tượng nữ Khánh Hòa biển cả, nam hầu tước sẽ ly hương mãn kiếp, nước hòa vào nước sẽ không thấy bến bờ đâu cả. Như người có sao Hóa Khoa phù trợ thường liêm chính, thanh liêm, văn chương làm báo mãn kiếp, tính chân chất, du xuề xòa mộc mạc, ngủ garage, café garage, Bastos xánh gấp, chơi với bạn bè một lòng một dạ, khuynh hướng thủy chung trước sau như một. Đối tượng nam tước này còn có vì sao Văn Xương chủ tế về khoa giáp, luôn luôn có những thành tựu to lớn về nghiệp văn chương chữ nghĩa. Sao Hóa Lộc mang sao Văn xương hợp nhất với sao Hóa Khoa đưa tài năng trong máu hợp phạm trù văn nghệ và học thuật graphics đesign càng được bộc lộ rõ nét mỹ thuật mát tay. Sao Văn Khúc ếm mạng tốt nhất suốt đời, gia đình hạnh phúc, vợ chồng hòa thuận, con cái khôn ngoan, hiếu hạnh.

    Vương Trùng Dương sinh hoạt trong Trung Tâm Văn Bút Nam Cali (một nhiệm lỳ làm Tổng Thư Ký) và Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại (Một NK Ủy viên Thông Tin, 1 NK làm Phó Chủ Tịch Nội Vụ & I NK Tổng Thư Ký). Khoảng mười năm Trưởng Khối Báo Chí cho Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam Cali. Nhưng anh bỏ Văn Bút, tôi cũng bỏ theo bước chân anh. Trong một buổi họp hội đồng huong BT, tôi gặp ông Võ Long Triêu cùng anh ĐS Châu Văn Để và GS. Nguyễn Thanh Liêm, tôi bỗng nhớ ông bạn vàng VTrD một thuở báo chí.

    Như vậy Trần Ngọc Dưỡng có gì để nhớ mãi? Thuua có nhiều chứ. Như trong tác phẩm tựa Kim Dung “Võ Lâm Ngũ Bá”, tên “Trùng Dương” do sư phụ Thanh Hư chân nhân đặt, lấy ý ông đã chết rồi còn được cứu sống lại. Cũng trong tác phẩm này, tên hồi nhỏ của ông là “Vương Tiêu Thu”. Xem Ngũ Lâm Võ Bá, thì Hoa Sơn luận kiếm lần thứ nhất, Vương Trùng Dương được bầu làm người võ công cao nhất, biệt hiệu là Trung Thần Thông, được giữ bộ Cửu Âm chân kinh. 4 người còn lại là Đông Tà Hoàng Dược Sư, Tây Độc Âu Dương Phong, Nam Đế Đoàn Trí Hưng và Bắc Cái Hồng Thất Công.

    Riêng Âu Dương Phong (Trương Quốc Vinh) sau khi rời khỏi núi Bạch Đà, đã dừng chân tại một sa mạc, dựng quán và trở thành một kẻ môi giới chuyên giải quyết mọi vấn đề rắc rối của người khác. Những khách hàng lần lượt đến tìm tửu quán của Âu Dương Phong, không chỉ để đưa ra những yêu cầu đặc biệt hay nghỉ ngơi đơn thuần, mà còn để kể về những chuyện tình của họ… Những câu truyện của các nhân vật đan xen suốt nội dung phim, nhưng tất cả có thể chia làm bốn câu truyện chính. Ngòai đời ở Bolsatown, tôi nghe Âu Đông Tà super MAGA sao tôi nhớ Vương Tây Độc VTrD những nhị ba chưởng bang, rồi tôi lại nhớ thầy Bích và thầy Vinh qua chừng nè. Thầy Bích biết tôi chuộng goût Aztec charms, Yucatán mascots, thầy Bich bảo thôi đi, 不做壞事,你會得到祝福, ở hiền gặp lành.

    Nhớ VTrD nhớ kỷ niệm gì? Nhớ sách Chiều Cuối Tuần bên “Văn Nhân & Tình Sử”. Tôi ghi nhận như sau:

    ” Hôm nay chiền thứ sáu cuối tuần ông đưa thư có hàm râu xồm xoàn như lão Fidel Castro bấm chuông trao colis sách. Cuốn sách mới của nhà văn Vương Trùng Dương, sách nóng hổi và dày cộm. Ông đưa thư quay gót đi, tôi “bóc nhãn” xem ngay ông bạn Dương Trần viết gì trong đấy. Nhân nhận được sách mới, cám ơn ông anh văn nghệ vui tính, một thuở làm báo chung, khi Vương Trùng Dương (thường được viết tắt VTrD), ra tờ tuần báo Caliweekly do anh làm chủ nhiệm tự layout báo lấy, Nguyễn Ngọc Chấn làm chủ bút, và tôi giữ “dốp” TTK. Khi ấy có bài vở của Phan Bá Thụy Dương, Vũ Uyên Giang, Phương Triều, Dương Viết Điền, Phan Nhật Nam, Trần Quang Hải, Thiết Trượng, Trạch Gầm, Trần Trung Đạo, Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Quý Đại, Tiểu Tử, Tiểu Thu, Hồ Trường An, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, Bùi Ngọc Tuấn, Phan Anh Dũng, Hoàng Thy, Quách Nam Dung, Khiếu Long, Đào Vũ Anh Hùng, Vũ Hối, Hồng Vũ Lan Nhi, Thái Tú Hạp, Trần Hoài Thư, Vũ Đình Trường, Mạc Phương Đình, Viên Luông, Hải Đà Vương Ngọc Long, Thanh Huy,… Nguyên băng l’amour yêu văn học è cổ ra viết bài, chủ nhiệm lo dốp quảng cáo, chủ nhiệm lo đánh đông dẹp bắc cả trăm thứ, chủ nhiệm mỏi mệt kiệt sức, đồng tiền ra nhiều mà vô ít, mà quảng cáo là huê lợi chính, báo mãi rỉ máu, bác sĩ chê bảo chúng tôi đình bản tờ Caliweekly sau gần 2 năm tung hoành.

    VTrD yêu văn học, phải nói văn học nằm trong máu của VTrD, anh nhai nằm lòng những Thủy Hử, Tây Du Ký, Đông Châu Liệt Quôc, Tam Quốc Chí, rồi những tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung anh nhai nát cả. Đấy là bên văn chương HD891. Bên văn chương quốc văn phe ta, anh đọc Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chưong, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Sa, Bình Nguyên Lộc, Tự Lực Văn Đoàn, Hồ Biểu Chánh,… VTrD có sự hiểu biết rộng, sức viết khỏe, mỗi trưa thứ ba anh gọi phôn nhắc tuồng “Bài xong chưa bồ tèo?”, hay “Gần lễ noël cho mình bài giáng sinh nhe bạn hiền!”. VTrD đọc Ernest Hemingway, Mark Twain, Charles Dickens, Fyodor Dostoyevsky, Leo Tolstoy, Aleksandr Solzhenitsyn, William Faulkner… Truyện dịch hay nguyên bản Anh ngữ. Thật vậy, anh em chúng tôi thân nhau và còn thở được là do nguồn nhiệt năng ham vui chữ nghĩa văn học tiếp dẫn goût chơi chung.”

    Tôi lại nhớ sách “Âm Nhạc: Người Muôn Năm Cũ”. VTrD cho lời ngỏ như sau:

    “Trong 3 thập niên qua, trong lãnh vực văn học nghệ thuật với văn, thơ, âm nhạc… tôi đã viết về tác giả, tác phẩm cho các tờ báo cộng tác và đảm trách sau đó được phổ biến trên các website & blogspost… Quyển sách đầu tay với Ngẫm Chuyện Nhân Sinh, một thập niên sau, gom số bài viết đã ấn hành quyển Văn Nhân & Tình Sử năm 2015. Năm 2019, tôi chọn những bài viết liên quan đến Quân Đội, một thời đã dấn thân để thực hiện quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, đang layout dang dở thì bệnh dịch Covid-19 xảy ra, trước thảm họa nầy, tôi nghĩ mọi người bị ảm ảnh cảnh chết chóc, không còn bụng dạ nào để đọc nên bỏ ngang.

    Tôi thích âm nhạc từ nhỏ nơi phố cổ, và trở thành người bạn đồng hành trong cuộc sống thăng trầm theo biến thiên của lịch sử. Nếu nhà thơ Phùng Quán cho rằng: “Có những phút ngã lòng. Tôi vịn câu thơ và đứng dậy…” thì những lần tôi lâm vào hoàn cảnh nghiệt ngã, cô đơn… âm nhạc như người bạn tri kỷ chia sẻ, an ủi nỗi buồn cho vơi bớt sự đơn độc, nỗi đau…Quyển sách nầy không mang màu sắc chính trị vì chính trị chỉ là giai đoạn, nghệ thuật mới lâu dài. Nhưng những nhạc sĩ đã được đề cập đã dấn thân cho nghệ thuật, họ phục vụ cho lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc và trong quân ngũ là lẽ đương nhiên, phải nhắc đến, đáng trân trọng. Vào thời tiền chiến xảy ra vụ tranh cãi giữa “nghệ thuật vị nghệ thuật & nghệ thuật vị nhân sinh” nhưng với âm nhạc thì cả nghệ thuật và nhân sinh mới in sâu vào tâm hồn giới thưởng ngoạn…”

    Vương Trùng Dương cho kết luận:

    “Sách dày 324 trang trên giấy vàng nhạt 70lb, gồm các bài viết Lê Trọng Nguyễn, nôi âm nhạc phố cổ – Nguyễn Hiền, những kỷ niệm xa xưa – Lan Đài, đường trần quên lãng – Nguyễn Văn Đông, tình khúc thời chinh chiến – Trầm Tử Thiêng, những dòng chia sẻ – Nhạc Boléro, dòng nhạc bị bức tử được hồi sinh – Trần Thiện Thanh, người viết sử thi – Song Ngọc, dòng nhạc của một thời – Cung Tiến, một thoáng hương xưa – Phạm Đình Chương, ca khúc & định mệnh – Vũ Đức Nghiêm, gọi người yêu dấu – Đan Thọ, sầu trên phím đàn – Nguyễn Đình Toàn, nhạc chủ đề & áo mơ phai – Âm Nhạc & Cuộc Sống – Nhịp & Phách trong nhạc phẩm – Dạ Khúc (Sérénade), hai trăm năm cô đơn.”

    Mới gần đây, Ngưởi Lính Già 8 Bó cho ra sách mới còn xao xuyến thơm mùi giấy “Người Lính và Chiến Hữu Văn Nghệ”. “Hơn ba thập niên qua, trong lãnh vực văn học nghệ thuật với văn, thơ, âm nhạc… tôi đã viết về tác giả, tác phẩm cho các tờ báo và sau đó được phổ biến trên các website & blogspost…Sau quyển Văn Nhân & Tình Sử năm 2015. Năm 2019, tôi chọn những bài viết liên quan đến Quân Đội để thực hiện quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, đang layout dang dở thì bệnh dịch Covid-19 xảy ra, trước thảm họa nầy, tôi nghĩ mọi người không còn bụng dạ nào để đọc trong hoàn cảnh tang thương đang gieo rắc thảm họa nên bỏ ngang.

    Năm 2024, tôi ấn hành quyển Âm Nhạc & Người Muôn Năm Cũ, với những nhạc sĩ nổi tiếng, có công đóng góp nền tân nhạc ở Miền Nam Việt Nam và sau nầy ở hải ngoại. Ngoài ra, có 3 bài viết về âm nhạc. Với công việc đảm trách cho các tờ báo, hầu hết bài viết đã được đăng báo và sau đó phổ biến trên internet, theo gợi ý của các bạn văn và thân hữu nên gom lại để ấn hành sách để được đọc liên tục.Khi ấn hành quyển sách nào, với các bài viết trước đây đã phổ biến, để thích nghi với thời gian tính nên nhuận sắc lại và bổ túc thêm.

    Với quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, trong tình bạn, tình chiến hữu với nhau nên khi tác giả ấn hành tác phẩm, tôi giới thiệu, đề cập qua các bài viết, nay phải gom lại thành bài theo mỗi tác giả. Với 12 tác giả, ngoài nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, nhà thơ Hà Huyền Chi, nhà văn Văn Quang còn 8 tác giả là bạn thân từ ngày bước chân vào “Ngưỡng Cửa Quân Đội” và thời gian sống ở Mỹ. Phan Nhự Thức, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Dương Viết Điền, Thái Tú Hạp, Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, Trạch Gầm, Phạm Tín An Ninh.

    Với quyển sách nầy ấn hành năm 2025 để đánh dấu 50 năm mất nước và 70 năm chia đôi đất nước, gây ra cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam nên trai thời loạn phải dấn thân vào Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để bảo vệ quê hương….Xin trich đoạn VTrD viết về: Thanh Tâm Tuyền như kỷ niệm,..”Tập thơ đầu tay là Tôi Không Còn Cô Độc vào năm 1955 đến năm 1964 mới xuất hiện thi phẩm Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy và Thơ Ở Đâu Xa được ấn hành năm 1990 tại Hoa Kỳ. Về văn, Thanh Tâm Tuyền có nhiều tác phẩm như Bếp Lửa (1957), Khuôn Mặt (1964), Dọc Đường (1966), Ba Chị Em (Kịch, 1967), Cát Lầy (1967), Mù Khơi (1970), Tiếng Động (1970), Tạp Ghi (1970)…Thanh Tâm Tuyền được nổi tiếng về thơ hơn văn vì ông là người làm sống lại thơ tự do được hình thành từ những thập niên về trước và mang làn gió gió mới trong thi ca Việt Nam hiện đại.

    Ông dạy Việt Văn tại trường trung học Trường Sơn (Nguyễn Sỹ Tế, Hiệu Trưởng), năm 1962 nhập ngũ Khóa 14 Sĩ Quan Thủ Đức. Ông được thuyên chuyển về trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, phụ trách tờ Đa Hiệu và sau đó phụ trách nguyệt san Quốc Phòng. Bắt đầu con đường văn nghệ khá sớm, cùng bạn Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp… chủ trương nguyệt san Lửa Việt năm 1954. Một trong những cây bút nòng cốt của nhóm Sáng Tạo từ năm 1956 đến năm 1960. Nhập ngũ năm 62, giải ngũ năm 66, rồi tái ngũ năm 68. Sau 75 bị bắt đi tù “cải tạo” ở Việt Bắc. Sau năm 1975, ông trải qua 7 năm tù. Được định cư tại Minnesota, Hoa Kỳ trong suốt mười mấy năm qua.Tháng 4 năm 1990, định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO, lúc đầu ở tiểu bang Louisiana, sau định cư ở Roseville, tiểu bang Minnesota. Theo học Điện Toán và làm việc tại St. Paul Technical College đến khi về hưu năm 2001. TTT sống như người ẩn dật, viết rất ít, chỉ khi nào thật sự cần thiết mới viết, như dịp tưởng niệm các bạn ông: Mai Thảo, Ngọc Dũng, tuyên dương Doãn Quốc Sỹ… Theo lời người bạn thân Trần Thanh Hiệp, TTT cho rằng “Nếu không tìm được gì thật mới thì sẽ thôi hẳn không viết nữa”.

    Bài viết Nhìn Lại Một Thời của nhà văn Doãn Quốc Sỹ vào tháng 5 năm 2005, đề cập đến giai đoạn hình thành của nhóm Sáng Tạo và sự hiện diện của Thanh Tâm Tuyền: “Năm 1954 hai vợ chồng tôi cùng hai đứa con gái đầu long và cô em gái – năm người cả thảy – ra phi trường di cư vô Nam. Danh từ thời thượng mệnh danh là Bắc Cờ Năm Mươi Tư. Thuở đó tôi còn là sinh viên, gặp Trần Thanh Hiệp – sinh viên Luật Khoa – chúng tôi bèn thành lập đoàn thể Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư, Trần Thanh Hiệp đứng ra làm chủ tịch…”

    Xin trich đoạn VTrD viết về Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, từ Nhà Giáo Đến Chiến Hữu Cầm Bút. VTrD ghi nhận sau đây,…” Tôi vẫn nhớ mãi, kể từ đêm ấy. Rồi một số được thả về, phần đông là giới Y Dược, trong đó có năm chàng của tổ tôi. Còn lại, rất đông, bị “biên chế” phân tán đi các đội khác, để vài tháng sau được tàu Sông Hương chở ra Bắc giao cho Công An, bắt đầu một cuộc hành trình mới gian nan hơn, khắc nghiệt hơn, dành cho những tù nhân chính trị chánh hiệu…” (Đêm Giáng Sinh Trong Trại Tù Long Giao). Rồi thời gian sau, anh bị lưu đầy sang trại tù ở núi rừng Miền Bắc cũng như nhiều chiến hữu khác. Trong chốn lao tù, anh đã kể lại trong bài thuyết trình ở Pháp để minh chứng những gì xảy ra khi mất nước.

    Trải qua 8 năm tù, sau khi thả về anh vượt biên lần thư nhất tại Cần Giuộc bị thất bại, Công An dùng khúc gỗ phang ngang lưng! Và lần thứ hai ở Nha Trang cùng với em gái, tị nạn tại Oregon. Nơi nầy, anh vừa đi “cày” vừa đi học, Hè năm 1990 tốt nghiệp Tiến Sĩ Văn Chương Pháp với luận án La prison dans l’œuvre romanesque de Stendhal (Tù Ngục Trong Tiểu Thuyết Của Stendhal) tại Eastern Washington University và University of Oregon. Theo lời anh chia sẻ thì trước năm 1975 ít người biết đến nhà văn Pháp Stendhal từ thế kỷ XIX hơn nữa những tác phẩm của anh đã in sâu trong tâm trí anh trong thời gian lao tù.

    Trong bài viết Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam của tôi trong năm trong năm 2022. Không có bản dịch nào của nhà văn Pháp Stendhal (1783-1842). Ông là nhà văn nổi tiếng của chủ nghĩa hiện thực phê phán (réalisme) và lãng mạn (romantisme). Điển hình hai tác phẩm Rouge et le Noir, 1830 (Đỏ & Đen), La Chartreuse de Parme, 1839 (Tu Viện Thành Parma). Stendhal trở thành bậc thầy mở đầu cho dòng tiểu thuyết tâm lý ở Pháp, cũng như Dostoevsky ở Nga vào thế kỷ XIX. Cuốn La Chartreuse de Parme mô tả chiến tranh thời Napoléon vì ông là sĩ quan pháo binh trong trận chiến ở Sebastopol như trận đánh Waterloo đã đi vào lịch sử.

    Nguyễn Kim Quý chọn nhà văn Stendhal để làm luận án tiến sĩ vì theo anh “Thế giới trong tiểu thuyết của Stendhal, kể cả những truyện về tù ngục, vì thế, ngạt ngào phấn hương nhờ tình yêu, hạnh phúc và hình bóng mỹ nhân. Lúc Stendhal còn sống, không ai đọc sách của ông. Mãi 50 năm sau khi chết, ông mới được nổi tiếng và trở thành một hiện tượng trong văn học sử Pháp”.

    Cuối năm 1991, anh xuống Little Saigon thăm bạn bè, nhân dịp này tôi viết hai bài “Bông Hồng” Cho Người Cựu Tù Nhân Chính Trị và Giới Thiệu Luận An Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý (Luận án nầy dày 550 trang khổ 8.5×11 inches bằng tiếng Pháp nên anh nói tổng quát về nội dung để tôi ghi lại) đăng trên nhật báo Người Việt & tuần báo Saigon Times. Trong dịp nầy, anh có ghi “tặng” tôi hai bài và tôi cũng viết về anh một bài trên Đặc San Nha Trang.

    Tháng 3, 1992, TS Nguyễn Kim Quý sang Pháp thuyết trình về đề tài Stendhal et mes saisons en enfer Communiste (Stendhal và Những Mùa Của Tôi Dưới Hỏa Ngục Cộng Sản, nhân ngày mất lần thứ 150 của văn sĩ được tổ chức tại Paris, dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Pháp François Mitterrand. Bài của các thuyết trình viên đều được in thành sách bán tại Paris. (Trước khi sang Pháp, anh xuống Little Saigon gặp gỡ thân hữu để chia sẻ với nhau)

    Trong phần 3 của bài thuyết trình với cử tọa, nhân cơ hội nầy anh lại nhắc đến miền Nam Việt Nam sau ngày mất nước: “Chúng ta đang ở vào năm 1975. Nền hòa bình nhục nhã, áp đặt bởi những siêu cường lực trên đất nước chúng tôi ngày 30 tháng 4, chấm dứt một cuộc chiến cũng không kém nhục nhã và khai tử quốc gia VNCH từ nay bị trao vào tay bọn bạo tàn miền Bắc… Chế độ mới, tự gọi là “cách mạng”, đỏ từ đầu đến chân, nhanh chóng tự gắn cho mình một nhiệm vụ “vĩ đại”: lùa tất cả sĩ quan và cán bộ miền Nam vào tù. Tại đó bắt đầu mọi bất hạnh của chúng tôi. Nhưng rồi, lòng tin vào Thượng Đế bỗng nhiên thức dậy trong tôi và sự mê say không phai nhạt đối với Stendhal và những tiểu thuyết của ông thực sự đã cứu vớt tôi, không chỉ thoát khỏi những xấu xí của đời sống mà còn sự tàn nhẫn của cái chết -cái chết mà bây giờ tỏ ra ngàn lần đe dọa hơn trong lúc chiến tranh. Như thế, nhờ ơn Chúa và nhờ Stendhal, tôi đã có thể sống sót sau tám năm giam hãm, đói khát, đau khổ, thiếu thốn, trong những trại tù khác nhau và cuộc đọa đày khủng khiếp xuống dưới hỏa ngục…

    … Bọn họ đã ra lệnh cho các sĩ quan phải trình diện những “ủy ban cách mạng nhân dân”, chuẩn bị một khóa học cải tạo mà theo thông cáo chính thức với lối hành văn mơ hồ và bịp bợm sẽ kéo dài chỉ mười ngày hoặc một tháng tùy theo cấp bậc. Lúc ấy vào tháng sáu 1975… Rồi một ngày đẹp trời, bọn họ quyết định chuyển ra núi rừng Miền Bắc khoảng một trăm ngàn “phần tử” bị xét là “phản động” nhất, nghĩa là nguy hiểm nhất… Trong vài chiếc tàu chở than cũ kỹ tịch thu của “ngụy quyền”. Chúng tôi bị còng tay, bị nhốt hàng ngàn người trong các hầm tàu, và như thể súc vật. Chuyến đi kéo dài ba ngày. Ba thế kỷ. Không khí thiếu. Nước cũng thiếu. Thức ăn cho cả ngày là một ảo tưởng: mỗi tù nhân được phát hai phong bánh bích qui mốc của lính made in China, lớn bằng hai hộp diêm, chỉ vừa đủ để khỏi chết đói. Phía trên, không có gì ngoài một vòm tối đen. Chung quanh, những thân xác bất động chất đống cạ vào nhau và mình mẩy dính đầy bụi than. Cái nóng kinh hồn hành hạ tù nhân. Ngay những giờ đầu, bốc lên một mùi hôi thối, làm ngộp thở, đầu độc căn hầm đầy người. Khắp nơi, im lặng như chết…

    … Cuộc sống tại các trại Miền Bắc còn hơn là hỏa ngục. Không cách nào đào thoát được. Chúng tôi bị bao vây một cách tuyệt vọng bởi những rặng núi trùng điệp làm thành những tường lũy thiên nhiên kiên cố. Nhưng rồi, ngay cả nếu thoát được, làm sao, ở trên núi, có thể sống sót với cái lạnh, đói khát và sức kiệt! Chúng tôi bị giam trong những túp nhà cũ thấp mái rạ, nằm ngủ trên một thứ giường tập thể làm bằng những tấm gỗ thô, không chiếu, không gối, không đệm, để rồi sáng mai thức dậy mặt mày, mình mẩy rải đầy những vết rệp và muỗi cắn. Ngoài ra, cái lạnh tột độ, làm buốt xương. Về quần áo, người ta chỉ phát cho chúng tôi một bộ đồng phục màu xanh da trời bằng vải thô dùng trong kỳ hạn hai năm và một tấm chăn cũ nát nhỏ xíu bằng len xấu. Không săng đan, không tất vớ, không mũ nón. Những thứ này, chúng tôi phải tự xoay xở lấy, người ta bảo chúng tôi, hoặc là mặc kệ! Vào mùa đông hay mùa mưa, không tài nào ngủ được, vì cái lạnh và ẩm ướt khắc nghiệt, không thể chịu nổi nữa và chúng tôi bị cấm đốt lửa trong nhà!…

    … Những người còn sống sót cứ tiếp tục nhai sắn khô bằng thích, tiếp tục đói, tiếp tục đau, và nhất là tiếp tục lao động khổ sai. Cai tù không ngớt lặp đi lặp lại rằng lao động là nguồn gốc mọi vinh quang, rằng khởi thủy, con người đầu tiên, nghĩa là ông tổ của chúng ta, là một con khỉ, rằng con khỉ ấy vì phải trèo lên cây hái trái, xuống ruộng trồng lúa, vào rừng săn thỏ, vắn tắt, lao động vất vả, đã dần dần mất bộ lông dài để trở thành đẹp đẽ, trơn tru như chúng ta hôm nay. Vì thế, người ta hét vào tai chúng tôi, hãy tống cổ những kẻ chây lười lao động, ăn bám, mình còn đầy lông lá, ra khỏi thiên đàng Cộng sản!

    … Bấy giờ, tôi bắt đầu cầu nguyện trở lại, ban đêm, và đọc lại với sự say mê của một người tình cũ những tiểu thuyết Stendhal, nhưng bằng trí nhớ, dĩ nhiên. Từ đó, tôi sống một thực tế khác, tự xem mình đã chết đối với cuộc đời, như Octave trong Armance. Tôi quên, cố gắng quên, bọn cai ngục và trại tù, đói và bệnh, quần áo tả tơi và thân xác khô héo – tất cả những điều nhắc tôi không ngừng vẻ xấu xí của địa ngục. Tôi chiến thắng nỗi bất hạnh của tôi bằng cách thôi tưởng nhớ những người đàn bà đẹp mà tôi đã quen biết và có khi yêu thương trong cuộc đời và bây giờ đã trở thành một thực tế còn khó với nắm, còn xa xôi hơn cả chính mộng mơ. Trái lại, tôi chỉ nghĩ đến những nữ nhân vật của Stendhal: Mathilde, Mme de Rênal, Clélia, la Sanseverina, Armance, Mme de Chasteller, giữa những nàng khác – mà hình bóng trác tuyệt, vĩnh viễn trẻ và đẹp, đã đưa tôi rất nhẹ nhàng ra khỏi thực tế phũ phàng và tầm thường, cái thực tế mà tôi nghĩ tôi không phải sinh ra để ôm lấy, ngay cả thời trước khi vào tù… Cuộc sống của tôi, hay đúng hơn cái chết của tôi, một cách xứng đáng nhất, cho đến ngày 18 tháng Ba năm 1983, thời điểm tôi được thả. Sau tám năm trời!…”

    Cuối cùng VTrD cho kết luận như sau:

    “Trong vài năm sau nầy chỉ biết tình trạng sức khỏe của anh rất yếu không còn viết lách nữa và không liên lạc nhau vì vậy không biết nhiều về đời sống và sinh hoạt của anh sau nầy. Bỗng nhận được tin buồn: Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý (Kim Thanh, Người Lính Già Oregon) qua đời vào Thứ Tư, ngày 12 tháng Hai năm 2025 tại thành phố Portland, Oregon. Theo Mục Sư Huỳnh Quốc Bình, bà Nguyễn Kim Quý cho biết, lúc sinh tiền đã dặn dò vợ con khi lìa trần, tang lễ của ông phải hết sức đơn giản. Trong tang lễ không có điếu văn, không phủ cờ và không vòng hoa gì cả. Vợ con chỉ cần đưa xác đến nhà quàn để hỏa thiêu, sau đó báo cho anh chị em của anh và vài bạn hữu của anh biết mà thôi vì không muốn làm phiền bất cứ một ai khác trong tang lễ… Với bốn thập niên cư ngụ tại Oregon như quê hương thứ hai của người quá cố nên Thánh Lễ an táng ngày 18/2 được tổ chức long trọng với Giáo Xứ, tang quyến, thân hào nhân sĩ, các cựu SVSQ/ĐH. CTCT…

    Khi xem video của Vũ Ngọc Hải, người bạn cùng khóa, tang lễ trân trọng và ấm cúng với sự hiện diện, chia sẻ của quý vị Linh Mục, thân hữu… thể hiện sự thương tiếc, quý mến với người quá cố, tôi rất xúc động. Những bài viết hồi ký của Kim Thanh và NLGO không in thành tác phẩm nào, với anh luận án về Văn Hào Stendhal coi như tác phẩm nhận định về văn học đã được giới thiệu qua hai lần thuyết trình tại Pháp. Trong số bài viết của anh có chút “lửa” cũng như bản tính năng động và máu người lính trong tâm hồn anh.” Xin trich đoạn tiếp khi VTrD viết về tác giả sách Tình Cao Thượn, Nguyễn Mạnh Côn như sự luyến tiêc, cái chết đểbảo toàn danh dự…”Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử.

    Theo nhà văn Hoàng Hải Thủy, Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử xem như hồi ký của người trong cuộc vào thời điểm đó tham gia trong Tự Vệ Thành với tuổi trẻ khi chứng kiến nạn đói năm Ất Dậu (1945) “Ngót hai triệu người chết năm 1945 từ tháng Giêng đến tháng Tư… Ðó là hoàn cảnh cho phép đấu tranh bộc phát. Ðấu tranh lúc đó quy tụ cả vào mặt trận Việt Minh” do hậu quả của thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra. Tuổi trẻ dấn thân trong công cuộc giải phóng đòi tự do độc lập cho đất nước. Và, những lá thư đó viết từ Hà Nội đến những nơi khác: Hà Nội, nội thành, Liên Khu 1 ngày 3 tháng 9 năm 1945 (Việt Minh cướp chính quyền hớt tay trên các đảng phái quốc gia. Ngày 26 tháng 12 năm 1946 ở Hà Nội, trong nội ô thành phố, Tự Vệ Thành đã nổ súng đánh Pháp bắt đầu cho cuộc kháng chiến giành độc lập). Hà Ðông ngày 3 tháng 2 năm 1947 (Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức thành lập và cuộc đảng tranh đẫm máu và gay gắt nhất đã tạo những vết thương đau đớn cho dân tộc). Phú Thọ, Vũ Lao ngày 29 tháng 11 năm 1952 (khởi đầu cuộc cải cách ruộng đất và đấu tố để thực hiện đấu tranh giai cấp). Hải Phòng ngày 19 tháng 7 năm 1954, những dòng cuối thư vào ngày 1 tháng 8 năm 1954.

    Trong bài viết của Nguyễn Mạnh Trinh, trích phần tóm tắt tác phẩm Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử và Kỳ Hoa Tử:

    “Nội dung của Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử là những tâm sự của một chiến sĩ đang tranh đấu trực diện trong công cuộc giải phóng đòi tự do độc lập cho đất nước trong những bức thư viết ở những thời điểm quan trọng của lịch sử Việt Nam. Những không gian và thời gian như Hà Nội ngày 3 tháng 9 năm 1945… Hải phòng ngày 19 tháng 7 năm 1954, là những cột mốc đáng nhớ của một thời đại đầy biến động Việt Nam.

    Từ thời điểm ấy, Nguyễn Kiên Trung kể cho bạn đọc nghe về cuộc đời của mình và thế hệ mình theo ngõ đẩy đưa của thời cuộc. Và từ đó như tấm gương phản chiếu thấy được sự bội phản lường lọc của những người Cộng Sản Việt Nam.Với kỹ thuật tranh đấu được huấn luyện từ hệ thống Cộng Sản thế giới, họ áp dụng vào thực tế và đã thành công trong việc nắm giữ chính quyền và thực hiện chính sách vô sản chuyên chính.

    Tác giả Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử đã “trút ngay lên mặt giấy một sự cần thiết phaỉ gào thét, phải nức nở cho số phận những người bạn tôi sắp phải chết, ngoài kia, bên trên vỹ tuyến Bắc 17 độ. Nói là bạn, nhưng chỉ có một số nhỏ là bạn của tôi thật, còn nhiều người mới quen biết sơ qua trên con đường kháng chiến, nhiều người chưa hề được gặp mặt, nhiều người tôi đáng tôn lên là bậc thầy, Phan Khôi, Đào Duy Anh,Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, những người ấy sắp bị Việt Cộng mang ra xử án…”

    … Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử được viết cách nay nửa thế kỷ và xem ra tới bây giờ, vẫn còn nhiều suy nghĩ đáng chú ý. Lịch sử đã bị chế độ hiện hữu bôi xóa và những bài học để thế hệ sau hiểu biết chứa đầy những giả trá. Từ năm 1945, tới nay không xa, khoảng cách lịch sử vẫn còn gần để nhận thức, thế mà đã có nhiều sai lạc…” Xin trích đoạn VTrD viết về nhà văn Dương Viết Điền, Hành Trình Với Văn Thơ Nhạc, một người bạn thân đồng môn trường Đại Học Chié6n Trasnh Chính Trị, và là dồng khóa I Nguyễn Trãi. Vương Trùng Dương tâm tình như sau,…

    “Bước vào tuổi tám mươi, nhà văn Dương Viết Điền sức khỏe rất yếu, không còn ngồi được để thực hiện tiếp những tác phẩm còn dang dở nên nhờ Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời gian giúp anh thực hiện tuyển tập Thơ & Nhạc, ra mắt tác phẩm vào trưa Chủ Nhật 24/11/2024 tại VietLife Club, thành phố Westminster. Trong tuyển tập nầy có 3 bài viết của nhà văn Việt Hải, nhà văn Khánh Lan và tôi. Dương Viết Điền là bạn văn và cũng là bạn cùng khóa (Khóa Nguyễn Trãi I Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt) và cùng định cư tại Hoa Kỳ năm 1990 (Diện H.O). Khi ra trường, anh phục vụ tại Tiểu Đoàn 10 CTCT, sau đó biệt phái sang Phòng Báo Chí (phụ tá Trưởng Phòng), Khối CTCT Quân Đoàn I nên có cơ hội quen biết với giới cầm bút trong thời gian quân ngũ. Trong tình bạn tâm giao cố tri với nhau từ thời ở quân trường nên một số tác phẩm anh gợi ý tôi viết để chia sẻ cùng độc giả.

    Trong ba thập niên, anh đã sáng tác hơn hai mươi tác phẩm, và một loạt tác phẩm Nhật Ký Lúc Chiều Tà (tập I năm 2014 đến tập VII năm 2019) ghi lại quãng đời của anh từ thời trai trẻ, trong quân ngũ, trong lao tù và năm tháng tị nạn ở Mỹ. Theo anh, muốn tiếp tục ấn hành với nhật ký nầy đánh dấu nửa thế kỷ mất nước và những tác phẩm khác nhưng vì bệnh tình nên đành dang dở. Tác phẩm đầu tiên với Hồi Ký Trại Ái Tử & Bình Điền ấn hành năm 1993. Đây là một trong những tác phẩm (hồi ký) viết về chốn lao tù sau năm 1975, trước và sau đó có: Đáy Địa Ngục (Tạ Tỵ), Đại Học Máu (Hà Thúc Sinh), Cùm Đỏ (Phạm Quốc Bảo), Tầng Cuối Địa Ngục (Đỗ Văn Phúc), Vùng Đất Ngục Tù (Nguyễn Vạn Hu8ng2), Những Người Tù Cuối Cùng (Phạm Gia Đại), Thép Đen (Đặng Chí Bình), Hối Ký Người Tù Cải Tạo của Đại Tá Nguyễn Huy Hùng, Trại Tập Trung của Duyên Anh, Tù Cải Tạo Hồi Ký (Nguyễn Đức Cung), Một Cuộc Đổi Đời KALE (Lê Anh Kiệt, Hồi Ký 17 năm trong các trại tù cải tạo của Cộng Sản), Vết Nám: Hồi Ký Tù Cải Tạo (Hoàng Long Hải), Đóa Hồng Gai (Nguyễn Thanh Nga), Hồi Ký Cải Tạo & Vượt Biên (Nguyễn Duy Chính), Lao Tù Cải Tạo & Những Phần Đời Của Định Mệnh (Nguyễn Kỳ Dzương, năm 2024)…

    Các trại tù thuộc vùng I & II trước kia không bị đày ra Bắc vì cũng hắc ám trong quần đảo ngục tù (tác phẩm Arkhipelag Gulag của văn hào Solzhenitsyn, Quần Đảo Gulag hay Quần Đảo Ngục). Ái Tử vừa là tên làng thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Năm 1971 là Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 bộ binh. Bình Điền là địa danh thuộc tỉnh Thừa Thiên, căn cứ thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Cộng Sản dùng hai nơi nầy làm trại tù. Dương Viết Điền bị 10 năm tù đã ghi lại năm tháng nơi lao tù.

    Năm 2003, anh ấn hành quyển Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân, trong quyển nầy anh liệt kê những vị anh hùng tuẫn tiết trong ngày 30/4/1975, dựa vào các bài viết, hồi ký người tù từ Bắc chí Nam trở thành tài liệu đáng nhớ. (Nhạc sĩ Nguyễn Hiền là người rất thận trọng và khó tính nhưng là người giới thiệu về hai quyển sách nầy. Trong những lần cùng uống cà phê với ông, có vài tác giả đến nhờ ông viết nhưng ông từ chối rất tế nhị).

    Nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết Lời Giới Thiệu “… Đương nhiên sau ngày vận nước suy vong đó, chúng ta đã có một dòng văn học gồm những tù nhân chính trị viết lại sinh hoạt của họ trong các trại giam Cộng Sản. Và do vậy những cây bút ấy đã góp phần phong phú hóa cho vườn hoa văn học nghệ thuật hải ngoại thêm nhiều màu sắc. Trong số đó có văn hữu Dương Viết Điền đã viết hồi ký Trại Ái Tử & Bình Biền xuất bản năn 1993 và nay lại tái bản theo yêu cầu của độc giả hải ngoại. Lối văn hồi ký ghi những kỷ niệm trong thời gian đi tù “cải tạo” như kể chuyện đã hấp dẫn người đọc tìm hiểu về tâm tư của tác giả cùng những bạn tù và chế độ các trại giam của Cộng Sản…” Và nhận vât cuối cùng xin đan cử từ sách mới của nhà văn VTrD, Xin trích đoạn VTrD viết về một chiến hữu đồng hương Quảng Đà, Thi sĩ Thái Tú Hạp, Tác giả của Hạt Bụi Nào Bay Qua, và Nhà Thơ Viễn Xứ:

    Nặng Tình Với Quê Hương
    Vương Trùng Dương
    “Ta ở bên này đại dương nhớ
    Thời gian nuôi mãi tấm lòng son
    Trắng tay phiêu bạt đời hư ảo
    Hiu hắt hồn thơ với nước non”

    (Thái Tú Hạp)

    Hầu hết những bằng hữu của Thái Tú Hạp đều biết tuyển tập thi ca để đới của ông: ‘Suối Nguồn Tâm Thức,’ một đời thơ của Thái Tú Hạp. VTrD nhận xét về tác giả thji ca Thái Tú Hạp như sau:

    “* Quê Hương, Lao Tù và Viễn Xứ.

    Hầu như các thi phẩm của anh như đã đề cập ở trên đều mang nặng hình ảnh quê hương từ trong nước với tâm hồn người lính trong hoàn cảnh chiến tranh lan tràn nên cầu mong với “xin và cho”:

    “Xin ngày cho thấy mặt nhau
    Xin chuông chùa thức đêm sầu bi thương
    Xin thôi chia nẻo chiến trường
    Xin cơn đau đớn xa nguồn từ ly
    Xin chiều mắt mẹ từ bi…
    Xin em suối ngọc huyên vi
    Xin cho thanh tịnh đời phi nghĩa này…”
    (Nụ Chào Bao Dung, 1965)

    “Cho đêm bừng đóa mặt trời
    Cho thân thể mẹ qua rồi đớn đau
    Cho em tiếng hát ngọt ngào
    Cho vùng suy tưởng chở vào giấc thương
    Cho chim hoa bướm mùa xuân
    Cho lời kinh kệ tan cơn oán thù
    Cho tàn binh lửa đôi bờ
    Cho cành dương nước cam lồ vô biên
    Cho tiêu tan chuyện ưu phiền
    Cho quê hương đẹp trăm miền tinh khôi”

    (Lời Buồn Treo Cao, 1966)

    Hằng mơ tưởng mùa Xuân về trên quê hương “Để tìm lại bóng dáng của áo lụa Duy Xuyên, rừng quế Tiên Phước, rượu cần trên buôn sóc Trà Mi thưởng thức trà Tiên quế, Cam Đại Bình, bông Vạn Thọ”.

    “… Miền quê hương có Ngũ Phụng Tề Phi
    Núi Non Nước ngăn trời bão tố
    Sông Thu Bồn hiền dịu đổ phù sa”

    và:
    “Có nơi nào đẹp bằng quê hương ta đó
    Bao đời lịch sử liệt oanh
    Thăng trầm theo mệnh nước
    Nhưng sông núi muôn thuở vẫn kiên trinh

    (Từ Quê Hương Trở Về)

    Khi anh theo học Khóa Trung Cấp 3 tháng ở TĐH.CTCT Đà Lạt và hình ảnh nơi nầy:

    “… Mây Lâm Viên huyễn tích ngàn
    Non cao ẩn dụ loài hoang thú về
    Từ chim lạc. Thác Đam Mê
    Yersin khai lộ qua khe suối Chàm…
    … Đệ huynh chung một lời thề

    Nghìn năm bia đá không hề phôi pha”

    Khi định cư ở Mỹ với tâm thức nhà thơ bị đánh mất quê hương mang nặng nỗi niềm hoài cổ. Ngày xưa, trong bài thơ Lữ Dạ Thư Hoài, thi hào Đỗ Phủ đã bày tỏ:

    “Phiêu diêu hà sở tự
    Thiên địa nhất đa sầu”

    Ngày nay, hình ảnh ấy thoáng hiện nơi người viễn khách Thái Tú Hạp:

    “Buổi chiều nơi quán khách
    Lửa nến hắt hiu buồn
    Ghế đời tri âm khuất
    Vạn lý sầu cố hương”

    Hoặc:
    “Con bên bờ vực thẳm
    Ngắm mây sầu ly hương

    (Nhớ Mẹ)

    Hay:
    “Ta biền biệt quê hương
    Mang niềm đau bất tử”

    (Đêm Ở Quê Người)

    Sinh trưởng trong một thành phố cổ với mái ngói âm dương, rêu phong cổ kính, với đền chùa lăng miếu từ thuở xưa…ngoại cảnh đã ảnh hưởng đến tâm hồn thi sĩ. Đọc thơ anh làm nhớ lại những bài cổ phong, thi ca cổ điển… bàng bạc trong âm điệu lời thơ. Nhẹ nhàng và vương vấn nỗi buồn mang mác…Có lẽ cảm hứng từ ý thơ “Cử đầu vọng minh nguyệt. Đê đầu tư cố hương” trong bài thơ Tĩnh Dạ Từ của Lý Bạch, anh bày tỏ tâm trạng u hoài của con người đánh mất quê hương:

    “Người xưa ngẩng đầu nhìn trăng sáng
    Ta giờ trăng chết ở trong tâm
    Cố hương, trăng khuyết đìu hiu nhớ
    Dạ lý hoa còn phảng phất hương”

    Để rồi:
    “Thôi ngẩng đầu chi đêm trăng sáng
    Một mình nghe biển động xương khô”

    (Trăng Viễn Xứ)

    Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường:

    “Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
    Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
    Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
    Bạch vân thiên tải không du du…”
    Thôi hiệu đề thi tại thượng đầu!”

    Hơn 1200 năm sau, trong bài Cảm Hứng Đường Thi của anh đã gởi gắm vào đó tâm trạng lạc loài của nhà thơ trước hoang tàn của thời gian:

    “Thánh thi trên bia mục
    Hoàng hạc đã bay rồi
    Con trăng đồng trinh khuất
    Bên trời ta lẻ loi”

    Với bản dịch lục bát tuyệt vời Gác Hoàng Hạc của thi sĩ Tản Đà, thơ Thái Tú Hạp có lẽ cũng sở trường và thành công với dòng thơ lục bát như áng thơ cổ:

    “Đời tan rã bụi hư vô
    Nhớ quê lòng cũng nao nao muốn về
    Lòng ta ngậm mãi thương hoài…
    Nắng trôi giạt nắng sông đòi đoạn sông”
    (Cõi Chờ Mong)
    “Đời như cát bụi đìu hiu
    Cơn vui như tiếng sóng triều hư vô
    Ngàn xưa sau cõi mịt mờ
    Anh con thú vẫn hoài mơ nẻo về…”
    (Nẻo Về)

    Cũng như nhiều nhà thơ khác trong quân đội viết về chốn lao tù, bài thơ Đêm Trong Trại Tù:

    “Không đi tới mặt trời trước mắt
    Nỗi buồn cao như núi thẳm vây quanh
    Nỗi hờn căm cũng cao ngất rừng xanh
    Nuôi hy vọng da người xanh như lá
    Người tù binh khát khao nhớ mùa xuân
    Nhớ đôi mắt tự do ngoài cổng đợi
    Nhớ bóng chim vút cánh qua trời
    Không để lại vết tăm nào yêu dấu
    Đêm vẫn qua giữa trại tù mọi rợ
    Người tù binh vẫn thao thức mong chờ…”

    Ngay trong trại tù, ta gặp lại tâm trạng bi đát, đau đớn, u buồn, xót xa như vần thơ trong Tự Tình Khúc:

    “Sầu kia ai kẻ xiết lòng
    Chiều thôi lại tối, đêm xong lại ngày”
    Ở đây, ta lại chứng kiến giữa miền rừng núi Kỳ Sơn:
    “Nửa đêm kiểng lạnh lùng khua
    Trăng kinh hoàng động rừng khuya vỡ sầu
    Đời vi diệu cũng nát nhầu
    Trong ta biệt xứ cõi sâu non trùng
    Sáng ra mới biết hư không
    Một ngày qua nữa lòng mênh mông buồn”

    (Trong Tù Nghe Tiếng Chim)

    * Tư Tưởng Phật Giáo

    Bàng bạc trong các thi phẩm của anh đều nhuốm tư tưởng Phật Giáo. Tiếp thụ tinh thần đó, vì vậy trải qua nhiều thập niên sống ở hải ngoại trong “thế giới Văn Minh trả góp” như ngôn ngữ của Phạm Kinh Vinh, anh cảm thấy có điều gì lạc lõng giữa tâm hồn Đông phương, những tương tàn trong tình cảm bởi lối sống cá nhân, đeo đuổi theo vật chất, những toan tính lọc lừa, những ràng buộc dai dẳng vây quanh cuộc sống, con người tựa hồ chiếc kim đồng hồ… không có phút giây an nhàn, tự tại vì vậy tâm hồn lúc nào cũng vọng về Miền Yêu Dấu Phương Đông và coi như miền đất hứa vẫn là nơi yên nghỉ cuối cùng của cha mẹ, chan chứa tình người:

    “Ta hẹn em trở về
    Bên đồi lau xanh biếc
    Chim rủ nhau quay quít trên ngàn cây
    Cuối thôn rụng đầy trái đỏ

    (Trở Lại Suối Nguồn)

    Nguyên Giác (Phan Tấn Hải) là Phật Tử thuần thành, am tường triết lý Phật Giáo vì vậy trong bài viết Thái Tú Hạp: Làm Thơ Như Chép Kinh: “Tôi đã đứng tim như thế, đã kinh ngạc đọc đi đọc lại các dòng thơ (bài thơ Sao Khuya trong tập thơ Suối Nguồn Tâm Thức). Tôi đã nghiêng đầu, áp tai sát trang giấy để nghe xem tiếng hạc buồn lê thê thế nào. Tôi đã nghiêng trang giấy qua lại để xem có ngôi sao nào rơi ra từ giữa những dòng thơ. Khi đó, tôi đã thắc mắc vì sao có hình ảnh cổng chùa chưa khép trong thơ, có phải vì nhà sư thi sĩ đã đi lạc nơi phố chợ và quên mất lối về…

    Chỉ mở trang sách ra để đọc thơ Thái Tú Hạp thôi, cũng y hệt như mùa xuân bay qua để hiện lên những cánh đồng hoa bên đồi. Trong cõi đó, tôi ưa thích nhất, là những dòng thơ rất mực u hoài cổ tích của anh. Không gian thơ này là cái gì rất gần gũi với tôi: những mái chùa ở quê nhà, tiếng chim hót hòa vào lời kinh tụng. Đó là những hình ảnh không dễ tìm được nơi hải ngoại. Đối với Thái Tú Hạp, hình như làm thơ cũng là một pháp tu. Bởi vì có những dòng thơ như dường nhắc tới các pháp ấn. Như bài Một Thoáng Phù Vân ngay nhan đề đã nêu lên pháp ấn vô thường,…” Cá nhân người viết bài này rất chuộng loại thơ nặng tính thiề thi tâm linh của Thi sĩ Thái Tú Hạp, ví dụ như:

    Thanh Tịnh Khúc
    Mai ta về giữa non cao
    Xé mây làm áo lụa đào cho em
    Nghiệp từ mấy thuở trần duyên
    Nắng thanh xuân đậu ngoài hiên ta bà
    Đưa nhau dạo giữa ngân hà
    Bỏ nhân gian lại chốn tà huy câm
    Mai sau tình vỡ hư không
    Có nghe tiếng hót tiền thân chim ngàn
    Từ trong thiên cổ tri âm
    Tiễn nhau xuống núi cưu mang kiếp sầu
    Mai về khép cánh biển dâu
    Giở trang vô tự trắng nhòa sắc không
    Chờ nhau dưới cội vô thường
    Soi tâm tư hiện một vừng trăng xưa.

    [Thơ Thái Tú Hạp, Tập san Pháp Luân số 4, PL 2548]

    Bài thiền thi trên cũng đã khép bài viết “Mạn đàm Người Lính Buông Súng – Vẫn Ghì Bút Mãn Kiếp.”, đặc biệt về tác phẩm Giới thiệu ‘Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ’ của Nhà văn Vương Trùung Dương, đại diện cho lớp hậu nhân, sóng sau Khánh Lan, Kiều My, Thanh Ngọc, Minh Đúc, Việt Hải và Huy Anh xin chia vui cùng tác giả Vương Trùng Dương cho ra văn tập mới này, mong sao Vương văin nhân vẫn mạnh tiến sáng tác thêm nhiêu ân phẩm giá trị khác nữa trong tương laị.

    Trần Việt Hải, Nam Cali, 01/07/ 2025.

    Tiểu sử Vương Trùng Dương:

    https://vietvanmoi.fr/VUONGTRUNGDUONG.html
    ———————————————————————-
    La littérature est un flux intarissable, aidons-la à s’écouler.
    NGUYEN QUANG
    Văn học là một dòng suối chảy không ngừng, hãy giúp nó luân lưu.
    NGUYỄN QUANG
    Literature is a never-ending stream, let’s help it flow.
    NGUYEN QUANG