-
Desire – Lý Thuyết Ham Muốn
Danh từ: Một cảm giác mạnh mẽ “muốn có” một cái gì đó hoặc “mong muốn” một cái gì đó xảy ra.
Động từ: Ham muốn mạnh mẽ trong việc “cho” hoặc “muốn’ một cái gì đó.
Lý thuyết ham muốn cho rằng việc thực hiện một ham muốn đóng góp cho hạnh phúc của một người bất kể lượng niềm vui (hay sự không hài lòng). Một lợi thế rõ ràng của lý thuyết Desire là nó có thể hiểu theo cung cách diễn đạt của Wittgenstein. Ludwig Wittgenstein là một triết gia bị ám ảnh bởi những khó khăn về cách diễn đạt ngôn ngữ, muốn giúp chúng ta tìm cách thoát khỏi một số vũng bùn mà chúng ta gặp phải trong giao tế, trong diễn đạt, và ngay cả trong suy tư…
Cung cách đó được hiểu theo “Meaning of Language” dưới đây:
Từ đó, chúng ta thấy từ ngữ DESIRE được hiểu theo từng tâm cảm, từng thể trạng của mỗi con người.
Và bài viết chỉ mong trình bày một số suy nghĩ góp nhặt cát đá, suy diễn theo suy nghĩ chủ quan của người viết nhằm mục đích chia xẻ cùng bạn đọc về một khía cạnh của tư tưởng và tâm ý.
- Desire – Ham muốn là gì?
Ham muốn – Desire, Thèm muốn – Craving, Khao khát – Longing. Những từ trên gợi ra cho chúng ta cái cảm giác thúc đẩy con người đạt được hoặc sở hữu một cái gì đó. Ham muốn là một cảm giác mạnh mẽ, xứng đáng hoặc không xứng đáng, đúng đắn hoặc không đúng đắn, thúc đẩy sự chiếm đoạt được hoặc sở hữu một cái gì đó (trong thực tế hoặc trí tưởng tượng).
Ham muốn là ở trong một trạng thái đặc biệt của tâm lý. Đó là một trạng thái tâm lý quen thuộc với tất cả những người đã từng muốn uống nước, muốn ăn một món ăn… hoặc muốn biết những sự kiện gì đã xảy ra cho một người bạn cũ. Nhưng từ sự quen thuộc đó không làm cho chúng ta dễ dàng đưa ra một lý thuyết về ham muốn. Mặc dù có sự tranh chấp trong chính mỗi ham muốn của bản thân, nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tự khắc phục ham muốn của chính mình.
Ham muốn là một trạng thái của tâm – ý (heartily spirit) (người viết tự nghĩ ra từ ngữ nầy, không biết có đúng không, xin nhờ chỉ giáo) thường liên quan đến một số hiệu ứng khác nhau: một người ham muốn có xu hướng hành động theo những cách nhất định, cảm nhận theo những cách nhất định và suy nghĩ theo những cách nhất định.
Nếu tôi mong muốn uống trà chẳng hạn, thì tôi thường sẽ tự pha cho mình một tách trà; và nếu tôi không tự cảm thấy mình cần uống trà ngay lập tức, tôi sẽ không cảm thấy cái thôi thúc phải nấu nước sôi để pha trà… Tôi, lúc ấy sẽ thấy ý nghĩ về trà rất dễ chịu (vì không phải làm gì cả!). Từ đó, tôi sẽ thấy suy nghĩ của mình liên tục chuyển sang ý tưởng về trà. Từ đây, tôi sẽ đánh giá rằng trà có vẻ như là một ý tưởng tốt. Và như thế, như thế tiếp tục. Những hiệu ứng khác nhau này đã là trọng tâm trong tâm-ý của tôi về những nỗ lực để phát triển các lý thuyết; và đó chính là lý thuyết của ham muốn.
- Triết lý về sự ham muốn
Hiểu được ham muốn đòi hỏi ít nhất hai điều kiện:
- Thứ nhất, có một lý thuyết về bản thân ham muốn – desire itself;
- Thứ hai, có một số quen thuộc với các loại ham muốn có được – desire that there are.
Một khi nắm được một sự hiểu biết về ham muốn, chính ta có thể làm sáng tỏ một số tranh cãi chung quanh những điều ham muốn.
Lý thuyết thỏa mãn ham muốn là một dạng chủ nghĩa chủ quan về hạnh phúc theo nghĩa thông thường, theo đó, để có được một cuộc sống tốt (tốt theo suy nghĩ riêng của từng cá nhân) phải làm với thái độ của một người tạo dựng ra một cuộc sống theo lòng ham muốn của mình hơn là bản chất thực sự của cuộc sống.
Có nhiều hình thức khác của chủ nghĩa “chủ quan” (subjectivism):
- Lý thuyết mục tiêu thành tựu – Aim-achievement theories;
- Lý thuyết hiện thực hóa giá trị – Value-realization theories;
- Lý thuyết hạnh phúc – Happiness theories;
- Và một số hình thức của chủ nghĩa khoái lạc – Hedonism.
Nhưng thực sự, tựu trung tất cả những lý thuyết trên chỉ nhằm thực hiện mục tiêu của lý thuyết “hoàn tất ham muốn” – desire-fulfillment mà thôi.
Còn đối với chủ nghĩa khách quan (objectivism) thì sao?
Các lý thuyết khách quan về hạnh phúc – well-being gồm:
- Lý thuyết cầu toàn – perfectionism;
- Và lý thuyết “danh sách khách quan” – objective- list theories.
Hai quan điểm trên trái ngược với chủ nghĩa chủ quan là: – Ít nhất một số điều liên quan đến bản chất tốt hay xấu (pro/con – attitudes) đối với chúng ta về căn bản nhưng không liên quan đến thái độ của chúng ta. Sự “hoàn tất ham muốn” cũng đóng một vai trò trung tâm trong một số lý thuyết về hạnh phúc, trong đó kết hợp lại các yếu tố chủ quan và khách quan.
Vì vậy, lý thuyết thực hiện ham muốn ngày nay chắc chắn là một trong những lý thuyết hàng đầu về hạnh phúc.
Một số nhà triết học coi “lý thuyết hoàn tất ham muốn” là lý thuyết hàng đầu.
Nếu đó là lý thuyết ngự trị của thế kỷ 20 và 21, lý thuyết nầy không mang lại sự chú ý thời trước đó. Một số nhà triết học cổ đại và trung cổ hàng đầu đã đưa ra quan điểm để từ chối nó. Ví dụ, trong Plato’s Gorgias (C. 380 BCE), chính Callicles, một đệ tử của Socrates đã khẳng quyết rằng:”Ông, người thực sự muốn sống nhằm cho phép những ham muốn của mình được đánh bóng tối đa (he who would truly live ought to allow his desires to wax to the uttermost).
Trong De Trinitate (C. 416 C.E.), Thánh Augustine đã thảo luận ngắn gọn về ý tưởng “tất cả đều được ban phước, bất cứ ai cùng sống như nhau” (all are blessed, whoever live as they will). Augustine tiếp tục khẳng quyết, tuy nhiên, lòng ham muốn (hoặc ý chí) đó là điều tối thiểu của sự cần thiết cho hạnh phúc.
- Các căn bản trong việc/sự ham muốn
- Như vậy, thực sự ra, lòng ham muốn có căn bản nơi đâu và là gì?
• Sự chấp nhận, nhu cầu cần được chuẩn duyệt – Acceptance, the need for approval.
• Sự tò mò, nhu cầu học hỏi – Curiosity, the need to learn.
• Nét ăn uống, nhu cầu thực phẩm – Eating, the need for food.
• Gia đình, nhu cầu nuôi con – Family, the need to raise children.
• Danh dự, sự cần thiết phải trung thành với các giá trị truyền thống – Honor, the need to be loyal to the tradition values.
• Chủ nghĩa lý tưởng, sự cần thiết của công bằng xã hội – Idealism, the need for social justice.
• Độc lập, nhu cần cần thiết cho mọi cá thể – Independence, the need for individuality.
• Đặt hàng, nhu cầu cho (mọi việc) có tổ chức và ổn định – Order, the need for organized, stable,
- Và một số ham muốn nguyên thủy (primal desire) của con người là gì?
- “Sống còn”: Sống một cuộc sống bền lâu và khỏe mạnh – Survival: Live a long and healthy life.
- Bảo vệ: An toàn, chăm sóc và bảo vệ cho chính bạn và những người thân yêu – Protection: Safety, care and protection for yourself and loved ones.
- Tự do: Tự do khỏi sự nguy hiểm, sợ hãi và đau đớn – Freedom: Freedom from danger, fear and pain.
- Tiện nghi: Điều kiện sống thoải mái – Comfort: Comfortable living conditions.
- Niềm vui: Thưởng thức đồ ăn, đồ uống và trải nghiệm – Pleasure: Enjoy food, beverages and experiences.
- Ham muốn thâm sâu nhứt của con người là gì?
Ham muốn thâm sâu nhất (deepest desire) của bất kỳ con người nào là được Yêu Thương và được Trân Trọng.
Không có ai trên thế giới này không muốn được xem là đẹp đẻ hay tài giỏi hết.
Sẽ không có ai phải nhăn mặt (frown) khi được nghe “I love you” đến từ của miệng của người mình thương hết!
- Ham muốn mạnh nhứt (strongest) của con người là gì?
TS Erica Goodstone nhận định rằng:”Ham muốn tình dục là thứ ham muốn mạnh mẽ nhứt của con người. Khi được thúc đẩy bởi năng lực của ham muốn này, quý ông và quý bà phát triển một số phẩm chất đáng kinh ngạc, bao gồm nhãn quan và trí tưởng tượng, lòng can đảm và ý chí cùng khả năng kiên nhẫn liên tục bất chấp mọi trở ngại và khó khăn” (visualization and imagination, courage and willpower and ability to persist in spite of all obstacles and difficulties).
e- Như vậy, có phải ham muốn có nghĩa là tình yêu?
Tình yêu là ham muốn, không có định nghĩa nào khác hơn nữa… Đối với một số người, đó là sự đáp lại tình cảm của họ, một số người khao khát được gần gũi với người yêu. hoặc người mình yêu. Nhưng cũng có vài ngoại lệ, là ai đó nghĩ rằng “có thể chỉ muốn người mình yêu hạnh phúc mà thôi, không cần thiết để được đáp lại” (tình yêu đơn côi chăng?)
Chỉ có những người dối lòng là những người nói
rằng tình yêu đích thực không có ham muốn!
- Ham muốn có ý nghĩa gì trong Phật giáo?
Trong Phật giáo, dục vọng, vô minh, và chấp ngã nằm ở gốc rễ của mọi đau khổ. Theo dục vọng, Phật tử đề cập đến tham ái, vật chất và bất tử, tất cả đều là những ham muốn không bao giờ có thể được thỏa mãn cho mỗi con người.
Làm thế nào để một Phật tử thoát khỏi phải “chấp ngã”?
Có vài thực tiễn dưới đây để cho mỗi chúng ta cùng suy nghiệm nhằm “bớt đi” tính chấp ngã của chính mình:
* Thiền – Meditation: Thiền chỉ đơn giản là ngồi yên và cố gắng chú ý đến thời điểm hiện tại cho dù đó là hơi thở của bạn, cơ thể bạn hay những gì đang xảy ra xung quanh bạn ngay bây giờ;
* Từ bi – Compassion;
* Sự phụ thuộc lẫn nhau – Inter-independence;
* Chấp nhận – Accepting;
* Mở rộng – Expansiveness.
5-Tam giác vàng
Điều gì là tuyệt vời về tam giác này?
Thực sự nó có ý nghĩa gì?
Một số người thành công nhứt đã theo hướng nầy và họ thành công vì “Năng lực của một tư duy tuyệt vời”.
Cuộc hành trình đến tam giác vàng bắt đầu với Ham muốn – Desire. Đó là sân ga từ nơi con tàu vận mạng bắt đầu lăn bánh. Con tàu sẽ dừng lại sau mỗi trạm và những người không có đủ kiên nhẫn sẽ rời khỏi tàu. Còn những người ở lại là người có đức tin (tùy theo suy nghĩ của bạn, có thể là đức tin (faith) mà cũng có thể là niềm tin (believe). Đây là một thuộc tính quan trọng thứ hai để thành công.
Trong sự so sánh nầy, Đức tin kiên định – Consistent Faith và Khát vọng – Desire vững chắc chuyển Tâm Ý thành Hành động – Action.
Hành động giúp chúng ta tăng thêm ham muốn. Kết quả của Hành động làm cho Đức tin mạnh mẽ hơn và thêm một lần nữa, Hành động được tăng thêm, và từ đó tiếp tục mãi mãi Hành động.
Phản ứng dây chuyền không kiểm soát của hành động này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta thực sự thuộc về… (actually belong).
- Thay lời kết
Quý bạn vừa thả lòng với những định nghĩa, nhận đình cùng suy diễn hết sức trừu tượng về một danh từ hay động từ “Desire” tạm dịch là “Ham muốn” từ những suy nghĩ của các triết gia cho đến suy nghĩ của đời thường trong cõi ta bà nầy.
Để rồi bạn chuyển qua một vài suy diễn trong tinh thần Phật giáo…
Người viết không dám nói thêm nhiều nữa, chỉ mong mỗi người trong chúng ta nhìn về, nghĩ về “Ham muốn” trong chiều hướng nào?
Và dù trong chiều hướng nào đi nữa chỉ mong Quý Bạn vẫn còn tỉnh táo để biết chính mình:
- Đang nghĩ gì?
- Đang làm gì?
- Và suy nghĩ gì, làm gì đó có thích hợp với đạo lý của “Đời thường” không?
Xin chia xẻ vài suy nghĩ cùng Bạn trong mùa chay tịnh của Thiên Chúa giáo và mùa “cách ly tự nguyện” vì cô Coronavirus.
Và đây cũng là những suy nghĩ mà chính người viết cũng cần suy gẫm!
Phổ Lập Mai Thanh Truyết
An Nhiên Tự Tại
Houston, 26/3/2020
Phụ chú: Góp ý của một người bạn
Kính Thưa Anh Truyết và các Chị Em,
Bài viết anh phân tách về sự Ham Muốn rất hay. Tôi xin góp một chút ý kiến. Sau khi tất cả diễn biến về những thể loại ham muốn, thì chính ta nhìn lại chính mình, những ham muốn đó có đạt hiệu quả hay không, có khi được, nếu sự ham muốn đó trong tầm tay, có khi xa vời vì quá to lớn viển vông, có khi vì cái ta muốn thắng vì tự ái cá nhân.
Nói chung tất cả ham muốn đó do ta tự vẽ ra để trở thành một mục đích mà ta phải thực hiện dù tốt hay xấu.
Vậy làm sao sống cho có những mục tiêu tốt, chính là ta phải tự nhìn lại trong ta, vì ta muốn cái này, muốn cái kia, nói chung muốn đủ thứ trên đời, khi không đạt được thì phiền muộn, bất bình, hoặc đau khổ.
Như lời Phật dạy đó là Tham, Sân, Si. Những thứ đó chỉ là trừu tượng và viễn vong, nhưng nếu không có Ý muốn đó, chúng ta sẽ đứng giữa ngã ba đường, mà ta phải chọn một con đường để đi.
Vậy ta phải vạch ra con đường, sao cho dung hòa. Đó là một con đường chính giữa không có dính mắc hai bên.. Phải luôn nhìn lại chính mình, cảnh giác cái ham muốn thắng, mà phải quên mình nghĩ đến cái chung trong hiện tai.
Tôi đã luôn suy nghĩ (đó cũng là cái ta xấu xí) tai sao ta có mặt trong đời này, tai sao ta không là cây cỏ, con chim, cái kiến, hoặc là, người giàu có, hoặc nữ hoàng hay là những người nổi tiếng. Vậy thì cuộc sống này phải có lý do, mổi người mổi nhiệm vụ, có trách nhiệm phải chu toàn đối với cha me sinh ra ta, với gia đình ta đang có mặt, lo cho con cái cháu chắt trong tương lai. Và với xã hội ta đang sống. Tai sao mình không sanh trong một nước khác mà mình sanh trong nước Việt Nam, vậy ta cũng có trách nhiệm đối với tổ quốc,
Ta phải làm tất cả những gì trong đời này với tất cả lòng biết ơn, đã cho ta có cuộc sống có ý nghĩa, dù có phong ba bão táp, và vui sống. Nếu những ai đã từng đi vượt biên, sẽ hiểu được cái chết trong tích tắc giữa đại dương mênh mông không bến bờ. Hoặc đi máy bay nhìn xuống thấy con người mất hút trong quả đất.Trời đất bao la , ta chỉ là một sinh vật nhỏ bé trong vũ trụ .
Chúng ta cũng may mắn là sanh ra được toàn vẹn, không tật nguyền, còn biết suy nghĩ phải trái, nếu không may sanh ra mà bị chứng bệnh vô não ngẩn ngơ thiếu hiểu biết, thì chúng ta sẽ ra sao. Chúng ta lại được các đấng vĩ nhân hướng dẫn tâm linh biết nhân quả nghiệp báo, giống con rùa mù mà gặp bọng cây, đã mù làm sao thấy được bọng cây, Quả là may mắn. Chúng ta sanh ra không tự chọn, chúng ta chết đi cũng không biết được ngày.
Vậy chúng ta hôm nay gặp nhau đây là một cái duyên hanh ngộ thật đáng vui mừng, nên chúng ta phải quý trọng lẫn nhau.
Câu hỏi: Sự khác biệt giữa mong muốn (Hissaron) và khát vọng (Ishtokekut) là gì?
Trả lời: Mong muốn có nghĩa là tôi chỉ đơn giản là muốn một số sự hoàn thành. Ví dụ, tôi khát. Trong khi đó, một khát vọng phụ thuộc vào mức độ tôi thực sự cần nó tại một thời điểm nhất định, nghĩa là tôi đau khổ đến mức nào vì tôi thiếu sự thỏa mãn này.
Khát vọng là sự bổ sung cho mong muốn và nó đo lường sức mạnh của mong muốn tại một thời điểm nhất định, mức độ bản ngã của tôi sẵn sàng chịu đựng để đạt được mục tiêu mong muốn.
Nói cách khác, bạn sẵn sàng trả bao nhiêu cho việc này? Hãy xem nó ngay bây giờ. Bạn muốn lấy nó? Không vấn đề gì. Bạn có thể cho bao nhiêu? Chúng tôi có thể đo lường nguyện vọng của bạn theo câu trả lời của bạn. Bạn nói: “Chà, một trăm.” “Không, bạn nên cho một nghìn.” “Một nghìn?” Đây là nơi bạn được kiểm tra với số tiền bạn sẵn sàng trả. Đây là cách để đo lường khát vọng của bạn cho mục tiêu mong muốn.
Đồng thời, một mong muốn tự nó là đơn giản. Nếu cái gì miễn phí, tôi sẽ lấy nó.
Rõ ràng một người được đánh giá theo nguyện vọng của anh ta.
Mong muốn đến với chúng ta từ Đấng Tạo Hóa, trong khi chúng ta thêm khát vọng thông qua môi trường.
Một khát vọng là thành quả của công việc của chúng ta, là thành quả của những nỗ lực của chúng ta.
Question: What is the difference between a desire (Hissaron) and an aspiration (Ishtokekut)?
Answer: Desire means that I simply want some fulfillment. For example, I am thirsty. Whereas an aspiration depends on how much I really need it at a given moment, meaning how much I suffer now because I lack this fulfillment.
Aspiration is an addition to a desire and it measures the strength of the desire at a given moment, how much my ego is ready to suffer for the sake of reaching the desired goal.
In other words, how much are you ready to pay for this? Let’s see it now. You want to get it? No problem. How much can you give? We can measure your aspiration according to your answer. You say: “Well, a hundred.” “No, you should give a thousand.” “A thousand?” This is where you are tested with how much you are ready to pay. This is the way to measure your aspiration for the desired goal.
At the same time, a desire itself is simple. If something is free, I will take it.
Obviously, a person is evaluated according to his aspiration.
A desire comes to us from the Creator, while we add aspiration through the environment.
An aspiration is the fruit of our work, the result of our efforts.
Huỳnh Quốc Bình:
Tình yêu phải luôn là hai chiều bởi vì con người luôn luôn và muôn đời bất toàn. Chỉ có Thiên Chúa mới có tình yêu một chiều dành cho loài người không xứng đáng.
Tình yêu “đơn côi” là loại tình yêu bất cần phải quấy. Yêu người không yêu mình nên đành phải “đơn côi”. Ha ha ha.
Em chỉ yêu người nào yêu em. Ai hổng yêu em, em hổng yêu lại. Em chỉ dành thì giờ yêu người yêu mình mà thôi.
Nhiều khi người ra yêu mình mà mình đáp lại còn không xong, nói chiyêu kẻ chẳng “iu ta” Ha, ha, ha.
Mẹc xin ông anh đã có ý nghĩ rất cao thượng.
HQB
-
Hygge – Sự Bình đẳng và Hạnh phúc của mọi Người
Mai Thanh Truyết
Khái niệm “hygge” của Ðan Mạch là một phần sâu sắc trong văn hóa của họ, tượng trưng cho nghệ thuật sống hạnh phúc và sự cân bằng trong cuộc sống. Hygge phản ảnh niềm thoải mái của Ðan Mạch mà chúng ta cần hơn bao giờ hết. Ðây là một thuật ngữ của người Bắc Âu – Scandinavia bao gồm cảm giác ấm cúng, hài lòng và khỏe mạnh tìm thấy thông qua việc trân trọng những điều nhỏ nhặt.
Hygge không chỉ là về việc tạo ra một không gian ấm cúng, mà còn là trạng thái tâm lý khi con người cảm nhận được niềm vui từ những điều đơn giản chung quanh. Nó phản ánh các giá trị của Ðan Mạch về bình đẳng, hạnh phúc và tinh thần đồng thuận. Hygge là một cách sống thể hiện cảm giác ấm cúng, giản dị và hiện diện.
16 ways to embrace hygge in Denmark …Ví dụ, hygge có thể là:
Ngồi bên lò sưởi, cuộn tròn trong chiếc chăn ấm với một cuốn sách hay và một tách trà.
Cùng bạn bè hay gia đình thưởng thức một bữa ăn ngon, với ánh nến lung linh tạo cảm giác gần gũi.
Ði dạo dưới ánh sáng dịu dàng của buổi chiều tà, cảm nhận sự yên bình của thiên nhiên.
Áp dụng lối sống đơn giản.
Dọn dẹp đồ đạc lộn xộn và tạo không gian yên bình.
Tập trung chỉ giữ lại những thứ quan trọng với bạn.
Nhận thấy và tận hưởng với con người, môi trường và trải nghiệm tích cực mà bạn đã có chung quanh mình.Two-Girls-with-umbrella-on-bench
Hygge nhấn mạnh vào việc trân trọng khoảnh khắc hiện tại, tìm kiếm hạnh phúc trong những chi tiết nhỏ bé và giảm thiểu căng thẳng. Không phải ngẫu nhiên mà Ðan Mạch luôn nằm trong đỉnh những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới; Cách sống hygge chính là một trong những yếu tố góp phần lớn vào điều đó.Các nhà nghiên cứu Smoyer và Miking định nghĩa hygge là một “thực hành phục hồi” “restorative practice” và nhấn mạnh cam kết mạnh mẽ của người Ðan Mạch đối với nó.
Hygge là tạo ra bầu không khí và trải nghiệm để bạn cảm thấy thoải mái. Không phải là tiêu tiền hay lập kế hoạch lớn, mà là nhận ra và tận hưởng những con người, môi trường và trải nghiệm tích cực và tiếp tục nuôi dưỡng mà bạn đã có xung quanh mình.
mother-reading-childrens-book
Không lâu trước đây, khái niệm hygge của Ðan Mạch đã trở thành một từ ngữ cố định phổ biến trong tự điển toàn cầu. Chỉ tính riêng từ năm 2016 đến 2017, đã có hơn 30 cuốn sách được xuất bản về chủ đề lối sống “ấm cúng” của Ðan Mạch, và các ấn phẩm lớn như New York Times và Guardian đã phát hành các bài viết chuyên sâu về chủ đề này trong khi hầu như mọi công ty sản xuất đèn cầy, chăn mền và đồ mặc trong nhà đều xử dụng thuật ngữ này để tiếp thị sản phẩm của họ. Từ tiếng Ðan Mạch thậm chí còn lọt vào danh sách rút gọn năm 2016 cho Từ ngữ của năm của Oxford, danh sách này hàng năm nêu bật những cách diễn đạt được dùng rộng rãi nhất “có tiềm năng lâu dài cho ý nghĩa văn hóa”.Bạn có thấy triết lý này gần gũi hoặc có thể áp dụng trong cuộc sống của mình không?
1. Khái niệm hygge khó nắm bắt
Khái niệm hygge của Ðan Mạch đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều bài viết và sách trong vài năm qua, được thúc đẩy bởi sự phổ biến của loạt phim truyền hình Ðan Mạch và tiểu thuyết tội phạm đen trắng Bắc Âu, cùng với nhu cầu về ẩm thực Bắc Âu mới. Chưa kể Ðan Mạch liên tục được xếp hạng là một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Hygge có xứng đáng được ghi nhận một phần công lao cho hạnh phúc đó không?
Khái niệm hygge có thể bắt nguồn từ đầu những năm 1800 ở Ðan Mạch, Dane Meik Wiking, người sáng lập Viện nghiên cứu hạnh phúc Copenhagen, giải thích trong cuốn sách bán chạy nhất của tờ New York Times The Little Book of Hygge: Danish Secrets to Happy Living (William Morrow, 2017). Trong khi thuật ngữ hygge thực sự bắt nguồn từ một từ tiếng Na Uy, hugga, có nghĩa là “an ủi”, và cũng liên quan đến từ tiếng Anh “hug”.
Roskilde Festival highfive
Việc khái niệm hygge của Bắc Âu đạt đến mức độ hấp dẫn quốc tế trong thời kỳ Brexit ở Vương quốc Anh và cuộc bầu cử tổng thống của Trump tại Hoa Kỳ là điều phù hợp. Khái niệm này, bắt nguồn từ sự thoải mái, gắn kết và hạnh phúc, vốn có bản chất xoa dịu. Trong thời kỳ biến động, khi cả nhận thức của công chúng và cá nhân về sự an toàn và cộng đồng đều bị đe dọa, người ta thường khao khát một số giác quan mà hygge gợi lên. Bây giờ, trong một giai đoạn bất ổn toàn cầu khác, việc xem lại thuật ngữ này là điều phù hợp. Sau đây là mọi thứ bạn cần biết về khái niệm hygge của Ðan Mạch, bao gồm cách bạn có thể nắm bắt các khía cạnh của lối sống này trong thời điểm này, khi nhiều người trong chúng ta có thể cần đến nó.Rất khó phát âm, hygge (“hooga”) cũng khó giải thích. Tóm lại, hygge là dành thời gian thoát khỏi sự vội vã hàng ngày để ở bên những người bạn quan tâm – hoặc thậm chí là một mình – để thư giãn và tận hưởng những thú vui yên tĩnh hơn của cuộc sống.
A group of people eating at a table Description automatically generated
Ðối với đầu bếp người Na Uy Signe Johansen, tác giả của How to Hygge: The Nordic Secrets to a Happy Life (St. Martin’s Griffin, 2017), khái niệm hygge thường có thể liên quan đến các loại thực phẩm và đồ uống cụ thể, chẳng hạn như Rugbrødskage là bánh làm từ bánh mì lúa mạch đen (rugbrød) xay nhỏ, trộn với các nguyên liệu như sô-cô-la, trứng và đường, mang đến một hương vị đậm đà, hơi lạ miệng. hoặc Gløgg, một loại rượu vang nóng của Scandinavia với vỏ bạch đậu khấu và hoa hồi. Trong Hygge: The Danish Art of Happiness (Michael Joseph, 2017), tác giả người Ðan Mạch Marie Tourell Søderberg chỉ ra các vật dụng gia đình thường được coi là hyggelig, trong số đó có nến, lò sưởi, chăn đan tay và dép len nỉ.Không gian và thời gian Hygge thường là khoảng thời gian không chính thức cùng với gia đình hoặc bạn bè thân thiết. Thông thường, bối cảnh là ở nhà hoặc một địa điểm yên tĩnh khác, hoặc có thể là một buổi dã ngoại trong những tháng mùa hè. Nó thường bao gồm việc chia sẻ một bữa ăn và rượu vang hoặc bia, hoặc sô cô la nóng và một bát kẹo nếu có trẻ em. Không có chương trình nghị sự. Bạn ăn mừng những niềm vui nhỏ bé của cuộc sống, hoặc có thể thảo luận về những chủ đề sâu sắc hơn. Ðây là cơ hội để thư giãn và làm mọi thứ chậm lại.
1.1. Hygge | Yên Hy Set | Shopee Việt Nam Hygge trong sản phẩm và văn hóa đại chúng
Các nhà thiết kế và nhà kinh doanh nhanh chóng tận dụng hiện tượng hygge. Có những cuốn sách về hygge – chánh yếu được người nước ngoài đọc – và đồ gia dụng hygge, đặc biệt là chăn ấm và nến thơm. Ngoài ra còn có quần áo hygge, chẳng hạn như chiếc áo len mềm mại tự nhiên mà nữ diễn viên Sofie Gråbøl mặc trong loạt phim truyền hình Ðan Mạch The Killing. Sự ấm áp và mềm mại của chiếc áo len được chọn để tạo sự tương phản với sự bạo lực đen tối trong cốt truyện của bộ phim.
1.2. Du lịch và hygge
Khách du lịch đến thăm Ðan Mạch ngày càng muốn nếm thử hương vị hygge.
Mặc dù hygge khó đạt được khi bạn không được bao quanh bởi những người bạn cũ và môi trường quen thuộc, nhưng một bữa tối thịnh soạn trong một nhà hàng lịch sử được bao quanh bởi những ngọn nến (như Duus Wine Cellar ở Aalborg, tọa lạc trong một tòa nhà từ năm 1624) là một cách tốt nhứt để bắt đầu.
hygge eatery
Cũng giống như một ngày nắng đẹp tại công viên giải trí Tivoli Gardens tuyệt đẹp ở Copenhagen, hoặc đi dạo cùng một người bạn dọc theo những bãi biển đầy gió ở bờ biển phía tây của Jutland.Hygge được coi là cuộc gặp gỡ của những người bình đẳng, ngay cả khi thực tế có sự mất cân bằng về quyền lực.
2. Văn hóa và Người Ðan Mạch như thế nào?
Ðan Mạch là một xã hội bình đẳng, nghĩa là coi trọng sự bình đẳng, an toàn và tự do. …
· Bình đẳng giới tính là một giá trị cốt lõi.
· Thực hành Hygge trong cuộc sống hàng ngày của Ðan Mạch.
· Cần giao tiếp với người Ðan Mạch và tìm hiểu về văn hóa Hygge của họ.
· Sự hài hước và trung thực của Ðan Mạch cũng là một phần của văn hóa Ðan Mạch.
Ðan Mạch nổi tiếng với sự hạnh phúc, những hòn đảo tuyệt đẹp, gạch Lego, bánh ngọt Ðan Mạch, văn hóa xe đạp và các công viên giải trí lâu đời nhất. Ðơn vị tiền tệ chính thức của Ðan Mạch là Krone Ðan Mạch hoặc DKK. Ðồng Euro cũng được chấp nhận ở các thành phố lớn.
Người Ðan Mạch thường lịch sự và tử tế, mặc dù họ hiếm khi bắt chuyện với người lạ. Tuy nhiên, khi bạn tiếp cận một người Ðan Mạch với một câu hỏi cụ thể (chẳng hạn như hỏi đường), họ thường sẽ phản hồi tích cực và giúp bạn giải đáp mọi thắc mắc.
Overhead view of cup of tea and small plate of lemon slices, with 3 white lit candles on tabletop
Ở Ðan Mạch, đặc điểm là tin tưởng lẫn nhau khi nói đến kinh doanh, chính phủ hoặc các mối quan hệ cá nhân. Sự trung thực được mong đợi và tham nhũng trong kinh doanh hoặc giữa các công chức là rất hiếm.Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất ở Ðan Mạch. Tính đến năm 2024, 71,2% dân số Ðan Mạch là thành viên đã đăng ký của Giáo hội Ðan Mạch (Den Danske Folkekirke), nhà thờ được thành lập chính thức, có phân loại là Tin lành và định hướng là Luther.
3. Vài gợi ý trong cuộc sống
Hygge là một khái niệm tuyệt đẹp và sâu sắc trong văn hóa Ðan Mạch, mang ý nghĩa về sự thoải mái, ấm áp và tận hưởng những khoảnh khắc giản dị trong cuộc sống. Ðây không chỉ là một từ ngữ, mà còn là một triết lý sống giúp con người tìm thấy hạnh phúc từ những điều nhỏ bé và gần gũi.
What is Hygge Design? – JENRON DESIGNS Hygge có thể là việc ngồi bên ánh nến với một cuốn sách yêu thích, nhâm nhi một tách cà phê trong ngày mưa, hay quây quần cùng gia đình và bạn bè trong không gian thân mật. Những khoảnh khắc ấy giúp ta cảm nhận được sự kết nối và sự bình yên trong tâm hồn. Ðiểm đặc biệt của Hygge là nó không đòi hỏi sự xa hoa hay cầu kỳ, mà chỉ cần chú trọng vào việc tạo nên cảm giác thoải mái và hạnh phúc từ những điều đơn giản.
Với người Ðan Mạch, Hygge cũng là cách để họ đối mặt với những tháng mùa đông lạnh giá và tối tăm. Thay vì chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, họ chọn cách sống hòa hợp với nó, tạo nên sự ấm áp từ bên trong, cả về vật chất lẫn tinh thần. Ðiều này có thể giải thích tại sao Ðan Mạch thường nằm trong danh sách các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới.
Học hỏi từ Hygge, chúng ta có thể nhìn nhận cuộc sống theo cách chậm lại, yêu thương hơn và biết trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại.
· Trong nhịp sống hiện đại bận rộn, đôi khi chúng ta quên mất giá trị của sự tĩnh lặng và những điều nhỏ bé.
· Hygge nhắc nhở rằng hạnh phúc không nằm ở những gì lớn lao, mà nằm trong sự hài lòng với cuộc sống hàng ngày, với những điều thân thuộc quanh ta.
Bạn cảm thấy triết lý Hygge có phù hợp với cách sống của bạn không?
Cón sách sống Hygge như thế nào trong hiện tại?
Cách sống Hygge thực sự có thể đem lại hạnh phúc cho con người, và điều này đã được chứng minh qua thực tế cuộc sống tại Ðan Mạch – một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Ðiều cốt lõi của Hygge không chỉ nằm ở việc tận hưởng những khoảnh khắc thoải mái, mà còn ở việc nuôi dưỡng cảm giác bình yên, sự kết nối và trân trọng hiện tại.
The hygge conspiracy | Health …Dưới đây là những lý do tại sao Hygge có thể mang lại hạnh phúc:
Trân trọng những điều giản dị: Hygge giúp con người tập trung vào những niềm vui nhỏ bé trong cuộc sống, từ một tách trà nóng, ánh nến dịu dàng, đến khoảnh khắc bên người thân. Khi chúng ta học cách yêu những điều đơn giản, hạnh phúc trở nên dễ dàng đạt được hơn, thay vì phụ thuộc vào vật chất xa hoa hay những mục tiêu lớn lao.
Tạo ra cảm giác ấm áp và an toàn: Hygge khuyến khích tạo dựng không gian ấm cúng và thoải mái, nơi con người cảm thấy được bảo bọc và thư giãn. Trong một thế giới đầy căng thẳng và áp lực, cảm giác này giúp giảm bớt lo âu và mang lại trạng thái tinh thần cân bằng.
Xây dựng kết nối xã hội: Một khía cạnh quan trọng của Hygge là dành thời gian với gia đình và bạn bè. Những buổi tối trò chuyện, ăn uống hay chơi trò chơi cùng nhau trong không gian thân mật giúp tăng cường sự gắn kết và hỗ trợ tinh thần, từ đó mang lại hạnh phúc bền vững.
chair next to lit fireplace in dark roomKhuyến khích sống chậm và tận hưởng hiện tại: Trong thời đại mà con người thường bị cuốn vào nhịp sống nhanh và mục tiêu tương lai, Hygge là lời nhắc nhở quan trọng về giá trị của việc sống chậm lại, tận hưởng hiện tại và không để cuộc sống trôi qua vô nghĩa. Sự chánh niệm này giúp ta cảm nhận rõ hơn niềm vui và ý nghĩa của từng khoảnh khắc.
Giảm áp lực về thành công hay cạnh tranh: Hygge không dựa trên sự so sánh hay thành tựu cá nhân. Thay vào đó, nó tập trung vào cảm giác hài lòng với cuộc sống mình đang có. Ðiều này giúp giảm căng thẳng và áp lực, tạo ra hạnh phúc từ sự bình yên trong tâm hồn.
Thích nghi với khó khăn và biến chúng thành cơ hội: Người Ðan Mạch dùng Hygge như một cách để vượt qua mùa đông dài, lạnh lẽo và thiếu ánh sáng, vốn dễ gây ra cảm giác cô đơn và trầm cảm. Thay vì chống đối, họ biến thời gian này thành cơ hội để chăm sóc bản thân, tìm sự ấm áp trong gia đình và cộng đồng.
Và sau cùng có phải Hygge sẽ phù hợp với mọi người?
Mặc dù Hygge có thể mang lại hạnh phúc cho nhiều người, nhưng cách tiếp cận này cũng cần phù hợp với bối cảnh văn hóa và lối sống cá nhân. Ðối với những người quen với lối sống nhanh hoặc thích sự náo nhiệt, việc sống chậm và chú trọng vào sự bình yên có thể cần thời gian để thích nghi. Tuy nhiên, bất kỳ ai cũng có thể áp dụng những yếu tố nhỏ của Hygge, chẳng hạn như tạo không gian thoải mái trong nhà hoặc tận hưởng một buổi tối tĩnh lặng để cảm nhận hạnh phúc.
Bạn có muốn thử một chút “Hygge” trong cuộc sống hàng ngày không?
Chẳng hạn như dành thời gian thư giãn vào buổi tối hay tạo không gian ấm áp trong ngôi nhà của mình?
Mai Thanh Truyết, Houston- Ðông chí 21/12/2024
-
Nói chuyện với Thiên nhiên
Mai Thanh Truyết

Qua cơn bão Yagi vừa qua với sức tàn phá kinh hoàng ở các tỉnh cực bắc của Việt Nam, với mức thiệt hại về nhân mạng và tài sản cá nhân nặng nề, cộng thêm nạn sạt lở, đất chuồi, lũ lụt … làm đảo lộn hệ sinh thái cả một vùng rộng lớn.
Chúng ta nghĩ gì? Thiên nhiên có phải là nguyên nhân tạo ra những cơn bão, hạn hán, lũ lụt hay có sự góp tay của con người hay không?
Từ những thắc mắc trên, câu hỏi được đặt ra là, thiên nhiên là sản phẩm của Thượng đế ban cho con người, và con người cần phải trân quý, bảo quản và gìn giữ như thế nào… Và câu chuyện trao đổi với Cô Trà My, VOA hôm nay sẽ xoay quanh đề tài “Trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên”.
Trước hết, để trả lời câu hỏi “Thiên nhiên có phải là nguyên nhân chính tạo ra những cơn bão, hạn hán, lũ lụt hay có sự góp tay của con người hay không?” Xin thưa, thiên nhiên và con người đều có vai trò trong việc hình thành và làm trầm trọng thêm các hiện tượng thời tiết như bão, hạn hán và lũ lụt. Dưới đây là những nguyên nhân điển hình chứng minh thiên nhiên và con người đã và đang tương tác:
- Thiên nhiên vớicác hiện tượng thời tiết như bão, hạn hán và lũ lụt chỉ là kết quả của các quy luật tự nhiên, như sự thay đổi nhiệt độ, áp suất không khí, và chu trình tuần hoàn nước. Sự biến đổi khí hậu tự nhiên theo thời gian cũng góp phần gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan. Cộng thêm sự tương tác giữa các yếu tố khí quyển như gió, mây và độ ẩm có thể tạo ra bão và mưa lớn.
- Còn về con người, các sinh hoạt của con người, như đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng, đã làm gia tăng lượng khí nhà kính trong khí quyển, dẫn đến biến đổi khí hậu và làm tăng tần suất và cường độ các hiện tượng thời tiết cực đoan.Việc thay đổi xử dụng đất, chẳng hạn như đô thị hóa và nông nghiệp không bền vững, phủ lấp các trũng tự nhiên trong xây dựng, các hồ thiên nhiên nhằm điều tiết một lượng nước mưa quá tải trong một thời gian ngắn…; tất cả có thể làm giảm khả năng hấp thụ nước, dẫn đến lũ lụt hoặc hạn hán. Và việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên và phá hủy hệ sinh thái làm suy giảm khả năng tự phục hồi của môi trường, khiến thiên nhiên dễ bị tổn thương hơn trước các hiện tượng thời tiết cực đoan kể trên.
Vì vậy, thiên nhiên có thể tạo ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhưng hoạt động của con người hiện đang làm trầm trọng thêm những hiện tượng này. Do đó, để giảm thiểu tác động tiêu cực, cần có sự kết hợp giữa hiểu biết về quy luật tự nhiên và quản lý bền vững từ phía con người.
Khái niệm về thiên nhiên
“Trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên” là một khái niệm chỉ việc bảo vệ, phục hồi và giữ gìn môi trường tự nhiên, để duy trì sự cân bằng và hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Các lý do quan trọng để trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên:
- Bảo vệ đa dạng sinh học: Thiên nhiên cung cấp môi trường sống cho hàng triệu loài động, thực vật. Việc trả lại thiên nhiên còn nguyên trạng là giúp duy trì sự đa dạng sinh học, bảo vệ các loài động thực vật khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
- Cân bằng hệ sinh thái: Các hệ sinh thái cần được giữ gìn để duy trì sự cân bằng tự nhiên, giúp các chuỗi thức ăn và vòng tuần hoàn tự nhiên hoạt động hiệu quả.
- Chống biến đổi khí hậu: Thiên nhiên giúp hấp thụ khí carbon dioxide. Khôi phục rừng, đầm lầy và các hệ sinh thái tự nhiên có thể hấp thụ carbon dioxide do sinh hoạt của con người tạo ra, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
- Thiên nhiên có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sức khỏe con người thông qua nhiều cách khác nhau. Rừng và cây xanh giúp việc lọc không khí, giảm ô nhiễm và cung cấp oxy, từ đó cải thiện sức khỏe hô hấp.
- Các hệ sinh thái như sông, hồ và đầm lầy đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước sạch, cần thiết cho sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày. Thiên nhiên cung cấp các nguồn thực phẩm đa dạng, bao gồm rau quả, hạt, và động vật, cung cấp dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể. Và, thiên nhiên mang lại cảm giác thư giãn và giảm căng thẳng. Việc tiếp xúc với thiên nhiên có thể cải thiện tâm trạng và sức khỏe tinh thần. Các hoạt động ngoài trời như đi bộ, chạy, hoặc đạp xe trong môi trường tự nhiên không chỉ giúp rèn luyện thể lực mà còn tăng cường sức khỏe tổng thể. Và sau cùng, một số nghiên cứu cho thấy các hợp chất tự nhiên trong cây cối và đất có thể hỗ trợ hệ miễn dịch, giúp cơ thể chống lại bệnh tật.
Tóm lại, thiên nhiên không chỉ là nguồn sống mà còn là yếu tố quan trọng trong việc duy trì và cải thiện sức khỏe con người.
- Tôn trọng quyền của các thế hệ tương lai: Con người có trách nhiệm bảo vệ hành tinh mà chúng ta đang sống. Việc trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên thể hiện sự tôn trọng đối với môi trường và các sinh vật khác. Bảo vệ thiên nhiên cho các thế hệ sau. Mỗi hành động nhỏ của chúng ta đều có thể góp phần bảo vệ thiên nhiên và tạo ra một tương lai bền vững.
Thiên nhiên có tự bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên hay không hay cần phải có bàn tay con người giúp sức?
Thiên nhiên có khả năng tự bảo vệ và phục hồi nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp, nhưng thông thường thì cần có sự can thiệp và quản lý của con người để bảo đảm sự bền vững. Dưới đây là một số điểm quan trọng:
Thiên nhiên tự bảo vệ qua những “hành động thiên nhiên” như: – Nhiều hệ sinh thái có khả năng tự phục hồi sau các tác động như thiên tai. Ví dụ, rừng có thể phục hồi sau hỏa hoạn hoặc lũ lụt. – Các loài động thực vật trong tự nhiên duy trì mối quan hệ cân bằng, giúp kiểm soát quần thể sinh vật và bảo vệ môi trường. – Sự tuần hoàn của nước, carbon, và các chất dinh dưỡng được tái chế qua các chu trình tự nhiên, bảo đảm sự tồn tại của hệ sinh thái nguyên thủy.
Tuy nhiên, con người cũng là tác nhân là suy giảm “sức khỏe” của thiên nhiên, cũng như giúp sức, tham dự, và can thiệp vào các sinh hoạt: – Hoạt động của con người như khai thác tài nguyên, đô thị hóa, và ô nhiễm có thể làm suy giảm hệ sinh thái. – Cần có các biện pháp bảo vệ và phục hồi để giữ cho thiên nhiên khỏe mạnh. – Con người cần áp dụng các phương pháp quản lý bền vững cho tài nguyên thiên nhiên, như bảo tồn rừng, quản lý nguồn nước, và nông nghiệp hữu cơ. – Con người cũng cần tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên sẽ giúp cộng đồng hành động tích cực hơn.
Tóm lại, thiên nhiên có khả năng tự bảo vệ, nhưng sự can thiệp và quản lý của con người là rất cần thiết để bảo đảm sự bền vững và phục hồi tài nguyên thiên nhiên.
Việc dân tộc Viking xuôi Nam vào cuối thế kỷ thứ 8 phải chăng là do sự biến đổi tuần hoàn của khí hậu từ chu kỳ ấm qua chu ky lạnh khiến họ phải xuôi Nam tìm nguồn sống?
Việc dân tộc Viking xuôi nam vào cuối thế kỷ thứ 8 không chỉ là kết quả của sự biến đổi khí hậu, mà còn do nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, khí hậu là một yếu tố quan trọng trong bối cảnh lịch sử này.
1. Do biến đổi khí hậu: Trước khi họ di cư, khu vực Bắc Âu trải qua một thời kỳ ấm hơn, cho phép nông nghiệp và chăn nuôi phát triển. Đến cuối thế kỷ thứ 8 và đầu thế kỷ thứ 9, nhiệt độ bầu khí quyển bắt đầu hạ thấp, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và khiến cuộc sống trở nên khó khăn hơn.
2. Tìm kiếm nguồn sống: Sự thay đổi khí hậu từ một chu kỳ ấm qua một chu kỳ lạnh, có thể đã thúc đẩy người Viking tìm kiếm vùng đất mới để khai thác tài nguyên và nguồn sống, dẫn đến các cuộc xâm lược và định cư tại các khu vực như Anh, Ireland và các vùng khác của châu Âu như Ukraina và Nga.
Việc dân tộc Viking xuôi nam vào cuối thế kỷ thứ 8 là một quá trình phức tạp, có sự tác động của biến đổi khí hậu, nhưng cũng bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế, chính trị và tinh thần khám phá. Sự kết hợp của những yếu tố này đã dẫn đến những cuộc di cư và xâm lược nổi tiếng của họ trong suốt một thời gian dài…
Có lẽ chúng ta cũng cần đem yếu tố di cư của dân tộc Viking từ cuối thế kỷ thứ 8, cũng như thời tiết bắt đầu nóng lên vào cuối thế kỷ 20 là những yếu tố nhằm giảm thích sự biến đổi khí hậu. Phải chăng thiên nhiên và sự thay đổi khí hậu chỉ là một chu kỳ tuần hoàn của trái đất: Chu kỳ ấm và chu kỳ lạnh và mỗi chu kỳ kéo dài khoảng 12 thế kỷ. Khoa học hiện đại chỉ có khả năng ghi nhận khoảng hàng trăm năm những sự thay đổi của quả đất, vì vậy không đủ dữ kiện để thiết lập một mô hình toán cho tương lai hàng trăm năm được. Thành thử, việc trái đất “nóng lên” đưa đến những hệ quả nguy hiểm cho con người vào thời điểm năm 2100 cũng chỉ là giả thuyết mà thôi.
Rốt cuộc rồi… trước thách thức của biến đổi khí hậu, “trở về với thiên nhiên” vẫn là một khái niệm then chốt. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái, kêu gọi mọi người tôn trọng các quy luật của thiên nhiên và giảm thiểu thiệt hại của con người đối với môi trường. Đây không chỉ là bảo vệ hệ sinh thái hiện tại mà còn là trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Phát triển bền vững có nghĩa là cân bằng nhu cầu của con người với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, cho phép thiên nhiên tự phục hồi và duy trì sự cân bằng hệ sinh thái của trái đất ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hóa của thế giới.
Mai Thanh Truyết, 23//9/2024
-
Trị liệu pháp logo: Sáng tạo một nền văn hóa có mục đích-Logotherapy: Creating a culture of purpose
Mai Thanh Truyết

Mọi thứ đều có thể bị lấy đi khỏi một người đàn ông ngoại trừ một thứ: quyền tự do cuối cùng của con người, quyền lựa chọn thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào” – Viktor Frankl
Everything can be taken from a man but one thing: the last of the human freedoms to choose one’s attitude in any given set of circumstances” – Viktor Frankl
Logotherapy dịch sang tiếng Việt là “Trị liệu pháp ý nghĩa” hoặc “Trị liệu pháp tìm kiếm ý nghĩa”. Đây là một phương pháp trị liệu tâm lý được Viktor Frankl phát triển, tập trung vào việc giúp cá nhân tìm kiếm và xác định ý nghĩa trong cuộc sống của họ, đặc biệt khi họ đối mặt với đau khổ, khủng hoảng, hoặc thử thách.
“Logotherapy” xuất phát từ từ Hy Lạp “logos,” có nghĩa là “ý nghĩa” hoặc “mục đích,” và “therapy,” có nghĩa là “trị liệu” hoặc “chữa trị.” Do đó, “Liệu pháp ý nghĩa” phản ánh mục tiêu chính của phương pháp này là giúp con người khám phá và kết nối với những yếu tố ý nghĩa và giá trị trong cuộc sống của họ.
- Bằng cách tạo ra một tác phẩm hoặc làm một việc gì đó;
- Bằng cách trải nghiệm điều gì đó hoặc gặp gỡ ai đó;
- Và bằng thái độ chúng ta dành cho nỗi đau khổ không thể tránh khỏi (unavoidable suffering).
Do đó, liệu pháp Logotherapy “ý chí hướng đến ý nghĩa – the will to meaning” rất phù hợp và có ý nghĩa trong cuộc sống của mỗi chúng ta.
- Logotherapy là gì?
Do đó, mục tiêu của logotherapy là giúp người bệnh tìm ra ý nghĩa và mục đích cá nhân của họ, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn.
Logotherapy có ba nguyên tắc chính:
- Tìm kiếm ý nghĩa: Theo Viktor Frankl, mỗi người có nhu cầu tìm kiếm một mục đích và ý nghĩa trong cuộc sống của mình. Việc này không chỉ giúp con người cảm thấy cuộc sống có giá trị mà còn cung cấp động lực trong những thời điểm khó khăn. Mỗi người có thể tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống của mình qua các trải nghiệm, mục tiêu và giá trị cá nhân.
- Tự do và trách nhiệm: Con người có quyền tự do và trách nhiệm trong việc lựa chọn cách họ phản ứng với hoàn cảnh và tìm kiếm ý nghĩa trong đó. Sự tự do này cho phép họ định hình cuộc sống của mình theo cách phù hợp với giá trị và mục tiêu cá nhân.
- Khả năng vượt qua đau khổ: Ngay cả khi đối mặt với đau khổ, người ta vẫn có thể tìm thấy ý nghĩa trong những trải nghiệm đó. Việc chấp nhận và hiểu rằng đau khổ có thể là một phần của cuộc sống có thể giúp tăng cường sự chịu đựng và phát triển cá nhân.
Logotherapy đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, từ trị liệu tâm lý đến tư vấn nghề nghiệp và phát triển cá nhân.

- Cách tiếp cận Logotherapy
- Bước 1: Suy ngẫm về lý do cốt lõi khi bước vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Bằng cách xem lại động lực ban đầu (ví dụ: mong muốn giúp đỡ người khác, tạo ra sự khác biệt hoặc mang lại sự an ủi), cá nhân có thể kết nối lại với các khía cạnh có ý nghĩa của vai trò của mình.
- Bước 2: Xác định những khoảnh khắc có ý nghĩa trong các nhiệm vụ hàng ngày. Ví dụ, nhận ra rằng hành động của họ đóng góp vào sự hồi phục của bệnh nhân hoặc mang lại sự thoải mái trong những thời điểm khó khăn có thể giúp thay đổi công việc của họ thành một nỗ lực ý nghĩa hơn là chỉ là một nguồn căng thẳng.
- Bước 3: Khám phá những con đường mới để hoàn thiện bản thân. Điều này có thể bao gồm đặt ra những mục tiêu nghề nghiệp mới, chẳng hạn như nâng cao kiến thức trong một lĩnh vực y tế cụ thể hoặc tình nguyện cho các sáng kiến sức khỏe cộng đồng, củng cố cảm giác về mục đích và phương hướng.
- Trong đời sống logotherapy giúp con người vượt qua những bất ổn tâm lý như thế nào?
Cách áp dụng liệu pháp logotherapy vào cuộc sống hàng ngày
1. Tạo ra thứ gì đó.
2. Xây dựng các mối quan hệ.
3. Tìm mục đích trong nỗi đau.
4. Hiểu và chấp nhận rằng cuộc sống là bất công.
5. Nắm bắt sự tự do để tìm kiếm ý nghĩa.
6. Tập trung vào người khác.
7. Chấp nhận điều tồi tệ nhất.
Logotherapy tập trung vào việc tìm kiếm và khôi phục ý nghĩa trong cuộc sống, đặc biệt trong các hoàn cảnh khó khăn hoặc khủng hoảng. Từ việc truy tìm ý nghĩa căn bản của cuộc sống, từ đó suy nghiệm ra cung cách thực hành logotherapy. Logotherapy còn có thể giúp con người vượt qua các bất ổn tâm lý bằng cách tập trung vào việc tìm kiếm và khôi phục ý nghĩa trong cuộc sống.
Trong đời sống, luôn có khoảng trống hiện sinh. Đây chính là trạng thái trống rỗng bên trong và thiếu mục đích, thường biểu hiện qua sự buồn chán, thờ ơ hoặc cảm giác vô nghĩa. Khi con người không thể tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống, họ có thể trải qua “rối loạn tâm lý – mental disorder,” đặc trưng bởi cảm giác vô nghĩa, dẫn đến các vấn đề tâm lý như trầm cảm, nghiện ngập hoặc lo âu.
Với trọng tâm là tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống, Logotherapy có thể hỗ trợ trong quá trình điều trị trầm cảm, nhưng không nên xem nó như là một phương pháp duy nhất hoặc thay thế cho các phương pháp điều trị khác. Đặc biệt trong trường hợp trầm cảm nghiêm trọng, việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ chuyên gia tâm lý học hoặc bác sĩ là cực kỳ quan trọng. Dưới đây là cách bạn có thể áp dụng logotherapy như một phần trong quá trình điều trị trầm cảm:cũng như việc hỗ trợ trong việc giải quyết và vượt qua các bất ổn tâm lý:
Trong trường hợp trầm cảm nặng hoặc kéo dài, logotherapy nên được xử dụng như một phần trong kế hoạch điều trị tổng thể, bao gồm tư vấn từ các chuyên gia tâm lý học, bác sĩ tâm thần, hoặc các phương pháp điều trị khác như thuốc hoặc liệu pháp tâm lý khác. Trầm cảm là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng và cần được điều trị toàn diện và chuyên nghiệp.
- Trị liệu pháp logotherapy có gì gây tranh cãi?
Ngày nay, liệu pháp logotherapy được Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ và Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ công nhận là một trong những trường phái trị liệu tâm lý có cơ sở khoa học.
Rollo May, một nhà phê bình trị liệu pháp logotherapy, tin rằng phương pháp nầy mang tính độc đoán và không cho phép cá nhân khám phá ý nghĩa. Những người khác chỉ trích tính tôn giáo của liệu pháp logotherapy, cho rằng nó chịu ảnh hưởng của tôn giáo Do Thái của Frankl.
Các nguyên tắc cốt lõi của trị liệu pháp logotherapy như sau:”Mỗi người là một con người độc nhất và không thể thay thế, sự tồn tại của họ là điều đặc trưng bởi sự tự do lựa chọn, trách nhiệm cá nhân và tinh thần nhân văn.”
Yếu tố chính là, mỗi người đều có quan điểm riêng, bạn có quan điểm của bạn, họ có quan điểm của họ. Và nếu chúng ta phân tích cả hai quan điểm này, thì mỗi quan điểm đều có vẻ hợp lệ và hợp lý như nhau. Do đó, mục tiêu là không để cuộc chiến trở thành cuộc chiến về quan điểm. Trên thực tế, mục tiêu của chúng ta là tham gia vào một cuộc thảo luận và hiểu được người kia cảm thấy bạn đã làm họ thất vọng ở đâu và tự kiểm tra xem bạn có thể hoàn thành những gì họ mong đợi ở bạn trong một tình huống nhất định hay không.
Người ta có thể nói rằng mỗi khoảnh khắc quyết định quỹ đạo cuộc sống của chúng ta, nhưng trị liệu pháp Logotherapy sẽ nói rằng, cách chúng ta phản ứng với từng khoảnh khắc trong cuộc sống sẽ quyết định cách nó diễn ra. Thật khó để sống với nhận thức này vì thông thường, chúng ta đang ở chế độ “lái tự động” và chúng ta cần ở chế độ đó để thích nghi với cuộc sống.
Trị liệu pháp logotherapy nhấn mạnh rằng có một thứ gì đó vượt ra ngoài con người, đó là sự sống. Nếu con người chọn cách vượt qua và thừa nhận sự hiện diện của một thứ gì đó vượt ra ngoài họ, con người sẽ có một cuộc sống có ý nghĩa.
- Kết luận
Cuộc sống vốn đã bất toàn. Đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống không phải là một chuyện làm dễ dàng, nhứt là trong những lúc tâm trạng bất an, rối bời vì chính cuộc sống mang lại.Làm sao mà hiểu được cái Đẹp trong sự bất toàn trong tinh thần Wabi-sabi của Nhựt? Người viết chỉ nhìn thấy được “cái đẹp” nầy trong vòng 10 năm trở lại đây thôi, nghĩa là tâm thức đã “mù lòa” trong suốt một chặng đường dài trong cuộc sống.
Người viết trong một mãn thời gian thật dài ước chừng khoảng trên dưới 60 năm, đã từng “cứng ngắt” với quan điểm về người “đàn ông” của chính mình, đã từng “cứng rắn” huấn luyện con khi còn rất nhỏ:”Là con trai, không bao giờ để lộ tình cảm của mình trước người khác, không cho ai thấy giọt nước mắt của mình cả, nhứt là trước một người con gái”. Với tinh thần đó, cuộc sống đã quá … khô cằn trong một thời gian … dài!.
Người viết đã từng để lỡ một mái gia đình êm ấm hạnh phúc. Tất cả cũng chỉ vì cái ngã của bản thân. Đã từng từ chối bước xuống tàu trong cơn can qua của đất nước vì muốn đứng trên bàn chân của mình, không lệ thuộc vào người khác, cho dù quyết định trên đã đánh đổi trên 7 năm sống dưới chế độ csBV.
Người viết đã từng “không chịu” quay đầu về núi, khuất phục VC theo lịnh của một người”!
Người viết, với quan niệm không bao giờ “looking back” mà chỉ biết “go forward”, nhưng hôm nay, nhìn lại chính mình khi suy nghĩ về… ý nghĩa đích thực của cuộc sống?
Không có gì mâu thuẫn cả, tất cả chỉ là một tiến trình chuyển hóa của con người theo thời gian mà thôi. Cái tôi, cái ngã, cái “đã từng chạy theo hào quang hào nhoáng” rồi cũng phải nhường chỗ cho bản năng tích thiện trong mỗi con người.
Hôm nay, nhân chia xẻ về việc tìm hiểu và “truy tìm” ý nghĩa của cuộc sống đích thực, đây cũng là lần đầu tiên, với tuổi trên 80, người viết một lần… nhìn lại bản thân.
Tóm lại, nhìn lại bản thân, tức là đã áp dụng những lới khuyên qua logotherapy dưới đây:
- Tìm hiểu về ý nghĩa cá nhân;
- Chấp nhận sự đau khổ;
- Tập trung vào sự tự do lựa chọn;
- Tạo giá trị qua hành động và quan hệ;
- Khám phá các tài liệu của Viktor Frankl.
Đọc các tác phẩm của Viktor Frankl, đặc biệt là cuốn “Man’s Search for Meaning” (Tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời), có thể giúp bạn hiểu sâu hơn về logotherapy và cách áp dụng nó trong cuộc sống hàng ngày.
Điểm mạnh của Logotherapy nằm ở việc tập trung vào ý nghĩa, điều này giúp cá nhân nhìn xa hơn những khó khăn hiện tại và chấp nhận giá trị nội tại của sự tồn tại của họ. Bằng cách tìm kiếm mục đích trong cuộc sống, con người có thể vượt qua đau khổ, nuôi dưỡng sức mạnh bên trong và đạt được sự bình an trong tâm hồn. Dù là qua công việc, các mối quan hệ hay vượt qua nghịch cảnh cá nhân, logotherapy cung cấp một lộ trình để điều hướng những thách thức của cuộc sống bằng cách làm nổi bật sức mạnh biến đổi của ý nghĩa.
Theo lời của Nietzsche, “Người có lý do để sống có thể chịu đựng hầu như bất kỳ hoàn cảnh nào” – “He who has a why to live for can bear almost any how”. Trong Man’s Search for Meaning, Viktor Frankl kể lại những trải nghiệm của mình trong các trại tập trung khác nhau của Đức Quốc xã để giải thích về khám phá của ông về liệu pháp logotherapy. Những lời của Nietzsche cho thấy giọng điệu mà Frankl xử dụng khi giải thích khái niệm trị liệu pháp logotherapy vì nó tóm tắt các trụ cột mà phương pháp nầy dựa trên trong một câu. Frankl định nghĩa trị liệu pháp logotherapy là một khái niệm tâm lý nhằm mục đích trao cho bệnh nhân khả năng nhìn thấy ý nghĩa trong cuộc sống của họ thay vì áp đặt một câu trả lời chắc chắn cho cuộc tìm kiếm của bệnh nhân trong cuộc sống. (Frankl defines logotherapy as a psychological concept that aims to confer the patient the ability to see meaning in their lives rather than imposing a definitive answer to the patient’s quest in life.)
Hy vọng những lời góp nhặt cát đá trên sẽ giúp bạn tiếp cận logotherapy một cách hiệu quả và tìm thấy sự bình yên cũng như ý nghĩa trong cuộc sống của chính mình.
Mai Thanh Truyết, Houston, 14/9/2024
-
SỰ HOÀI NGHI-MERCHANTS OF DOUBT
Mai Thanh Truyết, Houston

Lời người viết: Vừa qua, Elon Musk có nêu tên 6 cuốn sách và khuyên mọi người cần đọc để tìm hiểu thêm về thế giới. Người viết lưu ý đến cuốn Merchants of doubt của Naomi Oreskes, Giáo sư Harvard nghiên cứu về sự liên kết khoa học giữa trái đất và môi trường. Xin mạo muội chia xẻ cùng người đọc vài suy nghĩ cá nhân lẫn “góp nhặt cát đá” trên mạng toàn cầu.
- Về tác giả Naomi Oreskes
Naomi Oreskes, Giáo sư Liên kết Khoa học Trái đất và Hành tinh – Affiliated Professor of Earth and Planetary Sciences tại Đại học Harvard. Các lĩnh vực nghiên cứu chính:
-Agnotology (Thuyết vô thần (?));
– Kinh tế chính trị của Kiến thức khoa học;
– Lịch sử và Triết học của Khoa học Trái đất và Môi trường,
– Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ (STS);
– Lịch sử của Thông tin sai lệch về Biến đổi khí hậu.
Các lĩnh vực quan tâm thứ cấp: Chính sách khoa học, Khoa học và Tôn giáo, Nghiên cứu về Phụ nữ và Giới tinh. Là một nhà khoa học về Trái đất, nhà sử học và diễn giả nổi tiếng thế giới, bà là tác giả của cuốn sách bán chạy nhất, Merchants of Doubt (2010) và là tiếng nói hàng đầu về vai trò của khoa học trong xã hội, thực tế về biến đổi khí hậu do con người gây ra và vai trò của thông tin sai lệch trong việc ngăn chặn hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Oreskes là tác giả hoặc đồng tác giả của 9 cuốn sách và hơn 150 bài báo, tiểu luận và bài bình luận, bao gồm Merchants of Doubt (Bloomsbury, 2010), The Collapse of Western Civilization (Nhà xuất bản Đại học Columbia, 2014), Discerning Experts (Nhà xuất bản Đại học Chicago, 2019), Why Trust Science? (Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2019) và Science on a Mission: American Oceanography from the Cold War to Climate Change (Nhà xuất bản Đại học Chicago, 2021). Merchants of Doubt, đồng tác giả với Erik Conway, là chủ đề của một bộ phim tài liệu cùng tên do đơn vị tham gia Media sản xuất và được SONY Pictures Classics phân phối, và đã được dịch sang chín thứ tiếng. Một phiên bản mới của Merchants of Doubt, với lời giới thiệu của Al Gore, đã được xuất bản vào năm 2020.
Oreskes đã viết Lời giới thiệu cho ấn bản Melville House của Thông điệp của Giáo hoàng về Biến đổi khí hậu và Bất bình đẳng, Laudato Si, và các bài tiểu luận và bài bình luận của bà về biến đổi khí hậu đã xuất hiện trên các tờ báo hàng đầu trên toàn cầu, bao gồm The New York Times, The Washington Post, The Los Angeles Times, The Times (London) và Frankfurter Allgemeine. Nhiều giải thưởng và giải thưởng của bà bao gồm Giải thưởng Mary C. Rabbitt của Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ năm 2019, Giải thưởng Stephen Schneider năm 2016 cho Truyền thông Khoa học Khí hậu xuất sắc, Giải thưởng Dịch vụ Công cộng năm 2015 của Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ, Giải thưởng Herbert Feis năm 2015 của Hiệp hội Lịch sử Hoa Kỳ cho những đóng góp của bà cho lịch sử công cộng và Giải thưởng Trích dẫn của Tổng thống Liên minh Địa vật lý Hoa Kỳ năm 2014 cho Khoa học và Xã hội. Bà là thành viên của Liên đoàn Địa vật lý Hoa Kỳ, Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ, Hiệp hội vì sự tiến bộ của Khoa học Hoa Kỳ, Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Hoa Kỳ và Hiệp hội Triết học Hoa Kỳ. Năm 2018, bà được vinh danh là Học giả Guggenheim và năm 2019, bà được trao tặng Huy chương Viện Hàn lâm Anh.
Cuốn sách mới của bà, cùng với Erik Conway, là The Big Myth: How American Business Taught Us to Loathe Government and Love the Free Market, do Bloomsbury Press xuất bản.
Merchants of Doubt của Naomi Oreskes và Erik M. Conway khám phá cách một nhóm nhỏ các nhà khoa học và chuyên gia, nhiều người trong số họ có liên quan đến ngành công nghiệp thuốc lá, đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự nhầm lẫn và hoài nghi của công chúng xung quanh sự đồng thuận khoa học về một số vấn đề, bao gồm hút thuốc lá, mưa axit, suy giảm tầng ôzôn và biến đổi khí hậu. Cuốn sách nêu bật cách những cá nhân này, thường được các nhóm trong ngành hỗ trợ tài chính, cố tình gieo rắc sự nghi ngờ về các sự kiện khoa học đã được xác lập để bảo vệ lợi ích của công ty.
Nội dung cuốn sách:
Cuốn sách “Merchants of Doubt, tạm dịch: “Thương nhân của sự hoài nghi” của tác giả Naomi Oreskes và Erik M. Conway đã vạch trần chiến dịch tuyên truyền và bóp méo thông tin khoa học của các công ty và tổ chức có lợi ích liên quan đến các vấn đề môi trường và sức khỏe công cộng. Nội dung chính của cuốn sách bao gồm:
- Chiến dịch chống lại khoa học về biến đổi khí hậu: Các tác giả chỉ ra cách các công ty như ExxonMobil và các tổ chức như Viện Hoover đã tài trợ cho các nghiên cứu và tuyên truyền nhằm tạo ra sự hoài nghi về khoa học biến đổi khí hậu.
- Chiến dịch chống lại khoa học về tác hại của thuốc lá: Các tác giả chỉ ra cách các công ty thuốc lá đã tài trợ cho các nghiên cứu và tuyên truyền nhằm tạo ra sự hoài nghi về khoa học về tác hại của thuốc lá.
- Chiến dịch chống lại khoa học về ô nhiễm không khí: Các tác giả chỉ ra cách các công ty và tổ chức đã tài trợ cho các nghiên cứu và tuyên truyền nhằm tạo ra sự hoài nghi về khoa học về ô nhiễm không khí.
- Vai trò của các “thương nhân của sự hoài nghi”: Các tác giả chỉ ra cách các nhà khoa học và các chuyên gia đã được thuê để tạo ra sự hoài nghi về khoa học và tuyên truyền cho các lợi ích của các công ty và tổ chức. Cuốn sách “Merchants of Doubt” đã nhận được nhiều đánh giá tích cực và đã được coi là một trong những cuốn sách quan trọng nhất về khoa học và chính trị trong những năm gần đây.
Sau đây là những ý chính tác giả muốn trang trải:
- Vai trò của các nhà khoa học trong các chiến dịch phủ nhận
Luận điểm chính của cuốn sách là một nhóm các nhà khoa học có ảnh hưởng, thường được các tập đoàn tài trợ, đã sử dụng các chứng chỉ khoa học (scientific credentials) của họ để gieo rắc sự nghi ngờ về những phát hiện khoa học đã được xác lập. Những cá nhân này có thể tác động đến dư luận và chính sách của công chúng bằng cách đưa ra những tranh cãi khoa học ở những nơi không tồn tại. Họ thực sự hành động như những “thương nhân của sự nghi ngờ” để gây nhầm lẫn cho công chúng và các nhà hoạch định chính sách.
2.2- Ảnh hưởng của ngành công nghiệp thuốc lá đến khoa học sức khỏe cộng đồng
Hai tác giả khám phá cách ngành công nghiệp thuốc lá tiên phong trong các chiến thuật này để làm suy yếu sự đồng thuận khoa học liên kết hút thuốc với ung thư và các vấn đề sức khỏe khác. Bằng cách thuê các nhà khoa học để công khai đặt câu hỏi về bằng chứng, ngành công nghiệp thuốc lá đã trì hoãn thành công việc quản lý trong nhiều thập kỷ, mặc dù có bằng chứng khoa học áp đảo về mối nguy hiểm của việc hút thuốc.
- Lợi dụng lòng tin của công chúng vào khoa học
Những “thương nhân của sự nghi ngờ” đã lợi dụng lòng tin của công chúng vào khoa học, sử dụng các chứng chỉ học thuật và kiến thức về phương pháp khoa học của họ để khiến những nghi ngờ về sự đồng thuận khoa học có vẻ hợp lý. Họ sử dụng các chiến lược như chọn lọc dữ liệu, nhấn mạnh vào sự không chắc chắn và thúc đẩy ý tưởng rằng các vấn đề khoa học “vẫn còn để tranh luận”, ngay cả khi phần lớn cộng đồng khoa học đã đạt được sự đồng thuận.
- Mở rộng sự nghi ngờ sang các vấn đề khác
Sau thành công trong vụ thuốc lá, các nhà khoa học này đã mở rộng nỗ lực của mình sang các vấn đề khác về môi trường và sức khỏe cộng đồng, bao gồm:
• Mưa axit: Họ hạ thấp mối liên hệ giữa ô nhiễm không khí và mưa axit, đặt câu hỏi về bằng chứng khoa học và lập luận rằng vấn đề này đã bị cường điệu hóa (overstated).
• Suy giảm tầng ôzôn: Các chiến lược tương tự đã được sử dụng để gieo rắc sự nghi ngờ về tác động của CFC (chlorofluorocarbon) lên tầng ôzôn, mặc dù khoa học ngày càng đồng thuận rằng CFC đang gây ra sự suy giảm tầng ôzôn.
• Biến đổi khí hậu: Cuốn sách cũng nêu bật cách những cá nhân này, hoặc đồng minh của họ, sau đó đã tham gia vào việc gieo rắc sự nghi ngờ về sự đồng thuận khoa học về biến đổi khí hậu. Họ đã sử dụng các chiến thuật tương tự để đặt câu hỏi về bằng chứng về sự nóng lên toàn cầu do con người gây ra, thường coi đó là không chắc chắn hoặc phóng đại.
- Động cơ chính trị và ý thức hệ
Hai tác giả lập luận rằng nhiều “thương nhân nghi ngờ” này được thúc đẩy bởi một ý thức hệ chính trị phản đối quy định của chính phủ và tìm cách bảo vệ các nguyên tắc thị trường tự do. Họ thường liên kết với các nhóm nghiên cứu bảo thủ và các nhóm chính trị phản đối sự can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh doanh. Trong nhiều trường hợp, các chiến dịch phủ nhận của họ không chỉ liên quan đến khoa học mà còn liên quan đến việc bảo vệ một chương trình nghị sự chính trị và kinh tế cụ thể.
- Mối nguy hiểm của thông tin sai lệch
Oreskes và Conway nhấn mạnh rằng việc truyền bá sự nghi ngờ và thông tin sai lệch đã gây ra hậu quả thực tế. Bằng cách làm suy yếu lòng tin của công chúng vào khoa học, các chiến dịch này đã trì hoãn hành động chính sách cần thiết về các vấn đề môi trường, bao gồm quy định về thuốc lá, kiểm soát ô nhiễm và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Điều này đã gây hại cho sức khỏe cộng đồng và môi trường và làm chậm trễ các nỗ lực giải quyết các thách thức toàn cầu cấp bách.
- Hậu quả lâu dài của sự nghi ngờ
Cuốn sách thảo luận về cách những nỗ lực của những thương nhân nghi ngờ này đã gây ra những tác động lâu dài như thế nào đối với chính sách công và truyền thông khoa học. Nó chỉ ra rằng các chiến thuật mà họ sử dụng vẫn tiếp tục được các nhóm công nghiệp và nhóm lợi ích sử dụng ngày nay, đặc biệt là trong cuộc tranh luận về biến đổi khí hậu, nơi các chiến lược tương tự vẫn được sử dụng để ngăn chặn các hành động có ý nghĩa.
Tóm lại, Merchants of Doubt tiết lộ cách một nhóm cá nhân nhỏ nhưng có quyền lực, được hỗ trợ bởi các lợi ích của công ty, đã có hệ thống đánh lừa công chúng về các vấn đề khoa học để bảo vệ lợi ích kinh doanh. Cuốn sách đóng vai trò:
- Như một câu chuyện cảnh báo về những nguy cơ của việc thao túng khoa học và dư luận, thúc giục độc giả chỉ trích các chiến dịch tìm cách gieo rắc sự nghi ngờ về các sự kiện khoa học vì lý do ý thức hệ hoặc tài chính.
- Đồng thời, nó cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tin tưởng vào cộng đồng khoa học và việc ra quyết định dựa trên bằng chứng vì lợi ích của xã hội.
- Cuốn sách có thể có ý định cảnh báo thế giới không?
Đúng. Merchants of Doubt của Naomi Oreskes và Erik M. Conway có thể nhắm tới mục đích xa là cảnh báo thế giới về mối nguy cơ tiềm ẩn của một số khoa học gia muốn “bẽ lái” dư luận theo chiều hướng khoa học (?) phù hợp với những tập đoàn kỹ nghệ của phe nhóm thích hợp. Cuốn sách là một phân tích phê phán về cách một số cá nhân, nhiều người có quan hệ với các lợi ích của công ty và chính trị, đã cố tình phát tán thông tin sai lệch và gây nghi ngờ về những phát hiện khoa học đã được xác lập để bảo vệ chương trình nghị sự kinh tế hoặc ý thức hệ của họ. Mục đích chính của nó là làm nổi bật các chiến thuật được sử dụng bởi những “thương nhân nghi ngờ” này và tác động tiêu cực của họ đối với sự hiểu biết của công chúng về các vấn đề khoa học quan trọng, chẳng hạn như hút thuốc lá, mưa axit, suy giảm tầng ozon và biến đổi khí hậu.
- Trọng tâm của cuốn sách:
Cuốn sách không đề xuất một trật tự thế giới mới hoặc một phương pháp kiểm soát các vấn đề toàn cầu. Thay vào đó, nó tập trung vào cách một số cá nhân và nhóm nhất định đã lợi dụng lòng tin của công chúng vào khoa học để trục lợi cho riêng mình hay cho phe nhóm mình, thường sử dụng các động cơ chính trị và kinh tế.
Nó cung cấp một bản tường trình lịch sử về cách những “thương nhân của sự nghi ngờ” này đã nhiều lần làm suy yếu sự đồng thuận khoa học để trì hoãn hoặc ngăn chặn các quy định của các chính phủ có thể gây hại cho lợi ích của các tập đoàn, chẳng hạn như ngành công nghiệp thuốc lá hoặc các công ty nhiên liệu hóa thạch.
Oreskes và Conway sử dụng các ví dụ lịch sử để chỉ ra cách những nỗ lực này tác động đến chính sách công và hành động toàn cầu về các vấn đề quan trọng, chẳng hạn như rủi ro sức khỏe liên quan đến hút thuốc và biến đổi khí hậu.
Merchants of Doubt không phải là về việc kiểm soát thế giới mà là về việc tiết lộ những thế lực hùng mạnh đã tác động đến dư luận và chính sách của công chúng bằng cách gieo rắc sự nghi ngờ về khoa học. Mục đích của nó là giáo dục độc giả về tầm quan trọng của tính toàn vẹn khoa học và những rủi ro khi cho phép các lợi ích về mặt ý thức hệ hoặc doanh nghiệp định hình sự hiểu biết của công chúng về những sự kiện ảnh hưởng đến sức khỏe toàn cầu và môi trường.
- Tại sao Elon Musk giới thiệu cuốn sách này cho độc giả? Và mục đích của ông là gì?
Việc Elon Musk nhắc đến Merchants of Doubt có thể phục vụ cho mục đích chiến lược phù hợp với sở thích rộng hơn của ông về công nghệ, các vấn đề môi trường và sự hoài nghi về thông tin sai lệch. Musk nổi tiếng với quan điểm thẳng thắn về nhiều chủ đề, bao gồm biến đổi khí hậu, năng lượng tái tạo và vai trò của sự đồng thuận khoa học. Mặc dù không thể suy đoán động cơ chính xác của Musk khi giới thiệu cuốn sách này, nhưng có một số lý do được phác thảo thiết nghĩ hợp lý tại sao ông ta có thể giới thiệu nó cho độc giả. Đó là:
5.1- Làm nổi bật mối nguy hiểm của thông tin sai lệch và thao túng phương tiện truyền thông: Merchants of Doubt vạch trần cách các nhóm lợi ích hùng mạnh (thường có liên quan đến các tập đoàn) đã thao túng diễn ngôn khoa học để trì hoãn hành động đối với các vấn đề quan trọng như sử dụng thuốc lá, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Musk, một người ủng hộ mạnh mẽ cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu thông qua các công nghệ như xe điện (thông qua Tesla) và năng lượng mặt trời (thông qua SolarCity), có thể đang thu hút sự chú ý đến các chiến thuật được sử dụng bởi các nhóm trước đây đã hạ thấp hoặc phủ nhận khoa học về biến đổi khí hậu, cũng như những nhóm truyền thông khuynh tả truyền đạt những tin tức sai sự thật trong những ý định chính trị của phe nhóm.
Bằng cách giới thiệu cuốn sách, Musk có thể muốn nhấn mạnh đến những nguy cơ của thông tin sai lệch và cách các ngành công nghiệp, đặc biệt là các công ty nhiên liệu hóa thạch, đã sử dụng các chiến thuật tương tự để tạo ra sự nghi ngờ về biến đổi khí hậu, giống như các công ty thuốc lá đã làm liên quan đến rủi ro sức khỏe do hút thuốc.
5.2- Ủng hộ việc ra quyết định dựa trên bằng chứng
Musk là người ủng hộ mạnh mẽ việc ra quyết định dựa trên bằng chứng trong cả kinh doanh và chính sách. Bằng cách tham khảo Merchants of Doubt, ông có thể củng cố niềm tin của mình rằng sự đồng thuận khoa học nên hướng dẫn các quyết định chính sách, đặc biệt là về các vấn đề quan trọng như tính bền vững của môi trường và đổi mới công nghệ. Việc khám phá cách các ngành công nghiệp có thể thao túng nhận thức của công chúng có thể đồng điệu với sự nhấn mạnh của Musk về sự đổi mới giải quyết các vấn đề trong thế giới thực, đặc biệt là về năng lượng và khí hậu.
5.3- Khuyến khích tư duy phản biện và hoài nghi
Musk nổi tiếng với việc ủng hộ tư duy phản biện và thách thức hiện trạng, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp như hàng không vũ trụ, ô tô và năng lượng. Bằng cách tham khảo một cuốn sách tiết lộ cách một số nhà khoa học và nhóm ngành cố tình tạo ra sự nhầm lẫn xung quanh các sự kiện khoa học, Musk có thể đang khuyến khích những người theo dõi và độc giả của mình suy nghĩ phản biện về thông tin mà họ tiếp nhận. Điều này phù hợp với cách tiếp cận của Musk trong việc đặt câu hỏi về các chuẩn mực đã được thiết lập và thúc đẩy các cách tiếp cận minh bạch hơn, dựa trên thực tế để giải quyết vấn đề.
5.4- Liên kết lợi ích của doanh nghiệp với các vấn đề môi trường
Musk đã chỉ trích mạnh mẽ các ngành công nghiệp mà theo quan điểm của ông, ưu tiên lợi nhuận hơn tính bền vững lâu dài. Bằng cách đề cập đến Merchants of Doubt, Musk có thể đang vẽ ra sự tương đồng giữa các chiến thuật lịch sử mà các tập đoàn sử dụng để bảo vệ lợi ích tài chính của họ (như các công ty thuốc lá hoặc ngành công nghiệp nhiên liệu hóa thạch) và nhu cầu thay đổi các chính sách toàn cầu hướng tới năng lượng sạch hơn và tính bền vững. Ông có thể muốn độc giả nhận ra các lợi ích của doanh nghiệp có thể làm suy yếu các nỗ lực giải quyết các vấn đề cấp bách như biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường.
5.5- Định vị bản thân là Nhà vô địch của Tiến bộ và Đổi mới
Việc Musk tham khảo cuốn sách này cũng có thể là một cách định vị bản thân là người ủng hộ tiến bộ, đổi mới và tính toàn vẹn khoa học. Bằng cách thu hút sự chú ý đến những cách mà thông tin sai lệch và sự nghi ngờ đã được sử dụng để cản trở tiến bộ, ông có thể củng cố ý tưởng rằng các công ty của mình (như Tesla, SpaceX và Neuralink) đang tiến về phía trước với mục tiêu giải quyết những thách thức lớn nhất của nhân loại. Trong bối cảnh này, việc giới thiệu Merchants of Doubt đóng vai trò như một lời kêu gọi hành động để mọi người nhận ra tầm quan trọng của sự đổi mới và lòng tin vào khoa học.
5.6- Giải quyết cuộc tranh luận về biến đổi khí hậu
Với cam kết của Musk trong việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, việc tham chiếu đến Merchants of Doubt có thể là một nỗ lực nhằm làm nổi bật những cách thức mà sự phủ nhận biến đổi khí hậu đã được những người có ảnh hưởng với các lợi ích cố hữu truyền bá. Nội dung của cuốn sách về sự phủ nhận biến đổi khí hậu phù hợp với những nỗ lực của Musk nhằm chống lại tình trạng nóng lên toàn cầu thông qua việc phát triển các công nghệ bền vững. Bằng cách giới thiệu cuốn sách này, Musk có thể đang cố gắng vạch trần cách thức một số lợi ích nhất định hoạt động để che giấu sự thật về biến đổi khí hậu và tầm quan trọng của việc chuyển đổi sang năng lượng sạch.
- Kết luận
Từ một cậu bé con trong thời gian học tiểu học, cuộc đời của cậu Musk bắt đầu quan tâm đến máy tính và tự học cách lập trình. Khi 12 tuổi, Musk đã phát triển trò chơi của riêng mình có tên là Blastar và bán được với giá 500 đô la. Anh thường đắm chìm trong mơ mộng về những phát minh đến nỗi cha mẹ và bác sĩ đã yêu cầu kiểm tra thính giác của anh.
Cậu bé thấp bé, hướng nội và ham đọc sách này đã bị bắt nạt cho đến năm 15 tuổi. Vào thời điểm đó, anh đã trải qua một đợt tăng trưởng đột biến và học cách tự vệ bằng karate và đấu vật. Anh vẫn tiếp tục luyện võ khi trưởng thành. Vào năm 17 tuổi, năm 1988, Elon chuyển đến Canada bất chấp mong muốn của cha mẹ để theo học đại học và tránh nghĩa vụ quân sự bắt buộc trong quân đội Nam Phi. Anh đã có quốc tịch Canada vào năm đó, một phần vì anh cảm thấy sẽ dễ dàng hơn để có được quốc tịch Hoa Kỳ thông qua con đường đó. Elon chuyển đến Hoa Kỳ vài năm sau đó và chính thức trở thành công dân Hoa Kỳ vào năm 2002.
Ngoài công việc và cuộc sống gia đình, Musk còn là một người chơi trò chơi điện tử cuồng nhiệt. Nhà viết tiểu sử Walter Isaacson, người đã công bố một tài khoản được ủy quyền về cuộc đời của Musk vào năm 2023, thậm chí còn phân loại sở thích này là một “cơn nghiện”. Ông là một người hâm mộ lớn của Elden Ring, mà trước đây ông gọi là “tác phẩm nghệ thuật đẹp nhất mà tôi từng thấy”.
Quyển sách “Tiểu sử của Isaacson về Musk” từng là cuốn sách bán chạy nhất của New York Times, hiện đang trong quá trình trở thành phim tiểu sử. Đạo diễn Darren Aronofsky đã tham gia vào bộ phim. “Thật vui vì Darren đang làm điều đó”, Musk chia sẻ trên mạng xã hội sau khi tin tức về dự án này nổ ra vào cuối năm 2023. “Anh ấy là một trong những người giỏi nhất”.
Thế mà, việc Musk giới thiệu Merchants of Doubt có thể phản ảnh mong muốn của ông trong việc thúc đẩy tầm quan trọng của tính chính trực khoa học, mối nguy hiểm của thông tin sai lệch và nhu cầu ra quyết định dựa trên bằng chứng trong việc giải quyết các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu. Ông cũng có thể đang cố gắng làm nổi bật các chiến thuật mà các tập đoàn sử dụng để thao túng dư luận và trì hoãn hành động cần thiết đối với các vấn đề quan trọng. Cuối cùng, mục đích của ông có thể là khuyến khích người đọc suy nghĩ phản biện, nhận ra tác động của thông tin sai lệch và ủng hộ các chính sách dựa trên bằng chứng khoa học đáng tin cậy.
Alon musk, Ông là ai mà có những viễn kiến như vậy?
Và quyển sách Merchants of Doubt phải chăng sẽ là tiếng chuông cảnh tỉnh những bước chân lạc loài của “các nhà khoa học có định hướng”?
Mai Thanh Truyết, Houston, Ngày Chúa Chào Đời – 12-24-2024
-
WABI SABI – TRIẾT LÝ CỦA SỰ BẤT TOÀN
Knowing yourself is the beginning of all wisdom – Biết chính mình là điều khởi đầu cho trí tuệ. Aristotle

Kính dâng và tưởng nhớ GS Nguyễn Văn Trường, người luôn luôn tôn trọng và chấp nhận tất cả những bất toàn trong cuộc sống của người viết…
Wabi-Sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén. Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh. Các chén cổ trong phòng khách của bạn được đánh giá cao vì những vết nứt và sứt mẻ của nó?
Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách “phát giải thưởng” những bất toàn, vết nứt trong lòng và những khiếm khuyết trong cuộc sống lộn xộn của chúng ta?
- Khái niệm về Wabi-Sabi – Tại sao sự hoàn hảo là mục tiêu sai lầm
Wabi-Sabi (侘 寂) là một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu là sự chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ.
Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi của suốt cuộc đời bạn, việc theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!
Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…
Để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như: trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận.
Thực sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa? Do đó, sẽ còn những cái nhứt tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra. Tuy nhiên, nơi hoàn hảo nhứt đối với sự đổi mới là gì? Trong một thế giới hoàn hảo, những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến cơ hội không hoàn hảo!
Nếu chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời – nhưng cần phải mất một thập kỷ để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên được thực hiện để hành động như thể nó là hoàn hảo.
Chúng ta cần các số liệu mới, các quy trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng các căn bản hạ tầng để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới quan của mình. Chúng ta không chỉ phải thay đổi cách chúng ta nghĩ, mà là những gì chúng ta tin. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi mới trong ta.
Vài ý nghĩa của Wabi-sabi – Lối sống wabi sabi là gì?
Nguồn gốc của wabi-sabi xuất phát từ Thiền tông, có nghĩa là có một khía cạnh tâm linh quan trọng đối với nó. Wabi xuất phát từ gốc “wa” có nghĩa là hòa hợp, hòa bình, yên bình và cân bằng. “Sabi” có nghĩa là “sự nở rộ của thời gian“.
Nghệ thuật nhiếp ảnh Wabi-sabi là gì?
Wabi-sabi dành cho nhiếp ảnh gia. … Đơn giản chỉ cần đặt: “Wabi-sabi” là thẩm mỹ Nhật Bản Zen về vẻ đẹp của sự không hoàn hảo, vô thường, và tự nhiên”. Nếu bạn có một chiếc quần jean yêu thích đã “dính” vào cơ thể của bạn trong những năm dài đằng đẵng, đó là “wabi-sabi“.
Thẩm mỹ Nhật Bản là gì?
Thẩm mỹ Nhật Bản là một tập hợp các lý tưởng cổ xưa bao gồm wabi (vẻ đẹp thoáng qua và rõ rệt), sabi (vẻ đẹp của sự tự nhiên và thời gian), và yūgen (ân sủng sâu sắc và tinh tế). Những ý tưởng này, và những ý tưởng khác, nhấn mạnh đến nhiều tiêu chuẩn văn hóa và thẩm mỹ của Nhật Bản về những gì được coi là trang nhã và ôn nhu.
Phong cách Wabi-sabi là gì?
Trong tính thẩm mỹ truyền thống của Nhật Bản, wabi-sabi (侘 寂) là quan điểm của thế giới tập trung vào việc chấp nhận sự thoáng qua và không hoàn hảo. Thẩm mỹ đôi khi được mô tả là một trong những vẻ đẹp “không hoàn hảo, vô thường và không đầy đủ”.
- Hãy rời xa “hoàn hảo”
Các bạn hình dung trong một thời điểm nào đó, khi con cái của bạn còn trong thời kỳ tuổi thơ, chập chững trong các lớp thời tiểu học. Mỗi lần tan trường về, chúng lượm những lá cây khô, một vài hòn sỏi có góc cạnh “đẹp đẹp”. Đối với chúng, những vật thể trên rất quý giá, được chúng nâng niu, ít nhứt là trong một khoảnh khắc nào đó. Từ đó, bạn có thể nghĩ là, đó là những kho báu của chúng qua những kết cấu, hình dạng và màu sắc đặc biệt của các vật thể trên, mỗi thứ độc đáo mỗi vẽ. Vì vậy, điều kỳ diệu chỉ là cung cách chúng đang có, chỉ vậy thôi!
Trong cuộc sống và văn hóa Nhựt, “sự đơn giản” thường là hình thức bề ngoài cho một cuộc sống đã được tổ chức tỉ mỉ, tính toán cho sự hoàn hảo. Người Nhựt thường được dạy từ nhỏ trong gia đình, là cố gắng tối đa để làm cho tốt nhất, sáng nhất, và phi thường nhất.
Nhưng cái gì có thể nguyên thủy đơn giản hơn là chấp nhận? (But what could be more radically simple than acceptance?)
- Wabi-Sabi chào mừng bạn đang chia sẻ một ấm trà với bạn bè. Nó đang chuẩn bị thức ăn ngon để nuôi dưỡng, không phải để thể hiện. Nó giữ một giỏ dép ấm cúng ở cửa cho khách. Đó là bộ khăn trải giường đã mài mòn, bó hoa của cành cây được bó lại, muỗng nĩa không cùng bộ và chén bát gia truyền truyền với tinh thần của các bữa ăn được phục vụ với tình thương yêu.
- Richard Powell, tác giả của “Wabi Sabi Simple” nhận định: “Chấp nhận thế giới là không hoàn hảo, chưa hoàn thành, và thoáng qua, và sau đó đi sâu hơn và tung hê thực tế đó, cũng giống như sự tự do.” (“Accepting the world as imperfect, unfinished, and transient, and then going deeper and celebrating that reality, is something not unlike freedom”).
Do đó, ý tưởng từ bỏ “hoàn hảo” và thậm chí “đủ tốt” (good enough) không thể cưỡng lại sự hấp dẫn trong cuộc sống, thí dụ như các dấu vân tay, vết sẹo trên thân thể và những đường “xếp” trên mặt khi chúng ta cười. Tất cả hoàn toàn không hoàn hảo, và mỗi người trong chúng ta đều có thể ngắm lấy vẻ đẹp không hoàn hảo trong đó.
Nhìn về phía Đông
Wabi-sabi đại diện cho sự chấp nhận sự bất toàn (imperfection). Khái niệm này có nguồn gốc từ giáo lý Phật giáo và bao gồm việc công nhận sự bất đối xứng, bất thường, và khiêm tốn như các thuộc tính của sắc đẹp tùy theo nhản quan của mỗi người.
Từ thế kỷ thứ 15, người Nhật đã cũng nghĩ ra một nghệ thuật tên là Kintsugi (hoặc Kintsukuroi), có nghĩa là “sửa chữa vàng“. Nghệ thuật Nhật Bản sửa chữa đồ gốm bị phá vỡ với một sơn mài đặc biệt phủ bột vàng, bạc, hoặc bạch kim. Các đường nối vàng rực rỡ trong các vết nứt của đồ gốm, tạo ra một ngoại hình độc đáo cho mảnh ghép.
Phương pháp sửa chữa bảo tồn kỷ niệm lịch sử độc đáo của mỗi tạo tác bằng cách nhấn mạnh lịch sự “gãy xương” và bị phá vỡ của nó, thay vì che giấu hoặc ngụy trang những nét gẩy. Kintsugi thường làm cho mảnh được sửa chữa thậm chí đẹp hơn bản gốc, làm sống lại nó với cuộc sống mới.
Nhửng kỹ thuật này họ học từ thiền học, cái cũ và cái mới có thể sống chung với nhau để tạo nên cái gì đẹp hơn.
Trong một ý nghĩa rất thực tế, ý tưởng của wabi-sabi mời gọi người xem xét sự không hoàn hảo – một vết lõm trong một cái chén đồng hoặc một vết nứt trong một bình thủy tinh – hay những nét đổ nát qua thời gian của bức tượng Phật.
Tất cả như là một vật thể có giá trị.

Ý tưởng ôm lấy sự không hoàn hảo hoàn toàn là cái nhìn ngược lại của chúng ta có trong thế giới Tây phương.
Và như vậy, khi bạn chiêm nghiệm để tạo ra một nền văn hóa của sự đổi mới – để truyền cảm hứng cho những người tốt nhất và sáng nhất của bạn để đổi mới – biết rằng trước tiên bạn phải khuyến khích việc theo đuổi sự không hoàn hảo. Điều này không có nghĩa là chấp nhận thất bại. Nó có nghĩa là để nắm bắt học tập. Các nhà sáng tạo không có ý định thất bại từ ban đầu. Họ quyết định học hỏi, tìm tòi. Họ sử dụng sự không hoàn hảo như một phương tiện để kiểm tra các giả định của họ về những gì có thể. Và một ngày nào đó, họ sẽ có một sản phẩm hoàn hảo vào thời điểm đó.
- Robabi Griggs Lawrence, tác giả của cuốn sách “Bất toàn đơn giản: Xem xét lại ngôi nhà Wabi-Sabi” (Simply Imperfect: Revisiting the Wabi-Sabi House), trong đó, nếu một cái rương cũ có ý nghĩa với bạn, hay một ngăn kéo của bàn viết của bạn bị mất đi, thì những điều đó không nhất thiết phải là một chướng mắt. Nó cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy các mãnh (có vết tích trên) đã được xử dụng và rất được ưa thích. Utsukushii, một từ ngữ tiếng Nhật có ý nghĩa là cho “đẹp“, đã xuất phát từ ý nghĩa ban đầu là “được yêu.”
- Hãy suy nghĩ về màu sắc có trong tự nhiên: xanh, xám, tông màu đất và rỉ sét. Điều này tạo ra một bầu không khí yên bình và hài hòa. Wabi-sabi không có nghĩa là ôm lấy sự lộn xộn, mà là “có suy nghĩ và làm việc đằng sau nó, không bỏ bê.” Một ấm trà tinh tế không thể tỏa sáng nếu nó được nằm trong một tủ chất chứa đầy nghẹt những những vật thể khác; mà là bạn phải cần chuẩn bị một không gian để bạn có thể cho nó đứng riêng và thực sự đánh giá cao nó mỗi khi bạn đi qua đi lại. Mọi đồ vật trong nhà bạn phải đẹp, hữu ích, hoặc cả hai trong cái nghĩa wabi-sabi của bạn!
Sự chào đón sự không hoàn hảo này trong cuộc sống của bạn là trọng tâm của khái niệm wabi-sabi của Nhật Bản, có nghĩa là “vô thường, không hoàn hảo và không đầy đủ.” Từ này xuất phát từ hai từ riêng biệt. “Wabi” mô tả sự sáng tạo của vẻ đẹp hoàn hảo thông qua việc bao gồm các loại hoàn hảo đúng, chẳng hạn như một bất đối xứng trong một chén sứ thủ công (tương phản với độ chính xác của chén làm bằng máy). “Sabi” phản ánh loại vẻ đẹp phát triển theo độ tuổi, chẳng hạn như sự xuất hiện của quá trình oxy hóa bề mặt của một bức tượng đồng.
Thông thường, wabi-sabi được áp dụng cho các nguyên tắc thiết kế, chẳng hạn như tạo không gian sống để tránh các phòng khách trùng hợp với nhau vào những năm 1940 hoặc ’50. Điều này bao gồm tập trung vào các loại không đối xứng bạn sẽ tìm thấy trong tự nhiên – ghế bằng gỗ thủ công, sự rủ xuống tự nhiên của một cánh hoa khô trong một chiếc bình hoặc một chiếc túi da mòn đã được đi theo bạn trong suốt một thời gian dài.
Nhưng không phải tất cả wabi-sabi đều có chủ ý. Thiên nhiên là nguồn tốt nhất của thẩm mỹ wabi-sabi. Và khi bạn hòa hợp với thế giới bên ngoài, bạn bắt đầu thấy wabi-sabi ở những nơi khó xảy ra nhất. Đó là:
- Các vết nứt trong vỏ cây, một dấu hiệu của sự trưởng thành khỏe mạnh;
- Hoặc các vết nứt cằn cỗi trên khuôn mặt của chúng ta khi chúng ta già đi;
- Hoặc nét mặt rám nắng, tự tin khi chúng ta đạt được sự khôn ngoan trên suốt quảng đường dài;
- Và, Krishnamurti đi sâu hơn, nói rằng linh hồn chúng ta đều được cấu thành bằng cùng một loại giấy báo, xuất phát từ các nếp gấp trong bài báo và qua thời gian từ từ được gấp lại thành những nếp và khi mở ra, thì đó là những trải nghiệm của chính bạn.
Rốt ráo lại:
Hãy rung những chuông vẫn còn có thể rung
Hãy quên đi lời đón mời hoàn hảo của bạn
Trong mọi thứ đều có vết rạn nứt
Đó là cách ánh sáng len vào”
Leonard Cohen
(Ring the bells that still can ring
Forget your perfect offering
There’s a crack in everything
That’s how the light gets in.
Leonard Cohen
Hiện tại
Kết luận trong đời thường là:
- Ngày hôm nay chúng ta không còn thấy cần thiết phải lấy tư tưởng về giáo dục, luân lý, những lời giảng dạy của Khổng Tử làm mẩu mực trong cuộc sống nữa;
- Cũng không còn là lúc bình luận chiến lược, chiến thuật …đánh nhau qua các thế trận của …Binh pháp Tôn Tử nữa!
Chính vì vậy mà con người và Đất Nước Việt phải chịu sự trì trệ biết bao thế hệ, đặc biệt trong chiều dài lịch sử trong suốt hơn 45 năm qua.
Vì vậy,
- Chúng ta cần phải áp dụng ý tưởng dân tộc từ tiền nhân để lại cộng thêm chiều hướng đổi mới của dòng lịch sử dân tộc để tiến đến sự toàn hảo trong cái bất toàn của trời đất.
- Và một người bạn trên mạng đã góp ý như sau:” Nếu nói về sự ‘không hoàn hảo’ thì có thể lấy ngay trường hợp Việt Nam Cộng Hòa làm ví dụ là rất phù hợp. Nước VNCH từng nức tiếng là Hòn Ngọc Viễn Đông tức là VNCH là một đất nước xinh đẹp, tự do, phồn thịnh rồi, phải không ạ? Trước khi bị CS cướp nước, cũng có nhiều điều tiếng này nọ chê bai, chỉ trích nền Tự do, Dân chủ và các vị lãnh đạo của Nước VNCH. Nhưng đến hôm nay, sau mấy mươi năm nhìn lại, thì cũng chính các vị chê bai đấy, kể cả các vị từng ‘Ăn cơm Quốc gia, thờ ma CS’, thì hầu hết đều nhìn nhận Nước VNCH dù “không hoàn hảo” nhưng đã rất đẹp, rất Tự do, Dân chủ đấy sao??!!”
Xin hãy chấp nhận sự bất toàn của dân tộc để làm kim chỉ nam cho những hướng mới trong việc mưu tìm sự toàn bích trong cái bất toàn…
Mai Thanh Truyết–20-12-2020
-
Mười Năm Hoàng Hạc

Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, võ sư sáng lập Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc, qua đời vào lúc 10 giờ 15 phút sáng Thứ Tư, 30 Tháng 11, 2022, tại bệnh viện MemorialCare Orange Coast Medical Center, Fountain Valley, hưởng thọ 79 tuổi.
”Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc có bốn nguyên tắc căn bản mà những môn tập khác không có. Đó chính là: “BẤM, VÒNG, VƯƠN, BUÔNG”. Chính bốn nguyên tắc này, áp dụng vào những thế tập, giúp cho bạn đốt được năng lượng dư thừa, làm cho bắp thịt bạn săn chắc, giúp cho bạn giảm bớt đau nhức, khỏe mạnh hơn, không mang lại những nguy hiểm, giới hạn kể trên, mà còn giúp cho tinh thần của bạn được thanh thản, sảng khoái, điềm tĩnh, vui vẻ và yêu đời hơn.
1. Bấm: mười ngón chân luôn bấm xuống đất khi tập Hoàng Hạc. “Bấm”, phối hợp với “vươn” sẽ tiêu bớt đi những mỡ thừa trên cơ thể bạn, đồng thời tạo cho các bắp thịt thêm săn chắc. Có nhiều bạn còn khá trẻ, khi mới gia nhập Hoàng Hạc thường hay bị đau đầu gối, chân nặng, không co hoặc nhấc chân lên được. Khi bước đi, đầu gối còn phát ra những tiếng “pop”. Sau một thời gian tập “bấm” theo lời Bs Phạm-gia Cổn, sáng lập viên TDKCHH hướng dẫn, những vị này không còn thấy đau nữa, đầu gối không còn phát tiếng khi di chuyển. Đơn giản vì những thế bấm giúp các bắp thịt ở chân trở nên rắn chắc hơn, các khớp được cử động nhẹ nhàng, mang lại tính uyển chuyển đến khớp và cơ bắp, làm giảm đau nhức. Tốt hơn nữa là những vị này bây giờ lại có thể mang giầy cao gót một cách vô cùng thoải mái.
2. “Vòng”: Những thế vòng cổ tay và các ngón tay. Các thế vòng này giúp giảm nhức mỏi các ngón tay, cổ tay, vai và khuỷu tay. Thực tế có nhiều người, vì công việc làm hàng ngày phải dùng máy vi tính nhiều, bị chứng đau nhức cổ tay và tê các ngón tay. Chỉ sau một thời gian ngắn tập những thế vòng, chứng đau nhức này đã không còn nữa.
4. “Buông”: Buông lỏng cả người, từ tinh thần đến thể chất, buông lỏng vai. Thế nàygiúp bạn buông xả, thanh thản trong tĩnh lặng.
Bốn nguyên tắc “Bấm, Vòng, Vươn, Buông” đã được Bs Phạm-Gia Cổn ghép vào thành bài tập căn bản 7 thế giản dị. Bài 18 và 64 thế phức tạp hơn. Tất cả được thực tập một cách thật tự nhiên, khoan thai và liên tục, tạo nên những bài tập nhịp nhàng, hữu hiệu và đẹp mắt.”
Và với những chia xẻ với Bác sĩ Dương Đức Huyên khi phát biểu về ý nghĩa của khí công Hoàng hạc do Bs Phạm Gia Cổn chủ trương:”TDKC Hoàng Hạc là phương pháp phối hợp Y-Võ-Nhạc, mục đích giúp duy trì, bồi dưỡng sức khỏe con người trên 3 phương diện “Tinh Thần, Thể Chất và Xã Hội” với lối tập nhẹ nhàng và liên tục không phải chỉ là những thế đánh võ. Do đó không cần thiết đặt tên các từng thế một”.
Với cảm khái mới đặt tên từng thế để diễn tả “tình cảm”, “nghĩa tình” gắn bó với nhau, Hoàng hạc đã thi vị hóa từng mỗi thế luyện tập phần trung cấp qua 18 thế, tiếp theo sau phần 7 thế sơ cấp đã nêu ở phần trên:
Thế 1: Khung trời bao la
2: Hoàng hạc tung cánh
3: Trao tặng cánh hoa
4: Tình yêu lứa đôi
5: Khai song vọng nguyệt
6: Nhấn mạnh nghĩa tình
7: Vòng tay thân ái
8: Song đôi sánh bước
9: Trao tặng cuộc đời
10: Thiên địa chứng giám (a)
11: Thiên dịa chứng giám (b)
12: Xoa tai vuốt tóc (a)
13: Xoa tai vuốt tóc (b)
14: Tay phải yêu thương
15: Tay trái mặn nồng
16: Dắt tay du ngoạn
17: Hạnh phúc lứa đôi
18: Khắng khít trọn đời
Mới đây mà đã mười năm qua. Bs Phạm Gia Cổn, một người bạn thời trung học LPK lại gọi và “ra lệnh” cho tôi phải viết bài cho Đặc san Kỷ niệm Mười năm Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc. Tôi cũng là một thành viên trong những ngày đầu ngay sau khi bạn Cổn phát động phong trào Hoàng Hạc nầy tại trụ sở của võ đường Hapkido nằm ở góc đường Hazard và Magnolia, thành phố Westminster.
HH Đỗ Hải Minh – HH Nguyễn Văn Bon (Melbourne, Úc) – HH Chưởng môn Phạm Gia Cổn – HH Bùi Trọng Cường, Brisbane, Úc – HH Mai Thanh Truyết – 7/2016
Riêng cho năm nay, kỷ niệm mười năm làm tôi liên tưởng đến một bài hát của nhạc sĩ Trần Quảng Nam, bản “Mười năm tình cũ”. Nhưng tôi thấy nơi đây, nơi các Hoàng hạc gặp nhau ngày thứ bảy, chủ nhựt không thấy gì …là mười năm tình cũ, mà mỗi lần gặp nhau, thấy mặt nhau là niềm vui rạng rỡ trên môi mọi người. Chúng tôi, Hoàng hạc Houston gặp nhau tại Trung tâm cộng đồng Alief của thành phố Houston trong một phòng rộng có máy lạnh dùng để sinh hoạt, và một trung tâm thứ hai của Thể dục Hoàng hạc đặt trong Lạc Hồng, một trung tâm chăm sóc sức khỏe cho người cao niên.
Niềm vui đến từ mỗi thành viên của Hoàng Hạc là ngoài việc tập luyện ra, chúng tôi cùng chia sẻ với nhau rất nhiều chuyện, và bất cứ chuyện gì cũng là một câu chuyện tích cực từ việc thăm hỏi lẫn nhau giữa các thành viên hoàng hạc cho đến những trao đổi về việc vận hành của Đất và Nước của quê hương Việt. Từ câu chuyện dường như phép lạ của một hoàng hạc từ đi đứng khó khăn nay trở nên dễ dàng hơn, đến câu chuyện của một Hoàng Hạc khác hô hấp không được ổn định nay đã không còn cần phải dùng “inhaler”…Và chỉ sau một thời gian “vui chơi” thoải mái với Hoàng hạc, mọi sự trở lại bình thường, mang niềm vui đến với mọi Hoàng Hạc.
Riêng với người viết, trong bốn động thái Bấm – Vòng – Vươn – Buông, hai động thái sau cùng là Vươn và Buông chính là hai công áng để nghiềm ngẫm và luyện tập, chuẩn bị cho một tương lai buông xả trong tĩnh lặng ở những ngày cuối đời…
Xin trích đoạn vài tin vui khắp nơi qua kết quả của việc tập luyện Khí công Hoàng hạc như sau:
“Tôi đã bắt đầu tập HH khoảng 3 tháng nay sau khi gặp anh Cổn ở một đám tang…. Lúc đó tôi đang bị đau hông bên trái và chân trái đi đứng khó khăn. Anh Cổn đã giải thích thêm về HH và khuyến khích tôi tập. Chỉ sau 2 ngày tập tôi đã cảm thấy giảm đau 50%, và sau 2 tuần thì hết hẳn đau. Không những hết đau chân mà bệnh Acid Reflux (dịch vị trong bao tử trào lên họng khi nằm ngủ) đã làm tôi mất ngủ hằng đêm cũng đã hết hẳn. Tôi cũng gầy đi khoảng 6, 7 pound sau khi tập 1 tháng.”
Hoặc:
“Bốn năm về trước vợ tôi bị đau vai, physical therapy và châm cứu chẳng giúp được gì, tiền mất tật vẫn mang. Trong chuyến thăm Cali, chúng tôi có đến phòng tập học được một lần, vài ngày sau thì đã được anh cổn dạy thêm một lần nữa tại nhà riêng của anh. Lúc đó chưa có DVD để ôn các thế nên vợ tôi tập 7 thế chỉ năm bảy lần, nhưng sau đó vì quên nên chỉ làm 2 thế vòng ngửa và sấp thôi. Thế mà sau một hai tháng kiên trì, vợ tôi đã khỏi bệnh đau vai. Thỉnh thoảng (5, 6 tháng) khi cảm thấy đau nhẹ ở vai, bà ấy chỉ cần “múa” vòng chục lần thì hết đau.”
Riêng tại Houston, Bs Phạm Gia Cổn đã đến nơi nầy nhiều lần, đến không phải để “thị sát” một đơn vị mà đến để chia sẻ kinh nghiệm những gì Hoàng Hạc Houston gặt hái được. Mỗi lần đến, Hoàng hạc Houston được trang bị thêm nhiều suy nghĩ trong khi tập luyện, bổ túc cho những động tác không đúng cách cũng như đặt trọng tâm nhiều vào việc hít thở, để sự việc nầy đến tự nhiên trong tinh thần thực sự của Hoàng hạc. Vẫn 7 thế căn bản, nhưng nếu mỗi người chiêm nghiệm thêm tùy theo thể trạng của riêng mình sẽ có một thế tập thích ứng với từng cá nhân hơn.
Một suy nghĩ tôi đã hấp thụ được từ bạn tôi là:”Không có gì là PHẢI cả. Không cần phải tập trung trí nhớ để phải đi đúng bài bản. Không cần trả bài. Không cần phải làm giống người bên cạnh. Không cần phải cố gắng hít thở…” Mà, tất cả, tập trung vào việc bấm, vòng, vươn, buông…nhẹ nhàng và nhịp nhàng qua các động tác theo tiếng nhạc. Và từ đó, từ hơi thở đến bốn động tác căn bản trên sẽ chuyển vận hài hòa mà trí não của mình không cần tập trung để chỉ huy tứ chi.
Nói với những người có tuổi
Đối với những người “có tuổi” như chúng ta, từ sáu, bảy bó trở lên, ba kẻ thù rước mắt là mỡ, đường và áp huyết cao. Trong các xã hội dư thừa thực phẩm như ở xứ nầy, nhà sản xuất nghiên cứu những phương pháp tiếp thị tối đa để “dụ khị” người tiêu dùng là chúng ta trong dịch vụ ăn uống như nhản hiệu, hình ảnh, màu sắc, và mùi vị… Nếu chúng ta, không có đủ “Phật tánh” trong người để hạn chế được, tham, sân, si…trong môi trường “ăn uống”, chắc chắn chúng ta sẽ vướng vào ít nhứt là một trong ba kẻ thù trên. Nhưng khổ thay, kẻ thù của chúng ta it khi đến đơn độc mà hầu như luôn luôn xâm nhập vào cơ thể chúng ta cả ba, nghĩa là một khi “dính” đường thì khó tránh khỏi cao máu và cao cholesterol, và ngược lại.
Vì vậy, chúng ta cố gắng đừng để các lời mời gọi của các nhà hàng “fast food” với giá “sale”, với hàng mới, những nhà sản xuất các loại nước uống với các quảng cáo đầy hấp dẫn như nước tăng lực “Con bò Mộng”.
Xin thưa, tất cả đều không đúng sự thật như những lời quảng cáo.
Đó chỉ là hóa chất và hóa chất!
Những thức ăn, thức uống trên có thể làm chúng ta khoái khẩu, đả khát…nhưng vô tình chúng ta tự đầu độc lấy chính mình. Chúng ta tự “nạp” mỡ, đường vào cơ thể mình.
Một trong những kẻ thù khác của chúng ta là các tiệm ăn “all you can eat”. Các tiệm ăn nầy giá tương đối rẻ và dọn rất nhiều món, hàng trăm món ăn. Vì vậy, chúng ta cố ăn cho nhiều, ăn quá nhu cầu của cơ thể.
Có bao giờ bạn tự hỏi, càng cua sao nhiều quá, tôm sao nhiều quá, cua đá sao nhiều quá, sao có nhiều sò quá, nhiều oyster quá, chưa kể đến gà, vịt, heo, bò, đùi ếch. Chưa kể đến xíu mại, “hắc cảo”, bánh bao. Chưa kể đến đủ loại súp. Chưa kể đến shusi Nhựt Bổn, thậm chí đến phở bò nữa, hủ tiếu, bún bò Huế, mì thập cẩm, bánh canh cua, mì Quảng nữa… Và còn nhiều nữa bạn ơi! Chưa kể hàng mấy chục loại tráng miệng, từ trái cây cho đến đủ loại chè 3,4 màu, chè đậu, chè thưng, chè ba bốn màu, bánh đủ loại, đã được làm sẳn trong các hộp nhỏ.
Nhưng sao lại quá rẻ? Ở Houston, chỉ trả $10 cho một “Senior” trên 65 tuổi mà thôi!
Nhưng còn nhiều nữa bạn ơi. Với lứa tuổi trên sáu bó nầy, chúng ta còn tham gia hội đoàn cùng xứ sở, cùng trường, cùng đơn vị…chưa kể đám cưới của con cái, con cháu bè bạn khắp nơi. Bây giờ, bạn đã nghĩ làm cho việc “trả nợ áo cơm”, sao bạn lại tàn nhẫn bắt tim, gan, bao tử, lá lách, thận làm việc “overtime’ cho chính lòng đam mê “ăn uống” của bạn?
Thưa bạn,
Những điều tôi chia sẻ và viết ra đây là cũng để nhắc nhở cho chính mình. Thôi như vậy, mỗi người trong chúng ta cùng cố gắng gạt bỏ tham sân si trong “tiến trình ăn uống” nầy nghe!
Chúng ta đang đứng trước một nguy cơ của toàn cầu cho tham vọng ngự trị thế giới của cường quyền là…đầu độc thế giới bằng hóa chất độc hại trong thức ăn, hàng tiêu dùng trong nhà, và bất cứ một phương tiện nào cần thiết cho con người. Và cướng quyền đó chính là Trung Cộng với sự tiếp tay của dảng cộng sản Bắc Việt mà chúng ta nên luôn luôn đề cao cảnh giác.
Đó là mầm móng của các bịnh ung thư không kiểm soát được.
Phải chăng thế giới đang bước vào một giai đoạn Hạ Ngươn chăng?
Chỉ cần 10 phút làm những động tác thư giản, phối hợp với việc hạn chế lòng “đam mê” ăn uống, bảo đảm chúng ta sẽ đánh tan giặc thù ngoại xâm qua “khẩu nhập” qua sự kích thích thị giác, xúc giác, thính giác và cảm giác
Nhân dịp kỷ niệm mười năm ngày thành lập Hoàng Hạc, thân chúc tất cả bạn bè thân, sơ cùng nhau ý thức được rằng tập luyện Hoàng Hạc không phải chỉ ở ngày thứ bảy hay chủ nhựt mà phải làm ở nhà, hoặc trong sở làm, một hay nhiều lần mỗi ngày để tăng cường và bảo tồn sức khỏe vô giá của mỗi chúng ta.
HH Mai Thanh Truyết
Kỷ niệm 10 năm Th ể Dục Khí Công Hoàng Hạc, Houston, TX 2016
Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết

In France:
- Doctor in Structural Organic Chemistry, University of Besancon, France
- Assistant Professor, Institute of Chemistry, Besancon.
In Vietnam:
- Associate Professor – Dean of Chemistry Department, Faculty of Pedagogy, Saigon, Vietnam.
- Vice-President, Academic Affairs – University of Cao Đai, Tây Ninh, Vietnam.
In the USA:
- Post Doctorate, Research Associate – National Institute of Health, University of Minnesota, Minneapolis.
- Instructor – Chemistry Department, King College, Fresno.
- Laboratory Director – Toxic Liquid and Solid Waste Treatment Plant – Chemical Waste Management, Kettleman City, CA.
- QA/QC Director – Weck Environmental Laboratories – Industry City. CA.
- Director, Leachate Treatment Plant – BKK Corp., West Covina, CA.
- Consultant on Foods – Health Dept., City of Westminster, CA.
- Technical Director – Environment Services, Los Angeles, CA.
Retired in 2012:
- Pioneer – Writer – Lobbyist – Talk Show on Radio, TV – Guest Speaker for Vietnamese Communities around the world about Environmental Impacts in Vietnam, Toxins in Foods, and especially on “How to dethrone Vietnamese Communist”.
Professional NGOs:
- Chairman – Vietnamese American Science & Technology Society (VASTS) since 1997 – Present.
- Chairman – Vietnamese Environmental Protection Society (VEPS) since 2016 – Present.
- Group Leader – Nhóm Chống Tàu Diệt Việt Cộng (Anti-Communist of China and Vietnam Group) since 2011 – Present.
Books published:
- Câu Chuyện Da Cam/Dioxin ở Việt Nam (History of Orange Agent/Dioxin in Vietnam, 2008.
- Từ Bauxite đến Uranium: Tiến trình Đô hộ Việt Nam của Trung Cộng (From Bauxite to Uranium: The process of Colonization of China Communist), 2009 and 2012.
- Câu Chuyện Môi Trường Việt Nam (History of Vietnam’s Environment), 2010 and 2012.
- Tâm Tình Người Con Việt (Reflections of Viet’s Child), 2011.
- Việt Nam Tương Lai, Tập I & II (The Future of Vietnam Volume I & II), 2014.
- Thư Cho Con, Tập 13 – 35 (Letters to My Children, Volume 13 -29, 2005 – 2023).
- Lối Thoát Nào Cho Việt Nam? (What’s The Escape Route for Vietnam?), 2017.
- Lối Thoát Cho Việt Nam (The Escape Route for Vietnam), 2018.
- Tôi ( Myself), 2019.