• Âm nhạc,  ĐIỂM SÁCH,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt,  Viet-Hải

    VĂN HỌC TẢN MẠN LINH TINH

    Càng về sau số bạn bè trong hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa & Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & tiếng Thời Gian, khiến tôi bị rung chân, yếu tim thêm. Chả nhẽ bà con bay lên trời xanh, ta mãi cu ky cô dơn dưới dương trần sao nhỉ?

    Còn nhớ câu danh ngôn, tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Hoặc là câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Khi một con ngựa đau, hãy đại diện cho những cá nhân gặp hoạn nạn, khó khăn, đau khổ hay bất hạnh trong cuộc sống, hãy làm một chút gì dó an ủi hay ủy lạo bạn bè, dồng bào, hay rộng hơn là những nạn nhân, sinh linh gặp nạn.

    Câu nói mang ý tưởng, mang giá trị biểu hiện và thông điệp đạo đức là tinh thần đoàn kết và sự gắn bó keo sơn giữa bằng hữu trong tổ chức nhỏ xíu trong chúng ta, có vị ke, có vị không ke, không hưởng ứng, không sao cả, vì ngày nay nỗi khổ người ta, ngày sau đến lượt phe ta thói đời. Lòng nhân ái, tình tương thân tương ái: Từ loài vật biết thương nhau đến đạo lý làm người, ông bà ta muốn nhắc nhở mỗi cá nhân phải có lòng trắc ẩn. Truyền thống này tương đồng với các câu thành ngữ, ca dao khác như “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”. Sức mạnh của sự đùm bọc: Sự quan tâm, giúp đỡ không chỉ là chiếc phao cứu sinh giúp cá nhân vượt qua nghịch cảnh, mà còn là nền tảng để xây dựng một tập thể vững mạnh, một xã hội văn minh, nhân ái và giàu tình người.

    Tôi nghe Nữ sĩ Quỳnh Giao vướng stroke bị coma nhẹ, nay đã khỏi, nhà thơ HAK Dương Viết Diền, anh Alain Đức, anh Hoàng Khuê… cũng dau yếu, nhưng 25 bằng hữu hội viên tôi nghiêm ra rằng buổi hội ngô vui tưới ấm áp cho những thành viên như chị Hoàng Vinh, nữ sĩ Dương Hồng Anh, cụ bà 96 tuổi vẫn ra thơ đều đều, cụ tâm sự tôi vui quá nên hết ốm rồi anh. 

    Tôi vẫn nhớ câu danh ngôn, tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Hoặc là câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Lời nhắc nhở cho thế hệ hôm nay: Trong đời sống hối hả, đôi khi con người dễ bị cuốn vào những lo toan cá nhân mà trở nên thờ ơ, ít ke bà con nhóm. May là nhóm juniors Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa gánh vàc phụ tay cùng nhóm seniors Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & tiếng Thời Gian.

    Một tuyệt tác khác là câu ca dao mang đậm hồn nét dân tộc là ý tưởng của câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Câu ca dao như một tinh hoa, định giá hướng tư tưởng sống kết đoàn mang giá trị cốt lõi của câu ca dao, như một thông điệp nhân văn Khuyên lơn con người về tinh thần đoàn kết, tình tương thân tương ái, biết đùm bọc và yêu thương nhau vượt qua mọi ranh giới về hoàn cảnh, dù khó khăn, đầy thử thách.

    Sự kiện của câu ca dao mang hình tượng nghệ thuật, như sự kết hợp hòa quyện giữa hình ảnh thiên nhiên quen thuộc thảo mộc dây leo bầu và bí với nghệ thuật ẩn dụ métaphore, nhân cách hóa và theo thể thơ lục bát uyển chuyển.

    Câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, mang giá trị nghệ thuật: Thể thơ lục bát nhịp nhàng, từ ngữ giản dị, thủ pháp nhân hóa (“bầu ơi”) giàu cảm xúc.

    Ý nghĩa thực tiễn: Bài học về tình đoàn kết trong gia đình, ngoài xã hội và trong cả những hoàn cảnh thử thách to lớn của đất nước như thiên tai, hay nạn đại dịch lây lan mầm bệnh cho nhân loại. Vous souvenez-vous de la quarantaine liée au coronavirus? (Have you ever remembered the coronavirus quarantine?)

    Ca sĩ Kiều Loan đã diễn ngâm bài thơ mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh ngâm theo phong cách Tao Đàn Saigon xưa:

    Đợi ngày ra sách

    Chiều nay ngồi đọc sách

    Nhìn trời xanh bát ngát

    Đợi ngày ra mắt thơ

    Đàn lên cung, se tơ.

    Nghe gió chiều lao xao

    Cho lòng tôi nao nao

    Nhớ. Nhân Văn Nghệ Thuật

    Tiếng Thời. Gian dạt dào.

    Bao tháng ngày chờ đợi

    Dòng đời trôi qua mau

    Sách thơ bầy ngăn nắp

    Bút mực ngồi nhìn nhau

    Tin vui vừa loan báo

    Ngày ra mắt đến rồi

    Vườn hoa thơ nhạc nở

    Thêm một đóa hồng tươi

    Phất phơ trời lộng gió

    Hoa nở giữa vườn đời

    Hoa nở giữa hồn tôi

    Hoàng hôn tươi nụ cười

    Dương Hồng Anh, 26-9-2026

    Kỷ niệm ngày ra tác phẩm của khánh Lan và Hồng Anh.

    Chương trình văn nghệ ngâm thơ và ca hát bỏ túi với Ngọc Hà và Dương Viết Đang qua bài ca giấc mơ hồi hương của vũ thành.

    Dưới đây là bản tóm tắt ý chính của bài nhận xét theo phong cách thẩm định tổng quan (literature review), được chắt lọc ngắn gọn và súc tích:

    Tác giả Vũ Thành (1926–1987) là một gương mặt tiêu biểu của tân nhạc Việt Nam giai đoạn trước và sau năm 1954. Dù xuất hiện ít trước công chúng và có số lượng tác phẩm để lại không nhiều,nhưng ông lại được giới chuyên môn (nhạc sĩ, ca sĩ) kính trọng bậc nhất nhờ tài năng toàn diện ở cả ba vai trò: sáng tác, nhạc trưởng và hòa âm phối khí.

    Vũ Thành là bậc thầy về hòa âm. Theo đánh giá của các đồng nghiệp như Quỳnh Giao và Phạm Duy, ông là người có công lớn trong việc nâng tầm các ca khúc phổ thông thành tác phẩm nghệ thuật thính phòng sang trọng thông qua phần phối khí công phu, làm nền tảng thẩm mỹ vững chắc cho nhiều tác giả lớn thời kỳ đó.

    Cứ theo phong cách sáng tác và dấu ấn bán cổ điển, ông cho đổi mới dòng tân nhạc: Khác với âm điệu ủ ê, sướt mướt phổ biến của thập niên 40 (cung Ré thứ), âm nhạc của Vũ Thành mang hơi hướng bán cổ điển phương Tây, thanh tao, óng ả và quý phái. Tính kỷ luật trong việc trinh diễn: Các tác phẩm của ông (như Say Nhạc Canh Tàn, Nhặt Cánh Sao Rơi, Nhớ Bạn…) đòi hỏi người nghệ sĩ sự tiết chế, cách giữ nhịp tinh tế (rubato) và phát âm chuẩn mực thay vì luyến láy bi lụy quá đà, tùy cảm hứng.

    Bài tình ca “Giấc Mơ Hồi Hương” và mạch nguồn hoài niệm dĩ vãng,…

    Biểu tượng tâm tư di cư, Nhạc ra đời năm 1956, ca khúc là khúc hát tiêu biểu cho tâm sự của dòng người di cư từ miền Bắc vào Nam. Điểm độc đáo trong bút pháp của Vũ Thành là nhân cách hóa Hà Nội thành hình ảnh “em” – vừa gần gũi như một tình khúc riêng tư, vừa bao la như nỗi niềm chung của cả một thế hệ lưu xứ tha hương.

    Giá trị nghệ thuật vượt thời gian của bài nhạc là một bài hát kết hợp nhuần nhuyễn giữa nỗi buồn thấm thía chia ly, sự hồi tưởng và niềm hy vọng vào một ngày mai thanh bình. Qua các sáng tác muộn hơn như Hoài Hương Dạ Khúc, nỗi đau đáu hướng về quê cũ của ông được đẩy lên đến tận cùng của cảm xúc tha hương.

    Xét về bối cảnh ca khúc viết về Hà Nội thập niên 1950

    Bài viết đặt tên Giấc Mơ Hồi Hương (1956) vào dòng chảy chung của các nhạc phẩm viết về Hà Nội thời kỳ đó, bên cạnh những Hà Nội 49 (Trần Văn Nhơn) và Hướng Về Hà Nội (Ngô Hoàng Dương), cho thấy sự phong phú trong phong cách cất tiếng khóc hòa cùng vận mệnh đất nước của các nhạc sĩ dòng nhạc tiền chiến.

    Sau đây là tóm lược ý chính và nhận định về bài ca do ca sĩ Kiều Loan trình bày, bài tình ca dâng nỗi tâm cảm xoay quanh tác phẩm “Gửi người em gái miền Nam” của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn:

    Tác phẩm ra đời vào mùa xuân năm 1956, là bản tình khúc về mùa xuân duy nhất trong sự nghiệp của “nhạc sĩ của mùa thu” Đoàn Chuẩn. Tên gốc chính xác là “Gửi người em gái miền Nam” chứ không phải “Gửi người em gái” như cách gọi phổ biến suốt nhiều thập kỷ qua.

    Trải qua thời gian và hoàn cảnh lịch sử chia cắt hai miền Nam – Bắc, bài hát từng bị cắt xén, bóp méo cấu trúc và ca từ. Bài viết đòi lại sự công bằng cho tác giả bằng cách công bố phần lời gốc đầy đủ gồm 2 phần (với những hình ảnh thơ mộng nhưng đượm buồn về nỗi đau chia ly và niềm hy vọng đoàn tụ bên cầu Hiền Lương).

    Bài hát mang tâm sự thời thế sâu sắc: phản ánh bức tranh vân cẩu xã hội và tâm trạng của con người trong những năm đầu đất nước bị chia cắt (1954–1956). Phần 2 của bài hát chứa đựng khát vọng hòa bình và đoàn tụ mãnh liệt, vượt lên trên những tình cảm lứa đôi thông thường.

    Về giai thoại “bóng hồng” và những ẩn số cuộc đời, bài ca chứa hồi ức và theo giai thoại từ gia đình nhạc sĩ (con trai Đoàn Đính), người bạn tri âm Từ Linh, cũng như các nhà nghiên cứu (Vương Trùng Dương, Trương Quý, Lê Hoàng Long…).

    Bài hát xoáy quanh nguồn cảm hứng của bài hát là hình bóng của những mỹ nhân, ca sĩ tên tuổi thời tiền chiến như Thanh Hằng (Lê Hằng) – nàng thơ trong nhiều tình khúc Đoàn Chuẩn, hay những đồn đoán liên quan đến ca sĩ Mộc Lan, Tâm Vấn. Đồng thời, bài cá được viết cũng ghi nhận sự bao dung, hy sinh lặng lẽ âm thầm của người vợ tào khang (bà Nguyễn Thị Xuyên) – hậu phương vững chắc dung dưỡng tâm hồn phóng khoáng, tài hoa của người nhạc sĩ bay bổng, bay bướm trong âm nhạc.

    Nhận xét về tác phẩm và giá trị miên viễn của bài ca. Có thể dịnh giá dây là một kiệt tác lãng mạn trong âm nhạc: “Gửi người em gái miền Nam” không đơn thuần là một bản tình ca lãng mạn cá nhân, mà đã trở thành một chứng nhân lịch sử mang âm hưởng thời đại. Sự kết hợp giữa giai điệu sang trọng, đạo dạt chất trữ tình và ca từ giàu hình ảnh đã định hình phong cách độc bản của “vua nhạc slow” (Le roi de la musique lento) là Đoàn Chuẩn trong làng tân nhạc Việt Nam.

    Hãy tôn trọng di sản nghệ thuật dù là thuộc về quá khứ, nhưng công chúng cũng nên lưu giữa tác phẩm hay ca từ gốc của người nghệ sĩ tài danh này.

    Một kỷ niệm dáng nhớ khi tôi viết bài Bài Thánh Ca Kỳ Diệu, Việt Hải, có GS. Quyên Di, Lm. André Trần Cao Tường, có Trần Trung Dạo.

    Bài Thánh Ca Kỳ Diệu, Việt Hải, Quyên Di, Lm. André Trần Cao Tường:

    http://chimviet.free.fr/truyenky/viethai/vhan100_LmTranCapTuong%20.htm

    Bài viết “Bài Thánh Ca Kỳ Diệu” của tác giả Việt Hải (đăng trên tạp chí Chim Việt Cành Nam) là một bài tùy bút mang đậm cảm xúc tưởng niệm, được viết vào dịp Giáng sinh năm 2010 nhằm tri ân và tưởng nhớ Linh mục André Trần Cao Tường – một nhà văn, học giả, dịch giả và là Giám đốc Mạng lưới Dũng Lạc vừa mới qua đời cách đó không lâu (ngày 21/11/2010).

    Dưới đây là phần giải thích và phân tích chi tiết nội dung bài viết:

    I. Tóm tắt nội dung bài viết

    Bài viết được chia thành các tầng ý chính xoay quanh nhân vật trung tâm là Linh mục Trần Cao Tường và nguồn gốc của một tuyệt phẩm Giáng sinh:

    • Lời tạ từ và nỗi niềm mất mát (Phần đầu):

    Tác giả Việt Hải mở đầu bằng nỗi buồn khi mùa Giáng sinh năm 2010 vắng bóng một cây bút lớn ở hải ngoại là Linh mục André Trần Cao Tường (người qua đời vì bệnh tai biến mạch máu não – một căn bệnh mà chính Việt Hải cũng từng trải qua và lo sợ).

    Tác giả hồi tưởng lại cơ duyên quen biết với Linh mục Tường qua các dịp ra mắt sách ở Houston, qua các bài viết triết lý, văn chương trên mạng lưới Dũng Lạc, cũng như qua sự kết nối văn học giữa các diễn đàn (như Tình Nghệ Sĩ và Chim Việt Cành Nam).

    Dù khác biệt về tôn giáo (Việt Hải là Phật tử, còn Lm. Tường là linh mục Công giáo), hai người vẫn dành cho nhau sự trân trọng, thấu cảm và gọi nhau là “hiền huynh – hiền đệ” rất đỗi thân tình.

    Top: Cha André Dũng Lạc Trần Cao Tường. Lower: đệ tử Phật tử Trần Trung Dạo và Trần Viêt Hải.

    • Góc nhìn đa chiều về chân dung Linh mục Trần Cao Tường:

    Bài viết điểm lại những đánh giá của các văn nghệ sĩ tên tuổi khác dành cho Lm. Trần Cao Tường như:

    Nhà văn Trần Trung Đạo: Viết bài tiễn đưa đầy xúc động.

    Nhà thơ Du Tử Lê: Viết lời tựa cho tác phẩm của Lm. Tường, bày tỏ sự kính trọng đối với một vị tu sĩ yêu nước, có quan điểm sâu sắc rằng “kẻ nào không yêu quê hương, nguồn cội của mình, kẻ đó cũng sẽ không yêu Thiên Chúa”.

    Nhà thơ Lm. Trăng Thập Tự: Gửi thơ tiễn biệt từ quê nhà Việt Nam.

    Vợ chồng nhà văn Nhã Ca – Trần Dạ Từ (qua bản tin Việt Báo): Ghi nhận Lm. Tường là một ngòi bút phong phú (tùy bút, bút ký, tiểu luận, nhiếp ảnh) có phong văn thuần túy Công giáo nhưng mang tính nhân bản, thơ mộng, dễ đi vào lòng người thuộc mọi tôn giáo.

    Sức sáng tác của Lm. Tường vô cùng dồi dào, bao trùm nhiều lĩnh vực từ triết học, khoa học, y khoa, công án thiền cho đến văn học nghệ thuật. Câu chuyện về “Bản Thánh Ca Kỳ Diệu” (Phần trọng tâm):

    Tác giả chuyển dòng cảm xúc sang bài viết cuối cùng của Lm. Trần Cao Tường mà ông rất ấn tượng trước mùa Giáng sinh: bài “Bản Thánh Ca Kỳ Lạ” (viết về nguồn gốc của bài thánh ca trứ danh toàn cầu Silent Night hay Stille Nacht / Đêm An Bình / Đêm Thánh Vô Cùng).

    Hoàn cảnh ra đời kỳ diệu: Vào đêm Giáng sinh năm 1818 tại một ngôi làng nhỏ ở Áo (Oberndorf), vị linh mục trẻ Josef Mohr đang lo lắng vì đàn phong cầm trong nhà thờ bị chuột gặm hỏng đúng lúc cha sở lâm bệnh nặng. Giữa lúc ấy, ông nhận được lời kêu gọi khẩn cấp phải đến ban phép rửa tội cho một đứa trẻ sinh non trong một túp lều nghèo nàn giữa trời tuyết lạnh.

    Trải nghiệm thực tế tại túp lều – nơi gia đình nghèo đón đứa con trong sự ấm áp, bình an và tình mẫu tử thiêng liêng – đã đánh thức tâm hồn nghệ sĩ của cha Josef Mohr. Trở về qua màn đêm tuyết phủ với nguồn cảm hứng dâng trào, ông ghé qua nhà người bạn thân là nhạc sĩ Franz Gruber. Chỉ trong một thời gian ngắn, phần lời thơ của cha Mohr và phần nhạc của Franz Gruber đã hòa quyện vào nhau, tạo nên khúc ca Stille Nacht.

    Bài thánh ca ấy lần đầu tiên được cất lên bằng tiếng đàn guitar trong lễ Nửa đêm Giáng sinh tại một làng quê nghèo, để rồi sau đó vang dội khắp hoàn cầu qua hàng trăm ngôn ngữ.

    • Phần lời kết:

    Khép lại bài viết, tác giả Việt Hải mượn ca từ bất hủ của bài Silent Night để dâng tặng, tưởng nhớ và gửi lời chúc bình an đến linh hồn Linh mục André Trần Cao Tường ở cõi vĩnh hằng.

    II. Phân tích ý nghĩa và giá trị của bài viết

    • Sự kết nối giữa đạo và đời, giữa các tôn giáo:

    Một điểm sáng lớn trong bài viết là sự vượt qua rào cản tôn giáo. Dù là một linh mục Công giáo, Lm. Trần Cao Tường lại có mối thâm tình sâu sắc với các văn nghệ sĩ, phật tử như Việt Hải, Trần Trung Đạo, Du Tử Lê… Điều này cho thấy văn chương và nghệ thuật có sức mạnh hóa giải khác biệt, kết nối những tâm hồn đồng điệu dựa trên lòng nhân ái và sự trân trọng con người.

    • Tinh thần nghệ thuật vị nhân sinh:

    Câu chuyện về cách bài thánh ca Silent Night ra đời phản ánh chính quan niệm sáng tác của Lm. Trần Cao Tường: nghệ thuật chân chính không nằm ở sự xa hoa, cầu kỳ mà bắt nguồn từ những khoảnh khắc đời thường, từ lòng bác ái, sự thấu cảm với nỗi đau và niềm khát khao hòa bình, an lạc của con người.

    • Bút pháp hoài niệm, dung dị nhưng giàu cảm xúc:

    Văn phong của Việt Hải trong bài viết này mang đậm chất tùy bút hoài niệm (memoir-style). Sự đan xen giữa tiếng lòng cá nhân, các trích đoạn thơ tưởng niệm của Quyên Di, Lm. Trăng Thập Tự, lời nhận định của Du Tử Lê và câu chuyện cảm động về bài thánh ca đã tạo nên một bức tranh tưởng niệm trọn vẹn, ấm áp tình người giữa mùa đông giá lạnh.

    Việt Hải và Trần Trung Đạo về Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm Tiễn Mẹ

    https://nhanvannghethuat.com/vi-khiem-nguyen-van-liem-tien-me%ef%bf%bc

    Nhà văn/nhà báo Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm.

    Bài viết trên trang Nhân Văn Nghệ Thuật ghi lại buổi lễ cầu nguyện và tiễn đưa cụ bà Ana Nguyễn Thị Tịnh (thân mẫu của nhà văn/nhà thơ Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm), người qua đời ở tuổi đại thọ 107 tuổi.

    Dưới đây là các ý chính và tư tưởng chủ đạo trong bài viết:

    Tuổi thọ phúc lộc và sự an nghỉ trong cõi vĩnh hằng:

    Cụ bà Ana Nguyễn Thị Tịnh đã sống qua ba thế kỷ (cuối thế kỷ 19, trọn thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21) và hưởng thọ 107 tuổi.

    Trong bài giảng thánh lễ, linh mục chủ sự nhắc nhở rằng một “cây tốt” (cụ bà) chắc chắn sẽ sinh ra những “trái tốt” – minh chứng qua người con trai là ông Nguyễn Văn Liêm, một giáo dân sống đạo đức, khiêm nhường và tận tụy với xứ đạo.

    Nỗi đau và sự tiếc nuối khôn nguôi của người con ở lại:

    Dù người mẹ đã ra đi ở tuổi đại thọ (107 tuổi) – điều khiến gia đình cảm thấy biết ơn Thiên Chúa và không còn mong cầu gì hơn – nhưng nhà văn Vi Khiêm vẫn bộc lộ nỗi đau lớn khi không thể ở bên cạnh mẹ trong những giờ phút cuối đời để nghe lời trăn trối.

    Sự tôn vinh tình mẫu tử qua thi ca và nghệ thuật:

    Tác giả bài viết mượn những câu thơ nổi tiếng đầy cảm xúc từ bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Lấy Tiếng Mẹ Cười” của thi sĩ Trần Trung Đạo để khắc họa sự thiêng liêng, vô giá của người mẹ và tiếng nói từ trái tim mẹ:

    “Ví mà tôi đổi thời gian được / Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.”

    Bài viết cũng điểm qua những tâm tình, nỗi nhớ mẹ qua các tác phẩm văn thơ của các văn nghệ sĩ khác như nhà văn Ngọc Cường (mất mẹ từ nhỏ) hay nhà giáo/nhà thơ Quyên Di (qua bài thơ “Giỗ Mẹ”), qua đó đồng điệu nỗi niềm chung của những người con chịu tang mẹ: dẫu có lớn khôn đến đâu, trước di ảnh của mẹ, họ vẫn mãi là những đứa con bé bỏng. Tóm lại, bài viết là một lời tri ân sâu sắc, một khúc ca tiễn biệt trang nghiêm và đầy xúc động dành cho một người mẹ hiền phúc thọ vẹn toàn, đồng thời phản ánh nỗi lòng khắc khoải, biết ơn và thương nhớ khôn nguôi của những người con đối với công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ.

    Nội dung bạn vừa chia sẻ bao gồm bài thơ nổi tiếng “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của nhà thơ Trần Trung Đạo cùng với bài bình thơ (lời bình) của tác giả Châu Thạch.

    Dưới đây là phần giải thích chi tiết, phân tích và bình luận tổng quan về tác phẩm và bài viết bình luận này để giúp bạn thấu hiểu trọn vẹn giá trị nghệ thuật cũng như cảm xúc sâu lắng ẩn chứa bên trong.

    1. Giới thiệu tổng quan
    • Bài thơ: “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của nhà thơ Trần Trung Đạo viết về tình mẫu tử thiêng liêng, nỗi đau chia cắt (thường thấy trong bối cảnh người Việt ly hương, xa xứ sau năm 1975) và sự day dứt của một người con không thể ở cạnh chăm sóc mẹ già.
    • Bài bình luận: Do tác giả Châu Thạch chấp bút, phân tích từng khổ thơ, giải mã các tầng nghĩa ngôn từ (như khái niệm “thiên thu”, hình ảnh “lá thu rơi”, chữ “trắng” thứ hai, v.v.) nhằm làm nổi bật cái hồn và tài hoa của nhà thơ Trần Trung Đạo.
    • Phân tích và Giải thích tác phẩm qua bài bình

    Bài thơ xoay quanh một mô-típ rất quen thuộc trong thơ ca ly hương: cuộc gọi điện thoại ngắn ngủi đường dài (nhắc chiếc phone lên) nhưng lại khơi gợi một khoảng trống mênh mông, cả một trời thương nhớ và dằn vặt.

    1. Hình ảnh và ý nghĩa nhan đề “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”
    • Thắc mắc thực dụng: Nhiều người cho rằng “thiên thu” là một ngàn năm (vô định), con người không thể sống đến chừng ấy để mà “đổi”, làm sao lấy cái không có để đổi cái có?
    • Lý giải tâm lý học nghệ thuật (Châu Thạch): “Thiên thu” ở đây không phải là thời gian vật lý (đếm bằng năm tháng), mà là thời gian tâm lý. Giống như câu “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” (một ngày trong tù dài như ngàn năm), thời gian tâm lý co giãn theo nỗi đau và nỗi nhớ.
    • “Thiên thu” còn tượng trưng cho sự bình tịnh, an lạc lâu dài trong tâm hồn. Nhà thơ sẵn sàng đánh đổi cả sự bình yên vĩnh cửu ấy — hay sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì lớn lao nhất — chỉ để đổi lấy khoảnh khắc nghe được tiếng mẹ cười, tức là biết mẹ đang hạnh phúc, bình an.
    • Tiếng gọi từ đầu dây và nỗi buồn chia ly

    “Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người Tiếng ai như tiếng lá thu rơi Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi”

    • “Tiếng ai”: Đại từ phiếm chỉ “ai” thường dùng cho người xa lạ, nhưng trong văn chương lại diễn tả sự nghẹn ngào khi đối diện với người thân thương nhất — một sự xa cách lâu ngày đến mức khi nghe lại giọng nói, ta có cảm giác ngỡ ngàng như tiếng của một người xa lạ mà lại vô cùng gần gũi.
    • “Như tiếng lá thu rơi”: Một hình ảnh so sánh tuyệt đẹp. Tiếng mẹ thầm thì, nhẹ nhàng, mong manh và buồn vô hạn, gợi lên cả một không gian mùa thu heo hắt, tĩnh lặng trong tâm hồn người con xa xứ.
    • Hoàn cảnh lưu vong và màu trắng của sự biệt ly

    “Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê Mười năm tóc mẹ màu tang trắng Trắng cả lòng con lúc nghĩ về”

    • Cuộc ra đi “chẳng hẹn thề” là cuộc ly biệt đành đoạn, bất đắc dĩ.
    • Hình ảnh “Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê” miêu tả sự hoảng loạn, bơ vơ của người con bị đẩy vào bước đường lưu lạc, mất phương hướng giữa dòng đời.
    • Chữ “trắng” thứ hai (“Trắng cả lòng con”): Bài bình luận giải thích rất hay rằng chữ “trắng” này không phải là vô cảm, mà là màu trắng của chiếc khăn tang trong tâm tưởng. Mẹ chưa mất nhưng sự chia cắt xa xôi lâu ngày tạo nên một nỗi trống vắng tột cùng, biến lòng con thành một cõi tang tóc, u hoài.
    • Hình ảnh người mẹ và nỗi đau đọng lại

    “Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn Bên đời gió tạt với mưa tuôn… Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ…”

    • Cụm từ “đan một nỗi buồn” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nỗi buồn vốn là thứ vô hình (tâm lý), nhưng qua ngòi bút Trần Trung Đạo, nó được cụ thể hóa thành một vật hữu hình có thể “đan” từng mũi kim, dệt nên chuỗi ngày mòn mỏi ngóng trông của người mẹ già cô độc bên ô cửa “gió tạt mưa tuôn”.
    • Người con chọn cách nén đau thương vào thơ ca, vào lá cây (“viết đau thương vào trong lá” – gợi nhắc đến sự bạt ngàn của nỗi buồn nhân lên qua từng chiếc lá vàng rụng), và tìm kiếm hơi ấm của mẹ trong những giấc mơ xa xôi.
    • Bình luận chung và Đánh giá
    • Giá trị nội dung:

    Bài thơ chạm đến góc khuất mềm yếu nhất của những người con xa xứ. Đó là thứ tình mẫu tử thiêng liêng vượt qua mọi khoảng cách không gian và thời gian. Tiếng mẹ cười ở đây không đơn thuần là âm thanh vui vẻ, mà là biểu tượng của sự bình yên, của cội nguồn, là điểm tựa tinh thần duy nhất cho người con bơ vơ giữa chốn ba ba chìm nổi.

    • Giá trị nghệ thuật:
      • Thể thơ thất ngôn (7 chữ) truyền thống nhưng được vận dụng với nhịp điệu chậm rãi, u buồn, thấm đẫm âm hưởng hoài niệm.
      • Các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh (tiếng lá thu rơi, đan một nỗi buồn, ngựa rừng lạc lối) vô cùng đắt giá, giúp cấu trúc bài thơ chặt chẽ từ câu mở đầu đến câu kết thúc (tạo thành một vòng tròn cảm xúc khép kín khi lặp lại câu thơ “Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người”).
    • Về bài bình của Châu Thạch:

    Bài bình luận đã làm tròn vai trò của một người “gỡ rối” câu chữ, phân tích sâu các lớp nghĩa triết lý (như thời gian tâm lý, ý nghĩa của chữ “trắng”, chữ “thiên thu”) giúp người đọc không chỉ cảm nhận bài thơ bằng cảm xúc thuần túy mà còn thấy được tư duy nghệ thuật sắc sảo của nhà thơ Trần Trung Đạo.

    Kết luận: Bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” thực sự là một nén tâm hương, một tiếng lòng thổn thức của triệu người con xa quê gửi về đấng sinh thành, và qua lời bình của Châu Thạch, giá trị nhân văn và nghệ thuật ấy lại càng được lan tỏa sâu sắc hơn nữa trong lòng người yêu thơ.

    Xem link sau:

    https://hung-viet.org/a22011/doc-doi-ca-thien-thu-tieng-me-cuoi-tho-tran-trung-dao

    Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, Nhạc Võ Tá Hân – Thơ Trần Trung Đạo – Ca sĩ Bảo Yến:

    —————

    Việt Hải- Văn Học-Vang Bóng Một Thời

    Dưới đây là phần tóm tắt và đánh giá về cuốn sách “Văn Học – Vang Bóng Một Thời” của tác giả Việt Hải (tên thật là Trần Việt Hải), dựa trên thông tin và bối cảnh được cung cấp.

    1. Tóm tắt tác phẩm

    Tên sách: Văn Học – Vang Bóng Một Thời

    Tác giả: Việt Hải (Trần Việt Hải)

    Tính chất tác phẩm: Đây là tuyển tập các bài tiểu luận, bài phê bình và các bài viết văn học tiêu biểu nhất của tác giả, được đúc kết qua gần ba thập kỷ miệt mài sáng tác và cống hiến cho nghệ thuật.

    Chủ đề cốt lõi: Tác phẩm là lời tri ân đầy tâm huyết dành cho nền văn học cổ điển Việt Nam, các cột mốc văn hóa và những nhân vật lỗi lạc của quá khứ. Cuốn sách đóng vai trò cầu nối giữa độc giả đương đại với di sản nghệ thuật, thi ca và triết học sâu sắc của lịch sử Việt Nam, khơi dậy niềm hoài niệm về những thời kỳ hoàng kim của văn chương và nghệ thuật.

    2. Đánh giá sách

    Chiều sâu và sự uyên bác: Qua từng trang viết, Việt Hải thể hiện sự am hiểu sâu sắc về nghệ thuật, văn hóa và lịch sử văn học Việt Nam. Lối viết của ông không chỉ dừng lại ở việc kể lại lịch sử đơn thuần; ông thổi hồn vào những chủ đề mình phân tích, phản ánh mối gắn kết mật thiết và trải nghiệm thực tế với văn chương.

    Sự bền bỉ và niềm đam mê: Điểm ấn tượng đặc biệt của tuyển tập này chính là tinh thần kiên trì bền bỉ ẩn chứa bên trong. Với hành trình sáng tác kéo dài gần ba mươi năm, cuốn sách là minh chứng cho lòng tận tụy không lay chuyển của tác giả đối với cộng đồng văn học Việt Nam cũng như cam kết gìn giữ những ký ức văn hóa giữa dòng chảy thời gian đầy biến động.

    Cầu nối ký ức: Bản thân nhan đề “Vang Bóng Một Thời” đã gợi lên phong cách văn xuôi cổ điển Việt Nam đầy cuốn hút và giàu chất thơ (gợi nhớ đến những nhà văn như Nguyễn Tuân). Việt Hải đã thành công trong việc nắm bắt những mảnh ghép tinh tế, thoáng qua của một thời văn chương đã qua, khiến chúng trở nên sống động và gần gũi với độc giả hiện đại – những người luôn trân trọng các giá trị di sản.

    3. Điểm đặc sắc và thú vị của cuốn sách

    Sự giao hòa giữa lịch sử và tâm hồn: Thay vì những bài phê bình mang tính học thuật khô khan, các bài tiểu luận của Việt Hải mang dáng dấp của những lời tri ân đầy cảm xúc và giàu tính tự sự. Tác giả làm sáng tỏ những sắc thái tinh tế, những dòng chảy cảm xúc ngầm và các giá trị thẩm mỹ ẩn sau cuộc đời cũng như các tác phẩm của những tên tuổi văn học lừng lẫy.

    Kho tư liệu sống động về một hành trình sự nghiệp: Nhờ tập hợp các bài viết được chắt lọc trong suốt gần 30 năm, cuốn sách mang đến cho độc giả cơ hội chiêm nghiệm sự trưởng thành trong tư duy của một cây bút đầy tâm huyết đối với văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc Việt Nam.

    Trải nghiệm tương tác: Như đã được giới thiệu trên chuyên mục Nhân Văn Nghệ Thuật, cuốn sách hiện diện dưới định dạng “flip-book” (sách lật trang) đầy cuốn hút trên nền tảng trực tuyến (heyzine.com). Định dạng này cho phép độc giả trải nghiệm cảm giác lật từng trang sách sống động như đang cầm trên tay một ấn phẩm giấy, qua đó kết hợp hài hòa giữa nét đẹp thưởng thức văn học truyền thống và sự tiện lợi của công nghệ số hiện đại.

    Trần Trung Đạo – Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời

    Bài viết “Trần Trung Đạo – Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời” của tác giả Lương Thư Trung (Hai Trầu) đăng trên trang của Trần Thị Nguyệt Mai là một bài tiểu luận, cảm nhận sâu sắc về cuộc đời, hành trình thơ ca và tư tưởng của nhà thơ/cư sĩ Trần Trung Đạo.

    Dưới đây là bản phân tích và giải thích chi tiết nội dung, ý nghĩa của bài viết theo từng khía cạnh:

    1. Hành trình tuổi thơ gian truân và bóng tối thời cuộc

    Tuổi thơ bất hạnh: Bài viết mở đầu bằng việc nhắc đến hoàn cảnh của Trần Trung Đạo – một đứa trẻ sinh ra tại làng Nghi Hạ (Duy Xuyên, Quảng Nam), phải rời xa gia đình và bươn chải giữa đời từ khi mới 14 tuổi.

    Vết hằn chiến tranh: Những năm tháng tuổi thơ sống trong khói lửa chiến tranh đã để lại những vết thương lòng sâu sắc trong tâm hồn tác giả:

    “Anh bỏ nhà đi năm mươi bốn tuổi / Học lọc lừa từ thuở tóc chưa xanh / Viên đạn nổ xé từng trang sách vở / Trụ đèn khuya thay thế ánh trăng rằm.”

    Cuộc đời lưu lạc, bấp bênh và những nỗi đau đầu đời ấy đã trở thành nguồn nguyên liệu chính để ông chắt chiu thành những vần thơ đượm buồn, chân thực và đầy nỗi niềm thao thức.

    2. Hình bóng người Mẹ và nỗi nhớ quê hương

    Mẹ trong thơ Trần Trung Đạo: Một phần linh hồn trong thơ ông là hình bóng người mẹ nghèo khó, tảo tần, chịu đựng trăm đắng ngàn cay (mẹ bán máu nuôi con, mẹ ở bến sông Thu Bồn, mẹ ngóng con bên kia nửa địa cầu…).

    Hình bóng người mẹ không chỉ là hiện thân của sự hy sinh vô bờ bến mà còn là biểu tượng của cội nguồn, của quê hương xứ Quảng xa xôi mà người con lưu vong luôn hướng về với tất cả lòng thành kính và nỗi xót xa:

    “Mười năm tóc mẹ màu tang trắng / Trắng cả lòng con lúc nghĩ về.”

    Ngay cả khi sống giữa nền văn minh hiện đại ở phương Tây, tâm hồn người con vẫn giữ trọn đạo hiếu, hướng về quê nhà bằng những hình ảnh bình dị nhất như chiếc khăn lụa Duy Xuyên để tiệp màu miếng trầu cay của mẹ.

    3. Tinh thần Phật giáo và sự hóa giải khổ đau

    Tâm thức từ bi: Trần Trung Đạo là một Phật tử thuần thành từ thuở nhỏ (từng sinh hoạt trong Gia đình Phật tử, gắn bó với cây đa chùa Viên Giác). Ảnh hưởng của đạo Phật thấm đượm vào thơ ông như một phương dược để xoa dịu những nhọc nhằn, bất trắc của kiếp nhân sinh.

    Ông nhìn đời qua lăng kính vô thường, nhân quả và luân hồi:

    “Ta vẫn biết thế gian là cõi tạm / Tấm thân này cát bụi sẽ về thôi…”

    Dù cuộc đời xô đẩy ngã gục, ông không mang lòng oán trách mà chọn cách mỉm cười với thế nhân, dùng lòng từ bi và sự kiên nhẫn để chuyển hóa phiền não, tìm thấy sự bình an trong tâm hồn.

    4. Biểu tượng “Người tiều phu quét lá sưởi ấm cho đời”

    Hình tượng “người tiều phu” và “chiếc lá vàng” là ẩn dụ trung tâm xuyên suốt bài viết:

    Chiếc lá vàng tượng trưng cho những mảnh đời bèo giạt, cô đơn, vô định của tha nhân và cũng là hình ảnh phản chiếu chính cuộc đời lưu vong, đau buồn của tác giả (“Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn”).

    Người tiều phu là hình ảnh người nghệ sĩ âm thầm, nhẫn nại đi nhặt nhạnh từng nỗi buồn, từng mảnh đời rơi rớt, từng chiếc lá khô của nhân gian để nhóm lên ngọn lửa sưởi ấm tình người:

    “Con đi góp lá ngàn phương lại / Đốt lửa cho đời tan khói sương.”

    Hành động quét lá, nhặt lá không chỉ là việc làm đơn thuần mà là một sứ mệnh cao đẹp: mang trái tim nhân hậu, chân tình tha thiết để hiến dâng cho đời những vần thơ an ủi, xoa dịu những vết thương lòng trong cõi thế ô trọc.

    Tổng kết ý nghĩa bài viết

    Bài viết của Lương Thư Trung đã phác họa thành công bức chân dung tinh thần của nhà thơ Trần Trung Đạo: một người thơ mang nặng nỗi đau thời thế, hoài niệm khôn nguôi về mẹ và quê hương, nhưng đồng thời cũng là một tâm hồn từ bi, bao dung. Qua hình ảnh “người tiều phu quét lá”, bài viết tôn vinh những người nghệ sĩ âm thầm dùng văn chương, tình yêu thương và sự đồng cảm để sưởi ấm những cõi lòng lạnh lẽo giữa dòng đời dông bão.

    Một ngày trước buổi hẹn tại Lữ Quán Tri Âm, nhà văn Kiều My đã soạn xong hai bài nhạc cho 2 bài thơ tôi nhờ cô lo phần nhạc, Tạ ơn tình em (“Merci pour ton amitié”) và bài thơ tôi ghi tựa Nhớ em thu về (Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne), nhưng Kiều My đặt tên trại đi là Thu về nhớ em. Hai bài thơ lãng mạn này, một bằng tiếng Pháp (“Merci pour ton amitié”) và một phiên bản khác bằng tiếng Việt (“Cảm ơn cuộc đời”)—mang đến cái nhìn sâu sắc về sự giao thoa tinh tế nhưng mạnh mẽ giữa tình yêu lãng mạn và tình bạn sâu sắc (điều mà người Hy Lạp gọi là Philia, gắn bó mật thân thiết đam mê cùng với Eros).

    Sau đây là một số ý tưởng nhận định mới về góc nhìn sâu sắc khi nghe những ca khúc trên, được truyền cảm tác từ những bài thơ này, để làm phong phú thêm sự cảm thụ nhận biết qua giác quan nhạy cảm bẫm sinh về tình bạn yêu thương:

    Như xét qua trích đoạn từ bài thơ tiếng Pháp: «”e sais que tu es un être humain ; par-dessus tout, j’ai besoin de toi comme ami.” (“anh biết em là con người; trên hết, anh yêu em như một người bạn.”.

    Tình bạn yêu thương đích thực vượt lên trên sự lý tưởng hóa lãng mạn. Đó là việc nhận biết những khuyết điểm, quá khứ và thực tế của người kia, và vẫn chọn họ. Lời minh thị cuối vẫn không chỉ đơn giản là “Tôi mến bạn,” mà là “Tôi cần bạn như người bạn tâm đắc đồng hành trung thành nhất trong tôi.”, (“J’ai besoin de toi comme mon compagnon le plus fidèle et le plus loyal.”).

    Hãy cùng nhau vượt giông bão như chiếc mõ neo vững bền. (Câu thơ tiếng Pháp:  «Quand je suis dans le noir et que j’ai besoin de lumière, ta présence à mes côtés m’apporte la paix intérieure….

    Xét nghiệm khi phân tích lời thơ: Hai bài thơ này nhấn mạnh rằng tình bạn yêu thương không chỉ dành cho những ngày nắng đẹp; hay nhiều thử thách và vẻ đẹp thực sự của nó nằm ở việc trở thành ngọn hải đăng trong cơn bão tố. Tình bạn mang đến sự an toàn về mặt cảm xúc, trong khi tình yêu lại mang đến nỗi đắm say, l’amitié sincère n’est pas réservée aux beaux jours ; elle affronte de nombreux défis, et sa véritable beauté réside dans sa capacité à être un phare au milieu des tempêtes. L’amitié offre une sécurité affective, tandis que l’amour offre un dévouement passionné.).

    Phân tích tiếp về khái niệm tri kỷ trong văn hóa Việt Nam (người bạn tâm giao thực sự hiểu được con người bên trong bạn) tự nhiên kết nối tình yêu và tình bạn. Tác giả gợi ý rằng các mùa thay đổi – từ xuân sang thu, từ tuổi trẻ như xuân xanh cho đến tuổi già như thu vàng. Nhưng mối liên kết cơ bản vẫn luôn rực rỡ (“mùa xuân xanh”).

    Những ca từ vượt thời gian này lột tả trọn vẹn tâm hồn của sự mô tả chân phương sâu sắc, kiên định và bản chất về tình bạn đích thực. Dưới đây là những chia sẻ và góc nhìn về tình yêu đích thực qua lăng kính của ca khúc kinh điển kèm (nổi tiếng với tên gọi “Cuando Calienta el Sol” ( hoặc phiên bản tiếng Anh “Love Me with All Your Heart”). Bài hát thịnh hành trong những buổi tiệc cưới hay dịp lễ Valentine.

    Bài tinh ca Love Me with All Your Heart, luận bàn về một tình yêu chân phương, thực sự như về lời cam kết trọn vẹn như được tiểu biểu qua những câu mở đầu, không chấp nhận sự nửa vời hay những tình cảm hời hợt. Nó đòi hỏi sự đầu tư trọn vẹn về mặt cảm xúc. Điều này xác lập một chuẩn mực rằng tình yêu không phải là thú vui nhất thời hay sự tiện lợi tạm bợ, mà phải là một sự lựa chọn đầy tâm huyết.

    Về tinh yêu bền vững, sự kiên định qua thời gian và không gian (“Mỗi mùa đông, mùa hè, hay mùa thu”). Lời bài hát nhấn mạnh sự bền bỉ bất chấp mọi mùa trong năm hay khoảng cách địa lý—dù hai người ở gần hay xa cách. Tình yêu đích thực không phai nhạt theo những thay đổi của hoàn cảnh hay thời tiết; nó vẫn luôn vững vàng, kiên cường và trường tồn cùng dòng chảy thời gian.

    Về tình yêu vĩnh cửu thay vì nhất thời như “Not just for a moment or an hour” (“Không chỉ trong khoảnh khắc hay một giờ đồng hồ”.

    Tình yêu chân phương thữc sự khước từ những rung động thoáng qua. Dù đam mê có thể khởi đầu như một tia lửa, tình yêu đích thực sẽ chuyển hóa ngọn lửa ban đầu ấy thành một trạng thái gắn kết vĩnh cửu như “Just as I have loved you from the very beginning / With every beat of my heart”, (“luôn như cách em yêu anh từ thuở ban đầu / Với từng nhịp đập nơi trái tim em”). Nó hòa quyện vào chính nhịp sống thường nhật của mỗi người.

    Tôi vốn chuộng bù khú, tán hươu tán vượn hay tán gẫu phiếm luận trong phong văn tản mạn thi ca hòa quyện vào âm nhạc. Có lẽ tôi vốn thích bay bổng tâm hồn mình trong cõi thi ca và âm nhạc, thử hỏi thi ca Nguyên Sa hay Cung Trầm Tưởng, những thi ca vượt quá khổ lãng mạn tư duy. Đúng chứ?

    Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne:

    Tu Me Manques à L’ arrivée de L’automne Compositeurs Việt Hải & Kiều My

    Thanks For Friendship – Words_ Việt Hải- Music_ Kiều My:

    Thanks For Friendship Words Việt Hải Music Kiều My

    Merci Pour Ton Amitié – Compositeurs_ Việt Hải & Kiều My:

    Merci Pour Ton Amitié Compositeurs Việt Hải & Kiều My

    MERCI POUR TON AMITIÉ

    Darling, tu es mon meilleur ami ; tu as ta place dans mon cœur.
    Nous traversons des hauts et des bas, mais rien ne pourra nous séparer.
    Je te considère comme un membre de ma famille, et je veillerai toujours sur toi.
    Mon amour, respect et confiance sont ce que nous partageons.
    Je te connais en tant que personne ; j’ai surtout besoin de toi comme ami.
    Notre amitié est une chose qui ne finira jamais.
    En cet instant précis, en ce jour,
    Nos liens sont indéfectibles ; notre attachement est là pour durer.
    Mon amitié pour toi est unique et sincère.
    Quand nous sommes ensemble, nous sommes inséparables.
    Quand je suis dans l’obscurité et que j’ai besoin de lumière,
    Ta présence à mes côtés me rassure : tout ira bien.

    ƠN EM MỘT ĐỜI

    Cảm ơn em những ân tình

    Yêu em yêu mãi trong tim

    Báo cơn bão nỗi vẫn tìm nơi em

    Duyên tinh nợ kiếp ba sinh

    Có em như đã tự tình trong anh

    Bên em tri kỷ mộng lành

    Tình ta sẽ mãi xuân xanh thu vàng

    Giờ đây sánh bước đan tay

    Thênh thang cuối phố như mây cuối trời

    Yến anh vương vấn bên đời

    Lưu tâm lưu luyến nhớ lời thề xưa

    Hạ về giông bão trời mưa

    Bên nhau mãn kiếp tình vừa trăm năm.

    Thank you for your friendship

    You are my best friend; you hold a special place in my heart.
    We go through ups and downs, but nothing can ever tear us apart.
    I consider you family, and I will always look out for you.
    We share love, respect, and trust.
    I know you as a person, but above all, I need you as a friend.
    Ours is a friendship that will never end.
    At this very moment, on this day,
    Our bond is unbreakable; our connection is built to last.
    My friendship with you is unique and sincere.
    When we are together, we are inseparable.
    When I am in the darkness and need light,
    Your presence by my side reassures me: everything will be okay.

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM VĂN HỌC (TRẦN VIỆT HẢI):

    BUỔI RA MẮT TÁC PHẨM CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ VĂN THI SĨ KHÁNH LAN:

    Sans Toi Ce Soir Paroles Viet Hai Musique AI Kieu My:

    Em, em luôn vẫn là em, my song: Mon Amour, Tu Restes Toi,…

    Mon Amour, Tu Restes Toi, Paroles de Việt Hải LA, Musique – Kiều My:

    Bonne semaine à toutes et à tous…!

    Lời cuối cùng, tình bạn trong hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian họp nhau tại Lữ Quán Tri Âm, Anaheim. Phong cách pocket reunion, dù là bal des amis, hay bal de famille, họp nhau nho nhỏ, nơi chốn be bé, chỉ 12 dến 15 thân hữu như cõi giang san của Nữ sĩ Quỳnh Giao, tôi vốn kiêng kỵ chỗ đông người. C’est selon mes propres goûts.Ce sont mes propres préférences. Ce sont mes choix de bon goût.

    VHLA, California 2026

  • ĐIỂM SÁCH,  Vương Trùng Dương

    CUỐN THEO CHIỀU GIÓ

    Vương Trùng Dương

    Theo dòng thời gian, từ trước công nguyên cho đến nay, nhiều nước trên thế giới đã từng xảy ra nội chiến (civil war – chiến tranh trong nước), những cuộc nội chiến đó trong quá khứ thường được nhắc đến trong những bài học lịch sử. Lịch sử nước ta thời Đại Việt cũng trải qua vài giai đoạn như nội chiến Nam Bắc triều (1533-1677) giữa nhà Mạc và nhà Hậu Lê. Thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1775) giữa chúa Trịnh ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn ở miền Nam (Đàng Trong). Chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn (1771-1785 và 1787-1802). Nguyễn Huệ (1753-1792) đánh Nam dẹp Bắc, lên ngôi Quang Trung Đại Đế nhưng chết khi còn trẻ, nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Phúc Ánh (1762-1820), tiến hành cuộc chiến, thống nhất sơn hà, năm 1802, lên ngôi Gia Long Hoàng Đế, quốc hiệu Việt Nam, chấm dứt cuộc nội chiến tranh kéo dài gần 270 năm.

    Nội chiến Hoa Kỳ (American Civil War 1861-1865), còn gọi là cuộc chiến tranh Bắc-Nam giữa chính phủ liên bang miền Bắc (Union) sau khi Abraham Lincoln đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1860 và liên bang phía Nam (Confederate States of America) với 11 tiểu bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam Hoa Kỳ đã tuyên bố ly khai khỏi Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Cuộc chiến khốc liệt đẫm máu kéo dài 4 năm, bắt đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 1861 và chấm dứt ngày 9 tháng 4 năm 1865, chế độ nô lệ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Vị tướng tư lệnh miền Bắc Tướng George B. McClellan ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với vị tướng tư lệnh miền Nam Tướng Robert Lee.

    Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng. Tự do trở về quê cũ như các dân thường. Tướng R. Lee đồng ý nhưng chỉ đòi hỏi một điều sau cùng là yêu cầu cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu. Tướng Ulysses S. Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà xây dựng lại nông trại. Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.

    Cuộc gặp gỡ của họ tại Appomattox, tiểu bang Virginia là khoảnh khắc tuyệt vời nhất của lịch sử nước Mỹ. Hình ảnh Tướng R. Lee cưỡi ngựa đi đến nơi họp mặt với đoàn quân nhạc miền Bắc chào đón. Khi Tướng Lee ký tên xong ra đi được sĩ quan và binh sĩ miền Bắc tiễn đưa và vẫy tay chào. Hình ảnh đó lưu lại ngày nay với tượng đài thể hiện sự trân trọng sau cuộc chiến. Với người đã hy sinh trên chiến trận, nghĩa trang quốc gia Arlington, của người miền Bắc trong trận chiến Bắc Nam. Sau cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam có hàng ngàn nghĩa trang lớn nhỏ chôn cất tử sĩ của phe bại trận.

    Năm 1900, mở đầu cho giai đoạn hòa giải dân tộc và năm 1991 thì các tử sĩ miền Nam được cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section. Tổng cộng gần 500 mộ phần quây tròn chung quanh một tượng đài do nhà tạc tượng danh tiếng là điêu khắc gia Moses Ezekiel thực hiện. Trước khi chết, TT Lincoln đã nói: “Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch sử của bậc anh hùng sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những con người vĩ đại đã ngã xuống”.

    (Cũng thời điểm tháng Tư kết thúc cuộc chiến tại Việt Nam, nhiều người cho rằng, nếu khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam mà học được bài học lịch sử nầy của Hoa Kỳ, xóa bỏ hận thù, xử dụng nhân tài và chất xám, cùng nhau chung tay xây dựng đất nước, bảo vệ giang sơn, chống quân xâm lược Trung Cộng thì ngày nay Việt Nam không bị lệ thuộc hoàn toàn dưới ách thống trị dã man của Trung Cộng).

    70 năm sau, cuộc nội chiến Hoa Kỳ được phác họa qua tác phẩm Gone with the Wind (Cuốn Theo Chiều Gió) của nhà văn Margaret Mitchell (1900-1949), ấn hành vào tháng 7 năm 1936, dày hơn 1,000 trang. Tác phẩm dựa vào bối cảnh và lịch sử cuộc chiến, tác giả dày công sưu tầm tài liệu, ròng rã trong 10 năm để hoàn thành. Không phải là tác phẩm lịch sử mà viết theo cách kể chuyện tự sự, tuy có hư cấu nhưng theo dòng sử liệu trong bối cảnh xã hội như chứng nhân của giai đoạn đương thời. Với các mối tình xảy ra chung quanh vài nhân vật ngang trái, éo le, cuồng nhiệt và hờ hững… lôi cuốn người đọc… Tác phẩm phẩm Gone with the Wind vừa ra mắt đã thành công, trong vòng 6 tháng, hơn 1 triệu ấn bản đã được bán hết với sức mua là 50,000 cuốn mỗi ngày vào thời điểm đó, ngoài sự tưởng tượng của tác giả và nhà xuất bản. Tác phẩm đoạt Giải Thưởng Pulitzer năm 1937 vì vậy giới đện ảnh Hollywood quan tâm và sách được nhà sản xuất phim David O. Selznick mua lại với giá 50.000 USD để được dựng thành phim cùng tên.

    Đây cũng là tác phẩm kinh điển của văn học Hoa Kỳ có số lượng cao nhất trong lịch sử xuất bản của Hoa Kỳ, của mọi thời đại đã vượt qua kỷ lục 12 triệu cuốn vào năm 1965, được dịch sang hơn 30 ngôn ngữ khác nhau và phổ biến trên 40 quốc gia. Margaret M. Mitchell sinh tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, sau bậc trung học, theo học tại Smith College nhưng năm 1918, không theo đuổi con đường học vấn, trở về Atlanta để lo công việc gia đình bà mẹ qua đời vì bệnh cúm. Sau đó không lâu, cô tham gia vào ban biên tập của tờ nhật báo Atlanta Journal, viết bài cho ấn bản ngày Chủ Nhật.

    Trong tai nạn bị gãy mắt cá chân, Margaret ở nhà điều trị, thời gia nầy cô tìm lại tài liệu về cuộc Nội Chiến Nam Bắc xảy ra trên quê hương. Năm 1929, khi vết thương đã lành và cuốn truyện đã được viết xong nhưng trước đó các truyện ngắn của cô không được quan tâm nên cũng nghĩ quyển sách nầy cũng mang số phận như vậy.

    Năm 1935, ông Howard Latham, phó giám đốc của nhà xuất bản MacMillan tới Atlanta để tìm kiếm các nhà văn mới của miền Nam Hoa Kỳ. Cơ hội cho Margaret Mitchell gặp ông Howard Latham để trao bản thảo Gone with the Wind. NXB MacMillan đã edit trong 6 tháng, tác phẩm được in xong vào ngày 30 tháng 6 năm 1936. Với sự thành công của tác phẩm đầu tay của nhà văn Margarett Mitchell, danh vọng nổi tiếng nhưng bà vẫn tiếp tục sống trong ngôi nhà tại Atlanta, tiếp tục một cuộc sống giản dị. Năm 49 tuổi, trong khi cùng chồng băng qua đường phố ở Atlanta, bị một chiếc xe tải đâm phải. Năm ngày sau bà qua đời, Margarett Mitchell vĩnh biệt cõi trần giữa muôn vàn thương tiếc của mọi người. Phim Gone with the Wind phỏng theo tiểu thuyết của Margaret Mitchell, phim được sản xuất bởi David O.Selznick, đạo diễn Victor Fleming và kịch bản gốc Sidney Howard. Bộ phim được quay ở miền Nam nước Mỹ (Atlanta, tiểu bang Georgia) trong thời gian xảy ra nội chiến.

    Các diễn viên chính bao gồm: Clark Gable (vai Rhett Butler), Vivien Leigh (Scarlett O’Hara), Leslie Howard (Ashley Wilkes), Thomas Mitchell (Gerald O’Hara), Barbara O’Neil (Ellen O’Hara), Evelyn Keyes (Suellen O’Hara), Ann Rutherford (Carreen O’Hara), Olivia de Havilland (Ilanie Hamilton), Hattie McDaniel (Mammy, vú nuôi da đen)…Phim dài 220 phút (thông thường chỉ 110 phút) được ra mắt tại Atlanta ngày 15 tháng 12 năm 1939, khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ.

    Năm 1940, giải Oscar lần thứ 12 (đầu tiên năm 1929) và cũng là lần đầu phim Gone with the Wind được 8 giải Oscar và phim màu đầu tiên. Phim được bình chọn là một trong vài bộ phim có nhiều khán giả nhất mọi thời đại kể từ khi được phát hành về doanh thu và rộng rãi khắp nơi trên thế giới. Đây là tác phẩm kinh điển của nền văn học và điện ảnh Hoa Kỳ, phim dàn dựng rất công phu của điện ảnh Hollywood được hàng tỷ người trên thế giới đọc và xem từ trước đến nay. Nhờ đó, mọi người mới hiểu được góc cạnh của cuộc nội chiến Nam-Bắc của Hoa Kỳ. Tình người với nhau để hàn gắn vết thương sau chiến tranh.

    Atlanta trước đây là thị trấn nông nghiệp trở thành trung tâm lịch sử với nhiểu bảo tàng, trong đó có ngôi nhà của Margaret Mitchell và phim Gone with the Wind… Ngôi nhà thời thơ ấu của MS Martin Luther King (1929-1968 ở Atlanta cùng các tòa nhà lân cận được công bố là di tích lịch sử Quốc Gia Martin Luther King, Jr.

    Ở Việt tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió được Vũ Kim Thư dịch từ đầu thập niên 50 (nay được tái bản nhiều lần và bản dịch của Dương Tường năm 2002). Phim Cuốn Theo Chiều Gió chiếu tại Sài Gòn và các thành phố lớn. Có lẽ cảm hứng từ cuốn phim, nhạc phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Anh Việt Thu sáng tác năm 1970.

    Tác phẩm lấy bối cảnh miền Nam nước Mỹ trong cuộc nội chiến Bắc-Nam. Câu chuyện trải dài mối tình của nàng Scarlett với những nhân tình với “hỉ, nộ, ái, ố” say đắm, yêu thương, dang dở, hững hờ và phản bội. Tiểu thư Scarlett tuổi trăng tròn, con gái cưng của chủ đồn điền Tara, tuy không sắc sảo nhưng trông quyến rũ, dễ thương. Hình ảnh mà Nguyên Sa tơ tưởng “Em gầy như liễu trong thơ cổ, Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường”. Tương lai đang đón chào nhưng cuộc nội chiến xảy ra, Scarlett bị loạn lạc trong cơn lốc rồi lận đận trong tình trường như lời thơ Hữu Loan “Lấy chồng thời chiến binh. Mấy người đi trở lại”… và nếu có trở về thì duyên phận trớ trêu! Scarlett bao năm theo đuổi cuộc tình để rồi cuối cùng bẽ bàng trước câu nói “My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần)!. Bạn bè với nhau mà chửi thề chữ a damn cũng nộ khí xung thiên xuống gì là tình nhân. Đau lòng cho cô tiểu thư con nhà khue các đã cuốn theo chiều gió!

    Với tác phẩm dày cả nghìn trang, khó tóm tắt ngắn gọn nên dựa theo Kiwipedia tóm lược Cuốn Theo Chiều Gió theo dòng thời gian: Tác phẩm mở đầu vào tháng 4 năm 1861 với nhân vật chính của truyện, Scarlett O’Hara đang ở đồn điền Tara nhà mình ở quận hạt Clayton, Georgia cùng với hai anh em sinh đôi Brent và Stuart Tarleton sống ở đồn điền kế bên. Qua cuộc nói chuyện này, Scarlett biết rằng người nàng thầm yêu từ lâu Ashley Wilkes nhưng chàng chuẩn bị đính hôn với cô em họ là Ilanie Hamilton ở Atlanta. Scarlett choáng váng khi nghe tin đó và cuộc nói chuyện cũng kết thúc. Nàng vội vã đi tìm cha mình, Gerald O’Hara, để xác minh lại câu chuyện và cha nàng khuyên nếu nàng và Ashley lấy nhau sẽ là một điều tồi tệ và nàng nên lấy một trong hai anh em sinh đôi trên.

    Scarlett cho rằng Ashley có ý định đính hôn vì chàng không biết nàng đã yêu mình.. Nàng quyết định trong buổi tiệc ngoài trời tại trại Twelve Oaks sẽ thổ lộ tình yêu với chàng và cùng chàng trốn đi. Nhưng mọi thứ không theo kế hoạch của Scarlett, tuy Ashley ân cần với nàng nhưng nói rằng chàng vẫn sẽ cưới Ilanie. Vị khách không mời trong buổi tiệc, Rhett Butler, người vô tình lắng nghe toàn bộ câu chuyện buông lời trêu chọc Scarlett làm nàng nổi điên, điều này lại ngẫu nhiên quyến rũ Rhett. Trong cơn tức giận cùng với việc nghe lén Honey Wilkes, vợ chưa cưới của Charles Hamilton nói xấu mình, Scarlett đã nhận lời lấy Charles Hamilton vừa làm Ashley ghen vừa trả thù Honey. Buổi tiệc kết thúc cũng là lúc có tin cuộc nội chiến Hoa Kỳ nổ ra và các chàng trai phải đi nhập ngũ.

    Đám cưới của Scarlett diễn ra nhanh chóng sau đó 2 tuần để Charles nhập ngũ, một ngày trước đám cưới giữa Ashley và Ilanie. Một tuần sau khi cưới, Charles nhập ngũ và 2 tuần sau, Ashley cùng đội kỵ binh của tiểu bang lên đường. Tuy nhiên, Charles đã chết vì bệnh đậu mùa ở căn cứ Nam Carolina trước khi có dịp được ra chiến trường. Sau đó, con trai Charles ra đời và được đặt tên là Wade Hampton Hamilton (theo tên chỉ huy của Charles là tướng Wade Hamilton).

    Góa phụ Scarlett lúc nào cũng mặc đồ tang, sống thầm lặng, nàng cảm thấy đau đớn vì sự buồn chán và việc phải làm mẹ hơn là cái chết của chồng. Mẹ nàng, Ellen O’Hara, muốn nàng vơi bớt nỗi buồn đã gửi nàng đến Atlanta sống cùng Ilanie và bà cô của Charles, Pittypat Hamilton. Scarlett đến Atlanta vào tháng 5 năm 1862. Tại đây, Scarlett nhanh chóng thích sự nhộn nhịp và hối hả của thành phố này. Nàng bị bắt buộc làm y tá tình nguyện ở dưỡng đường nhưng vô cùng chán ghét công việc này. Vì còn đang chịu tang chồng nên nàng bị cấm đoán đủ thứ, trong đó có cuộc bán đồ phúc thiện với sự góp mặt của nhiều cư dân thành phố, nhưng đến cuối cùng, Scarlett may mắn được dự vì để thay cho một bà khác có con bị bệnh. Tại đây, nàng gặp lại Rhett Butler, giờ đây là thuyền trưởng vượt phong tỏa, chuyên chở các mặt hàng thiết yếu cho miền Nam. Rhett Butler đã mời nàng khiêu vũ, mặc dù đang chịu tang nhưng Scarlett vẫn đồng ý vì nàng thèm muốn được khiêu vụ để thoát khỏi cái vỏ nhàm chán của một góa phụ.

    Kể từ đó mối qua hệ giữa Scarlett và Rhett với nhau. Rhett bản tính hài hước, hay trêu chọc Scarlett và cố làm cho nàng vui. Tuy nhiên gần như cả thành phố đều căm ghét hắn. Scarlett lại lúc nào cũng chỉ nghĩ đến Ashley. Tình hình ngoài mặt trận ngày càng căng thẳng. Thất bại của quân đội liên bang miền Nam trong trận Gettysburg trong cuộc nội chiến và thương vong của quân đội liên bang ngày càng nhiều. Giáng Sinh năm 1862, Ashley trở về nhưng trái với mong đợi của Scarlett, chàng chỉ quan tâm đến vợ mình, Ilanie. Ngày Ashley rời nhà trở lại chiến trường, Scarlett lại một lần nữa thổ lộ tình yêu với chàng hy vọng chàng sẽ bỏ vợ để cưới nàng nhưng chàng không nói gì và dặn dò nàng chăm sóc Ilanie nếu chàng có mệnh hệ gì ngoài chiến trường. Chàng vội vã ra đi và lần thứ hai, Scarlett vỡ mộng.

    Cuộc nội chiến ngày càng diễn biến bất lợi cho miền Nam. Sau những thất bại liên tiếp, quân đội liên bang miền Bắc đã tiến sát và bao vây Atlanta, do đó người dân thành phố phải tổ chức di tản. Tuy nhiên, Scarlett và Ilanie không thể đi cùng mọi người vì Ilanie đang có thai và có thể sinh con bất cứ lúc nào. Do các bác sĩ phải chăm sóc các thương binh nên Scarlett phải đỡ đẻ cho Ilanie. Sau khi Ilanie sinh xong, Scarlett phải cầu cứu Rhett và anh đã lấy cắp của quân đội cho nàng một chiếc xe ngựa nhưng con ngựa vô cùng ốm yếu. Anh chở Ilanie và con nàng là Prissy cùng Wade và Scarlett, chạy khỏi Atlanta. Tuy vậy, đi đến giữa đường thì Rhett bỏ mặc những người còn lại để gia nhập quân đội liên bang. Trước khi đi, anh hôn nàng và nói yêu nàng nhưng Scarlett giận dữ chửi rủa và tát hắn.

    Scarlett trở về đồn điền Tara và gặp những cảnh tượng kinh hoàng: Mẹ mất vì bệnh, ngôi nhà bị tàn phá nặng nề, phần lớn các nô lệ đã bỏ trốn, 2 người em gái bệnh nặng nằm liệt giường và người cha bị sốc vì cái chết của vợ cũng trở nên loạn trí. Giờ đây Scarlett trở thành chủ nhân của Tara. Với bản tính kiên cường và cách suy nghĩ thực tế, nàng dần vực dậy đồn điền Tara và làm mọi công việc, kể cả những việc mà khi xưa chỉ có nô lệ làm. Một tên lính Yankee đến ăn cắp đã bị nàng cầm súng bắn chết. Ilanie vẫn còn phải nằm trên giường sau khi sinh xong nhưng vẫn cầm thanh kiếm của Charles đến giúp tuy nàng không đủ sức nâng nó. Hành động này khiến Scarlett thán phục và tình cảm của cô dành cho Ilanie giờ đây bắt đầu trỗi dậy. Sau đó, Scarlett chôn tên lính ngay tại Tara.

    Chiến tranh gần kết thúc và đồn điền Tara lại bị tàn phá lần nữa khi quân đội liên bang miền Bắc đến. Một tháng sau thì cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi thuộc về liên bang miền Bắc. Những người lính bại trận trên đường trở về nhà đã ghé qua Tara để lấy thức ăn hoặc dưỡng thương. Trong số đó có một người lính bị thương nặng tên là Will Benteen, được em gái Scarlett là Carreen chăm sóc cẩn thận. Sau khi bình phục, Will đã ở lại Tara và giúp đỡ Scarlett vực dậy nó. Có Will, công việc của Scarlett đã được đỡ đần rất nhiều.

    Ashley sau khi chiến tranh kết thúc vẫn chưa về được vì còn là tù binh của liên bang miền Bắc. Rồi một ngày, chàng bất ngờ xuất hiện tại Tara. Cả Scarlett và Ilanie đều chạy ra đón chàng nhưng Will ngăn Scarlett lại khiến Scarlett bất đắc dĩ phải quay trở lại. Chiến tranh kết thúc nhưng một lần nữa số phận đồn điền Tara lại bị đe doạ khi chính phủ Yankee (người Anh gọi liên minh miền Nam) tăng tiền thuế của đồn điền lên để Scarlett không có tiền trả và phải nhượng lại Tara cho tên quản gia Yankee cặn bã Jonas Wilkerson và vợ hắn. Để có tiền cứu Tara, Scarlett phải đến Atlanta mượn tiền Rhett. Rhett vô cùng giàu có nhưng lúc này đang phải ngồi tù. Scarlett trang điểm và đến thăm Rhett để mượn một khoản tiền mà không để anh biết là nàng đang cố tán tỉnh anh vì tiền. Nàng đã gần như thuyết phục được Rhett cho đến khi đôi mắt sắc sảo của anh thấy đến bàn tay chai sần của Scarlett, bằng chứng cho những công việc nặng nhọc mà nàng đã làm và hoàn cảnh của gia đình, khiến cô phải thú nhận mục đích thật sự của chuyến viếng thăm. Cuối cùng, Rhett đã từ chối cho cô mượn tiền.

    Trong cơn tuyệt vọng, Scarlett tình cờ gặp Frank Kennedy, chồng chưa cưới của Suellen, chủ cửa hàng và có khoản tiền khá. Bằng cách nói dối Frank rằng Suellen đã lấy người khác, Scarlett đã quyến rũ Frank để ông lấy mình. Nàng đã thành công và có tiền cứu Tara. Sau khi ra tù, Rhett cho nàng mượn tiền để có thể mua thêm xưởng cưa với điều kiện là nàng không được dùng tiền giúp Ashley Wilkes.

    Scarlett điều hành xưởng cưa thành công nhưng nó cũng làm cho nàng bị nhiều dị nghị vì đó không phải là việc dành cho phụ nữ. Sau đó nàng đã có thai với Frank nhưng vẫn thường xuyên xuất hiện nơi công cộng nên ngày càng nhiều người khinh ghét. Sau đó không lâu, Gerald qua đời. Khi về Tara dự đám tang, nàng biết được rằng cái chết của cha mình có liên quan trực tiếp đến cô em gái Suellen. Will dù yêu Carreen nhưng cuối cùng đã lấy Suellen để làm dịu lại quan hệ gia đình. Carreen sau cái chết của Brent Tarleton vì quá đau khổ nên gửi mình vào tu viện. Sau đám tang cha, Scarlett đã mời Ashley trở lại Atlanta giúp nàng điều hành xưởng cưa và ngăn chàng lên miền bắc kiếm việc làm. Ashley lưỡng lự nhưng Ilanie kiên quyết đồng ý nên Ashley đành chiều theo ý vợ.

    Sau khi sinh con, Scarlett thường xuyên lái xe ngựa một mình đến xưởng cưa mặc dù đã nhiều lần được cảnh báo về sự nguy hiểm. Một ngày nọ nàng bị một tên da trắng nghèo khổ và một tên da đen tấn công và suýt bị cưỡng hiếp. May mắn là Big Sam, một nô lệ da đen từng làm việc ở Tara, đã cứu nàng kịp thời. Frank, Ashley và một số người đàn ông khác thuộc đảng Ku Klux Klan (KKK) phải đi trả thù và kết cục là Ashley bị thương và Frank bị giết. Còn các thành viên còn lại được Rhett, với sự giúp đỡ của Belle Watling, gái mại dâm ở Atlanta, đã dựng chuyện và tìm cách cứu họ. Từ đó mối qua hệ của Rhett và người dân thành phố dần dần được phục hồi. Sau cái chết của Frank, Rhett ngay lập tức cầu hôn Scarlet trước khi nàng có thể lấy một người nào khác.

    Scarlett lấy Rhett. Anh chiều chuộng nàng hết mức và tạo điều kiện cho nàng hưởng thụ những thú vui mà Scarlett chưa bao giờ biết đến ở New Orleans. Cũng qua Rhett mà Scarlett có được những người bạn mới: Những người Yankee và những kẻ giàu lên nhờ đầu cơ và làm ăn gian dối trong chiến tranh. Do đó mà mối qua hệ giữa vợ chồng Scarlett và những người bạn cũ ngày càng trở nên xấu đi và trong một buổi tiệc, vợ chồng Scarlett đã mời thống đốc tiểu bang thuộc đảng Cộng Hòa đến dự khiến tầng lớp thượng lưu miền Nam hoàn toàn cắt đứt mối qua hệ với hai người, ngoại trừ Ilanie.

    Scarlett sau đó cũng sinh cho Rhett một đứa con gái mặc dù nàng cũng không hề muốn. Đứa bé được đặt tên là Eugenia Victoria. Cô bé vô cùng xinh đẹp với đôi mắt xanh dương nên được đặt thêm biệt danh Bonnie Blue Butler, theo tên lá cờ liên bang Bonnie Blue Flag. Rhett vô cùng hạnh phúc và rất thương yêu con gái mình. Nhưng vì tình yêu với Ashley, Scarlett kiên quyết không ngủ chung với chồng nữa để tránh việc mang thai lần nữa. Rhett tức giận và cãi cọ liên tục với nàng về mối qua hệ bạn bè, cách nuôi dạy con cái. Anh muốn con gái mình sẽ trở thành một công chúa trong tầng lớp thượng lưu miền Nam cũ. Rồi Rhett cùng với con gái đi khỏi Atlanta một thời gian.

    Tại Georgia, Rhett cùng với những bạn bè xưa cũ khiến cho quan hệ giữa anh và họ ngày một tốt đẹp, thực chất là anh muốn gây dựng tương lai và thanh danh cho con gái Bonnie, mà giờ đây Rhett nổi tiếng là một người bố yêu thương con hết mực. Ilanie tổ chức bữa tiệc sinh nhật bất ngờ cho Ashley. Ilanie nhờ Scarlett đến xưởng cưa giữ chân Ashley để mình có thêm thời gian chuẩn bị. Tại đây, Ashley và Scarlett vì xúc động khi nhớ về những ngày xưa êm đềm, đã ôm nhau trong tình cảm trong sáng, nhưng lại bị India Wilkes, bà Elsing và Archie, đánh xe của Ilanie bắt gặp. Rhett biết được chuyện này từ Archie nhưng vẫn bắt Scarlett phải đến dự buổi sinh nhật của Ashley với phong thái kiêu hãnh và can đảm, để không huỷ hoại tương lai của Bonnie. Ilanie cũng nghe chuyện nhưng với tâm hồn trong sáng, nàng nhất mực không tin và ra sức bênh vực Scarlett. Ilanie một lòng tin tưởng Scarlett vì những gì Scarlett đã làm cho nàng. Cũng vì đứng về phía Scarlett, Ilanie đã gây chia rẽ trong gia đình và bạn bè thân hữu.

    Đêm hôm đó, Scarlett bắt gặp Rhett trong trạng thái say khướt. Sau đó, Rhett xốc bổng nàng lên cầu thang và cả hai trải qua một đêm ân ái đầy nồng nàn. Scarlett thức dậy một mình vào sáng hôm sau và háo hức muốn gặp chồng nhưng Rhett lẫn tránh nàng. Rhett đưa Bonnie đến Luân Đôn. Anh bỏ đi khiến Scarlett cảm thấy day dứt về những việc mình đã làm với anh và cả với hai đứa con đầu của mình. Nàng có thai lần nữa và đây là lần đầu tiên cảm thấy hạnh phúc vì điều đó. Ngày Rhett cùng Bonnie trở về, nàng đã háo hức muốn báo tin đó cho Rhett, nhưng không tin vào tình yêu mình nhìn thấy trong mắt Scarllet, anh giễu cợt nàng. Scarllet quá tức giận nên ngã cầu thang và sẩy thai.

    Sau tai nạn đó, Scarlett phải về Tara một thời gian để điều dưỡng. Rhett đã bàn với Ilanie tìm cách lừa Scarlett để cô nhượng lại hai xưởng cưa cho Ashley. Bonnie được Rhett cưng chiều, cô bé rất thích cưỡi ngựa. Một ngày, Bonnie gặp tai nạn trong khi cho ngựa vượt rào và gãy cổ. Rhett bị chấn động tâm lý nặng nề sau cái chết của Bonnie và chỉ có Ilanie mới giúp anh vượt qua cú sốc đó.

    Ilanie mang thai và giấu mọi người để sinh con, mặc dù đã bị bác sĩ cấm đoán. Nhưng do sức khỏe quá yếu, nàng lâm nguy kịch. Scarlett về sau khi nhận được điện khẩn của Rhett. Trên giường bệnh, Ilanie trăng trối lại với Scarlett hãy giúp nàng chăm sóc Ashley và Beau. Cuối cùng, Ilanie khuyên Scarlett hãy trân trọng Rhett và tình cảm của hắn. Scarlett bỏ chạy và gặp Ashley. Giờ đây nàng mới nhận ra Ilanie quan trọng với mình và suốt bao nhiêu năm qua, tình yêu của nàng đối với Ashley cũng chỉ như khi một đứa bé muốn với tới một mặt trăng hão huyền, đó là tình yêu do nàng tưởng tượng ra, chỉ là ảo huyền.

    Trong lúc tuyệt vọng, Scarlett nghĩ đến Rhett và chợt nhận ra Rhett mới là người nàng cần. Nàng đã dần yêu Rhett trong bao nhiêu năm qua nhưng cái bóng quá lớn của Ashley đã chặn tầm mắt nàng lại.. Rhett luôn luôn ở bên Scarlett mỗi khi nàng cần và giúp đỡ nàng theo cách tuyệt vời nhất, bằng sự thông hiểu sâu sắc. Nàng vội vã đi tìm Rhett nhưng giờ đây anh lại hoàn toàn ghẻ lạnh với nàng. Anh lạnh lùng bảo tình yêu bao năm qua anh dành cho nàng giờ đã lụi tàn cùng với sự thờ ơ anh nhận được, chỉ còn lại hai điều nàng ghét nhất là lòng thương hại và nhân từ.

    Choáng váng vì những gì nghe thấy nhưng Scarlett vẫn can đảm thổ lộ tình yêu với Rhett nhưng chàng lại phán “My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần), bạn bè khi giận nhau mà chửi thề dùng damn dễ gây ấu đả huống chi nói với nhân tình! Scarlett lặng lẽ nhìn Rhett bỏ đi và giờ đây nàng nhận ra, vì nàng không hiểu hai người mình yêu nên đã để tuột mất cả hai. Nàng quyết định sẽ trở về Tara, nơi nàng đã từng vực dậy từ trắng tay. Với tính tình mạnh mẽ cứng cỏi, Scarlett tin rằng mình có thể chiếm lại được Rhett. Chưa người đàn ông nào cưỡng lại nàng nếu nàng quyết tâm chinh phục.

    Tác phẩm kết thúc với hình ảnh Scarlett trải qua bão táp nên cương nghị đứng trước đồn điền Tara ngập nắng với câu tiếp sức mạnh quen thuộc của mình: “Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới” (After all, tomorrow is another day!). Ban đầu nhà văn muốn dùng câu nầy làm tựa đề nhưng nhà xuất bản chọn tên cho tác phẩm rất hay.

    Ngày nay nước Mỹ có 700 sắc tộc sinh sống với 5 nhóm là Dân Bản Địa (Native American), Người Mỹ gốc Châu Âu (European American), Người Mỹ gốc Phi (African American), Người Mỹ gốc Latinh (Hispa American) và người Mỹ gốc Châu Á (Asian American) vì vậy gọi là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Đề cập đến cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ (American Civil War, 1861–1865) trong nhiệm kỳ Tổng Thống Abraham Lincoln (1861-1865). Thời điếm lập quốc, lịch sử Hoa Kỳ đề cao vị Tổng Thống: George Washington (1789 đến 1797), John Adams (1735–1826) và Thomas Jefferson (1743–1826). TT George Washington được người dân Mỹ gọi là “cha già dân tộc” (sau nầy CSVN gọi HCM bắt chước tên gọi như vậy nên người Việt tị nạn CS dị ứng với tên gọi nầy), TT Thomas Jefferson có công lao lưu lại hậu thế với Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 4 tháng 7 năm 1776 và là người sáng lập ra đảng Dân Chủ.

    Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, HCM tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.. Câu nói nầy quen quen vì trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc.

    Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền & Dân Quyền của Cách Mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948

    Điều 1: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái”.

    Điều 7: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này”.

    Thế nhưng các nước Cộng Sản và độc tài đã vi phạm trầm trọng Tuyên Ngốn Quốc Tế Nhân Quyền nầy, trong đó có 5 nước trong thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ: Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc thì Nga và Trung Quốc đã không tuân thủ còn cố tình xâm nhập vào các nước khác như Hoa Kỳ hiện nay để gây cơn lốc “kỳ thị chủng tộc”.

    Hoa Kỳ trong thời điểm đối phó với đại dịch Virus Tàu Cộng lại xảy ra hai cái chết của hai người đàn ông da màu (gốc Phi) George Floyd ngày 25 tháng 5 tại Minneapolis, tiểu bang Minnesota và Rayshard Brooks ngày 14/6 vừa qua tại Atlanta, nơi chốn của tác giả Cuốn Theo Chiều Gió.

    Đây là đất nước thượng tôn pháp luật, kẻ thi hành pháp luật vi phạm sẽ bị tòa án xét xử công khai tội trạng nhưng vì động cơ chính trị trong thuyết âm mưu đã “mượn gió bẻ măng”, đổ dầu vào lửa để lấy lý do kỳ thị chủng tộc gây cơn bão táp trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Đây cũng là cơ hội cho một số cơ quan truyền thông khai thác tận gốc rễ trên chính trường Hoa Kỳ mà thời gian qua xảy ra hằng ngày. Cơn lốc còn xoáy trong giai đoạn bầu cử, sẽ hạ hồi phân giải nhưng những giá trị truyền thống của lịch sử đã và đang bị triệt hạ tưởng chừng những Vệ Binh Đỏ của Mao & Giang Thanh trong thời kỳ “Cách Mạng Văn Hóa” vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1966, nay lại xảy ra trên mảnh đất tự do!

    Ngày 9 tháng 6, HBO Max thông báo ngưng chiếu phim Gone with the Wind trên băng tần của họ. May mà di sản tác giả và tác phẩm của Cuốn Theo Chiều Gió không bị thiêu đốt như sau tháng 4/1975 tại Sài Gòn. Bàn chuyện chính trị ở Hoa Kỳ rất phức tạp, phe nầy phe nọ, kẻ bênh vực, người chống đối “miệng lưỡi thế gian, trăm đường lắt léo” khó phân biệt và phức tạp vì vậy tôi không đề cập. Đôi khi “chuyện làng mang vào nhà” vợ chồng, bạn bè thân tín tranh cãi, bất đồng quan điểm dẫn đến bất hòa thì chuyện xảy ra trên chính trường Hoa Kỳ như lằn ranh của hai bờ chiến tuyến.

    Trở lại tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió, nhà văn Margaret M. Mitchell rất tinh tế khi dẫn dắt qua từng mẩu chuyện, chẳng có gì đào sâu nạn kỳ thị chủng tộc nhưng sự tị hiềm nên “bé xé ra to”.

    Vương Trùng Dương

  • ĐIỂM SÁCH,  Viet-Hải

    NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM: NGƯỜI ĐI TÌM DĨ VÃNG

    Việt Hải

    Đây là một Tuyển tập gồm 24 truyện ngắn, sách mang đề tựa truyện ngắn Người Đi Tìm Dĩ Vãng, cốt truyện mô tả chuyện tình giữa 2 nhân vật, thương nhau trong thời chiến, chàng theo học khóa sĩ quan ở Nha Trang, nàng là học viên khóa Sư Phạm Qui Nhơn, họ yêu nhau trong mối tình ở miền thùy dương cát trắng, sau biến cố mất miền Nam Việt Nam, chàng di tù Việt Cộng, cha chàng theo CS tập kết ra bắc, nhưng ông không giúp gì được cho chàng. Chàng không đủ điều kiện sang Mỹ theo chương trình HO, vì số năm tháng ở tù không hội đủ, chàng phải sống bằng nghề nấu rượu lậu, trong cảnh chán nản cuộc đời chàng hay say xỉn, xỉn say. Kết quả chàng bị bệnh ung thư gan.

    Môt khi chọn hành nghề nấu rượu lậu, một vốn … bốn lời, ban đầu thì còn ngần ngừ, e ngạì, nhưng khi đói đầu gối cứ phải bò, ông vẫn phải làm những việc mà mình không hề muốn. Với những chén rượu hằng ngày tự bàn tay của chàng cất rượu ra, lâu dần đã gậm nhấm từng tế bào da thịt, biến chứng do cồn biến dạng từ hình hài lẫn tình cảm, giết chết hẳn một con người oai hùng, hiên ngang một thuở chinh chiến, giết luôn cả phần tương lai còn lại với chứng bịnh ung thư gan. Nguyên nhân do tâm sinh lý đều bịnh hoạn. Chàng ra di. Trút sạch nợ trần gian, như lời nói của ông chủ quán bán bên đường nói:

    “….. cũng nên đi sớm cho khoẻ tấm thân…”

    Còn người đàn bà ngồi trên xe trở về lại thành phố, bên tai vẫn còn nghe văng vẳng tiếng khóc và lời kể lể của người góa phụ vừa khoác áo tang chồng:

    “Từ lúc tui dìa làm dợ ổng, tui cứ thấy ổng buồn quài (hoài), nhưng hỏi ổng đâu có nói. Rồi thời cuộc đưa đẩy, ổng ở tù dià, cứ lầm lầm lỳ lỳ. Khi cha con gặp lại nhau, họ cãi nhau quá trời, nói cũng vì ông cha theo cộng sản mà ổng mất hết, sống cũng như chết, làm hại cả một đời mẹ con ổng, mà cuối cùng cũng chẳng được, dù quyền cao chức trọng gì, lại còn nghèo xác nghèo xơ. Hai cha con đã không có gần gũi đến khi cha ổng mất. Còn tài sản thì mấy đứa con riêng của ông cha chiếm hết, vì họ có quyền, nên anh em cũng không thựng (thuận) thảo, tới lui. Tui cứ nghĩ cộng sản dô nên ổng trở dìa làm dân, mất hết, tui đâu biết ổng nói xa nói gần, mãi đến khi gần chết, ổng mới kêu mẹ con tui lại, ổng xin lẫu (lỗi) đã không làm tròn bổn phận làm chồng, làm cha trong bao nhiêu năm qua, biểu tha lẫu (lỗi) cho ổng, rầu (rồi) ổng khóc nói hầu (hồi) trước ổng có yêu một ngừ (người), mà tại lý lịch cha ổng, nên ổng để mất ngừ (người) ta…. May mà chị đã dià nhằm ngày đưa đám tang ổng, chắc ổng cũng được ngậm cừ (cười) nơi chín suối… “(hêt)

    Câu truyện kể về một dĩ vãng u buồn, xót xa do số phận con người, theo nhà thơ Vũ Hoàng Chương cho là “sinh lầm thế kỷ” (theo bài thơ Phương xa), quá bi ai, bi đát. Tác giả Hoài Niệm khéo léo xây dựng cốt truyện dựa vào những dữ kiện thật đã xảy ra trong xã hội ở miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư. Tác giả cho đoạn kết luận mở (open conclusion, conclusion ouverte), kết luận dùng một đoản văn phương ngữ Ninh Hòa, khiến cho độc giả bật cười nhẹ nhàng, một cảm nhận thú vị hóm hĩnh và ý nhị vui tươi dí dỏm, tạo ra yếu tố hài hước tinh tế.

    Văn hào Nga Maxim Gorky nhận xét về lối văn xuôi, văn chương, người viết văn viết lên những câu chuyện phản ảnh những sinh hoạt xung quanh dời sống. Tôi cho là nhà văn Hoài Niệm là điển hình cho một ngòi bút về tiểu thuyết, hay truyện ngắn xuất sắc, cú pháp vững chắc, bà dùng lối văn viết rõ ràng, mạch lạc dễ hiểu, theo nguyên tắc sư phạm ứng dụng. Bố cục của nhiều câu truyện trong tuyển tập này, dựa theo những chuỗi sự kiện dược sắp xếp theo tuần tự hợp lý và vững chắc. Dĩ vãng hay hoài niệm là chuổi thời gian đã qua, dù khôn nguôi, nhớ hoài cho tôi liên tưởng đến tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” (Pháp ngữ là À la recherche du temps perdu) là bộ tiểu thuyết kễ về dĩ vãng dã qua, cuốn Tiểu thuyết này được xếp vào trong số 10 cuốn tiểu thuyết được thanh niên Pháp ưa thích nhất trong thế kỷ 20. Tạp chí Time cũng bình chọn Đi tìm thời gian đã mất nằm trong danh sách mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại.

    Thêm nữa, tôi liên tưởng tiểu thuyết sự gần gũi giữa tác phẩm Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm vã cuốn tiểu thuyết Dĩ Vãng Khôn Nguôi của nhà văn Khánh Lan do yếu tố có cùng dĩ vãng 30 tháng Tư năm 1975 của Việt Nam Cộng Hòa.

    Trong tập sách Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm có truyện ngắn mang tên là Tâm Sự Barbara. Đây là cốt truyện về con chó mang tên Barbara, Barbara sống trong một gia đình người Mỹ sung sướng, về sau Barbara lạc phận mệnh số, dù Barbara, bị gia chủ cho phẩu thuật triệt sản (sterilization surgery), no more sex impact mây mưa, trường chay mãn kiếp, tu thân tích đức. Rồi Barbara lạc phận vào một gia dình phật giáo Việt Nam, chó Barbara trải qua kiếp văn hóa Việt, nào những thi ca như Thịt cầy mà thiếu lá mơ, như thuyền không bến, như thơ không vần, hay thi ca về em Barbara, như sau:

    Riềng tươi thịt chó cũng tươi

    Lá mơ gói lại chúng cười với nhau

    Tu hành ta hãy mau mau

    Rót thêm chén rượu trước sau vẹn toàn

    ….

    Lá mơ mọc trước cổng chùa

    Khóm riềng hậu viện còn đùa gió thu

    Nửa đêm nghe tiếng chó tru

    Sáng ra đã thấy thợ tu nướng dồi

    Anh chỉ ước một thảo nguyên đầy Chó,

    Một cánh đồng bát ngát lá mơ xanh

    Một dãy sân sau đầy riềng, sả, ớt, hành

    Một dòng sông chứa đầy bia với rượu

    Ðể nơi ấy tháng ngày anh tu luyện

    Xa bụi trần gian đánh chén Barbara,…

    Bài thơ khác về Barbara.

    Nghe vẻ nghe ve…

    Nghe vè thịt chó

    Đứa nào chịu khó

    Nấu nước cạo lông

    Đứa nào ở không

    Đi mua đồ nấu

    Đứa nào xấu xấu

    Xắt sả nạo dừa

    Đứa nào không ưa

    Đi ra chỗ khác

    Tao làm một lát

    Xúm lại mà ăn

    Đừng có lăng xăng

    Thiên hạ đàm tiếu

    Con chó chút xíu

    Chín mười thằng ăn

    Đừng có xỉa răng

    Sau khi ăn chó

    Chút thịt dính đó

    Ba bữa còn thơm

    Xỉa ra ăn cơm

    Vẫn còn ngon chán!

    Nếu mà có ngán

    Rượu đế đưa cay

    Vừa đã vừa say

    Cao lương không đổi

    Thịt chó ăn tối

    Mát bụng ngủ ngon

    Vợ chồng thêm con

    Barbara tình em

    Nghe vẻ nghe ve

    Nghe vè thịt chó,…

    Barbara tinh em

    Hỡi em Barbara,

    Sống trên đời ăn miếng dồi chó

    Chết xuống âm phủ, biết có hay không?

    Tác giả Hoài Niệm cho em Barbara vào chùa Phật giáo nghe kinh kệ Nhân Quả Luân Hồi ,… Phần lớn người Việt dù có theo hay không theo đạo Phật thì trong thâm tâm vẫn hướng thiện, việc sát sinh hoặc ăn thịt cầy là những điều cấm kỵ. Trong một nghiên cứu về văn hóa học, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Chương của Viện Đại học Đà Lạt khi bàn về việc ăn thịt cầy và quy luật âm dương ngũ hành đối với sức khỏe con người, ông cho rằng, một mặt, giáo lý Phật giáo cấm sát sinh, một mặt thịt cầy là món ăn nhiều đạm, khi ăn thịt cầy thường phải uống rượu. Nhập vào cơ thể nhiều đạm lại có thêm rượu sẽ tạo nên hưng phấn, khiến con người có những hành vi mây mưa ong bướm, những hoạt động không chuẩn mực chân tâm thánh thiện như ngay trong ngày thường. Trong dân gian thường rất kiêng kỵ ăn thịt cầy, hay thịt chó, tức là con gái Barbara, của bà Hoài Niệm.

    Bây giờ hãy xét qua mối tương quan giữa nghiệp báo và sự kiện tái sinh. Luân hồi dựa trên nghiệp (karma) tức hành động có chủ đích. Với chó, một sinh vật có bản năng, nghiệp của nó chủ yếu do chủ nhân và môi trường tạo ra. Một con chó được dạy dỗ tử tế, bảo vệ chủ, giúp đỡ người khác, thì nghiệp lành của nó được tăng cường. Ngược lại, chó được huấn luyện để cắn, giết, sẽ tạo nghiệp ác, dẫn đến kiếp sau khó lên khi đầu thai hóa kiếp.

    Trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa, có câu chuyện về một con chó bị chủ đánh đập, nó chạy đến chân Đức Phật khóc. Đức Phật bảo: “Trong kiếp trước, con gái Barbara là người bóc lột người khác, nên nay rơi vào kiếp chó Barbara để trả nợ. Nhưng vì nó vẫn giữ được lòng trung thành, nên Barbara con gái sẽ được siêu thoát”. Điều này cho thấy nghiệp báo không tuyệt đối, sự hối cải và đức hạnh trong kiép hiện tại vẫn có thể thay đổi vận mệnh tương lai.

    Các nhà nghiên cứu tâm lý học và khoa học thần kinh động vật (Researchers in animal psychology and neuroscience) cũng đề cập đến khả năng “tái sinh” dưới góc độ ý thức và trí nhớ. Bác sĩ thú y và nhà hành vi học động vật, Dr. Alexandra Horowitz, trong cuốn “Inside of a Dog”, chỉ ra rằng chó có ký ức cảm xúc mạnh mẽ, trí nhớ lâu dài về con người và nơi sống. Một số người tin rằng, khi một con chó quá trung thành, ký ức và tình cảm của nó có thể “chuyển tiếp” sang một đời người mới, tạo nên cảm giác quen thuộc. Tuy vậy, từ góc độ khoa học, đây chỉ là giả thuyết, không có bằng chứng sinh học. Niềm tin vào luân hồi chủ yếu thuộc về tâm linh và văn hóa. Điều quan trọng là nó tác động tích cực đến hành vi của con người: đối xử tốt hơn với thú cưng, vì có thể họ đang đối xử với một linh hồn từ kiếp trước.

    Con gái Barbara, của bà Hoài Niệm ở phần kết luận khá thương tâm, u buồn như sau: “Con chó Barbara trong câu chuyện đã già và bịnh nặng không còn sức sống nữa, nên chủ nhà đã nhờ Bác sĩ thú y đến tận nhà, chích một mũi thuốc cho nó nhẹ nhàng ra đi. Và sau đó họ đem con chó đi hoả thiêu… Chỉ có người nuôi chó mới cảm thông nỗi đau khi tiễn con chó cưng Barbara nuôi mười lăm năm dài đã ra đi, không khác gì mất một người thân, nên chuyện khóc tiếc nuối không tránh khỏi.

    Adieu Barbara! Farewell Barbara! Sayonara Barbara!

    Cùng đề tài văn học Barbara của thi hào Pháp Jacques

    Prévert (*)

    ———————————————————————-

    (*): Jacques Prévert (1900 – 1977) là nhà thơ hiện đại nổi tiếng của Pháp, được công chúng yêu mến bởi ngôn từ bình dị nhưng không kém phần tinh tế. Ông cũng là tác giả gốc của bài hát nổi tiếng Lá Mùa Thu (Autumn Leaves).

    Thành Brest là nơi mà nhà thơ gặp cô gái có tên Barbara, nằm ở miền Bắc nước Pháp, là nơi có một căn cứ tàu ngầm của hải quân Đức trong thế chiến thứ hai. Vào những ngày cuối chiến tranh, Brest bị bom đạn san phẳng, chỉ còn lại ba ngôi nhà còn đứng vững. Bài thơ Barbara của Jacques Prevert gợi lên sự ám ảnh về tình yêu, mất mát và ký ức trong bối cảnh thành phố Brest nước Pháp bị phá hủy trong Thế chiến II. Nó kể về câu chuyện tình yêu nồng cháy, bị cắt đứt một cách bi thảm. Lời thơ giản dị mà trữ tình. Barbara có thể là người tình của tác giả, cũng có thể là nhân vật tượng trưng cho tình yêu thời chiến.

    Trích doạn thơ Barbara như sau:

    Barbara hỡi, hãy nhớ

    Em đừng quên

    Cơn mưa ngoan hiền hạnh phúc đó

    Trên khuôn mặt em hân hoan

    Trên thành phố bình an

    Cơn mưa trên mặt biển

    Trên xưởng tàu

    Trên con tàu ven đảo Ouessant.

    Rappelle-toi Barbara

    N’oublie pas

    Cette pluie sage et heureuse

    Sur ton visage heureux

    Sur cette ville heureuse

    Cette pluie sur la mer

    Sur l’arsenal

    Sur le bateau d’Ouessant

    Hỡi Barbara

    Cuộc chiến tranh xuẩn ngốc xiết bao

    Còn em giờ đã ra sao

    Dưới trận mưa lửa thép

    Dưới trận mưa máu trào

    Và người từng siết chặt em trong tay

    Tha thiết ngày nào

    Hiện sống còn đã mất hay biền biệt âm hao

    Hỡi Barbara.

    Oh Barbara

    Quelle connerie la guerre

    Qu’es-tu devenue maintenant

    Sous cette pluie de fer

    De feu d’acier de sang

    Et celui qui te serrait dans ses bras

    Amoureusement

    Est-il mort disparu ou bien encore vivant

    Oh Barbara

    Kết luận cả hai Barbara của Lê Thị Hoài Niệm, hay Barbara của Jacques Prévert đều cảm động và bi ai nổi lòng ở kết cuộc mang nhân bản tính. Xin cám ơn cả hai Barbara của Lê Thị Hoài Niệm, hay Barbara của Jacques Prévert trong văn học khai phóng nhân ái của con người.

    Việt Hải, California 2026