• Lê Nguyễn Nga

    HỒNG TƯỚC:  MỘT CÁNH CHIM ĐÃ BAY VỀ MIỀN VIÊN MIỄN

    Ngày 16 tháng 4 năm 2026, tôi bàng hoàng nhận tin ca nhạc sĩ Hồng Tước đã vĩnh viễn ra đi.

    Chỉ vài ngày trước đó, tôi còn đọc trên Facebook những dòng trao đổi của Hồng Tước với nhóm bạn. Chị có nhắc rằng bác sĩ vừa đổi thuốc mới. Không ai ngờ chỉ hai ngày sau, tin buồn ấy lại đến. Ban đầu thật khó tin, nhưng rồi cũng phải chấp nhận quy luật vô thường của đời người.

    Không phải chỉ vì Hồng Tước đã ra đi mà tôi viết những dòng tưởng niệm này, mà còn bởi lòng thương tiếc, biết ơn và trân quý đối với một người bạn, một người nghệ sĩ tài hoa đã để lại nhiều dấu ấn đẹp trong cuộc đời tôi.

    Trong quyển sách tôi đã xuất bản, có một bài viết ngắn ghi lại những kỷ niệm với Hồng Tước. Hôm nay, tôi xin được nhắc lại như một nén hương lòng tưởng nhớ chị.

    Năm 2016, khi tôi còn mang bệnh nặng và đang dưỡng bệnh tại một dưỡng đường, nhà văn Việt Hải tổ chức chương trình Chiều Nhạc Lam Phương. Nhờ sự nhớ đến của anh Việt Hải cùng vợ chồng họa sĩ Lưu Anh Tuấn, tôi được đưa đến tham dự buổi sinh hoạt văn nghệ hôm ấy.

    Bước vào nhà hàng, tôi được sắp xếp ngồi cùng bàn với Hồng Tước. Trước đó, chúng tôi đã nhiều lần gặp nhau trong giới văn nghệ sĩ. Chị Kim Tước vốn là bạn thân của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cùng nhiều anh chị văn nghệ tiền bối, nên chúng tôi không hề xa lạ.

    Có lẽ đó chính là một cái duyên đẹp.

    Hôm ấy, tôi mang theo quyển sách đầu tiên của mình để tặng Hồng Tước. Tôi cũng khoe với chị bài thơ mới viết mang tên Khúc Thu Ca và đề tặng ngay trên trang đầu của sách. Sau khi về nhà, Hồng Tước đọc đi đọc lại bài thơ nhiều lần. Chỉ trong một thời gian ngắn, chị đã phổ nhạc bài thơ với tất cả cảm xúc của mình.

    Không lâu sau, Hồng Tước gửi cho tôi ca khúc mới cùng video qua tiếng hát của ca sĩ Kim Tước. Bài hát được nhiều bạn bè yêu thích và đón nhận.

    Một năm sau, chị lại phổ nhạc thêm bài thơ Chiều Thu Vàng. Ca khúc được anh chị nghệ sĩ Hùng Nguyễn – Phương Thảo hòa âm, thu âm tại Hoa Kỳ và đưa lên YouTube. Riêng bài Chiều Thu Vàng, Hồng Tước còn tặng tôi một bức tranh tuyệt đẹp do chính chị sáng tác.

    Ngoài vai trò ca sĩ và nhạc sĩ, Hồng Tước còn là một họa sĩ với nhiều tác phẩm mang gam màu nhẹ nhàng, thanh thoát và đầy chất thơ.

    Nhờ hai ca khúc Hồng Tước phổ nhạc từ thơ của tôi, tôi càng có thêm động lực sáng tác. Sau đó, nhiều bài thơ của tôi tiếp tục được các nhạc sĩ Lam Dung, Hạnh Cứ, Cao Minh Hưng, Phạm Cao Tùng, Nguyễn Tuấn cùng nhiều nhạc sĩ khác phổ nhạc. Từ đó, tôi có cơ duyên xuất bản quyển Thơ Nhạc Lê Nguyễn Nga.

    Đặc biệt, tôi vô cùng biết ơn Giáo sư Thái Phạm đã thực hiện quyển FlipBook Thơ Nhạc Lê Nguyễn Nga, trong đó có nhiều video âm nhạc quý giá, đặc biệt là những video Hồng Tước tự trình bày các ca khúc của mình cùng những phần thể hiện của nhiều ca sĩ khác.

    Một kỷ niệm đẹp khác mà tôi không bao giờ quên là buổi nhạc Nắng Chiều, được tổ chức vào năm 2016 nhờ tấm lòng của nhà văn Viết Hải và Giáo sư Thái Phạm, cùng toàn thể anh chị em trong nhóm NVNT-TTG, nhằm tưởng nhớ nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn.

    Chương trình được tổ chức tại Phòng Việt Ngữ Minh Đức với sự hiện diện đông đủ của bạn bè văn nghệ. Hồng Tước đã mời chị Kim Tước và ca sĩ Tâm Vấn, lúc ấy đang sang California, cùng tham dự. Ngoài ra còn có Ngọc Hà, Thanh Thanh và rất nhiều bạn hữu thân thiết khác.

    Đó là một buổi văn nghệ ấm áp, chan chứa tình nghệ sĩ và tình bạn. Những bài hát về Nắng Chiều vang lên trong niềm xúc động, để lại trong lòng mọi người những kỷ niệm thật đẹp. Hình ảnh Hồng Tước, Kim Tước, Ngọc Hà, Thanh Thanh cùng bạn bè văn nghệ hôm ấy sẽ mãi ở lại trong ký ức của chúng tôi.

    Những năm sau đó, Hồng Tước vẫn luôn đồng hành cùng các sinh hoạt của nhóm NVNT-TTG. Tháng 10 năm 2025, chị đến dự lễ kỷ niệm 10 năm thành lập nhóm. Đến chương trình Giáng Sinh năm 2025, chị vẫn ngồi cùng bàn với tôi, vui vẻ trò chuyện như mọi lần.

    Vậy mà chỉ ba tháng sau…

    Ngày 16 tháng 4 năm 2026, Hồng Tước đã lặng lẽ rời xa cõi tạm.

    Biết rằng cuộc đời là vô thường, nhưng sự ra đi của Hồng Tước vẫn để lại trong lòng tôi và bạn bè một khoảng trống khó bù đắp. Chúng ta đã mất đi một người bạn hiền, một ca nhạc sĩ tài hoa và một họa sĩ đầy tâm hồn của cộng đồng người Việt hải ngoại.

    Xin cầu chúc cánh chim Hồng Tước thanh thản bay về miền an nhiên, nơi không còn đau đớn, nơi tiếng hát và dòng nhạc của HT sẽ còn mãi ngân vang trong lòng những người yêu mến HT.

    Thành kính tưởng nhớ.

    Lê Nguyễn Nga

    California, tháng 4 năm 2026

  • Kiều My,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt

    HỒI KÝ

    Kiều My

    Vào buổi chiều nắng ấm ngày 9 tháng Bảy năm 2026, một sự kiện đáng ghi nhớ về Hồi Ký CHA MÃI BÊN ĐỜI do nhà văn Phương Hiền sáng tác hân hạnh ra mắt cùng quý độc giả miền Nam California. Đây là một tác phẩm mang đậm nét văn hóa Việt và đầy tình người, do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức thật trang trọng.

    Tác giả Phương Hiền

    Khánh phòng tràn ngập tiếng cười và tiếng nói rộn rã như một ngày hội. Mọi người hân hoan đón nhận một tác phẩm  mang nỗi niềm chan chứa yêu thương của tình phụ tử vượt lên trên mọi giới hạn của thời gian, mà nữ văn sĩ Phương Hiền từ nửa vòng trái đất mang đến cho độc giả như món quà tinh thần ‎quý giá.

    CHÚC MỪNG NV PHƯƠNG HIỀN RA TÁC PHẨM

       Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa

    Những thành phần tham dự buổi ra mắt sách gồm: quý vị trưởng thượng, giáo sư, văn nhân thi sĩ, bác sĩ, kiến trúc sư, họa sĩ, ca sĩ, nhiếp ảnh gia, những thân hữu v.v…Cùng 2 liên nhóm: Nhân Văn Nghệ & Tiếng Thời Gian, Văn Chương Việt & Tiếng Dàn Xưa và đặc biệt có sự hiện diện của vị Linh mục Nguyễn Đức Thắng và anh chị em từ Việt Nam sang…đã tạo nên không khí thật ấm áp cho sự kiện bảo tồn văn hóa Việt tại hải ngoại.

    Khai mạc chương trình bằng những lời chào mừng nồng nhiệt đến quan khách qua các MC: Phạm Gia Đại, Trần Mạnh Chi, Huỳnh Út, Thụy Lan và Tường Vy.

    Mc: Phạm Gia Đại, Trần Mạnh Chi, Huỳnh Út, Thụy Lan, Tường Vy

    Kế tiếp là phần trình bày cảm nghĩ về hồi ký Cha Mãi Bên Đời của những nhà văn: Trần Việt Hải trưởng nhóm NVNT & TTG, Phương Hiền, Khánh Lan và Kiều My được trình bày ngắn gọn và thật xúc tích về tác phẩm này.

    Kiều My, Khánh Lan, Dương Viết Đang, Việt Hải, Phương Hiền, Trần Mạnh Chi

    Nv.Nguyễn Quang, Nv.Trần Việt Hải, Thi sĩ Minh Đức, KQ.Dương Viết Đang

    Tiếp theo là phần phát biểu của 3 diễn giả:

    Nhà báo Phạm Quốc Bảo:  Rất cảm động khi đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời. Tác giả viết  lại cuộc đời của chính mình, nhưng luôn nhắc đến người cha lúc sinh thời cũng như khi quá cố. Qua đó, hồi ký này cũng đã để lại chứng tích của dân tộc Việt suốt 20 năm chinh chiến mà chính người cha của tác giả đã góp phần hy sinh bảo vệ cho nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam

    Nhà báo Vương Trùng Dương, Ô. Nguyễn Chính, Nv. Vi Khiêm, nhà báo Phạm Quốc Bảo

    Nhà báo Vương Trùng Dương phát biểu: Nội dung cuốn hồi ký‎ này chỉ tập trung vào lòng hiếu thảo và thương nhớ của tác giả đối với người cha đã ra đi; nhưng có một số người hiểu nhầm ý nghĩa chính tốt đẹp của nó. Ông đã phản bác thật mạnh mẽ điều sai trái này trên báo chí.


    Nhà văn bình luận gia Phạm Gia Đại:  nói về tác giả và sự hiếu đạo của người con là nhà văn Phương Hiền đối với thân phụ đã quá cố. Nhưng nỗi thương tiếc cha vẫn không nguôi trong lòng tác giả. Vinh danh tác giả đã trao tặng món quà tinh thần về tình phụ tử qua hồi ký‎  “Cha Mãi Bên Đời”.

    Anh Vũ Hòa (Phu quân của Cs. Ngọc Quỳnh, Anh Alian Đức, Chị Ngọc Châu, Cô Vĩnh (Phu nhân của Hs. Hoàng Vinh)

    Khánh Lan, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, một vị Khách mời

    Khán phòng trở nên bừng sáng với những khúc hát ca ngợi tình cha như: Ơn Cha, Papa v.v…cùng với những ca khúc vui tươi sống động như: Ô Mê Ly, Hải Ngoại Thương Ca, Mộng Chiều Xuân,Lâu Đài Tình Ái, Chín Mươi Năm Cuộc Đời, Nếu Có Yêu Tôi v.v …đã làm cho không khí tươi mát hơn.

    Lệ Hoa, Khánh Lan, Thúy Giao, Minh Thư, Huy Anh

    Kiều My xin ghi lại vài nét chính trong quyển hồi ký Cha Mãi Bên Đời.

    Nhan đề CHA MÃI BÊN ĐỜI của quyển hồi ký, tự nó đã nói lên tất cả ý nghĩa về nội dung của quyển sách, đã gây một nỗi xúc cảm bồi hồi dù chưa một lần đọc qua. Tình thương và nỗi nhớ thương khôn nguôi người cha quá cố của tác giả Phương Hiền chính là chất xúc tác mạnh mẽ đã hình thành tác phẩm Cha Mãi Bên Đời này.

    Tác giả đã đưa chúng ta trở về những năm tháng chiến tranh đầy biến động của Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, một cô bé lớn lên bên người cha quân nhân, theo chân cha qua nhiều vùng đất khác nhau, nơi đơn vị của cha đóng quân. Những ngày tháng gian khó ấy đã tạo nên một tình cảm gắn bó đặc biệt giữa cha và con.

            Tưởng nhớ người cha quá cố  Nguyễn Gia Tĩnh của tác giả Phương Hiền “Lý do tại sao sao những cô con gái thương cha họ nhất, vì ít nhất có một người đàn ông trên thế giới này khiến cô không bị tổn thương”

    Người cha trong hồi ký hiện lên không phải như một anh hùng trên chiến trường, mà trước hết là một người cha tận tụy, yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Những bài học về nhân cách, lòng can đảm, sự hy sinh và trách nhiệm đã được truyền lại cho con không chỉ bằng lời nói mà bằng chính cuộc đời của ông.

    “Tình yêu thương của cha chính là nguồn cảm hứng truyền cho con một sức mạnh vô biên để con có thể làm những điều con hằng mơ ước”

    Khi người cha ra đi vì căn bệnh tim, nỗi mất mát ấy đã để lại khoảng trống không gì bù đắp được trong lòng người con gái…đó chính là tác giả Phương Hiền. Nhưng điều kỳ diệu là tình yêu thương không hề mất đi theo năm tháng. Trái lại, nó trở thành nguồn ký ức thiêng liêng, trở thành ngọn lửa âm thầm sưởi ấm cuộc đời người ở lại.

    “Cha mất vì trái tim ngừng đập. Nhưng tình thương của cha thì chưa bao giờ ngừng sống.”

    Một câu chăm ngôn rất hay tôn vinh người cha của vua Salomon:

    “The righteous man walks in his integrity; his children are blessed after him”

    Từng trang sách là từng giọt nước mắt nhớ thương, từng kỷ niệm được nâng niu như những báu vật của tâm hồn. Người đọc có thể bắt gặp trong đó hình ảnh của chính mình, của cha mình, hay của những người thân yêu đã từng hiện diện trong cuộc đời… nhưng nay chỉ còn trong ký ức.

    Điều làm nên giá trị đặc biệt của Cha Mãi Bên Đời… chính là sự chân thật. Tác giả không tô vẽ hay cường điệu cảm xúc. Bằng giọng văn giản dị và chân thành, tác giả đã kể lại câu chuyện đời mình như một lời tâm sự, để từ đó… chạm đến trái tim của người đọc.

    Nhà báo Phạm Quốc Bảo tặng hoa cho nhà văn Phương Hiền

    Cha Mãi Bên Đời  nhắc nhở chúng ta rằng: Cha mẹ có thể rời xa cõi đời này, nhưng tình yêu của cha mẹ sẽ sống mãi trong trái tim con cái. Những người thân yêu không thật sự mất đi… khi họ vẫn được nhớ đến bằng tình thương và lòng biết ơn.

    Trong cuộc sống bận rộn hôm nay, đôi khi chúng ta quên nói lời yêu thương với cha mẹ, quên dành thời gian cho những người thân đang còn bên cạnh. Vì thế, Cha Mãi Bên Đời không chỉ là một cuốn hồi ký để đọc, mà còn là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về đạo hiếu và tình thân gia đình, vì:

    “Family where life begins and love never ends” (unknown)

    “Gia đình là nơi cuộc sống bắt đầu và là nơi tình yêu không bao giờ kết thúc”

    Và cuốn hồi ký “Cha Mãi Bên Đời” mà chúng ta cùng tìm hiểu hôm nay chính là minh chứng đẹp đẽ cho điều ấy.

    Khi gấp lại những trang cuối của cuốn hồi ký này, chúng ta nhận ra rằng tác giả không chỉ viết về người cha đã khuất, mà đang viết về tình yêu. Một tình yêu không bị thời gian làm phai nhạt. Một tình yêu không bị sự chết chia lìa.

    Có lẽ đó cũng là ý nghĩa đẹp nhất của nhan đề “Cha Mãi Bên Đời“.

    Bởi có những người tuy đã đi xa, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời chúng ta. Có những người cha đã rời xa nhân thế, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời con cái.

    Chân thành cảm tạ tác giả đã trao tặng cho chúng ta món quà tinh thần quý giá này và mong rằng Hồi Ký Cha Mãi Bên Đời sẽ được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, để những thông điệp đẹp đẽ về tình phụ tử tiếp tục được lan tỏa.

    Nv. Khánh Lan & Nv. Phương Hiền

    Nv. Kiều My & Nv. Phương Hiền

    Kiều My, California, July 12, 2026

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  LỊCH SỬ,  Tin tức

    THÁNH LỄ TUYÊN CHÂN PHƯỚC CHO CHA PHANXICO XAVIE TRƯƠNG BỬU DIỆP NGÀY 2 THÁNG 7, 2026 TẠI NHÀ THỜ TẮC SẬY, CÀ MÂU, VIỆT NAM

    Khánh Lan sưu tầm dựa theo tài liệu Wikipedia, lời phỏng vấn của các phóng viên và những người tham dự buổi Thánh Lễ phong Chân Phước Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp.

    Khuôn viên Nhà thờ Tắc Sậy và trung tâm hành hương

    Quang cảnh tại trung tâm hành hương Tắc Sậy
    trong ngày phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp

    Giáo Hội Việt Nam được chúc lành bởi Thiên Chúa và nhà thờ Tắc Sậy đã mở vòng tay chào đón hàng vạn bước chân của tín hữu Công giáo (Việt Nam hiện có hơn 7,5 triệu tín hữu Công giáo, chiếm khoảng 7.4% dân số) cùng các thân hữu thuộc tôn giáo bạn trở về. Dự đoán có khoảng hơn 70,000 người đã quy tụ tại Nhà thờ Tắc Sậy thuộc Giáo phận Cần Thơ vào ngày 2 tháng 7 để tham dự lễ phong chân phước cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Theo lời Linh mục Hồ Văn Xuân, đại diện Tổng Giáo phận Sài Gòn, đây có lẽ là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong gần 500 năm, một thánh lễ phong chân phước được cử hành ngay trên đất nước Việt Nam thay vì tại Vatican như thông lệ.

    Trong Giáo hội Công giáo, việc tuyên phong chân phước là việc chính thức công nhận một người có đời sống đức tin mẫu mực và đang hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa. Đây là giai đoạn thứ ba trong tiến trình phong thánh gồm: Tôi tớ Chúa – Đấng đáng kính – Chân phước – Hiển thánh.

    Bức tượng Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp trước khi được phong chân phước

    Bức tượng mới của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp với cành thiên tuế sau khi được phong chân phước

    Thánh lễ nghi thức phong chân phước lịch sử cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã do Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng và là đặc sứ của Đức Giáo hoàng Leo XIV chủ sự. Đồng tế trong Thánh lễ có Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam và các vị hồng y, giám mục đến từ Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia cùng gần 2,000 linh mục, hàng chục ngàn tu sĩ và giáo dân cũng đã tham dự sự kiện này.

    • Ngày 30 tháng 6, 2026 tại khuôn viên của nhà thờ Tắc Sậy.

    Tại trung tâm hành hương Tắc Sậy, hàng ngàn người đã đến vài hôm trước ngày khai mạc buổi lễ phong thánh, họ chờ đợi và thức trắng đêm để chờ khoảnh khắc lịch sự này. Tuy là trong mấy ngày liền mưa rất nặng hạt tại đây, nhưng không vì thế mà làm chùn bước chân họ, cho dù đêm mưa có lạnh nhưng không làm cho họ bỏ cuộc, họ dựng lều, trải chiếu khắp nơi. Trong số đó, có những người đến từ nhiều tỉnh rất xa, họ đem theo niềm tin và ao ước có mặt trong giây phút thiêng liêng của lịch sử.

    • Lá cờ Vatican hay cờ tòa thánh

    Là biểu tượng thiêng liêng của giáo hội công giáo Roma và Thanh Quốc Vatican. Được thông qua năm 1929, lá cờ bao gồm 2 màu: dọc vàng và trắng cùng quốc huy giáo hoàng ở dải giữa, mang đậm dấu ấn về mặt tôn giáo quyền năng và lịch sử, ý nghĩa của các mầu giải cờ chia làm 2 phần rõ rệt với 2 màu đặc trưng. 

    Dải màu vàng bên trái tượng trưng cho quyền lực thiêng liêng, sự thánh thiện và vinh quang của thiên đàng. Màu trắng dải bên phải tượng trưng cho sự thanh khiết và ánh sáng vĩnh cửu. Ý nghĩa Quốc Huy nằm ở giữa, màu trắng là huy hiệu của giáo hoàng gồm các thành phần: Mũ giáo hoàng: chiếc mũ 3 tầng tượng trưng cho 3 thẩm quyền tối cao của đấng kế vị Thánh Phero (Peter), chủ chân hoàng vũ tuyền giáo phổ quát và quyền lực trần thế. Hai chiếc khóa: Chìa khóa vàng tượng trưng cho quyền năng trên nước trời. Chìa khóa bạc tượng trưng cho quyền năng dưới trần gian được giao phó cho thánh Phero (Peter). Sợi dây thừng tượng trưng cho sự thắt chặt quyền năng của 2 nơi này.

    Lá cờ tòa thánh tung bay trong gió…

    Một số khác đã dựng lều và chờ sẵn bên quốc lộ. Những quán bên đường quanh khu Tắc Sậy đã không còn đủ chỗ và lương thực để đãi khách hành hương.

    Trên con đường đi đến trung tâm hành hương Tắc Sậy. Ông Vũ Đình Trọng, một khách đi đường ghi nhận cảnh tượng trên quốc lộ dài năm cây số, xe cộ phải tạm ngưng để nhường chỗ cho hàng chục ngàn người bỏ xe lại để đi bộ về khu nhà thờ và khu mộ phần, nơi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp an nghỉ. Mất gần 5 tiếng đồng hồ cho đoạn đường chỉ 15km.Trong bóng đêm, dòng người không ngừng tiến bước, mang theo lời cầu nguyện, lòng biết ơn và niềm vui được chứng kiến ngày mà Giáo hội chính thức tôn vinh vị mục tử đã hiến mạng sống của chính mình vì đoàn chiên. Trong dòng người ấy có những cụ già tóc bạc phơ, tay chống gậy lần đi từng bước, có những trẻ nhỏ còn được cha mẹ bồng trên tay, những thanh niên nam nữ và những người từ hải ngoại lặn lội trở về dự thánh lễ.

    Khu mộ phần, nơi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp an nghỉ.

    Giáo dân dâng lời cầu khẩn

    Quang cảnh ngoài và trong khuôn viên hành hương Tắc Sậy

    Ban tổ chức đã chuẩn bị 40,000 phần ăn sáng và 200,000 chai nước cho khách hành hương, thêm 14,000 phần ăn và trước khi thánh lễ khai mạc. Ông Trần Văn Tú, người Vĩnh Long, dựng lều bên quốc lộ một từ hai ngày trước khi thánh lễ bắt đầu. Sáng mùng 2 Tháng Bảy, gia đình ông ăn tạm bên đường vì quán xá quanh Tắc Sậy đã quá tải. Ông nói, “Sáng nay được phát miễn phí bánh mì và nước uống nên rất thuận tiện,” Những con số ấy tự chúng không nói lên điều gì thiêng liêng. Nhưng đằng sau mỗi con số là một người đứng chờ dưới nắng, chỉ vì muốn có mặt.

    Người tham dự thánh lễ dựng lều, trải chiếu khắp nơi

    Cũng tại trung tâm hành hương, Cha Phan Đình Tùng từ Vatican News đã phỏng vấn một giáo dân và anh ta đã tâm sự: “Tất cả con cái của chúa đều đến với ngày đại lễ hôm nay vì không biết là trong cuộc đời còn có nhiều cơ hội để dự lễ Phong chân phúc không, thì đây là cơ hội hiếm hoi và đây là dịp thôi thúc để đến với Chúa, để cảm nhận được hồng ân của Chúa thật là vĩ đại lớn lao mà đời sống Cha Trương bửu Diệp đã minh chứng với Chúa là vì yêu Chúa mà Cha Trương bửu Diệp sẵn sàng tử vì đạo và chết cho đoàn chiên.” 

    Simontu, một người cắm hoa cho buổi lễ, anh theo đạo Cao Đài bày tỏ cảm xúc về cuộc đời của cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp trong ngày phong thánh của Ngài. “Trong giáo hội Công giáo, bây giờ tôi mới hiểu, Chân Phước là sự nhìn nhận chính thức của Giáo hội dành cho một người đã qua đời, sau khi xét toàn bộ cuộc đời, đức tin, sự hy sinh của người ấy được điều tra, thẩm định rất nghiêm ngặt bởi tòa thánh Rome. Chân phước không phải là một phần thưởng. Đó là sự xác nhận rằng có những con người đã sống một cuộc đời đủ đẹp để trở thành tấm gương cho nhiều thế hệ sau. Với Cha Trương Bửu Diệp, điều Giáo hội nhìn nhận là ngài đã chọn ở lại với giáo dân trong thời điểm nguy hiểm nhất và chấp nhận hy sinh mạng sống của mình. Có lẽ vì vậy mà gần 80 năm sau ngày Ngài qua đời, hàng triệu người vẫn tìm về Tắc Sậy để cầu nguyện và tưởng nhớ.”

    • Chuẩn bị cho ngày đại lễ

    Trong việc chuẩn bị áo lễ cho các Hồng Y, Tổng Giám Mục và các Tu Sĩ: Nhà may Rosa Thiên Ân cho biết họ đã may gần 2.000 áo lễ dành cho các Hồng Y, Giám mục và Linh mục dự phần trong Thánh lễ đồng tế tuyên phong chân phước Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. Đây là một số lượng lớn lễ phục được hoàn tất trong một thời gian ngắn. Hai cơ sở của nhà may ở cả miền Bắc lẫn miền Nam đã phối hợp để thực hiện và để kịp phục vụ cho buổi đại lễ. Được biết, toàn bộ áo lễ được thực hiện theo đơn đặt hàng của Đức Giám mục Phêrô (Peter) Lê Tấn Lợi, Giám mục Giáo phận Cần Thơ. Ông Đinh Tường Dương nói: “Thực ra, đây không chỉ là một sự dặt hàng đơn thuần, mà Ngài còn trực tiếp cùng nhà may lên ý tưởng và tham gia thiết kế, nhằm tạo nên mẫu áo lễ mang dấu ấn riêng cho sự kiện trọng đại của Giáo hội Công giáo Việt Nam.”

    Cũng trong buổi phỏng vấn 2 ông Đinh Tường Dương và Đinh Tường Long và bà Anna Ngọc Anh, chủ nhà may Rosa Thiên Ân về công việc may áo lễ. Ông Dương chia sẻ: “Khi được Đức Cha Lợi ngỏ lời và lãnh trách nhiệm thiết kế áo lễ, chúng tôi tưởng chừng như đang sống trong mơ và không tin là được hội đồng giám mục giao cho trách nhiệm này”. Bà Anna Ngọc Anh cũng kể: “Đây thật là một sắc màu nhiêm và niềm vinh dự, niềm tự hào cho chúng tôi, lãnh nhận trọng trách này, được góp góp phần thiết kế và sản xuất áo lễ cho các đấng gồm 43 hồng y và tổng giám mục, 2.000 áo lễ cho linh mục.” Qua hình ảnh và video trên Facebook cho thấy: Áo lễ được kết hợp rất đẹp, màu đỏ và màu trắng tượng trưng cho mình và máu thánh Chúa. Chính giữa là hình cha Trương Bửu Diệp. Thật là một công trình sáng tạo.

    Phóng viên Tạ Biên Cương phỏng vấn chủ nhà may Rosa Thiên Ân

    . Ngày 30 tháng 6, 2026 tại Hà Nội 

    Theo lịch trình, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đáp xuống sân bay quốc tế Nội Bài tại Hà Nội lúc 15 giờ 14 phút. Đi theo phái đoàn đón tiếp Ngài gồm có tổng giám mục Marek Zelewsk, Đại diện thường trú tòa thánh tại Hà Nội. Đức tổng giám mục Giuse Nguyễn Năng, chủ tịch hội đồng giám mục Việt Nam. Đức tổng giám mục vũ Văn Thiên, phó Chủ tịch hội đồng giám mục Việt Nam cùng một số linh mục và giáo dân.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle xuống sân bay quốc tế Nội Bài tại Hà Nội

    Trong số đó có 2 em thiếu nhi trong trang phục cổ truyền Việt Nam tặng Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, bó hoa tươi thắm như một lời chào mừng nồng hậu và để thể hiện tình hiếu khách của giáo hội Việt Nam đối với vị đặc xứ của Đức Thánh Cha Leo XIV.

    Những bó hoa chào mừng nồng hậu và để thể hiện tình hiếu khách của giáo hội Việt Nam đối với vị đặc xứ của Đức Thánh Cha Leo XIV, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle và tổng giám mục Marek Zelewsk, Đại diện thường trú tòa thánh tại Hà Nội

    Sau khi rời sân bay quốc tế Nội Bài, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chuyển về tòa tổng giám mục Hà Nội, tại đây Đức cha phụ tá Giuse Vũ Công Viện cùng quý cha, quý tu sĩ và các chủng sinh đã nồng nhiệt chào đón Ngài trong bầu không khí vui tươi thân tình.

    • 5:01 giờ sáng ngày 01 tháng 7, 2026

    Sau đó Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đã đáp chuyến bay vào Cần Thơ lúc 12:30 chiều. Phái đoàn của Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Nhơn, Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, cùng Đức Tổng Giám Mục Giuse – Tổng Giáo phận Hà Nội, đã đáp xuống Sân bay Quốc tế Cần Thơ, bắt đầu cho chuyến thăm mục vụ tại miền Tây Nam Bộ nhân dịp Đại lễ Tuyên phong chân phước cho tôi tớ Chúa Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đáp chuyến bay vào Cần Thơ

    Một giáo hữu đi cùng chuyến bay với Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chia sẻ: “Hôm nay, tôi may mắn được đồng hành trên chuyến bay từ Hà Nội về Cần Thơ cùng Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Đức Hồng Y Nguyễn Nhơn, Đức tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, quý Đức Cha và quý Cha. Giữa khoang máy bay, nhìn những vị mục tử giản dị, gần gũi và hiền hòa, tôi càng cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp của một Giáo hội luôn hiệp nhất trong đức tin và tình yêu thương. Mỗi nụ cười, mỗi lời chào, mỗi khoảnh khắc được gặp gỡ đều là một hồng ân mà có lẽ nhiều năm sau tôi vẫn sẽ nhớ mãi.”

    • Chiều ngày 01 tháng 07, 2026

    Ngay sau đó, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle cùng phái đoàn tiếp tục di chuyển về Cà Mau để thực hiện chương trình công tác mục vụ theo lịch trình đã định. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Tổng trưởng Phân Bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV đã đến tỉnh Cà Mau trong khuôn khổ chương trình Thánh lễ Tuyên phong Chân Phước cho cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy – Giáo phận Cần Thơ. Hiện diện đón Đức Hồng Y và Đức Tổng Giám Mục tại sân bay có Đức cha Phêrô Lê Tấn Lợi, cùng quý cha và phái đoàn Tòa Giám mục Cần Thơ.

    Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau Nguyễn Hồ Hải đã tiếp đón Đức Hồng Y Tagle cùng phái đoàn Tòa Thánh và Giáo hội Công giáo Việt Nam, tại trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau.

    Tham dự buổi gặp gỡ có Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam; Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn; Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội; Đức Giám mục Phero Lê Tấn Lợi, Giám mục Giáo phận Cần Thơ, cùng quý linh mục.

    Trong cùng ngày 1 tháng 7, 2026 lúc 14h chiều, Đức cha Phêrô (Peter) Huỳnh Văn Hai giáo phận Vĩnh Long cùng Cha Chủ sở Anton (Anthony) Đặng Hữu Kha giám đốc trung tâm mục vụ giáo phận Cần Thơ cùng đồng tế trong buổi lễ.

    Ban kèn đồng đền thánh Đại Đồng – giáo phận Bùi Chu và ban phụng vụ đã tích cực tập luyện, phối hợp nhịp nhàng để phục vụ Thánh lễ nột cách sốt sắng và trang nghiêm.

    Quang cảnh bên trong thánh đường và các vị khách mời

    Đức cha Phêrô (Peter) Huỳnh Văn Hai giáo phận Vĩnh Long cử hành thánh lễ trong ngày 1 tháng 7, 2026

    Trong thánh lễ, Ngài nói: “Lạy cha xin cho họ được hợp nhất trong Kitô hữu và bình an của Chúa ở cùng anh chị em. Anh chị em thân mến, chúng ta tụ hợp nhau nơi đây tại nhà thờ Tắc Sậy tạ ơn Thiên Chúa. Chúng ta cầu nguyện cho các Kitô hữu được hiệp nhất là điều thiết yếu để đáp lại lời cầu nguyện của chính Chúa Kitô trước khi chịu khổ nạn. Xin cho họ được hợp nhất hầu cho thế giới tin rằng Cha đã sai con….Việc cầu nguyện này hàn gắn những bất bình chia rẽ gây ra cho dù chúng ta phải hy sinh cả sức lực và ngay cả con người của chúng ta. Xin chúa cho ….”

    Cầu xin được hợp nhất trong Kitô hữu và bình an của Chúa ở cùng anh chị em.

    Thánh lễ khai mạc

    “Này là Máu Ta, máu tân ướcvĩnh cửu đã đổ ra cho các con…..”

    “Này là Mình Ta các con hãy nhận lấy mà ăn….”

    Rồi Ngài cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: “Ðây là Mình Thầy, hiến tế vì các con. Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy (Lc 22,19-20)

    LẠY CHÚA, CON CHẲNG ĐÁNG CHÚA NGỰ VÀO NHÀ CON, NHƯNG XIN CHÚA PHÁN MỘT LỜI THÌ LINH HỒN CON SẼ LÀNH SẠCH

    Khoảng 200 linh mục trao Mình Thánh Chúa đã tạo nên một khung cảnh cảm động. Hàng trăm thừa tác viên của Bí tích Thánh Thể tỏa đi giữa 70 ngàn người, để không ai phải ra về mà thiếu lương thực thiêng liêng. Đó là hình ảnh đẹp về một Giáo hội hiệp thông, đông đảo nhưng vẫn quy hướng về một Bàn Tiệc duy nhất, một Đức Kitô duy nhất.

    Ca đoàn của nhà thờ Tắc Sậy hát dâng lễ

    Tín hữu tham dự thánh lễ

    Suốt chiều hôm trước và cả đêm qua, Tắc Sậy chìm trong những cơn mưa lớn. Nhiều người không khỏi lo lắng cho ngày đại lễ. Thế nhưng, khi bình minh lên, bầu trời quang đãng, nắng nhẹ, gió mát. Trong bầu khí an lành yên ả ấy, Hồng Y Luis Antonio Tagle chủ sự thánh lễ tuyên phong chân phước cho biển người hành hương xảy ra thật tốt đẹp … một khoảng lặng bình an tuyệt vời được dành riêng cho giờ phút trọng đại. Rồi những cơn mưa lại kéo đến khi Thánh Lễ đã chấm dứt. Thật là một điều kỳ diệu…Tạ ơn Thiên Chúa…

    Những giáo hữu có vé mời.

    • Sáng ngày 2 Tháng 7, 2026

    Theo lịch trình lúc 8 giờ sáng ngày 2 tháng 7, 2026. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle sẽ thay mặt Đức Thánh Cha Leo XIV chủ sự thánh lễ tiên phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại trung tâm hành hương Tắc Sậy. Giáo phận nhà thờ Cần Thơ biểu lộ sự hãnh diện và mối hiệp thông của Đức Giáo Hoàng với giáo hội Việt Nam trong sự cố trọng đại.

    Sáng ngày 2 Tháng 7, 2026 tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle. đặc sứ của Đức Giáo Hoàng Leo XIV, đọc quyết định tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lên hàng chân phước.Hàng ngàn thành viên đến từ giáo phận Bùi Chu đã quy tụ về Tắc Sậy để luyện tập các bài thánh ca, góp phần tạo nên bầu khí linh thiêng cho ngày trọng đại của Giáo hội Việt Nam .

    Tấm khăn che chân dung được kéo xuống. Trong khoảnh không gian tĩnh lặng, không một tiếng vỗ tay đã để lại một khoảnh khắc ling thiêng. Cả biển người cùng ngước nhìn, lặng lẽ đưa tay lau những giọt nước mắt hân hoan chen lẫn xúc động và tiếng nguyện kinh nho nhỏ.

    Giám mục Lê Tấn Lợi, người đứng đầu Giáo phận Cần Thơ, Ngài lên tiếng: “Ngài đã sống và chết cho con chiên.” Có những điều mà chúng ta chỉ cảm nhận được nhưng không nói ra. Phải, Cha Diệp chưa bao giờ là vị thánh của riêng người có đạo Công giáo, mà của tất cả nhân loại. Hôm ấy, đứng bên cạnh những giáo hữu là những người theo tôn giáo khác. Trong ấy, có một cụ Bà, người không theo đạo Công Giáo, bà cụ đứng lặng lẽ, chắp tay, trong làn khói nhang quyện quanh gương mặt, bà thì thầm cầu nguyện. Lời cầu nguyện ấy chẳng đã minh chứng cho sự kính trọng của những tâm hồn không phân biệt tôn giáo.

    • Mở đầu nghi thức phụng vụ

    Đức Giám mục Phêrô Lê Tấn Lợi của Giáo phận Cần Thơ (là người đã chính thức thỉnh cầu việc phong Chân phước cho Tôi tớ Chúa, Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp), đọc tiểu sử Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đã công bố Tông thư của Đức Giáo Hoàng bằng tiếng La tinh, chính thức tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là “Chân phước“. Tiếp đó, bức chân dung lớn của vị Tân Chân phước đã được công bố và tôn vinh bằng hoa tươi cùng hương trầm.

    • Khai mạc buổi lễ

     Hồng Y Luis Antonio Tagle xuất hiện với đôi mắt biết cười và nụ cười tươi vui, Ngài ngỏ lời chào đến công đoàn của nhà thờ Tắc Sậy bằng tiếng Việt: “Chào buổi sáng tất cả các bạn, các bạn có hiểu tôi đang nói tiếng Việt hay không?”. Xong Ngài chuyển lời chúc mừng và ban phép lành Tông tòa của Đức Giáo Hoàng đến cộng đồng Công giáo trên khắp đất nước Việt Nam. Ngài nói: “Đây là một ngày thực sự mang tính lịch sử trong đời sống Giáo hội”.

    Điều làm cho chúng ta suy nghĩ không nằm ở giáo điều của hội thánh mà nằm ở câu hỏi mà Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đặt ra trong bài giảng: “Vì sao một cái chết bị bách hại lại được gọi là phúc lành?” Ngài hỏi cộng đoàn: “Người anh em muốn chọn làm giàu bất chính hay cuộc sống chân thật? Chọn tích trữ của cải hay chia sẻ với người nghèo?.

    Không ai trả lời. Có lẽ sự im lặng mới chính là câu trả lời.

    Trong phần dâng lễ vật, thay vì chỉ có bánh và rượu theo nghi thức thông thường, giáo dân Tắc Sậy còn dâng lên những hạt lúa vàng và hạt muối trắng của vùng đất họ canh tác, kết tinh của mồ hôi đồng ruộng nơi họ sinh sống. Chúng được đặt cạnh mình thánh và máu thánh Chúa. Nhìn hạt lúa được dâng lên trên bàn thờ, gợi nhớ cho giáo dân đến cách Cha Diệp dâng lên Chúa sự sống của Ngài. Như một hạt lúa gieo vào lòng đất mục nát, đi để sinh ra hoa trái cho những người ở lại.

    Giáo dân Tắc Sậy dâng lên những hạt lúa vàng và hạt muối trắng của chính vùng đất họ đang sống.

    LẦN ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM

    Cà Mau, ngày 2 tháng 7, 2026: Đại Lễ tuyên phong chân phước đầu tiên được cử hành tại Việt Nam dành cho linh mục Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp. Sự việc này không chỉ là lần đầu tiên nghi thức tuyên phong chân phước được tổ chức tại Việt Nam mà buổi lễ tuyên phong chân phước còn là hành trình xét duyệt kéo dài hơn 13 năm cho sự hiện diện của một đặc sứ của Đức Giáo hoàng Leo XIV đến Việt Nam.

    Điều đặc biệt hơn nữa là Đức Giáo hoàng Leo XIV đã cử Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle sang Việt Nam để làm đặc sứ chủ trì thánh lễ và công bố tông sắc tuyên phong Chân phước cho linh mục Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. (Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle 69 tuổi, người Philippines), Bởi vì trước đây, các lễ phong chân phước liên quan đến người Việt đều được tổ chức tại Rome. Theo linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân, kể từ khi Công giáo được truyền vào Việt Nam năm 1533, đây là lần đầu tiên và cũng là trường hợp duy nhất Tòa Thánh Vatican cho phép tổ chức lễ phong Chân phước tại Trung tâm hành hương Tắc Sậy, Việt Nam.

    Đúng 8:00 giờ sáng ngày 2 tháng 7, 2026

    Khi tiếng kèn vang lên từ ban kèn đồng gồm 535 người và 200 anh chị em phục vụ thuộc Liên đoàn Kèn Hiệp Nhất Miền Đại Đồng, cũng như 500 người trong ban trống làm lay động cả không gian của Giáo phận Bùi Chu. Hơn 70,000 giáo dân trang nghiêm hướng về Lễ Tuyên Phong Chân Phước Tôi Tớ Chúa, Cha Phancico Xavie Trương Bửu Diệp. Cứ theo như anh Trưởng ban kèn đồng thì các anh chị em trong nhóm đã tích cực tập luyện các bài thánh ca trong hơn 6 tháng để góp phần tạo nên bầu khí linh thiêng cho ngày trọng đại của Giáo hội Việt Nam. Họ đã phối hợp nhịp nhàng để phục vụ cho Thánh lễ với tất cả tấm lòng tôn kính và trang nghiêm.

    Để chuẩn bị phần âm nhạc, ông Trần Văn Duy trưởng liên đoàn đại đồng hợp nhất giáo phận Bùi Chu chia sẻ: “Từ khi được các quý cha giao trách nhiệm nhiệm, đoàn trống cũng như 500 thành viên thổi kèn đã tập luyện hơn 6 tháng trước để chuẩn bị cho ngày đại lễ”.

    Họ đã thổi/đánh lên những âm nhạc ca ngợi Thiên Chúa và loan báo tin vui

    Sử dụng nhiều loại nhạc cụ như trumpet, saxophone, kèn bass và các loại trống, biểu diễn khoảng 15 tác phẩm phụng vụ trong gần 90 phút.

    Và khi đoàn chiên được ơn kêu gọi của Thiên Chúa bước vào thánh đường, một rực trời màu đỏ tựa như máu thánh Ngài lan tỏa mọi nơi. Áo lễ được kết hợp rất đẹp, màu đỏ và màu trắng tượng trưng cho mình và máu thánh Chúa. Chính giữa là hình cha Trương Bửu Diệp. Thật là một công trình sáng tạo.

    Những đứa con mà Thiên Chúa đã chọn….

    Nghi thức khai mạc bắt đầu tại Trung tâm hành hương Tắc Sậy, thuộc xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau. Ngoài Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chủ sự buổi lễ còn có sự tham dự của Hội đồng Giám mục Việt Nam cùng một số giám mục thuộc Liên Hội đồng Giám mục Á Châu.

    Thánh lễ phong chân phước cho Cha Phancico Xavie Trương Bửu Diệp bắt đầu.

    Cũng là lúc ban nhạc của thánh đường Tắc Sậy trổi lên khúc nhạc cúa các bài Thánh ca….

    Người hát đáp ca chính trong Thánh lễ tuyên phong chân phước Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp là Tiến Sĩ Nguyễn Khánh Trang, Giảng viên Khoa Thanh nhạc Nhạc viện tại Việt Nam. Điều chạm đến tâm hồn các giáo dân dự lễ không chỉ là giọng hát thánh thót của bà, mà còn là cách bà đưa mọi người vào tâm tình cầu nguyện. Đó chính là sự nhiệm mầu và vẻ đẹp thực sự của thánh nhạc.

    Tiến Sĩ Nguyễn Khánh Trang, Giảng viên Khoa Thanh nhạc Nhạc viện tại Việt Nam.

    “Con xin dâng Cha nén hương nguyện cầu. Xin soa dịu muôn ngàn nỗi đau. Hồn bình an chẳng còn u sầu.Ơn vẹn toàn muôn đức nhiệm màu. Cha Phanxico linh thiêng, chiếu soi như đuốc hồng, giữa đêm đơn côi. Ai hoang mang tâm tư lạc lối, đến cậy nhờ xin ơn sáng soi“.

    “Thắp sáng lên cho con tình yêu chúa. Thắp sáng lên cho con tình tuyệt vời.”

    Ngoài Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle chủ sự buổi lễ còn có sự tham dự của Hội đồng Giám mục Việt Nam cùng một số giám mục thuộc Liên Hội đồng Giám mục Á Châu.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle ban phép lành cho giáo dân

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đọc lời nguyện trong Thánh lễ

    BÀI GIẢNG CỦA HỒNG Y TAGLE TRONG THÁNH LỄ TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC CHO TÔI TỚ CHÚA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

    Anh chị em thân mến,

    Chúng ta hãy ngợi khen Thiên Chúa, Đấng đã quy tụ chúng ta trong Thánh lễ tuyên phong Chân phước linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị mục tử của Tắc Sậy, chứng nhân đức tin và là vị tử đạo của Giáo hội Công giáo. Qua ngài, Giáo hội tại Việt Nam được Thiên Chúa chúc lành. Ngài cũng là hồng ân của Chúa dành cho toàn thể Hội Thánh và cho gia đình nhân loại.Nhiều người, kể cả các tín hữu Công giáo, vẫn đặt câu hỏi: Vì sao cái chết của linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lại được Giáo hội tôn vinh là Chân phước? Có lẽ, theo cái nhìn của thế gian, người ta sẽ gọi những người như Ngài là “những người xấu số” hơn là “chân phước”. Tuy nhiên, chúng ta hãy cùng suy nghĩ dưới ánh sáng đức tin.

    Thánh lễ hôm nay đưa chúng ta trở về với giáo huấn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh Matthêu, chương V, về các mối phúc thật: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai đã khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng, vì phần thưởng dành cho ai đã ở trên trời thật lớn lao.” Như vậy, những ai bị bách hại vì Danh Chúa, bị thế gian khước từ nhưng được Thiên Chúa đón nhận, chính là những người có phúc. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải mọi cuộc bách hại đều vì Danh Chúa. Chỉ khi một người chấp nhận đau khổ và thử thách vì Đức Giêsu, người ấy mới thực sự làm chứng rằng mình thuộc về Thiên Chúa hơn là thuộc về thế gian.

    Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu khẳng định rằng Người đã chọn chúng ta để thuộc về Người, chứ không thuộc về sự dữ. Người mời gọi chúng ta sống theo lời Người dạy, sống trong sự thật, không giả dối và luôn kết hợp với Người, ngay cả giữa những hiểm nguy. Người môn đệ đích thực là người yêu mến Chúa, ở lại với Chúa và trung thành với Người ngay trong những lúc bị bách hại. Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp mời gọi mỗi người chúng ta đáp lại tiếng gọi ấy: hãy chọn Chúa và nương tựa vào Người mỗi ngày trong cuộc sống.

    Giờ đây, tôi muốn hỏi anh chị em: Anh chị em sẽ chọn điều gì? Anh chị em sẽ làm giàu bằng những cách bất chính hay mưu sinh bằng sự chân thật? Anh chị em sẽ chỉ tích trữ của cải cho bản thân hay biết quảng đại chia sẻ với những người nghèo khó? Anh chị em sẽ chọn cuộc sống tiện nghi cho riêng mình hay sẵn sàng mang lấy đau khổ của tha nhân? Nếu chọn Đức Giêsu, anh chị em đã được chúc phúc. Phúc thay những ai chọn sống theo gương Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

    Giờ đây, chúng ta hãy cùng suy nghĩ về ý nghĩa của sự tử đạo. Thông thường, người ta nghĩ tử đạo chỉ đơn thuần là cái chết. Nhưng ý nghĩa sâu xa của tử đạo chính là chấp nhận chết vì chân lý, vì Danh Chúa và để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô. Các vị tử đạo loan báo Tin Mừng bằng chính lời nói, hành động và mối tương quan mật thiết với Chúa. Khi một người sẵn sàng hiến mạng sống vì Danh Chúa, chứng tá của họ trở nên đáng tin hơn bất cứ lời giảng dạy nào. Người tử đạo là một nhà truyền giáo tuyệt vời, bởi chính cuộc đời họ làm chứng cho Đức Kitô.

    Vậy ai là người làm chứng cho Đức Giêsu? Đó là những người sống trong sự thật vì Chúa. Trong bài đọc thứ hai, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô Tông đồ, chúng ta vừa nghe: “Anh chị em thân mến, anh chị em hãy tôn thờ Đức Kitô là Chúa trong lòng mình; hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh chị em. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với lòng kính cẩn; hãy giữ lương tâm ngay chính, để khi anh chị em bị vu khống thì những kẻ phỉ bang nếp sống tốt đẹp của anh chị em trong Đức Kitô phải xấu hổ.” Người tử đạo là người luôn sống vui tươi, hiền hòa, đầy lòng nhân hậu và can đảm, ngay cả khi phải đối diện với sự chống đối. Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp chưa bao giờ chần chừ trong việc sống đức ái và làm chứng cho chân lý. Ngài yêu thương người nghèo, tận tụy phục vụ tha nhân. Ngài sống tình yêu của Thiên Chúa bằng việc quan tâm, ôm lấy mọi người, kể cả những người chưa biết Chúa. Đặc biệt, ngài đã ở lại với đoàn chiên giữa lúc hiểm nguy thay vì tìm đường chạy trốn.

    Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp mời gọi chúng ta hãy can đảm làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình. Tôi muốn hỏi anh chị em một lần nữa: Anh chị em sẽ làm chứng cho Đức Kitô hay sẽ tiếp tục loan truyền những tin giả? Anh chị em sẽ chọn sống theo gương Đức Giêsu trong đức ái hay sẽ chọn những con đường khác? Anh chị em sẽ thỏa mãn với thành công và danh tiếng cá nhân hay sẽ hãnh diện vì được mang Danh Chúa? Người tử đạo chân chính giúp mọi người biết phân định điều gì đáng để lựa chọn.

    Thế giới hôm nay đang rất cần những con người dám làm chứng cho sự thật. Chúng ta đừng sống cho bạo lực, thù hận, chia rẽ, kích động hay những điều sai sự thật. Mối tương quan của người tử đạo với Thiên Chúa được thể hiện rõ qua niềm hy vọng mà họ luôn gìn giữ giữa những cuộc bách hại. Thánh Phêrô nói rằng người ta có thể giết chết thân xác, nhưng sự sống trong Thần Khí thì không bao giờ bị hủy diệt. Cuộc đời và sứ mạng của Đức Giêsu không kết thúc bằng khổ đau và cái chết, nhưng được hoàn tất trong ánh sáng Phục Sinh vinh hiển. Đức Kitô đã thực sự sống lại. Người đang hiển trị trong Nước của Người, ngự bên hữu Chúa Cha và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta. Chính niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đem lại cho chúng ta một niềm hy vọng vững chắc.

    Vinh quang mà Thiên Chúa hứa ban sẽ không bao giờ phai tàn. Chúng ta hãy nhớ đến người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu. Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, ông tha thiết thưa với Chúa: “Xin Ngài nhớ đến tôi khi vào Nước của Ngài.” Và Chúa Giêsu đã lập tức đáp lại lời cầu xin ấy. Người trộm chỉ xin được Chúa nhớ đến, và Chúa đã ghi nhớ ông trong chính trái tim của Người. Thế gian có thể quên lãng chúng ta, nhưng Đức Giêsu Phục Sinh sẽ không bao giờ quên những ai thuộc về Người.

    Thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi, giữa lúc chịu đau khổ đã được thấy nước trời mở ra và Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa. Vinh quang Nước Trời đang chờ đợi phía trước. Các vị tử đạo đã bước qua đau khổ, gươm giáo và cái chết để tiến vào vinh quang ấy. Chúng ta tin rằng Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã gặp gỡ Đức Giêsu và đang sống trong hạnh phúc vĩnh cửu với Người. Ngài mời gọi chúng ta đặt trọn niềm hy vọng nơi Đức Giêsu. Chính Chúa sẽ làm cho cuộc đời và sứ mạng của chúng ta được bền vững, chứ không phải của cải vật chất. Vì thế, tôi lại muốn hỏi anh chị em: Anh chị em sẽ chọn đặt nền tảng cuộc đời trên sự giàu có của thế gian hay trên sự giàu có của Thiên Chúa? Anh chị em sẽ tìm kiếm danh tiếng và những lượt thích, lượt chia sẻ trên mạng xã hội hay sẽ chọn nương tựa nơi Thiên Chúa? Anh chị em sẽ chọn những vũ khí gây nên chiến tranh hay sẽ đón nhận món quà là chính Đức Kitô, Đấng đem lại bình an đích thực?

    Linh mục Trần Văn Vinh, giáo sứ Hạc Châu, giáo phận Bùi Chu trông giống như Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp

    “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì Danh Chúa, vì Nước Trời là của họ.”

    Dàn nhạc khoảng 200 người đánh nhiều loại nhạc cụ: Organd, đàn Tranh, đàn Harp, Violin, Timpani, Sáo….

    Có Chúa ở bên con, con chẳng lo chi, con chẳng sợ gì ….

    Screenshot

    Giữa bầu khí trang trọng của đại lễ Tuyên phong chân phước hôm ấy, có lẽ ít ai để ý hình ảnh vị linh mục người Pháp, Ngài chính là Cha Roland Jacques (tên tiếng Việt là Dương Hữu Nhân, thuộc Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ – OMI) – vị Cáo thỉnh viên đã dành trọn tâm huyết, kiên trì đặt từng viên gạch cho hành trình dài phước đầy gian nan thử thách này. Sự viên mãn của ngày lễ hôm nay phần lớn nhờ công lao thầm lặng của ngài. Có lẽ vì vậy mà ở phần cuối thánh lễ, Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam, đã đặc biệt dành lời tri ân duy nhất cho Cha Roland: “Xin cảm ơn Cha Roland, người đã làm việc trong âm thầm, chính sự hy sinh khiêm hạ đó đã mang lại hoa trái ngày hôm nay“. Nhưng vị linh mục này đáp lại bằng một nụ cười hiền hậu và cái gật đầu nhẹ nhàng. Để Tòa Thánh có cơ sở công nhận cuộc tử đạo vì đức tin của Cha FX Trương Bửu Diệp, Cha Roland đã trải qua nhiều năm miệt mài nghiên cứu, đúc kết nên bộ hồ sơ Positio dày 400 trang. Đó là một công trình khoa học nghiêm túc, minh bạch, hệ thống hóa toàn bộ chứng cứ và tài liệu lịch sử. Lịch sử thường vinh danh những người đứng dưới ánh hào quang, nhưng chính những con người chọn đứng trong bóng tối như Cha Roland mới là những người dệt nên lịch sử.

    Chúng con xin cảm ơn cha, cha Roland.—

    Trong Công giáo, cáo thỉnh viên (Postulator) là người được Giáo hội giao trách nhiệm thu thập chứng cứ, thẩm định tài liệu, phỏng vấn nhân chứng và trình bày toàn bộ hồ sơ phong Chân phước hoặc phong Thánh trước Dicastery for the Causes of Saints. Có thể ví họ như “luật sư của hồ sơ“, nhưng nhiệm vụ là tìm kiếm và phục vụ sự thật với những bằng chứng chặt chẽ, khách quan và minh bạch. Một án phong Thánh thường kéo dài hàng chục năm, thậm chí nhiều thế hệ, và thành bại của tiến trình phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công việc của cáo thỉnh viên. Cha Roland Jacques, là cáo thỉnh viên trong nhiều án phong chân phước cho các vị tử đạo tại Đông Dương.

    BẾ MẠC THÁNH LỄ PHONG CHÂN PHƯỚC CHA PHANXICO XAVIE TRƯƠNG BỬU DIỆP

    Khi thánh lễ kết thúc, giao thông gần như vỡ trận. Đường sá đen đặc người và xe, kẹt cứng trong nhiều giờ. Sự quá tải ấy, tuy gây nhiều vất vả, cũng minh chứng rõ ràng sức lan tỏa đặc biệt của vị tân chân phước trong lòng dân Chúa.

    Có lẽ điều đáng nhớ nhất của ngày hôm nay không phải là nắng sau mưa hay mưa sau lễ, cũng không phải là những con số về lượng người tham dự. Điều còn đọng lại chính là đức tin của hàng trăm nghìn con người đã không quản đường xa, thức trắng đêm, chấp nhận kẹt xe hàng giờ, đi bộ nhiều cây số chỉ để hiện diện trong một biến cố của vị linh mục mà họ yêu mến. Nếu hôm nay có một “phép lạ” dễ nhận thấy nhất, thì đó chính là phép lạ của lòng tin. Một vị linh mục hiền lành đã qua đời gần một thế kỷ trước vẫn tiếp tục quy tụ biết bao tâm hồn về với Thiên Chúa. Và trong ngày Giáo hội long trọng tuyên phong ngài lên hàng chân phước, biển người tại Tắc Sậy đã trở thành một chứng từ sống động rằng: Các thánh là người có sức hấp dẫn, có thể dẫn đưa con người đến gần nhau và gần Đức Kitô hơn.

    Lần đầu tiên trong gần 500 năm, ánh sáng tin mừng được soi chiếu đến quê hương Việt Nam. Có lẽ đây là lần đầu tiên và là lần duy nhất tại tòa thánh Roma Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã cho phép cử hành thánh lễ Phong Thánh cho Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại trung tâm hành hương Tắc Sậy. Buổi chiều, khi nắng bắt đầu buông xuống những dòng kênh rạch miền Tây, dòng người vẫn chưa vãn hết. Nhiều người nán lại nhận một cuốn sách lưu niệm, một phần ăn nhỏ, hoặc chỉ để nhìn thánh đường lâu thêm một chút trước khi quay xe về. Câu hỏi để lại sau cùng không phải là Cha Diệp đã làm gì để được phong thánh. Mà là: điều gì khiến hàng vạn người, không phân biệt tôn giáo, vẫn tìm đường trở về với một người đã chết vì không chịu rời bỏ ai? Sau thánh lễ thì hàng chục ngàn người lần lượt kéo nhau ra về

    Chiều ngày 2 tháng 7, 2026

    Sau thánh lễ Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đáp chuyến bay ra Hà Nội lúc 19.00 giờ chiều để chủ sự thánh lễ tại nhà thờ chánh tòa Hà Nội ngày 03 tháng 7, 2026. 

    Nguyện xin Thiên Chúa ban nhiều hồng ân đến cùng anh chị em.

    Chuẩn bị cho Thánh lễ

    Bình an của Thiên Chúa đến cùng anh chị em.…

    Thiên Chúa ở cùng anh chị em….

    Trước giờ Thánh Lễ

    Thánh lễ tại nhà thờ chánh tòa Hà Nội

    Bước vào nhà Chúa

    Dâng Thánh lễ

    Chuẩn bị 3 ghế dành cho 3 đấng chủ sự

    Dâng hoa

    Sự hiện diện của Đức Hồng y Tagle tại Việt Nam vì thế mang nhiều ý nghĩa. Đó vừa là sự hiện diện của vị lãnh đạo một cơ quan quan trọng của Giáo triều Rome trong lĩnh vực truyền giáo, vừa là sự hiện diện của Đặc sứ Đức Thánh Cha, thay mặt Đức Giáo hoàng hiệp thông với Giáo hội Việt Nam trong niềm vui tuyên Chân phước cho một vị mục tử đã hiến dâng mạng sống vì đoàn chiên.

    Chức vụ hiện nay của Đức Hồng y Tagle cũng là sự tiếp nối truyền thống lâu đời của cơ quan từng mang tên Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide), được thành lập năm 1622 để điều phối công cuộc truyền giáo trên toàn thế giới. Qua nhiều thế kỷ, cơ quan này đã góp phần thiết lập các Giáo hội địa phương, đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ và hỗ trợ các hoạt động truyền giáo tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Sau nhiều lần cải tổ, Bộ Loan báo Tin Mừng ngày nay tiếp tục kế thừa sứ mạng ấy trong bối cảnh mới của Giáo hội hoàn vũ.

    BỮA CƠM THÂN TÌNH CÙNG GIÁO HỮU

    Ô! Cái bánh cho tôi đấy phải không? Quý hóa quá!
    Chân thành cám ơn

    TÂM TÌNH CÙNG ĐỨC HỒNG Y TAGLO

    Trong cuộc phỏng vấn Đức Hồng Y Luis Antonio Taglevề cảm hứng của cha khi nhận được thông báo và đặt Phong chấn phước cho cha phanxico Xavie. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle trả lời:

    Tử đạo trong cái sống và sự chết.

    “Tôi thực sự bất ngờ bởi vì thông thường vị tổng trưởng bộ liên thánh sẽ là người được chủ tọa buổi lễ dâng trân phước với tư cách là đặc xứ của Đức thánh cha. Tuy nhiên sau đó tôi cũng hiểu được sự bổ nhiệm này, bởi vì bộ truyền giáo nơi tôi đang phục vụ có trách nhiệm đồng hành với châu Á, châu Phi và châu đại dương. Mà Việt Nam là một phần của giáo hội châu Á. Và có thể nói đây là cơ hội tuyệt vời cho tôi để đại diện đức thánh cha, không chỉ trong thánh lễ tiên phong mà còn là cơ hội để chỉ ra cách mà cuộc truyền giáo được thực hiện tại Á châu, bởi các mục tử thánh thiện tử đạo, cái mà phúc tử đạo trong cái sống và sự chết. Đó là một phương thế rất mạnh mẽ của công cuộc truyền giáo, con người cũng như xứ điệp của chúa Giêsu tới mọi người. Một hồng ân khác mà tôi nhận được từ sự việc này là tôi đã tự hỏi cha Phan Cisco Savi là ai? Người mà tôi sẽ tiên phong. Tôi từng nghe nói về ngài, nhưng thực sự tôi chưa biết nhiều về cuộc đời của ngài. Đây chính là lời mời gọi của Đức thánh cha cho tôi được học hỏi về hành trình đức tin của ngài. Tôi rất xúc động và đã học được nơi ngài Đức bác ái mục tử, lòng trung thành đối với Đức kitô cũng như đối với mọi người.

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle: Có thể nói Việt Nam là dân tộc mà Thiên chúa chúc phúc

    Trước hết tôi chân thành cảm ơn các tín hữu Việt Nam, đặc biệt là công đoàn công giáo Hà Nội vì sự tiếp đón nồng hậu dành cho tôi từ khi đặt chân đến sân bay. Tôi chưa bao giờ cảm giác mình ở một nơi xa lạ như cả thấy như ở chính ngôi nhà của mình. Tôi nghĩ đây làmột phần của niềm vui mà người dân Việt Nam đặc biệt là các tín hiệu công giáo đang cảm nghiệm trong thời điểm này. Với việc tiên phong một vị chân phức mới có thể nói Việt Nam là dân tộc mà Thiên chúa chúc phúc việc Thiên chúa ở cùng anh chị em. Giáo hội Việt Nam đang sinh nhiều hoa trái tốt ấn tượng đầu tiên của tôi là những người con tràn đầy niềm vui. Đây là thời điểm chúng ta bắt đầu gặt hái những hoa trái thiên nhiên được sinh ra từ đời sống của cha Francisco Savi Veer vee truong biểu diễn.

    Tôi chưa bao giờ cảm giác mình ở một nơi xa lạ như cảm thấy như ở chính ngôi nhà của mình.

    Trước hết tôi chân thành cảm ơn các tín hữu Việt Nam, đặc biệt là công đoàn công giáo Hà Nội vì sự đón tiếp nồng hậu dành cho tôi từ khi đặt chân đến sân bay. Tôi chưa bao giờ cảm giác mình ở một nơi xa lạ như cảm thấy như ở chính ngôi nhà của mình. Tôi nghĩ đây là một phần của niềm vui mà người dân Việt Nam đặc biệt là các tín Thiếu công giáo đang cảm nghiệm trong thời điểm này. Với việc Phong một vị chân phước mới có thể nói Việt Nam là dân tộc mà Thiên chúa chúc phúc. Việc khi chúa ở cùng anh chị em. Giáo hội Việt Nam đang sinh nhiều hoa trái tốt. Ấn tượng đầu tiên của tôi là những người tràn đầy niềm vui. Đây là thời điểm chúng ta bắt đầu gặt hái những hoa trái thiên nhiên được sinh ra từ đời sống của cha Francisco Xaviê.”

    Đây là thời điểm chúng ta bắt đầu gặt hái những hoa trái thiên nhiên được sinh ra từ đời sống của cha Francisco Xaviê.
    Chào tạm biệt Việt Nam

    CHÚA ĐÃ CHỌN CON

    Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle sinh năm 1957 tại Manila (Philippines), Đức Hồng y Tagle lớn lên trong môi trường giáo dục Công giáo và được đào tạo tại các chủng viện, đại học danh tiếng của Philippines trước khi tiếp tục nghiên cứu thần học tại Hoa Kỳ.

    Hình chụp cùng Mẹ và các anh

    Đức Hồng y Tagle lớn lên trong môi trường giáo dục Công giáo

    Sau khi chịu chức linh mục

    Sau khi chịu chức linh mục năm 1982, ngài phục vụ trong công tác mục vụ giáo xứ, đào tạo chủng sinh và giảng dạy triết học, thần học tại nhiều học viện. Sự kết hợp giữa đời sống mục tử và học thuật đã trở thành một nét nổi bật trong hành trình phục vụ của ngài. Không chỉ là một nhà đào tạo và thần học gia, Đức Hồng y Tagle còn tham gia nhiều hoạt động của Giáo hội tại Philippines cũng như trong khu vực Á châu. Ngài là thành viên Ủy ban Thần học Quốc tế, cộng tác trong công trình nghiên cứu về Công đồng Vatican II và tham dự Thượng Hội đồng Giám mục về Á châu với vai trò chuyên viên. Những đóng góp này cho thấy sự tín nhiệm mà Giáo hội dành cho ngài trong lĩnh vực thần học và mục vụ.

    Năm 2001, ngài được bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận Imus. Mười năm sau, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI cử ngài làm Tổng Giám mục Manila và nhận tước Hồng y vào năm 2012. Trong những năm tiếp theo, ngài tham dự các Mật nghị bầu giáo hoàng, đồng thời đảm nhận nhiều trách nhiệm quan trọng tại các Thượng Hội đồng Giám mục về gia đình. Đến năm 2019, Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm ngài lãnh đạo Bộ Loan báo Tin Mừng; sau cuộc cải tổ Giáo triều Rôma, ngài tiếp tục giữ cương vị Quyền Bộ trưởng của Bộ này, cơ quan giữ vai trò trung tâm trong sứ mạng truyền giáo của Giáo hội hoàn vũ.

    Dưới triều đại Đức Giáo hoàng Lêô XIV, Đức Hồng y Tagle tiếp tục hiện diện trong nhiều biến cố quan trọng của Giáo hội. Việc ngài được cử đến Việt Nam để chủ sự Thánh lễ tuyên Chân phước cho cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp không chỉ mang ý nghĩa nghi lễ, mà còn thể hiện sự hiệp thông giữa Giáo hội hoàn vũ với Giáo hội Việt Nam. Là một mục tử xuất thân từ Á châu và nhiều năm gắn bó với công cuộc truyền giáo, đào tạo và truyền thông, Đức Hồng y Tagle được xem như khuôn mặt tiêu biểu của một Giáo hội gần gũi, năng động và hướng đến việc loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay. Sự hiện diện của ngài tại Tắc Sậy vì thế mang ý nghĩa khích lệ các tín hữu Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh sự trân trọng của Giáo hội đối với chứng tá đức tin của cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

    TÀI LIỆU TÌM HIỂU THÊM

    • Phận sự và nhiệm vụ

    Ngày 02 tháng 7 năm 2026, tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy (Giáo phận Cần Thơ), Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle sẽ chủ sự Thánh lễ tuyên Chân phước cho cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Trong biến cố trọng đại này, ngài không chỉ hiện diện với tư cách là một vị Hồng y của Giáo hội, mà còn là Đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV. Đức Hồng Y Tagle được cử thay mặt Đức Giáo hoàng chủ sự nghi thức và biểu lộ sự hiệp thông của Tòa Thánh với Giáo hội tại Việt Nam.

    Đức Hồng y Tagle giữ chức vụ Tổng trưởng Phân Bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng thuộc Bộ Loan báo Tin Mừng của Giáo triều Rome. Đây là cơ quan được Đức Giáo hoàng trực tiếp điều hành sau cuộc cải tổ Giáo triều theo Tông hiến Praedicate Evangelium năm 2022. Bộ được tổ chức thành hai Phân Bộ:

    • Phân Bộ phụ trách những vấn đề nền tảng của việc loan báo Tin Mừng trên toàn thế giới.
    • Phân Bộ phụ trách việc thiết lập, đồng hành và phát triển các Giáo hội địa phương tại những vùng truyền giáo. Đức Hồng y Tagle là người đứng đầu Phân Bộ thứ hai này.

    Chức vụ hiện nay của Đức Hồng y Tagle cũng là sự tiếp nối truyền thống lâu đời của cơ quan từng mang tên Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide), được thành lập năm 1622 để điều phối công cuộc truyền giáo trên toàn thế giới. Qua nhiều thế kỷ, cơ quan này đã góp phần thiết lập các Giáo hội địa phương, đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ và hỗ trợ các hoạt động truyền giáo tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Sau nhiều lần cải tổ, Bộ Loan báo Tin Mừng ngày nay tiếp tục kế thừa sứ mạng ấy trong bối cảnh mới của Giáo hội hoàn vũ. Trong cương vị đó, Đức Hồng y Tagle đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các Giáo hội trẻ, đào tạo hàng giáo sĩ, chủng sinh và giáo lý viên, đồng thời hỗ trợ các miền truyền giáo về nhân sự cũng như các nguồn lực cần thiết. Chức vụ này phản ánh định hướng của Giáo hội ngày nay: đặt công cuộc loan báo Tin Mừng ở vị trí trung tâm trong đời sống và sứ mạng của mình.

    Tuy nhiên, việc Đức Hồng y Tagle chủ sự Thánh lễ Tuyên Chân phước không phát xuất từ trách nhiệm của Bộ Loan báo Tin Mừng. Theo quy định của Giáo hội, việc nghiên cứu và tiến hành các án Tuyên thánh thuộc thẩm quyền của Bộ Tuyên Thánh. Sở dĩ ngài chủ sự nghi thức tại Tắc Sậy là vì Đức Thánh Cha Leo XIV đã đích thân bổ nhiệm ngài làm Đặc sứ cho sự việc trọng đại này. Đây là một sự ủy nhiệm đặc biệt, giới hạn trong một sự kiện cụ thể, nhằm thay mặt Đức Giáo Hoàng thực hiện sứ vụ được trao. Vì thế, khi giới thiệu đầy đủ, có thể gọi ngài là: “Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle, Tổng trưởng Phân Bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV.” Sự hiện diện của Đức Hồng y Tagle tại Việt Nam vì thế mang nhiều ý nghĩa. Đó vừa là sự hiện diện của vị lãnh đạo một cơ quan quan trọng của Giáo triều Rome trong lĩnh vực truyền giáo, vừa là sự hiện diện của Đặc sứ Đức Thánh Cha, thay mặt Đức Giáo hoàng hiệp thông với Giáo hội Việt Nam trong niềm vui tuyên Chân phước cho một vị mục tử đã hiến dâng mạng sống vì đoàn chiên.

    • Hành trình thẩm vấn điều tra nhân chứng

    Phía sau đại lễ còn là một hành trình kéo dài nhiều năm, ít người nhắc tới. Từ 2011 đến 2017, Giáo phận Cần Thơ lập một ủy ban sử học để thẩm tra 23 nhân chứng, trong đó 13 người từng tận mắt chứng kiến cái chết của Cha Diệp. Tòa Thánh còn mời thêm một nhóm sử gia độc lập để đối chiếu. Không phải cứ được nhiều người sùng kính là đủ để phong chân phước. Giáo hội đòi hỏi bằng chứng, đòi hỏi thời gian, đòi hỏi sự thận trọng gần như khắc nghiệt trước khi gọi một cái chết là tử đạo.

    • Tiểu sử Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp

    Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp; sanh ngày 01 tháng 01, 1897 tại tỉnh An Giang và mất ngày 12 tháng 03, 1946. Ngài thụ phong linh mục năm 1924 sau khi hoàn thành việc học tại Chủng viện Phnom Penh ở Campuchia. Sau khi trở về Việt Nam, Ngài dạy học tại một chủng viện địa phương. Năm 1930, Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp được bổ nhiệm làm cha sở Giáo xứ Tắc Sậy. Trong 16 năm làm linh mục quản xứ của giáo xứ Tắc Sậy, Ngài nổi tiếng với sự tận tụy hết mình dành cho người nghèo, người bệnh và những ai đang chịu đau khổ giữa thời chiến. Ngài đã tử đạo sau khi bị sát hại bởi hai lính Nhật đào ngũ. Mặc dù trước đó đã có 117 vị tử đạo Việt Nam được phong Chân phước và Hiển thánh, nhưng đây là lần đầu tiên một nghi thức phong Chân phước được tổ chức ngay tại Việt Nam thay vì tại Vatican. Trong cuộc dời là linh mục, Ngài đã thành lập nhiều giáo xứ ở Campuchia và Việt Nam.

    Ngôi nhà cũ nhỏ bé của cha diệp nằm ở vùng quê chợ mới An Giang. Đây là căn nhà mà cha Trương bầu diệp trở về sau những ngày chăm sóc giáo dân ở sậy. Quê hương của cha là họ đạo cần phước, An Giang. Trang mồ côi từ năm bảy tuổi, tuổi thơ với nhiều gian khổ đã khôn đúc lên con người giàu lòng yêu thương và tận hiến cho Thiên chúa. Căn nhà chỉ cách 200 m là phần 1 của song thân cha, ông Trương Văn đặng và bà lê Thị Thanh.

    ScreNgôi nhà cũ nhỏ bé của cha diệp nằm ở vùng quê chợ mới An Giang.

    Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp bị bắt và giết năm 1946 bởi hai trong ba binh sĩ Nhật Bản, những người sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945 đã đào ngũ sang phe Cao Triều Phát, một thủ lĩnh kháng chiến Cao Đài chống Pháp, người có lực lượng gia nhập Việt Minh năm 1945, và bản thân ông cũng là một cán bộ Việt Minh địa phương. Sau Thế chiến II, với Sau khi Pháp bị đánh đuổi và Nhật Bản đầu hàng, người Việt Nam bị cuốn vào cuộc nội chiến tranh giành vận mệnh của nhà nước hậu thuộc địa, trong khi Pháp quay trở lại để đòi lại thuộc địa cũ của họ.

    Trước đó, Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp đã nhờ các nhà khảo sát đất người Pháp giúp nhà thờ của Tắc Sậy đòi lại đất bị lấn chiếm và gây thù oán với Trùm Cận, kẻ lấn chiếm. Cận đến gặp Phát và buộc tội Cha Diệp thông đồng với người Pháp. Hai thuộc hạ người Nhật của Phát và những binh lính khác, có thể do chính Phát phái đi, đã giam giữ các tín đồ công giáo trong một nhà kho và âm mưu thiêu sống tất cả bọn họ, nhưng Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp đã tự nguyện chết để những tín đồ công giáo được sống.

    Trong những năm 1945 lúc chiến tranh diễn ra tàn khốc loạn lạc mọi nơi, các cha bề trên thường khuyên Cha Trương Bửu Diệp nên đi vùng khác lánh mặt cho đến khi tình hình yên ổn thì hãy trở lại nhưng ngài từ chối và trả lời: “Tôi sống với đàn chiên và nếu có chết thì chết giữa đàn chiên vậy.”Vì vậy, Hai thuộc hạ người Nhật đã xông vào nhà thờ Tắc Sậy và bắt cha Trương Bửu Diệp cùng 70 người chức sắc và giáo dân với mục đích giết toàn bộ số người này nhưng cha Trương Bửu Diệp nói: “Ta là chủ chăn của các con chiên này, ta Nguyên chịu chết để đền chịu tội thay cho các con chiên của Thiên chúa.” Trong ngày hôm ấy đã có nhiều con triê quỳ xuống xin cha sửa tội lần cuối cùng.

    Trong đêm đó bọn ác đã chặt đầu Cha Trương Bửu Diệp. Đứng trước cái chết Cha Trương Bửu Diệp vẫn điềm tính không sợ hãi cha nhìn 2 tên đao phủ mỉm cười hiền hậu, Ngài nói: “Ta tha tội cho hành động của các con.” Sau khi giết Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp, đầu bị chặt lìa cổ. Hành quyết Cha Trương Bửu Diệp, 2 tên đau phủ này quỳ xuống run rẩy chạy như bay về phía rừng U Minh và biến mất. Không ai nghe tin tức gì về họ nữa. Lại có nguồn tin cho rằng Phát đã cho giết hai người Nhật, vì ông ta hoặc sợ họ sẽ phản bội và cũng giết ông ta dễ dàng như họ đã giết Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp, hoặc Phát muốn bịt miệng họ.

    Có người kể rằng đêm hôm ấy, Cha Trương Bửu Diệp đã về báo mộng và chỉ chỗ 2 tên kia ném thi thể của Ngài xuống một vũng nước nông. Chúng đã lột hết quần áo của ngài nhưng 2 tay của ngài vẫn chắc trước ngực như đang cầu nguyện. Ngài được giáo dân đem về chôn cất bí mật trong phòng thánh nhà thờ Tắc Sậy, lúc đó rất lụp xụp và nghèo nàn…Thi thể của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp sau đó được vớt lên và chôn cất. Năm 1969, thi thể của ngài được mang về an táng trong nhà thờ ắc sậy và từ đó có nhiều phép lạ xảy ra. Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp tại giáo xứ Tắc Sậy. Được gọi đơn giản là Cha Diệp (“Cha Điệp”), ngài được các tín đồ tôn kính và thậm chí cả những người không theo đạo Thiên Chúa ở Đồng bằng sông Cửu Long tôn kính. Ngày 12 tháng 3 năm 2016, Giáo phận Cần Thơ đã tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm ngày mất của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. Sự kiện có sự tham dự của đông đảo các giám mục, bao gồm Giám mục Cần Thơ, Stephano Trí Bửu Thiên; Giám mục Đà Lạt, Anton Vũ Huy Chương; Giám mục Mỹ Thọ, Pierre Nguyễn Văn Khảm; và Giám mục Đà Nẵng, Giuse Châu Ngọc Trí.

    Năm 2012, cuộc điều tra đã được tiến hành để chuẩn bị cho việc phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp trong Giáo hội Công giáo. Ngày 31 tháng 10 năm 2014, Bộ Giáo lý Đức tin đã ban hành một tuyên bố phê chuẩn quy trình phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp. Vào tháng 11 năm 2024, Đức Giáo hoàng Phanxico đã ký sắc lệnh tử đạo, mở đường cho việc phong chân phước cho ngài, và ban cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp danh hiệu Chân phước. Vào ngày 18 tháng 12 năm 2025, Giám mục Peter Lê Tấn Lợi của Cần Thơ thông báo rằng Tòa Thánh đã xác nhận việc phong chân phước cho Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp và vào ngày 2 tháng 7 năm 2026, Ngài được Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Phó Tổng Giám đốc Bộ Truyền giáo, phong chân phước tại Nhà thờ Tắc Sậy ở Cà Mau.

    • Phép lạ

    Sau khi Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp mất, có rất nhiều phép lạ đã xảy ra, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra 3 trường hợp:

    1. Để có được sắc lệnh Phong chân ngày 02 tháng 7, 2026. Hồ sơ của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp đã phải đi qua một bộ máy điều tra quốc gia kéo dài suốt 13 năm. Các chuyên gia lịch sử các nhà thần học hay các luật sư của quỹ tìm tòi để bác bỏ hồ sơ tại Roma. Đã lật lại từng chi tiết trong cuộc đời ngài để bảo đảm rằng không có bất cứ tì vết nào về mặt đạo đức, chính trị hay gian lận thông tin. Việc Giáo Hoàng đặt bút ký sắc lệnh công nhận vị thế từ đạo. Khẳng định rằng tính pháp lý cao nhất thuyết phục nhất trên vi phạm toàn cầu.
    2. Thông thường 1 vị thánh Công giáo chỉ thu hút người công giáo đến cầu nguyện nhưng riêng trong trường hợp của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp, thi có đến 70% thân hữu đến xin ơn chuyển cầu không phải là người công giáo. Đại đa số người đến viếng mộ cha là những người theo đạo Phật giáo, đạo Cao Đài hay đạo Thờ Mẫu. Những người kinh doanh tự do hay không theo đạo giáo nào cũng đã đến cầu khấn Ngài. Niềm tin vững chắc của hàng triệu con người qua nhiều thế hệ chính là bằng chứng sống độc nhất.
    3. Bản thân cha diệp có rất nhiều cơ hội để di tản an toàn lên Sài Gòn hoặc Campuchia. Nhưng việc một linh mục nguyện ở lại, chấp nhận hậu quả xấu nhất để đổi lấy sự tự do cho 70 giáo dân là một sự thật lịch sự đã được ghi nhận, sự thuyết phục lớn nhất của Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp không phải là những hào quang huyền bí mà chính là sự thuyết phục lớn nhất của Ngài. Không phải là những hào quang huyền bí mà chính là tình yêu thương đến tận cùng để bảo vệ đồng bào. Đó là giá trị cốt lõi thuyết phục của giáo hội 

    Khánh Lan, California 2026

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt

    MANIFEST DESTINY, VOLUME 2 CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG

    Khánh Lan

    Manifest Destiny và Nhà Văn Nguyễn Quang

    Chẳng phải chỉ trên khuôn mặt của nhà văn Nguyễn Quang luôn nở một nụ cười tươi thắm mà ngay cả chúng tôi cũng hân hoan với nụ cười luôn nở trên môi. Những nụ cười sáng rực, hân hoan cho một buổi ra mắt sách thành công mỹ mãn, để đền bù cho những tháng ngày lo lắng cùa anh em chúng tôi, Ban Tổ Chức. Lo lắng bởi ngày mùng 5 tháng 7, 2026, khu Little Sài Gòn có đến 4 sinh hoạt trong cộng đồng. Đầu tiên là ngày kỷ niệm 250 năm thành lập của Hoa Kỳ tổ chức tại Đài kỷ niệm Việt-Mỹ trên đường American Way. Thứ 2 là buổi ra mắt sách của Nhà Văn Nguyễn Quang với tác phẩm Manifest Destiny, Volume 2 hay Vận Mệnh Hiển Nhiên. Thứ 3 là Đại hội Thủy Quân Lục Chiến và thứ tư là Đêm nhạc Sài-Gòn trong nỗi nhớ tại hội trường Lavender.

    Tuy nhiên, có lẽ đây là một phép màu mà Thượng Đế đã ưu ái dành cho nhà văn Nguyễn Quang, buổi ra mắt sách của ông đã thành công vượt bực trong niềm hân hoan của tất cả chúng tôi….

    … Vừa đi lấy cái bánh “Chúc mừng ngày ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang” tại tiệm bánh Van, tôi vội vã lái xe thẳng đến Museum Of The Republic Of VietNam, nơi mà nhà văn Nguyễn Quang tổ chức buổi ra mắt sách. Khê nệ bưng cái bánh vào phòng hội, tôi đã nhận thấy một số anh chị trong Ban Tổ Chức đã có mặt ở đó từ bao giờ, để chuẩn bị cho buổi ra mắt sách, nào là bỏ thức ăn vào bịch, nào là trải khăn bàn, nào là trưng bày sách ra bàn, v.v… mọi người làm việc thật đắc lực, có dây chuyền và có quy củ…

    Chị Minh Khai, em gái của nhạc sĩ Lam Phương là người lãnh trách nhiệm … “đi chợ” cho ngày ra mắt sách.

    Từ trái sang phải: Khánh Lan, Minh Khai, Kiều My, Lệ Hoa, Katherine Minh Thư. Và chỉ một thoáng thôi, những bịch thức ăn đã chuẩn bị xong…sẵn sàng để đãi khách tham dự buổi ra mắt tác phẩm.

    Anh Phạm Lưu Đạt thật chu đáo, anh là người đã bỏ ra rất nhiều thời gian để chuẩn bị cho buổi họp mặt này. Từ một bàn tay khéo léo, anh đã sắp xếp mọi công việc có thứ tự và nhìn rất “Professional“. .

    Từ những huy hiệu, bao đựng thực phẩm, biểu ngữ, hình ảnh, v.v… đã được anh Phạm Lưu Đạt tự tay thiết kế..

    Những tác phẩm được sắp xếp dưới bàn tay khéo léo của anh Phạm Lưu Đạt

    ĐÓN QUAN KHÁCH THAM DỰ

    Ông Frank Scotton

    Từ trái sang phải: NV Kiều My, GS Lê Văn Khoa, CS Ngọc Hà, NV Nguyễn Quang, NV Khánh Lan, NV Phương Hiền

    Nhóm Guitar Tơ Vàng

    Tiếp đón 2 chị cùng quê với NV Nguyễn Quang, Tỉnh Sóc Trăng

    Các anh chị trong Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Từ trái sang phải: NV Phạm Gia Đại, Chị Minh Khai, Lệ Hoa, NV Phương Hiền, NV Kiều My, NS Lê Nguyễn Nga, NV Khánh Lan, Anh Út Hiền, NS Dương Hồng Anh, Katherine Minh Thuu, GS Trần Mạnh Chi

    TÓM TẮT TÁC PHẨM

    Thật chu đáo, anh Phạm Lưu Đạt đã cho in ra một tờ tóm tắt về tác phẩm Manifest Destiny Volume 2– Định mệnh – Cuộc hành trình của nhân loại. Đây là một tác phẩm mang tính suy tư thâm thúy, kết hợp giữa lịch sử, triết học và dấu ấn cá nhân của tác giả Nguyễn Quang – một nhân chứng lịch sử của thế kỷ 20.

    Qua lăng kính của chính cuộc đời mình, tác giả dẫn dắt người đọc đi qua hành trình dài của nhân loại, từ lịch sử trái Đất cổ điển đến những thách thức của thời đại hiện đại. Trung tâm của cuốn sách là chiến tranh Việt Nam – một cuộc chiến ủy nhiệm bi thảm – được đặt trong bối cảnh rộng lớn của chiến tranh lạnh và khát vọng “Manifest Destiny” của Hoa Kỳ.

    Tác giả dựng lại một cách chân thực và xúc động những ký ức lịch sự: thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, nạn đói năm 1945, sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975, và hành trình lưu vong của hàng 1.000.000 người Việt Nam. Cuốn sách bày tỏ lòng tri ân đối với lòng dũng cảm và những hy sinh của 58.000 binh sĩ Hoa Kỳ cùng các đồng minh trong chiến tranh Việt Nam, sự kiên cường của cộng đồng người Việt hải ngoại, và giá trị biểu tượng trường tồn của lá cờ vàng 3 sọc đỏ.

    Vượt ra ngoài khuôn khổ lịch sử Việt Nam, tác giả mở rộng tầm nhìn đến những vấn đề lớn của nhân loại: chu kỳ lặp lại của sai lầm lịch sử, xung đột giữa các siêu cường, vai trò của công nghệ cần thiết về sự cân bằng giữa tiến bộ vật chất và giá trị đạo đức, tâm linh. Manifest Destiny, volume 2 không chỉ là một cuốn sách lịch sử, mà còn là tiếng lòng của một thế hệ đã trải qua chiến tranh và mất mát, vẫn kiên trì niềm tin và tự do, dân chủ và nhân phẩm con người. Đây là lời tri ân sâu sắc dành cho các cựu chiến binh, người tị nạn, và các lời nhắc nhở về trách nhiệm của mỗi thế hệ đối với tương lai chung của nhân loại.

    Nhìn lại quá khứ để định hướng tương lai – đó là sứ mệnh của chúng ta.

    Khoảng 30 phút trước giờ khai mạc, từ parking lot, đội trống chầu Thiên Ân lần lượt di chuyển vào phòng hội để chuẩn bị cho nghi thức khai mạc buổi ra mắt sách. Theo như anh Phạm Lưu Đạt, “Đây là một sự may mắn, hôm ấy, anh Đạt đến viện bảo tàng và gặp bác sĩ Quân về việc tổ chức buổi ra mắt sách tại đây. Bác sĩ Quân đã mời đội trống chầu Thiên Ân trình diễn trong ngày ra mắt sách của NV Nguyễn Quang…

    Tôi nhận thấy các em ở nhiều độ tuổi khác nhau, khoảng từ 5 đến 15 tuổi…các em súng sính trong trang phục cổ truyền Việt Nam, trông thật dễ thương và đáng yêu quá.

    Chuẩn bị sẵn sàng

    Các em trong đoàn trống chầu Thiên Ân chuẩn bị trước giờ trình diễn

    GIỜ KHAI MẠC

    Từng hồi trống liên tục của đoàn trống chầu Thiên Ân vang lên, khai mạc cho buổi ra mắt sách, một âm thanh hào hùng, mạnh mẽ với những bài ca dao thuần túy của quê hương đã làm thổn thức bao tâm tư của con dân Việt sau những năm tháng dài xa xứ.

    Chắc hẳn, tất cả quan khách cũng như chúng tôi, ngẩn người và đi từ ngạc nhiên này đến thích thú kia, bởi trong đoàn trống, các em tuy còn nhỏ, nhưng dưới sự tập luyện công phu và có nghệ thuật của các quý Thầy Cô, các em đã biểu diễn màn trống thật điêu luyện trong vai trò của mình.

    Chúng tôi và quan khách tham dự như chìm trong cái vui và hãnh diện ngắm nhìn một thế hệ “măng non“ trong tương lai với nhiều hy vọng cho việc gìn giữ và bảo tồn văn hóa Việt.

    Những “mầm non” của đất nước đang vươn lên cho một kỷ nguyên mới…

    Các em trong đoàn trống chầu Thiên Ân đang biểu diễn những màn trống ngoạn mục….

    Sau phần chào cờ Việt Mỹ và phút mặc niệm là phần giới thiệu tiể sử của tác giả Nguyễn Quang và lời chào của ông đến quý quan khách. Theo sau là phần trình diễn mở đầu của nhóm Tơ Vàng với hai nhạc phẩm: God Bless America và Tiếng Hát Đường Xa.

    Được biết nhóm guitar Tơ vàng do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân thành lập.

    Nhóm Guitar Tơ Vàng và Nhạc sĩ Võ Tá Hân và phu nhân, Cô Kim Châu

    Cũng không quên nhắc đến phần văn nghệ chọn lọc với màn trình diễn của ca sĩ Thanh Lan và ban văn nghệ tiếng thời gian.

    CS Thanh Lan với hai nhạc phẩm Pháp: Belsame Mucho và La plus belle pour aller danser.

    Tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Katherine Minh Thư
    trong Ghé Bến Saigon

    Tam Ca Ái Liên, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh trong Bức Họa Đồng Quê

    Diễn giả thứ nhất được mời là nhà văn Việt Hải, ngoài lời chúc mừng ra mắt tác phẩm Manifest Destiny, Volume 2 đến nhà văn Nguyễn Quang, sơ lược về tác phẩm, sau cùng ông ngỏ lời tâm sự về sự liên quan mật thiết giữa ông và nhà văn Nguyễn Quang.

    Kế đến là NV Khánh Lan được nhà văn Việt Hải đề cử lên chia sẻ cảm nghĩ của ông về tác phẩm Manifest Destiny, volume 2. Nguyên văn bài đọc như sau: 

    Kính Thưa quý quan khách, quý tao nhân mặc khách, NV Nguyễn Quang. Ngày 25 tháng 08, 2024, nhà văn Nguyễn Quang đã cho ra mắt tác phẩm: Manifest Destiny, tập 1, một tài liệu nghiên cứu lịch sử mà nhà văn Nguyễn Quang đã viết từ năm 2021 đến năm 2024 bằng Anh ngữ, sau được ông chuyển sang Việt ngữ với tựa: Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân loại. Hôm nay, ngày 5 tháng 7, 2026, Manifest Destiny, tập 2 (Vận mệnh Tất yếu Hiển nhiên) ra đời. Trong tác phẩm Manifest Destiny, tập 2, nhà văn Nguyễn Quang đã nghiên cứu về nhiều lãnh vực gồm: sử liệu, triết thuyết chính luận và chính trị qua ngòi bút uyên thâm, sắc sảo. Manifest Destiny, tập 2, với tựa đề phụ: “Một cuộc tường chinh của Văn minh và Vận mệnh”. Đó là sự mở rộng ra bên ngoài và sự tự vấn vào bên trong. Văn minh là những gì chúng ta xây dựng nên, là sự hiện hữu trong các thể chế, là sự phát minh và luật pháp. Vận mệnh là những gì chúng ta lựa chọn, được bộc lộ qua các giá trị, sự chừng mực, lòng dũng cảm và sự minh định về đạo đức. Chính vì thế, tác phẩm này đã mang đến một sự suy ngẫm có cấu trúc cho vận mệnh & tương lai của đất nước Hoa Kỳ.

    Xuyên qua các chương sách, nội dung ghi nhận lại những biến động về chính trị, những xung đột ý thức hệ, những truyền thống tôn giáo, những cuộc tranh luận triết học và cách mạng khoa học. Câu chuyện dẫn dắt người đọc từ Trái Đất vươn ra ngoài vũ trụ. Văn minh đi sâu vào lương tri. Thể chế xã hội đi vào đời sống nội tâm, niềm tin tôn giáo, tất cả đều ảnh hưởng vào phương cách tổ chức toàn cầu, xây dựng quốc gia và duy trì trật tự thế giới. Xét về ý niệm Manifest Destiny, tập 2 (Vận mệnh hiển nhiên) là niềm tin rằng Hoa Kỳ có vận mệnh mở rộng lãnh thổ từ duyên hải Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương. Tác giả Nguyễn Quang đã dựa theo tiền đề này, để mở rộng cho tác phẩm của ông. Theo ông, Khái niệm Manifest Destiny, tập 2 không chỉ được xem như một học thuyết lịch sử, mà còn có một ẩn dụ lớn. Trong quá khứ, nó từng được dùng để biện minh cho sự bành trướng lãnh thổ. Vậy, trong hiện tại, nhân loại đã phác họa một lộ trình nào chưa cho hướng đi của mình trong tương lai? Điều này rất quan trọng, bởi nếu sự tiến bộ thiếu vắng đạo đức sẽ dẫn đến hiểm họa. Quyền lực thiếu vắng sự tự vấn sẽ dẫn đến sự thái quá. Sự bành trướng thiếu vắng trách nhiệm, sẽ chỉ là sự lặp lại những sai lầm cũ dưới những cái tên mới. vậy, để tránh lặp lại này, chúng ta phải nhận thức rõ vai trò, ý chí và hành động của chính mình. Bởi, chúng ta không thể đơn thuần chỉ là những con rối trong một vở kịch lịch sử, mà chính những lựa chọn, giá trị và hành động của chúng ta mới là thứ định hình nên tương lai.

    Manifest” đề cập đến những áp lực lên môi trường và sự phân mảnh xã hội. Một nền văn minh hoàn hảo cần cả cấu trúc lẫn lương tri: Bởi một tương lai thuần túy vật chất sẽ mang lại sự tiện nghi, nhưng thiếu đi mục đích sống. Một tương lai thuần túy hệ tư tưởng sẽ mang lại niềm tin kiên định, nhưng lại thiếu đi lòng bao dung. Vì thế, Sự cân bằng không phải là một lựa chọn tùy ý, mà là điều kiện để sinh tồn. Sự mất cân bằng sẽ gây ra hậu quả vô lường. Destiny” là trao quyền tự chủ, là sự kết hợp có kỷ luật giữa tri thức và đạo đức, là sự hợp tác và lòng khiêm tốn. Qua những kinh nghiệm, chúng ta có thể rút ra bài học từ những sai lầm để nỗ lực vươn tới một tương lai như ý. Tác phẩm lập luận rằng: Destiny nếu thực sự tồn tại, thì đó không phải là một sự bảo đảm hoàn toàn. Vì nếu cuộc đời đã hoàn toàn được định đoạt sẵn, thì mọi nỗ lực, học hỏi đều sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, Destiny sẽ được định hình bởi sự kết hợp giữa các lực ngoại cảnh như: hoàn cảnh, cơ hội, thách thức, và các yếu tố nội tại như: giá trị sống, sự lựa chọn, và cách phản ứng của chúng ta.

    Manifest Destiny, tập 2 là những nhận định của con người về ý nghĩa và trật tự, tác phẩm phản ảnh về một sự kiện quan trọng của nước Mỹ ở cột mốc 250 năm, tuy không phải là một mô hình hoàn hảo, nhưng đó là một cuộc thử nghiệm liên tục, đã sinh ra cả thành tựu lẫn mâu thuẫn, sự lãnh đạo lẫn sự sai lầm, sự đổi mới lẫn sự xáo trộn. Tác phẩm cũng đề cập đến Thế kỷ 21 là một Kỷ nguyên Mới. Trong suốt 250 năm qua, (1776-2026) Hoa Kỳ đã nỗ lực xây dựng một môi trường sống hạnh phúc với những công sức và hy sinh của các thế hệ nối tiếp nhau, đồng thời đương đầu với những thứ thách của các cộng đồng quốc tế. Thế kỷ 21 là một Kỷ nguyên then chốt cho sự Khai sáng của Nhân loại, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện các biện pháp chủ động, nhằm tăng cường hợp tác quốc tế và cải cách các thể chế toàn cầu. Khi Hoa Kỳ đang tiến gần đến cột mốc kỷ niệm 250 năm thành lập, là lúc chúng ta cần xét lại những khiếm khuyết, hầu vạch ra một lộ trình để đưa đến một tương lai với công bằng, bình đẳng và bền vững hơn. Một di sản để trao lại cho các thế hệ kế cận. Lễ kỷ niệm 250 năm, chúng ta cũng không quên ghi nhớ đến công sức của những vị tiên phong, những người đã xây dựng và phát triển đất nước Hoa Kỳ. Vậy thì, những thành tựu cũng như những thất bại mà đất nước này đã mang lại cho thế giới là gì? Tất cả mọi giữ kiện này đều được ghi lại trong tác phẩm Manifest Destiny, tập 2.

    Tóm lại, tác phẩm Manifest Destiny, tập 2, hay Vận mệnh hiển nhiên của nhà văn Nguyễn Quang là một tiểu luận án chính trị học hữu ích, có liên đới với nhau do yếu tố lịch sử và chính trị. Nó cũng có giá trị về phương diện biên khảo, do sự góp nhặt những dữ kiện từ nhiều nguồn sử liệu, phân tích, chia đề tài theo dòng thời gian dựa theo địa hình chính trị và vận mệnh của từng quốc gia. Theo Khánh Lan, bài học lịch sử có thể tái lập nhiều lần, do đó, áp dụng nguyên tắc ôn cố tri tân giúp chúng ta rút tỉa kinh nghiệm, tránh những hệ lụy và những sai lầm đã xảy ra trong quá khứ. Và sau hết, khánh Lan xin chấm dứt bài diễn văn hôm nay bằng câu nói mà giáo sư Quyên Di đã nói trong buổi ra mắt sách lần trước: “Một tác phẩm có giá trị không phải vì bề dày của quyển sách, mà chính những gì chứa đựng ở trong quyển sách.“ Khánh Lan xin trân trọng giới thiệu Manifest Destiny, tập 2 và chúc mừng nhà văn Nguyễn Quang. Mong rằng trong tương lai chúng ta sẽ được đọc những tác phẩm kế tiếp của ông: Manifest Destiny, tập 3; Manifest Destiny, tập 4, v.v…

    NV Nguyễn Quang và Khánh Lan

    …Tiếng vỗ tay vang dội cả thính phòng sau khi tôi chấm dứt bài diễn đọc đã làm tôi vô cùng cảm động với cái vui vì mình đã làm tròn nhiệm vụ mà nhà văn Việt Hải đã giao phó và ưu ái dành cho tôi. 

    Diễn giả thứ 2 được giới thiệu là ông Frank Scotton.  Trong bài diễn văn ông Scotton chia sẻ quan điểm của ông về chiến tranh Việt Nam. Frank Scotton cũng đưa ra lập luận rằng trong tác phẩm Manifest Destiny, Volume 2, là tất cả những gì hiện tại và tương lai cho đất nước Hoa Kỳ. We are together ông nói: Tôi rất vui mừng đọc tác phẩm Manifest Destiny, Volume 2 và mong đợi được đọc tác phẩm Manifest Destiny, Volume 3, nó sẽ là một sự đổi mới trong chính phủ…..” Not repeated presidency but new presidency. Not services but truly work”…..

    Frank Scotton là một sĩ quan ngoại giao và tình báo của Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ (USIA), nổi tiếng với thời gian dài hoạt động tại Việt Nam từ năm 1962 đến năm 1975. Đến Sài Gòn vào năm 1962 ở tuổi 24, Frank Scotton, học tiếng Việt và dành phần lớn thời gian sống tại các vùng nông thôn. Năm 1964, ông tổ chức các trung đội cơ động để nhấn mạnh các khía cạnh chính trị của cuộc xung đột. Các nhóm đặc biệt này sau đó được CIA áp dụng và trở thành mô hình cho chương trình bình định quốc gia. Ông từng làm việc và cố vấn cho nhiều quan chức, tướng lĩnh hàng đầu của Mỹ tại chiến trường, bao gồm Tướng Westmoreland và John Paul Vann. 

    Diễn giả thứ 3 với nhà văn Phạm Gia Đại, nội dung của bài diễn văn nói về sự khác biệt giữa “FATE” (Số phận) và “DESTINY” (Vận mệnh)

    “Fate” hàm ý là một chuỗi sự kiện đã được an bài từ trước và không thể thay đổi. Trong khi “Destiny”  (vận mệnh) là trao tự chủ. Destiny” (vận mệnh) là mức độ ảnh hưởng, sự lựa chọn, sự hoàn thiện, và là kết quả của tiềm năng được định hình bởi chính những hành động, quyết định, và cách ta phản ứng trước các hoàn cảnh sống. Đó là một góc nhìn cân bằng và thấu đáo hơn về “số phận và định mệnh” …

    NV Việt Hải, NV Phạm Gia Đại (đứng ở giữa), NV Frank Scotton

    Lời cảm ơn của nhà văn Nguyễn Quang. Qua cơn xúc động ông nói:  Tôi sinh trưởng trong một gia đình khiêm tốn và nhà không giàu lắm. Năm 1950 Pháp tranh giành độc lập tự do, vì thế các thanh niên yêu nước thời đó và vì có tinh thần chống thực dân Pháp, thường gia nhập phong trào kháng chiến trong đó có cả tôi và anh trai tôi. Lúc ấy tôi mới 13 tuổi. Anh tôi đã tử nạn. Thân phụ vì lo cho sự an toàn của tôi, Người đã quyết định cho tôi ra nước ngoài và định mệnh đã đưa tôi sang Pháp. Cho đến nay, tôi cũng không hiểu là cha tôi đã lấy tiền ở đâu ra mà gởi tôi sang Pháp.….

    Khi được hỏi về cảm xúc của ông về gia đình. Nhà văn Nguyễn Quang tỏ vẻ như xúc động, giọng ông nghẹn lại, ông nói: nỗi khổ tâm của tôi là tôi rất yêu cha tôi nhưng tôi không biết làm thế nào để tỏ tình yêu đó với cha tôi. Không như ngày nay, phong tục Á Đông đã không cho phép tôi được ôm cha tôi vào lòng, để nói với cha tôi rằng tôi rất yêu ông… Hành trình về cuộc đời của tôi đã được ghi lại trong nhiều tác phẩm … qua nhiều năm…

    Từ trái sang phải: Nhạc Sĩ Võ Tá Hân và phu nhân, Cô Kim Châu, Nhà Văn Nguyễn Quang, Ông John Tạ và phu nhân, Chị Suzan Tạ

    Xong nhà văn Nguyễn Quang nói tiếp lời cảm ơn: Tôi cảm ơn quý vị, nhà văn Việt Hải, Phạm Lưu Đạt, anh Phạm Thái và Ban tổ chức, đã giúp tôi hoàn thành tác phẩm và tổ chức một buổi ra mắt sách thật vĩ đại, linh đình và hoàn hảo. Tôi thành tâm tri ân những người đứng sau, đã tận tụy giúp tôi như anh Phạm Thái, Phạm Lưu Đạt đã thiết kế bìa sách vào hoàn tất việc in ấn giúp tôi. Tôi cũng cảm ơn bác sĩ Khiêm phải chủ tịch Viện bảo tàng đã bảo trợ cho tôi phòng hội này không những lần trước và cả lần này nữa.

    Anh Phạm Lưu Đạt, NV Nguyễn Quang, Anh Trần Mạnh Chi và Mộng Thủy

    NV Phương Hiền, Anh Út Hiền và Thụy Lan

    Bán sách: Thụy Lan & Lệ Hoa thành công

    Bế mạc buổi ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang lúc 3:30 chiều với chiếc bánh “Chúc mừng ngày ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang, July 5, 2026.”

    Anh “Quang” ơi, có bao nhiêu…95 cuộc đời….

    Hai mươi năm đầu…và …100 năm sau thì sao?…

    CHÚC MỪNG NV NGUYỄN QUANG RA TÁC PHẨM FROM: LIÊN NHÓN NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN VÀ LIÊN NHÓM VĂN CHƯƠNG VIỆT & TIẾNG ĐÀN XƯA CHÚC MỪNG…CHÚC MỪNG...

    Khánh Lan, California 2026

  • Khánh Lan,  Kiều My,  PHƯƠNG HIỀN,  RA MẮT SÁCH,  Việt Hải,  Vương Trùng Dương

    GIỚI THIỆU TÁC PHẨM CHA MÃI BÊN ĐỜI CẢM CỦA NHÀ VĂN PHƯƠNG HIỀN

    (Thân tặng tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền) “Stay with me forever and ever, Papa!”

    Cha mãi bên đời, Thái Sơn cao cả

    Giúp con mạnh mẽ vượt mọi phong ba

    Tấm lòng hiếu thảo vầng trăng sáng ngà

    VINH HỒ

    Orlando, Mar. 19, 2026

    1. ĐÔI DÒNG VỀ CỐ THIẾU TÁ NGUYỄN GIA TĨNH (1931-1985):

    Người Cha trong tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!

    hồi ký của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền.

    Ông Nguyễn Gia Tĩnh, sinh ngày 8 tháng 5/1931, quê Hưng Yên, miền Bắc, là giáo viên, lập gia đình với Cô giáo Phạm Thị Phương Thảo cùng quê.

    Khi Phương Hiền (PH) được 1 tuổi, Cha là Thầy giáo Nguyễn Gia Tĩnh nhập ngũ thụ huấn Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (1/10/1953-1/6/954) cùng khoá với Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo (hạng 18), Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt,  Chuẩn tướng Trương Hữu Đức… – Khoá 10 có danh hiệu là Trần Bình Trọng: Nguyễn Tấn Đạt thủ khoa. -Khóa 10 Trần Bình Trọng là khóa đông nhất của 10 khóa đầu tiên của Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

    -Hiện trên mạng ở link: “Khóa 10 Flipbook – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam” có đăng danh sách 400 sĩ quan tốt nghiệp Khoá 10 Trần Bình Trọng vào ngày 1 tháng 6/1954 : Nguyễn Gia Tĩnh mang số thứ tự 359.

    *TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA ĐÀ LẠT:

    -Năm 1948, Chính phủ Quốc gia Việt Nam thành lập Trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế: có 2 khoá

    -Năm 1950: dời về Đà Lạt đổi tên thành Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt: có 14 khoá.

    -Năm 1959 Chính phủ Ngô Đình Diệm đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam cho tới 30/4/1975 : có 19 khoá

    Tổng cộng: có  35 khoá:  33 khóa đã ra trường với 6.583 sĩ quan hiện dịch (2 khóa 30 và 31 chưa ra trường). Trong số đó có 61 tướng lãnh (tại Huế 19 vị, tại Đà Lạt 42 vị).

    Năm 1954, Mẹ của Phượng Hiền đưa PH (mới 2 tuổi) từ Hưng Yên xuống Hải Phòng lên tàu há mồm di cư vào Nam, rồi lên Đà Lạt gặp chồng và cha, lúc ấy ông đang chuẩn bị Lễ tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Ông ra trường cấp bậc Thiếu uý, chọn binh chủng Biệt Động Quân khởi binh nghiệp tại Miền Tây, gia đình ở tại Sa Đéc.

    Từ Lục Tỉnh đổi về Sài Gòn, gia đình ở tại Cư xá Sĩ quan Quang Trung, ông gởi PH vào học nội trú tại Trường Dòng Thánh Mẫu, đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn.

    Ông rời SG, chuyển về Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang 1 năm, sau đó chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, gia đình ở tại thị trấn Ninh Hoà.

    Năm 1966 ông có nhà gần cầu Dục Mỹ.

    Năm 1969, ông chuyển lên Pleiku, trong lúc PH học Đệ Nhất C tại Trường Cường Để, Qui Nhơn.

    Năm 1973, ông làm việc tại Liên doàn IV Biệt Động Quân ở Căn cứ Long Bình thuộc Quân khu III, KBC 3264.

    Năm 1974, ông nhập viện Tổng Y Viện Cộng Hoà vì bệnh tim.

    Tháng 3/1975, ông ra Hội đồng Miễn dịch Sài Gòn chứng nhận miễn dịch vĩnh viễn với cấp độ tàn phế 60%, xếp loại 3 phế binh.

    Ngày 26/3/1975, Thiếu tá Nguyễn Gia Tĩnh, số quân 51/300 308 giải ngũ sau 22 năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân tính từ ngày 20/9/1953.

    Ngày 8/5/1975 ông đi tù cải tạo trên 1 chuyến xe lửa bít bùng đến trại tù Yên Bái, chuyển trại nhiều lần, trại cuối là Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Ở nhà, gia đình đã biệt vô âm tín gần 5 năm. Trong tù bệnh tim tái phát, ông đã nhiều lần chết đi sống lại, ông ra tù đầu năm 1980.

    Ông mất ngày 21 tháng Giêng năm 1985 tại Sài Gòn, hưởng dương 54 tuổi.

    Thiển nghĩ, là nam nhi, ông đã đặt Tổ quốc, danh dự và trách nhiệm lên trên tình nhà, dù đã có nghề nghiệp vững chắc, đã có vợ đẹp con ngoan, ông vẫn mạnh mẽ lên đường… Ôi chao giây phút chia tay sao mà cảm động!

    “Ai ra đi mà không từng bịn rịn

    Xa người yêu mà dễ mấy ai vui

    Em nhìn theo bằng nước mắt chia phôi

    Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ

      (Chuyện Giàn Thiên Lý – nhạc Anh Bằng)

    Trong lúc người Cha đầy khí phách anh hùng, thì người Mẹ vẫn một lòng chung thuỷ không ngại gian khổ đã bồng con di cư vào Nam để sum họp cùng chồng nơi vạn dặm. Cao đẹp thay một cuộc tình thời chinh chiến còn ghi trong tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa! hồi ký của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền và dịch giả Phạm Văn Bân.

    2. NGƯỜI CHA GƯƠNG MẪU VÀ CÔ CON GÁI HIẾU THẢO:

    Cố Thiếu Tá Nguyễn Gia Tĩnh, xuất thân nhà giáo, tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, suốt 22 năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân. Sau 1975 ông đi tù cải tạo tại miền Bắc.

    Theo tác phẩm Cha Mãi Bên Đới, ông là 1 người Cha gương mẫu, hết lòng yêu thương, chăm sóc, nuôi dạy con gái, có óc tân tiến và viễn kiến khi nghĩ đến tương lai của con, đã mời các bạn người Mỹ về nhà kèm con gái học tiếng Anh, nên thời gian ở nhà trường Trung học, Cô nữ sinh có thể giúp các Thầy Cô trong việc thông dịch khi có phái đoàn người Mỹ đến thăm trường.

    Theo bài viết Yêu Thương Còn Mãi, cô PH năm 13 tuổi (Tuổi Mộng Mơ -nhạc Phạm Duy, Tuổi Mười Ba -thơ Nguyên Sa), PH học lớp Đệ Lục trường TH Trần Bình Trọng Ninh Hoà, được Cha chở vô Nha Trang mua sách vở, ngang qua chân đèo Rọ Tượng, xa xa là Vịnh Nha Phu nơi 2 dòng sông chảy vào, “tất cả sẽ hoà lẫn vào đại dương bao la”, nhìn biển cả, ông hỏi con gái:

    -Con có thích biển, thích vượt trùng dương? Chăm học rồi lớn lên, Cha sẽ cho con đi Mỹ du học nhé!

    -Vâng con muốn lắm!

    Rồi cuộc đổi đời và biến cố thời cuộc đã không cho hai Cha con thực hiện được ước mơ đó. Thế nhưng Cô con gái đã không phụ lòng Cha: 

    1. Sau 1975 Cô PH nhiều lần du lịch đã đặt chân đến xứ sở Tự do mà Cha hằng mơ ước.

    2. Năm 2015, Cô PH bắt đầu viết cuốn hồi ký Cha Mãi Bên Đời, năm 2017 xuất bản và Ra mắt sách tại CA, Hoa Kỳ, tôi có bay qua dự.

    3. Năm 2025, Nhà văn Dịch giả Phạm Văn Bân ở CA đã bỏ ra 6 tháng giúp cô PH dịch cuốn sách Cha Mãi Bên Đời ra Anh ngữ: Stay With Me Forever And Ever, Papa! – Sách đã được:-Số kiểm soát của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ: 2025927934. Số đăng ký bản quyền Hoa Kỳ: 1-15064499201. Xuất bản và in tại Hoa Kỳ. Cô PH dự tính sẽ ra mắt sách tại CA và Florida, Hoa Kỳ.

    VH cũng nghĩ như dịch giả Phạm Văn Bân, ba việc mà Cô PH đã làm là vì tình thương và ước mơ của Papa, chắc chắn Cha cô bên kia thế giới rất vui và thoả nguyện. VH xin chúc mừng cô con gái hiếu thảo Phương Hiền đã làm được 3 điều mà không phải ai cũng có thể làm được.

    VINH HỒ, Orlando, Mar. 29, 2026

    Tham khảo:

    -Tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa! – hồi ký của tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền.

    -Yêu Thương Còn Mãi, tháng 11/2025, bài viết của tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền. -Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt – Bách khoa toàn thư mở.

    He is the father featured in the bilingual memoir *Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!* by author Nguyễn Thị Phương Hiền.

    Mr. Nguyễn Gia Tĩnh was born on May 8, 1931, and hailed from Hưng Yên province in Northern Vietnam. He was a teacher by profession and married a fellow teacher from the same province, Ms. Phạm Thị Phương Thảo.

    When Phương Hiền (PH) was one year old, her father—then a teacher—enlisted in the military and underwent training with Class 10 of the Da Lat Joint-Service Military Academy (October 1, 1953 – June 1, 1954). His classmates included Major General Lê Minh Đảo (ranked 18th), Brigadier General Vũ Văn Giai, Brigadier General Trần Văn Nhựt, and Brigadier General Trương Hữu Đức. Class 10 bore the honorary name “Trần Bình Trọng,” with Nguyễn Tấn Đạt graduating as valedictorian. The Trần Bình Trọng Class (Class 10) was the largest of the first ten classes at the National Military Academy of Da Lat.

    – A list of the 400 officers who graduated from Class 10 (Trần Bình Trọng) on ​​June 1, 1954, is currently available online at the link “Khóa 10 Flipbook – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam” (Class 10 Flipbook – National Military Academy of Vietnam); Nguyễn Gia Tĩnh is listed at number 359.

    * THE NATIONAL MILITARY ACADEMY OF DA LAT:

    – In 1948, the Government of the State of Vietnam established the Vietnam Officers’ School at Đập Đá, Huế; it produced two classes.

    – In 1950, the school relocated to Da Lat and was renamed the Da Lat Joint-Service Military Academy; it produced fourteen classes. – In 1959, the Ngo Dinh Diem government renamed the institution the Republic of Vietnam National Military Academy; it operated until April 30, 1975, spanning 19 classes.

    – In total, there were 35 classes; 33 classes graduated, producing 6,583 career officers (Classes 30 and 31 did not graduate). Among the graduates were 61 general officers (19 from the Hue era and 42 from the Da Lat era).

    – In 1954, Phuong Hien’s mother brought her (then only two years old) from Hung Yen to Hai Phong, where they boarded a landing ship to migrate South. They then traveled to Da Lat to reunite with her father, who was preparing for the graduation ceremony of Class 10 at the Da Lat Joint Military Academy. He graduated with the rank of Second Lieutenant, chose the Ranger branch to begin his military career in the Mekong Delta (the “Six Provinces” region), and the family lived in Sa Dec.

    – After transferring from the Mekong Delta to Saigon, the family lived at the Quang Trung Officers’ Housing Complex; he enrolled Phuong Hien as a boarder at the Thanh Mau Convent School on Le Van Duyet Street, Saigon.

    – He left Saigon for a one-year assignment at the Dong De Non-Commissioned Officer School in Nha Trang, followed by a transfer to the Duc My Ranger Training Center, with the family residing in the town of Ninh Hoa.

    – In 1966, he acquired a house near the Duc My Bridge.

    – In 1969, he was transferred to Pleiku, while Phuong Hien was studying in the *Đệ Nhất C* class (final year of high school) at Cuong De School in Qui Nhon.

    – In 1973, he served with the 4th Ranger Group at Long Binh Base in Military Region III (KBC 3264).

    – In 1974, he was admitted to the Republic General Hospital due to a heart condition. In March 1975, he appeared before the Saigon Disability Board, which certified his permanent disability at a 60% level, classifying him as a Class 3 disabled veteran.

    On March 26, 1975, Major Nguyen Gia Tinh (service number 51/300 308) was discharged after 22 years of service in the Ranger Corps, a tenure that had begun on September 20, 1953.

    On May 8, 1975, he was sent to a re-education camp, traveling in a sealed train car to the Yen Bai facility; he was subsequently transferred multiple times, finally ending up at the Nam Ha camp in Ha Nam Ninh province. Back home, his family lost all contact with him for nearly five years. While imprisoned, his heart condition recurred, bringing him to the brink of death on several occasions; he was released in early 1980.

    He passed away on the 21st day of the first lunar month in 1985 in Saigon, at the age of 54.

    It is my humble view that, as a man, he placed his country, honor, and duty above his domestic life; despite having a secure career and a beautiful wife and well-mannered children, he resolutely set out to serve… How deeply moving that moment of parting must have been!

    “Who leaves without a lingering pang of sorrow?

    Few find joy in parting from a lover.

    She gazes after me through tears of farewell;

    I stride away, yet my soul weeps within.”

    (From the song *Chuyện Giàn Thiên Lý* – Music by Anh Bằng)

    While the father embodied a heroic spirit, the mother remained steadfastly devoted; undeterred by hardship, she carried her child south to reunite with her husband across the vast distance. How noble was this wartime romance—a story immortalized in the bilingual memoir *Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!* by author Nguyễn Thị Phương Hiền and translator Phạm Văn Bân.

    2. AN EXEMPLARY FATHER AND A FILIAL DAUGHTER:

    The late Major Nguyễn Gia Tĩnh began his career as a teacher before graduating from Class 10 of the Da Lat Joint General Military Academy; he served for 22 years in the Ranger Corps (*Biệt Động Quân*). After 1975, he was sent to a re-education camp in the North.

    According to the memoir *Cha Mãi Bên Đời*, he was an exemplary father who loved, cared for, and raised his daughter wholeheartedly. Possessing a progressive and visionary mindset regarding her future, he invited American friends to their home to tutor her in English. Consequently, during her high school years, she was able to assist teachers with interpretation whenever American delegations visited the school.

    According to the article *Yêu Thương Còn Mãi* (Love Endures), when PH was thirteen—an age of dreams and youthful reverie—she was a student in the *Đệ Lục* class (equivalent to 7th grade) at Trần Bình Trọng High School in Ninh Hòa. Her father was driving her to Nha Trang to buy school supplies; as they passed the foot of Ro Tuong Pass, looking out toward the distant Nha Phu Bay—where two rivers converge and “all merge into the vast ocean”—he gazed at the sea and asked his daughter:

    “Do you love the sea? Do you like the idea of ​​crossing…” …cross the ocean? If you study hard, when you grow up, Dad will send you to the U.S. to study!

    -Yes, I’d love that!

    Then, life-altering changes and the upheavals of the times prevented father and daughter from realizing that dream. Yet, the daughter did not let her father down.

    1. QUELQUES MOTS SUR LE MAJOR NGUYEN GIA TINH (1931-1985) :

    Le père dans les mémoires bilingues « Reste avec moi pour toujours, Papa ! » de l’auteure Nguyen Thi Phuong Hien.

    Nu le 8 mai 1931 à Hung Yen, dans le nord du Vietnam, M. Nguyen Gia Tinh était un enseignant. Il avait épousé Mme Pham Thi Phuong Thao, elle aussi originaire de cette ville.

    Lorsque Phuong Hien (PH) avait un an, son père, l’instituteur Nguyen Gia Tinh, s’engagea dans l’armée et intégra la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Dalat (1er octobre 1953 – 1er juin 1954), aux côtés du major-général Le Minh Dao (18e de sa promotion), du général de brigade Vu Van Giai, du général de brigade Tran Van Nhut et du général de brigade Truong Huu Duc. La 10e promotion était baptisée Tran Binh Trong ; Nguyen Tan Dat en fut le major. La promotion Tran Binh Trong était la plus importante des dix premières promotions de l’Académie militaire nationale de Dalat.

    Actuellement, le lien en ligne « Class 10 Flipbook – Académie militaire nationale du Vietnam » recense 400 officiers diplômés de la promotion 10 Tran Binh Trong le 1er juin 1954 : Nguyen Gia Tinh y figure au numéro 359.

    *ACADÉMIE MILITAIRE NATIONALE DE DA LAT :

    En 1948, le gouvernement national vietnamien crée l’École d’officiers du Vietnam à Dap Da, Hué, avec deux promotions.

    En 1950, elle est transférée à Da Lat et rebaptisée Académie militaire conjointe de Da Lat, avec 14 promotions.

    En 1959, le gouvernement de Ngo Dinh Diem la renomme Académie militaire nationale du Vietnam, nom qu’elle conservera jusqu’au 30 avril 1975 ; elle compte alors 19 promotions.

    Au total, 35 promotions ont été formées : 33 promotions ont diplômé 6 583 officiers en service actif (les promotions 30 et 31 n’ont pas encore obtenu leur diplôme). Parmi eux, 61 généraux (19 à Hué, 42 à Da Lat).

    En 1954, la mère de Phuong Hien emmena sa fille (âgée de seulement 2 ans) de Hung Yen à Hai Phong, puis embarqua sur un navire à destination du Sud. Elle rejoignit ensuite son mari et son père à Da Lat, où ce dernier préparait la cérémonie de remise des diplômes de la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Da Lat. Il sortit diplômé avec le grade de sous-lieutenant, choisit les forces spéciales et commença sa carrière militaire dans l’Ouest. Sa famille s’installa à Sa Dec.

    Après avoir quitté le delta du Mékong pour Saïgon, sa famille vécut dans le complexe de logements pour officiers de Quang Trung. Il envoya sa femme étudier au collège du couvent de la Sainte-Mère, rue Le Van Duyet, à Saïgon.

    Il quitta ensuite Saïgon et fut muté à l’école de sous-officiers de Dong De à Nha Trang pendant un an, puis au centre d’entraînement des forces spéciales de Duc My, où sa famille résidait dans la ville de Ninh Hoa.

    En 1966, il possédait une maison près du pont Duc My.

    En 1969, il s’installa à Pleiku, tandis que son épouse poursuivait ses études en première année de primaire au collège Cuong De de Quy Nhon.

    En 1973, il travaillait au IVe régiment des forces spéciales, à la base de Long Binh, dans la région militaire III (KBC 3264).

    En 1974, il fut hospitalisé à l’hôpital général de la République pour une maladie cardiaque.

    En mars 1975, le Conseil d’immunisation de Saïgon lui certifia une immunité permanente, assortie d’un taux d’invalidité de 60 %, le classant comme ancien combattant handicapé de catégorie 3.

    Le 26 mars 1975, le major Nguyen Gia Tinh, matricule 51/300 308, fut démobilisé après 22 ans de service au sein des Forces spéciales, débuté le 20 septembre 1953.

    Le 8 mai 1975, il fut transféré dans un camp de rééducation par train fermé à destination de la prison de Yen Bai, où il subit plusieurs transferts, son dernier lieu de détention étant le camp de Nam Ha, dans la province de Ha Nam Ninh. Sa famille fut sans nouvelles de lui pendant près de cinq ans. Durant son incarcération, son état cardiaque se détériora et il frôla la mort à plusieurs reprises. Il fut libéré début 1980.

    Il décéda le 21 janvier 1985 à Saïgon, à l’âge de 54 ans.

    À mon avis, en tant qu’homme, il plaçait son pays, son honneur et son sens des responsabilités au-dessus des liens familiaux. Malgré une carrière stable, une épouse magnifique et des enfants obéissants, il a courageusement entrepris son voyage… Quel moment d’adieu poignant !

    Qui part sans éprouver un pincement au cœur ?

    Il est difficile d’être heureux loin de l’être aimé.

    Elle m’a regardé partir, les larmes aux yeux.

    J’ai continué mon chemin, le cœur lourd.

    (L’Histoire de la vigne de chèvrefeuille – musique d’Anh Bang)

    Tandis que le père était animé d’un courage héroïque, la mère, imperturbable face à l’adversité, portait son enfant et a migré vers le sud pour retrouver son mari au loin. Quelle belle histoire d’amour en temps de guerre ! Elle est racontée dans l’ouvrage bilingue *Reste avec moi pour toujours, papa !*, un récit autobiographique de l’auteure Nguyen Thi Phuong Hien et du traducteur Pham Van Ban.

    2. LE PÈRE EXEMPLAIRE ET SA FILLE FIDÈLE :

    Le regretté major Nguyen Gia Tinh, ancien enseignant, est sorti diplômé de la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Dalat et a servi dans les forces spéciales pendant 22 ans. Après 1975, il a été emprisonné. dans un camp de rééducation du Nord.

    Selon l’ouvrage *Reste avec moi pour toujours*, il était un père exemplaire, aimant et attentionné envers sa fille, et l’élevant avec dévouement. Il avait une vision progressiste et novatrice de son avenir. Il invitait des amis américains chez lui pour lui donner des cours d’anglais, ce qui lui permettait, au lycée, d’aider ses professeurs en traduisant lors des visites de délégations américaines.

    Selon l’article « L’amour dure toujours », à l’âge de 13 ans (Dreamy Age – musique de Pham Duy, Thirteen Years Old – poème de Nguyen Sa), PH, élève de sixième au lycée Tran Binh Trong de Ninh Hoa, fut emmenée par son père à Nha Trang pour acheter des livres et des fournitures scolaires. Passant au pied du col de Ro Tuong, ils aperçurent au loin la baie de Nha Phu, où deux rivières se jettent dans l’océan. Contemplant la mer, il demanda à son… Fille :

    « Aimes-tu la mer ? Aimes-tu traverser l’océan ? Travaille bien à l’école et, quand tu seras grande, je te laisserai partir étudier en Amérique ! »

    « Oui, je veux bien ! »

    Puis, les aléas de la vie et les vicissitudes de l’époque ont empêché le père et la fille de réaliser ce rêve. Mais la fille n’a pas déçu son père.

    HỒI KÝ CHA MÃI BÊN ĐỜI.

    Sau đây là hai bài đóng góp của tác giả điểm sách dược ghi nhận như sau:

    •       Bài của Nhà văn Lưu Khánh Lan

    NHẬN XÉT VỀ VĂN CHƯƠNG VÀ ĐỜI SỐNG TRONG TÁC PHẨM CHA VẪN BÊN ĐỜI

    CHA VẪN BÊN ĐỜI là những yếu tố khắng khít giữa tình mẫu tử, là vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là bản ngã con người. Có thể nói đây là tác phẩm bút ký ghi lại tình yêu thương thiêng liêng của con người trong cuộc sống. Tình yêu trong trường hợp của tác giả Phương Hiền là bà đã dùng đối tượng ghi nhận là người cha kính yêu mà bà nhớ về chặng đường đời được người cha dìu dắt, yêu thương, là hành trang quý báu để bà bước vào đời.

    Cũng trong tác phẩm hồi ký (hồi ức) này, tác giả xóay cảm nghĩ của mình về những bước thăng trầm của quê hương, của đất nước lẫn sự nhạy cảm của bà đối với những biến chuyển phức tạp của đời sống xã hội trong giai đoạn chiến tranh, cũng như ý thức được hướng đi của mình trong tương lai.

    Nội dung sách nêu lên những đổi thay của đất nước, những chao đảo trong cuộc sống với nhiều diễn biến xảy ra bất ngờ. Những nhân vật trong tác phẩm đã chi phối sự suy tư và nỗi trăn trở của tác giả khi nghĩ đến gia đình, bạn bè, trường học… Tác giả cũng tự vận động sức mạnh bản thân để giúp mình vươn lên trong cuộc sống và thành công trong đường đời. Khiến người đọc cảm nhận được một lối viết, một thể loại văn chương trung thực, chân phương qua tác phẩm hồi ký này.

    Nghệ thuật văn chương hay mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cái nhìn về sự trường tồn qua thời gian và góc nhìn vào thực tại. Cái vĩnh cửu đang nhìn qua cái bất biến của sự thực. Tác giả Phương Hiền đã không nên nhìn sự kiện đời sống xảy ra một cách đơn giản, bà đã nhìn thấu rõ bản thể của vấn đề qua lăng kính rộng lớn, bà đã phân tích, đào sâu bản sắc cuộc sống, tư duy bản chất con người vào các chuỗi sự kiện sâu thẵm theo thời gian, lịch sử đã xảy ra.

    Chúc mừng NV Phương Hiền ra tác  phẩm,

    Khánh Lan, California 2026.

    —————————————————————————-

    •       Bài của Nhà văn Kiều My

    Những cảm nghĩ về sách HỒI KÝ CHA MÃI BÊN ĐỜI

    Kiều My xin được góp phần cảm nghĩ của mình cho quyển hồi ký Cha Mãi Bên Đời của nhà văn Phương Hiền.

    Đây là một tác phẩm mang đậm tình người và chan chứa yêu thương của tình phụ tử vượt lên trên mọi giới hạn của thời gian.Tác giả đã đưa chúng ta trở về những năm tháng chiến tranh đầy biến động của Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, một cô bé lớn lên bên người cha quân nhân, theo chân cha qua nhiều vùng đất khác nhau, nơi đơn vị của cha đóng quân. Những ngày tháng gian khó ấy đã tạo nên một tình cảm gắn bó đặc biệt giữa cha và con.

    Người cha trong hồi ký hiện lên không phải như một anh hùng trên chiến trường, mà trước hết là một người cha tận tụy, yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Những bài học về nhân cách, lòng can đảm, sự hy sinh và trách nhiệm đã được truyền lại cho con không chỉ bằng lời nói mà bằng chính cuộc đời của ông.

    Khi người cha ra đi vì căn bệnh tim, nỗi mất mát ấy đã để lại khoảng trống không gì bù đắp được trong lòng người con gái…đó chính là tác giả Phương Hiền. Nhưng điều kỳ diệu là tình yêu thương không hề mất đi theo năm tháng. Trái lại, nó trở thành nguồn ký ức thiêng liêng, trở thành ngọn lửa âm thầm sưởi ấm cuộc đời người ở lại.

    “”Cha mất vì trái tim ngừng đập. Nhưng tình thương của cha thì chưa bao giờ ngừng sống.”

    Từng trang sách là từng giọt nước mắt nhớ thương, từng kỷ niệm được nâng niu như những báu vật của tâm hồn. Người đọc có thể bắt gặp trong đó hình ảnh của chính mình, của cha mình, hay của những người thân yêu đã từng hiện diện trong cuộc đời… nhưng nay chỉ còn trong ký ức.

    Điều làm nên giá trị đặc biệt của Cha Mãi Bên Đời… chính là sự chân thật. Tác giả không tô vẽ hay cường điệu cảm xúc. Bằng giọng văn giản dị và chân thành, tác giả đã kể lại câu chuyện đời mình như một lời tâm sự, để từ đó… chạm đến trái tim của người đọc.

    Cha Mãi Bên Đời  nhắc nhở chúng ta rằng: Cha mẹ có thể rời xa cõi đời này, nhưng tình yêu của cha mẹ sẽ sống mãi trong trái tim con cái. Những người thân yêu không thật sự mất đi… khi họ còn được nhớ đến bằng tình thương và lòng biết ơn.

    Trong cuộc sống bận rộn hôm nay, đôi khi chúng ta quên nói lời yêu thương với cha mẹ, quên dành thời gian cho những người thân đang còn bên cạnh. Vì thế, Cha Mãi Bên Đời không chỉ là một cuốn hồi ký để đọc, mà còn… là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về đạo hiếu và tình thân gia đình.

    Và cuốn hồi ký “Cha Mãi Bên Đời” mà chúng ta cùng tìm hiểu hôm nay chính là minh chứng đẹp đẽ cho điều ấy.

    Khi gấp lại những trang cuối của cuốn hồi ký này, chúng ta nhận ra rằng tác giả không chỉ viết về một người cha đã khuất, mà đang viết về tình yêu. Một tình yêu không bị thời gian làm phai nhạt. Một tình yêu không bị sự chết chia lìa.

    Có lẽ đó cũng là ý nghĩa đẹp nhất của nhan đề “Cha Mãi Bên Đời”.

    Bởi có những người tuy đã đi xa, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời chúng ta.

    Có những người cha đã rời xa nhân thế, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời con cái.

    Xin cảm ơn tác giả đã trao tặng cho chúng ta món quà tinh thần quý giá này.

    Xin chúc nhà văn Phương Hiền tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm giá trị, và mong rằng cuốn hồi ký Cha Mãi Bên Đời sẽ được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, để những thông điệp đẹp đẽ về tình phụ tử tiếp tục được lan tỏa.

    Trân trọng

    Kiều My.

    ————————————————————————-

    •       By Writer Lưu Khánh Lan

    The following are two contributions from the book reviewer:

    REFLECTIONS ON THE LITERATURE AND LIFE IN THE WORK *CHA VẪN BÊN ĐỜI* (Father Remains by My Side)

    *Cha Vẫn Bên Đời* embodies the intimate bonds of family love—specifically the paternal bond—forming concentric circles with the human self at the very center. It is, in essence, a memoir chronicling the sacred nature of human love. For author Phương Hiền, this love centers on her beloved father; she reflects on the journey of life where his guidance and affection served as the invaluable foundation for her own path into the world.

    In this memoir, the author also explores her thoughts on the nation’s turbulent history and the complex social shifts during wartime, while simultaneously gaining clarity regarding her own future direction. The book depicts the country’s transformations and the upheavals of life, marked by unexpected turns of events. The figures within the work shape the author’s reflections and deep concerns regarding family, friends, and school. Furthermore, the author draws upon her inner strength to rise above challenges and succeed in life. Through this memoir, readers perceive a writing style and literary genre that are honest and unpretentious.

    Literary art—and indeed any work of art—offers a perspective on endurance through time and a view of reality. It is the eternal gazing through the immutable nature of truth. Author Phương Hiền does not view life’s events superficially; rather, she perceives the true essence of matters through a broad lens. She analyzes and delves into the nature of life and the human spirit, examining a series of profound events that have unfolded across time and history.

    Congratulations to writer Phương Hiền on the release of her work,

    Khánh Lan, California 2026.

    —————————————————————————-

    •       By Writer Kiều My

    Reflections on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side)

    I would like to share my thoughts on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* by writer Phương Hiền.

    This is a work deeply imbued with humanity and the overflowing love of a father-daughter bond that transcends the limits of time. The author transports us back to the turbulent years of the war in Vietnam. Amidst those circumstances, a young girl grew up alongside her soldier father, following him to the various regions where his unit was stationed. Those arduous days forged a special, enduring bond between father and child.

    In the memoir, the father does not appear merely as a battlefield hero, but first and foremost as a devoted father who loved his child with all his heart. Lessons regarding character, courage, sacrifice, and responsibility were passed down to his daughter not only through words but through the example of his own life.

    When her father passed away due to heart disease, the loss left an irreplaceable void in the heart of his daughter—the author, Phương Hiền. Yet, miraculously, that love did not fade with the passing years. On the contrary, it became a source of sacred memories—a quiet flame warming the life of the one left behind.

    “Father passed away when his heart stopped beating.” “Yet, a father’s love never ceases to live on.”

    Each page holds tears of longing and memories cherished like treasures of the soul. Readers may catch glimpses of themselves, their own fathers, or loved ones who once graced their lives—yet now exist only in memory.

    What gives *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side) its special value is its authenticity. The author neither embellishes nor exaggerates emotions. Through a simple, sincere narrative style, the author shares their life story as a heartfelt confidence, thereby touching the reader’s heart.

    *Cha Mãi Bên Đời* reminds us that while parents may depart this world, their love lives on forever in the hearts of their children. Loved ones are never truly gone as long as they are remembered with affection and gratitude.

    In today’s busy world, we sometimes forget to express our love to our parents or neglect to spend time with the loved ones still by our side. Thus, *Cha Mãi Bên Đời* is not merely a memoir to be read; it is a gentle reminder of filial piety and the bonds of family.

    The memoir *Cha Mãi Bên Đời*, which we explore today, stands as a beautiful testament to this truth.

    As we close the final pages of this memoir, we realize that the author is writing not just about a departed father, but about love—a love undimmed by the passage of time and unbroken by death.

    Perhaps this is the most beautiful meaning behind the title *Cha Mãi Bên Đời*.

    For there are those who, though they have departed, never truly leave our lives.

    There are fathers who have left this world, yet never leave the lives of their children.

    Thank you to the author for gifting us this precious work.

    I wish writer Phuong Hien continued success in creating valuable works, and I hope that the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side) receives a warm reception from readers everywhere, allowing its beautiful messages about the father-child bond to spread far and wide.

    Sincerely,

    Kieu My.

    ——————————————————————————

    • Article de Luu Khanh Lan

    Voici deux contributions d’auteurs à la critique littéraire, comme indiqué :

    COMMENTAIRES SUR LA LITTÉRATURE ET LA VIE DANS L’ŒUVRE « PÈRE EST TOUJOURS LÀ »

    « PÈRE EST TOUJOURS LÀ » met en lumière le lien étroit entre l’amour maternel et l’identité humaine, un cercle concentrique centré sur l’ego. On peut dire qu’il s’agit d’un récit autobiographique témoignant de l’amour sacré qui unit les êtres humains. Pour l’auteure, Phuong Hien, l’objet de sa réflexion est son père bien-aimé, dont elle se souvient tout au long de son parcours de vie, guidée et aimée par lui, un précieux soutien à l’aube de l’âge adulte.

    Dans ce récit, l’auteure évoque les hauts et les bas de sa patrie et de son pays, ainsi que sa sensibilité aux bouleversements sociaux complexes survenus pendant la guerre et sa conscience de son avenir.

    Le livre met en évidence les transformations du pays et les bouleversements de la vie, ponctués de nombreux événements inattendus. Les personnages de l’œuvre ont influencé les pensées et les angoisses de l’auteure, qui s’est penchée sur sa famille, ses amis, son école, etc. Elle a également puisé dans ses propres ressources pour s’élever socialement et réussir. Le lecteur perçoit ainsi, à travers ce récit autobiographique, un style d’écriture et un genre littéraire d’une grande honnêteté et d’une grande simplicité.

    L’art littéraire, ou toute œuvre d’art, est une perspective sur la pérennité du temps et un point de vue sur la réalité. L’éternel se révèle à travers l’immuabilité du réel. Phuong Hien n’a pas appréhendé les événements de la vie de manière superficielle ; elle en a saisi l’essence avec une perspective globale. Elle a analysé et exploré l’identité de la vie et la nature fondamentale de la pensée humaine au sein du profond enchaînement des événements qui ont marqué le temps et l’histoire.

    Félicitations à l’auteure Phuong Hien pour la parution de son ouvrage,

    Khanh Lan, Californie 2026.

    —————————————————————————-

    • Article de l’écrivaine Kieu My

    Réflexions sur le livre *MÉMOIRES D’UN PÈRE QUI SERA TOUJOURS À MES CÔTÉS*

    Kieu My souhaite partager ses réflexions sur les mémoires de Phuong Hien, *Un père qui sera toujours à mes côtés*.

    Ce livre, empreint d’une grande humanité et débordant de l’amour d’un père pour sa fille, transcende le temps. L’auteure nous replonge dans les années tumultueuses de la guerre du Vietnam. Dans ce contexte, une jeune fille grandit aux côtés de son père militaire, le suivant dans les différentes régions où son unité était stationnée. Ces moments difficiles ont forgé un lien unique entre le père et la fille.

    Le père, dans ces mémoires, n’est pas présenté comme un héros de guerre, mais avant tout comme un père dévoué qui aimait sa fille de tout son cœur. Des leçons de caractère, de courage, de sacrifice et de responsabilité ont été transmises à sa fille non seulement par ses paroles, mais aussi par son propre exemple.

    Lorsque son père est décédé d’une maladie cardiaque, la perte a laissé un vide irremplaçable dans le cœur de sa fille… c’est-à-dire, de l’auteure, Phuong Hien. Mais miraculeusement, l’amour n’a pas faibli avec le temps. Au contraire, il est devenu un souvenir précieux, une flamme silencieuse qui réchauffe la vie de ceux qui restent.

    « Papa est mort parce que son cœur a cessé de battre. » Mais l’amour d’un père ne s’éteint jamais.

    Chaque page est une larme de nostalgie, chaque souvenir chéri comme un trésor de l’âme. Les lecteurs y reconnaîtront peut-être leur propre image, celle de leur père ou d’êtres chers qui ont jadis fait partie de leur vie… et qui ne subsistent plus que dans leurs souvenirs.

    Ce qui rend « Papa sera toujours avec toi » si particulier, c’est son authenticité. L’auteure ne cherche ni à embellir ni à exagérer les émotions. Avec un style d’écriture simple et sincère, l’auteur relate son histoire comme une confession à cœur ouvert, touchant ainsi le cœur des lecteurs.

    « Père sera toujours avec toi » nous rappelle que : si les parents quittent ce monde, leur amour demeure à jamais dans le cœur de leurs enfants. Les êtres chers ne disparaissent jamais vraiment… tant qu’on se souvient d’eux avec amour et gratitude.

    Dans le tourbillon de la vie moderne, il nous arrive d’oublier d’exprimer notre amour à nos parents, d’oublier de passer du temps avec ceux qui sont encore à nos côtés. C’est pourquoi « Père, tu es toujours là » n’est pas seulement un récit autobiographique, mais aussi un doux rappel de la piété filiale et de l’amour familial.

    Et ce récit, que nous explorons aujourd’hui, en est un magnifique témoignage.

    En refermant ce livre, nous comprenons que l’auteur n’écrit pas seulement sur un père disparu, mais sur l’amour. Un amour que le temps ne s’altère pas. Un amour que la mort ne peut séparer.

    C’est peut-être là le plus beau sens du titre « Père, tu es toujours là ».

    Car il y a des personnes qui, bien que disparues, restent à jamais présentes dans nos vies.

    Il y a des pères qui ont quitté ce monde, mais qui demeurent à jamais dans le cœur de leurs enfants.

    Merci à l’auteure pour ce précieux cadeau spirituel.

    Nous souhaitons à Phuong Hien beaucoup de succès dans la création de nombreuses œuvres de valeur et espérons que son récit autobiographique « Père toujours à mes côtés » sera chaleureusement accueilli par les lecteurs du monde entier, afin que le beau message de l’amour paternel continue de rayonner.

    Sincèrement,

    Kieu My.

    Đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền

    Vương Trùng Dương: Đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền

    (Sáng Thứ Ba 23/6 đang xem World Cup ở cà phê Gypsy, nhà văn Huy Anh mang cuốn Cha Mãi Bên Đời tặng nên đáp lễ, viết những dòng về tác phẩm nầy)

    *

    Trong mười tám năm qua, trong vai trò Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa, tôi đã đọc nhiều tác phẩm, bài viết và đăng tải trên tờ báo liên quan đến cuộc đời người con khi mất nước, cha vào chốn lao tù, vợ con sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã bên lề xã hội.

    Những hình ảnh bi thương, cảm động khi vật lộn với cuộc sống, bị đày vùng kinh tế mới, lặn lội thăm nuôi, vượt biên và khi được sống ở hải ngoại.

    Hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền là một trong những tác phẩm tiêu biểu trong hoàn cảnh đó, ấn hành năm 2017, và chín năm sau dịch sang Anh ngữ  Stay With Me Forever And Ever, Papa! Sẽ ra mắt tác phẩm vào thượng tuần tháng Bảy năm 2026 tại Little Saigon.

    Tuy thuộc thế hệ thứ hai (hậu duệ) trong QLVNCH nhưng Phương Hiền đã bước sang tuổi thất thập. Vì vậy tác phẩm nầy có thể dành cho người người Mỹ và thế hệ thứ hai cảm nhận tấm lòng của người con với thân phụ đã dấn thân trong thời chinh chiến, bị tù đày và không may đã ra người thiên cổ.

    Hồi ký gồm 20 phần: Hành Trình Đầu Tiên, Từ Lục Tỉnh Lên Sài Gòn, Người Bạn Nhỏ, Ninh Hòa Yêu Dấu, Đêm Trăng Miền Thơ Ấu, Trường Trung Học Trần Bình Trọng Ninh Hòa – Khánh Hòa, Những Bài Học Đầu Tiên, Ước Vọng Của Người Cha, Ký Ức Đẹp Mãi Không Phai, Quà Mùa Xuân Tặng Cha, Từ Ninh Hòa Đến Dục Mỹ, Từ Giã Ninh Hòa, Quy Nhơn, Mùa Xuân Pleiku, Vật Đổi Sao Dời, Ra Đi Mãi Mãi, Đồng Đội Của Cha Tôi, Dấu Ấn Của Những Người Cha, Kỷ Vật Một Thời, Cha Mãi Bên Đời…

    Với nội dung trên, Phương Hiền đã gói ghém và trang trải bối cảnh và cuộc sống từ ngày di cư vào Nam năm 1954, hai thập niên trong hoàn cảnh chiến tranh, sau ngày mất nước và thời gian vật đổi sao dời!.

    Trong Lời Ngỏ, Phương Hiền viết: “Với tôi, những kỷ niệm về cha không phải chỉ là quá khứ, mà còn tiếp diễn trong hiện tại, sống động và đẹp đẽ, đã thôi thúc tôi cầm bút – như giờ đây: cha tôi đã mỉm cười bao dung nghe tôi kể chuyện về người…

    Tôi là đứa con của tình yêu – tôi biết vì đã… lén đọc nhật ký thư từ của hai người trao nhau lúc… chưa có tôi”.

    Khi đề cập đến Ninh Hòa, với tôi có nhiều kỷ niệm, đầu năm 1971 tôi đổi về phục vụ ở Đại Đội CTCT (thuộc Tiểu Đoàn 20 CTCT ở Pleiku) thường ra công tác ở Ninh Hòa, gặp cô giáo và trở thành bạn đời cho đến nay. Những người bạn đã dạy nơi mái trường Phương Hiền theo học ở Trường Trung Học Trần Bình Trọng và Trường Trung Học Quy Nhơn… Với Ninh Hòa, Quy Nhơn, Pleiku đã gắn liền thời gian với tôi trong thời binh nghiệp nên khi đọc những dòng chữ của Phương Hiền trước kia phổ biến trên website ninh-hoa.com, tôi liên tưởng đến thời quá vãng.

    Về tiểu sử đã đề cập khái quát, Phương Hiền sinh ở Hưng Yên. Thân phụ là Nguyễn Gia Tĩnh, xuất thân Khóa 10 Trần Bình Trọng, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (1953-1954) vì vậy sau hiệp định Genève chia cắt đất nước, đơn vị di chuyển vào Nam. Chiến hữu Nguyễn Gia Tĩnh trong đơn vị tác chiến binh chủng Biệt Động Quân), nhận nhiều nhiệm sở trên 4 vùng chiến thuật của Việt Nam Cộng Hòa. Vì vậy mỗi nhiệm sở đem gia đình theo. Chính vì thế, cô con gái Phương Hiền đã theo cha di chuyển nhiều nơi, nhất là quãng thời gian ở Vùng 2 Chiến Thuật.

    Trong phần 16 Ra Đi Mãi Mãi, Phương Hiền viết: “Cha tôi bặt tin suốt thơi gian tù gần 5 năm. Sau nầy nghe cha kể lại, chúng tôi mới biết ông đã đi chuyến xe lửa bịt bùng lên mạn Yên Bái, chuyển trại nhiều lần, nơi cuối cùng là trại Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam.

    Nơi tù đày, cha tôi đã nhiều lần chết đi sống lại, vì bệnh tim quá nặng, hay vì những cảnh ngộ là trái tim ông đau đớn?!…”

    Sau khi ra tù “Sức khỏe cha tôi ngày càng kém. Trái tim của ông làm sao có thể hồi phục trong cảnh đời dâu bể! Một ngày cuối năm, cha tôi rời bỏ tôi, ra đi mãi mãi. Ông mất ngày 22 tháng Chạp năm Ất Sửu (21 tháng Giêng 1985), khi mới 54 tuổi”.

    Thật đáng tiếc, nếu sức khỏe của niên trưởng Nguyễn Gia Tĩnh được chữa trị và cầm cự được thời gian thì có cơ hội đi diện H.O, thay đổi cả cuộc đời trong gia đình.

    Từ khi mất người cha thân yêu, sau ba thập niên Phương Hiền mới cầm bút qua từng bài viết phổ biến trên trên website ninh-hoa.com, nơi đây cũng là kỷ niệm của thuở học sinh. Tại Ninh Hòa có Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ (Từ quận Ninh Hoà theo quốc lộ 21 đi Khánh Dương, tọa lạc tại xã Ninh Sim, Dục Mỹ, quận Ninh Hòa, gần núi Đeo). Đây gọi là “Lò Luyện Thép” đào tạo chiến hữu Biệt Động Quân về Rừng Núi Sình Lầy, Thám Báo… Một trong những binh chủng chiến đấu trong QL.VNCH. Đây là một yếu khu quân sự, bao gồm Trường Pháo Binh, Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn… Vì vậy thị trấn nhỏ nầy cuối tuần là “thị trấn lính”.

    Trong phần 15 Vật Đổi Sao Dời “Năm 1972, vì lý do sức khỏe, cha tôi được thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân đặt tại trại Đào Bá Phước, đường Tô Hiến Thành, quận 10. Tôi từ giã nhà bà Lạng (nhà mợ dâu của Phương Hiền trong hai năm học đại học) cùng mẹ và các em theo cha về ở trong cư xá gia binh Đào Bá Phước…

    Năm 1974, bệnh tim cha tôi trở nặng, nhiều lần phải nhập Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tháng 3-1975, cha tôi trình diện Hội Đồng Miễn Dịch Sài Gòn và được chứng nhận miễn dịch vĩnh viễn với cấp độ tàn phế 60% – xếp loại 3 phế binh”. Ngày 26-3-1975 được phép giải ngũ sau 22 năm phục vụ trong QLVNCH. Thế nhưng sau khi mất nước, thương phế binh cấp độ tàn phế 60% lại bị đày ra chốn lao tù tận núi rừng miền Bắc! “Tôi nhớ một ngày cuối tháng Tư năm 1975… cha tôi nằm trên giường bệnh nắm chặt tay tôi, ánh mắt đầy yêu thương ái ngại”. Hình ảnh nầy quá thương tâm!

    Với hồi ký, có vài tác phẩm với “Cái tôi đáng ghét” (Le moi est haïssable của triết gia Blaise Pascal) để cường điệu về bản thân nên dễ bị dị ứng. Với hồi ký với “cái tôi của Phương Hiền” là cái tôi phát xuất từ trái tim chân thành, hiếu thảo của con gái với cha trải dài theo năm tháng từ khi nhỏ “ lén đọc nhật ký thư từ của hai người trao nhau” cảm nhận cuộc tình song thân.

    Về văn phong, Phương Hiền viết ngắn gọn, mạch lạc, diễn tả trung thực với cảm xúc như những lời chia sẻ cùng độc giả. Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ thật bình dị “có sao viết vậy” nhưng sâu sắc mang tâm hồn nhân bản, trải dài qua 320 trang sách.

    Phương Hiền từ thời học sinh đã chịu khó đọc sách và hấp thụ những lời dạy bảo của song thân cũng như những vị thầy trong mái trường nên ảnh hưởng nhiều khi sáng tác.

    Với hồi ký thì nội dung từng mẩu chuyện gắn liền cùng thời gian cùng những hình ảnh trong gia đình, cuộc sống. Phương Hiền chỉ đề cập thuở học sinh nhưng không nói đến trong những năm ở Đại Học Dược Khoa Sài Gòn, trở thành Dược Sĩ, có lẽ đó là điều tế nhị và sự khiêm nhường với “cái tôi” như đã đề cập ở trên.

    Tuy đã đọc các bài viết trước đây mười năm, nay đọc lại trong tác phẩm nầy vẫn cảm thấy gần gũi với cây bút đầu tay, đáng trân trọng.

    Vương Trùng Dương.- (Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa) – Little Saigon, June 23, 2026

    CỐ THIẾU TÁ NGUYỄN GIA TĨNH (1931-1985)

    Reflections on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Stay With Me Forever And Ever, Papa!) by Nguyễn Thị Phương Hiền.

    Vương Trùng Dương

    (On the morning of Tuesday, June 23, while watching the World Cup at Gypsy Café, Huy Anh gifted me a copy of *Cha Mãi Bên Đời*; in return, I am writing these lines about the work.)

    ***

    Over the past eighteen years, in my role as Editor-in-Chief of the monthly publication *Chiến Sĩ Cộng Hòa* (Soldier of the Republic), I have read and published numerous works and articles recounting the lives of children whose fathers were imprisoned and whose families endured harsh, marginalized existences following the loss of their country.

    These stories capture poignant and heart-wrenching images: the struggle for survival, exile to “New Economic Zones,” the arduous journeys to visit imprisoned loved ones, the perilous escapes abroad, and life in the diaspora.

    The memoir *Cha Mãi Bên Đời* by Nguyễn Thị Phương Hiền is a standout work within this genre. Originally published in 2017, it was translated into English nine years later as *Stay With Me Forever And Ever, Papa!* The book is scheduled for its official launch in Little Saigon during the first ten days of July 2026.

    Although she belongs to the “second generation” of the Republic of Vietnam Military Forces (RVNMF) families, Phương Hiền has now reached the age of seventy. Consequently, this work offers American readers and the second generation a chance to deeply feel the devotion of a daughter toward her father—a man who committed himself to the cause during wartime, suffered imprisonment, and has since passed away. The memoir comprises twenty parts: The First Journey, From the Six Provinces to Saigon, A Little Friend, Beloved Ninh Hoa, A Moonlit Night of Childhood, Tran Binh Trong High School (Ninh Hoa, Khanh Hoa), First Lessons, A Father’s Aspirations, Memories That Never Fade, A Spring Gift for Father, From Ninh Hoa to Duc My, Bidding Farewell to Ninh Hoa, Quy Nhon, Spring in Pleiku, Times of Great Change, Departing Forever, My Father’s Comrades-in-Arms, The Legacy of Fathers, Keepsakes of an Era, Father Forever by My Side…

    Through these chapters, Phuong Hien encapsulates the settings and life experiences spanning the migration to the South in 1954, two decades of wartime, the aftermath of the country’s fall, and the tumultuous changes that followed.

    In the Foreword, Phuong Hien writes: “To me, memories of my father are not merely the past; they live on in the present—vivid and beautiful—compelling me to write. It feels as though, even now, my father smiles benevolently as he listens to me tell his story…

    I am a child of love—I know this because I… secretly read the diaries and letters they exchanged before… I was even born.”

    References to Ninh Hoa hold many memories for me as well; in early 1971, I was transferred to the Political Warfare Company (under the 20th Political Warfare Battalion in Pleiku). My duties frequently took me to Ninh Hoa, where I met a schoolteacher who would become my life partner. I recall the friends Phương Hiền made while attending Trần Bình Trọng High School and Quy Nhơn High School… Having spent my own military service years in Ninh Hòa, Quy Nhơn, and Pleiku, reading Phương Hiền’s writings—originally published on the website ninh-hoa.com—evokes memories of that bygone era.

    Regarding her background, Phương Hiền was born in Hưng Yên. Her father, Nguyễn Gia Tĩnh, was a graduate of the “Trần Bình Trọng” Class (Class 10) at the National Military Academy in Đà Lạt (1953–1954); following the Geneva Accords that partitioned the country, his unit relocated to the South. As a soldier in a combat unit—specifically the Ranger Corps (Biệt Động Quân)—Nguyễn Gia Tĩnh served in various posts across the four Tactical Zones of the Republic of Vietnam, taking his family along with him to each new assignment. Consequently, his daughter Phương Hiền moved frequently with her father, particularly during the time spent in the Second Tactical Zone.

    In Part 16, titled “Departing Forever” (Ra Đi Mãi Mãi), Phương Hiền writes: “We lost all contact with my father during his nearly five years of imprisonment. Only later, when he recounted his experiences, did we learn that he had been transported on a sealed train to the Yên Bái region and transferred between camps multiple times, ultimately ending up at the Nam Hà camp in Hà Nam province.

    In captivity, my father hovered between life and death many times—whether due to his severe heart condition or the anguish that tormented his heart…”

    After his release, “My father’s health steadily declined. How could his heart recover amidst such turbulent, tragic times? One day at the end of the year, my father left me, departing forever. He passed away on the 22nd day of the twelfth lunar month in the Year of the Ox (January 21, 1985), at the age of only 54.” It was only three decades after the loss of her beloved father that Phương Hiền took up the pen again, sharing her writings on the website ninh-hoa.com—a site that also holds memories of her school days. Ninh Hòa was home to the Dục Mỹ Ranger Training Center (located in Ninh Sim Commune, Dục Mỹ, Ninh Hòa District, near Đeo Mountain, along National Route 21 heading from Ninh Hòa town to Khánh Dương). Known as the “Steel Forge,” this facility trained Ranger comrades in jungle, swamp, and reconnaissance warfare—skills essential to one of the Republic of Vietnam Military Forces’ combat branches. It was a major military complex that also housed the Artillery School and the Lam Sơn Training Center; consequently, on weekends, this small town took on the atmosphere of a “soldiers’ town.”

    Some memoirs suffer from an “obnoxious self” (recalling philosopher Blaise Pascal’s *Le moi est haïssable*), where the author exaggerates their own importance, often provoking a negative reaction in the reader. In contrast, the “self” presented by Phương Hiền stems from a sincere and filial heart—a daughter’s perspective on her parents that spans years, beginning in childhood when she would “sneak peeks at the diaries and letters” they exchanged, thereby gaining insight into their romance.

    Regarding style, Phương Hiền writes concisely and coherently, expressing her emotions honestly—as if simply sharing her thoughts with the reader. She employs simple, unadorned language—writing exactly as things are—yet the work is profound and deeply humane throughout its 320 pages.

    Even as a student, Phương Hiền was an avid reader (despite also being fond of play); she absorbed the guidance of her parents and teachers, influences that clearly shape her writing.

    The memoir’s content weaves together various anecdotes with the passage of time and images of family life. Phương Hiền focuses on her school days but omits her time at the Saigon School of Pharmacy and her subsequent career as a pharmacist—perhaps out of discretion or the very humility regarding the “self” mentioned earlier.

    Although I read some of these pieces a decade ago, revisiting them in this book makes me feel a renewed closeness to this commendable early work.

    Little Saigon, June 23, 2026

    Vương Trùng Dương

    Editor-in-Chief, *Chiến Sĩ Cộng Hòa* (Republic Soldier) Monthly.

    ===================================================================

    Lecture du récit autobiographique « Père pour toujours, Papa ! » de Nguyen Thi Phuong Hien.

    Vuong Trung Duong

    (Le mardi 23 juin au matin, alors que nous regardions la Coupe du Monde au Gypsy Cafe, Huy Anh m’a offert un exemplaire de « Père pour toujours, Papa ! ». En guise de remerciement, j’ai écrit ces quelques lignes à propos de cet ouvrage.) – Pièce jointe

    ***

    Au cours des dix-huit dernières années, en tant que rédacteur en chef du magazine mensuel « Republican Soldier », j’ai lu de nombreux ouvrages, articles et publications relatant la vie d’enfants dont le pays a été perdu, dont les pères ont été emprisonnés et dont les femmes et les enfants vivent dans des conditions extrêmement difficiles, en marge de la société.

    Les images tragiques et émouvantes décrivent la lutte pour la survie, l’exil vers de nouvelles zones économiques, les voyages éprouvants pour leur rendre visite et les soutenir, la fuite à travers la frontière et, finalement, la survie à l’étranger.

    Les mémoires de Nguyen Thi Phuong Hien, « Père pour toujours, Papa ! », sont une œuvre emblématique du genre. Publiées en 2017, elles ont été traduites en anglais neuf ans plus tard sous le titre « Reste avec moi pour toujours, Papa !». Le livre paraîtra début juillet 2026 à Little Saigon.

    Bien qu’appartenant à la deuxième génération de l’armée sud-vietnamienne, Phuong Hien est aujourd’hui septuagénaire. De ce fait, son ouvrage peut être interprété par les Américains et les anciens combattants de la deuxième génération comme le reflet des sentiments d’un fils pour son père, qui s’est dévoué à la guerre, a été emprisonné et a tragiquement disparu.

    Ce récit autobiographique se compose de 20 parties : Le Premier Voyage, Des Provinces du Sud à Saïgon, Un Petit Ami, Ma Chère Ninh Hoa, Une Nuit de Lune dans l’Enfance, Le Lycée Tran Binh Trong à Ninh Hoa – Khanh Hoa, Premières Leçons, Le Vœu d’un Père, Souvenirs Inoubliables, Un Cadeau de Printemps pour Père, De Ninh Hoa à Duc My, Adieu à Ninh Hoa, Quy Nhon, Le Printemps à Pleiku, Les Choses Changent, Le Départ Pour Toujours, Les Compagnons de Mon Père, L’Emprise des Pères, Souvenirs du Passé, Père à Jamais dans Ma Vie…

    À travers ce récit, Phuong Hien retrace son parcours depuis son arrivée au Sud en 1954, en passant par les deux décennies de guerre qui ont suivi la chute du pays, et en évoquant le passage du temps et l’évolution des circonstances.

    Dans la préface, Phuong Hien écrit : « Pour moi, les souvenirs de mon père ne sont pas seulement du passé, mais se prolongent au présent, vifs et précieux, m’incitant à prendre la plume – comme aujourd’hui : mon père souriait avec bienveillance tandis que je lui racontais des histoires…

    Je suis un enfant de l’amour – je le sais car j’ai… lu en secret les lettres qu’ils ont échangées avant… ma naissance. »

    Évoquer Ninh Hoa me revient en mémoire. Début 1971, j’ai été muté au sein de la Compagnie de Guerre Politique (le 20e Bataillon de Guerre Politique de Pleiku) et me rendais souvent à Ninh Hoa pour le travail. C’est là que j’ai rencontré mon enseignante, qui est devenue ma compagne et avec qui je partage ma vie depuis. Mes amis enseignaient dans les lycées fréquentés par Phuong Hien : le lycée Tran Binh Trong et le lycée Quy Nhon… Ninh Hoa, Quy Nhon et Pleiku sont intimement liés à mon expérience militaire. Aussi, lorsque je relis les écrits de Phuong Hien, précédemment publiés sur le site ninh-hoa.com, je replonge dans le passé.

    Concernant sa biographie, Phuong Hien est née à Hung Yen. Son père, Nguyen Gia Tinh, est sorti diplômé de la 10e promotion Tran Binh Trong de l’Académie militaire nationale de Da Lat (1953-1954). Après la partition du pays suite aux accords de Genève, son unité fut mutée au Sud. Nguyen Gia Tinh, membre de la 9e unité des forces spéciales, fut affecté à de nombreuses reprises dans les quatre zones tactiques de la République du Viêt Nam. Il emmenait sa famille avec lui à chaque affectation. De ce fait, sa fille, Phuong Hien, a beaucoup déménagé avec son père, notamment pendant son séjour dans la 2e zone tactique.

    Dans la 16e partie, « Disparu à jamais », Phuong Hien écrit : « Mon père est resté injoignable pendant près de cinq ans, durant son incarcération. Plus tard, lorsqu’il nous a donné des nouvelles, nous avons appris qu’il avait pris le train pour Yen Bai, avait été transféré dans plusieurs camps, et que sa destination finale était le camp de Nam Ha, dans la province de Ha Nam.

    En prison, mon père est mort et revenu à la vie à de nombreuses reprises, peut-être à cause de sa grave maladie cardiaque, ou à cause des circonstances qui lui causaient tant de souffrances… »

    Après sa libération, « La santé de mon père s’est dégradée. Comment son cœur aurait-il pu se rétablir après une vie aussi tumultueuse ! Un jour, à la fin de l’année, mon père m’a quittée, parti pour toujours. Il est décédé le 22 du 12e mois lunaire de l’année du Buffle (21 janvier 1985), à l’âge de 54 ans. »

    Depuis le décès de son père bien-aimé, Phuong Hien a repris l’écriture il y a trente ans, publiant des articles sur le site web ninh-hoa.com, qui conserve également des souvenirs de ses années d’études. À Ninh Hoa se trouvait le Centre d’entraînement des forces spéciales de Duc My (situé dans la commune de Ninh Sim, district de Duc My, près du mont Deo, le long de la route nationale 21 en direction de Khanh Duong). Surnommé le « Four de forge », ce centre formait les soldats des forces spéciales au combat en jungle et en zone marécageuse, à la reconnaissance, etc., et constituait l’une des branches combattantes des forces armées de la République du Vietnam. Zone militaire stratégique, il abritait également l’École d’artillerie et le Centre d’entraînement de Lam Son… De ce fait, cette petite ville se transformait en « ville militaire » le week-end.

    En ce qui concerne les mémoires, certains ouvrages utilisent la figure du « moi haïssable » (Le moi est haïssable, du philosophe Blaise Pascal) pour exagérer l’image de soi, ce qui peut facilement rebuter. Cependant, les mémoires de Phuong Hien révèlent un « moi » né de la sincérité et de l’amour filial d’une fille pour son père, depuis son enfance où elle lisait en secret leurs journaux intimes et leurs lettres, et où elle a pu ressentir l’amour qui unissait ses parents.

    Dans les mémoires, certains auteurs utilisent la figure du « moi haïssable » (comme chez Blaise Pascal) pour exagérer la figure de l’auteur, ce qui peut les rendre rebutants. Cependant, dans les mémoires de Phương Hiền, le « moi » est celui d’une fille sincère et dévouée à son père, depuis son enfance où elle lisait en secret leurs journaux intimes et leurs lettres, découvrant ainsi leur histoire d’amour.

    Sur le plan du style, Phương Hiền écrit avec concision et clarté, exprimant ses émotions avec une grande sincérité, comme si elle les partageait avec le lecteur. L’auteure utilise un langage simple, direct et pourtant profondément humain, une qualité qui imprègne les 320 pages.

    Dès son plus jeune âge, Phương Hiền lisait assidûment (malgré son côté enjoué) et s’imprégnait des enseignements de ses parents et de ses professeurs, ce qui a grandement influencé son écriture.

    Dans ses mémoires, le contenu de chaque récit s’entremêle avec le temps et les images de sa famille et de sa vie. Phuong Hien évoque seulement ses années d’études, sans parler de ses années à l’Université de Pharmacie de Saigon, ni de sa formation de pharmacienne. Peut-être est-ce là une subtilité, une marque d’humilité face à son « ego », comme mentionné précédemment.

    Bien que j’aie lu ses écrits précédents il y a dix ans, les relire dans cet ouvrage me donne toujours l’impression d’être en présence de cette première auteure, ce qui force le respect.

    Petit Saigon, 23 juin 2026

    Vuong Trung Duong

    Rédacteur en chef du magazine mensuel Chien Si Cong Hoa (Soldat républicain).

  • Đèo Văn Sách,  Tin tức

    Nghệ Sĩ Đèo Văn Sách đã vĩnh viễn ra đi:

    Nghệ Sĩ Đèo Văn Sách, một khuôn mặt quen thuộc với các sinh hoạt Văn Nghệ “vì màu cờ sắc áo”, trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại vùng thủ đô HTĐ, đã vĩnh viễn ra đi.

    Xin kính chào vĩnh biệt Nghệ Sĩ Đèo Văn Sách

    Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Đôi dòng về Nghệ sĩ  Đèo Văn Sách

    Ca nhạc sĩ Đèo Văn Sách cùng hiền thê của ông là ca sĩ Kim Phụng hiện ở Virginia. Đôi ca sĩ này góp mặt trong nhiểu sinh hoạt văn nghệ địa phương vùng Thủ đô Hoa Kỳ. Kim Phụng là cháu ruột của NS. Hoàng Trọng (vai cậu). NS Tuấn Khanh (Hoa Soan Bên Thềm Cũ) đánh giá giọng ca Kim Phụng rất khá. Giọng ca Đèo Văn Sách còn là một emcee với chất giọng ấm áp, truyền cảm.

    TIẾC, NHỚ CA NHẠC SĨ ĐÈO VĂN SÁCH                                                  Hồi Ký HỒNG THỦY

                                  TIẾC, NHỚ CA NHẠC SĨ ĐÈO VĂN SÁCH
                                                      Hồi Ký HỒNG THỦY


    Ca Nhac sĩ ĐÈO VĂN SÁCH và hiền thê KIM PHỤNG là cặp vợ chồng rất dễ thương, hiền hòa, được mọi người quí mến ở vùng HOA THỊNH ĐỐN. Riêng với tôi, SÁCH PHỤNG thân tình như chị em trong nhà.  Tôi thân với chị ruột KIM PHỤNG là TUYẾT LÊ vợ HQ Trung Tá ĐINH VĨNH GIANG từ hồi ở VIỆT NAM. Anh GIANG rất thân và quí mến ông xã HQ của tôi như một người anh ruột.
     Ngay từ năm mở đầu tổ chức chương trình NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG QUÊN vào dịp mỗi tháng 4 ĐEN và mỗi MÙA THU trong chương trình NHẠC THÍNH PHÒNG. SÁCH PHỤNG luôn dành cho tôi những tình cảm rất đặc biệt.
    Biết tôi có một số THƠ được các NHẠC SĨ phổ nhạc. SÁCH PHỤNG luôn chọn  bài hát của tôi cho góp mặt trong Chương Trình. Dù có lần tôi đi xa  nên không có mặt trong ngày tổ chức, bài hát của tôi vẫn được ưu tiên trình diễn. Chưa một buổi Tổ chức VĂN NGHỆ nào của SÁCH PHỤNG mà thiếu bài hát của tôi. Ngoài ra tôi còn may mắn được SÁCH PHỤNG hát cho tôi rất nhiều bài. SÁCH là người đầu tiên hát bài HOA VÀNG NĂM ẤY, Thơ của tôi do Nhạc Sĩ TỪ CÔNG PHỤNG phổ nhạc và sau đó còn trình diễn rất nhiều lần trong các buổi Tổ chức của Cộng đồng và đã nhờ NHẠC sĨ HOÀNG KHẢI NHAN làm cả YOUTUBE nữa.
    KIM PHỤNG rất thích bài hát XUÂN VIỄN XỨ của tôi do Nhạc Sĩ NGUYỄN ÁNH 9 phổ nhạc. PHỤNG hát nhiều lần, hát rất hay và truyền cảm trong các buổi Họp mặt bạn hữu và được chị KIỀU OANH đưa lên YOUTUBE.
    SÁCH PHỤNG rất quí vợ chồng tôi nên khi ông xã HQ BÙI CỬU VIÊN của tôi qua đời, SÁCH PHỤNG đã nhờ chị KIỀU OANH làm một YOUTUBE ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM anh VIÊN với bài MỘT LOÀI CHIM BIỂN của NHẠC sĨ NGUYÊN VŨ qua tiếng hát thật hay và cảm động của cả hai vợ chồng. Chưa hết, giỗ đầu anh VIÊN, SÁCH PHỤNG làm thêm một youtube nữa với ca khúc HOA BIỂN của NS ANH THY. Ngày giỗ năm thứ 2 SÁCH PHỤNG lại làm một YOUTUBE nữa với bài hát SAO RƠI TRÊN BIỂN của NS NGUYÊN VŨ do hai người song ca. Tất cả YOUTUBE đều do bàn tay tài hoa của chị KIỀU OANH THỰC HIỆN. Xin CÁM ƠN chị KIỀU OANH rất dễ thương và thật nhiệt tình với bạn hữu.
    Quả thật tôi mang nợ SÁCH PHỤNG rất nhiều, những cảm tình SÁCH PHỤNG dành cho tôi quá sức tràn đầy. Nằm trong bệnh viện mà SÁCH còn nhớ đến tôi. Trước khi SÁCH mất một tuần, PHỤNG gọi cho tôi nói: “chị ơi tự nhiên hôm nay anh SÁCH nhắc đến chị, anh ấy hỏi em chị có khỏe không.” Rồi PHỤNG tâm sự thêm: rất buồn vì BS nói có thể SÁCH không qua khỏi. Tôi nghe vừa ngạc nhiên vừa xúc động, tôi không ngờ SÁCH bệnh nặng quá vậy. Sách ra vào nhà thương rất nhiều lần nhưng rồi lại khỏe lại. Lần này tôi cũng tưởng như những lần trước, không ngờ BS lại nói như vậy. Tôi vội vàng tìm cách đi thăm SÁCH ngay. Tôi nói “tìm cách”, vì tôi ở MAYLAND rất xa nhà thương, chưa bao giờ tôi lái xe một mình vào đó, nhà thương FAIRFAX quá to lớn, bãi parking rộng mênh mông. Tôi rất sợ vào mê hồn trận, đi một mình không biết đâu mà mò ( nhà quê quá phải không quí vị ? ). Tôi gọi cho người bạn ở gần nhà thương, xin đi cùng dẫn đường cho tôi vào thăm SÁCH. Số tôi xui, người bạn trả lời mới đi thăm SÁCH rồi. Tôi không hỏi được ai đi cùng nên đành phải nhờ con trai chở tôi đi, dù biết cháu rất bận.
    Hai mẹ con đi thăm SÁCH, tôi rất mừng là trông SÁCH vẫn vui cười tỉnh táo. Tôi buồn trong lòng vì PHỤNG đã cho biết BS nói rõ là các bộ phận đều không hoạt động nữa rồi và chắc chắn SÁCH sẽ ra đi. Tôi nắm hai tay SÁCH thật lâu, nhìn SÁCH cười mà ứa nước mắt khi nghĩ đến lúc SÁCH sẽ nằm bất động vĩnh biệt mọi người. Tôi quá xúc cảm đưa hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt SÁCH nói trong nghẹn ngào : SÁCH phải đọc kinh cầu xin CHÚA cho mau khỏe để còn lo Tổ chức Buổi Thính Phòng MÙA THU chứ. Không biết trong lòng SÁCH có ngạc nhiên khi bỗng dưng hôm đó tôi có cử chỉ thân mật như vậy, chỉ thấy SÁCH cười thật tươi và hỏi tôi: Chị chọn bài đi, chị thích hát bài nào? Tôi cũng cố cười: Bài HOA VÀNG NĂM ẤY vì HOA VÀNG là hoa của MÙA THU. SÁCH lại cười và nói: em cũng thích bài đó. Tôi nói tiếp theo: Lần này hát bài NGUYỄN ÁNH 9 phổ nhé, lần trước hát bài của TỪ CÔNG PHỤNG rồi ( một bài Thơ mà tôi may mắn được hai NS nổi tiếng phổ nhạc )SÁCH gật gù: Chị lại muốn nhờ SĨ TUẤN hay đổi người khác? Tôi trả lời: Ca sĩ thì tùy SÁCH chọn chứ.
    Tôi không tưởng tượng được tôi đang nói chuyện với một người sắp ra đi mãi mãi. Tôi quay vội đi vờ nói chuyện với PHỤNG để SÁCH không nhìn thấy nước mắt tôi sắp trào ra.
    Như vậy đó, tôi đã nói chuyện lần cuối với SÁCH trong cảm giác thật buồn của một người đang đóng kịch thật nhuyễn. SÁCH ƠI, Chả còn lần nào cho chị được SÁCH chọn CA SĨ và sắp xếp Chương trình bài hát của chị nữa đâu. Cám ơn những cảm tình quí hóa suốt bao nhiêu năm nay SÁCH PHỤNG dành cho chị và anh VIÊN. Mong SÁCH sẽ gặp anh VIÊN để anh VIÊN cám ơn SÁCH dùm chị.  Chị không thể nói lời CÁM ƠN với SÁCH để cố đóng cho trọn vai trò kịch sĩ, cho SÁCH có được chút niềm vui cuối cùng là tưởng như cuộc sống còn dài bên người thân. Xin CHÚA đưa linh hồn SÁCH về nước THIÊN ĐÀNG.
    VĨnh biệt SÁCH. Không riêng Chị mà chắc chắn nhiều người quen biết sẽ tiếc nhớ SÁCH vô cùng.
    Thân mến
    Chị Hồng Thủy 

  • FATHER'S DAY, Ngày Của Cha,  THO

    LỜI CHA GỬI CON

    David phạm (*)

    Ngày con vừa chớm tuổi thơ

    Mẹ con bỏ lại bến bờ nhân gian

    Ba ôm lời hứa còn mang

    Trước khi mắt mẹ vội vàng khép mi.

    Ba ngày nữa tuổi mười ba

    Con còn chưa hiểu lệ nhòa trên mi

    Đêm dài lặng lẽ thầm thì

    Ba thay mẹ giữ những gì yêu thương.

    Tay dắt con đến mái trường

    Dạy con con chữ mở đường tương lai

    Đưa con học nhạc mỗi ngày

    Tiếng đàn thay những tháng ngày thiếu vui.

    Đưa con học võ nên người

    Dạy con nghị lực giữa đời gian nan

    Bao mùa mưa nắng cơ hàn

    Ba vui chỉ thấy con ngoan mỗi ngày.

    Tuổi xuân lặng lẽ qua tay

    Mái đầu bạc tự lúc nào chẳng hay

    Chỉ mong con được tung bay

    Trên đôi cánh rộng tháng ngày bình yên.

    Hôm nay con đã trưởng thành

    Áo blouse trắng khoác lên tự hào

    Dược khoa con bước đường cao

    Đền bao năm tháng ba trao ân tình.

    Làm xa cách trở hành trình

    Thỉnh thoảng con ghé mái đình tuổi thơ

    Căn nhà vẫn đợi từng giờ

    Nghe xe trước ngõ như mơ con về.

    Father’s Day gió bên hè

    Ba ngồi lặng nhớ lời thề năm xưa

    Mẹ con nơi cõi mây mờ

    Chắc đang mỉm cười nhìn đứa con ngoan.

    Ba không mong được đáp đền

    Chỉ mong con sống vững bền nghĩa nhân

    Dẫu mai tóc bạc phong trần

    Gia đình là gốc, là sân quay về.

    Nếu mai ba khuất sơn khê

    Con đừng nhỏ lệ não nề làm chi

    Ba vui vì đã thực thi

    Lời hứa với mẹ khắc ghi trọn đời.

    Con là hạnh phúc của người

    Là niềm ánh sáng cuối trời của ba

    Dẫu cho năm tháng đi qua

    Tình cha vẫn mãi bao la không cùng.

    Happy Father’s Day, my son. With all my love, Dad

    (*) Họa sĩ David Phạm là người đã cho phép NVNT MAGAZINE, Báo Xuân 2026 dùng tranh của ông vẽ làm bìa của báo.

  • FATHER'S DAY, Ngày Của Cha,  Lê Nguyễn Nga

    Mùa Hạ Nhớ Cha

    Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga

    Tháng sáu nắng hanh nồng 

    Như tình Cha cảm thông 

    Cha tôi người nhân ái 

    Yêu nước cả tấm lòng

    Xây đắp mái nhà xong

    Cha làm việc chẳng than

    Lo nhà cùng với Mẹ

    Ráng dạy đàn con ngoan

    Giặc về cha cầm súng

    Cứu nước cha đuổi đeo

    Nước nhà hai vai gánh

    Cha tôi gắng tay chèo

    Ngập tràn mùa chinh chiến

    Lên đường giữ biên cương

    Việc nhà cha gửi Me

    Nuôi trẻ trọn tình thương

    Bom đạn nơi chiến trường

    Tinh nhà bên đầu súng

    Cha hy sinh cứu nước 

    Mong được tự do chung

    Nay con đã mất cha

    Mùa Hạ về nhắc nhớ

    Tình cha cao ngất trời

    Hâm nóng trái tim côi.

    Lê Nguyễn Nga

    Father’s Day 2023

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    VIỆN BẢO TÀNG DI SẢN NGƯỜI VIỆT (VIETNAMESE HERITAGE MUSEUM) KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP (2016-2026)

    Khánh Lan

    Thứ Bảy, ngày 20 tháng Sáu, 2026 tại Lavender’s Hall, 14190 Beach Blvd, Westminster, CA 92683, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt / Vietnamese Heritage Museum (VHM) đã tổ chức một dạ tiệc long trọng kỷ niệm 10 năm thành lập. Buổi dạ tiệc đã đánh dấu cột mốc 10 năm hoạt động của viện bảo tàng và 51 năm sau biến cố 1975 (1975-2026). Mười năm, một quãng thời gian tuy không dài, cũng không ngắn nhưng đủ để ghi nhận sự thành công của một tổ chức. Với mục đích gìn giữ, bảo tồn lịch sử và văn hóa của cộng đồng người Việt Hải Ngoại, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt hiện trưng bày “Con Tàu Hy Vọng” do 9 người Việt đã chèo lái con tàu ra khơi năm 1984, trong 7 ngày và được tàu của Pháp cứu vớt. Con tàu thứ hai với tên gọi “Con thuyền Tự Do” do bà Lài biếu tặng cũng sẽ được trưng bày tại Viện Bảo Tàng trong tương lai sau khi trùng tu và sửa chữa. Theo lời của chủ nhân Con thuyền Tự Do, thuyền này đã được đem đi diễn hành trên 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Ngoài ra, Viện Bảo Tàng còn lưu trữ trên 10.000 hiện vật, ghi nhận trên 350 câu chuyện truyền khẩu, nhận lãnh hơn 100,000 tác phẩm văn học trước và sau 1975, cũng như rất nhiều sách, báo, tài liệu, ấn phẩm, phim ảnh, kỷ vật, v.v….Nổi bật là các bộ sưu tập của cố Đại Sứ Bùi Diễm cùng các nhà nghiên cứu lịch sử.

    Buổi tiệc kỷ niệm 10 năm thành lập của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã mở cửa và hân hoan đón tiếp hơn 300 quan khách khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ trước giờ khai mạc. Những bản nhạc Pháp & Việt bất hủ được hòa tấu bởi hai nghệ sĩ Luân Vũ và Phương Thảo như ru hồn khách thưởng thức vào âm thanh tuyệt diệu của âm nhạc.

    Hình phía dưới là các anh chị thiện nguyện viên đang bận rộn đón quan khách tham dự.

    Đồng thời giới thiệu đến quan khách những hiện vật được đưa ra đấu giá để gây quỹ gồm chai rượu Louis XIII

    Và những bức tranh giá trị.

    Những món quà cho xổ số

    Và không quên mời quan khách thưởng thức các món khai vị do chị Xuân Ninh và các anh chị trong ban tiếp tân đảm trách. Hình bên dưới là Jennifer Ánh Nhật, một trong những thiện nguyện viên.

    GIỜ KHAI MẠC BUỔI LỄ ĐỆ THẬP CHU NIÊN ĐÃ ĐẾN

    Ba MCs dẫn dắt chường trình là Cô Diệu Quyên Nguyễn, Cô Leyna Nguyễn và luật sư Dũng Hoàng Nguyễn

    Ban hợp xướng Ngàn Khơi và Quốc Ca VNCH

    Buồi dạ tiệc ngày 20 tháng 6, 2026 quy tụ đông đảo các vị lãnh đạo tinh thần, các vị cựu quân nhân, giới trí thức và thương gia cùng đồng hương của ba thế hệ gồm Ông Bà, Cha Mẹ và các cháu. Điều khiến cho Ban Tổ Chức vô cùng cảm kích là con số quan khách tham dự rất đông. Đó là một điều vui mừng và là một khích lệ lớn cho Ban tổ chức, bởi tấm lòng quảng đại của đồng hương, những người luôn sẵn sàng hỗ trợ tinh thần và tài chánh cho một mục đích chính đáng.

    Trong buổi tiệc, Ông Châu Thụy, president của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã vinh dự đón nhận Bằng Vinh Danh từ Thượng Viện California và Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn với lòng tri ân những đóng góp lớn lao của Bảo tàng viện cho cộng đồng Orange County. Khai mạc buổi dạ tiệc, ông Châu Thụy ngỏ lời chào mừng trân trọng đến quý tao nhân mặc khách tham dự và cũng trong dịp này ông thay mặt cho Ban tổ chức cảm ơn tất cả các thiện nguyện viên đã bỏ rất nhiều công sức và thời gian để giúp một cánh tay trong việc bảo tồn văn hóa của người Việt Nam. Ông chia sẻ: 

    “Mười năm, một chặng đường tuy không dài trong dòng lịch sử, nhưng đủ để chứng minh một tâm nguyện và ý chí bền bỉ. Đó là lưu giữ những chứng tích của một thời ly loạn, tôn vinh ý chí kiên cường của người Việt tị nạn, và truyền lại cho hậu thế những bài học vô giá của tự do và nhân bản.” 

    Là nạn nhân và là nhân chứng sống trong cuột vượt biên năm 1980, Ông Châu Thụy đã bùi ngùi chia sẻ nhưng bi thương mà các thuyền nhân đã trải qua trong suốt quãng đường đi tìm tự do, những ngày lênh đênh trên biển cà, những cơn đói khát triền miên, họ đã trải qua những ngày kinh hoàng của đau thương, cướp biển và chết chóc. Trong 10 năm qua, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã thu nhận và bảo tồn những chứng tích của những hành trình ly hương đầy bi tráng mà người dân Việt, vượt đại dương, bất chấp hiểm nguy và để hướng về một tương lai vô định. Ông Châu Thụy nói: “Những câu chuyện vượt biên, vượt biển trong đêm tối, những ký ức trong lao tù được trân trọng ghi lại bằng hiện vật, tài liệu và lời kể chân thực từ chính những nhân chứng của lịch sử“.

    Trong buổi họp mặt kỷ niệm 10 năm, ông Châu Thụy tha thiết kêu gọi và gởi lời mời gọi cả ba thế hệ trong gia đình (ông bà, phụ huynh cùng các thanh thiếu niên) tiếp tục ủng hộ tổ chức, tham gia những buổi họp mặt, hội thảo do Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt tổ chức, bởi sự hiện diện của ba thế hệ là chứng tích sống động của lịch sử, và là nhịp cầu chuyển tiếp. Sự hiện diện và tham gia của các em thuộc thế hệ trẻ chính là tương lai của dân tộc.

    Sau cùng, Ông Châu Thụy cũng không quên đề cập đến những thành quả mà Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã hoàn tất trong 10 năm qua, cũng như những dự án được phác họa cho một lộ trình, một hướng đi tràn đầy ý nghĩa trong tương lai, một di sản văn hóa vô giá để lưu truyền lại cho các thế hệ kế tiếp. Tất cả mọi giữ kiện này đều được ghi lại trong tập KỶ YẾU KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP CỦA VIỆN BẢO TÀNG DI SẢN NGƯỜI VIỆT.

    Kết thúc bài diễn văn, ông Châu Thụy kết luận: “Đến với buổi họp mặt hôm nay, quý vị đã gián tiếp cùng chúng tôi xây dựng nền móng cho thế hệ thứ hai, thứ ba và các thế hệ kế tiếp, duy trì và gìn giữ di sản của ông cha chúng ta“.

    Tiếp tục chương trình là những lời phát biểu đầy tâm huyết của Vice Precident Hồng Tiên, kêu gọi sự yểm trợ tài chánh của đồng hương cho một số dự án trong tương lai, bao gồm sự bảo tồn và duy trì viện bảo tàng. Ngoài việc duy trì Bức Tường tưởng niệm đã lưu giữ tên tuổi, hình ảnh, và câu chuyện của những người đã hy sinh trên hành trình đi tìm tự do và của những chiến sĩ VNCH đã bỏ mình trong lao tù, quỹ còn hỗ trợ cho các dự án thiết yếu trong tương lai như:

    • Dự Án giúp phương tiện xe buýt để đưa các em học sinh, sinh viên viếng thăm viện bảo tàng, để học hỏi, ôn lại lịch sử của những cuộc di tản bi thương và tìm về cội nguồn.  
    • Đào tạo thanh niên sử dụng kỹ thuật AI để dịch và phổ biến lịch sử.
    • Dự Án Lịch Sử Qua Chuyện Kể – Sưu tầm và lưu giữ những câu chuyện của các thế hệ cao niên.
    • Dự án thành lập trung tâm văn hóa nghiên cứu về lịch sử và văn hóa của cộng đồng Hải Ngoại. Trung tâm lưu trữ những tác phẩm văn học xuất bản trước năm 1975 và những tác phẩm xuất bản sau năm 1975 của các tác giả hải ngoại.
    • v.v….

    Hiện nay, “Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đang lưu giữ những linh hồn của một thế hệ đã hy sinh để bảo toàn danh dự và tự do. Đây chính là một di sản vô giá để thế hệ trẻ hôm nay và mai sau luôn hiểu rằng: từ mất mát có thể sinh ra hy vọng, từ lưu vong có thể tạo dựng thành công, và từ quá khứ gian truân có thể hình thành một tương lai vững mạnh, không chỉ cho cá nhân họ, mà cho cộng đồng người Việt tị nạn. Những kỷ vật của một thời đã qua, những câu chuyện vượt biên, lao tù đang được gìn giữ, chuyển hóa và trao lại cho thế hệ tiếp nối“. (Trích trong Người Việt online)

    Buổi kỷ niệm 10 năm thành lập của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã được tổ chức trong bầu không khí trang trọng với phần văn nghệ chọn lọc. Mở đầu là bài hợp ca Bước Chân Việt Nam của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng & Trúc Hồ do ban hợp xướng Ngàn Khơi và Ca Sĩ Thái Sơn trình diễn. Ca sĩ Bảo Châu với Never Enough của Turnstile & Do You Know where you’re going to, song by Diana Ross đã làm rơi lệ người nghe, và làm tim tôi như thắt lại. Ca sĩ Thái Sơn với Nỗi Lòng Người Đi của NS Anh Bằng đã làm thổn thức bao tâm tư của những người con Việt hai lần bỏ quê cha đất tổ (cuộc di cư năm 1954 và 1975 viễn xứ). Sau cùng, chương trình văn nghệ kết thúc với các em trong nhóm vũ Lạc Hồng qua vũ điệu Trống Cơm.

    Ca sĩ Bảo Châu với Never Enough của Turnstile

    Cũng trong buổi Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập và vinh danh hôm ấy, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã phát thưởng cho 15 thí sinh đã trúng tuyển cuộc thi WAI-2026. Các thí sinh tham dự đến từ 4 châu: Á, Úc, Âu và bắc Mỹ. Tuy nhiên, các thí sinh trúng giải từ xa đến gần cũng đã cố gắng thu xếp để tham dự buổi phát giải. Có lẽ sự hưởng ứng từ xa đến gần này là một trong những điều rất khích lệ cho ban tổ chức để cố gắng biến đề án trở thành lâu dài và thường niên.

    WAI-2026 là chương trình kể chuyện toàn thế giới mang tên WAI-2026 (Tôi Là Ai – sau biến cố 1975) do Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt lần đầu tiên tổ chức. Dự án do sự đảm trách và điều hành bởi Cô Thanh Giang, một thành viên trong ban tổ chức. Phần thưởng trúng giải là đồng hạng, không lệ thuộc và không đi theo thứ tự xếp hạng, nhất, nhì hay ba, v.v…

    Thành phần thi sinh dự thi tuổi từ 18 đến 70+ và được xếp theo 5 “nhóm tuổi“. Bài viết theo thể loại văn, thơ, video. Chủ đề: Sau 50 năm hình thành và phát triển cộng đồng người Việt Hải Ngoại, thí sinh cần nhìn lại và viết về hành trình tị nạn, cuộc sống trong quá khứ, hiện tại và mình là ai? Đối với những thi sinh có mối liên hệ với Việt Nam hay tham dự trong chiến tranh Việt Nam, thì cần xác định rõ địa điểm, thời gian tham chiến, cũng như cuộc sống trước và sau năm 1975. Bài dự thi có thể bằng Anh ngữ hoặc Việt ngữ.

    Một số thí sinh trúng tuyển chụp hình cùng giám khảo

    Các thí sinh trúng giải gồm nhiều hạng tuổi, trong số đó có 2 thí sinh ở hạng tuổi 70+

    CATEGORY: VIDEO/FILMS

    AGE GROUP 18-29     Tran, Michelle                    BRIDGE OF GENERATIONS                                           CA – USA

    AGE GROUP 30-39     Vu, Thanh                             BRIDGE OF CULTURES                                                 IN – USA

    CATEGORY: ESSAYS/POEMS

    AGE GROUP 18-29     Ngo, Hannah                      BRIDGE OF GENERATIONS                                           CA – USA

                                             Williams, Shawn              BRIDGE OF CULTURES                                            VA – USA

    AGE GROUP 30-39     Dang, Le Huynh                BRIDGE OF CULTURES                                                    ASIA

                                                    Nguyen, Thuy          HERITAGE IN FLIGHT                                            MA – USA

                                                    Wilson, Cody             BRIDGE OF GENERATIONS                                   NY – USA

    AGE GROUP 40-54     Dang, Juliet (Ph.D)          BRIDGE OF CULTURES                                                    WA – USA

                                                    Nguyen, Mai Thao     CONTINENTAL SPOTLIGHT – EUROPE                 EUROPE

                                                    (Dự thay thế là con trai: Nguyễn Kiên Thuận, ở LA)

    AGE GROUP 55-70     Nguyen, Brian                    HERITAGE IN FLIGHT                                                       CA – USA

                                                    Do, Le Thuy              BRIDGE OF CULTURES                                          MI – USA

                                                    Pho, Quoc Van           CONTINENTAL SPOTLIGHT – AUSTRALIA        AUSTRALIA

                                                    (Dự thay thế là con trai Jason Pho, đến từ New York)

                                                    Dam, Janie                  EDUCATIONAL IMPACT                                         CA – USA

    AGE GROUP 70+         Tsu, James                           HERITAGE IN FLIGHT                                                     CA – USA

                                                    Klein, Kurt                 LIVING WITNESS                                                   CANADA

    Bảng cho điểm dựa vào nội dung, bố cục, cũng như để có sự công bằng cho các thí sinh, ban giám khảo gồm nhiều thành phần khác nhau trong cộng đồng bao gồm giáo sư, bác sĩ, nhà văn, nghệ sĩ, phóng viên, v.v…Hiện diện trong ban giám khảo, người viết nhận thấy:

    • Phóng viên nhà báo Tina Hà Giang: Phóng viên BBC, nhật báo Người Việt, Saigon Nhỏ, Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi, cựu nữ sinh Gia Long và sinh viên Văn Khoa.
    • Văn Thi Sĩ – ca sĩ, performing artist Bắc Ninh Đặng Xuân Mai.
    • GS Tiến Sĩ đại học UCLA, Sáng Lập Viên Trường dạy kèm A+ Tutoring, Dr. Nghiêm Bảo Toản.
    • Chuyên gia tâm lý hôn nhân & gia đình, Trưởng Nhóm Văn Học-Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Văn thi sĩ Lưu Khánh Lan.
    • Du ca trưởng Nam California, Trưởng Hướng Đạo Liên Đoàn Hướng Việt, Dr. BS nhãn khoa Phạm Đỗ Thiên Hương.
    • Phóng Viên đài VOA, thiện nguyện viên nồng cốt của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt – TiTi Mary Trần.
    • GS Tiến Sĩ UCI, nhà văn, nhà hoạt động giáo dục Dr. Trần Chấn Trí.
    • GS Tiến Sĩ Dr. Phan Quang Trọng, cựu Chủ Tịch cộng đồng người Việt San Jose, cộng đồng người Việt Dallas, Texas. 
    • Executive Director of VAALA organization, Dr. Dược Sĩ Lê Đình Y Sa

    Thành phần ban giám khảo nữ hiện diện trong buổi phát thưởng WHO AM I:

    Từ trái sang phải: Văn thi sĩ Đặng Xuân Mai; Văn thi sĩ Lưu Khánh Lan; Điều họp dự án WhoAmI-2026, Cô Thanh Giang; Phóng viên Nhà báo Tina Hà Giang, Bác sĩ Nhãn Khoa Phạm Đỗ Thiên Hương.

    Từ bên trái sang phải là Giáo Sư Tiến Sĩ Nghiêm Bảo Toàn và các giám khảo & Thân hữu

    Buổi tiệc bế mạc với phần cắt bánh kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt trong sự hân hoan và biết ơn các quý đồng hương, mạnh thường quân đã yểm trợ cho các dự án trong tương lai của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt.

    Đáp ứng lời kêu gọi gây quỹ của Ông Hồng Tiên, Ban tổ chức cho biết số ngân quỹ bảo trợ đã lên đến con số đáng kể, ông nói: “Mỗi đóng góp, dù lớn hay nhỏ, đều là những viên gạch xây dựng nền móng gìn giữ ký ức và di sản của dân tộc. Thiết tưởng việc bảo tồn di sản không phải là trách nhiệm của riêng ai mà là của toàn thể người dân Việt. Chúng ta hãy cùng nhau gìn giữ những di sản quý báu này và chuyển lại cho con cháu chúng ta trong tương lai”.

    Viện Bào Tàng Di Sản Người Việt / VHM là một tổ chức bất vụ lợi 501 (c)3. Tax ID 82-2141214. Quý vị có thể đóng góp qua chi phiếu, xin đề:  VHM – Gửi về:  P.O. Box 27372, Santa Ana, CA 92799. Zelle:  (714) 846-8438. Venmo@Vietnamesemuseum, PayPal (info@vietnamesemuseum.org) hoặc liên lạc với VHM qua số điện thoại 714-846-8438 để được giúp đỡ trực tiếp. Xin thành tâm cảm ơn sự hỗ trợ của quý thân hữu, quý tao nhân mặc khách, và quý đồng hương.

    Khánh Lan, California June 2026

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt,  Việt Hải

    CHÚC MỪNG SINH NHẬT THÁNG 5 VÀ HỘI NGỘ VÀO HÈ HAWAII

    Việt Hải & Khánh Lan

    Khi xem sách lịch Almanac và blog từ điển Britannical, về những người nổi tiếng nào có sinh nhật vào ngày 31 tháng 5, thì tài tử điện ảnh Hollywood Clint Eastwood, có sinh nhật vào ngày hôm nay, 31 tháng 5, ông được tròn 96 tuổi. Còn những vị nổi danh khác sinh vào tháng Năm như: ông Benjamin Šeško (vận dộng viên môn football), cô Iga Świątek, vận động viên môn quần vợt), ông William D. Nordhaus, Nobelist Khoa học Kinh tế (2018), ông Robert Schrieffer, nhà khoa học Nobel: Giải Nobel Vật lý (1972), ông Maurice Allais, nhà khoa học giải Nobel: Giải Nobel Khoa học Kinh tế (1988), ông Louis J. Ignarro, nhà khoa học giải Nobel: Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học (1998), ông Peter Howitt, nhà khoa học giải Nobel: Giải Nobel Khoa học Kinh tế (2025), ông Chien-Shiung Wu, nhà vật lý hạt nhân người Mỹ gốc Hoa, Đài Loan, bà Svetlana Alexievic nhà báo sử học, ông Viktor Orbán, Luật sư, football Chính trị gia người Hungary, EU, kế là ông Ayad Allawi, Chính trị gia, Bác sĩ tâm thần người Iraq, ông Kalman Kahana, nhà báo chính trị gia Do Thái, ông Khil Raj Regmi, Thẩm phán Chính trị gia Nepal, bà Dina Boluarte, Luật sư Chính trị gia Peru, ông Protase Rugambwa, Giám mục Công giáo, Đức Hồng y Công giáo La Mã.

    Cũng trong tháng 5 có ngày lễ Mẹ, có sinh nhật nhạc sĩ Anh Bằng (ngày 5 tháng 5), có sinh nhật của ca sĩ Tony Hiếu (21/05); Minh Thư (26/05), tháng 5 ngày 1 tây có ngày sinh nhật của cố NS Lê Trọng Nguyễn. Tháng 6 có ngày Lễ cha và giỗ của nhà văn Minh Đức Hoài Trinh (mất ngày 9 tháng 6, 2017-86 tuổi), có sinh nhật ông xã Minh Thư là gia chủ Brian (14/06); nhạc sĩ GS. Phạm Hồng Thái (25/06). Riêng tháng 7 có ngày tưởng niệm Khoa Học gia Nguyễn Xuân Vinh (mất July 23, 2022-tuổi 92), có sinh nhật của nước Hoa Kỳ, và của các bạn bè như nhà văn xịn Vương Trùng Dương (02/07), nữ sĩ Tao đàn Ngọc Quỳnh (11/07), Alain Francois Đức Parisien (5/07), và Michael Claud Chánh Nguyễn (26/07).

    Tôi nhớ dịp đầu năm nay khi nhóm tổ chức mừng sinh nhật tháng Giệng, thì vào ngày Chủ Nhật ngày 25 tháng 1, 2026, Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi sinh nhật cho 4 hội viên có ngày sinh nhật vào tháng Giêng là John Tạ, Nga Nguyễn, Lệ Hoa và Mộng Thủy. Nơi hội họp tỏ chức buổi lễ là tư gia của Mộng Thủy, gia trang của giai nhân Mộng Thủy tọa lạc ở một vùng Fashion Island, một khu gia trang sang trọng gồm nhiều ngôi biệt thư xem như loại elegant villas of luxury. Mỗi biệt thự xây theo tiêu chuẩn với thiết kế độc đáo và một khái niệm mới về cuộc sống classy sang trọng, vốn được thiết kế để tạo cảm giác trang nhã, rộng rãi và hài hòa với môi trường chung bao quanh như từ trần nhà cao đến cửa sổ lớn và ban công lan can kính mang lại ánh sáng tự nhiên và tầm nhìn toàn cảnh nhô ra khuôn viên lấy cảm hứng từ khu vực Hy La Địa Trung Hải, hoặc bờ biển Pháp, vùng Riviera Pháp, với cảnh sắc quyến rũ của Côte d’Azur, một khu nghỉ dưỡng getaway resort. Ba tháng 2, 3 và 4 có NV Nguyễn Quang, Khánh Lan và Mạnh Bổng nhưng không có buổi họp mặt.

    NV Nguyễn Quang và Nv Việt Hải

    Mạnh Bổng & Khánh Lan

    Khi xe dừng trước nhà gia chủ Brian Minh Thư tôi thấy một khung trời Aloha Mahalo Hawaii Wakiki hiện ra trước mắt do các bạn bè phục sức áo, nón, vòng hoa Hawaii… và như thể gia chủ Katherine Minh Thư có máu Aloha, nên cô đã chuẩn bị vòng hoa, củng tua dây cỏ lá kết đan, váy đan lá cây cho vũ điệu Hula, dù là Hula Kahiko và Hula Auana, vòng hoa lan cho cổ tay, hoa sứ trắng cho vòng hoa đội đầu, v.v…

    Bước vào phòng ăn, nối dài từ nhà bếp, chạy dài ra patio ở sân sau, gia chủ cho lát nền gạch vân đá xanh loại Catalan, đi chân không rất mát. Phía bên trái của sân sau là một triền dốc, nhin xuống một thung lũng mênh mông. Trước mắt tôi, một quang cảnh yên bình, thoáng mát bình nguyên gần như vô tận bao phủ vùng trời Diamond Bar.

    Câu châm ngôn “Có thực mới vực được đạo” vì thế chúng tôi đã khai mạc buổi họp mặt là “ăn uống và hàn huyên uyên thuyên, chụp ảnh.

    Phần tôi trong môt khoảng khắc nào dó, trầm tư nghĩ ngợi bao năm rồi kiên tâm gầy dựng một nhóm bằng hữu văn nghệ sĩ, những thân hữu tao nhân mặc khách, và những bạn bè văn nghệ trí nhân, gặp nhau hội ngộ chia sẻ những thành tựu hay nhắc lại cái dĩ vãng cơ hàn, lòng tôi như chùng xuống.

    Tôi lặng ngắm anh Vũ Hòa (ông xã của Ngọc Quỳnh), một người anh vừa thoát chứng nan y tai biến mạch máu, rồi nữ sĩ Nguyễn Nga mang cùng nghịch cảnh vì chứng bệnh tai ương quái ác, nhìn sang anh Alain Đức vẫn còn hội chứng lung infection, y như pulmonary disease (infection pulmonaire, maladie pulmonaire) đến nay căn bệnh chưa khỏi hẳn. Nhìn xa hơn chúng ta đã chia tay Mắt Nâu và Hồng Tước, sự thể như emcee Phạm Gia Đại nhắc nhở qua micro, anh đã tiễn đưa nhiều bạn bè, đến nổi chúng ta trân quý những bạn bè còn sót lại, dẫu biết rằng cuộc đời chỉ là cõi tạm, có sinh ắt phải có tử.

    Những bà Mẹ của NVNT & TTG thật đáng yêu….

    Tháng 5 có Lễ Mẹ, Phạm Gia Đại còn nhắc về ý nghĩa Bông Hồng Cài Áo, mà các em như Minh Thư hay Bảo Bảo, Estèles hoặc các con tôi là giới may mắn còn đeo hoa hồng.

    Và một bông Hồng cho những ai

    Cho những ai đang còn Mẹ

    Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn

    Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi

    Như đóa hoa không mặt trời

    Như trẻ thơ không nụ cười

    ngỡ đời mình không lớn khôn thêm

    Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

    Mother’s day, Lễ Mẹ theo thi sĩ Trần Trung Đạo cho là hình ảnh người mẹ là một kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất. Tình thương của người mẹ bao la như biển Thái Bình và vô biên như không gian vũ trụ dành cho con cái. Ngôn ngữ của mẹ là tiếng nói từ trái tim, yêu thương và dịu dàng dành cho con cái. Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe “thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là trái tim người mẹ”. Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn, nhưng không thể sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.

    Việt Hải: “Yêu kiều quá, những bà Mẹ Việt Nam…“

    Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyệt đối của tinh thần Chân – Thiện – Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi mà là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc. Rồi từ nghìn xưa cho tới nay, từ Đông sang Tây… hình bóng người mẹ cao quý, thiêng liêng, sự hy sinh vô bờ bến trong tình mẫu tử, với trái tim đầy nhân ái, cao cả đã in sâu trong lòng người con từ lúc được sinh ra cho đến khi lìa đời. Hình bóng đó đã được thể hiện qua thơ, văn, nhạc và trong nhiều lãnh vực khác nữa… Hãy nhắc về bài Mẹ Hiền Yêu Dấu như sau:

    Người mẹ hiền yêu hỡi

    những lúc mẹ cười vui

    là mặt trời sáng chói

    mưa buốt không hề rơi

    và con sẽ cố từ sáng đến trưa chiều

    khi thấy mẹ thì cười vui thật nhiều…

    Người Mẹ hiền yêu dấu,

    Mẹ dã cho đời con, vòng tay âu yếm

    khi gót chân còn son

    Người Mẹ hiền có biết, khi lớn không ra đời

    con sẽ nhớ hoài bóng dáng người

    Người Mẹ hiền yêu hỡi…

    Trở lại với Trần Trung Đạo qua bài thơ nhạc “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”. Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

    Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

    Tiếng ai như tiếng lá thu rơi

    Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ

    Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi,….

    Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ

    Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ

    Đau thương con viết vào trong lá

    Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

    Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

    Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi

    Ví mà tôi đổi thời gian được

    Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

    Bài thơ “Mẹ Ru Con” của Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga do CNS Lâm Dung phổ nhạc với giọng ca ngọt ngào, êm ái, nhẹ nhàng như lời ru của Mẹ. Xin bấm vào link phía dưới để nghe ca khúc : Mẹ Ru Con – Lê Nguyễn Nga – Lâm Dung:

    Nhà văn Nguyễn Quang, tôi ngồi kế ông, tôi nhắc về tác phẩm Manifest Destiny ra mắt năm rồi,… Tôi nhớ Giáo sư (kiêm Nhà văn) Quyên Di cho lời thuyết giảng như là: Trong tác phẩm Manifest Destiny-An Odyssey Of Human Process hay Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân Loại có đề cập đến nhiều sự việc, nhưng có lẽ một vấn đề mà Nhà văn Nguyễn Quang chưa đề cập đến hoặc sẽ viết sau này là bí mật của lịch sử nhân loại, tại sao nó lại bị triệt thoái hoặc biến mất theo thời gian? Nguồn gốc của con người từ đâu mà ra? v.v… GS. Quyên Di ví Nhà văn Nguyễn Quang như một hậu duệ của người khổng lồ với trái tim to và khối óc lớn. Bởi có trái tim to nên ông dễ bị xúc động điển hình là trong một buổi tiệc với chủ đề “MẸ” và khi nói về Mẹ mình, Nhà văn Nguyễn Quang đã khóc, cũng như khi nói tới Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh ông lại cũng khóc, và bây giờ, trong lúc này, ông lại sắp sửa khóc.

    Đối với người khổng lồ Nguyễn Quang, GS. Quyển Di nói: “Nhà văn Nguyễn Quang với cái đầu to mà khôn bởi vì tác phẩm của ông chất chứa nhiều tính trí thức”. Ngẫm lại cá nhân bản thân mình, GS. Quyên Di muốn nói đến quan điểm niềm tin của con người và thuyết khoa học đối với vũ trụ. GS. Quyên Di cho rằng Phật giáo là một tôn giáo gần nhất với thuyết khoa học và được coi như là “cái duyên”. Chính cái duyên đã tạo nên tất cả mọi sự trong cuộc sống. Vậy, trong triết lý và niềm tin thì Phật giáo là thuyết gần nhất với sự phát triển của nhân loại.

    Giáo sư nhà văn Quyển Di kết luận: Định mệnh của con người là thế, vậy định mệnh của cá nhân thì sao? Phải chăng mỗi chúng ta đều có một định mệnh riêng? Như vậy, chúng ta có thể nói là: Định mệnh nằm ở trong tay của chúng ta như GS Huê đã đề cập trong bài diễn văn của bà. Lại trong tuyệt tác phẩm Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du có câu: “Nhân định thắng thiên”. Vậy chúng ta phải làm gì để có thể thắng thiên định? Cuối cùng GS. Quyên Di kết thúc bài nói chuyện của ông với bài thơ Giờ Quốc Sử của Đoàn Văn Cừ, một bài thơ đã trải qua hơn 70 năm nhưng nội dung có một giá trị rất cao trong lãnh vực giáo dục và luôn được ghi nhớ.

    Trong sự ngưỡng mộ cá nhân, nhà Văn Nguyễn Quang theo sự ghi nhận của riêng tôi:

    Nhà văn Nguyễn Quang là một thức giả, hay một danh từ khác sẽ đúng về ông, ông là một học giả khảo cứu, luận dề nhân bản và chinh trị,… Tôi đã đọc nhiều áng văn của ông, như trong tác phẩm Ông Giáo Làng, Nguyễn Quang mô tả những cánh đồng lúa vàng cò bay thẳng cánh, những buổi tát đìa, đi nơm cua cá tôm,… Đấy, đời sống nơi thôn dã thư thái hình thành buổi thiếu thời của Nguyễn Quang. Rồi tác phẩm Ốc Mượn Hồn, Nguyễn Quang kể về giai đoạn xuất dương du học với khu La Tinh (Quartier Latin), xóm học Paris với ký túc xá kỷ niệm của nhiều sinh viên Đông Dương, Nhà Đông Nam Á (Maison de l’Asie du Sud-Est), mà trước đây là Nhà Đông Dương (Maison de l’Indochine), là một trong những nhà cổ nhất của Ký túc xá Quốc tế Paris, Cité International Universitaire de Paris (CIUP), Ký túc xá Quốc tế Paris, hay vẫn được sinh viên Việt mình gọi tắt là “Cité”, nằm trong quận 14, đối diện với công viên xinh đẹp Montsouris. Nguyễn Quang sang du học bên Anh, tai Đại học Cambridge. Âu châu sau đệ nhị thế chiến, phong trào existentialisme bùng phát ảnh hưởng dến sinh hoạt xã hội. Nguyễn Quang kể sinh hoạt sinh viên sống theo khuynh hướng tự do, gột bỏ nếp thủ cựu, bảo thủ. Ông là chứng nhân giai đoạn existentialisme lan tràn vào thơ văn nghệ thuật.

    Từ trái sang phải: Anh Vũ Hòa, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, TS Huy Anh

    Đọc Nguyễn Quang chút gì đó của miệt lục tỉnh có Ông Giáo Làng, rồi bung ra văn học phương tây, nhuốm nét Guy de Maupassant, William Somerset Maugham, D.H. Lawrence, Gustave Flaubert, Françoise Sagan,… Thế hệ chúng ta phần đông đi hàng hai, văn xuôi kết cấu nội dung nửa âu nửa á. Nửa theo Tự Lực Văn Đoàn và nửa phong thái theo nhóm Maugham-Maupassant, như ngày xưa tôi say mê đọc Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam thuở trung học, khi lên đại học đọc Guy de Maupassant, William Somerset Maugham, D.H. Lawrence, Mark Twain, Ernest Hemingway, Charles Dickens, Alexandre Dumas, Victor Hugo,…. Kiến thức Nguyễn Quang bao quát, nhưng điều tôi mến ông nhất là sự khiêm tốn và hòa nhã.

    Nhóm Guitar Tơ Vàng gồm 6 người, nhưng hôm nay chỉ có 3 chị đến được đó là Lâm Dung, Jennifer Lâm và Bình Chi.

    Sau cùng khi dồng hồ đã điểm 8:30 giờ tối bạn bè vẫn vui ca, trong khi bên ngoài khí trời đã thoảng se lạnh. Tháng 5 và tháng 6 là giai đoạn chuyển mùa, từ Xuân sang Hè. Mùa hè tháng 6 trở đi sẽ oi bức. Tôi nhìn sân khấu về đêm vẫn sôi động bên tô cháo bò khuya.

    Minh Thư, Khánh Văn, Kim Thoa, Amy Nitan (ái nữ của madame Thanh Vân), và những thế hệ trẻ là sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ và sự chuyển hóa của sự giao mùa.

    Chung quy hội tụ sự tăng trưởng, sự sung mãn, niềm vui, sự phấn chấn, tinh thần khám phá, nỗi hoài niệm, hơi ấm nồng nàn, sự sáng tạo và cả sự lãng mạn. Bản chất cốt lõi của mùa hè chạm đến những khao khát sâu thẳm nhất trong lòng ta về sự kết nối, những cuộc phiêu lưu và sự viên mãn trọn vẹn của buổi sinh nhật vào hè. Amy Nitan, Minh Thư, Khánh Văn, Kim Thoa qua liên khúc techno disco Self Control và You’re My Heart, You’re My Soul đã đốt sân khấu về khuya.

    Việt Hải – Khánh Lan ghi nhận

    PHẦN PHỤ DÍNH:

    1. Modern Talking – You’re My Heart, You’re My Soul Lyrics:

    [Verse 1: Thomas Anders]

    Deep in my heart there’s a fire burning hard

    Deep in my heart there’s desire for a start

    I’m dying in emotion, it’s my world in fantasy

    I’m living in my, living in my dreams

    [Chorus: Thomas Anders]

    You’re my heart, you’re my soul

    I keep it shining everywhere I go

    You’re my heart, you’re my soul

    I’ll be holding you forever, stay with me together

    You’re my heart, you’re my soul

    Yeah, a feeling that our love will grow

    You’re my heart, you’re my soul

    That’s the only thing I really know

    [Verse 2: Thomas Anders]

    Let’s close the door and believe my burning heart

    Feeling alright, come on, open up your heart

    I keep the candles burning, let your body melt in mine

    I’m living in my, living in my dreams

    [Chorus: Thomas Anders]

    You’re my heart, you’re my soul

    I keep it shining everywhere I go

    You’re my heart, you’re my soul

    I’ll be holding you forever, stay with you together

    You’re my heart, you’re my soul

    Yeah, a feeling that our love will grow

    You’re my heart, you’re my soul

    That’s the only thing I really know

    You’re my heart, you’re my soul

    Yeah, a feeling that our love will grow

    You’re my heart, you’re my soul

    That’s the only thing I really know

    You’re my heart, you’re my soul

    That’s the only thing I really know

    You’re my heart, you’re my soul

    Yeah, a feeling that our love will grow

    You’re my heart, you’re my soul

    That’s the only thing I really know

    You’re my heart, you’re my soul.

  • Kiều My,  Sinh Hoạt

    NHỮNG CÁNH HOA HAWAII GIỮA LÒNG DIAMOND BAR

    Kiều My

    Chủ nhật vừa qua, giữa thành phố Diamond Bar hiền hòa của miền Nam California, một buổi tiệc sinh nhật tập thể thật đặc biệt diễn ra, không phải trong một nhà hàng sang trọng hay một hội trường lộng lẫy, mà là một không gian được trang hoàng theo phong cách Hawaii đầy màu sắc, mang đến cảm giác như mọi người đang cùng nhau du ngoạn đến một hòn đảo nhiệt đới giữa Thái Bình Dương.

    Happy Birthday to you….

    Điều còn đọng lại trong tôi không chỉ là những vòng hoa Hawaii rực rỡ hay những giai điệu vui tươi vang lên suốt buổi tiệc, mà còn là hình ảnh đẹp của nhiều thế hệ cùng ngồi bên nhau trong sự thân tình và hòa hợp tại tư gia khang trang của chủ nhân Katherine Minh Thư và Brian.

    Ngay từ khi bước vào khuôn viên buổi tiệc, tôi đã cảm nhận được bầu không khí vui tươi và ấm áp. Những vòng hoa Lei nhiều màu sắc được đặt trên bàn tiếp đón như lời chào thân thiện của người Hawaii, hòa hợp cùng các vật trang trí mang đậm nét Polynesia.

    Những vòng hoa Lei rực rỡ trên cổ mọi người và những đóa hoa cài trên mái tóc của phái đẹp…

    Khiến không gian như bừng sáng dưới ánh nắng đầu hè California, làm tăng thêm vui tươi hào hứng cho sinh nhật của các bạn: Anh Thái Phạm, Minh Thư, Brian, Thụy Lan, Michael, Alain Đức, Ngọc Quỳnh, và đặc biệt là sinh nhật thứ 100 của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, tác giả của ca khúc nổi tiếng Nắng Chiều, và cũng là phu quân của thi sĩ Lê Nguyễn Nga.

    Những con chim sơn ca với nhạc phẩm Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn

    Và các anh trai với nhạc phẩm Ngày Hạnh Phúc của NS Lam Phương

    Chủ nhân Minh Thư và Brian của buổi tiệc xuất hiện trong tiếng vỗ tay nồng nhiệt của mọi người. Trên gương mặt là niềm hạnh phúc giản dị khi được đón nhận tình cảm của gia đình và bạn bè. Trong ánh mắt ấy, tôi nhận ra một điều rất đẹp: tuổi tác chỉ là con số, còn tình yêu thương mới là điều làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa.

    Chủ nhân Katherine Minh Thư và Brian

    Khoảng bốn mươi khách tham dự, một con số không quá đông, nhưng vừa đủ để tạo nên bầu không khí ấm cúng. Điều đặc biệt là tuổi tác của khách mời trải dài qua nhiều thế hệ từ những lứa tuổi bốn mươi, năm mươi, sáu mươi, bảy mươi, tám mươi… cho đến một bậc cao niên đã bước sang tuổi chín mươi lăm. Nếu nhìn bằng con số, khoảng cách ấy lên đến hơn nửa thế kỷ. Thế nhưng trong buổi tiệc hôm đó, mọi khoảng cách của tuổi tác dường như xóa tan.

    Với sự tham dự của những nhà văn: Nguyễn Quang, Phạm Gia Đại, Trần Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, Kiều My, Khánh Lan và phu quân Mạnh Bổng; thi sĩ Lê Nguyễn Nga với các bạn thâm giao trong Air Việt Nam gồm có: chị Liễu và phu quân, chị Vân, chị Thanh Mỹ và phu quân, chị Ngọc Hoa (Văn Bút) và Erlinda. Ban Tơ Vàng gồm có: ca nhạc sĩ Lâm Dung, chị Jennifer Lâm và anh chị Bình Chi & anh Anh….

    Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm có: Ngọc Quỳnh, Vũ Hòa, Trần Mạnh Chi, Khánh Văn, Kim Thoa, Minh Khai, Thụy Lan và Michael, Peter Thạnh…

    Những mái đầu bạc trắng ngồi bên cạnh những khuôn mặt còn đầy sức sống của tuổi trung niên.  Những tiếng cười vang lên tự nhiên và thoải mái. Không ai cảm thấy lạc lõng. Không ai cảm thấy mình thuộc về một thế hệ khác.

    Nhìn những người bạn già tóc bạc vẫn vui vẻ trò chuyện cùng những người trẻ hơn, tôi cảm nhận rõ giá trị của những buổi gặp gỡ như thế này. Cuộc sống nơi hải ngoại vốn bận rộn và nhiều lo toan. Thời gian đôi khi khiến con người xa nhau.

    Nhưng chỉ cần một dịp hội ngộ, mọi người lại tìm về với nhau bằng sự chân thành giản dị nhất. Và bài thơ mộc mạc dưới đây đã nói lên tâm tình của người bạn mang tên Kiều My:

                                                              NÀY BẠN HỠI!

    Này bạn hỡi!

    Đời đưa bạn đến với ta

    Cho nhau nụ cười hòa nhã

    Chia sẻ những lúc băn khoăn

    Ta cùng vui trong thi văn

    Cùng say sưa bên tiếng đàn

    Quanh ta đời bao thách đố

    Có bạn ta vẫn cười vang

    Tình bạn như tia nắng ấm

    Chan hòa những ngày mưa rơi

    Bên nhau hát khúc yêu đời

    Tình viễn xứ tràn niềm vui

    Ta gặp nhau nơi xứ người

    Niềm an ủi thật khôn nguôi

    Giang rộng đôi tay chào đón

    Bạn hiền hãy đến với ta

    Cùng nhau hát khúc chan hòa

    Cùng nhau hát khúc… hòa vang…

    Ánh nắng đầu hè trải nhẹ dưới bầu trời trong xanh như được gột rửa bởi những cơn gió biển từ phương xa. Khung cảnh ấy khiến lòng người cũng trở nên nhẹ nhàng hơn. Nhưng có lẽ linh hồn của buổi tiệc chính là âm nhạc.

    Mạnh Bổng với Sway with me…..When marimba rhythms start to play. Dance with me, make me sway. Like the lazy ocean hugs the shore. Hold me close, sway memore….

    Âm nhạc đã vang lên như một người bạn đồng hành thân thiết. Những ca khúc sôi động làm mọi người vỗ tay theo nhịp điệu và đôi chân đã nhún nhẩy theo hấp lực của của dòng nhạc vui tươi cuồng nhiệt. Có những lúc cả bàn tiệc cùng hòa giọng hát theo một bài hát quen thuộc. Những tiếng cười vang lên không ngớt.

    Mộng dưới hoa với NV Phạm Gia Đại….

    Rồi sau những giai điệu rộn ràng ấy lại là những bản nhạc nhẹ nhàng, sâu lắng. Âm nhạc như đưa mọi người trở về những miền ký ức khác nhau. Có người lặng lẽ ngân nga theo một ca khúc xưa. Có người mỉm cười khi nhớ lại những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ.

    Trong những khoảnh khắc ấy, quả thật âm nhạc có một sức mạnh kỳ lạ. Nó kết nối những người thuộc nhiều thế hệ. Một bài hát có thể được người chín mươi lăm tuổi yêu thích, nhưng cũng có thể làm rung động trái tim người bốn mươi. Âm nhạc xóa nhòa khoảng cách của tuổi tác và tạo nên một ngôn ngữ chung của cảm xúc.

    Con chim đầu đàn NV Việt Hải….và NV Nguyễn Quang.

    Khi chiếc bánh sinh nhật được mang ra trong tiếng hát chúc mừng của tất cả mọi người, tôi nhìn thấy những ánh mắt rạng ngời quanh bàn tiệc. Có niềm vui, có sự trân trọng và có cả lòng biết ơn dành cho những tình cảm đã được vun đắp qua nhiều năm tháng.

    Happy Birthday Anh Thái Phạm, Minh Thư, Brian, Thụy Lan, Michael, Alain Đức, Ngọc Quỳnh…

    Tôi chợt nghĩ rằng những buổi họp mặt như thế này thật quý giá. Cuộc sống nơi xứ người thường bận rộn. Ai cũng có công việc, gia đình và những trách nhiệm riêng. Thế nhưng chỉ cần một dịp đặc biệt, mọi người lại tìm đến nhau, cùng chia sẻ tiếng cười, những câu chuyện và những tình cảm chân thành. Chính những cuộc gặp gỡ ấy đã làm cho cộng đồng người Việt nơi hải ngoại thêm gắn bó.

    Buổi chiều dần trôi qua. Mặt trời từ từ ngả bóng trên bầu trời xanh của Diamond Bar. Những tia nắng cuối ngày nhẹ nhàng phủ lên khu vườn như một lớp mật vàng óng ánh. Những tia nắng cuối ngày nhuộm vàng không gian buổi tiệc. Tiếng nhạc vẫn còn vang lên đâu đó. Những câu chuyện vẫn tiếp tục được nối dài. Không ai muốn vội vã ra về. Đến khi màn đêm buông xuống, không khí thật êm dịu, xa xa dưới thung lũng kia, ánh đèn vàng lan tỏa khắp thành phố thật đẹp…thật tình…

    Khi ra về, tôi mang theo không chỉ những bức ảnh đẹp mà còn là một cảm giác bình an khó tả. Đó là niềm vui khi được gặp gỡ bạn bè, được chứng kiến những khoảnh khắc hạnh phúc và được nhắc nhớ rằng tình người luôn là món quà quý giá nhất trong cuộc sống.

    Buổi tiệc sinh nhật theo phong cách Hawaii giữa lòng Diamond Bar đã kết thúc, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại. Giữa những ngày tháng tất bật nơi đất khách, những giây phút sum vầy như thế giống như một làn gió mát từ biển khơi Hawaii thổi đến, mang theo niềm vui, sự ấm áp và những kỷ niệm đẹp sẽ còn lưu giữ mãi trong lòng mỗi người tham dự.

    Riêng tôi, tôi mang về một cảm giác ấm áp đặc biệt.

    Giữa thành phố Diamond Bar của miền Nam California, trong một buổi chiều mang hương sắc Hawaii, tôi đã được chứng kiến một điều thật đẹp: nhiều thế hệ cùng ngồi lại bên nhau, cùng thưởng thức những món ăn ngon, cùng hát, cùng cười và cùng chia sẻ những khoảnh khắc quý giá của tình thân, tình bạn. “95 đến 40 tuổi”. Nó làm mình liên tưởng đến một vòng hoa Hawaii gồm nhiều màu sắc khác nhau nhưng kết lại thành một tổng thể hài hòa.

    Và có lẽ đó chính là món quà sinh nhật ý nghĩa nhất — không phải những món quà được gói trong giấy màu rực rỡ, mà là sự hiện diện của những người thân thương, những người đã góp phần làm cho cuộc đời nhau trở nên phong phú và đáng nhớ hơn. Như những cánh hoa Hawaii nhiều màu sắc kết thành một vòng hoa đẹp, mỗi người tham dự hôm ấy đã góp một sắc màu riêng để tạo nên một buổi tiệc sinh nhật tập thể khó quên giữa lòng Diamond Bar.

    Mời vào xem thêm hình của anh Anh và Chị Bình Chi chụp ở link dưới đây:

    https://drive.google.com/drive/folders/1z3O4_ZosDl8TQ4WJus1dDAlA1lc0o7ds?usp=sharing

    Kiều My, California 2026

  • Âm nhạc,  Vương Trùng Dương

    Tam Ca AVT: Ban Nhạc Trào Phúng – Một Thời Để Nhớ

    Vương Trùng Dương

    Giữa thập niên 1950’, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH thành Phòng Tác Động Tinh Thần, sau đó với danh xưng Nha Chiến Tranh Tâm lý, năm 1965 trở thành Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.

    Gần hai thập niên ở miền Nam VN, khán thính giả không xa lạ gì với ban tam ca trào phúng AVT.

    Năm 1958, trong danh sách công tác của đơn vị Tâm Lý Chiến có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ: Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bày những bản nhạc trào phúng, vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT.

    Anh Linh có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế giáo sư âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”.

    Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ. “Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ A và V mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì tôi tình cờ đi tới. Khi hỏi thì được biết họ viết chữ Anh Vũ. Tôi nói ngay là ban tam ca không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T (chữ đầu của tên Tuấn Đăng) và bỏ 2 chữ NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT”.

    Trong thời gian AVT hát nhạc ngọai quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho khán giả ngọai quốc dễ hiểu! Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả cao vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục cổ động! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

    Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát. Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.

    Qua đầu thập niên 1960’, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bày, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đoàn Văn Nghệ Việt Nam) đặt tên làTam Nghiệp, mô tả 3 chàng thợ nhuộm, thợ sửa khóa và thầy bói để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Tống Nhất. Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962.

    Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế. Hᴏànɡ Hải tên thật là Lưᴜ Dᴜyên, anh ɾᴜột ᴄủa ᴄhᴜẩn Tướnɡ Lưᴜ Kim Cươnɡ. Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc. Với bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông, lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động.

    Khán giả hôm đó, phần lớn là anh em chiến hữu, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp. Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bày những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv…

    Nhạc sĩ gia nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1957, ban đầu phục vụ trong ban biên tập đài phát thanh Quân đội, sau đó được biệt phái vào ngành kịch nghệ sân khấu thuộc Tiểu Đoàn 1 Tâm Lý Chiến. Sau khi giải ngũ, ông cộng tác với đài phát thanh Mẹ Việt Nam.

    Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao. Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của Duy Nhượng là bài Ai Lên Xe Bus…

    Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giá tại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hôi cùng các đài phát thanh và truyền hình. Có thể nói, AVT đã trở thành một “hiện tượng” trong sinh họat ca nhạc tại miền Nam Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó.

    Nhạc sĩ Lữ Liên tiếp sáng tác cho ban AVT trình bày như Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv… Ngoài những lời lẽ châm biếm, ví von trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo…

    Trong khoảng thời gian từ 60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai…

    Vào năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó.

    Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT. Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng. Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi. Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT. Ngoài ra, còn có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là loại bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.

    Thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu, AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv…

    Năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu. Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv… dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần. Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại, Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv…

    Xen kẽ mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán thích thú thưởng thức. Nhất là trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng tỳ bà, nhị huyền và đàn đoản như hai nhạc khúc bất tử Tây phương của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Lần trình diễn đó của AVT đã gây tiếng vang Paris khi “đem chuông đi đấm xứ người”.

    Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang trình diễn ở Thụy Sĩ và Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền nam. Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, Cộng Hòa Trung Phi trong thời kỳ lãnh đạo của Tổng Thống Bokassa.

    Năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa…  Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công tốt đẹp.

    Bài hát Huynh Đệ Chi Binh của nhạc sĩ Anh Bằng vào giữa thập niên 1960’ hầu như rất quen thuộc với người lính VNCH:

    “Huynh đệ chi binh là gì đó anh Hai?

    Huynh đệ chi binh là là huynh đệ chi binh… a la la

    Huynh đệ chi binh là mình cùng chung đời lính

    Thương nhau khác chi nhân tình

    Từ người deuxième cùi bắp

    Và rồi đi lên thượng cấp đều là huynh đệ chi binh…

    … Lúc sống có nhau là huynh đệ chi binh

    Lúc chết có nhau là huynh đệ chi binh

    Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh… a la la la…

    Sướng khổ có nhau là huynh đệ chi binh

    … Giúp đỡ lẫn nhau là huynh đệ chi binh

    Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh…

    … Từ người deuxième cà cuống

    Và rồi đi lên Ðại Tướng đều là huynh đệ chi binh”

    Hình ảnh Huynh Đệ Chi Binh nói lên tình chiến hữu rất đẹp vì vậy có nhiều bài viết về Huynh Đệ Chi Binh, nhà văn Tô Văn Cấp ấn hành quyển Huynh Đệ Chi Binh Thủy Quân Lục Chiến…

    Trong bài viết Huynh Đệ Chi Binh của Trần Xuân Thời: “Tình huynh đệ chi binh, tình đồng hương, tri âm hay tri kỷ là cung bậc tiết tấu cảm thông toàn vẹn nhất của nhân tình… Biết bao chiến sĩ QLVNCH đã sống hiên ngang và hy sinh cho tổ quốc một cách oanh liệt!  “Sống bên tình, hy sinh bên bạn”. Chết vì tổ quốc, chết vinh quang “Mourir pour la patrie c’est une gloire”…  

    *

    Sau ngày Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, ban AVT tan ɾã, hai thành νiên ở lại νà ᴄhịᴜ số ρhận bi thảm. Vân Sơn bị công an khu vực rượt nên sợ quá phải nhảy vội xuống sông Thị Nghè. Vân Sơn chết vì đầu đập vào một cây gỗ, ɾa đi tɾᴏnɡ tứᴄ tưởi! Tᴜấn Đănɡ qᴜa đời năm 2016 tɾᴏnɡ nɡhèᴏ khó. Nhạᴄ sĩ Lữ Liên may mắn cùng vợ con được tàu bốc ra Phú Quốc rồi sau đó đến tỵ nạn tại trại Pendleton, đảo Guam. Tới tháng 12 năm 1975, sống ở Quận Cam, California. Sang đầu năm 1976, Hoàng Thi Thơ liên lạc được với Lữ Liên, rồi rủ ông thành lập lại ban tam ca trào phúng AVT để đi biểu diễn.

    Ban AVT tại hải nɡᴏại, ɡồm Lữ Liên, Vũ Hᴜyến νà Nɡọᴄ Bíᴄh. Năm 1977, nɡhệ sĩ Tɾườnɡ Dᴜy thay thế Nɡọᴄ Bíᴄh, νới bộ 3 này, họ đi lưᴜ diễn Châᴜ Âᴜ tɾᴏnɡ 19 nɡày. Năm 1988, AVT được tăng cường thêm nữ nghệ sĩ Thúy Liểu đã sang Úc trình diễn tại Sydney trong một chương trình kịch vui kéo dài trong 10 ngày.

    Năm 1987, nhạᴄ sĩ Anh Bằnɡ đã thựᴄ hiện ᴄᴜốn bănɡ AVT Hải Nɡᴏại đầᴜ tiên. Năm 1992, nɡhệ sĩ kịᴄh Hᴏànɡ Lᴏnɡ thay thế Vũ Hᴜyến. Như νậy 3 nɡhệ sĩ ᴄᴜối ᴄùnɡ ᴄủa ban AVT là Lữ Liên, Tɾườnɡ Dᴜy νà Hᴏànɡ Lᴏnɡ. Năm 1992, AVT có một sự thay đổi với Hoàng Long vào thay thế cho nhạc sĩ Vũ Huyến, đã cùng nhau thực hiện một băng cassette, thu thanh tại phòng thu Tùng Giang. Năm 1994, trung tâm Giáng Ngọc sản xuất cuốn video của AVT tại hải ngọai. Dựa theo một áng thơ tuyệt tác của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhạc sĩ Lữ Liên trình diễn chung với 2 nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương để trình bầy nhạc phẩm Đánh Đu, với phần nhạc do Lữ Liên tự đảm trách, nhạc sĩ Ngọc Bích hòa âm và sử dụng Keyboard.

    Từ năm 1989, ông bắt đầu viết lời Việt một số ca khúc nhạc ngoại quốc để cho con mình biểu diễn. Một số bài vẫn được yêu thích đến tận nay như Dĩ Vãng Nhạt Nhòa, Lạc Mất Mùa Xuân, Niềm Đau Chôn Giấu, Tan Tác… Ông qua đời tháng 7 năm 2012 tại bệnh viện Garden Grove, đại thọ 92 tuổi. Thánɡ 9 năm 2019, nɡhệ sĩ Tɾườnɡ Dᴜy qᴜa đời ở tᴜổi 71. Thánɡ 11 năm 2020, nɡhệ sĩ Hᴏànɡ Lᴏnɡ đã qᴜa đời ở tᴜổi 84. Còn Anh Linh, người sáng lập ra AVT, từ khi qua Mỹ theo diện HO đến nay, ca đoàn trưởng của một giáo xứ ở San Jose. Vợ chồng anh còn là chủ của một tiệm phở…

    Ban tam ca AVT từ năm 1958 ở Sài Gòn đến năm 2010 ở Mỹ, coi  như ban tam ca lâu nhất. Nay tuy không còn nhưng những nhạc sĩ góp mặt trong AVT đã quen thuộc với giới thưởng ngoạn.

    Little Saigon, May 2026

    Vương Trùng Dương

  • Âm nhạc,  Tha Nhân,  Viet-Hải

    THƠ PHỔ NHẠC BỞI THI NHẠC SĨ THA NHÂN

    Thơ Việt Hải Khúc Hát Thuyền Nhân 2 versions

    Version 1:

    https://www.youtube.com/watch?v=iIqVeMl9ncA : bản Karaoke version 1

    Version 2

    https://www.youtube.com/watch?v=Wc5X1Agfh5E : bản karaoke Version 2.

    Thơ NS Dương Hồng Anh:

    1/. Ca khúc Dĩ Vãng: 

    https://www.youtube.com/watch?v=F-Q2nL7wBpA : Dĩ Vãng

    https://www.youtube.com/watch?v=j1U7AFM6mI4 : ck Dĩ Vãng bản Karaoke

    2/. Mừng XUÂN

    PQNpuMOXtDjrhNo6OGY7EX_QXUp3Bv_&index=16.

  • Hồng Tước

    KHÓC BẠN CA SI HỒNG TƯỚC

    Bài viết của Nhật Báo Người Việt

    Ca sĩ Hồng Tước (tên thật là Nguyễn Thị Hồng Tước) là em ca sĩ Kim Tước, vừa qua đời hôm 5 Tháng Tư, 2026 hưởng thọ 80 tuổi. Trước năm 1975, bà tham gia các ban nhạc trên làn sóng điện đài phát thanh và truyền hình như ban Tiếng Tơ Đồng, Tứ Ca Nhật Trường, bao gồm Như Thủy, Phương Mai, Hồng Tước, và Nhật Trường, trình diễn tại phòng trà Ritz của ca sĩ Jo Marcel. Tại Hoa Kỳ, cựu nữ sinh trung học Trưng Vương này tham gia nhiều sinh hoạt văn nghệ trong vùng Little Saigon cũng như các hoạt động hội đoàn và xã hội khác.

    Ca sĩ Hồng Tước. (Hình: Minh Phú cung cấp)

    Ca sĩ Hồng Tước (thứ hai từ phải) cùng gia đình con trai. (Hình: Gia đình cung cấp)

    Mẹ kính yêu,

    Mẹ đã ra đi được hai tuần rồi và con nhớ mẹ vô cùng. Mẹ là người mẹ tuyệt vời nhất mà bất cứ người con trai nào cũng có thể mong ước. Ba và mẹ đã liều mình, đánh đổi tất cả để đưa gia đình đến Mỹ để có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Khi chúng con còn nhỏ, ba và mẹ đã làm việc rất vất vả để kiếm tiền mua nhà, và để Trâm với con có thể tham gia các hoạt động ngoại khóa như học karate, thể thao, học piano và đi du lịch. Dù tan sở về mẹ đã mệt, mẹ vẫn cố gắng nấu cho chúng con một bữa ăn tươi ngon mỗi ngày. Mẹ là một đầu bếp tuyệt vời. Con mê món ăn mẹ nấu, đặc biệt là thịt kho trứng và đậu hũ nhồi thịt. Chúng con đã cố gắng báo đáp mẹ bằng cách rửa chén và phụ giúp dọn dẹp nhà cửa để cuộc sống của mẹ đỡ vất vả hơn, vì mẹ đã làm cho cuộc sống của chúng con dễ dàng hơn. Mẹ đã nuôi dưỡng, yêu thương và đối xử tử tế với chúng con. Mẹ chưa bao giờ la mắng hay đối xử tệ với chúng con. Con cố gắng noi gương mẹ với các con của mình.

    Mẹ là sức mạnh và là trụ cột của gia đình trong suốt bao năm qua. Tất cả những gì con có đều là nhờ mẹ, Mẹ ơi, ở mọi giai đoạn trong đời, mẹ đều hỗ trợ con vô điều kiện. Mẹ khuyến khích con đạt điểm cao ở trường. Con đã cố gắng hết sức để mẹ tự hào và báo đáp mẹ. Lần đầu tiên mẹ cho con lái xe của mẹ từ trường về nhà mà con chưa có bằng lái xe. Ngay cả lần con gây tai nạn xe của mẹ, mẹ cũng không bao giờ la mắng con. Mẹ giúp con trả tiền học đại học và mua căn nhà đầu tiên của con. Mẹ luôn tin tưởng con và con cố gắng hết sức mỗi ngày để sống tốt cho xứng đáng với mẹ. Mẹ luôn để con và Trâm tự chọn con đường riêng trong cuộc sống và không bao giờ ép chúng con làm những điều chúng con không muốn. Mẹ chưa bao giờ phán xét các quyết định của chúng con. Vì điều đó, con mãi mãi biết ơn.

    Giờ đây con mới bắt đầu nhận ra mẹ được bạn bè, bạn học, và cộng đồng người Việt yêu thương nhiều đến mức nào. Rất nhiều người nói với con rằng mẹ là một người đặc biệt. Họ rất đau lòng trước sự mất mát này. Một số người nói rằng họ không thể ngủ được trong nhiều ngày. Điều này cho thấy mẹ có ảnh hưởng sâu sắc đến những người khác. Tất cả chúng ta sẽ nhớ nụ cười, tiếng cười, và sự ấm áp của mẹ. Mẹ đã mang lại niềm vui cho cuộc sống của chúng con. Thật buồn vì chúng con không được trải qua điều đó lâu hơn nữa. Nhưng chúng con biết ơn khoảng thời gian chúng ta ở bên nhau và sẽ trân trọng tất cả những kỷ niệm này.

    Con yêu mẹ. Mẹ đã hoàn thành công việc của mẹ trên trái đất này. Hãy an nghỉ, mẹ nhé. Hãy biết rằng chúng con sẽ không bao giờ quên mẹ. Con sẽ sớm gặp lại ba và mẹ.

    Với tình yêu và lòng biết ơn,

    Trần Trí Tịnh

    Dear Mẹ,

    What an incredible woman you were.

    In my heart you will still be that amazing woman that touched everyone’s life, so full of joy and adventure. You made every moment you were a part of brighter. The sacrifices you made for our family were immeasurable. Because of you I live an great life. Every decision and every action I make I will think you and Bố….I hope to always make you happy and especially proud.

    I miss you every day.

    Love,

    Trâm

    Ca sĩ Hồng Tước (giữa) và gia đình con gái. (Hình: Gia đình cung cấp)

    My grandma,

    Bà, was someone who did so much for her family and friends, most of which I likely don’t even know about, but still want to thank her for. In addition to being my grandma, I knew Bà as an artist and someone who always wanted to see me happy. When I was young and we visited her in Westminster, she would lay out her sketchbooks and art supplies where I would spend almost all my time there using them to draw. She had many paintings hung on the walls, two of which I remember were of me and Levi in “áo dài.” Levi and I also loved to mess around on her digital piano, banging the keys and making whatever bird-saxophone-snare drum sound came out of it. We made such a racket, but she never got mad at us, even when we also kept pushing the buttons on her rice dispenser without knowing they were dispensing unnecessary piles of rice down below. As long as we were happy, Bà didn’t mind giving us her phone to play games or buying me my hundredth penguin plushie. She would do anything in a heartbeat to see her family thrive, and that was one of the things I admired most about her.

    I first got to know about how Bà and the rest of dad’s family came to America when she came to speak for my second grade class for our country projects. She spoke about their trip across the ocean and being stolen from by pirates, which is actually really crazy to imagine since that’s the thing I would only hear in fictional stories up until then. I thank her for making that trip with the family so that dad and eventually, I, could live a peaceful and successful life in America. The hardship and effort she put into establishing the Tran Family won’t be forgotten and will continue to inspire me and everyone else she had made a positive impact on. We had fun with Bà most often out of any other of our family members. She was a fun and caring presence to have pop her head into our house every now and then, usually carrying bowls of home cooked food. We pray that Bà rests in peace in the hands of God next to Ông, and that she may live through us as we try to live the happy lives she would want us to have.

    We love you forever, Bà, thank you.

    Maiya

    ——————————NHỮNG DÒNG THƯ THƯƠNG TIẾC TỪ BẠN BÈ——————————–

    Hồng Tước thân yêu,

    80 năm, chị đến với gia đình, bạn bè, những người thân yêu với nụ cười rạng rỡ, đôi mắt tươi vui, trái tim nhân hậu, và mang tiếng hát đến cho cuộc đời thêm yêu thương và tươi đẹp. Hôm nay, chắc chị cũng đang hát trên Thiên Quốc để ca tụng Đấng Tối Cao mà chị tôn thờ và yêu mến, và cầu nguyện cho tất cả chúng tôi.

    Sẽ nhớ lắm ánh mắt, nụ cười thân thương của chị. Tạm biệt chị, và hẹn một ngày chúng ta sẽ gặp lại nhau ở miền vĩnh cửu, nơi không còn khổ đau, nơi hạnh phúc viên mãn với những con người sống yêu thương và chân thành như chị.

    Hoàng Vĩnh—————————————–

    Từ trái sang phài: Hồng Tước, Minh Phú, Khánh Lan, GS Phạm Thị Huê (hình chụp hôm mồng một Tết Bính Ngọ 2026 tại Hội Trường Tòa Báo Người Việt-hình Khánh Lan cung cấp)

    Quá bất ngờ, khi được gia đình báo tin Hồng Tước ra đi vĩnh viễn.

    Làm sao có thể tin được, 7 giờ sáng Chủ Nhật, 5 Tháng Tư, mở Facebook thấy Hồng Tước cho coi hình dự lễ chiều Thứ Bảy, 4 Tháng Tư, Easter với gia đình trưởng nam (con trai, con dâu, và hai cháu Nội) tại nhà thờ Tustin. Rồi tới hình Hồng Tước chụp với gia đình O Sen Ngọc Mai, chương trình tối Thứ Sáu, 3 Tháng Tư, đi coi với cô em Hà.

    Và vì vậy tôi không thể nào quên và tin bữa ăn Hồng Tước bất ngờ text, hẹn, đãi ăn tại BCD ToFu 11 sáng Thứ Năm, 2 Tháng Tư, lại là ngày cuối cùng giã biệt bạn bè Trưng Vương thân thương, những người may mắn là vợ chồng Dung-Cường, Mai-Hải, và Minh Phú. Cuối bữa, Hồng Tước nói, muốn mời các bạn thôi, không có mục đặc biệt gì hết. Và bữa ăn này làm chúng tôi có cảm tưởng xui khiến như lời bạn giã từ.

    Nhớ bạn quá, cộng với 68 năm bao nhiêu kỷ niệm tình bạn, làm sao có thể quên Hồng Tước, người bạn Trưng Vương 58-65, đa tài, rất đáng yêu, đáng quý này được.

    Sẽ nhớ bạn mãi!

    Minh Phú, Trưng Vương 58-65———————————————

    Ca sĩ Hồng Tước (thứ hai từ phải) và nhóm Tiếng Hát Nửa Vời. (Hình: Minh Ngân cung cấp)

    Bàng hoàng, đau đớn, thổn thức. Chị đă ra đi vội vă không một lời từ biệt. Em sẽ chẳng còn tìm được những giờ phút, những ngày tháng – thật đều đặn – chị em mình bày trò ra chơi, nghêu ngao từ sáng đến tối, chăm chút cho nhau từng ly, từng tí. Em đang nghẹn ngào, chơi vơi như thụt sâu xuống đáy giếng vì em mất chị rồi. Nếu có kiếp sau, em vẫn xin làm đứa em út đam mê đàn ca hát xướng, củng một sở thích và hợp gu với chị. Chim Hồng đă bay xa, tiếng hót đă tắt thật rồi!

    Minh Ngân – Nhóm Tình Ca———————————

    VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC CA SI HỒNG TƯỚC-CỰU TRƯỞNG NHÓM ÂM NHẠC CỦA LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIA (1915-1917)

    Nói đến nghệ sĩ Hồng Tước là nói đến sự đáng yêu và nụ cười xinh xắn, tươi vui luôn nở trên môi. Bà là một nghệ sĩ đa tài và đa dạng trong các phạm trù văn, thơ, nhạc, họa. Trong quá khứ, nghệ sĩ Hồng Tước đã tham gia giúp tiết mục văn nghệ trong các chương trình văn học, được thực hiện tại đại học Cal State Long Beach qua các chương trình: Tự Lực Văn Đoàn, thi sĩ Cung Trầm Tưởng, nhạc sĩ Trần Quang Hải, v.v…do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức…

    Nghệ sĩ Hồng Tước đã đến và ra đi, bỏ lại sau lưng gia đình và bè bạn. Phải chăng những người đa tài thưởng ra đi trong thầm lặng, và để lại trong nhân gian bao nuối tiếc. Mà trong ấy, những kỷ niệm với nghệ sĩ Hồng Tước như còn lắng đọng mãi trong tâm tư  của Việt Hải, Khánh Lan và toàn thể các anh chị em trong Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Xin mến chúc nghệ sĩ Maria Hồng Tước an giấc ngàn thu bên Thiên Chúa toàn năng trên Thiên Đàng.

    Khánh Lan và Việt Hải-Liên Nhóm NVNT & TTG————————————-

    Hồng Tước thương yêu,

    Tiếng Hà khóc nức nở qua điện thoại: Chị Lan Nhi ơi, chị Hồng Tước em vừa ra đi rồi. Em đau khổ quá…

    Tin buồn đến quá bất ngờ, khiến chị chỉ biết lặng im. Biết nói gì với Hà lúc này! Trong óc chị bỗng lóe lên:

    Lênh đênh theo sóng, thuyền ra khơi

    Một cánh chim đơn lạc cuối trời

    Em đi, không kịp giơ tay vẫy

    Bỏ lại trần gian, bỏ kiếp người.

    Tiễn em về với Chúa Trời

    Từ nay vắng bóng, mỗi người mỗi nơi

    Em lặng lẽ bỏ cõi đời

    Bỏ đàn, vẽ, bỏ giọng cười, tiếng ca.

    Mùa Phục Sinh, nắng chan hòa

    Bỗng dưng một cánh chim sa cuối ngàn

    Em có nghe tiếng khóc than

    Gia đình, bằng hữu…lệ tràn xót, đau.

    Đêm đêm trong lời nguyện cầu

    Dành riêng em, tưởng nhớ nhau mãi hoài

    Qua Mùa Thương Khó, rồi đây

    Mùa Phục Sinh đến, là ngày giỗ em.

    Những ngày tháng hai chị em mình lang thang, nào đi họp vui với nhóm thơ văn của Việt Hải, nào đi nghe nhạc ở báo Người Việt khi có Kim Tước và Mai Hương hát. Đến báo Người Việt thế nào cũng gặp Minh Phú, cháu của chị, và cũng là bạn thân của em, một thời Trưng Vương.

    Hai chị em mình đã từng có những lúc ngồi hàng giờ tâm sự đủ chuyện, từ tình cảm đến văn thơ, âm nhạc.

    Bây giờ, em đi rồi, chị chỉ biết cầu nguyện, xin Chúa rất nhân từ và Mẹ Maria, là quan thầy của em, đón em về hưởng phúc bình an trên Thiên Đàng.

    Chị Hồng Vũ Lan Nhi———————————————–

    Ca sĩ Hồng Tước (bìa phải) cùng nhóm Hương Xưa và Chu Văn An Lê Tuấn (bìa trái). (Hình: Mai Phương cung cấp)

    Xin từ biệt chị Hồng Tước, một người chị thân yêu mà Hoàng Ánh có hân hạnh học chung cùng một mái trường Trưng Vương.

    Sự lạc quan của chị về đời sống đã trải dài qua bao nhiêu năm tháng, dù thăng trầm, chị vẫn luôn mang tiếng hát, nụ cười, tình cảm chân thành đến với mọi người chung quanh.

    Ngủ yên chị Hồng Tước,

    Huỳnh Hoàng Ánh, hội trưởng Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Nam California———————–

    Hồng Tước là người bạn gắn bó với KL khá lâu , từ lúc MP ,VD, ND,HT, KL đi bộ cuối tuần tại Mile Square Regional Park hoặc ra biển.

    Được ít lâu thì VD có cháu phải coi, sau đó ND có bạn đi bộ khác. Thế là HT và KL mất hứng không đi bộ nữa.

    Nhưng HT thích ca hát, còn KL thích nghe nhạc. Mỗi khi bạn hàt ở Viện Việt Học là không thiếu KL.

    Rồi bao lần đi du thuyền với nhau, đi xem hoa ở các công viên nổi tiếng, đi xem rừng cây sồi với các cây cổ thụ cả chục người dang tay ôm không hết. Con gái KL mời cô Hồng đi chơi với chúng ở Palmspring, con trai KL mời cô Hồng đi picnic.

    Ôi bao kỷ niệm với Hồng, nhớ Hồng quá Hồng ơi

    Kim Lan, Trưng Vương 58-65————————————-

    Vô cùng hụt hẫng.

    Biết bao lâu sinh hoạt và ca hát với nhau mà giờ chị đột ngột ra đi, để lại những hụt hẫng, những thương tiếc vô vàn, chị Hồng Tước ơi!

    Ngọc Hà – Lê Văn Khoa——————————-

    Hồng Tước (bỉa trái trên xe) trong Diễn Hành Tết 2017 ở Westminster. (Hình: Dân Huỳnh)

    Tiếng Xưa, cái tên nghe như một khúc nhạc cũ, nhẹ nhàng mà sâu lắng, như chính tình bạn của sáu người phụ nữ đã đi cùng nhau qua bao năm tháng. Chị Thu Vân, chị Hồng Tước, Vương Lan, Ái Phương, Thu Vàng, và Mỵ Hoa – sáu giọng ca, sáu cá tính, nhưng hòa vào nhau thành một bản hợp âm tròn đầy, ấm áp.

    Những buổi chiều tụ họp tại nhà anh Khanh và Hải Đường, tiếng cười xen lẫn tiếng nhạc, từng bài hát vang lên như nối lại ký ức của một thời tuổi trẻ. Những sân khấu thính phòng tại hội trường báo Người Việt không chỉ là nơi biểu diễn, mà là nơi họ cùng nhau sống trọn vẹn với đam mê âm nhạc,

    Họ cứ nghĩ rằng, hành trình ấy sẽ còn kéo dài mãi. Ngày lễ Easter hôm qua như một nốt lặng đau lòng. Sự ra đi của chị Hồng Tước – người chị hiền hòa, vui tính và đa tài – đã để lại một khoảng trống không gì bù đắp được.

    Có lẽ từ nay, mỗi lần cất tiếng hát, sẽ luôn cảm nhận một khoảng lặng…Một khoảng lặng mang tên Hồng Tước.

    Vương Lan—————————————

    Chủ Nhật, 5 Tháng Tư, HNTâm gọi, “Hồng Tước chết rồi.” “No! Tâm dỡn hả?” Tôi không tin nổi tai mình nghe thấy điều này là sự thật! Mới trưa hôm qua, Tâm và tôi đã hẹn Hồng Tước sẽ đón HT đi thăm TMHà rồi đi ăn trưa với nhau. HT rất vui vẻ như bình thường. Sao lại đi nhanh thế vậy!

    Hơn 60 năm học cùng từ đệ thất Trưng Vương, qua Đại Học Văn Khoa ban Anh Văn, rồi sang Mỹ cùng nhau sinh hoạt cộng đồng, Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Nam California, Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Điều Ngự (Sakya), chúng mình vẫn gặp nhau thường xuyên, biết bao nhiêu kỷ niệm kể sao cho hết!

    Hồng luôn vô tư vui sống một cuộc đời tốt đẹp bên người con trai hiếu thảo. Hồng đã luôn vui vẻ, tử tế với mọi người. Hồng sống không giận hờn chỉ có niềm vui cho mình mà cho người chung quanh. Giọng hát ngọt ngào của Hồng không thể thiếu trong các buổi sinh hoạt của Trưng Vương. Hồng không chỉ là một nhạc sĩ và ca sĩ mà còn là một người họa sĩ tài ba với nhiều họa phẩm thể hiện tình yêu thiên nhiên chan chứa của Hồng. Có lẽ thiên nhiên đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của Hồng.

    Phải chăng cũng chính vậy mà Hồng đã có được cho mình giấc ngủ thật bình yên.

    Tiễn đưa Hồng tiếp tục hành trình trong tiếng nhạc êm dịu thánh thót của giòng sông Danube, của tiếng chim ca hát cùng Hồng trong những cánh đồng lúa xanh mênh mông, hay tiếng rì rào của những cánh hoa muôn màu đang chờ đón bạn.

    Ngủ ngon nhé Hồng Tước yêu quý!

    Phạm Vân Bằng, Trưng Vương 58-65———————————–

    Hồng Tước (thứ hai từ phải) cùng nhóm Trưng Vương chuẩn bị thức ăn cho người vô gia cư. (Hình: Minh Phú cung cấp)

    Tôi là bạn cùng học Trưng Vương của Hồng Tước đã hơn 60 năm. Qua Mỹ cùng ở Orange County nên được nhiều dịp gặp nhau… đi ăn, du lịch chung rất vui… Ông xã của Hồng Tước lại là bạn rất thân từ nhỏ của ông xã tôi!

    Hồng Tước nổi hẳn lên vì hát hay và xinh đẹp dễ thương. Hồng Tước bị mệt tim ra đi nhanh quá làm các bạn thương tiếc ngỡ ngàng.

    Một tuần trước khi mất, nhóm bạn thân may mắn được đi ăn với Hồng Tước hai bữa rất vui không ngờ là bữa ăn cuối … cầu chúc Hồng Tước mãi an nghỉ bên đất Chúa.

    Vũ Dung————————————–

    Gởi bác Hồng yêu mến,

    Mới Thứ Sáu, 3 Tháng Tư, hai đứa mình đi nghe nhạc Thúy Nga Paris tổ chức chương trình O Sen Ngọc Mai hát, tui đâu có ngờ đó lại là ngày hai chị em đi chơi và cũng là lần cuối cùng mình gặp nhau. Bác Hồng ra đi sau hai ngày đó, sét đánh ngang tai tui và gia đình không ai tin đó là sự thật, nhưng sự thật vẫn là sự thật, tui như người mất hồn, kéo dài đến mấy ngày, do những cuộc gọi của gia đình ở xa, bạn bè của chị hỏi thăm rất là nhiều nên sự đau đớn cứ kéo dài mãi. Bồ ra đi nay đã được hai tuần nhưng trong tui vẫn thương và nhớ bồ vô cùng bác Hồng ơi. Bác Hồng ơi, từ giờ trở đi ai là người gọi hay text “Mày làm gì đó, lát nữa tao xuống đi ăn cái gì nha.” Nhớ quá, nhớ người, nhớ giọng, nhớ điệu nhún nhảy, nhớ nhiều lắm lắm. Thôi bác Hồng yên nghỉ, mong bác Hồng sớm được hưởng nhan thánh Chúa.

    Cô em ruột, chỉ cách nhau 1 tuổi,

    Love,

    HaTrietBo——————————————-

    Tôi không nghĩ là chị Hồng Tước sẽ nhận lời đóng vai BÀ TÁO với tôi, Nguyễn Xuân Nghĩa, và Vũ Quốc Phong trong chương trình TẾT Chu Văn An vào khoảng hơn 10 năm trước. Đó là lần duy nhất tôi được đứng chung sân khấu với chị.

    Lê Tuấn, Chu Văn An 64——————————–

    Từ trái, Hồng Tước, Philippe Cường, và Minh Ngân. (Hình: Philippe Cường cung cấp)

    Hồng Tước đến đây với một tâm hồn nhân hậu, một nụ cười hiền hòa, mang cầm kỳ thi họa giúp đời, giúp người, không bon chen, không vụ lợi. Rồi 80 năm sau trong giấc ngủ say Hồng Tước đã quay về nơi chốn cũ như một Thiên Thần. Xin ca tụng một kiếp người lý tưởng.

    Bùi Đức Uyên (người bạn trong chương trình Tiếng Việt Trong Sáng – Vietpho TV)——————

    Hồng Tước ơi! Bên nhau mười mấy năm chị nhỉ? Hương Xưa, chị chị em em, áo xanh áo đỏ, bài cũ bài mới, nốt cao nốt thấp….Hương Xưa đã là một quãng “thanh xuân tìm lại” của bốn chị em chúng mình. Giờ chị đã non đào thênh thang rồi. Chúng em nhớ một câu chị nói “chúng  tớ thì già nhưng tâm hồn vẫn trẻ.”

    Mai Phương, Vương Lan, Khiêm Vũ——————————————

    Tôi đã lặng người trong suốt 48 tiếng khi được tin chị Hồng Tước đã vĩnh viễn ra đi. Với riêng tôi, chị như là một người chị trong gia đình. Tôi cũng có một người chị bằng tuổi với chị và cũng đã ra đi vì bệnh tim khi mới vừa 37 tuổi trong một giấc ngủ miên viễn không bao giờ thức giấc.

    Suốt hai ngày, tôi đã nghe lại những nhạc phẩm hát chung với chị Hồng Tước trong những năm tháng vừa qua đã làm lòng tôi sống lại những tháng ngày còn dưới mái gia đình. Nhóm Tiếng Hát Nửa Vời đã cho tôi một cuộc sống như một gia đình mà tôi đã thiếu vắng trong thời niên thiếu. Chị Hồng Tước như là chị cả, như là chị kế, và vợ chồng cô em MN cũng như TH, TS, HV, NH, TTy như những người em trong gia đình. Sự ra đi của chị Hồng Tước để lại trong lòng những người em của chị những kỷ niệm thật êm đềm và những nỗi buồn sâu lắng khó phai nhạt theo thời gian.

    Thực ra, tôi cũng chỉ là một thành viên mới trong nhóm Tiếng Hát Nửa Vời nhưng với những tình cảm mà chị Hồng Tước và cả nhóm đã dành cho một người em/anh như tôi là vô cùng to lớn không khác gì những người chị của tôi đã lo cho tôi khi còn dưới mái ấm gia đình. Hôm nay, chị Hồng Tước đã ra đi, chị không còn đau đớn do những cơn đau chợt đến, chị đang ở trên cao và nhìn xuống những đứa em tinh thần đang cầu nguyện cho chị để chị sớm được trở về cõi an lạc và chị đã thanh thản ra đi.

    Philippe Dương, nhóm Tiếng Hát Nửa Vời——————————-

    Chị Hồng Tước ơi,

    Em được tin buồn về sự ra đi của chị khi đang lái xe trên đường đưa con gái về nội trú trường đại học. Đứa con gái mới được ngồi ăn trưa cùng bác Hồng Tước và mẹ chỉ vài tuần trước thôi, vậy mà nay chị đã sớm chia tay cuộc đời này – cuộc đời mà em biết chị đã rất yêu sống, vẫn còn yêu cho đến ngày cuối cùng.

    Chị là mẫu người lạc quan, yêu đời, biết tạo niềm vui cho mình để vượt qua nỗi buồn, vượt qua mất mát. Thế mà…

    Chị và em có quá nhiều kỷ niệm thân tình từ ngày em mới đặt bước chân bỡ ngỡ đến vùng đất Nam California này. Chị là chiếc cầu nối để giúp em quen biết nhiều người trong cộng đồng âm nhạc ở đây. Chị đã hát trong chương trình hòa nhạc đầu tiên của em ở tòa soạn báo Người Việt với nhiều thành công. Sự thân tình giữa chị em chúng mình gắn kết từ đó – em đã có dịp đàn hát cùng chị và cô Kim Tước nhiều lần sau đó, đặc biệt là đàn hát cho bài hát do chị sáng tác – bài Nắng Mùa Đông – một bài hát rất hay, tha thiết.

    Chị ra đi trong giấc ngủ ngày lễ Phục Sinh, không phiền lụy ai, chỉ để lại nỗi buồn vô biên cho người ở lại, thân xác ra đi nhưng em tin rằng mọi người sẽ luôn mãi nhớ tâm hồn đẹp của chị.

    Phương Thảo Guitar————————————–

  • DU LỊCH,  Khánh Lan,  Tin tức

    DU LỊCH HAWAII

    Khánh Lan & Mạnh Bổng

    Quần đảo Hawaii (Tên tiếng Mỹ: Hawaiian Islands, tên cũ: Sandwich Islands, tên tiếng Việt: Quần đảo Hạ Uy Di, là một quần đảo gồm 19 đảo, đảo san hô, cùng nhiều đảo nhỏ và núi ngầm trải theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, nằm ở vùng Bắc Thái Bình Dương giữa các vĩ tuyến 19° và 29° Bắc. Tên của quần đảo được lấy theo tên của hòn đảo lớn nhất trong nhóm là đảo Hawaii. Quần đảo kéo dài từ đảo Hawaii ở phía Nam cho tới rạn san hô Kure ở phía Bắc. Đảo lớn nhất là Big Island, đảo lớn thứ 2 là Oahu và đảo thứ 3 là Maui. Ngoại trừ quần đảo Midway chưa được hợp nhất vào Hoa Kỳ, thì toàn bộ quần đảo Hawaii đã trở thành tiểu bang Hawaii của Hoa Kỳ (tiểu bang thứ 50) vào ngày 21 tháng 8 năm 1959, vị trí tại vùng Bắc Thái Bình Dương cách đất liền 3700 km ở 21°18’41” độ vĩ bắc 157°47’47″độ kinh đông.

    Quần đảo Hawaii gồm có tám đảo lớn nằm nối liền nhau trên phía Bắc biển Thái Bình Dương gồm: Niihau, Kauai, Oahu, Molokai, Lanai, Kahoolawe, Maui và Island of Hawaii. Với vẻ đẹp độc đáo, quần đảo Hawaii có một danh hiệu là “thiên đường hạ giới Hạ Uy Di.”

    OAHU-HAWAII

    Oahu nằm ở bờ biển phía đông nam và là sự kết hợp giữa nét hoang sơ, văn hóa đa dạng với trung tâm chính trị, và lịch sử lâu đời. Oahu  Được hình thành do sự phun trào của hai ngọn núi lửa Waianae và Koolau, với đỉnh cao nhất là Núi Kaala. So với Big Island và Maui Island, đảo Oahu chiếm một diện tích khá khiêm nhường (chỉ hơn 1,500 km2), nhưng Oahu Island lại được chọn đặt làm thủ phủ (Honolulu) của quần đảo Hawaii do các vị trí sóng yên gió lặng của nó. Oahu là hòn đảo đông dân với đa số là người gốc Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam và sau cùng là người Đại Hàn.

    Oahu là một hòn đảo thuộc Quận Honolulu, tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Hòn đảo này được ngăn cách với đảo Kauai (về phía tây bắc) và đảo Molokai (về phía đông nam) bởi eo biển Kauai và eo biển Kaiwi. Có nguồn gốc hình thành từ núi lửa, Oahu là hòn đảo lớn thứ ba trong quần đảo Hawaii, với diện tích 597 dặm vuông (1,546 km²), đồng thời là nơi sinh sống của số lượng dân cư đông đảo nhất trong quần đảo này. Hai dãy núi chạy song song là dãy Koolau và dãy Waianae, được nối liền với nhau bởi một cao nguyên nằm ở trung tâm đảo. Người Tahiti đã thiết lập các khu định cư lâu dài trên đảo Oahu vào khoảng năm 500 sau Công nguyên.

    Năm 1795, Kamehameha I là vua của đảo Hawaii đã chinh phục Oahu và thống nhất toàn bộ quần đảo Hawaii. Năm 1845, kinh đô hoàng gia được dời từ Lahaina (trên đảo Maui) về Honolulu (trên đảo Oahu); Honolulu hiện nay chính là thủ đô của tiểu bang Hawaii. Đến cuối thế kỷ 19, chế độ quân chủ tại đây ngày càng chịu sự chi phối mạnh mẽ của các thế lực ngoại bang. Nữ hoàng Liliuokalani bị lật đổ vào năm 1893 (bà đã thuật lại câu chuyện này trong tác phẩm “Hawaii’s Story by Hawaii’s Queen“, xuất bản năm 1898), và toàn bộ quần đảo Hawaii chính thức bị Hoa Kỳ sáp nhập vào năm 1898.

    Oahu là hòn đảo lớn thứ ba và đông dân nhất trong quần đảo Hawaii cũng như của tiểu bang Hawaii thuộc Hoa Kỳ. Thủ phủ của tiểu bang, Honolulu, nằm ở bờ biển phía đông nam của Oahu. Hòn đảo Oahu cùng với các đảo Tây Bắc Hawaii không có người ở hợp thành Thành phố và Quận Honolulu. Vào năm 2024, Oʻahu có dân số là 998,747 người. Oahu có chiều dài 44 dặm (71 km) theo trục đông-tây và rộng khoảng 30 dặm (48 km) tại điểm rộng nhất theo trục bắc-nam. Đường bờ biển của đảo dài 227 dặm (365 km). Nếu tính cả các đảo nhỏ phụ cận như đảo Ford, cùng với các đảo nằm trong vịnh Kāneʻohe và ngoài khơi bờ biển phía đông, diện tích của Oʻahu đạt 596.7 dặm vuông (1,545.4 km²), đưa hòn đảo này trở thành hòn đảo lớn thứ 20 tại Hoa Kỳ.

    Các nghiên cứu khảo cổ học sơ khai cho rằng những nhà thám hiểm người Polynesia đến từ quần đảo Marquesas có thể đã đặt chân tới đây từ rất sớm, ngay từ thế kỷ thứ III sau Công nguyên; sau đó có thể là một làn sóng di cư thứ hai đến từ Tahiti vào khoảng năm 1100 sau Công nguyên. Tuy nhiên, các phân tích hiện đại hơn lại chỉ ra rằng những cư dân đầu tiên có lẽ đã đến vào khoảng thời gian từ năm 900 đến 1200 sau Công nguyên. Vị vua vĩ đại đầu tiên của Oʻahu là Maʻilikūkahi, người đặt ra các bộ luật và đã khởi xướng một triều đại kéo dài suốt 304 năm.

    Kualiʻi là vị vua đầu tiên thuộc dòng dõi các vị vua hiếu chiến, và ngai vàng sau đó được truyền lại cho các con trai của ông. Vào năm 1773, ngai vàng được trao cho Kahahana, con trai của Elani xứ Ewa. Vào ngày 19 tháng 1 năm 1778, Oʻahu là hòn đảo đầu tiên thuộc quần đảo Hawaii được Thuyền trưởng James Cook phát hiện trong chuyến thám hiểm thứ ba của ông. Đây là cuộc chạm trán đầu tiên được ghi nhận giữa quần đảo Hawaii và những người không thuộc chủng tộc Polynesia. Cook đã bỏ qua Oahu mà thay vào đó cập bến tại Kauai, trước khi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ ban đầu là khám phá bờ biển Bắc Mỹ. Một năm sau đó, vào ngày 27 tháng 2 năm 1779, chỉ huy phó của Cook là Thuyền trưởng Charles Clerke đã trở thành người không thuộc chủng tộc Polynesia đầu tiên được ghi nhận đặt chân đến Oʻahu khi ông cập bến tại Vịnh Waimea. Trước đó cùng tháng, Cook đã bị sát hại tại Vịnh Kealakekua trên đảo Hawaii khi một cuộc tranh chấp với người dân địa phương leo thang thành bạo lực.

    Chuyến thăm Oahu của Clerke diễn ra khá ngắn ngủi; hai con tàu thuộc đoàn thám hiểm đã rời Vịnh Waimea ngay trong ngày hôm đó sau khi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nước ngọt. Vào thời điểm Cook đặt chân đến đây, quần đảo Hawaii đang bị chia cắt thành nhiều tiểu quốc (chiefdom) khác nhau và thường xuyên xảy ra chiến tranh. Đến năm 1783, Kahekili II, vua của đảo Maui đã chinh phục và chiếm đóng Oʻahu. Sau đó, ông đưa con trai mình là Kalanikūpule lên làm vua xứ Oahu, biến nơi này thành một quốc gia bù nhìn. Kalanikūpule sau đó đã bị đánh bại trong Trận Nuʻuanu năm 1795 bởi Kamehameha I, người sau đó đã sáng lập nên Vương quốc Hawaii. Quần đảo Hawaii chỉ thực sự được thống nhất trọn vẹn khi Vua Kaumualiʻi dâng nộp hai hòn đảo Kauaʻi và Niʻihau vào năm 1810.

    Vào cuối thế kỷ 18, Waikīkī là một khu định cư lớn trên đảo Oahu, đóng vai trò là nơi cư ngụ của Kahekili II sau năm 1783.  Năm 1845, Kamehameha III đã dời thủ đô từ Lahaina trên đảo Maui về Honolulu. Sau đó, Vua Kalākaua đã cho xây dựng một dinh thự hiện đại tại Honolulu dành cho hoàng gia, đó là Cung điện ʻIolani, công trình hiện vẫn đứng vững và là cung điện hoàng gia duy nhất còn tồn tại trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Vào tháng 1 năm 1893, một nhóm các doanh nhân hàng đầu người Mỹ đã cầm vũ khí tập kết gần Cung điện ʻIolani và phối hợp cùng lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ từ tàu USS Boston vừa đổ bộ xuống cảng Honolulu, đã phát động một cuộc đảo chính thành công lật đổ Nữ hoàng Liliʻuokalani. Nhóm phiến quân này đã xóa bỏ chế độ quân chủ và thành lập Cộng hòa Hawaii; sau đó, họ đã vận động thành công chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận sáp nhập lãnh thổ này vào Hoa Kỳ.

    Các điểm lịch sử quan trọng như  Pearl Harbor (Trân Châu Cảng), nơi đã từng nổi tiếng với trận đánh bất ngờ của Nhật Bản trong Thế Chiến II và để lại di tích lịch sử với chiến hạm Arizona ngủ yên dưới lòng vịnh.  Di sản hoàng gia tại Cung điện Iolani là nơi ở chính thức của hoàng gia Hawaii cuối cùng, một biểu tượng lịch sử quan trọng. Bishop Museum, Viện Bảo tàng về lịch sử thiên nhiên và văn hóa Hawaii với các hoạt động văn hóa đặc sắc. 

    Trong thế kỷ 20, Oahu đã trở thành trung tâm của Hạm đội Thái Bình Dương thuộc Hải quân Hoa Kỳ. Oahu là nơi tọa lạc của Trân Châu Cảng, bãi biển Waikiki nổi tiếng khắp thế giới với những bãi tắm tuyệt đẹp, và khu vực North Shore nổi tiếng với bộ môn lướt sóng. Một số địa điểm đáng chú ý khác trên đảo Oahu bao gồm Vịnh Hanauma, một phần của Công viên Khu vực Koko Head vốn rất được ưa chuộng cho hoạt động lặn ống thở (snorkeling), và Diamond Head, một ngọn núi lửa đã tắt và là biểu tượng đặc trưng của hòn đảo. Ngoài Honolulu, các thành phố quan trọng khác trên đảo bao gồm Kailua, Kaneohe và Wahiawa.

    TRÊN KHU PHỐ TRÊN KALAKAUA AVENUE & DỌC THEO BỜ WAIKIKI BEACH

    April 22, 2026: Du thuyền Celibrity Solstice sẽ không khởi hành cho đến chiều ngày 24 tháng 4, 2026 nhưng chúng tôi đã bay đến Oahu, Hawaii 2 ngày trước và mướn phòng tại Bposhtels Waikiki Reatreat, tọa lạc trên đường Beachwalk với giá $180 một đêm, như vậy giá này cũng khá rẻ so với giá của các Hotel 5, 4 sao gần khu phố chính trên Kalakaua Avenue và nằm dọc theo bờ biển Waikiki.

     Kalakaua Avenue: Từ Bposhtels Waikiki Retreat đến  bãi biển Waikiki và con đường chính Kalakaua Avenue chỉ mất khoảng 10 phút đường bộ. Kalakaua Avenue là con đường chạy dọc theo bờ biển Waikiki với các quán ăn, tiệm bán nước giải khát (trung bình đến sang trọng), những cửa tiệm bán nữ trang, quần áo, và đặc sản của Hawaii cũng như các cửa hàng Chanel, LV, Prada, Fendi, Dior, Bally, Coach, Gucci, Tory Burch, Versace đều tập trung và trải dài 2 bên Kalakaua Avenue.

    Có lẽ khu phố sầm uất Kalakaua hầu như không bao giờ ngủ bởi những ánh đèn sáng rực, bởi những bước chân người nhịp nhàng trên hè phố, bởi tiếng nói cười nhộn nhịp của làn sóng người qua lại. Hình như mọi người đang chìm đắm trong hạnh phúc đón nhận niềm vui và tận hưởng làn gió mát rượi từ biển Waikiki đem lại.

    Bãi biển Waikiki: Trước năm 1950, bãi biển ở khu phố Waikīkī trải dài liên tục và được gọi là Bãi biển Waikīkī. Các bức tường chắn sóng và các công trình phát triển khác kể từ đó đã chia bờ biển thành tám bãi biển riêng biệt. Từ năm 1951, gần 2.800.000 feet khối (80.000 m3) cát đã được thêm vào để khôi phục bãi biển trong khu vực. Tính đến năm 2020, các bãi biển trong khu vực vẫn được gọi là “Bãi biển Waikīkī“, Từ Bãi biển Waikīkī, có thể nhìn thấy hoàng hôn trên biển từ giữa tháng 9 đến cuối tháng 3. Ở một khoảng cách nhất định ngoài khơi, nước khá nông, với nhiều đá dưới đáy. Sóng có thể khá mạnh, đặc biệt là vào những ngày gió. Một nửa bãi biển được đánh dấu dành cho người lướt sóng, nơi đây nổi tiếng với những con sóng dài và cuộn tròn, lý tưởng cho lướt ván dài, lướt sóng đôi và người mới bắt đầu. Bãi biển Waikiki nổi tiếng sầm uất và nhộn nhịp với con đường biển dài gần cây số rưỡi.

    Duke Paoa Kahanamoku (1890-1968) lớn lên ở Waikiki, ông là người Hawaii chính gốc và là biểu tượng của Hawaii đối với hàng triệu người. Ông trở thành nhà vô địch Olympic và là vận động viên bơi lội nhanh nhất thế giới. Từ năm 1912 đến năm 1932, ông giành được ba huy chương vàng, hai huy chương bạc và được coi là cha đẻ của môn lướt sóng quốc tế. Duke đã giới thiệu môn lướt sóng đến bờ biển phía Đông của Mỹ, châu Âu và Úc. Ông trở thành anh hùng khi cứu nạng sống của 8 người từ một chiếc thuyền bị lật ở Corona del Mar, California năm 1925 bằng ván lướt sóng của mình. Ông còng là một diễn viên điện ảnh từ năm 1925 đến năm 1933, ông được bầu làm cảnh sát trưởng Honolulu trong 13 nhiệm kỳ liên tiếp từ năm 1934 đến năm 1960 và được công nhận là Đại sứ Aloha của Hawaii từ năm 1912. Duke Paoa Kahanamoku đã làm rạng danh tên tuổi của mình, rạng danh chủng tộc của mình, rạng danh tiểu bang của mình và rạng danh tất cả dân chúng sinh sống tại Hawaii.

    Bức tượng bằng đồng của Duke Paoa Kahanamoku được đặt ở phía trước của bãi biển Waikiki

    Tượng Duke Paoa Kahanamoku là một trong những địa danh mang tính biểu tượng nhất ở Waikiki, Hawaii. Nó đứng sừng sững như một minh chứng cho di sản của vận động viên lướt sóng và bơi lội Olympic người Hawaii, Duke Kahanamoku, người đã phổ biến môn lướt sóng trên toàn thế giới vào đầu thế kỷ 20. Bức tượng tuyệt đẹp này và tầm quan trọng của nó đối với văn hóa Hawaii, từ những đường nét điêu khắc bằng đồng đến vị trí độc đáo của nó trong văn hóa dân gian địa phương, câu chuyện về tượng đài này thể hiện cả ý nghĩa văn hóa và niềm tự hào dân tộc.

    Dừng chân nơi quán PINK BIKINI BURGER trên Kalakaua Avenue

    Duke marketplace của 40 năm về trước là một khu phố sầm uất và rất đặc biệt bày bán những trang phục màu sắc của người bản xứ, cũng như  những gian hàng tràn ngập đồ trang sức, đồ gỗ địa phương, đồ thủ công trên đảo, vòng hoa đeo cổ, quà lưu niệm, v.v… Ngày nay Duke marketplace đã thu hẹp lại rất nhiều và chỉ còn sinh hoạt trên con hẻm nhỏ trên đường Duke (5 Duke Lane) theo phong cách chợ trời. Đây là một địa điểm mua sắm, ăn uống và giải trí ngoài trời mang tính biểu tượng ở trung tâm của Waikiki. 

    International marketplace (2330 Kalakaua Avenue) gồm nhiều cửa hàng bán lẻ sang trọng và khu ẩm thực toàn cầu, cũng như những buổi trình diễn nhạc sống & hula vào cuối tuần. Khu Chợ Quốc tế (IMP) ở Waikiki được thành lập vào năm 1956 bởi Donn Beach, người sáng tạo ra loại cocktail nổi tiếng Don the Beachcomber, Khu chợ quyến rũ này nhanh chóng trở thành điểm thu hút mọi người, cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập Waikiki thành một khu nghỉ dưỡng và giải trí nổi tiếng. Nguồn gốc và di sản văn hóa bắt nguồn từ lịch sử, Vua William Charles Lunalilo từng sở hữu mảnh đất nơi IMP hiện tọa lạc, và đã tặng nó cho Nữ hoàng Emma, ​​người nổi tiếng với những nỗ lực nhân đạo. Donn Beach đến Honolulu vào giữa những năm 1950, thuê đất từ ​​Quỹ Nữ hoàng Emma, ​​đã mở đường cho việc thành lập Khu chợ Quốc tế vào năm 1956. Khu chợ, với thiết kế độc đáo, bao gồm các hình ảnh đại diện cho những ngôi làng nhỏ tượng trưng cho Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và vùng biển Nam Thái Bình Dương. Vượt qua thách thức của thị trường bán lẻ IMP đã phải đối mặt với những thách thức trong những năm 1990 từ sự xuất hiện của các trung tâm mua sắm và sự thay đổi trong ngành bán lẻ, dẫn đến nhu cầu cần thiết phải tái thiết lớn. Đáp lại, một cuộc cải tạo lớn trị giá 300 triệu đô la vào năm 2016 đã biến IMP thành một điểm đến mua sắm và ăn uống hiện đại trong khi vẫn bảo tồn di sản Hawaii phong phú của nó.

    Với lịch sử phong phú, sự đa dạng của các cửa hàng và bầu không khí sôi động, Khu Chợ Quốc tế (International Marketplace) đã trải qua nhiều năm chuyển mình để trở thành một điểm giao hòa văn hóa. Nổi bật với hơn 90 cửa hàng cung cấp sự kết hợp giữa các thương hiệu quốc tế và địa phương. Những gian hàng mái tranh bán đồ lưu niệm, đồ thủ công địa phương và thực phẩm và trái cây vùng nhiệt đới. Khu ăn uống ngoài trời dưới bóng mát của những cây đa ngàn năm hoặc thưởng thức ẩm thực trong không gian sang trọng của những nhà hàng quốc tế. Hay đắm mình trong khung cảnh văn hóa nghệ thuật với các màn biểu diễn múa hula và nhạc sống của các nghệ sĩ trong nhóm Queen’s Waikiki Luau.

    Màn biểu diễn múa hula và nhạc sống của các nghệ sĩ trong nhóm Queen’s Waikiki Luau

    Khởi đầu với hơn 70 cửa hàng và nhà hàng, bao gồm các thương hiệu nổi tiếng như Saks Fifth Avenue, Tiffany & Co. và Wolfgang Puck’s Steakhouse, IMP đang phát triển mạnh mẽ. Di sản âm nhạc và địa danh văn hóa Vào thời kỳ đỉnh cao, IMP có các câu lạc bộ đêm đón tiếp các nhạc sĩ nổi tiếng như Martin Denny, một nhân vật chủ chốt trong sự kết hợp giữa nhạc jazz và âm thanh rừng rậm được gọi là exotica. Các buổi biểu diễn thường xuyên của ca sĩ Don Ho càng củng cố vị thế của IMP. Mặc dù phải đối mặt với sự xuống cấp và thay đổi chủ sở hữu vào năm 2013, những người bảo tồn văn hóa đã giữ lại những cây đa chính còn nguyên vẹn cho buổi lễ tái khai trương vào năm 2016.

    Don Ho (August 13, 1930- April 14, 2007)-Bức tượng của Don Ho  là một tác phẩm điêu khắc bằng đồng của Kim Duffett.

    Don Ho là một biểu tượng của thời đại âm nhạc và nghệ thuật, Một cậu bé địa phương được yêu mến với giọng hát vàng và trở thành nghệ sĩ giải trí nổi tiếng nhất Hawaii. Don đã giành được sự hoan nghênh và quốc tế biết đến với ban nhạc Aliis tại hộp đêm của Duke ở International Marketplace khi mới khai trương. Don Ho đã làm cho khán giả ở mọi lứa tuổi thích thú với những bài hát đặc trưng như “ Tiny Bubbles” và “I’ll Remember You.” Don Ho đã đưa âm nhạc Hawaii đi khắp nơi trên các hòn đảo ở Hawaii và tạo nên sự thích thú cho người thưởng thức.. Nét quyến rũ của Don khi trình diễn đã khiến cho mọi người yêu mến, thậm chí, từ các thanh thiếu niên cho đến các cụ già đều xếp hàng để hôn Don sau mỗi buổi trình diễn. Ngoài ra, Don cũng thường xuất hiện trong các bộ phim, hoặc như là người dẫn chương trình cho chương trình truyền hình của riêng mình hay tại nhà hàng của anh mang tên Don Ho. Don là hiện thân của Aloha, và là món quà tuyệt vời đã đến với Hawaii. 

    Những cây đa ngàn năm còn được giữ lại khi IMP tu sửa lại

    Duy trì truyền thống với khoảng 90 cửa hàng và hơn 10 nhà hàng, Chợ Quốc tế (International Market Place hay IMP) phục vụ nhiều khẩu vị khác nhau. Trước đây là địa điểm chính của cửa hàng Saks Fifth Avenue, nhưng sự chuyển đổi gần đây của IMP cửa hàng bách hóa này đã chuyển đi nơi khác và nhường chỗ cho cửa hàng Target vào năm 2022. Nằm trên khu đất rộng sáu mẫu Anh thuộc sở hữu của Công ty Queen Emma Land, IMP được quản lý và cho thuê bởi Taubman và CoastWood Capital Group, thể hiện cam kết bảo tồn di sản văn hóa cho các thế hệ tương lai.

    Giàn hoa giấy đầy màu sắc đã tô thêm vẻ mỹ miều của khu chợ International Marketplace

    Thiết kế ngoài trời của trung tâm, xen kẽ với cây xanh, hoa tím tươi tốt đã tạo ra một bầu không khí mua sắm độc đáo và thư giãn. Một trong những điểm nổi bật của Chợ Quốc tế là cam kết thúc đẩy các sản phẩm thủ công địa phương, nhiều cửa hiệu cung cấp một loạt các mặt hàng độc đáo, từ đồ trang sức và quần áo thủ công đến các sản phẩm thực phẩm địa phương là những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp thể hiện tinh thần của Hawaii và trở thành những món quà lưu niệm hoàn hảo. Chợ Quốc tế hawaii không chỉ là thiên đường mua sắm mà còn là điểm đến lý tưởng cho những người yêu thích thưởng thức các món lạ miệng từ các quốc gia khác. Các lựa chọn ăn uống phản ảnh sự đa dạng của khu chợ, với nhiều món ăn lạ hầu đáp ứng mọi khẩu vị từ các nhà hàng cao cấp như Eating House 1849 của Roy Yamaguchi và các doanh nghiệp địa phương của Hawaii như Kona Grill House đến các địa điểm phục vụ nhanh chóng và bình dân cho những người bận rộn.

    Waikiki Culture Center, một công viên nhỏ tọa lạc trên Kalakaua Avenue và nơi lý tưởng cho khách bộ hành dừng chân và thư giãn cũng như cho các trẻ em nô đùa, cho bạn bè gặp gỡ & hàn huyên tâm sự.

    Diamond Head là một núi lửa hình nón bằng đá tuff trên đảo Oʻahu của Hawaii. Người Hawaii gọi nó là Lēʻahi hay tạm dịch là trán cá ngừ. Núi lửa này có thể bắt nguồn từ lae (mũi đất, mỏm đá) cộng với ʻahi (cá ngừ) vì hình dạng của đường sống núi giống với hình dạng vây lưng của cây xương rồng lê gai. Tên tiếng Anh của nó được đặt bởi các thủy thủ người Anh vào thế kỷ 19. Diamond Head là một phần của hệ thống các nón, miệng phun và dòng phun trào liên quan đến Chuỗi núi lửa Honolulu, được hình thành bởi các vụ phun trào mới từ núi lửa Koʻolau diễn ra rất lâu sau khi núi lửa hình thành và đã ngủ yên. Những vụ phun trào này đã tạo ra nhiều địa danh nổi tiếng của Oʻahu, bao gồm miệng núi lửa Punchbowl, vịnh Hanauma, Koko Head và đảo Mānana. Giống như phần còn lại của dãy núi lửa Honolulu, Diamond Head trẻ hơn nhiều so với khối núi chính của dãy Koʻolau. Trong khi dãy Koʻolau có tuổi đời khoảng 2.6 triệu năm, Diamond Head được ước tính khoảng 400.000 đến 500.000 năm tuổi.

    Công viên Diamond Head nằm trên một hình nón núi lửa Lēʻahi, đây là công viên tiểu bang nổi tiếng nhất ở Hawaii với khung cảnh đẹp như tranh vẽ của nó về Honolulu và Thái Bình Dương, bao gồm những con đường mòn đi bộ đường dài tuyệt đẹp.

    Polynesian Culture Center giới thiệu các sinh hoạt văn hóa, âm nhạc và vũ điệu của các thổ dân (Polynesian) từ New Zealand, Fiji, Tonga, Samoa cho đến Hawaii.

    Polynesian Cultural Center ghi nhận về văn hoá của các quần đảo. Trung tâm Văn hóa Polynesia rộng 42 mẫu Anh trên Bờ Bắc của Oʻahu. Trung tâm có sáu ngôi làng gồm Hawaii, Fiji, Aotearoa, Samoa, Tahiti, Tonga

    Vũ điệu của các thổ dân làng Tahiti

    Vào đầu năm 1962, Chủ tịch Giáo hội LDS, ông David O. McKay, đã phê chuẩn việc xây dựng trung tâm phi lợi nhuận này nhằm tạo việc làm và cấp học bổng cho sinh viên tại Đại học BYU-Hawaii, đồng thời bảo tồn văn hóa Polynesia. Nguồn gốc của trung tâm bắt nguồn từ những năm 1940 và 1950, khi các buổi tụ họp bên bãi biển theo phong cách hukilau và luau được tổ chức nhằm gây quỹ để xây dựng lại một nhà nguyện địa phương thuộc Giáo hội LDS – công trình vốn đã bị thiêu rụi trong một trận hỏa hoạn. Bài hát “The Hukilau Song” được Alfred Apaka làm cho trở nên nổi tiếng đã được sáng tác sau chuyến ghé thăm một buổi hukilau tại Lāʻi.e. của chính người nhạc sĩ kiêm ca sĩ đầu tiên thể hiện ca khúc này, ông Jack Owens. Vào tháng 10 năm 1980, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Quảng Đông, ông Tập Trọng Huân, thân phụ của nhà lãnh đạo Trung Quốc đương nhiệm Tập Cận Bình đã đến thăm PCC trong khuôn khổ chuyến công du Hoa Kỳ. Sau loạt vụ tấn công ngày 11 tháng 9, lượng khách tham quan tại PCC đã sụt giảm đáng kể.[9] Đến năm 2004, PCC đã tăng gấp đôi ngân sách quảng bá của mình “nhằm quảng bá các lễ hội âm nhạc, vũ điệu và ẩm thực mang đậm bản sắc địa phương.“

    Pearl Harbor (Trân Châu Cảng), một điểm di tích lịch sử về Thế Chiến II giữa Hoa Kỳ và quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản. Ngày 7 Tháng Mười Hai, 1941, quân đội Thiên Hoàng đã bất ngờ tấn công Pearl Habor, mở màn cho quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham dự vào Thế Chiến II. Kết quả của trận tấn công này, chiến hạm Arizona của Hoa Kỳ đang đậu tại đây đã bị quân đội Thiên Hoàng đánh chìm. Hơn 80 năm trôi qua, Arizona vẫn nằm ngủ yên dưới lòng biển. 

    Tại Pearl Harbor, ngoài dịp thăm chiến hạm Arizona, chúng ta còn có dịp tìm hiểu về thời đế quốc Nhật xâm chiếm thuộc địa và bảo hộ những vùng đất Đông Á và Đông Nam Á trước 1945. Ngày nay, Hawaii được xem như biên giới của Hoa Kỳ nằm về phía Tây Thái Bình Dương và kỹ nghệ quốc phòng tại đây chỉ đứng sau nền kỹ nghệ du lịch.

    Hanauma Bay

    Quần đảo Hawaii nổi tiếng về núi lửa nên phần lớn những nham thạch ở đây màu đen và sắc bén. Theo các nhà địa chất, trước đây Hanauma và Koko Crater là hai miệng núi lửa đã hoạt động mạnh. Hanauma Bay nằm về phía Đông Nam, một thắng cảnh thiên nhiên, và là một trong số bãi biển nổi tiếng nhất của đảo Oahu. Hanauma Bay là khu vực được hình thành từ các ngọn núi lửa phun trào ra các luồng nham thạch và ngày nay trở thành một bãi tắm tuyệt đẹp với các rặng san hô dưới lòng biển. Trải qua với thời gian, miệng núi lửa Hanauma dần dần lún xuống mặt biển và tạo ra vịnh Hanauma. Đá biển và san hô tại vịnh Hanauma một sắc thái đặc biệt trở thành những nơi sinh sống cho các loại sinh vật dưới biển.

    Chùa Byodo-in-Kaneohe được tìm thấy trong Công viên Tưởng niệm Thung lũng. Đền Byodo-in cũng là một trong những ngôi đền Phật giáo đẹp nhất trên thế giới và là ngôi chùa Phật giáo không thuộc giáo phái nào, nằm trên đảo Oʻahu ở Hawaii. Chùa được khánh thành vào tháng 8 năm 1968 để kỷ niệm 100 năm ngày những người Nhật Bản đầu tiên đến Hawaii và cũng là để kỷ niệm 100 năm ngày văn hóa Nhật Bản đến Hawaii. Đền được khánh thành bởi Thống đốc John A. Burns, một người được cộng đồng người Nhật yêu mến vì những cống hiến lâu dài của ông cho sự nghiệp đấu tranh vì quyền lợi của người Nhật trong những năm lãnh thổ của tiểu bang. Người nhập cư Nhật Bản đến Vương quốc Hawaii và sau này là Lãnh thổ Hawaii để làm việc trong các đồn điền mía và dứa. Họ cùng với người Trung Quốc, Philippines, Hàn Quốc, người Hawaii bản địa và người Bồ Đào Nha.

    Ngôi chùa Byodo-in là bản sao của một ngôi chùa Phật giáo 900 năm tuổi ở Uji, tỉnh Kyoto, Nhật Bản, một bản sao thu nhỏ của Byōdō-in, một Di sản Thế giới gần thành phố cổ Kyoto, ban đầu là một tu viện được thành lập bởi Fujiwara no Yorimichi vào năm 1052 thời Heian. Trái ngược với niềm tin phổ biến, đây không phải là một ngôi chùa Phật giáo hoạt động theo đúng nghĩa vì nó không có cộng đồng tu sĩ thường trú cũng như không có giáo đoàn hoạt động. Từ năm 2001 đến năm 2007, ngôi chùa đã được trùng tu với tinh thần bảo tồn di sản cổ xưa của Nhật Bản. Đền Byodo-In được xây dựng chủ yếu bằng bê tông (bản gốc bằng gỗ không dùng đinh) vào năm 1968 tại vị trí hiện tại trong Thung lũng.

    Đền Byodo-in có phong cảnh ngoạn mục và là phim trường quay của một số bộ phim truyền hình  như Hawaii Five-O, Magnum P.I. và Lost.

    Bên ngoài là một chiếc chuông hòa bình bằng đồng thau nặng ba tấn. Bao quanh ngôi đền là những ao cá koi lớn có tổng diện tích 2 mẫu Anh (0,81 ha). Xung quanh những ao này là những khu vườn Nhật Bản tươi tốt nằm trên nền những vách đá cao chót vót của dãy núi Koʻolau. Những khu vườn là nơi sinh sống của chim sẻ, công và thiên nga. Ngôi đền có diện tích 11.000 sq ft (1.000 m2). Đền Byodo-In được hàng ngàn tín đồ từ khắp nơi trên thế giới đến thăm và cầu nguyện. Ngoài việc thờ cúng, khuôn viên đền cũng được sử dụng cho đám cưới và các cuộc họp văn phòng.

    Bên trong chùa Byodo-In có một bức tượng Phật Hoa Sen cao 18 ft (5,5 m), một bức tượng gỗ mô tả Amitābha.[2] Bức tượng được phủ vàng và sơn mài. Nơi đây nổi tiếng với bức tượng Vairocana. Bức tượng gốc đã bị mất và được thay thế vào năm 1053 bằng một bức tượng gỗ lớn của Phật Di Lặc, một bảo vật quốc gia được chạm khắc bởi nghệ nhân Nhật Bản Jōchō. Bức tượng Phật Di Lặc đứng ở giữa Điện Phượng Hoàng, một bản sao nghệ thuật của Sukhavati, cõi tịnh độ của Phật Di Lặc. Nó được gọi là “Điện Phượng Hoàng” trong tiếng Anh để chỉ hai con chim phượng hoàng dang rộng đôi cánh trên mái chùa. Năm mươi hai bức tượng gỗ của các vị bồ tát vây quanh Phật Di Lặc, đang nhảy múa và chơi nhạc cụ trên những đám mây bồng bềnh.

    Friday, April 24, 2026-CELEBRITY SOLSTICE

    Celebrity Solstice là con tàu dẫn đầu của lớp tàu du lịch Solstice do Celebrity Cruises, một công ty con của Royal Caribbean Group. Được đóng bởi Meyer Werft ở Papenburg, tàu được hạ thủy vào ngày 10 tháng 8 năm 2008 và được đặt tên bởi giáo sư khoa học hải dương Sharon L. Smith tại một buổi lễ ở Fort Lauderdale, Florida, Hoa Kỳ, vào ngày 14 tháng 11 năm 2008. Thiết kế và xây dựng thuộc Nhà thiết kế du thuyền Martin Francis của Francis Design thiết kế hình dáng bên ngoài của tàu. Kế hoạch tổng thể được hoàn thành bởi Wilson Butler Architects có trụ sở tại Boston. Celebrity Solstice rời Meyer Werft vào ngày 28 tháng 9 năm 2008.

    April 24, 2026-CELEBRITY SOLSTICE

    CAPTAIN THEODOROS ZAKKAS, HOTEL DIRECTOR SRDJARI AND THE CREW WELCOME GUESTS ABOARD THE RENEWED CELEBRITY SOLSTICE

    THE CELEBRITY WAY OF CONSISENT, ELEVATED, HOSPITALITY

    Dressing up for a “Evening Chic” dinner

    “Smart Casual” dinner

    Hawaiian dinner

    Và khi nào Khánh Lan “MẬP” cỡ bà này thì sẽ không đi cruise nữa.

    April 25, 2026-KAILUA KONA. HAWAII 

    Kailua thuộc Quận Honolulu, Hawaii, Hoa Kỳ và nằm trong Quận Koolaupoko của đảo Oahu, trên bờ biển của Vịnh Kailua. Kailua thuộc về khu vực tư pháp và vùng đất hành chính truyền thống (ahupuaa) mang tên Koolaupoko. Kailua nằm cách Honolulu 12 dặm (19 km) về phía đông bắc, qua đèo Nuuanu Pali. Trong tiếng Hawaii, Kailua có nghĩa là “hai biển” hoặc “hai dòng chảy“; do sự rút gọn của từ “kai” (nghĩa là “biển” hoặc “nước biển”) và “elua” (nghĩa là “hai”). Tên gọi này được đặt dựa trên sự hiện diện của hai ao nuôi cá trong vùng (Kawainui và Kaelepulu) hoặc hai dòng hải lưu chảy qua Vịnh Kailua. Nơi này thường được gọi đơn giản là Kona (tên gọi mà nó chia sẻ với quận hành chính mà nó trực thuộc), nhưng đôi khi cũng được gọi là Kona Town, và thỉnh thoảng là Kailua.

    Vào thế kỷ 19, Kailua-Kona chỉ là một làng chài nhỏ, nhưng vào năm 1820, những nhà truyền giáo Cơ Đốc đầu tiên đã đặt chân đến đây, đồng thời xây dựng các nhà thờ và trường học. Trong giai đoạn cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, khu vực này đã trải qua một đợt bùng nổ về bất động sản và xây dựng. Năm 2014, Khu bảo tồn Rừng Cộng đồng Pālamanui được thành lập tại Kailua-Kona với mục tiêu bảo tồn và gìn giữ các loài cây bản địa của Hawaii.

    Kailua-Kona là khu dân cư lớn thứ hai trên đảo Hawaii (sau Hilo) và là khu dân cư lớn nhất ở phía tây của hòn đảo này. Dân số của khu vực này là 50,000 người vào năm 1992. Trong cuộc điều tra dân số năm 2017, dân số đã giảm xuống còn 38,000 người. Đến cuộc điều tra dân số năm 2020, dân số đạt mức 40,514 người. Giai đoạn lịch sử sơ khai dưới triều đại của Vua Kākuhihewa và các vị vua kế vị ông gồm Kanekapu, Kahoowaha, Kauakahiakahoowaha và Kualiʻi, Kailua đã thay thế Waikiki để trở thành trung tâm cư ngụ và hành chính của các vị quân chủ đảo Oahu (*aliʻi nui* của Oahu). Do vậy mà nơi đây có nhiều tàn tích đền thờ cổ xưa, chẳng hạn như những di tích tại Khu Di tích Lịch sử Tiểu bang Ulupo Heiau. Sau thất bại của quân đội Oʻahu trước Vua Kamehameha Đại đế trong Trận chiến Nuʻuanu năm 1795, thủ phủ chính trị kiêm nơi cư ngụ của các *aliʻi nui* (tù trưởng tối cao) vùng Oahu đã được dời từ Kailua về Honolulu.

    Bãi biển Bãi biển Kailua có hình lưỡi liềm, dài khoảng 2.5 dặm (4,0 km), với chiều rộng dao động từ 50 đến 150 feet (15 đến 46 m). Đáy biển ngay phía trước bãi tắm thoai thoải dần ra vùng nước sâu quá đầu người và hoàn toàn không có các khối san hô nhô lên. Những đợt sóng từ nhẹ đến trung bình tại đây rất thích hợp cho các hoạt động lướt ván (surfing) và lướt sóng bằng thân người (bodysurfing). Nhờ những luồng gió thổi đều đặn, bãi biển Kailua đã trở thành điểm đến hàng đầu cho môn lướt ván buồm và lướt ván diều. Robby Naish, nhà vô địch thế giới đầu tiên bộ môn lướt ván buồm và là thành viên được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng của Hiệp hội Lướt ván buồm Chuyên nghiệp, là người đã lớn lên tại Kailua. Các hoạt động như chèo thuyền kayak trên biển và chèo ván đứng (stand-up paddleboarding) để khám phá các khu bảo tồn chim biển được bảo vệ nghiêm ngặt gồm Flat Island và Nā Mokulua (thường được gọi phổ biến là “the Mokes”) đang ngày càng trở nên phổ biến.

    KAILUA KONA DOCK, PALANI 96740

    Du thuyền Celebrity Solstice cập bến cảng Kailua Kona lúc 8:00 giờ sáng, bờ biển tại đây khá nông nên du thuyền phải đậu ngoài khơi và chúng tôi được chuyển xuống những “Tender” nhỏ để vào thành phố. Đây là địa điểm đầu tiên du thuyến Celebrity Solitic dừng lại và sẽ đậu tại đây 2 ngày nên chúng tôi có nhiều thời gian để thăm những thắng cảnh ở đây hơn. Vì thế chúng tôi quyết định sẽ dùng ngày đầu để mua tour và ngày thừ hai còn lại sẽ dạo phố.

    Cũng như thường lệ, chúng tôi không mua ship excursions mà mua một private tour với công ty, C. Big Island với giá $120/per person cho 4 1/2 giờ để thăm 4 nơi.

    • Kona Coffee Farm, Greenwell
    • Saint Benedict’s Painted Church
    • Koloka Honolohau National Historical Park
    • Honu-Green Sea Turtle
    1. Kona Coffee Farm, Greenwell Farms

    Gia đình Steve and Joanie Wynn là chủ nhân của trang trại Greenwell Farms, họ đến Kona vào cuối tháng 6 năm 2021 và ngay lập tức bắt tay vào một dự án mới. Vì thế, chỉ trong khoảng 3 tháng sau vào tháng 9 cùng năm, họ đã thu hoạch vụ cà phê đầu tiên. Steve và Joanie tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng và hoạt động nông trại bằng cách đầu tư vào các thiết bị như máy kéo mới, máy sấy thương mại, máy băm cành cây, máy rải phân bón và máy phun thuốc.

    Kona Earth owners Steve and Joanie Wynn

    Steve and Joanie đã mở rộng khu vực chế biến và cải thiện khu vực bảo quản cà phê xanh, bổ sung hệ thống kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm để giữ gìn độ tươi ngon của hạt cà phê xanh. Một thiết bị bổ sung thiết yếu là máy rang Mill City 10K, cho phép họ rang cà phê theo mẻ nhỏ ngay tại chỗ và vận chuyển trực tiếp mang lại cho họ sự linh hoạt tuyệt vời và độ tươi ngon tối ưu khi vận chuyển đến khách hàng. Mặc dù Kona Earth không phải là trang trại hữu cơ (organic farm), nhưng gia đình Wynn áp dụng các phương pháp canh tác bền vững, họ không sử dụng glyphosate (hay còn gọi là RoundUp) trên cây trồng, Steve đã tìm ra được các phương pháp hữu cơ để kiểm soát cỏ dại, sử dụng phương pháp thu gom nước mưa, ủ phân, và sử dụng vật liệu đóng gói.

    “Care In Every Cup” là chương trình thiện nguyện của Kona Earth. Chương trình này quyên góp một phần trăm doanh thu từ mỗi lần mua hàng cho tổ chức phi lợi Koohala Center ở Big Island. Tổ chức này thực hiện công việc quan trọng trong việc bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn thương, bao gồm các rạn san hô, rừng mây và cộng đồng nông nghiệp. Gần đây, các khoản quyên góp tập trung vào việc hỗ trợ các nỗ lực bảo tồn rạn san hô tại Vịnh Kahalu’u với Trung tâm Giáo dục Vịnh Kahalu’u và chương trình ReefTeach của trung tâm. Ngoài việc trồng cà phê, trang trại còn trồng thêm loại cây ăn trái khác như soài, avocado, cherry, v.v… và đặc biệt là loại cherry coffee.

    2. The Hawaii’s first Painted Church: Saint Benedict Roman Catholic Church, 84-5140 Painted Church Rd., Captain Cook, HI 96704

    Giáo xứ Thánh Benedict nằm trên sườn núi của ngọn núi lửa Mauna Loa cao 13,680 feet thuộc Quận Nam Kona, Đảo Hawaii. Giáo xứ trải dài 38 dặm từ biển lên những sườn núi thưa dân cư đến đỉnh núi. Ban đầu, toàn bộ dân cư là người Hawaii sống trong 14 ngôi làng ở Nam Kona, nhưng hiện nay, dân số Công giáo chiếm đa số là người Hawaii và Philippines sống trong 5 ngôi làng. Lịch sử của Giáo hội trong Quận bắt đầu vào đầu năm 1842 khi Cha Joachim Marechal, SS.CC., lúc đó được giao nhiệm vụ chăm sóc cả Quận Nam Kona và Quận Ka’u, Ngài đặt nơi cư trú và nhà nguyện đầu tiên của mình tại làng Kapalelua, nằm trên biên giới của hai Quận. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhờ lòng nhiệt thành và công việc hăng say của Cha Joachim cùng với việc giảng dạy của một số giáo lý viên giáo dân, Giáo hội đã được thiết lập vững chắc ở Nam Kona. Trường học Công giáo đầu tiên trong khu vực được mở tại làng biển Honaunau dưới sự chăm sóc của 2 giáo lý viên, Serapia và Clement Hoki. Các linh mục truyền giáo không sống thường xuyên ở Nam Kona cho đến khoảng năm 1859.

    Nhà nguyện ban đầu, nằm trên bờ vịnh Honaunau gần Thành phố Tị nạn trong Công viên Lịch sử Quốc gia, được biết đến với tên gọi Nhà nguyện Thánh Phanxicô Regis. Cha Joachim qua đời đột ngột vào ngày 12 tháng 4 năm 1859. Cha Aloys Lorteau, SS.CC., là người kế nhiệm Cha Joachim đã đến cư trú tại Honaunau và phục vụ ở đó trong 37 năm cho đến năm 1898, Cha Lorteau qua đời trên tàu Maunaloa vào ngày thứ Hai Phục Sinh trên đường đến Honolulu để được chăm sóc y tế và điều trị tại bệnh viện.

    Đến giữa những năm 1880, hầu hết người dân Honaunau đã di chuyển khỏi khu vực bãi biển đến vùng đất màu mỡ hơn cách đó khoảng hai dặm trên sườn đồi. Cha John Berchmans Velge, SS.CC., linh mục thường trú thay thế Cha Aloys vào tháng 12 năm 1899, đã chuyển những gì có thể của Nhà nguyện Thánh Phanxicô Regis lên vùng thượng Honaunau. Nhà thờ được Giám mục Gulstan Ropert, SS.CC., làm phép vào tháng 8 năm 1902, và được dâng hiến để tôn vinh Thánh Benedict.

    Cha John Berchmans Velge, một họa sĩ tự học đã vẽ những bức tranh tường bên trong nhà thờ

    Cha John Berchmans Velge là một người thầy xuất sắc và là một họa sĩ tự học, đã vẽ những bức tranh tường bên trong nhà thờ với những cảnh tượng ấn tượng từ Kinh Thánh, mô tả nhiều chân lý tôn giáo quan trọng. Những bức tranh Kinh Thánh của Ngài nhanh chóng trở nên nổi tiếng, và Nhà thờ Thánh Benedict được biết đến với tên gọi “Nhà thờ được vẽ”. Ban đầu, Cha John Berchmans Velge phác họa hình vẽ trên bản thảo các bức tranh của mình trên giấy và treo chúng lên tường của nhà thờ Thánh Benedict. Từ năm 1902 đến năm 1904, ông vẽ các bức bích họa lên tường của nhà thờ cùng với những trang trí đầy màu sắc đã khiến nhà thờ được biết đến với tên gọi “Nhà thờ được vẽ tranh“. Cha John Berchmans Velge đã thành lập một liên đoàn các nhà giáo lý gồm những người dạy giáo lý và được hướng dẫn tốt, họ được phép mặc một bộ lễ phục đặc biệt gồm áo dài đen đến đầu gối, thắt lưng đỏ, áo choàng đen có viền trắng, và một cây thánh giá trắng thêu trên áo choàng. Bộ lễ phục này lần đầu tiên xuất hiện vào Chúa nhật Phục Sinh năm 1901. Cha John Berchmans Velge chỉ làm việc có 5 năm trước khi trở về Bỉ, nhưng Ngài đã trở lại nhà thờ Thánh Benedict vào mùa hè năm 1904 (theo sổ rửa tội của nhà thờ).

    Được thiết kế, xây dựng và vẽ như một nhà thờ Gothic thu nhỏ theo phong cách châu Âu bởi Cha John Berchmans Velge, Nhà thờ Thánh Benedict hiện được coi là khá độc đáo trong lịch sử nghệ thuật Mỹ và được ghi vào Sổ danh sách Di tích Lịch sử Tiểu bang Hawaii và Di tích Lịch sử Quốc gia. Tuy nhiên, vì lý do sức khỏe, Cha John Berchmans Velge phải trở về Bỉ vào năm 1904. Sau đó, Cha Victor Poirer, SS.CC., phục vụ từ tháng 8 năm 1904 đến tháng 7 năm 1905; Cha Charles Louis, SS.CC., từ tháng 1 năm 1906 đến tháng 9 năm 1907; và Cha Gerard Benetren, SS.CC., từ tháng 9 năm 1907 đến tháng 12 năm 1913.

    Khoảng năm 1906, nhà thờ Thánh Benedict được khánh thành vào năm 1907, Cha Eugene Oehman, SS.CC., trở thành linh mục quản xứ của Nhà thờ Thánh Benedict vào ngày 7 tháng 12 năm 1913 và phục vụ ở đó trong 37 năm. Trong thời gian làm mục sư, cha Eugene đã chứng kiến ​​bốn vụ phun trào lớn của núi lửa Magna Loa vào các năm 1916, 1919, 1926 và 1950. Trong vụ phun trào và dòng dung nham năm 1926, cha Eugene đã thấy nhà nguyện Thánh Phêrô ở Hoopuloa bị dung nham phá hủy; và trong vụ phun trào năm 1950, nhà nguyện Thánh Tâm Đức Mẹ ở Pahoehoe đã bị dung nham nóng chảy phá hủy hoàn toàn. Cha Eugene đã xây dựng một nhà nguyện Thánh Phêrô mới tại bãi biển Milolii, nhưng hiện nay nhà nguyện này không còn được sử dụng. Trận động đất năm 1950, đi kèm với một dòng dung nham lớn, đã phá hủy nhà thờ Maria Lanakila ở Kealia, được xây dựng vào năm 1860. Cha Eugene Oehman đã tận tụy phục vụ giáo xứ South Kona trong 37 năm, từ năm 1913 đến năm 1951. Vào thời điểm cha Eugene qua đời ngày 14 tháng 6 năm 1951, chỉ còn hai trong số 14 nhà thờ và nhà nguyện được xây dựng trong khu vực vẫn còn được sử dụng, đó là: Nhà thờ Thánh Benedict, Honaunau, và Nhà thờ Thánh Gioan Tẩy giả, Kealakekna.

    Giám mục James J. Sweeney đã giao giáo xứ St. Benedict cho Dòng Cha Maryknoll vào tháng 8 năm 1951 và bổ nhiệm Cha Francis G. Kelliher, M.M., làm linh mục quản xứ đầu tiên của Dòng Maryknoll. Ngài phục vụ ở vị trí đó cho đến tháng 7 năm 1959, khi được chuyển đến giáo xứ St. Pigs X, Honolulu. Cha Kelliher đã làm việc chung với trẻ em và đã cải thiện chương trình giáo dục tôn giáo trong giáo xứ. Ngài đã chào đón các Nữ tu Dòng Thánh Gia đảm nhận chương trình giáo dục tôn giáo và làm trợ lý cho ba linh mục trẻ của giáo phận, đó là Cha Bernard J. Eikmeier (từ tháng 9 năm 1952 đến tháng 7 năm 1953); Cha Francis A. Marzen (từ tháng 9 năm 1953 đến tháng 6 năm 1954); và Cha Joseph Silva (từ tháng 9 năm 1954 đến tháng 10 năm 1954). Cha William F. Desmond, M.M., tạm thời đảm nhiệm cho đến khi Cha Charles T. Wilcox, M.M., đến làm trợ lý linh mục vào tháng 2 năm 1955. Ông giữ chức vụ quản lý giáo xứ trong một năm, từ tháng 7 năm 1955 đến tháng 7 năm 1956, khi Cha Kelliher được nghỉ phép một năm tại Hoa Kỳ. Cha Kelliher trở lại Giáo xứ Thánh Benedict vào tháng 7 năm 1956, với sự trợ giúp của Cha Charles J. Schmidt, M.M. Cha Wilcox được chuyển đến Nhà thờ Thánh Joseph, Hilo. Cha Kelliher đã hợp tác chặt chẽ với một nhóm người quan tâm đến việc sửa chữa và bảo tồn các tác phẩm nghệ thuật trong Nhà thờ Thánh Benedict.

    Năm 1961, ông Alfred Frankenstein, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc của tờ San Francisco Chronicle, và ông Norman Carlson, nhiếp ảnh gia của ông, thông qua Nhà xuất bản Đại học Hawaii, đã xuất bản một cuốn sách có tựa đề ANGELS OVER THE ALTAR (Thiên thần trên bàn thờ). Cuốn sách kể câu chuyện về nghệ thuật dân gian Kitô giáo ở Hawaii và quần đảo Marquesas thuộc vùng biển Nam Thái Bình Dương. Sách có ảnh màu của tất cả các bức tranh tường tôn giáo của Nhà thờ Thánh Benedict, Honaunau, và Nhà thờ Ngôi sao Biển, Kalapana. Bài báo sau đây về cuốn sách đã xuất hiện trên tờ Hawaii Catholic Herald vào tháng 10 năm 1961. Bài báo này đáng được lưu giữ trong Biên niên sử của Giáo xứ Thánh Benedict.

    “Bước vào Nhà thờ được vẽ ở Thượng Honaunau,” Alfred Frankenstein, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc của tờ San Francisco Chronicle, nói, “giống như bước ngược thời gian 500 năm về thế giới của mẹ Francois Villon, người không thể đọc được những lời trong kinh thánh nhưng biết được lời hứa về thiên đường và mối đe dọa của địa ngục thông qua những bức tranh sống động mà bà đã thấy trên tường nhà nguyện của mình.“ Frankenstein là người biên tập văn bản. “Ở đây trên sườn đồi ở Hawaii,” ông viết sau khi thăm nhà thờ, “chúng tôi đã chiêm ngưỡng một góc nhỏ của châu Âu thời trung cổ, không phải được tiếp cận bằng sự giả tạo hay tinh vi, mà tồn tại trong một dòng dõi trực tiếp, đáng kinh ngạc.”

    “ĐỊA NGỤC ĐƯỢC VẼ” “Một bên là hình ảnh địa ngục sôi sục được vẽ chính xác như mẹ của Villon đã thấy, và trên các bức tranh khác là Cain giết Abel, Thánh Phanxicô nhận vết thương thánh, và Chúa Kitô từ chối Ác quỷ. Phía trên là một mái vòm Gothic dài, được xây bằng gỗ và định hình gian giữa của nhà thờ. Sáu cột chống đỡ nó, và nơi những cột gỗ này nối với mái vòm, một thủ thuật ngoạn mục của người họa sĩ đã khiến chúng bung ra thành những chiếc lá cọ khổng lồ hùng vĩ nổi bật trên nền trời nhạt.

    Điều đáng kinh ngạc nhất là bức tường phía sau bàn thờ, mà sự sáng tạo không được đào tạo bài bản của người họa sĩ đã biến thành hậu cung của một nhà thờ lớn; nó trải dài mãi, với vẻ uy nghiêm Gothic đích thực, và kết thúc bằng một luồng ánh sáng. “Điều được coi trọng nhất là tinh thần không thể diễn tả của nhà thờ, điều mà không một kiến ​​trúc sư nào thiết kế và không một nghệ sĩ nào vẽ nên.” Tất cả bắt nguồn từ một nhà truyền giáo Công giáo người Bỉ, Cha John Berchmans Velge, người đã tái khám phá việc sử dụng hình ảnh hội họa thời trung cổ và đã tạo ra kiệt tác này vào khoảng thời gian từ năm 1899 đến năm 1904. Đi sâu vào cuộc đời của hai vị linh mục John Berchmans Velge và Cha Evarist, những ý tưởng của họ và nguồn gốc các tranh vẽ trong nhà thơ Thánh Benedict, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc Alfred Frankenstein đã khám phá ra một mạng lưới nghệ thuật dân gian Kitô giáo ở các đảo Thái Bình Dương. Nó bắt đầu với tác phẩm của một tu sĩ người Pháp, Michel Blanc, một thợ mộc chuyển sang làm nhà điêu khắc và kiến ​​trúc sư, người đã đến quần đảo Marquesas vào những năm 1860 với đầy ắp những ký ức về nghệ thuật dân gian của quê hương mình. Cha John Berchmans Velge là môn đệ của Tu sĩ Michel, và Cha Evarist là môn đệ của Cha John.

    Cha Daniel F. Lenahan, M.M., đã làm linh mục quản xứ của Giáo xứ Thánh Benedict từ ngày 1 tháng 10 năm 1968 đến tháng 4 năm 1973, khi ngài chuyển đến Giáo xứ Thánh Philomena, Honolulu. Cha Thomas J. Prendergast, M.M., đã làm Quản lý giáo xứ từ tháng 4 năm 1973 đến tháng 10 năm 1973, khi ngài được chuyển đến Giáo xứ Truyền Tin, Waimea, Nam Kohala, Hawaii, làm linh mục quản xứ. Cha Ralph W. Sylva, M.M., trước đây là linh mục phụ tá của Giáo xứ Thánh Benedict, đã trở thành linh mục quản xứ của ngài vào tháng 10 năm 1973. Ngài giữ chức vụ linh mục quản xứ trong mười hai năm cho đến tháng 6 năm 1985, khi ngài đã nghỉ hưu.

    Trong thời gian làm mục sư, hai sự kiện lớn đã diễn ra. Sự kiện lớn đầu tiên trong thời gian làm mục sư của Cha Sylva là việc ngài trực tiếp hướng dẫn giáo dân xây dựng một trung tâm sinh hoạt cộng đồng đa năng lớn bên cạnh nhà xứ ở Honaunau. Hội trường được xây bằng gỗ đã qua xử lý chống mối mọt. Công trình này rất cần thiết, đòi hỏi nhiều sự hy sinh và hiện đang phục vụ người dân trong mọi hoạt động tôn giáo và xã hội. Sự kiện lớn thứ hai trong thời gian làm mục sư của Cha Sylva là việc tái thiết hoàn toàn Nhà thờ Thánh Benedict, với những bức tranh tường tôn giáo lịch sử vô giá. Vào tháng 7 năm 1981, một nhóm nhỏ giáo dân và người dân cộng đồng đã tập hợp lại để lên kế hoạch phục hồi nhà thờ đã 82 năm tuổi này.

    3. Koloka Honolohau National Historical Park

    Công viên Lịch sử Quốc gia Kaloko-Honokōhau là một Công viên Lịch sử Quốc gia của Hoa Kỳ nằm ở Quận Kona trên Đảo Hawaii thuộc tiểu bang Hawaii của Hoa Kỳ. Công viên bao gồm địa điểm khảo cổ được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia, được biết đến với tên gọi Khu định cư Honokōhau. Công viên được thành lập vào ngày 10 tháng 11 năm 1978, nhằm mục đích bảo tồn, bảo vệ và giải thích các hoạt động và văn hóa truyền thống của người Hawaii bản địa. Lịch sử Kaloko và Honokōhau là tên của hai trong số bốn ahupuaʻa khác nhau, hay các vùng đất truyền thống từ núi đến biển nằm trong công viên.

    Mặc dù vào thời cổ đại, khu vực khô cằn với đá dung nham này được gọi là kekaha ʻaʻole wai (vùng đất không có nước), nhưng sự sống phong phú của sinh vật biển đã thu hút người dân đến định cư trong hàng trăm năm. Kaloko Kaloko (có nghĩa là “ao” trong tiếng Hawaii) là một địa điểm có các ao cá được sử dụng ở Hawaiʻi cổ đại nằm ở phía bắc của công viên. Lần đầu tiên ao này được nhắc đến trong câu chuyện về Kamalalawalu, khoảng 300 năm trước. Bức tường chắn sóng (kuapā) rộng hơn 9.1 m và cao 1.8 m, trải dài 230 m. Được xây dựng bằng tay mà không dùng vữa, góc độ và khoảng cách giữa các viên đá giúp chắn sóng tốt hơn nhiều so với các bức tường chắn sóng bê tông hiện đại. Ao cá ʻAimakapā là một khu vực đất ngập nước quan trọng bảo vệ các loài chim bản địa bao gồm vịt Hawaii (Koloa maoli, Anas wyvilliana), gà nước Hawaii (Fulica alai), cò chân dài Hawaii (Himantopus mexicanus knudseni), diệc đêm mào đen (Nycticorax nycticorax), cùng nhiều loài khác. Khu vực này hiện đang được trồng lại rừng sau khi loại bỏ các loài thực vật xâm lấn không bản địa. Nó đã được thêm vào Sổ Địa điểm Lịch sử vào năm 1978.

    Honokōhau Hālau

    Honokōhau Honokōhau có nghĩa là “vịnh hút sương” và đề cập đến khu định cư cổ xưa ở phía nam của công viên. Có thể đến khu vực này bằng đường mòn từ trung tâm du khách của công viên hoặc từ đường vào bến tàu nhỏ trên đường Kealakehe Parkway. Các đặc điểm bao gồm loko iʻa (ao nuôi cá của người Hawaii cổ đại), kahua (nền nhà), kiʻi pōhaku (hình khắc trên đá), hōlua (đường trượt đá) và heiau (địa điểm tôn giáo). Bẫy cá ʻAiʻopio là một ao rộng 1,7 mẫu Anh (0,69 ha), với một bức tường đá tạo thành một khu vực nhân tạo dọc theo đường bờ biển cong tự nhiên của một vịnh. Những khe hở nhỏ cho phép cá con từ biển vào, nhưng khi chúng lớn hơn (hoặc khi thủy triều xuống), chúng dễ dàng bị bắt bằng lưới.

    Nơi này được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia vào năm 1962 và được thêm vào Sổ Di tích Lịch sử Quốc gia vào năm 1966. Một số đường mòn được phục hồi bao gồm khoảng một dặm của Đường mòn Māmalahoa. Nó được xây dựng vào giữa thế kỷ 19 và phát triển qua nhiều năm thành Đường Vành đai Hawaii bao quanh toàn bộ hòn đảo. Đường mòn ven biển là một phần của Đường mòn Lịch sử Quốc gia Ala Kahakai. Bến cảng Honokōhau cung cấp khu vực hạ thủy cho thuyền độc mộc truyền thống, thuyền đánh cá, các tour lặn biển và lặn ống thở trong khu vực.

    Đường mòn Māmalahoa dẫn đến khu biến nông Honu-Green Sea Turtle sinh sống. Rùa Chelonia mydas hay Honu-Green Sea Turtle, chúng là một trong những loài động vật biển mang tính biểu tượng của Hawaii. Honu-Green Sea Turtle sinh sống ở bãi biển trong cùng khu vực của Công viên Lịch sử Quốc gia Kaloko-Honokōhau, vì thế chúng tôi có thể đi bộ xuyên qua khu rừng nhiệt đới (rainforest) khoảng 20 phút là đến bãi biển cạn nơi những con rùa biển Honu-Green sinh sống.

    4. Honu-Green Sea Turtle (Chelonia mydas)

    Rùa biển xanh (Chelonia mydas), còn được gọi là rùa xanh, rùa biển đen và rùa xanh Thái Bình Dương, là một loài rùa biển lớn thuộc họ Cheloniidae. Nó là loài duy nhất trong chi Chelonia. Phạm vi sinh sống của nó trải rộng khắp các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới với hai quần thể riêng biệt ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, nhưng nó cũng được tìm thấy ở Ấn Độ Dương. Tên gọi này liên quan đến lớp mỡ màu xanh thường thấy bên dưới mai của nó, do thức ăn của nó hoàn toàn là cỏ biển. Màu sắc của mai có màu từ ô liu đến đen, cơ thể dẹt theo chiều lưng bụng của rùa Chelonia mydas được bao phủ bởi một mai lớn hình giọt nước; nó có một cặp vây lớn giống như mái chèo. Nó thường có màu sáng, mặc dù ở các quần thể phía đông Thái Bình Dương, một số phần của mai có thể gần như đen.

    Không giống như các thành viên khác trong họ của nó (chẳng hạn như rùa biển đồi mồi) Rùa Chelonia mydas chỉ ăn thực vật. Tuy nhiên, rùa trưởng thành thường sống ở các đầm nông, ăn các loài cỏ biển khác nhau. Giống như các loài rùa biển khác, rùa Chelonia mydas di cư quãng đường dài giữa các khu vực kiếm ăn và bãi đẻ trứng. Nhiều hòn đảo trên thế giới được gọi là Đảo Rùa do rùa Chelonia mydas làm tổ trên bãi biển. Rùa cái bò lên cát biển vào ban đêm, đào tổ và đẻ trứng. Rùa Chelonia mydas con sau khi nở ra, chúng bò xuống nước biển.

    Rùa biển xanh (Chelonia mydas), là một loài rùa biển lớn thuộc họ Cheloniidae, chúng sinh sống trải rộng khắp các vùng biển nhiệt đới trên thế giới, với hai quần thể riêng biệt ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, nhưng nó cũng được tìm thấy ở Ấn Độ Dương. Lớp mỡ màu xanh thường thấy bên dưới mai của nó, thức ăn của chúng hoàn toàn là loài cỏ biển, màu sắc của mai có màu từ ô liu đến đen, không giống như các thành viên khác trong họ của nó, chẳng hạn như rùa biển đồi mồi. Cơ thể dẹt theo chiều lưng. Chúng có một cặp vây lớn giống như mái chèo.

    Rùa Chelonia mydas được IUCN và CITES liệt vào danh sách loài khan hiếm và có nguy cơ diệt chủng nên chúng được bảo vệ khỏi sự khai thác của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việc thu thập, làm hại hoặc giết chúng là bất hợp pháp và bị cấm. Ngoài ra, nhiều quốc gia có đạo luật quy định để bảo vệ các khu vực mà rùa Chelonia mydas làm tổ. Tuy nhiên, rùa Chelonia mydas vẫn đang gặp nguy hiểm do những sinh hoạt của con người gây ra. Ở một số quốc gia, rùa Chelonia mydas và trứng của chúng vẫn bị săn bắt để làm thức ăn. Đôi khi, nhiều con rùa đã chết vì bị mắc vào lưới đánh cá.

    Honu-Green Sea Turtle tìm tìm thấy ở những khu biển nông, giữa các nghềnh đá và ăn những loại cỏ biển quanh vùng.

    Những sinh vật hiền lành này thường được bắt gặp đang bơi lội trong nước biển hoặc trong vùng nước nông ven bờ. Sự hiện diện của chúng gắn bó sâu sắc với văn hóa Hawaii, nơi chúng được tôn kính như những biểu tượng của sự may mắn, trường thọ và sự che chở.

    Rùa Chelonia mydas được tìm thấy trên khắp thế giới như bờ biển Thái Bình Dương, bờ biển Caribe và Đại Tây Dương của Bắc và Nam Mỹ, Địa Trung Hải và các vùng phía bắc của Ấn Độ Dương. Rùa Chelonia mydas con mới nở ăn cá và thực vật, nhưng sau đó chuyển sang ăn tảo và cỏ biển khi được 5 đến 7 tuổi. Ít thường xuyên hơn, rùa non và rùa trưởng thành có thể ăn các động vật không xương sống như bọt biển và sứa. Tuổi thọ của chúng được ước tính từ 60 đến 70 năm, hay những con trưởng thành có thể sống tới 90 năm trong thiên nhiên. Nhiều hòn đảo trên thế giới được gọi là Đảo Rùa do Rùa Chelonia mydas làm tổ trên bãi biển. Tuy nhiên, rùa Chelonia mydas không đạt đến tuổi trưởng thành về sinh dục cho đến 25 đến 40 năm! Và thời gian sinh sản khác nhau: từ 17 đến 23 năm. Một khi rùa cái có thể sinh sản, nó sẽ quay trở lại địa điểm làm tổ của mình sau mỗi 2 đến 5 năm và đẻ từ 3 đến 9 lứa. Mỗi lứa có từ 75 đến 200 quả trứng, với khoảng cách khoảng 12 ngày giữa mỗi lứa. Sau nhiều tháng đẻ trứng, nó quay trở lại biển để kiếm ăn. Tùy thuộc vào nhiệt độ, trứng có thể nở sau 45 đến 75 ngày; Và những con non thường nở vào ban đêm để di chuyển về phía chân trời sáng nhất là đại dương.

    Rùa Chelonia mydas là loài di cư, di chuyển hàng trăm hoặc hàng ngàn con từ khu vực kiếm ăn đến bãi biển làm tổ. Hơn 95% quần thể rùa Chelonia mydas làm tổ ở French Frigate Shoals thuộc Khu bảo tồn biển quốc gia Papahānaumokuākea. Chúng di chuyển đến các đảo chính của Hawaii để kiếm ăn và tắm nắng trên bãi biển. Việc làm tổ và kiếm ăn hạn chế xảy ra ở các địa điểm khác ở Thái Bình Dương như Samoa thuộc Mỹ, Guam và Khối thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana. Khi không di cư, Rùa Chelonia mydas ở lại vùng nước nông như đầm phá, rạn san hô, vịnh và bãi cạn để kiếm ăn và làm tổ dọc theo các bãi biển thoáng đãng, không bị quấy rầy.

    April 26, 2026-DẠO PHỐ KAILUA KONA, HAWAII

    Sau bữa ăn sáng, chúng tôi lấy Tender ship để vào phố.

    Bãi biển Niumalu: Từng là một trung tâm sôi động dành cho hoạt động chèo thuyền ca-nô, bãi cát tại Niumalu (nghĩa là “bóng dừa che mát”) thường được biết đến với tên gọi Bãi biển Kanuha, được che chắn bởi một đê chắn sóng kiên cố, vốn để bảo vệ sự an toàn cho du khách tắm biển tại đây suốt hơn một thế kỷ qua.

    Nằm về phía bên trái của Cung điện Hulihe’e là Huiha, một điểm lướt sóng đầy thách thức, đòi hỏi người chơi phải có kỹ năng điêu luyện cùng sự am hiểu tường tận về địa hình và dòng chảy tại khu vực này. Một mỏm đá dung nham pahoehoe nhẵn bóng nằm ngay dưới chân đê chắn sóng được đặt tên theo vị Ali’inui (Tù trưởng Tối cao) “Umi-a-liloa”. Chính Tù trưởng Umi là người đã thiết lập một khu dinh thự hoàng gia tại đây, đồng thời thúc đẩy gia tăng sản lượng lương thực thông qua việc phát triển các ao nuôi cá ven biển và các vùng đất canh tác nằm trên sườn dốc thuộc Hệ thống Canh tác Kona.

    Thành phố Kailua đẹp, thơ mộng, sạch và an bình nằm ngay cạnh bờ biển, màu nước biển xanh một màu xanh biếc (dark blue). Cả khu phố như bao phũ bởi những hàng dửa và những bông hoa muôn màu sắc.

    Những quán ăn rải rác khắp nơi, khu Kona Inn shopping village bày bán những quần áo, quà lưu niệm, vòng trang sức, v.v…

    Cung điện HULIHE’E (Hulihe’e Palace) là một di tích lịch sử được xây dựng vào năm 1838 bởi Thống đốc John Adams Kuakini, một người bạn đồng hành của Kamehameha I và là một trong những thủ lĩnh đầu tiên tiếp nhận lối sống phương Tây. Việc xây dựng Cung điện Hulihe’e đã được hoàn thành vào 1838. Hulihe’e là dinh thự của Thống đốc John Adams Kuakini và là nơi nghỉ ngơi của các gia đình hoàng gia Hawaii. Nhà thờ Moku’aikaua, Cung điện Hulihe’e có chung phong cách kiến trúc tương tự. Vào năm 1884, Vua Kelakaua đã cập nhật Hulihee với ngoại thất lanai mở rộng. Ngày nay, Cung điện được điều hành như một bảo tàng Nữ hoàng Hawaii.

    Hulihe’e palace được xây bằng san hô, đá núi lửa và gỗ bản địa, cung điện được trang bị nội thất sang trọng. Hulhee trở thành nơi cư trú của Công chúa Ruth ở Kailua. Nữ thống đốc Hawaii, Vua Kalakaua, đã trang hoàng lại nó để sử dụng làm cung điện mùa hè của mình. Và gần đây nhất, nó thuộc về Hoàng tử Jonah Kalanianaole, đại biểu Hawaii tại Quốc hội. Cung điện được con gái của Hawaii tu sửa lại vào năm 1927 để sử dụng làm bảo tàng.

    Nhà thờ MOKU’AIKAUA

    Các nhà truyền giáo Boston đã mang Cơ đốc giáo đến Hawaii khi họ đến Kailua vào năm 1820. Moku’aikaua là nhà thờ Cơ đốc giáo lâu đời nhất ở Hawaii. Từ năm 1835 đến năm 1837 các bức tường bên ngoài được thay bằng đá nham thạch và san hô nghiền nát. Đá được chạm khắc để xây dựng nền móng. Nội thất là loại gỗ ‘Ohi’a. Năm 1808, nhà truyền giáo hoed cùng với đồng nghiệp opukaha’ia (henry obookiah) nuôi ý tưởng truyền giáo bởi khi ở New England, họ đã trở thành nhà truyền giáo và đã nhận được một nền giáo dục căn bản tại trường truyền giáo tại cornwall, connecticut.

    Sau cái chết bất ngờ của Henry Obookiah, Hopu đã giữ lời hứa sẽ đến hawaii với một công ty truyền giáo đầu tiên và ông đã mang theo phúc âm, dạy chữ quốc ngữ và hỗ trợ Vua Kаменамена trong nhiều vấn đề khác. Từ năm 1820 đến 1825, Hopu một mình phục vụ với tư cách là mục sư của nhà thờ mokunkata, đưa số giáo dân tham dự lên đến 300 thành viên byetbe lime rey, sau đó, ông trở về oaho, dòng công giáo đầu tiên ở hawaii là hopu to henrietta halekti (delia). Trong những năm cuối đời, Hopu từng là phó tế và được mọi người biết đến với cái tên “the faitheul hopu» pono, e ke kauwa maika’l, e malama pono“

    Cộng đoàn tín hữu của nhà thờ Mokuaikaua được thành lập từ năm 1820, và tòa nhà hiện tại được hoàn thành vào năm 1837. Lịch sử Cộng đoàn tín hữu này được thành lập lần đầu tiên vào năm 1820 bởi ông bà Asa và Lucy Goodale Thurston, những người thuộc đoàn truyền giáo Cơ Đốc giáo đầu tiên của Mỹ đặt chân đến đây trên con tàu buồm hai cột buồm (brig) mang tên Thaddeus nay được chưng trong nhà thờ.(Tàu Thaddeus thu nhò)

    Cộng đoàn tín hữu của nhà thờ đã được Vua Kamehameha II và Nữ Nhiếp chính Kaʻahumanu cấp phép để giảng dạy đạo Cơ Đốc. Tháng 10 năm 1823, họ được tin rằng người dân tại Kailua-Kona đã bắt đầu quan tâm đến những lối sống mới và đã dựng lên một nhà thờ nhỏ bằng gỗ. Công trình đầu tiên tại địa điểm này được xây dựng bằng gỗ ʻŌhiʻa và lợp mái tranh, trên phần đất được Hoàng gia Thống đốc Kuakini cấp, nằm ngay bên kia đường đối diện với Cung điện Huliheʻe.

    Cái tên “Mokuʻaikaua” theo nghĩa đen trong tiếng Hawaii có nghĩa là “quận/vùng đất giành được bằng chiến tranh“, có lẽ được đặt theo tên khu rừng trên cao nguyên, nơi người ta đã khai thác gỗ để xây dựng nhà thờ. Sau nhiều lần hỏa hoạn, tòa nhà bằng đá hiện tại đã được xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1835 đến 1837; một phần vật liệu đá được tái sử dụng từ một *Heiau* (đền thờ cổ thuộc tín ngưỡng Hawaii) nằm gần đó.

    Nội thất bên trong nhà thờ được trang trí bằng gỗ Koa. Hiện tại Nhà thờ vẫn tiếp tục được sử dụng cho các hoạt động tôn giáo và mở cửa cho công chúng tham quan; tại đây có trưng bày một số hiện vật lịch sử, chẳng hạn như mô hình thu nhỏ của con tàu Thaddeus. Những thành viên đáng chú ý khác trong đoàn truyền giáo đầu tiên đó còn có Mục sư Hiram Bingham I cùng phu nhân. Nhả thờ nằm trong danh sách các địa điểm lịch sử tiểu bang vào ngày 3 tháng 10 năm 1978.

    CHỢ NÔNG SẢN (FAMER MARKET)

    Cuối phố là khu chợ nông sản do những người dân sống trong nông trại tai Kailua, Kona trồng trọt và đem ra bán. Chợ họp vào ngày cuối tuần và bày bán đủ loại rau, quả, trái cây vùng nhiệt đới như soài, măng cụt, nhãn, dứa, dưa hấu, v.v…

    Và chúng tôi cũng mua ủng hộ 1 1/2 pounds nhãn hạt tiêu, giá $5/pound và 1 pounds măng cụt giá $12/pound. Xong ngồi ăn tại chỗ vì chúng tôi không được phép mang trái cây về lại du thuyền. Măng cụt thì không được ngon nhưng nhãn thì thơm, ngọt lịm, hột nhỏ và cơm nhãn rất dầy.

    April 27, 2026-BIG ISLAND,

    Big Island, Hawaii là hòn đảo lớn nhất ở Hoa Kỳ, nằm ở tiểu bang Hawaii. Đây là hòn đảo cực đông nam của quần đảo Hawaii, một chuỗi các đảo núi lửa ở Bắc Thái Bình Dương. Với diện tích 4.028 dặm vuông (10.430 km2), nó chiếm 63% tổng diện tích đất liền của quần đảo Hawaii. Tuy nhiên, nó chỉ có 13% dân số của quần đảo. Đảo Hawaii là hòn đảo lớn thứ ba ở Polynesia, sau Đảo Bắc và Đảo Nam của New Zealand. Tên chính thức của hòn đảo là Đảo Hawaiʻi để phân biệt với tiểu bang. Nó cũng được gọi là Đảo Lớn, do kích thước của nó so với các đảo Hawaii khác. Trong tiếng Hawaii, hòn đảo đôi khi được gọi là Moku hoặc Keawe.

    Theo điều tra dân số năm 2020 là 200,629 người. Thủ đô và cộng đồng lớn nhất của huyện là Hilo. Huyện Hawaiʻi không có thành phố nào được thành lập. Hawaiʻi được cho là đặt tên theo Hawaiʻiloa, một nhà hàng hải huyền thoại người Polynesia được cho là đã khám phá ra hòn đảo này. Các tài liệu khác cho rằng tên gọi này bắt nguồn từ vương quốc huyền thoại Hawaiki, nơi được cho là xuất xứ của một số người Polynesia chuyển đến sau khi chết, hoặc vương quốc của các vị thần và nữ thần. Các nghiên cứu khảo cổ học ban đầu cho thấy các nhà thám hiểm Polynesia từ quần đảo Marquesas hoặc quần đảo Society có thể đã đến quần đảo Hawaii sớm nhất là vào thế kỷ thứ III Sau Công nguyên, có thể với làn sóng thứ hai đến từ Tahiti vào khoảng năm 1100. Tuy nhiên, các phân tích gần đây hơn cho thấy những người định cư đầu tiên đến vào khoảng năm 900–1200 Sau Công nguyên.

    Truyền thống truyền miệng cho rằng một trong những người nổi tiếng nhất của Hawaiʻi là ʻUmi-a-Līloa, người đã thống nhất hòn đảo bằng vũ lực. ‘Umi-a-Liloa là con trai ngoài giá thú của Līloa, người cai trị từ Thung lũng Waipiʻo ở quận Hāmākua. Khi Līloa chết, hòn đảo được chuyển cho Hakau, anh trai cùng cha khác mẹ của ʻUmi-a-Liloa. Tuy nhiên, ʻUmi-a-Liloa đã tấn công & giết chết Hakau và giành quyền kiểm soát Hāmākua. Sau đó,ʻUmi-a-Liloa tiến hành chinh phục các quận Hilo, Puna, Kaʻū và Kona, nhưng người dân tại những quận này đã nổi dậy chống lại ʻUmi-a-Liloa. ʻUmi-a-Liloa đặt trụ sở chính phủ mới của mình tại Kailua thuộc quận Kona.

    Năm 1779, thuyền trưởng James Cook thực hiện chuyến đi thứ hai đến quần đảo Hawai’i, neo đậu tại vịnh Kealakekua trên đảo Hawaiʻi. Ông đã ở đó vài tuần, gặp gỡ và giao thương với người dân địa phương, đồng thời chuẩn bị tàu thuyền cho chuyến đi dự kiến ​​đến Bắc Cực. Người Hawaii đã đón tiếp ông nồng hậu, coi ông như hiện thân của thần Lono. Đầu năm 1780, Cook khởi hành đi Bắc cực nhưng tàu của ông bị hư hại nặng trong một cơn bão ngay sau khi ra khơi, và ông buộc phải quay trở lại Kealakekua chỉ sau một tuần trên biển. Trong lần neo đậu thứ hai này, một cuộc xung đột giữa người châu Âu và người Hawai’i đã trở nên bạo lực, dẫn đến cái chết của nhiều người ở cả hai phía bao gồm James Cook. Quan hệ hòa bình cuối cùng đã được khôi phục với thủy thủ đoàn của các tàu của James Cook và họ là những người đã rời quần đảo Hawai’i vĩnh viễn vào cuối tháng đó.

    Năm 1780, đảo Hawaiʻi được kiểm soát bởi aliʻinui Kalaniʻōpuʻu, một hậu duệ của ʻUmi-a-Līloa khi ông qua đời vào năm 1782, ông đã chỉ định con trai mình là Kīwalaʻō làm người thừa kế. Tuy nhiên, một mối thù giữa Kīwalaʻō và cháu trai của Kalaniʻōpuʻu là Paiʻea Kamehameha đã sớm leo thang thành một cuộc nội chiến. Kīwalaʻō đã tử trận trong trận Mokuʻōhai vào cuối năm đó, khiến quyền kiểm soát hòn đảo bị chia cắt giữa Kamehameha ở phía tây, chú và cố vấn của Kīwalaʻō là Keawemaʻuhili ở phía đông bắc, và người anh cùng cha khác mẹ của Kīwalaʻō là Keōua Kūʻahuʻula ở phía nam. Ba thủ lĩnh, được hỗ trợ bởi tàu thuyền và vũ khí phương Tây, đã chiến đấu bất phân thắng bại trong 8 năm cho đến năm 1790, khi Keōua đánh bại và giết chết Keawemaʻuhili.

    Năm 1791, quân của Kamehameha đã giết Keōua tại một cuộc gặp gỡ ngoại giao, để lại quyền kiểm soát Hawaiʻi cho Kamehameha. Kamehameha tiếp tục chinh phục phần còn lại của quần đảo Hawaii, củng cố quyền kiểm soát của mình vào năm 1810 với sự đầu hàng hòa bình của Kaumualiʻi, vua của Kauai.  Ông đặt tên cho vương quốc mới của mình, và mở rộng ra là toàn bộ quần đảo, lấy tên là Vương quốc Hawaiʻi. Năm 1822, nhà truyền giáo William Ellis đến Hawai’i và tháng 7 năm 1898, Hawaiʻi và tất cả các đảo Hawai’i đã bị Hoa Kỳ sáp nhập, trở thành Lãnh thổ Hawaii. Năm 1905, việc thông qua Đạo luật Quận đã thành lập Quận Hawaii, cung cấp cho hòn đảo chính quyền địa phương lần đầu tiên kể từ năm 1810.

    HILO, BIG ISLAND

    Khi du thuyền Celebrity Solstice cặp bến tại Hilo, Big Island, Hawaii, Pier 1 trên 80 Kuhio Street, chúng tôi quyết định mua một private tour với giá $130/per person cho 4 1/2 giờ để đi thăm 5 nơi:

    • Richardson Ocean Park (Black sand Beach)
    • Liliuokalani Park and Garden
    • Hilo Waterfall on Waianuenue Ave, J’ula-upper I’Ihonua
    • Kilauea vocano site
    • Nahuku Lavatube (Thurson Lavatube)

    Hilo là một moku hay quận trên Đảo Lớn Hawaii thuộc Tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Trong hệ thống hành chính hiện tại của Quận Hawaii, moku Hilo được chia thành Quận Bắc Hilo (Hilo ‘Akau) và Quận Nam Hilo (Hilo Hema). Hilo nằm ở phía đông, được hưởng lượng mưa nhiều nên cây cối xanh tươi. Hilo là CDP lớn thứ hai ở Tiểu bang Hawaii và là khu định cư lớn nhất trên đảo với dân số 44,186 người theo điều tra dân số năm 2020. Hilo là thủ đô của Quận Hawaii, và nằm trong Quận Nam Hilo. nhìn ra Vịnh Hilo. Hilo nằm gần hai ngọn núi lửa: Mauna Loa, một ngọn núi lửa còn đang hoạt động và Mauna Kea là ngọn núi lửa không hoạt động.

    Nằm ở phía đông bắc của đảo Hawaii, Hilo mang đến vẻ đẹp thiên nhiên ngoạn mục cùng với một thị trấn sôi động. Nằm ở phía đối diện về mặt địa lý của bờ biển Kohala núi lửa, khu vực này được ban tặng những thác nước hùng vĩ, rừng mưa nhiệt đới tươi tốt và những khu vườn hoa nở rộ. Nơi đây cũng là địa điểm của Sân bay Quốc tế Hilo và là điểm dừng chân thuận tiện trên đường đến Vườn Quốc gia Núi lửa Hawaii, cách đó 45 phút về phía nam. Là một khu vực nông nghiệp và đánh bắt cá sầm uất trong thời kỳ đầu, Hilo đã phát triển thành một trung tâm thương mại cho ngành công nghiệp đường mía vào những năm 1800.

    Trung tâm thành phố Hilo được xây dựng xung quanh vịnh hình lưỡi liềm và trở thành trụ sở của chính quyền quận. Ngày nay, trung tâm thành phố Hilo là một thị trấn quyến rũ với các bảo tàng viện, phòng trưng bày nghệ thuật, cửa hàng bán lẻ và nhà hàng. Tại Bảo Tàng Viện Lyma, nơi tìm hiểu về những trận sóng thần kinh hoàng suýt nhấn chìm Hilo. Tại Bảo tàng Sóng thần Thái Bình Dương hay Trung tâm Thiên văn ʻImiloa mới xây dựng với ba hình nón titan nổi bật (tượng trưng cho ba ngọn núi cao nhất trên đảo Hawaii: Maunakea, Maunaloa và Hualālai).

    Vườn Liliʻuokalani là một nơi nghỉ ngơi yên bình với những ao cá kiểu Nhật, chùa chiền và vườn đá trên diện tích 30 mẫu Anh,

    Hilo là nơi có nhiều phong cảnh đẹp như vườn Lili’uokalani, Công viên Bang Sông Wailuku là nơi có thác Waiānuenue (Thác Cầu Vồng) cao 80 feet và thác Peʻepeʻe. Hilo cũng là nơi diễn hành Lễ hội Merrie Monarch, một lễ hội kéo dài một tuần tôn vinh điệu múa hula cổ xưa và hiện đại, diễn ra hàng năm sau Lễ Phục Sinh và cũng là trụ sở của Tập đoàn Hạt Macadamia Mauna Loa, một trong những nhà sản xuất hạt macadamia hàng đầu thế giới.

    Dấu hiệu cho thấy người dân đã sinh sống ở các khu vực dọc theo Vịnh Hilo, sông Wailuku và Wailoa trước khi thế giới phương Tây tiếp xúc. Các nhà truyền giáo đã đến khu vực này vào đầu và giữa những năm 1800, thành lập một số nhà thờ, đáng chú ý là Nhà thờ Haili, ở khu vực Hilo hiện đại. Hilo mở rộng khi các đồn điền mía đường ở khu vực xung quanh tạo ra nhiều việc làm mới và thu hút nhiều công nhân từ châu Á, biến thành phố thành một trung tâm thương mại.

    Một đê chắn sóng ngang qua Vịnh Hilo được bắt đầu vào những năm 1900 và hoàn thành vào năm 1929. Vào ngày 1 tháng 4 năm 1946, một trận động đất mạnh 7.8 độ richter gần quần đảo Aleutian đã tạo ra một cơn sóng thần cao 14 mét ập vào Hilo 4.9 giờ sau đó, giết chết 160 người. Để đáp ứng hệ thống cảnh báo sớm, Trung tâm Cảnh báo Sóng thần Thái Bình Dương được thành lập vào năm 1949 để theo dõi những con sóng chết người này và đưa ra cảnh báo. Trận sóng thần này cũng đồng nghĩa với sự kết thúc của Đường sắt Hợp nhất Hawaii, và thay vào đó, Đường Vành đai Hawaii được xây dựng ở phía bắc Hilo bằng cách sử dụng một phần nền đường sắt.

    Vào ngày 23 tháng 5 năm 1960, một trận sóng thần khác, do trận động đất mạnh 9.5 độ richter ngoài khơi bờ biển Chile vào ngày hôm trước gây ra, đã cướp đi 61 sinh mạng được cho là do người dân không chú ý đến còi báo động. Các khu vực ven vịnh thấp của thành phố trên bán đảo Waiākea và dọc theo Vịnh Hilo, trước đây có dân cư sinh sống, đã được chuyển đổi thành công viên và đài tưởng niệm.

    NÚI LỬA TAI HILO, HAWAII

    Núi lửa tại Đảo Hawaiʻi phun trào theo thứ tự, ngọn này chồng lên ngọn kia, từ ngọn lâu đời nhất đến trẻ nhất. Những dãy núi lửa gồm Kohala đã tắt, Mauna Kea ngủ yên, Hualālai và Mauna Loa đang hoạt động cũng như một phần của Núi lửa Hawaiʻi Kīlauea nằm trong Vườn quốc gia vẫn còn đang hoạt động. Các nhà địa chất cho rằng một phần của Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi trên sườn phía nam và phía tây của Mauna Loa đã dẫn đến hai ngọn núi lửa Nīnole và Kulani gần như bị chôn vùi bởi Mauna Loa trẻ hơn.

    Dựa trên địa hóa học dựa trên các nguyên tố vi lượng và sự khác biệt về đồng vị trong các sản phẩm phun trào của chúng, các núi lửa Hawaii được chia thành hai nhóm. Sự khác biệt này được cho là do hệ thống magma riêng biệt của chúng. Hualālai và Mauna Loa là thành viên của một nhóm, trong khi Kohala, Mauna Kea và Kilauea là thành viên của nhóm còn lại. Vì Mauna Loa và Kīlauea là những núi lửa đang hoạt động nên hòn đảo này đang ngày càng mở rộng do sự phun trào của núi lửa tạo thành. Từ tháng 1 năm 1983 đến tháng 9 năm 2002, dòng dung nham đã tăng thêm 543 mẫu Anh (220 ha) cho hòn đảo. Tuy nhiên, dung nham chảy từ Kīlauea đã phá hủy một số thị trấn, bao gồm Kapoho vào năm 1960 và một lần nữa vào năm 2018, và Kalapana và Kaimū vào năm 1990.

    Năm 1987, dung nham đã lấp đầy “Queen’s Bath“, một hồ nước ngọt lớn hình chữ L ở khu vực Kalapana. Thêm 875 mẫu Anh nữa đã tăng từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2018 bởi vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018, với “Khe nứt 8” nằm trong khu dân cư Leilani Estates là nguồn chính của dung nham. Hồ Green là hồ nước ngọt lớn nhất trên đảo, đã bị bao phủ bởi dung nham trong vụ phun trào đó cũng như Công viên Bãi biển Ahalanui và một phần của Công viên Bãi biển Isaac Hale, phần sau bị ngập trong cát đen, khiến bến thuyền không thể sử dụng được. Mauna Loa phun trào ngắn ngủi vào năm 2022 sau 38 năm trước đó. Một số nhà địa chất tin rằng hai ngọn núi lửa dưới biển ở chân đảo là Māhukona ở góc tây bắc của đảo đã bị xói mòn xuống dưới mặt biển Kamaʻeh. Những núi lửa đã và vẫn còn hoạt động như núi núi lửa Halema’uma’u phun vào năm 1933, Kilauea Iki vào năm 1959, Puna vào năm 1955 và Kapoho vào năm 1960.

    Great Crack

    Photo showing clouds of steam surrounding lava that is partly black and partly glowing orange
    Dòng dung nham chảy vào Thái Bình Dương tại Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi vào tháng 4 năm 2005, làm cho hòn đảo ngày càng lớn hơn.

    Vết nứt lớn là một khe nứt dài 8 dặm (13.000 m), rộng 60 feet (18 m) và sâu 60 feet (18 m) trên đảo, thuộc quận Kaʻū. Theo Bộ Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS), Vết nứt lớn là kết quả của sự giãn nở vỏ trái đất do sự xâm nhập magma vào vùng đứt gãy phía tây nam của Kīlauea. Mặc dù cả trận động đất năm 1868 lẫn trận động đất năm 1975 đều không gây ra sự thay đổi đáng kể nào ở Vết nứt lớn, nhưng dung nham đã phun trào từ 6 dặm (10 km) phía dưới của nó vào năm 1823. Các con đường mòn, vách đá và các địa điểm khảo cổ có niên đại từ thế kỷ 12 đã tồn tại gần Vết nứt lớn. Vào tháng 8 năm 2018, bộ Công viên Quốc gia đã mua gần 2000 mẫu Anh (810 ha) đất tư nhân liền kề với Công viên Quốc gia Núi lửa Hawaiʻi, với lý do khu vực này có những đặc điểm địa chất quan trọng cần được nghiên cứu và bảo tồn.

    Hilina Slump

    Photo of coastline with 10 people standing or walking on the beach and palm trees in background
    Pumalu’u Beach Park is one of the most famous black sanded beaches

    Vùng sạt lở Hilina là một phần có thể tích 4,760 dặm khối (19,800 km3) của sườn phía nam đảo Kīlauea đang di chuyển ra xa khỏi đảo. Từ năm 1990 đến năm 1993, các phép đo Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) cho thấy sự dịch chuyển về phía nam khoảng 4 inch (10 cm) mỗi năm. Các phép đo dưới biển cho thấy một “bậc thang” đã hình thành nên một bức tường chắn và bức tường chắn này có thể làm giảm khả năng tách rời thảm khốc. Động đất và sóng thần Vào ngày 2 tháng 4 năm 1868, một trận động đất có cường độ ước tính từ 7.25 đến 7.9 đã làm rung chuyển bờ biển phía đông nam của Hawaiʻi. Đây là trận động đất tàn phá nhất trong lịch sử được ghi nhận của Hawaiʻi. Nó đã gây ra một vụ lở đất trên Mauna Loa, cách Pāhala 5 dặm (8 km) về phía bắc, khiến 31 người thiệt mạng. Một trận sóng thần đã cướp đi thêm 46 sinh mạng. Các làng Punaluʻu, Nīnole, Kāwāʻa, Honuʻapo và Keauhou bị thiệt hại nặng nề. Sóng thần được cho là đã tràn qua ngọn cây dừa cao tới 60 feet (18 m), và ở một số nơi, nó đã tiến vào đất liền xa tới một phần tư dặm (400 mét). Vào ngày 29 tháng 11 năm 1975, một đoạn rộng 37 dặm (60 km) của Hilina Slump đã sụt xuống 11.5 feet (3.5 m) và trượt 26 feet (7.9 m) về phía đại dương.

    Sự chuyển động này đã gây ra một trận động đất mạnh 7.2 độ richter và một trận sóng thần cao 48 feet (15 m). Tài sản ven biển ở Punaluʻu đã bị cuốn trôi khỏi móng. Hai người chết được báo cáo ở Halape, và 19 người khác bị thương. Hòn đảo này đã bị thiệt hại do sóng thần gây ra bởi các trận động đất ở Alaska vào ngày 1 tháng 4 năm 1946 và ở Chile vào ngày 23 tháng 5 năm 1960. Trung tâm thành phố Hilo bị thiệt hại bởi cả hai trận sóng thần, với nhiều người thiệt mạng. Ngay phía bắc Hilo, Laupāhoehoe đã mất 16 học sinh và 5 giáo viên trong trận sóng thần năm 1946.

    Vào tháng 3 năm 2011, một trận động đất mạnh 9.0 độ richter ngoài khơi bờ biển phía đông Nhật Bản lại tạo ra sóng thần gây thiệt hại nhỏ ở Hawaiʻi. Thiệt hại ước tính đối với các tòa nhà công cộng là khoảng 3 triệu đô la Mỹ. Ở khu vực Kona, trận sóng thần này đã cuốn một ngôi nhà xuống vịnh Kealakekua, phá hủy một câu lạc bộ du thuyền và văn phòng tàu du lịch ở vịnh Keauhou, gây thiệt hại nặng nề ở Kailua-Kona, làm ngập tầng trệt của Khách sạn King Kamehameha, và tạm thời đóng cửa Khu nghỉ dưỡng Kona Village.

    Đầu tháng 5 năm 2018, hàng trăm trận động đất nhỏ đã được phát hiện ở Vùng đứt gãy phía Đông của Kīlauea, khiến các quan chức phải đưa ra cảnh báo sơ tán. Vào ngày 3 tháng 5 năm 2018, núi lửa phun trào ở Puna sau trận động đất 5.0 xảy ra trước đó trong ngày, gây ra việc sơ tán các khu dân cư Leilani Estates và Lanipuna Gardens. Một trận động đất có vẻ liên quan với cường độ 5.3 và một trận động đất tiếp theo với cường độ 6.9 đã xảy ra vào ngày 4 tháng 5. Sương mù núi lửa Sương mù núi lửa (vog) có thể bao phủ đảo Hawaiʻi khi Kīlauea hoạt động. Kể từ khi hoạt động núi lửa chấm dứt vào tháng 9 năm 2018, vog phần lớn đã biến mất ở phía tây của hòn đảo. Các cột khí tạo ra một lớp vog mà gió mậu dịch phần lớn đã chuyển hướng về phía bờ biển Kona. Vog có thể gây hại cho sức khỏe của thực vật, con người và các loài động vật khác. Hầu hết các hạt khí dung đều có tính axit và kích thước đủ lớn để có thể lưu lại trong phổi gây tổn thương. Các triệu chứng giống cúm và mệt mỏi nói chung được báo cáo, và đặc biệt rõ rệt ở những người mắc bệnh về đường hô hấp.

    Cột khói hơi nước khi dung nham đỏ của Kīlauea chảy vào đại dương. Ba dòng dung nham Waikupanaha và một dòng dung nham Ki chảy vào đại dương. Công viên bãi biển Punaluʻu, một trong những bãi biển cát đen nổi tiếng nhất Bãi biển Punaluʻu (còn được gọi là Bãi biển Cát Đen) là một bãi biển nằm giữa Pāhala và Nāʻālehu trên Đảo Lớn của tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Bãi biển có cát đen được tạo thành từ bazan và được hình thành bởi dung nham chảy vào đại dương, phát nổ khi chạm đến đại dương và nguội đi. Hoạt động núi lửa này nằm trong Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi. Punaluʻu là nơi thường xuyên lui tới của rùa đồi mồi và rùa xanh đang có nguy cơ tuyệt chủng, chúng thường được nhìn thấy đang phơi nắng trên cát đen.

    Black sand tại Bãi biển Punaluʻu

    Khu vực bơi lội rất nhiều đá nên có thể gây nguy hiểm. Bãi biển cũng có một lượng lớn nước ngọt ngầm chảy vào, rất lạnh và trông gần giống như xăng pha lẫn với nước. Truyền thuyết kể rằng, vào thời kỳ hạn hán, người Hawaii cổ đại sống trong khu vực này sẽ lặn xuống nước với một chiếc bình để lấy nước ngọt. Trong tiếng Hawaii, puna luʻu có nghĩa là “người lặn xuống lấy nước suối”.

    Một loại cây gọi làHapu’u pulu (tree fern) mọc rất nhiều tại Hilo, đó là một loại cây dương xỉ, phía trên của loại cây này được bao phủ bởi một lớp gọi lại pulu (len vàng), lớp pulu giúp bảo vệ sự phát triển của lá non khỏi bị khô. Pulu non cũng hữu ích như một loại thuốc băng bó cho vết thương hay vết trầy xước. Các loại cây khác như coconut, bamboo, banyan, cook pines, cây đa, và Öhi’a lehua (loài cây đầu tiên mọc trên dung nham mới) đã chiếm ưu thế trong hầu hết các vùng đất của hòn đảo.

    Tuy nhiên, sự rậm rạp của cây rừng đã là nơi trú ẩn của loài chuột Timatin. Khí hậu ôn hòa của vùng cao Hawaii giúp cho sự phát triển của những cây nhỏ Như Polo là một loại cà phê có quả màu đỏ tươi hoặc màu cam. Oma o là loại hạt được một số người sử dụng như thuốc nhuận tràng. Nhờ có nhiều mưa nên khí hậu thoáng mát,rất thích hợp cho các loài hoa vùng nhiệt đới như Bird of Paradise, Plumeria, Hawaiian Hibiscus, Orchids, v.v…

    1. Richardson Ocean Park (Black & Green sand Beach)

    Bãi biển Richardson (còn được gọi là Công viên Đại dương Richardson) là một công viên thuộc Quận Hawaii, nằm ngay phía đông thành phố Hilo, Hawaii, trên hòn đảo lớn Hawaii (Big Island). Nằm liền kề với nó là Công viên Bãi biển Lele’iwi. Bãi biển tọa lạc gần cuối Đại lộ Kalanianaʻole, tại tọa độ 19°44′5″B 155°0′49″T; đây là nơi Đường Leleiwi dẫn lối đến một khu vực tiếp cận bờ biển chưa được phát triển, vốn được biết đến với tên gọi Công viên Lehia.

    The Richardson Beach, the only one black and green sand in Hilo, Big Island of Hawaii

    Cái tên Richardson bắt nguồn từ những chủ sở hữu đầu tiên của nơi này là Elsa và George Richardson; ngôi nhà của họ hiện vẫn còn đứng vững tại đó. George Richardson từng là Trưởng thám tử của Quận Hawaii; ông là hậu duệ của Kekuiapoiwa, thân mẫu của Vua Kamehameha I và người chồng thứ hai của bà là Kamanawa. Ông đã nhận được mảnh đất này như một món quà tri ân từ gia đình Malo. Vào năm 1920, khi cả gia đình Malo đều mắc phải căn bệnh thương hàn, Elen là người có triệu chứng nhẹ nhất trong số họ đã đi bộ đến nhà của George Richardson tại Vịnh Reeds để cầu cứu. Richardson là một người mang một phần dòng máu Hawaii và vốn quê ở Kohala thường xuyên chèo thuyền đi đánh cá dọc theo bờ biển Keaukaha và đã trở thành một người bạn thân thiết của David Malo. Khi Elena xuất hiện trước cửa nhà ông với tin dữ, ông lập tức đưa cô lên thuyền của mình và quay trở lại nhà của gia đình Malo. Tại đó, ông tập hợp những thành viên còn lại trong gia đình và đưa họ đến Hilo để nhập viện. Mặc dù đã nỗ lực hết mình, hai người con trong gia đình vẫn không qua khỏi. Sau khi gia đình trở về nhà để tĩnh dưỡng, Richardson vẫn tiếp tục ghé thăm và chăm lo cho họ bằng cách mang đến thuốc men cùng các nhu yếu phẩm khác.

    George Richardson in 1951 và ngôi nhà của ông trên Richardson Beach

    Ông Malo cảm thấy vô cùng biết ơn Richardson, tin rằng nếu không có sự giúp đỡ của Richardson, có lẽ ông Malo đã mất đi cả gia đình mình. Khi đã hoàn toàn bình phục, ông Malo ngỏ ý mời Richardson xây dựng một ngôi nhà ngay trên phần đất của gia đình Malo nếu ông muốn, và hãy coi mảnh đất đó như chính tài sản của mình. Richardson đã chấp nhận lời đề nghị này, và vào đầu những năm 1920, ông đã cho xây dựng một ngôi nhà lớn trên khu đất đó. Ông Malo đã giúp thiết kế ngôi nhà, và khuyên nên bố trí những cánh cửa lớn ở cả mặt trước lẫn mặt sau của ngôi nhà để tạo thành một lối thông, giúp dòng nước có thể chảy xuyên qua khi xảy ra các đợt sóng lớn vào mùa đông hoặc sóng thần.

    Ngôi nhà của gia đình Richardson trước khi trở thành Trung tâm Đại dương Richardson. Những cửa sổ lớn được thiết kế để cho phép nước chảy qua nhà.

    Thiết kế này thực sự đã cứu ngôi nhà thoát khỏi sự tàn phá trong nhiều lần; thay vì bị dòng nước cuốn trôi đi, ngôi nhà lại để cho nước biển chảy xuyên qua lòng nhà. Ngày nay, bãi biển Richardson là một công viên công cộng, còn ngôi nhà tại đây hiện có người sử dụng và được vận hành như là Trung tâm Đại dương Richardson (Richardson Ocean Center). Richardson Beach là bãi biển duy nhất trong khu vực Hilo sở hữu cả cát đen lẫn cát xanh. Hải cẩu và rùa biển cũng thường xuyên lui tới khu vực này.

    2. Liliuokalani Park and Garden

    Công viên Liliʻuokalani là một công viên rộng 24.14 mẫu Anh (97.700 m²) bao gồm các khu vườn kiểu Nhật, tọa lạc trên đường Banyan Drive tại Hilo, trên đảo Hawaiʻi. Khu đất xây dựng công viên được Nữ hoàng Liliʻuokalani hiến tặng, nằm ở phía đông nam trung tâm thành phố Hilo, trên Bán đảo Waiakea thuộc Vịnh Hilo. Phần lớn diện tích công viên hiện nay bao gồm các khu vườn kiểu Nhật mang phong cách thời Edo được xây dựng trong giai đoạn 1917–1919 và được cho là quần thể vườn kiểu Nhật lớn nhất nằm ngoài lãnh thổ Nhật Bản.

    Khu vườn này bao gồm Hồ Waihonu, cùng với các cây cầu, ao hồ, tháp, tượng đài, cổng Torii và một trà thất kiểu Nhật. Các công viên và điểm tham quan gần Vịnh Hilo và trung tâm thành phố Hilo,

    Công viên trông rất nhiều loại cây như cây cọ, cây đa cổ thụ, cây dừa kiểng, v.v…

    3. Hilo Waterfall on Waianuenue Ave, J’ula-upper I’Ihonua

    4. Kilauea vocano

    Kīlauea là một ngọn núi lửa đang hoạt động nằm trên quần đảo Hawaii. Nó tọa lạc dọc theo bờ biển phía đông nam của Đảo Hawaii. Ngọn núi lửa này có niên đại từ 210,000 đến 280,000 năm và đã vươn cao lên trên mực nước biển khoảng 100,000 năm trước. Kể từ khi con người bắt đầu định cư trên quần đảo này, Kīlauea luôn là ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất trong số năm ngọn núi lửa cùng tạo nên hòn đảo, đồng thời cũng nằm trong số những ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất trên Trái Đất.

    Đợt phun trào gần đây nhất bắt đầu vào tháng 12 năm 2024, với những đợt phun trào dung nham và dòng chảy diễn ra ngắt quãng, kéo dài sang tận năm 2026. Kīlauea là núi lửa trẻ thứ hai và hiện là trung tâm phun trào của chuỗi núi ngầm Hawaii–Emperor. Do thiếu sự nổi bật về mặt địa hình và các hoạt động của nó trong lịch sử thường trùng khớp với hoạt động của Mauna Loa, Kīlauea. Kīlauea sở hữu một hõm chảo lớn, mới được hình thành tương đối gần đây tại đỉnh núi, cùng với hai vết nứt gãy đang hoạt động. Một vết kéo dài 125 km (78 dặm) về phía đông và vết kia kéo dài 35 km (22 dặm) về phía tây. Một vết nứt gãy đang hoạt động với độ sâu chưa xác định di chuyển theo phương thẳng đứng trung bình từ 2 đến 20 mm (0,1 đến 0,8 inch) mỗi năm.

    Bắt đầu từ tháng 5 năm 2018, hoạt động phun trào đã dịch chuyển xa hơn xuống phía dưới vết nứt gãy, rời khỏi khu vực đỉnh núi để chuyển sang vùng hạ Puna; trong giai đoạn này, dung nham đã phun trào từ khoảng hai tá miệng phun, tạo nên những cột dung nham cao vút và tuôn chảy thành những dòng sông dung nham đổ thẳng xuống đại dương tại ba địa điểm khác nhau. Vụ phun trào đã phá hủy hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất tại Hawaii, bao phủ những phần đáng kể của khu dân cư Leilani Estates và Lanipuna Gardens, đồng thời xóa sổ các cộng đồng Kapoho, Vacationland Hawaii và hầu hết khu Kapoho Beach Lots. Chính quyền Quận Hawaii báo cáo rằng đã có 716 ngôi nhà bị phá hủy. Song song với các hoạt động diễn ra ở vùng hạ lưu thuộc khu vực Puna phía dưới, hồ dung nham nằm trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu đã cạn kiệt, và một loạt các sự kiện sụp đổ kèm theo tiếng nổ dữ dội đã xảy ra tại đỉnh núi lửa; trong đó, ít nhất một vụ nổ đã phun cột tro bụi cao tới 30.000 feet (9.100 m) lên bầu trời. Hoạt động này đã dẫn đến việc phải đóng cửa khu vực Kīlauea thuộc Vườn Quốc gia Núi lửa Hawaii trong suốt nhiều tháng liền. Vụ phun trào kết thúc vào tháng 9 năm 2018. Kể từ năm 2020, một số vụ phun trào đã diễn ra bên trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu—vốn đã mở rộng đáng kể sau các sự kiện sụp đổ năm 2018 cũng như dọc theo các đới nứt gãy ở phía tây nam và phía đông của ngọn núi lửa này.

    Về mặt địa hình, Kīlauea chỉ xuất hiện như một khối nhô lên ở sườn phía đông nam của Mauna Loa; chính vì thế, trong nhiều năm liền, Kīlauea từng được cho là chỉ là một vệ tinh đơn thuần của người láng giềng khổng lồ này, chứ không phải là một ngọn núi lửa độc lập. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong vài thập kỷ qua đã chứng minh rõ ràng rằng Kīlauea sở hữu hệ thống dẫn dung nham (magma) riêng biệt, vươn lên tới bề mặt từ độ sâu hơn 60 km bên trong lòng Trái Đất. Trên thực tế, đỉnh của Kīlauea nằm trên một đường cong nối liền các ngọn núi lửa, bao gồm Mauna Kea và Kohala, nhưng lại không bao gồm Mauna Loa. Nói cách khác, mối quan hệ giữa Kīlauea và Mauna Kea cũng tương tự như mối quan hệ giữa Kama‘ehuakanaloa (trước đây gọi là Lō‘ihi) và Mauna Loa vậy. Kaluapele là hõm chảo đỉnh của núi lửa Kīlauea.

    Nằm bên trong Kaluapele, Halemaʻumaʻu (thường là một miệng hố chứa các lỗ thông hơi hoạt động liên tục) được coi là nơi cư ngụ của Pelehonuamea (Pele của đất đỏ), một thế lực sáng tạo nguyên thủy trong tín ngưỡng Hawaii, thường hiện thân dưới dạng dòng dung nham nóng chảy màu đỏ. Người châu Âu đầu tiên đặt chân lên đỉnh núi là nhà truyền giáo William Ellis vào năm 1823; kể từ đó, các tài liệu ghi chép bằng văn bản về những đợt phun trào mới bắt đầu xuất hiện. Kaluapele từng là tâm điểm của các hoạt động núi lửa diễn ra gần như liên tục trong suốt thế kỷ 19 và những năm đầu của thế kỷ 20. Kīlauea hiện được xếp vào hàng những ngọn núi lửa hoạt động mạnh mẽ nhất trên thế giới. Kể từ năm 1952 đến nay, Kīlauea đã trải qua hàng chục đợt phun trào. Từ năm 1983 đến năm 2018, hoạt động phun trào diễn ra gần như không ngừng nghỉ dọc theo Vùng đứt gãy phía Đông của ngọn núi lửa này, tập trung chủ yếu tại các lỗ thông hơi Puʻuʻōʻō và Kupaianaha.

    Tại khu vực đỉnh núi, một lỗ thông hơi nằm bên trong Halemaʻumaʻu đã duy trì một hồ dung nham sôi sục cùng cột khói khí khổng lồ bốc lên dữ dội trong suốt giai đoạn từ năm 2008 đến 2018. Vào năm 2018, chuỗi hoạt động liên tục kéo dài suốt 35 năm tại Vùng đứt gãy phía Đông này cuối cùng đã khép lại. Một đợt xâm nhập magma vào vùng Khe nứt phía Đông hạ lưu đã dẫn đến sự sụp đổ và chấm dứt hoạt động của hồ dung nham tại Puʻuʻōʻō, đồng thời làm cạn kiệt hồ dung nham trên đỉnh núi tại Halemaʻumaʻu.

    Một trong những kẽ nứt sau khi phun lửa

    Một số du khách cho rằng đây là một kẽ nứt linh thiêng nên đã biến nó thành một “wishing vocano crack”, hố nứt này có hơi nóng phía đáy rất mạnh và dễ bắt lửa.

    Những sự kiện này đã gây ra một đợt phun trào dữ dội từ vùng Khe nứt phía Đông hạ lưu, kéo theo sự sụp đổ bên trong Kaluapele, hiện tượng đã làm mở rộng và gia tăng độ sâu của Halemaʻumaʻu. Kể từ tháng 12 năm 2020, một loạt các đợt phun trào trên đỉnh núi diễn ra bên trong Halemaʻumaʻu đã dần lấp đầy khu vực bị sụp đổ này. Trong năm 2024, hoạt động núi lửa đã dịch chuyển ra khỏi lòng chảo caldera, với một đợt xâm nhập và phun trào tại vùng Khe nứt phía Tây Nam, cùng nhiều đợt xâm nhập tại vùng Khe nứt phía Đông thượng lưu, cũng như một đợt phun trào tại vùng Khe nứt phía Đông trung lưu. Kể từ ngày 23 tháng 12 năm 2024, một đợt phun trào đã diễn ra ngắt quãng bên trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu trên đỉnh núi.

    Sự dâng trào từ trong lòng núi lửa đã tạo ra các hạt khí dung nhan thạch có tính axit và kích thước đủ loại từ lớn đến nhỏ. Thảo mộc và cây cối không không thể tồn tại và sinh sống trên vùng này được.

    Trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2018, Halemaʻumaʻu, một hố trũng nằm bên trong hõm chảo đỉnh núi của Kīlauea đã chứa đựng một hồ dung nham đang hoạt động. Kīlauea đã phun trào gần như liên tục từ các miệng phun nằm trên vết nứt gãy phía đông của nó trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1983 đến tháng 4 năm 2018; đợt phun trào này đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, bao gồm việc phá hủy hoàn toàn các thị trấn Kalapana và Kaimū cùng bãi biển cát đen trứ danh của cộng đồng dân cư nơi đây vào năm 1990.

    Loại dung thạch này có trọng lượng nhẹ như giấy, màu đen sắc xám xen lẫn ánh xanh (green) và vàng (golden) nên trông rất đẹp. Những viên đá nhan thạch này là vật quốc cấm và được bảo vệ. Tuy nhiên, không ai dám lấy cắp chúng vì theo lời truyền miệng từ người dân sống trong vùng này rằng: “Nếu một ai lấy cắp những viên đá nhan thạch này thì sẽ gặp những điều không tốt (xui xẻo) xảy ra cho chính mình hay gia đình, v.v…“

    Vụ phun trào tháng 1 năm 1960 tại Núi lửa Kapoho

    Vào ngày 12 tháng 1 năm 1960, cư dân của Kapoho đã trải qua hơn 1,000 trận động đất nhỏ làm rung chuyển khu vực. Các vết nứt sâu xuất hiện trên đường phố gây nhiều. Vụ phun trào bắt đầu vào đêm ngày 13, ngọn núi lửa Kapoho đã phun trào dung nham ra giữa một cánh đồng mía ngay phía trên Kapoho. Mặc dù dòng dung nham chính chảy ra biển, một nhánh nhỏ di chuyển chậm chạp tiến về phía thị trấn Kapoho. Bất chấp những nỗ lực của người Pháp nhằm chuyển hướng dòng dung nham bằng các rào chắn đất hoặc làm cứng nó bằng cách phun nước, nhưng vào ngày 28 tháng 1 dòng dung nham đã tràn vào và chôn vùi thị trấn. Gần 100 ngôi nhà và cơ sở kinh doanh cũng như một khu nghỉ dưỡng suối nước nóng đã bị phá hủy.

    Ngọn hải đăng Cape Kumukahi ở phía đông thị trấn vẫn còn nguyên vẹn và tiếp tục hoạt động, nhưng nhà ở của người gác hải đăng đã bị phá hủy. Từ năm 1960 đến năm 2018, có rất nhiều rặng san hô xuất hiện tại các hồ thủy triều liên kết với nhau ở Kapoho. Sau đó, không có hoạt động dung nham nào ở Kapoho trong gần 60 năm. Các hồ thủy triều tự nhiên, bãi biển cát đen và suối nước nóng ấm áp đã biến Kapoho thành một địa điểm hấp dẫn để sinh sống. Do hai yếu tố này, Kapoho đã trở thành khu vực đắt đỏ nhất để sinh sống ở Puna, với nhiều ngôi nhà có giá trên 1,000,000 đô la.

    Vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018 vào ngày 4 tháng 6 năm 2018, dòng dung nham từ một vết nứt cách bờ biển 16 km (10 dặm) về phía đất liền (từ trên cùng bên phải) cắt ngang qua các ngôi nhà của Vacationland và Kapoho Beach Lots, và bắt đầu lấp đầy các vũng thủy triều và Vịnh Kapoho. Vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018 đã làm gián đoạn nguồn điện ở Kapoho vào cuối tháng 5 và đóng cửa con đường chính dẫn đến phần còn lại của hòn đảo. Vào ngày 30 tháng 5, cư dân được khuyến cáo di tản. Vào ngày 1 tháng 6, dòng dung nham tràn vào Kapoho trên dòng dung nham năm 1960 và sau đó chuyển hướng về phía nam. Vào ngày 2 tháng 6 năm 2018, Hồ Ka Wai o Pele đã bị phá hủy khi dòng dung nham làm bốc hơi. Dòng dung nham tràn vào đại dương tại Vịnh Kapoho vào ngày 4 tháng 6 trên một mặt rộng nửa dặm (800 m). Một số lượng nhà không xác định đã bị phá hủy bởi dung nham vào ngày 4 tháng 6, nhưng phần lớn vẫn còn đứng vững. Đến ngày 5 tháng 6, dòng dung nham đã tạo ra một đồng bằng dung nham kéo dài gần 3,700 feet (1,1 km) vào vịnh.

    Các quan chức Quận Hawaiʻi cho biết hàng trăm ngôi nhà trong các khu dân cư của Vacationland Hawaii và Kapoho Beach Lots đã bị phá hủy bởi dòng dung nham đang tiến nhanh. Ngôi nhà của Thị trưởng Đảo Hawaii Harry Kim, mà ông đã mua vào năm 1971, nằm trong số hàng trăm ngôi nhà bị phá hủy. Trong vài ngày tiếp theo, toàn bộ vịnh bị lấp đầy bởi dung nham, và vào ngày 6 tháng 6, Cơ quan Phòng vệ Dân sự Quận Hawaii báo cáo rằng một vài ngôi nhà còn lại ở Vacationland đã bị xóa sổ. Một khu dân cư liền kề, khu Kapoho Beach Lots cũng bị ngập dung nham và phần lớn bị bao phủ, cùng với các hồ thủy triều Kapoho cũng như Vịnh Kapoho và các ao Champagne gần đó.

    Kapoho trở thành một khu vực không có người ở, chưa được hợp nhất bởi sự phá hủy của vụ phun trào của Kīlauea vào năm 1960, nhưng sau đó, nó đã được xây dựng lại thành một cộng đồng gồm các ngôi nhà tư nhân và nhà cho thuê nghỉ dưỡng. Thị trấn lại bị phá hủy bởi dung nham trong vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018, lần này vịnh cũng bị chôn vùi phần lớn bởi dung nham.

    Đến cuối tháng 6, khoảng 520 mẫu Anh (2,1 km2) đất mới đã được tạo ra dọc theo hàng ngàn đường bờ biển mới.

    5. Nahuku Lavatube (Thurston Lava Tube)

    Thám hiểm Thurston Lava tube mất khoảng 12 ml or .8 km vừa đi vừa về qua những khu rừng nhiệt đới (Rainforest) bao phủ bởi nhiều loại cây lớn và thảo mộc khác nhau như Hapa’u pulu, Ohi’a lehua, ‘Oha, v.v…

    Nahuku Lavatube (Thurston Lava Túbe), là đường ống ở bên trong của những núi lửa còn hoạt động (inside an active volcano), tuy nhiên, đường mòn trong ống dễ đi, nếu đi bộ mất khoảng 20-30 phút, ở cao độ 50ft hoặc 15m. 

    Dòng điện trung tâm nhanh giữ cho độ nóng trong khi di chuyển trong ống.

    Các ống dung nham này được tạo thành trên dòng dung nham, gần nguồn những dòng sông dung nham lớn chảy theo các kênh tự nhiên do chính chúng tạo ra. Khi bề mặt nguội đi, đỉnh của lớp vỏ chảy xuống và phủ lên hai bên, giống như khi băng sơn đóng băng trên 2 bên của dòng sông. Lớp vỏ cuối cùng kết hợp và cách nhiệt dòng chảy bên trong. Sau khi dòng dung nhan phun trào dừng lại, dung nham thường chảy ra từ ống và để lại ống dẫn trống bên dưới bề mặt. Khi xuyên qua lớp vỏ ống đang hoạt động, chúng ta sẽ nhận thấy: dòng dung nham phát sáng di chuyển dọc theo ở nhiệt độ vượt quá 2000° F (1.090 ° C). Nhiệt bức xạ của nó tan và chảy qua các bức tường bên trong để tạo thành nahuku (đá nhũ đá) từ đá nóng chảy.

    Những làn khói trắng do sự quá nhiệt của dòng dung nhan chảy thổi qua đường hầm, tạo nên âm thanh như những tiếng rít nhẹ liên tục, không ngừng của dòng chảy. Sau mỗi vụ dung nham phun trào, phải mất khoảng một năm để ống hạ nhiệt.

    Tận cùng của con đường mòn Nahuku Lavatube

    ĐƯỜNG MÒN KILAUEA IKI, 1.2 m. ĐI BỘ ĐƯỜNG DÀI vừa đi vừa về là 4m, 

    VOLCANO HOUSE

    Khi tòa nhà volcano house lần đầu được khai trương vào năm 1846. Volcano House đã tổ chức một buổi đi bộ đường dài gồm các nhân vật nổi tiếng trên thế giới như Mark Twain, Robert Louis Stevenson, Amelia Earhart, Louis Pasteur (21 tháng 1 năm 1853) và Franklin Delano Roosevelt (Tổng thống Hoa Kỳ, ngày 25 tháng 7 năm 1935). Tuy nhiên, do sự phát lửa của ngọn núi lửa Pelehonuamea, chương trình đành phải hủy bỏ. Nhưng sau đó, Nữ hoàng Liliuokalani, (người trị vì vào thời điểm Vương quốc Hawaii bị lật đổ vào năm 1893) đã có mặt tại Vocano house ngày 14 tháng 5 năm 1891 và Kaläkaua, (vị vua cuối cùng của Hawaii) cũng đã có mặt tại đây tháng 8 ngày 30th, 1874 đã say đắm với vẻ đẹp của Kilauea. 

    Tòa nhà 1877 hiện đóng vai trò là Núi lửa, xây theo phong cách phương Tây bởi William. Louis Pasteur, Nhà khoa học, ngày 21 tháng 6 năm 1883 và Amelia Earhart, Phi công, ngày 7 tháng 1 năm 1935 là 2 vị khách danh dự cuối cùng được mời đến thăm Vocano House. Công chúa Lili’uokalani đã chứng kiến sự khởi đầu của vụ phun trào Mauna Loa năm 1880 từ Núi lửa

    Năm I921, Công ty tàu hơi nước Interisland mua lại Vocano House và mở rộng với một cánh hai tầng, tăng số phòng từ 25 lên 104. Đến năm 1932 do cuộc đại suy thoái, George Lycurgus đã mua Vocano House với giá 300 đô la và giao cho Lycurgus làm quản lý cho đến năm 1959. Khách mời đặc biệt gồm Công chúa Victoria Kaulani, Tổng thống Franklin D. Roosevelt, Amelia Earhart, Phó Tổng thống Charles W. Lần này, Vocano house được xây bằng một loại gỗ bản địa, các mối nối không có nốt đinh và rất là công phu, ván lợp gỗ tái chế từ California. 

    Ngày 7 tháng 2 năm 1940: Volcano House bị thiêu rụi do hỏa hoạn nhà bếp. George Lycurgus ủy quyền cho kiến trúc sư Charles W. Dickey xây lại một khách sạn mới, khai trương ngày 8 tháng 11, 194I ở rìa miệng núi lửa. Khách mời là Dwight D. Eisenhower, Harry S. Truman, Tiến sĩ Charles W. Mayo, John F. ennedy, Richard Nixon. 

    CELEBRITY SOLSTICE ENTERTAINMENTS

    Celebrity Solstice có những màn giải trí rất độc đáo vào mỗi tối khiến cho những ngày dài lênh đênh trên biển trở thành lý thú và không bị nhàm chán. Mở đầu với một dàn chào của các nhân viên làm việc trên du thuyền bao gồm vị thuyền trưởng, Captain Theodoros Zakkas.

    Forever Whitney Featuring by Nina Skyy: Theo sau là màn trình của ca sĩ Nina Skyy. Trong khi kể câu chuyện tuyệt vời về danh ca Whitney Houston, Nina Skyy với giọng ca diêu luyện, cô đã kết hợp tiếng hát của cô một cách khéo léo vào những bài ca khúc mà Whitney Houston vẫn thường hát khi còn sinh thời như The Bodyguard, I will always love you, v.v… Đây là một chương trình tràn đầy năng lượng, cảm xúc, truyền cảm hứng và sâu lắng, khiến ở mọi lứa tuổi phải trầm trồ và đây cũng không phải là một chương trình tưởng niệm thông thường về Whitney Houston.

    Hawaii Folkloric Show: Đây là một hành trình từng đoạt giải thưởng âm nhạc, bài hát và điệu nhảy của vũ đoàn Tahiti. Đoàn nghệ sĩ địa phương bày với tài năng và trang phục đầy màu sắc, chân thực khi họ chia sẻ di sản phong phú của Tahiti.

    Gồm các thanh thiếu nữ tuổi từ 30 đến các em nhỏ ở lứa tuổi 5 hoặc 6 tuổi. Nhưng các em bé này vũ rất diêu luyện (kể cả múa bụng & mông) không kém gì các anh chị lớn trong đoàn, điều này chứng tỏ cho một sự luyện tập rất công phu và có bài bản.

    Celebrity Showtime: Rockumentary: Ban nhạc và các vũ công của Celebrity Solstice đã làm sống lại những màn trình diễn huyền thoại đã định hình nên các thập kỷ và cùng hòa mình vào những bản top-hits yêu thích. Buổi hòa nhạc sôi động này mang đến năng lượng không ngừng nghỉ và sẽ gây sự thích thú cho những người hâm mộ âm nhạc, từ người trẻ đến những người có tâm hồn trẻ trung.

    Wayne Cotter comedy’s show: Là một nghệ sĩ truyền hình kỳ cựu và là gương mặt quen thuộc lâu năm của David Letterman và Jay Leno. Wayne thậm chí còn bắt đầu sự nghiệp với Johnny Carson. Với vẻ tươi mới, thông minh, hài hước và dí dỏm, anh ta đã làm sôi động bất kỳ sự kiện nào.

    Candlelight Concert: Tri ân những nghệ sĩ huyền thoại của dòng nhạc rock kinh điển tại buổi hòa nhạc ấm cúng dưới ánh nến lung linh. Những bản nhạc bất hủ được các nhạc công của du thuyền celebrity Solstice tái hiện lại sẽ mang đến trải nghiệm âm nhạc như thể đang hát lại những bài hát yêu thích lần đầu tiên.

    Dueling Pianos: Đó là những bài hát country music về tình yêu, những bản nhạc chia tay đã tạo nên một đêm tràn ngập cảm xúc, kịch tính và những khoảnh khắc hát vang từ tận đáy lòng. Hãy cùng bắt đầu một hành trình âm nhạc mà thính giả cùng tham gia tạo nên trong Giờ Yêu Cầu Biểu Diễn Dueling Piano cùng với nhạc công.

    Celebrity Showtime: Broken Strings: Buổi biểu diễn âm nhạc sống động đầy sôi nổi, khẳng định sức mạnh của tình bạn, tiếng cười và âm nhạc. Hãy cùng chúc mừng sinh nhật của mọi người với dàn nhạc và tận hưởng dàn diễn viên xuất sắc trong hành trình âm nhạc đầy cảm xúc và sự kết nối của tình yêu.

    ABBA Sing-Along Party: Mời tất cả các nữ hoàng và ông vua khiêu vũ cùng tham gia một đêm nhạc ABBA đình đám. Hãy cùng nhảy và hát theo những bản nhạc kinh điển trên màn ảnh rộng trong bữa tiệc âm nhạc thập niên 70 sôi động này để tôn vinh nhóm nhạc pop huyền thoại ABBA.

    Mind reading show by illusionist Jeremy Tan: Ảo thuật gia Jeremy Tan, người có khả năng đọc những suy nghĩ của người khác. Anh là một ảo thuật gia tài ba nhất Singapore, anh sẽ biểu diễn những màn ma thuật và đọc suy nghĩ đáng kinh ngạc. Jeremy thể hiện những kỹ thuật ảo thuật đỉnh cao cho thấy việc đối mặt với một kẻ gian lận bài thực thụ sẽ như thế nào.

    Celebrity Solstice showtime: A night of Broadway: Một đêm nhạc kịch Broadway sẽ thắp sáng sân khấu với những bản hit kinh điển của Broadway và West End.

    Hành trình từ những tác phẩm kinh điển thời hoàng kim đến những thành công âm nhạc đương đại sẽ được các ca sĩ và dàn nhạc của Nhà hát mang đến, một buổi lễ thân mật tôn vinh sự kỳ diệu của nhạc kịch.

    Vocalist Drew Pournelle: Là một ca sĩ “world-class vocalist” đến từ thành phố New York, anh từng mở màn cho ngôi sao nhạc đồng quê Sara Evens và chia sẻ sân khấu với Sandi Patti và The Osmonds. Drew Pournelle đã chinh phục khán giả bằng giọng hát mạnh mẽ với phong thái trình diễn đầy cuốn hút. Drew Pournelle mang đến một màn tri ân đầy thăng hoa dành cho những âm thanh huyền thoại của thập niên 70 và 80. Với giọng hát đầy nội lực cùng phong thái trình diễn đầy lôi cuốn, anh đã tái hiện sống động những bản hit bất hủ từ Toto, Chicago, Rick Astley, Journey và Poison. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những ca khúc sôi động tràn đầy năng lượng và những bản ballad trữ tình bay bổng, khó quên.

    Tribute to James Taylor: Hãy cùng nghệ sĩ guitar solo Ge Luz tận hưởng một đêm nhạc đầy cảm xúc và những bài hát lay động lòng người khi anh tri ân những ca khúc bất hủ của James Taylor. Cùng hát theo và trải nghiệm toàn bộ kho tàng âm nhạc của ca sĩ kiêm nhạc sĩ huyền thoại James Taylor.

    Celebrity Solstice Showtime: Smoke & Ivories: Đến với Smoke & Ivories, âm nhạc năm 1956 và hãy sẵn sàng bước vào thế giới của những điệu nhảy tap-dance,

    Những màn nhào lộn trên không ngoạn mục và những giọng hát “world class vocals” xoay quanh cây đàn piano đang đánh trực tiếp bởi pianist.

    Một đêm tôn vinh âm thanh huyền thoại của thập niên 50.

    Zumba

    Dạy múa chachacha, tango, swing

    Silent Disco and Disco never die

    May 02, 2026-Officer’s Farewell Soirée: Hãy cùng Captain Theo và các sĩ quan của tàu Celebrity Solstice tham dự buổi tiệc chia tay đặc biệt vào đêm cuối cùng trên du thuyền, tạo sự kết nối với đội ngũ lãnh đạo thân thiện và tận tâm khi họ chia sẻ lòng biết ơn và cùng nhau ghi dấu khoảnh khắc này bằng một bức ảnh chia tay.

    Khánh Lan & Mạnh Bổng, California May 2026

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    Saigon Hòn Ngọc Viễn Đông

    Minh Tiết (Tài liệu của @Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)

    THỜI KỲ HOANG SƠ:

    Con người xuất hiện ở Sài Gòn từ khá sớm. Các cuộc khai quật khảo cổ trên địa phận Sài Gòn và khu vực lân cận cho thấy, ở đây đã tồn tại nhiều nền văn hóa từ thời kỳ đồ đá cho tới thời kim khí. Những cư dân cổ từ nhiều thiên niên kỷ về trước đã biết đến kỹ thuật canh tác nông nghiệp.

    Văn hóa Sa Huỳnh từng tồn tại trên khu vực này với những nét rất riêng. Thời kỳ văn hóa Óc Eo, từ đầu Công Nguyên cho tới thế kỷ 7, khu vực miền Nam Đông Dương có nhiều tiểu quốc và Sài Gòn khi đó là miền đất có quan hệ với những vương quốc này.

    Sau khi Đế quốc Khmer hình thành, lãnh thổ miền Nam Đông Dương thuộc quyền kiểm soát của đế chế này. Tuy nhiên, dân cư của Đế quốc Khmer sống ở vùng này rất thưa thớt, không có khu dân cư lớn nào hình thành tại đây. Sau khi Đế quốc Khmer sụp đổ, vùng đất này cũng trở thành vô chủ (không thuộc một nhà nước nào).

    Cho đến trước thế kỷ 16, vị trí tiếp giáp với các quốc gia cổ cũng khiến Sài Gòn trở thành nơi gặp gỡ của nhiều cộng đồng dân cư. Sài Gòn – Gia Định vẫn là địa bàn của một vài nhóm dân cư cổ cho tới khi người Việt xuất hiện.

    KHAI PHÁ:

    Những người Việt đầu tiên tự động vượt biển tới khai vùng đất này hoàn toàn không có sự tổ chức của Nhà Nguyễn. Nhờ cuộc hôn nhân giữa Công Nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II từ năm 1620, mối quan hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống.

    Khu vực Sài Gòn, Đồng Nai bắt đầu xuất hiện những người Việt định cư. Trước đó, người Khmer, người Chăm, người Man cũng sinh sống rải rác ở đây từ xa xưa.

    Giai đoạn từ 1623 tới 1698 được xem như thời kỳ hình thành của Sài Gòn sau này.

    Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu con rễ là vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prey Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Tuy đây là vùng rừng rậm hoang vắng, nhưng lại nằm trên đường giao thông của các thương nhân Việt Nam, Trung Quốc,… qua Campuchia và Xiêm.

    Hai sự kiện quan trọng tiếp theo của thời kỳ này là lập doanh trại và dinh thự của Phó vương Nặc Nộn và lập đồn dinh ở Tân Mỹ (gần ngã tư Cống Quỳnh – Nguyễn Trãi ngày nay). Có thể nói Sài Gòn hình thành từ 3 cơ quan chính quyền này.

    Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần cho một số nhóm người Hoa tị nạn triều Mãn Thanh tới Mỹ Tho, Biên Hòa và Sài Gòn để lánh nạn.

    Đến năm 1698, chúa Nguyễn sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý Miền Nam. Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tự phát tới khu vực này trước đó, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định và hai huyện Phước Long, Tân Bình. Vùng Đông Nam Bộ được sáp nhập vào cương vực Việt Nam.

    Thời điểm ban đầu này, khu vực Biên Hòa, Gia Định có khoảng 10.000 hộ với 200.000 khẩu. Công cuộc khai hoang được tiến hành theo những phương thức mới, mang lại hiệu quả hơn.

    Cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, Mỹ Tho và Cù lao Phố là hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ. Tuy nhiên, cuối thế kỷ 18, sau các biến loạn và chiến tranh, thương nhân dần chuyển về vùng Chợ Lớn. Khu vực Sài Gòn dần trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất Nam Bộ.

    Năm 1788, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) tái chiếm Sài Gòn, lấy nơi đây làm cơ sở để chống lại quân Tây Sơn. Năm 1790, với sự giúp đỡ của hai sĩ quan công binh người Pháp là kỹ sư Theodore Lebrun và Victor Olivier de Puymanel (1768–1799), Nguyễn Ánh cho xây dựng Thành Bát Quái làm trụ sở của chính quyền mới. “Gia Định Thành” khi đó được đổi thành “Gia Định Kinh”.

    Năm 1802, sau khi chiến thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi và đẩy mạnh công cuộc khai khẩn Miền Nam. Miền Nam được chia thành 5 trấn, gọi là “Gia Định ngũ trấn”. Các công trình kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, Vĩnh Tế… được thực hiện. Qua 300 năm, các trung tâm nông nghiệp phát triển bao quanh những đô thị sầm uất được hình thành.

    Sáu năm sau, 1808, “Gia Định Trấn” lại được đổi thành “Gia Định Thành”. Trong khoảng thời gian 1833 đến 1835, Lê Văn Khôi khởi binh chống lại Nhà Nguyễn, Thành Bát Quái trở thành địa điểm căn cứ. Sau khi trấn áp cuộc nổi dậy, năm 1835, vua Minh Mạng cho phá Thành Bát Quái, xây dựng Phụng Thành thay thế.

    THỜI KỲ PHÁP THUỘC:

    Ngay sau khi chiếm được thành Gia Định vào năm 1859, thực dân Pháp gấp rút quy hoạch lại Sài Gòn thành một đô thị lớn phục vụ mục đích khai thác thuộc địa. Đồ án thiết kế được Phó Đô đốc Pháp là Page (về sau là Charner) cử trung tá công binh Pháp là Paul Florent Lucien Coffyn (20/5/1810 – 5/8/1871), nguyên Lãnh sự Pháp ở Hoa Kỳ, thiết kế. Theo bản đồ của Coffyn được công bố vào ngày 13/5/1862, quy hoạch ban đầu của Sài Gòn bao gồm cả tỉnh Chợ Lớn với khoảng 500.000 dân (Saigon ville de 500.000 âmes), tức khoảng 20.000 dân/km².

    Quy hoạch này tương ứng với quy hoạch khu vực phòng thủ của tướng Nguyễn Cửu Đàm năm 1772, khi dân số Sài Gòn chỉ khoảng 20.000–30.000 người. Nhưng đến 1864, nhận thấy diện tích dự kiến của thành phố quá rộng, khó bảo đảm về an ninh, Soái phủ Pháp ở Nam Kỳ (Gouverneur Amiral de la Cochinchine) lúc đó là Chuẩn Đô Đốc Pierre Rose quyết định tách Chợ Lớn khỏi Sài Gòn.

    Ngày 3/10/1865, Pierre Rose ra lệnh quy hoạch lại Sài Gòn chỉ còn là khu vực nằm giữa rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé và đường mới khu cầu Ông Lãnh hiện nay. Toàn bộ quy hoạch chỉ còn rộng khoảng 3 km².

    Rất nhanh chóng, các công trình quan trọng của thành phố, như Dinh Thống đốc Nam Kỳ, Dinh Toàn Quyền, được Pháp thiết kế và huy động nhân công xây dựng. Sau 2 năm người Pháp xây dựng và cải tạo, khu quy hoạch rộng khoảng 3 km² nói trên đã hoàn toàn thay đổi.

    Thành phố Sài Gòn khi đó được thiết kế theo mô hình Châu Âu, nơi đặt văn phòng nhiều cơ quan công vụ như:

    Dinh Thống Đốc, Nha Giám Đốc Nội Vụ, Tòa Án, Tòa Thượng Thẩm, Tòa Sơ Thẩm, Tòa Án Thương Mại, Tòa Giám Mục,… Nam Kỳ Lục tỉnh là thuộc địa của Pháp và Sài Gòn nằm trong tỉnh Gia Định.

    Vào năm 1861, địa phận Sài Gòn được giới hạn bởi một bên là rạch Thị Nghè và rạch Bến Nghé với một bên là sông Sài Gòn cùng con đường nối liền chùa Cây Mai với những phòng tuyến cũ của đồn Kỳ Hòa.

    Đến năm 1867, việc quản lý Sài Gòn được giao cho Ủy ban Thành Phố gồm 1 ủy viên và 12 hội viên; đứng đầu là viên Thị trưởng người Pháp tên là Charles Marie Louis Turc (1867–1871). Cho tới nửa đầu thập niên 1870, thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định.

    Ngày 15 tháng 3 năm 1874, Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn.Đứng đầu là viên Thị Trưởng người Pháp, đầu tiên là G. Vinson (1874 –1876).

    Đến năm 1879 thì Pháp cho lập thêm Hội đồng thành phố Sài Gòn (hay đúng ra là Ủy hội thành phố – Commission municipale).

    HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG:

    Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Sài Gòn trở thành trung tâm quan trọng, cả về hành chính lẫn kinh tế, văn hóa, giáo dục của Liên bang Đông Dương, được thực dân Pháp mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông (“la perle de l’Extrême-Orient”) hoặc một Paris nhỏ ở Viễn Đông (“le petit Paris de l’Extrême-Orient”) trong số các thuộc địa của Pháp.Trước đó, thực dân Anh đã chiếm Ấn Độ và gọi nước này là “hòn ngọc trên vương miện của Nữ Hoàng Anh”, vì vậy Pháp đặt ra danh xưng này cho Sài Gòn để tỏ ý muốn cạnh tranh việc xâm chiếm thuộc địa với đối thủ Anh.

    Tuy được Pháp gọi là “Hòn Ngọc Viễn Đông”, nhưng thực ra thời ấy Sài Gòn rất nhỏ, chỉ cần đi xa 20 km là có thể săn thú rừng. Theo quy hoạch của Pháp, Sài Gòn khi đó chỉ rộng khoảng 3 km²; gần bằng một nửa Quận 1 hiện nay (rộng khoảng 8 km²), bao bọc bởi sông Sài Gòn,Chính quyền thuộc địa Pháp tập trung tất cả những gì sang trọng, giàu có nhất mà họ có được ở diện tích 3 km² này, phần còn lại của Sài Gòn thì vẫn còn rất hoang sơ, đầm lầy ngổn ngang.

    Theo Sơn Nam trong “Bến Nghé xưa” thì khi Chợ Bến Thành hoàn thành năm 1914, “trước mặt còn là ao vũng sình lầy. Giữa Sài Gòn và Chợ Lớn phía đất thấp (…), còn ruộng lúa với người cày, ao nuôi vịt, ngọn rạch cạn. Giữa Sài Gòn và ở phần đất cao còn nhiều chòm tre, cây da, mồ mả to xen vào những đám rẫy trồng rau cải và bông hoa, những xóm nhà ổ chuột; bầy bò,dê đi lang thang ăn cỏ”.

    Khu Hòa Hưng (Quận 10 hiện nay) cho đến ngã tư Bảy Hiền hiện nay có vô số nghĩa trang, mồ mả. Khu Nguyễn Thiện Thuật, Lý Thái Tổ, Nguyễn Đình Chiểu (Quận 3 hiện nay) toàn nhà lá nền đất xây dựng tạm bợ không theo quy hoạch nào. Khu Quận 4, Quận 7, khu Cầu Ông Lãnh, Cầu Kho,… sát cạnh chợ Bến Thành đa số là nhà tranh vách lá tạm bợ.

    Sau Thế Chiến thứ nhất, kiến trúc sư He’brerd được mời sang Đông Dương chỉnh lý lại các dự án quy hoạch Sài Gòn. Ông đề ra hướng phát triển công nghiệp và xuất khẩu cho Sài Gòn, điều chỉnh hệ thống kỹ thuật hạ tầng, củng cố thêm phố thị Khánh Hội và Nhà Bè. Nhưng kế hoạch bất thành do thiếu ngân sách.

    ĐÔ THÀNH SAIGON:

    Từ năm 1949, Sài Gòn đã là Thủ Đô của Quốc Gia Việt Nam. Đến năm 1955,Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa được thành lập, Sài Gòn khi đó là thành phố lớn nhất tại Miền Nam Việt Nam đã được chọn làm Thủ Đô với tên gọi chính thức “Đô Thành Sài Gòn” (lưu ý, cách viết thông dụng là “Saigon”). Chiến tranh Đông Dương tác động khiến việc di dân từ nông thôn lên thành thị tăng nhanh.

    Thời điểm 1948 dân số đã lên đến 1,179 triệu người, đến năm 1949 thì dân số khu vực đã tăng lên 1.200.000.

    Năm 1954 với hàng trăm nghìn người Bắc di cư vào Nam sau khi chia đội đất nước từ vĩ tuyến 17 thì dân số Sài Gòn leo cao, đạt 2.000.000.Dân di cư tập trung tại các khu vực như Xóm Mới – Gò Vấp, Bình An – Quận 8, và rải rác tại các quận khác.

    Với Nghị định số 110-NV ngày 27 tháng 3 năm 1959 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, từ 6 quận, Sài Gòn được chia lại thành 8 quận với tổng cộng 41 phường.

    Vào nửa cuối thập niên 1950, nhờ viện trợ của Chính phủ Hoa Kỳ, Sài Gòn trở thành một trung tâm về chính trị, kinh tế, văn hóa, giải trí tại Miền Nam Việt Nam, là thành phố lớn nhất của kinh tế Việt Nam Cộng Hòa.

    Từ giữa thập niên 1960 đến những năm đầu thập niên 1970, việc Quân đội Hoa Kỳ vào tham chiến tại Miền Nam Việt Nam nhiều công trình quân sự,cao ốc mọc lên.Lối sống của giới trẻ Sài Gòn cũng chịu ảnh hưởng bởi văn hóa phương Tây được du nhập từ binh lính và sách báo Mỹ.

    Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975

    Khi Quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chiếm được Saigon thì Những: Viên chức, Binh Lính, Sĩ Quan, Tướng Lãnh của Việt Nam Cộng Hòa và những người cộng tác với Mỹ, một số đã vượt biên số còn lại đều bị “chính quyền mới” bắt đi trình diện tập trung “học tập cải tạo”, rất nhiều người dân ở Saigon cũng tìm cách vượt biển, vượt biên, số còn lại bị đưa đi vùng kinh tế mới”

    Nền văn hóa, văn minh bị tàn lụi và cái tên “Saigon Hòn Ngọc Viễn Đông” đã bị lu mờ từ đây !

    Minh Tiết

    (Tài liệu của @Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)