• Lê Nguyễn Nga,  Tin tức,  Văn Thơ

    NHỚ VỀ TRĂNG MỜ BÊN SUỐI VÀ TƯỞNG NIỆM NHẠC SĨ LÊ MỘNG NGUYÊN

    NHẠC SĨ LÊ MỘNG NGUYÊN

    Đầu tháng 7 nhận được tin buồn từ trang Web Cỏ Thơm do Chủ Nhiệm Phan Anh Dũng gửi đến các đọc giả. Đọc được hai chữ tưởng niệm NS Lê Mộng Nguyên (LMN) tôi cảm thấy rất buồn, dù biết rằng tin này rồi cũng sẽ đến. 

    Cách đây khoảng vài tháng tôi có email hỏi thăm chị ca sĩ Trần Quang Hải, Bạch Yến và chị Quách Vinh Thiện Thanh Vân về tin không được tốt của ông. Nhưng hai chị đều trả lời không được biết. Có thể lúc đó ông đã yếu sức, là khoảng thời gian ông không thể đến gặp các ban văn nghệ sĩ như lúc trước.

    Nói đến Lê Mộng Nguyên thì phải nói đến tác phẩm để đời “Trăng Mờ Bên Suối” ra đời năm 1949, lúc tôi được may mắn nghe ông kể lại, là câu chuyện của ông lúc đầu đời khi tuổi còn rất trẻ và đây là hai người đang yêu nhau. Ông nói tiếp rằng nguồn cảm xúc là gặp người yêu trước khi ông đi du học Pháp. Ấn khúc của bản nhạc là một chuyện tình buồn của Ông và người thiếu nữ tên Mai.  Khi giã từ người yêu đi du học nước ngoài năm 1950, Ông cứ đinh ninh sẽ có ngày trở lại đất nước và gặp người yêu. Nhưng, lần chia tay đó cũng là lần vĩnh biệt.  Cô Mai bị bệnh nặng và qua đời.  Nhà thơ Hữu Loan với Màu Tím Hoa Sim để khóc vợ; NS Lê Mộng Nguyên cũng quá đau lòng qua bài thơ “Ma vie sans toi” thương tiếc người con gái vắn số. 

    Kỷ niệm nhiều lần gặp mặt với NS Lê Mộng Nguyên  và các nhạc sĩ khác tại Paris như vẫn còn mãi trong tâm trí tôi.  Đó là những ngày mùa thu 2005 và 2006 tại Paris. Khi lá vàng đã rơi đầy đường phố, đặc biệt trong và ngoài khu vườn Luxembourg. Quân 5, Saint Germain cũng là nơi ông bà LMN đã ở gần đây từ vài chục năm. 

    Hai Người bạn tôi là Thy Như và Như Ninh giúp tổ chức cuộc hội ngộ các anh chị em nghệ sĩ tại quán Huế Imperial, khu Opera Paris.  Gặp được nhau đúng là một cái duyên. Tôi còn được gặp thêm các nghệ sĩ tiền bối như NS Lê Mộng Nguyên, TS Đỗ Bình, NS Trịnh Hưng, NS Bích Thuận và nhiều người nữa.  Nhưng riêng NS Lê Mộng Nguyên, tôi đã liên lạc trước qua phone và email để gửi sách và CD qua Pháp trước khi tôi đến.  

    Tôi đến Paris lần đầu tiên với nhiều háo hức về Kinh Thành nổi tiếng này. Nhưng, cảm động hơn là được gặp các vị nghệ sĩ tiền bối này. Khí gặp NS Lê Mộng Nguyên tôi vui và ngạc nhiên lắm vì  trong chương trình ông nói rất rành mạch  về nhạc và thơ của NS Lê Trọng Nguyễn, kể cả thơ của Nga. Tôi hát “Trăng Mờ Bên Suối” thì được ông cất tiếng hát chung, song ca không dự định trước.  

    Điều đó cho tôi thấy ông rất đam mê văn thơ và nhạc Việt Nam từ lúc trẻ.  Tuy ông đã đi du học năm 1950 và chưa bao giờ trở lại Việt Nam.  Tôi có hỏi thăm về cuộc sống và cảm nghĩ của một người lỗi lạc và yêu văn nghệ như ông, đã sống xa quê hương lâu dài. Ông Lê Mộng nguyên có tâm sự rằng ông không muốn nhìn lại Việt Nam trong cảnh đồng bào đau khổ dưới chế độ Cộng Sản .

    Gặp được các vị văn, thi, nhạc sĩ Paris trong những mùa Thu năm 2005 , 2006, 2007 thật là điều may mắn và hân hạnh trong kỷ niệm này. 

    Năm 2010 tôi đến Paris tham dự tiệc cưới con gái một người bạn. Tôi may mắn được gặp gỡ đi chơi thăm viếng vài nơi  do anh chị NS Quách Vĩnh Thiện -Thanh Vân đưa  đi chơi, tôi được dịp thăm viếng nhiều thắng cảnh của Paris  rất đẹp. 

    Kế đến là một dịp thật vui, Năm 2008 NS Lê Mộng Nguyên báo tin là ông cùng TS Đỗ Bình đến ra mắt sách tại Virginia, DC.  Nga liên lạc qua phone cùng thi sĩ Lam Thuy, nguyên Chủ Tịch Văn Bút vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, là một người đã luôn giúp Nga trong những lần đến VA. Nga nhớ mãi Lãm Thúy đã đưa Nga đến thăm cựu Chủ Tịch VB  Văn Duy Tùng, một người đang sống trong kỷ niệm buồn với sự ra đi của người vợ hiền.

    Bữa cơm tối trước ngày Ra Mặt Sách  Nga được gặp nhiều văn thi sĩ địa phương vùng VA, DC.

    Miền Động Bắc Hoa Kỳ, DC.  trong tháng 4,  2008, mùa xuân và vạn vật tươi vui đã quyến rũ khách phương xa.  Ns Lê Mộng Nguyên và Nga thật vui mừng trong lần hạnh ngộ này.

    Hôm  đó là ngày RMS ,Nga được gặp rất nhiều bạn của chồng mình là thi-họa-sĩ Vũ Hối và các bạn, nhà văn Hồng Thủy, Hải Yến – Đoàn Định.  Nhà văn Đỗ Hồng Anh khỏan đãi khách tại tư gia và đã tổ chức một ngày văn nghệ vui họp mặt thân mật của các bạn.

    Không khí ngày RMS của 2 tác giả thật trang trọng, ấm cúng. Nga thật vui vì có dịp bày tỏ và cảm ơn NS Lê Mộng  Nguyên, Ông luôn nhắc về tình thân giữa đạo diễn Lê Mộng Hoàng và NS Lê Trọng Nguyễn, đặc biệt với cuốn phim “Nắng Chiều”, phát hành và trình chiếu năm 1972 tại Saigon.

    NS Lê Mộng Nguyên, Thi sĩ Đỗ Bình thăm Hoa Thịnh Đốn – Falls Church, Virginia 2008.

    Sau 3 ngày vui hạnh ngộ,  thi sĩ Lãm Thúy tình nguyện làm tài xế đưa đón anh chị em.  Cuộc vui  nào rồi cũng tàn.  Chúng tôi trở lại Cali với những nhớ nhung vô vàn và nhiều kỷ niệm đẹp.  Sau khi về lại Cali, Nga nhận được 1 tấm hình từ nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên chụp kỷ niệm ông solo đi viếng thăm cảnh DC với những cành đào không còn hoa vì đã vào sau ngày 10 tháng 4 năm 2008. Ngẫm nghĩ lại cuộc đời này hơi buồn, đúng là lạc hoa lưu thủy, gặp đó rồi tan đó.

    Cảm ơn PAD – TH đã cho Nga lại những tấm hình với kỷ niệm mến thương một nhân tài.

    Cầu chúc linh hồn ông được thanh thản ở chốn bồng lai, ở đó có ánh vàng lung linh và giòng suối luôn chảy mãi. Mong ông được gặp lại người thương trong tuyệt phẩm Trắng Mờ Bên Suối, với mối tình tuyệt vời của ông đã được ông ôm ấp hơn 70 năm trước.

    Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối. …

    … Một đêm thiết tha rồi đây  xa cách 

    …Đường chia đôi ngã biết đến Phương nào…

    Lê Nguyễn Nga, Cali  10 tháng 7 năm 2023.

    TRỜI ÂU THAM THẲM

      HAY LÀ KHÚC NHẠC TÌNH DANG DỞ KIẾP THA HƯƠNG

    *** Lê Mộng Nguyên ***

    Mến tặng chị Lê Trọng Nguyễn thị Nga (trả lời vài câu hỏi dẫn khởi trong một phỏng vấn sau này)

    Trời Âu thăm thẳm, một trời Âu

    Ba-Lê vạn ngả lắm phương sầu

    Năm năm tháng tháng ngày vô tận

    Vẫn nhớ nhung hoài thuở có nhau

    (trích Đời Không Có Em của Lê Mộng Nguyên)

        Một buổi chiều cuối thu mưa tầm tã trên thành phố hoa lệ Paris, năm 1953. Gió rét thổi từng hồi, lá vàng rơi tan tác trên những con đường ẩm ướt, vắng lạnh, trong ánh chập chờn của một mùa hoàng hôn ngắn ngủi. Chiếc xe hàng vừa đỗ tại công trường lớn Denfert-Rochereau, một thiếu niên người Việt hối hả bước xuống, nhìn đồng hồ tay, rồi gấp gáp chạy qua đường, tiến về quận 14 (đại lộ Saint Jacques), nét mặt ra chiều lo lắng. Rẽ vào con đường nhỏ, chàng đến trước một căn nhà cũ kỹ, mở cửa vào phòng trọ. Thấy một bức thư dày nằm trọn trong hộp thư, chàng vội vàng quăng mũ áo trên giường, hồi hộp bóc thư ra. ”Thư của Mai’‘, Lê Nguyên tự nhủ thầm. Thoáng thấy dòng đầu của lá thư: ”Anh nhận được thư này thì Mai của anh không còn nữa... ”, chàng cảm xúc lạnh người, đầu óc quay cuồng, choáng váng, con tim như ngừng đập, chàng đọc tiếp bức thư…

        Cách đây ba năm, lần đầu tiên chàng rời thành phố Huế thơ mộng qua Pháp du học:

    Ai đi xa Huế ngàn năm nhớ làn mắt ướt  

    Đây cô gái Huế làm duyên dáng cười với ai?

    Mây trời nước bên dòng Hương

     Đò ai nghiêng mái chèo bên chùa Thiên Mụ,

     Ngược bến Bao Vinh theo tình nước mây...

    (Nhớ Huế, Nhạc & Lời của Lê Mộng Nguyên).  

    Xa nhà ! Từ nay cha già mẹ yếu ai ngườI lo lắng sức khỏe ? Và Thúy Mai, ngườI thiếu nữ xinh đẹp chàng đã gửi tất cả tình thương ? Nhưng vì chiến tranh sắp bùng nổ, vả lại gia đình đôi bên đều nghĩ rằng hai đứa này còn quá trẻ, nên phải đình chậm việc kết hôn. Chàng là ngườI con chí hiếu nên vâng lời ra đi, nhưng ruột đau như cắt vì rồi đây trờI Âu mịt mờ, ngày về không ước định. Mai đã khóc rất nhiều và thề nhất quyết sẽ đợi chàng :

    Hôm nay lạnh quá em ơi

    Anh run run dở mấy lờI trong thư

    Duyên xưa sống lại đôi giờ

    Ngày qua tháng lại em chờ đợi mong…

    (Mấy Tờ Thư, Thơ LMN).

         Hôm đầu tiên đến Paris, trong lúc xách va li bâng khuâng tìm chỗ trọ, chàng may mắn gặp một người bạn đồng hương – Trần Xuân Sanh – giới thiệu cho chàng một căn phòng tạm ở ngay khách sạn của mình, và từ dạo ấy hai người trở nên thân thiết. Sanh có người anh học ở tỉnh từ lâu, đã thành hôn với một thiếu nữ người Pháp. Mồ côi cha mẹ, họ hàng thân thích chỉ còn anh em và chú bác thành thử việc ấy không có ảnh hưởng gì to lớn đến gia đình. Nhưng Sanh cảm thấy xa anh mình hơn trước… Sanh là một họa sĩ, sinh viên trường cao đẳng Mỹ Thuật, gặp được Lê Nguyên, một nhạc sĩ, sinh viên Đại học Luật khoa sắp ra trường, hai người đồng nghệ sĩ thành thử rất gần nhau trong lý tưởng nên trong những lúc buồn hay tâm sự cùng nhau. Trong mấy tháng đầu ở kinh đô hoa lệ, Nguyên quá nhớ nhà, nhớ Mai: Mai ơi, nếu anh là con chim phượng, anh sẽ bay về cố hương để tìm em! Trời ơi nhớ em quá làm cho tim anh nhức nhối, sắp rã tan. Thôi chết vì tình cũng là may mắn vì linh hồn anh mãi mãi bên cạnh em… Anh nhớ hai chúng ta đã cùng hát ”Một Chiều Thương Nhớ” (của LMN) lúc đi dạo chơi trên đường Nam Giao hoặc bên núi Ngự Bình:

    Chiều vàng có đôi chim ngừng cánh,

    Nguyền song song một tình đắm say,

    Thề ước dù đời đắng cay mà bóng chiều xưa

     Màu thời gian không hề úa phai.

         Để giải sầu, chàng đọc sách rất nhiều, viết thư luôn về thăm gia đình, thăm Mai. Chàng nhận được rất nhiều tin của Mai, cứ đều đều khoảng hai ba bức mỗi tuần. Chàng luôn trả lời, với tất cả tấm lòng tha thiết của mối tình yêu ban đầu. Tuy nhiên dần dà, vì bận học, chàng ít trả lời ngay cho thư Mai, có lúc để dồn lại gần mười lá mà không có dịp hồi tin. Nhưng Mai vẫn kiên nhẫn viết rất nhiều cho chàng, thư nào cũng nồng đượm lời hẹn ước những ngày qua, mặc dầu thư đi thì có mà thư về thì đã bắt đầu thưa dần…

    Một ngày xa nhau xóa bao hình bóng

    Trời bày chia ly chi cho lòng héo?

    (Trăng Mờ Bên Suối của LMN)

    Mai có ngờ đâu Paris muôn vàn ánh sáng đã quyến rũ Nguyên. Sự chung đụng hàng ngày của nam nữ sinh viên Pháp, lúc đầu chỉ là thoáng qua, nhưng lâu hóa thành đậm đà. Nhiều lúc nhận được thư Mai van lơn thảm thiết, chàng tự khuyên nhủ, trắng trợn : ”Làm sao tin đuợc những lời ấy là chân thật. Xa mặt thì rất dễ cách lòng !” Sanh hay khuyên chàng nên trở lại với Mai và coi tình yêu với một cô gái Pháp chỉ là thú vui chốc lát, nhưng Nguyên không bằng lòng, có lúc đã giận bạn lâu ngày.

         Rồi bẵng đi một dạo, chàng không nhận được thư Mai nữa. Nàng đau chăng ? Hay đã nghe lời khuyên của Nguyên xây đắp một tình yêu mới khác? Hèn nhát, Nguyên thấy bớt một gánh nặng của tâm hồn: phải chăng Mai đã quên chàng ? Từ ngày ấy, chàng lại càng yêu tha thiết Mireille mà chàng gọi là Mimi, ý muốn ngày sau xin cưới hỏi nàng… Nhưng trước những lời lẽ đanh thép của Sanh chống việc thành hôn với một người ngoại quốc, đôi lúc một mình, Nguyên tự hỏi băn khoăn: Ta yêu Mimi, nàng cũng chân thật yêu ta, nhưng lấy nhau rồi, hai đứa Á Âu cách biệt có thể được hạnh phúc lâu bền không? Hơn nữa, sẽ còn biết bao nhiêu vấn đề phải giải quyết: dân tộc, tư tưởng, phong tục, tôn giáo… Lấy nhau rồi, liệu có cùng chung sống ở nước nhà một cách bình thường (như mọi người) không? Nhưng trước vẻ đẹp sắc sảo và tính nết dịu dàng của Mimi, Nguyên cố quên tất cả để vui sống hạnh phúc quê người. Tuy nhiên, không ai lãng việc học hành, cuối năm nào hai người cũng đều thi đỗ cho tới năm nay vẫn học cùng lớp với nhau…

         Cho đến chiều hôm nay, đọc thư Mai viết trong nước mắt, Lê Nguyên hầu như tỉnh một giấc mơ. Chàng đã cố sống lại những ngày qua:

    Rồi đây sương gió duyên kiếp lỡ làng

    Trời xa xăm lắm em biết đâu tìm

     Lòng anh khắc khoải chờ mong

     Mờ mịt trời Âu đôi lứa khóc âm thầm…

    (Một Chiều Thương Nhớ của LMN).

    Mai vốn yếu tim, chàng ra đi lại thêm buồn bã, nhất là từ ngày vắng thư người trai trẻ, bệnh tình lại càng trầm trọng hơn… Dù muốn dù không, trong cái chết của Mai, chàng phải gánh một phần trách nhiệm. Hối hận, chàng gục đầu xuống bàn, nức nở. Có tiếng gõ cửa mạnh, nhiều lần. Nửa mê nửa tỉnh, Nguyên lê bước nặng nề ra mở, sực nhớ hôm nay chàng có hẹn với Mimi lại thăm cho nên lúc nãy chàng đã hối hả đi gấp trên con đường mưa gió đặng về cho kịp. Mimi bước vào, vừa chào vừa xin lỗi đến chậm vì bận việc phút cuối cùng và phàn nàn trời nắng đẹp đã không còn nữa. Cánh cửa bật ra, chưa kịp đóng lại thì một luồng gió mạnh thổi tạt vào đánh rơi cái bì thư từ nãy nằm trên bàn xuống đất. Một cánh hoa tàn bay lả tả, cùng cái ảnh cũ của Mai đã phai màu. Mimi định cúi xuống lấy thì Nguyên đã hoảng hốt hấp tấp nhặt lên, bỏ tấm ảnh người xưa vào túi và nhìn cánh hoa tàn một cách âu yếm… Trong khoảnh khắc, chàng nhớ lại một ngày thu năm ấy hẹn cùng Mai bên bờ suối nhỏ cuối làng, cạnh núi Ngự Bình:

    Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối

    Rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu

     Một đêm thiết tha rồi đây xa cách

    Rồi đây hai ngả biết tới phương nào…

    (TMBS).

    Chàng còn nhớ đêm hôm ấy đã âu yếm tặng Mai một đóa hoa hồng. Kỷ vật ấy, nàng ấp ủ đã từ lâu… cho đến ngày tận thế.

         Mimi ngạc nhiên thấy Nguyên không vồn vã như thường lệ giúp nàng cởi áo ngoài và chào hỏi. Chàng thờ thẩn mời nàng ngồi cạnh lò sưởi rồi lại chìm đắm trong quá khứ thương đau:

    NgườI của ta giờ nay ở đâu?

    Trời Âu thăm thẳm một trờI Âu

    Ba-Lê vạn ngả đường vô tận

    Để hận muôn đời không có nhau!

    (Trời Âu, thơ LMN)

        Mimi săn sóc hỏi duyên cớ: Mais qu’est-ce que tu as, mon chéri ? Tu as l’air gêné de me revoir… Thấy Nguyên im lặng, nàng sinh lòng nghi ngại. Rồi đổ ghen tuông vì sực nhớ cử chỉ của Nguyên vừa rồi khi cúi lượm tấm ảnh và cánh hoa tàn. Nàng dồn dập hỏi chàng với giọng đầy cay đắng. Trước còn muốn giấu, sau chàng đành kể lại tất cả mối tình u ẩn ở nước nhà cùng cái chết của Mai. Niềm hối hận thúc chàng nổi giận Mimi, kiếm cách gây chuyện. Theo chàng, dù muốn dù không, Mimi đã gián tiếp nguyên do cái chết của Mai. Mimi khóc lóc, bỏ giận ra về, sau khi nói trong nước mắt: Je te souhaite tout le bonheur possible avec une de tes compatriotes!

         Cánh cửa vừa đóng lại một tiếng mạnh thì như điên dại, Nguyên vội vàng lấy áo mũ ra đường đi tìm quên lãng. Quên cả đói bụng, chàng đến ngay một tửu điếm… chuốc sầu, trong vùng Saint-Germain-des-Prés… Đêm ấy, Nguyên uống rất nhiều rượu và hút rất nhiều thuốc lá. Trong lúc mơ màng qua khói xám, chàng bỗng giật mình cảm giác một bàn tay nhè nhẹ đặt trên vai. Chàng nhận ra Sơn, bạn chàng, muốn mời lại cùng vui chuyện trò với anh chị em đồng hương ở góc phòng, vì đêm nay thứ bảy, tha hồ thức khuya. Nguyên nhận ra trong nhóm có Khánh Ngọc, một nữ sinh viên trường Thuốc mà chàng đã có dịp gặp đôi lần ở Xóm Latin. ”Trông chị Ngọc hôm nay có sự gì buồn lắm”, nghe giọng phê bình của một bạn trai, Nguyên liếc nhìn trông người đẹp có đôi mắt quầng thâm, tuồng như đã khóc rất nhiều. Nhạc cử một bài êm dịu. Mọi người đều ra nhảy, chỉ trừ Nguyên và Ngọc, mỗi người đắm chìm trong một thế giới riêng… Khánh Ngọc cách đây không lâu đã từng gửi tất cả tình thương cho một sinh viên trường Thuốc học trên nàng ba lớp, tên là Nguyễn Mạnh Toàn. Toàn và Ngọc yêu nhau tha thiết, hứa hẹn sẽ lấy nhau khi chàng tốt nghiệp. Nhưng sau khi thi đậu, Toàn vì việc nhà phải hồi hương ngay. Chàng hẹn với Ngọc sẽ trở lại Pháp đoàn viên. Từ dạo ấy, Toàn rất ít viết thư, chỉ trừ một lần cho biết chàng đã đến Sài Gòn. Ngày, tháng, năm qua… cho tới một hôm, nàng được tin – do một người bạn gái từ nước nhà – người yêu của Ngọc đã làm lễ thành hôn với một cô gái nhà giàu bậc nhất thành phố. Nàng chán đời, muốn tìm quên lãng, nên nhận lời mời các bạn quen tới quán rượu đêm nay.. Ngọc vừa kể xong, Nguyên an ủi khuyên nàng nên can đảm, mặc dầu con tim chàng cũng tan rã như người đối diện. Từ giây phút ấy, hai kẻ đồng bất hạnh tuy không nói ra, đã ngấm ngầm có cảm tình với nhau. Nguyên thấy Ngọc tương tự giống Mai. Trong bâng khuâng, chàng cảm giác Ngọc là hiện thân của Mai. Chàng tưởng tượng Mai gầy gò trên giường bệnh, đôi mắt đăm đăm nhìn chàng như trách móc. Hoảng hốt chàng đứng dậy, không kịp chào Ngọc, hấp tấp bước ra khỏi tiệm như muốn xua đuổi một hình ảnh đau thương. Trong vội vàng, Nguyên thả rơi cuốn sổ tay nhỏ mà không hay. Ngọc nhặt lên, định chạy theo gọi chàng, nhưng quá chậm, chàng đã biến mất. Ra ngoài đường, Lê Nguyên như điên dại: hình ảnh Mai trở lại ám ảnh chàng. Mimi và Ngọc chỉ thoáng qua tâm trí, lúc mờ ảo, lúc rõ ràng. Trái lại, Mai với nét mặt buồn bã trước khi mất, cứ lảng vảng hoài trong óc não. Dạo bước ven bờ sông Seine lúc trời hừng sáng, gió ban mai cùng tiếng nhạc của trời đã reo vang trong lòng chàng. Trước cảnh bao la vạn vật, một bình minh hòa nhịp với con tim chàng hiện giờ, chàng cảm hứng sâu đậm, vội ghi lại trong một bản nhạc lòng ai oán:

    Chỉ thiếu một mình em

    từ nay bên trời Âu xa vời

    Mây kéo lê thê, trời nước bao la

    kìa dòng sông Seine lơ lửng xuôi ngày tháng…

    (Xuân Tha Hương, nhạc và lời LMN).

         Ba hôm sau, chàng nhận được thư của Mimi. Nàng chia buồn về chuyện Mai, mong chàng tha thứ sự đáng tiếc xẩy ra hôm nọ. Suy đi nghĩ lại, nàng xin chàng nên quên nàng vì Âu Á khó lòng được gặp nhau. Nàng quả quyết hy sinh mối tình đầu cho chàng rồi đây sẽ được hạnh phúc hoàn toàn với một thiếu nữ đồng hương. Đau khổ cực độ, nàng chỉ ước vọng thời gian mới hàn gắn được vết thương sâu. Đọc xong thư, Nguyên như người mất hồn. Thế là hết: người xưa đã mất, vì chàng, mà nay người yêu trên đất khách cũng bỏ ra đi. Lòng tan nát, Nguyên cần có một người an ủi: Khánh Ngọc! Chàng tiếc rằng hôm ấy quá hấp tấp chàng quên xin địa chỉ nàng. Vội vàng trở lại tửu điếm hôm ấy dò tin tức thì may gặp một bạn quen cho biết nàng ở một vùng ngoại ô phía Nam Paris, nhưng không rõ đường nào. Nguyên vội vã thuê xe taxi chạy đến vùng ấy để vừa hỏi vừa tìm kiếm. Làng mạc đây rộng mênh mông, ai biết cô gái Việt ở chốn nào. Lang thang đường này qua ngõ khác, lúc bước hối hả, lúc chậm dừng lại để hỏi người qua đường. Như mất hồn, chàng chạy qua một ngả sáu, vì mê mải, không nghe rõ tiếng còi, một chiếc xe hơi chạy nhanh phải ngừng ngay trước mặt chàng. Tiếng phanh rít lên, chàng hãi hùng lảo đảo ngã xuống đất, bất tỉnh, đầu chạm phải xe, một dòng máu nhỏ rỉ ra.. Nguyên được đưa ngay đến nhà thương Kremlin-Bicêtre. Nghe tin, Sanh vội vã tới thăm, thấy vết thương trên đầu không nặng, đem bạn về chăm lo.

         Nằm trên giường lúc tỉnh lúc mê, Nguyên được Sanh săn sóc chu đáo. Trong giấc mơ màng, chàng thấy Mai và Ngọc quá giống nhau. Trái lại, hình ảnh Mimi mờ dần trong ký ức… Có tiếng gõ cửa. Ngọc vào lo lắng hỏi Sanh về sức khỏe của Nguyên. Từ hôm gặp chàng ở quán rượu, nàng có cảm tình ngay. Biết địa chỉ Nguyên trong cuốn sổ tay nhỏ, nàng thấu rõ mối tình dang dở của chàng với Mai qua mấy dòng chữ nghẹn ngào mà chàng đã ghi lại:

    Ta biết tìm em ở chốn nào ?

     Đường đời muôn dặm bước thương đau

    Ta lê cuộc sống, hồn tê tái,

    Xây mộng không thành, hẹn kiếp sau !

    Nơi đây, đất khách còn ghi lại

    Một chút hương lòng tới cố nhân

    Hôm nay trong lá thư lần cuối

    Ta viếng thăm em được mấy vần

    (Trời Âu, thơ LMN)

    Hôm nay, do dự mãi, nàng lấy cớ đem trả cuốn sổ tay để được gặp lại Nguyên. Nàng cũng không biết vì sao, nhưng cảm thấy lòng đỡ khổ. Có ngờ đâu biết chàng xuýt tai nạn trên con đường tìm kiếm gặp lại nàng:

    Em của anh giờ nay ở đâu ?

    Tìm em anh dạo suốt canh thâu

    Đường chia hai ngả anh đâu biết

    Là sẽ ngàn năm vĩnh biệt nhau

    Em của anh giờ nay ở đâu ?

    Mình anh thui thủi suốt canh thâu

    Đêm nay thức trắng bên bờ gió

    Mặc tuyết mưa rơi, bạc mái đầu !

    (Tìm Em, thơ LMN)

         Thấy Nguyên kêu khát, nàng vội xuống bếp pha trà rồi tự mình đem lên mời bạn. Nguyên mở mắt, tỉnh dậy, thoáng thấy Ngọc đưa chén nước đầy hơi, mỉm cười âu yếm ra vẻ cảm ơn. Ngọc mỉm cười trả lại. Sanh hiểu ý, lặng lẽ ra khỏi phòng, rồi không biết vì lơ đãng hay cố ý, quên khép cửa lại. Ngoài đường, sau một trận mưa tầm tã, trời tạnh ráo, vài tia sáng xuyên qua cửa mở chiếu vào nhà… Ngọc vội vàng đứng dậy, định ra đóng cửa lại, nhưng thoáng thấy Nguyên lắc đầu ra hiệu, nàng chợt hiểu, hai người thương mến nhìn nhau… TrờI thu bỗng nắng lên, như một nguồn hy vọng sưởi ấm lòng đôi bạn mới của tình yêu.

    Lê Mộng Nguyên (Paris)

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt,  Viet-Hải

    Book Preface Nữ Sĩ Dương Hồng Anh & Khánh Lan *** Thi tập thứ 12, tên tựa “Những Gì Để Nhớ” của Nữ sĩ Dương Hồng Anh. Khánh Lan viết giới thiệu.

    Khánh Lan gởi lời cám ơn NV Việt Hải đã dành những mỹ từ thân quý khi kể những kỷ niệm về Khánh Lan.

    Quý anh chị thân mến,

    Với Khánh Lan, ai hướng dẫn cô thường khen cô siêng năng và thông minh. Anh Phạm Hồng Thái đã chỉ dẫn cô về layout sách, graphic design, học nhạc, soạn lyrics… cô học khá nhanh. Tôi chỉ dẫn Khánh Lan về văn biên khảo, văn phê bình tác phẩm thi ca hay văn xuôi, cô năng động, nhanh lẹ lãnh hội. Bố chồng Khánh Lan (nhà thơ Việt Cường) và chú chồng Khánh Lan (nhà thơ Tráng Hạc) qua đời để lại cho cô cả ngàn bài thơ. Hai cụ say mê thi ca một thuở Hà Nội xa xưa 1940s-50s, vào Sài-Gòn thi ca thuở Nghệ thuật Tao Đàn của Đinh Hùng, Nguyễn Đình Toàn. Khánh Lan thừa hưởng máu thi ca gia đình, rồi nay Khánh Lan được nhà thơ vong niên Dương Hồng Anh nhận làm bạn thơ.

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian hiện soạn và in tập thơ thứ 12, với tên tựa “Những Gì Để Nhớ” của Nữ sĩ Dương Hồng Anh. Khánh Lan viết giới thiệu và những kỷ niệm với tác giả của thi tập mới.

    Tôi đề nghị Khánh Lan nên nghiên cứu thêm thơ Limestone của người Anh, thơ Nga như Ivan Turgenev, Anna Akhmatova, Alexander Pushkin. Ngoài thơ Pháp, Anh, Việt, nên tìm hiểu thêm về thơ Sijo (Đại Hàn) và Haiku (Nhật Bản).

    Thể thơ Sijo (Hàn Quốc) và Haiku (Nhật Bản) vốn là di sản văn học quí giá trong nền thi ca nói riêng và văn học nói chung của hai nước góp phần tạo nên cốt cách và tâm hồn dân tộc. Nhìn trong mối tương quan về mặt thể loại xét trên cách nhìn bình diện, dưới những ảnh hưởng và tác động của các ỵếu tố khách quan cùng với những vấn đề khác, chúng tôi thấy thể thơ Sijo và Haiku có những nét tương đồng và dị biệt. Khảo sát hai thể thơ trên từ nhiều góc độ chúng tôi cho rằng, giữa chúng có những điểm gần gũi gặp gỡ nhau nhưng chúng có những nét khác biệt.

    Thi ca vốn nằm trong phạm trù Mỹ học. Khái quát khi nhìn chung thì Mỹ học (Aesthetics) ngày nay đã được giới học giả hàn lâm thừa nhận nó là một bộ môn của triết học, và môn học này chú trọng đến vấn đề tìm hiểu cái đẹp và cái xấu, nghiên cứu xem những đặc tính về cái đẹp và cái kém đẹp đó có thực sự hiện hữu trong tác phẩm nghệ thuật như thi ca hay chỉ có trong suy tưởng của cá nhân người thưởng ngoạn.

    Mỹ học cũng có nhiệm vụ nghiên cứu các triết thuyết liên quan đến nghệ thuật, các phê bình có tính cách triết lý của các nghệ phẩm, và thẩm định đặc tính triết học của các hành động nghệ thuật. Các phản ứng tình cảm và tâm lý của con người đối với các yếu tố của nghệ thuật như màu sắc, âm thanh, đường nét, hình tượng, và ngôn ngữ.

    Nhìn lại lịch sử Việt Nam trải dài hơn hai ngàn năm trong đó có hơn một ngàn năm bị lệ thuộc Trung Hoa, và hơn một trăm năm là đất thuộc địa của Pháp, nhiều người sẽ tự hỏi văn học Việt Nam đã phản ứng thế nào đối với những giai đoạn bị làm thuộc địa đó. Một cách chung có thể nói là nền văn học Việt Nam còn nặng tinh thần thuộc địa đối với văn hóa Trung Hoa cũng như văn hóa Pháp dù đã được độc lập với Tàu hơn một ngàn năm và độc lập với Pháp hơn bảy mươi năm. Dùng cái hay của người biến thể Việt hóa ra cái hay của ta. Thơ tự do (Vers libre do người Pháp), thơ Đường (Hoa thi, Tang poems). Haiku hay Sijo thơ cổ ảnh hưởng Hoa thi nét thiền triết thiên nhiên (Taoism hay Daoism)

    Sự thưởng ngoạn thi ca có tính cách mỹ học là kết quả của một sự kết hợp nhuần nhuyễn và phức tạp giữa những thái độ chủ quan và khả năng thẩm định nghệ thuật của người thưởng ngoạn. Sự phản ứng đối với những nghệ phẩm thơ của người thưởng ngoạn được gọi là kinh nghiệm thi ca mỹ học (the aesthetic poetry experience). 

    Tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức của sách Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học đề nghị nền văn học Việt Nam hãy sớm nhận thức để vượt ra khỏi các lũy tre để nhìn xem thế giới bên ngoài đang tiến bước hướng về phía trước và bỏ xa chúng ta, hãy khai phá các khu rừng thâm u kỳ bí của nền văn học thế giới.  Nếu không mau thức tỉnh hầu sánh vai cùng người để cải tiến và nâng cao các chuẩn mực cho giá trị của mỹ học, thì văn học Việt Nam sẽ khó thoát ra khỏi các vòng rào nhỏ hẹp của các thôn làng, hoặc các bức tường rào của các ghetto văn học.  Tôi đồng ý với Lưu Nguyễn Từ Thức, hãy mở rộng tầm nhìn với cái hay, với nét đẹp của văn chương xứ người.

    Trần Việt Hải, Los Angeles 7/2023

    Dưới đây là lời mở đầu của Nhà Văn Khánh Lan cho tập thơ mới nhất của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, “Những Gì Để Nhớ”. Và Nhà Văn Việt Hải sẽ viết bạt cho sách. Tập thơ “Những Gì Để Nhớ” sẽ ra mắt quý đồng hương năm 2024.

    Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

    Nhân duyên đối diện kiến tương phùng.

    Hai câu thơ mở đầu cho bài viết này có chữ “Hữu duyên” và “Nhân duyên”, vì sự thể như duyên tiền định, mà định mệnh là do Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tạo cơ hội cho tôi gặp được Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, và từ ngày ấy, chúng tôi làm thơ tặng nhau. Những mỹ từ mà một thi nhân cao tuổi hạc vàng vong niên như Nữ Sĩ đã ưu ái dành cho một người bạn thơ tâm giao như tôi, hẳn là “tri ngộ thi ca”. Xin trích một vài bài thơ sau đây:

    THÂN TẶNG CÔ KHÁNH LAN

    Cùng thuyền cùng hội văn chương

    Khánh Lan thùy mị dễ thương tuyệt vời

    Tiếng ca bay bổng lưng trời

    Thơ văn lưu loát cho đời nở hoa

    Suối nguồn thân ái bao la

    Trời quê đất khách chan hòa mến thương

    Nhạc thơ rung động ngàn phương

    Vườn hoa văn nghệ thơm hương tao đàn

    Con đò chở chữ thênh thang

    Chở thơ tôi tặng Khánh Lan ân cần

    Lung linh dưới nắng xuân vàng

    Tình thơ tình bạn chứa chan mộng lòng

    (Dương Hồng Anh, 4/2020)

    CHÚC MỪNG NỮ SĨ KHÁNH LAN

    (Hồng Anh mến gởi Khánh Lan)

    Hạ trắng chiều nay hoa nở rộ

    Đẹp giòng thơ nhạc dưới trời xanh

    Của người bạn quý, thương và mến

    Nhu mì hiền hậu dáng thanh thanh

    Nữ sĩ Khánh Lan thật tuyệt vời

    Giao duyên thơ nhạc hiến dâng đời

    Nhân Văn Nghệ Thuật hồn tao nhã

    Nụ cười xinh xắn nở trên môi

    Tao đàn vẫn hẹn ngày vui mới

    Họp mặt văn chương buổi đẹp trời

    Mừng đón Khánh Lan ra tác phẩm

    Một chiều thơ nhạc nắng hồng tươi…

                    Dương Hồng Anh (9/2021)

    THÁNG CHÍN MÙA THU

    (Tặng bạn tôi, Khánh Lan)

    Đường chiều thơ nhạc một niềm vui

    Tình nghĩa văn chương mãi sáng ngời

    Phone đến mang theo niềm cảm mến

    Nụ cười thân ái nở trên môi

    Như đã quen nhau tự thuở nào

    Văn thơ tình bạn quý làm sao

    Khánh Lan ơi! Nhạc thơ còn đấy

    Hương sắc thời gian vẫn đẹp màu

    Ta vẫn bên nhau để hẹn hò

    Tao đàn nhóm họp đọc văn thơ

    Chúc mừng nữ sĩ ngày ra sách

    Tháng chín mùa thu thỏa ước mơ.

                                 Dương Hồng Anh (9/2021)

    MỘT PHƯƠNG TRỜI MỘNG

    (Hồng Anh mến gởi Khánh Lan & Mạnh Bổng)

    “Mạnh Bổng Khánh Lan viên ngọc quý

    Tài hoa thơ nhạc rất thân thương

    Nhân Văn Nghệ Thuật cùng chung bước

    Hai trái tim vàng mộng một phương.”

                     Dương Hồng Anh (11/2022)

    Đáp lại tình bạn thơ tâm giao, tôi có ý định thảo một bài thơ lục bát lấy ý thơ của Jeannette Le Fèvre, bài thơ Tu es dans mes pensées, gửi tặng lại người bạn thơ vong niên, Hồng Anh. 

    BÀI THƠ CẢM TÁC VỀ NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH

    (Khánh Lan kính gửi thi nhân Dương Hồng Anh)

    Thi nhân ở tuổi vong niên

    Hạc vàng thần tượng giỏi miền thi ca

    Thơ văn mắc nối hai ta

    Tâm đầu ý hợp vẫn là văn chương

    Tình bạn chất chứa tình thương

    Sáng ngời tinh tú bốn phương tuyệt vời

    Thi ca tâm đắc cho đời

    Ân sâu châu báu bao lời khuyên lơn.

    Tâm tình tri kỷ chịu ơn

    Khánh Lan kính gởi thi Anh Dương Hồng

    Khánh Lan (7/2023)

    DUYÊN TIỀN ĐỊNH

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh & Khánh Lan

    (Theo lời yêu cầu của NS Dương Hồng Anh tôi sẽ dùng chữ Cô thay cho chữ Nữ Sĩ trong bài viết này.  Nhưng để tỏ lòng kính quý tôi xin được phép dùng chữ C hoa chữ “Cô”).

    Thấm thoát thế mà đã 5 năm (2019-2023) trôi qua kể từ ngày tôi gặp Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, có lẽ chỉ độ chưa tròn một năm sau ngày tôi gia nhập Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Có thể nói đây là “Duyên kỳ ngộ” cho tôi gặp được Nữ Sĩ, bởi “Cô ” cũng mới gia nhập hội sau tôi vài tháng. Hôm ấy là ngày 26 tháng 10 năm 2019, và là ngày tưởng niệm của ông Kiến Trúc Sư (KTS) Nguyễn Tường Quý, một hậu duệ trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ). KTS Nguyễn Tường Quý là cháu gọi bằng chú của 3 nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, và là anh của Nhà Văn (NV) Ngọc Cường.

    Ngày ấy, tôi thay mặt NV Việt Hải và Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) để chia sẻ những kỷ niệm của tôi với KTS Nguyễn Tường Quý trong buổi ra mắt tác phẩm “Hệ Lụy” của em trai ông, NV Ngọc Cường, tại tòa soạn nhật báo Người Việt, năm 2016. Tôi vẫn nhớ là ngay sau khi buổi lễ tưởng niệm chấm dứt, NV Việt Hải giới thiệu tôi với NS Dương Hồng Anh, một nhà thơ với dáng dấp nhỏ bé, mái tóc bạc trắng, khuôn mặt nhân hậu. Trước mắt tôi, một Dương Hồng Anh với nụ cười luôn nở trên môi khiến cho người đối diện cảm thấy dễ gần với Cô. Nhưng vì mới gặp Cô lần đầu, tôi hơi e dè và cân nhắc lời nói trong lúc thưa chuyện cùng Cô. Thật là trái với những suy nghĩ và sự dè dặt không cần thiết của tôi, Cô đã cầm lấy tay tôi, ánh mắt trìu mến, giọng nói dịu dàng, Cô ân cần ngỏ lời thăn hỏi trước khiến tôi cảm thấy gần gũi và quý Cô ngay.  

    Từ ngày ấy đến nay, hai cô cháu chúng tôi liên lạc thường xuyên để trao đổi văn thơ, để chia sẻ vui buồn và để cùng cất tiếng cười vui bên nhau và với nhau. Thế rồi, một tình bạn thơ tâm giao đã nảy sinh giữa hai thế hệ cách nhau gần 30 năm, nhưng cái lạ là cả hai chúng tôi đều chẳng tìm thấy một khoảng cách nào giữa chúng tôi. Cô Hồng Anh đã ngoài 90, nhưng trí óc rất minh mẫn, hồn thơ trong sáng, ý thơ lai láng và vẫn sáng tác hầu như mỗi ngày. Còn tôi, mới chập chững bước vào lãnh vực thơ phú nên tôi vẫn hay hỏi ý kiến của Cô luôn, nhờ Cô sửa lại vần thơ cho gọn, ý thơ cho ngọt…

    Viết đến đây tôi chợt nhớ đến François Charles Mauriac (1885-1970), ông là một tiểu thuyết gia, triết gia, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ và nhà báo. Là thành viên của Académie française từ năm 1933, ông đoạt giải Nobel Văn học năm 1952 và đã được trao tặng Grand Cross of the Légion d’honneur vào năm 1958. Nói về tình bạn, François Mauriac nhận định:

    “Không tình yêu nào, không tình bạn nào đi qua con đường định mệnh

    của chúng ta mà không để lại trên ấy mãi mãi những dấu ấn.”

    NV Pháp Francois Mauriac cho là trong tình bạn mà chúng ta có những dấu ấn, những tâm đắc, sẽ nhớ nhau mãi mãi bởi đó là do “duyên tiền định”.

    Cuộc đời có gặp bạn hiền

    Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời.

    Ngoài những buổi “mạn đàm thơ văn”, Cô kể cho tôi nghe về thời son trẻ của Cô, về bài thơ đầu tiên ở tuồi 13, về gia phong và cuộc sống “khuôn phép” khi Cô còn sống dưới mái gia đình cho đến khi theo chồng vào Nam, từ giã niềm vui riêng (làm thơ) để chu toàn bổn phận “làm vợ và làm mẹ”. Từ Cô, tôi đã học được bao điều quý giá, học cung cách thưa gởi, kính trên nhường dưới trọng người già, nhất là sự khiêm nhường, cung kính và hòa nhã của “quy luật trọng cổ”. “Khổ nỗi tôi vốn trọng cổ ”… Đó là câu nói mà Cô hay dùng để giải thích cung cách nho nhã khi Cô gọi tôi “Vâng, thưa Cô Khánh Lan”, để từ dạo đó tôi cũng đáp lễ với “Vâng, thưa Cô Hồng Anh” thay vì “Cô Hồng Anh ơi” mà tôi vẫn quen dùng cho có vẻ thân mật.

    Trong thi ca, có những nhà thơ (NT) mà tôi tôn làm thần tượng với lòng kính phục, trong đó có TS Cung Trầm Tưởng, NS Dương Hồng Anh, NS Minh Đức Hoài Trinh, TS Nguyên Sa, NV Việt Hải và TS Việt Cường (Bố chồng tôi). Có những vị tôi đã gặp và thụ huấn nơi họ những kiến thức quý giá qua sự hướng dẫn và khích lệ như với TS Cung Trầm Tưởng, ông đã khuyến khích tôi nên tìm hiểu và viết về Siêu hình học (Meta Physics) và triết học Hiện Sinh (Existentialism). Trong khi NS Minh Đức Hoài Trinh thì khuyên tôi nên nghiên cứu về Hán tự, Phong Thủy. Còn NV Việt Hải hướng dẫn tôi về văn hóa phương Tây cũng như nghiên cứu về Trống Đồng, Tam Giáo, thi ca và âm nhạc, v.v…

    Riêng TS Việt Cường và NS Dương Hồng Anh, là hai vị đã ưu ái dành cho tôi một vị trí đặc biệt trong cuộc sống của họ như tôi  đã vô cùng kính trọng và yêu quý họ. Làm thơ từ khi ông mới lên 10, “Bố Việt Cường” đã dạy cho tôi thế nào là vần thơ hay và tìm đâu ra ý thơ tuyệt mỹ. Còn “Cô Hồng Anh” thì hướng dẫn tôi về các thể thơ khác nhau trong lãnh vực thi ca. Cô luôn dành cho tôi những cảm tình đặc biệt, Cô thường hay nói với tôi: “Cô Khánh Lan ạ, chẳng lúc nào đặt bút xuống trang giấy mà tôi không nghĩ đến cô, bởi tôi rất quý cô. Đã có biết bao bài thơ tôi viết tặng cô, cho cô, về cô hay nhắc đến tên cô… Có những lúc tôi tránh viết xuống hai chữ “Khánh Lan” trong thơ của tôi, vì tôi sợ sự phê phán của mọi người…”.

                Nhưng chẳng riêng gì làm thơ cho tôi, Cô đã làm thơ cho tất cả mọi người trong trong Liên Nhóm NVNT & TTG ở những dịp Giáng Sinh, Tân Niên, Ra Mắt Sách (RMS), Sinh Nhật, v.v… Trong bài viết này, tôi chỉ xin đề cập đến một vài bài thơ điển hình mà Cô đã sáng tác riêng tặng các thành viên trong nhóm mà tôi nhớ.

                Mừng sinh nhật thứ 70 của NV Việt Hải, NS Dương Hồng Anh đã sáng tác bài thơ:

    KÍNH MỪNG SINH NHẬT NHÀ VĂN TRẦN VIỆT HẢI

    Ca-li gió dịu mây hiền

    Đón mừng sinh nhật cánh chim đầu đàn

    Mừng anh Việt Hải Nhà Văn

    Say mê văn học lo gần lo xa

    Từ trong tim óc tài hoa

    Nhân Văn Nghệ Thuật chan hòa niềm vui

    Đàn ca múa hát tuyệt vời

    Thời gian đẹp mãi nụ cười mến thương

    Tao đàn quẩy gánh văn chương

    Nhạc thơ bừng sáng muôn phương đất trời

    Mừng anh Hạnh phúc vui tươi

    70 sinh nhật yêu đời hơn xưa.

    (Dương Hồng Anh, 7/2023)

    Cô sáng tác bài thơ Bạn Bè Của Tôi. Bài thơ đã được CNS Lâm Dung phổ Nhạc và trở thành NVNT & TTG hành khúc.

    BẠN BÈ CỦA TÔI

    Trời đẹp lắm, Ca li trời đẹp lắm

    Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi

    Bạn bè tôi, những nghệ sĩ yêu đời

    Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá

    Vì chúng ta không bao giờ xa lạ

    Những vần thơ ý nhạc kết nên duyên

    Đời có gì hơn được gặp bạn hiền

    Trên đất khách quê người tình tri kỷ

    Cùng vun sới mảnh vườn đầy thi vị

    Một vườn hoa văn nghệ đẹp như tranh

    Nắm tay nhau ca hát dười trời xanh

    Nhạc thơ đã sẵn sàng cùng cất bước

    Bạn bè của tôi chung lời nguyện ước

    Đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian

    Tình nghĩa văn chương tha thiết muôn vàn

    Là tiếng hát của cung đàn réo rắt

    Là nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt

    Các bạn ơi! thơ nhạc vẫn tràn đầy

    Khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say…

    (Dương Hồng Anh, 7/2020)

                Tháng 06 ngày 25, 2023 là ngày RMS ba tác phẩm: TLVD Hậu Duệ & Thân Hữu do Liên Nhóm NVNT & TTG thực hiện, và 2 tác phẩm của tôi là Tam Giáo Đồng Nguyên, Phân Tâm Học & Đời Sống. Cô đã viết tặng chúng tôi bài thơ:

    THÊM MỘT NIỀM VUI

    Thêm một niềm vui đến nữa rồi

    Đường chiều thơ nhạc níu hồn tôi

    Thành Cam hoa lá bừng hương sắc

    Đón khách văn chương một bến đời.

    Nghe khúc ca rung dưới nắng chiều

    Âm thanh trầm bổng ngát thương yêu

    Tơ lòng trải nhẹ như hơi thở

    Lấp lánh đèn hoa ôi diễm kiều

    Ngày ra mắt sách tưng bừng quá

    Rộn rã vui tươi đẹp suối hồn

    Quanh hội trường – sách đi lững thững

    Trong vòng tay độc giả thân thương

    Những ngày ra sách những ngày vui

    Bạn bè cùng chia ngọt, sẻ bùi

    Nhìn phía trước, thênh thang ta bước

    Mầu trời xanh hy vọng – nắng hồng tươi

    (Dương Hồng Anh, 6/ 2023)

                Trong bữa tiệc mừng sinh nhật của GS Dương Ngọc Sum, Cô đã sáng tác bài thơ:

    KÍNH MỪNG SINH NHẬT THÀY SUM

    Kính mừng sinh nhật Thày Sum

    Nhà văn nhà giáo họ Dương song toàn

    Tám tám tuổi hạc trời ban

    Vẫn còn minh mẫn luận bàn văn chương

    Cộng đồng bè bạn mến thương

    Môn sinh lui tới đón mừng tôn vinh

    Văn chương chung một hành trình

    Những chiều thơ nhạc ấm tình quê hương

    Mấy vần lục bát kính mừng

    Chúc Thày mạnh khỏe thọ trường an khang

    Vườn hoa văn nghệ thênh thang

    Thêm bông hồng thắm, một làn hương bay.

    (Dương Hồng Anh, 7/2020)

                Và để tỏ lòng mến phục NV, NT, GS Quyên Di, Cô đã sáng tác bài thơ:

    CHÚC MỪNG NHÀ THƠ QUYÊN DI

    Tài đức như ông được mấy người

    Khiêm nhường lịch sự rất vui tươi

    Nhà giáo, nhà văn, thi, nhạc sĩ

    Giúp đỡ cộng đồng khắp mọi nơi

    Cùng với phu nhân lo gánh vác

    Dìu dắt mầm non giữ cội nguồn

    Yêu tiếng Việt, lưu trang sử Việt

    Quê người đất khách ấm lòng son.

    (Dương Hồng Anh, 12/2022)

    Tối qua, tháng 07 ngày 11, 2023 tôi nhận được điện thoại của NS Dương Hồng Anh bàn về một bài viết của tôi với tựa đề: Bách Niên Kỷ Của Một Nhà Văn, GS NV Doãn Quốc Sỹ, đăng trong tuyển tập TLVD Hậu Duệ & Thân Hữu, tập 2. Cô nhắc đến câu thơ mà GS Phạm Thị Huê dùng để kết thúc phần nói chuyện của bà. Đó là câu thơ của Đại Văn Hào Nguyễn Du:

    “Trời còn để có hôm nay….

    GS Huê nói tiếp:

    “Câu thơ tiếp theo tôi xin để trống để mọi người tự điền vào.”

    Sau khi nghe Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Thị Huê đọc câu thơ của thi hào Thanh Hiên Tố Như tôi đã liên tưởng:

    “Trời còn để có hôm nay,

    Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời.

    Hoa tàn mà lại thêm tươi,

    Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.”

    (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

    Ngẫm nghĩ về câu “Trời còn để có hôm nay”,… Trời ở đây có nghĩa như không gian (sky, le ciel) hay khung trời cho chúng ta hôm nay được gặp lại nhau, nhìn nhau, và người đối diện vẫn mạnh khoẻ để chuyện trò, hàn huyên  với nhau. Sau bao năm vật đổi sao dời, “Hoa tàn mà lại thêm tươi, Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.”… và rồi không gian, thời gian đã chuyển hóa để chúng ta quán được, ngộ được, và nhận chân ra rằng “Trời còn để có hôm nay“, vì nay chúng ta đã không có gì mất cả, mà ngược lại, hoa cũ vẫn còn tươi, trăng cũ còn sáng hơn xưa.

    Sau khi đọc đoạn văn này, NS Dương Hồng Anh đã họa tiếp theo 3 câu thơ như sau:

    ĐẸP GIÒNG THỜI GIAN

    Trời còn để có hôm nay

    Cho thơ cất cánh hồn say ngàn trùng

    Hoàng hôn ươm sợi nắng hồng

    Tình thơ nghĩa bạn đẹp giòng thời gian

    (Dương Hồng Anh, 7/2023)

                Ngẫm về câu thơ trên thì quả thật đầy ý nghĩa. Đúng vậy, “Trời còn để có hôm nay” để chúng ta còn gặp nhau, để cùng nhau trao thơ chuyển nhạc. “Hoàng hôn ươm sợi nắng hồng. Tình thơ nghĩa bạn đẹp giòng thời gian.” Hai câu thơ này có nghĩa là bạn bè cùng ngắm cảnh hoàng hôn nắng ấm, và khi ý thơ còn nồng, tình bạn còn tươi, còn bền, còn bao la theo giòng thời gian, tựa như thuở ban đầu mới gặp.

                Còn TS Tha Nhân, ông đã tiếp lời GS Phạm Thị Huê và NS Dương Hồng Anh qua hai đoạn bài thơ sau đây:

    Trời còn để có hôm nay

    Câu thơ nét nhạc cùng say bến tình

    Chiều tàn trăng vội lung linh

    Văn chương duyên thắm đẹp xinh với người

    Hay:

    Trời còn để có hôm nay

    Chim Hồng lạc xứ đẹp ngày bên nhau

    Lời thơ ý nhạc tô màu

    Thắm duyên văn nghệ đẹp câu ân tình.

    (Tha Nhân, 7/2923)

                Trong thi ca, danh ngôn, ca dao, v.v… đã có nhiều người nói, viết về tình bạn, đặc biệt là tình bạn trong thi ca, khi các bạn thơ đã hợp ý nhau thì tình bạn ấy trở nên gắn bó và bền chắc.

    Bạn bè là nghĩa tương tri,

    Sao cho sau trước là thì mới nên.

    Một câu ca dao khác về duyên bạn tiền định như sau:

    Tâm đắc tri kỷ tâm giao

    Cùng chung chí hướng cùng nhau kết tình.

    Nhà hiền triết học giả Alcuin thuở xa xưa cho cảm nghĩ về tình bạn tri kỷ:

    Tình bạn là sự đồng điệu về tâm hồn

    (L’amitié est la similitude des âmes).

    (Savant Alcuin, 735-804)

    Tôi xin dùng câu nói của nhà văn, nhà triết học, bác sĩ Albert Schweitzer (khôi nguyên Nobel 1953) để cảm ơn hạc vàng vong niên Nữ Sĩ Dương Hồng Anh. Suốt cuộc đời của Albert Schweitzer, đã đóng góp những công ích về văn hóa cho nhân loại. Là một nhân vật đa năng, ông tham gia vào âm nhạc, khoa học, thần học. ông là kho tàng dữ liệu đầy đủ các sự kiện thú vị. Câu chân ngôn dưới đây của Schweitzer mà tôi trích dẫn từ cuốn sách “Schweitzer bài học và cách ngôn” thật là thích hợp với tình bạn văn thơ của chúng tôi và tôi xin mượn để trao đến Nữ Sĩ Dương Hồng Ạnh.

    “Hãy cố gắng gieo những hạt giống của tâm hồn bạn,

    vào những người đi cùng bạn trên đường đời, và

    hãy chấp nhận những điều quý giá mà họ dành tặng lại cho bạn.”

    Khánh Lan

    California July 14, 2023

  • Khánh Lan,  Phan Đình Minh,  Sinh Hoạt

    RA MẮT 3 TÁC PHẨM: TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, HẬU DUỆ & THÂN HỮU, PHÂN TÂM HỌC & ĐỜI SỐNG, TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN

    Hồi ký của Khánh Lan

    Chủ Nhật, ngày 25 tháng 06, 2023

    …. Hè đã đến và nắng đã lên cao như chào đón một ngày mới, ngày mà tôi đã chuẩn bị và chờ đợi gần một năm nay. Phải, đó là ngày Ra Mắt Sách (RMS) của 3 tác phẩm do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) thực hiện, trong đó có quyển Tam Giáo Đồng Nguyên, một tác phẩm mà tôi đã say mê và dày công nghiên cứu. Say mê bởi càng đọc tôi lại càng muốn đọc, tìm hiểu và nghiên cứu thêm về 3 luồng tư tưởng đã để lại nhiều ảnh hưởng cho dân tộc Việt Nam vốn trọng “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”.

    Cũng trong dịp RMS này, Nữ Sĩ (NS) Dương Hồng Anh đã gởi tặng Khánh Lan, Từ Dung và Ngọc Cường một bài thơ nhân ngày RMS của ba chúng tôi. NS Dương Hồng Anh là một nhà thơ cao niên tài hoa mà tôi rất kính yêu, chẳng phải vì bà đã dành cho tôi nhiều ưu ái mà bởi chính tâm hồn cao thượng, nhân hậu và khiêm nhường tiềm ẩn trong trái tim của Bà. Dưới đây là nguyên văn bài thơ của NS Dương Hồng Anh.

    Bài thơ của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh gởi tặng

    Ba Nhà Văn: Ngọc Cường, Khánh Lan, Việt Hải

    Đúng 11 giờ sáng, chúng tôi đã có mặt tại NT STUDIO để chuẩn bị cho buổi RMS của 3 tác phẩm. Tuy chuẩn bị mọi thứ, rất kỹ từ hơn một tuần trước, thế mà vẫn quên một vài thứ lặt vặt như napkins, bảng giá cả sách, v.v… Nhưng cô chủ Vương Trang đã mau mắn giúp một tay hoàn tất những thiếu sót ấy.

    Vừa bước vào bên trong của khánh  phòng (NT Studio), NS Duy Nhật và Vương Trang đã cho tôi một ngạc nhiên bất ngờ. Trước mặt tôi, bàn ghế đã được hai anh chị bày biện thật đẹp, theo hàng lối, thứ tự như thể anh chị đã đọc được những suy nghĩ từ trong tâm trí của tôi. (là phải xắp xếp chỗ ngồi cho quan khánh như thế nào để tỏ lòng kính trọng đối với các vị trưởng thượng, quý Giáo Sư và Văn Thi Sĩ, cũng như để tỏ lòng ưu ái đến quý quan khách). Nên, thú thật là trong vài phút đầu, tôi đã không nói nên lời và nén cơn xúc động trước cung cách cư sử quá tốt đẹp mà chủ nhân đã dành cho tôi. Với tôi, Duy Nhật và Vương Trang lúc nào chu đáo và tuyệt vời, tôi thầm cám ơn hai người bạn văn nghệ lúc nào cũng hết lòng với tôi.

    Nhà Văn Kiều My, Vy Hương (chị em song sinh với tôi), Đức Hạnh và Tuyết Nga (hai người bạn thân của tôi hơn 30 năm nay), cũng đã đến cùng giờ với tôi và Mạnh Bổng. Thế là, chúng tôi bắt tay vào công việc ngay, nào là sửa soạn giải khát, bánh ngọt, xếp sách lên bàn, v.v…Vương Trang cũng giúp một tay và Duy Nhật thì chạy ngược chạy xuôi điều chỉnh âm thanh và ánh sáng của sân khấu, v.v…

    Nhà Văn Khánh Lan

    … Kính thưa quý độc giả, … làm sao tôi có thể viết vào đây, trên trang giấy này, cho hết nỗi vui mừng khi nhận thấy đồng hồ chưa điểm 12:30 chiều, thế mà quan khách đã đến khá đông. Những quyển sách được liên tục chuyển đến tay tôi từ các quan khách và bạn hữu, chữ ký của tôi càng lúc càng trở nên xiêu vẹo, ngả nghiêng vì xúc động trước những tấm lòng yêu mến của các độc giả ưu ái dành cho tôi và nhóm Hậu Duệ Tự Lực Văn Đoàn… 

    Nhà Văn Ngọc Cường và phu nhân, Bích Điệp

    NV Phạm Quốc Bảo đến rất sớm, ông đi đi lại lại, nhìn quanh có ý tìm xem NV Ngọc Cường đang ở đâu? Vài phút sau, tôi nhận thấy có một số bạn bè của NV Ngọc Cường cũng đã đến với quyển sách TLVĐ, Hậu Duệ và Thân Hữu trên tay, họ đứng vòng quanh NV Ngọc Cường, sẵn sàng chờ đến phiên mình và kiên nhẫn chờ NV Ngọc Cường ký tên vào tác phẩm.

    Sự có mặt của chị Ngọc Châu, Thanh Châu, Kim Hương, Ánh Tuyết, Hạ Lan thật quý hóa, mỗi người một tay, giúp tiếp tân, mời quan khách vào ghế ngồi và làm các việc lặt vặt khác. Ôi! Những người bạn thân yêu đã đến với tôi, với tất cả tấm lòng. Tôi xin luôn ghi nhớ.

    MỘT PHÁI ĐOÀN BÁN SÁCH HÙNG HẬU

              Các cô bán sách là những người bạn đã luôn cùng tôi sát cánh trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong đó có những người bạn đồng nghiệp đã cùng tôi gắn bó hơn 30 năm qua cho đến những người bạn tôi chỉ mới quen hơn một năm thôi.

    Từ trái sang phải: Kim Hương, Ngọc Châu, Thanh Châu, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Vy Hương

    Có thêm NV Ngọc Cường và phu nhân Bích Điệp và một người bạn của NV

    Việt Hải, Khánh Lan, Đức Hạnh, Vy Hương, Bích Điệp

    Đây là lần thứ hai tôi RMS, nhưng những cảm xúc trong tâm hồn tôi lại hoàn toàn khác hẳn với lần RMS trước cách đây hai năm. Lần này, tôi cảm thấy hồi hộp và lo lắng, bởi hôm nay có rất nhiều tổ chức của các hội đoàn khác trong cộng đồng. Nhưng lạ thay và kỳ diệu thay, khi đồng hồ vừa điểm 12 giờ trưa, quan khách đã lần lượn đến chung vui và ủng hộ mua sách. Vy Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga bán sách không ngừng tay, còn tôi: “ngồi ký sách liên tục”. Thế là, bao nhiêu sự lo lắng, lo âu trong tôi đều tan biến để nhường chỗ cho một niềm hân hoan vô biên trong tâm hồn tôi.

    GIA ĐÌNH TÔI

              Gia đình tôi, những người gần nhất và thân yêu nhất của tôi đã đến từ thành phố Los Angeles, con gái Thiên Kim và con rể Stephen Chong. Hai tuần trước, cháu Thiên Kim đã vấp té và bị gẫy ngón chân út, nên chân phải băng bột và đi nạng, nhưng hai vợ chồng cháu vẫn có mặt trong buổi RMS của tôi.

    Thiên Kim & Stephen

    Mạnh Bổng & Khánh Lan

    Em gái song sinh Vy Hương, Stephen, Thiên Kim, Khánh Lan

    CẢNH CŨ NGƯỜI XƯA NAY CÒN ĐÂU?

    Niềm vui không trọn vẹn bởi nỗi buồn dồn dập kéo đến trong tâm hồn tôi, hình ảnh Nhà thơ Việt Cường đột ngột trở về trong ký ức, làm mắt tôi mờ lệ. Phải chăng, kỷ niệm của hai năm trước, cũng trong ngày RMS lần đầu 4 tác phẩm của tôi được tổ chức tại NT Studio, ngày 19 tháng 09, 2021 đã có sự hiện diện của Nhà Thơ Việt Cường Lưu Tấn Lâm, Bố chồng tôi. Nay ông đã khuất bóng hơn một năm (mất ngày 26 tháng Giêng năm 2022) khiến lòng tôi chùng xuống.

    Từ trái sang phải: Mabel Chong, Stephen & Thiên Kim, Mạnh Bổng & Khánh Lan và Vy Hương. Ngồi giữa là NT Việt Cường Lưu Tấn Lâm

    KHÁCH THAM DỰ

    NV Phạm Quốc Bảo là vị khách đầu tiên, ông đến từ 12 giờ trưa, rồi đến NV Dương Viết Điền và GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum. GS Trần Huy Bích và NV Dương Viết Điền là hai vị trong số các Giáo sư và Nhà Văn luôn luôn nâng đỡ, ủng hộ các tài năng mới trong lãnh vực văn học.

    Giáo Sư Trần Huy Bích và Nhà Văn Dương Viết Điền

    Đức Hạnh, “My best friend”

    Chị Ngọc Châu, “người chị du lịch yêu quý”

    Chị Kim Ngân “Giám đốc Viện Việt Học”

    Giáo Sư Phạm Thị Huê, “GS cố vấn Hội Giáo Chức & Hùng Sử Việt”

    BẠN BÈ CỦA TÔI

              Bạn bè của tôi, những người bạn thân tình hay trong những chuyến du lịch, ca vũ, họp mặt, v.v… mà tôi đã gặp và quen biết trên những nẻo đường tôi đã đi qua, trong suốt bao năm (1987-2023). Những người bạn luôn luôn đứng bên tôi, hỗ trợ, giúp một cánh tay trong “giấc mơ văn học” của tôi được thành đạt và hoàn hảo.

    Thanh Châu, Khánh Lan, Tuyết Nga, Ngọc Châu, Đức Hạnh

    Người bạn đồng môn, đồng nghiệp: Kim Thoa

    Kim Thoa và tôi gặp và quen với nhau hơn 30 năm, khi ấy chúng tôi cùng làm cho cơ quan giúp đỡ người già và khuyết tật của quận Cam (In-Home Supportive Services of  Orange County) rồi tới Trung Tâm Cố Vấn Tâm Lý và sau cùng là Cơ Quan Bảo Vệ Trẻ Em (Child Protective Services). Sau đó chúng tôi cùng nghỉ hưu và thỉnh thoảng mới gặp nhau, nhưng vẫn giữ liên lạc. Kim Thoa trở lại làm việc sau khi nghỉ hưu tại trung tâm cố vấn tâm lý Project Focus và hiện là Clinical Director cho cơ quan ấy, còn tôi thì bỏ nghề hơn 5 năm nay và trở thành…hihihi…”Nhà Văn”…

    Ánh Tuyết & Bá Thu trong nhóm vũ Mây Thu và Phù Sa

    Trước khi bước vào lãnh vực văn học, tôi rất đam mê ngành vũ nghệ thuật. 15 năm trước, tôi và một người bạn Băng Tâm thành lập nhóm vũ “Phù Sa”, Ánh Tuyết và anh Bá Thu là những vũ công trong nhóm. Sau 10 năm, khi Phù Sa tan rã, tôi gia nhập nhóm vũ “Mây Thu” của Ánh Tuyết trước khi gia nhập Liên Nhóm NVNT và thành lập nhóm vũ “Tiếng Thời Gian”.

    Nhóm vũ Phù Sa với: Thanh Châu, Ánh Tuyết, Tuyết Nhung, Khánh Lan

    Mạnh Bổng, Anh Khoa, Băng Tâm, Cữu Nguyên, Khánh Lan, Thanh Châu, Ngọc Lan (ngồi quay lưng)

    Mỹ Ngọc, Khánh Lan, Bá Thu, Ánh Tuyết, Kim Anh với nhóm vũ “Mây Thu”

    Nhóm vũ “Tiếng Thời Gian”

    Người bạn Kinh Thương Minh Đức, Kỹ Sư xây dựng Nguyễn Văn Viễn, Thi Sĩ Tha Nhân và Khoa Học Gia Lâm Quốc Dân

    Khánh Lan, Đức Hạnh, Kim Hương, Bích Điệp, Ngọc Hà

    Những người bạn văn nghệ: Mộng Thủy, Hồng Quyên, Hạ Lan

    Trở lại buổi RMS, các anh chị trong nhóm truyền thông báo chí là những người đến sớm nhất. Trước hết là Phóng Viên Phạm Khanh và chuyên viên kỹ thuật Phạm Phú Nhân của Đài Little Saigon TV. Chính sự tiên phong hiện diện ấy đã đưa đến cho hai anh nhiều thời gian để phỏng vấn Khánh Lan về hai tác phẩm Tam Giáo Đồng Nguyên và Phân Tâm Học & Đời Sống. Cám ơn Phóng Viên Phạm Khanh và chuyên viên kỹ thuật Phạm Phú Nhân của Đài Little Saigon TV.

    Phóng Viên Phạm Khanh và anh Phạm Phú Nhân thuộc ban kỹ thuật của Đài Little Saigon TV

    Phóng viên Phạm Khanh đã đặt những câu hỏi về chương trình của ngày RMS và hai tác phẩm của NV Khánh Lan và chương trình văn nghệ với những bài hát hướng về quê hương Hà Nội trước năm 1954, khi hàng triệu đồng bào từ miền Bắc đã rời bỏ nơi “chôn nhau cắt rốn” để di cư và lập nghiệp tại miền Nam Việt Nam. Khi Phóng Viên Phạm Khanh đặt câu hỏi về nội dung và động lực nào mà NV Khánh Lan cho ra đời hai tác phẩm Tam Giáo Đồng Nguyên (TGĐN) và Phân Tâm Học & Đời Sống (PTH & ĐS)?

     Khánh Lan đáp: “Đây là hai tác phẩm mà Khánh Lan rất thích, Lan đã dùng hết tất cả thời gian và nhiệt huyết để đầu tư vào. PTH & ĐS là quyển sách mà Lan thích nhất bởi đó là môn học chính của Lan đã học và ra trường với ngành đó. Đây là một phương pháp phân tích nội tâm, phân tích tâm lý con người, bởi trong cuộc sống, có những khúc mắc xảy ra hàng ngày trong đời sống của chúng ta, những khúc mắc ấy đã tích lũy và bị dồn ép vào một nơi gọi là cõi “vô thức”. Những khúc mắc ấy không có cơ hội hay không thể bộc lộ ra ngoài (fan-out) một cách dễ dàng. Một khi chúng không thể bộc lộ ra được và một khi chúng bị ấn nén vào một nơi không có lối thoát, thì áp lực ấy trở nên quá nhiều; chúng tạo ra sự căng thẳng và chúng ta trở nên cáu kỉnh, háo chiến hay ngược lại là trầm cảm. Phương pháp nghiên cứu tâm lý hay cố vấn tâm lý giúp giải tỏa những ưu phiền ấy mà lại không gieo ảnh hưởng hay tổn thương đến sức khỏe.”

    “Còn TGĐN, đó là 3 tôn giáo nổi tiếng và được nhiều người biết đến trên thế giới, đó là Nho Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo. Đây là quyển sách tóm lược chi tiết của 3 tôn giáo trên và giải thích lý do tại sao khi du nhập vào Việt Nam lại được người dân Việt ủng hộ rất nhiệt tình. Phải chăng bởi vì dân Việt Nam vốn trọng và đề cao “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín”.

    “Đây cũng là cuốn sách mà Lan đã dùng rất nhiều thời gian để sưu tầm và nghiên cứu.” NV Khánh Lan nói.

    Khi được hỏi là NV Khánh Lan đã có kinh nghiệm gì trong quá khứ khi viết về tôn giáo, Khánh Lan cười và trả lời: “Thú thật, Lan là người theo đạo Công Giáo, nhưng lại muốn nghiên cứu, tìm hiểu về những tôn giáo khác, bởi tôn giáo nào cũng dạy ta “làm điều lành, tránh điều ác” và phải thương yêu nhau. Thật ra, khi còn nhỏ, Lan không thích cho lắm, nhưng khi càng lớn tuổi thì lại muốn tìm hiểu về chân lý của mỗi đạo giáo, để mình rút tỉa ra những điều tốt, nên biết và nên học những cái hay của tôn giáo đó. Đó là lý do tại sao?”

    Phóng viên Phạm Khanh phỏng vấn NV Khánh Lan về hai tác phẩm

    TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN và PHÂN TÂM HỌC & ĐỜI SỐNG

    Phóng viên Phạm Khanh: Tôi quen biết với anh đã khá lâu qua sự giới thiệu của ông John Tạ, giám đốc công ty dược thảo Princess Lifestyle. Trước ngày RMS, anh Phạm Khanh đã giúp chúng tôi quảng cáo 3 tác phẩm này trên đài Little Saigon TV, băng tầng 56.10. Cám ơn ông Giám Đốc John Tạ và Phóng viên Phạm Khanh cũng như anh chuyên viên kỹ thuật Phạm Phú Nhân.

    Quảng Cáo ngày RMS của 3 tác phẩm trên đài Little Saigon TV, 56.10 với Phóng Viên Phạm Khanh, NV Ngọc Cường và NV Khánh Lan

    Nhiếp Ảnh Gia (NAG) Nguyễn Minh Thiều, Paul Phú LeVan, Tâm An Media cũng có mặt rất sớm trước giờ khai mạc. Tiếc rằng vì qúa bận rộn, chúng tôi chẳng có một tấm hình nào chụp chung trong ngày RMS. Cả 3 vị luôn chụp và thâu video cho tôi những tấm hình đẹp và video tuyệt diệu.

    Chị Tâm An Media, thành viên trong “Mạng Lưới Nhân Quyền”  luôn sẵn sàng thâu cho chúng tôi những video đẹp.

    Và sau cùng là đài phát thanh VOA (Voice of America), cô phóng viên trẻ đã đến trễ khi buỗi RMS gần bế mạc (4:00 giờ chiều) vì bận phải đi phỏng vấn buổi họp mặt của Liên trường tại Mile Square Park. Cô phỏng vấn Khánh Lan về 2 tác phẩm Tam Giáo Đồng Nguyên và Phân Tâm Học. Đồng thời cô cũng hỏi về động lực nào đã thúc đẩy tác giả bước vào lãnh vực văn học và viết những quyển sách này cũng như nội dung của hai tác phẩm. Với tác giả Khánh Lan, cô phóng viên còn hỏi thêm về sự ảnh hưởng của văn học Việt Nam trong “thế hệ trẻ và văn chương Việt Nam”, làm sao để có thể “hướng dẫn giới trẻ yêu văn hóa Việt và bảo tồn văn học Việt”. Cô hỏi thêm một câu hỏi nữa là Khánh Lan có những lo ngại gì hay nghĩ sao về sự thoái hóa của nền văn học Việt trong tương lai; làm sao để duy trì nó, v.v… Còn với NV Ngọc Cường thì cô phóng viên phỏng vấn NV về chủ đề Tự Lực Văn Đoàn và Hậu Duệ.

    Trong số đồng hương đến dự buổi RMS, Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của Giáo Sư Trần Huy Bích và Giáo Sư Phạm Thị Huê, bà trả lời phỏng vấn của Ký Giả Lâm Hoài Thạch, bà nói: “Theo tinh thần quảng bá tiếng Việt cũng như học hỏi thêm về văn hóa của Việt Nam, trong đó có vấn đề tại sao có những tôn giáo ở Việt Nam, mà Khánh Lan đã đặt đề tựa là “Tam Giáo Đồng Nguyên.” Đây là một ý tưởng rất hay để cho mọi người cần nghiên cứu, để được hiểu thêm tầm quan trọng của tôn giáo đối với dân tộc Việt Nam như thế nào. Tại vì dân tộc Việt Nam có tín ngưỡng, luôn để ý đến trời đất, không chỉ có một tôn giáo mà đến ba tôn giáo. Mong rằng, những quyển sách này sẽ đưa đến một ánh sáng, một sự hiểu biết cho chúng ta, nhất là cho giới trẻ tại hải ngoại.” (phỏng theo bài phóng sự của Ký Giả Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Từ trái, NV Khánh Lan, GS Phạm Thị Huê và GS Trần Huy Bích. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Giáo Sư Trần Huy Bích nhận định: “Đối với những nhà văn trẻ hiện nay, tôi thấy họ có tinh thần học hỏi và cầu tiến, nhân cơ hội có nhiều phương tiện để tìm hiểu thêm những tài liệu, và những gì quan trọng tại đất nước Hoa Kỳ trên Internet, hoặc thư viện. Vì thế, vấn đề viết sách xem như được dễ dàng hơn lúc trước rất nhiều. Tôi nghĩ rằng, những người viết sách trong tương lai sẽ có tiềm năng, và còn nhiều đường dài để tiến đến sự thành công trong vấn đề biên soạn.” (dựa theo bài phóng sự của Ký Giả Lâm Hoài Thạch/Người Việt).

    Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên với tác phẩm Tam Giáo Đồng Nguyên. Trong lúc vô cùng thất vọng thì tôi lại có cơ duyên gặp và mời được Thày tham dự buổi RMS. Tuy chưa một lần gặp được gặp Thày, nhưng tôi đã nhiều lần được thưa chuyện cùng Thày trên điện thoại và email. Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên là một vị tu sĩ thông hiểu tường tận về Tam Giáo Đồng Nguyên, những tưởng như là Ngài đã đọc qua sách của tôi. Hơn thế nữa, khi xem qua Website của Thượng Tọa, tôi còn được biết Thày là một nhà văn, một nhà thơ.

    Tôi gặp và mời được Thày làm diễn giả là do sự giới thiệu của chị Ngọc Châu. Gặp được Thày là cả một sự may mắn xảy ra cho tôi, bởi sau bao lần cố tâm tìm kiếm một vị “Tì Kheo” giúp làm diễn giả cho tác phẩm của mình, thì quả thật là nhiêu khê, bởi ngày RMS của tôi lại trùng với mùa Lễ Phật Đản, nên các Thày rất bận rộn, ngoại trừ Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên. Khi nhận lời, Ngài nói với tôi: “Chị Khánh Lan cho Thày nói trước 2:30 giờ chiều, vì Thày phải về Lễ Phật lúc 3:00 chiều.” Gặp được Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên và mời được Thày làm diễn giả cho sách của tôi, là một phép nhiệm màu đã xảy ra cho tôi. Xin được trang trọng gởi đến Thượng Tọa sự biết ơn của tôi.

    Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên, Ông Hoàng Đình Khuê, Chị Kim Ngân

    Từ trái: NV Nguyễn Quang, NT Vũ Lang, GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải

    NV Dương Viết Điền, TS Lê Nguyễn Nga, NS Phan Đình Minh, Lệ Hoa “phu nhân của NV Việt Hải”, Ngọc Quỳnh

    Từ trái: Phu quân của GS Huê, Bá Thu, Ánh Tuyết, NT từ San Jose, Khánh Lan và GS Huê

    Ngoài ra, tôi còn nhận thấy sự hiện diện của rất nhiều quan khách, trong đó có Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, Thi Sĩ Lê Nguyễn Nga, Thi Sĩ Tha Nhân, Thi Sĩ Vũ Lang, GS Lê Văn Khoa, NV Phạm Quốc Bảo, NV Nguyễn Quang, NV Dương Viết Điền, GS Dương Ngọc Sum, Kỹ Sư Nguyễn Văn Viễn-chủ công ty xây cất Vincents Construction, Cô Kim Ngân-Giám Đốc Viện Việt Học, Nghệ Sĩ Phan Đình Minh (Texas), v.v… và các anh chị hậu duệ TLVĐ.

    Giáo Sư Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân, Ca Sĩ Ngọc Hà

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Cô Kim Ngân (Giám Đốc Viện Việt Học)

    HẬU DUỆ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

    Hậu Duệ TLVĐ

    Cô Sang, Bích Điệp (hậu duệ TLVĐ), Ngọc Châu, Ngọc Quỳnh, Khánh Lan

    Phu nhân của cố Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý (hậu duệ TLVĐ) và Khánh Lan

    NV Từ Dung và cô Tôn Nữ Quế Phương

    Thi Sĩ Lê Nguyễn Nga, Nghệ Sĩ Phan Đình Minh, Nhà Văn Kiều My

    Quan khách tham dự và CS Kiều Loan (mặc áo dài đen chấm trắng)

    MUA SÁCH ỦNG HỘ

    Nhà Thơ Tha Nhân

    Kỹ Sư Xây dựng Nguyễn Văn Viễn, chủ công ty xây cất Vincents Contruction

    Tiếp đến là nhật báo Người Việt, Ký Giả Lâm Hoài Thạch, ông đã phỏng vấn NV Ngọc Cường và tôi, ông cũng là ký giả đã viết bài báo tường trình về buổi RMS. Bài báo đã được đăng trên Nhật Báo Người Việt ngày 02, tháng 07, 2023. Cám ơn Ký Giả Lâm Hoài Thạch và tôi xin trích vài đoạn phóng sự của ông trong bài viết của tôi như sau:

    Ký giả Lâm Hoài Thạch phỏng vấn NV Khánh Lan: Ra mắt sách nghiên cứu quý giá về Tự Lực Văn Đoàn tại Little Saigon

    July 1, 2023

    Bài tường thuật của Ký giả Lâm Hoài Thạch/Người Việt

    WESTMINSTER, California (NV) – Nhiều đồng hương và hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn đến dự buổi ra mắt sách “Tự Lực Văn Đoàn Hậu Duệ và Thân Hữu” do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức vào trưa Chủ Nhật, 25 Tháng Sáu, tại NT Studio, thành phố Westminster. Cũng trong buổi này, ban tổ chức giới thiệu hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan là “Tam Giáo Đồng Nguyên” và “Phân Tâm Học và Đời Sống.”

    Buổi ra mắt sách cũng là dịp tưởng niệm 60 năm ngày giỗ nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1963-2023). Nhất Linh thành lập Tự Lực Văn Đoàn và là một trong những cây bút chính của nhóm này. Cùng với nhiều người yêu nước thời bấy giờ, Tự Lực Văn Đoàn có công cổ xúy chữ Việt trong sáng và đóng góp rất nhiều cho bản sắc văn hóa Việt.

    Tác giả Khánh Lan chia sẻ với phóng viên nhật báo Người Việt: “Tôi mới bước vào làng văn chừng bốn năm nay, từ một cái duyên tôi gặp được anh Trần Việt Hải, anh đã dẫn dắt tôi đi vào nghề viết sách. ‘Tự Lực Văn Đoàn Hậu Duệ và Thân Hữu,’ quyển sách này tổng hợp nhiều nghiên cứu công phu của nhiều người như Bác Sĩ Ngô Thế Vinh, Trần Việt Hải, Kiều My, Thế Uyên, Khánh Lan, Giáo Sư Maria Strasakova, Giáo Sư Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tường Tâm…”

    “Quyển thứ hai là “Tam Giáo Đồng Nguyên”, nội dung ghi lại sự tương đồng giữa ba nguồn tư tưởng Nho Giáo, Lão Giáo, và Phật Giáo. Tuy tôi là đạo Công Giáo, nhưng tôi muốn tìm hiểu và nghiên cứu các đạo khác. Bởi vì đạo nào cũng dạy cho chúng ta nhân đức và hiếu nghĩa. Vì thế, tôi muốn tìm hiểu về chân lý của mỗi tôn giáo, và từ đó cuốn tôi vào dòng văn học này. Chính anh Việt Hải đã khuyến khích tôi viết quyển này,” bà giới thiệu.

    “Về tác phẩm “Phân Tâm Học và Đời Sống”, đây là một lý thuyết mà tôi được học từ nhiều trường lớp, và đây cũng là nghề của chúng tôi. Trong đó có môn Phân Tích Về Tâm Lý Nội Tâm của mọi người và làm sao để giải thích những uẩn khúc và tiềm thức ở trong cõi vô thức, mà chúng ta không biết được. Nhờ có Phân Tâm Học đã giúp cho chúng ta giải tỏa được những nỗi u sầu đó. Đồng thời cũng giúp cho chúng ta hiểu được, tại sao chúng ta lại hành động như thế,” bà Khánh Lan chia sẻ. (Ký giả Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    CHƯƠNG TRÌNH RA MẮT SÁCH

    Ban hợp ca Tiếng Thời Gian

    Đúng 1:15 chiều, MC Mộng Thủy chào đón quan khách và khai mạc buổi RMS, lễ chào Quốc Kỳ Mỹ-Việt với ban hợp ca Tiếng Thời Gian. Tiếp theo là phút mặc niệm để ghi nhớ đến công ơn của các vị tiền nhân đã có công dựng nước và gìn giữ nước. Phút mặc niệm để tưởng nhớ đến các quân nhân cán chính VNCH đã hy sinh ngoài chiến trường để bảo vệ cho tự do độc lập. Phút mặc niệm để nhớ đến các nhà văn hóa và các văn nghệ sĩ đã ra đi và để lại những di sản văn hóa cho chúng ta.

    Theo sau là MC Hồng Quyên, cô nói: “Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời gian ghi nhận, cảm kích và cám ơn sự hiện diện của quý quan khách trong buổi RMS ngày hôm nay, nhưng vì thời gian không cho phép và chương trình khá dài, chúng tôi xin được phép không giới thiệu danh sách quý khách đến tham dự.”

    MC Mộng Thủy tiếp lời MC Hồng Quyên, cô nói buổi họp mặt hôm nay gồm 2 phần: Phần Văn Học và phần Văn Nghệ.

    PHẦN VĂN HỌC là buổi RMS của 3 tác phẩm văn học, gồm:

    1) Tác phẩm TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, HẬU DUỆ & THÂN HỮU, tuyển tập số 2 do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật thực hiện.

    2) Hai tác phẩm tiếp theo là TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN và PHÂN TÂM HỌC & ĐỜI SỐNG của Nhà Văn Khánh Lan. 

                Mở đầu phần văn học, MC Hồng Quyên giới thiệu Nhà văn (NV) Việt Hải, ông là một trong 3 vị đã sáng lập ra Nhóm Văn Học Thời Nay gồm thi sĩ Hoài Mỹ và NV Đỗ Cường (Cố vấn: Giáo Sư (GS) Trần Bích Lan và GS Lưu Trung Khảo). Ông cũng cùng NV Tạ Xuân Thạc và GS Doãn Quốc Sỹ (cố vấn: GS Nguyễn Thanh Liêm, GS Doãn Quốc Sỹ, GS Nguyễn Xuân Vinh, GS Lê Hữu Mục và Luật Sư Trần Thanh Hiệp) đồng sáng lập ra Nhóm Văn Đàn Đồng Tâm. Ngoài ra, ông và nhạc sĩ Anh Bằng đã sáng lập ra Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và sau cùng, nhà văn, thi sĩ Trần Việt Hải, là một trong những người sáng lập và là cánh chim đầu đàn của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG). Ông nói về tôn chỉ và sinh hoạt của Liên nhóm NVNT & TTG và đại diện ban tổ chức ngỏ lời chào mừng và cám ơn quan khách đến dự.

    Nhà văn Trần Việt Hải tâm tình: “Tôi rất vui khi được hướng dẫn Khánh Lan trong lãnh vực biên soạn. Cô là người rất chịu khó sưu tầm những tài liệu quý giá để nghiên cứu, nhằm tạo dựng ra tác phẩm của mình, và trong tương lai, Khánh Lan còn cho ra đời nhiều tác tác phẩm có giá trị khác.”(trích dẫn bài của Ký Giả Lâm Hoài Thạch)

    Nhà văn-thi sĩ Trần Việt Hải phát biểu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Để tưởng niệm 60 năm ngày mất của Nhất Linh, bài thơ IM LẶNG của ông Nhất Linh đã được phổ nhạc bởi Nghệ Sĩ Phan Đình Minh. Nhất Linh đã chọn sự im lặng theo cung cách riêng của mình trước ngày ra hầu tòa, như ông đã viết trong bài thơ Im Lặng của ông. Nhân đây, BTC giới thiệu về Nghệ sĩ Phan Đình Minh: Nghệ sĩ Phan Đình Minh đến từ Rowlett, Texas. Hiện nay, ông phụ trách chương trình “Từ Cánh Đồng Mây” trên Radio Saigon Dallas – KBDT 1160 AM. Từ Cánh Đồng Mây là một chương trình phát thanh, truyền âm và truyền hình đi toàn cầu, hiện đại và mang đậm dấu ấn bản sắc văn hóa truyền thống Việt Nam, phục vụ đồng hương trong và ngoài nước. Nhạc phẩm này do chính Nghệ sĩ Phan Đình Minh trình diễn.

    Đồng thời, một bài thơ của Khái Hưng đã dịch một tác phẩm bất hủ của nhà thơ người Pháp, Félix Arvers (1806-1850). Bài thơ Sonnet Un Secret (Điều bí mật) hay TÌNH TUYỆT VỌNG là tựa đề do Khái Hưng đặt, Nghệ Sĩ Phan Đình Minh phổ nhạc. Một lần nữa, nhạc phẩm Tình Tuyệt Vọng sẽ được Nghệ Sĩ Phan Đình Minh trình diễn.

    Nhạc sĩ Phan Đình Minh hát bài “Im Lặng,” thơ Nhất Linh, do ông sáng tác. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Bước qua phần Văn học, diễn giả đầu tiên là Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên, giới thiệu quyển “Tam Giáo Đồng Nguyên” (TGĐN) của tác giả Khánh Lan. Diễn giả Tì Kheo Thích Liễu Nguyên, là viện chủ chùa Diệu Phát Liên Hoa, Anaheim, California, Ngài nói:

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mô Ni Phật.

    Trước hết Liễu Nguyên xin cám ơn tác giả Khánh Lan đã tặng cho Thày quyển sách TGĐN.

    Bài diễn đọc của Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên

    Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên phát biểu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Trong buổi diễn thuyết, Thày Thích Liễu Nguyên nói thêm về chân lý của Phật Giáo, Ngài nói: “Phật giáo bắt nguồn từ nước Ấn Độ cổ đại mà chính Thái Tử Tất Đạt Da, con vua Thịnh Phạm đã giác ngộ thành Phật của cõi Tà Ba, lấy hiệu là Thích Ca Mô Ni Phật, vào thế kỷ thứ VI trước CN. Mục đích của Thích Ca Mô Ni ra đời không phải là sáng lập ra Phật giáo mà mục đích là diện tánh đạo từ bi trí tuệ, giải thoát, đem hạnh phúc giải thoát ngay trong cuộc sống này để trải khắp muôn nơi, nhân loại chúng sanh, để thoát khổ. Ngài nói hết thảy chúng sanh đều có phật tính giống như ta, đều có từ bi trí tuệ bao la giống như ta, cũng có hạnh phúc giống như ta, để trở về nơi từ bi và trí tuệ ấy.“

    “Muốn đến hạnh phúc của phật tầng thì phải tiến sâu và hiểu rõ về nhân quả luân hồi của chính bản thân mình và đặc biệt phải giác ngộ 3 điều căn bản: Đó là vạn pháp xưa nay vẫn vô thường, duyên sanh và vô ngã. Từ đó với từ bi trí tuệ chúng ta phải thực hành Tứ Diệu Đế để đem lại hạnh phúc cho chính mình và khi có hạnh phúc cho chính mình rồi, thì hãy đem hạnh phúc đó để cứu giúp muôn loại chúng sanh. Đó là nét đẹp của vị Bồ Tát trong đạo Phật vậy.“

    “Nói về nho giáo thì được Đức Khổng Tử sáng lập tại Trung Hoa cổ đại. Ngài sinh năm 551 và ngài sống đến 491 trước CN. Nho giáo lấy Nhân, Lễ, Nghĩa, Tín làm căn bản để phát triển tôn giáo và nếp sống trong con người hướng thượng. Nho giáo cũng có Tứ Thư, Ngũ Kinh trong kinh cổ đại của Nho giáo, và cũng để lại nhiều nét đẹp văn hóa, văn học nghệ thuật cho đời như Kinh Dịch, Kinh Thư Cổ. Nho giáo cũng lấy tâm thiện làm gốc để phát triển như trong câu “Nhân chi sơ tánh bản thiện” là vậy. Nho giáo lấy Thượng Thư Ngũ Kinh làm căn bản và lấy sự dung hòa giữa nhân sinh quan và vũ trụ quan, để cùng nhau phát triển tốt đẹp”

    “Còn nói về Đạo Giáo hay còn gọi là Tiên Đạo, sáng lập từ Đức Lão Tử. Ngài sinh ra từ năm 571 trước CN. Ngài cũng được gọi là một vị triết gia, đệ tử của Đức Khổng Tử. Đạo giáo được sáng lập khi Ngài viết ra Đạo Đức Kinh, lấy làm nền tảng đạo đức sống và phát triển Đạo Giáo. Căn bản là lấy sự duy hòa giữa nhân sinh quan và vũ trụ quan để cùng nhau phát triển tốt đẹp.”

    “Tam Giáo Đồng Nguyên là sự đồng nhất về quan niệm nhân sinh quan, vũ trụ quan và nhân quả luân hồi nghiệp báo của nhân loại chúng sinh trong 6 cõi, luôn luôn khuyên chúng sanh tránh ác làm thiện để cùng nhau hướng thượng. Bên cạnh đó, Phật giáo chú trọng giác ngộ về 3 chân lý: vô thường, duyên sanh và vô ngã. Mà muốn giải thoát sinh tử luân hồi thì phải tu tập trọn vẹn về Tứ Diệu Đế để từ đó đem hạnh phúc, để cùng nhân loại chúng sanh. Đó là con đường Bồ Tát đẹp đẽ vậy.”

    “Trong Phật giáo thì gọi Thiên Chúa là Đế Thiên trên cõi trời. Còn Nho giáo và Đạo giáo thì gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế và Tây Phương gọi là Thiên Chúa vậy. Tuy ngôn ngữ và hình dáng hơi khác nhau do văn hóa của mỗi quốc gia, chứ không phải là điều chi khác vậy.”

    MC Hồng Quyên giới thiệu diễn giả thứ hai Trần Kim Thoa, bà là Licensed Clinical Social Worker and Project Focus Clinical Director và là bạn đồng môn của của Nhà Văn Khánh Lan hơn 30 năm qua. Hôm nay, Bà sẽ  nói về tác phẩm PHÂN TÂM HỌC VÀ ĐỜI SỐNG của NV Khánh Lan.

    LCSW & Clinical Director of Focus Group, Trần Kim Thoa

    Clinical Director Trần Kim Thoa nói: “Thưa quý vị, vào đầu tuần của tháng 5, khi tôi bất ngờ nhận được một cú điện thoại thật thú vị, từ một người bạn đồng nghiệp Khánh Lan. Cô đã đưa tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, khi cô mời tôi đến tham dự buổi Ra Mắt Sách của cô. Bởi sau hơn 30 năm là bạn, Khánh Lan không hề nói đến việc viết sách. Chính tôi, có đôi lúc, khi bạn bè chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau, chúng tôi thường đùa là sống lâu năm ở Mỹ, “tiếng Mỹ thì chưa rành mà tiếng Việt thì đã quên mất rồi”.

    “Nhưng điều làm cho tôi vô cùng vui và thán phục cô bạn Khánh Lan của tôi, thì không những Khánh Lan viết được tiếng Việt, mà lại còn viết rất rõ, rất hay, nhất là viết về Phân Tâm Học, một lãnh vực mà tôi cho là bao la, phức tạp, khó hiểu và đòi hỏi nhiều thời gian để giải thích về nguyên lý của nó. Nhưng trong tác phẩm này, mục đích và các phạm vi áp dụng của ngành phân tâm học được viết lại qua ngòi bút nhà văn Khánh Lan, với tựa đề: “Phân Tâm học và Đời sống”. Với lối văn phong giản dị và những dẫn dụ thực tế, Nhà văn Khánh Lan đã đơn giản hóa sự phúc tạp của học thuyết Phân Tâm Học, làm cho nó trở nên bớt khô khan và dễ hiểu hơn.”

    Diễn giả Trần Kim Thoa nói tiếp: “Vậy Phân tâm học là gì? Kính thưa quý vị, đó là học thuyết về kỹ thuật trị liệu tâm lý, có nguồn gốc từ những công trình nghiên cứu theo học thuyết của Sigmund Freud. Phân tâm học cũng là một học thuyết nghiên cứu về thế giới nội tâm, nhằm tìm ra lời giải thích cho những hành vi của con người. Freud cho rằng, tất cả mọi người đều sở hữu những suy nghĩ, cảm xúc, ham muốn, ẩn sâu trong vùng vô thức. Chính ngành Phân tâm học đã giúp chuyển tải những suy nghĩ trong vùng vô thức sang vùng ý thức. Qua sự trợ giúp của nhà cố vấn tâm lý, những vướng bận về mặt tâm lý sẽ được giải thoát, bằng phương pháp nghiên cứu, phân tích những hành động, cách cư xử của từng bệnh nhân, đã hoặc đang bị tác động bởi những suy nghĩ tiềm ẩn trong vùng vô thức. Phương pháp nghiên cứu tâm lý là cách thức thu thập, tìm hiểu và học hỏi về hiện tượng tâm lý của từng cá nhân qua nhiều lãnh vực khác nhau, trong quá khứ cũng như những sinh hoạt hàng ngày. Những trạng thái xúc cảm, những áp lực của môi trường sống, các quan hệ xã hội và sự nhận thức của con người, đều là do sự phản ảnh hiện thực bản chất xã hội, lịch sử hay bất kỳ hoạt động nào của con người vào não.”

    “Kính thưa quý vị, mô thức phân tích tâm lý của tác giả Khánh Lan rất chuyên môn, tinh tế do kiến thức văn hóa và kinh nghiệm nghề nghiệp của tác giả. Bối cảnh phân tích tâm lý bệnh nhân hay tâm lý nhân vật trước một sự kiện, bối cảnh hay ví dụ rất hợp lý, chỉnh chu và cho kết quả đúng đắn. Đọc tác phẩm Phân Tâm Học và Đời Sống, tác giả trình bày chủ đề triết phân tâm qua lăng kính phân tích chuyên nghiệp. Về khía cạnh phân tâm học ứng dụng trong đời sống, tác giả trình bày những phương pháp áp dụng của ngành phân tích tâm lý qua các phạm vi y học, tư pháp cũng như lãnh vực văn học, nghệ thuật và điện ảnh rất rõ ràng, mạch lạc. Tôi xin đưa ra một vài thí dụ điển hình sau đây:”

    Theo diễn giả Trần Kim Thoa: “Phân Tâm Học không những được sử dụng trong khoa học, xã hội và nhân văn mà còn ảnh hưởng rộng rãi trong lãnh vực văn chương, nghệ thuật, tôn giáo, nhân học, giáo dục, luật pháp, sử học, và ngay cả trong đời sống của con người.”

    1. Nghiên cứu tâm lý trong lãnh vực y học: được dùng để chữa bệnh sau khi xác nhận rõ lý do và nguyên nhân của sự thương tổn. Thí dụ: Bệnh trầm cảm là do sự thương tổn gây ra cho bệnh nhân, khi họ đã trải qua hoặc chứng kiến một sự việc khủng khiếp trong quá khứ, như thảm sát, chiến tranh, tù đày, v.v… Khi đã xác định được nguyên nhân cội rễ gây bệnh, bác sĩ tâm lý sẽ áp dụng phương pháp phân tích tâm lý để chữa cho bệnh nhân. Thông thường phương pháp này đi song song với sự dùng thuốc mới có hiệu quả nhanh chóng.
    2. Trong lãnh vực tư pháp hình sự: Cơ quan điều tra dùng phân tâm học để phân tích và phỏng vấn bị can, đề tìm hiểu nguyên nhân gây ra vụ án. Trong tác phẩm này, Nhà Văn Khánh Lan đã áp dụng phân tâm học để phân tích tâm lý vụ án mạng của gia đình Christopher Watts xảy ra tại tiểu bang Colorado. Một gia đình hạnh phúc và học thức. Chris làm việc ở công ty dầu khí và Shannan Watts và người vợ tài giỏi, xinh đẹp, là đại diện thương mại cho công ty tiếp thị Level. Chris đã bóp cổ vợ, chôn xác vợ, sau đó giết chết hai đứa con gái: bé Bella và bé Celeste rồi phi tang vào các phi dầu với toan tính rằng mùi xăng dầu nồng nặc sẽ át đi mùi thi thể khi đang bị phân hủy.
    3. Trong lãnh vực văn chương, Nhà văn Khánh Lan đã đưa ra tác phẩm văn chương điển hình là Đi tìm thời gian đã mất (À la  recherche du temps perdu) của nhà văn người Pháp, Marcel Proust, bộ tiểu thuyết gồm 7 tập, được viết từ 1908-1909 đến 1922 và xuất bản từ 1913 đến 1927.
    4. Trong lãnh vực Điện Ảnh: Tác giả phân tích về những hành vi hài hước của vua “Hề” Charlie Chaplin. Năm 1910, Charlie Chaplin xuất hiện, khởi đầu cho một loạt phim hài có tầm vóc ảnh hưởng rộng lớn và được nhiều người biết đến. Nhưng trên thực tế, Chaplin có một tuổi thơ đầy bão tố, sự nghèo đói, cái mặc cảm bị cha mẹ bỏ rơi khi còn quá nhỏ đã ám ảnh tâm trí ông trong nhiều năm dài, ngay cả đến khi ông trưởng thành và trở nên nổi tiếng. Nỗi ám ảnh này đã tạo nên nhiều ảnh hưởng tâm lý trong sự suy nghĩ, niềm cảm xúc và phản chiếu rõ rệt trong cuộc sống cũng như sự nghiệp điện ảnh và nghệ thuật sáng tác phim truyện của ông.”

    Và sau cùng, diễn giả Trần Kim Thoa đã mượn lời giới thiệu trong tác phẩm PTH & ĐS của Bác sĩ Nguyễn Cao Cường, GS. Y Khoa, Mayo Clinic College of Medicine and Science. Associate Dean, Global Professional Education, School of Continuous Scottsdale, Arizona, USA để kết thúc bài diễn văn của bà: “Phân Tâm Học Và Đời Sống của nhà văn Khánh Lan là một tập hợp những phương pháp được áp dụng vào đời sống. Ý niệm căn bản, định nghĩa, lịch sử về Phân Tâm Học xuyên qua các yếu tố như Học thuyết phân tâm học của Sigmund Freud; Các phương pháp nghiên cứu tâm lý trong lãnh vực y học; tư pháp; văn chương nghệ thuật; điện ảnh của Hoa Kỳ… Sách còn điểm qua quan điểm của nhiều học giả Âu Mỹ nhìn về phạm vi phân tâm học ứng dụng trong đời sống. Nhà văn Khánh Lan đã dùng quan điểm của Linh mục Giuse Nguyễn Công Lai khi Ngài cho rằng: “Phân tâm học của Sigmund Freud có một ý nghĩa lớn đối với những ai muốn tìm hiểu các hiện tượng tâm lý của con người, nhất là cõi vô thức”; và thêm rằng “Có thể nói, Sigmund Freud đã mở ra cho các nhà tâm lý một hướng đi mới, đặt một nền tảng mới khi nghiên cứu về con người dưới cái nhìn tâm lý”. Đọc tác phẩm của tác giả Khánh Lan, chúng ta rút tỉa ra những điều hữu ích cơ bản, cần thiết về phân tâm học ứng dụng trong đời sống như cái tựa đề của sách. Tôi xin trân trọng giới thiệu tác phẩm Phân Tâm Học và Đời Sống của nhà văn Khánh Lan.”

    Diễn giả Trần Kim Thoa kết luận: “Kính thưa quý vị, đây là một quyển sách có giá trị và là sự khởi đầu cho một lãnh vực mới trong văn học. Tôi xin hân hạnh giới thiệu đến quý độc giả tác phẩm thứ sáu của nhà văn Khánh Lan: Tác phẩm Phân Tâm Học và Đời Sống và chúc mừng Nhà Văn Khánh Lan. Xin cám ơn quý vị.”

    Kết thúc phần văn học là bài diễn văn của NV Ngọc Cường. Khi MC Mộng Thủy giới thiệu diễn giả thứ 3, NV Ngọc Cường, cô nói: “Vào đầu thập niên 1930, một tổ chức văn học đã nêu lên một phong trào cách mạng văn học và cải cách xã hội, đã gây được ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội thời đó và ngay cả những thế hệ về sau. Chúng tôi muốn nói đến nhóm Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ). Hôm nay, Mộng Thủy xin hân hạnh giới thiệu một hậu duệ của TLVĐ, đó là ông Nguyễn Tường Cường, tức NV Ngọc Cường, cháu ruột của NV Nhất Linh Nguyễn Trường Tam. Ông Nguyễn Tường Cường sẽ  nói về tác phẩm TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, HẬU DUỆ VÀ THÂN HỮU, tuyển tập số 2.”

    Nhà văn Ngọc Cường phát biểu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

                Diễn giả NV Ngọc Cường đại diện nhóm hậu duệ TLVĐ nói về tác phẩm TLVĐ, Hậu Duệ & Thân Hữu, ông cho biết đây là một tác phẩm dày gần 600 trang gồm nhiều tài liệu về TLVĐ. Riêng trang bìa của quyển sách là của ông Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý được anh chị NV Huy Văn Trương đã thực hiện. Khi nói đến nội dung của quyển sách, NV Ngọc Cường cho biết cuốn sách được chia thành 3 phần, vì là cuốn tưởng niệm của Nhất Linh, nên phần đầu nói về ông và phần hai là những bài phê bình, nghiên cứu về TLVĐ và phần cuối cùng là những sáng tác của hậu duệ và thân hữu gồm: truyện ngắn, bút ký và nhạc. Số tác giả đóng góp cho bài viết là 27 người, ban biên tập do Khánh Lan là trưởng ban và chúng tôi là chị Kiều My, Việt Hải, Phạm Thái và Ngọc Cường.

                NV Ngọc Cường tiếp: “Mặc dầu nhóm TLVĐ đã xuất hiện từ hơn một thế kỷ qua, được thành lập năm 1932, chính thức ra mắt năm 1934 trên tờ Văn Hóa và ông Nhất Linh đã qua đời từ 60 năm qua, ông mất ngày 07 tháng 07, 1963, như vậy, thứ bảy tuần tới đúng là ngày giỗ của ông. Và kể từ ngày đó đến nay đã có cả trăn người nghiên cứu về TLVĐ, cũng như thân thế và sự nghiệp của Nhất Linh…”

    Theo Ký Giả Lâm Hoài Thạch, Nhà văn Ngọc Cường trình bày: “Qua tuyển tập này, chúng tôi không có ý lặp lại những ý tưởng cũ, những phê bình đã được dựa vào văn học sử. Nhưng thiết nghĩ, dựa theo căn bản là văn học sử không phải là một bản văn chết, mà cần luôn có sự đóng góp, có cái nhìn mới mẻ từ nhiều góc cạnh. Do đó, chúng tôi mạnh dạn cống hiến những nhận xét, phê bình mới,” nhà văn Ngọc Cường cho hay.

    Nói về sách “Tự Lực Văn Đoàn Hậu Duệ và Thân Hữu,” diễn giả Ngọc Cường nói rõ thêm: “Đây là một tuyển tập gồm bài vở của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu thân hữu ưu ái đến Tự Lực Văn Đoàn, và cộng thêm sự đóng góp của các cây bút tài tử, trong phía hậu duệ của các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam.” (Ký giả Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

              Trước khi bước sang phần văn nghệ giúp vui, Mộng Thủy giới thiệu Nhà Văn Khánh Lan, tốt nghiệp bằng Cao học tâm lý, ngành Cố vấn Hôn nhân và Gia đình tại California State University, Fullerton; là trưởng nhóm Văn Học của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Bà đã có một số tác phẩm xuất bản với nhiều thể loại khác nhau như tiểu thuyết tình cảm xã hội, trinh thám, biên khảo, nghiên cứu và phân tích tâm lý.

    Nhà Văn Khánh Lan ngỏ lời cám ơn quan khách

    Ngỏ lời cám ơn quan khách, NV Khánh Lan nói: “Trước hết Khánh Lan xin gởi lời cám ơn đến các quý Giáo Sư, quý Văn Thi Sĩ, quý truyền thông báo chí và tất cả quý quan khách hiện diện trong buổi RMS ngày hôm nay. Khánh Lan vô cùng xúc động bởi trong cộng đồng của chúng ta ngày hôm nay, có biết bao buổi sinh hoạt khác. Trước nhất là buổi họp mặt của các anh chị thuộc liên trường trung học toàn quốc tại Việt Nam trước năm 1975. Nhưng Khánh Lan vô cùng xúc động khi thấy các quan khách, cũng như các anh chị trong nhóm NVNT & TTG đã bỏ chút thì giờ, để đến đây chung vui cùng Khánh Lan và các anh chị Hậu Duệ Tự Lực Văn Đoàn.

    Khánh Lan không biết nói gì hơn là gởi đến quý quan khách lời cám ơn chân tình của Khánh Lan. Cám ơn các độc giả yêu sách đã thương mến Khánh Lan trong suốt 5 năm nay khi Khánh Lan quyết định bước vào lãnh vực văn học, một lãnh vực đòi hỏi nhiều sự hy sinh, chịu khó và phải dấn thân. Dẫu vẫn biết, đây là một lãnh vực rất khó khăn để chèo lái, nhưng với sự khuyến khích, hướng dẫn tận tình của NV Việt Hải và các vị cố vấn văn học trong nhóm như GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, GS Quyên Di và NV Nguyễn Quang đã giúp Khánh Lan vượt qua mọi khó khăn để tiến lên, để sánh bước cùng với các văn thi sĩ. Khánh Lan vô cùng hãnh diện và vui sướng nhận thấy sự cố gắng của mình đã vượt qua mọi chướng ngại để có được ngày hôm nay, nhất là sự quý mến của quý khán giả.” Và điều quan trọng nhất là chúng ta bảo tồn được nền văn hóa của nước Việt. Khánh Lan hy vọng và mơ ước các vị cố vấn và nhà văn của Liên Nhóm NVNT & TTG sẽ tiếp tục dẫn dắt giới trẻ trên bước đường văn học.

    Trong sự xúc động, NV Khánh Lan kết thúc “Một lần nữa, Khánh Lan xin trân trọng chuyển lời cám ơn của chính Khánh Lan đến tất cả quý khán giả, quý văn thi sĩ, quý giáo sư cũng như hai MC Mộng Thủy và Hồng Quyên đã giúp Khánh Lan rất nhiều trong buổi RMS.”

    Khánh Lan rất vui và cho đây là một buổi RMS thành công, bởi trong ngày hôm ấy, đồng hương đến tham dự mỗi lúc một đông, mua sách cũng như ủng hộ nồng nhiệt, nên chỉ trong 2 tiếng đầu, cả ba tác phẩm đều bán hết. Quan khách yêu sách ra về vui vẻ với ba tác phẩm văn học trong tay và đây chính là một khích lệ lớn cho Ban Biên Tập nói riêng và cho Ban Tổ Chức nói chung.

    Đồng hương đến dự. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Clinical Director Trần Kim Thoa, Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên, Ông Hoàng Đình Khuê, Giám Đốc Viện Việt Học Kim Ngân

    NV Nguyễn Quang, NT Vũ Lang, GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum

              PHẦN VĂN NGHỆ: Do Tiếng Thời Gian đảm trách với những nhạc phẩm tiền chiến, trong đó, một số bài hát được sáng tác trước và sau năm 1954, hướng về quê hương Hà Nội của những năm trước khi Hiệp Định Geneve ký kết. Tác phẩm nói lên nỗi lòng thương nhớ quê nhà thuở thanh bình, yên vui của những người Việt từ miền Bắc di cư vào Miền Nam. Gồm những nhạc phẩm nổi tiếng như: Giấc mơ hồi hương, một nhạc phẩm tiêu biểu cho tâm tư sâu kín của hơn một triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam, xuất hiện vào khoảng năm 1970. Tác phẩm ra đời do nguồn cảm hứng từ một bài thơ mà Nhạc Sĩ Vũ Thành đã đọc được trên một tạp chí văn nghệ. Ca Sĩ Ngọc Hà với nhạc phẩm GIẤC MƠ HỒI HƯƠNG của Vũ Thành.

    Theo sau là phần trình diễn của các giọng hát hay và những bài hát tiền chiến nổi tiếng: Kiều Loan với nhạc phẩm Gửi Người Em Gái Miền Nam (Đoàn Chuẩn & Từ Linh). Kiều My với nhạc phẩm Besame Mucho (Luis Muguel). Mạnh Bổng với nhạc phẩm Nỗi Lòng Người Đi (Anh Bằng). Ngọc Quỳnh với nhạc phẩm Hướng Về Hà Nội (Hoàng Dương). Minh Thư với nhạc phẩm Tiếng Hát Với Cung Đàn (Văn Phụng). Hồng Quyên với nhạc phẩm Hà Nội Ngày Tháng Cũ, của Nhạc Sĩ Song Ngọc. Giọt Tình Sầu, thơ: Khánh Lan, Nhạc Phan Đình Minh, do chính tác giả trình bày.

    GIỌT TìNH SẦU

    Thơ Khánh Lan, Nhạc Phan Đình Minh

    Tình như lá rơi rơi.

    Với nỗi buồn không nguôi.

    Em có còn lệ rơi

    Cho cuộc tình đơn côi

    Thời gian cứ trôi xuôi

    Vẫn tháng ngày trôi theo

    Tháng ngày là của ta

    Tình yêu không có lỗi

    Lỗi do người đổi thay

    Ôi! Giọt nước mắt nào

    Chảy xuống bờ môi khô

    Uống cho vơi giọt sầu

    Buồn làm chi em ơi

    Bao kỷ niệm sầu đau

    Trong trái tim u hoài.

    Thời gian vẫn vô tình

    Chia cắt tình đôi ta

    Có những lúc có những lần sau

    Có những lúc sẽ có ngày mai

    Nhưng ta mãi mãi vẫn đi tìm nhau.

    Trước khi trình diễn bài Giọt Tình Sầu, NS Phan Đình Minh tâm sự: “Trên đường đi sang California, tôi tự nghĩ với lòng câu “Cali đến dễ khó đi, rượu ngon bạn tốt chân đi sao đành”…Tôi nghĩ còn mấy phút nữa, tôi sẽ riêng một góc trời tại Dallas, với những người bạn…xin phép khán giả cho phép tôi gọi là bạn vì ngay anh Bích, anh Sum…chúng ta đều là bạn đồng hương cả, nhất là với các anh chị NVNT & TTG.  Cách đây mấy tháng, tôi không biết ai ngoài Việt Hải, cả mấy chục người đã đến San Jose để giúp tôi tổ chức chương trình “Từ Cánh Đồng Mây”.”

    “Khi tôi đặt chân xuống phi trường Long Beach ngày thứ Sáu, người bạn quý Ngọc Cường đã đón tôi và tiếp đãi tôi rất nồng hậu từ ngày thứ Sáu cho đến bây giờ. Thường người ta cho rằng sau sự thành công của người đàn ông có hình bóng của người đàn bà để support, tôi muốn nói ngược lại là sau một người đàn bà thành công, có cánh tay mạnh, có một cánh tay Bổng. Tôi muốn nói sau một người đàn bà thành công, Khánh Lan có Mạnh Bổng đứng đằng sau để giúp. Một điều đặc biệt là trong nhóm này, đa dạng đa tài, bản nhạc mà tôi sẽ hát cho Khánh Lan rất là đặc biệt, ngoài những tài viết văn của Khánh Lan, mà Mộng Thủy đã giới thiệu, tôi muốn giới thiệu thêm. Khi Khánh Lan gởi cho tôi bài Giọt Tình Sầu, tôi thích. Tôi cũng đã đọc những đoạn văn mà Việt Hải trích từ những bài viết của Khánh Lan và gởi cho tôi, nhưng tôi không nghĩ Khánh Lan viết và xếp chữ thơ hay như vậy, đặc biệt như vậy. Xin nghe bài Giọt Tình Sầu, ướt át lắm, dễ thương lắm của Khánh Lan. Ok, Khánh Lan, nghe anh nhé, anh hát cho em.”

    Khánh Lan cám ơn Nghệ Sĩ Phan Đình Minh đã phổ nhạc và trình diễn bài thơ GIỌT TÌNH SẦU

    Tiếp theo phần văn nghệ, Ca sĩ Ngọc Hà với nhạc phẩm Đẹp Giấc Mơ Hoa (Hoàng Trọng, lời Thanh Nam). Hạ Lan với nhạc phẩm (Dạ Khúc) Serenade của Frank Schubert, lời việt Phạm Duy. Kiều My với nhạc phẩm Chiều Tím của Đan Thọ, thơ Đinh Hùng và Mạnh Bổng với nhạc phẩm Thuở Ban Đầu của Phạm Đình Chương. Bài hát Thuở Ban Đầu cũng là ca khúc cuối cùng trước khi bế mạc buổi RMS và sau khi hai nhà văn Ngọc Cường và Khánh Lan ngỏ lời cám ơn quan khách đã đến tham dự.

    Hai NV Ngọc Cường và Khánh Lan cám ơn khán giả đã ủng hộ nồng nhiệt cho buổi RMS

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Chương trình RMS 3 tác phẩm do Liên nhóm NVNT & TTG tổ chức đã chấm dứt lúc 4:00 chiều, 20 anh em chúng tôi cùng nhau đến nhà hàng Ngọc Sương ăn mừng cho sự thành công của buổi RMS và lưu luyến chia tay, hẹn gặp lại vào ngày 06 tháng 08, 2023, kỷ niệm 8 năm thành lập Liên Nhóm NVNT & TTG.

    Liên Nhóm NVNT & TTG ăn mừng sự thành công của buổi RMS ba tác phẩm: TLVD, Hậu Duệ & Thân Hữu, Tam Giáo Đồng Nguyên và Phân Tâm Học & Đời Sống tại nhà hàng Ngọc Sương

    Khánh Lan, California June 25, 2023

    P.1_VĂN NGHỆ MỞ ĐẦU_NVNT & TTG GIỚI THIỆU TỰ LỰC VĂN ĐOÀN & CÁC CÂY BÚT HẬU DUỆ

    P.2_KHAI MẠC_NVNT & TTG GIỚI THIỆU TỰ LỰC VĂN ĐOÀN & CÁC CÂY BÚT HẬU DUỆ

    P.3_VĂN HỌC_ NVNT & TTG GIỚI THIỆU TỰ LỰC VĂN ĐOÀN & CÁC CÂY BÚT HẬU DUỆ

  • Kiều My,  Sinh Hoạt,  Tha Nhân,  Tin tức

    TUỔI HẠC NƠI VÙNG TRỜI BÌNH YÊN

    Trời xanh xanh ngắt…ố … ố… kìa.

    Hai con hạc trắng, bay về, bay về bồng lai.

    Bầu trời Nam California tháng sáu vẫn còn dịu mát nhờ những luồng gió từ vùng biển Thái Bình Dương thổi vào thành phố, mang đến làn không khí êm ả cho những ngày giao mùa giữa xuân hạ, trước khi bước vào mùa hè rực nắng chói chang. Trong không khí hân hoan của một ngày đẹp cuối tuần, nhà văn Trần Việt Hải, chủ soái của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã tổ chức một buổi tiệc long trọng mừng sinh nhật thứ 93 của nhà văn Nguyễn Quang. Trong dịp này, những ngọn nến cũng được thắp sáng lung linh, để tưởng nhớ ngày giỗ thứ 6 của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, là phu nhân của nhà văn Nguyễn Quang.

    Trong buổi tiệc thân mật hôm nay, Kiều My nhận thấy có rất nhiều vị giáo sư khả kính như: giáo sư tiến Sĩ Trần Huy Bích, giáo sư nhạc sĩ Lê Văn Khoa, giáo sư Dương Ngọc Sum…Ngoài ra, còn có rất nhiều nhà văn như: Vi Khiêm, Phạm Gia Đại, Chu Tất Tiến, Dương Viết Điền, Phạm Quốc Bảo… Các thi sĩ gồm có: Dương Hồng Anh, Lê Trọng Nguyễn Nga, Nguyễn thị Mắt Nâu, Phi Hồ – Nhật Quang… Bên cạnh đó, còn có những nhạc sĩ tên tuổi như: Võ Tá Hân và đặc biệt có nhạc sĩ không quân Phan Đình Minh trong chương trình Từ Cánh Đồng Mây, đến từ Dallas, Texas… Giới truyền thông báo chí như anh Thiều Minh, nhiếp ảnh gia Paul Lê Văn, … cũng có mặt làm nhiệm vụ nghề nghiệp đăng tải lên truyền thông, truyền hình, cũng như báo chí về những sinh hoạt của cộng đồng người Việt hải ngoại. Đặc biệt, còn có sự hiện diện của chị Nguyễn thị Tâm An trong Mạng Lưới Nhân Quyền, anh John Tạ giám đốc công ty dược thảo Pricess Lifestyle, anh Hùng Ngọc chủ nhân cơ sở Ferrari Auto Sales & Repair… Lại thêm nhà văn Ngọc Cường và phu nhân Bích Điệp, hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn, và nhiều quý vị trong những hội đoàn tranh đấu cho chính nghĩa quốc gia VNCH. Với những thành viên trong NVNT&TTG như NV Khánh Lan và phu quân Mạnh Bỗng v.v…

    Trong không khí thân mật của thính phòng NT Studio, mọi người gặp gỡ nhau tay mắt mặt mừng trong tình thân ái. Mọi người dành thời giờ quý báu cùng đến đây chung vui ngày sinh nhật đại thọ của nhà văn đàn anh Nguyễn Quang, là nhân vật chính của sự kiện hôm nay. Đồng thời, cũng  tưởng nhớ ngày giỗ thứ sáu của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, phu nhân của anh Nguyễn Quang. Nữ sĩ MDHT được biết đến qua hai bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc; đó là: Kiếp Nào Có Yêu Nhau và Đừng Bỏ Em Một Mình…đã được giới yêu nhạc rất yêu thích, và cũng được nhiều ca sĩ trình diễn.

    MC Mộng Thủy khai mạc chương trình bằng lời chào nồng nhiệt đến quý vị quan khách. Tiếp đến là nghi thức chào cờ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ; sau đó, phút Mặc Niệm… được diễn ra trong không khí thật trang trọng.

    Nhà văn Vi Khiêm đã điểm qua những tác phẩm của NV Nguyễn Quang như: Ôn Cố Tri Tân, Phận Đàn Bà, Ngoại Tình, Thầy Giáo Làng v.v… Điều này đã nói lên NV Nguyễn Quang có một trí óc sáng suốt với một tâm hồn yêu văn chương mà ông đã cống hiến cho độc giả cũng như nền văn học Việt Nam hải ngoại từ nhiều năm qua.

    Nhạc sĩ Võ Tá Hân cùng gia quyến với MĐHT, đã kể những mẫu chuyện về kỷ niệm đẹp và khó quên với nữ sĩ tài hoa này với niềm cảm mến dạt dào. Nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc bài thơ “Bài Thơ Cho Huế” của MDHT và được song tấu Tây Ban Cầm với ca sĩ Ái Liên với tiếng hát truyền cảm của cô.

    MC Mộng Thủy nói về cuộc tình đẹp của đôi uyên ương Nguyễn Quang và MĐHT, với những kỷ niệm khó quên mà anh chị đã cho nhau từ lúc gặp gỡ cho đến tuổi hoàng hôn. Từ ngày chị vĩnh biệt cõi đời, anh rất đơn côi với nỗi nhớ khôn nguôi người bạn đời cho đến hôm nay. Có thể nói, đây là mối tình đích thực rất hiếm hoi trên cõi đời này.

    NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG VÀ NỮ SĨ MINH ĐỨC HOÀI TRINH

    Đặc biệt, trong dịp này NV Nguyễn Quang đã kể lại quá trình hoạt động của phu nhân quá cố Minh Đức Hoài Trinh của ông, cho nền dân chủ của đất nước, cũng như tranh đấu nhân quyền cho người dân Việt và sinh hoạt văn học Việt Nam tại hải ngoại, Ngoài ra, ông bà cùng giúp đỡ người Việt tị nạn ở Pháp quốc.

    Trong chương trình văn nghệ, nhóm Ngũ Long Công Chúa của NVNT & TTG đã trình diễn màn hoạt cảnh rất đặc sắc trong bản nhạc Triệu Đóa Hoa Hồng, sáng tác nổi tiếng của nhạc sĩ người Nga Raimond Voldemarovich. Năm nàng công chúa: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Khai, Minh Thư và Minh Châu…Từng công chúa lần lượt mang những đóa hoa hồng đỏ tuyệt đẹp tặng cho ngôi sao sáng Nguyễn Quang. Chiếc bánh sinh nhật thật lớn cũng được cắt ra để chia sẻ niềm vui, cũng như những lời chúc tốt đẹp của mọi người dành cho ngày mừng đại thọ của ông.

    TỪ TRÁI SANG: NV KIỀU MY, NV NGUYỄN QUANG, BÍCH ĐIỆP, LỆ HOA, MINH THƯ, THỤY LAN, MINH KHAI, MINH CHÂU

    Nhân ngày chúc thọ NV Nguyễn Quang, Thi Sĩ Tha Nhân phỏng Dịch Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu:

    LẦU HOÀNG HẠC

    Người xưa cưỡi Hạc biệt về mô

    Đề lại Hạc Lầu đứng ngẩn ngơ

    Cánh Hạc ngàn đi không trở lại

    Vầng mây trăm lượn mãi bơ vơ

    Hán Dương nắng chiếu hàng cây ngóng

    Anh Vũ sương giăng lớp cỏ mơ

    Chiều xuống xa Quê tràn nỗi nhớ

    Mặt sông khói phủ ngập mong chờ

    ( Thể Lục Bát)

    Hạc Vàng bay tít tầng mây

    Hạc đi để lại lầu này bơ vơ

    Hạc bay biệt tích giang hồ

    Ngàn năm mây trắng ngẩn ngơ nỗi sầu

    Hán Dương sông lạnh bấy lâu

    Cỏ kia Anh Vũ một màu tang thương

    Chiều hôm nặng nhớ Quê hương

    Mặt sông khói phủ vấn vương mối sầu!!

    Tha Nhân phỏng dịch (trich trong thi tập Giọt Sầu Quê Hương xb năm 2011, nam Ca)

    Chương trình văn nghệ rất phong phú được đóng góp bởi các tiếng hát trong NVNT & TTG và các thân hữu. Giọng hát truyền cảm của ca sĩ Ngọc Quỳnh đã cất lên trong nhạc phẩm Kiếp Nào Có Yêu Nhau, thơ của MĐHT, Phạm Duy phổ nhạc… Đã gây cảm xúc người nghe và ngậm ngùi nhớ đến nữ sĩ tài hoa MĐHT. Ca sĩ Mạnh Bỗng thật sôi động trong điệu chachacha qua nhạc phẩm Nắng Chiều, một ca khúc nổi tiếng của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn.

    Ca sĩ Không Quân Phan Đình Minh từ Dallas, cũng đã cống hiến những bài hát do anh phổ nhạc từ  bài thơ của Trần Việt Hải: Mưa Chiều Nhớ Ai. Ngoài ra, người nhạc sĩ tài hoa này cũng đã phổ nhạc với tâm huyết của mình qua bài thơ: Mẹ Ơi Con Không Về của MDHT. Và cũng chính anh đã hát lên ca khúc này với niềm cảm xúc dạt dào. Bài hát Mẹ Ơi Con Không Về đã là một động lực, lại thêm ân tình mà anh đã dành cho NV Nguyễn Quang và cố nữ sĩ MDHT, khiến anh phải bỏ thời gian bay về đây. Nhờ thế, mà mọi người được thưởng thức tiếng hát của cựu phi công “ Từ Cánh Đồng Mây”, một giọng hát trầm ấm và mạnh mẽ như ngày xưa “Đi không lo gì xác rơi” (trong nhạc phẩm Không Quân Hành Khúc của Văn Cao). Anh hát thật có hồn và lôi cuốn người nghe qua những bản nhạc  trữ tình.

    Một tiếng hát mang đậm nét u hoài trong nhạc phẩm Chiều Trên Phá Tam Giang, của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh; đó là NV Phạm Gia Đại, tác giả của tác phẩm Người Tù Cuối Cùng mà nhiều người biết đến. Chính vì giá trị của tác phẩm Người Tù Cuối Cùng, mà tên tác phẩm này luôn gắn liền với tên tuổi của anh trong cuộc sống hiện tại.

    Một giọng ca rất quyến rũ, cao vút trong bản nhạc Pháp nổi tiếng La Vie En Roses, qua tiếng đàn điêu luyện của nhạc sỹ keyboard Duy Nhật; đó là ca sĩ Ngọc Hà, phu nhân của giáo sư nhạc sĩ tài ba Lê Văn Khoa. Người nhạc sĩ lừng danh đã mang lại niềm hãnh diện cho người Việt Nam, khi ông mang âm nhạc Việt quảng bá khắp thế giới, để cho thế giới biết đến dân tộc hào hùng Việt Nam.

    Đứng giữa Ngũ Long Công Chúa là NV Nguyễn Quang và NV Việt Hải.

    NV Trần Việt Hải, con chim đầu đàn của nhóm NVNT & TTG, là người rất quý trọng bạn hữu, vẫn luôn đứng sau lưng yểm trợ tinh thần cũng như đóng góp ý kiến và tổ chức những sự kiện hầu mang đến niềm vui, hay sự thành công cho mọi người. Anh đã hy sinh thời giờ, hay vật chất và kể cả sức khỏe… cho bạn hữu của anh, nhất là những thành viên trong nhóm NVNT&TTG do anh chủ xướng. Anh rất ý nhị khi đã gợi ý cho Kiều My hát bản Chờ Đông và Après Toi trong sự kiện này, dành tặng cho NV Nguyễn Quang, để ghi nhớ lại cuộc tình của anh với người phối ngẫu. Mùa Đông là mùa tràn ngập kỷ niệm đẹp của mối tình tuyệt vời Nguyễn Quang và Hoài Trinh. Hai người đã yêu nhau, chờ đợi nhau đến mùa đông California 1980 mới được đoàn tụ.

    Hát cho Minh Đức Hoài Trinh, “Em ơi! có phải ngoài trời đang mưa ? Em ơi! có phải trời đã sang đông ? Mùa đông giá băng anh đang chờ Mùa đông ái ân anh đang tìm Tìm màu áo cưới cho em…. Em ơi! xích lại thật gần bên anh.. Cho anh xiết chặt nụ cười xinh xinh Từ đây những đêm trăng thanh đầy Mình không lẻ loi không u sầu Nguyện cầu ta mãi bên nhau…” (Chérie, oh ma chérie ! il pleut dehors maintenant ? Bébé ! c’est l’hiver ? C’est l’hiver glacial j’attends l’hiver de l’amour je cherche la couleur de ta robe de mariée…. Hé! Rapproche-toi de moi. Chérie, laisse-moi presser ton beau sourire. A partir d’ici, les nuits au clair de lune, je ne suis plus seul, ni triste, je prie pour que nous soyons ensemble pour toujours…)

    “Mất em, anh không thiết sống nữa, cũng không thiết tha sống, chỉ vì nhớ về em, Vắng em, em khiến mắt anh ướt lệ rơi, đôi tay nay vắng em, tim anh không còn vui. Em yêu, anh đã nhớ tiếng cười và tiếng cười của anh chỉ đến bởi em. Mất em rồi, anh chỉ còn là cái bóng… Là cái bóng của em… Mất em…”, (Qu’après toi, Je ne pourrai plus vivre, non plus vivre, Qu’en souvenir de toi, Après toi, J’aurai les yeux humides Les mains vides, le coeur sans joie. Avec toi, J’avais appris à rire et mes rires ne viennent que par toi. Après toi, je ne serai que l’ombre …De ton ombre … Après toi …)

    Nhân ngày mừng sinh nhật thứ 93 của bậc đàn anh Nguyễn Quang, nhìn lại các bậc trưởng thượng khả kính… mái tóc đã trắng xóa, bước đi chậm chạp, nói chuyện chậm chãi nhẹ nhàng… tất cả đã qua khỏi “thất thập cổ lai hi” và bước vào tuổi bát tuần, cửu tuần… Đây là TUỔI HẠC của một đời người trường thọ.  Người xưa cho rằng: Hạc là loài chim cao quý, có tuổi thọ rất cao; vì vậy loài chim này là biểu tượng cho sự trường tồn, bền vững và tuổi thọ. Vì thế, những vị cao niên có tuổi thọ cao còn được gọi là “tuổi hạc”. ( ví sống lâu như chim hạc )Trong thơ văn có câu:

                                           “Thương cha tuổi hạc đã cao

                                          E khi ấm lạnh buổi nào biết đâu” (LVT)

              Con hạc có bộ dáng mảnh mai, mang bộ lông trắng muốt, trông nó thanh cao như một người luống tuổi mà vẫn giữ được phong cách ung dung. Hạc là loài chim sống lâu năm; vì thế, người ta gọi tuổi của các bậc cao niên là “tuổi hạc” vậy.

              Ở Hoa Kỳ, tuổi cao niên được gọi bằng cái tên thật quý giá, đó là “golden age” là “tuổi vàng”; nhằm bày tỏ lòng quý trọng đối với các vị cao niên đã đóng góp tài năng và công sức cho xã hội khi còn trẻ. Tuổi hạc còn khỏe mạnh nhờ vào sự lạc quan của chính bản thân và tình thương mến của gia đình, bạn bè dành cho. Thật vậy, nếu một người lớn tuổi sống cô độc, chung quanh không có ai là người để bầu bạn, không ai quan tâm hay chia sẻ những lúc vui buồn, thì thường bị trầm cảm và sinh bệnh hoạn. Vậy xin các bậc tuổi hạc hãy đến chung vui với thế hệ đàn em trong những cuộc hội ngộ, để có được nụ cười và niềm an ủi; hầu mang đến đời sống có ý nghĩa của tuổi về chiều. Con đường này ai cũng phải đi qua, nếu kiếp sống kéo dài. Hình ảnh của các vị tuổi hạc hôm nay, cũng là hình ảnh của thế hệ kế tiếp trong tương lai. Vì: “Sóng sau dồn sóng trước.” Đều phải tuân theo luật tự nhiên cả!

              NV Nguyễn Quang với bản chất vui vẻ, thành thật và rất điềm đạm; vì thế ông được nhiều người quý trọng và thương mến như một người anh cả. Chính vì tấm chân tình mà những người em tinh thần đã dành cho ông, khiến ông phải lưu luyến và chọn Little Saigon để dừng chân và sống những ngày cuối đời của ông. Little Saigon, là Saigon Nhỏ của người dân Việt tị nạn ở Hoa Kỳ, sống nơi đây NV Nguyễn Quang tưởng nhớ đến Saigon năm xưa ở quê nhà, mà ông đã rời xa từ rất lâu. Ông đã không chọn Paris, Pháp quốc để sống những ngày tháng tuổi hạc của ông, mà ông chọn nơi đây, để sống với các em yêu quý của ông trong tình nghĩa văn chương và tình người đồng hương đậm đà.

    Cầu chúc nhà văn Nguyễn Quang được an vui, khỏe mạnh…hầu đi tiếp quãng đời còn lại, bên cạnh những người em luôn quý mến anh, tạo thêm nguồn cảm hứng để sáng tác nhiều tác phẩm văn chương để đời. Nhìn các bậc tuổi hạc, Kiều My rất kính mến và ngưỡng mộ, thầm cầu mong cho các vị luôn mạnh khỏe, có cuộc sống an nhàn, hạnh phúc nơi vùng trời bình yên này.

    Hướng về bên kia đại dương, thật xót xa khi nghĩ đến các vị cao niên sống ở quê nhà, lúc tóc đã bạc, lưng đã còng… mà ngày ngày phải buôn gánh bán bưng để mưu sinh, hay lang thang không nơi nương tựa, hoặc bệnh hoạn không ai chăm sóc. Khấn cùng trời cao! Hãy cất đi gánh nặng trên đôi vai và hãy lau khô những giọt nước mắt tủi nhục đắng cay của các vị tuổi hạc còn lại nơi quê hương khốn khổ lầm than!

    Kiều My.

    Tuổi Hạc Vàng (*)

    (Kinh chúc nhà văn Nguyễn Quang)

    Hạnh phúc an vui hưởng tuổi già

    Bình minh trẩy hội đẹp ngàn hoa

    Văn chương bút pháp hồn vui thỏa

    Tuổi hạc vàng với trời bao la

    “An nhiên tự tại” danh ngời tỏa

    Đa phúc đa thọ đáo xuân thời

    Quá thu khánh tuế trường vạn lộc

    Chúc văn nhân “bách niên giai lão”

    Đẹp nụ cười hiền dáng thanh cao!

    Kiều My.             

    (*): trích ảnh hạc vàng.

    “Minh Đức Hoài Trinh: Chính Khí Của Người Cầm Bút”:

    http://namcalicogila.blogspot.com/2017/06/canh-hac-hoang-hon-vhla.html

  • Lê Nguyễn Nga,  Sinh Hoạt

    Mừng Sinh Nhật Thượng Thọ 93 của Nhà Văn Nguyễn Quang và Kỷ Niệm Ngày giỗ Của Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh

    Hôm nay (24-6-2023) là một ngày đẹp trời với ánh nắng nhẹ của đầu hè vùng Nam Cali. Tất cả như sẵn sang chào đón một ngày vui họp mặt thân hữu tai phòng Sinh Hoạt NT Studio.

    Nga được mời đến chung vui cùng quý vị GS và quý bạn thân cùng gia đình NV.  Nguyễn Quang và Gia đình của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh. 

    Mới 11 giờ sáng tôi đã thấy sự có mặt  của nhiều người trong gia đình, quý GS và giới truyền thông và nhiếp ảnh.  Anh Pham Gia Đai và Em Tâm An của truyền thông  nổi tiếng  đã đến từ sớm và sẵn sàng giúp  quay video.

    Từ trái sang phải: Ái Liên, NV Nguyễn Quang, Ông Bà Nhạc Sĩ Võ Tá Hân

    Nhà văn Nguyễn Quang trong tươi cười, hân hoan chào đón gia đình và thân hữu. Tôi thấy GS Dương  Sum, GS Trần Huy Bích và GS Duy Khiêm, , nhà văn Dương Viết Điện, nhạc sĩ Phan Đình Minh đến từ Texas và rất nhiều quý vị trong nhiều Hội Đoan Tranh Dau cho Chinh Nghia  Quốc Gia VNCH.

    Tôi được thấy nhiều khuôn mặt thân yêu của các văn nghệ sĩ khác trong đó có anh John Ta, chú nhận công ty  dược thảo Princess Life Style.

    Trong hàng quan khách có Nhà văn Mắt Nâu , nhạc sĩ Võ Tá Hân, và nhiều văn nghệ sĩ của thế hệ tiền bối và thế hệ trẻ.

    Các nghệ sĩ đa có mặt  như ca sĩ Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Kiểu My, Thuy Lan, Lê Hoa , Khánh Lan Mạnh Bông, Minh Khai, Minh Thư Và  Minh Châu.

    Từ trái sang phải: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Châu, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, Minh Khai, Minh Thư

    Từ trái sang phải: Mạnh Bổng, NV Khánh Lan, NV Nguyễn Quang, NV Dương Viết Điền

    Phần sân khấu, keyboard tài danh, Nhạc sĩ Duy Nhật với phu nhân là Trang khéo léo trang trí .

    BTC nồng hậu tiếp đón các quan khách.

    Để warm up và làm vui chương trình, ca sĩ Kiều Mi hát làm ấm thính phóng. Kế đến CS Phan Đình Minh,  Dương viết Đang,  Minh Thư và vài ca sĩ đã góp vui trước khí vào chương trình.

    Từ trái sang phải: CS Thanh Mỹ, TS Lê Nguyễn Nga, NV Việt Hải

    Ca sĩ Thanh Mỹ và anh Pham Đăng Khái của  ROF / Reach Out Foundation vừa đến .

    Lúc này tôi nhận thấy GS Lê văn Khoa và phu nhân, ca sĩ Ngoc Ha cũng vừa đến.

    Emcee giới thiệu tên quan khách tham dự có NV Nhật Quang-Phi Hô, NAG Thiệu Minh và rất nhiều nhân vật mà tôi chưa kịp viết hết thì cho xin lỗi nhé.

    Sau nghi thức Chào Quốc Kỳ Việt, Mỹ và phút Mặc Niệm là phần giới thiệu quan khách của MC Thụy Lan.

    MC Thụy Lan giới thiệu bài thơ chúc Mừng SN 93 NV Nguyễn Quang, của nữ sĩ Dương Hồng Anh. MC giới thiệu về tiểu sử nữ sĩ DHA . Được biết Bà DHA làm thơ từ thời trẻ, vào những thập niên 1950.  Bà là cháu Nội của Cụ Nghè Dương Khuê.

    Nhà văn Việt Hải con chim đâu đàn của nhóm NVNT -TTG đã lên nói đôi lời mở đầu cho CT.

    Riêng phần nói về Tình yêu của NV Nguyễn Quang và Nữ Sĩ Mình Đức Hoài Trinh, MC tài giỏi và duyên dáng Mộng Thủy giới thiệu thật đầy đủ.  

    Diễn giả hôm nay gồm có:

    – GS Trần Huy Bich

    –  Pham Gia Đại

    – GS. Vi Khiêm 

     NS Võ Tá Hân  và KQ Phan Đình Mình trong phần chia sẻ kỷ niệm .

    Chương trình gồm  2 phần.  Mừng Thượng Thọ SN 93 và Tưởng Nhớ ngày qua đời 6 năm của nữ sĩ Mình Đức Hoài Trinh.

    MC mời  NV Nguyễn Quang, phu quân của nữ sĩ MDHT và gia đình cùng các GS và quan khách lên thắp đèn nơi bàn thờ của nữ sĩ MDHT.  Bầu không khí lúc đó thật là trang nghiêm.  Thật nhiều  xúc động vì nhiều người còn nhớ đến Nữ Sĩ tài danh Minh Đức Hoài Trinh.

    Nói về MDHT thì phải nói tới hai bài thơ nổi tiếng “Đừng Bỏ Em Một mình” và “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” đã được NS Phạm Duy phổ nhạc. Trước 1975, Ca Sĩ Lệ Thu  với “Đừng Bỏ Em Một mình” và ca sĩ Thái Thanh với “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” đã biến hai tác phẩm này thành bất hủ.

    Ngày hôm nay, Ca sĩ Ái Liên qua giọng ca truyền cảm với phần guitar của ns Võ Tá Hân đã trình tấu bài thơ MDHT qua tác phẩm Bài Thơ Cho Huế.

    Phần trình diễn thật gây nhiều xúc động cho khán giả nhớ về quê hương với Triều Đình  các vị vua xưa.

    Ca sĩ tài danh làm ai cũng muốn rơi lệ qua tiếng hát của nàng, CS  Ngoc Quỳnh một lần nữa lại làm sống lại tuyệt tác “Kiếp Nào Có Yêu Nhau”

     Ca sĩ Ngọc Hà hát “La Vie En Rose” đưa khán giả về hơn 70 năm trước, cảm động về kỷ niệm.  Trong đó có tình yêu, tình người.

    …  C’est lui pour moi..

    ..   moi pour lui

         dans la vie ..

    Il me  l’a dit , l’a jure’ pour la vie.

    ………..

      Heureux. Heureux  à en mouriir .

    Mong rằng tôi viết được đúng.

    Bài hát đã đại diện cho cuộc tình vượt thời gian của NV Nguyễn Quang và nữ sĩ MDHT.

    Đó là một Grand Amour.

    Cuốn tiểu thuyết “Sám Hối” của bà  MDHT đã được hãng phim Alpha dựng thành phim với hai vai chính Bích Thuận và Minh Vương tại Saigon, năm 1969.

    Sau 1975.

    Từ năm 1976 MDHT cùng nhà văn Trần Tam Tiệp, nhà thơ Nguyên Sa và một số văn thi sĩ lưu vong, trong bối cảnh nước mất nhà tan, thêm sự nặng lòng với văn chương Việt Nam, họ đã không ngồi yên.  Họ đã tranh đấu  đưa đến sự thành hình của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại năm 1979 tại Brazil, được PEN International chấp thuận là hội viên chính thức.  Người viết xin được nhấn mạnh là đây là tổ chức duy nhất còn sót lại của nền Việt Nam Cộng Hoà.

    Nữ sĩ MDHT là Chủ Tịch đầu tiên (1979-1981) của VBVNHN, sau đó, nhiệm kỳ 2201-2002 lại được tín nhiệm với chức chủ tịch lần thứ hai.

    Trong CT. GS Trần Huy Bích và GS Vi Khiêm nói về thân thế và sự nghiệp nữ sĩ MDHT.  Bà sinh ra trong một gia đình quý tộc, ông cha là quan đại thần trọng triều đình Nhà Nguyễn. Ns MDHT là một người thông minh, có tài, và cương quyết.

    Sau năm 1975, bà đã qua Pháp tranh đấu cho Văn Nghệ Sĩ, tranh đấu cho nên tự do và nền văn học VN.

    Nhà văn Mặt Nâu có đôi lời với nữ sĩ MDHT.  Một người đàn chị đã có nhiều lần giúp Mắt Nâu làm cố vấn  cho nhiều tuần báo ở Cali và nhiều nơi khác trên đất Mỹ.

    Mất Nâu hát bài Phôi Pha Kính gửi MDHT.

    MC Mộng Thủy thuật lại cuộc tình thơ mộng đây hạnh phúc của Nv Nguyễn Quang và nữ sĩ MDHT. Một cuộc gặp gỡ đầy thi vị trữ tình.  MDHT, vào năm 1971, lúc đó đang làm phóng viên cho đài truyền hình Phap, mời nhà văn Nguyễn Quang tới phỏng vấn trên đài.  Lúc do khoang mùa Xuân Nam 1971 và 2 người đã bắt đầu thắm kín yêu nhau

    Năm 1973   Hiệp Định Paris vừa ký xong.  Trong tinh thần chung của người Việt và nhóm sinh viên lúc đó là phải tranh đấu cho Việt Nam như thế nào trong bối cảnh chính trị mới đầy bấp bênh.  Hai trái tim họ gặp nhau.  Lý tưởng kéo họ lại gần nhau.  Và dĩ nhiên hoạt động mãi bên nhau và tình cảm nảy sinh cho họ nên duyên cầm sắt.

    Kế đến là phần nhân vật chánh Nguyễn Quang lên kể chuyện cuộc tình MDHT và NG Quang .

    Nhà văn Nguyễn Quang  cảm động nói về mình, một chàng trai sinh quán Sóc Trăng, đi du hoc Pháp lúc 18 tuổi, ra trường, làm việc, và sinh sống ở bên Pháp.  Khi bén duyên với MDHT Nguyễn Quang thật sự say đắm, rồi yêu thương thật tình, sống hòa thuận vui vẻ với nhau cho đến hết đời.  Ông bà di chuyển sang Hoa Kỳ sinh sống từ năm 1990.

    NV Nguyễn Quang đã đi du học qua Pháp, Ông lấy bằng Cử Nhân Toán tại Pháp và tốt nghiệp Cao Học Kinh Tế Tại Cambridge Luân Đôn.

    NV Nguyễn Quang xuất bản nhiều tác phẩm tiếng Việt trong đó có “Ngoại Tình”,  “Ông Giáo Làng” ,….

    Phần kế tiếp là hat chúc mừng, cắt bánh sinh nhat.

    Nam ca sĩ Lưu Mạnh Bông đã hát bài “Nắng chiều” rất nhịp nhàng và quá hay.

    BTC Chúc Mừng SN NG. Quang  với những bông hoa hồng và những bài hợp ca của các ca sĩ trong đó có Bạn Hợp Ca Ngũ Long Công Chúa đã trình diễn một màn vui tươi với bài “Triệu Đoà Hoa Hồng” chúc mừng thương tho đến nhà văn Nguyễn Quang.

    Hôm nay có nhiều tác phẩm của Nguyễn Quang đã được Tam Ca  Thụy Lan, Lệ Hoa và Minh Thư đã cầm 3 quyền sách- Ốc Mượn Hồn, Ông Giáo Làng và Một Giấc Mơ trên tay làm chủ đề giới thiệu trong  Ca khúc Trường Làng Tôi , rất  hay.

    Cs Kiểu My hát bài “Après Toi” để tăng nhà văn Nguyễn Quang

    CS Phan Đình Minh hát bài chót trước khi BTC  lên chào tạm biệt quý khán giả đã ủng hộ và đã ở lại đến cuối giờ.

    CT.  được kết thúc tại NT Studio luc 4 PM.

    Nhưng chưa hết…..

    …  chúng tôi tiếp tục vui Sinh Nhật Nguyễn Quang với dinner tại Trạm Chim restaurant. Một tiệc dinner đây tình bạn và tình thương,với thức ăn hải sản rất ngon. Chụp hình mãi vui nhiều quá, quên cả ăn. Vui với những ly rượu vang làm ấm mãi tình yêu văn nghệ của nhóm Nhân  Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.

    Lê Nguyễn Nga, Viết tại Nam Cali., 26 tháng 6 2023

  • Ngọc Cường,  Sinh Hoạt,  Tin tức,  Văn Thơ

    Little Saigon ra mắt 3 cuốn sách nghiên cứu quý giá về Tự Lực Văn Đoàn, Tam Giáo Đồng Nguyên và Phân Tâm Hoc & Đời Sống

    Một buổi ra mắt sách không thể bỏ qua. (Hình: Ban tổ chức cung cấp)

    Đằng-Giao/Người Việt

    WESTMINSTER, California (NV) – Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian sẽ tổ chức buổi ra mắt sách “Tự Lực Văn Đoàn Hậu Duệ và Thân Hữu,” “Tam Giáo Đồng Nguyên” và “Phân Tâm Học và Đời Sống” lúc 12 giờ trưa Chủ Nhật, 25 Tháng Sáu, tại NT Studio, 15436 Brookhurst St., Westminster, CA 92683 (góc với McFadden).

    Đây cũng là dịp tưởng niệm 60 năm ngày giỗ nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1963-2023). Nhất Linh thành lập Tự Lực Văn Đoàn và là một trong những cây bút chính của nhóm này. Cùng với nhiều người yêu nước thời bấy giờ, Tự Lực Văn Đoàn có công cổ xúy chữ Việt trong sáng và đóng góp rất nhiều cho bản sắc văn hóa Việt. Ba cuốn sách này nhằm phát huy ngôn ngữ Việt cho bây giờ và cho thế hệ mai sau.

    Nhà văn Ngọc Cường, đại diện ban tổ chức, cho biết cuốn thứ nhất, “Tự Lực Văn Đoàn Hậu Duệ và Thân Hữu,” là một công trình tổng hợp nhiều nghiên cứu công phu của nhiều người như Bác Sĩ Ngô Thế Vinh, Trần Việt Hải, Kiều My, Thế Uyên, Khánh Lan, Giáo Sư Maria Strasakova, Giáo Sư Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tường Tâm…

    “Ngoài ra, cuốn sách còn có nhiều sáng tác văn thơ của nhiều thân hữu và hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn như nhà văn Tường Nhung, Nguyễn Tường Thiết, Nguyễn Tường Việt, Ngọc Cường, Phạm Quốc Bảo, Từ Dung, Đặng Thơ Thơ, Nguyễn Tường Giang, Lê Phi Thuần, Lê Mỹ Hoàn, Nguyễn Lân, Nguyễn Thị Dung…,” nhà văn Ngọc Cường cho biết.

    Cuốn thứ hai, “Tam Giáo Đồng Nguyên” của nhà văn Khánh Lan, là một công trình nghiên cứu về sự liên kết cũng như sự tương đồng giữa ba nguồn tư tưởng Nho Giáo, Lão Giáo, và Phật Giáo, đồng thời tìm hiểu về nguồn gốc, sự du nhập, sự hình thành, và ảnh hưởng của tam giáo đối với văn hóa Đông Phương.

    Cuốn thứ ba, “Phân Tâm Học và Đời Sống,” cũng của nhà văn Khánh Lan, là cuốn sách nghiên cứu và phân tích những ước mơ tiềm tàng trong vùng vô thức và những hành vi xuất hiện trong vùng ý thức. Đây là một nghiên cứu về sự ứng dụng của ngành phân tích tâm lý trong lĩnh vực y khoa, tư pháp, văn chương, điện ảnh, và đời sống tâm linh.

    Buổi ra mắt sách có hai phần.

    Phần đầu do ba diễn giả là Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên, nhà văn Ngọc Cường, và chuyên viên tâm lý học Trần Kim Thoa trình bày về ba cuốn sách và phần thứ nhì là văn nghệ.

    “Văn nghệ có các giọng ca Ngọc Hà, Hạ Lan, Hồng Quyên, Kiều Loan, Lệ Hoa, Minh Thư, Kiều My, Thụy Lan, Ngọc Quỳnh, Dũng Lai, Mạnh Bổng, Đình Ngọc, Nguyễn Đức,” ông Ngọc Cường nói. Ông thêm: “Ngoài ra, phần văn nghệ có một số nhạc phẩm phổ thơ của nhạc sĩ Phan Đình Minh.” Trong những nhạc phẩm này có bài “Tình Khúc Cho Em,” phổ thơ Ngọc Cường, bài “Im Lặng” phổ thơ của Nhất Linh, bài “Tình Tuyệt Vọng,” phổ thơ Khái Hưng và bài “Nắng Xuân Về Bên Em” phổ thơ Khánh Lan.

    Chương trình sẽ do Mộng Thủy và Hồng Quyên điều hợp.

    Nhà văn Ngọc Cường chậm rãi nói: “Ngày xưa Tự Lực Văn Đoàn muốn phát huy và quảng bá ngôn ngữ Việt cho thế hệ kế tiếp trên quê hương Việt Nam. Ngày nay, chúng ta đang phát huy và quảng bá ngôn ngữ Việt cho thế hệ kế tiếp khắp nơi trên thế giới.”

    Mọi ủng hộ hay chia sẻ ý kiến, liên lạc nhà văn Ngọc Cường (937) 269-9217. [đ.d.]
    Liên lạc tác giả: ngo.giao@nguoi-viet.com

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    GIỚI THIỆU TÁC PHẨM, LÊ VĂN KHOA: HỒN VIỆT và ƯỚC MƠ

    (Trích trong bài nói chuyện của Khánh Lan trong ngày lể mừng thọ 90 tuổi và vinh danh Giáo Sư, Nhạc Sư, Nhiếp Ảnh Gia Lê Văn Khoa, tai Hội Trường Nhật Báo Người Việt, ngày 10 tháng 6, 2023)

    Giáo Sư Lê Văn Khoa đã chọn tên này để đặt cho quyển sách của ông, bởi đó là ước mơ về âm nhạc và nhiếp ảnh, là yếu tố “Lê Văn Khoa với Hồn Việt“, mang ý nghĩa tinh thần tự hào về quê hương, đất nước và con người Việt Nam. Có phải Giáo Sư Lê Văn Khoa muốn nhắn nhủ với chúng ta hãy giữ “Hồn Việt” nơi đất khách quê người, nơi ta sống ly hương. Bởi thế, khi đề cập đến tài soạn nhạc, hòa âm, phối khí của ông, Nhạc sĩ Trần Quang Hải khi còn sanh tiền, đã gọi Giáo Sư Lê Văn Khoa là nhạc sư…còn Nhà Văn Trịnh Bình An ví ông là hiện thân của một cỗ máy “Động Cơ Vĩnh Cửu”, bộ máy chạy bền bỉ, kiên trì trong suốt hơn 80 năm, bất chấp tất cả những lực cản trên đường, dù lực cản ấy có là bệnh tật hay tuổi tác.

    Lê văn Khoa: Hồn Việt và Ước Mơ là một tuyển tập gồm những bài viết của nhiều tác giả, ghi nhận về những đặc điểm âm nhạc, nhiếp ảnh và văn học của Giáo Sư Lê Văn Khoa. Có rất nhiều tác giả đã nhận định âm nhạc của ông như chất chứa Hồn Việt trong nhạc dân tộc, mà ông mong muốn đem ra khỏi biên giới Việt Nam, giới thiệu với thế giới sự đa dạng của nó. Nhạc của Lê Văn Khoa là tiếng ru từ đất Mẹ, là lòng yêu nước thương quê, là tâm huyết của nét đẹp truyền thống, văn hóa giống nòi… chính tài nghệ sâu rộng và đa dạng của Lê Văn Khoa đã đem lại cho ông sự kính phục của các cộng đồng bạn trên thế giới.

     Dưới ngòi bút của các nhạc sĩ và nhạc trưởng Việt Nam, nhận định về bản “Symphony Vietnam 1975”, hay “Đại Tấu Khúc Việt Nam 1975” của Lê Văn Khoa, họ cho rằng: Giáo Sư Lê Văn Khoa đã chọn nhạc không lời để diễn tả những cảm xúc và suy tư của mình về biến cố lớn của đất nước làm cảm hứng để sáng tác. Ông đã dẫn thính giả Việt Nam đi từ những giai điệu quen thuộc có lời ru, tiếng hò tới những vùng âm thanh mới lạ, hòa hợp giai điệu ngũ cung của nhạc truyền thống Việt Nam với cái đại đồng của âm nhạc không biên giới.

    Còn dưới lăng kính của các nhạc gia, Nhạc Trưởng Ukranian, nhận định về bản giao hưởng Symphony Vietnam 1975 là một khám phá tuyệt vời và vĩ đại của dân tộc Việt Nam, được biểu lộ trong những nét nhạc về chiến tranh Việt Nam, cuộc đấu tranh của người Việt được diễn tả thật tuyệt diệu. Nét nhạc trong sáng, chân thật từ trái tim, tinh tuyền, không màu mè, ấm áp, nhân hậu, sâu thẳm, du dương và chứa đầy nỗi u hoài thương nhớ quê hương. Nghệ thuật của ông là sự kết hợp giữa âm nhạc Âu Châu và âm nhạc Đông Phương, từ cách sử dụng sắc điệu rất riêng của đàn Bandura của Ukraine, thể hiện qua những bài dân ca Việt Nam như Lý‎ Ngựa Ô, Se Chỉ Luồn Kim, Trống Cơm. Bài “Lý Ngựa Ô” do Lê Văn Khoa viết cho đàn Bandura với dàn nhạc giao hưởng, là sự hợp tác hết sức thú vị và hoàn toàn khác với những gì dùng trước đây với đàn Bandura và đã đưa Đàn Bandura tiến đến một phong vị mới, một lịch sử mới.

    Đặc biệt là trong các nhạc phẩm “Nocturne”, “Romance”, Giáo Sư Lê Văn Khoa đã kết hợp vào đấy, nét lãng mạn, thiết tha bởi sự hòa quyện giữa Chopin và âm nhạc Âu Châu. Bài piano solo Cây Trúc Xinh của Lê Văn Khoa cũng được nhắc đến trong tác phẩm và được khen là êm dịu, hấp dẫn và tràn đầy tính chất khêu gợi. 

    Trong phần 2 của tác phẩm viết về văn học, “Say Trong Ánh Mắt” và “Nocturne” thìcó lẽ ít ai nghĩ Lê Văn Khoa là một nhà văn. Phân tích về nội dung của 2 quyển sách trênthì rõ ràng GS Lê Văn Khoa đã khéo léo dùng nội dung của tác phẩm tình cảm xã hội để giới thiệu và giải thích về nghệ thuật hình ảnh như cách dùng màu nước tô thêm lên ảnh, để biến đổi màu chính, hầu tạo không khí thích hợp cho ảnh, bởi ảnh kỹ thuật là căn bản của mỹ thuật và nghệ thuật, chú trọng nội dung, áp dụng kỹ thuật để làm sáng tỏ nội dung. Qua lời đối thoại trong truyện, ông giải thích về kỹ thuật chớp sáng (solarization), phân sắc độ (postarization), vừa tân kỳ vừa độc đáo mà điểm chính là dùng kỹ thuật để gửi gấm tâm sự.

    Gần đây nhất là bộ ảnh “Do You See What I See?”, một tác phẩm nghệ thuật trừu tượng đã chứng minh cho những gì Giáo Sư Lê Văn Khoa đã nhắn nhủ, hãy nhìn thẳng vào con đường nghệ thuật, một đường hướng phụng sự cho chân, thiện, mỹ.

    Hai bức tranh Người Hát Dạo và Suy Tư và nhiều tác phẩm khác là một sự kết hợp tài tình giữa ngành nhiếp ảnh và hội họa, Họa sĩ Nguyễn Việt (Việt Hưng) đã khám phá ra một chân trời mới lạ về nghệ thuật tạo hình, khi ông nhận thức ra được những tác phẩm của Giáo Sư Lê Văn Khoa có điểm tương đồng tới Henry Spencer Moore và Salvador Dali, cha đẻ của nghệ thuật tạc tượng và tạo hình giữa thế kỷ 19. . . Họa sĩ Nguyễn Việt đã dùng ảnh chụp của Giáo Sư Lê Văn Khoa, rồi thêm vào đó những nét vẽ ngoạn mục, để biến nó thành những bức tranh tuyệt đẹp mà tôi cho đó là một khám phá siêu việt.

    Trong sách còn có những bài viết về Giáo Sư Lê Văn Khoa thực hiện chương trình giáo dục thiếu nhi. Năm 1967, ông thành lập chương trình “Thế Giới Của Trẻ Em” trên băng tần số 9 của đài Truyền Hình Việt Nam. Tác phẩm “Giáo Dục Nhi Đồng” xuất bản năm 1970 của Lê Văn Khoa phân tích những điều các bậc cha mẹ nên biết trong việc nuôi dạy trẻ nhỏ. Ngày nay, hoạt động Giáo Dục Thiếu Nhi của Giáo Sư Lê Văn Khoa đã được trình bày đầy đủ và sống động trong Phim Tài Liệu có tên “Lê Văn Khoa – Một Đời Cho Nghệ Thuật – A Lifetime of Arts”, DVD song ngữ Anh Việt năm 2018 của Vietnam Film Club….”

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam. Ông đã trải qua nửa đời người trên quê hương thân yêu và nửa đời còn lại nơi quê người với bao thăng trầm, mà trong tâm hồn luôn cưu mang nỗi niềm tha thiết bao la của một “HỒN VIỆT và ƯỚC MƠ.” Nhạc sĩ Lê Văn Khoa với bản Giao Hưởng Việt Nam 1975 đã làm rạng danh dòng nhạc Việt Nam trên thế giới và với người Việt lưu vong. Ông đã thành công với những bản nhạc dân ca, với dàn nhạc giao hưởng. Ông đã chiếm nhiều giải thưởng về những tác phẩm âm nhạc & nhiếp ảnh từ trước năm 1975. Ông đã hòa âm phối khí bản quốc ca Việt Nam Cộng Hòa để ban Quân Lễ Nhạc Phủ Tổng Thống Ukraine trình tấu. Ông đã đem tình tự quê hương Việt Nam và chính nghĩa vào trong âm nhạc, vinh danh sự bất khuất của thuyền nhân trước bạo lực của nhân tai và thiên tai trên đại dương bao la kinh hoàng.

    Giáo Sư Lê Văn Khoa ước muốn cả thế giới biết đến dân tộc Việt Nam hào hùng và đầy nhân bản. Đó là ƯỚC MƠ phát xuất từ một HỒN VIỆT!  với tất cả tài trí, nhiệt huyết và sự cố gắng không ngừng nghỉ, từ tuổi thanh xuân cho đến lúc tuổi đã về chiều. Một “tâm hồn Việt” tha thiết, bao la… lan tỏa trong âm nhạc, nhiếp ảnh, văn học, và trong chương trình giáo dục thiếu nhi Việt Nam. Giáo Sư Lê Văn Khoa chính là người “đem chuông đi đánh xứ người” qua những cuộc triễn lãm và diễn thuyết, ông là tiếng chuông vang vọng từ Mỹ sang Âu, Úc và Ukraine…

    Khánh Lan xin vinh hạnh giới thiệu đến quý độc giả tác phẩm “Lê Văn Khoa: Hồn Việt và Ước Mơ” và xin được kết thúc với câu danh ngôn của nhà văn Louisa May Alcott:

    “Tất cả chúng ta đều có cuộc đời riêng để theo đuổi, giấc mơ riêng để dệt nên

     và tất cả chúng ta đều có sức mạnh để biến mơ ước trở thành hiện thực, miễn là chúng ta giữ vững niềm tin”.

    Khánh Lan, June 10, 2023

  • Sinh Hoạt

    Little Saigon tưng bừng mừng thọ và vinh danh GS Lê Văn Khoa 90 tuổi

    MỜI QUÝ GIÁO SƯ, QUÝ VĂN THI SĨ VÀ QUÝ ANH CHỊ EM VÀO XEM VEDIO MỪNG THỌ & VINH DANH GIÁO SƯ, NHẠC SƯ, NHIẾP ẢNH GIA LÊ VĂN KHOA. THỰC HIỆN: SBTN-GON BROADCASTING TELEVISION NET WC.

    https://drive.google.com/file/d/13TYfscDOsT9G-LIw8yDe0MVVMVtkI6s_/view

    June 10, 2023

    Đằng-Giao/Người Việt

    WESTMINSTER, California (NV) – Lễ mừng thọ 90 tuổi và vinh danh giáo sư, nhạc sư, nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa do Hội Giáo Chức Việt Nam-Nam California cùng Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt, Viện Việt Học, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian phối hợp với nhật báo Người Việt đồng tổ chức chiều Thứ Bảy, 10 Tháng Sáu, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster, được đông đảo đồng hương tham dự.

    Giáo Sư Lê Văn Khoa (giữa) cắt bánh sinh nhật 90 của mình cùng phu nhân là ca sĩ Ngọc Hà (thứ hai từ trái). (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

    Gian phòng chật cứng người hâm mộ ông Lê Văn Khoa ở nhiều lứa tuổi khác nhau, râm ran nhắc nhau những gì ông đóng góp cho cộng đồng.

    Chương trình bắt đầu với nhạc phẩm “Hẹn Nhau Ngày Về” của nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

    Giáo Sư Phạm Thị Huê, trong phần khai mạc, trìu mến gọi ông Lê Văn Khoa là người “đa tài, đa đoan, đa duyên và đa tình” và hôm nay, được mở đầu lễ sinh nhật 90 cũng như vinh danh ông Lê Văn Khoa, bà “mừng như con nít tìm được củ khoai lang để nướng lùi.”

    Lần lượt, từng thân hữu lên chia sẻ cảm nghĩ về Giáo Sư Lê Văn Khoa.

    Giáo Sư Trần Huy Bích cho biết vì mất mẹ năm 12 tuổi, Giáo Sư Lê Văn Khoa có sự đồng cảm với các em thiếu nhi nên mới có những chương trình truyền hình hết sức có giá trị cho các em.

    Ông Trần Huy Bích gọi những sáng tác âm nhạc của ông Lê Văn Khoa là “tiếng ca từ đất mẹ.”

    Ông cũng cho biết là từ năm 2025, những sáng tác cho thiếu nhi của Giáo Sư Lê Văn Khoa sẽ được giảng dạy trong chương trình song ngữ Việt Anh tại các học khu của Orange County và Santa Barbara County.

    Nhà văn Phạm Phú Minh cho rằng tác phẩm đồ sộ “Giao Hưởng Việt Nam 1975” của ông Lê Văn Khoa thực sự mô tả biến cố lịch sử 1975.

    Giáo Sư Trịnh Y Thư nói: “Tôi kính phục anh Lê Văn Khoa vì cái tài của anh và tôi kính trọng anh vì tư cách.”

    “Những sáng tác của anh là hồn phách của nền âm nhạc Việt Nam,” ông thêm.

    Bà Hoàng Vĩnh (thứ hai từ trái), tổng giám đốc công ty Người Việt, chúc thọ và vinh danh Giáo Sư Lê Văn Khoa. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

    Nhà văn Khánh Lan, đại diện ban biên tập của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, chia sẻ cảm nghĩ của BBT về Tác phẩm Lê Văn Khoa: Hồn việt và Ước Mơ.

    trích dẫn cụm từ của ai đó, gọi ông Lê Văn Khoa là “cỗ máy có động cơ vĩnh cửu.”

    Bà nhận thấy ông Lê Văn Khoa là người đem chuông đi đánh xứ người và tiếng nói của ông là tiếng chuông Việt Nam.

    Họa sĩ Châu Thụy, giám đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, đồng ý với nhà văn Khánh Lan rằng tiếng chuông Lê Văn Khoa đang ngân vang khắp năm châu và sự nghiệp của ông luôn nêu cao tinh thần và bản sắc dân tộc.

    Là người Việt Nam chân chính, bất cứ làm gì, ông Lê Văn Khoa đều lấy quê hương làm lý do duy nhất.

    Ông soạn nhạc cho Việt Nam.

    Ông chụp hình đất nước Việt Nam.

    Ông cộng tác với đài Truyền Hình Việt Nam thực hiện chương trình dành riêng cho thiếu nhi Việt Nam, những em thơ có cha anh bị động viên nhập ngũ bảo vệ miền Nam Việt Nam.

    Theo ông, các em là tiền đồ dân tộc và cần được chăm sóc cho tương lai đất nước.

    Ông chụp hình vì muốn thế giới thấy những nét đẹp thuần thành, hiền dịu của con người, của ruộng đồng, của thôn quê, làng mạc Việt Nam.

    Khách tham dự chật kín từ sớm để được gặp Giáo Sư Lê Văn Khoa. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

    Sơ lược về cuộc đời Giáo Sư Lê Văn Khoa

    Sinh tại Cần Thơ năm 1933 trong một gia đình Tin Lành thuộc Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm, nhạc sĩ Lê Văn Khoa có khiếu âm nhạc từ nhỏ.

    Ông tự học nhạc từ một cuốn sách nhạc tiếng Pháp lượm được ngoài đường vào năm 15 tuổi. Không có đàn piano, ông đàn tưởng tượng, gõ tay lên mặt bàn như đang gõ phím đàn.
    Nhà nghèo, lương mục sư của cụ thân sinh không bao nhiêu, bị ảnh hưởng vì thời cuộc như biểu tình, bãi khóa… nhạc sĩ Lê Văn Khoa bỏ học sớm, đi làm việc cho nhà thờ và theo học một trường thần học nhỏ ở Phú Nhuận.

    Ngoài những lớp đàn hát trong trường thần học, hầu hết những hiểu biết về âm nhạc của ông đều do tự học từ sách vở do một giáo sĩ người Mỹ gởi mua từ Mỹ. Tuy nhiên, nhờ năng khiếu và tinh thần hiếu học nên những nhạc phẩm đầu tay của ông đã chiếm được giải thưởng toàn quốc năm 1953.

    Ông chuyển từ sáng tác ca khúc sang nhạc hợp ca vì nhận thấy nhạc Việt Nam rất yếu về lĩnh vực đại hợp ca-hòa tấu và ông trở thành người duy nhất cộng tác với đài truyền hình Việt Nam trong chương trình đại hợp ca hòa tấu mang tên “Tiếng Nhạc Trầm Tư.”

    Ca sĩ Lê Hồng Quang trong liên khúc “Đi Đâu Cho Thiếp Theo Cùng” và “Đèo Cao Châu Đốc” để gởi làn điệu Nam Bộ cho “chàng trai” Nam Bộ Lê Văn Khoa. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

    Vài chục năm sau, CD “Giao Hưởng Việt Nam 1975,” nói lên thân phận người Việt Nam trong cuộc chiến xâm lược của miền Bắc cho đến khi vượt thoát tìm tự do được ra mắt công chúng vào năm 2005, với dàn nhạc giao hưởng Kyiv Symphony Orchestra và Chorus của Ukraine. Nhiều nhà phê bình âm nhạc ca ngợi rằng đây là “sự hòa hợp tuyệt diệu giữa Đông Tây.”

    Bản giao hưởng này mất hơn 10 năm mới thực hiện được.

    Ngoài “Giao Hưởng Việt Nam 1975,” với mong muốn đưa các làn điệu dân ca Việt Nam ra khắp thế giới, nhạc sĩ Lê Văn Khoa chú tâm soạn thêm nhạc giao hưởng cho các loại nhạc cụ truyền thống Việt Nam.

    Ngoài lĩnh vực âm nhạc, ông còn là một nhiếp ảnh gia chiếm giải thưởng trong cuộc thi sáng tác Văn Học Nghệ Thuật toàn quốc của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Những tác phẩm của ông cũng được trưng bày trong các cuộc triển lãm nhiếp ảnh khắp nơi trên thế giới như Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Nhật… trước năm 1975 và tại Mỹ sau năm 1975.

    Ca sĩ Ngọc Hà, phu nhân nhạc sĩ Lê Văn Khoa, trong nhạc phẩm “Khúc Tình Ca” của Lê Văn Khoa. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

    Lê Văn Khoa là người có tài năng trong mọi lãnh vực hoạt động của mình, nhưng âm nhạc là đam mê dai dẳng nhất của ông.

    Hiện nay, dù ở tuổi 90, ông vẫn miệt mài sáng tác và làm việc không ngơi nghỉ.

    Ước mơ lớn nhất bây giờ của ông là là đào tạo và khuyến khích thế hệ kế thừa sáng tác nhạc giao hưởng như để hòa quyện dòng nhạc Việt vào âm nhạc thế giới.

    Lắng nghe những sáng tác âm nhạc lớn nhỏ của ông, người ta vẫn nghe vi vu tiếng sáo diều, tình tang tiếng đàn tranh não nuột tình quê, nhặt khoan câu hò tinh nghịch trai gái tát nước đêm trăng Việt Nam năm nào.

    Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn cũng dành thời gian đến tặng bằng tưởng lục cho ông Lê Văn Khoa.

    Ba MC của chương trình là cô Nguyễn Khoa Diệu Quyên, hội trưởng Hội Giáo Chức Việt Nam-Nam California; bà Kim Ngân, giám đốc Viện Việt Học; và cô Thụy Vy. [qd]

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Phạm Hồng Thái,  Sinh Hoạt

    TÌM HIỂU VỀ 3 TÁC PHẨM: TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, HẬU DUỆ & THÂN HỮU; TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN VÀ PHÂN TÂM HỌC & ĐỜI SỐNG

    Thế giới của chúng ta đang được biến đổi nhanh chóng bởi kỹ nghệ Trí Tuệ Nhân Tạo (AI) với một tốc độ ngoài sự tưởng tượng. AI đã có mặt trong nhiều khía cạnh của cuộc sống hàng ngày của chúng ta như: Xe hơi tự lái, trợ lý giọng nói, phiên dịch, tự động điều khiển hệ thống điện, máy lạnh trong nhà… Hiện nay, tiềm năng của AI đã vượt xa những ứng dụng hàng ngày của người tiêu thụ. Với một kiến thức bao quát và trí thông minh vượt bực, AI đang biến đổi toàn bộ các ngành kinh tế cũng như  thay đổi cách chúng ta sống, làm việc và giao tiếp.

    Chúng tôi xin được đăng một số bài dựa theo kiến thức của AI. Xin mời quý thân hữu thưởng thức.

    Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ)

    TLVĐ là một tổ chức văn học được xem như là một biểu tượng của phong trào văn học ở Việt Nam trong thập niên 30. TLVĐ đã đặt nền móng cho nhiều phong trào văn học mới, và đồng thời cũng đã thay đổi hình thức và nội dung của văn học Việt Nam.

    Những người sáng lập TLVĐ gồm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ.  Tú Mỡ, Xuân Diệu, Hoàng Đạo.  Họ không chỉ là những nhà văn tài hoa mà còn là những nhà cải cách văn học, với ý thức rõ ràng về trách nhiệm xã hội của mình.

    Ra đời trong bối cảnh Việt Nam đang trải qua thời kỳ biến động lớn, với những phong trào đổi mới trong tư tưởng, văn hóa và xã hội, TLVĐ đã đóng góp một phần quan trọng vào sự thay đổi này qua việc xuất bản các tác phẩm văn học phản ảnh đúng hiện thực xã hội và tình hình thời đại. Với một ngôn ngữ mới, sắc sảo, đôi khi châm biếm, để bàn luận về những vấn đề xã hội, đạo đức và chính trị phức tạp, TLVĐ đã mở rộng biên giới của văn học, đưa nó ra khỏi lớp trí thức truyền thống và tiếp cận với quần chúng.

    TLVĐ được biết đến qua các các tạp chí văn học như “Phong Hóa“, “Ngày Nay“, và “Văn“ Những ấn phẩm này không chỉ truyền tải các tác phẩm văn học mà còn chứa đựng các bài viết phê bình, bình luận xã hội, chính trị, văn hóa. Chính vì thế, các tạp chí này đã trở thành nơi trao đổi, thảo luận sôi nổi về các vấn đề thời sự, góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học.

    Sự thành công của TLVĐ không chỉ nằm ở giá trị tác phẩm mà còn ở tư duy tiên phong và quan điểm đổi mới mà họ đã đưa vào văn học Việt Nam. Họ đã trở thành ngọn đuốc soi sáng cho thế hệ các nhà văn sau này, mở đường cho sự thay đổi và phát triển của văn học Việt Nam trong thế kỷ 20.

    Hiện nay, TLVĐ vẫn được coi là một trong những tổ chức văn học quan trọng nhất của Việt Nam, và những tác phẩm của họ vẫn được nghiên cứu và trân trọng, không chỉ vì giá trị nghệ thuật mà còn vì ý nghĩa lịch sử và xã hội.

    ***

    Tam Giáo Đồng Nguyên

    Trong đời sống tinh thần của người Việt, Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo có những hình thức khác nhau, thường thì ôn hòa nhưng đôi khi lại gay gắt để hòa nhập với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt, đồng thời để kết hợp và thống nhất ở cùng một nguồn gốc theo hình thức của Tam giáo đồng nguyên. “Tam giáo” ở đây là: Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và “đồng nguyên” là cùng một gốc. Học thuyết Tam giáo thường có cùng một nguồn gốc nhưng cách lập giáo và việc hành đạo của mỗi vị Giáo chủ có phần khác biệt như:

    • Nho giáo cho rằng sự biến hóa trong Vũ Trụ là do nhất động nhất tịnh của Thái Cực. Vạn vật là có thực, con người nên dựa vào cái thực ấy mà hành động để sinh tồn. Sự sinh tồn của vạn vật là những điều: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, tức là Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh của Tạo hóa. Con người cần phải làm theo những điều ấy mà an vui trong cuộc sống sinh tồn tạo dựng xã hội quốc gia.
    • Lão giáo coi trọng môi trường tự nhiên, giữ đạo và vui thú cùng thiên nhiên bởi vạn vật là Đạo, cuộc đời là phù du, do đó con người nên sống thư thái, yêu thiên nhiên, đất đai xứ sở.
    • Phật giáo cho rằng vạn vật được tạo ra do yếu tố Chân (truth, reality), sắc với không là một, sự sinh sinh hóa hóa là do vọng niệm chứ không có thực. Cái thực là Chân. Con người cần tìm cho thấy cái thật để trở về cái gốc, thoát khỏi sinh tử luân hồi và đến được Cực Lạc Niết Bàn, an vui hạnh phúc.

    Tóm lại, cả Phật giáo và Đạo giáo đều khuyến khích làm việc “thiện”, nghĩa là hiếu với cha mẹ; tôn kính bề trên và trung thành với vua, với nước. Yêu thương, cứu giúp, tránh không làm điều tham lam độc ác với người khác, mà làm điều thiện cũng là tôn trọng thể chế và quy phạm đạo lý của Nho giáo.

    ***

    Phân Tâm Học

    Phân Tâm Học được định nghĩa là học thuyết về kỹ thuật trị liệu tâm lý. Phân tâm học cho rằng tất cả mọi người đều sở hữu những suy nghĩ, cảm xúc, ham muốn và ký ức ẩn sâu trong vô thức. Phân tâm học giúp chuyển những suy nghĩ trong vùng vô thức sang vùng ý thức, bởi vì con người có khả năng thông hiểu sâu sắc về trạng thái tâm lý hiện tại của bản thân mình, họ có thể tự tìm thấy hoặc nghiên cứu, phân tích về những phương thức để giải thoát khỏi những vướng bận về mặt tâm lý của chính mình thể hiện qua cách cư xử khi bị tác động bởi những suy nghĩ trong vùng vô thức.

    Hành vi khác thường là những hoạt động bất thường có thể gây ảnh hưởng đến giá trị đạo đức và gây rắc rối trong xã hội. Ngày nay, ngành Phân tâm học rất phổ biến và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Y khoa, tư pháp, văn học nghệ thuật, điện ảnh, v.v… Thật vậy, học thuyết Phân tâm học giúp các nhà chuyên khoa giải thích và điều chỉnh lại những vấn đề liên quan đến đời sống của con người.

    Trên thực tế, Phân tâm học ra đời chịu nhiều ảnh hưởng bởi chủ nghĩa phi lý tính của Schopenhaur (1788-1860), ông cho rằng xã hội chứa đầy sự mâu thuẫn, sự suy nghĩ thiếu minh mẫn và sự khốn cùng ảnh hưởng trên cuộc sống của con người. Từ những quá khứ không hoàn hảo bởi sự đổ vỡ của tình mẫu, sự thất bại của khát vọng vinh quang và từ cái nhìn đầy bi quan, ảm đạm đối với cuộc sống hiện tại khiến Schopenhauer trở nên thù hận đồng nghiệp, khinh bỉ và coi thường phụ nữ. Với ông: “Triết học là quay trở về với thế giới nội tâm của mình, là tìm tòi bản tính thật sự của con người và thế giới”.

    Tóm lại, trong tất cả các nghiên cứu khoa học, chúng ta phải thừa nhận rằng tâm lý học là một khoa học huyền bí và khó có thể chứng minh hơn bất cứ bộ môn khoa học nào, bởi đời sống tâm lý của con người có bản chất hư hư, thực thực, không minh bạch và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chính vì vậy đã có nhiều cuộc tranh luận xoay quanh học thuyết Phân Tâm Học của Sigmund Freud trong suốt nhiều năm qua. Như trong phần nở đầu, Phân tâm học được định nghĩa như là một tập hợp các lý thuyết tâm lý và kỹ thuật trị liệu có nguồn gốc từ lý thuyết của Sigmund Freud.

    ENGLISH VERSION

    The Tự Lực Văn Đoàn (Self-Reliant Literary Group)

    Tự Lực Văn Đoàn is an important literary organization, a symbol of the literary movement in Vietnam in the 1930s. The group laid the foundation for many new literary movements and simultaneously transformed the form and content of Vietnamese literature.

    The founders of Tự Lực Văn Đoàn included Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ, Xuân Diệu, and Hoàng Đạo. They were not only talented writers but also literary reformers, with a clear awareness of their social responsibilities.

    The Tự Lực Văn Đoàn was born in a context where Vietnam was going through a period of significant change, with demands for innovation in thought, culture, and society. The group contributed significantly to this change, through publishing literary works that accurately reflected the social reality and the state of the times.

    The works of the Tự Lực Văn Đoàn introduced a new language, sharp, sometimes satirical, to discuss complex social, ethical, and political issues. They expanded the boundaries of literature, taking it out of the traditional intellectual class and making it accessible to the masses.

    The Tự Lực Văn Đoàn is also known for publishing literary magazines, such as “Phong Hóa”, “Ngày Nay”, and “Văn”. These publications not only transmitted literary works but also contained social, political, and cultural commentary and criticism. Therefore, these magazines became a lively forum for discussion on current affairs, contributing to the development of literature and thought.

    Ultimately, the success of the Tự Lực Văn Đoàn lies not only in the quality of their works but also in the pioneering thinking and innovative perspective they brought to Vietnamese literature. They have become a beacon for the next generation of writers, paving the way for the change and development of Vietnamese literature in the 20th century.

    Today, the Tự Lực Văn Đoàn is still considered one of the most important literary organizations in Vietnam, and their works are still studied and appreciated, not only for their artistic value but also for their deep historical and social significance.

    *****

    Unified Threefold Religion

    In the spiritual life of the Vietnamese people, Confucianism, Buddhism, and Taoism have different forms, usually gentle but sometimes strict to integrate with the cultural traditions of the Vietnamese people while combining and harmonizing under the form of Triple Religion (Tam giáo đồng nguyên). “Tam giáo” here refers to Confucianism, Buddhism, and Taoism, and “đồng nguyên” means the same origin. The theory of Unified Threefold Religion often has the same origin, but the establishment of each religion and the practice of each religious leader differ, such as:

    • Confucianism believes that the changes in the Universe are due to the unity and interdependence of the Supreme Ultimate. Everything exists, and humans should rely on that reality to act for survival. The survival of all things lies in the principles of Humanity, Righteousness, Propriety, and Wisdom, which are the Fundamental, Active, Beneficial, and Spiritual aspects of Creation. Humans need to follow those principles to find happiness in the survival and construction of the national society.
    • Taoism values the natural environment, maintains the Way, and finds joy in harmony with nature, as everything is the Way, and human life is transient. Therefore, humans should live calmly, love nature and the land of the country.
    • Buddhism believes that all things are created by the element of Truth (Chân), and form and emptiness are one. The cycle of birth and death is illusory, and true reality is the Truth. Humans need to seek the truth to return to the origin, escape the cycle of reincarnation, and reach Nirvana for happiness and bliss.

    In summary, both Buddhism and Taoism encourage the practice of “good deeds,” which means filial piety towards parents, respect for superiors, loyalty to the king and the nation. Loving kindness, compassion, and avoiding greed and cruelty towards others are considered good deeds and also show respect for the social order and moral principles of Confucianism.

    Unified Threefold Religion: Confucianism, Buddhism, and Taoism in Vietnamese Spirituality

    In Vietnam, the spiritual life of the people is deeply influenced by a unique fusion of Confucianism, Buddhism, and Taoism, known collectively as the Unified Threefold Religion. These three belief systems have coexisted in harmony for centuries, blending together to create a spiritual tapestry that is unlike any other. Confucianism is focused on social order and harmony, emphasizing the importance of filial piety and respect for authority. Buddhism offers a path to enlightenment and liberation from suffering, encouraging compassion and mindfulness. Taoism emphasizes the natural order of things and the importance of living in harmony with nature.

    Together, these three belief systems create a holistic approach to spirituality that is deeply ingrained in Vietnamese culture. The Unified Threefold Religion has shaped everything from art and architecture to politics and social customs, providing a framework for understanding the world and our place in it. By embracing the principles of Confucianism, Buddhism, and Taoism, the Vietnamese people have created a rich and vibrant spiritual tradition that continues to inspire and inform to this day.

    ***

    Psychoanalysis

    Psychoanalysis is defined as the theory of psychological therapy techniques. Psychoanalysis believes that everyone possesses thoughts, emotions, desires, and deeply hidden memories in the unconscious. Psychoanalysis helps transfer thoughts from the unconscious to the conscious realm because humans can profoundly understand their current psychological state. They can discover, study, and analyze methods to liberate themselves from the psychological burdens expressed through their behavior when influenced by unconscious thoughts.

    Abnormal behavior refers to unusual activities that can impact ethical values and cause disturbances in society. Nowadays, the field of psychoanalysis is widely popular and applied in various areas such as medicine, law, literature, film, and more. Indeed, the theory of psychoanalysis helps specialists explain and adjust issues related to human life.

    In reality, psychoanalysis was greatly influenced by the irrationality of Schopenhauer’s (1788-1860) philosophy. He believed that society is full of contradictions, lack of rational thinking, and extreme suffering that affects human life. From an imperfect past marked by the breakdown of maternal love, the failure of ambitions for glory, and a pessimistic, gloomy view of current life, Schopenhauer became hostile, contemptuous, and disdainful towards colleagues, particularly women. According to him, “Philosophy is a return to one’s inner world, seeking the true nature of humans and the world.”

    In conclusion, in all scientific studies, we must acknowledge that psychology is a mysterious science and more difficult to prove than any other scientific discipline because human psychology is elusive, real, non-transparent, and can occur at any time. Therefore, there have been numerous debates surrounding Sigmund Freud’s theory of psychoanalysis for many years. As mentioned earlier, psychoanalysis is defined as a collection of psychological theories and therapeutic techniques originating from Sigmund Freud’s theory.

  • TẠP GHI,  Vương Trùng Dương

    Phở từ “Hà Nội 36 Phố Phường” đến Little Saigon

    Nói về món ăn thuần túy ở Việt Nam, mỗi miền nổi tiếng với đặc sản riêng, khi gọi tên món ăn đó gợi lên hình ảnh của nơi nào rồi. Với món phở, theo thời gian đã đi vào văn chương qua các ngòi bút nhà văn, nhà thơ từ đầu thận niên của thế kỷ XX trong các tác phẩm.

    Nhà văn Nguyễn Công Hoan ghi nhận: “Năm 1913… trọ số 8 hàng Hài… thỉnh thoảng tối được ăn phở (gánh phở rong). Mỗi bát 2 xu, có bát 3 xu, 5 xu”.

    Trong quyển Giòng Nước Ngược của Tú Mở (nhạc phụ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ) ấn hành ở Hà Nội năm 1934, có bài thơ “Phở” Đức Tụng:

    “Trong các món ăn “quân tử vị”,

    Phở là quà đáng quý trên đời.

    Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi,

    … Phở xơi no cũng đỡ nhọc nhằn.

    Khách làng thơ đêm thức viết văn,

    Được bát phở cũng đỡ băn khoăn óc bí

    … Phở bổ âm, dương, phế, thận, can, tì

    Bổ cả ngũ tạng, tứ chi, bát mạch

    … Ai ơi, nếm thử kẻo thèm”

    Trong cuốn tùy bút Hà Nội 36 Phố Phường của Thạch Lam, NXB Đời Nay, Hà Nội năm 1943. Chương 2: Phở Bò – Món Quà Căn Bản:

    “Phở là một thứ quà thật đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng ở Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon. Đó là thứ quà suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa, và ăn phở tối. Phở bán gánh có một vị riêng, không giống như phở bán ở hiệu. Các gánh phở có tiếng ở Hà Nội đều được người ta đặt tên và tưởng nhớ: phố Hàng Cót, phố ô Quan Chưởng, phố Cửa Bắc v.v…

    Kẻ viết bài này vẫn trung thành với lối phở cổ điển cũng như ưa nghe tuồng chèo giữ đúng điệu xưa”.

    Chương 3: Phở Gà: “Ở Hà Nội, có hai ngày trong tuần mà những người “chuyên môn ăn phở” bực mình: thứ Sáu và thứ Hai. Hai ngày đó là hai ngày không thịt bò. Anh nào nghiện thịt bò, nhớ phở bò hai hôm ấy như gái nhớ trai, như trai nhớ gái.

    Thật ra công việc so sánh phở bò và phở gà không thể thành được vấn đề, nhưng một buổi sáng mùa thu rỗi rãi, trời hơi lành lạnh, mà ngồi ăn một bát phở gà, có đủ rau mùi, hành sống, vừa ăn vừa nghĩ thì phở gà cũng có một phong vị riêng của nó, khác hẳn phở bò. Điều người ta nhận thấy trước nhất là phở gà thanh hơn phở bò: thịt dùng vừa đủ chứ không nhiều quá: ở giữa đám bánh phở nổi lên mấy miếng thịt gà thái nhỏ xen mấy sợi da gà vàng màu nhạt, điểm mấy cuộng hành sống xanh lưu ly, mấy cái rau thơm xanh nhàn nhạt, vài miếng ớt đỏ: tất cả những thứ đó tắm trong một thứ nước dùng thật trong đã làm cho bát phở gà có phong vị của một nàng con gái thanh tân – nếu ta so sánh bát phở bò với một chàng trai mà hào khí bốc lên ngùn ngụt.

    … Vì thế, những hàng phở gà ngon vẫn thường dùng gà mái, ăn thơm mà mềm. Về điểm này, có một hàng phở gánh, đỗ ở dưới một gốc si phố Huyền Trân Công Chúa đặc biệt lưu ý tới, mà cũng đặc biệt nữa là người hàng phở này quanh năm chỉ bán phở gà, nhất quyết làm khác hẳn phở Tráng, không bán phở bò, “dù có thể làm được phở bò ngon”.

    Nguyễn Tuân viết tùy bút Phở với nhiều phát hiện độc đáo. Nào là sự phân biệt giữa “xẩu” và “xương” trong nồi phở. Nhiều người cứ nghĩ “xẩu” cũng giống như “xương”, là một tiếng đệm mà thôi, nhưng thực ra “xẩu” có nghĩa là những đầu xương trong nồi phở có dính thịt và những cái xương chưa róc hết thịt… Nguyễn Tuân còn đề cập bát phở ngon nhất đối với ông luôn luôn là một “bát phở cổ truyền Hà Nội ăn ngay bên lò than quả bàng đỏ lửa giữa ngàn năm văn vật”.

    “Phở còn tài tình ở cái chỗ là mùa nào ăn cũng thấy có nghĩa thâm thúỵ Mùa nắng, ăn một bát, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt qua lưng, thấy như giời quạt cho mình. Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt chợt thắm tươi lại…”

    Trong bài viết của Tôn Thất Thành về nhà văn Nguyễn Tuân sau năm 1975 ở Sài Gòn được mời ăn phở:

    “Nói đến nhà văn Nguyễn Tuân thì ít ai không biết vài giai thoại độc đáo về chuyện ăn uống của ông. Ông vốn là người rất kỹ tính trong việc này. Ông kén từ cái ăn, đồ dùng để ăn đến cách ăn, chỗ ăn. Nhưng, kén nhất là kén người ăn cùng với ông… (khách mời có con gái trưởng và cháu ngoại Phạm Quỳnh).

    Tối hôm ấy, y lời hẹn, tôi đi xe đạp, chở mẹ tôi đến số nhà 125-E đường Nguyễn Đình Chiểu (mà anh Nguyễn Ngọc Lương còn cẩn thận nhắc tên cũ là đường Phan Đình Phùng, sợ đi xe xích lô nói tên mới có người không biết). Đến nơi thì ra nhà số 125 ấy là một cái hẻm nhỏ, rộng độ 2 mét, các nhà kế bên nhau bên tay phải đánh số từ 125-A đến 123-I. Nhà anh Nguyễn Ngọc Lương (nhà văn Nguyên Nguyễn) ở giữa.

    Trời tối, mẹ con tôi tìm đến nhà 125-E thì có tiếng một người đàn ông lớn tuổi đằng hắng, (nhà văn Nguyễn Tuân)

    … Chủ khách đang nhâm nhi rượu ngon và bàn phiếm ba câu chuyện về các loại rượu, thì vừa lúc mùi phở Hà Nội đặc trưng tỏa ra ngào ngạt: Chị Quyến (vợ anh Lương) bưng một mâm bốn tô khói thơm phưng phức. Chị chủ nhà mời mọi người cầm đũa, thìa và không quên nhấn mạnh là “Nước dùng này tôi ninh xương bò, lợn cả nửa ngày với các thứ củ chứ tuyệt không dùng chút bột ngọt (Chị sợ dân Bắc chưa quen, còn nói thêm “tức là mì chính ấy ạ”). Các bác xơi xem có đúng vị phở Hà Nội không”.

    Nhà văn Nguyễn Tuân chưa ăn ngay, mà xin cái bát nhỏ, cái thìa sứ và ít lát ớt. Sau đó, ông từ tốn như một nghi lễ đã quen: sớt một ít bánh phở và nước ra bát nhỏ, gắp vài miếng thịt bò chín, rồi lấy cái thìa sứ gắp vài sợi bánh phở vào, thêm một lát thịt và một lát ớt rồi giầm cả xuống nước phở nóng, sau đó lấy đũa và dần vào miệng từng chút một.

    Cứ vài thìa, lại nhâm nhi chút rượu vang, im lặng thưởng thức món quà của một phụ nữ Hà Nội gốc, như anh Lương đã giới thiệu về vợ.

    … Thấy khách mải nói chuyện văn chương, chẳng ai nhận xét gì về phở cả, bà chủ phải lên tiếng: “Các bác xơi phở em làm thấy có được không?” Nguyễn Tuân đã ăn xong hai chén nhỏ, vui vẻ nói với nét mặt rạng rỡ: “Ngon lắm, đúng vị phở Hà Nội”

    … Nhà văn Nguyễn Tuân đã vì quí mến Phạm Quỳnh mà để cả một buổi tối dùng phở, trò chuyện chân tình với mẹ con tôi, là con và cháu người”

    Có giai thoại kể rằng khi Nguyễn Tuân được mời ăn phở trên đường Paster (trước năm 1975 thường gọi là con đường phở), khi có tô phở trên bàn, nhà văn không ăn mà chỉ ngửi hương vị phở đã tắm tắc khen ngon vì trải qua những thập niên ở Hà Nội với “phở quốc doanh”!

    Trong quyển tùy bút Miếng Ngon Hà Nội của nhà văn Vũ Bằng, Sài Gòn năm 1960. Với 15 món trong Miếng Ngon Hà Nội, nhà văn coi như các món “quốc hồn, quốc túy”. Bài viết Phở Bò – Món Quà Căn Bản. Ông nhớ về từng hàng phở của Hà Nội xưa như: phở Sứt, phở Nhà thương Phủ Doãn, phở Đông Mỹ ở phố Mới, phở Cống Vọng kéo xe, phở Mũ Đỏ đằng sau miếu chợ Hôm, phở Tàu Bay ở ngã ba phố Hàm Long…

    Vũ Bằng mô tả về Phở Tráng ở phố Hàng Than, được mệnh danh là “vua phở 1952”. Ông gọi bát phở ấy là một “bài thơ phở”: “Cứ nhìn bát phở không thôi cũng thú. Một nhúm bánh phở, một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau xanh thơm biêng biếc; mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ; mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên vừa đỏ sẫm như hoa lựu… Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở có như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm… Rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng ngọt cứ lừ đi, ngọt một cách hiền lành êm dịu, ngọt một cách thành thực thiên nhiên, không có chất gì là hóa học…”.

    Vũ Bằng ca ngợi món phở: “Ngay từ đằng xa, mùi phở cũng đã có một sức huyền bí, quyến rũ ta như mây khói chùa Hương, đẩy bước chân ta, thúc bách ta…

    Qua làn cửa kính đã thấy gì? Một bó hành hoa xanh như lá mạ, dăm quả ớt đỏ buộc vào một cái dây, vài miếng thịt bò tươi và mềm: chín có, tái có, sụn có, mỡ gàu có, vè cũng có…

    Người bán hàng thỉnh thoảng lại mở nắp cái thùng sắt ra để lấy nước dùng chan vào bát. Một làn khói tỏa ra khắp gian hàng, bao phủ những người ngồi ăn ở chung quanh trong một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ trong rừng mùa thu… Trông mà thèm quá!”.

    Theo ghi nhận, phở Tàu Bay (gốc Bắc) có mặt ở Sài Gòn năm 1954 và nhanh chóng trở thành tiệm phở quen thuộc, phở Thịnh đường Gia Long, Phở Turc đường Turc, phở Minh nằm trong hẻm nhỏ (hẻm 63), đường Pasteur và phở 79 ở đường Frère Louis (sau đó đường Võ Tánh). Phở Cao Vân, không nằm trên đường Trần Cao Vân (Larclause) mà trên đường Mạc Ðĩnh Chi (Massiges) chủ nhân từ Hà Nội vào bán xe phở rồi mở tiệm. Phở Hòa trên đường Pasteur năm 1960, khai trương mang tên Hòa Lộc chỉ có phở bò, thực khác chỉ gọi phờ Hòa. (Xuất xứ phở Hòa được đặt theo tên của một người đàn ông miền Nam tên Hòa làm nghề bán phở rong, với chiếc xe đẩy cà tàng, mỗi ngày ông Hòa thường đẩy xe đi bộ gần 20 cây số từ chợ Xóm Mới (quận Gò Vấp) tới đường Pasteur để bán. Nhờ cơ duyên nào đó, ông đã truyền lại những bí quyết nấu phở cho thân mẫu anh Nguyễn Trang ở đường Pasteur).

    Thích phở gà có Hương Bình trên đường Hiền Vương, phở gà Nam Phiên ở đường Trần Quang Diệu. Phở Quyền trên đường Võ Tánh gần cổng phụ của Bộ Tổng Tham Mưu nên thu hút giới quân nhân. Phở Lệ trên đường Nguyễn Trãi, quận 5. Bảng hiệu phở Lệ ghi (Tái Nạm – Gầu – Viên) kèm theo chữ Hán và tiếng Anh (Beef Noodle Soup Restaurant). Thời gian đầu phở Bắc không có rau, dần dà theo sở thích của người miền Nam nên có thêm loại rau thơm như rau húng quế, bạc hà, ngò gai, hành xanh và hành trắng, chén củ hành tây bào… và giá.

    Riêng phở không bảng hiệu có mặt từ năm 1958 trong hẻm 288 đường Công Lý (trước năm 1954 là Mac Mahon. Quán với mái tôn bên ngoài, bàn ghế thấp lè tè nhưng thu hút thực khách trong giới văn nghệ và quan chức… Tiệm không có bảng hiệu, có lẽ chủ nhân là bà Dậu nên gọi phở Dậu.

    Có nhiều bài viết, gần đây Phở Dậu của nhà văn Song Thao:

    “… Phở Dậu thời của chúng tôi. Thời đó, bàn ghế trong tiệm lỏng chỏng không đồng đều. Hình như chúng được gom dần trong nhiều thời gian khác nhau. Trông chúng cũ kỹ, đơn giản. Có lẽ chủ nhân chẳng cần để ý tới chúng. Cứ có chỗ ngồi và chỗ để tô phở là được. Khách cũng chẳng cần câu nệ. Miễn ăn được bát phở. Nếu những tiệm phở khác thời đó dùng cái có thể gọi là “tô” thì phở Dậu chỉ có “bát”. “Bát là tiếng Bắc, “tô” là tiếng Nam, chẳng phân biệt lớn nhỏ. Nhưng bát phở Dậu nhỏ hơn hẳn những tô phở của các tiệm phở khác. Người ăn khỏe, một bát vẫn thòm thèm. Phải hai bát. Cỡ tôi thì hai bát thì quá bụng nhưng một bát vẫn thiêu thiếu. Thường tôi gọi thêm một bát tái nước có tiết. Tiết là thứ chỉ có ở phở Dậu. Tiết tươi chan vào nước phở nóng tạo thành những màng màu nâu đục là thứ ngọt ơi là ngọt.

    … Không thể gọi phở Dậu là tiệm hay quán được. Nó không có được một cái tên. Dậu là tên mà hồi đó thực khách nghĩ là tên của bà chủ. Thực ra bà đứng bán tên là chi, chẳng ai biết. Dậu là tên bà chủ đầu tiên khi tiệm thành lập vào năm 1958. Sau vài năm bà nhường lại tiệm cho bà Uy là bà đang bán phở cho chúng tôi. Bà khoảng ngũ tuần, người nhỏ nhắn, phong thái Bắc kỳ rặt, bận tíu tít nhưng vẫn không bao giờ quên gu tô phở của từng thực khách quen. Những khách quen không cần phải order nhưng tô phở để trước mặt đúng là tô phở ưng ý nhất. Ngay những ý thích nhỏ nhặt của khách bà cũng thuộc nằm lòng.

    Ngày đó khi bát phở của tôi được bưng ra không bao giờ thiếu một chén hành tây bên cạnh. Vắt múi chanh, thêm vào chút ớt, chén hành tây ăn kèm với phở ngon tuyệt vời. Cái tên “phở Dậu” chỉ là tên… bán chính thức, thực khách còn đặt cho tiệm này nhiều tên khác. Tác giả Đỗ Duy Ngọc bàn như sau: “Sài Gòn có một quán phở bán suốt mấy chục năm mà chủ nhân không đặt tên quán. Trong suốt một thời gian dài, quán đều do khách đặt tên. Đầu tiên là “Phở Công Lý” vì tiệm nằm trong hẻm thuộc đường Công Lý. Thời gian sau, quán thường có đám khách thường xuyên là các sĩ quan Không Quân. Thành ra quán được gọi là “Phở Không Quân”. Thời gian mang tên này ngắn ngủi vì sự xuất hiện một thực khách đặc biệt. Đó là tướng Nguyễn Cao Kỳ. Từ đó người ta gọi là “Phở Ông Kỳ” hay “Phở Nguyễn Cao Kỳ”.

    … Ông Kỳ là thực khách đình đám của phở Dậu nhưng còn có những thực khách khác, cũng đình đám vậy. Như ông Trần Minh Công. Ông nầy là bạn học với tôi tại Chu Văn An. Ông đi du học bên Úc rồi về gia nhập ngành Cảnh Sát. Ông đóng tới lon Đại Tá và giữ chức Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia. Theo một ông dân cư xá Công Lý từ năm 1955 đến 1988, nơi có phở Dậu, thì “tôi thấy có ông Trần Minh Công tới ăn có ba bốn xe cảnh sát hộ tống”.

    … Nhà văn Phan Nghị, từng lê lết nơi phở Dậu, nhớ lại: “Phở Dậu có những đặc điểm không giống bất cứ một tiệm phở nào: không rau, không giá và rất sạch, và nhất là không có cái mùi phở kinh niên. Thịt thái mỏng và bánh phở to bản thích hợp với cái gu của người Hà Nội. Vì ở sâu trong hẻm, nên thoạt đầu khách tới ăn uống rất lơ thơ tơ liễu buông mành, chỉ có dăm bảy mống. Sau đó, nhờ sự cổ động của người Hà Nội, người ta mới bắt đầu chiếu cố tới hương vị không rau không giá đó”.

    Sau 1975, phở Dậu là ngã ba hẹn hò của giới ăn phở Dậu trước đó, khi thành phố chưa đổi tên. Ngày đó, bạn bè chúng tôi tan tác sau cơn bão dữ, ai còn, ai đi thoát, ai chưa “cải tạo” về, cứ tới phở Dậu là biết hết. Gọi là “ngã ba hẹn hò” cho thêm phần tình cảm chứ thật ra chúng tôi chẳng ai hẹn ai. Cứ thuận chân tới. Tới sẽ gặp. Gặp rồi đấu láo chửi thề. Thường chúng tôi mắng mỏ nhau sao chậm lụt thế. Trông thấy cái mặt nào còn trình diện là thêm một ngao ngán..”..

    Sau nầy bà Uy định cư tại San Jose, mở quán Phở Dậu Phở số 1939 đường Alum Rock Ave Suite H. Song Thao viết tiếp: “Ông bạn thân nhất của tôi ở San Jose là ông ký giả Hà Túc Đạo đã bị cô Vy rủ đi mất tiêu, tôi nắm áo ông bạn chung của ông Hà và tôi là ông Nguyễn Xuân Phác, một cây sành ăn. Ông cho tôi một số tin tức: “Vào thời gian sau 2010, tin Phở Dậu mở ở San Jose đã khiến cho dân ghiền phở nơi đây xôn xao và kéo đến thưởng thức hương vị Sài Gòn cũ khá đông đảo… Tôi có hỏi dò bà cụ thường ngồi khiêm nhường ở một góc quầy thì bà xác nhận chính là chủ Phở Dậu ở Sài Gòn trước đây, nay qua San Jose truyền nghề cho đứa con (hay cháu?), tên Dũng đứng ra mở tiệm. Cô vợ ở quầy tính tiền là con gái một ông chủ tiệm vàng nổi tiếng trong vùng. Tiệm đang kinh doanh phát đạt thì đột nhiên bị xé đôi. Nửa tiệm ở lại tại chỗ vẫn mang tên “Phở Bà Dậu” nhưng bấy giờ do cô vợ làm chủ. Nửa kia do ông chồng mang qua một tiệm ăn mới sang nhượng nhưng trước đó có tên là “Quán Nhà Tôi”. Sau khi sang nhượng, quán mang tên “Phở Công Lý”. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, cả hai tiệm đều đã “âm thầm đóng cửa” không biết lý do vì sao”.

    Trong khi Sài Gòn và miền Nam VN món phở “trăm hoa đua nở” thì Hà Nội và miền Bắc trong thời kỳ tem phiếu, bao cấp, thịt khan hiếm nên chỉ sống còn với “phở quốc doanh, phở mậu dịch” chỉ có nước lỏng bỏng, thực khách đến quầy mang ra bàn ăn!

    Bà Nguyễn Thị Hậu, tiến sĩ, chuyên gia khảo cổ và nghiên cứu văn hóa viết về phở ở Hà Nội viết: “Những quán phở mậu dịch như vậy thì nổi tiếng với món “phở không người lái”, tức là không có thịt gì cả chỉ có nước dùng trong veo và thậm chí rất nhạt cùng với bánh phở. Có một ít hành ngò và thịt bò, thịt gà thì không bao giờ thấy mà đôi khi chỉ có thịt heo, nếu có vài miếng thịt heo thì rất mỏng mà hồi đó bọn học sinh chúng tôi hay nói đùa là miếng thịt heo nó bay qua bát phở và biến đâu mất không kịp nhận ra cái mùi vị của miếng thịt như thế nào nữa.

    Đi kèm với bát phở mậu dịch không người lái như vậy chúng tôi nhớ rất rõ có đôi đũa và cái muỗng bị đục thủng, bị cái đinh đóng thủng vào để ngăn chặn tình trạng người ta lấy cái muỗng về nhà mất.

    Cái muỗng nó bị thủng nên khi múc một miếng nước phở lên để húp thì có khi nhiều khi nước nóng nó chưa đến miệng thì nước dùng trong cái thìa đã chảy xuống hết cái tô phở rồi… Cái muỗng bị đục lỗ để tránh bị ăn cắp vẽ nên diện mạo của nền kinh tế bao cấp kiệt quệ, tương quan một cách lý thú với khái niệm “phở gia truyền” của người Hà Nội trong tư duy giữ chặt bí quyết nấu phở nhưng cũng từ đó mất đi sự sáng tạo cần có mà sau này người miền Nam đã mạnh dạn bổ khuyết”.

    Bà Nguyễn Thị Hậu nổi tiếng trong giới khảo cổ ở VN, bà cũng là nhà văn và những dòng bà viết của thời sinh viên ở Hà Nội. Chao ôi! “Cái muỗng bị đục lỗ để tránh bị ăn cắp vẽ nên diện mạo của nền kinh tế bao cấp kiệt quệ” không thể nào ngờ nhân cách, phẩm giá con người bị khinh rẻ đến mức đề phòng “bần cùng sinh đạo tặc” như vậy! Có ai gọi phở mậu dịch là “quốc hồn quốc túy”.

    *

    Nói đến phở ở hải ngoại thì không có nơi nào bằng Little Saigon, Quân Cam, California được xem như “thủ phủ” của món phở. Càng nhiều thì càng cạnh tranh để sống còn nên vừa ngon vừa rẻ. Đồng hương có đến nơi nầy cũng hỏi thăm để thưởng thức món “quốc hồn quốc túy”, có vài tiệm bán thâu đêm.

    Với từ phở, các cuốn tự điển Việt như Tự Điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 không có từ phở. Tự Điển Huỳnh Tịnh Của (1895), Tự Điển Genibrel (1898) cũng vậy.

    Cho đến khi Viêt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, Hà Nội năm 1930 ghi về phở “Món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò” (không có thịt gà). Theo Wikipedia “Phở or pho is a Vietnamese soup dish consisting of broth, rice noodles, herbs, and meat, sometimes chicken. Pho is a popular food in Vietnam where it is served in households, street stalls and restaurants countrywide. Pho is considered Vietnam’s national dish”.

    Chữ “rice noodle” không thuần túy là bánh phở nhưng cũng được giải thích chữ: “Banh Pho” is traditionally made from rice flour, coated in thin sheets and then cut into fibers.

    Loại gạo xoay nhuyển thành bột, tráng thành bánh mỏng rồi cắt ra thành sợi cũng dành cho các món như hủ tiếu, cao lầu, mì Quảng… Loại nầy sấy khô, đóng gói được bán ở supermarket có tên Việt/Mỹ rất thông dụng. Bún cũng làm bằng bột gạo nhưng chế biến khác nhau, món ăn nầy cũng thông dụng như phở ở trong nước và hải ngoại.

    Theo Wikipedia thì một trong những tài liệu đầu tiên nhắc đến phở là cuốn từ điển Hán-Việt Nhật Dụng Thường Đàm của Phạm Đình Hổ biên soạn vào năm 1827. Trong mục thực phẩm, cụm từ chữ Hán “ngọc tô bính” được chú thích bằng chữ Nôm là “bánh phở bò”.

    Và theo trang web nầy “Có người nói rằng phở bắt nguồn từ một món ăn Quảng Đông mang tên “ngưu nhục phấn”…  Cũng có giả thuyết khác cho rằng, phở có nguồn gốc từ phương pháp chế biến món thịt bò hầm của Pháp pot-au-feu (đọc như “pô tô phơ”) kết hợp với các loại gia vị và rau thơm trong ẩm thực Việt Nam.

    Cũng có ý kiến cho rằng phở vốn bắt nguồn từ món “xáo trâu” (dùng sợi bún) của Việt Nam, sau được biến tấu thành món “xáo bò” dùng bánh cuốn.

    P.Huard và M.Durand đã phân tích chữ phở tiếng Nôm gồm ba chữ Hán ghép lại: a/chữ mễ (lúa), b/chữ ngôn (lời nói), c/chữ phổ (phổ biến).

    Từ phở hiểu nôm là món ăn chế biến từ lúa gạo phổ biến trong đại chúng và phát âm là “phổ”. Tiếng rao của các hàng quà rong vốn dĩ nghe rất du dương có vần, có điệu, đôi khi còn luyến láy như hát biến âm đủ thanh sắc rót vào tai người nghe

    Nhà văn Nguyễn Công Hoan ghi nhận: “Năm 1913… trọ số 8 hàng Hài… thỉnh thoảng tối được ăn phở (gánh phở rong). Mỗi bát 2 xu, có bát 3 xu, 5 xu”.

    Tiếng rao món phở âm Nôm: “phố đây, phố ơ! Danh từ phở được chính thức ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (1930) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo: “Món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò”.

    Năm 1939, phở gà xuất hiện, bởi khi ấy một tuần có hai ngày: thứ hai và thứ sáu không có thịt bò bán. Chưa rõ vì sao có sự cố này, song có lẽ một nguyên nhân khó thể bỏ qua đó là việc giết mổ trâu bò luôn bị hạn chế suốt thời phong kiến, do trâu bò vẫn là sức kéo chính cho nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam. Bởi vậy, nhiều chủ quán phở bò đành phải đóng cửa vào hai ngày không có thịt bò trong tuần, tạo điều kiện cho phở gà phát triển. Từ sau năm 1939, hai món phở bò và phở gà đã chính thức ngự trị và song hành cùng nhau trong lòng ẩm thực Việt. Và từ đó, phở gánh đến tiệm phở dần dàn phát triển từ Bắc vô Nam.

    Ông Nguyễn Văn Cảnh (thường gọi là Cảnh Vịt) là một trong những người Việt tiên phong lập ra tiệm phở Nguyễn Huệ, phở Hòa (năm 2003 đổi thành phở Quang Trung), phở 79 ra đời năm 1979… từ đó đến nay có cả trăm tiệm phở ở Little Saigon và các vùng phụ cận. Không những người Việt mà người bản xứ, các sắc tộc khác cũng thích món phở. Nếu tính trên đầu người, người Việt cư ngụ ở Little Saigon, khoảng trên dưới 100.000 thì Little Saigon có nhiều tiệm phở nhất, kể cả trong nước.

    Về bảng hiệu với chữ 45, 54, 86, 79… và tên chỉ, một, hai chữ, nhạc sĩ Tuấn Khanh dùng tựa đề ca khúc Hoa Soan Bên Thềm Cũ làm tiệm phở ở TP Garden Grove. Ngày nay, nhiều tiệm phở tên tiếng Anh với chữ “pho” bên cạnh, thực khách nước ngoài cũng hiểu đó là món ăn thuần túy của người Việt, chứng tỏ nó đã trở thành món ăn thông dụng nơi xứ người.

    Little Saigon, April 2023

    Vương Trùng Dương

  • LÊ VĂN KHOA,  Tin tức,  Văn Thơ

    Mối Giao Tình Đầy Cảm Động Giữa Ukraine và “Một Người Việt Nam”

    Thế giới đang ở trong cơn căng thẳng với cuộc chiến tranh xâm lăng Ukraine của nước Nga. Hầu hết các nước trên thế giới, với lương tri trong sáng, đều xót xa cho Ukraine và lên án hành vi tàn ác khốn nạn của lãnh tụ độc tài Putin. Thế giới bỗng hiện lên hai hình ảnh trái ngược nhau: Ukraine là tự do, dân chủ; Putin lãnh tụ Nga là độc tài, khát máu.

    Nhưng có lẽ không nhiều người Việt Nam biết cách đây gần hai thập niên, một mối giao tình đầy cảm động đã nảy nở giữa một nhạc sĩ Việt Nam và giới âm nhạc của Ukraine. Đó là câu chuyện của nhạc sĩ Lê Văn Khoa, tác giả của Symphony Việt Nam 1975, đã đến với giới âm nhạc của Ukraine, và đã gắn bó với xứ sở này như thế nào. Kính mời quý độc giả theo dõi. DĐTK.

    Bích chương trình diễn nhạc Lê Văn Khoa ở Kyiv, Ukraine

    Duyên Tiền Định – Phần I. Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa và Nhạc Sĩ Ukraine

    Sự gắn bó giữa tôi và Ukraine là một huyền nhiệm không hề được sắp đặt trước. Khi đại tấu khúc Việt Nam 1975 của tôi được Pacific Institute Orchestra trích diễn năm 1995 ở phòng hòa nhạc Sergerstrom Performance Center trong khu thương mại của South Coast Plaza, California, tất cả báo chí lớn nhỏ của Hoa Kỳ từ Los Angeles trở xuống phía Nam đều có bài nhận định thuận lợi.Tôi nghĩ phải thu bài nhạc này vào CD để làm tài liệu cho thế hệ sau. Lúc bấy giờ tôi làm cố vấn cho Pacific Symphony Orchestra, giúp họ làm chương trình đánh dấu 20 năm sau chiến tranh Việt Nam. Họ đã biết tôi có viết nhạc, nên khi tôi ngỏ ý nhờ họ giúp thực hiện CD, họ nhận lời ngay. Họ cho biết phải thu thanh trong ba ngày, chi phí tối thiểu cho ban nhạc là 120.000 đô-la, chưa kể tiền thuê phòng thu và chuyên viên thu thanh. Sau khi suy nghĩ tôi cám ơn họ nhưng không thể có tiền để đi tới.

    Tôi tạm coi Hoa Kỳ như là trung tâm của địa cầu. Tôi không thành công ở trung tâm thì bước kế là xuống tận phương Nam để thử thời vận. Tôi xuống Úc và liên lạc với ban chấp hành của dàn nhạc giao hưởng Sydney. Cuộc gặp gỡ rất tốt. Họ yêu cầu tôi để nhạc lại cho họ nghiên cứu rồi cho tôi biết sau. Chờ đợi trong nhiều tháng vẫn không có âm tín gì. Rồi sau đó mất liên lạc luôn. Ở trung tâm không xong, xuống phương Nam không kết quả, tôi nghĩ thầm bây giờ sẽ lên tận phương Bắc.

    May mắn có Giáo sư Tiến sĩ Vũ Tôn Bình biết sự bối rối của tôi nên mách tôi liên lạc với Kyiv (Kiev) Symphony Orchestra ở Ukraine. Tôi làm theo, viết điện thư cho Kyiv Symphony Orchestra rồi chờ đợi nhiều tháng, mỗi ngày duyệt điện thư hai ba lần mà vẫn chẳng thấy tăm hơi nào. Trong cơn chán nản, tôi định bỏ cuộc, thì nhận được một thư rất lạ, viết bằng thứ chữ tôi không đọc được. Do dự trong nhiều tiếng đồng hồ, cuối cùng tôi quyết định mở thư ra xem. Có thể computer của tôi sẽ bị hư, mất hết tài liệu tôi giữ trong ấy, nhưng không nín được nữa. Tôi mở thư ra và suý thét to lên vì thư ấy viết cho tôi bằng thứ tiếng Anh lạng quạng lắm. Tôi trả lời ngay, ngỏ ý muốn nhờ ban nhạc thu thanh Symphony Việt Nam 1975 của tôi. Họ không trả lời nhận làm hay không, nhưng biểu tôi gửi nhạc cho họ xem trước khi quyết định. Tôi gửi nhạc qua. Họ xem và trả lời là họ nhận thu thanh. Sau khi biết tôi trên 70 tuổi, họ nói tôi không còn nhiều thì giờ, nên lo thu thanh ngay. Tôi một mặt lo xin sổ thông hành và visa, mặt khác làm việc ngày đêm để chuẩn bị cho kịp để họ in nhạc ra cho từng nhạc sĩ trong ban nhạc.

    Tôi bay qua Kyiv, Ukraine, đầu tháng hai năm 2005. Tuyết vẫn còn phủ trắng khắp nơi. Tôi được ông phó nhạc trưởng ra đón ở phi trường và đưa tôi về ở nhà của ông, tầng 6 trong chung cư có rất nhiều tòa nhà. Ông sắp xếp mọi sự, thuê phòng thu thanh tại Kyiv. Phòng thu lớn thứ nhì trên toàn châu Âu. Ngoài sân khấu rộng có thể để hai hay ba đại dương cầm, có ghế cho độ 100 nhạc sĩ ngồi và còn chỗ cho ban hợp ca 80 người đứng hát. Bên dưới có 300 ghế gắn cứng trên nền nhà, để khán giả ngồi xem. Mọi sự giao tiếp, liên lạc của tôi do ông sắp xếp. Nếu không có ông, tôi chẳng làm được gì vì ở Ukraine rất ít người biết nói tiếng Anh, còn tôi chẳng nói được một tiếng Ukraine nào.

    Tôi may mắn được gặp nhiều nhạc sĩ xuất chúng của Ukraine. Họ là những người góp tiếng nhạc trong các CD của tôi.

    Sáng hôm sau, ông Taras đưa tôi đi gặp cô nhạc sĩ violin để giao bài nhạc cho cô đàn độc tấu. Duyên gặp gỡ giữa tôi và các nhạc sĩ Ukraine bắt đầu từ đây.

    Tôi đinh ninh sẽ đến nhà cô để nói chuyện, không ngờ điểm hẹn là chiếc ghế trống vắng nơi công viên tuyết phủ. Thật tình tứ. Thật lãng mạn. Hình ảnh ấy gợi ý để tôi viết một chuyện ngắn với tên Nocturne. Phần đầu của câu chuyện, tôi ghi lại từng chi tiết. Phần sau thêm mắm muối nhiều.

    Svyatoslava Semchuck, nhạc sĩ độc tấu violin, thu thanh nhiều nhạc phẩm tôi viết cho violin độc tấu. Cô chiếm giải Quán Quân Nhạc Sĩ Trẻ toàn Liên Bang Sô Viết năm 16 tuổi, chiếm giải cuộc thi quốc tế tại Đức năm 18 tuổi. Giáo Sư Violin nhạc viện Tchaikowsky ở Kyiv, Ukraine, Nga, Đại Hàn, Nga và Nhật Bản.

    “Tôi là Svyatoslava Semchuk, một nghệ sĩ đàn vĩ cầm (Violon) thành danh ở Ukraine. Tôi rất cảm ơn số phận đã đưa chúng tôi biết đến một nhạc sĩ và là soạn nhạc gia tuyệt vời Lê Văn Khoa.

    “Ông là một người hết sức linh hoạt, giàu kiến thức và có đời sống tâm linh phong phú. Tôi rất may mắn có cơ hội trình diễn một số nhạc phẩm của ông, đặc biệt là các nhạc phẩm “Nocturne”, “Romance”, và một số tác phẩm khác của người nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng này.

    “Tôi muốn nói ông là một người có nhiệt tình và khả năng làm việc phi thường với một tâm hồn phong phú. Âm nhạc của ông bao quát các kiến thức và kinh nghiệm của những người làm việc chung với ông.

    “Trong nhạc phẩm “Nocturne”, ông kết hợp chủ nghĩa siêu biểu hiện với chủ nghĩa lãng mạn, đó là sự hòa quyện Chopin và âm nhạc Âu Châu. Đó là những dòng nhạc phong phú một cách diệu kỳ, tinh tế và tươi sáng.  Nó cho ta thấy âm nhạc không có biên giới mà đó chính là ngôn ngữ của thế giới.

    “Tôi khuyến khích các bạn nên đến các buổi hòa nhạc của Lê Văn Khoa. Khi trực tiếp nghe nhạc của ông, bạn sẽ thấy một độ sâu thẳm, một nguồn cảm xúc tuyệt vời của sự hiệp nhất tinh thần. Ai cũng sẽ tìm thấy một cái gì đó mới lạ trong âm nhạc của ông.”

    Svyatoslava Semchuck, nhạc sĩ độc tấu violin, thu thanh nhiều nhạc phẩm tôi viết cho violin độc tấu. Cô chiếm giải Quán Quân Nhạc Sĩ Trẻ toàn Liên Bang Sô Viết năm 16 tuổi, chiếm giải cuộc thi quốc tế tại Đức năm 18 tuổi. Giáo Sư Violin nhạc viện Tchaikowsky ở Kyiv, Ukraine, Nga, Đại Hàn, Nga và Nhật Bản.

    “Tôi là Svyatoslava Semchuk, một nghệ sĩ đàn vĩ cầm (Violon) thành danh ở Ukraine. Tôi rất cảm ơn số phận đã đưa chúng tôi biết đến một nhạc sĩ và là soạn nhạc gia tuyệt vời Lê Văn Khoa.

    “Ông là một người hết sức linh hoạt, giàu kiến thức và có đời sống tâm linh phong phú. Tôi rất may mắn có cơ hội trình diễn một số nhạc phẩm của ông, đặc biệt là các nhạc phẩm “Nocturne”, “Romance”, và một số tác phẩm khác của người nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng này.

    “Tôi muốn nói ông là một người có nhiệt tình và khả năng làm việc phi thường với một tâm hồn phong phú. Âm nhạc của ông bao quát các kiến thức và kinh nghiệm của những người làm việc chung với ông.

    “Trong nhạc phẩm “Nocturne”, ông kết hợp chủ nghĩa siêu biểu hiện với chủ nghĩa lãng mạn, đó là sự hòa quyện Chopin và âm nhạc Âu Châu. Đó là những dòng nhạc phong phú một cách diệu kỳ, tinh tế và tươi sáng.  Nó cho ta thấy âm nhạc không có biên giới mà đó chính là ngôn ngữ của thế giới.

    “Tôi khuyến khích các bạn nên đến các buổi hòa nhạc của Lê Văn Khoa. Khi trực tiếp nghe nhạc của ông, bạn sẽ thấy một độ sâu thẳm, một nguồn cảm xúc tuyệt vời của sự hiệp nhất tinh thần. Ai cũng sẽ tìm thấy một cái gì đó mới lạ trong âm nhạc của ông.”

    Lyudmila Chychuk là Giáo sư Nhạc Thính Phòng của trường dành cho trẻ em có biệt tài về âm nhạc, và là nhạc sĩ Piano trình diễn độc tấu. Năm 17 tuổi cô thắng giải thưởng sáng tác nhạc Young Composers of The Republic. Đoạt giải Người Đệm Đàn Xuất Sắc trong cuộc thi quốc tế năm 2001-2002. Lyudmila đã thu thanh tập nhạc piano của tôi. Sau đó cô đem nhạc của tôi đi trình diễn ở nhiều nơi, nhờ cô giới thiệu nên có nhiều trường nhạc ở Ukraine đã dạy nhạc của tôi.

    Khi qua Mỹ nhiều năm trước, cô ở nhà tôi, thấy các con gọi tôi là bố, cô xin phép được gọi tôi là bố như các con tôi. Do đó cô trở thành con tôi. Mối tình bố con này rất lạ. Cô thấy trong nhạc piano của bố Khoa có sự hấp dẫn đặc biệt nên dùng cho chương trình biểu diễn piano của cô. Cô tâm tình: “Bên cạnh nhạc kinh điển, tôi còn thêm nhạc lãng mạn, ví dụ như nhạc của Schubert, hoặc những bản nhạc nổi tiếng của Chopin. Và ngay sau phần trình diễn những danh phẩm này thì những nhạc khúc của Lê Văn Khoa được trổi lên. . .

    “Khi tôi có một buổi hòa nhạc ở Vienna, Áo, tôi cũng đã trình diễn nhạc của Lê Văn Khoa cho các khán giả của Vienna. Không ngạc nhiên khi nhiều người tìm gặp tôi sau buổi biểu diễn. Họ đã có những nhận xét khá thú vị. Họ nói: ‘Chưa bao giờ chúng tôi có cơ hội nghe bản nhạc piano lý thú đến như thế tại một buổi hòa nhạc cổ điển’. Thực tế mỗi khi tôi đưa một trong những tác phẩm của Lê Văn Khoa lên Internet, tôi thấy thính giả khác nhau đã nghe nó. Và có lần một nghệ sĩ Piano người Ý tên Andrea Bambace, viết thư cho tôi: “Bạn tìm thấy bản nhạc tuyệt vời này ở đâu thế? Ước gì tôi cũng có được để chơi thử.”

    “Tôi trả lời tôi không có bản ký âm vào lúc đó và cách hay nhất là ông ấy nên trực tiếp hỏi thẳng Lê Văn Khoa. Như tôi biết, ông ấy đã viết thư tới ông Khoa và đã nhận được trả lời.

    “Andrea Bambace là Nhạc sĩ độc tấu Piano quốc tế,Giáo sư Piano nhiều nhạc Viện Ý và các quốc gia Âu Châu, Giám khảo nhiều cuộc thi trình diễn dương cầm quốc tế. Ông viết:“Bài Piano Solo Cây Trúc Xinh của Lê Văn Khoa rất hay, rất êm dịu. Nó hấp dẫn vô cùng cho tôi là một người Ý. Nó tràn đầy tính chất khêu gợi. Tôi rất thích bài nhạc này.”

    “Nhiều người quan tâm tới loại nhạc này bởi vì nó mang đến một làn gió mới, hết sức thú vị, khác biệt so với văn hóa của chúng tôi, văn hóa châu Âu.”

    Lyudmila Chychuk

    Bây giờ hãy nghe bà Alla Kulbaba, Nhạc Trưởng chính của Ukrainian National Opera, Nhạc Trưởng của Kyiv Symphony Orchestra, đi trình diễn khắp thế giới. Bà đã chiếm giải thưởng Nhạc Trưởng Xuất Sắc. Đã thu thanh nhiều CD nhạc giao hưởng của Lê Văn Khoa từ năm 2005.

    “Với tôi, đó là một khám phá tuyệt vời, bởi vì tất cả sức mạnh và sự vĩ đại của dân tộc Việt Nam được biểu lộ trong những nét nhạc của bản giao hưởng đặc biệt này [Symphony Vietnam 1975]. Những đoạn về chiến tranh Việt Nam và cuộc đấu tranh của người Việt được diễn tả thật tuyệt diệu.

    “Âm nhạc của ông Khoa có thể được nhận ra dễ dàng bởi các yếu tố sau đây:

    – “Nhạc của ông tràn đầy ánh sáng, sự ấm áp và lòng nhân hậu. Những nét nhạc lạc quan khiến ta phải nghe một mạch không ngừng, và tâm hồn bỗng thấy êm ả hơn.

    – “Tính dân tộc luôn hiện diện trong âm nhạc của ông. Đây là điểm hết sức đặc biệt.

    “Mỗi lần chúng tôi thu thanh nhạc của Lê Văn Khoa thì luôn nhận thấy tiết nhịp và tính chất rất riêng trong âm nhạc của ông.

    “Mọi chi tiết trong âm nhạc của ông thật rõ ràng nên khi làm việc với ông thì thật khoan khoái. Việc thu thanh tác phẩm của nhà soạn nhạc Việt Nam (mặc dù ông đang sống tại Mỹ) đã giúp đưa hai dân tộc Việt Nam và Ukraine gần lại với nhau.

    “Dường như chẳng hề có khoảng cách thời gian, năm, mười năm giữa các cuộc gặp gỡ của chúng tôi với nhà soạn nhạc, bởi vì âm nhạc của ông đã gắn kết tâm hồn chúng tôi. Tất cả các nhạc sĩ chúng tôi luôn luôn hào hứng tham gia vào việc thu thanh nhạc của ông.”

    YuriPogoretsky là nhạc sĩ độc tấu Cello chiếm nhiều giải thưởng quốc tế và là thành viên của ban Kyiv String Quartet, Ukraine, từng trình diễn khắp Âu châu.

    “Tôi xin có đôi lời về một con người tuyệt vời, là nhà soạn nhạc tài danh Lê Văn Khoa. Chúng tôi đã làm việc với nhau từ năm 2005. Có một điều quan trọng trong những sáng tác của ông: Ông rất giỏi về ngôn ngữ âm nhạc. Đó là thứ ngôn ngữ không biên giới.

    “Ngôn ngữ âm nhạc của ông rất rõ ràng và dễ hiểu, nhờ đó hai quốc gia Ukraine và Việt Nam gặp nhau. Vì vậy, chúng tôi đã thu thanh các tác phẩm của ông. Tôi muốn nhắc tới một đoản khúc đã thu thanh có tên “Ký Ức”. Là một nhà soạn nhạc, ông ấy rất nhạy cảm với các nhạc cụ – trong trường hợp này là đàn Cello. Điều này thể hiện cả trong phần nhạc độc tấu và bản tổng phổ của ông.

    “Tôi rất vui mừng và đầy ấn tượng về những nhạc khúc chúng tôi đã thu thanh tại phòng thu của Kyiv. Một dàn nhạc quy mô là Kyiv Symphony Orchestra được dùng để thực hiện dự án này. Cho tới tận hôm nay, tôi vẫn thấy ấm lòng mỗi khi nhớ lại thời khắc ấy, công việc ấy, tình thân ấy, và dĩ nhiên, những dòng nhạc tuyệt diệu ấy.”

    Irina Starodub là thần đồng âm nhạc Ukraine. Năm 14 tuổi đã đi trình diễn vòng quanh nước Pháp, đã từng chiếm giải thưởng trong cuộc thi tài bên Nga, hiện là giáo sư Piano cho nhạc viện National Tchaikowsky Conservatory ở thủ đô Kyiv, Ukraine.

    “Thật thích thú được là bạn của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Tôi đã trình diễn nhiều nhạc phẩm đa dạng tuyệt vời của ông, khi đơn tấu, lúc độc tấu với dàn nhạc và song tấu với piano.

    “Tôi đã thu thanh toàn bộ đĩa CD Piano của ông ở Mỹ. Với tôi, đó là vinh dự lớn lao bởi vì nhạc của ông thật ấm áp, nhân hậu và sâu thẳm.

    “Tôi đã cố gắng truyền đạt cho khán giả Ukraine và Hoa Kỳ (tôi muốn nói, những người Mỹ gốc Việt) về tấm lòng cao thượng của ông Khoa và tình yêu ông dành cho đất nước của ông. Nhạc của ông thật du dương, thật đẹp và chứa đầy nỗi u hoài thương nhớ quê hương. Đó là những gì tôi nghe và cảm nhận được trong những nhạc khúc của ông.

    “Tôi xin cảm ơn đất nước Việt Nam đã “sinh ra” một nhà soạn nhạc tuyệt vời. Thông qua âm nhạc của ông, chúng tôi hiểu thêm tâm hồn của các bạn, bản chất, lòng tốt, vẻ đẹp của các bạn bằng sự rung cảm rõ ràng và sâu xa.

    “Tôi hy vọng sự hợp tác giữa Ukraine và Việt Nam sẽ ngày càng phát triển và cải thiện theo thời gian. Nhờ các dự án âm nhạc như vậy và nhờ nghệ thuật, chúng ta sẽ đến gần nhau hơn và tìm thấy các giá trị chung.

    “Các bạn Việt Nam thân mến, tôi chân thành cảm ơn vì đã vinh dự gặp tận mặt ông Lê Văn Khoa và qua các tác phẩm của ông, tôi biết thêm chút ít về nền văn hóa tuyệt diệu của các bạn. Đối với cá nhân tôi, đó là một điều mới mẻ và tôi muốn nói những lời cảm ơn đến tất cả các bạn vì văn hóa của các bạn quá trong sáng, đầy màu sắc, tinh tế và là nguồn cảm hứng tuyệt vời cho chúng tôi.”

    Bên trên là một số ghi nhận nét nhạc theo khuynh hướng Tây phương của tôi. Nhớ lại ý niệm ngày xưa, tôi vói qua khía cạnh dân nhạc Ukraine.

    Violetta Dutchak là Tiến Sĩ Nghệ Thuật, Tiến Sĩ Văn Chương, Giáo Sư Khoa Trưởng Phân Khoa Âm Nhạc và Nhạc Khí Dân Tộc, trường Đại Học Quốc Gia Prykarpattya (Vasyl Stefanyk Precarpathian National University). Bà đã đi xe lửa 8 tiếng đồng hồ từ trường học ở miền Tây đến Kyiv để gặp Lê Văn Khoa vài tiếng đồng hồ rồi lên xe lửa trở về trường mất 8 tiếng đồng hồ nữa, cho kịp giờ dạy hôm sau.    Bà nói:

    “Tôi sống tại thành phố Ivano-Frankivsk (miền Tây Ukraine). Tôi là một nhạc sĩ chuyên về đàn Bandura, đồng thời giảng dạy và nghiên cứu về đàn này. Đối với tôi, nghệ thuật đàn Bandura vừa là bộ môn trình diễn nghệ thuật vừa là chuyên ngành nghiên cứu khoa học.

    Lê Văn Khoa và Tiến Sĩ Violetta Dutchak

     “Mấy năm trước, qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Kateryna Mironyuk, tôi nhận được một số nhạc phẩm của nhà soạn nhạc Việt Nam Lê Văn Khoa. Đó thật là một khám phá mới lạ, một cú sốc văn hóa. Từ trước tôi cứ ngỡ chỉ có âm nhạc Ukraine đặc biệt cho đàn Bandura mới thích hợp để trình diễn theo phong cách âm nhạc Tây Phương. Nhiều bản nhạc Tây Phương đã được viết lại để trình tấu với đàn Bandura nhưng tỏ ra không thích hợp với nhạc cụ này. Vậy mà những bản nhạc của Lê Văn Khoa đã vượt qua được thử thách ấy và trở thành những bản nhạc bổ túc cho các nghiên cứu khoa học của tôi.

    Bìa sách Lịch sử về sư phát triển Âm nhạc Ukraine
    trong Thế Kỷ XX và đầu Thế kỷ XXI

    “Nghệ thuật của Lê Văn Khoa là sự kết hợp giữa âm nhạc Âu Châu và âm nhạc Đông Phương.  Trước tiên, tôi rất kinh ngạc bởi cách sử dụng được sắc điệu rất riêng của đàn Bandura. Sắc điệu là một trong những đặc tính chủ yếu của nhạc cụ này bởi vì đàn Bandura khởi thủy là loại đàn 7 nốt, nó tạo nên những âm sắc đặc biệt cho âm nhạc Ukraine.Vậy mà ngũ cung (pentatonic) và những âm giai lạ lùng với chúng tôi lại được Lê Văn Khoa áp dụng vào trong những bản nhạc soạn cho đàn Bandura để trình tấu trong dàn nhạc giao hưởng. Những bản nhạc ấy là bước đi tiên phong trong việc kết nối và giúp cho các nền văn hóa giao thoa với nhau.

    Text Box: Bìa sách Lịch sử về sư phát triển Âm nhạc Ukraine trong Thế Kỷ XX và đầu Thế kỷ XXI“Ngày nay, người ta thường nói về việc “tổng hợp” các nền văn hóa. Nhưng trong luận án của tôi, tôi dùng chữ “hội tụ”.  Đó là sự thâm nhập sâu xa những yếu tố văn hóa đã kết hợp một cách tự nhiên từ trước. Đối với tôi, những bản nhạc soạn cho đàn Bandura của Lê Văn Khoa quả là biểu tượng cho sự hội tụ này, cho sự kết hợp các quốc gia lại với nhau.

    “Nói chung, một nhạc khí nói lên tính cách văn hóa của một quốc gia, một dân tộc, đó là dụng cụ thể hiện cảm tình và một số những sở thích nội tâm. Khi chúng tôi trình diễn những bản nhạc của soạn giả Việt Nam với đàn Bandura thì chúng tôi có cơ hội được hiểu biết và thông cảm với dân tộc Việt Nam.”

    Taras Stolyar là Nhạc Sĩ đàn Bandura, một Nghệ Sĩ Ukraine từng được giải thưởng. Ông là Nhạc Trưởng dàn Bandura trong Ban Nhạc Khí Dân Tộc Hàn Lâm Quốc Gia Ukraine. Ông nhận xét về kỹ thuật viết nhạc của Lê Văn Khoa cho đàn Bandura như sau:

    “Tôi được vinh dự thực hiện một trong những nhạc phẩm của ông Lê Văn Khoa. Chúng tôi vừa thu thanh bài “Lý Ngựa Ô” do ông viết cho đàn Bandura với dàn nhạc giao hưởng. Tôi phải nói rằng sự hợp tác này hết sức thú vị. Âm nhạc của ông hoàn toàn khác với những gì chúng tôi dùng trước đây với đàn Bandura.

    Taras Stolyar

    Text Box: Taras Stolyar“Đàn Bandura ngày nay được kể là “đồ cổ” trong nhạc khí thế giới. Qua sự cộng tác giữa chúng tôi, các tấu khúc của nhạc sĩ Lê Văn Khoa (ông đã viết nhiều tấu khúc cho đàn Bandura) rất có giá trị cho lịch sử của đàn Bandura nói chung. Khi tấu lên những cung điệu khác, đàn Bandura đã tiến đến một phong vị mới, một lịch sử mới. Thính giả quan tâm nhiều hơn. Đàn được nâng cấp cao hơn. Tôi nghĩ rằng khi đàn Bandura chơi những bản nhạc của các nước khác ta sẽ được nghe những thanh âm mới lạ như chưa bao giờ từng nghe trước đó.”

    Duyên Tiền Định (Phần 2)

    “With regards to the Composer Lê Văn Khoa, with great respect and gratitude for the development of cultural contacts between countries and peoples.”

    Professor Violetta Dutchak

    Vasyl Stefanyk Precarpathian National University

    Giáo Sư Dmytro Stepovyk, người có ba bằng Tiến Sĩ: Văn Chương, Nghệ Thuật và Tôn Giáo. Ông là tác giả sách nghệ thuật Mosaic. Hiện là giáo sư nhiều trường đại học ở Kyiv, Ukraine và New York, Hoa Kỳ.

    Trong một cuộc phỏng vấn thu hình năm 2017, ông đã hé lộ bí ẩn nằm bên sau cái duyên tiền định của Lê Văn Khoa với nhạc sĩ Ukraine và rộng hơn, những điểm tương đồng của Việt Nam Cộng Hoà và Ukraine? Mời qúi vị xem tiếp và nhận định.

    “Ukraine và Việt Nam thuộc các nền văn minh khác nhau. Về mặt địa lý, chúng ta cách nhau hàng ngàn cây số. Nhưng có một thứ kết nối chúng ta với nhau, đó là nền văn hóa và văn minh của chúng ta đều cổ kính. Dĩ nhiên, Đông Nam Á đạt văn minh sớm hơn. Chúng tôi coi văn minh Ukraine bắt đầu từ sự xuất hiện của Đấng Christ, bởi vì Ukraine và đặc biệt Kyiv, đã được chính vị tông đồ đầu tiên của Đức Chúa Jêsus Christ đến thăm. Vị ấy là sứ đồ Andrew. Thậm chí ở đây chúng tôi gọi ông là Người Đầu Tiên Được Ơn Kêu Gọi, vì ông là vị tông đồ đầu tiên được Chúa Giê-Su kêu gọi. Vì vậy, chúng tôi gọi nhà thờ Ukraine là Apostolic (Nhà Thờ Thánh Tông Đồ). Trên thực tế, lịch sử Ukraine hiện đại đã phát triển trong những điều kiện khó khăn. Nước tôi nằm giữa khu vực địa lý của châu Âu.

    “Nếu Việt Nam được bảo vệ bởi một bên là đại dương và bên kia là các ngọn núi hùng vĩ với các khu rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới, thì Ukraine mở ra cả hai phía. Vì điều này nên chúng tôi có một lịch sử rất khó khăn. 40% trong tổng số đất đai màu mỡ trên thế giới được tìm thấy ở Ukraine. Dân số của chúng tôi chỉ có 40-45 triệu người. Theo ước tính của các chuyên viên nông nghiệp, đất Ukraine có thể “nuôi” được một tỷ người; một phần bảy dân số thế giới.

    “Tạ ơn Chúa, cuối cùng từ hai mươi năm qua, chúng tôi không còn là nước thuộc địa. Chúng tôi đã bị cai trị bởi các người khác nhau, người Mông Cổ thế kỷ 13, người Ba Lan (hàng xóm của chúng tôi) và cuối cùng là người Moskal (tức là người Nga). “Rus” là tên Ukraine một thời nhưng đã bị người ta (Nga) cướp mất.

    “Tạ ơn Chúa, không có quốc gia lân cận nào của các bạn, không phải Lào, Campuchia, cũng không phải Trung Quốc, Đài Loan, hay Indonesia dám xóa đi cái tên nước đẹp đẽ của Việt Nam. Tôi tin rằng tên này có nguồn gốc rất cao quý.

    “Điều gì làm chúng ta giống nhau?

    Ca Sĩ Ngọc Hà trình diễn dân ca Việt Nam tại Ukraine

    “Nếu nền văn minh của chúng ta bắt đầu từ cùng một mốc thời gian, thì điều gì khiến chúng ta gặp gỡ nhau? Tôi vô cùng hạnh phúc khi năm 2012 nhờ qua Taras Myronyuk, nhạc trưởng của dàn hợp xướng và dàn nhạc Kyiv Symphony Orchestra, tôi được gặp một người tuyệt vời, nhạc sĩ Lê Văn Khoa, một người Mỹ gốc Việt, nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, tác giả những nhạc phẩm mang nét văn hóa Âu Mỹ kết hợp với giai điệu các ca khúc Việt Nam nổi tiếng.

    “Điều nào khác nữa khiến chúng ta giống nhau?

    “Chúng tôi thuộc về các nhóm sắc tộc khác nhau, chủng tộc Mông Cổ và Âu Châu. Tuy nhiên chúng ta có nhiều điểm chung.

    “Tôi nhớ lại lúc còn trẻ khi lần đầu tiên viếng thăm một nước tư bản là Na Uy. Ở thị trấn Northgamme trong viện Bảo Tàng Nhạc Cụ, bên cạnh nhạc cụ dân gian Na Uy, tôi thấy một cây đàn Bandura Ukraine. Nhạc cụ này được người Ukraine đem tới bởi vì họ không chấp nhận chế độ Cộng Sản do Nga áp đặt bằng những lời dạy của Engels và Marx. Chế độ đó không thuộc đất nước chúng tôi vì chúng tôi là dân tộc có lý tưởng dân chủ giống như dân tộc Việt Nam. Chế độ Cộng Sản ngày nay ở Việt Nam không phát xuất tự nhiên từ tâm hồn người Việt. Chính những điều này đã đưa hai quốc gia chúng ta đến với nhau bất chấp những khác biệt bên ngoài. . .

    “Ngày nay thế giới đang trải qua sự toàn cầu hóa, và chúng tôi rất hạnh phúc khi các bạn đến đây để thực hiện những tác phẩm tuyệt đẹp, trong đó Lê Văn Khoa đã sử dụng đàn Bandura – nhạc cụ Ukraine cổ nhất, có nguồn gốc từ đàn Kobza bằng cách thêm nhiều dây đàn hơn. Thật là một món quà tuyệt vời vì nhạc của Lê Văn Khoa giống như âm nhạc dân gian của chúng tôi.

    “Chúng tôi hiện đang vui mừng kỷ niệm hai mươi lăm năm nền độc lập. Liệu nước láng giềng Nga có thể sẽ tấn công chúng tôi chăng? Trong hai năm sau chiến tranh dưới thời Tổng Thống Poroshenko, Ukraine đã nâng cao khả năng quân sự để đối phó với các cuộc tấn công hung hăng. Điều đó cho thấy chúng tôi không chỉ có sức mạnh tinh thần và sáng tạo mà còn có cả sức mạnh cơ bắp. Chúng tôi có thể tự bảo vệ chính mình.

    “Tôi nhớ lúc còn trẻ, cuộc chiến bi thảm và đẫm máu giữa miền Bắc và Nam đang diễn ra tại Việt Nam. Thật không may, nền dân chủ đã không giành chiến thắng. Nhưng tôi thiết nghĩ sự phát triển của Việt Nam sẽ đạt đến thời điểm mà ý chí của các bạn rồi sẽ vượt qua sức mạnh của cái ác, và bắt đầu đi theo con đường các bạn đã bước đi trong những thế kỷ trước.

    “Lịch sử hiện đại của chúng tôi bằng cách nào đó đã vang vọng với lịch sử quốc gia tuyệt vời của các bạn.”

    Cái duyên tình tiền định giữa Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Ukraine đã bật mở từ lần gặp đầu tiên, tháng Hai, năm 2005, khi tôi qua Kyiv, Ukraine để thu thanh Đại Tấu Khúc Việt Nam 1975. Sự thân thiện và cởi mở giữa chúng tôi dường như đã có từ trước rất lâu mà không ai biết, thình lình hiển hiện từ những nốt nhạc đầu tiên khi dàn nhạc khởi tấu lần đầu. Nó hiện ra trong tiếng đàn, hiện ra trên nét mặt của các nhạc sĩ. Nó hàm chứa niềm vui kín đáo khi gặp lại cố nhân. Nhưng rồi hiện ra rõ hơn sau buổi dợt đầu tiên, lúc chúng tôi phải ra đường lớn để đón taxi.

    Phòng thu thanh quốc gia ở trên một ngọn đồi thấp, nhưng một người lạ phải đi lần đầu tiên, trong bóng đêm, trên mặt đất phủ tuyết đã đóng băng, không dễ đi chút nào. Cô Svyatoslava Semchuck, nhạc sĩ độc tấu violin bên trái, bà nhạc trưởng Alla Kulbaba, bên mặt, hai người hai bên sốc nách tôi, nâng tôi lên khỏi mặt đất để đi, tự nhiên như nâng người “em nhỏ” trong gia đình.  

    Trong thời gian thu thanh Symphony VietNam 1975, tôi bị đứng tim nhiều lần. Nhưng mối tình nào chẳng có những giây phút hồi hộp?

    Trong khi tổng dợt hành âm số 5 có tên “Trong Đêm Thâu”, khi cả ban nhạc yên lặng, rồi có tiếng nhạc thật êm, lạc lỏng, lần lần từ xa tiến tới. Lúc đó, một câu nhạc ngắn trổi lên. Thình lình có một nhạc sĩ đứng lên, quơ tay chận nhạc trưởng, nói lớn với giọng gay gắt. Nhiều nhạc sĩ khác đứng lên theo. Cả sân khấu ồn ào. Tôi đang ở trong phòng thu với chuyên viên âm thanh, không hiểu chuyện gì xảy ra vì tất cả những người lên tiếng đều dùng tiếng Ukraine. Tôi nghĩ không biết mình viết nhạc bết bát thế nào mà bị chống đối dữ vậy? Vì không hiểu tôi chỉ còn biết tiếp tục quan sát.

    Tôi thấy bà nhạc trưởng vừa nói, giọng ôn tồn, vừa lật qua lật lại những trang nhạc trong quyển tổng phổ của tôi. Sau đó các nhạc sĩ ngồi xuống và đàn tiếp. Có đoạn họ gằn tiếng đàn như trút cơn giận trong âm thanh. Thu thanh hành âm đó xong, các nhạc sĩ ra về. Tôi không dám ló mặt ra khỏi phòng thu vì sợ bị xỉ vả. Đến khi ông phó nhạc trưởng vào phòng thu, tôi hỏi thăm chuyện gì đã xảy ra. Ông cho biết nhạc sĩ phản đối vì có câu nhạc cộng sản quốc tế ca. Bà nhạc trưởng đã nghiên cứu nhạc trước nên hiểu câu chuyện trong âm nhạc và giải thích đây là bài nhạc về lịch sử Việt Nam. Nhạc kể cuộc chiến ở Việt Nam do cộng sản quốc tế xúi giục, nhưng sẽ bị chống trả mãnh liệt của quân dân miền Nam, trong đoạn nhạc sắp tới. Nghe vậy nên nhạc sĩ yên tâm ngồi xuống chơi nhạc tiếp. Nhạc sĩ bày tỏ: “Chúng tôi bị bắt chơi bài này cả đời và rất thù ghét nó, tưởng đâu thoát rồi, tại sao bây giờ bị chơi nữa?” Do đó khi trổi Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa, họ gằn phím đàn để thêm sự cương quyết cho tiếng nhạc. Qua sự việc này, ta thấy sự đồng cảm, đồng thuận của nhạc sĩ Ukraine. Nếu thu thanh ở một quốc gia khác, chắc chắn những rắc rối vừa rồi không xảy ra. Thêm một lần nữa duyên tình ẩn kín giữa Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Ukraine đã lộ diện. Họ chơi nhạc với cả tình lẫn lý.

    Một rắc rối khác xảy ra đang lúc tổng dợt hành âm số 6 của Symphony VietNam 1975. Lần này bà nhạc trưởng ra lệnh ngưng nửa chừng và chuyển qua bài khác. Tôi tái mặt, nghĩ thầm, không biết mình viết nhạc bị lỗi lầm quan trọng nào đây mà bà nhạc trưởng không cho chơi tiếp. Sau buổi thu thanh, bà nhạc trưởng hẹn tôi gặp riêng với bà hai hôm nữa.

    Đến ngày giờ hẹn, tôi gặp bà. Sau lời chào hỏi, bà lật nhạc từ quyển tổng phổ, hành âm số 6, “Trên Biển Cả”.  Bà nói: “Cần phải chỉnh lại hành âm này.” Tôi bối rối vô cùng. Làm sao có đủ thì giờ viết thêm phần nhạc mới để thay phần bị bỏ ra? Nhưng bà nhạc trưởng nói tiếp: “Nhạc lớn quá và kéo dài quá lâu. Không ai chịu nổi.” Tôi yên tâm. Không phải mình viết nhạc sai. Tôi nhớ lại phần đối thoại với thính giả sau buổi trình diễn tác phẩm này tại Trung Tâm Biểu Diễn Nghệ Thuật Orange County, năm 1995. Có một khán giả nêu ý kiến: “Âm thanh không đủ lớn để diễn tả chiến tranh.” Nhạc trưởng Edward Cumming trả lời: “Ông Khoa yêu cầu thêm 6 cái trống lớn, đặt rải rác trong khán giả, để khi bị pháo kích thì tất cả đồng loạt vang lên. Nhưng chúng tôi không chấp thuận.” Tôi nghĩ lại, họ không chấp thuận là đúng. Trong khi chỉ có một tiếng đàn bầu thật êm nhẹ tỉ tê, mọi người đang tập trung lắng nghe âm thanh nhỏ yếu, thật tình cảm, thình lình tiếng trống ầm vang khắp phòng nổi lên điếc tai, thì sẽ có chuyện gì xảy ra, nhất là nếu có người đau tim ngồi gần đó? Hôm nay, ở đây, hoàn cảnh tương tự!

    Tôi nhẹ nhàng nói: “Xin bà đề nghị.”

    Bà nhạc trưởng nói bằng tiếng Anh: “Tôi đề nghị cắt bỏ từ chỗ này…. đến chỗ này.”

    Tôi góp ý: “Tôi thấy không ổn vì câu nhạc bị phá và hòa âm bị cắt mất thình lình.”

    Bà vừa lật trang nhạc và bật nói bằng tiếng Ukraine mà không hề ý thức việc mình làm. Đó là phản xạ tự nhiên trong cơn bối rối. Nhưng bằng cách nào đó, tôi hiểu ý bà và đáp lời bằng tiếng Anh. Bà hiểu tiếng Anh nhưng đáp lại bằng tiếng Ukraine. Cuộc tranh luận kỳ quái như vậy kéo dài nhiều phút. Rốt lại chúng tôi đồng ý cắt bớt ba trang nhạc. Với âm nhạc, ngôn ngữ con người dường như không còn cần thiết nữa.

    Những bối rối của tôi chưa hết.

    Nhạc sĩ Aleksandr Dudar

    Có lẽ cảm thông với ý nghĩ thầm kín của tôi, một buổi chiều ông phó nhạc trưởng mời chúng tôi ra ngoài để giải khuây. Ông đưa chúng tôi đến một cơ sở mới. Ông mời mấy người trong phái đoàn người Việt ngồi nghỉ. Ông vào trong, dẫn ra một nhạc sĩ Ukraine với chiếc đàn accordeon, yêu cầu người nhạc sĩ chơi một bài nhạc để giúp vui chúng tôi. Nhạc sĩ chơi rất điệu nghệ. Hết bài nhạc, ông ấy xếp đàn lại để rời phòng. Ông phó nhạc trưởng giới thiệu với ông nhạc sĩ từng người khách lạ đã nghe ông đàn. Đến tôi, ông nói: “Đây là composer Khoa Lê.” Nghe đến composer, người nhạc sĩ trợn mắt, nói: “Composer à? Vậy thì tôi xin đàn thêm một bài nữa. Bài này do tôi sáng tác, tên là Ave Maria.” Ông ta dạo nhạc rồi cất tiếng hát với tất cả xúc động, đến rơi lệ. Tôi nghĩ ông ấy phải có một tâm sự đau lòng lắm. Khi nhạc sĩ đi khuất, ông phó nhạc trưởng nói nhỏ cho chúng tôi biết người nhạc sĩ ấy tên Aleksandr Dudar, là người hát dạo từ dưới tỉnh lên thủ đô, đi xin ăn ngoài đường phố. Ông ta đã tốt nghiệp âm nhạc từ Kyiv National Tchaikowsky Conservatory of Music. Có người rước ông về đây, cho ở tạm vài tuần lễ để ông ấy định tỉnh tâm thần trước khi trở ra ngoài đời. Tôi choáng váng. Một người hát dạo ăn xin ngoài đường phố là người đã tốt nghiệp nhạc viện danh tiếng quốc gia!

    Tôi nhớ lại việc Stalin dùng lời giả dối là cần sưu tập những sáng tác của người mù (những bài hát yêu nước) để in thành tập nhạc lưu lại cho hậu thế. Người Nga đã quy tụ được đến ba trăm người ăn xin mù lòa từ khắp Ukraine. Tập trung họ lại một chỗ rồi giết hết một lúc. Tôi tự hỏi: “Như vậy, trình độ âm nhạc của người dân Ukraine đến đâu? Mình có được phần nào sánh với họ không?”

    Trở lại hành âm cuối của Symphony VietNam 1975 là Ca Ngợi Tự Do. Trong hành âm này tôi cố ý dùng ban hợp ca Ukraine thêm vào với phần hòa âm riêng. Tôi muốn nhờ ban hợp ca Ukraine hát đệm để về cho ban hợp ca Việt hát chồng lên cho đầy.

    Khi tập dợt thì ban hợp ca tập riêng ở địa điểm khác với ban nhạc. Họ chỉ hát u ơ, không có giai điệu chính và không có âm thanh nào khác thì khó biết mình hát gì. Đến khi tổng dợt với ban nhạc để thu thanh, họ được hát với ban nhạc lần đầu. Nhờ hát chung với ban nhạc họ thấy phần nhạc đệm có âm sắc khác thường. Họ nói nhạc có sự thôi thúc và phấn khởi mãnh liệt nhưng họ không hiểu nghĩa của lời ca. Đang hát, họ ngưng, yêu cầu nhạc trưởng giải thích cho họ. Nhạc trưởng không biết tiếng Việt nên gọi tôi ra để giải thích. Khi được gọi, tôi không hiểu có việc gì xảy ra nữa đây, nhưng không né tránh được nên phải xuất hiện. Được biết ý họ, tôi nói tên bài hát là Ca Ngợi Tự Do. Chỉ cần chừng đó họ đã hiểu hết vì đã cảm với âm nhạc từ trước. Họ yêu cầu bài hát phải được dịch ra tiếng Ukraine để họ hát. Họ nói không phải chỉ người Việt Nam mới ưa chuộng tự do. Người Ukraine và cả người khác trên thế giới đều mong muốn tự do. Trước khí thế như vậy, tôi chấp nhận cho hoản thu thanh hành âm cuối để đưa bài Ca Ngợi Tự Do cho người dịch ra tiếng Ukraine. Thế là tất cả ca, nhạc sĩ đều ra về. Điều cảm động là tất cả ca, nhạc sĩ, nhân viên thu thanh, nhạc trưởng, không ai nhận một xu thù lao nào cho buổi thu thanh bất thành đó. Thế mới thấy tinh thần của ca nhạc sĩ Ukraine. Họ tuy nghèo, nhưng rất có tình. Với hành động ấy họ công khai xác nhận mối duyên thầm với Lê Văn Khoa. Và cuộc tình còn dài.

    Kyiv Symphony Orchestra and Chorus trình diễn bài “Ca Ngợi Tự Do

    Ngay đêm đó tôi dịch lời bài Ca Ngợi Tự Do ra tiếng Anh. Hôm sau ông phó nhạc trưởng đem bản nhạc và lời tiếng Anh đến nhờ người chuyên dịch các Opera Ý, dịch bài Ca Ngợi Tự Do ra tiếng Ukraine để ban hợp ca hát. Hai ngày sau thì thu thanh. Vì bài ca hoàn toàn mới nên ban hợp ca phải nhìn vào bài để hát. Tuy kém thoải mái, nhưng mọi người thỏa lòng.

    Nhạc trưởng Andrew Wailes của dàn nhạc The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra, Australia, nhận xét bài Ca Ngợi Tự Do như sau: “Trong hành âm cuối, ‘Ca Ngợi Tự Do’, nhạc dàn ra một bài hợp ca thật hay. Nhạc thật lộng lẫy, đồ sộ, thật vĩ đại. . . Nhạc thật hay, rất sắc xảo, tinh vi. . . .”

    Điểm ấm lòng và có dấu hiệu đồng cảm sau mấy ngày thu thanh của chuyến đi Kyiv, Ukraine lần đầu của tôi năm 2005, là các nhạc sĩ của Kyiv Symphony Orchestra and Chorus yêu cầu bà nhạc trưởng xin tôi để nhạc lại cho họ chơi. Phải chăng cái duyên giữa Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Ukraine đã đến lúc lộ rõ. Phải chăng nét nhạc của tôi đã nói lên được nỗi lòng âm thầm chịu đựng từ lâu của người Ukraine. Tôi tin phải có sự đồng cảm mà chỉ có người trong cuộc mới thấu hiểu. Nhờ đó mà từ năm 2005 đến 2017 tôi thực hiện được 5 CDs nhạc với Kyiv Symphony Orchestra, một CD nhạc Piano, một bài Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa với ban Quân Lễ Nhạc Phủ Tổng Thống Ukraine và nhiều bản nhạc rời.

    Một buổi chiều, sau khi thu thanh xong mấy bài nhạc, nhờ việc làm suôn sẻ nên buổi thu thanh được kết thúc sớm. Chúng tôi có khoảng trống vài tiếng đồng hồ, bà nhạc trưởng và 2 cô nhạc sĩ trẻ rủ tôi đi dạo phố với họ sau một ngày làm việc căng thẳng quá mức. Hai cô gái này tên Irina Starodub, giáo sư piano Nhạc viện Quốc gia, và Svyatoslava Semchuk, là giáo sư Violin của Nhạc Viện Quốc gia tại Kyiv.

    Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa

    Chúng tôi đi dạo trong công viên của khu đền kỷ niệm 10 triệu người bị Stalin bỏ đói cho chết hết trong hai năm 1932 và 1933. Tra internet tôi thấy dân số của toàn Ukraine lúc đó là 39 triệu 600 trăm ngàn người. Như vậy Stalin đã giết một phần tư dân số của toàn nước Ukraine.

    Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện về âm nhạc. Có một điểm kỳ lạ, năm 1933 là năm tôi chào đời.

    Đi dạo độ một tiếng đồng hồ, chúng tôi ra đón taxi trở về phòng thu thanh để làm việc tiếp.

     Nơi đây tôi được học một bài học về đẳng cấp trong giới nhạc cổ điển.

    Khi taxi tấp vô lề đường, cô Irina bước tới, mở cửa xe để mời tôi lên xe. Như đã nói ở phần trước, cô là một thiên tài âm nhạc. Năm 16 tuổi, cô đã đi trình diễn khắp nước Pháp, hiện là Giáo sư Piano cho Nhạc Viện Quốc Gia Tchaikowsky. Nhưng Irina bị cô Svyatoslava, người từng chiếm giải Quán Quân toàn Liên bang Sô Viết, từng chiếm giải thưởng quốc tế ở Đức, môn violin, Giáo Sư Violin của nhiều nhạc viện ở Ukraine, Đại Hàn và Nhật Bản. Cô gạt Irina qua một bên, để chính cô mời tôi lên xe. Tôi chưa kịp bước lên xe thì bà nhạc trưởng đến gạt Svyatoslava qua, bà mở cửa xe và mời tôi lên. Tôi nói cách gì cũng không thể để bà lên xe trước tôi. Tôi đành lên xe. Sau khi tôi ngồi an toàn rồi, bà đóng cửa xe cho tôi, bà và hai nữ nhạc sĩ lên ngồi ở phía sau.

    Khi xe chạy, tôi quay ra sau hỏi ba phụ nữ:

    “Tôi thấy có việc lạ, xin giải thích giùm tôi. Tại sao ở Hoa Kỳ thì đàn ông mở cửa xe mời phụ nữ lên xe trước rồi họ mới lên xe sau, ở đây tôi không thể mời ba vị lên xe được?”

    Bà nhạc trưởng trả lời một câu ngắn gọn, làm tôi suy nghĩ rất nhiều:

    “Because you are the composer.”

    Câu trả lời rất ngắn đó xác định vị thế từng người trong giới nhạc cổ điển Tây phương, nhưng quan trọng hơn, nó minh xác tôi là một người trong nhóm của họ. Cái duyên tiền định giữa tôi và nhạc sĩ Ukraine đã lộ rõ ra ở đây.

    Một cái duyên nữa là năm 2012, khi Vietnam Film Club nhờ tôi thực hiện một bài quốc thiều giá trị cho phim tài liệu về Quốc Kỳ và Quốc Ca của Việt Nam Cộng Hòa, tôi nghĩ ngay phải tìm một ban nhạc tầm vốc quốc gia mới xứng hợp. Nhờ duyên tình đã kết hợp với nhạc sĩ Ukraine từ năm 2005, và sau khi vượt mọi khó khăn vào giờ phút cuối, chúng tôi được Ban Quân Lễ Nhạc của Phủ Tổng Thống Ukraine trình diễn cho chúng tôi thu thanh và thu hình bài Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa. Duyên tình của chúng tôi càng kết chặt hơn.

    Trong một buổi họp mặt với nhiều Giáo Sư từ các trường nhạc lớn ở Ukraine, Tiến Sĩ Taras Myronyuk của Kyiv Symphony Orchestra nói trước mặt mọi người: “Ông Khoa ơi, tôi thấy có hai con người bên trong ông, một là Việt Nam, người kia là Ukrainian. Nhưng tâm hồn ông thuộc về Việt Nam.”

    Vâng, tâm hồn tôi mãi mãi thuộc về Việt Nam Cộng Hòa.

    Trong đêm cuối cùng ở Kyiv, năm 2017, có sự truyền cảm nào đó làm mọi người bịn rịn, không muốn chia tay. Tôi nói: “Đêm nay là đêm cuối cùng tôi ở Kyiv. Tôi chào từ biệt mọi người, vì sẽ không còn cơ hội để tôi qua Ukraine nữa.”

    Bà nhạc trưởng Alla Kulbaba êm ái góp ý: “Xin đừng nói cuối cùng. Chúng ta chờ xem, coi có việc gì xảy ra. . .”

    . . . Mấy năm sau, lúc 3:40 sáng (giờ Kyiv) ngày 24 tháng Hai 2022, Nga xua quân xâm chiếm Ukraine và tàn phá quốc gia này. Nếu duyên hội ngộ giữa Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Ukraine không còn tiếp được lâu dài, thì ít ra Việt Nam Cộng Hòa và Ukraine có điểm giống nhau: cả hai quốc gia cùng bị cộng sản sát hại. Nhưng điều quan trọng là hai quốc gia đã được thắt chặt bằng sợi dây vô hình: ban Quân Lễ Nhạc Quốc Gia thuộc Phủ Tổng Thống Ukraine đã trình diễn Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa. Hình ảnh và Âm thanh của việc này sẽ còn lưu dấu đến ngàn sau.                                                          

    Sergeant Taras Myronyuk *1

    *1- Tiến Sĩ Taras Mironyuk, Giáo Sư nhạc của National University of Culture and Arts, Phó Nhạc Trưởng Kyiv Symphony Orchestra and Chorus, người môi giới và tiếp sức Lê Văn Khoa để thực hiện 5 CD nhạc với Kyiv Symphony Orchestra từ năm 2005. Hình chụp mùa Thu năm 2022.

    *2 – Khi Nga tấn công Ukraine lúc 3:40 sáng (giờ Kyiv) ngày 24 tháng Hai năm 2022, tiến sĩ Taras đưa vợ con về quê ngoại ở Tây Ukraine, sát biên giới Ba-Lan, ông trở lại Kyiv, nhập ngũ để bảo vệ quê hương với cấp bực khiêm nhường: Đội Trưởng. Hình chụp mùa Đông năm 2022. Taras là người cao hơn hết, đứng giữa.

    Lê Văn Khoa

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    Đoạn Trường Tân Thanh: tác phẩm tư tưởng của Việt Nam và của nhân loại

    Giá trị “Đoạn Trường Tân Thanh’ trước nay đã được nói nhiều về mọi lãnh vực : nghệ thuật, đạo đức, nhân đạo, triết lý, tâm lý, lịch sử, xã hội, chính trị,…Nhưng, theo người viết, tất cả những giá trị đó mới chỉ là những phần ‘ngoại diện’ hay chỉ là những cái đến sau, mặc nhiên đến, những cái cục bộ, từng phần tất yếu nằm sẵn trong cái ‘chung cùng’ bao quát toàn diện, toàn trình’ mà Nguyễn Du muốn phổ vào tác phẩm. Cái ‘chung cùng, bao quát, toàn diễn, toàn trình’ đó là cái gì ? Xin thưa, đấy là tư tưởng Nguyễn Du được gởi vào tác phẩm và vì thế, nên, theo người viết, ‘Đoạn Trường Tân Thanh là một tác phẩm tư tưởng”.

     Theo Nguyễn Thùy Đoạn Trường Tân Thanh không chỉ là tác phẩm của riêng dân tộc Việt Nam mà còn là của chung nhân loại vì đề cập đến mọi thắc mắc của chung nhân loại xưa nay. Câu hỏi đặt ra: Do đâu có thể bảo “Đoạn Trường TânThanh” là tác phẩm tư tưởng?

    1. Trước tiên do nhan đề tác phẩm: từ Cựu Thanh sang Tân Thanh.
    2. Tại sao Nguyễn Du đặt tên cho tác phẩm là Đoạn Trường Tân Thanh?

    Dân gian thường gọi tắt Đoạn Trường Tân Thanh là Truyện Kiều. Nhiều bản in ấn do các học giả hoặc do cả các cơ quan Văn hóa, Giáo dục đôi khi cũng lấy tên là “Truyện Kiều” và cũng không mấy để ý lý do nào Nguyễn Du đã đặt tên cho tác phẩm phóng tác của mình là Đoạn Trường Tân Thanh. Từ ngữ Đoạn Trường Tân Thanh có thể hiểu theo hai cách.

    1. Trước tiên là “Tiếng kêu mới (làm) đứt ruột“. Nếu hiểu như thế thì chỉ giới hạn nơi câu truyện về cuộc đời Kiều thôi, như thế sẽ không đúng với nội dung tư tưởng của tác phẩm, vì nếu bởi đoạn trường mà Kiều trải chịu cảnh hồng nhan bạc mệnh thì chưa hẳn những đoạn trường cùng cực nơi cõi trần. Trong cuộc sống thực tại, Kiều không chỉ hoàn toàn bị vùi dập nơi đoạn trường bi thảm, mà cũng có khi nàng đã hưởng bao sung túc, vinh quang.
    2. Theo cách hiểu thứ hai: Đoạn trường nghĩa là đau khổ và Tân Thanh là “tiếng mới” mà “tiếng” là “âm thanh” Tân Thanh là “Tiếng kêu mới của con người về đau khổ“.

    Ngôn ngữ, theo nghĩa phổ thông là ‘’hệ thống dấu hiệu dùng làm phương tiện truyền đạt, thông giao’’ (1). Theo Martinet: ‘’Ngôn ngữ là quan năng của con người thông giao với nhau bằng âm hiệu’’ (2). Định nghĩa theo hai cách trên là căn cứ trên cái “Dụng” thông thường của ngôn ngữ. Hiểu ở bình diện cao hơn, theo thể điệu M. Heidegger: ‘’Ngôn ngữ là ngôi nhà của Đạo Thể. Trong ngôi nhà đó, con người cư ngụ. Những nhà tư tưởng và thi sĩ là những người canh giữ chỗ cư ngụ đó. Sự canh giữ của họ là công trình viên đạt mối hiển lộ của Đạo Thể ; qua thể điệu và cách nói của họ, họ mang chở mối hiển lộ đó vào ngôn ngữ và bảo lưu nó trong ngôn ngữ’’ (3). Hiểu như thế, thì chính ngôn ngữ làm hiển lộ Đạo Thể (hay Tính thể) nơi hiện thể. Đạo Thể được hiểu là ‘’uyên nguyên sinh thành vạn hữu và cư ngụ nơi mỗi thứ hiện hữu (mỗi hiện thể, mỗi pháp) để đưa vạn hữu trở lại với mình’’. Đạo học Đông Phương đã bảo : ‘’Vạn vật đồng nhất thể, Vạn hữu bản lai đồng’’ và ‘’Tất cả khởi đi từ Một để trở về trong Một’’. Kinh sách Phật giáo, Ki-Tô giáo cũng nói như thế (xin không dẫn chứng để tránh dài dòng). Theo M. Heidegger, chỉ riêng nhà tư tưởng và thi sĩ mới nghe ra và viên thành sự hiển lộ của Đạo Thể qua ngôn ngữ.

    Nhưng ngôn ngữ không chỉ Tiếng và Từ, Lời và Câu, Vần và Điệu mà là Cách Nói (le Dire) của họ. Cách nói của nhà Tư tưởng và thi sĩ thể hiện cách nói của Tư tưởng (le dire de la pensée) nghĩa là cách thể hiện của tư tưởng vào hoạt sinh, vào cõi tại thế. Theo Parménide, ‘’tư tưởng và Đạo thể là một’’ (4). Theo Đạo học, Đạo Thể là cái Nguồn gốc sinh thành vũ trụ. Cái nguồn gốc đó thể hiện nơi cõi thế gian qua tư tưởng và tư tưởng được giải bày qua ngôn ngữ tức cách nói của nhà tư tưởng và thi sĩ.

    Cách nói của Nguyễn Du qua Đoạn Trường Tân Thanh chính là ngôn ngữ Nguyễn Du và ngôn ngữ Nguyễn Du qua tác phẩm nầy, diễn đạt ‘’tiếng kêu mới về đoạn trường’’ tức ‘’cái nhìn mới’’, cái ‘’Ý nghĩa mới của đau khổ’’ về cuộc đời, về hiện hữu tại thế, có khác với cái nhìn cũ, cái “nhìn cựu thanh” xưa nay . Do đó mà ông đặt tên cho tác phẩm là ‘Tân Thanh.

    Đoạn Trường Tân Thanh là Tiếng kêu mới về đoạn trường. Tiếng đoạn trường mới không là tiếng than khóc mới mẻ hay một đoạn trường mới nào khác tiếp theo cái đoạn trường đã có mà là cái nhỉn mới về đoạn trường. Cũng là cuộc sống bi đát của Kiều, cũng là tấm thân trôi nổi, bèo bọt của Kiều -của kiếp người nói chung- nhưng Thanh Tâm tài nhân cũng như mọi người xưa nay đã nhìn theo cái đoạn trường cũ, cái đoạn trường cựu thanh; Nguyễn Du đã nhìn ra cái tiếng mới trong cái cũ đó. Từ cái nhìn cựu thanh’ về đau khổ, Nguyễn Du đã nhìn ra cái tân thanh của đau khổ để phóng tác Kim-Vân-Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân thành Đoạn Trường Tân Thanh.

    Cuộc sống vốn khổ, cuộc đời vốn khổ, nhà Phật đã bảo thế, triết lý Đông Tây cũng bảo thế, hiện thực cuộc sống, cuộc đời từng người, từng dân tộc, quốc gia và chung cho cả nhân loại đã minh chứng điều đó. Cái khổ, cái đoạn trường muôn đời xưa nay vẫn thế: bịnh tật, nghèo nàn, nợ nần, thất nghiệp, thất tình, thất chí, bị coi thường, dèm pha, phỉ báng, đó kỵ, khinh khi, bị bóc lột, bị chà đạp oan ức, bị hạ nhục, bị tù tội, bị hành thân hoại thể, bị bắt làm tôi đòi, nô lệ, không nguồn cảm thông, không nơi nương tựa, sống vô gia cư, chết vô địa táng, bị bắt buộc phải làm trái ý mình, bị đẩy vào đường cùng thế bí, con gái phải kiếp giang hồ, con trai phải vòng lao lý… nghĩa là mãi mãi lo lắng, hãi hùng, buồn đau, bi lụy, thấp thỏm, bồn chồn cho cuộc sống bây giờ và ngày tới.

    Cuộc sống nào rồi cũng lẩn quẩn mãi trong một tiết điệu hao mòn, tê tái: sinh ra, lớn lên, làm việc, học hành, đấu tranh, cưới vợ, gả chồng, sinh con đẻ cái, hoạt động mưu sinh, hiến mình cho lý tưởng, buông tuồng theo khoái lạc, ví đuổi phương tiện, thời trang, mưu giàu, mưu lợi, mưu sự nghiệp, công danh, tiếng tăm, hạnh phúc… vui phút chốc, buồn triền miên, thành công ngắn ngủi, thất bại não nề, sướng khổ, buồn đau liên tục… rồi già nua, chết chóc, từ thời ông tằng, ông tổ đến đòi cha, đời mẹ, đời con, cháu, chắt, chít… bao giờ cũng thế, cũng thế!

    Ngay cả những kẻ đã thành công một thời, uy thế, tiếng tăm lẫy lừng một thuở, lúc tuổi đời bóng xế có sống thong thả yên vui, có được mọi người nhắc đến, hâm mộ kỳ công, thành tích; lúc chết có được bao khách thập phương đưa đón, điếu tang với nhiều vòng hoa tưởng niệm, thì, thật ra, lúc bóng ngả tà huy, không khỏi lạnh buồn, u uẩn trong hoài cảm ngày qua và trong nhạt nhòa hiện tại. Nhất là lúc nhìn thành tích mình đã bị vượt qua, lúc kỳ công của mình ít nhiều bị phủ nhận, lúc thời thế đổi thay, trào lưu chuyển khác rồi đếm tuổi cuộc đời không khỏi tư lự, buồn đau, u hoài lênh đênh phơ phất trong ‘nỗi buồn tại thế’ không nguôi, nhất là kiểm điểm lại bao lỗi lầm đã gây ra cho cha mẹ, vợ con, đồng bào, đất nước, quê hương, luân thường, đạo lý… rồi ân hận, dày vò. Chính vì thế mà người ta thường quan niệm cuộc sống, cuộc đời là bể khổ, là hí trường phù du, tạm bợ, giả hoặc, vô thường, là giấc mộng, cơn mơ, mối nợ, sống là gởi, thác là về…

    Vâng, cuộc sống, cuộc đời là những thể hiện đó, không sai, nhưng do đâu, tại sao, để làm gì, dẫn về đâu thì chưa có lời giải đáp. Nguyễn Du đã giải đáp những thắc mắc đó.

    Tân Thanh nơi Nguyễn Du là‘ngôn ngữ mớ’, và‘ngôn ngữ mớ’ nơi đây là‘cái nhìn mớ’, cái ý nghĩa mới của đau khổ. Cũng những đau khổ đó nhưng trước nay người ta nhìn theo cái nhìn cũ, cái đoạn trường cựu thanh, cho đấy là những cái dĩ nhiên, những cái tất định, không thể nào thoát ra được vì không đau khổ nầy thì đau khổ khác, có thay đổi bộ mặt, thay đổi mức độ, tính chất nhưng chung quy vẫn là đau khổ. Mượn tất cả những đoạn trường cựu thanh của Kiều, của Hoạn, của Kim Trọng, Từ Hải, Thúc Sinh, của Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh (ngoại trừ Vãi Giác Duyên và Sư Tam Hợp), Nguyễn Du muốn đưa dẫn chúng ta về một cái ‘nhìn mới về đau khổ nên đặt tên tập truyện là Đoạn Trường Tân Thanh. Cái nhìn mới đó, nói theo nhà Phật là ‘’Phiền não là Bồ đề, Khổ đau là Giải thoát’’. Cái nhìn mới về đau khổ đó cũng được Jésus nói đến qua bài giảng trên núi vê Tám Mối Phúc, miễn là biết ‘’Trăm năm để một tấm lòng từ đây’’ như Kiều.

    * Lý do Nguyễn Du phóng tác “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân. Thúy Kiều, Kim Trọng từ lúc ‘’Tiên thề cùng thảo một chương,…trăm năm tạc một chữ đồng đến xương’’ thì cuộc tình hai người xem như hoàn hảo, tốt đẹp vô cùng. Hai người, trong tâm thức, đã là một, tuy chưa chăn gối cũng vợ chồng. Nhưng rồi, cuộc đời oái oăm bẻ gảy tình duyên đôi lứa. Kim Trọng phải về Liêu Dương hộ tang chú; Kiều phải bán mình chuộc cha. Mười lăm năm không gặp lại, mười lăm nam cả hai sống trong tưởng nhớ, ngậm ngùi.

    Mười lăm năm sau, tái hợp, ‘’mười lăm năm mới bây giờ là đây’’ và ‘’động phòng dìu dặt chén mồi’’ nhưng ‘’Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm’’. Cả hai cùng có bên nhau, cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan, nhưng chưa hẳn là tình chồng vợ. Kết cục của câu truyện đã khiến Nguyễn Du chú ý vì hợp với tư tưởng ‘’Thiên tuế trường ưu vị tử tiền’’(câu thơ chữ Hán của ND : Trước khi chết vẫn lo nghĩ, ưu tư chuyện nghìn sau). Chính vì thế Nguyễn Du phóng tác Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân mà không phóng tác một tác phẩm nào khác trong vườn Văn học Trung Hoa cũng như không sáng tác một truyện nào tương tự dù ông biết cuộc sống truân chuyên, chìm nổi của bao hồng nhan bạc phận.

    Chính cái nhìn mới về đoạn trường và kết thúc của câu truyện- Nguyễn Du đã phổ vào cho Truyện Kiều hai tư tưởng sau đây :

    1. Sống là đau khổ nhưng chính cái đau khổ của cuộc sống, cuộc đời sẽ giải thoát ta khỏi đau khổ. Diễn tiến nhân sinh sẽ đến thời điểm chấm dứt đoạn trường và bao nhiêu lý do, điều kiện, sự vụ con người tạo đau khổ tội lỗi cho nhau sẽ chấm dứt để mở ra một cảnh giới hay một trạng thái sống mới không còn đau khổ nữa. Điều nầy, Nguyễn Du đã nói qua Đạm Tiên –hình ảnh cuộc đời đau khổ- lúc nàng bảo với Kiều vừa được vãi Giác Duyên vớt lên từ sông Tiền Đường : ‘’Đoạn trường sổ rút tên ra, Đoạn trường thơ phải đem mà trả nhau’’ để từ nay cuộc sống, cuộc đời hoàn toàn sung sướng với ‘’Duyên xưa đầy đặn phúc sau dồi dào’’.
    2. Tài và Mệnh không còn đố kỵ, tương khắc, tương xung mà hài hòa, hảo hợp nhau. “Tài’ là tài sức, khả năng từng người để lo cho cuộc sống riêng của mình ; “Mệnh” là cuộc đời tức cuộc sống là “môi trường xã hội”, là “cõi người ta” (trăm năm trong cõi người ta). Không nên hiểu Mệnh là số mệnh, định mệnh. Sự tranh chấp, tưong xung giữa tài và mệnh, giữa cuộc sống, cuộc đời, giữa cá nhân và xã hội sẽ đến thời điểm chấm dứt do diễn tiến tiến hóa của nhân sinh. Nguyễn Du đã tiên đoán, đã nhìn ra điều đó. Mở đầu tác phẩm bằng hai câu thơ nói lên tính cách đố kỵ giữa tài và mệnh: ‘’Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau’’, Nguyễn Du đã kết thúc tác phẩm bằng câu ‘’Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai’’ (câu 3246) tuy có mượn ý nhà Phật để lý giải về chữ Tâm.

    Nguyễn Thùy

    Phụ lục: Thi hào Pháp Victor Hugo, theo người viết, có lẽ cũng trong những cảm nhận như Nguyễn Du, đã báo biểu giờ chấm dứt mọi đoạn trường để nhân sinh được sinh thành trở lại (sống lại) trong một kỷ nguyên mới, trong một cảnh giới mới tức vào thời điểm ‘muôn vật đổi mới’ theo Thánh Kinh Ki-Tô giáo. Trong đoạn cuối bài trường thiên ‘Bên bờ Vô hạn’ (au bord de l’infini), thi hào đã viết :

    Tout sera dit. Le mal expirera, les larmes

    Tariront ; plus de fers, plus de deuils, plus d’alarmes ;

    L’affreux gouffre inclément

    Cessera d’être sourd, et bégaiera : qu’entends-je ?

    Les douleurs finiront dans toute l’ombre ; un ange

    Criera : Commencement !

    (Les Contemplations, nrf Poésie, Gall. Paris 2002, trang 407)

    Mọi điều sẽ được nói (5). Điều xấu cáo chung, lệ buồn

    Chấm dứt ; không còn xiềng xích, tù gông, tang ma, lo lắng

    Hố thẳm khắt khe không còn câm nín (mà) bâp bẹ ‘tôi nghe gì ?

    Đau khổ nhân sinh tan đi trong mọi vùng bóng tối

    Thiên sứ từ cao reo tiếng gọi mời :

    Khởi nguyên !

    _________

    Chú thích :

    1) Tout système de signes pouvant servir de moyen de communication – André Lalande : Vocabulaire technique et critique de la philosophie.

    2) Le langage est la faculté qu’ont les hommes de s’entendre au moyen de signes vocaux – Xem André Vergez và Denise Huissaman : Petie dictionnaire de la Philosophie, les abc du Bac.

    3) Le langage est la maison de l’Être. Dans son abri, habite l’homme. Les penseurs et les poètes sont ceux qui veillent sur cet abri. Leur veille est l’accomplissement de la révéabilité de l’Être ; en tant que par leur dire, ils portent au langage cette révéabilité et la conservent dans le langage – M. Heidegger : Lettre sur l’humanisme trong Questions III, Gall. Paris 1973, trang 74.

    4) C’est la même chose que penser et être – Xem La pensée grecque của Léon Robin, édt. Albin Michel, Paris 1973, trang 110.

    5) ‘sẽ được nói’ (sera dit) có nghĩa là ‘sẽ được giải bày, sẽ được trở thành hiện thực’.

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    Nhà văn Khánh Lan: “Con chọn ngành học, cha mẹ không nên áp đặt, mà chỉ góp ý”.

    Nhà văn Khánh Lan trong một lần ra mắt sách. (Hình: Khánh Lan cung cấp)

    Ký giả Đằng-Giao/Người Việt. April 10, 2023

    ANAHEIM, California (NV) – Trước sự lựa chọn ngành nghề của con cái, theo nhận định của nhà văn Khánh Lan, cha mẹ không nên trực tiếp hướng dẫn, nhưng nên can thiệp một cách khéo léo, tế nhị hơn.

    Nhà văn Khánh Lan tốt nghiệp cao học tâm lý xã hội tại đại học Cal State Fullerton năm 2002 và làm công việc cố vấn tâm lý suốt nhiều năm tại Orange County.

    Trong buổi phỏng vấn cùng Đằng Giao, nhà văn Khánh Lan chia sẻ “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó” ngày nay trở nên quá lỗi thời, bà nói: “Những em học sinh sanh ra bên này và được giáo dục theo văn hóa Tây Phương, được dạy dỗ về quyền tự do lựa chọn cho nên kiểu “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó” không còn thích hợp nữa. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên để các em tự tìm kiếm thông tin trên Internet hoặc chọn ngành học do sự ảnh hưởng của bạn bè. Vì như thế, các em có thể lựa chọn một ngành học không đúng với khả năng và ước vọng của mình.”

    Bà khuyên rằng, việc nói chuyện, trao đổi và tương tác giữa cha mẹ và con cái quan trọng hàng đầu. Và để tránh những chuyện đáng tiếc có thể xảy ra, bắt đầu từ năm con cái học lớp 10, gia đình có thể dần dần tìm hiểu thêm về khả năng và ước vọng của con em. Bà nói, “Hầu như tất cả các trung học đều có những buổi nói chuyện và hướng dẫn chọn ngành học cho các học sinh lớp 10. Trong thời gian này, cha mẹ cũng nên theo dõi việc học và xem con đuối về môn gì, có cần học thêm hay luyện thi để vào đại học hay không? Có cần xin học bổng, mượn tiền hay sự giúp đỡ của chính phủ hay không? Phần lớn, trung học nào cũng có văn phòng hướng dẫn việc này”.

    Chúng ta không nên kiểm soát sự lựa chọn của các em vì điều đó sẽ tạo nên một khoảng cách trong mối tương quan giữa cha mẹ và các em. Nó sẽ làm cho các em không muốn chia sẻ ý kiến của chúng trong bộ óc “tập làm người lớn” của các em, bà chia sẻ thêm.

    Bà nói: “Do đó, cha mẹ có thể khéo léo hỏi các em như, ‘Con có định học ngành nào chưa?’ hoặc ‘Con có thể kể cho cha mẹ nghe ý định của con không?” hay “Mẹ có thể làm gì để giúp con? v.v…’” “Mục đích của việc nói chuyện với con cái là điều tối quan trọng để biết được khả năng, sở thích cũng như ước muốn của chúng,” bà nhấn mạnh.

    Theo bà, muốn làm được điều này, không dễ mà cũng chẳng khó. Việc này đòi hỏi bậc cha mẹ phải kiên nhẫn lắng nghe cũng như cho phép và tôn trọng những phát biểu, chia sẻ, suy nghĩ, ý kiến của các em. Rồi từ đó, chúng ta sẽ nghiên cứu thêm tài liệu và sau cùng là giải thích, hướng dẫn các em phương cách chọn ngành học.

    Bà nhắc nhở: “Chúng ta nên nhớ rằng, các em học sinh sẽ dễ dàng đi đến thành công trong học đường cũng như đường đời khi chúng chọn đúng con đường mà chúng yêu thích.”

    Bà thêm: “”Áp đặt” con cái chọn ngành học là một việc làm tối kỵ mà chúng ta không nên làm. Trong quá khứ, sự áp đặt và so sánh con cái mình với những đứa con của bạn bè đã đưa đến những trường hợp bi thảm, chẳng hạn như các em tìm đến cái chết hoặc tự tay giết cha mẹ vì bị quá nhiều áp lực của gia đình.”

    Như vậy, cha mẹ chỉ nên góp ý thôi. Điều quan trọng là trước khi góp ý, cha mẹ phải nghiên cứu, thấu hiểu một cách mạch lạc về lãnh vực mà gia đình dự định thảo luận, theo bà Khánh Lan.

    Bà giải thích: “Thí dụ, một học sinh hội ý với cha mẹ rằng em muốn trở thành một kiến trúc sư, thì trước hết cha mẹ phải tìm hiểu xem con mình có thích học hỏi, nghiên cứu về các công trình kiến trúc trên thế giới, có khả năng sáng tạo, có kiên nhẫn hàng giờ để vẽ những họa đồ, có thích giao tiếp với mọi người, v.v… Một khi các em có đủ các tiêu chuẩn trên, cha mẹ mới bắt đầu đi sâu vào các lãnh vực như, môn học, chọn trường học kỹ thuật, chi phí học đường, kinh tế gia đình, thị trường, kiến thức, kinh nghiệm, v.v… và sau cùng là hướng dẫn và cung cấp cho học sinh này các dữ kiện, tin tức liên quan đến ngành học.”

    Bà cảnh báo: “Điều nên chú ý là phải khéo léo khi hướng dẫn các em, tránh việc “quan trọng hóa” vấn đề khiến các em hoảng sợ mà bỏ ý định và ước muốn của mình.”

    Bà cũng có đôi lời gởi đến các em học sinh, bà nói: “Các em nên kiểm điểm xem mình thích gì, làm việc gì khi ra trường. Từ đó, các em mới bắt đầu tìm hiểu và nghiên cứu về ngành mà mình muốn học.”

    Nhà văn Khánh Lan chia sẻ: “Ngành học nào cũng đóng góp nhiều ích lợi cho xã hội. Điều cần thiết là ngành học ấy có thích hợp với các em không và các em yêu thích ngành ấy không, vì đó là con đường dẫn đến sự thành công.”

    Ngoài ra, các em cũng nên biết thật rõ mọi vấn đề liên quan đến việc chọn và nộp đơn vào đại học nào và điều kiện xin học ra sao. Biết rằng các em đã biết nhưng bà vẫn nhắc thêm: “Các em nên nói chuyện với các giáo sư cố vấn trong trường hay những người có kinh nghiệm trong ngành mà các em chọn, để thấu hiểu rõ ràng những việc cần phải chuẩn bị. Nên biết càng sớm càng tốt về những quy luật để xin học bổng hay mượn tiền học như thế nào. Các em nên chia sẻ ý tưởng của mình với cha mẹ hay các vị cố vấn giáo dục.”

    Nhà văn Khánh Lan nói: “Ngành học nào cũng đóng góp nhiều ích lợi cho xã hội sau khi các em ra trường. Điều cần thiết là ngành học ấy có thích hợp với các em không và các em yêu thích ngành ấy không, vì đó là con đường dẫn đến sự thành công.” [đ.d.]

    Liên lạc tác giả: ngo.giao@nguoi-viet.com

    Inline image
  • Kiều My,  Sinh Hoạt

    MỘT CHUYẾN ĐI KHÓ QUÊN

    Chuyến du hành ngoạn mục: Las Vegas, Nevada, Grand Canyon và Phoenix, Arizona

    Buổi sáng thứ tư ngày 29 tháng 3 năm 2023, dưới cơn mưa tầm tã hiếm hoi của miền nam California; chúng tôi đã thực hiện một chuyến du hành thật ngoạn mục, mà chắc hẳn sẽ để lại dấu ấn thật sâu đậm trong ký ức của mọi người.

    Chúng tôi gồm hai nhóm: Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (Hoa Kỳ) cùng Văn Học Ninh Hoà (Việt Nam); đã nối vòng tay lớn từ nửa địa cầu xuyên qua Thái Bình Dương, để cùng nhau đi trên “hành trình của những tâm hồn nghệ sĩ yêu đời”.

    Bên ngoài trời vẫn mưa sướt mướt, ướt lạnh; nhưng trong xe buýt Four Season Travel, chúng tôi cảm thấy thật ấm áp tình người – Tình người cố hương và tình người viễn xứ. Chúng tôi không cảm thấy xa lạ, mà lại thật thân quen! Chúng tôi chia sẽ từng miếng bánh, từng chai nước, từng miếng trái cây chua ngọt. Cho nhau những nụ cười tươi vui trên những gương mặt hiền hòa. Trong khoảng không gian chật hẹp của xe buýt, tiếng đàn guitar của hai anh Ngọc Uẩn và Huỳnh Út hòa cùng các tiếng hát của các anh chị trong trong hai nhóm văn nghệ Tiếng Thời Gian và Ninh Hòa vang lên, nhịp nhàng, đáng yêu, khiến mọi người cảm thấy như tim mình đang rộn rã nở hoa. Phải chăng ban nhạc “cây nhà lá vườn“ đã khơi dậy tâm hồn nghệ sĩ vốn sẵn có trong các văn nhân thi nhạc sĩ hiện diện trên xe? Có phải âm nhạc là chất kích thích vô hình, không màu sắc, mùi vị…nhưng lại là một loại xúc tác thật mạnh đã mang mọi người đến gần nhau hơn, thân thiện nhau hơn…bởi những giai điệu quyến rũ mời gọi của âm nhạc.

    LAS VEGAS, MEVADA

    Con đường dài hun hút như rút ngắn lại, chẳng mấy chốc xe đã đưa chúng tôi tới địa hạt Las Vegas, thuộc tiểu bang Nevada khi trời đã xế chiều. Las Vegas, một thành phố không ngủ và nổi tiếng với những sòng bạc thâu đêm, một nơi vui chơi tráng lệ ưu đãi nhân loại cũng như niềm kiêu hãnh của những kẻ nhiều tiền lắm bạc. Las Vegas, một thủ đô ánh sáng, rực rỡ bởi những ánh đèn đủ màu khi màn đêm buông xuống.

    Old town Las Vegas. Từ trái sang phải: Lệ Hoa, Việt Hải, Ngọc Uẩn, Ngọc Hà và NS Lê Văn Khoa

    Trong nhóm chúng tôi có anh Mạnh Bổng là phu quân của NV Khánh Lan, trưởng nhóm du lịch kiêm “hướng dẫn viên du lịch”, rất xuất sắc, phối hợp cùng với Phương Anh thật nhịp nhàng. Anh Mạnh Bổng giới thiệu và dẫn giải về Casino Bellagio. Đây là một sòng bài nguy nga lộng lẫy với lối kiến trúc của Ý Đại Lợi, thu hút giới sành điệu cờ bạc. Điểm nổi bật của casino này là – lúc về đêm có màn trình diễn múa nước dưới ánh đèn lập lòe vô cùng thú vị. Nước tung toé lên theo điệu nhạc, theo ánh đèn…như những vũ công đang trình diễn những màn khiêu vũ lả lướt trên sân khấu nước.

    Casino Bellagio with water dancing show

    Vườn hoa Bellagio Casino mới đáng kể, hoa được thiết kế và trình bày theo từng mùa như xuân, hạ, thu, đông và từng kỳ lễ hội như Giáng Sinh, Tết Âm Lịch, Dương lịch, lễ Tình yêu, lễ Phục sinh, v.v… Đây là nơi thu hút rất nhiều khách thưởng ngoạn đến ngắm hoa và chụp những tấm hình lưu niệm.

    Từ trái sang phải: Phương Hiền, Kiều My, Khánh Lan, Cô Lê Thị Đào, Lệ Hoa

    Vườn hoa Bellagio Casino

    Mạnh Bổng, Khánh Lan, Việt Hải, Lệ Hoa

    Bên kia đường có Casino Paris với tháp Eiffel cao sừng sững ngạo nghễ, phô trương một biểu tượng ngàn đời của nước Pháp, như niềm tự hào của đất nước văn minh bật nhất lục địa già Châu Âu.

    Casino Paris với tháp Eiffel
    Bên trong của Paris Casino

    Paris Casino

    Thử thời vận với “đỏ đen”

    Bên kia là ngọn núi lửa nhân tạo, đang phun trào…tung lên cao những dòng nham thạch nóng đỏ, trông như một hỏa diệm sơn đang bừng bừng giận dữ, tạo nên cảm giác rờn rợn cho người xem. Còn rất nhiều Casino, chẳng hạn như Caesar, vô cùng nguy nga lộng lẫy. Trong đó có nhà hàng ăn uống sang trọng hay những khu dành riêng cho những người thích thử thời vận. Hấp dẫn nhất đối với phái nữ là đi shopping dưới bầu trời mờ ảo của hoàng hôn, với đầy những vì sao lấp lánh….cho ta cảm giác thật thoải mái, thật bình an….Tha hồ ngắm nghía những món thời trang sang trọng đắt giá và đầy mỹ thuật của những nhà thiết kế lừng danh trên thế giới. Bước vào Casino, như bước vào một thế giới khác, một thế giới vui chơi, một thế giới không có ý niệm về thời gian, vì không bao giờ tìm thấy được đồng hồ trên tường; đó là điểm đặc biệt của Casino.

    GRAND CANYON, ARIZONA

    Sau hai ngày ngao du ở Las Vegas, chúng tôi từ giã thành phố trưởng giả này để tiến thẳng đến Grand Canyon, thuộc về tiểu bang Arizona. Suốt mấy ngày qua, những chiếc phone làm việc với năng suất cao, bởi các chủ nhân của nó chụp ảnh không ngừng nghỉ. Vì đâu đâu cũng thấy những cảnh đẹp, thật lạ lẫm so với những cảnh quen thuộc nơi quê nhà, đối với các bạn Ninh Hoà.

    Grand Canyon của Hoa Kỳ thật không hổ danh khi được mệnh danh là một trong những kỳ quan của thế giới. Vì nó thật hùng vĩ, với những dãy núi chạy dài mang đầy màu sắc vàng sẫm, nâu hay đỏ thẳm…Lại tô điểm thêm những nét gấp đủ mọi hình thù trên các sườn núi trông thật khéo léo, như có bàn tay nhà nghề của các điêu khắc gia đã dày công mài dũa.

    Nhưng….công trình của kỳ quan này tất cả do thiên nhiên tạo thành qua hàng ngàn năm bởi sự xoáy mòn của mưa gió, khí hậu…

    Kìa! Có những con chim ó đen nhỏ tung tăng bay ra từ những cành cây như đón chào khách thập phương. Thì ra, không gian này là nhà của chúng cư ngụ “Home of The Eagle”. Nơi đây vẫn còn nét thiên nhiên hoang dã mà luôn được bảo tồn; có lẽ những chú chim bé nhỏ này là chủ nhân nơi đây chăng?

    PAPAGO PARK, ARIZONA

    Sau đó, chúng tôi đến Papago Park, một công viên bao la, có những cây thiên nhiên hoang dã, hay những cây xương rồng với những hình dáng rất đa dạng trông thật đẹp mắt. Đặc biệt là những núi đá vôi màu nâu đất, mà đã bị gió mưa xoáy mòn thành những hang rộng ở trên cao; đứng trong hang có thể thấy cả thành phố Phoenix.

    CHANDLER, PHOENIX, ARIZONA

    Điểm cuối cùng và cũng là điểm quan trọng trong chuyến đi kỷ niệm này. Thành phố Chandler nằm ở phía đông nam của Phoenix, thuộc tiểu bang Arizona, là home town của nhà văn bác sĩ Lê Ánh, sẽ ra mắt sách trong ngày chủ nhật sắp tới. Vì tình đồng hương Ninh Hoà, mà các nhà văn như Nguyễn văn Thành (Hoa Kỳ) Nguyễn thị Phương Hiền ( VN ) Lê thị Đào ( VN ) và Nguyễn thị Thanh Trí (VN) cùng các anh chị em khác tháp tùng từ VN đến thành phố Chandler, phối họp với nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, để tham dự buổi ra mắt sách của nhà văn bác sĩ Lê Ánh.

    Tư gia của Bác Sĩ Nhà Văn Lê Ánh và bác sĩ Kim Hoàng

    Nhân dịp thăm tư gia của nhị vị bác sĩ, NV BS Lê Ánh có nhã ý mừng sinh nhật cho phu nhân của ông là bác sĩ Kim Hoàng. Thật là ngày “song hỷ”! Xin chúc mừng ông bà bác sĩ và cầu chúc sức khỏe cho ông bà.

    RA MẮT SÁCH, ĐỌC TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU của tác giả Lê Ánh đã diễn ra vào chủ nhật ngày 2 tháng 4 năm 2023 trong không khí thân thiện của tình đồng hương.

    Mở đầu chương trình, MC nhà văn Khánh Lan chào mừng quan khách và tiếp theo là lễ chào quốc kỳ VNCH và Hoa Kỳ. Phái nữ trong những chiếc áo dài truyền thống tha thướt trên khán đài gồm có: Lê thị Đào, Ngọc Hà, Lâm Dung, Lệ Hoa, Khánh Lan và Kiều My cùng họp xướng bài “Quốc ca Việt Nam” . Âm điệu thật thân thương, gần gũi của bài quốc ca…đã gây niềm cảm xúc bồi hồi trong lòng người Việt viễn xứ, khi nghĩ về quê hương đất nước. Sau đó, giọng ca Opera của nữ ca sĩ Ngọc Hà thật điêu luyện qua bài quốc ca Hoa Kỳ “The Star-Spangled Banner”. Cả khán phòng thinh lặng trong phút mặc niệm để tưởng nhớ đến những anh hùng vị nước vong thân.

    Sau đó, giáo sư nhạc sĩ Lê Văn Khoa, NV. Nguyễn Văn Thành, NV Trần Việt Hải….lần lượt nói về cảm tưởng của mình trong dịp phát huy nền văn học Việt Hải ngoại trong sự kiện này.

    Nhà Văn Việt Hải

    PHẦN VĂN HỌC là phần chính yếu của buổi ra mắt sách:

    Thành phần diễn giả cho tác phẩm Lê Ánh: Đọc Truyện Kiều Của Nguyễn Du rất hùng hậu, gồm có những nhà văn: Ngọc Cường, Khánh Lan, Lê thị Đào, Nguyễn thị Phương Hiền, Kiều My và Nguyễn thị Thanh Trí ….đã lần lượt diễn giải quanh chủ đề Truyện Kiều Của Nguyễn Du rất xúc tích.

    Trong buổi RMS về tác phẩm “Đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du” của BS NV Lê Ánh tại Phoenix, AZ, ngày 4/2/2023. NV Ngọc Cường là diễn giả chính, dưới đây là nguyên văn bài nói chuyện của ông.

    Thưa quý vị,

    Khi chúng ta cầm cuốn sách này lên ( dơ cuốn sách lên giới thiệu ), và khi đọc đến tên Truyện Kiều, nó đã nêu lên cho tôi một chi tiết nhỏ, đáng lưu ý, nhưng cần sửa sai : đó là truyện Kiều không phải là tên Nguyễn Du đặt cho sáng tác của ông, mà phải là Đoạn Trường Tân Thanh. Tất nhiên, thông thường người ta vẫn gọi là như vậy, là truyện Kiều. Nói như thế, có thể là không chuẩn về phương diện công ước hay pháp lý, hay có lỗi với tác giả, nhưng điều này là cái cớ để chúng tôi giới thiệu một vấn đề khác xin trình bày sau đây  cùng quý vị:

    Đó là về vai trò của độc giả, và tương quan giữa độc giả, tác giả và tác phẩm, lồng trong cuốn “ĐTK “ của BS Lê Ánh.

    Theo thiển ý, người mua cuốn sách là kẻ sở hữu của tác phẩm, theo cả hai nghĩa kinh tế, lẫn tinh thần. Tức là quý vị có toàn quyền nhận định nó, và sở thích của quý vị là quan trọng nhất. Những người phê bình chỉ giúp cho quý vị, và có thể mua vui thêm mà thôi ( như một tác phẩm phụ thuộc).

    Rõ ràng là như vậy, vì chính độc giả đã tạo ra tác phẩm, chứ không phải người viết! Xin làm sáng tỏ thêm như sau: sáng tác của một nhà văn, nếu không được ai đọc, hoặc ít người chú ý, tất nhiên không trở nên một tác phẩm được, ví dụ như cuốn nhật ký của cô bé Ann Frank, chỉ là cuốn sách bỏ trong hộc tủ, riêng tư của cô, nhưng khi ông Otto Frank, cha cô, đem ra xuất bản, và có đông đảo độc giả thích thú, hưởng ứng, khi đó nhật ký của cô mới trở thành một tác phẩm.

    Nhà nghiên cứu văn học người Pháp, Rolland Barthes, trong cuốn luận đề “La mort de l’auteur”, chúng tôi xin tạm dịch là “Cái chết của tác giả“ hoặc, cho có văn vẻ hơn là “hãy cho khai tử tác giả”, đã coi ý nghĩa của sáng tác tùy thuộc vào ấn tượng, cảm nghĩ của độc giả hơn là mọi ý định của người sáng tạo ra nó, bởi vì đối tượng của nghệ thuật là người thưởng ngoạn, hay trong trường hợp văn chương, là độc giả, đó cũng là mục đích chính của nghệ thuật. Có thể khi viết, tác giả có mục đích khác hơn là nghệ thuật, như muốn tuyên truyền, giáo dục, hoặc dụ dỗ gì đó…nhưng ở đây, chúng tôi chỉ nói thuần túy đến văn chương, và nghệ thuật thuần túy.

    Một sự hiển nhiên là: không ai có thể thấu hiểu được nhà văn nghĩ gì , muốn gì , nhất là cả mấy trăm năm sau, như trường hợp của ND ( sinh 1765, mất 1820) và trong cuốn ĐTTT (lưu hành năm1814), không ai có thể đoán ông muốn gửi gấm tâm sự gì qua mấy vần thơ đó! Chúng ta có thể suy đoán, tìm tòi, dùng mọi phương pháp, nhưng không thể mổ bộ óc của ND ra, và có mổ ra cũng chỉ như bộ óc đó y như của chúng ta mà thôi. Như người ta đã từng mổ óc của Einstein ra nghiên cứu, hy vọng tìm thấy điều gì khác lạ !

    Dù vậy, vẫn có rất đông nhà văn, phê bình, đã cố đi tìm tòi những chi tiết như : lúc nào ND viết TK, và ở đâu. Rồi ,  qua cuốn TK, ta có thể hiểu tâm sự, ND như cái đề  tài “300 năm sau có ai hiểu và khóc cho Tố Như” ! Nhưng lạ thay đã có vị GS y khoa muốn giải phẫu bộ óc ND ra nghiên cứu : đó là BS TNN. Tất nhiên chúng tôi chỉ nói một cách ẩn dụ quá đáng, hầu gây sự chú ý của quý vị, có lẽ đang buồn ngủ và chỉ mong cho chúng tôi nói cho nhanh…

    Thưa quý vị, trong số nhiều người hâm mộ ND, có hai vị BS, cùng viết về cuốn DTTT đó là BS Lê Ánh ở Aizona đây, và BS Trần Ngọc Ninh ở Cali, nhưng hai BS có hai cách phê bình và diễn giảng khác nhau. Xin mở một dấu ngoặc nhỏ: đó là vào tháng 10 năm ngoái, khi qua Nam Cali, chúng tôi hân hạnh được GS TNN tặng cho cuốn nghiên cứu và phê bình của ông có tên là Tố Như Và Đoạn Trường Tân Thanh, và như trùng hợp, sau đó, tôi được BS Lê Ánh gửi cho cuốn “Đọc TK” của ông.

    Xin nơi đây gửi lời cảm tạ đến 2 vị BS .

    Khi đọc qua cuốn sách của BS Ninh, chúng tôi không khỏi sửng sốt vì GS đã có tham vọng rất lớn, hầu như không thể thức hiện được: đó là hiểu được cái “chân diện mục” của tác giả, biết được ND đã viết TK lúc nào và trong hoàn cảnh nào?….không những thế,  ông còn dùng phương pháp cơ cấu pháp (structuralism?) để nghiên cứu TK, và có khi ông còn muốn phân biệt, tách sáng tác của ND làm cả hai cuốn sách “ĐTTT và TK?”, và xem như là có hai nhân vật khi coi Tố Như không chỉ là ND….GS Ninh còn dùng ký hiệu toán học như một công thức khi phân tích…và ông đã dành phần lớn viết về: ND viết TK lúc nào và vì cớ gì?

    Nhưng dù đã dầy công nghiên cứu, BS Ninh cũng đã nêu lên nghi vấn về nguyên bản của TK, có thể đã được Phạm Quý Tích thêm bớt vào, được gọi là “bản phường”, có thể vua Gia Long cho sửa theo ý triều đình như “bản kinh”. Y hệt bên trời Tây, người ta cũng nghi vấn về Shakespeare hay là ai khác đã viết những sáng tác nổi danh mang tên ông?

    Thưa quý vị, thật sự ai đó, hay một người khác viết, có quan trọng hay không? Đó là câu hỏi tùy mỗi quý vị tự giải đáp, trả lời mà thôi…

    Thưa quý vị, ở đây, chúng tôi không có ý định gì khác hơn là “mua vui quý vị”, khi tôi nói GS TNN đã đi quá xa, như đã lạc đề, khi ông nhận định về môt tác phẩm nghệ thuật. Những vấn đề GS nêu ra, và cố gắng đi tìm giải pháp, có lẽ đã không liên quan đến một độc giả  bình thường như chúng tôi. Cuốn sách của GS Ninh rõ rệt là cuốn nghiên dành cho quý vị hàn lâm, chuyên môn về văn học. Bởi lẽ, đối với chúng tôi: sở dĩ TK hay, và được khen cho đến nay, giản dị là vì,  khi cầm lên để ngâm nga, TK đã đạt được mục đích ”mua vui cung được một và trống canh“ như chính người viết ra nó mong đợi. Theo ý kiến của chúng tôi, đó cũng là mục đích của nghệ thuật (từ trước đến nay, chưa có một đinh nghĩa nào trọn vẹn về nghệ thuật được công nhận).

    Nhưng TK là một cuốn sách thuộc dạng cổ điển, tức là đã được viết ra trên 200 năm nay (lưu hành năm 1814), hơn nữa:

    – TK dựa vào cuốn tiểu thuyết Trung Hoa của Thanh Tâm Tài Nhân ( Kim Vân Kiều Truyện ), có nhiều điển tích cổ của Tàu,

    – được viết nguyên bản bằng chữ nôm, tất nhiên không có dấu chấm , phẩy, khi chuyển qua quốc ngữ, có thêm dấu,

    -khung cảnh, tên tuổi, địa danh, sự tích trong sách toàn là của Tàu…

    Từ Thế Kỷ 19, nhảy qua đến thứ 21, 300 năm qua, tất nhiên đã có biết bao đổi thay, do đó, việc diễn giảng TK là điều cần có , để cho học sinh của thời nay có thể dễ dàng thông hiểu (về ngữ vững, điển tích) và như thế, người đọc ngày nay, có thể thưởng thức TK dễ dàng hơn.

    Dó cũng là sự trợ giúp mà chúng ta sẽ có được nhờ cuốn “ĐTK” của BS Lê Ánh.

    Tác giả Lê Ánh bố cục cuốn sách của ông rành mạch như sau:

    Phần đầu dành cho tổng quát về: hoàn cảnh ra đời, nhân vật và địa danh, giải thích thành ngữ và điển tích chứa đựng trong truyện.

    Phần hai là lược truyện, in lại toàn bộ cuốn sách, nhưng chia từng đoạn và có lời chú thích cho diễn tiến câu chuyện , đã giúp độc giả rất nhiều, không những theo dõi và còn hiểu rõ tiến trình câu chuyện. (đây phải nói là điểm son của một cuốn sách)

    Ngoài ra, ông Lê Ánh còn dành một phần phê bình nhân vật và những chi tiết về nhân vật (Kiều uống rượu, bị lên án, rồi kết án.v.v…). Ông còn có đoạn ví von về nàng Kiều đã ưống rượu khi còn vị thành niên (15 tuổi) và là dân nhậu số một!

    Phải nói, cuốn “Đọc Truyện Kiều” của Lê Ánh là cuốn sách cần thiết và dễ đọc cho những ai yêu mến thơ cụ Nguyễn Du mà còn ngại ngùng (vì khó hiểu) .

    Nhà văn, BS Lê Ánh đã thành công trong công việc giúp cho người đọc bình thường (như tôi) thưởng thức và hiểu biết một áng văn đọc nhất vô nhị của văn chương Việt-Nam chúng ta, đó là tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” của Tố Như Nguyễn Du.

    Xin cám ơn quý vị .

    Và link dưới đây là bài nói chuyện của Khánh Lan về chữ Tâm trong tuyệt tác Đoạn Trường Tân Thanh của Đại văn hào Nguyễn Du. Xin bấm vào link dưới đây để xem. Xin cám ơn. KL

    https://www.icloud.com/photos/#0eekVmXhcPn7hrDf2ZYMnhx4Q

    Sau cùng, NV BS Lê Ánh phát biểu cảm tưởng và cám ơn quý khách đã tham dư buỗi RMS của ông.

    Bác sĩ Nhà Văn Lê Ánh

    PHẦN VĂN NGHỆ do các anh chị nghệ sĩ trong nhóm Tiếng Thời Gian và Ninh Hòa đảm trách.

    Bữa tiệc nào rồi cũng phải tàn! Sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, sáng hôm sau cả hai nhóm cùng trở về California. Trên đường về, mọi người có vẻ thoáng chút ưu tư cho cuộc chia tay sắp đến, vì đã trải qua những ngày bên nhau tuy ngắn ngủi, nhưng chứa chan biết bao tình. Đó cũng là “tình nghĩa văn chương“ mà kết thành. Chắc hẳn trong thâm tâm mỗi người chúng tôi vô cùng cảm kích về sự hào hiệp của hai vị Nguyễn văn Thành và Phương Hiền, đã tốn nhiều tiền bạc cũng như công sức để hoàn thành chuyến đi khó quên này. Chân thành cảm tạ hai vị!

    Trên xe, thầy Lê văn Khoa, anh Việt Hải, anh Thành, chị Đào, chị Thanh Trí, Phương Hiền, Phương Liên v.v…cũng đã nói lên những cảm nghĩ về chuyến đi, khiến mọi người cảm động và cảm thấy gần gũi nhau hơn.

    Ngoài ra, Kiều My có làm một cuốn tập lưu bút để các bạn ghi lại những ý tưởng về chuyến đi đặc biệt không thể quên này.

    Đây là những dòng tâm sự rất cảm động của NV Lê Thị Đào, là tác giả của sách “Góp Nhặt Sỏi Đá”. Một người chị mà KM rất quý mến và chị cũng có tặng chiếc nón len cho KM để làm kỷ niệm:

    “Kiều My ơi! Chỉ còn thời gian ngắn ngủi nữa là chị chia tay mấy em rồi. Thật khó diễn tả tâm trạng chị lúc ni. Chị chỉ biết nói rằng: nhóm mấy em, những văn nghệ sĩ dễ thương, chị vừa được quen, được giao lưu, chị rất vui. Chị như sống lại những tháng ngày trước 75. Vui lắm em.

    Nhưng giờ sắp chia tay lại buồn. Chị chỉ biết nói rằng – Chuyến đi này với những ngày bên mấy em, đã làm giàu ngân hàng kỷ niệm của chị. Đã giúp chị “góp nhặt sỏi đá”. Những viên đá dễ thương long lanh sắc màu. Có thể nói sỏi đá đã nở hoa. Vâng! Sỏi đá đã nở hoa. Chị sẽ cất giữ và trân quý”

    Dưới đây là những dòng chữ hết sức chân thật của NV Phương Hiền, là tác giả sách “Cha Vẫn Mãi Bên Tôi” , một người bạn mới quen thật dễ thương. Một kỷ niệm đẹp giữa Phương Hiền, anh Tony Hiếu và Kiều My đã họp ca bản Lính Đa Tình & Lính Mà Em trong buổi ra mắt sách tại nam Cali, ngày 26 tháng 3 năm 2023:

    Phương Hiền viết: “Biết anh Việt Hải và nhóm bạn của anh nhiều năm nay; nhưng đây là lần đầu tiên gặp Kiều My và các bạn, đã thân ái ngay. Có phải chúng mình đồng điệu về quan điểm sống, về cảm xúc…và cả về vóc dáng và giọng ca? Hay chính các “anh ấy” đã se duyên chúng mình? Vâng! Các anh ấy! Các anh lính đa tình, thích đi xem cinema và dạo phố. Hiền rất vui khi kết bạn với Kiều My và tất cả các bạn trong nhóm NVNT & TTG. “

    Đây là những lời tâm tình rất chân chất và thật dể thương của NV Nguyễn thị Thanh Trí, mà Kiều My có cơ duyên làm diễn giả cho tác phẩm “Kỷ Niệm Yêu Thương” trong ngày ra mắt sách của chị:

    “Đất nước Mỹ tươi đẹp và văn minh, người đất nước Mỹ trẻ đẹp, vồn vả, hiếu khách và chân tình. Thanh Trí được làm quen với các bậc văn nhân thi sĩ nổi tiếng và càng thêm thâm tình trong tình cảm chân thật, vui tươi dưới trời Cali đầy hoa thơm, bầu trời trong xanh, cây lá tươi tốt. Rất nhớ, thầy cô Lê văn Khoa & Ngọc Hà; anh chị Việt Hải & Lệ Hoa; anh chị Mạnh Bổng & Khánh Lan, cùng các bạn Kiều My và Lâm Dung. Hân hạnh được làm quen. Nhớ!….”

    Dưới đây là những lời nói chân tình của NV Nguyễn văn Thành, là tác giả của sách “ Giấc Mơ Của Chàng Lính Biển”. Anh là soái ca của “Văn Học Ninh Hoà“, là người anh mà chúng tôi rất quý mến và biết ơn:

    “Tôi rất vui khi được gặp gỡ các văn nhân thi sĩ trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian do anh Việt Hải chủ xướng. Tất cả rất vui vẻ, ấm áp và đầy tình người; chia sẻ niềm vui với mọi người. Đây là cuộc gặp gỡ rất ý nghĩa trong “tình văn học” mà không thể quên.”

    Sau đây là lời chia sẻ chân tình của một guitarist trong chuyến đi, và cũng là một hoạt náo viên, giúp vui cho mọi người, đó là anh Nguyễn Ngọc Uẩn:

    “Tình cờ, tình cờ và rất tình cờ. Một chuyến du lịch Mỹ rất lý thú. Gặp gỡ các tên tuổi trong làng văn học. Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Với những giọng hát thật tuyệt vời. Cho tôi tràn ngập niềm cảm xúc. Cám ơn duyên gặp gỡ các bạn. Còn duyên sẽ còn gặp lại….”

    Ngoài ra, còn các bạn trong nhóm Ninh Hoà có mặt trong chuyến đi này mà đã tạo niềm xúc động thật sâu đậm đối với KM, chính là hai chị em Hương Võ và Oanh Võ. KM sẽ không bao giờ quên ân tình của hai bạn dành cho KM. Bên cạnh đó, còn có các bạn như: guitarist kiêm ca sĩ Huỳnh Út, Phương Liên, Tuyết Mai, Mai Hưng Hảo, Mai Hưng Toàn, Nguyễn thị Bé, chị Loan, và hai mẹ con chị Hoà ở Boston….Tất cả….Vâng! Tất cả tình người, tình bạn thân ái đã gây nên niềm cảm xúc thật sâu xa trong tâm hồn KM, mà đã tạo thành những vần thơ:

    Này Bạn Hỡi!

    Ta biết nhau từ bao giờ?

    Đời đưa bạn đến với ta

    Cho nhau nụ cười thương mến

    Chia sẻ những lúc băn khoăn

    Ta cùng vui trong văn chương

    Cùng say sưa bên tiếng đàn

    Quanh ta đời bao thách đố

    Có bạn ta vẫn cười vui

    Này bạn hỡi!

    Tình bạn hữu như nắng ấm

    Chan hòa những ngày mưa rơi

    Bên nhau hát khúc sum vầy

    Đời nghệ sĩ đầy niềm vui

    Này bạn hỡi!

    Ta gặp nhau nơi xứ người

    Niềm an ủi thật bao la

    Giang rộng đôi tay chào đón

    Bạn hiền cùng đến với ta

    Dù thời gian có trôi qua

    Đường đời có muôn vạn nẻo

    Hãy như chim bay tìm về

    Cùng bên nhau trọn niềm vui

    Thơ Kiều My

    Kỷ niệm về một chuyến đi khó quên. Thương mến tất cả các bạn. Hẹn ngày tái ngộ.

    Kiều My

    California, US April 2023

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    RA MẮT SÁCH CỦA 3 NHÀ VĂN: NGUYỄN VĂN THÀNH, LÊ THỊ ĐÀO VÀ NGUYỄN THỊ THANH TRÍ

    Từ trái sang phải: NV Ngọc Cường và phu nhân, Bích Điệp; NV Phương Hiền; NV Nguyễn Văn Thành và phu nhân, Nguyễn Thị Giỏi; NV Thanh Trí và NV Lê Thị Đào.

    “Sau cơn mưa trời lại sáng”. Quả đúng như thế, sau bao ngày mưa gió tại California, sáng Chủ Nhật ngày 26 tháng Tư đúng là “Beautiful Sunday”. Bởi, sau những ngày mưa gió với bầu trời màu xám xịt đã nhường chỗ cho những áng mây màu xanh biếc và trên đường phố, những cành cây, cọng cỏ tươi mát như vừa được tắm gội sau bao ngày hạn hán. Những cơn gió thổi làn không khí hiu hiu lạnh của ngày cuối xuân còn đọng lại. Ngoài đường phố, các thiếu nữ với những chiếc khăng quàng cổ, đủ sắc màu, tung bay trong gió, trông thật vui mắt.

    Ba nhà văn với 4 tác phẩm

    Buổi RMS 4 tác phẩm của ba nhà văn (NV): Nguyễn Văn Thành (Niềm Nhớ, Giấc Mơ Chàng Lính Biển) Nguyễn Thị Thanh Trí (Kỷ Niệm Yêu Thương) và Lê Thị Đào (Góp Nhặt Sỏi Đá) đã thành công rực rỡ tại nhà hàng Diamond Seafood Palace, tọa lạc trên đường Lamson Ave., Garden Grove, California ngày 26 tháng 04, 2023. Từ ngoài parking lot, Mạnh Bổng và Khánh Lan khệ bê 12 chai Apple Sparkling, 10 hộp đậu phộng da cá, 5 cái bằng tưởng lục, một bó hoa hồng và hai cái bánh bông lan (half sheet) bước vào khánh phòng, đồng hồ lúc ấy chỉ 11:00 giờ sáng. Trong khánh phòng đã chật kín quan khách tham dự, kẻ đứng người ngồi, cười nói vui vẻ. Ánh sáng từ các máy điện thoại di động loé lên liên tục để ghi lại những tấm hình lưu niệm cho từng nhóm. Chương trình RMS khai mạc đúng 11 giờ 30 sáng.

    Chương trình RMS gồm hai phần: Phần Văn Học và phần văn nghệ giúp vui do hai MC Kim Phụng và Khánh Lan phụ trách.

    Từ trái sang phải: Thụy Lan, Lệ Hoa, Lâm Dung, 2 vị khách, Khánh Lan, Tuyết Nga,
    Kiều My, Bích Điệp, Ái Liên, Mộng Thủy, Ngọc Quỳnh và Minh Thư

    Sau lễ chào quốc kỳ, NV Nguyễn Văn Thành đại diện cho nhóm văn học Ninhhoa.com khai mạc buổi Ra Mắt Sách (RMS) và giới thiệu Giáo Sư (GS) Trần Hà Thanh, Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Trần Bình Trọng – Ninh Hoà. Ông  nói về 20 năm hoạt động của Website ninhhoa.com. Tiếp theo là GS. Trần Huy Bích đại diện Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian ngỏ lời chúc mừng Nhóm Văn Học Ninh Hoà tròn 20 Tuổi. Sau đó, MC Kim Phụng đọc hai lá thư của cựu Hải Quân (HQ) Đại tá Bùi Cửu Viên và cựu HQ Trung tá Chu Bá Yến, gởi lời chúc mừng cựu HQ Trung úy tác chiến Nguyễn Văn Thành đã trọn lòng binh nghiệp và nay xoay sang văn nghiệp.

    Bắt đầu Phần Văn Học, một hội thảo đoàn gồm các NV: Nguyễn Văn Thành, Phương Hiền, Ngọc Cường, Lê Thị Đào, Nguyễn Thị Thanh Trí, Khánh Lan, Kiều My và Mộng Thuỷ.

    Từ trái sang phải: Mộng Thủy, Kiều My, Thanh Trí, Lê Thị Đào,
    Phương Hiền, Nguyễn Văn Thành, Việt Hài, Ngọc Cường và Khánh Lan.

    Trong phần điểm sách, NV Khánh Lan mượn 4 câu thơ trích trong bài thơ Tuổi Biết Mơ mà NV Nguyễn Văn Thành đã dùng để mở đầu cho tác phẩm Giấc Mơ Chàng Lính Biển của ông:

    “Có phải anh vẫn nhớ
    Người thương lúc còn thơ
    Có phải anh vẫn mơ
    Người thương xưa mắt biếc!

    Qua 4 câu thơ trên đã chứng tỏ nhà toán học Nguyễn Văn Thành, một kỹ sư thiết kế kỹ thuật quốc phòng nhưng lại mang một tâm hồn thi sĩ, ông đã dùng những lời lẽ ví von, ý tưởng ẩn dụ (metaphor) dựa theo văn chương tây phương để chuyển tải tư tưởng của mình vào trang giấy. Những nhân vật trong câu truyện cổ tích như Brothers Grimm, chàng thủy thủ John Reid và điều mơ ước của nàng tiên cá Helen Stewart và Captain Nemo, (nguyên tác tiếng Pháp Vingt mille lieues sous les mers: Tour du monde sous-marin, một cuốn tiểu thuyết cổ điển về khoa học viễn tưởng của nhà văn Pháp Jules Verne xuất bản năm 1870), hay “Hai ngàn dặm dưới đáy biển” là những tác phẩm đặt nền tảng cho nhiều phạm vi về hàng hải. Vì vậy, ta có thể nói rằng, văn phong của NV Nguyễn Văn Thành có sự xen lẫn những ý tưởng triết tính của Jules Verne, André Gide, Jacob và Wilhelm.

    Cũng với lối văn phong bình dị, dễ hiểu NV Nguyễn Văn Thành đã đưa chúng ta qua những đia danh quen thuộc như Cần Giờ, Rừng Sát, Xoài Rạp, Vàm Láng (Gò Công), Bến-Lức, Trà Cú, Gò Dầu Hạ, An Thới… nơi mà các chiến sĩ Hải Quân VNCH đã đóng quân, bảo vệ sơn hà năm xưa. Qua 85 phân đoạn trong tác phẩm Giấc Mơ Chàng Lính Biển của tác giả Nguyễn Văn Thành, cho người đọc một cảm xúc vui buồn đời lính, xen lẫn cái thi vị tình yêu lãng mạn của người lính biển, lòng trung kiên, ái quốc đi song song với sự can đảm và sự chung thủy của người thiếu nữ trẻ, băng sông, vượt rừng, lăn lội đi tìm người yêu.

    Trong câu truyện Giấc Mơ Chàng Lính Biển, tác giả đã khéo léo dùng ngòi bút để kể lại câu chuyện về cuộc đời binh nghiệp của chính mình, đồng thời, ông lồng vào đấy một nhân vật hư cấu, một truyện cổ tích về Nàng Tiên Cá và Chàng Thủy thủ cho thêm phần thú vị. Mở đầu câu truyện tình yêu với hai nhân vật: Nàng Tiên Cá và Chàng Thủy thủ, tác giả giới thiệu nhân vật chính là chàng Thủy thủ, sau khi ra trường, anh gia nhập binh chủng Hải Quân và Tham dự vào cuộc chiến. Đóng quân tại Bộ Chỉ huy Hải quân Trà Cú, gần dòng sông Vàm Cỏ Ðông, một thủy lộ duy nhất dẫn vào bộ chỉ huy hải quân Giang Ðoàn 54 Tuần Thám… Trên mặt sông ấy đã ghi lại bao kỷ niệm về cuộc đời binh nghiệp, những chiếc giang đĩnh đậu thành hàng, bồng bềnh, tạo nên những làn sóng lăn tăn trên mặt nước. Những làn khói tàu xanh lơ bốc lên, sen lẫn, quyện vào làn sương mỏng tạo thành một bức tranh tuyệt đẹp trên nền trời xanh thẳm. Tiếng máy tàu, tiếng rào rào của từng làn sóng, khua vào mạn tàu bỗng hòa điệu thành một âm thanh hùng hồn, quen thuộc và đó là vì sao anh yêu nghề “Lính Biển”. Nhân vật thứ hai là Nàng Tiên Cá trong mối tình thầy trò, nẩy nở với những ẩn dụ toán học, chu vi, bán kính, v.v

    Trong phân đoạn 58, NV Nguyễn Văn Thành có nhắc đến tác phẩm “La Porte étroite” (Khung Cửa Hẹp) của đại văn hào cổ thụ Andre Gide, khi ông ví Nàng Tiên Cá đang bơi lượn trong rừng san hô đỏ, đẹp và bí hiểm, những cành san hô đỏ đan lại như một “Khung cửa hẹp” giam bước chân của Nàng Tiên Cá. Nhưng với tình yêu mãnh liệt Nàng Tiên Cá đã lách ra khỏi “Khung cửa hẹp” Ninh Hòa để băng rừng lội suối đi thăm người yêu Lính Thủy.

    Tác giả cũng đề cập đến tầm quan trọng của đảo Phú Quốc và trách nhiệm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trong việc trấn giữ và bảo vệ tổ quốc. Ông nhắc lại cuộc tổng tấn công của quân đội Bắc Việt cuối tháng Tư 1975 với từng loạt đạn đại bác vang dội đã phá tan sự yên tĩnh của buổi sáng tinh sương ngày 30 tháng 4 năm 1975. Lời kêu gọi buông súng đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh và bài hát “Nối Vòng Tay Lớn” của Trịnh Công Sơn phát ra liên tục, lập đi lập lại trên đài phát thanh Sài Gòn, khởi đầu cho khúc quanh cuộc đời của Chàng Lính Biển.

    Cuộc chiến 30 tháng 4 chấm dứt, không những không đem lại những giây phút hòa bình cho miền Nam VN mà trái lại là một cơn ác mộng cho mọi người.

    Những phân đoạn cuối đã gây nên nhiều xúc động và đưa độc giả về quá khứ đen tối của 48 năm về trước khi cuộc di tản bắt đầu. Những chiếc Hải Vận Hạm Lam Giang HQ 402, chiến hạm cuối cùng rời bến Bạch Đằng và có mặt ở ngoài khơi Vũng Tàu khoảng 7 giờ tối ngày 30 tháng 4 năm 1975, để cứu vớt 200 người từ chiếc Tango của Giang Đoàn 44 Ngăn Chận … chiếc tàu đã cưu mang mọi người trong suốt giang trình Vàm Cỏ Đông.  

    Khi nhắc đến Hộ Tống Hạm Chí Linh tại căn cứ hải quân Hoa Kỳ ở Subic Bay, Phi Luật Tân trong buổi lễ hạ quốc kỳ VNCH. Phải, lá quốc kỳ thấm đẫm linh hồn của bao nhiêu chiến sĩ đã nằm xuống vì Tổ Quốc VNCH. Lá quốc kỳ mang tiếng nói của những người con nước Việt yêu hòa bình. Trong cuộc di tản 1975, buổi lễ hạ quốc kỳ tại Subic Bay đã để lại trong lòng các chiến sĩ ái quốc VNCH, một nỗi khổ tâm, đau đớn, nhục nhằn khó quên, trong đó có cả Chàng Lính Biển Nguyễn Văn Thành.

    Để kết thúc buổi nói chuyện, NV Khánh Lan đã trích một đoạn cuối của tác phẩm GIẤC MƠ CHÀNG LÍNH THỦY như sau:

    “Sau tiếng hô “hạ kỳ”, nhìn lá cờ đang từ từ được kéo xuống… anh cảm thấy như lồng ngực mình bị bóp chặt. Khoảnh khắc ấy hình như anh không thở được. Có một cái gì đó đang vỡ vụn trong hồn. Có một cái gì đó vừa gãy nát trong tim. Dường như tim anh đã có một giây ngưng đập. Cổ họng chợt nghẹn lại. Đã có người rưng rưng, đã có người đưa tay chùi nước mắt, đã có người khóc thành tiếng nấc đâu đó. Anh không rơi nước mắt mà lòng anh đang khóc. Khóc vì kể từ hôm nay mình là kẻ lưu vong. Khóc vì mình mất Tổ Quốc, mất quê hương. Khóc vì mình mãi mãi làm kẻ ly hương với một cuộc đời mới hoàn toàn khác hẳn, bấp bênh, trôi nổi…. Khóc vì vĩnh viễn rời xa gia đình và mất nàng Tiên cá, cô học trò yêu kiều mà anh mãi thương yêu, nhung nhớ.”

    Tiếp theo, NV Phương Hiền nói về tác phẩm Miền Nhớ 2, xuất bản năm 2023. Đây cũng là tác phẩm của NV Nguyễn Văn Thành. Tuyển tập 600 trang gồm 75 tác giả ghi lại những kỷ niệm buồn vui đã bao năm chìm sâu trong ký ức, những dư âm vang vọng của một quê hương chìm trong đau khổ. Trong miềm thương nhớ nhung đó, có những giai đoạn hào hùng, tự hào, ngưỡng mộ, bi tráng và tang thương. Những đau buồn, xót xa, thương tiếc ấy là những cảm xúc đích thật đã được các văn thi sĩ trải dài trên trang giấy và góp nhặt thành tác phẩm Miền Nhớ.

    Tác phẩm Kỷ Niệm Yêu Thương của NV Nguyễn Thị Thanh Trí do NV Kiều My ghi nhận. Kỷ Niệm Yêu Thương kể lại những mẩu chuyện ẩn hiện trong vùng tiềm ý thức, chờ đợi một giây phút nào đó sẽ chuyển lên vùng ý thức: Đó là kỷ niệm…những kỷ niệm mà ta ghi dấu mãi trong tim.

    Trong 25 phân đoạn, NV Kiều My chọn ra 6 phân đoạn mà bà cho là đặc sắc nhất, đó là:

    1. Cao Như Núi Thái: Ghi lại những ngày tháng sống trong vòng tay yêu thương của người cha chân chất, mộc mạc, bình dị, người đã cho NV Thanh Trí một ấn tượng khó phai về sự ân cần, chăm sóc các con của người cha kính yêu.
    • Tiếng Đàn Xưa: Hơn 40 năm đã trôi qua sau khi ông bà ngoại qua đời, hình ảnh của ông bà ngoại vẫn không phai lạt trong tâm tư của tác giả. Sự khắc khoải, dằn vặt trong luyến tiếc vì gia đình bà không đủ khả năng để đùm bọc ông bà ngoại trong buổi giao thời (1975) khi mọi người cùng chung một số phận nghèo đói.
    • Nơi Chốn Tìm Về Để Nhớ Để Thương: Ấn tượng sâu đậm về trường Sư Phạm Quy Nhơn, nơi đã ghi lại bao kỷ niệm vào đời khó quên mà trong đó có cả buồn vui lẫn lộn của một thời con gái với nhiều mộng mơ, tương lai và sự nghiệp.
    • Hát Lời Yêu Thương: Tác giả viết “Nếu các bạn thấy một nhóm người ngồi mơ màng ngắm biển, hay chạy xe long nhong ngoài phố, đó là chúng tôi. Chúng tôi đang học cách yêu thương, đang hát lời yêu thương về tình người, tình bạn, tình đồng hương thân hữu một cách hoàn mỹ.”
    • Nói Với Bạn Trẻ: “Hãy cố quên dù tan nát vì mất mát.” Đó là tiếng khóc từ đáy tim của một người mẹ mất con. Phải, “Mọi thứ trên đời này, kể cả tình yêu, đều có thể làm lại được. Nhưng cái chết thì không!” Cái chết của đứa con gái Nguyễn Đôn Hà Quyên đã để lại trong tim NV Thanh Trí một vết thương không gì có thể hàn gắn hay chữa lành lại được. Chính vì sự mất mát lớn lao ấy, bà đã có những lời khuyên cho các bạn trẻ, đừng vì một phút không suy nghĩ mà hủy hoại cả cuộc đời.
    • Hội Ngộ…Ngày Vui: Hội ngộ cùng các Thày Cô và bạn bè là những giây phút đong đầy niềm vui khi nhớ về những kỷ niệm của một thời thơ mộng cũng như những kỷ niệm thời còn đi học đường mà ta đã đi qua, ôn lại thời học sinh vô tư, “ăn chưa no lo chưa tới”.

    Và sau cung là Góp Nhặt Sỏi Đá của NV Lê Thị Đào do NV Mộng Thủy điểm sách. Tác phẩm là sự kết hợp của những bài thơ và bài văn mà tác giả ghi lại với những chuyện buồn vui đã xảy ra trong cuộc sống, ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm của một cá nhân. Góp Nhặt Sỏi Đá gồm 117 bài thơ và 13 bài văn. Trong 13 bài văn, tác giả gửi gấm vào đấy những gắn bó của mình với quận Ninh Hòa, nơi mà bà đã dạy học trong 8 năm sau khi ra trường (1974-1981)

    Ôi nhớ quá! Ninh Hòa ơi! Nhớ quá!

    Hôm nay đây! Ngày thân ái hợp đoàn

    Chúng con đây lưu lạc khắp hoàn cầu

    Xin gửi trọn nhớ thương về Quê Mẹ…!!!

    (Lê Thị Đào -18/8/2009)

    Những bài thơ viết về quê hương với nỗi niềm thương nhớ như trong bài Tình Quê. “Tôi muốn trở về. Vùng quê hương tuổi dại. Nơi có dòng sông.  Thơ mộng. Nước trong xanh. Có rặng tre xưa.” …

    Hay trong bài thơ Không Bao Giờ Ngăn Cách, bà viết:

    Anh đã dặn lòng thôi nhớ thương

    Từ lâu hai đứa rẽ hai đường

    Bên này bên ấy xa cách quá

    Nhưng rồi tình vẫn mãi tơ vương…

    (Lê Thị Đào-28/12/2011)

    Bài thơ Mơ Về Đà Lạt, để nhớ lại một thời sinh viên, bà viết:

    Trong giấc mơ, được trở về Đà Lạt

    Nhớ trường xưa theo lối cũ tôi tìm

    Chân dừng bước trước cổng trường đại học

    Tôi mơ về những ngày tháng xa xưa…

    (Lê Thị Đào -18/12/2013)

              Sau phần văn học, Ngọc Quỳnh thay mặt Nữ Sĩ Dương Hồng Anh ngâm bài thơ Chúc Mừng 20 năm thành lập hội văn học ninhhoa.com.

    CHÚC MỪNG NINH HOA DOT COM

    Thơ: Nữ Sĩ Dương Hồng Anh

    Cám ơn thơ nhạc chiều nay

    Tao đàn hạnh ngộ tràn đầy ước mơ

    Ngạt ngào hương cúc nắng trưa

    Trời xanh mây trắng hương xưa mượt mà

    Nghĩa tình văn nghệ bao la

    Văn chương tao nhã bút hoa thay vần

    Chung vui gặp bạn đồng tâm

    Đất trời nở hội thơ xuân sáng ngời

    Chùm hoa văn nghệ tuyệt vời

    Mừng ngày kỷ niệm Ninh Hòa dot com.

    Tiếp theo, GS. cố vấn Quyên Di đại diện Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và NV Nguyễn Quang trao tặng quà lưu niệm (trophy) đến GS Trần Hà Thanh, đại diện đại diện Ninhhoa. com, trong khi GS. Dương Ngọc Sum, GS Lê Văn Khoa, NV Vi Khiêm tặng Bằng Tưởng Lục cho 4 nhà văn. Và sau cùng là cắt bánh sinh nhật kỷ niệm 20 năm Website Ninh Hoà và bánh mừng chúc thọ cho các quý cao niên.

    NV Nguyễn Quang trao quà lưu niệm cho GS Trần Hà Thanh
    NV Vương TRung Dương trao bằng tưởng lục cho NV Lê Thị Đào

    Sau cùng là phần văn nghệ giúp vui do nhóm Tiếng Thời Gian phụ trách. Buổi RMS bế mạc lúc 3:00 giờ chiều.

    Khánh Lan tường trình từ California, April 6, 2023

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Tin tức

    ĐIỂN TÍCH TAM NHÂN VƯỜN ĐÀO

    TAM NHÂN VƯỜN ĐÀO: phỏng theo chuyện xưa “Tam Quốc Diễn Nghĩa“.

    Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi

    Thời Tam Quốc có rất nhiều nhân vật hào kiệt. Tiểu thuyết nổi danh “Tam Quốc diễn nghĩa” của tác giả La Quán Trung từng có đoạn: Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi ba người tâm đầu ý hợp, quen biết không lâu đã kết bái huynh đệ tại vườn đào Trương gia. Cũng kể từ đó, ba người huynh đệ khác họ ấy đồng tâm hiệp lực, lập nên Thục quốc – một trong ba thế lực tạo thành “thế chân vạc” thời Tam Quốc. Đây chính là điển tích “kết nghĩa đào viên” nổi tiếng Trung Hoa và được lưu truyền rộng rãi cho tới ngày hôm nay.

    Về sau này, không ít hào kiệt hậu thế vẫn thường ngưỡng mộ noi theo nghĩa khí “kết nghĩa vườn đào” của ba vị anh hùng Tam Quốc.

    Trong bài viết này, xin chỉ nói đến ba nhân vật: Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi. Bắt đầu từ “Ba anh em kết nghĩa vườn đào” đã lập thệ ước, tức là huynh đệ đồng lòng, lấy thiên hạ làm trách nhiệm của mình, từ chỗ không có mảnh đất đặt chân tới kiến lập nên đế quốc Thục.

    Ba người này có thân phận khác nhau và trách nhiệm cũng khác nhau, nhưng họ có cùng chung chí hướng, và sở trường mỗi người bù đắp cho chỗ thiếu sót của người kia, tạo thành một mối quan hệ quân thần hợp tác, tương trợ, đoàn kết chặt chẽ với nhau. “Kết nghĩa đào viên” không được chính sử lưu lại.

    Theo nguồn khảo cứu từ nhiều nguồn tư liệu lịch sử chính thống, trong đó chủ yếu là “Tam Quốc chí” và “Tư trì thông giám“, các nhà sử học đều thấy việc “kết nghĩa đào viên” của bộ ba Lưu – Quan – Trương không được ghi chép lại. “Hoa Dương quốc chí” mục “Lưu tiên chủ truyện” có viết: “Chúa (Lưu Bị) cùng hai (Quan Vũ, Trương Phi) ngủ chung giường, ăn cùng mâm, tình như anh em.“. Phần “Quan Vũ truyện” của “Tam Quốc chí” cũng từng ghi lại câu nói của Vân Trường: “Tôi chịu ân trọng của Lưu tướng quân, thề sẽ cùng sống cùng chết.”. Hai dẫn chứng trên đã cho thấy tình nghĩa khăng khít, gắn bó của ba nhân vật Lưu, Quan, Trương. Tuy nhiên, mối liên hệ ấy cũng chỉ dừng ở mức “thân như anh em”, khi họ là “huynh đệ kết nghĩa“. Đặc biệt, cách Quan Vũ gọi Lưu Bị là “Lưu tướng quân”, một tài năng lanh lẹ, tháo vát trong bộ ba này.

    Nhân nghĩa của Lưu Bị

    Lưu Bị là một người rất nhân nghĩa. Mặc dù Lưu Bị là hậu duệ của Hán Cảnh Đế, nhưng sau hơn 300 năm, ông đã trở thành thường dân. Ông có thể quật khởi chủ yếu bởi vì ông bản tính vốn nhiệt tình và chân thành đối đãi với mọi người. Cho dù người khác thân phận như thế nào, ông đều dành cho họ sự trọng đãi và tôn trọng. Đây là bản chất của Lưu Bị, không phải cố ý thể hiện ra. Sức mạnh của cách đối xử chân thành xuất phát ra từ nội tâm này đã cảm phục được tên thích khách được lệnh ám sát Lưu Bị, hắn đã thản nhiên nộp mình cho Lưu Bị, bày tỏ lòng kính phục đối với Lưu Bị. Nói cách khác, những người sát cánh với Lưu Bị đều bởi vì tính cách hợp nhau, bị tấm lòng chân thật đối đãi như bạn cảm động, họ mới một lòng, một dạ đi theo Lưu Bị. Võ quan Lưu Bị đối xử với bách tính như đối với người nhà của mình. Sau trận chiến Tân Dã, ngay ngày hôm đó, đại quân Tào Tháo tấn công Phiền Thành, nơi Lưu Bị ở, sinh tử của Lưu Bị ngàn cân treo sợi tóc. Gia Cát Lượng kiến nghị ông vứt bỏ Phiền Thành và tạm lánh ở Tương Dương. Lúc đó Lưu Bị nói: “Dân chúng theo ta đã lâu, lẽ nào nhẫn tâm vứt bỏ?“

    Dân chúng cũng đồng thanh hô to: “Chúng tôi dù chết cũng nguyện theo Lưu Sứ Quân!”. Họ khóc lóc, vội vàng khởi hành, dìu già dắt trẻ, bầu đàn thê tử lũ lượt qua sông, hai bên bờ sông tiếng khóc không dứt. Lưu Bị trên thuyền thấy vậy, ông khóc to và nói: “Chỉ vì một mình ta mà làm cho bách tính phải gánh chịu đại họa này, ta sống sao được!”, ông định nhảy xuống sông chết, nhưng đã được tùy tùng đi theo ra sức ngăn cản. Khi thuyền đến bờ phía nam, quay đầu lại nhìn người dân, thấy còn có những người vẫn chưa qua được sông, ông hướng về phía nam và khóc, Lưu Bị vừa lên ngựa đã nóng lòng ra lệnh Quan Vũ đôn đốc thuyền chở tất cả mọi người qua sông.

    Như có câu: “Vợ chồng vốn là chim cùng sống trong rừng, tai vạ đến thì ai nấy tự bay đi”. Tuy là câu nói phiến diện nhưng quả thật vợ chồng cũng có thể lìa xa vì nguy hiểm, vào lúc sinh tử tồn vong, Lưu Bị vẫn nghĩ đến dân chúng, và trong binh gia việc hành quân kéo theo gia đình là điều đại kỵ Lưu Bị đều không quan tâm tới những điều này, qua tấm lòng của ông đối với bách tính có thể nhìn ra tấm lòng nhân nghĩa lớn lao của ông. Nghĩa của Lưu Bị còn nằm ở niềm tin vững chắc của ông vào những người anh em kết nghĩa. Sau khi Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi bị quân đội của Tào Tháo đánh tan, trong chiến tranh loạn lạc, Lưu Bị một mình chạy đến Thanh Châu, nơi ông được Viên Thiệu bảo vệ. Quan Vũ vì bảo vệ phu nhân Lưu Bị mà bị rơi vào doanh trại của Tào Tháo. Sau này, khi Tào Tháo giao chiến với Viên Thiệu, Lưu Bị trong quân đội của Viên Thiệu lần đầu tiên nhìn thấy Quan Vũ ở doanh trại của Tào Tháo, ý nghĩ đầu tiên trong lòng ông là: “Tạ ơn trời, hóa ra sư đệ của ta đúng là đang ở chỗ Tào Tháo!”. Ông không một chút nghi ngờ Quan Vũ phản bội. Đây không phải điều người thường có thể làm được. Người bình thường liệu có thể không nghi ngờ sao?

    “Tam cố mao lư” (chỉ Lưu Bị đích thân ba lần đến lều cỏ của Gia Cát Lượng để mời bằng được Gia Cát Lượng ra giúp, lần thứ ba mới gặp) cũng là hiện thân cho chữ nghĩa của Lưu Bị. Ông hai lần đến thăm ngôi nhà tranh nhưng không gặp được Gia Cát Lượng, trong lòng phải chịu đựng sự tấn công của nhiều loại tâm lý, hoàn cảnh, nhưng ông không lời oán trách nào. Ông một mực chịu khổ đợi tới mùa xuân năm sau, chọn ngày lành, trai giới 3 ngày, xông hương, thay quần áo, tới lều tranh mời Gia Cát Lượng. Tấm lòng chân thành, kính trọng bậc hiền tài của ông có thể sánh với Chu Văn Vương khi mời Khương Tử Nha.

    Trung nghĩa của Quan Vũ

    Nghĩa của Quan Vũ nằm ở lòng trung thành của ông đối với bậc “nhân nghĩa” chân chính Lưu Bị, và tận tâm tận lực với người anh em kết nghĩa. Lòng trung thành của ông là nhân nghĩa, điều này kỳ thực chính là kiên định giữ vững đạo đức. Hậu nhân thường nói “Quan Vũ nghĩa bạc vân thiên” (nghĩa của Quan Vũ át cả mây trời xanh). Quan Vũ cố thủ Hạ Phi không thành, lâm vào bước đường cùng nhưng lại coi cái chết như không, quyết một trận tử chiến với quân Tào Tháo. Trước đó Trương Liêu của quân Tào đã tới thuyết phục Quan Vũ, nêu ra việc Quan Vũ chịu chết chính là phạm “ba tội”:

    1. Tội thứ nhất là phản bội lời thề trước đây. Khi kết nghĩa, Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi, ba người đã thề sống chết có nhau, nếu hôm nay Quan Vũ chết trận, mai sau Lưu Bị trở về, biết tin huynh đệ ra đi, thì phải làm sao?
    2. Tội thứ hai là cô phụ sự giao phó trọng trách. Nếu Quan Vũ mất mạng, ai sẽ bảo vệ hai người vợ của Lưu Bị?
    3. Tội thứ ba là bỏ mặc đại nghĩa quốc gia. Quan Vũ văn võ song toàn, lập chí phò tá Lưu Bị trợ giúp nhà Hán, nay chết vô ích thế, lẽ nào chẳng phải chỉ là hữu dũng vô mưu, đặt an nguy của thiên hạ ở chỗ nào?

    Ông ta cũng đề xuất “ba điều thuận” nếu quy hàng Tào Tháo: một là bảo vệ được phu nhân của Lưu Bị, hai là giữ lời thề kết nghĩa vườn đào, ba là giữ được tính mạng bản thân. Quan Vũ trầm ngâm nghĩ một lúc rồi nói với Trương Liêu: “Huynh có ba điều thuận tiện, ta có ba ước hẹn. Nếu Tể tướng Tào có thể làm theo thì ta cởi áo giáp, nếu không đồng ý, ta thà mang ba tội mà chết”.

    1. Thứ nhất, ta đã cùng Hoàng thúc lập thề cùng nhau giúp nhà Hán nên ta chỉ đầu hàng Hoàng đế nhà Hán, chứ không phải Tể tướng Tào.
    2. Thứ hai, Tể tướng Tào phải dùng lương bổng của Hoàng thúc phụng dưỡng hai chị dâu ta, người ngoài không ai được đến cửa. T
    3. hứ ba, hễ ta nghe thấy Hoàng thúc ở đâu, không quản trăm dặm nghìn dặm, lập tức ta cáo từ rồi đi theo. Ba điều ấy nếu thiếu một điều ta nhất thiết không hàng.

    “Ba ước hẹn” trung thành của Quan Vũ là thề ước và ước nguyện ban đầu, thủy chung không đổi với Lưu Bị, Trương Phi và nhà Hán. Nếu như không có ba giao ước như vậy mà đầu hàng, đó chính là một sự phản bội. Tào Tháo yêu mến và trân trọng nhân tài, rất yêu thích Quan Vũ, thấy rằng sự trung nghĩa của Quan Vũ rất đáng khen và đã đồng ý với yêu cầu của Quan Vũ. Hơn nữa Tào Tháo còn rất khoản đãi Quan Vũ “ba ngày mời yến tiệc nhỏ, năm ngày mời yến tiệc lớn”, “lên ngựa ban vàng, xuống ngựa tặng bạc”, phong quan thăng chức, còn cử mỹ nhân tới hầu hạ. Quan Vũ mang tiền bạc và các vật được cho tới độc viện của Lưu Bị phu nhân cất giữ, đồng thời sai các mỹ nữ đến hầu hạ phu nhân Lưu Bị. Quan Vũ biết Tào Tháo đối xử vô cùng ưu ái và hậu đãi mình, nhưng từ sớm ông và Lưu Bị đã “thề sống chết có nhau, không thể bội phản”. Vì vậy, một khi biết được tung tích của Lưu Bị, Quan Vũ nhất định sẽ rời đi, nhưng ông sẽ chỉ rời đi sau khi báo đáp ân tình của Tào Tháo.

    Sau đó, Quan Vũ giết tướng Nhan Lương của Viên Thiệu, Tào Tháo biết Quan Vũ sẽ bỏ đi nên lại ban thưởng. Không lâu sau, Quan Vũ gửi thư tới tướng phủ Tào Tháo, treo lại ấn quan tại nơi ở, và chỉ mang theo hơn 20 tùy tùng trước nay đã kinh qua ngàn dặm đường tháp tùng, bảo vệ hai phu nhân của Lưu Bị. Sau khi Quan Vũ rời đi, người của Tào Tháo muốn đuổi theo Quan Vũ, nhưng Tào Tháo không đồng ý, cho rằng “người này đều là vì chủ của mình, chớ đuổi theo”. Nghĩa của Quan Vũ còn thể hiện ở chỗ “biết ân ắt báo đáp”, và có niềm tin vào “có thủy có chung”, ngọc có thể vỡ nhưng không thay đổi được sự trong sáng của nó, “chết không mất tiết tháo, coi cái chết như không”…

    Nghĩa cương trực của Trương Phi

    Lần đầu Trương Phi gặp Lưu Bị, nói chưa được vài câu, đã hào sảng và quả quyết với Lưu Bị rằng: “Tôi có rất nhiều tiền, có thể lấy ra chiêu mộ người dũng cảm, cùng huynh làm đại sự, được không?”. Trương Phi đánh kẻ trộm cướp để yên dân, thấy việc nghĩa không từ, không chút do dự đóng góp tiền bạc, vật chất của cá nhân, thật sảng khoái làm sao, thực là hình ảnh hoàn toàn trái ngược với kẻ tiểu nhân thấy lợi quên nghĩa. Trương Phi trên cầu Đương Dương gầm lên một tiếng kinh thiên động địa: “Tiếng vang như sấm rền, một mình đẩy lui trăm vạn quân Tào!”. Sự uy mãnh và trí tuệ này đã làm chấn động lòng người. Ông tức giận, trừng phạt các quan tham, trừng trị cái ác và bảo vệ người dân. Trương Phi thể hiện nội hàm nghiêm trang của “nghĩa”. Thiện đãi lão tướng Hoàng Trung, và nhiều lần thể hiện tinh thần nghĩa hiệp, cương trực, dũng mãnh của mình.

    Trương Phi là một dũng tướng anh dũng trong “Tam quốc diễn nghĩa“. Mặc dù sau khi uống rượu, dễ tỏ ra thô lỗ với người khác, và có những nhược điểm, nhưng tính chính trực, quyết đoán, dũng cảm và có dũng có mưu là đặc điểm chủ yếu của Trương Phi.

    “Nghĩa bạc vân thiên” không chỉ đúng với Quan Vũ mà cũng đúng với Lưu Bị và Trương Phi.

    Điều đáng tiếc là sau khi Lưu Bị kiến lập Thục quốc, Quan Vũ dần dần tỏ ra tự phụ, kiêu ngạo, thiếu khoan dung, cuối cùng bị trúng kế, thất bại bỏ chạy khỏi Mãnh Thành và bị Đông Ngô giết chết. Còn Lưu Bị và Trương Phi lại lâm vào nóng lòng muốn báo thù cho huynh đệ, xử lý sự việc theo cảm tình, dốc hết sức của cả nước Thục tấn công Đông Ngô, kết quả là không chỉ tống táng binh lực nước Thục mà cả Trương Phi cũng chết oan uổng.

    Nếu họ có thể duy trì đại nghĩa “coi thiên hạ làm trách nhiệm của mình” như lúc ban đầu, có lẽ mọi chuyện đã không như thế này. Không ai là hoàn hảo, dù hành vi của ba vị nghĩa sĩ là Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi cũng có sai sót nhưng họ đã là những người rất tốt, trong suốt cuộc đời của mình họ đã thể hiện ra được nội hàm của chữ “nghĩa” và để lại một câu chuyện đẹp về “ba anh em kết nghĩa vườn đào”, được hậu thế kính ngưỡng.

    Khánh Lan

    Nguồn: (Sưu tầm theo web TNĐ – Tân Đường Nhân).

    Bộ ba Ngọc Cường, Nguyễn Văn Thành, Việt Hải là tam nhân kết nghĩa văn học nhại theo tích xưa.

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    TAM NHÂN VƯỜN ĐÀO: Ngọc Cường, Nguyễn Văn Thành, Việt Hải

    Buổi lễ kết nghĩa “Vườn Đào” giữa ba nhà văn được tổ chức trong bầu không khí thân mật tại tư gia của Mạnh Bổng & Khánh Lan ngày 25 tháng 04, 2023 với sự hiện diện của các anh chị em thành viên của hai nhóm văn học: Ninhhoa.com và Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    CNS LÂM DUNG, NV THANH TRÍ, NV LÊ THỊ ĐÀO

    Sau bữa ăn trưa là chương trình văn nghệ bỏ túi do anh Khanh đánh keyboard và các anh chị trong nhóm Tiếng Thời Gian cùng góp tiếng hát giúp vui. Cũng trong ngày hôm ấy, NV Ngọc Cường đã để lại một ngạc nhiên bất ngờ cho chị Bích Điệp, người vợ 50 năm “Đầu ấp tay gối ” một bài thơ do anh sáng tác, NS Phan Đình Minh phổ nhạc và ban tam ca Tiếng Thời Gian trình diễn (Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên).

    NV NGỌC CƯỜNG VÀ PHU NHÂN, BÍCH ĐIỆP

    Bài hát đã để lại nhiều xúc động cho chị Bích Điệp và chị đáp lại tình yêu của NV Ngọc Cường bằng bài Niệm Khúc Cuối của NS Ngô Thụy Miên.  

    NVNT & TTG CHÚC MỪNG TAM NHÂN VƯỜN ĐÀO

    Khánh Lan

  • Âm nhạc,  Vương Trùng Dương

    Dạ Khúc (Sérénade)

    “Khi tôi muốn ca hát về tình yêu thì tình yêu lại biến thành đau khổ. nhưng khi tôi chỉ muốn hát về đau khổ thì đau khổ lại hoá thành tình yêu”. (Franz Schubert)

    Nhạc sĩ người Áo Franz Schubert (1797-1828) là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất vào Thời kỳ Cổ Điển (1730-1820) & Thời Kỳ Lãng Mạn (1800-1910) ở Âu Châu. Nhạc sĩ tài danh của nhân loại nhưng lúc sinh thời, ông gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống và tình yêu. Nhạc phẩm Sérénade của Franz Schubert được phổ biến khắp nơi trên thế giới trong hai trăm năm.

    Franz Schubert, Ludwig van Beethoven, Franz Liszt là học trò nổi tiếng của nhạc sĩ Ý Antonio Salieri (1750-1825) nhưng tên tuổi của Schubert không được nổi tiếng lúc sinh thời.

    Schubert sống lang bạt, nay đây mai đó “Gần như cả cuộc đời, Schubert không có được một mái nhà, lại cũng chẳng có được chiếc dương cầm để bầu bạn. Vì vậy có nhiều sáng tác của chính mình, Schubert chưa bao giờ được nghe qua. Thường xuyên trong cảnh bữa đói, bữa no, sáng tác trong giá rét, Schubert có thói quen soạn nhạc vào buổi sáng, thích đi xem kịch, uống bia với bạn bè…”. Schubert nghèo đến nỗi, hàng ngày ông thường đến nhà bạn mượn piano để sáng tác.

    Trong bài viết trước đây, tôi đã đề cập đến nhạc phẩm Sérénade (Khúc Nhạc Chiều, Dạ Khúc). Đây là một trong những tác phẩm âm nhạc cổ điển nổi tiếng nhất, được rất nhiều ca sĩ nổi danh trình bày, và rất nhiều người yêu thích từ xưa đến nay.

    Theo ghi nhận, Franz Schubert sáng tác Sérénade vào năm 1826 để tặng sinh nhật cho một thiếu nữ mà ông thầm yêu. Để làm cho nàng bất ngờ, Schubert nhờ bạn thân là ca sĩ, trình bày ngay dưới cửa sổ nhà nàng. Tối đó, người ta bí mật khiêng cây đàn piano vào trong vườn, tất cả đã sẵn sàng cho buổi biểu diễn lãng mạn và độc đáo. Thế nhưng, Schubert lại quên không đến. Trớ trêu thay, cô gái lại đem lòng yêu chính chàng ca sĩ, thay vì nhạc sĩ Schubert. (Có lẽ chỉ là giai thoại để đánh dấu hoàn ảnh sáng tác nhạc phẩm?).

    Gần đây, có tài liệu cho rằng, nhạc phẩm nầy sáng tác vào năm 1823 trong tâm trạng buồn chán, đổ vỡ với mối tình thầm kín trong nỗi bất hạnh của Franz Schubert!

    Lied tiếng Đức với nghĩa là bài hát. Lied thường được soạn cho ca sĩ hát solo và piano hoặc violon. Người Đức sử dụng thuật ngữ đặc biệt Kunstlied (Ca Khúc Nghệ Thuật) để chỉ thể loại này. Franz Schubert đã sáng tác khoảng 600 Lieder (số nhiều của Lied).

    “Schubert đã không lọt vào mắt xanh của nhà mạnh thường quân nào đó trong giới quý tộc của Áo hay Châu Âu thời bấy giờ. Cả sự nghiệp đồ sộ với trên dưới một ngàn tác phẩm, nhưng vì không có phương tiện, sinh thời chỉ có khoảng 10% những sáng tác của ông được in ấn”.

    Vì vậy nhạc phẩm Sérénade được coi như nằm trong Lieder của Schubert mà trong khoảng thời gian đó nhạc sĩ không có tiền để mua giấy bút để chép lại đầy đủ.

    Năm 1815 Franz Schubert mới 18 tuổi, gửi sáng tác của ông đến nhà thơ Đức Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832), nhưng buồn thay, chẳng màng đáp lại. Với 70 bài thơ của Goethe được Schubert phổ nhạc nhưng nhà thơ chẳng quan tâm. Có lẽ cây đại thụ của thi ca Đức cho rằng “chàng nhóc ngưới Áo” dựa vào tên tuổi của ông nên lấy thơ phổ nhạc (?).

    Mãi đến năm 1830, hai năm sau khi Schubert qua đời, lần đầu tiên nhà thơ Goethe mới thưởng thức bản lied Erlkonig qua tiếng hát của nữ ca sĩ Wilhelmine Schroider-Devrient. Thi nhân ân hận gởi những giọt lệ muộn màng đến một thiên tài đã âm thầm đem lại phép màu để văn thơ của Goethe thêm tỏa sáng.

    Trong 16 năm sáng tác, nhạc sĩ thiên tài đoản mệnh Franz Schubert để lại cho đời gần một ngàn tuyệt tác nhưng lúc sinh thời không được ca ngợi… cho đến khi lìa trần!

    Trở về với cát bụi, Franz Schubert yên nghỉ tại nghĩa trang Währing, cách không xa ngôi mộ của nhạc sĩ Beethoven (qua đời vào tháng 3/1827). Năm 1888 mộ phần của ông được đưa về nghĩa trang trung tâm của thành Vienne, trong khu vực dành cho các nhạc sĩ nổi tiếng của nước Áo như Gluck, Beethoven, Johannes Brahms, Hugo Wolf…

    Thiên tài âm nhạc, nhà soạn nhạc người Áo Wolfgang Mozart (1756-1791) mất ngày 5/2/1791, để lại di sản âm nhạc lừng danh trên thế giới. Nhưng khi lìa đời quá hẩm hiu, đi theo chiếc xe ngựa của đám tang ông, chỉ có một con chó!

    Ở đời, biết bao cảnh tượng đau lòng đã xảy ra như vậy với những nhân tài của nhân loại, trong cao dao của ta có câu: “Lúc sống, thời chẳng cho ăn. Đến khi thác xuống, làm văn tế ruồi”.

    Như đã đề cập trong bài viết trước đây của tôi: “Với bốn nhạc sĩ tài danh sáng tác bốn ca khúc Sérénade nổi tiếng nhất:

    1. Sérénade số 13 của Mozart, thường được gọi là “Eine Kleine Nachtmusik” (tiếng Đức, có nghĩa “Tiểu Dạ Khúc”

    2. Sérénade của Schubert thường được biết với tên  “Sérénade de Schubert”

    3. Sérénade của Tosti được gọi tắt là “La Serenata”

    4. Sérénata của E. Toselli được mang tên Serenata “Rimpianto” (tiếng Ý: Rimpianto có nghĩa là Luyến Tiếc).

    Ở Việt Nam hai ca khúc Sérénade của Shubert và Toselli được Phạm Duy chuyển sang lời Việt (Sérénade của Shubert với tựa Dạ Khúc) và (Sérénata của Toselli với tựa là Chiều Tà).

    Giống như Sérénade, Nocturne thường gọi là Dạ Khúc (khúc nhạc đêm) xuất hiện khoảng thế kỷ 18. Frédéric Chopin (1810-1849) là nhạc sĩ sáng tác rất nhiều Nocturne (21 bài).

    Nocturne in E minor, Op. posth. 72, No. 1 (Nocturne in E minor – Dạ Khúc cung Mi thứ) Chopin sáng tác vào năm 1827, đầu tiên của ông được công bố vào năm 1855.

    Nhạc sĩ Franz Liszt (1811-1886) nhận định: “Chỉ duy nhất một thiên tài như Chopin mới đem lại cho thể loại dạ khúc tính chất nhạy cảm tinh tế và tình yêu mãnh liệt nồng cháy đến thế. Các Nocturne thơ mộng của Chopin không chỉ hát lên những bài ca du dương lòng người với những hoài niệm thanh cao dịu ngọt, mà còn lay động đến tâm trí con người những nỗi day dứt hoang mang đến ngộp thở”.

    Giữa quãng thời gian Thời Kỳ Cổ Điển (1730-1820) & Thời Kỳ Lãng Mạn (1800-1910) ở Âu Châu đã xuất hiện nhiều thiên tài âm nhạc đã để lại kho táng âm nhạc phong phú nhất trên thế giới.

    Nocturne cung Đô thăng thứ (Nocturne in C-sharp minor) do Chopin sáng tác năm 1830 và được công bố năm 1870, là một trong những bản nocturne hay nhất của ông. Bản nhạc này được chọn làm nhạc chính cho phim The Pianist, một bộ phim rất xúc động với bối cảnh là các trại tập trung của Đức Quốc xã.

    Ở Việt Nam có các nhạc phẩm Dạ Khúc của Nguyễn My Ca (lời: Hoàng Mai Lưu), Dạ Khúc của Nguyễn Văn Quỳ vào thời tiền chiến. Ở hải ngoại có Dạ Khúc của Phạm Anh Dũng. Trước năm 1975 có Dạ Khúc Cho Tình Nhân của Lê Uyên Phương…

    Với Sérénade, Nocturne, Dạ Khúc… (dù không có lời) nhưng với giai điệu, tiết tấu cũng mường tượng hình ảnh cô đơn, mang nỗi buồn man mác xa xôi!

    Thông thường những nhạc phẩm với hình ảnh chiều tàn với Giai Điệu (Le Mélodie) nhẹ nhàng với cung bậc trầm/bổng, Tiết Tấu (Le Rythme) khoan thai dễ ru vào lòng người.

    Điển hình các khúc với hình ảnh liên quan đến chiều qua các nhạc phẩm của các nhạc sĩ từ thời tiền chiến và trước năm 1975 ở miền Nam VN:

    Chiều Vàng của Nguyễn Văn Khánh, Lá Đỗ Muôn Chiều của Đoàn Chuẩn & Từ Linh, Tiếng Chuông Chiều Thu  của Tô Vũ, Áng Mây Chiều của Dương Thiệu Tước, Chiều của Dương Thiệu Tước (thơ Hồ Dzếnh), Bóng Chiều  Xưa (Tango) của Dương Thiệu Tước, Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn, Nương Chiều, Chiều Về Trên Sông của Phạm Duy, Chiều Thu Ấy, Chiều Hoang Vắng của Lam Phương, Đò Chiều của Trúc Phương, Chiều Thương Đô Thị của Song Ngọc & Hoài Linh, Ý Nhạc Chiều  của Nguyễn Hiền, Chiều Tím của Đan Thọ (lời Đinh Hùng), Hình Ảnh Một Buổi Chiều của Lâm Tuyền (lời Dạ Chung), Khúc Nhạc Chiều Mơ  của Ngọc Bích, Chiều Cố Đô của Hoàng Thi Thơ, Đà Lạt Hoàng Hôn của Minh Kỳ & Dạ Cầm, Chiều Làng Em (vui vẻ), Chiều Cuối Tuần của Trúc Phương, Tình Khúc Chiều Mưa  của Nguyễn Ánh 9, Nhớ Một Chiều Xuân  của Nguyễn Văn Đông, Sương Lạnh Chiều Đông  của Mạnh Phát, Một Chiều Đông  của Tuấn Khanh…

    Với hình ảnh đời lính vẫn thuần túy về nghệt thuật trong những ca khúc trữ tình: Chiều Mưa Biên Giới của Nguyễn Văn Đông, Chiều Trên Phá Tam Giang của Trần Thiện Thanh (thơ Tô Thuỳ Yên), Chiều Hành Quân của Lam Phương, Chiều Biên Khu của Tuấn Khanh, Chiều Trong Rừng Thẳm của Anh Việt…

    Nhưng có khi nhanh, dồn dập khi “Màn đêm xuống dần, muôn ánh đèn đột nhiên như ngời sáng…” như Đêm Đô Thị của Y Vân. Đây là ca khúc rất tiệt kiệm lời ca nhất vì trong 3 điệp khúc có 6 câu với “Lá lá lá lá la la, lá lá lá lá la”  cũng thật thú vị.

    Nếu so sánh với 4 ca khúc nhạc chiều với các nhạc sĩ lừng danh trên thế giới: Mozart, Schubert, Tosti và  E. Toselli như trên… thì nhạc chiều của các nhạc sĩ Việt Nam rất phong phú.

    Trở lại Sérénade của Franz Schubert, qua lời Việt: Dạ Khúc của Phạm Duy:

    “Chiều buồn nhẹ xuống đời

    Người tình tìm đến người

    Thấy run run trong chiều phai.

    Vẻ sầu của đoá cười

    Tình bền của lứa đôi

    Thoáng hương trong chiều rơi.

    Chiều nay hát cho xanh câu yêu đời

    Cho người thôi khóc thương ai

    Cho niềm yêu đến bên tôi.

    Chiều nay lỡ ghé môi trên mi sầu

    Ru người qua chốn thương đau

    Cho làn nước mắt chìm sâu.

    Tình đời toả mát màu

    Chiều nay là lúc đầu

    Nói cho nhau nghe đời sau.

    Nhẹ nhàng người đắm sầu

    Kể lể chuyện kiếp nao

    Có ai chia lìa nhau.

    Một ngày đó tóc mây đã phai mầu

    Có chờ ta oán trách đâu

    Có vì duyên kiếp không lâu.

    Ðời sẽ thấy chúng ta sống không cầu

    Cho tình cứ úa phai mau

    Cho người cứ mãi phụ nhau.

    Dù một ngày đời sẽ vỡ tan rồi

    Người về khuất chân trời

    Nhớ nuôi cho hương một chiều

    Vương vấn đời…!

    Cuộc tình vĩnh viễn xa vời

    Chỉ còn thương nhớ mà thôi!”

    Có nhiều ca sĩ trình bày, với tôi, tiếng hát Thái Thanh trước năm 1975 rất tuyệt, từ xưa đến nay.

    Mời nghe lại qua YouTube:

    Nếu dựa theo nguồn tin mới về thời điểm nhạc phẩm Sérénade của F. Schubert như vậy thì đến nay tròn hai trăm năm. Hai thế kỷ đã qua của nhạc sĩ tài danh nhưng mệnh bạc!

    Triết gia Kierkegaard  cho rằng “Tôi chỉ có một người bạn, và đó là tiếng vọng. Tại sao nó lại là bạn của tôi? Vì tôi yêu nỗi buồn của mình, và tiếng vọng không cướp mất nó. Tôi chỉ có một người bạn tâm tình, và đó là sự im lặng của trong đêm”. Và khi bóng đêm hiện về, trong im lặng, cô tịch thường gợi nhớ nỗi buồn của quá khứ.

    Vương Trùng Dương

    Little Saigon, April 2023