-
MẠN BÀN VIỆC PHỔ NHẠC CHO BÀI THƠ

Chủ dề “Phổ nhạc tù thơ“, theo Wkimedia blog thì Phổ nhạc là nghệ thuật dựa theo lời và ý của bài thơ mà viết thành bài nhạc. Trên thế giới, từ thời âm nhạc phục hưng, Rondeau cùng với ballade và virelai là ba hình thức thơ Pháp phổ nhạc vào cuối thế kỷ 13 cho đến thế kỷ 15. Về nhạc tính trong văn chương truyền thống Việt Nam, phải nói là trong ngôn ngữ Việt vốn giàu âm nhạc tính với âm vang trầm bổng chen lẫn trong thơ là nhạc. Các loại văn vần trong văn chương Việt Nam như lục bát, song thất lục bát, hát nói đều đi đôi với ngâm vịnh, xướng hát. Những điệu dân ca như hát ru, hò cũng hay mượn ca dao làm lời.
Giữa thơ ca và tân nhạc Việt Nam, nghệ thuật đem ý lời thơ lồng vào nốt nhạc để hát lên là phổ nhạc. Việc chuyển từ thơ thành nhạc có thể chỉ dùng ý để gợi lên những hình ảnh trong ca khúc, nhưng cũng có khi theo sát lấy câu thơ làm ca từ. Trong một bài thơ có khi bài nhạc chỉ rút một đoạn mà không đụng đến những đoạn kia, hay hoán chuyển tự sự nên việc phổ nhạc có thể chỉ là phỏng theo. Có người nhận xét thì thơ phổ nhạc là sự đồng cảm, đồng điệu giữa nhà thơ và nhạc sĩ. Phong cách này phổ biến trong dòng nhạc tiền chiến và sau đó được nhiều nhạc sĩ Việt Nam áp dụng suốt thế kỷ 20. Bài thơ được chọn phổ nhạc thường có nội dung phi thời gian.
Theo bài của tác giả Đõ Bình ghi nhận về phạm vi Thơ Phổ Nhạc như sau: “Hành trình vào cõi thơ là làm một cuộc phiêu lưu vô tận. Thơ bắt nguồn từ cảm xúc tâm hồn, nơi ẩn chúa những mối tình thiêng liêng sâu kín nhất. Phải chăng làm thơ là đi giữa cõi mộng và thực để đời trổ nhánh đâm hoa và đưa thực vào mộng cho hồn vơi đi những nỗi đau trần thế. Thi nhân nặng nợ với tình thơ nào khác chi kiếp tằm nhả tơ? Người nghệ sĩ ước mơ lớn nhất của họ là để lại cho đời dăm ba tác phẩm, hay ít bài thơ đắc ý. Dù mai sau tác giả có đi vào quên lãng thì những vần thơ trác tuyệt đó cũng dệt cho đời những đóa hoa muôn sắc. Hồn thơ tựa làn khói, mùi hương; mà hương thì vô ảnh người đời chỉ cảm nhận chứ không thấy được hình tướng. Nhưng ngay cả lúc hữu hình, hồn thơ hóa thể thành sợi khói, vầng mây… chúng ta đều nhìn thấy nhưng nào ai nắm bắt được? Phải đợi đến lúc con tim rung cảm thúc đẩy, hồn thơ nhập vào thi nhân thơ mới bật. Thơ vốn sẵn trong thiên nhiên, hàm chứa nhiều tính chất trong trời đất. Ngôn ngữ của thơ đôi khi ẩn trong văn, nhạc và hội họa, nhưng hình ảnh và nhạc điệu của ngôn ngữ thơ lại rất khác với văn xuôi mà chỉ có những tâm hồn thơ mới cảm nhận được. Nhà thơ không làm công việc của nhà lý luận, nhà khoa học, nhà thần học hay triết gia… để tìm cái mới lạ trong thế giới hiện hữu, cái huyền bí của vũ trụ..vv.. nhưng thi nhân có thể sống với với tôn giáo, luân lý qua tâm linh để phát hiện thêm lẽ đạo của cuộc đời, và sống triết qua thơ? Thi sĩ Bùi Giáng đã thở bằng thơ trong bài đi vào cõi thơ, thi sĩ minh họa: «… Cõi thơ là cõi bồng phiêu».
Nhập vào thơ là sống trong cõi phiêu bồng. Cây khô cành chết làm sao có thể nở hoa, thơ cũng thế chỉ nở rộ ở những tâm hồn nghe được tiếng thở của con tim. Nhưng nghe được mới chỉ là cảm nhận giữa người và thơ cùng có chung một tần số. Muốn diễn tả những rung cảm đó qua thơ cần phải có thi hứng, mà thi hứng là do thiên phú, nhưng từ thi hứng đến nghệ thuật là bước khá dài, đòi hỏi nhiều nghiên cứu học hỏi. Thơ có thể là vần hay không vần, nhưng đó chỉ là một trong những chất liệu dự phần của cấu trúc trong quá trình hoàn thành thơ. Một chuỗi câu, nhóm từ, cắt ráp kiểu tiền chế được kết lại, nếu chỉ dựa vào vần dễ biến thành bài vè. Và một số câu, nhóm từ không vần nếu không có các yếu tố khác phụ thêm để hoàn chỉnh thơ, cũng biến thành đoạn văn xuôi thiếu mạch lạc và trong sáng.
Thơ và nhạc là hai nghệ thuật riêng biệt nhưng rất khắng khít nhau làm say đắm lòng người. Thơ là nghệ thuật của «lờì», nhạc là nghệ thuật của «âm thanh». Trong thơ có chứa: Tư tưởng, triết lý, tôn giáo, hội họa, âm nhạc… ngoài những chất liệu như ngôn từ, hình tượng, vần điệu, niêm luật, ẩn dụ, hoán dụ… trong cấu trúc để hình thành nên thơ, riêng thơ Việt Nam và thơ Trung Hoa còn có thêm chất họa vào nhạc. Âm nhạc là một môn nghệ thuật dùng âm thanh làm ngôn ngữ để diễn đạt tư tưởng và tình cảm con người. Ngày nay người ta còn dùng âm nhạc trị bệnh tâm thần (musicothérapie).
Âm nhạc gồm những đặc tính: cao dộ, trường độ, cường độ, và âm sắc, được ký hiệu bởi những hình nốt. Nghe những giai điệu dìu dặt khoan thai người thưởng lãm có cảm giác lạc vào cõi thiên thai, thơ mộng. Riêng thơ chưa có một định nghĩa nào là mẫu mực, “người ta chỉ cảm thơ là một môn nghệ thuật của nghệ thuật, phát xuất từ cảm xúc tâm hồn.”
Nói đến ca khúc, người ta thường có thói quen nghe nhạc qua cảm âm dựa trên lời ca mà ít chú ý đến thẩm âm, phần cấu trúc gồm giai điệu, tiết tấu, hay cách phối khí hòa âm vv… .Thơ phổ nhạc là nghệ thuật đem thêm âm hòa với âm thanh sẵn có trong thơ, hoặc thay đổi âm thanh của thơ chuyển thể thành những nốt nhạc để hát. Nhưng đọc thơ, hát thơ hay còn gọi là ngâm thơ hoàn toàn khác với nhạc thơ. Ðọc và hát thơ không cần áp dụng những quy tắc kỹ thuật cũng như mỹ thuật quá phức tạp của âm nhạc, vì nhạc trong thơ là những âm phát từ thanh bằng trắc của câu thơ; trong khi thơ trong nhạc hay còn gọi là tính nhạc gồm những hình tượng, ngôn ngữ được ngắt nhịp theo tiết tấu riêng để diễn tả giai điệu toàn bài chuyên chở tứ thơ.”. (Vài Nét Thơ Phổ Nhạc – Đỗ Bình)
Phổ nhạc là một kỹ năng cơ bản của một người nhạc sĩ…Nhiều người dù một nốt bẻ đôi không biết vẫn có thể cho ra đời những bài hát thật thuận tai hợp nhĩ, nhưng khả năng thiên phú đó không phải ai cũng có được. Nếu bạn không thuộc nhóm người may mắn ấy thì cũng đừng lo, cứ theo quy trình bài bản sau đây.
1. Tạo sườn bài nhạc cho ca khúc:
Muốn phổ nhạc, trước hết bạn cần phải xác định cấu trúc của bài hát. Viết ra giấy sườn bài mà bạn muốn khai triển theo, sắp xếp lại từng phần với lời nhạc cụ thể. Tạo những giai đoạn như sau.
Intro: Một đoạn nhạc dạo đầu ngắn để dẫn dắt người nghe đi vào bài hát. Nhạc cụ thường đóng vai trò chính trong phần này.
Nghĩ xem bạn sẽ chọn nhạc cụ nào để phù hợp với thể loại, phong cách, cảm xúc của bài hát. Có thể phối hợp nhiều loại nhạc cụ với nhau, nhưng nhớ rằng luôn phải có một nhạc cụ đóng vai trò chính. Thường nhạc cụ chính sẽ chơi lại giai điệu của phần Verse hoặc Chorus.
Verse: Đây là phần bạn sẽ kể câu chuyện của mình, nên cần chú trọng lời bài hát. Chú ý không để nhạc át mất phần lời hay làm người nghe mất tập trung, bỏ sót đi ý nghĩa của bài hát.
Chorus: Điệp khúc là phần quan trọng nhất, vì trong phần này bạn sẽ khoe giai điệu bắt tai của bài hát. Giai điệu đó nên lặp đi lặp lại để người nghe thêm dễ nhớ. Cả phần điệp khúc cũng sẽ xuất hiện nhiều lần, thường là sau mỗi đoạn verse. Tuy nhiên điệp khúc cuối cùng trước khi kết thúc bài hát thường có chút thay đổi để tạo bất ngờ.
Bridge: Đây là đoạn cao trào, không bắt buộc phải có trong tất cả các ca khúc nhưng là yếu tố cần thiết để đột phá khỏi cấu trúc nhàm chán thông thường. Phần này thường sẽ xuất hiện khi bài hát đã đi được 2/3 chặng đường. Phần lời cũng như nhạc cần có nhiều khác biệt để tạo bất ngờ cho người nghe. Nó đóng vai trò như một cú plot twist xoay chuyển hoàn toàn nội dung bài hát, hoặc là nơi mà bạn hé lộ bí mật ẩn giấu trong nội dung từ đầu bài hát.
Đừng quên nghĩ ra cách cái tên cho bài hát trước khi bắt tay vào phổ nhạc, thường chỉ cần vài từ ngắn gọn để gây chú ý cho người nghe.
2. Bắt liền tai những ý tưởng xuất hiện trong đầu:
Sự sáng tạo rất khó để nắm bắt vì nó thường đến vào những lúc bạn không có bất kỳ sự chuẩn bị nào hay những lúc bạn chẳng bao giờ ngờ tới. Một vài ý tưởng sáng tạo nhất sẽ lóe lên trong đầu khi mà trong tay bạn chẳng có nhạc cụ hay giấy bút để ghi lại.
Rất may là trong thời đại này, một cái smartphone Samsung Galaxy sẽ là giải pháp cho bạn. Ghi chú lại những ý tưởng trong đầu bạn vào phần note, hoặc nếu có thể, ngâm nga, humming song finding giai điệu bạn vừa nghĩ ra, gõ nhịp theo bằng tay và dùng smartphone để ghi âm lại. Đó sẽ là data dữ kiện.
3. Nghịch ngợm với nhạc cụ:
Dù biết chơi nhạc cụ là một lợi thế. Để khám phá ra những giai điệu thú vị, bạn chỉ cần ngồi nghịch ngợm trên phím đàn piano, hay búng string guitar khi tùy hứng đánh một vài nốt nhạc, hay vừa gẩy đàn mandolin, vừa ngâm nga một giai điệu bạn vừa bất chợt nghĩ đến trong đầu. Bạn sẽ khám phá ra một vài nốt nhạc hay giai điệu ngẫu nhiên được sắp xếp cùng nhau lại bay đến hay hay bất ngờ. Ngay cả khi bạn không chủ động, những ý tưởng và nguồn cảm hứng vẫn sẽ tự tìm đến khi bạn thả mình trong âm nhạc.
4. Sử dụng phần Siberius ghi ký âm:
Đặc biệt, khi bạn không biết chơi nhạc cụ, bạn vẫn có thể nhgịch Siberius software nhờ mánh ni sự trợ giúp soạn nhạ, thả các nốt nhạc trôi trên phíqm nhạc Siberius sơftware,.
5. Thêm phần hòa âm vào cấu trúc có sẵn qua Siberius software.
Siberius software cũng giúp bạn hòa âm là kỹ thuật sử dụng các nốt nhạc trong cùng một thang âm chồng lên nhau. Nói nôm na là làm cho bài hát hay hơn bằng cách thêm các giai điệu phụ song song để nâng cao nét nhạc phòng tắm lên giai điệu chính. Cách thông thường là sử dụng một giọng ca bè, hát lại phần lời ở một độ cao khác song song với giọng ca chính.
Các giai điệu chính phụ trong bài hát muốn tạo được sự hòa hợp cần phối hợp theo luật của đoạn nhạ mẫuc. Điểm mấu chốt là bạn phải xác định thang âm và nhịp của đoạn nhạc đó là gì để thêm các nốt nhạc phù hợp và sắp xếp nhịp cho đồng điệu. Điều này luôn được áp dụng khi hòa âm, phối khí nhạc cụ hay hay cho hát bè.
Để hòa âm chuẩn, bạn cần phải có kiến thức cơ bản về nhạc lý và nỗ lực tập luyện.
Tập hòa âm theo các bài hát có sẵn cũng là một cách để bạn cải thiện khả năng hòa âm của mình. Và đôi khi trong quá trình đó, bạn lại có thể sáng tạo nên những giai điệu mới dành riêng cho các ca khúc của mình. Nhớ là khi hòa âm là sử dụng nốt nhạc trong cùng một thang âm chồng lên nhau.
6. Chỉnh sửa lại nhiều lần:
Để cải thiện, trau chuốt, và cho ra đời một sản phẩm hoàn hảo nhất, hãy dợt đi dợt lại thật nhiều lần.
Một bài nhạc được soạn xong, dể nhạc bản được,bay bổng, vươn cao hơn, chúng ta cần kỹ thuật hòa phối khí góp phần vào. Hòa âm có thể hiểu nôm na là sự pha trộn nhịp làn điệu trong một ca khúc nào đó giúp ca khúc trở nên hay hơn và bắt tay người nghe nhất, tôn lên vẻ đẹp của tác phẩm. Thông thường một bản nhạc do nhạc sĩ viết nên chỉ có giai điệu đơn thuần dành cho ca sĩ hát. Muốn bản nhạc có “hồn” hơn hoặc tạo nên một bản HIT thì cần phải hòa âm vào từ đó mới có thể có được một ca khúc hay. Còn Phối khí trong một bài hát thường là sự pha trộn giữa các loại nhạc cụ với nhau. Sự kết hợp các nhạc cụ như: guitar, violon, trống, piano… kèm theo đó là một bản nhạc đã hòa âm trước đó sẽ tạo ra sự khác biệt cho bài hát. Khi có các nhạc cụ phối khí bài hát sẽ trở nên khác biệt hơn khi húng ta nghe nó và có thể mình cảm nhận nét mới lạ thú vị hơn.
Tài Liệu dùng phần mềm để viết nhạc và hoà âm trên máy điện toán (vi tính) dùng kỹ thuật Sibelius, xin tham khảo link sau:
https://cuongde.org/doco/62-music/4200-viet-nhac-tren-may-vi-tinh-bang-phan-mem-sibelius
(Việt Hải ghi nhận theo theo datanet và khoá Silicon Music Composers workshop.với NS. Minh Trí)
Việt Hải
-
Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam –
Dân số miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) vào cuối thập niên 60 khoảng 17 triệu người, nông thôn chiếm 70% và thành thị chiếm 30%. Tuy ở trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng với nền giáo dục khai phóng được mở rộng tạo cơ hội cho tuổi trẻ trên bước đường học vấn… Về lãnh vực văn chương đã phổ biến rất nhiều tác phẩm sáng tác, riêng về sách dịch rất phong phú để độc giả tìm hiểu thêm về văn chương ngoại quốc.Trong phạm vi bài nầy chỉ đề cập đến Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam đã ảnh hưởng lớn với độc giả trong hai thập niên qua. Đây chỉ liệt kê phần nào trong toàn bộ sách dịch, vì tài liệu sưu tầm còn thiếu sót và không nhận định, phân tích nên chỉ ghi nhận tổng quát dịch giả, tác phẩm… – VTrD
Người đầu tiên đặt nền tảng chữ Quốc Ngữ (tiếng Việt) là giáo sĩ người Bồ Đào Nha thuộc Dòng Tên Francisco de Pina (1585-1625). Giáo Sĩ Alexandre de Rhodes (1591-1660) nối tiếp công việc hoàn thiện hơn việc dùng chữ Quốc Ngữ, hoàn thành cuốn tự điển Dictionarium Annamiticium – Lusitanium – Latinium (Tự Điển An Nam – Bồ Đào Nha – La Tinh) năm 1651.
Cuốn sách Catechismus “Phép Giảng Tám Ngày” giáo sĩ Alexandre de Rhodes được in tại Roma năm 1651. Đây là cuốn sách chữ Quốc Ngữ đầu tiên của Việt Nam. (Cuốn sách nầy còn lưu trữ ở nhà thờ tại Tuy Hòa, Phú Yên).
Vào cuối thế kỷ XIX, chữ Quốc Ngữ trở thành văn tự chính thức tại Nam Kỳ vào năm 1882, học giả Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) khi làm quản nhiệm (ngày 16/9/1869) Gia Định Báo, tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở miền Nam. Gia Định Báo ra đời ngày 15/4/1865, do người Pháp Ernest Potteau làm tổng tài (quản nhiệm), đến năm 1869 Trương Vĩnh Ký (Petrus Ký – Tiếng Latin là Petrus, tiếng Pháp là Pétrus) thay thế Ernest Potteau. Gia Định Báo chủ trương: cổ động tân học, truyền bá quốc ngữ và giáo dục quốc âm. Trước đó, chữ Hán và chữ Nôm được phổ biến rộng rãi nên từ khi có chữ Quốc Ngữ được quảng bá nên các bậc tiền nhân muốn khai phóng qua sách, báo… cho nền văn học đất nước.
Tại Sài Gòn, trường trung học Petrus Ký (Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký) được thành lập năm 1928, là một trong những ngôi trường nổi tiếng nhất ở miền Nam Việt Nam. Cổng trường Trung Học Petrus Ký có khắc hai câu đối của giáo sư Hán văn Ưng Thiều: “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt. Tây Phương khoa học yếu minh tâm!”, có tượng đồng bán thân của cụ ở giữa sân trường.
Vào đầu thế kỷ XX, học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) nhà báo, nhà văn, dịch giả… có công đóng góp cho nền dịch thuật Việt Nam. Ông là chủ bút đầu tiên tờ Đăng Cổ Tùng Báo, ra đời ngày 28/3/1907, xuất bản bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ.
Lục Tỉnh Tân Văn (1910), Đông Dương tạp chí (1913), Trung Bắc Tân Văn (1915, nhật báo đầu tiên)… Người đầu tiên dịch Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa từ chữ Hán ra chữ Quốc Ngữ năm 1909. Người đầu tiên dịch các tác phẩm văn học cổ điển Pháp của Victor Hugo, Honoré de Balzac, Alexandre Dumas, Molière, La Fontaine … ra tiếng Việt đã đã đăng trên Đông Dương tạp chí và đã ấn hành, trong đó có Thơ Ngụ Ngôn La Fontaine Diễn Nôm (Les Fables de La Fontaine, 44 truyện) phổ biến rộng rãi, được trích đăng rất nhiều. Đặc biệt với Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du dịch ra tiếng Pháp. Người đầu tiên đưa kịch nói (các tác phẩm của Molière) lên sân khấu nhà hát lớn Hà Nội năm 1920 (*).
(* Vương Trùng Dương: Bệnh Tưởng, Bi Kịch & Cuộc Sống trên trang web Đặc San Lâm Viên http://www.dslamvien.com/2022/02/benh-tuong-hai-kich-va-cuoc-song.html
Học giả Nguyễn Văn Vĩnh cũng là người sáng lập ra Hội Trí Tri và Hội Dịch Sách. Ngày 26/6/1907 ở Hội Trí Tri Hà Nội, ông đã diễn thuyết về Hội Dịch Sách, và phổ biến trên Đăng Cổ Tùng Báo.
Những tác phẩm Tây Phương qua dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh tiêu biểu vào tiền bán thế kỷ XX như: Thơ Ngụ Ngôn của La Fontaine (Fables de La Fontaine) Trẻ Con của Perrault (Les Contes de Charles Perrault), Mai-Nương Lệ-Cốt (Manon Lescaut) của Abbé Prévost, Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ (Les Trois Mouquetaires), của Alexandre Dumas, Những Người Khốn Khổ (Les Misérables) của Victor Hugo, Miếng Da Lừa (La Peau de chagrin) của Honoré de Balzac., Guy-li-ve Du Ký (Les Yoyages de Gulliver) của Jonathan Swift, Tê-lê-mặc Phiêu Lưu Ký (Les Aventures de Télémaque) của Fénélon, Sử Ký Thanh Hoa (Le Parfum des Humanités) của Emile Vayrac, Chàng Gil Blax Xứ Santillane (Gil Blas de Santillane) và Tục Ca Lệ (Turcaret) kịch của Lesage…
Bốn vở kịch nói của Molière: Trưởng Giả Học Làm Sang (Le Bourgeois Gentilhomme), Giả Đạo Đức (Le Misanthrope), Bệnh Tưởng (Le Malade Imaginaire), Lão Hà Tiện (L’Avare).
Và, từ đó những tác phẩm Tây Phương đã được các học giả, nhà văn, nhà báo từ Bắc đến Nam được dịch sang tiếng Việt.
Trong quyển Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan, ấn hánh năm 1941, quyển I, mục Những Nhà Văn Hồi Mới Có Chữ Quốc Ngữ từ trang 35 đến trang 190, tiên phong với Trương Vĩnh Ký, nhóm Đông Dương Tạp Chí với Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, nhóm Nam Phong Tạp Chí với Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Luật…
Theo nhà văn Vũ Ngọc Phan “Trong số những học giả Việt Nam theo Tây học ấy, người ta phải kể đến hai người có tiếng nhất là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Trai (tức Paulus Của). Hai ông đã dùng chữ Quốc Ngữ để truyền bá học thuật về tư tưởng Âu Tây và soạn tự điển Việt Pháp để người Nam có thể dùng mà học tiếng Pháp. Việt Pháp Tự Điển của Paulus Của là một bộ tự điển mà gần đây cả người Bắc lẫn người Nam vẫn còn dùng” (trang 37). Quan trọng nhất với Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, 2 cuốn, in tại Sài Gòn năm 1895 và 1896. Bộ sách nầy được in lại nhiều lần cho các thế hệ sau nầy tra cứu.
*
Trong phạm vi bài nầy, chỉ đề cập Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Học Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam vì nói đến dịch thuật với tất cả tác phẩm từ Á sang Tây, Mỹ… bao quát, không thể tổng hợp trong bài viết. Gọi là Tây Phương nhưng thực ra chỉ vài nước ở Âu Châu… Nguyễn Văn Lục với bài viết 20 Năm Văn Học Dịch Thuật Miền Nam 1955-1975 trên tờ Hợp Lưu vào cuối năm 2004, giới thiệu tổng quát về sách dịch.
Nhà văn Võ Phiến (1925- 2015) năm 1975 định cư tại Hoa Kỳ, là người làm sống lại nền Văn Học Miền Nam. Với bút hiệu Tràng Thiên đã ấn hành:
Hăm Bốn Giờ Trong Đời Một Người Đàn Bà (của Stéfan Zweig) Sài Gòn, 1963), Các Trào Lưu Lớn Của Tư Tưởng Hiện Đại (của André Maurois) Sài Gòn, 1964), Truyện Hay Các Nước, tập 1 & II (cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng) Sài Gòn, 1965.
Năm 1999, ông ấn hành bộ sách Văn Học Miền Nam gồm 6 cuốn về truyện (3 cuốn), ký, tùy bút và kịch, thơ.
Cuốn sách Văn Học Miền Nam Tổng Quan, NXB Văn Nghệ năm 1988, vào thời điểm đó được đánh giá là tài liệu về Văn Học đáng tin cậy để sưu tầm.
Theo Võ Phiến phần sách dịch chiếm đến 60% số đầu sách (tên sách, tựa đề tác phẩm dịch thuật) được xuất bản tại miền Nam đến năm 1973, nó đã lên đến 80%. Và theo Trần Trọng Đăng Đàn, trong bài viết Văn Hoá, Văn Nghệ Nam Việt Nam 1954-1975, số dịch phẩm tại miền Nam trong 20 năm đó có thể được chia ra thành: Pháp 499 cuốn, Đài Loan và Hương Cảng 358 cuốn, Mỹ 273 cuốn, Nga 120 cuốn, Anh 97 cuốn, Nhật 71 cuốn, Ý 58 cuốn, Đức 57 cuốn. Các nước khác chiếm 38 cuốn. Như thế, các sách được dịch, bao gồm cả sách nghiên cứu và các sáng tác, nhưng chủ yếu là tiểu thuyết, đến từ cả Tây Phương, Mỹ Châu và Á Châu…
Những tác giả đã có công dịch thuật như Nguyễn Hiến Lê, Trương Bảo Sơn, Vũ Đình Lưu (Cô Liêu), Phạm Công Thiện (dịch các tác phẩm triết), Bùi Giáng, Phùng Khánh & Phùng Thăng, Nguyễn Hiến Lê, Tam Ích, Bửu Ý, Ngọc Thứ Lang, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Hữu Hiệu, Đỗ Khánh Hoan, Mặc Đỗ, Trần Phong Giao, Hoài Khanh, Hoàng Hải Thủy (phóng tác)…
Trong quyển Văn Học Miền Nam 1954-1975 của Nguyễn Vy Khanh năm 2019, Chương 6 đề cập đến Dịch Thuật & Văn Học nước ngoài, giới thiệu các dịch giả đóng góp.
Ngoài ra, nhiều dịch giả với một, hai tác phẩm trên nhiều lãnh vực rất phong phú, mở rộng kiến thức để nghiên cứu và giải trí…
Tư tưởng triết học Tây Phương được phổ biến ở miền Nam VN như Hiện Tượng Luận với Edmund Husserl khởi xướng, Merleau-Ponty, Gabriel Marcel, Heidegger, Karl Jaspers, Paul Ricoeur, Emmanuel Lévinas và Mikel Dufrenne… Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998) ấn hành 2 quyển về Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Đại, Sài Gòn 1963, ông cho biết phải học thêm tiếng Đức để tra cứu tài liệu. Phạm Công Thiện dịch 2 tác phẩm của Martin Heidegger: Về Thể Tính Của Chân Lý, Sài Gòn, 1968); Triết Lý Là Gì?, Sài Gòn, 1969)…
*
A.- Nobel Văn Chương Tây Phương & Tác Phẩm Dịch Thuật
Nobel Văn Chương (Văn Học) là một trong 6 bộ môn: Y Học & Sinh Học, Hóa Học, Vật Lý, Kinh Tế & Hòa Bình.
Giải Nobel Văn Chương đã được trao 114 lần từ năm 1901 đến 2021 cho 118 người (nam giới: 101 và nữ giới: 17). Ngày 6/10/2022, Viện Hàn Lâm Thụy Điển thông báo giải Nobel Văn Chương 2022 với nhà văn Pháp, bà Annie Ernaux, 82 tuổi. Đây là lần thứ 16 nền văn học Pháp có tên trên bảng vàng, nhà văn Annie Ernaux là phụ nữ Pháp đầu tiên đoạt Nobel Văn Chương và một trong những người cao tuổi nhất được vinh dự nầy.
1914 Không trao giải vì xảy ra Đệ Nhất Thế Chiến và 5 năm (1940-1944) không trao giải do xảy ra Đệ Nhị Thế Chiến.
Với các nhà dịch thuật ở Việt Nam rất quan tâm về giá trị các nhà văn đoạt Giải Nobel Văn Chương nên vào tiền bán kỷ XX đã dịch và giới thiệu ở trong nước.
Trong phạm vi bài nầy đề cập đến Nobel Văn Chương từ năm 1915 đến 1974, trong đó có những tác phẩm Tây Phương được sang tiếng Việt trong 20 năm (1954-1975) tại miền Nam VN. Hầu hết được dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp…
Danh sách nầy trên dựa vào trang web Wikipedia và các websites khác để tóm lược. Điển hình với các tác giả:
1915: Nhà văn Pháp Romain Rolland (1866-1940), ông viết về nhiều thể loại từ thi ca, âm nhạc đến kịch nghệ… biên khảo và phê bình. Musiciens d’Autrefois (Nhạc Sĩ Thời Xưa, 1908), Musiciens d’Aujourd’hui (Nhạc Sĩ Thời Nay, 1908), La Vie de Tolstoï (Cuộc Đời Tolstoy, 1911), Tác phẩm Jean – Christophe (1904-1912, 10 tập) và Au-Dessus De La Mêlée (Bên Trên Cuộc Chiến, 1915) đã góp phần chính trong Nobel Văn Chương. Tuy không có sách dịch nhưng nhiều bài viết trên các tạp chí văn học về nhà văn nầy.
1921: Nhà văn Pháp Anatole France (1844-1924): L’Histoire Contemporaine (Chuyện Thời Nay, 1897-1901), Đảo Chim Cánh Cụt (L’île des Pingouins, 1908), La Vie Littéraire (Đời Sống Văn Học, 1888-1892). Đây là nhà văn với các đoản văn của ông được học trong chương trình Việt Văn (Ban C) vì cách hành văn gọn gàng dễ hiểu.
1925: Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950), ông coi là nhà viết kịch Anh lẫy lừng ngay sau Shakespeare. Và các tiểu thuyệt tiêu biểu như: Immaturity (Non Nớt, 1879), The Irrational Knot (Cuộc Hôn Nhân Không Hợp Lý, 1880), Love Among the Artists (Tình Nghệ Sĩ, 1881)… MỘt số bài thơ của ông đã được dịch trên các tạp chí văn học.
1927: Nhà nghiên cứu văn học & triết học Pháp Henri Bergson (1859-1941) với các tác phẩm tiêu biểu như L’Evolution Créatrice (Tiến Hóa Sáng Tạo, 1907), Matière et Mémoire (Vật Chất & Ký Ức, 1896)… Linh Mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế đúc kết qua tác phẩm Henri Bergson, Năng Lực Tinh Thần.
1929: Nhà văn Đức Thomas Mann (1875-1955) được đánh giá là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất của Đức. với các tác phẩm tiêu biểu: Der Zauberberg (Núi Thần, 1924), Buddenbrooks – Verfall Einer Familie (Gia Đình Buddenbrook, 1901), Der Tod in Venedig (Chết Ở Venice, 1913)… Có nhiều bài viết về ông trên các tạp chí văn học (*nt)
1937: Nhà văn Pháp Roger Martin du Gard (1881-1958) với Jean Barois (1913), Les Thibault (Gia đình Thibault, 1922-1940) (*nt)
1946: Nhà văn Đức Hermann Hesse (1877-1962) với các tác phẩm: Tuổi Trẻ Băn Khoăn (Demian, 1919), Câu Chuyện Dòng Sông (Siddartha, 1922), Sói Đồng Hoang (Der Steppenwolf, 1927), Hành Trình Về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932) với những tác phẩm nổi tiếng của ông khi được giải Nobel Văn Chương năm 1946 nên được dịch ra tiếng Việt, quen thuộc với độc giả ở miền Nam VN. Ông là người uyên bác triết lý Đông Phương qua hai tác phẩm Siddartha (Câu Chuyện Dòng Sông, Phùng Thăng & Phùng Khánh dịch) và Die Morgenlandfahrt (Le Voyage du Matin, dịch sang tiếng Việt là Hành Trình Về Phương Đông), tác phẩm nầy trùng tên bộ sách của nhà văn Mỹ Baird Thomas Spalding, Nguyên Phong dịch Hành Trình Về Phương Đông. …
1947: Nhà văn Pháp André Gide (1869-1951). Ông là nhà văn nổi tiếng nhất ở thế kỷ XX, tác phẩm của ông được dịch từ trước như La Porte Étroite (Tiếng Đoạn Trường) do Đình Thạch dịch, Trung Bắc Tân Văn ấn hành năm 1937; La Symphonie Pastorale (Khúc Nhạc Đồng Quê), Đào Đăng Vỹ dịch, ấn hành năm 1954…
Các tác phẩm của ông như: Paludes, Les Nourritures Terrestres, Isabelle, L’École des Femmes, Robert, Œdipe… Đặc biệt với L’Immoraliste, 1902, La Porte Étroite, 1909, Les Faux-Monnayeurs, 1926… được nhiều dịch giả cùng dịch.
1948: Nhà thơ Vương Quốc Anh Thomas Stearns Eliot (1888-1965) với các thi phẩm The Love Song of J. Alfred Prufrock (Bản Tình Ca Của J. Alfred Prufrock, 1917), The Waste Land (Đất Hoang, 1922), The Hollow Men (Những Kẻ Rỗng Tuếch, 1925), Ash Wednesday (Ngày Thứ Tư Tro Bụi, 1930), Four Quartets (Bốn Khúc Tứ Tấu, 1935-1945)… với thơ ít dịch nguyên thi phẩm mà chỉ dịch một số bài trên các tạp chí.
1950: Triết gia Vương Quốc Anh Bertrand Russell (1872-1970) – (Đề cập ở phần Khuynh Hướng Triết Học & Văn Học)
1952: Nhà văn Pháp François Mauriac (1885-1970). Tác phẩm Thérèse Desqueyroux (Người Vợ Cô Ðơn) do Mặc Đỗ dịch năm 1956, giới thiệu với độc giả sau khi được giải Nobel Văn Chương (Năm 2022 nhà văn T.Vấn, ở Texas, dịch từ tiếng Pháp và đối chiếu với bản tiếng Anh, giữ nguyên tựa đề Thérèse Desqueyroux). Các tác phẩm tiêu biểu của ông như: Le Nœud de Vipères (Ổ Rắn Độc), Le Mystère Frontenac (Bí Ẩn Nhà Frontenac), La Fin de la Nuit (Đêm Tàn), Les Chemins de la Mer (Những Con Đường Của Biển), La Pharisienne (Người Đàn Bà Đạo Đức Giả), Mémoires Intérieurs (Hồi Ký Nội Tâm) (*nt)…
1957: Nhà văn Pháp Albert Camus (1913-1960). Ông là một trong những nhà văn ngoại quốc đã ảnh hưởng rất nhiều ở miền Nam VN.
Tác phẩm đầu tay L’Étranger (Người Xa Lạ) ra đời năm 1942, trở thành “hiện tượng” trong văn chương Pháp với Chủ Nghĩa Hiện Sinh (Existentialisme), tác phẩm La Peste (Dịch Hạch) viết năm 1938 nhưng sau đó hiệu đính lại mới ấn hành năm 1947. Trong văn học, hai nhà văn Simone de Beauvoir (1908-1986) và J.P. Sartre (1905-1980) gặp nhau từ năm 1929 và yêu nhau, sáng lập tờ báo Thời Mới (Les Temps Modernes) để truyền bá Chủ Nghĩa Hiện Sinh trong trào lưu văn học. Kết thúc cuộc tình Simone de Beauvoir viết cuốn Adieux: Một Lời Chia Tay Với Sartre (1981).
J.P Sartre mới là triết gia về Chủ Nghĩa Hiện Sinh, Albert Camus không phải là triết gia nhưng đem chủ nghĩa nầy vào văn học. Cùng cổ xúy cho Chủ Nghĩa Hiện Sinh, tình bạn giữa Albert Camus và J.B Sartre vào giữa thập niên 30, rạn nứt vào năm 1952… Và từ đó, ông viết những tác phẩm nói lên “phi lý” của con người trong cuộc sống.
Những tác phẩm của Albert Camus vào thập niên 60 được dịch ra tiếng Việt và không xa lạ gì với độc giả ở miền Nam VN. Bùi Giáng dịch nhiều tác phẩm của Albert Camus như: Le Malentendu (Ngộ Nhận), Caligula (Bạo Chúa Caligula), L’Été (Mùa Hè, nhan đề Mùa Hè Sa Mạc, Le Mythe de Sisyphe (Huyền Thoại Sisyphe), nhan đề Biển Đông Xe Cát, L’Homme Révolté (Con Người Phản Kháng)…
La Chute (Sa Đọa), Djémila (Gió Về), L’Envers et L’Endroit (Bề Trái & Bề Mặt), Noces (Giao Cảm), Trần Thiện Đạo dịch. La Femme Adultère (Người Đàn Bà Ngoại Tình), Nguyễn Văn Trung dịch, L’Exil et le Royaume (Lưu Đày & Quê Nhà), Trần Phong Giao và Vũ Đình Lưu dịch… Tác phẩm La Peste (Dịch Hạch), Hoàng Văn Đức dịch, 1966; Võ Văn Dung dịch, 1971…
Có thể nói, sau hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Kẻ Xa Lạ (1942) và Dịch Hạch (1947), thì tiểu luận Thần Thoại Sisyphus (Le Mythe de Sisyphe, 1942) là tác phẩm quan trọng bậc nhất của Albert Camus.
Thần thoại về Sisyphus, tiểu luận triết học của Albert Camus với lập luận của điều phi lý từ thời cổ đại xa xưa vẫn tồn đọng trong thời kỳ của Albert Camus. Tựa đề tiểu luận, vốn là tên trong chương sau cùng, được gợi dẫn từ câu chuyện của chàng Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp. Theo đó, bắt đầu từ lập luận phi lý rằng đời sống của mỗi cá nhân, ngay cả những cá nhân tự xác định cho mình một lý tưởng, mục đích cao đẹp, thường bị vây bủa trong những hành động đôi khi rất hoài công và vô vọng. Vì vậy quan niệm về phi lý đã bàng bạc trong tác phẩm cùa Albert Camus (*)
(* VTrD, trích trong bài viết Người Xa Lạ… Giữa Chúng Ta trên trang web https://t-van.net/vuong-trng-duong-tan-man-dau-nam-2022-nguoi-xa-la-giua-chng-ta/)
1958: Nhà văn Nga Boris Pasternak (1890-1960), tác phẩm Dr. Zhivago, với niềm vinh dự bản thân ông nhưng nỗi đau ở trong nươc (đề cập phần sau)
1961: Nhà văn Nam Tư Ivo Andrić (1892-1975). Tác phẩm The Bridge on the Drina (Chiếc Cầu Trên Sông Drina, 1945), Nguyễn Hiến Lê dịch
1964: Triết gia, nhà văn Pháp Jean Paul Sartre (1905-1980) được trao giải Nobel Văn Chương nhưng ông từ chối và cho rằng “Một nhà văn không nên cho phép mình trở thành người của một tổ chức”. Ông là triết gia nên đem tư tưởng “xiển dương” vào văn chương để quảng bá. Những tác phẩm của ông đã được dịch: La Nausée (Buồn Nôn), Les Mouches (Những Ruồi) Phùng Thăng dịch, Huis Clos (Kín Cửa) Trần Thiện Đạo dịch, Les Jeux sont Faits (Sự Đã Rồi), Nguyễn Xuân Hoàng & Trần Phong Giao dịch; Le Mur (Bức Tường). Với tác phẩm L’Être et le Néant (Hiện Hữu & Hư Vô) có nhiều bài viết phân tích về quan điểm của ông sau Essay on Phenomenological Ontology (Tiểu Luận Về Hiện Tượng Thực Chất Hiện Hữu). Nhà văn Huỳnh Phan Anh trong tác phẩm Văn Chương & Kinh Nghiệm Hư Vô năm 1968 đã đề cập đến J.P Satre.
1963: Nhà thơ Hy Lạp Giorgos Seferis (1900–1971) Hy Lạp, không có bản dịch tiếng Việt.
1965: Nhà văn Liên Xô Mikhail Solokhov (1905-1984), tác phẩm Sông Đông Êm Đềm (đề cập phần sau). Trong 3 nhà văn của thời kỳ Liên Xô thì ông được trong nước ca ngợi là văn văn vô sản, khác với nhà văn Boris Pasternak bị cho là phản động và nhà văn Aleksander Solzhenitsyn bị Liên Xô trục xuất!
1970: Nhà văn Liên Xô Aleksander Solzhenitsyn (1918–2008) với toàn bộ tác phẩm (đề cập ở phần sau).
1972: Nhà văn Tây Đức Heinrich Böll (1917-1985) được đánh già là nhà văn phục hồi nền văn học Đức…
(GS Phạm Văn Tuấn ở Úc ấn hành quyển sách ở Virginia (Hoa Kỳ) năm 2018: Nhà Văn, Nhà Thơ & Tác Phẩm, giới thiệu các văn thi sỹ đoạt gải Nobel và nổi danh trên thế giới).
1974: Nhà văn Thụy Điển Eyvind Johnson (1900-1976), tác phẩm Strändernas Svall (Sóng Biển, 1946), Krilon Romanren (Tiểu Thuyết Của Krilon, 1941-1943), Romanen om Olof (Tiểu Thuyết Olof, 1934-1937). Không có bản dịch tiếng Việt.
B.- Dịch Giả Miền Nam VN Với Các Tác Phẩm Văn Chương Tây Phương
Nhân đây, đề cập khái quát đến vài dịch giả miền Nam VN với các tác phẩm về văn chương Tây Phương (Trong phần nầy có những tác phẩm dịch thuật đã đề cập ở phần A: Nobel Văn Chương Tây Phương & Tác Phẩm Dịch Thuật)
– Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998). Ngoài tài hoa về thi ca, ông còn là dịch giả qua những tác phẩm:
Cõi Người Ta của Saint-Exupéry, 1966; Trăng Tỳ Hải của Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger, 1966; Khung Cửa Hẹp của A. Gide, 1966; Hoa Ngõ Hạnh của Shakespeare, 1966; Bạo Chúa Caligula của Albert Camus, 1967 – 1974; Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh, 1967; Ngộ Nhận của A. Camus, 1967; Con Người Phản Kháng của A. Camus, 1968; Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , 1968; Kẻ Vô Luân của A. Gide, 1968; Orphélia Hamlet của Shakespeare, 1969; Hòa Âm Ðiền Dã của A. Gide, 1969; Sương Bình Nguyên của các tác giả Âu Mỹ, 1969; Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery, 1973; Mùi Hương Xuân Sắc của Gerald de Narval, 1974…
Ông dịch rất thoáng, có khi không theo nguyên tác mà theo ý văn để diễn đạt. Còn sáng tác thơ tặng tác giả. Ông dịch Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh để học thêm chữ Hán. Tác phẩm Nhà Sư Vương Lụy của nhà văn Trung Hoa, nhà sư tên là Tô Mạn Thù (Su Manshu), Bùi Giáng dịch từ nguyên tác, Quế Sơn xuất bản năm 1969. (Có bản dịch sang tiếng Anh The Lone Swan của Geoege Kin Leung… (*)
(* VTrD, bài viết Bùi Giáng, Ðại Lão Cái Bang cho Giai Phẩm Xuân Bính Tý (1996) kỷ niệm 70 sinh nhật của ông. Trang web Đặc San Lâm Viên: http://www.dslamvien.com/2021/05/bui-giang-dai-lao-cai-bang.html
– Dịch giả Nguyễn Hiến Lê (1912–1984). Ông là nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học… Ông đã sáng tác, biên soạn và dịch thuật nhiều cuốn sách từ Đông sang Tây thuộc các lĩnh vực như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế… Ông đã ấn hành khoảng một trăm tác phẩm biên khảo, sáng tác, dịch thuật… về văn học, triết học, lịch sử, giáo dục, chính trị, kinh tế… đặc biết với guông danh nhân và sách học làm người. Nhiều tác phẩm của ông được coi là “sách gối đầu giường” cho giới trẻ.
Với các tác giả Tây Phương, ông đã dịch: Sống 24 Giờ Một Ngày của Arnold Bennett, ấn hành ở Sài Gòn năm 1955; Kiếp Người của Somerset Maugham, năm 1962; Quê Hương Tan Rã của C. Acheba, năm 1970; Cầu Sông Drina của I. Andritch, 1972; Thư Ngỏ Tuổi Đôi Mươi của André Maurois, năm 1968; Thư Gởi Người Đàn Bà Không Quen của André Maurois, 1970; Chinh Phục Hạnh Phúc của Bertrand Russell, 1971…
– Nhà văn Mặc Ðỗ (1917-2015). Ông tốt nghiệp luật song không hành nghề luật sư, làm báo ngay từ Hà Nội với tờ Phổ Thông. Năm 1954, ông di cư vào Sài Gòn chủ trương nhóm Quan Điểm và nhà xuất bản Quan Điểm
Người Vợ Cô Đơn (Thérèse Desqueyroux) của Francois Mauriac, Cảo Thơm 1966, Đất Sống 1973); Tâm Cảnh của André Maurois, Văn 1967; Anh Môn (Alain-Fournier, Cảo Thơm 1968); Một Giấc Mơ của Vicki Baum, Văn 1972; Con Người Hào Hoa (The Great Gasby) của Francis Scott Fitzgerald; Vùng Đất Hoang Vu của Lev Tolstoy, Đất Sống 1973); Giờ Thứ 25 của C. Virgil Gheorghiu, Đất Sống 1973); Những Vinh Nhục Của César Birotteau của Honoré de Balzac, Sài Gòn 1968.
– Tuy dịch vài tác phẩm nhưng được xem là tác phẩm dịch thuật có giá trị: Phùng Khành & Phùng Thăng.
Dịch giả Phùng Khánh – Ni Sư Trí Hải (1938-2003) tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh và dịch giả Phùng Thăng (1943-1975) là hai chị em ruột. Gia đình hoàng tộc rất mộ đạo Phật. Thân phụ là cụ Nguyễn Phước Ứng Thiều, cháu nội của Tuy Lý Vương Nguyễn Phước Miên Trinh.
Câu Chuyện Dòng Sông của Hermann Hesse (dịch chung với Phùng Khánh) năm 1965; Buồn Nôn của J.P Sartre (Phùng Thăng dịch) năm 1967; Những Ruồi của J.P Sartre (Phùng Thăng dịch) năm 1967; Sói Đồng Hoang của Hermann Hesse (Phùng Thăng dịch chung với Chơn Hạnh) năm 1969. Kẻ Lạ Ở Thiên Đường của Simone Weil (Phùng Thăng dịch). Tác phẩm nầy ấn hành năm 1973, trong phần giới thiệu, dịch giả bày tỏ tất cả nỗi lòng tiềm ẩn (*).
(* Cùng tác gia trong bài viết Dịch Giả Phùng Thăng, Giáo Sư Triết Trung Học Trần Quý Cáp Hội An trên trang web Việt Báo: https://vietbao.com/a309899/dich-gia-phung-thang-1943-1975-co-giao-su-triet-trung-hoc-tran-quy-cap-hoi-an).
– Dịch giả Trần Thiện Đạo (1933-2017) du học ở Pháp năm 1950 và định cư ở đây. Ông là dịch giả, nhà văn và nhà phê bình văn học.
Ông đã dịch các tác phẩm: Cậu Hoàng Con (Le Petit Prince) của Saint Exupéry, Giao Cảm (Noces) của Albert Camus, Bề Trái và Bề Mặt (L’Envers Et L’Endroit) của Albert Camus, Tiểu Luận Của Albert Camus, Sa Đọa (La Chute) của Albert Camus, Kín Cửa (Huis Clos) của Jean Paul Sartre, Phấn Đấu Cho Một Nền Tiểu Thuyết Mới (Pour un Nouveau Roman) của Alain Robbe Grillet, Im Lặng Của Biển Cả (Le Silence De La Mer) của Jean Bruller Vercors, Zadig của Voltaire, Ao Quỷ (La Mare Au Diable) của George Sand,…
Ông đã nhiều lần lên tiếng về bản dịch văn học, điển hình như 50 trang phê phán Những Ruồi (1967) của Phùng Thăng dịch Les Mouches của Jean-Paul Sartre. Ông phê phán những câu văn dịch quá nô lệ ngoại ngữ nguyên tác. Điều nầy thể hiện sự thật trọng với người dịch để có tác phẩm dịch thuật giá trị.
– Giáo sư Đỗ Khánh Hoan tốt nghiệp đại học Sydney, Úc, tiến sĩ văn chương đại học Columbia, Mỹ. Giáo sư Anh Văn trường trung học Chu Văn An và trưởng ban Anh văn đại học Văn khoa Sài Gòn.
Ông là người đầu tiên dịch và giới thiệu ba tập thơ của thi sĩ Ấn độ R. Tagore: Tâm Tình Hiến Dâng (The Gardener) NXB An Tiêm, 1969; Lời Dâng & Tặng Vật, An Tiêm, 1972 (Thi hào Tagore 1981-1941, người đầu tiên Á Châu được giải Nobel Văn Chương năm 1913).
Dịch giả Đỗ Khánh Hoan biết nhiều ngoại ngũ nên đã dịch trường ca của Homer (Iliad và Odyssey) với hơn 30,000 câu thơ trực tiếp từ tiếng Hy Lạp, Don Quixote từ tiếng Tây Ban Nha, Yến Hội của Platon, Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ Trẻ (J. Joyce), Bi Kịch Shakespeare, Khung Trời Nhỏ Hẹp (S. Maugham), Cây Đàn Miến Điện (T. Michio), Truyện Ngắn (A. Chekhov), Nông Trại Súc Vật (G. Orwell)…
– Nhà thơ Hoài Khanh (1934-2016), tự học, tự trau dồi sinh ngữ trở thành dịch giả, chủ trương nhà xuất bản Ca Dao.
Với các tác phẩm dịch thuật tiêu biểu với 3 tác phẩm của của Herman Hesse: Hành Trình Sang Đông Phương, 1967; Giáo Dục & Ý Nghĩa Cuộc Sống của Krishnamurti, 1969; Nghệ Thuật Truyền Thống & Chân Lý của Walter Kaufmann, 1967; Tuổi Trẻ Băn Khoăn, 1968; Quê Hương Tan Rã (Things Fall Apart của Chinua Achebe) Hoài Khanh và Nguyễn Hiến Lê dịch, năm 1970; Đâu Mái Nhà Xưa, 1973.
Về âm nhạc với những tác phẩm Mozart: Cuộc Đời & Sự Nghiệp của Percy M.Young, 1972; Tchaikovsky: Cuộc Đời & Nghệ Thuật của Percy M.Young, 1972; Beethoven: Một Phiến Tài Tình Thiên Cổ Lụy của J.W.N. Sullivan, Ca Dao xuất bản 1972… Sau khi đọc và đem khắc ván in Kim Vân Kiều tân truyện ở phố Hàng Gai, Hà Nội, học giả Phạm Quý Thích (1760-1825) – bạn của nhà thơ Nguyễn Du – viết bài “Thính Đoạn Trường Tân Thanh Hữu Cảm”. Bài thơ có hai câu cuối:
“… Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương”.
Hoài Khanh lấy câu đối để làm tựa đề cho tác phẩm quá tuyệt. Tôi tích nhạc cổ điển Tây Phương nên cũng “nghiền ngẫm” các tác phẩm dịch thuật nầy.
– Huỳnh Phan Anh (1940 – 2020), nhà văn, dạy triết ở các trường trung học. Các tác phẩm dịch thuât: Chuông Gọi Hồn Ai của Ernest Hemingway, 1972; Chuyến Viễn Hành Trong Đêm của Heinrich Böll, 1973); Tình Yêu & Tuổi Trẻ của Valery Larbaud, 1973), Tình Yêu & Lý Tưởng của Thomas Mann, 1974), Tình Yêu Bên Vực Thẳm của E. M. Remarque; Tình Cuồng của Raymond Radiguet, dịch chung với Nguyễn Nhật Duật, 1973)…
Huỳnh Phan Anh chủ trương nhóm Đêm Trắng cùng với nhà xuất bản Đêm Trắng, ông công tác với tạp chí Văn, tạp chí Vấn Đề, Khởi Hành… và đóng góp nhiều tiểu luận phê bình cho các tạp chí này.
Sau năm 1975, ông ở lại Sài Gòn, dịch các tác phẩm của André Maurois, Georges Simenon, Ernest Hemingway, Saint Exupéry, Erich Maria Remarque, Thomas Mann, Claude Simon, Jostein Gaarder, Jean-René Huguenin, Arthur Rimbaud, Anne Philipe…
Năm 2002 Huỳnh Phan Anh định cư ở Mỹ, qua đời năm 2020 tại San Jose. Thọ 80 tuổi (1940-2020).
– Nhà văn Hoàng Hải Thủy (1933-2020), năm 1952 được Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn của nhật báo Tiếng Dội. Ông chuyên phóng tác các tác phẩm ngoại quốc, điển hình như Đỉnh Gió Hú (Wuthering Heights) của Emily Bronté; Chiếc Hôn Tử Biệt, (A Kiss Before Dying) của Ira Levin; Đi Tìm Người Yêu (The Citadel) của A.J Cronin; Bóng Người Áo Trắng (The Lady in White) của Wilkie Collins; Tìm Em Nơi Thiên Đường (My Cousin Rachel của Daphne du Maurier); Anh Gù Nhà Thờ Đức Bà (Le Bossu de Notre Dame) của Alexandre Dumas; Tiếng Ca Cá Sấu (Never Find Sanctuary); Yêu Mệt (Le Repos du Guerrier của Lowell Bair – phóng tác 1969), Người Yêu, Người Giết (Le Deuxième Souffle) của Rotten Tomatoes; … Hay nhất là tác phẩm Kiều Giang (Jane Eyre) của Charlotte Brontë.
Tác phẩm One Hundred Years of Solitude (Cent Ans de Solitude) Garcia Marquez dày khoảng 800 trang, ông bỏ ra 60 ngày dịch là Trăm Năm Hiu Quạnh… nhưng khi đưa đi kiểm duyệt bị cấm vì Garcia Marquez “thân Cộng, chống chiến tranh Việt Nam, chống Mỹ”…
Ông là nhà văn, nhà báo có sức viết mạnh nhất ở miền Nam VN, có khi chỉ một năm, ông vừa viết vừa phóng tác và ấn hành đến bảy tác phẩm. Ông có nhiều bút hiệu, khi định cư ở Virginia, với bút hiệu Công Tử Hà Đông, mỗi tuần viết một bài trong chủ đề “Viết Ở Rừng Phong” tổng cộng 700 bài.
(*) VTrD bài viết Nhà Văn Hoàng Hải Thủy “Vĩnh Biệt Rừng Phong”! trang web Việt Báo:
*
C.- Chủ Nghĩa Hiện Sinh: Triết Học & Văn Học
Vào thời kỳ Hy Lạp cổ đại (trước công nguyên), các trường phái triết học xuất hiện nổi tiếng với các nhà toán học như: Thalès (624-547), Pythagore (570-496) rồi đến Héraclite (544-483), Xénophone (570-478), Parménide (540-470), Sophocles (496-406), Empédocle (490-430), Aristophanes (445-385)… Nổi tiếng và ảnh hưởng lớn tư tưởng triết học cho đến nay như: Socrate (469-399) với Chủ Nghĩa Duy Tâm, Platon (428-348, học trò của Socarte), Democrite (460-370, Chủ Nghĩa Duy Vật)…
Trải qua hai thiên niên kỷ, các trường phái triết học Âu Châu mới được thình hành với: Chủ Nghĩa Duy Tâm (chủ quan & khách quan), Chủ Nghĩa Hiện Thực, Chủ Nghĩa Duy Danh, Chủ Nghĩa Duy Lý (khai thác từ Parménide, triết gia, nhà toán học Pháp René Descartes (1596–1650) được xem là cha đẻ của triết học hiện đại), Chủ Nghĩa Kinh Nghiệm… Chủ Nghĩa Hoài Nghi (điển hình Blaise Pascal 1623-1662) cuốn Pensées là một kiệt tác), David Hume (1711-1776) ông được coi như là sáng lập ra trường phái thực nghiệm của Anh (British Empiricism), Chủ Nghĩa Lý Tưởng (điển hình với George Berkeley (1685- 1753) với quan niệm “Esse est Percipi” (tồn tại là được tri giác), dựa vào đó Friedrich Hegel (1770-1831), Karl Marx (1818-1883) khai thác cho chủ thuyết của họ, Chủ Nghĩa Thực Dụng với hai triết gia Mỹ Charles Peirce (1839-1914) và William James (1842- 1910) ảnh hưởng sang Âu Châu… Và đến Chủ Nghĩa Hiện Sinh.
Ảnh hưởng quan trọng nhất của từ Tây Phương đến miền Nam VN với Chủ Nghĩa Hiện Sinh (Existentialism), ra đời ở Đức cuối chiến tranh thế giới thứ nhất với chủ thuyết về Hiện Tượng Luận (như đã đề cập ở trên) với Martin Heidegger (1889-1976) và Karl Jasper (1883-1969), Merleau Ponty (1908-1961) sau đó Chủ Nghĩa Hiện Sinh phổ biến rộng rãi với Jean Paul Sartre (1905-1980), Garbie Marcel (1889-1978) với Le Mystère de l’Être (Huyền Nhiệm Hữu Thể), Être et Avoir (Hiện Hữu & Sở Hữu) (1918-1933), Albert Camus (1913-1960)… Từ triết học liên quan và ảnh hưởng đến văn học với các nhà văn đề cao về Chủ Nghĩa Hiện Sinh.
Như đã đề cập ở trên trong Nobel Văn Chương Tây Phương & Tác Phẩm Dịch Thuật, hai nhà văn nầy có ảnh hưởng sâu đậm và qua những tác phẩm được phổ biến trên thế giới.
Sartre không những là lý thuyết gia mà còn dùng tác phẩm văn chương để nói lên quan điểm nên ảnh hưởng sâu rộng đến cuộc sống trong xã hội, đặc biệt là trong giới trẻ. Ngay tự đề La Nausée (Buồn Non) nói lên phi lý trong cuộc sống vô nghĩa, không có câu trả lời.
Tác phẩm L’Étranger (Người Xa Lạ) mô tả hình ảnh của chàng trai vô cảm không hề nhỏ một giọt nước mắt trong đám tang của mẹ mình. Khi gây ra án mạng chàng không hiểu vì sao bản thân mình lại bóp cò. Sau khi bị kết án, chàng lại an ủi mình rằng “dù sao, đời cũng không đáng sống”. Cuối cùng ở ngục tù, chàng mong rằng vào ngày chịu tử hình, sẽ có một đám đông người tới coi, họ sẽ chào đón chàng.
Trong cuộc sống, loại người nầy cũng thường xảy ra, gọi là bệnh tâm thần (Pháp: Maladie Mentale, Anh: Mental Illness). Tài hoa của nhà văn là biến mẩu người bất bình thường trong tác phẩm L’Étranger trong thực tại xã hội.
Những tác phẩm của Albert Camus vào thập niên 60 được dịch ra tiếng Việt và không xa lạ gì với độc giả ở miền Nam VN. Bùi Giáng dịch nhiều tác phẩm của Albert Camus như: Le Malentendu (Ngộ Nhận), Caligula (Bạo Chúa Caligula), L’Été (Mùa Hè, nhan đề Mùa Hè Sa Mạc, Le Mythe de Sisyphe (Huyền Thoại Sisyphe), nhan đề Biển Đông Xe Cát, L’Homme Révolté (Con Người Phản Kháng)…
La Chute (Sa Đọa), Djémila (Gió Về), L’Envers et L’Endroit (Bề Trái & Bề Mặt), Noces (Giao Cảm), Trần Thiện Đạo dịch. La Femme Adultère (Người Đàn Bà Ngoại Tình), Nguyễn Văn Trung dịch, L’Exil et le Royaume (Lưu Đầy & Quê Nhà), Trần Phong Giao và Vũ Đình Lưu dịch… Tác phẩm La Peste (Dịch Hạch), Hoàng Văn Đức dịch, 1966; Võ Văn Dung dịch, 1971…
Có thể nói, sau hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Kẻ Xa Lạ (1942) và Dịch Hạch (1947), thì tiểu luận Thần Thoại Sisyphus (Le Mythe de Sisyphe, 1942) là tác phẩm quan trọng bậc nhất của Albert Camus.
Thần thoại về Sisyphus, tiểu luận triết học của Albert Camus với lập luận của điều phi lý từ thời cổ đại xa xưa vẫn tồn đọng trong thời kỳ của Albert Camus. Tựa đề tiểu luận, vốn là tên trong chương sau cùng, được gợi dẫn từ câu chuyện của chàng Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp. Theo đó, bắt đầu từ lập luận phi lý rằng đời sống của mỗi cá nhân, ngay cả những cá nhân tự xác định cho mình một lý tưởng, mục đích cao đẹp, thường bị vây bủa trong những hành động đôi khi rất hoài công và vô vọng. Vì vậy quan niệm về phi lý đã bàng bạc trong tác phẩm cùa Albert Camus (*)
(* VTrD, trích trong bài viết Người Xa Lạ… Giữa Chúng Ta trên trang web https://t-van.net/vuong-trng-duong-tan-man-dau-nam-2022-nguoi-xa-la-giua-chng-ta/)
Jean Paul Sartre (1905-1980) được trao giải Nobel Văn Chương năm 1964 nhưng ông từ chối và cho rằng “Một nhà văn không nên cho phép mình trở thành người của một tổ chức”. Ông là triết gia nên đem tư tưởng “xiển dương” vào văn chương để quảng bá. Những tác phẩm của ông đã được dịch: La Nausée (Buồn Nôn), Les Mouches (Những Ruồi) Phùng Thăng dịch, Huis Clos (Kín Cửa) Trần Thiện Đạo dịch, Les Jeux sont faits (Sự Đã Rồi), Nguyễn Xuân Hoàng & Trần Phong Giao dịch; Le Mur (Bức Tường); L’Être et le Néant (Hiện Hữu & Hư Không),
Đề cập đến J.P Sartre, nói thêm về học giả, triết gia Trần Đức Thảo (1917-1993).
Trong quyển Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc của Hoàng Văn Chí, ấn hành năm 1959 tại Sài Gòn được xem là tài liệu đầu tiên viết về văn nghệ sỹ ở miền Bắc sau năm 1954:
Chương 12: Các nhà học giả, theo tác giả Hoàng Văn Chí: “Lúc ông còn học ở trường Lycée Albert Sarraut, ông đã tỏ ra hết sức thông minh. Các thầy dạy ông, nhất là ông Ner đã kêu lên là không chấm nổi bài của ông. Ông đỗ tú tài triết học năm 1935, và năm sau ông đỗ đầu trong kỳ thi vào trường Normale Supérieure ở bên Pháp. Sau đó ông đỗ thạc sĩ về triết học và dạy ở Sorbonne.
Ở bên Pháp ông nghiên cứu thêm về triết học, xã hội học, viết nhiều bài trong các tạp chí văn học. Lúc đầu ông theo chủ nghĩa “Existentialisme” của Jean Paul Sartre, nhưng từ 1946 ông thiên về chủ nghĩa Mác, gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp, và viết báo đả kích ông Jean Paul Sartre. Ông này kiện ông tại toà, nhưng toà chưa xử, thì ông Thảo đáp tầu đi Mạc Tư Khoa, rồi thẳng đường về Bắc Việt (năm 1951).
Về đến nhà, ông bị giữ trong một khu rừng hẻo lánh trong chiến khu Việt Bắc và công tác người ta giao cho ông là dịch những truyền đơn địch vận từ tiếng Việt sang tiếng Pháp…
Trần Đức Thảo là điển hình của một nhà trí thức say mê chủ nghĩa cộng sản vì nghiên cứu chủ nghĩa ấy trên sách vở. Sự say mê đó đã tiêu tan từ ngày ông bước chân về nước và ngày nay sau kinh nghiệm Cải Cách Ruộng Đất ông đã hoàn toàn tỉnh ngộ…
Mặc dầu ông Thảo đã hy sinh địa vị cao quý ở Pháp để trở về nước tham gia kháng chiến, ngày nay ông vẫn bị quy là phản động số một, tay sai của đế quốc”>
Trần Đức Thảo đậu thủ khoa Thạc Sĩ Triết Học (Arégation de Philosophie) tại Pháp lúc mới 26 tuổi vào năm 1942. (Trước năm 1975 ở miền Nam VN, văn bằng Agrégé gọi là Thạc Sĩ, sau nầy ở trong nước văn bằng Master chỉ là Cao Học nhưng gọi là Thạc Sĩ). Với luận án Phương Pháp Hiện Tượng Luận Của Husserl, ông được xem là triết gia về lãnh vực nầy.
Cuối năm 1951 ông trở về miền Bắc, năm 1956-1957, ông bị liên lụy trong phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm khi công bố hai bài báo bàn đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. Ông không được trọng dụng và dần dà bị thất sủng từ đó cho đến năm 1991, ông sang Pháp chữa bệnh, mất tại Paris năm 1993. Ông viết cuốn tiểu luận Triết Lý Đi Về Đâu (in ở Pháp năm 1950) để phản biện với J.B Sartre, quyển sách nầy trước năm 1975 đại học Văn Khoa Sài Gòn có in cho sinh viên nghiên cứu. Trần Đức Thảo nổi tiếng khi tranh cãi với Jean-Paul Sartre trên tạp chí Les Temps Modemes ở Pháp được đánh giá ở thế thượng phong.
Hồi ký Trần Đức Thảo: Những Lời Trăng Trối (Trăng viết có chữ g) do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê thực hiện, Tổ Hợp Miến Đông Hoa Kỳ ấn hành năm 2014, gồm 16 chương dày 436 trang. Hiện có bán trên Amazon. Đây là tài liệu trung thực trong quãng đời 40 năm của ông ở Việt Nam… một nhân tài về triết học và chứng nhân thời đại. Chương 15 & 16: Đột Tử Trước Phần Chân Lý & Chết Rồi… Vẫn Gian Nan từ trang 398 đên trang 422, khác với những điều mà sau nầy ở trong nước viết về ông.
– Nhà văn Simone de Beauvoir (1908-1986) với cuộc tình giữa bà và Jean Paul Sartre, không chính thức đã gây nhiều bút mực. Trong khoảng 30 tác phẩm thì cuốn Deuxième Sexe ấn hành 1949 đã trở thành đề tài gây tranh cãi, phê phán thái độ kiềm toả của gia đình và xã hội gây ra sự bất bình đẳng giữa nam nữ.
Các tạp chí văn học ở Sài Gòn đã viết nhiều bài về Simone de Beauvoir nhưng (hình như) chưa có dịch phẩm nào ấn hành.
Trong cuộc trò chuyện Giữa Đất Trời Giao Hưởng giữa Thụy Khuê và Hồ Trường An cùng ở Pháp khi đề cập đến Simone de Beauvoir vào năm 2006. Thụy Khuê nhận định:
“Tư tưởng của Simone de Beauvoir đã dẫn đầu cho phong trào “giải phóng” phụ nữ trên thế giới. Nói đúng hơn, nhờ triết thuyết của Beauvoir mà cả một thế hệ phụ nữ, đã tự giải phóng mình ra khỏi những kiềm toả của gia đình và xã hội…
Beauvoir cho rằng chỉ có thể chấm dứt tình trạng nam nữ bất bình đẳng, nếu người phụ nữ tự ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình, đạp đổ những phỉnh lừa và áp đặt trong giáo dục gia đình và xã hội. Một khi đã ý thức được, thì chính người phụ nữ sẽ tìm cách tháo gỡ, tự lập, không hạ mình để trở thành femme-objet, được người đàn ông cung phụng, nhưng đồng thời cũng trở thành nô lệ…”
– Nhà văn Pháp Françoise Sagan (1935-2004), gần 50 tác phẩm văn chương của bà trong đó có một số theo trào lưu hiện sinh đã ảnh hưởng từ phương Tây đến miền Nam VN. Nhiều bài viết về tư tưởng của bà đồng tính luyến ái (tuy lập gia đình), phóng túng, tự do, thác loạn, sống buông thả… qua những bài viết trên các tạp chí ở Sài Gòn đã một thời gây sóng gió.
Tác phẩm đầu tay vào năm 1954 Bonjour Tristesse (Buồn Ơi Chào Mi) do Nguyễn Vỹ dịch năm 1959 và sau đó những tác phẩm của bà được phổ biến qua các dịch phẩm: Lê Huy Oanh dịch Buồn Ơi, Bắt Tay) ấn hành năm 1970. Tác phẩm Un Certain Sourire (Có Một Nụ Cười) do Nguyễn Minh Hoàng dịch; Dans un Mois, dans un An (Một Tháng Nữa, Một Năm Nữa) Bửu Ý dịch năm 1973; Les Merveilles Nuages (Những Đám Mây Huyền Diệu), Đinh Bá Kha dịch năm 1973… Un Peu de Soleil dans l’Eau Froide (Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh); Aimez-vous Brahms? (Anh có yêu Brahms?)…
Giữa thập niên 60, những nhà văn nữ Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng (Hoàng Đông Phương), Lệ Hằng qua vài tác phẩm, nhiều người cho rằng đã ảnh hưởng phần nào trào lưu hiện sinh của Francoise Sagan.
Tuy ở trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng nền tản tự do tại miền Nam đã cho phép các lý thuyết, trào lưu văn học này được giới thiệu và phát triển ở đây, thậm chí với những khuynh hướng trái chiều nhau.
Lý thuyết và chủ nghĩa hiện sinh không chỉ được phổ biến ở đại học còn xuất hiện trong sách báo, tác phẩm văn chương. Ngay cả trào lưu Hippie thịnh hành ở Sài Gòn với các ăm mặc, đầu tóc xuề xòa, nhạc rock, rượu chè… tuy có vẻ lập dị nhưng cũng không bị cấm đoán.
Vào thế kỷ 19 được coi là “Thời Kỳ Hoàng Kim” của văn học Nga (nửa thuộc Âu, nửa thuộc Á). Những nhà văn nổi tiếng trong thời kỳ nầy với nhiều tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp, tiếng Anh nên được phổ biến trên thế giới. Điển hình với hai nhà văn Fyodor Dostoyevsky và Leo Tolstoy, vài tác phẩm đã được dịch tiếng Việt vào tiến bán thế kỷ XX và sau nầy ở miền Nam VN.
Nhà văn Fyodor Dostoyevsky (1821-1881) tác phẩm Crime and Punishment, Crime et Châtiment (Tội Ác & Hình Phạt); The Possessed, Les Possédés (Lũ Người Quỷ Ám); Notes from Underground; Les Carnets du Sous-sol (Thạch Chương, nhạc sĩ Cung Tiến dịch Hồi Ký Viết Dưới Đường Hầm)… Nhà văn Leo Tolstoy (1828-1910) với The Brothers Karamazov, Les Frères Karamazov (Anh Em Nhà Karamazov); War and Peace (Chiến Tranh & Hòa Bình) qua bản dịch tiếng Anh của Aylmer Maude và Louise Maude. Bản dịch Chiến Tranh & Hòa Bình của Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn 1969. Tập 1: 758 trang, tập 2: 729 trang, tập 3: 733 trang, tập 4: 716 trang.
Các nhà văn trong thời kỳ Liên Xô hầu như không dịch các tác phẩm của các nhà văn phục vụ cho chế độ. Chỉ có hai nhà văn Boris Pasternak và Alexander Solzhenitsyn. Tác phẩm Bác Sĩ Zhivago của Boris Pasternak ra đời năm 1957 (tiếng Anh: Doctor Zhivago, tiếng Pháp: Docteur Jivago) được giải Nobel Văn Chương năm 1958 nhưng tác giả đang sống trong chế độ CS Liên Xô nên không được sang Thụy Điển nhận giải và bị Hội Các Nhà Văn Xô Viết (The Soviet Writers Union) kết tội là kẻ phản động, loại ra khỏi tổ chức!. (Tháng 12 năm 1989, con trai của Boris Pasternak là nhà văn Evguenii đã được mời sang Thuỵ Điển nhận giải thưởng thay ông, với những nghi thức long trọng như lễ trao giải chính thức)…
(Nguồn tin cũng cho rằng trong danh sách các ứng cử viên của giải Nobel Văn Chương lúc đó còn có nhà văn Mikhail Solokhov nhưng không được đoạt giải. Sông Đông Êm Đềm (Tikhy Don) được tặng Giải Nobel văn học năm 1965.
Tác phẩm Dr. Zhivago đã được Trường Văn và Song Tích phỏng dịch năm 1959 nên độc giả ở Miền Nam VN đã biết qua vì vậy khi cuốn phim nầy được trình chiếu, trở thành hiện tượng, khán giả đợi chờ, sắp hàng mua vé. Tựa đề cuốn phim (hình như Mai Thảo đặt) Vĩnh Biệt Tình Em. Sau đó bản dịch Bác Sĩ Zhivago, Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa xuất bản, 1969. Vĩnh Biệt Tình Em, Nguyễn Hữu Hiệu dịch, Sài Gòn, Tổ hợp Gió, 1974. Bác sĩ Zhivago, Nguyễn Hữu Hiệu dịch, Sài Gòn, nhà xuất bản Hoàng Hạc, đầu năm 1975.
Trong tác phẩm nầy, tôi cảm hứng viết bài: Lara, Người Tình Muôn Thuở, nhân vật nữ trong tác phẩm Bác Sĩ Zhivago.
(VTrD, trang web Việt Báo: https://vietbao.com/a291720/lara-nguoi-tinh-muon-thuo
Cho đến khi Alexander Solzhenitsyn được giải Nobel Văn Chương năm 1970 và bị trục xuất ra khỏi Liên Xô. Hầu hết các tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Việt. Bài viết “Solzhenitsyn, Chiến Hữu Văn Nghệ” của tôi đăng tải trên Đặc San Ức Trai của Trường ĐH.CTCT Đà Lạt năm 1974 đề cập đến những tác phẩm của ông. Khi ở Mỹ tôi đã viết lại (VTrD bài còn lưu trữ trên trang web T.Vấn & Bạn Hữu: https://t-van.net/vuong-trng-duong-alexander-solzhenitsyn-chien-huu-van-nghe/
Kết
Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Học… chỉ đề cập đến một số tác giả tiêu biểu ở những quốc gia trong khu vực Tây Phương được các dịch giả nêu trên (cũng chỉ là tiêu biểu) vì có rất nhiều dịch giả đã đóng góp trong hai thập niện (1954-1975) ở miền Nam Việt Nam không thể nào liệt kê hết. Với các tác phẩm nổi tiếng ở Tây Phương, khi được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh tạo điều kiện dễ dàng nên các dịch giả ở miền Nam VN dựa theo bản dịch đó.
Thật ra, việc sưu tầm tài liệu để viết về đề tài nầy, nếu ở trong nước có thể tham khảo trong các thư viện (nhưng hình như sau năm 1975, một số đã bị loại) may ra ở các nơi bán sách cũ…
Tại Mỹ, đại học Cornell, tiểu bang New York, với hệ thống thư viện rất lớn (gồm trên 20 thư viện; với công trình sưu tập khổng lồ là trên 7 triệu tài liệu in (printed materials, gồm cả sách và tạp chí) và nhiều lãnh vực khác trên thế giới. Với tài liệu của miền Nam VN may mắn được lưu trữ nơi đây. Trong hai thập niên (1991-2022) nhà văn Trần Hoài Thư nhờ tài liệu ở các thư viện nầy đã thực hiện được 100 tập san Thư Quán Bản Thảo, làm sống lại văn chương miền Nam.
Với tôi, đây không phải là biên khảo hoàn chỉnh mà là bài viết theo sự gợi ý của vị giáo sư ở Đức, ông thông thạo nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt. Trong thời gian qua, ông và tôi liên lạc với nhau qua email, ông am tường và thích nền văn học ở miền Nam VN, nên tôi “đáp lễ” qua gợi ý của ông.
Đề tài nầy quá bao quát, không thể tóm lược qua bài viết để trích dẫn thời kỳ dịch thuật văn học ở miền VN trong hai thập niên (54-75), ngay trong giai đoạn đó cũng chưa có tác giả nào tổng hợp. Mong rằng đóng góp phần nào về sách dịch Tây phương của một thời đã qua.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, October, 2022

-
Lễ Trao Giải Thưởng-Cuộc Thi Viết Văn Ứng Dụng Phật Pháp Trong Đời Sống
Khánh Lan soạn thảo bài viết dựa theo tài liệu Chùa Hương Sen của Ni Sư Thích Nữ Giới Hương.
Cuộc Thi Viết Văn Ứng Dụng Phật Pháp Trong Đời Sống lần thứ 7 bắt đầu thu bài từ tháng 4 năm 2022, do Ni Sư Thích Nữ Thích Nữ Giới Hương xướng xuất và chủ trì. Được biết, Ni sư Giới Hương cùng ban tổ chức đã gởi thư mời các thí sinh tham dự cuộc thi viết văn bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng Anh về ứng dụng Phật Pháp trong đời sống hàng ngày từ đầu tháng 5, 2022. Sau 8 tháng thu bài, Ban tổ chức giải thưởng quyết định sẽ chấm dứt nhận bài vào 12 giờ đêm giờ California ngày 30 tháng 10 năm 2022 và buổi lễ trao giải thưởng được ấn định vào lúc 7:00 giờ PM ngày 11 tháng 12 năm 2022.

Ni Sư Thích Nữ Giới Hương Ngày trao giải thưởng cuộc thi viết văn được tổ chức ngày 11 tháng 12, 2022 tại nhà hàng Seafood World thuộc thành phố Westminster, California. Giải thưởng được trao cho các tác giả có bài dự thi sáng tác xuất sắc bao gồm bằng khen và tiền thưởng với tổng số giá trị khoảng $25,000.00 gồm các giải như sau:
- Nhất : $5,000.00, Giải Nhì: $3,000.00, Giải Ba: $2,000.00
- Khuyến Khích, mỗi giải: $1,000.00
- Sáu giải Hương Pháp, mỗi giải: $500.00
- 50 giải Hoằng Pháp, mỗi giải: $200.00
Mục đích của Cuộc Thi là để khuyến khích hoằng pháp và vận dụng giáo Pháp Phật giáo một cách thiết thực vào đời sống con người. Trong chiều hướng ấy, một đoạn Kinh Phật về hoằng pháp của Đức Phật dạy trong Kinh Itivuttaka (Kinh Như Thị Thuyết), Kinh số 98 được MC Tịnh Tánh đọc.
“Này các Tỷ-kheo, có hai loại bố thí: Bố thí tài vật và bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí tối thượng trong hai loại bố thí này, tức là bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai sự phân phát này: Phân phát tài vật và phân phát Pháp. Đây là phân phát tối thượng trong hai loại phân phát này, tức là phân phát Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai loại nhiêu ích này, nhiêu ích tài vật và nhiêu ích Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là nhiêu ích tối thượng trong hai loại nhiêu ích này, tức là nhiêu ích Pháp.”
Trước khi buổi lễ trao giải thưởng bắt đầu Ni Sư Thích Nữ Giới Hương đọc diễn Văn Khai Mạc chào mừng quan khách và quý đồng hương Phật tử, diễn giảng về kim ngôn Đức Phật và ý nghĩa của Lễ trao giải Sáng tác Văn chương Hương Pháp-Hương Đạo. Theo Ni Sư Thích Nữ Giới Hương, khi dùng văn học để hoằng pháp, hộ pháp thì phải đọc nhiều kinh sách, nghiền ngẫm suy nghĩ về lời Đức Phật dạy, rồi tự lòng viết xuống qua ngòi bút của mình. Một khi có ý đạo ngấm trong người, chữ nghĩa mới có sức mạnh.

Đồng hương Phật tử tham dự buổi Lễ trao giải thưởng.

Ngoài sự hiện diện của 660 vị đồng hương Phật tử tham dự buổi Lễ trao giải thưởng, người viết nhận thấy có sự hiện diện của các vị Cao Tăng như Thượng Tọa Huệ Minh cùng 3 vị Phật tử trong ban Quản Trị Chùa Bảo Quang, Ni Sư Thích Nữ Diệu Tâm (Chùa Huệ Quang), Ni sư Thích Nữ Diệu Nghiêm (Tịnh thất Quang Âm, Menifee, California, Bác sĩ Đặng Trần Hạo, Bác Sĩ Kelvin Mai, Dược Sĩ Tina Quách, Nhà Văn Lê Giang Trần và Phu nhân Hải Hồ, Kỹ Sư Nguyễn Xuân Hiệp Scottie, Điều Hành Công Ty Xây Dựng Thiết Kế Simplified Builders và 3 thành viên (phụ trách công trình xây dựng Chùa Hương Sen) và các là vị Giám khảo của Cuộc thi Viết Văn Ứng Dụng Phật Pháp gồm Đạo hữu Tâm Diệu, điều hành nhà xuất bản Ananda và Sáng lập chủ biên Thư Viện Hoa Sen; Đạo hữu Nguyên Giác (Ký giả Việt Báo), cùng phu nhân Ledung Bui; Cô Ngọc Bảo, Cộng tác viên của tạp chí Trúc Lâm, Chùa Bảo Quang; Hoàng Mai Đạt, chủ biên của Báo Viễn Đông và chủ trương tạp chí Tinh Tấn Magazine cùng Phu nhân Minh Thủy; Nhà Văn Khánh Lan, cộng tác viên của nhiều tạp chí Văn Học cùng Phu quân Mạnh Bổng; Văn Nguyên Hà, cộng tác viên của nhiều tạp chí, báo, đài radio, truyền hình ở Miền Nam Cali và Texas cùng Phu nhân Linda. Sự hiện diện của Ca Nhạc Sĩ Nam Hưng và Ca sĩ Ngọc Huyền với những bài hát đạo như “Cùng Một Chuyến Đò – Chúc Xuân Đạo Đời” (nhạc Đài Loan, Lời Việt: Ngọc Huyền) và phật tử Thiên Thanh trong bài: Hoa Ưu Đàm Đã Nở (Thơ: Thích Nữ Giới Hương, Nhạc: Nam Hưng) đã làm tăng thêm phần sống động của buổi phát thưởng.

Ni sư Thích nữ Giới Hương trưởng ban tổ chức kiêm trưởng ban giám khảo
và các giám khảo: Tâm Diệu, Nguyên Giác, Hoàng Mai Đạt, Nguyên Hà, Khánh Lan và Ngọc Bảo.Được biết, Ban Giám Khảo là các nhà văn, các ký giả lâu năm kinh nghiệm trong văn chương, đặc biệt về lãnh vực Phật giáo. Các bài thi tham dự cuộc thi Phật Pháp được chia ra cho 6 giám khảo chấm điểm, theo hệ 100 điểm, và danh sách chung kết sẽ trình lên Ni sư Thích Nữ Giới Hương duyệt lại lần cuối. Điểm cân nhắc theo hình thức và nội dung, do vậy các bài điểm cao nhất là các bài vừa viết hay, phù hợp ý đạo, nêu lên được chánh kiến. Cư sĩ Tâm Diệu là người đại diện Ban Giám Khảo lên tường trình diễn biến và kết quả của các thí sinh trúng giải.

Cư sĩ Tâm Diệu là người đại diện Ban Giám Khảo Ngoài ra, người viết nhận thấy sự có mặt của các thí sinh trúng giải thưởng từ Thụy Sĩ, Đức Quốc, Canada và nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ cũng có mặt để dự lễ phát giải thưởng Cuộc thi Viết văn. Đặc biệt với sự có mặt của giới thuyền thông báo chí địa phương như Ký giả Thanh Huy (Việt Báo), Ký Giả Thanh Phong (báo Viễn Đông), phóng viên Văn Lang … cùng nhiều ký giả khác.
Nối tiếp chương trình là Lễ trao giải thưởng cho các thí sinh theo thứ tự trúng giải sau đây:
Mở đầu với 50 GIẢI KHUYẾN KHÍCH HOẰNG PHÁP, mỗi giải có giá trị là $200, pháp tràng và sách do Sư cô Phước Nhẫn và Sư cô Viên An công bố danh sách. Sau đó, thí sinh Đồng Nguyên đại diện cho 50 vị được giải Khuyến khích Hoằng Pháp, nói đôi lời cảm tưởng…

Thí sinh Đồng Nguyên đại diện cho 50 vị được giải Khuyến khích Hoằng Pháp,
mỗi giải có giá trị là $200Theo sau là SÁU GIẢI HƯƠNG PHÁP, mỗi giải có trị giá $500 cùng với sách, pháp tràng và một cúp Award kỷ niệm. Người trúng Giải Hương pháp gồm những tác giả: Thích Nhật Minh (Việt Nam), trúng giải với bài Văn: Am Xưa Con Đã Trở Về. Ni sư Thích Nữ Như Như (Nam California), trúng giải với bài văn: Vài Trải Nghiệm trong Tu Tập. Trần Thị Nhật Hưng, Pd: Diệu Như (từ Switzerland, Thụy Sĩ), trúng giải với bài Văn: Sắc Màu Cuộc Sống. Mộc Đạt (85 tuổi) (từ Westminster, California), trúng giải với tập thơ: Vui Đạo-Vui Đời. Nguyễn Phương Lan, Pd Bạch Liên (Kansas, USA) trúng giải với bài văn: Nắng Chiều Đẹp Vô Hạn, Chỉ Tiếc Sắp Hoàng Hôn. Tâm Nhuận Phúc (Orange County, California), trúng giải với bài Văn: Dạ Quỳnh. Sau đó Ni sư Thích Nữ Như Như đại diện cho 6 vị được giải Hương Pháp, nói đôi lời cảm tưởng…
Sau cùng là NĂM GIẢI XUẤT SẮC gồm Giải I: $5,000.00; Giải II: $3,000.00; Giải III: $2,000.00 và Hai giải Khuyến Khích, mỗi giải: $1,000.00.

Hai thí sinh trúng giải từ Đức và Thụy Sĩ - Người thứ nhất trúng Giải Khuyến Khích là Hoa Lan, Pháp danh Thiện Giới (từ Berlin, Đức Quốc) với bài văn: Nghịch Duyên Và Trợ Duyên. Thí sinh tên thật là Phí Thị Lan Hương, sinh tại Hà Nội, lớn lên tại Nha Trang. Du học sang Đức và tốt nghiệp ngành Kỹ sư Hóa học Thực Phẩm. Làm việc và sinh sống tại Berlin. Cộng tác với báo Viên Giác, báo online: quangduc.com, hoavouu.com, hoahocnet.com, thuvienhoasen.org. Đã có 10 tác phẩm xuất bản và cộng tác với nhiều báo Phật Giáo ở Đức, Úc, Mỹ… Nội dung của truyện “Nghịch Duyên Và Trợ Duyên” có cách viết hấp dẫn khiến người đọc như đang coi phim ảnh, mạch văn lưu loát, không lỗi chính tả. Biết ứng dụng Phật Pháp và tự chuyển hóa mình và người. Truyện dễ gặp ngoài đời và trong rất nhiều gia đình Phật tử. Nội dung truyện là làm sao ứng xử khi chồng có vợ bé, có con rơi? Tác giả kể bằng bút pháp tự truyện, không lỗi đặt câu, dễ hiểu. Tác giả kể lại đã kham nhẫn, chịu đựng những sóng gió từ chồng, từ người vợ bé nhưng thu xếp bằng tâm từ để tránh ngang trái. Thế rồi nghiệp biến mất, người chồng trở thành Phật tử thuần thành, cùng làm Phật sự.
- Người thứ nhì thắng Giải Khuyến Khích là Vĩnh Hữu, Pháp danh (Pd): Tâm Khôngvới bài văn: Đạo Hữu Song Hành: Bút danh: Tâm Không Vĩnh Hữu, Mãn Đường Hồng, Vĩnh Bò Cạp, Uất Kim Hương…Sinh tại Nha Trang – Khánh Hòa. Sở thích Viết văn – Viết kịch – Viết báo với nhiều thể loại như: Biếm hoạ, hí hoạ, thơ trào phúng, tiểu phẩm châm biếm, phóng sự, bút ký, truyện ngắn… Hiện đang là cộng tác viên của các Tiểu ban Văn Hóa, Hoằng Pháp và Thông tin Truyền thông trực thuộc Ban Trị Sự Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Khánh Hoà, với nhiệm vụ hoằng pháp viên và thông tín viên tự nguyện. Truyện “Đạo Hữu Song Hành” với lối văn hay, ý đẹp, không thấy lỗi chính tả. Câu gọn gàng, dễ hiểu, lôi cuốn. Đây là truyện thật của tác giả, dễ gặp tương tự ngoài đời, chồng Phật tử và vợ Công giáo. Dù không áp lực nhưng nhờ oai lực tu hành của tác giả, người vị hôn thê tự động xin quy y và thọ ngũ giới. Trước và sau khi kết hôn, tác giả vẫn giúp đỡ, hòa hài với bên nhà vợ và với cả giáo xứ. Tác giả Vĩnh Hữu là người hoằng pháp thực sự, đã viết từ nhiều thập niên.
- Người trúng giải III Xuất sắc là Dược sĩ Võ Ngọc Thanh, Pd Như Chiếu (Canada), với giải thưởng $2000 cho tác phẩm: Có Những Niềm Vui. Dược sĩ Võ Ngọc Thanh Sinh tại Saigon, sang Canada năm 1990 và làm việc đến cuối năm 2000, 2000 – 2014: làm việc tại Orange County, California, 2014 đến nay: về lại sinh sống tại Montreal, Canada. Năm 2007, được duyên lành tìm đến Phật pháp qua cuốn sách “Thư gửi người niệm Phật“. Năm 2013, quy y với Ni sư Thích Nữ Triệt Như. Truyện “Có Những Niềm Vui” viết về hai đồng nghiệp dược sĩ cao niên qua đời ở Canada vì Covid 19. Không có lỗi chính tả. Nội dung chuyển tải được Phật Pháp vào đời sống. Lời văn xúc động, truyện thật trong cộng đồng Việt thời COVID-19 ở Montreal, Canada. Truyện thức tỉnh về vô thường. Nói rằng cuộc đời không nên làm việc đời nhiều quá, mà nên tìm niềm vui trong đạo. Tác giả Như Chiếu hình như là học trò của Ni sư Triệt Như (dòng Thiền Tánh Không) giải thích về Pháp hỷ: “Còn có những niềm vui lớn hơn thế nữa, mà trong đạo Phật gọi là “pháp hỷ”. Người nào học đạo, nghe pháp mà thấy trong lòng vui tươi sung sướng, đó là người đã được pháp hỷ.” Hối thúc được độc giả tìm vui với pháp.

Giám khảo Khánh Lan trao giải thưởng Xuất sắc III cho Dược sĩ Võ Ngọc Thanh, Pháp danh Như Chiếu (Canada), Giải thưởng $2000 cho tác phẩm: Có Những Niềm Vui Giám Khảo Khánh Lan lên trao quà với đôi lời cảm tưởng: Nhà văn gởi lời cám ơn đến Ni Sư Giới Hương và vinh hạnh được đọc những áng văn hay và có ý nghĩa, nói về lẽ sống chết trong giáo lý nhà Phật, những trải nghiệm trong tu tập, những ứng dụng của đạo Phật để chuyển hóa nghiệp sống của loài người. Bà chúc mừng đến các thí sinh trúng tuyển và nhắn nhủ họ hãy tiếp tục con đường đã đưa họ đến thành công. Bà nói: “Đây là giải văn chương Phật giáo đầy ý nghĩa của chùa Hương Sen. Triết lý Phật giáo đã phổ biến hơn 2,500 năm. Theo Edward Conze, một nhà văn, triết gia, học gỉa nghiên cứu và khảo luận chuyên môn về Phật giáo đã viết: “… Phật giáo như một tôn giáo phổ cập cho mọi người và được lan truyền rộng rãi khắp Châu Âu và Châu Mỹ.” Nếu Ðạo Phật có mục đích làm cho con người tu tâm, buông xả, gạn lọc những khổ lụỵ của cõi đời, để sống một cuộc sống tinh khiết, không vướng bận trần tục, thì Văn chương cho ta một hướng đi trong tâm hồn, khi chúng ta viết về những giáo diều của của Phật giáo, những ý tưởng miên viễn theo Đức Phật Thích Ca thì “Đau khổ là tạm thời, giác ngộ là mãi mãi”. Nhà bác học Einstein cũng đã bày tỏ quan điểm của mình về Phật giáo và khoa học như sau: “Nếu có tôn giáo nào có thể đáp ứng nhu cầu khoa học hiện đại thì đó chính là Phật giáo”.
Nhà văn cũng xin gởi lời khuyến khích đến các thí sinh đã ghi tên tham dự cuộc thi, nhưng chưa trúng tuyển kỳ thi này, bà nói về Sam Walton, ông chủ của cơ sở thương mại Wamart và Sam Club đã để lại một câu nói bất hủ là: “Hãy tự buộc mình phải đứng dậy khi vất ngã, và chấp nhận hiện thực. Hãy thử làm lại thêm một lần nữa, nhưng lần này sẽ làm tốt hơn“.
- Người trúng giải II Xuất sắc là Hà Thị Hòa, Pd Diệu Thuận (Idaho) với tác phẩm: Con Dịt. Bút hiệu Hoa Hà, sanh tại thành phố Biên Hòa, sau sống tại Lagi. Năm 1992, định cư tại Mỹ và lập nghiệp tại Boise, Idaho. Năm 1993, làm việc tại hãng điện tử ECCO. Tham gia công tác từ thiện của ECCO Children Relief Fund và từ thiện cho quê hương Việt Nam. Năm 2013, thi viết văn của nhà báo Người Việt kỷ niệm 35 năm thành lập. Từ năm 2020 nghỉ hưu, đi chùa và làm từ thiện. Câu chuyện: “Con Dịt” rất sáng tạo và ẩn 2 nghĩa: đồ dịch quỷ sứ náo loạn và đại dịch 19. Câu chuyện đã mô tả sống động một hình ảnh chết chóc trên toàn cầu, cụ thể Hoa Kỳ đang bị chiến tranh của vi trùng học. Hình ảnh giãn cách xã hội, áp lực kinh tế, người chết không kịp chôn, xáo trộn đời sống, trầm cảm, tự tử… Thay vì ẩn trốn, cách ly, mọi người, tác giả khuyến khích gia đình cùng tự đứng lên, từ không khí u ám đó, ứng dụng lời Phật bằng cách dấn thân nấu ăn cùng chồng để kiếm tiền làm từ thiện, mua khẩu trang… giúp xã hội giảm sự hậu quả tồ tệ của cơn dịch như thiếu lương thực, thiếu tiền, thiếu vật dụng y tế… Tác giả cũng ứng dụng 5 giới của đạo Phật để nguyện chuyển hóa cộng nghiệp của loài người. Phật pháp giúp người con Phật đứng vững giữa bão tố đại dịch và dấn thân giúp người.

Giám Khảo Hoàng Mai Đạt trao giải cho người trúng giải II Xuất sắc,
Hà Thị Hòa, Pd Diệu Thuận (Idaho) với tác phẩm: Con Dịt.- Người trúng giải I Xuất sắc là Ánh Hinh (Chino Hills, California) với tác phẩm viết bằng tiếng Anh: The Mustard Seeds (GK Nguyên Giác chuyển Việt ngữ là truyện Hạt Cải). Tốt nghiệp Cử nhân Sinh học tại Đại học University of California, Irvine, và tốt nghiệp Tiến sĩ Nhãn Khoa tại Southern California College of Optometry. Hiện là Bác sĩ Nhãn khoa tại Nam California, hội viên của Câu lạc bộ Lions Club. Truyện “The Mustard Seeds (Hạt Cải)” viết bằng tiếng Anh. Nội dung câu chuyện chuyển tải lý vô thường rất nổi bật, xúc tích, lôi cuốn người đọc. Câu chuyện hạt cải vô thường hay bài học về lẽ sống chết trong giáo lý nhà Phật. Qua giáo lý vô thường sống chết không chờ một ai. Tác giả là Phật tử kiên tâm thuần thành, nhờ thân phụ dạy từ thơ ấu. Và tác giả cũng dạy con mình tin Phật như thế. Nhưng diễn biến của con khi lớn lên làm cho truyện có nhiều nút thắt mở, gây chú tâm cho người đọc.

Người trúng giải I Xuất sắc là Ánh Hinh (Chino Hills, California) với tác phẩm viết bằng tiếng Anh:
The Mustard Seeds. Cô Ánh Hinh không đến được nhưng cử người chị gái Hạnh Hinh đến lãnh giải thưởng.Kết thúc buổi lễ trao giải thưởng Cuộc Thi Viết Văn Ứng Dụng Phật Pháp Trong Đời Sống 2022 lúc 11:00 tối.

Các thí sinh trúng giải thưởng từ Thụy Sĩ, Đức Quốc, Canada và nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ
chụp hình cùng ban giám khảo.Trúng giải nhất thi viết văn xong: Thí sinh Anh Hinh thăm Chùa Hương Sen và xin quy y.
Trích theo bài viết của Ni Sư Thích Nữ Giới Hương.

Thí sinh Ánh Hinh(bên trái, (mặc áo tràng và đeo kiếng) trúng giải nhất thi viết Ứng dụng Phật Pháp trong đời sống
cùng chị gái Hạnh Hinh và hai con (Elizabeth & Emily vào Chùa Hương Sen xin quy y ngảy 19 tháng 12, 2022PERRIS, California, ngày 19 tháng 12, 2022. Bác sĩ Nhãn Khoa Ánh Hinh, người cầm bút với bút hiệu Anh Hinh và sau khi trúng giải I Cuộc thi Viết Văn Phật Pháp Ứng Dụng do Chùa Hương Sen tổ chức, đã cùng người chị và hai con lên viếng thăm Chùa Hương Sen, lạy Phật và dùng bữa cơm trưa (bánh xèo chay) với quý sư cô tại Chùa Hương Sen và rồi cô xin được quy y.
Đúng vậy, viết là để hoằng pháp, và quy y là để đi vào con đường Bát chánh đạo thâm sâu hơn. Trong cơ duyên này, cả gia đình tác giả đã xin quy y Tam bảo. Tác giả Ánh Hinh được Ni sư Thích Nữ Giới Hương đặt pháp danh là Viên Bảo Tịnh, 2 con gái: Elizabeth Dang (16 tuổi), pd Viên Bảo Mỹ, Emily Dang (9 tuổi) pd Viên Bảo Tâm. Hạnh Hình (chị của Ánh Hình) với pháp danh Viên Bảo Hạnh.
Ni sư nói rằng Ni sư vui mừng khi tác giả Ánh Hình nói rằng đã tìm được chùa Hương Sen là ngôi nhà tâm linh để nương về. Ni sư nói rằng Ni sư vui mừng khi tác giả Ánh Hình nói rằng đã tìm được chùa Hương Sen là ngôi nhà tâm linh để nương về.
Trong phần tự giới thiệu nơi đầu bài dự thi nhan đề “The Mustard Seeds” (bản văn được Nguyên Giác dịch là “Những Hạt Cải”), tác giả Anh Hinh viết: “Tôi sống ở Chino Hills, California với chồng và hai con gái. Tôi tốt nghiệp Cử nhân Sinh học tại Đại học University of California, Irvine, và tốt nghiệp Tiến sĩ Nhãn Khoa tại Southern California College of Optometry. Tôi hiện là Bác sĩ Nhãn khoa tại một phòng khám lớn ở Nam California. Tôi cũng là hội viên của Câu lạc bộ Lions Club. Tôi vui thích phục vụ cộng đồng với những cuộc kiểm tra mắt, thăm các bãi biển với gia đình, đi bộ đường trường và đọc sách. Tôi ghi công cha tôi vì đã làm cho tôi thấm nhuần những giá trị và triết lý Phật giáo trong suốt thời thơ ấu của tôi và tôi đã sử dụng những giá trị này để cố gắng sống một cuộc đời trong chánh niệm và đạo đức.”
Độc giả có thể đọc bài của tác giả Anh Hinh và các bài trúng giải khác ở hai cuốn sách:
– Hương Pháp 2022 – (Tuyển tập các Bài Thi Trúng Giải Cuộc Thi Viết Văn Ứng Dụng Phật Pháp 2022):
https://thuvienhoasen.org/a38525/huong-phap-2022
– Hương Đạo Trong Đời 2022 – (Tuyển Tập 60 Bài Thi trong Cuộc Thi Viết Văn Ứng Dụng Phật Pháp 2022):
https://thuvienhoasen.org/a38547/huong-dao-trong-doi-2022
.https://vietbao.com/a314389/trung-giai-1 -
DƯ ÂM TIỆC GIÁNG SINH 2022
Mùa đông năm nay lạnh hơn năm ngoái. Nhưng chính bởi cái thời tiết lành lạnh ấy đã làm cho người ta cảm nhận được mùa Giáng Sinh đang đến trên khắp nẻo đường. Những ánh đèn màu lập lòe trên các ngôi nhà như hàng ngàn tinh tú về đêm, tạo nên khung cảnh đặc trưng của mùa Noel mà mọi người đang chào đón. Âm điệu vui tươi của những ca khúc Giáng Sinh đã vang lên khắp nơi làm lòng người cảm thấy ấm áp với niềm vui và ước mơ cho một Giáng Sinh an lành hạnh phúc. Ai cũng nôn nao, chờ đợi những buổi tiệc hội ngộ, để gặp gỡ và cho nhau những nụ cười rạng rỡ với những lời chúc tụng tốt đẹp “MERRY CHRISTMAS and HAPPY NEW YEAR”.

Để chuẩn bị cho buổi tiệc hội ngộ Giáng Sinh Chủ Nhật ngày 18 tháng 12 năm 2022, do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức theo thông lệ hàng năm, các anh chị em đã họp mặt tại nhà của Khánh Lan lúc 4:00 giờ chiều ngày 16, tháng 12, 2022 để tập dợt văn nghệ. Một tràng pháo tay cho Tuyết Nga, Đức Hạnh và Kiều My vì ba vị này đến sớm nhất! Vừa bước vào nhà, Kiều My đã ngửi thấy mùi phở xông lên thơm phức do đầu bếp Mạnh Bổng đảm trách, Khánh Lan thì đang bận rộn với món gỏi Xoài và bánh đa nướng. Phần Kiều My thì … trổ tài với những món “khó nhất”: “Cold disk” & cheese, Salted olives, Ham, và Italian sausages.
Khoảng 5:00 chiều, các anh Ngọc Tú, Nguyên Hồng, Trọng Thái, Minh Trí và Hạnh Thục cùng đến. Anh Ngọc Tú, hai tay khệ nệ khiêng cây đàn Keyboard và theo sau là các anh trong nhóm phụ mang nhạc cụ vào trong nhà để chuẩn bị cho buổi “rehearsal”.
Sau khi anh Ngọc Tú lắp ráp nhạc cụ xong, các anh chị bắt đầu tập dợt. Bầu không khí trong căn phòng trở nên vui hẳn lên, mọi người đều yên lặng để thưởng thức tiếng hát của các anh chị trong nhóm. Dù đây chỉ là buổi tập dợt, nhưng các anh chị đã hát với tất cả nhiệt huyết trong lòng… Ai cũng hát hay quá làm cho Kiều My có cảm tưởng như mình đang ở trong một thính phòng.

Hàng đứng: Mạnh Bổng, Khánh Lan, Micheal, Nga Ngyễn, Quốc Sĩ, Việt Hải, Kiều My,
Nguyên Hồng, Phạm Thái, Hàng ngồi: Thụy Lan, Diana Đỗ, Lệ Hoa, Minh Thư
Từ trái sang phải: Mạnh Bổng, NV Nguyễn Quang, Phạm Thái, GS Trần Huy Bích,
GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải, Nguyên HồngNăm nay nhóm NVNT & TTG tổ chức tiệc mừng Giáng Sinh tại nhà hàng Diamond Seafood 2, tọa lạc trên đường Brookhurst, thành phố Westmister. Khoảng 5:30 chiều, quan khách lần lượt bước vào bên trong nhà hàng với vẻ mặt hân hoan. Quý ông với trang phục lịch lãm, bên cạnh những “đóa hoa biết nói” trong y phục màu đỏ rực rỡ hay những chiếc áo dài trang nhã thướt tha.

Từ trái sang phải: Hai thân hữu, Ông Bà John & Suzan Tạ, TS Lê Nguyễn Nga,
NV Việt Hải, NV Kiều My, Lệ Hoa, Minh ThưBên trong khán phòng, NV Việt Hải đã ngồi sẵn ở bàn tiếp tân để chào đón quan khách với nụ cười luôn nở trên môi. Phu nhân Lệ Hoa niềm nở chào hỏi mọi người và bên cạnh NV Việt Hải là Kiều My, cũng ân cần chào mừng và giúp quan khách an tọa. Khánh Lan trong chiếc áo dài lụa vàng, trông rất bận rộn với sự hỗ trợ của phu quân Mạnh Bổng. Minh Thư và Nguyên Hồng nỗ lực trong việc điều động chương trình văn nghệ. Các thành viên trong Ban Tổ chức đã làm việc với tất cả nhiệt huyết, mỗi người một tay trong tình huynh đệ.

Lệ Hoa, Diana Đỗ, Minh Thư, Kiều My, Việt Hải Trong số quan khách tham dự, Kiều My nhận thấy có sự hiện diện các vị Cố Vấn của Liên Nhóm NVNT & TTG: GS Tiến Sĩ Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang (phu quân của NV TS Minh Đức Hoài Trinh). Nữ Sĩ Dương Hồng Anh cũng có mặt cùng với con trai là anh Nguyễn Đại Thành. Được biết, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh là cháu nội của Thi Hào Dương Khuê, em họ của NS Dương Thiệu Tước và là cô của Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh. Thi Sĩ Lê Nguyễn Nga (phu thê của NS Lê Trọng Nguyễn), đi cùng với con gái là Minh Thư. Kiều My cũng ghi nhận sự hiện diện của Giám đốc Công ty Princesslife, John Tạ và phu nhân Suzan Tạ cùng gia đình và bạn hữu. Ông Dân Quốc Lâm, Khoa học gia của công ty Boeing và phu nhân.

Từ trái qua phải: Ông Bà Dân Quốc Lâm, Tuyết Nga, Khánh Lan, Mạnh Bổng Đặc biệt năm nay có sự tham dự của Bác Sĩ Đỗ Trọng Thái và NV kiêm Bình luận gia Phạm Gia Đại của đài truyền hình VCAL. Hơn thế nữa, hai vị này còn đóng góp tiếng hát trong chương trình văn nghệ giúp cho không khí của buổi họp mặt thêm phong phú và sôi động. Ngoài ra, còn có sự tham dự của các thi sĩ trong nhóm TAO ĐÀN THỜI ĐẠI gồm có Thi sĩ Hà Phương, Lam Triều, Nguyễn Hữu Đĩnh, Khoa học gia Cai Văn Khiêm và Sử gia Phạm Trần Anh.

Từ trái sang phải: Thi sĩ Hà Phương, NV Kiều My, BS Đỗ Trọng Thái, Khoa Học Gia Cai Văn Khiêm, Sử Gia Phạm Trần Anh, NV Phạm Gia Đại, Thi sĩ Lam Triều. Buổi tiệc thêm phần sống động nhờ sự góp mặt của các anh chị Nguyên Hồng, Hạnh Thục, Cao Minh Trí, và Phạm Thái đến từ San Jose, California. Các anh chị đã chẳng quản ngại đường xa, vượt hàng trăm dặm để đến tiếp một cánh tay với các anh em trong nhóm. Ca Nhạc sĩ Cao Minh Trí đã dành nhiều thời gian để hướng dẫn các thành viên của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian trong lãnh vực sáng tác và hòa âm. Nhạc sĩ kiêm Cố vấn Kỹ thuật Phạm Thái đã bỏ rất nhiều công sức trong việc xuất bản các tác phẩm văn học của nhóm.

Hàng đứng: Tuyết Nga, Anh chị Phạm Thái, Anh chị Dân Lâm.
Hàng ngồi: Ngọc Châu, Hạnh Thục, Minh Trí.
Quang cảnh quan khách và thành viên tham dự buổi tiệc hội ngộ. Khi đồng hồ điểm 6:15 chiều và quan khách đã đến đông đủ, MC Nguyên Hồng khai mạc chương trình bằng lời chào trân trọng đến quý vị quan khách và giới thiệu những thành viên trong Ban Điều Hành của nhóm NVNT & TTG gồm:
- Nhà văn Việt Hải: Sáng lập viên nhóm NVNT & TTG.
- Nhà văn Khánh Lan: Trưởng ban Văn Học.
- Ca nhạc sĩ Lâm Dung: Trưởng ban Văn Nghệ Tiếng Thời Gian.

MC Nguyên Hồng, NV Khánh Lan, NV Việt Hải, CNS Lâm Dung Sau đó, Khánh Lan để tường trình về những sinh hoạt trong năm 2022 và những dự định cho năm 2023. Trong năm 2022, bên cạnh những buổi RMS của các nhà văn trong nhóm, Khánh Lan đề cập đến cuộc Du lịch Mùa Hè và mùa Thu tại Napa Valley, California & Mexican Rivera cruise trong tháng 9, 2022. Tưởng cũng xin ghi nhận chuyến đi Napa Valley, Nhóm NVNT cũng ghé San Jose, California để tham dự Buổi Kỷ niệm 25 năm Chương Trình Từ Cánh Đồng Mây của Nghệ sĩ Phan Đình Minh. NV Việt Hải là một trong ba sáng lập viên của chương trình này.

Nv Việt Hải và Nghệ sĩ Phan Đình Minh Khi nói về về những sinh hoạt dự tính cho năm 2023, Khánh Lan cho biết Liên Nhóm NVNT & TTG sẽ tổ chức những buổi RMS sau đây:
- NV Nguyễn Văn Thành tại California vào tháng Ba
- NV BS Lê Ánh tại Arizona vào tháng Tư
- NV Ngọc Cường (Hậu duệ TLVĐ)
- 2 tác phẩm của NV Khánh Lan (Phân Tâm Học & Đời Sống và Tam Giáo Đồng Nguyên) vào tháng Sáu.
Liên Nhóm NVNT & TTG cũng dự định một cuộc Du lịch vào mùa Xuân 2023 tại Âu Châu và mùa Hè tại Florida – Bahamas Caribbean Cruise.
Tiếp tục chương trình, MC Nguyên Hồng giới thiệu chương trình văn nghệ, gồm hai phần như sau:
Phần thứ nhất: Giới thiệu các tác phẩm do những thành viên NVNT & TTG sáng tác và trình diễn gồm các nhạc phẩm sau đây:
- Nắng Mùa Đông: Nhạc và lời Hồng Tước.
- Em Bắc Kỳ Yêu: Thơ Trần Việt Hải, nhạc Phan Đình Minh.
- Nhớ Thu Xưa: Thơ Khánh Lan, Nhạc Minh Trí.
- Người Yêu Xin Hãy Nhớ: Nhạc Ngoại Quốc, Lời Việt Lâm Dung.
- Ru Em Tình Nồng : Thơ Trần Việt Hải, Nhạc Phan Đình Minh.
- Cô gái Việt Nam: Thơ Khánh Lan, Nhạc Phạm Thái.
- Giọt Tình Xa: Thơ Lam Triều, Nhạc Nguyễn Hữu Tân.
- Thương Em: Nhạc và lời Dương Viết Điền.
- Một Chuyến Đi Cruise: Nhạc Minh Trí.
- Hãy Đến Bên Nhau: Nhạc và lời Phạm Thái & Minh Trí.
- Lavanda: Nhạc Ngoại Quốc, Lời Thụy Lan.
Một tiết mục rất thú vị và làm ngạc nhiên quan khách – nhất là NV Việt Hải – là cả ban “Đại hợp xướng NVNT & TTG” đã lên sân khấu hát mừng sinh nhật của GS Dương Ngọc Sum và Sinh Nhật thứ 70 của NV Việt Hải. Nhân dịp này, nhóm cũng chúc thọ các vị niên trưởng GS TS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và TS Lê Nguyễn Nga.

Ban “Đại hợp xướng NVNT & TTG” hát mừng sinh nhật của
GS Dương Ngọc Sum và Sinh Nhật thứ 70 của NV Trần Việt HảiNhạc phẩm “HAPPY BIRTHDAY“… đã trỗi lên trong bầu không khí vui tươi hòa cùng tiếng vỗ tay dòn dã vang dội cả khán phòng.

Các Giáo Sư và các Văn Thi Sĩ cùng cắt bánh.

Từ trái sang phải: NV Việt Hải, GS Dương Ngọc Sum, NS Dương Hồng Anh, NV Nguyễn Quang,
TS Lê Nguyễn Nga, GS Trần Huy Bích cùng cắt bánh sinh nhậtTiếp theo là nhạc phẩm JINGLE BELL bất hủ với hai tiếng hát vui tươi trẻ trung của Minh Thư và Diane Đỗ. Ca khúc MÀU XANH NOEL với giọng ca ngọt ngào của Hạnh Thục, đã đưa mọi người nhớ về những mùa Giáng Sinh thật đẹp thuở nào khi còn ở quê nhà.
Phần thứ Hai, chương trình Dạ Vũ:

Tứ trái sang phải: Diane Đỗ, Minh Thư, Lệ Hoa và Thụy Lan trong hai nhạc phẩm rất nổi tiếng:
Silence Night và Rivers of BabylonMở đầu phần dạ vũ, màn trình diễn sống động của ban tứ ca Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư và Diane Đỗ trong hai nhạc phẩm nổi tiếng Silence Night và Rivers of Babylon. Mọi người thích thú hướng về sân khấu để thưởng thức những khoảnh khắc thiêng liêng của nhạc phẩm SILENCE NIGHT. Tiếp theo là dòng nhạc như thác chảy RIVERS OF BABYLON, một nhạc phẩm đã làm nên tên tuổi của ban nhạc Boney M. do Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư và Diane Đỗ trình diễn ngoạn mục trong những chiếc áo đầm đỏ.
SOMEWHERE MY LOVE – một nhạc phẩm nổi tiếng trong phim Dr. Zhivago. Tiếng hát truyền cảm của Mạnh Bổng đã tạo cảm hứng cho mọi người ra sàn nhảy với điệu luân vũ. Thi Ca Nhạc sĩ Hà Phương thuộc Nhóm Văn Đàn Thời Đại cũng góp mặt với bài thơ nói về MẸ và bài hát LONG XUYÊN NGÀY VỀ do chính ông sáng tác. Khi TCNS Hà Phương cất tiếng ngâm bài thơ về MẸ, giọng ngâm của ông trở nên nghẹn ngào, gây nhiều xúc động cho người nghe, và nhạc phẩm Long Xuyên Ngày Về như đem mọi người trờ về miền Tây sông nước. Sau đó, COMMENT CA VA – bản nhạc Pháp trong giai điệu Bebop qua phần trình diễn sống động của Kiều My đã làm cho không khí sàn nhảy vui nhộn hẳn lên. TUYẾT TRẮNG – một nhạc phẩm rất quen thuộc đã được Bác sĩ Đỗ Trọng Thái trình bày điêu luyện trong điệu nhạc Bolero tình tứ. NV Phạm Gia Đại cũng góp vui với DUYÊN THỀ – một bản nhạc trữ tình bất hủ trong điệu Boston. Theo lời yêu cầu của NAG Paul Levan, Kiều My cùng anh đã song ca bản BESAME MUCHO theo thể điệu Rumba.
Bản nhạc FELIZ NAVIDA do ban hợp ca Tiếng Thời Gian trình bày vang lên đã kết thúc chương trình văn nghệ của buổi tiệc Giáng Sinh 2022. Mọi người chia tay nhau ra về trong niềm lưu luyến. Kiều My hy vọng dư âm của buổi họp mặt cuối năm sẽ mang lại niềm vui và đọng mãi trong tâm hồn mọi người.

Kiều My xin thay mặt Liên Nhóm NVNT & TTG kính chúc quý vị một mùa Giáng Sinh hạnh phúc và một năm mới an khang thịnh vượng.
Kiều My, Mùa Giáng Sinh 2022
-
LK Nhạc Giáng Sinh-Mùa Đông Tuyết Trắng
-
TIẾNG CHUÔNG ĐÊM NOEL

Làn không khí se lạnh trong không gian lại trở về khắp mọi miền, bầu trời có vẻ dịu dàng như đang chờ đón mùa Noel sắp đến. Một mùa lễ an hòa cho nhân loại khắp nơi trên địa cầu; mà dường như mọi nhà đều chuẩn bị cho ngày lễ ý nghĩa nhất trong năm này. Hầu hết công việc tạm xếp lại, để mọi người có dịp nghỉ ngơi và mừng ngày lễ Chúa Hài Nhi giáng trần. Mùa đại lễ này rất nhộn nhịp, cũng là dịp cho gia đình, bạn bè họp mặt tiệc tùng trong những ngày cuối năm.
Riêng Thùy, người bạn học ở trường Tư thục Công giáo của tôi vào lứa tuổi 12 thật đáng thương! Trong khi mọi người hân hoan chuẩn bị chào đón mùa Giáng Sinh sắp đến; nhưng Thùy lại phải trải qua những ngày này trong nước mắt. Tôi và Thùy là đôi bạn rất thân như cặp bài trùng, chơi với nhau từ lúc mới lên năm. Vào mùa Giáng Sinh năm đó, trời trở nên lạnh hơn những năm qua. Ngôi thánh đường thân thương của giáo xứ được trang hoàng thật rực rở bằng những ngôi sao năm cánh, với những bóng đèn đủ màu chạy dài từ đỉnh nhà thờ xuống tận dưới đất. Những cây thông xanh rì từ miền cao nguyên mang về được trang hoàng khắp nơi ở sân nhà thờ, lấp lánh ngàn ánh đèn lập lòe như những vì sao đêm thật linh động huyền ảo. Bầu không khí trở nên thánh thiên lạ thường làm sao! Chúng tôi, những học sinh của trường đạo rất nô nức chờ đón đêm Noel sắp đến với niềm vui ngập tràn, mà tưởng chừng như một ngày hội. Chúng tôi trao quà Noel cho nhau, kèm theo những lời chúc ngây ngô học trò trong những cánh thiệp nho nhỏ xinh xinh.
Đêm nay, con Thiên Chúa giáng trần! Bầu trời đêm trong vắt, cao vời vợi, lấp lánh muôn tinh tú trong không gian lành lạnh của đêm Thánh. Từng đoàn chiên ngoan đạo lần lượt đến thánh đường dự lễ nửa đêm. Giữa thiên nhiên huyền ảo…bổng tiếng chuông trên đỉnh cao chót vót của tháp nhà thờ ngân vang liên hồi… như thúc giục mọi người hãy đến chào đón Chúa giáng trần. Thánh lễ bắt đầu với đoàn Thiên Thần cất tiếng hát thánh thót trong bầu không khí trang nghiêm thánh thiện như trên thiên quốc. Mọi người cùng hướng về máng cỏ nơi có Chúa Hài Nhi cùng Mẹ Maria, Thánh cả Giuse với chiên, bò, lừa v.v…vây quanh.
Tiếng hát của ban hợp xướng vẫn còn âm vang với những bài thánh ca du dương trong thánh đường; tôi rảo mắt tìm Thùy xung quanh nhưng không thấy bạn tôi đâu. Thường thường chúng tôi quỳ bên nhau những lúc đọc kinh cầu nguyện; nhưng trong Thánh lễ đặc biệt đêm nay lại vắng bóng Thùy. Tôi cảm thấy ngạc nhiên và đầy lo lắng không biết chuyện gì đã xãy đến cho bạn tôi? Thánh lễ đã xong, trời cũng đã khuya, tôi cùng ba mẹ và hai anh chị về nhà để ăn re’veillon, tiệc nửa đêm như thông lệ của gia đình trong đêm Giáng Sinh.
Ba mẹ tôi dọn những thức ăn đang bốc khói thật thơm ngon lên chiếc bàn dài phủ khăn trắng, được trang trí thêm một bình hoa hồng đỏ thắm. Tôi thấy nào là thịt bò phó mát đút lò, soup đậu, gà rôti bánh mì, khoai tây chiên và các loại rau củ, bánh buche de Noel….trông phát thèm luôn! Nhạc Giáng Sinh ngân nga trong căn phòng ăn vô cùng ấm cúng, đâu đây phảng phất hương thơm của thông tươi Đà lạt thật ngây ngất. Gia đình chúng tôi quây quần bên nhau rất vui và thưởng thức những món ăn đặc biệt của ngày lễ do chính tay mẹ nấu. Tôi cảm nhận được hạnh phúc đang tràn ngập trong gia đình, cho tôi cảm giác vui vui và nhận ra rằng mình thật may mắn khi còn cha mẹ và anh chị đầy đủ. Nhưng tôi lại chạnh lòng khi nghĩ đến Thùy và không khỏi lo lắng đến sự thiếu vắng của Thùy trong thánh lễ Noel đêm nay! Lòng tôi bồn chồn, tôi chỉ ăn qua loa một vài miếng. Mẹ hỏi sao tôi ăn ít, tôi thưa với mẹ… tôi không đói lắm.
Hôm sau, tôi xin phép ba mẹ đến thăm Thùy. Ba mẹ đồng ý ngay và mẹ còn cắt miếng bánh Noel gửi cho Thùy. Thùy rất hiền lành và dễ thương lại thêm lễ phép, cho nên ba mẹ tôi thương Thùy như con vậy; nhất là sau khi mẹ Thùy qua đời. Biết Thùy đang sống với dì ghẻ thì làm sao được thương yêu cưng chìu như mẹ ruột. Ba mẹ tôi thường âu lo cho hoàn cảnh của Thùy; vì thế, ba mẹ hay nhắc tôi rủ Thùy về nhà chơi, mục đích là để mang lại niềm an ủi phần nào cho Thùy. Vì ai trong chúng ta cũng thường nghe những câu ca dao về mẹ ghẻ con chồng, được truyền miệng trong dân gian:
“Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng”
Đôi chân tôi bước thoăn thoắt thật nhanh qua hai con đường ngắn đến nhà Thùy. Vừa tới trước cửa rào, tôi thấy Thùy đang loay hoay quét sân. Nghe tiếng chân người, Thùy quay ra ngước lên nhìn thấy tôi, Thùy rất mừng rỡ, nhưng không giấu được nỗi buồn trong đôi mắt của Thùy. Tôi rất e ngại không dám hỏi gì cả, vì sợ chạm vào nỗi buồn của bạn. Thùy bèn nhanh nhẹn nắm tay tôi vào nhà và dẫn tôi vào phòng của Thùy, rồi cẩn thận đóng nhẹ cánh cửa lại. Phòng ngủ của Thùy nhỏ nhắn và rất ấm cúng bởi lối trang trí khéo léo của mẹ Thùy khi còn sống. Bà rất cưng con gái, bà sắp xếp phòng Thùy rất gọn gàng vén khéo trông thật xinh xắn. Chiếc giường nhỏ với nệm êm chăn ấm, nhìn ra cửa sổ có màn cửa màu hồng nhạt điểm thêm vài nhánh hoa lan vàng. Căn phòng này Thùy vẫn giữ nguyên vẹn từ khi bà mất. Chúng tôi ngồi trên hai chiếc ghế thấp nhỏ ở góc phòng bên cạnh bàn học, rất tiện để có thể tâm sự với nhau. Tôi không thể chờ đợi lâu hơn bèn nắm bàn tay Thùy lắc nhẹ rồi ôn tồn hỏi:
“Sao thánh lễ đêm qua Thùy không tham dự, nhà thờ đầy nghẹt người, bạn bè trong lớp mình đông đủ, nhưng chỉ thiếu Thùy mà thôi?”
Thùy buồn bã, rồi nhìn về bên phòng lớn ở cuối nhà qua cửa sổ nhỏ, như xem chừng dì ghẻ có ở đó không hay ở bên ngoài. Thấy cửa phòng vẫn đóng kín, và không nghe tiếng hai em trai song sinh cùng cha khác mẹ với Thùy khóc; Thùy tin chắc ba mẹ con đang ngủ trưa. Vì thế, Thùy bắt đầu tâm sự thố lộ với tôi những gì xãy ra trong căn nhà này mà không ai biết. Tôi cũng hiểu ngoài tôi ra, Thùy không còn ai để có thể trút đi nỗi niềm đang đè nặng tâm hồn đứa bạn tội nghiệp của tôi. Đôi mắt nai tơ của Thùy chợt đỏ hoe, nàng nghẹn ngào:
“Trang biết hôn? Thùy cực khổ lắm…! Từ khi mẹ mất, không còn ai thương Thùy hết. Ba trong quân đội đi đánh giặc lâu lâu mới về. Ở nhà với dì ghẻ Thùy bị la mắng đay nghiến, sai vặt hết chuyện này tới chuyện nọ. Từ khi dì sinh hai đứa em trai, Thùy càng cực khổ hơn. Ba vắng nhà, Thùy phải đi chợ mua thức ăn về nấu cho dì. Thùy không biết nấu, dì bảo sao Thùy nấu vậy. Thường thường bị dì nhăn mặt lớn tiếng chê mặn chê dở…Thùy chỉ còn biết khóc thôi, có nhiều khi quá tủi thân, Thùy bỏ cả ăn uống. Mấy tháng qua, điểm học trong lớp của Thùy bị tuột dốc thê thảm vì Thùy không còn thì giờ để học bài và làm bài nữa…”
Nói đến đây bạn tôi không cầm lòng được bèn khóc thút thít, tôi thương bạn quá bèn xích ghế lại gần, quàng tay qua vai bạn dỗ dành:
“Trang hiểu hoàn cảnh của Thùy mà. Có Trang thương Thùy, ba mẹ và anh chị của Trang cũng thương Thùy mà, đừng khóc nữa nghe…Thùy khóc Trang sẽ khóc theo; lỡ dì thấy hai đứa mình khóc sẽ có chuyện không hay cho Thùy đó!”
Nghe nhắc đến “dì”, Thùy như giật mình ngó qua cửa sổ xem phòng bên kia có động tịch gì không. May mắn cửa phòng vẫn im lìm đóng kín. Thương bạn tôi biết bao! Thùy giờ đây như con chim nhỏ bị nhốt trong lòng, không còn hớn hở đón chào bình minh bắt đầu cho một ngày mới. Chim non buồn bã phải lìa mẹ khi chim chưa đủ lông đủ cánh để tự kiếm ăn, hay bay tung tăng giữa bầu trời rộng. Có ai thấu hiểu và thương cảm cho một tâm hồn thơ dại đã sớm nhuốm nhiều nỗi đau thương! Hoàn cảnh đất nước trong thời chinh chiến đã mang đến nhiều hệ lụy cho từng lớp người, nhất là trẻ em; thành phần chịu nhiều tổn thương nhất trong xã hội. Ba của Thùy thường xuyên vắng nhà vì nghĩa vụ phải cầm súng bảo vệ đất nước cho hậu phương được bình an. Thật bất hạnh hơn nữa, mẹ của Thùy tử vong trong tai nạn lưu thông trên đường đi dạy học cách đây ba năm. Mất mẹ, Thùy hụt hẫng, khóc hết nước mắt! Thùy không biết mình còn họ hàng bà con gì không? Giờ đây Thùy lẻ loi cô độc giữa thế giới muôn trùng; Thùy không còn sự lựa chọn nào hơn ngoài việc phải nương tựa bên bà dì ghẻ cay đắng lạnh lùng.
Nhìn kỹ bạn, tôi nhận ra bạn có vẻ xanh xao và gầy đi, tôi cảm thấy xót xa trong lòng nhưng không biết phải nói gì để an ủi bạn bớt buồn, tôi tỉ tê:
“Thùy ơi! Thùy gầy đi rồi đó! Có buồn bã gì cũng phải ráng ăn uống đầy đủ, đừng để sức khỏe xuống dốc; không khéo sẽ bị mất ngôi vị một trong những thiên thần của lớp đó, nghe chưa?”
Tôi vừa nói vừa cười cố tình cho Thùy nguôi đi cơn xúc động, làm nàng cũng cười theo thật nhẹ, nhưng nụ cười nàng héo hắt làm sao! Trong tôi vẫn còn thắc mắc, không hiểu lý do nghiêm trọng nào khiến Thùy phải bỏ thánh lễ Giáng Sinh đêm qua, mà suốt bao mùa Giáng Sinh Thùy chưa bao giờ vắng mặt. Tôi vẫn biết, Thùy cũng như tôi, luôn yêu thích ngày lễ này; vì lúc mẹ Thùy còn sống, bà luôn sắm áo đầm mới cho Thùy đi dự lễ nửa đêm với ba mẹ. Mẹ Thùy cũng như mẹ tôi vậy, hiểu tâm lý của con trẻ sẽ vui mừng biết bao, khi được xúng xính trong chiếc áo đầm đẹp đi dự thánh lễ Noel; ngày lễ vui và tưng bừng nhất trong năm mà chúng luôn trông đợi.
Vài phút thinh lặng đầy cảm xúc trôi qua, tôi nắm đôi bàn tay nhỏ nhắn lành lạnh của Thùy như chuyền hơi ấm cho bạn, tôi tha thiết:
“Hãy nói cho Trang biết, có chuyện gì quan trọng đến nỗi Thùy phải bỏ lễ Giáng Sinh đêm qua. Thùy biết hôn? Trang rất buồn khi không thấy Thùy trong nhà thờ đó!”
Như gợi lại khoảnh khắc đau buồn nhất trong tuổi thơ của Thùy, nước mắt ràn rụa trên gương mặt buồn bã, Thùy thổn thức:
“Trang biết hôn? Đêm qua dì không cho Thùy đi lễ, dì bắt Thùy phải giặt hai thau đồ lớn của em bé, sau khi Thùy đã nấu ăn suốt buổi chiều. Ăn cơm xong và dọn dẹp đâu vào đó, thì trời cũng đã sập tối. Thùy dự định sẽ sửa soạn thay đồ đi lễ đêm. Nhưng…khốn thay! Dì ra lệnh Thùy phải giặt đồ vì ngày mai hai em cần quần áo để mặc. Thùy choáng váng mặt mày…vì niềm vui còn sót lại của Thùy đã vụt tắt!!! Những ngày còn mẹ Thùy đâu bao giờ gặp cảnh này! Tim Thùy như se thắt, nước mắt Thùy cứ chảy không ngừng. Nhìn hai thau quần áo dơ vừa của hai em vừa của dì đặt ngoài hiên sau nhà, Thùy như muốn ngã quỵ. Trời ơi! Làm sao Thùy có thể làm xong một công việc quá đỗi nặng nề đối với một con bé ốm yếu như Thùy! Càng về đêm trời càng lạnh, tay chân Thùy tê cóng, chỉ có mình Thùy ở đây, bốn bề vắng lặng tối đen. Thùy ngước lên bầu trời đêm lạnh lẽo đen ngòm làm Thùy rùng mình sợ hãi. Bỗng tiếng chuông đêm Noel tưng bừng vang vọng lại trong không gian tĩnh mịch… như thức tỉnh lòng người. Tiếng chuông ngân nga thật huyền diệu! Âm vang tiếng chuông như khuấy động hồn người. Trong lòng Thùy rất nao nao để rồi lắc đầu thất vọng. Giờ này các bạn cùng mọi người tay trong tay nô nức đến thánh đường dự lễ đêm Giáng Sinh thật tưng bừng. Riêng Thùy phải ngồi nơi lạnh lẽo giữa đêm khuya giặt hết hai thau đồ lớn như thế này. Quá buồn tủi cho thân phận côi cút của mình, Thùy ôm mặt khóc nức nỡ: Chúa ơi! Chúa có thấu hoàn cảnh khổ của con không? Mẹ của con ơi! Mẹ ở đâu?… Nếu mẹ còn sống con đâu phải khổ như thế này! Thùy nhớ lúc còn mẹ, mẹ cưng Thùy như ngọc như ngà, mà giờ đây Thùy phải cam chịu khổ cực như thế này khi còn rất nhỏ. Tuổi thơ của Thùy sớm gánh chịu nhiều nỗi đau thương khốn cùng khi mồ côi mẹ. Ba của Thùy đang ở đâu?… Giờ này ba Thùy có biết được con gái cưng của ba phải chịu đọa đày như thế này không, hở ba? Trước đây khi mẹ còn sống căn nhà này là thiên đàng, giờ đây nó đã trở thành địa ngục chốn trần gian rồi… Trang ơi!”
Hai đứa tôi ôm nhau khóc, tôi khóc cho bạn tôi! Những giọt nước mắt của tôi có xoa dịu và chia sẻ với nỗi thống khổ của bạn tôi không? Ít ra trong lúc khốn cùng Thùy còn có tôi bên cạnh để vỗ về bạn, lau nước mắt cho bạn.
Rồi biến cố 1975 xãy đến, hoàn cảnh miền nam Việt Nam vô cùng hỗn loạn, mọi người hoang mang sợ hãi trốn chạy, đi tìm con đường cho hai chữ “tự do”. Những kẻ may mắn thoát ra nước ngoài bằng máy bay; những kẻ khác đi vượt biên trên những chiếc thuyền nhỏ mong manh; kẻ bỏ thây dưới lòng biển cả; những kẻ còn lại đi kinh tế mới những vùng xa xôi rừng thiêng nước độc…Hoàn cảnh nghiệt ngã của đất nước đã đưa đến những cuộc chia ly thật thê lương…kẻ còn người mất… Kể từ 1975 đến nay, tôi không biết tin tức gì của Thùy, không biết Thùy sống chết ra sao và ở đâu? Tôi mong mõi được một lần gặp lại Thùy, người bạn thân đáng thương của tôi thời thơ ấu mà tôi luôn ray rứt mỗi khi nghĩ đến…
Rồi hàng năm vào đêm Noel, khi nghe tiếng chuông thánh đường vang lên trong không gian lạnh lẽo, tôi lại tưởng nhớ đến Thùy, mắt tôi rưng rưng buồn. Tôi chắp tay nguyện xin ơn trên cho Thùy còn sống và hãy ban cho Thùy được cuộc sống hạnh phúc bên chồng con, để đền bù lại tuổi thơ đầy bất hạnh của bạn thân tôi.
Kiều My, Hoa kỳ, Mùa Giáng Sinh 2022.
-
VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ
VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ
Dương viết Điền
Lúc còn đang theo học bậc trung học, tôi đã có dịp đọc được một vài tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Một trong những tác phẩm tôi thích nhất là cuốn “Gìn Vàng Giữ Ngọc”.
Vì ở miền Trung nên tôi không hân hạnh được học với nhà văn Doãn Quốc Sỹ và cũng chưa hân hạnh được diện kiến nhà văn. Mãi cho đến khi sang Mỹ tôi mới có dịp gặp nhà văn Doãn Quốc Sỹ.
Vào khoảng tháng 03 năm 2003, tôi nhận được giấy mời của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, trung tâm Nam California, xuống Quận Cam họp để chuẩn bị bầu Ban Chấp Hành mới của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Vì nằm trong ban tổ chức do anh Trần Thy Vân, chủ tịch Hội Văn Bút Nam Cali, chỉ định, tôi cũng giúp anh em trong ban tổ chức một tay tiếp đón các văn hữu từ khắp nơi trên thế giới về dự đại hội.
Chính trong dịp này tôi đã gặp nhà văn khả kính Doãn Quốc Sỹ. Sở dĩ có sự hiện diện của nhà văn Doãn Quốc Sỹ ngày hôm ấy vì nhà văn là một trong những nhân vật nằm trong ban cố vấn của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Lúc nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang ngồi nói chuyện với một văn hữu bên cạnh, tôi tiến lại gần nhà văn và khi nhà văn vừa ngưng nói chuyện, tôi liền kính cẩn nghiêng mình rồi lên tiếng chào nhà văn sau khi tự giới thiệu tên tuổi mình:
– Nghe danh giáo sư từ lâu nhưng mãi đến bây giờ mới hân hạnh được diện kiến giáo sư
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa nhoẻn miệng cười vừa nói:
– Dạ không dám!
Sau một vài phút tâm sự rồi chúc sức khoẻ nhà văn, tôi liền tặng cho nhà văn hai tác phẩm của tôi. Đó là cuốn hồi ký “Trại Ái Tử và Bình Điền” và cuốn “Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân”. Sau khi tặng xong, tôi có nhờ giáo sư cho một vài nhận xét về hai tác phẩm đó. Nhân thấy có nhạc sĩ Nguyễn Hiền và nhà văn Minh Đức Hoài Trinh ngồi bên cạnh, tôi cũng tặng cho hai vị này mỗi vị cũng hai tác phẩm của tôi luôn. Sau đó vì bận công việc trong ban tổ chức nên tôi xin tạm biệt giáo sư để giúp anh em một tay. Sau ngày hội ngộ của các văn hữu trong Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tại Nam California, chúng tôi chia tay nhau ra về và không biết bao giờ sẽ gặp lại giáo sư Doãn Quốc Sỹ nữa. Vì gặp giáo sư Doãn Quốc Sỹ lúc đang bận rộn nên tôi không có nhiều thì giờ để được tâm sự và hiểu biết giáo sư nhiều.
Mãi đến 3 năm sau trong dịp ra mắt tuyển tập Nam Phong tại hội trường Thánh Thất Cao Đài ở California, tôi mới có dịp được gặp lại giáo sư Doãn Quốc Sỹ.
Số là ban chủ trương và thực hiện tuyển tập Nam Phong ra thông báo sẽ tổ chức một buổi ra mắt tuyển tập I tại Nam California và yêu cầu các tác giả có đăng bài trong tuyển tập hãy đến tham dự. Thế là tôi và nhà văn Việt Hải rủ nhau xuống Quận Cam để tham dự buổi ra mắt. Trước khi đi anh Việt Hải (một trong những người nằm trong ban thực hiện Tuyển tập Nam Phong) cho tôi biết rằng có nhiều nhà văn nổi tiếng như qiáo sư Doãn Quốc Sỹ, nhà văn Nguyễn Thị Vinh (trong Tự Lực Văn Đoàn) cũng sẽ tham dự buổi ra mắt sách thể theo lời mời của ban chủ trương và thực hiện tuyển tập vì các nhà văn tiền bối này cũng có bài đăng trong tuyển tập. Vì đi nhờ xe của một người bạn nên tôi phải theo bạn tôi xuống Quận Cam rất sớm nên khi đến hội trường, tôi thấy chỉ có một vài người trong ban tổ chức đang sửa soạn sân khấu và giăng biểu ngữ. Lúc ấy lòng tôi thật nôn nóng muốn được gặp lại giáo sư Doãn Quốc Sỹ, một nhà văn nổi tiếng như sóng cồn từ nhiều thập niên qua với những tác phẩm viết rất công phu và mang nhiều sắc thái của nền văn hoá dân tộc Việt Nam có trên 4 ngàn năm văn hiến. Những tác phẩm như Sợ Lửa (1965), U Hoài (1957), Gánh Xiếc (1958), Gìn Vàng Giữ Ngọc (1959), Dòng Sông Định Mệnh (1959), Hồ Thuỳ Dương (1960), Trái Cây Đau Khổ (1963), Người Việt Đáng Yêu (1965), Cánh Tay Nối Dài (1966), Đốt Biên Giới (1966), Sầu Mây (1970), VàoThiền (1970), Người Vái Tứ Phương, Dấu Chân Cát Xoá, Mình Lại Soi Mình, Khu Rừng Lau, Tuyển Tập Văn Chương Nhi Đồng v.v… đã đưa nhà văn Doãn Quốc Sỹ vào thẳng lâu đài văn học sử Việt Nam. Vì thế trong văn học sử Việt Nam hậu bán thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã chiếm một vị trí hết sức quan trọng vì đã tạo nên một trang văn học thật sáng chói và huy hoàng. Trong lúc chờ đợi giáo sư Doãn Quốc Sỹ đến để được tiếp chuyện và nghe giáo sư bàn về văn học, tôi thấy nhiều nhân vật mà tôi chưa từng quen biết bước chân vào hội trường. Đoán chừng những nhân vật nầy là những tác giả có đăng bài trong tuyển tập đến tham dự, tôi tiến lại gần họ và cúi đầu chào. Thấy một anh vóc dáng cao cao, đầu đội mũ bêrê đen chào lại, hỏi ra mới biết đó là nhà văn Nguyễn Hữu Nhật, phu quân của nhà văn Nguyễn Thị Vinh, từ Na Uy đến. Sau đó tôi tự giới thiệu tên tôi cho anh Nhật biết. Thế là hai người ôm chầm lấy nhau như quen nhau đâu từ tiền kiếp mặc dầu trước đây chúng tôi chưa hề gặp nhau bao giờ, mà chỉ gặp nhau qua báo chí, có bài đăng chung cùng tuyển tập, qua internet và đọc tiểu sử của nhau thôi! Sau phút hạnh ngộ diệu kỳ đó tôi liền hỏi anh Nhật nhà văn Nguyễn Thị Vinh đâu, anh Nhật cho biết nhà văn Nguyễn Thị Vinh đang còn ngồi ngoài xe và cũng sắp vào hội trường. Tôi liền xin phép anh Nhật ra ngoài để chào đón một nhà văn nữ có chân trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi đã ngưỡng mộ từ lâu, qua những tác phẩm đã một thời vang bóng tôi đã đọc được hồi còn mài đũng quần ở ghế nhà trường. Khi đến gần xe, tôi thấy một người đàn bà trạc độ gần 70 tuổi ngồi một mình trên xe phía bên tay lái. Vì lúc vừa ra khỏi hội trường, một người ngồi ở ghế ngoài cửa cho tôi biết nhà văn Nguyễn Thị Vinh đang ngồi ở trên xe nên khi vừa thấy nhà văn tôi hơi ngạc nhiên. Vì theo tiểu sử của nhà văn, năm nay (2005) nhà văn đã 81 tuổi (sinh năm 1924). Nhìn người đàn bà ngồi trên xe tôi thấy trẻ hơn nhiều. Khi tiến đến gần xe, tôi liền cúi đầu chào rồi nói ngay:
– Dạ kính chào chị. Nghe danh tiếng của chị đã lâu ngay từ lúc còn ở tại quê nhà, mãi cho đến bây giờ em mới diện kiến được chị ở quê người đất khách.
Tôi vừa nói xong thì thấy nhà văn Nguyễn Thị Vinh chắp hai tay trước mặt như lúc lễ Phật rồi nói:
– Dạ không dám.
Thấy chị Nguyễn Thị Vinh chắp tay lại làm tôi giật mình vì tuổi tác của chị đáng vào bậc dì hay mẹ mình nên tôi cũng chắp tay lại đáp lễ ngay rồi mời chị vào hội trường. Chị bảo từ từ rồi chị sẽ vào sau vì đang còn sớm.
Sau khi chào nhà văn Nguyễn Thị Vinh xong, tôi liền vào ngay hội trường để đón chào giáo sư Doãn Quốc Sỹ. Khoảng 20 phút sau, giáo sư Doãn Quốc Sỹ từ ngoài cửa bước vào hội trường. Đi bên cạnh giáo sư là một người đàn ông cũng trạc tuổi giáo sư mà tôi đoán là bạn vong niên. Tôi liền tiến về phía giáo sư và kính cẩn cúi đầu chào. Sau khi nhắc lại lần gặp gỡ đầu tiên trong ngày đại hội Văn Bút Việt
Nam Hải Ngoại, tôi liền tặng cho giáo sư mấy tác phẩm cũ của tôi, thêm thi phẩm “Ngậm Ngùi” nữa. Sau đó giáo sư, bạn giáo sư và tôi cùng một vài anh ngồi nói chuyện văn học. Vài phút sau tôi thấy nhà văn Việt Hải và nhà văn Nguyễn Ngọc Minh bước vào. Nhà văn Việt Hải đến sau tôi vì đi nhờ xe nhà văn Nguyễn Ngọc Minh. Mặc dầu chúng tôi ở gần nhau nhưng cả hai đều không lái xe được nên phải nhờ xe bạn bè chở xuống. Thế là chúng tôi ngồi quây quần bên nhau để nghe giáo sư Doãn Quốc Sỹ bàn chuyện văn học nghệ thuật. Được dịp ngồi bên cạnh giáo sư, tôi mới nhận thấy rằng giáo sư đúng là một mẫu người rất khiêm tốn, bình dị. Khuôn mặt rất nhân hậu, trí thức. Nụ cười thật hiền hòa, dễ thương, tươi tắn, luôn luôn nở trên môi dù tuổi tác đã xế chiều. Xuyên qua những lời nói khi bàn về văn học, tôi thấy giáo sư tự hạ mình ngang hàng với những đối tượng đang ngồi nghe. Giáo sư như muốn hòa mình với tha nhân với tuổi trẻ, muốn tha nhân, tuổi trẻ và giáo sư cùng đập chung một nhịp tim, cùng thổn thức hay nức lòng một giai điệu văn học. Giáo sư vừa làm trưởng ban nhạc, cầm đũa đánh nhịp một bản đại hợp xướng nhiều bè, vừa muốn hát chung cùng những ca viên trên sân khấu khiến người nghe bản đại hợp xướng thật êm dịu và hài hòa. Đó là lý do khiến giáo sư luôn luôn muốn hòa mình với tha nhân để cùng nhau bảo tồn và phát huy nền văn học nước Việt. Nếu không nền văn học hải ngoại sẽ mai một trong một sớm một chiều. Chính điểm nầy khiến giáo sư đã không quản ngại đường sá xa xôi, quyết chí lên đường bay sang California để tham dự buổi ra mắt tuyển tập Nam Phong nầy. Chính điểm nầy khiến giáo sư nhất quyết lên đứng trên sân khấu chung với những tác giả có bài đăng trong tuyển tập, để được ban tổ chức giới thiệu với cử toạ, nhưng tuổi tác và trình độ của họ đáng ngang hàng với học trò mình như tôi, nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, nhà văn Ngọc An, nhà văn Việt Hải, nhà văn Cù Hoà Phong, nhà văn Hà Đình Huy.
Từ trái: Nhà văn Đỗ Tiến Đức, một thân hữu, Dương Viết Điền, nhà văn Bích Huyền, nhà văn Nguyễn Hữu Nhật, nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh, nhà thơ Ngọc An.
Hành động này đúng là biểu tượng của hòa đồng làm nức lòng tha nhân và tuổi trẻ, khuyến khích tha nhân và tuổi trẻ hãy cùng nhau bảo tồn và phát huy nền văn học nước nhà. Bởi vì giáo sư Doãn Quốc Sỹ biết rằng nếu không bảo tồn và phát huy nền văn học nước nhà, rồi đây nền văn học của chúng ta sẽ bị lai căng, mất gốc vì sẽ bị ảnh hưởng nhiều sắc thái của một vài nền văn học ngoại lai, bệnh hoạn. Và khi nền văn học bệnh hoạn, đau yếu thì xã hội cũng khó mà lành mạnh được đúng như lời của tư tưởng gia Maurice Nadeau đã từng nói “Quand la litérature a mal, la société ne va pas bien (Khi văn chương đau yếu, thì xã hội không lành mạnh). Tuyển tập Đồng Tâm chính là thửa đất mà giáo sư và nhà văn Tạ Xuân Thạc muốn tất cả các văn nhân nên tham gia vào để bảo tồn và phát huy nền văn học. Đây là nơi giáo sư muốn gieo những hạt mầm văn học cho tương lai, và cũng là nơi “dụng võ” của tao nhân mặc khách. Vì quyết chí hoà đồng với mọi người nên trong truyện ngắn “Người Vái Tứ Phương”, giáo sư đã không ngần ngại hạ bút viết: “Thế giới nầy là nơi cộng đồng trách nhiệm. Khi cái đẹp, cái thiện đã được khơi nguồn, thắp sáng, người ta dễ bề mở rộng cái tôi cá biệt đi vào cái ta hòa đồng”.
Và với những ước mơ suốt đời canh cánh bên lòng, giáo sư luôn luôn cổ xúy và xiển dương tư tưởng “Gìn Vàng Giữ Ngọc” để bảo tồn nền văn hóa nước Việt, ngõ hầu khỏi làm phật lòng thi hào Nguyễn Du qua hai câu thơ Kim Trọng dặn dò Thuý Kiều trước khi tạm biệt:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.
Với chủ trương luôn luôn gìn vàng giữ ngọc của giáo sư nên ngày hôm nay, thi hào Nguyễn Du có thể tiếp tục an giấc nghìn thu dưới suối vàng khỏi phải trăn qua trở lại giữa đêm khuya thanh vắng vì trên thế gian này, giáo sư Doãn Quốc Sỹ vẫn còn thức.
Viết về thân thế và sự nghiệp văn chương của giáo sư Doãn Quốc Sỹ qua mấy chục tác phẩm đã xuất bản phải cần một cuốn sách vài trăm trang, làm sao có thể cô đọng được trong vài trang giấy trắng nầy? Vì thế tôi chỉ viết một vài kỷ niệm với giáo sư Doãn Quốc Sỹ trong những lần gặp gỡ giáo sư thôi. Cuối cùng tôi có một nhận xét tổng quát sau khi đọc được một số tác phẩm của giáo sư và xuyên qua cuộc đời của giáo sư từ lúc thiếu thời cho đến ngày hôm nay rằng, một con người có dáng dấp dong dỏng cao, hơi gầy, với một khuôn mặt thật đôn hậu như thế, một con người đã tốt nghiệp văn bằng Tiến sĩ tại một đại học nổi tiếng ở Hoa Kỳ và suốt đời chỉ cầm cục phấn trên tay với nghề gõ đầu trẻ, mà vẫn cố gắng chịu đựng được sự khủng bố triền miên về tinh thần, chịu đựng được sự hành xác giữa trời lúc thì nóng như thiêu như đốt, lúc thì rét căm căm phải run rẩy thân tàn ma dại qua một thời gian đầy khổ luỵ trên dưới 12 năm trong trại tù, lòng vẫn luôn luôn giữ được khí tiết và tỏ ra bất khuất trước bạo tàn thì đúng là một đấng trượng phu nghìn đời khâm phục.
Giáo sư Doãn Quốc Sỹ đúng là một mẫu người “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” vậy.
Những người được tặng hoa (từ trái): Nhà văn Việt Hải, Dương Viết Điền, nhà văn Cù Hoà Phong, nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, nhà văn Nguyễn Thị Vinh, nhà văn Doãn Quốc Sỹ, nhà văn Nguyễn Lý Tưởng, nhà thơ Ngọc An.
Dương viết Điền
-
Bách Niên Kỷ của Một Nhà Văn DOÃN QUỐC SỸ

GIÁO SƯ NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ 
Quan Khách tham dự Từng tràng pháo tay nổi lên vang dội cả căn phòng hội chen lẫn tiếng reo vui của quan khách khi Giáo Sư Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ bước vào cửa. Căn phòng hội hình như sáng hẳn lên bởi những khôn mặt rạng rỡ, nụ cười nở hoa trên môi mọi người để đón chào một vị Thầy khả kính. Nhạc phẩm Trèo Lên Quán Dốc vang lên từ một góc phòng phía bên trái và rồi mọi người cùng hát vì đây là nhạc phẩm mà ông yêu mến…
Trèo lên quan dốc ngồi gốc ối a câу đa
Rằng tôi lý ối a câу đa
Ai xui ôi à tính tang tình rằng
Ϲho cô mình gặp xem hội cái đêm trăng rằm
Rằng tôi lý ối a câу đa
Ϲhẻ tre đan nón kìa nón ơi ba tầm
Rằng tôi lý ối tầm ba tầm
Ai đem ôi à tính tang tình rằng
Ϲho cô mình đội xem hội cái đêm trăng rằm
Rằng tôi lý ối a sáng trăng….

Hân hoan chào đón Giáo Sư Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Kính chúc GS Thượng ThượngThọ An KhangGS Doãn Quốc Sỹ với nụ cười luôn nở trên môi, khuôn mặt tươi sáng để lộ một sự ngạc nhiên, hân hoan và hạnh phúc. Ông đi từng bước chậm chạp, thong thả với sự giúp đỡ của Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Huy Bích. GS Trần Huy Bích dìu GS Doãn Quốc Sỹ tiến thẳng đến chiếc bàn đặt giữa phòng, một vị trí đặc biệt dành riêng cho ông. Trên bàn, một chiếc bánh mừng thọ với hàng chữ:
LỄ MỪNG THỌ 100 TUỔI VÀ VINH DANH GIÁO SƯ DOÃN QUỐC SỸ


Giáo Sư Doãn Quốc Sỹ ngồi xuống nghế, mắt nhìn thẳng về phía quan khách trong lúc Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Thị Huê đứng bên cạnh ông, khai mạc cho buổi họp mặt.

Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Thị Huê GS Phạm Thị Huê mở đầu với hai câu thơ của Nhà Thơ Xuân Diệu trong bài Mùa Thu Tới:
“Đây mùa thu tới, mùa thu tới,
Với áo mơ phai dệt lá vàng…”
GS cho biết là GS Doãn Quốc Sỹ có sức khỏe tốt và sống lâu là nhờ vào THIỀN sau khi bà chúc GS Doãn Quốc Sỹ “Thượng Thọ An Khang” và để kết thúc phần nói chuyện, bà đọc câu thơ của Đại Văn Hào Nguyễn Du:
“Trời còn để có hôm nay….
GS Huê nói tiếp:
“Câu thơ tiếp theo tôi xin để trống để mọi người tự điền vào.”
Sau khi nghe Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Thị Huê đọc câu thơ của thi hào Thanh Hiên Tố Như khiến Khánh Lan liên tưởng như sau:
“Trời còn để có hôm nay,
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời.
Hoa tàn mà lại thêm tươi,
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Ngẫm nghĩ về câu “Trời còn để có hôm nay”,… Trời ở đây có nghĩa như không gian (sky, le ciel) hay khung trời cho chúng ta hôm nay được gặp lại nhau, nhìn nhau, và người đối diện vẫn mạnh khoẻ để chuyện trò, hàn huyên với nhau. Sau bao năm vật đổi sao dời, “Hoa tàn mà lại thêm tươi, Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.”,… và rồi không gian, thời gian đã chuyển hóa để chúng ta quán được, ngộ được, và nhận chân ra rằng “Trời còn để có hôm nay“, vì nay chúng ta đã không có gì mất cả, mà ngược lại, hoa cũ vẫn còn tươi, trăng cũ còn sáng hơn xưa. Xin hãy hiểu Giáo Sư Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ dù cao tuổi, nhưng nay ông vẫn mạnh khỏe, bình an, minh mẫn. Có lẽ người thọ bách niên không có thay đổi nhiều… Lời chúc phúc của Giáo Sư Huê mang đầy ý nghĩa, mang giá trị tích cực của ý tưởng chúc thọ.

Giáo Sư Đỗ Quý Toàn Tiếp tục chương trình là Giáo Sư Đỗ Quý Toàn nói về nói về tiểu sử của GS Doãn Quốc Sỹ, ông nói ngắn gọn nhưng rất đầy đủ và bao gồm tất cả những gì cần thiết…

Lời phát biểu của Giáo Sư Doãn Quốc Sỹ
và đứng bên cạnh là Cô Doãn Liên (con gái của GS)Đến phần phát biểu của Giáo Sư Doãn Quốc Sỹ, ông nhắc đến Nhà Thơ Tú Mỡ và đọc rõ ràng tên từng đứa con của Nhà Thơ Tú Mỡ và của ông qua một mẫu chuyện vui rất dí dỏm, hóm hỉnh và tự nhiên. Với giọng nói tinh anh, minh mẫn Giáo Sư Doãn Quốc Sỹ kể: “Ông Tú Mỡ (nhà thơ trào phúng Hồ Trọng Hiếu), nhạc phụ của tôi, viết về tám người con của ông với hai câu: “Năm trai, ba gái, tám tên/Trung, Hiền, Thảo, Dũng, Hùng, Chuyên, Vỹ, Cường.” Còn tôi thì cũng bắt chước ông nhưng “cân đối” hơn nên… “Bốn trai, bốn gái, tám tên/ Thanh, Khánh, Liên, Thái, Vinh (liền), Hưng, Hiển, Hương.”… Có lẽ, lúc này, ông chẳng còn màng đến sự việc đời thường, chẳng còn thiết tha với văn thơ, mà chỉ còn nghĩ đến cái hạnh phúc của riêng mình, là những đứa con hiếu nghĩa đang ở bên cạnh ông mà thôi.

Từ trái sang phải: Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Huy Bích, Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Thị Huê, Giám Đốc Viện Việt Học Cô Kim Ngân , Giáo Sư Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ 
GS Doãn Quốc Sỹ cắt bánh bên cạnh hai cô con gái Căn phòng chìm trong yên lặng khi trên màn hình, chiếu lên một slideshow về cuộc đời của GS Doãn Quốc Sỹ với lời tựa “BỐ – DOÃN QUỐC SỸ” do con trai của ông là anh Doãn Vinh thực hiện. (Theo lời của người con rể của ông là anh Nguyễn Đình Hiếu.) Mở đầu slideshow với giọng ca ngọt ngào, cao vút của cố Ca Sĩ Thái Thanh, đã làm rung động và xao xuyến tâm tư của những đứa con Việt Nam xa xứ…
“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời.
À à ơi! Tiếng ru muôn đời…”
Sau phần slideshow, Giáo Sư Nguyễn Đình Cường cất tiếng ngâm bài thơ “Tóc Trắng và Con Đường Mùa Thu” của Nhà Thơ Trần Mộng Tú, rồi đến bài thơ “Tiễn Thầy” vô cùng cảm động của Thi Sĩ Nguyễn Đức Vĩnh và sau cùng là một bài thơ nổi tiếng mà GS Cường đặt tên là “Bài Thơ Vô Đề của Nhà Thơ Khuyết Danh”. Bài thơ này trích trong thi phẩm Doãn Quốc Sĩ qua bài viết của Nhà Văn Nguyễn Mạnh Chi.
Sau bữa ăn trưa là những phát biểu và chúc thọ từ các đoàn thể như: Hội Ái Hữu Đại Học Vạn Hạnh, Đại Học Sư Phạm, Trường Học Chu Văn An, Trung Học Nguyễn Khuyến, Trường Việt Ngữ Nam Cali, Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt, Viện Việt Học, Biên Khảo Lịch Sử Phạm Trần Anh và sau cùng là Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

Từ trái sang phải: Sử Gia Phan Trần Anh, NV Khánh Lan, GS Phạm Thị Huê,
GS Dương Ngọc Sum, NV Phạm Gia Đại
Các Hội Đoàn phát biểu và chúc mừng GS Doãn Quốc Sỹ


Tuy Nhà Văn Việt Hải bận việc gia đình không đến được, nhưng anh đã ủy thác cho Nhà Văn Khánh Lan đọc bài thơ thất ngôn tứ tuyệt để chúc thọ GS Doãn Quốc Sỹ như sau:
Một trăm năm hữu sở ân sư
Một thế kỷ đời vi học giả
Thọ tựa tùng mộc ngàn năm sáng
Đức như bách mộc bao thanh cao.

Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Từ trái sang phải:
Mạnh Bổng, NV Khánh Lan, GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc SumTrong quá khứ khi nhóm văn học, nhóm Văn Đàn Đồng Tâm được thành lập bời ba nhân vật: Tạ Xuân Thạc (Chủ Nhiệm), Trần Việt Hải (Chủ Bút) và GS Doãn Quốc Sỹ (Cố vấn văn hoc), GS Doãn Quốc Sỹ và Văn Đàn Đồng Tâm để lại một dấu ấn thời gian như nhà văn Doãn Quốc Sỹ vẫn quan tâm, khuyến khích giới hậu duệ đi sau hãy tiếp tục dòng sông văn học luân lưu.
Chúng tôi (Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuât & Tiếng Thời Gian) được biết GS NV Doãn Quốc Sỹ có những tác phẩm nổi tiếng như Người Việt Đáng Yêu, Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Dòng Sông Định Mệnh, Ba Sinh Hương Lửa, Dấu Chân Cát Xóa, v.v… Ngoài ra, trước năm 1975, GS Doãn Quốc Sỹ còn là một trong những nhà văn thành lập nhóm văn Sáng Tạo gồm Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo và Nguyễn Sĩ Tế, …
Tình bạn cố tri giữa 2 nhà văn Doãn Quốc Sỹ và Thanh Tâm Tuyền sâu đậm như khi Thanh Tâm Tuyền sáng tác bài thơ mang tên “Nhịp Ba” thay cho Lời Bạt dành cho tập truyện cổ tích “Sợ Lửa” của Doãn Quốc Sỹ xuất bản năm 1956, Thanh Tâm Tuyền viết:
“Ngực anh thủng lỗ đạn tròn
Lưỡi lê thấu phổi
Tim còn nhảy đập
Nhịp ba nhịp ba nhịp ba
Tình yêu, tự do mãi mãi
Anh về ngồi dưới vườn nhà
Cây liền kết trái
Hoa rụng tơi tơi ủ xác
Anh chạy nhịp hai qua cách trở
Mắt bừng
Thống nhất, tự do
Ngoài xa thành phố
Bánh xe lăn nhịp ba
Áo màu xanh hớn hở
Nhát búa gõ
Long máy quay
Cửa nhà thi nhau lớn
Nhịp ba, nhịp ba, nhịp ba
Tình yêu, tự do, mãi mãi”.
Bài thơ này được chính Doãn Quốc Sỹ coi như là “đã nêu lên lòng ước muốn thường xuyên nóng bỏng trong tâm tư thầm kín của tôi [DQS]: đó là ước muốn sao cho đất nước sớm được thống nhất tự do.”
Thế nhưng sau tháng Tư, 1975, người ta nói là “đất nước thống nhất tự do”, cả Doãn Quốc Sỹ và Thanh Tâm Tuyền – cũng như bao nhiêu nhà báo và văn nghệ sĩ khác của Miền Nam đã phải vào trại tù cải tạo…
Đồng hồ chỉ 2:30 giờ chiều, GS Doãn Quốc Sỹ đã thấm mệt, ông ra về trong sự luyến lưu của mọi người. Buổi họp mặt mừng tuổi thọ của GS Doãn Quốc Sỹ chấm dứt lúc 3:00 giờ chiều.
Khánh Lan, California Dec. 10, 2022

CNS Hồng Tước, MC Thụy Vy, TP Nguyễn Trọng Nho, NV Khánh Lan 
-
NGÀY HỘI NGỘ PETRUS KÝ 2022 DƯỚI LĂNG KÍNH CỦA KIỀU MY

Petrus Trương Vĩnh Ký Những ngày mây mù ảm đạm có mưa gió lạnh đã qua! Bầu trời chợt bừng sáng với nắng thu nhẹ nhàng lan tỏa khắp vùng trời nam California, để đón chào buổi sáng Chủ nhật ngày 4 tháng 12 năm 2022. Ngày họp mặt của hội Ái Hữu Petrus Ký. Hình như thiên nhiên đã ưu đãi cho hội có một ngày hội ngộ thật đẹp và đồng thời cũng mang niềm phấn khởi đến cho mọi người.
Mới 10:30 sáng, quan khách đã lần lượt đến hội trường với vẻ mặt vui tươi, ánh mắt rạng ngời, tay bắt mặt mừng, xôn xao chào hỏi nhau trong tình đồng môn và thân hữu.
Trên sân khấu, hai câu đối bằng chữ đỏ thật lớn, sáng ngời, nổi bật dưới ánh đèn:
Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt
Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm
Đây là hai câu đối được khắc trước cổng trường Petrus Ký từ khi mới thành lập và đã cưu mang một lý tưởng giáo dục vẹn toàn về cả hai mặt: Đức dục và trí dục, mà được cựu học sinh của trường luôn khắc cốt ghi tâm. Tưởng cũng nên điểm qua vài nét đại cương về trường Petrus Ký – Là trường nam trung học được thành lập trong thời Pháp thuộc vào năm 1928, do Thống đốc Nam kỳ Blanchard De La Brosse, lấy tên nhà văn học và cũng là nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký (gọi tắt là Petrus Ký 1837 – 1898) đặt tên cho trường. Tượng đồng bán thân của nhà bác học được nhà diêu khắc cắt xén khéo léo và đặt ngay giữa sân trường.

Trường Petrus Ký, Saigon Được biết, Petrus Trương Vĩnh Ký thông thạo 26 ngôn ngữ; vì thế vào năm 1874, ông được thế giới chọn là nhà bác học ngôn ngữ của thế kỷ 19 và được danh dự ghi tên trong tự điển Larousse. Lễ khánh thành của tượng đồng Petrus Trương Vĩnh Ký và Lycee’ Petrus Ký được đặt dưới sự chủ tọa của Thống đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse. Dù đã qua gần một thế kỷ mà ngôi trường Petrus Ký vẫn uy nghi, tọa lạc tại trung tâm thành phố Saigon và nổi tiếng về mẫu mực tốt đẹp của nền giáo dục học đường. Trường đã đào tạo những học sinh ưu tú, những nhân tài, những chính khách cho chế độ dân chủ xưa và những sĩ quan chỉ huy trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Ngày nay, đa số những cựu học sinh của trường Petrus Ký đã thành đạt ở hải ngoại. Vì thế, họ là những người xứng đáng và hãnh diện là học sinh của trường. Sự thành công vượt bực của các cựu học sinh trong và ngoài nước là do họ được đào tạo bởi các vị giáo sư tài đức, dạy dỗ, rèn luyện bằng kỷ luật nghiêm khắc, nhưng đầy tình yêu thương dành cho học trò.
Khai mạc chương trình cho buổi hội ngộ hôm nay, bài nhạc chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ hùng hồn lần lượt trổi lên. Tất cả mọi người trong hội trường đứng nghiêm chỉnh, nghiêng mình dưới màu cờ của hồn thiêng sông núi. Tiếp đến là phút mặc niệm để tưởng nhớ đến những vị anh hùng dân tộc, vì nước vong thân, hay những người dân Việt đã bỏ mình trên đường tìm tự do. Đó là khoảnh khắc xúc động cho những người may mắn còn sống sót qua cuộc bể dâu, đồng thời bùi ngùi nghĩ đến những người đã ra đi mãi mãi.
Buổi tiệc hôm nay quy tụ khoảng 200 người, hội trường thật đông với sự hiện diện của các cựu giáo sư Petrus Ký như GS Dương Ngọc Sum, Châu Thành Tích, Nguyễn ngọc Thọ, Lê Tiến Đạt, Nguyễn Văn Hiếu, Đặng Quốc Khánh, v.v… và các cô Hồ Thị Hiệp, Phạm Thu Yến v.v… Trong bầu không khí vui tươi ấy, các cựu học sinh Petrus Ký cũng không quên tưởng nhớ đến các cựu giáo sư đã vĩnh viễn ra đi trong năm qua như Tư Lệnh Không Quân, Giáo Sư, Khoa học gia, Nhà Văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh… Và bùi ngùi thương tiếc cho những người bạn đồng môn đã vội vã bỏ cuộc vui như Bác sĩ, võ sĩ, chiến sĩ nhảy dù, nhạc sĩ Phạm Gia Cổn vừa qua đời vào sáng Thứ Tư, ngày 30 tháng 11 năm 2022.

Bác Sĩ Đỗ Trọng Thái và các cựu học sinh Petrus Ký cùng GS Dương Ngọc Sum khai mạc buổi họp mặt.

Trên sân khấu, Bác Sĩ Đỗ Trọng Thái đại diện ban tổ chức chào mừng quan khách cùng với các cựu học sinh trong ban tổ chức với đồng phục áo chemise trắng, quần tây đen, giản dị nhưng không kém phần lịch sự và trang nhã. Ngoài BS chủ tịch Đỗ Trọng Thái, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của BS Ngô Bá Định, Ca Sĩ Nguyên Hồng (San Jose), các anh Trần Anh Dũng, Trần Vĩnh Trung, Đặng Mão, Lê Anh Dũng, v.v…

Hàng đứng: Mạnh Bổng, NV Khánh Lan, GS Dương Ngọc Sum, Hồng Nguyên.
Hàng Ngồi: NT Lê Nguyễn Nga, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, NV Kiều MyĐặc biệt ghi nhận, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã có mặt rất sớm và góp phần đắc lực vào chương trình văn nghệ, giúp vui không ít vào sự kiện hôm nay. Kiều My nhận thấy Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Nhà Thơ Lê Trọng Nguyễn Nga đến rất sớm với sắc diện vui tươi.

LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN

Nhà văn đàn anh Nguyễn Quang bao giờ cũng bảnh bao trong mọi buổi họp mặt.Hôm nay trông nhà văn Trần Việt Hải có vẻ hồng hào và rất vui, anh là cựu học sinh Lycee’ Petrus Ký và ca sĩ phu nhân Lệ Hoa đến hơi muộn, có lẽ vì “Kẹt xe” làm Kiều My cứ nhìn ra cửa trông ngóng. Đôi trai tài gái sắc Mạnh Bổng và Nhà Văn Khánh Lan đã có mặt và ngồi kế bên Kiều My. Ngoài ra còn có nhà văn Phạm Gia Đại, ngồi cùng bàn và chung vui với cả nhóm. Ba người đẹp: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh và Ái Liên của ban Tiếng Thời Gian, tha thướt trong chiếc áo dài rất nổi và thật đẹp mắt. Ban tam ca này hứa hẹn những màn trình diễn hấp dẫn trong chương trình văn nghệ sắp đến.
Mùi thức ăn thơm ngon từ các khay trên tay của những tiếp viên, làm mọi người cảm thấy cái đói đang lên tiếng. Thức ăn của nhà hàng Diamond Seafood Palace khá ngon đủ làm hài lòng thực khách. Còn gì thú vị cho bằng khi vừa thưởng thức món ăn ngon, vừa nghe cựu học sinh Trần Vĩnh Trung kể lại những kỷ niệm vui buồn dưới mái trường. Bạn ấy kể chuyện về nét đặc biệt của thầy Đặng Quốc Khánh rằng: Thầy chạy xe Vespa, chải đầu tém và thích nhảy đầm… Khi anh Trần Vĩnh Trung vừa dứt lời, Thầy Đặng Quốc Khánh ngay lập tức, cải chính. Thầy bảo rằng thầy khiêu vũ chứ không nhảy đầm…vì thầy không có mặc áo đầm…hihihi…Khiến mọi người vừa ăn vừa cười tủm tỉm… Nhìn các thầy cô mà thương! Không còn khỏe mạnh đầy nghị lực như ngày xưa, giờ đã già yếu, tóc đã bạc nhiều. Thời gian đã làm hao mòn hết tất cả! thật vậy, không gì có thể chống chọi lại được với thời gian cả! Con đường mà mọi người lần lượt phải đi qua!
Các cựu học sinh Petrus Ký hàng năm vẫn không quên sinh nhật của nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký, đặc biệt năm nay, họ cũng không quên sinh nhật thứ 88 của thầy Dương Ngọc Sum và thầy Đặng Quốc Khánh. Cả hội trường cùng đồng thanh ca Happy Birthday chúc mừng sinh nhật cho hai thầy thật tưng bừng. Chiếc bánh sinh nhật ngon ngọt được cắt ra, chia cho mọi người như tình thầy trò luôn khắng khít, cho nhau tình cao nghĩa trọng.


Từ trái sang phải: NV Phạm Gia Đại, GS Dương Ngọc Sum, BS Đỗ Trọng Thái NV Phạm Gia Đại thay mặt nhà văn Việt Hải và Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chúc thọ GS Dương Ngọc Sum. Bài thơ như sau:
KÍNH MỪNG SINH NHẬT THẦY SUM
Kính mừng sinh nhật Thầy Sum.
Nhà văn, nhà giáo họ Dương song toàn.
Tám tám tuổi hạc trời ban.
Vẫn còn minh mẫn luận bài văn chương.
Cộng đồng bè bạn mến thương.
Môn sinh lui tới đón mừng tôn vinh.
Văn chương chung một hành Trình.
Những chiều thơ nhạc ấm tình quê hương.
Mấy vần lục bát kính mừng.
Chúc Thầy mạnh khỏe thọ trường an khang.
Vườn hoa văn nghệ thênh thang.
Thêm bông hồng thắm, một làn hương bay.
NS Dương Hồng Anh . Westminster, ngày 29 tháng 11, 2022.

GS Dương Ngọc Sum và GS Đặng Quốc Khánh Chương trình văn nghệ được mở đầu với nhạc phẩm Giòng An Giang của Anh Việt Thu, được hát bởi ban Tam ca Tiếng Thời Gian: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh và Ái Liên và được tán thưởng nhiệt liệt bởi tràng pháo tay vang dội cả căn phòng. Giai điệu luân vũ nhẹ nhàng vui tươi của Giòng An Giang đã chinh phục được khán giả dù khó tính.

Tam ca Tiếng Thời Gian, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Lam Dung Để đáp lại, Petrus Ký cống hiến nhạc phẩm Tình Khúc Chiều Mưa của Nguyễn Ánh 9 qua hai giọng ca của BS Đỗ Trọng Thái và anh Nguyên Hồng. Qua nhạc phẩm này cho ta gợi nhớ lại người nhạc sĩ piano tài ba Nguyễn Ánh 9, lúc sinh thời đã sáng tác và đóng góp cho kho tàng âm nhạc Việt Nam nhiều nhạc phẩm giá trị.
Kế tiếp là màn trình diễn của cô Song Ngân trong bộ áo tứ thân cổ truyền qua nhạc phẩm Em Đi Chùa Hương. Gợi lại hình ảnh của đất Bắc thân yêu đã đi vào văn chương hay thi ca muôn thuở của Việt Nam. Sau những bản nhạc nhẹ nhàng êm dịu, cả hội trường như bừng lên sức sống khi giai điệu pasodoble của Ô Mê Ly, do nhạc sĩ Văn Phụng sáng tác trổi lên. Tiếng hát của Ái Liên, Lâm Dung và Ngọc Quỳnh một lần nữa đã làm những người thích nhảy nhót không thể ngồi yên, bèn ồ ạt ra sàn nhảy cho thỏa thích.

Khi hơn phân nửa khách đã ra về, còn lại một số thành viên Petrus Ký. Riêng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian vẫn còn đông đủ và rất chịu chơi để đánh một cú chót. Bản nhạc sở trường của nhóm được tung ra khiến mọi người vô cùng thích thú, đó là bản NẮNG CHIỀU của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn do toàn ban đại hợp xướng của nhóm trình bày. Kiều Mỹ nghĩ rằng: với bản Nắng Chiều ít nhiều cũng đã mang đến niềm vui cho Nhà Thơ Lê Nguyễn Nga, bà là phu nhân của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và là bố của cháu Minh Thư có mặt trong buổi tiệc. Kiều My cũng đã nhìn được ánh mắt vui mừng xen chút cảm động của nhà thơ Lê Nguyễn Nga, vì đây cũng là niềm hãnh diện của riêng bà và cả Minh Thư.
Bế mạc chương trình, mọi người cùng cất tiếng hát nhạc phẩm Việt Nam Việt Nam…trong niềm yêu nước dạt dào. Bản nhạc này riêng tặng cho thầy Dương Ngọc Sum vì đó là nhạc phẩm mà thầy rất yêu thích.

Mọi người cùng cất tiếng hát nhạc phẩm Việt Nam Việt Nam…trong niềm yêu nước dạt dào Cuộc vui nào cũng phải tan, mọi người lưu luyến chia tay và hẹn gặp lại ngày này năm sau.

KIỀU MY, KHÁNH LAN, MẠNH BỔNG KÍNH CHÀO VÀ HẸN TÁI NGỘ TRONG NĂM 2023 Kiều My, Nam California 2022.
-
Vĩnh biệt Mạc Vũ Phạm Gia Cổn

BS PHẠM GIA CỔN Bác Sĩ Phạm Gia Cổn qua đời vào sáng Thứ Tư, 30/11/2022 tại bệnh viện MemorialCare Orange Coast Medical Center, Fountain Valley, hưởng thọ 80 tuổi.
BS Phạm Gia Cổn là khuôn mặt rất quen thuộc trong sinh hoạt cộng đồng người Việt ở Little Saigon và hải ngoại. Giáo Sư tại Đại Học UCLA suốt 28 năm từ năm 1982 đến năm 2010. Anh từng là Chủ Tịch Hội Y Sĩ Việt Nam, Nam California. Tại Little Saigon, năm 2006, Bác Sĩ, Võ Sư Phạm Gia Cổn đã phối hợp y khoa và võ thuật, sáng lập ra môn phái Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc. Lớp học miễn phí, trong suốt thời gian qua, có cả ngàn môn sinh (học viên tham dự). Địa điểm 9032 Hazard Ave (Góc Hazard & Magnolia) với 4 buổi sáng trong tuần.
Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc được phổ biến ở Phần Lan, Úc Châu… và các nơi khác như Texas, Florida, San Jose… gọi là Gia Đình Hoàng Hạc TDKC (Thể Dục Khí Công). Đây cũng là dịp Chưởng Môn đi đây đi đó thăm các Gia Đình Hoàng Hạc và phổ biến trong cộng đồng người Việt.
Là con người tài hoa trên nhiều lãnh vực, tính tình điềm đạm, khiêm nhượng nên được mọi người cảm mến. Khi nhận tin BS Phạm Gia Cổn qua đời, mọi người không thể ngờ vì anh vẫn khỏe mạnh và hiện diện trong các buổi sinh hoạt hội đoàn trong tháng 11 vừa qua. Vĩnh biệt anh, ghi lại vài dòng kỷ niệm về nhạc sĩ Mạc Vũ Phạm Gia Cổn.
Năm 2016, anh Phạm Gia Cổn đã thực hiện xong 11 ca khúc do anh sáng tác và nhờ tôi thực hiện bìa của CD.
CD Hẹn Ước – thơ phổ nhạc – Mạc Vũ Phạm Gia Cổn – Hòa Âm: Ngọc Dũng
1.- Đã Một Lần (Cổ Tích Tôi) – Thơ: Định Nguyên – tiếng hát Tâm Thư. 2.- Hẹn Ước – Thơ: Phan Xuân Hiệp – Tâm Thư. 3.- Một Lá Thư – Thơ: Phạm Kim Khôi – Trung Hiếu. 4.- Lệ Hoa – Thơ: Phan Xuân Hiệp – Tâm Thư. 5.- Buổi Chiều, Nhớ – Thơ: Như Thường – Tâm Thư. 6.- Hai Bàn Tay – Thơ: TSN Ngọc Diệp – Quang Châu. 7.- Buổi Sáng – Thơ: Long Ân – Khánh Vy. 8.- Nhớ – Thơ: Sương Mai – Khánh Vy. 9.- Tiễn Anh – Thơ: Trần Đức Tường – Trung Hiếu. 10.- Phương Chờ Em – Thơ: Lan Đàm – Trung Hiếu
11.- Why I Write – Thơ: Amy Hồ – Cẩm Vân
Trong khi đang thực hiện CD, anh đưa cho tôi nghe vài ca khúc để có cảm hứng khi trình bày bìa.
Mời nghe những ca khúc trong CD Hẹn Ước thực hiện trên YouTube:
Trong thời gian anh đến nhà tôi để cùng nhau thực hiện cũng là lúc trò chuyện nhau thật thú vị vì gặp nhau ở quán cà phê đông người chỉ tán gẫu vài mẫu chuyện vui cùng bạn bè. Anh cho biết họ Mạc có sự liên quan đến tổ tiên ở thế kỷ 16 trong cuộc nội chiến Lê-Mạc và khi Trịnh Tùng truy sát họ Mạc đến cùng nên một số thay tên đổi họ ẩn cư. Đó cũng là bí ẩn của giai đoạn bi thương lịch sử.
Với võ sư bát đẳng Hiệp Khí Đạo (Hapkido) nên sức khỏe rất tốt luyện tập saxophone, clarinet. Với những nghệ sĩ saxophone tài danh tuyệt vời Sando Pharoah, Albert Ayler, Dexter Gordon, Charlie Parker, Dizzy Gillespie và Bud Powell… với tiếng kèn và phong cách trình diễn của họ đã mê hoặc niềm đam mê của anh…
Trước đây, Đêm Tưởng Niệm & Vinh Danh cố Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn được tổ chức tại phòng sinh hoạt nhật báo Viễn Đông, TP Westminster, tối Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4, 2005. Sở dĩ Đêm Tưởng Niệm sau ngày giỗ một năm vì gia đình thực hiện tuyển tập nhạc Lê Trọng Nguyễn vừa xong.
Ban nhạc The Star Band (Stars Band), với sự góp mặt của hai thế hệ như các nhạc sĩ: Nguyễn Hiền (accordeon), Trần Trịnh (Electric keyboard), Quang Anh (keyboard), Phạm Gia Cổn (saxophone, clarinet), Lý Văn Quý (lead guitar), Châu Hiệp (guitare), Nguyễn Đức Trịnh (drum), Bách Tùng Trịnh (trumpet), Deanna (trumpet), Tina Huỳnh (flute), Kim Chi (clarinet), Kim Ngân (trombone)… Nhạc sĩ Nguyễn Đức Lưu (violin nhưng về San Diego). Với sự góp mặt của các ca sĩ Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao…
The Star Band rất hạn chế khi đóng góp trong các buổi sinh hoạt văn nghệ. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Trần Trịnh, Phạm Gia Cổn… là những người sáng lập ra ban nhạc nầy.
Ngày 5/5/2005, tôi ra tờ Cali Weekly, tiếp xúc với các nhạc sĩ và viết về ban nhạc nầy. Thời gian đó BS Phạm Gia Cổn còn làm dạy ở UCLA nên cuối tuần mới gặp nhau ở Factory Coffee. Sau khi anh nghỉ hưu, mỗi sáng anh ra quán cà phê gặp anh em và “mở phòng mạch” để tán chuyện với những “bệnh nhân” thường trực “nhớ nhà châm điếu thuốc”…
Trở lại với các nhạc phẩm do anh phổ thơ, chỉ có một số bạn bè thân mới biết anh thích thi ca. Khi tôi hỏi anh, “Với bạn bè thân đã nổi tiếng trong lãnh vực thi ca, sao không chọn bài thơ nào để phổ thơ?”. Anh trả lời rất tế nhị và khiêm tốn với ý là thơ hay và cảm hứng sáng tác tùy lúc, và cũng không thích phải núp vào cái bóng nào… Đúng là nghệ sỹ với tinh thần võ sĩ đạo, y sỹ tiền tuyến trong binh chủng Nhảy Dù.
Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Hoàng Hạc Khí Công (2006-2016), anh Phạm Gia Cổn nói tôi viết bài cho đặc san kỷ niệm. Bài viết cho đặc san nầy: Từ “Ngàn Cánh Hạc” đến “Hoàng Hạc” (còn lưu trữ trên trang web www.cuuhocsinhphuyen.com & https://www.dutule.com/a9062/vuong-trung-duong-ngan-canh-hac-tra-dao-tinh-duc).
Ngàn Cánh Hạc là một trong ba tác phẩm của nhà văn Nhật Kawabata được giải thưởng Văn Chương Nobel năm 1968. Xứ Tuyết (Yukigun – Snow Country, 1937), Ngàn Cánh Hạc (Sembazuru – Thousand Cranes, 1949). Cố Đô (Kyoto – The Old Capital, 1962)…
Với văn hóa Nhật Bản, xứ sở Phù Tang, chim hạc được coi là linh điểu, là biểu tượng của sự linh thiêng cao quý. Với phái nữ, chim hạc là biểu tượng sự thủy chung, hòa hợp với đạo nghĩa vợ chồng. Trang phục cưới kimono và nhiều đồ vật khác, với họa tiết hình chim hạc là hoa văn phổ biến và rất được ưa chuộng.
Từ những mẩu chuyện theo truyền thuyết, với ý nghĩa tâm linh hạc giấy trong nghệ thuật xếp hình ori-gami, người Nhật tin rằng, nếu ai đó xếp đủ 1.000 con hạc giấy thì họ sẽ có một điều ước cho sự may mắn, an lành và hạnh phúc. Với biểu tượng cao đẹp đó, chim hạc được đề cập rất nhiều trong thơ văn, điêu khắc, hội họa, công trình kiến trúc, trên đồng Yen, hãng hàng không…
Theo quan niệm Đông Phương từ ngàn xưa, hạc là chim tiên, người ta nói nó có khí phách và phong độ của bậc tiên nhân đạo sĩ. cuốn Tường Hạc Kinh gọi hạc là “thọ bất khả lượng” (sống lâu không thể tính được), cuốn Hoài Nam Tử nói “hạc thọ thiên tuế” (hạc sống nghìn năm). Cho nên đời sau thường dùng những từ như “hạc linh”, “hạc thọ”, “hạc toàn” để chúc trường thọ. Có người đã đặt tên mình là “hạc” để thể hiện ý muốn trường thọ, như “hạc thọ”, “hạc niên”, “hạc linh”… Cũng như vậy, hạc cũng được dùng để chúc thọ, phần nhiều là tranh chúc thọ, bình phong chúc thọ hoặc những tranh vẽ hoặc đồ chạm khắc khác. Tuổi già ngày nay được gọi là tuổi hạc…
Bác Sĩ Võ Sư Phạm Gia Cổn lấy biểu tượng Hạc Vàng cho môn Thể Dục Khí Công rất ý nghĩa.
Trưa Thứ Sáu, ngày 9/12 BS Phạm Gia Cổn yên giấc nghìn thu tại Gateway Crematory ở TP Fullerton. Vĩnh biệt anh, vĩnh biệt!
“Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản” Thôi Hiệu (704-754). Văn hào Kawabata vĩnh biệt Ngàn Cánh Hạc năm 1952, đúng 70 năm sau Chưởng Môn Phạm Gia Cổn vĩnh biệt Hoàng Hạc TDKC.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, December 03, 2022
-
NHỚ THU XƯA & CÔ GÁI VIỆT NAM
MỜI CÁC BẠN VÀO XEM HAI NHẠC PHẨM MỚI.
Nhớ Thu Xưa, Thơ Khánh Lan, Nhạc Minh Trí
Cô Gái Việt Nam, Thơ Khánh Lan, Nhạc Phạm Thái
Ca Sĩ: Minh Trí
Nhớ Thu Xưa
Cô Gái VN
-
HIẾU NGHĨA ĐÁP ĐỀN

BÁO HIỂU TRUNG QUÂN GIỮ ĐẠO TÌNH
MẸ CHA KHUYA SỚM ĐÃ HY SINH
NUÔI CON SỚM TỐI BAO GIAN KHỔ
PHỤNG DƯỞNG SONG THÂN HIẾU NGHĨA MÌNH
GIỮ NƯỚC THƯƠNG NHÀ CON NHỚ MÃI
LÀM DÂN GIỮ VẸN TIẾT TRUNG TRINH
NON SÔNG GẤM VÓC TA GìN GIỮ
HIỂU ĐẠO TRUNG KIÊN VẸN NGHĨA TÌNH.
Lê Nguyễn Nga
Thanksgiving 2022
-
“YÊU” – Tiếng hát Kim Phụng
-
PHẬN ĐÀN BÀ DƯỚI NÉT BÚT CỦA KIỀU MY
Trong đời sống chúng ta, theo tôn giáo hoặc triết lý thì mỗi con người đều có duyên số hay phần số mà đã được an bài. Trong bài viết này, tôi xin cô đọng vào số phận của người đàn bà như thế nào qua ba tác phẩm lớn của các đại văn hào như:
Lolita: Vladimir Nabokov
Trà Hoa Nữ: (La Dame aux Came’lias) Alexandre Dumas Jr.
Kim Vân Kiều: Nguyễn Du

LOLITA – Tiểu thuyết Nabokov.
Lolita!…Lolita!…Âm vang đắm đuối khát khao phát xuất từ con tim đầy lửa dục vọng của gã đàn ông trung niên Humbert Humbert, luôn ám ảnh về tình dục với cô bé mới lớn Lolita. Cô vừa tròn 12 tuổi, lứa tuổi còn ngây thơ vụng dại cắp sách đến trường. Cô như một đóa hoa vừa chớm nở với những cánh hoa còn búp đọng sương khuya, lấp lánh dưới ánh nắng ban mai rực rỡ của một ngày mới. Đóa hoa xinh tươi mơn mởn đầy hấp dẫn và vô cùng quyến rũ này đối với Humbert, đã đốn ngã một linh hồn bệnh hoạn. Trong cơn bốc cháy lửa dục vọng ấu dâm, gã si tình Humbert đã miên man: “Lolita! Ánh sáng của đời tôi, lửa dục lòng tôi, tội lỗi của linh hồn tôi, nàng sẽ trong vòng tay tôi. Tôi biết sẽ vĩnh viễn yêu thần tượng bé nhỏ của tôi, nhưng cũng biết nàng sẽ không mãi mãi là Lolita!”…
Lolita là tác phẩm viết về một thực trạng bất thường của tình yêu nam nữ, mà nó luôn tồn tại qua mọi thời đại trong xã hội loài người. Câu chuyện về tình yêu, về nhục dục, luôn hiện diện trong cuộc sống của con người, mà tác giả người Nga Vladimir Nabokov đã khéo léo, nâng niu vẻ đẹp thiên thần của cô bé Lolita, đến người đọc cũng phải bị ám ảnh về nàng. Nét bút của tác giả cũng thật tài tình khi diễn tả từng nét tâm lý, từng ngõ ngách thèm muốn tình dục ấu dâm của Humbert với thần tượng bé nhỏ Lolita mà gã luôn khao khát.
Tác phẩm Lolita ra đời vào năm 1955, tại thủ đô ánh sáng Paris, là một hiện tượng rất mới và lạ lẫm của nền văn chương Âu Châu vào giữa thế kỷ 20. Tuy thành phố Paris thuộc về Tây phương, là một châu lục văn minh nhất trên hành tinh này; nhưng xã hội thời bấy giờ vẫn không chấp nhận được sự đồi trụy về mặt đạo đức của nhân vật chính Humbert trong truyện. Tác phẩm này nổi tiếng bởi phong cách mới mẻ về nội dung; và cách diễn tả tâm lý thật sâu sắc, tỉ mỉ về một gã đàn ông trung niên học thức, luôn mang trong đầu óc bệnh hoạn của sự ám ảnh về nhục dục với cô bé 12 tuổi Dolores Haze, mà gã âu yếm gọi là “Lolita”.
Tuy là một tác phẩm gây nhiều tranh cãi nhất về mặt đạo đức; nhưng giới yêu văn chương, học giả khắp nơi vẫn mở rộng vòng tay tiếp đón món quà tràn ngập tư tưởng mới mẻ này; nhờ vào lối dùng ngôn từ rất ư phù thủy của tác giả, và nội dung câu chuyện hết sức khác thường đầy lôi cuốn. Người đọc Lolita như bước vào mê cung ngôn ngữ, dưới ngòi bút thật tài tình đã diễn tả từng nét tâm lý sâu xa của một kẻ bệnh hoạn nhục dục của Nabokov. Humbert đã yêu say mê đôi mắt xanh lơ, mái tóc nâu bóng bẫy, làn da nâu hồng…và ngay cả tính nghịch ngợm trẻ con của Lolita. Humbert bất đắc dĩ cưới bà Charlotte, là mẹ của Lolita chỉ vì muốn được gần gũi với cô con gái bắt đầu tuổi dậy thì của vợ. Ông điên cuồng vì nét quyến rũ của Lolita và có thể làm bất cứ điều gì vì cô. Dù bao tháng ngày trôi qua, nhưng trong tâm trí của Humbert, cô bé Lolita vẫn là: “một thần tượng, một hiện tượng khác lạ, vẫn luôn mang đặc tính của một nữ thần bé nhỏ vĩnh viễn bất kham.”
Tuy sống với vợ nhưng Humbert không hề có hứng thú tình dục với vợ, mà luôn thầm mơ tưởng nhớ đến Lolita và những cô gái 12, 13 tuổi…Như mong tìm lại thiên đường tuổi trẻ đã mất, khi người yêu thuở nhỏ là Annabel của mình đã chết vì bệnh hiểm nghèo trong nuối tiếc ngẩn ngơ của cậu bé Humbert ở tuổi 15.
Charlotte, đã bị bấn loạn tâm lý sau khi đọc được những dòng nhật ký của chồng mình. Trong những dòng chữ như thú tội, bà nhận ra rằng Humbert từ lâu đã mang trong đầu hình bóng đứa con gái của bà với tư tưởng nhơ nhớp tội lỗi. Chính vì điều này đã làm bà mang trạng thái hoang mang tột độ khi lái xe đến bưu điện gửi thư cho Lolita đang ở trại hè; để rồi bị tử vong trong một tai nạn xe cộ khủng khiếp. Lolita trở thành đứa trẻ mồ côi cha mẹ, khi cô đang vô tư vui chơi cùng bạn bè mà không hề hay biết về cái chết của mẹ. Giờ đây, cô trở thành một đứa trẻ bơ vơ và hụt hẫng giữa thế giới bao la; đã trở thành tình nhân bé bỏng khờ dại của gã đàn ông trung niên lão luyện Humbert. Tâm lý của một đứa trẻ mất hết tất cả tình gia đình, một mái ấm hạnh phúc, với tình yêu thương và sự giáo dục của cha mẹ, không còn nơi nương tựa; khiến đứa trẻ đành phải buông xuôi cho số phận đưa đẩy. Lolita không còn sự lựa chọn nào hơn, ngoài việc nương tựa vào người đàn ông đáng tuổi cha đầy thèm khát dục vọng với một đứa trẻ vị thành niên.
Nỗi lo sợ mất Lolita khiến gã ngày đêm canh giữ và rắp tâm chiếm đoạt thân xác cô cho thỏa mãn dục tình, sau khi rước cô ra khỏi trại hè. Humbert đưa Lolita đi hết thành phố này đến thành phố khác hầu tránh mọi tai mắt, và cũng để tránh các chàng thanh niên trai trẻ để mắt đến Lolita. Những đêm về tại các nhà nghỉ dừng chân – theo gã đó là thiên đường rực lửa của hỏa ngục dục vọng mà gã đã đợi chờ bấy lâu, như một con thú rình mồi. Những đêm dài giao hoan với thần tượng bé nhỏ đã mang lại niềm hoan lạc và sinh khí mãnh liệt cho người đàn ông bệnh hoạn này. Hai năm sau, hành trình của con đường dục vọng tội lỗi đã đến hồi kết thúc khi Lolita lâm trọng bệnh phải vào bệnh viện. Sau khi bệnh tình cô được hồi phục, cô lặng lẽ biến mất không để lại cho Humbert một lời nào.
Nhiều năm tìm kiếm trong vô vọng, cho đến một ngày Humbert nhận được lá thơ của Lolita cho biết cô đã lập gia đình và đang mang thai. Humbert tức tốc lái xe đến địa chỉ người gởi. Giờ đây, Lolita đã thay đổi nhiều, cô không còn tươi tắn rực rỡ như ngày nào nhưng Humbert vẫn còn yêu cô, muốn cô trốn đi với gã nhưng cô đã lạnh lùng từ chối. Gã đăm chiêu nhìn về xa xăm: “Lolita mãi mãi vắng bóng bên cạnh tôi.” Gã ra đi trong nỗi đau tuyệt vọng và trở thành tay sát nhân, sau đó chết trong tù bởi chứng nghẹn động mạch vành. Không lâu sau đó, cuộc đời ngắn ngủi của Lolita cũng kết thúc sau khi sinh đứa con đầu lòng; để lại gian trần một câu chuyện thương tâm về thân phận của một Eva còn non trẻ chịu nhiều bất hạnh và đầy khổ lụy.
Đọc Lolita, tôi cảm thương cho thân phận đàn bà như Lolita, phải chịu cảnh phủ phàng khi tuổi đời còn ngây thơ, bởi một tay dâm đãng luôn rắp tâm chiếm đoạt nàng. Một đứa trẻ còn khờ dại như con cừu non, làm sao tránh khỏi cái bẫy của một tay thợ săn chuyên nghiệp? Nhân vật Humbert – tiêu biểu bản chất ích kỷ tham lam của con người, chỉ muốn thỏa mãn những ham muốn hèn hạ cho riêng mình, nhưng không nghĩ đến nỗi thống khổ của kẻ khác.- Trong tác phẩm Lolita, Vladimir Nabokov đã dàn dựng lên nhân vật Humbert hẵn theo đường lối của thuyết hiện sinh (Existentialism) do các triết gia của thế kỷ 19 chủ trương như: Kierkegaad, Dostoyevsky, J.P. Sartre, Nietzsche…Đặc biệt, đại triết gia Jean Paul Sartre (1905-1980) đã đưa chủ nghĩa hiện sinh phát triển vượt bậc ở thế kỷ 20. Các triết gia lỗi lạc này biện minh rằng: thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản (L’existentialisme est un humanism) – mỗi con người tự mình mang đến ý nghĩa cho cuộc sống và sống nó một cách say mê và đích thực. Nếu tôn thờ chủ nghĩa hiện sinh thì mọi người sống theo ý thích và sự ham muốn của mình để chà đạp lên nhau, bất chấp phẩm giá và quyền lợi của người khác ư? Nhất là về phẩm giá của người đàn bà khi bị những tay đàn ông đớn hèn đang tâm chà đạp phủ phàng lên thân xác họ như một món đồ chơi? Thảm trạng này sẽ còn tiếp diễn đến bao giờ? Hay sẽ tồn tại mãi mãi trong xã hội loài người…?
Lolita! Lolita!
Mãnh hồn trong trắng đã rời xa
Tuổi thơ ngây nhuốm đầy hoen ố
Bước vào đời tan tác phong ba
Hoa chớm nở gục đầu héo úa
Còn ai thương xót cánh hoa rơi
Tan tác bên đường nằm tơi tả
Ngày chưa thắp nắng sao vội tắt?
Một vì sao rụng giữa trời đêm!

TRÀ HOA NỮ – La Dame aux Camélias.
Ngoài người đàn bà trẻ đẹp đáng thương Lolita, ta còn thấy nhiều người đàn bà khác phải gánh chịu bao nỗi truân chuyên, bao điều nhục nhã mà xã hội đưa đến. Giữa thế giới muôn trùng có biết bao tiếng than ai oán, với bao khổ lụy mà những con người yếu đuối đang ngày đêm oằn oại gánh chịu. Như nàng kỹ nữ xinh đẹp Marguerite Gautier trong tác phẩm Trà Hoa Nữ (La Dame aux Camélias) Came’lias của đại văn hào nổi tiếng người Pháp Alexandre Dumas Jr. xuất bản năm 1848. Thiên tình sử trong Trà Hoa Nữ, đã làm say đắm và thổn thức biết bao trái tim lãng mạn của nhân loại. Cũng như Lolita, Trà Hoa Nữ đã được in thành sách trong nhiều ngôn ngữ và được dàn dựng thành phim, chiếu khắp nơi trên thế giới qua nhiều năm mà vẫn còn ăn khách. Biết bao nhiêu người đã rơi nước mắt xót thương cô kỹ nữ xinh đẹp, mang thân phận đàn bà bất hạnh trong một xã hội đầy nhiễu nhương.
Trong Trà Hoa Nữ, Alexandre Dumas đưa độc giả trở về nước Pháp đầy thi vị và lãng mạn vào thế kỷ 19, một đất nước văn minh phóng khoáng bậc nhất hành tinh; nhưng vẫn không chấp nhận giới buôn hương bán phấn trong xã hội, nhất là giới quý tộc thời bấy giờ. Trà Hoa Nữ là một câu chuyện tình đầy bi thương về cuộc đời nàng ca kỹ Marguerite Gautier yêu chàng luật sư trẻ tuổi Armand Duval bằng tấm chân tình. Chàng là người có gốc quý tộc, chưa có sự nghiệp trong tay, nhưng cô kỹ nữ vẫn chấp nhận để yêu thương. Cô sở hữu một nhan sắc đẹp tuyệt trần, lại thông minh và có tâm hồn phong phú; khiến bao vương tôn công tử giàu có say mê đưa đón và cung phụng. Nàng ca kỹ yêu hoa trà: nàng thường cài lên áo hoa trà trắng khi sẵn sàng tiếp khách; trong tháng có những ngày người ta thấy hoa trà đỏ trên áo nàng là dấu hiệu cho biết nàng chối từ. Vì thế nàng được mệnh danh là “Trà Hoa Nữ”. Nàng hưởng thụ cuộc đời hoan lạc nhung gấm phủ phê; nhưng phải oằn mình chịu đựng sự cay nghiệt và khinh thường của xã hội Pháp, nhất là giới trâm anh quý tộc. Người đời mỉa mai khinh thường khi nhìn vào khía cạnh kiêu sa, với nếp sống xa hoa tội lỗi của một nàng ca kỹ nổi tiếng trong chốn lầu xanh. Nhưng có mấy ai biết được tâm hồn nàng lại chứa đựng sự vị tha, ẩn giấu bên trong một trái tim đôn hậu yêu thương đong đầy và sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cho người mình yêu.
Những tay đàn ông giàu có quyền thế không ngần ngại bung tiền để hưởng thụ những đêm hoan lạc, bằng thể xác của một người đàn bà sống bằng nghề mua vui cho thiên hạ. Họ dùng đồng tiền để dày vò thân xác của phụ nữ cho thỏa mãn tình dục một cách vô tội vạ. Đây cũng là một tệ đoan trong xã hội, hầu như có mặt khắp nơi qua mọi thời đại trên địa cầu này. Đến khi yêu Duval tha thiết, nàng kỹ nữ Marguerite đã can đảm khước từ tất cả nhung lụa giàu sang, những đêm truy hoan trác táng dưới ánh đèn mờ ảo, để được yêu Duval cho trọn vẹn. Nàng quyết tâm bỏ lại sau lưng những bá tước nhiều tiền lắm bạc, đã từng cung phụng cho nàng cuộc sống xa hoa phủ phê, để sống với người nàng yêu thương. Nàng bỏ hết tất cả, rời xa chốn phồn hoa để về miền quê cùng Duval xây tổ ấm.
Tình cảm cao quý mang lại cho con người hạnh phúc vô ngần, nhưng cũng không ít khổ đau bất tận. Nhưng…một bàn tay vô hình là “định mệnh”- hay nói cách khác là xã hội thời bấy giờ cướp đi hạnh phúc của đời nàng. Giông tố lại kéo đến khi bố của Duval tìm gặp Marguerite lúc Duval không có ở nhà. Ông đã nhẫn tâm yêu cầu nàng phải rời xa con ông vì danh tiếng của dòng tộc ông, một gia đình danh giá không thể chấp nhận một nàng dâu ca kỹ. Marguerite luôn mong muốn được sống cuộc đời có ý nghĩa và hạnh phúc bên người mình yêu thương. Nhưng bất hạnh thay! Nàng trót mang trái tim cao thượng và nhân hậu để rồi nàng phải hy sinh hạnh phúc đời mình hầu bảo tồn danh giá cho Duval và gia đình chàng mà chàng nào hay biết. Thật mỉa mai! Cuộc đời con người đến khi tìm được ý nghĩa của cuộc sống, vừa tìm được một chân trời mới của hạnh phúc, thì cũng vừa nhận ra đó chỉ là… phù du! Hạnh phúc của cuộc đời mà mọi người hằng mong ước, có mấy ai nắm bắt được nó và giữ được nó lâu dài!
Nàng ca kỹ đau đớn âm thầm ra đi bỏ lại sau lưng người mà nàng yêu thương nhất đời khi hạnh phúc còn nồng cháy. Không còn sự lựa chọn nào hơn, nàng đành phải trở về con đường cũ kiếm tiền từ những tay giàu có để trả nợ cho những ngày tháng sống với Duval. Nàng đã mất Duval, mất tất cả hạnh phúc đời mình! Cuộc đời nàng đã trở thành vô nghĩa! Giờ đây nàng vùi đầu vào ánh đèn màu như những con thiêu thân, tiếp tục làm món đồ chơi cho thiên hạ. Tưởng rằng mình đã được cứu vớt, đã được ngoi lên từ bùn nhơ, nào ngờ lại rơi xuống vực thẳm thêm lần nữa. Phải chăng nàng sống kiếp con tằm phải nhả tơ cho hết kiếp làm người, hay làm kiếp hoa cho ong bướm hút nhụy? Ong bướm bay dập dìu khi hoa còn mật ngọt, đến khi hoa rữa nhụy tàn thì ong bướm cũng bay xa.
Thật xót thương cho số phận người đàn bà bất hạnh như Marguerite, đã hy sinh cho người mình yêu như thế, với ước mong sẽ có được sự đền bù xứng đáng. Nhưng nào ngờ, từ lúc rời xa Duval đến khi lìa đời, nàng phải chịu biết bao tủi nhục cay đắng. Cho đến chết nàng vẫn không đạt được ước vọng tha thiết được gặp mặt Duval lần cuối, cho vơi đi nỗi đau khổ nhớ nhung hành hạ nàng từ tâm hồn đến thể xác. Nàng từ giã cõi đời trong cảnh nghèo nàn nợ nần chồng chất, trong nỗi cô đơn tuyệt vọng, không một người thân yêu bên cạnh trong giờ phút sau cùng. Duval là người nàng yêu thương vô bờ bến, trong cơn hấp hối nàng luôn thì thào gọi tên chàng trong hơi thở yếu ớt… đầy nước mắt…
Khi biết được nàng ca kỹ yêu chàng bằng trái tim chân thành đến hơi thở cuối cùng, đã làm Duval hối hận suốt một đời còn lại, vì đã hiểu lầm nàng phụ tình chàng. Duval đau xót tiếc nuối khôn nguôi nàng ca kỷ Marguerite đáng thương có một trái tim nhân ái và tấm lòng hy sinh cao cả, với một tình yêu tuyệt vời dành cho chàng đến khi nhắm mắt lìa đời. Thật xót xa cho thân phận người đàn bà đem thân xác mình cho biết bao người mua vui; nhưng đến khi lìa đời có mấy ai nhỏ cho giọt nước mắt ngậm ngùi tiễn đưa!

Truyện Kiều – Nguyễn Du
Câu chuyện về thân phận đàn bà của nàng Lolita và Margurite Gautier ở xã hội phương tây đã quá não nề; nhưng nếu đem so sánh với nàng Thúy Kiều trong xã hội phương đông thì cũng chưa thấm vào đâu. Thúy Kiều là nhân vật mang thân phận đàn bà chịu nhiều đau đớn tủi nhục trong TRUYỆN KIỀU, tức ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH, mà tác giả giới thiệu. Đây là một kiệt tác bất hủ luôn gắn liền tên tuổi với đại thi hào NGUYỄN DU (1766 – 1820) cuối thế kỷ 18.
Truyện Kiều là nỗi thống khổ, là tiếng kêu đứt ruột về thân phận người đàn bà trong xã hội phong kiến ngày xưa; khi phẩm giá của họ bị những thành phần vô lương chà đạp không thương tiếc. Bằng những câu thơ lục bát trác tuyệt chuẩn mực, Nguyễn Du đã xoay quanh cuộc đời đầy sóng gió của Vương Thúy Kiều với bao nỗi oan khiên. Một người con gái tài sắc vẹn toàn cầm kỳ thi họa, cùng những đức tính hiền lành nhân hậu, hiếu thảo và sự hy sinh cao cả, đã phải gánh chịu nhiều nỗi truân chuyên, oan nghiệt trong độ tuổi thanh xuân. Dưới xã hội phong kiến hủ bại, kẻ mạnh có quyền thế tiền bạc luôn là kẻ thắng, là kẻ nắm sinh mệnh của kẻ yếu trong tay. Là người con hiếu thảo, Kiều không đành lòng để cha và em trai bị vu oan, bị tra tấn đánh đập tàn nhẫn đòi tiền chuộc mạng. Vì nhà nghèo không đủ tiền nạp cho đám hối mại quyền thế, Kiều bị ép vào đường cùng phải bán mình chuộc cha và em, để đổi lấy sự an toàn cho gia đình. Đây là sự hy sinh thật cao cả đối với người con gái có giáo dục, với phẩm hạnh thanh cao và cốt cách cao quý. Nàng cũng đau đớn cắt đứt mối tơ tình với lời thề cùng Kim Trọng sẽ nên duyên cầm sắt, để có thể thực hiện lòng hiếu thảo đối với cha mẹ. Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn? Kiều cũng đã nặng tình với Kim Trọng và thề nguyền sẽ cùng chàng kết nghĩa trăm năm. Nhưng trong cảnh ngộ gia đình nàng lâm vào chốn cùng cực, nàng đành phải nuốt lệ phụ tình chàng để trả hiếu cho cha thoát cảnh bị đánh đập tù đày.
Sau khi Mã Giám Sinh mua Kiều với giá 400 lạng vàng, tay ma cô này đã chiếm đoạt trinh trắng của nàng rồi đưa nàng vào lầu Ngưng Bích, một động mãi dâm của mụ tú bà để cho khách mua vui. Sau đó, Kiều lần lượt lọt vào tay những gã sở khanh, phải chịu bầm dập dưới những cơn vũ bão dục tình của họ, lại thêm những trận đòn thiếu sống thừa chết của mụ tú bà ép buộc nàng phải tiếp khách. Kiều cảm thấy nhục nhã và xót xa cho chính bản thân mình; một người con gái nhà lành có giáo dục, đẹp đẽ thanh cao… giờ đây lạc loài nơi xứ lạ quê người, không một người thân, bị áp bức phải hành nghề xấu xa nhất trong xã hội mà gia đình nàng nào có hay:
“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa”…
Không may! Kiều gặp Thúc Sinh người đã có vợ là Hoạn Thư, một người đàn bà ghen triệt để, đã chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh. Cam lòng làm vợ lẻ của Thúc Sinh, Kiều làm sao tránh khỏi những trận đòn ghen chí tử và làm nhục của Hoạn Thư dành cho nàng. Sóng gió cuộc đời nàng chưa dừng lại nơi đây, Kiều bị bán vào lầu xanh lần thứ hai. Tấm thân yếu đuối của nữ nhi bao phen bị vùi dập bỡi những con người lòng lang dạ thú thì còn mong gì để sống. Nàng chỉ còn biết ngậm đắng nuốt cay sống cuộc đời đen tối ô nhục trong chốn lầu xanh để khách đến mua vui. Nàng tự hỏi thân phận con người được định đoạt bởi xã hội, bởi hoàn cảnh hay số mệnh đã được an bài:
“Ngẫm hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”…
Trong những ngày tháng đen tối ở thanh lâu, Từ Hải một người quân tử lui tới lầu xanh đã tha thiết yêu Thúy Kiều, và chuộc nàng ra khỏi chốn nhơ nhớp này. Từ Hải như một vị cứu tinh cứu vớt đời nàng. Kiều ngỡ rằng phận bọt bèo của nàng từ nay sẽ được êm ấm và được che chở bảo bọc của Từ Hải. Nhưng đời luôn không như ý mình mong muốn! Những ngày bình an chẳng được bao lâu thì Kiều bị mắc mưu của Hồ Tôn Hiến, tay này bày mưu lập kế đưa đến cái chết của Từ Hải một cách oan uổng. Kiều vô cùng ân hận về cái chết đau đớn đầy oan khiên của Từ Hải. Niềm hy vọng cuối cùng của nàng đã vụt tắt! Trước mắt nàng là bóng tối dày đặc đang phủ kín, nàng không còn nhìn thấy ánh mặt trời như một tia hy vọng dù thật yếu ớt nhỏ nhoi. Để giải thoát một linh hồn đau khổ và tuyệt vọng, nàng liều mình nhảy xuống sông Tiền Đường hầu kết liễu cuộc đời đầy ô nhục trải dài suốt bao năm qua. Nhưng số mệnh của nàng chưa chấm dứt ở cõi trần ai, nàng được sư cô Giác Duyên cứu sống đem về chùa cho tá túc. Sau khi Kiều bày tỏ sự tình, sư cô động lòng thương xót đã cố gắng đi tìm Kim Trọng khắp nơi, hầu giúp cho Thúy Kiều có cơ hội nối lại duyên xưa sau mười lăm năm lưu lạc xa cách.
Thương thay cho phụ nữ sống trong xã hội phong kiến mà phẩm giá con người bị chà đạp, vùi dập thảm thương. Thúy Kiều vì chữ hiếu phải bán mình chuộc cha để rồi đời nàng phải rơi xuống vực thẳm bùn nhơ của xã hội vô tâm, và đời nàng sẽ mãi mãi là cuộc đời…bất hạnh dở dang! May mắn thay nàng còn sống sót tái hợp với chàng Kim, nhưng câu thề hẹn “nên duyên chồng vợ gắn bó keo sơn” ngày nào làm sao có thể thực hiện được, dù cho cả hai vẫn còn yêu nhau. Sự trong trắng của nàng không còn nữa, nàng không xứng đáng làm vợ chàng, chỉ xin làm người bạn tri kỷ của chàng mà thôi. Những hủ bại trong xã hội phong kiến, một xã hội trọng nam khinh nữ ít nhiều gì cũng mang đến những hệ lụy, cùng với những hậu quả khó lường cho cuộc đời người đàn bà vốn yếu đuối mong manh như Thúy Kiều.

Kết bài, nhìn lại cuộc đời của ba người đàn bà trong ba tác phẩm: Lolita, Trà Hoa Nữ và Truyện Kiều… cho tôi một sự nhận xét thật tiêu cực về thân phận của người đàn bà bất hạnh dù ở trời Tây hay trời Đông. Đàn bà thuộc về phái yếu, vì thế họ phải chịu nhiều nỗi truân chuyên, chịu nhiều áp bức trong xã hội mạnh thắng yếu thua. Có những người đàn bà vì hoàn cảnh hay bị áp bức mà phải trở thành món đồ chơi cho đàn ông thỏa mãn dục tình. Tất cả những điều tồi tệ nhất sẽ đến với thân phận người đàn bà bán phấn buôn hương, từ những sự dèm pha khinh bỉ của xã hội dành cho họ. Hơn thế nữa, họ sẽ sống với nỗi ray rức hay ân hận trong những ngày tháng còn lại của cuộc đời. Hạnh phúc thật khó đến với những người đàn bà đã trót lỡ bước vào bùn nhơ; vì dĩ vãng đen tối như một bóng ma sẽ che khuất bầu trời mơ ước của họ mãi mãi. Thiên đường nào dành cho họ ở ngày mai…?
Kiều My, California, mùa thu 2022
-
PHÂN TÂM HỌC & TỰ LỰC VĂN ĐOÀN (TLVĐ)

Các thành viên trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn Phân tâm học là một ngành gồm các học thuyết và kỹ thuật trị liệu tâm lý có nguồn gốc từ những công trình nghiên cứu dựa theo học thuyết của Sigmund Freud. Đây cũng là một học thuyết nghiên cứu về thế giới nội tâm của con người nhằm tìm ra lời giải thích cho những hành vi lập dị, khác thường, biểu hiện qua hành động mà kết quả có thể gây ảnh hưởng đến giá trị đạo đức và gây rắc rối trong xã hội. Trên thực tế, Phân tâm học ra đời chịu nhiều ảnh hưởng bởi chủ nghĩa phi lý tính của Schopenhaur (1788-1860). Schopenhaur cho rằng xã hội chứa đầy sự mâu thuẫn, sự suy nghĩ thiếu minh mẫn và sự khốn cùng ảnh hưởng trên cuộc sống của con người, từ những quá khứ không hoàn hảo bởi sự đổ vỡ của tình mẫu tử. Sự thất bại của khát vọng vinh quang từ cái nhìn đầy bi quan đối với cuộc sống hiện tại, khiến Schopenhauer trở nên thù hận đồng nghiệp, khinh bỉ và coi thường phụ nữ. Với ông: “Triết học là quay trở về với thế giới nội tâm của mình, là tìm tòi bản tính thật sự của con người và thế giới”.
Vậy thế giới nội tâm thật phải chăng là những gì tiềm tàng, ẩn dấu ở thế giới bên trong của con người mà học thuyết Phân tâm học là chìa khóa mở cửa cho các nhà tâm lý học nghiên cứu về các hiện tượng tâm lý của con người trong thế giới nội tâm? Cái thế giới nội tâm ấy chính là cõi vô thức trong học thuyết của Freud và là cái đối tượng quan tâm và nghiên cứu của các nhà tâm lý học nổi tiếng ở châu Âu vào những năm 80 của thế kỷ XIX. Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa rằng Phân tâm học là học thuyết nghiên cứu về thế giới bên trong của con người nhằm giải thích cho những hành vi khác thường mà con người không thể kiểm soát được, nó là phương pháp hữu hiệu để điều chỉnh lại những hành vi sai lạc ấy.
Ngày nay, Phân tâm học không những được sử dụng trong khoa học xã hội và nhân văn mà còn ảnh hưởng rộng rãi trong những trường hợp khảo sát với những phân tích chuyên nghiệp như trong lãnh vực y học, phương pháp nghiên cứu tâm lý trong hoạt động tư pháp và ngay cả trong lãnh vực tâm linh, văn chương nghệ thuật, phim ảnh, v.v…dựa vào sự tìm ra “cái vô thức” của Freud nên học thuyết của Sigmund Freud đã có một ảnh hưởng rộng lớn đối với tư duy hiện đại cũng như cuộc sống của con người. Trong bài viết này, người viết chỉ nói trình bày tóm lược về các phương pháp nghiên cứu tâm lý: (Phần này được giải thích rõ ràng trong tác phẩm PHÂN TÂM HỌC VÀ ĐỜI SỐNG của NV Khánh Lan, xuất bản năm 2023).
Trong lãnh vực y học: Phân tâm học là một khoa dùng để chữa bệnh và được phân chia thành hai loại bệnh khác nhau:
- Bệnh do tổn thương gây ra: Do những ảnh hưởng khi bệnh nhân trực tiếp chứng kiến những dữ kiện khủng khiếp, tang thương trong cuộc sống như chiến tranh, bị lạm dụng (abuse), v.v… khiến nạn nhân mất hết hứng thú cũng như sở thích riêng của mình, họ luôn âu sầu ủ rũ, hay buồn vô cớ, cau có, cảm thấy chán nản, mệt mỏi, mất năng lượng, ăn mất ngon, sút cân, mất ngủ.
- Bệnh không do tổn thương gây ra: Từ thế kỷ XIX trở về trước, người ta cho rằng đây là “bệnh giả vờ”, “bệnh tưởng tượng”, “bệnh quỷ ám”, nhưng càng về sau, khoa học đã chứng minh rằng đây là nguyên nhân tiêu biểu cho “chứng cuồng loạn” (hystérie) và họ bắt đầu tìm những phương thức để chữa trị cho bệnh nhân. Đầu tiên là phương pháp “thôi miên” như trong trường hợp bệnh nhân của Jean Martin Charcot (1825-1893) và Sarah Bernheim (1844-1923). Sau đó người ta thay thế bằng cách dùng “cocaine” để chữa bệnh và sau cùng là phương pháp “phân tích tâm lý” do Joseph Breuer đề xướng.
Để có thể giúp người bệnh trở lại bình thường, các nhà cố vấn tâm lý cần phải thấu hiểu nguyên nhân gây bịnh, thông qua các phương pháp hỗ trợ như phỏng vấn, quan sát, nghiên cứu, phân tích những sinh hoạt và tiểu sử của bệnh nhân. Ngày nay, Phân tâm học được ứng dụng trong việc chữa bệnh cho các bệnh nhân mắc bệnh tâm thần bằng cách tạo cơ hội cho bệnh nhân giải bày những uẩn khúc hay tâm trạng lo lắng của họ.
Trong hoạt động tư pháp: Hoạt động tư pháp là những hoạt động của các nhân viên tư pháp, nó có tính chất rất đa dạng, phức tạp và có những nét đặc thù riêng. Nghiên cứu tâm lý trong hoạt động tư pháp không những giúp cho các nhân viên tư pháp nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình, bảo vệ pháp luật, giúp cho công tác được hoàn tất tốt đẹp. Khi sử dụng phương pháp nghiên cứu tâm lý, các nhân viên tư pháp phải tuân theo những nguyên tắc của phương pháp luận tâm lý học gồm: Phương pháp quan sát. Phương pháp đàm thoại & phỏng vấn. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ & tài liệu độc lập. Phương pháp thực nghiệm. Phương pháp trắc nghiệm. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động. Phương pháp điều tra. Phương pháp nghiên cứu tiểu sử.
Trong niềm tin tôn giáo (Tâm linh) TheoGiáo Sư Quyên Di,Phật Giáo Thiền Tông đã đào tạo ra nhiều Phật tử Thiền Tông, am tường Phân Tâm Học và tâm lý trị liệu. Bởi phương pháp trị liệu tâm linh giúp con người thoát ra khỏi những đau khổ để hưởng hạnh phúc. Điều này rất gần với mục địch của Phân Tâm Học trị liệu. Muốn tránh đau khổ thì trạng thái tâm thần phải được thanh tịnh là quan trọng. Muốn hạnh phúc thì cần phải có tâm an lạc như thế ta mới có thể an nhiên tự tại và bình tâm đối phó với những khó khăn và nghịch cảnh. Đạo Phật dạy về tâm từ bi, khoan dung, bất bạo động qua thiền quán, chánh niệm bởi chúng sẽ giúp những người thực hành phương thức này đạt được sự an lạc nội tâm thực sự. Phật Giáo Thiền Tông khuyên người ta rũ bỏ những bám víu trần gian, sống vô chấp để tỉnh thức, thoát khỏi vọng niệm về một bản ngã không có thật, để có mối liên hệ hỗ tương và thể hiện lòng từ bi rộng rãi đối với xã hội, để cư xử tốt và tử tế hơn với tha nhân, từ đó mà được giải thoát khỏi đau khổ và hưởng hạnh phúc.
Trong lãnh vực văn chương nghệ thuật: Ngành Phân tâm học đã ảnh hưởng sâu rộng trong lãnh vực văn chương nghệ thuật và kịch nghệ. Các dẫn chứng điển hình như những tác phẩm văn chương nổi tiếng được chuyển thể thành phim ảnh, được nhiều độc giả/khán giả biết đến và lưu truyền cho đến ngày nay. Sigmund Freud cho rằng nhà văn là người khám phá ra cái vô thức. Để dẫn chứng cho lời phát biểu trên về sự liên quan giữa văn chương và Tâm lý học, Freud nghiên cứu hai tác phẩm “Edipe làm vua” của Sophocle và “Hamlet” của William Shakespeare. Freud cho rằng, “Nghệ sĩ là người có một trực cảm nhạy bén và có thể tiên tri về các hiện tượng mà bản thân anh ta không biết được nhưng Phân tâm học có thể khai phá những bí mật đó”. Trong lúc Freud tiến hành khảo sát quá trình sáng tạo của văn hào Dostoievski, ông phát giác được: Mặc cảm Oedipe, chính là chứng bệnh động kinh và sự ghét cha đã tạo nên những tác phẩm văn học lừng danh trên toàn thế giới của Dostoievski.
Một tác phẩm văn chương khác là Đi tìm thời gian đã mất (À la recherche du temps perdu) của nhà văn người Pháp, Marcel Proust. Proust cho rằng “Đi tìm thời gian đã mất” là “Thời gian lại tìm thấy“. Nó có nghĩa là ông đã tìm ra lẽ sống của mình, là cống hiến cuộc đời cho nghệ thuật. Tất cả những hoạt động trong quá khứ là “thời gian đã mất” và việc biến cái thời gian đã mất ấy thành một hành động sáng tạo trong văn chương thì đó thật là thiên đường thật của những thiên đường đã mất. Cốt truyện “Đi tìm thời gian đã mất” có giá trị ở lối kiến trúc diễn đạt thâm sâu trong phần phân tích xuất sắc liên quan đến cái vô thức của Freud, bởi cho ta những cảm giác dào dạt, mộng tưởng, có giá trị cao và đượm nét triết tính. Những câu văn dài với dòng suy tư, hoài niệm, hồi ức là bằng chứng cho học thuyết Phân tâm học của Freud hiện diện trong lối viết văn của Proust.
KẾT LUẬN: Trong tất cả các nghiên cứu khoa học, chúng ta phải thừa nhận rằng tâm lý học là một khoa học huyền bí và khó có thể chứng minh hơn bất cứ bộ môn khoa học nào. Bởi đời sống tâm lý của con người có bản chất hư hư, thực thực, không minh bạch và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Theo Freud, tất cả mọi người đều sở hữu những suy nghĩ, cảm xúc, mong muốn mà chúng tiềm ẩn trong ký ức vô thức. Phân tâm học cho rằng mọi người có thể trải nghiệm và hiểu rõ trạng thái tâm trí hiện tại của họ bằng cách đưa nội dung của vô thức vào nhận thức hay ý thức. Đó là một phương cách hữu hiệu nhất để giải tỏa khỏi sự đau khổ về tâm lý cho chính mình. Phân tâm học cũng cho rằng hành vi của một người chịu ảnh hưởng bởi những động lực trong vô thức và đưa đến các vấn đề về cảm xúc tâm lý, chẳng hạn như triệu chứng trầm cảm và lo lắng thường bắt nguồn từ những xung đột giữa ý thức và vô thức. Vậy, phải chăng con người có khả năng phòng bị để bảo vệ mình khỏi những thông tin không tốt tiềm ẩn trong vô thức?
Thí dụ điển hình nhất là khi Freud giải thích về Giấc mơ. Theo ông Giấc mơ là “con đường hoàng đạo” dẫn đến vô thức, nó giữ vị trí hàng đầu trong sự phát triển của cuộc tự phân tích của Freud, ông cho rằng những tư liệu mà người nằm mơ nhớ và ghi nhận lại là những gì họ đã trải qua khi ngủ cũng như những ao ước lúc thức. Những dẫn liệu ấy đã giải thích cho những hành vi hoặc hoạt động khác thường trong đời sống hàng ngày, khởi nguồn từ những ham muốn bị dồn nén đã tiềm ẩn trong cõi vô thức. Freud đã nhận thấy giấc mơ là sự biểu lộ trá hình của một ham muốn bị lãng quên, là những mong ước thầm kín tiềm ẩn trong vùng vô thức tự biến đổi, chuyển hoán thành những hành động và lời nói mà người nằm mơ biết rõ nội dung, nguồn gốc, giá trị của nó. Khi giấc mơ được đem ra phân tích trong trạng thái thức là vì nó đã được chuyển tải từ vùng vô thức sang vùng ý thức. Nó đã trở thành một câu chuyện kể khi nằm mộng và nhớ ra trong lúc tỉnh táo. Đó là giây phút mà vùng ý thức hoạt động trở lại trong người nằm mơ. Hoạt động của giấc mơ thể hiện qua hành vi của cảm giác, những ý tưởng cụ thể như niềm vui, nỗi buồn, sự chán chường hoặc sự thay đổi giữa tình cảm (xúc cảm).
Những công trình nghiên cứu của Sigmund Freud để lại cho các chuyên khoa tâm lý là những nền tảng căn bản trong việc nghiên cứu cõi vô thức của con người. Theo như Tu Sĩ Giuse Nguyễn Công Lai, khi ngài đối chiếu với học thuyết phân tâm của Freud, ngài nhận thấy có nhiều điểm trong đời sống tâm lý bản thân trùng khớp với những gì mà Freud đã trình bày trong học thuyết của ông. Tu Sĩ Giuse Nguyễn Công kết luận “Sigmund Freud đã mở ra cho các nhà tâm lý một hướng đi mới, đặt một nền tảng mới khi nghiên cứu về con người dưới cái nhìn tâm lý”. Ngài cho rằng:
“Phân tâm học của Sigmund Freud có một ý nghĩa lớn đối với những ai muốn tìm hiểu các hiện tượng tâm lý của con người, nhất là cõi vô thức”.
TỰ LỰC VĂN ĐOÀN (TLVĐ) xuất hiện vào lúc mà văn học Việt Nam vừa trải qua 30 năm đầu thế kỷ XX, một nền văn học mang tính chất giao thời do sự chuyển đổi của nền văn học dân tộc từ mô hình văn học Đông Á trung đại truyền thống, lấy văn – thơ – phú – lục làm căn bản, sang mô hình văn học hiện đại của thế giới dựa trên các thể thơ, kịch nói, văn xuôi, tiểu thuyết, tiểu luận phê bình, v.v... Năm 1934 Nhất Linh thành lập TLVĐ gồm 7 thành viên: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu tiêu biểu cho mô hình này.
Các thành viên trong TLVĐ đều trải qua một tuổi thơ khốn khó về vật chất lẫn tinh thần, họ lớn lên giữa buổi giao thời của tư tưởng cũ-mới, giữa phong kiến-tân thời khiến họ nung nấu ý chí cải cách phong hóa những hủ lậu của xã hội. Mục đích của TLVĐ là loại trừ lối văn chịu ảnh hưởng Nho học và đề cao tinh thần xây dựng canh tân xứ sở nhằm đưa giá trị tình yêu quê hương dân tộc, tinh thần vị tha tự lập, phục vụ đời sống người dân lao động, chủ trương đả phá, chống đối những phong tục tập quán phong kiến như trong hai tác phẩm tiêu biểu nhất của khuynh hướng này là cuốn Đoạn tuyệt (1934) và Lạnh lùng (1936)… TLVĐ muốn dùng ngòi viết để nâng cao giá trị nhân phẩm của con người khởi nguồn từ những bài trào phúng, đem tiếng cười để chế giễu những thói hư, tật xấu, của những nhân vật “tai to mặt lớn“. Những nhân vật như “Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh” là ba mẫu người điển hình mà TLVĐ dựng lên để ám chỉ các nhân vật này trong bài viết của họ.
Cuối những năm 1930-1940, sự sinh hoạt và tồn tại của nhóm TLVĐ trong đời sống văn học đã suy giảm và trở nên lỗi thời, thay thế vào đó là các bài phóng sự và tiểu thuyết theo lối tả thực. Sự suy tàn của TLVĐ bắt đầu khi anh em Nhất Linh, Hoàng Đạo bỏ văn chương đi làm chính trị. Tháng 06, 1942 Thạch Lam chết vì bệnh lao, Nhất Linh trốn sang Tàu, Khái Hưng và Hoàng Đạo bị Pháp bắt đày lên Vụ Bản, Hòa Bình, Thế Lữ thôi làm thơ làm báo để chuyên tâm với sân khấu kịch nói. Xuân Diệu về Mỹ Tho làm viên chức nhà Đoan… Mặc dù, TLVĐ đã chấm dứt hoạt động kể từ sau năm 1940 nhưng tiếng tăm vẫn mãi vang dội trong làng văn học và trong lòng độc giả yêu văn chương. Dưới đây là phần phân tích tâm lý nhân vật trong một số tác phẩm của TLVĐ.
PHÂN TÍCH TÂM LÝ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM TLVĐ
Anh Phải Sống của Khái Hưng và Nhất Linh ra mắt độc giả vào năm 1934 và đã đào sâu vào thế giới nội tâm phức tạp về quan niệm của con người về tình nghĩa vợ chồng trong đó tác giả đề cao phẩm chất cao thượng, tinh thần trách nhiệm và hy sinh của người phụ nữ Việt Nam. Anh Phải Sống kể lại một chuyện tình của một cặp vợ chồng nghèo mưu sinh trên sông nước không may gặp ngày nước lũ. Trong cơn nguy kịch, người vợ đã hy sinh mạng sống của mình trong dòng nước chảy xiết để nhường lại sự sống cho chồng, để “Anh Phải Sống”, để muôi các con còn thơ dại ờ nhà. Trong khoảnh khắc khi vợ chồng phải đối diện với tử thần, kề cận với “thập tử nhất sinh”, thì lòng bác ái đã đánh tan sự ích kỷ riêng tư để nhường chỗ cho một tâm hồn cao thượng. Anh Phải Sống nói lên giá trị nhân bản, ca ngợi bản chất thủy chung, chịu đựng, hy sinh thầm lặng, thương chồng con, trọng tình nghĩa phu thê của người đàn bà thuần túy Việt Nam, khi đứng trước ranh giới giữa lý trí và tình cảm, giữa cái riêng và cái chung. Xuyên qua truyện Anh Phải Sống, chúng ta nhận thấy rõ sự kết hợp hài hòa về tư tưởng cũng như phong văn giữa 2 tác giả. Đối với Nhất Linh và Khái Hưng, Có lẽ tình yêu không phải là một loại ái tình tầm thường, đơn giản mà nó hướng đến một tình yêu đích thực, thanh cao, tuyệt mỹ vượt lên trên cả tình yêu: ĐÓ LÀ TÌNH CAO THƯỢNG.
Đời Mưa Gió của Nhất Linh và Khái Hưng là một hành trình đi vào thế giới sâu thẳm của con người với những uẩn khúc quanh co, tâm hồn rối loạn. Trong truyện Đời Mưa Gió, tác giả đã đưa người đọc tới cõi vô thức, một nơi bí ẩn để che giấu những ước vong chưa thực hiện được, để khám phá ra những suy nghĩ, ao ước tiềm tàng trong ấy. Đời Mưa Gió kể lại một mối tình lãng mạn, về cuộc gặp gỡ tình cờ và định mệnh giữa Chương và Tuyết. Một mối tình tuyệt đẹp nhưng để lại trong ký ức nhiều muộn phiền, đớn đau, một thế giới phức tạp, đầy mâu thuẫntrong cuộc phiêu lưu vào thế giới nội tâm.
Theo tác giả Nguyễn Thị Minh, tác phẩm Đời mưa gió trên phương diện cấu trúc tâm lý các nhân vật chính từ góc nhìn phân tâm học và nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật. Trong câu chuyện, Chương là một thày giáo với bề ngoài hiền lành, đạo mạo, với một cuộc sống điều độ, an nhàn nhưng lại luôn luôn có những hành động, suy nghĩ trái ngược nhau mà chính anh cũng không giải thích được. Theo Freud, suy nghĩ, hành động của Chương không chỉ chịu sự điều khiển của cái tôi (ego) mà phần ý thức tỉnh táo còn bị chi phối bởi cái siêu tôi (superego) được tiếp nhận một cách vô thức từ bố mẹ trong những năm tháng tuổi thơ và nhất là cái ấy (id)
Trở lại câu chuyện, trong quá khứ, Chương đã từng đối diện với một nghịch cảnh khiến chàng đau đớn về tinh thần, khi anh vấp phải thái độ khinh bỉ của cha mẹ Loan và sự lãnh đạm của người yêu khi anh thi rớt. Nỗi đau đớn vì bị phản bội và cú sốc tâm lý khiến vùng ý thức trong Chương không muốn chấp nhận, anh dồn nén, tìm cách đưa nó ra khỏi suy nghĩ của mình. Nhưng thực chất, nỗi đau ấy không mất đi mà chỉ bị vùi chôn vào vùng vô thức. Để tránh cho nó không có khả năng trỗi dậy, Chương phản ứng bằng cách trở nên một người cứng cỏi, ghét phụ nữ. Bản ngã của Chương cảm thấy khoan khoái, thoải mái dưới lớp vỏ của một ông giáo đứng đắn, kiêu ngạo, lạnh lùng khi tiếp xúc với nữ giới.
Khi Chương gặp Thu, sự tươi mát, trẻ trung của nàng làm tỉnh giấc vùng ý thức trong Chương, nhưng niềm khao khát ấy lại bị lu mờ bởi những cảm xúc (phức cảm) về Loan sống dậy và xuất hiện trong vùng ý thức ám ảnh anh. Cảm giác bị chế nhạo, giày vò chàng bởi cuộc chiến giữa cái tôi và cái ước mơ đã đẩy tình yêu anh dành cho Thu lùi lại. Các nghiên cứu về vô thức đưa ra kết luận rằng: Nhân cách con người là sự kết hợp của nhiều phần riêng biệt, mỗi phần có năng lượng riêng. Trong quá trình phát triển của bản ngã–ý thức thì khi những cảm xúc bị tổn thương, dồn nén sẽ tự động chuyển vào cõi vô thức. Khi những ham muốn bị vùng ý thức từ chối, nó sẽ không chịu sự kiểm soát của vùng ý thức. Khi cảm xúc tâm thần bị giao động giữa cá nhân và xã hội, nó sẽ tạo dựng cá tính hay bản sắc xã hội của một người.
Giữa lúc ấy thì Chương gặp Tuyết, tình yêu của Chương với Tuyết, nhìn bên ngoài có vẻ rất phi lý: Một ông giáo đạo đức, rất ghét phụ nữ lại say mê một cô gái giang hồ trụy lạc, phóng đãng. Sự phi lý này chỉ có thể có trở thành hợp lý khi được nhìn từ góc độ tâm lý. Tuyết đã chiến thắng những phần ý thức-vô thức trong Chương và đã giúp anh giải tỏa những ham muốn bấy lâu bị kìm lại. Sự vỗ về, nâng niu chiều chuộng của Tuyết khiến những phức cảm về Loan, về Thu dịu xuống. Sự vô tư, dâng hiến của Tuyết đã làm thỏa mãn cái tôi (ego) và không cho Chương có đủ thời gian để băn khoăn nghĩ ngợi. Tuyết đã xoa dịu vết thương trong tìm Chương và chiếm được cả hồn lẫn xác của anh. Cái bản ngã–ý thức của Chương cũng hài lòng tiếp nhận Tuyết, quên đi cái quá khứ đau đớn do Tuyết và Thu để lại trong anh. Vùng ý thức trong Chương cho phép chàng gạt bỏ quá khứ đã qua mà chấp nhận đời sống hiện tại, khiến chàng rất mãn nguyện.
Tuyết sau cuộc hôn nhân không tình yêu mà gia đình đẩy Tuyết vào, Tuyết tự do tiếp thu nền học vấn mới. Quan niệm và lối sống theo phương Tây, bản ngã của Tuyết đã nhanh chóng lựa chọn, quyết định con đường đi của nhân cách. Tuyết xuất hiện như một “gái mới” từ lối suy nghĩ, hành xử và quan niệm sống bất cần, khiến Chương không còn bị mạc cảm hất hủi, khước từ. Con người Tuyết toát ra sức hấp dẫn của một bản ngã vừa rạo rực, vừa tràn sức sống bên trong, vừa khoác lên mình cái “phông” văn hóa theo xu thế thời đại. Tuyết cũng như Chương, họ đã lựa chọn hoàn toàn có ý thức cho hướng đi của mình. Bản ngã của Tuyết với bản năng mách bảo, vùi chôn quá khứ, dồn nén tình cảm chân thành, tâm hồn dễ xúc cảm của mình xuống tầng vô thức. Bởi trong vô thức ấy là cả một chuỗi ngày xanh tràn đầy nhiệt huyết, những ngày tủi cực, tù túng, không ánh sáng, không niềm vui mà Tuyết muốn gạt bỏ và không muốn mang trở lại vùng ý thức để phải đối diện với hoang mang rối loạn. Tuyết chỉ muốn sống với đời sống hiện tại và chỉ muốn nghĩ đến tương lai là một biểu hiện tâm lý của bản ngã-ý thức. Như vậy, chúng ta có thể kết luận: Đời mưa gió là một thể loại tiểu thuyết tâm lý, một mô hình của tiểu thuyết phương Tây nhưng vẫn giử được tính cách Á Đông.
Hai đứa trẻ của Thạch Lam là lối viết giản dị, giàu cảm xúc, ẩn chứa nhiều ý nghĩa và đã để lại những suy tư trong lòng người đọc. Trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” Thạch Lam đã phác họa một bức tranh của Liên với nhiều suy tư, với tâm hồn nhân hậu, thương người. Ông đã khéo léo dùng ngòi bút của mình để diễn tả nhân vật qua một phong văn tinh tế, sâu sắc trong môi trường nghèo nàn, cơ cực của một kiếp người. Thạch Lam đã miêu tả thế giới nội tâm của từng nhân vật qua những chi tiết, những hành động và lời nói của nhân vật rất ư là phong phú và độc đáo. Chẳng hạn như nhân vật Liên trong tác phẩm là một điển hình của nghệ thuật này. Những cảnh chiều tàn trên phố thị đến những người sống nơi tỉnh lẻ là một bức tranh hoàn mỹ với tâm hồn và tâm trạng được bộc lộ một cách tinh tế và sâu sắc.
Nội dung câu chuyện là một buổi chiều nơi phố huyện nghèo nàn, xơ xác, tiêu điều với hình ảnh của những người sống trong một môi trường tù túng, chật vật, đói khổ. Liên với tâm trạng buồn bã, thương xót cho mảnh đời của những đứa trẻ con nhà nghèo. Hình ảnh của những đứa trẻ cúi lom khom nhặt nhạnh những gì còn sót lại sau phiên chợ quê nghèo nàn, khiến Liên động lòng thương cảm cho số phận của những đứa trẻ cũng như thương cảm cho chính bản thân mình. Liên xót xa, cảm thông với những kiếp người nhỏ nhoi sống lây lắt trong bóng tối, trong cơ cực đói nghèo cứ bám theo họ hết ngày này qua ngày khác và cho đến hết cuộc đời. Cảnh chiều tàn nơi phố huyện trong bóng tối đã dấy lên trong lòng Liên bao nỗi niềm khát vọng và mơ ước một cuộc đổi đời.
Trong khoảng khắc của một ngày tàn, những kỷ niệm tuổi thơ với những tháng ngày tươi đẹp hiện về trong tâm hồn của Liên. Đó là những ngày tháng gia đình cô còn sống ở Hà Nội, được thưởng thức những món quà ngon, vật lạ. Nhưng giờ đây, tất cả đã là quá khứ, là kỷ niệm. Hình ảnh duy nhất mà hai chị Liên đang mong chờ, hy vọng là chuyến tàu đêm đi ngang qua, mang theo ánh sáng phồn thịnh của tia hy vọng giàu sang trở lại cho phố huyện nghèo nàm mà Liên đang sống.
Xuyên qua câu chuyện Hai Đứa Trẻ, hình ảnh Liên với tâm hồn nhạy cảm, trong sáng chen lẫn nhiều suy tư đã phản ảnh qua sự đối lập của hai thế giới: Một bên là cuộc sống phồn hoa, giầu có, tràn ngập ánh sáng, hy vọng và một phố huyện nghèo nàn, vất vả, đói khổ của những mảnh đời bất hạnh. Điều này được giải thích rõ ràng trong học thuyết Phân tâm học của Freud về vùng ý thức, tiềm thức và vô thức. Điển hình là những viễn ảnh của cuộc sống thanh thản, đầy đủ trong quá khứ đã ẩn giấu và tiềm tàng trong cõi vô thức từ lâu nay bộc lộ qua giấc mơ mập mờ trong vùng tiềm thức, chờ cơ hội bước vào vùng ý thức, thể hiệm qua sự ao ước “ánh sáng của con tàu” có một ma lực để biến khu phố huyện nghèo nàn, buồn tẻ, thiếu thôn thành một thủ đô tốt đẹp trong đó chị em Liên và những người sống trong phố không còn phải lam lũ kiếm ăn từng ngày.
Con Đường Sáng của Hoàng Đạo có tính chất luận đề mà đặc điểm là ông muốn mang những kiến thức Tây học vào phong cách sáng tác với khát vọng đổi mới thể thức viết lách trong văn chương Việt Nam. Điều này đã được thể hiện qua cuốn tiểu thuyết Con đường sáng, Hoàng Đạo đã tạo ra hình tượng người thanh niên trí thức tiểu tư sản Duy ở Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX.
Duy sau khi trải qua tất cả những lạc thú của cuộc sống thành thị, anh trở về sống ở nông thôn và đem hết tâm sức, khả năng hiểu biết của mình để giáo dục dân quê trong cách sinh hoạt, làm việc hiệu quả với hy vọng thay đổi cung cách làm việc cũng như thức tỉnh lối suy nghĩ thụ động của người dân quê. Tại đây, Duy đã gặp Thơ và cưới nàng làm vợ, người vợ quê với tâm hồn trong sáng, cao đẹp đã hỗ trợ tinh thần cũng như trong công việc làm của anh. Cái lý tưởng mà Duy theo đuổi là đem những hiểu biết của mình để truyền dạy lại cho người khác (cái tôi-ego), khiến nó đã đem anh đến gần hơn với “người bình dân” và giúp chàng vượt qua cám dỗ của những thú vui trụy lạc ngày trước. Con Đường Sáng với phong cảnh thôn quê, với nhà tranh vách đất của những người dân lao động, đói khốn khổ, của gia đình bác Tẹo, của bà cụ trẻ. Sự quảng đại vị tha của Thơ đối với những tá điền đã làm cho Duy quyết tâm đổi mới lối sống vô ý thức của anh lúc trước kia để nhập tâm giúp những người nông dân có một cuộc sống khá hơn (cái siêu tôi–superego).
Sau một thời gian, Duy trở lại thăm những gia đình mà anh đã giúp đỡ khi trước để mong được nhìn thấy thành quả tốt đẹp, nhưng anh hoàn toàn thất vọng bởi những căn nhà tranh kiểu mới mà anh đã nhọc công giúp xây cất để cho những người nông dân có được chỗ ở sạch sẽ, vệ sinh và ngăn nắp, thì nay trước mắt anh, cảnh “đâu vẫn vào đấy” với giường chiếu siêu vẹo, bàn ghế bừa bãi, những vết nhơ bẩn trên tường làm hoen ố màu vôi xanh dịu anh đã cho quét hai ba nước. Cạnh đống rác, mấy đứa trẻ đóng khố đương ngồi quanh một cái rổ đựng thức ăn, khua tay đuổi đàn ruồi bay tới tấp chung quanh… khiến Duy chán nản và thất vọng (cái tôi-ego).
Duy tự nghĩ và giận cho sự “đơn thân độc mã” của mình trong cuộc chiến chống lại cái đói, cái nghèo, cái khổ, cái nạn mù chữ và hủ tục khiến anh đã quay trở lại con đường trụy lạc(cái ấy–id). Nhưng cuối cùng lý tưởng cao đẹp đã chiến thắng, Duy tìm thấy ý nghĩa cuộc đời ở thôn quê, anh trở về nơi có người vợ hiền đang chờ đợi, sống cuộc sống của một điền chủ tâm huyết (ý thức).
Như vậy, con đường của Duy đã được Hoàng Đạo lựa chọn đi theo một lý tưởng thanh cao, trong sáng và đầy tình người. Duy, một con người có lý tưởng rõ ràng, khát khao đổi mới và lặn ngụp để tìm ra Con Dường Sáng cho mình và cho mọi người (vô thức).
Ba Chị Em của tác giả Ngọc Cường là tác phẩm cuối cùng mà người viết muốn đề cập đến. NV Ngọc Cường là hậu duệ của TLVĐ và là cháu ruột của nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam). Ngọc Cường được độc giả quý mến bởi bản chất thân thiện, hòa nhã, bình dị của ông. Hơn thế nữa, cách diễn tả tâm lý nhân vật trong truyện của Ngọc Cường thật sâu sắc và rất thực, trong đó, ông thể hiện văn phong của mình với tính chất nhẹ nhàng, êm ái, mạch lạc khiến nó trở nên dễ hiểu và gần gũi với đại chúng.
Ba Chị Em là câu chuyện kể về một người đàn ông tên Hiếu, nhớ về quá khứ của mình thời thơ ấu, hình ảnh một đứa trẻ mồ côi Mẹ từ lúc mới có vài tháng tuổi. Vì không thấu hiểu về cái chết của Mẹ, khiến Hiếu có mạc cảm chính mình là nguyên nhân gây nên sự việc: “Vừa lọt lòng đã mất Mẹ, Hiếu coi biến cố ấy là điều bất hạnh lớn nhất trong cuộc đời của mình… Hiếu tự đổ lỗi cho mình đã gây ra cái chết của mẹ”. “… Nếu không có Hiếu ra đời ngày hôm ấy thì bà cụ hẳn vẫn còn sống?” Điều này chứng tỏ cái hệ lụy tự ti mặc cảm tiềm tàng trong cõi vô thức đã dằn vặt tâm trí Hiếu trong nhiều năm, bởi Hiếu luôn tin tưởng rằng sự ra đời của mình đã khiến Mẹ phải chết. Những ý nghĩ lệch lạc ấy đã ẩn dấu trong vùng vô thức của Hiếu cho đến ngày nay.
Sự khao khát được ấp ủ, nuông chiều nơi tình mẫu tử đã đeo đuổi và ám ảnh Hiếu trong suốt thời gian Hiếu khôn lớn, trưởng thành, khi đã có sự nghiệp và lập gia đình. Tâm tư Hiếu luôn bị giao động bởi sự thiếu vắng yêu thương, vỗ về, bao bọc của Mẹ khiến Hiếu cảm thấy thiếu an toàn, vắng sự chở che, sự hỗ trợ tinh thần và mất tự tin trong cuộc sống. “... Nỗi thiếu vắng to lớn và không có gì thay thế được tình mẫu tử, khiến Hiếu tích lũy nhiều mặc cảm tự ty, đưa tới ứng xử khác với bình thường cho dù sau này Hiếu kết hôn”.
Ứng xử khác với bình thường là kết quả của cái tôi (ego) trong Hiếu để che dấu cái tự ti mạc cảm. Càng lúc, sự suy nghĩ lại càng sâu sắc khiến sự vắng bóng Mẹ, thiếu tình yêu nơi Mẹ bộc phát và thể hiện rõ ràng hơn trong ký ức Hiếu: “Cả một thiếu thời không có Mẹ, Hiếu cảm thấy lẻ loi trong cái gia đình nhỏ bé chỉ có ba chị em lủi thủi trong nhà… Mang nặng tâm trạng kẻ mồ côi, sợ bị ruồng bỏ nên, để kiếm một chỗ nương tựa… là nguồn an ủi, bù đắp cho sự thiếu vắng mẹ dưới mái ấm gia đình”. Sợ bị ruồng bỏ, tìm sự nương tựa hoặc tìm nguồn an ủi xuất hiện bởi nhữngao ước, khát vọng có Mẹ trong cuộc đời. Một khi những ao ước không thề thực hiện được hoặc không nhận được, thì chúng sẽ quanh quẩn ở trong vùng vô thức và vì không thoát ra được để chuyển lên vùng ý thức nên nó ám ảnh tâm tư Hiếu khiến Hiếu sợ sự thất bại và không dám tin tưởng vào khả năng của chính mình.Hiếu tự thu gọn mình vào một cái vỏ ốc để được an toàn, Hiếu khước từ những cuộc vui, tự gian mình vào thế giới trầm lặng, bằng lòng với cuộc sống ẩn dật bởi cái mạc cảm tự ti. Hiếu trở nên nhút nhát, tránh né chỗ đông, ngại giao tiếp, sống thụ động, yếm thế và cuối cùng là…sợ sống bởi Hiếu sợ phải đối diện với thử thách trong cuộc sống.
Có những lúc Hiếu nhận ra mình không sống thật với chính mình bởi Hiếu không muốn đương đầu với khó khăn, chướng ngại, dễ dàng buông xuôi mọi việc để không phải đối diện với thất bại. Thất bại vì Hiếu mất niềm tin của chính mình, Hiếu sợ kết quả không hoàn hảo nên không muốn dấn thân. Thiếu chỗ dựa tinh thần nên Hiếu luôn tìm kiếm hình bóng Mẹ qua hình ảnh hai người chị lớn khi còn thơ ấu cũng như khôn lớn, trưởng thành: “Ở vào tuổi thơ ấu, sớm phải trông cậy vào tình thương và sự đùm bọc của hai người chị, Hiếu mong muốn các chị sẽ thay thế mẹ mình và cùng lúc, cố tìm hình ảnh của bà mẹ qua các chị nhưng thực tế đã làm Hiếu thất vọng”. Thất vọng vì Hiếu không tìm thấy ai có thể thay thế hình ành Mẹ trong tim Hiếu như một khuyết danh nào đã nói: “Chúng ta chỉ có một người Mẹ”
Khi có gia đình, Hiếu chọn Dung, một người đàn bà nhanh nhẹn, đảm đang, tinh thần mạnh mẽ vì Hiếu tưởng là đã tìm thấy Mẹ qua vị trí của Dung, bởi Hiếu cảm thấy an toàn, được che chở, bao bọc, an ủi, chiều chuộng, lo lắng khi ở bên Dung, “Hiếu từ khi có gia đình riêng, Hiếu thường đùn việc giao tế cho Dung vì nghĩ là vợ lanh lợi hơn, có óc thực tế với nhiều kinh nghiệm sống để hiểu người khác nên dễ thành công”. Đùn việc cho Dung là đúng, vì Dung có thể làm mọi việc nhanh chóng và có kết quả tốt, nhưng cái nguy hiểm là Dung đã dần dần biến Hiếu thành một người mất sự tự tin và có cảm giác là “vô dụng”. Dung dù có muốn hay không, nàng đã vô tình trở thành “Super Woman” như Hiếu đã ghi nhận về Dung “đảm đương mọi việc trong nhà, quyết định từ chi thu tiền nong cho đến dậy dỗ con cái”. Ở đây, nếu đem ra phân tích tâm lý nhân vật Hiếu và Dung, thì thực sự Hiếu không phải là người không có trách nhiệm mà bởi Dung đã gián tiếp tạo cơ hội cho Hiếu trở thành người thụ động. Dung đương nhiên trở thành một người chủ gia đình bất đắc dĩ và Hiếu tự cho rằng mọi sự đã có Dung lo liệu, khiến Hiếu buông xuôi tất cả. Có lẽ, Hiếu cần xóa bỏ những ý tưởng cực đoan về cái chết của Mẹ hoàn toàn không phải là do Hiếu gây ra, Hiếu cần phải tẩy đi cái tư tưởng sai lầm ấy trong cõi vô thức, thúc đẩy vùng ý thức hoạt động để có thể lấy lại tự tin và niềm vui sống, chia sẻ trách nhiệm với Dung, tạo sự tự tin và tự hào trong lòng mình.
KẾT LUẬN: Hầu như tất các nhân vật trong những tác phẩm của TLVĐ đều chịu ảnh hưởng bởi học thuyết Phân tâm học cùa Freud và Chủ Nghĩa Phi Lý Tính của Schopenhaur, bởi những nhân vật trong tác phẩm của TLVĐ nếu được đưa ra phân tích thì cuộc sống của con người chịu ảnh hưởng bởi một xã hội chứa đầy sự mâu thuẫn, sự suy nghĩ thiếu minh mẫn và sự khốn cùng. Từ những quá khứ không hoàn hảo bởi sự đổ vỡ của tình mẫu tử như trong truyện Ba Chị Em của Ngọc Cường, sự thất bại của khát vọng vinh quang và từ cái nhìn đầy bi quan, ảm đạm đối với cuộc sống hiện tại khiến con người trở nên thù hận, hối hận, mạc cảm, khinh bỉ và đôi khi còn coi thường phụ nữ để che dấu vết thương bị phản bội hay bỏ rơi như Chương trong tác phẩm Đời Mưa Gió của Khái Hưng và Nhất Linh. Phân tâm học cũng cho rằng: Hành vi của một người bị ảnh hưởng bởi những động lực trong vô thức và đưa đến các vấn đề về cảm xúc tâm lý. Các hành vi khác thường bắt nguồn từ những xung đột giữa tâm trí có ý thức và vô thức như nhân vật Duy trong tác phẩm Con Đường Sáng của Hoàng Đạo.
Khánh Lan, California Oct. 2022
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Phân Tâm Học và Đời Sống, của tác giả Khánh Lan, xuất bản năm 2022.
- Tuần báo Phong Hóa số 87.
- Văn hóa – Văn học Việt Nam.
- Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ tuyển chọn và giới thiệu (1999), Văn chương Tự lực văn đoàn (tập 2).
- Ngô Văn Thư (2006), Bàn về tiểu thuyết của Khái Hưng.
- Đỗ Lai Thúy và Phan Ngọc Hà dịch từ Psychanalyse et litérature PUF, Paris, 1978.
-
CHỮ TÂM TRONG TRUYỆN KIỀU
Khánh Lan biên soạn

CHỮ TÂM TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
Trong bài viết về chữ TÂM của tác giả Lê Ánh, ông đã bàn về chữ CHỮ TÂM TRONG ĐẠO PHẬT và cho rằng chữ TÂM gắn liền với đời sống của con người và trong đạo Phật. Theo giáo lý nhà Phật: Tâm tức Phật, Phật tức Tâm”. “Nhứt thiết duy tâm tạo”, nghĩa là: “Mọi sự việc đều do tâm tạo ra”. Về phần này tác giả Lê Ánh nói rất chi tiết trong bài viết của ông về chữ CHỮ TÂM TRONG ĐẠO PHẬT, nên người viết xin không đi sâu vào chi tiết này, mà đi thẳng vào phần “CHỮ TÂM TRONG TRUYỆN KIỀU” của Nguyễn Du. Trong truyện Kiều của Đại văn hào Nguyễn Du khi luận về “chữ Tài chữ Mệnh”, ông viết: “Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Nhưng khi kết thúc câu truyện luận về chữ Tài và chữ Mệnh, ông lại kết luận với hai câu thơ:
“Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài.”
Phải chăng Nguyễn Du cho rằng Tâm quan trọng hơn Tài? Tại sao lại có sự so sánh giữa “Tài và Tâm”. Tâm đồng nhất với thiện tâm, tâm tính nhân hậu. Hai câu thơ trên có nghĩa là: Con người sinh ra đã sẵn có “cái thiện” trong lòng và tấm lòng quý giá hơn tài năng. Như vậy, có phải Tâm là gốc, là nền nền móng, là căn cốt và là cội rễ của nhân cách con người? Dưới lăng kính của Nguyễn Du về Tâm và Tài thì đó là hai từ ngữ không thể tách rời. Nếu có Tài mà không có Tâm, thì cái Tài đó thật sự chẳng có ý nghĩa mà còn có thể gây nguy hiểm cho xã hội. Một khi con người không có Tâm thì vô tri giác, thiếu tình cảm, sống hời hợt, không cảm thông cho nỗi khổ của những kể khốn cùng.
Nếu chữ TÂM trong đạo Phật là “từ, bi, hỷ, xả” thì chữ TÂM trong Truyện Kiều bao hàm “Nghiệp và Mệnh”. Tâm “thiện” hay “ác” sẽ quyết định cho “hành động”, từ đó tạo nên nghiệp và số mệnh tương ứng. Như vậy, ta thấy truyện Kiều không đơn thuần mang tư tưởng Phật giáo mà còn có cả tư tưởng Nho giáo. Theo Giáo sư Trần Đình Sử, Tâm là chân như, tĩnh tại, đồng cảm, thương người, ông cho rằng chữ Tâm trong Truyện Kiều là sự gặp gỡ luồng tư tưởng của hai bậc Nho gia và Phật gia. Nhưng, chữ Tâm trong Truyện Kiềukhông đồng nhất với chữ Tâm của nhà Phật bởi Nguyễn Du không coi sự diệt dục là quan trọng như lời Phật dạy. Truyện Kiều là câu “truyện thế tục”, kể về một cái Tâm thế tục cao thượng, tuy không đạo đức siêu hình nhưng không tầm thường dung tục.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhiều lần nhắc đến chữ Tâm. Thí dụ:“Từ tâm” xuất hiện qua lá thơ Kiều thề nguyền đồng tâm cùng Kim Trọng; “lễ tâm” khi chạy án cho hai cha con Vương Ông; “hiếu tâm” thể hiện qua câu “lửa tâm càng dập, càng nồng“, lửa lòng, lửa ghen cháy trong lòng Hoạn Thư và “tâm thành” khi Kiều bán mình chuộc cha. Ở đây ta thấy chữ Tâm luôn đi kèm với một từ khác, để biểu hiệu cho một khái niệm có liên quan đến chữ Tâm. Khi chữ Tâm đứng độc lập thì nó có nghĩa là lương tâm, đạo đức; nhân ái, vị tha; khoan dung, nhân hậu; cảm thông, sẻ chia, v.v…
Để hiểu rõ ràng và sâu sắc hơn về chữ Tâm trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, các nhà nghiên cứu chú tâm vào vào hai lãnh vực: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu chữ Tâm qua hành động của một vài nhân vật điển hình như: Thúy Kiều, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến… Trong phạm vi này, nhà nghiên cứu phân tích tiểu sử của câu truyện để tìm hiểu về bối cảnh văn hóa, xã hội của tác phẩm cũng như tiểu sử của tác giả để thu góp những tài liệu xác thực chứng minh cho tác động, tư tưởng và bối cảnh thực tại khiến có sự ra đời của tác phẩm. Phương pháp phân tích nhân vật nhằm thu nhặt khái quát những nét đặc trưng của cái Tâm trong tác phẩm. Phương pháp văn hóa học được sử dụng để khám phá những nét văn hóa đặc thù trong tác phẩm của nhà văn.
Theo tài liệu Wikipedia, Nguyễn Du sống trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, một giai đoạn với nhiều biến động trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đất nước chia thành hai Đảng dưới sự cầm quyền của hai thế lực: Miền Bắc do Vua Lê và Chúa Trịnh thống trị, trong Nam là Chúa Nguyễn. Cả hai nơi đều do các thế lực phong kiến cầm quyền, nội bộ của bị phân hóa và yếu trong vai trò ổn định tình hình, lãnh đạo đất nước. Nguyễn Du đã sống qua cả ba thời đại: Lê-Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn và trải qua nhiều cuộc binh biến tàn khốc của các tập đoàn phong kiến cũng như các cuộc khởi nghĩa đòi quyền sống của tầng lớp nông dân. Ông đã chứng kiến tận mắt cảnh sống xa hoa, đồi trụy cũng như sự thống trị dã man, tàn ác của giai cấp phong kiến, đến cảnh đau khổ, nghèo đói, đày đọa và những áp bức bất công, cảnh nước mất nhà tan, kiếp người tài hoa bạc mệnh. Chính những biến cố của thời đại, của gia đình đã đẩy Nguyễn Du ra giữa cuộc đời lưu lạc và có nhiều tâm sự u uẩn. Niềm u uẩn ấy, được ông gửi gấm vào thi ca, đặc biệt là nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” của ông.
Nghiên cứu nhân vật trong tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” hay “Truyện Kiều”. cho ta thấy những hành động xuất phát từ Tâm mà ra,như trong cảnh Thúy Kiều khóc thương Đạm Tiên là cái Tâm thành đưa đến từ tâm lý đồng cảm của Kiều qua hai câu thơ: “Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.” [83 – 84]. Những nhân vật có Tâm nhân ái, lòng lương thiện là Thúy Vân, thùy mị, đoan trang, hồn nhiên, vô tư. Vương Quan có tư cách đứng đắn, đàng hoàng, nghiêm trang, hòa nhã: “Cũng trong nha dịch, lại là từ tâm;”. Nhân vật Từ Hải với khí tiết anh hùng là đại diện cho một hình ảnh nam nhân xuất sắc bên cạnh Kim Trọng.
Chữ Tâm trong truyện Kiều biểu hiện rõ nét cho một chữ “Tâm” trong triết lý Phật giáo thể hiện trong buổi đi chơi gặp mộ Đạm Tiên, sau khi nghe qua tiểu sử cuộc đời cô kỹ nữ xa lạ, Kiều liên tưởng đến mình: “Nỗi niềm tưởng đến mà đau, Thấy người nằm đó biết sau thế nào?” Trong tâm thức Kiều đã ngầm chứa những hạt giống khổ đau, bạc mệnh. Đó là điều Kiều cảm nhận được mà người khác không biết.
Trong đoạn cuối câu truyện, sau bao ngày chìm đắm trong bể khổ, Kiều từ bỏ trần tục để được sống thanh thản, nhẹ nhàng cũng là cái tâm của nho gia. Tâm thiền thể hiện qua sự tu hành của Kiều. Chữ Tâm trong Tâm lý học gồm “Thiền tâm”. Tâm tức lý. Nỗi nhớ mẹ, nhớ em, nhớ nhà, nhớ Kim Trọng đều là tâm lý mà cũng là thiện lý. Chữ Tâm của Nguyễn Du qua Kiều ghi nhận như một phép nhiệm mầu nơi cửa Phật qua câu thơ: “Cho hay giọt nước cành dương, Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên” hoặc“Mùi thiền đã bén muối dưa, màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng”. Vậy Kiều có thực sự chọn con đường tu hành là giải thoát? Có lẽ sẽ tùy theo độc giả phán quyết.
Tóm Lại:
Nguyễn Du mất đi, nhưng ông đã để lại những câu thơ lục bát bất hủ và một tuyệt tác có giá trị. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác văn học ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam, có ảnh hưởng sâu đậm sắc màu Phật giáo và Nho giáo. Truyện Kiều đã thấm vào trí nhớ, tâm hồn người Việt qua hai chữ Tâm-Tài. Trong tác phẩm, Nguyễn Du đã vẽ ra một Thúy Kiều có Tài nhưng bạc mệnh, nhưng với chữ Tâm thánh thiệnnhư ngọn đèn sáng soi lối đi cho Thúy Kiều trong những ngày cuối đời.
Tư tưởng của Nguyễn Du với tư cách là một đại Nho gia đã thể hiện rõ trong Truyện Kiều và chứng minh cho chúng ta thấy rằng, ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ triết lý Nho giáo hòa quyện với triết học nhà Phật. Bởi bối cảnh của câu chuyện lệ thuộc vào hoàn cảnh chính trị, xã hội, tư tưởng của Việt Nam thời đó nên Truyện Kiều dễ dàng ghi sâu vào tâm trí người dân Việt cũng như ảnh hưởng đến đời sống xã hội Việt Nam. Một lý do khác là tư tưởng Truyện Kiều có liên quan mật thiết đến đời sống người dân Việt, một dân tộc vốn coi trọng chữ trung và chữ hiếu.
Khánh Lan,
California, November 2022
-
SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG CUỐI TUẦN
LỄ TƯỞNG NIỆM 100 NGÀY CỐ GIÁO SƯ TOÀN PHONG NGUYỄN XUÂN VINH
Kiều Mỹ Duyên tường trình

Lễ tưởng niệm 100 ngày mất khoa học gia, cựu tư lệnh Không Quân, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh (tại Thư Viện Việt Nam, thành phố Garden Grove) do Viện Việt- Học tổ chức.
Thứ bảy ngày 5 tháng 11 năm 2022, nhiều sinh hoạt cộng đồng người Việt ở miền Nam California tổ chức cùng giờ, cùng ngày. Nơi nào có sinh hoạt cũng có đồng hương đến đông đảo. Tại Thư Viện Việt Nam, đường Westminster thành phố Garden Grove, Viện Việt- Học tổ chức kỷ niệm 100 ngày tưởng nhớ giáo sư, khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh. Cô Nguyễn Thị Kim Ngân điều hợp chương trình.
Thư mời được nhà văn Trần Việt Hải gửi đi khắp nơi, gửi nhiều lần, ngoài học trò của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh của trường Chu Văn An, Sài Gòn, còn có sự hiện diện của các chiến sĩ Không Quân, khoa học gia, bác sĩ, văn sĩ, thi sĩ, ca sĩ, v.v. đến tham gia rất đông. Hội trường không còn một chỗ ngồi, một số anh chị em đứng ở ngoài hành lang của thư viện.

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh (1930-2022) Khi chúng tôi đến, giáo sư Phạm Thị Huê đang phát biểu tỏ lòng kính trọng giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, một nhân tài văn chương và khoa học gia. Ông lấy bút hiệu Toàn Phong để sáng tác văn chương. Tác phẩm “Đời Phi Công” của Nguyễn Xuân Vinh đã đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961. Năm 1991, cuốn sách “Theo Ánh Tinh Cầu” của ông được nhà xuất bản Đại Nam xuất bản, đã được tiêu thụ hết ngay trong năm đầu. Ông còn một tác phẩm khác là “Gương Danh Tướng” được sáng tác năm 1956.
Một ngày làm nhà giáo suốt đời làm nhà giáo, ngoài là tư lệnh Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh viết sách không ngừng nghỉ, những tác phẩm ông để lại cho đời rất hữu ích cho thế hệ mai sau.

Các văn nghệ sĩ đến tham dự lễ tưởng niệm giáo sư Nguyễn Xuân Vinh rất đông. Ông Trần Văn Sùng đến từ San Diego, ông vừa nói vừa nức nở như khóc, ông thương tiếc một người tài đã ra đi dù giáo sư Vinh về với Chúa khi đã 92 tuổi.
Khoa học gia Cai Văn Khiêm tỏ lòng thương tiếc một nhân tài đã ra đi, có lẽ tất cả đồng hương hiện diện trong ngày tưởng niệm không ai muốn giáo sư Vinh ra đi.

Nhà văn Khánh Lan nói về giáo sư Nguyễn Xuân Vinh.
Nhà văn Khánh Lan xinh đẹp, duyên dáng nói về giáo sư Nguyễn Xuân Vinh và trong câu chuyện nhà văn trẻ này nhắc đến nhà văn Việt Hải nhiều lần trước khi Việt Hải lên diễn đàn.
Nhà văn Việt Hải vừa phát biểu cảm tưởng vừa nuốt nước mắt, có lúc nhà văn nghẹn ngào như nói không ra lời. Nhà văn rất thành thật nói:
– Cho tôi được ngồi, nếu tôi đứng một chút nữa tôi sẽ té.

Nhà văn Việt Hải nói về những quyển sách của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh mà
nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã xuất bảnViệt Hải nói về những quyển sách của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh mà nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã xuất bản và sẽ xuất bản tiếp. Nhà văn Việt Hải để rất nhiều cảm tình của mình trong giọng nói nghẹn ngào. Nhiều người kể cho tôi nghe lúc tiễn đưa giáo sư Nguyễn Xuân Vinh lên đường, Việt Hải đã khóc, bây giờ cũng nức nở.
Cô Hoa, vợ của Việt Hải đưa chồng lên trước sân khấu, chăm sóc chồng từng tí. Thật hạnh phúc cho những người có gia đình ấm cúng, và hạnh phúc cho những người lý tưởng sống với nhau.

Kiều Mỹ Duyên đến tham dự lễ tưởng niệm 100 ngày mất của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh cùng các anh chị em nghệ sĩ. (Xướng ngôn viên, ca sĩ Hương Thơ đứng ngoài cùng bên phải) Những phụ nữ tham dự trong chiếc áo dài tha thướt, trong đó có ca sĩ Hương Thơ, người nào cũng đẹp nhưng nam thì nhiều còn nữ thì ít, đặc biệt những người yêu chuộng văn nghệ đều có mặt.
Khoa học gia Cai Văn Khiêm trong hội Bình Định Tây Sơn, bác sĩ Lê Đình Phước, bác sĩ Nguyễn Ngọc Ký, Không Quân hiện diện trong buổi lễ tưởng niệm này, bác sĩ đỡ đầu cho giáo sư Nguyễn Xuân Vinh vào đạo Công Giáo.
Nguyện cầu giáo sư Nguyễn Xuân Vinh hưởng nhan Thánh Chúa. Cô Nguyễn Thị Kim Ngân thay mặt Viện Việt-Học chân thành cảm ơn quý Hội, quý giáo sư và quý anh chị em đã cùng gia đình của giáo sư và Viện Việt- Học tổ chức Lễ Tưởng Niệm giáo sư Nguyễn Xuân Vinh chân tình và cảm động.
KIỀU MỸ DUYÊN, Orange County, 7/11/2022
(kieumyduyen1@yahoo.com)
—————————————————————————————————————–
LỄ TƯỞNG NIỆM 100 NGÀY CỐ GIÁO SƯ TOÀN PHONG NGUYỄN XUÂN VINH
Khánh Lan tường trình từ California.

Buổi lễ tưởng nhớ đến vị giáo sư khả kính Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, một nhân tài của thế giới văn học đã diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm và thân mật tại THƯ VIỆN VIỆT NAM thuộc thành phố Garden Grove, tiểu bang California ngày 05 tháng 11 măm 2022 do Gia Đình Cố GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Hội Ái Hữu CHS Bưởi-Chu Văn An Nam California, Hội Ái Hữu Không Quân, Hội Giáo Chức Việt Nam California, Hùng Sử Việt, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, Nguyệt San KBC và Viện Việt Học đồng tổ chức.
Ngoài hành lang, các hình ảnh và những giải thưởng mang tên GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh được ban tổ chức trưng bày rất cẩn thận, chu đáo và đẹp mắt.

Bước vào bên trong hội trường, căn phòng đã đông nghẹt người, những hàng ghế đã kín/đầy người ngồi. Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của rất nhiều nhân vật quan trọng trong cộng đồng đến tham dự. Ngoài hành lang cũng chật cứng người, bởi không có ghế ngồi nào trống.
Khoảng 10 phút sau 10:30 sáng, khi Chị Kim Ngân, giám đốc của Viện Việt Học mở đầu chương trình và thay mặt cho bà quả phụ Nguyễn Xuân Vinh ngỏ lời cám ơn tất cả các quan khách hiện diện, thì cả hội trường trở nên yên lặng để tỏ lòng kính trọng người quá cố. Theo sau là Lễ chào quốc kỳ Việt, Mỹ và phút mặc niệm.

Sau phần nghi lễ, Cô Kim Ngân trở lại với tiểu sử của cố GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, đồng thời giới thiệu slideshow về cuộc đời và sự nghiệp của cố GS do nguyệt san KBC thực hiện, ghi lại đầy đủ hình ảnh từ khi Cố GS nhập ngũ cho đến khi ông từ giã cõi trần.

Giáo Sư Trần Huy Bích GS Tiến Sĩ Trần Huy Bích nói về những tác phẩm của văn học nổi tiếng của GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Cũng như quyển sách mới nhất “Thiên Chức Của Một Nhà Giáo” sẽ do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuận đảm nhiệm và phát hành.

Bà quả phụ Nguyễn Xuân Vinh Chương trình tưởng nhớ Cố GS Toàn Phong chấm dứt khoảng 12:30 pm sau khi Bà quả phụ Nguyễn Xuân Vinh ngỏ lời cảm tạ các quan khách, bà cũng không quên mời mọi người ở lại dùng bữa ăn trưa thân mật do chính tay bà các bạn bè cùng nấu. Phần phụ diễn văn nghệ gồm 4 bài hát do các ca sĩ của Viện Việt Học và Tiếng Thời Gian đảm trách.

Cố GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh Vĩnh biệt Cố GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Xin Thiên Chúa toàn năng rước linh hồn ông về cùng hưởng an vui bên cạnh nhan thánh Ngài.
Khánh Lan
VỀ MỘT NGƯỜI VỪA MỚI RA ĐI: GIÁO SƯ NGUYỄN XUÂN VINH,
Viết bởi: KIỀU MỸ DUYÊN
Giáo sư- Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh- nhà khoa học người Việt được NASA vinh danh. Ông đã vạch ra quỹ đạo cho những phi thuyền Apollo của Mỹ lên mặt trăng.Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh được Hội Khoa Học Không Gian Hoa Kỳ tuyển chọn trao giải thưởng Dirk Brouwer về những thành tích và phục vụ của ông trong ngành cơ học phi hành không gian.
Khi nghe giáo sư Nguyễn Xuân Vinh bệnh, nhiều người cầu nguyện cho giáo sư sớm khỏi bệnh. Nhiều người định đi thăm giáo sư nhưng cứ nghĩ để cho người bệnh nghỉ ngơi, đến thăm nhiều không nên, nhưng những người ở xa về chơi Orange County nhất định phải đến thăm ông. Giáo sư Phạm Thái ở San Jose về Orange County họp mặt liên trường và đồng hương Tây Ninh nói với chúng tôi trước khi lên xe trở lại San Jose:
– Chị ơi, giáo sư Vinh yếu lắm rồi, chắc không qua khỏi trong 2 tuần nữa.
Hôm nay, khi giáo sư Vinh qua đời, 1 giờ đồng hồ sau tôi được tin, chúng tôi gọi ngay cho giáo sư Phạm Thái. Ông nói:
– Chúng tôi đợi tin tức gia đình để xem ngày nào an táng, chúng tôi sẽ đến thăm giáo sư Vinh lần cuối.
Chúng tôi còn nhớ vào thập niên 60, chúng tôi đang học ở Úc, tình cờ đọc báo thấy tin tức giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là khoa học gia. Chúng tôi rất hãnh diện về khoa học gia Việt Nam có tài làm phi thuyền lên cung trăng. Chúng tôi mua ngay một tấm thiệp chúc mừng, anh chị em du học ở Canberra, thủ đô của Úc, viết lời chúc mừng rồi gửi sang tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa nhờ chuyển đến giáo sư Vinh.
Bẵng đi một thời gian rất lâu mấy chục năm sau, chúng tôi gặp lại giáo sư Nguyễn Xuân Vinh ở đại học Michigan, hội thảo toàn nước Mỹ về người tị nạn ở đại học này. Những thành viên tham dự hội thảo có giáo sư Vũ Quốc Thùy, con trai của giáo sư Vũ Quốc Thúc, giáo sư của trường đại học luật khoa Sài Gòn trước năm 1975, Nguyễn Xuân Vinh đang dạy, giáo sư cũng là một diễn giả thuyết trình trong tuần lễ hội thảo đó. Người tham dự đại hội ở luôn trong trường học, buổi trưa khi ra phòng ăn, chúng tôi may mắn được ngồi đối diện giáo sư. Chúng tôi nhắc lại tấm thiệp chúc mừng mà chúng tôi đã gửi đến giáo sư sau khi phi hành đoàn bình yên trở về.
Chúng tôi cũng nhớ một chuyện tình rất đẹp trong tiểu thuyết ngắn “Đời Phi Công” của nhà văn Nguyễn Xuân Vinh, bút danh Toàn Phong. Chúng tôi nói ngay:
– Thưa giáo sư, giáo sư trả nợ cho tôi!
Giáo sư Vinh ngạc nhiên hỏi:
– Tôi thiếu nợ cô hồi nào mà cô đòi nợ tôi?
Tôi trả lời:
– Vì tôi đọc “Đời Phi Công” của giáo sư cho nên khi đến Paris, tôi vội vã đến bờ biển Nice để xem cát vàng lóng lánh qua ngòi bút miêu tả của giáo sư bờ biển Nice vô cùng quyến rũ. Chúng tôi cất công, tốn tiền đến đó, nhưng than ôi đến bờ biển Nice rồi, chúng tôi vỡ mộng vì bờ biển Nice không đẹp bằng biển Nha Trang. Như thế giáo sư phải đền phí tổn cho chúng tôi phải không?
Giáo sư Vinh hỏi chúng tôi:
– Cô đến Nice một mình hay đi với nhiều người?
Tôi trả lời:
– Đi với nhiều người.
Giáo sư Vinh nói ngay:
– Đi với nhiều người làm sao thấy được cát vàng lóng lánh?
Sau này đến Mỹ, chúng tôi có dịp gặp lại ông bà giáo sư Vinh ở miền Nam California khi có hội họp tổ chức ở đây.
Có lần, trong buổi cơm, tôi ngồi gần ông bà, tôi hỏi phu nhân của giáo sư Vinh:
– Phượng trong tiểu thuyết “Đời Phi Công” có phải là chị không?
Phu nhân giáo sư Vinh trả lời:
– Nếu ai yêu không quân thì đều là Phượng.
Hai ông bà người nào cũng rất thông minh, trả lời như không trả lời.
Tiểu thuyết ngắn “Đời Phi Công” của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh sáng tác năm 1959, bút hiệu Toàn Phong. Đạt giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1961. Tiểu thuyết dài 53 trang, gồm 9 chương: Đường đời muôn vạn nẻo, Ánh sáng kinh thành, Trăng dãi Bắc Phi, Gió Hải Hồ, Có một đàn chim, Hội mùa hoa, Hẹn
một ngày về, và Tiếng gọi lên đường.
… Đêm nay có một anh chàng
ngồi giữa ánh sáng kinh thành
mà nhớ đến quê hương…
… Mang thân làm cánh chim,
ai ra đi cũng hẹn có ngày trở về tổ ấm …
… Để chờ đợi một ngày mai hạnh phúc,
Có những mùa xuân đôi trẻ con gửi cho nhau
những cánh hoa kèm theo những câu chúc tâm tình …
… Mang thân ra đi để che mưa gió
là các anh muốn cho những người như em
được mãi mãi sống trong bầu không khí thanh bình …
… Ra đi vì nhiệm vụ
bao giờ thanh bình
con xin trở lại mái tranh xưa …
Khi đi thuyết trình ở đại học Berkeley, trên đường về tôi đổi chuyến bay từ San Jose về Orange County để thăm một số người thân, trong đó có giáo sư Vinh và gia đình. Tôi đi xe từ San Francisco về thăm ông bà giáo sư Vinh, ở trong một căn nhà xa thành phố, đường vào nhà cây cỏ xanh mướt. Chị Vinh ngồi xe lăn đón tôi ở phòng khách, chị hỏi:
– Cô lên đây hồi nào?
Chị đưa tay chỉ ly nước và đĩa trái cây, mời tôi:
– Cô uống nước và dùng trái cây.
Giáo sư Vinh chào tôi và nói:
– Cô ở nhà với bà xã tôi, tôi đi họp với hội cựu tù nhân chính trị.
Ngồi nói chuyện với chị Vinh một chút, chị gầy hẳn đi, khác với ngày tôi gặp chị, khuôn mặt chị xanh xao, nhưng chị không than khi tôi hỏi về sức khỏe của chị. Có một cô em kề cận chăm sóc cho chị.
Tôi kể cho chị nghe về sinh viên Berkeley rất quan tâm đến chính trị, đề tài của tôi thuyết trình là: Làm thế nào để trở thành triệu phú? Sinh viên Berkeley đặt câu hỏi về chính trị nhiều hơn về kinh tế, trái với sinh viên của Cal State Fullerton và Long Beach, mà tôi đã từng thuyết trình nhiều năm qua. Tôi cũng nói với chị về tờ báo của trường đại học Berkeley rất lớn, nhiều tầng lầu, tờ báo rất xuất sắc. Chị Vinh hỏi tôi về những người chị quen ở Orange County có gặp họ thường không?
Tôi muốn kể cho chị nghe nhiều chuyện nữa nhưng sợ chị mệt, với lại đến giờ phải ra phi trường nên tôi xin giã từ. Ra đến cửa, tôi quay đầu lại vẫy tay chào chị, bàn tay yếu ớt của chị đưa lên chào tôi. Tôi hy vọng gặp lại chị lần nữa nhưng khi tôi vừa về đến Orange County vài tuần thì nghe tin chị được đưa vào nhà thương. Sau đó mấy tuần, chị mất.
Hôm nay, nghe tin giáo sư Nguyễn Xuân Vinh qua đời, gia đình, người thân, bạn bè, học trò của giáo sư trên thế giới, và đồng hương yêu quý ông đang cầu nguyện cho giáo sư sớm về hưởng nhan Thánh Chúa.
Orange County, 25/7/2022
KIỀU MỸ DUYÊN, (kiuemyduyen1@yahoo.com)
-
Nhạc Phạm Thái
-
NHÀ VĂN VIỆT HẢI: TRONG Ý NGHĨ CỦA TÔI.
Bài viết của NV Kiều My

VIỆT HẢI & KIỀU MY Khi vừa hoàn thành tác phẩm đầu tay ĐÓA HOA NỞ MUỘN, tôi rất phân vân không biết nên làm gì; cất giấu nó đi mãi mãi hay nên thực hiện một buổi ra mắt sách cùng độc giả? Nếu chôn vùi đứa con tinh thần này muôn kiếp thì quá dễ dàng, nhưng tôi lại không đành lòng! Như một người đàn bà mang thai, cưu mang hài nhi trong dạ với bao yêu thương ấp ủ của một người mẹ…thì sau chín tháng mười ngày, hài nhi hẵn phải chào đời.
Tình cờ một hôm đẹp trời của mùa xuân 2021, con gái Bảo Trâm chở tôi đến thăm vợ chồng Tina và Quốc Sĩ – một tay guitar điêu luyện trong làng nhạc Việt hải ngoại. Người nhạc sĩ dễ mến này đưa tôi đi xem phòng thu âm, nơi mà các nhạc sĩ thường gắn bó và say sưa làm việc với âm nhạc. Rồi hai cô cháu nói chuyện huyên thuyên về các ca nhạc sĩ và những sáng tác mới của Quốc Sĩ. Trong dịp này, bất chợt tôi tâm sự với Sĩ về tác phẩm của tôi vừa sáng tác xong, mong rằng Sĩ có thể góp ý với tôi nên làm gì. Không ngờ mắt Sĩ sáng lên rồi nhiệt tình nói:
“Hay quá! Cô gặp đúng người rồi! Để Sĩ giới thiệu cô với anh trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian…anh Việt Hải. Sĩ rất quý mến anh và chị Lệ Hoa, anh rất tốt sẽ giúp đỡ cô, cô đừng lo!”
Tôi vừa thoáng thấy có một cánh cửa hy vọng sắp mở ra, nhưng lại e ngại không biết anh trưởng nhóm có vui lòng giúp tôi không vì tôi chỉ là một người xa lạ đối với anh. Chừng vài phút sau, Sĩ hăng hái thực hiện ngay kế hoạch làm người trung gian kết nối đường dây:
“Chào anh Việt Hải! Anh khỏe không? Hôm nay Sĩ giới thiệu với anh cô của Sỹ là Kiều My muốn ra mắt sách, anh có thể giúp cho cô của Sĩ được không?…”
Qua dăm ba câu thăm hỏi trao đổi với nhà văn Việt Hải, Sĩ trao điện thoại cho tôi bèn dặn dò:
“Cô cố gắng nghe vì anh Việt Hải bị stroke hai lần; vì thế, tiếng nói của anh không được rõ ràng lắm!”
Quả thật vậy! Khi cầm điện thoại và áp sát vào tai, tôi nghe được giọng nói của anh Việt Hải… đã gây cho tôi niềm cảm xúc ngập tràn. Anh cố gắng nói để tôi được hiểu ý của anh rằng: anh sẵn sàng giúp tôi ra mắt sách. Giọng anh khàn khàn ngọng nghịu, có đôi lúc thở nặng nề mệt nhọc, làm tôi rất e ngại và thương cảm cho anh. Tôi tự hỏi: không biết tôi có làm mất thời giờ và làm phiền cho sức khỏe của anh chăng? Trong tôi chứa đầy ngạc nhiên không lẽ trên đời này còn có người tốt như thế sao? Anh chưa biết tôi là ai, người như thế nào…mà dám mở rộng vòng tay chào đón và giúp đỡ nhiệt tình một người xa lạ chưa bao giờ gặp mặt; hơn thế nữa, anh là người không được khỏe mạnh cho lắm!
Trên đường về, tôi luôn nghĩ ngợi về nghĩa cử cao đẹp của một người mang tên Việt Hải, trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Tôi không thể hình dung anh như thế nào, người ra sao, bao nhiêu tuổi?…Dường như anh là khuôn mẫu của một người chỉ muốn cho đi mà không cần nhận lại. Nhất là trong lãnh vực văn chương và nghệ thuật. Anh luôn khuyến khích và hướng dẫn những mầm non văn chương, những ngòi bút còn non nớt, hãy cố gắng đọc thật nhiều và viết thật nhiều để hình thành những tác phẩm giá trị cho đời và nhất là để bảo tồn văn hóa Việt. Bao lâu còn văn hóa Việt, tiếng nói Việt, thì dân tộc Việt vẫn còn tồn tại; dù cho người Việt có tản mác khắp nơi trên địa cầu này.
Chỉ sau một thời gian ngắn ngủi, tác phẩm ĐÓA HOA NỞ MUỘN được anh Việt Hải đưa qua nhà văn kiêm chủ bút Khánh Lan chỉnh sửa những sơ sót trong bản thảo. Sau đó lần lượt được trao qua bàn tay kỹ thuật nhà nghề của anh Phạm Hồng Thái ở tận San Jose trau chuốt, sắp xếp, trình bày rất đẹp mắt. Ngoài ra, bìa sách được nhà văn kiêm họa sĩ Vi Khiêm vẽ một đóa hoa hồng rạng rỡ vươn lên khoe sắc trong cảnh mùa thu rất ư nghệ thuật…Tất cả thật tuyệt vời ngoài sự mong đợi của tôi! Cầm quyển sách ĐÓA HOA NỞ MUỘN thật đẹp, thật mượt mà trên tay mà trong lòng thầm cảm ơn tất cả các vị Việt Hải, cô Khánh Lan, anh Hồng Thái và anh Vi Khiêm, đã chung tay hoàn chỉnh sách ĐÓA HOA NỞ MUỘN của Kiều My, như một báu vật.
RA MẮT SÁCH CỦA NV KIỀU MY

Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tạm ngưng hoạt động khoảng hai năm vì dịch bệnh Corona Virus lan tràn. Khi dịch bệnh không còn phát triển mạnh nữa, thì nhóm hoạt động trở lại và ĐÓA HOA NỞ MUỘN được nhà văn Việt Hải khởi động cho ra mắt với độc giả vào mùa hè tại Nam California, ngày Chủ nhật 15 tháng Tám năm 2021. Trong sự kiện quan trọng và đầy ý nghĩa về văn chương và nghệ thuật mà nhà văn Việt Hải luôn hăng say tổ chức và quy tụ giới cầm bút, truyền thông, báo chí… góp mặt trong chương trình như một sự khích lệ lớn lao cho các tác giả. Ngoài ra, các nhà văn, thi sĩ, ca sĩ trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, gia đình và thân hữu của tác giả tham dự đông đảo trong không khí thân thiện cởi mở. Trong buổi ra mắt sách luôn luôn gồm 2 phần:
1/ Phần văn học: dưới sự chủ tọa của nhà văn Việt Hải cùng các diễn giả như: nhà văn Nguyễn Quang, nhà văn kiêm giáo sư Quyên Di, nhà văn Khánh Lan, nhà văn Vi Khiêm v.v…Phần này giới thiệu về tiểu sử tác giả và tham luận về tác phẩm.
2/ Phần văn nghệ: do nhóm Tiếng Thời Gian phụ trách, dưới sự điều khiển của ca nhạc sĩ Lâm Dung, cùng với tiếng hát của các ca sĩ Thụy Lan, Lệ Hoa, Ngọc Quỳnh, Minh Thư, Ái Liên v.v…
Hai phần văn học và nghệ thuật kết hợp nhịp nhàng đã làm tăng thêm phần sống động và vui tươi cho buổi ra mắt sách. Những nhạc phẩm được trình diễn trong chương trình cũng được chọn lọc theo chủ đề của sự kiện.
Nhà văn Việt Hải cùng ban diễn giả đã chu toàn vai trò mô tả thật sống động về nội dung của tác phẩm ĐÓA HOA NỞ MUỘN. Trong đó, tác giả đã trau chuốt từng nét vẽ uyển chuyển để tạo nên bức tranh đẹp tuyệt vời của một tình yêu huyền thoại, mà chắc hẵn ai trong chúng ta cũng đều mơ ước. Động lực chính khiến tác giả dàn dựng lên một bối cảnh yêu đương nồng nàn của đôi uyên ương trong sự thủy chung, vì cảm kích mối tình bất diệt của chính tác giả với nàng kiều Selma Karamy trong UYÊN ƯƠNG GÃY CÁNH ( The Broken Wings ) của nhà văn nổi tiếng Lebanon KAHLIL GIBRAN. Qua HỒN BƯỚM MƠ TIÊN của KHÁI HƯNG, tác giả cũng thương cảm cho mối tình thanh cao dưới bóng từ bi của thí chủ Ngọc và chú tiểu Lan. Thêm lần nữa, tác giả lại xót xa cho hai người trẻ ROMEO ET JULIETTE yêu nhau trong nghịch cảnh, không được lấy nhau nên sau cùng đã chết bên nhau cho trọn cuộc tình của WILLIAM SHAKESPEAR. Trong LOVE STORY của ERICH SEGAL, hai kẻ bất hạnh là Oliver Barrrett và Jennifer Cavilleri yêu nhau tha thiết. Nhưng vì sự cấm đoán khe khắt của gia đình danh giá Barrett mà đưa đến một kết cuộc bi thương….Vì những chuyện tình thủy chung đầy nước mắt và tuyệt vời này…khiến tác phẩm ĐÓA HOA NỞ MUỘN đã ra đời. Trong quyển sách bé nhỏ này chứa đầy tính nhân bản của tình yêu đôi lứa, tình gia đình, tình bạn hữu và tình yêu quê hương. Sau cùng, mọi người đều nhỏ lệ tiếc thương cho đôi uyên ương phải gãy cánh, vì người chồng vĩnh viễn từ giã cõi đời để lại người vợ hiền trung trinh và hai con thơ trong đau đớn nghẹn ngào. Sự việc này đã nói lên triết lý về cuộc đời: không có gì tồn tại mãi mãi và không gì gọi là vĩnh cửu trên đời này!
Buổi ra mắt sách đã thành tựu. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì gánh nặng đã được trút xuống khỏi đôi vai. Mọi việc được hoàn tất tốt đẹp là nhờ vào sự nhiệt tình cũng như sự tổ chức chu đáo của anh Việt Hải, cùng với sự hỗ trợ tích cực của các văn thi sĩ và các ca sĩ trong nhóm âm nhạc Tiếng Thời gian . Tôi ngẫm nghĩ về câu nói đầy ý nghĩa của một văn hào: “Hãy quan tâm những gì xung quanh bạn và biết ơn những gì bạn có được trong cuộc sống ngắn ngũi này.”( Observe around you and be thankful for all that you have in this transitory lifetime.)
Một điều thật lạ và đầy ngạc nhiên, khi tôi khám phá ra văn sĩ Việt Hải viết hàng ngàn bài viết trong hơn ba mươi năm, những bài viết thật giá trị về văn chương và hàng ngàn bài thơ quê hương, tình yêu, lãng mạn, nhưng anh chưa hề có một cuốn sách nào cho riêng anh để ra mắt cùng độc giả; bởi anh chỉ viết in chung giúp cho sách của nhóm bạn bè được hình thành. Việt Hải là thế! Anh vì mọi người hơn vì mình! Tấm lòng anh thật bao la… hiếm có! Anh không ích kỷ! Anh không màng lợi danh! Tôi rất may mắn là thành viên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian và được hoạt động chung với anh. Anh luôn vui vẻ với mọi người, hình như anh thích những cuộc gặp gỡ hàn huyên. vui đùa với bạn bè. Anh là chim đầu đàn của nhóm, sẵn sàng nâng đỡ và hướng dẫn những thành viên trong nhóm khi gặp khó khăn trong văn chương hay thơ nhạc. Chúng tôi rất quý mến và biết ơn những gì anh đã làm cho chúng tôi. Ở đây có rất nhiều nhà văn, nhưng khó tìm được người hy sinh bỏ thời gian và công sức để giúp mình bước lên để đạt được sự thành công.
RA MẮT SÁCH CỦA NV KHÁNH LAN

NHÀ VĂN KHÁNH LAN Thừa thắng xông lên! Sau buổi ra mắt sách tốt đẹp của Kiều My, anh Việt Hải ra tay giúp cho bốn quyển sách của nhà văn Khánh Lan được trình làng cùng độc giả:

RA MẮT SÁCH 4 TÁC PHẨM CỦA NV KHÁNH LAN –DĨ VÃNG KHÔN NGÔI. Mọi người trong chúng ta đều có dĩ vãng với những kỷ niệm buồn vui trong quá khứ. Dù trong cuộc sống thăng trầm bôn ba của hiện tại, nhưng trong phút giây nào đó, dĩ vãng lại lãng đãng trôi về từ trong ký ức dường như đã ngủ quên. Những kỷ niệm của quá khứ đó có thể cho ta một nụ cười ngắn ngủi hay những tiếng thở dài lê thê, khi nó trở về từ nấm mồ của thời gian.
–TUYỂN TẬP TRUYỆN TRINH THÁM, THÁM TỬ LÊ MINH. Tác giả viết lên những câu chuyện trinh thám hồi hộp gay cấn, gợi lên óc tò mò của độc giả mà nhân vật chính Lê Minh đã đưa người đọc vào mê hồn trận của những pha mạo hiểm cam go, sự giằng co giữa sống chết chỉ trong gang tấc.
–ĐÔI NÉT VỀ 10 TÁC GIẢ ÂU MỸ CẬN ĐẠI. Nhà văn Khánh Lan viết về những tác giả lừng danh qua các tác phẩm để đời của họ. Chẳng hạn như: Alexandre Dumas, Jr.(Pháp) với cuốn La Dame aux Camelias (Trà Hoa Nữ). Andre’ Gide (Pháp) với cuốn La Porte E’troite (Khung Cửa Hẹp). Erich Segal (Hoa Kỳ) với Love Story (Chyện Tình Yêu) và Ernest Hemingway với The Old Man and The Sea ( Ngư Ông và Biển Cả ) v.v..
-TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN: TÌNH YÊU, CUỘC ĐỜI VẢ ĐỊNH MỆNH. Tác giả góp nhặt lại những mẫu chuyện của 45 năm về trước qua một quãng đường dài với biết bao đau thương. Những câu chuyện thương tâm trong thời chiến, nỗi đau mất nước, những cuộc chia lìa xót xa hay những chia ly tang tóc…đã đưa đẩy con người vào vòng xoáy triền miên của cuộc đời trong bể khổ – Như Đức Phật Thích Ca đã nói: “Đời là bể khổ”! Đời người ít nhất một lần cũng phải bước vào bể khổ của cuộc đời trước khi đến miền miên viễn của bên kia thế giới.

NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIÊNG THỜI GIAN TRONG NGÀY RMS CỦA NV KHÁNH LAN RA MẮT SÁCH CỦA NV NGUYỄN QUANG
Cũng vẫn là nhà văn Việt Hải, lần này anh lại tổ chức buổi ra mắt sách cho nhà văn Nguyễn Quang với hai tác phẩm: Ôn Cố Tri Tân và Phận Đàn Bà. Anh là người luôn lạc quan và yêu đời, anh thích vui họp mặt với bạn bè; vì thế, tôi cũng có niềm vui lây với anh trong những buổi họp mặt đình đám này. Đây cũng là điều thú vị về anh. Anh cùng với phu nhân đáng yêu Lệ Hoa góp mặt mọi sự kiện, vì anh luôn là chủ sự. Nếu không có anh chỉ đạo, có lẽ mọi việc khó thành tựu. Ban diễn giả hôm nay gồm có các nhà văn như: Quyên Di, Việt Hải, Khánh Lan và Kiều My bàn luận và tham khảo hai tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang:

RA MẮT SÁCH HAI TÁC PHẨM CỦA NV NGUYỄN QUANG –ÔN CỐ TRI TÂN: do từ nhóm chữ “ Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hỉ “; có nghĩa là: ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay, hành vi này đáng là bậc thầy. Cũng như văn hào Anh, Percy Bysshe Shelly đã nói: “Không lo sợ khi hướng về tương lai qua những bài học đau thương từ quá khứ.” Trong Ôn Cố Tri Tân, tác giả đã đề xuất những bí quyết, những kinh nghiệm hay những bài học kinh điển như kim chỉ nam mà có thể tạo nên thành công cho mọi người. Không nghi ngờ gì khi chúng ta đã trãi nghiệm những thất bại của quá khứ, để tạo thành những bài học quý giá cho tương lai. Như trong dân gian có câu: “Thất bại keo này, ta bày keo khác”, hay “Thất bại là mẹ thành công” vậy.
–PHẬN ĐÀN BÀ: Nhà văn Nguyễn Quang rất đỗi chạnh lòng khi nhìn thấy cảnh ngộ của người đàn bà, nhất là người đàn bà Việt Nam phải cam lòng chấp nhận mọi hoàn cảnh đưa đến trong thời bình cũng như thời chiến. Suốt một đời làm thân phận người đàn bà đầy gian nan, gánh vác hy sinh cho chồng con, xứng đáng để được vinh danh muôn thuở. Như qua nỗi ngậm ngùi của thi sĩ Tú Xương trong bài thơ THƯƠNG VỢ:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”…
Hoặc thương cho phận đàn bà qua hai câu thơ đầy xót xa:
“Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

NHÀ ĂN NGUYỄN QUANG 
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIÊNG THỜI GIAN TRONG NGÀY RMS CỦA NV NGUYỄN QUANG RA MẮT SÁCH CỦA HAI NHÀ VĂN HẬU DUỆ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN: NV TỪ DUNG & NV NGỌC CƯỜNG
Anh Việt Hải làm việc không ngừng nghỉ và rất vui khi những thành viên trong nhóm ra mắt sách thành công. Bước kế tiếp anh tổ chức cho hậu duệ Tự Lực Văn Đoàn, tiêu biểu là hai nhà văn Từ Dung và Ngọc Cường được có cơ hội trình làng hai tác phẩm: Ba Chị Em (Ngọc Cường) và Hồi Tưởng (Từ Dung).

THÀNH PHẦN DIỄN GIẢ ĐƯỢC TỔ CHỨC DƯỚI HÌNH THỨC HỘI THÀO

Đi lần về quá khứ! Vào những lớp Trung học đệ nhất cấp, ông thầy Việt văn của tôi say sưa giảng thao thao bất tuyệt về Nhóm Tự Lực Văn Đoàn với những tác phẩm giá trị đã được đưa vào nền văn học trước 1975, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.
Để bước vào một nền văn học mới mẽ như bước vào một ngày mới với ánh nắng ban mai rực rỡ, như một cuộc cách mạng về văn hóa của xã hội Việt Nam vào nửa bán thế kỷ 20. Thầy giới thiệu cho cả lớp về nhóm Tự Lực Văn Đoàn, bằng giọng trầm trầm đầy sức sống, thầy giảng:
“Nhóm này đã ra đời vào năm 1935 bởi các nhà văn tiên phong như: Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam, Thạch Lam – Nguyễn Tường Lân, Hoàng Đạo – Nguyễn Tường Long và các văn thi sĩ như Tú Mỡ, Thế Lữ, Khái Hưng, Xuân Diệu v. v. Nhóm này ảnh hưởng nền văn chương Pháp, mang đến một khuynh hướng mới, một làn gió mới cho nền văn học Việt Nam. Song song với tư tưởng và lối văn phong trong sáng, phóng khoáng hơn so với tư tưởng và lối hành văn của Hán Nho ngày trước trong các tác phẩm. Về mặt nội dung tư tưởng, các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn thấm đượm tinh thần nhân văn, chống lễ giáo phong kiến, chống những hủ tục không còn thích hợp khi nền văn minh Âu Tây đã ảnh hưởng vào Việt Nam. Điển hình như hai nhân vật chính là Dũng và Loan trong tác phẩm Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Thời điểm xãy ra cốt truyện khi mà cuộc đấu tranh giữa tư tưởng mới và cũ trong xã hội Việt Nam đang hồi quyết liệt”…

Từ trái sang phải: NV Từ Dung & NV Ngọc Cường Trong buổi ra mắt sách hôm nay thật đặc biệt, mọi người được nhìn thấy hai hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn là nhà văn Ngọc Cường và Từ Dung. Hai vị được thừa hưởng dòng máu văn chương của gia đình vọng tộc, một gia tộc danh giá và đã hình thành hai tác phẩm được ra mắt cùng độc giả:
–TÁC PHẨM BA CHỊ EM CỦA NV NGỌC CƯỜNG: Câu chuyện về một đứa trẻ mồ côi mẹ từ lúc còn thơ ấu nên khao khát tình mẫu tử khôn nguôi. Khi lớn lên mang đầy hệ lụy tự ti mặc cảm để rồi sống quay lưng với cuộc đời. Để rồi khước từ những thú vui hay những cuộc hội họp với bạn bè, mà chỉ muốn sống ẩn dật, gậm nhấm những suy nghĩ tiêu cực miên man chảy trong đầu óc.
Cách diễn đạt tâm lý nhân vật chính trong truyện thật sâu sắc và rất thực, khiến cho chúng ta liên tưởng đến nhà văn William Maugham ( một cây bút nổi tiếng về truyện ngắn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20)
– TÁC PHẨM HỒI TƯỞNG CỦA NV TỪ DUNG: Tác giả đưa chúng ta trở về Saigon với những kỷ niệm đẹp, của những ngày tháng mơ mộng dưới mái trường thân yêu, hay dưới những hàng cây xanh của những buổi hẹn hò thời thanh xuân…Vì thời cuộc phải bỏ lại quê hương, để rồi bôn ba nơi xứ người với những thăng trầm trong cuộc sống. Tác giả nói về cuộc đời thật của chính mình, từ một ca sĩ nổi tiếng, đến một nhà giáo, lận đận với nhiều mối tình…nhưng chỉ có một tình yêu trong đời.
Qua tác phẩm Hồi Tưởng, nhà văn Từ Dung muốn nhắn gửi chúng ta một thông điệp, nhất là giới phụ nữ rằng: dù cuộc đời gặp nhiều gian truân thử thách, hãy kiên cường đứng lên và khắc phục những thử thách đó và tiếp tục bước đi.

Để kết thúc chương trình ra mắt sách của các văn thi sĩ năm 2022, nhà văn Việt Hải dốc toàn lực tổ chức ra mắt hai tập thơ của hai thi sĩ gạo cội là Dương Hồng Anh và Lê Trọng Nguyễn Nga sau bao ngày chuẩn bị chu đáo, được diễn ra thật tưng bừng.
RA MẮT SÁCH CỦA HAI NHÀ THƠ: NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH & NHÀ THƠ LÊ NGUYỂN NGA.

Hai quyển tập thơ với những trang giấy mỏng nhẹ nhàng, nhưng nặng hồn thi nhân với những xúc cảm rung động từ con tim mang cống hiến cho người:
– MẦU THỜI GIAN CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH: Tuổi đời thi sĩ đã cao, nhưng tâm hồn vẫn trẻ trung, màu thời gian vẫn còn tươi như những chiếc lá xanh mượt mà của mùa xuân. Tâm hồn thi sĩ bàng bạc tình yêu tha nhân, tình quê hương đất nước, yêu thiên nhiên…tất cả đã quyện trong những vần thơ nhẹ nhàng trầm bỗng. Những vần thơ trong sáng như ánh trăng rầm vằn vặt trong đêm đã được gói gọn trong Màu Thời Gian của nữ sĩ Dương Hồng Anh.
–LẬT TRANG SÁCH CŨ CỦA THI SĨ LÊ NGUYỄN NGA: Tác giả hồi tưởng lại những ngày tháng cũ, những bạn bè xưa của khung trời Saigon thuở nào. Nỗi nhớ khôn nguôi người bạn đời đã về miền miên viễn, đã tạo thành những vần thơ như những tiếng thở than trong đêm trường. Thi sĩ yêu quê hương, yêu những chiến sĩ oai hùng, yêu mùa thu có lá vàng bay, yêu màu tím hoa phượng vĩ…đã dệt nên những vần thơ êm ái qua điệu nhạc du dương lay động hồn người.

Từ trái sang phải: Thi Sĩ Lê Nguyễn Nga & Nữ sĩ Dương Hồng Anh Hôm nay, cũng là dịp mừng sinh nhật thứ 93 của thi sĩ Dương Hồng Anh. Mọi người gửi đến bà những lời chúc đẹp nhất, với những đóa hồng tươi thắm như nụ cười rạng rỡ trên đôi môi bà.
MỪNG SINH NHẬT HAI NHÀ THƠ: DƯƠNG HỒNG ANH & LÊ NGUYỄN NGA

Nhìn nhị vị thi sĩ Dương Hồng Anh và Lê Trọng Nguyễn Nga, tôi rất cảm kích và thương mến gửi đến nhị vị bài thơ như lời chúc tốt đẹp nhất dành cho nhị vị:
TUỔI VÀNG
Dâng đời bao ý thơ huyền dịu
Theo gió thoảng…ru hồn thi nhân
Thời gian sương rơi trên mái tóc
Tuổi vàng tô thắm mấy cung tơ
Ngây ngất hồn thơ vương nắng úa
Chiều về hoa khép nhẹ bờ mi
Lặng nghe dòng đời hồn thổn thức
Mênh mang nét đẹp…tuổi hoàng hôn
Hồn lạc về đâu thi nhân hỡi!
Vần thơ mềm như khúc nhạc êm
Nhạc và thơ như mây với gió
Gió cuốn mây trôi trong nắng vàng
Nắng có phai màu hồn thi sĩ?
Hay…
Nắng vẫn lung linh cùng gió mây?
Kiều My, Mùa thu California, 2022
-
CHIỀU THƠ NHẠC CUNG TRẦM TƯỞNG TRONG BÙI NGÙI THƯƠNG TIẾC

THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG (1932-2022) Nào ai có thể đoán trước được rằng CHIỀU THƠ NHẠC THÍNH PHÒNG CUNG TRẦM TƯỞNG do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) tổ chức ngày 20 tháng 11, 2019 đã là ngày cuối cùng mà anh em trong nhóm hội ngộ cùng thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Dù là đã bao lần nhà văn Việt Hải và nhóm dự định làm một chuyến đi chơi và thăm người thi sĩ tài ba họ CUNG. Tiếc thay NVNT & TTG chưa thực hiện được ước nguyện thì thi sĩ đã ra đi, ra đi trong sự thương tiếc của mọi người và thế giới thi ca đã mất đi một một nhà thơ đáng kính. Xin ghi lại đây những kỷ niệm năm xưa cùng thi sĩ.
NHỚ VỀ CHIỀU THƠ NHẠC CÙNG THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG NĂM NAO
Khánh Lan biên soạn

Từ trái sang phải:
Hàng thứ 1: NS Bích Ty, GS Quyên Di, GS Dương Ngọc Sum, KTS Nguyễn Văn Liêm, TS Cung Trầm Tưởng, NV Việt Hải, CS Minh Tâm, Minh Châu, NS Dương Hồng Anh, CS Thúy Anh, Tố Đoan, Mai Hương.
Hàng thứ 2: CS Nhật Uyên, CS Thụy Lan, NS Quốc Sĩ, phu nhân của NV Việt Hải: Lệ Hoa, NV Khánh Lan và phu quân của CS Thúy AnhNhững hạt mưa đầu mùa nhè nhẹ với tiết trời lạnh lạnh, như nhắc nhở chúng ta “Nàng Thu” đang hiện diện nơi đây và sắp sửa ra đi, để nhường lại cho những ngày đông lạnh giá sắp đến. Và như một sự tình cờ ngẫu nhiên, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi chiều nhạc thơ để chào đón một nhà thơ rất thân quen, mà hầu như tất cả chúng ta đều biết đến từ đầu thập niên 60: Thi sĩ Cung Trầm Tưởng khi ông ghé qua Orange County, California.
Đây cũng là buổi họp mặt lần thứ năm mà Liên Nhóm NVNT & TTG đã chào đón Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, từ miền Minnesota lạnh lẽo về thăm thành phố “Tiểu Saigon”. Buổi nhạc thơ được tổ chức tại Cordoba plaza Club House, thành phố Westminster, California trong bầu không khí ấm cúng và thân mật.
Mặc dù chương trình bắt đầu lúc 4:00 giờ chiều, nhưng mới 3:30, đã có khá đông những thân hữu yêu thơ Cung Trầm Tưởng, xếp hàng chờ sẵn ngoài cửa. Ngoài sự hiện diện của các thi sĩ và văn sĩ, như nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, Nhà thơ Cát Ngọc, Nhà thơ Tha Nhân, Nhà thơ Việt Cường, Nhà thơ Bích Ty, Nhà Văn/Giáo sư Dương Ngọc Sum, Nhà Văn Việt Hải, Nhà Văn/Giáo sư Quyên Di, và Nhà Văn Nguyễn Quang Huy, Nhà Văn Võ ý … còn có sự góp mặt của ký giả Uyên Vũ (báo Người Việt), Ca sĩ Thúy Anh, KTS Nguyễn văn Liêm, NAG Lê Hùng, v.v…
Mở đầu chương trình, Khánh Lan giới thiệu và chia sẻ cảm nghĩ của mình về tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ, 1948-2008”. Tâp thơ này được xuất bản tại Virginia, Hoa Kỳ, năm 2012 và tái xuất bản lần thứ nhất tại California, Hoa Kỳ, năm 2019. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cho biết đây là tập thơ cuối cùng và ông rất hài lòng và hãnh diện khi cho cho tập thơ này ra đời.

NV Việt Hải và Khánh Lan Trong tập thơ, thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi rõ chi tiết của từng giai đoạn, những cảm xúc của mình theo dòng thời gian, qua những thăng trầm của cuộc đời cũng như vận nước nổi trôi trong suốt 60 năm qua. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cũng không quên ghi lại những điểm son trong đời và những cảm xúc của mình qua những chặng đường gian khổ, đau thương, nhớ nhung, uất ức, tuyệt vọng, phẫn nộ và hận thù mà ông đã đi qua.
Ngoài hai bài thơ bất hủ, có thể nói là vượt thời gian và làm nên tên tuổi của ông, là bài “Mùa Thu Paris” và “Chưa Bao Giờ Buồn Thế”, không thể nào không nhắc đến những vần thơ, mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác trong trại tù tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977. Những vần thơ nặng nét đau khổ và tuyệt vọng của người thua cuộc, đã làm thay đổi hoàn toàn những suy nghĩ trong thể thức sáng tác thơ của ông, những vần thơ lãng mạn khi xưa, vội vàng xếp lại để nhường chỗ cho những lời thơ sắc xảo, cay đắng và chai cứng như sau:
Áo tù thẫn máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Môi cầm má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén, canh pha nước bùn.
Nhưng cũng không thể nào sánh được với những vần thơ mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đặt tên cho nó là “Nộ Thơ” khiến người nghe qua phải rùng mình khiếp sợ:
Mai về đạn nhảy ngang nòng súng
Trực trì đầu thù mổ thật nhanh.
Chiều nhạc thơ tiếp tục với những bài hát nổi tiếng của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như “Tiễn Em” và “Mùa Thu Paris”, qua sự trình diễn của ban hợp ca Tiếng Thời Gian. Ca sĩ Thúy Anh với nhạc phẩm “Mình Ơi Ở Lại Đừng Về” và “Paris Có Gì Lạ Không Em”. Ca sĩ Nhật Uyên với bài “Bên Ni Bên Nớ”. Cũng không quên nhắc đến Nhạc sĩ Nguyên Vũ (phu quân của Ca sĩ Thúy Anh), Nhạc sĩ/Guitarist Quốc Sĩ và Nhạc sĩ Keyboardist Tú Phạm đã giúp cho phần âm nhạc trở nên sôi động.
Tiếp theo phần văn nghệ là phần nhận định của nhà văn Việt Hải (anh cũng là con chim đầu đàn của Liên Nhóm NVNT & TTG) về hai bài thơ tiêu biểu thuộc thể loại “Thơ Mới” của thi sĩ Cung Trầm Tưởng: “Núi Và Suối, Một Huyền Sử” và “Phồn Thực Ca”.
Trong bài “Núi Và Suối, Một Huyền Sử”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại khi ông ở trại tù Hầm Tân, tức trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận, nơi có suối nước trong và rặng mây tào, đã cho ông nguồn cảm hứng để sáng tác bài thơ này.
Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ
Tháp chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn.
Bài thứ hai là “Phồn Thực Ca”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại thời trai trẻ, khi ông còn là một phi công, trong một công tác ở miền tây, ông đã gặp và để ý đến một cô giáo dạy học tại đây, có nhan sắc tuyệt vời và hình bóng ấy đã đi vào hồn thơ của người thi sĩ trẻ, tạo nên nguồn thơ cảm hứng và ông đã sáng tác bài thơ ca tụng vẻ đẹp của cô giáo như sau:
Em ướp trầm hương ngân ngát thánh
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên…
Nhà Văn Việt Hải kết thúc bằng nhận xét như sau, anh nói, thơ của Thi sĩ Tagore và Thi sĩ Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm của vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc, tình yêu, đề cao con người và triết lý nhân sinh.

TS Cung Trầm Tưởng và Khánh Lan 
Mừng Sinh Nhật NS Cung Trầm Tưởng Chiều nay, cũng là buổi chiều mừng sinh nhật và chúc thọ Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tròn 90 tuổi. Nhà Văn Việt Hải nhắc đến bài thơ Đêm Sinh Nhật mà thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác khi ông 29 tuổi, tại Đa Kao, Saigon. Bài thơ viết theo thể loại 6-8, nói lên nỗi cô đơn của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Đêm ấy, 50 năm về trước, cũng có mưa rơi như chiều nay, nhưng hôm nay, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng không còn cảm thấy cô đơn, vì quanh ông, đã có rất nhiều người yêu mến ông và yêu mến cả thơ của ông nữa. Bài thơ “Đêm Sinh Nhật” được thi sĩ Bích Ty diễn ngâm để mừng sinh nhật thứ 90 của ông.

Từ trái sang phải: Hàng 1: CS Manh Bổng, MC Thụy Trinh, Minh Châu, CS Thụy Lan.
Hàng 2: Lệ Hoa, TS Cung Trầm Tưởng, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, NS Bích TySau bữa ăn tối, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng say sưa phát biểu về những sáng tác, quan điểm, nguồn cảm hứng, nỗi xúc động của ông qua thơ văn. Ông nói về những kỷ niệm khi ông du học tại Paris, nơi ông đã sáng tác những bài thơ có nhiều phong thái lãng mạn, qua những ảnh hưởng bởi đời sống, văn hóa Âu Tây, nhóm văn học hiện sinh (Existentialisme) và nhóm thơ triết học (Philopoésie)….Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tâm sự, “Thơ là sự chuẩn mực từng từ ngữ thích hợp, cho tỏa sáng ý tưởng mình muốn nói “.
Và sau cùng, Nhà Văn Quyên Di bình luận về chủ đề “Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, Một Gương Mặt Văn Học Của Việt Nam “. Ông nói: “Thi ca Cung Trầm Tưởng có những ý tưởng tôn giáo triết học. Qua lăng kính tín ngưỡng, Phật giáo/Công giáo đều được thể hiện qua ý niệm tình thương và sự sống.
Nhà Văn Quyên Di kết thúc buổi “Chiều thơ nhạc Cung Trầm Tưởng” với một câu chuyện thật hay và dí dỏm “Ai Đã Tạo Dựng Nên Người Đàn Bà?”

Từ trái sang phải: CNS Lâm Dung, CS Ngọc Quỳnh, MC Bích Trâm, Lệ Hoa, MC Thụy Vy, TS Cung Trầm Tưởng,
Thanh Hương, Khánh Lan, Minh Tâm, CS Thụy Lan, Minh Châu và CS Mạnh Bổng.Buổi chiều thơ nhạc đã chấm dứt trong niềm hân hoan và luyến tiếc. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng nói, “Tôi vô cùng xúc động khi có được những giây phút hạnh phúc như thế này, xung quanh những người bạn thân quý và thương mến tôi cũng như thơ của tôi”. Trước khi ra về, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã ký tặng bạn bè hiện diện trong buổi chiều thơ nhạc tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ-1948-2008”.
Ghi dấu lại một ngày vui.
Khánh Lan tường trình từ thành phố Westminster, 2019
Kiếp luân hồi là điều mà tất cả chung ta trên cõi nhân gian đều phải trải qua, NT Cung Trầm Tưởng đã ra đi và để lại niềm thương tiếc cho thế giới thi ca nói chung và Liên nhóm NVNT & TTG nói chung. Kính mong hương hồn của Nhạc Sĩ sớm được siêu thoát, trở về cõi vĩnh hằng.

Thi Sĩ ra đi mùa Thu, mùa Thu không trở lại.
Đếm lá úa mùa Thu, mưa sầu hoen trên mi.Vĩnh biệt nhà thơ Cung Trầm Tưởng.

Đai lễ cầu siêu cho hương hồn thi sĩ Cung Trầm Tưởng 
Vĩnh Biệt TS Cung Trầm Tưởng TS Cung Trầm Tưởng đã đáp chuyến tàu vĩnh hằng lúc 4:27 chiều ngày 09 tháng 10, 2022 vì bệnh viêm phổi và nhịp tim yếu quá.

CHUYẾN TẦU VĨNH HẰNG Khánh Lan, California Oct. 18, 2022
