• Văn Thơ,  Vương Trùng Dương

    Rừng Phong, Thu & Kỷ Niệm Xưa

    Câu thơ “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du (1766-1820) vào bối cảnh chia tay “Người lên ngựa, kẻ chia bào” giữa Thúc Sinh và Vương Thúy Kiều khi còn học ở lớp Đệ Tứ chỉ hiểu mơ hồ qua lời giảng dạy…

    Vào thời điểm đó, ở Việt Nam và Tàu không thấy đề cập đến cây phong, chỉ mường tượng qua Truyện Thúy Kiều của cụ Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim, ấn hành năm 1927 và Truyện Kiều Chú Giải của cụ Lê Văn Hòe, ấn hành năm 1953.

    Hình ảnh cây phong dẫn câu thơ trong vở kịch Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ vào cuối thế kỷ XIII bên Tàu về mối tình ngang trái giữa chàng thư sinh Trương Quân Thụy và người đẹp Thôi Oanh Oanh.

    Trong đoạn khúc Trường Đình Tống Biệt của Tây Sương Ký:

    “Bích vân thiên

    hoàng hoa địa

    tây phong khẩn

    bắc nhạn nam phi

    hiểu lai thùy nhiễm sương lâm túy

    tổng thị ly nhân lệ”

    Nhà văn Nhượng Tống (1906-1949, trong quyển Vương Thực Phủ, Mái Tây (Tây sương ký), ấn hành năm 1944, dịch thành thơ:

    “Bầu trời thăm thẳm xanh lơ

    Đìu hiu mặt đất lơ thơ hoa vàng

    Gió Tây thổi buốt can tràng

    Về Nam nhạn Bắc kêu thương lạc loài!

    Rừng phong ai nhuộm đỏ tươi

    Đều là nước mắt những người biệt ly”.

    Hai chữ “sương lâm” là “sương diệp” ám chỉ lá cây phong… Trong bài thơ Đỗ Mục có hai câu mô tả hình ảnh của rừng phong:

    “Đình xa tọa ái phong lâm vãn

    Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa”

    Theo chú giải của cụ Lê Văn Hòe thì phong là một giống cây lá to mọc thành tán, xưa đời Hán hay trồng ở sân nhà vua. Vì thế điện vua gọi là phong đình, phong điện hoặc đền phong. Cây phong ngờ là cây bàng bên ta. (…) Sang mùa thu, thì lá bàng vàng và đổ dần sang màu đỏ sẫm. Màu ấy đặt vào đám rừng cây xanh thì nổi bật lên, rất dễ nhận. (Không hiểu các cụ ngày xưa đã dựa vào đâu để gọi như vậy). Ngay trong Hán Việt Tự Điển của cụ Đào Duy Anh, ấn hành năm 1932, cũng gọi “cây phong = cây bàng”.

    Với “màu quan san” không có trong hội họa mà có tính cách tượng hình, “quan san” là cửa ải và núi non, ý chỉ nơi chốn xa xôi, cách trở, màu gây nhớ thương, u hoài trong lòng người…

    Khi ở trong quân ngũ mới biết trên Quốc Kỳ của Canada có lá phong, hình ảnh cây phong (maple) để tìm hiểu thêm…

    Thời gian trôi qua! Sau thời gian dài 15 năm (1975-1990) không có đầu óc lãng mạn, tháng 8/1990 khi đến phi trường Pattaya, Bangkok, Thái Lan theo diện H.O… và, những ngày tạm trú nơi nầy, tâm hồn lãng mạn bay xa đến phương trời trên xứ sở Cờ Hoa.

    Khi biết được định cư ở thành phố Nashville, tiểu bang Tennessee, đây là thành phố được gọi là Country Music, cái nôi của nhạc đồng quê. Mùa thu sắp đến, cũng là nơi lá phong nhuộm màu.

    Thế nhưng cuộc sống tha hương ở nơi chốn mà ngày xưa trong bài Cảnh Nhàn của cụ Nguyễn Bỉnh Kiêm cho rằng: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn, người đến chốn lao xao” khi “trao ấn từ quan” để vui thú điền viên… Nhưng với tôi cảm thấy nơi vắng vẻ nầy không thích hợp nên sau hai tháng, từ Đông sang Tây nơi “gió tanh mưa máu” bằng xe bus Greyhound xuyên qua các tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ.

    Những ngày vào thu ở Nashville đẹp tuyệt vời với những hàng phong nhuộm đó hai ven đường. Đẹp tuyệt vời, đẹp ngây ngây ngây nhưng trong trong tâm hồn kẻ “chân ướt chân ráo” xa xứ, có lẽ đến lúc “màu quan san” chia tay!

    Tuy thời gian ngắn ngủi ở nơi đó nhưng tôi gặp được vài người bạn trẻ, tốt bụng và chân tình, thỉnh thoảng vẫn liên lạc với nhau. Nay đã về hưu, vào dịp nầy lạc chốn rừng phong.

    Những ngày cuối cùng nơi nầy, anh Cảnh chở tôi đi khắp nơi để nhìn phong cảnh lá phong chuyển màu như một sự chia ly.

    Khi ở Little Saigon, tôi ra Home Depot mua chậu phong về trồng để nhớ lại hình ảnh ban đầu nhưng có lẽ nó không thích hợp nên “thấy mà thương”!

    Khi làm báo, hàng tuần nhận bài viết của Công Tử Hà Đông (Hoàng Hải Thủy) Viết Ở Rừng Phong… một chút gì gợi nhớ.

    Little Saigon vào thu, không còn hình ảnh nơi tôi đã một thời gắn bó với Đà Lạt từ thời quân ngũ đến lúc chia ly:

    “Hôm nay trời vào thu,

    Đà Lạt lắm sương mù”

    (Trong ca khúc Tình Người Hậu Tuyến của Thục Vũ)

    Hình ảnh ban đầu nơi xứ người với rừng phong ở Nashville đã 32 năm nhưng vẫn nhớ.

    Thấm thoát đã 2 năm rồi, khi tác giả Việt Ở Rừng Phong vĩnh biệt nơi đây, tôi viết bài:

    Nhà Văn Hoàng Hải Thủy “Vĩnh Biệt Rừng Phong”! Bài còn trên website Việt Báo:

    https://vietbao.com/a306042/nha-van-hoang-hai-thuy-vinh-biet-rung-phong-

    Hơn 3 thập niên khi ở trong nơi chốn “bùn lầy nước đọng” được chú Sam “bốc” đi diện H.O mà diện “đầu trọc” gọi là “con bà Phước” nên không biết nơi nào, dù có biết nơi khỉ ho cò gáy nào trên xứ Cờ Huê cũng là ước mơ vì vậy khi ở Thái Lan biết định cư xứ có rừng phong, thành phố của nhạc đồng quê… thế mà chia tay!

    Nhà văn Đức Hermann Hesse (1877-1962) với những tác phẩm nổi tiếng của ông khi được giải Nobel Văn Chương năm 1946 nên được dịch ra tiếng Việt, quen thuộc với độc giả ở miền Nam VN. Ông là người uyên bác triết lý Đông Phương qua hai tác phẩm Siddartha (Câu Chuyện Dòng Sông do Phúng Khánh & Phùng Thăng dịch) và Die Morgenlandfahrt (Le Voyage du Matin, dịch sang tiếng Việt là Hành Trình Về Phương Đông), tác phẩm nầy trùng tên bộ sách của nhà văn Mỹ Baird Thomas Spalding, Nguyên Phong dịch Hành Trình Về Phương Đông. Với câu nói của Hermann Hesse: “Bạn phải tìm được giấc mơ của mình… nhưng không giấc mơ nào tồn tại vĩnh viễn, mỗi giấc mơ lại có giấc mơ khác theo sau, và người ta không nên bấu víu lấy một giấc mơ nhất định”. Và với tôi, có giấc mơ nầy cũng mong giấc mơ khác “tha hương ngộ cố tri” cũng là lẽ thường tình của con người tỵ nạn.

    Điều ngoài ước mơ khi ở trong nước với “nghiệp báo” thế mà từ lúc “về chốn lao xao” gắn bó đến nay, “nghiệp” chưa trả hết nên không biết khi nào mới “rửa tay gác kiếm” vì “không giấc mơ nào tồn tại vĩnh viễn”!

    Little Saigon, Oct 2022

    Vương Trùng Dương

  • Dương Viết Điền,  Khánh Lan

    KỶ NIỆM VỚI THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG

    THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG (1932-2022)

    Nào ai có thể đoán trước được rằng CHIỀU THƠ NHẠC THÍNH PHÒNG CUNG TRẦM TƯỞNG do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức ngày 20 tháng 11, 2019 đã là ngày cuối cùng mà anh em trong nhóm hội ngộ cùng thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Dù là đã bao lần nhà văn Việt Hải và nhóm dự định làm một chuyến đi chơi và thăm người thi sĩ tài ba họ CUNG. Tiếc thay NVNT & TTG chưa thực hiện được ước nguyện thì thi sĩ đã ra đi, ra đi trong sự thương tiếc của mọi người và thế giới thi ca đã mất đi một một nhà thơ đáng kính. Xin ghi lại đây những kỷ niệm năm xưa cùng thi sĩ.

    THI SĨ CUNG TRẦM T;ƯỞNG CÙNG CÁC ANH CHỊ EM TRONG LIÊN NHÓM NVNT & TTG (Hình chụp trong Chiều Thơ nhạc thính phòng)

    Khánh Lan ghi nhận, Oct. 2022

    NV DƯƠNG VIẾT ĐIỀN VỚI NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG

    Từ trái: Dương viết Điền và Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng

    Được biết tên thật của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng là Cung Thúc Cần. Sinh năm 1932 tại Hà Nội. Vào Sài gòn năm 1949. Du học tại Pháp và Hoa Kỳ. Cựu Trung Tá Không quân VNCH. Tù Cộng Sản 10 năm. Hiện sống tại Saint Paul, Minnesota, USA. Hội viên liên kết của Văn Bút Pháp.

    Lúc còn theo học ở bậc trung học, tôi rất thích bản nhạc “TIỄN EM”, thơ của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng do Phạm Duy phổ nhạc.

    Cứ mỗi lần nghe bản nhạc nầy, tôi luôn luôn ước mơ làm sao được như Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng, đi du học ở bên Tây rồi tiễn đưa người tình về quê mẹ để rồi lúc chia tay, cả hai con tim đều thổn thức nghẹn ngào!

    Chính bài thơ này do Phạm Duy phổ nhạc đã làm cho biết bao nhiêu cặp tình nhân nức nở lệ sầu mỗi khi biệt ly nhau.

    Vì vậy lúc viết bài “Biệt Ly Qua Thi Ca Việt Nam”, tôi cố tìm cho ra bài thơ này để đưa vào trong bài viết của tôi. Thế là tôi quyết chí tìm cho ra Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng. Không biết ai đã cho tôi số điện thoại của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng tôi quên mất vì lâu ngày quá, cách đây những mười bốn mười lăm năm rồi. Cũng có thể là Nhà Thơ Cao Mỵ Nhân hay Nhà Văn Duy Lam cho tôi số điện thoại và nói cho tôi biết Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng hiện đang định cư tại tiểu bang Minisota thì phải. Thế là tôi nhấc điện thoại gọi Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng ngay. Sau khi nghe Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng lên tiếng ở đầu dây, tôi liền tự giới thiệu về tôi cho anh ấy biết. Sau đó tôi xin phép Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng được đăng bài “ Tiễn Em” vào trong bài viết “ Biệt Ly Qua Thi Ca Việt Nam” của tôi cho số xuất bản tuần tới của Nguyệt San Viễn Xứ, do Nhà Báo Phong Vũ làm chủ nhiệm, Nhà Văn Thinh Quang làm chủ bút. Dĩ nhiên anh ấy chấp thuận ngay. Nói đến bài thơ “Tiễn Em” của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng, tôi nhớ có lần gặp Nhà Thơ Tô Thuỳ Yên trong đêm ramắt sách của Nhà Báo Bùi Bảo Trúc tại Quận Cam cách đây cũng mười mấy năm. Lợi dụng lúc ra ngoài để hút thuốc, tôi đã gặp Nhà Thơ Tô Thuỳ Yên.  Anh ấy nói với tôi hiện đang định cư tại tiểu bang Minisota. Nghe anh ấy nói vậy, tôi liền hỏi anh có hay gặp Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng bên đó không. Nhà Thơ Tô Thuỳ Yên nói với tôi anh ta cũng hay gặp Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng. Tôi liền nói với Nhà Thơ Tô Thuỳ Yên tôi có điện thoại cho anh Cung Trầm Tưởng để xin phép anh ấy đăng bài thơ “ Tiễn Em” trong bài viết của tôi vì tôi rất thích bài này. Nghe tôi nói đến bài thơ “TIỄN EM”, Nhà Thơ Tô Thuỳ Yên liền nói với tôi:

    – Anh Cung Trầm Tưởng không bằng lòng Nhạc Sĩ Phạm Duy phổ nhạc  bài “ TIỄN EM” đoạn “ Em ơi! Khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em” và Nhạc Sĩ Phạm Duy cũng đã đổi câu “ Tuyết buông cuồng mênh mang” thành “Tuyết rơi buồn mênh mang”. Đã thế, nhan đề của bài thơ “ TIỄN EM” nguyên văn là “CHƯA BAO GIỜ BUỒN THẾ” nhưng Nhạc Sĩ Phạm Duy đổi thành “TIỄN EM”. Sau đây là nguyên văn bài thơ “CHƯA BAO GIỜ BUỒN THẾ” của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng.  Bản mới trích từ tác phẩm “Cung Trầm Tưởng, Một hành Trình Thơ (1948-2008) do Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2012.

    Sau đó tôi có gởi tặng anh ấy tập thơ “Ngậm Ngùi” và tác phẩm hồi ký Trại Ái Tử Và Bình Điền. Khoảng tháng hai năm 1996, tôi lại gọi Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng hỏi xem anh ấy có viết bài gì không thì gởi qua để đăng vào Tạp chí Viễn Xứ. Nhân tiện Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng cũng cho tôi biết rằng, anh ta đang mở Phong Trào phản đối sự xâm nhập của Cộng Sản ở khắp nơi, trong đài VOA, đài BBC,vv… Sau đó tôi có đề cập đến sự rạn nứt của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng nói với tôi rằng anh ta đã tiên đoán trước một năm là Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại sẽ sụp đổ.

    Trước đây, lúc tôi điện thoại cho Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng, Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng vẫn trả lời cho tôi vì câu chuyện liên quan đến bài thơ “TIỄN EM” của anh ấy mặc dầu chưa bao giờ biết tôi. Sau khi tôi gởi tặng anh ấy mấy tác phẩm của tôi, anh ấy mới biết rõ tôi và đã tặng cho tôi thi tập “LỜI  VIẾT HAI TAY” của anh ấy.

    Nhà thơ Cung Trầm Tưởng đang ký sách tặng tác giả (2012)

    Có lần đọc báo thấy Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng sắp ra mắt sách tại Quận Cam, tôi chuẩn bị xuống tham dự thì lâm bệnh nặng không đi được. Thế là muốn gặp Thi Sĩ của bài “TIỄN EM” một lần mà không được. Một thời gian sau khi tham dự buổi kỷ niệm ngày thành lập THƯ VIÊN VIÊT NAM, tôi liền xuống Quận Cam tham dự. Lúc vào trong, chú em tôi là Dương Viết Đang nói có Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng cũng đến tham dự. Thế rồi chú em tôi dẫn tôi đến giới thiệu với Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng. Sau khi chào Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng xong , Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng nhìn tôi rồi nói:

    -Anh mà đẹp trai hơn em vậy?

    Nghe Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng nói như vậy, tôi chỉ mỉm miệng cười.  Sau đó nhìn lại em tôi, tôi nghĩ rằng anh ấy nói cũng đúng thôi. Bởi vì mái tóc em tôi đều bạc trắng như vôi trong lúc tóc tôi đen tuyền óng mượt, mái tóc chải chuốt gọn gàng vì mới nhuộm chiều qua! Chứ nếu tôi không nhuộm, cứ để mái tóc bạc phơ chắc Thi Sĩ Cung Tầm Tưởng sẽ thấy tôi già hơn chú em tôi nhiều. Thỉnh thoảng tôi cũng hay nhuộm mái tóc cho trẻ trung một tí nếu không khuôn mặt thấy có vẻ già quá! Tôi nhớ lúc mới ra khỏi hàng rào kẻm gai của trại tù cải tạo vào năm 1985, mái tóc tôi đã bạc trắng như vôi rồi!

    Chiều ngày 21 tháng 07 năm 2012, tôi xuống Quận Cam để tham dự buổi ra mắt thi tập “ Cung Trầm Tưởng Một Hành Trình Thơ (1948-2008)” tổ chức tại Viện Việt Học. Đáng lẽ buổi ra mắt sách được tổ chức tại  hội trường Nhật Báo Người Việt, nhưng Nhật Báo nầy vừa bị công luận tẩy chay vì đăng bài của tác giả Sơn Hào nói xấu các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà nên ban tổ chức đã phải dời đến địa điểm khác là Viện Việt Học, nằm trên đường Brookhurst. Khi tôi đến đã thấy Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng đang ngồi ký sách tặng. Tôi cũng đứng sắp hàng để chuẩn bị nhận sách. Lúc đứng trước mặt  Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng, tôi nói tôi là Dương Viết Điền đây, anh của Dương Viết Đang. Nghe tôi nói vậy anh CTT nhận ra tôi ngay vì mới hai năm trước, tôi và em tôi đã gặp Thi Sĩ CTT trong ngày kỷ niệm đệ II (?) chu niên, ngày thành lập Thư Viện Việt Nam. Anh CTT thấy tôi liền nói:

    • Sao, vẫn viết lách lai rai chứ? Hay viết những đề tài gì? Tôi đọc thấy anh cũng viết nhiều đấy.

    Tôi trả lời:

    • Dạ cũng viết lai rai chơi vậy anh. Trước đây em có viết cuốn hồi ký Trại Ái Tử Và Bình Điền. Em đã tặng anh rồi đấy. Tặng anh lâu lắm rồi, cách đây cũng khoảng mười mấy năm. Không biết anh còn nhớ không.

    Anh CTT vừa cười vừa nói:

    • Sao, bây giờ anh viết gì đây để tặng Điền, Nhà Thơ, Nhà Văn, Điền muốn viết gì?

    Tôi trả lời:

    • Anh viết gì cũng được. Anh muốn viết gì thì viết

    Anh CTT liền nói:

    • Thôi, nhà văn nhé.

     Nói xong, anh CTT liền viết câu “Thân tặng Nhà văn Dương Viết Điền” và ký tên Cung Trầm Tưởng phía dưới rồi đề ngày 21-07-2012 luôn.

    Cầm cuốn “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ (1948-2008)” do Tiếng Hương Quê xuất bản, tôi thấy đây đúng là một công trình vĩ đại. Thực hiện được là cả một vấn đề! Bởi cuốn sách dày đến 640 trang, bìa cứng, láng, giấy vàng chữ đen trông rất đẹp mắt.

    Cung Trầm Tưởng.

    Ngày 23 tháng 08 năm 2016, Nhà văn Việt Hải gởi e-mail sang tôi cho biết, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng ở Minisota sang California có việc, sẽ ghé thăm Việt Hải lúc 01:30 ngày 24 tháng 08 năm 2016. Thế là đúng 01:30 giờ ngày 14 tháng 08 năm 2016, tôi liền lái xe qua nhà anh Việt Hải để thăm Thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đi chung một xe với một số anh chị em nghệ sĩ gồm giáo sư Trần Mạnh Chi, Hoạ sĩ Lưu Anh Tuấn và phu nhân, và nữ nhạc sĩ Hồng Tước. Lúc gặp Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, tôi liền chào anh ấy rồi nói:

    • Đã mấy năm rồi mới gặp lại anh kể từ ngày gặp anh ra mắt sách tại Viện Việt Học.

    Nghe tôi nói như vậy, anh Cung Trầm Tưởng vẫn chưa nhận ra tôi mà chỉ bắt tay. Khi tôi nói cho anh Cung Trầm Tưởng biết “em là Dương viết Điền đây”, anh Cung Trầm Tường mới nhận ra tôi rồi vừa ôm chầm lấy tôi vừa nói “Ôi! Dương viết Điền đây nầy!”. Chiều hôm ấy, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đề cập rất nhiều vấn đề liên quan đến tiểu sử và những thi phẩm của ông ta cho chúng tôi nghe. Nào là hoàn cảnh và thời điểm Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài thơ “Tiễn em”, nào là nhờ bài thơ “Tiễn em” được Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc mà danh tiếng của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng nổi lên như sóng cồn, đến nỗi khi đi đến đâu cũng có những người đẹp đi theo làm “cận vệ”, nào là sự bất đồng của thi sĩ về mấy lời thơ được phổ nhạc trong bài “Tiễn em”, v v…Bỗng tôi hỏi Thi sĩ Cung Trầm Tưởng:

    • Anh Cung Trầm Tưởng này, em hỏi nhỏ anh nhé. Nhân vật “em” trong bài “Tiễn em” của anh là ai vậy anh?

    Anh Cung Trầm Tưởng trả lời ngay:

    • Thưở ấy, nhân vật “em” là những bà đầm Pháp thôi em ạ.

    Thấy năm nay, Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng đã 84 tuổi rồi mà nước da vẫn còn hồng hào, dáng người vẫn còn khoẻ mạnh nên tôi hỏi anh ấy, bí quyết nào làm anh ấy vẫn giữ được như thế. Anh Cung Trầm Tưởng liền trả lời:

    • Anh luôn luôn làm sao cho tâm trí được thoải mái. Phải cho đầu óc làm việc thường xuyên như đọc sách, ngâm thơ, xem TV, báo chí. Nhất là nghe nhạc cổ điển Tây phương trước khi đi ngủ v v…Ngoài ra anh còn tập thể dục như đi bộ hằng ngày.

    Nhớ lại ngày ra mắt thi phẩm “Hành Trình Thơ” của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tại Viện Việt Học ở Quận cam năm nào, tôi liền nói với anh Cung Trầm Tưởng:

    • Lúc anh chuẩn bị bay từ Minesota qua California để ra mắt thi phẩm “Cung Trầm Tưởng Một Hành Trình Thơ 1948-2008” tại phòng hội của nhật báo Người Việt năm 2012, em thấy không ổn vì lúc bấy giờ dân chúng đang phản đối nhật báo Người Việt. Em định gọi điện thoại cho anh để nói anh nên thay đổi địa điểm ra mắt sách của anh, nhưng không có số điện thoại của  anh đành chịu thua. Sau đó không biết ai đã giúp anh nên đã đổi địa điểm ra mắt sách cho anh rồi.

    Anh Cung Trầm Tưởng trả lời:

    • Lúc ấy cô Hoàng Dược Thảo đã trình bày việc ấy cho anh biết và anh Trần Phong Vũ đã giúp anh địa điểm ra mắt sách nơi khác là Viện Việt Học em ạ.

    Dương viết Điền

    Sau đây là một số hình ảnh chụp chung với Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tại tư gia của Nhà văn Việt Hải ở thành phố Canoga Park vào ngày 24 tháng 08 năm 2016

    Từ trái: Nhà văn Việt Hải, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng ,Nhạc sĩ Hồng Tước và Dương viết Điền.
    Từ trái: Nhà văn Việt Hải, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, Tác giả, Giáo sư Trần Mạnh Chi, và Hoạ sĩ Lưu Anh Tuấn

  • Tin tức

    TIỄN CHÂN MỘT NGƯỜI BẠN

    Danh họa Vũ Hối (1932-2022)

    Tin từ MinhThuyNguyenviaNEWVTLV2021

    Danh họa Vũ Hối có bút hiệu Hồng Khôi là một họa sĩ, một thi sĩ và nhà nhiếp ảnh, nổi tiếng về hội họa của Việt Nam và quốc tế. Ông sinh ngày 22 tháng 11 năm 1932 tại làng Dương Ðàn, quận Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, vùng đất có năm ngọn núi tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ kết thành Ngũ Hành Sơn, nổi tiếng là vùng “Ðịa linh nhân kiệt,” nơi sản sinh nhiều nhân tài của đất nước.

    Vũ Hối là một họa sĩ, một thi sĩ và nhà nhiếp ảnh, nổi tiếng về hội họa của Việt Nam và quốc tế, ông tốt nghiệp kỹ sư ngành họa và trang trí ở Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định và từng là giáo sư hội họa tại Trường Trung Học Thủ Đô, Hậu Giang. Ông có tên trong tự điển Văn Học thời Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 và là hội viên của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Nhà Văn Việt Nam, Văn Học Tam Cá Nguyệt San CỎ THƠM.

    Vũ Hối đã từng du học ở Hoa Kỳ tại các tiểu bang South Carolina và Georgia vào năm 1960, tên tuổi của ông cũng đã đi vào Bách Khoa Tự Điển Larousse, bộ tự điển nổi danh nhất của Pháp và thế giới. Ông được mời vẽ chân dung tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy-Được mời vẽ chân dung Đại tướng Creighton W. Abrams, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ ở Việt Nam

    Vũ Hối nhận giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế năm 1963 tại Hoa Kỳ và có tên trong Văn Học Tự Điển thời Việt Nam Cộng Hòa, ông sáng lập trường phái Luân Vũ Họa (Paintings In Motion) và Thư Họa (Handwriting Painting) cũng như được ghi danh trong Tuyển Tập L’ art de l’ ecriture, Paris 1993

    Vũ Hối là nghệ sĩ Á Châu duy nhất được vinh danh về Sáng Tạo Nghệ Thuật cho thế giới, tại  Atlanta, Hoa Kỳ ngày 5-11-1994, ông được tổng thống Tiệp Khắc Vaclav Havel tiếp kiến và nhận tranh “The Dream of Peace”  tại dinh thổng thống Praha ngày 5-9-1995. Ông có tên trong “Vẻ Vang Dân Việt II” (The Pride of The Vietnamese Edition II) trong Tự  Điển Danh Nhân Thế Giới, ấn hành tại Anh Quốc năm 1998. (Dictionary of International   Biography 1998 – Cambridge – England)

    Tên tuổi Vũ Hối được ghi trong “5000 Persionalities of The World”, do American  Biographical Institute ấn hành năm 2000, ông có tên trong “Tự Điển Một Phần Tư Thế Kỷ Việt Nam Hải Ngoại” do Hội Văn Hóa Pháp-Việt (France-Vietnam Culture), ấn hành năm 2003 – Paris và cũng là nhà Thư Họa Việt Nam duy nhất được ghi tên trong “Tuyển Tập Thư Họa Bậc Thầy  Đông Phương”, ấn hành tại Tokyo, Nhật Bản năm 2006 (Volume 6 International  Editonal – Tokyo – Japan)

    Vũ Hối được Nghị viện Hoa Kỳ vinh danh là Chiến Sĩ Văn Hóa và Chiến Sĩ Nhân Quyền tích cực đấu tranh cho Tự Do – Dân Chủ – Nhân Quyền do nghị định số 322 tại Hoa Kỳ

    Tác Phẩm đã phát hành:

    -Mùa Giao Cảm (Thơ) 1958

    -Vần Thơ Màu Trắng (Thơ) – La Poésie de Couleur Blanche, được phiên dịch ra Anh và  Pháp ngữ năm 1959 tại Sài Gòn

    -Những Dấu Chân Đi (Truyện Ngắn), xuất bản năm 1960

    -Hợp Tấu Thi Tuyển cùng 26 nhà văn hiện đại – Nhân Loại xuất bản năm 1969

    -Chiêm Bao Trở Giấc (Thơ), xuất bản năm 1997

    -Nghìn Thương Đất Mẹ (Thơ và Thư Họa), năm 1999

    -CD Vũ Hối và Thơ Nhạc Trong Tranh do Nhật Trường Production thực hiện năm 2000

    -CD Thơ Chiêm Bao Trở Giấc do nghệ sĩ Bích Ty- Hà Phương phát hành

    -Thư Họa Trích Kiều, năm 2003 (TM xuất bản) 

    -Thơ Vũ Hối (CD ngâm thơ)

    -Tuyển Tập Mây Ngàn (Thơ – Thư Họa Vũ Hối), ấn hành tại Norway năm 2004

    -Nghệ Thuật Thư Họa, năm 2007

    Nghệ Sĩ Vũ Hối (Họa sĩ, Thi sĩ, Nhiếp ảnh) vừa từ giã cõi đời hôm nay! Thứ sáu, ngày 19 tháng 8, năm

    Thương Tiếc Hoạ Sĩ Vũ Hối 
    Tin vừa nhận được lệ thầm tuôn
    Vũ Hối ngôi sao đã rụng buồn 
    Bút họa tràn danh đời mỹ mãn 
    Tranh màu nổi tiếng mộng tròn vuông 
    Vần xoay phượng múa đường mây ẩn 
    Chữ xoáy rồng bay dải ngọc luồng 
    Tiếc nuối nhân tài văn hoá đẹp 
    Treo tường kỷ niệm nhớ hoài luôn 
                 Minh Thuý Thành Nội 
                    Tháng 8/19/2022

    Họa theo bài xướng của chị Phương Hoa 

    Kính Tiễn Nghệ Sĩ Vũ Hối 

    Nghệ sĩ rời xa chốn núi ngàn 

    Một đời dâng hiến ánh vinh quang 

    “ Nghìn Thương Đất Mẹ “về tiên cảnh 

    “ Những Dấu Chân Đi” đến giới đàng 

    “ Thư Hoạ Trích Kiều “ tranh rực rỡ 

    “Chiêm Bao Trở Giấc “ sắc huy hoàng 

    “ Mùa Giao Cảm “ động trời thu tiễn 

    “ Thơ Vũ Hối “ ngâm kỷ niệm tràn 

    Kỷ niệm tràn buồn gởi bó hoa 

    Hồng Khôi Vũ Hối đẹp trăng ngà 

    Vần thơ thả nét làn sương đọng 

    Thư pháp tung ngòi ánh nguyệt sa

    Hội Bút Việt Nam sầu thảy bạn 

    Cỏ Thơm Văn Học nhói toàn nhà 

    Hương lòng tiễn góp lời cầu nguyện 

    Tiếc nuối hiền nhân lệ ướt nhoà 

                  Minh Thuý Thành Nội 

                     Tháng 8/20/2022

    THÀNH KÍNH TIỄN ĐƯA 

    NHÀ THI THƯ HOẠ VŨ HỐI

    Lặng nghe tin đến thật bàng hoàng

    Thế giới như vừa tắt ánh quang

    VŨ HỐI lìa trần, quy thượng giới

    HỒNG KHÔI giã bút, đến Thiên Đàng

    “Nghìn Thương Đất Mẹ”* giờ xa tắp

    “Những Dấu Chân Đi”* đã biệt ngàn

    “Thư Hoạ Trích Kiều”* xin kính tiễn 

     “Vần Thơ Màu Trắng”* lệ thương tràn.

    *

    Thương tràn khắp chốn bậc tài hoa 

    Hội Hoạ Khôi Nguyên, giải ngọc ngà

    Bút pháp lung linh dường gió đảo 

    Chữ đề cuồn cuộn tựa mưa sa

    CỎ THƠM im tiếng, chia lìa bạn

    VĂN BÚT rời tên, vĩnh biệt nhà 

    VŨ HỐI – HỒNG KHÔI – về Cực Lạc

    Truyền lưu tác phẩm mãi không nhoà.

        *Tên tác phẩm của nhà thư họa Vũ Hối

              Phương Hoa – AUG 19, 2022, 2022, tại Maryland, Hoa kỳ.

  • Tin tức,  Việt Hải

    Chuyện trò cùng bác sĩ Nguyễn Cao Cường

    Bác sĩ Nguyễn Cao Cường
    GS. Y Khoa, Mayo Clinic College of Medicine and Science. Associate Dean, Global Professional Education, School of Continuous
    Scottsdale, Arizona, USA.

    MỘT NGƯỜI BẠN MỚI:

    Tôi, Việt Hải xin giới thiệu đến Quý Giáo Sư, Quý Văn Thi Sĩ và các anh chị em, một người bạn đồng môn với tôi thời trung học. BS. Nguyễn Cao Cường là cựu học sinh trường trung học Petrus Ký, Sài Gòn. Anh theo ngành nghiên cứu và giảng dạy y khoa tại  Mayo Clinic College of Medicine and Science campus in Phoenix/Scottsdale, Arizona. Nhưng BS. Cường lại có đam mê văn chương, thi ca. Nên tôi đã mời BS Cường cùng sinh hoạt với Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian khi anh có dịp ghé Orange County. Anh hiện đang sinh sống và làm việc tại tiểu bang Arizona.

    BS Cường Nguyễn, nguyên là chuyên gia tư vấn tại Khoa Tiêu hóa – Gan mật, Nội Khoa. Ông là giám đốc y tế của chương trình Mayo CARES. Ông cũng là giám đốc y tế về Quản trị chuỗi cung ứng và là Phó khoa trưởng về Giáo dục chuyên nghiệp toàn cầu. Các mối quan tâm nghiên cứu của ông bao gồm: ứng dụng và cải tiến ngành y khoa nội soi, điều trị và phòng ngừa bệnh viêm đại tràng C. diff, và tối ưu hóa sự chênh lệch về chăm sóc sức khỏe hiện nay.

    Sau đây là bài phỏng vấn của của Mayo Clinic College of Medicine and Science Campus in Phoenix, Scottsdale, Arizonne về phạm vi làm việc của anh, mời quý vị theo dõi.

    Mayo Clinic College: Tại sao bạn chọn trở thành một thầy thuốc?

    BS Cường: Tôi bắt đầu học đại học với tư cách là một chuyên ngành kỹ thuật nhưng chuyển sang ngành y khi tôi tham gia một khóa học về sinh lý học con người. Tôi hoàn toàn khi bị cuốn hút bởi sự phức tạp của tất cả các cơ chế điều khiển và quá trình thích ứng được thể hiện trong cơ thể con người.

    Mayo Clinic College: Thách thức lớn nhất mà bạn phải đối mặt với tư cách là một bác sĩ là gì?

    BS Cường: Không thể làm được nhiều việc hơn cho bệnh nhân so với khả năng của khoa học.

    Mayo Clinic College: Bạn có lời nhắn nào dành cho các bác sĩ / nhà khoa học trong tương lai không?

    BS Cường: Đó là một khoảng thời gian rất thú vị để theo học ngành y. Nền tảng này có khả năng tiếp cận khá xa và cơ hội để tạo ra sự khác biệt là vô tận. Chắc chắn sẽ có những thử thách, giống như những thăng trầm của cuộc sống. Luôn hướng tới mục tiêu làm những điều đúng đắn vì những điều đúng đắn là điều tốt nhất cho bệnh nhân dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

    Mayo Clinic College: Bạn đã đến với Phòng khám Mayo được bao lâu?

    BS Cường: Ồ, tôi đã mất số lượng. Có thể là 24 năm nữa.

    Mayo Clinic College: Phần bổ ích nhất khi làm việc với các học viên và thực tập sinh của Mayo Clinic là gì?

    BS Cường: Vài năm trước, tôi đi ăn trưa với một vài sinh viên tốt nghiệp, và một người trong số họ nói tại bàn rằng khi cô ấy gặp phải một thủ tục khó khăn, cô ấy sẽ thử nghĩ xem tôi sẽ làm gì trong tình huống đó. Nghe thấy đó là phần thưởng cuối cùng đối với tôi. Thực sự là một đặc ân khi được sát cánh cùng những người học Mayo trong hành trình giáo dục của họ.

    Mayo Clinic College: Một trong những thành tựu đáng tự hào nhất của bạn trong sự nghiệp chuyên môn của bạn là gì?

    BS Cường: Là một bác sĩ, tôi rất cảm động và tự hào về việc một trong những bệnh nhân của tôi và con gái của anh ấy đã đặt tên cháu gái theo tên tôi.

    Mayo Clinic College: Bạn có thể cho chúng tôi biết một hoặc hai điều thú vị mà không nhiều người biết về bạn không?

    BS Cường: Tôi từng làm việc trong bộ phận vận chuyển của một cửa hàng sách và tôi khá giỏi trong việc đóng gói. Amazon nên thuê tôi làm nhà tư vấn để cứu môi trường của chúng ta

    Link: https://college.mayo.edu/

    Nhân cơ hội này, Khánh Lan cũng xin gởi lời cám ơn chân tình đến BS Cường, đã nhận lời viết bài giới thiệu cho quyển sách mới nhất của Khánh Lan, PHÂN TÂM HỌC VÀ ĐỜI SỐNG. Đây là một tài liệu biên khảo về sự ảnh hưởng của Phân Tâm học trong đời sống của chúng ta qua nhiều lãnh vực: Y khoa; tư pháp; tâm linh; văn chương, nghệ thuật và điện ảnh. Tác phẩm sẽ ra mắt quý đồng hương vào mùa Xuân 2023.

    Việt Hải & Khánh Lan

  • Quyên Di,  Tin tức

    Giáo sư dạy tiếng Việt ở Mỹ ‘gây bão’ trên mạng xã hội

    WESTMINSTER, California (NV) – Thầy Quyên Di, giáo sư dạy tiếng Việt của trường Đại học UCLA, đã “gây bão” trên mạng xã hội Twitter tuần qua vì cảnh ông tặng thú nhồi bông trong lớp cho sinh viên để khuyến khích họ học bài.

    Một đoạn video ngắn chỉ có 9 giây do một sinh viên trong lớp quay cảnh thầy Quyên Di lấy thú nhồi bông từ cặp sách để lên bàn dạy học hôm Thứ Năm, 31 Tháng 10 được đưa lên mạng Twiter. Tính đến hôm 6 Tháng Mười Một, video đã được hơn 7.41 triệu lượt xem và gần 700 ngàn người thích.

    Cô sinh viên Amy, người quay video, nói, “Tôi đang khóc đây thầy giáo tiếng Việt đem thú nhồi bông mỗi tuần để thưởng cho chúng tôi vì đã học hành chăm chỉ.”

    Video được đăng lên mạng Twitter từ trang của Amy, cô sinh viên học tiếng Việt năm đầu tiên tại Đại Học UCLA. (Hình: chụp từ trang Twitter của Amy)

    Thầy Quyên Di tên thật là Chúc Bùi. Nhưng sinh viên và các thân hữu trong cộng đồng Little Saigon thường gọi ông là “thầy Quyên Di” vì trước năm 1975, ông là chủ bút hai tờ báo Tuổi Hoa và Ngàn Thông với hơn 50,000 độc giả trên toàn quốc. Hiện tại, ông đang là giáo sư dạy tiếng Việt của Khoa Văn Hóa và Ngôn Ngữ Á Châu tại Đại Học UCLA và cũng là giáo sư dạy tiếng Việt của trường CalState Long Beach.

    Trả lời câu hỏi của báo Người Việt “Thầy có cảm xúc gì khi được ‘gây bão’ trên mạng với hành động thưởng thú nhồi bông cho sinh viên?”, thầy Quyên Di nói, “Hơi ngạc nhiên vì nghĩ đây chỉ là một hành động rất nhỏ nhặt, bình thường. Tuy nhiên chuyện ‘gây bão’ không quan trọng bằng niềm đam mê dạy học và tình yêu thương tôi dành cho học trò.”

    Vì yêu nghề nên thầy Quyên Di luôn tìm cách “dụ” sinh viên học bài. Ông nói, “Càng về sau này sinh viên càng trẻ ra, và tôi có hỏi dò là nếu được quà tặng thì các em muốn gì, thì hai phần ba các em nói thú nhồi bông, đặc biệt là gấu nhồi bông.”

    “Mùa Thu Năm nay, UCLA xếp tôi dạy lớp sinh viên năm đầu tiên. Các em họ Bùi, họ Nguyễn, họ Trần, nhưng không biết gì hết về tiếng Việt, nên phải dụ các em để các em ham học,” ông nói tiếp.

    Thầy Quyên Di có vợ cũng là cô giáo, có lẽ vì “hai vợ chồng là hai đồng nghiệp lấy nhau” như ông nói, nên vợ ông cũng là người hết mực ủng hộ ông trong việc dạy học.

    Mỗi tuần hai vợ chồng ông đi mua thú nhồi bông cho sinh viên. “Nhu cầu của chúng tôi không có bao nhiêu. Tiền nhà đã trả xong, chỉ mua sắm ăn uống thôi. Mình hy sinh một chút, thay vì mua những gì mình thích, bây giờ mua những gì sinh viên thích, cũng không có gì quá nặng nề,” thầy Quyên Di giải thích.

    Ông cũng cho biết, “Tất cả thú nhồi bông đều do vợ tôi chọn.”

    Trong vai trò là một thầy giáo, ông nghiệm ra một điều là “dù lớn hay nhỏ, sinh viên luôn cần được khuyến khích và được ghi nhận.”

    “Các em chăm hơn,” giáo sư nhận xét. “Người lớn cũng vậy. Khi tôi để tin thú nhồi bông lên trang mạng Facebook thì ai cũng muốn có thú nhồi bông, dù đó là một người mẹ độc thân hay một người lớn với nhiều thành công trong xã hội.”

    “Ai cũng có lòng trẻ thơ. Thành tích không quan trọng. Họ chỉ để ý là họ có được thú nhồi bông hay không thôi. Trong mỗi tâm hồn có một trẻ thơ là như vậy,” giáo sư Quyên Di nói.

    Cũng trong tinh thần đó, ông cho rằng một hồi đáp trên mạng xã hội mà ông thích nhất là lời nói “sinh viên nào cũng cần được khuyến khích, dù đó không phải là chuyện gì lớn lao, nhưng các em cần một hành động nhỏ có ý nghĩa để các em biết mình được quan tâm”

    “Thế nên mình cho con thú nhồi bông không phải là một chuyện lớn lao hết,” ông bày tỏ.

    Trước “sự kiện” này công ty làm thú nhồi bông Thousand Skies đề nghị gởi thầy Quyên Di 100 con thú nhồi bông để ủng hộ thầy trong việc dạy học. “Họ nói họ đã đóng thùng rồi và đang gởi đi nhưng tôi không biết họ gởi đi đâu và cũng không hỏi. Thôi khi nào nó đến thì đến. Mấy con thú nhồi bông của Thousand Skies đẹp quá, chính tôi cũng ham,” người thầy có gương mặt hiền lành cho biết.

    Một Twitter tên Alexander Sui nói, “Hãy bảo vệ thầy bằng mọi giá!”  (Titi Mary Tran)

  • Quyên Di,  Tin tức

    GS Quyên Di: ‘Thông thạo tiếng Việt sẽ phục vụ cộng đồng hữu hiệu hơn’

    GS QUYÊN DI

    Đằng-Giao/Người Việt

    GARDEN GROVE, California (NV) – Giáo Sư Quyên Di giảng dạy Việt ngữ và văn hóa Việt cho sinh viên đại học từ 1995 đến nay và là người có tác động đến ít nhất hàng chục ngàn sinh viên.

    “Tôi bắt đầu dạy ở Đại Học CSU Long Beach từ 1995 rồi đến năm 2000, tôi dạy song song tại trường thứ nhì là CSU Fulleron rồi thêm nơi thứ ba là Đại Học UCLA năm 2003. Đến 2019, tôi thôi dạy ở CSU Fullerton. Hiện giờ, tôi chỉ giữ hai trường là CSU Long Beach và UCLA thôi,” vị giáo sư 75 tuổi nhỏ nhẹ nói.

    Được sinh viên quý trọng

    Chuyên ngành ngôn ngữ và văn hóa Việt, dĩ nhiên, ông muốn học trò mình thấm nhuần tư tưởng Việt Nam, nếp sống Việt Nam cũng như tâm hồn Việt Nam.

    Ông giải thích: “Văn hóa cổ truyền Việt Nam luôn lấy chữ ‘lễ’ làm đầu. Tôi rất vui và hãnh diện khi thấy mình đã truyền đạt cho học trò sự cung kính đúng đắn của văn hóa Việt nhưng lại được phối hợp với sự thân mật của thời nay.”

    Giáo Sư Quyên Di vô cùng hãnh diện khi thường xuyên được học trò vây quanh đưa ra xe hay quý mến mua tặng ly cà phê hay cái bánh trước những cặp mắt xoe tròn của rất đông đồng nghiệp.

    “Cái tình nghĩa thầy trò này hết sức Việt Nam này, tôi may mắn lưu giữ được cho thế hệ kế tiếp trên đất Mỹ. Tình nghĩa này trong nước dễ gì mà thấy được. Bởi vì thế tôi rất quý,” ông nói.

    Bao năm dài, ông Quyên Di ngày ngày khuyến khích học trò phát triển nhiều nét khác nhau của văn hóa Việt Nam.

    Ông nói: “Một trong những nét đẹp của văn hoá Việt Nam là sự hiếu học. Chăm học đem lại thành quả tốt về học vấn. Với thành quả ấy, khi xin việc làm, sinh viên Việt Nam có ưu thế hơn các ứng viên khác.”

    Ông chú trọng về sự lễ độ, tương kính lẫn nhau.

    Tốt nghiệp rồi mà sinh viên còn quyến luyến thầy Quyên Di

    “Một nét đẹp khác của văn hoá Việt Nam là sự lễ độ. Ai cũng muốn được người khác kính trọng. Tính lễ độ của người Việt cộng với tính độc lập, tự tin của văn hoá Mỹ giúp sinh viên Việt Nam dễ được chọn khi xin việc làm,” ông thêm.

    Lời khuyên đoàn kết

    Từ 20 năm nay, Giáo Sư dạy về nhóm Tự Lực Văn Đoàn, một nhóm thi, văn sĩ cổ vũ phong trào cách tân văn học trên nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khởi xướng năm 1932.

    Ông Quyên Di nói: “Nhóm Tự Lực Văn Đoàn được thành lập năm 1934, quy tụ những nhà văn, nhà thơ có tư tưởng mới với ý thức khai sáng, bình dân, lãng mạn, cấp tiến, bài phong kiến, chống Nho giáo cổ hủ.”

    Giáo Sư Quyên Di trong giảng đường đại học.

    Ông nhắc về sự đóng góp của nhóm này: “Những tác phẩm đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn đã được xuất bản cách đây hơn 80 năm. Những tác phẩm ấy có ảnh hưởng lớn lao trong xã hội Việt Nam thời ấy về những vấn đề quan trọng: đả phá những hủ tục, chống đối sự gò bó của nếp sống đại gia đình, đòi hỏi tự do cá nhân, cổ vũ tình yêu đôi lứa mà đối tượng do chính mình chọn lựa, bênh vực nữ quyền. Những tác phẩm ấy được viết với lối văn giản dị, sáng sủa, đúng ngữ pháp.”

    Khi được hỏi vì sao kiến thức về nhóm Tự Lực Văn Đoàn lại có lợi ích thiết thực ngày nay, ông đáp: “Sinh viên học cách hợp tác, làm việc chung như các nhà văn hợp tác để thành lập nhóm và cùng tôn trọng quy luật của nhóm và sống có lý tưởng.”

    Theo Giáo Sư Quyên Di, nhiều vấn đề do nhóm Tự Lực Văn Đoàn đưa ra đến nay người ta vẫn còn phải đối diện và giải quyết như mâu thuẫn gia đình giữa và cá nhân, quan niệm chính đáng về tình yêu và hôn nhân cũng như quyền phụ nữ,…

    Ông khẩn khoản nói: “Tinh thần đoàn kết là cái mà cộng đồng gốc Việt mình rất cần. Nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã đoàn kết để có ảnh hướng mạnh mẽ đến ngày nay.”

    Quân bình Đông Tây

    “Điều tôi thường khuyên sinh viên là giữ sự quân bình trong cuộc sống. Quân bình giữa học tập và vui chơi, giữa đời sống gia đình và đời sống xã hội, giữa vật chất và tinh thàn, giữa hướng ngoại và hướng nội, giữa văn hoá Việt và văn hoá Mỹ,” ông cho hay.

    Người Mỹ gốc Việt là nhóm dân gốc Á lớn thứ tư tại Hoa Kỳ. Riêng tại California, số sinh viên gốc Việt rất đông. Điển hình là tại CSU Long Beach, sinh viên gốc Việt là tập thể sinh viên gốc Á châu đông nhất, theo ông Quyên Di.

    Vì thế, theo nhận định của ông Quyên Di, người gốc Việt cần đóng góp vào xã hội Hoa Kỳ.
    Ông nhấn mạnh: “Sự đóng góp lâu bền nhất là đóng góp văn hoá, đưa những truyền thống văn hoá tốt đẹp của người Việt vào cuộc sống Mỹ. Mà ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hoá. Giữ được ngôn ngữ là giữ được văn hoá.”

    Sau một buổi học tại Đại Học UCLA.

    Thông thạo tiếng Việt, các chuyên viên trẻ sẽ phục vụ cộng đồng Việt Nam hữu hiệu hơn. Những bác sĩ, nha sĩ, luật sư, nhà truyền thông… sinh hoạt và sinh sống trong cộng đồng Việt Nam cần thông thạo tiếng Việt.

    Về hoài bão của một vị thầy dạy tiếng Việt trên đất Mỹ, ông Quyên Di chia sẻ: “Tôi mong muốn tiếng Việt và ngôn ngữ Việt được gìn giữ và phát triển nơi những thế hệ kế tiếp, ở bất cứ nơi đâu có người gốc Việt sinh sống.”

    Ông thêm: “Văn hoá ấy, ngôn ngữ ấy xứng đáng được như vậy vì có những nét đẹp và sự phong phú của nó. Bao lâu ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam còn được giữ gìn và phát triển, bấy lâu những người gốc Việt vẫn giữ được tâm hồn Việt Nam.”

  • Dương Viết Điền,  Văn Thơ,  Viết Về MẸ

    NHỚ MẸ QUA THI CA VIỆT NAM

    Từ cổ chí kim từ đông sang tây khi nói đến người mẹ, tất cả mọi người ai ai cũng đều kính trọng, mến yêu rồi nhớ nhung chất ngất dù lúc ấy ta đang ở nơi chân bể hay góc trời, nơi rừng thiêng hay đồng nội.

    Bởi vì trong suốt thời gian kể từ khi mang thai cho đến lúc lâm bồn, người mẹ đã phải chịu đựng rất nhiều khổ đau. Nào là mang nặng đi đứng khó khăn trong mấy tháng trời. Nào là đau đớn quằn quại trong thời gian sinh đẻ. Sau khi đứa bé ra chào đời rồi người mẹ bắt đầu phải thức khuya dậy sớm, lắm lúc thức trắng nhiều đêm triền miên mất ngủ để chăm sóc đứa con. Đã thế, nhiều lúc con cái bị đau ốm, người mẹ luôn luôn nằm thường trực bên cạnh, lấy thuốc cho con uống, mong sao con chóng bình phục. Nếu rủi ro gặp chuyện bất trắc xảy ra như con thở quá yếu hay bị sốt quá cao đưa đến co giật, người mẹ tái mặt run sợ, tim như thắt lại, trong lòng quằn quại khổ đau.

    Đến khi con cái bắt đầu chạy nhảy khôn lớn, người mẹ phải tìm cách kiếm kế sinh nhai, nuôi con ăn học. Thế rồi để có đủ tiền nuôi nấng con cái, người mẹ phải dấn thân vào đời, dầm mưa dãi nắng, một nắng hai sương, thức khuya dậy sớm, buôn bán tảo tần, làm lụng vất vả để kiếm cho đươc đồng tiền bát gạo mà trang trải trong gia đình. Lắm lúc người mẹ nhường cơm cho con ăn dù bụng đang đói cồn cào, nhường áo cho con mặc dù trời đang rét căm căm. Sự hy sinh cao cả vô bờ bến đó khiến lòng người thường xuyên xúc động. Thương xót triền miên, chạnh lòng nhớ mẹ, nhạc sĩ Y Vân đã rung động con tim mà sáng tác nên bản nhạc “Lòng mẹ” với nội dung và giai điệu thật tuyêt vời: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu…”. Vì biết lòng mẹ bao la như biển cả, tình mẹ chan chứa tình thương vô biên nên nhà văn Pháp nổi tiếng là Anatone France đã không ngần ngại hạ bút viết: “Trong thiên  nhiên có rất nhiều cái đẹp, nhưng cái đẹp cao quý nhất là trái tim người mẹ” (Il y a bien des merveilleuses dans la nature, mais la plus précieuse, C’est le coeur d’une mère).

    Trước sự hy sinh cao cả vô bờ bến của người mẹ như vậy nên tất cả mọi người con, ai ai cũng thương nhớ mẹ mình và luôn luôn mong ước được trả hiếu cho mẹ dù mẹ mình còn sống hay đã qua đời. Vì vậy trong Kinh Địa Tạng của Phật giáo, chữ hiếu được bàn luận và giải thích rất cặn kẽ vì đây là một trong những đạo làm người rất quan trọng của con cái đối với cha mẹ.

    Thế nên hằng năm, cứ đến ngày “Tự Tứ”, các vị chân tu thường thuyết giảng cho các Phật tử nghe về hạnh hiếu của Tôn Giả Mục Kiền Liên: cứu mẹ đang thọ khổ ở địa ngục hay hạnh hiếu của Tôn Giả Xá Lợi Phất đã tìm mọi cách để thuyết pháp độ mẹ ra khỏi tà kiến của ngoại đạo Ni Kiều Tử đắc pháp nhãn thanh tịnh trước khi Tôn Giả nhập niết bàn.

    Ai cũng biết rằng ở bên Trung Quốc tự ngàn xưa, có 24 nhân vật rất có hiếu đối với cha mẹ đã vang dậy như sóng cồn một thời vang bóng trong tập “Nhị Thâp Tứ Hiếu”: nhiều người con trong lúc mùa hè oi bức, đã cởi trần nằm ngủ lúc đêm về để cho muỗi bay đến cắn vào thân thể mình ngõ hầu khỏi cắn vào thân thể của mẹ, hay có người nằm trên băng tuyết giá lạnh suốt mùa đông chờ tuyết tan để bắt cá về nấu cháo cho mẹ già ăn.

    Để đi vào đề tài, chúng ta hãy ghi lại đây những vần thơ của các thi nhân đã xúc động mà sáng tác nên những lời thơ bất hủ khi nhớ đến mẹ già.

    Nhiều nhà thơ đã khóc thương nhớ mẹ lúc mẹ còn sống, nhưng hầu hết các thi nhân nhớ thương khóc mẹ khi mẹ đã qua đời.

    Ta hãy nghe một số bài thơ nhớ mẹ của vài thi nhân khi mẹ còn sống.

    Trước hết, mấy vần thơ tứ tuyệt qua bài “Bóng mẹ chiều thu” của thi sĩ Cung Trầm Tưởng trong thi tập “Lời viết hai tay” khi đọc lên khiến ta nhớ đến người mẹ già đang vất vả trong buổi chợ chiều của cuộc đời và ngong ngóng mỏi mắt chờ trông con trở lại quê nhà sau những tháng ngày tù tội:

    “Mẹ là mẹ chú em nào hình sự

    Dáng lưng gù làm nhớ tới mẹ tôi

    Mẹ nẻo xa mưa nắng ắt bồi hồi

    Ai đỡ mẹ đi nghiêng sầu goá bụa

    Mưa gió quất lưng tre còng vất vả

    Vóc mai kia na ná nét hao mòn

    Của mẹ ruột quằn đau cho tiếng khóc

    Đến cuối đời lại chong bóng chờ con”.

         (Cung Trầm Tưởng – Trong “Lời viết hai tay”)

    Cho dù ở trong ngục tù hay ở quê người đất khách, cho dù ở trên rừng sâu hay góc bể chân trời, ai ai cũng triền miên nhớ mẹ mỗi lần vọng về quê cũ sau lũy tre xanh. Ta hãy nghe mấy vần thơ lục bát sau đây của Hạ Ái Khanh khi nhà thơ nhớ mẹ đang lom khom chống gậy chờ con ở quê nhà:

    “Mỗi lần nhìn khói lam chiều

    Nhớ về quê mẹ hắt hiu nỗi buồn

    Mẹ già nước mắt trào tuôn

    Lom khom chống gậy bên đường chờ con

    Bâng khuâng mẹ nhớ mỏi mòn

    Bao mùa lá rụng héo hon thân gầy”.

      (Hạ Ái Khanh –“Thương mẹ”: thi phẩm “Ngậm ngùi”)

    Nhiều người quá nhớ mẹ, thương mẹ, lâu ngày chưa về thăm lại mẹ được vì nghìn trùng xa cách, ở tận đất khách quê người, khiến lắm lúc nằm mơ thấy mẹ để rồi ở xứ đất lạ nghe lòng hắt hiu sầu nhớ muôn đời. Ta hãy nghe nhà thơ Thái Tú Hạp dệt mấy vần thơ nhớ mẹ qua những câu thơ ngũ ngôn thật dễ thương và nhẹ nhàng:

    “Đêm hoài mơ thấy mẹ

    Thắp nến soi hồn đau

    Đời con chiều quạnh quẻ

    Đất lạ hắt hiu sầu”.

         (Thái Tú Hạp – Trong thi tập “Hạt bụi nào bay qua”)

    Tuy nhiên có nhiều người thương mẹ, nhớ mẹ lúc mẹ đang còn sống. Nhưng vì cuộc sống của mẹ hằng ngày luôn luôn làm việc thiện và trọn đời mẹ đã tỏ ra thương người, hy sinh cho tha nhân và quyết sống môt cuộc sống đầy lòng nhân ái, từ bi. Vì thế, người con nguyện sẽ xuống tóc giữ lời quy y nếu một mai mẹ qua đời. Mấy vần thơ lục bát sau đây của nhà thơ Việt Hải cho ta thấy rõ được những điều nói trên:

    “Nếu mai mẹ sẽ qua đời

    Con xin xuống tóc giữ lời quy y

    Mẹ tôi trọn kiếp từ bi

    Con quỳ lạy mẹ ra đi yên lòng”.

         (Việt Hải – Trong bài “Nhớ mẹ”)

    Tuy nhiên cho dù nghìn trùng xa cách, cho dù đường về quê mẹ xa tít mù khơi, nhưng vì quá nhớ mẹ già ở miền quê xa vắng và cũng vì lâu lắm rồi chưa thấy lại dung nhan của người mẹ thân yêu, nên người con quyết chí trở về thăm mẹ giữa một mùa xuân. Vì hoàn cảnh của cuộc sống phải ở đất khách quê người quá lâu, nên khi trở lại quê nhà thăm mẹ thì mẹ đã quá già khiến mắt đã mờ, tai đã điếc vì ngũ giác của mẹ giảm sút đi nhiều. Ta hãy nghe nhà thơ Mạc Phương Đình dệt mấy vần thơ nhớ mẹ trong bài “Xuân về thăm mẹ”:

    “Em ra đứng hiên nhà chờ đợi

    Nụ cười vui, se chút lạnh sang mùa

    Mẹ còn sống, nhưng giảm nhiều trí nhớ

    Tấm thân gầy, còm cõi tuổi già nua

    Những lúc tỉnh, mẹ buồn cười rồi hỏi

    Các con đâu, sao đi mãi không về

    Đến bên mẹ, nắm bàn tay gầy guộc

    Gọi mẹ ơi, nhưng mẹ chẳng còn nghe

    Tuổi chín bốn, mắt mẹ mờ tai điếc

    Sống hiền lành, đôi lúc tỉnh lúc mê”.

           (Trong tác phẩm “Lời ru của mẹ”)

    Nhưng đớn đau quằn quại nhất là lúc nhớ mẹ từng giờ, từng phút, từng giây. Muốn về thăm mẹ ngay nhưng không thể nào được, bởi vì con đang bị đoạ đày trong ngục tù ở trên rừng thiêng nước độc. Ta hãy nghe bài thơ thất ngôn tứ tuyệt cổ phong sau sau đây của thi sĩ Trương Thúc Cổn mới thấy tình mẫu tử là một trong những tình thiêng liêng của con người:

    “Con biết ngày nay mẹ khổ nhiều

    Những ngày quạnh quẽ vắng con yêu

    Bâng khuâng mẹ nhớ con ngàn dặm

    Tựa cửa mắt mờ gió hắt hiu

    Mẹ ơi, có thấu nỗi lòng con

    Nhớ mẹ lòng con hoá mỏi mòn

    Con cố tìm trong tình mẫu tử

    Những lời an ủi trái tim con

    Nhớ túp lều tranh dưới khói mờ

    Bên đường khóm trúc gió phất phơ

    Tim con ray rứt đời phiêu bạt

    Nhớ mẹ lòng con hóa vẩn vơ

    Những lời vàng ngọc mẹ khuyên con

    Nước đó nhà đây mãi vẫn còn

    Đại nghĩa luôn luôn cùng nghĩa vụ

    Dãi dầu sương gió chút lòng son

    Chân mãi bước lên miệng vẫn cười

    Con đầy hy vọng cuộc đời tươi

    Mong sao nhớ lấy lời khuyên mẹ

    Quên hết đau thương của cuộc đời…”

          (Trương Thúc Cổn – Trong bài “Nhớ mẹ”)

    Sau khi đã đề cập một số bài thơ nhớ mẹ của một vài thi nhân khi mẹ còn sống, giờ đây ta hãy nói lên những vần thơ bất hủ về nhớ mẹ khi mẹ đã qua đời.

    Ai cũng biết rằng sau ngày 30/4/75, tất cả các chiến sĩ thuộc QLVNCH đều bị bắt bỏ tù trên rừng thiêng nước độc. Nhiều người bị hành xác trong một thời gian quá lâu dài mới được trả tự do nên khi trở lại quê nhà thì thấy mái tranh vẫn còn đó, cây soan bên thềm cũ vẫn còn đây nhưng cũng đã tàn phai theo năm tháng, còn mẹ già thì đã vĩnh biệt trần gian không một lời trăn trối, chỉ thấy một ngôi mộ nằm bên đường hoang vắng giữa chiều quê. Ta hãy nghe Hạ Ái Khanh dệt mấy vần thơ sầu thảm đó qua bài “Ngày về” để tặng cho một người bạn sau mười ba năm ở tù trở lại quê nhà:

    “Mười ba năm “cải tạo”

    Ngày về không còn ai

    Cây soan bên thềm cũ

    Bây giờ cũng tàn phai

    Mái nhà tranh còn đấy

    Vẫn nghiêng nghiêng thuở nào

    Trong nhà sao vắng lặng

    Không một bóng người vào

    Mẹ già chờ lâu quá

    Vẫn không thấy con về

    Tháng ngày rưng rưng lệ

    Mẹ mất giữa chiều quê

    Bên nấm mồ con khóc

    Nhớ thương mẹ não nề

    Sao mẹ đành vĩnh biệt

    Mẹ ơi, con đã về!”

       (Hạ Ái Khanh – Trong thi phẩm “Ngậm ngùi”)

    Cũng tương tự như trên, sau mấy năm trời bị bắt hành xác trong ngục tù ở trên rừng, nhà thơ Ngô Văn Thọ lúc trở lại quê nhà đã nghẹn ngào rưng rưng nước mắt khi vừa nghe chị mình nói mẹ đã qua đời từ lâu. Mấy vần thơ sau đây khi đọc lên ai ai cũng thấy bùi ngùi xót xa:

    “Về Sài gòn đau xé lòng gặp chị

    Được hung tin mẹ mất đã lâu rồi

    Quả đất buồn thoạt muốn vỡ làm đôi

    Không gian rộng con nghe chừng ngộp thở”

        (Ngô Văn Thọ – Trong Tuyển tập“Dưới trăng”)

    Có nhiều thi nhân khi nghe mẹ mất, tâm hồn như nghẹn ngào đau khổ, trong lòng như quằn quại đớn đau, nhưng họ không biểu lộ ra bên ngoài mà lại giấu kín tận đáy lòng. Ngược lại, nhiều thi nhân vì quá nhớ mẹ già cũng như vì quá khổ đau khi mẹ qua đời nên đã oà ra khóc thành tiếng theo bản năng tự nhiên vì tình mẫu tử là một trong những tình thiêng liêng của con nguời.

    Trên bước đường hành quân trong xã Mỹ Đức, quận Phú Mỹ năm 1950, nhà thơ Hoàng Duy đã khóc sướt mướt giữa cơn mưa tầm tã khi quá nhớ người mẹ hiền đã vĩnh biệt cõi đời. Bài thơ “Mưa rơi” sau đây của nhà thơ Hoàng Duy khi đọc lên ai ai cũng cảm thấy thật ai oán, não nùng:

    “Mưa rơi!

    Mưa rơi!

    Má ơi! Mưa rơi!

    Má ơi! Rơi rơi!

    Má đâu? Má ơi!

    Hỡi má! Má ơi!

    Má đi Mau về

    Thẫn thờ… Chúng con

    Chúng con Mong đợi

    Bơ vơ Má ơi!

    Cõi đời Má ơi!

    Lạnh không!…”

      (Bài “Mưa rơi” – trong thi tập “Như bóng mây bay”)

    Có nhiều nhà thơ vì xa mẹ già quá lâu ngày vẫn chưa về thăm được vì hoàn cảnh cuộc sống, vì nghìn trùng xa cách ở đất khách quê người. Đến khi trở lại quê nhà sau mười năm biền biệt thì mẹ già đã an giấc nghìn thu khiến nhà thơ quá đau lòng rồi nức nở trong nắng chiều ngay tại sân ga, nơi mà xưa kia người mẹ đã tiễn đưa dưới cơn mưa tầm tã, khiến người con nghẹn ngào không nói nên lời. Bài thơ “Sân ga ngày trở lại” của Hạ Ái Khanh sau đây cho ta thấy rõ cảnh biệt ly sao mà buồn quá, để rồi người mẹ và người con sau đó đã vĩnh biệt nghìn đời:

    Chín mười năm biền biệt

    Về thăm lại quê nhà

    Sao lòng buồn da diết

    Nắng chiều ngập sân ga

    Nhớ xưa cũng nơi nầy

    Mẹ già khóc tiễn đưa

    Khi còi tàu gào thét

    Trời mưa ơi là mưa.

    Vẫy tay từ  biệt mẹ

    Nước mắt rơi như mưa

    Nghẹn ngào trong tiếng khóc

    Ly biệt nói sao vừa

    Nay về thăm quê lại

    Nức nở trong nắng chiều

    Mẹ già không còn nữa

    Sân tàu cũng buồn thiu.

                          (Hạ Ái Khanh)

    Nhiều thi nhân sau khi mẹ mất đã nhớ lại những tháng năm nằm bên gối mẹ, nhớ những ngày mẹ nở những nụ cười đầy lòng nhân ái dạt dào, nhớ những lúc nắng sớm mưa chiều mẹ thương con rồi quá nuông chiều con khi ru con ngủ, để rồi dệt mấy vần thơ đầy nhung nhớ ngậm ngùi. Ta hãy nghe thi sĩ Cao Mỵ Nhân sáng tác mấy vần thơ não nuột sau đây khi nhà thơ bỗng một chiều nước mắt rưng rưng vì nhớ mẹ đến nghẹn ngào:

    “Mẹ ơi, tất cả đã mờ theo.

    Nước mắt khi mưa ướt dáng chiều.

    Mẹ sớm rời xa con, cháu mẹ.

    Lòng tôi chùng xuống, chợt hoang liêu.

    Mẹ về tiên cảnh hẳn vui hơn.

    Chốn ấy hoa đăng, nhã nhạc buồn.

    Mỗi lúc dõi theo vầng nhật nguyệt.

    Lung linh ảnh mẹ thắp tâm hồn”.

        (Cao Mỵ Nhân  – “Từ nơi mẹ nở đóa hạnh trinh”).

    Nếu cố gắng đưa tất cả những bài thơ viết về nhớ mẹ của tất cả các thi sĩ vào trong bài “Nhớ mẹ qua thi ca Việt Nam” thì chúng ta phải viết một cuốn sách dày khoảng vài trăm trang vẫn không đủ. Vì vậy ta chỉ nêu lên đây môt số bài thơ tượng trưng mà thôi. Bởi thi sĩ nào, khi nghĩ đến mẹ cũng nhớ thương dạt dào, cũng nghẹn ngào quay quắt, tuỳ không gian và thời gian của hoàn cảnh từng người. Tóm lại qua thi ca Việt Nam, ta thấy hầu hết các thi nhân khi nhớ mẹ thường dệt nên những vần thơ thật diễm tuyệt mang đầy sắc thái hạnh hiếu và tình người.

    California, mùa Lễ Vu Lan.

    Dương viết Điền

  • Dương Viết Điền,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    THỰC TẬP TOẠ THIỀN

    Bức tượng Ngài Lord Shiva đang tọa thiền theo thế kiết già tại Bangalore ( Hình trích từ Wikipedia).

    Thiền là một phép tu bao la bát ngát, không có biên giới. Mục đích của tu Thiền theo Tỳ Kheo Thích Đức Niệm là “Quay về với nội tâm, trầm tĩnh sống lại với chính lòng mình, biết rõ tâm thức mình biến chuyển qua từng sát na, theo từng nhịp tim bóp thắt, quán chiếu tận suốt cội nguồn tâm thức sinh động thầm kín của dòng sinh mệnh tâm linh”. (Trong bài “Thay Lời Tựa” đăng trong tác phẩm “The Practice of zen” (Thiền Đạo Tu Tập) của Thiền Sư Chang Chien Chi, trang 09). Vì tính chất bất khả lĩnh hội cũng như bản chất bất định của Thiền nên hầu hết cácThiền Sư thường không theo một quy luật nào rõ rệt. Theo Thiền Sư Chang Chien Chi thì “Hình như không có hệ thống có tổ chức nào để theo, mà cũng chẳng có một triết học nào để học. Những mâu thuẫn và tương khắc đầy rẫy khắp mọi nơi. Mặc dầu những điều đó có thể được giải thích bằng cái gọi là luận lý phi- luận lý của Thiền” (Trong “Thiền Đạo Tu Tập” của Thiền Sư Chang Chen Chi, Như Hạnh dịch, trang 25). Vì tính chất mông lung và  siêu việt của Thiền nên Thiền Sư Chang Chien Chi nhấn mạnh rằng “ Có thể giải thích Thiền bằng nhiều cách bởi vì không có “những chỉ thị” nhất định để Thiền tuân theo. Các Thiền Sư vĩ đại hiếm khi tuân theo một khuôn mẫu nhất định nào trong việc tự bày tỏ hoặc trong việc dạy đệ tử họ” (Trong “Thiền Đạo Tu Tập” trang 31). Thiền Sư Chang Chen Chi còn cho biết rằng “ Từ Bồ Đề Đạt Ma tới Huệ Năng và từ Huệ Năng suốt cho tới Lâm Tế và Động Sơn, trọn một thời kỳ gần 400 năm, ta chẳng truy ra được một hệ thống tham Thoại Đầu vững chắc nào cả. Các Thiền Sư xuất chúng của thời đại này là những nghệ sĩ” vĩ đại; giáo lý của các ngài rất linh động và uyển chuyển và không bao giờ tự hạn hẹp vào bất cứ một hệ thống nào cả” (Trong “The Prace of Zen” của Thiền Sư Chang Chien Chi, trang 113).

    Ngài Bồ Đề Đạt Ma đang hành Thiền

    Cũng theo Thiền Sư thì “Ta phải luôn luôn nhớ rằng đa số những người học Thiền ở Đông phương là những tu sĩ đã hiến trọn đời mình để tham thiền. Họ chỉ có một mục đích duy nhất: Giác Ngộ; họ chỉ có một công việc độc nhất trên đời: tu tập Thiền; cuộc sống mà họ sống là cuộc sống giản dị, giới hạnh; và họ chỉ học Thiền bằng một lối duy nhất- bằng cách sống và tu tập với các bậc thầy trong một thời gian rất lâu. Trong những hoàn cảnh này bất cứ lúc nào họ cũng thấy Thiền, nghe Thiền, nếm Thiền, và thậm chí ngửi Thiền nữa “ (Trong The Practice of Zen, của Thiền Sư Chang Chien Chi, trang 87).

    Thiền Sư Chang Chien Chi

    Vì biết mục đích duy nhất của Thiền là Giác Ngộ mà nói đến Giác Ngộ, tất cả mọi người theo đạo Phật ai cũng ước mơ cả. Sở dĩ ai cũng chỉ mơ ước thôi vì tu Thiền để đạt đến Giác Ngộ là một việc làm quá phi thường và rất khó khăn cho con người trong một kiếp người. Tuy nhiên cho dù quá phi thường và quá khó khăn mấy đi nữa, trong quá khứ ta cũng đã thấy có rất nhiều Thiền Sư đã đạt đạo. Nếu không đạt đạo thì tu Thiền cũng mang đến cho ta vô số lợi ích trong cuộc sống hằng ngày như xa lánh dần được tham, sân, si; thấu hiểu được chân lý của Phật giáo để phát huy lòng từ bi ngõ hầu làm vơi bớt đau thương cho tha nhân, cho nhân loại, đang quằn quại dưới vòm trời khổ đau và tang tóc này. Ngoài ra đối với những người không theo đạo Phật, họ vẫn muốn thực tập Thiền để giảm bớt sự căng thẳng (Stress) khi phải tiếp xúc với tha nhân trong cuộc sống hằng ngày. Và bởi yếu tố thất tình (hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, cụ) thường ảnh hưởng đến con người nên người ta muốn tập Thiền để tránh những vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ hay bệnh khủng hoảng thần kinh được chừng nào tâm hồn sẽ thoái mái chừng đó. “Theo bác sĩ Andrew Weil (University of Arizona) thì cách điều hoà hơi thở là cách thức hữu hiệu nhất để chống lại sự âu lo (anxiety) và Stress, và ngay đối với cả những thể loại nặng nhất của bịnh khủng hoảng thần kinh (panic disorder) Vì khi bạn chú tâm vào hơi thở, và thở sâu, chậm, yên lặng và đều đặn thì bạn không thể nào … stress, hay lo âu được. Bởi lẽ rất dễ hiểu là cơ thể bạn không thể nào cùng một lúc làm được những việc trái ngược nhau. Như chúng ta biết, ngược lại với Stress, sự điều hoà hơi thở sẽ làm cho tim đập chậm, giảm huyết áp, làm an tĩnh hệ thần kinh. Khi não bộ không nhận được tín hiệu nguy cơ nữa thì cơ thể trở lại với trạng thái điều hoà, các bộ phận điều tiết những Stress hormone không còn được kích thích cũng sẽ trở về trạng thái bình thường, và cơ thể bạn không nằm trong trạng thái chuẩn bị ứng chiến như ta đã thấy ở trên. Và như thế, bạn vừa…. khóa lại (shut down) những tác hại của Stress. Hiện nay những bịnh viện lớn như Columbia Medical center ở New York city, những bịnh nhân trước khi giải phẩu Tim, đều được mời tham dự những buổi Thiền Meditation. Ở những bịnh nhân có tham gia thiền quán, người ta nhận thấy ít lo âu trước khi mổ, ít mất máu trong khi mổ và hồi phục nhanh hơn sau khi mổ. Điều hòa hơi thở chỉ là một dạng thô thiển nhất của Thiền quán, cần nói thêm là Thiền không chỉ là sự điều hòa hơi thở nhưng nếu bạn biết áp dụng vào đời sống hàng ngày thì ít ra bạn cũng ngăn ngừa hay chận đứng được những tác hại của Stress, tuy bạn chưa đi vào trạng thái Thiền định nhưng bạn cũng đã kiểm soát được mình qua sự điều tức. Khi kiểm soát được hơi thở của mình, cơ thể của bạn là của bạn. Có thể bạn chưa đạt được giải thoát hay Đốn ngộ với sự kiểm soát hơi thở, nhưng ít ra đời sống bạn cũng sẽ được thoải mái hơn và….. ít bịnh tật hơn !!!”

    (Trích từ bài Tác Dụng Của Thiền Và Tress của Hoàng Vũ trong web site http://khoahoc-kythuat.blogspot.com/2013/07/tac-dung-cua-thien-va-stress.html ).

    Vì những lý do đó mà tôi cũng muốn học Thiền và dĩ nhiên để học phương pháp tu Thiền nầy, tôi bắt đầu tìm hiểu những phương thức sơ khởi của Toạ Thiền.

    Nhiều nhân vật nổi tiếng trên thế giới cũng đang hành Thiền:

    Bác sĩ Sư Huynh Phạm Gia Cổn, võ sư chưởng Môn Hoàng Hạc, thiền yoga khí công

    Minh tinh màn ảnh, Heather Graham, thực hành Thiền để chống lão hóa
    Các nhà sư đang đứng Thiền tại thác Pongour
    Ngồi Thiền tập thể tại Sri Lanka (Ấn Độ)
    ( Hình trích từ Wikipedia)
    Ngồi Thiền trong Madison Square Park tại Nữu Ước
    ( Hình trích từ Wikipedia)
    Bảo Tháp Giác NgộẤN ĐỘ: 4,000 binh sĩ Vương quốc Anh sẽ thay phiên nhau thiền định tại cây Bồ đề ở Bồ đề Đạo tràng tại Bảo Tháp Giác Ngộ bắt đầu từ tháng 01 năm 2013.
    ( Hình trích từ  www.HoPhap.net )

    Sau khi nghiên cứu một số sách viết về Thiền cũng như nghe những lời hướng dẫn của một số bạn bè, tôi bắt đầu thực tập Toạ Thiền. Điều trước tiên là cách thức ngồi Thiền. Vẫn biết rằng đi đứng nằm ngồi đều Thiền được cả, nhưng ngồi Thiền là vấn đề quan trọng hơn cả. Lúc đầu tôi ngồi theo thế kiết già, chân trái kéo để lên đùi mặt, chân mặt kéo để lên đùi trái. Nhưng rồi tập hoài cũng không được, nhiều khi mới vài phút đã cảm thấy đau lưng.

    Bức tượng Ngài Lord Shiva đang tọa thiền theo thế kiết già tại Bangalore ( Hình trích từ Wikipedia).

    Vì ngồi theo thế kiết già hơi khó khăn nên tôi đổi qua thế bán già. Ngày trước, Ngài Phổ Hiển và Ngài Vân Thù thường toạ Thiền theo thế bán già. Ngài Phổ Hiển toạ Thiền với thế chân trái để lên đùi mặt, Ngài Vân Thù toạ Thiền với chân mặt để lên đùi trái. Tôi đã thực tập cả hai thế trên, cuối cùng tôi thấy thế ngồi chân mặt để lên đùi trái thuận tiện hơn đối với tôi nên tôi quyết định toạ thiền theo thế này luôn. Các Thiền Sư thường khuyên chúng ta khi ngồi, lưng phải thật thẳng. Đầu phải nhìn thẳng phía trước. “Khi chư vị ngồi Thiền, tuyệt đối không nên để thoại đầu lên cao quá, vì vậy hẵn sẽ bị hôn trầm. Cũng không được để ngang trên ngực, nếu để nơi ngực, thế nào nơi ngực cũng bị đau. Cũng không nên đè nó xuống thấp, làm vậy sẽ bị đau bụng, hoặc rơi vào âm cảnh, phát sinh ra nhiều bệnh tật. Chỉ cần giữ tâm bình lặng, hơi thở điều hoà, nhẹ nhàng quán chữ “ai” như gà ấp trứng, như mèo rình chuột. Khi quán chiếu đắc lực, mệnh căn tất nhiên đứt đoạn” (Trong Thiền Đạo Tu Tập (The Practice of Zen) của Thiền Sư Chang Chen-Chi, trang139).

    Sau khi chọn được thế ngồi thích hợp, tôi bắt đầu tập thở. Vấn đề hơi thở lúc toạ Thiền rất nhiều sách đề câp đến. Có sách dạy rằng “Dùng miệng thở hơi ô trược ra, khi thở há miệng cho hơi ra, đừng mạnh cũng đừng gấp, thở thật dài và sạch, hơi ra tưởng như tất cả những phiền não bệnh hoạn theo hơi thở ra ngoài hết. Ngậm miệng lại dùng mũi hít hơi vào, dài nhẹ và thật đầy, hơi vô tưởng không khí trong sạch vào khắp châu thân. Như thế ba lần. Thở xong ngậm miệng lại, môi và răng vừa kề nhau, lưỡi để lên trên. Từ đây về sau chỉ hít thở bằng mũi đều đều nhẹ nhẹ mà dài. Thân ngồi ngay thẳng như cột trụ, dù có ngứa ngáy cũng không cựa động, nhức mỏi cũng gan dạ chịu đựng đúng giờ mới xả.” (Trong “Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20”, trang 114-115, tái bản lần thứ II). Một sách khác hướng dẫn rằng: “Khi bắt đầu tập thở bụng, ta thở ra thật dài vài lần bằng mũi, bụng thót vào, cố gắng thở ra cho hết khí trong phế nang, cần làm cho phổi trống (giống như ta bóp miếng sponge rửa chén cho hết bọt sà phòng khi rửa chén). Khi nín lại thì phản xạ tự nhiên là cần phải hít sâu vào nhiều hơn cảm thấy như đầy ngực đầy bụng (giống như miếng sponge sau khi bóp cho hết chất xà phòng dơ rồi buông ra trong nước sạch, tự nhiên hút nước sạch vào). Cũng vậy, sau khi chu kỳ thở ra thật dài thì tự động khí sạch sẽ vào đầy ngực đầy bụng. Như vậy có thể nói thở ra là phần chủ động và hít vào là phần thụ động. Càng thở ra thật nhiều, thật sâu có nghĩa là đưa hết khí dơ (CO2) trong phế nang ra thì càng được vào nhiều khí sạch, trong lành. Như vậy thở ra sẽ quyết định cho việc hít vào.   


    Chú ý là khi thở ra hay hít vào, ta cần phải giữ hơi thở (nín thở) một vài giây tuỳ theo sức, ta sẽ nhận thấy bộ máy hô hấp lúc đó tự nó chuẩn bị phát động. Lúc đó giản mềm các cơ bụng để cho hô hấp tự phát. Khí thở ra bụng thót vào, khí hít vào phổi bụng tự phình lên. Tóm lại trong phương pháp thở bụng, thở ra là chính và là động tác chủ động, còn hít vào phình bụng ra là động tác thụ động.” (Trích từ bài “ Luyện khí công tập bụng” của một tác giả trên mạng.).

    Một sách khác lại chỉ dạy như sau: “Đối với người mới tập, tư thế nằm ngửa rất thuận lợi. Phải để ý là không nên thở dài đến mức tối đa. Làm như thế có thể nguy hiểm cho phổi, nhất là trong trường hợp phổi yếu vì chưa bao giờ biết tập thở. Ban đầu người hành giả nên nằm xuống, hai tay xuôi theo hai chân, đầu không gối, trên một mặt phẳng hay hơn là trên nệm. Buông thả tay chân cho thư thái. Thở vài hơi tự nhiên rồi khởi sự chú ý đến hơi thở ra, xem nó dài bao nhiêu. Có thể đếm thầm trong trí: một, hai, ba, v.v…Sau vài lần như thế, ta biết được “chiều dài” của hơi thở ra; ví dụ chiều dài ấy là 5. Bây giờ ta dự tính thêm vào 1 hay 2 nữa để cho hơi thở ra của ta dài tới 6 hay 7. Thế là lần này khi thở ra, ta bắt đầu đếm từ một đến 5, thay vì chuẩn bị thở vào, ta cứ tiếp tục thở ra thêm 1 hay 2, đếm tiếp là 6,7. Như vậy có nghĩa là ta đem thêm không khí dơ trong phổi ra ngoài. Xong rồi ta buông thả, để hai phổi ta tự động đưa không khí trong lành vào.” (Trong “Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức”, trang 34, 35, 36, in lần thứ 10).

    Riêng Thiền Sư Sogyal Rinpoche, Ngài lại hướng dẫn phương thức khác; “ Vậy khi Thiền định, bạn hãy thở tự nhiên, như thường ngày bạn thở. Tập trung sự chú ý của bạn vào hơi thở ra. Khi thở ra bạn hãy buông ra theo hơi thở. Tưởng tượng hơi thở bạn tan vào trong khoảng không bao la của chân lý. Mỗi lần thở ra, trước khi hít vào lại, bạn sẽ thấy có môt khoảng hở tự nhiên, khi sự chấp thủ đã tan biến. Hãy an trú trong khoảng hở ấy, không gian rộng mở ấy. Và khi tự nhiên bạn thở vào, thì đừng chú ý hơi thở vào, mà cứ tiếp tục an trú tâm nơi khoảng hở đã mở ra ấy.”  (Trong tác phẩm “Đưa Tâm Về Nhà”, trang 37). Ngài còn nhấn mạnh: “Đừng quá tập trung vào hơi thở, chỉ để cho nó chừng 25 phần trăm, còn 75 phần trăm thì bạn hãy buông xả một cách lặng lẽ bao la. Càng chánh niệm về hơi thở, bạn càng tỉnh thức về chính mình, gom lại những mảnh vụn phân tán của bạn thành một nhất thể, tính nhị nguyên và ngăn cách tan biến. Tuy nhiên, có nhiều người không được thoải mái với pháp quán hơi thở, họ còn thấy gần như bị ngộp.”

    (Trong tác phẩm “Đưa Tâm Về Nhà”, trang 38).

    Thêm một vài hướng dẫn khác về hơi thở lúc ngồi Thiền của Thiền Sư Tây Tạng Geshe Kelsang Gyatso như sau (Trích từ Wikipedia):

    “When we have settled down comfortably on our meditation seat we begin by becoming aware of the thoughts and distractions that are arising in our mind. Then we gently turn our attention to our breath, letting its rhythm remain normal. As we breathe out we imagine that we are breathing away all disturbing thoughts and distractions in the form of black smoke that vanishes in space. As we breathe in we imagine that we are breathing in all the blessings and inspiration of the holy beings in the form of white light that enters our body and absorbs into our heart. We maintain this visualization single-pointedly with each inhalation and exhalation for twenty-one rounds, or until our mind has become peaceful and alert. If we concentrate on our breathing in this way, negative thoughts and distractions will temporarily disappear because we cannot concentrate on more than one object at a time. At the conclusion of our breathing meditation, we should think `Now I have received the blessings and inspiration of all the holy beings.’ At this stage our mind is like a clean white cloth which we can now colour with a virtuous motivation such as compassion or bodhichitta.”

    Thiền Sư Tây Tạng Geshe Kelsang Gyatso

    Tạm dịch:

    “Sau khi đã ổn định chỗ ngồi để toạ Thiền, chúng ta bắt đầu tập trung tư tưởng. Sau đó chúng ta để ý đến hơi thở và để cho nhịp thở ra vào bình thường. Khi thở ra, chúng ta cứ tưởng tượng là chúng ta đang thở ra ngoài những vọng tưởng, như là làn khói đen, sẽ biến mất trong khoảng không. Khi hít vào, chúng ta cũng tưởng tượng rằng chúng ta đang hít vào những hồng ân và những cảm hứng của những sinh vật thiêng liêng dưới hình thức là ngọn bạch quang và chính luồng bạch quang này xuyên vào trong cơ thể ta và thấm dần vào trong tim ta. Chúng ta cần duy trì sự tưởng tượng về hình ảnh nầy mỗi lần thở ra hay hít vào cho đến khi ta cảm thấy tâm rí đã an bình. Nếu chúng ta tập trung vào hơi thở theo phương thức này, những tư tưởng tiêu cực tạm thời sẽ biến mất vì chúng ta không thể tập trung hơn một đối tượng cùng một lúc. Để kết luận về hơi thở lúc toạ Thiền, chúng ta nên nghĩ rằng “Bây giờ, tôi đã nhận được những hồng ân và phước lành từ những đấng linh thiêng”. Ở giai đoạn này, tâm trí tôi giống hệt như tấm vải trắng tinh mà chúng ta có thể biến thành màu sắc đức hạnh như là lòng trắc ẩn và từ bi.”

    Nhưng theo Trưởng Lão Thích Thông Lạc trong các trang mạng sau đây:

    Nguồn sách:

    http://www.nguyenthuychonnhu.net/ebooks/NhungLoiGocPhatDay-1.pdf

    Bài: http://www.nguyenthuychonnhu.net/index.php/bdt/310-pxdcptt

    thì Trưởng Lão  Thích  Thông Lạc nhắc đến lời dạy của Đức Phật sau đây rất quan trọng:

    1- Nhất tâm là định.

    2- Bốn niệm xứ là định tưởng.

    3- Bốn tinh cần là định tư cụ.

    4- Sự luyện tập, sự tu tập, sự tái tu tập của những pháp ấy là tu tập định ở đây vậy.

    5- Thở vô và thở ra là thân hành.

    6- Tầm tứ là khẩu hành.

    7- Tưởng thọ là tâm hành.

    Và căn cứ những chân lý bất biến trên, Trưởng Lão Thích Thông Lạc có những nhận xét khác biệt với hầu hết các Thiền Sư về hơi thở như sau:

    “Ví dụ ngồi tu tập Ðịnh Niệm Hơi Thở, nếu cứ mãi lo tập trung trong hơi thở thì bị ức chế tâm.Cho nên khi tu Ðịnh Niệm Hơi Thở mà quan sát Thân, Thọ, Tâm, Pháp nếu có một chướng ngại pháp nào hiện đến trong bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì khắc phục, đẩy lui như trong kinh Tứ Niệm Xứ đã dạy: “Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu, trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu, trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu và trên pháp quán pháp để khắc phục tham ưu”. Nhưng khi bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp không có chướng ngại pháp thì tâm ở đâu? – Tâm ở tại hơi thở. Tâm ở tại hơi thở mà không bắt buộc tâm bám vào hơi thở. Tâm định trên niệm của hơi thở, tức là không ức chế tâm vào hơi thở. Nên trong kinh Nguyên Thủy, Phật gọi là “Ðịnh Niệm Hơi Thở” chứ không gọi là “Quán Niệm Hơi Thở”, vì Quán Niệm Hơi Thở tức là ức chế tâm bám vào hơi thở. (Còn cứ ĐỂ TÂM TỰ NHIÊN BIẾT HƠI THỞ RA VÔ, mới gọi là ĐỊNH). Chúng ta nên đọc lại bài kinh “Nhập Tức Xuất Tức” trong kinh Nguyên Thủy: “Quán ly tham, tôi biết, tôi hít vô. Quán ly tham, tôi biết, tôi thở ra”. Chữ “Quán” ở đây có nghĩa là xả tâm: “Quán xét tâm để tâm không còn tham, sân, si nữa thì tâm sẽ biết hơi thở hít vô. Quán xét tâm để tâm không còn tham, sân, si nữa thì tâm sẽ biết hơi thở thở ra”. Chứ không phải “hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Đó là cách thức tu tập ức chế tâm để tỉnh thức, chứ không phải xả tâm.”

    Ngoài việc thực tập theo sách vở tôi cũng thực tập theo lời chỉ dẫn trực tiếp của bạn bè. Người bạn chỉ dẫn cho tôi đó là anh Trần Văn Cát, cựu Thiếu Tá Lực Lượng Đặc Biệt, người bạn tù thân nhất của tôi trong trại tù tại trại Ái Tử và Bình Điền mà tôi đã dành riêng nửa chương để viết về anh trong Hồi Ký Trại Ái Tử Và Bình Điền của tôi xuất bản năm 1993. Anh Trần Văn Cát đi tu đã 25 năm rồi sau khi ra khỏi tù được vài năm. Lúc đầu anh tu trên một ngọn núi ở tỉnh Tuy Hoà. Sau khi qua Mỹ theo diện HO, anh chỉ tu tại gia và đang ở tại tiểu bang Massachusetts. Thỉnh thoảng tôi điện thoại thăm anh ấy và mỗi lần gặp anh, anh thường giảng về Phật Pháp cho tôi nghe. Khi nào cần bộ kinh gì để nghiên cứu, anh nhờ tôi lên các chùa thỉnh về rồi gởi cho anh ta. Riêng về vấn đề thở trong lúc tọa Thiền, anh Cát hướng dẫn cho tôi rằng, khi hít vào thì đọc thầm trong miệng hai chữ NAM MÔ, khi thở ra thì đọc bốn chữ A-DI -ĐÀ- PHẬT. Hơi thở cũng từ từ, thong thả, lúc hít vào cũng như lúc thở ra. Rồi cứ như thế mà tiếp tục vừa thở ra hít vào vừa niệm 6 chữ A-DI-ĐÀ-PHẬT.

    Tạm dẫn chứng một số phương thức nói trên, tôi thấy nhìn chung các vị Thiền Sư cũng như bạn bè đều dạy bảo phương pháp toạ thiền tương đối giống nhau nhưng riêng vấn đề hơi thở, tôi thấy các Thiền Sư đều nói chung chung về lượng không khí mà ta thở ra và hít vào. Thiền Sư này thì nhấn mạnh rằng thở “đừng mạnh cũng đừng gấp, thở thật dài và sạch”. Thiền Sư khác lại dạy rằng “Phải để ý là không nên thở dài đến mức tối đa. Làm như thế có thể nguy hiểm cho phổi.” hay “Thở vài hơi tự nhiên rồi khởi sự chú ý đến hơi thở ra, xem nó dài bao nhiêu. Có thể đếm thầm trong trí: một, hai, ba,v..v…Sau vài lần như thế, ta biết được “chiều dài” của hơi thở ra”. Riêng Thiền Sư Sogyal Rinpoche ngài lại bảo“Đừng quá tập trung vào hơi thở, chỉ để cho nó chừng 25 phần trăm, còn 75 phần trăm thì bạn hãy buông xả một cách lặng lẽ bao la”.

    Thiền Sư Sogyal Rinpoche

    Xem thế, thật là khó khăn khi chúng ta muốn lúc hít vào và lúc thở ra, những động tác này phải được đều đặn, đồng bộ. Như thế rõ ràng lần hít thở nầy khác hẳn với lần hít thở khác về số lượng không khí đưa vào và đẩy ra khỏi phổi. Sự không đồng đều này nhiều khi làm cho phổi bị mệt lúc hít vào, thở ra. Vã lại, đo “chiều dài” hơi thở là cả một vấn đề khó khăn, phức tạp, thực hiện có tính cách tương đối thôi.  Vì vậy, sau khi thực tập theo những phương pháp do các Thiền Sư dạy bảo, tôi thấy khó thích ứng với những phương pháp này. Vì thế tôi tự nghĩ ra một phương pháp riêng của tôi để khi hít vào và lúc thở ra, tôi sẽ tiếp nhận một số lượng không khí tương đối giống nhau cho mỗi lần hít thở. Đó là thở theo nhịp điệu của âm nhạc. Tôi nghĩ rằng lúc hít vào, không khí sẽ di chuyển bao nhiêu trường canh (measure) rồi dừng lại. Sau đó lúc thở ra, không khí cũng sẽ di chuyển bao nhiêu trường canh rồi phải dừng lại. Làm như vậy số lượng không khí lúc hít vào sẽ bằng nhau, và số lượng khí carbonic thải ra cũng bằng nhau. Động tác thở theo nhạc này làm cho phổi hít thở được đều đặn và phổi khỏi bị mệt. Nếu hành giả nào không chịu thở cho đúng nhịp sẽ làm cho số lượng không khí vào ra không đều khiến phổi bị mệt, hành giả ấy xem như bỏ cuộc (giống như ca sĩ hát sai nhịp sẽ coi như bị loại vậy).

    Sau đây là một đoạn nhạc tôi sáng tác để ứng dụng cho nhịp thở:

    • Khuông nhạc thứ nhất ứng dụng lúc hít vào.
    • Khuông nhạc thứ hai ứng dụng lúc thở ra.
    • Hai khuông nhạc kế tiếp là sự nối tiếp hơi thở ( giống như hai khuông nhạc trên)

    Lúc hít vào, ta bắt đầu đếm thầm các số 123456 trong miệng giống như đang hát vậy. Vì giống như ca sĩ đang hát, hết trường canh nầy ta sang trường canh khác nên số lượng không khí lúc hít vào hay thở ra rất đều đặn.  Hít vào làm sao lúc ngang số 6 là phổi đã đầy không khí rồi. Sang trường canh thứ tư thì phải ngưng hít vào để nghỉ một thời gian hai nhịp (tôi để dấu lặng trắng).

    Sau khi ngưng hít vào hai nhịp ở trường canh thứ tư xong, ta bắt đầu thở ra ở trường canh thứ nhất của khuông nhạc thứ hai ngay và cứ thế ta đếm thầm trong miệng như hát 12345678. Khi thở ra đến số 6 ở trường canh thứ 3 của khuông nhạc thứ hai là lúc ta đẩy hết không khí trong phổi ra xong. Sở dĩ lúc thở ra ở trường canh thứ tư tôi cũng để một dấu lặng trắng vì theo Thiền Sư Sogyal Rinpoche, “mỗi lần thở ra, trước khi hít vào lại, bạn sẽ thấy có một khoảng hở tự nhiên, khi sự chấp thủ đã tan biến. Hãy an trú trong khoảng hở ấy, không gian rộng mở ấy.” Nghĩa là Ngài bảo rằng lúc thở hết hơi trong phổi ra rồi, sẽ có một khoảng thời gian nghỉ rất ngắn trước khi hít không khí vào phổi lại. Và cứ thế vừa thở ra xong ta lại bắt đầu hít vào ở khuông nhạc thứ ba rồi tiếp tục như thế hít vào thở ra lúc toạ Thiền. Nhờ phương pháp này mà thể tích không khí vào ra trong buồng phổi tương đối đều đặn giống nhau, không làm cho phổi bị mệt. Dĩ nhiên lúc thở ra hay hít vào phải từ từ giống như ca sĩ hát phải từ từ để cho đúng nhịp. Đối với phương pháp này tôi phải lấy máy đánh nhịp Metronome của nhà sáng chế Johann Maelzel, chế tạo năm 1815, ngõ hầu đưa ra một số lượng tiếng gõ nhịp thật chậm để tôi theo đó mà thở cho thong thả. Thực tập thở theo phương pháp này, tôi tạm thử lấy số lượng tiếng gõ của máy Metronome trung bình là: Allegro M.M.  = 180. Trong mấy khuông nhạc, tôi để tượng trưng mấy gạch dọc cho có vẻ là những nốt nhạc thôi chứ không ghi nốt nhạc nào cả. Cuối đoạn nhạc tôi không viết hai vạch nhạc để chấm dứt, vì còn thở ra hít vào liên tục. Nếu tôi để hai vạch sổ dọc như tất cả những bản nhạc để chấm dứt theo luật sáng tác, thì một số hành giả nếu tập theo phương pháp này sẽ ngưng thở giống như ngưng hát ngay.

    Vẫn biết rằng vì luôn suy nghĩ đến nhịp điệu của hơi thở nên tâm bị phân tán nhưng theo Thiền sư Osho, cần phải có những kỷ thuật trước để loại khỏi những chướng ngại trước khi Thiền, nên tôi vẫn tập theo cách thở của tôi xem sao; mặc dầu Ngài Krisnamurti không chấp nhận phải có phương pháp kỷ thuật trước vì sẽ cản trở việc nhập Thiền. Và cứ thế tôi thực tập thường xuyên ngày này qua ngày khác. Thường thì sau mỗi lần ngồi Thiền, các hành giả thường cử động chân tay qua lại cho máu lưu thông vì lúc ngồi Thiền bất động, máu trong cơ thể không được luân lưu đều đặn. Riêng tôi, cứ mỗi lần sau thời gian tọa Thiền xong, tôi thường bấm hay thoa mạnh vào các huyệt đạo để đả thông kinh mạch cho máu lưu thông trở lại. Trên đầu thì tôi thoa huyệt Bách hội, tiếp theo tôi vò hai cái tai. Vì trong khoa Nhĩ Châm, trên vành tai đều có tất cả các huyệt đạo để chữa bệnh cho lục phủ ngũ tạng. Kế đến, tôi dùng bàn tay thoa vào trán và mặt vì trong khoa Diện Châm, trên mặt cũng có tất cả các huyệt để chữa bệnh như khoa Nhĩ Châm vậy. Tuy nhiên nhiều khi tôi chỉ thoa vào huyệt Ấn Đường ở trán, các huyệt Tinh Minh, Toán Trúc ở mắt, hai huyệt Nghinh Hương ở hai bên mũi mà thôi. Sau đó tôi tiếp tục thoa vào hai cánh tay để làm cho máu ở hai tay lưu thông đều đặn trở lại. Nhưng thường thì tôi hay ấn vào ba huyệt tương đối quan trọng của đường kinh Thủ Dương Minh Đại Trường là huyệt Kiên Ngung, Khúc Trì và Hiệp Cốc là đủ. Tiếp theo, tôi thoa mạnh hai bàn tay vài chục giây vì trên mu bàn tay cũng như trong lòng bàn tay, có rất nhiều huyệt đạo. Riêng đối với bắp đùi, cẳng chân, khi thì tôi thoa mạnh khi thì tôi bấm vào các huyệt Hoàn Khiêu, Phong Thị của đường kinh Thiếu Dương Đởm, rồi các huyệt Độc Tỷ, Túc Tam Lý, Phong Long của đường kinh Túc Dương Minh Vị thì máu cũng lưu thông. Vì trong thời gian đang còn thực tập nên chưa dám suy tư về những tư tưởng cao siêu để đạt đến giác ngộ. Mà chỉ cố gắng làm sao tập thở cho đúng phương pháp tọa Thiền do các Thiền sư để lại trong sách vở mà thôi. Ngoài những vấn đề liên quan đến cách ngồi, cách thở, lúc toạ Thiền thường gặp một số trở ngại khác làm cho việc hành Thiền không có kết quả, hay lắm lúc phải vất vả lắm mới hành Thiền được. Theo Ngài Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

    Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14.

    Ngài Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14.

    thì “Kinh điển Phật giáo đề cập đến 4 loại trở ngại chính, một Thiền giả phải vượt qua để đi tới mức thành công. Thứ nhất là các vọng tâm hay những tư tưởng tán loạn khởi lên trên bình diện thô thiển của tâm thức làm cho ta không thể định tâm được. Loại thứ hai là sự buồn chán, hôn trầm khiến cho thiền giả ngủ gục. Loại thứ ba là sự buông lung, giải đãi, tâm ta không giữ được sự tinh tường sáng sủa. Cuối cùng vi tế hơn, đó là sự lăng xăng, khích động bắt nguồn từ bản chất dễ lay động của tâm.” (Trong tác phẩm “Transforming the mind” Chuyển hoá tâm) của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, Chân Huyền dịch, trang 21). Vì mới thực tập hành Thiền nên tôi gặp trở ngại này thường xuyên và đang tìm cách vượt qua. Để vượt qua những trở ngại này Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 khuyên chúng ta: “Trong 4 loại trở ngại của Thiền tập, hai loại chính là sự tán loạn và buông lung. Chúng ta phải đối phó với 4 thứ chướng ngại này ra sao? Tâm buồn chán hôn trầm thường liên quan tới tình trạng sức khoẻ của cơ thể, như thiếu ngủ chẳng hạn thường làm cho chúng ta hôn trầm. Khi ăn uống không thích hợp với tình trạng cơ thể hoặc ăn nhiều quá, ta cũng dễ bị buồn nản. Đó là lý do các vị tăng sĩ trong tu viện Phật giáo thường được khuyên không nên ăn quá ngọ (sau bữa trưa). Giữ giới này, các tăng ni có thể giữ được đầu óc tỉnh táo phần nào khi hành thiền, và tâm trí cũng sáng suốt hơn khi thức dậy buổi sớm hôm sau. Thói quen ăn uống đúng phép có ảnh hưởng rất tốt để chống lại sự hôn trầm, buồn nản. Đối với tâm buông lung giải đãi, người ta cho rằng sở dĩ Thiền giả bị như vậy vì họ thiếu năng lượng khi hành Thiền, khiến cho họ không giữ được tỉnh thức. Khi gặp chướng ngại này, ta cần làm sao để cho tinh thần được phấn chấn. Một trong các phương cách tốt nhất là ta nên nuôi dưỡng sự lạc quan vui vẻ khi nghĩ tới những thành quả của các việc thiện ta đã làm được trong đời v v…Đó là một thứ đối trị được với tâm buông lung giải đãi.” (Trong tác phẩm “Chuyển hoá tâm” của Đức Đạt Lai lạt Ma tứ 14, trang 23).

    Ngoài việc tập tọa Thiền ở nhà, mỗi lần vào bơi trong hồ bơi của Bally Gym Center, tôi cũng ngồi tập tập trung tư tưởng như phương pháp Thiền luôn. Mỗi lần dầm mình trong nước nóng, nước ấm thì đúng hơn, trong spa, tôi thường chỉ ngâm mình khoảng 20 phút thôi. Vì nếu ngâm lâu quá sẽ làm cho cơ thể nóng lên không tốt cho sức khoẻ. Trong thời gian ngâm mình trong nước nóng, tôi ngồi trên băng ghế dài bằng đá nằm dưới nước rồi dựa lưng vào thành bờ hồ. Tôi cũng ngồi theo thế bán già, hai tay để úp vào đầu gối, rồi bắt đầu tập trung tư tưởng. Có lần lúc bắt đầu ngồi tập trung tư tưởng, tôi nhìn đồng hồ treo trên tường trước mặt là 4:00 giờ chiều. Tôi liền nhắm mắt để thực tập bất chấp cả nước nóng đang sôi kêu lùng bùng quanh cơ thể mình và nước sủi bọt lên chung quanh ngực mình. Vì nước nóng sủi bọt lên tạo thành những gợn sóng, và hai vòi nước phun ra phía sau lưng tôi từ từ đẩy nhẹ cơ thể tôi ra khỏi chỗ ngồi, khiến tôi trở thành một vật của nguyên lý Archimedes làm tôi tỉnh dậy vì sắp chìm dưới đáy hồ. Mở mắt ra, tôi thấy một ông Mỹ già ngồi ngâm nước nóng bên phải tôi cách tôi khoảng một thước, trước mặt tôi một ông già có vẻ người Trung Đông cũng đang ngồi ngâm nước nóng dựa lưng vào bờ thành. Hai ông già này xuống ngâm nước trong spa bên cạnh tôi lúc nào tôi cũng chẳng hay biết, vì lúc tôi xuống ngâm nước rồi bắt đầu tập trung tư tưởng, trong spa chỉ có một mình tôi thôi. Nhìn đồng hồ trên tường tôi thấy kim dài chỉ con số10. Điều này chứng tỏ trong thời gian 10 phút đó tôi ngồi Thiền trong nước nóng đang sủi bọt quanh tôi mà tôi chẳng biết gì chung quanh cả. Thế rồi tôi tự nhủ thầm rằng, đang thực tập ngồi tập trung tư tưởng như vậy là khá lắm rồi, nhưng tiếc rằng chỉ được có 10 phút thôi. Khi tôi mở mắt ra, hai ông già nói trên nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên vì thấy tôi vừa ngồi ở một tư thế như tư thế của một người tập Yoga. Có lẽ hai ông già ấy nghĩ rằng tập yoga mà lại tập ngồi trong nước nóng sủi bọt như đang sôi? Chuyện khó tin nhưng lại có thật vì đang xảy ra trước mắt họ!

    Hết tập ngồi tập trung tư tưởng trong spa tôi lại tập ngồi tập trung tư tưởng trong phòng tắm hơi (Steam room). Thường mỗi khi tắm hơi tôi chỉ ngồi khoảng 7 phút thôi, lâu lắm là 10 phút. Riêng trong phòng sauna, tôi chỉ ngồi 15 phút như chỉ thị treo trên tường trước cửa vào phòng. Bởi vì nếu ngồi lâu hơn mồ hôi sẽ ra nhiều quá đưa đến tình trạng mất nước trong cơ thể, dễ sinh bệnh (Đông y gọi là âm hư). Dĩ nhiên ngồi trong phòng tắm hơi giống như ngồi xông hơi trong mền lúc bị cảm cúm vậy. Hơi nóng toả ra khắp phòng rồi nhỏ từng giọt nước rất nóng. Mồ hôi ra như tắm. Lúc vào phòng tắm hơi mọi người thường im lặng nhiều hơn là nói chuyện. Đó là lý do tại sao tôi muốn thực tập tập trung tư tưởng ngay cả trong phòng tắm hơi và cũng để thử thách xem mình ngồi chịu đựng trong hơi nóng được bao lâu. Có lần tôi ngồi tập trung tư tưởng một mình trong phòng, mắt lim dim. Tôi cố gắng không để ý gì trong phòng cả, nhưng rồi vẫn cảm nhận được mồ hôi toát ra trên lưng, trên cơ thể; cảm nhận được hơi nóng đang toả ra khắp phòng. Nếu so với sức nóng của nước trong spa thì hơi nóng trong phòng tắm hơi nóng hơn nhiều, có thể gấp đôi, gấp ba; nhất là lúc máy bắt đầu chạy để cho hơi nóng toả ra giữa phòng. Bỗng nghe một tiếng ho làm tôi “tĩnh mộng”. Tôi liền mở mắt ra thì thấy một Ông Mỹ già khoảng 75 tuổi bước vào phòng để xông hơi. Bước ra khỏi phòng nhìn đồng hồ treo trên tường, tôi thấy mới ngồi tập trung tư tưởng được khoảng 7 phút thôi. Ngồi tập trung tư tưởng được bảy phút trong phòng tắm hơi lúc hơi nóng đang toả ra mà không biết gì xảy ra quanh mình là cả một vấn đề trong thời gian mới thực tập! Dĩ nhiên trong thời gian ngồi thực tập tập trung tư tưởng trong spa cũng như trong phòng tắm hơi the steam room, sauna), tôi không bao giờ hít ra thở vào theo phương pháp đếm hơi thở lúc hành Thiền; vì hai địa điểm này hơi nóng toả ra quá nhiều nếu hít hơi vào sẽ rất nguy hiểm cho phổi và dễ bị sặc ngay. Cũng như không đọc kinh hay nghĩ gì liên quan đến Phật pháp vì nơi đây là những địa điểm không được trong sạch cho lắm, mà chỉ ngồi tập trung tư tưởng thì đúng hơn, và suy nghĩ đến một vấn đề nào đó hay đếm từ số 1 đến số 10 rồi đếm ngược lại. Mục đích chỉ là xem cơ thể mình chịu đựng sức nóng ra sao lúc ngồi tập trung tư tưởng và quên đi ngoại cảnh xung quanh mình. Lợi dụng lúc ngồi tập trung tư tưởng trong phòng này, ta nên ngồi thật thẳng lưng rồi cho lưng dựa sát vào tường. Lúc mới dựa vào, da lưng cảm thấy rất nóng. Tuy nhiên nếu để yên như thế khoảng vài dây sau, da sẽ quen và chịu đựng được hơi nóng ngay. Để lưng dựa sát vào tường rất lợi ở chỗ trên lưng, có hai dãy huyệt của Bàng Quang Kinh nằm trên hai đường thẳng song song và đối xứng với xương sống chạy từ hai vai xuống hai mông. Hai dãy huyệt này có thể chữa tất cả các bệnh của cơ thể; đặc biệt là lục phủ và ngũ tạng tâm, can, tỳ, phế, thận vì trên hai dãy huyệt nầy có các huyệt tâm du, can du, tỳ du, phế du, thận du. Vì thế nên khi lưng nóng lên, các huyệt này cũng sẽ nóng lên xem như đang được châm cứu nên kinh mạch trong cơ thể được đả thông, khiến cơ thể cảm thấy sảng khoái lên.

    Nói chung, trong thời gian tập Thiền, tôi luôn luôn tập bất cứ lúc nào và nơi nào tôi có thể thực hành được là tôi tập. Từ trong nhà, sau vườn dưới cây cam, trong spa, trong phòng tắm hơi (steam room, sauna) của Bally Gym Center. Khi thì tôi đứng Thiền, khi thì ngồi Thiền, thỉnh thoảng cũng nằm Thiền nữa. Vì đang thực tập Thiền nên tôi tập tổng hợp theo nhiều phái khác nhau để thử nghiệm và theo Thiền sư Osho, đi, đứng, nằm ngồi đều Thiền được cả.

    Và sau khi cảm thấy thực tập được vững vàng, tôi sẽ bắt đầu hành Thiền thật sự.

    Dương viết Điền, California, ngày 04 tháng 09 năm 2012

    Tác giả đang thực tập tọa Thiền dưới cây cam sau vườn