-
RMS TUYỂN TẬP HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG Ở SAN JOSE VÀ SACRAMENTO CỦA TÁC GIA KIỀU MỸ DUYÊN
Tối thứ ba 21/6/2022, tôi đến phi trường San Jose, thời tiết nóng 90 độ, Mỹ Thanh (phu nhân của thi sĩ Chinh Nguyên- nguyên chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt) đón tôi với nụ cười thật tươi. Trời nóng không có gió nhưng nhìn người xinh đẹp, tự nhiên thấy lòng mình dịu xuống.
Về đến nhà Mỹ Thanh và Chinh Nguyên, thức ăn đã nấu sẵn, trước khi ăn tối, tôi đi một vòng từ trước ra sau nhà. Trước nhà, hoa rực rỡ, hoa vàng, hoa tím, hoa trắng rung rinh trong gió. Có nhiều cây cổ thụ thật to ở ngoài đường rợp bóng mát vào nhà. Patio thật lớn làm phòng thu hình. Sau nhà, rau tươi, cây cỏ xanh tươi, hồ cá với những con cá thật to bơi lội nhởn nhơ, 8 con vịt nhỏ, 2 con vịt to, những con bồ câu bay lượn trong nhà, v.v.
Nhà ở cuối đường nên có nhiều đất, nhà đối diện là nhà em ruột của Mỹ Thanh, không có một hạt bụi, phòng khách có nhiều hoa, hoa trước nhà, sau nhà, hoa tươi trên bàn thờ Đức Mẹ, chỗ nào cũng hoa. Nhà không chứa nhiều đồ đạc nên rất thoáng mát như nhà của người Nhật, người Đại Hàn.
Sáng thứ tư 22/6/2022, chúng tôi đi thăm tòa báo Cali Today, đài TV. Ngày xưa, mỗi lần tôi đến San Jose, chủ báo, chủ đài Nguyễn Xuân Nam phỏng vấn chúng tôi, ngày nay cũng như thế. Trước khi lên San Jose, Nguyễn Xuân Nam có nói một câu làm tôi cảm động:
– Khi chị đến San Jose, đến ngay thăm em buổi sáng nhé, buổi chiều em đi nhà thương lọc máu.
Nguyễn Xuân Nam rất ân cần, niềm nở với người ở xa đến, mỗi lần 2 vợ chồng Nguyễn Xuân Nam đến Orange County thường đến thăm tôi. Có lần, Nguyễn Xuân Nam nói sẽ đến Orange County thăm thầy Quảng Thanh, viện chủ chùa Bảo Quang. Tôi đem lời này của Nguyễn Xuân Nam thưa lại với thầy Quảng Thanh, thầy nói: khi 2 vợ chồng Nguyễn Xuân Nam đến, thầy sẽ mời ở lại chùa để biết sinh hoạt của chùa. Chùa lúc nào cũng có sinh hoạt, buổi sáng, buổi tối đều có tụng kinh, nhưng Nguyễn Xuân Nam hứa rồi chưa đến cho đến khi thầy Quảng Thanh qua đời, Nam cũng đã cầu nguyện cho thầy.
Nguyễn Xuân Nam phỏng vấn tôi về việc ra mắt tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường, giọng rất xúc động khi Nam nhắc đến một đề tài nào đó. Nam nói:
– Bây giờ Nam không nói thì đến bao giờ mới nói hả chị?
Chúng tôi cũng được biết khi Nam đặt câu hỏi với các chính khách rất độc đáo và làm đau đầu nhiều người.
Ai làm truyền thông cũng biết một điều: sự thật, sự thật và sự thật. Nhà thơ Phùng Quán đã viết:
“… Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá”.
Nguyễn Xuân Nam phỏng vấn chúng tôi chừng 1 giờ, để yểm trợ buổi ra mắt tuyển tập của tôi vào ngày thứ bảy 25/6/2022 và Chúa nhật 26/6/2022 ở Sacramento.
Đến nơi nào chúng tôi cũng thăm chùa và nhà thờ. Đến chùa Đức Viên, ngày xưa sư bà Đàm Lựu học Trưng Vương, học ban C là ban triết. Chùa nữ, chùa rất rộng, các ni sư đang đọc kinh cầu nguyện ở chánh điện. Chúng tôi cũng đi thăm một số chùa nhỏ. Chùa ở San Jose rất nhiều, chúng tôi đi ngang 1 con đường tìm chùa của sư thầy Trần Minh Lợi, Tiến Sĩ luật khoa, cựu chủ báo Thằng Mõ, nhưng tìm hoài không được.
Nhà thờ có linh mục Việt Nam cũng nhiều, tín đồ đến nhà thờ Saint Maria Goretti rất đông, thêm1 nhà thờ đang xây, 1 nhà thờ đang trùng tu. Chúng tôi email và gọi điện thoại thăm Linh Mục Lê Trung Tướng, mà có lần Đại Tướng Trần Thiện Khiêm nói với tôi:
– Cô Kiều Mỹ Duyên, tôi đã theo đạo, Trung Tướng rửa tội cho Đại Tướng.
Kiều Mỹ Duyên thăm trụ sở hội cựu tù nhân chính trị.
Chúng tôi đi thăm trụ sở của khu hội cựu tù nhân chính trị, trên bàn thờ có di ảnh của các Tổng Thống, các tướng lãnh đã tử tiết, trên bàn thờ có di ảnh ông Trần Trảng, cựu chủ tịch hội cựu tù nhân.
Ông chủ tịch hội cựu tù nhân, ông Mai Khuyên nói:
– Ngày xưa trụ sở ở phố, phải trả $6,000 một tháng không trả nổi nên dời về đây, 900 square feet, $1,800 một tháng. Đó là tiền nhà, còn tiền điện nước, bảo hiểm, nước uống cho khách tới tham quan, v.v. Tổng cộng không dưới $3,000 một tháng.
Tôi nghĩ 10 người trong ban chấp hành có thể bỏ tiền túi ra.
Trụ sở của hội tù nhân chính trị ở trong 1 khu đất mà xung quanh là rừng cây cổ thụ rất to cao cho bóng mát quanh năm, tượng Phật Bà Quan Âm rất đẹp, tượng Đức Mẹ Maria rất đẹp, du khách đến đây rất thích.
Nhìn tới nhìn lui không thấy hình Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, mỗi lần chị và anh chị em H.O tổ chức đại nhạc hội Cám Ơn Anh, người thương binh Việt Nam Cộng Hòa, lấy tiền giúp cho cô nhi quả phụ, tử sĩ ở quê nhà.
Tôi hỏi ông Mai Khuyên:
– Sao tôi tìm hoài không thấy hình của chị Hạnh Nhơn, ký giả chiến trường Phan Trần Mai, trung tá Nuôi?
Ông Mai Khuyên trả lời:
– Chúng tôi có xin hình của Trung Tá Hạnh Nhơn, nhưng hội cựu nữ quân nhân ở đây chưa cho.
Tôi nói:
– Dễ quá, dễ quá, tôi sẽ gửi hình chị Hạnh Nhơn và Phan Trần Mai cho hội.
Buổi chiều, chúng tôi thăm mộ Phan Trần Mai. Mai thuộc binh chủng Nhảy Dù, sau này giải ngũ đi làm cho nhật báo Trắng Đen. Khi định cư ở San Jose, Mai đi làm ngay để lấy tiền giúp cho chị em còn kẹt ở quê nhà, có người còn đang ở tù.
Phan Tuấn, em ruột của Phan Trần Mai hướng dẫn chúng tôi và Đại Úy Đào, Lê Diễm đến mộ của Mai. Sau khi Mai qua đời, người nhà hỏa táng, tro được đặt trên mảnh đá, dưới là dòng suối nước chảy róc rách.
Chúng tôi im lặng. Tôi thì thầm:
– Phan Trần Mai ơi, chị đem tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường ba bản tặng em. Trong tuyển tập này, có bài viết về em, về chị Hạnh Nhơn.
Ở Orange County, nhiều người thương Mai lắm, như chị Hạnh Nhơn, bà Việt Định Phương- chủ báo Trắng Đen. Mỗi lần Mai đến đây và khi trở về San Jose, bà Việt Định Phương pha cà phê, chị Hạnh Nhơn gói bánh, Đại Úy Nguyệt cũng gói thức ăn cho Mai, vì Mai một mình lái xe, sợ dọc đường Mai đói thì có thức ăn. Mai có một thời làm cho báo Trắng Đen sau khi giải ngũ. Ông bà Việt Định Phương thương Mai như con trong gia đình nên chăm sóc Mai rất kỹ.
Ra mắt sách Hoa Cỏ Bên Đường ở San Jose 25/6/2022
Về San Jose lần này, tôi rất bùi ngùi vì nhiều người quen biết đã ra đi. Năm 1994, tôi đến San Jose ra mắt bút ký chiến trường Chinh Chiến Điêu Linh, tôi gặp rất nhiều người nổi tiếng tham dự như: Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn và phu nhân Đề Đốc Trần Văn Chơn, Trung Tướng Lâm Quang Thi và phu nhân, bộ trưởng bộ giáo dục Ngô Khắc Tinh, em ruột của phu nhân Trung Tướng Ngô Du là trung tá Đại, ông Trần Trảng, chủ tịch hội cựu tù nhân, v.v. Bây giờ thì quý vị đã về với ông bà. Tôi rất bùi ngùi xúc động người còn, người mất.
Bác sĩ Trần Công Luyện, thầy của chúng tôi, dạy ở trường trung học Lý Thường Kiệt. (Thầy ngồi phía trước, trên xe lăn). Chánh án Phan Quang Tuệ và phu nhân đứng cạnh Kiều Mỹ Duyên và thân hữu.
Quan khách đến trong ngày ra mắt tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên ở San Jose 25/6/2022, người lớn tuổi nhất đó là bác sĩ Trần Công Luyện, năm nay 93 tuổi, là thầy của chúng tôi, dạy ở trường trung học Lý Thường Kiệt, trung tâm Huấn Luyện Quang Trung năm 1956, tôi học đệ lục với thầy, sau đó chuyển đến trung học Trưng Vương học đệ tam. Thầy ngồi trên xe lăn, con của thầy là bác sĩ Trần Công Khanh đưa thầy đi. Tôi rất cảm động khi thầy mua 1 quyển Hoa Cỏ Bên Đường là $1,000.
Nhiều nhà hảo tâm khác yểm trợ nhiệt thành: Bác sĩ Đỗ Văn Học, chủ báo Thằng Mõ ở Los Angeles mua 1 quyển $500, tu sĩ Trần Minh Lợi mua 1 quyển $100, Hùng Tâm, con nhà sách Khai Trí, mua 1 quyển $200, ông bà Lê Đình Thọ mua 1 quyển $200, v.v.
Kiều Mỹ Duyên bên các em thiếu nhi trong ban văn nghệ mừng ngày ra mắt sách.
Chúng tôi đón tiếp nhiều quan khách đến buổi ra mắt sách: Linh mục Trần Đình Thảo đến từ Fresno, chánh án Phan Quang Tuệ và phu nhân, giáo sư Trần Hoài Bắc, đại học Stanford, và phu nhân, Đại Tá Vũ Văn Lộc, sáng lập bảo tàng viện Việt Nam, ông Biên Đoàn, cô Vân Lê, v.v.
Thẩm phán Phan Quang Tuệ, con trai của bác sĩ Phan Quang Đáng, 23 năm làm chánh án, từ tiểu bang đến liên bang, ngày xưa là sinh viên đấu tranh, năng động, đối đãi bạn hữu rất tốt. Có lần, tôi gọi cho ông:
– Có người lính Biệt kích rất có hiếu với mẹ, đem mẹ vào nhà thương giải phẫu. Trước khi đi, bà còn nấu canh rau, để sau khi giải phẫu trở về nhà thì 2 mẹ con ăn. Nhưng chẳng may, sau khi giải phẫu, người mẹ mê man và qua đời. Người con trai duy nhất của bà xách súng vào bệnh viện tìm bác sĩ. Người chiến sĩ đã ra Bắc Việt, bị bắt ở trong tù, gọi ra nhờ Hòa Thượng cầu siêu cho mẹ, không xin giảm tội, nhờ luật sư biện hộ vì người con hiếu thảo này muốn chết theo mẹ.
Có một chủ nhà hàng nói với chúng tôi, người con hiếu thảo này thường đến nhà hàng và chỉ gọi món ăn cho bà cụ những món bà thích nhất, ăn xong trả tiền cộng với tiền hoa hồng. Anh chàng này chăm sóc mẹ rất chu đáo, nhặt từng cọng rau cho mẹ.
Một trường hợp khác, một thanh niên trai trẻ đi theo diện H.O với cha mẹ, người cha ở tù lâu năm, sang Hoa Kỳ bệnh nằm một chỗ, người mẹ lặn lội thăm chồng, vất vả nuôi con nên bị bệnh tim. Người trẻ này muốn tìm việc làm để có tiền giúp cho cha mẹ. Một ngày đẹp trời, có người hẹn đến quán cafe để cho việc làm. Vừa đến thì gặp 2 băng đánh nhau, người trẻ này võ nghệ cao cường, đưa tay cướp con dao của tên cướp sắp sửa chém đối thủ, chẳng may dấu tay của người nghĩa khí này in trên con dao, cuối cùng người làm ơn họa vào thân, bị Cảnh Sát bắt. Sau khi xử ở tòa án San Jose, mãn tù đến tòa án di trú, đem nhốt vào nhà tù Orange County và chờ trục xuất về Việt Nam. Chúng tôi hỏi rất nhiều trường hợp oan ức với chánh án Phan Quang Tuệ vì chúng tôi quen nhau hơn 60 năm, ông chỉ dẫn rất tỉ mỉ, nhiều trường hợp khác nhau nhưng trường hợp nào cũng cần đến luật sư giỏi.
Chánh án Phan Quang Tuệ rất quan tâm đến người trẻ, đến hậu duệ và ông rất nhân đạo. Chúng tôi còn nhớ mãi một trường hợp mà tôi và ký giả Phan Trần Mai sắp đứng tim, chánh án Phan Quang Tuệ mời chúng tôi dùng cơm trưa, nhưng tôi đến trước giờ trưa để xem ông xử kiện. Một phụ nữ ốm nhom người Cuba làm ở tòa tổng lãnh sự Cuba ở San Francisco, hết nhiệm kỳ bà ở lại Hoa Kỳ xin tị nạn cùng đứa con 14 tuổi. Hôm đó, cộng đồng tị nạn Cộng Sản Cuba đến tòa án rất đông yểm trợ người đàn bà đáng thương này. Mọi người phập phồng chờ đợi phán quyết của quan tòa, nếu chánh án xử người đàn bà có tội thì 2 mẹ con bà sẽ bị trục xuất về Cuba, đi ở tù, chồng bà đã lập gia đình với người đàn bà khác.
Sau khi luật sư 2 bên bàn cãi, và nhờ cộng đồng tị nạn Cuba yểm trợ, người đàn bà ốm yếu này được chánh án Phan Quang Tuệ tha bổng. Người đàn bà ốm yếu quỳ lạy chánh án Phan Quang Tuệ như tế sao, cậu con trai cũng lạy theo mẹ, cộng đồng tị nạn Cuba đứng dậy xá xá chánh án.
Chúng tôi vô cùng xúc động và mừng cho người đàn bà bất hạnh được ở lại Hoa Kỳ và đứa con trai sẽ tiếp tục đến trường như những đứa trẻ khác. Hình ảnh người đàn bà lạy chánh án chúng tôi nhớ mãi cho đến bây giờ như ngày hôm qua dù chuyện này đã xảy ra từ mấy chục năm về trước.
Kiều Mỹ Duyên ký tên lưu niệm cho khách mua sách Hoa Cỏ Bên Đường. (Linh Mục Trần Đình Thảo đến từ Fresno, đứng bên phải Kiều Mỹ Duyên)
Giáo sư Trần Hoài Bắc dạy đại học Stanford thường hướng dẫn sinh viên đến viện bảo tàng Việt Nam nghiên cứu về hành trình tị nạn của người Việt Nam.
Cha Trần Đình Đệ, cựu trung tá Nhảy Dù, được rất nhiều người kính mến. Cha đã hưu trí nhưng rất quan tâm đến đồng hương của mình và được đồng hương quý mến. Qua cuộc đối thoại trong điện thoại, chúng tôi biết cha Đệ còn khỏe mạnh và đầy sĩ khí như ngày xưa.
Luật sư Nguyễn Quốc Lân đến từ Orange County.
Luật sư Nguyễn Quốc Lân đến từ Orange County. Luật sư Lân nói:
– Đi ngang thấy có cờ vàng ba sọc đỏ phất phới nên đến đây.
Kiều Mỹ Duyên và bạn bè, thân hữu trong buổi ra mắt sách ở San Jose.
6 giờ sáng Chúa nhật 26/6/2022, tôi thức dậy nghe chim hót líu lo, ánh sáng chói chang báo hiệu một ngày sẽ nắng. Nắng chói chang ở mọi nơi. Mỹ Thanh, bà chủ nhà duyên dáng, mời mọi người ăn sáng trước khi ra khỏi nhà.
Lê Diễm và Sơn đến là lên đường. Phái đoàn gồm có thi sĩ Chinh Nguyên, Mỹ Thanh, Lê Diễm, Sơn và tôi lên đường đến Sacramento. Mai Hân mời ăn sáng, Hoàng Mộng Thu mời ăn sáng, và 10 gia đình mời ăn sáng. Nếu không ăn mà nhận tiền mỗi người cho $100 chắc trẻ em mồ côi, chắc trẻ em mồ côi sẽ có thức ăn, ăn cả năm chưa hết!
Trên đường đi, những phụ nữ nói chuyện líu lo như chim hót, chuyện Trời mây đất nước, chuyện “tình” của những người nổi tiếng, hơn 90 tuổi, 2 năm cưới vợ một lần, chuyện tình bao giờ cũng hấp dẫn. Chuyện một linh mục đẹp trai nói chuyện hay, có bằng tiến sĩ, làm việc xã hội rất nhiều. Một hôm, bỗng dưng có một tín đồ Công Giáo đem súng vào nhà thờ, chĩa vào đầu và nói:
– Nếu cha không thương thì tôi sẽ tự sát.
Làm cả nhà thờ náo loạn. Người kể chuyện có mặt ở nhà thờ hôm đó. Chuyện này tôi biết từ lâu, vì ai cũng biết thì làm truyền thông sao lại không biết chứ?
Tôi đã từng phỏng vấn vị linh mục đẹp trai này. Nhiều người quen với gia đình của người đàn bà đẹp kia cho biết: linh mục đã làm phép xác, cầu nguyện cho bà ngoại, cha mẹ của tín đồ đó, trong gia đình hễ có người đau thì mời linh mục đến cầu nguyện, có người chết thì mời linh mục đến làm phép xác, v.v. Rồi từ từ tín đồ thương linh mục hồi nào không hay, cho đến khi cô cầm súng vào nhà thờ làm xáo trộn cả buổi lễ. Cuối cùng, người phụ nữ đẹp này được đưa vào nhà thương tâm thần, trước đây cô ấy cũng đã ở nhà thương. Tội nghiệp vị linh mục làm việc hết lòng hết dạ, bỗng dưng phiền não xảy đến với mình.
Ngồi trong xe hơn 2 giờ đồng hồ, nhiều chuyện tình sôi nổi được kể liên tục. Công nhận những người làm truyền thông việc gì cũng biết, chuyện vui, chuyện buồn, chuyện tình, v.v.
Ra mắt sách Hoa Cỏ Bên Đường ở Sacramento 26/6/2022
Đến Sacramento, đến nhà phu nhân nhà văn Tô Ngọc. Ký giả Tô Ngọc ngày xưa làm cho báo Chính Luận của thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Sung. Ký giả Tô Ngọc và ký giả Linh Lan giữ quỹ học bổng và trao học bổng cho rất nhiều học sinh giỏi.
Tòa soạn báo Chính Văn tại nhà, vườn rộng, phòng khách làm sân khấu. Tiến sĩ Nguyễn Khắc Liêm, chủ tịch cộng đồng đã có mặt, bác sĩ Trần Hoài Liêm và phu nhân, Thiếu Tá Nga, vợ chồng đều là nhà binh, Tiến sĩ Trần Diệu Chân, Cẩm Tâm, phu nhân của bác sĩ Tôn Thất Phan, ở tù 14 năm.
Ban nhạc, ca sĩ rất đông ở San Jose cũng như Sacramento, chỗ nào có hội họp là ở đó có ban nhạc, có nhạc sĩ, ca sĩ chuyên nghiệp, ca sĩ tài tử, ca sĩ thế hệ thứ nhất, thứ hai và các ca sĩ trẻ sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ hiện diện. Giáo sư triết Lại Quốc Hùng phân tích Hoa Cỏ Bên Đường rất tỉ mỉ. Ông thích bài nói về mẹ, về cha. Lê Diễm rất quan tâm đến thương phế binh ở quê nhà, Đoan Trang, nhạc sĩ ôm cây đàn. Giáo sư Lại Quốc Hùng hát tiếng Pháp xuất sắc. Bác sĩ Liêm hát rất có hồn. Thi sĩ Chinh Nguyên ngâm thơ. Ở San Jose, nhà văn Phương Hoa, Không Quân Lê Văn Hải ngâm thơ hay thì ở Sacramento, Chinh Nguyên ngâm bài thơ vừa mới sáng tác.
Ra mắt sách Hoa Cỏ Bên Đường ở Sacramento 26/6/2022
Cây ngoài vườn vẫn xanh, hoa vẫn nở, nhưng ký giả Tô Ngọc đã về với ông bà, để lại người vợ hiền từ Đức sang. Chị Tô Ngọc cho biết 2 năm nữa, chị sẽ về Đức sống với gia đình bên đó.
Buổi ra mắt sách ở Sacramento với 36 người rất ấm cúng, người khuất bóng được nhắc nhiều nhất.
Báo Chính Văn được tặng cho mọi người, CD Túi Khôn của sơ Đào Thủy và CD Mái Ấm Gia Đình được đọc trong sách Mái Ấm Gia Đình của linh mục Anthony Đào Quang Chính, tặng không còn CD nào. Có một phụ nữ rất đẹp chạy ra xe hỏi:
– Cho em xin CD, em thích lắm!
Nhưng than ôi, không còn một CD nào. Nhìn khuôn mặt người đẹp xìu xuống, tôi rất đau lòng, nhưng biết làm sao bây giờ? Hội từ thiện Hồng Ân của sơ Đào Thủy ở Vatican xa quá làm sao có thêm CD bây giờ?
Vườn của tòa soạn báo Chính Văn rất rộng, cây cỏ xanh mướt, hoa lá rợp trời. Nếu Trời mát thì nơi đây là nơi lý tưởng để họp mặt. Chị chủ nhà Tô Ngọc ân cần, niềm nở với tất cả mọi người. Thức ăn rất nhiều, có thức ăn chay cho người ăn chay. Nhiều phụ nữ trong chiếc áo dài tha thướt, người đẹp ngày xưa bây giờ vẫn đẹp. Khách ở xa tới cảm thấy ấm lòng vì được chăm sóc, có phòng riêng dành cho khách ở xa tới. Mệt thì lên lầu ngủ một giấc, sau đó xuống lầu ca hát, hàn huyên tâm sự. Chuyện nửa thế kỷ lúc còn đi học được nhắc lại, nhất là nhắc về người đã qua đời. Hỡi người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ? Người của trường luật, của văn khoa bây giờ ở đâu? Người làm việc chung ở trong trường luật văn khoa, người đi theo Việt Cộng bỏ tù người quốc gia, bạn với bạn, cùng học một ban rồi bỏ tù, nhắc lại chuyện vô lương tâm, vô nhân đạo mà ứa nước mắt. Người theo Cộng Sản không có trái tim, bỏ tù bạn, tịch thu nhà cửa, đưa bạn vào rừng, vào vùng kinh tế mới một cách dễ dàng?
Ra mắt sách Hoa Cỏ Bên Đường ở Sacramento 26/6/2022 (chị Tô Ngọc đứng bên phải Kiều Mỹ Duyên, và các chị em thân hữu)
Xin cảm ơn đồng bào, đồng hương, bằng hữu đã đón tiếp, đã cho ở nhà, đưa đi mọi nơi. Tình cảm nồng nàn này chúng tôi sẽ nhớ mãi. Thi sĩ làm thơ dễ dàng ở miền Bắc như thi sĩ Chinh Nguyên, nhà văn Phương Hoa, đứng cũng làm thơ, ngồi cũng làm thơ. Mọi người nói rất hay: Không Quân Lê Văn Hải, giáo sư Phạm Thái, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, chủ báo Huỳnh Lương Thiện, v.v., người nào cũng nói rất hay không thua gì luật sư. Có người nói:
– Văn Thơ Lạc Việt người nào nói cũng hay, thao thao bất tuyệt.
3 tháng một lần, báo Thằng Mõ tổ chức sinh nhật cho các thân hữu. Mọi người đều có quà, bánh, rượu, vòng hoa choàng cổ. Sao mà trịnh trọng! Vậy thì các thành viên của Văn Thơ Lạc Việt nên sống lâu lâu để năm nào cũng được tổ chức sinh nhật nhé.
Còn nhiều điều để nhớ, nhiều điều để mang ơn nhưng không viết hết. Miền Bắc và miền Nam California có sự liên hệ mật thiết. Có người ngồi trên xe đò ngủ một giấc thì đến miền Nam, vui với bằng hữu, rồi trở lại miền Bắc California cuối tuần. Hưu trí rồi tha hồ đi du lịch và làm việc xã hội nhưng phải có tiền. Cho nên còn làm việc được thì cứ làm, sau này hết làm việc phải có tiền mỗi tháng mới có cơ hội làm việc từ thiện hay đi du lịch. Mong bằng hữu có sức khỏe để đi du lịch khắp nơi, để làm việc từ thiện và sống cuộc đời bình yên. Mong lắm thay!
Tập san “Cảm nhận về tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường- Kiều Mỹ Duyên”
Hai buổi ra mắt tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên ở San Jose và Sacramento tràn ngập niềm vui, hạnh phúc như một cuộc hội ngộ sau 18 năm gặp lại bạn bè, thân hữu, độc giả thân thương. Mọi người tề tựu nơi đây thể hiện lòng yêu mến với tác giả và trên hết là lòng yêu thương tha nhân, chung tay cùng Kiều Mỹ Duyên giúp đỡ trẻ em mồ côi, người không nhà. Tất cả tiền bán sách được trao lại cho Không Quân Lê Văn Hải, chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt, chủ báo Thằng Mõ ở San Jose làm từ thiện.
Cảm ơn quý Cha, anh chị em, bạn bè, thân hữu yêu thương đã đọc tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường và viết những bài cảm nhận thật sâu sắc. Chúng tôi đã in thành tập san những bài cảm nhận của mọi người như một quyển lưu bút đầy kỷ niệm.
Chân thành cảm ơn các anh chị em Văn Thơ Lạc Việt đã vất vả trong 2 năm qua: biên tập, in ấn sách, các buổi mạn đàm giới thiệu tuyển tập trên TV, Youtube, gửi thiệp mời, chuẩn bị chu đáo ngày ra mắt sách, v.v.
Cảm ơn quý độc giả gần xa luôn ủng hộ Chinh Chiến Điêu Linh, và mong mọi người tiếp tục yêu mến tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường, chung tay làm từ thiện giúp đỡ đồng bào còn khó khăn ở Việt Nam từ tiền mua sách.
Xin Ơn Trên trả ơn bội hậu cho tất cả mọi người.
Orange County, tháng 6/2022
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
-
Nắng Hạ Bên Sông
-
Hà Nội Ngày Tháng Cũ
-
Tuổi Xa Người | Bài Cho Em
-
TOÀN PHONG NGUYỄN XUÂN VINH TRONG GÓC NHÌN VĂN HỌC

GS. NGUYỄN XUÂN VINH
(1930-2022)Chủ nghĩa văn học lãng mạn lôi cuốn không biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, trong đó những sáng tác văn chương, thi ca đều tán dương ái tình, hay tình yêu. Xin hãy xem những ví dụ như:
- Nhà văn kiêm triết gia Albert Camus nhận xét “Không được yêu là một bất hạnh đơn giản; bất hạnh thực sự là không yêu”.
- Thi hào lãng mạn Charles Baudelaire thì quan niệm “Tình yêu là khao khát được thoát ra khỏi chính mình”.
- Triết gia Jean Jacques Rousseau cho là “Những bức thư tình bắt đầu mà không biết điều gì sẽ nói và kết thúc mà không biết điều gì đã được nói”.
- về quan điểm tình yêu Voltaire nhà văn và triết gia Pháp đã viết “Bạn phải biết rằng không có đất nước nào trên trái đất mà tình yêu không biến những người yêu nhau thành thi sĩ”.
- Stendhal một nhà văn Pháp thế kỷ 19 lập luận “Tình yêu là một bông hoa tuyệt vời, nhưng cần phải có dũng khí để tìm kiếm nó trên bờ vực của vách núi kinh hoàng”.
- Sau cùng nhà văn phi công Antoine de Saint-Exupéry ghi nhận “Yêu xa là không nhìn mặt nhau; là cùng nhau nhìn về cùng một hướng”.
Nhìn từ luận điểm phân tích văn học, chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) đề cao cá nhân, tự do sáng tạo, chủ trương phóng túng, không để tâm hồn bị ràng buộc trong khuôn khổ cũ. Trong tiến trình sáng tác thơ văn, sự tưởng tượng và tri giác được đề cao và ngự trị bởi cá thể. Tác gia văn học trở thành trung tâm điểm trong việc sáng tác. Các nguyên tắc về khuôn mẫu và kiến trúc đã có từ trước của thi ca bị vất bỏ để thỏa mãn nhu cầu cần thiết của bản năng tự nhiên. Ngôn ngữ thơ được viết tự do và tự nhiên không còn bị gò bó trong thể luật. Chủ nghĩa duy lý (rationalism) bị chán ghét, trong khi ngữ căn và khát vọng tiềm thức được thăng tiến trong văn chương lãng mạn. Tác phẩm là tiếng lòng được thể hiện toàn vẹn, triệt để và vô hạn bằng sự tưởng tượng và xúc động không che dấu, không bị trói buộc bởi những ước lệ luân lý của xã hội.
Thực vậy, đặc tính chung đa số những nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch thuộc chủ nghĩa lãng mạn, tâm hồn của họ thiên tạo vốn gần gũi vối bản sắc ái tình. Xét ra thi nhân Toàn Phong không ngoại lệ. Nhà văn kiêm nhà thơ Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh của những Đời Phi Công, Mắt Biếc Hồ Thu, Tìm Nhau Từ Thuở, Tình Hư Ảo, Tâm Điểm, Ly Biệt, Bâng Khuâng,…
Em yêu anh, nên anh là tâm điểm
Giữa vòng tròn hạnh phúc của đời em.
Dẫu thời gian, không gian hoài biến chuyển,
Qũy tích này vẫn mãi chỉ chờ anh.
(Tâm Điểm, Nguyễn Xuân Vinh)
hay
Trời về khuya, bóng hình ai thương nhớ,
Muốn quên đi, vì giấc mộng không thành.
Vẽ cho cùng, không trọn trái tim anh,
Em đành đem chuyện chúng mình cất lại.
(Bâng Khuâng, Nguyễn Xuân Vinh).

Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian đang ấn hành, hay tái bản cho ông sách Theo Ánh Tinh Cầu. GS. Vinh vốn quý Theo Ánh Tinh Cầu, và Mộng Viễn Phương. Loại sách như L’Aviateur (Người phi công), danh tác của Saint-Exupéry, Courrier Sud (Chuyến thư miền Nam), Vol de Nuit (Bay đêm), Terre des Hommes, (Cõi người ta ), Pilote de Guerre (Phi công thời chiến) hay Le Petit Prince (Hoàng tử bé), những tác phẩm về phi công hay nghiệp bay, điểm chung của hai nhà văn phi công Antoine de Saint-Exupéry và của nhà văn phi công Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
GS. Nguyễn Xuân Vinh đã viết: “Trong nền văn học thế giới, kể cả Việt Nam, có những tác phẩm mà người đọc, sau khi bỏ sách xuống đã bâng khuâng tự hỏi phải chăng đây là việc thật xảy ra với những người thật”. Đọc Les Miserables của Victor Hugo người ta như sống với những nhân vật trong truyện. Trong những tác phẩm thật chọn lọc của Tự Lực Văn Đoàn, khi đọc Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng ta cũng có thể nghĩ chú tiểu Lan là mẫu người có thực. “Theo tôi nghĩ thì nhà văn khi tạo dựng một tác phẩm, nếu tả đúng tâm lý của những nhân vật trong truyện và trong một khung cảnh hiện thực thì đó là bí quyết để thành công khi viết sách để cho người đọc như đang theo dõi một câu chuyện đời có thực. Trường hợp tôi viết “Đời phi công” cũng như vậy, tôi cố tạo ra những hình ảnh đẹp là mẫu mực của thanh niên ở thế hệ tôi. Nhiều thanh niên học sinh đọc sách đã thầm ước mình là người trong truyện.”
Mạn đàm về văn học
Trong buổi mạn đàm về văn học cùng nhà văn Nguyễn Mạnh Trinh và phóng viên Nhã Lan, GS. Nguyễn Xuân Vinh kể về sự hình thành 2 cuốn tiểu thuyết Đời Phi Công và Tìm Nhau Từ Thuở như sau:
“Khi viết xong cuốn truyện này, vào thời khoảng 1960, gồm có nhiều bức thư kể đời sống của một chiến sĩ Không Quân, từ lúc bắt đầu là một sinh viên sĩ quan cho đến lúc thi hành nhửng phi vụ hành quân ở đơn vị, thì tôi đã là người chịu trách nhiệm tổ chức và bành trướng Không Quân Việt Nam, và nghĩ rằng mình đã theo binh nghiệp thì sẽ đi suốt chặng đường…. Về văn học, thời niên thiếu tôi học theo chương trình Pháp. Vốn liếng nho học, tôi chịu ảnh hưởng của ông ngoại, và ngoài ra tôi chịu khó đọc sách tiếng Việt và tìm hiểu về lịch sử nước nhà nên dĩ nhiên là được thấm nhuần cả hai nền văn hóa Đông và Tây. Tôi đã đọc hầu hết những tác phẩm nổi tiếng viết bằng tiếng Việt. Về sách tiếng Pháp tôi thường tìm đọc những tác phẩm của Alphonse Daudet, Emile Zola và Victor Hugo. Tuy vậy tôi không nghĩ rằng văn phong của tôi chịu ảnh hưởng của một tác giả nào vì tôi chỉ viết khi có hứng khởi theo ý nghĩ của riêng mình. Có người đã phê bình rằng cuốn Đời Phi Công tôi viết chịu ảnh hưởng của nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupéry. Điều này đã được nhà văn Việt Hải phản bác lại là cuốn sách của tôi không có gì giống với những tác phẩm của nhà văn người Pháp ngoài chuyện là hai người cùng nặng nghiệp bay.

Nhà văn Việt Hải còn nói rằng là ông Saint-Exupéry viết chuyện người phi công phải vật lộn với mưa gió bão bùng trên trời và tôi nói chuyện về tình người ở trên quê hương Việt Nam, thì như vậy có gì liên hệ tới nhau. Vả chăng có sự việc không mấy người biết là tuy sách tôi viết bằng tiếng Việt nhưng vào năm 1961 đã được giới thiệu trên nhật báo Pháp văn “Le Journal d’Extrême-Orient”. Tôi cũng đã dịch một chương của cuốn truyện sang Anh ngữ và đăng trên Empire Magazine là tuần báo ra ngày chủ nhật của Denver Post là tờ báo lớn nhất ở miền Trung Hoa Kỳ. Bài dịch này, đề là “The Eagle’s Wings” đã được họa sĩ Patrick Oliphant, vẽ hình trình bầy. Ông là người nổi tiếng thường có hình biếm họa đăng trên The Washington Post và sau đó được giải Pullitzer vào năm 1967.
Năm 1984 tôi đã là người gốc Á châu đầu tiên được bầu vào Académie Nationale de l’Air et de l’Espace của Pháp. Hàn Lâm Viện này không phải chỉ gồm toàn những kỹ sư và khoa học gia về hàng không và không gian mà còn có nhửng danh nhân về văn học như Pierre Closterman, phi công anh hùng Đệ Nhị Thế Chiến và là tác giả những cuốn sách nổi tiếng như Le Grand Cirque, Flames in The Sky, …, hay ông Michel Debré, giáo sư Luật khoa, nhà văn và cũng là cựu thủ tướng Pháp, …. Những người này khi bỏ phiếu bầu cho tôi tất nhiên đã đọc những tài liệu tôi viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp mà ủy ban tuyển chọn đã thâu thập được và họ là những người xứng đáng nhất để có thẩm quyền nhận xét về giá trị văn học và khoa học và hiểu biết kỹ thuật về hàng không của tôi. Tất nhiên những người này không ai nghĩ là tôi đã dựa vào một tác phẩm nào để viết cuốn sách đầu tay của mình….

Tác giả Nguyễn Xuân Vinh viết về tác phẩm Tìm Nhau Từ Thuở:
“Cuốn sách này tôi viết ba năm mới xong gồm 14 chương. Tuy diễn tiến của cuộc tình theo với thời gian đã được giàn trải trước nhưng có khi vài tuần lễ tôi mới viết được một đoạn như là một câu truyện ngắn nói về liên hệ giữa hai người. Chẳng hạn trong một chương sách có tiêu đề là Thiên Nga tôi chỉ kể câu chuyện nhân dịp lễ Valentine anh chàng Phong tìm mua được một con thiên nga bằng pha lê để gửi kịp ngày 14 tháng 2 cho cô bé mang ra trường khoe với lũ bạn luôn luôn tọc mạch. Bài viết cũng khá dài gồm nhiều chi tiết làm người đọc thấy thích thú. Mỗi chương sách tôi thường viết một mạch không cần sửa chữa hay thêm bớt. Trong khoảng thời gian đó tôi tưởng tượng mình như có liên hệ với những người trong truyện nên có độc giả đã nghĩ rằng tôi kể chuyện đời mình.”
Về Tìm Nhau Từ Thuở, GS Vinh kể tiếp:
“Trong những năm sống ở nước ngoài, và được đi nhiều nơi, tôi đã viết một loạt bài, thường là những ký sự hay tùy bút bộc lộ tâm sự của mình, hướng về đất nước và mong ước cho giới trẻ đạt được những thành tích làm vẻ vang cho quê hương. Những bài này được lựa chọn và in thành một tuyển tập đề là Theo Ánh Tinh Cầu do nhà xuất bản Đại Nam in ra năm 1990. Sách in ra được bán hết ngay trong năm nhưng không in lại vì tôi dự định viết tiếp một số bài nữa. Sau đó, tôi viết một vài truyện ngắn tả mối tình thật lý tưởng giữa một chàng trai thời loạn và cô em gái một người bạn. Những chuyện này được đăng liên tiếp mấy năm trên những số báo Xuân Thời Luận và được độc giả ưa chuộng. Ông chủ bút Thời Luận là nhà văn Đỗ Tiến Đức vẫn thường nhắc nhở tôi viết những chuyện văn chương và tình cảm tuy rằng ông vẫn nhận đăng những bài nói về hoạt động giáo dục và khoa học của tôi. Vì thế tôi đã viết tiếp để tạo dựng thành một cuốn truyện đi cho tới đoạn kết….
Cũng như khi viết cuốn Đời Phi Công, tôi muốn giới hạn thời gian của câu chuyện để giữ niềm trẻ trung cho những nhân vật trong truyện. Cũng vì vậy mà tôi đặt khoảng thời gian vào những năm kế cận trước và sau năm 1975. Câu chuyện cũng được diễn tả một cách trung thực hơn vì tôi biết rõ sự biến chuyển trên đất nước trong khoảng thời gian này. Nhiều người đã đọc cuốn sách, cả hai phái nam và nữ, là những chuyên gia có trình độ, cũng có nhận xét như Nhã Lan là tôi đã diễn tả lại một khung cảnh của đất nước trong giai đoạn này.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ và nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là bậc đàn anh khả kính mà tôi được biết khi cùng dậy ở trường trung học Chu Văn An ở Sàigòn. Nhưng theo tôi nghĩ thì sự chọn lựa của giới trẻ Việt Nam hiện nay không hẳn chỉ giữa hai nền văn hóa Đông và Tây, thật cách biệt nhau. Trong giữa hai đối nghịch cũng có những khoảng dung hòa có thể chấp nhận được. Lý tưởng ra thì tôi hằng mong ước các bạn trẻ sống ở hải ngoại phải cố gắng tranh đua sao cho bằng người mà vẫn giữ được bàn sắc đạo đức của giống nòi Hồng Lạc.
Nhân vật Phong là nhân vật nam ở trong Tìm Nhau Từ Thuở. Còn Phương Vân là cô bé trong cuốn truyện, em của một người bạn học. Tình cảnh này thường xẩy ra giữa các liên hệ bạn bè. Tuy tôi tả Phương Vân như một nữ sinh hiền thục ở tuổi trăng tròn, nhưng để mở rộng phạm vi hoạt động cho Phong, tôi đã đặt anh vào vị trí của một chuyên gia tốt nghiệp từ một trường cao đẳng có uy tín ở Pháp, và đã theo tiếng gọi của nghĩa vụ mà về nước phục vụ một khoảng thời gian. Cũng vì vậy mà nhiều người đọc sách đã nghĩ rằng tôi kể chuyện đời mình.
Ðời Phi Công là những bức thư của một chàng thanh niên vừa xếp bút nghiên theo việc đao cung gửi cho người bạn gái đã mang tính chất thời đại của một mẫu người tuổi trẻ thật nhiều lý tưởng. Cuốn sách đã tạo nhiều ảnh hưởng, được tái bản nhiều lần và hàng ngàn người trai trẻ nô nức gia nhập Không Lực để thực hiện lý tưởng và hoài bão của mình trong thời chiến tranh khốc liệt về sau. Cùng một lúc với sự phát triển của không quân Việt Nam bào những năm 1960, rất nhiều thanh niên đã theo tiếng gọi của Tổ Quốc Không Gian gia nhập quân chủng. Nhiều sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt cũng xin chuyển về phục vụ Không quân.”
Bàn luận về tác phẩm Đời Phi Công là những lá thư gửi Phượng và tác phẩm Tìm Nhau Từ Thuở cũng có những bức thư nói liền những không gian xa cách. tác giả tâm tình:
“Cuốn Đời Phi Công là một tập sách gồm toàn những lá thư viết cho một cô bạn gái ở xa, để kể chuyện đời của những người nặng nghiệp bay. Còn Tìm Nhau Từ Thuở là một tập truyện tả một một mối tình cao thượng, nẩy nở theo ngày tháng giữa một chàng trai thời đại và một nữ sinh, em một người bạn. Sau này vì hai người ở xa nhau, nên đôi khi có những cánh thư trao đổi nhưng số trang viết qua thư từ chỉ là một phần nhỏ trong cuốn sách. Vì vậy thể văn không phải hoàn toàn là thể viết thư.

Mục tiêu của tác phẩm “Vui Đời Toán Học” là:
“Ngay ở lời mở đầu cuốn sách, tôi đã viết là từ khi vào trung học tôi đã thấy yêu thích môn toán học và ao ước được đọc những cuốn sách viết về cuộc đời học toán của những người đi trước. Dĩ nhiên là khoảng thời gian khi tôi mới lớn lên, sách vở thiếu thốn nên không được đọc những tài liệu đó. Giờ đây tôi viết cuốn sách này kể lại những cố gắng của mình trong cuộc đời tầm học và mong rằng những chuyên gia khác ở mọi ngành cũng làm tương tự để lảm giầu thêm cho tủ sách kiến thức chuyên môn viết bằng tiếng Việt. Tuyệt đối là không. Thật ra khi chọn tên cho cuốn sách tôi cũng sợ có chuyện ngộ nhận đây là sách nói về Toán học. Thật ra lúc mới đầu chỉ là một tập sách gồm có nhiều câu chuyện vui về toán viết một cách nhẹ nhàng giản dị cho mọi người có thể đọc được. Những chuyện này khi viết ra đã được đăng trên nhiều nguyệt san và được người đọc ưa thích. Những nguyệt san đã đăng bài thường chỉ lưu hành ở địa phương nên nhiều người đã muốn tôi gom những bài này lại để in thành sách để phổ biến cho nhiều người đọc. Có nhiều bài chỉ gổm toàn là những bài thơ tình. Chẳng hạn tôi lấy bài “Mười hai bến nước” thì bài này là gồm một số bài thơ tình cảm dùng những danh từ toán học. Tôi chọn một bài làm thí dụ
Tâm Điểm
Tình là vậy, từ chân không chợt đến,
Một vòng tròn quay hai nửa tim hồng.
Để mỗi ngày đôi chân bước song song
Mong đi tới tận cùng là giao điểm
Em yêu anh, nên anh là tâm điểm
Giữa vòng tròn hạnh phúc của đời em.
Dẫu thời gian, không gian hoài biến chuyển,
Quỹ tích này vẫn mãi chỉ chờ anh.
Nếu không loáng thoáng có những danh từ toán học chen vào thì người đọc có thể nghĩ đó là một bài thơ tình. Trong câu chuyện này cũng có những câu thơ thật tha thiết như
Anh hiểu chưa, cõi lòng em như thế,
Em muôn đời không đổi trục, anh ơi.
Nhớ thương anh, tuy chẳng nói nên lời,
Em mơ ước theo cung đường tối lợi.
Tìm giao điểm cho lòng ai mở hội,
Xác định rồi vẽ đồ thị triển khai,
Rồi chứng minh tỷ lệ suốt đêm dài,
Lên đáp số đóng khung đời hình học.
Bài toán tình luôn làm người mê hoặc,
Bởi muôn đời nó vô định, người ơi!!

Trong một bài khác tôi viết có tựa đề là “Thảo bài thơ liên hoàn” nói về một buổi trại hè các trại sinh chia nhau thành năm nhóm ngồi ở bốn phương Đông Tây Nam và Bắc và một nhóm ngồi ở phương vị Trung ương, mỗi nhóm chọn một hình vuông, tròn, lục lăng, ngũ giác và tam giác để trình bầy về vẻ đẹp của hình nhóm mình đã chọn. Khi đến hồi kết luận thì một em trại sinh đóng vai một thi nhân đi thăm các nhóm, và ở nơi nào cũng thảo ra một bài thơ tứ tuyệt để ghi làm kỷ niệm. Ý kiến của tôi khi đưa ra một bài thơ liên hoàn là để gây tình liên kết, khuyên người đọc mà tôi hy vọng là ở trong giới trẻ hiếu học là biết nối vòng tay lớn để cùng nhau xây dựng quê hương. Trong bài viết này tuy có phác qua những vẻ đẹp của các hình kỷ hà học, nhưng sự thực là một sáng tác thơ văn.
Hai bài viết mà tôi đưa ra làm thí dụ về khía cạnh thơ văn của cuốn sách tôi đã đăng trên nguyệt san Tân Thế Kỷ ở Dallas trước đây và sau này được truyền đi nhiều lần trên mạng vi tính nên có nhiều người đã đọc. Có một lần tôi tìm được trên mạng bài thơ tình toán học của tôi có người phổ nhạc và hát nữa nghĩ thật là vui. Khi tôi cho vào trong cuốn sách và viết thêm những kỷ niệm học toán và giảng dậy ở các đại học cùng làm nghiên cứu khoa học thì mới lấy tên mới này là “Vui Đời Toán Học” và vì số lượng trang sách tổng cộng lên quá lớn gần tới 900 trang nên tôi phải bỏ bớt đi và giữ lại còn gần 500 trang mà thôi. Những bài tôi vừa lấy làm thí dụ vì đã được chuyển đi nhiều lần trên mạng nên trong cuốn sách này tôi phãi bỏ đi. Ngược lại tôi viết thêm nhiều bài nói về cuộc đời làm toán qũy đạo không gian và dậy học của tôi.
Thật ra có nhiều chuyện người đồng hương không biết nếu không đọc cuốn sách. Chẳng hạn tôi có nhiều học trò đã thành danh, và một ngừơi nay là đại giáo sư ở một đại học lớn và tên của ông ta được đặt cho một tiểu hành tình mới tìm thấy cách đã hơn mười năm. Tuy đã nổi tiếng như vậy mà trong tiểu sử của ông được in trên trang Đại Học ông vẫn ghi tên tôi là giáo sư cố vấn cho luận án tiến sĩ của mình. Tôi dùng lối hành văn giản dị, không cầu kỳ lại nhẹ nhàng. Thỉnh thoảng tôi chen vào vài kỷ niệm riêng, thường là những kỷ niệm vui, hay gặp những duyên kỳ ngộ, được thầy hay, bạn tốt. Trong cuốn sách này tuy như tôi đã nói trước đây là có nhiều bài chỉ gồm toàn những bài thơ tình, nhưng nay tôi thu xếp lại để viết thêm về cuộc đời học toán, dậy học và khảo cứu của mình nên đả dùng thể văn tự truyện nhưng có chen vào những tình cảm riêng tư của mình đối với đất nước và thế hệ trẻ Việt Nam. Nói chung, sáng tạo thơ văn thì không có gì giới hạn, nói theo tiền nhân khi xưa thì:
Ngoài vòng cương toả chân cao thấp,
Trong thú yên hà cuộc tỉnh say
Muốn viết sao cũng được miễn sao bộc lộ được ý tưởng của mình muốn truyền cho người đọc. Nhưng sáng tạo toán học phải dùng hoàn toàn luận lý thật chặt chẽ, tuy đôi khi phãi pha một chút tưởng tượng không bình thường. Tôi lấy một thí dụ, tuy không thực tế cho lắm, là một phi thuyền đang bay trên một qũy đạo vòng tròn quanh trái đất, mà giờ ta muốn quay ngược chiều nghĩa là đổi hướng bay 180 độ. Như thế, theo ý nghĩ thông thường thì phải hãm vận tốc lại thành số không rồi lại tăng tốc độ thành như cũ nhưng đổi ngược chiều, thật vừa tốn kém nhiên liệu lại vừa gây ra một độ gia tốc quá đáng có ảnh hưởng tai hại đến phi thuyền và phi hành đoàn nếu có. Lời giải đáp thật đúng là làm sao vận hành cho đỡ tốn nhiên liệu là phải tăng tốc độ cùng chiều, nghĩa là thay vì quay ngược ngay lập tức, lại phải tiến tới. Vận động này, chỉ tốn một ít nhiên liệu nhưng sẽ làm cho phi thuyền vượt khỏi trọng trường của trái đất và bay đi thật xa.
Ở khoảng cách xa, lấy thí dụ là khoảng cách chừng mười lần bán kính qũy đạo, vận tốc của phi thuyền sẽ rất nhỏ, giống như khi ta tung một quả bóng lên cao, lên tận cùng rồi muốn rơi trở lại. Lúc đó chỉ càn tạo ra một lực nhỏ để cho phi thuyền bay trở lại nhưng lần này ngược với hướng bay trước. Khi tới vị trí cũ thì tốc độ trở lại bằng lúc mới bắt đầu khởi hành nhưng lần này phi thuyền đi ngược chiều và chỉ cần hãm tốc độ lại vừa đủ đi vào qũy đạo tròn là thực hiện được phép đổi hướng 180 độ. Chi phí về nhiên liệu, một lần tăng lên và một lần giảm đi, cả hai lần đều bằng nhau theo tính chất đối xứng của qũy đạo và tương đối nhỏ. Đấy là ý kiến đưa ra nhưng sau đó phải dùng phép tính thật chính xác để xem tất cả những điều lợi, như tiết kiệm nhiên liệu, bớt độ gia tốc, và những điều hại như kéo dài thời gian vận chuyển vân vân…”
Về quan điểm toán học, ông đề cập:
“Toán học là một môn của Triết học. Tôi củng như nhiều người có suy tư và quan niệm về cuộc sống, thường quanh những đạo đức cổ truyền mà tôi được thấm nhuần từ hồi trẻ, thường là bất di dịch, như là chịu ơn ai thì nghĩ đến báo đền. Lấy một thí dụ là trong cuốn sách tôi có một bài viết là “Thầy còn nhớ tôi không?” nói đến tình thầy trò. Nhưng khi làm khoa học, đi vào luận lý thì những suy nghĩ này phải gạt sang một bên. Nói một cách khác khi thấy ông thầy của mình tính không đúng thì cũng phải nhắc khéo là ông đã hơi sai.”
Nhân dịp các thành viên Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian đi thăm GS. Nguyễn Xuân Vinh để bàn thảo in sách Thiên Chức của Nhà Giáo tại tư gia Huntington Beach của ông, trong phái đoàn có thi sĩ Hà Nguyên Du. Hà Nguyên Du đặt một số câu hỏi về phạm vi không gian học (aeronautics) và vũ trụ học (astronautics). GS. Nguyễn Xuân Vinh viết nhiều tài liệu khảo luận (term papers) về khía cạnh không gian chuyên môn của ông, ông đã đóng góp hàng trăm bằi tiểu luận về toán, động học không gian (astrodynamics) và tối ưu hóa quỹ đạo (trajectory optimization) … GS, Nguyễn Xuân Vinh khi về hưu ông mang tước hiệu Professor Emeritus of Aerospace Engineering của Đại học Michigan, giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian. Theo quy chế giáo dục Hoa Kỳ khi trường ban cho “Giáo sư Emeritus” (Professor Emeritus) là một giáo sư dạy thực thụ, thông thường đã làm việc toàn thời gian, nhưng nay đã nghỉ hưu, ông hay bà vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết trình, giảng dạy, tham khảo ý kiến hay được trao một giải thưởng nào đó. Professor Emeritus là một phong vị danh dự cao quý.

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh: Toán Thơ và Thơ Toán
Như trên, văn học và toán học có điểm gần nhau. Nhà văn kiêm nhà giáo môn toán Nguyễn Xuân Vinh yêu thích thi ca, Vui Đời Toán Học ghi nhận trong nhiều trang sách. Trong tương quan đó nữ toán học gia gốc Nga Sophia Kovalevskaya của thế kỷ 19 cho là: “Bạn không thể là một nhà toán học mà không có tâm hồn của một nhà thơ” (Il est impossible d’être un mathématicien sans avoir poète dans l’âme). Còn nhà toán học người Đức nổi danh trong môn toán Calculus, Karl Weierstrass ối thế kỷ 19) cho nhận định: “Một nhà toán học không mang một nét gì đó của một nhà thơ thì chả bao giờ là một nhà toán học trọn vẹn được” (Un mathématicien qui n’est pas aussi quelque peu poète ne sera jamais un mathématicien complet). Tôi thầm nghĩ chả nhẽ hai cụ Sophia Kovalevskaya và Karl Weierstrass đã cho hai câu nói đúng y bon để giới thiệu về nhà văn kiêm giáo sư có hai đam mê trong tâm hồn, toán học và văn học, Thi sĩ GS. Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
“Xưa nay chúng ta thường nghĩ những sáng tác văn học vốn là những xúc cảm riêng của nhà văn, nhà thơ, nên có khi không mang một quy luật gì cả, nhất là việc muốn đo bằng số (định lượng) những kết quả hay các quy luật của văn thơ thì dường như là điều không thể làm được. Các bài viết dưới đây sẽ làm cho chúng ta thay đổi lại cách nhìn, chúng ta sẽ thấy, hóa ra tính ìhài hòa” của của văn chương vẫn có thể được đo bằng sự ìcứng nhắc” của đại số. Điều này nó mang lại thắng lợi không phải cho riêng toán học, mà còn làm cho cách tiếp cận văn học trở nên đa dạng và phong phú hơn. Tuy nhiên, việc ứng dụng các phương pháp toán học trong việc nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật vẫn là một lĩnh vực mới mẻ và cần được nghiên cứu thêm. Bài viết dưới đây chủ yếu áp dụng một lý thuyết có tên là ìLý thuyết tai biến” (cùng với Điều khiển học và Lý thuyết trò chơi), một lý thuyết mà tôi tin là ở đây không có nhiều người thạo (tôi cũng mù tịt). Tôi hy vọng sẽ có người post bài giới thiệu chi tiết về lý thuyết này để cả nhà cùng hiểu rõ. “, GS. Nguyễn Xuân Vinh.

Cựu Tư Lệnh Không Quân VNCH, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Một dẫn chứng khác là Thi sĩ kiêm giáo sư toán JoAnne Growney viết: Toán học và thi ca đều là “định dạng có thể truyền tải nhiều ý nghĩa”. Trong môn toán học, một đối tượng hoặc một ý tưởng có thể có các dạng khác nhau. Ví dụ, một phương trình bậc hai có thể được hiểu theo biểu thức đại số của nó, có thể là y = x2 + 3x-7, hoặc theo dạng đồ thị của nó, một parabole. Henri Poincaré, một nhà khoa học người Pháp, người đặt nền móng cho hai lĩnh vực toán học khác nhau vào đầu những năm 1900, đã mô tả toán học là “nghệ thuật đặt cùng một tên cho những thứ khác nhau”. Tương tự như vậy, các nhà thơ tạo ra các lớp nghĩa bằng cách sử dụng các từ ngữ và hình ảnh có nhiều cách diễn giải và liên tưởng. Cả nhà toán học và nhà thơ đều nỗ lực vì tính kinh tế và độ chính xác, lựa chọn chính xác những từ họ cần để truyền đạt ý nghĩa của chúng.
GS. Growney được biết qua danh tác, tuyển tập thơ “My Dance is Mathematics”, bà còn là nhà toán học, nhà thơ, nhà văn JoAnne Growney, giáo sư toán tại Đại học Bloomsburg University of Pennsylvania (Collection of poems “My Dance is Mathematics”, by JoAnne Growney. She is a mathematician, poet, writer JoAnne Growney, a math teacher at Bloomsburg University of Pennsylvania).

Người viết bài xin kết luận, ta có thể kể tiếp vô vàn những ví dụ về cách các nhà toán học và nhà thơ móc nối những con số và những con chữ để thỏa mãn ý thích của họ. Một hỗn hợp của những điều trực tiếp nói ra và những gì ngụ ý sâu kín đằng sau, hay một hỗn hợp của nhạc điệu và âm điệu. Thay vì cố phân tích rõ ràng, rành mạch, mà như vậy ta có thể còn làm mất phẩm chất hay của thơ bị toán hóa, thôi thì tôi xin chấm dứt bài viết này bằng trích dẫn những câu thơ tinh của thi sĩ, nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh:
(Yêu) anh từ thuở xanh mơ,
Giận anh cho đến bây giờ chưa nguôi.
Sao anh chưa nói nên lời,
Sao anh chưa nói trọn đời (yêu) em.
Bây giờ gặp buổi chiều êm,
Anh về mới nói (yêu) em trọn đời.
(Tình thơ Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.)
Giáo Sư, Khoa Học Gia, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Vinh, từ trần ngày 7/23/2022 lúc 2.49 PM tại Orange County, California, hưởng Thượng Thọ 92 tuổi.


En souhaitant que le professeur Nguyen Xuan Vinh soit dans un voyage paisible vers une nouvelle vie à venir, “vous êtes mon idole en mathématiques et un modèle souhaitable en mathématiques et en aérospatiale” que Dieu vous bénisse. Nous nous souvenons toujours de vous!
VHLA
(Trần Việt Hải Los Angeles).
Giáo Sư, Khoa Học Gia, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Vinh, từ trần ngày 23 tháng 7, 2022 lúc 2.49 PM, hưởng Thượng Thọ 92 tuổi. GS Nguyễn Xuân Vinh qua đời, đất nước mất đi một người con thân yêu, một khoa học gia, một văn thi sĩ, một người Thầy trân quý. Kính xin Thiên Chúa toàn năng nhận đón hương hồn GS về hưởng phúc bên thánh nhan Người.

LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN 
-
Thống Tướng MacArthur & Thủ Tướng Shinzo Abe: Hai Nhân Vật, Một Tấm Lòng

“Lòng biết ơn không chỉ là đức tính vĩ đại nhất mà còn là khởi nguồn của mọi đức tính tốt đẹp khác”. (Triết gia Marcus Tullius Cicero) Mỗi nước theo truyền thuyết và lịch sử có vài tên gọi khác nhau, trong đó Nhật Bản với các tên gọi: Đất Nước Mặt Trời Mọc, Xứ Sở Hoa Anh Đào, Xứ Sở Phù Tang, Đất Nước Hoa Cúc… Kể từ thời Kama-kura, hình ảnh hoa cúc 16 cánh được sử dụng làm con dấu của Thiên Hoàng. Cho đến nay, biểu tượng loài hoa này vẫn được xem là biểu tượng quan trọng của Hoàng Gia Nhật Bản. Ngày 11/7/2022, chính phủ Nhật đã truy tặng Huân Chương Hoa Cúc – huân chương cao quý nhất của Nhật để vinh danh cố Thủ Tướng Shinzo Abe. Cố Thủ Tướng Shinzo Abe là thủ tướng thứ 4 của Nhật Bản được trao tặng huân chương cao quý này sau Đệ Nhị Thế Chiến, các vị tiền nhiệm có Shigeru Yoshida, Eisaku Sato và Yasuhiro Nakasone.
Nhật Bản ngày nay không những trở thành cường quốc kinh tế mà gìn giữ được nếp sống văn minh, lịch sự, phong tục tập quán cao đẹp, tinh thần tự trọng… và, đặc biệt nói “không” với trộm cắp.
Người Nhật với tinh thần trách nhiệm cao, mạnh mẽ và luôn luôn hướng thiện. Với nền giáo dục khắt khe, đức dục là vấn đề quan trọng nhất dạy dỗ, rèn luyện trẻ thơ từ khi bước vào mái trường.
Trong những lần xảy ra thiên tai (động đất, sóng thần) tại Nhật, những hình ảnh ghi lại cho thấy tinh thần tự trọng, nhân bản… của các nạn nhân khi xếp hàng nhận cứu trợ, trật tự, bình thản, biết nhìn nhượng nhau… mọi người trên thế giới nễ phục.
Ở nông thôn, chủ nhà vườn bán sản phẩm cho khách hàng, không cần hiện diện mà chỉ để trên bàn, số lượng với giá tiền… khách hàng ý thức “thuận mua vừa bán” sòng phẳng…
Đơn cử vài điểm son đó thể hiện tinh thần và xã hội Nhật Bản ngày nay xóa tan bóng đen bao phủ trước Đệ Nhị Thế Chiến.
* Từ cựu thù trở thành Thiên Sứ
Sáng ngày 15/4/1951 khi Thống Tướng MacArthur (1880-1964) ngồi lên xe ra phi trường quay về Mỹ thì nhận được tin đích thân Thiên Hoàng Hirohito và Thủ Tướng Yoshida đến văn phòng tiễn chân vị “Shogun” (Sứ Quân) mà họ vô cùng cảm phục. Trên suốt hai bên con đường dẫn đến phi trường Atsugi, hàng trăm ngàn người dân Nhật xếp hàng dài dày đặc ở hai bên đường hàng chục cây số để tiễn đưa ông lần cuối. Họ kêu to “Sayonara, Sayonara,” hay giơ cao biểu ngữ ghi “Chúng tôi thương mến Tướng Quân MacArthur,” và “Chúng tôi cảm ơn ông”.
Danh từ Shogun (Thiên Sứ, Tướng Quân) theo tiếng Nhật là Seii Taishōgun để nói lên sự tôn trọng với nhân vật khả kính có công với đất nước.
Hồi ký của Kiichi Miyazawa (Thủ Tướng Nhật nhiệm kỳ 1991-1993) xuất bản năm 1991, viết về quan hệ Nhật-Mỹ, là một trong các cuốn bestseller hồi ấy, với những dòng tiếc nuối: “Ngày 11/4/1951, truyền thông loan tin MacArthur bị miễn chức. Tin này làm người Nhật vô cùng sửng sốt, họ không thể nghĩ tới chuyện Thống Tướng MacArthur – người có uy quyền như Thái Thượng Hoàng nước Nhật – lại có thể bị bãi miễn dễ dàng bởi một mệnh lệnh của tổng thống. MacArthur là người nắm quyền lực tối cao ở Nhật”.
Khi Đệ Nhị Thế Chiên (1939-1945) xảy ra, Tổng Thống Harry S. Truman (Tổng Thống thứ 33 của Hoa Kỳ,1945-1953) gọi ông trở lại phục vụ trong quân đội. Trong Đệ Nhất Thế Chiến, ông được bổ nhiệm làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn bộ binh 42 của Mỹ. Đến năm 1935, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt chọn MacArthur làm cố vấn quân sự tại Philippines. Ông giải ngũ vào tháng 12/1937, được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Lục Quân Mỹ tại Viễn Đông với cấp bậc trung tướng.
Vừa nhận lãnh trách nhiệm, ngày 7/12/1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), thuộc tiểu bang Hawaii gây tổn thất nặng nề cho quân đội Mỹ, riêng về về nhân mạng khoảng 2.402 người tử trận và 1.282 người khác bị thương. Lực lượng không quân của ông bị thiệt hại hoàn toàn.
Lúc đó phe Trục (Ý, Đức Nhật) tấn công như vũ bão, tàn phá nhiều nước từ trời Tây sang Đông, gieo rắc kinh hoàng, thảm khốc trên thế giới. Từ trước đến nay, nước Mỹ chưa bao giờ bị tấn công nên khi Nhật xâm phạm lãnh thổ của Mỹ nên hậu quả dẫn đến việc Mỹ phản công thả bom nguyên tử xuống hai thành phố công nghiệp là Hisosima và Nagasaki.
Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử mang tên Little Boy trên pháo đài bay B-29 Enola Gay của phi đoàn 509, thả xuống Hiroshima, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom mang tên Fat Man trên pháo đài bay B-29 Bock’s Car, thả xuống Nagasaki.
Trước khi thả bom nguyên tử, Mỹ đã rãi truyền đơn cảnh báo nhưng phát xít Nhật coi thường và ngoan cố. Truyền đơn viết bằng tiếng Nhật: “… Trong vài ngày tới, một số hoặc tất cả những thành phố được liệt kê trong danh sách ở mặt sau truyền đơn này sẽ bị phá hủy bởi những quả bom của người Mỹ. Những thành phố này có các hãng xưởng, nhà máy lắp ráp chế tạo thiết bị quân sự.
Chúng tôi quyết tâm tiêu diệt tất cả những trang thiết bị mà các phe phái quân sự đang sử dụng để kết thúc cuộc chiến vô nghĩa này. Nhưng, không may, những quả bom không có mắt. Vì vậy, theo các chính sách nhân đạo của Mỹ, Không Quân Mỹ, chúng tôi không muốn làm tổn thương người vô tội, do đó chúng tôi cảnh báo và yêu cầu bạn hãy di tản khỏi những thành phố được liệt kê để cứu lấy mạng sống của chính bạn.
Người Mỹ không chiến đấu chống lại nhân dân Nhật Bản, mà chiến đấu chống lại các thế lực quân sự đang sử dụng nhân dân Nhật Bản. Nền hòa bình mà Mỹ mang lại sẽ giải thoát cho người dân như các bạn đang phải sống trong sự áp bức của quân đội Nhật và đồng thời cũng có ý nghĩa mang đến một Nhật Bản mới tốt đẹp hơn. Các bạn có thể mang hòa bình trở lại bằng cách chọn ra những người lãnh đạo mới và giỏi, những người thật sự muốn kết thúc chiến tranh.
Do vậy, hãy chú ý đến cảnh báo này và sơ tán khỏi các thành phố này ngay lập tức!”
(Nếu so sánh hành động của chính quyền Truman của Mỹ với Nhật và chính quyền Putin của Nga với Ukraine hiện nay là hai thái cực giữa chế độ dân chủ và chế độ độc tài).
Sau khi ném bom nguyên tử ở Hiroshima, TT Truman đã lên làn sóng phát thanh kêu gọi Nhật đầu hàng, nếu không tai họa như Hiroshima sẽ tiếp tục nhưng Hội Đồng Tối Cao của Nhật Bản vẫn ngoan cố nên Mỹ tiếp tục thả trái bom thứ hai.
Ngày 14/8/1945, Nhật Hoàng tuyên bố trên đài phát thanh chấp nhận đầu hàng không điều kiện các nước Đồng Minh, nhưng đến ngày 2/9/1945, nghi lễ đầu hàng của Nhật trước quân đội Đồng Minh mới được thực hiện trên chiến hạm USS Missouri (BB-63) của Hải quân Hoa Kỳ. Và, từ đó, ở trời Tây, Ý và Đức bị quân đội Đồng Minh phản công mãnh liệt, Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc.
Năm ngày sau khi Nhật ký hiệp ước đầu hàng, ngày 7/9/1945, Thống Tướng McArthur, chỉ huy các lực lượng Đồng Minh tại Thái Bình Dương, thiết lập văn phòng làm việc tại Tokyo, mở đầu cho giai đoạn Mỹ chiếm đóng nước Nhật kéo dài trong sáu năm, tám tháng.
Trước khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, Nhật và Mỹ vẫn còn là hai nước kẻ thù không đội trời chung. Trong 4 năm chiến tranh ác liệt tại Thái Bình Dương, đã làm cho quân đội Mỹ hy sinh khoảng 360.000 binh sĩ.
Sau khi ký xong hiệp ước đầu hàng, Thống Tướng MacArthur đại diện của Đồng Minh đọc bài diễn văn ngắn gọn, chứa đựng tinh thần cao thượng của người Mỹ, ông kết thúc bài diễn văn: “Đây là hy vọng thiết tha nhất của tôi, và thật sự cũng là hy vọng của toàn thể nhân lọai, rằng từ sự kiện trang nghiêm này một thế giới tốt đẹp hơn sẽ hiện ra từ máu và sự chém giết nhau trong quá khứ – một thế giới sẽ phục sự cho nhân phẩm con người và để hòan thành ước nguyện cao cả nhất cho tự do, lòng bao dung và sự công bằng”.
Tuy không phải là kinh tế gia nhưng Thống Tướng MacArthur với tấm lòng nhân ái, đức độ và tận tình với nước thù địch để phục hồi đất nước Nhật từ đống tro tàn, đổ nát được vực dậy chỉ trong gần 6 năm (15/8/1945 cho đến ngày 11/4/1951). Ngoài ra, Sứ Quân MacArthur đã làm thay đổi nhân sinh quan tư duy của người Nhật từ Thiên Hoàng cho đến người dân.
Ngay sau khi đặt chân đến thủ đô Tokyo, Thống Tướng MacArthur ra lệnh cho các binh sĩ dưới quyền ông không được trả thù người Nhật vì bất cứ lý do gì và ưu tiên hàng đầu của ông là phải lo cho người dân Nhật qua khỏi cơn đói rách do các hậu quả của chiến tranh.
Ngay từ đầu Tướng MacArthur viết thư trình bày với Quốc Hội, với chính phủ Hoa Kỳ để xin cứu trợ và chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận trợ cấp khẩn cấp cho chính phủ Nhật Bản gồm: Ba triệu rưỡi tấn lương thực, thuốc men cùng với hai tỷ đô la.
Việc làm đầu tiên của Thống Tướng MacArthur ra lệnh chở lương thực và các vật dụng cần thiết cho đời sống đến Nhật để cứu đói và tránh các bất ổn xã hội do nạn đói và thiếu thốn gây ra. Thực hiện chương trình cho học sinh ăn trưa tại các trường học Nhật. Toàn bộ quân đội Nhật bị giải tán. Các binh sĩ được cho về quê sống. Lính Mỹ được lệnh phải tôn trọng phong tục tập quán của nước Nhật và giúp đỡ người dân.
Từ chế độ phát xít xâm chiếm các nước láng giềng, nước Nhật trở thành một quốc gia độc lập, tự do, dân chủ và đặt nền tảng cho một cường quốc kinh tế sau này.
Để phục hồi nước Nhật, chương trình viện trợ Marshall, Mỹ đã đổ vào nước Nhật hàng tỷ đô la, cùng với những ý kiến sáng suốt và những chương trình cải cách thiết thực xây đựng nước Nhật thuần túy về kinh tế và đời sống, nhờ vậy chỉ 25 năm sau chiến tranh nước Nhật trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì trên thế giới. Dĩ nhiên kết quả này phần lớn cũng do sự nỗ lực làm việc, sự hy sinh và tinh thần của dân tộc Nhật Bản.
Thống Tướng MacArthur trừng phạt những tôi phạm chiến tranh nhưng chống lại việc đưa Nhật Hoàng Hirohito ra Tòa Án Quốc Tế như một tội phạm chiến tranh. Nhật Hoàng Hirohito, đứng ra nhận tất cả trách nhiệm về cuộc chiến và chấp nhận từ chức nếu Mỹ yêu cầu nhưng ông không đòi hỏi Nhật Hoàng từ chức. Tống Tướng thấy Nhật Hoàng là người được toàn dân Nhật tôn trọng nên ông muốn Nhật Hoàng được tại vị để làm biểu tượng đoàn kết dân Nhật và đem lại ổn định về chính trị. Cảm kích tấm lòng đó nên danh xưng Shogun (Thiên Sứ, Tướng Quân) từ Nhật Hoàng khi nhật Hoàng đã tiếp xúc với ông qua 11 lần gặp mặt.
Trong hồi ký “Reminiscences” của Douglas MacArthur, nhà xuất bản McGraw-Hill, 1964, ghi: “Sau lần ấy Nhật Hoàng đến thăm tôi thường xuyên, chúng tôi bàn về hầu hết các vấn đề quốc tế. Tôi luôn luôn giải thích kỹ càng những lý do quan trọng nhất về chính sách chiếm đóng,và tôi nhận thấy ông hiểu biết uyên thâm về khái niệm dân chủ hơn hầu hết những người Nhật tôi có dịp trò chuyện. Ông đóng vai trò rất lớn trong sự hồi sinh tinh thần của Nhật Bản, và sự hợp tác trung thành và ảnh hưởng của ông đã tác động rất nhiều đến sự thành công của công cuộc chiếm đóng”.
Trong cuốn “12 Người Khai Lập Nước Nhật Hiện Đại” của Sakaiya Taichi, Tướng MacArtthur là người nước ngoài duy nhất, với tựa “MacArthur: Thí nghiệm biến Nhật Bản thành một “nước Mỹ lý tưởng”, ngay cả Thiên Hoàng Minh Trị (người khởi xướng phong trào Duy Tân) cũng không có tên trong danh sách này. Sách 12 chương với những nhân vật: Thái tử Shotoku, Hikaru Genji, Minamoto Yoritomo, Oda Nobunaga, Ishida Mitsunari, Tokugawa Ieyasu, Ishida Baigan, Okubo Toshimichi, Shibusawa Eiichi, MacArthur – Thí nghiệm biến Nhật Bản thành “nước Mỹ lý tưởng”, Ikeda Hayato và Matsushita Konosuke.
Tác giả Sakaiya Taichi (1919-2007) được coi là chuyên gia hàng đầu về kinh tế, Thủ Tướng Obuchi mời vào làm Bộ Trưởng Kế Hoạch Kinh Tế… Trong 12 nhân vật, không ai là vị vua khai thiên lập địa, không ai là vị tướng tài đánh dẹp ngoại xâm, mà là những người đã đưa ra quan niệm tôn giáo, tiêu chuẩn luân lý, phong cách xử thế, đề cao giá trị tinh thần của người Nhật, trên lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội còn ảnh hưởng lớn tới ngày nay.
Với nhưng công lao, đóng góp của Sứ Quân MacArthur từ tinh thần đến vật chất cho nước Nhật không thể nào kể xiết đã được ghi vào trang sử, lưu lại hậu thế.
Nhà văn Sodei Rinjiro đã đọc hơn 10 nghìn thư của người Nhật, và chọn 120 bức thư thú vị, quan trọng để ấn hành cuốn sách mang tên “Tướng MacArthur thân mến: Những bức thư gởi từ người Nhật trong thời gian Mỹ chiếm đóng”, xuất bản năm 2001.
Thủ Tướng Yoshida của Nhật (từ năm 1946 đến năm 1947 và từ năm 1948 đến năm 1954), nói: “Tướng Quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước đi trên con đường hòa bình. Tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”
* Giữa vinh quang và nỗi đau
Sau khi Đệ Nhị Thế Chiên chấm dứt, bán đảo Triều Tiên bị chia cắt làm hai khu vực chiếm đóng quân sự do các hoạt động của Hoa Kỳ ở phía Nam và Liên Xô ở phía Bắc. Năm 1948, chính quyền miền Nam thành lập nhà nước Đại Hàn Dân Quốc theo chế độ dân chủ dưới sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Bắc Triều Tiên theo chủ nghĩa cộng sản được thành lập dưới sự hỗ trợ của Liên Xô. Sau khi Trung Cộng cưỡng chiếm Trung Hoa năm 1949, Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc dẫn đến chiến tranh Triều Tiên.
Quân đội Liên Hiệp Quốc dưới sự chỉ huy của Thống Tướng MacArthur (rời Nhật Bản để sang Nam Hàn), nhanh chóng đẩy lui quân miền Bắc và truy đuổi đến tận sông Áp Lục, nằm trên biên giới Triều Tiên – Trung Quốc.
Đầu tháng 10/1950, các lực lượng Liên Hiệp Quốc vượt qua biên giới tiến vào Triều Tiên. Quân Đoàn 10 của Mỹ đổ bộ lên Wonsan và Iwon, hai nơi quân Đại Hàn đã tấn công chiếm được trước đó. Các lực lượng còn lại của Mỹ sát cánh với quân Đại Hàn tiến quân theo phía bờ tây của Triều Tiên, chiếm được Bình Nhưỡng ngày 19/10 và đến cuối tháng, 135.000 binh lính Triều Tiên đã bị quân Liên Hiệp Quốc bắt làm tù binh.
Tuy nhiên, Trung Quốc đã xua quân vượt sông Áp Lục và phản công quân LHQ. Trước đó, TT Truman đã cảnh báo MacArthur không nên khiêu khích Trung Quốc nhưng ông tự tin Bắc Kinh sẽ không can thiệp, dẫn đến thất bại sau đó. Tức giận trước việc Trung Quốc tham chiến, Tướng MacArthur vẫn tiếp tục đem quân sang bên kia sông Áp Lục, mở chiến dịch không kích các mục tiêu quân sự tại Trung Quốc. Tướng MacArthur muốn không kích vào khu vực Mãn Châu và từ biển Nhật Bản đến Hoàng Hải,… TT Truman lo ngại chiến dịch của Tướng MacArthur có thể châm ngòi cho Đệ Tam Thế Chiến vì vậy TT Truman quyết định tước chức tư lệnh của ông vào tháng 4/1951, dân Mỹ bị bất bình và phản đối dữ dội lên Quốc Hội Hoa Kỳ. Nhưng với tinh thần người lính “thi hành trước, khiếu nại sau” nên Tướng MacArthur phải chấn hành mệnh lệnh.
Trên đường từ Triều Tiên ghé lại Nhật và trở về cố hương sau khi bị TT Truman triệu hồi, cuộc chia tay cuối cùng giữ Nhật Hoàng và người dân như đã đề cập ở trên là điều không thể nào ngờ với vị Tướng xuất chúng, tài ba nhưng bị thất sủng.
MacArthur trở về thủ đô Washington, ông xuất hiện trước công chúng lần cuối cùng trong bài diễn văn chia tay bị gián đoạn với 30 lần hoan hô nhiệt liệt trước Quốc Hội Hoa Kỳ. Trong lời cuối kết thúc diễn văn, ông nhắc lại lời bài hát đã có từ trước: “Những người lính già không bao giờ chết; họ chỉ mờ nhạt dần.” “Và giống như người lính già của bài hát đó, bây giờ tôi đóng lại đời binh nghiệp của tôi và mờ nhạt dần — một người lính già đã cố sức mình làm tròn bổn phận của mình khi Thượng đế ban cho tôi ánh sáng để tôi thấy được bổn phận đó. Xin tạm biệt.”
Câu nói “Những người lính già không bao giờ chết; họ chỉ mờ nhạt dần” trở thành danh ngôn của vị Tướng xuất chúng còn mãi lưu truyền.
MacArthur là danh tướng lẫy lừng nhưng bị cách chức trong chiến trận như mũi dao đâm thẳng vào trái tim!
Dư luận cho rằng cuộc điều tra vào năm 1952 trong việc cách chức danh tướng của Ủy Ban Thượng Viện Hoa Kỳ do Richard Brevard Russell, Jr. làm chủ tịch cũng có mục đích chính trị vì nếu “ứng cử viên tổng thống” MacArthur cho một cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc sẽ dễ thành công. Trong hồi ký Reminiscences, MacArthur luôn nói rằng ông không có những tham vọng về chính trị.
Trên chính trường Hoa Kỳ có những điều thường hay xảy ra và không bao giờ ngờ tới!
Tướng MacCathur mất ngày 5/4/1964 tại Quân Y Viện Walter Reed ở tuổi 84. Ngày 7/4, linh cữu vị danh tướng được chuyển đến đồi Capitol ở Washington trong nghi thức quốc tang với sự tham dự của hơn 150.000 người và được an táng tại khu tưởng niệm Douglas MacArthur ở Norfolk, tiểu bang Virginia.
Để tỏ lòng biết ơn, năm 1965, chính phủ Nhật tặng cho thủ đô Washington 3.800 cây anh đào trồng phủ kín xung quanh bờ hồ Tidal Basin, để hàng năm vào cuối tháng 3, hai thủ đô Tokyo và thủ đô Washington cùng bước vào mùa hoa anh đào, hàng triệu người đổ về, rạng rỡ đi dưới những tán hoa tươi thắm xóa đi nỗi đau chiến tranh tàn khốc giữa hai dân tộc Nhật-Mỹ.
Ngày 27/12/2016, Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe có bài phát biểu tại Trân Châu Cảng. Bài phát biểu rất chân tình và cảm động. Nhìn nhận lỗi lầm của Nhật trong chiến tranh và biết ơn Mỹ không mang thù hận mà xây dựng lại nước Nhật.
Trích:
“Giờ đây, tôi đang đứng ở Trân Châu Cảng, Pearl Harbor, với tư cách là Thủ Tướng Nhật Bản. Khi lắng tai nghe, tôi có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ bờ và trở lại ngoài khơi. Mặt vịnh xanh và yên bình được chiếu sáng bởi ánh nắng mềm mại tỏa xuống từ mặt trời. Phía sau tôi, trên biển kia là khu tưởng niệm Arizona (Arizona Memorial) màu trắng…
Giờ đây, đã 75 năm trôi qua, dưới con tàu Arizona nằm nghiêng dưới đáy biển sâu vẫn còn rất nhiều binh sĩ đang yên nghỉ. Khi lắng tai nghe với tất cả lòng mình, tôi nghe thấy tiếng của những người lính cùng với âm thanh của gió và của sóng.
(Ghi chú: Con tàu Arizona là thiết giáp hạm USS Arizona (BB-39) của Hải Quân Hoa Kỳ hạ thủy vào ngày 19/6/1915. Arizona trang bị trang bị vũ khí hùng hậu với các dàn pháo và hai ống phóng ngư lôi. Ngày 7/12/1941 phi cơ Nhật tấn công vào Hạm Đội Thái Bình Dương, phá hủy con tàu làm thiệt mạng 1.177 người trong tổng số 1.400 thành viên thủy thủ đoàn).
… Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành.
… Tôi, với tư cách là Thủ Tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh.
… Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mỹ và quốc dân Mỹ.
Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai. Và rồi nước Mỹ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mỹ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh.
Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi.
… Nhật-Mỹ, hai nước đã bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn, sự tin cậy dưới những giá trị chung lúc này có nghĩa vụ phải tiếp tục nói với thế giới về tầm quan trọng của khoan dung và sức mạnh của hòa giải…”
(Nghĩ đến con người xứ người mà tủi nhục cho con người của đất nước chúng ta sau cuộc chiến!)
* Shinzo Abe, người con ưu tú xứ sở Phù Tang
Ông Shinzo Abe là Thủ Tướng lâu nhất của nước Nhật, trong thời gian cầm quyền Thủ Tướng Shinzo Abe đã hai lần từ chức vì lý do sức khỏe (2006 & 2007, 2012-2020). Với đức tính của vị lãnh đạo đất nước, ông cương quyết theo đuổi chính sách, đường lối đã hoạch định nhưng uyển chuyển, tế nhị để gây hòa khí với nhau nên gây được cảm tình trên chính trường.
Ngày 8/7/2022, người dân Nhật bàng hoàng, xúc động khi nghe tin cựu Thủ Tướng Shinzo Abe Abe bị ám sát khi đang có bài phát biểu trong một chiến dịch tranh cử ở Nara, miền nam Nhật Bản.
Thủ Tướng Abe sinh ngày 21/9/1954 trong một gia đình có truyền thống chính trị nổi tiếng tại Nhật Bản. Ông nội Kishi Nobusuke từng là Thủ Tướng Nhật Bản giai đoạn 1957-1960. Chú của ông là Sato Eisaku cũng từng giữ chức vụ này từ 1964 tới 1972.
Năm 1977, sau khi tốt nghiệp đại học Seike ở Tokyo, ông theo học cao học ngành khoa học chính trị tại UCLA (University of California, Los Angeles). Năm 1979, ông trở về Nhật Bản, tham gia đảng Dân Chủ Tự Do (LDP) và được bầu vào Hạ Viện Nhật Bản năm 1993, từ đó sự nghiệp chính trị của ông tiếp tục trên chính trường đất nước nầy.
Khi trở lại với cương vị Thủ Tướng, ông Shinzo Abe thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại quyết liệt hơn, nhằm “hồi sinh” Nhật Bản sau thời gian dài trì trệ về kinh tế.
Về đối ngoại, Thủ Tướng Abe áp dụng đường lối cứng rắn với Triều Tiên, ủng hộ các lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc đối với Triều Tiên sau khi nước này thử nguyên tử và áp dụng biện pháp trừng phạt, trong đó có lệnh cấm tất cả tàu Triều Tiên cập cảng Nhật Bản.
Với Trung Cộng và Đài Loan, Nhật ủng hộ Đài Loan và đã nhiều lần đối đầu Trung Cộng trong âm mưu “Nhất Đới Nhất Lộ” của Tập Cận Bình trên Thái Bình Dương.
Với Hàn Quốc, bóng ma trong quá khứ vẫn còn ám ảnh nạn nhân khi Nhật chiếm đóng. Tháng 12/2015, Tokyo và Seoul đạt thỏa thuận song phương về vấn đề “phụ nữ mua vui” làm nền tảng cho quan hệ Hàn-Nhật nhưng sau đó mối quan hệ song phương xuống mức thấp. Thủ Tướng Abe với các sáng kiến trao đổi văn hóa, giáo dục và kinh tế để hàn gắn vết thương trong quá khứ.
Với Hoa Kỳ và các nước phương Tây, với đường lối ngoại giao mềm mỏng và chân tình của ông về thương mại để xuất nhập cảng sau thời gian Nhật Bản suy thoái kinh tế…
Chính sách đối ngoại của Thủ Tướng Abe đã đánh giá theo Viện Nghiên Cứu Lowy của Úc, cho rằng Nhật Bản “là lãnh đạo về trật tự tự do của châu Á”. Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á (Institute of Southeast Asian Studies) năm 2020 đánh giá Nhật Bản là quốc gia đáng tin cậy nhất trong khu vực.
Về đối nội, Thủ Tướng Abe cũng tìm cách tăng cường sức mạnh quân sự cho Nhật Bản bằng cách thúc đẩy sửa đổi hiến pháp, hợp tác với các quốc gia khác ở châu Á để đối phó với Trung Cộng tranh chấp trên biển và với Bắc Triều Tiên đe dọa vũ khí nguyên tử.
Chương trình Abenomics của Thủ Tướng Abe với chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế để khuyến khích đầu tư tư nhân. Chính sách kích thích tài chánh nhằm giảm lạm phát, điều chỉnh lại sự nâng giá quá mức của yên Nhật, xây dựng trái phiếu chính phủ bởi ngân hàng Nhật Bản, sửa đổi lại đạo luật ngân hàng Nhật Bản… Quá trình thực hiện rất khó khăn, gây phản ứng cùa thành phần đối lập nhưng dần dà đã thực hiện được kế hoạch.
Hỗ trợ kích thích kinh tế được chính phủ Nhật Bản sử dụng từ năm 2013, trị giá 20,2 nghìn tỷ yên (tỷ giá một đô la khoảng 125 yên – JPY – vào thập niên 2010), trong đó có 10,3 nghìn tỷ yên xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng (cầu, đường hầm và đường chống động đất). Nhật Bản công bố thêm ngân khoản kích thích 5,5 nghìn tỷ yên vào tháng 4/2014 và ngân khoản kích thích trị giá 3,5 nghìn tỷ yên sau cuộc bầu cử tháng 12/2014. Giai đoạn 2015 – 2017, do kinh tế phục hồi chưa được như kỳ vọng nên Nhật Bản tiếp tục duy trì thâm hụt ngân sách và tiếp tục thực hiện các ngân khoản kích thích.
Tháng 8/2016, chính phủ Nhật Bản thông qua ngân khoản kích thích trị giá 28.100 tỷ yên tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội; Tháng 10/2016, chính phủ Nhật Bản phê chuẩn ngân khoản kích thích thứ hai trong năm 2016 trị giá hơn 4.000 tỷ yên nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng; Tháng 3/2017, Quốc Hội Nhật Bản thông qua ngân sách cho năm tài khóa 2017 trị giá 97.400 nghìn tỷ yên với mục tiêu tiếp tục tăng chi tiêu cho an sinh xã hội, quốc phòng và những lĩnh vực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Sau 5 năm (2013-1018) kể từ khi Thủ Tướng Abe lên nắm quyền và thực thi chính sách Abenomics, nền kinh tế Nhật Bản đã trở nên mạnh hơn nhưng vẫn chưa hoàn thành như ý muốn và những thách thức phía trước… Trong thời gian năm 2019, 2020 nạn dịch Covid-19 lan rộng trên thế giới, các nước trong cơn khủng hoảng vì lo đối phó với nạn dịch, phải ngăn ngừa bệnh dịch lây lan… phải “bế quan tỏa cảng” nên Nhật cũng rơi vào quỹ đạo nầy, kế hoạch Abenomics bị trì trệ.
Đối với nền kinh tế Nhật Bản, dù tỷ lệ nợ công ở mức trên 200% GDP, nhưng vẫn được đánh giá là nền kinh tế ổn định. Phần lớn nợ công của Nhật Bản thuộc về tay chủ nợ nội địa (các công ty trong nước và người dân Nhật Bản nổi tiếng về tiết kiệm trên thế giới). Chẳng hạn Mỹ là chủ nợ khoảng 30.000 tỷ đô la nhưng vẫn là cường quốc kinh tế số một trên thế giới.
Điều quan trọng, với ngân khoản của chính phủ bỏ ra hỗ trợ lớn lao như vậy của chính quyền được tin tưởng vì không xảy ra tình trạng tham những, bè phái, đặc quyền đặc lợi cho tham quan. Đó là vết son cho đất nước này. Với Việt Nam, “đi với ma mặc áo giấy” nên chương trình ODA (Official Development Assistance) lãi suất thấp, một phần viện trợ, thời hạn cho vay lâu dài để xây dựng hạ tầng cơ sở… đã xảy ra những trò hối lộ, tham những… khi giới truyền thông phanh phiu, những tay dính chàm của Nhật bị trị thẳng tay nhưng ở Việt Nam vẫn “bình chân như vại”.
Cố Thủ Tướng Shinzo Abe trở về với cát bụi, thi hài của vị lãnh đạo Nhật Bản được hỏa táng tại nhà tang lễ Kirigaya ở Tokyo.
Sáu thập niên về trước, người Nhật tiễn đưa Sứ Quân MacArthur trở về cố hương, sáu thập niên sau người Nhật vĩnh biệt cố Thủ Tướng Shinzo Abe trong niềm thương tiếc.
Vương Trùng Dương, Little Saigon 7/2022
-
GÓP PHẦN TÌM HIỂU
BÀI THƠ ĐIẾU PHAN THANH GIẢN BẰNG CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Hai bài thơ Nguyễn Đình Chiểu làm để điếu Phan Thanh Giản có thể được sáng tác ngay sau khi Phan Thanh Giản quyên sinh (năm 1867) hay – ở trường hợp bài chữ Hán – sau khi ông bị truy đoạt hết chức tước và đục tên khỏi bia Tiến sĩ. Từ đó đến nay đã trên 150 năm. Qua nhiều thế hệ, hai bài thơ ấy vẫn được coi là những tác phẩm bộc lộ niềm cảm thông trước hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của Phan Thanh Giản và bày tỏ lòng thương tiếc đối với ông. Ít năm gần đây, một vài tác giả ở trong nước biện luận rằng Nguyễn Đình Chiểu đã không thực sự thương tiếc Phan Thanh Giản, mà chỉ làm ra vẻ thương tiếc để mai mỉa và lên án ông. Những hàng phía sau là một cố gắng đọc lại bài thơ điếu bằng chữ Hán một cách cẩn trọng, để tìm hiểu chủ ý đích thực của Nguyễn Đình Chiểu khi sáng tác bài thơ ấy.
Khi Phan Thanh Giản quyên sinh năm 1867, Nguyễn Đình Chiểu bị mù đã được 18 năm (từ 1849). Các tác phẩm bằng quốc âm của vị thầy mất thị giác đã được các môn sinh của ông chép ra bằng chữ Nôm rồi về sau chuyển đổi sang chữ quốc ngữ. Các tác phẩm bằng chữ Hán hẳn cũng được ghi ra chữ Hán, nhưng sau một số lần sao đi chép lại, những chữ đồng âm nhưng khác nghĩa và những chữ có âm gần giống nhau đã rơi vào tình trạng “tam sao thất bổn,” khiến chúng ta thấy xuất hiện một số bản chữ Hán với cách viết và ý nghĩa khác nhau. Trước khi ông Lê Thọ Xuân liên lạc được với người con của Nguyễn Đình Chiểu là ông Nguyễn Đình Chiêm và cung cấp một bản thuộc loại “có thẩm quyền” cho bài thơ chữ Hán năm 1933 (bài “Danh nhơn Nam Kỳ,” Đồng Nai số 23 & 24, 15 Janvier – 2 Février 1933), chúng ta đã thấy có bản chữ Hán do ông Nguyễn Liên Phong đưa ra năm 1909 trong Nam Kỳ Phong Tục Nhơn Vật Diễn Ca (cuốn thứ 2, trang 71), và bản chữ Hán do ông Thái Hữu Võ đưa ra năm 1927 trong Phan Thanh Giảng Truyện (Sài Gòn : Xưa Nay, trang 46-47). Nhưng ông Lê Thọ Xuân chỉ cho biết là hai bài thơ do ông Thái Hữu Võ cung cấp có nhiều chỗ sai, và nêu ra những chỗ sai ấy bằng chữ quốc ngữ, chứ không cung cấp một bản viết đầy đủ và chính xác cho bài thơ chữ Hán. Những năm sau, bà Mai Huỳnh Hoa, cháu ngoại của bà Sương Nguyệt Anh (con gái của Nguyễn Đình Chiểu) và chồng bà là học giả Phan Văn Hùm, trong cuốn Nỗi Lòng Đồ Chiểu (bản in lần thứ hai, Sài Gòn : Tân Việt, 1957), cũng chỉ làm như thế, không cung cấp một bài thơ đầy đủ và chính xác ở dạng chữ Hán.
(Muốn biết hai bản chữ Hán với khá nhiều sai lầm của các ông Nguyễn Liên Phong và Thái Hữu Võ, xin vui lòng đọc trong cuốn Mối Thâm Tình Của Nguyễn Đình Chiểu Dành Cho “Quan Phan” Phan Thanh Giản của Winston Phan Đào Nguyên ([San Jose, Calif.] : Nhân Ảnh, 2022, các trang 55 và 61-62).
Tác giả đã đưa cuốn sách lên mạng tại địa chỉ sau đây:
https://app.box.com/s/p7e3mgfty0l1asrqkewxuck6bwqw7rny
Theo ông Lê Thọ Xuân, với bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đình Chiểu, bản do ông Thái Hữu Võ đưa ra trong Phan Thanh Giảng Truyện sai 8 chữ, thêm sự kiện hai chữ “thần” với những nghĩa khác nhau (“thần linh”神 và “vị quan, người bày tôi”臣) bị đặt sai chỗ, khiến ý nghĩa khác đi rất nhiều. Coi lại bản chữ Hán của ông Nguyễn Liên Phong, đối chiếu với bài viết của ông Lê Thọ Xuân, chúng tôi thấy có 7 chữ sai. Hai chữ “thần” cũng bị chép không đúng chỗ như thế.
Khi phân tích bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đình Chiểu, một vài tác giả ở trong nước trong ít năm gần đây đã dựa vào những bản bị chép sai ấy, đưa tới một số ngộ nhận rất đáng tiếc.
Mãi tới 15 năm trước đây, nhân được đọc một tài liệu Hán Nôm chép tay của gia đình Nguyễn Đình ở Bến Tre do bà Âu Dương Thị Yến cất giữ, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh mới cung cấp cho chúng ta một bài thơ chữ Hán thuộc loại có thẩm quyền trong Việt Nam Bách Gia Thi (Sài Gòn : NXB Văn Hóa, 2005). Đối chiếu bài này vói bài thơ chữ Hán chỉ có âm Hán Việt do học giả Phan Văn Hùm cung cấp sau khi tham khảo với ông Nguyễn Đình Chiêm, chúng tôi thấy hai bản gần như giống hệt nhau. Chỉ có hai chỗ khác trong câu 2, nhưng ý nghĩa không thay đổi nhiều:
Bản của ông Phan Văn Hùm: Vi quân nan bảo nhất phương dân
Bản của ông Cao Tự Thanh: Vi công thùy bảo nhất phương dân.
Trước những tranh luận sôi nổi về ý nghĩa của bài thơ mới được đưa ra gần đây, chúng tôi xin đóng góp chút nhận thức thô thiển. Trước khi làm việc này, chúng tôi có hoàn cảnh trao đổi thêm với hai vị có căn bản Hán học vững chắc ở ngoài nước, là Tiến sĩ Nguyễn Duy Chính và cô Nguyễn Ngọc Dung.Câu 1:
歷仕三朝獨潔身
Lịch sĩ tam triều độc khiết thân
Câu này ý nghĩa khá đơn giản: Làm quan trải ba triều vua (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.
Câu 2:
微君難保一方民
Vi quân nan bảo nhất phương dân
Nếu không có ông, rất khó bảo vệ dân chúng một phương. Câu này muốn nói tới dân chúng miền Nam. Phan Thanh Giản từng được cử làm Khâm sai, Kinh lược sứ Nam kỳ, rồi về sau, Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây.
Chúng tôi đưa ra câu trên theo bản in trong Nỗi Lòng Đồ Chiểu của Phan Văn Hùm. Trong Việt Nam Bách Gia Thi của Cao Tự Thanh, câu ấy là:
微公谁保一方民
Vi công thùy bảo nhất phương dân.
Nếu không có ông, ai sẽ bảo vệ dân chúng một phương. Tuy ý nghĩa không khác nhau bao nhiêu, chữ “công” (ông, tướng công) trong bản của Cao Tự Thanh có vẻ thích hợp hơn. Phan Thanh Giản (sinh năm 1896) hơn Nguyễn Đình Chiểu (sinh năm 1922) 26 tuổi. Phan Thanh Giản là vị “Tiến sĩ khai khoa” cho miền Nam, một Hiệp biện Đại học sĩ, Khâm sai, Kinh lược đại thần, trong khi Nguyễn Đình Chiểu mới đậu Tú tài và chưa làm quan. Thêm vào đó, Nguyễn Đình Chiểu rất tôn trọng Phan Thanh Giản, vẫn thường nhắc đến ông qua các từ “Phan học sĩ, quan Phan.”
Câu 3:
龍湖寧負書生老
Long Hồ ninh phụ thư sinh lão
Long Hồ là tên cũ của tỉnh Vĩnh Long. Chữ “ninh” ở đây có nghĩa là “thà rằng, đành,” như trong câu “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (đành chết chứ không chịu nhục). Một số vị dịch thơ trước đây cho rằng chữ “phụ” trong câu này có nghĩa là “phụ lòng.” Chẳng hạn như trong bản dịch của nhà thơ tiền bối Thượng Tân Thị (1888-1966):
Long Hồ phụ lão thư sinh,
Ở nơi các Phụng không đành làm quanHay trong bộ Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập do các ông Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lân, Nguyễn Thạch Giang biên soạn năm 1997 (Hà Nội : Văn Học, tập 2, trang 51-52):
Long Hồ thà phụ thư sanh lão
Phụng các suông quy học sĩ thần.
Theo các tự điển, chữ “phụ”負 ấy cũng có nghĩa là “vác, mang, gánh,” dùng theo nghĩa bóng là “gánh vác.” Chúng tôi tin rằng đó là ý của Nguyễn Đình Chiểu trong câu này. “Ninh phụ” có nghĩa: “đành phải ra gánh vác.”
Theo Đại Nam Thực Lục, sau khi ở Pháp về, Phan Thanh Giản được cử làm Lại bộ Thượng thư nhưng sau vua Tự Đức đổi ông làm Hộ bộ Thượng thư vì cho rằng ở Lại bộ không nhiều việc quan trọng. Ở Hộ bộ, phải lo ngân sách, tài chánh, kể cả khoản bồi thường chiến phí hàng năm phải nộp cho người Pháp, công việc nặng, cần người giỏi và tận tâm hơn. Sau đó, năm 1865, nhà vua cử ông làm Khâm sai, Kinh lược sứ, để lo giữ ba tỉnh miền Tây Nam phần. Cũng theo Đại Nam Thực Lục, Phan Thanh Giản đã xin về hưu (ông tới 70 tuổi theo cách tính của người Việt thời trước). Thực Lục chép, “Phan Thanh Giản vì tuổi già đã xin về hưu”. Vua Tự Đức tiếp riêng ông trong Nội các để trò chuyện. Phan Thanh Giản cho biết, “Thần … cảnh bóng dâu gần xế chiều, tự biết tinh thần, sức vóc không còn được như trước. Hồi tưởng lại người ta đến 70 tuổi như cỏ bồ cây liễu đã trải mùa thu, dẫu có lòng quyến luyến thiết tha nhưng sức ngựa đã hết, rất lo ứng phó không chu để lầm lỡ công việc, nên không dám không lấy tình thực trình bày.” Vua Tự Đức ủy lạo và nói, “Khanh nên cố gắng để khích lệ những người hậu tiến,” rồi lại nói, “Ngươi nên mạnh bạo mưu toan cho trót, quyết không nên thôi,” và không cho ông lui về. (Đại Nam Thực Lục. Hà Nội : NXB Giáo Dục, 2007. Tập 7, trang 944). Vì những lẽ ấy, theo chỗ chúng tôi hiểu, câu này có thể được viết với dấu ngắt câu:
Long Hồ ninh phụ, thư sinh lão.
Chủ từ của động từ “phụ” (mang, gánh vác) không phải là đất Long Hồ mà là người thư sinh già:
Người học trò già đành phải gánh vác việc [giữ đất] Long Hồ (tên cũ của tỉnh Vĩnh Long).
Có thể Nguyễn Đình Chiểu cũng muốn nói:
Long Hồ đành gánh vác, người thư sinh đã già.
Câu 4:
鳳閣空歸學士神
Phượng Các không quy học sĩ thần
Hồn người học sĩ (chỉ Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản) không đành, không lòng nào trở về Phượng Các (chỗ các quan làm việc). Không giữ nổi Vĩnh Long, ông đã bị truy đoạt hết chức tước, tên bị đục khỏi bia Tiến sĩ, linh hồn ông còn danh nghĩa nào để bay về Phượng Các là chỗ làm việc của các đại thần? Hai tiếng “không quy” không mang ý nghĩa “không về” (Nếu “không về,” người xưa viết là “bất quy”). Ở đây là “về,” nhưng không thực sự về, về một cách không trọn vẹn, “về cũng như không.” Những cách dịch “về suông” hay “khôn về” (khó lòng về) đều có vẻ thích hợp.
Hai câu 5-6:
秉節曾勞生富弼
盡忠何恨死張巡
Bỉnh tiết tằng lao, sinh Phú Bật
Tận trung hà hận, tử Trương Tuần
Cầm cây cờ tiết của người đi sứ (cũng có thể hiểu là giữ tiết tháo), từng chịu gian lao, sống như ông Phú Bật (đời Tống).
Hết lòng trung, còn hận gì nữa, chết như ông Trương Tuần (đời Đường).
Trong một bài Đường luật bát cú, đây là hai câu “luận,” có nhiệm vụ bàn về nhân vật được nhắc đến trong bài thơ (Phan Thanh Giản).
Câu trên nhắc đến việc Phan Thanh Giản từng vất vả sang Pháp (cùng Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản), cố chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Câu dưới nhắc đến việc Phan Thanh Giản quyên sinh sau khi không giữ nổi Vĩnh Long.
Việc thi hành nhiệm vụ của hai ông Phú Bật và Trương Tuần thực ra không hoàn hảo. Tuy Phú Bật thuyết phục được người Khiết Đan rút quân, nhưng triều Tống phải tăng thêm số bạc và lụa nộp cho họ hàng năm. Tuy Trương Tuần giữ thành Tuy Dương được thêm một thời gian, nhưng những việc phải giết người thiếp yêu, rồi một số người già và trẻ con làm lương thực cho binh sĩ, chung quy thành vẫn mất và Trương Tuần vẫn chết, khiến thành tích không tốt đẹp một cách trọn vẹn. Nhưng nhiều phần Nguyễn Đình Chiểu không chú trọng đến những chi tiết ấy. Ông chỉ có ý nói: Phan Thanh Giản có thể so sánh với Phú Bật từng vất vả khi đi sứ, và với Trương Tuần chết theo thành.
Hai câu 7-8:
有天六省存亡事
安得從容就義臣
Hữu thiên, lục tỉnh tồn vong sự
An đắc thung dung tựu nghĩa thần.
Nghĩa đen của câu 7: Có Trời trong việc còn mất của 6 tỉnh. Câu này cũng có thể hiểu là: Chuyện còn mất của 6 tỉnh đã có Trời biết, để đưa tới câu 8: Mong có được người bề tôi biết thung dung tựu nghĩa (thung dung chết vì nghĩa).
“An đắc” có nghĩa “mong sao có được” như trong một bài ca của Hán Cao tổ Lưu Bang,
“An đắc mãnh sĩ hề, thủ tứ phương” (Mong sao có được những kẻ sĩ dũng mãnh để giữ bốn phương). Những chữ “thung dung tựu nghĩa”được lấy từ một cặp câu đối tương truyền là để điếu Lý Trần Quán, làm quan ở cuối đời Lê, sau khi ông tự tử (yêu cầu được chôn sống) vì Nguyễn Trang, người mà ông nhờ hộ vệ chúa Trịnh Khải đã nộp chúa cho quân Tây Sơn:
Khảng khái cần vương dị
Thung dung tựu nghĩa nan
(Khảng khái giúp vua là chuyện dễ, thung dung chết vì nghĩa mới khó).
Bốn chữ “thung dung tựu nghĩa” nói đến việc Phan Thanh Giản ung dung chọn cái chết sau khi không giữ nổi Vĩnh Long.
Xin được chép lại toàn thể bài thơ với lời giảng ra văn xuôi và một bản dịch thơ phía sau. Người viết xin chân thành cảm tạ chị Mỹ Ngọc, một cựu đồng môn, đã tiếp tay trong bản dịch thơ này:
歷仕三朝獨潔身
微君難保一方民
龍湖寧負書生老
鳳閣空歸學士神
秉節曾勞生富弼
盡忠何恨死張巡
有天六省存亡事
安得從容就義臣
Lịch sĩ tam triều độc khiết thân
Vi quân nan bảo nhất phương dân
Long Hồ ninh phụ thư sinh lão
Phượng Các không quy học sĩ thần.
Bỉnh tiết tằng lao, sinh Phú Bật
Tận trung hà hận, tử Trương Tuần
Hữu thiên, lục tỉnh tồn vong sự
An đắc thung dung tựu nghĩa thần.
Làm quan trải ba triều vua, riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.
Không có ông, rất khó bảo vệ dân chúng một miền.
Người học trò già đành ra gánh vác [việc giữ] Long Hồ
Hồn người học sĩ khó trở về Phượng Các.
Giữ tiết, từng gian lao, sống như Phú Bật đời Tống
Dốc hết lòng trung, còn hận gì nữa, chết như Trương Tuần đời Đường.
Chuyện còn mất của sáu tỉnh có trời ở trong.
Cốt sao có được người bày tôi thung dung chết vì nghĩa.
Dịch thơ (Nguyễn Mỹ Ngọc và Trần Từ Mai):
Thanh khiết ba triều vẹn tấm thân,
Một phương nguy khó gắng che dân.
Long Hồ đành chĩu vai nguyên lão,
Phượng Các khôn mong vía học thần.
Sống đã gian lao theo Phú Bật,
Chết đâu tiếc hận với Trương Tuần.
Mất còn sáu tỉnh, trời cao biết,
Sao được thung dung trọn nghĩa nhân.
PHỤ LỤC: BA BẢN DỊCH THƠ KHÁC
Bản dịch của Thượng Tân Thị
Mình trong sạch trải thờ ba chúa,
Không ông ai che chở dân lành.
Long Hồ phụ lão thư sinh,
Ở nơi các Phụng không đành làm quan.
Cầm tiết nhọc sống chàng Phú Bật,
Chết ngay sao giận uất Trương Tuần.
Mất còn sáu tỉnh trời phân,Thung dung tựu nghĩa làm thần khó thay.
Bản dịch trong Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập
của CV Thỉnh, NS Lân, NT Giang (1997)
Thờ trải ba triều trọn sạch thân,
Không ông ai đỡ một phương dân.
Long Hồ thà phụ thơ sanh lão,
Phụng Các suông quy học sĩ thần.
Giữ tiết nhọc nhằn còn Phú Bật,
Hết trung nào giận mất Trương Tuần.
Mất còn sáu tỉnh trời kia biết,
Sao đặng thung dung tựu nghĩa thần?
Bản dịch của Cao Tự Thanh (2005)
Ba triều rõ mặt bậc tôi lành,
Che chở cho dân buổi lửa binh.
Phượng các khôn về hồn học sĩ,
Long Hồ thà chịu tiếng thư sinh.
Sống từng nhọc bấy thân đi sứ,
Chết lại hờn chi phận giữ thành.
Sáu tỉnh mất còn, trời đã định,
Nhưng tìm đâu được kẻ trung trinh.
(Việt Nam Bách Gia Thi)
Nhận xét:
- Có lẽ đã dựa theo bản chép sai của ông Nguyễn Liên Phong hay ông Thái Hữu Võ, nhà thơ tiền bối Thượng Tân Thị đã hiểu chữ “thần” trong câu 4 là viên quan, và chữ “thần” trong câu 8 là ông thần.
- Nhà thơ Thượng Tân Thị và nhóm ông Ca Văn Thỉnh đã hiểu chữ “phụ” trong câu 3 là “phụ bạc,” và cho rằng chủ từ của động từ “phụ” là tỉnh Long Hồ.
Trần Huy Bích, California, July 2022
-
Màu Phượng Thắm
-
Viết về một người sắp ra đi, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh

GS. Nguyễn Xuân Vinh Theo tin từ BS Nguyễn Thượng Vũ ngày 11 tháng 07, 2022 cho biết là sức khỏe của GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã suy sụp rất nhiều. Bệnh viện đồng ý là với tình trạng sức khỏe của GS Vinh, ở tuổi 92 của GS Vinh thì không thể nào có hy vọng hồi phục được. Bác sĩ điều trị sẽ áp dụng Hospice Care cho anh GS Vinh. (Hospice Care có nghĩa là bác sĩ điều trị sẽ dùng mọi phương tiện để GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh sẽ thoải mái, không bị đau đớn trong thời gian sắp tới).
Sáng nay khi tôi (Việt Hải) đuợc tin về GS. Nguyễn Xuân Vinh đã vào tình trạng hospice care unit, tôi buồn lắm. Tôi còn nhớ khi ông dọn từ San Jose về Huntington Beach (Orange County), 12 anh chị em nhóm chúng tôi đến thăm thầy, lý do riêng GS. Phạm Hồng Thái bàn về sách Thiên Chức Của Nhà Giáo với GS. Vinh sẽ khởi sự: Nguyen X Vinh (Vietnamese Edition) Paperback – June 20, 2018, do NXB Amazon. Vietnamese Edition by Nhân Văn Nghệ Thuật (Author), GS Đào Đức Nhuận (Editor), GS Phạm Hồng Thái (Editor, Designer).

Những năm khi NASA thám hiểm cung trăng, Apollo 11 là chuyến bay không gian đã hạ cánh cùng người đầu tiên đáp xuống Mặt Trăng, hai phi hành gia Hoa Kỳ là Neil Armstrong và Buzz Aldrin, vào ngày 20 tháng 7, năm 1969, lúc 20:18 UTC. Armstrong trở thành người đầu tiên bước chân lên bề mặt của Mặt Trăng sáu giờ sau vào ngày 21 tháng 7, lúc 02:56 UTC. Armstrong dành hai tiếng rưỡi bên ngoài con tàu không gian, trong khi Aldrin có ít thời gian hơn một chút và cùng nhau, họ thu thập 47.5 pounds (21.5 kg) Đá Mặt Trăng cho chuyến trở về Trái Đất. Thành viên thứ ba của Phi hành đoàn, Michael Collins, lái Module (space lab unit) Điều Khiển một mình quanh quỹ đạo của Mặt Trăng cho đến khi Armstrong và Aldrin quay về Module Điều Khiển chỉ một ngày trước khi họ phải bắt đầu hành trình quay về Trái Đất. Vê sau KHG David Scott chỉ huy tàu Apollo 15 đáp xuống Mặt trăng vào tháng 7, 1971. Trong chuyến thám hiểm này, ông cùng cộng sự đã điều khiển 3 chiếc xe điện chuyên dụng để thu thập các mẫu đất đá và mang về nghiên cứu. James Irwin bên cạnh lá quốc kỳ Mỹ trong chuyến thám hiểm Mặt trăng.
Những năm này thế giới khoa học gia không gian chú ý đến GS. Nguyễn Xuân Vinh, người đã lead team dùng toán học tính quỹ đạo bay ra ngoài không gian và về trái đất (During this expedition, he and his colleagues drove 3 specialized electric vehicles to collect soil and rock samples and bring them back for research. James Irwin next to the American flag during his exploration of the Moon. In these years, the world of space scientists paid attention to Prof. Nguyen Xuan Vinh, who led the team to apply math to calculate the orbiter flight path by space vehicles, fly to space and back to earth).
Tôi viết về thầy Vinh: “Tưởng cũng nên ghi nhận tác giả là một vị giáo sư toán giảng dạy bậc cấp cao (advanced mathematics), và cũng là một khoa học gia ngành không gian, mà đề tủ của ông là Optimal Trajectories, ông viết sách về Quỹ Đạo Tối Ưu, sách toán hay không gian học của Mỹ, Pháp, Nga, Nhật,… đều có đăng những bài do ông viết. Do vậy tác giả Nguyễn Xuân Vinh là người của thế giới, họ biết ông qua những kiến thức chuyên môn của ông, mà toán học và không gian học là hai yếu tố then chốt tạo nên tên tuổi của tác giả. Nói như vậy không có nghĩa là Vui Đời Toán Học được ươm mầm bởi những lý thuyết toán học cao siêu của những Joseph Lagrange, Laplace, Euler, Fourier, Boole, Cauchy, Leibniz, Isaac Newton, Jacob Bernoulli, Johann Bernoulli, Bourbaki, Neumann, Niels Abel, Plato, Blaise Pascal, Pythagore, René Descartes,… “.
GS. Vinh đi bên toán học, không gian học và văn học thì đã có nhiều nhiều campus fans vốn hâm mộ. Khi làm về ngành R&D, Weapon Innovation Development, tính đường bay của phi đạn, tôi quý môn toán học (missile systems flight path). GS. Vinh là một sharp scientist như những Johannes Kepler hay Katherine Johnson, Dr. Katherine Johnson đã góp công lớn cho những thành tựu về toán học, nhà toán học Mỹ, tính toán và phân tích đường bay của nhiều con tàu vũ trụ.
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Một Tấm Gương Kiên Nhẫn Cho Giới Trẻ, bài viết của ông Nguyễn Tường Tâm, 4/10/2005

Cựu Tư Lệnh Không Quân VNCH, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh Trong môt bài viết bằng tiếng Anh để gửi tới giới trẻ trong buổi hoàng hôn của cuộc đời mình, nhà văn, nhà khoa học và cũng là một vị cựu Tư Lệnh Không Quân VNCH, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã tâm sự:
Our journey across life can be compared to the flight of an aircraft across a vast ocean. Sometimes we are favored by a tail wind which gives us a faster ground speed. But sometimes on other occasions, we may face a head wind with adverse effects. As the first generation of immigrants, we are the pioneers, and we may run into obstacles. Just as the aircraft has to get to the other side of the ocean because it has passed the point of no return, when facing the head wind in our life, such as in the case of social injustice, we should keep our heads high, our chins up, and then with physical endurance, technical expertise, and with spiritual strength, by dedication and dignity, we shall join force together to overcome adversity and fulfill our dream of equal opportunity, equal rights and equal responsibility, and in so doing, make it a reality.
Đoạn văn có ý khuyên người đọc rằng trong cuộc đời nếu muốn thực hiện một điều gì cho riêng mình hay cùng nhau chiến đấu cho một lý tưởng quốc gia mà gặp khó khăn trở ngại thì cứ nên giữ vững lòng tin vào chính nghĩa, để với quyết tâm và tự trọng và cùng nhau liên kết thì cũng như một chiếc phi cơ phải bay qua đại dương, sẽ có lúc sang được phía bờ bên kia. Câu viết này có thể dùng cho những đoạn đời đã qua của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Con người ông đã là một kết hợp của một loạt những ước mơ thường là tương phản nhau mà ông đã hoá giải được để cùng thực hiện. Ông mơ những giấc mơ mâu thuẫn nhau và ông thường làm ngược với những người cùng hoàn cảnh. Nhưng cuối cùng ông đã thực hiện được tất cả những ước mơ tưởng chừng như không thể nào kết hợp được trong cùng một con người và trong thời gian hạn hẹp của đời người .
Trước tiên, thấm nhuần nho học gia đình nhưng chàng tuổi trẻ Nguyễn Xuân Vinh lại ham mê tây học và khoa học và có ước mơ canh tân đất nước. Trong một xã hội Việt nam thời đó, khi mà người ta thường nói “phi cao đẳng bất thành phu phụ!” nghĩa là nếu không có bằng Bác sĩ , Luật sư thì không được người đời qúy trọng, tuy ông có khả năng để đạt được những mảnh bằng đó một cách dễ dàng, mà ông lại không theo con đường chung của mọi người. Ông chọn môn Toán học mà ông mê thích và đi theo con đường này thì vừa khó khăn gấp bội mà lại chẳng có danh, cũng không có lợi. Người sinh viên theo ngành này, nếu không phát minh được một lý thuyết nào và đạt được trình độ tiến sĩ thì sẽ chỉ trở thành một ông giáo bình thường mà thôi . Ông mê học toán tới độ khi kháng chiến bùng nổ, ông theo gia đình tản cư nhưng vẫn tiếp tục học để lấy chứng chỉ Toán đại cương trong hoàn cảnh thiếu thầy, thiếu lớp và thiếu cả sách vở. Giữa năm 1950, vừa theo gia đình hồi cư về Hà Nội, ông tiếp tục ghi tên theo học ngay hai trường đại học dược khoa và đại học khoa học để học lại lần thứ nhì lớp Toán đại cương mà ông chưa hoàn tất ở khu kháng chiến. Tại đại học Hà Nội, ngoài giờ trong lớp ông còn làm phụ tá cho giáo sư để lấy tiền theo đuổi việc học. Và ông đã đỗ đầu kỳ thi chứng chỉ Toán đại cương vào đầu hè năm 1951 và được tuyển làm giáo sư trường Trung học Nguyễn Trãi Hà Nội .
Năm 1951, bất ngờ ông nhận được giấy gọi nhập ngũ theo học khoá I Sĩ quan Trừ bị Nam Định và được chuyển theo học chuyên môn về công binh ở Thủ Đức. Ông là một trong số chỉ chừng vài chục người có thể tự nhận rằng đã được theo học tại cả hai quân trường Võ khoa Nam Định và Võ khoa Thủ Đức. Ra trường ông là một sĩ quan công binh và nơi đồn trú đầu tiên của ông là tỉnh Thái Bình .
Khoảng thời gian này, một lần nữa ông lại phải lấy một trong hai chọn lưạ mâu thuẫn nhau. Là một người ham học, đáng lẽ ông có thể vừa ở nhiệm sở vừa ghi tên theo học toán tại Đại học Hà Nội, nhưng vì ôm mộng hải hồ nên trước khi đi nhận nhiệm sở sĩ quan công binh, ông đã nạp đơn dự thi vào trường Không Quân Pháp. Vào thời điểm đó, Không Quân Việt Nam chưa được thành lập. Một đại uý không quân được cử từ Pháp sang Saigon để phát bài thi cho thí sinh đồng thời ông ta cũng sẽ là giám khảo phần thi vấn đáp. Có chừng 20 người dự thi . Nhưng có lẽ bài thi viết cuả ông quá xuất sắc nên vị sĩ quan giám khảo thay vì khảo hạch ông trước bảng đen cuả lớp học thì lại mời ông ra đứng ở lan can phòng thi kể cho ông nghe viễn tượng đang chờ đợi ông ở quân trường không quân ở miền Nam nước Pháp . Nghe thấy vậy ông đã tin gần chắc là ông sẽ đỗ. Quả nhiên mấy ngày sau, trong số 5 thí sinh trúng tuyển, ông đã được chọn đỗ đầu, trong khi lúc chính thức vào phòng vấn đáp ông không phải nói một câu nào ngoài câu chào lúc bắt đầu và câu cám ơn lúc kết thúc .
Sau mấy tháng làm sĩ quan công binh tại Thái Bình ông nhận được giấy vào Saigon đi học trường không quân Ecole de l’Air cuả Pháp nằm ở tỉnh Salon de Provence. Trước đó điều kiện để được nhập học trường này rất khó, vì phải vừa là dân Tây vừa phải theo học một lớp toán học cao cấp sau tú tài 2. Cho nên trước đó mới chỉ có 2 người Việt quốc tịch Pháp được theo học, trong đó có trung tướng Nguyễn văn Hinh. Trước ông 2 năm cũng có một sĩ quan người Việt là ông Lê Trung Trực, sau này là chuẩn tướng không quân, được nhận như là một sinh viên ngoại quốc. Như vậy ông Nguyễn Xuân Vinh là một trong 5 khóa sinh Việt nam đầu tiên học trường này qua một kỳ thi tuyển lựa như thí sinh Pháp và cũng là một trong 3 người Việt nam đầu tiên được trúng tuyển theo học ngành phi hành với 2 người nữa theo học ngành kỹ thuật.
Sang Pháp , trước tiên ông được gửi tới trường phi hành (École de pilotage) ở Marrakech. Sau chín tháng được huấn luyện bay ông nhận được giấy tới Salon de Provence để nhập học Khoá sĩ quan không quân 1953. Tại thời điểm này, Nguyễn Xuân Vinh lại kết hợp 2 con người mâu thuẫn trong ông, một con người quân sự, vẫy vùng, ngang tàng, và con người sinh viên chăm chỉ nơi giảng đường đại học. Trước ngày khai trường, được nghỉ hai tháng hè, lợi dụng thời gian này ông tới Nice để học thi chứng chỉ Toán Vi Phân và Tích Phân mà ông đã ghi tên học từ đầu năm ở Đại Học Marseille. Ông đã từng viết lên tâm sự rằng, trong khoảng thời gian những năm cuối cùng sống trên đất Pháp, ông cố thu thập những lý thuyết quân sự, tổ chức hành chánh, kỹ thuật và hành quân trong Không Quân, và đồng thời cũng nhân dịp còn ở nước người, học thêm về toán học, về những môn chưa được giảng dậy tại quê nhà để sau này có dịp đưa kiến thức và sở học ra phục vụ quê hương một cách đắc lực hơn. Với suy nghĩ như vậy cho nên , sau đó, cùng với việc tốt nghiệp một trường sĩ quan phi công nổi tiếng cuả Pháp, ông cũng đã lấy được bằng cao học Toán tại đại học Marseille. Trong một lần tâm sự, tôi có hỏi ông rằng, trong thời gian học phi công quân sự tại Pháp, nhất là tại kinh thành Ánh Sáng, cuối tuần các sinh viên sĩ quan thường đưa đào đi chơi, uống rượu, nhẩy đầm, thì làm sao GS lấy được bằng cử nhân rồi cao học toán . Ông nhìn tôi bằng đôi mắt to và lúc nào trông cũng có vẻ hiền lành, thản nhiên cho biết: “cuối tuần, trong lúc các sinh viên sĩ quan khác đi chơi thì tôi đi học .” Thật không thể tưởng tượng được ! Ông đã kết hợp được trong ông, hai con người có hai thái cực khác nhau.
Sự thể là sau ba năm du học, vào năm 1955 từ Pháp trở về, ngoài bằng phi công quân sự, thiếu uý phi công NXV còn mang theo về nước một bằng kỹ sư hàng không và một bằng cử nhân cộng thêm cao học toán .
Khi mới về nước, đồn trú tại căn cứ không quân Nha Trang, nơi có biển đẹp và những người con gái có làn da ngăm ngăm, săn chắc, xinh đẹp, và quyến rũ, thay vì theo đuổi một bóng hồng nơi miền thuỳ dương cát trắng để có những buổi chiều mơ mộng sau giờ bay đưa người đẹp đi uống nước bên bãi biển như những chàng phi công khác, ngoài giờ công tác và đi bay, theo lời yêu cầu của bộ Quốc Gia Giáo Dục, và với giấy phép đặc biệt của bộ Quốc Phòng, chàng sĩ quan không quân trẻ Nguyễn Xuân Vinh, cũng để mỗi tuần vài giờ tới trường trung học Võ Tánh ở Nha Trang, để truyền đạt kiến thức toán học của ông cho thế hệ sau.
Ông gắn bó với nghề giáo từ đây. Lại một lần nữa ông kết hợp trong ông hai con ngươì hoàn toàn mâu thuẫn nhau: một con người không quân trẻ tuổi, hào hùng và hào hoa, và một con người nhà giáo, mô phạm, nghiêm túc . Với khả năng văn võ của ông, ông đươcï cả Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia lẫn Bộ Quốc Phòng xử dụng trong nhiều chức vụ mà một sĩ quan cấp úy trung bình không thể đảm đương nổi. Trong vòng 2 năm từ một trung úy phi công ở Phi Đoàn Liên Lạc và Tác chiến ở Nha Trang, ông được chuyển về Phòng Tổng Nghiên cứu và Kế hoạch ở Bộ Tổng Tham Mưu, rồi được Bộ Tham Mưu Không Quân xin về để giữ chức vụ Trưởng Phòng Tư, sau đó lại được Bộ Quốc Phòng cử sang Sứ Quán Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn như là một vị đại úy Phụ Tá Tùy Viên Quân Lực. Chưa đầy một năm sau, vì nhu cầu quân vụ khẩn thiết nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh được Bộ Quốc Phòng gọi về để giữ chức vụ Trưởng Phòng Báo Chí Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Thật ra trong chúng ta ít ngưòi biết là trong chức vụ này đã có môt thời ông là chủ bút của hai tờ báo Quân Đội và Phụng Sự của Quân Đội Quốc Gia với một ban biên tập có những nhà văn nhà thơ và nhà báo nổi danh đương thời như Thanh Nam, Tô Kiều Ngân, Huy Sơn, Huy Quang, Tường Linh, Nguyễn Ang Ca, …. Nhưng nghiệp bay vẫn trở lại với ông và cuối năm 1957 Thiếu tá Nguyễn Xuân Vinh được bổ nhiệm vào chức vụ Tham Mưu Trưởng Không Quân Việt Nam và năm tiếp theo, khi mới 28 tuổi, Trung tá phi công Nguyễn xuân Vinh, qua những nhiệm vụ liên tiếp, đã chứng tỏ được khả năng tham mưu và chỉ huy để được Tổng Thống VNCH giao cho đảm nhận chức vụ Phụ tá Không quân cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Viêït Nam. Trong cương vị này, với tổ chức buổi đầu của Không quân Việt Nam vẫn còn sơ sài, ông Nguyễn Xuân Vinh là người đầu tiên chịu trách nhiệm hoạch định tất cả các chương trình phát triển để Không Quân thành một quân chủng riêng biệt, có một Bộ Tư Lệnh Không Quân, có khả năng kỹ thuật và hành quân, tạo được sự kính nể của các Không Quân bạn trong vùng Thái Bình Dương.
Nguyễn Xuân Vinh tiếp đón Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson năm 1961
với cương vị Tư Lệnh KQVNCHTrong thời điểm này, một bí mật quân sự quốc gia được thực hiện, và nay đã giải mật, đó là chương trình thả “Biệt kích nhẩy Bắc.” Lại chính con người có bề ngoài hiền lành này, với tư cách là tư lệnh quân chủng không quân, là một trong những người đầu tiên tham gia cùng với các vị tư lệnh quân binh chủng và đại đơn vị khác hoạch định kế hoạch. Trong những phi vụ thả “Biệt kích Nhẩy Bắc” đầu tiên, Tư lệnh không quân Nguyễn Xuân Vinh, không những là người tham gia hoạch định kế hoạch mà còn là người tiễn chân các “Kinh Kha” tại ngay phi đạo .

Tiếp kiến Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan (1961) Nhưng tư lệnh không quân Nguyễn Xuân Vinh không từ bỏ được nghề giáo, môi trường duy nhất lúc đó có thể giúp ông sống với toán học. Với giấy phép của Bộ Quốc Phòng vẫn còn hiệu lực, ông xắp xếp công việc để có thể dậy thêm ít giờ tại hai trường trung học Chu Văn An và Petrus Ký về hai môn Hình học Không gian và Thiên Văn học. Trong khoảng thời gian này, con người mê thơ văn từ thuả thiếu thời trong ông lại trỗi dậy. Ông đã từng nhắc lại một câu của toán học gia lừng danh Đức quốc là ông Karl Weierstrass (1815-1897) rằng, “một toán gia, nếu không là một thi sĩ thì không thể nào là một toán gia toàn vẹn được!”. Cho nên, vừa chỉ huy đại đơn vị, vừa nghiên cứu toán học, vừa dậy học, ông vừa làm thơ. Và có lẽ chính ông đã mở đường cho một trào lưu thơ, mà nhiều người đã gọi một cách vui là “Thơ Tình Toán Học .” Tôi xin nhắc lại vài câu mở đầu trong bài “Tình Hư Ảo” cuả Toàn Phong sau đây:
Tình Hư Ảo
Anh tìm em trên vòng tròn lượng giác,
Nét diễm kiều trong tọa độ không gian.
Đôi trái tim theo nhịp độ tuần hoàn,
Còn tất cả chỉ theo chiều hư ảo.
Bao ước mơ , phải chi là nghịch đảo,Bóng thời gian, qui chiếu xuống giản đồ .
Nghiệm số tìm, giờ chỉ có hư vô,
Đường hội tụ, hay phân kỳ giải tích.Cũng chính trong thời gian này, cuốn “Đời phi công” ra đời làm nô nức mọi thanh niên thiếu nữ, đang mơ mộng hải hồ hay mơ có ngừơi yêu là một chàng không quân hào hoa cưỡi gió, đè mây. Cuốn tiểu thuyết này đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc năm 1961. Định mệnh đã làm cho hoạt động của người không quân Nguyễn Xuân Vinh vượt khỏi tầm vóc quốc gia để sau này tên ông được thế giới biết đến. Cho nên , sau khi đã tạo ra được cái khung để lực lượng không quân non trẻ của VNCH dưạ theo đó mà phát triển, tư lệnh Nguyễ Xuân Vinh, có lẽ một phần cũng do bản chất lớn lên trong một gia đình thấm nhuần nho giáo, nên ông đã xuất xử theo phong cách cuả kẻ sĩ đông phương, là “gác kiếm từ quan!” Ông đệ đơn xin từ chức tư lệnh không quân để đi du học. Năm 1962, ông lên đường đi du học nhưng vẫn còn là một quân nhân. Có lần tôi hỏi ông thế không phải ông bị tổng thống Diệm cho bãi chức tư lệnh và đẩy ông đi du học vì vụ hai phi công Quốc và Cử ném bom dinh Độc Lập à? Ông ngạc nhiên, không biết rằng bên ngoài dân chúng người ta tưởng và tin như thế. Như thường lệ, ông nhỏ nhẹ cho biết việc ông nghỉ chức tư lệnh không quân không liên quan gì tới vụ ném bom của hai phi công Quốc, và Cử. Ông đã làm tư lệnh không quân gần 5 năm trong khi ở các nước tân tiến nhiệm kỳ của các tư lệnh quân chủng thường chỉ là 4 năm mà thôi. Ông cho biết tiếp lúc vụ ném bom xảy ra ông đang ở nước ngoài. Và sau khi xẩy ra biến cố này phải 6 tháng sau ông mới lên đường du học. Ông có vẻ tin ở số mạng. Ông cho biết thêm trong đời ông có nhiều may mắn, và thường trong công việc bao giờ cũng được trên thuận dưới hoà. Ông tâm tình cho biết, các cấp chỉ huy trong Không Quân Hoa Kỳ rất nể trọng ông và họ đã đặc biệt dành trong ngân sách viện trợ một học bổng cho ông được đưa theo cả gia đình theo học chương trình tiến sĩ khoa học hàng không và không gian tại University of Colorado . Ở nơi đó họ cũng mời ông tới thuyết giảng hai lần ở trường Võ Bị Không Quân ở Colorado Springs.
Chỉ ba năm sau, vào năm 1965, vị cựu tư lệnh Không Quân VNCH đã được ghi tên vào lịch sử của tiểu bang Colorado như là người đầu tiên được cấp bằng tiến sĩ (Ph.D) về ngành Aerospace Engineering Sciences tại trường Đại học Colorado. Ông được mời ở lại dậy học và xin được bộ Quốc Phòng Việt Nam cho từ dịch và được cấp thẻ thường trú của Hoa Kỳ để nhận chức giảng sư của Đại học Colorado . Năm 1968, Ông được mời tới dậy ở Đại học Michigan và năm 1972 ông được thăng chức giáo sư thực thụ (tenured full professor). Tới khi về hưu năm 1998, ông được phong chức “Giáo sư vĩnh viễn” (Professor emeritus) tại trường đại học này.
Cũng năm 1972 ông dành được thêm bằng tiến sĩ quốc gia toán học tại Đại học Paris . Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã là thày dậy cho vào khoảng gần hai ngàn kỹ sư hàng không và không gian cho nhiều trường đại học ở Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới. Học trò của ông nhiều người đã trở thành giáo sư đại học và nhà nghiên cứu xuất sắc. Ông đã xuất bản 3 cuốn sách và gần 100 bài khảo luận về toán học, về chuyển động của các thiên thể và phi thuyền không gian và về quĩ đạo tối ưu. Nhiều bài viết của ông đã được chuyển dịch sang Pháp, Nga và Hoa ngữ. Nhiều công thức ông tìm ra đã được dùng trong những sách giáo khoa ở các nước Pháp, Nga và Nhật Bản mà những tác giả đã căn cứ lên những tài liệu và sách ông viết ở Hoa Kỳ.
Thành quả về nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học không gian tại các trường đại học trên thế giới cuả ông được liệt kê khá nhiều trong những tài liệu để ở những thư viện chuyên khoa. Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng trên nhiều lãnh vực, chưa kể trong lãnh vực giáo dục và nghiên cứu khoa học không gian là lãnh vực chuyên môn của ông. Tôi thấy thật là khó viết cho đầy đủ hay nói cho trọn vẹn trong một khuôn khổ hạn hẹp những thành quả của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Tôi nhớ là nhà thơ và triết gia Võ Thạnh Văn đã có lần nói ông muốn có dịp để nói trong ba giờ liền sự nghiệp của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Suốt năm qua, có dịp cùng với bác sĩ Phạm Đức Vượng làm việc chung với ông, tôi được biết thêm nhiều điều mà người ngoài không biết.Giáo sư Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh không chỉ là một khoa học gia không gian “đầu tiên” và “hàng đầu” của Việt Nam , mà ông còn có vị trí rất lớn trong ngành không gian thế giới. Điều này ngày xưa ở Việt nam tôi chỉ nghe nói nhưng cũng không hiểu thấu đáo nhất là Việt nam ta hay “nói quá” về những thành tích cuả người mình. Nhưng có lần cùng bác sĩ Vượng đứng với ông trong căn phòng làm việc nhỏ bé tràn đầy sách vở dưới sàn, bít cả lối đi, tôi giật mình rung động trước những tấm plaques và bằng khen ngợi của các cơ quan quốc tế và Hoa Kỳ dành cho những đóng góp cuả ông cho khoa học không gian thế giới. Đặc biệt tôi chú ý tới cái bằng và huy chương của American Institute of Aeronautics and Astronautics (viết tắt là AIAA) là Hiệp Hội của tất cả các kỹ sư và khoa học gia Hoa Kỳ trong ngành Hàng không và Không gian mới khen ngợi các đóng góp cuả ông trong cả 2 lãnh vực vừa trong bầu khí quyển (atmosphere) vừa trong không gian ngoại từng khí quyển (space). Huy chương này, mỗi năm AIAA chỉ tặng cho một khoa học gia không gian duy nhất. Gần ông và được thấy những chồng sách trong phòng làm việc của ông tôi mới được biết ông là người Á châu đầu tiên và là người Việt nam độc nhất được bầu vào Hàn Lâm Viện Hàng không và Không gian Pháp quốc, một Hàn Lâm Viện mà số hội viên hạn chế, đã có những danh nhân như nhà kiến trúc hàng không Marcel Dassault, như cựu thủ tướng Michel Debré, một trong 40 ông viện sĩ bất tử trong Hàn Lâm Viện Pháp . Sau GS Vinh, người Á châu thứ nhì được bầu vào Hàn Lâm Viện này là kỹ sư hàng không Bacharuddin Habibie, cựu tổng thống của Nam Dương. Trong những bảng lưu niệm tặng cho những thuyết trình viên danh dự ở các hội nghị, tôi thấy ông được mời tới nói chuyện ở Hội Nghị Thường Niên của Ủy Ban Điều Hợp Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ ở Maryland và ở Hội Nghị Lưỡng Niên Toàn Cầu của Công ty Hoá chất Dupont ở Delaware. Tôi không ngờ là ông cũng nổi tiếng trong hai lãnh vực Nguyên Tử Lực và Hoá Học nên hỏi ông về điều này. Ông lắc đầu trả lời: “Kiến thức về Vật Lý và Hoá Học của tôi chỉ ở mức trung bình như một người thường. Họ không mời tôi đến nói về những môn khoa học chuyên môn mà về một đề tài tôi tự lựa chọn. Như ở Hội Nghị Nguyên Tử Lực tôi nói về đề tài “Exploration of Inner Space” có ý nghĩa là con người đã có những thám hiểm ở ngoài không gian (outer space) thì cũng nên có lúc tìm hiểu về nội tâm (inner space) của chính mình.”
Câu nói trên của ông có thể dùng để biểu hiện con người và thành tích của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Ông là một kết hợp của những mâu thuẫn; nhưng đó là một sự kết hợp hài hoà khiến ông trở thành một con người tài hoa, đa dạng. Vừa là một quân nhân, vừa là một phi công, vừa là một tư lệnh, vừa là một nhà giáo, vừa là một nhà văn, vừa là một nhà thơ, vừa là một nhà hoạt động quần chúng, nhưng thành quả to lớn nhất trong cuộc đời ông theo tôi nghĩ đã vượt biên giới quốc gia, và vượt thời gian là những đóng góp cuả ông trong ngành hàng không không gian thế giới . Với công trình to lớn đó, mà tôi nghĩ là ông đã thành tựu với ý nguyện góp phần của một người Việt vào sự tiến hoá của nhân loại, ông thực đã mang lại sự hãnh diện chung cho dân tộc.
Nguyễn Tường Tâm, 4/10/2005

GS NGUYỄN XUÂN VINH Tác phẩm Vui đời toán học ra mắt cộng đồng người Việt tai Orange County lúc 11:00 SÁNG, NGÀY CHỦ NHẬT, NGÀY 13 THÁNG 1 NĂM 2013, tại HỘI TRƯỜNG VĂN LANG, 14861 Moran Street, Westminster, CA 92683.
Trong cuộc sống thường nhật của chúng ta, rất nhiều vật dụng, đồ đạc, phương tiện chúng ta cần dùng, ít nhiều liên quan đến toán, ví dụ như hệ thống định vị toàn cầu (GPS, Global Positioning Systems) dùng trong các xe ô tô, máy computer, Ipod, cell phone,… to lớn hơn có phi cơ, tàu thùy, freeways, cầu cống,… Các thứ này do con người thiết kế dùng toán học tính ra. Do vậy toán học thực sự quan trọng đối với con người. Và con người đam mê, gần gủi với toán học, và gần gủi trong đề tài này, tôi nghĩ đến tác giả sách Vui Đời Toán Học, của GS Nguyễn Xuân Vinh. Tựa đề như vậy nghe có vẻ như tác phẩm này quá chuyên về toán chăng? Thưa rằng theo tôi đúng và không đúng. Đúng đối với những độc giả ít va chạm đến môn toán, ví dụ các trang như trang 53 đến 85 phần Đường trời muôn vạn nẻo, tính Đạn đạo tầm xa của phi đạn khai hỏa đến bài theo ánh tinh cầu, tác giả ôn qua đề tủ Lý Thuyết Phương Sách Tối Ưu (Theory of Optimal Process). Những trang từ 95 đến 118, phần Địa cầu trong không gian có những công thức cơ bản tính toán trong môn Thiên văn học. Có những chương tác giả chỉ đi phớt qua ý niệm toán ứng dụng nhập môn, không đào sâu vào tận gốc rễ của vấn đề như sách giáo khoa hay những bài tham luận chuyên ngành (technical term papers). Phần tác phẩm không đúng là sách toán vì có những trang lại thuần văn chương thi ca, một khía cạnh mà tác giả mê say.

Nhân Văn Nghệ Thuật phát hành năm 2018, ảnh từ GS Trần Huy Bích Tưởng cũng nên ghi nhận tác giả là một vị giáo sư toán giảng dạy bậc cấp cao (advanced mathematics), và cũng là một khoa học gia ngành không gian, mà đề tủ của ông là Optimal Trajectories, ông viết sách về Quỹ Đạo Tối Ưu, sách toán hay không gian học của Mỹ, Pháp, Nga, Nhật,… đều có đăng những bài do ông viết. Do vậy tác giả Nguyễn Xuân Vinh là người của thế giới, họ biết ông qua những kiến thức chuyên môn của ông, mà toán học và không gian học là hai yếu tố then chốt tạo nên tên tuổi của tác giả. Nói như vậy không có nghĩa là Vui Đời Toán Học được ươm mầm bởi những lý thuyết toán học cao siêu của những Joseph Lagrange, Laplace, Euler, Fourier, Boole, Cauchy, Leibniz, Isaac Newton, Jacob Bernoulli, Johann Bernoulli, Bourbaki, Neumann, Niels Abel, Plato, Blaise Pascal, Pythagore, René Descartes,… Nhưng theo ý tôi như trên đã đề cập tác giả chỉ dùng những khía cạnh toán học để chia sẻ sang những đề mục khác như: cuộc sống, văn chương, xã hội, kỷ niệm khi dạy học,… ví dụ như chương về Đường Trời Muôn Vạn Nẻo (trang 29 qua các bài viết như Tâm sự qua một bài thơ, Mấy nhịp cầu treo, Lời tiên tri của Voltaire, Theo ánh tinh cầu,…), Nguyễn Du với dòng thời gian (trang 285 trích thơ Nguyễn Du đầy ắp, đây là chương hoàn toàn mang nét Toàn Phong, bút hiệu viết văn, chương này tác giả bình luận về thơ của thi hào Nguyễn Du qua cái nhìn của mình trong cuộc sống, rồi sau cụ Nguyễn Du lại đến Nhớ về Thăng Long (trang 313 tác giả dùng thơ của nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan làm đề tài diễn giải), Cây Tháp ở Hà Nội, Nhớ về Hà Nội,…, phần kế là Tình toán học (chương sách kể sự liên hệ giữa tác giả và sự đam mê toán học, trang 365 như Thuở ban đầu, Chuyên khoa toán học, Chương trình tiến sĩ,…), Trở về trường xưa (trang 405),…

GS NGUYỄN XUÂN VINH nhà khoa học cự phách của cơ quan Quản Trị
Hàng Không-Không Gian Quốc Gia Hoa Kỳ (NASA)Tham khảo:
http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=279&ia=5992Các chủ đề hay các bài viết của Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh mà tôi vốn thích là Theo Ánh Tinh Cầu, Mộng Viễn Phương, và Tình Toán Học. Toàn Phong viết về quê hương trong hoài niệm thuở nhỏ như trong bài “Một Thuở Học Trò” đề cập về buổi khai trường lần đi học đầu tiên, nghe như thư tác của nhà văn Edmondo de Amicis, hoặc là của Thanh Tịnh của “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường….“
Tôi mê thuở đi học từ Việt Nam sang Huê Kỳ, những buổi học xưa sẽ lý tưởng khi mà rảo bước trong campus mùa thu lá maple vàng úa rụng nhiều, chạnh lòng đến văn chương của Thanh Tịnh, của Amicis hay của Toàn Phong. Theo Ánh Tinh Cầu cho tôi nghĩ ngợi lan man về văn học mà khoa học viễn tưởng của những chuyến du hành vào vũ trụ tiên khởi của Jules Verne, hay Hoàng Tử Bé (danh tác của Pháp là Le Petit Prince) của nhà văn kiêm phi công gốc Pháp Antoine de Saint-Exupéry. Với Mộng Viễn Phương, nhà văn Toàn Phong hoài niệm về giấc mộng tung hoành xé không trung qua tổ quốc không gian hay tác phẩm bestseller Đời Phi Công, mà tôi đọc nhiều lần nó có những địa danh như Marrakech, hoặc école de pilotage à Aix-en-Provence,…

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh : Từ Chiến Sĩ Đến Khoa Học Gia do Văn Đàn Đồng Tâm ấn hành năm 2008, ành từ GS Trần Huy Bích Nhà văn kiêm nhà giáo môn toán Nguyễn Xuân Vinh yêu thích thi ca, Vui Đời Toán Học ghi nhận trong nhiều trang sách. Trong tương quan đó nữ toán học gia gốc Nga Sophia Kovalevskaya của thế kỷ 19 cho là: Bạn không thể là một nhà toán học mà không có tâm hồn của một nhà thơ (Il est impossible d’être un mathématicien sans avoir poète dans l’âme). Còn nhà toán học người Đức nổi danh trong môn toán Calculus, Karl Weierstrass (cuối thế kỷ 19) cho nhận định: Một nhà toán học không mang một nét gì đó của một nhà thơ thì chả bao giờ là một nhà toán học trọn vẹn được (Un mathématicien qui n’est pas aussi quelque peu poète ne sera jamais un mathématicien complet). Tôi thầm nghĩ chả nhẽ hai cụ Sophia Kovalevskaya và Karl Weierstrass đã cho hai câu nói đúng y bong để giới thiệu về nhà văn kiêm giáo sư có hai đam mê trong tâm hồn, toán học và văn học, GS. Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
Như phần mở đầu đề cập mối liên hệ giữa toán học và cuộc sống, tôi xin đúc kết bài giới thiệu qua ý tưởng của toán học gia John von Neumann (Mỹ gốc Hung, thế kỷ 20), nôm na cho ý là: Nếu mọi người không tin rằng toán học là đơn giản, cũng bởi vì họ không nhận chân ra là cuộc sống phức tạp như thế nào (Si les gens ne croient pas que les mathématiques sont simples, c’est uniquement parce qu’ils ne réalisent pas combien la vie est compliquée.)
Thật vậy nhờ môn học toán được phổ thông hóa giảng dạy ở trường học ở các cấp, và rồi nó được đem vào ứng dụng trong đời sống, các phát minh khoa học kỹ thuật tân tiến, cuộc sống con người tiện nghi hơn, thoải mái hơn, GS. Nguyễn Xuân Vinh cho nhiều cảm nghĩ trong tác phẩm mới của ông, tôi đơn cử một bài viết khác như dưới đây.
Theo website Nguồn Cội đăng bài giới thiệu về sách Vui Đời Toán Học, qua bài viết Vẻ Tuyệt Mỹ của Hình Tròn của GS. Nguyễn Xuân Vinh. Xin mời đọc.

NHỮNG TÁC PHẨM CỦA GS NGUYỄN XUÂN VINH 
VUI ĐỜI TOÁN HỌC của Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, dựa theo như lời của GS Vinh thì tập truyền này dài khoảng 350 trang, bao gồm nhiều chương xoay quanh TOÁN HỌC, cũng như Văn Hóa, Tình Yêu, kỷ Niệm trong Toán Học như: Địa Cầu Trong Không Gian; Galois, Thiên Tài và Bất Hạnh; Nguyễn Du Với Dòng Thời Gian; Nhớ Về Thăng Long; Con Ong Giỏi Toán; Một Bài Toán Thần Sầu; Một Thuở Học Trò; Tình Toán Học; Mười Hai Bến Nước; Trải Hương Theo Gió; Trở Về Trường Xưa; The 3 D’s of Nguyen Xuan Vinh …vân vân…và trong mỗi chương lại có thêm nhiều tiểu đề nhỏ nữa .
Trích theo lời giới thiệu của Nguồn Cội, đăng tiểu đề Vẻ Tuyệt Mỹ của Hình Tròn, tiểu đề này gồm có 5 tiểu đề nhỏ như sau:
1) Những tiên đề của Euclid và hình tam giác của phương Đông
2) Hình lục lăng của phương Tây và những cây cầu của thành phố Konigsberg
3) Hình ngũ giác của phương Nam và điện Parthenon của Hy Lạp
4) Hình vuông của phương Bắc và định lý của Pythagoras
5) Hình tròn và tính chất siêu việt của số Pi
Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh Trong câu chuyện này, tôi sẽ nói về những vẻ đẹp tuyệt vời của hình tròn. Từ khi loài người biết suy nghĩ, ban đêm nhìn thấy sao hiện ra rồi lấp ló có ánh trăng. Chờ đợi từng ngày, cho đến ngày rằm, lúc trăng tròn, hiện ra suốt đêm từ hoàng hôn cho đến rạng đông, hình thể mặt trăng lúc đó được coi là tuyệt mỹ. Ðứng bên một mặt hồ phẳng lặng, ta có thể bỗng nhiên nghe tiếng cá đớp và nhìn ra sẽ thấy những ngấn nước loang dần dần theo những vòng tròn đồng tâm. Hay có thể một buổi sáng, sau cơn mưa nhìn về phía Tây, con người nhìn thấy một cầu vồng mầu sắc vẽ một vành cung lớn trên nền trời. Ðó là những hình tròn thiên nhiên con người nhìn thấy từ thời thạch động. Khi con người nghĩ ra được bánh xe tròn là lúc đó phương tiện chuyển vận đã được một bước nhẩy vọt không khác gì khi chế ra được chiếc thuyền để đi trên mặt nước hay khi dùng được máy hơi nước để chuyển vận những toa tầu trên đường sắt. Thi nhân đã không tiếc lời ca tụng mặt trăng, cho đến nỗi khi tả sắc đẹp của mỹ nhân cũng nghĩ rằng mặt người nếu tròn như mặt trăng đêm rằm là mặt đẹp như đoạn Nguyễn Du tả Thúy Vân:
“Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”Nhưng bạn đọc có thể hỏi tại sao lại chọn hình tròn và cho hình này là hình đặc sắc nhất. Trước đây ta đã có dịp gặp những hình Cycloid, đã được gọi là nàng tiên đẹp Helen của thành Troy, ta đã thấy hình Catenary tức là hình nếp áo treo của tiên nữ, ngoài ra còn biết bao nhiêu hình khác các nhà toán học đã tìm ra trải qua ba nghìn năm nghiên cứu. Vì vậy để hiểu được vị trí của hình tròn trong toán học, chúng ta trước hết hãy duyệt qua một số hình đặc sắc khác trước khi đi đến kết luận hình nào là hình đẹp tuyệt vời.
Chúng ta chắc nhiều người đã đọc những chuyện võ hiệp và đã được biết có một thời trong võ lâm có năm bậc tài năng tới mức thượng thừa. Năm vị lãnh tụ võ lâm ấy là Hoàng Dược Sư, Âu Dương Phong, Ðoàn Nam Ðế, Hồng Thất Công và Vương Trùng Dương mỗi vị trấn một phương, uy thế ngất trời. Một lần họ họp với nhau suốt bẩy ngày và bẩy đêm trên đỉnh núi Hoa Sơn để bàn luận võ công, tuy không thực sự quần thảo nhưng dùng lý thuyết và biểu diễn tranh tài cao thấp. Chung cuộc họ đi đến kết luận là người nào cũng đã đến tuyệt đỉnh môn phái võ của mình. Âu Dương Phong có môn Hàm Mô Công thật là ác độc, Hoàng Dược Sư là một nhà thông thái võ công huyền ảo, kỳ bí, có phần chính, có phần tà, vị Ðế Vương miền Vân Nam họ Ðoàn được thừa hưởng môn võ Nhất Dương Chỉ truyền đời, chỉ dùng ngón tay mà tạo ra những đường kiếm linh hoạt, ảo diệu. Ngoài ra Hồng Thất Công là vị bang chủ Cái bang, tính tình hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, môn Giáng Long có mười tám thế đánh bằng tay sức mạnh ví như có thể di sơn, đảo hải, lại thêm môn võ đánh gậy trúc gọi nôm na là Ðả Cẩu Bổng Pháp tuy nhẹ nhàng nhưng lại huyền diệu lợi hại khôn lường. Tuy không tôn một ai làm minh chủ của võ lâm nhưng các vị lãnh tụ đều phải nhận là giáo chủ Vương Trùng Dương, xưa nay vẫn ẩn cư ở núi Chung Nam, võ nghệ, kiến thức tuyệt luân, tính tình lại từ hòa nhân ái đáng giữ ngôi vị ở trung ương. Từ đó truyền bá ra Võ Lâm theo phương vị là Ðông Tà, Tây Ðộc, Nam Ðế, Bắc Cái, Trung Thần Thông, ý nói là Hoàng Dược Sư giữ ngôi vị chúa đảo ngoài Ðông Hải, trong khi đó Âu Dương Phong hùng cứ miền Tây Nguyên, Ðoàn Vương Gia là thủ lãnh suốt miền Nam và Hồng bang chủ trấn ngự toàn phía Bắc. Ở trung ương thì ngôi vị phải nhường cho con người võ nghệ siêu phàm là Vương Trùng Dương chân nhân.
Tôi nghĩ rằng trong hình học, lựa chọn ra một hình có tính chất tuyệt luân huyền diệu cũng khó như cuộc luận kiếm trên đỉnh Hoa Sơn. Vì vậy tôi tưởng tượng ra đây một trại Hè tôi và một số bạn trẻ đã qua mấy ngày đêm thảo luận về những nét hay đẹp của một số hình trong toán học và giờ đây duyệt lại xem hình nào đáng giữ ngôi vị trung ương. Ðể buổi hội thảo có trật tự, ta tạm chia nhiệm vụ là đã có bốn nhóm trại sinh, mỗi nhóm đã nghiên cứu và chọn ra được một hình như là cao thủ võ lâm để dự cuộc tuyển chọn và hiện nay 4 nhóm này đã ngồi chung quanh theo bốn phương vị Ðông, Tây, Nam và Bắc. Số người còn lại, hoặc chưa có ý kiến, hoặc chưa đưa ra hình dự cuộc vì còn muốn giữ bí mật nay ngồi ở phần giữa của hội trường.MỘT VÀI TÁC PHẨM VIẾT BẰNG TIẾNG ANH, HÌNH ẢNH DO GS TRẦN HUY BÍCH CUNG CẤP



Những Tiên Ðề của Euclid và Hình
Tam Giác của Phương ÐôngNgồi ở Ðông vị là một nhóm trông có vẻ hăng hái hơn cả vì muốn được xuất quân trước nhất. Một bạn đại diện đứng lên và đưa đề nghị thật giản dị:
“Hình đẹp nhất phải là hình tam giác được tạo ra bởi ba điểm A, B và C không thẳng hàng nối với nhau bằng những đoạn thẳng và trong tất cả các hình tam giác vẽ được trong thế gian, hình tuyệt mỹ là hình tam giác có ba cạnh đều nhau.”
đó có nhiều bạn trong nhóm Ðông mỗi người đứng lên nói một câu biện minh cho sự chọn lựa của nhóm này. Tôi ghi lại đây những ý chính:
Nếu chỉ có hai điểm thì không vẽ ra được một hình. Phải có ít nhất là ba điểm. Vậy tam giác là hình giản dị nhất, thiên nhiên nhất và dĩ nhiên là đẹp nhất.
Làm một cái bàn chỉ có hai chân thì không thành cái bàn. Phải cần có ba chân, thành ra ba điểm đặt, và ba điểm là vững vàng nhất. Dùng bốn điểm có thể thành khập khễnh.
Tam giác ba cạnh đều là tam giác cân xứng nhất vì có ba cạnh bằng nhau và ba góc đỉnh cũng bằng nhau. Ngoài ra, trên một mặt phẳng, muốn ghép những hình đều cạnh mà không để chừa ra khoảng trống, như lát sàn bằng gạch hoa, thì chỉ có thể dùng hình tam giác đều, hình vuông và hình lục lăng đều như Hình 1. Trong ba kiểu hình này thì tam giác đều có ít cạnh nhất, như vậy giản tiện mà lại thỏa mãn điều kiện lát gạch.
HÌNH 1 Ðến đây với tính cách là người điều khiển buổi hội thảo đầy hứng thú này, tôi muốn có ít lời nhận xét vì lời đề nghị của nhóm Ðông có liên quan đến những tiên đề của hình học.
Trước hết tiên đề là gì? Ở thế kỷ này và trong tương lai, ở những thế kỷ tiếp nối, hay cả ở những hành tinh khác trong vũ trụ, nếu có những người thông minh xây dựng được môn toán học riêng của họ, thì môn nào cũng phải dựa vào luận lý. Lấy thí dụ trong hình học là môn toán học ta tìm ra được những tính chất gọi là a, b và c mà những tính chất này được suy đoán một cách minh bạch, không ai chỉ trích nổi, từ những tính chất mà ta gọi là d, e và f thì những tính chất sau này được coi là những tính chất khởi thủy để dùng luận lý mà xây dựng ra môn hình học. Nay ta lại xét đến những tính chất d, e và f khi những tính chất này không phải dùng những lý luận loanh quanh mà suy ra lẫn nhau mà lại được suy ra một cách rất rõ ràng từ những tính chất khác mà ta gọi là g và h, thì những tính chất sau này mới gọi là tính chất khởi thủy vì tự nhóm này mà ta đã dùng luận lý để suy ra những tính chất d, e và f, và tiếp theo đó suy ra những tính chất a, b và c. Mỗi lần suy luận một cách minh bạch, dựa vào những gì đã được công nhận để tìm ra những tính chất tiếp theo ta nói là đã chứng minh được một định lý. Nếu ta đi ngược lại về nguồn thì sẽ tới được những tính chất nguyên thủy không có thể dựa lên những tính chất nào khác nữa để chứng minh những tính chất nguyên thủy này mà ta gọi là tiên đề.
Vậy tiên đề là những khái niệm gì ta phải công nhận, không cách gì chứng minh được, và căn cứ vào đó ta xây dựng nên cả môn toán học.Người đầu tiên đã đặt thành hệ thống môn hình học dựa vào những tiên đề là nhà giáo Euclid, viết sách và mở trường dậy vào khoảng những năm 330-275 trước Công nguyên ở Alexandria bên Ai Cập, tuy ông lại là người Hy Lạp. Ông đúng là nhà soạn sách thành công nhất tự cổ xưa tới nay vì hơn hai ngàn năm qua, môn hình học đã được khai triển dựa vào những tiên đề và những căn bản viết trong bộ sách 13 cuốn của ông được đặt tên là “Các Cơ Sở”
Ðúng ra thì Euclid viết 10 tiên đề, áp dụng chung cho toán học, nhưng riêng cho môn hình học, sau nhiều thế kỷ tranh luận, sửa đổi, người ta lấy 5 tiên đề, mà 4 tiên đề đầu được lập theo từ chương mới trong những sách giáo khoa hình học như sau:
1. Qua hai điểm có thể xác định được một đường thẳng và chỉ một mà thôi.
2. Qua ba điểm không thẳng hàng có thể xác định được một mặt phẳng và chỉ một mà thôi.
3. Nếu đường thẳng có hai điểm nằm trong mặt phẳng thì đường thẳng đó hoàn toàn nằm trong mặt phẳng này.
4. Nếu hai mặt phẳng có một điểm chung thì chúng sẽ có thêm một điểm chung thứ hai nữa.
5. Tiên đề thứ năm là tiên đề được tranh luận nhiều nhất, tôi sẽ nói ở phần cuối của mục này. Tới đây ta cần nhận định rằng, theo định nghĩa thì tiên đề là những mệnh đề toán học phải công nhận vì không còn mệnh đề nào khác để chứng minh được. Vì vậy ta phí mất công sức để chẳng hạn dùng tiên đề 1, 2 và 3 để chứng minh tiên đề 4 vì nếu chứng minh được thì mệnh đề 4 không còn được gọi là tiên đề nữa. Phần khác ta sẽ thấy là không thể nào thêm được một tiên đề nào khác nữa Chẳng hạn, ta tự nghĩ rằng mình là một thiên tài toán học mà đặt thêm tiên đề thứ sáu.
6. Hai mặt phẳng cắt nhau theo một đường thẳng.
Ðọc lên nghe có vẻ ngon lành như khi vào một tiệm ăn cầm thực đơn mở đôi ra thì sẽ như hiển hiện ra tiên đề thư sáu. Vả chăng, nếu ta đọc lại những tiên đề 1, 2 và 3 thì thấy cũng như là thể hiện những gì hữu hình thường nhật, chẳng hạn một sợi chỉ căng giữa hai điểm (tiên đề 1), một tấm bìa cứng đặt trên ba mũi nhọn (tiên đề 2) và đặt cái thước trên một mặt bàn (tiên đề 3). Vậy tại sao mệnh đề 6 không được gọi là tiên đề nhỉ ?
Ta phải lý luận như sau. Nếu hai mặt phẳng cắt nhau thì chúng phải có một điểm chung và theo tiên đề 4 chúng sẽ có thêm một điểm chung thứ hai nữa. Theo tiên đề 1, ta thấy chỉ có một đường thẳng qua hai điểm này và, theo tiên đề 3 đường thẳng nằm trong mỗi mặt phẳng. Vậy là ta đã dùng tiên đề 1, 3 và 4 để chứng minh mệnh đề 6, và mệnh đề này là một định lý chứ không được gọi là một tiên đề.
Một nhận xét khác nữa là ta đã hình dung ra những điểm, đường thẳng hay mặt phẳng theo định nghĩa hình thể được lý tưởng hóa. Chính vị tổ sư Euclid cũng nhầm lẫn về vấn đề này. Ông tưởng tượng điểm là cái gì không thể thu nhỏ được nữa cũng như một đường là chỉ có chiều dài chứ không có chiều rộng, một mặt thì chỉ có chiều dài, chiều rộng chứ không có bề dầy. Hay đôi khi dùng những cuốn sách nhập môn về Hình Học, để khỏi lúng túng, khi đọc tiên đề 1, học sinh hỏi vặn lại là đường thẳng là gì, hay khi đọc tiên đề 2 có người thắc mắc muốn được biết định nghĩa về mặt phẳng, một nhà giáo khi chỉ có trình độ trung cấp về toán học có thể trả lời là nhìn một sợi chỉ căng là có ý niệm về đường thẳng, hay nhìn một mặt hồ không gợn sóng là có thể hình dung ra được một mặt phẳng. Sự thực ra thì ta có thể công nhận các tiên đề như đã nêu ở trên và không cần phải có định nghĩa về điểm, đường thẳng và mặt phẳng. Thật vậy, nếu bạn đọc có cách nào để quên được những ý niệm hình thể về đường thẳng và mặt phẳng hay tạm cho là đường thẳng có hình hơi cong cong, và mặt phẳng hơi vềnh vồng thì những tiên đề kể trên vẫn đúng như thường vì ta đã mặc nhiên công nhận những tiên đề này. Nếu vì lấy đường thẳng cong cong mà không thích hợp với tiên đề 1 chẳng hạn thì tức là ta đã dùng ý niệm “đường thẳng là cái gì rất thẳng” để chứng minh tiên đề 1 là đúng. Như thế mệnh đề 1 đâu đáng được gọi là tiên đề. Phần khác bạn đọc có thể coi lại đoạn chứng minh mệnh đề 6 khi dùng những tiên đề 1, 3 và 4 sẽ thấy là trong lý luận này chúng ta có dùng ý niệm “đường thẳng là cái gì rất thẳng” và “mặt phẳng là cái gì rất phẳng” để làm hậu thuẫn đâu!
Nay trở lại phát biểu của nhóm Ðông thì ta thấy hình tam giác nằm trong một mặt phẳng và ba cạnh của hình hoàn toàn nằm trong mặt phẳng này. Nhóm Ðông được dành nửa giờ để trình bầy những tính chất đặc biệt của hình tam giác. Dĩ nhiên là có nói nửa ngày trời cũng không hết. Vì vậy các bạn đã nhấn mạnh tính chất hội tụ như sau.
HÌNH 2 Dựa theo Hình 2: Ba đường trung tuyến vẽ từ 3 đỉnh A, B và C như là đường AM, vẽ từ đỉnh A đến trung điểm M của cạnh đối diện BC, ba đường này gặp nhau ở điểm G là trọng tâm của tam giác và ở 2/3 các trung tuyến kể từ đỉnh.
– Ba đường trung trực tức là những đường thẳng góc với các cạnh như BC vẽ từ trung điểm M, ba đường này cũng gặp nhau ở điểm O là một điểm cách đều ba đỉnh A, B và C. Như vậy, O là tâm điểm cuả vòng tròn ngoại tiếp với tam giác ABC.
– Ba đường cao là là những đường như AH vẽ từ đỉnh A thẳng góc với cạnh đối diện BC, ba đường này cũng gặp nhau ở một điểm I gọi là trực tâm của tam giác.
– Ðặc biệt ba điểm O, G và I lại thẳng hàng với nhau và điểm G ở 2/3 đoạn IO kể từ điểm I. Ðường thẳng này gọi là đường thẳng của Euler.
Nhóm Ðông có vẻ thích thú về những tính chất hội tụ của những đường đặc biệt vẽ trên hình tam giác và các bạn trẻ cho rằng những tính chất này không có ở các hình khác. Một thành viên của nhóm Ðông còn thêm tính chất rằng:
– Nếu vẽ những đường phân giác nghĩa là những đường chia những góc A, B và C, mỗi góc làm hai phần đều nhau thì ba đường này cũng gặp nhau tại một điểm J và điểm này lại đặc biệt ở một vị trí cách đều ba cạnh BC, CA và AB. Như vậy J là tâm điểm của vòng tròn nội tiếp với tam giác ABC.
Sau phần trình bầy của nhóm Ðông tới phần đặt câu hỏi. Câu khó trả lời nhất là:
“Tại sao lại chọn hình tam giác có ba cạnh đều? Ngoài tính chất cốt dùng để lót gạch hoa không có khoảng trống như trên Hình 1, hình tam giác có ba cạnh đều còn có gì đặc biệt? Vả chăng muốn lát kín thì cần gì phải chọn hình có cạnh đều. Chẳng hạn trên Hình 1, thay vì chọn hình vuông, dùng hình chữ nhật có sao đâu ? Những viên gạch xây tường có hình chữ nhật cũng vẫn xếp kín được như thường. Vậy ta cũng vẫn có thể thay hình tam giác ba cạnh đều bằng những hình tam giác cân, chỉ có hai cạnh bằng nhau vẫn xếp kín được như thường chứ ?”
Nghe câu hỏi hóc búa này, thay vì lúng túng, tất cả các bạn trong nhóm Ðông lại vỗ tay reo mừng. Lúc đó họ mới đưa ra môn võ bí hiểm bằng cách trưng ra những Hình 3 và Hình 4. Theo nhóm này thì Hình 3 biểu diễn một định lý tìm ra bởi Hoàng Ðế Napoléon Bonaparte (1769-1821).
HÌNH 3 Theo Hình 3: lấy một hình tam giác ABC bất kỳ nào và sau đó, trên những cạnh, kiến trúc ba hình tam giác đều. Trên mỗi tam giác đều, vẽ những điểm gặp nhau của những đường trung trực như điểm O đã cắt nghĩa trên hình 2. Ba tâm điểm này là ba đỉnh của một tam giác ba cạnh đều. Tính chất đặc biệt của định lý này là bất kỳ hình tam giác ABC nào cũng tạo được ra một hình tam giác ba cạnh đều. Ðịnh lý này đã làm cho nhóm ngồi phía Tây là nhóm sắp sửa ra thuyết trình có vẻ nao núng. Tuy vậy, họ cũng có lời phê bình là: “Ðịnh lý của Napoléon phải dùng đến ba hình tam giác đều để kiến trúc ra hình tam giác đều thứ tư. Vậy có gì là bất kỳ đâu ?” Câu hỏi này đi vào bẫy sập của nhóm Ðông vì họ trả lời rằng: “Hãy thử coi Hình 4 sẽ thấy hình tam giác nào cũng đưa đến hình tam giác đều, hay nói văn vẻ hơn, đường nào cũng dẫn đến kinh thành La Mã.

HÌNH 4 vậy theo Hình 4: bạn thử vẽ một tam giác bất kỳ nghĩa là không có cạnh nào bằng cạnh nào, và như thế cũng có nghĩa là không có góc nào bằng góc nào. Sau đó ở mỗi góc vẽ hai nửa đường thẳng để chia góc làm ba phần đều nhau. Những đường thẳng này cắt nhau tại những điểm là đỉnh của những hình tam giác có ba cạnh đều. Hình vẽ nét đậm trên Hình 4 là một trong những hình tam giác đều được tạo ra.
Sau phần trình bày rất ngoạn mục này, nhóm Ðông đã nhận được một tràng pháo tay cổ võ rất nồng nhiệt. Trước khi giới thiệu phần trình bày của nhóm Tây, chắc cũng không kém phần hào hứng, tôi có chút nhận xét sau đây:
Trở lại lời phát biểu là dùng một cái bàn ba chân là vững vàng nhất, ta thấy là nhóm Ðông đã đi vào phạm vi Cơ học, hay đúng hơn là phần Tĩnh học của Toán áp dụng này. Một cái bàn hay một cái ghế đẩu có ba chân chỉ có thể đứng vững ở vị thế tĩnh khi trọng lực của cố thể này đi qua tam giác hợp thành bởi những điểm đặt. Bạn đọc thử hình dung một mặt bàn đá, nghĩa là khá nặng, có ba chân song song và khá dài. Sau đó, cắt ngắn một chân bàn chút ít sẽ nhận thấy ngay rằng tuy vẫn có ba điểm đặt vững chãi nhưng đường trọng lực, phát xuất tự trọng tâm ở khá cao sẽ đi ra ngoài tam giác đế của chân bàn và chiếc bàn chắc chắn sẽ bị lật nghiêng.
Tiên đề thứ năm của Euclid là: Từ một điểm A ở ngoài đường thẳng b bao giờ ta cũng kéo được một và chỉ một đường thẳng a song song với b. Như đã nói ở trên, trong tập “Các Cơ Sở”, Euclid mở đầu bằng cách phát biểu 10 tiên đề mà trong môn Hình Học dùng 5 tiên đề viết lại theo lối mới như trên. Trải qua hơn hai ngàn năm, nhiều nhà toán học, có những vị là những thiên tài, cho rằng tiên đề 5 chỉ là một định lý hình học có thể suy ra được bằng cách dựa trên các tiên đề khác.
Sau nhiều lần thất bại, phải tới thế kỷ thứ 19, ba nhà toán học lỗi lạc là Carl Friedrich Gauss (1777-1855) người Ðức, Nicolai Ivanovitsch Lobatschewsky (1793-1856) người Nga và Johann Bolyai (1802-1860) người Hung, mới sáng suốt nhận chân rằng tiên đề thứ năm này quả thật là một tiên đề, không chứng minh được vì không suy ra được từ những tiên đề khác. Vị thủy tổ Euclid giữ toàn vẹn chiếc ngai Hình Học, được gọi là Hình Học Euclid. Nhưng mặt khác, các nhà toán học nói trên nghĩ rằng nếu thay thế tiên đề 5 bằng một tiên đề thật trái ngược mà dùng suy luận để đi đến một nghịch lý thì tức là đã chứng minh được tiên đề này, đó là điều đã không ai làm được. Vậy thì có thể dùng một tiên đề khác thay thế cho tiên đề 5 để xây dựng nên một môn hình học mới tức là Hình Học Phi Euclid. Lobatschewsky và Bolyai dựng nên môn hình học mới bằng cách thay tiên đề 5 bằng tiên đề
LB. Từ một điểm A, ở ngoài đường thẳng b, có thể kéo nhiều đường song song với b.
Dùng tiên đề này có thể làm thành một môn hình học trong đó không có gì nghịch lý cả và môn này được gọi là Hình Học Hy-pe-bol. Một môn hình học thứ ba nữa có thể được dựng ra bằng cách dùng một tiên đề trái ngược với tiên đề 5, do nhà toán học Bernhard Riemann (1826-1866) phát biểu là:
R. Từ một điểm A ngoài đường thẳng b không thể kéo đường thẳng nào song song với b.
Môn hình học phi Euclid này được gọi là Hình Học Ellip.
Một nhận xét sau cùng nữa là nhóm Ðông không thể nào chỉ dùng thước kẻ thẳng và com-pa để vẽ nên Hình 4 được. Ðó là vì trong Hình Học có ba bài toán đố không thể nào dùng thước kẻ thẳng và com-pa để tìm lời giải được là các bài sau đây:
1. Chia một góc phẳng bất kỳ làm ba góc bằng nhau.
2. Kiến tạo một hình lập phương có thể tích gấp hai lần thể tích một hình lập phương cho sẵn.
3. Vẽ một hình vuông có diện tích bằng một hình tròn cho sẵn.
Đó là những lời trích từ Vui Đời Toán Học của GS Nguyễn Xuân Vinh.Việt Hải sưu tầm và nghiên cứu
California 2013 -
Dư âm dịp ra mắt sách Mùa hè 2022.
Mùa hè vẫn còn, trời Nam Cali lan tỏa những tia nắng ấm hình như thiên nhiên báo hiệu những buổi hội ngộ gặp gỡ bạn bè. Để chúng tôi, những văn nghệ sĩ đến với nhau trong dịp ra mắt sách, mà kết quả được xem nhiều thành công “Viên mãn thành công“. Trong khung cảnh văn học đậm chất tao nhã văn chương thi vị, nêu cao tinh thần yêu thi ca qua hai tác phẩm thơ, Màu Thời Gian và Lật Trang Sách Cũ. Buổi họp mặt thi ca được diễn ra trong không khí thân mật nhưng không kém phần long trọng. Ba diễn giả của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm nhà văn Quyên Di, Khánh Lan và Mộng Thủy. Chương trình văn nghệ do Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian tổ chức, buổi lễ cùng với phần văn nghệ đặc sắc qua những nhạc phẩm nổi tiếng của các nhạc sĩ: Dương Thiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn, vì 2 nhạc sĩ này có liện hệ gia đình với 2 thi sĩ ra mắt sách, Dương Hồng Anh và Lê Nguyễn Nga.
Thành phần khách tham dự buổi ra mắt hai tập thơ đa số là khách văn học nên khi các diễn giả thuyết trình căn phòng hội chìm trong yên lặng, khiến không khí trở nên trang trọng và sự kính nể đối với hai vị Nữ sĩ. Mặc dù ngày 26 tháng 06 có đến 4 buổi hội họp văn học ở 4 nơi khách nhau, nhưng số khách tham dự buổi ra mắt 2 tập thơ đã vượt qua con số 80 người và số sách đã được sự ủng hộ nhiệt tình của các độc giả yêu thơ và bán gần hết. Thật là “Giới hàn lâm tao nhân mặc khách chiếu cố…”
Hôm sau trong dư âm vui vẻ nữ sĩ Dương Hồng Anhcho ra ngay bài thơ mói toanh như sau riêng thân quý mến tặng Nhà Văn Trần Việt Hải cùng toàn thể quý hội viên trong Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian..
Thêm Một Nụ Hồng
Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian
Là những vần thơ, những phím đàn
Cho tôi thấy hương đời nồng ấm
Tình văn chương tha thiết muôn vàn
Nôn nao chờ đón ngày ra sách
“Mầu Thời Gian” xanh mát trên tay
Nắng Ca li chiều nay vàng thắm
Nhìn hội trường rạng rỡ trời mây
Bạn bè tôi vui tươi đàn hát
Ánh đèn mầu lấp lánh đỏ xanh
Tình cảm thân thương cùng chia sẻ
Vườn hoa văn nghệ đẹp như tranh
Chim đầu đàn anh Trần Việt Hải
Cùng bạn bè thân mến chung quanh
Đem tim óc cùng nhau tô điểm
Văn hóa muôn đời rạng sử xanh
Đường dài văn nghệ còn đây đó
Mong gửi vào thơ một tấc lòng
Xin cảm ơn bạn bè trân quý
Đã cho tôi thêm một nụ hồng
Nụ hồng còn đó, thơ còn đó
Nghĩa tình bè bạn thước nào đo
Chúc mừng Hội Nhân Văn Nghệ Thuật
Vun trồng văn hóa đẹp như mơ…
Dương Hồng Anh, ngày 29 tháng 6, 2022
Thi sĩ Lê Nguyễn Nga cũng đã kể cái duyên gặp gỡ giữa hai bà như sau.
Cái Duyên với Con Cháu Của Cụ Nghè Dương Khuê.
Nhà thơ Lê Nguyễn Nga và nữ sĩ Dương Hồng Ánh
“Vào dịp Tết Nhâm Dần, tháng hai năm 2022, Nhà Văn Việt Hải báo tin là cuốn sách “Lật Trang Sách Cũ” của tôi sẽ được ra mắt vào tháng 6 năm 2022, cùng với nữ sĩ Dương Hồng Ánh (DHA). Tôi thấy áy náy, có lẽ mình tự thấy hơi khác nhau, bởi vì về tuổi đời thôi, nữ sĩ DHA đã trên tôi 15 năm, còn về năm tháng sáng tác thơ văn, nữ sĩ đi trước tôi quá xa.
Vào tháng 3 năm 2022, chị vui vẻ hỏi tôi là Nhà Văn Việt Hải nói rằng sẽ ra mắt sách chung cho hai người, “Nga đã biết ngày nào chưa?” Tôi trả lời là tôi chỉ biết vào tháng 6 thôi, chưa biết ngày chính xác. Anh Việt Hải tiếp thêm là ngày ra mắt sách sẽ hát nhạc của Dương Thiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn. Trong vài buổi họp, tôi lại được nghe về nữ sĩ DHA là cháu nội của cụ nghè Dương Khuê.
Cả một bầu trời dĩ vãng lại quay về…
Sau năm 75. Hôm đó là một ngày đẹp trời. Tôi đi làm về thấy có một người đến thăm vợ chồng tôi. Anh Lê Trọng Nguyễn giới thiệu đây là một người bạn cũ đã tham dự đám cưới chúng tôi vào năm 1970. Tôi nhớ lại là nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Cả hai vợ chồng, Ca sĩ Minh Trang và nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, đều là bạn thân của NS LTN từ đài phát thanh Huế vào Sài Gòn vào những năm 1960. Trong bữa cơm thân tình tôi được biết thêm NS DTT là cháu nội cụ Dương Khuê.
Qua Mỹ, chúng tôi gặp lại Ca Sĩ Quỳnh Giao, ái nữ của bà Minh Trang. Qua vài lần trao đổi, tôi biết thêm Quỳnh Giao và tôi có một thời học chung trường, lấy chung vài cua Pháp Văn ở trường Trường Sơn. Trong vài lần tâm tình, cô Quỳnh Giao nói về cuộc đời âm nhạc, bắt đầu học nhạc lý từ kế phụ Dương Thiệu Tước, Cuộc sống trên vùng đất mới luôn quay cuồng. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp lại vợ chồng Quỳnh Giao-Nguyễn Xuân Nghĩa. Có một hôm anh chị báo tin NS Dương Thiệu Tước đã qua đời từ năm (1995). Một vài lần chúng tôi gặp lại các bạn ca sĩ Mai Hương, Kim Tước, Quỳnh Giao.
Cái thân tình đó tôi nhớ mãi như món quà của cuộc đời. Cái DUYÊN được quen biết với NS Dương Thiệu Tước-Minh Trang rồi quen luôn đến thế hệ thứ hai là CS Quỳnh Giao và CS Dương Vân Quỳnh… Đã bao mùa lá rụng. Đã bao mùa tuyết rơi. Đã bao lần vật đổi sao dời. Cái buồn chợt đến khi tôi nghe tin người ca sĩ trẻ Quỳnh Giao qua đời sau một cơn bịnh nặng ngắn ngủi. Tôi ngậm ngùi nhớ về những người thân thương đã bỏ ra đi: NS Dương Thiệu Tước, NS Lê Trọng Nguyễn, ông Hà Thức Cần, CS Minh Trang, CS Quỳnh Giao.
Tôi xin mượn vài câu trong bài thơ “Khóc Bạn Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến để kết thúc bài viết này:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
……………………
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
…………………………………
Cầu thơ nghĩ đắn đo muốn viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa …
Tôi mong muốn vào dịp ra mắt sách kỳ này lại có dịp gặp lại bạn bè xưa để ôn chuyện vui buồn cuộc đời. Và Lê Nguyễn Nga đã mãn nguyện.
Bài thuyết trình của diễn giả Quyên Di được cử toạ vỗ tay nồng hậu.
VÀI NHẬN XÉT VỀ THI TẬP “MẦU THỜI GIAN” CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH VÀ HAI DÒNG NHẠC “DƯƠNG THIỆU TƯỚC,” LÊ TRỌNG NGUYỄN
( do GS. QUYÊN DI)
Ông kể chuyên văn thơ hóm hĩnh, pha bao dí dõm ý nhị…
Nghe ba tiếng “MẦU THỜI GIAN,” thường chúng ta sẽ có cảm giác buồn bã, hay ít ra thì cũng bùi ngùi, luyến tiếc. Màu thời gian thường là màu vàng đậm của chiếc lá cuối thu, héo úa và tàn tạ. Nhưng nhìn vào màu bìa của thi tập, chúng ta đều thấy đó màu màu xanh của lá cây non, rất tươi mát và tràn đầy sức sống. Trong khi đó, nếu xét về niên tuế thì nữ sĩ Dương Hồng Anh năm nay đã hơn chín mươi. Điều này nói lên rằng, với nữ sĩ, thời gian không có ảnh hưởng gì. Lúc nào nữ sĩ cũng tươi trẻ. Đúng là:
“Chín mươi đâu phải là già,
Tám mươi thì mới chỉ là thanh xuân.”
Thi tập gồm 102 bài thơ. Hãy nói trước về bài thơ MẦU THỜI GIAN, tên được chọn làm tựa đề của thi tập.
Bài thơ gồm 4 khổ, mỗi khổ có 4 câu. Khổ đầu, tác giả gieo vần theo lối gián cách, câu 1 vần với câu 3, câu 2 vần với câu 4. Này nhé:
Thời gian lờ lững trôi vô tận
Vui buồn thế sự nắng mưa rơi
Còn đây một mảnh tình non nước
Xin gửi vào thơ giấc mộng đời.
Nhưng ba khổ sau, tác giả lại gieo vần theo lối ba vần bằng, lối gieo vần tựa như trong thể thơ Đường luật cổ kính:
Thơ theo ngày tháng vẫn Đi – Về
Những chiều những sớm những đêm khuya
Bao nhiêu thi tứ theo nhau bước
Phòng vắng canh dài viết mải mê.
Tôi vẫn làm thơ dưới nắng chiều
Mây ngàn gió núi dệt thương yêu
Câu thơ nho nhỏ say hồn mộng
Ký ức vàng son gợi nhớ nhiều.
Mái tóc sương pha đã mấy mùa
Ngày dư còn lại chút hương xưa
Mầu thời gian trải dài tâm sự
Vạt nắng hoàng hôn, gió nhẹ đưa.
Sao lại như thế? Tôi có cảm tưởng rằng ban đầu tác giả nhìn dòng thời gian dù có liên tục trôi, nhưng thật ra có nhiều đoạn đời có thể tách rời ra được. Nhưng một khi đã đạt được cái lẽ đời, tác giả nối tất cả các đoạn đời ấy lại thành một dòng trôi liên tục: dòng đời.
Tôi tạm kết thúc phần giới thiệu thi phẩm MẦU THỜI GIAN của nữ sĩ Dương Hồng Anh để chuyển qua phần giới thiệu một vài nhạc phẩm của hai nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn. Tại sao lại có phần giới thiệu này. Thưa, vì hôm nay chúng ta giới thiệu hai tập sách, MẦU THỜI GIAN của nữ sĩ Dương Hồng Anh và LẬT TRANG SÁCH CŨ của nhà thơ Lê Nguyễn Nga. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là anh họ của nữ sĩ Dương Hồng Anh và nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn là phu quân thi sĩ Lê Nguyễn Nga. Hôm nay chúng ta trình bày và thưởng thức những ca khúc của hai nhạc sĩ này, tưởng cũng nên biết một chút về hai vị như một cách tri ân.
Nếu đã táo bạo giới thiệu thi tập MẦU THỜI GIAN thì khi nhận lời nhận định về vài nhạc phẩm của Dương Thiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn, phải nói là tôi liều lĩnh. Chung quy vì vì lời xúi dại của nhà văn Việt Hải, ổng xúi tôi nói. Tôi nhận lời vì cả nể. Nhận lời rồi mới biết là mình quá liều lĩnh. Cái tính cả nể này nguy hại vô cùng. May, mẹ tôi sinh tôi ra, tôi là con trai, chứ nếu là con gái thì đời tôi không biết đã “hoảng chưa” bao nhiêu lần rồi! Nhưng đã nhận lời thì phải nói thôi, biết làm sao bây giờ. Thật, không cái dại nào bằng cái dại này.
Tôi nói gì về nhạc phẩm “Chiều,” thơ Hồ Dzếnh, nhạc Dương Thiệu Tước nhỉ? Bài thơ gồm những câu ngắn, mỗi câu 5 chữ:
Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chết trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
Mây chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây.
Nhưng đây là thơ năm chữ! Thế mà Dương Thiệu Tước phổ thành một bản nhạc rất du dương. Ông viết bản nhạc theo điệu tango với cung “rê trưởng.” Thường cung “rê trưởng” hợp với những bài hát vui tươi, nhịp nhàng. Viết “rê trưởng” cho điệu tango quả là thíich hợp. Nhưng cái khéo của Dương Thiệu Tước là khi ta hát hay ta nghe bài “Chiều,” vẫn thấy có cái gì bâng khuâng, bùi ngùi trong cung điệu nhịp nhàng ấy. Mình cứ hát đi, hát với giọng vịt đực của tôi cũng được, sẽ cảm nhận được điều ấy.
Riêng về nhạc Lê Trọng Nguyễn, tôi chỉ xin đưa ra một vài hình ảnh trong nhạc phẩm Nắng Chiều, một nhạc phẩm không những nổi tiếng ở Việt Nam mà còn rất được yêu thích ờ nhiều nước khác, như Nhật Bản, Đài Loan, Hong Kong. Tôi có dịp đọc lời Nhật, lời Hoa của nhạc khúc này, không thấy hình ảnh trong đó đẹp bằng những hình ảnh trong nguyên bản tiếng Việt.
Vì là “Nắng Chiều,” xin nói về nắng. Có 5 thứ nắng được diễn tả trong bài hát: nắng lưa thưa, nắng vương thềm, sân nắng, nắng vương đồi, nắng ngừng trôi. Ồ, nắng mà “lưa thưa.” Tại sao nắng “lưa thưa” được? Vì có “lá hoa về chiều” lưa thưa nên nắng mới thưa thưa theo được. (Cũng như phụ nữ đẹp vì có nam giới chúng tôi khiến cho phụ nữ thích làm đẹp.)
Lại còn “nắng vương.” Vương là bám nhẹ, loang nhẹ, rơi nhẹ vào. Hình ảnh “nắng vương thềm” đẹp và thơ mộng quá. Thềm ở bên ngoài, nhưng là nơi sát với nhà, chỉ một bước nữa thôi là bước vào trong nhà. Tâm hồn cô thiếu nữ là ngôi nhà kín đáo và thân mật. Chàng trai yêu cô gái, nhưng còn đứng đợi bên thềm chờ cô mở cửa cho vào nhà. Thềm nhà xuất hiện trong nhiều bài thơ hay nhạc phẩm. Chúng ta vẫn thường hát: “Hôm qua đến tìm em, anh thấy hoa xuân rơi đầy trước thềm.” (Đẹp Giấc Mơ Hoa, Hoàng Trọng)… Cho đến “nắng vương đồi” thì là một hình ảnh quá đẹp, và thật gợi cảm đối với những ai hơi giàu tưởng tượng và có óc liên tưởng.
“Nắng ngừng trôi”! Cái này mới thật là lạ. Nắng trôi được vì có sự chuyển động trong không gian lúc chiều về. Đó như là một định luật; mặt trời mọc, mặt trời lặn nên có bình minh và hoàng hôn. Thế mà bây giờ “nắng ngừng trôi,” nắng dừng lại, không trôi nữa vì nắng “nhớ em dịu hiền.” Đã đẹp chưa, đã thơ chưa nào? Chịu! Tả nắng như thế thì khó có nhà thơ, nhà văn nào tả khéo hơn!
Thôi, tôi xin phép chấm dứt bài nói chuyện thô thiển ở đây, vì sợ làm rác tai người nghe vì những suy nghĩ lẩm cẩm. Xin vui lòng bỏ qua những gì tôi nói “lảm nhảm” về những tuyệt phẩm nghệ thuật. Nói nữa, e rằng tôi phạm tội làm kém đi, xấu đi những gì quá hay, quá đẹp.
GS. Quyên Di là một trong các cố vấn văn chương của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian.
——————————–
ĐÔI NÉT VỀ NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH
June 28, 2022
NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH
Vốn thừa kế truyền thống văn học của dòng họ Dương. Ngôn ngữ trong thi ca của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, phản ảnh sự phong phú của ngôn ngữ, bà đã khéo léo chắt lọc tinh túy những ngôn từ, khám phá những nét bóng bẩy của thi ca, nhưng không kém phần vui tươi, nhẹ nhàng, êm ái của những áng thơ viết cho bạn bè và thân hữu. Thật thế, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã góp phần làm giầu ngôn ngữ, trong văn học và đời sống của chúng ta.
Là một nhà thơ với bản tính hiền hòa, nhận hậu, khiêm nhường và vị tha. Bà đặt gia đình, bạn bè, thân hữu lên trên quyền lợi của chính mình. Đối với Liên Nhóm NVNT & TTG, Nữ Sĩ đã ưu ái dành cho mọi người “muôn ngàn thân ái”. Đây là ngôn ngữ mà Nữ Sĩ thường dùng để biểu lộ cảm tình của bà đối với bạn hữu. Bà đã sáng tác nhiều bài thơ dành riêng cho hội trong đó có bài “Bạn Bè Của Tôi”
“Bạn bè tôi, những nghệ sĩ yêu đời
Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá…
… Bạn bè của tôi chung lời hẹn ước
Đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian….
Bài thơ này đã được Nhạc sĩ Lâm Dung phổ nhạc và đã trở thành NVNT & TTG hành khúc cũng như được trình diễn trong hầu hết các buổi sinh hoạt của nhóm.
Cũng trong bài viết của Khánh Lan
DƯƠNG HỒNG ANH NỮ SĨ
Khánh Lan Biên soạn.
Tôi còn nhớ như in trong tâm trí, tháng 01 ngày 28, 2020, tôi đã được nữ sĩ DHA tặng cho tập thơ số 10 của bà, xuất bản tại California, năm 2019 với tựa đề “NGUỒN CỘI” trong dịp họp mặt đầu xuân Canh Tý. Tôi vốn mê đọc thơ từ thuở nhỏ, nên khi nhận được tập thơ từ bà, tôi mừng lắm và say mê đọc những bài thơ bà sáng tác, với những vần thơ giản dị, mộc mạc, dễ hiểu, đong đầy trìu mến, khiến người được đọc thơ có cảm giác như đang cùng bà sánh bước hoặc cùng bà chia sẻ niềm tâm sự.
“Bốn bốn mùa xuân trên đất Mỹ,
Bao nhiêu kỷ niệm trở về đây,
Đất lành chim đậu – Ca-li ấm
Sợi nắng vàng say mộng ước đầy”.
(Xuân Trên Đất Mỹ-2019)
… quả thật, thi sĩ DHA đúng là một người tài hoa với một bộ óc tràn ngập những lời hay ý đẹp của một nhà thơ. Phải, thi sĩ DHA với những áng thơ dịu dàng lưu loát, hồn thơ say đắm làm mê hoặc lòng người, ý thơ trẻ trung nhẹ nhàng, mềm mại, e ấp và đáng yêu như con người của bà, nhưng lại không kém phần ưu tư, thương nhớ, khắc khoải khi nhắc đến quê hương sau bao năm lưu lạc. Những cảm xúc sâu đậm ấy đã bộc lộ qua lời thơ của thi sĩ DHA và điều này đã được thể hiện rõ rệt qua bốn câu thơ sau đây:
“Chiều về nhớ phố Bolsa,
Đi tìm chút nắng quê nhà năm xưa”.
Hoặc:
“Xin gửi quê hương một tấm lòng,
Ca li nhớ mãi nắng Sài Gòn”.
Thật đúng như nhà thơ Alfred De Musset đã cho rằng, thơ là nỗi cảm xúc của lòng mình, là nhịp đập của trái tim, là hơi thở của trí tuệ và…”Hãy đập vào trái tim, thiên tài là ở đó“. Hay nhà văn Việt Hải đã viết trong lời mở đầu cho thi tập Nguồn Cội: “Trong ngôn ngữ của đời sống, thơ là những dòng chữ đi từ con tim tìm đến khối óc. Nếu con tim rung động thì trí óc sắp xếp sự sáng tạo chữ nghĩa, đó là ý tưởng của nhà thơ”. Trong thi tập Chiều Bến Đợi, thi sĩ DHA đã nhận định: “Tôi đã dành từ bao giờ một góc trái tim cho Thơ”.
“Mỗi bước chân đi nghĩ ngợi gì
Thềm hoa rực rỡ đọng trên mi
Nắng vàng phơ phất lùa khung cửa
Chở những vần thơ lãng đãng về”….
(“Nắng Ca Li Nhớ Nắng Sài Gòn)
Khi được hỏi, cơ duyên nào đã là nguồn cảm hứng giúp thi sĩ DHA trở lại sinh hoạt trong thế giới thi ca? Thi sĩ DHA trả lời: “Sau khi nhà tôi qua đời, thì những dòng thơ tuyệt diệu ngày xưa đã sống lại trong tôi và tôi bắt đầu làm thơ…..phải tôi… trở về với thế giới thơ văn mà tôi hằng yêu quý“. Như để giúp tôi hiểu rõ hơn, thi sĩ DHA tiếp tục, “Sau lần tôi về thăm Hà Nội, tôi sáng tác bài Thu Cảm, bài thơ hay lắm cô KL ạ, bài này nhà văn Nhật Thịnh đăng trong tờ báo Đất Đứng năm 2012 và ông nói là thơ của bà “Có hồn“.
“Thu đến từ đâu thu hỡi thu,
Cùng thơ đang trở gót sông hồ”…..
(Chiều Bến Đợi)
Năm nay, thi sĩ DHA vừa tròn 90 và với hơn 70 năm sinh hoạt trong thế giới thi ca (1947-2020), tuy tuổi đã cao, nhưng bà rất minh mẫn và sáng suốt, bà vẫn làm thơ và hầu như bà đã thuộc lòng từng bài thơ trong 10 thi tập mà bà đã sáng tác và xuất bản. Không những thế bà còn có tài xuất khẩu thành thơ, thể hiện trong ngày 23 tháng 2, 2020, nữ sĩ DHA đã làm sáu câu thơ ngay tại buổi tiệc vinh danh & chúc thọ 90 kỷ niên của bà.
“Chín mươi tuổi trên tay còn ngọn bút,
Nhìn đất trời cao rộng giữa bao la,
Cho tôi viết những gì tôi muốn viết,
Thổi hồn thơ lãng đãng nhớ quê nhà,
Cho tôi thấy mùa xuân đầy nắng ấm
Nắng hồng tươi, tình gửi nước non xa”.
(Trên Tay Ngọn Bút, 2/23/2020)
Bài tạp ghi tường thuật buổi lễ trình làng thi tập của 2 thi sĩ Dương Hồng Ah và Lê Nguyễn Nga, do Kiều My ghi nhận, xin trich đoạnh như sau”
Vị thi sĩ mà chúng tôi muốn nói đến là Lê Trọng Nguyễn Nga, là tác giả của tập thơ LẬT TRANG SÁCH CŨ mà cũng là phu nhân của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và là mẹ của bốn người con. MC Mộng Thủy cho biết thêm: bà là cựu học sinh trường Trưng Vương. Sau đó, bà làm việc cho Hàng Không Việt Nam rồi lập gia đình với nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Khi sang Hoa Kỳ, bà học trường Cal State Los Angeles và tốt nghiệp về kế toán. Sau cùng trước khi về hưu, bà là cán sự xả hội tại thành phố Los Angeles trong một thời gian dài.
Sau giờ văn học, mọi người có vẻ lao xao và vui hẵn lên với hoa hồng tươi và bánh sinh nhật được bày trên chiếc bàn giữa hội trường. Nhân dịp này mọi người tề tựu chúc mừng sinh nhật thứ 92 của nữ sĩ Dương Hồng Anh chung quanh chiếc bánh giữa những hoa hồng vàng, hồng đỏ tươi thắm tròn lẵn như những thiếu nữ tuổi xuân thì. Các bậc trưởng thượng như G.S. Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải lần lượt gửi đến nữ sĩ những lời chúc đầy ý nghĩa. Một cách đặc biệt và bất ngờ, GS. Quyên Di đã đọc bài thơ của NV Kiều My, như những lời ca tụng và cầu chúc tốt đẹp nhất mà KM dành cho nữ sĩ Dương Hồng Anh và Lê Trọng Nguyễn Nga trong một ngày đáng ghi nhớ.
TUỔI VÀNG
Dâng đời bao ý thơ huyền dịu
Theo gió thoảng…ru hồn thi nhân
Thời gian sương rơi trên mái tóc
Tuổi vàng tô thắm mấy cung tơ
Ngây ngất hồn thơ vương nắng úa
Chiều về hoa khép nhẹ bờ mi
Lặng nghe giòng đời hồn thổn thức
Mênh mang nét đẹp… tuổi hoàng hôn
*****
Hồn lạc về đâu? Thi nhân hỡi!
Vần thơ mềm như khúc nhạc êm
Nhạc và thơ như mây với gió
Gió cuốn mây trôi trong nắng vàng
Nắng có phai màu hồn thi sĩ?
hay…
Nắng vẫn lung linh cùng gió mây…
Việt Hải, California June 2022
-
Ý NIỆM VỀ THỜI GIAN
Kỷ Niệm RA MẮT SÁCH “Mầu Thời Gian” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và “Lật Trang Sách Cũ” của Lê Nguyễn Nga.
Cuối tháng sáu, mùa hè nắng ấm tại California, với những cây phượng tím, xen kẽ vài cây màu đỏ ở góc phố, tôi bỗng nhớ những năm tháng tuổi trẻ xa xưa ở Việt Nam. Cuộc đời trôi qua như một dòng sông. Và một triết gia Tây Phương đã nói rằng “Người ta không bao giờ được tắm hai lần trên cùng một dòng sông.” Ý nói thời gian trôi qua không bao giờ trở lại. Có chăng là kỷ niệm được giữ lại trong ký ức và kỷ niệm đã được dịp quay về.
Hôm nay nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức một buổi ra mắt sách, gồm hai tác phẩm: “Mầu Thời Gian” của nữ sĩ Dương Hồng Anh và “Lật Trang Sách Cũ” của Lê Nguyễn Nga. Đây là Một cơ hội để gặp lại bạn cũ và được sống lại kỷ niệm xa xưa .
Nếu “Mầu Thời Gian” đã thể hiện tình yêu không phai nhạt qua năm tháng thì “Lật Trang Sách Cũ” cho chúng ta trở về vùng ký ức của một thời thân thương.
Tôi thường nghĩ rằng cuộc đời mỗi người như một quyển sách. Những việc xảy ra tuần tự và kết nối như từng trang giấy được lật qua. Trong đó có đủ vui buồn, hạnh phúc hay đau khổ, tất cả gom lại tạo nên cốt truyện riêng tư cho quyển sách cuộc đời. Mỗi câu chuyện có thể so sánh như lịch sử cá nhân.
Mà đã gọi là lịch sử thì khó che đậy. Sự thật lúc nào cũng là sự thật trừ khi tác giả muốn xóa bỏ đi cội nguồn. Cội nguồn là gốc rễ đã tạo nên con người, đã cho chúng ta được hấp thụ những tinh hoa và y thức mà chúng ta được hiểu biết qua sự học hỏi trong nền học vấn và trong giáo dục gia đình.
Quan niệm chung trong đời sống con người, thời gian là chướng ngại của sức khỏe, trở ngại cho tuổi tác trong một đời người. Nhưng nhiều người trong chúng ta đã cùng quan niệm là Thời Gian là liều thuốc nhiệm màu đế quên đi nỗi mất mát, xoa dịu nỗi đau khổ. Tôi xin được chia sẻ sự suy nghĩ riêng tôi về hai chữ Thời Gian.
Mặc dầu chúng ta có những cái nhìn khác nhau, tùy quan điểm; nhưng cuối cùng “xấu, tốt, khen, hay chê” cũng chỉ luẩn quẩn ở vòng hạn hẹp, tương đối mà thôi.
Buổi RMS hôm nay thật trang trong qua phần nghi thức Chào Quốc Kỳ Việt Nam và Hoa Kỳ, Chào mừng quan khách và giới thiệu chung với phần trình diễn âm nhac. Chương trình được bắt đầu với Khánh Lan giới thiệu tiể sử của NS Dương Hồng Anh và tiếp theo là Giáo sư Quyên Di, ông nói về gia thế nữ sĩ Dương Hồng Anh, bao gồm con người tài hoa NS Dương Thiệu Tước. Ông nói về ý nghĩa của chữ nắng trong tác phẩm “Nắng Chiều” của NS Lê Trọng Nguyễn, sau khi Ông nói về màu xanh, màu bìa của thi phẩm “Màu Thời Gian”, một biểu tượng bền vững với thời gian.
MC Mộng Thúy, quá tài tình và duyên dáng, trong vai trò điểm sách, khi nói về tác phẩm “Lật Trang Sách Cũ” của tác giả Lê Nguyễn Nga, phu nhân của NS Lê Trọng Nguyễn. Tác phẩm “Lật Trang Sách Cũ” không những chỉ là là một hồi ký cá nhân mà còn là một kỷ niệm sinh hoạt của giới văn nghệ sĩ miền nam VN trước và sau biến cố tháng tư 1975. Tôi khám phá ra Mộng Thúy hai tuần trước đây trong đại lễ thượng thọ của cựu Đại Tá Lê Thương. Những người tham dự hôm RMS không ngớt lời ca ngợi Mộng Thúy là một tài năng trẻ có lối phân tích kỹ, gọn và sở hữu một giọng nói trang trọng.
Ngày RMS 26/6/2022. Năm phút sau khi mở cửa, chị Lệ Hoa, phu nhân của nhà văn Việt Hải nhìn thấy có khá nhiều quan khách đứng xếp hàng để mua sách. Chị Lệ Hoa phải giúp hai tác giả hôm đó hơi lâu tại bàn ký tên sách.
Trong nhóm quan khách hôm nay, có Chưởng Môn Hoàng Hạc, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân Kiều Hạnh. Sự hiện diện của Ô.B. làm tôi nhớ lại 17 năm về trước. Tại Hội Trường Nhật Báo Viễn Đông, nhà thơ Du Tử Lê tổ chức buổi tưởng nhớ cố NS Lê Trọng Nguyễn, có sự yểm trợ của ban nhạc Stars Band. Đêm đó có NS Nguyễn Hiền và ba ca sĩ Mai Hương, Kim Tước và Quỳnh Giao. Đêm hôm đó thật đông quan khách. Họ đứng nghẽn lối ra vào. May mắn làm sao có Võ Sĩ, kiêm BS, kiêm Kèn Sĩ Phạm Gia Cổn tình nguyện làm người mở đường. Bộ ba Mai Hương, Kim Tước và Quỳnh Giao chỉ phải đi sau lưng để tiến vào hội trường. Mười bảy năm qua rồi mà tôi vẫn còn thấy khán giả ủng hộ NS Lê Trọng Nguyễn, thật là ơn phước.
Tác giả thứ nhất của ngày RMS hôm nay là nữ sĩ Dương Hống Anh, một nhà thơ nổi tiếng của Dương gia. Theo GS Quyên Di, thi phẩm “Mầu Thời Gian” vượt qua sự hạn hẹp của thời gian qua màu xanh của sức sống chứ không phải màu vàng của héo úa.
Tác giả và tác phẩm thứ hai là “Lật Trang Sách Cũ” cũ của Lê Nguyễn Nga. Tôi xin phép nói về ý niệm hay của thời gian.
Những sự biến hóa của địa cầu qua bao chục triệu năm. Những trận biến chuyển to lớn của địa cầu đã làm sập đổ những khu rừng vĩ đại, chôn vùi bao nhiêu xác sinh vật. Qua hàng triệu năm, nhân loại đã được hưởng những hầm mỏ than đá, những mỏ dầu hỏa vĩ đại giúp cho sự sinh tồn của con người.
Thời gian, tính về gần đây thôi, trên 2.500 năm, chúng ta đã được hưởng hằng triệu quyển kinh, quyển sách của các tiền nhân ghi những điều đã khai phá và giúp phát triển nền đạo đức và văn minh nhân loại. Ý niệm này về thời gian và thân phận để lại trong tôi nhiều suy tư. Phải chăng tư tưởng khi được hiện hữu qua giấy mực trở thành bất tử.
Văn hóa không có ranh giới không gian và thời gian. Cuốn tiểu thuyết Les Miserables của đại văn hào Victor Hugo giữa thập niên 1850, sẽ muôn đời nói lên sự bất công thường thấy trong xã hội. Nhà thơ kiêm kịch sĩ William Congreve nói rằng “Âm nhạc có huyền năng cảm hóa lòai hung thú.”(“Music hath charms to soothe a savage beast.”). Âm nhạc là một món quà thượng đế ban đặc biệt cho loài người. Lòng người dân yêu mến âm nhạc của nhạc sĩ vĩ đại Beethoven giữa thế kỷ 17-18 đã giúp nhân loại quên đi sự tham tàn xâm lược của một nước Đức dưới thời Hitler. Nhạc của thiên tài Leopold Mozart giúp “stress release”. Dòng nhạc cua Chopin, Strauss thu hút, kéo con người đến tình yêu, về vùng chân thiện mỹ. Ở đó có tình người, tình thương muôn thuở.
Lê Nguyễn Nga, hiền thê của NS Lê Trọng Nguyễn và nữ sĩ Dương Hồng Anh, hậu duệ của NS Dương Thiệu Tước là lý do kết hợp RMS “Mầu Thời Gian” và “Lật Trang Sách Cũ”, do nhóm NVNT-TTG tổ chức, đưa các sáng tác của hai Nhạc Sĩ thành danh trên vào chương trình hôm nay. Những sáng tác này cũng trải qua thử thách của thời gian để đại diện cho một dòng nhạc mà chúng ta gọi là “nhạc tiền chiến”. Ngày nay dòng nhạc này vẫn có nhiều ca sĩ trình diễn và khán giả hâm mộ. Ngày hôm nay lại một lần nữa nhạc của Lê Trọng Nguyễn và DươngThiệu Tước khoác vào chiếc áo thời gian và trở thành bất tử.
Lê Nguyễn Nga, Hè, 2022

-
Giận
Nguyễn Phương Thúy
-
KIỀU MỸ DUYÊN- RA MẮT TUYỂN TẬP HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG Ở SAN JOSE VÀ SACRAMENTO
-
HAPPY INDEPENDENCE DAY

-
LẬT TRANG SÁCH CŨ
(Nguyễn thị Mắt Nâu)
LẬT TRANG SÁCH CŨ, bao giờ cũng là một hoài niệm đẹp, dễ làm tâm hồn chúng ta chùng lại. … Và Lật Trang Sách Cũ của tác giả Lê Nguyễn NGa đã thật lênh đênh vì biến cố toàn cầu Covid-19…
Mãi đến 26 tháng 6/2022 mới được nhón Nhân Văn Nghệ Thuật tổ chức ra mắt tại NT Studio trên đường Brookhurst thuộc thành phố Westminster, quận Cam, Little Saigon.
Khung cảnh của hội trường NT Studio thật đẹp, trang nhã và ấm cùng.
Buổi ra mắt được diễn ra tại đây cùng ngày, gồm hai tác phẩm của hai tác giả:
– LẬT TRANG SÁCH CŨ của tác giả Lê Nguyễn Nga, và
– MÀU THỜI GIAN (tập thơ) của nữ sỹ Dương Hồng Anh.
Qua nghi thức chào cờ Hoa Kỳ và Việt Nam, cùng phút mặc niệm trang nghiêm do MC Mộng Thủy điều khiển.
–> Diễn giả đầu tiên, nhà giáo Quyên Di lên nói về tập thơ Màu Thời Gian của nữ sỹ Dương HỒng Anh, bài nói khá dài và lôi cuốn, làm tăng sự ấm cúng nơi hội trường và làm khởi sắc cho ngày ra mắt sách với chia sẻ tâm tình cùng nữ sỹ trong tâm thái nhẹ nhàng linh hoạt và những lời trau chuốt vốn sẵn có của diễn giả Quyên Di.
Ông đã phân tích từng lời thơ qua nhiều thể điệu của tập thơ Màu Thời Gian (Tập thơ thứ mười một của nữ sỹ)… Khiến lời thơ của nhà thơ điêu luyện, càng sâu lắng hơn qua diễn giải của một diễn giả nhẹ nhàng khéo léo vào bậc thầy, qua những lần nghe ông phát biểu. Và tiếp đó, ngâm sĩ Ngọc Quỳnh đã ngâm bài thơ Màu Thời Gian trong ánh đèn lung linh màu sắc, mờ ảo nhẹ nhàng.
–> Bước sang Tập sách Lật Trang Sách Cũ của nhà văn, nhà thơ Lê Nguyễn Nga – Nữ sỹ Mộng Thủy giới thiệu cả về tác phẩm lẫn tác giả – Cô cũng là người MC điều hợp chương trình .
Giọng bắc, phát âm rõ ràng, truyền cảm, cô đã đưa toàn hội trường như trở về khung trời văn hoa Hà Nội (Hà Nội 54).
Phân tách tác phẩm khá kỹ, giới thiệu tác giả tỉ mỉ trong từng lời nói. Diễn giả Mộng Thủy khiến khán giả và tác giả nhích gần lại nhau hơn.
Riêng người viết bài này – Tác phẩm LẬT TRANG SÁCH CŨ, là cái duyên của cuộc đời dâu bể, giữa chúng tôi, trong một sáng bất ngờ có nắng vàng rất đẹp…
Tác giả Lê Nguyễn Nga đã khơi dậy trong tôi những ky ức của một thời dĩ vãng, qua bản thảo chị nhờ đánh máy.
Những dòng viết chân phương là những lời tình tự – Tác giả Lê Nguyễn Nga khơi dậy trong tôi một thời dĩ vãng trước 1975 (như tôi đã ghi vội cảm nghĩ nơi trang 6 trang 7 của đầu tập sách Lật Trang Sách Cũ.
Thôi nhé chị Nga ơi:
Thời gian đi có bao giờ trở lại/ Những trang sách này, sẽ tồn tại với thời gian
Dù cho năm tháng hoang tàn/ Lật Trang Sách Cũ – Lòng mênh mang tiếc nhớ.
Cám ơn nhà văn Lê Nguyễn Nga đã cho đời một tác phẩm dung dị dễ thương.
Và một lần nữa xin trân trọng đón nhận Lật Trang Sách Cũ mà Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã tổ chức Ra Mắt rất đông đảo và ấm cúng hôm nay.
Âu cũng là một Thành Công chung trên con đường Nhân văn và nghệ thuật.
Chúc mừng chị và chúc Nhân Vân Nghê Thuật ngày càng mở rộng và phong phú.
(Mắt Nâu 26/62022)
-
CÒN ĐẬU NHÁNH TÌNH
-
MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN MINH ĐỨC HOÀI TRINH

Nhà Văn Dương Viết Điền và Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh Vào khoảng tháng 03 năm 2003, tôi nhận được giấy mời của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, trung tâm Nam California, xuống Quận Cam họp để chuẩn bị bầu Ban Chấp Hành mới của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Vì nằm trong ban tổ chức do anh Trần Thy Vân, chủ tịch Hội Văn Bút Nam Cali, chỉ định, tôi cũng giúp anh em trong ban tổ chức một tay tiếp đón các văn hữu từ khắp nơi trên thế giới về dự đại hội.
Tại đây tôi đã gặp Nhà Văn Nữ khả kính Minh Đức Hoài Trinh. Sở dĩ chị Minh Đức Hoài Trinh hiện diện hôm ấy vì chị là một trong những cố vấn của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và cũng đã từng là cựu chủ tịch Hội Văn Bút Việt Nam Hải ngoại.
Khi gặp chị, tôi tự giới thiệu tên, họ vv… với chị ấy rồi nói:
– Lúc còn đang theo học ở bậc trung học, khi đọc tạp chí Phổ Thông của Nhà Văn Nguyễn Vỹ làm chủ bút, em thấy chị viết thường xuyên trong tạp chí này. Những bài viết của chị em quá thích. Đã thế khi đọc mấy đoạn toà soạn giới thiệu chị làm phóng viên cho rất nhiều tờ báo cũng như những tạp chí của Việt, Pháp và chị đã đi gần ba phần tư quả địa cầu khiến em thích quá, rồi cứ ước mơ làm sao sau này sẽ trở thành một phòng viên rồi đi khắp thế giới được như chị vậy.
Nghe tôi nói như vậy chị mỉm cười rất duyên dáng như để đáp lễ. Thế rồi tôi và Nhà Văn Nữ Minh Đức Hoài Trinh chụp chung một bức hình làm kỷ niệm trong lúc chờ đợi các hội viên Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đến tham dự.
Sau đó tôi liền tặng cho chị hai tác phẩm của tôi là hồi ký Trại Ái Tử Và Bình Điền và cuốn Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân. Lúc trao sách của tôi cho chị, chị liền nói:
–Sách nầy tặng chị nhé, chứ khỏi ủng hộ nghe em.
Tôi trả lời ngay:
-Em chỉ tặng chị thôi mà, chứ đâu có nói chị mua dùm cho em đâu.
Nghe tôi nói vậy, chị liền mỉm cười.
Tôi nhớ ngày đại hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại toàn thế giới hôm ấy, họp tại hội trường của Nhật báo Người Việt ở Quận Cam để bầu ban chấp hành mới, sức khoẻ của chị Minh Đức Hoài Trinh cỏ vẻ yếu nên chị ấy đi chầm chậm đến bục gổ, nhưng phu quân của chị đã bước lên bục gỗ rồi trình bày những hoạt động trong nhiệm kỳ qua thay thế cho chị ấy.
Vì lái xe trên free way không được và cũng vì thường đi làm vào ngày chủ nhật và thứ bảy nên sau đó tôi cũng ít khi xuống Quận Cam. Cũng vì thế mà ít khi gặp chị Minh Đức Hoài Trinh. Tuy nhiên có lần đọc báo thấy Nhà Văn nữ Ngọc Anh và Nhà Thơ Ngô Tịnh Yên sắp ra mắt sách dưới Quận Cam, tôi liền đáp xe lửa xuống tham dự vì cả chị Ngọc Anh cũng như chị Ngô Tịnh Yên tôi cũng quen biết vì cùng ở trong Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại với tôi. Khi gặp chị Ngô Tịnh Yên, tôi liền nói:
- Nghe Ngô Tịnh Yên và chị Ngọc Anh ra mắt sách, tôi liền đáp xe lửa xuống tham dự đây.
Nhà thơ Ngô Tịnh Yên trả lời:
- Cám ơn anh nhé. Em chưa đi xe lửa lần nào cả từ ngày qua Mỹ đến bây giờ anh ạ. Chắc bữa nào em phải đi một chuyến xem sao.
Trong đêm ra mắt sách này, tình cờ tôi ngồi cùng một bàn với chị Minh Đức Hoài Trinh. Vừa thấy chị, tôi liền đến chào chị ngay nhưng chị ấy chẳng nhớ ai lại ai cả, chị chỉ mỉm cười đáp lễ thôi. Sau đó tôi liền hỏi chị ấy:
-Chị năm nay chắc cũng đã “thất thập cổ lai hy” rồi phải không thưa chị?
Chị Minh Đức Hoài Trinh liền gật đầu mỉm cười. Nhưng rồi tôi thấy hình như chị ấy có vẻ lãng trí vì tôi nhìn khuôn mặt chị có vẻ mơ màng và ngơ ngác làm sao ấy. Vì thế tôi lại hỏi chị ấy một lần nữa, nhưng số tuổi thọ tôi đổi khác:
-Chị năm nay chắc cũng đã được bảy mươi tư tuổi rồi phải không thưa chị?
Nghe tôi hỏi như vậy chị ấy lại cũng cười rồi gật đầu! Vì vậy tôi liền nói với Nhà Thơ Ngô Tịnh Yên :
-Chị Ngô Tịnh Yên này, tôi hỏi chị Minh Đức Hoài Trinh năm nay bảy mươi tuổi phải không, chị ấy gật đầu, tôi lại hỏi chị ấy năm nay chị bảy mươi tư tuổi phải không, chị ấy cũng gật đầu luôn!
Nhà Thơ Ngô Tịnh Yên nói với tôi:
- Chắc chị ấy hơi lẫn rồi đấy anh ạ.
Tôi nhớ ngày đại hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại toàn thế giới hôm ấy, họp tại hội trường của Nhật báo Người Việt ở Quận Cam để bầu ban chấp hành mới, sức khoẻ của chị Minh Đức Hoài Trinh cỏ vẻ như đã yếu rồi nên chị ấy chỉ đi chầm chậm đến bục gỗ, nên phu quân của chị là Nhà Văn Nguyễn Quang đã bước lên bục gỗ rồi trình bày những hoạt động trong nhiệm kỳ qua thay thế cho chị ấy.
Chiều ngày 15 tháng 01 năm 2012, tôi đến tham dự buổi ra mắt sách “ Mẹ Việt Nam ơi! Chúng con vẫn còn đây ” của Nhà Văn Nguyễn Hữu Của, tân chủ tịch Hội Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ. Khi đứng trên sân khấu hát bài Tình Nghệ Sĩ Hành Khúc trong ban hợp ca của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, tôi thấy Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh đang ngồi ở dãy ghế thứ 6 nhìn lên. Bên cạnh là phu quân của chị. Thế là sau khi hát xong tôi liền đến chào chị ấy ngay. Biết chị ấy đã lớn tuổi và lâu ngày chưa gặp lại chị nên tôi liền tự giới thiệu tôi với chị ấy :
- Chào chị. Thưa chị, em là Dương Viết Điền đây. Năm 2002, em đã gặp chị trong ngày Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại họp tại trụ sở của Nhật báo Người Việt để bầu lại Ban Chấp Hành của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Ngày đó em đã tặng chị hai tác phẩm mang tựa đề “ Trại Ái Tử Và Bình Điền” và “Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân”chắc chị còn nhớ.
Tôi vừa nói xong thì chị Minh Đức Hoài Trinh liền chắp tay lại trước ngực rồi cười đáp lễ. Tôi cũng chắp tay lại rồi cũng cười đáp lễ. Vì tôi đã gặp và chào phu quân của chị ở ngoài cửa ra vào trước khi gặp chị ấy nên tôi cũng không hỏi chị về anh ấy nữa. Mới đây, trong ngày kỷ niệm hai năm thành lập Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, tôi lại thấy chị Minh Đức Hoài Trinh cũng đến tham dự cùng với phu quân của chị. Tôi liền đến chào chị và phu quân của chị rồi nhờ Thi Sĩ Khiêu Long đứng cầm máy chụp hình gần đấy, chụp một tấm hình với chị để làm kỷ niệm:

Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh và Tác giả. Hình chụp trong ngày kỷ niệm 2 năm thành lập Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ tại Diamond Seafood Restaurant. ( Ngày 08 tháng 04 năm 2012) 
Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ Chiều ngày 08 tháng 04 năm 2012, tôi lại gặp Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh cùng phu quân của chị là Nhà Văn Nguyễn Quang tại phòng thâu hình của Đài Global TV 57.8. Tối hôm ấy tôi cùng một số anh chị em trong Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ đến đài để thâu hình cho chương trình 30 tháng 04 năm 2012. Sở dĩ Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh đến vì chị là một trong những vị khách danh dự được mời đến tham dự trong buổi thu hình ấy.
( Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh mang áo đỏ, đứng bên cạnh là phu quân Nguyễn Quang, người đứng sát bên cờ vàng 3 sọc đỏ là tác giả)
Tại đây, Nhà Văn Nguyễn Quang, phu quân của chị Minh Đức Hoài Trinh, đã gặp Nhà Văn Phong Vũ của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và trao cho Nhà Văn Phong Vũ tác phẩm “Ốc Mượn Hồn” để Nhà Văn Phong Vũ xem tổng quát ngõ hầu viết chương trình cho ngày ra mắt sách vào thượng tuần tháng 05 sắp tới; vì Nhà Văn Nguyễn Quang nhờ Nhà Văn Phong Vũ trong Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và cô xướng ngôn viên Hồng Vân của Đài truyền hình 57.5 làm em- xi cho chương trình ra mắt tác phẩm này. Đứng bên cạnh Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh và phu quân của chị, sau khi phu quân chị Minh Đức Hoài Trinh trao sách cho Nhà Văn Phong Vũ, tôi liền nói với chị Minh Đức Hoài Trinh (MĐHT):
- Bữa nào anh Nguyễn Quang ra mắt tác phẩm “Ốc Mượn Hồn” nầy, em sẽ hát tặng chị một bản nhạc.
Nghe tôi nói như vậy, chị MĐHT liền mỉm miệng cười. Không biết lúc bấy giờ hứng bất tử sao tôi lại hứa với chị MĐHT là sẽ hát một bản nhạc tặng chị ấy, vì chưa bao giờ tôi hát đơn ca trên sân khấu cả, mà chỉ thường hát hợp ca trong ban hợp ca của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ mà thôi. Nhưng vì bận việc nên tôi quên ghi danh hát gởi đến cho anh Phong Vũ. Thế nên sau khi nhận được e mail của anh Phong Vũ cho biết những người tham gia vào chương trình, tôi thấy các anh chị em trong Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ ghi danh hát đông quá rồi nên tôi không muốn ghi danh hát nữa:
CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ:
1-Hạnh Cư …Vì đó là em (Diệu Hương)2- Quỳnh Hoa …….Đường Xưa Lối Cũ (Hoàng Thi Thơ)-
3-Như Ngọc Hoa ……. Em Vẫn Chờ (thơ của Hư Vô, nhạc cuả NNHoa)
4- Lan Hương ….. Mắc Nợ (thơ Phi Loan, nhạc Cao Minh Hưng)
5-Trịnh Thanh Thủy … Người Tình Không Chân Dung (nhạc Hoàng Trọng)
6- Xuân Thanh ….. Qua Cơn Mê (Trịnh LâmNgân, phổ thơ Nguyễn Từ Nam)
7- Khánh Vân …… Quê Hương Bỏ Lại (Tô Huyền Vân).
8- Thúy Liêm …… Gửi Người Giới Tuyến (Nhật Lệ)
9-Tuấn Nguyễn – “Xin Hãy Rời Xa”(Vũ Tuấn Đức)
10-Ngọc Đăng – Anh Vẫn Mơ Một Ngày Về (Nguyet Anh)
11- Phong Vũ – Riêng Một Góc Trời (Ngô Thụy Miên)
(Hình chụp trong ngày ra mắt sách “Ốc Mượn Hồn” của Nhà Văn Nguyễn Quang , phu quân của Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh.)
Trưa ngày 06 tháng 05 năm 2012, lúc vừa đến Thư Viện Việt Nam để tham dự ngày ra mắt sách của Nhà Văn Nguyễn Quang, sau khi Nhà Văn Nguyễn Quang ký tặng sách xong, tôi thấy chị Minh Đức Hoài Trinh đang ngồi ở dãy ghế hàng đầu nên cầm sách đến bên chị ấy và nói:
- Đáng lẽ chị cũng ký vào sách này luôn để làm kỷ niệm
Chi Minh Đức Hoài Trinh trả lời:
- Thôi, anh Nguyễn Quang ký cũng được rồi em.
Sau đó tôi liền nói với chị MĐHT:
-Bữa trước em hứa với chị là sẽ hát một bài tặng chị, nhưng bây giờ anh chị em ghi tên hát đông quá rồi nên em không thể hát đơn ca được. Thôi, chị ngồi chờ xem em hát hợp ca vậy. Nghe tôi nói như vậy, chị MĐHT liền mỉm miệng cười. Sau khi buổi ra mắt sách bế mạc, Nhà Văn Nguyễn Quang lên nói đôi lời cảm tạ với mọi người. Lúc đó tôi đang đứng bên cạnh chị MĐHT, bỗng nghe chị ấy hỏi một cậu đứng bên trái chị :
– Anh Quang đâu rồi?
Tôi liền vừa cười vừa trả lời thay cho cậu đứng bên cạnh :
-Anh Quang đang nói đôi lời cảm tạ chị ạ. Khoảng 5 phút nữa anh Quang sẽ đến bên chị ngay, chị không mất anh Quang đâu mà sợ.
Nghe tôi nói như vậy chị MĐHT lại mỉm miệng cười. Chị ấy luôn luôn mỉm miệng cười và chắp tay trước ngực.
Ngày 27 tháng 10 năm 2013, tôi đến nhà Nhạc Sĩ Cao Minh Hưng để tham dự Tiền Đại Hội ngày ra mắt sách của Giáo Sư Lưu Trung Khảo thì lại gặp Nhà Văn Minh Đức Hoài trinh và phu quân. Tôi liền đến chào chị:
- Kính chào chị. Em là Dương Viết Điền đây. Chị nhận ra em không?
Cũng như lần trước, chị liền chắp tay trước ngực đáp lễ nhưng hôm nay bỗng nhiên chị nói:
- Hân hạnh, hân hạnh.
Nghe chị nói như vậy, tôi liền nói ngay:
- Tội quá chị ạ. Em mới hân hạnh được gặp chị chứ.
Nghe tôi nói như thế chị bỗng nhoẻn miệng cười. Sau đó tôi nhờ một người bạn chụp hình tôi, chị Minh Đức Hoài Trinh và phu quân của chị làm kỷ niệm

Từ trái: Nhà Văn Nguyễn Quang, Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh và Tác Giả. 
Từ trái: Nhà Văn Nguyễn Quang, Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh, Phu Nhân Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm , Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm và Tác Giả. Tối thứ bảy ngày 23 tháng 11 năm 2013, tôi lại gặp Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh trong buổi Lễ Mừng Sinh Nhật 80 tuổi của Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa, tại hý viện La Mirada.
Trong lúc ngồi chờ đợi giờ khai mạc, tôi nói với chị Minh Đức Hoài Trinh:
- Em có viết một bài kỷ niệm với chị về những lần sinh hoạt về văn học nghê thuật, cũng như những lần gặp gỡ chị.
Nghe tôi nói vậy, chị nói ngay:
- Sao không cho chị đọc với?
Tôi trả lời ngay:
- Em đang viết mà chị. Khi nào viết xong em sẽ gởi cho chị đọc.
Vào ngày chủ nhật 07 tháng 12 năm 2014, nhân chuyến viếng thăm Nhà Văn Thinh Quang để chúc mừng cụ đã được 92 tuổi, tôi cùng vợ chồng Nhà Văn Việt Hải và anh Cao Thái Hải ghé đến nhà Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh để thăm chị cùng phu quân. Tại đây chúng tôi ngồi đàm đạo về chuyện văn học nghệ thuật liên quan đến văn nghiệp của chị MĐHT để chuẩn bị tổ chức lễ ra mắt sách vinh danh chị ấy trong tuần tới. Lúc ấy phu quân của chị MĐHT cho chúng tôi xem một DVD nói về cuộc đời văn nghiệp của chị. Trong thời gian chờ đợi ra BLEU RESTAURANT ở đường Beach để tham dự đêm văn nghệ chủ đề về nhạc của Nhạc Sĩ Cao Minh Hưng, tôi có chụp một số hình ảnh treo trên tường trong nhà chị MĐHT vì thấy những hình ảnh này liên quan đến cuộc đời của chị ấy.

Ngày 14 tháng 12 năm 2014, lúc tham dự buổi ra mắt sách “Minh Đức Hoài Trinh, Chính Khí Của Người Cầm Bút” và mừng sinh nhật thứ 85 của Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh do Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ tổ chức tại nhà hàng Emeral Bay, lúc ngồi trên xe chờ phu quân của chị ra chở về lại nhà, tôi đến bên chị giả bộ hỏi để xem tình trạng Alzheimer của chị ấy như thế nào mặc dầu mới tham dự tiệc sinh nhật thứ 85 của chị ấy xong:
- Chị năm nay được bao nhiêu tuổi rồi thưa chị?
Chị Minh Đức Hoài Trinh trả lời:
- Chị được bảy mươi …
Nghe chị Minh Đức Hoài Trinh nói như vậy biết chị ấy bị lẫn rồi, tôi liền nói ngay:
- Bảy mươi đâu mà bảy mươi chị. Chị sinh năm nào chị còn nhớ không?
Chị Minh Đức Hoài Trinh trả lời:
- Chị sinh năm 1930
Tôi liền nói :
- Vậy chị để em tính tuổi cho chị nhé. Năm nay là năm 2014, chị sinh năm 1930. Làm một bài toán trừ thì năm nay chị đã được 84 tuổi Tây và 85 tuổi ta rồi. Chứ bảy mươi đâu mà bảy mươi!
Nghe tôi nói như vậy, chị Minh Đức Hoài Trinh liền mỉm miệng cười!

Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh (tay cầm bông hồng) chuẩn bị cắt bánh sinh nhật trong ngày ra mắt sách “Minh Đức Hoài Trinh, Chính Khí Người Cầm Bút” Ngày 25 tháng 06 năm 2017, sau khi đọc được bản cáo phó về ngày ra đi của chị Minh Đức Hoài Trinh, tôi liền xuống Quận cam để chia buồn với phu quân của chị là nhà văn Nguyễn Quang Huy và tiễn biệt nhà văn Minh Đức Hoài Trinh về bên kia thế giới.
Sau đây là một vài hình ảnh trong ngày tiễn biệt chị Minh Đức Hoài Trinh.

Nhà Văn Nguyễn Quang, Phu quân nhà văn Minh Đức Hoài Trinh và tác giả. 
Tác giả và trưởng nữ của nhà văn Minh Đức hoài Trinh 
Thân hữu đang khiêng quan tài đến nhà hoả thiêu. 
California, ngày 27 tháng 06 năm 2017.
Dương viết Điền, California, ngày 27 tháng 06 năm 2017.
-
ĐÔI DÒNG TƯỜNG THUẬT VỀ BUỔI RMS CỦA NS DƯƠNG HỒNG ANH & TS LÊ NGUYỄN NGA

Nhà thơ Lê Nguyễn Nga & Nữ Sĩ Dương Hồng Anh 
Giáo Sư Quyên Di và Nhóm Văn Thi Đàn Thời Đại 
Từ trái sang phải: Hàng ngồi: NV Nguyễn Thị Mắt Nâu, NT Lê Nguyễn Nga, NS Dương Hồng Anh, Bà Thành Nguyễn (Con dâu của NS Hồng Anh)
Hàng đứng: Mạnh Bổng, Mộng Thủy, Lâm Dung, Lệ Hoa, Khánh Lan, Minh Thư (Con gái của NS Lê Trọng Nguyễn & NT Lê Nguyễn Nga)Buổi ra mắt sách đã viên mãn thành công trong khung cảnh nêu cao tinh thần yêu thi ca qua hai tác phẩm thơ, Màu Thời Gian và Lật Trang Sách Cũ. Buổi họp mặt thi ca được diễn ra trong không khí thân mật nhưng không kém phần long trọng. Ba diễn giả của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm ba nhà văn Quyên Di, Khánh Lan và Mộng Thủy. Chương trình văn nghệ do Liên Nhóm NVNT & TTG đảm nhiệm với những nhạc phẩm nổi tiếng của các nhạc sĩ: Dương Thiệu Tước, Lê Trọng Nguyễn và Lê Nguyễn Nga.

Ban văn nghệ Tiếng Thời Gian 
Từ trái sang phải: Khánh Lan, NT Lam Triều,
Bà Jacqueline Nguyễn Văn Bông, NT Nguyễn Thị Việt Nam
Từ trái sang phải: Vương Đức Hậu, Khánh Lan, Ngọc Quỳnh, Trần Thạch,
Lâm Dung, Ái Liên, Kiều My, Thụy Lan, Mộng Thủy, NAG Lê HùngThành phần khách tham dự buổi ra mắt hai tập thơ đa số là khách văn học nên khi các diễn giả thuyết trình căn phòng hội chìm trong yên lặng, khiến không khí trở nên trang trọng và sự kín nể đối với hai vị Nữ sĩ. Mặc dù ngày 26 tháng 06 có đến 4 buổi hội họp văn học ở 4 nơi khách nhau, nhưng số khách tham dự buổi ra mắt 2 tập thơ đã vượt qua con số 80 người và số sách đã được sự ủng hộ nhiệt tình của các độc giả yêu thơ và bán gần hết. Thật là “Giới hàn lâm tao nhân mặc khách chiếu cố…”

Hai nhà thơ cắt bánh mừng ngày Ra Mắt hai tập thơ
Mầu Thời Gian & Lật Trang Sách Cũ
Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian xin cám ơn quý vị văn nghệ sĩ, quý nhiếp ảnh gia, quý phóng viên ký giả, quý đồng hương thân thương, Bác Sĩ Vương Đức Hậu, Nhà văn Nguyễn Thị Mắt Nâu, đăc biệt quý thân hữu thuộc các nhóm Hoàng Hạc Phạm Gia Cổn, Nhóm Văn Nghệ Dân Tộc Lạc Hồng, Nhóm Văn Thi Đàn Thời Đại, và Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ đã đến chung vui cùng chúng tôi. Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gởi lời cám ơn chân tình đến Nhiếp Ảnh Gia: Lê Hùng, ông là người đã chụp cho Liên Nhóm những tấm ảnh đẹp và có giá trị trong ngày RMS.

Liên Nhóm NVNT & TTG
California June 26, 2022MỜI VÀO XEM HÌNH ẢNH CỦA BUỔI RMS:
VÀI NHẬN XÉT VỀ THI TẬP “MẦU THỜI GIAN” CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH
VÀ HAI DÒNG NHẠC “DƯƠNG THIỆU TƯỚC,” LÊ TRỌNG NGUYỄN TỪ GIÁO SƯ QUYÊN DI
Hôm nay là một ngày vui và đẹp, gian phòng chúng ta đang ngồi lại ấm cúng. Từ đâu mà có cái vui, đẹp, ấm cúng này? Theo tôi là do lòng yêu của chúng ta đối với văn chương nghệ thuật và tình cảm của chúng ta đối với anh chị em văn thi hữu. Ai trong chúng ta cũng vui, cũng đẹp trong bầu không khí ấm cúng này.
Ban Tổ Chức giao cho tôi nhiệm vụ giới thiệu thi tập thứ 11 của nữ sĩ Dương Hồng Anh, tựa đề là MẦU THỜI GIAN. Tôi cám ơn nhà văn Khánh Lan, khi nói về tiểu sử nữ sĩ Dương Hồng Anh, đã phần nào điểm qua những thi phẩm trong thi tập này. Những gì nhà văn Khánh Lan trình bày đã làm nhẹ trách nhiệm của tôi rất nhiều.
Nghe ba tiếng “MẦU THỜI GIAN,” thường chúng ta sẽ có cảm giác buồn bã, hay ít ra thì cũng bùi ngùi, luyến tiếc. Màu thời gian thường là màu vàng đậm của chiếc lá cuối thu, héo úa và tàn tạ. Nhưng nhìn vào màu bìa của thi tập, chúng ta đều thấy đó màu màu xanh của lá cây non, rất tươi mát và tràn đầy sức sống. Trong khi đó, nếu xét về niên tuế thì nữ sĩ Dương Hồng Anh năm nay đã hơn chín mươi. Điều này nói lên rằng, với nữ sĩ, thời gian không có ảnh hưởng gì. Lúc nào nữ sĩ cũng tươi trẻ. Đúng là:
“Chín mươi đâu phải là già,
Tám mươi thì mới chỉ là thanh xuân.”Theo tiêu chuẩn ấy thì tôi mới chỉ là một chú “nhi đồng đá dế.” Nhi đồng mà dám nói những gì về một thiếu nữ tuổi thanh xuân thì quả là táo bạo. Nhưng vì nhiệm vụ, tôi cứ nói. Mong “thiếu nữ thanh xuân” tha thứ cho tôi.
Cũng trên bìa thi tập, chúng ta thấy ba chữ “MẦU THỜI GIAN” chứ không phải là “MÀU THỜI GIAN.” Điều này cho tôi biết đích xác tác giả là người miền Bắc chứ không phải miền Nam. Trong cách phát âm, người miền Nam ưa âm A mà người miền Bắc chuộng âm Ớ (viết là Â.) Người Nam phát âm là MÀU còn người Bắc phát âm là MẦU. Đây không phải là trường hợp đơn lẻ. Người Nam phát âm là màu sắc, trình bày, số bảy mà người Bắc phát âm là mầu sắc, trình bầy, số bẩy… Như thế, người Bắc đội nón cho chữ, còn người Nam lột nón của chữ đi. Ấy thế mà là có trường hợp ngược lại: người Bắc lột nón ông giáo, gọi là ÔNG THÀY và người Nam lại trịnh trọng đội nón cho ông giáo, gọi là ÔNG THẦY. Giáo sư Dương Ngọc Sum người miền Nam, chúng ta gọi là THẦY Dương Ngọc Sum. Chớ phải người Bắc gọi ông, sẽ gọi là THÀY Dương Ngọc Sum.
Quả nhiên, nữ sĩ Dương Hồng Anh được sinh ra tại Hà Nội, là cháu nội trực hệ của cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, tỉnh Hà Đông; thân phụ là cụ Dương Tự Tám, hiệu trưởng trường tiểu học Nhật Tiến, Hà Nội, trước năm 1945. Tôi nhắc đến điều này vì trong thi tập MẦU THỜI GIAN, nữ sĩ có những bài thơ nặng tình với Hà Nội mà lát nữa chúng ta có dịp bàn đến.
Thi tập gồm 102 bài thơ. Hãy nói trước về bài thơ MẦU THỜI GIAN, tên được chọn làm tựa đề của thi tập. Bài thơ gồm 4 khổ, mỗi khổ có 4 câu. Khổ đầu, tác giả gieo vần theo lối gián cách, câu 1 vần với câu 3, câu 2 vần với câu 4. Này nhé:
Thời gian lờ lững trôi vô tận
Vui buồn thế sự nắng mưa rơi
Còn đây một mảnh tình non nước
Xin gửi vào thơ giấc mộng đời.Nhưng ba khổ sau, tác giả lại gieo vần theo lối ba vần bằng, lối gieo vần tựa như trong thể thơ Đường luật cổ kính:
Thơ theo ngày tháng vẫn Đi – Về
Những chiều những sớm những đêm khuya
Bao nhiêu thi tứ theo nhau bước
Phòng vắng canh dài viết mải mê.Tôi vẫn làm thơ dưới nắng chiều
Mây ngàn gió núi dệt thương yêu
Câu thơ nho nhỏ say hồn mộng
Ký ức vàng son gợi nhớ nhiều.Mái tóc sương pha đã mấy mùa
Ngày dư còn lại chút hương xưa
Mầu thời gian trải dài tâm sự
Vạt nắng hoàng hôn, gió nhẹ đưa.Sao lại như thế? Tôi có cảm tưởng rằng ban đầu tác giả nhìn dòng thời gian dù có liên tục trôi, nhưng thật ra có nhiều đoạn đời có thể tách rời ra được. Nhưng một khi đã đạt được cái lẽ đời, tác giả nối tất cả các đoạn đời ấy lại thành một dòng trôi liên tục: dòng đời.
Thật khéo!
Tác giả cũng làm thơ lục bát, lối thơ đậm hồn tính Việt Nam. Ai cũng có thể làm đôi dòng lục bát, vì dễ. Nhưng cái gì càng dễ mà đạt đến cái vi diệu của nó lại càng khó. Lục bát mà làm không khéo sẽ thành bài vè. Hãy thưởng thức lục bát của nữ sĩ Dương Hồng Anh qua bài thơ NẮNG TÀ:
Nắng tà đổ bóng xiêu xiêu
Nắng tà vẫn sáng đường chiều gió bay
Tóc sương nhuộm trắng trời mây
Đếm thời gian trải bao ngày nắng mưa
Nhìn về nẻo cũ thềm xưa
Sợi dây dĩ vãng níu bờ vai thon
Chiều nao nhón gót chân son
Sóng lòng hay sóng biển đông dạt dào
Vườn đời đẹp mãi muôn sao
Ngàn phương gió lộng dâng cao suối hồn
Nắng còn vui đón hoàng hôn
Con tầm nhả kén vẫn còn se tơ
Nắng ơi! dù đã xế tà
Bốn phương mây nước bao la ngập trời
Thơ ai dệt nắng thêm tươi
Tâm tư lắng đọng nụ cười thời gian
Ước mơ trải dưới nắng vàng
Có người thơ vẫn lang thang Đi – Về.Bài thơ viết về nắng. Nhưng nắng gợi cho tác giả nghĩ đến những nhịp tương phản hay tương giao của dòng đời: nắng-mưa, sóng lòng-sóng biển, mây-nước, Đi-Về. Đặc biệt là cặp tương phản Đi-Về được tác giả nhắc đến trong nhiều bài thơ. Trên đường đời, ta Đi đâu, ta Về đâu? Đó là một câu hỏi lớn của kiếp nhân sinh.
Tôi thích nhất đoạn thơ này:
Sợi dây dĩ vãng níu bờ vai thon
Chiều nao nhón gót chân son
Sóng lòng hay sóng biển đông dạt dào
Vườn đời đẹp mãi muôn sao
Ngàn phương gió lộng dâng cao suối hồn.Đoạn thơ tả vẻ đẹp ngoại diện của tuổi thanh xuân: bờ vai thon, gót chân son mà lại nói lên được cả nội tâm dạt dào của nhà thơ: sóng lòng, suối hồn.
Hãy thử điểm qua các động từ trong bài thơ: đổ (bóng,) nhuộm, trải, nhìn, níu, nhón (gót,) lộng. Những động từ này có gợi gì trong tâm hồn ta trong môt buổi chiều nắng tà không?
Ơi, sao mà đẹp và sâu lắng!
Tôi, một người Hà Nội, xin được phép nhắc đến một bài thơ nữa trong thi tập MẦU THỜI GIAN của nữ sĩ Dương Hồng Anh: bài thơ NHỚ VỀ HÀ NỘI, tác giả viết để thương tặng cô em gái là nữ sĩ Dương Tuyết Lan, ở Hà Nội. Tấm lòng thi nhân rất dạt dào tình cảm, trong đó có tình anh chị em trong cùng một gia đình. Tình cảm này cũng nồng nàn, sâu đậm chẳng kém gì tình yêu nam nữ, lứa đôi, bằng hữu hay tình yêu đối với đất nước, quê hương, dân tộc.
Hai chị em, chị ở đất Cam-ly (California) Mỹ quốc; em ở Hà Nội, miền đất nghìn năm văn vật. Một ngày kia chị nhận được thư em từ Hà Nội gửi sang. Đọc thư mà lòng chị bồi hồi, nước mắt chị rưng rưng. Thế rồi chị viết cho em những câu thơ chứa chan tình cảm:
Bên hiên ngồi đọc thơ Hà Nội
Kỷ niệm năm xưa bỗng sáng ngời
Nhớ mãi bao nhiêu hình ảnh đẹp
Một thời xuân thắm tuổi hai mươi.Tay run run mở lòng xao xuyến
Đọc từng nét chữ của em tôi
Ấp ủ những vần thơ gợi nhớ
Chập chờn mây nước mộng ngàn khơi.Dâu bể thời gian đã đổi rời
Qua bao năm tháng nắng mưa rơi
Những vần tâm sự lăn trên giấy
Vẫn khắc trong tim một góc trời.Ta đã xa nhau từ độ ấy
Kinh thành Hà Nội một chiều thu
Chiều thu nhạt nắng hoen mầu áo
Tay nắm tay nhau phút giã từ.Em ơi! ngày tháng trôi mau quá
Đếm bước thời gian tóc điểm sương
Vẫn hẹn ngày về vui tổ ấm
Đường chiều êm ả dệt yêu thương.Mơ về dĩ vãng, mơ sông núi
Tìm dấu chân xưa luống ngậm ngùi
Em nhỉ! Bao giờ ta gặp lại
Câu thơ xướng họa những vần vui.Sông núi đôi bờ xa cách quá
Buồn len song cửa nhuốm cô liêu
Lắng nghe hơi thở ngàn hoa lá
Dào dạt hương xưa gợi nhớ nhiều.Nhìn thu lãng đãng trên đường vắng
Nhắc lại bao nhiêu chuyện chúng mình
Áo lụa Hà Đông đi dạo phố
Chiều thu dệt mộng nắng vàng xinh.Hàng liễu rung rinh chiều lá đổ
Bên hồ Hoàn Kiếm đẹp như thơ
Khăn voan hồng thả trên vai áo
Êm ả hoàng hôn thỏa ước mơ.Dâu bể thời gian đã đổi rời
Qua bao năm tháng nắng mưa rơi
Những vần tâm sự lăn trên giấy
Vẫn khắc trong tim một góc trời.Tác giả gieo vần theo lối gián cách, nhưng thỉnh thoảng chẹn vào một khổ gieo ba vần bằng, thí dụ:
Dâu bể thời gian đã đổi rời
Qua bao năm tháng nắng mưa rơi
Những vần tâm sự lăn trên giấy
Vẫn khắc trong tim một góc trời.Và nhất là khổ thơ cuối:
Dâu bể thời gian đã đổi rời
Qua bao năm tháng nắng mưa rơi
Những vần tâm sự lăn trên giấy
Vẫn khắc trong tim một góc trời.Không biết vô tình hay cố ý (mà tôi tin là cố ý,) tác giả đã diễn tả tình trạng thực tế là sự ngăn cách về không gian của hai chị em, nhưng về tình cảm thì hai tâm hồn ấy không bao giờ ngăn cách.
Bài thơ có nhiều hình ảnh đẹp của đất và người Hà Nội, dù đó là hình ảnh vui hay buồn: kinh thành Hà Nội một chiều thu, chiều thu nhạt nắng, áo lụa Hà Đông đi dạo phố, Hàng liễu rung rinh chiều lá đổ bên hồ Hoàn Kiếm, khăn voan hồng thả trên vai áo… Hỡi những người Hà Nội xa xứ, như nhà thơ Hà Phương đang có mặt ở đây, một ngày sương mù khói toả, một chiều nắng ối xây thành, hồn viễn du có thấy nhớ thương da diết miền cố lý khi đọc những câu thơ này? Người Hà Nội “chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” dù lưu lạc đến tận chân trời góc biển vẫn giữ ở một chỗ trang trọng nhất, thâm sâu nhất trong trái tim mình nỗi niềm thương nhớ đất Thăng Long.
Trong bài thơ có nhiều chữ rất đắt, nghĩa là hay quá, khó có chữ nào khác thay thế được, như hai động từ “lăn” và “khắc”:
Những vần tâm sự lăn trên giấy
Vẫn khắc trong tim một góc trời.Đã “lăn” tức là chuyển động trên một đường dài hay một mặt rộng thì không thể “khắc” tức là đục sâu xuống những đường nét ở một chỗ. Ấy thế mà dòng tâm sự là những vần thơ lăn trên giấy nhưng lại khắc sâu vào tâm hồn mình. Khắc gì? Khắc một góc trời Hà Nội.
Ôi, tuyệt!
Tôi táo bạo đưa ra mấy nhận xét thô thiển. Xin “bà chị” đừng chê, trách “em.” Tôi gọi nữ sĩ Dương Hồng Anh là “bà chị” vì bà thông gia với ông anh kết nghĩa của tôi là nhà thơ Huy Trâm. Học Đức, con gái ông Huy Trâm, là con dâu nữ sĩ Dương Anh Anh, cùng với cô em gái Học Đường đang có mặt ở đây trong thành phần tiếp tân. Mấy cô này gọi tôi bằng chú. Vậy, nữ sĩ Dương Hồng Anh là bà chị dâu của tôi vậy.
Tôi tạm kết thúc phần giới thiệu thi phẩm MẦU THỜI GIAN của nữ sĩ Dương Hồng Anh để chuyển qua phần giới thiệu một vài nhạc phẩm của hai nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn. Tại sao lại có phần giới thiệu này. Thưa, vì hôm nay chúng ta giới thiệu hai tập sách, MẦU THỜI GIAN của nữ sĩ Dương Hồng Anh và LẬT TRANG SÁCH CŨ của nhà thơ Lê Nguyễn Nga. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là anh họ của nữ sĩ Dương Hồng Anh và nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn là phu quân thi sĩ Lê Nguyễn Nga. Hôm nay chúng ta trình bày và thưởng thức những ca khúc của hai nhạc sĩ này, tưởng cũng nên biết một chút về hai vị như một cách tri ân.
Nếu đã táo bạo giới thiệu thi tập MẦU THỜI GIAN thì khi nhận lời nhận định về vài nhạc phẩm của Dương Thiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn, phải nói là tôi liều lĩnh. Chung quy vì vì lời xúi dại của nhà văn Việt Hải, ổng xúi tôi nói. Tôi nhận lời vì cả nể. Nhận lời rồi mới biết là mình quá liều lĩnh. Cái tính cả nể này nguy hại vô cùng. May, mẹ tôi sinh tôi ra, tôi là con trai, chứ nếu là con gái thì đời tôi không biết đã “hoảng chưa” bao nhiêu lần rồi! Nhưng đã nhận lời thì phải nói thôi, biết làm sao bây giờ. Thật, không cái dại nào bằng cái dại này.

Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước Tôi nói gì về nhạc phẩm “Chiều,” thơ Hồ Dzếnh, nhạc Dương Thiệu Tước nhỉ? Bài thơ gồm những câu ngắn, mỗi câu 5 chữ:
Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chết trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
Mây chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây.
Tôi “mù” nhạc, nhưng có cảm tưởng rằng những câu ngắn này khó phổ thành nhạc, không như những câu lục bát, chẳng hạn lục bát trong bài “Vần Thơ Sầu Rụng” của Lưu Trọng Lư:
Vừng trăng từ độ lên ngôi,
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ…
Năm năm tiếng lụa xe đều…
Những ngày lạnh rớt, gió vèo trong cây.
Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay,
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông.
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng,
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh.
Phạm Duy phổ nhạc bài thơ này rất khéo, rất tự nhiên, nhất là những chỗ láy của “độ,” “ngồi,” “nhẹ,” “đầy,” “dòng” … nghe mà mường tượng nhìn thấy khung dệt quay đều, quay đều.
Nhưng đây là thơ năm chữ! Thế mà Dương Thiệu Tước phổ thành một bản nhạc rất du dương. Ông viết bản nhạc theo điệu tango với cung “rê trưởng.” Thường cung “rê trưởng” hợp với những bài hát vui tươi, nhịp nhàng. Viết “rê trưởng” cho điệu tango quả là thích hợp. Nhưng cái khéo của Dương Thiệu Tước là khi ta hát hay ta nghe bài “Chiều,” vẫn thấy có cái gì bâng khuâng, bùi ngùi trong cung điệu nhịp nhàng ấy. Mình cứ hát đi, hát với giọng vịt đực của tôi cũng được, sẽ cảm nhận được điều ấy.
Cho đến nhạc phẩm “Đêm Tàn Bến Ngự” thì phải gọi là “tuyệt phẩm.” Nên nhớ, Dương Thiệu Tước là “người Hà Nội chúng tôi” nhé. Thế mà công tử Hà Thành viết về đêm trên bên Ngự, đố nghệ sĩ đất thần kinh nào xô lệch được nó.
Chung quy chỉ vì thứ nhất, công tử Hà Thành mê người đẹp đất thần kinh Minh Trang. Minh Trang là nữ danh ca một thời của miền Nam Việt Nam. Thời chúng tôi, thập niên 60, có một câu hát được loan truyền, nhại theo cung điệu bài hát Gạo Trắng Trăng Thanh của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, trong đó nêu đủ nghệ danh của những nhạc sĩ, ca sĩ thời danh thuở ấy:
Ông Canh Thân, ông Phạm Duy, cô Thuý Nga với ông Hoàng Thi Thơ,
Cô MINH TRANG, bạn Mạnh Phát với cô Minh Diệu… Mê người đẹp xứ Huế nên Dương Thiệu Tước viết “Đêm Tàn Bến Ngự” với nỗi niềm say mê không kém.Thứ hai, Dương Thiệu Tước nắm vững hổn nhạc Việt. Ông đã từng phát biểu: “Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền.”
Nhạc Việt là nhạc ngũ cung, tương đương với nhạc bình ca (Gregorian) La-tinh, âm vực trung bình. Tuy nhiên, xét về độ luyến láy thì nhạc ngũ cung giàu hơn. Lại nữa, Đêm Tàn Bến Ngự mang chút âm hưởng điệu Nam Bình, một thể loại của nhạc xứ Huế, buồn man mác và sâu lắng.
Tôi không dám nói thêm, sợ các nhạc sĩ, nhất là các nhạc sĩ có mặt hôm nay cười và mắng cho.

Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn Riêng về nhạc Lê Trọng Nguyễn, tôi chỉ xin đưa ra một vài hình ảnh trong nhạc phẩm Nắng Chiều, một nhạc phẩm không những nổi tiếng ở Việt Nam mà còn rất được yêu thích ờ nhiều nước khác, như Nhật Bản, Đài Loan, Hong Kong. Tôi có dịp đọc lời Nhật, lời Hoa của nhạc khúc này, không thấy hình ảnh trong đó đẹp bằng những hình ảnh trong nguyên bản tiếng Việt. Vì là “Nắng Chiều,” xin nói về nắng. Có 5 thứ nắng được diễn tả trong bài hát: nắng lưa thưa, nắng vương thềm, sân nắng, nắng vương đồi, nắng ngừng trôi. Ồ, nắng mà “lưa thưa.” Tại sao nắng “lưa thưa” được? Vì có “lá hoa về chiều” lưa thưa nên nắng mới thưa thưa theo được. (Cũng như phụ nữ đẹp vì có nam giới chúng tôi khiến cho phụ nữ thích làm đẹp.)
Lại còn “nắng vương.” Vương là bám nhẹ, loang nhẹ, rơi nhẹ vào. Hình ảnh “nắng vương thềm” đẹp và thơ mộng quá. Thềm ở bên ngoài, nhưng là nơi sát với nhà, chỉ một bước nữa thôi là bước vào trong nhà. Tâm hồn cô thiếu nữ là ngôi nhà kín đáo và thân mật. Chàng trai yêu cô gái, nhưng còn đứng đợi bên thềm chờ cô mở cửa cho vào nhà. Thềm nhà xuất hiện trong nhiều bài thơ hay nhạc phẩm. Chúng ta vẫn thường hát: “Hôm qua đến tìm em, anh thấy hoa xuân rơi đầy trước thềm.” (Đẹp Giấc Mơ Hoa, Hoàng Trọng) … Cho đến “nắng vương đồi” thì là một hình ảnh quá đẹp, và thật gợi cảm đối với những ai hơi giàu tưởng tượng và có óc liên tưởng.
“Nắng ngừng trôi”! Cái này mới thật là lạ. Nắng trôi được vì có sự chuyển động trong không gian lúc chiều về. Đó như là một định luật; mặt trời mọc, mặt trời lặn nên có bình minh và hoàng hôn. Thế mà bây giờ “nắng ngừng trôi,” nắng dừng lại, không trôi nữa vì nắng “nhớ em dịu hiền.” Đã đẹp chưa, đã thơ chưa nào? Chịu! Tả nắng như thế thì khó có nhà thơ, nhà văn nào tả khéo hơn!
Thôi, tôi xin phép chấm dứt bài nói chuyện thô thiển ở đây, vì sợ làm rác tai người nghe vì những suy nghĩ lẩm cẩm. Xin vui lòng bỏ qua những gì tôi nói “lảm nhảm” về những tuyệt phẩm nghệ thuật. Nói nữa, e rằng tôi phạm tội làm kém đi, xấu đi những gì quá hay, quá đẹp.
QUYÊN DI
California, July 2022

GIÁO SƯ QUYÊN DI BUỔI RA MẮT HAI TẬP THƠ MÀU THỜI GIAN của nữ sĩ DƯƠNG HỒNG ANH và LẬT TRANG SÁCH CŨ của nhà thơ LÊ TRỌNG NGUYỄN NGA
TẠP GHI CỦA NHÀ VĂN KIỀU MY
Dưới nắng vàng rực rỡ của ngày Chủ nhật trong thành phố Westminster thuộc quận Orange, California, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã tổ chức một buổi ra mắt hai tập thơ của nhị vị thi sĩ DƯƠNG HỒNG ANH và LÊ TRỌNG NGUYỄN NGA, có thể nói đã đạt được thành công tốt đẹp.

Những cành lá màu xanh của mạ non đong đưa được phô trương ngoài trang bìa tập thơ MÀU THỜI GIAN của nữ sĩ Dương Hồng Anh, gợi lên trong ta nhiều cảm nghĩ. Tuy bà đã 92 tuổi đời…nhưng cũng tạo cho ta cảm tưởng bà vẫn luôn mang một tâm hồn thi sĩ, trẻ trung yêu đời và tinh tinh thần lạc quan hiếm có của một người từng trải qua nhiều cảnh đời. Trong những áng thơ của nữ sĩ chan chứa đầy tình người, tình gia đình và chắc hẳnn không thiếu tình bạn hữu mà bà đã thể hiện qua bài thơ “ Bạn Bè Của Tôi”. Bài thơ này đã được ca nhạc sĩ khả ái Lâm Dung phổ nhạc và trở thành NVNT&TTG hành khúc…đã nói lên tấm lòng nhân hậu của nữ sĩ Dương Hồng Anh đáng kính này.
Nhìn qua bàn bên cạnh, khung cảnh một rừng thu mang đầy những chiếc lá đủ màu sắc trên trang bìa tập thơ LẬT TRANG SÁCH CŨ của thi sĩ LÊ TRỌNG NGUYỄN NGA…Mùa thu rất đẹp nhưng mang những nét buồn lãng mạn với những chiếc lá úa màu, như mảnh đời của kiếp người trãi qua cuộc sống thăng trầm, có lẽ cũng là chính cuộc đời của thi sĩ. Trong thơ mang đậm tình quê hương, lòng yêu nước đậm đà và đặc biệt là tình yêu chung thủy dành cho người chồng quá cố qua bài thơ “Nhớ Anh Mùa Phượng Tím” khiến chúng ta phải kính phục…Bài thơ này cũng được giọng ngâm phong phú của Ngọc Quỳnh diễn đạt xuất sắc…ngân nga theo cùng với những kỷ niệm buồn vui, những thương tiếc nhớ nhung người bạn đời mà luôn in sâu trong ký ức của thi sĩ.
Quan khách lần lượt đến khá đông, mọi người thật vui vẻ và nhâm nhi thức ăn nhẹ được ân cần khoản đãi. Có người phát biểu rằng: “ Không khí ở đây thật ấm cúng và thân thiện!” Thật không sai! Vì nhà văn Trần Việt Hải, là trưởng nhóm của NVNT & TTG, với chủ trương mọi thành viên thương yêu nhau, giúp đỡ nhau trong tình văn học như một gia đình. Mọi người trong nhóm luôn ý thức và tuân giữ những điều tốt đẹp hầu duy trì NVNT & TTG được lâu bền để bảo tồn văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại.
Giờ khai mạc chương trình bắt đầu! Cô MC Mộng Thủy bước lên sân khấu chào mừng quý quan khách hiện diện trong buổi ra mắt hai tập thơ hôm nay gồm có: quý giáo sư: Dương Ngọc Sum, Trần Huy Bích, Quyên Di…Các nhà văn: Nguyễn Quang, Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My v.v…Những nhà thơ: Lê thị Việt Nam, Hà Phương, Mắt Nâu v.v… và rất nhiều thân hữu đã đến như một sự khích lệ cho những nhà văn, nhà thơ hoạt động trong lãnh vực văn học, hầu bảo tồn và lưu truyền nền văn hóa Việt cho những thế hệ mai sau.

Từ trái sang phải: Ngọc Quỳnh, Thụy Lan, Lệ Hoa, Ái Liên, Lâm Dung, Khánh Lan, Minh Thư, Mộng Thủy. Nhạc quốc ca Việt Nam Cộng Hòa trổi lên rất hùng hồn, mọi người đứng thật trang nghiêm, kính cẩn chào quốc kỳ. Các ca sĩ của TTG trong trang phục áo dài truyền thống cùng hát vang bài quốc ca của hồn dân tộc. Trong khoảnh khắc, người dân Việt dù ở nơi nào trên địa cầu này vẫn luôn tưởng nhớ về quê hương thân yêu đã xa cách ngàn trùng mà không khỏi ngậm ngùi. Bài quốc ca Hoa Kỳ được cất lên sau đó qua tiếng hát của ca sĩ Minh Thư… Hoa Kỳ là quê hương thứ hai mà đã cưu mang người dân tị nạn Cộng sản của chúng ta. Vì thế mọi người hết sức kính cẩn và tri ân lá quốc kỳ với bàn tay phải úp lên ngực thật chân thành. Tiếp đến là phút mặc niệm…Để tưởng nhớ đến những anh hùng Việt Nam cũng như Hoa Kỳ đã hy sinh mạng sống mình cho TỰ DO…vô cùng cảm động! Trong giây phút linh thiêng, tất cả mọi người trong khán phòng im lặng cúi đầu với những lời nguyện cầu trong tâm tư.
Không khí trở nên sinh động vui tươi khi màn trình diễn của sáu ca sĩ: Thụy Lan, Lệ Hoa, Lâm Dung, Ái Liên, Ngọc Quỳnh và Minh Thư họp ca bản Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn thật đặc sắc. Có thể nói ca khúc Nắng Chiều là đứa con tinh thần mà nhạc sĩ đắc ý nhất đã tạo nên tên tuổi của tác giả và được hầu hết giới yêu nhạc yêu thích và đón nhận nồng nhiệt.
Phần 1/ Giờ văn học:
Giờ văn học được bắt đầu với nhà văn Khánh Lan nói về tiểu sử của nữ sĩ Dương Hồng Anh. Hôm nay là ngày song hỷ của nữ sĩ, vừa ra mắt tập thơ MÀU THỜI GIAN đồng thời mừng sinh nhật thứ 92 của bà. Bà vốn sinh trưởng trong dòng tộc quan Thượng Thư – Thi sĩ Dương Khuê, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, và đương thời là khoa học gia Dương Nguyệt Ánh…Chịu ảnh hưởng gia tộc thơ văn, vì thế chúng ta không làm lạ khi đến tuổi này bà vẫn còn hăng say sáng tác thành những vần thơ thật đẹp xuất phát từ chiều sâu trong tâm hồn, với mong mỏi được cống hiến cho những ai yêu thơ văn được thưởng lãm. Được biết, bà làm thơ từ khi 16 tuổi trước khi lập gia đình. Sau khi thành hôn với thẩm phán Nguyễn Sĩ Hiệp, bà tạm ngưng làm thơ để dồn mọi nổ lực chăm sóc cho phu quân và các con. Sau khi người bạn đời quy tiên, bà rất buồn và trở về con đường thơ văn cho đến hôm nay như gửi gấm nỗi niềm qua văn chương thi phú.
Giáo sư Quyên Di vốn là G.S trường trung học Nguyễn Bá Tòng nổi tiếng trước 1975 ở Sài gòn, ông luôn thể hiện là một người thầy lịch lãm trong văn chương và phong cách. Từ những kiến thức sâu rộng, ông cho chúng ta biết thêm về hai cố nhạc sĩ nổi tiếng của nền âm nhạc Việt Nam là Dương Thiệu Tước (DTT) và Lê Trọng Nguyễn (LTN). Cả hai nhạc sĩ trên đều có liên hệ gia đình với hai thi sĩ, là hai ngôi sao sáng hôm nay. Nói về sự nghiệp âm nhạc, hai nhạc sĩ DTT và LTN đã cống hiến cho chúng ta những ca khúc thật trữ tình, thật tuyệt vời…mà đã đi sâu vào lòng người và sẽ còn sống mãi với thời gian. Những ca khúc đã tạo nên tên tuổi cho nhạc sĩ Dương Thiệu Tước như: Ngọc Lan, Bóng Chiều Xưa, Đêm Tàn Bến Ngự, Chiều v.v…Bên cạnh đó, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn là tác giả của những bản nhạc nổi tiếng như: Nắng Chiều, Lá Rơi Bên Thềm, Cát Biển, Chiều Bên Giáo Đường v.v… Với những dòng nhạc tuyệt vời này sẽ lần lượt được các ca sĩ của TTG trình diễn trong chương trình văn nghệ sau giờ văn học; như những lời tri ân dành cho nhị vị nhạc sĩ tài ba đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam thêm phong phú.
Vị thi sĩ mà chúng tôi muốn nói đến là Lê Trọng Nguyễn Nga, là tác giả của tập thơ LẬT TRANG SÁCH CŨ mà cũng là phu nhân của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và là mẹ của bốn người con. MC Mộng Thủy cho biết thêm: bà là cựu học sinh trường Trưng Vương. Sau đó, bà làm việc cho Hàng Không Việt Nam rồi lập gia đình với nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Khi sang Hoa Kỳ, bà học trường Cal State Los Angeles và tốt nghiệp về kế toán. Sau cùng trước khi về hưu, bà là cán sự xả hội tại thành phố Los Angeles trong một thời gian dài.
Sau giờ văn học, mọi người có vẻ lao xao và vui hẵn lên với hoa hồng tươi và bánh sinh nhật được bày trên chiếc bàn giữa hội trường. Nhân dịp này mọi người tề tựu chúc mừng sinh nhật thứ 92 của nữ sĩ Dương Hồng Anh chung quanh chiếc bánh giữa những hoa hồng vàng, hồng đỏ tươi thắm tròn lẵn như những thiếu nữ tuổi xuân thì. Các bậc trưởng thượng như G.S. Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải lần lượt gửi đến nữ sĩ những lời chúc đầy ý nghĩa. Một cách đặc biệt và bất ngờ, GS. Quyên Di đã đọc bài thơ của NV Kiều My (KM), như những lời ca tụng và cầu chúc tốt đẹp nhất mà KM dành cho nữ sĩ Dương Hồng Anh và Lê Trọng Nguyễn Nga trong một ngày đáng ghi nhớ.
TUỔI VÀNG
Dâng đời bao ý thơ huyền dịu
Theo gió thoảng…ru hồn thi nhân
Thời gian sương rơi trên mái tóc
Tuổi vàng tô thắm mấy cung tơ
Ngây ngất hồn thơ vương nắng úa
Chiều về hoa khép nhẹ bờ mi
Lặng nghe giòng đời hồn thổn thức
Mênh mang nét đẹp… tuổi hoàng hôn
*****
Hồn lạc về đâu? Thi nhân hỡi!
Vần thơ mềm như khúc nhạc êm
Nhạc và thơ như mây với gió
Gió cuốn mây trôi trong nắng vàng
Nắng có phai màu hồn thi sĩ?
Hay…
Nắng vẫn lung linh cùng gió mây…
Qua bài thơ trên, NV Kiều My đã ca tụng tuổi hoàng hôn của hai vị thi sĩ như thời gian của “tuổi vàng”; một lứa tuổi hạnh phúc bên con cháu đầy đàn, tận hưởng cuộc sống an nhàn thảnh thơi, không còn vật vả với mưu sinh nữa. Hơn thế nữa, hai vị còn hăng say sáng tác những vần thơ đầy tình người hầu làm đẹp cho đời, và cũng để đóng góp những bông hoa cho vườn văn chương nghệ thuật thêm phong phú. Tuổi vàng của hai vị…thật đẹp! Thật cao quý!
Phần 2/ Văn nghệ:

TAM CA TIẾNG THỜI GIAN: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên Chủ đề trong chương trình văn nghệ hôm nay, các ca sĩ trình diễn những nhạc phẩm của Dương hiệu Tước và Lê Trọng Nguyễn như:
Dương Thiệu Tước: Đêm Tàn Bến Ngự – Trần Thạch
Ngọc Lan – Thụy Lan
Chiều – Lưu Mạnh Bổng
Bóng Chiều Xưa – Kiều My
Thuyền Mơ – Lâm Dung & Ái Liên
Lê Trọng Nguyễn: Nắng Chiều – Ban họp ca
Cát Biển – Ban tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư
Lá Rơi Bên Thềm – Kiều My
Bến Giang Đầu – Lâm Dung

Lệ Hoa, Minh Thư, Thụy Lan Kết thúc chương trình với bản nhạc NVNT & TTG hành khúc “Bạn Bè Của Tôi” trong điệu luân vũ nhẹ nhàng vui tươi, thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh do ca nhạc sĩ Lâm Dung phổ nhạc, đã là ấm áp lòng người trước khi ra về.
Mọi người lưu luyến chia tay nhau trong tình thân ái và hẹn gặp lại một buổi ra mắt sách kế tiếp.
KIỀU MY
California July 4, 2022

NHÀ VÃN KIỀU MY
Buổi RMS của 2 TS : Lê Trọng Nguyễn Nga& Dương Hồng Anh , do Nhóm “ NVNT…60 new items · Album by Hung Le -
“Chuyện Hẹn Hò | Một Đời Yêu Anh
-
ĐÔI NÉT VỀ NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH

NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH Lịch sử Văn Học Việt Nam đã hoàn tất một nhiệm vụ vô cùng quan trọng: Đó là lưu giữ một kho tàng văn thơ phong phú cho hậu thế, cũng như ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa qua từng giai đoạn. Không chỉ ở trong lãnh vực nam giới mà còn ở trong lãnh vực nữ giới. Lịch sử đã đánh dấu một bước phát triển của xã hội, đánh ngã cái tư tưởng phong kiến một thời “trọng nam khinh nữ” và thay vào đó là “nam nữ bình quyền“. Những nhà thơ nữ như: Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương (1771-1822), Nữ Sĩ Huyện Thanh Quan (1805-1848), Nữ Sĩ Sương Nguyệt Anh (1864-1921), Nữ thi sĩ Ngân Giang (1916-2002), v.v… Họ đã để lại cho thế giới thi ca, những tác phẩm bất hủ và nổi tiếng, họ là những nhà thơ nữ đã góp cho đời nhiều áng thơ hay.
Hôm nay, Khánh Lan xin hân hạnh giới thiệu Nữ Sĩ Dương Hồng Anh. Đây là bút hiệu của nhà thơ họ Dương, vì nếu tính theo thế thứ họ Dương, thì bà là Dương Nguyệt Anh, sinh năm 1931 tại Hà Nội và là cháu nội trực hệ của Cụ Dương Khuê, Vân Đình, Hà Đông. Bà là con gái của Cụ Dương Tự Tám, là em họ của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước và là chị họ của Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh.
Vốn thừa kế truyền thống văn học của dòng họ Dương. Ngôn ngữ trong thi ca của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, phản ảnh sự phong phú của ngôn ngữ, bà đã khéo léo chắt lọc tinh túy những ngôn từ, khám phá những nét bóng bẩy của thi ca, nhưng không kém phần vui tươi, nhẹ nhàng, êm ái của những áng thơ viết cho bạn bè và thân hữu. Thật thế, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã góp phần làm giầu ngôn ngữ, trong văn học và đời sống của chúng ta.
Là một nhà thơ với bản tính hiền hòa, nhận hậu, khiêm nhường và vị tha. Bà đặt gia đình, bạn bè, thân hữu lên trên quyền lợi của chính mình. Đối với Liên Nhóm NVNT & TTG, Nữ Sĩ đã ưu ái dành cho mọi người “muôn ngàn thân ái”. Đây là ngôn ngữ mà Nữ Sĩ thường dùng để biểu lộ cảm tình của bà đối với bạn hữu. Bà đã sáng tác nhiều bài thơ dành riêng cho hội trong đó có bài “Bạn Bè Của Tôi”
“Bạn bè tôi, những nghệ sĩ yêu đời
Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá…
… Bạn bè của tôi chung lời hẹn ước
Đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian….
Bài thơ này đã được Nhạc sĩ Lâm Dung phổ nhạc và đã trở thành NVNT & TTG hành khúc cũng như được trình diễn trong hầu hết các buổi sinh hoạt của nhóm.

LIÊN NHÓM NVNT & TTG (Photo Credit: NAG Lê Hùng) Lại một bài thơ nữa là bài “Mầu Thời Gian”, bài thơ này cũng là tựa đề của tập thơ mới nhất của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh-Ra Mắt cùng quý đồng hương hôm nay.
“Tôi vẫn làm thơ dưới nắng chiều
Mây ngàn gió núi dệt thương yêu
Câu thơ no nhỏ say hồn mộng
Ký ức vàng son gợi nhớ nhiều….
Hay:
… Mái tóc sương pha đã mấy mùa
Ngày dư còn lại chút hương xưa
Màu Thời Gian trải dài tân sự
Vạt nắng hoàng hôn gió nhẹ đưa
Trong sự nghiệp sáng tác, Nữ sĩ Dương Hồng Anh làm thơ từ năm 16 tuổi (1947). Tập thơ đầu tay “Hương Mùa Chinh Chiến” của bà được đăng trên báo Cậu Ấm Cô Chiêu năm 1949 và sau đó, còn gởi đăng trên nhiều nhà báo khác như báo Cải Tạo, Hồ gươm, Sinh Lực, Giang Sơn, Giác Ngộ, v.v…
Từ năm 1952 đến 1954, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh là thư ký tòa soạn báo Sinh Lực ở Hà Nội cho đến tháng 08, năm 1954, bà di cư vào Miền Nam Việt Nam cùng chồng là thẩm phán Nguyễn Sĩ Hiệp. Vào Saigon, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh ngưng gởi những bài thơ để đăng trên các báo chí, nhưng bà vẫn tiếp tục sinh hoạt văn thơ trong nhóm của các nhà thơ: Linh Điểu, Vạn An, Bùi Khánh Đản, Trình Xuyên, v.v… Năm 1990, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh sang Hoa Kỳ, định cư tại tiểu bang California, và sau khi thẩm phán Nguyễn Sĩ Hiệp qua đời năm 2008. Năm 2010, sau một thời gian ngưng bút, Nữ Sĩ trở lại sinh hoạt thi văn cùng với các nhóm gồm: Văn Chương phụ Nữ Việt Nam Hải Ngoại của Nhà Văn Bùi Bích Hà, Văn Đàn Hải Ngoại, Hạnh Ngộ và thường xuyên đăng thơ trên báo Đất Đứng ở Sacramento, California, liên tục trong suốt 10 năm.
Trong suốt 11 năm, từ 2010 đến 2021, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã cho xuất bản tổng cộng 10 tập thơ gồm nhiều thể loại khác nhau như: Hương Mùa Chinh Chiến (1952); Từ Phương Trời Xa (2010); Chiều Bến Đợi (2012); Tiếng Thầm (2013); Đôi Bờ Thương Nhớ (2014); Mầu Trăng Thuở Ấy (2015); Sợi Nhớ Sợi Thương (2016); Tình Thu (2017); Vương Vấn Hồn Quê (2018); Nguồn Cội (2019) và Mầu Thời Gian (2021).
Khánh Lan xin kết thúc buổi nói chuyện hôm nay bằng 4 câu thơ mà Khánh Lan vừa viết tối qua, xin kính tặng Nữ Sĩ Dương Hồng Anh nhân buổi RMS của bà.
“Hoàng Hạc một nỗi thi ca
Trung trinh nét đẹp thác ngà văn chương
Hồng Anh nữ sĩ kiên cường
Tuổi cao thượng thọ bốn phương danh tài”.
Khánh Lan muốn ví Nữ Sĩ Dương Hồng Anh như một con hạc quý trong tháp ngà văn chương Việt Nam, chứ chẳng phải Trong Hoàng Hạc Lâu, một ngôi tháp lịch sử được cất trên vực đá Hoàng Hạc của núi Xà Sơn bên bờ sông Dương Tử thuộc thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Bài thơ Hoàng Hạc Lâu là bài thơ nổi tiếng của Thi Sĩ Thôi Hiệu, thời Đường.
Khánh Lan xin trân Trọng giới thiệu cùng quý độc giả yêu thơ: Nữ Sĩ Dương Hồng Anh.
Khánh Lan
California June 2022
HOÀNG HẠC LÂU
Thơ Thôi Hiệu, Tản Đà dịch
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa Dịch thơ 黃鶴樓
昔人已乘黃鶴去
此地空餘黃鶴樓
黃鶴一去不復返
白雲千載空悠悠
晴川歷歷漢陽樹
芳草萋萋鸚鵡洲
日暮鄉關何處是
煙波江上使人愁Hoàng Hạc lâu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ.
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.Lầu Hoàng Hạc
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi rồi.
Ở chỗ này đây chỉ còn trơ lại một ngôi lầu tên là Hoàng Hạc.
Hạc vàng đã bay đi rồi, không trở lại nữa.
Mây trắng ngàn năm vẫn bay lơ lửng hoài.
Bên dòng sông khi trời lạnh, hàng cây đất Hán Dương trông rõ mồn một.
Trên bãi Anh Vũ cỏ thơm mọc mơn mởn xanh tươi.
Lúc trời chiều, đứng ngắm cảnh, tự hỏi đâu là nơi quê nhà?
Khói tỏa trên sông sóng gợn khiến cho người ta sinh ra mối buồn rầu trong lòng.Gác Hoàng Hạc
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ!
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
HOÀNG HẠC LÂU 
THI SĨ THÔI HIỆU (Photo Credit: Wikipedia)