-
LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN NHỚ MẸ QUA THI CA VIỆT NAM
Năm nay, trăm hoa đua nở qua thi ca với các văn thi sĩ của NVNT & TTG nhân ngày ngày 11 tháng 5, 2025, ngày lễ mừng tuổi Mẹ, những người Mẹ luôn hy sinh cả cuộc đời cho các con. Thế nên đã mấy hôm nay, Khánh Lan nhận được một số bài hát cũng như những bài thơ viết về Mẹ của các anh chị trong hội.
Ngày đầu tháng 5 vừa qua, Khánh Lan có dự lớp ChatGPT/AI của anh Phạm Hồng Thái, và để xem AI có thông minh thật không, Khánh Lan đã thử tài vận bằng cách nhờ Thông Minh Trí Tuệ AI sáng tác một bài thơ về Mẹ cho mình nhân ngày lễ Mẹ. Và dưới đây là bài thơ Lòng Mẹ do Thông Minh Trí Tuệ AI sản xuất (với chút sửa chữa vài chữ của Khánh Lan & Phạm Thái cho hay hơn):
Mẹ là ánh sáng giữa đêm sâu
Dìu con qua những lúc u sầu
Tấm lưng oằn xuống vì giông bão
Chở che con giữa cuộc bể dâu.
Mẹ là tia nắn ấm ban mai
Sưởi ấm hóa tan những u hoài
Cả đời mẹ đã luôn tận tụy
Dệt cho con giất mộng tương lai
(Khánh Lan & Phạm Thái & Trí Tuệ Thông Minh AI)
Bài thơ “Mẹ Ru Con” của Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga do CNS Lâm Dung phổ nhạc với giọng ca ngọt ngào, êm ái, nhẹ nhàng như lời ru của Mẹ. X;in bấm vào link phía dưới để nghe.
Mẹ Ru Con – Lê Nguyễn Nga – Lâm Dung
Mấy vần thơ lục bát sau đây của nhà thơ Việt Hải cho ta thấy rõ được những điều nói trên:
“Nếu mai mẹ sẽ qua đời
Con xin xuống tóc giữ lời quy y
Mẹ tôi trọn kiếp từ bi
Con quỳ lạy mẹ ra đi yên lòng”.
(Việt Hải – Trong bài “Nhớ mẹ”)
Thơ viết về Mẹ, Nhà Văn Thi Sĩ Việt Hải đã viết rất nhiều những bài thơ về Mẹ và anh đã chuyển dịch một số bài thơ ra anh ngữ và pháp ngữ:
Mẹ đã ra đi
Mẹ ơi, mẹ đã đi rồi, mẹ không còn nữa,
Và con sẽ không bao giờ quên mẹ,
Vì những kỷ niệm quý báu về mối liên kết giữa mẹ con mình,
Mẹ sẽ không bao giờ rời xa con.
Tình thương của chúng ta đã vượt qua những thăng trầm
Và đã giúp chúng ta trong suốt kiếp đời,
Và tình yêu đó sẽ tiếp thêm sức mạnh vững cho con
Để vượt qua nỗi mất mát này qua mỗi ngày.
Trong tâm hồn và trái tim con,
Mẹ ơi, mẹ sẽ mãi mãi ở bên con,
Vì con là một phần trong tim của mẹ,
Và mẹ là một phần của cuộc đời con!
Maman, tu es partie.
Maman, tu es partie, tu n’es plus avec moi.
Et je ne t’oublierai jamais.
Pour les précieux souvenirs de notre lien,
Tu ne me quitteras jamais.
Notre amour a traversé les hauts et les bas.
Et nous a soutenus tout au long de la vie.
Et cet amour me donnera une force inébranlable.
Pour surmonter cette perte chaque jour.
Dans mon cœur et mon âme,
Maman, tu seras toujours là, avec moi.
Car je fais partie de ton cœur.
Et tu fais partie de toute ma vie !
Mother, you’re gone
Mom, you’re gone, you’re no longer with me,
And I’ll never forget you,
For the precious memories of our bond,
You’ll never leave me.
Our love has endured the ups and downs
And has sustained us through life,
And that love will give me a rigid strength
To overcome this loss each day.
In my heart and soul,
Mom, you’ll always be around with me,
For I’m a part of your heart,
And you’re a part of my all life!
Ngày 4 tháng 5, 2025, Thi Sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành tham dự tiệc Mother’s Day của ca sĩ Tuấn Đạt và một số ca sĩ khác tổ chức với chủ đề “Lời Ru Của Mẹ“. Và gần đây, khi giúp lay-out Tập San Nhân Văn Nghệ Thuật số 1, Huy Anh được đọc bài ĂN NỬA TRÁI SIM của nhà văn Bạch Phụng. Bài viết này có chủ đề khác, nhưng có nhắc nhiều về “Lời Ru Của Mẹ”. Cảm hứng với đề tài này, Huy Anh đã sáng tác bài thơ trên.
Lời ru mẹ hát ngày nào
Nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng ta
Như dòng sông, suối đi qua
Lời ru của mẹ đưa ta vào đời
Bao nhiêu ngày tháng qua rồi
Lời trong tâm thức trao dồi trí con
Nhận, ghi tình nghĩa sắt son
Tri ân lời mẹ ru con ngày nào
Huy Anh
Hai thi sĩ Kiều My và Thanh Ngọc cũng đã viết và sáng tác thơ về Mẹ và đã được đăng trên trang Website của NVNT & TTG gồm: Mẹ Ơi và Vu Lan Mất Mẹ
Lá Thư Gửi Mẹ Cõi Thiên Thu do Ký Giả Nhà Văn Vương Trùng Dương gởi, ông viết: “Trong cõi nhân gian, không có trái tim nào vĩ đại như trái tim người mẹ”

Vào Ngày Hiền Mẫu (Mother’s Day) theo truyền thống của Hoa Kỳ vào tuần lễ thứ hai của tháng Năm, với người Việt sống tha hương trên mảnh đất nầy thường chia sẻ, bài viết để tưởng nhớ, vinh danh công ơn sinh thành, dưỡng dục của Mẹ.
Thế hệ chúng tôi nay ở ngưỡng cửa tám mươi trở lên, sống trong trong thời chiến và năm tháng lao tù, không được gần gũi bên Mẹ rồi xa Mẹ khi tị nạn xứ người nay đã mất Mẹ, đó là nỗi bát hạnh nhất trong cuộc đời!
Trong bài viết trước đây của tôi: Viết Về Mẹ Trong Ngày Hiền Mẫu với những dòng chia sẻ:
“Từ nghìn xưa cho tới nay, từ Đông sang Tây… hình bóng người mẹ cao quý, thiêng liêng, sự hy sinh vô bờ bến trong tình mẫu tử, với trái tim đầy nhân ái, cao cả đã in sâu trong lòng người con từ lúc được sinh ra cho đến khi lìa đời. Hình bóng đó đã được thể hiện qua thơ, văn, nhạc và trong nhiều lãnh vực khác… không thể nào liệt kê hết trong bao nhiêu tác phẩm của nhân loại…”. Và trích dẫn nhiều ca khúc trong thời chinh chiến của các nhạc sĩ như Lòng Mẹ của Y Vân, Thư Về Thăm Mẹ của Mạnh Phát, Lời Ru Của Mẹ của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Thương Về Quê Mẹ của Trần Công Tấn, Lời Mẹ Khuyên của Thùy Linh, Mùa Xuân Của Mẹ của Trịnh Lâm Ngân, Giữa Lòng Đất Mẹ của Châu Kỳ, Mẹ Ơi của Trần Văn Lý, Xin Mẹ Thương Con của Giao Tiên & Đỗ Yến, Xuân Về Với Mẹ của Nhật Ngân, Lối Về Đất Mẹ của Duy Khánh… Trường Ca Mẹ Việt Nam của Phạm Duy gồm 4 phần: Đất Mẹ – Núi Mẹ – Sông Mẹ – Biển Mẹ, Bà Mẹ Gio Linh…
Với bài thơ Lá Thư Gởi Mẹ của Thái Thủy viết thay cho những người lính chiến xa nhà:
“Mẹ ơi! thôi đừng khóc nữa
Cho lòng già nặng sầu thương.
Con đi say tình viễn xứ
Đâu có quên tình cố hương…
Mẹ ơi thôi đừng khóc nữa
Cho lòng già nặng sầu thương
Con đi say tình viễn xứ
Đâu có quên tình cố hương”
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ nhạc bài thơ nầy cùng tên, là một trong những ca khúc viết về Mẹ, tôi rất tâm đắc.
Bây giờ thì nơi cõi thiên thu không biết Mẹ có khóc, và nơi viễn xứ không quên tình cố hương vì nơi đó với hình bóng của Mẹ.
Thế hệ chúng tôi đã “sinh nhầm thế kỷ” nên đã lấy đi nhiều giọt nước mắt của Mẹ.
Trong hồi ký Bà Mẹ Quê của nhà văn Tô Văn Cấp, anh phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, gan dạ vào sinh ra tử, khi viết về Mẹ:
“Sáng ngày N tháng 6/1966, một xe GMC chạy vào xóm và từ từ dừng lại khiến bu tôi hốt hoảng khuỵu xuống, nhưng người lính TQLC tìm nhà bà Châu, bà hàng xóm và cũng là người cùng quê, để báo tin con trai bà là thằng Mão đã tử trận! Bà Châu xỉu, bu tôi hoảng hốt lo lắng muốn xỉu theo, vì Mão và tôi là bạn và cùng tình nguyện vào TQLC. Mão Tiểu Đoàn 1, tôi Tiểu Đoàn 2, cả hai vừa đụng trận tại ngã ba sông Định, thuộc Bích La Thôn Quảng Trị, nó tử thương, tôi bị đạn xuyên khuỷu tay, thấy không sao nên tôi đã nói với hậu trạm là đừng báo tin về cho gia đình biết. Khốn thay, hậu cứ ở Thủ Đức cứ theo đúng thủ tục mà báo tin nên hai ngày sau lại một xe nhà binh đậu trước cửa hỏi nhà bà Tiệp, tên anh cả của chúng tôi, người báo tin chưa kịp nói gì thì bu tôi không còn biết gì nữa!
Vì bị thương nhẹ nên tôi xin xuất viện ngay để đi phép. Bu tôi đang nằm trên giường bệnh, thấy tôi về, cụ ngồi bật dậy ngơ ngác nhìn con, hai tay vuốt mặt con, nắn vai, nắm tay con lắc lắc như muốn biết đây là thực hay chiêm bao? Bu tôi không nói gì mà chỉ khóc, có lẽ cụ khóc vì lo âu, cụ khóc vì hạnh phúc còn cầm được tay con vừa từ mặt trận trở về, những bà mẹ của lính chiến thấy mặt con lúc nào thì hạnh phúc lúc đó…
Cuối cùng thì ngày 19/6/1969, trên con kinh Cán Gáo thuộc tỉnh Chương Thiện, những tiếng nổ đã loại tôi ra khỏi vòng chiến, nhưng may mắn hơn Chiêu, Sơn, Tuấn, Thanh (con cháu trong họ hàng cũng trong TQLC đã tử trận)…, tôi còn nặng nợ, chưa đi được nên khi tỉnh dậy, thấy mình nằm trên giường bệnh bệnh viện, toàn thân những dây cùng nhợ! Mờ mờ nhìn qua lớp băng quấn đầu, tôi nhận ra bu tôi đang lấy cạy vết máu, vết sình đã khô trên mặt tôi, tôi mấp máy đôi môi, gọi qua hơi thở của bình dưỡng khí:
– “Mẹ”.
Tiếng “Mẹ” dễ gọi dễ thương là thế nên tôi quen với chữ “Mẹ” từ đó.
Tôị bị trọng thương, bị loại khỏi vòng chiến thì cũng là lúc mẹ tôi bớt được một phần lo âu, thấy tôi lê lết với đôi nạng gỗ kẹp nách thì mẹ lại mỉm cười
– “Con cứ như thế này thì mẹ đỡ lo”.
Khí giới của đàn bà là những giọt nước mắt.
Khi anh gửi bài viết cho tôi để đăng báo, khi đọc những dòng trên không thể cầm được nước mắt. Sự chịu đựng, hy sinh của người Mẹ rất cao cả đến nỗi khi anh bị thương trầm trọng mà người Mẹ “Con cứ như thế này thì mẹ đỡ lo”. Thà bị thương, tàn phế nhưng vẫn còn sống để mẹ con có nhau.
Trong vài bài viết của tôi khá lâu có nhắc đến hình ảnh người mẹ và với những dòng chia sẻ với tính cách gia đình của đứa con út cho thế hệ thứ hai, thứ ba để nhớ hình ảnh bà cố, bà nội, bà ngoại với trái tim, tấm lòng cao đẹp… đã ảnh hưởng sâu đậm cho các người chị của tôi.
Tuy không được may mắn sống gần mẹ vì học hành và đời quân ngũ nhưng tuổi thơ của tôi với mẹ với bao kỷ niệm thương yêu không bao giờ phai. Ngay cả các món ăn của mẹ từ lúc trẻ thơ cho đến bây giờ nơi xứ người, tôi vẫn thích, và mỗi khi có món ăn đó, tôi thường nói “món mẹ cho ăn”.
“Lũ chúng tôi đầu thai nhầm thế kỷ” (Vũ Hoàng Chương) bởi trưởng thành trong cơn binh lửa, trai thời chiến, người đau khổ nhất là mẹ. Hầu như người Mẹ VN nào trong truyền thống dân tộc cao đẹp cũng nghĩ đến con cái hơn bản thân mình. Mẹ đã mang nặng đẻ đau, lo từ giọt sữa cho con khi chào đời đến khi khôn lớn, thành danh, lập gia đình, dưới mắt Mẹ vẫn còn là đứa trẻ ngày nào… cho đến khi Mẹ vào cõi vĩnh hằng.
Hình ảnh mẹ thiêng liêng, cao quý không ai có thể nói hết. Trong kho tàng văn chương Việt Nam, ca dao, tục ngữ cũng không thể nào nói hết kho tàng trái tim người Mẹ.
Và nay, với những ai không còn mẹ, mượn ý thơ của bạn tôi, cầu mong “Trong cõi hư vô ấy, mẹ thảnh thơi, mẹ yên nghỉ ngàn thu” (Trạch Gầm). Mẹ không còn nhưng trái tim, hơi thở của Mẹ trong con.
Cha tôi qua đời năm 1963 lúc còn đi học và thời điểm đó sống trong hạnh phúc gia đình nên ít nhiều kỷ niệm. Lần đầu tiên tôi chứng kiến Mẹ khóc, đau khổ, tiều tụy! Rồi từ đó cuộc đời lính xa nhà, lao tù… mẹ con không được gần nhau, tuy không chứng kiến giọt nước mắt của Mẹ nhưng cũng hình dung Mẹ đã khóc rất nhiều.
Tuy đã trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, tôi chẳng có điều gì phải hối hận, ngay cả thời điểm cuối tháng Tư năm 1975 ở Vũng Tàu trước quyết định ở lại hay đi. Chỉ hối hận khi Mẹ qua đời mà không được nhìn nhau lần cuối cùng, lúc trở về phục tang rồi mang mảnh khăn tang nhỏ hình bình hành màu đen trên áo đi Mỹ. Tuy các cháu, nay cũng ở tuổi sáu mươi, bảy mươi coi chú, cậu cũng như Cha Mẹ cháu đều mang trái tim của bà nội, bà ngoại. Nhưng với tôi vẫn coi bản thân như “đứa con bất hiếu” vì chưa trả được chữ hiếu khi Mẹ còn sống! Tháng 5 âm lịch là ngày giỗ song thân nơi căn nhà từ đường nơi cố hương, tuy chưa lần nào hiện diện nhưng với bổn phận người con xa xứ nhờ các cháu lo cho ngày kỵ và ngày Tết, mỗi năm chỉ hai lần chính thức bà con, dòng họ có dịp hội ngộ.
Ngoài trang thờ Cha Mẹ, trong ví và trước computer làm việc trong garage, nên lúc nào chân dung Mẹ vẫn hiện diện trong tôi. Mẹ ơi! Con vẫn còn đây. Mẹ ơi!“Trong cõi nhân gian, không có trái tim nào vĩ đại như trái tim người mẹ”.
Vương Trùng Dương–Little Saigon, Mother’s Day 2025
Sau ngày 30/4/75, tất cả các chiến sĩ thuộc QLVNCH đều sống trong cảnh tù đầy, Thi Sĩ Hạ Ái Khanh Dương Viết Diền đã dệt mấy vần thơ sầu thảm qua bài “Ngày Về” để nhớ về người Mẹ.
“Mười ba năm “cải tạo”
Ngày về không còn ai
Cây soan bên thềm cũ
Bây giờ cũng tàn phai
Mái nhà tranh còn đấy
Vẫn nghiêng nghiêng thuở nào
Trong nhà sao vắng lặng
Không một bóng người vào
Mẹ già chờ lâu quá
Vẫn không thấy con về
Tháng ngày rưng rưng lệ
Mẹ mất giữa chiều quê
Bên nấm mồ con khóc
Nhớ thương mẹ não nề
Sao mẹ đành vĩnh biệt
Mẹ ơi, con đã về!”
Hạ Ái Khanh – Trong thi phẩm “Ngậm ngùi”
Cho dù ở trong ngục tù hay ở quê người đất khách, cho dù ở trên rừng sâu hay góc bể chân trời, ai ai cũng triền miên nhớ mẹ mỗi lần vọng về quê cũ sau lũy tre xanh. Ta hãy nghe mấy vần thơ lục bát sau đây
“Mỗi lần nhìn khói lam chiều
Nhớ về quê mẹ hắt hiu nỗi buồn
Mẹ già nước mắt trào tuôn
Lom khom chống gậy bên đường chờ con
Bâng khuâng mẹ nhớ mỏi mòn
Bao mùa lá rụng héo hon thân gầy”.
(Hạ Ái Khanh –“Thương mẹ”: thi phẩm “Ngậm ngùi”)
-
Vu Lan Mất Mẹ
Cao Xuân Thanh Ngọc

Gió đưa cuộc sống chòng chành
Con nay bỗng chốc hóa thành mồ côi
Bông hồng cài áo đỏ tươi
Bốn bảy năm đời có Mẹ đã xa
.
Công ơn dưỡng dục hôm qua
Vu Lan Thắng hội, con là chẳng quên
Diễm phúc đó đã buồn tênh
Bông Hồng tang trắng, cài lên mái đầu
.
Lòng nghẹn ngào, mắt trũng sâu
Vòng tay ôm ấp còn đâu nữa rồi
Cảm ơn Mẹ cảm ơn Trời
Được làm con Mẹ, được đời Mẹ thương
.
Mẹ Diệu Minh, Mẹ ngát hương
Ẵm bồng con trẻ suốt đường con đi
Đường thiên lý nẻo thiên di
Tuổi thơ trẻ dại, vu quy trưởng thành
.
Từ học vấn đến công danh
Ngày sầu đau khổ, ngày lành tốt tươi
Muôn nẻo đất, vạn nẻo trời
Bóng hình của Mẹ phủ đời con đi
Nay Mẹ mất, con còn gì?
Nửa hồn trống vắng, nửa thì xót xa
Nhân sinh thiên địa một nhà
Cớ sao chẳng thể cùng ta đồng hành
.
Gửi lòng lên áng trăng thanh
Gửi lòng về chốn cao xanh chập chùng
Lòng con trẻ chẳng thể dừng
Gửi về bên Mẹ xin đừng bỏ con
.
Ba nén hương, một linh hồn
Hòa cùng trời đất càn khôn vĩnh hằng
Cúi đầu khấn nguyện thành tâm
Tiếng kinh khấn vái hương trầm thoảng bay
.
Linh hồn Mẹ, ở đâu đây
Xin ôm con trẻ vào tay của người
Quỳ trên đất, dưới bầu trời
Con nguyện nhớ Mẹ suốt đời, Mẹ ơi!
.
5.20.2023
Ngày tôi mồ côi Mẹ
Christina N. Cao, PharmD, MBA
-
Mẹ Ơi!

Tháng Năm lại về, mang theo nắng nhẹ và hương thơm của những cành hoa mẫu đơn – loài hoa tượng trưng cho tình mẹ. Giữa cuộc sống nơi xứ người, lòng con luôn hướng về Mẹ – người đã âm thầm nuôi con khôn lớn bằng cả một đời hy sinh. Dù Mẹ còn hay đã khuất, Mẹ vẫn là hình ảnh thiêng liêng không gì sánh bằng, hình bóng Mẹ vẫn luôn là nơi bình yên nhất trong trái tim con.

“Tình Mẹ” thật thiêng liêng và sâu lắng! Có lẽ trên đời này, không có tình cảm nào dịu dàng, bền bỉ và bao la như tình mẹ. Dù ta lớn lên, đi xa hay trải qua bao sóng gió, thì vòng tay và trái tim của mẹ vẫn luôn là nơi chốn bình yên nhất.
Khi con lớn khôn rời xa vòng tay Mẹ, đi đến những chân trời xa lạ rộng mở, con cảm thấy thấm thía nỗi nhớ mỗi lần nghe giọng Mẹ qua điện thoại, mỗi lần thấy bóng dáng ai đó giống Mẹ giữa chợ đông người. Những lời Mẹ dặn con năm nào, giờ đây vang vọng mãi trong tâm hồn con, như ngọn hải đăng soi lối giữa giông tố cuộc đời. Mẹ ơi, nếu có điều gì con luôn muốn nói – ấy là: Con thương Mẹ và con biết ơn từng phút giây được làm con của Mẹ. Dù Mẹ đã ra đi, con vẫn tin rằng tình yêu của Mẹ luôn dõi bước con đi trên đường đời đầy chông gai này và chở che con như thuở nào. Ngày Mother’s Day, con thầm nói: “Mẹ ơi… con thương Mẹ và nhớ Mẹ thật nhiều!”
Ngày Hiền Mẫu, để nhớ về người Mẹ đã ra đi trong nỗi ngậm ngùi– Người đã để lại trongcon một khoảng trống không gì lấp đầy; nhưng cũng là suối nguồn thương yêu bất tận, sống mãi trong tim con. Con nhận ra: Mẹ đã không còn nữa, Mẹ đã về cõi vĩnh hằng; nhưng tình yêu Mẹ để lại vẫn còn nguyên vẹn trong con như ngày nào. Con nhớ Mẹ từng khoảnh khắc sống trong đời, là khi con nấu món canh chua Mẹ từng ưa thích, nghe bài hát Mẹ hay hát không trọn vẹn, hay những câu nói ví von của Mẹ… Những điều nhỏ bé ấy cứ âm thầm nhắc con về Mẹ – về một hình bóng dịu dàng, thân thương mà vĩnh viễn con không thể gặp lại lần nữa.
Có những nỗi nhớ không thể gọi thành tên, chỉ biết rằng từ thẳm sâu trong tâm hồn, con luôn có một chỗ dành cho Mẹ – không ai có thể thay thế. Và con tin, ở một nơi nào đó thật bình yên và thanh thản, Mẹ vẫn dõi theo con. Mỗi lần con vấp ngã, con vẫn cảm nhận được bàn tay Mẹ vô hình đỡ con dậy. Mỗi lần con làm được điều tốt, dường như có nụ cười của Mẹ thoáng hiện trên nền trời mây trắng.
Ngày Mother’s Day, con không thể tặng Mẹ một bó hoa, không thể ôm Mẹ thật chặt; nhưng con có thể thắp lên một ngọn nến, một nén nhang và thì thầm với trời xanh: Mẹ ơi, con nhớ Mẹ vô cùng… và con sẽ sống sao cho xứng đáng với tình yêu Mẹ dành cho con cả một đời.
Ngày Hiền Mẫu, tôi nhớ lại ngày tôi rời nhà, Mẹ không khóc trước mặt tôi, đôi mắt Mẹ đỏ hoe và Mẹ nắm chặt tay tôi hơn thường lệ. Mẹ dặn dò đủ thứ –“Qua đó nhớ giữ gìn sức khỏe và cẩn thận mọi sự việc nơi xứ lạ quê người, nghe con…”; rồi Mẹ gói ghém từ cái áo ấm đến thuốc cảm cúm đặt trong giỏ xách cho tôi. Biết Mẹ lo, nhưng cũng biết Mẹ tự dặn lòng phải mạnh mẽ, để không làm tôi chùn bước. Mẹ tôi không biết nói những lời triết lý cao siêu, không giỏi thể hiện bằng những câu thơ văn, Mẹ chỉ lặng lẽ yêu thương bằng những chăm sóc chu đáo cho tôi. Tình Mẹ tưởng như giản dị mà hóa ra thiêng liêng vô cùng. Nhưng những ngày ấy đã lùi xa vào ký ức. Dù vậy, tôi biết tình mẹ chưa bao giờ xa tôi. Nó vẫn ở đây, trong từng nhịp thở, từng dòng chữ tôi viết, từng đêm trăn trở nhớ mẹ giữa mùa đông lạnh.
Ngày mẹ ngã bệnh, tôi đang ở xứ người và phải lo toan nhiều việc. Mẹ nói: “Đừng về vội, con à. Mẹ còn chịu được.” Tôi nghe mà nhói lòng, vì biết Mẹ sợ tôi lo lắng và bận tâm. Tôi cứ ngỡ còn thời gian một tháng nữa, hai tháng nữa, hay lâu hơn nữa… Rồi bỗng một ngày điện thoại reo giữa đêm khuya… Tôi lặng người! Thời gian không chờ ai, và Mẹ tôi… đã không chờ đợi được nữa!
Chuyến bay trở về nhà hôm ấy là chuyến đi dài nhất trong đời tôi. Không phải vì khoảng cách địa lý, mà vì lòng tôi nặng trĩu. Tôi không dám khóc giữa sân bay đông người, nhưng trong tim tôi, nước mắt đã chảy từ lâu – chảy từ khoảnh khắc tôi biết mình đã không kịp trở về, để nhìn Mẹ lần cuối và nghe Mẹ trối trăn!

Tôi đứng trước bàn thờ Mẹ, gục đầu, thì thầm: “Mẹ ơi, con về rồi đây… Nhưng muộn quá phảikhông Mẹ?”Mẹ lặng thinh! Chỉ có khói nhang bay lên di ảnh của Mẹ làm nhạt nhòe mắt Mẹ như ánh mắt Mẹ ngày tôi xa lìa gia đình. Từ ngày ấy, tôi sống với một vết thương không thể lành – vết thương của sự xa cách cuối cùng. Nhưng cũng từ đó, tôi hiểu sâu hơn về “tình mẹ”: đó là tình yêu không cần sự có mặt, vẫn âm thầm nâng đỡ tôi mỗi ngày, dù Mẹ đã đi xa. Giờ đây, mỗi khi nhìn lên bầu trời, tôi lại khẽ nói: “Mẹ ơi, con nhớ mẹ nhiều lắm.”Và tôi tin đâu đó, Mẹ vẫn mỉm cười nhẹ nhàng như những năm tháng xưa – khi Mẹ đứng trước cửa chờ tôi về, mái tóc bạc lấp lánh trong nắng chiều.
Mẹ –là hình dáng của tình yêu vĩnh cửu. Trong dòng đời hối hả, có một điều luôn âm ỉ cháy không tàn, đó là “ tình yêu của mẹ.” Tình yêu ấy không cần lý do để bắt đầu, cũng không chờ điều kiện để tồn tại. Mẹ là tiếng gọi đầu tiên ta thốt lên, là bóng hình cuối cùng ta giữ mãi trong tim. Có nhiều đại văn hào trên thế giới cũng đã từng ca ngợi “Tình Mẹ” như Bernard Shaw từng nói: “Vũ trụ có rất nhiều kỳ quan; nhưng kỳ qua vĩ đại nhất là trái tim người Mẹ”
Victor Hugo viết: “A mother’s arms are made of tenderness and children sleep soundly in them.”
(Vòng tay mẹ được dệt bằng sự dịu dàng, và trong đó con trẻ ngủ giấc bình an.)
Mẹ không chỉ là người sinh ra ta — mà còn là người chắp cánh cho ước mơ, dạy ta biết yêu thương, biết vươn lên giữa giông bão. Dù thời gian có đưa Mẹ đi xa, thì tiếng gọi “Mẹ ơi” vẫn mãi là lời thì thầm thiêng liêng nhất đời người.
Plato đã từng nói: “There is no greater love than that of a mother.”
(Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của một người mẹ.)
Trong mắt Mẹ, ta luôn là đứa trẻ nhỏ cần được vỗ về, dù ta đã là người trưởng thành giữa cuộc đời. Mẹ âm thầm lo lắng khi ta đi xa, thầm lặng vui mừng mỗi lần ta trở về. Mẹ cười sau lưng những thành công của ta, và khóc lặng lẽ cho những tổn thương mà ta chẳng hay biết.
Có một câu nói khuyết danh, nhưng hàm chứa một chân lý sâu xa:
“God could not be everywhere, and therefore he made mothers.”
(Thượng đế không thể có mặt ở khắp nơi, vì thế Ngài đã tạo ra người mẹ.)
Mother’s Day không chỉ là dịp để tặng hoa, gửi quà, mà là một khoảnh khắc để ta lắng động tâm hồn, gởi đến Mẹ một lời cảm tạ từ trái tim. Dù Mẹ còn trên đời hay đã về bên kia thế giới, tình mẹ vẫn là nơi ta hướng về, mỗi khi đời bão giông.
Abraham Lincoln đã nói:
“All that I am, or hope to be, I owe to my angel mother.”
(Tất cả những gì tôi có được, hay hy vọng đạt tới, tôi đều nhờ người mẹ thiên thần của tôi.)
Cùng một nỗi niềm chung về “Tình Mẹ”, ngay trong thế giới âm nhạc mênh mông không biên giới, cũng vẫn có chỗ cho những bài hát ca tụng “Tình Mẹ”. Như hai ca khúc tiêu biểu: Maman oh Maman và Lòng Mẹ – hai bản nhạc cảm động đến tận cùng trái tim, tuy đến từ hai nền văn hóa, địa ly khác nhau; nhưng lại cùng chan chứa một tình yêu vĩ đại; đó là: tình mẫu tử.
“MAMAN OH MAMAN” – LỜI GỌI TỪ TRÁI TIM
Maman oh Maman là một ca khúc Pháp nổi tiếng, một bản tình ca dành cho Mẹ với tất cả yêu thương và biết ơn. Giai điệu của bài hát mộc mạc, dịu dàng như lời thủ thỉ của một đứa con nói với mẹ, nhưng lại chứa đựng cả một trời yêu thương và khát khao. Ca khúc này vượt thời gian và biên giới vì nó chạm đến sợi dây thiêng liêng nhất của con người – đó là tình mẹ. Mỗi lần nghe, người ta như được trở về thuở ấu thơ, được nép vào vòng tay yêu thương nhất, nơi không có lo toan, chỉ có hơi ấm và tiếng ru ngọt ngào.
Maman oh Maman, toi qui m’as donné. Tant de tendresse depuis tant d’années
Tu le sais bien, quand je serai grand. Je penserai à toi, Maman
Maman oh Maman, le jour et la nuit. Je veillerai toujours sur ta vie
Je serai là à tout les instants. Pour te protéger, Maman…
LÒNG MẸ” – BẢN THÁNH CA CỦA TÌNH MẸ
Nếu Maman oh Maman là lời hát của đứa con dành cho mẹ, thì Lòng Mẹ – một ca khúc bất hủ của nhạc sĩ Y Vân – là khúc ngợi ca cao nhất tình mẹ Việt Nam: sâu như biển Thái Bình, bao la như trời lồng lộng. Với những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp:
“Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào
Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…
“Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu
Tình Mẹ âu yếm như làn gió đùa mặt hồ…”
Bản nhạc Lòng Mẹ rất tha thiết, mỗi khi âm điệu của bản nhạc cất lên làm rung động cả con tim và giọt lệ chợt ứa trong khóe mắt. Tình Mẹ sao quá đỗi ngọt ngào, Mẹ hy sinh cả một đời cho con, Mẹ luôn là người duy nhất không bao giờ bỏ rơi con, dù con thành công hay thất bại, giàu sang hay nghèo khó. Giai điệu ca khúc nhẹ nhàng, da diết, tràn đầy cảm xúc như lời ru vọng lại từ ký ức; khiến không ít người khi cất lên bài hát này đã không thể cầm được nước mắt.
Dù khác ngôn ngữ, khác văn hóa, nhưng Maman oh Maman và Lòng Mẹ đều chạm đến sâu thẳm trái tim người nghe. Mama oh Maman – như tiếng con trẻ nói với Mẹ với tất cả yêu thương hồn nhiên; Lòng Mẹ là tiếng hát thành kính, dạt dào như khúc thánh ca dâng lên người Mẹ hiền đã hy sinh cả cuộc đời cho con. Hai ca khúc – hai thế giới – nhưng chung một tình yêu: – đó là Tình Mẹ vĩnh cửu.

Happy Mother’s Day
DẤU CHÂN MẸ(Kính tặng những người Mẹ – còn đó hay đã xa…)
Trên đường đời con bước,
Có dấu chân ai quen…
Âm thầm như hơi thở,
Nhưng ấm từng bước lên.Có Mẹ là có nắng,
Chợt một ngày đông tan.
Có Mẹ là tiếng hát
Ru con suốt tháng năm.Mẹ xa rồi trăng khuyết,
Hương bếp cũ mơ hồ,
Bóng Mẹ như trong gió
Về bên cửa đợi chờ…Con ngồi nghe mưa rớt
Trên mái nhớ ngày xưa
Từng bữa ăn đạm bạc,
Mẹ nhường con hơn thừa.Dẫu Mẹ còn hay khuất,
Trong tim con vẫn đầy
Một vầng trăng không tắt,
Dẫn con suốt tháng ngày…Kiều My
Trong cuộc đời viễn xứ, đôi khi chúng ta không ngờ rằng giây phút chia xa cuối cùng với Mẹ lại đến quá đột ngột. Những dòng hồi tưởng này chan chứa nỗi ngậm ngùi của một người con sống xa quê nhà, mang trong tim nỗi ray rứt không thể ở cạnh Mẹ trong những ngày cuối đời của Mẹ. Nhưng cũng từ đó, ta nhận ra rằng tình mẹ vẫn luôn hiện hữu – âm thầm, bao la, và vĩnh viễn không rời xa. . Dù Mẹ còn trên đời hay đã đi xa, tình mẹ vẫn luôn là ánh sáng dịu dàng dẫn lối trong suốt hành trình của đời ta.
Kiều My
California, Mother’s Day 2025
-
Sài Gòn – Một Thời Để Nhớ.
Kiều My
Có những thành phố ta ghé qua một lần rồi chìm vào quên lãng. Có những nơi ta đi qua như một cơn gió thoảng. Nhưng có những nơi, dù thời gian trôi qua bao năm tháng, vẫn còn ở đó – nguyên vẹn trong tim ta – như một mảnh ký ức không thể phai mờ. Với tôi, nơi ấy chính là SàiGòn. Không phải Sài Gòn ồn ào náo nhiệt của những năm qua – mà là Sài Gòn củamột thời đã xa, một thời để nhớ, để thương, và để mãi mãi ẩn giấu trong vùng ký ức… như giữ gìn một ca khúc xưa cũ, chỉ cần ngân lên một nốt nhạc là lòng đã chùng xuống.
Tôi viết những dòng này không phải để níu kéo quá khứ, mà để gợi lại hình ảnh một thành phố đã để lại trong tôi biết bao nhiêu kỷ niệm của một thời áo trắng, những mái trường xưa – từng là nguồn hun đúc, nuôi dưỡng bao ước mơ của tuổi trẻ và lưu giữ biết bao kỷ niệm tuổi học trò; để nhớ lại một Sài Gòn với nhà thờ Đức Bà trầm mặc, Bưu điện cổ kính, dinh Độc Lập uy nghiêm, Thảo Cầm Viên mát xanh bóng lá, chợ Bến Thành nhộn nhịp, và bến Bạch Đằng lộng gió…
◊ ◊ ◊
Nhà thờ Đức Bà – Biểu tượng linh thiêng giữa lòng Sài Gòn

Nhà thờ Đức Bà
Nằm giữa giao lộ Tự Do, Duy Tân, Nguyễn Du, và Thống Nhất; nhà thờ Đức Bà, hay Vương Cung Thánh Đường, là một trong những biểu tượng nổi bật của Công giáo và cũng là niềm hãnh diện của Sài Gòn. Nhà thờ mang phong cách kiến trúc Romanesque kết hợp Gothic, theo thiết kế của kiến trúc sư người Pháp J. Boutard, với hai tháp chuông cao vút và mặt tiền bằng gạch đỏ, mô phỏng theo nhà thờ Notre – Dame De Paris, Pháp quốc. Những sáng sớm Sài Gòn xưa, ánh nắng dịu dàng len qua hàng me rọi xuống mặt đường còn vương sương sớm, tiếng chuông nhà thờ Đức Bà ngân vang như một bản thánh ca dịu dàng đánh thức thành phố còn ngáy ngủ. Ngôi thánh đường uy nghi, mái ngói đỏ giữa lòng đô thị, là điểm hẹn quen thuộc cho những giáo dân, và cũng là nơi của bao đôi lứa hẹn hò trong không gian linh thiêng và lặng lẽ ấy.
Bưu điện Sài Gòn – Giao lộ giữa ký ức và thời gian

Bưu điện Sài Gòn trước 1975
Bưu điện Sài Gòn nhìn qua nhà thờ Đức Bà, cách một con đường rộng, như đang chiêm ngưỡng vẻ đẹp nguy nga của nhà thờ Đức Bà vậy– Bưu Điện được xây dựng do công trình của kiến trúc sư người Pháp Gustave Eiffel thiết kế – Người đã tạo nên những kiến trúc nổi tiếng thế giới như: tháp Eiffel, tượng nữ thần Tự Do, cầu Tràng Tiền v.v … Bưu điện Sài Gòn được xây dựng vào cuối thế kỷ 19, tòa nhà mang phong cách kiến trúc tân cổ điển với mái vòm cao, cửa sổ lớn và các nét họa trang trí tinh xảo. Trước 1975, đây là nơi người dân đến gửi thư, điện tín và là biểu tượng của sự kết nối trong thời đại “đánh dây thép.”
Dinh Độc Lập – Chứng nhân lịch sử

Dinh Độc Lập trước 1975
Từ nhà thờ Đức Bà ta có thể tản bộ ngang qua một công viên nhỏ để đến Dinh Độc Lập ở điểm giao thoa giữa đường Công Lý và đại lộ Thống Nhất – là nơi ở và làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Dinh thự mang phong cách kiến trúc hiện đại phối hợp với các yếu tố truyền thống Việt Nam. Dinh Độc Lập, uy nghi giữa công viên xanh mướt, là biểu tượng quyền lực nhưng cũng là chứng nhân của những biến động thời cuộc. Tôi vẫn nhớ hàng phượng vĩ trước Dinh luôn đỏ rực vào mùa hè, thắp lên vẻ đẹp rực rỡ của màu cam phượng vĩ, gợi lên phút chia tay bạn học mùa bãi trường của thời học sinh.
Thảo Cầm Viên – Lá phổi xanh giữa lòng thành phố

Thảo Cầm Viên trước 1975
Từ Dinh Độc Lập đi sâu hơn một chút trên đại lộ Thống Nhất là Thảo Cầm Viên hay Sở Thú, hiện ra như một miền cổ tích, được thành lập vào năm 1864, là một trong những vườn thú lâu đời nhất thế giới. Nơi đây là điểm đến yêu thích của người dân thành phố, đặc biệt là vào dịp cuối tuần. Với không gian xanh mát, có nhiều loài động thực vật. Thảo Cầm Viên là nơi lưu giữ nhiều ký ức tuổi thơ qua bao thế hệ. Trẻ con ríu rít chạy theo bầy chim công, người lớn thì thong dong dưới những tàng cây sao, cây dầu cao vút. Ở đó, tiếng cười hòa trong tiếng lá lao xao, trong hương nắng nhè nhẹ và mùi đất ẩm mỗi khi mưa về.
Chợ Bến Thành – Trái tim thương mại của Sài Gòn xưa

Chợ Bến Thành trước 1975
Khi nhắc đến Sai Gòn, không thể không nhắc đến chợ Bến Thành – biểu tượng bất diệt của Sài Gòn. Mái chợ đỏ, chiếc đồng hồ bốn mặt, và dòng người tấp nập sáng chiều là minh chứng cho một thành phố thương mại sống động, nhưng cũng rất đỗi thân quen. Những tà áo dài lướt qua những quầy hàng như một bức tranh sinh động của đời sống thường nhật. Chợ Bến Thành, được xây dựng vào năm 1912, với kiến trúc độc đáo và những chiếc đồng hồ lớn ở bốn cửa: Đông, Tây, Nam, Bắc, là nét đặc biệt lâu đời của chợ Bến Thành. Nơi đây không những là trung tâm mua sắm, mà còn là nơi để thưởng thức những món ăn thuần túy dân tộc ba miền.
Bến Bạch Đằng – Dòng sông ký ức lặng lẽ của Sài Gòn

Bến Bạch Đằng xưa
Và kia là bến Bạch Đằng, nơi bến nước giao duyên cùng bầu trời rộng mở. Những chuyến phà qua lại giữa dòng sông – kết nối thành phố Sài Gòn hoa lệ với xã Thủ Thiêm còn mang nét mộc mạc của đồng quê. Bến Bạch Đằng được tô điểm thêm nét quyến rũ với những tà áo dài của các cô gái Sài Gòn bay bay trong chiều lộng gió bên cạnh người tình. – Tất cả là những nét dịu dàng của thủ đô Sài Gòn – một thành phố biết sống chậm, biết yêu và biết nhớ; là biểu tượng của Việt Nam Cộng Hòa – là Hòn Ngọc Viễn Đông trước 1975.
Tượng đài Đức Trần Hưng Đạo nổi bật ở đoạn giữa bến tại công trường Mê Linh hình bán nguyệt. Khung cảnh thơ mộng và nhộn nhịp của bến Bạch Đằng đã trở thành một phần không thể thiếu trong ký ức của người Sài Gòn xưa. – Vì nơi đó không chỉ là một địa danh, mà là một ký ứclặng lẽ của Sài Gòn xưa, là một góc trời mà những ai từng sống, từng yêu, từng bước qua Bến Bạch Đằng trước 1975 chắc hẳn đều giữ riêng cho mình một kỷ niệm khó quên.
Đêm xuống, Bến Bạch Đằng khoác lên mình một vẻ lãng mạn khó tả. Ánh đèn từ phía khách sạn Majestic phản chiếu trên mặt sông lấp lánh như hàng vạn vì sao sa xuống. Bến Bạch Đằng – với tôi – không chỉ là bến tàu. Đó là bến của những ký ức, những mối tình dang dở, những buổi chiều không hẹn mà gặp, và những đêm không ai gọi mà vẫn về…
◊ ◊ ◊
Với tôi, Sài Gòn còn là những mái trường – nơi lưu giữ giấc mộng tuổi học trò. Những trường nữ trung học khuôn mẫu không chỉ nổi tiếng về học vấn mà còn là biểu tượng của nét duyên thầm, kín đáo của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Những tà áo dài trắng tinh khôi, những bước chân nhẹ nhàng trên sân gạch đỏ, vẫn còn ẩn khuất đâu đây trong ký ức. Ngoài ra, còn nhiều trường nổi tiếng dành cho nam sinh, nơi đào tạo nhiều nhân tài đủ mọi ngành nghề phục vụ cho đất nước.
Trường Pétrus Ký
Với sân trường rộng và hàng cây xanh mát, nơi bao thế hệ nam sinh đã lớn lên cùng sách vở và hoài bão. Được thành lập năm 1927, trường Pétrus Ký là một trong những trường trung học danh tiếng nhất Sài Gòn, dành cho nam sinh. Trường nổi bật với kiến trúc Pháp cổ kính và là nơi đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước.

Trường Jean-Jacques Rousseau

Trường Jean-Jacques Rousseau, trước đó là Collège Chasseloup-Laubat, là một trong những trường trung học lâu đời nhất Sài Gòn, nằm giữa ba con đường trung tâm là Chasseloup Laubat, Testard và Palais. Trường nổi tiếng với chương trình giảng dạy theo hệ thống Pháp và là nơi học tập của nhiều học sinh ưu tú.
Trường La San Taberd
Trường La San Taberd, nằm tại số 53 đường Nguyễn Du, Quận 1, là một trong những trường trung học lâu đời nhất Sài Gòn, do Hội truyền giáo La San thành lập. Trường nổi tiếng dưới sự giảng dạy và kỷ luật nghiêm ngặt của những giáo sư chuyên nghiệp.

Trường Nguyễn Bá Tòng
Là trường tư thục do Giáo hội Công giáo điều hành, dạy cả nam lẫn nữ. Trường nổi tiếng với chương trình giảng dạy kết hợp giữa giáo dục phổ thông và giáo lý Công giáo, góp phần đào tạo nhiều thế hệ học sinh có đạo đức và tri thức.
Riêng tôi, Sài Gòn xưa còn nằm gọn dưới mái trường Nguyễn Bá Tòng thân thương – nơi tôi đã đi qua một thời áo trắng đầy mộng mơ. Ngôi trường nằm bên con đường rợp bóng cây, cổng vào đơn sơ nhưng ấm áp như vòng tay mẹ. Mỗi sáng, tiếng chuông báo vào lớp ngân lên như một khúc nhạc quen thuộc; còn tôi, tay ôm cặp sách cùng bạn nhanh nhẹn đi vào lớp. Những dãy hành lang dài, những lớp học với bàn ghế gỗ đã ngả màu thời gian;

Trường Nguyễn Bá Tòng
nơi đó tôi từng lặng im nghe thầy giảng bài, từng cười khúc khích với các bạn trong giờ ra chơi, hoặc qua nhà thờ Huyện Sĩ kế bên ngồi chuyện trò khi được nghỉ hai giờ sau. Thật thú vị lúc giờ tan trường đến, khi cánh cổng sắt mở toang –xuất hiện các chàng trai trong quân phục đủ mọi binh chủng hớn hở chờ đón người yêu áo trắng. Nguyễn Bá Tòng không chỉ là trường học, mà là nơi chắp cánh cho tôi bay vào đời – với hành trang là tri thức, lòng nhân ái, và một niềm tin vững chãi vào Chân, Thiện, Mỹ. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, chưa phai mờ.
Trường La San Đức Minh
Tọa lạc trên đường Hiền Vương, con đường nổi tiếng với những tiệm phở gà ngon và nổi tiếng, Lasan Đức Minh, thuộc về hội Truyền giáo Lasan, là một trong những trường tư thục Công giáo nổi tiếng tại Sài Gòn trước 1975, Lasan Đức Minh gồm cả hai bậc Tiểu học và Trung học, nổi bật với kiến trúc Pháp cổ kính, sân trường rộng rãi, hàng cây xanh mát, là nơi học tập của nhiều thế hệ học sinh Sài Gòn. Trường nổi tiếng với kỷ luật nghiêm khắc, chương trình giảng dạy song ngữ Pháp – Việt, chú trọng rèn luyện đạo đức và nhân cách.

Trường Saint Paul

Trường Saint Paul là một trường học dành cho nữ sinh, do các nữ tu Công giáo dòng Saint Paul điều hành. Trường nổi tiếng với môi trường học tập nghiêm túc và chương trình giảng dạy kết hợp giữa giáo dục phổ thông và giáo lý Công giáo, theo nền giáo dục Pháp quốc.
Trường Gia Long và Trưng Vương
Trường Gia Long và Trưng Vương dành cho nữ sinh, là những trường trung học công nổi tiếng nhất Sài Gòn trước 1975. Trường nổi bật với kiến trúc đẹp với môi trường học tập nghiêm túc và chương trình giảng dạy tốt , góp phần đào tạo nhiều thế hệ nữ sinh ưu tú.


Trường Marie Curie
Trường Marie Curie, dành cho nữ sinh, là một trong những trường trung học nổi tiếng của Sài Gòn. Trường nổi bật với kiến trúc đẹp và chương trình giảng dạy tiếng Pháp, góp phần đào tạo nhiều thế hệ nữ sinh ưu tú. Ngôi trường được bao phủ bởi những hàng cây cao xanh mát, có những không gian mang nhiều hoài niệm của một thời vàng son.
Tất cả những ngôi trường danh tiếng của thành phố Sài Gòn như những đóa hoa thơm trong khu vườn giáo dục; mỗi ngôi trường là một vết son trong lịch sử giáo dục miền Nam, nơi hội tụ không chỉ tri thức mà còn tinh thần tự do, cởi mở và nhân bản.
◊ ◊ ◊
Trước năm 1975, Sài Gòn được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Dông”. Trung tâm Sài Gòn là khu vực sầm uất, hội tụ những biểu tượng văn hóa, kiến trúc, giải trí và thương mại sầm uất, tạo nên sắc thái riêng biệt cho thành phố này. Dưới đây là những điểm nổi bật tiêu biểu:
Nhà sách Khai Trí
Người dân Sài Gòn rất quen thuộc với nhà sách Khai Trí, một nhà sách nổi tiếng trên đường Lê Lợi, là “thiên đường sách” của học sinh, sinh viên và dân trí thức Sài Gòn, nơi cập nhật sách báo mới nhất trong và ngoài nước. Chủ nhân tiệm sách là ông Nguyễn Hùng Trương, người say mê đọc sách đã đặt hết tâm hồn vào tài lực cũng như nhân lực, để hình thành một không gian “tri thức” cho mọi tầng lớp xã hội, nhất là trẻ em. Chủ nhân đã tạo cho những người hiếu học có cơ hội học hỏi và trau dồi kiến thức qua những loại sách vỡ lành mạnh trong nhiều lĩnh vực, kể cả sách trau dồi ngoại ngữ như Anh, Pháp, Hoa ngữ, Latin v.v…

Rồi những buổi tối cùng các bạn lang thang trên những con đường rực sáng dưới ánh đèn vàng của những con đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Lê Thánh Tôn…nghe tiếng nhạc từ quán cà phê vọng ra. Mỗi bài hát như gợi nhớ về một kỷ niệm, một người…đã thật xa!
Rạp hát Eden
Rạp Eden là một trong những rạp chiếu bóng nổi tiếng nhất Sài Gòn trước 1975, nằm trong khu thương xá Eden, mặt hướng về công viên Đống Đa, khách ghiền ciné có thể vào từ các đường Tự Do, Lê Lợi hoặc Nguyễn Huệ. Rạp được xây dựng theo kiến trúc cổ điển kiểu Pháp, có hai balcon, trong đó balcon 1 là vị trí ngồi lý tưởng nhất. Đặc biệt, balcon 2 nhỏ hơn, cao hơn và thường được gọi vui là “chuồng bồ câu” (pigeonnier). Eden từng là nơi ca sĩ Pháp Dalida biểu diễn khi đến Sài Gòn.
Rạp hát Rex
Rạp Rex tọa lạc trên đại lộ Nguyễn Huệ, đối diện công viên Đống Đa, nổi bật với thiết kế hiện đại, sang trọng nhất thời bấy giờ. Trên lầu thượng là khách sạn Rex, từng là điểm đến của nhiều du khách quốc tế và giới thượng lưu Sài Gòn. Rạp Rex là nơi trình chiếu những bộ phim nổi tiếng và là biểu tượng của đời sống văn hóa đô thị Sài Gòn.

Phòng trà Maxim’s

Maxim’s là một trong những phòng trà, vũ trường nổi tiếng nhất Sài Gòn. Sau nhiều lần đổi chủ, Maxim’s vẫn giữ được vị thế là nơi giải trí sang trọng dành cho giới công chức, trí thức và cả người nước ngoài. Những năm cuối thập niên 1960, Maxim’s nổi bật với các chương trình ca vũ nhạc, đặc biệt là đoàn ca vũ Hoàng Thi Thơ. Cho đến nay, Maxim’s vẫn là địa điểm mang đậm dấu ấn hoài niệm của Sài Gòn xưa.
Khách sạn Caravelle

Khách sạn Caravelle tọa lạc tại trung tâm Sài Gòn, bên cạnh Trụ sở Hạ Nghị Viện. Caravelle là nơi lưu trú của các chính khách, ký giả quốc tế và là địa điểm họp mặt, tiệc dạ vũ sang trọng của giới trí thức, chính trị gia Sài Gòn. Trên sân thượng tầng 10, khách có thể ngắm toàn cảnh thành phố. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của nhiều hãng truyền thông quốc tế như CBS, ABC, New York Time, và cũng là chứng nhân cho nhiều sự kiện lịch sử, văn hóa, chính trị mang tầm vóc quốc tế.
Thương xá TAX
Đây là trung tâm thương mại sầm uất, nổi tiếng lâu đời nhất Sài Gòn, được xem là biểu tượng của sự phát triển đô thị và thương mại từ cuối thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, góp phần tạo nên hình ảnh “Hòn ngọc Viễn Đông” của thành phố. Thập niên 1960, thương xá chính thức mang tên TAX và thuộc sở hữu của Tổng giáo phận Sài Gòn trước khi bị tịch thu sau đảo chính 1963.Thương xá TAX là nơi mua sắm quen thuộc của người dân và du khách, đồng thời là điểm hẹn văn hóa, thương mại trung tâm của Sài Gòn xưa.

Thương Xá Eden

Thương xá Eden
Passage Eden cũng là lối vào rạp ciné Eden nổi tiếng, cửa chính hướng ra đường Tự Do và hành lang thông qua các đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, thu hút đông đảo sinh viên, viên chức trung lưu và các cặp tình nhân đến xem phim và hẹn hò.
Tầng trệt thương xá Eden có quán cà phê Givral nổi tiếng, nơi tụ họp của giới văn nghệ sĩ, nhà báo và chính trị gia, cũng là địa điểm văn hóa lịch sử quan trọng của Sài Gòn xưa.
Thương xá TAX và Passage Eden là hai biểu tượng thương mại và văn hóa tiêu biểu của Sài Gòn trong giai đoạn 1970–1975, phản ảnh đời sống đô thị sôi động, phong cách phương Tây và nét đặc trưng của thành phố trước biến động lịch sử.
Crystal Palace

Còn được gọi là Thương xá Tam Đa, là một trung tâm thương mại nổi tiếng và hiện đại bậc nhất Sài Gòn trước 1975. Tòa nhà này tọa lạc tại vị trí dắt đỏ được bao bọc bởi các đường Công Lý, Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực và Lê Thánh Tôn, trung tâm Quận 1.
Crystal Palace được thiết kế bởi kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, nổi tiếng với nhiều công trình lớn như Dinh Độc Lập. Khác với các thương xá trước đó, Crystal Palace là nơi buôn bán mỹ phẩm, thời trang cao cấp và cũng là điểm hẹn của giới yêu văn hóa, nghệ thuật. Tầng trệt và các tầng trên có nhiều quầy hàng đa dạng, trong đó nổi bật là quầy sách của các nhà văn nổi tiếng, quầy băng nhạc của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, và phòng thu băng hiện đại của Jo Marcel – nơi sản xuất những cuộn băng nhạc trẻ được giới trẻ Sài Gòn ưa chuộng thời đó.
Crystal Palace (Thương xá Tam Đa) trước 1975 là một trung tâm thương mại hiện đại, đa chức năng, nổi bật với kiến trúc đẹp, không gian văn hóa – nghệ thuật sôi động, là điểm đến quen thuộc của người dân Sài Gòn và là một phần không thể thiếu trong ký ức đô thị thời kỳ này. Passage Eden là dãy hành lang mua sắm nằm trong khu thương xá Eden, một khu tứ giác thương mại nổi tiếng ở trung tâm Quận 1, giới hạn bởi bốn con đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Lê Thánh Tôn và Tự Do.
Khách sạn Continental

Đây là vị trí trung tâm và sầm uất bậc nhất Sài Gòn xưa, nơi hội tụ của giới thượng lưu, trí thức, nghệ sĩ, nhà báo quốc tế và các chính khách.
Kiến trúc khách sạn mang đậm phong cách Pháp cổ điển: mái ngói, tường gạch dày, trần cao, các cửa sổ lớn hướng ra phố hoặc sân vườn, tạo không gian thoáng mát phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Khuôn viên khách sạn hình chữ nhật, ở giữa là sân vườn rộng với ba cây hoa sứ được trồng từ năm 1880, đến nay vẫn xanh tốt và tỏa bóng mát. Continental là nơi lưu trú sang trọng, trung tâm gặp gỡ của giới trí thức, nhà báo, văn nghệ sĩ và các doanh nhân trong và ngoài nước. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, khách sạn là nơi lui tới của nhiều phóng viên quốc tế, các nhà ngoại giao, trở thành “trung tâm thông tin” không chính thức về tình hình Sài Gòn và miền Nam.
Buổi sáng, thực khách có thể thưởng thức bữa sáng kiểu Pháp hoặc Việt Nam trong không gian cổ kính, nhìn ra tòa nhà Quốc Hội – một nét đặc biệt của Sài Gòn thời ấy.
Khách sạn Continental là một phần không thể thiếu trong đời sống đô thị Sài Gòn trước 1975, gắn liền với hình ảnh con đường Tự Do nhộn nhịp, sang trọng. Đến nay, Continental vẫn giữ gần như nguyên vẹn dáng dấp kiến trúc xưa, là điểm đến hoài niệm cho những ai muốn tìm lại không khí Sài Gòn của một thời vàng son.
Với một một công trình kiến trúc di sản, Khách sạn Continental còn được coi như một nhân chứng sống cho lịch sử, văn hóa và nhịp sống của Sài Gòn từ cuối thế kỷ XIX đến tận ngày nay. Marc Phillip Yablonka, phóng viên chiến trường Mỹ từng làm việc tại Sài Gòn, đã nhận định: “Nếu những bức tường của khách sạn Continental biết nói, chúng sẽ kể cho bạn rất nhiều điều”.
Nhà hàng Brodard và Quán Kem Nguyễn Huệ
Nhà hàng Brodard trên đường Tự Do là nơi nổi tiếng với các món bánh Âu châu, cà phê và không gian sang trọng, thường lui tới bởi giới trí thức, doanh nhân, nghệ sĩ. Quán kem trên đường Nguyễn Huệ (như tiệm Pôle Nord) nổi tiếng với kem ly ăn trong phòng máy lạnh, là điểm hẹn lý tưởng của giới trẻ và gia đình Sài Gòn trong mùa hè oi bức.

Và không thể không nhắc đến Sài Gòn mùa mưa – những cơn mưa đổ bất chợt khiến người ta phải tấp vào mái hiên trú tạm; nhưng cũng là những cơn mưa khiến tim ai đó se lại. Có những mối tình chết lặng dưới cơn mưa như thế, mà những giọt mưa là những giọt nước mắt chia xa; thế rồi, hai bóng lặng lẽ quay lưng đi và không bao giờ gặp lại…
Sài Gòn… Một thời để nhớ – không phải vì nó hoàn hảo, mà vì nó đã là một phần đời của tôi. Những con đường xưa với hàng cây xanh rợp bóng, mái trường thân yêu, tiếng nhạc gợi nhớ, hay những cơn mưa ướt đẫm… tất cả đã hòa vào nhau, thành một bản giao hưởng ký ức. Và dù tôi có đi đến đâu, sống bao nhiêu năm xa xứ, trái tim tôi vẫn ở lại nơi ấy – Sài Gòn của một thời tuổi thơ, một thời yêu thương và một thời để nhớ…
***
Như một nốt lặng giữa những dòng hồi tưởng, Kiều My xin gửi đến quý độc giả bài thơ mộc mạc về Sài Gòn – thành phố của yêu thương, của ký ức, của những ngày xưa êm đềm. Vâng, một chút nắng, một chút gió, cũng đủ để Sài Gòn mãi là nơi để nhớ...
SÀI GÒN, MỘT THỜI ĐỂ NHỚ
Thương lắm… Sài Gòn một thuở xa
Tiếng rao khuya lạc giữa mưa sa
Rơi tí tách vang trong đêm vắng
Ánh đèn khuya thấp thoáng hiên nhàÁo dài ai thấp thoáng sân trường
Ve ngân nga gợi nhớ tình thương
Nhà thờ Đức Bà vang chuông sớm
Bước chân quen một thuở thân thương.Thảo Cầm Viên, Bưu điện vàng son
Dinh xưa đứng giữa lối mỏi mòn
Gió từ Bến Bạch Đằng hiu hắt
Nghe trong tim phố cũ vẫn còn…Dẫu xa xôi, lòng ta vẫn nhớ
Một trời hương nắng thuở mộng mơ
Sài Gòn đó – tiếng cười năm cũ
Ru đời nhau theo gió hững hờVà cũng trong tâm tình đó, Kiều My xin mời quý độc giả thưởng thức nhạc phẩm “Sài Gòn Ngày Ấy” của anh Thái Phạm.
Kiều My
California, một ngày buồn tháng 4-2025
-
Sao Rơi Trên Biển
-
KHI CUỘC CHIẾN CHẤM DỨT
Khánh Lan
Bất kể cuộc chiến nào khi chấm dứt cũng để lại nhiều đau thương, nghiệt ngã cho những người còn sống sót, dù là ngoài xã hội hay trong thế giới văn chương. Sau cuộc chiến năm 1975, tại Việt Nam đã có biết bao quân nhân cán chính, giáo chức và các nhà văn hóa lao vào cảnh tù đầy không hẹn ngày trở về. Những trại tù trá hình “cải tạo” được mọc lên ở miền Bắc trước năm 1954 cũng như tại miền Nam sau năm 1975 đã chôn vùi thân xác của những đứa con trung thành của tổ quốc và những nhân tài của nền văn hóa nước nhà.
Trong bài viết về “Khi Cuộc Chiến Chấm Dứt” người viết xin gởi đến quý độc giả một nhân tài lỗi lạc trong lĩnh vực văn học, một nhà thơ tiền chiến với những vần thơ cô đọng nhiều uẩn khúc của cuộc đời, một Phùng Quán với rất nhiều nhọc nhằn, đau thương và cay đắng xẩy ra cho ông trong quá khứ. Nếu, chúng ta đem Phùng Quán ra để so sánh với Nguyễn Chí Thiện thì chúng ta cũng không thể cho rằng ai là người yêu nước hơn ai? mặc dù cả hai đều là nhà thơ và là nạn nhân hiện hữu trong buổi giao thời ấy, nhưng trong tâm tư của mỗi người đều mang nặng một lý tưởng và một suy nghĩ khác nhau. Trong bài viết này, người viết chỉ xin bàn về nhà thơ Phùng Quán.
Thi sĩ Phùng Quán là một nhà thơ được nhiều Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam về Văn học nghệ thuật nhất trong khoảng thời gian ngắn. Năm 1955, tác phẩm đầu tay của thi sĩ Phùng Quán, Tiểu thuyết Vượt Côn Đảo, được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam về Văn học nghệ thuật năm 2007. Tập thơ Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1955), được Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật, năm 2007. Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội (1987), được Giải A văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988, và nhận được Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990. Cùng năm 1990 tác phẩm này được đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn dựng thành phim, Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 2000 và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.

“Có những lúc ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”
Đó là hai câu thơ bất hủ đã nói lên ngàn lời tâm sự của người nghệ sĩ tài ba Phùng Quán, một tài năng độc đáo trên văn đàn từ giữa thế kỷ XX, nhưng định mệnh trớ trêu đã đẩy ông qua nhiều gian nan và thử thách trong cuộc sống. Tên tuổi của Phùng Quán trở nên nổi tiếng rất sớm nhưng cũng xuống dốc khá nhanh “Đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian”. Phải chăng cái nhân cách quá ngay thẳng đã đưa cuộc đời của ông vào một số phận bi tráng như thế? Khiến ông sa vào từ thất vọng này đi đến tuyệt vọng kia? Nhưng cái gì đã giúp ông vượt qua chông gai mà số mạng bắt ông gánh chịu. Có phải “Có những lúc ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”? hay như một nhà thơ người Mỹ gốc Nga, Roman Jakobson, đã nói “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh”.
Năm 1957, theo soạn giả Tân Linh: Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm với hai bài thơ Lời mẹ dặn và Chống tham ô lãng phí, hai thi phẩm đã đem rất nhiều tai hoạn lớn cho Phùng Quán (25 tuổi) sau tác phẩm Vượt Côn Đảo. Bài thơ Lời mẹ dặn khiến ông bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị đuổi ra khỏi quân đội. Phùng Quán rơi vào cảnh “tứ cố vô thân” bởi cha ông đã chết trong tù khi ông mới biết bò, mẹ ông thì sống bên kia giới tuyến (Huế), bạn bè và người thân xa lánh vì sợ liên lụy. Buồn và chán nản, có lúc Phùng Quán có ý định sẽ vào Quảng Bình sinh sống, nhưng cũng có những lúc qúa thất vọng, ông bảo: “Cá sông Nhật Lệ nhiều vô kể, thế nào cũng đủ sống, mà nếu chán quá, không muốn sống nữa thì… thôi”. Và cũng đã có nhiều lần ông nghĩ đến cái chết. Sau đây là bài thơ Lời mẹ dặn (1957).
… Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
(Lời mẹ dặn)
Mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động thực tế ở nhiều nơi. Phùng Quán đã phải đánh đổi gần như cả cuộc đời mình với 15 năm lao động cải tạo và 32 năm treo bút bởi hai bài thơ đầu tiên trong văn học trỉ trích cách mạng, chống tệ quan liêu lãng phí.
Ta đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt:
Tôi đã gặp
Những bà mẹ già quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
Bởi đồn giặc trồng ngô tỉa lúa…
….Tôi đã gặp
Chị em công nhân đổ thùng
Yếm rách chân trần
Quần xắn quá gối
Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
Vác những thùng phân …
…Trung ương Đảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Đảng lập đội quân trừ diệt
– Có tôi!
đi trong hàng ngũ tiền phong…Năm 1988 ông được khôi phục lại chức vị hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Tuy vậy, sau khi được hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhận lại vào thời kỳ đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản. Hơn 32 năm treo bút, ông phải mượn tên người khác viết “văn chui” và xuất bản một số tác phẩm dưới bút danh khác. Hơn 40 cuốn truyện tranh và khoảng 10 tác phẩm văn xuôi được in trong đó có 3 tập bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Tuổi thơ dữ dội”. Sống trong cảnh nghèo đói, ông đã câu trộm cá ở Hồ Tây để kiếm sống (theo nhà thơ Ngô Minh) và mua chịu ở quan rượu của bà Hai Hanh, làng Nghi Tàm. Vì thế, trong thời kỳ này, bạn bè văn nghệ đặt cho ông một biệt hiệu là: “cá trộm, rượu chịu, văn chui“.
Thơ tôi biết xin ai?
Ai cho?
Thơ với tôi là nước trên sa mạc
Đã từ nhiều năm nay
Tôi sống mà như chết
Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi
Tôi đã đi rao cùng thiên hạ:
– Ai-đổi-thơ-lấy-máu!
Không ai đổi
Vì máu tôi không cùng nhóm máu họNăm 1998, ông được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam để rồi chính thức từ đó trở đi, cái tên Phùng Quán lại gắn liền với những tác phẩm nổi tiếng như “Thơ Phùng Quán”, tiểu thuyết “Trăng hoàng cung”, bộ tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội”… trên báo Đảng địa phương.
“Ba mươi năm trước tôi chết giữa Hồng Hà sóng dữ
Nay lại hồi sinh giữa xanh thẳm Hàn Giang
Chính cây cà quê mùa lao lực
Đã cho tôi dũng khí bền gan”.
Báo QNĐN-Chủ nhật là nơi đã trả lại tên thật cho nhà văn-nhà thơ Phùng Quán sau 30 năm mất tích trên văn đàn Việt Nam. Tạp chí Sông Hương tiếp tục đăng những bài viết của Phùng Quán và để tên thật của ông. Một số tờ báo, tạp chí, NXB cũng lần lượt đăng những sáng tác với bút danh Phùng Quán một cách minh bạch – xóa nạn “in chui” cho ông.
TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC: QUÊ HƯƠNG & GIA ĐÌNH
Phùng Quán được coi như là một người lính dấn thân vì nhân dân, vì đất nước cho dù ông đã trải qua những năm tháng bi thương khốc liệt nhất của đời người. Nhưng ông vẫn sắt son niềm tin vào Đảng, vào sự đổi mới phát triển của đất nước qua lời thơ:
“…Tôi tin sẽ đến ngày tôi được Đảng hiểu”,
“Tôi không nói lời vĩnh biệt. Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh…”.
Theo Ngô Quy Nhơn, Phùng Quán đã sống và yêu đất nước đất nước đến tận cùng máu thịt cũng như tình yêu với người vợ hiền của ông, đó là một tình yêu đích thực, một tình yêu mà ông dám hy sinh cả cuộc đời của mình.
…”Ngày ra trận, tóc tôi còn để chỏm
Nay trở về, Đầu đã hoa râm
Sau cuộc trường chinh ba mươi năm…”
Tại sao lại gọi đó là tình yêu quê hương đích thực và đến tận cùng máu thịt? Phùng Quán đã cống hiến cả cuộc đời mình cho một chế độ mà ông tôn thờ bởi ngay từ thiếu thời, (13 tuổi) ông đã dấn thân theo cách mạng, từ một chiến sĩ liên lạc Trung đoàn Trần Cao Vân, đến làm Vệ quốc quân mặt trận khói lửa Bình Trị Thiên. Năm 1953, khi Phùng Quán mới 22 tuổi, là người lính liên lạc trong Vệ quốc đoàn, ông viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo vàgây xúc động cho người đọc qua bao thế hệ. Vượt Côn Đảo là tác phẩm đầu tay của Phùng Quán, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời cầm bút của ông, xuất bản lần đầu năm 1954. Năm 2007, cùng với hai tác phẩm Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội ra đời, chứng tỏ ông chẳng những hy sinh cuộc sống, tuổi thanh xuân, và tình yêu cá nhân của mình cho đất nước mà còn tôn thờ tổ quốc trong tư tưởng cũng như trong văn thơ của ông.
Theo soạn giả Tân Linh, chuyện tình của Phùng Quán là một tình yêu đẹp, lãng mạn, đầy sóng gió và xúc động, một mối tình cao quý dược thuật lại như sau: Khi Phùng Quán về làm văn nghệ ở Hà Nội trong Đại hội văn nghệ toàn quân tổ chức sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông đã gặp một cô giáo trẻ, tên Vũ Thị Bội Trâm, giảng dạy tại Trường PTTH Chu Văn An, Hà nội, người Hà Nội, nhà ở phố Hàng Cân đem lòng yêu ông. Bà Bội Trâm kể: “Anh yêu cũng dữ dội lắm: Viết tặng tôi bài thơ anh đã nói rất… liều”:
“Khách tình yêu xưa nay ít lễ độ
Bước vào buồng tim chẳng gõ cửa bao giờ…”.
Phùng Quán bảo mỗi người đều có tình yêu và lý tưởng để tôn thờ, ông viết tặng vợ bài Kinh cầu nguyện buổi sáng như sau:
“Tôi sẽ đi với em
Cho đến mút chót con đường…
… Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền
Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường
Tôi sẽ bị trời tru đất diệt
Em là cây Thập tự của đời tôi
Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc…“
Phùng Quan khẳng định rằng đây là bài thơ tình hay nhất của ông. Năm 1960, đi lao động thâm nhập thực tế ở Thái Bình cùng các nhà văn Tô Hoài, Hoàng Trung Thông về, Phùng Quán bị nhiễm lao. Năm 1962, Phùng Quán và Bội Trâm đến đăng ký kết hôn ở ủy ban hành chính xã Quảng An huyện Từ Liêm Hà Nội. Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe cũng là bài thơ viết cho bà Bội Trâm. Trong bổn bài thơ tựa đề chỉ có một chữ: Say, Hôn, bài thơ Hôn được nhắc đến nhiều nhất và được in trong tuyển tập Panorama de la Littérature Vietnamism (do nhà văn hóa Hữu Ngọc dịch) cũng như được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc. Bài thơ được coi như là tuyên ngôn tình yêu của người lính, âm hưởng diệu vợi, bi tráng và rất thực bởi bắt nguồn từ một tình yêu rất chân thực của một người lính, hay hơn thế nữa, một đồng đội, một người bác của ông: Chiến sĩ cảm tử quân Phùng Huấn. (Theo tác giả Nguyễn Viết Chính).
…”Trời đã sinh ra anh
Ðể yêu em tha thiết…
…Còn anh, anh yêu em
Anh phải ra mặt trận…
…Nhưng anh, anh không muốn
Hôn em trong tủi sầu
Em ơi rất có thể
Anh chết giữa chiến trường
Ðôi môi tươi đạn xé
Chưa bao giờ được hôn
Nhưng dù chết em ơi
Yêu em anh không thể
Hôn em bằng đôi môi
Của một người nô lệ”.
(Hôn1956)
VỀ VĂN HỌC:
Phùng Quán đã cho xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng ở, người viết xin bàn về hai tác phẩm nổi tiếng của Phùng Quán: Đó là Vượt Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội. Vượt Côn Đảo không những chỉ đề cao tinh thần yêu nước mà còn trân trọng những tâm hồn chân quý của thế hệ trẻ đã hy sinh bản thân, vượt qua mọi hoàn cảnh và xương máu cho hòa bình của đất nước. Nguồn cảm hứng để Phùng Quán viết Vượt Côn Đảo khi ông gặp gỡ những người tù cách mạng trở về từ Côn Đảo sau Hiệp định Genève 1954. Phùng Quán đã có mặt trong cuộc trao đổi tù binh ở Sầm Sơn và nghe những câu chuyện của họ về ý chí bất khuất, quật cường, lòng sắt đá, quả cảm và nghị lực của những chiến sĩ cách mạng với hai lần vượt ngục thất bại. Ông viết: “Người chiến sĩ khi đã quyết định dấn thân thì phải dấn thân đến cùng, không quay đầu lại, không rẽ ngang rẽ tắt, không được thối lui, không được bỏ cuộc, không có sự hèn hạ nào đáng ghê tởm hơn sự hèn hạ bỏ cuộc”.
Xin trích dẫn thêm một trích đoạn trong tác phẩm vượt Côn Đảo:
…”Tất cả tù Côn Đảo đều gọi Côn Đảo là địa ngục, một thứ địa ngục trần gian. Nghe người ta nói ở địa ngục, trên có Diêm Vương hung ác, dưới có bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa. Để hành hạ người chết, có vạc dầu nấu sôi, sông lúc nhúc mãng xà rắn rết, có chỗ cưa chân xẻ tay, róc thịt chẻ xương. Không biết có địa ngục và địa ngục có những cảnh đó không, nhưng ở Côn Đảo, những cảnh đó không thiếu gì, và còn gấp trăm gấp nghìn thế là khác…”
“Có những lúc ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”
Đó là hai câu thơ bất hủ đã nói lên ngàn lời tâm sự của người nghệ sĩ tài ba Phùng Quán, một tài năng độc đáo trên văn đàn từ giữa thế kỷ XX, nhưng định mệnh trớ trêu đã đẩy ông qua nhiều gian nan và thử thách trong cuộc sống. Tên tuổi của Phùng Quán trở nên nổi tiếng rất sớm nhưng cũng xuống dốc khá nhanh “Đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian”. Phải chăng cái nhân cách quá ngay thẳng đã đưa cuộc đời của ông vào một số phận bi tráng như thế? Khiến ông sa vào từ thất vọng này đi đến tuyệt vọng kia? Nhưng cái gì đã giúp ông vượt qua chông gai mà số mạng bắt ông gánh chịu. Có phải “Có những lúc ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”? hay như một nhà thơ người Mỹ gốc Nga, Roman Jakobson, đã nói “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh”.
Năm 1957, theo soạn giả Tân Linh: Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm với hai bài thơ Lời mẹ dặn và Chống tham ô lãng phí, hai thi phẩm đã đem rất nhiều tai hoạn lớn cho Phùng Quán (25 tuổi) sau tác phẩm Vượt Côn Đảo. Bài thơ Lời mẹ dặn khiến ông bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị đuổi ra khỏi quân đội. Phùng Quán rơi vào cảnh “tứ cố vô thân” bởi cha ông đã chết trong tù khi ông mới biết bò, mẹ ông thì sống bên kia giới tuyến (Huế), bạn bè và người thân xa lánh vì sợ liên lụy. Buồn và chán nản, có lúc Phùng Quán có ý định sẽ vào Quảng Bình sinh sống, nhưng cũng có những lúc qúa thất vọng, ông bảo: “Cá sông Nhật Lệ nhiều vô kể, thế nào cũng đủ sống, mà nếu chán quá, không muốn sống nữa thì… thôi”. Và cũng đã có nhiều lần ông nghĩ đến cái chết. Sau đây là bài thơ Lời mẹ dặn (1957).
… Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
(Lời mẹ dặn)
Mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động thực tế ở nhiều nơi. Phùng Quán đã phải đánh đổi gần như cả cuộc đời mình với 15 năm lao động cải tạo và 32 năm treo bút bởi hai bài thơ đầu tiên trong văn học trỉ trích cách mạng, chống tệ quan liêu lãng phí.
Ta đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt:
Tôi đã gặp
Những bà mẹ già quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
Bởi đồn giặc trồng ngô tỉa lúa…
….Tôi đã gặp
Chị em công nhân đổ thùng
Yếm rách chân trần
Quần xắn quá gối
Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
Vác những thùng phân …
…Trung ương Đảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Đảng lập đội quân trừ diệt
– Có tôi!
đi trong hàng ngũ tiền phong…Năm 1988 ông được khôi phục lại chức vị hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Tuy vậy, sau khi được hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhận lại vào thời kỳ đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản. Hơn 32 năm treo bút, ông phải mượn tên người khác viết “văn chui” và xuất bản một số tác phẩm dưới bút danh khác. Hơn 40 cuốn truyện tranh và khoảng 10 tác phẩm văn xuôi được in trong đó có 3 tập bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Tuổi thơ dữ dội”. Sống trong cảnh nghèo đói, ông đã câu trộm cá ở Hồ Tây để kiếm sống (theo nhà thơ Ngô Minh) và mua chịu ở quan rượu của bà Hai Hanh, làng Nghi Tàm. Vì thế, trong thời kỳ này, bạn bè văn nghệ đặt cho ông một biệt hiệu là: “cá trộm, rượu chịu, văn chui“.
Thơ tôi biết xin ai?
Ai cho?
Thơ với tôi là nước trên sa mạc
Đã từ nhiều năm nay
Tôi sống mà như chết
Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi
Tôi đã đi rao cùng thiên hạ:
– Ai-đổi-thơ-lấy-máu!
Không ai đổi
Vì máu tôi không cùng nhóm máu họNăm 1998, ông được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam để rồi chính thức từ đó trở đi, cái tên Phùng Quán lại gắn liền với những tác phẩm nổi tiếng như “Thơ Phùng Quán”, tiểu thuyết “Trăng hoàng cung”, bộ tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội”… trên báo Đảng địa phương.
“Ba mươi năm trước tôi chết giữa Hồng Hà sóng dữ
Nay lại hồi sinh giữa xanh thẳm Hàn Giang
Chính cây cà quê mùa lao lực
Đã cho tôi dũng khí bền gan”.
Báo QNĐN-Chủ nhật là nơi đã trả lại tên thật cho nhà văn-nhà thơ Phùng Quán sau 30 năm mất tích trên văn đàn Việt Nam. Tạp chí Sông Hương tiếp tục đăng những bài viết của Phùng Quán và để tên thật của ông. Một số tờ báo, tạp chí, NXB cũng lần lượt đăng những sáng tác với bút danh Phùng Quán một cách minh bạch – xóa nạn “in chui” cho ông.
TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC: QUÊ HƯƠNG & GIA ĐÌNH
Phùng Quán được coi như là một người lính dấn thân vì nhân dân, vì đất nước cho dù ông đã trải qua những năm tháng bi thương khốc liệt nhất của đời người. Nhưng ông vẫn sắt son niềm tin vào Đảng, vào sự đổi mới phát triển của đất nước qua lời thơ:
“…Tôi tin sẽ đến ngày tôi được Đảng hiểu”,
“Tôi không nói lời vĩnh biệt. Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh…”.
Theo Ngô Quy Nhơn, Phùng Quán đã sống và yêu đất nước đất nước đến tận cùng máu thịt cũng như tình yêu với người vợ hiền của ông, đó là một tình yêu đích thực, một tình yêu mà ông dám hy sinh cả cuộc đời của mình.
…”Ngày ra trận, tóc tôi còn để chỏm
Nay trở về, Đầu đã hoa râm
Sau cuộc trường chinh ba mươi năm…”
Tại sao lại gọi đó là tình yêu quê hương đích thực và đến tận cùng máu thịt? Phùng Quán đã cống hiến cả cuộc đời mình cho một chế độ mà ông tôn thờ bởi ngay từ thiếu thời, (13 tuổi) ông đã dấn thân theo cách mạng, từ một chiến sĩ liên lạc Trung đoàn Trần Cao Vân, đến làm Vệ quốc quân mặt trận khói lửa Bình Trị Thiên. Năm 1953, khi Phùng Quán mới 22 tuổi, là người lính liên lạc trong Vệ quốc đoàn, ông viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo vàgây xúc động cho người đọc qua bao thế hệ. Vượt Côn Đảo là tác phẩm đầu tay của Phùng Quán, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời cầm bút của ông, xuất bản lần đầu năm 1954. Năm 2007, cùng với hai tác phẩm Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội ra đời, chứng tỏ ông chẳng những hy sinh cuộc sống, tuổi thanh xuân, và tình yêu cá nhân của mình cho đất nước mà còn tôn thờ tổ quốc trong tư tưởng cũng như trong văn thơ của ông.
Theo soạn giả Tân Linh, chuyện tình của Phùng Quán là một tình yêu đẹp, lãng mạn, đầy sóng gió và xúc động, một mối tình cao quý dược thuật lại như sau: Khi Phùng Quán về làm văn nghệ ở Hà Nội trong Đại hội văn nghệ toàn quân tổ chức sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông đã gặp một cô giáo trẻ, tên Vũ Thị Bội Trâm, giảng dạy tại Trường PTTH Chu Văn An, Hà nội, người Hà Nội, nhà ở phố Hàng Cân đem lòng yêu ông. Bà Bội Trâm kể: “Anh yêu cũng dữ dội lắm: Viết tặng tôi bài thơ anh đã nói rất… liều”:
“Khách tình yêu xưa nay ít lễ độ
Bước vào buồng tim chẳng gõ cửa bao giờ…”.
Phùng Quán bảo mỗi người đều có tình yêu và lý tưởng để tôn thờ, ông viết tặng vợ bài Kinh cầu nguyện buổi sáng như sau:
“Tôi sẽ đi với em
Cho đến mút chót con đường…
… Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền
Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường
Tôi sẽ bị trời tru đất diệt
Em là cây Thập tự của đời tôi
Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc…“
Phùng Quan khẳng định rằng đây là bài thơ tình hay nhất của ông. Năm 1960, đi lao động thâm nhập thực tế ở Thái Bình cùng các nhà văn Tô Hoài, Hoàng Trung Thông về, Phùng Quán bị nhiễm lao. Năm 1962, Phùng Quán và Bội Trâm đến đăng ký kết hôn ở ủy ban hành chính xã Quảng An huyện Từ Liêm Hà Nội. Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe cũng là bài thơ viết cho bà Bội Trâm. Trong bổn bài thơ tựa đề chỉ có một chữ: Say, Hôn, bài thơ Hôn được nhắc đến nhiều nhất và được in trong tuyển tập Panorama de la Littérature Vietnamism (do nhà văn hóa Hữu Ngọc dịch) cũng như được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc. Bài thơ được coi như là tuyên ngôn tình yêu của người lính, âm hưởng diệu vợi, bi tráng và rất thực bởi bắt nguồn từ một tình yêu rất chân thực của một người lính, hay hơn thế nữa, một đồng đội, một người bác của ông: Chiến sĩ cảm tử quân Phùng Huấn. (Theo tác giả Nguyễn Viết Chính).
…”Trời đã sinh ra anh
Ðể yêu em tha thiết…
…Còn anh, anh yêu em
Anh phải ra mặt trận…
…Nhưng anh, anh không muốn
Hôn em trong tủi sầu
Em ơi rất có thể
Anh chết giữa chiến trường
Ðôi môi tươi đạn xé
Chưa bao giờ được hôn
Nhưng dù chết em ơi
Yêu em anh không thể
Hôn em bằng đôi môi
Của một người nô lệ”.
(Hôn1956)
VỀ VĂN HỌC:
Phùng Quán đã cho xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng ở, người viết xin bàn về hai tác phẩm nổi tiếng của Phùng Quán: Đó là Vượt Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội. Vượt Côn Đảo không những chỉ đề cao tinh thần yêu nước mà còn trân trọng những tâm hồn chân quý của thế hệ trẻ đã hy sinh bản thân, vượt qua mọi hoàn cảnh và xương máu cho hòa bình của đất nước. Nguồn cảm hứng để Phùng Quán viết Vượt Côn Đảo khi ông gặp gỡ những người tù cách mạng trở về từ Côn Đảo sau Hiệp định Genève 1954. Phùng Quán đã có mặt trong cuộc trao đổi tù binh ở Sầm Sơn và nghe những câu chuyện của họ về ý chí bất khuất, quật cường, lòng sắt đá, quả cảm và nghị lực của những chiến sĩ cách mạng với hai lần vượt ngục thất bại. Ông viết: “Người chiến sĩ khi đã quyết định dấn thân thì phải dấn thân đến cùng, không quay đầu lại, không rẽ ngang rẽ tắt, không được thối lui, không được bỏ cuộc, không có sự hèn hạ nào đáng ghê tởm hơn sự hèn hạ bỏ cuộc”.
Xin trích dẫn thêm một trích đoạn trong tác phẩm vượt Côn Đảo:
…”Tất cả tù Côn Đảo đều gọi Côn Đảo là địa ngục, một thứ địa ngục trần gian. Nghe người ta nói ở địa ngục, trên có Diêm Vương hung ác, dưới có bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa. Để hành hạ người chết, có vạc dầu nấu sôi, sông lúc nhúc mãng xà rắn rết, có chỗ cưa chân xẻ tay, róc thịt chẻ xương. Không biết có địa ngục và địa ngục có những cảnh đó không, nhưng ở Côn Đảo, những cảnh đó không thiếu gì, và còn gấp trăm gấp nghìn thế là khác…”
Theo tác giả Ngô Minh Thuyên lòng yêu nước trong Phùng Quán rất kiên định cho dù sau 32 năm bị án “nhân văn”, Phùng Quán vẫn cho ra đời Tuổi thơ dữ dội gây xúc động về chính cuộc đời ông và đồng đội mình. “Tuổi thơ dữ dội” là một tác phẩm truyện dài xoay quanh cuộc sống chiến đấu và sự hy sinh của những thiếu niên 13, 14 tuổi trong hàng ngũ Đội thiếu niên trinh sát của trung đoàn Trần Cao Vân.
“… Không thể ôm nhau mà nhìn thần chết đến cướp cùng một lúc. Giờ phút này phải đòi hỏi sự hy sinh. Anh Cả hội ý với Du và cuối cùng quyết định. – Cần năm đồng chí hy sinh để cho thuyền nhẹ bớt. Mười đồng chí giơ tay cùng một lúc. Trong đó có Bằng, Chức, lão Học. Anh Cả nhìn mười đồng chí một lượt, ngồi lặng đi một phút …”


THẾ GIỚI THI CA:
Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn để lại cho đời nhiều bài thơ được hàng triệu người Việt Nam ngưỡng mộ như: Tập thơ Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Báo Phụ nữ Liên Xô dịch và in, năm 1957. Địa Ngục Côn Đảo, một tác phẩm thơ ca ngợi nữ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu đã trở thành bài ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, của những thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc.
“Côn Đảo bỗng rùng mình
Ai cất lên tiếng hát?
…Theo tiếng hát chơi vơi
Mọc lên giữa địa ngục
… Người tù sắp xử bắn
Vẫn hát mắt mở to
…Người đang hát: chị Sáu
Một cô gái miền Nam”. Thật đúng như nhận định của tác giả Nguyễn Viết Chính, thơ Phùng Quán là thơ có chiều sâu của tâm hồn, một tâm hồn luôn nhạy cảm đã đến từ sự rung động của trái tim, chất chứa những nỗi niềm, như một lời tâm sự và cũng chính những vần thơ ấy, ông đã cứu sống được bao tâm hồn đang trong nỗi tuyệt vọng. Điển hình là nhà thơ Hoàng Cầm sau một tai nạn, ông bị lâm bệnh trầm cảm trong nhiều năm. Một hôm, Phùng Quán đến thăm Hoàng Cầm, mang theo một chai rượu làng Vân, ngồi trước mặt Hoàng, Phùng Quán rót rượu và đọc bài thơ có tựa đề là “Phùng Quán gửi Hoàng Cầm mắc bệnh tâm thần nặng“. Nghe xong bài thơ, nước mắt Hoàng Cầm lăn dài trên gò má hóp, tái xanh. Phùng Quán nâng lên mời bạn và họ ôm nhau, hàn huyên. Sau ngày đó, Hoàng Cầm sống lại và từ đó mở đầu cho một loạt thơ mới. Dưới đây là bài thơ “thần dược” của Phùng Quán:
“Tôi không tin một nhà thơ như Anh
Lại ngã lòng suy sụp
Một nhà thơ đã viết những dòng thơ lẫm liệt
Tiểu đội anh, những ai còn, ai mất?
Không, không ai còn ai mất…
…Tôi tin chắc như đinh đóng cột
Sau khi Anh mất đi
Theo sau linh cữu anh
Ngoài bạn hữu gia đình
Có cả con sông Đuống
Sông Đuống mặc đại tang…”
(Hà Nội tháng 3-1987)
Sau gần 35 năm xa quê hương, Phùng Quán trở về quê, làng Thanh Thủy Thượng, xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, Huế. “Ngày ra đi tóc còn để chỏm, ngày về tóc đã hoa râm”. Ông đã quỳ xuống trước đông đảo bà con đọc to bài thơ “Tạ”:
Con tạ,
Đất làng quê
Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất
Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt
Không lá cây nào không mặn chát gian lao
Con tạ, manh chiếu rách con nằm…
Năm 1975 giải phóng miền Nam, Phùng Quán về Huế rồi vào thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 22 tháng 01, 1995 tại Hà Nội, nhưng mãi đến đầu năm 2011, ước nguyện của ông mới trở thành hiện thực. Nhà thơ Ngô Minh quyên góp từ những văn nghệ sỹ, trí thức, học sinh, sinh viên, nông dân, anh xe ôm, xích lô, Việt kiều… đã góp tiền xây dựng mộ cho nhà thơ Phùng Quán. …“Tôi sẽ đào nấm huyệt. Cạnh mồ cha mẹ tôi”…”. Sau khi xây mộ cho hai vợ chồng nhà thơ và do nguyện vọng của dòng họ Phùng, số tiền còn lại được lập “Quỹ khuyến học, khuyến tài” mang tên Phùng Quán, để phát thưởng cho học sinh giỏi hàng năm của xã Thủy Dương quê hương nhà thơ và khuyến khích các nhà văn, nhà thơ ở Thừa Thiên, Huế có những tác phẩm văn học đặc sắc. Sau khi nhà thơ qua đời, Quỹ Phùng Quán đã tổ chức phát thưởng lần đầu tiên cho 41 em học sinh xuất sắc của các trường tiểu học, THCS Thủy Dương gồm một giấy chứng nhận Quỹ Phùng Quán, có ảnh nhà thơ và là 500.000 đồng Việt Nam. Quỹ Phùng Quán còn tặng thưởng cho 3 em học sinh họ Phùng xuất sắc nhất do dòng tộc Phùng ở Thủy Dương xét chọn. Đầu năm 2012, Quỹ Phùng Quán đã giải khuyến tài văn học Phùng Quán cho hai tác phẩm văn học: Tiểu thuyết “Vùng sâu” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, và “Xa Hà Nội” của Nhà Văn Nhất Lâm, giá trị mỗi giải thưởng là 2 triệu đồng Việt Nam. Lễ trao được Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên, Huế tổ chức ngay tại khu lăng mộ của nhà thơ Phùng Quán. Tên của ông cũng được UBND tỉnh Thừa Thiên, Huế quyết định đặt tên cho con đường mang tên Phùng Quán tại Thị xã Hương Thủy, quê hương ông, dài 5,850 km, từ Km 83, Quốc lộ 1A đối diện cổng làng Thanh Thủy Thượng, đi qua lăng mộ Phùng Quán, qua chiến khu Dương Hòa, nơi Phùng Quán đi theo bộ đội Việt Minh từ năm 1946. Trong “Trăng Hoàng Cung” của Phùng Quán viết 26 năm trước. Vâng, Phùng Quán đã ra đi và trở về trên chính con đường mang tên Phùng Quán. (CTV Ngô Minh Thuyên/VOV online) …“Nhưng cuối cùng
Quê hương nhận ra
Trái – tim Thơ- trong-sạch
Và gương – mặt – Thơ- bi – thiết – của tôi…”.

Tóm lại, người ta thường cho rằng thực chất của sự thật bao giờ cũng tốt, nên được khuyến khích và áp dụng trong hầu hết mọi lãnh vực. Thế nhưng trên thực tế, ngoài đời cũng như trong văn chương có mấy ai dám nói sự thật hoàn toàn? Ngay trong thế giới văn học tại Việt Nam, chẳng phải chỉ Thi sĩ Phùng Quán hay Nguyễn Chí Thiện bị tẩy chay trong xã hội mà trên thế giới chúng ta đã từng nghe đến những nhà đại văn hào, từng được lãnh Giải thưởng Nobel như Erich Maria Remarque đã bị tước quốc tịch Đức năm 1939 vì bị cho là lời văn của ông có tính cách phỉ báng quân đội Đức. Nhà văn Nga Boris Leodovich Pasternak, tác phẩm của ông cũng bị cấm xuất bản và lưu hành tại Nga vì bị cho là nội dung bôi nhọ chính sách, ông bị buộc từ chối nhận đề cử lãnh Giải thưởng Nobel 1958 với lý do làm giảm uy tín của đảng Liên Xô, cho mãi đến năm 1989, con trai của ông là Yevgenii Borisovich Pasternak được phép đến Stockholm để nhận giải thưởng của cha cậu.
Vậy câu hỏi được đưa ra để tùy độc giả suy nghĩ. Có nên nói hoàn toàn sự thật một cách nồng nhiệt hay không?
Khánh Lan, California, kỷ niệm 50 năm nhìn lại, (1975-2025)
TÀI LIỆU ĐỌC THÊM: TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA THI SĨ PHÙNG QUÁN: Phùng Quán là một nhà văn, nhà thơ và bắt đầu viết trong khoảng thời gian của cuộc chiến tranh Đông Dương. Ông là cháu của Tố Hữu, sinh tháng 1 năm 1932, quê tại xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy (nay là phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy), tỉnh Thừa Thiên – Huế). Chưa học xong Tiểu học, Phùng Quán đã bỏ nhà đi theo cách mạng. Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân ở tuổi 13, và trở thành chiến sĩ trinh sát của Trung đoàn 101, lừng danh ở chiến trường Bình-Trị-Thiên (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân). Sau đó Phùng Quán tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV. Năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội). Phùng Quán có rất nhiều tác phẩm được xuất bản bắt đầu từ 1955 kéo dài đến 2007, bao gồm nhiều thể loại khác nhau như truyện dài, truyện ngắn, hồi ký, bút ký, v.v…có những tác phẩm được dịch và xuất bản tại Trung Quốc, NXB Thượng Hai dịch và in như: Bút ký (1955), Bên bờ Hiền Lương (1956). Thạch Sanh Cháu Bác Hồ truyện thiếu nhi (1955). Một số truyện thiếu nhi như: Cuộc Đời Một Đôi Dép Cao Su (1956), Như Con Cò Vàng Trong Cổ tích (tác phẩm ký bút danh Vũ Quang Khải, được Giải nhất cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật). Vĩnh Linh, Lịch Sử Văn Hóa (ký tên tác giả là Nguyễn Huy-1982). Dũng Sĩ Chép Còm(1987-với bút danh Trần Vỹ Dạ), Người Du Kích Hói Đầu (1990), Tiếng đàn trong rừng thẳm (1991). Đôi Bạn Tật Nguyền Kỳ Lạ (1991). Thơ Phùng Quán (1995). Bản hùng ca về 17 Vệ quốc Đoàn (1993). Trăng hoàng cung, Tiểu thuyết thơ, Nhà xuất bản Thanh Văn, USA năm 1993. Năm 2007, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản Trăng hoàng cung & Phùng Quán Viết Trăng Hoàng Cung (tiểu thuyết tình 13 chương của Phùng Quán & Hồi ức của nhà văn Hà Khánh Linh). Phùng Quán, Thơ, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003. Ba phút sự thật, Ký, (2006, tái bản 2009). Tôi Đã Trở Thành Nhà Văn Như Thế Nào?-Hồi ký (2007). Phùng Quán Còn Đây, Di cảo của Phùng Quán và Hồi ức của bạn bè, (2007-Hồi ký 0. -
TỪ ĐINH HÙNG ĐẾN VŨ HOÀNG CHƯƠNG
Khánh Lan
Với khuôn mặt lẫy lừng trong thi ca Việt Nam từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam đã có nhiều tài liệu viết về hai nhà thơ Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Hôm nay, người viết lại được vinh hạnh viết về hai vị tiền bối đã được rất nhiều người ngưỡng mộ trong thế giới thi ca: Đó là Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, những thiên tài bạc mệnh của đất Sài Gòn, một thời nổi danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Một điều thật lạ lùng là khi duyệt sau khi duyệt qua tiểu sử và cuộc đời của hai thi nhân này, người viết nhận thấy hai vị tiền bối có nhiều điểm trùng hợp từ thân phận, chí khí, tài hoa đến văn chương và cuộc đời lại gặp quá nhiều nghiệt ngã, đau thương, bất công và bạc mệnh. Hình như có một sự kết nối mật thiết giữa cuộc đời của họ. Họ như bị ràng buộc từ trong một mối tương quan gia đình khi nhà thơ họ Vũ kết hôn với bà Đinh Thị Thục Oanh, chị ruột của Đinh Hùng. Họ là bạn chí thân từ khi còn sinh sống tại miền Bắc. Thuở thiếu thời, họ yêu văn, thích làm thơ, sáng tác thơ và trở thành nổi tiếng trong lĩnh vực thi ca. Họ là những thiên tài bạc mệnh, lãnh chịu một cuộc đời với nhiều gian nan, nghiệt ngã và nghèo túng. Tuy họ đã gặp nhiều sóng gió trong cuộc sống nhưng họ vẫn không rời xa nhau! Có lẽ, định mệnh đã an bài cho họ là phải như thế!
Dưới đây là những điểm tương đồng:
- Trong lĩnh vực khoa bảng: Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nghê sĩ tài hoa, học cao hiểu rộng với bản tính rất ngang bướng, gan dạ, phóng túng, “thích gì làm nấy”. Họ không khuất phục trước gian nan, bất công và sẵn sàng đương đầu với khó khăn, nghiệt ngã trong cuộc sống nhưng lại đa sầu đa cảm và mềm lòng trong đường tình ái.
- Trong lãnh vực văn chương thi phú: Hai thi nhân đi vào lĩnh vực văn học ở tuổi rất còn trẻ. Tác phẩm văn xuôi Đám Ma Tôi của Đinh Hùng viết trong năm 1943 ở tuổi 23 thì Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay của Vũ Hoàng Chương viết vào năm 1936-1939 khi ông 21 tuổi.
- Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nhà thơ nổi tiếng từ thời phong trào Thơ Mới thời tiền chiến. Trong khi Đinh Hùng (1920-1967) nổi tiếng với hai tập thơ Mê Hồn Ca (1954) và Đường Vào Tình Sử (1961), thì Vũ Hoàng Chương (1915-1976) với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, đó là tập thơ Hoa Đăng (1959) và 2 tập Thơ Say và Mây (sau in chung vào một tập mang tên Mây).
- Năm 1959, Vũ Hoàng Chương đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca với tập thơ Hoa Đăng, một tập thơ được đánh giá rất cao, ông cũng là một trong 100 tác giả tên tuổi được đề cử giải Nobel Văn Chương năm 1972. Năm 1961, thi phẩm Đường vào tình sử của Đinh Hùng được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.
- Sau khi mất hai thi nhân đều có tác phẩm xuất bản sau khi mất. Đinh Hùng với Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967, ngoài ra còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt. Về phần Vũ Hoàng Chương tập hồi ký Ta Đã Làm Chi Đời Ta doNXB Trương vĩnh Ký, Saigon năm 1970 được NXB Hội Nhà Văn tái bản năm 1993 tại TPHCM. Thi tấp Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, NXB An Tiêm, Sài Gòn (1970) in 2 lần và được Tái bản lại tại California, Mỹ sau năm 1975.
- Trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn (1970) của họa sĩ Tạ Tỵ, người bạn văn nghệ chí thân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương gọi thơ Vũ Hoàng Chương là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc”, vì nhiều bài thơ của ông nói lên thân phận của kiếp người trên quê hương. Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau: “Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử”. Một lãng tử, có lẽ đúng bởi cái cuộc sống “Bất cần đời” của ông, chẳng tha thiết với danh vọng, hờ hững với vật chất xa hoa.
- Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương đều chết trẻ. Đinh Hùng mất năm 47 tuổi và Vũ Hoàng Chương mất mất ở tuổi 61.
THẾ GIỚI THI CA ĐINH HÙNG

THI SĨ ĐINH HÙNG–(1920-1967)
“Trời cuối thu rồi em ở đâu
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu …”
Chúng ta có thể nói Đinh Hùng là nhà “khảo cổ thi ca” đầu tiên đi ngược dòng lịch sử của những mảnh hồn nhân loại bị quên lãng theo thời gian. Thơ Đinh Hùng nói lên vẻ đẹp siêu thực tế, một tình yêu linh thiêng, một thế giới mới dựa trên linh thị của siêu cảm và trực giác. Thơ Đinh Hùng xóa mờ bức tường ranh giới giữa không gian và thời gian, hòa nhập con người với cõi vô thường, với những cảm xúc dữ dội và khốc liệt, tư duy và sự khuấy đảo đến kinh hoàng của hình tượng qua những vần thơ. Để hiểu rõ về người nghệ sĩ đa tài Đinh Hùng, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu xem yếu tố nào đã khiến cho ông giải bày niềm cảm xúc qua trang giấy một cách mãnh liệt như thế.
TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
Đinh Hùng là nhà thơ tiền chiến, bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết. Ông sinh ngày 3 tháng 7, 1920 tại làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ ông theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, trung học tại trường Bưởi. Theo thi sĩ Vũ Hoàng Chương, sau khi thi đậu “cao đẳng tiểu học“, hạng bình thứ, Đinh Hùng được học bổng và trong khi đang theo học ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì ông bỏ ngang đi viết văn và làm thơ.
“Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi
Xa vở bài, mở rộng sách ham mê
Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về
Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn”(Khi Mới Nhớn)
Tuy nhiên, tuổi thơ của Đinh Hùng là chuỗi ngày sầu thảm, sự mất mát liên tục của những người thân trong gia đình đã để lại nhiều vết thương trong lòng ông. Năm 1931, người chị thứ ba của ông tên Tuyết Hồng đã tự vẫn tại hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng chết khi còn rất trẻ và sau hết là cái chết của người bạn gái yểu mệnh tên Bích Liên. Đó là những biến động kinh hoàng trong cuộc đời xảy ra cho một con người.
Dưới ngòi bút thiên phú, Đinh Hùng trở nên nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” được nhà văn Thế Lữ chọn in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh của ông, một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết kinh dị, lãng mạn, rùng rợn nhưng cũng đầy chất thơ do NXB Đời Nay in ấn năm 1941. Năm 1943, Đinh Hùng đang sống với người chị là Thục Oanh tại Hà Nội thì tập văn xuôi đầu tiên ra đời: Đám ma tôi được đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, một Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn…
Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa
Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết
Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết
Rộn xuân tình lên bộ ngực thanh tân…”
(Kỳ nữ)
Năm 1944, Vũ Hoàng Chương cưới Thục Oanh rồi về Nam Định, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài với sự cộng tác của Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch…Cũng trong năm ấy, Đinh Hùng tản cư theo tờ báo Cứu Quốc nhưng sau đó, ông về Thái Bình dạy học cùng người vợ mới cưới là Nguyễn Thị Thanh. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con trở lại Hà Nội, tại đây, ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô Văn Nghệ (1952) và tập thơ Mê Hồn Ca (1954).
Tháng 8, 1954, Đinh Hùng cùng vợ con vào Sài Gòn cùng với gia dình của Vũ Hoàng Chương. Trong thời gian đầu, ông nhận viết báo, viết tiểu thuyết dài từng kỳ cho các nhật báo Sài Gòn như “Kỳ Nữ gò Ôn Khâu”, “Đao phủ thành Đại La”, v.v… và bình thơ tại Đài phát thanh Sài Gòn. Ngoài ra ông còn vẽ tranh vui và giữ luôn mục thơ trào phúng “Đàn ngang cung” với bút hiệu Thần Đăng. Sau đó ông lập ra tờ nhật báo Tự Do, cộng tác cùng với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong…Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận. Năm 1961, ông cho in tập Đường Vào Tình Sử, tác phẩm này được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.
Phải chăng “Nhân tài thường hay chết yểu” hay bởi Đinh Hùng luôn bị ám ảnh bởi sự chết, hay là vì nhân chứng của nhiều cái chết, nên dưới ngòi bút tài hoa sẵn có, ông đã phác họa một cáo phó về cái chết của mình qua bài thơ Cung Đàn Tưởng Niệm, và được coi như là một di chúc viết cho chính bản thân ông. Ngay cả trong tác phẩm văn xuôi đầu tay của ông, ông đã chọn tựa đề rất lạ lùng: Đám Ma Tôi, được nhà xuất bản Tân Việt in năm 1943, lúc ấy ông mới có 23 tuổi.
…”Khi anh chết, các em về đây nhé
Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa
Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ
Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”
Tháng 08 năm 1967, Đinh Hùng qua đời vì bệnh ung thư gan tại bệnh viện Bình Dân, ông được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Một điều kỳ diệu đã xảy ra là lời ước nguyện của ông khi còn sinh tiền đã biến thành hiện thực: “…Khi anh chết, các em về đây nhé… Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”. Thật vậy, bạn bè của Đinh Hùng kể lại là trong đám tang của ông người ta thấy có hai chục cô thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng đi theo linh cữu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuồng lòng huyệt, ngậm ngùi tiễn đưa người thi sĩ.
Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967. Ngoài những tác phẩm trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.
NHẬN ĐỊNH VỀ THẾ GIỚI THI CA CỦA ĐINH HÙNG
Nói đến những bài thơ làm nên tên tuổi của Đinh Hùng, chúng ta không thể nào không nhắc đến tác phẩm đầu tay của thi sĩ do nhà xuất bản Tiếng Phương Ðông ấn hành tại Hà Nội năm 1954: Mê Hồn Ca. Dựa theo bài viết của Thủy Nguyệt, Mê Hồn Ca gồm 40 bài thơ ca ngợi tình yêu cuồng nhiệt của một tâm hồn lạc lõng, bơ vơ muốn tìm về một thế giới hư vô. Qua phong cách diễn tả độc đáo của tác giả, chúng ta nhận thấy trong ý thơ của ông vừa có vị nồng nàn, tha thiết, đau khổ chen lẫn mê hoặc, mà trong đó chất chứa một vũ trụ hoang sơ, rừng rú. Ở phần đầu Mê Hồn Ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác từ cô độc đến bi thiết qua những bài thơ: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên… Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác mà chúng ta tìm thấy trong thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia như trong Gửi người dưới mộ, Tìm bóng tử thần. Bài thơ Cầu hồn là điển hình cho sự ám ảnh trong ý thơ.
Hồn ơi! Hồn tỉnh giấc thần,
Đêm nay lạc xuống dương trần mà vui.
Nghìn yêu ma che bước cõi Luân Hồi,
Nhìn nghiêng mặt đất thấy trời hiển linh.
Giữa đêm đời sẽ hồi sinh.
Nhân gian hát khúc vong tình lên non.
Đôi ta vào hội oan hồn,
Âm dương tái hợp …Có những lúc chúng ta tự hỏi: Trong thế giới thi ca, hỏi mấy ai có thể tạo dựng một nghĩa trang huyền ảo như trong văn thơ của thi sĩ Đinh Hùng? Phải chăng cái chết và sự sống, thường bị chia cắt và giới hạn bởi không gian vật lý? Phải chăng trong cõi tâm linh của Đinh Hùng khát vọng sự giao hòa, ao ước rằng con người có thể vượt qua mọi ranh giới để hướng đến khoảng cách vô tận ấy? Ai có thể hiểu được vì sao Đinh Hùng đã viết lên những vần thơ đi vào cõi chết? Có phải đó là kết quả của nhiều đau thương mất mát trong gia đình liên tục xảy đến với ông, hay chính ông đã nhìn thấy sự chết cho chính mình, và ở đâu đây, lưỡi hái tử thần đang chờ đón ông?
Mặc dù Mê Hồn Ca xuất hiện trên thi đàn giữa thời loạn ly, khi đất nước chia đôi nhưng đã lôi cuốn rất nhiều độc giả bởi hình ảnh liêu trai, bởi sự sống đầy mộng mị của trần gian và sự hoang lạnh của chốn âm cảnh, qua trí tưởng tượng phong phú đầy sáng tạo của thi sĩ Đình Hùng và trong thế giới mê hoặc, mờ ảo với những ảo giác hư thực của tiền kiếp đã trở thành một tuyệt tác dưới ngòi bút của Đinh Hùng.
Nàng năm mộng suốt đêm hè dưới nguyệt,
Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao.
Xa nấm mộ, chúng ta cuồng dại hết,
Để yêu tà về khóc dưới non cao.
Hồn Vệ Nữ lạc loài bên cửa huyệt,
Xuân bi thương – ôi má thắm, môi đào!
Bốn mùa trăng vào một hội chiêm bao,
Trong giấc ngủ đẫm mùi hương phấn lạ.(Tìm bóng tử thần)
Cái bi kịch của tình yêu, của gia đình với những ràng buộc khắt khe của tạo hóa đã đưa người nghê sĩ tài hoa Đinh Hùng lạc lõng trong xã hội loài người, bị ám ảnh bởi cái chết đã đi vào tư tưởng của ông rồi bộc lộ qua thi ca. Bài Gửi Người Dưới Mộ đã cho chúng ta một cảm nhận rờn rợn trong hồn:
“…Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu…“
(Gửi người dưới mộ)
Thơ của ông có nhiều sắc thái khác nhau, khi là sự hiện hình của một thực tại huyễn tưởng, một ngôn ngữ đầy ma mị, đầy hư ảo, khi thì bộc lộ sự cô độc, thảm thiết gần như muốn tìm vào cõi chết, thể hiện qua những bài thơ: Mê Hồn Ca, Bài Ca Man Rợ, Những Hướng Sao Rơi. Lại có những bài thơ nghiêng về tôn giáo, tâm linh, đôi lúc ông thi vị hóa tình yêu như trong bài Kỳ Nữ, Hoa Sử, Hương Trinh Bạch. Ở một khía cạnh khác, chúng ta thấy thơ của Đinh Hùng, hình như bị ám ảnh bởi thế giới bên kia, nhập tâm tìm kiếm một ngõ ngách giao hòa cùng người thiên cổ, thể hiện qua bài: Cầu Hồn, Gửi Người Dưới Mộ, Tìm Bóng Tử Thần….
…”Trong mộng trần duyên
Của người thiên cổ….”
…”Trời ơi, đây nguyệt vô biên
Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ”.
(Tìm Bóng Tử Thần)
Đọc bài thơ Liên Tưởng, chúng ta có cảm tưởng đây là những vần thơ mà Đinh Hùng đã viết cho một người con gái xinh đẹp yểu mệnh tên Bích Liên mà ông đã yêu say đắm trong ngây ngất. Một mối tình tinh khiết nhưng mãnh liệt, kỳ ảo nhưng huyền hoặc. Phải chăng chính mối tình ấy đã tạo nên một ảnh hưởng sâu đậm trong tâm khảm của nhà thơ và đã đi theo ông trong suốt cuộc đời.
… Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.
Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,
Lén bước trang đài tới gặp ta
Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn,
Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên.
Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng,
Lửa hạ lên rồi … Ôi Ý Liên!”
(Liên Tưởng – ĐVTS)
Đinh Hùng và Bích Liên yêu nhau trong tuyệt vọng, khi Bích Liên qua đời vì bệnh lao, Đinh Hùng mới 20 tuổi, cái tuổi chập chững bước vào đời với khát vọng yêu đương, với cuồng phong bão tố của mối tình đầu. Cái chết của Bích Liên, cũng là sự mất mát rất lớn trong đời ông và đã biến con người ông trở nên như điên dại, nỗi đau đớn ấy khiến ông sáng tác một loạt thơ mới: Thơ Chiêu Niệm, Liên Tưởng và Gửi Người Dưới Mộ đã đưa ông hướng sâu vào cõi chết, phải chăng, theo ông chết là giải thoát những khổ đau.
Em đã về chưa?
Em sắp về chưa?
Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.
Em hãy cười lên vang cõi âm.
Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
Những hồn phiêu bạt bao năm trước.
Nay đã vào chung một chỗ nằm.Theo tác giả Đỗ Tường, khi Bích Liên chết, Đinh Hùng xin đến nhìn mặt người yêu lần cuối, đứng trước xác người yêu, ông đã làm một cử chỉ khiến tất cả mọi người phải kinh hoàng bởi ông điềm nhiên lật tấm vải liệm phù mặt cô gái ra, rồi cuối xuống hôn một cách say đắm.
Qua xứ ma sầu, ta mất trí
thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
trời ơi! trời ơi! làn tử khí
lạc lõng hương thầm đoá Bạch Liên
(Cầu hồn)
Phải chăng sự ám ảnh với những nỗi đau và cái chết khiến thơ của ông đã vượt quá giới hạn, vượt quá sự tưởng tượng của con người. Với ông cái chết là sự cuồng si, là cái đẹp, nó không chỉ đẹp trong thơ mà còn đẹp trong cả tiềm thức của người nghệ sĩ với nỗi đau và sự rung động của trái tim qua bài thơ Gửi Người Dưới Mộ.Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
Em mộng về đâu?
Em mất về đâu?
Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu,
Đấy màu hương khói là màu mắt xưa.
Trong bài viết “Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cho rằng biểu tượng mạnh mẽ nhất của Đinh Hùng là cái chết với “mặt trời máu”, với “nấm mồ”, “tử thần”, “hồn ma” … Quả nhiên, trong hai phần “Chiêu niệm”, “Mê hồn” và cả bài trường thi “Thần tụng” cũng tràn ngập không khí của cõi chết. Nhưng cái chết trong thơ Đinh Hùng không phải sự tàn lụi và đau thương mà cái chết trong thơ Đinh Hùng rạo rực xuân tình, đầy sức sống:Cười lên em!
Khóc lên em!
Đâu trăng tình sử,Nép áo trần duyên?
… Ta gởi bài thơ anh linh
Hỏi người trong mộ có rùng mình?
Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?”(Gửi người dưới mộ)
… Hỡi hồn tuyết trinh!
Hỡi người tuyết trinh!
Mê em, ta thoát thân hình,
Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.
Em có vui thêm?Em có buồn thêm?
Ngồi bên cửa mộ,Kể cho ta biết nỗi niềm.
Sau khi Bích Liên mất, thi sĩ Đinh Hùng sống một cuộc sống “Lăng bạt kỳ hồ“, khi thì ông đi dạy học ở Hà Đông, khi thì gia nhập một ban nhạc tài tử ở vùng Bắc cạn, ông như người quẫn trí, ông khóc như điên dại, bỏ Hà Nội, đi Hải Dương, vượt sông Hồng Hà, ông bỏ lại tất cả và chỉ ôm ấp bên mình, bức di ảnh của Bích Liên.
… “Thần chết cười trong bộ ngực điên,
Ta nghe em thở tiếng ưu phiền.
Nỗi lòng xưa dậy tan Thanh Vắng.
Hơi đất mê người – Trăng hiện lên.”…”Qua xứ ma sầu ta mất trí
Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
Trời ơi! Trời ơi! Làn tử khí …”
Những cái chết trong gia đình, nhất là cái chết của Bích Liên, thi sĩ Đinh Hùng cho rằng định mệnh quá cay nghiệt với ông, ông muốn xuất trần, rút mình vào một thế giới siêu tưởng, tránh sầu bi? Phải chăng, ông đã vượt ra ngoài vòng vũ trụ, nhìn xuống dương trần với đôi mắt dửng dưng và tìm đến cái thế giới riêng cho ông, thế giới vô hình. (Thi Vũ 1993). Có thể điều này đã giải thích được phần nào những văn thơ huyền bí của ông. Trong thế giới siêu tưởng, Đinh Hùng mâu thuẫn với chính ông, khi hiền thì thật là hiền, nhưng có lúc thì trở nên dữ tợn. Trong cái thế giới tình yêu giả tưởng, lãng mạn và tình tứ ấy, thi sĩ Đinh Hùng đã tìm ra chân lý của mình.
…“Trong im lặng, tôi rung mình nín thở,
Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa.
Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da,
Tình yêu rợn tự đầu mày chân tóc…”
(Giáp Mặt Phù Dung)
Ngược lại, trong bài “bài Ca Man Rợ” ông rất dữ tợn:
…”Ta về đây, lạ hết các người rồi,
Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống.
Trong bỡ ngỡ duy long còn chút mộng,
Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa.
Nàng không mong, ta đi đến không ngờ,
Giây phút ấy thực mắt nhìn tận mắt,
Ta mỉm cười bỗng thấy nàng che mặt
Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa…”
(Bài Ca Man Rợ)
Theo tài liệu Wikipedia, hai thi phẩm nổi bật của Đinh Hùng là Đường Vào Tình Sử và Mê Hồn Ca. Nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca như sau: “Đây là loại thơ nói ít hiểu nhiều, thi sĩ Đinh Hùng đã sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mát. Có thể nói là thi sĩ Đinh Hùng chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire và Rimbaud“. Thơ của Đinh Hùng nghiêng về tâm linh, siêu hình, bí ẩn và có chiều hướng thoát ly ra khỏi thực tế.
…”Khi miếu đường kia phá bỏ rồi
Ta đi về những hướng sao rơi
Lạc loài theo hướng chân cầm thú
Từng vệt dương sa mọc khắp nơi…
… Rồi những đêm sâu bỗng hiện về
Vượn lâm tuyền, khóc rợn trăng khuya
Đâu đây u uất hồn sơ cổ
Từng bước ma rừng theo bước đi”……
(Bài Ca Man Rợ)
Tình yêu trong thơ Đinh Hùng không phải là những cảm xúc bình thường, mà là sự kết hợp của những mê dại nghiêng về tâm linh, huyền bí của thế giới kỳ diệu ái tình, một vũ trụ nhập nhòe giữa thực và ảo, chính là vũ trụ của một biển tình da diết trong thế giới âm dương.
…“Ta thường có những buổi sầu ghê gớm
Ở bên em, ôi biển sắc rừng hương!
Em rực rỡ như một ngàn hoa sớm
Em đến đây như đến tự thiên đường.
(Kỳ Nữ)
“Kỳ Nữ” trong thơ của Đinh Hùng đã đưa chúng ta vào một không gian thần thoại với vẻ kỳ vĩ của trăng sao, của núi rừng. “Kỳ Nữ” với Đinh Hùng giống như nàng Galatae với chàng Pygmalion, nàng đại diện cho lý tưởng, cho cõi mơ, cho sự hoàn hảo mà người nghệ sĩ luôn tưởng đến.
“Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo
Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm
Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm
Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận”Khi bài Kỳ Nữ ra đời được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh, đã đưa tên tuổi của thi sĩ Đinh Hùng lên đỉnh cao nhất trong làng thi văn, và khẳng định rằng ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi từ đầy ma lực, điều này đã được thể hiện rõ rệt trong thi tập Mê Hồn Ca. Tuy nhiên, Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng là thế giới của say mê, hoang sơ man dại, chết chóc, huyền bí, nhiệm mầu, của tình yêu tha thiết, mãnh liệt và kinh khủng của lứa đôi.
Anh sẽ tìm em, chiều nào tận thế
Khi những sầu thương cất cánh xa bay
Khi những giận hờn, khi những mê say
Khi tất cả hiện nguyên hình ảo mộng:
Giọt lệ hoa niên, cung đàn hoài vọng
Và những hương thơm tình ái trao duyên
Những không gian thăm thẳm mắt u huyền
Những vạt áo bỗng trở màu sông biển(Đường Vào Tình Sử)
Ngoài những bài thơ huyền bí, thi sĩ Đinh Hùng sáng tác một số bài thơ ca ngợi tình yêu, nhưng khi đọc Kỹ, chúng ta thấy phảng phất lời văn hoang tưởng và xa vời thực tế. Nổi bật trong thể loại thơ này là bài thơ Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng với lời thơ trong sáng, ca tụng tình yêu đôi lứa, được nhạc sĩ Phạm đình Chương góp nhặt, trau chuốt, viết bằng cảm xúc xúc thành nhạc phẩm Mộng dưới hoa.
…”Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh là bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”
…”Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu
Đêm nằm nghe giấc mộng trôi mau
Gió ơi, gởi gió lời tâm niệm
Và nguyện muôn chiều ta có nhau…”
(Nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa)
Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng là hai bài thơ trong thi tập Đường vào từng sử, một tập thơ đầy nhạc tính. Trong hai bài thơ trên, Đinh Hùng muốn nói cuộc đời không phải lúc nào cũng là con đường đầy chông gai, tang thương, buồn thảm. Con đường ấy có khi cũng phủ đầy hoa gấm, mộng mị, yêu thương, dù là trong mộng tưởng.
Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối(Xuôi dòng ảo mộng)
… ‘Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,
Nắng trong hoa, với gió bên hồ
Dành riêng em đấy khi tình tự,
Ta sẽ đi về những cảnh xưa…”
(Tự Tình Dưới Hoa)
Nhà văn Việt Haỉ viết “Mộng dưới hoa của Đinh Hùng và nhạc Phạm Đình Chương như hiểu nhau ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, những nốt nhạc ấy là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ”. Nhà văn Việt Haỉ nhận định: “Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ”.
…”Tóc xanh là bóng dừa hoang dại,
Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”
Trong bốn câu thơ dưới đây diễn tả một khoảnh khắc thời gian như dừng lại cho cặp tình nhân gặp nhau trong mộng.
…”Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát long anh
Ta đi vào tận rừ xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối…”
Trong câu: Ta đưa nhau vào tận rừng xanh, vớt cánh rong vàng bên suối.
“Cánh rong vàng” tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Hỏi ai có
vớt được “cánh rong vàng”? hay đó chỉ là trong giấc mộng thôi.
…“Bước khẽ cho long nói nhỏ
Bao nhiêu mộng ước phù du
Ta xây thành mộng nghìn thu
Núi biếc song dài ghi nhớ.
Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề
Mây hồng giăng tám ngả sơn khê
Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng
Và mộng em cười như giấc mê…”
Theo Võ Tấn Cường nhận định về thơ của thi si Đinh Hùng: “Đinh Hùng – một hồn thơ kỳ ảo với vũ trụ thơ thuần khiết, song hành với thực tại là hiện tượng thi ca đầy phức tạp và bí ẩn. Số phận cuộc đời của Đinh Hùng và thi ca của ông chịu nhiều oan trái, bị chìm khuất dưới những dòng xoáy của thời cuộc cùng với những định kiến và quan niệm hẹp hòi về nghệ thuật” … Theo tôi, cái đẹp trong thơ Đinh Hùng huyền ảo, mầu nhiệm và gợn sắc màu sử thi như trong các bản trường ca Iliat và Ôđixê của Hôme dưới thời kỳ lịch sử Hi Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ IX TCN (vì trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Hi Lạp trong giai đoạn này được phản ánh rõ nét trong 2 tập sử thi Iliát và Ôđixê, tương truyền là sáng tác của nhà thơ Hôme ở Tiểu Á. (Nguồn: https://bienniensu.com/thegioi/lich-su-hi-lap-thoi-ky-home/). Cái đẹp trong thơ Đinh Hùng mang bóng dáng và tinh thần nhân đạo của hình tượng người anh Hùng sử thi:
…“Ta lảo đảo vùng đứng lên cười ngất
Ghì chặt nàng cho chết giữa mê ly
Rồi dày xéo lên song núi đô kỳ
Bên thành quách ta ra tay tàn phá…”
(Bài ca man rợ)
Dưới ánh mắt của Đinh Hùng cái đẹp là một thế giới đầy cám dỗ, huyền ảo, nhiệm màu và siêu thoát, ông tôn thờ tình yêu và xem nó như một thứ tôn giáo, ông đặt sắc đẹp lên ngôi, xem nó là một thứ quyền năng chi phối tâm linh, sự sống và sự chết, nó ảo hóa với muôn sắc thái và ma mị nên dễ gây ấn tượng rờn rợn khi ta được nghe hay đọc nó.
…“Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác
Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma
Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà
Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết
Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết
Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn
Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn…”
(Kỳ Nữ)
Thơ tình yêu của Đinh Hùng vượt qua nỗi khát khao dâng hiến, hướng về thế giới tâm linh huyền bí, siêu hình của tôn giáo, sự linh thiêng của cõi vô hình đã phủ lên thế giới tâm linh, hư ảo, huyễn hoặc trong thơ của ông qua vẻ đẹp lung linh, huyền bí trong thơ của Đinh Hùng:
…“Ta hát bài kinh, thoảng dã hương
Từng đêm chiêu niệm bắt hồn nàng
Lời ra cửa biển tìm sao rụng
Rỏ xuống mộ em giọt lệ thương…”
Cái gì đã đưa Đinh Hùng đến với ám ảnh về cái chết, về bóng ma? Trong đời sống tôn giáo tâm linh, quan trọng nhất là đời sống sau khi chết, là đời sống thực của linh hồn. Linh hồn con người thoát khỏi thể xác và khám phá thế giới cõi âm. Điều này được ghi lại trong các thư tịch của Tây Tạng, Ai Cập, Trung Quốc và báo chí phương Tây. Trong cơn hấp hối, trong trạng thái mơ màng, con người tiếp xúc với thế giới âm, gặp gỡ những linh hồn của người lạ hoặc người quen trong quá khứ. Krishnamurti, một bậc thầy tâm linh đương đại nổi tiếng được sự kính ngưỡng của cả giới tôn giáo và giới khoa học thế kỷ 20, cũng đã thường xuyên có trải nghiệm này. Trong những biến đổi mãnh liệt nhất về tâm linh, khi ở giữa ý thức và vô ý thức, ông nhìn thấy bóng ma người mẹ quá cố của mình cùng với nhiều linh hồn của các bậc chứng ngộ khác. Ở trường hợp Đinh Hùng, nhà thơ đã trải nghiệm sự việc này khi mơ màng trong màu sương khói của mây mù thuốc phiện:
“Từng đêm tôi nguyện tôi cầu
Đấy màu hương khói là màu mắt xưa”
(Gửi người dưới mộ)
Này Biển Giác: mây trời nghiêng nét mặt
cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu
(Tìm bóng tử thần)
Ta hằng nghe rõ
tiếng buồn trong sương
hằng thấy trên tường
hình ma bóng nhớ
chỗ em ngồi cũ
lên màu khói hương
(Màu sương linh giác)
Và chính Đinh Hùng cũng thừa nhận đó là một trạng thái mộng mị, tức là cõi ảo dưới con mắt người thường, có điều trong cõi ảo ấy, tất cả đều rất thật, rất đắm say, tới mức muốn vứt bỏ cả xác trần:“đôi ta vào hội oan hồn
âm dương tái hợp –
ồ! đây là cuộc tân hôn dị kỳ
nguyệt hoa mặc áo huyền vi
màu nghê thường đó – trời ơi! xiêm y biến hình
tôi van lơn bầy nhạc nữ đồng trinh
đừng cao giọng hát – hồn các em lạc tinh anh bốn trời!
đừng cho thể chất phục hồi
đừng cho tôi khóc, tôi cười vì điên!”
(“Cầu hồn”)
Tóm lại, phân tích về thế giới thi ca cũa Đinh Hùng tùy thuộc vào cái nhìn của từng cá nhân, dù rằng nó có thể hoàn toàn khác với mọi người. Đôi lúc, người ta cho rằng nhận định của chúng ta là hoang tưởng, nhưng một khi đã bước vào cõi hư ảo, dù theo cách này hay cách khác, tức là đã từng trải nghiệm đời sống linh hồn, thì khó có thể nhìn vạn sự bằng nhãn quan của thế giới hữu hình. Theo người viết, “thơ Đinh Hùng là một thế giới mang đầy mê cung kỳ ảo” và vẫn còn trong sự huyền bí chờ đợi sự giải bày của những khối óc quan tâm đến vận mệnh thi ca của dân tộc.VŨ HOÀNG CHƯƠNG

VŨ HOÀNG CHƯƠNG-(1915-1976)
Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.Trong một sự tình cờ, ngày 03 tháng 11 năm 2024 người viết đã gởi đến quý độc giả một hồi ký với tựa đề “Sinh Lầm Thế Kỷ”, một câu chuyện chân thực về cuộc sống ở Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm kể về một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại những ký ức đau thương về chiến tranh và nỗi khổ đau của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Tưởng cũng xin giải thích rõ là tại sao người viết lại cho đó là một sự tình cờ? Xin thưa: Lúc chọn tựa đề cho quyển hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ” người viết không hề biết thi nhân Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài thơ Phương Xa mà trong ấy cũng có câu “đầu thai lầm thế kỷ”.
Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.Dưới đây người viết xin lướt qua về:
TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
Vũ Hoàng Chương sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh–Na Sầm.
Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, hồi cư về Hà Nội dạy văn cho đến 1975.
Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam ở Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở các trường trung học và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1959 ông đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc” của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc tế tại Bỉ. Năm 1964 ông tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm 1965 tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire.
Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai, lúc này tên tuổi của ông nổi bật trong phong trào Thơ Mới (1932-1945) và được gọi “Thi Bá Vũ Hoàng Chương”. Năm 1972, Vũ Hoàng Chương trong danh sách 100 tác giả được đề cử giải Nobel Văn Chương (The Nobel Prize in Literature), sự kiện này chỉ được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố ngày 11 tháng 02 năm 2023. (vì theo quy định thì sau 50 năm kể từ khi trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển mới công bố danh sách những người được đề cử Giải Nobel văn học của năm đó). Giải Nobel năm 1972 được trao cho cho nhà thơ Heinrich Böll của Đức, (Heinrich Böll đã từng được đề cử liên tục từ năm 1960 và mãi đến năm 1972 mới đoạt được giải).
Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Theo Nhà văn Mai Thảo… Buổi sáng ngày 13 tháng 4 năm 1976 (theo lời chị Vũ Hoàng Chương thuật lại. Bốn chiếc Jeep đến từ phía Sài Gòn, chở đầy an ninh áo vàng mang súng ống, phóng thẳng tới phường Cây Bàng và ngừng lại trước con ngõ nhỏ dẫn vào căn gác của gia đình Vũ Hoàng Chương (Gác Bút). Khoảng 20 công an, nhẩy xuống xe, xô cửa ập vào đánh thức thi sĩ khỏi giấc ngủ chập chờn. Vũ Hoàng Chương gắng gượng ngồi dậy, lấy áo gấm mặc vào người, ngồi thật thẳng giữa chiếu, bất động, chờ đợi… Ông không kinh hãi, không phẫn nộ, không bất ngờ, cũng chẳng ngạc nhiên. Ông ngồi thẳng, mắt nhắm lại… Suốt thời gian này, thi sĩ không nói một lời nào khi ông nghe bản cáo trạng và lệnh bắt giữ, ông chỉ nhún vai rồi ngồi yên như cũ. Lý do bị bắt là phản động, làm thơ chống phá cách mạng phổ biến khắp Sài Gòn những bài thơ chống phá chế độ. Sau cuộc lục soát xong và tịch thu sách và bản thảo, hai công an xốc nách thi sĩ đứng lên, kèm ông xuống cầu thang và đưa thẳng ông vào khám lớn Chí Hòa…
… Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối, không ai có tin tức của Vũ Hoàng Chương, ông được thả về khi trở bệnh nặng trong tù. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, nhưng thần trí của ông vẫn minh mẫn sáng suốt. Điều tuyệt đối là ông không nói một lời nào về bốn tháng bị giam trong Chí Hòa. Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại trong đau đớn và ngày thứ năm, ngày 17 tháng 9, 1976, thì ông mất tại Sài Gòn. Năm 1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp.
Dưới đây là bài thơ cuối cùng của Vũ Hoàng Chương làm trong Khám Chí Hòa năm 1976:
Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.
Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
Đêm về giấc ngủ lại thương con.
Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
Hồ dễ gì phai được tấc son!”Vũ Hoàng Chương có nhiều sáng tác để đời, được giới phê bình văn học đánh giá cao, và từng được xưng tụng là “Ngôi sao Bắc Ðẩu” của thi ca Việt Nam. 1975:
Hơn bốn thập niên sau, thi ca Vũ Hoàng Chương không còn đề cập ở trong nước, một đời thơ của ông bị lãng quân, chôn vùi theo thân xác. Và ngay cả trong những tác phẩm đề cập đến những áng thơ hay trong Thi Ca Việt Nam cũng “quên” nhắc đến dòng thơ thi bá Vũ Hoàng Chương. (Vương Trùng Dương)
NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG & THI CA
Dựa theo tài liệu trên Internet, đã có rất nhiều bài bình luận nhận định về sự nghiệp văn chương & thi phú của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Họ cho rằng: Văn phong và phong cách của thi nhân được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc và chứa đựng sắc thái Đông phương. Vũ Hoàng Chương làm thơ rất sớm khi ông mới 25 tuổi (1940) và đã cho xuất bản rất nhiều thi tập.
Tháng 10, 1936 ông xuất bản tập Die Achtundzwanzig Sterne, thơ dịch ra Đức ngữ, do nhà Hoffmann Und Campe, tỉnh Hamburg, Đức. Dịch giả là thi sĩ Áo Kosmas Ziegler. Trước 1945, ông có hai thi phẩm nổi tiếng vào thời tiền chiến là Thơ Say (1940) và Mây (1943). Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam đã nhận xét: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say nhưng “say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc”.
Tập thơ đầu tay Thơ say gồm 32 bài thơ do tác giả tự xuất bản, nhà in Cộng Lực ấn loát và phát hành. Năm 1971, NXB Nguyễn Đình Vượng tái bản tập Thơ Say tại Sài Gòn, tập thơ chia làm nhiều phần như: Say, Mùa, Yêu, Cưới, Lỡ Làng, Lại Say. Bài thơ Say đi em, Phương xa, Chén rượu đôi đường, Mùa thu đã về và Quên là những bài thơ được nhiều người đọc và yêu thích nhất. Năm 1960, tại Sài Gòn Vũ Hoàng Chương tự tái bản 2 tập thơ Say gồm32 bài thơ và Mây gồm 25 bài thơ, in chung vào 1 tập mang tên Mây, Sài Gòn 1960. Người viết xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu:
…“Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn,
Cho cung bực ngả nghiêngCho điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa!Và quên quên hết!
Ta quá say rồi
Sắc ngả mầu trôi…(Say đi em-1940)
Và lại say nữa để mà quên.
Đã hẹn với Em rồi, không tưởng tiếc
Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,
Sát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu.Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,
Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.(Quên-1947)
Năm 1948, Vũ Hoàng Chương xuất bản tập Thơ Lửa cùng với Đoàn Văn Cừ tại Thái Nguyên do cơ quan Kháng chiến Liên khu 3 đảm trách. Năm 1959, khi Vũ Hoàng Chương Tham dự Hội Nghị Thi Ca Quốc Tế, gặp gỡ nhà thơ nữ Ysabel Baes mới 15 tuổi đã có một thi tập được được Maison du Poète tại thủ đô Bruxelles xuất bản năm 1959. Bài thơ Công Chúa Mười Lăm, dài với 40 phân đoạn, mỗi đoạn 4 câu thơ thất ngôn. Toàn bài có 160 câu. Bài thơ “Công Chúa Mười Lăm” của Vũ Hoàng Chương tặng YSA không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là một hành trình vươn tới cái đẹp vĩnh hằng, là hình ảnh của một tình yêu và nghệ thuật. Tình yêu ấy là hành trình, là những cảm xúc, những giấc mơ và những hy vọng. Mối quan hệ giữa người thi sĩ và Công Chúa Mười Lăm là sự giao thoa giữa hai thế giới: thế giới của “thơ” và thế giới của “mộng”.
Công Chúa Mười Lăm, nàng ở đâu?
Tìm nàng, thôi đã nát Âu châu
Ba Lê, Nhã Điển hay La Mã
Đâu cũng rêu in lệnh Miễn Chầu……Đê mê nhịp thở phút huyền ngưng
Đôi lứa chìm sâu đáy Tượng trưng
Ta nhủ: “Kìa em! Thơ mở lối
Còn sâu hơn cả trái tim Rừng!”…Trong thời gian từ năm 1962 trở đi, Vũ Hoàng Chương đã cho xuất bản nhiều thi tập và tùy bút tại Sài Gòn gồm: Rừng Phong. 1970: Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, Tân Thi, Loạn Trung Bút, Ngồi Quán, Tâm sự phố phường, Tuổi Xanh, Ba Kiếp Lang Thang,Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai, Lửa Thiêng (Phần I: Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay 1936-1939), Ánh Trăng Đạo, Tập Bút Nở Hoa Đàm, Nhị Thập Bát Tú I & Tập II, Cành Mai Trắng Mộng. Đáng kể nhất là năm 1962, tập thơ Trời Một Phương trong đó có bài thơ Lửa Từ Bi ca ngợi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào tháng 07, do nhóm Thanh Tăng xuất bản vào tháng 12, 1962. Bài thơ Lửa Từ Bi Kính dâng lên BỒ-TÁT QUẢNG-ĐỨC đã được Hà Lan Phương và Nguyễn Hải phổ nhạc.
Lửa! Lửa cháy ngất Toà Sen!
Tám chín phương nhục thể trần tâm
hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,
Ánh Đạo Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên…1974: Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, NXB Rừng Trúc, Paris; Theo ông Hoàng Tấn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau” tặng nghệ nhân Quách Thị Hồ, người hát ca trù hay nhất Việtnam (danh hiệu NSND), xưa từng là bạn cố tri của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Hát ca trù cần có “đàn đáy”, do đó nội dung bài thơ sau đây đầy ắp những từ hát cô đầu, âm thanh vang tiếng “sênh, đàn, phách”.
… Chúng ta mất hết cả rồi sao?
Cả đến âm thanh một thuở nào!
Da trống tơ đàn ôi trúc phách
Đều khổ như khúc hát gầy hao
Đàn mang tiếng đáy mà không đáy
Mất hết rồi sao sợi nhớ thương
Tay phách từ lâu nay lạc phách
Không còn đựng mãi bến Tầm Dương…
Bài Vịnh Tranh Gà Lợn của nhà thơ Vũ Hoàng Chương mà tác giả đã viết vào mùa xuân Bính Thìn (1976), cái tết cuối cùng của một đời thi bá.
Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,
Gà lợn, om sòm rối bức tranh.
Rằng vách có tai, thơ có hoạ,
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.
Ngoài ra Vũ Hoàng Chương còn có một số tác phẩm được dịch qua Anh ngữ và Pháp ngữ như tập thơ Cảm Thông (nhan đề Anh ngữ là Communion); gồm 6 bài thơ mới sáng tác sau cuộc Âu du và 9 bài cũ lựa chọn lấy tính cách tiêu biểu; do Nguyễn Khang phiên dịch và xuất bản. Tập thơ Tâm Tình Người Đẹp (nhan đề Pháp ngữ là Les 28 Etoiles); gồm 42 bài thơ Nhị thập bát cú, kèm theo bản dịch của nữ thi sĩ Bỉ Simone Kuhnen de La Coeuillerie; Nguyễn Khang. Năm 1963, xuất bản tập Thi Tuyển (nhan đề Pháp ngữ là Poemes Choisis) kèm theo bản dịch của Simone Kuhnen de la Coeuillerie: do nhà xuất bản Nguyễn Khang vào tháng 03, 1963. Vũ Hoàng Chương đã dịch nhiều thơ chữ Hán từ nhiều tác gia Việt Nam và Trung quốc, khoảng 100 bài.
Dưới đây là những bài thơ Vũ Hoàng Chương viết trong tập thơ Hoa đăng. Bài thơ Trả ta sông núi cho chúng ta cảm nhận tấm lòng yêu nước của con người dân Việt. Những bài thơ trong tập thơ Hoa Đăng rất dài nên người viết chỉ xin trích vài đoạn trong một số bài thơ của ông mà thôi.
…Trả ta sông núi từng trang sử
Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
Không đòi, ai trả núi sông ta…
…Trả ta sông núi! câu hùng tráng
Là súng là gươm giữ đất đaiTrông lên cao ngất phương trời
Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.Bài thơ Đời Vắng Em Rồi của Vũ Hoàng Chương sau được đổi thành Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai. Tên này sau cũng được ông dùng đặt cho một tập thơ khác.
Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu,
Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu.
Thôi rồi, tay nắm tay lần cuối,
Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau.Gặp gỡ chừng như truyện Liểu Trai.
Ra đi chẳng hứa một ngày mai.
Em ơi! lửa tắt, bình khô rượu,
Đời vắng em rồi, say với ai?Yêu Mà Chẳng Biết là một trong những bài thơ mang tính thơ lãng mạng.
Lâu rồi không nhớ bao nhiêu năm,
Từ độ trông nhau hết lạ lùng,
Từ hôm bên nhau thôi ngượng ngùng,
Từ buổi xa nhau mà nhớ nhung.
Em đã nao lòng, anh mê man!
Đuôi mắt đầu môi tình chứa chan,
Đêm thường mơ đêm, ngày đợi ngày.
Nhưng không hề nói cho nhau hay.Bài thơ Giận Hờn là những cay đắng nhưng là bài thơ đặc biệt cho ta cảm giác nhẹ nhàng Của những điệp khúc tình yêu.
Em đến hôm nào như hoa bay.
Tình không độc dược mà đắng cay
Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt
Mùi hương sát nhân từng ngón tay
Hay trong bài thơ Hờn Dỗi:
… Anh vẫn nghe tiếng khóc
Trong vạt áo len hồng.
Anh vẫn nghe tiếng nấc.
Dồn dập trên cgối nhung
Sao em khóc vì đâu hờn dỗi
Em buồn có phải lỗi anh không
Hỏi em em chẳng nói
Mặc anh xô cửa phòng…
Một bài thơ Tình si.
Vì ai làm một bài thơ
Từ bao giờ đến bây giờ mới xong.Đầu trang vằng vặc gương trong
Nhạc lơi cánh bướm hương phong nụ đào
Cuối trang vần điệu xôn xao
Lửa si mê bỗng cháy vào làn môi…
Đền nhau một chiếc hôn rồi
Mười lăm năm biết có nguôi giận hờn?…Cuối năm 1949, khi hai gia đình đang ở vùng Đống Năm, Thái Bình. Quân Pháp tràn tới, Việt Minh rút chạy. Hai gia đình Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng cũng chạy từ làng nọ tới làng kia. Cuối tháng 8 năm 1954, gia đình Vũ Hoàng Chương và gia đình thi sĩ Đinh Hùng di cư vào miền Nam, hai người thuê một căn nhà lợp tôn, vách ván tại xóm Hòa Hưng. Vũ Hoàng Chương cùng vợ ở trên gác, dưới nhà là tổ ấm của gia đình Đinh Hùng. Đất khách quê người, hai thi nhân sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo túng, họ tạm gác bút. Chán nản, họ vướng vào con đường nghiện hút (thuốc phiện). Lý tưởng tàn lụi, Vũ Hoàng Chương đã gởi niềm tâm sự vào trang giấy: Bài thơ Lý Tưởng.
…Chàng họa sĩ hôm nay vừa ném bút.
Bởi vì mơ và thực chẳng đi đôi.
Nét hư Huyền thấp thoáng ở hồn thôi.
Tài non kém chẳng đem vào lụa được…
…Nhạc sĩ với thi nhân đều thế cả
Dứt hết dây vò nát mấy mươi trang
Xấu xa trong vần điệu ý huy hoàng
Sai lạc nữa lúc phổ vào cung bậc…
…Hồn nghệ sĩ vốn từ xưa nông nổi.
Yêu thiết tha nhưng chẳng chịu thầm yêu.
Kiếm hoài công bày giải ý cao siêu.
Bằng gỗ lụa trơ trơ bằng thép rắn…
NHẬN ĐỊNH VỀ LÃNH VỰC KỊCH NGHỆ
Vũ Hoàng Chương đã xuất bản nhiều tập kịch thơ, 3 vở đầu tiên là Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp trong năm 1944, NXB Anh Hoa, Hà Nội. Tại Sài Gòn năm 1960, NXB Nguyễn Đình Vượng lại cho tái bản ba kịch bản này. Kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần, NXB Lửa Thiêng tại Sài Gòn cho ấn hành lần đầu năm 1951 và tái xuất bản năm 1961 ngay sau Cách mạng tháng 8. Năm 1946, Vũ Hoàng Chương tản cư về vùng duyên hải Nam Định (Khu Ba) nhưng đến năm 1950, ông cư về Hà nội để chuẩn bị cho diễn vở kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần năm 1951. Năm 1952, trinh diễn vở kịch thơ Thằng Cuội và năm 1953 ông cho đăng báo kịch thơ Cô Gái Ma.
Tác phẩm Vân muội: Theo tác giả Phương Nghi, Vũ Hoàng Chương khi còn đang dạy học tại Hải Phòng và vào dịp rằm tháng bảy, ông cùng nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm, Lê Trọng Quỹ và Thế Lữ cùng đi nghe hát quan họ ở Kinh Bắc. Vũ Hoàng Chương đã từng làm xếp ga Bắc Ninh và có người yêu tên là Vân ở làng Dương Ổ. Vân chính là nàng thơ để Vũ Hoàng Chương viết kịch thơ “Vân muội” và ra tập thơ “Mây” năm 1943. Năm 1942, Vũ Hoàng Chương định lên thăm “nàng thơ”, nhưng khi đến ga Đầu Cầu thì gặp Tô Hoài và Nguyễn Bính và họ rủ nhau cùng đi lên Bắc Giang ghé thăm nhà thơ Bàng Bá Lân. Ba ông dự định khi gặp Bàng Bá Lân, họ sẽ rủ nhau di xem hát ả đào. Nhưng Bàng Bá Lân vốn tính tình hiền lành hiền việc đi xem hát ả dào đành phải bỏ và họ quyết định cùng nhau họa thơ.
Duyên nợ không thành, Vũ Hoàng Chương phải chia tay “nàng thơ” xứ Quan Họ bởi vì nàng đã được gia đình gả chồng từ năm 12 tuổi. Kịch thơ “Vân muội” và tập thơ “Mây” ra đời là kết quả của cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa Huy Cận và Vũ Hoàng Chương ở Hàng Lược. Vừa gặp nhau, Huy Cận đã ngẫu hứng đọc hai câu lục bát:
“Đã lên gặp lại chàng sa.
Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần”.
Nghe xong, Vũ Hoàng Chương đối lại:
“Mây kia chẳng chịu xuống trần.
Lửa ơi! Theo khói lên gần với mây”.
KẾT LUẬN:
Trong thế giới thi ca đã có những bài thơ nổi tiếng đã thu hút nhiền độc giả yêu thơ với những áng thơ nhẹ nhàng và tinh khiết như của Hồ dzếnh, Quang Dũng; những vần thơ tình tứ, lãng mạn như của Xuân Diệu, Nguyễn Bính; hay những lời thơ triết lý cao siêu của Cao Tiêu, Tô Đông Pha; cũng như những ý thơ nặng chất tuyệt vọng, cay đắng, khổ đau của TTKH, Hàn Mạc Tử… Nhưng chúng ta phải công nhận rằng, đọc thơ của Thi Nhân Đinh Hùng, chúng ta như bị lôi cuốn vào những vần thơ huyền bí của ông, những vần thơ khi thi biểu hiện lời êm ái, mộng mị, yêu thương lúc lại chen lẫn những vẻ liêu trai, ma quái và kinh dị. Và khi thưởng thức dòng thơ của Vũ Hoàng Chương chúng ta cảm nhận được hương vị đắng cay, bất mãn chen lẫn sự khinh miệt, chán chường của một nhân tài sống trong xã hội bất công.
Đinh hùng không chỉ là nhà thơ lớn của dân tộc mà còn là một nghệ sĩ đa tài đích thực trên cả lĩnh vực âm nhạc và hội họa. 47 năm của cuộc đời trên 20 tác phẩm với nhiều thể loại từ thơ ca văn xuôi tiểu thuyết ký và phê bình văn học. Đám ma tôi là thi tập đầu của ông và thi tập cuối là Tiếng ca bộ lạc, nhưng hai thi tập Mê hồn Ca và Đường vào tỉnh sử mới thực sự làm nên tên tuổi của người nghệ sĩ tài năng Đinh Hùng. Cho đến nay thơ của Đinh Hùng vẫn còn trong vòng bí ẩn như con người của ông, một con người gặp quá nhiều oan trái và hình như cái Định mệnh khất khe, nghiệt ngã luôn buộc chặt vào cuộc đời của ông.
Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, ông có nhiều tập thơ nổi tiếng và được yêu thích, trong đó phải kể đến tập thơ Hoa Đăng do Văn Hữu Á Châu xuất bản tại Sài Gòn năm 1959. Đây là một tập thơ được đánh giá cao và đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca. Hai tập Thơ Say và Mây in chung vào một tập mang tên Mây là những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của ông. Tiếc thay, thời cuộc đảo điên, nhà thay chủ đã đưa người nghệ sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đi vào con đường tuyệt vọng. (Tạp Chí Văn Nghệ.)
Sau bao năm vắng bóng trên thi đàn thơ nhạc của dân tộc Việt, nhưng dư âm và danh tiếng của hai thi nhân Đinh Hùng & Vũ Hoàng chương vẫn sống mãi trong lòng độc giả yêu thơ.
Khánh Lan, tháng 4, 2025
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tạp chí Văn Học, Sài Gòn, số 97, 1969.
- Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 150, 3/1970.
- Lê Huy Oanh, Giai Phẩm Văn, Sài Gòn, 20/8/1974.
- Phan Xuân Sanh. Tạp chí Đại Học, số 9, 1959, Huế.
- Đoàn Thêm, Báo Văn Hóa Nguyệt san, Sài Gòn, 1964.
- Tạ Tỵ, Mười gương mặt văn nghệ, nxb Kim Lai, 1970 Sài Gòn.
- Bàng Bá Lân : Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại, 1962, Sài Gòn.
- Mai Thảo, Chân dung 15 nhà văn nhà thơ, Văn Khoa, 1985 California.
- Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Thơ, nxb Văn nghệ, 1999 California.
- Đỗ lai Thúy, Con Mắt thơ, nxb Lao Động, 1992, Hà Nội.
- Chế lan Viên, Phê bình văn học, nxb Văn Học, 1962, Hà Nội.
- Đặng Tiến, Từ điển văn học, tạp chí Thế Kỷ 21, 6/2005, California
-
UYÊN ƯƠNG GÃY CÁNH (The Broken Wings)
Khánh Lan sưu tập

Kahlil Gibran là tác giả của tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh hay The Broken Wings, ông là thi sĩ có số lượng độc giả đông nhất trong thế kỷ 20, những tác phẩm của ông bán chạy và xếp hàng thứ ba trong mọi thời đại, sau Shakespeare và Lão Tử. Ký họa và tranh màu của ông được triển lãm ở nhiều nơi trên thế giới. Về mặt triết học, ông được xem như một triết gia đại chúng và là điểm hội tụ của tư tưởng Đông-Tây.
Tác phẩm của Gibran là những nguồn tư tưởng của Kitô giáo nhuốm màu sắc đông phương bí nhiệm bởi ông là con người tôn giáo kiên định với lòng mộ đạo sâu xa, ông kính ngưỡng Đức Giêsu như một tấm gương dũng cảm và hy sinh, nhân ái và lạc quan. Ông tin rằng lòng tử tế trong con người là chiếc bóng của Thượng đế, ông tin vào sự hiệp nhất của các tôn giáo. Ông kêu gọi xóa bỏ bản tính ngược đãi và lạm dụng tôn giáo thể hiện rõ trong cuốn Đám rước, ông viế :
“Đối với con người, tôn giáo giống như cánh đồng,
được gieo trồng với hy vọng, được canh tác bởi lòng ngoan đạo,
được chăm sóc bởi trí óc mông muội sợ lửa hỏa ngục.”
Do đó, ta có thể cho rằng : Văn chương của Gibran viết theo thể điệu và kiểu mẫu Kinh thánh, đặc biệt giống như sách của các ngôn sứ và Thánh vịnh trộn lẫn giữa thơ và văn xuôi. Trong các tác phẩm của Gibran, ông kịch liệt lên án những thảm họa của đất nước, những dịch bệnh khô kiệt tinh thần và gieo khốn khó vật chất trên quê hương của ông, ông hăm dọa toàn thể loài người đã gây nên tội ác. Một thứ kiến thức pha trộn cái đẹp và lòng mộ đạo mà về sau ông được biết tới như là trường phái Gibran (Gibranism).

TÓM LƯỢC CÂU CHUYỆN UYÊN ƯƠNG GẪY CÁNH
Trong tiểu thuyết thơUyên Ương Gẫy Cánh (The Broken Wings), Kahlil Gibran đưa độc giả vào hành trình qua tình yêu, sự mất mát và sự thức tỉnh tâm linh. Lấy bối cảnh ở Lebanon vào đầu thế kỷ 20, câu chuyện vượt thời gian này khám phá sự phức tạp của các mối quan hệ giữa con người và hành trình tìm kiếm sự viên mãn đích thực. Đây là một câu chuyện tình bi thảm kể về cuộc đời của một họa sĩ trẻ tên là Khalil. Tiểu thuyết lấy bối cảnh ở Beirut, Lebanon, vào đầu những năm 1900 khi đất nước này nằm dưới sự cai trị của Ottoman. Khalil đem lòng yêu một cô gái trẻ tên là Selma Karamy, người có vẻ đẹp quyến rũ anh ngay từ cái nhìn đầu tiên. Khalil và Selma đã phải vượt qua những thách thức của tình yêu, bị cấm đoán, bị ràng buộc bởi kỳ vọng của xã hội và nghĩa vụ gia đình. Dù bất chấp mọi khó khăn, họ vẫn cố gắng giữ cho tình yêu của mình luôn tươi đẹp, nhưng số phận đã an bài cho họ một hoàn cảnh của “đôi uyên ương gẫy cánh”.
Trong đó tình yêu và sự hy sinh mà con người thực hiện vì tình yêu đã thể hiệm qua mối tình yêu đích thực của Khalil và Selma, họ đã trải qua bao thử thách bởi các chuẩn mực xã hội, kỳ vọng của gia đình và sự khác biệt về tôn giáo. Cả hai đều phải đối mặt với những quyết định khó khăn và phải lựa chọn giữa tình yêu và nghĩa vụ của mình. Cuốn tiểu thuyết cũng đi sâu vào chủ đề tự do và áp bức, đặc biệt là trong bối cảnh Lebanon dưới sự cai trị của Ottoman. Trong tác phẩm The Broken Wings, cái mong muốn tự do cá nhân và nghệ thuật của Khalil bị xung đột với những ràng buộc do xã hội và sự áp đạt của gia đình Khalil. Tâm linh và sự thức tỉnh của Khalil trong “The Broken Wings” không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là sự thức tỉnh về mặt tâm linh. Qua những đấu tranh và đau khổ, Khalil bắt đầu đặt câu hỏi về bản chất của tình yêu, ý nghĩa của cuộc sống và sự tồn tại của một thế lực cao hơn.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Ước, người đã dịch cuốn Uyên Ương Gãy Cánh chia sẻ: Với những trang sách chan chứa tình người, tràn ngập hình ảnh thơ mộng, sóng sánh chất thơ và bát ngát hương vị cảm xúc, Uyên ương gãy cánh mang tình yêu xuống chiều sâu thẳm tận đáy hồn người với những lý luận ngọt ngào của trái tim, và nâng tình yêu lên độ cao nhất, bất diệt với thực tại siêu việt. Từ đó, người đang yêu đọc nó và mỗi sớm mai “Được thức dậy lúc rạng đông với con tim chắp cánh, đưa lời cảm tạ vì có thêm một ngày yêu thương nữa.”
Uyên Ương Gãy Cánh được xếp vào loại sách Triết lý – Tư tưởng, thuộc dự án Tủ sách Đời người của Omega Plus. Đặc biệt là phiên bản này có bút tích đề tặng viết tay kèm chữ ký của Gibran bằng tiếng Ả Rập, một bản in đầu tiên bằng tiếng Ả Rập năm 1912, sử dụng bộ tranh của chính Gibran.

KAHLIL GIBRAN–(1883-1931)
CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM
Kahlil Gibran là một tiểu thuyết gia, họa sĩ, thi sĩ tâm linh với cung giọng ngôn sứ và triết gia theo chủ nghĩa hiện sinh hữu thần. Ông sinh ngày 06 tháng 01, năm 1883 tại làng Bsharri, thuộc vùng núi Miền Bắc Lebanon. Vào thời ấy, xứ sở ấy Lebanon là một phần của Syria, chịu sự đô hộ khắc nghiệt của Đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ. Nằm sát phía bắc vùng hoạt động chính của Đức Giêsu là Ga-li-lê.
Duyệt qua lịch sử gia đình của Gibran đã giải thích cho chúng ta hiểu về bản chất và con người của ông. Thân mẫu Gibran, bà Kamila Rameh, là con của một linh mục thuộc Giáo hội Maronite. Đây là một hội thánh Kitô giáo Đông phương chiếm đa số dân chúng tại Li-băng (Lebanon). Phát nguyên từ Syria vào thế kỷ thứ bảy và tuyên bố có nguồn gốc từ Thánh Maron (qua đời năm 407). Giáo hội Maronite lưu giữ truyền thuyết và nghi lễ cổ đại, sử dụng tiếng Aram trong phụng vụ. Sau những biệt đãi của các đoàn quân Thập tự chinh, Giáo hội Maronite hiệp nhất với Giáo hội Công giáo La Mã kể từ năm 1182 nhưng được quyền tự bổ nhiệm hàng giáo phẩm. Vì nghèo và trường học ở xa, việc học của Gibran chỉ dựa vào những chuyến viếng thăm đều đặn của các linh mục. Họ dạy ông về tôn giáo, tiếng Aram là ngôn ngữ Đức Giêsu sử dụng và thịnh hành trong thời Tân ước, tiếng A Rập, tiếng Syria và mở mắt cho Gibran về lịch sử và khoa học. Chính vì vậy mà ông đã bị ảnh hưởng rất nhiều về sự giáo dục của giáo hội Maronite.
Ngày 25 tháng Sáu năm 1895, năm mẹ con Gibran cập bến Hoa Kỳ. Họ định cư tại nam thành phố Boston trong một khu vực có cộng đồng người Syria và Li-băng đông vào hàng thứ hai sau New York. Vài tháng sau khi tới Mỹ, Gibran được tới trường, theo học lớp Anh ngữ dành cho trẻ em di dân. Nhờ tham gia sinh hoạt chung, khả năng vẽ và các bức ký họa của Gibran lọt vào mắt một tác viên xã hội tại trung tâm cộng đồng của khu phố, Gibran được giới thiệu cho Fred Holland Day, một họa sĩ và nhiếp ảnh gia cấp tiến của Boston. Fred Holland Day dùng Gibran làm người mẫu và bắt đầu hướng dẫn cậu về hội họa, văn học. Tại cơ sở của Fred Holland Day, Gibran cũng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng, ông được học nghệ thuật và bắt đầu sự nghiệp văn chương.
Năm 1898, Gibran trở lại Li-băng để theo học đọc và viết tiếng Ả Rập và hoàn tất chương trình căn bản giáo dục A Rập bốn năm tại Minh triết Học đường (College of Al-Hikmah) của Giáo hội Maronite. Năm 1902 Gibran trở về Hoa Kỳ nhưng cô em gái Sultana đã qua đời bốn tuần trước đó. Qua năm sau, tới lượt mẹ và người anh Peter của ông cũng lần lượt qua đời vì cả ba đều không thoát khỏi bệnh lao phổi, đó cũng là căn bệnh đeo đuổi Gibran lúc cuối đời.
Thiên hướng nghệ thuật dẫn dắt Gibran vào cuộc sống văn hóa của Boston, tỏ cho ông thấy thế giới phong phú của kịch trường, nhà hát và các cuộc triển lãm nghệ thuật. Năm 1904, vào ngày cuối cuộc triển lãm tranh lần thứ nhất của mình, Gibran gặp Mary Elizabeth Haskell, hiệu trưởng một trường nữ cấp tiến tại Boston và trở thành người bảo trợ mọi mặt cho Gibran trong suốt hai mươi năm về sau và là người duyệt các bản thảo tiếng Anh cho ông.
Hai năm ở Paris, Gibran học tập hội họa tại Viện Julien (Académie Julien) và Trường Mỹ thuật Paris (Ecole des Beaux Arts de Paris). Tại Paris, ông được sự chỉ bảo của nhà điêu khắc thiên tài Pháp Auguste Rodin (1840-1917. Năm 1911 Gibran về lại Boston, tới năm sau ông dọn New York và dành trọn thì giờ cho việc vẽ và viết. Từ năm 1903, Gibran bắt đầu viết các tiểu phẩm đầu tiên bằng tiếng A Rập trong đó có cuốn sách mỏng về âm nhạc Nubthah fi Fan Al-Musiqa (1905) và tập truyện ngắn Linh hồn nổi loạn (1908). Từ năm 1918 trở đi, hầu hết sách xuất bản của ông đều viết bằng tiếng An, chúng góp phần vào nỗ lực cách mạng hóa ngôn ngữ thi ca và làm ông trở thành một khuôn mặt nổi tiếng thế giới.
Năm 1920, Gibran là Chủ tịch sáng lập Văn đoàn Arrabitah, một hội văn bút tại New York gồm khoảng 12 thành viên trong đó có các văn thi sĩ A Rập như Mikhail Naimy (1889-1988), Iliya Abu Madi (1889-1957), Naseeb Arida (1887-1946), Nada Haddad (1881-1950) và Ilyas Abu Sabaka (1903-47), v.v. Họ dần dà nổi tiếng khắp thế giới Ả Rập vì các nỗ lực cách tân văn chương bảo thủ Ả Rập. Diễn đàn chính của văn đoàn này là tạp chí Al-Mahajar (Người di dân), tờ báo đầu tiên bằng tiếng Ả Rập tại New York. Những sáng tác phẩm và bài phê bình văn học của họ trên tạp chí này và các tạp chí khác tại Trung Đông đã dọn đường cho một tự do mới trong diễn đạt thi ca.
Lúc Gibran còn sống, tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn hai chục ngôn ngữ. Tại Hoa Kỳ, sách của Gibran bắt đầu tạo ảnh hưởng đặc biệt lên văn hóa đại chúng ở Bắc Mỹ kể từ thập niên 1960. Ký họa và tranh màu của Gibran, vốn được Auguste Rodin so sánh với thi sĩ và họa sĩ thần bí người Anh William Blake (1757-1827), được triển lãm khắp thế giới. Trong tác phẩm văn học của Gibran thường đề cập tới tinh thần siêu việt, nhưng chủ đề chính trong họa phẩm của ông là những hình người khỏa thân, có khuynh hướng quấn quít nhau. Là người sáng tác dồi dào thơ văn, Gibran tự tay minh họa tác phẩm bằng ký họa biểu thị cho niềm hứng khởi sâu xa của tâm hồn, tâm trí và tâm linh con người, đầy tinh thần nhân văn và tôn giáo.
Haskell cũng tặng bộ sưu tập cá nhân hơn 100 bức họa của Gibran cho Nhà Bảo tàng Nghệ thuật Telfair tại Georgia. Đó là bộ sưu tập lớn nhất của ông tại Hoa Kỳ, gồm tranh sơn dầu, màu nước, ký họa và các bản thảo viết tay. Các bài thơ và văn của Gibran, bằng tiếng Ả Rập và tiếng Anh, được nhiều học giả hợp tuyển thành hàng chục cuốn sách có nhan đề khác nhau về tình yêu, tôn giáo, tư tưởng, tâm linh ngôn sứ, v.v. Số sách viết về tiểu sử và tư tưởng của Gibran cũng lên tới hàng chục cuốn.
Công trạng của Kahlil Gibran được ghi nhận ở nhiều nơi.
- Năm 1971, Bộ trưởng Bưu điện và Viễn thông Li-băng cho phát hành con tem mang hình Kahlil Gibran.
- Nhà Bảo tàng Gibran được dựng lên ở Bsharri, Li-băng.
- Vườn Kahlil Gibran được khánh thành tại Beirut, Li-băng.
- Ngày 27 tháng Chín năm 2008, nhân dịp 125 năm ngày sinh của Kahlil Gibran, tai Quebec Canada, mở con đường mang tên Kahlil Gibran
- Khu Trượt băng An dưỡng Bách hương (The Cedars Resort Ski) ở Li-băng mở đường trượt băng Gibran Khalil Gibran.
- Năm 1990, Vườn Tưởng niệm Gibran được khánh thành ở Thủ đô Washington, Hoa Kỳ.
- Tháng Chín năm 2007, tại Brooklyn, New York, khánh thành Quốc tế Học đường Kahlil Gibran (Khalil Gibran International Academy).
- Kahlil Gibran được vinh danh ở Bucharest, Romania.
- Một tượng đài Kahlil Gibran được dựng lên bằng đá cẩm thạch tại Cuntiba, Brazil.
Tại Việt Nam, tác phẩm của Kahlil Gibran được dịch rải rác tứ thập niên 1970 tới nay với các dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu, Đỗ Đình Đồng, Trần Văn Điền, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Yến Anh, Trùng Dương, Giả Nghiệm, Trần Văn Phương, Châu Diên, Đỗ Tư Nghĩa, Đăng Quang, v.v. và được độc giả trung niên cũng như thanh niên thuộc nhiều tôn giáo khác nhau đón nhận nồng nhiệt. Bộ sách Kalil Gibran gồm 25 cuốn, một số do Gibran viết bằng tiếng Anh, một số do các dịch giả chuyển ngữ từ tiếng A Rập sang tiếng Anh, tiếng việt. Ngoài ra, cuốn Thơ xuôi (Prose Poems) do Andrew Ghareed dịch với sự hợp tác và Lời nói đầu của Barbara Young được xuất bản sau khi Gibran qua đời. Vì khi còn sống, Kahlil Gibran tỏ ra không thích các bản dịch ấy. Bản chuyển ngữ của Anthony R. Ferris được dịch ra Việt ngữ với nhan đề gốc trong tiếng Anh có nghĩa là Các nữ thần thung lũng. Riêng cuốn Gãy cánh uyên ương (The Broken Wings), của dịch giả Nguyễn Ngọc Minh (Nxb Nguồn Sáng, Sàigòn, 1970). (Nguyễn Ước)
Kahlil Gibran và những tác phẩm nổi tiếng như Ngôn sứ, Uyên ương gãy cánh, Tâm linh toàn mãn, Nhã ca tình yêu, Mật khải, v.v…Trong bài này, người viết chỉ xin đề cập đến hai tác phẩm: Ngôn Sứ (The Prophet) và Uyên ương gãy cánh (The Broken Wings).
The Broken Wings : (Uyên ương gãy cánh) trong Tủ sách Triết lý – Tư tưởng, thuộc dự án Tủ sách Đời người. Phiên bản này có bút tích đề tặng viết tay kèm chữ ký của Gibran bằng tiếng Ả Rập, sử dụng theo bản in đầu tiên bằng tiếng Ả Rập năm 1912. Sử dụng bộ tranh của chính Gibran. Theo tác giả Nguyễn Ước thì tác phẩm Ngôn sứ (The Prophet) là tác phẩm nổi tiếng nhất của Gibran. Cuốn ấy về phong cách, chịu ảnh hưởng của cuốn Thus Sparke Zarathustra (Zarathustra đã nói như thế) của Nietzsche. Nhưng đối cực với Zarathustra, Almustafa của Gibran là một nhân vật tôn giáo, tin vào con người và Thượng đế đồng thời lạc quan trong cuộc sống và tương lai của nhân loại. Ngôn sứ gồm 26 bài thơ xuôi, phát biểu về các vấn đề nhân sinh nhưng với tâm tình của một thi sĩ triết gia hiện sinh hữu thần. Cuốn Ngôn Sứ được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ và bán được trên 100 triệu ấn bản. Từ thập niên 1960. Cuốn Ngôn sứ được xem như một loại kinh thánh hay sách thủ bản cho phong trào phản văn hoá (counter-cultural movement) của giới trẻ Hoa Kỳ và trào lưu Thời đại mới (The New Age). Thậm chí có giáo sĩ Kitô giáo dùng nó trong thánh lễ hôn phối. Cuốn sách này bán chạy và được ưa chuộng vào những năm 1930 và đặc biệt là trong trào lưu phản văn hóa những năm 1960.
Gibran qua tác phẩm The Broken Wings để nhớ tới những người dân đang sống trong tinh thần và túng thiếu vật chất, cũng như phê phán quyết liệt lòng tham và sức mạnh thế tục của một số chức sắc tôn giáo, một tệ trạng kéo dài hàng trăm năm tại Liban. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ước, người đã dịch cuốn Uyên ương gãy cánh cho rằng đó là “những trang sách chan chứa tình người, tràn ngập hình ảnh thơ mộng, sóng sánh chất thơ và bát ngát hương vị cảm xúc, Uyên ương gãy cánh mang tình yêu xuống chiều sâu thẳm tận đáy hồn người với những lý luận ngọt ngào của trái tim, và nâng tình yêu lên độ cao nhất, bất diệt với thực tại siêu việt.”
Cũng theo dịch giả Nguyễn Ngọc Minh, ông cho là người Đông phương chúng ta đã đem vào huyền thoại loài chim Uyên ương sống từng đôi trống mái, mỗi con chỉ còn một cánh, phải chấp nhau mà bay cùng. Chúng ăn ở với nhau tình thâm nghĩa trọng đến nỗi nếu một trong đôi lứa có mệnh hệ nào thì con kia đành xếp cánh tuyệt vọng trước những từng trời thăm thẳm. Chim Uyên Kahlil Gibran đã nhỏ từng giọt máu trong tim chép lại chuyện tình của chính mình như một chúc thư cho những tình nhân mai sau. Mối tình đầu của con người tài hoa đa cảm đó cũng là mối tình không-thể-thay-thế của ông; sau khi bị quê hương hắt hủi lưu đày biệt xứ, tác giả suốt đời lang thang phiêu bạt và không bao giờ lập gia đình. Đủ thấy vết thương ở tim tác giả còn đau buốt mãi cho đến lúc vĩnh viễn nhắm mắt.
Nhưng con chim Uyên của Gibran vốn cao thượng khác thường đó không phải chỉ biết cất tiếng hót sầu thảm để oán trách Trời Đất đã ghen với tài tử và hồng nhan. Cho nên người đời còn được đọc những tác phẩm hào sảng hùng tráng khác của Kahlil Gibran. Đó chính là nhờ ngọn lửa thiêng bất khả diệt trong tâm hồn tác giả. Và cũng nhờ sự hy sinh cao quý của chim Ương: tự mình cắt lìa chiếc cánh bị thương để chim Uyên có thể bay đi đem tiếng hót tặng cho đời…. Câu truyện tình yêu này nói lên sự thuỷ chung, sống cho trọn tình nghĩa.
The Prophet: (Ngôn Sứ) Kahlil Gibran nổi tiếng nhất với tập thơ “The Prophet,” một tác phẩm về phong cách, một tiểu thuyết truyền cảm hứng cho hàng loạt các bài tiểu luận triết học và đã được dịch sang hơn 100 ngôn ngữ khác nhau. Phong văn của Kahlil Gibran hòa quyện giữa các truyền thống từ Đông sang Tây, từ Hồi giáo đến Kitô giáo và từ các tư tưởng cổ điển đến các luồng tư duy hiện đại. “The Prophet” gồm 26 đáp từ bằng lối nói đầy chất thơ chuyên chở những cái nhìn thấu suốt, ứng xử với các chủ đề lớn của cuộc đời trên nền tảng chân thiện mỹ, như hạnh phúc và đau khổ, tình yêu và cái chết, lao động và của cải, hôn nhân và con cái, tình bằng hữu và luật pháp, thiện ác và tôn giáo, ăn mặc và cầu nguyện, v.v.
“The Prophet” kể về Almustafa, một giáo viên sống ở thành phố Orphalese trong 12 năm. Khi ông chuẩn bị lên tàu trở về quê hương, người dân thành phố tụ tập lại để chào tạm biệt ông và xin những lời khuyên cuối cùng của ông. Cuốn sách được cấu trúc với 26 bài thơ văn xuôi, mỗi bài đề cập đến một khía cạnh khác nhau dựa trên kinh nghiệm con người. Almustafa trả lời các câu hỏi của dân làng về các chủ đề như tình yêu & hôn nhân, niềm vui & nỗi buồn, tội ác & hình phạt và cái chết. Nội dung của The Prophet có vẻ nghiêng về tâm linh và triết học, chủ đề chính trong “The Prophet” là mối liên hệ cơ bản giữa mọi khía cạnh của cuộc sống. Gibran cho rằng những khái niệm có vẻ đối lập nhưng thực chất lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ví dụ, trong chương về Niềm vui và Nỗi buồn, ông viết:
“Niềm vui của bạn chính là nỗi buồn được phơi bày.
Và chính tiếng cười của bạn trào ra thường chứa đầy nước mắt của bạn.”
Triết lý của Gibran thúc đẩy quan điểm toàn diện về cuộc sống, thúc giục tìm kiếm sự cân bằng và chấp nhận trong mọi tình huống. Bản chất của tình yêu Khám phá của Gibran về tình yêu trong “The Prophet” rất đa dạng, đề cập đến tình yêu lãng mạn, tình yêu bản thân và tình yêu phổ quát. Ông trình bày tình yêu như một sức mạnh biến đổi vừa thách thức vừa nuôi dưỡng sự phát triển cá nhân. Trong chương về Tình yêu, Almustafa khuyên: “Hãy yêu thương nhau, nhưng đừng tạo ra mối ràng buộc của tình yêu: Hãy để nó là một vùng biển chuyển động giữa bờ tâm hồn bạn.” Ẩn dụ này chính là quan điểm của Gibran về tình yêu như một sức mạnh năng động, luôn thay đổi, cho phép tự do cá nhân và sự phát triển trong các mối quan hệ tình cảm. Quan điểm của tác giả về tình yêu khuyến khích người đọc vun đắp những mối liên hệ sâu sắc trong khi vẫn duy trì ý thức về bản thân.
Ở Ả Rập, Gibran được coi là một nhà văn mới, nghiêng về lĩnh vực chính trị. Phong cách lãng mạn của ông là trọng tâm của thời kỳ phục hưng trong văn học Ả Rập hiện đại, đặc biệt là thơ văn xuôi, thoát khỏi trường phái cổ điển. Gibran được muôn triệu người trên thế giới đánh giá là thiên tài bất tử, một tác giả tôn giáo và bí nhiệm, được đại chúng đọc nhiều nhất và được thảo luận rộng rãi nhất trong thế kỷ 20 cũng như sang thế kỷ 21. Ở Liban, ông vẫn được ca ngợi là một anh hùng văn học, được biết đến trên thế giới với cuốn sách The Prophet xuất bản năm 1923, một tiểu thuyết truyền cảm hứng bao gồm một loạt các bài tiểu luận triết học được viết bằng văn xuôi tiếng Anh đầy chất thơ.
Khi còn sống, ước nguyện của Gibran là được vĩnh viễn trở về Bsharri nơi chào đời của mình mà nay đã thành một thị trấn. Cô em Mariana và người bạn tri kỷ Mary Haskell hoàn thành di nguyện ấy bằng cách mua lại Tu viện Mar-Sarkis để an táng ông. Nơi đó hiện nay còn có Nhà Bảo tàng Kahlil Gibran, và trở thành một địa điểm hành hương cho những kẻ ngưỡng mộ Gibran. Gibran cũng để lại tất cả tiền tác quyền của mình trong vòng 28 năm cho thị trấn Bsharri dùng vào sinh hoạt công ích. Bên phần mộ ông, người ta thấy có khắc dòng chữ :
“Tôi đang sống giống như bạn, và tôi đang đứng cạnh bạn. Hãy nhắm mắt lại và nhìn quanh, bạn sẽ thấy tôi trước mặt bạn . . .”
Theo di chúc, Gibran để lại cho Mary Haskell tất cả những gì đang có trong xưởng vẽ của ông ở New York. Trong những vật thu thập được, bà khám phá ra các lá thư mình đã gởi cho ông trong suốt hai mươi ba năm. Bỏ qua ý định ban đầu là chấp nhận đốt chúng thể theo lời đề nghị của Barbara Young nhằm thần thánh hóa Kahlil Gibran, bà kết hợp 600 bức thư của đôi bên cùng nhật ký của mình, làm thành cuốn sách viết về con người Kahlil Gibran, có nhan đề Ngôn sứ yêu dấu (The Beloved Prophet) được xuất bản năm 1972. Sau đó, bà trao tất cả di sản của Gibran cho Đại học North Carolina.
Gibran qua đời năm 1931 tại New York vì bệnh xơ gan và lao phổi thời kỳ đầu. Buổi tiễn biệt ông trên bến tàu New York có đủ đại diện của các tôn giáo như Công giáo, Tin Lành, Do Thái giáo, Hồi giáo, v.v. Lễ tang ông tại Boston được tổ chức trang trọng và cảm động theo nghi thức Công giáo ở thánh đường tại Tyler Street. Sau đó, thi hài Gibran đưa về Li-băng, được chính quyền và dân chúng tổ chức liên hoan đón rước. Linh cửu được mang vào Nhà thờ Chánh toà St. George của Giáo hội Maronite tại Beirut với nghi lễ tiếp nhận do Đức Tổng giám mục Ignatius Mobarak chủ tế; sau đó, đem về Bsharri.
KẾT LUẬN
Kahlil Gibran được xem như một trong các đạo sư vĩ đại của thế kỷ 20, tên tuổi của ông được nhắc đến khi nói về triết học và văn chương. “The Broken Wings” và “The Prophet” là những tác phẩm được viết về chiều sâu của tình yêu và tinh thần con người. Văn xuôi đầy chất thơ và cách kể chuyện sống động của Gibran đưa người đọc đến Lebanon đầu thế kỷ 20 về câu chuyện tình yêu, mất mát và tự khám phá. Các chủ đề về tình yêu, sự hy sinh và theo đuổi tự do gây được tiếng vang với độc giả, khiến cuốn sách này trở thành tác phẩm kinh điển vượt thời gian. “The Broken Wings”” và “The Prophet” của Kahlil Gibran là hai cuốn sách hấp dẫn và khơi gợi suy nghĩ, đi sâu vào sự phức tạp của tình yêu và trải nghiệm của con người. Thông qua câu chuyện của 2 tác phẩm, Gibran đưa ra những hiểu biết sâu sắc về bản chất của các mối quan hệ, việc theo đuổi tự do cá nhân và sức mạnh của tâm linh. Đây là một tác phẩm tình yêu và tình trạng của con người một cách đầy chất thơ và nội tâm.
Tất cả các phẩm của Kahlil Gibran không chỉ là những dòng thơ mà còn là những lời khuyên, những bài học về cuộc sống, tình yêu, tự do và tâm hồn. Mỗi câu chuyện là một dụ ngôn trình bày những chân lý cao siêu, Kahlil Gibran được ví như một cầu nối giữa vũ trụ tinh thần và thế giới vật chất, giữa cái linh thiêng và cái phàm tục. 19 bài học trí tuệ là sự kết hợp tuyệt vời, ca tụng những vẻ đẹp hữu hình cũng như vô hình, chứa đựng thông điệp cao cả, vượt thời gian về một thế giới đại đồng, tôn giáo hòa đồng, loài người huynh đệ và một tình yêu hằng cửu nối kết con người với nhau trong tình yêu Thượng Đế, giữa một trần gian hiệp nhất với không gian.
Thật vậy, dòng chữ để đời đã nói lên con người của Kahlil Gibran, một Gibran sống mãi trong lòng mọi người:
“Tôi đang sống giống như bạn, và tôi đang đứng cạnh bạn.
Hãy nhắm mắt lại và nhìn quanh, bạn sẽ thấy tôi trước mặt bạn . . .”
Khánh Lan, April 30, 2025
-
QUÊ HƯƠNG…TRONG NỖI NHỚ
Kiều My

Đã năm mươi năm xa quê hương, nhưng nỗi nhớ về đất mẹ vẫn vẹn nguyên, như một dòng sông không bao giờ cạn. Quê hương Việt Nam, với những dãy núi trùng điệp, bờ biển mênh mông, với những con đường làng xưa, và những cảnh sắc thiên nhiên kỳ vĩ, với tình người đậm đà…là những hình ảnh luôn khắc sâu trong tâm trí tôi và thao thức mong ngày về được sống lại trên mảnh đất thân yêu.
Vậy chúng ta cùng đồng hành trên hành trình ký ức để hồi tưởng lại những địa danh đẹp muôn thuở của đất nước. Hãy bắt đầu từ thác Bản Giốc, nơi địa đầu Tổ quốc, rồi lần lượt men theo miền Trung, xuôi về phương Nam… như dòng sông chảy ngược về nguồn.
Thác Bản Giốc – khúc tình ca của núi rừng biên giới

Thác Bản Giốc – nơi dòng nước trong veo rì rào đổ xuống từ vách đá cao, tạo thành một khung cảnh huyền bí và hùng vĩ, nơi mây núi thì thầm chuyện tình biên giới. Mỗi lần nhắc đến thác Bản Giốc, tôi lại nhớ đến sự thanh bình của vùng đất phía Bắc, nơi những cánh đồng lúa mênh mông và những bản làng yên ả nằm bên dòng sông Quây Sơn.
Tôi vẫn nhớ như mới hôm qua, hình ảnh thác Bản Giốc đổ xuống giữa bốn bề núi non xanh ngát, bọt nước tung trắng xóa như mây trời tạo thành những dòng suối tóc. Ở nơi địa đầu tổ quốc ấy, thiên nhiên không nói bằng lời, mà thì thầm trong tiếng thác đổ, trong hơi sương mát rượi quyện theo từng bước chân người lữ khách. Thác Bản Giốc không chỉ là một thắng cảnh; đối với tôi, đó là biểu tượng của một miền ký ức mênh mang và trong trẻo, nơi tôi học cách yêu vẻ đẹp hoang sơ, tinh khôi của quê hương. Tiếng thác như nhịp tim của núi rừng, rì rầm không dứt, nhắc tôi nhớ về một phần hồn đất Việt – sâu lắng, bao dung, và kiêu hãnh.
Đứng nơi ấy, người ta thấy mình nhỏ bé giữa cảnh hùng vĩ của thiên nhiên, nhưng cũng thấy cõi lòng được mở rộng bởi niềm tự hào về quê hương. Tôi nhớ những cánh đồng lúa chín ven đường, nhớ ánh mắt hiền lành của người dân tộc Tày, Nùng với tiếng nói dịu dàng như khúc hát ru xa xưa. Dẫu đã năm mươi năm xa quê, thác Bản Giốc trong tôi vẫn chảy — không phải bằng dòng nước, mà bằng dòng nhớ, âm thầm và dai dẳng như một bài ca không lời mang tên: Quê Hương.
Mời bạn cùng tôi xuôi xuống vùng biển Đông Bắc, nơi kỳ quan thiên nhiên thế giới hiện lên như một bức thủy mặc sống động — Vịnh Hạ Long.
Vịnh Hạ Long – Khúc thủy mặc của quê hương
Có những buổi sớm mai tôi không bao giờ quên được – Khi mặt trời còn lấp ló sau làn sương, và từng vệt nắng nhẹ như buông tay lên mặt biển phẳng lặng của Vịnh Hạ Long. Những hòn đảo đá vôi chập chùng nhô lên giữa làn nước xanh ngọc, như hàng ngàn nét chấm phá kỳ ảo của một bức tranh thiên nhiên mà người họa sĩ tài hoa đã tô điểm. Vịnh Hạ Long, một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới, vẫn luôn hiện diện trong tâm trí tôi một khung trời huyền ảo tuyệt đẹp giữa vùng nước biển trong vắt phản chiếu ánh nắng vàng ươm.

Đây là nơi tôi từng thả hồn vào những cơn gió biển mát lạnh, quên đi mọi ưu phiền. Vẻ hùng vĩ mà thơ mộng của Vịnh Hạ Long, như một bản giao hưởng kỳ diệu giữa trời mây non nước. Hạ Long — cái tên vang lên như một lời thì thầm cổ tích. Tôi đã từng lênh đênh trên con thuyền nhỏ giữa vịnh, nghe sóng thì thào chuyện ngàn năm trong lòng hang động, trong tiếng gió lùa qua các vách núi, và trong ánh nhìn của người lái đò — người mà gương mặt hằn nắng gió vẫn ánh lên một nụ cười hiền lành.
Tôi nhớ buổi chiều tà, khi biển khoác lên mình màu rượu vang, những cánh buồm trắng lững lờ trôi như những giấc mơ mỏng manh. Hạ Long khi ấy không còn là một điểm đến, mà là một miền thơ, nơi tôi thấy lòng mình dịu lại, yên bình như một trang sách cũ giở lại giữa đời gió bụi tha hương.
Năm mươi năm, đã bao lần tôi mơ được một ngày quay về, đứng trên mũi thuyền, dang tay hứng làn gió mằn mặn, để nghe tim mình thổn thức giữa trời nước bao la – nơi tôi đã gửi lại thời tuổi trẻ, một phần hồn quê lặng lẽ và đầy thương nhớ.
Biển Đà Nẵng – nơi nắng gió hòa quyện cùng tình người
Biển Đà Nẵng hiện lên trong ký ức tôi như một bức tranh sống động, nơi bầu trời xanh biếc gặp gỡ mặt biển mênh mông, tạo nên một đường chân trời vô tận. Những con sóng nhẹ nhàng vỗ bờ, mang theo hương vị mặn mòi của biển cả và âm thanh rì rào như lời ru của mẹ.

Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời vừa ló dạng, ánh nắng vàng nhạt phủ lên bãi cát mịn màng, và những ngư dân cần mẫn kéo lưới, chuẩn bị cho một ngày mới. Tiếng cười nói rộn ràng, sự hối hả nhưng đầy thân thiện của người dân nơi đây, khiến lòng tôi ấm áp lạ thường.
Buổi chiều, khi hoàng hôn buông xuống, bầu trời nhuộm đỏ rực rỡ, phản chiếu lên mặt biển lấp lánh ánh vàng. Tôi thường dạo bước trên bãi biển, để gió biển thổi tung mái tóc, để tâm hồn được thả trôi theo từng con sóng, và để tình yêu quê hương ngập tràn theo tiếng sóng rì rào. Dù đã xa quê hương năm mươi năm, hình ảnh biển Đà Nẵng vẫn luôn sống động trong tâm trí tôi – như một phần máu thịt, như một khúc ca dịu dàng của miền Trung yêu dấu.
Đà Nẵng, thành phố biển hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp hoang sơ của những bãi biển dài và những ngọn núi kỳ vĩ. Tôi nhớ những chiều hoàng hôn dạo bước trên bãi biển Mỹ Khê, ngắm nhìn những cánh sóng vỗ về bờ cát. Đà Nẵng cũng là nơi tôi tìm thấy sự bình yên trong lòng khi ngắm nhìn vẻ đẹp thu hút của Bà Nà, nơi có những làn sương mờ ảo phủ lên những ngôi chùa và cây cầu vàng tuyệt đẹp.
Nào! Chúng ta cùng xuôi dọc xuống miền cát trắng đầy nắng gió, dừng chân nơi thành phố biển hiền hòa và xinh đẹp — Nha Trang, nơi mà mỗi con sóng như nhắc lại một đoạn thanh xuân, và mỗi ánh bình minh như một lời hẹn hò với ký ức.
Nha Trang – miền biển xanh trong như tuổi trẻ

Nha Trang, thành phố biển với bãi cát trắng mịn màng và nước biển trong xanh, là một thiên đường của những ngày hè nắng vàng. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp tự nhiên mà còn với sự ấm áp, hiếu khách của con người. Tôi nhớ những bữa hải sản tươi ngon, những chuyến thuyền ra khơi ngắm đảo Hòn Tằm, và đặc biệt là cảm giác thư giãn tuyệt vời khi ngâm mình trong làn nước biển trong vắt.
Tôi nhớ Nha Trang không phải bằng hình ảnh, mà bằng cảm giác. Một cảm giác dịu nhẹ, ngọt ngào như mùi gió biển buổi sớm, như màu trời trong veo phản chiếu trên làn nước ngọc bích. Nơi ấy, mọi thứ dường như chậm lại — từ nhịp thở của sóng, bước chân của khách dạo biển, đến ánh mắt đắm say của kẻ lần đầu nhìn thấy vẻ đẹp của biển quê hương.
Bờ cát trắng dài bất tận, nước biển xanh như chạm được đáy trời. Những chiếc thuyền nhỏ neo mình bên bờ, lặng lẽ như chính sự hiền hòa của con người miền biển. Hồn trôi dạt về quá khứ, tôi từng đứng đó để gió thổi tung áo, mắt dõi theo những cánh hải âu bay vút lên nền trời xanh thẳm; mà giờ đây cõi lòng như vỡ ra bởi nỗi nhớ — vừa ngọt ngào, vừa nhói đau.
Nha Trang không ồn ào, dù phố thị ngày nay đã đổi khác. Nhưng trong ký ức tôi, đó vẫn là một thành phố của sự bình yên, nơi có thể tìm được một buổi sáng bên ly cà phê, nghe sóng vỗ nhẹ và lòng chợt lắng đọng trong một thoáng thanh thản hiếm hoi giữa cuộc sống bề bộn.
Năm mươi năm nơi đất khách, có những đêm tôi mơ thấy mình trở về, đi chân trần trên cát ướt, và nghe tiếng gọi thì thầm của quê nhà vọng lên từ biển cả mênh mông ấy — Nha Trang, trong tôi mãi là một khúc tình ca chưa dứt.
Đà Lạt – thành phố mộng mơ giữa sương mù và thông reo

Đà Lạt hiện lên trong ký ức tôi như một bức tranh thủy mặc dịu dàng, nơi sương mù ôm ấp từng ngọn đồi, và rừng thông thì thầm những bản tình ca bất tận. Thành phố cao nguyên này, với độ cao khoảng 1.500 mét so với mực nước biển, mang đến khí hậu ôn hòa quanh năm, được mệnh danh là “Thành phố của mùa xuân vĩnh cửu”. ” Đà Lạt với sương mù và muôn hoa, như giấc mơ còn dang dở.
Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời vừa lố dạng, ánh nắng nhẹ nhàng xuyên qua làn sương mỏng, tạo nên một khung cảnh huyền ảo. Hồ Xuân Hương phẳng lặng như gương, phản chiếu bóng dáng của những hàng thông xanh rì rào trong gió. Dạo bước trên con đường quanh hồ, tôi cảm nhận được sự bình yên lạ thường, như thể thời gian cũng chậm lại để lắng nghe nhịp đập của trái tim.
Đà Lạt không chỉ nổi tiếng với khí hậu mát mẻ, mà còn bởi những công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn minh Pháp, như nhà thờ Con Gà, ga Đà Lạt, và dinh Bảo Đại. Mỗi công trình là một câu chuyện, một phần lịch sử được lưu giữ qua năm tháng. Đặc biệt, “Ngôi nhà điên” – một công trình kiến trúc độc đáo với thiết kế kỳ lạ, thu hút sự tò mò của du khách từ khắp nơi.
Tôi cũng không thể quên những buổi chiều se lạnh, khi thành phố lên đèn, ánh sáng vàng ấm áp len lỏi qua từng ô cửa sổ. Ngồi trong quán cà phê nhỏ, thưởng thức ly cà phê nóng thơm, ngắm nhìn phố xá nhộn nhịp… lòng tôi chợt dâng trào niềm yêu thương đất nước và ước mong thời gian đừng trôi mau, để tôi được tận hưởng khoảnh khắc đáng yêu này. Hình ảnh Đà Lạt với sương mù, thông reo, với ngàn hoa đẹp màu sắc rực rỡ và những con đường quanh co vẫn luôn sống trong tâm trí tôi – như một phần máu thịt, như một khúc ca dịu dàng của miền ký ức.
Vũng Tàu – Sơn thủy hữu tình
Là một điểm đến của thành phố biển đẹp tuyệt vời! Thành phố này không chỉ nổi tiếng với bãi biển đẹp mà còn có những cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời. Có núi Nghinh Phong kiêu hãnh che chắn phong ba cho Vũng Tàu. Vũng Tàu là một phố biển sầm uất thu hút rất nhiều du khách trong nước cũng như ngoại quốc, có những hàng quán, nhà hàng sang trọng, cùng những nơi vui chơi giải trí cho khách du lịch.
Bãi biển Vũng Tàu đúng là một điểm đến lý tưởng với cát vàng và nước biển trong xanh, nhất là bãi biển Thùy Vân hoặc bãi biển Thùy Dương – nơi rất phù hợp để thư giãn, tắm biển. Những bãi biển cát vàng thoai thoải, những con đường ven biển thơ mộng, và những món hải sản tươi ngon luôn làm tôi nhớ về nơi này. Vũng Tàu không chỉ có vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn có những dấu ấn lịch sử, văn hóa đặc sắc. Tượng Chúa Kitô uy nghiêm trên đỉnh núi, còn có ngọn hải đăng Vũng Tàu với ánh sáng dẫn đường, tất cả đều ghi dấu ấn trong lòng tôi. Bãi Dâu còn được gọi là bãi biển Hương Phong có vẻ đẹp hoang sơ, yên tĩnh…có tượng Đức Mẹ trên núi nhìn xuống biển cả mênh mông, thu hút rất nhiều du khách.
Đến Vũng tàu, du khách có cơ hội ngắm biển lúc bình minh và ngắm cảnh hoàng hôn trên biển thật tuyệt vời…hay lang thang đến những di tích lịch sử, văn hóa để có trải nghiệm khó quên về nét đẹp của thành phố biển Vũng Tàu.

Sài Gòn – Thành phố của những hoài niệm không tên
Saigon – thành phố nhỏ thân yêu, nơi tôi cảm nhận được nhịp sống sôi động không ngừng nghỉ. Những con phố đông đúc, những ánh đèn néon rực rỡ trong màn đêm; và đặc biệt là những quán cà phê vỉa hè ấm cúng nơi bạn có thể dừng lại, ngồi nhâm nhi cà phê thơm ngát, hay thưởng thức một ly kem mát lạnh…cảm nhận hương vị của sự hội nhập vào thành phố năng động này. Sài Gòn không chỉ là trung tâm kinh tế, mà còn là nơi pha trộn giữa những giá trị truyền thống và hiện đại, là nơi mà tôi cảm thấy mình không bao giờ cô đơn dù giữa đám đông tấp nập. Saigon là thành phố không ngủ, nơi thời gian mang hương vị riêng đến cho thủ đô Việt Nam Cộng Hòa trước 1975.

Nhà thờ Đức Bà Saigon
Sài Gòn – tên gọi thân thương mà bao người Việt trong và ngoài nước vẫn luôn giữ trong tim – là một nơi không chỉ mang đậm nét lịch sử, mà còn chan chứa hồn người, hơi thở ký ức, và vẻ đẹp của những đổi thay lặng lẽ theo thời gian. Sài Gòn không phải là một thành phố được định nghĩa bằng những con số hay bản đồ, mà là cảm giác, là nỗi nhớ, là một thứ hương ký ức khiến ai đã từng đi qua đều không thể quên.– Sài Gòn còn là giấc mộng dài, là tiếng rao hàng ban mai, là tiếng xe Honda vang rền, xen lẫn tiếng chuông nhà thờ Đức Bà ngân lên xa xa buổi bình minh.
Những địa danh mang linh hồn Saigon:
Nhà thờ Đức Bà và Bưu điện – Nơi hai kiến trúc Pháp cổ kính nằm cách nhau một con đường, kể những câu chuyện về một thời Đông Dương xa vắng. Vòm ngói đỏ, cửa sổ kính màu và chuông đồng ngân vang như mời gọi con chiên ngoan đạo tham dự buổi lễ sớm, khiến lòng người nao nao lạ thường.
Chợ Bến Thành – Không chỉ là một ngôi chợ, mà là trái tim thương mại, là nụ cười hiếu khách, là mùi thơm của phở, bánh xèo, cà phê đậm đặc và cả một chút xô bồ của xe cộ qua lại dập dìu rất Sài Gòn.
Dinh Độc Lập – Lặng lẽ nhưng đầy kiêu hãnh nằm giữa trung tâm thủ đô, là nơi chứng kiến bao biến chuyển lịch sử. Mỗi gian phòng, mỗi hành lang đều như ngân lên lời thì thầm của hưng suy đất nước qua năm tháng.
Đường Nguyễn Huệ – phố đi bộ hôm nay, đại lộ thơ mộng xưa – Nơi từng có những quán café vang vọng tiếng nhạc tiền chiến hay nhạc vàng… Giờ đây là không gian rực rỡ ánh sáng và nhịp sống hiện đại, nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của Sài Gòn qua từng bước chân chầm chậm của người hoài cổ.
Mưa Sài Gòn không lạnh lẽo, mà gợi cảm xúc – vừa buồn, vừa đẹp, vừa khiến người ta muốn ngồi trong một góc quán vỉa hè, uống ly cà phê sữa đá, ngắm dòng người qua lại và để lòng mình trôi theo một bản nhạc của Phạm Duy hay Cung Tiến…Những buổi chiều hè đi bộ dưới bến Bạch Đằng ngắm dòng sông êm đềm lặng lẽ trôi. Hay đi bộ trên đường Tự Do để hít thở làn không khí thoải mái của “tự do”. Vào mùa hè còn nghe tiếng ve sầu râm ran giữa sân trường Gia Long hay Pétrus Ký…Trong trái tim của những người xa xứ – “Saigon” vẫn là tiếng gọi thiêng liêng – là quê nhà và một nỗi nhớ không bao giờ ngủ. Để thắp sáng lại những ký ức tưởng chừng đã lùi xa, viết lại một cuốn nhật ký của tâm hồn, nơi mà từng con phố, từng bản nhạc, từng ánh đèn Sài Gòn đều trở thành câu thơ lấp lánh…

Miền Tây – Bát ngát sông nước và tình người ngọt như hương lúa chín.
Đồng Bằng Sông Cửu Long, vùng đất của những con kênh, con rạch uốn lượn như những tấm lụa mềm mại vắt qua những cánh đồng mênh mông. Những con sông dài đầy phù sa nuôi đất đai thêm màu mỡ, cho những cánh đồng lúa phì nhiêu. Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa lên cao, nước sông còn mát lạnh và những chiếc xuồng nhỏ tấp nập qua lại chở nông sản, trái cây tươi ngon. Tôi luôn nhớ về những chợ nổi nhộn nhịp, nơi từng chiếc ghe chở đầy trái cây, thủy sản, mang đến hương vị đặc trưng của vùng đất thành một thể thống nhất bình dị và yêu thương.
Bởi Đồng Bằng Sông Cửu Long là vựa lúa, là nơi cung cấp lúa gạo nuôi sống toàn dân và những vườn cây trái xum xuê đầy màu sắc. Và có lẽ, không gì có thể quên được hương vị ngọt ngào của những trái dừa tươi, những trái chôm chôm chua ngọt, hay những trái xoài, sầu riêng hương vị tuyệt hảo. Không thể quên hương vị của hủ tiếu Mỹ Tho nóng hổi, hay bún nước lèo Sóc Trăng hoặc cá lóc nướng trui thơm lừng. Miền Tây – nơi con người và thiên nhiên luôn hòa quyện với nhau.

Cảnh đẹp Hà Tiên
Hà Tiên, nơi mà cảnh sắc thiên nhiên hòa quyện với lịch sử, là vùng đất không thể thiếu trong ký ức của tôi. Những bãi biển vắng lặng, những ngọn núi xanh ngát, và những hang động huyền bí, tất cả đều tạo nên một không gian vừa hoang sơ, vừa huyền diệu. Mỗi lần nhắc đến Hà Tiên, tôi lại nhớ đến những con đường quanh co, những cánh đồng lúa bạt ngàn, và đặc biệt là hình ảnh những chiếc thuyền buồm lướt nhẹ trên mặt biển. Hà Tiên cũng là nơi có những di tích lịch sử nổi tiếng như chùa Tam Bảo, núi Bà Tấm, mà mỗi lần thăm viếng đều khiến tôi cảm thấy gần gũi với những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc.
Đảo Phú Quốc –Thiên đường biển đảo

Phú Quốc luôn hiện diện trong tâm trí tôi như một ốc đảo bình yên giữa biển khơi. Những bãi biển dài, cát trắng mịn màng , nước biển trong xanh như ngọc bích – Phú Quốc là nơi lý tưởng để tạm gác lại những thăng trầm của cuộc sống. Tôi nhớ những buổi chiều tà, khi ánh nắng vàng vọt rọi xuống mặt biển, tạo nên một khung cảnh huyền ảo khó quên. Những bữa ăn hải sản tươi ngon, đặc biệt là ghẹ, tôm hùm, hay cá mú, luôn là một phần không thể thiếu khi tôi đến với Phú Quốc. Và không thể không nhắc đến những con đường làng quanh co, những ngôi làng chài bình dị, nơi cuộc sống vẫn trôi qua một cách thong thả, đơn giản, như chính cái cách mà tôi vẫn mong. Saigon, Đồng Bằng Sông Cửu Long, Hà Tiên, đảo Phú Quốc – tất cả đều là những điểm tựa trong ký ức tôi, những miền đất thân thuộc mà dù có đi xa đến đâu, tôi vẫn luôn mang trong mình nỗi nhớ khôn nguôi. Quê hương không chỉ là nơi tôi sinh ra, mà còn là nơi tôi tìm thấy những hình ảnh, những kỷ niệm gắn bó với cuộc sống, những con người, và cả những hương vị quê hương mà mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn quyến luyến. Và Phú Quốc, viên ngọc nơi cuối trời, vẫn chờ bước chân tôi trở về.
Quê hương tôi, dù xa xôi nghìn trùng vẫn luôn hiện diện trong tâm trí với những cảnh sắc tuyệt vời và tình cảm sâu nặng. Những ngày tháng ấy, dù là một phần của vùng ký ức chìm sâu; nhưng vẫn luôn sống mãi trong tôi, như những làn sóng vỗ về trái tim, nhắc nhở tôi về một nơi đầy yêu thương – nơi có những dãy núi xanh ngát, biển cả mênh mông, với những con người nồng ấm và cả những món ăn thuần túy đậm tình. Quê hương vẫn mãi là ngọn lửa trong tâm hồn tôi, sáng rực dù bao nhiêu năm tháng trôi qua.
Kiều My, California tháng 4, 2025.
-
50 NĂM VẬN NƯỚC & TÌNH KHÚC QUÂN NHÂN NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Tâm An
Cố Đại tá Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (1932 – 2018) nguyên là một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Đại tá. Tuy nhiên, nhiều người biết đến ông với tư cách là một nhạc sĩ người Việt nổi tiếng trước năm 1975, với các ca khúc “Chiều mưa biên giới”, “Sắc hoa màu nhớ”… Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử .
Ngoài Tân nhạc vốn là sở trường, ông còn lấn sân sang lĩnh vực cổ nhạc, với bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975 như Đoạn tuyệt, Mắt em là bể oan cừu, Mưa rừng, Nửa đời hương phấn, Sân khấu về khuya, Tiếng hạc trong trăng,… và vô số bản tân cổ giao duyên.
Nguyên quán ông bà, cha mẹ ông ở huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Thuở nhỏ ông theo học trường Huỳnh Khương Ninh ở Đa Kao. Khi đất nước gặp phải những biến động lớn lao vào năm 1945, gia đình ông bị liệt vào thành phần địa chủ, cường hào nên lâm vào cảnh khuynh gia bại sản, gia đình ly tán. Do đo, tuổi thơ của ông là người con duy nhất trong gia đình cũng bị vùi dập để cuốn theo thời cuộc lúc bấy giờ.
Trước khi theo học trung học ở trường Huỳnh Khương Ninh, nhờ gia đình khá giả nên ông đã được cho học ở nhà với thầy giáo riêng. Cho nên tuổi thơ của ông đến trường thì ít mà học ở nhà thì nhiều.
Sau khi trường trung học mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo học là Hùynh Khương Ninh đóng cửa, ông tự ý xin gia nhập trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Đây là trường võ bị đầu tiên và lâu đời nhất của Việt Nam. Đó cũng là nơi đào tạo nhiều vị tướng lãnh tài ba của Quân Đội VNCH. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã trải qua 5 năm ăn học ở ngôi trường này. Và chính tại đó ông đã được học nhạc và văn hóa với những giáo sư người Pháp có thực tài. Đó là những giảng viên của Viện Âm Nhạc quốc gia Pháp được cử về trường Thiếu Sinh Quân giảng dạy. Chính vậy mà nền văn hóa Tây Phương đã ảnh hưởng đến ông rất nhiều.
Sau khi ra trường Thiếu Sinh Quân, ông gia nhập trường Võ Bị Sĩ Quan Vũng Tầu và tốt nghiệp năm 1952 với cấp bậc thiếu úy. Kế đó ông nắm chức vụ trung đội trưởng tại trường Võ Bị Đà Lạt và tốt nghiệp năm 1953. Qua năm 1954, ông về trường Chiến Thuật tại Hà Nội để giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng. Trong hai năm 1955 và 1956, ông phục vụ tại Phân Khu Đồng Tháp Mười trong chức vụ trung úy Trưởng Phòng Hành Quân.
Cũng trong thời gian này, ông kiêm nhiệm thêm chức vụ Trưởng Phòng 3 của Chiến Khu Đồng Tháp Mười do đại tá Nguyễn Văn Là làm chỉ huy trưởng, tham gia chiến dịch Thoại Ngọc Hầu do thiếu tướng Dương Văn Minh chỉ huy. Ông không sao quên được một kỷ niệm có lần tướng Minh đã đến bắt tay ông để tỏ lòng ngưỡng mộ tác giả của những ca khúc về đời lính chiến ngay tại mặt trận Chiến Khu Đồng Tháp. Và hình ảnh cái bắt tay này đã được in trên trang nhất của báo Chiến Sĩ Cộng Hoà.
Đến năm 1957, ông theo học khóa Chỉ Huy Và Tham Mưu tại Hawaii. Và cũng trong thời gian này ông cho ra đời nhạc phẩm “Nhớ Một Chiều Xuân”.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết ông chọn binh nghiệp là nghề nghiệp chính. Mặc dù ông được học nhạc chính quy ở trường, nhưng âm nhạc chỉ là nghề tay trái.
Từ cấp bậc thiếu úy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bước dần lên cấp bậc đại tá. Ông từng được nhận huy chương cao quý nhất của Việt Nam Cộng Hòa là Bảo Quốc Huân Chương vào giữa thập niên 60. Sau biến cố tháng 4 năm 75, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã kết thúc cuộc đời binh nghiệp của mình trong tăm tối bằng 10 năm tù cải tạo. Đúng như ông đã dự đoán cuộc đời thăng trầm của mình bằng 2 câu kết của nhạc phẩm “Chiều Mưa Biên Giới: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng thì đường trần còn mưa bay gió cuốn còn nhiều anh ơi”.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng nhấn mạnh thêm là chưa bao giờ ông phục vụ ở Cục Chiến Tranh Chính Trị như nhiều người lầm tưởng. Ông chỉ đích thực là một người lính tác chiến, rồi sau đó trở thành sĩ quan tham mưu cao cấp của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 75, đầu tiên nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bị đưa đi tù “cải tạo” tại trại Suối Máu. Nhưng không lâu sau, ông bị chuyển về nhà tù Chí Hòa cho đến khi được trả tự do vào năm 1985. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết ông đã rất đau buồn vì không được nhìn thấy mặt thân phụ lần cuối trong thời gian ông ở tù.
Một trong những nét đặc thù của cõi nhạc Nguyễn Văn Ðông là hình ảnh cùng những cảm nhận của người nhạc sĩ về mùa Xuân. Ca khúc của họ Nguyễn viết về mùa Xuân chiếm một một con số không nhỏ, trong sự nghiệp âm nhạc của ông. Ngoài những ca khúc mùa Xuân xuất hiện ngay tự nhan đề của ca khúc như “Phiên Gác Ðêm Xuân,” “Nhớ Một Chiều Xuân,” “Dáng Xuân Xưa”… người nghe còn gặp thêm nhiều hình ảnh mùa Xuân trong nhiều ca khúc khác nữa, của ông.
Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 26 tháng 2 năm 2018, Nguyễn Văn Đông qua đời tại bệnh viện Chợ Rẫy Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi. Tro cốt của ông được rải xuống biển Vũng Tàu thể theo di nguyện.
Ông qua đời là mất đi một người chiến sĩ VNCH can trường, một nhạc sĩ tài hoa…Nếu không có biến cố năm 1975, chắc chắn ông sẽ còn cống hiến cho nền âm nhạc nước nhà nhiều tác phẩm đặc sắc hơn nữa …
Với di sản đồ sộ đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN của Cố Đại tá nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, chúng ta thấy rõ hơn là những người chiến sĩ VNCH đúng là những người con ưu tu’ của đất nước, vừa có đời sống trí thức với lý tưởng của kẻ sĩ trong thời bình cũng như thời loạn, vừa tài hoa, vừa khí phách, mà nhạc sĩ cố đại tá Nguyễn Văn Đông là một trường hợp điển hình. Ước mong sao các thế hệ tiếp nối của người Việt Nam cũng sẽ có những con người hào hùng như thế.
Tâm An, tháng Tư 2025
-
Tháng Tư Trong Tôi | April Within Me
-
NHỮNG ĐỨA TRẺ LẠC LOÀI
Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em,
Thấm thoát đã 50 năm, nỗi buồn ly hương vẫn vương vấn trong lòng người viễn xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, Khánh Lan xin mời quý vị thưởng thức chuyện ngắn “Những đứa trẻ lạc loài“. Tác phẩm gồm 3 phần: Phần I: Hồi ký Những Đứa Trẻ Lạc Loài, đây là một câu chuyện có thật về đứa con lai bị bỏ rơi ở VN sau 1975. Phần II: Số phận của những đứa trẻ đi theo chương trình Babylift và Home Coming Act. Phần III: 50 năm nhìn lại những gì đã xảy ra cho đất nước Việt Nam.
Ca khúc “Kiếp Lạc Loài”, do anh Phạm Thái sáng tác dựa trên cảm hứng từ tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài”. Điểm đặc biệt là toàn bộ phần hình ảnh, tiếng hát và hòa âm được thực hiện bằng công nghệ AI, với lời thơ của anh Thái Phạm.

Tác phẩm này đang trong tiến trình chuyển sang Anh ngữ và sẽ gởi đến quý độc giả sau Thanksgiving 2025.
Khánh Lan kính mời,
April 30, 2025-
Kỷ niệm 50 năm viễn xứ. (1975-2025)
-
CHƯƠNG TRÌNH NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT DO LIÊN NHÓM NVNT & TTG THỰC HIỆN
Khánh Lan trân trọng thay mặt anh Việt Hải gửi đến quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ cùng quý anh chị em một tin vui:
Hai tuần trước, ký giả Du Miên – đại diện của Đài Truyền Hình Vietnam American Television (VNA-57.3) – đã mời nhóm chúng ta đảm trách thực hiện một chương trình trên băng tầng của đài. Sau khi tham khảo ý kiến ban điều hành và nhận được sự khích lệ từ các vị cố vấn, anh Việt Hải đã chính thức quyết định hợp tác với đài 57.3, với mục tiêu giới thiệu Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đến quý khán thính giả.
Chương trình “Nhân Văn Nghệ Thuật” sẽ được phát hình định kỳ hai tuần một lần trên băng tầng 57.3. Ngay khi có chương trình truyền hình cố định, Ban Điều Hành sẽ thông báo cụ thể ngày giờ đến quý vị. Chương trình sẽ được phát hành rộng rãi qua các nền tảng sau:
- DirectTV tại toàn bộ 50 tiểu bang Hoa Kỳ và Canada
- Roku Box
- Facebook và YouTube
- Website chính thức: vnatv.com
Khánh Lan cũng xin gửi đến quý Giáo Sư, các Văn Thi Sĩ và quý anh chị em đoạn video buổi thu hình đầu tiên được thực hiện vào ngày 18 tháng Tư vừa qua, với sự tham gia của ký giả Du Miên, Giáo Sư Quyên Di và Khánh Lan.
Chương trình mở đầu với video logo Nhân Văn Nghệ Thuật, do anh Thái Phạm thiết kế. Tiếp theo là phần giới thiệu tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” của Khánh Lan. Tác phẩm này trình bày dưới dạng eBook và sẽ được gửi tặng quý vị qua email như một món quà tinh thần nhân dịp tưởng niệm 50 năm nhìn lại quê hương Việt Nam (1975–2025). Ngoài ra, chương trình cũng giới thiệu ca khúc “Kiếp Lạc Loài”, do anh Phạm Thái sáng tác dựa trên cảm hứng từ tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài”. Điểm đặc biệt là toàn bộ phần hình ảnh, tiếng hát và hòa âm được thực hiện bằng công nghệ AI, với lời thơ của anh Thái Phạm.

PHẦN 1
PHẦN 2
PHẦN 3
Khánh Lan kính mời,
Tháng 4, 2025
Kỷ niệm 50 năm viễn xứ
-
TÌNH YÊU & TIẾNG CƯỜI
Kiều My

Chủ nhật 13 tháng 4, 2025 trời thật êm dịu, nắng không gay gắt, gió cũng nhẹ đi – như thể vạn vật đang khẽ nhường chỗ cho một điều gì thật đẹp sắp được cất lên. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cùng những bạn hữu gần xa đến dự tiệc sinh nhật thứ 95 của người anh đáng kính – nhà văn Nguyễn Quang – mà cuộc đời ông là cuốn tiểu thuyết thầm lặng. Từng trang viết là hồi ức của một thời rực rỡ, yêu thương, băn khoăn…Và hôm nay giở lại trang viết cũ với chủ đề dịu dàng: Tình Yêu & Tiếng Cười.

Một tiết mục không thể thiếu trong chương trình – đó là chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ trong không khí trang nghiêm. Người Việt hải ngoại luôn tưởng nhớ đến Tổ quốc Việt Nam cũng như trân trọng và tri ân đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang những người Việt tị nạn. Sau đó, phút tưởng niệm lắng đọng, tưởng nhớ đến những anh hùng vị nước vong thân, những người đã bỏ mạng trong cuộc hành trình tìm Tự do.

Quan khách gồm có: trưởng nhóm NVNT&TTG, Nv Trần Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, các giáo sư Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Quyên Di; nhạc sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân Ngọc Hà, nhạc sĩ Võ Tá Hân và phu nhân; nữ sĩ Dương Hồng Anh, Lê Nguyễn Nga và các nhà văn Trạch Gầm và phu nhân, Vương Trùng Dương, Vi Khiêm, Khánh Lan, Kiều My, John Tạ, Nguyên Hồng; các ca sĩ: Quỳnh Giang, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Tony Hiếu, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Ngọc Châu, Alain Đức, Dương Viết Đang, Mạnh Bỗng, Chế Tùng, Hoàng Oanh, nhiếp ảnh gia Thiều Minh, kỹ thuật gia Tâm An, keyboardist Ngọc Tú v.v…

Buổi tiệc rất vui và thật ấm cúng. Mọi người đến không chỉ để chúc thọ mà để lắng nghe… một bản tình ca – Một chuyện “Tình Yêu và Tiếng Cười của nhà văn Nguyễn Quang và cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh. Người phối ngẫu đã vĩnh viễn về miền miên viễn, nhưng người còn ở lại vẫn gìn giữ yêu thương đó. Nhà văn Nguyễn Quang với mái tóc bạc trắng như sương mai, ánh mắt vẫn long lanh nét tinh anh của một thời tuổi trẻ – kể về bà. Người vợ quá cố, người tri kỷ, người bạn đời đồng hành cùng ông qua mấy mươi năm gió bụi: “Đôi uyên ương đến với nhau bằng thơ, yêu nhau bằng tấm chân tình, và cười cùng nhau qua bốn mùa…” Cuộc tình của ông bà đẹp như những đóa hoa hồng trong bản nhạc La Vie En Rose của Edith Piaf , mà đã được ca sĩ Ngọc Hà hát lên như một món quà sinh nhật dành tặng nhà văn Nguyễn Quang.

Tôi nhận ra: tuổi 95 không phải là con số của sự tàn phai, mà là nốt cao của một bản tình ca – bản tình ca viết bằng thơ, bằng âm nhạc, bằng ký ức và hơn hết… bằng tình yêu thuần khiết. Và tôi biết, tình yêu – nếu thật sự là tình yêu – sẽ luôn ở lại trong tim, như thơ, như nhạc, như tiếng cười vang vọng suốt một đời người…

Minh Châu, Minh Khai, Kiều My, Lâm Dung, Ái Liên, Ngọc Quỳnh, Khánh Lan, Minh Thư, Lệ Hoa, Thụy Lan
Một khoảnh khắc đáng ghi nhớ – khi ca sĩ Quỳnh Giang mang món quà từ San Jose do nhạc sĩ Phạm Hồng Thái gửi tặng Nv Nguyễn Quang. Đó là chiếc “cup pha lê” nhỏ xinh có in hình Nguyễn Quang và Hoài Trinh…rất độc đáo và đầy cảm xúc. Chiếc cup không phải để vinh danh thành tích, mà để vinh danh một chuyện tình, một đời sống gắn bó không rời. Hình ảnh ông và bà được in lên chiếc cup ấy chẳng khác nào khắc ghi vĩnh viễn một tình yêu – không chỉ trong lòng người, mà trong một vật thể có thể cầm nắm, chạm vào, nâng niu…Ông thì thầm trong tim:“La vie est faite de petits bonheurs…” – Cuộc đời được dệt nên từ những hạnh phúc bé nhỏ. Đó cũng là Giai điệu của một đời người!

NV Nguyễn Quang & Ca Sĩ Quỳnh Giang

Nv Nguyễn Quang, Ns Võ Tá Hân, Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga, nữ sĩ Dương Hồng Anh

GS NS Lê Văn Khoa, NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NV Nguyễn Quang, NS Lê Nguyễn Nga, GS Dương Ngọc Sum. Phía sau là NV Vi Khiêm đang đứng nói chuyện.
Ca sĩ Quỳnh Giang hát một ca khúc được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh – Kiếp Nào Có yêu Nhau – rất truyền cảm; đã làm sống lại hình ảnh của người bạn đời trong tâm hồn Nguyễn Quang, mà đã vĩnh viễn ra đi. Ban tứ ca: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Minh Thư trình bày bản nhạc mang chất xúc tác cho sự kiện hôm nay – Còn Gặp Nhau – thơ Tôn Nữ Hỷ Khương, nhạc Võ Tá Hân.

Phần tâm tình cùng NV Nguyễn Quang là các vị khách quý gồm: Đồng Hương Sóc Trăng, GS Trần Huy Bích, GS Quyên Di, GS Dương Ngọc Sum, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Lê Nguyễn Nga, NV Vi Khiêm, NS Võ Tá Hân và NV Khánh Lan. NV Khánh Lan đã thay mặt Thi Sĩ Tha Nhân diễn ngâm bài thơ Thất Ngôn Bát Cú (Dĩ Thủ Vi Đề) mừng sinh nhật Nv Nguyễn Quang.
MỪNG ĐẠI THỌ NV NGUYỄN HUY QUANG
MỪNG anh sinh nhật chín mươi lăm
ĐẠI đại rồi qua quá tuổi trăm
THỌ tỷ nam sơn người vẫn nói
NHÀ so tùng bách bạn thường thăm
VĂN chương sắc sảo xây nhân bản
NGUYỄN tộc danh lừng chống ngoại xâm
HUY động khí thiêng huynh khỏe mạnh
QUANG vinh đã đạt rạng ngời năm

NV Khánh Lan

Thụy Lan, Kiều My, Lệ Hoa, Minh Thư
Không khí trong hội trường bỗng vui nhộn lên khi ban tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư cùng cất tiếng hát – Nếu Có Yêu Tôi – sáng tác của nhạc sĩ Trần Duy Đức. Nói lên sự vô tình của thời gian, vì khi thời gian đã qua đi sẽ không bao giờ trở lại; vậy việc gì có thể làm hôm nay đừng để ngày mai – ngay cả tình yêu! Nhà văn, ca sĩ Kiều My cũng đã hát bản Après Toi ưu ái dành tặng ngôi sao sáng hôm nay – vì biết Nv Nguyễn Quang luôn yêu thích những giai điệu lãng mạn trữ tình của dòng nhạc Pháp, từ khi ông còn sống ở thành phố ánh sáng Paris đến khi tuổi đã về chiều.

Những lẵng hoa lan tươi đẹp dành cho những bông hoa biết nói
Những bạn hữu thân thương của Nv Nguyễn Quang cũng chia sẻ những thâm tình và dành cho ông những lời chúc tốt đẹp cho những ngày tháng còn lại của một đời người. Để tỏ lòng tri ân, ông cũng đáp lại bằng những lẵng hoa lan tươi đẹp dành cho những bông hoa biết nói – phái đẹp hiện diện trong khánh phòng. Ngoài ra, còn có cuộc xổ số rất hào hứng với những phần quà thật đẹp dành cho những ai may mắn được trúng giải.

Ca Sĩ Chế Tùng & Ca Sĩ Hoàng Oanh
Tiệc cũng đã tàn, nhưng tiếng nhạc vẫn còn vang như muốn níu kéo những khoảnh khắc đã ghi lại dấu ấn trong tâm khảm mọi người. Chân thành cầu chúc nhà văn Nguyễn Quang luôn được bình an để sống với những kỷ niệm đẹp của “tình yêu và tiếng cười”- Mà từ đó đã tạo nên nguồn cảm hứng cho những mảnh văn chương để đời.- Đó cũng là “giai điệu của một đời người” vậy!
Kiều My, California, ngày 13 tháng 4, năm 2025
-
Desire – Lý Thuyết Ham Muốn
Danh từ: Một cảm giác mạnh mẽ “muốn có” một cái gì đó hoặc “mong muốn” một cái gì đó xảy ra.
Động từ: Ham muốn mạnh mẽ trong việc “cho” hoặc “muốn’ một cái gì đó.
Lý thuyết ham muốn cho rằng việc thực hiện một ham muốn đóng góp cho hạnh phúc của một người bất kể lượng niềm vui (hay sự không hài lòng). Một lợi thế rõ ràng của lý thuyết Desire là nó có thể hiểu theo cung cách diễn đạt của Wittgenstein. Ludwig Wittgenstein là một triết gia bị ám ảnh bởi những khó khăn về cách diễn đạt ngôn ngữ, muốn giúp chúng ta tìm cách thoát khỏi một số vũng bùn mà chúng ta gặp phải trong giao tế, trong diễn đạt, và ngay cả trong suy tư…
Cung cách đó được hiểu theo “Meaning of Language” dưới đây:
Từ đó, chúng ta thấy từ ngữ DESIRE được hiểu theo từng tâm cảm, từng thể trạng của mỗi con người.
Và bài viết chỉ mong trình bày một số suy nghĩ góp nhặt cát đá, suy diễn theo suy nghĩ chủ quan của người viết nhằm mục đích chia xẻ cùng bạn đọc về một khía cạnh của tư tưởng và tâm ý.
- Desire – Ham muốn là gì?
Ham muốn – Desire, Thèm muốn – Craving, Khao khát – Longing. Những từ trên gợi ra cho chúng ta cái cảm giác thúc đẩy con người đạt được hoặc sở hữu một cái gì đó. Ham muốn là một cảm giác mạnh mẽ, xứng đáng hoặc không xứng đáng, đúng đắn hoặc không đúng đắn, thúc đẩy sự chiếm đoạt được hoặc sở hữu một cái gì đó (trong thực tế hoặc trí tưởng tượng).
Ham muốn là ở trong một trạng thái đặc biệt của tâm lý. Đó là một trạng thái tâm lý quen thuộc với tất cả những người đã từng muốn uống nước, muốn ăn một món ăn… hoặc muốn biết những sự kiện gì đã xảy ra cho một người bạn cũ. Nhưng từ sự quen thuộc đó không làm cho chúng ta dễ dàng đưa ra một lý thuyết về ham muốn. Mặc dù có sự tranh chấp trong chính mỗi ham muốn của bản thân, nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tự khắc phục ham muốn của chính mình.
Ham muốn là một trạng thái của tâm – ý (heartily spirit) (người viết tự nghĩ ra từ ngữ nầy, không biết có đúng không, xin nhờ chỉ giáo) thường liên quan đến một số hiệu ứng khác nhau: một người ham muốn có xu hướng hành động theo những cách nhất định, cảm nhận theo những cách nhất định và suy nghĩ theo những cách nhất định.
Nếu tôi mong muốn uống trà chẳng hạn, thì tôi thường sẽ tự pha cho mình một tách trà; và nếu tôi không tự cảm thấy mình cần uống trà ngay lập tức, tôi sẽ không cảm thấy cái thôi thúc phải nấu nước sôi để pha trà… Tôi, lúc ấy sẽ thấy ý nghĩ về trà rất dễ chịu (vì không phải làm gì cả!). Từ đó, tôi sẽ thấy suy nghĩ của mình liên tục chuyển sang ý tưởng về trà. Từ đây, tôi sẽ đánh giá rằng trà có vẻ như là một ý tưởng tốt. Và như thế, như thế tiếp tục. Những hiệu ứng khác nhau này đã là trọng tâm trong tâm-ý của tôi về những nỗ lực để phát triển các lý thuyết; và đó chính là lý thuyết của ham muốn.
- Triết lý về sự ham muốn
Hiểu được ham muốn đòi hỏi ít nhất hai điều kiện:
- Thứ nhất, có một lý thuyết về bản thân ham muốn – desire itself;
- Thứ hai, có một số quen thuộc với các loại ham muốn có được – desire that there are.
Một khi nắm được một sự hiểu biết về ham muốn, chính ta có thể làm sáng tỏ một số tranh cãi chung quanh những điều ham muốn.
Lý thuyết thỏa mãn ham muốn là một dạng chủ nghĩa chủ quan về hạnh phúc theo nghĩa thông thường, theo đó, để có được một cuộc sống tốt (tốt theo suy nghĩ riêng của từng cá nhân) phải làm với thái độ của một người tạo dựng ra một cuộc sống theo lòng ham muốn của mình hơn là bản chất thực sự của cuộc sống.
Có nhiều hình thức khác của chủ nghĩa “chủ quan” (subjectivism):
- Lý thuyết mục tiêu thành tựu – Aim-achievement theories;
- Lý thuyết hiện thực hóa giá trị – Value-realization theories;
- Lý thuyết hạnh phúc – Happiness theories;
- Và một số hình thức của chủ nghĩa khoái lạc – Hedonism.
Nhưng thực sự, tựu trung tất cả những lý thuyết trên chỉ nhằm thực hiện mục tiêu của lý thuyết “hoàn tất ham muốn” – desire-fulfillment mà thôi.
Còn đối với chủ nghĩa khách quan (objectivism) thì sao?
Các lý thuyết khách quan về hạnh phúc – well-being gồm:
- Lý thuyết cầu toàn – perfectionism;
- Và lý thuyết “danh sách khách quan” – objective- list theories.
Hai quan điểm trên trái ngược với chủ nghĩa chủ quan là: – Ít nhất một số điều liên quan đến bản chất tốt hay xấu (pro/con – attitudes) đối với chúng ta về căn bản nhưng không liên quan đến thái độ của chúng ta. Sự “hoàn tất ham muốn” cũng đóng một vai trò trung tâm trong một số lý thuyết về hạnh phúc, trong đó kết hợp lại các yếu tố chủ quan và khách quan.
Vì vậy, lý thuyết thực hiện ham muốn ngày nay chắc chắn là một trong những lý thuyết hàng đầu về hạnh phúc.
Một số nhà triết học coi “lý thuyết hoàn tất ham muốn” là lý thuyết hàng đầu.
Nếu đó là lý thuyết ngự trị của thế kỷ 20 và 21, lý thuyết nầy không mang lại sự chú ý thời trước đó. Một số nhà triết học cổ đại và trung cổ hàng đầu đã đưa ra quan điểm để từ chối nó. Ví dụ, trong Plato’s Gorgias (C. 380 BCE), chính Callicles, một đệ tử của Socrates đã khẳng quyết rằng:”Ông, người thực sự muốn sống nhằm cho phép những ham muốn của mình được đánh bóng tối đa (he who would truly live ought to allow his desires to wax to the uttermost).
Trong De Trinitate (C. 416 C.E.), Thánh Augustine đã thảo luận ngắn gọn về ý tưởng “tất cả đều được ban phước, bất cứ ai cùng sống như nhau” (all are blessed, whoever live as they will). Augustine tiếp tục khẳng quyết, tuy nhiên, lòng ham muốn (hoặc ý chí) đó là điều tối thiểu của sự cần thiết cho hạnh phúc.
- Các căn bản trong việc/sự ham muốn
- Như vậy, thực sự ra, lòng ham muốn có căn bản nơi đâu và là gì?
• Sự chấp nhận, nhu cầu cần được chuẩn duyệt – Acceptance, the need for approval.
• Sự tò mò, nhu cầu học hỏi – Curiosity, the need to learn.
• Nét ăn uống, nhu cầu thực phẩm – Eating, the need for food.
• Gia đình, nhu cầu nuôi con – Family, the need to raise children.
• Danh dự, sự cần thiết phải trung thành với các giá trị truyền thống – Honor, the need to be loyal to the tradition values.
• Chủ nghĩa lý tưởng, sự cần thiết của công bằng xã hội – Idealism, the need for social justice.
• Độc lập, nhu cần cần thiết cho mọi cá thể – Independence, the need for individuality.
• Đặt hàng, nhu cầu cho (mọi việc) có tổ chức và ổn định – Order, the need for organized, stable,
- Và một số ham muốn nguyên thủy (primal desire) của con người là gì?
- “Sống còn”: Sống một cuộc sống bền lâu và khỏe mạnh – Survival: Live a long and healthy life.
- Bảo vệ: An toàn, chăm sóc và bảo vệ cho chính bạn và những người thân yêu – Protection: Safety, care and protection for yourself and loved ones.
- Tự do: Tự do khỏi sự nguy hiểm, sợ hãi và đau đớn – Freedom: Freedom from danger, fear and pain.
- Tiện nghi: Điều kiện sống thoải mái – Comfort: Comfortable living conditions.
- Niềm vui: Thưởng thức đồ ăn, đồ uống và trải nghiệm – Pleasure: Enjoy food, beverages and experiences.
- Ham muốn thâm sâu nhứt của con người là gì?
Ham muốn thâm sâu nhất (deepest desire) của bất kỳ con người nào là được Yêu Thương và được Trân Trọng.
Không có ai trên thế giới này không muốn được xem là đẹp đẻ hay tài giỏi hết.
Sẽ không có ai phải nhăn mặt (frown) khi được nghe “I love you” đến từ của miệng của người mình thương hết!
- Ham muốn mạnh nhứt (strongest) của con người là gì?
TS Erica Goodstone nhận định rằng:”Ham muốn tình dục là thứ ham muốn mạnh mẽ nhứt của con người. Khi được thúc đẩy bởi năng lực của ham muốn này, quý ông và quý bà phát triển một số phẩm chất đáng kinh ngạc, bao gồm nhãn quan và trí tưởng tượng, lòng can đảm và ý chí cùng khả năng kiên nhẫn liên tục bất chấp mọi trở ngại và khó khăn” (visualization and imagination, courage and willpower and ability to persist in spite of all obstacles and difficulties).
e- Như vậy, có phải ham muốn có nghĩa là tình yêu?
Tình yêu là ham muốn, không có định nghĩa nào khác hơn nữa… Đối với một số người, đó là sự đáp lại tình cảm của họ, một số người khao khát được gần gũi với người yêu. hoặc người mình yêu. Nhưng cũng có vài ngoại lệ, là ai đó nghĩ rằng “có thể chỉ muốn người mình yêu hạnh phúc mà thôi, không cần thiết để được đáp lại” (tình yêu đơn côi chăng?)
Chỉ có những người dối lòng là những người nói
rằng tình yêu đích thực không có ham muốn!
- Ham muốn có ý nghĩa gì trong Phật giáo?
Trong Phật giáo, dục vọng, vô minh, và chấp ngã nằm ở gốc rễ của mọi đau khổ. Theo dục vọng, Phật tử đề cập đến tham ái, vật chất và bất tử, tất cả đều là những ham muốn không bao giờ có thể được thỏa mãn cho mỗi con người.
Làm thế nào để một Phật tử thoát khỏi phải “chấp ngã”?
Có vài thực tiễn dưới đây để cho mỗi chúng ta cùng suy nghiệm nhằm “bớt đi” tính chấp ngã của chính mình:
* Thiền – Meditation: Thiền chỉ đơn giản là ngồi yên và cố gắng chú ý đến thời điểm hiện tại cho dù đó là hơi thở của bạn, cơ thể bạn hay những gì đang xảy ra xung quanh bạn ngay bây giờ;
* Từ bi – Compassion;
* Sự phụ thuộc lẫn nhau – Inter-independence;
* Chấp nhận – Accepting;
* Mở rộng – Expansiveness.
5-Tam giác vàng
Điều gì là tuyệt vời về tam giác này?
Thực sự nó có ý nghĩa gì?
Một số người thành công nhứt đã theo hướng nầy và họ thành công vì “Năng lực của một tư duy tuyệt vời”.
Cuộc hành trình đến tam giác vàng bắt đầu với Ham muốn – Desire. Đó là sân ga từ nơi con tàu vận mạng bắt đầu lăn bánh. Con tàu sẽ dừng lại sau mỗi trạm và những người không có đủ kiên nhẫn sẽ rời khỏi tàu. Còn những người ở lại là người có đức tin (tùy theo suy nghĩ của bạn, có thể là đức tin (faith) mà cũng có thể là niềm tin (believe). Đây là một thuộc tính quan trọng thứ hai để thành công.
Trong sự so sánh nầy, Đức tin kiên định – Consistent Faith và Khát vọng – Desire vững chắc chuyển Tâm Ý thành Hành động – Action.
Hành động giúp chúng ta tăng thêm ham muốn. Kết quả của Hành động làm cho Đức tin mạnh mẽ hơn và thêm một lần nữa, Hành động được tăng thêm, và từ đó tiếp tục mãi mãi Hành động.
Phản ứng dây chuyền không kiểm soát của hành động này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta thực sự thuộc về… (actually belong).
- Thay lời kết
Quý bạn vừa thả lòng với những định nghĩa, nhận đình cùng suy diễn hết sức trừu tượng về một danh từ hay động từ “Desire” tạm dịch là “Ham muốn” từ những suy nghĩ của các triết gia cho đến suy nghĩ của đời thường trong cõi ta bà nầy.
Để rồi bạn chuyển qua một vài suy diễn trong tinh thần Phật giáo…
Người viết không dám nói thêm nhiều nữa, chỉ mong mỗi người trong chúng ta nhìn về, nghĩ về “Ham muốn” trong chiều hướng nào?
Và dù trong chiều hướng nào đi nữa chỉ mong Quý Bạn vẫn còn tỉnh táo để biết chính mình:
- Đang nghĩ gì?
- Đang làm gì?
- Và suy nghĩ gì, làm gì đó có thích hợp với đạo lý của “Đời thường” không?
Xin chia xẻ vài suy nghĩ cùng Bạn trong mùa chay tịnh của Thiên Chúa giáo và mùa “cách ly tự nguyện” vì cô Coronavirus.
Và đây cũng là những suy nghĩ mà chính người viết cũng cần suy gẫm!
Phổ Lập Mai Thanh Truyết
An Nhiên Tự Tại
Houston, 26/3/2020
Phụ chú: Góp ý của một người bạn
Kính Thưa Anh Truyết và các Chị Em,
Bài viết anh phân tách về sự Ham Muốn rất hay. Tôi xin góp một chút ý kiến. Sau khi tất cả diễn biến về những thể loại ham muốn, thì chính ta nhìn lại chính mình, những ham muốn đó có đạt hiệu quả hay không, có khi được, nếu sự ham muốn đó trong tầm tay, có khi xa vời vì quá to lớn viển vông, có khi vì cái ta muốn thắng vì tự ái cá nhân.
Nói chung tất cả ham muốn đó do ta tự vẽ ra để trở thành một mục đích mà ta phải thực hiện dù tốt hay xấu.
Vậy làm sao sống cho có những mục tiêu tốt, chính là ta phải tự nhìn lại trong ta, vì ta muốn cái này, muốn cái kia, nói chung muốn đủ thứ trên đời, khi không đạt được thì phiền muộn, bất bình, hoặc đau khổ.
Như lời Phật dạy đó là Tham, Sân, Si. Những thứ đó chỉ là trừu tượng và viễn vong, nhưng nếu không có Ý muốn đó, chúng ta sẽ đứng giữa ngã ba đường, mà ta phải chọn một con đường để đi.
Vậy ta phải vạch ra con đường, sao cho dung hòa. Đó là một con đường chính giữa không có dính mắc hai bên.. Phải luôn nhìn lại chính mình, cảnh giác cái ham muốn thắng, mà phải quên mình nghĩ đến cái chung trong hiện tai.
Tôi đã luôn suy nghĩ (đó cũng là cái ta xấu xí) tai sao ta có mặt trong đời này, tai sao ta không là cây cỏ, con chim, cái kiến, hoặc là, người giàu có, hoặc nữ hoàng hay là những người nổi tiếng. Vậy thì cuộc sống này phải có lý do, mổi người mổi nhiệm vụ, có trách nhiệm phải chu toàn đối với cha me sinh ra ta, với gia đình ta đang có mặt, lo cho con cái cháu chắt trong tương lai. Và với xã hội ta đang sống. Tai sao mình không sanh trong một nước khác mà mình sanh trong nước Việt Nam, vậy ta cũng có trách nhiệm đối với tổ quốc,
Ta phải làm tất cả những gì trong đời này với tất cả lòng biết ơn, đã cho ta có cuộc sống có ý nghĩa, dù có phong ba bão táp, và vui sống. Nếu những ai đã từng đi vượt biên, sẽ hiểu được cái chết trong tích tắc giữa đại dương mênh mông không bến bờ. Hoặc đi máy bay nhìn xuống thấy con người mất hút trong quả đất.Trời đất bao la , ta chỉ là một sinh vật nhỏ bé trong vũ trụ .
Chúng ta cũng may mắn là sanh ra được toàn vẹn, không tật nguyền, còn biết suy nghĩ phải trái, nếu không may sanh ra mà bị chứng bệnh vô não ngẩn ngơ thiếu hiểu biết, thì chúng ta sẽ ra sao. Chúng ta lại được các đấng vĩ nhân hướng dẫn tâm linh biết nhân quả nghiệp báo, giống con rùa mù mà gặp bọng cây, đã mù làm sao thấy được bọng cây, Quả là may mắn. Chúng ta sanh ra không tự chọn, chúng ta chết đi cũng không biết được ngày.
Vậy chúng ta hôm nay gặp nhau đây là một cái duyên hanh ngộ thật đáng vui mừng, nên chúng ta phải quý trọng lẫn nhau.
Câu hỏi: Sự khác biệt giữa mong muốn (Hissaron) và khát vọng (Ishtokekut) là gì?
Trả lời: Mong muốn có nghĩa là tôi chỉ đơn giản là muốn một số sự hoàn thành. Ví dụ, tôi khát. Trong khi đó, một khát vọng phụ thuộc vào mức độ tôi thực sự cần nó tại một thời điểm nhất định, nghĩa là tôi đau khổ đến mức nào vì tôi thiếu sự thỏa mãn này.
Khát vọng là sự bổ sung cho mong muốn và nó đo lường sức mạnh của mong muốn tại một thời điểm nhất định, mức độ bản ngã của tôi sẵn sàng chịu đựng để đạt được mục tiêu mong muốn.
Nói cách khác, bạn sẵn sàng trả bao nhiêu cho việc này? Hãy xem nó ngay bây giờ. Bạn muốn lấy nó? Không vấn đề gì. Bạn có thể cho bao nhiêu? Chúng tôi có thể đo lường nguyện vọng của bạn theo câu trả lời của bạn. Bạn nói: “Chà, một trăm.” “Không, bạn nên cho một nghìn.” “Một nghìn?” Đây là nơi bạn được kiểm tra với số tiền bạn sẵn sàng trả. Đây là cách để đo lường khát vọng của bạn cho mục tiêu mong muốn.
Đồng thời, một mong muốn tự nó là đơn giản. Nếu cái gì miễn phí, tôi sẽ lấy nó.
Rõ ràng một người được đánh giá theo nguyện vọng của anh ta.
Mong muốn đến với chúng ta từ Đấng Tạo Hóa, trong khi chúng ta thêm khát vọng thông qua môi trường.
Một khát vọng là thành quả của công việc của chúng ta, là thành quả của những nỗ lực của chúng ta.
Question: What is the difference between a desire (Hissaron) and an aspiration (Ishtokekut)?
Answer: Desire means that I simply want some fulfillment. For example, I am thirsty. Whereas an aspiration depends on how much I really need it at a given moment, meaning how much I suffer now because I lack this fulfillment.
Aspiration is an addition to a desire and it measures the strength of the desire at a given moment, how much my ego is ready to suffer for the sake of reaching the desired goal.
In other words, how much are you ready to pay for this? Let’s see it now. You want to get it? No problem. How much can you give? We can measure your aspiration according to your answer. You say: “Well, a hundred.” “No, you should give a thousand.” “A thousand?” This is where you are tested with how much you are ready to pay. This is the way to measure your aspiration for the desired goal.
At the same time, a desire itself is simple. If something is free, I will take it.
Obviously, a person is evaluated according to his aspiration.
A desire comes to us from the Creator, while we add aspiration through the environment.
An aspiration is the fruit of our work, the result of our efforts.
Huỳnh Quốc Bình:
Tình yêu phải luôn là hai chiều bởi vì con người luôn luôn và muôn đời bất toàn. Chỉ có Thiên Chúa mới có tình yêu một chiều dành cho loài người không xứng đáng.
Tình yêu “đơn côi” là loại tình yêu bất cần phải quấy. Yêu người không yêu mình nên đành phải “đơn côi”. Ha ha ha.
Em chỉ yêu người nào yêu em. Ai hổng yêu em, em hổng yêu lại. Em chỉ dành thì giờ yêu người yêu mình mà thôi.
Nhiều khi người ra yêu mình mà mình đáp lại còn không xong, nói chiyêu kẻ chẳng “iu ta” Ha, ha, ha.
Mẹc xin ông anh đã có ý nghĩ rất cao thượng.
HQB
-
Ái Ân, Ân Ái Qua Ca Khúc
Vương Trùng Dương
Có những chữ coi như “cấm kỵ” khi đề cập (nói, viết) trong bàn dân thiên hạ vì quá lộ liễu, sống sượng, thiếu tế nhị… với hành động “chăn gối” xảy ra nhưng trong thi ca và âm nhạc đã sử dụng cùng ý nghĩa đó nhẹ nhàng và dễ cảm thông.
Thi hào Nguyễn Du (1765-1820) trong Truyện Kiều đã đề cập đến hai chữ ái ân, ân ái. Tố Như tiên sinh đã sử dụng nhiều ngôn từ đầy văn vẻ để nói đến hình ảnh “gặp gỡ” chăn gối với nhau:
“Còn nhiều ân ái với nhau
Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì!”
“Bây giờ gương gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
Sau 15 Thúy Kiều lưu lạc trong chốn lầu xanh, trao thân cho hàng nghìn khách làng chơi nhưng gặp lại Kim Trọng, men tình vẫn say đắm:
“Còn nhiều ân ái chứa chan
Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi.
“… Chừng xuân tơ liễu còn xanh,
Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân”
Cùng thời, trong truyện thơ chữ Nôm như Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự (1743-1790) đã đề cập đến mối tình hoa mộng, lãng mạn, ngang trái, khổ đau, hòa hợp giữa Lương Sinh với hai người đẹp Dao Tiên & Ngọc Khanh. Và, hình ảnh người con gái thuở đó đã vượt qua hàng rào lễ nghi, vụng trộm chăn gối với nỗi niềm:
“Bấy lâu chút mảnh riêng tây
Ái ân nầy đến đêm nầy là xong”
Thời kỳ lãng mạn trong văn chương vào cuối thập niên 1930, bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn của T.T.Kh đã gây tiếng vang, xôn xao về mối tình say đắm, nồng nàn nhưng trắc trở, dám thổ lộ tâm trạng người con gái khi đã dâng hiến cho tình yêu để rồi sống với chuổi ngày còn lại:
“Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người”.
Bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn sau nầy được nhạc sĩ Trần Trịnh cảm tác với ca khúc cùng tên.
T.T.Kh còn nằm trong vòng bí ẩn, nữ sĩ Vân Đài xuất hiện với Hằng Phương, Anh Thơ, Mộng Tuyết trong thi phẩm Hương Xuân cũng dùng ngôn ngữ đó rất tự nhiên:
“Xin đừng nói đến ái ân chi
Ái ân lời suông có nghĩa gì!”.
“Ái ân giục giã gọi lên đường,
Nặng áo giang hồ bụi gió sương”.
Trong thời kỳ lãng mạn đó, Huy Thông du học ở Pháp, ảnh hưởng sâu đậm chất “lãng mạn trữ tình” nên trong những thi phẩm của ông bàng bạc ngôn ngữ ái ân; điển hình như Tần Ngọc xuất bản giữa thập niên 1930 với những bài như Tiếng Ái Ân, Chiều Hôm Qua, Trong Lúc Chia Tay, Gió Chiều, Mây Qua, Bấy Nhiêu Đêm, Gặp Gỡ… Có khi chỉ là mộng tưởng như:
“Niềm ái ân chưa được biết bao giờ,
Ta vừa biết phút giây trong giấc mộng”
Thế nhưng, đem mộng để tỏ bầy:
“Hứa cùng ta sẽ trăm năm ân ái,
Nỡ đi đâu để bạn đắng cay lòng?”.
Vào thập niên 1940, thi ca Vũ Hoàng Chương chất chứa cả khung trời lãng mạn, say đắm. Dù mang tựa Quên trong thi phẩm Mây, con tim vẫn dâng trào:
“Trên nẻo ấy, sẽ từ muôn đáy huyệt
Ái ân xưa vùng dậy níu chân anh”.
Có khi hợp rồi tan để bày tỏ niềm đau và oán trách như những dòng thơ của Thái Can trong bài Anh biết Em Đi:
“Em nhớ làm chi tiếng ái ân
Đàn xưa đẽ lỡ khúc dương cầm.
Dây loan chẳng đượm tình âu yếm
Em nhớ làm chi tiếng ái ân”.
Trong kho tàng văn chương Việt Nam, hình ảnh ái ân, ân ái được đề cập rất nhiều. Đặc biệt trong âm nhạc, hình ảnh đó cũng được thể hiện từ thuở “bình minh” chạy dài cho dến nay ở khung trời hải ngoại. Trong tình yêu trai, gái… ái ân để lại vết tích mà thời gian khó xóa đi vết tích ấy, nhất là ở mối tình đầu như cái nhìn của nhà thơ Pháp Lamartine. Say đắm, cuồng nhiệt, ngất ngây và chết lịm trong cơn mê của “tột đỉnh yêu thương”. Cảnh tượng, hình ảnh ấy dấu kín trong tận đáy lòng, mấy ai tâm sự, bày tỏ. Thế nhưng, bằng nhiều cách gọi từ sống sượng đến tao nhã, từ hình ảnh tầm thường, đen tối đến thanh tao, ngôn ngữ âm nhạc trở thành hình ảnh thân thương, quen thuộc được thể hiện qua nhiều ca khúc cả nam giới và nữ giới sáng tác.
Thiên Thai, ca khúc bất hủ của Văn Cao đã hình dung hình ảnh chăn gối trong yêu đương giữa nơi tiên cảnh:
“Thiên Thai ánh trăng xanh mơ lan thành suối trần gian,
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần”.
Trong ca khúc Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Đoàn Chuẩn mô tả qua lăng kính của màu sắc:
“Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi phím tơ đồng tìm duyên
Gửi thêm lá thư, màu xanh ái ân
Về đôi mắt như hồ thu”.
Với nhạc phẩm Lá Thư, Đoàn Chuẩn & Từ Linh than thở với nỗi niềm xa vắng khi đã “nếm mùi” luyến ái, giao hoan:
“Anh quay về đây, đốt tờ thư quên đi niềm ân ái ngàn xưa!
Ái ân theo tháng năm tàn,
Ái ân theo tháng năm vàng
Tình người nghệ sĩ phai rồi!”.
Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đề cập đến ái ân, ân ái với hình ảnh mơ hồ, lảng vảng với gió mây và cung bậc để tơ tưởng về hình ảnh giai nhân. Ca khúc Bóng Chiều Xưa, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đề cập đến hình ảnh cụ thể trong giây phút đắm say:
“Một chiều ái ân
Say hồn ta bao lần
Một trời đắm duyên tơ
Cho đời bao phút ơ thờ”
Cùng trong điệu nhạc tango vừa dồn dập, vừa nóng bỏng, với mối tình đầu mà Lamartine bày tỏ không thể nào quên, nhạc sĩ Ngọc Bích thể hiện niềm cảm xúc dạt dào trong ca khúc Mộng Chiều Xuân:
“Mối tình đầu xuân ai thấu chăng?
Lòng tha thiết vương theo tiếng đàn,
Mơ nguồn ái ân, những ngày phong trần
Sống trong mộng đẹp ngày mai”…
“Anh còn mong chờ
Ái ân kẻo tàn ngày mơ”
Ca khúc Người Em Sầu Mộng của nhạc sĩ Y Vân được phỏng theo dòng thơ của Lưu Trọng Lư trong bài Một Mùa Đông:
“Hãy xếp lại muôn vàn ân ái;
Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau”
Nói đến tình yêu, ngoài gió, trăng, mây, nước… có ái ân mới tạo “dấu ấn” và nhớ mãi… đâu đây, tìm gặp ở nhạc sĩ Văn Phụng đã tỏ bày trong ca khúc Yêu:
“Yêu là tình dâng cao, gió lao xao ngã hàng phi lao.
Phút ái ân đắm say tâm hồn,
Nhớ mãi đêm nào bên nhau”
Từ nhẹ nhàng, mơn trớn đến dồn dập như những thể điệu trong âm nhạc. Nếu âm điệu dồn dập của nhạc sĩ Lam Phương rất khích động, tôn thờ giây phút, hình ảnh đó thể hiện trong Thiên Đường Tình Ái:
“Đường nào vào thiên đường ái ân
Là đường vào nhịp thở lâng lâng.
Mùa xuân đang đi trong lời yêu mới
Có hoa vàng phủ đường mòn gót chân mềm”
Có lẽ Y Vân chỉ nhìn thấy màu đen cuộc tình dù đã trao thân cho nhau, qua điệu boston, chậm và buồn. Thể điệu nầy phù hợp với nỗi bi thương trong ca khúc Buồn:
“Đôi ta như bước lên đỉnh sầu
Mà đời luôn cao ngất thương đau.
Bao lâu ân ái chưa đậm màu
Toàn là cay đắng giết thương yêu!”.
Ái ân, ân ái trong phút giây nồng nàn không hoàn toàn ngọt lịm, có lúc giăng mắc sự cách biệt làm thấm vị đắng cay như bản nhạc Lời Đắng Trong Cuộc Tình của Hà Nguyên:
“Những ngày còn nồng nàn ân ái
Giữa đôi ta, giữa đôi ta
Có người thì mộng một trời mây bay
Người thì còn mãi trắng đôi tay”
Trữ tình, tha thiết, da diết khi đã chăn gối, tạo “dấu ấn tình yêu” trong đời ở Dạ Khúc Cho Tình Nhân của nhạc sĩ Lê Uyên Phương. Ở đây, bắt gặp niềm đau của cuộc tình từ hình ảnh thân thương, gắn bó tận khung trời Đà Lạt đến cảnh chia tay trong cuộc sống, rồi tái hợp trên sân khấu nơi hải ngoại như định mệnh khắc nghiệt, trớ trêu:
“Ái ân ơi, đừng phụ lòng ta,
Nhớ thương sau xin gửi người xa
Khóc nhau trong cuộc đời”
Một thoáng mê ly, ngất ngây, một thoáng ngậm ngùi khắc khoải ở lời ca của Lê Uyên Phương thấp thoáng trong lời thơ Đinh Hùng trong bài thơ Hương Trinh Bạch ở thi tập Mê Hồn Ca:
Ta không biết, em ơi! ta không biết,
Ai hững hờ, ai mộng với ai say?
Những ai kề môi ân ái vơi đầy
Những ai nói, ai cười như hứa hẹn?”
Mang tâm trạng của người con gái khi yêu, trao thân cho người tình, không tiếc gì “cái giá nghìn vàng” mà nhạc sĩ Ngọc Trọng tỏ bày qua ca khúc Em Vẫn Cần Anh:
“Dù mai xa cách chỉ biết yêu anh
Một lần ân ái, ngàn đời nhớ nhau hoài
Anh về bên ấy từng chiều có nghe ê chề
Tiếc nhau chi mảnh đời lúc xuân thì”.
Trong tình yêu với “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên” (Thế Lữ), chỉ trong giây phút, nhớ nhau trọn đời. Đôi khi tận cùng của tình yêu bằng sự chiếm đoạt hay mong đợi sự đòi hỏi chỉ ái ân, ân ái mới có biến chuyển lớn lao trong cuộc đời, nhất là nữ giới – chữ trinh – chỉ một lần trong đời thay đổi cả cuộc đời, chỉ một phút giây để thay đổi danh xưng, bước từ lằn ranh nầy sang lằn ranh khác; và, vết tích đó luôn luôn xâm chiếm.
Đôi khi bắt gặp nỗi xót xa, hờn dỗi bởi rơi vào tâm trạng chờ mong như dòng thơ Hồ Dzếnh:
“Em tôi ơi, tình nghĩa có gì đâu
Nếu là không lưu luyến buổi ban đầu
Thuở ân ái mong manh hơn nắng lụa”
Trong ca khúc Bão Tình, Hoàng Trọng đã đề cập đến “thuở lưu luyến” khó quên:
“Từ khi xa anh, lạnh xâm lấn tâm hồn em
Tìm trong đơn côi luyến mơ xưa đêm từng đêm
Mộng tình ân ái lúc ban đầu
Tìm đâu thấy đam mê nào về ray rứt thêm tâm tư ngày nối ngày”.
Vào thập niên 1940, Nguyễn Bính vang danh với nhiều thi phẩm, nhiều bài thơ được phổ nhạc rất được ái mộ. Bài thơ Hôn Nhau Lần Cuối:
“Ta sẽ là vợ chồng
Sẽ yêu nhau mãi mãi
Sẽ se sợi chỉ hồng,
Sẽ hát câu ân ái”
Bài thơ nầy được Văn Phụng sáng tác thành ca khúc vào thập niên 50.
Nhạc sĩ Lam Phương mang nỗi bi thương, tan nát khi người yêu trở thành “Tình Như Mây Khói”:
“Lời xưa âu yếm trao người như mây như khói tan rồi
Tựa kề vai em, sầu dâng muôn lối để nghe ái ân xa rời, tan nát lòng tôi!”.
Nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn tha thiết, cuồng si với tâm tư tình cảm của người tình đã dâng hiến cho nhau còn ngất ngây cám dỗ qua ca khúc Về Đây Anh:
“Em yêu anh trong giấc mơ nầy
Em yêu anh trong những mê say
Một trời ân ái mình hãy sống buông lơi thời gian”
Trong ngôn ngữ thường dùng, chữ ái ân, ân ái ít khi nhắc nhở, nhất là nữ giới, nhưng trong âm nhạc đều có sự cảm nhận qua sáng tác để trang trải qua lời hát.
Ca khúc Thao Thức nhạc Trần Đình Quân phổ theo thơ của Bùi Bích Hà:
“Chưa cùng em ngày tháng tới nhọc nhằn
Gối ân ái ru sợi buồn tóc rối
Người xa rồi, nghe lạ chiếu chăn
Giấc ngủ đêm qua anh về với nắng”.
Ca sĩ Lưu Bích (ái nữ của nhạc sĩ Lữ Liên) mặn nồng, tình tứ, chứa chan… rồi lại xót xa với nhạc phẩm Hãy Nói Yêu Em Đêm Nay:
“Tình nồng say… anh đã hứa trên môi
Ngày sau đôi ta thề không rời.
Vòng tay yêu thương ân ái đêm nao
Vì đâu nay bỗng xa nhau?”.
Nhạc phẩm Mối Tình Si của ca sĩ Mỹ Huyền (ái nữ của nhạc sĩ Thu Hồ) nói lên nỗi niềm “tận cùng đắng cay” bởi đã dâng trọn trái tim và thân xác “giữa lúc tình say” để rồi:
“Bao nhiêu niềm ái ân dâng tràn khắp nơi
Bao nhiêu niềm chua xót chất ngất hồn ta
Lang thang lòng tê tái bước hoang trên đời
Kêu than tình nhân thế giới giết chết niềm tin”.
Nhạc sĩ Khúc Lan (em ruột nhạc sĩ Phượng Vũ) viết lời ở ca khúc ngoại quốc vương vấn nỗi niềm tiếc nuối bởi Trái Tim Lầm Lỡ khi đã dâng hiến thân xác:
“Hởi trái tim lầm lỡ, hãy sống trong dại khờ,
Những ái ân rồi sẽ chìm vào thương nhớ;
Có nổi đau nào vẫn hoài niệm nhân gian,
Nước mắt đêm mồ côi sẽ không còn mang!”.
Nhạc phẩm Khi Mộng Tàn, nhạc ngoại quốc, lời Khúc Lan bầy tỏ nỗi niềm bi thương của cuộc tình đã “trao nhau” để rồi còn lại hình ảnh não nề lúc xa nhau:
“Có lúc nước mắt sao mặn môi
Vòng tay ân ái nay đâu rồi!”
Với ca khúc ngoại quốc, vào thập niên 1960, nhạc phẩm Histoire d’un Amour của nhạc sĩ Carlos Almaran đã trở thành bài ca bất hủ loan rộng khắp thế giới, giới trẻ Việt Nam đã một thời say đắm, Nguyễn Đình Toàn chuyển ngữ từ lời Pháp của Francis Blanch với cơn mê tình yêu chất ngất:
“Tình là cơn mơ khi ta còn thức chẳng cần ngủ say
Tình là cây cao vươn mình đứng lên
Nhựa đời căng da mềm ái ân
Đợi ngày đang về tới sau đêm”.
Đơn cử những ca khúc tiêu biểu đề cập đến ngôn từ quen thuộc được gọi bằng nhiều cách khác nhau nhưng chọn chữ có vẻ thanh tao để đưa vào ngôn ngữ âm nhạc, phổ thông, tự nhiên khi nghe và hát bất luận tuổi tác… để mô tả đến hình ảnh, động tác, giây phút riêng tư, kín đáo, cấm kỵ… như vô tình được hợp thức hóa trong đời sống, kể cả mặt đạo đức. Có khi lạm dụng ngôn từ nầy quá trớn như ở ca khúc Màu Xanh Noel với câu “Cho em gửi lại màu xanh ái ân”?.
Vẫn màu xanh ấy với nhạc sĩ Đỗ Thu qua ca khúc Gửi Về Anh tơ vương hình ảnh dễ thương, thân quen của thuở học trò:
“Thư xanh màu xanh ân ái
Em vẫn lạnh lùng vì vắng anh”.
Ca khúc Anh Không Chết Đâu Enh của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: “Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân. Giọt nước mắt nóng bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho anh” đã có nhiều ý kiến cho rằng dùng chữ ái ân trong tang lễ đau thương không phù hợp, nếu thay vào “lóng lánh bóng dáng anh” trân trọng, yêu quý hơn. Vì vậy khi viết lời ca khi nói về hình ảnh ái ân, ân ái phải phù hợp với môi trường, hoàn cảnh… Khi trình bày ca khúc với ca sĩ mọi lứa tuổi nam nữ cảm thấy tự nhiên, không có gì trần tục nên phù hợp. Và chứng tỏ độc giả, thính giả cũng không dễ dãi trong lời ca.
Trên đây, dẫn chứng qua thi ca và âm nhạc với bốn chữ “ái ân, ân ái” của các nhà thơ, nhạc sĩ tên tuổi để tạo nguồn cảm hứng khi viết.
Ca khúc I’ll Make Love to You của Mỹ năm 1994 với giai điệu nhẹ nhàng với lời ca: “I’ll make love to you. Like you want me to. And I’ll hold you tight. Baby all through the night” nhưng chữ make love tuy khác với have sex, go to bed with, sexual intercourse… nhưng không có vẻ văn chương như lời Việt ái ân, ân ái (?).
Về địa danh, ở Đà Lạt có rừng Ái Ân, cuối con đường lên viện Pasteur, gần dinh Bảo Đại, là một trong những nơi hẹn hò của tình nhân. Tác phẩm văn chương Rừng Ái Ân của nhà thơ Hà Huyền Chi, xuất bản năm 1970 ở Sài Gòn đã chọn địa danh nầy làm đề tài, gợi sự tò mò với độc giả.
Nói đến ái ân, ân ái để ngàn đời nhớ nhau, để tìm phút giây say đắm… là nói đến “nghệ thuật yêu đương, nghệ thuật chăn gối” mà từ nghìn xưa, ở Phương Đông khép kín đã từng đề cập. Hơn năm nghìn năm trước công nguyên ở Trung Hoa đã có những tập cổ thư đề cập đến nghệ thuật ái ân. Trong quyển Tố Nữ Kinh nói về hình ảnh Hoàng Đế và Tố Nữ song luyện theo âm dương, ngũ hành, dưỡng sinh luyện khí, từ điểm nóng đến huyệt đạo… Hoàng Đế là một trong Tam Hoàng, Ngũ Đế từ Phục Hy (4480-4365 trước công nguyên) đến Thần Nông (3220-3080) và Hoàng Đế (1700-2600 trước công nguyên). Với 9 cách ái ân (cửu pháp) được gọi bởi danh từ hoa mỹ của 9 loại cầm thú như Rồng, Hổ, Vượn, Ve, Rùa, Phượng, Thỏ, Cá, Hạc… để mường tượng hình ảnh yêu đương. Vấn đề quan hệ luyến ái giữa Phục Hy & Nữ Oa đã trở thành đề tài cho giới cầm bút hằng nghìn năm nay. Ngoài ra, phương pháp “tu luyện” nhằm tạo cảm giác lâu dài để “cho dài tiếc thương” còn là phương cách điều trị suy nhược tình dục, thoạt nghe có vẻ cấm kỵ nhưng cũng là niềm ước mong của người trần.
Theo Y sư Giang Hán Thanh, phương pháp Mật Tông trong vấn đề ái ân không phải là điều cấm kỵ mà chỉ là nguyên tắc “dĩ dục chế dục” nhằm điều hợp tính dục của con người. Phương pháp Mật Tông với nghi thức đơn luyện nam, nữ & song luyện để tạo năng lực khai mở luân xa (chakra) nhằm vấn đề “yêu đương” có được sự thông cảm tột cùng, sâu xa cho “say hồn… nhịp thở lâng lâng… ngàn đời nhớ nhau…” như lời ca của Dương Thiệu Tước, Lam Phương, Ngọc Trọng…
Theo sự nghiên cứu của Viện Y Học Đài Bắc, công cuộc khám phá, khai quật ở Tứ Xuyên, Trường An, Giang Tô, Tân Cương… cho thấy hình ảnh ái ân “ngoại giao, tọa giao, lập giao…” bằng hội họa và điêu khắc có từ thời Tây Hán & Đông Hán từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến thế kỷ thứ II sau công nguyên. Sau nầy được vẽ lại trong nhiều bức tranh cổ của Trung Hoa & Nhật Bản cách nay cũng vài thế kỷ.
Nghệ thuật ái ân của Ấn Độ cũng được hướng dẫn cách đây hơn hai nghìn năm nhưng trở thành “giáo khoa thư” vào thế kỷ XVI với danh xưng Kama Sutra với “bát thức”. Nghệ thuật nầy được giới điện ảnh Hollywood đưa vào nghệ thuật thứ bảy với hình ảnh của Declan, âm thanh của Michael Danna hư thực, thực hư thu hút hàng triệu triệu khán giả khắp thế giới. “Bát thức” của Kama Sutra “The Art of Making Love” từ “opening flower” đến “suspended” đã bắt gặp ở thi ca của Tố Như tiên sinh trong Truyện Kiều với bài học “vành trong tám nghề” từ “kích cổ thôi hoa” đến “nhiếp thần nhiệm tỏa” mà thuở học trò chỉ biết biết khái quát Tú Bà dạy cho Thúy Kiều.
linga và yoni là biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực
Ấn Độ Giáo thờ Linga và Yoni (bộ phận sinh dục của nam và nữ) trong các đền tháp, nhiều khối điêu khắc với hình tượng này. Linga và yoni được xem như là cội nguồn của sự sáng tạo, vị thần tối cao – thần Shiva – phổ nhiều nhất Đông Nam Á. Với nền văn hóa, truyền thống và thuần phong mỹ tục xa xưa của Việt Nam, không phổ biến hình tượng nầy, chỉ có vài nơi trong tháp của người Champa. Phương Tây thời xa xưa các nhà điêu khắc đã tạc hình ảnh ái ân ở nhiều nơi. Âu Mỹ dựa vào “nghệ thuật” hình tượng đó thời rồi sáng tạo thêm, phổ biến bừa bãi qua phim ảnh, video… tạo thành mối nguy đầu độc cho cả trẻ vị thành niên bị tiêm nhiệm, sa ngã vào con đường trụy lạc.
Với nước Nhật tôn trọng văn hóa truyền thống cao đẹp nhưng dựng những hình ảnh công khai về bộ phận sinh dục đàn ông, đàn bà và còn cả lễ hội (!).
Quyển Shunga dày khoảng 800 trang của Nhật, sưu tầm bức tranh từ đầu thế kỷ 18 về nghệ thuật hoa tình (erotic). Đầu tiên, Shunga xuất bản như những chỉ dẫn cho giới kỹ nữ (giống như Tú Bà dạy cho Kiều trong thi phẩm của cụ Nguyễn Du). Nhưng dần dà các kỹ viện phát tiển nhiều ở Edo (cố đô Tokyo). Các cửa tiệm trong “quận đèn đỏ” ở Edo, gọi là Yoshiwara, bày bán tranh và sách Shunga làm quà lưu niệm…
Đài Loan trước đây phản đối Nhật đã dựng những bức tường nô lệ tình dục, phụ nữ mua vui nơi công cộng! Nhưng khi Hàn Quốc vẫn mang mối hận với quân phiệt Nhật khi xâm chiếm lãnh thổ có hơn có cả trăm nghìn phụ nữ bị buộc phải làm việc trong các nhà thổ quân sự của Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến! Tháng 6/2017, Nhật triệu đại sứ tại Hàn Quốc về nước vì một bức tượng “phụ nữ mua vui” bị đặt bên ngoài lãnh sự quán Nhật tại thành phố Busan. Một bức tượng tương tự cũng bị đặt ngoài sứ quán Nhật tại Seoul và Tokyo muốn di dời cả hai bức tượng này.
Vào thời điểm cuối thế kỷ XX, môn thuốc được xem như “thần dược” được phổ biến khắp nơi trên trái đất để kéo dai giây phút ái ân. Thuốc Viagra của hãng bào chế Pfizer được tung ra trong thị trường Hoa Ky vào tháng 4-1988 như một hiện tượng làm rùm beng trong ngành truyền thông. Ba nhà nghiên cứu bào chế thuốc Viagra là GS R.F. Furchgott thuộc Viện đại học New York, GS Louis J. Ingarro thuộc Viện đại học Los Angeles, GS Ferid Murad thuộc Viện đại học Y Khoa Texas được trao giải Nobel về Y Khoa năm 1998.
Hình ảnh ái ân, ân ái qua điêu khắc, hội họa, phim ảnh không có tính cách trong sáng nếu gợi hình cụ thể, sống sượng kích thích tính dục… Tuy cho rằng nó mang tính chất nghệ thuật, lãng mạn khi thể hiện góc cạnh nào đó để cảm nhận. Nhưng với giới trẻ bị thành niên tạo hình ảnh sai trái!
Với ngôn ngữ âm nhạc vừa tượng thanh vừa tượng hình, có vẻ nhẹ nhàng, êm ái, thấp thoáng giây phút yêu đương như tơ vương giăng mắc mối giao hòa, giao cảm mà người nghệ sĩ ghi lại qua cung bậc bằng nhiều thể loại khác nhau. Hãy thả hồn vào cõi mộng mơ để “tìm lại hình ảnh đã qua” trong lời ca, tiếng nhạc để con tim rung động, ngất ngây cho cuộc tình “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt” có còn hơn không, khỏi tiếc nuối, khỏi ân hận vì thời gian là tên đồ tể với trái tim.
Với tên gọi ái ân, ân ái hay hai chữ khác có vẻ thoát tục nhưng với chỉ một tên gọi đa dạng (khoảng mười chữ) không được hay go, tục tĩu chỉ sử dụng ở phần tử hạ cấp, thiếu văn hóa. Với người đứng đắn, đường hoàng nghe cũng chói ta đừng nói gì nhắc đến trong văn chương, âm nhạc.
Nói về dục vọng có thanh dục và trọc dục (tham dục) và chữ nghĩa cũng vậy, điều đáng nói tùy theo đầu óc suy nghĩ ở mẩu người trong cuộc sống tốt hay xấu.
Vào thời kỳ đại chiến thứ II, trong chiến tranh Erich Maria Remarque đã viết tác phẩm văn chương lừng danh Le Temps d’Aimer et Le Temps de Mourir (Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết). Trong tình yêu của mỗi người làm sao mãi mãi trong êm đềm, “thà một phút huy hoàng” để yêu, nhỡ rơi vào “một thời để chết” thì cũng còn chút gì để nhớ.
Little Saigon. January 2025
Vương Trùng Dương
-
Trảy Hội Chùa Hương
Trần Quốc Bảo
Tình bằng, tình mãivấn vương,
Nhớ thời trảy hội chùa Hương với mình
Danh lam thắng cảnhhữu tình
Qua Hà-Đông, đếnVân-Đình cùng anh.
Tới Bến-Đục, đi thuyềnmành,
Ngắm phong cảnh đẹpnhư tranh tuyệt vời!
Xa dần cõi tục, thảnhthơi!
Núi lam, nước biếc,bầu trời thanh thanh.
Rừng cây, sương phủmong manh,
Ô kìa! khe Yến, longlanh ánh vàng
Một vùng sơn thủy mơmàng
Thiên Thai, hay chốnĐịa Đàng nơi đây?
Thuyền trôi như lướt trên mây,
Nước trong cá lội từng bày nhởn nhơ
Non xa… ẩn khuất mây mờ
Núi Voi, núi Oản, núi Mơ, núi Rồng.
Núi Chiêng, núi Trống, núi Bồng…
“Kỳ Sơn, Tú Thủy” bia đồng rõ ghi
Đền Trình, hương khói uy nghi
Vào đền bái niệm, trước khi lên chùa.
Hai bên, sườn đá nhấp nhô,
Giữa dòng, suối chảy quanh co, xuôi thuyền
“Hương-Sơn nhất lộ vạn niên
Tam quan cổ động, vĩnh truyền thiên xuân” (1)
Chùa Giải-Oan, chốntịnh thần,
Vào đây rũ sạch bụitrần, Tình ơi!
Trong chùa, cótảng-đá-trời (Thiên Thạch)
Nứt ra khe nước, chảyhoài triền miên.
Ngẫm thay muôn sự tùy“duyên”,
Có duyên ta huởng“Thiên nhiên thanh trì” (2)
Tuyết-Kinh cửa độngtuyệt kỳ (3)
Đến Am Phật-Tích huyềnvi khôn lường.
Trấn-Long chùa ngáttrầm hương, (4)
Đưa lòng lữ khách thậpphương thoát trần
Chim kêu, vượn hót,chuông ngân
Thông reo, nước chảy…như gần như xa.
Trăm hai mươi bực đá hoa,
Trèo lên chót đỉnh, chính tòa Chùa Hương
Chùa nằm trong Động hoa cương
Không gian mờ ảo, một phương u trầm.
Trong Chùa Tượng Phật Quan Âm,
Từ bi ngự tại trung tâm điện thờ
Cùng ngàn pho tượng cổ xưa
Bên hàng thạch nhũ ảo mờ linh thiêng.
Thạch nhũ cấu tạo tự nhiên,
Mang nhiều hình tượng tôn nghiêm diệu kỳ
Lưỡng long chầu nguyệt, giống y
Đài sen, tay Phật tinh vi lạ đời!
Niềm vui trảy Hội, Tình ơi!
Thoáng nhanh như thể nước trôi qua cầu
Ngày nay Hương Tích còn đâu
Vẻ tôn nghiên thuở ban đầu, thời xưa… (!)
Từ khi Cộng “tiếpquản” chùa,
Lừa Thần, dối Phật,bán mua làm giầu
Du khách, “chủ yếu” làTầu
Chúng xây khách sạn,cao lầu, nghênh ngang.
Ma cô, đĩ diếm… vôvàn!
Thịt rừng, thịt chóbán tràn khắp nơi
Chùa Hương nay đã đổiđời
Không còn thanh tịnhcủa thời thuần lương.
Lòng hằng vương vấnchùa Hương,
Bao nhiêu kỷ niệm nhớthương đong đầy
Mong sao đất nước đổi thay
Ta về tìm lại nhữngngày thần tiên./.
Trần Quốc Bảo, Richmond, Virginia
Ghi chú:
(1) 2 câu đối ở cổng đá trước chùa “Nhất lộHương Sơn thùy vạn tuế ; Tam quan cổ động vĩnh thiên xuân”
一 路 香 山 垂 萬 歲 , 三 官 古 洞 永 千 春
(2) “Thiên nhiênthanh trì” = Ao nước trong của trời đất: là tên của “tảng-đá-trời”
(3) Động TuyếtKinh, còn gọi Động Tuyết Quỳnh
(4) Chùa Trấn Long,còn gọi Chùa Cửa Võng.
-
Sinh Tố K2 Cực Kỳ Quan Trọng
BS Phạm Hiếu Liêm
Để phòng ngừa và chữa trị nhiều chứng bệnh của người già
Từ hậu bán thế kỷ thứ 20 đến nay, tuổi thọ của con người đã tăng vọt, trung bình bây giờ là trên 80 tuổi. Với tuổi thọ gia tăng, các thứ bệnh như Ba Cao (Cao Mỡ, Cao Máu, Cao Đường loại 2), bệnh Suy Thận Mãn Tính, bệnh Tim Mạch, bệnh Xốp Xương và các bệnh Ung Thư cũng tăng theo.
Y học tiến bộ mang đến các thuốc công hiệu giúp bệnh nhân sống lâu hơn như Statin cho Cao Mỡ, thuốc chống Angiotensin cho Cao Máu, thuốc Metformin cho Cao Đường loại 2 v.v.. Tuy nhiên, các chứng Ba Cao về lâu về dài vẫn gây suy thận mãn tính khiến một số không ít bệnh nhân phải cần đến giải phẫu ghép thận hay lọc máu (dialysis) để sống còn. Bất kể điều trị tinh vi và cẩn thận bởi các bác sĩ chuyên về thận đến đâu, nhiều bệnh nhân vẫn bị bệnh mạch vành tim sau khi đã lọc máu hay ghép thận vài năm mà nguyên nhân vẫn chưa được biết rõ.
Trong khi đó, các bà sau tuổi tắt kinh bắt đầu mất dần calcium trong người đưa đến chứng xốp xương. Dùng hoóc môn estrogen có thể làm chậm sự lão hóa ấy nhưng có thể tăng nguy cơ bị ung thư vú. Quý bà được bác sĩ khuyên uống thêm calcium và sinh tố D để làm chậm sự tiến triển của xốp xương. Nhưng uống nhiều calcium là một con dao hai lưỡi: ngoài việc gây sạn thận, quá nhiều calcium khiến thành mạch máu bị đóng vôi gây bệnh tim mạch và tăng tử vong, trước đây tưởng chỉ gặp ở đàn ông uống calcium, nhưng gần đây cho thấy phụ nữ cũng bị như vậy.
May thay, trong những năm gần đây khảo cứu cho thấy một loại sinh tố K, gọi là K2, có thể giúp phòng ngừa và chữa việc Calcium đi nhầm chỗ, đóng trên thành mạch máu gây tắc nghẽn, thay vì đóng lên xương giúp xương bớt xốp loãng.
Sinh Tố K2 là gì ? Nguồn ở đâu?
Từ lâu, chúng ta đã biết sinh tố K đóng vai trò quan trọng trong việc cầm máu và đông máu. Thật ra có hai loại sinh tố K: sinh tố K1 (Phylloquinone) chiếm 90% thành phần, là loại cần thiết cho máu đông, có nhiều trong các loại rau xanh như rau dền; 10% còn lại là sinh tố K2 (Menaquinone) đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển calcium từ máu đến đúng mục tiêu ở xương và răng thay vì phân phối bừa bãi khắp nơi gây nên các chứng bệnh đề cập trong phần dẫn đầu của bài này. Sinh tố K2 tổng hợp một số ít từ vi trùng trong ruột nhưng đa số đến từ thịt, sữa, lòng đỏ trứng gà, bơ và phó mát. Vì sinh tố K hòa tan trong mỡ, sữa và phó mát bị lấy mất mỡ sẽ không còn sinh tố K2. Hai thực phẩm có nhiều sinh tố K2 nhất là gan bò và món đậu nành lên men của người Nhật gọi là Natto. Sinh tố K2 có side chain isoprenoid từ MK-4 (chuỗi ngắn) đến MK-14 (chuỗi dài). Chuỗi trung bình MK-7 là loại thông dụng nhất vì dễ được hấp thụ qua đường ruột.

Trong các xứ kỹ nghệ, lượng sinh tố K2 từ thực phẩm chế biến ngày càng giảm thiểu bắt đầu từ thập niên 1950; và cho đến nay hầu như 100% người Mỹ không ăn đủ sinh tố K2 (cần tối thiểu khoảng 32mcg mỗi ngày). Những người Nhật có ăn đều món natto là nhóm dân duy nhất không thiếu K2 và họ sống lâu hơn, mạnh khỏe hơn với ít chứng bệnh lão suy hơn người Âu Mỹ.
Tác dụng của sinh tố K2:
Trên xương, sinh tố K2 tác động chất osteocalcin từ tế bào tạo xương osteoblast giúp điều động calcium kết với khoáng hydroxyapatite khiến xương thêm chắc và cứng, ngừa được xốp xương ở tuổi già.
Trong mạch máu, sinh tố K2 có tác dụng vào chất đạm trên thành mạch máu Matrix GLA Protein (MGP), chống lại sự kết tụ của chất vôi trong mạch máu gây bệnh xơ cứng làm nghẽn tuần hoàn máu, đồng thời chống lại kết tụ calcium trong các mô mềm.
Chúng ta có thể ví sinh tố K2 như cảnh sát lưu thông, giúp vận chuyển calcium trong máu đến đúng chỗ ở xương và răng thay vì đi lạc vào thành mạch máu và các mô mềm. Nhờ vậy mà răng và nướu răng cũng tốt hơn với sinh tố K2.

Bệnh nhân suy thận mãn tính uống sinh tố K2 phụ gia mỗi ngày được giảm cả suy thận lẫn bệnh tim mạch có lẽ do tuần hoàn máu đến thận tốt hơn; tác động của MGP khiến máu lưu thông đến da tốt giúp giảm các biến chứng ngoài da của người bệnh thận. Bệnh nhân tim mạch dùng K2 phụ gia sau hai năm thì lượng calcium đóng trong thành mạch máu cũng thuyên giảm đáng kể.
Ngoài ra, sinh tố K2 còn có thể chống viêm, chống kháng insulin, và, mặc dù chưa có kết quả lâm sàng, trên lý thuyết có thể giúp ngừa và chữa Tiểu Đường loại 2.

Gần đây nhất, sinh tố K2 cho thấy khả năng chống ung thư, nhất là ung thư gan, một chứng bệnh không hiếm trên người già gốc Việt. Sinh tố K2 trên lý thuyết có tiềm năng kết hợp với hệ vi sinh vật ở ruột giúp ngừa các bệnh thoái hóa não bộ như Parkinson và Alzheimer nữa.


Cách giản tiện nhất ở Mỹ để bảo đảm có đủ sinh tố K2 mỗi ngày là uống một viên từ 50mcg (micrograms) đến 100mcg Vitamin K2 MK-7 mỗi ngày, được bán trên thị trường mà không cần toa bác sĩ.
Sinh tố K2 cùng với sinh tố D3 là hai phụ gia không thể thiếu để bảo đảm sức khỏe cho tuổi già. Nên bắt đầu dùng từ tuổi 50 trở lên (tuổi trung bình của phụ nữ tắt kinh). Các bệnh nhân bị xốp xương, bị bệnh tim mạch hay suy thận mãn tính nên uống sinh tố K2 ít nhất 100 mcg mỗi ngày để trị bệnh thay vì chỉ ngừa bệnh. Sinh tố K2 không làm giảm ảnh hưởng của thuốc chống đông máu trên các cụ có bệnh tim hay nghẽn mạch máu não.
Trong những năm tới, chúng ta sẽ biết nhiều hơn về các lợi ích khác của sinh tố K2 trong tuổi già.
Liem H. Pham, MD Former Jackson T. Stephens Professor and Vice-Chairman of the Donald W. Reynolds Department of Geriatrics, UAMS
-
50 MÙA XUÂN NHUNG NHỚ
Tiếng pháo nổ vang lòng rộn rã
Xuân về hay ta vẫn trong mơ
Nhà đây sao tưởng nơi quê cũ
Quê củ xa rồi vẫn nhớ thương
Đầu xuân lễ Phật cầu ơn phước
Xin được an bình đến quê cha
Anh em sung túc gia đình ấm Đất nước từ nay thoát đoạ đày
Xin cho dân Việt cùng no ấm
Cha mẹ sum vầy với cháu con
Anh em đóng góp cùng chung sức
Sum họp bên nhau được ấm lòng
Xa quê lòng vẫn bao thương nhớ
Quê nhà trông đợi bước chân anh
Bánh chưng hoa quả cầu sung túc
Thấp thoáng anh về Tết quê hương
Ôi bao thương nhớ người ở lại
Khắc khoải trông về vọng chốn xưa Năm mươi năm cách bao thương nhớ
Nhớ đến quê nhà, giọt lệ sa.
Lê Nguyễn nga, Xuân Ất Ty -2025
-
Hygge – Sự Bình đẳng và Hạnh phúc của mọi Người
Mai Thanh Truyết
Khái niệm “hygge” của Ðan Mạch là một phần sâu sắc trong văn hóa của họ, tượng trưng cho nghệ thuật sống hạnh phúc và sự cân bằng trong cuộc sống. Hygge phản ảnh niềm thoải mái của Ðan Mạch mà chúng ta cần hơn bao giờ hết. Ðây là một thuật ngữ của người Bắc Âu – Scandinavia bao gồm cảm giác ấm cúng, hài lòng và khỏe mạnh tìm thấy thông qua việc trân trọng những điều nhỏ nhặt.
Hygge không chỉ là về việc tạo ra một không gian ấm cúng, mà còn là trạng thái tâm lý khi con người cảm nhận được niềm vui từ những điều đơn giản chung quanh. Nó phản ánh các giá trị của Ðan Mạch về bình đẳng, hạnh phúc và tinh thần đồng thuận. Hygge là một cách sống thể hiện cảm giác ấm cúng, giản dị và hiện diện.
16 ways to embrace hygge in Denmark …Ví dụ, hygge có thể là:
Ngồi bên lò sưởi, cuộn tròn trong chiếc chăn ấm với một cuốn sách hay và một tách trà.
Cùng bạn bè hay gia đình thưởng thức một bữa ăn ngon, với ánh nến lung linh tạo cảm giác gần gũi.
Ði dạo dưới ánh sáng dịu dàng của buổi chiều tà, cảm nhận sự yên bình của thiên nhiên.
Áp dụng lối sống đơn giản.
Dọn dẹp đồ đạc lộn xộn và tạo không gian yên bình.
Tập trung chỉ giữ lại những thứ quan trọng với bạn.
Nhận thấy và tận hưởng với con người, môi trường và trải nghiệm tích cực mà bạn đã có chung quanh mình.Two-Girls-with-umbrella-on-bench
Hygge nhấn mạnh vào việc trân trọng khoảnh khắc hiện tại, tìm kiếm hạnh phúc trong những chi tiết nhỏ bé và giảm thiểu căng thẳng. Không phải ngẫu nhiên mà Ðan Mạch luôn nằm trong đỉnh những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới; Cách sống hygge chính là một trong những yếu tố góp phần lớn vào điều đó.Các nhà nghiên cứu Smoyer và Miking định nghĩa hygge là một “thực hành phục hồi” “restorative practice” và nhấn mạnh cam kết mạnh mẽ của người Ðan Mạch đối với nó.
Hygge là tạo ra bầu không khí và trải nghiệm để bạn cảm thấy thoải mái. Không phải là tiêu tiền hay lập kế hoạch lớn, mà là nhận ra và tận hưởng những con người, môi trường và trải nghiệm tích cực và tiếp tục nuôi dưỡng mà bạn đã có xung quanh mình.
mother-reading-childrens-book
Không lâu trước đây, khái niệm hygge của Ðan Mạch đã trở thành một từ ngữ cố định phổ biến trong tự điển toàn cầu. Chỉ tính riêng từ năm 2016 đến 2017, đã có hơn 30 cuốn sách được xuất bản về chủ đề lối sống “ấm cúng” của Ðan Mạch, và các ấn phẩm lớn như New York Times và Guardian đã phát hành các bài viết chuyên sâu về chủ đề này trong khi hầu như mọi công ty sản xuất đèn cầy, chăn mền và đồ mặc trong nhà đều xử dụng thuật ngữ này để tiếp thị sản phẩm của họ. Từ tiếng Ðan Mạch thậm chí còn lọt vào danh sách rút gọn năm 2016 cho Từ ngữ của năm của Oxford, danh sách này hàng năm nêu bật những cách diễn đạt được dùng rộng rãi nhất “có tiềm năng lâu dài cho ý nghĩa văn hóa”.Bạn có thấy triết lý này gần gũi hoặc có thể áp dụng trong cuộc sống của mình không?
1. Khái niệm hygge khó nắm bắt
Khái niệm hygge của Ðan Mạch đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều bài viết và sách trong vài năm qua, được thúc đẩy bởi sự phổ biến của loạt phim truyền hình Ðan Mạch và tiểu thuyết tội phạm đen trắng Bắc Âu, cùng với nhu cầu về ẩm thực Bắc Âu mới. Chưa kể Ðan Mạch liên tục được xếp hạng là một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Hygge có xứng đáng được ghi nhận một phần công lao cho hạnh phúc đó không?
Khái niệm hygge có thể bắt nguồn từ đầu những năm 1800 ở Ðan Mạch, Dane Meik Wiking, người sáng lập Viện nghiên cứu hạnh phúc Copenhagen, giải thích trong cuốn sách bán chạy nhất của tờ New York Times The Little Book of Hygge: Danish Secrets to Happy Living (William Morrow, 2017). Trong khi thuật ngữ hygge thực sự bắt nguồn từ một từ tiếng Na Uy, hugga, có nghĩa là “an ủi”, và cũng liên quan đến từ tiếng Anh “hug”.
Roskilde Festival highfive
Việc khái niệm hygge của Bắc Âu đạt đến mức độ hấp dẫn quốc tế trong thời kỳ Brexit ở Vương quốc Anh và cuộc bầu cử tổng thống của Trump tại Hoa Kỳ là điều phù hợp. Khái niệm này, bắt nguồn từ sự thoải mái, gắn kết và hạnh phúc, vốn có bản chất xoa dịu. Trong thời kỳ biến động, khi cả nhận thức của công chúng và cá nhân về sự an toàn và cộng đồng đều bị đe dọa, người ta thường khao khát một số giác quan mà hygge gợi lên. Bây giờ, trong một giai đoạn bất ổn toàn cầu khác, việc xem lại thuật ngữ này là điều phù hợp. Sau đây là mọi thứ bạn cần biết về khái niệm hygge của Ðan Mạch, bao gồm cách bạn có thể nắm bắt các khía cạnh của lối sống này trong thời điểm này, khi nhiều người trong chúng ta có thể cần đến nó.Rất khó phát âm, hygge (“hooga”) cũng khó giải thích. Tóm lại, hygge là dành thời gian thoát khỏi sự vội vã hàng ngày để ở bên những người bạn quan tâm – hoặc thậm chí là một mình – để thư giãn và tận hưởng những thú vui yên tĩnh hơn của cuộc sống.
A group of people eating at a table Description automatically generated
Ðối với đầu bếp người Na Uy Signe Johansen, tác giả của How to Hygge: The Nordic Secrets to a Happy Life (St. Martin’s Griffin, 2017), khái niệm hygge thường có thể liên quan đến các loại thực phẩm và đồ uống cụ thể, chẳng hạn như Rugbrødskage là bánh làm từ bánh mì lúa mạch đen (rugbrød) xay nhỏ, trộn với các nguyên liệu như sô-cô-la, trứng và đường, mang đến một hương vị đậm đà, hơi lạ miệng. hoặc Gløgg, một loại rượu vang nóng của Scandinavia với vỏ bạch đậu khấu và hoa hồi. Trong Hygge: The Danish Art of Happiness (Michael Joseph, 2017), tác giả người Ðan Mạch Marie Tourell Søderberg chỉ ra các vật dụng gia đình thường được coi là hyggelig, trong số đó có nến, lò sưởi, chăn đan tay và dép len nỉ.Không gian và thời gian Hygge thường là khoảng thời gian không chính thức cùng với gia đình hoặc bạn bè thân thiết. Thông thường, bối cảnh là ở nhà hoặc một địa điểm yên tĩnh khác, hoặc có thể là một buổi dã ngoại trong những tháng mùa hè. Nó thường bao gồm việc chia sẻ một bữa ăn và rượu vang hoặc bia, hoặc sô cô la nóng và một bát kẹo nếu có trẻ em. Không có chương trình nghị sự. Bạn ăn mừng những niềm vui nhỏ bé của cuộc sống, hoặc có thể thảo luận về những chủ đề sâu sắc hơn. Ðây là cơ hội để thư giãn và làm mọi thứ chậm lại.
1.1. Hygge | Yên Hy Set | Shopee Việt Nam Hygge trong sản phẩm và văn hóa đại chúng
Các nhà thiết kế và nhà kinh doanh nhanh chóng tận dụng hiện tượng hygge. Có những cuốn sách về hygge – chánh yếu được người nước ngoài đọc – và đồ gia dụng hygge, đặc biệt là chăn ấm và nến thơm. Ngoài ra còn có quần áo hygge, chẳng hạn như chiếc áo len mềm mại tự nhiên mà nữ diễn viên Sofie Gråbøl mặc trong loạt phim truyền hình Ðan Mạch The Killing. Sự ấm áp và mềm mại của chiếc áo len được chọn để tạo sự tương phản với sự bạo lực đen tối trong cốt truyện của bộ phim.
1.2. Du lịch và hygge
Khách du lịch đến thăm Ðan Mạch ngày càng muốn nếm thử hương vị hygge.
Mặc dù hygge khó đạt được khi bạn không được bao quanh bởi những người bạn cũ và môi trường quen thuộc, nhưng một bữa tối thịnh soạn trong một nhà hàng lịch sử được bao quanh bởi những ngọn nến (như Duus Wine Cellar ở Aalborg, tọa lạc trong một tòa nhà từ năm 1624) là một cách tốt nhứt để bắt đầu.
hygge eatery
Cũng giống như một ngày nắng đẹp tại công viên giải trí Tivoli Gardens tuyệt đẹp ở Copenhagen, hoặc đi dạo cùng một người bạn dọc theo những bãi biển đầy gió ở bờ biển phía tây của Jutland.Hygge được coi là cuộc gặp gỡ của những người bình đẳng, ngay cả khi thực tế có sự mất cân bằng về quyền lực.
2. Văn hóa và Người Ðan Mạch như thế nào?
Ðan Mạch là một xã hội bình đẳng, nghĩa là coi trọng sự bình đẳng, an toàn và tự do. …
· Bình đẳng giới tính là một giá trị cốt lõi.
· Thực hành Hygge trong cuộc sống hàng ngày của Ðan Mạch.
· Cần giao tiếp với người Ðan Mạch và tìm hiểu về văn hóa Hygge của họ.
· Sự hài hước và trung thực của Ðan Mạch cũng là một phần của văn hóa Ðan Mạch.
Ðan Mạch nổi tiếng với sự hạnh phúc, những hòn đảo tuyệt đẹp, gạch Lego, bánh ngọt Ðan Mạch, văn hóa xe đạp và các công viên giải trí lâu đời nhất. Ðơn vị tiền tệ chính thức của Ðan Mạch là Krone Ðan Mạch hoặc DKK. Ðồng Euro cũng được chấp nhận ở các thành phố lớn.
Người Ðan Mạch thường lịch sự và tử tế, mặc dù họ hiếm khi bắt chuyện với người lạ. Tuy nhiên, khi bạn tiếp cận một người Ðan Mạch với một câu hỏi cụ thể (chẳng hạn như hỏi đường), họ thường sẽ phản hồi tích cực và giúp bạn giải đáp mọi thắc mắc.
Overhead view of cup of tea and small plate of lemon slices, with 3 white lit candles on tabletop
Ở Ðan Mạch, đặc điểm là tin tưởng lẫn nhau khi nói đến kinh doanh, chính phủ hoặc các mối quan hệ cá nhân. Sự trung thực được mong đợi và tham nhũng trong kinh doanh hoặc giữa các công chức là rất hiếm.Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất ở Ðan Mạch. Tính đến năm 2024, 71,2% dân số Ðan Mạch là thành viên đã đăng ký của Giáo hội Ðan Mạch (Den Danske Folkekirke), nhà thờ được thành lập chính thức, có phân loại là Tin lành và định hướng là Luther.
3. Vài gợi ý trong cuộc sống
Hygge là một khái niệm tuyệt đẹp và sâu sắc trong văn hóa Ðan Mạch, mang ý nghĩa về sự thoải mái, ấm áp và tận hưởng những khoảnh khắc giản dị trong cuộc sống. Ðây không chỉ là một từ ngữ, mà còn là một triết lý sống giúp con người tìm thấy hạnh phúc từ những điều nhỏ bé và gần gũi.
What is Hygge Design? – JENRON DESIGNS Hygge có thể là việc ngồi bên ánh nến với một cuốn sách yêu thích, nhâm nhi một tách cà phê trong ngày mưa, hay quây quần cùng gia đình và bạn bè trong không gian thân mật. Những khoảnh khắc ấy giúp ta cảm nhận được sự kết nối và sự bình yên trong tâm hồn. Ðiểm đặc biệt của Hygge là nó không đòi hỏi sự xa hoa hay cầu kỳ, mà chỉ cần chú trọng vào việc tạo nên cảm giác thoải mái và hạnh phúc từ những điều đơn giản.
Với người Ðan Mạch, Hygge cũng là cách để họ đối mặt với những tháng mùa đông lạnh giá và tối tăm. Thay vì chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, họ chọn cách sống hòa hợp với nó, tạo nên sự ấm áp từ bên trong, cả về vật chất lẫn tinh thần. Ðiều này có thể giải thích tại sao Ðan Mạch thường nằm trong danh sách các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới.
Học hỏi từ Hygge, chúng ta có thể nhìn nhận cuộc sống theo cách chậm lại, yêu thương hơn và biết trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại.
· Trong nhịp sống hiện đại bận rộn, đôi khi chúng ta quên mất giá trị của sự tĩnh lặng và những điều nhỏ bé.
· Hygge nhắc nhở rằng hạnh phúc không nằm ở những gì lớn lao, mà nằm trong sự hài lòng với cuộc sống hàng ngày, với những điều thân thuộc quanh ta.
Bạn cảm thấy triết lý Hygge có phù hợp với cách sống của bạn không?
Cón sách sống Hygge như thế nào trong hiện tại?
Cách sống Hygge thực sự có thể đem lại hạnh phúc cho con người, và điều này đã được chứng minh qua thực tế cuộc sống tại Ðan Mạch – một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Ðiều cốt lõi của Hygge không chỉ nằm ở việc tận hưởng những khoảnh khắc thoải mái, mà còn ở việc nuôi dưỡng cảm giác bình yên, sự kết nối và trân trọng hiện tại.
The hygge conspiracy | Health …Dưới đây là những lý do tại sao Hygge có thể mang lại hạnh phúc:
Trân trọng những điều giản dị: Hygge giúp con người tập trung vào những niềm vui nhỏ bé trong cuộc sống, từ một tách trà nóng, ánh nến dịu dàng, đến khoảnh khắc bên người thân. Khi chúng ta học cách yêu những điều đơn giản, hạnh phúc trở nên dễ dàng đạt được hơn, thay vì phụ thuộc vào vật chất xa hoa hay những mục tiêu lớn lao.
Tạo ra cảm giác ấm áp và an toàn: Hygge khuyến khích tạo dựng không gian ấm cúng và thoải mái, nơi con người cảm thấy được bảo bọc và thư giãn. Trong một thế giới đầy căng thẳng và áp lực, cảm giác này giúp giảm bớt lo âu và mang lại trạng thái tinh thần cân bằng.
Xây dựng kết nối xã hội: Một khía cạnh quan trọng của Hygge là dành thời gian với gia đình và bạn bè. Những buổi tối trò chuyện, ăn uống hay chơi trò chơi cùng nhau trong không gian thân mật giúp tăng cường sự gắn kết và hỗ trợ tinh thần, từ đó mang lại hạnh phúc bền vững.
chair next to lit fireplace in dark roomKhuyến khích sống chậm và tận hưởng hiện tại: Trong thời đại mà con người thường bị cuốn vào nhịp sống nhanh và mục tiêu tương lai, Hygge là lời nhắc nhở quan trọng về giá trị của việc sống chậm lại, tận hưởng hiện tại và không để cuộc sống trôi qua vô nghĩa. Sự chánh niệm này giúp ta cảm nhận rõ hơn niềm vui và ý nghĩa của từng khoảnh khắc.
Giảm áp lực về thành công hay cạnh tranh: Hygge không dựa trên sự so sánh hay thành tựu cá nhân. Thay vào đó, nó tập trung vào cảm giác hài lòng với cuộc sống mình đang có. Ðiều này giúp giảm căng thẳng và áp lực, tạo ra hạnh phúc từ sự bình yên trong tâm hồn.
Thích nghi với khó khăn và biến chúng thành cơ hội: Người Ðan Mạch dùng Hygge như một cách để vượt qua mùa đông dài, lạnh lẽo và thiếu ánh sáng, vốn dễ gây ra cảm giác cô đơn và trầm cảm. Thay vì chống đối, họ biến thời gian này thành cơ hội để chăm sóc bản thân, tìm sự ấm áp trong gia đình và cộng đồng.
Và sau cùng có phải Hygge sẽ phù hợp với mọi người?
Mặc dù Hygge có thể mang lại hạnh phúc cho nhiều người, nhưng cách tiếp cận này cũng cần phù hợp với bối cảnh văn hóa và lối sống cá nhân. Ðối với những người quen với lối sống nhanh hoặc thích sự náo nhiệt, việc sống chậm và chú trọng vào sự bình yên có thể cần thời gian để thích nghi. Tuy nhiên, bất kỳ ai cũng có thể áp dụng những yếu tố nhỏ của Hygge, chẳng hạn như tạo không gian thoải mái trong nhà hoặc tận hưởng một buổi tối tĩnh lặng để cảm nhận hạnh phúc.
Bạn có muốn thử một chút “Hygge” trong cuộc sống hàng ngày không?
Chẳng hạn như dành thời gian thư giãn vào buổi tối hay tạo không gian ấm áp trong ngôi nhà của mình?
Mai Thanh Truyết, Houston- Ðông chí 21/12/2024


