• KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Nỗi Lòng Với “Chiếc Lá Cuối Cùng

    Vương Trùng Dương

     “La chanson que tu me chantais

    C’est une chanson qui nous ressemble”

    (Les Feuilles mortes. Nhạc Joseph Kosma, lời Jacques Prévert)

    Có vài ca khúc khi nhạc sĩ đặt tên giống nhau, trong đó có Chiếc Lá Cuối Cùng của hai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (lời Từ Linh) & Tuấn Khanh.

    Với ca khúc trữ tình Chiếc Lá Cuối Cùng, với tôi, đúng sáu thập niên với kỷ niệm xưa. Khi tôi sắp bước vào “Ngưỡng Cửa Quân Đội” từ Sài Gòn trở về thăm phố cổ Hội An, buổi tối hai đứa thả bộ qua An Hội, khi nói lời chia tay, chẳng biết nói gì hơn vì tâm trạng lúc đó như nỗi lòng trong ca khúc:

    “Đêm chia ly buồn gì sao chẳng nói

    Chỉ nghe em nói nhỏ trở về thôi…

    Xa nhau chưa mà lòng nghe quạnh vắng…

    Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”.

    Hơn một thập niên, ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng đã đi vào lòng người ngưỡng mộ âm nhạc ở miền Nam Việt Nam, và sau đó với những cuộc chia ly kẻ ở người đi như “chiếc cuối bay xa”!

    Với tâm hồn lãng mạn, giữa hai nhạc sĩ nầy liên quan đến bóng hồng trong ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng. Nhân kỳ thi hát của Đài Phát Thanh Pháp – Á năm 1953, Tuấn Khanh (Trần Trọng Ngọc, sinh năm 1933, khi ấy với bút danh Trần Ngọc) đoạt giải nhì sau nữ ca sĩ Thanh Hằng (Lê Lệ Hảo, sinh năm 1935 tại Hà Nội). Vào thời điểm đó Trần Ngọc chỉ là ca sĩ mới biết đến nên không chiếm được trái tim của ca sĩ khả ái, xinh đẹp Thanh Hằng mà cậu ấm nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (sinh năm 1924 ở Hải Phòng, lớn lên ở Hà Nội) với các ca khúc nổi tiếng trong đó với Tà Áo Xanh mang hình ảnh ca sĩ nầy… nhưng rồi “một chiếc lá bay xa”!

    Theo giai thoại cho rằng nhạc phẩm Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh với hình bóng   cô gái 13 tuổi, học trò thanh nhạc của ông trong thời gian dài đã ám ảnh tình cảm thầy trò lãng mạn… cho đến khi ông vào Nam. Với hình bóng đó, kẻ ở người đi “Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa”…

    Hơn mười năm trước, tôi viết bài Đoàn Chuẩn & Bí Ẩn Bóng Hồng “Gửi Người Em Gái”. Bài viết nầy đăng trong quyển Nhân Văn & Tình Sử, ấn hành năm 2015. Trong đó đã liệt kê các ca khúc của ông, có Chiếc Lá Cuối Cùng nhưng  nói về cuộc tình qua ca khúc Gửi Người Em Gái.

    Trích lại bài viết về Đoàn Chuẩn:

    Theo lời hiền thê của ông (bà Nguyễn Thị Xuyến) “… Đoàn Chuẩn rất đa tình. Ông đã sáng tác tặng một người đẹp của miền Bắc lúc đó sáu bài hát trong khi với vợ mình, ông chỉ viết tặng bà vỏn vẹn hai bài. Thời trẻ, ông đã từng dành ba năm thuê người mỗi ngày mang một bông hồng đến tặng người con gái mà ông yêu. Nhưng người bạn đời thông cảm tâm hồn lãng mạn của người nhạc sĩ…

    Đời ông phóng khoáng. Nghe nhạc ông lúc nào tôi cũng ngạc nhiên – sao ông tài thế? Mỗi bài hát là kỷ niệm một mối tình đi qua đời ông. Ông chỉ viết một bài cho tôi, hồi đó ông chưa lơ mơ ai cả…”

    … Người ta cho rằng nếu không bằng tình yêu một người đẹp nào đó chắc ông sẽ không thể viết ra những ca khúc hay như vậy. Không biết thực hư qua những mối tình lãng mạn của Đoàn Chuẩn ảnh hưởng đến ca khúc của ông đến đâu nhưng ông từng nói rằng, ông có một kỷ niệm sâu sắc với một nữ ca sĩ Huế từ hồi những năm 1950. Đó chính là ca sĩ Mộc Lan.

    Đoàn Chuẩn chỉ sau một lần nghe Mộc Lan hát bài Đi Chơi Chùa Hương của Trần Văn Khê phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp ở nhà hát lớn Hà Nội, đã đem lòng thầm yêu trộm nhớ. Sau cuộc diễn ở Hà Nội, Mộc Lan trở lại Sài Gòn… Đoàn đã đáp máy bay vào chơi Sài Gòn, hy vọng làm quen với Mộc Lan vì biết cô đã chia tay với người chồng nhạc sĩ. Khi ấy, Đoàn Chuẩn vốn là ông chủ hãng nước mắm Vạn Vân, giàu có ở Hải Phòng, từng có xe hơi riêng hiệu Buick Hoa Kỳ mà lúc đó cả miền Bắc chỉ có hai chiếc.

    Theo nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả Gợi Giấc Mơ Xưa – bạn của Đoàn Chuẩn – tiết lộ thì sau khi tới Sài Gòn, họ Đoàn đã tìm được địa chỉ của Mộc Lan trên đường Espagne ở Tân Định nhưng không trực tiếp “yết kiến” mà chỉ nhờ chủ một tiệm bán hoa tươi mang hoa đến tặng Mộc Lan mỗi sáng sớm, và không tiết lộ tung tích người gửi hoa. Đoàn Chuẩn đặt trước tiền hoa và tiền công cả tháng cho chủ hàng hoa tươi rồi trở lại Hải Phòng, không quên để lại địa chỉ liên lạc của mình.

    Sau 3 tuần nhận được hoa đều đặn, ca sĩ hoa khôi Mộc Lan không cầm lòng được đã đề nghị người đưa hoa cho biết tên người tặng. Được sự đồng ý của Đoàn Chuẩn, chủ hàng hoa đã thông báo cho Mộc Lan biết người gửi tặng hoa cho nàng chính là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cùng với địa chỉ kèm theo. Sau đó, nhạc sĩ họ Đoàn nhận được lá thư của người đẹp với lời cảm ơn và hy vọng có ngày được hội ngộ. Thế là Đoàn Chuẩn lại gửi tiền để chủ hàng hoa tiếp tục tặng hoa cho người đẹp liền 2 tháng nữa.

    Mấy tuần sau đó, Đoàn Chuẩn rất xúc động khi nhận được lá thư tiếp theo của Mộc Lan và ông đã biến tình cảm dâng trào của mình thành bản nhạc Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay với lời đề tặng M.L.

    Gặp gỡ và chia tay… Theo lời hiền thê của ông “Nhiều mối tình đã đi qua tâm hồn người nhạc sĩ đa cảm đa tình. Lúc còn sống, ông từng thú nhận rằng đời ông chỉ viết tình khúc, bởi ông trọng nhất là tình yêu. Những năm cuối đời ông bị tai biến mạch máu não, nằm liệt trên giường. Người bạn đời của ông vẫn còn lưu lại vẻ đẹp của một thời hoàng kim xa lắc luôn có mặt bên cạnh. Lúc ấy, khi nhắc lại chuyện xưa, cả hai ông bà đều cười rất tươi…”

    Cuối thập niên 40, Mộc Lan vào Sài Gòn, kết duyên với nhạc sĩ Châu Kỳ (1923-2008). Đôi uyên ương ra làm việc tại Đài Phát Thanh Huế. Năm 1954, trở lại Sài Gòn, ca sĩ Mộc Lan nổi tiếng hát hay và đẹp, trở thành đối tượng cho văn nghệ sỹ si tình nên… chia tay nhau. Sau thời gian sống trong khổ đau, u uất, Châu Kỳ gặp cô nữ sinh Kha Thị Đàng, 18 tuổi. Cô hoa khôi của trường nữ trung học Gia Long kết hôn với Châu Kỳ và sống bên nhau đến cuối đời.

    Sau khi rời Sài Gòn trở lại Hà Nội, Đoàn Chuẩn viết ca khúc Gửi Người Em Gái Miền Nam vào dịp Tết Giáp Ngọ (đầu năm 1955) nhưng đến năm 1956 mới ấn hành nhạc phẩm nầy…

    Trong bài viết của Hạ Đình Nguyên, phỏng vấn Mộc Lan và Tâm Vấn, cho biết, sau vài nghi vấn “Người viết đã có may mắn được gặp bà Tâm Vấn trong một cuộc triển lãm tranh ở đường Lê Thánh Tôn, bèn đánh bạo hỏi bà chuyện này. Bà cười xòa: “Không, ông ấy làm bài này là để tặng cho Mộc Lan, bạn tôi”…

    Tình khúc Gửi Người Em Gái… là một trong những bản tình ca tuyệt vời nhất của âm nhạc Việt Nam. Hình ảnh người em gái được viết lên với giai điệu nhẹ nhàng, với ngôn ngữ hòa nhập trong con tim rung động. Nhạc sĩ tài hoa như vậy nhưng sau khi sáng tác ca khúc đó, tâm sự đã được bày tỏ tình cảm,, nỗi niềm rồi vô vọng để rồi im lặng qua ba thập niên. Nếu có nuối tiếc cho cuộc tình vô vọng, chỉ còn gặm nhấm theo thời gian”.

    Với ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của Đoàn Chuẩn. Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng viết: “Rất ít người biết đến ca khúc có cùng tên do Đoàn Chuẩn & Từ Linh sáng tác năm 1955 trong tập Bài Ca Bị Xé… Có lẽ, một trong những lý do bài Chiếc Lá Cuối Cùng của Đoàn Chuẩn & Từ Linh có số phận hẩm hiu, ít người biết đến vì sau khi đất nước chia đôi, ở miền Bắc ai dám hát nhạc tình cảm ướt át từ một nhạc sĩ có gốc gác “tư sản” nặng như Đoàn Chuẩn? Bản nhạc này được tác giả cất giữ cho đến mãi sau 1986 – “thời kỳ đổi mới” – mới bắt đầu tiết lộ ra ngoài qua hai người con là Đoàn Đính và Đoàn Chính.

    Những bài trong tập Bài Ca Bị Xé, ông viết tặng ca sĩ Thanh Hằng  thời đó và theo nhạc sĩ Đoàn Đính, thứ nam của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn trong cuộc phỏng vấn với ký giả Ngọc Trần đã cho biết như sau: “Tuy yêu vợ nhưng bản chất của Đoàn Chuẩn là một nghệ sĩ đa tình. Vì thế khó trách cha tôi tội quá đào hoa. May mắn mẹ tôi là người đàn bà tinh tế, hết lòng vì chồng con… Mỗi bài hát là một mối tình đi qua đời ông”. Chính nhờ sự bao dung ấy của mẹ mà gia đình tôi được giữ trọn vẹn…”.

    Năm 1955, tuy sống cũng gần nhau ở Hà Nội nhưng không được gặp gỡ như trước kia vì nhạc trữ tình của Đoàn Chuẩn – Từ Linh bị “ghép tội” ủy mị nên cấm phổ biến trong khi đó ca sĩ Thanh Hằng đổi thành Lệ Hằng để tiếp tục kiếp cầm ca.

    Sống trong gia đình với vợ con nhưng Đoản Chuẩn vẫn tơ tưởng đến hình bóng “người đi qua đời tôi”:

    “Em thời xa, sương gió phôi pha

    Anh ngồi đây anh nhớ đến em

    Như cành khô trước lúc xa cây, gọi lá…

    Sao đôi tâm hồn đã quá xa xôi

    Trên những con đường thoảng hương hoa sữa

    Em đã nói gì, quá khứ? tương lai?

    Trăng sao trên trời còn khi chia đôi

    Nhưng tiếng ca nào còn lắng trong tôi…

    Hà Nội chiều nay trời lên mây trắng

    Chiếc lá cuối cùng rơi xuống chân em…

    Chiếc lá cuối cùng là của em đó

    Em hãy giữ gìn trước lúc chia tay”!

    *

    Vừa rồi, tôi nhận được email của người bạn thân từ ngày ở Đà Lạt, anh rất hiền, ít nói, chung thủy cả một đời khi lập gia đình và hình như chưa tâm sự với ai về chuyện tình cảm nhưng anh cho biết những dòng chia sẻ nầy nếu ngày nào anh vĩnh biệt cõi trần, tôi viết thêm hình bóng trong vài ca khúc của anh. Chưa biết ai sẽ ra đi trước nhưng sẽ ghi vào “giai thoại” để mỗi ca khúc mang tâm hồn lãng mạn.

    Khi tôi viết loạt bài Văn Nhân & Tình Sử, nhà thơ Thái Tú Hạp (đồng hương ở Hội An) nói tại sao không viết tình sử của bản thân?. Có mấy ai tự “vạch áo cho người xem lưng”?. Trong bài viết đã lâu, tôi ghi lại khi về Hội An, thưa với mẹ chuyện lập gia đình, mẹ tôi hỏi “Ủa, con lấy ai?”… Rồi sau nầy “thành thật khai báo” nhưng hiền thê – như bà vợ Đoàn Chuẩn – phán “biết tỏng tòng tong” miễn là giữ trách nhiệm cho đến cuối đời.

    Buổi tối cuối tuần, đang nghe Moonlight Sonata của Beethoven, thấy tin nhắn qua message cho biết, cả một đời thích âm nhạc, ca hát… mang lại niềm vui, an ủi cho bản thân và những người thưởng ngoạn, nhưng không ngờ ngược lại nên không còn tiếp tục!. Thật bất ngờ và hụt hẫng qua lời nhắn, khi nhắn lại thì bặt tin!

    Với tôi, tiếng hát ngọt ngào, nhẹ nhàng, truyền cảm đi nhẹ vào lòng người, bỗng dưng lìa xa sân khấu! Lại một lần nữa “Les feuilles mortes se ramassent à la pelle. Les souvenirs et les regrets aussi” và tiếng hát đó như “Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”!. Nỗi buồn vây quanh!

    Little Saigon, March 2025

    Vương Trùng Dương

  • Phạm Phan Lang,  THO

    APRIL WITHIN ME

    Phan Lang

    Across four seas, I drift, alone –
    Dark April casts its mournful tone.
    My homeland fades in smoke and haze,
    A portrait lost in youthful days.

    Exile’s path, so cold and bare,
    Freedom’s sky still veiled with care.
    Eyes gone dry through endless years,
    A heart still bleeds its silent tears.

    I hear the cries from poor, scorched lands,
    Where prisons rise on thatched-roof strands.
    Old bamboo sighs with breaking groan,
    Young rice falls from its tender throne.

    Boat people lost in storm-swept flight,
    Dreams shattered in the endless night.
    No nest awaits the wing-worn bird,
    Just trembling winds and voices blurred.

    Our children grow on foreign shores,
    Grandkids forget our native lore.
    We gather silent words once more,
    To weave the dream we’re longing for.

    Fifty years in exile’s hold,
    Hair now streaked in misty gold.
    Yet still the heart can feel the sting
    Of autumns lost, of vanished springs.

    That mossy thatch of long ago –
    Who waits beside the village well?
    Old areca trees in silence grow,
    Still watching for lost souls to dwell.

    I dream one day the war will cease,
    Our motherland will rest in peace.
    And we return, though frail we be,
    To find that path beneath the green.

    Though legs may shake, and backs be bowed,
    Though time has carved its mark and shroud –
    This heart still holds the schoolyard’s grace,
    That homeland love no age can erase.

    May peace at last embrace our land,
    May hatred pass like drifting sand.
    So children sing with voices free
    Beneath the skies of ancestry.

    phamphanlang, April 1st, 2025

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Chiếc Lá Trong Ca Khúc

    Vương Trùng Dương

    “Les feuilles mortes se ramassent à la pelle…

    Tu vois je n’ai pas oublié

    Les feuilles mortes se ramassent à la pelle

    Les souvenirs et les regrets aussi…”

    ((Jacques Prévert: Œuvres complètes Tome II)

    Bạn tôi, nhà thơ Triều Hoa Đại ấn hành tác phẩm Lên Rừng Đếm Lá. Nhân dịp nầy, người bạn vong niên từ thời ở Đà Nẵng – Lê Bảo Hoàng (nhà thơ Luân Hoán) – hai nhà thơ thực hiện cuộc trò chuyện với nhau.

    Theo Triều Hoa Đại thì khi rời bỏ đất nước ra đi, hình như một số anh, chị em trong đó có tôi đã bỏ “của” mà chạy lấy người nên đã không đem theo được một tác phẩm nào…

    Tôi ở một nơi rất xa cách sinh hoạt cộng đồng (vì công việc) cho nên đó cũng là những thiệt thòi về đủ mọi phương diện, mà đặc biệt nhất là sách báo thì tôi thiếu thốn vô cùng, những ngày tháng trước đây khi còn sinh hoạt với chữ nghĩa ở trong nước tôi đã có được một tủ sách gia đình đáng kể, bạn bè mỗi khi in sách đều gửi cho, nhà xuất bản cũng thương tình cho một vài cuốn thành ra một tác phẩm thường thì tôi được hai, hay nhiều hơn thế nữa do tác giả và nhà xuất bản ký tặng, giờ đây nhìn thấy “tủ sách” gia đình mà mình có được thấy ngậm ngùi, tủi thân chi lạ. Mở hộp thư bưu điện hằng ngày chỉ là để trông mong sách báo, ngóng chờ thư từ bằng hữu như người đi giữa sa mạc mong ngóng những cơn mưa.

    Vì vậy, tác phẩm đầu tiên của anh Lên Rừng Đếm Lá, anh đã “đếm” 17 chiếc lá, hầu hết là bạn văn với tác giả. Sau gần hai thập nhiên, có các chiếc lá đã lìa cành!

    Trong âm nhạc, có nhiều ca khúc với hình ảnh chiếc lá, có lẽ biểu tượng cho đời người, tình yêu… ở giai đoạn nào đó mang nỗi buồn man mác khi chia ly! Mà “Lòng người như chiếc lá, nằm trong cơn gió vô tình…” (Ngăn Cách của Y Vân). “Lòng người như lá úa, trong cơn mưa chiều. Nhiều cơn gió cuốn, xoay xoay trong hồn. Và cơn đau này vẫn còn đấy” (Bài Không Tên Số 2 của Vũ Thành An)…

    Vào thời tiền chiến, những tình khúc của Đoàn Chuẩn & Từ Linh được gọi nhạc sĩ của mùa Thu mà mùa Thu thường mang đến nỗi buồn. Mùa Thu là mùa của lá vàng rơi đã thể hiện qua nhiều bài thơ… Ca khúc Lá Đổ Muôn Chiều của Đoàn Chuẩn & Từ Linh:

    “Lá đổ muôn chiều ôi lá úa

    Phải chăng là những cánh đời em

    Đêm đêm lìa xuống trần

    Tình vương hoen úa ôi những cánh đời mong manh.

    Than tiếc mà chi chiếc lá vàng bay về cuối trời

    Làm lòng anh nhớ mãi người ơi.

    Nhớ nhau từ làn môi đôi mắt.

    Đành tìm trong nét bút xa xôi”.

    Ca khúc Lá Thư và “lá thư” gửi cho người tình khi đã trao thân:

    “Nhớ tới mùa thu năm nào

    Mình anh lênh đênh rừng cùng sông

    Chiếc lá thu dần vàng theo

    Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu

    Ngồi xõa tóc thề. Còn đâu ân ái chăng người xưa?”

    Câu ca dao “Dã tràng xe cát biển Đông” với hình ảnh con dã tràng khi thủy triều xuống, xây cát làm nơi trú ẩn nhưng khi thủy triều lên bị san bằng, ngụ ý bỏ công sức nhưng chẳng được gì như công cốc! Ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của nhạc sĩ trong tình yêu ví như lâu đài trên cát:

    “Hà Nội chiều nay còn như in bóng

    Dấu vết lâu đài trên cát anh xây

    Bóng dáng em về thấp thoáng đâu đây

    Chiếc lá cuối cùng là của em đó

    Em hãy giữ gìn trước lúc chia tay”

    Và ca khúc Ánh Trăng Mùa Thu:

    “Lòng hờn trăng cuốn thêm bao đời lá

    Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa!”

    Trong bài viết vừa qua Nỗi Lòng Với “Chiếc Lá Cuối Cùng” của tôi đề cập đến hai ca khúc của Đoàn Chuẩn và Tuấn Khanh cùng tên.

    Với ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh, được nổi tiếng ở miền Nam VN vào thập niên 1960’:

    “Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng

    Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang

    Chiều vào thu tiễn em sầu lạnh giá

    Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa…

    Xa nhau chưa mà lòng nghe quạnh vắng

    Đường thênh thang gió lộng một mình ta

    Rượu cạn ly uống say lòng còn giá

    Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”.

    Bài thơ L’Adieu của Apollinaire chỉ có 5 câu, Bùi Giáng dịch là Lời Vĩnh Biệt, Phạm Duy dựa vào ý thơ phổ thành ca khúc Mùa Thu Chết.

    Như đã đề cập ở trên, trên quê hương ngày xưa, mùa Hè nóng bức, mùa Đông giá lạnh, mùa Thu giao mùa giữa nóng và lạnh, là mùa của nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trong tâm trạng buồn, nhớ thương.

    Ca khúc Thu Vàng năm 1953, khi Cung Tiến chỉ mười lăm tuổi, mới rời Hà Nội vào Sài Gòn. Lời đề tặng: “Tặng Hà Nội của những ngày thơ ấu”. Với thể điệu valse như những bước chân chim nhảy nhót trên lá vàng với “màu tê tái”:

    “Mùa Thu vàng tới là mùa lá vàng rơi

    Và lá vàng rơi, khi tình Thu vừa khơi

    Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi

    Nghe chừng đâu đây màu tê tái”

    Ca khúc Lá Rơi Bên Thềm của Lê Trọng Nguyễn & Nguyễn Hiền:

    “Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương

    Tìm trong lá thu vàng trên lối đi về dĩ vãng

    Ngày thơ đã qua rồi sao vấn vương

    Mỗi khi sương chiều xuống

    Tìm bâng khuâng hình bóng năm nào…

    Lá rơi cho lòng hoài cố nhân

    Tìm trong lá thu vàng bao phút xưa đầm ấm

    Niềm thương khó phai mờ theo tháng năm

    Lá rơi bên thềm vắng

    Yêu mãi dáng Thu về bên song”.

    Lá Rụng Ven Sông của Hoàng Nguyên với thể điệu tango:

    “Hôm nao nhìn lá úa

    Rụng lác đác bên sông.

    Mây trôi về viễn xứ

    Gợi tiếc nhớ bâng khuâng…

    Thương ai đã thương ai rồi

    Dù tháng năm dần trôi

    Dù lá hoa tàn phai

    Lòng vẫn nhớ thương ai”.

    Ca khúc Lá Rụng Ven Sông của Phạm Duy, thơ Thế Lữ với thể điệu valse:

    “Còn đâu đêm sang lá đổ rộn ràng

    Còn đâu sương tan trăng nội mơ màng

    Còn đâu em ngoan tóc rối ngổn ngang

    Tuổi em đôi mươi xuân mới vừa sang”.

    Trong tùy bút trước đây của tôi với Đường Chiều Lá Rụng khi nói về cuộc chia tay nơi công viên lúc chiều tà, dựa theo tựa đề nhạc phẩm Đường Chiều Lá Rụng của Phạm Duy:

    “Lá vàng bay! Lá vàng bay!

    Như dĩ vãng gầy, tóc buông dài, bước ra khỏi tình phai

    Lá vàng rơi! Lá vàng rơi!…

    Lá vàng khô! Lá vàng khô!

    Như nét môi già đã nhăn chờ lên nẻo đường băng giá”

    Nhạc phẩm Thu Ca của Phạm Mạnh Cương trong phần điệp khúc:

    “Nhớ ai chiều thu

    Nhìn bao lá úa rơi đầy lối

    Nhẹ rung tà áo

    Làn môi cười thắm như cánh hoa đào

    Cách xa vì đâu!

    Dù bao lần lá hoa phai màu

    Rung chi cành hoa lá

    Khi tà dương đã khuất non xa”

    Trích dẫn những ca khúc tiêu biểu của các nhạc sĩ từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam – trong hoàn cảnh chiến tranh – nhưng những ca khúc trữ tình, lãng mạn tuy buồn, bi thương đã in sâu trong tâm hồn giới thưởng ngoạn.

    Sau năm 1975 lại đẻ ra tên gọi “nhạc Sến”, nhiều bài viết tranh luận quanh đề tài nầy và tôi cũng viết bài Dòng Nhạc Boléro, dòng nhạc phổ thông nhất trong hai thập niên đó bị “chụp mũ” vớ vẩn. Nay là dòng nhạc thịnh hành, ăn khách nhất trong nước. May thay những ca khúc về mùa Thu, lá vàng, lá khô… qua các giai điệu như đề cập ở trên không bị nằm trong “nhạc Sến”.

    Còn nhiều ca khúc khác, gần đây Lại Một Chiếc Lá Rơi của Phạm Anh Dũng ở miền Đông nước Mỹ:

    “Nhìn chiếc lá vàng rơi

    Mới hay mùa thu tới

    Trên từng ngày mong đợi

    Em vẫn còn xa xôi…

    Bao nhiêu năm xa người

    Tìm về con phố cũ

    Thu băng ngang giữa trời

    Lại một chiếc lá rơi”

    Năm 1990, khi mới tị nạn ở Nashville, tiểu bang Tennessee, lần đầu tiên trong đời vối rừng phong nhuộm vàng tuyệt đẹp mà thuở còn đi học chỉ mường tượng câu thơ “Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san” (Kiều – Nguyễn Du).

    *

    Ca khúc Les Feuilles Mortes, nhà thơ Jacques Prévert viết theo giai điệu do J. Kosma đã soạn sẵn. Ca khúc ra đời năm 1946, nội dung với kỷ niệm buồn cho tình yêu đã mất. Năm 1949, Johnny Mercer chuyển lời tiếng Anh Autumn Leaves, trở thành ca khúc nổi tiếng trên thế giới với các album của các danh ca. Theo GS Nguyễn Bảo Hưng (Jacques Prevert & Les Feuilles Mortes) cho rằng chủ đích của Kosma là soạn ra như là một nhạc phần (une partition) cho kịch vũ ba lê Le Rendez-Vous (Hẹn Hò). Lúc đầu Prévert định chỉ soạn lời cho nhạc phần của vở kịch vũ theo yêu cầu. Nhưng khi lắng nghe giai điệu để viết lời ca, Prévert đã bị thu hút bởi những nốt nhạc của giai điệu diễn tả một nỗi buồn thầm kín nhưng nồng nàn đằm thắm. Và ông đã không bỏ lỡ cơ hội, mượn giai điệu của Kosma để làm nền cho cuốn phim do chính ông soạn kịch bản và ‘lời thoại’, lấy tên Les Portes de la Nuit (Cửa Vào Đêm Tối), đêm tối ở đây mang ý nghĩa ẩn dụ “tử thần”), lấy nhạc Kosma làm nền cho phim… Nhạc Kosma trong Les Feuilles Mortes là một giai điệu buồn với những nốt nhạc khoan thai dìu dặt. Cộng thêm lời ca Prévert là những lời thơ chan chứa, nó càng có sức cuốn hút người nghe…

    Có nhiều bài viết cho rằng ca khúc nầy phổ thơ của Jacques Prévert. Có lẽ Prévert cảm nhận vào lời của ca khúc đó để làm bài thơ.

    Chẳng hạn như ca khúc Lệ Đá của Trần Trịnh. Theo lời Hà Huyền Chi, nhạc phẩm Lệ Đá trước hết không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của nhạc sĩ Trần Trịnh…

    Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội, Trần Trịnh ngồi vào piano. Và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ đó, rất Pianissimo ấy. Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hương của bản nhạc.

    Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hòa được cái rung cảm đích thực của thơ tôi vào nhạc Trần Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn…

    Sau nầy Hà Huyền Chi cảm hứng viết thêm 4 lời cho ca khúc nầy. Nhiều người cho rằng thơ Hà Huyền Chi.

    Với nhạc phổ thơ thì dựa vào thơ, ý thơ. Nhạc và lời thì khi nghe nhạc qua giai điệu để đặt lời, trước đây tôi đã đề cập qua bài viết về nhạc và thơ, thơ và nhạc.

    Nhạc sĩ Phạm Duy có tài viết các ca khúc ngoại quốc lời Việt nhưng với ca khúc nầy trước năm 1975 và sau nầy hát theo lời Pháp, Anh.

    Ngoài ca khúc Lá Rụng của Hoàng Trọng, tôi thích nhất ca khúc Nhặt Lá Vàng

    “Mùa thu mây trắng lững lờ, không gian mờ mờ

    Người đẹp đi trong mơ

    Nhẹ nâng tà áo dịu dàng

    Nhặt lá thu vàng, dệt mộng đón thu sang…

    Lặng trầm gió trút lá, bỗng dưng sầu

    Nhặt từng chiếc lá úa, nhớ thu nào

    Chia ly muôn kiếp vẫn sầu

    Ðể nhớ cho nhau nào ai có thấu

    Người yêu xỏa tóc mong chờ

    Dù xưa hẹn hò mà giờ đây bơ vơ

    Mùa thu này cũng đẹp trời

    Mà thiếu một người, nhặt lá vàng rơi!…

    Mùa thu này khóc một mình

    Mộng ước không thành, để buồn những ngày xanh”

    Ngày đó, Mai Hân và nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo thực hiện vào mỗi tối Thứ Tư hàng tuần trên sóng đài phát thanh Quân Đội với chương trình Nghệ Sĩ Với Chiến Sĩ. Ngoài giọng đọc truyền cảm của xướng ngôn viên, ca sĩ Mai Hân hát với nhiều ca khúc, riêng tôi, Nhặt Lá Vàng thành công và hay nhất.

    *

    Tôi đã vài lần trao đổi với nhà thơ Triều Hoa Đại và các bạn văn khi bước vào tuổi già ở hải ngoại thường nhớ lại quá khứ của một thời trong văn chương nghệ thuật. Bước vào tuổi tám mươi, thời gian không còn dài… như lá vàng trên cây, chỉ cần cơn gió thoảng sẽ lìa cành rơi rụng. Với những tác giả nêu trên, hầu như đã chia sẻ qua các bài viết trong quá khứ.

    Mỗi chiều yên ả, ra ngồi backyard nhìn những chiếc lá vàng trên hai cây magnolia (chi mộc lan) rơi rụng, nghĩ đến ngày mai “les feuilles mortes” để “les portes de la nuit” và rồi “Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa!, “Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương, hoài cố nhân”… Vàngày nào đó khi có chiếc lá rơi “cố nhân xa rồi” mấy ai gọi đến tên!

    Little Saigon, April 2025

    Vương Trùng Dương

  • Kiều My,  KÝ SỰ

     50 năm…khát vọng !

    Kiều my

    Năm mươi năm đã trôi qua, đánh dấu sự kiện miền Nam Việt Nam sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Lịch sử Việt Nam đã sang trang và nền tự do dân chủ của miền Nam cũng chìm vào quá khứ. Tuy vậy, dù ở trong nước hay hải ngoại, người Việt vẫn luôn nhớ về những năm tháng êm đềm của hai nền Cộng Hòa nhân bản trước năm 1975.

    Đối với những người Việt tị nạn đang sống cuộc đời lưu vong khắp hành tinh này, vẫn luôn nuôi  khát vọng một ngày được trở về quê hương—Giống như dân tộc Do Thái, dù lưu lạc hơn 2000 năm khắp nơi trên thế giới, vẫn không ngừng khao khát trở về quê cha đất tổ. Và cuối cùng, họ đã đạt được ước nguyện!

    Cũng vào một buổi sáng của tháng Tư cách đây 50 năm, Tổng thống lâm thời Dương Văn Minh đã tuyên bố: chính phủ Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng Mặt trận Giải phóng miền Nam. Toàn dân chìm trong bàng hoàng và sợ hãi như tiếng sét giữa trời quang, bầu trời tự do của miền Nam dường như đang sụp đổ trước mắt!

    Trong khoảnh khắc chua xót ấy dù tuổi đời còn non nớt, tôi đã phần nào cảm nhận được sự mất mác to lớn cho một tương lai tươi sáng… và tôi đã bật khóc! Tôi khóc cho những người trai trẻ đã hy sinh tuổi xuân, tình yêu, hạnh phúc gia đình, thậm chí cả mạng sống, để trấn giữ biên cương, bảo vệ Tổ quốc và mang lại bình an cho dân lành ở hậu phương. Xương máu của họ đã đổ xuống vì lý tưởng Tự Do; nhưng giờ đây, sự hy sinh ấy dường như trở nên vô nghĩa! Đó là nỗi đau tột cùng của những kẻ thua cuộc!

    Tôi khóc cho một tương lai mịt mù, u ám phủ bóng lên thế hệ hôm nay và mai sau.  Những giọt nước mắt tuyệt vọng của tôi hòa cùng nỗi ám ảnh kinh hoàng về cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn, Gia Định dịp Tết Mậu Thân 1968, khi máu đổ tang thương tràn ngập, và tài sản bị tàn phá không kể xiết. Cùng thời khắc ấy, tại cố đô Huế, hàng ngàn người vô tội đã bị thảm sát dã man chôn vùi trong những nấm mồ tập thể—những hình ảnh ấy vẫn còn đó, chưa bao giờ phai mờ trong ký ức của người Việt.

    Đi lần về quá khứ. Theo Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam bị chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17 bởi dòng sông Bến Hải: miền Bắc theo chế độ Cộng sản; miền Nam thuộc chế độ Tự do. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi từ năm 1954 đến năm 1975, miền Nam đã xây dựng và củng cố một thể chế chính trị  Dân chủ dưới hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa. Dù còn non trẻ, nhưng nền Tự do Dân chủ miền Nam đã hình thành một cách tốt đẹp và vững vàng.  Người dân được hưởng quyền bầu cử, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, và nhân quyền được tôn trọng. Nền giáo dục được xây dựng trên nền tảng đạo đức, hướng đến việc đào tạo thế hệ tương lai theo nền văn minh khoa học tiên tiến để bắt kịp nhịp phát triển của thế giới. Chính phủ đã đầu tư xây dựng nhiều trường học từ tiểu học đến đại học, mở mang tri thức cho mọi người, nhất là giới trẻ là những mầm non – tương lai của đất nước. 

    Hình ảnh đẹp của trường nữ trung học Gia Long trước 1975

    Dù đất nước vẫn trong tình trạng khói lửa chiến tranh, nhưng chính phủ miền Nam vẫn mang đến cho người dân một cuộc sống sung túc và bình an trong nhịp sống thường nhật êm đềm chan chứa tình người. Sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của miền Nam trên mọi lĩnh vực—từ kinh tế đến văn hóa, giáo dục, chính trị, quân sự, và bang giao quốc tế…—Chỉ trong thời gian 20 năm ngắn ngủi đã biến thủ đô Sài Gòn trở thành “Hòn Ngọc Viễn Đông” của Đông Nam Á. Các quốc gia láng giềng trong khu vực không chỉ khâm phục, mà còn mơ ước đạt được sự phồn thịnh như miền Nam Việt Nam vậy.

    Miền Nam không chỉ là vựa lúa dồi dào, cung cấp lương thực cho người dân nội địa, mà còn xuất cảng gạo sang các nước láng giềng. Nguồn thủy sản phong phú từ sông hồ đến biển cả đã giúp bảo đảm cuộc sống no ấm cho người dân. Dưới chế độ tự do, miền Nam trở nên trù phú và thịnh vượng. Người dân được quyền tự chủ về kinh tế, tư tưởng và tương lai của chính mình. 

    Nhưng sau năm 1975 khi đất nước thống nhất, hoàn cảnh Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn. Cả thế giới bàng hoàng trước cuộc di tản khổng lồ và làn sóng vượt biên đầy bi thương của hàng triệu người Việt Nam đi tìm tự do. Họ ra đi bằng mọi cách—máy bay, đường bộ, hay vượt biển trên những con thuyền mong manh giữa đại dương mênh mông. Trên hành trình tìm kiếm Tự do, họ phải đối mặt với muôn vàn hiểm nguy, thậm chí đánh đổi cả mạng sống. Nhiều người đã bỏ mình dưới lòng biển cả hay trong rừng thẳm. Trong số những nạn nhân xấu số đó, có cả người thân yêu của tôi. Đã mấy mươi năm trôi qua, nhưng mỗi khi nhớ lại biến cố đau thương này, tôi vẫn không khỏi ngậm ngùi! 

    Biết bao gia đình đã ly tán vì hệ lụy của cuộc đổi đời. Người cha, người chồng bị đưa vào các trại tù cải tạo, để lại vợ con nheo nhóc, bơ vơ. Nhiều người phải rời bỏ thành phố, nhà cửa để đi đến “vùng kinh tế mới”—nơi rừng thiêng nước độc, để khai hoang những vùng đất đai cằn cỗi hoang vu.

    Sau năm 1975, ngay cả miền Nam là vựa lúa của cả nước cũng lâm vào  hoàn cảnh đói khát. Người dân phải ăn độn ngô, khoai, bo bo… Cuộc sống trở nên cùng cực sau thời hậu chiến. Những khẩu hiệu tuyên truyền tốt đẹp không thể che lấp nỗi cơ cực, nghèo đói và đàn áp…đè nặng lên tinh thần người dân miền Nam; khiến họ phải tìm mọi cách để thoát khỏi đất nước bằng bất cứ giá nào. 

    Những ai không có cơ hội hay khả năng ra đi đành chấp nhận số phận trong cảnh khốn cùng. Thanh niên không có việc làm, nhà nước phải “xuất khẩu lao động” đưa họ ra nước ngoài kiếm sống; còn nhiều phụ nữ bạc phước bị đẩy vào con đường mại dâm nơi xứ người. Kinh tế kiệt quệ, xã hội suy đồi, văn hóa và đạo đức xuống cấp trầm trọng. Một đất nước từng được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông” giờ đây chỉ còn lại nỗi buồn và sự tủi hổ!

    Hồi tưởng lại lần đầu tiên trở về thăm gia đình sau nhiều năm xa cách. Vừa bước ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, tôi sững sờ và hụt hẫng khi nhìn thấy một biển người đang chờ đón thân nhân từ nước ngoài. Họ trông xơ xác, làn da sạm đen, vẻ mặt hốc hác, bệnh hoạn… Một nỗi xót xa tràn ngập trong lòng, nước mắt tôi cứ tuôn rơi không sao ngăn được. Tôi đưa mắt tìm kiếm gia đình… Kìa, Ba Mẹ và các chị em đang đứng ngóng cao cổ chờ đón tôi. Cảm xúc càng dâng trào khi nhận ra những người thân yêu của mình cũng chẳng khác gì những người xung quanh – gầy gò, xanh xao… Tôi đau lòng đến nghẹn ngào. Người nước ngoài, dù sống ở đâu, da dẻ họ vẫn hồng hào, khỏe mạnh; còn gia đình tôi và đồng bào tôi giờ ra nông nỗi này sao? Họ tiều tụy đến mức tôi không dám nhìn thẳng vào mặt họ, kể cả người thân của tôi, e rằng họ sẽ tủi hổ. 

    Không chỉ gia đình tôi, mà biết bao người khác cũng mơ ước được sống trong bầu không khí tự do, được hưởng cuộc sống đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, để con cái họ có  tương lai tươi sáng, không còn cảnh tha phương cầu thực, không còn bị áp bức … Đó là niềm khát vọng lớn lao vẫn luôn âm ỉ cháy trong lòng mọi người của từng giai cấp xã hội, là tia hy vọng duy nhất để họ bám víu mà sống qua ngày. 

    Cụ già bán hàng rong

    Thật chua xót! Trên những con phố đông đúc, nhiều người buôn gánh bán bưng, kể cả những cụ già lưng còng gánh hàng buôn bán mưu sinh qua ngày. Những người đạp xích lô còm cõi chở khách dưới cái nắng gay gắt, hoặc dầm mình trong những cơn mưa dai dẳng. Thật tủi nhục!  có cả những thầy giáo, giáo sư từng cầm phấn đứng trên bục giảng, nay phải lang thang mưu sinh bằng nghề đạp xích lô chỉ vì từng phục vụ trong chính quyền cũ. Họ trở thành những “trí thức đạp xích lô” – một hình ảnh thực tế đau lòng được nhắc đến trong tác phẩm “Sài Gòn: Một Góc Ký Ức và Bây Giờ” của tác giả Vũ Thế Thành.

    Hình ảnh“Trí thức đạp xích lô”

    Phải chăng nền giáo dục đương thời đã và đang xuống cấp trầm trọng? Tầng lớp trí thức bị bạc đãi vì chế độ chủ trương chính sách “ngu dân” để  dễ dàng thống trị người dân? Ngay sau 30 tháng tư 1975, nền văn hóa cũ phải bị xóa sạch bằng cách đốt sách vở, báo chí, tài liệu giáo khoa trong các nhà sách, thư viện, trường học, nhà xuất bản… Một hành động thể hiện rõ sự thiếu hiểu biết và đố kỵ đối với nền văn hóa văn minh tiến bộ của miền Nam. Dưới chế độ Tự do Dân chủ, miền Nam đã đào tạo ra biết bao nhân tài, từ những tướng lãnh tài ba, những chiến binh dũng cảm trong quân đội, đến những Bác sĩ tận tâm, Kỹ sư, Kiến trúc sư, Luật sư, Giáo sư, Văn nghệ sĩ, Linh mục, Thượng tọa… Họ là những bộ óc sáng suốt, những  người có năng lực có thể góp phần xây dựng đất nước; nhưng thay vì được trọng dụng, họ lại bị gạt ra bên lề xã hội. Xót xa hơn nữa, họ lại bị giam cầm, đày ải trong lao tù – chỉ vì họ là “trí thức”. 

    Nửa thế kỷ đã trôi qua, những đau thương của cuộc nội chiến đẫm máu vẫn chưa phai mờ trong lòng người Việt và trang sử đen tối vẫn chưa được khép lại. Người dân còn ở lại trong nước vẫn khắc khoải mong chờ một ngày mai tươi sáng,  khát vọng được hít thở bầu không khí tự do, mong mỏi có một cuộc sống đầy đủ và bình an. Những người Việt viễn xứ khắp bốn phương trên thế giới, lòng vẫn luôn hướng về quê hương, vẫn nhớ về Sài Gòn yêu dấu – nơi có gia đình, bạn hữu, thầy cô, và những ký ức của một thời tuổi trẻ không thể  phai nhòa!  Vẫn luôn khát vọng ngày trở về mảnh đất quê hương Việt Nam dấu yêu!

    Sai gon…Ngày Tháng Cũ

    Saigon đẹp thuở nào…còn đâu nữa

    Tan trường về những buổi chiều mưa

    Hàng cây bên đường lá ướt đẫm

    Mưa giăng giăng ướt lối trường xưa

    Áo trắng học trò ngày tháng cũ

    Con đường dài phủ lá me bay

    Saigon êm đẹp…mộng mơ ấp ủ

    Nắng vàng nhẹ dìu bước em đi

    Saigon… giờ đây từng ngày thầm nhủ:

    Con đường cũ sao nằm lặng thinh?

    Đợi người xưa ôm ghì nỗi nhớ

    Mỏi mòn dưới đèn vàng lung linh!

    Saigon ơi! Gọi tên người mãi

    Gắng đợi chờ tôi, ngày trở lại

    Saigon nắng lụa vàng bay trên phố

    Đón bước ai về …một ngày mai

    California, tháng 4 năm 2025

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    KỶ NIỆM 26 NĂM THÀNH LẬP THƯ VIỆN VIỆT NAM

    Khánh Lan

    Nhận được thiệp mời và điện thoại từ Ký Giả Du Miên thì Khánh Lan không thể vì một lý do gì mà không đến chung vui với tất cả các vị huynh trưởng đã có công trong việc thành lập thư viện Việt Nam đầu tiên tại quận Orange, California, tọa lạc trong khu vực của Little Sài Gòn. Mặc dù hôm ấy có đến 3 tổ chức trong cùng ngày, cùng giờ, thế mà khánh phòng của thư viện đã đón tiếp rất đông quan khách đến tham dự. Đó là một điều rất vui.

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cũng có mặt gồm: Phạm Gia Đại, Trần Mạnh Chi, Lưu Mạn Bổng & Khánh Lan, Giáo Sư Dương Ngọc Sum. Truyền thông báo chí gồm, các ký giả: Thanh Phong, Văn Lan, Thanh Huy, đài VNA, SBTN, LITTLE SAIGON TV.

    Trong dịp này, quyển cẩm nang LITTLE SAIGON CHRONICLES của tác giả Ngọc Hà-Du Miên cũng được đem trình làng trong cùng ngày. Sách dầy khoảng 300 trang với hình bìa sách trang trí giản dị nhưng tuyệt đẹp do Giáo Sư Kỹ Thuật Phạm Hồng Thái thiết kế: Chữ viết tựa của sách Little Saigon màu vàng kiêu kỳ và chữ Chronicles màu xanh hòa nhã đã làm nổi bật dưới nền màu đen, Phía dưới của bìa sách là tấm bảng Little Saigon-next Exit rất tượng hình và đầy ý nghĩa.

    Tưởng cũng xin nhắc lại là năm 2024, Anh Chị Ngọc Hà-Du Miên cũng đã giới thiệu đến độc giả quyển VIỆT EDEN-ĐỊA ĐÀNG HẠ GIỚI dầy 330 trang, sách đã cống hiến cho cộng đồng một số các chi tiết về sự thành hình của Little Saigon. Có thể nói rằng cả hai tác phẩm trên là những báu vật cho người Việt Nam chúng ta. Thật vậy, từ khi cái tên Little Saigon có mặt trên lãnh thổ Hoa Kỳ, hầu như tất cả những ai đã ít nhất một lần nghe và ghé thăm khu phố Little Saigon đều thắc mắc và muốn biết: Ai đã thành lập ra khu phố Little Saigon? Và ai đã đứng lên tranh đấu cho lá cờ vàng ba xọc đỏ bay phất phới trên bầu trời xanh tràn đầy hy vọng. Hy vọng ngày trở về quê hương Việt Nam trong độc lập tự do như các vị huynh trưởng đã nói trong buổi họp mặt ngày 30 tháng 03, 2025 vừa qua.

    Trở lại với buổi lễ kỷ niệm 26 năm thành lập của thư viện Việt Nam, buổi họp mặt đã diễn ra trong bầu không khí long trọng và trang nghiêm với sự hiện diện của các vị đại diện cộng đồng, dân biểu, nghị sĩ đến chúc mừng và trao bằng tưởng lục cho đại diện là Ký Giả Du Miên.

    Đặc biệt nhất là sự có mặt của các vị đã có công trong việc thành lập Little Saigon. Được biết qua Ký Giả Du Miên, Little Saigon năm 1975-1980 là một vườn cam nhưng chỉ vài năm sau, với những cố gắng, hy sinh, khuất phục gian nan, cực khổ, các vị huynh trưởng đã biến vườn cam ấy thành một khu thương mại Little Saigon xầm uất nhất nước Hoa Kỳ. Một niềm hãnh diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Qua sự chiến đấu gay go với cộng đồng Hoa Kiều sinh sống tại quận Orange cái tên CHINA TOWN đã bị đẩy lùi và cái tên LITTLE SAIGON xuất hiện (do ông Đặng Bá Huy đặt) và được Văn Hóa Việt Nam chấp thuận.

    Sau phần chào quốc kỳ, Bác Sĩ Võ Đình Thuận khai mạc buổi lễ, kế đến là ông Nguyễn Ngọc Chấn giới thiệu Chú Tám, ông đã gần 90 tuổi và là người đầu tiên mở hãng sửa xe Thiên Tạo năm 1988.

    Ông Hứa Trung Lập chủ tiệm Lập photo 1979. Ông Nguyễn Văn Chuyên là một trong những vị đã góp một cánh tay trong việc hình thành Little Saigon. Lời phát biểu của ông Chuyên rất cảm động và Khánh Lan chỉ xin tóm tắt như sau: Chúng tôi nay đã lớn tuổi và nhất là một số anh em cũng đã ra đi. Chúng tôi không còn nhiều thời gian để chu toàn những ước mơ, vì vậy chúng tôi mong những người trẻ tiếp tục con đường mà chúng tôi đã khởi đầu…Đông thời, ông Nguyễn Văn Chuyên cũng nói về Giai Đoạn Lịch Sử và sự diễn tiến của Little Saigon qua dòng thời gian từ năm 1979 cho đến nay. Hội chợ Tết đầu tiên được ông Trần Như Học khởi xướng. Buổi chợ Tết VNCH được tổ chức với sự hiện diện của Cựu Hoàng Đế Bảo Đại đã về từ Paris, khai mạc hội chợ và đặc biệt mùa xuân năm ấy, Lá cờ VNCH đầu tiên được dựng lên trên con những đường của phố Bolsa. Tiếp tục là Nguyễn Đức Luận, Trần Mạnh Chi, Bùi Phát tổ chức chợ Tết và Hoa Hậu Áo Đài để giúp các đồng bào tị nạn do Sinh Viên Long Beach tổ chức gây quỹ… rồi sau này chuyển lại cho Tổng hội Sinh Viên đảm trách. Tổng cộng từ trước đến nay có tất cả 12 lần diễn hành Tết. Được biết chi phí cho việc tổ chức diễn hành Tết rất cao, khời xướng là $40,000 nay đã lên đến 80,000 và từ sau năm 2020 là $100,000 phải trả cho thành phố, số tiền này là do sự bảo trợ và đóng góp của các nhà hảo tâm và đồng bào.
     

    Ông Bùi Phát duyệt qua về quá trình lịch sử của những di tích lịch sử của Little Saigon như: Năm 2000, ông đã cùng Du Miên tranh đấu để có bảng Welcome Little Saigon. Tượng Đức Trần Hưng Đạo do Du Miên khởi xướng và Trần Huy Đạo lãnh trách nhiệm gây quỹ và hoàn tất và công việc xây tượng Vua Quang Trung và con đường Hoàng Đế Quang Trung thành hình.   

    Ông Nguyễn Đức Luận là người tổ chức diễn hành trên đường Bolsa và từ năm 1997-2004 đã có 12 buổi diễn hành trên tuyến đường Bolsa. Số tiền gây quỹ để tổ chức diễn hành đều do đồng bào Việt Nam đóng góp. Ông Phan Kỳ Nhân cũng có mặt trong buổi họp mặt và được Ký Giả Du Miên đặt cho biệt hiệu là “VUA BIỂU TÌNH”. Ông năm nay cũng đã ngoài 90. Ông Phan Kỳ Nhân phát biểu một câu nói rất hào hùng: “Nơi nào có lá cờ Việt Nam thì nơi đó sẽ không thể có lá cờ cộng sản”

    Chương trình bế mạc lúc 3:00pm, chấm dứt một ngày vui.

    Chúc mừng các anh chị trong ban chấp hành của Thư Viện Việt Nam.

    Khánh Lan, March 2025

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Cái Tóc Là Góc Con Người

    Vương Trùng Dương

    Cái răng, cái tóc là góc con người

    Nhưng cái tóc thường ám chỉ với nữ giới vì “người đẹp nhờ tóc”. Về nhân tướng học, có nhiều khuôn mặt thích ứng cùng với mắt, mũi, miệng… và kèm theo đó với răng và tóc. Trong Hồi Ức Một Đời Người của Nguyễn Ngọc Chính có chương đề cập đến mái tóc, và tùy theo nhãn quan của mỗi người với phái nữ về tóc ngắn, tóc dài.

    Theo Nguyễn Ngọc Chính: “Tôi rất dễ bị ‘hớp hồn’ vì những mái tóc dài của phụ nữ. Điều này đồng nghĩa với việc tôi không thể dành cảm tình cho những mái tóc ngắn kiểu ‘demi-garcon’ như trong bài hát Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ của Phạm Duy, phổ nhạc theo thơ Nguyễn Tất Nhiên:

    “Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ. Này cô em tóc demi garçon”…

    Cô em Bắc Kỳ nho nhỏ thì được. Nhưng cô em tóc demi-garçon lại không phải là ‘gout’ của tôi. Một mái tóc ngắn làm sao tạo cảm giác hấp dẫn mỗi khi vuốt ve. Đó là chưa nói đến hình ảnh gợi cảm của một mái tóc dài, chỉ nhìn thôi cũng đã thấy quyến rũ hơn một cái đầu ngổ ngáo kiểu con trai. Biết đâu chừng, trong suốt cuộc đời chưa bị một người phụ nữ tóc ngắn kiểu ‘demi garçon’ nào ‘hớp hồn’ cho nên tới giờ này chuẩn bị ‘xuống lỗ’ mà vẫn còn… chung thủy với cái ‘gout’ tóc dài từ thời niên thiếu.

    Có một dạo, khoảng thập niên 1960s, các cô gái Sài Gòn chuộng ‘mốt’ buộc thêm cái bandau lên mái tóc. Dẫu rằng bandau có những tác dụng thiết thực như giữ cho tóc khỏi lòa xòa trước trán nhưng tôi không cho như thế là đẹp. Bandau, nếu là màu trắng trên trán, khiến cho người đối diện liên tưởng đến vành khăn tang và như thế đâu còn nét quyến rũ của người phụ nữ trước cánh đàn ông nữa. Thay vào đó là ý nghĩ tang tóc đáng sợ!

    Tóc cột theo kiểu ‘đuôi gà’ (queu de cheval – người phương Tây gọi là kiểu tóc đuôi ngựa) cũng là một ‘mốt’ của các cô thời đó, nhưng có điều chỉ thích hợp với những người còn trẻ…

    … Thật không ngờ, mấy chục năm sau mái tóc đuôi gà lại xuất hiện trong đời tôi qua hình ảnh người tình. Dù chỉ là sự xuất hiện thoáng qua nhưng cũng để lại một kỷ niệm khó quên. Hôm đó là một buổi trưa móng bức giữa Sài Gòn, nàng sửa soạn đi dạy học và bước ra đường với một mái tóc kẹp lệch sang một bên cho đỡ nóng. Một thoáng rùng mình. Tôi ngây ngất đứng nhìn nàng bước ra khỏi nhà với mái tóc đuôi gà…

    Mái tóc vén cao cũng là một hình ảnh quyến rũ của người phụ nữ, nhất là những người có vóc dáng quý phái, sang trọng. Tóc vén cao thường hợp với những làn da trắng nuốt trên gáy, nổi bật với vài sợi tóc lòa xòa trên cổ…

    Vào thời đại hiện tại, văn minh tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp các bà các cô ‘duỗi tóc’ thật thẳng hay nhuộm tóc đủ màu và thậm chí còn ‘hilight’ pha màu từng cụm tóc trông như một ‘palette technicolor’ của người họa sĩ chuẩn bị vẽ một bức tranh. Tôi quan niệm, cái đẹp phải xuất phát từ tự nhiên. Đẹp tức là những gì tự bản thân mình có chứ không thể nào vay mượn từ những cái mình không có (?)…

    … Tôi kỵ nhất khi phải đối diện với phụ nữ trên đầu chỉ toàn… ống cuốn tóc. Thường thì các ông chồng phải cam chịu ‘ngậm đắng nuốt cay’ với cảnh này. Các bà vợ muốn ra đường với một mái tóc đẹp nên rất chịu khó cuốn tóc khi còn ở trong nhà và các ông chồng là người chịu nhiều thiệt thòi nhất: phần xấu xí mình phải gánh chịu còn phần tốt đẹp thì thiên hạ được chiêm ngưỡng…”

    Ca dao ta có câu “Tóc mai sợi ngắn (vắn) sợi dài. Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”. Tác phẩm Tóc Mai Sợi Ngắn Sợi Dài của Phạm Tú Uyên gồm 13 chương. Tác giả viết về cố đô Huế của thuở học trò với chân dung người tình qua mái tóc “Tôi mơ màng về lại ngày xưa, em hiện ra xinh xắn với mái tóc dài đen mượt, đang ngồi bàn trên lớp học. Mái tóc đong đưa, nhảy múa trước mặt và cả mùi hương từ tóc em đã cột chặt hồn tôi lại, đã đưa tôi bồng bềnh trong nỗi nhớ mênh mang” (Chương 6). Tác giả viết về cố đô Huế với những kỷ niệm bên cạnh người tình cho đến thời điểm tang thương vào tháng Ba năm 1975, chàng bị cụt chân, người tình ghé thăm với mái tóc ngày nào còn phảng phất mùi mùi hương…

    Tác giả nầy yêu quá sớm, thuở đó thời học sinh ở trung học Đệ Nhất Cấp (Đệ Thất đến Đệ Tứ) nam nữ học chung, ngồi sau nữ sinh, chúng tôi thuộc loại “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” chưa yêu nên quậy tới bến, cột tóc dài của mấy cô ngồi trước… nên vài lần bị thầy/cô cho ra khỏi lớp. Khi lên Đệ Nhị Cấp ban C mới “Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Thơ Xuân Diệu).

    Nhạc sĩ Phạm Duy lấy từ ca dao nầy soạn thành ca khúc Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài “Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc. Thuở ấy anh vừa thôi học xong”.

    Tóc mai là phần tóc ở phía trước vành tai, và kéo dài đến cuối lỗ tai. Nam thì cắt tóc, chấn ngang giữ vành tai, nữ thì để tự nhiên, tăng thêm sự hài hòa, thanh thoát trên khuôn mặt.

    Tròng bài thơ Màu Thời Gian của thi sĩ Đoàn Phú Tứ ca ngợi hình ảnh:

    “Tóc mai một món chiếc dao vàng

    Nghìn trùng e lệ phụng quân vương”.

    Hai chữ dao vàng trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:

    “Tiên thề cùng thảo một chương

    Tóc mây một món dao vàng chia đôi”.

    (Trong Truyện Kiều chú giải: Dao vàng, vàng đây là dịch chữ kim trỏ kim loại, kim thuộc như đồng, sắt… Vậy dao vàng không nên hiểu kim loại bằng vàng, chỉ là con dao thường bằng sắt. Nói thế cho đẹp lời văn mà thôi. Kiều lấy dao cắt một ngụm tóc để thề).

    Với phái nữ, tóc dài, tóc ngắn tùy theo khuôn mặt để có sự hài hòa, thanh thoát và tùy theo sở thích của mỗi người (nam, nữ) được diễn tả trong thi ca, âm nhạc…

    Chuyện vãn lần nầy nói về tóc dài của thuở xa xưa ở quê nhà với nữ giới vì với Âu Mỹ thường là tóc ngắn nên không có sự phân biệt gì cả.

    Nhân Ngày Hiền Mẫu, trước đây tôi viết bài về hình ảnh mẹ tôi của thời ấu thơ, mẹ tôi bán sạp vải ở chợ, buổi trưa giao cho con gái về nhà gội đầu chùm kết (bồ kết) và vỏ bưởi, khi hong tóc mùi thơm loan tỏa khắp nhà, tôi quạt cho tóc mẹ mau khô. Tóc mẹ rất dài và búi tóc (từ mái tóc đen cho đến khi bạc trắng) và từ đó hình ảnh tóc dài đã in sâu trong tâm hồn… Vì vậy (với cá nhân) thiện cảm với tóc dài. (Người Bắc thì quấn khăn vành dây bằng nhung).

    Trong bài Những Sợi Tóc của Nguyễn Ngọc Chính: Xứ Huế có câu ca dao “Bớ cô tóc xõa kề bề. Cô mặc áo trắng, tóc thề ngang vai”… Nhiều người tự hỏi, tại sao gọi là “tóc thề”? Một giải thích cho rằng những cô gái miền Sông Hương, Núi Ngự để “tóc thề” để nói lên sự ngây thơ, khép kín. Rồi mái tóc thề xuông đuột xõa kín bờ vai đó sẽ có ngày biến mất khi nàng thơ sang ngang để lại một nỗi buồn man mác trong lòng kẻ tình si!”.

    Tóc thề là những sợi tóc ngắn phất phơ hai bên trán và vành tai, tạo vẻ duyên dáng, thơ ngây. Tóc thề ngoài ý nghĩa thề hẹn, biểu tượng sự thủy chung, sắc son… Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du:

    “Tóc thề đã chấm ngang vai

    Nào lời non nước, nào lời sắc son”.

    Với Huế, ca khúc Huế Ngọc của nhạc sĩ Võ Tá Hân:

    “Huế có gì để tôi phải thương

    Bên ni bên nớ mấy độ đường…

    Mái tóc thề xõa trên bờ vai

    Cho tôi nhung nhớ tháng năm dài

    Nón lá nghiêng che đôi mắt ngọc

    Cho tôi thờ thẫn mộng thiên thu”

    Trong ca dao với hình ảnh:

    “Một thương tóc xõa đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

    Ba thương má lúm đồng tiền

    Bốn thương đôi mắt như sao hiền mùa thu…”

    Nhạc sĩ Châu Kỳ, người con xứ Huế với ca khúc Mái Tóc Thề:

    “Tôi thương mái tóc thề dịu men tình trong nhân thế

    Tôi thương mái tóc thề con đường màu thắm hương quê

    Hình dáng đó còn mơ em tôi ơi đẹp thơ

    Mái tóc thề tình xưa”.

    Nhà thơ Kiên Giang với bài thơ Tóc Thề Xứ Huế

    “Cuối tháng, thầy vô trường võ bị

    Xa trời Đồng Khánh, học trò yêu.

    Xa rời Bến Ngự sông An Cựu

    Nắng đục, mưa trong lắng tiếng chiều…

    Đêm nay em viết trong lưu bút

    Xin gọi thầy bằng một tiếng anh.

    Đuôi tóc thề kèm thư mới viết

    Gởi về Gia Định, mộng ngày xanh”.

    Ca khúc Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương:

    “Em buông lơi tóc thề

    Tình mình theo cơn lốc về

    Em như mưa nắng hạ

    Hôn bờ biển xanh sỏi đá…”

    Với mái tóc thề khi thắt bím của tuổi nữ sinh với nhà thơ Kim Tuấn, người con xứ Huế trong bài thơ Ngày Em Còn Thắt Bím:

    “Tóc bím nghĩa là tóc dễ thương

    Tóc bâng khuâng lá rụng bên đường

    Tóc chia đường gió, chia thương nhớ

    Chia nỗi buồn cho ai vấn vương.

    Tóc bím nghĩa là tóc mộng mơ

    Để ai thương nhớ, để ai chờ

    Để ai ngơ ngẩn giờ tan học

    Em vẫn vô tình, em lửng lơ”.

    Với mái tóc dài được mô tả như suối tóc. Ngày đó, nhà thơ Quang Dũng với hình ảnh Suối Tóc:

    “Thuở ấy em ngồi trên cửa gác,

    Tóc buông hong với gió đầu thu

    Em mải mơ gì dưới nắng êm?

    Tóc như suối mực chảy êm đềm”

    Nhạc sĩ Văn Phụng qua ca khúc Suối Tóc:

    Tìm cho thấy liễu xanh, xanh lả lơi

    Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai

    Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai

    Anh với em một đêm thu êm ái…

    Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau

    Như chúng ta đôi lần hàng gắn thương yêu”.

    Ca khúc Chiều Tím của nhạc sĩ Đan Thọ:

    “Chiều tím, chiều nhớ thương ai

    Người em tóc dài

    Sầu lên phím đàn

    Tình vương không gian

    Mây bay quan san có hay?…

    … Tóc bay dài, gió viễn khơi”

    Trong bài viết Người Đẹp & Suối Tóc của ca sĩ Quỳnh Giao ghi nhận:

    “… Ngẫm lại thì nhạc ngoại quốc có lời từ ca tụng nhiều nhất là đôi mắt, ngay sau đó tới… thân hình. Còn các nhà thơ và giới sáng tác của chúng ta chỉ cần mê đôi mắt và… ca tụng mái tóc thì “cũng đủ lãng quên đời”. Hèn chi mà Đinh Hùng viết “một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc….”

    Vì vậy, xin nói về mái tóc trong các nhạc khúc xa xưa.

    Từ thuở phôi thai của nền tân nhạc, Thẩm Oánh có bài Suối Huyền nhịp Slow, viết theo giai điệu Hạ Uy Di, nghe lả lướt óng chuốt, tiếc là đã lâu không còn ai hát lại nữa. Người viết thì còn nhớ hình bìa in ảnh cô Tâm Vấn với mái tóc dài, dợn sóng và khóe mắt hồ thu. Cũng theo lời thân mẫu kể lại thì ông viết để tặng mái tóc nổi tiếng ấy.

    Suối huyền, lả buông làn tóc

    Thướt tha, óng chuốt uốn lưng ong…

    Nhớ lại thì cả Thẩm Oánh và Văn Phụng đều cùng thấy mái tóc óng mượt chảy xuôi như môt dòng suối.

    Khi kết duyên cùng Châu Hà, nhạc sĩ Văn Phụng viết bài Suối Tóc, với lời của Thy Vân. Ca khúc có nét tân kỳ quý phái với điệu Boston dìu dặt như nhịp bước của đôi tình nhân. Không biết tác giả có lời yêu cầu với ông Thy Vân không, mà lời ca thì rõ là để tả mái tóc thời ấy của cô Châu Hà. Buông dài đến tận lưng, mầu nâu nhạt óng ả. Cho đến nay, ca khúc này vẫn còn được hát, đơn ca hay song ca, tam ca đều hay. Và dĩ nhiên người hát bài này tình tứ nhất là Châu Hà. Chứ còn ai nữa!… (sau nầy ca sĩ Châu Hà cắt tóc ngắn)

    Nhạc sĩ Nguyễn Hiền có nét nhạc bay bướm mềm mại và viết bài Mái Tóc Dạ Hương phổ thơ Đinh Hùng rất đạt. Nhịp Boston êm đềm và cung Trưởng trong sáng làm cho ca khúc dễ hát dễ nghe. Ngày xưa Thanh Lan hát bài này trong cassette của Phạm Mạnh Cương rất dễ thương.

    Từ giã hoàng hôn trong mắt em

    Tôi đi tìm những phố không đèn

    Gió mùa thu sớm bao dư vị

    Của chút ân tình hương tóc quen…

    Hồi còn làm nhân viên cho phòng kỹ thuật cho đài phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ Hoài Linh có sáng tác bài Về Đâu Mái Tóc Người Thương, thường được Thanh Thúy trình bầy và thính giả rất thích vì tưởng tượng ngay ra mái tóc rất đặc biệt của người nữ ca sĩ có nét đẹp rất Liêu Trai…

    Hồn lỡ sa vào đôi mắt em

    Chiều nao xoã tóc ngồi bên rèm…

    Cũng ở hải ngoại, nhạc sĩ Thanh Trang của Duyên Thề sáng tác thêm nhiều ca khúc trữ tình đẹp cả từ lẫn nhạc. Bài anh viết về mái tóc phổ thơ Hà Nguyên Dũng có tựa đề rất nên thơ là Tóc Em Vẫn Là Hương Của Mẹ. Nét nhạc mang âm hưởng cổ kính của đất Thần Kinh.

    Trời đang nắng bỗng mưa nào ai biết

    Mưa ướt rồi mái tóc sẽ phai hương

    Anh yêu lắm mùi hương trên làn tóc

    Em đi qua thơm ngát cả con đường…

    Cho ai lời hẹn xưa…

    Chắc là còn nhiều lắm mà khuôn khổ một bài tạp ghi không cho người viết kể lể nhiều hơn. Người Tây phương ít khi rưng rưng chỉ vì một sợi tóc, chứ người Việt chúng ta lãng mạn mà kín đáo. Thương mái tóc là nhớ cả dáng người. Phải chăng vì mái tóc là biểu tượng của sự dịu dàng thơm tho, và cả nét đẹp của tâm hồn người yêu mái tóc nữa?

    Nghĩ lại thì lối ca tụng cái đẹp tinh khiết và thánh thiện đó là một phong cách văn minh mà mình nên gìn giữ” (Quỳnh Dao)

    Theo lời kể Văn Phụng không biết đặt tên cho bản nhạc ấy là gì. Rồi bỗng nhìn mái tóc Châu Hà dài chấm đất của cô gái và nói: “Mái tóc cô đẹp quá, thật là suối tóc. Đặt tên bản nhạc là Suối tóc nhé!”. Ca khúc Suối Tóc ra đời từ buổi đó. Ban tam ca với các ca sĩ Châu Hà, Mộc Lan, Kim Tước trong ban Tiếng Tơ Đồng một thời nổi tiếng ở Sài Gòn, nay chỉ còn ca sĩ Kim Tước ở Quận Cam (Tôi rất thích ca khúc Cát Biển của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ban tam ca nầy, sau nầy có ban tam ca Kim Tước, Quỳnh Dao, Mai Hương ở Little Saigon, ngoài ra không thể nào có ban tam ca nữ nào như vậy).

    Nhà thơ Đinh Hùng trong bài Mái Tóc Viễn Phương:

    “Xa trời, lưu lạc hồn quê

    Có phai, xin để ngày về hãy phai

    Viễn phương mái tóc bay dài

    Nghiêng vai sương lạnh, thương hoài vầng trăng”.

    Và cuối cùng “Tóc em xõa xuống đôi bờ vai nhỏ. Dòng thác nào cuộn chảy giữa lòng tôi” (Cây Điệp Vàng, nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện, thơ: Nguyễn Thái Dương). Rồi “Một ngày nào đó tóc xanh xưa bạc màu” (Bản Tình Cuối của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên). Đến khi đó thì  “Tình cờ đất khách gặp nhau. Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được?” (Tình Già của nhà thơ Phan Khôi). “Thôi em xanh mắt bồ câu. Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau” (Kiếp Sau của nhà thơ Cung Trầm Tưởng).

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, Valentine’s Day

  • Kiều My,  Sinh Hoạt

    NHỮNG KHOẢNH KHẮC KHÓ QUÊN

    Kiều My

     Cơn mưa ướt lạnh của những ngày cuối đông đã qua đi, nhường chỗ cho không gian xinh đẹp của miền Nam nắng ấm California. Dưới bầu trời xanh lơ, những tia nắng vàng chiếu sáng lớp thủy tinh bao bọc bên ngoài Nhà Thờ Chánh Tòa  CHRIST CATHEDRAL trở nên rực rỡ, lóng lánh, trông như một khối kim cương khổng lồ… thật nguy nga!

    CNS Lâm Dung, Minh Thư, anh chị Tony Hiếu, Minh Khai, NV Nguyễn Quang, GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, Sử Gia Pham Trần Anh và phu nhân, NV Kiều My, CS Huỳnh Anh (tại mộ phần của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh)

    Hôm nay ngày Chủ nhật 16 tháng 2 năm 2025, Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm có: Gs. Dương Ngọc Sum, sử gia Phạm Trần Anh và phu nhân; các nhà văn Nguyễn Quang, Việt Hải, Kiều My, Hoàng Đình Khuê và các ca nhạc sĩ: Lâm Dung, Lệ Hoa, Tony Hiếu, Thanh Mai, Minh Khai, Minh Châu, Huỳnh Thu v.v…tụ họp về nhà thờ Christ Cathedral lúc 2:30 pm, để viếng mộ của cố Gs. Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, dưới sự hướng dẫn của Gs. Quyên Di.

    Giáo Sư Quyên Di

    Ngước nhìn lên bia đá khắc tên Profesor Anphonso Nguyễn Xuân Vinh, trong lòng mọi người chắc hẳn đều bùi ngùi thương tiếc một nhân tài đất Việt, tài đức vẹn toàn đã vĩnh viễn ra đi về bên kia thế giới. Nơi an nghỉ  nghìn thu của ông thật trang trọng và bình an trong khu vườn The Memorial Garden rất trang nhã, tọa lạc trong khuôn viên của Christ Cathedral. Thật xứng đáng cho một danh nhân đã mang lại những điều tốt đẹp và hữu ích cho nước Việt và thế giới được an nghỉ trong nhà Chúa. 

    Nơi an nghỉ của GS Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh

    Lúc sinh thời, ông đã nghiên cứu và khám phá về một kỳ công vĩ đại của vũ trụ bao la…đã làm kinh ngạc các khoa học gia; vì sự hiểu biết hạn hẹp của con người không thể hiểu thấu về sự kỳ bí của vũ trụ.  Sự việc này đã nảy nở trong tâm hồn ông về niềm tin – có sự hiện hữu của Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hóa của toàn thể nhân loại và vũ trụ trường tồn. Chính vì thế, vào những ngày tháng cuối đời, Gs. Vinh đã trở thành người con khiêm hạ của Thiên Chúa và còn là một chứng nhân cho niềm tin mãnh liệt về Thiên Chúa Toàn Năng.

    Từ thẳm sâu trong tâm hồn, tôi suy tư về sự chết – ví như sân ga cuối cùng của một đời người để trở về nhà… Chúa. Vì thế, “chết” không phải là dấu chấm hết; mà là sự bắt đầu cho một cuộc sống vĩnh cửu bên kia thế giới. Đây là niềm tin của Ki tô giáo! Vì thế, nếu chúng ta ước vọng có được cuộc sống miên viễn tốt đẹp sau khi từ giã cõi đời, hãy lắng nghe lời khuyên của Thánh nhân Francis Assisi  rất ý nghĩa và thực tế dành cho mọi người:

    “Hãy nhớ rằng khi rời khỏi mặt đất này, bạn không thể mang theo bất cứ thứ gì đã nhận được, chỉ những gì bạn đã cho đi.” (Remember that when you leave this earth, you can take with you nothing that have received- only what you have given.)

    Trước khi từ giả Gs. Nguyễn Xuân Vinh, chúng tôi thành kính dâng lời kinh cầu nguyện cùng Thiên Chúa sớm đưa linh hồn Anphonso được hưởng vinh phúc vĩnh cửu thiên đàng. Sau đó, chúng tôi được nhiếp ảnh gia Thiều Minh chụp vài bức ảnh kỷ niệm dưới bia đá khắc tên của Giáo sư Vinh, để lưu lại trong sách TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ NGUYỄN XUÂN VINH.  Dường như mọi người còn lưu luyến nơi này; một nơi thật đẹp, và bình an… nơi có Gs. Vinh  được an nghỉ, mà không muốn rời đi.

    Chào vĩnh biệt Gs. Anphonso Nguyễn Xuân Vinh

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Bước qua bãi cỏ xanh mướt, đối diện mộ phần của Gs. Vinh, là nơi đặt hài cốt thân phụ và anh trai của Gs. Quyên Di. Chúng tôi kính cẩn cúi đầu chào người quá cố và cùng cầu nguyện cho hai linh hồn Phêrô Bùi Văn Thư và Phaolô Bùi Văn Ngọc được sớm về nước Chúa. 

    Nhìn hai phần mộ người thân yêu của Gs. Quyên Di ẩn trong bức tường đá, nơi an nghỉ trang trọng và bình an trong khuôn viên của Christ Cathedral, lòng tôi thầm cảm kích về tấm lòng hiếu thảo và tình thương sâu sắc mà Gs. Quyên Di dành cho gia đình. Gs. phải về Việt Nam và vượt qua những khó khăn để mang hài cốt của Bố và anh trai sang Hoa Kỳ để đặt vào nhà Chúa, hầu GS được gần gũi và thăm viếng thường xuyên. Chắc hẵn linh hồn người quá cố rất được an ủi và thật ấm áp khi được về gần gia đình, dù đó là nơi đất khách, không phải nằm lạnh lẽo dưới lòng đất quê hương VN cách một đại dương. Riêng Gs. Quyên Di cũng an lòng và cảm thấy mãn nguyện vì đã làm tròn bổn phận của mình.

    Xin thắp nén hương tưởng nhớ những người đã ra đi về miền vĩnh cửu.

    MỪNG THƯỢNG THỌ CỦA CỰU SĨ QUAN VÕ BỊ ĐÀ LẠT: HOÀNG ĐÌNH KHUÊ 

    Kiều My

    Happy birthday Bình Luận gia: Hoàng Đình Khuê

    Một ngày trôi qua, bóng hoàng hôn thấp thoáng trên những hàng cây bên đường, là lúc từng nhóm nam thanh nữ tú đến tham dự tiệc sinh nhật thứ 85 của cựu SQVB Đà Lạt khóa 16 Hoàng Đình Khuê, tại Diamond Seafood Restaurant III, thành phố Westminster, Ca., được tổ chức thật tưng bừng. 

    Tiệc sinh nhật được diễn ra là cơ hội  để những người thân yêu, bạn hữu tận hưởng những khoảnh khắc vui vẻ bên nhau và cũng không thiếu những lời chúc “Happy Birthday” vang lên. Tiếng cười nói rộn ràng chào hỏi nhau vui vẻ trong khánh phòng như một ngày hội lớn. 

    Nhân vật tỏa sáng trong buổi tiệc đình đám đêm nay là ông Hoàng Đình Khuê, trân trọng chào mừng và cảm tạ quan khách tham dự. Cựu Thiếu tá Hoàng Đình Khuê là người văn võ song toàn, là một bình luận gia lưu loát và am tường về chính trị Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới. Là một cựu sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với chức vụ sau cùng là Thiếu tá; vì  thế, ông cũng phải  thọ án  tù Cộng  Sản nhiều năm sau 1975. Hiện ông giữ chức vụ Chủ tịch đảng Tân Đại Việt, với trọng trách nối nghiệp và duy trì đường lối kỷ cương của đảng, do cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy tài đức dày công sáng lập

    Nhiều thân hữu tham dự trong buổi tiệc gồm có: Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (ban tổ chức); Cựu Sĩ quan Võ Bị Đà Lạt; Thành viên đảng Tân Đại Việt; Việt Nam Quốc Dân đảng; Mạng Lưới Nhân Quyền; v.v…       

    Sau đó, những vị thay mặt từng nhóm lên phát biểu về cảm nghĩ, cũng như sự quan hệ với ông Hoàng Đình Khuê trong tình huynh đệ chi binh, bạn tù, hay trong những đảng phái chính trị tại Hoa kỳ, hoặc tình nghệ sĩ v.v…Riêng với Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, nhà văn Khánh Lan đọc 6 câu thơ lục bát thật vui tai khiến ai cũng thích, nhất là các đấng vào lứa tuổi dưới đây, rằng: Trong xã hội ngày nay:

    Nhà văn Khánh Lan

    60 chưa phải là già

    60 là tuổi mới qua dậy thì

    65 hết tuổi thiếu nhi

    70 là tuổi mới đi vào đời

    75 là tuổi ăn chơi

    80 là tuổi yêu người yêu hoa

     Vậy thì, bình luận gia Hoàng Đình Khuê vừa đến lứa tuổi “yêu người yêu hoa”??? Bài thơ dí dỏm này đã làm cho khách tham dự thích thú và phá lên cười dòn tan. Kế tiếp, Nv. Khánh Lan diễn ngâm bài thơ Xuân Về Chúc Thọ do văn thi sĩ Trần Việt Hải sáng tác để chúc mừng sinh nhật ngôi sao sáng đêm nay:    

    Tám chục an khang say thái bình

    Hoàng Khuê chưa già, xuân vẫn mạnh

    Người thông, sức khỏe, chúc phúc an

    Tám chục vẫn còn ngàn tuổi thọ

    Xuân về xin chúc chén trăm năm…

    Tiếng nhạc bắt đầu trổi lên đã làm dậy sóng một quang cảnh vui tươi, được thể hiện qua những tiếng hát: Phạm Gia Đại, Lệ Hoa, Minh Khai, Tony Hiếu, Lâm Dung, Thụy Lan, Kiều My, Mạnh Bỗng, Kim Đức, Minh Thư, Thiên Phượng, Đình Khôi v.v… đồng thời mọi người cùng thưởng thức những món ăn ngon thơm lừng của nhà hàng chiêu đãi.

    Nhà văn, ca sĩ Kiều My                     Ca sĩ: Lệ Hoa, Thụy Lan, Minh Thư

    Nhà văn: Nguyễn Quang, Việt Hải, Lệ Hoa, nữ sĩ Lê Nguyễn Nga

    Happy Birthday to you…Happy Birthday to you…

    Mọi người cùng hát vang lên khúc nhạc rộn rã mừng sinh nhật rất quen thuộc, bỗng tiếng chai rượu champagne nổ tung như pháo nổ …văng bọt thơm ngon trắng xóa. Một vài bức ảnh kỷ niệm được chụp để lưu lại những “khoảnh khắc đáng ghi nhớ” ngày sinh nhật thứ 85 của cựu SQVB ĐÀ LẠT KHÓA 16 HOÀNG ĐÌNH KHUÊ.

    Kiều My, California  Feb, 16, 2025

    TỪ CHỊ TÂM AN

    Trong niềm vui – hạnh phúc & trong tâm tình mỗi ngày còn được nhìn thấy nhau bình yên & mạnh khỏe, Tiệc chúc mừng thượng thọ 85 VBĐL KHÓA 16 Ông HOÀNG ĐÌNH KHUÊ, do NVNT & TTG tổ chức trọng thể trong không khí thân mật gia đình và không gian trang trọng & đầm ấm với hơn 150 khách mời gồm Gia đình, bạn bè , thân hữu và Anh Em Đồng đội cũ vào chiều Chúa Nhật 16 tháng 2 năm 2025 tại nhà hàng Diamond Seafood III , thành phố Westminster, Nam California. Đặc biệt, có hơn 3 bàn với sự góp mặt của Gia đình VBĐL Nam California, nhiều Niên trưởng, đồng đội Gia đình VBĐL, đơn vị mà Cựu Thiếu tá Hoàng Đình Khuê đã sinh hoạt từ những ngày còn ở Trung tâm Thụ Huấn VBQG/ Đà Lạt. … Và cũng có sự tham dự của nhiều Hội đoàn, đoàn thể thường xuyên sinh hoạt trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia miền Nam California (MLNQVN, Tân Đại Việt, Việt Quốc, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Cách Mạng Đảng, Báo Tiếng Việt San Diego, Họp Mặt Dân Chủ, Cộng Đồng Nam Cali, …..v…v…)

    http://chinhnghiavietnamconghoa.com/nhan-van-nghe-thuat-tieng-thoi-gian-tiec-mung-thuong-tho-85-vo-bi-da-lat-k-16-hoang-dinh-khue-feb-16th-2025/

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    NVNT & TTG THAM DỰ TIỆC TÂN NIÊN ẤT TỴ 2025 & MỪNG SINH NHẬT THỨ 19 NĂM THÀNH LẬP GIA ĐÌNH THỂ DỤC KHÍ CÔNG HOÀNG HẠC

    Khánh Lan

    KS Nguyễn Đại Thành, Thụy Lan, Ái Liên, Khánh Lan, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, Lệ Hoa, Minh Khai, Mạnh Bổng

    Ngày 8 tháng 2, 2025 Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian(NVNT & TTG) đã đến tham dự buổi tiệc Tân Niên mừng xuân Ất Tỵ & mừng ngày kỷ niệm 19 năm thành lập của gia đình thể dục khí công Hoàng Hạc. Bữa tiệc có rất nhiều quan khách tham dự, riêng phần của Liên nhóm NVNT & TTG, Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của NV Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, KG NV Vương Trùng Dương, BLG Hoàng Khuê, NV Nguyễn Quang, CS Hồng Tước, Thụy Lan, Ái Liên, Minh Khai, KS Nguyễn Đại Thành, Mạnh Bỗng & Khánh Lan.

    (?), Bà Kiều Hạnh (Phu nhân của cố BS Phạm Gia Cổn, KG NV Vương Trùng Dương, Mạnh Bổng, Khánh Lan, BLG Hoàng Đình Khuê.

    Minh Khai, Hồng Tước, Thụy Lan, Lệ Hoa, NV Nguyễn Quang và NV Việt Hải

    Trong phần phụ diễn văn nghệ, Khánh Lan nhận thấy phần biểu diễn Thể dục Khí công Hoàng Hạc rất đặc sắc và thu hút sự chú ý của quan khách nhiều nhất.

    Khánh Lan, Hồng Tước, Minh Khai

    Theo Nhà báo Trần Mỹ Duyệt của Việt Báo: “Bác Sĩ PHẠM GIA CỔN người sáng lập môn thể dục KHÍ CÔNG HOÀNG HẠC nguyên là giảng sư tại Đại học UCLA, California, chuyên ngành Anesthesiology, Critical care medicine, Pain Medicine, chưởng môn thừa kế Việt Nam Thất Sơn Thiếu Lâm; Cửu Đẳng Hapkido; Bát Đẳng Taekwondo. Ngoài ra, ông còn là một ca-nhạc sỹ, sử dụng Saxophone, Trumpet, và Clarinet. Trong tinh thần Y-Võ-Nhạc, ông đã khai sáng môn thể dục khí công này là để phục vụ sức khỏe con người trên ba phương diện: tinh thần, thể chất và xã hội.

    Theo Bác Sỹ Dương Xuân Huyên, phụ giảng thì: Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc thể hiện những động tác của đôi cánh tay thật nhu nhuyễn, khoan thai, liên tục và nhịp nhàng với những chuyển động đơn giản và thanh thoát của đôi chân hòa nhịp với hơi thở tự nhiên, “tâm ý-hô hấp-cử động” hợp nhất, “mỏi mà không mệt”, nên thích hợp với mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ, nhất là với người lớn tuổi.

    Cũng theo Bác Sỹ Huyên, Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc là phương pháp đơn giản, tái lập và củng cố sự quân bình âm dương trong cơ thể, mang lại cho người tập một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, khiến gia tăng niềm an lạc, hoàn chỉnh nhân cách và một đời sống tốt đẹp hơn.

    NGUYÊN TẮC CĂN BẢN

    Khí Công Hoàng Hạc, theo tinh thần vị sáng lập mô phỏng hình ảnh, và nếp sống của một loài chim quí là hoàng hạc. Hạc là loài chim có thể sống đến 30 năm, một thời gian tương đối thọ nếu so với con người. Chúng có lối sống hợp đoàn, thanh thản, nhanh nhẹn. Với kiến thức và sự phối hợp nhiều môn võ, dựa vào những quan sát loài hạc, Bác sỹ Chưởng Môn đã rút tỉa và áp dụng với tình trạng sức khỏe con người trong tinh thần y học. Cũng do thấm nhuần tinh thần nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của võ đạo, ông đã mang những tinh túy này cùng với lòng thao thức chuyên tập: “quả dục, thanh tâm, tinh nghiên, chuyên luyện” vào những thế tập và tinh thần của Hoàng Hạc.

    Khí Công Hoàng Hạc dựa trên 4 nguyên tắc căn bản: Bấm, Vòng, Vươn, Buông. Bạn có thể tưởng tượng những động tác này khi nhìn đôi hạc trên nền trời xanh vào một buổi chiều hoàng hôn. Hãy nghe tiếng hát Thái Thanh để ru hồn bạn vào khoảnh khắc thiên nhiên đầy lãng mạn này: “Trời cao xanh ngắt ô kìa. Hai con hạc trắng bay về bồng lai”. Trên nền trời xanh thẳm với lối xải cánh nhịp nhàng, cũng như khi chúng hạ cánh bám vào một cành cây, hoặc khi chúng vỗ cánh tung bay. Người tập Khí Công Hoàng Hạc cũng dùng 10 ngón chân bấm trụ trên sàn nhà, dùng đôi bàn tay xoa nhẹ vào không khí, vươn đôi tay như đôi cánh, hít thở bầu không khí trong lành, và buông xả một cách nhẹ nhàng như cú đáp nhẹ.

    Tóm lại, theo vị chưởng môn, bấm, vòng, vươn và buông “áp dụng vào những thế tập sẽ giúp cho con người được năng lượng khá hơn, làm cho bắp thịt săn chắc, giúp giảm bớt đau nhức, và cũng không mang lại sự nguy hiểm khi tập luyện, mà còn giúp cho tinh thần của người tập được thanh thản, sảng khoái, điềm tĩnh, vui vẻ và yêu đời hơn.”

    Ngoài ra, những động tác bấm, vòng, vươn, buông khi thực tập được dựa trên nguyên tắc Tam Hợp: Tâm – Thân -Thở (Ý/Tâm – Thân Pháp – Hơi Thở). Tại sao lại là Tâm, Thân, Thở?

    Đó là vì Khí Công Hoàng Hạc luôn chú tâm đến cái tâm an bình, sự uyển chuyển nhịp nhàng của toàn thân, và làn hơi thở nhẹ nhàng kết tụ tinh khí của đất trời. Đây cũng là ứng dụng của nguyên tắc Y học Đông Phương khi nói đến ba vị trí của đan điền, và cách tích tụ, di chuyển khí huyết trong nội tạng” (Theo Trần Mỹ Duyệt/Viêt Báo) 

    http://chinhnghiavietnamconghoa.com/gia-dinh-the-duc-khi-cong-hoang-hac-tiec-tan-nien-at-ty-2025-mung-sinh-nhat-thu-19-nam-thanh-lap/

  • Lê Nguyễn Nga,  Vương Trùng Dương

    Happy Valentine’s Day

    Hôm Nay, Happy Valentine’s Day! Lời Chúc Lễ Tình Yêu 2025!

    Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết:

    “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!   

    Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều.   

    Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,.   

    Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu!”

    Không ai định nghĩa được Tình Yêu cả! Thậm chí là không biết có thật hay không? Vì không ai thấy, không ai rờ, không ái nếm được cả! mơ hồ như thế, vậy mà thế giới vẫn dành một ngày đặc biệt, hôm nay! mừng cho thứ tình cảm này, mà mọi người đều công nhận, nó là thứ tình cảm êm ái, ngọt ngào, cần thiết nhất trong đời sống!

    Hôm nay, Thứ Sáu, ngày 14 tháng 2, là Ngày Lễ Tình Yêu! Happy Valentine’s Day! Đây là một trong những ngày Lễ mà giới trẻ Mỹ yêu thích nhất, vì ý nghĩa của nó! Giờ thì đã lan ra khắp thế giới!

    Tình Yêu, là món quà quý báu nhất, mà Thượng Đế ban cho con người. Nơi nào có tình yêu, nơi đó có an bình, hạnh phúc. Ngược lại, hận thù, chỉ gây chết chóc, chiến tranh!

    Cuộc đời, tình yêu, cần như hơi thở. Chính vì thế mới có câu: “Người không có tình yêu, khác gì…xác chết! mà…biết thở!”

    Nhân ngày Lễ Tình Nhân, xin gởi lời chúc tốt đẹp nhất, ngọt ngào, hạnh phúc nhất, cho những cặp tình nhân đang yêu nhau. Nhưng đây chỉ là nghĩa hẹp, mở rộng hơn, là tình yêu thương giữa con người và con người, tình cảm cao quý này, mang lại niềm vui hạnh phúc, an bình cho cuộc sống. Cần thiết nhất trong thời điểm hiện tại, vì bất cứ lúc nào, thế giới cũng có thể bùng nổ chiến tranh. Chỉ vì con người, vẫn còn thiếu chất tình yêu thương nhau. Ý nghĩa này, mới là cốt lõi, thông điệp của ngày lễ!

    Chúc Mừng Ngày Lễ Tình Yêu 2025!

    Lê V Hải

    Dù Trời Mưa Như Trút Nước, Nhóm Mõ Nhân Ái, Vẫn Tưng Bừng Ăn Mừng Ngày Valentine Với Khách Không Nhà! (Homeless!)

    -Sáng hôm qua, Thứ Năm, ngày 13 tháng 2/2025, Nhóm Mõ Nhân Ái (Lê văn Hải, San Jose, CA) đã có một sinh hoạt đặc biệt Mừng Ngày Lễ Tình Nhân, với những mảnh đời khốn khổ không nhà, trong bữa cơm nóng phục vụ hàng tuần. Trước đó trời mưa, nhưng giờ sinh hoạt, lạ lùng, thì lại tạnh!

    Khách Không Nhà vui mừng khi được tặng quà, đó là 2 bao lì xì trong có chút tiền mặt. Một bà vui mừng ôm lấy anh trưởng nhóm tâm sự: “chồng con tôi, cũng quên ngày này, mà Nhóm lại nhớ! Điều này, làm tôi cảm động quá! cám ơn!”

    Đây là mục đích hoạt động của Nhóm, đưa các không khí ngày lễ đến với họ, như một món quà tinh thần an ủi, những mảnh đời bơ vơ, không một người thân bên cạnh. Mà Nhóm đã bền bỉ thực hiện biết bao nhiêu năm nay. (trên 30 năm!) Sau đây là một vài hình ảnh:

    Hình Ảnh Rộn Ràng, Tưng Bừng Mừng  Valentine Trên Khắp Thế Giới!

    – Ngày Valentine giờ đây không còn là nét văn hóa riêng của phương Tây. Ở khắp nơi trên thế giới, các bạn trẻ khắp các quốc gia, chào đón lễ tình yêu theo cách riêng của mình.

    Hàng trăm cặp đôi ở Đài Loan đã tham gia cuộc thi hôn tại Đài Bắc nhân kỷ niệm ngày Valentine. Cặp đôi nào hôn lâu nhất sẽ nhận được một phần thưởng là cặp vé du lịch sang Hong Kong.

    Không khí ngày lễ tình yêu tràn ngập mọi góc phố của thủ đô Baghdad, Iraq.

    Một cặp đôi trẻ người Iran đang chọn những món quà nhân dịp Valentine.

    Tham gia cuộc thi hôn cũng là cách các cặp đôi trẻ ở Thượng Hải, Trung Quốc chọn để kỷ niệm ngày lễ tình nhân.

    Bóng bay hình trái tim được bày bán khắp nơi trên các đường phố ở Lahore, Pakistan.

    Cuộc thi hôn tại Pattaya, Thái Lan

    Chiếc giày làm bằng chocolate cao 2m và dài 3m được trưng bày ở thủ đô Seoul, Hàn Quốc nhân dịp lễ tình nhân năm nay

    Một cửa hàng bán quà tặng Valentine tại Libăng

    Lễ cưới tập thể được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan đúng vào ngày 14-2

    Một công nhân tại Straelen, Đức nâng những giỏ hoa hồng chuẩn bị cho lễ tình nhân

    Những lời yêu thương ngọt ngào như True love (Tình yêu thật sự), Kiss me (Hôn tôi đi), hay I’m yours (Em là của anh)… được in trên bóng bay bán tại đường phố Seoul, Hàn Quốc

    Vườn thú ở Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã quyết định tổ chức lễ cưới cho Chunzi, một con hươu cái, và Changmao, một con cừu đực, đúng vào dịp Valentine

    Nhân Lễ Tình Nhân, giới thiệu những mẫu truyện ngắn hay về tình yêu, rung động trái Tim!

    Tình yêu là không thể chờ đợi

    Có một chàng trai thầm yêu cô gái chung lớp đã lâu, nhưng không dám bày tỏ. Chàng trai nhờ bạn bè và họ gợi ý chàng nên mua hoa và xếp thành hình trái tim trước sân trường và chờ cô gái đi học về rồi tỏ tình.

    Chàng đã mua rất nhiều hoa hồng và làm theo gợi ý của bạn mình, nhưng sau khi xếp xong chàng trai lại quá nhút nhát, khi người yêu đi qua, không dám gọi tên người mình yêu. Những sinh viên tò mò đứng xem chật kín hành lang của trường đại học. Cuối cùng để phá đi không gian tò mò ngày một đông kia, chàng trai bèn đổi giọng nói: “Có ai mua hoa không?”.

    Lỡ một lời tỏ tình có khi lỡ nhau cả đời! cô gái ấy lẽ ra là của chàng trai rồi, nhưng cuối cùng lại chỉ lướt qua nhau như người xa lạ mà thôi. Vì thế hãy nắm chặt lấy tình yêu của mình khi nó đến. Đừng để vuột mất cơ hội mà tiếc nuối cả đời bạn nhé. Biết bao nhiêu cuộc tình vuột mất, chỉ vì không dám nói! 

    -Ngày lễ Tình nhân dành cho những người yêu nhau – nhưng bạn không cần một người bạn tâm giao lãng mạn để ăn mừng.

    Ngày lễ là cơ hội để xem xét mọi hình thức tình yêu phong phú, đa dạng và có lợi như thế nào trong trải nghiệm của con người, cho dù tình yêu đó đến từ gia đình, bạn bè, thú cưng, hàng xóm hay cộng đồng của bạn.

    Ba chuyên gia đã chia sẻ cách nuôi dưỡng tình yêu dưới mọi hình thức khi cô đơn là một “đại dịch”, chính trị gây chia rẽ và việc chuyển sang kỹ thuật thường dễ dàng hơn trong các tương tác xã hội ngoài đời thực.

    Bạn Cần Nhiều Hơn Là Chỉ “Tình Yêu ấy” của Cuộc Đời Mình

    Tình yêu lãng mạn – mối quan hệ sâu sắc, thân mật với một người hoặc nhiều người khác – là một phần giá trị của cuộc sống. Nhưng các chuyên gia cho biết chúng ta nên nhớ rằng chúng ta cần có nhiều nguồn kết nối.

    “Đặc biệt là khi chúng ta già đi, chúng ta nhận ra rằng không có mối quan hệ nào có thể cung cấp cho chúng ta mọi thứ”, bà Mikaela Frissell, một nhân viên xã hội của UT Health Austin nói.

    Tình yêu cũng không phải là thứ có thể dễ dàng được xác định bằng một định nghĩa hoặc hành vi duy nhất.

    Theo nhà dịch tễ học Tyler VanderWeele, người chỉ đạo Chương trình Phát triển Con người của Đại học Harvard,nói. Là một động từ, tình yêu có hai tác dụng. Nó có thể là cả hai hoặc “hợp nhất” – nghĩa là bạn mong muốn và muốn ở bên người hoặc vật mà bạn yêu – hoặc “góp phần”, nghĩa là bạn muốn đóng góp thêm vào điều tốt đẹp của người mình yêu.

    Các chuyên gia cũng cho biết một định nghĩa và quan điểm mở rộng về tình yêu mở ra khả năng bạn có thể hướng những cảm xúc “thống nhất” và “góp phần” này đến ai và đến điều gì.

    Mối Liên Hệ Giữa Tình Yêu, Sự Cô Đơn và Sức Khỏe

    Vào năm 2023, nguyên Tổng Y sĩ Hoa Kỳ Vivek Murthy đã tuyên bố sự cô đơn là một đại dịch sức khỏe cộng đồng.

    Phúc trình của ông Murthy cho biết một nửa người Mỹ đã từng trải qua sự cô đơn và nó gây ra những rủi ro sức khỏe chết người như hút 15 điếu thuốc mỗi ngày. Nghiên cứu cũng phát giác ra rằng những người có mối quan hệ xã hội kém có nguy cơ đột quỵ và bệnh tim cao hơn, và sự cô lập làm tăng nguy cơ mắc chứng trầm cảm, lo âu và chứng mất trí nhớ của một người.

    Bà Frissell nói, các mối quan hệ xã hội, sự gắn kết và hỗ trợ mạnh mẽ của tình yêu có liên quan đến sức khỏe tốt hơn, vì nó cho phép não bộ báo hiệu với cơ thể rằng bạn an toàn và đưa hệ thần kinh của bạn ra khỏi trạng thái “chiến đấu hoặc bỏ chạy”. Nghiên cứu cho thấy việc ở bên những người thân yêu có thể làm giảm huyết áp, hormone gây căng thẳng, giảm viêm – thậm chí giúp bạn ngủ ngon hơn và kiểm soát cơn đau tốt hơn.

    Nghiên cứu về sự Phát triển của Người lớn của Harvard đang diễn ra, là nền tảng của cuốn sách “The Good Life”, đã chỉ ra giá trị của các mối quan hệ trong suốt cuộc đời.

    Ông Anthony Chambers, một nhà tâm lý học và là Giám đốc học thuật tại Viện Gia đình thuộc Đại học Northwestern, cho biết một trong những phát giác của nghiên cứu Harvard là những người hạnh phúc nhất trong các mối quan hệ của họ ở tuổi 50 là những người khỏe mạnh nhất về mặt tinh thần và thể chất ở tuổi 80.

    “Kết luận là gì? Xây dựng các mối quan hệ có ý nghĩa và thỏa mãn là chìa khóa cho sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta”, ông Chambers, người đã làm việc về nghiên cứu này vào giai đoạn đầu sự nghiệp của mình, nói.

    Làm Thế Nào Tôi Có Thể Nuôi Dưỡng Tình Yêu?

    Các chuyên gia cho biết, nói một cách đơn giản, hãy cố ý tìm kiếm các mối quan hệ trực tiếp.

    Điều không đơn giản là lên kế hoạch cho mọi thứ với người khác. Có thể bạn sẽ thấy không thoải mái khi phải lướt qua lịch để tìm một cuộc hẹn ăn tối với một người bạn bận rộn hoặc gọi điện thoại cho anh chị em của mình, những người không có nhiều điều để nói. Có lẽ sẽ rất ngại khi bắt chuyện với người hàng xóm lớn tuổi mà bạn chưa từng gặp hoặc tham gia một đội bóng.

    Bà Frissell cho biết hãy thừa nhận và thẩm vấn những nỗi sợ hãi hoặc giả định khiến bạn không thể tiếp cận trong những khoảnh khắc đó.

    Cũng có thể làm những điều tốt đẹp cho người khác – ngay cả khi bạn không biết rõ về họ. Bà Frissell thách thức khách hàng khen ngợi ai đó mỗi ngày và sẵn sàng chấp nhận lời khen đáp lại. Bà cho biết lợi ích của việc nhận và trao tình yêu là như nhau.

    Ông VanderWeele khuyên bạn nên thực hiện một bài tập mà ông thực hành: Chọn một ngày trong tuần, trong sáu tuần, để thực hiện năm hành động tử tế. Ông cho biết, điều này buộc bạn phải lên kế hoạch và ưu tiên lòng tốt một cách có chủ đích, giống như bất kỳ nhiệm vụ hàng ngày nào khác.

    Tình Yêu Có Thể Xây Dựng Khả Năng Phục Hồi

    Vào Ngày lễ Tình nhân năm nay, các chuyên gia khuyến khích bạn suy nghĩ vượt ra ngoài các mối quan hệ một-một và suy ngẫm về cộng đồng và thế giới của bạn. Họ nói thêm rằng việc cam kết với một mục đích hoặc nhóm sẽ xây dựng khả năng phục hồi về mặt tinh thần.

    “Tất cả chúng ta đều muốn được hiểu và xác nhận, đặc biệt là trong những thời điểm khó khăn. Và các mối quan hệ được cho là bối cảnh quan trọng nhất để chữa lành cảm xúc”, ông Chambers nói. “Khi thế giới xung quanh chúng ta có vẻ hỗn loạn hoặc chúng ta cảm thấy cô đơn, các mối quan hệ mang đến cho chúng ta cơ hội để cảm thấy được xác nhận”.

    Ông VanderWeele cũng cho biết điều quan trọng là phải “yêu kẻ thù” – những người mà chúng ta không đồng tình hoặc phản đối chúng ta.

    Ông nói: “Mức độ chúng ta yêu thương người khác, yêu thương hàng xóm của mình sẽ định hình nên xã hội mà chúng ta đang sống”.

    Món Quà Valentine Cuối Cùng

    Trời tháng Hai vẫn mang cái lạnh khe khẽ, như một lời nhắc nhở về những ngày Lễ Tình Nhân đã qua. Ngồi bên cửa sổ, nhìn những cặp đôi dắt nhau trên đường, tôi không thể ngăn được cảm giác nhớ thương người đã xa.

    Ngày 14/2/1985, đúng 40 năm trước, tôi có ca trực làm AOD (Administrative Officer of the Day) từ 4 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau tại bệnh viện quân đội Hoa Kỳ, Moncrief Army Medical Activity (MAMA), Fort Jackson, SC. Khi ấy, tôi đã gia nhập ngành Y của Lục quân Hoa Kỳ được 5 năm và mang cấp bậc Đại úy. MAMA cũng là nhiệm sở đầu tiên của tôi sau khi hoàn thành khóa huấn luyện quân sự và khóa Thực tập Dinh dưỡng gần hai năm.

    Hôm đó, tôi tranh thủ hoàn thành công việc sớm hơn thường lệ và xin phép về nhà lúc 2:00 chiều để có thể trở lại bệnh viện nhận ca trực AOD lúc 4:00 chiều. Nhà tôi nằm trong khu cư xá sĩ quan, cách bệnh viện chỉ một dặm, nên tôi nhanh chóng về nhà chăm sóc mẹ chồng đang bị cảm (mẹ chồng tôi bị bệnh tiểu đường, áp huyết cao, bệnh tim và bệnh thận), giúp bà uống thuốc và tiêm insulin. Sau đó, tôi nấu sẵn bữa cơm chiều cho bố mẹ chồng và chồng con, rồi vội vã trở lại bệnh viện nhận ca trực trước khi chồng và con tôi đi làm và đi học về.

    Đêm hôm đó, tôi rất bận rộn với trách nhiệm AOD. Ngoài những công việc thường trực, tôi còn lo thủ tục hành chính cho một binh sĩ tự tử bằng thuốc độc cần cấp cứu và hai bệnh nhân qua đời. Mãi đến gần 11 giờ đêm, tôi mới có cơ hội trở về phòng trực để nghỉ ngơi, người mệt nhoài và bụng đói meo vì từ trưa đến giờ chưa được ăn gì. Khi mở cửa phòng, tôi sững sờ ngạc nhiên khi thấy chồng tôi đã ngồi đó từ bao giờ. Bên cạnh anh là một lọ hoa với 12 đóa hồng nhung đỏ thắm, một hộp kẹo chocolate và bữa cơm chiều tôi đã nấu sẵn ở nhà. Anh đứng dậy, dịu dàng ôm tôi vào lòng, nhẹ nhàng hôn tôi và nói: “Happy Valentine vợ yêu của anh, chắc em mệt lắm. Anh đã mang hoa và cơm tối đến cho em đây. Anh đã đợi em từ lúc 7:00 tối để mình cùng ăn cơm với nhau…”

    Tôi ngồi ăn cơm với chàng mà nước mắt cứ ứa ra vì lòng cảm động nghẹn ngào và hạnh phúc. Chúng tôi đã lấy nhau được 16 năm, có với nhau ba con 11, 13 và 15 tuổi, đã định cư ở Mỹ được 10 năm sau ngày miền Nam Việt Nam bị mất vào tay Cộng sản. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhận được hoa hồng trong ngày Lễ Tình Nhân từ chàng. Tôi biết không phải vì anh không yêu tôi – trái lại anh thương yêu tôi tha thiết – mà vì phong tục Việt Nam không có ngày lễ này, anh luôn cho rằng lòng yêu thương chân thành từ trái tim mới là điều đáng quý. Tôi cũng đã quen tính anh, không vì điều này mà buồn giận, cũng không mong nhận hoa hồng vào ngày Valentine.

    Nhưng tôi nào ngờ đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh tặng hoa hồng cho tôi vào ngày Lễ Tình Nhân. Chỉ vài tháng sau đó, định mệnh cướp anh ra khỏi đời tôi vào ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ 4/7/1985, khi anh cố gắng cứu bốn đứa bé (trong đó có con gái út của tôi) bị sóng ngầm cuốn xa trong lần picnic cùng bạn bè bên bờ biển Folly Beach, Charleston, SC.

    Sau khi chàng mất đi, trong ngày Lễ Tình Nhân năm sau, tôi đã mua 12 đóa hồng nhung đặt trên bàn thờ và mộ chàng. Đêm ấy, lần đầu tiên chàng hiện về trong giấc mơ…

    CHIÊM BAO

    Trong giấc mơ anh trở về mờ ảo
    Dáng anh gầy tóc rối mắt hư hao
    Anh nhìn em không nói một lời nào
    Và cứ thế anh dần dần tan biến…

    Trong khói sương dáng anh mờ ẩn hiện
    Em nghẹn ngào níu kéo bóng hình anh
    Một tí thôi tí nữa đừng đi nhanh
    Xin anh đó xin anh đừng đi vội….

    Anh mờ dần tia mắt anh bối rối

    Lẫn ngậm ngùi chua xót và yêu thương

    Anh đi rồi em ôm lấy mùi hương

    Đừng tan mất xin hương đừng tan mất…

    phamphanlang

    Valentine’s Day & Những Tình Khúc


    Pic Valentine.jpg

    Ngày Lễ Tình Yêu – Valentine’s Day đã có từ lâu và trở thành ngày truyền thống được tổ chức khắp nơi trên thế giới vào ngày 14/2 hàng năm. Vào dịp nầy thường tặng cho nhau hoa hồng và chocolate. Hoa hồng biểu tượng cho tình yêu… Phương Tây, chocolate món quà tặng truyền thống cho ngày Valentine kể từ năm 1902. Chocolate được sử dụng rộng rãi trong các lễ đính hôn, tiệc cưới. Những hộp quà trang trí đẹp mắt, bên trong là viên socola nhiều hình dáng xinh xắn mang hình ảnh tấm chân tình của người gửi đến với người nhận. Năm nay vào Thứ Sáu, 14/2/2025, Little Saigon vào ngày mưa “Ðưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa. Ðưa em về dưới mưa, có nhau mà như xa…” (Phạm Duy). Hình ảnh thật lãng mạn, dễ thương nhưng sao lại trớt quớt!

    Với những ca khúc tiêu biểu được các danh ca (-) trình diễn nổi tiếng khắp nơi và rất quen thuộc:

    My Funny Valentine – Frank Sinatra

    My Heart Will Go On – Celine Dion

    I Will Always Love You – Whitney Houston

    Unchained Melody – Righteous Brothers

    Nothing’s Gonna Change My Love For You – George Benson

    And I Love Her – The Beatles

    Still Loving You – Scopricon

    Tonight I Celebrate My Love For You – Roberta Flack & Peabo Bryson

    I Just Called To Say I Love You – Stevie Wonder

    Can’t Take My Eyes Off You – Frankie Valli

    My Love – Westlife (thường hát trong đám cưới)

    Everything I Do (I Do It For You) – Bryan Adams

    My Love – Westlife (thường hát trong đám cưới)

    Nothing Gonna Change My Love For You – Glenn Medeiros

    Love Me Like You Do – Ellie Goulding

    All of Me – John Legend (album Love In The Future)

    Ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 có nhiều ca khúc trữ tình, lãng mạn trong tình yêu.

    Vương Trùng Dương  

    Một Chuyện Tình Thời Chinh Chiến

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    Ngũ quả ngày Tết

    Trong văn hóa Á Đông, số 5 có ý nghĩa tượng trưng đặc biệt.

    Đó có thể là Ngũ Hành : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, và Thổ.

    Đó có thể là Ngũ Phúc : Phú (giàu có), Quý (sang cả), Thọ (sống lâu), Khang (khỏe mạnh), và Ninh (an toàn).

    Trong kinh Vu Lan Bồn do Đức Phật thuyết pháp. Để cứu mẹ khỏi kiếp ngạ quỷ, Mục Kiền Liên cần chuẩn bị các lễ vật để cúng dường chư Tăng. Trong đó, có ngũ quả.

    Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ.

    Mười phương Tăng đều dự lễ này.

    Phải toan sắm sửa chớ chầy,

    Thức ăn trăm món, trái cây năm màu.

    Ngũ quả (5 loại trái cây) tượng trưng cho Ngũ Căn-Ngũ Lực : Tín, Tấn, Niệm, Định và Tuệ.

    Trong việc chọn ngũ quả thể hiện lòng thành dâng cúng tổ tiên, thần thánh, người dân miền Nam Việt Nam đã có cách chơi chữ thú vị theo cách “đồng âm, khác nghĩa”.

    Đó là dùng 5 loại trái cây : mãng cầu, thơm, dừa, đu đủ, và xoài.

    Tên 5 loại trái cây đó ghép lại, đọc thành : Cầu Thơm Vừa Đủ Xài.

    Bởi, theo cách phát âm của người miền Nam, “vừa” đọc là “dừa”, còn “xoài” đọc là “xài”.

    Có người thay trái thơm bằng trái sung, khi ghép lại, thành : Cầu Sung Vừa Đủ Xài.

    Cũng vì thế, người dân Nam bộ thường tránh chưng những thứ trái cây có tên “nghe” xui xẻo, như trái chuối, vì “chuối” đọc thành “chúi”, tức “chúi nhủi”, cắm đầu xuống, tức thất bại.

    Trái lê là “lê lết”, hàm ý không khá nổi.

    Trái táo, là trái nhập từ Pháp, có tên Tây là “pomme”. Người Việt đọc là “bom”, nghe lại giống tiếng Anh là “bomb”, tức trái bom nổ. Chơi chữ tới 3 tầng lận !

    Sầu riêng không được chưng, vì có chữ “sầu”. Còn ớt chắc không được vì “cay như ớt”. Mướp lại càng không, vì là… “rách như xơ mướp” !

    Cam, quýt thì sao ? Tục ngữ có câu : “Quýt làm, cam chịu”, hàm ý mình phải chịu oan ức vì lỗi người khác làm ra.

    Thế nhưng, cũng có người cắc cớ, dùng những loại quả đặc biệt :

    Vú sữa, Măng cụt, Dừa, Đu đủ, trái Vải, và Sầu riêng.

    Mâm “lục quả” này, hẳn dành riêng cho quý vị đàn ông “hảo ngọt” ?

    Tết Bình An

    Cầu mong năm mới yên vui.

    Vừa lòng tất cả mọi người lạ quen.

    Đủ đầy gạo, muối, thuốc men.

    Xài tiền làm phước, càng thêm nhiều tiền !

    Tết Thịnh Vượng

    Cầu cho thiên hạ nơi nơi.

    Vừa giàu, vừa khỏe, lại vừa tâm an.

    Đủ đầy hạnh phước thế gian.

    Thơm danh người thiện đa mang việc đời.

    Tết Thái Hòa

    Cầu tình yêu ấy mãi tươi mầu.

    Sung sướng bên nhau thật dài lâu.

    Vừa nhiều tiền bạc, vừa nhiều phước.

    Đủ cả cháu con, đủ rể dâu.

    Xài hoài vẫn giầu…

    Tôn Thiên Nguyễn, Xuân Ất Tỵ

  • ĐỖ BÌNH, PARIS,  THO

    GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG

    Đỗ Bình, Paris

    Xuân đã về, thời gian như gió thoảng, một thoáng 50 năm! Xin gởi đến các anh chị mấy bài thơ năm xưa thuở mà Sài gòn mới thay tên. Có bài thành kỷ niệm nên tôi còn giữ, nhưng cũng có bài đã quên vì dòng thời gian cuốn trôi.

    Trong cuộc bể dâu thời thế thay đổi ấy có rất nhiều cảnh đời bi thảm, mà cho đến hôm nay có rất nhiều người là nạn nhân của cuộc đổi đời bi thảm đó đã kể  lại trên các đài phát thanh, truyền hình ở hải ngoại trong các chương trình chủ đề về lịch sử. Những nỗi đau thương đó được in thành sách, báo và phim ảnh do chính các tác giả là những nạn nhân viết ra. Nhưng có lẽ người thân của những người bị đi “cải tạo” ở bên ngoài phải nuôi tù là chịu nhiều đau khổ! Đó là các bà mẹ, các người vợ, những người tình… Người phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa đã chịu bao nỗi gian nan vất vả, trong lúc còn chiến tranh, hay trong thời bình vẫn là người chịu nhiều thiệt thòi nhất. Họ luôn luôn thể hiện tấm lòng cao cả, suốt đời tận tụy hy sinh cho gia đình. Xin nghiêng mình ngưỡng mộ đức tính hy sinh cao đẹp đó. Xin Cảm Ơn Các Bà.

    Người nghệ sĩ trong bất cứ mọi hoàn cảnh nào dù lúc thăng hay trầm, tự do hay bị quản thúc vẫn luôn phóng tâm hồn mình hòa nhập với không gian, thời gian để ghi lại những trạng thái cảm súc, hoàn cảnh sống của chính mình hoặc tha nhân.

    Xin kể với các anh chị một giai thoại văn chương:
    Ngày đó tôi và người bạn cũ là nhà thơ, nhà văn, họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật ở chung một trại tù, cùng nằm chung bệnh xá. Dù cuộc sống trong tù gian khổ nhưng nguồn cảm hứng của nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật vẫn dồi dào, lúc nào anh cũng làm thơ. Anh thường đọc cho tôi nghe một số bài thơ Không Đề. Một số  bài thơ đó tôi còn nhớ nên sau này ra hải ngoại, gặp lại anh tôi đọc cho anh nghe và anh đã đưa vào những thi tập của anh.

    NGHĨA MẸ

    “Mẹ là suối, là hoa
    Dòng êm tóc lượn, hương sa nụ cười
    Mẹ là đất, mẹ là trời
    Ngọt thơm hạt gạo, sáng ngời ánh trăng.”


    KHÔNG ĐỀ
    «Mẹ ngồi tụng kinh Liên Hoa
    Làm thơm suốt cả dãy nhà ba gian.
    Mình con ngủ gật cạnh bàn,
    Bài chưa thuộc hẳn, mộng toàn hoa sen. »


    KHÔNG ĐỀ
    « Trăng lồng bóng nước in trăng,
    Nước gương soi sáng, ánh trăng chiếu ngời
    Ngọn ngành lấp lánh biển khơi,
    Dẫu trôi con nước, chẳng rời bóng trăng. »

    KHÔNG ĐỀ

    “Cô vào lớp dạy học trò,
    Văn chương trong sáng dạy cho yêu người.
    Ngoài cửa xổ, là cuộc đời,
    Thế cô có dạy khi cười mà lại đau?
    Đêm về nằm mộng gặp nhau,
    Bẻ đôi cục phấn ngày sầu dài thêm!”

    KHÔNG ĐỀ

    “Nếu thật chờ nhau mà hóa đá,
    Thì em thử đợi một lần xem?
    Chỉ sợ khi anh thành núi biếc,
    Ngàn năm không thấy dấu chân em!”

    NHỚ NGUỒN

    «Em không chỉ làm vợ anh,
    Mà là tất cả đời anh vui buồn.
    Con sông ra biển nhớ nguồn,
    Nằm nhe sóng vỗ bờ còn biết đau.»

    Đến khi vợ sau của anh là nhà văn Nguyễn Thị Vinh, nngười cuối cùng trong Nhóm Tự Lực Văn Đoàn đến thăm nuôi anh, tôi thấy Nguyễn Hữu Nhật bỗng vui hơn, và sau đó anh làm bài Hoa Cúc Vàng để tặng vợ.

    “Chỗ em đứng chờ anh ra                                                                                                                                                   Bây giờ thiên hạ trồng hoa cúc vàng                                                                                                                            Mỗi lần có dịp đi ngang                                                                                                                                                    Nhớ em anh tưởng áo hàng lụa bay.”                                                                                                                      Nguyễn Hữu Nhật

     Hai người bạn văn thơ của tôi đã thành thiên cổ đã lâu, nhưng thơ văn và kỷ niệm của anh chị ấy vẫn còn. Theo quy luật của tạo hóa, dòng thời gian đã mang đi quá nhiều văn hữu, khiến tôi buồn và cô đơn nên ít muốn viết! Nhưng vườn Thơ Văn Hải Ngoại hôm nay vẫn nở rộ, vẫn rực rỡ những bông hoa mới đầy hương thơm và muôn sắc. Mừng cho dòng văn học nghệ thuật được tiếp nối.
     Xin cảm ơn Văn Thơ  Nhạc và cảm ơn Người. 

     Chúc các Anh Chị nhiều sức khỏe.

     thân mến
    Đỗ Bình

     TÌNH MẸ

    Tình mẹ ngút cao tận cuối trời,
    Là trăng soi sáng khắp muôn nơi.
    Mỗi lần con ngã trên đường dốc .
    Nhớ tiếng mẹ ru ấm cuộc đời.

    LÒNG MẸ

    Mẹ ngồi bên cửa buồn như liễu
    Tóc trắng mong con cảnh tịch liêu.
    Năm tháng mắt lòa trong nỗi nhớ
    Thương con mù khuất áng mây chiều!

     TÌNH NGHĨA

    Thời thế đổi thay quá ngỡ ngàng,
    Người đi xóm vắng kiếp lang thang.
    Em thôi đến lớp trò thôi học,
    Phấn trắng bảng đen cũng bẽ bàng!
    Ngày tháng giăng sầu hồn tím mãi
    Thương ta đày ải áo sờn vai.
    Mây trắng ngàn năm là sương khói,
    Làm sao phải hẹn đến kiếp mai.
    Nếu muốn chờ nhau ngày tháng đó
    Thăm ta em chớ có dặn dò,
    Lén bỏ trong qùa bài thơ cũ,
    Phòng tối ta cần gẫm tự do!
    Ta phóng đời qua lỗ khóa con,
    Để còn trông thấy bóng trăng non.
    Thèm nghe tiếng gió lời tâm sự,
    Và biết em buồn nhưng sắt son.
    Ta muốn làm chim cất cánh bay,
    Về miền xa thẳm tít trời mây
    Thả hồn lướt cánh bay trong nắng,
    iải thoát đời qua kiếp đọa đày!
    Lặng lẽ thời gian nỗi héo hon,
    Mặc ngày tháng úa giết hao mòn,
    Quanh ta đôi mắt màu đêm tối,
    Vẫn thấy em buồn như nước non!

    CHỜ ANH
    Từ độ xa anh đời ngõ vắng
    Xóm đông người lạ đến hung hăng!
    Nửa đêm tiếng dế buồn hiu hắt
    Cuộc sống chênh vênh cứ nhập nhằng!
    Chó đói sửa ăn, chồm cắn bóng
    Kẻ giàu lơ láo bước long đong!
    Phố nghèo tơi tả đời thêm rách
    Cơm áo giành nhau thấy não lòng.
    Năm tháng quắt quay con mắt đỏ
    Vỉa hè manh chiếu kẻ co ro!
    Chiều nghiêng nắng ngả cành hoa tím
    Em đến trường nay sợ học trò!
    Thời buổi đỉnh cao làm hướng tiến
    Văn chương trong sáng chỉ ưu phiền.
    Con đường chủ nghĩa đầy hoa mộng
    Là sự đổi thay đời đảo điên!
    Cây đàn em giữ, nghèo không bán
    Sợ phiếm cung xưa vẳng tiếng than.
    Đã mấy mùa trôi xuân gối chiếc
    Chờ anh nào biết độ trăng tàn!

    HẠNH PHÚC CUỐI TRỜI

    Em đến thăm từ ngàn trùng cách trở,
    Ở nơi đây miền rừng núi hoang xơ. 
    Thoáng gặp nhau nói gì vơi nỗi nhớ,
    Đường về xa đừng lưu luyến thẫn thờ!
    Tình em đẹp như nắng mai huyền ảo,
    Buồn làm chi  cho mắt úa xanh sao.
    Ngày tháng mộng cuốn theo mùa gió bão,
    Chim bỏ rừng cũng sợ tiếng lao xao.
    Đời biến đổi cách ngăn lòng nhân ái
    Nhìn lá rơi ta bỗng thấy tàn phai.
    Rừng quạnh quẽ vẫn tiêu điều cỏ dại,
    Người liêu xiêu những da bọc hình hài!
    Em khóc nữa chỉ buồn cho kẻ ở
    Về biển xanh theo nốt nhạc chiều mơ,
    Miền đất mới trời tự do rộng mở,
     Đời bay cao  sẽ hạnh phúc đón chờ.
    Đỗ Bình

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    TRỐNG ĐỒNG

    Khánh Lan sưu tầm

    Trống đồng là một trong những di vật của thế giới, một khảo cổ quan trọng được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á và vùng phía Nam nước Tàu như: Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, Malaysia, Philippines và Nhật Bản. Trống đồng được tìm thấy ở những vùng có nhóm người dân tộc từng sống tại đây và đã sử dụng trống đồng từ thời tiền sử cho đến ngày nay, một số lớn trống đồng được tìm thấy ở những khu vực quan trọng, nơi có những ngôi mộ của các nhân vật quan trọng được mai tang tại vùng này, một số lớn trống đồng được tìm thấy dọc theo các con sông hay dọc theo các đường thủy ở trong vùng Đông Nam Á vì có thể đây là đường giao thông chính của dân cư bản địa thời thời đó.

    Từ ngàn xưa đã có nhiều truyền thuyết cho rằng trống đồng chính là nguồn gốc của lịch sử thế giới, trống đồng cũng đã được các sử gia ghi lại trong sách sử như quyển Việt Điện U Linh Tập, Lĩnh Nam Chích Quái thế kỷ 14, và ngay cả các cuốn sử như Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng nói đến trống đồng. Gần đây nhất, Nhà Biên Khảo, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang cũng đã bỏ ra một thời gian rất dài để tìm hiểu, nghiên cứu về trống đồng, đặc biết về loại trống đồng Đông Sơn. Ông cũng đã cho xuất bản một bộ sách gồm 7 tập chuyên về lĩnh vực này. Loại trống đồng do Nhà Biên Khảo, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang sưu khảo thuộc văn hóa Việt vùng Đông Sơn, một nền văn hóa được biết đến với những loại trống đồng: Đông Sơn và Ngọc Lũ.

    TÌM HIỂU TRỐNG ĐỒNG QUA SÁCH VỞ CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN QUANG

    Đó lả một công trình mang giá trị khảo cứu đồ xộ đòi hỏi công sức, thì giờ sưu khảo quy mô mà tác giả Nguyễn Xuân Quang thực hiện, khiến tôi đã đọc và tìm hiểu sâu hơn về công trình khảo luận của ông. Trong bộ sách 7 tập, tổng cộng 7 cuốn suýt soát 3000 trang font chữ 10; mà hai tập đầu ông tập trung vào chủ điểm: Giải Đọc Tổng Quát Về Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương). Do vì thời lượng có hạn, cho nên phần trình bày của tôi xin lượt qua những chủ điểm trong bộ sách này, chúng sẽ tập trung vào vấn đề chính cần biết về bộ sách gồm 7 tập khá chi tiết trong kho tài liệu của bộ sách.

    TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU VÀ Ý NGHĨA CÓ GÌ?

    Nguồn Gốc Trống Đồng Đông Sơn Và Ý Nghĩa Của Trống ĐồngTrống đồng Đông Sơn được xem là biểu tượng văn hóa dân tộc của người Việt Nam. Với lịch sử hình thành lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hiện nay trống đồng Đông Sơn được rất nhiều người dùng để trang trí trưng bày hay cũng như làm quà tặng. Tuy nhiên Trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc từ đâu và có ý nghĩa đặc biệt gì? Thì trong bài viết Xưởng đồng Đông Sơn sẽ giúp quý vị giải đáp những thắc mắc này.

    Nguồn gốc của trống đồng Đông Sơn

    Trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc từ Việt Nam, là loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (từ thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ I-II sau Công) và nền văn minh sông Hồng của người Việt cổ thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn Lang. Trống đồng đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của người Việt Nam.

    Quê hương của trống đồng Đông Sơn là vùng đất Tổ trung du Phú Thọ và các tỉnh vùng Bắc bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam. Trống đồng Đông Sơn đã tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên đến thế kỷ 6 sau Công nguyên. Đây là sản phẩm đầy trí tuệ của người Việt cổ. Tổ tiên ta đã vượt lên những khắc nghiệt của thiên nhiên bằng sự dũng cảm, thông minh và sáng tạo, họ đã tạo nên kỹ thuật luyện kim đồng thau mang đậm yếu tố bản địa của người Việt. Từ đó tạo nên nền văn hóa đồng thau vào loại bậc nhất ở Đông Nam châu Á.

    Ý nghĩa của trống đồng Đông Sơn

    Trống đồng không chỉ là vật linh thiêng mà còn là thông điệp làm nên biểu tượng tập trung nhất những thành tựu trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội, và là quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên đất nước ta – Nhà nước Hùng Vương.

    Đôi nét về Trống đồng Đông Sơn 

    Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100) của người Việt cổ. Nhiều chiếc trống loại này với quy mô đồ sộ, hình dáng cân đối, hài hoà đã thể hiện một trình độ rất cao về kỹ năng và nghệ thuật, đặc biệt là những hoa văn phong phú được khắc họa, miêu tả chân thật sinh hoạt của con người thời kỳ dựng nước. Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã lưu giữ một số lớn trống đồng Đông Sơn. Cho đến nay, theo các số liệu đã công bố, đây là bộ sưu tập lớn nhất thế giới.

    Nguồn gốc trống đồng và hành trình lịch sử 

    Trống đồng là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển, là di vật tiêu biểu cho nền văn hóa của người Việt cổ thời kỳ dựng nước. Nổi bật trong số ấy phải kể đến hình ảnh Trống đồng Ngọc Lũ và trống đồng Đông Sơn. Trong bài viết này, hãy cũng Royal Gift tìm hiểu về Trống đồng Đông Sơn với họa tiết hoa văn vô cùng tinh xảo và độc đáo, thể hiện sự sáng tạo đỉnh cao về nghệ thuật từ những buổi đầu sơ khai của nền văn minh, văn hóa Âu Lạc.

    Trống đồng Đông Sơn được phát hiện năm nào?

    Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100) của người Việt cổ. Về nguồn gốc ra đời của trống đồng Đông Sơn, có 3 luồng ý kiến khác nhau.

    • Tại phương Tây, người ta đã biết về trống đồng từ năm 1682 nhưng mãi đến thế kỷ 19, mới có học giả bàn về trống đồng: điển hình như học giả Hirth (1890) cho rằng trống đồng là của Trung Quốc, nhưng học giả De Grooth (1901) cho rằng nguồn gốc trống đồng của Việt Nam.
    • Các học giả Trung Quốc cho rằng quê hương của trống đồng là ở Vân Nam, Trung Quốc.
    • Các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng khẳng định xuất thân của trống đồng là ở vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Bộ Việt Nam.

    Mặc dù chưa có một kết luận nào chắc chắn và được công nhận nhưng bài viết đi theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ học Việt Nam phân tích về nguồn gốc của trống đồng Đông Sơn. Trong cuốn sách Nguồn gốc và sự phát triển của trống đồng Đông Sơn, tác giả Tạ Đức đã đưa ra các luận cứ với nhiều bằng chứng, chứng minh quê hương trống đồng chính là thành Cổ Loa (Hà Nội). Theo đó, An Dương Vương trị vì vùng trung tâm, nơi đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, giao thông đường thủy thuận lợi. Với tư cách là thủ lĩnh uy quyền, An Dương Vương là vị vua duy nhất huy động được nhân lực, tài lực để tạo ra chiếc trống đồng lớn và đẹp nhất tượng trưng cho vương quyền và thần quyền Bách Việt…

    CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE KHÁC VỚI CHỮ NÒNG NỌC KHOA ĐẨU

    Trước hết xin nói ngay để tránh khỏi lầm lẫn hay ngộ nhận là chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (cirle-rod writing) là loại chữ viết do tác giả Nguyễn Xuân Quang khám phá ra không phải là thứ chữ nòng nọc khoa đẩu (tadpole writing) mà hiện nay chúng ta thường nghe nói tới. Chữ viết nòng nọc hiện nay mà Hán ngữ gọi là chữ khoa đẩu tức là loại chữ viết có nét cong, ngoằn ngoèo trông như con lăng quăng bơi trong nước. Ví dụ như chữ Hán cổ, chữ Phạn, chữ Thái Lan, chữ Campuchia, v.v…Đúng ra Chữ khoa đẩu lăng quăng này chỉ là những chữ viết hậu duệ, những chữ viết con cháu của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thật sự do tác giả Nguyễn Xuân Quang khám phá ra. Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que là thứ chữ có hai mẫu tự căn bản là mẫu tự vòng tròn (O) giống thân con nòng nọc và mẫu tự nọc que (I) giống đuôi con nòng nọc.

    Để hiểu rõ về sự thành hình chữ nòng nọc vòng tròn-que xin nói thật sơ lược qua sự thành hình chữ viết loài người nói chung. Sự thành hình chữ viết của loài người nói đại lược khởi đầu từ một vạch, một nét vẽ của người tiền sử, rồi tiến tới một dấu hiệu (sign), một hình (picture). Sau đó có mang thêm ý nghĩa. Vậy chữ là chữ nòng nọc vòng tròn-que là thứ chữ có hai mẫu tự căn bản là chữ cái Nòng vòng tròn (O) và chữ cái Nọc que (I) có mang ý nghĩa.

    Trích trong hai quyển sách I và II trong bộ sách 7 quyển của tác giả Nguyễn Xuân Quang, ông giải thích: Chữ nòng vòng tròn (O) và chữ nọc que (I) là hai chữ cái cổ nhất của nhân loại có nguồn gốc nguyên khởi do hình vẽ diễn tả theo hình dạng của bộ phận sinh dục nường và nõ. Hình tự nường lỗ sinh dục phái nữ nòng tròn O và hình nõ nọc que I đàn ông còn thấy rất nhiều qua các hình vẽ trên đá (petroglyphs) thời tiền sử. Sau đó thấy trong tín ngưỡng thờ nường nõ như trong Ấn giáo thờ linga hình nõ nọc I que cắm trên bệ nường yoni hình nòng tròn O. Khi con người có một đời sống tâm linh cao hơn, hai chữ viết nòng nọc vòng tròn que trở thành hai chữ diễn tả cái đực, nường nõ, nòng nọc, âm dương, trở thành một thứ chữ căn bản có hệ thống của một tôn giáo cổ nhất của con người là vũ trụ giáo dựa trên cái đực, nòng nọc, âm dương, lưỡng hợp, vũ trụ tạo sinh, dịch học.

    Tuy vậy không một nơi nào trên thế giới chữ nòng nọc vòng tròn-que được viết nhiều nhất, đầy đủ nhất, đa dạng nhất, chuẩn nhất, theo đúng ngữ pháp nhất như người Đông Sơn viết trên đồ đồng Đông Sơn, nhất là trên trống Đông Sơn, nó là Bộ Từ Điển Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que. Việt Dịch Đồng Đông Sơn là bộ dịch bằng hình viết bằng hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que duy nhất của nhân loại.

    Trống đồng Đông Sơn được xét qua những điểm như là:

    • Trống thiêng liêng, trống thờ, trống mang tính biểu tượng, không phải là trống làm ra có mục đích chính dùng làm bộ gõ trong âm nhạc.
    • Trống Đông Sơn là một loại trống đặc biệt mang tính nhị nguyên nòng nọc (âm dương)
    • Về hình thể: mặt kín dương. Mặt đáy hở âm. Nội dung: mặt trời dương nằm trong vòng không gian âm.
    • Mặt trời cũng có mặt trời dương và mặt trời âm.

    Trên trống Đông Sơn có tượng loài lưỡng cư cóc/ếch.

    • Trống có tượng cóc (chỉ sống trên đất mang dương tính) là trống sấm dông gió (mang dương tính, thiếu âm)
    • Trống có tượng ếch sống được dưới nước mang âm tính thái âm là trống sấm mưa (mưa mang tính thái âm).

    Những nét khắc vẽ trên trống có hoa văn, hìng tượng như:

    • Chim thú, vật tổ biểu tượng của người Việt đều có nghĩa là Việt, là mặt trời (chim Việt: chim mỏ sừng Cắt Hồng hoàng, Hươu Việt: hươu sừng, Cá sấu Việt: sấu Lạc mõm dao, Rắn Việt: rắn mồng, rắn có sừng).
    • Phụ nữ Việt đội nón thúng quai thao cổ truyền hình mặt trời mà J. Cuisinier gọi là Chapeau de Soleil. Phụ nữ Việt mang dòng máu Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ, mặt trời rạng sáng (nhật tảo).
    • Đền thờ Nhật Tảo ở làng Diềm, Viêm Xá, xã Hòa Long, huyện Yên Phong, Bắc Ninh thờ một vị thần làng nữ Nhữ Nhương, hình bóng của thái dương thần nữ Âu Cơ, mặt trời nhật tảo hừng rạng.

    Tác giả Nguyễn Xuân Quang là người đích thân tìm vào Sử đồng như vào những khảo cổ học khác. Tác giả nghiệm ra rằng trống Đồng của đại tộc Đông Sơn là bộ sử đồng của Việt Nam trong Bách Việt. Ông giải thích: Sử đồng là hiện vật thấy được tận mắt, sờ thấy được tận tay cái căn cước Việt. Căn cước Việt đã được khắc ghi lại từ cách đây trên dưới 3.000 năm và được chôn vùi sâu dưới lòng đất không hề bị sửa đổi, không hề bị ảnh hưởng của các nền văn hóa ngoại lại khác. Sử đồng Việt Đông Sơn thuần Việt, tinh ròng Việt có độ xác tín rất cao.

    Yếu tố nguồn gốc chữ viết hay nét hoa văn nòng nọc được tác giả khai triển khá rõ. Như tìm hiểu về Nòng nọc âm dương mang ý nghĩa như sau:

    Nòng nọc âm dương là nguyên lý nhị nguyên căn bản (biểu hiện cho âm O và dương là I, yếu tố cơ bản của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học. Do vậy nhìn chung về vũ trụ quan trống đồng Đông Sơn biểu tượng vũ trụ giáo diễn đạt vũ trụ tạo sinh. Dịch học dựa trên nguyên lý nhị nguyên căn bản nòng nọc (âm dương). Nhìn riêng theo duy dương, ngành mặt trời vì trống có một khuôn mặt chủ là trống (đực: gà trống), dương, thì trống đồng là trống biểu tượng của mặt trời tạo hóa nhị nguyên thái dương.

    Trống đồng là một hiện vật do con người làm ra. Vậy chủ nhân ông của trống là một đại tộc có vũ trụ quan là vũ trụ tạo sinh theo vũ trụ giáo, mặt trời giáo. Đó là biểu hiệu của người Việt làm ra, người Mặt Trời Thái Dương (tác giả ghi nhận là ông đã tìm ra trên 100 bằng chứng Người Việt là Người Mặt Trời) theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, mặt trời giáo dựa trên nguyên lý nhị nguyên căn bản nòng nọc (âm dương), Chim-Rắn, Tiên Rồng. Tổ Hùng Lang sinh ra từ Bọc Trứng Chim có một khuôn mặt là mặt trời tạo hóa nhị nguyên phân ra hai ngành. Như vậy thì người Việt chính là chủ nhân của loại trống đồng Đông Sơn. Lý do vì trống đồng được cho là làm ra vào thời đại Hùng Vương. Mỗi tộc người, mỗi bang người Việt trong liên bang Văn Lang thuở xưa có ít nhất một trống biểu riêng. Do đó ta mới có cả trăm trống khác nhau.

    PHÂN LOAI TRỐNG ĐỒNG THEO NHÀ KHẢO CỔ HỌC NGƯỜI ÁO FRANZ HEGER

    1. Trống Heger I, còn được gọi với tên là trống đồng Đông Sơn, thuộc loại trống lớn và lâu đời nhất và đã giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong văn hóa Đông Sơn, một nền văn hóa được biết đến với những trống đồng trang trí cầu kỳ, được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á và Bắc Việt Nam. Số lượng lớn trống Đông Sơn đã được tìm thấy tại Mê Linh, trung tâm của văn hóa Đông Sơn và ở đồng bằng sông Hồng, vùng dân cư đông đúc thời cổ.

    Trống Hegers I được phân phối ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, của Trung Quốc và ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà khảo cổ Trung Quốc tin rằng Vân Nam là vùng nguyên thủy có sự xuất hiện của trống đồng. Nhưng trên thực tế cho thấy một số trống có tuổi lâu đời hơn đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam nên không thể kết luận Vân Nam là cái nôi của trống đồng vì những lý do dưới đây:

    a) Giai đoạn một: (thế kỷ thứ III-thế kỷ thứ I, TCN)

    Nhiều chiếc trống thuộc loại hóa thạch (Thạch Sơn) đã được phát hiện ở miền Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ở Việt Nam có những chiếc trống thuộc văn hóa Đông Sơn đã được khai quật. Hai chiếc trống Thạch Sơn đã được tìm thấy ở Thái Lan, Indonesia và 10 chiếc trống Đông Sơn cũng tìm thấy ở hai nước này.

    b) Giai đoạn hai (thế kỷ thứ I TCN-thế kỷ thứ I CN)

    Trong giai đoạn này chỉ có bốn chiếc được phát hiện ở Vân Nam và Quảng Tây. Do đó có thể trống đồng đã biến mất khỏi miền Nam Trung Quốc và Văn hóa Đông Sơn của Việt Nam bắt đầu mở rộng vào tỉnh Quảng Tây và các vùng lân cận. Trong khi đó Việt Nam vẫn sản xuất trống đồng, mặc dù số lượng trống đồng ở Thanh Hóa đã giảm đi, nhưng ở Thái Lan, Mã Lai và nhất là Indonesia đã phát hiện với số lượng khá nhiều và với hình dáng, hoa văn trông giống với trống đồng tại Việt Nam.

    c) Giai đoạn ba (thế kỷ II trở đi)

    Người ta tìm được hai mẫu trống đồng phát xuất từ Việt Nam, nhưng ở khu vực miền Nam có ba chiếc trống được phát hiện theo tiêu chỉ của văn hóa Đông Sơn, cho thấy loại trống này có nguồn gốc từ khu vực miền nam Việt Nam. Tuy nhiên, loại trống Kham Cha từ Thái Lan, đã thay đổi rất nhiều so với truyền thống Đông Sơn, cho thấy chúng có cùng loại với trống Pejeng của Indonesia hơn.

    • Trống Heger II, thân trống chỉ có 2 phần, trên mặt trống không có hình ảnh của người hoặc con vật, thay vào đó toàn là hoa văn hình học kinh tế. Trên mặt trống thường có 4 hoặc 6 con cóc và ngôi sao 8 cánh tượng trưng cho mặt trời. Loại trống này được tìm thấy ở Nam Trung Quốc và Bắc Việt. Ở miền Nam Trung Quốc, loại trống Heger II được tìm thấy phần lớn là ở vùng Quảng Đông và Quảng Tây. Ở Việt Nam, loại trống này xuất hiện tại các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa, phần lớn loại trống này được tìm thấy và khai quật tại các vùng của người Mường sinh sống. Hiện nay, có nhiều loại trống Heger II vẫn còn được người Mường sử dụng, nên chúng có tên là trống Mường. Nhưng cũng có một số nhà khảo cổ học cho rằng những chiếc trống này thông dụng ở các đời vua nhà Lý-Trần. 

    Trước đây, một số học giả chia loại trống này thành hai nhóm:

    • Nhóm 1, thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Thanh Hóa.
    • Nhóm 2, thuộc các tỉnh Nghệ An.

    Hầu hết các nhà khảo cổ đều cho rằng niên đại của trống đồng Heger II Khoảng từ 1000 niên kỷ I SCN đến thế kỷ XVI-XVII. Tại Hội nghị Khoa học Trống đồng Việt Nam năm 1985, một số nhà khảo cổ học đã chia trống Heger II thành 3 nhóm có niên đại khác nhau:

    • Nhóm từ năm 1005 SCN.
    • Nhóm triều đại Lý-Trần
    • Nhóm sau thời Lý-Trần.
    • Trống Heger III, (trống đồng Tân Độ), hiện trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam. Trống Heger III có quai nhỏ đẹp, nổi bật với hoa văn hình học, đẹp và tinh tế, thân trống thường không cân đối, phần trên to phần dưới thon, đường kính của mặt trống lớn hơn các phần còn lại. Mặt trống được trang trí với ngôi sao 12 cánh tượng trưng cho mặt trời, 12 con cóc chia ra 4 góc, chung quanh là các hoa văn hình học. Dưới chân có đoàn voi đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống“. Đôi khi ốc thay voi. Được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanma và Vân Nam (Trung Quốc). Trống Heger III được tìm thấy ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Loại trống này được chia làm hai nhóm:
    1. Nhóm DânTộc thuộc hệ ngôn ngữ Khmer.
    2. Nhóm dân tộc thuộc ngôn ngữ thái cổ. Ở Việt Nam số lượng trống này ít hơn loại trống Heger I và Heger II.
    • Trống đồng Heger IV (trống đồng Long Đọi Sơn), trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam. Trống Heger IV có kích thước và có quai nhỏ, không có cóc. Trang trí của trống này tương tự như trống Heger I, nhưng hình dáng không cân đối và họa tiết hình học không cầu kỳ. Hình mặt trời có 12 cánh sao tượng trưng cho 12 con giáp, 4 góc-mỗi góc có ba con cóc chồng lên nhau thành 12 con. Dưới chân có đoàn voi hay ốc đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống“. Loại trống Heger IV thường được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanmar và Vân Nam (Trung Quốc).

    Có rất nhiều dân tộc sử dụng loại trống này trong đó có một số người phương Bắc như người Hán, người Mông Cổ. Loại trống này có liên quan mật thiết với các dân tộc bản địa như người Giày, Giao, Thái … Ở Việt Nam, nhiều loại trống này đã tìm thấy ở các vùng núi phía Bắc như Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La. Heger IV là loại trống đồng Nam Dương như Java, Sumatra, ảnh hưởng hồi giáo…

    PHÂN LOAI TRỐNG ĐỒNG THEO TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN QUANG

    Với tác giả Nguyễn Xuân Quang, ông phân loại trống đồng thành 6 loại như sau: NXQ I, NXQ II, NXQ III, NXQ IV, NXQ V, NXQ VI.

    1. Trống Trứng Vũ Trụ [Cosmic egg drums or Nguyen Xuan Quang type I (NXQ I)] drums. Tức trống Nguyễn Xuân Quang I (không có trong sự phân loại của Heger) có hình trứng giống như trống cái, trống thùng (barrel) bịt da nhưng hở đáy (mang tính nòng nọc, âm dương) ví dụ như trống đồng để ở chùa Cổ Lễ, chùa Keo, đền Hùng Vương… (4).
    • Trống tượng Lửa [Fire-drums or Nguyen Xuan Quang type II (NXQ. II)]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang II (không có trong sự phân loại của Heger) hình trụ (tubular or cylindrical forms). Trống moko hình trụ có eo của Nam Dương là trống biểu tượng cho tượng Lửa của ngành nước.
    • Trống tượng Gió [Yang Wind sun Drums or Parasol-Shaped drums or Nguyen Xuan Quang Type III (NXQ. III) or Heger III]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) hình lọng, dù, ô (thân và đế thẳng tuột như thân cây lọng), thấy nhiều ở tộc Shan thuộc sắc tộc Tai, nói tiếng Tai-Kadai. Tộc này có nhà hình vòm mu rùa biểu tượng cho bầu trời, bầu không gian, gió.
    • Trống tượng Nước [Yang Water drums or Squat drums or Nguyen Xuan Quang Type IV (NXQ IV) or Heger IV]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) trông giống cái âu (vật đựng mang âm tính liên hệ với nước) không có thân trống nên trông lùn tịt gọi là trống trệt (squat drum) mang nhiều âm tính biểu tượng cho nước (trống này thấy nhiều ở Nam Trung Hoa nên Heger gọi là trống trệt Nam Trung Hoa). Có thể loại trống này thấy nhiều ở tộc Choang (Zhuang). Người Zhuang nhận mình là con cháu của Rồng và có một chi tộc tên là Shui (Thủy) liên hệ với Lạc Long Quân.
    • Trống tượng Đất, núi Trụ Thế gian [Pillar-shaped drums or yang Earth-drums or Nguyen Xuan Quang type V (NXQ. V) or Heger II]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang V (Heger II, trống vùng cao, vùng núi ở Bắc Việt Nam).
    • Trống Vũ Trụ Tạo Sinh, trống biểu của Vũ Trụ giáo [Cosmogenic drums or Cosmic Mushroom drums or Nguyen Xuan Quang Type VI (NXQ.VI) or H.I]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) có hình Cây Nấm Vũ Trụ, tức trống Đông Sơn của các tác giả Việt Nam. Trống này có nhiều nhất ở Việt Nam.

    Trống Cây Nấm Vũ Trụ biểu tượng cho Vũ Trụ giáo có chu vi vòng ngoài hình trứng tức trống Trứng Vũ Trụ NXQ I (xem hình bìa quyển Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, tập I). Trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI nằm trong trống Trứng Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang I.

    Như trên cho thấy sự khảo sát trống đồng dựa theo 2 tiêu chuẩn của Franz Heger và của Nguyễn Xuân Quang có điểm tương đồng như trong Trống tượng Gió (Heger III), Trống tượng Nước (Heger IV), Trống tượng Đất (Heger II), Trống vũ trụ tạo sinh (Heger I). Hầu như tất cả các trống đồng Đông Sơn được chia thành ba phần: phần trên, phần giữa và phần cuối. Chúng có thân hình trụ thẳng đứng, mặt dưới của chúng không có hình, mặt trên có hình sao được đúc nổi với 12 cánh. Một số trống đồng có tám cánh như trống đồng Quảng Xương, hoặc 14 cánh như trống đồng Ngọc lũ, Sông Đà, Thượng Lâm, thậm chí có khi lên đến 16 cánh như hoàng Hạ và Salayar.

    Tóm lại: Việt Nam được xem là nơi tập trung nhiều trống đồng đa dạng nhất. Trống trống đồng Đông Sơn không chỉ là một biểu tượng nghệ thuật độc đáo mà còn là một cổ vật lịch sử phản ảnh văn hóa sâu sắc của Việt Nam. Từ kỹ thuật đúc chảy kim loại đến hình dáng tinh tế, mỗi chiếc trống là một tác phẩm nghệ thuật mang đậm dấu ấn của nền văn minh Đông Sơn. Nhiều khoa học gia cho rằng các nước lân cận có thể bị ảnh hưởng hoặc đã du nhập nền văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ vào nước của họ.

    Khánh Lan, Mùa Xuân 2025

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  KÝ SỰ

    NVNT & TTG ĐÓN XUÂN VÀ MỪNG XUÂN ẤT TỴ TẠI TÒA BÁO NGƯỜI VIỆT

    Khánh Lan

    NVNT & TTG ĐÓN XUÂN ẤT TỴ TẠI VIETLIFE TV-NGÀY 02 THÁNG 02, 2025- MỒNG NĂM TẾT

    Kính chúc quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em luôn vui tươi, hạnh phúc, khỏe mạnh, an bình và vạn sự như ý. NVNT & TTG.

    Năm nay, chị Tâm An đứng lên tổ chức buổi họp mặt mừng Xuân tại trụ sở của chị. Đặc biệt năm nay có sự hiện diện của NV Nguyễn Tường Cường và phu nhân, Chị Bích Điệp đến từ Ohio, cũng như Thi Sĩ Lệ Hằng và phu quân đến từ Paris, Pháp Quốc. TS Lệ Hằng là thành viên của Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris mà chúng tôi có dịp gặp trong chuyến du lịch Pháp Quốc năm 2022 và tham dự buổi họp mặt văn hóa với các Văn Thi Sĩ của Câu Lạc Bộ.

    Hàng đứng: Chị..?…, Lệ Hoa, Bích Điệp, Tường Cường, Mạnh Chi, Viết Đang, Lệ Hằng, OX của chị Lệ Hằng (?), Tô Châu, (?), Ngọc Châu, Khánh Lan, Vương Trùng Dương. Hàng ngồi: Mạnh Bổng, Cô Sang, Nguyễn Quang, Việt Hải.

    Nhập tiệc mừng Xuân là những món ăn “Homemade food” do các chị nội trợ khéo tay trong nhóm nấu, đặc biệt là vừa ngon, bổ lại rẻ nữa. Tết năm nay, một số lớn các anh chị trong nhóm bận “chạy show” hoặc đi du lịch hoặc bận việc nhà nên không đến họp mặt đầy đủ như mọi khi. Dù vậy, không khí ngày Tết và đón khách phương xa vẫn vui nhộn và các anh chị “ca sĩ của TTG” tranh nhau hát ca mệt nghỉ.

    Chương trình bế mạc lúc 11 giờ, chúng tôi phụ nhau dọn dẹp và kéo nhau đi ăn phở trước khi chia tay. Kết thúc một ngày vui.

    NHẬT BÁO NGƯỜI VIỆT ĐÓN XUÂN-NGÀY 29 THÁNG 01, 2025–MỒNG MỘT TẾT

    Tòa báo Người Việt mừng Xuân Ất Tỵ

    Khai mạc buổi họp mặt với những tràng pháo nổ vang trời. Lúc đầu bà Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh mời quan khách ra sân để ngắm pháo mổ, nhưng chỉ trong khoàng một phút, mọi người đã chạy làng vì tiếng pháo nổ quá lớn, xác pháo bắn tung tué và khói pháo bao phủ cả một khoảng không gian quanh tòa báo khiến mọi người hoảng sợ…”bỏ chạy” vào trong khánh phòng. Sau màn đốt pháo là tiết mục lì xì và tặng Giai Phẩm Xuân Ất Tỵ-Người Việt 2025 với những tiết mục rất hay và hữu ích.

    Các nhân viên & cộng tác viên và khách mời của tòa báo Người Việt-họp mặt mừng xuân Ất Tỵ

    Đây là lần đầu tiên tôi đến dự buổi họp mặt mừng Xuân do tòa báo Người Việt tổ chức. Năm nay, buổi họp mặt vào đúng vào ngày mồng một Tết, nhằm ngày 29 tháng 01, 2025 thay vì mồng hai Tết như mọi năm. Theo thường lệ, hằng năm, Bà Giám Đốc Hoàng Vĩnh cho tổ chức 2 buỗi họp mặt quan trọng: Đó là mừng Xuân và mừng Chúa Giáng Sinh cho các nhân viên hay các cộng tác viên trong đó có tôi.

    Chuyện là 3 năm trước, tôi được Giáo Sư Quyên Di đại diện cho tòa báo Người Việt mời đến cộng tác với các anh chị em trong Department of Education. Thế là từ ngày ấy, tôi đương nhiên trở thành cộng tác viên của tòa báo Người Việt (tôi đoán thế) và cứ thế, năm nào tôi cũng được hân hạnh đến tham dự những tiệc vui do tòa báo Người Việt tổ chức.

    Múa lân khai mạc buổi tiệc

    Cô Đỗ Bảo Anh, trưởng nữ của cố Nhà Báo Đỗ Ngọc Yến, Chủ Nhiệm kiêm sáng lập viên của tòa báo Người Việt

    Vài hàng về bà Đỗ Ngọc Anh theo Ký Giả Thanh Phong, bà sinh trưởng tại Saigon, tốt nghiệp ngành báo chí và anh ngữ tại University of South California (USC). Bà hiện là một ký giả kỳ cựu của nhật báo The Los Angeles Times (LAT) từ năm 2012. Ngoài ra, bà còn từng làm việc cho các nhật báo khác gồm Seattle Times, Orange County Register và nhật báo Người Việt, tờ báo do thân phụ của bà là nhà báo Đỗ Ngọc Yến thành lập.

    Bà viết về nhiều đề tài khác nhau như mối liên hệ chủng tộc, văn hóa Nam California, người nhập cư, v.v… Bà cũng được biết đến qua các bài viết về người Mỹ gốc Việt, cộng đồng LGBTQ, sự đánh giá của lớp người bị xã hội coi là thấp hèn. Qua những đề tài sâu sắc này, bà Anh Đỗ đã đoạt được nhiều giải thưởng từ Columbia University, học bổng báo chí của Yale University, và Hiệp Hội Ký Giả Người Việt gốc Á Châu.

    Năm 2016, bà Anh Đỗ ở trong danh sách phóng viên LAT và đoạt giải Pulitzer qua bản tin về vụ khủng bố ở San Bernardino. Năm 2024, bà Anh Đỗ trong danh sách chung kết giải Pulitzer với bản tin về vụ xả súng ở Monterey Park.

    Bà Hoàng Vĩnh, tổng giám đốc kiêm chủ nhiệm nhật báo Người Việt. và đại diện của ông Trí Tạ

    Hôm ấy tôi đến sớm lắm vì sợ không có chỗ đậu xe hoặc phải đậu xe quá xa bởi tôi vốn “Ngại” đi bộ. Bước vào khánh phòng, vắng hoe, chỉ thấy có khoảng 5 hay 6 người gồm các anh đang gắn máy móc, gắn keyboard và các chị phụ bếp. Người đầu tiên tôi gặp là chị Minh Phú, thế là tôi được anh Philippe Dương chụp “ké” cho những tấm hình đẹp.

    Khách tham dự

    Quan khách tham dự buổi tiệc họp mặt mừng Xuân Ất Tỵ tại tòa báo Người Việt rất đông, tôi nhận thấy có sự hiện diện của rất nhiều nhân vật quan trọng trong cộng đồng gồm các vị đại diến và các vị nghị viên của tiểu bang, liên bang, thành phố và trường học, v.v…Các giáo chức như GS Phạm Thị Huê, GS Quyên Di, GS NS Lê Văn Khoa, v.v…Xướng Ngôn Viên Thanh Thảo và rất nhiều vị mà tôi không biết tên.

    Nhập tiệc mừng Xuân–Chúc mừng năm mới

    Phần văn nghệ tôi nhận thấy có Chị Thiên Hương của đoàn Du Ca, các ca sĩ: Ngọc Hà, Lê Uyên Phương, Hồng Tước, v.v…mở đầu với Ly Rượu Mừng rồi bài Đón Xuân của NS Phạm Đình Chương,…

    CS Ngọc Hà, Chị Minh Phú, Khánh Lan, GS NS Lê Văn Khoa

    Hợp ca: Ly Rượu Mừng

    Hợp ca: Đón Xuân

    Bài hợp ca bế mạc. Buổi họp mặt kết thúc lúc 3:00 pm, chấm dứt một ngày vui.

    Khánh Lan, tháng 2 ngày 4, 2025

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Năm Thìn Nói Chuyện Rắn Trong Tác Phẩm Kim Dung

    Vương Trùng Dương

    Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới  WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.

    Theo truyền thuyết phương Đông, Trung Hoa từ thời cổ đại cho rằng thần Nữ Oa đầu người thân con  rắn là vị thần sáng thế, có quyền uy tối thượng, đội đá vá trời khi bầu trời rách toang, đất đai rung chuyển, núi rừng bốc cháy, nước ngập mênh mông, loài người hốt hoảng kéo nhau chạy trốn. Thần Nữ Oa luyện hơn ba mươi sáu nghìn viên đá ngũ sắc lấp lại bầu trời cho loài người cư ngụ.

    Theo bài viết của BS Nguyễn Xuân Quang cho rằng Nữ Oa cũng không phải là người Tàu, Nữ Oa khi chết biến thành chim Tinh Vệ đội đá vá trời, tha đá lấp biển đông. Tương truyền rằng con gái vua Viêm Ðế ngày xưa vượt biển chết chìm, hóa ra chim Tinh Vệ, ngậm đá ở núi Tây về lấp biển Ðông… Tinh Vệ là con gái vua Viêm Ðế mà Viêm Ðế là tên hiệu của Thần Nông. Nữ Oa Tinh Vệ là con của Mẹ Trứng Nước Thần Nông Viêm Ðế. Như thế rõ như hai năm là mười Nữ Oa không phải là người Trung Hoa.

    Thần thoại Việt Nam, Thần Nam Thần Nữ là hai vị thần đầu tiên sinh ra con người. Thần Nam tên là ông khổng lồ Tứ Tượng và Thần Nữ là bà Nữ Oa. Theo truyện này thì bà Nữ Oa có chồng là ông Tứ Tượng. Ông này ngỏ ý muốn lấy Nữ Oa. Bà Nữ Oa thách ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông đắp cao hơn bà sẽ lấy làm chồng. Kết quả ông Tứ Tượng đắp núi thua bà. Nữ Oa đắp một ngọn núi cao ngất trời, đứng trên đó có thể thấy khắp cõi trời đất. Dấu tích còn lại của ngọn núi cao của bà Nữ Oa đắp, dân gian cho là núi Nam giới ở Hà Tĩnh ngày nay. Ông Tứ Tượng đắp núi thua nhưng kiên gan trì chí đeo đuổi mãi, cuối cùng bà Nữ Oa cũng xiêu lòng lấy ông làm chồng.

    Như thế rõ ràng theo thần thoại Việt Nam thì Nữ Oa là vị Thần Nữ đầu tiên. Và ta cũng thấy thần Nam thua tài thua sức Thần Nữ Nữ Oa. Nữ Oa chính vị Thần Nữ đầu tiên sinh ra loài người, trong đó chính yếu là Hừng Việt đúng như truyền thuyết Việt Nam.

    Trong võ học cổ truyền, rắn là một trong những loài động vật tiêu biểu được các võ sư ngày xưa tìm hiểu, quan sát để hình thành các bí quyết võ công với tên gọi Xà Quyền. Xà Quyền có các bài múa: Rắn thần luyện trăng (xà thần luyện nguyệt), rắn vàng từ đất nhô lên (kim xà lục khởi), rắn quật động trời (xà phiên thiên chân), rắn trắng phun bọt (bạch xà phẫn mạt), rắn lăng lướt sương (xà đằng tẩu lộ), rắn sừng quẫy đuôi (giác xà ứng vĩ)… vừa nhu vừa cương với nhiều thế võ bí hiểm. Về kiếm pháp có xà hành đao, xà hành kiếm.

    Môn võ nầy xuất xứ từ Trung Hoa và sau đó truyền sang Việt Nam cũng như các môn Long Quyền (Võ Rồng), Hổ Quyền (Võ Hổ), Hầu Quyền (Võ Khỉ), Hầu Quyền (Võ Khỉ), Hạc Quyền (Võ Hạc), Kê Quyền (Võ Gà)…

    Các thế Xà Quyền với nhiều bộ thế linh động, bài võ liên hoàn, thủ và công linh hoạt khi chiến đấu sắc bén làm cho đối phương trở tay không kịp.

    Nhà văn Kim Dung dựa vào môn võ nầy đã sáng tạo ra các nhân vật và võ công cái thế trong chốn võ lâm.

    Năm 1955, ông bắt đầu viết tiểu thuyết võ hiệp. Bộ truyện đầu tay của ông là Thư Kiếm Ân Cừu Lục. Năm 1956, ông bộ thứ hai là Bích Huyết Kiếm. Năm 1957, bộ truyện thứ ba là Tuyết Sơn Phi Hồ và sau đó là Xạ Điêu Tam Bộ Khúc (gồm 3 bộ Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký, 1961). Năm 1963 với Thiên Long Bát Bộ gồm Lục Mạnh Thần Kiếm. Năm 1967 với Tiếu Ngạo Giang Hồ và năm 1969 với Lộc Đỉnh Ký. Toàn bộ tác phẩm của Kim Dung được tóm gọn thành hai câu đối:“Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc. Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên” (Phi Hồ Ngoại Truyện – Tuyết Sơn Phi Hồ – Liên Thành Quyết – Thiên Long Bát Bộ – Xạ Điêu Anh Hùng – Bạch Mã Khiếu Tây Phong – Lộc Đỉnh Ký – Tiếu Ngạo Giang Hồ – Thư Kiếm An Cừu Lục  – Thần Điêu Hiệp Lữ – Ỷ Thiên Đồ Long – Bích Huyết Kiếm – Uyên Ưng Đao).

    Trong các tác phẩm nầy, trích dẫn vài nhân vạt điển hình đã gây sóng gió trong chốn võ lâm.

    * Bích Huyết Kiếm & Kim Xà Lang Quân

    Vào cuối thời nhà Minh Viên Sùng Hoán bị cáo buộc thông đồng với ngoại phiên và bị hoàng đế Sùng Trinh xử tử. Con trai Viên Sùng Hoán là Viên Thừa Chí nhờ may mắn được đưa lên núi Hoa Sơn, được Mục Nhân Thanh và Mộc Tang đạo nhân truyền thụ võ nghệ. Trên núi Hoa Sơn, Viên Thừa Chí tình cờ phát hiện ra Kim Xà Kiếm và Kim Xà Bí Kíp – di vật của Hạ Tuyết Nghi và học được kiếm thuật vô địch – nổi danh với tên gọi Kim Xà Lang Quân.

    Kim Xà Kiếm có nguồn gốc từ Ngũ Độc Giáo, thanh kiếm này khác với những thanh kiếm ở Trung Nguyên, nó không thẳng mà uốn lượn như hình con rắn, mỗi khi xuất chiêu vận nội công, thanh kiếm sẽ chuyển sắc vàng, đồng thời đầu kiếm tỏe ra như lưỡi rắn.

    Với nọc độc của các loài động vật rất nhiều, nguy hiểm nhất như: bọ cạp, nhện phễu, rết, cóc… nhất là rắn, khoảng 450 loài rắn có nọc độc. Nọc rắn được tạo ra bởi các tuyến nước bọt hàm dưới chứa nhiều loại độc tố rất nguy hiểm.

    Ngũ Độc Giáo nguồn gốc từ Tây Vực là tà phái với hai bí kíp võ công xuất hiện trong ba tiểu thuyết Tiếu Ngạo Giang Hồ, Bích Huyết KiếmvàLộc Đỉnh Ký. Ngũ Độc Giáo nổi tiếng với khả năng dùng độc cũng như các võ công có liên quan đến độc dược. Hà Thiết Thủ, giáo chủ Ngũ Độc Giáo, trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, chưởng môn nhân của Ngũ Độc Giáo là Lam Phượng Hoàng.

    Ngũ Độc Giáo cho người trong giang hồ không tên thật của giáo phái này mà là Ngũ Tiên Giáo. Ngũ Độc Giáo có trụ sở tại vùng Miêu Cương, tỉnh Vân Nam và sau đó dưới trướng Nhật Nguyệt Thần Giáo.

    Môn võ công trứ danh và lợi hại nhất của Ngũ Độc Giáo là Ngũ Thánh Tam Bảo. Ngũ thánh gồm rắn, rết, bọ cạp, nhện và cóc. Nếu phối hợp với các loại cỏ cây hoa lá lạ thì sẽ tạo ra loại rượu ngũ bảo hoa mật tửu, khi bị đầu độc thì hết thuốc chữa. Ngũ Độc Giáo có ba món bảo vật là Kim Xà Kiếm, Kim Xà Chùy và Tàng Bảo Đồ. Về sau 3 món bảo vật bị Hạ Tuyết Nghi dụ dỗ Hà Hồng Dược – công chúa của Ngũ Độc Giáo lấy cắp.

    Từ đó Ngũ Độc Giáo có môn quy kỳ lạ nhất, theo đó, Ngũ Độc Giáo chỉ truyền chức giáo chủ cho nữ. Ngày lên ngôi, giáo chủ phải chặt bỏ một tay sau đó lắp tay giả bằng móc sắt. Bàn tay này vừa có dụng ý nhắc nhở các giáo chủ câu chuyện năm xưa của Hà Hồng Dược, vừa có tác dụng giúp luyện độc. Trên cánh tay giả được tẩm thêm nhiều loại độc dược mà không ai có thuốc giải.

    Cả gia đình Hạ Tuyết Nghi bị Ôn Lão Lục của phái Ôn Gia giết hại. Hạ Tuyết Nghi may mắn sống sót trốn thoát và xâm nhập vào Ngũ Độc Giáo luyện tập bảo vật trấn bang của Ngũ Độc Giáo, nguồn gốc từ Tây Vực.

    Kim Xà Kiếm hình dạng rất khác biệt. Lưỡi kiếm không thẳng mà uốn lượn như hình con rắn. Mỗi khi xuất chiêu vận nội công, thanh kiếm sẽ chuyển sắc vàng, lưỡi kiếm từ một tách ra làm đôi, hệt như hình lưỡi rắn. Kim Xà Kiếm có sát khí rất nặng, chém sắt như chém bùn. Bị kiếm này đâm, chất độc xâm nhập toàn thân tê liệt.

    Hạ Tuyết Nghi nhờ thanh kiếm nầy đánh đâu thắng đó, nhưng cuối cùng bị Ôn Gia Phái hạ độc rồi vây khốn trong Ngũ hành trận. Mang mối thù không đội trời chung với Ôn Gia, Hạ Tuyết Nghi giết 50 người và làm nhục 10 phụ nữ khác trong gia đình họ Ôn. Tuy nhiên, sau khi bắt cóc được Ôn Nghi, ông bị vẻ đẹp bên trong của nàng cảm hóa. Tuy Hạ Tuyết Nghi võ nghệ cao thâm, nhiều lần bất phân thắng bại với Ôn Gia Ngũ Lão nhưng ông đã bị Ôn Gia Ngũ Lão đầu độc bằng Túy Tiên Mật trong bát canh hạt sen do Ôn Nghi đưa mà không biết có độc bên trong chén canh.

    Cuối cùng Hạ Tuyết Nghi bị bắt, bị cắt hết gân tay, gân chân, trở thành phế nhân, trốn trong một hang đá ở Hoa Sơn, dành những ngày cuối đời để mài giũa Kim xà kiếm pháp và phá giải Ngũ hành trận của Ôn Gia nhưng bất thành và ôm hận mà chết trong hang đá, không người chôn cất. Ác lai ác báo.

    * Tây Độc Âu Dương Phong

    Trong Võ Lâm Ngũ Bá (Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp) xuất hiện 5 nhân vật  bá chủ võ lâm là Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, Tây Độc Âu Dương Phong, Bắc Cái Hồng Thất Công, Đông Tà Hoàng Dược Sư và Nam Đế Đoàn Trí Hưng (sau nầy xuất gia là Nhất Đăng đại sư).

    Âu Dương Phong là chủ nhân núi Bạch Đà ở Tây Vực, nhân vật độc ác, nhiều mưu mô thủ đoạn, gian trá. Võ công rất cao, thường dùng một cây gậy có thả hai con rắn độc ở đầu làm vũ khí. Ngoài tuyệt kỹ của y là Cáp Mô Công, ông chế ra các loại thuộc độc không ai giải được, ông bị người trong giang hồ gọi là Lão Độc Vật.

    Âu Dương Phong người thô kệch, đầu đội khăn xanh như người Hồi, râu quai nón, da đen bóng, mắt to tròn. Sau lần Hoa Sơn luận kiếm thứ nhất, Âu Dương Phong được bầu vào Thiên hạ ngũ tuyệt, danh xưng là Tây Độc. Không có nhân vật nào địch nổi với Tây Độc.

    Khi thấy Vương Trùng Dương (giả chết) ốm nặng sắp qua đời, y liền tìm đến nhằm lấy cắp Cửu Âm Chân Kinh, không ngờ Vương Trùng Dương đã chuẩn bị trước, đánh y trọng thương. Âu Dương Phong đành chạy về Tây Vực dưỡng thương suốt mười năm mới tái xuất giang hồ.

    Âu Dương Phong và Dương Khang (con của Dương Thiết Tâm và Bao Tích Nhược nhận làm con nuôi) lên Đào Hoa đảo của Đông Tà và giết chết năm người trong nhóm Giang Nam Thất Quái, chỉ để lại một mình Kha Trấn Ác vốn bị mù để đổ tội cho Hoàng Dược Sư. Nhưng mưu kế này sau đó bị Hoàng Dung phát hiện. Tại Miếu Thiết Thương, Hoàng Dung thông qua lời kể của Cô Ngốc đã vạch tội Dương Khang giết Âu Dương Khắc (tuy gọi Âu Dương Phong là chú, nhưng chính là con ruột của Âu Dương Phong trong cuộc tình vụng trộm giữa Tây Độc và chị dâu mình sinh ra). Dương Khang sợ bị lộ chuyện nên định giết người diệt khẩu đánh một chưởng vào người Hoàng Dung, nhưng không ngờ lại trúng độc của Âu Dương Phong dính từ trước trên áo của Hoàng Dung. Âu Dương Phong đã bỏ mặc Dương Khang bị trúng độc chết mà không cứu.

    Nói về vũ khí đáng sợ thâm độc nhất của Âu Dương Phong là Xà Nhi với con rắn trong tay gã. Âu Dương Phong đã dày công nghiên cứu hàng chục năm, kết hợp vô số thứ rắn độc nhất thiên hạ vào trong con rắn này khiến độc dược của nó trở nên vô cùng khủng khiếp.

    Trúng loại độc này, nếu không được chính Âu Dương Phong giải thì chỉ có chết. Mà chết chưa phải là hết, sự đáng sợ của con Xà Vương này nằm ở chỗ nó biến nạn nhân của nó trở thành một nguồn độc lây bệnh mới. Bất cứ ai chạm vào cái xác đều sẽ bị nhiễm độc và chịu cái chết đau đớn.

    Khi lão thổi tiêu thì bầy rắn độc đột nhiên xuất hiện đến tấn công địch thủ vì vậy lão không ngán “nan địch quần hùng”.

    Có lần Âu Dương Phong và Chu Bá Thông rời Đào Hoa đảo. Chu Bá Thông thách Âu Dương Phong có thể giết hết cá mập trên biển. Âu Dương sai người bắt một con cá mập ở dưới biển lên, lấy nọc con rắn trên gậy đổ vào miệng, con cá chết ngay lập tức. Sau đó, con cá mập được thả xuống biển, các con cá khác lại ăn xác và cũng chết liền. Lần lượt, con sau ăn xác con trước, thế mà cuối cùng cả vùng biển xác cá mập nổi lên trắng xóa.

    Trong lần thâm nhập vào phủ vương gia nước Kim, Quách Tĩnh vô tình uống được máu của con bảo xà mà Lương Tử Ông đã nuôi 20 năm. Sau đó, không chỉ công lực được gia tăng Quách Tĩnh cũng không bị trúng bất kỳ loại độc rắn nào khác trong thiên hạ.

    Trên đảo Đào Hoa, Lão Ngoan Đồng (Chu Bá Thông, đệ tử của Vương Trùng Dương) với võ công tuyệt thế Cửu Âm Chân Kinh, Song Thủ Hỗ Bác làm cho Tây Độc ở thế bị động. Tây Độc dỡ thủ đoạn bá đạo cho mãng xà cắn, Lão Ngoan Đồng nhiễm độc toàn thân, Quách Tĩnh giúp ông hút chất độc ra ngoài nên bình an vô sự.

    Với dĩ độc trị độc, có vài nhân vật không sợ độc. Ngoài Quách Tĩnh có Du Thản Chi còn có tên gọi khác là Trang Tụ Hiền, xuất hiện trong Thiên Long Bát Bộ. Du Thản Chi si mê A Tử (A Tử, đệ tử của Đinh Xuân Thu). Quá si tình nên gã mê muội cam tâm tình nguyện phục thị A Tử và cho rằng đó là lý tưởng, là mục tiêu, là hoài bão của cuộc đời mình. Du Thản Chi chấp nhận tất cả thủ đoạn tàn độc của A Tử, dù là bị đau đớn, sỉ nhục, hành hạ và hủy hoại thân xác lẫn linh hồn chỉ với tâm niệm được yêu nàng, dù là mối tình câm, chỉ mong được gần nàng.

    A Tử cho người đem khuôn sắt nung chảy lên đầu Du Thản Chi, nỗi đau đớn tột cùng thế nhưng, trong cơm đau giày xé, tâm hồn gã vẫn hạnh phục và luôn hướng về A Tử mà không chút hối hận.

    A Tử lấy cắp Bích Ngọc Vương Đỉnh trốn về trung thổ mang đỉnh ngọc trong mình, phóng ngựa ra ngoài thành, Du Thản Chi chạy theo. Đến góc rừng vắng vẻ, A Tử xuống ngựa, đốt hương thơm bỏ vào trong đỉnh. Mùi hương quyến gọi loài độc trùng rắn, rết, nhện, bọ cạp… quanh đó kéo đến. Độc trùng theo mùi hương mò vào đỉnh ngọc. A Tử bắt Du Thản Chi thò tay vào đỉnh cho độc trùng hút máu tươi. Khi độc trùng no máu, bụng căng phồng, rời cánh tay Du Thản Chi rơi xuống, A Tử đập chết độc trùng, lấy máu xoa vào hai lòng bàn tay, luyện công.

    Trong một đêm bị nọc độc hành hạ khủng khiếp Du Thản Chi lăn lộn, quằn quại trên sàn đá. Tình cờ gã nhìn thấy hình vẽ trong một quyển sách mang theo. Hình vẽ người nằm trong tư thế giống như kiểu gã đang nằm. Trong lục phủ, ngũ tạng của người trong hình vẽ có một đường chỉ đỏ chạy qua những kinh mạch. Du Thản Chi hướng dẫn bằng tâm ý cơn ngứa trong người chàng theo đường chỉ đỏ ấy. Gã cảm thấy cơn ngứa hạ đi, dễ chịu. Từ đó mỗi đêm gã dùng cách đó để hoá giải… Vô tình gã đã học được phép luyện công theo Dịch Cân Kinh. Bí kíp Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm Tự bị đánh cắp, gã mang theo mà không ai biết. Gã vô tình luyện được bí kiếp nầy nên tích tụ một lượng độc tính âm hàn khủng khiếp. A Tử ngạc nhiên khi thấy Du Thản Chi bị loại độc trùng kịch độc như con Hàn Ngọc Băng Tầm cắn mà vẫn không chết.

    Với khả năng hộ thể từ Dịch Cân Kinh, Du Thản Chi tiếp tục hấp thụ nhiều loại dị độc khác, đặc biệt là độc từ con Thiên Sơn Băng Tằm. Mọi loại hàn độc đều không có tác dụng với Du Thản Chi. Với tính chí âm chí hàn từ con vật quý hiếm này, nội công của Du Thản Chi gia tăng vượt bậc, thậm chí chưởng pháp âm độc của Tinh Túc lão quái Đinh Xuân Thu cũng không thể xâm nhập cơ thể Du Thản Chi.

    Trương Vô Kỵ (con của Trương Thúy Sơn – chính phái  và Ân Tố Tố – tà giáo) trong Ỷ Thiên Đồ Long. Khi Triệu Mẫn (Triệu Minh) người Mông Cổ xâm nhập vào Trùng Nguyên gây chấn động giang hồ với Thập Hương Nhuyễn Cân Tán loại chất độc này không màu, không mùi, không vị, cho dù có dùng kim châm cũng không thể phát hiện. Người bị trúng độc thân thể tê liệt, hoàn toàn vô lực, không còn khả năng kháng cự. Loại độc dược này nguy hiểm hơn ở chỗ có thể dễ dàng phát tán trong không khí, pha vào nước uống hoặc đồ ăn, khiến người trúng độc thậm chí không biết lý do tại sao gặp họa và trúng độc lúc nào… chính vì vậy, rất nhiều bậc đại cao thủ võ lâm kinh nghiệm đầy mình, cảnh giác cơ trí hơn người, nhưng khi đối mặt với Thập Hương Nhuyễn Cân Tán của Triệu Mẫn cũng đành bó tay chịu trói, giao phó tính mạng cho nàng.

    Triệu Mẫn là người xinh đẹp, thông minh tài trí, mưu mẹo hơn người nhưng cũng không kém phần độc ác. Triệu Mẫn không chỉ bắt nhốt các môn phái, khiến cho võ lâm chao đảo, khiếp sợ và thù ghét, nàng còn suýt nữa là rạch khuôn mặt xinh đẹp của Chu Chỉ Nhược nếu không có Trương Vô Kỵ cứu.

    Vô Kỵ bị trúng độc được Thường Ngộ Xuân dẫn đến Hồ Điệp cốc để gặp thần y Hồ Thanh Ngưu chữa hàn độc trong người, nhờ vậy Vô Kỵ đã lĩnh hội toàn bộ y thuật của Hồ Thanh Ngưu và trở thành lang trung giỏi.

    Vô Kỵ bị cha con Chu Trường Linh lừa gạt, chàng tình cờ phát hiện ra âm mưu thâm độc này nên bỏ trốn rồi bị kẻ thù truy đuổi trên núi tuyết Côn Luân đã vô tình lạc vào một thung lũng, may mắn bò vào được sơn cốc thông qua một cái hang hẹp, mổ bụng cứu con vượn già và đã học được toàn bộ nội công Cửu Dương Chân Kinh (Cửu Dương Thần Công) nhờ đó đã thành công hóa giải hàn độc của Huyền Minh Thần Chưởng trong người và được miễn nhiễm độc dược.

    Khi luyện thành Cửu Dương Chân Kinh có được nội công hùng hậu vào loại bậc nhất trong thiên hạ. Cửu Dương Chân Kinh giúp người luyện hoán gân chuyển cốt, khiến cơ thể bách độc bất xâm. Sau này Vô Kỵ nhờ vào nội lực Cửu Dương Chân Kinh thâm hậu cùng tâm pháp nội công Càn Khôn Đại Na Di nên Vô Kỵ đã học được nhiều tuyệt kỹ võ công thượng thừa, trở thành cao thủ có võ công và nội lực tuyệt đỉnh.

    Trong Ỷ Thiên Kiếm Đồ Long Đao, Hân Thù Nhi luyện võ công Thiên Thù Tuyệt Hộ Thủ, lấy nọc độc của loài nhện độc để luyện công. Vì có nọc độc trong máu nên mặt và da thịt Hân Thù Nhi sần sùi, xanh đỏ dễ sợ. Vô Kỵ giải trừ chất độc và chỉ cho nàng cách khác để luyện võ công, Hân Thù Nhi trở lại xinh đẹp

    Trong tác phẩm Kim Dung chỉ đề cập đến độc dược trong tà phái sử dụng trong ám khí, đao, kiếm, rượu, phấn… và cả võ công nên thược loại bá đạo, vì vậy trong chính phái không sử dụng đến.

    * Dĩ Độc Trị Độc

    Trong tác phẩm của Kim Dung có 5 cao thủ vạn độc bất xâm.

    Quách Tĩnh

    Quách Tĩnh là một trong những tuyệt thế cao thủ xuất hiện chính trong 2 tác phẩm Thần Điêu Đại Hiệp và Thần Điêu Hiệp Lữ. Không chỉ võ công siêu phàm, khả năng kháng độc của Quách Tĩnh cũng ít ai sánh bằng.

    Trong lần thâm nhập vào phủ vương gia nước Kim, Quách Tĩnh vô tình uống được máu của con bảo xà mà Lương Tử Ông đã nuôi 20 năm. Sau đó, không chỉ công lực được gia tăng nhiều phần, mà Quách Tĩnh cũng không bị trúng bất kỳ loại độc rắn nào khác trong thiên hạ.

    Trên đảo Đào Hoa của Đông Tà Hoàng Dược Sư, Lão Ngoan Đồng bị mãng xà của Âu Dương Phong cắn, Quách Tĩnh đã giúp ông hút chất độc ra ngoài mà vẫn bình an vô sự.

    Trương Vô Kỵ

    Giáo chủ đời thứ 34 của Minh Giáo trong Ỷ Thiên Đồ Long nhờ cơ duyên luyện được tuyệt thế võ công như Cưu Dương Thần Công, Càn Không Đại Na Di, Thái Cực Thần Công. Đặc biệt, kể từ sau khi luyện được trọn vẹn Cửu Dương Thần Công, khả năng kháng độc của Trương Vô Kỵ càng được gia tăng mạnh mẽ, có khả năng kháng độc.

    Vô Kỵ khi bị trúng Huyền Minh thần chưởng của Huyền Minh nhị lão, Trương Vô Kỵ dù được Thái cực tôn sư Trương Tam Phong tìm mọi cách cứu chữa nhưng không thể nào bài trừ được chất độc trong người. Phải đến khi bị rơi xuống vực và vô tình luyện được Cửu Dương Thần Công lấy được trong bụng con bạch hầu, thì hàn độc của Huyền Minh thần chưởng mới tiêu tan.

    Du Thản Chi

    Trong quyển Thiên Long Bát Bộ, Du Thản Chi còn có tên gọi khác là Trang Tụ Hiền. Sau khi rời khỏi Tụ Hiền Trang và lưu lạc đến nước Liêu, cơ duyên kỳ ngộ đã giúp Du Thản chi luyện thành Dịch Cân Kinh. Với khả năng hộ thể từ Dịch Cân Kinh, Du Thản Chi tiếp tục hấp thụ nhiều loại dị độc khác, đặc biệt là độc từ con Thiên Sơn Băng tằm.

    Với tính chí âm chí hàn từ con vật quý hiếm này, nội công của Du Thản Chi gia tăng vượt bậc, thậm chí chưởng pháp âm độc của Tinh Túc lão quái Đinh Xuân Thu cũng không thể xâm nhập cơ thể Du Thản Chi. Du Thản Chi là nhân vật đặc biệt si tình, chấp nhận mọi khổ hình độc ác của A Tử coi như “thú đau thương”!

    Viên Thừa Chí

    Trong quyển Bích Huyết Kiếm, Viên Thừa Chí nhờ Chu Thiên Bằng Thiềm hút mọi loại độc trong cơ thể. Chu Băng Thiềm sẽ tự động hút chất độc ra ngoài. Ngay cả Hà Thiết Thủ, giáo chủ Ngũ Độc Giáo khi nhìn thấy Băng Thiềm cũng không khỏi ngưỡng mộ.

    Đoàn Dự

    Trong quyển Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự nhờ cơ duyên may mắn nên học được Bắc Minh Thần Công có thể hút công lực của người khác. Đoàn Dự sau khi vô tình ăn được Mãng Cổ Chu Cáp, một con cóc thần thoại được xưng là Vạn Độc Chi Vương, cơ thể Đoàn Dự cũng tự nhiên trở nên vạn độc bất xâm. Bất kỳ loại độc nào trong thiên hạ, dù có độc tính mạnh mẽ tới đâu cũng hoàn toàn vô dụng với Đoàn Dự.

    Trong các tác phẩm của Kim Dung, chính phái không luyện và sử dụng độc dược, chỉ có tà phái nhưng không khống chế võ lâm, đó là hậu ý của ông.

    Nhân Năm Thìn, Nói Về Rắn Trong Tác Phẩm Kim Dung chỉ đề cập tổng quát vài nhân vật, môn phái xuất hiện trong chốn võ lâm liên quan đến độc hại của loài rắn.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, 1/2024

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN: CHÚC MỪNG SINH NHẬT 80 NỮ SĨ LÊ NGUYỄN NGA

    Khánh Lan tường trình

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em vào xem video trên để theo dõi diễn tiến buổi chúc mừng sinh nhật Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga ngày 12 tháng 01, 2025 vừa qua.

    Trong bầu không khí thân mật và ấm cúng, buổi chúc mừng sinh nhật thứ 80 của Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga diễn tiến thật hoàn mỹ. Hiện diện trong bữa tiệc, Khánh Lan nhận thấy có sự tham dự của rất nhiều quý giáo sư, văn thi sĩ và các bạn bè gần xa cũng như các anh chị em trong gia đình Lê Nguyễn đều có mặt đầy đủ để mừng tuổi Mẹ và bà Ngoại.

    NVNT & TTG GIRLS: Minh Thư, Xuân Tạ, Lệ Hoa, Minh Khai, Minh Châu, Khánh Lan, Kiều My chào mừng quan khách

    Đại Gia Đình: Lê & Nguyễn

    Chương trình đươc soạn thảo thật thứ tự, mở đầu với những bản “Warm-up musics” của chị Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, anh Hùng Ngọc, anh Huỳnh Anh, anh Dương Viết Đang, v.v… Sau phần chào quốc kỳ, con gái Katherine Minh Thư và con rể Brian song ca nhạc phẩm God Bless The USA. Và tiếp theo đó là những bài thơ của Nữ Sĩ như Lá Rơi Bên Thềm, Giấc Mơ Xuân, Nắng Chiều Ngừng Trôi, phổ nhạc bởi Ca Nhạc Sĩ Lâm Dung và Nhạc Sĩ Tuấn Nguyễn được lần lượt trình diễn song song với những sáng tác của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn như Nắng Chiều và Cát Biển, v.v…

    Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga và con gái Katherine Minh Thư

    Trong phần chia sẻ tâm tình cùng Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga của các vị: GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, Ca Sĩ Thanh Mỹ, HS Hoàng Vinh, TS Đình Phương, NS Dương Hồng Anh, v.v… là những lời chúc tụng và kể lại kỷ niệm của những ngày tháng cũ.

    Cũng trong chương trình, Khánh Lan đã diễn ngâm một bài thơ Gió Đông Xuân, Thơ Lê Nguyễn Nga, viết vào mùa đông 2021 để kính tặng Nữ Sĩ nhân ngày kỷ niệm sinh nhật thứ 80 của bà. Kính chúc Nữ Sĩ luôn dồi dào sức khỏe và tiếp tục lan tỏa ngọn lửa nghệ thuật đến nhiều thế hệ mai sau.

    Hàng đứng: John Tạ, Thụy Lan, Susan Tạ, Khánh Lan, ông bà Tẩu Bùi. Hàng Ngồi: Phu Nhân họa sĩ Hoàng Vinh, NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga.

    Hàng đứng: CSVSQVB Đà Lạt Hoàng Đình Khuê, CSQHQ Tẩu Bùi và phu nhân, NV Nguyễn Quang, TS Đình Phương, NV Kiều My, CS Thụy Lan. Hàng Ngồi: NS Dương Hồng Anh, HS Hoàng Vinh, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga, GS Dương Ngọc Sum.

    Hôm ấy cũng là ngày giới thiệu tác phẩm mới nhất của Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga: TUYỂN TẬP THƠ NHẠC LÊ NGUYỄN NGA sẽ được ra mắt cộng đồng trong dịp Xuân Ất Tỵ. Đây là một tuyển tập kết hợp giữa âm nhạc vả thi ca, gồm gần 80 bản nhạc được trình bày dưới dạng video trên youtube và 75 bài thơ được thể hiện qua tranh thơ đầy nghệ thuật mà mỗi bức tranh là một câu chuyện, một khung cảnh gắn liền với những vần thơ sâu lắng, phản ảnh tình yêu và những kỷ niệm trong hành trinh thơ nhạc dưới dạng ebook. Tuyển tập thơ & nhạc sẽ được tác giả gởi đến quý bạn bè, thân hữu và quý vị yêu thơ như một món quà đặc biệt trong dịp xuân về.

    Mộng Thủy, HS Hoàng Vinh, GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga, TS của hội Văn Bút, NS Dương Hồng Anh, CS Thanh Mỹ.

    HAPPY BIRTHDAY TO YOU……HAPPY BIRTHDAY TO YOU…….AND MANY MORE……..

    KÍNH CHÚC NS LÊ NGUYỄN NGA TRƯỜNG TRƯỜNG THỌ

    VĂN NGHỆ…VĂN NGHỆ…

    Khánh Lan, Mùa Xuân Ất Tỵ 2025