• Âm nhạc,  Đèo Văn Sách

    Đôi dòng về Nghệ sĩ  Đèo Văn Sách

    Ca nhạc sĩ Đèo Văn Sách cùng hiền thê của ông là ca sĩ Kim Phụng hiện ở Virginia. Đôi ca sĩ này góp mặt trong nhiểu sinh hoạt văn nghệ địa phương vùng Thủ đô Hoa Kỳ. Kim Phụng là cháu ruột của NS. Hoàng Trọng (vai cậu). NS Tuấn Khanh (Hoa Soan Bên Thềm Cũ) đánh giá giọng ca Kim Phụng rất khá. Giọng ca Đèo Văn Sách còn là một emcee với chất giọng ấm áp, truyền cảm. 

    “Tình Nghệ Sĩ”–Sáng tác: Đoàn Chuẩn-Từ Linh; Tiếng hát: Kim Phụng; Hòa âm: T Lan

    Em Cứ Yêu Một Lần Đi-Đèo Văn Sách- Đêm Màu Hồng.

  • Dương Viết Điền,  Văn Thơ

    RƯỢU QUA THI CA VIỆT NAM

    Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,

    Dục ẩm, tì bà mã thượng thôi.

    Túy ngọa sa trường, quân mạc tiếu,

    Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

    (Rượu đào chén ngọc kề môi,

    Chớm say, nhạc đã giục người ra đi.

    Sa trường say khướt cười chi?

    Xưa nay chinh chiến mấy khi trở về!)

                                        (Chi Điền dịch)

    Nhan đề của bài thơ trên đây là Lương Châu từ (Bài hát Lương Châu) của thi sĩ nổi tiếng Vương Hàn đời nhà Đường bên Trung quốc. Trong những giờ rỗi rảnh ở chốn sa trường, binh lính thường hay uống rượu để tiêu sầu, để quên đi những tháng ngày xa gia đình, xa vợ xa con. Lắm lúc họ cũng uống để quên đời vì nghĩ rằng trong tương lai, không biết có trở lại quê nhà không hay là cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Nói chung, nhiều khi vì buồn chán một việc gì người ta hay uống rượu để quên đi những nỗi buồn da diết. Các nhà thơ cũng vậy, khi trong tâm hồn có những chuyện gì sầu tình lai láng, các thi nhân thường hay uống rượu để tiêu sầu. Bởi vậy mỗi lần đi đâu họ luôn luôn mang theo túi thơ và bầu rượu để làm bạn đường, lắm lúc cũng là bạn đời luôn. Người ta cho rằng trong số 2200 thi sĩ đời nhà Đường bên Trung quốc, hầu hết đều uống rượu hằng ngày. Các thi sĩ nổi tiếng về rượu phải nói là Thôi Hiệu, Giả Đảo, Vương Hàn, Lý Bạch, Đỗ Phủ v.v… Họ say sưa suốt ngày đêm, vừa uống rượu vừa làm thơ, vừa làm thơ vừa uống rượu. Lắm lúc đi chân xiêu bên nọ vẹo bên kia, chếnh choáng hơi men triền miên suốt năm tháng. Thời Ngũ Đại bên Trung Hoa khi soạn sách “Chính ngôn”, Vương Định Bảo đề cập đến thi sĩ Lý Bạch viết rằng: “Lý Bạch mặc áo cẩm bào, chơi trong sông Thái Thạnh (ở huyện Đang Đồ), ngạo nghễ tự đắc, xem như không có ai bên cạnh; nhân say rượu, nhảy xuống nước bắt bóng trăng rồi chết”. Còn thi sĩ Giả Đảo mỗi năm cứ đến đêm trừ tịch, ông đem tất cả thơ sáng tác trong năm đặt lên bàn, đốt hương vái lạy rồi rót một ly rượu thật đầy xong đổ xuống đất và nói rằng: “Đó là nỗi khổ tâm của ta trong suốt năm nay!”. Nói xong ông liền uống rượu, ngâm thơ cho đến lúc say túy lúy. Còn tại Việt Nam thì sao, các thi sĩ có hay uống rượu tiêu sầu, đêm ngày say túy lúy như các thi nhân đời nhà Đường nói trên hay không? Điểm qua một số thi sĩ của Việt Nam ta, ta thấy họ uống rượu cũng không phải là ít. Nhiều thi nhân say mèm suốt ngày đêm không kém gì các bợm rượu bên Trung Hoa đời Đường. Mặc dầu nhiều người dở duyên với rượu nhưng khi có ai mời thì sẵn sàng uống ngay, không từ chối:

    Trời đất cho ta một cái tài,

    Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.

    Dở duyên với rượu không từ chén,

    Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời.

    Cờ sẵn bàn sơn, xe ngựa đó,

    Đàn còn phím trúc, tính tình dây

    Ai say, ai tỉnh, ai thua được,

    Ta mặc ta, mà ai mặc ai.

         (Bài “Cầm kỳ thi tửu” của Nguyễn Công Trứ)

    Bởi vì trót đã khuya sớm với ma men, trót đã nghiện rượu triền miên nên nhà thơ ngày đêm vẫn uống rượu cho dù mặc người đời khen hay chê thì cứ bỏ ngoài tai thôi, miễn sao vào vòng cương tỏa chân vẫn không vướng, tới cuộc trần ai, áo cũng chẳng hoen:

    Trót đà khuya sớm với ma men,

    Mặc kệ người chê, mặc kệ khen.

    Ngó lại hàng rào hương cúc lộn,

    Trông ra cửa sổ bóng trăng chen.

    Vào vòng cương tỏa chân không vướng,

    Tới cuộc trần ai áo chẳng hoen.

    Cứ những ai hay tình thú ấy,

    Có chăng Bành Trạch với Thanh Liên

         (Bài “Uống rượu tự vịnh” của Nguyễn Công Trứ)

    Bởi vì uống rượu thì phải say và đành chấp nhận tiếng say. Khi say thì sẽ quên đời, quên những nỗi buồn man mác chia phôi đang tung hoành và giày xéo tâm hồn. Vì vậy mà buồn ruột cho nên men phải nhấp, vui với ma men thế mà hay để rồi khi ma men tác oai tác quái trong cơ thể, hai tay bắt đầu quờ quạng vơ đũa, vơ chén trước mặt; lắm lúc say mèm nằm gục đầu bên cạnh mâm thức ăn mà ngủ li bì không ngồi dậy được:

    Đời này thực tỉnh những ai đây?

    Ai tỉnh cho ta chịu tiếng say.

    Buồn ruột cho nên men phải nhấp,

    Dở mồm nào biết giọng là cay.

    Bạn cùng quỉ dẫy chi cho bận,

    Vui với ma men thế cũng hay.

    Ngất ngưởng hai tay vơ đũa chén,

    Đố ai đã được cái say này.

           (Bài “Say rượu” của Trần Kế Xương)

    Có nhiều thi nhân vui với ma men vì nhung nhớ người yêu đã thành người thiên cổ. Vì thế càng nhớ người yêu càng say túy lúy. Nếu cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa, thi nhân lại uống thêm rượu vào sao cho cổ nóng lên như có lửa đang rực cháy, đầu nhức như búa bổ rồi thấy trời đất đang quay cuồng trước mặt. Lúc đó chàng đi xiêu bên nọ vẹo bên kia, miệng thốt lên liên hồi rằng say đi em! Say đi em! Say cho lơi lả ánh đèn. Thế rồi chàng quá say, chân chàng đã rã rời quay cuồng không được nữa, gối mỏi gần rơi, say rồi chàng không còn biết chi đời. Say như thế mà chàng vẫn thấy thành sầu vẫn chưa sụp đổ, nỗi buồn tê tái vẫn còn ngự trị trong lòng chàng!:

    Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!

    Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa

    Tay mềm mại bước còn chưa chuếnh choáng.

    Chưa cuối xứ Mê Ly, chưa cùng trời Phóng Đãng.

    Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men.

    Say đi em! Say đi em!

    Say cho lơi lả ánh đèn

    Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt.

    Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!

    Ta quá say rồi Sắc ngả màu trôi

    Gian phòng không đứng vững

    Có ai ghì hư ảnh sát bờ môi.

    Chân rã rời Quay cuồng chi được nữa

    Gối mỏi gần rơi

    Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa

    Say không còn biết chi đời

    Nhưng em ơi, Đất trời nghiêng ngửa

    Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ;

    Đất trời nghiêng ngửa

    Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!

         (Trong bài “Say đi em” của Vũ Hoàng Chương)

    Nhiều người uống rượu lâu ngày đến nỗi ghiền bỏ không được. Vì thế nhiều kẻ đã trở thành những ông nghiện rượu suốt đời. Họ uống hết ngày này sang ngày khác, tháng nọ đến tháng kia. Nhiều khi để thỏa mãn sự thèm khát, họ đưa chai lên miệng rồi “tu” một hơi cạn hết nửa chai! Thế rồi họ uống suốt tháng quanh năm không bao giờ ngưng được:

    Một năm mười hai tháng,

    Một tháng ba mươi ngày.

    Hũ lớn cạn, hũ bé cạn,

    Hay!

       (Bài “Người say rượu” của Phạm Đan Phượng)

    Chính vì uống rượu liên tu bất tận suốt đời ở dương gian như thế nên khi thác về dưới âm phủ, Diêm vương thấy anh chàng say rượu này mang kè kè bên mình một vật gì liền hỏi thì chàng ta trả lời rằng đó là cái BE!:

    Sống ở dương gian đánh chén nhè

    Thác về âm phủ cắp kè kè

    Diêm vương phán hỏi mang gì đó,

    Be!

    (Bài “Anh nghiện rượu” của Phạm Đan Phượng)

    Tuy nhiên không phải người nào uống rượu cũng muốn say mèm đề rồi đi chân bên nọ đá chân bên kia. Trái lại nhiều người uống rượu chỉ để tiêu sầu, hay mỗi lúc xuân về nhắp đôi ly rượu để đón xuân sang. Cũng có lúc chán chê đường danh vọng, họ chỉ muốn về quê vui thú điền viên. Thế rồi một tay cầm cuốc một tay cầm cần câu, họ tìm nơi vắng vẻ ngồi nhìn trời xanh mây trắng nắng hồng, lưng dựa vào gốc cây, miệng nhắp vài ly rượu hồng rồi thưởng thức cảnh thanh bình nơi miền hoang dã:

    Một mai một cuốc một cần câu

    Thơ thẩn dù ai vui thú nào

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao

    Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

    Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

                          (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

    Thật thế, nhiều người uống rượu để ngồi nhìn thế thái nhân tình xảy ra trong đời như thế nào thôi. Vì thế ngày nào họ cũng uống lai rai năm ba ly nho nhỏ để rồi mang tiếng là uống rượu hay nhưng hay chẳng là bao nhiêu, nhiều khi mới nhắp năm ba chén đã say rồi:

    Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy,

    Độ năm ba chén đã say nhè.

        (Trong bài: “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến)

    Vì có nhiều người mới uống một hai ly nhỏ đã thấy say ngà ngà rồi nằm ngủ luôn một giấc chẳng đụng chạm tới ai cả, nên người yêu thỉnh thoảng mua rượu cho chàng uống đề chàng say vài ba giờ cho đời thêm tươi mà trong lòng không có gì hậm hực hay buồn lòng:

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi

                                        (Ca dao Việt Nam)

    Nhưng thường thường khi tửu nhập thì ngôn xuất, mà ngôn lại xuất lúc trí óc không sáng suốt nên lắm lúc nói năng lung tung, lời qua tiếng lại đụng chạm tha nhân làm mất lòng người. Đó là chưa nói đến những anh chàng say sưa suốt ngày suốt đêm, miệng luôn luôn lẩm bẩm những lời lẽ thiếu nhã nhặn, lắm lúc nói dai dẳng không bao giờ ngưng khiến ai cũng sợ nên phải tránh mặt:

    Ở đời chẳng biết sợ ai

    Sợ thằng say rượu nói dai cả ngày

                              (Ca dao Việt Nam)

    Ai cũng biết rằng khi say rượu thì không thể làm gì được cả. Bởi vì khi ma men đang điều khiển thì lý trí bị lu mờ làm sao có thể kiểm soát được mà chỉ thị cho cơ thể hành động. Cuối cùng đành phải bỏ dở công việc vì đầu nhức như búa bổ sau khi say tít cung thang:

    Ai ơi uống rượu thì say

    Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.

                                (Ca dao Việt Nam)

    Đã thế, khi say lại nói năng đủ điều. Chuyện gì bí mật trong đời cũng cho tuôn ra ngoài như thác đổ. Thảo nào một nhà tư tưởng phương Tây đã nói rằng khi yêu và khi say rượu, người ta thường nói hết sự thật:

    Mang bầu đến quán rượu dâu

    Say sưa quên hết những câu ân tình.

                                   (Ca dao Việt Nam)

    Đã thế gặp lúc chuếnh choáng hơi men, người đi không vững, mặt mày đỏ lên khiến mọi người trông thấy ai cũng chê cười và nguyền rủa. Chính điểm này mà nhiều người muốn chừa không uống rượu nữa. Tuy nhiên nhiều lúc họ nghĩ rằng khi say rượu, tâm hồn họ thấy lâng lâng thích thú như đang bay bổng trên mây. Vì thế mà nhiều khi chừa cũng được nhưng họ lại chẳng muốn chừa!:

    Những lúc say sưa cũng muốn chừa,

    Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.

    Hay ưa nên nỗi không chừa được.

    Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa.

            (Bài “Chừa rượu” của Nguyễn Khuyến)

    Nói thế không phải những người say rượu lỡ nghiện rồi không thể bỏ được. Mà nhiều người cũng có thể bỏ được khi họ bị dồn vào thế phải chọn lựa giữa việc bỏ rượu và bỏ cái khác ngon hơn rượu nữa. Cuối cùng họ đành quyết định bỏ rượu nhưng vẫn còn nằm trong ý nghĩ “may ra” hay là “họa chăng” mà thôi:

    Một trà một rượu một đàn bà

    Ba cái lăng nhăng cứ quấy ta

    Chừa được cái nào hay cái ấy

    Họa chăng chừa rượu với chừa trà.

                                   (Trần Kế Xương)

    Tóm lại, chẳng khác gì các thi sĩ bên Trung Hoa như Lý Bạch, Đỗ Phủ vv…, tại nước ta các thi sĩ cũng uống rượu như điên nên họ đã mang rượu vào trong thơ khiến lắm lúc khi đọc thơ, ta cứ tưởng ta cũng đang uống rượu rồi say mèm đến tít cung thang vậy.

    Dương viết Điền

  • Âm nhạc,  Phạm Cao Tùng

    ÂM NHẠC CUỐI TUẦN

    Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian xin hân hạnh giới thiệu cũng như đón chào Anh Phạm Cao Tùng tham gia vào nhóm của chúng tôi, anh là cựu học sinh trướng trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, niên khóa 1959-1966 và hiện đang cư ngụ tại thành phố Brisbane, Úc Châu.

    Chúng tôi cũng được biết anh Phạm Cao Tùng là em trai của Nhà Vãn Phạm Gia Đại, hiện đang sống tại vùng Little Saigon, Orange County, California, USA

    Anh Phạm Cao Tùng đã thực hiện và thu âm rất nhiều bản tình ca, thiền ca, nhạc ngoại quốc của các nhạc sĩ nổi tiếng qua chính giọng hát của anh. Dưới đây là danh sách các bài hát mà anh đã thực hiện và thu âm.

    Tình ca:

    Nhạc ngoại quốc:

    Thiền ca:

    Thân kính mến gửi đến quý anh chị em giây phút giải trí cuối tuần qua nhạc phẩm : Bên Em Ngày Cuối

    Thân mời quý vị thưởng thức

    Phạm Cao Tùng

    https://youtu.be/ndTxlgqUlH0

  • Lê Nguyễn Nga,  Tin tức,  Văn Thơ

    NHỚ VỀ TRĂNG MỜ BÊN SUỐI VÀ TƯỞNG NIỆM NHẠC SĨ LÊ MỘNG NGUYÊN

    NHẠC SĨ LÊ MỘNG NGUYÊN

    Đầu tháng 7 nhận được tin buồn từ trang Web Cỏ Thơm do Chủ Nhiệm Phan Anh Dũng gửi đến các đọc giả. Đọc được hai chữ tưởng niệm NS Lê Mộng Nguyên (LMN) tôi cảm thấy rất buồn, dù biết rằng tin này rồi cũng sẽ đến. 

    Cách đây khoảng vài tháng tôi có email hỏi thăm chị ca sĩ Trần Quang Hải, Bạch Yến và chị Quách Vinh Thiện Thanh Vân về tin không được tốt của ông. Nhưng hai chị đều trả lời không được biết. Có thể lúc đó ông đã yếu sức, là khoảng thời gian ông không thể đến gặp các ban văn nghệ sĩ như lúc trước.

    Nói đến Lê Mộng Nguyên thì phải nói đến tác phẩm để đời “Trăng Mờ Bên Suối” ra đời năm 1949, lúc tôi được may mắn nghe ông kể lại, là câu chuyện của ông lúc đầu đời khi tuổi còn rất trẻ và đây là hai người đang yêu nhau. Ông nói tiếp rằng nguồn cảm xúc là gặp người yêu trước khi ông đi du học Pháp. Ấn khúc của bản nhạc là một chuyện tình buồn của Ông và người thiếu nữ tên Mai.  Khi giã từ người yêu đi du học nước ngoài năm 1950, Ông cứ đinh ninh sẽ có ngày trở lại đất nước và gặp người yêu. Nhưng, lần chia tay đó cũng là lần vĩnh biệt.  Cô Mai bị bệnh nặng và qua đời.  Nhà thơ Hữu Loan với Màu Tím Hoa Sim để khóc vợ; NS Lê Mộng Nguyên cũng quá đau lòng qua bài thơ “Ma vie sans toi” thương tiếc người con gái vắn số. 

    Kỷ niệm nhiều lần gặp mặt với NS Lê Mộng Nguyên  và các nhạc sĩ khác tại Paris như vẫn còn mãi trong tâm trí tôi.  Đó là những ngày mùa thu 2005 và 2006 tại Paris. Khi lá vàng đã rơi đầy đường phố, đặc biệt trong và ngoài khu vườn Luxembourg. Quân 5, Saint Germain cũng là nơi ông bà LMN đã ở gần đây từ vài chục năm. 

    Hai Người bạn tôi là Thy Như và Như Ninh giúp tổ chức cuộc hội ngộ các anh chị em nghệ sĩ tại quán Huế Imperial, khu Opera Paris.  Gặp được nhau đúng là một cái duyên. Tôi còn được gặp thêm các nghệ sĩ tiền bối như NS Lê Mộng Nguyên, TS Đỗ Bình, NS Trịnh Hưng, NS Bích Thuận và nhiều người nữa.  Nhưng riêng NS Lê Mộng Nguyên, tôi đã liên lạc trước qua phone và email để gửi sách và CD qua Pháp trước khi tôi đến.  

    Tôi đến Paris lần đầu tiên với nhiều háo hức về Kinh Thành nổi tiếng này. Nhưng, cảm động hơn là được gặp các vị nghệ sĩ tiền bối này. Khí gặp NS Lê Mộng Nguyên tôi vui và ngạc nhiên lắm vì  trong chương trình ông nói rất rành mạch  về nhạc và thơ của NS Lê Trọng Nguyễn, kể cả thơ của Nga. Tôi hát “Trăng Mờ Bên Suối” thì được ông cất tiếng hát chung, song ca không dự định trước.  

    Điều đó cho tôi thấy ông rất đam mê văn thơ và nhạc Việt Nam từ lúc trẻ.  Tuy ông đã đi du học năm 1950 và chưa bao giờ trở lại Việt Nam.  Tôi có hỏi thăm về cuộc sống và cảm nghĩ của một người lỗi lạc và yêu văn nghệ như ông, đã sống xa quê hương lâu dài. Ông Lê Mộng nguyên có tâm sự rằng ông không muốn nhìn lại Việt Nam trong cảnh đồng bào đau khổ dưới chế độ Cộng Sản .

    Gặp được các vị văn, thi, nhạc sĩ Paris trong những mùa Thu năm 2005 , 2006, 2007 thật là điều may mắn và hân hạnh trong kỷ niệm này. 

    Năm 2010 tôi đến Paris tham dự tiệc cưới con gái một người bạn. Tôi may mắn được gặp gỡ đi chơi thăm viếng vài nơi  do anh chị NS Quách Vĩnh Thiện -Thanh Vân đưa  đi chơi, tôi được dịp thăm viếng nhiều thắng cảnh của Paris  rất đẹp. 

    Kế đến là một dịp thật vui, Năm 2008 NS Lê Mộng Nguyên báo tin là ông cùng TS Đỗ Bình đến ra mắt sách tại Virginia, DC.  Nga liên lạc qua phone cùng thi sĩ Lam Thuy, nguyên Chủ Tịch Văn Bút vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, là một người đã luôn giúp Nga trong những lần đến VA. Nga nhớ mãi Lãm Thúy đã đưa Nga đến thăm cựu Chủ Tịch VB  Văn Duy Tùng, một người đang sống trong kỷ niệm buồn với sự ra đi của người vợ hiền.

    Bữa cơm tối trước ngày Ra Mặt Sách  Nga được gặp nhiều văn thi sĩ địa phương vùng VA, DC.

    Miền Động Bắc Hoa Kỳ, DC.  trong tháng 4,  2008, mùa xuân và vạn vật tươi vui đã quyến rũ khách phương xa.  Ns Lê Mộng Nguyên và Nga thật vui mừng trong lần hạnh ngộ này.

    Hôm  đó là ngày RMS ,Nga được gặp rất nhiều bạn của chồng mình là thi-họa-sĩ Vũ Hối và các bạn, nhà văn Hồng Thủy, Hải Yến – Đoàn Định.  Nhà văn Đỗ Hồng Anh khỏan đãi khách tại tư gia và đã tổ chức một ngày văn nghệ vui họp mặt thân mật của các bạn.

    Không khí ngày RMS của 2 tác giả thật trang trọng, ấm cúng. Nga thật vui vì có dịp bày tỏ và cảm ơn NS Lê Mộng  Nguyên, Ông luôn nhắc về tình thân giữa đạo diễn Lê Mộng Hoàng và NS Lê Trọng Nguyễn, đặc biệt với cuốn phim “Nắng Chiều”, phát hành và trình chiếu năm 1972 tại Saigon.

    NS Lê Mộng Nguyên, Thi sĩ Đỗ Bình thăm Hoa Thịnh Đốn – Falls Church, Virginia 2008.

    Sau 3 ngày vui hạnh ngộ,  thi sĩ Lãm Thúy tình nguyện làm tài xế đưa đón anh chị em.  Cuộc vui  nào rồi cũng tàn.  Chúng tôi trở lại Cali với những nhớ nhung vô vàn và nhiều kỷ niệm đẹp.  Sau khi về lại Cali, Nga nhận được 1 tấm hình từ nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên chụp kỷ niệm ông solo đi viếng thăm cảnh DC với những cành đào không còn hoa vì đã vào sau ngày 10 tháng 4 năm 2008. Ngẫm nghĩ lại cuộc đời này hơi buồn, đúng là lạc hoa lưu thủy, gặp đó rồi tan đó.

    Cảm ơn PAD – TH đã cho Nga lại những tấm hình với kỷ niệm mến thương một nhân tài.

    Cầu chúc linh hồn ông được thanh thản ở chốn bồng lai, ở đó có ánh vàng lung linh và giòng suối luôn chảy mãi. Mong ông được gặp lại người thương trong tuyệt phẩm Trắng Mờ Bên Suối, với mối tình tuyệt vời của ông đã được ông ôm ấp hơn 70 năm trước.

    Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối. …

    … Một đêm thiết tha rồi đây  xa cách 

    …Đường chia đôi ngã biết đến Phương nào…

    Lê Nguyễn Nga, Cali  10 tháng 7 năm 2023.

    TRỜI ÂU THAM THẲM

      HAY LÀ KHÚC NHẠC TÌNH DANG DỞ KIẾP THA HƯƠNG

    *** Lê Mộng Nguyên ***

    Mến tặng chị Lê Trọng Nguyễn thị Nga (trả lời vài câu hỏi dẫn khởi trong một phỏng vấn sau này)

    Trời Âu thăm thẳm, một trời Âu

    Ba-Lê vạn ngả lắm phương sầu

    Năm năm tháng tháng ngày vô tận

    Vẫn nhớ nhung hoài thuở có nhau

    (trích Đời Không Có Em của Lê Mộng Nguyên)

        Một buổi chiều cuối thu mưa tầm tã trên thành phố hoa lệ Paris, năm 1953. Gió rét thổi từng hồi, lá vàng rơi tan tác trên những con đường ẩm ướt, vắng lạnh, trong ánh chập chờn của một mùa hoàng hôn ngắn ngủi. Chiếc xe hàng vừa đỗ tại công trường lớn Denfert-Rochereau, một thiếu niên người Việt hối hả bước xuống, nhìn đồng hồ tay, rồi gấp gáp chạy qua đường, tiến về quận 14 (đại lộ Saint Jacques), nét mặt ra chiều lo lắng. Rẽ vào con đường nhỏ, chàng đến trước một căn nhà cũ kỹ, mở cửa vào phòng trọ. Thấy một bức thư dày nằm trọn trong hộp thư, chàng vội vàng quăng mũ áo trên giường, hồi hộp bóc thư ra. ”Thư của Mai’‘, Lê Nguyên tự nhủ thầm. Thoáng thấy dòng đầu của lá thư: ”Anh nhận được thư này thì Mai của anh không còn nữa... ”, chàng cảm xúc lạnh người, đầu óc quay cuồng, choáng váng, con tim như ngừng đập, chàng đọc tiếp bức thư…

        Cách đây ba năm, lần đầu tiên chàng rời thành phố Huế thơ mộng qua Pháp du học:

    Ai đi xa Huế ngàn năm nhớ làn mắt ướt  

    Đây cô gái Huế làm duyên dáng cười với ai?

    Mây trời nước bên dòng Hương

     Đò ai nghiêng mái chèo bên chùa Thiên Mụ,

     Ngược bến Bao Vinh theo tình nước mây...

    (Nhớ Huế, Nhạc & Lời của Lê Mộng Nguyên).  

    Xa nhà ! Từ nay cha già mẹ yếu ai ngườI lo lắng sức khỏe ? Và Thúy Mai, ngườI thiếu nữ xinh đẹp chàng đã gửi tất cả tình thương ? Nhưng vì chiến tranh sắp bùng nổ, vả lại gia đình đôi bên đều nghĩ rằng hai đứa này còn quá trẻ, nên phải đình chậm việc kết hôn. Chàng là ngườI con chí hiếu nên vâng lời ra đi, nhưng ruột đau như cắt vì rồi đây trờI Âu mịt mờ, ngày về không ước định. Mai đã khóc rất nhiều và thề nhất quyết sẽ đợi chàng :

    Hôm nay lạnh quá em ơi

    Anh run run dở mấy lờI trong thư

    Duyên xưa sống lại đôi giờ

    Ngày qua tháng lại em chờ đợi mong…

    (Mấy Tờ Thư, Thơ LMN).

         Hôm đầu tiên đến Paris, trong lúc xách va li bâng khuâng tìm chỗ trọ, chàng may mắn gặp một người bạn đồng hương – Trần Xuân Sanh – giới thiệu cho chàng một căn phòng tạm ở ngay khách sạn của mình, và từ dạo ấy hai người trở nên thân thiết. Sanh có người anh học ở tỉnh từ lâu, đã thành hôn với một thiếu nữ người Pháp. Mồ côi cha mẹ, họ hàng thân thích chỉ còn anh em và chú bác thành thử việc ấy không có ảnh hưởng gì to lớn đến gia đình. Nhưng Sanh cảm thấy xa anh mình hơn trước… Sanh là một họa sĩ, sinh viên trường cao đẳng Mỹ Thuật, gặp được Lê Nguyên, một nhạc sĩ, sinh viên Đại học Luật khoa sắp ra trường, hai người đồng nghệ sĩ thành thử rất gần nhau trong lý tưởng nên trong những lúc buồn hay tâm sự cùng nhau. Trong mấy tháng đầu ở kinh đô hoa lệ, Nguyên quá nhớ nhà, nhớ Mai: Mai ơi, nếu anh là con chim phượng, anh sẽ bay về cố hương để tìm em! Trời ơi nhớ em quá làm cho tim anh nhức nhối, sắp rã tan. Thôi chết vì tình cũng là may mắn vì linh hồn anh mãi mãi bên cạnh em… Anh nhớ hai chúng ta đã cùng hát ”Một Chiều Thương Nhớ” (của LMN) lúc đi dạo chơi trên đường Nam Giao hoặc bên núi Ngự Bình:

    Chiều vàng có đôi chim ngừng cánh,

    Nguyền song song một tình đắm say,

    Thề ước dù đời đắng cay mà bóng chiều xưa

     Màu thời gian không hề úa phai.

         Để giải sầu, chàng đọc sách rất nhiều, viết thư luôn về thăm gia đình, thăm Mai. Chàng nhận được rất nhiều tin của Mai, cứ đều đều khoảng hai ba bức mỗi tuần. Chàng luôn trả lời, với tất cả tấm lòng tha thiết của mối tình yêu ban đầu. Tuy nhiên dần dà, vì bận học, chàng ít trả lời ngay cho thư Mai, có lúc để dồn lại gần mười lá mà không có dịp hồi tin. Nhưng Mai vẫn kiên nhẫn viết rất nhiều cho chàng, thư nào cũng nồng đượm lời hẹn ước những ngày qua, mặc dầu thư đi thì có mà thư về thì đã bắt đầu thưa dần…

    Một ngày xa nhau xóa bao hình bóng

    Trời bày chia ly chi cho lòng héo?

    (Trăng Mờ Bên Suối của LMN)

    Mai có ngờ đâu Paris muôn vàn ánh sáng đã quyến rũ Nguyên. Sự chung đụng hàng ngày của nam nữ sinh viên Pháp, lúc đầu chỉ là thoáng qua, nhưng lâu hóa thành đậm đà. Nhiều lúc nhận được thư Mai van lơn thảm thiết, chàng tự khuyên nhủ, trắng trợn : ”Làm sao tin đuợc những lời ấy là chân thật. Xa mặt thì rất dễ cách lòng !” Sanh hay khuyên chàng nên trở lại với Mai và coi tình yêu với một cô gái Pháp chỉ là thú vui chốc lát, nhưng Nguyên không bằng lòng, có lúc đã giận bạn lâu ngày.

         Rồi bẵng đi một dạo, chàng không nhận được thư Mai nữa. Nàng đau chăng ? Hay đã nghe lời khuyên của Nguyên xây đắp một tình yêu mới khác? Hèn nhát, Nguyên thấy bớt một gánh nặng của tâm hồn: phải chăng Mai đã quên chàng ? Từ ngày ấy, chàng lại càng yêu tha thiết Mireille mà chàng gọi là Mimi, ý muốn ngày sau xin cưới hỏi nàng… Nhưng trước những lời lẽ đanh thép của Sanh chống việc thành hôn với một người ngoại quốc, đôi lúc một mình, Nguyên tự hỏi băn khoăn: Ta yêu Mimi, nàng cũng chân thật yêu ta, nhưng lấy nhau rồi, hai đứa Á Âu cách biệt có thể được hạnh phúc lâu bền không? Hơn nữa, sẽ còn biết bao nhiêu vấn đề phải giải quyết: dân tộc, tư tưởng, phong tục, tôn giáo… Lấy nhau rồi, liệu có cùng chung sống ở nước nhà một cách bình thường (như mọi người) không? Nhưng trước vẻ đẹp sắc sảo và tính nết dịu dàng của Mimi, Nguyên cố quên tất cả để vui sống hạnh phúc quê người. Tuy nhiên, không ai lãng việc học hành, cuối năm nào hai người cũng đều thi đỗ cho tới năm nay vẫn học cùng lớp với nhau…

         Cho đến chiều hôm nay, đọc thư Mai viết trong nước mắt, Lê Nguyên hầu như tỉnh một giấc mơ. Chàng đã cố sống lại những ngày qua:

    Rồi đây sương gió duyên kiếp lỡ làng

    Trời xa xăm lắm em biết đâu tìm

     Lòng anh khắc khoải chờ mong

     Mờ mịt trời Âu đôi lứa khóc âm thầm…

    (Một Chiều Thương Nhớ của LMN).

    Mai vốn yếu tim, chàng ra đi lại thêm buồn bã, nhất là từ ngày vắng thư người trai trẻ, bệnh tình lại càng trầm trọng hơn… Dù muốn dù không, trong cái chết của Mai, chàng phải gánh một phần trách nhiệm. Hối hận, chàng gục đầu xuống bàn, nức nở. Có tiếng gõ cửa mạnh, nhiều lần. Nửa mê nửa tỉnh, Nguyên lê bước nặng nề ra mở, sực nhớ hôm nay chàng có hẹn với Mimi lại thăm cho nên lúc nãy chàng đã hối hả đi gấp trên con đường mưa gió đặng về cho kịp. Mimi bước vào, vừa chào vừa xin lỗi đến chậm vì bận việc phút cuối cùng và phàn nàn trời nắng đẹp đã không còn nữa. Cánh cửa bật ra, chưa kịp đóng lại thì một luồng gió mạnh thổi tạt vào đánh rơi cái bì thư từ nãy nằm trên bàn xuống đất. Một cánh hoa tàn bay lả tả, cùng cái ảnh cũ của Mai đã phai màu. Mimi định cúi xuống lấy thì Nguyên đã hoảng hốt hấp tấp nhặt lên, bỏ tấm ảnh người xưa vào túi và nhìn cánh hoa tàn một cách âu yếm… Trong khoảnh khắc, chàng nhớ lại một ngày thu năm ấy hẹn cùng Mai bên bờ suối nhỏ cuối làng, cạnh núi Ngự Bình:

    Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối

    Rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu

     Một đêm thiết tha rồi đây xa cách

    Rồi đây hai ngả biết tới phương nào…

    (TMBS).

    Chàng còn nhớ đêm hôm ấy đã âu yếm tặng Mai một đóa hoa hồng. Kỷ vật ấy, nàng ấp ủ đã từ lâu… cho đến ngày tận thế.

         Mimi ngạc nhiên thấy Nguyên không vồn vã như thường lệ giúp nàng cởi áo ngoài và chào hỏi. Chàng thờ thẩn mời nàng ngồi cạnh lò sưởi rồi lại chìm đắm trong quá khứ thương đau:

    NgườI của ta giờ nay ở đâu?

    Trời Âu thăm thẳm một trờI Âu

    Ba-Lê vạn ngả đường vô tận

    Để hận muôn đời không có nhau!

    (Trời Âu, thơ LMN)

        Mimi săn sóc hỏi duyên cớ: Mais qu’est-ce que tu as, mon chéri ? Tu as l’air gêné de me revoir… Thấy Nguyên im lặng, nàng sinh lòng nghi ngại. Rồi đổ ghen tuông vì sực nhớ cử chỉ của Nguyên vừa rồi khi cúi lượm tấm ảnh và cánh hoa tàn. Nàng dồn dập hỏi chàng với giọng đầy cay đắng. Trước còn muốn giấu, sau chàng đành kể lại tất cả mối tình u ẩn ở nước nhà cùng cái chết của Mai. Niềm hối hận thúc chàng nổi giận Mimi, kiếm cách gây chuyện. Theo chàng, dù muốn dù không, Mimi đã gián tiếp nguyên do cái chết của Mai. Mimi khóc lóc, bỏ giận ra về, sau khi nói trong nước mắt: Je te souhaite tout le bonheur possible avec une de tes compatriotes!

         Cánh cửa vừa đóng lại một tiếng mạnh thì như điên dại, Nguyên vội vàng lấy áo mũ ra đường đi tìm quên lãng. Quên cả đói bụng, chàng đến ngay một tửu điếm… chuốc sầu, trong vùng Saint-Germain-des-Prés… Đêm ấy, Nguyên uống rất nhiều rượu và hút rất nhiều thuốc lá. Trong lúc mơ màng qua khói xám, chàng bỗng giật mình cảm giác một bàn tay nhè nhẹ đặt trên vai. Chàng nhận ra Sơn, bạn chàng, muốn mời lại cùng vui chuyện trò với anh chị em đồng hương ở góc phòng, vì đêm nay thứ bảy, tha hồ thức khuya. Nguyên nhận ra trong nhóm có Khánh Ngọc, một nữ sinh viên trường Thuốc mà chàng đã có dịp gặp đôi lần ở Xóm Latin. ”Trông chị Ngọc hôm nay có sự gì buồn lắm”, nghe giọng phê bình của một bạn trai, Nguyên liếc nhìn trông người đẹp có đôi mắt quầng thâm, tuồng như đã khóc rất nhiều. Nhạc cử một bài êm dịu. Mọi người đều ra nhảy, chỉ trừ Nguyên và Ngọc, mỗi người đắm chìm trong một thế giới riêng… Khánh Ngọc cách đây không lâu đã từng gửi tất cả tình thương cho một sinh viên trường Thuốc học trên nàng ba lớp, tên là Nguyễn Mạnh Toàn. Toàn và Ngọc yêu nhau tha thiết, hứa hẹn sẽ lấy nhau khi chàng tốt nghiệp. Nhưng sau khi thi đậu, Toàn vì việc nhà phải hồi hương ngay. Chàng hẹn với Ngọc sẽ trở lại Pháp đoàn viên. Từ dạo ấy, Toàn rất ít viết thư, chỉ trừ một lần cho biết chàng đã đến Sài Gòn. Ngày, tháng, năm qua… cho tới một hôm, nàng được tin – do một người bạn gái từ nước nhà – người yêu của Ngọc đã làm lễ thành hôn với một cô gái nhà giàu bậc nhất thành phố. Nàng chán đời, muốn tìm quên lãng, nên nhận lời mời các bạn quen tới quán rượu đêm nay.. Ngọc vừa kể xong, Nguyên an ủi khuyên nàng nên can đảm, mặc dầu con tim chàng cũng tan rã như người đối diện. Từ giây phút ấy, hai kẻ đồng bất hạnh tuy không nói ra, đã ngấm ngầm có cảm tình với nhau. Nguyên thấy Ngọc tương tự giống Mai. Trong bâng khuâng, chàng cảm giác Ngọc là hiện thân của Mai. Chàng tưởng tượng Mai gầy gò trên giường bệnh, đôi mắt đăm đăm nhìn chàng như trách móc. Hoảng hốt chàng đứng dậy, không kịp chào Ngọc, hấp tấp bước ra khỏi tiệm như muốn xua đuổi một hình ảnh đau thương. Trong vội vàng, Nguyên thả rơi cuốn sổ tay nhỏ mà không hay. Ngọc nhặt lên, định chạy theo gọi chàng, nhưng quá chậm, chàng đã biến mất. Ra ngoài đường, Lê Nguyên như điên dại: hình ảnh Mai trở lại ám ảnh chàng. Mimi và Ngọc chỉ thoáng qua tâm trí, lúc mờ ảo, lúc rõ ràng. Trái lại, Mai với nét mặt buồn bã trước khi mất, cứ lảng vảng hoài trong óc não. Dạo bước ven bờ sông Seine lúc trời hừng sáng, gió ban mai cùng tiếng nhạc của trời đã reo vang trong lòng chàng. Trước cảnh bao la vạn vật, một bình minh hòa nhịp với con tim chàng hiện giờ, chàng cảm hứng sâu đậm, vội ghi lại trong một bản nhạc lòng ai oán:

    Chỉ thiếu một mình em

    từ nay bên trời Âu xa vời

    Mây kéo lê thê, trời nước bao la

    kìa dòng sông Seine lơ lửng xuôi ngày tháng…

    (Xuân Tha Hương, nhạc và lời LMN).

         Ba hôm sau, chàng nhận được thư của Mimi. Nàng chia buồn về chuyện Mai, mong chàng tha thứ sự đáng tiếc xẩy ra hôm nọ. Suy đi nghĩ lại, nàng xin chàng nên quên nàng vì Âu Á khó lòng được gặp nhau. Nàng quả quyết hy sinh mối tình đầu cho chàng rồi đây sẽ được hạnh phúc hoàn toàn với một thiếu nữ đồng hương. Đau khổ cực độ, nàng chỉ ước vọng thời gian mới hàn gắn được vết thương sâu. Đọc xong thư, Nguyên như người mất hồn. Thế là hết: người xưa đã mất, vì chàng, mà nay người yêu trên đất khách cũng bỏ ra đi. Lòng tan nát, Nguyên cần có một người an ủi: Khánh Ngọc! Chàng tiếc rằng hôm ấy quá hấp tấp chàng quên xin địa chỉ nàng. Vội vàng trở lại tửu điếm hôm ấy dò tin tức thì may gặp một bạn quen cho biết nàng ở một vùng ngoại ô phía Nam Paris, nhưng không rõ đường nào. Nguyên vội vã thuê xe taxi chạy đến vùng ấy để vừa hỏi vừa tìm kiếm. Làng mạc đây rộng mênh mông, ai biết cô gái Việt ở chốn nào. Lang thang đường này qua ngõ khác, lúc bước hối hả, lúc chậm dừng lại để hỏi người qua đường. Như mất hồn, chàng chạy qua một ngả sáu, vì mê mải, không nghe rõ tiếng còi, một chiếc xe hơi chạy nhanh phải ngừng ngay trước mặt chàng. Tiếng phanh rít lên, chàng hãi hùng lảo đảo ngã xuống đất, bất tỉnh, đầu chạm phải xe, một dòng máu nhỏ rỉ ra.. Nguyên được đưa ngay đến nhà thương Kremlin-Bicêtre. Nghe tin, Sanh vội vã tới thăm, thấy vết thương trên đầu không nặng, đem bạn về chăm lo.

         Nằm trên giường lúc tỉnh lúc mê, Nguyên được Sanh săn sóc chu đáo. Trong giấc mơ màng, chàng thấy Mai và Ngọc quá giống nhau. Trái lại, hình ảnh Mimi mờ dần trong ký ức… Có tiếng gõ cửa. Ngọc vào lo lắng hỏi Sanh về sức khỏe của Nguyên. Từ hôm gặp chàng ở quán rượu, nàng có cảm tình ngay. Biết địa chỉ Nguyên trong cuốn sổ tay nhỏ, nàng thấu rõ mối tình dang dở của chàng với Mai qua mấy dòng chữ nghẹn ngào mà chàng đã ghi lại:

    Ta biết tìm em ở chốn nào ?

     Đường đời muôn dặm bước thương đau

    Ta lê cuộc sống, hồn tê tái,

    Xây mộng không thành, hẹn kiếp sau !

    Nơi đây, đất khách còn ghi lại

    Một chút hương lòng tới cố nhân

    Hôm nay trong lá thư lần cuối

    Ta viếng thăm em được mấy vần

    (Trời Âu, thơ LMN)

    Hôm nay, do dự mãi, nàng lấy cớ đem trả cuốn sổ tay để được gặp lại Nguyên. Nàng cũng không biết vì sao, nhưng cảm thấy lòng đỡ khổ. Có ngờ đâu biết chàng xuýt tai nạn trên con đường tìm kiếm gặp lại nàng:

    Em của anh giờ nay ở đâu ?

    Tìm em anh dạo suốt canh thâu

    Đường chia hai ngả anh đâu biết

    Là sẽ ngàn năm vĩnh biệt nhau

    Em của anh giờ nay ở đâu ?

    Mình anh thui thủi suốt canh thâu

    Đêm nay thức trắng bên bờ gió

    Mặc tuyết mưa rơi, bạc mái đầu !

    (Tìm Em, thơ LMN)

         Thấy Nguyên kêu khát, nàng vội xuống bếp pha trà rồi tự mình đem lên mời bạn. Nguyên mở mắt, tỉnh dậy, thoáng thấy Ngọc đưa chén nước đầy hơi, mỉm cười âu yếm ra vẻ cảm ơn. Ngọc mỉm cười trả lại. Sanh hiểu ý, lặng lẽ ra khỏi phòng, rồi không biết vì lơ đãng hay cố ý, quên khép cửa lại. Ngoài đường, sau một trận mưa tầm tã, trời tạnh ráo, vài tia sáng xuyên qua cửa mở chiếu vào nhà… Ngọc vội vàng đứng dậy, định ra đóng cửa lại, nhưng thoáng thấy Nguyên lắc đầu ra hiệu, nàng chợt hiểu, hai người thương mến nhìn nhau… TrờI thu bỗng nắng lên, như một nguồn hy vọng sưởi ấm lòng đôi bạn mới của tình yêu.

    Lê Mộng Nguyên (Paris)

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt,  Viet-Hải

    Book Preface Nữ Sĩ Dương Hồng Anh & Khánh Lan *** Thi tập thứ 12, tên tựa “Những Gì Để Nhớ” của Nữ sĩ Dương Hồng Anh. Khánh Lan viết giới thiệu.

    Khánh Lan gởi lời cám ơn NV Việt Hải đã dành những mỹ từ thân quý khi kể những kỷ niệm về Khánh Lan.

    Quý anh chị thân mến,

    Với Khánh Lan, ai hướng dẫn cô thường khen cô siêng năng và thông minh. Anh Phạm Hồng Thái đã chỉ dẫn cô về layout sách, graphic design, học nhạc, soạn lyrics… cô học khá nhanh. Tôi chỉ dẫn Khánh Lan về văn biên khảo, văn phê bình tác phẩm thi ca hay văn xuôi, cô năng động, nhanh lẹ lãnh hội. Bố chồng Khánh Lan (nhà thơ Việt Cường) và chú chồng Khánh Lan (nhà thơ Tráng Hạc) qua đời để lại cho cô cả ngàn bài thơ. Hai cụ say mê thi ca một thuở Hà Nội xa xưa 1940s-50s, vào Sài-Gòn thi ca thuở Nghệ thuật Tao Đàn của Đinh Hùng, Nguyễn Đình Toàn. Khánh Lan thừa hưởng máu thi ca gia đình, rồi nay Khánh Lan được nhà thơ vong niên Dương Hồng Anh nhận làm bạn thơ.

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian hiện soạn và in tập thơ thứ 12, với tên tựa “Những Gì Để Nhớ” của Nữ sĩ Dương Hồng Anh. Khánh Lan viết giới thiệu và những kỷ niệm với tác giả của thi tập mới.

    Tôi đề nghị Khánh Lan nên nghiên cứu thêm thơ Limestone của người Anh, thơ Nga như Ivan Turgenev, Anna Akhmatova, Alexander Pushkin. Ngoài thơ Pháp, Anh, Việt, nên tìm hiểu thêm về thơ Sijo (Đại Hàn) và Haiku (Nhật Bản).

    Thể thơ Sijo (Hàn Quốc) và Haiku (Nhật Bản) vốn là di sản văn học quí giá trong nền thi ca nói riêng và văn học nói chung của hai nước góp phần tạo nên cốt cách và tâm hồn dân tộc. Nhìn trong mối tương quan về mặt thể loại xét trên cách nhìn bình diện, dưới những ảnh hưởng và tác động của các ỵếu tố khách quan cùng với những vấn đề khác, chúng tôi thấy thể thơ Sijo và Haiku có những nét tương đồng và dị biệt. Khảo sát hai thể thơ trên từ nhiều góc độ chúng tôi cho rằng, giữa chúng có những điểm gần gũi gặp gỡ nhau nhưng chúng có những nét khác biệt.

    Thi ca vốn nằm trong phạm trù Mỹ học. Khái quát khi nhìn chung thì Mỹ học (Aesthetics) ngày nay đã được giới học giả hàn lâm thừa nhận nó là một bộ môn của triết học, và môn học này chú trọng đến vấn đề tìm hiểu cái đẹp và cái xấu, nghiên cứu xem những đặc tính về cái đẹp và cái kém đẹp đó có thực sự hiện hữu trong tác phẩm nghệ thuật như thi ca hay chỉ có trong suy tưởng của cá nhân người thưởng ngoạn.

    Mỹ học cũng có nhiệm vụ nghiên cứu các triết thuyết liên quan đến nghệ thuật, các phê bình có tính cách triết lý của các nghệ phẩm, và thẩm định đặc tính triết học của các hành động nghệ thuật. Các phản ứng tình cảm và tâm lý của con người đối với các yếu tố của nghệ thuật như màu sắc, âm thanh, đường nét, hình tượng, và ngôn ngữ.

    Nhìn lại lịch sử Việt Nam trải dài hơn hai ngàn năm trong đó có hơn một ngàn năm bị lệ thuộc Trung Hoa, và hơn một trăm năm là đất thuộc địa của Pháp, nhiều người sẽ tự hỏi văn học Việt Nam đã phản ứng thế nào đối với những giai đoạn bị làm thuộc địa đó. Một cách chung có thể nói là nền văn học Việt Nam còn nặng tinh thần thuộc địa đối với văn hóa Trung Hoa cũng như văn hóa Pháp dù đã được độc lập với Tàu hơn một ngàn năm và độc lập với Pháp hơn bảy mươi năm. Dùng cái hay của người biến thể Việt hóa ra cái hay của ta. Thơ tự do (Vers libre do người Pháp), thơ Đường (Hoa thi, Tang poems). Haiku hay Sijo thơ cổ ảnh hưởng Hoa thi nét thiền triết thiên nhiên (Taoism hay Daoism)

    Sự thưởng ngoạn thi ca có tính cách mỹ học là kết quả của một sự kết hợp nhuần nhuyễn và phức tạp giữa những thái độ chủ quan và khả năng thẩm định nghệ thuật của người thưởng ngoạn. Sự phản ứng đối với những nghệ phẩm thơ của người thưởng ngoạn được gọi là kinh nghiệm thi ca mỹ học (the aesthetic poetry experience). 

    Tác giả Lưu Nguyễn Từ Thức của sách Tuyển Tập Khảo Luận Văn Học đề nghị nền văn học Việt Nam hãy sớm nhận thức để vượt ra khỏi các lũy tre để nhìn xem thế giới bên ngoài đang tiến bước hướng về phía trước và bỏ xa chúng ta, hãy khai phá các khu rừng thâm u kỳ bí của nền văn học thế giới.  Nếu không mau thức tỉnh hầu sánh vai cùng người để cải tiến và nâng cao các chuẩn mực cho giá trị của mỹ học, thì văn học Việt Nam sẽ khó thoát ra khỏi các vòng rào nhỏ hẹp của các thôn làng, hoặc các bức tường rào của các ghetto văn học.  Tôi đồng ý với Lưu Nguyễn Từ Thức, hãy mở rộng tầm nhìn với cái hay, với nét đẹp của văn chương xứ người.

    Trần Việt Hải, Los Angeles 7/2023

    Dưới đây là lời mở đầu của Nhà Văn Khánh Lan cho tập thơ mới nhất của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, “Những Gì Để Nhớ”. Và Nhà Văn Việt Hải sẽ viết bạt cho sách. Tập thơ “Những Gì Để Nhớ” sẽ ra mắt quý đồng hương năm 2024.

    Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

    Nhân duyên đối diện kiến tương phùng.

    Hai câu thơ mở đầu cho bài viết này có chữ “Hữu duyên” và “Nhân duyên”, vì sự thể như duyên tiền định, mà định mệnh là do Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tạo cơ hội cho tôi gặp được Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, và từ ngày ấy, chúng tôi làm thơ tặng nhau. Những mỹ từ mà một thi nhân cao tuổi hạc vàng vong niên như Nữ Sĩ đã ưu ái dành cho một người bạn thơ tâm giao như tôi, hẳn là “tri ngộ thi ca”. Xin trích một vài bài thơ sau đây:

    THÂN TẶNG CÔ KHÁNH LAN

    Cùng thuyền cùng hội văn chương

    Khánh Lan thùy mị dễ thương tuyệt vời

    Tiếng ca bay bổng lưng trời

    Thơ văn lưu loát cho đời nở hoa

    Suối nguồn thân ái bao la

    Trời quê đất khách chan hòa mến thương

    Nhạc thơ rung động ngàn phương

    Vườn hoa văn nghệ thơm hương tao đàn

    Con đò chở chữ thênh thang

    Chở thơ tôi tặng Khánh Lan ân cần

    Lung linh dưới nắng xuân vàng

    Tình thơ tình bạn chứa chan mộng lòng

    (Dương Hồng Anh, 4/2020)

    CHÚC MỪNG NỮ SĨ KHÁNH LAN

    (Hồng Anh mến gởi Khánh Lan)

    Hạ trắng chiều nay hoa nở rộ

    Đẹp giòng thơ nhạc dưới trời xanh

    Của người bạn quý, thương và mến

    Nhu mì hiền hậu dáng thanh thanh

    Nữ sĩ Khánh Lan thật tuyệt vời

    Giao duyên thơ nhạc hiến dâng đời

    Nhân Văn Nghệ Thuật hồn tao nhã

    Nụ cười xinh xắn nở trên môi

    Tao đàn vẫn hẹn ngày vui mới

    Họp mặt văn chương buổi đẹp trời

    Mừng đón Khánh Lan ra tác phẩm

    Một chiều thơ nhạc nắng hồng tươi…

                    Dương Hồng Anh (9/2021)

    THÁNG CHÍN MÙA THU

    (Tặng bạn tôi, Khánh Lan)

    Đường chiều thơ nhạc một niềm vui

    Tình nghĩa văn chương mãi sáng ngời

    Phone đến mang theo niềm cảm mến

    Nụ cười thân ái nở trên môi

    Như đã quen nhau tự thuở nào

    Văn thơ tình bạn quý làm sao

    Khánh Lan ơi! Nhạc thơ còn đấy

    Hương sắc thời gian vẫn đẹp màu

    Ta vẫn bên nhau để hẹn hò

    Tao đàn nhóm họp đọc văn thơ

    Chúc mừng nữ sĩ ngày ra sách

    Tháng chín mùa thu thỏa ước mơ.

                                 Dương Hồng Anh (9/2021)

    MỘT PHƯƠNG TRỜI MỘNG

    (Hồng Anh mến gởi Khánh Lan & Mạnh Bổng)

    “Mạnh Bổng Khánh Lan viên ngọc quý

    Tài hoa thơ nhạc rất thân thương

    Nhân Văn Nghệ Thuật cùng chung bước

    Hai trái tim vàng mộng một phương.”

                     Dương Hồng Anh (11/2022)

    Đáp lại tình bạn thơ tâm giao, tôi có ý định thảo một bài thơ lục bát lấy ý thơ của Jeannette Le Fèvre, bài thơ Tu es dans mes pensées, gửi tặng lại người bạn thơ vong niên, Hồng Anh. 

    BÀI THƠ CẢM TÁC VỀ NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH

    (Khánh Lan kính gửi thi nhân Dương Hồng Anh)

    Thi nhân ở tuổi vong niên

    Hạc vàng thần tượng giỏi miền thi ca

    Thơ văn mắc nối hai ta

    Tâm đầu ý hợp vẫn là văn chương

    Tình bạn chất chứa tình thương

    Sáng ngời tinh tú bốn phương tuyệt vời

    Thi ca tâm đắc cho đời

    Ân sâu châu báu bao lời khuyên lơn.

    Tâm tình tri kỷ chịu ơn

    Khánh Lan kính gởi thi Anh Dương Hồng

    Khánh Lan (7/2023)

    DUYÊN TIỀN ĐỊNH

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh & Khánh Lan

    (Theo lời yêu cầu của NS Dương Hồng Anh tôi sẽ dùng chữ Cô thay cho chữ Nữ Sĩ trong bài viết này.  Nhưng để tỏ lòng kính quý tôi xin được phép dùng chữ C hoa chữ “Cô”).

    Thấm thoát thế mà đã 5 năm (2019-2023) trôi qua kể từ ngày tôi gặp Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, có lẽ chỉ độ chưa tròn một năm sau ngày tôi gia nhập Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Có thể nói đây là “Duyên kỳ ngộ” cho tôi gặp được Nữ Sĩ, bởi “Cô ” cũng mới gia nhập hội sau tôi vài tháng. Hôm ấy là ngày 26 tháng 10 năm 2019, và là ngày tưởng niệm của ông Kiến Trúc Sư (KTS) Nguyễn Tường Quý, một hậu duệ trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ). KTS Nguyễn Tường Quý là cháu gọi bằng chú của 3 nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, và là anh của Nhà Văn (NV) Ngọc Cường.

    Ngày ấy, tôi thay mặt NV Việt Hải và Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) để chia sẻ những kỷ niệm của tôi với KTS Nguyễn Tường Quý trong buổi ra mắt tác phẩm “Hệ Lụy” của em trai ông, NV Ngọc Cường, tại tòa soạn nhật báo Người Việt, năm 2016. Tôi vẫn nhớ là ngay sau khi buổi lễ tưởng niệm chấm dứt, NV Việt Hải giới thiệu tôi với NS Dương Hồng Anh, một nhà thơ với dáng dấp nhỏ bé, mái tóc bạc trắng, khuôn mặt nhân hậu. Trước mắt tôi, một Dương Hồng Anh với nụ cười luôn nở trên môi khiến cho người đối diện cảm thấy dễ gần với Cô. Nhưng vì mới gặp Cô lần đầu, tôi hơi e dè và cân nhắc lời nói trong lúc thưa chuyện cùng Cô. Thật là trái với những suy nghĩ và sự dè dặt không cần thiết của tôi, Cô đã cầm lấy tay tôi, ánh mắt trìu mến, giọng nói dịu dàng, Cô ân cần ngỏ lời thăn hỏi trước khiến tôi cảm thấy gần gũi và quý Cô ngay.  

    Từ ngày ấy đến nay, hai cô cháu chúng tôi liên lạc thường xuyên để trao đổi văn thơ, để chia sẻ vui buồn và để cùng cất tiếng cười vui bên nhau và với nhau. Thế rồi, một tình bạn thơ tâm giao đã nảy sinh giữa hai thế hệ cách nhau gần 30 năm, nhưng cái lạ là cả hai chúng tôi đều chẳng tìm thấy một khoảng cách nào giữa chúng tôi. Cô Hồng Anh đã ngoài 90, nhưng trí óc rất minh mẫn, hồn thơ trong sáng, ý thơ lai láng và vẫn sáng tác hầu như mỗi ngày. Còn tôi, mới chập chững bước vào lãnh vực thơ phú nên tôi vẫn hay hỏi ý kiến của Cô luôn, nhờ Cô sửa lại vần thơ cho gọn, ý thơ cho ngọt…

    Viết đến đây tôi chợt nhớ đến François Charles Mauriac (1885-1970), ông là một tiểu thuyết gia, triết gia, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ và nhà báo. Là thành viên của Académie française từ năm 1933, ông đoạt giải Nobel Văn học năm 1952 và đã được trao tặng Grand Cross of the Légion d’honneur vào năm 1958. Nói về tình bạn, François Mauriac nhận định:

    “Không tình yêu nào, không tình bạn nào đi qua con đường định mệnh

    của chúng ta mà không để lại trên ấy mãi mãi những dấu ấn.”

    NV Pháp Francois Mauriac cho là trong tình bạn mà chúng ta có những dấu ấn, những tâm đắc, sẽ nhớ nhau mãi mãi bởi đó là do “duyên tiền định”.

    Cuộc đời có gặp bạn hiền

    Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời.

    Ngoài những buổi “mạn đàm thơ văn”, Cô kể cho tôi nghe về thời son trẻ của Cô, về bài thơ đầu tiên ở tuồi 13, về gia phong và cuộc sống “khuôn phép” khi Cô còn sống dưới mái gia đình cho đến khi theo chồng vào Nam, từ giã niềm vui riêng (làm thơ) để chu toàn bổn phận “làm vợ và làm mẹ”. Từ Cô, tôi đã học được bao điều quý giá, học cung cách thưa gởi, kính trên nhường dưới trọng người già, nhất là sự khiêm nhường, cung kính và hòa nhã của “quy luật trọng cổ”. “Khổ nỗi tôi vốn trọng cổ ”… Đó là câu nói mà Cô hay dùng để giải thích cung cách nho nhã khi Cô gọi tôi “Vâng, thưa Cô Khánh Lan”, để từ dạo đó tôi cũng đáp lễ với “Vâng, thưa Cô Hồng Anh” thay vì “Cô Hồng Anh ơi” mà tôi vẫn quen dùng cho có vẻ thân mật.

    Trong thi ca, có những nhà thơ (NT) mà tôi tôn làm thần tượng với lòng kính phục, trong đó có TS Cung Trầm Tưởng, NS Dương Hồng Anh, NS Minh Đức Hoài Trinh, TS Nguyên Sa, NV Việt Hải và TS Việt Cường (Bố chồng tôi). Có những vị tôi đã gặp và thụ huấn nơi họ những kiến thức quý giá qua sự hướng dẫn và khích lệ như với TS Cung Trầm Tưởng, ông đã khuyến khích tôi nên tìm hiểu và viết về Siêu hình học (Meta Physics) và triết học Hiện Sinh (Existentialism). Trong khi NS Minh Đức Hoài Trinh thì khuyên tôi nên nghiên cứu về Hán tự, Phong Thủy. Còn NV Việt Hải hướng dẫn tôi về văn hóa phương Tây cũng như nghiên cứu về Trống Đồng, Tam Giáo, thi ca và âm nhạc, v.v…

    Riêng TS Việt Cường và NS Dương Hồng Anh, là hai vị đã ưu ái dành cho tôi một vị trí đặc biệt trong cuộc sống của họ như tôi  đã vô cùng kính trọng và yêu quý họ. Làm thơ từ khi ông mới lên 10, “Bố Việt Cường” đã dạy cho tôi thế nào là vần thơ hay và tìm đâu ra ý thơ tuyệt mỹ. Còn “Cô Hồng Anh” thì hướng dẫn tôi về các thể thơ khác nhau trong lãnh vực thi ca. Cô luôn dành cho tôi những cảm tình đặc biệt, Cô thường hay nói với tôi: “Cô Khánh Lan ạ, chẳng lúc nào đặt bút xuống trang giấy mà tôi không nghĩ đến cô, bởi tôi rất quý cô. Đã có biết bao bài thơ tôi viết tặng cô, cho cô, về cô hay nhắc đến tên cô… Có những lúc tôi tránh viết xuống hai chữ “Khánh Lan” trong thơ của tôi, vì tôi sợ sự phê phán của mọi người…”.

                Nhưng chẳng riêng gì làm thơ cho tôi, Cô đã làm thơ cho tất cả mọi người trong trong Liên Nhóm NVNT & TTG ở những dịp Giáng Sinh, Tân Niên, Ra Mắt Sách (RMS), Sinh Nhật, v.v… Trong bài viết này, tôi chỉ xin đề cập đến một vài bài thơ điển hình mà Cô đã sáng tác riêng tặng các thành viên trong nhóm mà tôi nhớ.

                Mừng sinh nhật thứ 70 của NV Việt Hải, NS Dương Hồng Anh đã sáng tác bài thơ:

    KÍNH MỪNG SINH NHẬT NHÀ VĂN TRẦN VIỆT HẢI

    Ca-li gió dịu mây hiền

    Đón mừng sinh nhật cánh chim đầu đàn

    Mừng anh Việt Hải Nhà Văn

    Say mê văn học lo gần lo xa

    Từ trong tim óc tài hoa

    Nhân Văn Nghệ Thuật chan hòa niềm vui

    Đàn ca múa hát tuyệt vời

    Thời gian đẹp mãi nụ cười mến thương

    Tao đàn quẩy gánh văn chương

    Nhạc thơ bừng sáng muôn phương đất trời

    Mừng anh Hạnh phúc vui tươi

    70 sinh nhật yêu đời hơn xưa.

    (Dương Hồng Anh, 7/2023)

    Cô sáng tác bài thơ Bạn Bè Của Tôi. Bài thơ đã được CNS Lâm Dung phổ Nhạc và trở thành NVNT & TTG hành khúc.

    BẠN BÈ CỦA TÔI

    Trời đẹp lắm, Ca li trời đẹp lắm

    Nắng vàng bay phơ phất cánh hoa tươi

    Bạn bè tôi, những nghệ sĩ yêu đời

    Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá

    Vì chúng ta không bao giờ xa lạ

    Những vần thơ ý nhạc kết nên duyên

    Đời có gì hơn được gặp bạn hiền

    Trên đất khách quê người tình tri kỷ

    Cùng vun sới mảnh vườn đầy thi vị

    Một vườn hoa văn nghệ đẹp như tranh

    Nắm tay nhau ca hát dười trời xanh

    Nhạc thơ đã sẵn sàng cùng cất bước

    Bạn bè của tôi chung lời nguyện ước

    Đem tâm tình chia sẻ tiếng thời gian

    Tình nghĩa văn chương tha thiết muôn vàn

    Là tiếng hát của cung đàn réo rắt

    Là nguồn thơ sáng ngời trên ánh mắt

    Các bạn ơi! thơ nhạc vẫn tràn đầy

    Khung trời xanh nắng tỏa mộng hồn say…

    (Dương Hồng Anh, 7/2020)

                Tháng 06 ngày 25, 2023 là ngày RMS ba tác phẩm: TLVD Hậu Duệ & Thân Hữu do Liên Nhóm NVNT & TTG thực hiện, và 2 tác phẩm của tôi là Tam Giáo Đồng Nguyên, Phân Tâm Học & Đời Sống. Cô đã viết tặng chúng tôi bài thơ:

    THÊM MỘT NIỀM VUI

    Thêm một niềm vui đến nữa rồi

    Đường chiều thơ nhạc níu hồn tôi

    Thành Cam hoa lá bừng hương sắc

    Đón khách văn chương một bến đời.

    Nghe khúc ca rung dưới nắng chiều

    Âm thanh trầm bổng ngát thương yêu

    Tơ lòng trải nhẹ như hơi thở

    Lấp lánh đèn hoa ôi diễm kiều

    Ngày ra mắt sách tưng bừng quá

    Rộn rã vui tươi đẹp suối hồn

    Quanh hội trường – sách đi lững thững

    Trong vòng tay độc giả thân thương

    Những ngày ra sách những ngày vui

    Bạn bè cùng chia ngọt, sẻ bùi

    Nhìn phía trước, thênh thang ta bước

    Mầu trời xanh hy vọng – nắng hồng tươi

    (Dương Hồng Anh, 6/ 2023)

                Trong bữa tiệc mừng sinh nhật của GS Dương Ngọc Sum, Cô đã sáng tác bài thơ:

    KÍNH MỪNG SINH NHẬT THÀY SUM

    Kính mừng sinh nhật Thày Sum

    Nhà văn nhà giáo họ Dương song toàn

    Tám tám tuổi hạc trời ban

    Vẫn còn minh mẫn luận bàn văn chương

    Cộng đồng bè bạn mến thương

    Môn sinh lui tới đón mừng tôn vinh

    Văn chương chung một hành trình

    Những chiều thơ nhạc ấm tình quê hương

    Mấy vần lục bát kính mừng

    Chúc Thày mạnh khỏe thọ trường an khang

    Vườn hoa văn nghệ thênh thang

    Thêm bông hồng thắm, một làn hương bay.

    (Dương Hồng Anh, 7/2020)

                Và để tỏ lòng mến phục NV, NT, GS Quyên Di, Cô đã sáng tác bài thơ:

    CHÚC MỪNG NHÀ THƠ QUYÊN DI

    Tài đức như ông được mấy người

    Khiêm nhường lịch sự rất vui tươi

    Nhà giáo, nhà văn, thi, nhạc sĩ

    Giúp đỡ cộng đồng khắp mọi nơi

    Cùng với phu nhân lo gánh vác

    Dìu dắt mầm non giữ cội nguồn

    Yêu tiếng Việt, lưu trang sử Việt

    Quê người đất khách ấm lòng son.

    (Dương Hồng Anh, 12/2022)

    Tối qua, tháng 07 ngày 11, 2023 tôi nhận được điện thoại của NS Dương Hồng Anh bàn về một bài viết của tôi với tựa đề: Bách Niên Kỷ Của Một Nhà Văn, GS NV Doãn Quốc Sỹ, đăng trong tuyển tập TLVD Hậu Duệ & Thân Hữu, tập 2. Cô nhắc đến câu thơ mà GS Phạm Thị Huê dùng để kết thúc phần nói chuyện của bà. Đó là câu thơ của Đại Văn Hào Nguyễn Du:

    “Trời còn để có hôm nay….

    GS Huê nói tiếp:

    “Câu thơ tiếp theo tôi xin để trống để mọi người tự điền vào.”

    Sau khi nghe Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Thị Huê đọc câu thơ của thi hào Thanh Hiên Tố Như tôi đã liên tưởng:

    “Trời còn để có hôm nay,

    Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời.

    Hoa tàn mà lại thêm tươi,

    Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.”

    (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

    Ngẫm nghĩ về câu “Trời còn để có hôm nay”,… Trời ở đây có nghĩa như không gian (sky, le ciel) hay khung trời cho chúng ta hôm nay được gặp lại nhau, nhìn nhau, và người đối diện vẫn mạnh khoẻ để chuyện trò, hàn huyên  với nhau. Sau bao năm vật đổi sao dời, “Hoa tàn mà lại thêm tươi, Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.”… và rồi không gian, thời gian đã chuyển hóa để chúng ta quán được, ngộ được, và nhận chân ra rằng “Trời còn để có hôm nay“, vì nay chúng ta đã không có gì mất cả, mà ngược lại, hoa cũ vẫn còn tươi, trăng cũ còn sáng hơn xưa.

    Sau khi đọc đoạn văn này, NS Dương Hồng Anh đã họa tiếp theo 3 câu thơ như sau:

    ĐẸP GIÒNG THỜI GIAN

    Trời còn để có hôm nay

    Cho thơ cất cánh hồn say ngàn trùng

    Hoàng hôn ươm sợi nắng hồng

    Tình thơ nghĩa bạn đẹp giòng thời gian

    (Dương Hồng Anh, 7/2023)

                Ngẫm về câu thơ trên thì quả thật đầy ý nghĩa. Đúng vậy, “Trời còn để có hôm nay” để chúng ta còn gặp nhau, để cùng nhau trao thơ chuyển nhạc. “Hoàng hôn ươm sợi nắng hồng. Tình thơ nghĩa bạn đẹp giòng thời gian.” Hai câu thơ này có nghĩa là bạn bè cùng ngắm cảnh hoàng hôn nắng ấm, và khi ý thơ còn nồng, tình bạn còn tươi, còn bền, còn bao la theo giòng thời gian, tựa như thuở ban đầu mới gặp.

                Còn TS Tha Nhân, ông đã tiếp lời GS Phạm Thị Huê và NS Dương Hồng Anh qua hai đoạn bài thơ sau đây:

    Trời còn để có hôm nay

    Câu thơ nét nhạc cùng say bến tình

    Chiều tàn trăng vội lung linh

    Văn chương duyên thắm đẹp xinh với người

    Hay:

    Trời còn để có hôm nay

    Chim Hồng lạc xứ đẹp ngày bên nhau

    Lời thơ ý nhạc tô màu

    Thắm duyên văn nghệ đẹp câu ân tình.

    (Tha Nhân, 7/2923)

                Trong thi ca, danh ngôn, ca dao, v.v… đã có nhiều người nói, viết về tình bạn, đặc biệt là tình bạn trong thi ca, khi các bạn thơ đã hợp ý nhau thì tình bạn ấy trở nên gắn bó và bền chắc.

    Bạn bè là nghĩa tương tri,

    Sao cho sau trước là thì mới nên.

    Một câu ca dao khác về duyên bạn tiền định như sau:

    Tâm đắc tri kỷ tâm giao

    Cùng chung chí hướng cùng nhau kết tình.

    Nhà hiền triết học giả Alcuin thuở xa xưa cho cảm nghĩ về tình bạn tri kỷ:

    Tình bạn là sự đồng điệu về tâm hồn

    (L’amitié est la similitude des âmes).

    (Savant Alcuin, 735-804)

    Tôi xin dùng câu nói của nhà văn, nhà triết học, bác sĩ Albert Schweitzer (khôi nguyên Nobel 1953) để cảm ơn hạc vàng vong niên Nữ Sĩ Dương Hồng Anh. Suốt cuộc đời của Albert Schweitzer, đã đóng góp những công ích về văn hóa cho nhân loại. Là một nhân vật đa năng, ông tham gia vào âm nhạc, khoa học, thần học. ông là kho tàng dữ liệu đầy đủ các sự kiện thú vị. Câu chân ngôn dưới đây của Schweitzer mà tôi trích dẫn từ cuốn sách “Schweitzer bài học và cách ngôn” thật là thích hợp với tình bạn văn thơ của chúng tôi và tôi xin mượn để trao đến Nữ Sĩ Dương Hồng Ạnh.

    “Hãy cố gắng gieo những hạt giống của tâm hồn bạn,

    vào những người đi cùng bạn trên đường đời, và

    hãy chấp nhận những điều quý giá mà họ dành tặng lại cho bạn.”

    Khánh Lan

    California July 14, 2023

  • ThaiLan

    Dưới bóng cây tần bì –

     Henry Gréville (ThaiLan dịch)

    Hai người đang đi chầm chậm trên lối đi hẹp bằng đất thỉnh thoảng có những con đường mòn xanh mơn mởn cắt ngang, mà cứ hai năm một lần những xe đẩy chở cỏ khô hoặc lúa mì lại ùa vào những đám hoa cúc và cỏ. Những cơn mưa gần đây đã tạo thành từng vũng ao nhỏ ở những đoạn lồi lõm; nhưng ở phần giữa đường, đầy bụi bặm và rải rác có dấu vết móng ngựa, thì khúc đường cũng khá rộng để hai người có thể sánh đôi.

        – Vậy là nàng không đồng ý phải không? 

        Anh thanh niên hỏi một cách gượng gạo, đôi mắt nhìn xuống đất và ngón tay quay quay một cọng yến mạch dại. Cô gái vẫn im lặng. Ôi, sao anh ấy có thể tàn nhẫn khi nói rằng chính cô là người không muốn! Tại sao trong những ngày tháng dài như thế mà anh không đoán được chính anh là người mà nàng yêu? 

        Cô cúi đầu xuống và cầm góc tạp dề màu xanh lên, mân mê, cuộn tròn rồi lại thả ra trong đôi tay run rẩy của mình để tỏ ra không lúng túng, cũng giống như anh xoay vòng cọng cỏ của mình để có thái độ vững vàng.

        – Có thật là nàng không muốn? Nàng có nhớ không, chúng ta đã cùng nhau Rước Lễ Lần Đầu, nàng không còn nhớ gì sao?

        Cô liếc nhìn tháp chuông nhỏ nhô lên trên hàng rào rồi lại nhìn con đường, bây giờ đám bụi dày đặc đã tạo thành một tấm thảm nhung.

        – Thời đó nàng đã yêu tôi rất nhiều,  – anh tiếp tục nói một cách cay đắng – nhưng trái tim em đã thay đổi: lúc đó em nói là không thể sống mà không có tôi bên cạnh; rồi sau đó, em đã không còn thích thú khi nhìn thấy tôi nữa.

        Cô không nói gì; đôi má cô bỗng ửng hồng thêm lên; anh nghĩ cô sẽ nói điều gì, nhưng cô vẫn im lặng, và tiếp tục đi bên cạnh anh.

        Con đường trở nên hẹp hơn, những nhánh cây tần bì và những cây cỏ đang giăng qua đầu họ. Một ngày ảm đạm, êm dịu, thật ngậm ngùi đang đến với họ, len lỏi qua những tán lá, và những tia nắng mặt trời vừa mới nhảy múa dưới chân họ trên con đường được lót bằng thảm cỏ hoang, ở đó  hầu như không còn nhìn thấy những con đường mòn nữa. 

        Anh tiến lại gần hơn và nắm lấy góc tạp dề mà không chạm vào bàn tay run rẩy của cô gái.

        – Vâng, tôi nghĩ rằng em đã yêu tôi; tôi đã nghĩ rằng hai chúng ta sẽ dành cả cuộc đời bên nhau; gia đình em không giàu có, tôi cũng chẳng khá hơn; điều này chẳng ảnh hưởng gì đến chúng ta cả, đúng không nàng? Dù thế nào đi nữa, chúng ta vẫn hạnh phúc bên nhau, chỉ cần trong gia đình ta có tình yêu là đủ? Nhưng em đầy tham vọng,  tôi hiểu rồi, em chỉ muốn giàu có và trở nên nghiệp chủ,  chắc hẳn là thế; em rất sợ phải sống trong nghèo khó… Ôi! Nếu tôi suy nghĩ như em, về phần tôi, giờ này tôi đã kết hôn, đã có một cô vợ bên tôi rồi! Nhưng rồi tôi tự nhủ: Ta sẽ chỉ kết hôn với người ta yêu, và tôi đã tự hứa với mình như thế, không sai vào đâu được! Còn em, trái tim của em muốn tìm kiếm một nơi khá hơn, có địa vị hơn, phải không? Em muốn vươn lên khỏi vị trí hiện tại của em, đúng không?

        Anh buông góc tạp dề ra và bực bội nhìn cô. Những người nông dân gặt lúa đang mài lưỡi hái của họ ở cánh đồng cỏ bên dưới; ta có thể nghe thấy tiếng cối xay đang xoay đều đặn trên dòng sông nhỏ. Một điệp khúc của một đoạn hát vượt qua không gian đang mơn man trên đầu họ, và tan nhanh trong bầu khí tháng sáu nóng rực…

        – Ôi chàng của em! – cô gái thốt lên, vừa đặt cả hai tay lên vai chàng, và nhìn anh bằng đôi mắt sâu thẳm, đẫm lệ – em vẫn luôn yêu anh, nhưng anh chưa bao giờ nói lời nào, và sáng nay cha đã hứa gả em cho một người khác, chàng ơi chàng!

        Cô buông lơi hai bàn tay một cách chậm chạp, chán chường xuống chiếc yếm… Trên kia những tia nắng óng ánh đổi màu đang nhảy múa qua những chiếc lá, và họ đứng đó, bất động, chỉ biết nhìn nhau, lòng mang một nỗi tuyệt vọng khôn cùng; và ở một nơi xa xăm, một gã nào đó vô cùng hạnh phúc đang hân hoan ngân lên bài ca thánh thót, xuyên qua cỏ cây núi rừng, vang rền, bay bổng trên đầu hai người đau khổ.

    – Henry Gréville

    (ThaiLan dịch)

  • Khánh Lan,  Phan Đình Minh,  Sinh Hoạt

    RA MẮT 3 TÁC PHẨM: TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, HẬU DUỆ & THÂN HỮU, PHÂN TÂM HỌC & ĐỜI SỐNG, TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN

    Hồi ký của Khánh Lan

    Chủ Nhật, ngày 25 tháng 06, 2023

    …. Hè đã đến và nắng đã lên cao như chào đón một ngày mới, ngày mà tôi đã chuẩn bị và chờ đợi gần một năm nay. Phải, đó là ngày Ra Mắt Sách (RMS) của 3 tác phẩm do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) thực hiện, trong đó có quyển Tam Giáo Đồng Nguyên, một tác phẩm mà tôi đã say mê và dày công nghiên cứu. Say mê bởi càng đọc tôi lại càng muốn đọc, tìm hiểu và nghiên cứu thêm về 3 luồng tư tưởng đã để lại nhiều ảnh hưởng cho dân tộc Việt Nam vốn trọng “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”.

    Cũng trong dịp RMS này, Nữ Sĩ (NS) Dương Hồng Anh đã gởi tặng Khánh Lan, Từ Dung và Ngọc Cường một bài thơ nhân ngày RMS của ba chúng tôi. NS Dương Hồng Anh là một nhà thơ cao niên tài hoa mà tôi rất kính yêu, chẳng phải vì bà đã dành cho tôi nhiều ưu ái mà bởi chính tâm hồn cao thượng, nhân hậu và khiêm nhường tiềm ẩn trong trái tim của Bà. Dưới đây là nguyên văn bài thơ của NS Dương Hồng Anh.

    Bài thơ của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh gởi tặng

    Ba Nhà Văn: Ngọc Cường, Khánh Lan, Việt Hải

    Đúng 11 giờ sáng, chúng tôi đã có mặt tại NT STUDIO để chuẩn bị cho buổi RMS của 3 tác phẩm. Tuy chuẩn bị mọi thứ, rất kỹ từ hơn một tuần trước, thế mà vẫn quên một vài thứ lặt vặt như napkins, bảng giá cả sách, v.v… Nhưng cô chủ Vương Trang đã mau mắn giúp một tay hoàn tất những thiếu sót ấy.

    Vừa bước vào bên trong của khánh  phòng (NT Studio), NS Duy Nhật và Vương Trang đã cho tôi một ngạc nhiên bất ngờ. Trước mặt tôi, bàn ghế đã được hai anh chị bày biện thật đẹp, theo hàng lối, thứ tự như thể anh chị đã đọc được những suy nghĩ từ trong tâm trí của tôi. (là phải xắp xếp chỗ ngồi cho quan khánh như thế nào để tỏ lòng kính trọng đối với các vị trưởng thượng, quý Giáo Sư và Văn Thi Sĩ, cũng như để tỏ lòng ưu ái đến quý quan khách). Nên, thú thật là trong vài phút đầu, tôi đã không nói nên lời và nén cơn xúc động trước cung cách cư sử quá tốt đẹp mà chủ nhân đã dành cho tôi. Với tôi, Duy Nhật và Vương Trang lúc nào chu đáo và tuyệt vời, tôi thầm cám ơn hai người bạn văn nghệ lúc nào cũng hết lòng với tôi.

    Nhà Văn Kiều My, Vy Hương (chị em song sinh với tôi), Đức Hạnh và Tuyết Nga (hai người bạn thân của tôi hơn 30 năm nay), cũng đã đến cùng giờ với tôi và Mạnh Bổng. Thế là, chúng tôi bắt tay vào công việc ngay, nào là sửa soạn giải khát, bánh ngọt, xếp sách lên bàn, v.v…Vương Trang cũng giúp một tay và Duy Nhật thì chạy ngược chạy xuôi điều chỉnh âm thanh và ánh sáng của sân khấu, v.v…

    Nhà Văn Khánh Lan

    … Kính thưa quý độc giả, … làm sao tôi có thể viết vào đây, trên trang giấy này, cho hết nỗi vui mừng khi nhận thấy đồng hồ chưa điểm 12:30 chiều, thế mà quan khách đã đến khá đông. Những quyển sách được liên tục chuyển đến tay tôi từ các quan khách và bạn hữu, chữ ký của tôi càng lúc càng trở nên xiêu vẹo, ngả nghiêng vì xúc động trước những tấm lòng yêu mến của các độc giả ưu ái dành cho tôi và nhóm Hậu Duệ Tự Lực Văn Đoàn… 

    Nhà Văn Ngọc Cường và phu nhân, Bích Điệp

    NV Phạm Quốc Bảo đến rất sớm, ông đi đi lại lại, nhìn quanh có ý tìm xem NV Ngọc Cường đang ở đâu? Vài phút sau, tôi nhận thấy có một số bạn bè của NV Ngọc Cường cũng đã đến với quyển sách TLVĐ, Hậu Duệ và Thân Hữu trên tay, họ đứng vòng quanh NV Ngọc Cường, sẵn sàng chờ đến phiên mình và kiên nhẫn chờ NV Ngọc Cường ký tên vào tác phẩm.

    Sự có mặt của chị Ngọc Châu, Thanh Châu, Kim Hương, Ánh Tuyết, Hạ Lan thật quý hóa, mỗi người một tay, giúp tiếp tân, mời quan khách vào ghế ngồi và làm các việc lặt vặt khác. Ôi! Những người bạn thân yêu đã đến với tôi, với tất cả tấm lòng. Tôi xin luôn ghi nhớ.

    MỘT PHÁI ĐOÀN BÁN SÁCH HÙNG HẬU

              Các cô bán sách là những người bạn đã luôn cùng tôi sát cánh trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong đó có những người bạn đồng nghiệp đã cùng tôi gắn bó hơn 30 năm qua cho đến những người bạn tôi chỉ mới quen hơn một năm thôi.

    Từ trái sang phải: Kim Hương, Ngọc Châu, Thanh Châu, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Vy Hương

    Có thêm NV Ngọc Cường và phu nhân Bích Điệp và một người bạn của NV

    Việt Hải, Khánh Lan, Đức Hạnh, Vy Hương, Bích Điệp

    Đây là lần thứ hai tôi RMS, nhưng những cảm xúc trong tâm hồn tôi lại hoàn toàn khác hẳn với lần RMS trước cách đây hai năm. Lần này, tôi cảm thấy hồi hộp và lo lắng, bởi hôm nay có rất nhiều tổ chức của các hội đoàn khác trong cộng đồng. Nhưng lạ thay và kỳ diệu thay, khi đồng hồ vừa điểm 12 giờ trưa, quan khách đã lần lượn đến chung vui và ủng hộ mua sách. Vy Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga bán sách không ngừng tay, còn tôi: “ngồi ký sách liên tục”. Thế là, bao nhiêu sự lo lắng, lo âu trong tôi đều tan biến để nhường chỗ cho một niềm hân hoan vô biên trong tâm hồn tôi.

    GIA ĐÌNH TÔI

              Gia đình tôi, những người gần nhất và thân yêu nhất của tôi đã đến từ thành phố Los Angeles, con gái Thiên Kim và con rể Stephen Chong. Hai tuần trước, cháu Thiên Kim đã vấp té và bị gẫy ngón chân út, nên chân phải băng bột và đi nạng, nhưng hai vợ chồng cháu vẫn có mặt trong buổi RMS của tôi.

    Thiên Kim & Stephen

    Mạnh Bổng & Khánh Lan

    Em gái song sinh Vy Hương, Stephen, Thiên Kim, Khánh Lan

    CẢNH CŨ NGƯỜI XƯA NAY CÒN ĐÂU?

    Niềm vui không trọn vẹn bởi nỗi buồn dồn dập kéo đến trong tâm hồn tôi, hình ảnh Nhà thơ Việt Cường đột ngột trở về trong ký ức, làm mắt tôi mờ lệ. Phải chăng, kỷ niệm của hai năm trước, cũng trong ngày RMS lần đầu 4 tác phẩm của tôi được tổ chức tại NT Studio, ngày 19 tháng 09, 2021 đã có sự hiện diện của Nhà Thơ Việt Cường Lưu Tấn Lâm, Bố chồng tôi. Nay ông đã khuất bóng hơn một năm (mất ngày 26 tháng Giêng năm 2022) khiến lòng tôi chùng xuống.

    Từ trái sang phải: Mabel Chong, Stephen & Thiên Kim, Mạnh Bổng & Khánh Lan và Vy Hương. Ngồi giữa là NT Việt Cường Lưu Tấn Lâm

    KHÁCH THAM DỰ

    NV Phạm Quốc Bảo là vị khách đầu tiên, ông đến từ 12 giờ trưa, rồi đến NV Dương Viết Điền và GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum. GS Trần Huy Bích và NV Dương Viết Điền là hai vị trong số các Giáo sư và Nhà Văn luôn luôn nâng đỡ, ủng hộ các tài năng mới trong lãnh vực văn học.

    Giáo Sư Trần Huy Bích và Nhà Văn Dương Viết Điền

    Đức Hạnh, “My best friend”

    Chị Ngọc Châu, “người chị du lịch yêu quý”

    Chị Kim Ngân “Giám đốc Viện Việt Học”

    Giáo Sư Phạm Thị Huê, “GS cố vấn Hội Giáo Chức & Hùng Sử Việt”

    BẠN BÈ CỦA TÔI

              Bạn bè của tôi, những người bạn thân tình hay trong những chuyến du lịch, ca vũ, họp mặt, v.v… mà tôi đã gặp và quen biết trên những nẻo đường tôi đã đi qua, trong suốt bao năm (1987-2023). Những người bạn luôn luôn đứng bên tôi, hỗ trợ, giúp một cánh tay trong “giấc mơ văn học” của tôi được thành đạt và hoàn hảo.

    Thanh Châu, Khánh Lan, Tuyết Nga, Ngọc Châu, Đức Hạnh

    Người bạn đồng môn, đồng nghiệp: Kim Thoa

    Kim Thoa và tôi gặp và quen với nhau hơn 30 năm, khi ấy chúng tôi cùng làm cho cơ quan giúp đỡ người già và khuyết tật của quận Cam (In-Home Supportive Services of  Orange County) rồi tới Trung Tâm Cố Vấn Tâm Lý và sau cùng là Cơ Quan Bảo Vệ Trẻ Em (Child Protective Services). Sau đó chúng tôi cùng nghỉ hưu và thỉnh thoảng mới gặp nhau, nhưng vẫn giữ liên lạc. Kim Thoa trở lại làm việc sau khi nghỉ hưu tại trung tâm cố vấn tâm lý Project Focus và hiện là Clinical Director cho cơ quan ấy, còn tôi thì bỏ nghề hơn 5 năm nay và trở thành…hihihi…”Nhà Văn”…

    Ánh Tuyết & Bá Thu trong nhóm vũ Mây Thu và Phù Sa

    Trước khi bước vào lãnh vực văn học, tôi rất đam mê ngành vũ nghệ thuật. 15 năm trước, tôi và một người bạn Băng Tâm thành lập nhóm vũ “Phù Sa”, Ánh Tuyết và anh Bá Thu là những vũ công trong nhóm. Sau 10 năm, khi Phù Sa tan rã, tôi gia nhập nhóm vũ “Mây Thu” của Ánh Tuyết trước khi gia nhập Liên Nhóm NVNT và thành lập nhóm vũ “Tiếng Thời Gian”.

    Nhóm vũ Phù Sa với: Thanh Châu, Ánh Tuyết, Tuyết Nhung, Khánh Lan

    Mạnh Bổng, Anh Khoa, Băng Tâm, Cữu Nguyên, Khánh Lan, Thanh Châu, Ngọc Lan (ngồi quay lưng)

    Mỹ Ngọc, Khánh Lan, Bá Thu, Ánh Tuyết, Kim Anh với nhóm vũ “Mây Thu”

    Nhóm vũ “Tiếng Thời Gian”

    Người bạn Kinh Thương Minh Đức, Kỹ Sư xây dựng Nguyễn Văn Viễn, Thi Sĩ Tha Nhân và Khoa Học Gia Lâm Quốc Dân

    Khánh Lan, Đức Hạnh, Kim Hương, Bích Điệp, Ngọc Hà

    Những người bạn văn nghệ: Mộng Thủy, Hồng Quyên, Hạ Lan

    Trở lại buổi RMS, các anh chị trong nhóm truyền thông báo chí là những người đến sớm nhất. Trước hết là Phóng Viên Phạm Khanh và chuyên viên kỹ thuật Phạm Phú Nhân của Đài Little Saigon TV. Chính sự tiên phong hiện diện ấy đã đưa đến cho hai anh nhiều thời gian để phỏng vấn Khánh Lan về hai tác phẩm Tam Giáo Đồng Nguyên và Phân Tâm Học & Đời Sống. Cám ơn Phóng Viên Phạm Khanh và chuyên viên kỹ thuật Phạm Phú Nhân của Đài Little Saigon TV.

    Phóng Viên Phạm Khanh và anh Phạm Phú Nhân thuộc ban kỹ thuật của Đài Little Saigon TV

    Phóng viên Phạm Khanh đã đặt những câu hỏi về chương trình của ngày RMS và hai tác phẩm của NV Khánh Lan và chương trình văn nghệ với những bài hát hướng về quê hương Hà Nội trước năm 1954, khi hàng triệu đồng bào từ miền Bắc đã rời bỏ nơi “chôn nhau cắt rốn” để di cư và lập nghiệp tại miền Nam Việt Nam. Khi Phóng Viên Phạm Khanh đặt câu hỏi về nội dung và động lực nào mà NV Khánh Lan cho ra đời hai tác phẩm Tam Giáo Đồng Nguyên (TGĐN) và Phân Tâm Học & Đời Sống (PTH & ĐS)?

     Khánh Lan đáp: “Đây là hai tác phẩm mà Khánh Lan rất thích, Lan đã dùng hết tất cả thời gian và nhiệt huyết để đầu tư vào. PTH & ĐS là quyển sách mà Lan thích nhất bởi đó là môn học chính của Lan đã học và ra trường với ngành đó. Đây là một phương pháp phân tích nội tâm, phân tích tâm lý con người, bởi trong cuộc sống, có những khúc mắc xảy ra hàng ngày trong đời sống của chúng ta, những khúc mắc ấy đã tích lũy và bị dồn ép vào một nơi gọi là cõi “vô thức”. Những khúc mắc ấy không có cơ hội hay không thể bộc lộ ra ngoài (fan-out) một cách dễ dàng. Một khi chúng không thể bộc lộ ra được và một khi chúng bị ấn nén vào một nơi không có lối thoát, thì áp lực ấy trở nên quá nhiều; chúng tạo ra sự căng thẳng và chúng ta trở nên cáu kỉnh, háo chiến hay ngược lại là trầm cảm. Phương pháp nghiên cứu tâm lý hay cố vấn tâm lý giúp giải tỏa những ưu phiền ấy mà lại không gieo ảnh hưởng hay tổn thương đến sức khỏe.”

    “Còn TGĐN, đó là 3 tôn giáo nổi tiếng và được nhiều người biết đến trên thế giới, đó là Nho Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo. Đây là quyển sách tóm lược chi tiết của 3 tôn giáo trên và giải thích lý do tại sao khi du nhập vào Việt Nam lại được người dân Việt ủng hộ rất nhiệt tình. Phải chăng bởi vì dân Việt Nam vốn trọng và đề cao “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín”.

    “Đây cũng là cuốn sách mà Lan đã dùng rất nhiều thời gian để sưu tầm và nghiên cứu.” NV Khánh Lan nói.

    Khi được hỏi là NV Khánh Lan đã có kinh nghiệm gì trong quá khứ khi viết về tôn giáo, Khánh Lan cười và trả lời: “Thú thật, Lan là người theo đạo Công Giáo, nhưng lại muốn nghiên cứu, tìm hiểu về những tôn giáo khác, bởi tôn giáo nào cũng dạy ta “làm điều lành, tránh điều ác” và phải thương yêu nhau. Thật ra, khi còn nhỏ, Lan không thích cho lắm, nhưng khi càng lớn tuổi thì lại muốn tìm hiểu về chân lý của mỗi đạo giáo, để mình rút tỉa ra những điều tốt, nên biết và nên học những cái hay của tôn giáo đó. Đó là lý do tại sao?”

    Phóng viên Phạm Khanh phỏng vấn NV Khánh Lan về hai tác phẩm

    TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN và PHÂN TÂM HỌC & ĐỜI SỐNG

    Phóng viên Phạm Khanh: Tôi quen biết với anh đã khá lâu qua sự giới thiệu của ông John Tạ, giám đốc công ty dược thảo Princess Lifestyle. Trước ngày RMS, anh Phạm Khanh đã giúp chúng tôi quảng cáo 3 tác phẩm này trên đài Little Saigon TV, băng tầng 56.10. Cám ơn ông Giám Đốc John Tạ và Phóng viên Phạm Khanh cũng như anh chuyên viên kỹ thuật Phạm Phú Nhân.

    Quảng Cáo ngày RMS của 3 tác phẩm trên đài Little Saigon TV, 56.10 với Phóng Viên Phạm Khanh, NV Ngọc Cường và NV Khánh Lan

    Nhiếp Ảnh Gia (NAG) Nguyễn Minh Thiều, Paul Phú LeVan, Tâm An Media cũng có mặt rất sớm trước giờ khai mạc. Tiếc rằng vì qúa bận rộn, chúng tôi chẳng có một tấm hình nào chụp chung trong ngày RMS. Cả 3 vị luôn chụp và thâu video cho tôi những tấm hình đẹp và video tuyệt diệu.

    Chị Tâm An Media, thành viên trong “Mạng Lưới Nhân Quyền”  luôn sẵn sàng thâu cho chúng tôi những video đẹp.

    Và sau cùng là đài phát thanh VOA (Voice of America), cô phóng viên trẻ đã đến trễ khi buỗi RMS gần bế mạc (4:00 giờ chiều) vì bận phải đi phỏng vấn buổi họp mặt của Liên trường tại Mile Square Park. Cô phỏng vấn Khánh Lan về 2 tác phẩm Tam Giáo Đồng Nguyên và Phân Tâm Học. Đồng thời cô cũng hỏi về động lực nào đã thúc đẩy tác giả bước vào lãnh vực văn học và viết những quyển sách này cũng như nội dung của hai tác phẩm. Với tác giả Khánh Lan, cô phóng viên còn hỏi thêm về sự ảnh hưởng của văn học Việt Nam trong “thế hệ trẻ và văn chương Việt Nam”, làm sao để có thể “hướng dẫn giới trẻ yêu văn hóa Việt và bảo tồn văn học Việt”. Cô hỏi thêm một câu hỏi nữa là Khánh Lan có những lo ngại gì hay nghĩ sao về sự thoái hóa của nền văn học Việt trong tương lai; làm sao để duy trì nó, v.v… Còn với NV Ngọc Cường thì cô phóng viên phỏng vấn NV về chủ đề Tự Lực Văn Đoàn và Hậu Duệ.

    Trong số đồng hương đến dự buổi RMS, Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của Giáo Sư Trần Huy Bích và Giáo Sư Phạm Thị Huê, bà trả lời phỏng vấn của Ký Giả Lâm Hoài Thạch, bà nói: “Theo tinh thần quảng bá tiếng Việt cũng như học hỏi thêm về văn hóa của Việt Nam, trong đó có vấn đề tại sao có những tôn giáo ở Việt Nam, mà Khánh Lan đã đặt đề tựa là “Tam Giáo Đồng Nguyên.” Đây là một ý tưởng rất hay để cho mọi người cần nghiên cứu, để được hiểu thêm tầm quan trọng của tôn giáo đối với dân tộc Việt Nam như thế nào. Tại vì dân tộc Việt Nam có tín ngưỡng, luôn để ý đến trời đất, không chỉ có một tôn giáo mà đến ba tôn giáo. Mong rằng, những quyển sách này sẽ đưa đến một ánh sáng, một sự hiểu biết cho chúng ta, nhất là cho giới trẻ tại hải ngoại.” (phỏng theo bài phóng sự của Ký Giả Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Từ trái, NV Khánh Lan, GS Phạm Thị Huê và GS Trần Huy Bích. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Giáo Sư Trần Huy Bích nhận định: “Đối với những nhà văn trẻ hiện nay, tôi thấy họ có tinh thần học hỏi và cầu tiến, nhân cơ hội có nhiều phương tiện để tìm hiểu thêm những tài liệu, và những gì quan trọng tại đất nước Hoa Kỳ trên Internet, hoặc thư viện. Vì thế, vấn đề viết sách xem như được dễ dàng hơn lúc trước rất nhiều. Tôi nghĩ rằng, những người viết sách trong tương lai sẽ có tiềm năng, và còn nhiều đường dài để tiến đến sự thành công trong vấn đề biên soạn.” (dựa theo bài phóng sự của Ký Giả Lâm Hoài Thạch/Người Việt).

    Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên với tác phẩm Tam Giáo Đồng Nguyên. Trong lúc vô cùng thất vọng thì tôi lại có cơ duyên gặp và mời được Thày tham dự buổi RMS. Tuy chưa một lần gặp được gặp Thày, nhưng tôi đã nhiều lần được thưa chuyện cùng Thày trên điện thoại và email. Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên là một vị tu sĩ thông hiểu tường tận về Tam Giáo Đồng Nguyên, những tưởng như là Ngài đã đọc qua sách của tôi. Hơn thế nữa, khi xem qua Website của Thượng Tọa, tôi còn được biết Thày là một nhà văn, một nhà thơ.

    Tôi gặp và mời được Thày làm diễn giả là do sự giới thiệu của chị Ngọc Châu. Gặp được Thày là cả một sự may mắn xảy ra cho tôi, bởi sau bao lần cố tâm tìm kiếm một vị “Tì Kheo” giúp làm diễn giả cho tác phẩm của mình, thì quả thật là nhiêu khê, bởi ngày RMS của tôi lại trùng với mùa Lễ Phật Đản, nên các Thày rất bận rộn, ngoại trừ Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên. Khi nhận lời, Ngài nói với tôi: “Chị Khánh Lan cho Thày nói trước 2:30 giờ chiều, vì Thày phải về Lễ Phật lúc 3:00 chiều.” Gặp được Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên và mời được Thày làm diễn giả cho sách của tôi, là một phép nhiệm màu đã xảy ra cho tôi. Xin được trang trọng gởi đến Thượng Tọa sự biết ơn của tôi.

    Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên, Ông Hoàng Đình Khuê, Chị Kim Ngân

    Từ trái: NV Nguyễn Quang, NT Vũ Lang, GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải

    NV Dương Viết Điền, TS Lê Nguyễn Nga, NS Phan Đình Minh, Lệ Hoa “phu nhân của NV Việt Hải”, Ngọc Quỳnh

    Từ trái: Phu quân của GS Huê, Bá Thu, Ánh Tuyết, NT từ San Jose, Khánh Lan và GS Huê

    Ngoài ra, tôi còn nhận thấy sự hiện diện của rất nhiều quan khách, trong đó có Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, Thi Sĩ Lê Nguyễn Nga, Thi Sĩ Tha Nhân, Thi Sĩ Vũ Lang, GS Lê Văn Khoa, NV Phạm Quốc Bảo, NV Nguyễn Quang, NV Dương Viết Điền, GS Dương Ngọc Sum, Kỹ Sư Nguyễn Văn Viễn-chủ công ty xây cất Vincents Construction, Cô Kim Ngân-Giám Đốc Viện Việt Học, Nghệ Sĩ Phan Đình Minh (Texas), v.v… và các anh chị hậu duệ TLVĐ.

    Giáo Sư Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân, Ca Sĩ Ngọc Hà

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Cô Kim Ngân (Giám Đốc Viện Việt Học)

    HẬU DUỆ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

    Hậu Duệ TLVĐ

    Cô Sang, Bích Điệp (hậu duệ TLVĐ), Ngọc Châu, Ngọc Quỳnh, Khánh Lan

    Phu nhân của cố Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý (hậu duệ TLVĐ) và Khánh Lan

    NV Từ Dung và cô Tôn Nữ Quế Phương

    Thi Sĩ Lê Nguyễn Nga, Nghệ Sĩ Phan Đình Minh, Nhà Văn Kiều My

    Quan khách tham dự và CS Kiều Loan (mặc áo dài đen chấm trắng)

    MUA SÁCH ỦNG HỘ

    Nhà Thơ Tha Nhân

    Kỹ Sư Xây dựng Nguyễn Văn Viễn, chủ công ty xây cất Vincents Contruction

    Tiếp đến là nhật báo Người Việt, Ký Giả Lâm Hoài Thạch, ông đã phỏng vấn NV Ngọc Cường và tôi, ông cũng là ký giả đã viết bài báo tường trình về buổi RMS. Bài báo đã được đăng trên Nhật Báo Người Việt ngày 02, tháng 07, 2023. Cám ơn Ký Giả Lâm Hoài Thạch và tôi xin trích vài đoạn phóng sự của ông trong bài viết của tôi như sau:

    Ký giả Lâm Hoài Thạch phỏng vấn NV Khánh Lan: Ra mắt sách nghiên cứu quý giá về Tự Lực Văn Đoàn tại Little Saigon

    July 1, 2023

    Bài tường thuật của Ký giả Lâm Hoài Thạch/Người Việt

    WESTMINSTER, California (NV) – Nhiều đồng hương và hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn đến dự buổi ra mắt sách “Tự Lực Văn Đoàn Hậu Duệ và Thân Hữu” do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức vào trưa Chủ Nhật, 25 Tháng Sáu, tại NT Studio, thành phố Westminster. Cũng trong buổi này, ban tổ chức giới thiệu hai tác phẩm của nhà văn Khánh Lan là “Tam Giáo Đồng Nguyên” và “Phân Tâm Học và Đời Sống.”

    Buổi ra mắt sách cũng là dịp tưởng niệm 60 năm ngày giỗ nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1963-2023). Nhất Linh thành lập Tự Lực Văn Đoàn và là một trong những cây bút chính của nhóm này. Cùng với nhiều người yêu nước thời bấy giờ, Tự Lực Văn Đoàn có công cổ xúy chữ Việt trong sáng và đóng góp rất nhiều cho bản sắc văn hóa Việt.

    Tác giả Khánh Lan chia sẻ với phóng viên nhật báo Người Việt: “Tôi mới bước vào làng văn chừng bốn năm nay, từ một cái duyên tôi gặp được anh Trần Việt Hải, anh đã dẫn dắt tôi đi vào nghề viết sách. ‘Tự Lực Văn Đoàn Hậu Duệ và Thân Hữu,’ quyển sách này tổng hợp nhiều nghiên cứu công phu của nhiều người như Bác Sĩ Ngô Thế Vinh, Trần Việt Hải, Kiều My, Thế Uyên, Khánh Lan, Giáo Sư Maria Strasakova, Giáo Sư Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tường Tâm…”

    “Quyển thứ hai là “Tam Giáo Đồng Nguyên”, nội dung ghi lại sự tương đồng giữa ba nguồn tư tưởng Nho Giáo, Lão Giáo, và Phật Giáo. Tuy tôi là đạo Công Giáo, nhưng tôi muốn tìm hiểu và nghiên cứu các đạo khác. Bởi vì đạo nào cũng dạy cho chúng ta nhân đức và hiếu nghĩa. Vì thế, tôi muốn tìm hiểu về chân lý của mỗi tôn giáo, và từ đó cuốn tôi vào dòng văn học này. Chính anh Việt Hải đã khuyến khích tôi viết quyển này,” bà giới thiệu.

    “Về tác phẩm “Phân Tâm Học và Đời Sống”, đây là một lý thuyết mà tôi được học từ nhiều trường lớp, và đây cũng là nghề của chúng tôi. Trong đó có môn Phân Tích Về Tâm Lý Nội Tâm của mọi người và làm sao để giải thích những uẩn khúc và tiềm thức ở trong cõi vô thức, mà chúng ta không biết được. Nhờ có Phân Tâm Học đã giúp cho chúng ta giải tỏa được những nỗi u sầu đó. Đồng thời cũng giúp cho chúng ta hiểu được, tại sao chúng ta lại hành động như thế,” bà Khánh Lan chia sẻ. (Ký giả Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    CHƯƠNG TRÌNH RA MẮT SÁCH

    Ban hợp ca Tiếng Thời Gian

    Đúng 1:15 chiều, MC Mộng Thủy chào đón quan khách và khai mạc buổi RMS, lễ chào Quốc Kỳ Mỹ-Việt với ban hợp ca Tiếng Thời Gian. Tiếp theo là phút mặc niệm để ghi nhớ đến công ơn của các vị tiền nhân đã có công dựng nước và gìn giữ nước. Phút mặc niệm để tưởng nhớ đến các quân nhân cán chính VNCH đã hy sinh ngoài chiến trường để bảo vệ cho tự do độc lập. Phút mặc niệm để nhớ đến các nhà văn hóa và các văn nghệ sĩ đã ra đi và để lại những di sản văn hóa cho chúng ta.

    Theo sau là MC Hồng Quyên, cô nói: “Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời gian ghi nhận, cảm kích và cám ơn sự hiện diện của quý quan khách trong buổi RMS ngày hôm nay, nhưng vì thời gian không cho phép và chương trình khá dài, chúng tôi xin được phép không giới thiệu danh sách quý khách đến tham dự.”

    MC Mộng Thủy tiếp lời MC Hồng Quyên, cô nói buổi họp mặt hôm nay gồm 2 phần: Phần Văn Học và phần Văn Nghệ.

    PHẦN VĂN HỌC là buổi RMS của 3 tác phẩm văn học, gồm:

    1) Tác phẩm TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, HẬU DUỆ & THÂN HỮU, tuyển tập số 2 do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật thực hiện.

    2) Hai tác phẩm tiếp theo là TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN và PHÂN TÂM HỌC & ĐỜI SỐNG của Nhà Văn Khánh Lan. 

                Mở đầu phần văn học, MC Hồng Quyên giới thiệu Nhà văn (NV) Việt Hải, ông là một trong 3 vị đã sáng lập ra Nhóm Văn Học Thời Nay gồm thi sĩ Hoài Mỹ và NV Đỗ Cường (Cố vấn: Giáo Sư (GS) Trần Bích Lan và GS Lưu Trung Khảo). Ông cũng cùng NV Tạ Xuân Thạc và GS Doãn Quốc Sỹ (cố vấn: GS Nguyễn Thanh Liêm, GS Doãn Quốc Sỹ, GS Nguyễn Xuân Vinh, GS Lê Hữu Mục và Luật Sư Trần Thanh Hiệp) đồng sáng lập ra Nhóm Văn Đàn Đồng Tâm. Ngoài ra, ông và nhạc sĩ Anh Bằng đã sáng lập ra Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và sau cùng, nhà văn, thi sĩ Trần Việt Hải, là một trong những người sáng lập và là cánh chim đầu đàn của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG). Ông nói về tôn chỉ và sinh hoạt của Liên nhóm NVNT & TTG và đại diện ban tổ chức ngỏ lời chào mừng và cám ơn quan khách đến dự.

    Nhà văn Trần Việt Hải tâm tình: “Tôi rất vui khi được hướng dẫn Khánh Lan trong lãnh vực biên soạn. Cô là người rất chịu khó sưu tầm những tài liệu quý giá để nghiên cứu, nhằm tạo dựng ra tác phẩm của mình, và trong tương lai, Khánh Lan còn cho ra đời nhiều tác tác phẩm có giá trị khác.”(trích dẫn bài của Ký Giả Lâm Hoài Thạch)

    Nhà văn-thi sĩ Trần Việt Hải phát biểu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Để tưởng niệm 60 năm ngày mất của Nhất Linh, bài thơ IM LẶNG của ông Nhất Linh đã được phổ nhạc bởi Nghệ Sĩ Phan Đình Minh. Nhất Linh đã chọn sự im lặng theo cung cách riêng của mình trước ngày ra hầu tòa, như ông đã viết trong bài thơ Im Lặng của ông. Nhân đây, BTC giới thiệu về Nghệ sĩ Phan Đình Minh: Nghệ sĩ Phan Đình Minh đến từ Rowlett, Texas. Hiện nay, ông phụ trách chương trình “Từ Cánh Đồng Mây” trên Radio Saigon Dallas – KBDT 1160 AM. Từ Cánh Đồng Mây là một chương trình phát thanh, truyền âm và truyền hình đi toàn cầu, hiện đại và mang đậm dấu ấn bản sắc văn hóa truyền thống Việt Nam, phục vụ đồng hương trong và ngoài nước. Nhạc phẩm này do chính Nghệ sĩ Phan Đình Minh trình diễn.

    Đồng thời, một bài thơ của Khái Hưng đã dịch một tác phẩm bất hủ của nhà thơ người Pháp, Félix Arvers (1806-1850). Bài thơ Sonnet Un Secret (Điều bí mật) hay TÌNH TUYỆT VỌNG là tựa đề do Khái Hưng đặt, Nghệ Sĩ Phan Đình Minh phổ nhạc. Một lần nữa, nhạc phẩm Tình Tuyệt Vọng sẽ được Nghệ Sĩ Phan Đình Minh trình diễn.

    Nhạc sĩ Phan Đình Minh hát bài “Im Lặng,” thơ Nhất Linh, do ông sáng tác. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Bước qua phần Văn học, diễn giả đầu tiên là Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên, giới thiệu quyển “Tam Giáo Đồng Nguyên” (TGĐN) của tác giả Khánh Lan. Diễn giả Tì Kheo Thích Liễu Nguyên, là viện chủ chùa Diệu Phát Liên Hoa, Anaheim, California, Ngài nói:

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mô Ni Phật.

    Trước hết Liễu Nguyên xin cám ơn tác giả Khánh Lan đã tặng cho Thày quyển sách TGĐN.

    Bài diễn đọc của Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên

    Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên phát biểu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Trong buổi diễn thuyết, Thày Thích Liễu Nguyên nói thêm về chân lý của Phật Giáo, Ngài nói: “Phật giáo bắt nguồn từ nước Ấn Độ cổ đại mà chính Thái Tử Tất Đạt Da, con vua Thịnh Phạm đã giác ngộ thành Phật của cõi Tà Ba, lấy hiệu là Thích Ca Mô Ni Phật, vào thế kỷ thứ VI trước CN. Mục đích của Thích Ca Mô Ni ra đời không phải là sáng lập ra Phật giáo mà mục đích là diện tánh đạo từ bi trí tuệ, giải thoát, đem hạnh phúc giải thoát ngay trong cuộc sống này để trải khắp muôn nơi, nhân loại chúng sanh, để thoát khổ. Ngài nói hết thảy chúng sanh đều có phật tính giống như ta, đều có từ bi trí tuệ bao la giống như ta, cũng có hạnh phúc giống như ta, để trở về nơi từ bi và trí tuệ ấy.“

    “Muốn đến hạnh phúc của phật tầng thì phải tiến sâu và hiểu rõ về nhân quả luân hồi của chính bản thân mình và đặc biệt phải giác ngộ 3 điều căn bản: Đó là vạn pháp xưa nay vẫn vô thường, duyên sanh và vô ngã. Từ đó với từ bi trí tuệ chúng ta phải thực hành Tứ Diệu Đế để đem lại hạnh phúc cho chính mình và khi có hạnh phúc cho chính mình rồi, thì hãy đem hạnh phúc đó để cứu giúp muôn loại chúng sanh. Đó là nét đẹp của vị Bồ Tát trong đạo Phật vậy.“

    “Nói về nho giáo thì được Đức Khổng Tử sáng lập tại Trung Hoa cổ đại. Ngài sinh năm 551 và ngài sống đến 491 trước CN. Nho giáo lấy Nhân, Lễ, Nghĩa, Tín làm căn bản để phát triển tôn giáo và nếp sống trong con người hướng thượng. Nho giáo cũng có Tứ Thư, Ngũ Kinh trong kinh cổ đại của Nho giáo, và cũng để lại nhiều nét đẹp văn hóa, văn học nghệ thuật cho đời như Kinh Dịch, Kinh Thư Cổ. Nho giáo cũng lấy tâm thiện làm gốc để phát triển như trong câu “Nhân chi sơ tánh bản thiện” là vậy. Nho giáo lấy Thượng Thư Ngũ Kinh làm căn bản và lấy sự dung hòa giữa nhân sinh quan và vũ trụ quan, để cùng nhau phát triển tốt đẹp”

    “Còn nói về Đạo Giáo hay còn gọi là Tiên Đạo, sáng lập từ Đức Lão Tử. Ngài sinh ra từ năm 571 trước CN. Ngài cũng được gọi là một vị triết gia, đệ tử của Đức Khổng Tử. Đạo giáo được sáng lập khi Ngài viết ra Đạo Đức Kinh, lấy làm nền tảng đạo đức sống và phát triển Đạo Giáo. Căn bản là lấy sự duy hòa giữa nhân sinh quan và vũ trụ quan để cùng nhau phát triển tốt đẹp.”

    “Tam Giáo Đồng Nguyên là sự đồng nhất về quan niệm nhân sinh quan, vũ trụ quan và nhân quả luân hồi nghiệp báo của nhân loại chúng sinh trong 6 cõi, luôn luôn khuyên chúng sanh tránh ác làm thiện để cùng nhau hướng thượng. Bên cạnh đó, Phật giáo chú trọng giác ngộ về 3 chân lý: vô thường, duyên sanh và vô ngã. Mà muốn giải thoát sinh tử luân hồi thì phải tu tập trọn vẹn về Tứ Diệu Đế để từ đó đem hạnh phúc, để cùng nhân loại chúng sanh. Đó là con đường Bồ Tát đẹp đẽ vậy.”

    “Trong Phật giáo thì gọi Thiên Chúa là Đế Thiên trên cõi trời. Còn Nho giáo và Đạo giáo thì gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế và Tây Phương gọi là Thiên Chúa vậy. Tuy ngôn ngữ và hình dáng hơi khác nhau do văn hóa của mỗi quốc gia, chứ không phải là điều chi khác vậy.”

    MC Hồng Quyên giới thiệu diễn giả thứ hai Trần Kim Thoa, bà là Licensed Clinical Social Worker and Project Focus Clinical Director và là bạn đồng môn của của Nhà Văn Khánh Lan hơn 30 năm qua. Hôm nay, Bà sẽ  nói về tác phẩm PHÂN TÂM HỌC VÀ ĐỜI SỐNG của NV Khánh Lan.

    LCSW & Clinical Director of Focus Group, Trần Kim Thoa

    Clinical Director Trần Kim Thoa nói: “Thưa quý vị, vào đầu tuần của tháng 5, khi tôi bất ngờ nhận được một cú điện thoại thật thú vị, từ một người bạn đồng nghiệp Khánh Lan. Cô đã đưa tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, khi cô mời tôi đến tham dự buổi Ra Mắt Sách của cô. Bởi sau hơn 30 năm là bạn, Khánh Lan không hề nói đến việc viết sách. Chính tôi, có đôi lúc, khi bạn bè chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau, chúng tôi thường đùa là sống lâu năm ở Mỹ, “tiếng Mỹ thì chưa rành mà tiếng Việt thì đã quên mất rồi”.

    “Nhưng điều làm cho tôi vô cùng vui và thán phục cô bạn Khánh Lan của tôi, thì không những Khánh Lan viết được tiếng Việt, mà lại còn viết rất rõ, rất hay, nhất là viết về Phân Tâm Học, một lãnh vực mà tôi cho là bao la, phức tạp, khó hiểu và đòi hỏi nhiều thời gian để giải thích về nguyên lý của nó. Nhưng trong tác phẩm này, mục đích và các phạm vi áp dụng của ngành phân tâm học được viết lại qua ngòi bút nhà văn Khánh Lan, với tựa đề: “Phân Tâm học và Đời sống”. Với lối văn phong giản dị và những dẫn dụ thực tế, Nhà văn Khánh Lan đã đơn giản hóa sự phúc tạp của học thuyết Phân Tâm Học, làm cho nó trở nên bớt khô khan và dễ hiểu hơn.”

    Diễn giả Trần Kim Thoa nói tiếp: “Vậy Phân tâm học là gì? Kính thưa quý vị, đó là học thuyết về kỹ thuật trị liệu tâm lý, có nguồn gốc từ những công trình nghiên cứu theo học thuyết của Sigmund Freud. Phân tâm học cũng là một học thuyết nghiên cứu về thế giới nội tâm, nhằm tìm ra lời giải thích cho những hành vi của con người. Freud cho rằng, tất cả mọi người đều sở hữu những suy nghĩ, cảm xúc, ham muốn, ẩn sâu trong vùng vô thức. Chính ngành Phân tâm học đã giúp chuyển tải những suy nghĩ trong vùng vô thức sang vùng ý thức. Qua sự trợ giúp của nhà cố vấn tâm lý, những vướng bận về mặt tâm lý sẽ được giải thoát, bằng phương pháp nghiên cứu, phân tích những hành động, cách cư xử của từng bệnh nhân, đã hoặc đang bị tác động bởi những suy nghĩ tiềm ẩn trong vùng vô thức. Phương pháp nghiên cứu tâm lý là cách thức thu thập, tìm hiểu và học hỏi về hiện tượng tâm lý của từng cá nhân qua nhiều lãnh vực khác nhau, trong quá khứ cũng như những sinh hoạt hàng ngày. Những trạng thái xúc cảm, những áp lực của môi trường sống, các quan hệ xã hội và sự nhận thức của con người, đều là do sự phản ảnh hiện thực bản chất xã hội, lịch sử hay bất kỳ hoạt động nào của con người vào não.”

    “Kính thưa quý vị, mô thức phân tích tâm lý của tác giả Khánh Lan rất chuyên môn, tinh tế do kiến thức văn hóa và kinh nghiệm nghề nghiệp của tác giả. Bối cảnh phân tích tâm lý bệnh nhân hay tâm lý nhân vật trước một sự kiện, bối cảnh hay ví dụ rất hợp lý, chỉnh chu và cho kết quả đúng đắn. Đọc tác phẩm Phân Tâm Học và Đời Sống, tác giả trình bày chủ đề triết phân tâm qua lăng kính phân tích chuyên nghiệp. Về khía cạnh phân tâm học ứng dụng trong đời sống, tác giả trình bày những phương pháp áp dụng của ngành phân tích tâm lý qua các phạm vi y học, tư pháp cũng như lãnh vực văn học, nghệ thuật và điện ảnh rất rõ ràng, mạch lạc. Tôi xin đưa ra một vài thí dụ điển hình sau đây:”

    Theo diễn giả Trần Kim Thoa: “Phân Tâm Học không những được sử dụng trong khoa học, xã hội và nhân văn mà còn ảnh hưởng rộng rãi trong lãnh vực văn chương, nghệ thuật, tôn giáo, nhân học, giáo dục, luật pháp, sử học, và ngay cả trong đời sống của con người.”

    1. Nghiên cứu tâm lý trong lãnh vực y học: được dùng để chữa bệnh sau khi xác nhận rõ lý do và nguyên nhân của sự thương tổn. Thí dụ: Bệnh trầm cảm là do sự thương tổn gây ra cho bệnh nhân, khi họ đã trải qua hoặc chứng kiến một sự việc khủng khiếp trong quá khứ, như thảm sát, chiến tranh, tù đày, v.v… Khi đã xác định được nguyên nhân cội rễ gây bệnh, bác sĩ tâm lý sẽ áp dụng phương pháp phân tích tâm lý để chữa cho bệnh nhân. Thông thường phương pháp này đi song song với sự dùng thuốc mới có hiệu quả nhanh chóng.
    2. Trong lãnh vực tư pháp hình sự: Cơ quan điều tra dùng phân tâm học để phân tích và phỏng vấn bị can, đề tìm hiểu nguyên nhân gây ra vụ án. Trong tác phẩm này, Nhà Văn Khánh Lan đã áp dụng phân tâm học để phân tích tâm lý vụ án mạng của gia đình Christopher Watts xảy ra tại tiểu bang Colorado. Một gia đình hạnh phúc và học thức. Chris làm việc ở công ty dầu khí và Shannan Watts và người vợ tài giỏi, xinh đẹp, là đại diện thương mại cho công ty tiếp thị Level. Chris đã bóp cổ vợ, chôn xác vợ, sau đó giết chết hai đứa con gái: bé Bella và bé Celeste rồi phi tang vào các phi dầu với toan tính rằng mùi xăng dầu nồng nặc sẽ át đi mùi thi thể khi đang bị phân hủy.
    3. Trong lãnh vực văn chương, Nhà văn Khánh Lan đã đưa ra tác phẩm văn chương điển hình là Đi tìm thời gian đã mất (À la  recherche du temps perdu) của nhà văn người Pháp, Marcel Proust, bộ tiểu thuyết gồm 7 tập, được viết từ 1908-1909 đến 1922 và xuất bản từ 1913 đến 1927.
    4. Trong lãnh vực Điện Ảnh: Tác giả phân tích về những hành vi hài hước của vua “Hề” Charlie Chaplin. Năm 1910, Charlie Chaplin xuất hiện, khởi đầu cho một loạt phim hài có tầm vóc ảnh hưởng rộng lớn và được nhiều người biết đến. Nhưng trên thực tế, Chaplin có một tuổi thơ đầy bão tố, sự nghèo đói, cái mặc cảm bị cha mẹ bỏ rơi khi còn quá nhỏ đã ám ảnh tâm trí ông trong nhiều năm dài, ngay cả đến khi ông trưởng thành và trở nên nổi tiếng. Nỗi ám ảnh này đã tạo nên nhiều ảnh hưởng tâm lý trong sự suy nghĩ, niềm cảm xúc và phản chiếu rõ rệt trong cuộc sống cũng như sự nghiệp điện ảnh và nghệ thuật sáng tác phim truyện của ông.”

    Và sau cùng, diễn giả Trần Kim Thoa đã mượn lời giới thiệu trong tác phẩm PTH & ĐS của Bác sĩ Nguyễn Cao Cường, GS. Y Khoa, Mayo Clinic College of Medicine and Science. Associate Dean, Global Professional Education, School of Continuous Scottsdale, Arizona, USA để kết thúc bài diễn văn của bà: “Phân Tâm Học Và Đời Sống của nhà văn Khánh Lan là một tập hợp những phương pháp được áp dụng vào đời sống. Ý niệm căn bản, định nghĩa, lịch sử về Phân Tâm Học xuyên qua các yếu tố như Học thuyết phân tâm học của Sigmund Freud; Các phương pháp nghiên cứu tâm lý trong lãnh vực y học; tư pháp; văn chương nghệ thuật; điện ảnh của Hoa Kỳ… Sách còn điểm qua quan điểm của nhiều học giả Âu Mỹ nhìn về phạm vi phân tâm học ứng dụng trong đời sống. Nhà văn Khánh Lan đã dùng quan điểm của Linh mục Giuse Nguyễn Công Lai khi Ngài cho rằng: “Phân tâm học của Sigmund Freud có một ý nghĩa lớn đối với những ai muốn tìm hiểu các hiện tượng tâm lý của con người, nhất là cõi vô thức”; và thêm rằng “Có thể nói, Sigmund Freud đã mở ra cho các nhà tâm lý một hướng đi mới, đặt một nền tảng mới khi nghiên cứu về con người dưới cái nhìn tâm lý”. Đọc tác phẩm của tác giả Khánh Lan, chúng ta rút tỉa ra những điều hữu ích cơ bản, cần thiết về phân tâm học ứng dụng trong đời sống như cái tựa đề của sách. Tôi xin trân trọng giới thiệu tác phẩm Phân Tâm Học và Đời Sống của nhà văn Khánh Lan.”

    Diễn giả Trần Kim Thoa kết luận: “Kính thưa quý vị, đây là một quyển sách có giá trị và là sự khởi đầu cho một lãnh vực mới trong văn học. Tôi xin hân hạnh giới thiệu đến quý độc giả tác phẩm thứ sáu của nhà văn Khánh Lan: Tác phẩm Phân Tâm Học và Đời Sống và chúc mừng Nhà Văn Khánh Lan. Xin cám ơn quý vị.”

    Kết thúc phần văn học là bài diễn văn của NV Ngọc Cường. Khi MC Mộng Thủy giới thiệu diễn giả thứ 3, NV Ngọc Cường, cô nói: “Vào đầu thập niên 1930, một tổ chức văn học đã nêu lên một phong trào cách mạng văn học và cải cách xã hội, đã gây được ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội thời đó và ngay cả những thế hệ về sau. Chúng tôi muốn nói đến nhóm Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ). Hôm nay, Mộng Thủy xin hân hạnh giới thiệu một hậu duệ của TLVĐ, đó là ông Nguyễn Tường Cường, tức NV Ngọc Cường, cháu ruột của NV Nhất Linh Nguyễn Trường Tam. Ông Nguyễn Tường Cường sẽ  nói về tác phẩm TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, HẬU DUỆ VÀ THÂN HỮU, tuyển tập số 2.”

    Nhà văn Ngọc Cường phát biểu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

                Diễn giả NV Ngọc Cường đại diện nhóm hậu duệ TLVĐ nói về tác phẩm TLVĐ, Hậu Duệ & Thân Hữu, ông cho biết đây là một tác phẩm dày gần 600 trang gồm nhiều tài liệu về TLVĐ. Riêng trang bìa của quyển sách là của ông Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý được anh chị NV Huy Văn Trương đã thực hiện. Khi nói đến nội dung của quyển sách, NV Ngọc Cường cho biết cuốn sách được chia thành 3 phần, vì là cuốn tưởng niệm của Nhất Linh, nên phần đầu nói về ông và phần hai là những bài phê bình, nghiên cứu về TLVĐ và phần cuối cùng là những sáng tác của hậu duệ và thân hữu gồm: truyện ngắn, bút ký và nhạc. Số tác giả đóng góp cho bài viết là 27 người, ban biên tập do Khánh Lan là trưởng ban và chúng tôi là chị Kiều My, Việt Hải, Phạm Thái và Ngọc Cường.

                NV Ngọc Cường tiếp: “Mặc dầu nhóm TLVĐ đã xuất hiện từ hơn một thế kỷ qua, được thành lập năm 1932, chính thức ra mắt năm 1934 trên tờ Văn Hóa và ông Nhất Linh đã qua đời từ 60 năm qua, ông mất ngày 07 tháng 07, 1963, như vậy, thứ bảy tuần tới đúng là ngày giỗ của ông. Và kể từ ngày đó đến nay đã có cả trăn người nghiên cứu về TLVĐ, cũng như thân thế và sự nghiệp của Nhất Linh…”

    Theo Ký Giả Lâm Hoài Thạch, Nhà văn Ngọc Cường trình bày: “Qua tuyển tập này, chúng tôi không có ý lặp lại những ý tưởng cũ, những phê bình đã được dựa vào văn học sử. Nhưng thiết nghĩ, dựa theo căn bản là văn học sử không phải là một bản văn chết, mà cần luôn có sự đóng góp, có cái nhìn mới mẻ từ nhiều góc cạnh. Do đó, chúng tôi mạnh dạn cống hiến những nhận xét, phê bình mới,” nhà văn Ngọc Cường cho hay.

    Nói về sách “Tự Lực Văn Đoàn Hậu Duệ và Thân Hữu,” diễn giả Ngọc Cường nói rõ thêm: “Đây là một tuyển tập gồm bài vở của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu thân hữu ưu ái đến Tự Lực Văn Đoàn, và cộng thêm sự đóng góp của các cây bút tài tử, trong phía hậu duệ của các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam.” (Ký giả Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

              Trước khi bước sang phần văn nghệ giúp vui, Mộng Thủy giới thiệu Nhà Văn Khánh Lan, tốt nghiệp bằng Cao học tâm lý, ngành Cố vấn Hôn nhân và Gia đình tại California State University, Fullerton; là trưởng nhóm Văn Học của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Bà đã có một số tác phẩm xuất bản với nhiều thể loại khác nhau như tiểu thuyết tình cảm xã hội, trinh thám, biên khảo, nghiên cứu và phân tích tâm lý.

    Nhà Văn Khánh Lan ngỏ lời cám ơn quan khách

    Ngỏ lời cám ơn quan khách, NV Khánh Lan nói: “Trước hết Khánh Lan xin gởi lời cám ơn đến các quý Giáo Sư, quý Văn Thi Sĩ, quý truyền thông báo chí và tất cả quý quan khách hiện diện trong buổi RMS ngày hôm nay. Khánh Lan vô cùng xúc động bởi trong cộng đồng của chúng ta ngày hôm nay, có biết bao buổi sinh hoạt khác. Trước nhất là buổi họp mặt của các anh chị thuộc liên trường trung học toàn quốc tại Việt Nam trước năm 1975. Nhưng Khánh Lan vô cùng xúc động khi thấy các quan khách, cũng như các anh chị trong nhóm NVNT & TTG đã bỏ chút thì giờ, để đến đây chung vui cùng Khánh Lan và các anh chị Hậu Duệ Tự Lực Văn Đoàn.

    Khánh Lan không biết nói gì hơn là gởi đến quý quan khách lời cám ơn chân tình của Khánh Lan. Cám ơn các độc giả yêu sách đã thương mến Khánh Lan trong suốt 5 năm nay khi Khánh Lan quyết định bước vào lãnh vực văn học, một lãnh vực đòi hỏi nhiều sự hy sinh, chịu khó và phải dấn thân. Dẫu vẫn biết, đây là một lãnh vực rất khó khăn để chèo lái, nhưng với sự khuyến khích, hướng dẫn tận tình của NV Việt Hải và các vị cố vấn văn học trong nhóm như GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, GS Quyên Di và NV Nguyễn Quang đã giúp Khánh Lan vượt qua mọi khó khăn để tiến lên, để sánh bước cùng với các văn thi sĩ. Khánh Lan vô cùng hãnh diện và vui sướng nhận thấy sự cố gắng của mình đã vượt qua mọi chướng ngại để có được ngày hôm nay, nhất là sự quý mến của quý khán giả.” Và điều quan trọng nhất là chúng ta bảo tồn được nền văn hóa của nước Việt. Khánh Lan hy vọng và mơ ước các vị cố vấn và nhà văn của Liên Nhóm NVNT & TTG sẽ tiếp tục dẫn dắt giới trẻ trên bước đường văn học.

    Trong sự xúc động, NV Khánh Lan kết thúc “Một lần nữa, Khánh Lan xin trân trọng chuyển lời cám ơn của chính Khánh Lan đến tất cả quý khán giả, quý văn thi sĩ, quý giáo sư cũng như hai MC Mộng Thủy và Hồng Quyên đã giúp Khánh Lan rất nhiều trong buổi RMS.”

    Khánh Lan rất vui và cho đây là một buổi RMS thành công, bởi trong ngày hôm ấy, đồng hương đến tham dự mỗi lúc một đông, mua sách cũng như ủng hộ nồng nhiệt, nên chỉ trong 2 tiếng đầu, cả ba tác phẩm đều bán hết. Quan khách yêu sách ra về vui vẻ với ba tác phẩm văn học trong tay và đây chính là một khích lệ lớn cho Ban Biên Tập nói riêng và cho Ban Tổ Chức nói chung.

    Đồng hương đến dự. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Clinical Director Trần Kim Thoa, Thượng Tọa Thích Liễu Nguyên, Ông Hoàng Đình Khuê, Giám Đốc Viện Việt Học Kim Ngân

    NV Nguyễn Quang, NT Vũ Lang, GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum

              PHẦN VĂN NGHỆ: Do Tiếng Thời Gian đảm trách với những nhạc phẩm tiền chiến, trong đó, một số bài hát được sáng tác trước và sau năm 1954, hướng về quê hương Hà Nội của những năm trước khi Hiệp Định Geneve ký kết. Tác phẩm nói lên nỗi lòng thương nhớ quê nhà thuở thanh bình, yên vui của những người Việt từ miền Bắc di cư vào Miền Nam. Gồm những nhạc phẩm nổi tiếng như: Giấc mơ hồi hương, một nhạc phẩm tiêu biểu cho tâm tư sâu kín của hơn một triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam, xuất hiện vào khoảng năm 1970. Tác phẩm ra đời do nguồn cảm hứng từ một bài thơ mà Nhạc Sĩ Vũ Thành đã đọc được trên một tạp chí văn nghệ. Ca Sĩ Ngọc Hà với nhạc phẩm GIẤC MƠ HỒI HƯƠNG của Vũ Thành.

    Theo sau là phần trình diễn của các giọng hát hay và những bài hát tiền chiến nổi tiếng: Kiều Loan với nhạc phẩm Gửi Người Em Gái Miền Nam (Đoàn Chuẩn & Từ Linh). Kiều My với nhạc phẩm Besame Mucho (Luis Muguel). Mạnh Bổng với nhạc phẩm Nỗi Lòng Người Đi (Anh Bằng). Ngọc Quỳnh với nhạc phẩm Hướng Về Hà Nội (Hoàng Dương). Minh Thư với nhạc phẩm Tiếng Hát Với Cung Đàn (Văn Phụng). Hồng Quyên với nhạc phẩm Hà Nội Ngày Tháng Cũ, của Nhạc Sĩ Song Ngọc. Giọt Tình Sầu, thơ: Khánh Lan, Nhạc Phan Đình Minh, do chính tác giả trình bày.

    GIỌT TìNH SẦU

    Thơ Khánh Lan, Nhạc Phan Đình Minh

    Tình như lá rơi rơi.

    Với nỗi buồn không nguôi.

    Em có còn lệ rơi

    Cho cuộc tình đơn côi

    Thời gian cứ trôi xuôi

    Vẫn tháng ngày trôi theo

    Tháng ngày là của ta

    Tình yêu không có lỗi

    Lỗi do người đổi thay

    Ôi! Giọt nước mắt nào

    Chảy xuống bờ môi khô

    Uống cho vơi giọt sầu

    Buồn làm chi em ơi

    Bao kỷ niệm sầu đau

    Trong trái tim u hoài.

    Thời gian vẫn vô tình

    Chia cắt tình đôi ta

    Có những lúc có những lần sau

    Có những lúc sẽ có ngày mai

    Nhưng ta mãi mãi vẫn đi tìm nhau.

    Trước khi trình diễn bài Giọt Tình Sầu, NS Phan Đình Minh tâm sự: “Trên đường đi sang California, tôi tự nghĩ với lòng câu “Cali đến dễ khó đi, rượu ngon bạn tốt chân đi sao đành”…Tôi nghĩ còn mấy phút nữa, tôi sẽ riêng một góc trời tại Dallas, với những người bạn…xin phép khán giả cho phép tôi gọi là bạn vì ngay anh Bích, anh Sum…chúng ta đều là bạn đồng hương cả, nhất là với các anh chị NVNT & TTG.  Cách đây mấy tháng, tôi không biết ai ngoài Việt Hải, cả mấy chục người đã đến San Jose để giúp tôi tổ chức chương trình “Từ Cánh Đồng Mây”.”

    “Khi tôi đặt chân xuống phi trường Long Beach ngày thứ Sáu, người bạn quý Ngọc Cường đã đón tôi và tiếp đãi tôi rất nồng hậu từ ngày thứ Sáu cho đến bây giờ. Thường người ta cho rằng sau sự thành công của người đàn ông có hình bóng của người đàn bà để support, tôi muốn nói ngược lại là sau một người đàn bà thành công, có cánh tay mạnh, có một cánh tay Bổng. Tôi muốn nói sau một người đàn bà thành công, Khánh Lan có Mạnh Bổng đứng đằng sau để giúp. Một điều đặc biệt là trong nhóm này, đa dạng đa tài, bản nhạc mà tôi sẽ hát cho Khánh Lan rất là đặc biệt, ngoài những tài viết văn của Khánh Lan, mà Mộng Thủy đã giới thiệu, tôi muốn giới thiệu thêm. Khi Khánh Lan gởi cho tôi bài Giọt Tình Sầu, tôi thích. Tôi cũng đã đọc những đoạn văn mà Việt Hải trích từ những bài viết của Khánh Lan và gởi cho tôi, nhưng tôi không nghĩ Khánh Lan viết và xếp chữ thơ hay như vậy, đặc biệt như vậy. Xin nghe bài Giọt Tình Sầu, ướt át lắm, dễ thương lắm của Khánh Lan. Ok, Khánh Lan, nghe anh nhé, anh hát cho em.”

    Khánh Lan cám ơn Nghệ Sĩ Phan Đình Minh đã phổ nhạc và trình diễn bài thơ GIỌT TÌNH SẦU

    Tiếp theo phần văn nghệ, Ca sĩ Ngọc Hà với nhạc phẩm Đẹp Giấc Mơ Hoa (Hoàng Trọng, lời Thanh Nam). Hạ Lan với nhạc phẩm (Dạ Khúc) Serenade của Frank Schubert, lời việt Phạm Duy. Kiều My với nhạc phẩm Chiều Tím của Đan Thọ, thơ Đinh Hùng và Mạnh Bổng với nhạc phẩm Thuở Ban Đầu của Phạm Đình Chương. Bài hát Thuở Ban Đầu cũng là ca khúc cuối cùng trước khi bế mạc buổi RMS và sau khi hai nhà văn Ngọc Cường và Khánh Lan ngỏ lời cám ơn quan khách đã đến tham dự.

    Hai NV Ngọc Cường và Khánh Lan cám ơn khán giả đã ủng hộ nồng nhiệt cho buổi RMS

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Chương trình RMS 3 tác phẩm do Liên nhóm NVNT & TTG tổ chức đã chấm dứt lúc 4:00 chiều, 20 anh em chúng tôi cùng nhau đến nhà hàng Ngọc Sương ăn mừng cho sự thành công của buổi RMS và lưu luyến chia tay, hẹn gặp lại vào ngày 06 tháng 08, 2023, kỷ niệm 8 năm thành lập Liên Nhóm NVNT & TTG.

    Liên Nhóm NVNT & TTG ăn mừng sự thành công của buổi RMS ba tác phẩm: TLVD, Hậu Duệ & Thân Hữu, Tam Giáo Đồng Nguyên và Phân Tâm Học & Đời Sống tại nhà hàng Ngọc Sương

    Khánh Lan, California June 25, 2023

    P.1_VĂN NGHỆ MỞ ĐẦU_NVNT & TTG GIỚI THIỆU TỰ LỰC VĂN ĐOÀN & CÁC CÂY BÚT HẬU DUỆ

    P.2_KHAI MẠC_NVNT & TTG GIỚI THIỆU TỰ LỰC VĂN ĐOÀN & CÁC CÂY BÚT HẬU DUỆ

    P.3_VĂN HỌC_ NVNT & TTG GIỚI THIỆU TỰ LỰC VĂN ĐOÀN & CÁC CÂY BÚT HẬU DUỆ

  • Kiều My,  Sinh Hoạt,  Tha Nhân,  Tin tức

    TUỔI HẠC NƠI VÙNG TRỜI BÌNH YÊN

    Trời xanh xanh ngắt…ố … ố… kìa.

    Hai con hạc trắng, bay về, bay về bồng lai.

    Bầu trời Nam California tháng sáu vẫn còn dịu mát nhờ những luồng gió từ vùng biển Thái Bình Dương thổi vào thành phố, mang đến làn không khí êm ả cho những ngày giao mùa giữa xuân hạ, trước khi bước vào mùa hè rực nắng chói chang. Trong không khí hân hoan của một ngày đẹp cuối tuần, nhà văn Trần Việt Hải, chủ soái của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã tổ chức một buổi tiệc long trọng mừng sinh nhật thứ 93 của nhà văn Nguyễn Quang. Trong dịp này, những ngọn nến cũng được thắp sáng lung linh, để tưởng nhớ ngày giỗ thứ 6 của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, là phu nhân của nhà văn Nguyễn Quang.

    Trong buổi tiệc thân mật hôm nay, Kiều My nhận thấy có rất nhiều vị giáo sư khả kính như: giáo sư tiến Sĩ Trần Huy Bích, giáo sư nhạc sĩ Lê Văn Khoa, giáo sư Dương Ngọc Sum…Ngoài ra, còn có rất nhiều nhà văn như: Vi Khiêm, Phạm Gia Đại, Chu Tất Tiến, Dương Viết Điền, Phạm Quốc Bảo… Các thi sĩ gồm có: Dương Hồng Anh, Lê Trọng Nguyễn Nga, Nguyễn thị Mắt Nâu, Phi Hồ – Nhật Quang… Bên cạnh đó, còn có những nhạc sĩ tên tuổi như: Võ Tá Hân và đặc biệt có nhạc sĩ không quân Phan Đình Minh trong chương trình Từ Cánh Đồng Mây, đến từ Dallas, Texas… Giới truyền thông báo chí như anh Thiều Minh, nhiếp ảnh gia Paul Lê Văn, … cũng có mặt làm nhiệm vụ nghề nghiệp đăng tải lên truyền thông, truyền hình, cũng như báo chí về những sinh hoạt của cộng đồng người Việt hải ngoại. Đặc biệt, còn có sự hiện diện của chị Nguyễn thị Tâm An trong Mạng Lưới Nhân Quyền, anh John Tạ giám đốc công ty dược thảo Pricess Lifestyle, anh Hùng Ngọc chủ nhân cơ sở Ferrari Auto Sales & Repair… Lại thêm nhà văn Ngọc Cường và phu nhân Bích Điệp, hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn, và nhiều quý vị trong những hội đoàn tranh đấu cho chính nghĩa quốc gia VNCH. Với những thành viên trong NVNT&TTG như NV Khánh Lan và phu quân Mạnh Bỗng v.v…

    Trong không khí thân mật của thính phòng NT Studio, mọi người gặp gỡ nhau tay mắt mặt mừng trong tình thân ái. Mọi người dành thời giờ quý báu cùng đến đây chung vui ngày sinh nhật đại thọ của nhà văn đàn anh Nguyễn Quang, là nhân vật chính của sự kiện hôm nay. Đồng thời, cũng  tưởng nhớ ngày giỗ thứ sáu của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, phu nhân của anh Nguyễn Quang. Nữ sĩ MDHT được biết đến qua hai bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc; đó là: Kiếp Nào Có Yêu Nhau và Đừng Bỏ Em Một Mình…đã được giới yêu nhạc rất yêu thích, và cũng được nhiều ca sĩ trình diễn.

    MC Mộng Thủy khai mạc chương trình bằng lời chào nồng nhiệt đến quý vị quan khách. Tiếp đến là nghi thức chào cờ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ; sau đó, phút Mặc Niệm… được diễn ra trong không khí thật trang trọng.

    Nhà văn Vi Khiêm đã điểm qua những tác phẩm của NV Nguyễn Quang như: Ôn Cố Tri Tân, Phận Đàn Bà, Ngoại Tình, Thầy Giáo Làng v.v… Điều này đã nói lên NV Nguyễn Quang có một trí óc sáng suốt với một tâm hồn yêu văn chương mà ông đã cống hiến cho độc giả cũng như nền văn học Việt Nam hải ngoại từ nhiều năm qua.

    Nhạc sĩ Võ Tá Hân cùng gia quyến với MĐHT, đã kể những mẫu chuyện về kỷ niệm đẹp và khó quên với nữ sĩ tài hoa này với niềm cảm mến dạt dào. Nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc bài thơ “Bài Thơ Cho Huế” của MDHT và được song tấu Tây Ban Cầm với ca sĩ Ái Liên với tiếng hát truyền cảm của cô.

    MC Mộng Thủy nói về cuộc tình đẹp của đôi uyên ương Nguyễn Quang và MĐHT, với những kỷ niệm khó quên mà anh chị đã cho nhau từ lúc gặp gỡ cho đến tuổi hoàng hôn. Từ ngày chị vĩnh biệt cõi đời, anh rất đơn côi với nỗi nhớ khôn nguôi người bạn đời cho đến hôm nay. Có thể nói, đây là mối tình đích thực rất hiếm hoi trên cõi đời này.

    NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG VÀ NỮ SĨ MINH ĐỨC HOÀI TRINH

    Đặc biệt, trong dịp này NV Nguyễn Quang đã kể lại quá trình hoạt động của phu nhân quá cố Minh Đức Hoài Trinh của ông, cho nền dân chủ của đất nước, cũng như tranh đấu nhân quyền cho người dân Việt và sinh hoạt văn học Việt Nam tại hải ngoại, Ngoài ra, ông bà cùng giúp đỡ người Việt tị nạn ở Pháp quốc.

    Trong chương trình văn nghệ, nhóm Ngũ Long Công Chúa của NVNT & TTG đã trình diễn màn hoạt cảnh rất đặc sắc trong bản nhạc Triệu Đóa Hoa Hồng, sáng tác nổi tiếng của nhạc sĩ người Nga Raimond Voldemarovich. Năm nàng công chúa: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Khai, Minh Thư và Minh Châu…Từng công chúa lần lượt mang những đóa hoa hồng đỏ tuyệt đẹp tặng cho ngôi sao sáng Nguyễn Quang. Chiếc bánh sinh nhật thật lớn cũng được cắt ra để chia sẻ niềm vui, cũng như những lời chúc tốt đẹp của mọi người dành cho ngày mừng đại thọ của ông.

    TỪ TRÁI SANG: NV KIỀU MY, NV NGUYỄN QUANG, BÍCH ĐIỆP, LỆ HOA, MINH THƯ, THỤY LAN, MINH KHAI, MINH CHÂU

    Nhân ngày chúc thọ NV Nguyễn Quang, Thi Sĩ Tha Nhân phỏng Dịch Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu:

    LẦU HOÀNG HẠC

    Người xưa cưỡi Hạc biệt về mô

    Đề lại Hạc Lầu đứng ngẩn ngơ

    Cánh Hạc ngàn đi không trở lại

    Vầng mây trăm lượn mãi bơ vơ

    Hán Dương nắng chiếu hàng cây ngóng

    Anh Vũ sương giăng lớp cỏ mơ

    Chiều xuống xa Quê tràn nỗi nhớ

    Mặt sông khói phủ ngập mong chờ

    ( Thể Lục Bát)

    Hạc Vàng bay tít tầng mây

    Hạc đi để lại lầu này bơ vơ

    Hạc bay biệt tích giang hồ

    Ngàn năm mây trắng ngẩn ngơ nỗi sầu

    Hán Dương sông lạnh bấy lâu

    Cỏ kia Anh Vũ một màu tang thương

    Chiều hôm nặng nhớ Quê hương

    Mặt sông khói phủ vấn vương mối sầu!!

    Tha Nhân phỏng dịch (trich trong thi tập Giọt Sầu Quê Hương xb năm 2011, nam Ca)

    Chương trình văn nghệ rất phong phú được đóng góp bởi các tiếng hát trong NVNT & TTG và các thân hữu. Giọng hát truyền cảm của ca sĩ Ngọc Quỳnh đã cất lên trong nhạc phẩm Kiếp Nào Có Yêu Nhau, thơ của MĐHT, Phạm Duy phổ nhạc… Đã gây cảm xúc người nghe và ngậm ngùi nhớ đến nữ sĩ tài hoa MĐHT. Ca sĩ Mạnh Bỗng thật sôi động trong điệu chachacha qua nhạc phẩm Nắng Chiều, một ca khúc nổi tiếng của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn.

    Ca sĩ Không Quân Phan Đình Minh từ Dallas, cũng đã cống hiến những bài hát do anh phổ nhạc từ  bài thơ của Trần Việt Hải: Mưa Chiều Nhớ Ai. Ngoài ra, người nhạc sĩ tài hoa này cũng đã phổ nhạc với tâm huyết của mình qua bài thơ: Mẹ Ơi Con Không Về của MDHT. Và cũng chính anh đã hát lên ca khúc này với niềm cảm xúc dạt dào. Bài hát Mẹ Ơi Con Không Về đã là một động lực, lại thêm ân tình mà anh đã dành cho NV Nguyễn Quang và cố nữ sĩ MDHT, khiến anh phải bỏ thời gian bay về đây. Nhờ thế, mà mọi người được thưởng thức tiếng hát của cựu phi công “ Từ Cánh Đồng Mây”, một giọng hát trầm ấm và mạnh mẽ như ngày xưa “Đi không lo gì xác rơi” (trong nhạc phẩm Không Quân Hành Khúc của Văn Cao). Anh hát thật có hồn và lôi cuốn người nghe qua những bản nhạc  trữ tình.

    Một tiếng hát mang đậm nét u hoài trong nhạc phẩm Chiều Trên Phá Tam Giang, của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh; đó là NV Phạm Gia Đại, tác giả của tác phẩm Người Tù Cuối Cùng mà nhiều người biết đến. Chính vì giá trị của tác phẩm Người Tù Cuối Cùng, mà tên tác phẩm này luôn gắn liền với tên tuổi của anh trong cuộc sống hiện tại.

    Một giọng ca rất quyến rũ, cao vút trong bản nhạc Pháp nổi tiếng La Vie En Roses, qua tiếng đàn điêu luyện của nhạc sỹ keyboard Duy Nhật; đó là ca sĩ Ngọc Hà, phu nhân của giáo sư nhạc sĩ tài ba Lê Văn Khoa. Người nhạc sĩ lừng danh đã mang lại niềm hãnh diện cho người Việt Nam, khi ông mang âm nhạc Việt quảng bá khắp thế giới, để cho thế giới biết đến dân tộc hào hùng Việt Nam.

    Đứng giữa Ngũ Long Công Chúa là NV Nguyễn Quang và NV Việt Hải.

    NV Trần Việt Hải, con chim đầu đàn của nhóm NVNT & TTG, là người rất quý trọng bạn hữu, vẫn luôn đứng sau lưng yểm trợ tinh thần cũng như đóng góp ý kiến và tổ chức những sự kiện hầu mang đến niềm vui, hay sự thành công cho mọi người. Anh đã hy sinh thời giờ, hay vật chất và kể cả sức khỏe… cho bạn hữu của anh, nhất là những thành viên trong nhóm NVNT&TTG do anh chủ xướng. Anh rất ý nhị khi đã gợi ý cho Kiều My hát bản Chờ Đông và Après Toi trong sự kiện này, dành tặng cho NV Nguyễn Quang, để ghi nhớ lại cuộc tình của anh với người phối ngẫu. Mùa Đông là mùa tràn ngập kỷ niệm đẹp của mối tình tuyệt vời Nguyễn Quang và Hoài Trinh. Hai người đã yêu nhau, chờ đợi nhau đến mùa đông California 1980 mới được đoàn tụ.

    Hát cho Minh Đức Hoài Trinh, “Em ơi! có phải ngoài trời đang mưa ? Em ơi! có phải trời đã sang đông ? Mùa đông giá băng anh đang chờ Mùa đông ái ân anh đang tìm Tìm màu áo cưới cho em…. Em ơi! xích lại thật gần bên anh.. Cho anh xiết chặt nụ cười xinh xinh Từ đây những đêm trăng thanh đầy Mình không lẻ loi không u sầu Nguyện cầu ta mãi bên nhau…” (Chérie, oh ma chérie ! il pleut dehors maintenant ? Bébé ! c’est l’hiver ? C’est l’hiver glacial j’attends l’hiver de l’amour je cherche la couleur de ta robe de mariée…. Hé! Rapproche-toi de moi. Chérie, laisse-moi presser ton beau sourire. A partir d’ici, les nuits au clair de lune, je ne suis plus seul, ni triste, je prie pour que nous soyons ensemble pour toujours…)

    “Mất em, anh không thiết sống nữa, cũng không thiết tha sống, chỉ vì nhớ về em, Vắng em, em khiến mắt anh ướt lệ rơi, đôi tay nay vắng em, tim anh không còn vui. Em yêu, anh đã nhớ tiếng cười và tiếng cười của anh chỉ đến bởi em. Mất em rồi, anh chỉ còn là cái bóng… Là cái bóng của em… Mất em…”, (Qu’après toi, Je ne pourrai plus vivre, non plus vivre, Qu’en souvenir de toi, Après toi, J’aurai les yeux humides Les mains vides, le coeur sans joie. Avec toi, J’avais appris à rire et mes rires ne viennent que par toi. Après toi, je ne serai que l’ombre …De ton ombre … Après toi …)

    Nhân ngày mừng sinh nhật thứ 93 của bậc đàn anh Nguyễn Quang, nhìn lại các bậc trưởng thượng khả kính… mái tóc đã trắng xóa, bước đi chậm chạp, nói chuyện chậm chãi nhẹ nhàng… tất cả đã qua khỏi “thất thập cổ lai hi” và bước vào tuổi bát tuần, cửu tuần… Đây là TUỔI HẠC của một đời người trường thọ.  Người xưa cho rằng: Hạc là loài chim cao quý, có tuổi thọ rất cao; vì vậy loài chim này là biểu tượng cho sự trường tồn, bền vững và tuổi thọ. Vì thế, những vị cao niên có tuổi thọ cao còn được gọi là “tuổi hạc”. ( ví sống lâu như chim hạc )Trong thơ văn có câu:

                                           “Thương cha tuổi hạc đã cao

                                          E khi ấm lạnh buổi nào biết đâu” (LVT)

              Con hạc có bộ dáng mảnh mai, mang bộ lông trắng muốt, trông nó thanh cao như một người luống tuổi mà vẫn giữ được phong cách ung dung. Hạc là loài chim sống lâu năm; vì thế, người ta gọi tuổi của các bậc cao niên là “tuổi hạc” vậy.

              Ở Hoa Kỳ, tuổi cao niên được gọi bằng cái tên thật quý giá, đó là “golden age” là “tuổi vàng”; nhằm bày tỏ lòng quý trọng đối với các vị cao niên đã đóng góp tài năng và công sức cho xã hội khi còn trẻ. Tuổi hạc còn khỏe mạnh nhờ vào sự lạc quan của chính bản thân và tình thương mến của gia đình, bạn bè dành cho. Thật vậy, nếu một người lớn tuổi sống cô độc, chung quanh không có ai là người để bầu bạn, không ai quan tâm hay chia sẻ những lúc vui buồn, thì thường bị trầm cảm và sinh bệnh hoạn. Vậy xin các bậc tuổi hạc hãy đến chung vui với thế hệ đàn em trong những cuộc hội ngộ, để có được nụ cười và niềm an ủi; hầu mang đến đời sống có ý nghĩa của tuổi về chiều. Con đường này ai cũng phải đi qua, nếu kiếp sống kéo dài. Hình ảnh của các vị tuổi hạc hôm nay, cũng là hình ảnh của thế hệ kế tiếp trong tương lai. Vì: “Sóng sau dồn sóng trước.” Đều phải tuân theo luật tự nhiên cả!

              NV Nguyễn Quang với bản chất vui vẻ, thành thật và rất điềm đạm; vì thế ông được nhiều người quý trọng và thương mến như một người anh cả. Chính vì tấm chân tình mà những người em tinh thần đã dành cho ông, khiến ông phải lưu luyến và chọn Little Saigon để dừng chân và sống những ngày cuối đời của ông. Little Saigon, là Saigon Nhỏ của người dân Việt tị nạn ở Hoa Kỳ, sống nơi đây NV Nguyễn Quang tưởng nhớ đến Saigon năm xưa ở quê nhà, mà ông đã rời xa từ rất lâu. Ông đã không chọn Paris, Pháp quốc để sống những ngày tháng tuổi hạc của ông, mà ông chọn nơi đây, để sống với các em yêu quý của ông trong tình nghĩa văn chương và tình người đồng hương đậm đà.

    Cầu chúc nhà văn Nguyễn Quang được an vui, khỏe mạnh…hầu đi tiếp quãng đời còn lại, bên cạnh những người em luôn quý mến anh, tạo thêm nguồn cảm hứng để sáng tác nhiều tác phẩm văn chương để đời. Nhìn các bậc tuổi hạc, Kiều My rất kính mến và ngưỡng mộ, thầm cầu mong cho các vị luôn mạnh khỏe, có cuộc sống an nhàn, hạnh phúc nơi vùng trời bình yên này.

    Hướng về bên kia đại dương, thật xót xa khi nghĩ đến các vị cao niên sống ở quê nhà, lúc tóc đã bạc, lưng đã còng… mà ngày ngày phải buôn gánh bán bưng để mưu sinh, hay lang thang không nơi nương tựa, hoặc bệnh hoạn không ai chăm sóc. Khấn cùng trời cao! Hãy cất đi gánh nặng trên đôi vai và hãy lau khô những giọt nước mắt tủi nhục đắng cay của các vị tuổi hạc còn lại nơi quê hương khốn khổ lầm than!

    Kiều My.

    Tuổi Hạc Vàng (*)

    (Kinh chúc nhà văn Nguyễn Quang)

    Hạnh phúc an vui hưởng tuổi già

    Bình minh trẩy hội đẹp ngàn hoa

    Văn chương bút pháp hồn vui thỏa

    Tuổi hạc vàng với trời bao la

    “An nhiên tự tại” danh ngời tỏa

    Đa phúc đa thọ đáo xuân thời

    Quá thu khánh tuế trường vạn lộc

    Chúc văn nhân “bách niên giai lão”

    Đẹp nụ cười hiền dáng thanh cao!

    Kiều My.             

    (*): trích ảnh hạc vàng.

    “Minh Đức Hoài Trinh: Chính Khí Của Người Cầm Bút”:

    http://namcalicogila.blogspot.com/2017/06/canh-hac-hoang-hon-vhla.html