• HUY ANH,  Khánh Lan,  MINH ĐỨC,  Sinh Hoạt

    RA MẮT CỦA LIÊN NHÓM VĂN CHƯƠNG VIỆT & TIẾNG ĐÀN XƯA

    Khánh Lan tường trình

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian hân hoan chào đón sự ra mắt của Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa do hai thi sĩ Minh Đức (Ngô Thiện Đức) và Huy Anh (Nguyễn Đại Thành) chủ xướng.

    Ngày 22 tháng 06, 2025-Buổi họp mặt diễn ra trong bầu không khí thân mật và ấm cúng ngày 22, tháng 06, 2025 tại Vietlife TV Studio, tọa lạc trên đường Beach thuộc thành phố Westminster, California.

    Hai Thi Sĩ: Minh Đức & Huy Anh

    Sau nghi thức chào quốc kỳ và giây phút mặc niệm, Thi sĩ Minh Đức và Thi Sĩ Huy Anh ngỏ lời cám ơn sự hiện diện của các quan khách, thành viên và thân hữu. Bởi hôm ấy cũng là ngày tưởng niệm và mừng Father’s day & Mother’s day. Thi sĩ Minh Đức đã nói về ý nghĩa của ngày Lễ Cha (Father’s Day) và chia sẻ những kỷ niệm đã có với đứng sinh thành ra anh. Anh nói:

    Ngày Lễ Father’s Day là để tôn vinh những đóng góp và sự hy sinh cao cả của người cha, một người có công sinh thành và che chở cho cuộc đời những đứa con thơ. Ngày của cha thường được tổ chức vào Chủ nhật thứ 3 của tháng 6 hàng năm. Nguồn gốc của Ngày Lễ Cha được ăn mừng và phổ biến từ những năm đầu thế kỷ 20. Nhưng việc ăn mừng Ngày của Cha được biết đến sớm nhất diễn ra ở Fairmont, Tây Virginia vào ngày 5 tháng 7 năm 1908. Sự kiện được bà Grace Golden Clayton tổ chức, với mong muốn vinh danh cuộc đời của người cha bị mất vài tháng trước trong Thảm họa Monongah Mining ở Monongah, Tây Virginia, vào ngày 06/12/1907. Có thể Clayton chịu ảnh hưởng bởi việc ăn mừng Ngày của Mẹ lần đầu tiên trong năm đó, Clayton đã chọn ngày Chủ nhật gần nhất so với ngày sinh của người cha vừa mới qua đời của bà. Tuy nhiên, sự kiện đó bị lu mờ bởi các sự kiện khác trong thành phố. Tiểu bang Tây Virginia không chính thức công nhận ngày lễ này, và nó không được tổ chức trở lại. Tất cả công lao trong việc giúp Ngày của Cha ra đời về sau lại được ghi nhận cho Sonora Dodd người Spokane, đã tổ chức Ngày của Cha một cách độc lập vào 2 năm sau đó. Sự kiện của bà cũng chịu ảnh hưởng từ Ngày của Mẹ.

    Vào một ngày trong năm 1909, trong khi đang nghe bài thuyết giáo về Ngày của Mẹ, cô Sonora đã nghĩ đến một ngày để vinh danh các người cha. Sonora là con gái lớn nhất trong sáu chị em, mẹ cô qua đời trong lúc sinh nên cha cô là ông William Jackson Smart đã một mình nuôi sáu chị em khôn lớn. Sonora yêu quý và kính trọng cha vì hiểu những nỗi vất vả của ông. Người cha trong mắt cô là biểu tượng của sự hy sinh, vị tha, bao dung. Vì vậy, cô muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh cha mình. Sonora đã chọn ngày 19 tháng 6 là “Ngày của Cha” vì ngày đó là sinh nhật của cha cô.

    Sau đó, vào năm 1966, tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã quyết định chính chức chọn ngày Chủ nhật thứ 3 trong tháng 6 hàng năm là Ngày của Cha trên toàn nước Mỹ. Ngày của Cha đã được tổ chức kỷ niệm hàng năm kể từ khi tổng thống Mỹ Richard Nixon ký luật công nhận Ngày của Cha có giá trị là một ngày lễ chính thống vĩnh viễn vào năm 1972. Ngày của cha được tổ chức rộng khắp trên nhiều quốc gia. Ở mỗi quốc gia lại có một cách chào đón Ngày của Cha một cách khác biệt.

    Thi Sĩ Minh Đức (Ngô Thiện Đức)

    Sau cùng, Thi Sĩ Minh Đức đã diễn đọc bài thơ Mẹ Thiêng Liêng mà anh đã sáng tác sau ngày anh mất đi người Mẹ thân yêu của đời mình và khi nhớ lại những buổi đi làm về khuya mà Mẹ anh vần chờ đợi hay gọi điện thoại thăm hỏi anh. “Con có mệt không?” hoặc “Con đã ăn cơm chưa?” v.v…

    Bài thơ Mẹ Thiêng Liêng là cả một nỗi niềm tâm sự của thi sĩ Minh Đức khi nhớ về người Mẹ đã khuất bóng đã gây nên sự xúc động cho mọi người đang hiện diện trong khánh phòng. Người viết xin trích toàn thể bài thơ như sau:

    Mẹ là biển cả thiêng liêng

    Như giòng sữa ngọt mẹ hiền từ tâm

    Bao năm khổ cực âm thầm

    Như gương từ mẫu Quan Âm tình tràn

    Cho con hạnh phúc bình an

    Mẹ là hùng vĩ kỳ quan muôn đời

    Nay con dâng mẹ đôi lời

    Thơ này kính tặng “Mẹ tôi!” nhân từ ,…

    Tiếp theo là NV Khánh Lan chia sẻ về ý nghĩa của ngày Lễ Mẹ (Mother’s Day), cô nói:

    Ngày của Mẹ (Mother’s Day) là một ngày lễ nhằm để tôn vinh người Mẹ trong gia đình và những ảnh hưởng của người mẹ trong xã hội. Có nhiều tài liệu ghi lại rằng: Ngày Lễ Mẹ có nguồn gốc vào thời kỳ Hy Lạp và La Mã, được tổ chức thường niên vào mùa xuân. Người dân La Mã tổ chức lễ hội Hilaria để tưởng nhớ mẫu chúa Cybele vào ngày 15 tháng 3, kéo dài ba ngày với diễn hành dạ hội hóa trang và nhiều trò chơi thú vị. Cũng có tài liệu khẳng định rằng: Lịch sử Ngày Của Mẹ xuất hiện ở nước Anh vào khoảng năm 1600, được tổ chức 40 ngày trước lễ Phục Sinh để tri ân các bà mẹ. Trong ngày của Mẹ, các em nhỏ mang hoa, bánh bột nhân trái cây đến tặng và tri ân các bà mẹ của mình. Tuy nhiên, phong tục này bị quên lãng vào thế kỷ thứ 19.

    Sau một thời gian dài bị bỏ quên, Ngày của Mẹ (Mother’s Day) được khởi xướng ở nước Mỹ nhờ công lao của hai người phụ nữ: Đó là bà Ann Maria Reeves Jarvis và con gái của bà là Anna Marie Jarvis cách đây 100 năm. Bà Ann Maria Reeves Jarvis thuộc tiểu bang West Virginia, Hoa Kỳ đã lập ra một nhóm có tên gọi “Ngày của tình Mẹ” do mong muốn phục hồi và gắn kết lại tình cảm gia đình, vốn đã bị sao lãng bởi cuộc nội chiến NAM BẮC từ năm 1861-1865. Sau khi thành lập nhóm, bà ao ước tổ chức một ngày đặc biệt hàng năm để nhớ về những người Mẹ. Nhưng tiếc thay, bà đã mất trước khi biến tâm nguyện này thành hiện thực.

    Anna Jarvis là con gái của Ann Maria Reeves Jarvis đã đấu tranh và đề nghị Thượng nghị viện Mỹ tổ chức ngày của Mẹ trên toàn quốc. Sau nhiều nỗ lực, dù là nghị quyết chưa được thông qua, nhưng bà Anna jarvis đã tổ chức lễ kỷ niệm “Ngày của Mẹ” (Mother’s Day) đầu tiên tại nhà thờ Andrew’s Methodist Church năm 1908.

    Năm 1911, Ngày của Mẹ được tổ chức hầu hết các tiểu bang của Hoa Kỳ. Ngày 8/5/1914, Tổng Thống Woodrow Wilson ký một nghị quyết ấn định ngày Chủ Nhật thứ hai của tháng Năm là Ngày của Mẹ. Từ đó, ngày của Mẹ được mọi người đón nhận bởi đây cũng là cơ hội để tôn vinh những công lao, đóng góp của những người mẹ đối với gia đình và xã hội. Ngày Của Mẹ cũng là ngày những người con nhớ về mẹ của mình và thể hiện những tình cảm yêu thương, trân trọng và biết ơn đến người Mẹ kính quý.

    Khánh Lan đã kết thúc với 8 câu thất ngôn bát cú do Khánh Lan sáng tác để nhớ về Mẹ mình.

    Bài thơ LÒNG MẸ
    tác giả: Khánh Lan

    Mẹ là ánh sáng giữa đêm thâu
              Dìu con qua những lúc u sầu
              Tấm lưng oằn xuống vì giông bão
              Chở che con giữa cuộc bể dâu

              Mẹ là tia nắng ấm ban mai
              Sưởi ấm hóa tan những u hoài
              Cả đời mẹ đã luôn tận tụỵ
              Dệt cho con giấc mộng tương lai.

    Tiếp theo là Thi Sĩ Huy Anh chia sẻ những kỷ niệm về Mẹ mình, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh với những ngày tháng của thời thơ ấu, của những ngày đầu của niên học, của “Ngày Khai Trường” như đã được nhắc trong tác phẩm của Khoa Học Gia Nguyễn Xuân Vinh thuở nào. Phải, vẫn còn nhớ như in trong ký ức của cậu bé Nguyễn Đại Thành, “Ngày Mẹ Hồng Anh dẫn tôi vào lớp học, âu yếm dặn dò tôi với ánh mắt trìu mến đong đầy yêu thương”…Và sau hết, Thi Sĩ Huy Anh nhờ Khánh Lan thay mặt Huy Anh diễn ngâm bài thơ Lời Ru Của Mẹ để riêng tặng Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và tặng cho toàn thể các bà Mẹ nói chung.

    Theo như Thi sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành, anh tâm sự khi đọc bài văn ĂN NỬA TRÁI SIM của NV BẠCH PHỤNG trong Nguyệt San Nhân Văn Nghệ Thuật, số 1.  Bài văn này có đề cập đến LỜI RU CỦA MẸ. Huy Anh cảm hứng dâng trào nên anh đã sáng tác bài thơ lục bát có cùng tên để riêng tặng Mẹ của anh là Nữ Sĩ Dương Hồng Anh. Khánh Lan đã thay mặt TS Huy Anh diễn ngâm bài thơ này.

    LỜI RU CỦA MẸ
    Tác giả: Huy Anh

    Lời ru mẹ hát ngày nào
    Nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng ta
    Như dòng sông suối đi qua
    Lời ru của mẹ đưa ta vào đời

    Bao nhiêu ngày tháng qua rồi
    Lời trong tâm thức trau dồi trí con
    Nhận ghi tình nghĩa sắt son
    Tri ân lời mẹ ru con ngày nào. 

    Thi Sĩ Huy Anh (Nguyễn Đại Thành)

    Hai Thi Sĩ Minh Đức & Huy Anh cắt bánh khai mạc buổi ra mắt của Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa

  • Âm nhạc,  Viet-Hải

    PHÍM ĐÀN LÃNG MẠN BEETHOVEN VÀ TÌNH KHÚC “FÜR ELISE”

    Für Elise (hay For Elise), theo Đức ngữ có nghĩa là Gửi Elise, là tên của tấu khúc bagatelle, La thứ, 59, một tiểu phẩm cho piano độc tấu do Ludwig van Beethoven sáng tác vào khoảng năm 1810 khi ông 40 tuổi, đã nổi danh tiếng là một trong những nhà soạn nhạc lớn nhất trong mọi thời đại. Für Elise là bản nhạc viết với nét trong sáng và tràn đầy tình cảm, giai điệu dịu dàng, tha thiết. Nhưng không ai biết tại sao nhạc sĩ thiên tài lại đặt tên bản nhạc là ” Für Elise ” và Elise là ai? Đến nay, những nốt nhạc trong Für Elise dùng nhiều thể loại, từ rock, jazz, cho tới chuông điện thoại, một minh chứng cho thấy sự phổ biến của bản nhạc trong đời sống văn hóa đại chúng. Nếu Beethoven còn sống và được nhận tác quyền, nhà soạn nhạc tài hoa này hẳn sẽ là một quý ông giàu có.

    Với nguồn cảm xúc dạt dào của tình yêu Für Elise mang lại cho người nghe một sự cuốn hút khó kiềm chế. Bản nhạc không quá phức tạp về mặt kỹ thuật, thậm chí bạn có thể chơi nó bằng một tay trên phím dương cầm. Nhưng để đạt được tình cảm sâu lắng, tinh tế và đặc biệt rất trong sáng của Beethoven thể hiện trong bản nhạc là điều không đơn giản và rất khó khăn. Nhạc sĩ Beethoven đã sáng tác Für Elise, Beethoven đã 40 tuổi và đã bị điếc rồi. Vậy thì Für Elise đã được sáng tác trong cái sự “yên tĩnh” của nhạc sĩ.  Có phải “Tình yêu có chiều sâu hơn khi người ta lớn tuổi”. Für Elise mang lại sự sâu sắc như sự chiêm nghiệm của người đàn ông đã trải qua bao thăng trầm, cay đắng nhưng vẫn còn nguyên vẹn một tình yêu mãnh liệt và trong sáng trước một cô gái.

    Für Elise như một lời tỏ tình nhẹ nhàng du dương nhưng cháy bỏng. Tôi nghĩ rằng bạn không thể nghe nó một lần. Cũng giống như sự quyến rũ của tình yêu bạn cho phép mình được bay bổng và “phá cách” trong suy nghĩ và hành động để bày tỏ cảm xúc với người tình…Bạn có thể luyện kỹ thuật như: tốc độ cho đúng, hợp lý, âm thanh rõ ràng sau một thời gian tập luyện, nhưng một yêu cầu quan trọng khác không thấy được viết vào bản nhạc, đó là tinh thần, tư tưởng, tình cảm của cuộc đời của Beethoven. Và chính vì vậy đã hàng ngàn nghệ sĩ piano biểu diễn Für Elise vẫn miệt mài tập luyện, vì muốn thể hiện bản nhạc một cách “toàn vẹn”. Để đọa được sự “toàn vẹn” ấy cần rất nhiều thời gian hiểu biết, tích lũy, cảm nhận để làm sao thể hiện những dòng âm thanh trào dâng mà vẫn sâu lắng và đặc biệt là trong sáng một cách kỳ lạ của người đàn ông 40 tuổi trải qua quá nhiều vất vả, bi kịch trong cuộc đời mà vẫn đang yêu đắm say…

    ELISE LÀ AI?

    Và cái tên “Für Elise” do Beethoven viết trên bản thảo là cho người yêu? Bởi Beethoven đã không lập gia đình. Theo các nhà nghiên cứu thì trong khoảng thời gian Beethoven sáng tác bản nhạc này, ông đã yêu Therese Malfatti. Một tình yêu đơn chiếc vì Therese Malfatti đã từ chối lời cầu hôn của Beethoven. Tuy nhiên, nét chữ của tác giả ký tặng trên bản thảo đã nhàu nát theo thời gian (20 năm). Do vậy, một số học giả đã suy ra cái đầu đề của bản nhạc là do đọc nhầm từ chữ “Therese” thành “Elise” chăng? Vả lại, không một tài liệu, thư từ nào của những người cùng thời với Beethoven nhắc tới cái tên “Elise”, nhưng cũng không hẳn là không có cái tên này trong cuộc đời của nhạc sĩ?

    Với chứng bệnh điếc của mình, Beethoven đã dần dần tự mình rút lui ra khỏi đám đông. Tuy vậy, một số thư từ, tài liệu đã được tìm ra sau thời gian nhạc sĩ bị điếc, thì vào năm 1827 có bức thư cho “người tình bất hủ”. Mặc dù vậy, với rất nhiều nghiên cứu và phỏng đoán thì “người tình” này và Elise cũng chưa chưa chắc đã là một người. Và có thể cái tên Elise là một trong những điều bí hiểm ẩn còn phải nghiên cứu trong cuộc đời của Beethoven

    Elise, cho dù có là ai chăng nữa cũng không phải là nàng thơ bí ẩn duy nhất xuất hiện trong cuộc đời của Beethoven. Bức thư tình Immortal Beloved (Tình yêu Bất diệt) không có lời đề tặng của ông cũng đã được mang ra bàn luận rất nhiều. Với một chất thơ đầy trữ tình, chứa đựng trong mình những tình cảm sâu lắng và tinh tế của người đàn ông với một cuộc đời trải qua bao thăng trầm, Für Elise có thể được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Für Elise, mặc dù được công nhận trên toàn thế giới, đã trải qua nhiều năm tồn tại; mặc dù, ban đầu không được công nhận và giấu kín. Für Elise cũng là một trong nhiều tác phẩm dang dở của tác giả Beethoven, xét đến vị thế của nó thì đó chính là số phận của kiệt tác Für Elise trong suốt cuộc đời của Beethoven.

    Beethoven, một trong những nhà soạn nhạc sung mãn nhất trong lịch sử (1810), đó là thời kỳ Beethoven phải vật lộn với những nghịch cảnh cá nhân, chứng khiếm thính ngày càng trầm trọng, nhưng ông vẫn tiếp tục sáng tác vô số tác phẩm âm nhạc vượt qua những thử thách cá nhân. “Für Elise” ra đời trong giai đoạn sáng tác sung mãn này nhưng không được công nhận ngay lập tức nên nó đã nằm lẫn lộn giữa những giấy tờ cá nhân của Beethoven.

    Hơn nửa thế kỷ sau khi Für Elise được sáng tác, thế giới mới biết đến vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó, một khoảng thời gian đáng kể sau khi Beethoven qua đời vào năm 1827. Năm 1867, nhà âm nhạc học Ludwig Nohl đã tình cờ phát hiện ra kiệt tác này khi đang nghiên cứu những bản thảo bị lãng quên từ lâu của Beethoven. Nhận ra tầm quan trọng của những gì mình tìm thấy, Nohl đã tự mình xuất bản Für Elise. Với việc xuất bản, viên ngọc ẩn giấu này cuối cùng đã được hé lộ với thế giới.

    Ngay từ khi được khám phá, “Für Elise” đã bắt đầu thu hút khán giả. Mô-típ năm nốt nhạc đặc trưng, vốn là đặc điểm của tác phẩm, đã trở thành biểu tượng như những nốt nhạc mở đầu của Giao hưởng số 5 của Beethoven. Chính sự giản dị và dễ hiểu của tác phẩm đã khiến nó được nhiều người yêu thích, nhưng cũng chính chiều sâu và sự bí ẩn bao trùm khiến nó trở thành một câu đố thú vị, một đối tượng của sự say mê và nghiên cứu bất tận.

    HÒA ÂM, CẤU TRÚC VÀ GIAI ĐIỆU

    Xét về cấu trúc của tác phẩm “Für Elise”, nó là một tác phẩm ngắn gồm ba phần trong đó có hai phần chính. Phần đầu tiên, dưới dạng chủ đề và biến tấu, đặc trưng bởi giai điệu thanh thoát, du dương, được lặp lại và phát triển theo nhiều cách khác nhau. Phần thứ hai, dưới dạng tam tấu, giới thiệu một giai điệu mới, êm dịu hơn, trầm tư hơn. Tác phẩm kết thúc bằng việc trở lại phần đầu tiên, mang đến một kết thúc viên mãn và hài hòa. Sự giản dị trong cấu trúc của Für Elise không nên bị nhầm lẫn với sự thiếu tinh tế. Beethoven sử dụng các kỹ thuật âm nhạc tinh tế để tạo nên một trải nghiệm cảm xúc phong phú. Những thay đổi về nhịp điệu, sự chuyển điệu hòa âm và những điểm nhấn giai điệu tạo thêm chiều sâu và sự đa dạng cho tác phẩm, khiến nó vừa dễ tiếp cận vừa kích thích.

    Thêm một sự dặc biêt khác là có một điều lý thú nữa là giai điệu bản nhạc được bắt đầu là E (mi) – D# (rê thăng) – E (mi), có thể tương tự là E (mi) – Eb (mi giáng) – E (mi). Ba nốt nhạc này ở tiếng Đức được ký hiệu là E – Es – E, và những chữ cái này có trong chữ ThErESE hoặc là EliSE. Nhưng cho dù cái tên “Elise” là do đọc sai, hay là một mối tình bí mật nào đó, hay là một người phụ nữ nào đó đã đem lại nguồn cảm hứng sáng tác cho Beethoven.

    Điểm tinh tế của bản nhạc “Für Elise” được viết ở giọng La thứ buồn (A minor – a moll) và còn được goi là bản Bagatelle.Thế nào là giọng La thứ? Đi sâu vào lý thuyết âm nhạc thì hơi rắc rối. Nhưng để phân biệt sự khác nhau giữa các giọng, cơ bản người ta quy định ra 15 loại khác nhau. Đó là từ không có dấu gì ở đầu dòng nhạc đến 7 dấu thăng (#) hoặc dấu giáng (b) (tuy là có 3 cặp khác tên nhưng trùng âm thanh.) Ở đây, giọng La thứ là giọng không có dấu gì ở đầu dòng nhạc và gần như là giống với giọng Đô trưởng (C major – C dur), hay còn gọi là giọng Đô.Bản Bagatelle? Thường là tác phẩm ngắn và nội dung có thể là để thể hiện, mô tả những sự bất thường của thời tiết, sự thay đổi của thiên nhiên.Bắt đầu bản “Für Elise” là nét chuyển động nhẹ nhàng mềm mại. Nhưng sau đó được chia ra làm 2 hướng phát triển khác lạ, không đoán trước được, mà đều bắt nguồn từ nét nhạc đầu tiên của bản nhạc. Và nét nhạc chính thì luôn luôn được vang lên trong toàn bộ tác phẩm. Hình thức (form) của tác phẩm được viết theo hình thức rondo. Một hình thức mà sau khi hết phần giai điệu đầu tiên (A) tiếp theo là phần phát triển (B), sau khi hết phần B thì phần A được nhắc lại, và sau đó là một phần phát triển khác (C), kết thúc là phần A được nhắc lại lần nữa. Có thể viết tắt là A B A C A. Đây là mẫu thường được dùng nhất, nhưng hình thức rondo cũng có thể có thêm nhiều các phần phát triển khác nữa (D, E, F …vân vân), còn tùy thuộc vào ý đồ tác giả.

    Về Nhịp độ, mặc dù “Für Elise” thường được biểu diễn ở nhịp độ vừa phải, nhưng các nghệ sĩ piano giàu kinh nghiệm có thể thử nghiệm với những thay đổi nhỏ về tốc độ (rubato) để tăng thêm tính biểu cảm cho màn trình diễn. Kỹ thuật này có thể thổi hồn vào âm nhạc, khiến nó trở nên tự nhiên và cộng hưởng về mặt cảm xúc hơn. Xét về cường độ nhạc, “Für Elise” không cung cấp các dấu hiệu cường độ rõ ràng. Là một người chơi có trình độ cao, bạn có cơ hội thêm vào cách diễn giải và cường độ của riêng mình. Cường độ, hay các biến thể về âm lượng, có thể thêm chiều sâu và cảm xúc cho bản nhạc. Việc bạn quyết định chơi nhẹ nhàng (piano) hay mạnh mẽ (forte) có thể định hình tính cách và cảm xúc của bản nhạc. Crescendos (dần dần to hơn) và diminuendos (dần dần nhỏ hơn) có thể được sử dụng để xây dựng và giải tỏa sự căng thẳng trong âm nhạc.

    Như dã đề cập bên trên, tấu khúc gửi Elise là một bản nhạc bagatelle, một thuật ngữ âm nhạc có nghĩa là một bản nhạc ngắn, nhẹ nhàng. Nó được viết ở cung La thứ và sử dụng hình thức rondo tuần tự (A-B-A-C-A). Đoạn La, chủ đề chính, là đoạn nổi tiếng và dễ nhận biết nhất. Nó được đặc trưng bởi giai điệu đơn giản, lặp lại, dễ nhớ và dễ đàn.

    Xin thêm ý về rondo trong âm nhạc cổ điển. Rondo, trong âm nhạc, là một hình thức nhạc cụ đặc trưng bởi câu mở đầu và câu phát biểu lại sau đó của một giai điệu hoặc phần cụ thể, các câu phát biểu khác nhau được phân tách bằng cung cách tương phản. Pháp ngữ là rondeau (Anh ngữ rondo) là một hình thức âm nhạc chứa một chủ đề chính (đôi khi được gọi là “điệp khúc”) xen kẽ với một hoặc nhiều chủ đề tương phản (thường được gọi là “tập”, nhưng cũng được gọi là “đoạn lạc đề” hoặc “cặp đôi”). Một số mô hình có thể bao gồm: ABACA, ABACAB, ABACBA hoặc ABACABA (với chữ cái ‘A’ đại diện cho điệp khúc). Hình thức rondo xuất hiện trong thời kỳ Baroque và ngày càng trở nên phổ biến trong thời kỳ Cổ điển. Những ví dụ sớm nhất về các tác phẩm sử dụng hình thức rondo được tìm thấy trong các aria và hợp xướng opera Ý từ những năm đầu thế kỷ 17. Những ví dụ này sử dụng rondo nhiều cặp đôi hoặc “rondo chuỗi” (ABACAD) được gọi là rondo Ý. Hình thức rondo, còn được gọi trong tiếng Anh bằng cách viết tiếng Pháp là rondeau, không nên nhầm lẫn với hình thức không liên quan nhưng có tên gọi tương tự là forme fixe rondeau, một hình thức thơ ca và nhạc chanson của Pháp vào thế kỷ 14 và 15.

    “Für Elise” mang cấu trúc chi tiết như dạng của tác phẩm có thể được chia nhỏ như các phân doạn nhạc sau:

    Đoạn A (chủ đề chính): Giai điệu mang tính biểu tượng ở cung La thứ.

    Đoạn B: Một chủ đề tương phản, nhịp nhàng và năng động hơn.

    Đoạn A (trở về): Tái lập chủ đề chính.

    Đoạn C: Một chủ đề trữ tình và biểu cảm hơn, thường khó chơi hơn.

    Đoạn A (trở về cuối): Sự xuất hiện cuối cùng của chủ đề chính, kết thúc tác phẩm.

    Hòa âm của Für Elise tương đối đơn giản, chủ yếu sử dụng các hợp âm La thứ, Mi trưởng và Đô trưởng. Sự đơn giản về hòa âm này góp phần giúp tác phẩm dễ tiếp cận với người mới bắt đầu. Giai điệu, mặc dù đơn giản, nhưng cực kỳ hiệu quả và dễ nhớ. Việc sử dụng các đoạn lặp lại và biến tấu tinh tế giúp duy trì sự hứng thú của người nghe trong suốt tác phẩm. Bản nhạc gồm 103 ô nhịp và kéo dài khoảng 3 phút.

    “Thư gửi Elise” (La Lettre à Élise) gồm ba phần: một giai điệu đơn giản, trôi chảy được khi đàn bằng tay phải, một biến tấu của phần đầu được dàn bằng tay trái, và một đoạn lặp lại của phần đầu được chơi bằng tay phải. Đây là tác phẩm piano nổi tiếng nhất thế giới, và cũng là tác phẩm được chơi nhiều nhất bởi những người mới bắt đầu. Thậm chí, những người qua đường đam mê piano thường nghe thấy tác phẩm này được chơi trên đàn piano tại các nhà ga, giống như bản Canon nổi tiếng của Pachelbel. Nhưng nó được sáng tác như thế nào, dành cho ai và tại sao? Chúng tôi sẽ giải đáp tất cả những câu hỏi này thông qua bốn giai thoại ít được biết đến về lịch sử của Bức thư gửi Elise.

    ĐÔI NÉT VỀ BEETHOVEN:

    Tay đàn điêu luyện, Ludwig Van Beethoven (1770-1827), người Đức, một nhạc sĩ bị điếc. Beethoven được coi là một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng ông cũng nổi tiếng về tính cáu bẳn của mình, thật khó mà hình dung nổi những đau khổ vất vả mà người nhạc sĩ vĩ đại này đã từng trải qua trong đời.

    Tài năng biểu diễn âm nhạc của Beethoven đã bộc lộ rất sớm từ lúc còn nhỏ, và ông bị người cha ác nghiệt nghiện rượu đã tận dụng tài năng của đứa con để kiếm tiền. Kỹ thuật chơi đàn của Beethoven tiến bộ rất nhanh, nhưng tiền thì đã không kiếm được nhiều như mong muốn. Khi Beethoven 11 tuổi, ông có thể chơi đàn trong cung đình thay cho thầy của mình. Khi Beethoven 17 tuổi, ông đến Vienna. Theo dự định thì ông sẽ học sáng tác với Mozart, nhưng Beethoven lại phải quay về nhà ngay tức thì vì mẹ của ông đang hấp hối và qua đời.

    Vài năm sau, Beethoven trở lại Vienna, nhưng ông không còn cơ hội học sáng tác nữa, vì Mozart đã qua đời ở tuổi 35. Bố của nhạc sĩ Beethoven cũng qua đời sau đó và cùng năm ấy, Beethoven quay lại Vienna. Lúc đó, Beethoven ở độ tuổi hai mươi mấy, ông theo học với một số nhạc sĩ nổi tiếng. Trong thời gian này, Beethoven đã sáng tác một số nhạc phẩm, có những tác phẩm sáng tác của ông bắt đầu được chú ý tới với cả khen lẫn chê. Tuy vậy, Beethoven được khẳng định là một trong những người chơi đàn ngẫu hứng giỏi nhất thời đó. Người ta kể lại rằng tay đàn của ông đạt tới trình độ mà nhiều nghệ sĩ đàn piano mơ ước.

    Khoảng năm 1800, ông cho xuất bản 2 bản sonata, đó là bản Pathétique và bản Sonata Ánh trăng. Có thể coi cả 2 bản này đã là bước chuyển lớn từ thời kỳ cổ điển sang lãng mạn, cái thời mà các nhạc sĩ bắt đầu viết ra những cảm xúc riêng tư của mình mà không bị bó buộc vào việc sáng tác nhạc cho nhà thờ hoặc cho các cung điện đem đên sự lạc quan cho Beethoven, nhưng những tai ương trong cuộc đời lại đến với Beethoven. Tình trạng sức khỏe của Beethoven gia tang, ông đau yếu thường xuyên, ông bắt đầu cảm nhận khả năng nghe của mình càng ngày càng kém và đi đến tình trạng hoàn toàn điếc. Đây là thời gian thật kinh khủng đối với nhạc sĩ Beethoven và ông đã có lần viết di chúc và có ý định tự tử. Nhưng ông đã vượt qua và tiếp tục sự nghiệp âm nhạc vĩ đại của mình với một sự lạc quan đến diệu kỳ, ông đã viết như sau: “Linh hồn ta sẽ điều khiển cái thân thể yếu đuối của ta”.

    Với khả năng thật phi thường, kỹ thuật sáng tác của ông vẫn luôn tiếp tục phát triển, mặc dù ông bị điếc, nhưng một số lượng rất lớn tác phẩm của ông được viết ra trong khi ông không nghe được chút nào. Nhưng tinh thần, tư tưởng và sức sống mãnh liệt của ông thể hiện rất rõ trong từng tác phẩm. Dù rằng con đường âm nhạc của ông đã nổi tiếng khắp châu Âu, nhưng càng ngày ông càng xa lánh mọi người.

    Người đời kể lại rằng khi bị điếc Beethoven đã thèm được nghe tiếng đàn piano đến nỗi ông nằm áp tai xuống sàn nhà, và với tay lên đánh mạnh xuống phím đàn, để mong cảm nhận được sự rung động của âm thanh. Tuy tay đàn của ông vẫn hoàn hảo mỗi khi ông chơi đàn một mình, nhưng ông cũng đã không còn có thể biểu diễn cùng dàn nhạc được như trước nữa. Cũng có thể nói, Beethoven là một nhạc sĩ không hề biết mệt mỏi, trong đời ông, ông đã thay đổi địa chỉ đến 50 lần. Ông sống chủ yếu ở Bonn (Đức), là nơi ông sinh ra, và ở Vienna (Áo), thủ đô âm nhạc của thế giới. Ở Bonn, người ta làm một bảo tàng về ông. Không ai biết ngày sinh sủa Beethoven. Nhưng có tài liệu nói là ông được làm lễ rửa tội vào ngày 17 tháng 12. Mà lễ rửa tội thường được làm sau khi ra đời một ngày, cho nên nhiều người cho rằng ông sinh ngày 16. Với bao lần đổ vỡ trong tình yêu, cộng với cái tính nóng như lửa của ông đã làm ông suy sụp. Năm 1827, Beethoven qua đời. Ông đã để lại cho hậu thế những bản nhạc bất hủ và tiếp tục được lưu truyền tới hàng trăm năm sau…

    Nhận xét là tác phẩm được viết ở cung La thứ, một cung thường gắn liền với nỗi buồn và sự u sầu. Tuy nhiên, “Thư gửi Elise” không phải là một tác phẩm buồn. Ngược lại, nó thường được mô tả là ngọt ngào, tươi thắm, dịu dàng và lãng mạn.

    Phải nói là “Für Elise” vốn như một giai điệu vượt thời gian. Bản nhạc “Für Elise” không chỉ là một giai điệu nổi tiếng. Nó là một hành trình nghệ thuật và cảm xúc được tạo nên bởi một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại. Quá trình sáng tác của nó ẩn chứa một bức màn bí ẩn, giai điệu ám ảnh và khó quên, cùng với ảnh hưởng văn hóa sâu rộng và lan tỏa.Dù đã hơn 200 năm tuổi, tác phẩm âm nhạc này vẫn tiếp tục thu hút khán giả, truyền cảm hứng cho các nhạc sĩ và là cánh cổng dẫn vào thế giới âm nhạc cổ điển cho vô số cá nhân. Âm hưởng của nó là minh chứng cho khả năng phi thường của Beethoven trong việc thấu hiểu thân phận con người, vượt qua mọi rào cản về thời gian, văn hóa và ngôn ngữ.

    Bagatelle số 25, “Für Elise“, là minh chứng cho thiên tài của Beethoven và sức mạnh trường tồn của âm nhạc. Giai điệu đơn giản và những cảm xúc phức tạp của nó đã mê hoặc người nghe trong hơn hai thế kỷ, khiến nó trở thành một trong những tác phẩm được yêu thích nhất trong các tiết mục cổ điển. Bí ẩn xung quanh sự ra đời của nó và bản sắc của “Elise” càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của nó, khiến nó trở thành một chủ đề hấp dẫn đối với cả những người yêu âm nhạc và các nhà sử học. Âm nhạc Beethoven mang nétlãng mạn tinh và quyến rũ thính giác, Bài nhạc gửi người yêu dấu hình như là một tác phẩm bắc cầu nối liền giữa thời kỳ cổ điển và hiện đại, “Für Elise” là biểu tượng của nghệ thuật vượt thời gian và ngôn ngữ âm nhạc phổ quát. Câu chuyện của nó, đầy bí ẩn, cảm xúc và vẻ đẹp nghệ thuật rực rỡ, tiếp tục mê hoặc và truyền cảm hứng, khẳng định vị trí của nó trong lịch sử âm nhạc.

    Sau Mozart và Haydn, Bethoven là biểu tượng cuối cùng của phong trào mang tên Chủ nghĩa Cổ điển Vienna, và thông qua các sáng tác của mình, ông đã mở đường cho sự ra đời của Chủ nghĩa Lãng mạn. Ông cũng được coi là một trong những nghệ sĩ piano xuất sắc nhất mọi thời đại.

    VHLA, 12/07/ 2925.

    (Cet arti.cle est envoyé à mes copains qui aiment la musique classique ou semi-classique: Khánh Trang, Diễm Hạnh, Mỹ Hạnh, Khành Lan, Kiêu My, Phạn Hồng Thài, Cao Minh Tâm, Đỗ Bằng Lăng).

  • Khánh Lan,  TRẦN MẠNH CHI,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    TALKSHOW KỲ 6 VÀ 7: NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN

    Trong hai ngày 27 tháng 6, 2025 và ngày 11 tháng 7, 2025, Khánh Lan và Trần Mạnh Chi đã hội luận trên đài Việt Nam America Television (VNA-57.3) hai đề tài rất quan trọng trong lãnh vực bất động sản. Đó là Thị trường địa ốc tại Hoa Kỳ và Cách đứng tên trên bất động sản. Và còn một kỳ nữa không kém phần quan trọng đó là Living Trust (Di chúc sống) sẽ được anh em chúng tôi mạn đàm vào ngày 25 tháng 7, 2025.

    Chương trình NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT được chiếu hàng tuần vào ngày thứ Tư trên băng tầng 57.3 từ 5:30 đến 6:30 chiều.

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các Anh Chị Em vào xem.

    Khánh Lan & Trần Mạnh Chi

    THỊ TRƯỜNG ĐỊA ỐC TẠI HOA KỲ

    PHẦN I: https://youtu.be/eGaEA-mbIpo

    PHẦN II: https://youtu.be/E3hWzWgYc0E

    PHẦN III: https://youtu.be/qVowEnR11rQ

    CÁCH ĐỨNG TÊN CHỦ QUYỀN TRÊN BẤT ĐỘNG SẢN

    PHẦN I: https://youtu.be/QdFWMkWlCyo

    PHẦN II: https://youtu.be/P_QmorBdqI4

    PHẦN III: https://youtu.be/CPOpqQi4z4I

    Khánh Lan & Trần Mạnh Chi kính mời.

  • TÁC GIẢ & TÁC PHẨM,  Viet-Hải

    Mạn đàm Người Lính Buông Súng,vẫn Ghì Bút mãn kiếp

    Trần Việt Hải

    Nhà văn Vương Trùng Dương, có tên thật là Trần Ngọc Dưỡng, sanh năm 1944 tại Quảng Nam, tuổi Giáp Thân, mạng Tuyền Trung Thủy. Anh là người thông minh, tinh tế, giỏi chữ nghĩa, có óc lãnh đạo. Có số làm quan nếu sanh ở Á châu, còn nếu sanh ở Âu châu hay Mỹ châu có chức phận cao như lãnh đạo quốc gia. Đối tượng này tiềm ẩn dưới các vì sao Văn Xương và Văn Khúc, thiên phú văn chương một kho chữ nghĩa, lại được vô số các vì sao Hóa Khoa và Hóa Lộc bổ sung cung mạng. Hóa Lộc vì thực lộc bất khuyết, phát triển tài năng thuận lợi hài hòa. Người Hóa Lộc vốn có trực giác bén nhậy, thông minh trí tuệ, có khả năng phát huy, phát triển mọi việc trong gia đình và ngoài xã hội là điểm son của người tài hoa. Hóa Khoa theo khoa chiêm tinh thuyết Âm Dương Ngũ Hành, vì sao Hóa Khoa thuộc hành Thủy, thuộc về mùa Thu ly hương, đối tượng mạng Thủy Faifo gặp đối tượng nữ Khánh Hòa biển cả, nam hầu tước sẽ ly hương mãn kiếp, nước hòa vào nước sẽ không thấy bến bờ đâu cả. Như người có sao Hóa Khoa phù trợ thường liêm chính, thanh liêm, văn chương làm báo mãn kiếp, tính chân chất, du xuề xòa mộc mạc, ngủ garage, café garage, Bastos xánh gấp, chơi với bạn bè một lòng một dạ, khuynh hướng thủy chung trước sau như một. Đối tượng nam tước này còn có vì sao Văn Xương chủ tế về khoa giáp, luôn luôn có những thành tựu to lớn về nghiệp văn chương chữ nghĩa. Sao Hóa Lộc mang sao Văn xương hợp nhất với sao Hóa Khoa đưa tài năng trong máu hợp phạm trù văn nghệ và học thuật graphics đesign càng được bộc lộ rõ nét mỹ thuật mát tay. Sao Văn Khúc ếm mạng tốt nhất suốt đời, gia đình hạnh phúc, vợ chồng hòa thuận, con cái khôn ngoan, hiếu hạnh.

    Vương Trùng Dương sinh hoạt trong Trung Tâm Văn Bút Nam Cali (một nhiệm lỳ làm Tổng Thư Ký) và Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại (Một NK Ủy viên Thông Tin, 1 NK làm Phó Chủ Tịch Nội Vụ & I NK Tổng Thư Ký). Khoảng mười năm Trưởng Khối Báo Chí cho Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam Cali. Nhưng anh bỏ Văn Bút, tôi cũng bỏ theo bước chân anh. Trong một buổi họp hội đồng huong BT, tôi gặp ông Võ Long Triêu cùng anh ĐS Châu Văn Để và GS. Nguyễn Thanh Liêm, tôi bỗng nhớ ông bạn vàng VTrD một thuở báo chí.

    Như vậy Trần Ngọc Dưỡng có gì để nhớ mãi? Thuua có nhiều chứ. Như trong tác phẩm tựa Kim Dung “Võ Lâm Ngũ Bá”, tên “Trùng Dương” do sư phụ Thanh Hư chân nhân đặt, lấy ý ông đã chết rồi còn được cứu sống lại. Cũng trong tác phẩm này, tên hồi nhỏ của ông là “Vương Tiêu Thu”. Xem Ngũ Lâm Võ Bá, thì Hoa Sơn luận kiếm lần thứ nhất, Vương Trùng Dương được bầu làm người võ công cao nhất, biệt hiệu là Trung Thần Thông, được giữ bộ Cửu Âm chân kinh. 4 người còn lại là Đông Tà Hoàng Dược Sư, Tây Độc Âu Dương Phong, Nam Đế Đoàn Trí Hưng và Bắc Cái Hồng Thất Công.

    Riêng Âu Dương Phong (Trương Quốc Vinh) sau khi rời khỏi núi Bạch Đà, đã dừng chân tại một sa mạc, dựng quán và trở thành một kẻ môi giới chuyên giải quyết mọi vấn đề rắc rối của người khác. Những khách hàng lần lượt đến tìm tửu quán của Âu Dương Phong, không chỉ để đưa ra những yêu cầu đặc biệt hay nghỉ ngơi đơn thuần, mà còn để kể về những chuyện tình của họ… Những câu truyện của các nhân vật đan xen suốt nội dung phim, nhưng tất cả có thể chia làm bốn câu truyện chính. Ngòai đời ở Bolsatown, tôi nghe Âu Đông Tà super MAGA sao tôi nhớ Vương Tây Độc VTrD những nhị ba chưởng bang, rồi tôi lại nhớ thầy Bích và thầy Vinh qua chừng nè. Thầy Bích biết tôi chuộng goût Aztec charms, Yucatán mascots, thầy Bich bảo thôi đi, 不做壞事,你會得到祝福, ở hiền gặp lành.

    Nhớ VTrD nhớ kỷ niệm gì? Nhớ sách Chiều Cuối Tuần bên “Văn Nhân & Tình Sử”. Tôi ghi nhận như sau:

    ” Hôm nay chiền thứ sáu cuối tuần ông đưa thư có hàm râu xồm xoàn như lão Fidel Castro bấm chuông trao colis sách. Cuốn sách mới của nhà văn Vương Trùng Dương, sách nóng hổi và dày cộm. Ông đưa thư quay gót đi, tôi “bóc nhãn” xem ngay ông bạn Dương Trần viết gì trong đấy. Nhân nhận được sách mới, cám ơn ông anh văn nghệ vui tính, một thuở làm báo chung, khi Vương Trùng Dương (thường được viết tắt VTrD), ra tờ tuần báo Caliweekly do anh làm chủ nhiệm tự layout báo lấy, Nguyễn Ngọc Chấn làm chủ bút, và tôi giữ “dốp” TTK. Khi ấy có bài vở của Phan Bá Thụy Dương, Vũ Uyên Giang, Phương Triều, Dương Viết Điền, Phan Nhật Nam, Trần Quang Hải, Thiết Trượng, Trạch Gầm, Trần Trung Đạo, Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Quý Đại, Tiểu Tử, Tiểu Thu, Hồ Trường An, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, Bùi Ngọc Tuấn, Phan Anh Dũng, Hoàng Thy, Quách Nam Dung, Khiếu Long, Đào Vũ Anh Hùng, Vũ Hối, Hồng Vũ Lan Nhi, Thái Tú Hạp, Trần Hoài Thư, Vũ Đình Trường, Mạc Phương Đình, Viên Luông, Hải Đà Vương Ngọc Long, Thanh Huy,… Nguyên băng l’amour yêu văn học è cổ ra viết bài, chủ nhiệm lo dốp quảng cáo, chủ nhiệm lo đánh đông dẹp bắc cả trăm thứ, chủ nhiệm mỏi mệt kiệt sức, đồng tiền ra nhiều mà vô ít, mà quảng cáo là huê lợi chính, báo mãi rỉ máu, bác sĩ chê bảo chúng tôi đình bản tờ Caliweekly sau gần 2 năm tung hoành.

    VTrD yêu văn học, phải nói văn học nằm trong máu của VTrD, anh nhai nằm lòng những Thủy Hử, Tây Du Ký, Đông Châu Liệt Quôc, Tam Quốc Chí, rồi những tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung anh nhai nát cả. Đấy là bên văn chương HD891. Bên văn chương quốc văn phe ta, anh đọc Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chưong, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Sa, Bình Nguyên Lộc, Tự Lực Văn Đoàn, Hồ Biểu Chánh,… VTrD có sự hiểu biết rộng, sức viết khỏe, mỗi trưa thứ ba anh gọi phôn nhắc tuồng “Bài xong chưa bồ tèo?”, hay “Gần lễ noël cho mình bài giáng sinh nhe bạn hiền!”. VTrD đọc Ernest Hemingway, Mark Twain, Charles Dickens, Fyodor Dostoyevsky, Leo Tolstoy, Aleksandr Solzhenitsyn, William Faulkner… Truyện dịch hay nguyên bản Anh ngữ. Thật vậy, anh em chúng tôi thân nhau và còn thở được là do nguồn nhiệt năng ham vui chữ nghĩa văn học tiếp dẫn goût chơi chung.”

    Tôi lại nhớ sách “Âm Nhạc: Người Muôn Năm Cũ”. VTrD cho lời ngỏ như sau:

    “Trong 3 thập niên qua, trong lãnh vực văn học nghệ thuật với văn, thơ, âm nhạc… tôi đã viết về tác giả, tác phẩm cho các tờ báo cộng tác và đảm trách sau đó được phổ biến trên các website & blogspost… Quyển sách đầu tay với Ngẫm Chuyện Nhân Sinh, một thập niên sau, gom số bài viết đã ấn hành quyển Văn Nhân & Tình Sử năm 2015. Năm 2019, tôi chọn những bài viết liên quan đến Quân Đội, một thời đã dấn thân để thực hiện quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, đang layout dang dở thì bệnh dịch Covid-19 xảy ra, trước thảm họa nầy, tôi nghĩ mọi người bị ảm ảnh cảnh chết chóc, không còn bụng dạ nào để đọc nên bỏ ngang.

    Tôi thích âm nhạc từ nhỏ nơi phố cổ, và trở thành người bạn đồng hành trong cuộc sống thăng trầm theo biến thiên của lịch sử. Nếu nhà thơ Phùng Quán cho rằng: “Có những phút ngã lòng. Tôi vịn câu thơ và đứng dậy…” thì những lần tôi lâm vào hoàn cảnh nghiệt ngã, cô đơn… âm nhạc như người bạn tri kỷ chia sẻ, an ủi nỗi buồn cho vơi bớt sự đơn độc, nỗi đau…Quyển sách nầy không mang màu sắc chính trị vì chính trị chỉ là giai đoạn, nghệ thuật mới lâu dài. Nhưng những nhạc sĩ đã được đề cập đã dấn thân cho nghệ thuật, họ phục vụ cho lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc và trong quân ngũ là lẽ đương nhiên, phải nhắc đến, đáng trân trọng. Vào thời tiền chiến xảy ra vụ tranh cãi giữa “nghệ thuật vị nghệ thuật & nghệ thuật vị nhân sinh” nhưng với âm nhạc thì cả nghệ thuật và nhân sinh mới in sâu vào tâm hồn giới thưởng ngoạn…”

    Vương Trùng Dương cho kết luận:

    “Sách dày 324 trang trên giấy vàng nhạt 70lb, gồm các bài viết Lê Trọng Nguyễn, nôi âm nhạc phố cổ – Nguyễn Hiền, những kỷ niệm xa xưa – Lan Đài, đường trần quên lãng – Nguyễn Văn Đông, tình khúc thời chinh chiến – Trầm Tử Thiêng, những dòng chia sẻ – Nhạc Boléro, dòng nhạc bị bức tử được hồi sinh – Trần Thiện Thanh, người viết sử thi – Song Ngọc, dòng nhạc của một thời – Cung Tiến, một thoáng hương xưa – Phạm Đình Chương, ca khúc & định mệnh – Vũ Đức Nghiêm, gọi người yêu dấu – Đan Thọ, sầu trên phím đàn – Nguyễn Đình Toàn, nhạc chủ đề & áo mơ phai – Âm Nhạc & Cuộc Sống – Nhịp & Phách trong nhạc phẩm – Dạ Khúc (Sérénade), hai trăm năm cô đơn.”

    Mới gần đây, Ngưởi Lính Già 8 Bó cho ra sách mới còn xao xuyến thơm mùi giấy “Người Lính và Chiến Hữu Văn Nghệ”. “Hơn ba thập niên qua, trong lãnh vực văn học nghệ thuật với văn, thơ, âm nhạc… tôi đã viết về tác giả, tác phẩm cho các tờ báo và sau đó được phổ biến trên các website & blogspost…Sau quyển Văn Nhân & Tình Sử năm 2015. Năm 2019, tôi chọn những bài viết liên quan đến Quân Đội để thực hiện quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, đang layout dang dở thì bệnh dịch Covid-19 xảy ra, trước thảm họa nầy, tôi nghĩ mọi người không còn bụng dạ nào để đọc trong hoàn cảnh tang thương đang gieo rắc thảm họa nên bỏ ngang.

    Năm 2024, tôi ấn hành quyển Âm Nhạc & Người Muôn Năm Cũ, với những nhạc sĩ nổi tiếng, có công đóng góp nền tân nhạc ở Miền Nam Việt Nam và sau nầy ở hải ngoại. Ngoài ra, có 3 bài viết về âm nhạc. Với công việc đảm trách cho các tờ báo, hầu hết bài viết đã được đăng báo và sau đó phổ biến trên internet, theo gợi ý của các bạn văn và thân hữu nên gom lại để ấn hành sách để được đọc liên tục.Khi ấn hành quyển sách nào, với các bài viết trước đây đã phổ biến, để thích nghi với thời gian tính nên nhuận sắc lại và bổ túc thêm.

    Với quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, trong tình bạn, tình chiến hữu với nhau nên khi tác giả ấn hành tác phẩm, tôi giới thiệu, đề cập qua các bài viết, nay phải gom lại thành bài theo mỗi tác giả. Với 12 tác giả, ngoài nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, nhà thơ Hà Huyền Chi, nhà văn Văn Quang còn 8 tác giả là bạn thân từ ngày bước chân vào “Ngưỡng Cửa Quân Đội” và thời gian sống ở Mỹ. Phan Nhự Thức, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Dương Viết Điền, Thái Tú Hạp, Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, Trạch Gầm, Phạm Tín An Ninh.

    Với quyển sách nầy ấn hành năm 2025 để đánh dấu 50 năm mất nước và 70 năm chia đôi đất nước, gây ra cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam nên trai thời loạn phải dấn thân vào Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để bảo vệ quê hương….Xin trich đoạn VTrD viết về: Thanh Tâm Tuyền như kỷ niệm,..”Tập thơ đầu tay là Tôi Không Còn Cô Độc vào năm 1955 đến năm 1964 mới xuất hiện thi phẩm Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy và Thơ Ở Đâu Xa được ấn hành năm 1990 tại Hoa Kỳ. Về văn, Thanh Tâm Tuyền có nhiều tác phẩm như Bếp Lửa (1957), Khuôn Mặt (1964), Dọc Đường (1966), Ba Chị Em (Kịch, 1967), Cát Lầy (1967), Mù Khơi (1970), Tiếng Động (1970), Tạp Ghi (1970)…Thanh Tâm Tuyền được nổi tiếng về thơ hơn văn vì ông là người làm sống lại thơ tự do được hình thành từ những thập niên về trước và mang làn gió gió mới trong thi ca Việt Nam hiện đại.

    Ông dạy Việt Văn tại trường trung học Trường Sơn (Nguyễn Sỹ Tế, Hiệu Trưởng), năm 1962 nhập ngũ Khóa 14 Sĩ Quan Thủ Đức. Ông được thuyên chuyển về trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, phụ trách tờ Đa Hiệu và sau đó phụ trách nguyệt san Quốc Phòng. Bắt đầu con đường văn nghệ khá sớm, cùng bạn Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp… chủ trương nguyệt san Lửa Việt năm 1954. Một trong những cây bút nòng cốt của nhóm Sáng Tạo từ năm 1956 đến năm 1960. Nhập ngũ năm 62, giải ngũ năm 66, rồi tái ngũ năm 68. Sau 75 bị bắt đi tù “cải tạo” ở Việt Bắc. Sau năm 1975, ông trải qua 7 năm tù. Được định cư tại Minnesota, Hoa Kỳ trong suốt mười mấy năm qua.Tháng 4 năm 1990, định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO, lúc đầu ở tiểu bang Louisiana, sau định cư ở Roseville, tiểu bang Minnesota. Theo học Điện Toán và làm việc tại St. Paul Technical College đến khi về hưu năm 2001. TTT sống như người ẩn dật, viết rất ít, chỉ khi nào thật sự cần thiết mới viết, như dịp tưởng niệm các bạn ông: Mai Thảo, Ngọc Dũng, tuyên dương Doãn Quốc Sỹ… Theo lời người bạn thân Trần Thanh Hiệp, TTT cho rằng “Nếu không tìm được gì thật mới thì sẽ thôi hẳn không viết nữa”.

    Bài viết Nhìn Lại Một Thời của nhà văn Doãn Quốc Sỹ vào tháng 5 năm 2005, đề cập đến giai đoạn hình thành của nhóm Sáng Tạo và sự hiện diện của Thanh Tâm Tuyền: “Năm 1954 hai vợ chồng tôi cùng hai đứa con gái đầu long và cô em gái – năm người cả thảy – ra phi trường di cư vô Nam. Danh từ thời thượng mệnh danh là Bắc Cờ Năm Mươi Tư. Thuở đó tôi còn là sinh viên, gặp Trần Thanh Hiệp – sinh viên Luật Khoa – chúng tôi bèn thành lập đoàn thể Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư, Trần Thanh Hiệp đứng ra làm chủ tịch…”

    Xin trich đoạn VTrD viết về Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, từ Nhà Giáo Đến Chiến Hữu Cầm Bút. VTrD ghi nhận sau đây,…” Tôi vẫn nhớ mãi, kể từ đêm ấy. Rồi một số được thả về, phần đông là giới Y Dược, trong đó có năm chàng của tổ tôi. Còn lại, rất đông, bị “biên chế” phân tán đi các đội khác, để vài tháng sau được tàu Sông Hương chở ra Bắc giao cho Công An, bắt đầu một cuộc hành trình mới gian nan hơn, khắc nghiệt hơn, dành cho những tù nhân chính trị chánh hiệu…” (Đêm Giáng Sinh Trong Trại Tù Long Giao). Rồi thời gian sau, anh bị lưu đầy sang trại tù ở núi rừng Miền Bắc cũng như nhiều chiến hữu khác. Trong chốn lao tù, anh đã kể lại trong bài thuyết trình ở Pháp để minh chứng những gì xảy ra khi mất nước.

    Trải qua 8 năm tù, sau khi thả về anh vượt biên lần thư nhất tại Cần Giuộc bị thất bại, Công An dùng khúc gỗ phang ngang lưng! Và lần thứ hai ở Nha Trang cùng với em gái, tị nạn tại Oregon. Nơi nầy, anh vừa đi “cày” vừa đi học, Hè năm 1990 tốt nghiệp Tiến Sĩ Văn Chương Pháp với luận án La prison dans l’œuvre romanesque de Stendhal (Tù Ngục Trong Tiểu Thuyết Của Stendhal) tại Eastern Washington University và University of Oregon. Theo lời anh chia sẻ thì trước năm 1975 ít người biết đến nhà văn Pháp Stendhal từ thế kỷ XIX hơn nữa những tác phẩm của anh đã in sâu trong tâm trí anh trong thời gian lao tù.

    Trong bài viết Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam của tôi trong năm trong năm 2022. Không có bản dịch nào của nhà văn Pháp Stendhal (1783-1842). Ông là nhà văn nổi tiếng của chủ nghĩa hiện thực phê phán (réalisme) và lãng mạn (romantisme). Điển hình hai tác phẩm Rouge et le Noir, 1830 (Đỏ & Đen), La Chartreuse de Parme, 1839 (Tu Viện Thành Parma). Stendhal trở thành bậc thầy mở đầu cho dòng tiểu thuyết tâm lý ở Pháp, cũng như Dostoevsky ở Nga vào thế kỷ XIX. Cuốn La Chartreuse de Parme mô tả chiến tranh thời Napoléon vì ông là sĩ quan pháo binh trong trận chiến ở Sebastopol như trận đánh Waterloo đã đi vào lịch sử.

    Nguyễn Kim Quý chọn nhà văn Stendhal để làm luận án tiến sĩ vì theo anh “Thế giới trong tiểu thuyết của Stendhal, kể cả những truyện về tù ngục, vì thế, ngạt ngào phấn hương nhờ tình yêu, hạnh phúc và hình bóng mỹ nhân. Lúc Stendhal còn sống, không ai đọc sách của ông. Mãi 50 năm sau khi chết, ông mới được nổi tiếng và trở thành một hiện tượng trong văn học sử Pháp”.

    Cuối năm 1991, anh xuống Little Saigon thăm bạn bè, nhân dịp này tôi viết hai bài “Bông Hồng” Cho Người Cựu Tù Nhân Chính Trị và Giới Thiệu Luận An Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý (Luận án nầy dày 550 trang khổ 8.5×11 inches bằng tiếng Pháp nên anh nói tổng quát về nội dung để tôi ghi lại) đăng trên nhật báo Người Việt & tuần báo Saigon Times. Trong dịp nầy, anh có ghi “tặng” tôi hai bài và tôi cũng viết về anh một bài trên Đặc San Nha Trang.

    Tháng 3, 1992, TS Nguyễn Kim Quý sang Pháp thuyết trình về đề tài Stendhal et mes saisons en enfer Communiste (Stendhal và Những Mùa Của Tôi Dưới Hỏa Ngục Cộng Sản, nhân ngày mất lần thứ 150 của văn sĩ được tổ chức tại Paris, dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Pháp François Mitterrand. Bài của các thuyết trình viên đều được in thành sách bán tại Paris. (Trước khi sang Pháp, anh xuống Little Saigon gặp gỡ thân hữu để chia sẻ với nhau)

    Trong phần 3 của bài thuyết trình với cử tọa, nhân cơ hội nầy anh lại nhắc đến miền Nam Việt Nam sau ngày mất nước: “Chúng ta đang ở vào năm 1975. Nền hòa bình nhục nhã, áp đặt bởi những siêu cường lực trên đất nước chúng tôi ngày 30 tháng 4, chấm dứt một cuộc chiến cũng không kém nhục nhã và khai tử quốc gia VNCH từ nay bị trao vào tay bọn bạo tàn miền Bắc… Chế độ mới, tự gọi là “cách mạng”, đỏ từ đầu đến chân, nhanh chóng tự gắn cho mình một nhiệm vụ “vĩ đại”: lùa tất cả sĩ quan và cán bộ miền Nam vào tù. Tại đó bắt đầu mọi bất hạnh của chúng tôi. Nhưng rồi, lòng tin vào Thượng Đế bỗng nhiên thức dậy trong tôi và sự mê say không phai nhạt đối với Stendhal và những tiểu thuyết của ông thực sự đã cứu vớt tôi, không chỉ thoát khỏi những xấu xí của đời sống mà còn sự tàn nhẫn của cái chết -cái chết mà bây giờ tỏ ra ngàn lần đe dọa hơn trong lúc chiến tranh. Như thế, nhờ ơn Chúa và nhờ Stendhal, tôi đã có thể sống sót sau tám năm giam hãm, đói khát, đau khổ, thiếu thốn, trong những trại tù khác nhau và cuộc đọa đày khủng khiếp xuống dưới hỏa ngục…

    … Bọn họ đã ra lệnh cho các sĩ quan phải trình diện những “ủy ban cách mạng nhân dân”, chuẩn bị một khóa học cải tạo mà theo thông cáo chính thức với lối hành văn mơ hồ và bịp bợm sẽ kéo dài chỉ mười ngày hoặc một tháng tùy theo cấp bậc. Lúc ấy vào tháng sáu 1975… Rồi một ngày đẹp trời, bọn họ quyết định chuyển ra núi rừng Miền Bắc khoảng một trăm ngàn “phần tử” bị xét là “phản động” nhất, nghĩa là nguy hiểm nhất… Trong vài chiếc tàu chở than cũ kỹ tịch thu của “ngụy quyền”. Chúng tôi bị còng tay, bị nhốt hàng ngàn người trong các hầm tàu, và như thể súc vật. Chuyến đi kéo dài ba ngày. Ba thế kỷ. Không khí thiếu. Nước cũng thiếu. Thức ăn cho cả ngày là một ảo tưởng: mỗi tù nhân được phát hai phong bánh bích qui mốc của lính made in China, lớn bằng hai hộp diêm, chỉ vừa đủ để khỏi chết đói. Phía trên, không có gì ngoài một vòm tối đen. Chung quanh, những thân xác bất động chất đống cạ vào nhau và mình mẩy dính đầy bụi than. Cái nóng kinh hồn hành hạ tù nhân. Ngay những giờ đầu, bốc lên một mùi hôi thối, làm ngộp thở, đầu độc căn hầm đầy người. Khắp nơi, im lặng như chết…

    … Cuộc sống tại các trại Miền Bắc còn hơn là hỏa ngục. Không cách nào đào thoát được. Chúng tôi bị bao vây một cách tuyệt vọng bởi những rặng núi trùng điệp làm thành những tường lũy thiên nhiên kiên cố. Nhưng rồi, ngay cả nếu thoát được, làm sao, ở trên núi, có thể sống sót với cái lạnh, đói khát và sức kiệt! Chúng tôi bị giam trong những túp nhà cũ thấp mái rạ, nằm ngủ trên một thứ giường tập thể làm bằng những tấm gỗ thô, không chiếu, không gối, không đệm, để rồi sáng mai thức dậy mặt mày, mình mẩy rải đầy những vết rệp và muỗi cắn. Ngoài ra, cái lạnh tột độ, làm buốt xương. Về quần áo, người ta chỉ phát cho chúng tôi một bộ đồng phục màu xanh da trời bằng vải thô dùng trong kỳ hạn hai năm và một tấm chăn cũ nát nhỏ xíu bằng len xấu. Không săng đan, không tất vớ, không mũ nón. Những thứ này, chúng tôi phải tự xoay xở lấy, người ta bảo chúng tôi, hoặc là mặc kệ! Vào mùa đông hay mùa mưa, không tài nào ngủ được, vì cái lạnh và ẩm ướt khắc nghiệt, không thể chịu nổi nữa và chúng tôi bị cấm đốt lửa trong nhà!…

    … Những người còn sống sót cứ tiếp tục nhai sắn khô bằng thích, tiếp tục đói, tiếp tục đau, và nhất là tiếp tục lao động khổ sai. Cai tù không ngớt lặp đi lặp lại rằng lao động là nguồn gốc mọi vinh quang, rằng khởi thủy, con người đầu tiên, nghĩa là ông tổ của chúng ta, là một con khỉ, rằng con khỉ ấy vì phải trèo lên cây hái trái, xuống ruộng trồng lúa, vào rừng săn thỏ, vắn tắt, lao động vất vả, đã dần dần mất bộ lông dài để trở thành đẹp đẽ, trơn tru như chúng ta hôm nay. Vì thế, người ta hét vào tai chúng tôi, hãy tống cổ những kẻ chây lười lao động, ăn bám, mình còn đầy lông lá, ra khỏi thiên đàng Cộng sản!

    … Bấy giờ, tôi bắt đầu cầu nguyện trở lại, ban đêm, và đọc lại với sự say mê của một người tình cũ những tiểu thuyết Stendhal, nhưng bằng trí nhớ, dĩ nhiên. Từ đó, tôi sống một thực tế khác, tự xem mình đã chết đối với cuộc đời, như Octave trong Armance. Tôi quên, cố gắng quên, bọn cai ngục và trại tù, đói và bệnh, quần áo tả tơi và thân xác khô héo – tất cả những điều nhắc tôi không ngừng vẻ xấu xí của địa ngục. Tôi chiến thắng nỗi bất hạnh của tôi bằng cách thôi tưởng nhớ những người đàn bà đẹp mà tôi đã quen biết và có khi yêu thương trong cuộc đời và bây giờ đã trở thành một thực tế còn khó với nắm, còn xa xôi hơn cả chính mộng mơ. Trái lại, tôi chỉ nghĩ đến những nữ nhân vật của Stendhal: Mathilde, Mme de Rênal, Clélia, la Sanseverina, Armance, Mme de Chasteller, giữa những nàng khác – mà hình bóng trác tuyệt, vĩnh viễn trẻ và đẹp, đã đưa tôi rất nhẹ nhàng ra khỏi thực tế phũ phàng và tầm thường, cái thực tế mà tôi nghĩ tôi không phải sinh ra để ôm lấy, ngay cả thời trước khi vào tù… Cuộc sống của tôi, hay đúng hơn cái chết của tôi, một cách xứng đáng nhất, cho đến ngày 18 tháng Ba năm 1983, thời điểm tôi được thả. Sau tám năm trời!…”

    Cuối cùng VTrD cho kết luận như sau:

    “Trong vài năm sau nầy chỉ biết tình trạng sức khỏe của anh rất yếu không còn viết lách nữa và không liên lạc nhau vì vậy không biết nhiều về đời sống và sinh hoạt của anh sau nầy. Bỗng nhận được tin buồn: Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý (Kim Thanh, Người Lính Già Oregon) qua đời vào Thứ Tư, ngày 12 tháng Hai năm 2025 tại thành phố Portland, Oregon. Theo Mục Sư Huỳnh Quốc Bình, bà Nguyễn Kim Quý cho biết, lúc sinh tiền đã dặn dò vợ con khi lìa trần, tang lễ của ông phải hết sức đơn giản. Trong tang lễ không có điếu văn, không phủ cờ và không vòng hoa gì cả. Vợ con chỉ cần đưa xác đến nhà quàn để hỏa thiêu, sau đó báo cho anh chị em của anh và vài bạn hữu của anh biết mà thôi vì không muốn làm phiền bất cứ một ai khác trong tang lễ… Với bốn thập niên cư ngụ tại Oregon như quê hương thứ hai của người quá cố nên Thánh Lễ an táng ngày 18/2 được tổ chức long trọng với Giáo Xứ, tang quyến, thân hào nhân sĩ, các cựu SVSQ/ĐH. CTCT…

    Khi xem video của Vũ Ngọc Hải, người bạn cùng khóa, tang lễ trân trọng và ấm cúng với sự hiện diện, chia sẻ của quý vị Linh Mục, thân hữu… thể hiện sự thương tiếc, quý mến với người quá cố, tôi rất xúc động. Những bài viết hồi ký của Kim Thanh và NLGO không in thành tác phẩm nào, với anh luận án về Văn Hào Stendhal coi như tác phẩm nhận định về văn học đã được giới thiệu qua hai lần thuyết trình tại Pháp. Trong số bài viết của anh có chút “lửa” cũng như bản tính năng động và máu người lính trong tâm hồn anh.” Xin trich đoạn tiếp khi VTrD viết về tác giả sách Tình Cao Thượn, Nguyễn Mạnh Côn như sự luyến tiêc, cái chết đểbảo toàn danh dự…”Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử.

    Theo nhà văn Hoàng Hải Thủy, Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử xem như hồi ký của người trong cuộc vào thời điểm đó tham gia trong Tự Vệ Thành với tuổi trẻ khi chứng kiến nạn đói năm Ất Dậu (1945) “Ngót hai triệu người chết năm 1945 từ tháng Giêng đến tháng Tư… Ðó là hoàn cảnh cho phép đấu tranh bộc phát. Ðấu tranh lúc đó quy tụ cả vào mặt trận Việt Minh” do hậu quả của thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra. Tuổi trẻ dấn thân trong công cuộc giải phóng đòi tự do độc lập cho đất nước. Và, những lá thư đó viết từ Hà Nội đến những nơi khác: Hà Nội, nội thành, Liên Khu 1 ngày 3 tháng 9 năm 1945 (Việt Minh cướp chính quyền hớt tay trên các đảng phái quốc gia. Ngày 26 tháng 12 năm 1946 ở Hà Nội, trong nội ô thành phố, Tự Vệ Thành đã nổ súng đánh Pháp bắt đầu cho cuộc kháng chiến giành độc lập). Hà Ðông ngày 3 tháng 2 năm 1947 (Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức thành lập và cuộc đảng tranh đẫm máu và gay gắt nhất đã tạo những vết thương đau đớn cho dân tộc). Phú Thọ, Vũ Lao ngày 29 tháng 11 năm 1952 (khởi đầu cuộc cải cách ruộng đất và đấu tố để thực hiện đấu tranh giai cấp). Hải Phòng ngày 19 tháng 7 năm 1954, những dòng cuối thư vào ngày 1 tháng 8 năm 1954.

    Trong bài viết của Nguyễn Mạnh Trinh, trích phần tóm tắt tác phẩm Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử và Kỳ Hoa Tử:

    “Nội dung của Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử là những tâm sự của một chiến sĩ đang tranh đấu trực diện trong công cuộc giải phóng đòi tự do độc lập cho đất nước trong những bức thư viết ở những thời điểm quan trọng của lịch sử Việt Nam. Những không gian và thời gian như Hà Nội ngày 3 tháng 9 năm 1945… Hải phòng ngày 19 tháng 7 năm 1954, là những cột mốc đáng nhớ của một thời đại đầy biến động Việt Nam.

    Từ thời điểm ấy, Nguyễn Kiên Trung kể cho bạn đọc nghe về cuộc đời của mình và thế hệ mình theo ngõ đẩy đưa của thời cuộc. Và từ đó như tấm gương phản chiếu thấy được sự bội phản lường lọc của những người Cộng Sản Việt Nam.Với kỹ thuật tranh đấu được huấn luyện từ hệ thống Cộng Sản thế giới, họ áp dụng vào thực tế và đã thành công trong việc nắm giữ chính quyền và thực hiện chính sách vô sản chuyên chính.

    Tác giả Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử đã “trút ngay lên mặt giấy một sự cần thiết phaỉ gào thét, phải nức nở cho số phận những người bạn tôi sắp phải chết, ngoài kia, bên trên vỹ tuyến Bắc 17 độ. Nói là bạn, nhưng chỉ có một số nhỏ là bạn của tôi thật, còn nhiều người mới quen biết sơ qua trên con đường kháng chiến, nhiều người chưa hề được gặp mặt, nhiều người tôi đáng tôn lên là bậc thầy, Phan Khôi, Đào Duy Anh,Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, những người ấy sắp bị Việt Cộng mang ra xử án…”

    … Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử được viết cách nay nửa thế kỷ và xem ra tới bây giờ, vẫn còn nhiều suy nghĩ đáng chú ý. Lịch sử đã bị chế độ hiện hữu bôi xóa và những bài học để thế hệ sau hiểu biết chứa đầy những giả trá. Từ năm 1945, tới nay không xa, khoảng cách lịch sử vẫn còn gần để nhận thức, thế mà đã có nhiều sai lạc…” Xin trích đoạn VTrD viết về nhà văn Dương Viết Điền, Hành Trình Với Văn Thơ Nhạc, một người bạn thân đồng môn trường Đại Học Chié6n Trasnh Chính Trị, và là dồng khóa I Nguyễn Trãi. Vương Trùng Dương tâm tình như sau,…

    “Bước vào tuổi tám mươi, nhà văn Dương Viết Điền sức khỏe rất yếu, không còn ngồi được để thực hiện tiếp những tác phẩm còn dang dở nên nhờ Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời gian giúp anh thực hiện tuyển tập Thơ & Nhạc, ra mắt tác phẩm vào trưa Chủ Nhật 24/11/2024 tại VietLife Club, thành phố Westminster. Trong tuyển tập nầy có 3 bài viết của nhà văn Việt Hải, nhà văn Khánh Lan và tôi. Dương Viết Điền là bạn văn và cũng là bạn cùng khóa (Khóa Nguyễn Trãi I Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt) và cùng định cư tại Hoa Kỳ năm 1990 (Diện H.O). Khi ra trường, anh phục vụ tại Tiểu Đoàn 10 CTCT, sau đó biệt phái sang Phòng Báo Chí (phụ tá Trưởng Phòng), Khối CTCT Quân Đoàn I nên có cơ hội quen biết với giới cầm bút trong thời gian quân ngũ. Trong tình bạn tâm giao cố tri với nhau từ thời ở quân trường nên một số tác phẩm anh gợi ý tôi viết để chia sẻ cùng độc giả.

    Trong ba thập niên, anh đã sáng tác hơn hai mươi tác phẩm, và một loạt tác phẩm Nhật Ký Lúc Chiều Tà (tập I năm 2014 đến tập VII năm 2019) ghi lại quãng đời của anh từ thời trai trẻ, trong quân ngũ, trong lao tù và năm tháng tị nạn ở Mỹ. Theo anh, muốn tiếp tục ấn hành với nhật ký nầy đánh dấu nửa thế kỷ mất nước và những tác phẩm khác nhưng vì bệnh tình nên đành dang dở. Tác phẩm đầu tiên với Hồi Ký Trại Ái Tử & Bình Điền ấn hành năm 1993. Đây là một trong những tác phẩm (hồi ký) viết về chốn lao tù sau năm 1975, trước và sau đó có: Đáy Địa Ngục (Tạ Tỵ), Đại Học Máu (Hà Thúc Sinh), Cùm Đỏ (Phạm Quốc Bảo), Tầng Cuối Địa Ngục (Đỗ Văn Phúc), Vùng Đất Ngục Tù (Nguyễn Vạn Hu8ng2), Những Người Tù Cuối Cùng (Phạm Gia Đại), Thép Đen (Đặng Chí Bình), Hối Ký Người Tù Cải Tạo của Đại Tá Nguyễn Huy Hùng, Trại Tập Trung của Duyên Anh, Tù Cải Tạo Hồi Ký (Nguyễn Đức Cung), Một Cuộc Đổi Đời KALE (Lê Anh Kiệt, Hồi Ký 17 năm trong các trại tù cải tạo của Cộng Sản), Vết Nám: Hồi Ký Tù Cải Tạo (Hoàng Long Hải), Đóa Hồng Gai (Nguyễn Thanh Nga), Hồi Ký Cải Tạo & Vượt Biên (Nguyễn Duy Chính), Lao Tù Cải Tạo & Những Phần Đời Của Định Mệnh (Nguyễn Kỳ Dzương, năm 2024)…

    Các trại tù thuộc vùng I & II trước kia không bị đày ra Bắc vì cũng hắc ám trong quần đảo ngục tù (tác phẩm Arkhipelag Gulag của văn hào Solzhenitsyn, Quần Đảo Gulag hay Quần Đảo Ngục). Ái Tử vừa là tên làng thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Năm 1971 là Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 bộ binh. Bình Điền là địa danh thuộc tỉnh Thừa Thiên, căn cứ thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Cộng Sản dùng hai nơi nầy làm trại tù. Dương Viết Điền bị 10 năm tù đã ghi lại năm tháng nơi lao tù.

    Năm 2003, anh ấn hành quyển Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân, trong quyển nầy anh liệt kê những vị anh hùng tuẫn tiết trong ngày 30/4/1975, dựa vào các bài viết, hồi ký người tù từ Bắc chí Nam trở thành tài liệu đáng nhớ. (Nhạc sĩ Nguyễn Hiền là người rất thận trọng và khó tính nhưng là người giới thiệu về hai quyển sách nầy. Trong những lần cùng uống cà phê với ông, có vài tác giả đến nhờ ông viết nhưng ông từ chối rất tế nhị).

    Nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết Lời Giới Thiệu “… Đương nhiên sau ngày vận nước suy vong đó, chúng ta đã có một dòng văn học gồm những tù nhân chính trị viết lại sinh hoạt của họ trong các trại giam Cộng Sản. Và do vậy những cây bút ấy đã góp phần phong phú hóa cho vườn hoa văn học nghệ thuật hải ngoại thêm nhiều màu sắc. Trong số đó có văn hữu Dương Viết Điền đã viết hồi ký Trại Ái Tử & Bình Biền xuất bản năn 1993 và nay lại tái bản theo yêu cầu của độc giả hải ngoại. Lối văn hồi ký ghi những kỷ niệm trong thời gian đi tù “cải tạo” như kể chuyện đã hấp dẫn người đọc tìm hiểu về tâm tư của tác giả cùng những bạn tù và chế độ các trại giam của Cộng Sản…” Và nhận vât cuối cùng xin đan cử từ sách mới của nhà văn VTrD, Xin trích đoạn VTrD viết về một chiến hữu đồng hương Quảng Đà, Thi sĩ Thái Tú Hạp, Tác giả của Hạt Bụi Nào Bay Qua, và Nhà Thơ Viễn Xứ:

    Nặng Tình Với Quê Hương
    Vương Trùng Dương
    “Ta ở bên này đại dương nhớ
    Thời gian nuôi mãi tấm lòng son
    Trắng tay phiêu bạt đời hư ảo
    Hiu hắt hồn thơ với nước non”

    (Thái Tú Hạp)

    Hầu hết những bằng hữu của Thái Tú Hạp đều biết tuyển tập thi ca để đới của ông: ‘Suối Nguồn Tâm Thức,’ một đời thơ của Thái Tú Hạp. VTrD nhận xét về tác giả thji ca Thái Tú Hạp như sau:

    “* Quê Hương, Lao Tù và Viễn Xứ.

    Hầu như các thi phẩm của anh như đã đề cập ở trên đều mang nặng hình ảnh quê hương từ trong nước với tâm hồn người lính trong hoàn cảnh chiến tranh lan tràn nên cầu mong với “xin và cho”:

    “Xin ngày cho thấy mặt nhau
    Xin chuông chùa thức đêm sầu bi thương
    Xin thôi chia nẻo chiến trường
    Xin cơn đau đớn xa nguồn từ ly
    Xin chiều mắt mẹ từ bi…
    Xin em suối ngọc huyên vi
    Xin cho thanh tịnh đời phi nghĩa này…”
    (Nụ Chào Bao Dung, 1965)

    “Cho đêm bừng đóa mặt trời
    Cho thân thể mẹ qua rồi đớn đau
    Cho em tiếng hát ngọt ngào
    Cho vùng suy tưởng chở vào giấc thương
    Cho chim hoa bướm mùa xuân
    Cho lời kinh kệ tan cơn oán thù
    Cho tàn binh lửa đôi bờ
    Cho cành dương nước cam lồ vô biên
    Cho tiêu tan chuyện ưu phiền
    Cho quê hương đẹp trăm miền tinh khôi”

    (Lời Buồn Treo Cao, 1966)

    Hằng mơ tưởng mùa Xuân về trên quê hương “Để tìm lại bóng dáng của áo lụa Duy Xuyên, rừng quế Tiên Phước, rượu cần trên buôn sóc Trà Mi thưởng thức trà Tiên quế, Cam Đại Bình, bông Vạn Thọ”.

    “… Miền quê hương có Ngũ Phụng Tề Phi
    Núi Non Nước ngăn trời bão tố
    Sông Thu Bồn hiền dịu đổ phù sa”

    và:
    “Có nơi nào đẹp bằng quê hương ta đó
    Bao đời lịch sử liệt oanh
    Thăng trầm theo mệnh nước
    Nhưng sông núi muôn thuở vẫn kiên trinh

    (Từ Quê Hương Trở Về)

    Khi anh theo học Khóa Trung Cấp 3 tháng ở TĐH.CTCT Đà Lạt và hình ảnh nơi nầy:

    “… Mây Lâm Viên huyễn tích ngàn
    Non cao ẩn dụ loài hoang thú về
    Từ chim lạc. Thác Đam Mê
    Yersin khai lộ qua khe suối Chàm…
    … Đệ huynh chung một lời thề

    Nghìn năm bia đá không hề phôi pha”

    Khi định cư ở Mỹ với tâm thức nhà thơ bị đánh mất quê hương mang nặng nỗi niềm hoài cổ. Ngày xưa, trong bài thơ Lữ Dạ Thư Hoài, thi hào Đỗ Phủ đã bày tỏ:

    “Phiêu diêu hà sở tự
    Thiên địa nhất đa sầu”

    Ngày nay, hình ảnh ấy thoáng hiện nơi người viễn khách Thái Tú Hạp:

    “Buổi chiều nơi quán khách
    Lửa nến hắt hiu buồn
    Ghế đời tri âm khuất
    Vạn lý sầu cố hương”

    Hoặc:
    “Con bên bờ vực thẳm
    Ngắm mây sầu ly hương

    (Nhớ Mẹ)

    Hay:
    “Ta biền biệt quê hương
    Mang niềm đau bất tử”

    (Đêm Ở Quê Người)

    Sinh trưởng trong một thành phố cổ với mái ngói âm dương, rêu phong cổ kính, với đền chùa lăng miếu từ thuở xưa…ngoại cảnh đã ảnh hưởng đến tâm hồn thi sĩ. Đọc thơ anh làm nhớ lại những bài cổ phong, thi ca cổ điển… bàng bạc trong âm điệu lời thơ. Nhẹ nhàng và vương vấn nỗi buồn mang mác…Có lẽ cảm hứng từ ý thơ “Cử đầu vọng minh nguyệt. Đê đầu tư cố hương” trong bài thơ Tĩnh Dạ Từ của Lý Bạch, anh bày tỏ tâm trạng u hoài của con người đánh mất quê hương:

    “Người xưa ngẩng đầu nhìn trăng sáng
    Ta giờ trăng chết ở trong tâm
    Cố hương, trăng khuyết đìu hiu nhớ
    Dạ lý hoa còn phảng phất hương”

    Để rồi:
    “Thôi ngẩng đầu chi đêm trăng sáng
    Một mình nghe biển động xương khô”

    (Trăng Viễn Xứ)

    Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường:

    “Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
    Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
    Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
    Bạch vân thiên tải không du du…”
    Thôi hiệu đề thi tại thượng đầu!”

    Hơn 1200 năm sau, trong bài Cảm Hứng Đường Thi của anh đã gởi gắm vào đó tâm trạng lạc loài của nhà thơ trước hoang tàn của thời gian:

    “Thánh thi trên bia mục
    Hoàng hạc đã bay rồi
    Con trăng đồng trinh khuất
    Bên trời ta lẻ loi”

    Với bản dịch lục bát tuyệt vời Gác Hoàng Hạc của thi sĩ Tản Đà, thơ Thái Tú Hạp có lẽ cũng sở trường và thành công với dòng thơ lục bát như áng thơ cổ:

    “Đời tan rã bụi hư vô
    Nhớ quê lòng cũng nao nao muốn về
    Lòng ta ngậm mãi thương hoài…
    Nắng trôi giạt nắng sông đòi đoạn sông”
    (Cõi Chờ Mong)
    “Đời như cát bụi đìu hiu
    Cơn vui như tiếng sóng triều hư vô
    Ngàn xưa sau cõi mịt mờ
    Anh con thú vẫn hoài mơ nẻo về…”
    (Nẻo Về)

    Cũng như nhiều nhà thơ khác trong quân đội viết về chốn lao tù, bài thơ Đêm Trong Trại Tù:

    “Không đi tới mặt trời trước mắt
    Nỗi buồn cao như núi thẳm vây quanh
    Nỗi hờn căm cũng cao ngất rừng xanh
    Nuôi hy vọng da người xanh như lá
    Người tù binh khát khao nhớ mùa xuân
    Nhớ đôi mắt tự do ngoài cổng đợi
    Nhớ bóng chim vút cánh qua trời
    Không để lại vết tăm nào yêu dấu
    Đêm vẫn qua giữa trại tù mọi rợ
    Người tù binh vẫn thao thức mong chờ…”

    Ngay trong trại tù, ta gặp lại tâm trạng bi đát, đau đớn, u buồn, xót xa như vần thơ trong Tự Tình Khúc:

    “Sầu kia ai kẻ xiết lòng
    Chiều thôi lại tối, đêm xong lại ngày”
    Ở đây, ta lại chứng kiến giữa miền rừng núi Kỳ Sơn:
    “Nửa đêm kiểng lạnh lùng khua
    Trăng kinh hoàng động rừng khuya vỡ sầu
    Đời vi diệu cũng nát nhầu
    Trong ta biệt xứ cõi sâu non trùng
    Sáng ra mới biết hư không
    Một ngày qua nữa lòng mênh mông buồn”

    (Trong Tù Nghe Tiếng Chim)

    * Tư Tưởng Phật Giáo

    Bàng bạc trong các thi phẩm của anh đều nhuốm tư tưởng Phật Giáo. Tiếp thụ tinh thần đó, vì vậy trải qua nhiều thập niên sống ở hải ngoại trong “thế giới Văn Minh trả góp” như ngôn ngữ của Phạm Kinh Vinh, anh cảm thấy có điều gì lạc lõng giữa tâm hồn Đông phương, những tương tàn trong tình cảm bởi lối sống cá nhân, đeo đuổi theo vật chất, những toan tính lọc lừa, những ràng buộc dai dẳng vây quanh cuộc sống, con người tựa hồ chiếc kim đồng hồ… không có phút giây an nhàn, tự tại vì vậy tâm hồn lúc nào cũng vọng về Miền Yêu Dấu Phương Đông và coi như miền đất hứa vẫn là nơi yên nghỉ cuối cùng của cha mẹ, chan chứa tình người:

    “Ta hẹn em trở về
    Bên đồi lau xanh biếc
    Chim rủ nhau quay quít trên ngàn cây
    Cuối thôn rụng đầy trái đỏ

    (Trở Lại Suối Nguồn)

    Nguyên Giác (Phan Tấn Hải) là Phật Tử thuần thành, am tường triết lý Phật Giáo vì vậy trong bài viết Thái Tú Hạp: Làm Thơ Như Chép Kinh: “Tôi đã đứng tim như thế, đã kinh ngạc đọc đi đọc lại các dòng thơ (bài thơ Sao Khuya trong tập thơ Suối Nguồn Tâm Thức). Tôi đã nghiêng đầu, áp tai sát trang giấy để nghe xem tiếng hạc buồn lê thê thế nào. Tôi đã nghiêng trang giấy qua lại để xem có ngôi sao nào rơi ra từ giữa những dòng thơ. Khi đó, tôi đã thắc mắc vì sao có hình ảnh cổng chùa chưa khép trong thơ, có phải vì nhà sư thi sĩ đã đi lạc nơi phố chợ và quên mất lối về…

    Chỉ mở trang sách ra để đọc thơ Thái Tú Hạp thôi, cũng y hệt như mùa xuân bay qua để hiện lên những cánh đồng hoa bên đồi. Trong cõi đó, tôi ưa thích nhất, là những dòng thơ rất mực u hoài cổ tích của anh. Không gian thơ này là cái gì rất gần gũi với tôi: những mái chùa ở quê nhà, tiếng chim hót hòa vào lời kinh tụng. Đó là những hình ảnh không dễ tìm được nơi hải ngoại. Đối với Thái Tú Hạp, hình như làm thơ cũng là một pháp tu. Bởi vì có những dòng thơ như dường nhắc tới các pháp ấn. Như bài Một Thoáng Phù Vân ngay nhan đề đã nêu lên pháp ấn vô thường,…” Cá nhân người viết bài này rất chuộng loại thơ nặng tính thiề thi tâm linh của Thi sĩ Thái Tú Hạp, ví dụ như:

    Thanh Tịnh Khúc
    Mai ta về giữa non cao
    Xé mây làm áo lụa đào cho em
    Nghiệp từ mấy thuở trần duyên
    Nắng thanh xuân đậu ngoài hiên ta bà
    Đưa nhau dạo giữa ngân hà
    Bỏ nhân gian lại chốn tà huy câm
    Mai sau tình vỡ hư không
    Có nghe tiếng hót tiền thân chim ngàn
    Từ trong thiên cổ tri âm
    Tiễn nhau xuống núi cưu mang kiếp sầu
    Mai về khép cánh biển dâu
    Giở trang vô tự trắng nhòa sắc không
    Chờ nhau dưới cội vô thường
    Soi tâm tư hiện một vừng trăng xưa.

    [Thơ Thái Tú Hạp, Tập san Pháp Luân số 4, PL 2548]

    Bài thiền thi trên cũng đã khép bài viết “Mạn đàm Người Lính Buông Súng – Vẫn Ghì Bút Mãn Kiếp.”, đặc biệt về tác phẩm Giới thiệu ‘Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ’ của Nhà văn Vương Trùung Dương, đại diện cho lớp hậu nhân, sóng sau Khánh Lan, Kiều My, Thanh Ngọc, Minh Đúc, Việt Hải và Huy Anh xin chia vui cùng tác giả Vương Trùng Dương cho ra văn tập mới này, mong sao Vương văin nhân vẫn mạnh tiến sáng tác thêm nhiêu ân phẩm giá trị khác nữa trong tương laị.

    Trần Việt Hải, Nam Cali, 01/07/ 2025.

    Tiểu sử Vương Trùng Dương:

    https://vietvanmoi.fr/VUONGTRUNGDUONG.html
    ———————————————————————-
    La littérature est un flux intarissable, aidons-la à s’écouler.
    NGUYEN QUANG
    Văn học là một dòng suối chảy không ngừng, hãy giúp nó luân lưu.
    NGUYỄN QUANG
    Literature is a never-ending stream, let’s help it flow.
    NGUYEN QUANG

  • MINH ĐỨC,  THO

    Hướng Đạo Thẳng Tiến

    Bài thơ Song Thất Lục Bát

    Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Đại Đạo Thanh Niên Hội – Cao Đài

    Từ năm 1965 to 2025 và nhân dịp Đại Hội Thanh Thiếu Niên Cao Đài Thế Giới lần thứ XI tổ chức tại San Jose vào dịp July 4, 2025

    Hướng Đạo Thẳng Tiến

    Từ khắp nơi về châm lửa trại

    Sói trưởng Thẳng Tiến bên nhau đây

    Vui Khúc ca hát tình đầy

    Hợp đoàn cùng nhau chung tay xây lều

    Trời mây rừng suối chốn mỹ miều

    Powell tổ đạo sống thiên nhiên

    Bên nhau từ khắp mọi miền

    Gian nan khắc phục ưu phiền có nhau

    Hội doàn sinh hoạt mãi bền lâu

    Đoàn kết một lòng ơn nghĩa sâu

    Kỷ cương học hỏi ban đầu

    Thanh niên tráng trưởng tạo bầu tình thân

    Học đời hướng đạo điều giúp ích

    Cộng dồng xã hội ta dang tay

    Nguyện lời tâm niệm từ nay

    Chía chung lý tưởng ngày mai giúp đời

    Nắng hè rạng rỡ tỏa muôn nơi

    Liên tâm bách hợp chung tấm lòng

    Quyết chí vững bên núi sông

    Quyết chiến ta giống dân Lạc Hồng

    Khúc “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”

    Phù Đổng thánh hiền giữ non sông

    Bạch Đằng sông nước tô hồng

    Sử Nam sách Bắc chung lòng đắp xây

    Hưng Đạo minh vương vinh năm tháng

    Sử xưa ghi phanh thây quân thù

    Hồn tử sĩ vang ù ù…

    Thiên hùng ca ngàn thu ngạo nghễ !

    Ngô Thiện Đức

  • NGUYỆT SAN NVNT

    ĐẶC SAN NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT SỐ 1

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ, các anh chị em và thân hữu,

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian và Liên Nhóm Văn Chương Việt và Tiếng Đàn Xưa hân hoan giới thiệu đến quý quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ cùng Các Anh Chị Em nguyệt san Nhân Văn Nghệ Thuật, số 1 gồm các bài vở về văn học như thi ca, văn xuôi, âm nhạc, nghệ thuật, điện ảnh, nhiếp ảnh, hội họa…dưới dạng ebook.

    Tuyển tập sẽ được phát hành trong thời gian khoảng ba tháng một số, lấy tam cá nguyệt làm chuẩn. Đây là tuyển tập nhằm quảng bá và phát huy những hoạt động sáng tác và trình diễn những tác phẩm do những hội viên của hai tổ chức cùng các thân hữu hình thành.

    Bạn chủ trương cùng ban biên tập chúng tôi hy vọng rằng những sáng tác trong nguyệt san Nhân Văn Nghệ Thuật sẽ đem những niềm vui đến cho quý độc giả.

    Kính mời quý giáo sư, văn thi sĩ, các anh chị em và thân hữu vào xem ở link dưới đây.

    Đây là link của NVNT-1 flipbook: Online Flipbook

    Nhóm chủ trương và ban biên tập kính mời.

  • KÝ SỰ,  Việt Hải

    NHỚ BẠN

     Trần Triệu Đông ( 1946 – 2015 )

    Hoàng Thy (1946-2015) tên thật là Trần Triệu Đông, là nhạc sĩ, nhà thơ, sống tại San Diego, Hoa Kỳ.

    Thi sĩ Hoàng Thy San Diego, người thứ 3 tử bên phải, tôi chơi short đứng cạnh anh.

    Hôm nay tình cờ lục ra email cũ về anh bạn khá thân, thi sĩ Hoàng Thy San Diego, xem hình xưa, người thứ 3 tử bên phải, tôi đứng cạnh anh. Khi ấy, tôi vừa trải qua cơn đột khụy (stroke) tưởng là không qua khỏi. Thi sĩ Cát Biển thông báo bạn bè thuê 4 chiếc VAN từ San Diego, Orange County trực chỉ lên nhà thương Thousand Oaks. Từ hướng bắc đi lên Santa Barbara, từ phố Bolsa, lái xe 2 tiếng rưỡi, nhưng vì kẹt xe nên 3 tiếng hơn mới đến. Anh chị HOÀNG THY thì lái xe mất 4 tiếng rưỡi từ SAN DIEGO.

    Khi xuất viện tôi ngồi xe lăn vì sức khỏe còn yếu quá, nhưng khi nhận được thiệp mời của anh chị Hòang Thy gả cô con gái lớn. Khi vợ chồng tôi lên đến nơi, anh Hoàng Thy mừng và lo đẩy xe lăn cho tôi. Tôi cảm động bảo “Tôi okay, anh lo lễ cười đi”. Tôi rất quý anh Hoàng Thy với bản tính hiền lành, dung di, xuề xòa, khiêm tốn. Anh chơi guitar giỏi, thích văn nghệ, và có hoa tay nên vẽ rất đẹp.

    Hôm nay đọc bài viết cũ, xem ảnh xưa chợt nhớ Anh Chị Hoàng Thy đã khuất núi, lòng bồi hồi tôi nhớ thương bạn cũ. Hôm gặp chị thi sĩ Quỳnh Giao than thở: Sau tuổi bát tuần bà chị yếu quá, tôi bảo bà chị nên nhóm họp bạn bè của chit như: Thanh Huy, Vương Trùng Dương, Dương Viết Điền, Hồng Vũ Lan Nhi, Hồng Tước,.. xong tổ chức chiều hội ngộ, mở party tao ngộ ở Lữ Quán Cô Đơn. Hôm ấy, Chị Quỳnh Giao bốc quẻ bảo tôi thọ hơn 95+, tiễn tha hồ có dịp đưa tiễn quý cụ, mợ lên thiên đàng Peek’s family, xong nhận visa của Thánh Phê-Rô cho vào thiên cuốc sau cùng, dù là có visa hơi muộn màng. Tuy nhiên, Chị Quỳnh Giao không nên vội gặp Thánh Phê-Rô sớm nhá, hãy đợi bà con rồi cùng bay cao một lượt cho vui nhá,.. hihi,..

    Sáng nay, vào mạng tôi tình cờ xem bài tùy bút “Nếu ra đi” của tác giả tên Trầm Mặc Vân, ông/bà này ghi nhận: “Khi một người bạn ra đi, bạn bè còn nhớ họ hay không, dù ít nhiều do tình cảm đã có lúc sinh thời với nhau, thân nhiều hay thân ít, có thể do lòng của người và người thôi. Nhưng chính chúng ta nên tạo lề lối nhớ đến người bạn đã khuất, những bạn thân hay không, vì đấy là tình cảm giữa người và người. Vì lỡ nếu ta “quên người bạn mình, dù thân hay không, nay đã mất sẽ đồng nghĩa là ta làm cho họ mất thêm một lần nữa hay sao ?” …”.

    Lời nhận định của Trầm Mặc Vân mang một triết lý nào đó trong tương quan sống ở đời. Với anh Hoàng Thy, nếu ai đã từng tiếp xúc, cá tính của anh ấy khá kín đáo, ít nói, rất hòa nhã, hiền lành, anh thường biểu hiện câu nói qua nụ cười hiền hòa. Tôi không hiểu người hiền lành như bụt sao lại chọn binh chủng biệt kích, tiếp cận cái chết không khó, một binh chủng được tô luyện đánh giặc chuyên nghiệp, đánh thiện nghệ mỗi khi xung trận. Có lúc anh bảo thời cũ qua rồi, rồi cười cười.

    Một hôm, Anh Hoàng Thy gọi phone cho tôi, anh bảo thấy tôi hoạt động nhiều trên internet, anh biết tôi khỏe mạnh. Thật vậy, so với khi tôi còn nằm trong khu ICU, anh có vào thăm tôi. Thú thật, khi ấy tôi giống như con gà nuốt dây thun, chả nói được, mà nếu có nói thì toàn là những lời thều thào như ngôn ngữ của giới cận tử biệt ly của bài tình ca “If you go away…”. Tôi trả lời anh là tôi đã phục hồi nhiều so với khi xưa, nhưng vướng mắc vào căn bệnh hiểm nghèo này (stroke), rất phức tạp, ví như chuối ba hương, rơi rụng lúc nào chả biết. Anh nói câu mà bây giờ tôi suy nghĩ nhiều, anh nhận định về sự ra đi trong đời này, chút gì đó mâu thuẩn. Anh nói: “Coi người yếu như vậy mà không di, người mạnh lại đi, làm sao biết được, anh nhỉ ?“.

    Anh Hoàng Thy ơi, phải chăng anh tiên đoán cái định mệnh vừa xảy ra cho chính anh ? Tôi còn nhớ, khi 3 chúng ta: anh, tôi cùng anh Dương Viết Điền chạy ra bãi biển Mission Bay buổi ban mai, lúc 6 giờ sáng, khi khí trời còn se lạnh. Khi bước xuống xe, phố vắng người thưa. Ngoài biển, ánh bình minh chưa ló dạng, thế mà ba chúng ta chạy ra bãi biển. Biển Mission Bay có công viên lý tưởng cho picnic. Thực ra, sứ mạng của ba chúng ta là ra bãi sớm để “xí chỗ cắm dùi” trước bàng dân thiên hạ, còn các anh chị em thì vác đồ đạc ra sau. Thế mới biết, Biệt kích kiêm nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ Hoàng Thy, người của những công tác giao động nhanh nhẹn, xốc vác, bương chải, trong khi cá nhân tôi, cái dĩ vãng vương nghiệp stroke veteran 2 mùa nên chẳng giúp được gì. Còn phần anh nhạc sĩ, thi sĩ văn sĩ kiêm quan ba ngành CTCT đi tù VC 10 niên, cũng “thảm” như tôi, bởi ra tù cải tạo xong, lưng mọc gai xương sống tùm lum. Do đó tôi và anh Điền thuộc sư đoàn chuyên đi chậm. Vì vậy, anh cựu biệt kích Hoàng Thy năm xưa đành nhanh nhẹ đổ bộ xuống bãi sắp xếp ghế, căng dù, banner,…

    Tôi nhớ có một lần khi nhạc sĩ Hiếu Anh ra đi, nhà thơ Yên Sơn chia buồn trên forum với bài tiễn đưa cảm động, anh chêm 2 câu thơ của thi sĩ Thâm Tâm qua bài “Tống Biệt Hành“:
     
    “Đưa người ta không đưa sang sông,
    Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng
    “

    Rồi anh Dương Viết Điền có lần ngâm 2 câu thơ của Nguyễn Bính, tôi nghe buồn tê tái.

    “Mai sau ta sẽ lìa đời,
    Hai ta ai sẽ là người đưa ai ?”.

    Có lẽ tình bạn văn chương khi sống họ trao đổi văn chương, khi một người bạn ra đi họ cũng dùng văn chương đưa tiễn. Trong bài Ký Sự Du Ngoạn San Diego trong link bên dưới. Nhà văn Dương Viết Điền viết phần kết bài của chuyến đi như lời chia tay nhau trong quyến luyến, thôi thì giờ đây tôi xin gửi tất cả lời bạn bè viết về người bạn hiền hòa, dễ mến Hoàng Thy Trần Triệu Đông,
    “Vì đâu, anh em chúng ta, ngày nay sắp cùng bùi ngùi xa cách. Cách xa nhưng ta hằng mong rồi đây có ngày mình gặp lại nhau…”.

    Vâng, chúng ta tất cả sẽ gặp lại nhau sau này. Điều khác nhau là ai đi trước và ai đi sau mà thôi.

    Việt Hải Los Angeles

    http://www.vietfederationsd.org/Culture/VuongMauKyNiem.htm

    http://saigonocean.com/gocchung/html/dien-kysu.htm

    NHỮNG CẢM NHẬN VĂN HỌC NHÂN KHI DỌC TUYỂN TẬP THI VĂN: “ NHỮNG CON ÐƯỜNG’ CỦA HOÀNG THY TRẦN TRIỆU ÐÔNG

    Kính thưa quý vị và các thi văn hũu thân mến,

    Chúng ta không lạ gì khi Hoàng Thy Trần Triệu Ðông đã chọn bài thơ “ Những Con Ðường” để làm tiêu đề cho thi văn phẩm của anh. Bởi vì qua bài này, tác giả đã gởi gấm niềm tâm sự của mình bằng những mãn đề tài viết về quê hương, tình yêu, thân phận. Theo tôi nghĩ đây là những đề tài gợi nguồn cảm hứng nhiều nhất cho tác giả trong khi sáng tác.

    Khởi đi từ những con đường quê hương với khung trời kỷ niệm của một thời vang bóng. Yêu biết mấy những con đường rất thơ mộng. Con đường đã đưa em vào mộng của một thời sớm biết yêu. Con đường của những hàng me lợp nắng trên cao, cỏ vươn gót chân em. Con đường có những lời tình tự, có những người yêu tay trong tay đi về phía giáo đường để nguyện cầu cho tình mãi dài lâu. Ở đó có mùi hương của tóc em thoang thoảng bay trong gió như mùi lan dạ thảo, nhe lân lân đi vào hồn thi sĩ. ( Mùi Hương Tóc Em ). Ơû đó cũng có màu mắt em xanh thăm thẳm khung trời. Làn mi cong làm ngây ngất thi nhân ( Nửa mảnh Hồn Rơi ). Ở đó cũng có những ngón tay thon nuột nà, có mắ t tròn ngơ ngác, dáng kiêu sa, có bờ môi chín mọng và môi hồng nũng nịu đa tình. Ta cũng bắt gặp ở đó những cái lãng mạn khi nghĩ về người yêu như là gió, thổi vào hồn những vấn vương; là nắng để sưởi ấm lòng khi giá băng. Tất cả đã làm cho thi sĩ xao xuyến bân khuâng:

    “ Hờ hững hồn anh chết nửa vời

    Còn nửa hồn kia đi đâu mất

    Chỉ về trong những giấc mơ thôi”

     Bên cạnh bóng dáng hạnh phúc của những cuộc tình thơ mộng, trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta cũng bắt gặp những cuộc tình mong manh, bất hạnh bủa vây với những bẻ bàng, nuối tiêÙc, phân ly, chia lìa:

    “ Anh bước đi xa cuộc đời này

    Cố quên đi ngày tháng xa xưa

    Ðời chỉ là những ngày sầu

    Nuốt lệ buồn cúi mặt mà đi”

    Tiếp nối những con đường quê hương, ta bắt gặp những ảnh hình thương tâm của những người cha già đã ngã gục vì niềm đau oan khiên; những anh hùng bất khuất tự kết liễu đời trai, không hàng giặc; những chiến hữu tật nguyền mà đời chỉ còn là năm tháng thảm sầu.

    Cũng trong mảng đề tài viết về quê hương, tác giả cũng viết rất nhiều về những dòng hoài niệm. Hoài niệm với Hồ Gươm, Tháp Rùa một đời soi bóng nước. Hoài niệm về Hương Giang với những vẩy vàng lấp lánh dưới nắng mai, với hàng liễu in bóng phủ tóc dài, với tiếng hò cô gái trong khói mù sương. Hoài niệm về Sài Gòn phồn hoa, đô hội với Chợ bến Thành rộn rị[ kẻ bán người mua; với Bạch Ðằng lúc chiều xuống ( Ðưa Em về). Cùng hoài niệm về những mùa xuân của quê hương với gió nhẹ lay ngọn cỏ; với giọt sương đùa trong nắng; với mai vàng khoe sắc thắm; với đào, hồng rực rỡ hương. Tất cả giờ đây chỉ còn là vang bóng, bỏ lại trời quên:

    “ Ôi những mùa xuân đượm thảm sầu

    Miền quê yêu dấu giờ ở đâu

    Ai về xứ ấy cho ta nhắn

    Rằng kẻ tha hương vẫn đợi chờ”

    Cũng trong thơ Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta bắt gặp cái mênh mông, bát ngát , thơ mộng của thiên nhiên , cây cỏ hài hòa với sự biến đổi của đất trời; cái thanh thoát, man mác của vũ trụ bao la:

    “ Nơi đây có suối rừng mơ

    Quanh năm phố phủ sương mờ khói lam

    Rì rào thông đứng hai hàng

    Hồn thơ lộng giữa trăng vàng suối reo”

    ( Ðà Lạt Thần Tiên )

    Hay:

    “ Em hãy xem ráng chiều đang trải xuống

    Lùa mây về tận cuối nẻo xa xăm

    Dãi nắng vàng ôi sao quá mong manh

    Anh sợ sẽ vỡ tan thành muôn mảnh”

    ( Vạt Nắng )

    Ta cũng bắt gặp những sắc màu của không gian tịch mịch, im lặng của mùa thu với mây thu bàng bạc; với lá thu xào xạc; với gió thu mơn man đùa trên ngọn cỏ chiều thu chớm; với trăng thu bẽn lẽn nép mình sau rặng liễu ; với rừng thu vắng .

    Ta cũng bắt gặp cái huyền bí thâm cung với tiếng than vãn của “ Lũ Ma Hời ”  mà giờ đây những tháp cao chỉ còn lại là những trơ trọi, điêu tàn, đổ nát, rêu xanh phủ kín, mờ phai một dĩ vãng oanh liệt.

    “Chiều mơ tắt màn đêm sương mờ ảo

    Những tháp chàm ảo não đứng lặng câm

    Sắc tàn phai theo tháng năm âm thầm

    Mang chứng tích xưa kiêu hùng ngạo nghễ”

     ( “Tháp Chàm Xưa”)

    Ngoài ra, trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông cũng có đề cập đến thân phận của kẻ lạc loài . Lạc loài với quê hương người bỏ xứ. Lạc loài với những dấu tích ngày xưa. Lạc loài vời trường cũ giờ đã rêu phong. Lạc loài với thầy, Cô, bạn cũ, với người thân đã mỏi mòn trông đợi người đi biền biệt năm tháng ( Kẻ lạc Loài ).

    Cũng trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta bắt gặp những xót xa cho những phận đời mong manh. Xót xa với tuổi thơ ngây em đã mất. Xót xa những khổ đau, mất mát, tủi nhục, ê chề của kiêÙp lầm than. Ðể rồi cầu xin một nghĩa cử cao đẹp :

    “ Hãy bỏ lại sau lưng niềm phẫn uất

    Những đọa đày những tủi nhục xót xa

    Những thù hằn đau đớn của ngày qua

    Hàn gắn lại, yêu thương và tha thứ”

    ( Dòng Tâm Sự )

    Cũng trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta cũng thấy phảng phất thân phận buồn bã, cô đơn của người thi sĩ với lời thơ cung bậc; của nhạc sĩ với tiếng nhạc lời ca; của họa sĩ với những nét dọc ngang diễn tả tâm tình dù cho họ đã dệt cho đời biết bao hoa gấm:

    ( Người Nghệ Sĩ )

    Cũng trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta bắt gặp những phận đời bọt bèo của người kỷ nữ, mang kiếp tầm phải nhã tơ , ngấn lệ hoen mi khi đêm về, hay khi phấn son đã nhạt phai :

    “ Người đến chi với em bằng hờ hững

    Bằng cuộc vui ngắn ngủi thoáng qua thôi

    Bằng dối gian trên chót lưỡi đầu môi

    Rồi ngoảnh mặt vút xa tầm tay với ”

    ( “Người Kỷ Nữ”)

    Cũng trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta bắt gặp những phận đời lam lũ đè nặng trên vai người con gái Việt Nam xanh xao, gầy guộc, bàn tay dày, chai đá với tháng năm trên các nông trường hoang dại . Ðể rồi thi sĩ đã khóc cho tuổi trẻ Việt Nam :

    “ Tôi bỗng thấy mắt cay cay bật khóc

     Dọ lệ buồn cho tuổi trẻ Việt Nam

    Cớ vì sao em cơ cực muôn vàn

    Hãy đứng dậy, em ơi cùng đứng dậy”

    Cũng trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta bắt gặp những đớn đau, vật vã cùng những bi lụy khi phải giam mình trong bóng tối tù ngục , đọa đày vì đơn thuần chỉ là người lính Việt Nam ; cùng những phận đời mong manh khi phải ra đi tìm tự do trên những chuyến tàu lênh đênh trên biển cả.

    Bên cạnh những con đường đưa em về quê hương cũng có những con đường đưa em về với những người yêu thương . Ở đó có mẹ già mỏi mắt mòn trông con đi biền biệt năm tháng chưa về. Ở đó cũng có những hình ảnh của những người cha với số phận tù đày tủi nhục trong lao tù.

    Cũng ở đó có những con đường rợp bóng tre. Có con đò. Có tiếng ru e m giữa trưa hè nắng cháy. Có tiếng võng nhẹ đưa em tròn giấc ngủ . Cũng ở đó có con sông dài uốn khúc chảy quanh co . Có gió thơm mùa lúa chín. Có câu hò. Có trăng chếch bóng, ghếch đầu trên núi bạc. Những con đường tuy xa trong không gian nhưng rất gần trong tâm tưởng. Tất cả giờ đây chỉ còn là những kỷ niệm Nhạt nhòa trong vùng ký ức khó quên.

     “ Giờ tìm đâu những con đường xưa lối cũ

    Những con đường gần gũi rất thân thương

    Những con đường vàng gấm của quê hương

    Ðường xưa đó bao đại dương cách trở ”

    (“ Những Con Ðường ” )

    Kính thưa quý vị,

    Như quý vị đã biết, Hoàng Thy Trần Triệu Ðông vốn xuất thân là một người lính nên anh cũng đã dành cho hình tượng người chiến sĩ một chỗ đứng trang trọng và kiêu hùng trong thi văn phẩm của anh.

    Ta hãy nghe Hoàng Thy Trần Triệu Ðông nói về người lính VNCH :

     “ Họ là những người con yêu đất nước

    Theo tiền nhân đã cất bước lên đường

    Mang trên mình một sứ mạng thiêng liêng

    Bảo vệ giống Rồng Tiên non nước Việt ”

    ( “Họ Là Ai ”)

    Ðể rồi mãi tôn vinh người lính anh hùng bất khuất :

    “ Xin vinh danh những người con giữ nước

    Xin một lần được chiêm ngưỡng dung nhan

    Dẫu rằng anh nguyện ước chưa thành

    Chí can trường ngời lên bao thế hệ ”

    (“ Nhân Danh Người Lính QLVNCH”)

                Xen kẻ với những vần thơ viết về quê hương, tình yêu, thân phận, Hoàng Thy Trần Triệu Ðông  đã giới thiệu thêm cho giới thưởng ngoạn những mẩu chuyện ngắn như “ Bà Mai”; “ Một Chuyến Nghỉ Mát”; “ Người Khách Quá Giang”; “Thằng Bé Thiên Thần”; “ Một Vụ Ðụng Xe”.Trong nhong những mẩu chuyện ngắn này , Hoàng Thy Trần Triệu Ðông đã thể hiện nhân vật có vẻ thần bí , siêu hình nhưng lại lồng trong khung cảnh , không gian, thời gian rất đời thường. Vì vậy câu chuyện đã được mô tả rất hiện thự . Chính những yếu tố này đã làm cho những câu chuyện ngắn của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông được người đọc dễ dàng chấp nhận. Ðây là một điểm son của tác giả. Tôi nghĩ ở góc cạnh này, Hoàng Thy Trần Triệu Ðông sẽ thành công nếu anh biết chọn cho mình một hướng đi khi anh viết những chuyện ngắn xoay quanh những đề tài có vẻ siêu hình , khá hấp dẫn như đã nói ở trên.

                Kính thưa Quý vị,     

    Tính bình dị trong phong cách thể hiện, tính trung thực trong cách diễn đatï tình cảm; tính phong phú và đa dạng cũng được dễ dành khám phá qua những dòng thơ, chuyện ngắn của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông trong tuyển tập thi văn. Bằng những lời thơ trong sáng, tác giả đã đưa người đọc đi từ rung động này sang cảm xúc khác; những khổ đau này sang những tiếc nuối khác.

    Lại nữa, tính nửa hiện thực, nửa siêu hình cũng được dễ dàng tìm thấy trong văn của anh, qua những mẩu chuyện ngắn trong tuyển tập thi văn “ Những Con Ðường” . Bằng lối hành văn giản dị,  Hoàng Thy Trần Triệu Ðông đã cuốn hút độc giả, đã đưa người đọc đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác; những tình tiết hấp dẫn , ly kỳ này sang những tình huống éo le, kinh dị khác; những say sưa thích thú này sang những bàng hoàng, xao xuyến khác khi văn thi phẩm “ Những Con Ðường “ được đóng lại. Tất cả đã giúp cho Hoàng Thy Trần Triệu Ðông thành công trong mảng đề tài này.

    Kính thưa quý vị,

    Với lòng nhân hậu, và với tâm hồn trong sáng cộng thêm một chút lãng mạn văn học, Hoàng Thy Trần Triệu Ðông đã hình thành nên tác phẩm “  Những Con Ðường”. Hy vọng tuyển tập thi văn sẽ được các giới thưởng ngoạn đón nhận như là một khích lệ để cho tác giả của nó đi xa hơn trong lãnh vực sáng tác hầu để tô điểm cho vườn hoa văn nghệ hải ngoại mãi mãi ngát hương.  

    Với sự trân trọng, tôi xin phép được đại diện cho một bạn bè, thân hữu gởi đến Hoàng Thy Trần Triệu Ðông những bông hoa tươi thắm nhất cùng với những tình cảm thân thương và nồng ấm nhất.

    Trân trọng kính chào quý vị và xin cám ơn sự lắng nghe của quý vi.

                                                    San Diego ngày 15 tháng 10 nam 2001

    PADgheSD050-1.jpg picture by tangolouis

    Những con đường (Hoàng Thy)

    Trần Việt Hải

    Cầm trên tay tác phẩm “Những con đường” của anh bạn Trần Triệu Ðông, tức thi, văn, họa, nhạc sĩ Hoàng Thy tôi rất lưu luyến với bức họa ở trang bìa do họa sĩ ViVi vẽ một cặp tình nhân, chàng trai chiến binh về thăm thủ đô Saigon choàng tay người em gái hậu phương. Bức hình đó đem tôi về những kỷ niệm xa xưa của cuộc nội chiến Việt Nam, mà người Mỹ chỉ gọi là Vietnam war. Tôi còn nhớ những bài tình ca bất hủ về đời lính, khi người em gái hậu phương nũng nịu ca cho anh chiến sĩ VNCH những khúc tình ca: “Nếu em không là người yêu của lính, ai đem cánh hoa rừng về tặng em….?” hay “Ai nói lính yêu, lính không sầu nhớ ? Không biết nói yêu mỗi khi mộng mơ”. Vâng, hình ảnh người lính VNCH vốn đẹp đẽ trong quan điểm của tôi, nhiều bạn trong đã trong quân ngũ, như Hoàng Thy, Cát Biển, Yên Sơn,… Hoàng Thy xếp bút nghiên từ giã đại học khoa học Saigòn theo nghiệp đao cung vì cuộc chiến khốc liệt dịp tết Mậu Thân 68 như Cát Biển, như Yên Sơn và như bao chàng trai thế hệ của miền Nam. Nếu một pilot Yên Sơn cưỡi mây ngàn trên vận tải cơ C-130 tung hoành ngang dọc đùa giỡn với chị Hằng hay những thiên thần trên cao của tuyết trắng hoặc như sailor Cát Biển cưỡi sóng của “Trùng dương sóng vỗ”, đứng trên đỉnh cao của chiến soái hạm, trên boong tàu chỉ huy những chuyến hải hành vượt ngàn khơi để đem hoa biển về tặng em thì Hoàng Thy lại kín đáo trong những điệp vụ Mission Impossible ở vùng Tam Biên, Mõ Vẹt, hành quân lục soát an ninh trong vùng ba biên giới để gìn giữ từng tấc đất quê hương, anh thuộc đơn vị Lực Lượng Ðặc Biệt trấn giữ tại vùng chiến tuyến hiểm nghèo mà với những sứ mạng commando liều lĩnh xem cái chết nhẹ như tơ hồng, chúng ta hãy nghe những vần thơ của Hoàng Thy về người lính VNCH:

    “Anh là ai, dáng sao oai hùng quá

    Áo hoa dù rạng rỡ tuổi hoa niên

    Vết giầy saut vương chút bụi sa trường

    Mà mắt vẫn ngời lên niềm kiêu hãnh…”

    Đúng vậy, người lính trẻ năm xưa của chúng ta, tiêu biểu qua hình ảnh màu áo hoa dù đã hiên ngang, đã oai hùng như:

    “An Lộc địa còn ghi chiến tích,

    Biệt cách dù vị quốc vong thân”

    Nói về tác phẩm “Những con đường” của Hoàng Thy tôi có quá nhiều điều để viết. Về tình cảm lãng mạng như:

    “Nắng xin lên cho làn môi em thắm,

    Trăng hãy về cho em trắng đôi tay,

    Gió qua mau cho đường tóc em bay,

    Mưa xin lại cho môi em ướt mọäng…”

    Rồi Hoàng Thy viết rất chân thành, rất đậm đà về tình phụ mẫu bao la trong bài “Tấm lòng của mẹ”:

    “Con hỡi con, lại gần đây một tí,

    Mà lắng nghe lời nhắn nhủ chân tình,

    Cha Mẹ thương từ lúc mới tượng hình,

    Qua bao tháng cưu mang nhiều hy vọng,

    Rồi đến ngày con chào đời góp mặt,

    Cha thương nhiều từng lúc bế trên tay,

    Hôn bên kia rồi lại đến bên này,

    Cứ như thế cả ngày không biết mệt,

    Mẹ ngắm nhìn mà lòng vui khôn xiết,

    Thịt da nào là của Mẹ, của Cha,

    Khối óc nào là Thượng Ðế ban cho,

    Tình yêu Mẹ dành cho con tất cả…”

    Hoàng Thy đem tôi đi từ tình non sông gấm vóc, đến tình phụ mẫu, rồi tình lãng mạn với người con gái anh yêu,… nhiều và nhiều lắm để bày biện ra những trang giấy này, anh nói về Tháp Chàm Xưa, Vịnh Non Nước, Ðà Lạt Thần Tiên,… tôi thích những áng thơ tình vô cùng nhẹ nhàng của anh khi nói về người con gái anh yêu, có thể tôi đã chủ quan chăng, vì với nhận định của riêng mình sự lãng mạn tuyệt đối vẫn là nguồn cảm hứng vô biên cho các nhà thơ chăng?

    “Mùi hương tóc em

    Anh nhớ mãi hương mùi hương thơm tóc em,

    Thoang thoảng bay như mùi lan dạ thảo

    Nhẹ len lén vào hồn anh một dạo,

    Rồi trải dần ra khắp cả châu thân.

    Anh thèm lắm được ôm ấp một lần,

    Ðôi tay nhỏ với nụ hôn trìu mến,

    Nhưng mỗi lần anh thấy em bẽn lẽn,

    Ðành quay đi giấu một tiếng thở dài”

    Thơ tiếp, Hoàng Thy nhớ hương mùi tóc em, hình ảnh người trai hôn lên tóc người nữ, tôi thích hình ảnh ấy. Tuyệt, đẹp,…

    “Anh nhớ mãi tóc em thơm mùi hương,

    Vương vương vấn trời sa sương mờ ảo,

    Ray ray rứt thật gần sao long lanh,

    Tê tê dại cõi lòng anh chết lịm.

    Em hãy giữ mùi hương trên mái tóc,

    Ðời mai này nếu lỡ có xa nhau,

    Anh sẽ bảo gió gom hết về đây,

    Cho anh sống một trời mây nhung nhớ”

    Hoàng Thy, San Diego 08/17/2001

    Hôn tóc người yêu là cử chỉ thay cho lời trìu mến, mùi hương tóc của người yêu dấu vẫn là những kỷ niệm xao xuyến khó quên, vẫn lưu luyến để góp nhặt cho đầy nhung nhớ, cho ngập hồn mơ tưởng về em, cho rừng thơ yêu đương thêm nhiều nồng nàn, cho dâng tràn hồn lãng mạn hương tình.

    Ngoài ra thơ của Hoàng Thy được các thân hữu hay chính tác giả phổ nhạc, tôi nghe diã CD của anh thực hiện qua tiếng hát của Kim Loan và Anh Tuấn, những người ca sĩ trẻ nhưng có giọng ca thật điêu luyện. Tôi thích 3 nhạc phẩm: Nửa mảnh hồn rơi, Vạt Nắng và Nửa cuộc tình buồn, do Anh Tuấn trình bày:

    “Dải nắng vàng ôi sao quá mong manh

    Anh sợ sẽ vỡ tan thành muôn mảnh

    Em hãy hong vạt áo dài gom lại,

    Những sợi vàng mềm mại quá đi thôi”

    Rồi Anh Tuấn lại thì thầm qua ca khúc “Nửa mảnh hồn rơi”:

    “Xin em đừng khép nhẹ làn mi,

    Ðể anh chiêm ngưỡng nét tuyệt vời,

    Gom cả khung trời trong đáy mắt,

    May ra tìm được mảnh hồn rơi”

    Hoàng Thy đã biết nơi tìm ra “Nửa mảnh hồn rơi” của anh, thơ của Hoàng Thy lãng mạn lắm phải không ? Xin người yêu đừng khép nhẹ làn mi, để anh gom cả khung trời trong đáy mắt, may ra tìm được mảnh hồn rơi…

    Rồi tôi nghe một giọng hát nữ dâng lên trong tâm hồn sầu vơi một tình ca bất diệt về Hà Nội, chốn ngàn năm văn vật: Mùa Thu Hà Nội với dáng ngọc cổ xưa, những nuối tiếc về Hà Nội những ngày trước vào mùa thu, và rồi ” Hà Nội vẫn chờ… những con người Hà Nội năm xưa, và chờ để làm gì thì chúng ta đều hiểu rõ, phải không thưa các bạn? Ngoài ra, Hoàng Thy còn nhân cách hoá Sài Gòn như là một người tình nhân của anh: “Ta tiếc thương em, giờ em không còn tên người”. Ôi, Sài Gòn không còn tên người… vậy thì bây giờ em Sài Gòn mang tên… con vật nào đó ư ? và Hoàng Thy mong sẽ có một ngày chắp nối lại được mối tình xưa cùng người yêu dấu… “Em Sài Gòn”.

    Trong tuyển tập “Những con đường” còn có 5 tác phẩm văn xuôi mang tựa đề: Bà Mai, Một Chuyến Nghỉ Mát, Người Khách Quá Giang, Thằng Bé Thiên Thần và Một Vụ Ðụng xe. Tất cả đều mang tính chất huyền bí như loại truyện ma thuật.

    Bờ biển La Jolla

    Một Chuyến Nghỉ Mát lấy bối cảnh bờ biển La Jolla, San Diego, một bờ biển tôi vốn yêu thích trong số những bờ biển của bên bờ tây Hoa Kỳ trải dài từ ranh giới Canada và Washington State xuống vịnh Mexico ở miệt Nam. Cốt truyện là Trung mang vợ và 2 con gái Thùy Hương và Thùy Trang đến nghỉ mát tại La Jolla, trong cảnh gia đình rất hạnh phúc, êm ấm bên thắng cảnh thiên nhiên, 2 cô bé mải mê bơi lội, bỗng Thùy Hương bị sóng cuốn hụt chân, xém chết đuối, một động lực vô hình khiến Trung lao mình vào những cơn sóng nghiệt ngã để cứu con mình. Ðộng lực đó chính là bé Trâm con của Thanh (là người bạn thân của Trung) đã chết đuối năm trước. Hiện về để cứu bé Thùy Hương thoát nạn. Truyện thứ nhì  Thằng Bé Thiên Thần cũng cùng loại truyện báo mộng loại kinh dị Omens hay Friday the 13th, Quỳnh và bé Phương, vợ con Quang thoát nạn trong một vụ xe đụng do sự báo mộng và cứu mạng của bé Thanh (con trai của vợ chồng Dũng, bạn của vợ chồng Quỳnh-Quang ). Theo cốt truyện Một Vụ Đụng Xe chất chưa nét định mệnh, Vinh dính líu vào một vụ đụng xe với người con gái tên Loan, Loan là chị song sinh với Phượng giống nhau như khuôn đúc, vì phải ra phi trường gấp nên Vinh bỏ đi vụ đụng xe với Loan, sau đó chàng mới truy ra người đụng xe mình, khi Vinh tìm ra, Phượng rất bỡ ngỡ vì Phượng không hiểu rõ đầu đuôi chuyện đụng xe của Vinh và Loan, Vinh lai đinh ninh Phượng chính là Loan. Khi tìm ra sự thật, Phượng cho Vinh biết Loan đã thực sự tử nạn trong một vụ đụng xe khác. Mối liên hệ kế tiếp giữa chàng trai độc thân và nàng Phượng còn đơn thân gối chiếc đưa đến hôn nhân vì một vụ đụng xe tuy nhẹ, nhưng rất tình cờ của “Tình Chị Duyên Em”.

    Nói chung khi viết 3 tác phẩm này tác giả đã phong phú hoá óc tưởng tượng như một Alfred Hitchcock, ông vua của những loạt phim kinh dị, ma quái từ những Vampires như Dracula, Frankeistein, Mummy của truyện cổ Ai Cập,… Tôi không biết trong những kỷ niệm cũ trong đời quân ngũ khi nhìn cái chết cận kề đã là một nguồn xúc tác của tác giả tuy rằng anh đã cảm tác hóa mối tình không đợi mà đến. “Ai nói lính yêu… lính không sầu nhớ, không biết nói yêu mỗi khi gần em ?”.

    Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc 4 phương tuyển tập thi văn học của tác giả Hoàng Thy, Trần Triệu Ðông, San Diego.

    Phụ chú thêm bài thơ “Anh Về” mà anh đã sáng tác vói bản dịch Anh ngữ của dịch giả Trần Bình Nhung:

    “Anh về ngõ vắng tiêu điều

    Như cơn gió thoảng chắt chiu nắng vàng

    Bước chân hờ hững đi hoang

    Niềm đau chất ngất ngỡ ngàng lối xưa

    Anh về gom những hạt mưa

    Thoa lên suối tóc cho vừa nhớ nhung

    Giọt sầu cô đọng tơ trùng

    Nẻo hồn tê tái nhẹ rung phím lòng

    Cho đời đôi chút chờ mong

    Mai sau thoát kiếp lưu vong lạc loài

    Ưu phiền dẫu có nguôi ngoai

    Em hong tóc xõa hình hài khói sương

    Dáng xưa lược dắt trâm cài

    Giờ trong ký ức mệt nhoài phấn hương

    Xa xôi một thủa miên trường

    Nắng chiều trải nhẹ vấn vương bạc lòng

    Anh về gom những chờ mong

    Kết thành một chuỗi long đong phận đời

    Tháng ngày lạc bước rong chơi

    Ngoài kia nắng nhẹ tơ trời mong manh”

    Hoàng Thy

    * Bản dịch Anh ngữ:

    ” Coming back home “

    Walking home on the deserted road

    Like a breeze on a golden afternoon,

    Your steps lead you in different directions

    With pain mounting high along the old path.

    You are back to collect the drops of rain

    To dampen her cascading hair and assuage your love.

    The drops of sorrow crystallize your thoughts and feelings

    Lightly strumming the cords of your heart.

    You hope that life will reserve a better lot

    Liberating the person from exile and loneliness

    Although the woes may be dimmed sometime

    Fanning her long hair, she is evanescent like dew.

    O silhouette of the past, with a comb in the hair,

    Now blurred in memory,

    painstakingly recorded as an old fragrance,

    So far away and imperceptible, how can you relive the moment

    Under the light dust of the afternoon sun.

    Back home, you collect the hopes

    Stringing them into a river of life uncertainties.

    For days and months you have wasted your time in

    little joys,

    Softly, the sun projects its fragile rays on the earth.

    Translated by Binh Nhung, 03/26/03

  • MINH ĐỨC,  THO

    THƠ CỦA MINH ĐỨC

    Tây Ninh Quê Mẹ

    Tây Ninh có núi Điện Bà

    Cao Đài Thánh Thất liên hoa cổng vàng

    Đồng quê, ruộng lúa ngút ngàn.

    Sông Vàm lượn khúc, nước tràn bờ mương

    Non cao đất rộng rẫy nương,

    Bắp ngô khoai sắn, rắng sương hai mùa.

    Ao sâu nước chảy cá đua,

    Sản phẩm cung cấp chứa đầy tình quê.

    Bạt ngàn thương cảm sơn khê

    Còn non còn nước còn về Việt Nam

    Ngô Thiện Đức

    Tây Ninh Quê Mẹ

    Chiều nay ghé núi Điện Bà

    Đường lên dốc núi xa xa chân trời

    Thắp hương khấn niệm khắp nơi,

    Tâm tư lắng đọng dâng lời cầu xin

    Cầu xin đất nước yên bình

    Việt Nam quê mẹ bình minh vĩnh hiền

    Tây Ninh đất tổ linh thiêng

    Ngàn năm quê mẹ mọi miền đẹp xinh.

    Ngô Thiện Đức

    Quê Nhà Tây Ninh

    Tây Ninh xin ghé Trảng Bàng

    Quê hương dịu mát ghé sang thánh đường

    Tha La xóm đạo tình thương

    Bánh canh bánh tráng vấn vương quê nhà

    Bến Cầu, Bàu Gõ, Long Hoa

    Gò Dầu Trảng Sụp kế là Cẩm Giang

    Hữu tình non nước quê làng

    Bình minh tỏa rạng, quan san yên bình

    Ngô Thiện Đức

    Chúc Mừng Bách Niên Khai Đạo Cao Đài

    Cao Đài đại hội bách niên khai

    Tín hữu qui về thánh thất đài

    Kính chúc thành công viên mãn hội

    Vui mừng đại lễ mở ngày mai

    Tín đồ tham dự càng đông đảo

    Chức Sắc lăn xăn áo trắng dài

    Phật Lão Nho đồng qui Giáo Pháp

    Cao Đài đại đạo mở tương lai.

    Ngô Thiện Đức

    Tôi Yêu Quê Nghèo

    Tôi yêu nước Việt miền Nam

    Yêu con sông Cửu yêu làng đồng quê

    Yêu quê ngàn dặm sơn khê

    Cầu tre lắc lẻo đi về miền Tây

    Nhà tranh vách đất chứa đầy tình yêu

    Tôi yêu nắng hạ hiu hiu,

    Mưa giông bảo tố không xiêu miệt vườn

    Quê nghèo khổ cực tôi thương

    Nắng mưa gió thổi mùi hương tràn đầy

    Người dân lam lũ tháng ngày

    Sớm trưa vất vả  cấy cày ruộng nương

    Quê tôi tình tự bốn phương

    Tôi yêu nước Việt quê hương mẹ hiền!

    Ngô Thiện Đức       

    Mẹ Thiêng Liêng

    Mẹ là biển cả thiêng liêng

    Như giòng sữa ngọt mẹ hiền từ tâm

    Bao năm khổ cực âm thầm

    Như gương từ mẫu Quan Âm tình tràn

    Cho con hạnh phúc bình an

    Mẹ là hùng vĩ kỳ quan muôn đời

    Nay con dâng mẹ đôi lời

    Thơ này kính tặng “Mẹ tôi!” nhân từ ,…

    Ngô Thiện Đức

    Nhớ Mẹ

    Mẹ ơi ! nhớ mẹ hoàng hôn

    Suốt đời vất vả chìu chồng nuôi con. 

    Công ơn dưỡng dục tựa non,

    Chín tháng mang nặng lại còn đẻ đau.

    Mẹ mang thai lớn thật mau,

    Sinh con, nuôi dưỡng mai sau giúp đời.

    Con nay tuy đã thành người,

    Bao năm con chỉ như thời trẻ thơ.

    Mẹ như hình ảnh tôn thờ

    Mẹ lo ăn mặc như thuở lên mười.

    Tình mẫu tử cao bằng trời,

    Công ơn cao cả suốt đời chẳng quên.

    Đêm Đêm khấn nguyện bề trên

    Cầu cho cha Mẹ sống đời với con

    Để con đền đáp công ơn

    Sinh thành dưởng dục non sơn cao này

    Mẹ già như chuối chín cây

    Gió lay mẹ rụng con rày mồ côi

    Mồ côi vắng mẹ sinh thời

    Đêm Đêm nhớ Mẹ phận đời nhiêu khê

    Nuôi con vất vả trăm bề

    Tình cha nghĩa mẹ hương quê ngày nào

    Vĩnh hằng một cõi trên cao

    Âm dương cách trở xa nhau mi trào

    Vũ trụ có một vì sao

    Mẹ hiền từ mẫu như sao sáng ngời

    Ca dao đồng ấu nhớ lời

    Sách xưa huấn dụ cả đời nhớ ơn

    “Công Cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ Mẹ kính Cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là Đạo con.”

    Ngô Thiện Đức

    Bài thơ Song Thất Lục Bát, Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Đại Đạo Thanh Niên Hội – Cao Đài. Từ năm 1965 to 2025 và nhân dịp Đại Hội Thanh Thiếu Niên Cao Đài Thế Giới lần thứ XI tổ chức tại San Jose vào dịp July 4, 2025

    Hướng Đạo Thẳng Tiến

    Từ khắp nơi về châm lửa trại

    Sói trưởng Thẳng Tiến bên nhau đây

    Vui Khúc ca hát tình đầy

    Hợp đoàn cùng nhau chung tay xây lều

    Trời mây rừng suối chốn mỹ miều

    Powell tổ đạo sống thiên nhiên

    Bên nhau từ khắp mọi miền

    Gian nan khắc phục ưu phiền có nhau

    Hội doàn sinh hoạt mãi bền lâu

    Đoàn kết một lòng ơn nghĩa sâu

    Kỷ cương học hỏi ban đầu

    Thanh niên tráng trưởng tạo bầu tình thân

    Học đời hướng đạo điều giúp ích

    Cộng dồng xã hội ta dang tay

    Nguyện lời tâm niệm từ nay

    Chía chung lý tưởng ngày mai giúp đời

    Nắng hè rạng rỡ tỏa muôn nơi

    Liên tâm bách hợp chung tấm lòng

    Quyết chí vững bên núi sông

    Quyết chiến ta giống dân Lạc Hồng

    Khúc “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”

    Phù Đổng thánh hiền giữ non sông

    Bạch Đằng sông nước tô hồng

    Sử Nam sách Bắc chung lòng đắp xây

    Hưng Đạo minh vương vinh năm tháng

    Sử xưa ghi phanh thây quân thù

    Hồn tử sĩ vang ù ù…

    Thiên hùng ca ngàn thu ngạo nghễ !

    Ngô Thiện Đức

  • HUY ANH,  THO

    THƠ: LỜI RU CỦA MẸ

    Huy Anh

    Ngày 4 tháng 5, 2025, Huy Anh tham dự tiệc Mother’s Day của ca sĩ Tuấn Đạt và một số ca sĩ khác tổ chức với chủ đề “Lời Ru Của Mẹ“. Gần đây, khi giúp lay-out Tập San Nhân Văn Nghệ Thuật số 1, Huy Anh được đọc bài ĂN NỬA TRÁI SIM của nhà văn Bạch Phụng. Bài viết này có chủ đề khác, nhưng có nhắc nhiều về “Lời Ru Của Mẹ”.  Cảm hứng với đề tài này, Huy Anh đã sáng tác bài thơ trên.

    Lời ru mẹ hát ngày nào

    Nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng ta

    Như dòng sông, suối đi qua

    Lời ru của mẹ đưa ta vào đời

    Bao nhiêu ngày tháng qua rồi

    Lời trong tâm thức trao dồi trí con

    Nhận, ghi tình nghĩa sắt son

    Tri ân lời mẹ ru con ngày nào

  • HUY ANH,  Khánh Lan,  MINH ĐỨC,  TALK SHOW,  VIẾT VỀ CHA,  Viết Về MẸ

    Chương trình talkshow của Nhân Văn Nghệ Thuật trên đài VNA, băng tầng 57.3

    Tháng 5 và tháng 6 là hai tháng kỷ niệm ngày lễ Mother’s day và Father’s day, ba anh em chúng tôi, Minh Đức, Huy Anh và Khánh Lan nhân cơ hội này đã có buổi mạn đàm về chữ HIẾU TRONG VĂN CHƯƠNG trên đài VNA. Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em vào xem:

    PHẦN I:

    PHẦN II:

    PHẦN III:

    Khánh Lan kính mời

  • Âm nhạc,  Phạm Hồng Thái,  Phạm Phan Lang,  VIẾT VỀ CHA

    NHỚ CHA MÙA LỄ PHỤ THÂN – Ca khúc Thái Phạm phổ thơ PhamPhanLang

    Nhân ngày Lễ Phụ Thân, trong niềm thương nhớ khôn nguôi dành cho người Cha kính yêu đã khuất, PLang xin được chia sẻ với quý anh chị một bài thơ nhỏ – “Nhớ Cha Ngày Lễ Phụ Thân” – như một lời thì thầm từ trái tim của người con xa xứ.

    Hai mươi mốt năm trôi qua kể từ ngày Cha ra đi nơi quê nhà Việt Nam, nhưng ký ức về những ngày cuối cùng được trở về bên Cha – đút từng thìa cháo, xoa bóp đôi chân đau buốt, đẩy chiếc xe lăn quanh sân nhỏ – vẫn còn vẹn nguyên trong tim. Những ánh mắt dịu dàng của Cha, những cái nhìn lặng lẽ ngày ấy… đã hóa thành thơ.

    Bài thơ này được nhạc sĩ Thái Phạm phổ nhạc thành ca khúc cùng tên, và qua giọng ca tha thiết, nghẹn ngào của Đông Nguyễn – từng câu, từng chữ như được cất lên từ chính tận cùng sâu thẳm của nỗi nhớ, làm PL không tránh được giọt lệ rưng rưng.  Xin chân thành cám ơn nhạc sĩ Thái Phạm và ca sĩ Đông Nguyễn.

    NHỚ CHA NGÀY LỄ PHỤ THÂN             MISSING FATHER ON FATHER’S DAY

    Cha ơi, con gọi nghẹn lời,                         Oh Father, I call, choked with pain,
    Mùa Cha trở lại, một trời nhớ thương.                         As Father’s Day nears, I miss you again.
    Bao năm biệt xứ dặm trường                          Long years away, I still remain
    Ngày đi đòi đoạn quê hương xa dần.                        A child of a land I may not regain…

    Nhớ xưa Hè chớm vào sân,                         That summer, just as flowers came,
    Hay tin Cha yếu, đôi chân rã rời.                            I heard you grew weak, your legs tired and lame.
    Con xin gác lại việc đời,                             I laid aside rank, job, and name,
    Trở về quê mẹ sớm mơi phụng thờ.                       Returned to your side, no thought of acclaim.

    Ngày ngày đút cháo nâng cơ,                         Each day I fed you, eased your frame,
    Xoa chân run rẩy, đẩy xe quanh vườn.                        Massaged your frail legs, wheeled you through the lane.
    Cha nhìn con mắt lệ tuôn,                            You looked at me with eyes that rained—
    Ánh nhìn chan chứa tình thương thuở nào.                      Still filled with the love that through childhood remained.

    Thấy Cha đỡ bệnh mấy phần,                           When you seemed better, less in pain,
    Con đành tạm biệt cánh bằng bay cao.                        I left with regret to fly home again.
    Về chưa xong việc là bao,                            Not long had I tried to maintain
    Tin Cha hấp hối như dao xé lòng.                           My scattered tasks—then grief sliced like a chain.

    Vội vàng trở lại đêm đông,                            I rushed through the cold night and rain,
    Vượt bao cách trở, cầu mong ơn Trời.                        Through borders and skies, I whispered your name.
    Kịp bên Cha phút cuối đời,                              One last breath you spent just the same—
    Nhìn con lần cuối, Cha rồi… lặng im.                            You saw me… then silence. No word ever came.

    Cha đi… trời đất lặng chìm,                             You left… and the earth lost its frame,
    Lệ buồn nhỏ giọt đẫm tim não nề.                           My heart drenched in sorrow no words could tame.
    Bao năm bóng ngã trưa hè,                             Years fall like sunlight, just the same,
    Lòng con vẫn thấy Cha kề đâu đây.                        Yet I still feel you, beside me, so near.

    Dẫu Cha khuất nẻo mây bay,                          Though clouds may hide you from me here,
    Ơn Cha như biển đong đầy tim con.                         Your love fills my heart like oceans sincere.
    Mỗi mùa Lễ Phụ Thân còn,                             Each time Father’s Day reappears,
    Con dâng giọt lệ, thay tròn chữ yêu…                          I shed one more tear, for a love most dear.

    phamphanlang, 1/6/2025

  • Khánh Lan,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    CHƯƠNG TRÌNH HÀNG TUẦN TRÊN ĐÀI 57.3

    Chương trình NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian phụ trách và thực hiện, phát hành mỗi tuần vào ngày Thứ Tư từ 5:30 tối đến 6:30 tối. Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em vào xem. Chương trình hôm nay với đề tài Ngôn Ngữ Việt.

    PHẦN 1

    Xin bấm vào 2 links dưới để xem phần 2 và phần 3.

    PHẦN 2

    https://youtu.be/m6X9-gN0e_0?si=1699qrM0NX1e6MYC

    https://youtu.be/Q8VA6mTGbZc?si=QLQkyLHYK-b24VcS

    PHẦN 3

    https://www.youtube.com/watch?v=GszD5LtzdW4&pp=ygUTbmhhbiB2YW4gbmdoZSB0aHVhdNIHCQmwCQGHKiGM7w%3D%3D

    Khánh Lan kính mời.

  • DU LỊCH,  Khánh Lan

    DU LỊCH ALASKA

    Khánh Lan

    Alaska giáp với Canada ở phía Đông, giáp Bắc Băng Dương ở phía Bắc, với Thái Bình Dương ở phía Tây và phía Nam, đối diện với đất liền Nga qua eo biển Bering. Alaska có diện tích 1,7 triệu km2 và là nơi chiếm gần một nửa lượng sông băng trên thế giới. Người bản địa chiếm giữ vùng đất nay là Alaska bắt đầu từ hàng nghìn năm trước và từ thế kỷ 18 trở đi, các thế lực Châu Âu đã có ý định việc khai thác lãnh thổ này.

    Người Nga bắt đầu định cư ở Alaska vào năm 1784, dân số chưa đến 1.000 người. Khoảng thế kỷ XIX, lãnh thổ Alaska của Nga là một trung tâm thương mại quốc tế. Tại thủ phủ của Alaska, Novo-Arkhangelsk (ngày nay là Sitka), giới thương nhân đã buôn bán vải vóc, trà Trung Quốc và đá lạnh. Ở đây cũng phát triển ngành đóng tàu và có rất nhiều nhà máy, hay các mỏ khoáng sản, đặc biệt là vàng.

    Sau cuộc chiến tranh Crimea từ năm 1853-1856, Nga bất ngờ quyết định bán lại Alaska cho Hoa Kỳ bởi khi đó, Hoa Kỳ và Nga là đồng minh, nên Nga tìm đến người Mỹ để thảo luận thương vụ Alaska. Nga đã cử một nhóm khảo sát đến Alaska để định giá tài nguyên thiên nhiên ở đây. Được định giá khoảng 10 triệu USD, song hầu hết các nhà khảo sát cho rằng Nga không nên bán Alaska, thay vào đó cần đặt vấn đề cải cách để phát triển. Bỏ ngoài tai lời khuyên của nhóm khảo sát, Sa hoàng Alexander II ra lệnh chuyển bản đánh giá đến chính phủ Mỹ. Sau các cuộc thảo luận, hai bên thương vụ mua bán hòn đảo ở mức 7,2 triệu USD. Tuy nhiên, các hoạt động thương thảo bị gián đoạn vài năm do nội chiến ở Mỹ.

    Lễ ký hiệp ước chuyển nhượng vùng lãnh thổ Alaska cho Hoa Kỳ ngày 30 tháng 3 năm 1867. Từ trái sang: Robert S. Chew, Ngoại trưởng Mỹ William H. Seward, William Hunter, Mr. Bodisco, Công sứ Nga de Stoeckl, Charles Sumner, và Fredrick W. Seward (Ảnh: Alaska Library).

    Đến ngày 30 tháng 3, 1867, tại Washington DC, Ngoại trưởng Mỹ khi đó là William H. Seward và Công sứ Nga là Edouard de Stoeckl đã ký Hiệp ước bán Alaska cho Mỹ. Theo đó, Nga đồng ý bán vùng đất rộng xấp xỉ 1,7 triệu km2 cho Mỹ với giá 7,2 triệu USD. Alaska trở thành tiểu bang thứ 49 của Hoa Kỳ, một vùng đất lạnh lẽo, giàu tài nguyên đã “đổi chủ” sau một thương vụ kỳ lạ cách đây hơn 150 năm. Đến tháng 4, 1867, Thượng viện Mỹ phê chuẩn thương vụ và Tổng thống Mỹ Andrew Johnson ký thông qua và Nga chính thức bàn giao Alaska cho Mỹ vào tháng 10, 1867. Việc chuyển giao đất đai diễn ra tại Novoarkhangelsk rất cảm động, binh sĩ hai bên đứng thành hàng bên cạnh cột cờ, lá cờ Nga bắt đầu hạ xuống. Sau đó, người Mỹ bắt đầu tiếp nhận các tòa nhà ở thị trấn, và đặt lại tên là Sitka. Khoảng một năm sau đó, vài trăm người Nga không nhận quốc tịch Mỹ đã được di chuyển tới các tàu buôn để trở về đất liền của Nga, chấm hết cho sự hiện diện của Nga ở Bắc Mỹ.

    Trong gần 30 năm đầu sau khi mua lại Alaska, Mỹ gần như không ngó ngàng đến vùng đất này. Alaska được điều hành thông qua các quy tắc quân sự, hải quân và tài chính. Năm 1884, Mỹ lập một chính quyền dân sự ở Alaska, đồng thời ban hành luật khai thác tài nguyên. Khu vực này trải qua một vài thay đổi về mặt hành chính trước khi được tổ chức thành một lãnh thổ vào ngày 11 tháng 5 năm 1912. Ngày 3 tháng 1 năm 1959, Alaska được công nhận là bang thứ 49 của Hoa Kỳ. Ngày nay, Alaska là một trong những tiểu bang giàu nhất của Mỹ với GDP hàng chục tỷ USD nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào như dầu mỏ, vàng và cá, cùng vùng đất hoang sơ rộng lớn. Ngoài lợi nhuận khổng lồ từ nguồn tài nguyên thiên nhiên, vùng đất này còn tạo vành đai bảo vệ Mỹ khỏi sự tấn công của các nước phương Tây.

    Lần đầu chúng tôi đến Alaska vào mùa hè của 30 năm trước (1995), Alaska là tiểu bang đầu tiên chúng tôi đi du lịch bằng đường biển và đây cũng là du thuyền đầu tiên chúng tôi đi. Du thuyền Majestic khởi hành từ Vancouver British Columbia qua 4  nơi của Alaska là Ketechikan, Skagway, Juneau, Hubbard Glacier và kết thúc tại port Seward, Alaska. Du thuyền Majestic đến từ Âu Châu vừa đẹp, sang trọng, lịch sự và giá cả phải chăng, nhưng rất tiếc là chỉ vài năm sau du thuyền này đã bị phá sản và hoàn toàn biến mất trên thị trường.

    30 năm sau (2025) chúng tôi trở lại Alaska lần thứ hai vào mùa đông với du thuyền Celibrity Sumit. Du thuyền này khởi hành từ Seward, Alaska và kết thúc ở port Vancouver British Columbia, đi qua 5 địa điểm là Ketechikan, Skagway, Juneau, Systrait Point Alaska và Hubbard Glacier. Lần này, chúng tôi bay từ phi trường Los Angeles đến phi trường Anchorage International, Alaska.

    Sau đó, chúng tôi mua vé xe lửa “The Alaska Railroad” đi đến thành phố Seward, Alaska, nơi mà du thuyền Celibrity Sumit sẽ khởi hành cho cuộc viễn du trên vịnh Alaska tuyệt diệu.

    ALASKA RAILROAD:

    Hơn 100 năm qua, những con đường sắt tại Alaska (Alaska railroad) là phương tiện để kết nối các thành phố lại với nhau, vận chuyển hàng hóa thiết yếu đến khắp nơi trên tiểu bang như một phần quan trọng trong sự phát triển của Alaska. Không những thế, Alaska railroad còn cung cấp dịch vụ đưa các cư dân và du khách đến các khu vực dọc theo đường rầy xe lửa, đồng thời mang đến những trải nghiệm độc đáo cho khách hàng như bạn có thể ngồi trong các toa xe có nóc làm bằng chất nhựa trong suốt, để tận hưởng những giây phút thoải mái và chiêm ngưỡng quang cảnh thiên nhiên đẹp nhất của Alaska. 

    Thật vậy, không gì có thể diễn tả toàn vẹn được vẻ đẹp của thiên nhiên khi bạn  chọn du lịch ngắm cảnh bằng xe lửa trên Alaska railroad. Tuyến đường 500 dặm đường rầy trải dài từ Anchorage đến Seward. kéo dài 4.5 giờ đồng hồ với tốc độ 40 km/giờ  đã cống hiến hành khách những phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Những đỉnh núi cao nhất ở Bắc Mỹ, Denali kỳ diệu và những rặng núi phủ tuyết trắng xóa, nối tiếp nhau, trùng trùng điệp điệp tưởng chừng như bất tận.

    Trên sườn đồi những rặng thông xanh vươn mình trong nắng ấm, dưới thung lũng sâu, những cành cây khô nằm phơi thây trên những vũng bùn màu xám xịt. ..nhưng lạ lùng thay, chính sự kết hợp giữa cái chết và sự sống của cây cỏ lại tạo ra một bức tranh tuyệt đẹp trước mắt mà bạn không thể ngờ được…

    những rặng thông xanh vươn mình trong nắng ấm

    Chúng tôi như chìm đắm trong phong cảnh hữu tình, 4.5 giờ đồng hồ thoảng qua nhanh như một cơn gió nhẹ đưa chúng tôi đến thành phố Seward lúc 11:00 giờ sáng. Từ bến xe lửa đến Port Seward, Alaska mất khoảng 10 phút đường bộ. Tuy nhiên, Celibrity Sumit cũng gởi xe buýt ra bến xe lửa để đón khách lên tàu. Celibrity Sumit khởi hành đi Juneau lúc 8 giờ tối và là thành phố đầu tiên du thuyền dừng lại.

    JUNEAU 

    Nằm dưới chân núi Juneau ở Alaska Panhandle, nơi phù hợp với nguồn nước Ruby của vùng đất liền Gastineau Channel. Juneau vốn thừa hưởng một số vịnh hẹp tuyệt đẹp và vì được bao quanh bởi sông nước với những ngọn núi cao chót vót, Juneau đã mở ra một con đường nối liền nơi này với thế giới bên ngoài. Ngày nay, các thị trấn được phát triển với quang cảnh đặc biệt như  ở Phi Châu.

    Juneau là một trong những nơi mà bạn có thể  thám hiểm để thử nghiệm về sự  hùng vĩ của đỉnh núi Robert đến Mendenhall Glacier và các băng đá rất độc đáo tại Juneau.

    SKAGWAY

    Skagway ngày nay với những con phố có vỉa hè bằng gỗ “buckboard” và các tòa nhà đã được phục hồi để chào đón du khách thì 100 năm trước, có đến 20,000 thợ đào mỏ chuyển đến sinh sống tại thị trấn nhỏ bé này, nhưng bởi sự khắc nghiệt của thời tiết khiến  chỉ còn khoảng 1000 người ở lại và lập nghiệp tại đây.

    Nếu chúng ta quay ngược dòng thời gian và sống lại cơn sốt vàng vào cuối thế kỷ 19, đó là quãng thời gian mà những người thuộc cơn sốt vàng Klondike bất chấp gian khổ để hy vọng đào được trúng kho vàng (Klondike to strike it Rick). Thật vậy, trong cơn sốt vàng Klondike, Skagway, Alaska tràn ngập những người đi tìm kiếm vàng, họ quyết tâm và sẵn sàng mạo hiểm  với hy vọng đào được mỏ vàng. 

    The White Pass và Yukon Route Railroad

    Những người tiên phong này bất chấp  mọi trở ngại, họ đã lên đường, vượt qua The White Pass và Yukon Route Railroad nguy hiểm. Bởi lúc bấy giờ, Skagway là vùng đất được  ví như viên ngọc quý tinh khiết ẩn mình giữa những ngọn núi cao chót vót nằm ở phần cực bắc. Đây cũng là một hành trình lý thú mà du khách ngày nay có cơ hội trải nghiệm trên tuyến đường sắt lịch sử White Pass và Yukon Route Railroad này.

    ICY STRAIT POINT HOONAH, ALASKA

    Icy Strait Point nằm gần thành phố Hoonah, đây khu định cư lớn nhất của người Huna da đỏ thuộc bộ lạc Tlingit ở Alaska. Hoonah có nghĩa là “nơi gió bắc không thổi“, là nơi mà người Huna Tlingit di dân đến sinh sống và lập nghiệp từ khi có sự xuất hiện của những tảng băng hà nhỏ trên biển gần nơi ở ban đầu của họ ở Vịnh Glacier. 

    Theo lời kể của người dân bản địa thì vùng biển này là nơi sinh sống của nhiều giống cá như cá voi lưng gù, cá voi sát thủ, cá heo Dall, hải cẩu, rái cá, cá bơn và năm loài cá hồi Thái Bình Dương. Vì vậy nếu bạn đi bộ dọc bờ biển, bạn sẽ không cảm thấy ngạc nhiên khi phát hiện ra một chú cá voi lưng gù hoặc một chị cá voi sát thủ đang bơi lội ngoài khơi. Tại đây bạn có cơ hội để thưởng thức những món hải sản tươi ngon với giá cả phải chăng như cá salmon và kinh crab cooktail.

    Vào những năm 1880, những người buôn bán lông thú đã đến Hoonah định cư, họ xây trường học, nhà thờ, cửa hàng buôn bán thực phẩm và  lông thú.

    Đến năm 1912, “ISP” của Eo biển đã xây nhà máy đóng hộp cá hồi lớn nhất ở Alaska, sản xuất tới 152,505 thùng trong một năm. Ngày nay, ISP là cảng du thuyền tư nhân duy nhất ở Alaska và hãng cá đóng hộp Huns Totem Corporation thuộc quyền sở hữu của 1350 người dân bản địa Alaska, mà nhiều người trong số ấy là tổ tiên của người Tlingit bản địa định cư ở đây.

    KETCHIKAN

    Ketchikan nằm gần mũi cực nam của vùng đất hẹp Alaska, nó trông giống như một chiếc khăn tay nhỏ bị kẹp giữa núi và biển. Người da đỏ Tlingit, Ketchikan  gọi nó là “Đôi cánh sấm sét của đại bàng” (Thundering Wings of an Eagle) và nó nhìn như đôi chân của con chim đại đang leo lên ngọn Deer  mountain cao 3000 foot nhìn ra thị trấn.

    “Đôi cánh sấm sét của đại bàng” (Thundering Wings of an Eagle)

    Toàn bộ trung tâm thành phố là khu vực di tích lịch sử quốc gia, là mối liên hệ của người dân bản địa với quá khứ văn hóa, Ketchikan cũng có bộ sưu tập cột mốc lớn nhất thế giới bởi Ketchikan nằm trong khu rừng mưa ôn đới trong khu rừng quốc gia Tongass.

    Ketchikan là một vùng đất hoang dã được tạo ra do đất bồi của dòng sông băng tuyết và được bao quanh bởi những ngọn núi phủ tuyết, thác nước. Những dòng suối của vùng đất này là nơi sinh sản của cá hồi biến Ketchikan thành một thị trấn đánh cá nổi tiếng trên thế giới. 

    Alaska vào tháng năm vẫn còn lạnh, nhưng lạ lùng thay công viên “Whale Park” lại rực rỡ với những cây hoa khoe sắc thắm bên cạnh những cành Japanese Mable đỏ rực như độ tiết thu.

    The Whale Park tại Ketchikan, Alaska

    Đẹp như mùa thu ở Japan

    HUBBARD GLACIER

    Khi du thuyền đến Hubbard Glacier thì đã 4 giờ chiều, khí hậu hôm ấy lạnh buốt và có mưa lất phất, nhưng trời mưa thì mặc trời mưa, tất cả mọi người ùa ra hai bên boong tàu như những đàn ong vỡ tổ. Trên tay của chúng tôi, người thì ống nhòm, kẻ thì máy ảnh, iPhone, miệng líu lo, tay chỉ  trỏ, không khí trở nên vui như ngày hội.

    Hubbard Glacier được đặt theo tên theo luật sư Gardiner Hubbard, dòng sông băng này mang một vẻ đẹp bao La với màu xanh phi thường mà từ xa trông như một tấm thảm màu xanh bằng đá dựng đứng, rất ngoạn mục. Hubbard Glacier là một sông băng nằm trong Công viên quốc gia và Khu bảo tồn Wrangell–St. Elias ở phía đông Alaska và Công viên quốc gia và Khu bảo tồn Kluane ở Yukon, Canada. Hubbard Glacier là sông băng thủy triều lớn nhất Bắc Mỹ. Nó dài 76 dặm, rộng 7 dặm và cao 600 feet ở mặt cuối (350 feet lộ ra trên mực nước và 250 feet bên dưới mực nước).

    Hubbard Glacier hay bất cứ một dòng sông băng tại Alaska đều là những kỳ quan thiên nhiên nằm trong vùng nước được bảo vệ. Hubbard Glacier nằm ở phía sau của Vịnh Yakutat và là một nhánh sông băng bắt đầu ở đỉnh cực đông trên sườn Núi Logan ở độ cao khoảng 5,600 nét. Trước khi trôi ra biển, Hubbard  Glacier được nối với sông băng Valerie ở phía tây qua các đợt dâng băng về phía trước đã thúc đẩy dòng chảy băng và cuối cùng sẽ chặn Vịnh hẹp Russell từ vùng nước của Vịnh Disenchantment.

    Tour Hubbard Glacier: Bạn có thể book tour để lên trên đỉnh của sông băng bằng máy bay trực thăng, giá khá cao nhưng bạn sẽ nhìn thấy tận mắt những tảng đá màu xanh biếc, những hồ nước đông đá mà bạn có thể đứng lên trên và những dẫy núi phũ đầy tuyết bao quanh. Đó là một cuộc mạo hiểm đầy lý thú.

    Hubbard Glacier đã tiếp tục phát triển trong khoảng một thế kỷ. Vào tháng 5 năm 1986, Hubbard Glacier dâng cao về phía trước, chặn lối ra của Vịnh hẹp Russell và tạo ra “Hồ Russell” và mùa hè năm đó, hồ đầy nước với mực nước tăng 25 mét và sự giảm độ mặn đã đe dọa sinh vật biển ở vùng này. Theo các nhà chuyên gia tiên đoán phải mất khoảng 400 năm để một khối băng đi hết chiều dài của sông băng, nghĩa là lớp băng dưới chân sông băng có tuổi đời khoảng 400 năm.

    Sông băng thường xuyên làm vỡ những tảng băng trôi có kích thước bằng một tòa nhà mười tầng. Nơi sông băng gặp vịnh, phần lớn băng nằm dưới mực nước và những tảng băng mới hình thành có thể bắn lên khá đột ngột, vì vậy các con tàu phải giữ khoảng cách với mép sông băng ở Vịnh Disenchantment.

    Cuộc vui nào rồi cũng tàn và chuyến du lịch nào rồi cũng phải kết thúc. Khi du thuyền Celibrity Sumit kết thúc tai cảng Vancouver, British Columbia đồng hồ chỉ 8 giờ sáng. Lấy hành lý xong, chúng tôi đón taxi ra phi trường Vancouver Internationa, từ bến tàu đến phi trường là 210 nautical miles.

    Chúng tôi về lại California lúc 4:30 chiều, chấm dứt một chuyến du lịch đầy lý thú.

    Khánh Lan, California 2025

    Sent from my iPhone


  • Khánh Lan,  NGÀY CỦA MẸ, MOTHER'S DAY

    LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN NHỚ MẸ QUA THI CA VIỆT NAM

    Năm nay, trăm hoa đua nở qua thi ca với các văn thi sĩ của NVNT & TTG nhân ngày ngày 11 tháng 5, 2025, ngày lễ mừng tuổi Mẹ, những người Mẹ luôn hy sinh cả cuộc đời cho các con. Thế nên đã mấy hôm nay, Khánh Lan nhận được một số bài hát cũng như những bài thơ viết về Mẹ của các anh chị trong hội.

    Ngày đầu tháng 5 vừa qua, Khánh Lan có dự lớp ChatGPT/AI của anh Phạm Hồng Thái, và để xem AI có thông minh thật không, Khánh Lan đã thử tài vận bằng cách nhờ Thông Minh Trí Tuệ AI sáng tác một bài thơ về Mẹ cho mình nhân ngày lễ Mẹ. Và dưới đây là bài thơ Lòng Mẹ do Thông Minh Trí Tuệ AI sản xuất (với chút sửa chữa vài chữ của Khánh Lan & Phạm Thái cho hay hơn):

    Mẹ là ánh sáng giữa đêm sâu

    Dìu con qua những lúc u sầu

    Tấm lưng oằn xuống vì giông bão

    Chở che con giữa cuộc bể dâu.

    Mẹ là tia nắn ấm ban mai

    Sưởi ấm hóa tan những u hoài

    Cả đời mẹ đã luôn tận tụy

    Dệt cho con giất mộng tương lai

    (Khánh Lan & Phạm Thái & Trí Tuệ Thông Minh AI)

    Bài thơ “Mẹ Ru Con” của Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga do CNS Lâm Dung phổ nhạc với giọng ca ngọt ngào, êm ái, nhẹ nhàng như lời ru của Mẹ. X;in bấm vào link phía dưới để nghe.

    Mẹ Ru Con – Lê Nguyễn Nga – Lâm Dung

    Mấy vần thơ lục bát sau đây của nhà thơ Việt Hải cho ta thấy rõ được những điều nói trên:

     “Nếu mai mẹ sẽ qua đời

    Con xin xuống tóc giữ lời quy y

    Mẹ tôi trọn kiếp từ bi

    Con quỳ lạy mẹ ra đi yên lòng”.

         (Việt Hải – Trong bài “Nhớ mẹ”)

    Thơ viết về Mẹ, Nhà Văn Thi Sĩ Việt Hải đã viết rất nhiều những bài thơ về Mẹ và anh đã chuyển dịch một số bài thơ ra anh ngữ và pháp ngữ:

    Mẹ đã ra đi

    Mẹ ơi, mẹ đã đi rồi, mẹ không còn nữa,

    Và con sẽ không bao giờ quên mẹ,

    Vì những kỷ niệm quý báu về mối liên kết giữa mẹ con mình,

    Mẹ sẽ không bao giờ rời xa con.

    Tình thương của chúng ta đã vượt qua những thăng trầm

    Và đã giúp chúng ta trong suốt kiếp đời,

    Và tình yêu đó sẽ tiếp thêm sức mạnh vững cho con

    Để vượt qua nỗi mất mát này qua mỗi ngày.

    Trong tâm hồn và trái tim con,

    Mẹ ơi, mẹ sẽ mãi mãi ở bên con,

    Vì con là một phần trong tim của mẹ,

    Và mẹ là một phần của cuộc đời con!

    Maman, tu es partie.

    Maman, tu es partie, tu n’es plus avec moi.

    Et je ne t’oublierai jamais.

    Pour les précieux souvenirs de notre lien,

    Tu ne me quitteras jamais.

    Notre amour a traversé les hauts et les bas.

    Et nous a soutenus tout au long de la vie.

    Et cet amour me donnera une force inébranlable.

    Pour surmonter cette perte chaque jour.

    Dans mon cœur et mon âme,

    Maman, tu seras toujours là, avec moi.

    Car je fais partie de ton cœur.

    Et tu fais partie de toute ma vie !

    Mother,  you’re gone

    Mom, you’re gone, you’re no longer with me,

    And I’ll never forget you,

    For the precious memories of our bond,

    You’ll never leave me.

    Our love has endured the ups and downs

    And has sustained us through life,

    And that love will give me a rigid strength

    To overcome this loss each day.

    In my heart and soul,

    Mom, you’ll always be around with me,

    For I’m a part of your heart,

    And you’re a part of my all life!

    Ngày 4 tháng 5, 2025, Thi Sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành tham dự tiệc Mother’s Day của ca sĩ Tuấn Đạt và một số ca sĩ khác tổ chức với chủ đề “Lời Ru Của Mẹ“. Và gần đây, khi giúp lay-out Tập San Nhân Văn Nghệ Thuật số 1, Huy Anh được đọc bài ĂN NỬA TRÁI SIM của nhà văn Bạch Phụng. Bài viết này có chủ đề khác, nhưng có nhắc nhiều về “Lời Ru Của Mẹ”.  Cảm hứng với đề tài này, Huy Anh đã sáng tác bài thơ trên.

    Lời ru mẹ hát ngày nào

    Nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng ta

    Như dòng sông, suối đi qua

    Lời ru của mẹ đưa ta vào đời

    Bao nhiêu ngày tháng qua rồi

    Lời trong tâm thức trao dồi trí con

    Nhận, ghi tình nghĩa sắt son

    Tri ân lời mẹ ru con ngày nào

    Huy Anh

    Hai thi sĩ Kiều My và Thanh Ngọc cũng đã viết và sáng tác thơ về Mẹ và đã được đăng trên trang Website của NVNT & TTG gồm: Mẹ Ơi và Vu Lan Mất Mẹ

    Lá Thư Gửi Mẹ Cõi Thiên Thu do Ký Giả Nhà Văn Vương Trùng Dương gởi, ông viết: “Trong cõi nhân gian, không có trái tim nào vĩ đại như trái tim người mẹ”

    Vào Ngày Hiền Mẫu (Mother’s Day) theo truyền thống của Hoa Kỳ vào tuần lễ thứ hai của tháng Năm, với người Việt sống tha hương trên mảnh đất nầy thường chia sẻ, bài viết để tưởng nhớ, vinh danh công ơn sinh thành, dưỡng dục của Mẹ.

    Thế hệ chúng tôi nay ở ngưỡng cửa tám mươi trở lên, sống trong trong thời chiến và năm tháng lao tù, không được gần gũi bên Mẹ rồi xa Mẹ khi tị nạn xứ người nay đã mất Mẹ, đó là nỗi bát hạnh nhất trong cuộc đời!

    Trong bài viết trước đây của tôi: Viết Về Mẹ Trong Ngày Hiền Mẫu với những dòng chia sẻ:

    “Từ nghìn xưa cho tới nay, từ Đông sang Tây… hình bóng người mẹ cao quý, thiêng liêng, sự hy sinh vô bờ bến trong tình mẫu tử, với trái tim đầy nhân ái, cao cả đã in sâu trong lòng người con từ lúc được sinh ra cho đến khi lìa đời. Hình bóng đó đã được thể hiện qua thơ, văn, nhạc và trong nhiều lãnh vực khác… không thể nào liệt kê hết trong bao nhiêu tác phẩm của nhân loại…”. Và trích dẫn nhiều ca khúc trong thời chinh chiến của các nhạc sĩ như Lòng Mẹ của Y Vân, Thư Về Thăm Mẹ của Mạnh Phát, Lời Ru Của Mẹ của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Thương Về Quê Mẹ của Trần Công Tấn, Lời Mẹ Khuyên của Thùy Linh, Mùa Xuân Của Mẹ của Trịnh Lâm Ngân, Giữa Lòng Đất Mẹ của Châu Kỳ, Mẹ Ơi của Trần Văn Lý, Xin Mẹ Thương Con của Giao Tiên & Đỗ Yến, Xuân Về Với Mẹ của Nhật Ngân, Lối Về Đất Mẹ của Duy Khánh… Trường Ca Mẹ Việt Nam của Phạm Duy gồm 4 phần: Đất Mẹ – Núi Mẹ – Sông Mẹ – Biển Mẹ, Bà Mẹ Gio Linh…

    Với bài thơ Lá Thư Gởi Mẹ của Thái Thủy viết thay cho những người lính chiến xa nhà:

    “Mẹ ơi! thôi đừng khóc nữa

    Cho lòng già nặng sầu thương.

    Con đi say tình viễn xứ

    Đâu có quên tình cố hương…

    Mẹ ơi thôi đừng khóc nữa

    Cho lòng già nặng sầu thương

    Con đi say tình viễn xứ

    Đâu có quên tình cố hương”

    Nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ nhạc bài thơ nầy cùng tên, là một trong những ca khúc viết về Mẹ, tôi rất tâm đắc.

    Bây giờ thì nơi cõi thiên thu không biết Mẹ có khóc, và nơi viễn xứ không quên tình cố hương vì nơi đó với hình bóng của Mẹ.

    Thế hệ chúng tôi đã “sinh nhầm thế kỷ” nên đã lấy đi nhiều giọt nước mắt của Mẹ.

    Trong hồi ký Bà Mẹ Quê của nhà văn Tô Văn Cấp, anh phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, gan dạ vào sinh ra tử, khi viết về Mẹ:

    “Sáng ngày N tháng 6/1966, một xe GMC chạy vào xóm và từ từ dừng lại khiến bu tôi hốt hoảng khuỵu xuống, nhưng người lính TQLC tìm nhà bà Châu, bà hàng xóm và cũng là người cùng quê, để báo tin con trai bà là thằng Mão đã tử trận! Bà Châu xỉu, bu tôi hoảng hốt lo lắng muốn xỉu theo, vì Mão và tôi là bạn và cùng tình nguyện vào TQLC. Mão Tiểu Đoàn 1, tôi Tiểu Đoàn 2, cả hai vừa đụng trận tại ngã ba sông Định, thuộc Bích La Thôn Quảng Trị, nó tử thương, tôi bị đạn xuyên khuỷu tay, thấy không sao nên tôi đã nói với hậu trạm là đừng báo tin về cho gia đình biết. Khốn thay, hậu cứ ở Thủ Đức cứ theo đúng thủ tục mà báo tin nên hai ngày sau lại một xe nhà binh đậu trước cửa hỏi nhà bà Tiệp, tên anh cả của chúng tôi, người báo tin chưa kịp nói gì thì bu tôi không còn biết gì nữa!

    Vì bị thương nhẹ nên tôi xin xuất viện ngay để đi phép. Bu tôi đang nằm trên giường bệnh, thấy tôi về, cụ ngồi bật dậy ngơ ngác nhìn con, hai tay vuốt mặt con, nắn vai, nắm tay con lắc lắc như muốn biết đây là thực hay chiêm bao? Bu tôi không nói gì mà chỉ khóc, có lẽ cụ khóc vì lo âu, cụ khóc vì hạnh phúc còn cầm được tay con vừa từ mặt trận trở về, những bà mẹ của lính chiến thấy mặt con lúc nào thì hạnh phúc lúc đó…

    Cuối cùng thì ngày 19/6/1969, trên con kinh Cán Gáo thuộc tỉnh Chương Thiện, những tiếng nổ đã loại tôi ra khỏi vòng chiến, nhưng may mắn hơn Chiêu, Sơn, Tuấn, Thanh (con cháu trong họ hàng cũng trong TQLC đã tử trận)…, tôi còn nặng nợ, chưa đi được nên khi tỉnh dậy, thấy mình nằm trên giường bệnh bệnh viện, toàn thân những dây cùng nhợ! Mờ mờ nhìn qua lớp băng quấn đầu, tôi nhận ra bu tôi đang lấy cạy vết máu, vết sình đã khô trên mặt tôi, tôi mấp máy đôi môi, gọi qua hơi thở của bình dưỡng khí:

    – “Mẹ”.

    Tiếng “Mẹ” dễ gọi dễ thương là thế nên tôi quen với chữ “Mẹ” từ đó.

    Tôị bị trọng thương, bị loại khỏi vòng chiến thì cũng là lúc mẹ tôi bớt được một phần lo âu, thấy tôi lê lết với đôi nạng gỗ kẹp nách thì mẹ lại mỉm cười

    – “Con cứ như thế này thì mẹ đỡ lo”.

    Khí giới của đàn bà là những giọt nước mắt.

    Khi anh gửi bài viết cho tôi để đăng báo, khi đọc những dòng trên không thể cầm được nước mắt. Sự chịu đựng, hy sinh của người Mẹ rất cao cả đến nỗi khi anh bị thương trầm trọng mà người Mẹ “Con cứ như thế này thì mẹ đỡ lo”. Thà bị thương, tàn phế nhưng vẫn còn sống để mẹ con có nhau.

    Trong vài bài viết của tôi khá lâu có nhắc đến hình ảnh người mẹ và với những dòng chia sẻ với tính cách gia đình của đứa con út cho thế hệ thứ hai, thứ ba để nhớ hình ảnh bà cố, bà nội, bà ngoại với trái tim, tấm lòng cao đẹp… đã ảnh hưởng sâu đậm cho các người chị của tôi.

    Tuy không được may mắn sống gần mẹ vì học hành và đời quân ngũ nhưng tuổi thơ của tôi với mẹ với bao kỷ niệm thương yêu không bao giờ phai. Ngay cả các món ăn của mẹ từ lúc trẻ thơ cho đến bây giờ nơi xứ người, tôi vẫn thích, và mỗi khi có món ăn đó, tôi thường nói “món mẹ cho ăn”.

    “Lũ chúng tôi đầu thai nhầm thế kỷ” (Vũ Hoàng Chương) bởi trưởng thành trong cơn binh lửa, trai thời chiến, người đau khổ nhất là mẹ. Hầu như người Mẹ VN nào trong truyền thống dân tộc cao đẹp cũng nghĩ đến con cái hơn bản thân mình. Mẹ đã mang nặng đẻ đau, lo từ giọt sữa cho con khi chào đời đến khi khôn lớn, thành danh, lập gia đình, dưới mắt Mẹ vẫn còn là đứa trẻ ngày nào… cho đến khi Mẹ vào cõi vĩnh hằng.

    Hình ảnh mẹ thiêng liêng, cao quý không ai có thể nói hết. Trong kho tàng văn chương Việt Nam, ca dao, tục ngữ cũng không thể nào nói hết kho tàng trái tim người Mẹ.

    Và nay, với những ai không còn mẹ, mượn ý thơ của bạn tôi, cầu mong “Trong cõi hư vô ấy, mẹ thảnh thơi, mẹ yên nghỉ ngàn thu” (Trạch Gầm). Mẹ không còn nhưng trái tim, hơi thở của Mẹ trong con.

    Cha tôi qua đời năm 1963 lúc còn đi học và thời điểm đó sống trong hạnh phúc gia đình nên ít nhiều kỷ niệm. Lần đầu tiên tôi chứng kiến Mẹ khóc, đau khổ, tiều tụy! Rồi từ đó cuộc đời lính xa nhà, lao tù… mẹ con không được gần nhau, tuy không chứng kiến giọt nước mắt của Mẹ nhưng cũng hình dung Mẹ đã khóc rất nhiều.

    Tuy đã trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, tôi chẳng có điều gì phải hối hận, ngay cả thời điểm cuối tháng Tư năm 1975 ở Vũng Tàu trước quyết định ở lại hay đi. Chỉ hối hận khi Mẹ qua đời mà không được nhìn nhau lần cuối cùng, lúc trở về phục tang rồi mang mảnh khăn tang nhỏ hình bình hành màu đen trên áo đi Mỹ. Tuy các cháu, nay cũng ở tuổi sáu mươi, bảy mươi coi chú, cậu cũng như Cha Mẹ cháu đều mang trái tim của bà nội, bà ngoại. Nhưng với tôi vẫn coi bản thân như “đứa con bất hiếu” vì chưa trả được chữ hiếu khi Mẹ còn sống! Tháng 5 âm lịch là ngày giỗ song thân nơi căn nhà từ đường nơi cố hương, tuy chưa lần nào hiện diện nhưng với bổn phận người con xa xứ nhờ các cháu lo cho ngày kỵ và ngày Tết, mỗi năm chỉ hai lần chính thức bà con, dòng họ có dịp hội ngộ.

    Ngoài trang thờ Cha Mẹ, trong ví và trước computer làm việc trong garage, nên lúc nào chân dung Mẹ vẫn hiện diện trong tôi. Mẹ ơi! Con vẫn còn đây. Mẹ ơi!“Trong cõi nhân gian, không có trái tim nào vĩ đại như trái tim người mẹ”.

    Vương Trùng Dương–Little Saigon, Mother’s Day 2025

    Sau ngày 30/4/75, tất cả các chiến sĩ thuộc QLVNCH đều sống trong cảnh tù đầy, Thi Sĩ Hạ Ái Khanh Dương Viết Diền đã dệt mấy vần thơ sầu thảm qua bài “Ngày Về” để nhớ về người Mẹ.

    “Mười ba năm “cải tạo”

    Ngày về không còn ai

    Cây soan bên thềm cũ

    Bây giờ cũng tàn phai

    Mái nhà tranh còn đấy

    Vẫn nghiêng nghiêng thuở nào

    Trong nhà sao vắng lặng

    Không một bóng người vào

    Mẹ già chờ lâu quá

    Vẫn không thấy con về

    Tháng ngày rưng rưng lệ

    Mẹ mất giữa chiều quê

    Bên nấm mồ con khóc

    Nhớ thương mẹ não nề

    Sao mẹ đành vĩnh biệt

    Mẹ ơi, con đã về!”

    Hạ Ái Khanh – Trong thi phẩm “Ngậm ngùi”

    Cho dù ở trong ngục tù hay ở quê người đất khách, cho dù ở trên rừng sâu hay góc bể chân trời, ai ai cũng triền miên nhớ mẹ mỗi lần vọng về quê cũ sau lũy tre xanh. Ta hãy nghe mấy vần thơ lục bát sau đây

    “Mỗi lần nhìn khói lam chiều

    Nhớ về quê mẹ hắt hiu nỗi buồn

    Mẹ già nước mắt trào tuôn

    Lom khom chống gậy bên đường chờ con

    Bâng khuâng mẹ nhớ mỏi mòn

    Bao mùa lá rụng héo hon thân gầy”.

      (Hạ Ái Khanh –“Thương mẹ”: thi phẩm “Ngậm ngùi”)

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    KHI CUỘC CHIẾN CHẤM DỨT

    Khánh Lan

    Bất kể cuộc chiến nào khi chấm dứt cũng để lại nhiều đau thương, nghiệt ngã cho những người còn sống sót, dù là ngoài xã hội hay trong thế giới văn chương. Sau cuộc chiến năm 1975, tại Việt Nam đã có biết bao quân nhân cán chính, giáo chức và các nhà văn hóa lao vào cảnh tù đầy không hẹn ngày trở về. Những trại tù trá hình “cải tạo” được mọc lên ở miền Bắc trước năm 1954 cũng như tại miền Nam sau năm 1975 đã chôn vùi thân xác của những đứa con trung thành của tổ quốc và những nhân tài của nền văn hóa nước nhà.

    Trong bài viết về “Khi Cuộc Chiến Chấm Dứt” người viết xin gởi đến quý độc giả một nhân tài lỗi lạc trong lĩnh vực văn học, một nhà thơ tiền chiến với những vần thơ cô đọng nhiều uẩn khúc của cuộc đời, một Phùng Quán với rất nhiều nhọc nhằn, đau thương và cay đắng xẩy ra cho ông trong quá khứ. Nếu, chúng ta đem Phùng Quán ra để so sánh với Nguyễn Chí Thiện thì chúng ta cũng không thể cho rằng ai là người yêu nước hơn ai? mặc dù cả hai đều là nhà thơ và là nạn nhân hiện hữu trong buổi giao thời ấy, nhưng trong tâm tư của mỗi người đều mang nặng một lý tưởng và một suy nghĩ khác nhau. Trong bài viết này, người viết chỉ xin bàn về nhà thơ Phùng Quán.

    Thi sĩ Phùng Quán là một nhà thơ được nhiều Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam về Văn học nghệ thuật nhất trong khoảng thời gian ngắn. Năm 1955, tác phẩm đầu tay của thi sĩ Phùng Quán, Tiểu thuyết Vượt Côn Đảo, được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam về Văn học nghệ thuật năm 2007. Tập thơ Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1955), được Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật, năm 2007. Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội (1987), được Giải A văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988, và nhận được Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990. Cùng năm 1990 tác phẩm này được đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn dựng thành phim, Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 2000 và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. 

    PHÙNG QUÁN (1932–1995)

    “Có những lúc ngã lòng

    Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”

    Đó là hai câu thơ bất hủ đã nói lên ngàn lời tâm sự của người nghệ sĩ tài ba Phùng Quán, một tài năng độc đáo trên văn đàn từ giữa thế kỷ XX, nhưng định mệnh trớ trêu đã đẩy ông qua nhiều gian nan và thử thách trong cuộc sống. Tên tuổi của Phùng Quán trở nên nổi tiếng rất sớm nhưng cũng xuống dốc khá nhanh “Đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian”. Phải chăng cái nhân cách quá ngay thẳng đã đưa cuộc đời của ông vào một số phận bi tráng như thế? Khiến ông sa vào từ thất vọng này đi đến tuyệt vọng kia? Nhưng cái gì đã giúp ông vượt qua chông gai mà số mạng bắt ông gánh chịu. Có phải “Có những lúc ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”? hay như một nhà thơ người Mỹ gốc Nga, Roman Jakobson, đã nói “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh”.

    Năm 1957, theo soạn giả Tân Linh: Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm với hai bài thơ Lời mẹ dặn và Chống tham ô lãng phí, hai thi phẩm đã đem rất nhiều tai hoạn lớn cho Phùng Quán (25 tuổi) sau tác phẩm Vượt Côn Đảo. Bài thơ Lời mẹ dặn khiến ông bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị đuổi ra khỏi quân đội. Phùng Quán rơi vào cảnh “tứ cố vô thân” bởi cha ông đã chết trong tù khi ông mới biết bò, mẹ ông thì sống bên kia giới tuyến (Huế), bạn bè và người thân xa lánh vì sợ liên lụy. Buồn và chán nản, có lúc Phùng Quán có ý định sẽ vào Quảng Bình sinh sống, nhưng cũng có những lúc qúa thất vọng, ông bảo: “Cá sông Nhật Lệ nhiều vô kể, thế nào cũng đủ sống, mà nếu chán quá, không muốn sống nữa thì… thôi”.  Và cũng đã có nhiều lần ông nghĩ đến cái chết. Sau đây là bài thơ Lời mẹ dặn (1957).

    … Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

    Đi trọn đời trên con đường chân thật.

    Yêu ai cứ bảo là yêu

    Ghét ai cứ bảo là ghét

    Dù ai ngon ngọt nuông chiều

    Cũng không nói yêu thành ghét

    Dù ai cầm dao dọa giết

    Cũng không nói ghét thành yêụ

    Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời

    Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

    Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

    Bút giấy tôi ai cướp giật đi

    Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

    (Lời mẹ dặn)

    Mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động thực tế ở nhiều nơi. Phùng Quán đã phải đánh đổi gần như cả cuộc đời mình với 15 năm lao động cải tạo và 32 năm treo bút bởi hai bài thơ đầu tiên trong văn học trỉ trích cách mạng, chống tệ quan liêu lãng phí.

    Ta đã đi qua
    Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt:

    Tôi đã gặp
    Những bà mẹ già quấn giẻ rách
    Da đen như củi cháy giữa rừng
    Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
    Bởi đồn giặc trồng ngô tỉa lúa…

    ….Tôi đã gặp
    Chị em công nhân đổ thùng
    Yếm rách chân trần
    Quần xắn quá gối
    Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
    Vác những thùng phân …

    …Trung ương Đảng ơi!
    Lũ chuột mặt người chưa hết
    Đảng lập đội quân trừ diệt
    – Có tôi!
    đi trong hàng ngũ tiền phong…

    Năm 1988 ông được khôi phục lại chức vị hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Tuy vậy, sau khi được hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhận lại vào thời kỳ đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản. Hơn 32 năm treo bút, ông phải mượn tên người khác viết “văn chui” và xuất bản một số tác phẩm dưới bút danh khác. Hơn 40 cuốn truyện tranh và khoảng 10 tác phẩm văn xuôi được in trong đó có 3 tập bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Tuổi thơ dữ dội”. Sống trong cảnh nghèo đói, ông đã câu trộm cá ở Hồ Tây để kiếm sống (theo nhà thơ Ngô Minh) và mua chịu ở quan rượu của bà Hai Hanh, làng Nghi Tàm. Vì thế, trong thời kỳ này, bạn bè văn nghệ đặt cho ông một biệt hiệu là: “cá trộm, rượu chịu, văn chui“. 

    Thơ tôi biết xin ai?
    Ai cho?
    Thơ với tôi là nước trên sa mạc
    Đã từ nhiều năm nay
    Tôi sống mà như chết
    Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi
    Tôi đã đi rao cùng thiên hạ:
    – Ai-đổi-thơ-lấy-máu!
    Không ai đổi
    Vì máu tôi không cùng nhóm máu họ

                                        (Cảm tạ)

     

    Năm 1998, ông được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam để rồi chính thức từ đó trở đi, cái tên Phùng Quán lại gắn liền với những tác phẩm nổi tiếng như “Thơ Phùng Quán”, tiểu thuyết “Trăng hoàng cung”, bộ tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội”… trên báo Đảng địa phương.

    “Ba mươi năm trước tôi chết giữa Hồng Hà sóng dữ

    Nay lại hồi sinh giữa xanh thẳm Hàn Giang

    Chính cây cà quê mùa lao lực

    Đã cho tôi dũng khí bền gan”.

    Báo QNĐN-Chủ nhật là nơi đã trả lại tên thật cho nhà văn-nhà thơ Phùng Quán sau 30 năm mất tích trên văn đàn Việt Nam. Tạp chí Sông Hương tiếp tục đăng những bài viết của Phùng Quán và để tên thật của ông. Một số tờ báo, tạp chí, NXB cũng lần lượt đăng những sáng tác với bút danh Phùng Quán một cách minh bạch – xóa nạn “in chui” cho ông. 

    TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC: QUÊ HƯƠNG & GIA ĐÌNH

    Phùng Quán được coi như là một người lính dấn thân vì nhân dân, vì đất nước cho dù ông đã trải qua những năm tháng bi thương khốc liệt nhất của đời người. Nhưng ông vẫn sắt son niềm tin vào Đảng, vào sự đổi mới phát triển của đất nước qua lời thơ:

    “…Tôi tin sẽ đến ngày tôi được Đảng hiểu”,

    “Tôi không nói lời vĩnh biệt. Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh…”.

    Theo Ngô Quy Nhơn, Phùng Quán đã sống và yêu đất nước đất nước đến tận cùng máu thịt cũng như tình yêu với người vợ hiền của ông, đó là một tình yêu đích thực, một tình yêu mà ông dám hy sinh cả cuộc đời của mình.  

    …”Ngày ra trận, tóc tôi còn để chỏm

    Nay trở về, Đầu đã hoa râm

    Sau cuộc trường chinh ba mươi năm…”

    Tại sao lại gọi đó là tình yêu quê hương đích thực và đến tận cùng máu thịt?  Phùng Quán đã cống hiến cả cuộc đời mình cho một chế độ mà ông tôn thờ bởi ngay từ thiếu thời, (13 tuổi) ông đã dấn thân theo cách mạng, từ một chiến sĩ liên lạc Trung đoàn Trần Cao Vân, đến làm Vệ quốc quân mặt trận khói lửa Bình Trị Thiên.   Năm 1953, khi Phùng Quán mới 22 tuổi, là người lính liên lạc trong Vệ quốc đoàn, ông viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo vàgây xúc động cho người đọc qua bao thế hệ. Vượt Côn Đảo là tác phẩm đầu tay của Phùng Quán, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời cầm bút của ông, xuất bản lần đầu năm 1954. Năm 2007, cùng với hai tác phẩm Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội ra đời, chứng tỏ ông chẳng những hy sinh cuộc sống, tuổi thanh xuân, và tình yêu cá nhân của mình cho đất nước mà còn tôn thờ tổ quốc trong tư tưởng cũng như trong văn thơ của ông.

    Theo soạn giả Tân Linh, chuyện tình của Phùng Quán là một tình yêu đẹp, lãng mạn, đầy sóng gió và xúc động, một mối tình cao quý dược thuật lại như sau: Khi Phùng Quán về làm văn nghệ ở Hà Nội trong Đại hội văn nghệ toàn quân tổ chức sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông đã gặp một cô giáo trẻ, tên Vũ Thị Bội Trâm, giảng dạy tại Trường PTTH Chu Văn An, Hà nội, người Hà Nội, nhà ở phố Hàng Cân đem lòng yêu ông. Bà Bội Trâm kể: “Anh yêu cũng dữ dội lắm: Viết tặng tôi bài thơ anh đã nói rất… liều”:

    “Khách tình yêu xưa nay ít lễ độ

    Bước vào buồng tim chẳng gõ cửa bao giờ…”.

     Phùng Quán bảo mỗi người đều có tình yêu và lý tưởng để tôn thờ, ông viết tặng vợ bài Kinh cầu nguyện buổi sáng như sau:

    “Tôi sẽ đi với em

    Cho đến mút chót con đường…

    … Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền

    Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường

    Tôi sẽ bị trời tru đất diệt

    Em là cây Thập tự của đời tôi

    Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc…“

    Phùng Quan khẳng định rằng đây là bài thơ tình hay nhất của ông. Năm 1960, đi lao động thâm nhập thực tế ở Thái Bình cùng các nhà văn Tô Hoài, Hoàng Trung Thông về, Phùng Quán bị nhiễm lao. Năm 1962, Phùng Quán và Bội Trâm đến đăng ký kết hôn ở ủy ban hành chính xã Quảng An huyện Từ Liêm Hà Nội. Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe cũng là bài thơ viết cho bà Bội Trâm. Trong bổn bài thơ tựa đề chỉ có một chữ: Say, Hôn, bài thơ Hôn được nhắc đến nhiều nhất và được in trong tuyển tập Panorama de la Littérature Vietnamism (do nhà văn hóa Hữu Ngọc dịch) cũng như được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc.  Bài thơ được coi như là tuyên ngôn tình yêu của người lính, âm hưởng diệu vợi, bi tráng và rất thực bởi bắt nguồn từ một tình yêu rất chân thực của một người lính, hay hơn thế nữa, một đồng đội, một người bác của ông:  Chiến sĩ cảm tử quân Phùng Huấn. (Theo tác giả Nguyễn Viết Chính).

    …”Trời đã sinh ra anh

    Ðể yêu em tha thiết…

    …Còn anh, anh yêu em

    Anh phải ra mặt trận…

    …Nhưng anh, anh không muốn

    Hôn em trong tủi sầu

    Em ơi rất có thể

    Anh chết giữa chiến trường

    Ðôi môi tươi đạn xé

    Chưa bao giờ được hôn

    Nhưng dù chết em ơi

    Yêu em anh không thể

    Hôn em bằng đôi môi

    Của một người nô lệ”.

                                 (Hôn1956)

    VỀ VĂN HỌC:   

    Phùng Quán đã cho xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng ở, người viết xin bàn về hai tác phẩm nổi tiếng của Phùng Quán: Đó là Vượt Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội.  Vượt Côn Đảo không những chỉ đề cao tinh thần yêu nước mà còn trân trọng những tâm hồn chân quý của thế hệ trẻ đã hy sinh bản thân, vượt qua mọi hoàn cảnh và xương máu cho hòa bình của đất nước. Nguồn cảm hứng để Phùng Quán viết Vượt Côn Đảo khi ông gặp gỡ những người tù cách mạng trở về từ Côn Đảo sau Hiệp định Genève 1954. Phùng Quán đã có mặt trong cuộc trao đổi tù binh ở Sầm Sơn và nghe những câu chuyện của họ về ý chí bất khuất, quật cường, lòng sắt đá, quả cảm và nghị lực của những chiến sĩ cách mạng với hai lần vượt ngục thất bại. Ông viết: “Người chiến sĩ khi đã quyết định dấn thân thì phải dấn thân đến cùng, không quay đầu lại, không rẽ ngang rẽ tắt, không được thối lui, không được bỏ cuộc, không có sự hèn hạ nào đáng ghê tởm hơn sự hèn hạ bỏ cuộc”. 

    Xin trích dẫn thêm một trích đoạn trong tác phẩm vượt Côn Đảo: 

    …”Tất cả tù Côn Đảo đều gọi Côn Đảo là địa ngục, một thứ địa ngục trần gian. Nghe người ta nói ở địa ngục, trên có Diêm Vương hung ác, dưới có bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa.  Để hành hạ người chết, có vạc dầu nấu sôi, sông lúc nhúc mãng xà rắn rết, có chỗ cưa chân xẻ tay, róc thịt chẻ xương.  Không biết có địa ngục và địa ngục có những cảnh đó không, nhưng ở Côn Đảo, những cảnh đó không thiếu gì, và còn gấp trăm gấp nghìn thế là khác…”

    PHÙNG QUÁN (1932–1995)

    “Có những lúc ngã lòng

    Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”

    Đó là hai câu thơ bất hủ đã nói lên ngàn lời tâm sự của người nghệ sĩ tài ba Phùng Quán, một tài năng độc đáo trên văn đàn từ giữa thế kỷ XX, nhưng định mệnh trớ trêu đã đẩy ông qua nhiều gian nan và thử thách trong cuộc sống. Tên tuổi của Phùng Quán trở nên nổi tiếng rất sớm nhưng cũng xuống dốc khá nhanh “Đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian”. Phải chăng cái nhân cách quá ngay thẳng đã đưa cuộc đời của ông vào một số phận bi tráng như thế? Khiến ông sa vào từ thất vọng này đi đến tuyệt vọng kia? Nhưng cái gì đã giúp ông vượt qua chông gai mà số mạng bắt ông gánh chịu. Có phải “Có những lúc ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”? hay như một nhà thơ người Mỹ gốc Nga, Roman Jakobson, đã nói “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh”.

    Năm 1957, theo soạn giả Tân Linh: Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm với hai bài thơ Lời mẹ dặn và Chống tham ô lãng phí, hai thi phẩm đã đem rất nhiều tai hoạn lớn cho Phùng Quán (25 tuổi) sau tác phẩm Vượt Côn Đảo. Bài thơ Lời mẹ dặn khiến ông bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị đuổi ra khỏi quân đội. Phùng Quán rơi vào cảnh “tứ cố vô thân” bởi cha ông đã chết trong tù khi ông mới biết bò, mẹ ông thì sống bên kia giới tuyến (Huế), bạn bè và người thân xa lánh vì sợ liên lụy. Buồn và chán nản, có lúc Phùng Quán có ý định sẽ vào Quảng Bình sinh sống, nhưng cũng có những lúc qúa thất vọng, ông bảo: “Cá sông Nhật Lệ nhiều vô kể, thế nào cũng đủ sống, mà nếu chán quá, không muốn sống nữa thì… thôi”.  Và cũng đã có nhiều lần ông nghĩ đến cái chết. Sau đây là bài thơ Lời mẹ dặn (1957).

    … Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

    Đi trọn đời trên con đường chân thật.

    Yêu ai cứ bảo là yêu

    Ghét ai cứ bảo là ghét

    Dù ai ngon ngọt nuông chiều

    Cũng không nói yêu thành ghét

    Dù ai cầm dao dọa giết

    Cũng không nói ghét thành yêụ

    Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời

    Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

    Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

    Bút giấy tôi ai cướp giật đi

    Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

    (Lời mẹ dặn)

    Mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động thực tế ở nhiều nơi. Phùng Quán đã phải đánh đổi gần như cả cuộc đời mình với 15 năm lao động cải tạo và 32 năm treo bút bởi hai bài thơ đầu tiên trong văn học trỉ trích cách mạng, chống tệ quan liêu lãng phí.

    Ta đã đi qua
    Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt:

    Tôi đã gặp
    Những bà mẹ già quấn giẻ rách
    Da đen như củi cháy giữa rừng
    Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
    Bởi đồn giặc trồng ngô tỉa lúa…

    ….Tôi đã gặp
    Chị em công nhân đổ thùng
    Yếm rách chân trần
    Quần xắn quá gối
    Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
    Vác những thùng phân …

    …Trung ương Đảng ơi!
    Lũ chuột mặt người chưa hết
    Đảng lập đội quân trừ diệt
    – Có tôi!
    đi trong hàng ngũ tiền phong…

    Năm 1988 ông được khôi phục lại chức vị hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Tuy vậy, sau khi được hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhận lại vào thời kỳ đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản. Hơn 32 năm treo bút, ông phải mượn tên người khác viết “văn chui” và xuất bản một số tác phẩm dưới bút danh khác. Hơn 40 cuốn truyện tranh và khoảng 10 tác phẩm văn xuôi được in trong đó có 3 tập bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Tuổi thơ dữ dội”. Sống trong cảnh nghèo đói, ông đã câu trộm cá ở Hồ Tây để kiếm sống (theo nhà thơ Ngô Minh) và mua chịu ở quan rượu của bà Hai Hanh, làng Nghi Tàm. Vì thế, trong thời kỳ này, bạn bè văn nghệ đặt cho ông một biệt hiệu là: “cá trộm, rượu chịu, văn chui“. 

    Thơ tôi biết xin ai?
    Ai cho?
    Thơ với tôi là nước trên sa mạc
    Đã từ nhiều năm nay
    Tôi sống mà như chết
    Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi
    Tôi đã đi rao cùng thiên hạ:
    – Ai-đổi-thơ-lấy-máu!
    Không ai đổi
    Vì máu tôi không cùng nhóm máu họ

                                        (Cảm tạ)

     

    Năm 1998, ông được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam để rồi chính thức từ đó trở đi, cái tên Phùng Quán lại gắn liền với những tác phẩm nổi tiếng như “Thơ Phùng Quán”, tiểu thuyết “Trăng hoàng cung”, bộ tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội”… trên báo Đảng địa phương.

    “Ba mươi năm trước tôi chết giữa Hồng Hà sóng dữ

    Nay lại hồi sinh giữa xanh thẳm Hàn Giang

    Chính cây cà quê mùa lao lực

    Đã cho tôi dũng khí bền gan”.

    Báo QNĐN-Chủ nhật là nơi đã trả lại tên thật cho nhà văn-nhà thơ Phùng Quán sau 30 năm mất tích trên văn đàn Việt Nam. Tạp chí Sông Hương tiếp tục đăng những bài viết của Phùng Quán và để tên thật của ông. Một số tờ báo, tạp chí, NXB cũng lần lượt đăng những sáng tác với bút danh Phùng Quán một cách minh bạch – xóa nạn “in chui” cho ông. 

    TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC: QUÊ HƯƠNG & GIA ĐÌNH

    Phùng Quán được coi như là một người lính dấn thân vì nhân dân, vì đất nước cho dù ông đã trải qua những năm tháng bi thương khốc liệt nhất của đời người. Nhưng ông vẫn sắt son niềm tin vào Đảng, vào sự đổi mới phát triển của đất nước qua lời thơ:

    “…Tôi tin sẽ đến ngày tôi được Đảng hiểu”,

    “Tôi không nói lời vĩnh biệt. Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh…”.

    Theo Ngô Quy Nhơn, Phùng Quán đã sống và yêu đất nước đất nước đến tận cùng máu thịt cũng như tình yêu với người vợ hiền của ông, đó là một tình yêu đích thực, một tình yêu mà ông dám hy sinh cả cuộc đời của mình.  

    …”Ngày ra trận, tóc tôi còn để chỏm

    Nay trở về, Đầu đã hoa râm

    Sau cuộc trường chinh ba mươi năm…”

    Tại sao lại gọi đó là tình yêu quê hương đích thực và đến tận cùng máu thịt?  Phùng Quán đã cống hiến cả cuộc đời mình cho một chế độ mà ông tôn thờ bởi ngay từ thiếu thời, (13 tuổi) ông đã dấn thân theo cách mạng, từ một chiến sĩ liên lạc Trung đoàn Trần Cao Vân, đến làm Vệ quốc quân mặt trận khói lửa Bình Trị Thiên.   Năm 1953, khi Phùng Quán mới 22 tuổi, là người lính liên lạc trong Vệ quốc đoàn, ông viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo vàgây xúc động cho người đọc qua bao thế hệ. Vượt Côn Đảo là tác phẩm đầu tay của Phùng Quán, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời cầm bút của ông, xuất bản lần đầu năm 1954. Năm 2007, cùng với hai tác phẩm Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội ra đời, chứng tỏ ông chẳng những hy sinh cuộc sống, tuổi thanh xuân, và tình yêu cá nhân của mình cho đất nước mà còn tôn thờ tổ quốc trong tư tưởng cũng như trong văn thơ của ông.

    Theo soạn giả Tân Linh, chuyện tình của Phùng Quán là một tình yêu đẹp, lãng mạn, đầy sóng gió và xúc động, một mối tình cao quý dược thuật lại như sau: Khi Phùng Quán về làm văn nghệ ở Hà Nội trong Đại hội văn nghệ toàn quân tổ chức sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông đã gặp một cô giáo trẻ, tên Vũ Thị Bội Trâm, giảng dạy tại Trường PTTH Chu Văn An, Hà nội, người Hà Nội, nhà ở phố Hàng Cân đem lòng yêu ông. Bà Bội Trâm kể: “Anh yêu cũng dữ dội lắm: Viết tặng tôi bài thơ anh đã nói rất… liều”:

    “Khách tình yêu xưa nay ít lễ độ

    Bước vào buồng tim chẳng gõ cửa bao giờ…”.

     Phùng Quán bảo mỗi người đều có tình yêu và lý tưởng để tôn thờ, ông viết tặng vợ bài Kinh cầu nguyện buổi sáng như sau:

    “Tôi sẽ đi với em

    Cho đến mút chót con đường…

    … Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền

    Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường

    Tôi sẽ bị trời tru đất diệt

    Em là cây Thập tự của đời tôi

    Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc…“

    Phùng Quan khẳng định rằng đây là bài thơ tình hay nhất của ông. Năm 1960, đi lao động thâm nhập thực tế ở Thái Bình cùng các nhà văn Tô Hoài, Hoàng Trung Thông về, Phùng Quán bị nhiễm lao. Năm 1962, Phùng Quán và Bội Trâm đến đăng ký kết hôn ở ủy ban hành chính xã Quảng An huyện Từ Liêm Hà Nội. Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe cũng là bài thơ viết cho bà Bội Trâm. Trong bổn bài thơ tựa đề chỉ có một chữ: Say, Hôn, bài thơ Hôn được nhắc đến nhiều nhất và được in trong tuyển tập Panorama de la Littérature Vietnamism (do nhà văn hóa Hữu Ngọc dịch) cũng như được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc.  Bài thơ được coi như là tuyên ngôn tình yêu của người lính, âm hưởng diệu vợi, bi tráng và rất thực bởi bắt nguồn từ một tình yêu rất chân thực của một người lính, hay hơn thế nữa, một đồng đội, một người bác của ông:  Chiến sĩ cảm tử quân Phùng Huấn. (Theo tác giả Nguyễn Viết Chính).

    …”Trời đã sinh ra anh

    Ðể yêu em tha thiết…

    …Còn anh, anh yêu em

    Anh phải ra mặt trận…

    …Nhưng anh, anh không muốn

    Hôn em trong tủi sầu

    Em ơi rất có thể

    Anh chết giữa chiến trường

    Ðôi môi tươi đạn xé

    Chưa bao giờ được hôn

    Nhưng dù chết em ơi

    Yêu em anh không thể

    Hôn em bằng đôi môi

    Của một người nô lệ”.

                                 (Hôn1956)

    VỀ VĂN HỌC:   

    Phùng Quán đã cho xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng ở, người viết xin bàn về hai tác phẩm nổi tiếng của Phùng Quán: Đó là Vượt Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội.  Vượt Côn Đảo không những chỉ đề cao tinh thần yêu nước mà còn trân trọng những tâm hồn chân quý của thế hệ trẻ đã hy sinh bản thân, vượt qua mọi hoàn cảnh và xương máu cho hòa bình của đất nước. Nguồn cảm hứng để Phùng Quán viết Vượt Côn Đảo khi ông gặp gỡ những người tù cách mạng trở về từ Côn Đảo sau Hiệp định Genève 1954. Phùng Quán đã có mặt trong cuộc trao đổi tù binh ở Sầm Sơn và nghe những câu chuyện của họ về ý chí bất khuất, quật cường, lòng sắt đá, quả cảm và nghị lực của những chiến sĩ cách mạng với hai lần vượt ngục thất bại. Ông viết: “Người chiến sĩ khi đã quyết định dấn thân thì phải dấn thân đến cùng, không quay đầu lại, không rẽ ngang rẽ tắt, không được thối lui, không được bỏ cuộc, không có sự hèn hạ nào đáng ghê tởm hơn sự hèn hạ bỏ cuộc”. 

    Xin trích dẫn thêm một trích đoạn trong tác phẩm vượt Côn Đảo: 

    …”Tất cả tù Côn Đảo đều gọi Côn Đảo là địa ngục, một thứ địa ngục trần gian. Nghe người ta nói ở địa ngục, trên có Diêm Vương hung ác, dưới có bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa.  Để hành hạ người chết, có vạc dầu nấu sôi, sông lúc nhúc mãng xà rắn rết, có chỗ cưa chân xẻ tay, róc thịt chẻ xương.  Không biết có địa ngục và địa ngục có những cảnh đó không, nhưng ở Côn Đảo, những cảnh đó không thiếu gì, và còn gấp trăm gấp nghìn thế là khác…”

    Theo tác giả Ngô Minh Thuyên lòng yêu nước trong Phùng Quán rất kiên định cho dù sau 32 năm bị án “nhân văn”, Phùng Quán vẫn cho ra đời Tuổi thơ dữ dội gây xúc động về chính cuộc đời ông và đồng đội mình. “Tuổi thơ dữ dội” là một tác phẩm truyện dài xoay quanh cuộc sống chiến đấu và sự hy sinh của những thiếu niên 13, 14 tuổi trong hàng ngũ Đội thiếu niên trinh sát của trung đoàn Trần Cao Vân. 

     “… Không thể ôm nhau mà nhìn thần chết đến cướp cùng một lúc. Giờ phút này phải đòi hỏi sự hy sinh. Anh Cả hội ý với Du và cuối cùng quyết định. – Cần năm đồng chí hy sinh để cho thuyền nhẹ bớt. Mười đồng chí giơ tay cùng một lúc. Trong đó có Bằng, Chức, lão Học. Anh Cả nhìn mười đồng chí một lượt, ngồi lặng đi một phút …”

    THẾ GIỚI THI CA:

    Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn để lại cho đời nhiều bài thơ được hàng triệu người Việt Nam ngưỡng mộ như: Tập thơ Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Báo Phụ nữ Liên Xô dịch và in, năm 1957. Địa Ngục Côn Đảo, một tác phẩm thơ ca ngợi nữ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu đã trở thành bài ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, của những thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc.

    “Côn Đảo bỗng rùng mình

    Ai cất lên tiếng hát?

     …Theo tiếng hát chơi vơi

    Mọc lên giữa địa ngục

    … Người tù sắp xử bắn

    Vẫn hát mắt mở to

    …Người đang hát: chị Sáu

                 Một cô gái miền Nam”.

    Thật đúng như nhận định của tác giả Nguyễn Viết Chính, thơ Phùng Quán là thơ có chiều sâu của tâm hồn, một tâm hồn luôn nhạy cảm đã đến từ sự rung động của trái tim, chất chứa những nỗi niềm, như một lời tâm sự và cũng chính những vần thơ ấy, ông đã cứu sống được bao tâm hồn đang trong nỗi tuyệt vọng.  Điển hình là nhà thơ Hoàng Cầm sau một tai nạn, ông bị lâm bệnh trầm cảm trong nhiều năm.  Một hôm, Phùng Quán đến thăm Hoàng Cầm, mang theo một chai rượu làng Vân, ngồi trước mặt Hoàng, Phùng Quán rót rượu và đọc bài thơ có tựa đề là “Phùng Quán gửi Hoàng Cầm mắc bệnh tâm thần nặng“.  Nghe xong bài thơ, nước mắt Hoàng Cầm lăn dài trên gò má hóp, tái xanh.  Phùng Quán nâng lên mời bạn và họ ôm nhau, hàn huyên. Sau ngày đó, Hoàng Cầm sống lại và từ đó mở đầu cho một loạt thơ mới. Dưới đây là bài thơ “thần dược” của Phùng Quán:

    “Tôi không tin một nhà thơ như Anh

    Lại ngã lòng suy sụp

    Một nhà thơ đã viết những dòng thơ lẫm liệt

    Tiểu đội anh, những ai còn, ai mất?

    Không, không ai còn ai mất…

    …Tôi tin chắc như đinh đóng cột

    Sau khi Anh mất đi

    Theo sau linh cữu anh

    Ngoài bạn hữu gia đình

     Có cả con sông Đuống

    Sông Đuống mặc đại tang…”

     (Hà Nội tháng 3-1987)

      

     Sau gần 35 năm xa quê hương, Phùng Quán trở về quê, làng Thanh Thủy Thượng, xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, Huế. “Ngày ra đi tóc còn để chỏm, ngày về tóc đã hoa râm”. Ông đã quỳ xuống trước đông đảo bà con đọc to bài thơ “Tạ”:

    Con tạ,

    Đất làng quê

    Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất

    Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt

    Không lá cây nào không mặn chát gian lao

    Con tạ, manh chiếu rách con nằm…

    Năm 1975 giải phóng miền Nam, Phùng Quán về Huế rồi vào thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 22 tháng 01, 1995 tại Hà Nội, nhưng mãi đến đầu năm 2011, ước nguyện của ông mới trở thành hiện thực. Nhà thơ Ngô Minh quyên góp từ những văn nghệ sỹ, trí thức, học sinh, sinh viên, nông dân, anh xe ôm, xích lô, Việt kiều… đã góp tiền xây dựng mộ cho nhà thơ Phùng Quán. …“Tôi sẽ đào nấm huyệt. Cạnh mồ cha mẹ tôi”…”. Sau khi xây mộ cho hai vợ chồng nhà thơ và do nguyện vọng của dòng họ Phùng, số tiền còn lại được lập “Quỹ khuyến học, khuyến tài” mang tên Phùng Quán, để phát thưởng cho học sinh giỏi hàng năm của xã Thủy Dương quê hương nhà thơ và khuyến khích các nhà văn, nhà thơ ở Thừa Thiên, Huế có những tác phẩm văn học đặc sắc.   Sau khi nhà thơ qua đời, Quỹ Phùng Quán đã tổ chức phát thưởng lần đầu tiên cho 41 em học sinh xuất sắc của các trường tiểu học, THCS Thủy Dương gồm một giấy chứng nhận Quỹ Phùng Quán, có ảnh nhà thơ và là 500.000 đồng Việt Nam. Quỹ Phùng Quán còn tặng thưởng cho 3 em học sinh họ Phùng xuất sắc nhất do dòng tộc Phùng ở Thủy Dương xét chọn. Đầu năm 2012, Quỹ Phùng Quán đã giải khuyến tài văn học Phùng Quán cho hai tác phẩm văn học: Tiểu thuyết “Vùng sâu” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, và “Xa Hà Nội” của Nhà Văn Nhất Lâm, giá trị mỗi giải thưởng là 2 triệu đồng Việt Nam. Lễ trao được Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên, Huế tổ chức ngay tại khu lăng mộ của nhà thơ Phùng Quán. Tên của ông cũng được UBND tỉnh Thừa Thiên, Huế quyết định đặt tên cho con đường mang tên Phùng Quán tại Thị xã Hương Thủy, quê hương ông, dài 5,850 km, từ Km 83, Quốc lộ 1A đối diện cổng làng Thanh Thủy Thượng, đi qua lăng mộ Phùng Quán, qua chiến khu Dương Hòa, nơi Phùng Quán đi theo bộ đội Việt Minh từ năm 1946. Trong “Trăng Hoàng Cung” của Phùng Quán viết 26 năm trước. Vâng, Phùng Quán đã ra đi và trở về trên chính con đường mang tên Phùng Quán. (CTV Ngô Minh Thuyên/VOV online)  

    …“Nhưng cuối cùng

    Quê hương nhận ra

    Trái – tim Thơ- trong-sạch

    Và gương – mặt – Thơ- bi – thiết – của tôi…”.

    Tóm lại, người ta thường cho rằng thực chất của sự thật bao giờ cũng tốt, nên được khuyến khích và áp dụng trong hầu hết mọi lãnh vực. Thế nhưng trên thực tế, ngoài đời cũng như trong văn chương có mấy ai dám nói sự thật hoàn toàn? Ngay trong thế giới văn học tại Việt Nam, chẳng phải chỉ Thi sĩ Phùng Quán hay Nguyễn Chí Thiện bị tẩy chay trong xã hội mà trên thế giới chúng ta đã từng nghe đến những nhà đại văn hào, từng được lãnh Giải thưởng Nobel như Erich Maria Remarque đã bị tước quốc tịch Đức năm 1939 vì bị cho là lời văn của ông có tính cách phỉ báng quân đội Đức. Nhà văn Nga Boris Leodovich Pasternak, tác phẩm của ông cũng bị cấm xuất bản và lưu hành tại Nga vì bị cho là nội dung bôi nhọ chính sách, ông bị buộc từ chối nhận đề cử lãnh Giải thưởng Nobel 1958 với lý do làm giảm uy tín của đảng Liên Xô, cho mãi đến năm 1989, con trai của ông là Yevgenii Borisovich Pasternak được phép đến Stockholm để nhận giải thưởng của cha cậu.  

    Vậy câu hỏi được đưa ra để tùy độc giả suy nghĩ.  Có nên nói hoàn toàn sự thật một cách nồng nhiệt hay không?

    Khánh Lan, California, kỷ niệm 50 năm nhìn lại, (1975-2025)

    TÀI LIỆU ĐỌC THÊM: TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA THI SĨ PHÙNG QUÁN:    Phùng Quán là một nhà văn, nhà thơ và bắt đầu viết trong khoảng thời gian của cuộc chiến tranh Đông Dương. Ông là cháu của Tố Hữu, sinh tháng 1 năm 1932, quê tại xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy (nay là phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy), tỉnh Thừa Thiên – Huế). Chưa học xong Tiểu học, Phùng Quán đã bỏ nhà đi theo cách mạng.  Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân ở tuổi 13, và trở thành chiến sĩ trinh sát của Trung đoàn 101, lừng danh ở chiến trường Bình-Trị-Thiên (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân). Sau đó Phùng Quán tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV. Năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội).   Phùng Quán có rất nhiều tác phẩm được xuất bản bắt đầu từ 1955 kéo dài đến 2007, bao gồm nhiều thể loại khác nhau như truyện dài, truyện ngắn, hồi ký, bút ký, v.v…có những tác phẩm được dịch và xuất bản tại Trung Quốc, NXB Thượng Hai dịch và in như: Bút ký (1955), Bên bờ Hiền Lương (1956). Thạch Sanh Cháu Bác Hồ truyện thiếu nhi (1955). Một số truyện thiếu nhi như: Cuộc Đời Một Đôi Dép Cao Su (1956), Như Con Cò Vàng Trong Cổ tích (tác phẩm ký bút danh Vũ Quang Khải, được Giải nhất cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật). Vĩnh Linh, Lịch Sử Văn Hóa (ký tên tác giả là Nguyễn Huy-1982). Dũng Sĩ Chép Còm(1987-với bút danh Trần Vỹ Dạ), Người Du Kích Hói Đầu (1990), Tiếng đàn trong rừng thẳm (1991). Đôi Bạn Tật Nguyền Kỳ Lạ (1991).  Thơ Phùng Quán (1995). Bản hùng ca về 17 Vệ quốc Đoàn (1993).   Trăng hoàng cung, Tiểu thuyết thơ, Nhà xuất bản Thanh Văn, USA năm 1993. Năm 2007, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản Trăng hoàng cung & Phùng Quán Viết Trăng Hoàng Cung (tiểu thuyết tình 13 chương của Phùng Quán & Hồi ức của nhà văn Hà Khánh Linh). Phùng Quán, Thơ, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003. Ba phút sự thật, Ký, (2006, tái bản 2009). Tôi Đã Trở Thành Nhà Văn Như Thế Nào?-Hồi ký (2007). Phùng Quán Còn Đây, Di cảo của Phùng Quán và Hồi ức của bạn bè, (2007-Hồi ký 0.      
  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    TỪ ĐINH HÙNG ĐẾN VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    Khánh Lan

    Với khuôn mặt lẫy lừng trong thi ca Việt Nam từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam đã có nhiều tài liệu viết về hai nhà thơ Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Hôm nay, người viết lại được vinh hạnh viết về hai vị tiền bối đã được rất nhiều người ngưỡng mộ trong thế giới thi ca: Đó là Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, những thiên tài bạc mệnh của đất Sài Gòn, một thời nổi danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Một điều thật lạ lùng là khi duyệt sau khi duyệt qua tiểu sử và cuộc đời của hai thi nhân này, người viết nhận thấy hai vị tiền bối có nhiều điểm trùng hợp từ thân phận, chí khí, tài hoa đến văn chương và cuộc đời lại gặp quá nhiều nghiệt ngã, đau thương, bất công và bạc mệnh. Hình như có một sự kết nối mật thiết giữa cuộc đời của họ. Họ như bị ràng buộc từ trong một mối tương quan gia đình khi nhà thơ họ Vũ kết hôn với bà Đinh Thị Thục Oanh, chị ruột của Đinh Hùng. Họ là bạn chí thân từ khi còn sinh sống tại miền Bắc. Thuở thiếu thời, họ yêu văn, thích làm thơ, sáng tác thơ và trở thành nổi tiếng trong lĩnh vực thi ca. Họ là những thiên tài bạc mệnh, lãnh chịu một cuộc đời với nhiều gian nan, nghiệt ngã và nghèo túng. Tuy họ đã gặp nhiều sóng gió trong cuộc sống nhưng họ vẫn không rời xa nhau! Có lẽ, định mệnh đã an bài cho họ là phải như thế!

    Dưới đây là những điểm tương đồng:

    1. Trong lĩnh vực khoa bảng: Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nghê sĩ tài hoa, học cao hiểu rộng với bản tính rất ngang bướng, gan dạ, phóng túng, “thích gì làm nấy”. Họ không khuất phục trước gian nan, bất công và sẵn sàng đương đầu với khó khăn, nghiệt ngã trong cuộc sống nhưng lại đa sầu đa cảm và mềm lòng trong đường tình ái.
    • Trong lãnh vực văn chương thi phú: Hai thi nhân đi vào lĩnh vực văn học ở tuổi rất còn trẻ. Tác phẩm văn xuôi Đám Ma Tôi của Đinh Hùng viết trong năm 1943 ở tuổi 23 thì Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay của Vũ Hoàng Chương viết vào năm 1936-1939 khi ông 21 tuổi.
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nhà thơ nổi tiếng từ thời phong trào Thơ Mới thời tiền chiến. Trong khi Đinh Hùng (1920-1967) nổi tiếng với hai tập thơ Mê Hồn Ca (1954) và Đường Vào Tình Sử (1961), thì Vũ Hoàng Chương (1915-1976) với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, đó là tập thơ Hoa Đăng (1959) và 2 tập Thơ Say và Mây (sau in chung vào một tập mang tên Mây).
    • Năm 1959, Vũ Hoàng Chương đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca với tập thơ Hoa Đăng, một tập thơ được đánh giá rất cao, ông cũng là một trong 100 tác giả tên tuổi được đề cử giải Nobel Văn Chương năm 1972. Năm 1961, thi phẩm Đường vào tình sử của Đinh Hùng được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.
    • Sau khi mất hai thi nhân đều có tác phẩm xuất bản sau khi mất. Đinh Hùng với Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967, ngoài ra còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt. Về phần Vũ Hoàng Chương tập hồi ký Ta Đã Làm Chi Đời Ta doNXB Trương vĩnh Ký, Saigon năm 1970 được NXB Hội Nhà Văn tái bản năm 1993 tại TPHCM. Thi tấp Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, NXB An Tiêm, Sài Gòn (1970) in 2 lần và được Tái bản lại tại California, Mỹ sau năm 1975.
    • Trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn (1970) của họa sĩ Tạ Tỵ, người bạn văn nghệ chí thân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương gọi thơ Vũ Hoàng Chương là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc”, vì nhiều bài thơ của ông nói lên thân phận của kiếp người trên quê hương. Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau: “Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử”. Một lãng tử, có lẽ đúng bởi cái cuộc sống “Bất cần đời” của ông, chẳng tha thiết với danh vọng, hờ hững với vật chất xa hoa. 
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương đều chết trẻ. Đinh Hùng mất năm 47 tuổi và Vũ Hoàng Chương mất mất ở tuổi 61.

    THẾ GIỚI THI CA ĐINH HÙNG

    THI SĨ ĐINH HÙNG–(1920-1967)

    “Trời cuối thu rồi em ở đâu  

     Nằm bên đất lạnh chắc em sầu 

     Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy 

     Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu …”

    Chúng ta có thể nói Đinh Hùng là nhà “khảo cổ thi ca” đầu tiên đi ngược dòng lịch sử của những mảnh hồn nhân loại bị quên lãng theo thời gian. Thơ Đinh Hùng nói lên vẻ đẹp siêu thực tế, một tình yêu linh thiêng, một thế giới mới dựa trên linh thị của siêu cảm và trực giác. Thơ Đinh Hùng xóa mờ bức tường ranh giới giữa không gian và thời gian, hòa nhập con người với cõi vô thường, với những cảm xúc dữ dội và khốc liệt, tư duy và sự khuấy đảo đến kinh hoàng của hình tượng qua những vần thơ. Để hiểu rõ về người nghệ sĩ đa tài Đinh Hùng, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu xem yếu tố nào đã khiến cho ông giải bày niềm cảm xúc qua trang giấy một cách mãnh liệt như thế.  

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Đinh Hùng là nhà thơ tiền chiến, bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết. Ông sinh ngày 3 tháng 7, 1920 tại làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ ông theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, trung học tại trường Bưởi. Theo thi sĩ Vũ Hoàng Chương, sau khi thi đậu “cao đẳng tiểu học“, hạng bình thứ, Đinh Hùng được học bổng và trong khi đang theo học ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì ông bỏ ngang đi viết văn và làm thơ.

    “Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi
    Xa vở bài, mở rộng sách ham mê
    Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về
    Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn”

                                        (Khi Mới Nhớn)

    Tuy nhiên, tuổi thơ của Đinh Hùng là chuỗi ngày sầu thảm, sự mất mát liên tục của những người thân trong gia đình đã để lại nhiều vết thương trong lòng ông. Năm 1931, người chị thứ ba của ông tên Tuyết Hồng đã tự vẫn tại hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng chết khi còn rất trẻ và sau hết là cái chết của người bạn gái yểu mệnh tên Bích Liên. Đó là những biến động kinh hoàng trong cuộc đời xảy ra cho một con người.

    Dưới ngòi bút thiên phú, Đinh Hùng trở nên nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” được nhà văn Thế Lữ chọn in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh của ông, một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết kinh dị, lãng mạn, rùng rợn nhưng cũng đầy chất thơ do NXB Đời Nay in ấn năm 1941. Năm 1943, Đinh Hùng đang sống với người chị là Thục Oanh tại Hà Nội thì tập văn xuôi đầu tiên ra đời: Đám ma tôi được đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, một Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn…

     Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa

     Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết 

     Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết 

     Rộn xuân tình lên bộ ngực thanh tân…” 

                            (Kỳ nữ)

    Năm 1944, Vũ Hoàng Chương cưới Thục Oanh rồi về Nam Định, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài với sự cộng tác của Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch…Cũng trong năm ấy, Đinh Hùng tản cư theo tờ báo Cứu Quốc nhưng sau đó, ông về Thái Bình dạy học cùng người vợ mới cưới là Nguyễn Thị Thanh. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con trở lại Hà Nội, tại đây, ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô Văn Nghệ (1952) và tập thơ Mê Hồn Ca (1954).

    Tháng 8, 1954, Đinh Hùng cùng vợ con vào Sài Gòn cùng với gia dình của Vũ Hoàng Chương. Trong thời gian đầu, ông nhận viết báo, viết tiểu thuyết dài từng kỳ cho các nhật báo Sài Gòn như “Kỳ Nữ gò Ôn Khâu”, “Đao phủ thành Đại La”, v.v… và bình thơ tại Đài phát thanh Sài Gòn. Ngoài ra ông còn vẽ tranh vui và giữ luôn mục thơ trào phúng “Đàn ngang cung” với bút hiệu Thần Đăng. Sau đó ông lập ra tờ nhật báo Tự Do, cộng tác cùng với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong…Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận. Năm 1961, ông cho in tập Đường Vào Tình Sử, tác phẩm này được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.

    Phải chăng “Nhân tài thường hay chết yểu” hay bởi Đinh Hùng luôn bị ám ảnh bởi sự chết, hay là vì nhân chứng của nhiều cái chết, nên dưới ngòi bút tài hoa sẵn có, ông đã phác họa một cáo phó về cái chết của mình qua bài thơ Cung Đàn Tưởng Niệm, và được coi như là một di chúc viết cho chính bản thân ông. Ngay cả trong tác phẩm văn xuôi đầu tay của ông, ông đã chọn tựa đề rất lạ lùng: Đám Ma Tôi, được nhà xuất bản Tân Việt in năm 1943, lúc ấy ông mới có 23 tuổi. 

    …”Khi anh chết, các em về đây nhé 

    Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa 

    Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ 

    Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”

    Tháng 08 năm 1967, Đinh Hùng qua đời vì bệnh ung thư gan tại bệnh viện Bình Dân, ông được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Một điều kỳ diệu đã xảy ra là lời ước nguyện của ông khi còn sinh tiền đã biến thành hiện thực: “…Khi anh chết, các em về đây nhé… Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”. Thật vậy, bạn bè của Đinh Hùng kể lại là trong đám tang của ông người ta thấy có hai chục cô thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng đi theo linh cữu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuồng lòng huyệt, ngậm ngùi tiễn đưa người thi sĩ.

    Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967. Ngoài những tác phẩm trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.

    NHẬN ĐỊNH VỀ THẾ GIỚI THI CA CỦA ĐINH HÙNG

    Nói đến những bài thơ làm nên tên tuổi của Đinh Hùng, chúng ta không thể nào không nhắc đến tác phẩm đầu tay của thi sĩ do nhà xuất bản Tiếng Phương Ðông ấn hành tại Hà Nội năm 1954: Mê Hồn Ca. Dựa theo bài viết của Thủy Nguyệt, Mê Hồn Ca gồm 40 bài thơ ca ngợi tình yêu cuồng nhiệt của một tâm hồn lạc lõng, bơ vơ muốn tìm về một thế giới hư vô. Qua phong cách diễn tả độc đáo của tác giả, chúng ta nhận thấy trong ý thơ của ông vừa có vị nồng nàn, tha thiết, đau khổ chen lẫn mê hoặc, mà trong đó chất chứa một vũ trụ hoang sơ, rừng rú. Ở phần đầu Mê Hồn Ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác từ cô độc đến bi thiết qua những bài thơ: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên… Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác mà chúng ta tìm thấy trong thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia như trong Gửi người dưới mộ, Tìm bóng tử thần. Bài thơ Cầu hồn là điển hình cho sự ám ảnh trong ý thơ.

    Hồn ơi! Hồn tỉnh giấc thần,
    Đêm nay lạc xuống dương trần mà vui.
    Nghìn yêu ma che bước cõi Luân Hồi,
    Nhìn nghiêng mặt đất thấy trời hiển linh.
    Giữa đêm đời sẽ hồi sinh.
    Nhân gian hát khúc vong tình lên non.
    Đôi ta vào hội oan hồn,
    Âm dương tái hợp …

    Có những lúc chúng ta tự hỏi: Trong thế giới thi ca, hỏi mấy ai có thể tạo dựng một nghĩa trang huyền ảo như trong văn thơ của thi sĩ Đinh Hùng? Phải chăng cái chết và sự sống, thường bị chia cắt và giới hạn bởi không gian vật lý?  Phải chăng trong cõi tâm linh của Đinh Hùng khát vọng sự giao hòa, ao ước rằng con người có thể vượt qua mọi ranh giới để hướng đến khoảng cách vô tận ấy?   Ai có thể hiểu được vì sao Đinh Hùng đã viết lên những vần thơ đi vào cõi chết? Có phải đó là kết quả của nhiều đau thương mất mát trong gia đình liên tục xảy đến với ông, hay chính ông đã nhìn thấy sự chết cho chính mình, và ở đâu đây, lưỡi hái tử thần đang chờ đón ông?

    Mặc dù Mê Hồn Ca xuất hiện trên thi đàn giữa thời loạn ly, khi đất nước chia đôi nhưng đã lôi cuốn rất nhiều độc giả bởi hình ảnh liêu trai, bởi sự sống đầy mộng mị của trần gian và sự hoang lạnh của chốn âm cảnh, qua trí tưởng tượng phong phú đầy sáng tạo của thi sĩ Đình Hùng và trong thế giới mê hoặc, mờ ảo với những ảo giác hư thực của tiền kiếp đã trở thành một tuyệt tác dưới ngòi bút của Đinh Hùng.  

    Nàng năm mộng suốt đêm hè dưới nguyệt,
    Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao.
    Xa nấm mộ, chúng ta cuồng dại hết,
    Để yêu tà về khóc dưới non cao.
    Hồn Vệ Nữ lạc loài bên cửa huyệt,
    Xuân bi thương – ôi má thắm, môi đào!
    Bốn mùa trăng vào một hội chiêm bao,
    Trong giấc ngủ đẫm mùi hương phấn lạ.

    (Tìm bóng tử thần)

    Cái bi kịch của tình yêu, của gia đình với những ràng buộc khắt khe của tạo hóa đã đưa người nghê sĩ tài hoa Đinh Hùng lạc lõng trong xã hội loài người, bị ám ảnh bởi cái chết đã đi vào tư tưởng của ông rồi bộc lộ qua thi ca. Bài Gửi Người Dưới Mộ đã cho chúng ta một cảm nhận rờn rợn trong hồn:

    “…Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?

    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?

    Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy

    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu…“

    (Gửi người dưới mộ)

    Thơ của ông có nhiều sắc thái khác nhau, khi là sự hiện hình của một thực tại huyễn tưởng, một ngôn ngữ đầy ma mị, đầy hư ảo, khi thì bộc lộ sự cô độc, thảm thiết gần như muốn tìm vào cõi chết, thể hiện qua những bài thơ:  Mê Hồn Ca, Bài Ca Man Rợ, Những Hướng Sao Rơi. Lại có những bài thơ nghiêng về tôn giáo, tâm linh, đôi lúc ông thi vị hóa tình yêu như trong bài Kỳ Nữ, Hoa Sử, Hương Trinh Bạch. Ở một khía cạnh khác, chúng ta thấy thơ của Đinh Hùng, hình như bị ám ảnh bởi thế giới bên kia, nhập tâm tìm kiếm một ngõ ngách giao hòa cùng người thiên cổ, thể hiện qua bài: Cầu Hồn, Gửi Người Dưới Mộ, Tìm Bóng Tử Thần….

    …”Trong mộng trần duyên 

    Của người thiên cổ….”

    …”Trời ơi, đây nguyệt vô biên 

    Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ”.

                         (Tìm Bóng Tử Thần)

    Đọc bài thơ Liên Tưởng, chúng ta có cảm tưởng đây là những vần thơ mà Đinh Hùng đã viết cho một người con gái xinh đẹp yểu mệnh tên Bích Liên mà ông đã yêu say đắm trong ngây ngất. Một mối tình tinh khiết nhưng mãnh liệt, kỳ ảo nhưng huyền hoặc.  Phải chăng chính mối tình ấy đã tạo nên một ảnh hưởng sâu đậm trong tâm khảm của nhà thơ và đã đi theo ông trong suốt cuộc đời. 

    … Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.

    Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,

    Lén bước trang đài tới gặp ta

    Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn,

    Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên.

    Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng,

    Lửa hạ lên rồi … Ôi Ý Liên!”

    (Liên Tưởng – ĐVTS)

    Đinh Hùng và Bích Liên yêu nhau trong tuyệt vọng, khi Bích Liên qua đời vì bệnh lao, Đinh Hùng mới 20 tuổi, cái tuổi chập chững bước vào đời với khát vọng yêu đương, với cuồng phong bão tố của mối tình đầu. Cái chết của Bích Liên, cũng là sự mất mát rất lớn trong đời ông và đã biến con người ông trở nên như điên dại, nỗi đau đớn ấy khiến ông sáng tác một loạt thơ mới:  Thơ Chiêu Niệm, Liên Tưởng và Gửi Người Dưới Mộ đã đưa ông hướng sâu vào cõi chết, phải chăng, theo ông chết là giải thoát những khổ đau.

    Em đã về chưa?
    Em sắp về chưa?
    Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
    Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.
    Em hãy cười lên vang cõi âm.
    Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
    Những hồn phiêu bạt bao năm trước.
    Nay đã vào chung một chỗ nằm.

    Theo tác giả Đỗ Tường, khi Bích Liên chết, Đinh Hùng xin đến nhìn mặt người yêu lần cuối, đứng trước xác người yêu, ông đã làm một cử chỉ khiến tất cả mọi người phải kinh hoàng bởi ông điềm nhiên lật tấm vải liệm phù mặt cô gái ra, rồi cuối xuống hôn một cách say đắm.

    Qua xứ ma sầu, ta mất trí
    thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
    trời ơi! trời ơi! làn tử khí
    lạc lõng hương thầm đoá Bạch Liên

                                   (Cầu hồn)
    Phải chăng sự ám ảnh với những nỗi đau và cái chết khiến thơ của ông đã vượt quá giới hạn, vượt quá sự tưởng tượng của con người. Với ông cái chết là sự cuồng si, là cái đẹp, nó không chỉ đẹp trong thơ mà còn đẹp trong cả tiềm thức của người nghệ sĩ với nỗi đau và sự rung động của trái tim qua bài thơ Gửi Người Dưới Mộ.

    Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
    Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
    Em mộng về đâu?
    Em mất về đâu?
    Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu,
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa.
    Trong bài viết “Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cho rằng biểu tượng mạnh mẽ nhất của Đinh Hùng là cái chết với “mặt trời máu”, với “nấm mồ”, “tử thần”, “hồn ma” … Quả nhiên, trong hai phần “Chiêu niệm”, “Mê hồn” và cả bài trường thi “Thần tụng” cũng tràn ngập không khí của cõi chết. Nhưng cái chết trong thơ Đinh Hùng không phải sự tàn lụi và đau thương mà cái chết trong thơ Đinh Hùng rạo rực xuân tình, đầy sức sống:

    Cười lên em!
    Khóc lên em!
    Đâu trăng tình sử,

    Nép áo trần duyên?

    … Ta gởi bài thơ anh linh
    Hỏi người trong mộ có rùng mình?
    Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
    Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?”

    (Gửi người dưới mộ)

    … Hỡi hồn tuyết trinh!
    Hỡi người tuyết trinh!
    Mê em, ta thoát thân hình,
    Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.
    Em có vui thêm?

    Em có buồn thêm?
    Ngồi bên cửa mộ,

    Kể cho ta biết nỗi niềm.

    Sau khi Bích Liên mất, thi sĩ Đinh Hùng sống một cuộc sống “Lăng bạt kỳ hồ“, khi thì ông đi dạy học ở Hà Đông, khi thì gia nhập một ban nhạc tài tử ở vùng Bắc cạn, ông như người quẫn trí, ông khóc như điên dại, bỏ Hà Nội, đi Hải Dương, vượt sông Hồng Hà, ông bỏ lại tất cả và chỉ ôm ấp bên mình, bức di ảnh của Bích Liên.  

    … “Thần chết cười trong bộ ngực điên,
    Ta nghe em thở tiếng ưu phiền.
    Nỗi lòng xưa dậy tan Thanh Vắng.
    Hơi đất mê người – Trăng hiện lên.”

    …”Qua xứ ma sầu ta mất trí 

    Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền 

    Trời ơi!  Trời ơi! Làn tử khí …”

    Những cái chết trong gia đình, nhất là cái chết của Bích Liên, thi sĩ Đinh Hùng cho rằng định mệnh quá cay nghiệt với ông, ông muốn xuất trần, rút mình vào một thế giới siêu tưởng, tránh sầu bi? Phải chăng, ông đã vượt ra ngoài vòng vũ trụ, nhìn xuống dương trần với đôi mắt dửng dưng và tìm đến cái thế giới riêng cho ông, thế giới vô hình. (Thi Vũ 1993). Có thể điều này đã giải thích được phần nào những văn thơ huyền bí của ông. Trong thế giới siêu tưởng, Đinh Hùng mâu thuẫn với chính ông, khi hiền thì thật là hiền, nhưng có lúc thì trở nên dữ tợn. Trong cái thế giới tình yêu giả tưởng, lãng mạn và tình tứ ấy, thi sĩ Đinh Hùng đã tìm ra chân lý của mình.

    …“Trong im lặng, tôi rung mình nín thở,

    Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa.

    Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da,

    Tình yêu rợn tự đầu mày chân tóc…”

    (Giáp Mặt Phù Dung)

    Ngược lại, trong bài “bài Ca Man Rợ” ông rất dữ tợn:

    …”Ta về đây, lạ hết các người rồi,

    Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống.

    Trong bỡ ngỡ duy long còn chút mộng,

    Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa.

    Nàng không mong, ta đi đến không ngờ,

    Giây phút ấy thực mắt nhìn tận mắt,

    Ta mỉm cười bỗng thấy nàng che mặt

    Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa…”

    (Bài Ca Man Rợ)

    Theo tài liệu Wikipedia, hai thi phẩm nổi bật của Đinh Hùng là Đường Vào Tình Sử và Mê Hồn Ca.  Nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca như sau:  “Đây là loại thơ nói ít hiểu nhiều, thi sĩ Đinh Hùng đã sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mát. Có thể nói là thi sĩ Đinh Hùng chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire và Rimbaud“.  Thơ của Đinh Hùng nghiêng về tâm linh, siêu hình, bí ẩn và có chiều hướng thoát ly ra khỏi thực tế. 

    …”Khi miếu đường kia phá bỏ rồi 

    Ta đi về những hướng sao rơi 

    Lạc loài theo hướng chân cầm thú 

    Từng vệt dương sa mọc khắp nơi…

    … Rồi những đêm sâu bỗng hiện về 

    Vượn lâm tuyền, khóc rợn trăng khuya

    Đâu đây u uất hồn sơ cổ 

    Từng bước ma rừng theo bước đi”……

                       (Bài Ca Man Rợ)

    Tình yêu trong thơ Đinh Hùng không phải là những cảm xúc bình thường, mà là sự kết hợp của những mê dại nghiêng về tâm linh, huyền bí của thế giới kỳ diệu ái tình, một vũ trụ nhập nhòe giữa thực và ảo, chính là vũ trụ của một biển tình da diết trong thế giới âm dương.

    …“Ta thường có những buổi sầu ghê gớm 

    Ở bên em, ôi biển sắc rừng hương!

    Em rực rỡ như một ngàn hoa sớm 

    Em đến đây như đến tự thiên đường.

                           (Kỳ Nữ)

    “Kỳ Nữ” trong thơ của Đinh Hùng đã đưa chúng ta vào một không gian thần thoại với vẻ kỳ vĩ của trăng sao, của núi rừng. “Kỳ Nữ” với Đinh Hùng giống như nàng Galatae với chàng Pygmalion, nàng đại diện cho lý tưởng, cho cõi mơ, cho sự hoàn hảo mà người nghệ sĩ luôn tưởng đến.

    “Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo
    Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm
    Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm
    Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận”

    Khi bài Kỳ Nữ ra đời được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh, đã đưa tên tuổi của thi sĩ Đinh Hùng lên đỉnh cao nhất trong làng thi văn, và khẳng định rằng ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi từ đầy ma lực, điều này đã được thể hiện rõ rệt trong thi tập Mê Hồn Ca. Tuy nhiên, Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng là thế giới của say mê, hoang sơ man dại, chết chóc,  huyền bí, nhiệm mầu, của tình yêu tha thiết, mãnh liệt và kinh khủng của lứa đôi. 

    Anh sẽ tìm em, chiều nào tận thế
    Khi những sầu thương cất cánh xa bay
    Khi những giận hờn, khi những mê say
    Khi tất cả hiện nguyên hình ảo mộng:
    Giọt lệ hoa niên, cung đàn hoài vọng
    Và những hương thơm tình ái trao duyên
    Những không gian thăm thẳm mắt u huyền
    Những vạt áo bỗng trở màu sông biển

                            (Đường Vào Tình Sử)

    Ngoài những bài thơ huyền bí, thi sĩ Đinh Hùng sáng tác một số bài thơ ca ngợi tình yêu, nhưng khi đọc Kỹ, chúng ta thấy phảng phất lời văn hoang tưởng và xa vời thực tế. Nổi bật trong thể loại thơ này là bài thơ Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng với lời thơ trong sáng, ca tụng tình yêu đôi lứa, được nhạc sĩ Phạm đình Chương góp nhặt, trau chuốt, viết bằng cảm xúc xúc thành nhạc phẩm Mộng dưới hoa.

     …”Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng 

     Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng 

     Tóc xanh là bóng dừa hoang dại 

     Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    …”Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu 

    Đêm nằm nghe giấc mộng trôi mau

    Gió ơi, gởi gió lời tâm niệm 

    Và nguyện muôn chiều ta có nhau…”

    (Nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa)                                    

    Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng là hai bài thơ trong thi tập Đường vào từng sử, một tập thơ đầy nhạc tính. Trong hai bài thơ trên, Đinh Hùng muốn nói cuộc đời không phải lúc nào cũng là con đường đầy chông gai, tang thương, buồn thảm. Con đường ấy có khi cũng phủ đầy hoa gấm, mộng mị, yêu thương, dù là trong mộng tưởng.

    Nếu bước chân ngà có mỏi
    Xin em dựa sát lòng anh
    Ta đi vào tận rừng xanh
    Vớt cánh rong vàng bên suối

    (Xuôi dòng ảo mộng)

    … ‘Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,

    Nắng trong hoa, với gió bên hồ

    Dành riêng em đấy khi tình tự,

    Ta sẽ đi về những cảnh xưa…”

    (Tự Tình Dưới Hoa)

    Nhà văn Việt Haỉ viết “Mộng dưới hoa của Đinh Hùng và nhạc Phạm Đình Chương như hiểu nhau ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, những nốt nhạc ấy là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ”.  Nhà văn Việt Haỉ nhận định: “Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ”.

    …”Tóc xanh là bóng dừa hoang dại,

    Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    Trong bốn câu thơ dưới đây diễn tả một khoảnh khắc thời gian như dừng lại cho cặp tình nhân gặp nhau trong mộng.

    …”Nếu bước chân ngà có mỏi

    Xin em dựa sát long anh

    Ta đi vào tận rừ xanh

    Vớt cánh rong vàng bên suối…”

    Trong câu: Ta đưa nhau vào tận rừng xanh, vớt cánh rong vàng bên suối.

    “Cánh rong vàng” tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Hỏi ai có

    vớt được “cánh rong vàng”? hay đó chỉ là trong giấc mộng thôi.

    …“Bước khẽ cho long nói nhỏ

    Bao nhiêu mộng ước phù du

    Ta xây thành mộng nghìn thu

    Núi biếc song dài ghi nhớ.

    Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề

    Mây hồng giăng tám ngả sơn khê

    Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng

    Và mộng em cười như giấc mê…”

    Theo Võ Tấn Cường nhận định về thơ của thi si Đinh Hùng: “Đinh Hùng – một hồn thơ kỳ ảo với vũ trụ thơ thuần khiết, song hành với thực tại là hiện tượng thi ca đầy phức tạp và bí ẩn.  Số phận cuộc đời của Đinh Hùng và thi ca của ông chịu nhiều oan trái, bị chìm khuất dưới những dòng xoáy của thời cuộc cùng với những định kiến và quan niệm hẹp hòi về nghệ thuật” … Theo tôi, cái đẹp trong thơ Đinh Hùng huyền ảo, mầu nhiệm và gợn sắc màu sử thi như trong các bản trường ca Iliat và Ôđixê của  Hôme dưới thời kỳ lịch sử Hi Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ IX TCN (vì trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Hi Lạp trong giai đoạn này được phản ánh rõ nét trong 2 tập sử thi Iliát và Ôđixê, tương truyền là sáng tác của nhà thơ Hôme ở Tiểu Á. (Nguồn: https://bienniensu.com/thegioi/lich-su-hi-lap-thoi-ky-home/). Cái đẹp trong thơ Đinh Hùng mang bóng dáng và tinh thần nhân đạo của hình tượng người anh Hùng sử thi:

    …“Ta lảo đảo vùng đứng lên cười ngất

    Ghì chặt nàng cho chết giữa mê ly

    Rồi dày xéo lên song núi đô kỳ

    Bên thành quách ta ra tay tàn phá…”

                         (Bài ca man rợ)

    Dưới ánh mắt của Đinh Hùng cái đẹp là một thế giới đầy cám dỗ, huyền ảo, nhiệm màu và siêu thoát, ông tôn thờ tình yêu và xem nó như một thứ tôn giáo, ông đặt sắc đẹp lên ngôi, xem nó là một thứ quyền năng chi phối tâm linh, sự sống và sự chết, nó ảo hóa với muôn sắc thái và ma mị nên dễ gây ấn tượng rờn rợn khi ta được nghe hay đọc nó.

    …“Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác

    Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma

    Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà

    Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết

    Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết

    Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn

    Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn…”

                      (Kỳ Nữ)

    Thơ tình yêu của Đinh Hùng vượt qua nỗi khát khao dâng hiến, hướng về thế giới tâm linh huyền bí, siêu hình của tôn giáo, sự linh thiêng của cõi vô hình đã phủ lên thế giới tâm linh, hư ảo, huyễn hoặc trong thơ của ông qua vẻ đẹp lung linh, huyền bí trong thơ của Đinh Hùng:

    …“Ta hát bài kinh, thoảng dã hương

    Từng đêm chiêu niệm bắt hồn nàng

    Lời ra cửa biển tìm sao rụng

    Rỏ xuống mộ em giọt lệ thương…”                    
    Cái gì đã đưa Đinh Hùng đến với ám ảnh về cái chết, về bóng ma? Trong đời sống tôn giáo tâm linh, quan trọng nhất là đời sống sau khi chết, là đời sống thực của linh hồn. Linh hồn con người thoát khỏi thể xác và khám phá thế giới cõi âm. Điều này được ghi lại trong các thư tịch của Tây Tạng, Ai Cập, Trung Quốc và báo chí phương Tây. Trong cơn hấp hối, trong trạng thái mơ màng, con người tiếp xúc với thế giới âm, gặp gỡ những linh hồn của người lạ hoặc người quen trong quá khứ. Krishnamurti, một bậc thầy tâm linh đương đại nổi tiếng được sự kính ngưỡng của cả giới tôn giáo và giới khoa học thế kỷ 20, cũng đã thường xuyên có trải nghiệm này. Trong những biến đổi mãnh liệt nhất về tâm linh, khi ở giữa ý thức và vô ý thức, ông nhìn thấy bóng ma người mẹ quá cố của mình cùng với nhiều linh hồn của các bậc chứng ngộ khác. Ở trường hợp Đinh Hùng, nhà thơ đã trải nghiệm sự việc này khi mơ màng trong màu sương khói của mây mù thuốc phiện:
    “Từng đêm tôi nguyện tôi cầu
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa”

                       (Gửi người dưới mộ)

    Này Biển Giác: mây trời nghiêng nét mặt
    cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu

                        (Tìm bóng tử thần)
    Ta hằng nghe rõ
    tiếng buồn trong sương
    hằng thấy trên tường
    hình ma bóng nhớ
    chỗ em ngồi cũ
    lên màu khói hương
    (Màu sương linh giác)
    Và chính Đinh Hùng cũng thừa nhận đó là một trạng thái mộng mị, tức là cõi ảo dưới con mắt người thường, có điều trong cõi ảo ấy, tất cả đều rất thật, rất đắm say, tới mức muốn vứt bỏ cả xác trần:

    “đôi ta vào hội oan hồn
    âm dương tái hợp –
    ồ! đây là cuộc tân hôn dị kỳ
    nguyệt hoa mặc áo huyền vi
    màu nghê thường đó – trời ơi! xiêm y biến hình
    tôi van lơn bầy nhạc nữ đồng trinh
    đừng cao giọng hát – hồn các em lạc tinh anh bốn trời!
    đừng cho thể chất phục hồi
    đừng cho tôi khóc, tôi cười vì điên!”

                                            (“Cầu hồn”)
    Tóm lại, phân tích về thế giới thi ca cũa Đinh Hùng tùy thuộc vào cái nhìn của từng cá nhân, dù rằng nó có thể hoàn toàn khác với mọi người. Đôi lúc, người ta cho rằng nhận định của chúng ta là hoang tưởng, nhưng một khi đã bước vào cõi hư ảo, dù theo cách này hay cách khác, tức là đã từng trải nghiệm đời sống linh hồn, thì khó có thể nhìn vạn sự bằng nhãn quan của thế giới hữu hình. Theo người viết, “thơ Đinh Hùng là một thế giới mang đầy mê cung kỳ ảo” và vẫn còn trong sự huyền bí chờ đợi sự giải bày của những khối óc quan tâm đến vận mệnh thi ca của dân tộc. 

    VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    VŨ HOÀNG CHƯƠNG-(1915-1976)

    Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
    Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
    Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

    Trong một sự tình cờ, ngày 03 tháng 11 năm 2024 người viết đã gởi đến quý độc giả một hồi ký với tựa đề “Sinh Lầm Thế Kỷ”, một câu chuyện chân thực về cuộc sống ở Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm kể về một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại những ký ức đau thương về chiến tranh và nỗi khổ đau của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Tưởng cũng xin giải thích rõ là tại sao người viết lại cho đó là một sự tình cờ? Xin thưa: Lúc chọn tựa đề cho quyển hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ” người viết không hề biết thi nhân Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài thơ Phương Xa mà trong ấy cũng có câu “đầu thai lầm thế kỷ”.

    Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
    Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
    Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
    Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

    Dưới đây người viết xin lướt qua về:

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Vũ Hoàng Chương sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh–Na Sầm.

    Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, hồi cư về Hà Nội dạy văn cho đến 1975.

    Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam ở Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở các trường trung học và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1959 ông đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc” của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc tế tại Bỉ. Năm 1964 ông tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm 1965 tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire.

    Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai, lúc này tên tuổi của ông nổi bật trong phong trào Thơ Mới (1932-1945) và được gọi “Thi Bá Vũ Hoàng Chương”. Năm 1972, Vũ Hoàng Chương trong danh sách 100 tác giả được đề cử giải Nobel Văn Chương (The Nobel Prize in Literature), sự kiện này chỉ được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố ngày 11 tháng 02 năm 2023. (vì theo quy định thì sau 50 năm kể từ khi trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển mới công bố danh sách những người được đề cử Giải Nobel văn học của năm đó). Giải Nobel năm 1972 được trao cho cho nhà thơ Heinrich Böll của Đức, (Heinrich Böll đã từng được đề cử liên tục từ năm 1960 và mãi đến năm 1972 mới đoạt được giải).

    Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Theo Nhà văn Mai Thảo… Buổi sáng ngày 13 tháng 4 năm 1976 (theo lời chị Vũ Hoàng Chương thuật lại. Bốn chiếc Jeep đến từ phía Sài Gòn, chở đầy an ninh áo vàng mang súng ống, phóng thẳng tới phường Cây Bàng và ngừng lại trước con ngõ nhỏ dẫn vào căn gác của gia đình Vũ Hoàng Chương (Gác Bút). Khoảng 20 công an, nhẩy xuống xe, xô cửa ập vào đánh thức thi sĩ khỏi giấc ngủ chập chờn. Vũ Hoàng Chương gắng gượng ngồi dậy, lấy áo gấm mặc vào người, ngồi thật thẳng giữa chiếu, bất động, chờ đợi… Ông không kinh hãi, không phẫn nộ, không bất ngờ, cũng chẳng ngạc nhiên. Ông ngồi thẳng, mắt nhắm lại… Suốt thời gian này, thi sĩ không nói một lời nào khi ông nghe bản cáo trạng và lệnh bắt giữ, ông chỉ nhún vai rồi ngồi yên như cũ. Lý do bị bắt là phản động, làm thơ chống phá cách mạng phổ biến khắp Sài Gòn những bài thơ chống phá chế độ. Sau cuộc lục soát xong và tịch thu sách và bản thảo, hai công an xốc nách thi sĩ đứng lên, kèm ông xuống cầu thang và đưa thẳng ông vào khám lớn Chí Hòa…

    … Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối, không ai có tin tức của Vũ Hoàng Chương, ông được thả về khi trở bệnh nặng trong tù. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, nhưng thần trí của ông vẫn minh mẫn sáng suốt. Điều tuyệt đối là ông không nói một lời nào về bốn tháng bị giam trong Chí Hòa. Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại trong đau đớn và ngày thứ năm, ngày 17 tháng 9, 1976, thì ông mất tại Sài Gòn. Năm 1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp.

    Dưới đây là bài thơ cuối cùng của Vũ Hoàng Chương làm trong Khám Chí Hòa năm 1976:

    Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
    Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.
    Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
    Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
    Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
    Đêm về giấc ngủ lại thương con.
    Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
    Hồ dễ gì phai được tấc son!”

    Vũ Hoàng Chương có nhiều sáng tác để đời, được giới phê bình văn học đánh giá cao, và từng được xưng tụng là “Ngôi sao Bắc Ðẩu” của thi ca Việt Nam. 1975:

    Hơn bốn thập niên sau, thi ca Vũ Hoàng Chương không còn đề cập ở trong nước, một đời thơ của ông bị lãng quân, chôn vùi theo thân xác. Và ngay cả trong những tác phẩm đề cập đến những áng thơ hay trong Thi Ca Việt Nam cũng “quên” nhắc đến dòng thơ thi bá Vũ Hoàng Chương. (Vương Trùng Dương)

    NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG & THI CA

    Dựa theo tài liệu trên Internet, đã có rất nhiều bài bình luận nhận định về sự nghiệp văn chương & thi phú của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Họ cho rằng: Văn phong và phong cách của thi nhân được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc và chứa đựng sắc thái Đông phương. Vũ Hoàng Chương làm thơ rất sớm khi ông mới 25 tuổi (1940) và đã cho xuất bản rất nhiều thi tập.

    Tháng 10, 1936 ông xuất bản tập Die Achtundzwanzig Sterne, thơ dịch ra Đức ngữ, do nhà Hoffmann Und Campe, tỉnh Hamburg, Đức. Dịch giả là thi sĩ Áo Kosmas Ziegler. Trước 1945, ông có hai thi phẩm nổi tiếng vào thời tiền chiến là Thơ Say (1940) và Mây (1943). Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam đã nhận xét: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say nhưng “say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc”.

    Tập thơ đầu tay Thơ say gồm 32 bài thơ do tác giả tự xuất bản, nhà in Cộng Lực ấn loát và phát hành. Năm 1971, NXB Nguyễn Đình Vượng tái bản tập Thơ Say tại Sài Gòn, tập thơ chia làm nhiều phần như: Say, Mùa, Yêu, Cưới, Lỡ Làng, Lại Say. Bài thơ Say đi em, Phương xa, Chén rượu đôi đường, Mùa thu đã về và Quên là những bài thơ được nhiều người đọc và yêu thích nhất. Năm 1960, tại Sài Gòn Vũ Hoàng Chương tự tái bản 2 tập thơ Say gồm32 bài thơ và Mây gồm 25 bài thơ, in chung vào 1 tập mang tên Mây, Sài Gòn 1960. Người viết xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu:

    …“Say đi em! Say đi em!
     Say cho lơi lả ánh đèn,
    Cho cung bực ngả nghiêng

    Cho điên rồ xác thịt
    Rượu, rượu nữa!

    Và quên quên hết!
    Ta quá say rồi
    Sắc ngả mầu trôi…

                (Say đi em-1940)

    Và lại say nữa để mà quên.

    Đã hẹn với Em rồi, không tưởng tiếc
    Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
    Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu.

    Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
    Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
    Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.

                                    (Quên-1947)

    Năm 1948, Vũ Hoàng Chương xuất bản tập Thơ Lửa cùng với Đoàn Văn Cừ tại Thái Nguyên do cơ quan Kháng chiến Liên khu 3 đảm trách. Năm 1959, khi Vũ Hoàng Chương Tham dự Hội Nghị Thi Ca Quốc Tế, gặp gỡ nhà thơ nữ Ysabel Baes mới 15 tuổi đã có một thi tập được được Maison du Poète tại thủ đô Bruxelles xuất bản năm 1959. Bài thơ Công Chúa Mười Lăm, dài với 40 phân đoạn, mỗi đoạn 4 câu thơ thất ngôn. Toàn bài có 160 câu. Bài thơ “Công Chúa Mười Lăm” của Vũ Hoàng Chương tặng YSA không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là một hành trình vươn tới cái đẹp vĩnh hằng, là hình ảnh của một tình yêu và nghệ thuật. Tình yêu ấy là hành trình, là những cảm xúc, những giấc mơ và những hy vọng. Mối quan hệ giữa người thi sĩ và Công Chúa Mười Lăm là sự giao thoa giữa hai thế giới: thế giới của “thơ” và thế giới của “mộng”.

    Công Chúa Mười Lăm, nàng ở đâu?
    Tìm nàng, thôi đã nát Âu châu
    Ba Lê, Nhã Điển hay La Mã
    Đâu cũng rêu in lệnh Miễn Chầu…

    …Đê mê nhịp thở phút huyền ngưng
    Đôi lứa chìm sâu đáy Tượng trưng
    Ta nhủ: “Kìa em! Thơ mở lối
    Còn sâu hơn cả trái tim Rừng!”…

    Trong thời gian từ năm 1962 trở đi, Vũ Hoàng Chương đã cho xuất bản nhiều thi tập và tùy bút tại Sài Gòn gồm: Rừng Phong. 1970: Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, Tân Thi, Loạn Trung Bút, Ngồi Quán, Tâm sự phố phường, Tuổi Xanh, Ba Kiếp Lang Thang,Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai, Lửa Thiêng (Phần I: Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay 1936-1939), Ánh Trăng Đạo, Tập Bút Nở Hoa Đàm, Nhị Thập Bát Tú I & Tập II, Cành Mai Trắng Mộng. Đáng kể nhất là năm 1962, tập thơ Trời Một Phương trong đó có bài thơ Lửa Từ Bi ca ngợi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào tháng 07, do nhóm Thanh Tăng xuất bản vào tháng 12, 1962. Bài thơ Lửa Từ Bi Kính dâng lên BỒ-TÁT QUẢNG-ĐỨC đã được Hà Lan Phương và Nguyễn Hải phổ nhạc.

    Lửa! Lửa cháy ngất Toà Sen!
    Tám chín phương nhục thể trần tâm
    hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.
    Hai Vầng Sáng rưng rưng
    Đông Tây nhoà lệ ngọc
    Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,
    Ánh Đạo Vàng phơi phới
     đang bừng lên, dâng lên…

    1974: Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, NXB Rừng Trúc, Paris; Theo ông Hoàng Tấn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau” tặng nghệ nhân Quách Thị Hồ, người hát ca trù hay nhất Việtnam (danh hiệu NSND), xưa từng là bạn cố tri của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Hát ca trù cần có “đàn đáy”, do đó nội dung bài thơ sau đây đầy ắp những từ hát cô đầu, âm thanh vang tiếng “sênh, đàn, phách”.

    … Chúng ta mất hết cả rồi sao?

    Cả đến âm thanh một thuở nào!

    Da trống tơ đàn ôi trúc phách

    Đều khổ như khúc hát gầy hao

    Đàn mang tiếng đáy mà không đáy

    Mất hết rồi sao sợi nhớ thương

    Tay phách từ lâu nay lạc phách

    Không còn đựng mãi bến Tầm Dương…

    Bài Vịnh Tranh Gà Lợn của nhà thơ Vũ Hoàng Chương mà tác giả đã viết vào mùa xuân Bính Thìn (1976), cái tết cuối cùng của một đời thi bá.

    Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,

    Gà lợn, om sòm rối bức tranh.

    Rằng vách có tai, thơ có hoạ,

    Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.

    Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,

    Lòng lợn âm dương một tấc thành.

    Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,

    Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.

    Ngoài ra Vũ Hoàng Chương còn có một số tác phẩm được dịch qua Anh ngữ và Pháp ngữ như tập thơ Cảm Thông (nhan đề Anh ngữ là Communion); gồm 6 bài thơ mới sáng tác sau cuộc Âu du và 9 bài cũ lựa chọn lấy tính cách tiêu biểu; do Nguyễn Khang phiên dịch và xuất bản. Tập thơ Tâm Tình Người Đẹp (nhan đề Pháp ngữ là Les 28 Etoiles); gồm 42 bài thơ Nhị thập bát cú, kèm theo bản dịch của nữ thi sĩ Bỉ Simone Kuhnen de La Coeuillerie; Nguyễn Khang. Năm 1963, xuất bản tập Thi Tuyển (nhan đề Pháp ngữ là Poemes Choisis) kèm theo bản dịch của Simone Kuhnen de la Coeuillerie: do nhà xuất bản Nguyễn Khang vào tháng 03, 1963. Vũ Hoàng Chương đã dịch nhiều thơ chữ Hán từ nhiều tác gia Việt Nam và Trung quốc, khoảng 100 bài.

    Dưới đây là những bài thơ Vũ Hoàng Chương viết trong tập thơ Hoa đăng. Bài thơ Trả ta sông núi cho chúng ta cảm nhận tấm lòng yêu nước của con người dân Việt. Những bài thơ trong tập thơ Hoa Đăng rất dài nên người viết chỉ xin trích vài đoạn trong một số bài thơ của ông mà thôi.


    …Trả ta sông núi từng trang sử
    Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
    Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
    Không đòi, ai trả núi sông ta…


    …Trả ta sông núi! câu hùng tráng
    Là súng là gươm giữ đất đai

    Trông lên cao ngất phương trời
    Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.

    Bài thơ Đời Vắng Em Rồi của Vũ Hoàng Chương sau được đổi thành Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai. Tên này sau cũng được ông dùng đặt cho một tập thơ khác.

    Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu,
    Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu.
    Thôi rồi, tay nắm tay lần cuối,
    Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau.

    Gặp gỡ chừng như truyện Liểu Trai.
    Ra đi chẳng hứa một ngày mai.
    Em ơi! lửa tắt, bình khô rượu,
    Đời vắng em rồi, say với ai?
                                                 

    Yêu Mà Chẳng Biết là một trong những bài thơ mang tính thơ lãng mạng.

    Lâu rồi không nhớ bao nhiêu năm,
    Từ độ trông nhau hết lạ lùng,
    Từ hôm bên nhau thôi ngượng ngùng,
    Từ buổi xa nhau mà nhớ nhung.
    Em đã nao lòng, anh mê man!
    Đuôi mắt đầu môi tình chứa chan,
    Đêm thường mơ đêm, ngày đợi ngày.
    Nhưng không hề nói cho nhau hay.

    Bài thơ Giận Hờn là những cay đắng nhưng là bài thơ đặc biệt cho ta cảm giác nhẹ nhàng Của những điệp khúc tình yêu.

    Em đến hôm nào như hoa bay.

    Tình không độc dược mà đắng cay

    Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt

    Mùi hương sát nhân từng ngón tay

    Hay trong bài thơ Hờn Dỗi:

    … Anh vẫn nghe tiếng khóc

    Trong vạt áo len hồng.

    Anh vẫn nghe tiếng nấc.

    Dồn dập trên cgối nhung

    Sao em khóc vì đâu hờn dỗi

    Em buồn có phải lỗi anh không

    Hỏi em em chẳng nói

    Mặc anh xô cửa phòng…

    Một bài thơ Tình si.

    Vì ai làm một bài thơ
    Từ bao giờ đến bây giờ mới xong.

    Đầu trang vằng vặc gương trong
    Nhạc lơi cánh bướm hương phong nụ đào
    Cuối trang vần điệu xôn xao
    Lửa si mê bỗng cháy vào làn môi…
    Đền nhau một chiếc hôn rồi
    Mười lăm năm biết có nguôi giận hờn?…

    Cuối năm 1949, khi hai gia đình đang ở vùng Đống Năm, Thái Bình. Quân Pháp tràn tới, Việt Minh rút chạy. Hai gia đình Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng cũng chạy từ làng nọ tới làng kia. Cuối tháng 8 năm 1954, gia đình Vũ Hoàng Chương và gia đình thi sĩ Đinh Hùng di cư vào miền Nam, hai người thuê một căn nhà lợp tôn, vách ván tại xóm Hòa Hưng. Vũ Hoàng Chương cùng vợ ở trên gác, dưới nhà là tổ ấm của gia đình Đinh Hùng. Đất khách quê người, hai thi nhân sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo túng, họ tạm gác bút. Chán nản, họ vướng vào con đường nghiện hút (thuốc phiện). Lý tưởng tàn lụi, Vũ Hoàng Chương đã gởi niềm tâm sự vào trang giấy: Bài thơ Lý Tưởng.

    …Chàng họa sĩ hôm nay vừa ném bút.

    Bởi vì mơ và thực chẳng đi đôi.

    Nét hư Huyền thấp thoáng ở hồn thôi.

    Tài non kém chẳng đem vào lụa được…

    …Nhạc sĩ với thi nhân đều thế cả

    Dứt hết dây vò nát mấy mươi trang

    Xấu xa trong vần điệu ý huy hoàng

    Sai lạc nữa lúc phổ vào cung bậc…

    …Hồn nghệ sĩ vốn từ xưa nông nổi.

    Yêu thiết tha nhưng chẳng chịu thầm yêu.

    Kiếm hoài công bày giải ý cao siêu.

    Bằng gỗ lụa trơ trơ bằng thép rắn…

    NHẬN ĐỊNH VỀ LÃNH VỰC KỊCH NGHỆ

    Vũ Hoàng Chương đã xuất bản nhiều tập kịch thơ, 3 vở đầu tiên là Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp trong năm 1944, NXB Anh Hoa, Hà Nội. Tại Sài Gòn năm 1960, NXB Nguyễn Đình Vượng lại cho tái bản ba kịch bản này. Kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần, NXB Lửa Thiêng tại Sài Gòn cho ấn hành lần đầu năm 1951 và tái xuất bản năm 1961 ngay sau Cách mạng tháng 8. Năm 1946, Vũ Hoàng Chương tản cư về vùng duyên hải Nam Định (Khu Ba) nhưng đến năm 1950, ông cư về Hà nội để chuẩn bị cho diễn vở kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần năm 1951. Năm 1952, trinh diễn vở kịch thơ Thằng Cuội và năm 1953 ông cho đăng báo kịch thơ Cô Gái Ma.

    Tác phẩm Vân muội: Theo tác giả Phương Nghi, Vũ Hoàng Chương khi còn đang dạy học tại Hải Phòng và vào dịp rằm tháng bảy, ông cùng nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm, Lê Trọng Quỹ và Thế Lữ cùng đi nghe hát quan họ ở Kinh Bắc. Vũ Hoàng Chương đã từng làm xếp ga Bắc Ninh và có người yêu tên là Vân ở làng Dương Ổ. Vân chính là nàng thơ để Vũ Hoàng Chương viết kịch thơ “Vân muội” và ra tập thơ “Mây” năm 1943. Năm 1942, Vũ Hoàng Chương định lên thăm “nàng thơ”, nhưng khi đến ga Đầu Cầu thì gặp Tô Hoài và Nguyễn Bính và họ rủ nhau cùng đi lên Bắc Giang ghé thăm nhà thơ Bàng Bá Lân. Ba ông dự định khi gặp Bàng Bá Lân, họ sẽ rủ nhau di xem hát ả đào. Nhưng Bàng Bá Lân vốn tính tình hiền lành hiền việc đi xem hát ả dào đành phải bỏ và họ quyết định cùng nhau họa thơ.

    Duyên nợ không thành, Vũ Hoàng Chương phải chia tay “nàng thơ” xứ Quan Họ bởi vì nàng đã được gia đình gả chồng từ năm 12 tuổi. Kịch thơ “Vân muội” và tập thơ “Mây” ra đời là kết quả của cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa Huy Cận và Vũ Hoàng Chương ở Hàng Lược. Vừa gặp nhau, Huy Cận đã ngẫu hứng đọc hai câu lục bát: 

    “Đã lên gặp lại chàng sa.

    Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần”.

    Nghe xong, Vũ Hoàng Chương đối lại:

    “Mây kia chẳng chịu xuống trần.

    Lửa ơi! Theo khói lên gần với mây”. 

    KẾT LUẬN:

    Trong thế giới thi ca đã có những bài thơ nổi tiếng đã thu hút nhiền độc giả yêu thơ với những áng thơ nhẹ nhàng và tinh khiết như của Hồ dzếnh, Quang Dũng; những vần thơ tình tứ, lãng mạn như của Xuân Diệu, Nguyễn Bính; hay những lời thơ triết lý cao siêu của Cao Tiêu, Tô Đông Pha; cũng như những ý thơ nặng chất tuyệt vọng, cay đắng, khổ đau của TTKH, Hàn Mạc Tử… Nhưng chúng ta phải công nhận rằng, đọc thơ của Thi Nhân Đinh Hùng, chúng ta như bị lôi cuốn vào những vần thơ huyền bí của ông, những vần thơ khi thi biểu hiện lời êm ái, mộng mị, yêu thương lúc lại chen lẫn những vẻ liêu trai, ma quái và kinh dị. Và khi thưởng thức dòng thơ của Vũ Hoàng Chương chúng ta cảm nhận được hương vị đắng cay, bất mãn chen lẫn sự khinh miệt, chán chường của một nhân tài sống trong xã hội bất công.

    Đinh hùng không chỉ là nhà thơ lớn của dân tộc mà còn là một nghệ sĩ đa tài đích thực trên cả lĩnh vực âm nhạc và hội họa. 47 năm của cuộc đời trên 20 tác phẩm với nhiều thể loại từ thơ ca văn xuôi tiểu thuyết ký và phê bình văn học. Đám ma tôi là thi tập đầu của ông và thi tập cuối là Tiếng ca bộ lạc, nhưng hai thi tập Mê hồn Ca và Đường vào tỉnh sử mới thực sự làm nên tên tuổi của người nghệ sĩ tài năng Đinh Hùng. Cho đến nay thơ của Đinh Hùng vẫn còn trong vòng bí ẩn như con người của ông, một con người gặp quá nhiều oan trái và hình như cái Định mệnh khất khe, nghiệt ngã luôn buộc chặt vào cuộc đời của ông.

    Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, ông có nhiều tập thơ nổi tiếng và được yêu thích, trong đó phải kể đến tập thơ Hoa Đăng do Văn Hữu Á Châu xuất bản tại Sài Gòn năm 1959. Đây là một tập thơ được đánh giá cao và đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca. Hai tập Thơ Say và Mây in chung vào một tập mang tên Mây là những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của ông. Tiếc thay, thời cuộc đảo điên, nhà thay chủ đã đưa người nghệ sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đi vào con đường tuyệt vọng. (Tạp Chí Văn Nghệ.)

    Sau bao năm vắng bóng trên thi đàn thơ nhạc của dân tộc Việt, nhưng dư âm và danh tiếng của hai thi nhân Đinh Hùng & Vũ Hoàng chương vẫn sống mãi trong lòng độc giả yêu thơ.

    Khánh Lan, tháng 4, 2025

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Tạp chí Văn Học, Sài Gòn, số 97, 1969.
    • Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 150, 3/1970.
    • Lê Huy Oanh, Giai Phẩm Văn, Sài Gòn, 20/8/1974.
    • Phan Xuân Sanh. Tạp chí Đại Học, số 9, 1959, Huế.
    • Đoàn Thêm, Báo Văn Hóa Nguyệt san, Sài Gòn, 1964. 
    • Tạ Tỵ, Mười gương mặt văn nghệ, nxb Kim Lai, 1970 Sài Gòn.
    • Bàng Bá Lân : Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại, 1962, Sài Gòn.
    • Mai Thảo, Chân dung 15 nhà văn nhà thơ, Văn Khoa, 1985 California.
    • Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Thơ, nxb Văn nghệ, 1999 California.
    • Đỗ lai Thúy, Con Mắt thơ, nxb Lao Động, 1992, Hà Nội.
    • Chế lan Viên, Phê bình văn học, nxb Văn Học, 1962, Hà Nội.
    • Đặng Tiến, Từ điển văn học, tạp chí Thế Kỷ 21, 6/2005, California
  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    UYÊN ƯƠNG GÃY CÁNH (The Broken Wings)

    Khánh Lan sưu tập

    Kahlil Gibran là tác giả của tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh hay The Broken Wings, ông là thi sĩ có số lượng độc giả đông nhất trong thế kỷ 20, những tác phẩm của ông bán chạy và xếp hàng thứ ba trong mọi thời đại, sau Shakespeare và Lão Tử. Ký họa và tranh màu của ông được triển lãm ở nhiều nơi trên thế giới. Về mặt triết học, ông được xem như một triết gia đại chúng và là điểm hội tụ của tư tưởng Đông-Tây.

    Tác phẩm của Gibran là những nguồn tư tưởng của Kitô giáo nhuốm màu sắc đông phương bí nhiệm bởi ông là con người tôn giáo kiên định với lòng mộ đạo sâu xa, ông kính ngưỡng Đức Giêsu như một tấm gương dũng cảm và hy sinh, nhân ái và lạc quan. Ông tin rằng lòng tử tế trong con người là chiếc bóng của Thượng đế, ông tin vào sự hiệp nhất của các tôn giáo. Ông kêu gọi xóa bỏ bản tính ngược đãi và lạm dụng tôn giáo thể hiện rõ trong cuốn Đám rước, ông viế :

    “Đối với con người, tôn giáo giống như cánh đồng,

    được gieo trồng với hy vọng, được canh tác bởi lòng ngoan đạo,

    được chăm sóc bởi trí óc mông muội sợ lửa hỏa ngục.”

    Do đó, ta có thể cho rằng : Văn chương của Gibran viết theo thể điệu và kiểu mẫu Kinh thánh, đặc biệt giống như sách của các ngôn sứ và Thánh vịnh trộn lẫn giữa thơ và văn xuôi. Trong các tác phẩm của Gibran, ông kịch liệt lên án những thảm họa của đất nước, những dịch bệnh khô kiệt tinh thần và gieo khốn khó vật chất trên quê hương của ông, ông hăm dọa toàn thể loài người đã gây nên tội ác. Một thứ kiến thức pha trộn cái đẹp và lòng mộ đạo mà về sau ông được biết tới như là trường phái Gibran (Gibranism).

    TÓM LƯỢC CÂU CHUYỆN UYÊN ƯƠNG GẪY CÁNH

    Trong tiểu thuyết thơUyên Ương Gẫy Cánh (The Broken Wings), Kahlil Gibran đưa độc giả vào hành trình qua tình yêu, sự mất mát và sự thức tỉnh tâm linh. Lấy bối cảnh ở Lebanon vào đầu thế kỷ 20, câu chuyện vượt thời gian này khám phá sự phức tạp của các mối quan hệ giữa con người và hành trình tìm kiếm sự viên mãn đích thực. Đây là một câu chuyện tình bi thảm kể về cuộc đời của một họa sĩ trẻ tên là Khalil. Tiểu thuyết lấy bối cảnh ở Beirut, Lebanon, vào đầu những năm 1900 khi đất nước này nằm dưới sự cai trị của Ottoman. Khalil đem lòng yêu một cô gái trẻ tên là Selma Karamy, người có vẻ đẹp quyến rũ anh ngay từ cái nhìn đầu tiên. Khalil và Selma đã phải vượt qua những thách thức của tình yêu, bị cấm đoán, bị ràng buộc bởi kỳ vọng của xã hội và nghĩa vụ gia đình. Dù bất chấp mọi khó khăn, họ vẫn cố gắng giữ cho tình yêu của mình luôn tươi đẹp, nhưng số phận đã an bài cho họ một hoàn cảnh của “đôi uyên ương gẫy cánh”.

    Trong đó tình yêu và sự hy sinh mà con người thực hiện vì tình yêu đã thể hiệm qua mối tình yêu đích thực của Khalil và Selma, họ đã trải qua bao thử thách bởi các chuẩn mực xã hội, kỳ vọng của gia đình và sự khác biệt về tôn giáo. Cả hai đều phải đối mặt với những quyết định khó khăn và phải lựa chọn giữa tình yêu và nghĩa vụ của mình. Cuốn tiểu thuyết cũng đi sâu vào chủ đề tự do và áp bức, đặc biệt là trong bối cảnh Lebanon dưới sự cai trị của Ottoman. Trong tác phẩm The Broken Wings, cái mong muốn tự do cá nhân và nghệ thuật của Khalil bị xung đột với những ràng buộc do xã hội và sự áp đạt của gia đình Khalil. Tâm linh và sự thức tỉnh của Khalil trong “The Broken Wings” không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là sự thức tỉnh về mặt tâm linh. Qua những đấu tranh và đau khổ, Khalil bắt đầu đặt câu hỏi về bản chất của tình yêu, ý nghĩa của cuộc sống và sự tồn tại của một thế lực cao hơn.

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Ước, người đã dịch cuốn Uyên Ương Gãy Cánh chia sẻ: Với những trang sách chan chứa tình người, tràn ngập hình ảnh thơ mộng, sóng sánh chất thơ và bát ngát hương vị cảm xúc, Uyên ương gãy cánh mang tình yêu xuống chiều sâu thẳm tận đáy hồn người với những lý luận ngọt ngào của trái tim, và nâng tình yêu lên độ cao nhất, bất diệt với thực tại siêu việt. Từ đó, người đang yêu đọc nó và mỗi sớm mai “Được thức dậy lúc rạng đông với con tim chắp cánh, đưa lời cảm tạ vì có thêm một ngày yêu thương nữa.”

    Uyên Ương Gãy Cánh được xếp vào loại sách Triết lý – Tư tưởng, thuộc dự án Tủ sách Đời người của Omega Plus. Đặc biệt là phiên bản này có bút tích đề tặng viết tay kèm chữ ký của Gibran bằng tiếng Ả Rập, một bản in đầu tiên bằng tiếng Ả Rập năm 1912, sử dụng bộ tranh của chính Gibran.

    KAHLIL GIBRAN–(1883-1931)

    CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM

    Kahlil Gibran là một tiểu thuyết gia, họa sĩ, thi sĩ tâm linh với cung giọng ngôn sứ và triết gia theo chủ nghĩa hiện sinh hữu thần. Ông sinh ngày 06 tháng 01, năm 1883 tại làng Bsharri, thuộc vùng núi Miền Bắc Lebanon. Vào thời ấy, xứ sở ấy Lebanon là một phần của Syria, chịu sự đô hộ khắc nghiệt của Đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ. Nằm sát phía bắc vùng hoạt động chính của Đức Giêsu là Ga-li-lê.

    Duyệt qua lịch sử gia đình của Gibran đã giải thích cho chúng ta hiểu về bản chất và con người của ông. Thân mẫu Gibran, bà Kamila Rameh, là con của một linh mục thuộc Giáo hội Maronite. Đây là một hội thánh Kitô giáo Đông phương chiếm đa số dân chúng tại Li-băng (Lebanon). Phát nguyên từ Syria vào thế kỷ thứ bảy và tuyên bố có nguồn gốc từ Thánh Maron (qua đời năm 407). Giáo hội Maronite lưu giữ truyền thuyết và nghi lễ cổ đại, sử dụng tiếng Aram trong phụng vụ. Sau những biệt đãi của các đoàn quân Thập tự chinh, Giáo hội Maronite hiệp nhất với Giáo hội Công giáo La Mã kể từ năm 1182 nhưng được quyền tự bổ nhiệm hàng giáo phẩm. Vì nghèo và trường học ở xa, việc học của Gibran chỉ dựa vào những chuyến viếng thăm đều đặn của các linh mục. Họ dạy ông về tôn giáo, tiếng Aram là ngôn ngữ Đức Giêsu sử dụng và thịnh hành trong thời Tân ước, tiếng A Rập, tiếng Syria và mở mắt cho Gibran về lịch sử và khoa học. Chính vì vậy mà ông đã bị ảnh hưởng rất nhiều về sự giáo dục của giáo hội Maronite.

    Ngày 25 tháng Sáu năm 1895, năm mẹ con Gibran cập bến Hoa Kỳ. Họ định cư tại nam thành phố Boston trong một khu vực có cộng đồng người Syria và Li-băng đông vào hàng thứ hai sau New York. Vài tháng sau khi tới Mỹ, Gibran được tới trường, theo học lớp Anh ngữ dành cho trẻ em di dân. Nhờ tham gia sinh hoạt chung, khả năng vẽ và các bức ký họa của Gibran lọt vào mắt một tác viên xã hội tại trung tâm cộng đồng của khu phố, Gibran được giới thiệu cho Fred Holland Day, một họa sĩ và nhiếp ảnh gia cấp tiến của Boston. Fred Holland Day dùng Gibran làm người mẫu và bắt đầu hướng dẫn cậu về hội họa, văn học. Tại cơ sở của Fred Holland Day, Gibran cũng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng, ông được học nghệ thuật và bắt đầu sự nghiệp văn chương.

    Năm 1898, Gibran trở lại Li-băng để theo học đọc và viết tiếng Ả Rập và hoàn tất chương trình căn bản giáo dục A Rập bốn năm tại Minh triết Học đường (College of Al-Hikmah) của Giáo hội Maronite. Năm 1902 Gibran trở về Hoa Kỳ nhưng cô em gái Sultana đã qua đời bốn tuần trước đó. Qua năm sau, tới lượt mẹ và người anh Peter của ông cũng lần lượt qua đời vì cả ba đều không thoát khỏi bệnh lao phổi, đó cũng là căn bệnh đeo đuổi Gibran lúc cuối đời.

    Thiên hướng nghệ thuật dẫn dắt Gibran vào cuộc sống văn hóa của Boston, tỏ cho ông thấy thế giới phong phú của kịch trường, nhà hát và các cuộc triển lãm nghệ thuật. Năm 1904, vào ngày cuối cuộc triển lãm tranh lần thứ nhất của mình, Gibran gặp Mary Elizabeth Haskell, hiệu trưởng một trường nữ cấp tiến tại Boston và trở thành người bảo trợ mọi mặt cho Gibran trong suốt hai mươi năm về sau và là người duyệt các bản thảo tiếng Anh cho ông.

    Hai năm ở Paris, Gibran học tập hội họa tại Viện Julien (Académie Julien) và Trường Mỹ thuật Paris (Ecole des Beaux Arts de Paris). Tại Paris, ông được sự chỉ bảo của nhà điêu khắc thiên tài Pháp Auguste Rodin (1840-1917. Năm 1911 Gibran về lại Boston, tới năm sau ông dọn New York và dành trọn thì giờ cho việc vẽ và viết. Từ năm 1903, Gibran bắt đầu viết các tiểu phẩm đầu tiên bằng tiếng A Rập trong đó có cuốn sách mỏng về âm nhạc Nubthah fi Fan Al-Musiqa (1905) và tập truyện ngắn Linh hồn nổi loạn (1908). Từ năm 1918 trở đi, hầu hết sách xuất bản của ông đều viết bằng tiếng An, chúng góp phần vào nỗ lực cách mạng hóa ngôn ngữ thi ca và làm ông trở thành một khuôn mặt nổi tiếng thế giới.

    Năm 1920, Gibran là Chủ tịch sáng lập Văn đoàn Arrabitah, một hội văn bút tại New York gồm khoảng 12 thành viên trong đó có các văn thi sĩ A Rập như Mikhail Naimy (1889-1988), Iliya Abu Madi (1889-1957), Naseeb Arida (1887-1946), Nada Haddad (1881-1950) và Ilyas Abu Sabaka (1903-47), v.v. Họ dần dà nổi tiếng khắp thế giới Ả Rập vì các nỗ lực cách tân văn chương bảo thủ Ả Rập. Diễn đàn chính của văn đoàn này là tạp chí Al-Mahajar (Người di dân), tờ báo đầu tiên bằng tiếng Ả Rập tại New York. Những sáng tác phẩm và bài phê bình văn học của họ trên tạp chí này và các tạp chí khác tại Trung Đông đã dọn đường cho một tự do mới trong diễn đạt thi ca.

    Lúc Gibran còn sống, tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn hai chục ngôn ngữ. Tại Hoa Kỳ, sách của Gibran bắt đầu tạo ảnh hưởng đặc biệt lên văn hóa đại chúng ở Bắc Mỹ kể từ thập niên 1960. Ký họa và tranh màu của Gibran, vốn được Auguste Rodin so sánh với thi sĩ và họa sĩ thần bí người Anh William Blake (1757-1827), được triển lãm khắp thế giới. Trong tác phẩm văn học của Gibran thường đề cập tới tinh thần siêu việt, nhưng chủ đề chính trong họa phẩm của ông là những hình người khỏa thân, có khuynh hướng quấn quít nhau. Là người sáng tác dồi dào thơ văn, Gibran tự tay minh họa tác phẩm bằng ký họa biểu thị cho niềm hứng khởi sâu xa của tâm hồn, tâm trí và tâm linh con người, đầy tinh thần nhân văn và tôn giáo.

    Haskell cũng tặng bộ sưu tập cá nhân hơn 100 bức họa của Gibran cho Nhà Bảo tàng Nghệ thuật Telfair tại Georgia. Đó là bộ sưu tập lớn nhất của ông tại Hoa Kỳ, gồm tranh sơn dầu, màu nước, ký họa và các bản thảo viết tay. Các bài thơ và văn của Gibran, bằng tiếng Ả Rập và tiếng Anh, được nhiều học giả hợp tuyển thành hàng chục cuốn sách có nhan đề khác nhau về tình yêu, tôn giáo, tư tưởng, tâm linh ngôn sứ, v.v. Số sách viết về tiểu sử và tư tưởng của Gibran cũng lên tới hàng chục cuốn.

    Công trạng của Kahlil Gibran được ghi nhận ở nhiều nơi.

    • Năm 1971, Bộ trưởng Bưu điện và Viễn thông Li-băng cho phát hành con tem mang hình Kahlil Gibran.
    • Nhà Bảo tàng Gibran được dựng lên ở Bsharri, Li-băng.
    • Vườn Kahlil Gibran được khánh thành tại Beirut, Li-băng.
    • Ngày 27 tháng Chín năm 2008, nhân dịp 125 năm ngày sinh của Kahlil Gibran, tai Quebec Canada, mở con đường mang tên Kahlil Gibran
    • Khu Trượt băng An dưỡng Bách hương (The Cedars Resort Ski) ở Li-băng mở đường trượt băng Gibran Khalil Gibran.
    • Năm 1990, Vườn Tưởng niệm Gibran được khánh thành ở Thủ đô Washington, Hoa Kỳ.
    • Tháng Chín năm 2007, tại Brooklyn, New York, khánh thành Quốc tế Học đường Kahlil Gibran (Khalil Gibran International Academy).
    • Kahlil Gibran được vinh danh ở Bucharest, Romania.
    • Một tượng đài Kahlil Gibran được dựng lên bằng đá cẩm thạch tại Cuntiba, Brazil.

    Tại Việt Nam, tác phẩm của Kahlil Gibran được dịch rải rác tứ thập niên 1970 tới nay với các dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu, Đỗ Đình Đồng, Trần Văn Điền, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Yến Anh, Trùng Dương, Giả Nghiệm, Trần Văn Phương, Châu Diên, Đỗ Tư Nghĩa, Đăng Quang, v.v. và được độc giả trung niên cũng như thanh niên thuộc nhiều tôn giáo khác nhau đón nhận nồng nhiệt. Bộ sách Kalil Gibran gồm 25 cuốn, một số do Gibran viết bằng tiếng Anh, một số do các dịch giả chuyển ngữ từ tiếng A Rập sang tiếng Anh, tiếng việt. Ngoài ra, cuốn Thơ xuôi (Prose Poems) do Andrew Ghareed dịch với sự hợp tác và Lời nói đầu của Barbara Young được xuất bản sau khi Gibran qua đời. Vì khi còn sống, Kahlil Gibran tỏ ra không thích các bản dịch ấy. Bản chuyển ngữ của Anthony R. Ferris được dịch ra Việt ngữ với nhan đề gốc trong tiếng Anh có nghĩa là Các nữ thần thung lũng. Riêng cuốn Gãy cánh uyên ương (The Broken Wings), của dịch giả Nguyễn Ngọc Minh (Nxb Nguồn Sáng, Sàigòn, 1970). (Nguyễn Ước)

    Kahlil Gibran và những tác phẩm nổi tiếng như Ngôn sứ, Uyên ương gãy cánh, Tâm linh toàn mãn, Nhã ca tình yêu, Mật khải, v.v…Trong bài này, người viết chỉ xin đề cập đến hai tác phẩm: Ngôn Sứ (The Prophet) và Uyên ương gãy cánh (The Broken Wings).

    The Broken Wings : (Uyên ương gãy cánh) trong Tủ sách Triết lý – Tư tưởng, thuộc dự án Tủ sách Đời người. Phiên bản này có bút tích đề tặng viết tay kèm chữ ký của Gibran bằng tiếng Ả Rập, sử dụng theo bản in đầu tiên bằng tiếng Ả Rập năm 1912. Sử dụng bộ tranh của chính Gibran. Theo tác giả Nguyễn Ước thì tác phẩm Ngôn sứ (The Prophet) là tác phẩm nổi tiếng nhất của Gibran. Cuốn ấy về phong cách, chịu ảnh hưởng của cuốn Thus Sparke Zarathustra (Zarathustra đã nói như thế) của Nietzsche. Nhưng đối cực với Zarathustra, Almustafa của Gibran là một nhân vật tôn giáo, tin vào con người và Thượng đế đồng thời lạc quan trong cuộc sống và tương lai của nhân loại. Ngôn sứ gồm 26 bài thơ xuôi, phát biểu về các vấn đề nhân sinh nhưng với tâm tình của một thi sĩ triết gia hiện sinh hữu thần. Cuốn Ngôn Sứ được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ và bán được trên 100 triệu ấn bản. Từ thập niên 1960. Cuốn Ngôn sứ được xem như một loại kinh thánh hay sách thủ bản cho phong trào phản văn hoá (counter-cultural movement) của giới trẻ Hoa Kỳ và trào lưu Thời đại mới (The New Age). Thậm chí có giáo sĩ Kitô giáo dùng nó trong thánh lễ hôn phối. Cuốn sách này bán chạy và được ưa chuộng vào những năm 1930 và đặc biệt là trong trào lưu phản văn hóa những năm 1960.

    Gibran qua tác phẩm The Broken Wings để nhớ tới những người dân đang sống trong tinh thần và túng thiếu vật chất, cũng như phê phán quyết liệt lòng tham và sức mạnh thế tục của một số chức sắc tôn giáo, một tệ trạng kéo dài hàng trăm năm tại Liban. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ước, người đã dịch cuốn Uyên ương gãy cánh cho rằng đó là “những trang sách chan chứa tình người, tràn ngập hình ảnh thơ mộng, sóng sánh chất thơ và bát ngát hương vị cảm xúc, Uyên ương gãy cánh mang tình yêu xuống chiều sâu thẳm tận đáy hồn người với những lý luận ngọt ngào của trái tim, và nâng tình yêu lên độ cao nhất, bất diệt với thực tại siêu việt.”

    Cũng theo dịch giả Nguyễn Ngọc Minh, ông cho là người Đông phương chúng ta đã đem vào huyền thoại loài chim Uyên ương sống từng đôi trống mái, mỗi con chỉ còn một cánh, phải chấp nhau mà bay cùng. Chúng ăn ở với nhau tình thâm nghĩa trọng đến nỗi nếu một trong đôi lứa có mệnh hệ nào thì con kia đành xếp cánh tuyệt vọng trước những từng trời thăm thẳm. Chim Uyên Kahlil Gibran đã nhỏ từng giọt máu trong tim chép lại chuyện tình của chính mình như một chúc thư cho những tình nhân mai sau. Mối tình đầu của con người tài hoa đa cảm đó cũng là mối tình không-thể-thay-thế của ông; sau khi bị quê hương hắt hủi lưu đày biệt xứ, tác giả suốt đời lang thang phiêu bạt và không bao giờ lập gia đình. Đủ thấy vết thương ở tim tác giả còn đau buốt mãi cho đến lúc vĩnh viễn nhắm mắt.

    Nhưng con chim Uyên của Gibran vốn cao thượng khác thường đó không phải chỉ biết cất tiếng hót sầu thảm để oán trách Trời Đất đã ghen với tài tử và hồng nhan. Cho nên người đời còn được đọc những tác phẩm hào sảng hùng tráng khác của Kahlil Gibran. Đó chính là nhờ ngọn lửa thiêng bất khả diệt trong tâm hồn tác giả. Và cũng nhờ sự hy sinh cao quý của chim Ương: tự mình cắt lìa chiếc cánh bị thương để chim Uyên có thể bay đi đem tiếng hót tặng cho đời…. Câu truyện tình yêu này nói lên sự thuỷ chung, sống cho trọn tình nghĩa.

    The Prophet: (Ngôn Sứ) Kahlil Gibran nổi tiếng nhất với tập thơ “The Prophet,” một tác phẩm về phong cách, một tiểu thuyết truyền cảm hứng cho hàng loạt các bài tiểu luận triết học và đã được dịch sang hơn 100 ngôn ngữ khác nhau. Phong văn của Kahlil Gibran hòa quyện giữa các truyền thống từ Đông sang Tây, từ Hồi giáo đến Kitô giáo và từ các tư tưởng cổ điển đến các luồng tư duy hiện đại. “The Prophet” gồm 26 đáp từ bằng lối nói đầy chất thơ chuyên chở những cái nhìn thấu suốt, ứng xử với các chủ đề lớn của cuộc đời trên nền tảng chân thiện mỹ, như hạnh phúc và đau khổ, tình yêu và cái chết, lao động và của cải, hôn nhân và con cái, tình bằng hữu và luật pháp, thiện ác và tôn giáo, ăn mặc và cầu nguyện, v.v.

    “The Prophet” kể về Almustafa, một giáo viên sống ở thành phố Orphalese trong 12 năm. Khi ông chuẩn bị lên tàu trở về quê hương, người dân thành phố tụ tập lại để chào tạm biệt ông và xin những lời khuyên cuối cùng của ông. Cuốn sách được cấu trúc với 26 bài thơ văn xuôi, mỗi bài đề cập đến một khía cạnh khác nhau dựa trên kinh nghiệm con người. Almustafa trả lời các câu hỏi của dân làng về các chủ đề như tình yêu & hôn nhân, niềm vui & nỗi buồn, tội ác & hình phạt và cái chết. Nội dung của The Prophet có vẻ nghiêng về tâm linh và triết học, chủ đề chính trong “The Prophet” là mối liên hệ cơ bản giữa mọi khía cạnh của cuộc sống. Gibran cho rằng những khái niệm có vẻ đối lập nhưng thực chất lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ví dụ, trong chương về Niềm vui và Nỗi buồn, ông viết:

    “Niềm vui của bạn chính là nỗi buồn được phơi bày.

    Và chính tiếng cười của bạn trào ra thường chứa đầy nước mắt của bạn.”

    Triết lý của Gibran thúc đẩy quan điểm toàn diện về cuộc sống, thúc giục tìm kiếm sự cân bằng và chấp nhận trong mọi tình huống. Bản chất của tình yêu Khám phá của Gibran về tình yêu trong “The Prophet” rất đa dạng, đề cập đến tình yêu lãng mạn, tình yêu bản thân và tình yêu phổ quát. Ông trình bày tình yêu như một sức mạnh biến đổi vừa thách thức vừa nuôi dưỡng sự phát triển cá nhân. Trong chương về Tình yêu, Almustafa khuyên: “Hãy yêu thương nhau, nhưng đừng tạo ra mối ràng buộc của tình yêu: Hãy để nó là một vùng biển chuyển động giữa bờ tâm hồn bạn.” Ẩn dụ này chính là quan điểm của Gibran về tình yêu như một sức mạnh năng động, luôn thay đổi, cho phép tự do cá nhân và sự phát triển trong các mối quan hệ tình cảm. Quan điểm của tác giả về tình yêu khuyến khích người đọc vun đắp những mối liên hệ sâu sắc trong khi vẫn duy trì ý thức về bản thân.

    Ở Ả Rập, Gibran được coi là một nhà văn mới, nghiêng về lĩnh vực chính trị. Phong cách lãng mạn của ông là trọng tâm của thời kỳ phục hưng trong văn học Ả Rập hiện đại, đặc biệt là thơ văn xuôi, thoát khỏi trường phái cổ điển. Gibran được muôn triệu người trên thế giới đánh giá là thiên tài bất tử, một tác giả tôn giáo và bí nhiệm, được đại chúng đọc nhiều nhất và được thảo luận rộng rãi nhất trong thế kỷ 20 cũng như sang thế kỷ 21. Ở Liban, ông vẫn được ca ngợi là một anh hùng văn học, được biết đến trên thế giới với cuốn sách The Prophet xuất bản năm 1923, một tiểu thuyết truyền cảm hứng bao gồm một loạt các bài tiểu luận triết học được viết bằng văn xuôi tiếng Anh đầy chất thơ.

    Khi còn sống, ước nguyện của Gibran là được vĩnh viễn trở về Bsharri nơi chào đời của mình mà nay đã thành một thị trấn. Cô em Mariana và người bạn tri kỷ Mary Haskell hoàn thành di nguyện ấy bằng cách mua lại Tu viện Mar-Sarkis để an táng ông. Nơi đó hiện nay còn có Nhà Bảo tàng Kahlil Gibran, và trở thành một địa điểm hành hương cho những kẻ ngưỡng mộ Gibran. Gibran cũng để lại tất cả tiền tác quyền của mình trong vòng 28 năm cho thị trấn Bsharri dùng vào sinh hoạt công ích. Bên phần mộ ông, người ta thấy có khắc dòng chữ :

    “Tôi đang sống giống như bạn, và tôi đang đứng cạnh bạn. Hãy nhắm mắt lại và nhìn quanh, bạn sẽ thấy tôi trước mặt bạn . . .”

    Theo di chúc, Gibran để lại cho Mary Haskell tất cả những gì đang có trong xưởng vẽ của ông ở New York. Trong những vật thu thập được, bà khám phá ra các lá thư mình đã gởi cho ông trong suốt hai mươi ba năm. Bỏ qua ý định ban đầu là chấp nhận đốt chúng thể theo lời đề nghị của Barbara Young nhằm thần thánh hóa Kahlil Gibran, bà kết hợp 600 bức thư của đôi bên cùng nhật ký của mình, làm thành cuốn sách viết về con người Kahlil Gibran, có nhan đề Ngôn sứ yêu dấu (The Beloved Prophet) được xuất bản năm 1972. Sau đó, bà trao tất cả di sản của Gibran cho Đại học North Carolina.

    Gibran qua đời năm 1931 tại New York vì bệnh xơ gan và lao phổi thời kỳ đầu. Buổi tiễn biệt ông trên bến tàu New York có đủ đại diện của các tôn giáo như Công giáo, Tin Lành, Do Thái giáo, Hồi giáo, v.v. Lễ tang ông tại Boston được tổ chức trang trọng và cảm động theo nghi thức Công giáo ở thánh đường tại Tyler Street. Sau đó, thi hài Gibran đưa về Li-băng, được chính quyền và dân chúng tổ chức liên hoan đón rước. Linh cửu được mang vào Nhà thờ Chánh toà St. George của Giáo hội Maronite tại Beirut với nghi lễ tiếp nhận do Đức Tổng giám mục Ignatius Mobarak chủ tế; sau đó, đem về Bsharri.

    KẾT LUẬN

    Kahlil Gibran được xem như một trong các đạo sư vĩ đại của thế kỷ 20, tên tuổi của ông được nhắc đến khi nói về triết học và văn chương. “The Broken Wings” và “The Prophet”  là những tác phẩm được viết về chiều sâu của tình yêu và tinh thần con người. Văn xuôi đầy chất thơ và cách kể chuyện sống động của Gibran đưa người đọc đến Lebanon đầu thế kỷ 20 về câu chuyện tình yêu, mất mát và tự khám phá. Các chủ đề về tình yêu, sự hy sinh và theo đuổi tự do gây được tiếng vang với độc giả, khiến cuốn sách này trở thành tác phẩm kinh điển vượt thời gian. “The Broken Wings”” và “The Prophet” của Kahlil Gibran là hai cuốn sách hấp dẫn và khơi gợi suy nghĩ, đi sâu vào sự phức tạp của tình yêu và trải nghiệm của con người. Thông qua câu chuyện của 2 tác phẩm, Gibran đưa ra những hiểu biết sâu sắc về bản chất của các mối quan hệ, việc theo đuổi tự do cá nhân và sức mạnh của tâm linh. Đây là một tác phẩm tình yêu và tình trạng của con người một cách đầy chất thơ và nội tâm.

    Tất cả các phẩm của Kahlil Gibran không chỉ là những dòng thơ mà còn là những lời khuyên, những bài học về cuộc sống, tình yêu, tự do và tâm hồn. Mỗi câu chuyện là một dụ ngôn trình bày những chân lý cao siêu, Kahlil Gibran được ví như một cầu nối giữa vũ trụ tinh thần và thế giới vật chất, giữa cái linh thiêng và cái phàm tục. 19 bài học trí tuệ là sự kết hợp tuyệt vời, ca tụng những vẻ đẹp hữu hình cũng như vô hình, chứa đựng thông điệp cao cả, vượt thời gian về một thế giới đại đồng, tôn giáo hòa đồng, loài người huynh đệ và một tình yêu hằng cửu nối kết con người với nhau trong tình yêu Thượng Đế, giữa một trần gian hiệp nhất với không gian.

    Thật vậy, dòng chữ để đời đã nói lên con người của Kahlil Gibran, một Gibran sống mãi trong lòng mọi người:

    “Tôi đang sống giống như bạn, và tôi đang đứng cạnh bạn.

    Hãy nhắm mắt lại và nhìn quanh, bạn sẽ thấy tôi trước mặt bạn . . .”

    Khánh Lan, April 30, 2025

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Kiều My

    QUÊ HƯƠNG…TRONG NỖI NHỚ

    Kiều My

    Đã năm mươi năm xa quê hương, nhưng nỗi nhớ về đất mẹ vẫn vẹn nguyên, như một dòng sông không bao giờ cạn. Quê hương Việt Nam, với những dãy núi trùng điệp, bờ biển mênh mông, với những con đường làng xưa, và những cảnh sắc thiên nhiên kỳ vĩ, với tình người đậm đà…là những hình ảnh luôn khắc sâu trong tâm trí tôi và thao thức mong ngày về được sống lại trên mảnh đất thân yêu.

    Vậy chúng ta cùng đồng hành  trên hành trình ký ức để hồi tưởng lại những địa danh đẹp muôn thuở của đất nước. Hãy bắt đầu từ thác Bản Giốc, nơi địa đầu Tổ quốc, rồi lần lượt men theo miền Trung, xuôi về phương Nam… như dòng sông chảy ngược về nguồn.

    Thác Bản Giốc – khúc tình ca của núi rừng biên giới

    Thác Bản Giốc – nơi dòng nước trong veo rì rào đổ xuống từ vách đá cao, tạo thành một khung cảnh huyền bí và hùng vĩ, nơi mây núi thì thầm chuyện tình biên giới. Mỗi lần nhắc đến thác Bản Giốc, tôi lại nhớ đến sự thanh bình của vùng đất phía Bắc, nơi những cánh đồng lúa mênh mông và những bản làng yên ả nằm bên dòng sông Quây Sơn.

    Tôi vẫn nhớ như mới hôm qua, hình ảnh thác Bản Giốc đổ xuống giữa bốn bề núi non xanh ngát, bọt nước tung trắng xóa như mây trời tạo thành những dòng suối tóc. Ở nơi địa đầu tổ quốc ấy, thiên nhiên không nói bằng lời, mà thì thầm trong tiếng thác đổ, trong hơi sương mát rượi quyện theo từng bước chân người lữ khách. Thác Bản Giốc không chỉ là một thắng cảnh; đối với tôi, đó là biểu tượng của một miền ký ức mênh mang và trong trẻo, nơi tôi học cách yêu vẻ đẹp hoang sơ, tinh khôi của quê hương. Tiếng thác như nhịp tim của núi rừng, rì rầm không dứt, nhắc tôi nhớ về một phần hồn đất Việt – sâu lắng, bao dung, và kiêu hãnh.

    Đứng nơi ấy, người ta thấy mình nhỏ bé giữa cảnh hùng vĩ của thiên nhiên, nhưng cũng thấy cõi  lòng được mở rộng bởi niềm tự hào về quê hương. Tôi nhớ những cánh đồng lúa chín ven đường, nhớ ánh mắt hiền lành của người dân tộc Tày, Nùng với tiếng nói dịu dàng như khúc hát ru xa xưa. Dẫu đã năm mươi năm xa quê, thác Bản Giốc trong tôi vẫn chảy — không phải bằng dòng nước, mà bằng dòng nhớ, âm thầm và dai dẳng như một bài ca không lời mang tên: Quê Hương.

    Mời bạn cùng tôi xuôi xuống vùng biển Đông Bắc, nơi kỳ quan thiên nhiên thế giới hiện lên như một bức thủy mặc sống động — Vịnh Hạ Long.

    Vịnh Hạ Long – Khúc thủy mặc của quê hương

    Có những buổi sớm mai tôi không bao giờ quên được – Khi mặt trời còn lấp ló sau làn sương, và từng vệt nắng nhẹ như buông tay lên mặt biển phẳng lặng của Vịnh Hạ Long. Những hòn đảo đá vôi chập chùng nhô lên giữa làn nước xanh ngọc, như hàng ngàn nét chấm phá kỳ ảo của một bức tranh thiên nhiên mà người họa sĩ tài hoa đã tô điểm. Vịnh Hạ Long, một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới, vẫn luôn hiện diện trong tâm trí tôi một khung trời huyền ảo tuyệt đẹp giữa vùng nước biển trong vắt phản chiếu ánh nắng vàng ươm.

    Đây là nơi tôi từng thả hồn vào những cơn gió biển mát lạnh, quên đi mọi ưu phiền. Vẻ hùng vĩ mà thơ mộng của Vịnh Hạ Long, như một bản giao hưởng kỳ diệu giữa trời mây non nước. Hạ Long — cái tên vang lên như một lời thì thầm cổ tích. Tôi đã từng lênh đênh trên con thuyền nhỏ giữa vịnh, nghe sóng thì thào chuyện ngàn năm trong lòng hang động, trong tiếng gió lùa qua các vách núi, và trong ánh nhìn của người lái đò — người mà gương mặt hằn nắng gió vẫn ánh lên một nụ cười hiền lành.

    Tôi nhớ buổi chiều tà, khi biển khoác lên mình màu rượu vang, những cánh buồm trắng lững lờ trôi như những giấc mơ mỏng manh. Hạ Long khi ấy không còn là một điểm đến, mà là một miền thơ, nơi tôi thấy lòng mình dịu lại, yên bình như một trang sách cũ giở lại giữa đời gió bụi tha hương.

    Năm mươi năm, đã bao lần tôi mơ được một ngày quay về, đứng trên mũi thuyền, dang tay hứng làn gió mằn mặn, để nghe tim mình thổn thức giữa trời nước bao la – nơi tôi đã gửi lại thời tuổi trẻ, một phần hồn quê lặng lẽ và đầy thương nhớ.

    Biển Đà Nẵng – nơi nắng gió hòa quyện cùng tình người

     Biển Đà Nẵng hiện lên trong ký ức tôi như một bức tranh sống động, nơi bầu trời xanh biếc gặp gỡ mặt biển mênh mông, tạo nên một đường chân trời vô tận. Những con sóng nhẹ nhàng vỗ bờ, mang theo hương vị mặn mòi của biển cả và âm thanh rì rào như lời ru của mẹ.​

    Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời vừa ló dạng, ánh nắng vàng nhạt phủ lên bãi cát mịn màng, và những ngư dân cần mẫn kéo lưới, chuẩn bị cho một ngày mới. Tiếng cười nói rộn ràng, sự hối hả nhưng đầy thân thiện của người dân nơi đây, khiến lòng tôi ấm áp lạ thường.​

    Buổi chiều, khi hoàng hôn buông xuống, bầu trời nhuộm đỏ rực rỡ, phản chiếu lên mặt biển lấp lánh ánh vàng. Tôi thường dạo bước trên bãi biển, để gió biển thổi tung mái tóc, để tâm hồn được thả trôi theo từng con sóng, và để tình yêu quê hương ngập tràn theo tiếng sóng rì rào. Dù đã xa quê hương năm mươi năm, hình ảnh biển Đà Nẵng vẫn luôn sống động trong tâm trí tôi – như một phần máu thịt, như một khúc ca dịu dàng của miền Trung yêu dấu.​

    Đà Nẵng, thành phố biển hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp hoang sơ của những bãi biển dài và những ngọn núi kỳ vĩ. Tôi nhớ những chiều hoàng hôn dạo bước trên bãi biển Mỹ Khê, ngắm nhìn những cánh sóng vỗ về bờ cát. Đà Nẵng cũng là nơi tôi tìm thấy sự bình yên trong lòng khi ngắm nhìn vẻ đẹp thu hút của Bà Nà, nơi có những làn sương mờ ảo phủ lên những ngôi chùa và cây cầu vàng tuyệt đẹp.

    Nào! Chúng ta cùng xuôi dọc xuống miền cát trắng đầy nắng gió, dừng chân nơi thành phố biển hiền hòa và xinh đẹp — Nha Trang, nơi mà mỗi con sóng như nhắc lại một đoạn thanh xuân, và mỗi ánh bình minh như một lời hẹn hò với ký ức.

    Nha Trang – miền biển xanh trong như tuổi trẻ

    Nha Trang, thành phố biển với bãi cát trắng mịn màng và nước biển trong xanh, là một thiên đường của những ngày hè nắng vàng. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp tự nhiên mà còn với sự ấm áp, hiếu khách của con người. Tôi nhớ những bữa hải sản tươi ngon, những chuyến thuyền ra khơi ngắm đảo Hòn Tằm, và đặc biệt là cảm giác thư giãn tuyệt vời khi ngâm mình trong làn nước biển trong vắt.

    Tôi nhớ Nha Trang không phải bằng hình ảnh, mà bằng cảm giác. Một cảm giác dịu nhẹ, ngọt ngào như mùi gió biển buổi sớm, như màu trời trong veo phản chiếu trên làn nước ngọc bích. Nơi ấy, mọi thứ dường như chậm lại — từ nhịp thở của sóng, bước chân của khách dạo biển, đến ánh mắt đắm say của kẻ lần đầu nhìn thấy vẻ đẹp của biển quê hương.

    Bờ cát trắng dài bất tận, nước biển xanh như chạm được đáy trời. Những chiếc thuyền nhỏ neo mình bên bờ, lặng lẽ như chính sự hiền hòa của con người miền biển. Hồn trôi dạt về quá khứ, tôi từng đứng đó để gió thổi tung áo, mắt dõi theo những cánh hải âu bay vút lên nền trời xanh thẳm; mà giờ đây cõi lòng như vỡ ra bởi nỗi nhớ — vừa ngọt ngào, vừa nhói đau.

    Nha Trang không ồn ào, dù phố thị ngày nay đã đổi khác. Nhưng trong ký ức tôi, đó vẫn là một thành phố của sự bình yên, nơi có thể tìm được một buổi sáng bên ly cà phê, nghe sóng vỗ nhẹ và lòng chợt lắng đọng trong một thoáng thanh thản hiếm hoi giữa cuộc sống bề bộn.

    Năm mươi năm nơi đất khách, có những đêm tôi mơ thấy mình trở về, đi chân trần trên cát ướt, và nghe tiếng gọi thì thầm của quê nhà vọng lên từ biển cả mênh mông ấy — Nha Trang, trong tôi mãi là một khúc tình ca chưa dứt.

    Đà Lạt – thành phố mộng mơ giữa sương mù và thông reo

    Đà Lạt hiện lên trong ký ức tôi như một bức tranh thủy mặc dịu dàng, nơi sương mù ôm ấp từng ngọn đồi, và rừng thông thì thầm những bản tình ca bất tận. Thành phố cao nguyên này, với độ cao khoảng 1.500 mét so với mực nước biển, mang đến khí hậu ôn hòa quanh năm, được mệnh danh là “Thành phố của mùa xuân vĩnh cửu”. ” Đà Lạt với sương mù và muôn hoa, như giấc mơ còn dang dở.

    Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời vừa lố dạng, ánh nắng nhẹ nhàng xuyên qua làn sương mỏng, tạo nên một khung cảnh huyền ảo. Hồ Xuân Hương phẳng lặng như gương, phản chiếu bóng dáng của những hàng thông xanh rì rào trong gió. Dạo bước trên con đường quanh hồ, tôi cảm nhận được sự bình yên lạ thường, như thể thời gian cũng chậm lại để lắng nghe nhịp đập của trái tim.

    Đà Lạt không chỉ nổi tiếng với khí hậu mát mẻ, mà còn bởi những công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn minh Pháp, như nhà thờ Con Gà, ga Đà Lạt, và dinh Bảo Đại. Mỗi công trình là một câu chuyện, một phần lịch sử được lưu giữ qua năm tháng. Đặc biệt, “Ngôi nhà điên” – một công trình kiến trúc độc đáo với thiết kế kỳ lạ, thu hút sự tò mò của du khách từ khắp nơi.

    Tôi cũng không thể quên những buổi chiều se lạnh, khi thành phố lên đèn, ánh sáng vàng ấm áp len lỏi qua từng ô cửa sổ. Ngồi trong quán cà phê nhỏ, thưởng thức ly cà phê nóng thơm, ngắm nhìn phố xá nhộn nhịp… lòng tôi chợt dâng trào niềm yêu thương đất nước và ước mong thời gian đừng trôi mau, để tôi được tận hưởng khoảnh khắc đáng yêu này. Hình ảnh Đà Lạt với sương mù, thông reo, với ngàn hoa đẹp màu sắc rực rỡ và những con đường quanh co vẫn luôn sống trong tâm trí tôi – như một phần máu thịt, như một khúc ca dịu dàng của miền ký ức.​

    Vũng Tàu – Sơn thủy hữu tình

    Là một điểm đến của thành phố biển đẹp tuyệt vời! Thành phố này không chỉ nổi tiếng với bãi biển đẹp mà còn có những cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời. Có núi Nghinh Phong kiêu hãnh che chắn phong ba cho Vũng Tàu. Vũng Tàu là một phố biển sầm uất thu hút rất nhiều du khách trong nước cũng như ngoại quốc, có những hàng quán, nhà hàng sang trọng, cùng những nơi vui chơi giải trí cho khách du lịch.

     Bãi biển Vũng Tàu đúng là một điểm đến lý tưởng với cát vàng và nước biển trong xanh, nhất là bãi biển Thùy Vân hoặc bãi biển Thùy Dương – nơi rất phù hợp để thư giãn, tắm biển. Những bãi biển cát vàng thoai thoải, những con đường ven biển thơ mộng, và những món hải sản tươi ngon luôn làm tôi nhớ về nơi này. Vũng Tàu không chỉ có vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn có những dấu ấn lịch sử, văn hóa đặc sắc. Tượng Chúa Kitô uy nghiêm trên đỉnh núi, còn có ngọn hải đăng Vũng Tàu với ánh sáng dẫn đường, tất cả đều ghi dấu ấn trong lòng tôi. Bãi Dâu còn được gọi là bãi biển Hương Phong có vẻ đẹp hoang sơ, yên tĩnh…có tượng Đức Mẹ trên núi nhìn xuống biển cả mênh mông, thu hút rất nhiều du khách.

    Đến Vũng tàu, du khách có cơ hội ngắm biển lúc bình minh và ngắm cảnh hoàng hôn trên biển thật tuyệt vời…hay lang thang đến những di tích lịch sử, văn hóa  để có trải nghiệm khó quên về nét đẹp của thành phố biển Vũng Tàu.

    Sài Gòn – Thành phố của những hoài niệm không tên

    Saigon – thành phố nhỏ thân yêu, nơi tôi cảm nhận được nhịp sống sôi động không ngừng nghỉ. Những con phố đông đúc, những ánh đèn néon rực rỡ trong màn đêm; và đặc biệt là những quán cà phê vỉa hè ấm cúng nơi bạn có thể dừng lại, ngồi  nhâm  nhi cà phê thơm ngát, hay thưởng thức một ly kem mát lạnh…cảm nhận hương vị của sự hội nhập vào thành phố năng động này. Sài Gòn không chỉ là trung tâm kinh tế, mà còn là nơi pha trộn giữa những giá trị truyền thống và hiện đại, là nơi mà tôi cảm thấy mình không bao giờ cô đơn dù giữa đám đông tấp nập. Saigon là thành phố không ngủ, nơi thời gian mang hương vị riêng đến cho thủ đô Việt Nam Cộng Hòa trước 1975.

    Nhà thờ Đức Bà Saigon

    Sài Gòn – tên gọi thân thương mà bao người Việt trong và ngoài nước vẫn luôn giữ trong tim – là một nơi không chỉ mang đậm nét lịch sử, mà còn chan chứa hồn người, hơi thở ký ức, và vẻ đẹp của những đổi thay lặng lẽ theo thời gian. Sài Gòn không phải là một thành phố được định nghĩa bằng những con số hay bản đồ, mà là cảm giác, là nỗi nhớ, là một thứ hương ký ức khiến ai đã từng đi qua đều không thể quên.– Sài Gòn còn là giấc mộng dài, là tiếng rao hàng ban mai, là tiếng xe Honda vang rền, xen lẫn tiếng chuông nhà thờ Đức Bà ngân lên xa xa buổi bình minh.

    Những địa danh mang linh hồn Saigon:

    Nhà thờ Đức Bà và Bưu điện – Nơi hai kiến trúc Pháp cổ kính nằm cách nhau một con đường, kể những câu chuyện về một thời Đông Dương xa vắng. Vòm ngói đỏ, cửa sổ kính màu và chuông đồng ngân vang như mời gọi con chiên ngoan đạo tham dự buổi lễ sớm, khiến lòng người nao nao lạ thường.

    Chợ Bến Thành – Không chỉ là một ngôi chợ, mà là trái tim thương mại, là nụ cười hiếu khách, là mùi thơm của phở, bánh xèo, cà phê đậm đặc và cả một chút xô bồ của xe cộ qua lại dập dìu rất Sài Gòn.

    Dinh Độc Lập – Lặng lẽ nhưng đầy kiêu hãnh nằm giữa trung tâm thủ đô, là nơi chứng kiến bao biến chuyển lịch sử. Mỗi gian phòng, mỗi hành lang đều như ngân lên lời thì thầm của hưng suy đất nước qua năm tháng.

    Đường Nguyễn Huệ – phố đi bộ hôm nay, đại lộ thơ mộng xưa – Nơi từng có những quán café vang vọng tiếng nhạc tiền chiến hay nhạc vàng… Giờ đây là không gian rực rỡ ánh sáng và nhịp sống hiện đại, nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của  Sài Gòn qua từng bước chân chầm chậm của người hoài cổ.

    Mưa Sài Gòn không lạnh lẽo, mà gợi cảm xúc – vừa buồn, vừa đẹp, vừa khiến người ta muốn ngồi trong một góc quán vỉa hè, uống ly cà phê sữa đá, ngắm dòng người qua lại và để lòng mình trôi theo một bản nhạc của Phạm Duy hay Cung Tiến…Những buổi chiều hè đi bộ dưới bến Bạch Đằng ngắm dòng sông êm đềm lặng lẽ trôi. Hay đi bộ trên đường Tự Do để hít thở làn không khí thoải mái của “tự do”. Vào mùa hè còn nghe tiếng ve sầu râm ran giữa sân trường Gia Long hay  Pétrus Ký…Trong trái tim của những người xa xứ – “Saigon” vẫn là tiếng gọi thiêng liêng – là quê nhà và một nỗi nhớ không bao giờ ngủ. Để thắp sáng lại những ký ức tưởng chừng đã lùi xa,  viết lại một cuốn nhật ký của tâm hồn, nơi mà từng con phố, từng bản nhạc, từng ánh đèn Sài Gòn đều trở thành câu thơ lấp lánh…

    Miền Tây – Bát ngát sông nước và tình người ngọt như hương lúa chín.

    Đồng Bằng Sông Cửu Long, vùng đất của những con kênh, con rạch uốn lượn như những tấm lụa mềm mại vắt qua những cánh đồng mênh mông. Những con sông dài đầy phù sa nuôi đất đai thêm màu mỡ, cho những cánh đồng lúa phì nhiêu. Tôi nhớ những buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa lên cao, nước sông còn mát lạnh và những chiếc xuồng nhỏ tấp nập qua lại chở nông sản, trái cây tươi ngon. Tôi luôn nhớ về những chợ nổi nhộn nhịp, nơi từng chiếc ghe chở đầy trái cây, thủy sản, mang đến hương vị đặc trưng của vùng đất thành một thể thống nhất bình dị và yêu thương.

    Bởi Đồng Bằng Sông Cửu Long là vựa lúa, là nơi cung cấp lúa gạo nuôi sống toàn dân và những vườn cây trái xum xuê đầy màu sắc. Và có lẽ, không gì có thể quên được  hương vị ngọt ngào của những trái dừa tươi, những trái chôm chôm chua ngọt, hay những trái xoài, sầu riêng hương vị tuyệt hảo. Không thể quên hương vị của hủ tiếu Mỹ Tho nóng hổi, hay bún nước lèo Sóc Trăng hoặc cá lóc nướng trui thơm lừng. Miền Tây – nơi con người và thiên nhiên luôn hòa quyện với nhau.

    Cảnh đẹp Hà Tiên

    Hà Tiên, nơi mà cảnh sắc thiên nhiên hòa quyện với lịch sử, là vùng đất không thể thiếu trong ký ức của tôi. Những bãi biển vắng lặng, những ngọn núi xanh ngát, và những hang động huyền bí, tất cả đều tạo nên một không gian vừa hoang sơ, vừa huyền diệu. Mỗi lần nhắc đến Hà Tiên, tôi lại nhớ đến những con đường quanh co, những cánh đồng lúa bạt ngàn, và đặc biệt là hình ảnh những chiếc thuyền buồm lướt nhẹ trên mặt biển. Hà Tiên cũng là nơi có những di tích lịch sử nổi tiếng như chùa Tam Bảo, núi Bà Tấm, mà mỗi lần thăm viếng đều khiến tôi cảm thấy gần gũi với những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc.

    Đảo Phú Quốc –Thiên đường biển đảo

    Phú Quốc luôn hiện diện trong tâm trí tôi như một ốc đảo bình yên giữa biển khơi. Những bãi biển dài, cát trắng mịn màng , nước biển trong xanh như ngọc bích – Phú Quốc là nơi lý tưởng để tạm gác lại những thăng trầm của cuộc sống. Tôi nhớ những buổi chiều tà, khi ánh nắng vàng vọt rọi xuống mặt biển, tạo nên một khung cảnh huyền ảo khó quên. Những bữa ăn hải sản tươi ngon, đặc biệt là ghẹ, tôm hùm, hay cá mú, luôn là một phần không thể thiếu khi tôi đến với Phú Quốc. Và không thể không nhắc đến những con đường làng quanh co, những ngôi làng chài bình dị, nơi cuộc sống vẫn trôi qua một cách thong thả, đơn giản, như chính cái cách mà tôi vẫn mong. Saigon, Đồng Bằng Sông Cửu Long, Hà Tiên, đảo Phú Quốc – tất cả đều là những điểm tựa trong ký ức tôi, những miền đất thân thuộc mà dù có đi xa đến đâu, tôi vẫn luôn mang trong mình nỗi nhớ khôn nguôi. Quê hương không chỉ là nơi tôi sinh ra, mà còn là nơi tôi tìm thấy những hình ảnh, những kỷ niệm gắn bó với cuộc sống, những con người, và cả những hương vị quê hương mà mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn quyến luyến. Và Phú Quốc, viên ngọc nơi cuối trời, vẫn chờ bước chân tôi trở về.

    Quê hương tôi, dù xa xôi nghìn trùng vẫn luôn hiện diện trong tâm trí với những cảnh sắc tuyệt vời và tình cảm sâu nặng. Những ngày tháng ấy, dù là một phần của vùng ký ức chìm sâu; nhưng vẫn luôn sống mãi trong tôi, như những làn sóng vỗ về trái tim, nhắc nhở tôi về một nơi đầy yêu thương – nơi có những dãy núi xanh ngát, biển cả mênh mông, với những con người nồng ấm và cả những món ăn thuần túy đậm tình. Quê hương vẫn mãi là ngọn lửa trong tâm hồn tôi, sáng rực dù bao nhiêu năm tháng trôi qua.

    Kiều My, California tháng 4, 2025.

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TÂM AN

    50 NĂM VẬN NƯỚC & TÌNH KHÚC QUÂN NHÂN NGUYỄN VĂN ĐÔNG

    Tâm An

    Cố Đại tá Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (1932 – 2018) nguyên là một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Đại tá. Tuy nhiên, nhiều người biết đến ông với tư cách là một nhạc sĩ người Việt nổi tiếng trước năm 1975, với các ca khúc “Chiều mưa biên giới”, “Sắc hoa màu nhớ”… Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử .

    Ngoài Tân nhạc vốn là sở trường, ông còn lấn sân sang lĩnh vực cổ nhạc, với bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975 như Đoạn tuyệt, Mắt em là bể oan cừu, Mưa rừng, Nửa đời hương phấn, Sân khấu về khuya, Tiếng hạc trong trăng,… và vô số bản tân cổ giao duyên.

    Nguyên quán ông bà, cha mẹ ông ở huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Thuở nhỏ ông theo học trường Huỳnh Khương Ninh ở Đa Kao. Khi đất nước gặp phải những biến động lớn lao vào năm 1945, gia đình ông bị liệt vào thành phần địa chủ, cường hào nên lâm vào cảnh khuynh gia bại sản, gia đình ly tán. Do đo, tuổi thơ của ông là người con duy nhất trong gia đình cũng bị vùi dập để cuốn theo thời cuộc lúc bấy giờ.

    Trước khi theo học trung học ở trường Huỳnh Khương Ninh, nhờ gia đình khá giả nên ông đã được cho học ở nhà với thầy giáo riêng. Cho nên tuổi thơ của ông đến trường thì ít mà học ở nhà thì nhiều.

    Sau khi trường trung học mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo học là Hùynh Khương Ninh đóng cửa, ông tự ý xin gia nhập trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Đây là trường võ bị đầu tiên và lâu đời nhất của Việt Nam. Đó cũng là nơi đào tạo nhiều vị tướng lãnh tài ba của Quân Đội VNCH. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã trải qua 5 năm ăn học ở ngôi trường này. Và chính tại đó ông đã được học nhạc và văn hóa với những giáo sư người Pháp có thực tài. Đó là những giảng viên của Viện Âm Nhạc quốc gia Pháp được cử về trường Thiếu Sinh Quân giảng dạy. Chính vậy mà nền văn hóa Tây Phương đã ảnh hưởng đến ông rất nhiều.

    Sau khi ra trường Thiếu Sinh Quân, ông gia nhập trường Võ Bị Sĩ Quan Vũng Tầu và tốt nghiệp năm 1952 với cấp bậc thiếu úy. Kế đó ông nắm chức vụ trung đội trưởng tại trường Võ Bị Đà Lạt và tốt nghiệp năm 1953. Qua năm 1954, ông về trường Chiến Thuật tại Hà Nội để giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng. Trong hai năm 1955 và 1956, ông phục vụ tại Phân Khu Đồng Tháp Mười trong chức vụ trung úy Trưởng Phòng Hành Quân.

    Cũng trong thời gian này, ông kiêm nhiệm thêm chức vụ Trưởng Phòng 3 của Chiến Khu Đồng Tháp Mười do đại tá Nguyễn Văn Là làm chỉ huy trưởng, tham gia chiến dịch Thoại Ngọc Hầu do thiếu tướng Dương Văn Minh chỉ huy. Ông không sao quên được một kỷ niệm có lần tướng Minh đã đến bắt tay ông để tỏ lòng ngưỡng mộ tác giả của những ca khúc về đời lính chiến ngay tại mặt trận Chiến Khu Đồng Tháp. Và hình ảnh cái bắt tay này đã được in trên trang nhất của báo Chiến Sĩ Cộng Hoà.

    Đến năm 1957, ông theo học khóa Chỉ Huy Và Tham Mưu tại Hawaii. Và cũng trong thời gian này ông cho ra đời nhạc phẩm “Nhớ Một Chiều Xuân”.

    Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết ông chọn binh nghiệp là nghề nghiệp chính. Mặc dù ông được học nhạc chính quy ở trường, nhưng âm nhạc chỉ là nghề tay trái.

    Từ cấp bậc thiếu úy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bước dần lên cấp bậc đại tá. Ông từng được nhận huy chương cao quý nhất của Việt Nam Cộng Hòa là Bảo Quốc Huân Chương vào giữa thập niên 60. Sau biến cố tháng 4 năm 75, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã kết thúc cuộc đời binh nghiệp của mình trong tăm tối bằng 10 năm tù cải tạo. Đúng như ông đã dự đoán cuộc đời thăng trầm của mình bằng 2 câu kết của nhạc phẩm “Chiều Mưa Biên Giới: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng thì đường trần còn mưa bay gió cuốn còn nhiều anh ơi”.

    Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng nhấn mạnh thêm là chưa bao giờ ông phục vụ ở Cục Chiến Tranh Chính Trị như nhiều người lầm tưởng. Ông chỉ đích thực là một người lính tác chiến, rồi sau đó trở thành sĩ quan tham mưu cao cấp của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 75, đầu tiên nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bị đưa đi tù “cải tạo” tại trại Suối Máu. Nhưng không lâu sau, ông bị chuyển về nhà tù Chí Hòa cho đến khi được trả tự do vào năm 1985. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết ông đã rất đau buồn vì không được nhìn thấy mặt thân phụ lần cuối trong thời gian ông ở tù.

    Một trong những nét đặc thù của cõi nhạc Nguyễn Văn Ðông là hình ảnh cùng những cảm nhận của người nhạc sĩ về mùa Xuân. Ca khúc của họ Nguyễn viết về mùa Xuân chiếm một một con số không nhỏ, trong sự nghiệp âm nhạc của ông. Ngoài những ca khúc mùa Xuân xuất hiện ngay tự nhan đề của ca khúc như “Phiên Gác Ðêm Xuân,” “Nhớ Một Chiều Xuân,” “Dáng Xuân Xưa”… người nghe còn gặp thêm nhiều hình ảnh mùa Xuân trong nhiều ca khúc khác nữa, của ông.

    Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 26 tháng 2 năm 2018, Nguyễn Văn Đông qua đời tại bệnh viện Chợ Rẫy Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi. Tro cốt của ông được rải xuống biển Vũng Tàu thể theo di nguyện.

    Ông qua đời là mất đi một người chiến sĩ VNCH can trường, một nhạc sĩ tài hoa…Nếu không có biến cố năm 1975, chắc chắn ông sẽ còn cống hiến cho nền âm nhạc nước nhà nhiều tác phẩm đặc sắc hơn nữa …

    Với di sản đồ sộ đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN của Cố Đại tá nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, chúng ta thấy rõ hơn là những người chiến sĩ VNCH đúng là những người con ưu tu’ của đất nước, vừa có đời sống trí thức với lý tưởng của kẻ sĩ trong thời bình cũng như thời loạn, vừa tài hoa, vừa khí phách, mà nhạc sĩ cố đại tá Nguyễn Văn Đông là một trường hợp điển hình. Ước mong sao các thế hệ tiếp nối của người Việt Nam cũng sẽ có những con người hào hùng như thế.

    Tâm An, tháng Tư 2025

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Phạm Hồng Thái,  Tin tức

    NHỮNG ĐỨA TRẺ LẠC LOÀI

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em,

    Thấm thoát đã 50 năm, nỗi buồn ly hương vẫn vương vấn trong lòng người viễn xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, Khánh Lan xin mời quý vị thưởng thức chuyện ngắn “Những đứa trẻ lạc loài“. Tác phẩm gồm 3 phần: Phần I: Hồi ký Những Đứa Trẻ Lạc Loài, đây là một câu chuyện có thật về đứa con lai bị bỏ rơi ở VN sau 1975. Phần II: Số phận của những đứa trẻ đi theo chương trình Babylift và Home Coming Act. Phần III: 50 năm nhìn lại những gì đã xảy ra cho đất nước Việt Nam.

    Ca khúc “Kiếp Lạc Loài”, do anh Phạm Thái sáng tác dựa trên cảm hứng từ tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài”. Điểm đặc biệt là toàn bộ phần hình ảnh, tiếng hát và hòa âm được thực hiện bằng công nghệ AI, với lời thơ của anh Thái Phạm.

    Vui lòng click vào hình trên để đọc sách.

    Tác phẩm này đang trong tiến trình chuyển sang Anh ngữ và sẽ gởi đến quý độc giả sau Thanksgiving 2025.

    Khánh Lan kính mời,

    April 30, 2025-

    Kỷ niệm 50 năm viễn xứ. (1975-2025)