• Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Phạm Hồng Thái,  Tin tức

    CHƯƠNG TRÌNH NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT DO LIÊN NHÓM NVNT & TTG THỰC HIỆN

    Khánh Lan trân trọng thay mặt anh Việt Hải gửi đến quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ cùng quý anh chị em một tin vui:

    Hai tuần trước, ký giả Du Miên – đại diện của Đài Truyền Hình Vietnam American Television (VNA-57.3) – đã mời nhóm chúng ta đảm trách thực hiện một chương trình trên băng tầng của đài. Sau khi tham khảo ý kiến ban điều hành và nhận được sự khích lệ từ các vị cố vấn, anh Việt Hải đã chính thức quyết định hợp tác với đài 57.3, với mục tiêu giới thiệu Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đến quý khán thính giả.

    Chương trình “Nhân Văn Nghệ Thuật” sẽ được phát hình định kỳ hai tuần một lần trên băng tầng 57.3. Ngay khi có chương trình truyền hình cố định, Ban Điều Hành sẽ thông báo cụ thể ngày giờ đến quý vị. Chương trình sẽ được phát hành rộng rãi qua các nền tảng sau:

    • DirectTV tại toàn bộ 50 tiểu bang Hoa Kỳ và Canada
    • Roku Box
    • Facebook và YouTube
    • Website chính thức: vnatv.com

    Khánh Lan cũng xin gửi đến quý Giáo Sư, các Văn Thi Sĩ và quý anh chị em đoạn video buổi thu hình đầu tiên được thực hiện vào ngày 18 tháng Tư vừa qua, với sự tham gia của ký giả Du Miên, Giáo Sư Quyên Di và Khánh Lan.

    Chương trình mở đầu với video logo Nhân Văn Nghệ Thuật, do anh Thái Phạm thiết kế. Tiếp theo là phần giới thiệu tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” của Khánh Lan. Tác phẩm này trình bày dưới dạng eBook và sẽ được gửi tặng quý vị qua email như một món quà tinh thần nhân dịp tưởng niệm 50 năm nhìn lại quê hương Việt Nam (1975–2025). Ngoài ra, chương trình cũng giới thiệu ca khúc “Kiếp Lạc Loài”, do anh Phạm Thái sáng tác dựa trên cảm hứng từ tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài”. Điểm đặc biệt là toàn bộ phần hình ảnh, tiếng hát và hòa âm được thực hiện bằng công nghệ AI, với lời thơ của anh Thái Phạm.

    PHẦN 1

    PHẦN 2

    PHẦN 3

    Khánh Lan kính mời,

    Tháng 4, 2025

    Kỷ niệm 50 năm viễn xứ

  • Kiều My,  Sinh Hoạt,  Tin tức

    TÌNH YÊU & TIẾNG CƯỜI

    Kiều My

    Chủ nhật 13 tháng 4, 2025 trời thật êm dịu, nắng không gay gắt, gió cũng nhẹ đi – như thể vạn vật đang khẽ nhường chỗ cho một điều gì thật đẹp sắp được cất lên. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cùng những bạn hữu gần xa đến dự tiệc sinh nhật thứ 95 của người anh đáng kính –  nhà văn Nguyễn Quang – mà cuộc đời ông là cuốn tiểu thuyết thầm lặng. Từng trang viết là hồi ức của một thời rực rỡ, yêu thương, băn khoăn…Và hôm nay giở lại trang viết cũ với chủ đề dịu dàng: Tình Yêu & Tiếng Cười.

    Một tiết mục không thể thiếu trong chương trình – đó là chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ trong không khí trang nghiêm. Người Việt hải ngoại luôn tưởng nhớ đến Tổ quốc Việt Nam cũng như trân trọng và tri ân đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang những người Việt tị nạn. Sau đó, phút tưởng niệm lắng đọng, tưởng nhớ đến những anh hùng vị nước vong thân, những người đã bỏ mạng trong cuộc hành trình tìm Tự do.

    Quan khách gồm có: trưởng nhóm NVNT&TTG, Nv Trần Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, các giáo sư Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Quyên Di; nhạc sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân Ngọc Hà, nhạc sĩ Võ Tá Hân và phu nhân; nữ sĩ Dương Hồng Anh, Lê Nguyễn Nga và các nhà văn Trạch Gầm và phu nhân, Vương Trùng Dương, Vi Khiêm, Khánh Lan, Kiều My, John Tạ, Nguyên Hồng; các ca sĩ: Quỳnh Giang, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Tony Hiếu, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Ngọc Châu, Alain Đức, Dương Viết Đang, Mạnh Bỗng, Chế Tùng, Hoàng Oanh, nhiếp ảnh gia Thiều Minh, kỹ thuật gia Tâm An, keyboardist Ngọc Tú v.v…

    Buổi tiệc rất vui và thật ấm cúng. Mọi người đến không chỉ để chúc thọ mà để lắng nghe… một bản tình ca – Một chuyện “Tình Yêu và Tiếng Cười của nhà văn Nguyễn Quang và cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh. Người phối ngẫu đã vĩnh viễn về miền miên viễn, nhưng người còn ở lại vẫn gìn giữ yêu thương đó. Nhà văn Nguyễn Quang với mái tóc bạc trắng như sương mai, ánh mắt vẫn long lanh nét tinh anh của một thời tuổi trẻ – kể về bà. Người vợ quá cố, người tri kỷ, người bạn đời đồng hành cùng ông qua mấy mươi năm gió bụi: “Đôi uyên ương đến với nhau bằng thơ, yêu nhau bằng tấm chân tình, và cười cùng nhau qua bốn mùa…” Cuộc tình của ông bà đẹp như những đóa hoa hồng trong bản nhạc La Vie En Rose của Edith Piaf , mà đã được ca sĩ Ngọc Hà hát lên như một món quà sinh nhật dành tặng nhà văn Nguyễn Quang.

    Tôi nhận ra: tuổi 95 không phải là con số của sự tàn phai, mà là nốt cao của một bản tình ca – bản tình ca viết bằng thơ, bằng âm nhạc, bằng ký ức và hơn hết… bằng tình yêu thuần khiết. Và tôi biết, tình yêu – nếu thật sự là tình yêu – sẽ luôn ở lại trong tim, như thơ, như nhạc, như tiếng cười vang vọng suốt một đời người…

    Minh Châu, Minh Khai, Kiều My, Lâm Dung, Ái Liên, Ngọc Quỳnh, Khánh Lan, Minh Thư, Lệ Hoa, Thụy Lan

    Một khoảnh khắc đáng ghi nhớ – khi ca sĩ Quỳnh Giang mang món quà từ San Jose do nhạc sĩ Phạm Hồng Thái gửi tặng Nv Nguyễn Quang. Đó là chiếc “cup pha lê” nhỏ xinh có in hình Nguyễn Quang và Hoài Trinh…rất độc đáo và đầy cảm xúc. Chiếc cup không phải để vinh danh thành tích, mà để vinh danh một chuyện tình, một đời sống gắn bó không rời. Hình ảnh ông và bà được in lên chiếc cup ấy chẳng khác nào khắc ghi vĩnh viễn một tình yêu – không chỉ trong lòng người, mà trong một vật thể có thể cầm nắm, chạm vào, nâng niu…Ông thì thầm trong tim:“La vie est faite de petits bonheurs…” – Cuộc đời được dệt nên từ những hạnh phúc bé nhỏ. Đó cũng là Giai điệu của một đời người!

    NV Nguyễn Quang & Ca Sĩ Quỳnh Giang

    Nv Nguyễn Quang, Ns Võ Tá Hân, Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga, nữ sĩ Dương Hồng Anh

    GS NS Lê Văn Khoa, NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NV Nguyễn Quang, NS Lê Nguyễn Nga, GS Dương Ngọc Sum. Phía sau là NV Vi Khiêm đang đứng nói chuyện.

    Ca sĩ Quỳnh Giang hát một ca khúc được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh – Kiếp Nào Có yêu Nhau –  rất truyền cảm; đã làm sống lại hình ảnh của người bạn đời trong tâm hồn Nguyễn Quang, mà đã vĩnh viễn ra đi. Ban tứ ca: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Minh Thư  trình bày bản nhạc mang chất ‎xúc tác cho sự kiện hôm nay – Còn Gặp Nhau – thơ Tôn Nữ Hỷ Khương, nhạc Võ Tá Hân.

    Phần tâm tình cùng NV Nguyễn Quang là các vị khách quý gồm: Đồng Hương Sóc Trăng, GS Trần Huy Bích, GS Quyên Di, GS Dương Ngọc Sum, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và Lê Nguyễn Nga, NV Vi Khiêm, NS Võ Tá Hân và NV Khánh Lan. NV Khánh Lan đã thay mặt Thi Sĩ Tha Nhân diễn ngâm bài thơ Thất Ngôn Bát Cú (Dĩ Thủ Vi Đề) mừng sinh nhật Nv Nguyễn Quang.

    MỪNG ĐẠI THỌ NV NGUYỄN HUY QUANG

    MỪNG anh sinh nhật chín mươi lăm

    ĐẠI đại rồi qua quá tuổi trăm

    THỌ tỷ nam sơn người vẫn nói

    NHÀ so tùng bách bạn thường thăm

    VĂN chương sắc sảo xây nhân bản

    NGUYỄN tộc danh lừng chống ngoại xâm

    HUY động khí thiêng huynh khỏe mạnh

    QUANG vinh đã đạt rạng ngời năm

    NV Khánh Lan

    Thụy Lan, Kiều My, Lệ Hoa, Minh Thư

    Không khí trong hội trường bỗng vui nhộn lên khi ban tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư cùng cất tiếng hát – Nếu Có Yêu Tôi – sáng tác của nhạc sĩ Trần Duy Đức. Nói lên sự vô tình của thời gian, vì khi thời gian đã qua đi sẽ không bao giờ trở lại; vậy việc gì có thể làm hôm nay đừng để ngày mai – ngay cả tình yêu! Nhà văn, ca sĩ Kiều My cũng đã hát bản Après Toi ưu ái dành tặng ngôi sao sáng hôm nay – vì biết Nv Nguyễn Quang luôn yêu thích những giai điệu lãng mạn trữ tình của dòng nhạc Pháp, từ khi ông còn sống ở thành phố ánh sáng Paris đến khi tuổi đã về chiều.

    Những lẵng hoa lan tươi đẹp dành cho những bông hoa biết nói

    Những bạn hữu thân thương của Nv Nguyễn Quang cũng chia sẻ những thâm tình và dành cho ông những lời chúc tốt đẹp cho những ngày tháng còn lại của một đời người. Để tỏ lòng tri ân, ông cũng đáp lại bằng những lẵng hoa lan tươi đẹp dành cho những bông hoa biết nói – phái đẹp hiện diện trong khánh phòng. Ngoài ra, còn có cuộc xổ số rất hào hứng với những phần quà thật đẹp dành cho những ai may mắn được trúng giải.

    Ca Sĩ Chế Tùng & Ca Sĩ Hoàng Oanh

    Tiệc cũng đã tàn, nhưng tiếng nhạc vẫn còn vang như muốn níu kéo những khoảnh khắc đã ghi lại dấu ấn trong tâm khảm mọi người. Chân thành cầu chúc nhà văn Nguyễn Quang luôn được bình an để sống với những kỷ niệm đẹp của “tình yêu và tiếng cười”- Mà từ đó đã tạo nên nguồn cảm hứng cho những mảnh văn chương để đời.- Đó cũng là “giai điệu của một đời người” vậy!

    Kiều My, California, ngày 13 tháng 4, năm 2025

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TS MAI THANH TRUYẾT

    Desire – Lý Thuyết Ham Muốn

    Danh từ: Một cảm giác mạnh mẽ “muốn có” một cái gì đó hoặc “mong muốn” một cái gì đó xảy ra.

    Động từ: Ham muốn mạnh mẽ trong việc “cho” hoặc “muốn’ một cái gì đó.

    Lý thuyết ham muốn cho rằng việc thực hiện một ham muốn đóng góp cho hạnh phúc của một người bất kể lượng niềm vui (hay sự không hài lòng). Một lợi thế rõ ràng của lý thuyết Desire là nó có thể hiểu theo cung cách diễn đạt của Wittgenstein. Ludwig Wittgenstein là một triết gia bị ám ảnh bởi những khó khăn về cách diễn đạt ngôn ngữ, muốn giúp chúng ta tìm cách thoát khỏi một số vũng bùn mà chúng ta gặp phải trong giao tế, trong diễn đạt, và ngay cả trong suy tư…

    Cung cách đó được hiểu theo “Meaning of Language” dưới đây:

    Từ đó, chúng ta thấy từ ngữ DESIRE được hiểu theo từng tâm cảm, từng thể trạng của mỗi con người.

    Và bài viết chỉ mong trình bày một số suy nghĩ góp nhặt cát đá, suy diễn theo suy nghĩ chủ quan của người viết  nhằm mục đích chia xẻ cùng bạn đọc về một khía cạnh của tư tưởng và tâm ý.

    1. Desire – Ham muốn là gì?

    Ham muốn – Desire, Thèm muốn – Craving, Khao khát – Longing. Những từ trên gợi ra cho chúng ta cái cảm giác thúc đẩy con người đạt được hoặc sở hữu một cái gì đó. Ham muốn là một cảm giác mạnh mẽ, xứng đáng hoặc không xứng đáng, đúng đắn hoặc không đúng đắn, thúc đẩy sự chiếm đoạt được hoặc sở hữu một cái gì đó (trong thực tế hoặc trí tưởng tượng).

    Ham muốn là ở trong một trạng thái đặc biệt của tâm lý. Đó là một trạng thái tâm lý quen thuộc với tất cả những người đã từng muốn uống nước, muốn ăn một món ăn… hoặc muốn biết những sự kiện gì đã xảy ra cho một người bạn cũ. Nhưng từ sự quen thuộc đó không làm cho chúng ta dễ dàng đưa ra một lý thuyết về ham muốn. Mặc dù có sự tranh chấp trong chính mỗi ham muốn của bản thân, nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tự khắc phục ham muốn của chính mình.

    Ham muốn là một trạng thái của tâm – ý (heartily spirit) (người viết tự nghĩ ra từ ngữ nầy, không biết có đúng không, xin nhờ chỉ giáo) thường liên quan đến một số hiệu ứng khác nhau: một người ham muốn có xu hướng hành động theo những cách nhất định, cảm nhận theo những cách nhất định và suy nghĩ theo những cách nhất định.

    Nếu tôi mong muốn uống trà chẳng hạn, thì tôi thường sẽ tự pha cho mình một tách trà; và nếu tôi không tự cảm thấy mình cần uống trà ngay lập tức, tôi sẽ không cảm thấy cái thôi thúc phải nấu nước sôi để pha trà… Tôi, lúc ấy sẽ thấy ý nghĩ về trà rất dễ chịu (vì không phải làm gì cả!). Từ đó, tôi sẽ thấy suy nghĩ của mình liên tục chuyển sang ý tưởng về trà. Từ đây, tôi sẽ đánh giá rằng trà có vẻ như là một ý tưởng tốt. Và như thế, như thế tiếp tục. Những hiệu ứng khác nhau này đã là trọng tâm trong tâm-ý của tôi về những nỗ lực để phát triển các lý thuyết; và đó chính là lý thuyết của ham muốn.

    • Triết lý về sự ham muốn

    Hiểu được ham muốn đòi hỏi ít nhất hai điều kiện:

    • Thứ nhất, có một lý thuyết về bản thân ham muốn – desire itself;
    • Thứ hai, có một số quen thuộc với các loại ham muốn có được – desire that there are.

    Một khi nắm được một sự hiểu biết về ham muốn, chính ta có thể làm sáng tỏ một số tranh cãi chung quanh những điều ham muốn.

    Lý thuyết thỏa mãn ham muốn là một dạng chủ nghĩa chủ quan về hạnh phúc theo nghĩa thông thường, theo đó, để có được một cuộc sống tốt (tốt theo suy nghĩ riêng của từng cá nhân) phải làm với thái độ của một người tạo dựng ra một cuộc sống theo lòng ham muốn của mình hơn là bản chất thực sự của cuộc sống.

    Có nhiều hình thức khác của chủ nghĩa “chủ quan” (subjectivism):

    • Lý thuyết mục tiêu thành tựu – Aim-achievement theories;
    • Lý thuyết hiện thực hóa giá trị – Value-realization theories;
    • Lý thuyết hạnh phúc – Happiness theories;
    • Và một số hình thức của chủ nghĩa khoái lạc – Hedonism.

    Nhưng thực sự, tựu trung tất cả những lý thuyết trên chỉ nhằm thực hiện mục tiêu của lý thuyết “hoàn tất ham muốn” – desire-fulfillment mà thôi.

    Còn đối với chủ nghĩa khách quan (objectivism) thì sao?

    Các lý thuyết khách quan về hạnh phúc – well-being gồm:

    • Lý thuyết cầu toàn – perfectionism;
    • Và lý thuyết “danh sách khách quan” – objective- list theories.

    Hai quan điểm trên trái ngược với chủ nghĩa chủ quan là: – Ít nhất một số điều liên quan đến bản chất tốt hay xấu (pro/con – attitudes) đối với chúng ta về căn bản nhưng không liên quan đến thái độ của chúng ta. Sự “hoàn tất ham muốn” cũng đóng một vai trò trung tâm trong một số lý thuyết về hạnh phúc, trong đó kết hợp lại các yếu tố chủ quan và khách quan.

    Vì vậy, lý thuyết thực hiện ham muốn ngày nay chắc chắn là một trong những lý thuyết hàng đầu về hạnh phúc.

    Một số nhà triết học coi “lý thuyết hoàn tất ham muốn” là lý thuyết hàng đầu.

    Nếu đó là lý thuyết ngự trị của thế kỷ 20 và 21, lý thuyết nầy không mang lại sự chú ý thời trước đó. Một số nhà triết học cổ đại và trung cổ hàng đầu đã đưa ra quan điểm để từ chối nó. Ví dụ, trong Plato’s Gorgias (C. 380 BCE), chính Callicles, một đệ tử của Socrates đã khẳng quyết rằng:”Ông, người thực sự muốn sống nhằm cho phép những ham muốn của mình được đánh bóng tối đa (he who would truly live ought to allow his desires to wax to the uttermost).

    Trong De Trinitate (C. 416 C.E.), Thánh Augustine đã thảo luận ngắn gọn về ý tưởng “tất cả đều được ban phước, bất cứ ai cùng sống như nhau” (all are blessed, whoever live as they will). Augustine tiếp tục khẳng quyết, tuy nhiên, lòng ham muốn (hoặc ý chí) đó là điều tối thiểu của sự cần thiết cho hạnh phúc.

    • Các căn bản trong việc/sự ham muốn
    1. Như vậy, thực sự ra, lòng ham muốn có căn bản nơi đâu và là gì?

    • Sự chấp nhận, nhu cầu cần được chuẩn duyệt – Acceptance, the need for approval.

    • Sự tò mò, nhu cầu học hỏi – Curiosity, the need to learn.

    • Nét ăn uống, nhu cầu thực phẩm – Eating, the need for food.

    • Gia đình, nhu cầu nuôi con – Family, the need to raise children.

    • Danh dự, sự cần thiết phải trung thành với các giá trị truyền thống – Honor, the need to be loyal to the tradition values.

    • Chủ nghĩa lý tưởng, sự cần thiết của công bằng xã hội – Idealism, the need for social justice.

    • Độc lập, nhu cần cần thiết cho mọi cá thể – Independence, the need for individuality.

    • Đặt hàng, nhu cầu cho (mọi việc) có tổ chức và ổn định – Order, the need for organized, stable,

    • Và một số ham muốn nguyên thủy (primal desire) của con người là gì?
    • “Sống còn”: Sống một cuộc sống bền lâu và khỏe mạnh – Survival: Live a long and healthy life.
    • Bảo vệ: An toàn, chăm sóc và bảo vệ cho chính bạn và những người thân yêu – Protection: Safety, care and protection for yourself and loved ones.
    • Tự do: Tự do khỏi sự nguy hiểm, sợ hãi và đau đớn – Freedom: Freedom from danger, fear and pain.
    • Tiện nghi: Điều kiện sống thoải mái – Comfort: Comfortable living conditions.
    • Niềm vui: Thưởng thức đồ ăn, đồ uống và trải nghiệm – Pleasure: Enjoy food, beverages and experiences.
    • Ham muốn thâm sâu nhứt của con người là gì?

    Ham muốn thâm sâu nhất (deepest desire) của bất kỳ con người nào là được Yêu Thương và được Trân Trọng.

    Không có ai trên thế giới này không muốn được xem là đẹp đẻ hay tài giỏi hết.

    Sẽ không có ai phải nhăn mặt (frown) khi được nghe “I love you” đến từ của miệng của người mình thương hết!

    • Ham muốn mạnh nhứt (strongest) của con người là gì?

    TS Erica Goodstone nhận định rằng:”Ham muốn tình dục là thứ ham muốn mạnh mẽ nhứt của con người. Khi được thúc đẩy bởi năng lực của ham muốn này, quý ông và quý bà phát triển một số phẩm chất đáng kinh ngạc, bao gồm nhãn quan và trí tưởng tượng, lòng can đảm và ý chí cùng khả năng kiên nhẫn liên tục bất chấp mọi trở ngại và khó khăn” (visualization and imagination, courage and willpower and ability to persist in spite of all obstacles and difficulties).

    e- Như vậy, có phải ham muốn có nghĩa là tình yêu?

    Tình yêu là ham muốn, không có định nghĩa nào khác hơn nữa… Đối với một số người, đó là sự đáp lại tình cảm của họ, một số người khao khát được gần gũi với người yêu. hoặc người mình yêu. Nhưng cũng có vài ngoại lệ, là ai đó nghĩ rằng “có thể chỉ muốn người mình yêu hạnh phúc mà thôi, không cần thiết để được đáp lại” (tình yêu đơn côi chăng?)

    Chỉ có những người dối lòng là những người nói

    rằng tình yêu đích thực không có ham muốn!

    • Ham muốn có ý nghĩa gì trong Phật giáo?

    Trong Phật giáo, dục vọng, vô minh, và chấp ngã nằm ở gốc rễ của mọi đau khổ. Theo dục vọng, Phật tử đề cập đến tham ái, vật chất và bất tử, tất cả đều là những ham muốn không bao giờ có thể được thỏa mãn cho mỗi con người.

    Làm thế nào để một Phật tử thoát khỏi phải “chấp ngã”?

    Có vài thực tiễn dưới đây để cho mỗi chúng ta cùng suy nghiệm nhằm “bớt đi” tính chấp ngã của chính mình:

    * Thiền – Meditation: Thiền chỉ đơn giản là ngồi yên và cố gắng chú ý đến thời điểm hiện tại cho dù đó là hơi thở của bạn, cơ thể bạn hay những gì đang xảy ra xung quanh bạn ngay bây giờ;

    * Từ bi – Compassion;

    * Sự phụ thuộc lẫn nhau – Inter-independence;

    * Chấp nhận – Accepting;

    * Mở rộng – Expansiveness.           

    5-Tam giác vàng

    Điều gì là tuyệt vời về tam giác này?

    Thực sự nó có ý nghĩa gì?

    Một số người thành công nhứt đã theo hướng nầy và họ thành công vì “Năng lực của một tư duy tuyệt vời”.

    Cuộc hành trình đến tam giác vàng bắt đầu với Ham muốn – Desire. Đó là sân ga từ nơi con tàu vận mạng bắt đầu lăn bánh. Con tàu sẽ dừng lại sau mỗi trạm và những người không có đủ kiên nhẫn sẽ rời khỏi tàu. Còn những người ở lại là người có đức tin (tùy theo suy nghĩ của bạn, có thể là đức tin (faith) mà cũng có thể là niềm tin (believe). Đây là một thuộc tính quan trọng thứ hai để thành công.

    Trong sự so sánh nầy, Đức tin kiên định – Consistent Faith và Khát vọng – Desire vững chắc chuyển Tâm Ý thành Hành động – Action.

    Hành động giúp chúng ta tăng thêm ham muốn. Kết quả của Hành động làm cho Đức tin mạnh mẽ hơn và thêm một lần nữa, Hành động được tăng thêm, và từ đó tiếp tục mãi mãi Hành động.

    Phản ứng dây chuyền không kiểm soát của hành động này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta thực sự thuộc về… (actually belong).

    • Thay lời kết

    Quý bạn vừa thả lòng với những định nghĩa, nhận đình cùng suy diễn hết sức trừu tượng về một danh từ hay động từ “Desire” tạm dịch là “Ham muốn” từ những suy nghĩ của các triết gia cho đến suy nghĩ của đời thường trong cõi ta bà nầy.

    Để rồi bạn chuyển qua một vài suy diễn trong tinh thần Phật giáo…

    Người viết không dám nói thêm nhiều nữa, chỉ mong mỗi người trong chúng ta nhìn về, nghĩ về “Ham muốn” trong chiều hướng nào?

    Và dù trong chiều hướng nào đi nữa chỉ mong Quý Bạn vẫn còn tỉnh táo để biết chính mình:

    • Đang nghĩ gì?
    • Đang làm gì?
    • Và suy nghĩ gì, làm gì đó có thích hợp với đạo lý của “Đời thường” không?

    Xin chia xẻ vài suy nghĩ cùng Bạn trong mùa chay tịnh của Thiên Chúa giáo và mùa “cách ly tự nguyện” vì cô Coronavirus.

    Và đây cũng là những suy nghĩ mà chính người viết cũng cần suy gẫm!

    Phổ Lập Mai Thanh Truyết

    An Nhiên Tự Tại

    Houston, 26/3/2020

    Phụ chú: Góp ý của một người bạn

    Kính Thưa Anh Truyết và các Chị Em,

    Bài viết anh phân tách về sự Ham Muốn rất hay.  Tôi xin góp một chút ý kiến.  Sau khi tất cả diễn biến về những thể loại ham muốn, thì chính ta nhìn lại chính mình, những ham muốn đó có đạt hiệu quả hay không, có khi được, nếu sự ham muốn đó trong tầm tay, có khi xa vời vì quá to lớn viển vông, có khi vì cái ta muốn thắng vì tự ái cá nhân.

    Nói chung tất cả ham muốn đó do ta tự vẽ ra để trở thành một mục đích mà ta phải thực hiện dù tốt hay xấu.

    Vậy làm sao sống cho có những mục tiêu tốt, chính là ta phải tự nhìn lại trong ta,  vì ta muốn cái này, muốn cái kia, nói chung muốn đủ thứ trên đời, khi không đạt được thì phiền muộn, bất bình, hoặc đau khổ.

    Như lời Phật dạy đó là Tham, Sân, Si.  Những thứ đó chỉ là trừu tượng và viễn vong, nhưng nếu không có Ý muốn đó, chúng ta sẽ đứng giữa ngã ba đường, mà ta phải chọn một con đường để đi.

    Vậy ta phải vạch ra con đường, sao cho dung hòa.  Đó là một con đường chính giữa không có dính mắc hai bên.. Phải luôn nhìn lại chính mình, cảnh giác cái ham muốn thắng, mà phải quên mình nghĩ đến cái chung trong hiện tai.

    Tôi đã luôn suy nghĩ (đó cũng là cái ta xấu xí) tai sao ta có mặt trong đời này, tai sao ta không là cây cỏ, con chim, cái kiến, hoặc là, người giàu có, hoặc nữ hoàng hay là những người nổi tiếng.  Vậy thì cuộc sống này phải có lý do, mổi người mổi nhiệm vụ, có trách nhiệm phải chu toàn đối với cha me sinh ra ta, với gia đình ta đang có mặt, lo cho con cái cháu chắt trong tương lai. Và với xã hội ta đang sống. Tai sao mình không sanh trong một nước khác mà mình sanh trong nước Việt Nam, vậy ta cũng có trách nhiệm đối với tổ quốc,

    Ta phải làm tất cả những gì trong đời này với tất cả lòng biết ơn, đã cho ta có cuộc sống có ý nghĩa, dù có phong ba bão táp, và vui sống.  Nếu những ai đã từng đi vượt biên, sẽ hiểu được cái chết trong tích tắc giữa đại dương mênh mông không bến bờ. Hoặc đi máy bay nhìn xuống thấy con người mất hút trong quả đất.Trời đất bao la , ta chỉ là một sinh vật nhỏ bé trong vũ trụ . 

    Chúng ta cũng may mắn là sanh ra được toàn vẹn, không tật nguyền, còn biết suy nghĩ phải trái, nếu không may sanh ra mà bị chứng bệnh vô não ngẩn ngơ thiếu hiểu biết, thì chúng ta sẽ ra sao.  Chúng ta lại được các đấng vĩ nhân hướng dẫn tâm linh biết nhân quả nghiệp báo, giống con rùa mù mà gặp bọng cây, đã mù làm sao thấy được bọng cây, Quả là may mắn. Chúng ta sanh ra không tự chọn, chúng ta chết đi cũng không biết được ngày. 

    Vậy chúng ta hôm nay gặp nhau đây là một cái duyên hanh ngộ thật đáng vui mừng, nên chúng ta phải quý trọng lẫn nhau.

    Câu hỏi: Sự khác biệt giữa mong muốn (Hissaron) và khát vọng (Ishtokekut) là gì?

    Trả lời: Mong muốn có nghĩa là tôi chỉ đơn giản là muốn một số sự hoàn thành. Ví dụ, tôi khát. Trong khi đó, một khát vọng phụ thuộc vào mức độ tôi thực sự cần nó tại một thời điểm nhất định, nghĩa là tôi đau khổ đến mức nào vì tôi thiếu sự thỏa mãn này.

    Khát vọng là sự bổ sung cho mong muốn và nó đo lường sức mạnh của mong muốn tại một thời điểm nhất định, mức độ bản ngã của tôi sẵn sàng chịu đựng để đạt được mục tiêu mong muốn.

    Nói cách khác, bạn sẵn sàng trả bao nhiêu cho việc này? Hãy xem nó ngay bây giờ. Bạn muốn lấy nó? Không vấn đề gì. Bạn có thể cho bao nhiêu? Chúng tôi có thể đo lường nguyện vọng của bạn theo câu trả lời của bạn. Bạn nói: “Chà, một trăm.” “Không, bạn nên cho một nghìn.” “Một nghìn?” Đây là nơi bạn được kiểm tra với số tiền bạn sẵn sàng trả. Đây là cách để đo lường khát vọng của bạn cho mục tiêu mong muốn.

    Đồng thời, một mong muốn tự nó là đơn giản. Nếu cái gì miễn phí, tôi sẽ lấy nó.

    Rõ ràng một người được đánh giá theo nguyện vọng của anh ta.

    Mong muốn đến với chúng ta từ Đấng Tạo Hóa, trong khi chúng ta thêm khát vọng thông qua môi trường.

    Một khát vọng là thành quả của công việc của chúng ta, là thành quả của những nỗ lực của chúng ta.

    Question: What is the difference between a desire (Hissaron) and an aspiration (Ishtokekut)?

    Answer: Desire means that I simply want some fulfillment. For example, I am thirsty. Whereas an aspiration depends on how much I really need it at a given moment, meaning how much I suffer now because I lack this fulfillment.

    Aspiration is an addition to a desire and it measures the strength of the desire at a given moment, how much my ego is ready to suffer for the sake of reaching the desired goal.

    In other words, how much are you ready to pay for this? Let’s see it now. You want to get it? No problem. How much can you give? We can measure your aspiration according to your answer. You say: “Well, a hundred.” “No, you should give a thousand.” “A thousand?” This is where you are tested with how much you are ready to pay. This is the way to measure your aspiration for the desired goal.

    At the same time, a desire itself is simple. If something is free, I will take it.

    Obviously, a person is evaluated according to his aspiration.

    A desire comes to us from the Creator, while we add aspiration through the environment.

    An aspiration is the fruit of our work, the result of our efforts.

    Huỳnh Quốc Bình:

    Tình yêu phải luôn là hai chiều bởi vì con người luôn luôn và muôn đời bất toàn. Chỉ có Thiên Chúa mới có tình yêu một chiều dành cho loài người không xứng đáng.

    Tình yêu “đơn côi” là loại tình yêu bất cần phải quấy. Yêu người không yêu mình nên đành phải “đơn côi”. Ha ha ha.

    Em chỉ yêu người nào yêu em. Ai hổng yêu em, em hổng yêu lại. Em chỉ dành thì giờ yêu người yêu mình mà thôi.

    Nhiều khi người ra yêu mình mà mình đáp lại còn không xong, nói chiyêu kẻ chẳng “iu ta” Ha, ha, ha.

    Mẹc xin ông anh đã có ý nghĩ rất cao thượng.

    HQB

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Ái Ân, Ân Ái Qua Ca Khúc

    Vương Trùng Dương

    Có những chữ coi như “cấm kỵ” khi đề cập (nói, viết) trong bàn dân thiên hạ vì quá lộ liễu, sống sượng, thiếu tế nhị… với hành động “chăn gối” xảy ra nhưng trong thi ca và âm nhạc đã sử dụng cùng ý nghĩa đó nhẹ nhàng và dễ cảm thông.

    Thi hào Nguyễn Du (1765-1820) trong Truyện Kiều đã đề cập đến hai chữ ái ân, ân ái. Tố Như tiên sinh đã sử dụng nhiều ngôn từ đầy văn vẻ để nói đến hình ảnh “gặp gỡ” chăn gối với nhau:

    “Còn nhiều ân ái với nhau

    Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì!”

    “Bây giờ gương gãy gương tan

    Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”

    Sau 15 Thúy Kiều lưu lạc trong chốn lầu xanh, trao thân cho hàng nghìn khách làng chơi nhưng gặp lại Kim Trọng, men tình vẫn say đắm:

    “Còn nhiều ân ái chứa chan

    Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi.

    “… Chừng xuân tơ liễu còn xanh,

    Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân”

    Cùng thời, trong truyện thơ chữ Nôm như Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự (1743-1790) đã đề cập đến mối tình hoa mộng, lãng mạn, ngang trái, khổ đau, hòa hợp giữa Lương Sinh với hai người đẹp Dao Tiên & Ngọc Khanh. Và, hình ảnh người con gái thuở đó đã vượt qua hàng rào lễ nghi, vụng trộm chăn gối với nỗi niềm:

    “Bấy lâu chút mảnh riêng tây

    Ái ân nầy đến đêm nầy là xong”

    Thời kỳ lãng mạn trong văn chương vào cuối thập niên 1930, bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn của T.T.Kh đã gây tiếng vang, xôn xao về mối tình say đắm, nồng nàn nhưng trắc trở, dám thổ lộ tâm trạng người con gái khi đã dâng hiến cho tình yêu để rồi sống với chuổi ngày còn lại:

    “Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi

    Mà từng thu chết, từng thu chết

    Vẫn giấu trong tim bóng một người”.

    Bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn sau nầy được nhạc sĩ Trần Trịnh cảm tác với ca khúc cùng tên.

    T.T.Kh còn nằm trong vòng bí ẩn, nữ sĩ Vân Đài xuất hiện với Hằng Phương, Anh Thơ, Mộng Tuyết trong thi phẩm Hương Xuân cũng dùng ngôn ngữ đó rất tự nhiên:

    “Xin đừng nói đến ái ân chi

    Ái ân lời suông có nghĩa gì!”.

    “Ái ân giục giã gọi lên đường,

    Nặng áo giang hồ bụi gió sương”.

    Trong thời kỳ lãng mạn đó, Huy Thông du học ở Pháp, ảnh hưởng sâu đậm chất “lãng mạn trữ tình” nên trong những thi phẩm của ông bàng bạc ngôn ngữ ái ân; điển hình như Tần Ngọc xuất bản giữa thập niên 1930 với những bài như Tiếng Ái Ân, Chiều Hôm Qua, Trong Lúc Chia Tay, Gió Chiều, Mây Qua, Bấy Nhiêu Đêm, Gặp Gỡ… Có khi chỉ là mộng tưởng như:

    “Niềm ái ân chưa được biết bao giờ,

    Ta vừa biết phút giây trong giấc mộng”

    Thế nhưng, đem mộng để tỏ bầy:

    “Hứa cùng ta sẽ trăm năm ân ái,

    Nỡ đi đâu để bạn đắng cay lòng?”.

    Vào thập niên 1940, thi ca Vũ Hoàng Chương chất chứa cả khung trời lãng mạn, say đắm. Dù mang tựa Quên trong thi phẩm Mây, con tim vẫn dâng trào:

    “Trên nẻo ấy, sẽ từ muôn đáy huyệt

    Ái ân xưa vùng dậy níu chân anh”.

    Có khi hợp rồi tan để bày tỏ niềm đau và oán trách như những dòng thơ của Thái Can trong bài Anh biết Em Đi:

    “Em nhớ làm chi tiếng ái ân

     Đàn xưa đẽ lỡ khúc dương cầm.

     Dây loan chẳng đượm tình âu yếm

     Em nhớ làm chi tiếng ái ân”.

    Trong kho tàng văn chương Việt Nam, hình ảnh ái ân, ân ái được đề cập rất nhiều. Đặc biệt trong âm nhạc, hình ảnh đó cũng được thể hiện từ thuở “bình minh” chạy dài cho dến nay ở khung trời hải ngoại. Trong tình yêu trai, gái… ái ân để lại vết tích mà thời gian khó xóa đi vết tích ấy, nhất là ở mối tình đầu như cái nhìn của nhà thơ Pháp Lamartine. Say đắm, cuồng nhiệt, ngất ngây và chết lịm trong cơn mê của “tột đỉnh yêu thương”. Cảnh tượng, hình ảnh ấy dấu kín trong tận đáy lòng, mấy ai tâm sự, bày tỏ. Thế nhưng, bằng nhiều cách gọi từ sống sượng đến tao nhã, từ hình ảnh tầm thường, đen tối đến thanh tao, ngôn ngữ âm nhạc trở thành hình ảnh thân thương, quen thuộc được thể hiện qua nhiều ca khúc cả nam giới và nữ giới sáng tác.

    Thiên Thai, ca khúc bất hủ của Văn Cao đã hình dung hình ảnh chăn gối trong yêu đương giữa nơi tiên cảnh:

    “Thiên Thai ánh trăng xanh mơ lan thành suối trần gian,

     Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần”.

    Trong ca khúc Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Đoàn Chuẩn mô tả qua lăng kính của màu sắc:

    “Gửi gió cho mây ngàn bay

    Gửi phím tơ đồng tìm duyên

    Gửi thêm lá thư, màu xanh ái ân

    Về đôi mắt như hồ thu”.

    Với nhạc phẩm Lá Thư, Đoàn Chuẩn & Từ Linh than thở với nỗi niềm xa vắng khi đã “nếm mùi” luyến ái, giao hoan:

    “Anh quay về đây, đốt tờ thư quên đi niềm ân ái ngàn xưa!

    Ái ân theo tháng năm tàn,

    Ái ân theo tháng năm vàng

    Tình người nghệ sĩ phai rồi!”.

    Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đề cập đến ái ân, ân ái với hình ảnh mơ hồ, lảng vảng với gió mây và cung bậc để tơ tưởng về hình ảnh giai nhân. Ca khúc Bóng Chiều Xưa, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đề cập đến hình ảnh cụ thể trong giây phút đắm say:

    “Một chiều ái ân

    Say hồn ta bao lần

    Một trời đắm duyên tơ

    Cho đời bao phút ơ thờ”

    Cùng trong điệu nhạc tango vừa dồn dập, vừa nóng bỏng, với mối tình đầu mà Lamartine bày tỏ không thể nào quên, nhạc sĩ Ngọc Bích thể hiện niềm cảm xúc dạt dào trong ca khúc Mộng Chiều Xuân:

    “Mối tình đầu xuân ai thấu chăng?

    Lòng tha thiết vương theo tiếng đàn,

    Mơ nguồn ái ân, những ngày phong trần

    Sống trong mộng đẹp ngày mai”…

    “Anh còn mong chờ

    Ái ân kẻo tàn ngày mơ”

    Ca khúc Người Em Sầu Mộng của nhạc sĩ Y Vân được phỏng theo dòng thơ của Lưu Trọng Lư trong bài Một Mùa Đông:

    “Hãy xếp lại muôn vàn ân ái;

     Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau”

    Nói đến tình yêu, ngoài gió, trăng, mây, nước… có ái ân mới tạo “dấu ấn” và nhớ mãi… đâu đây, tìm gặp ở nhạc sĩ Văn Phụng đã tỏ bày trong ca khúc Yêu:

    “Yêu là tình dâng cao, gió lao xao ngã hàng phi lao.

    Phút ái ân đắm say tâm hồn,

    Nhớ mãi đêm nào bên nhau”

    Từ nhẹ nhàng, mơn trớn đến dồn dập như những thể điệu trong âm nhạc. Nếu âm điệu dồn dập của nhạc sĩ Lam Phương rất khích động, tôn thờ giây phút, hình ảnh đó thể hiện trong Thiên Đường Tình Ái:

    “Đường nào vào thiên đường ái ân

    Là đường vào nhịp thở lâng lâng.

    Mùa xuân đang đi trong lời yêu mới

    Có hoa vàng phủ đường mòn gót chân mềm”

    Có lẽ Y Vân chỉ nhìn thấy màu đen cuộc tình dù đã trao thân cho nhau, qua điệu boston, chậm và buồn. Thể điệu nầy phù hợp với nỗi bi thương trong ca khúc Buồn:

    “Đôi ta như bước lên đỉnh sầu

    Mà đời luôn cao ngất thương đau.

    Bao lâu ân ái chưa đậm màu

    Toàn là cay đắng giết thương yêu!”.

    Ái ân, ân ái trong phút giây nồng nàn không hoàn toàn ngọt lịm, có lúc giăng mắc sự cách biệt làm thấm vị đắng cay như bản nhạc Lời Đắng Trong Cuộc Tình của Hà Nguyên:

    “Những ngày còn nồng nàn ân ái

    Giữa đôi ta, giữa đôi ta

    Có người thì mộng một trời mây bay

    Người thì còn mãi trắng đôi tay”

    Trữ tình, tha thiết, da diết khi đã chăn gối, tạo “dấu ấn tình yêu” trong đời ở Dạ Khúc Cho Tình Nhân của nhạc sĩ Lê Uyên Phương. Ở đây, bắt gặp niềm đau của cuộc tình từ hình ảnh thân thương, gắn bó tận khung trời Đà Lạt đến cảnh chia tay trong cuộc sống, rồi tái hợp trên sân khấu nơi hải ngoại như định mệnh khắc nghiệt, trớ trêu:

    “Ái ân ơi, đừng phụ lòng ta,

    Nhớ thương sau xin gửi người xa

    Khóc nhau trong cuộc đời”

    Một thoáng mê ly, ngất ngây, một thoáng ngậm ngùi khắc khoải ở lời ca của Lê Uyên Phương thấp thoáng trong lời thơ Đinh Hùng trong bài thơ Hương Trinh Bạch ở thi tập Mê Hồn Ca:

    Ta không biết, em ơi! ta không biết,

    Ai hững hờ, ai mộng với ai say?

    Những ai kề môi ân ái vơi đầy

    Những ai nói, ai cười như hứa hẹn?”

    Mang tâm trạng của người con gái khi yêu, trao thân cho người tình, không tiếc gì “cái giá nghìn vàng” mà nhạc sĩ Ngọc Trọng tỏ bày qua  ca khúc Em Vẫn Cần Anh:

    “Dù mai xa cách chỉ biết yêu anh

    Một lần ân ái, ngàn đời nhớ nhau hoài

    Anh về bên ấy từng chiều có nghe ê chề

    Tiếc nhau chi mảnh đời lúc xuân thì”.

    Trong tình yêu với “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên” (Thế Lữ), chỉ trong giây phút, nhớ nhau trọn đời. Đôi khi tận cùng của tình yêu bằng sự chiếm đoạt hay mong đợi sự đòi hỏi chỉ ái ân, ân ái mới có biến chuyển lớn lao trong cuộc đời, nhất là nữ giới – chữ trinh – chỉ một lần trong đời thay đổi cả cuộc đời, chỉ một phút giây để thay đổi danh xưng, bước từ lằn ranh nầy sang lằn ranh khác; và, vết tích đó luôn luôn xâm chiếm.

    Đôi khi bắt gặp nỗi xót xa, hờn dỗi bởi rơi vào tâm trạng chờ mong như dòng thơ Hồ Dzếnh:

    “Em tôi ơi, tình nghĩa có gì đâu

    Nếu là không lưu luyến buổi ban đầu

    Thuở ân ái mong manh hơn nắng lụa”

    Trong  ca khúc Bão Tình, Hoàng Trọng đã đề cập đến “thuở lưu luyến” khó quên:

    “Từ khi xa anh, lạnh xâm lấn tâm hồn em

    Tìm trong đơn côi luyến mơ xưa đêm từng đêm

    Mộng tình ân ái lúc ban đầu

    Tìm đâu thấy đam mê nào về ray rứt thêm tâm tư ngày nối ngày”.

    Vào thập niên 1940, Nguyễn Bính vang danh với nhiều thi phẩm, nhiều bài thơ được phổ nhạc rất được ái mộ. Bài thơ Hôn Nhau Lần Cuối:

    “Ta sẽ là vợ chồng

    Sẽ yêu nhau mãi mãi

    Sẽ se sợi chỉ hồng,

    Sẽ hát câu ân ái”

    Bài thơ nầy được Văn Phụng sáng tác thành ca khúc vào thập niên 50.

    Nhạc sĩ Lam Phương mang nỗi bi thương, tan nát khi người yêu trở thành “Tình Như Mây Khói”:

    “Lời xưa âu yếm trao người như mây như khói tan rồi

    Tựa kề vai em, sầu dâng muôn lối để nghe ái ân xa rời, tan nát lòng tôi!”.

    Nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn tha thiết, cuồng si với tâm tư tình cảm của người tình đã dâng hiến cho nhau còn ngất ngây cám dỗ qua ca khúc Về Đây Anh:

    “Em yêu anh trong giấc mơ nầy

    Em yêu anh trong những mê say

    Một trời ân ái mình hãy sống buông lơi thời gian”

    Trong ngôn ngữ thường dùng, chữ ái ân, ân ái ít khi nhắc nhở, nhất là nữ giới, nhưng trong âm nhạc đều có sự cảm nhận qua sáng tác để trang trải qua lời hát.

    Ca khúc Thao Thức nhạc Trần Đình Quân phổ theo thơ của Bùi Bích Hà:

    “Chưa cùng em ngày tháng tới nhọc nhằn

    Gối ân ái ru sợi buồn tóc rối

    Người xa rồi, nghe lạ chiếu chăn

    Giấc ngủ đêm qua anh về với nắng”.

    Ca sĩ Lưu Bích (ái nữ của nhạc sĩ Lữ Liên) mặn nồng, tình tứ, chứa chan… rồi lại xót xa với nhạc phẩm Hãy Nói Yêu Em Đêm Nay:

    “Tình nồng say… anh đã hứa trên môi

    Ngày sau đôi ta thề không rời.

    Vòng tay yêu thương ân ái đêm nao

    Vì đâu nay bỗng xa nhau?”.

    Nhạc phẩm Mối Tình Si của ca sĩ Mỹ Huyền (ái nữ của nhạc sĩ Thu Hồ) nói lên nỗi niềm “tận cùng đắng cay” bởi đã dâng trọn trái tim và thân xác “giữa lúc tình say” để rồi:

    “Bao nhiêu niềm ái ân dâng tràn khắp nơi

    Bao nhiêu niềm chua xót chất ngất hồn ta

    Lang thang lòng tê tái bước hoang trên đời

    Kêu than tình nhân thế giới giết chết niềm tin”.

    Nhạc sĩ Khúc Lan (em ruột nhạc sĩ Phượng Vũ) viết lời ở ca khúc ngoại quốc vương vấn nỗi niềm tiếc nuối bởi Trái Tim Lầm Lỡ khi đã dâng hiến thân xác:

    “Hởi trái tim lầm lỡ, hãy sống trong dại khờ,

    Những ái ân rồi sẽ chìm vào thương nhớ;

    Có nổi đau nào vẫn hoài niệm nhân gian,

    Nước mắt đêm mồ côi sẽ không còn mang!”.

    Nhạc phẩm Khi Mộng Tàn, nhạc ngoại quốc, lời Khúc Lan bầy tỏ nỗi niềm bi thương của cuộc tình đã “trao nhau” để rồi còn lại hình ảnh não nề lúc xa nhau:

    “Có lúc nước mắt sao mặn môi

    Vòng tay ân ái nay đâu rồi!”

    Với ca khúc ngoại quốc, vào thập niên 1960, nhạc phẩm Histoire d’un Amour của nhạc sĩ Carlos Almaran đã trở thành bài ca bất hủ loan rộng khắp thế giới, giới trẻ Việt Nam đã một thời say đắm, Nguyễn Đình Toàn chuyển ngữ từ lời Pháp của Francis Blanch với cơn mê tình yêu chất ngất:

    “Tình là cơn mơ khi ta còn thức chẳng cần ngủ say

    Tình là cây cao vươn mình đứng lên

    Nhựa đời căng da mềm ái ân

    Đợi ngày đang về tới sau đêm”.

    Đơn cử những ca khúc tiêu biểu đề cập đến ngôn từ quen thuộc được gọi bằng nhiều cách khác nhau nhưng chọn chữ có vẻ thanh tao để đưa vào ngôn ngữ âm nhạc, phổ thông, tự nhiên khi nghe và hát bất luận tuổi tác… để mô tả đến hình ảnh, động tác, giây phút riêng tư, kín đáo, cấm kỵ… như vô tình được hợp thức hóa trong đời sống, kể cả mặt đạo đức. Có khi lạm dụng ngôn từ nầy quá trớn như ở ca khúc Màu Xanh Noel với câu “Cho em gửi lại màu xanh ái ân”?.

    Vẫn màu xanh ấy với nhạc sĩ Đỗ Thu qua ca khúc Gửi Về Anh tơ vương hình ảnh dễ thương, thân quen của thuở học trò:

    “Thư xanh màu xanh ân ái

    Em vẫn lạnh lùng vì vắng anh”.

    Ca khúc Anh Không Chết Đâu Enh của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: “Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân. Giọt nước mắt nóng bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho anh” đã có nhiều ý kiến cho rằng dùng chữ ái ân trong tang lễ đau thương không phù hợp, nếu thay vào “lóng lánh bóng dáng anh” trân trọng, yêu quý hơn. Vì vậy khi viết lời ca khi nói về hình ảnh ái ân, ân ái phải phù hợp với môi trường, hoàn cảnh… Khi trình bày ca khúc với ca sĩ mọi lứa tuổi nam nữ cảm thấy tự nhiên, không có gì trần tục nên phù hợp. Và chứng tỏ độc giả, thính giả cũng không dễ dãi trong lời ca.

    Trên đây, dẫn chứng qua thi ca và âm nhạc với bốn chữ “ái ân, ân ái” của các nhà thơ, nhạc sĩ tên tuổi để tạo nguồn cảm hứng khi viết.

    Ca khúc I’ll Make Love to You của Mỹ năm 1994 với giai điệu nhẹ nhàng với lời ca: “I’ll make love to you. Like you want me to. And I’ll hold you tight. Baby all through the night” nhưng chữ make love tuy khác với have sex, go to bed with, sexual intercourse… nhưng không có vẻ văn chương như lời Việt ái ân, ân ái (?).

    Về địa danh, ở Đà Lạt có rừng Ái Ân, cuối con đường lên viện Pasteur, gần dinh Bảo Đại, là một trong những nơi hẹn hò của tình nhân. Tác phẩm văn chương Rừng Ái Ân của nhà thơ Hà Huyền Chi, xuất bản năm 1970 ở Sài Gòn đã chọn địa danh nầy làm đề tài, gợi sự tò mò với độc giả.

    Nói đến ái ân, ân ái để ngàn đời nhớ nhau, để tìm phút giây say đắm… là nói đến “nghệ thuật yêu đương, nghệ thuật chăn gối” mà từ nghìn xưa, ở Phương Đông khép kín đã từng đề cập. Hơn năm nghìn năm trước công nguyên ở Trung Hoa đã có những tập cổ thư đề cập đến nghệ thuật ái ân. Trong  quyển Tố Nữ Kinh nói về hình ảnh Hoàng Đế và Tố Nữ song luyện theo âm dương, ngũ hành, dưỡng sinh luyện khí, từ điểm nóng đến huyệt đạo… Hoàng Đế là một trong Tam Hoàng, Ngũ Đế từ Phục Hy (4480-4365 trước công nguyên) đến Thần Nông (3220-3080) và Hoàng Đế (1700-2600 trước công nguyên). Với 9 cách ái ân (cửu pháp) được gọi bởi danh từ hoa mỹ của 9 loại cầm thú như Rồng, Hổ, Vượn, Ve, Rùa, Phượng, Thỏ, Cá, Hạc… để mường tượng hình ảnh yêu đương. Vấn đề quan hệ luyến ái giữa Phục Hy & Nữ Oa đã trở thành đề tài cho giới cầm bút hằng nghìn năm nay. Ngoài ra, phương pháp “tu luyện” nhằm tạo cảm giác lâu dài để “cho dài tiếc thương” còn là phương cách điều trị suy nhược tình dục, thoạt nghe có vẻ cấm kỵ nhưng cũng là niềm ước mong của người trần.

    Theo Y sư Giang Hán Thanh, phương pháp Mật Tông trong vấn đề ái ân không phải là điều cấm kỵ mà chỉ là nguyên tắc “dĩ dục chế dục” nhằm điều hợp tính dục của con người. Phương pháp Mật Tông với nghi thức đơn luyện nam, nữ & song luyện để tạo năng lực khai mở luân xa (chakra) nhằm vấn đề “yêu đương” có được sự thông cảm tột cùng, sâu xa cho “say hồn… nhịp thở lâng lâng… ngàn đời nhớ nhau…” như lời ca của Dương Thiệu Tước, Lam Phương, Ngọc Trọng…

    Theo sự nghiên cứu của Viện Y Học Đài Bắc, công cuộc khám phá, khai quật ở Tứ Xuyên, Trường An, Giang Tô, Tân Cương… cho thấy hình ảnh ái ân “ngoại giao, tọa giao, lập giao…” bằng hội họa và điêu khắc có từ thời Tây Hán & Đông Hán từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến thế kỷ thứ II sau công nguyên. Sau nầy được vẽ lại trong nhiều bức tranh cổ của Trung Hoa & Nhật Bản cách nay cũng vài thế kỷ.

    Nghệ thuật ái ân của Ấn Độ cũng được hướng dẫn cách đây hơn hai nghìn năm nhưng trở thành “giáo khoa thư” vào thế kỷ XVI với danh xưng Kama Sutra với “bát thức”. Nghệ thuật nầy được giới điện ảnh Hollywood đưa vào nghệ thuật thứ bảy với hình ảnh của Declan, âm thanh của Michael Danna hư thực, thực hư thu hút hàng triệu triệu khán giả khắp thế giới. “Bát thức” của Kama Sutra “The Art of Making Love” từ “opening flower” đến “suspended” đã bắt gặp ở thi ca của Tố Như tiên sinh trong Truyện Kiều với bài học “vành trong tám nghề” từ “kích cổ thôi hoa” đến “nhiếp thần nhiệm tỏa” mà thuở học trò chỉ biết biết khái quát Tú Bà dạy cho Thúy Kiều.

    linga và yoni là biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực

    Ấn Độ Giáo thờ Linga và Yoni (bộ phận sinh dục của nam và nữ) trong các đền tháp, nhiều khối điêu khắc với hình tượng này. Linga và yoni được xem như là cội nguồn của sự sáng tạo, vị thần tối cao – thần Shiva – phổ nhiều nhất Đông Nam Á.  Với nền văn hóa, truyền thống và thuần phong mỹ tục xa xưa của Việt Nam, không phổ biến hình tượng nầy, chỉ có vài nơi trong tháp của người Champa.  Phương Tây thời xa xưa các nhà điêu khắc đã tạc hình ảnh ái ân ở nhiều nơi. Âu Mỹ dựa vào “nghệ thuật” hình tượng đó thời rồi sáng tạo thêm, phổ biến bừa bãi qua phim ảnh, video… tạo thành mối nguy đầu độc cho cả trẻ vị thành niên bị tiêm nhiệm, sa ngã vào con đường trụy lạc.

    Với nước Nhật tôn trọng văn hóa truyền thống cao đẹp nhưng dựng những hình ảnh công khai về bộ phận sinh dục đàn ông, đàn bà và còn cả lễ hội (!).

    Quyển Shunga dày khoảng 800 trang của Nhật, sưu tầm bức tranh từ đầu thế kỷ 18 về nghệ thuật hoa tình (erotic).  Đầu tiên, Shunga xuất bản như những chỉ dẫn cho giới kỹ nữ (giống như Tú Bà dạy cho Kiều trong thi phẩm của cụ Nguyễn Du). Nhưng dần dà các kỹ viện phát tiển nhiều ở Edo (cố đô Tokyo). Các cửa tiệm trong “quận đèn đỏ” ở Edo, gọi là Yoshiwara, bày bán tranh và sách Shunga làm quà lưu niệm…

    Đài Loan trước đây phản đối Nhật đã dựng những bức tường nô lệ tình dục, phụ nữ mua vui nơi công cộng! Nhưng khi Hàn Quốc vẫn mang mối hận với quân phiệt Nhật khi xâm chiếm lãnh thổ có hơn có cả trăm nghìn phụ nữ bị buộc phải làm việc trong các nhà thổ quân sự của Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến! Tháng 6/2017, Nhật triệu đại sứ tại Hàn Quốc về nước vì một bức tượng “phụ nữ mua vui” bị đặt bên ngoài lãnh sự quán Nhật tại thành phố Busan. Một bức tượng tương tự cũng bị đặt ngoài sứ quán Nhật tại Seoul và Tokyo muốn di dời cả hai bức tượng này.

    Vào thời điểm cuối thế kỷ XX, môn thuốc được xem như “thần dược” được phổ biến khắp nơi trên trái đất để kéo dai giây phút ái ân. Thuốc Viagra của hãng bào chế Pfizer được tung ra trong thị trường Hoa Ky vào tháng 4-1988 như một hiện tượng làm rùm beng trong ngành truyền thông. Ba nhà nghiên cứu bào chế thuốc Viagra là GS R.F. Furchgott thuộc Viện đại học New York, GS Louis J. Ingarro thuộc Viện đại học Los Angeles, GS Ferid Murad thuộc Viện đại học Y Khoa Texas được trao giải Nobel về Y Khoa năm 1998.

    Hình ảnh ái ân, ân ái qua điêu khắc, hội họa, phim ảnh không có tính cách trong sáng nếu gợi hình cụ thể, sống sượng kích thích tính dục… Tuy cho rằng nó mang tính chất nghệ thuật, lãng mạn khi thể hiện góc cạnh nào đó để cảm nhận. Nhưng với giới trẻ bị thành niên tạo hình ảnh sai trái!

    Với ngôn ngữ âm nhạc vừa tượng thanh vừa tượng hình, có vẻ nhẹ nhàng, êm ái, thấp thoáng giây phút yêu đương như tơ vương giăng mắc mối giao hòa, giao cảm mà người nghệ sĩ ghi lại qua cung bậc bằng nhiều thể loại khác nhau. Hãy thả hồn vào cõi mộng mơ để “tìm lại hình ảnh đã qua” trong lời ca, tiếng nhạc để con tim rung động, ngất ngây cho cuộc tình “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt” có còn hơn không, khỏi tiếc nuối, khỏi ân hận vì thời gian là tên đồ tể với trái tim.

    Với tên gọi ái ân, ân ái hay hai chữ khác có vẻ thoát tục nhưng với chỉ một tên gọi đa dạng (khoảng mười chữ) không được hay go, tục tĩu chỉ sử dụng ở phần tử hạ cấp, thiếu văn hóa. Với người đứng đắn, đường hoàng nghe cũng chói ta đừng nói gì nhắc đến trong văn chương, âm nhạc.

    Nói về dục vọng có thanh dục và trọc dục (tham dục) và chữ nghĩa cũng vậy, điều đáng nói tùy theo đầu óc suy nghĩ ở mẩu người trong cuộc sống tốt hay xấu.

    Vào thời kỳ đại chiến thứ II, trong chiến tranh Erich Maria Remarque đã viết tác phẩm văn chương lừng danh Le Temps d’Aimer et Le Temps de Mourir (Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết). Trong tình yêu của mỗi người làm sao mãi mãi trong êm đềm, “thà một phút huy hoàng” để yêu, nhỡ rơi vào “một thời để chết” thì cũng còn chút gì để nhớ.

    Little Saigon. January 2025

    Vương Trùng Dương

  • THO

    Trảy Hội Chùa Hương

    Trần Quốc Bảo

    Tình bằng, tình mãivấn vương,

    Nhớ thời trảy hội chùa Hương với mình

    Danh lam thắng cảnhhữu tình

    Qua Hà-Đông, đếnVân-Đình cùng anh.

    Tới Bến-Đục, đi thuyềnmành,

    Ngắm phong cảnh đẹpnhư tranh tuyệt vời!

    Xa dần cõi tục, thảnhthơi!

    Núi lam, nước biếc,bầu trời thanh thanh.

    Rừng cây, sương phủmong manh,

    Ô kìa! khe Yến, longlanh ánh vàng

    Một vùng sơn thủy mơmàng

    Thiên Thai, hay chốnĐịa Đàng nơi đây?

    Thuyền trôi như lướt trên mây,

    Nước trong cá lội từng bày nhởn nhơ

    Non xa… ẩn khuất mây mờ

    Núi Voi, núi Oản, núi Mơ, núi Rồng.

    Núi Chiêng, núi Trống, núi Bồng…

    “Kỳ Sơn, Tú Thủy” bia đồng rõ ghi

    Đền Trình, hương khói uy nghi

    Vào đền bái niệm, trước khi lên chùa.

    Hai bên, sườn đá nhấp nhô,

    Giữa dòng, suối chảy quanh co, xuôi thuyền

    “Hương-Sơn nhất lộ vạn niên

    Tam quan cổ động, vĩnh truyền thiên xuân” (1) 

    Chùa Giải-Oan, chốntịnh thần,

    Vào đây rũ sạch bụitrần, Tình ơi!

    Trong chùa, cótảng-đá-trời (Thiên Thạch)

    Nứt ra khe nước, chảyhoài triền miên.

    Ngẫm thay muôn sự tùy“duyên”,

    Có duyên ta huởng“Thiên nhiên thanh trì” (2)

    Tuyết-Kinh cửa độngtuyệt kỳ   (3)

    Đến Am Phật-Tích huyềnvi khôn lường.

    Trấn-Long chùa ngáttrầm hương, (4)

    Đưa lòng lữ khách thậpphương thoát trần

    Chim kêu, vượn hót,chuông ngân

    Thông reo, nước chảy…như gần như xa.

    Inline image

    Trăm hai mươi bực đá hoa,

    Trèo lên chót đỉnh, chính tòa Chùa Hương

    Chùa nằm trong Động hoa cương

    Không gian mờ ảo, một phương u trầm.

    Trong Chùa Tượng Phật Quan Âm,

    Từ bi ngự tại trung tâm điện thờ

    Cùng ngàn pho tượng cổ xưa

    Bên hàng thạch nhũ ảo mờ linh thiêng.

    Thạch nhũ cấu tạo tự nhiên,

    Mang nhiều hình tượng tôn nghiêm diệu kỳ

    Lưỡng long chầu nguyệt, giống y

    Đài sen, tay Phật tinh vi lạ đời!

    Niềm vui trảy Hội, Tình ơi!

    Thoáng nhanh như thể nước trôi qua cầu

    Ngày nay Hương Tích còn đâu

    Vẻ tôn nghiên thuở ban đầu, thời xưa… (!)

    Từ khi Cộng “tiếpquản” chùa,

    Lừa Thần, dối Phật,bán mua làm giầu

    Du khách, “chủ yếu” làTầu

    Chúng xây khách sạn,cao lầu, nghênh ngang.

    Ma cô, đĩ diếm… vôvàn!

    Thịt rừng, thịt chóbán tràn khắp nơi

    Chùa Hương nay đã đổiđời

    Không còn thanh tịnhcủa thời thuần lương.

    Lòng hằng vương vấnchùa Hương,

    Bao nhiêu kỷ niệm nhớthương đong đầy

    Mong sao đất nước đổi thay

    Ta về tìm lại nhữngngày thần tiên./.

    Trần Quốc Bảo, Richmond, Virginia

    Ghi chú:

    (1) 2 câu đối ở cổng đá trước chùa “Nhất lộHương Sơn thùy vạn tuế ; Tam quan cổ động vĩnh thiên xuân”

     一 路 香 山 垂 萬 歲 , 三 官 古 洞 永 千 春

    (2) “Thiên nhiênthanh trì” = Ao nước trong của trời đất: là tên của “tảng-đá-trời”

    (3) Động TuyếtKinh, còn gọi  Động Tuyết Quỳnh

    (4) Chùa Trấn Long,còn gọi Chùa Cửa  Võng.

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    Sinh Tố K2 Cực Kỳ Quan Trọng 

    BS Phạm Hiếu Liêm

     Để phòng ngừa và chữa trị nhiều chứng bệnh của người già

    Từ hậu bán thế kỷ thứ 20 đến nay, tuổi thọ của con người đã tăng vọt, trung bình bây giờ là trên 80 tuổi. Với tuổi thọ gia tăng, các thứ bệnh như Ba Cao (Cao Mỡ, Cao Máu, Cao Đường loại 2), bệnh Suy Thận Mãn Tính, bệnh Tim Mạch, bệnh Xốp Xương và các bệnh Ung Thư cũng tăng theo.

    Y học tiến bộ mang đến các thuốc công hiệu giúp bệnh nhân sống lâu hơn như Statin cho Cao Mỡ, thuốc chống Angiotensin cho Cao Máu, thuốc Metformin cho Cao Đường loại 2 v.v.. Tuy nhiên, các chứng Ba Cao về lâu về dài vẫn gây suy thận mãn tính khiến một số không ít bệnh nhân phải cần đến giải phẫu ghép thận hay lọc máu (dialysis) để sống còn. Bất kể điều trị tinh vi và cẩn thận bởi các bác sĩ chuyên về thận đến đâu, nhiều bệnh nhân vẫn bị bệnh mạch vành tim sau khi đã lọc máu hay ghép thận vài năm mà nguyên nhân vẫn chưa được biết rõ.

    Trong khi đó, các bà sau tuổi tắt kinh bắt đầu mất dần calcium trong người đưa đến chứng xốp xương. Dùng hoóc môn estrogen có thể làm chậm sự lão hóa ấy nhưng có thể tăng nguy cơ bị ung thư vú. Quý bà được bác sĩ khuyên uống thêm calcium và sinh tố D để làm chậm sự tiến triển của xốp xương. Nhưng uống nhiều calcium là một con dao hai lưỡi: ngoài việc gây sạn thận, quá nhiều calcium khiến thành mạch máu bị đóng vôi gây bệnh tim mạch và tăng tử vong, trước đây tưởng chỉ gặp ở đàn ông uống calcium, nhưng gần đây cho thấy phụ nữ cũng bị như vậy.

    May thay, trong những năm gần đây khảo cứu cho thấy một loại sinh tố K, gọi là K2, có thể giúp phòng ngừa và chữa việc Calcium đi nhầm chỗ, đóng trên thành mạch máu gây tắc nghẽn, thay vì đóng lên xương giúp xương bớt xốp loãng.

    Sinh Tố K2 là gì ? Nguồn ở đâu?

    Từ lâu, chúng ta đã biết sinh tố K đóng vai trò quan trọng trong việc cầm máu và đông máu. Thật ra có hai loại sinh tố K: sinh tố K1 (Phylloquinone) chiếm 90% thành phần, là loại cần thiết cho máu đông, có nhiều trong các loại rau xanh như rau dền; 10% còn lại là sinh tố K2 (Menaquinone) đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển calcium từ máu đến đúng mục tiêu ở xương và răng thay vì phân phối bừa bãi khắp nơi gây nên các chứng bệnh đề cập trong phần dẫn đầu của bài này. Sinh tố K2 tổng hợp một số ít từ vi trùng trong ruột nhưng đa số đến từ thịt, sữa, lòng đỏ trứng gà, bơ và phó mát. Vì sinh tố K hòa tan trong mỡ, sữa và phó mát bị lấy mất mỡ sẽ không còn sinh tố K2. Hai thực phẩm có nhiều sinh tố K2 nhất là gan bò và món đậu nành lên men của người Nhật gọi là Natto. Sinh tố K2 có side chain isoprenoid từ MK-4 (chuỗi ngắn) đến MK-14 (chuỗi dài). Chuỗi trung bình MK-7 là loại thông dụng nhất vì dễ được hấp thụ qua đường ruột.

    Diagram Description automatically generated

    Trong các xứ kỹ nghệ, lượng sinh tố K2 từ thực phẩm chế biến ngày càng giảm thiểu bắt đầu từ thập niên 1950; và cho đến nay hầu như 100% người Mỹ không ăn đủ sinh tố K2 (cần tối thiểu khoảng 32mcg mỗi ngày). Những người Nhật có ăn đều món natto là nhóm dân duy nhất không thiếu K2 và họ sống lâu hơn, mạnh khỏe hơn với ít chứng bệnh lão suy hơn người Âu Mỹ.

    Tác dụng của sinh tố K2:

    Trên xương, sinh tố K2 tác động chất osteocalcin từ tế bào tạo xương osteoblast giúp điều động calcium kết với khoáng hydroxyapatite khiến xương thêm chắc và cứng, ngừa được xốp xương ở tuổi già.

    Trong mạch máu, sinh tố K2 có tác dụng vào chất đạm trên thành mạch máu Matrix GLA Protein (MGP), chống lại sự kết tụ của chất vôi trong mạch máu gây bệnh xơ cứng làm nghẽn tuần hoàn máu, đồng thời chống lại kết tụ calcium trong các mô mềm.

    Chúng ta có thể ví sinh tố K2 như cảnh sát lưu thông, giúp vận chuyển calcium trong máu đến đúng chỗ ở xương và răng thay vì đi lạc vào thành mạch máu và các mô mềm. Nhờ vậy mà răng và nướu răng cũng tốt hơn với sinh tố K2.

    Timeline Description automatically generated

    Bệnh nhân suy thận mãn tính uống sinh tố K2 phụ gia mỗi ngày được giảm cả suy thận lẫn bệnh tim mạch có lẽ do tuần hoàn máu đến thận tốt hơn; tác động của MGP khiến máu lưu thông đến da tốt giúp giảm các biến chứng ngoài da của người bệnh thận. Bệnh nhân tim mạch dùng K2 phụ gia sau hai năm thì lượng calcium đóng trong thành mạch máu cũng thuyên giảm đáng kể.

    Ngoài ra, sinh tố K2 còn có thể chống viêm, chống kháng insulin, và, mặc dù chưa có kết quả lâm sàng, trên lý thuyết có thể giúp ngừa và chữa Tiểu Đường loại 2.

    Diagram Description automatically generated

    Gần đây nhất, sinh tố K2 cho thấy khả năng chống ung thư, nhất là ung thư gan, một chứng bệnh không hiếm trên người già gốc Việt. Sinh tố K2 trên lý thuyết có tiềm năng kết hợp với hệ vi sinh vật ở ruột giúp ngừa các bệnh thoái hóa não bộ như Parkinson và Alzheimer nữa.

    Diagram Description automatically generated
    Diagram Description automatically generated

    Cách giản tiện nhất ở Mỹ để bảo đảm có đủ sinh tố K2 mỗi ngày là uống một viên từ 50mcg (micrograms) đến 100mcg Vitamin K2 MK-7 mỗi ngày, được bán trên thị trường mà không cần toa bác sĩ.

    Sinh tố K2 cùng với sinh tố D3 là hai phụ gia không thể thiếu để bảo đảm sức khỏe cho tuổi già. Nên bắt đầu dùng từ tuổi 50 trở lên (tuổi trung bình của phụ nữ tắt kinh). Các bệnh nhân bị xốp xương, bị bệnh tim mạch hay suy thận mãn tính nên uống sinh tố K2 ít nhất 100 mcg mỗi ngày để trị bệnh thay vì chỉ ngừa bệnh. Sinh tố K2 không làm giảm ảnh hưởng của thuốc chống đông máu trên các cụ có bệnh tim hay nghẽn mạch máu não.

    Trong những năm tới, chúng ta sẽ biết nhiều hơn về các lợi ích khác của sinh tố K2 trong tuổi già.

    Liem H. Pham, MD Former Jackson T. Stephens Professor and Vice-Chairman of the Donald W. Reynolds Department of Geriatrics, UAMS

  • Lê Nguyễn Nga,  THO

    50 MÙA XUÂN NHUNG NHỚ  

    Tiếng pháo nổ vang lòng rộn rã 

    Xuân về hay ta vẫn trong mơ 

    Nhà đây sao tưởng nơi quê cũ

    Quê củ xa rồi vẫn nhớ thương 

    Đầu xuân lễ Phật cầu ơn phước  

    Xin được an bình đến quê cha  

    Anh em sung túc gia đình ấm Đất nước từ nay thoát đoạ đày  

    Xin cho dân Việt cùng no ấm 

    Cha mẹ sum vầy với cháu con 

    Anh em đóng góp cùng chung sức 

    Sum họp bên nhau được ấm lòng

    Xa quê lòng vẫn bao thương nhớ

    Quê nhà trông đợi bước chân anh

    Bánh chưng hoa quả cầu sung túc 

    Thấp thoáng anh về Tết quê hương 

     Ôi bao thương nhớ người ở lại

    Khắc khoải trông về vọng chốn xưa  Năm mươi năm cách bao thương nhớ 

    Nhớ đến quê nhà, giọt lệ sa.

    Lê Nguyễn nga, Xuân Ất Ty -2025

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TS MAI THANH TRUYẾT

    Hygge – Sự Bình đẳng và Hạnh phúc của mọi Người

    Mai Thanh Truyết

    Khái niệm “hygge” của Ðan Mạch là một phần sâu sắc trong văn hóa của họ, tượng trưng cho nghệ thuật sống hạnh phúc và sự cân bằng trong cuộc sống. Hygge phản ảnh niềm thoải mái của Ðan Mạch mà chúng ta cần hơn bao giờ hết. Ðây là một thuật ngữ của người Bắc Âu – Scandinavia bao gồm cảm giác ấm cúng, hài lòng và khỏe mạnh tìm thấy thông qua việc trân trọng những điều nhỏ nhặt.

    Hygge không chỉ là về việc tạo ra một không gian ấm cúng, mà còn là trạng thái tâm lý khi con người cảm nhận được niềm vui từ những điều đơn giản chung quanh. Nó phản ánh các giá trị của Ðan Mạch về bình đẳng, hạnh phúc và tinh thần đồng thuận. Hygge là một cách sống thể hiện cảm giác ấm cúng, giản dị và hiện diện.

    16 ways to embrace hygge in Denmark …Ví dụ, hygge có thể là:

        Ngồi bên lò sưởi, cuộn tròn trong chiếc chăn ấm với một cuốn sách hay và một tách trà.
        Cùng bạn bè hay gia đình thưởng thức một bữa ăn ngon, với ánh nến lung linh tạo cảm giác gần gũi.
        Ði dạo dưới ánh sáng dịu dàng của buổi chiều tà, cảm nhận sự yên bình của thiên nhiên.
        Áp dụng lối sống đơn giản.
        Dọn dẹp đồ đạc lộn xộn và tạo không gian yên bình.
        Tập trung chỉ giữ lại những thứ quan trọng với bạn.
        Nhận thấy và tận hưởng với con người, môi trường và trải nghiệm tích cực mà bạn đã có chung quanh mình.

    Two-Girls-with-umbrella-on-bench
    Hygge nhấn mạnh vào việc trân trọng khoảnh khắc hiện tại, tìm kiếm hạnh phúc trong những chi tiết nhỏ bé và giảm thiểu căng thẳng. Không phải ngẫu nhiên mà Ðan Mạch luôn nằm trong đỉnh những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới; Cách sống hygge chính là một trong những yếu tố góp phần lớn vào điều đó.

    Các nhà nghiên cứu Smoyer và Miking định nghĩa hygge là một “thực hành phục hồi” “restorative practice” và nhấn mạnh cam kết mạnh mẽ của người Ðan Mạch đối với nó.

    Hygge là tạo ra bầu không khí và trải nghiệm để bạn cảm thấy thoải mái. Không phải là tiêu tiền hay lập kế hoạch lớn, mà là nhận ra và tận hưởng những con người, môi trường và trải nghiệm tích cực và tiếp tục nuôi dưỡng mà bạn đã có xung quanh mình.

    mother-reading-childrens-book
    Không lâu trước đây, khái niệm hygge của Ðan Mạch đã trở thành một từ ngữ cố định phổ biến trong tự điển toàn cầu. Chỉ tính riêng từ năm 2016 đến 2017, đã có hơn 30 cuốn sách được xuất bản về chủ đề lối sống “ấm cúng” của Ðan Mạch, và các ấn phẩm lớn như New York Times và Guardian đã phát hành các bài viết chuyên sâu về chủ đề này trong khi hầu như mọi công ty sản xuất đèn cầy, chăn mền và đồ mặc trong nhà đều xử dụng thuật ngữ này để tiếp thị sản phẩm của họ. Từ tiếng Ðan Mạch thậm chí còn lọt vào danh sách rút gọn năm 2016 cho Từ ngữ của năm của Oxford, danh sách này hàng năm nêu bật những cách diễn đạt được dùng rộng rãi nhất “có tiềm năng lâu dài cho ý nghĩa văn hóa”.

    Bạn có thấy triết lý này gần gũi hoặc có thể áp dụng trong cuộc sống của mình không?

    1.    Khái niệm hygge khó nắm bắt

    Khái niệm hygge của Ðan Mạch đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều bài viết và sách trong vài năm qua, được thúc đẩy bởi sự phổ biến của loạt phim truyền hình Ðan Mạch và tiểu thuyết tội phạm đen trắng Bắc Âu, cùng với nhu cầu về ẩm thực Bắc Âu mới. Chưa kể Ðan Mạch liên tục được xếp hạng là một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Hygge có xứng đáng được ghi nhận một phần công lao cho hạnh phúc đó không?

    Khái niệm hygge có thể bắt nguồn từ đầu những năm 1800 ở Ðan Mạch, Dane Meik Wiking, người sáng lập Viện nghiên cứu hạnh phúc Copenhagen, giải thích trong cuốn sách bán chạy nhất của tờ New York Times The Little Book of Hygge: Danish Secrets to Happy Living (William Morrow, 2017). Trong khi thuật ngữ hygge thực sự bắt nguồn từ một từ tiếng Na Uy, hugga, có nghĩa là “an ủi”, và cũng liên quan đến từ tiếng Anh “hug”.

    Roskilde Festival highfive
    Việc khái niệm hygge của Bắc Âu đạt đến mức độ hấp dẫn quốc tế trong thời kỳ Brexit ở Vương quốc Anh và cuộc bầu cử tổng thống của Trump tại Hoa Kỳ là điều phù hợp. Khái niệm này, bắt nguồn từ sự thoải mái, gắn kết và hạnh phúc, vốn có bản chất xoa dịu. Trong thời kỳ biến động, khi cả nhận thức của công chúng và cá nhân về sự an toàn và cộng đồng đều bị đe dọa, người ta thường khao khát một số giác quan mà hygge gợi lên. Bây giờ, trong một giai đoạn bất ổn toàn cầu khác, việc xem lại thuật ngữ này là điều phù hợp. Sau đây là mọi thứ bạn cần biết về khái niệm hygge của Ðan Mạch, bao gồm cách bạn có thể nắm bắt các khía cạnh của lối sống này trong thời điểm này, khi nhiều người trong chúng ta có thể cần đến nó.

    Rất khó phát âm, hygge (“hooga”) cũng khó giải thích. Tóm lại, hygge là dành thời gian thoát khỏi sự vội vã hàng ngày để ở bên những người bạn quan tâm – hoặc thậm chí là một mình – để thư giãn và tận hưởng những thú vui yên tĩnh hơn của cuộc sống.

    A group of people eating at a table Description automatically generated
    Ðối với đầu bếp người Na Uy Signe Johansen, tác giả của How to Hygge: The Nordic Secrets to a Happy Life (St. Martin’s Griffin, 2017), khái niệm hygge thường có thể liên quan đến các loại thực phẩm và đồ uống cụ thể, chẳng hạn như Rugbrødskage là bánh làm từ bánh mì lúa mạch đen (rugbrød) xay nhỏ, trộn với các nguyên liệu như sô-cô-la, trứng và đường, mang đến một hương vị đậm đà, hơi lạ miệng. hoặc Gløgg, một loại rượu vang nóng của Scandinavia với vỏ bạch đậu khấu và hoa hồi. Trong Hygge: The Danish Art of Happiness (Michael Joseph, 2017), tác giả người Ðan Mạch Marie Tourell Søderberg chỉ ra các vật dụng gia đình thường được coi là hyggelig, trong số đó có nến, lò sưởi, chăn đan tay và dép len nỉ.

    Không gian và thời gian Hygge thường là khoảng thời gian không chính thức cùng với gia đình hoặc bạn bè thân thiết. Thông thường, bối cảnh là ở nhà hoặc một địa điểm yên tĩnh khác, hoặc có thể là một buổi dã ngoại trong những tháng mùa hè. Nó thường bao gồm việc chia sẻ một bữa ăn và rượu vang hoặc bia, hoặc sô cô la nóng và một bát kẹo nếu có trẻ em. Không có chương trình nghị sự. Bạn ăn mừng những niềm vui nhỏ bé của cuộc sống, hoặc có thể thảo luận về những chủ đề sâu sắc hơn. Ðây là cơ hội để thư giãn và làm mọi thứ chậm lại.

    1.1.       Hygge | Yên Hy Set | Shopee Việt Nam Hygge trong sản phẩm và văn hóa đại chúng

    Các nhà thiết kế và nhà kinh doanh nhanh chóng tận dụng hiện tượng hygge. Có những cuốn sách về hygge – chánh yếu được người nước ngoài đọc – và đồ gia dụng hygge, đặc biệt là chăn ấm và nến thơm. Ngoài ra còn có quần áo hygge, chẳng hạn như chiếc áo len mềm mại tự nhiên mà nữ diễn viên Sofie Gråbøl mặc trong loạt phim truyền hình Ðan Mạch The Killing. Sự ấm áp và mềm mại của chiếc áo len được chọn để tạo sự tương phản với sự bạo lực đen tối trong cốt truyện của bộ phim.

    1.2.       Du lịch và hygge

    Khách du lịch đến thăm Ðan Mạch ngày càng muốn nếm thử hương vị hygge.

    Mặc dù hygge khó đạt được khi bạn không được bao quanh bởi những người bạn cũ và môi trường quen thuộc, nhưng một bữa tối thịnh soạn trong một nhà hàng lịch sử được bao quanh bởi những ngọn nến (như Duus Wine Cellar ở Aalborg, tọa lạc trong một tòa nhà từ năm 1624) là một cách tốt nhứt để bắt đầu.

    hygge eatery
    Cũng giống như một ngày nắng đẹp tại công viên giải trí Tivoli Gardens tuyệt đẹp ở Copenhagen, hoặc đi dạo cùng một người bạn dọc theo những bãi biển đầy gió ở bờ biển phía tây của Jutland.

    Hygge được coi là cuộc gặp gỡ của những người bình đẳng, ngay cả khi thực tế có sự mất cân bằng về quyền lực.

    2.    Văn hóa và Người Ðan Mạch như thế nào?

    Ðan Mạch là một xã hội bình đẳng, nghĩa là coi trọng sự bình đẳng, an toàn và tự do. …

    ·         Bình đẳng giới tính là một giá trị cốt lõi.

    ·         Thực hành Hygge trong cuộc sống hàng ngày của Ðan Mạch.

    ·         Cần giao tiếp với người Ðan Mạch và tìm hiểu về văn hóa Hygge của họ.

    ·         Sự hài hước và trung thực của Ðan Mạch cũng là một phần của văn hóa Ðan Mạch.

    Ðan Mạch nổi tiếng với sự hạnh phúc, những hòn đảo tuyệt đẹp, gạch Lego, bánh ngọt Ðan Mạch, văn hóa xe đạp và các công viên giải trí lâu đời nhất. Ðơn vị tiền tệ chính thức của Ðan Mạch là Krone Ðan Mạch hoặc DKK. Ðồng Euro cũng được chấp nhận ở các thành phố lớn.

    Người Ðan Mạch thường lịch sự và tử tế, mặc dù họ hiếm khi bắt chuyện với người lạ. Tuy nhiên, khi bạn tiếp cận một người Ðan Mạch với một câu hỏi cụ thể (chẳng hạn như hỏi đường), họ thường sẽ phản hồi tích cực và giúp bạn giải đáp mọi thắc mắc.

    Overhead view of cup of tea and small plate of lemon slices, with 3 white lit candles on tabletop
    Ở Ðan Mạch, đặc điểm là tin tưởng lẫn nhau khi nói đến kinh doanh, chính phủ hoặc các mối quan hệ cá nhân. Sự trung thực được mong đợi và tham nhũng trong kinh doanh hoặc giữa các công chức là rất hiếm.

    Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất ở Ðan Mạch. Tính đến năm 2024, 71,2% dân số Ðan Mạch là thành viên đã đăng ký của Giáo hội Ðan Mạch (Den Danske Folkekirke), nhà thờ được thành lập chính thức, có phân loại là Tin lành và định hướng là Luther.

    3.    Vài gợi ý trong cuộc sống

    Hygge là một khái niệm tuyệt đẹp và sâu sắc trong văn hóa Ðan Mạch, mang ý nghĩa về sự thoải mái, ấm áp và tận hưởng những khoảnh khắc giản dị trong cuộc sống. Ðây không chỉ là một từ ngữ, mà còn là một triết lý sống giúp con người tìm thấy hạnh phúc từ những điều nhỏ bé và gần gũi.

    What is Hygge Design? – JENRON DESIGNS Hygge có thể là việc ngồi bên ánh nến với một cuốn sách yêu thích, nhâm nhi một tách cà phê trong ngày mưa, hay quây quần cùng gia đình và bạn bè trong không gian thân mật. Những khoảnh khắc ấy giúp ta cảm nhận được sự kết nối và sự bình yên trong tâm hồn. Ðiểm đặc biệt của Hygge là nó không đòi hỏi sự xa hoa hay cầu kỳ, mà chỉ cần chú trọng vào việc tạo nên cảm giác thoải mái và hạnh phúc từ những điều đơn giản.

    Với người Ðan Mạch, Hygge cũng là cách để họ đối mặt với những tháng mùa đông lạnh giá và tối tăm. Thay vì chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, họ chọn cách sống hòa hợp với nó, tạo nên sự ấm áp từ bên trong, cả về vật chất lẫn tinh thần. Ðiều này có thể giải thích tại sao Ðan Mạch thường nằm trong danh sách các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới.

    Học hỏi từ Hygge, chúng ta có thể nhìn nhận cuộc sống theo cách chậm lại, yêu thương hơn và biết trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại.

    ·         Trong nhịp sống hiện đại bận rộn, đôi khi chúng ta quên mất giá trị của sự tĩnh lặng và những điều nhỏ bé.

    ·         Hygge nhắc nhở rằng hạnh phúc không nằm ở những gì lớn lao, mà nằm trong sự hài lòng với cuộc sống hàng ngày, với những điều thân thuộc quanh ta.

    Bạn cảm thấy triết lý Hygge có phù hợp với cách sống của bạn không?

    Cón sách sống Hygge như thế nào trong hiện tại?

    Cách sống Hygge thực sự có thể đem lại hạnh phúc cho con người, và điều này đã được chứng minh qua thực tế cuộc sống tại Ðan Mạch – một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Ðiều cốt lõi của Hygge không chỉ nằm ở việc tận hưởng những khoảnh khắc thoải mái, mà còn ở việc nuôi dưỡng cảm giác bình yên, sự kết nối và trân trọng hiện tại.

    The hygge conspiracy | Health …Dưới đây là những lý do tại sao Hygge có thể mang lại hạnh phúc:

    Trân trọng những điều giản dị: Hygge giúp con người tập trung vào những niềm vui nhỏ bé trong cuộc sống, từ một tách trà nóng, ánh nến dịu dàng, đến khoảnh khắc bên người thân. Khi chúng ta học cách yêu những điều đơn giản, hạnh phúc trở nên dễ dàng đạt được hơn, thay vì phụ thuộc vào vật chất xa hoa hay những mục tiêu lớn lao.

    Tạo ra cảm giác ấm áp và an toàn: Hygge khuyến khích tạo dựng không gian ấm cúng và thoải mái, nơi con người cảm thấy được bảo bọc và thư giãn. Trong một thế giới đầy căng thẳng và áp lực, cảm giác này giúp giảm bớt lo âu và mang lại trạng thái tinh thần cân bằng.

    Xây dựng kết nối xã hội: Một khía cạnh quan trọng của Hygge là dành thời gian với gia đình và bạn bè. Những buổi tối trò chuyện, ăn uống hay chơi trò chơi cùng nhau trong không gian thân mật giúp tăng cường sự gắn kết và hỗ trợ tinh thần, từ đó mang lại hạnh phúc bền vững.

    chair next to lit fireplace in dark roomKhuyến khích sống chậm và tận hưởng hiện tại: Trong thời đại mà con người thường bị cuốn vào nhịp sống nhanh và mục tiêu tương lai, Hygge là lời nhắc nhở quan trọng về giá trị của việc sống chậm lại, tận hưởng hiện tại và không để cuộc sống trôi qua vô nghĩa. Sự chánh niệm này giúp ta cảm nhận rõ hơn niềm vui và ý nghĩa của từng khoảnh khắc.

    Giảm áp lực về thành công hay cạnh tranh: Hygge không dựa trên sự so sánh hay thành tựu cá nhân. Thay vào đó, nó tập trung vào cảm giác hài lòng với cuộc sống mình đang có. Ðiều này giúp giảm căng thẳng và áp lực, tạo ra hạnh phúc từ sự bình yên trong tâm hồn.

    Thích nghi với khó khăn và biến chúng thành cơ hội: Người Ðan Mạch dùng Hygge như một cách để vượt qua mùa đông dài, lạnh lẽo và thiếu ánh sáng, vốn dễ gây ra cảm giác cô đơn và trầm cảm. Thay vì chống đối, họ biến thời gian này thành cơ hội để chăm sóc bản thân, tìm sự ấm áp trong gia đình và cộng đồng.

    Và sau cùng có phải Hygge sẽ phù hợp với mọi người?

    Mặc dù Hygge có thể mang lại hạnh phúc cho nhiều người, nhưng cách tiếp cận này cũng cần phù hợp với bối cảnh văn hóa và lối sống cá nhân. Ðối với những người quen với lối sống nhanh hoặc thích sự náo nhiệt, việc sống chậm và chú trọng vào sự bình yên có thể cần thời gian để thích nghi. Tuy nhiên, bất kỳ ai cũng có thể áp dụng những yếu tố nhỏ của Hygge, chẳng hạn như tạo không gian thoải mái trong nhà hoặc tận hưởng một buổi tối tĩnh lặng để cảm nhận hạnh phúc.

    Bạn có muốn thử một chút “Hygge” trong cuộc sống hàng ngày không?

    Chẳng hạn như dành thời gian thư giãn vào buổi tối hay tạo không gian ấm áp trong ngôi nhà của mình?

    Mai Thanh Truyết, Houston- Ðông chí 21/12/2024

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Nỗi Lòng Với “Chiếc Lá Cuối Cùng

    Vương Trùng Dương

     “La chanson que tu me chantais

    C’est une chanson qui nous ressemble”

    (Les Feuilles mortes. Nhạc Joseph Kosma, lời Jacques Prévert)

    Có vài ca khúc khi nhạc sĩ đặt tên giống nhau, trong đó có Chiếc Lá Cuối Cùng của hai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (lời Từ Linh) & Tuấn Khanh.

    Với ca khúc trữ tình Chiếc Lá Cuối Cùng, với tôi, đúng sáu thập niên với kỷ niệm xưa. Khi tôi sắp bước vào “Ngưỡng Cửa Quân Đội” từ Sài Gòn trở về thăm phố cổ Hội An, buổi tối hai đứa thả bộ qua An Hội, khi nói lời chia tay, chẳng biết nói gì hơn vì tâm trạng lúc đó như nỗi lòng trong ca khúc:

    “Đêm chia ly buồn gì sao chẳng nói

    Chỉ nghe em nói nhỏ trở về thôi…

    Xa nhau chưa mà lòng nghe quạnh vắng…

    Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”.

    Hơn một thập niên, ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng đã đi vào lòng người ngưỡng mộ âm nhạc ở miền Nam Việt Nam, và sau đó với những cuộc chia ly kẻ ở người đi như “chiếc cuối bay xa”!

    Với tâm hồn lãng mạn, giữa hai nhạc sĩ nầy liên quan đến bóng hồng trong ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng. Nhân kỳ thi hát của Đài Phát Thanh Pháp – Á năm 1953, Tuấn Khanh (Trần Trọng Ngọc, sinh năm 1933, khi ấy với bút danh Trần Ngọc) đoạt giải nhì sau nữ ca sĩ Thanh Hằng (Lê Lệ Hảo, sinh năm 1935 tại Hà Nội). Vào thời điểm đó Trần Ngọc chỉ là ca sĩ mới biết đến nên không chiếm được trái tim của ca sĩ khả ái, xinh đẹp Thanh Hằng mà cậu ấm nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (sinh năm 1924 ở Hải Phòng, lớn lên ở Hà Nội) với các ca khúc nổi tiếng trong đó với Tà Áo Xanh mang hình ảnh ca sĩ nầy… nhưng rồi “một chiếc lá bay xa”!

    Theo giai thoại cho rằng nhạc phẩm Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh với hình bóng   cô gái 13 tuổi, học trò thanh nhạc của ông trong thời gian dài đã ám ảnh tình cảm thầy trò lãng mạn… cho đến khi ông vào Nam. Với hình bóng đó, kẻ ở người đi “Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa”…

    Hơn mười năm trước, tôi viết bài Đoàn Chuẩn & Bí Ẩn Bóng Hồng “Gửi Người Em Gái”. Bài viết nầy đăng trong quyển Nhân Văn & Tình Sử, ấn hành năm 2015. Trong đó đã liệt kê các ca khúc của ông, có Chiếc Lá Cuối Cùng nhưng  nói về cuộc tình qua ca khúc Gửi Người Em Gái.

    Trích lại bài viết về Đoàn Chuẩn:

    Theo lời hiền thê của ông (bà Nguyễn Thị Xuyến) “… Đoàn Chuẩn rất đa tình. Ông đã sáng tác tặng một người đẹp của miền Bắc lúc đó sáu bài hát trong khi với vợ mình, ông chỉ viết tặng bà vỏn vẹn hai bài. Thời trẻ, ông đã từng dành ba năm thuê người mỗi ngày mang một bông hồng đến tặng người con gái mà ông yêu. Nhưng người bạn đời thông cảm tâm hồn lãng mạn của người nhạc sĩ…

    Đời ông phóng khoáng. Nghe nhạc ông lúc nào tôi cũng ngạc nhiên – sao ông tài thế? Mỗi bài hát là kỷ niệm một mối tình đi qua đời ông. Ông chỉ viết một bài cho tôi, hồi đó ông chưa lơ mơ ai cả…”

    … Người ta cho rằng nếu không bằng tình yêu một người đẹp nào đó chắc ông sẽ không thể viết ra những ca khúc hay như vậy. Không biết thực hư qua những mối tình lãng mạn của Đoàn Chuẩn ảnh hưởng đến ca khúc của ông đến đâu nhưng ông từng nói rằng, ông có một kỷ niệm sâu sắc với một nữ ca sĩ Huế từ hồi những năm 1950. Đó chính là ca sĩ Mộc Lan.

    Đoàn Chuẩn chỉ sau một lần nghe Mộc Lan hát bài Đi Chơi Chùa Hương của Trần Văn Khê phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp ở nhà hát lớn Hà Nội, đã đem lòng thầm yêu trộm nhớ. Sau cuộc diễn ở Hà Nội, Mộc Lan trở lại Sài Gòn… Đoàn đã đáp máy bay vào chơi Sài Gòn, hy vọng làm quen với Mộc Lan vì biết cô đã chia tay với người chồng nhạc sĩ. Khi ấy, Đoàn Chuẩn vốn là ông chủ hãng nước mắm Vạn Vân, giàu có ở Hải Phòng, từng có xe hơi riêng hiệu Buick Hoa Kỳ mà lúc đó cả miền Bắc chỉ có hai chiếc.

    Theo nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả Gợi Giấc Mơ Xưa – bạn của Đoàn Chuẩn – tiết lộ thì sau khi tới Sài Gòn, họ Đoàn đã tìm được địa chỉ của Mộc Lan trên đường Espagne ở Tân Định nhưng không trực tiếp “yết kiến” mà chỉ nhờ chủ một tiệm bán hoa tươi mang hoa đến tặng Mộc Lan mỗi sáng sớm, và không tiết lộ tung tích người gửi hoa. Đoàn Chuẩn đặt trước tiền hoa và tiền công cả tháng cho chủ hàng hoa tươi rồi trở lại Hải Phòng, không quên để lại địa chỉ liên lạc của mình.

    Sau 3 tuần nhận được hoa đều đặn, ca sĩ hoa khôi Mộc Lan không cầm lòng được đã đề nghị người đưa hoa cho biết tên người tặng. Được sự đồng ý của Đoàn Chuẩn, chủ hàng hoa đã thông báo cho Mộc Lan biết người gửi tặng hoa cho nàng chính là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cùng với địa chỉ kèm theo. Sau đó, nhạc sĩ họ Đoàn nhận được lá thư của người đẹp với lời cảm ơn và hy vọng có ngày được hội ngộ. Thế là Đoàn Chuẩn lại gửi tiền để chủ hàng hoa tiếp tục tặng hoa cho người đẹp liền 2 tháng nữa.

    Mấy tuần sau đó, Đoàn Chuẩn rất xúc động khi nhận được lá thư tiếp theo của Mộc Lan và ông đã biến tình cảm dâng trào của mình thành bản nhạc Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay với lời đề tặng M.L.

    Gặp gỡ và chia tay… Theo lời hiền thê của ông “Nhiều mối tình đã đi qua tâm hồn người nhạc sĩ đa cảm đa tình. Lúc còn sống, ông từng thú nhận rằng đời ông chỉ viết tình khúc, bởi ông trọng nhất là tình yêu. Những năm cuối đời ông bị tai biến mạch máu não, nằm liệt trên giường. Người bạn đời của ông vẫn còn lưu lại vẻ đẹp của một thời hoàng kim xa lắc luôn có mặt bên cạnh. Lúc ấy, khi nhắc lại chuyện xưa, cả hai ông bà đều cười rất tươi…”

    Cuối thập niên 40, Mộc Lan vào Sài Gòn, kết duyên với nhạc sĩ Châu Kỳ (1923-2008). Đôi uyên ương ra làm việc tại Đài Phát Thanh Huế. Năm 1954, trở lại Sài Gòn, ca sĩ Mộc Lan nổi tiếng hát hay và đẹp, trở thành đối tượng cho văn nghệ sỹ si tình nên… chia tay nhau. Sau thời gian sống trong khổ đau, u uất, Châu Kỳ gặp cô nữ sinh Kha Thị Đàng, 18 tuổi. Cô hoa khôi của trường nữ trung học Gia Long kết hôn với Châu Kỳ và sống bên nhau đến cuối đời.

    Sau khi rời Sài Gòn trở lại Hà Nội, Đoàn Chuẩn viết ca khúc Gửi Người Em Gái Miền Nam vào dịp Tết Giáp Ngọ (đầu năm 1955) nhưng đến năm 1956 mới ấn hành nhạc phẩm nầy…

    Trong bài viết của Hạ Đình Nguyên, phỏng vấn Mộc Lan và Tâm Vấn, cho biết, sau vài nghi vấn “Người viết đã có may mắn được gặp bà Tâm Vấn trong một cuộc triển lãm tranh ở đường Lê Thánh Tôn, bèn đánh bạo hỏi bà chuyện này. Bà cười xòa: “Không, ông ấy làm bài này là để tặng cho Mộc Lan, bạn tôi”…

    Tình khúc Gửi Người Em Gái… là một trong những bản tình ca tuyệt vời nhất của âm nhạc Việt Nam. Hình ảnh người em gái được viết lên với giai điệu nhẹ nhàng, với ngôn ngữ hòa nhập trong con tim rung động. Nhạc sĩ tài hoa như vậy nhưng sau khi sáng tác ca khúc đó, tâm sự đã được bày tỏ tình cảm,, nỗi niềm rồi vô vọng để rồi im lặng qua ba thập niên. Nếu có nuối tiếc cho cuộc tình vô vọng, chỉ còn gặm nhấm theo thời gian”.

    Với ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của Đoàn Chuẩn. Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng viết: “Rất ít người biết đến ca khúc có cùng tên do Đoàn Chuẩn & Từ Linh sáng tác năm 1955 trong tập Bài Ca Bị Xé… Có lẽ, một trong những lý do bài Chiếc Lá Cuối Cùng của Đoàn Chuẩn & Từ Linh có số phận hẩm hiu, ít người biết đến vì sau khi đất nước chia đôi, ở miền Bắc ai dám hát nhạc tình cảm ướt át từ một nhạc sĩ có gốc gác “tư sản” nặng như Đoàn Chuẩn? Bản nhạc này được tác giả cất giữ cho đến mãi sau 1986 – “thời kỳ đổi mới” – mới bắt đầu tiết lộ ra ngoài qua hai người con là Đoàn Đính và Đoàn Chính.

    Những bài trong tập Bài Ca Bị Xé, ông viết tặng ca sĩ Thanh Hằng  thời đó và theo nhạc sĩ Đoàn Đính, thứ nam của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn trong cuộc phỏng vấn với ký giả Ngọc Trần đã cho biết như sau: “Tuy yêu vợ nhưng bản chất của Đoàn Chuẩn là một nghệ sĩ đa tình. Vì thế khó trách cha tôi tội quá đào hoa. May mắn mẹ tôi là người đàn bà tinh tế, hết lòng vì chồng con… Mỗi bài hát là một mối tình đi qua đời ông”. Chính nhờ sự bao dung ấy của mẹ mà gia đình tôi được giữ trọn vẹn…”.

    Năm 1955, tuy sống cũng gần nhau ở Hà Nội nhưng không được gặp gỡ như trước kia vì nhạc trữ tình của Đoàn Chuẩn – Từ Linh bị “ghép tội” ủy mị nên cấm phổ biến trong khi đó ca sĩ Thanh Hằng đổi thành Lệ Hằng để tiếp tục kiếp cầm ca.

    Sống trong gia đình với vợ con nhưng Đoản Chuẩn vẫn tơ tưởng đến hình bóng “người đi qua đời tôi”:

    “Em thời xa, sương gió phôi pha

    Anh ngồi đây anh nhớ đến em

    Như cành khô trước lúc xa cây, gọi lá…

    Sao đôi tâm hồn đã quá xa xôi

    Trên những con đường thoảng hương hoa sữa

    Em đã nói gì, quá khứ? tương lai?

    Trăng sao trên trời còn khi chia đôi

    Nhưng tiếng ca nào còn lắng trong tôi…

    Hà Nội chiều nay trời lên mây trắng

    Chiếc lá cuối cùng rơi xuống chân em…

    Chiếc lá cuối cùng là của em đó

    Em hãy giữ gìn trước lúc chia tay”!

    *

    Vừa rồi, tôi nhận được email của người bạn thân từ ngày ở Đà Lạt, anh rất hiền, ít nói, chung thủy cả một đời khi lập gia đình và hình như chưa tâm sự với ai về chuyện tình cảm nhưng anh cho biết những dòng chia sẻ nầy nếu ngày nào anh vĩnh biệt cõi trần, tôi viết thêm hình bóng trong vài ca khúc của anh. Chưa biết ai sẽ ra đi trước nhưng sẽ ghi vào “giai thoại” để mỗi ca khúc mang tâm hồn lãng mạn.

    Khi tôi viết loạt bài Văn Nhân & Tình Sử, nhà thơ Thái Tú Hạp (đồng hương ở Hội An) nói tại sao không viết tình sử của bản thân?. Có mấy ai tự “vạch áo cho người xem lưng”?. Trong bài viết đã lâu, tôi ghi lại khi về Hội An, thưa với mẹ chuyện lập gia đình, mẹ tôi hỏi “Ủa, con lấy ai?”… Rồi sau nầy “thành thật khai báo” nhưng hiền thê – như bà vợ Đoàn Chuẩn – phán “biết tỏng tòng tong” miễn là giữ trách nhiệm cho đến cuối đời.

    Buổi tối cuối tuần, đang nghe Moonlight Sonata của Beethoven, thấy tin nhắn qua message cho biết, cả một đời thích âm nhạc, ca hát… mang lại niềm vui, an ủi cho bản thân và những người thưởng ngoạn, nhưng không ngờ ngược lại nên không còn tiếp tục!. Thật bất ngờ và hụt hẫng qua lời nhắn, khi nhắn lại thì bặt tin!

    Với tôi, tiếng hát ngọt ngào, nhẹ nhàng, truyền cảm đi nhẹ vào lòng người, bỗng dưng lìa xa sân khấu! Lại một lần nữa “Les feuilles mortes se ramassent à la pelle. Les souvenirs et les regrets aussi” và tiếng hát đó như “Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”!. Nỗi buồn vây quanh!

    Little Saigon, March 2025

    Vương Trùng Dương

  • Phạm Phan Lang,  THO

    APRIL WITHIN ME

    Phan Lang

    Across four seas, I drift, alone –
    Dark April casts its mournful tone.
    My homeland fades in smoke and haze,
    A portrait lost in youthful days.

    Exile’s path, so cold and bare,
    Freedom’s sky still veiled with care.
    Eyes gone dry through endless years,
    A heart still bleeds its silent tears.

    I hear the cries from poor, scorched lands,
    Where prisons rise on thatched-roof strands.
    Old bamboo sighs with breaking groan,
    Young rice falls from its tender throne.

    Boat people lost in storm-swept flight,
    Dreams shattered in the endless night.
    No nest awaits the wing-worn bird,
    Just trembling winds and voices blurred.

    Our children grow on foreign shores,
    Grandkids forget our native lore.
    We gather silent words once more,
    To weave the dream we’re longing for.

    Fifty years in exile’s hold,
    Hair now streaked in misty gold.
    Yet still the heart can feel the sting
    Of autumns lost, of vanished springs.

    That mossy thatch of long ago –
    Who waits beside the village well?
    Old areca trees in silence grow,
    Still watching for lost souls to dwell.

    I dream one day the war will cease,
    Our motherland will rest in peace.
    And we return, though frail we be,
    To find that path beneath the green.

    Though legs may shake, and backs be bowed,
    Though time has carved its mark and shroud –
    This heart still holds the schoolyard’s grace,
    That homeland love no age can erase.

    May peace at last embrace our land,
    May hatred pass like drifting sand.
    So children sing with voices free
    Beneath the skies of ancestry.

    phamphanlang, April 1st, 2025

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Chiếc Lá Trong Ca Khúc

    Vương Trùng Dương

    “Les feuilles mortes se ramassent à la pelle…

    Tu vois je n’ai pas oublié

    Les feuilles mortes se ramassent à la pelle

    Les souvenirs et les regrets aussi…”

    ((Jacques Prévert: Œuvres complètes Tome II)

    Bạn tôi, nhà thơ Triều Hoa Đại ấn hành tác phẩm Lên Rừng Đếm Lá. Nhân dịp nầy, người bạn vong niên từ thời ở Đà Nẵng – Lê Bảo Hoàng (nhà thơ Luân Hoán) – hai nhà thơ thực hiện cuộc trò chuyện với nhau.

    Theo Triều Hoa Đại thì khi rời bỏ đất nước ra đi, hình như một số anh, chị em trong đó có tôi đã bỏ “của” mà chạy lấy người nên đã không đem theo được một tác phẩm nào…

    Tôi ở một nơi rất xa cách sinh hoạt cộng đồng (vì công việc) cho nên đó cũng là những thiệt thòi về đủ mọi phương diện, mà đặc biệt nhất là sách báo thì tôi thiếu thốn vô cùng, những ngày tháng trước đây khi còn sinh hoạt với chữ nghĩa ở trong nước tôi đã có được một tủ sách gia đình đáng kể, bạn bè mỗi khi in sách đều gửi cho, nhà xuất bản cũng thương tình cho một vài cuốn thành ra một tác phẩm thường thì tôi được hai, hay nhiều hơn thế nữa do tác giả và nhà xuất bản ký tặng, giờ đây nhìn thấy “tủ sách” gia đình mà mình có được thấy ngậm ngùi, tủi thân chi lạ. Mở hộp thư bưu điện hằng ngày chỉ là để trông mong sách báo, ngóng chờ thư từ bằng hữu như người đi giữa sa mạc mong ngóng những cơn mưa.

    Vì vậy, tác phẩm đầu tiên của anh Lên Rừng Đếm Lá, anh đã “đếm” 17 chiếc lá, hầu hết là bạn văn với tác giả. Sau gần hai thập nhiên, có các chiếc lá đã lìa cành!

    Trong âm nhạc, có nhiều ca khúc với hình ảnh chiếc lá, có lẽ biểu tượng cho đời người, tình yêu… ở giai đoạn nào đó mang nỗi buồn man mác khi chia ly! Mà “Lòng người như chiếc lá, nằm trong cơn gió vô tình…” (Ngăn Cách của Y Vân). “Lòng người như lá úa, trong cơn mưa chiều. Nhiều cơn gió cuốn, xoay xoay trong hồn. Và cơn đau này vẫn còn đấy” (Bài Không Tên Số 2 của Vũ Thành An)…

    Vào thời tiền chiến, những tình khúc của Đoàn Chuẩn & Từ Linh được gọi nhạc sĩ của mùa Thu mà mùa Thu thường mang đến nỗi buồn. Mùa Thu là mùa của lá vàng rơi đã thể hiện qua nhiều bài thơ… Ca khúc Lá Đổ Muôn Chiều của Đoàn Chuẩn & Từ Linh:

    “Lá đổ muôn chiều ôi lá úa

    Phải chăng là những cánh đời em

    Đêm đêm lìa xuống trần

    Tình vương hoen úa ôi những cánh đời mong manh.

    Than tiếc mà chi chiếc lá vàng bay về cuối trời

    Làm lòng anh nhớ mãi người ơi.

    Nhớ nhau từ làn môi đôi mắt.

    Đành tìm trong nét bút xa xôi”.

    Ca khúc Lá Thư và “lá thư” gửi cho người tình khi đã trao thân:

    “Nhớ tới mùa thu năm nào

    Mình anh lênh đênh rừng cùng sông

    Chiếc lá thu dần vàng theo

    Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu

    Ngồi xõa tóc thề. Còn đâu ân ái chăng người xưa?”

    Câu ca dao “Dã tràng xe cát biển Đông” với hình ảnh con dã tràng khi thủy triều xuống, xây cát làm nơi trú ẩn nhưng khi thủy triều lên bị san bằng, ngụ ý bỏ công sức nhưng chẳng được gì như công cốc! Ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của nhạc sĩ trong tình yêu ví như lâu đài trên cát:

    “Hà Nội chiều nay còn như in bóng

    Dấu vết lâu đài trên cát anh xây

    Bóng dáng em về thấp thoáng đâu đây

    Chiếc lá cuối cùng là của em đó

    Em hãy giữ gìn trước lúc chia tay”

    Và ca khúc Ánh Trăng Mùa Thu:

    “Lòng hờn trăng cuốn thêm bao đời lá

    Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa!”

    Trong bài viết vừa qua Nỗi Lòng Với “Chiếc Lá Cuối Cùng” của tôi đề cập đến hai ca khúc của Đoàn Chuẩn và Tuấn Khanh cùng tên.

    Với ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh, được nổi tiếng ở miền Nam VN vào thập niên 1960’:

    “Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng

    Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang

    Chiều vào thu tiễn em sầu lạnh giá

    Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa…

    Xa nhau chưa mà lòng nghe quạnh vắng

    Đường thênh thang gió lộng một mình ta

    Rượu cạn ly uống say lòng còn giá

    Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”.

    Bài thơ L’Adieu của Apollinaire chỉ có 5 câu, Bùi Giáng dịch là Lời Vĩnh Biệt, Phạm Duy dựa vào ý thơ phổ thành ca khúc Mùa Thu Chết.

    Như đã đề cập ở trên, trên quê hương ngày xưa, mùa Hè nóng bức, mùa Đông giá lạnh, mùa Thu giao mùa giữa nóng và lạnh, là mùa của nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trong tâm trạng buồn, nhớ thương.

    Ca khúc Thu Vàng năm 1953, khi Cung Tiến chỉ mười lăm tuổi, mới rời Hà Nội vào Sài Gòn. Lời đề tặng: “Tặng Hà Nội của những ngày thơ ấu”. Với thể điệu valse như những bước chân chim nhảy nhót trên lá vàng với “màu tê tái”:

    “Mùa Thu vàng tới là mùa lá vàng rơi

    Và lá vàng rơi, khi tình Thu vừa khơi

    Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi

    Nghe chừng đâu đây màu tê tái”

    Ca khúc Lá Rơi Bên Thềm của Lê Trọng Nguyễn & Nguyễn Hiền:

    “Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương

    Tìm trong lá thu vàng trên lối đi về dĩ vãng

    Ngày thơ đã qua rồi sao vấn vương

    Mỗi khi sương chiều xuống

    Tìm bâng khuâng hình bóng năm nào…

    Lá rơi cho lòng hoài cố nhân

    Tìm trong lá thu vàng bao phút xưa đầm ấm

    Niềm thương khó phai mờ theo tháng năm

    Lá rơi bên thềm vắng

    Yêu mãi dáng Thu về bên song”.

    Lá Rụng Ven Sông của Hoàng Nguyên với thể điệu tango:

    “Hôm nao nhìn lá úa

    Rụng lác đác bên sông.

    Mây trôi về viễn xứ

    Gợi tiếc nhớ bâng khuâng…

    Thương ai đã thương ai rồi

    Dù tháng năm dần trôi

    Dù lá hoa tàn phai

    Lòng vẫn nhớ thương ai”.

    Ca khúc Lá Rụng Ven Sông của Phạm Duy, thơ Thế Lữ với thể điệu valse:

    “Còn đâu đêm sang lá đổ rộn ràng

    Còn đâu sương tan trăng nội mơ màng

    Còn đâu em ngoan tóc rối ngổn ngang

    Tuổi em đôi mươi xuân mới vừa sang”.

    Trong tùy bút trước đây của tôi với Đường Chiều Lá Rụng khi nói về cuộc chia tay nơi công viên lúc chiều tà, dựa theo tựa đề nhạc phẩm Đường Chiều Lá Rụng của Phạm Duy:

    “Lá vàng bay! Lá vàng bay!

    Như dĩ vãng gầy, tóc buông dài, bước ra khỏi tình phai

    Lá vàng rơi! Lá vàng rơi!…

    Lá vàng khô! Lá vàng khô!

    Như nét môi già đã nhăn chờ lên nẻo đường băng giá”

    Nhạc phẩm Thu Ca của Phạm Mạnh Cương trong phần điệp khúc:

    “Nhớ ai chiều thu

    Nhìn bao lá úa rơi đầy lối

    Nhẹ rung tà áo

    Làn môi cười thắm như cánh hoa đào

    Cách xa vì đâu!

    Dù bao lần lá hoa phai màu

    Rung chi cành hoa lá

    Khi tà dương đã khuất non xa”

    Trích dẫn những ca khúc tiêu biểu của các nhạc sĩ từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam – trong hoàn cảnh chiến tranh – nhưng những ca khúc trữ tình, lãng mạn tuy buồn, bi thương đã in sâu trong tâm hồn giới thưởng ngoạn.

    Sau năm 1975 lại đẻ ra tên gọi “nhạc Sến”, nhiều bài viết tranh luận quanh đề tài nầy và tôi cũng viết bài Dòng Nhạc Boléro, dòng nhạc phổ thông nhất trong hai thập niên đó bị “chụp mũ” vớ vẩn. Nay là dòng nhạc thịnh hành, ăn khách nhất trong nước. May thay những ca khúc về mùa Thu, lá vàng, lá khô… qua các giai điệu như đề cập ở trên không bị nằm trong “nhạc Sến”.

    Còn nhiều ca khúc khác, gần đây Lại Một Chiếc Lá Rơi của Phạm Anh Dũng ở miền Đông nước Mỹ:

    “Nhìn chiếc lá vàng rơi

    Mới hay mùa thu tới

    Trên từng ngày mong đợi

    Em vẫn còn xa xôi…

    Bao nhiêu năm xa người

    Tìm về con phố cũ

    Thu băng ngang giữa trời

    Lại một chiếc lá rơi”

    Năm 1990, khi mới tị nạn ở Nashville, tiểu bang Tennessee, lần đầu tiên trong đời vối rừng phong nhuộm vàng tuyệt đẹp mà thuở còn đi học chỉ mường tượng câu thơ “Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san” (Kiều – Nguyễn Du).

    *

    Ca khúc Les Feuilles Mortes, nhà thơ Jacques Prévert viết theo giai điệu do J. Kosma đã soạn sẵn. Ca khúc ra đời năm 1946, nội dung với kỷ niệm buồn cho tình yêu đã mất. Năm 1949, Johnny Mercer chuyển lời tiếng Anh Autumn Leaves, trở thành ca khúc nổi tiếng trên thế giới với các album của các danh ca. Theo GS Nguyễn Bảo Hưng (Jacques Prevert & Les Feuilles Mortes) cho rằng chủ đích của Kosma là soạn ra như là một nhạc phần (une partition) cho kịch vũ ba lê Le Rendez-Vous (Hẹn Hò). Lúc đầu Prévert định chỉ soạn lời cho nhạc phần của vở kịch vũ theo yêu cầu. Nhưng khi lắng nghe giai điệu để viết lời ca, Prévert đã bị thu hút bởi những nốt nhạc của giai điệu diễn tả một nỗi buồn thầm kín nhưng nồng nàn đằm thắm. Và ông đã không bỏ lỡ cơ hội, mượn giai điệu của Kosma để làm nền cho cuốn phim do chính ông soạn kịch bản và ‘lời thoại’, lấy tên Les Portes de la Nuit (Cửa Vào Đêm Tối), đêm tối ở đây mang ý nghĩa ẩn dụ “tử thần”), lấy nhạc Kosma làm nền cho phim… Nhạc Kosma trong Les Feuilles Mortes là một giai điệu buồn với những nốt nhạc khoan thai dìu dặt. Cộng thêm lời ca Prévert là những lời thơ chan chứa, nó càng có sức cuốn hút người nghe…

    Có nhiều bài viết cho rằng ca khúc nầy phổ thơ của Jacques Prévert. Có lẽ Prévert cảm nhận vào lời của ca khúc đó để làm bài thơ.

    Chẳng hạn như ca khúc Lệ Đá của Trần Trịnh. Theo lời Hà Huyền Chi, nhạc phẩm Lệ Đá trước hết không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của nhạc sĩ Trần Trịnh…

    Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội, Trần Trịnh ngồi vào piano. Và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ đó, rất Pianissimo ấy. Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hương của bản nhạc.

    Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hòa được cái rung cảm đích thực của thơ tôi vào nhạc Trần Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn…

    Sau nầy Hà Huyền Chi cảm hứng viết thêm 4 lời cho ca khúc nầy. Nhiều người cho rằng thơ Hà Huyền Chi.

    Với nhạc phổ thơ thì dựa vào thơ, ý thơ. Nhạc và lời thì khi nghe nhạc qua giai điệu để đặt lời, trước đây tôi đã đề cập qua bài viết về nhạc và thơ, thơ và nhạc.

    Nhạc sĩ Phạm Duy có tài viết các ca khúc ngoại quốc lời Việt nhưng với ca khúc nầy trước năm 1975 và sau nầy hát theo lời Pháp, Anh.

    Ngoài ca khúc Lá Rụng của Hoàng Trọng, tôi thích nhất ca khúc Nhặt Lá Vàng

    “Mùa thu mây trắng lững lờ, không gian mờ mờ

    Người đẹp đi trong mơ

    Nhẹ nâng tà áo dịu dàng

    Nhặt lá thu vàng, dệt mộng đón thu sang…

    Lặng trầm gió trút lá, bỗng dưng sầu

    Nhặt từng chiếc lá úa, nhớ thu nào

    Chia ly muôn kiếp vẫn sầu

    Ðể nhớ cho nhau nào ai có thấu

    Người yêu xỏa tóc mong chờ

    Dù xưa hẹn hò mà giờ đây bơ vơ

    Mùa thu này cũng đẹp trời

    Mà thiếu một người, nhặt lá vàng rơi!…

    Mùa thu này khóc một mình

    Mộng ước không thành, để buồn những ngày xanh”

    Ngày đó, Mai Hân và nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo thực hiện vào mỗi tối Thứ Tư hàng tuần trên sóng đài phát thanh Quân Đội với chương trình Nghệ Sĩ Với Chiến Sĩ. Ngoài giọng đọc truyền cảm của xướng ngôn viên, ca sĩ Mai Hân hát với nhiều ca khúc, riêng tôi, Nhặt Lá Vàng thành công và hay nhất.

    *

    Tôi đã vài lần trao đổi với nhà thơ Triều Hoa Đại và các bạn văn khi bước vào tuổi già ở hải ngoại thường nhớ lại quá khứ của một thời trong văn chương nghệ thuật. Bước vào tuổi tám mươi, thời gian không còn dài… như lá vàng trên cây, chỉ cần cơn gió thoảng sẽ lìa cành rơi rụng. Với những tác giả nêu trên, hầu như đã chia sẻ qua các bài viết trong quá khứ.

    Mỗi chiều yên ả, ra ngồi backyard nhìn những chiếc lá vàng trên hai cây magnolia (chi mộc lan) rơi rụng, nghĩ đến ngày mai “les feuilles mortes” để “les portes de la nuit” và rồi “Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa!, “Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương, hoài cố nhân”… Vàngày nào đó khi có chiếc lá rơi “cố nhân xa rồi” mấy ai gọi đến tên!

    Little Saigon, April 2025

    Vương Trùng Dương

  • Kiều My,  KÝ SỰ

     50 năm…khát vọng !

    Kiều my

    Năm mươi năm đã trôi qua, đánh dấu sự kiện miền Nam Việt Nam sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Lịch sử Việt Nam đã sang trang và nền tự do dân chủ của miền Nam cũng chìm vào quá khứ. Tuy vậy, dù ở trong nước hay hải ngoại, người Việt vẫn luôn nhớ về những năm tháng êm đềm của hai nền Cộng Hòa nhân bản trước năm 1975.

    Đối với những người Việt tị nạn đang sống cuộc đời lưu vong khắp hành tinh này, vẫn luôn nuôi  khát vọng một ngày được trở về quê hương—Giống như dân tộc Do Thái, dù lưu lạc hơn 2000 năm khắp nơi trên thế giới, vẫn không ngừng khao khát trở về quê cha đất tổ. Và cuối cùng, họ đã đạt được ước nguyện!

    Cũng vào một buổi sáng của tháng Tư cách đây 50 năm, Tổng thống lâm thời Dương Văn Minh đã tuyên bố: chính phủ Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng Mặt trận Giải phóng miền Nam. Toàn dân chìm trong bàng hoàng và sợ hãi như tiếng sét giữa trời quang, bầu trời tự do của miền Nam dường như đang sụp đổ trước mắt!

    Trong khoảnh khắc chua xót ấy dù tuổi đời còn non nớt, tôi đã phần nào cảm nhận được sự mất mác to lớn cho một tương lai tươi sáng… và tôi đã bật khóc! Tôi khóc cho những người trai trẻ đã hy sinh tuổi xuân, tình yêu, hạnh phúc gia đình, thậm chí cả mạng sống, để trấn giữ biên cương, bảo vệ Tổ quốc và mang lại bình an cho dân lành ở hậu phương. Xương máu của họ đã đổ xuống vì lý tưởng Tự Do; nhưng giờ đây, sự hy sinh ấy dường như trở nên vô nghĩa! Đó là nỗi đau tột cùng của những kẻ thua cuộc!

    Tôi khóc cho một tương lai mịt mù, u ám phủ bóng lên thế hệ hôm nay và mai sau.  Những giọt nước mắt tuyệt vọng của tôi hòa cùng nỗi ám ảnh kinh hoàng về cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn, Gia Định dịp Tết Mậu Thân 1968, khi máu đổ tang thương tràn ngập, và tài sản bị tàn phá không kể xiết. Cùng thời khắc ấy, tại cố đô Huế, hàng ngàn người vô tội đã bị thảm sát dã man chôn vùi trong những nấm mồ tập thể—những hình ảnh ấy vẫn còn đó, chưa bao giờ phai mờ trong ký ức của người Việt.

    Đi lần về quá khứ. Theo Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam bị chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17 bởi dòng sông Bến Hải: miền Bắc theo chế độ Cộng sản; miền Nam thuộc chế độ Tự do. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi từ năm 1954 đến năm 1975, miền Nam đã xây dựng và củng cố một thể chế chính trị  Dân chủ dưới hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa. Dù còn non trẻ, nhưng nền Tự do Dân chủ miền Nam đã hình thành một cách tốt đẹp và vững vàng.  Người dân được hưởng quyền bầu cử, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, và nhân quyền được tôn trọng. Nền giáo dục được xây dựng trên nền tảng đạo đức, hướng đến việc đào tạo thế hệ tương lai theo nền văn minh khoa học tiên tiến để bắt kịp nhịp phát triển của thế giới. Chính phủ đã đầu tư xây dựng nhiều trường học từ tiểu học đến đại học, mở mang tri thức cho mọi người, nhất là giới trẻ là những mầm non – tương lai của đất nước. 

    Hình ảnh đẹp của trường nữ trung học Gia Long trước 1975

    Dù đất nước vẫn trong tình trạng khói lửa chiến tranh, nhưng chính phủ miền Nam vẫn mang đến cho người dân một cuộc sống sung túc và bình an trong nhịp sống thường nhật êm đềm chan chứa tình người. Sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của miền Nam trên mọi lĩnh vực—từ kinh tế đến văn hóa, giáo dục, chính trị, quân sự, và bang giao quốc tế…—Chỉ trong thời gian 20 năm ngắn ngủi đã biến thủ đô Sài Gòn trở thành “Hòn Ngọc Viễn Đông” của Đông Nam Á. Các quốc gia láng giềng trong khu vực không chỉ khâm phục, mà còn mơ ước đạt được sự phồn thịnh như miền Nam Việt Nam vậy.

    Miền Nam không chỉ là vựa lúa dồi dào, cung cấp lương thực cho người dân nội địa, mà còn xuất cảng gạo sang các nước láng giềng. Nguồn thủy sản phong phú từ sông hồ đến biển cả đã giúp bảo đảm cuộc sống no ấm cho người dân. Dưới chế độ tự do, miền Nam trở nên trù phú và thịnh vượng. Người dân được quyền tự chủ về kinh tế, tư tưởng và tương lai của chính mình. 

    Nhưng sau năm 1975 khi đất nước thống nhất, hoàn cảnh Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn. Cả thế giới bàng hoàng trước cuộc di tản khổng lồ và làn sóng vượt biên đầy bi thương của hàng triệu người Việt Nam đi tìm tự do. Họ ra đi bằng mọi cách—máy bay, đường bộ, hay vượt biển trên những con thuyền mong manh giữa đại dương mênh mông. Trên hành trình tìm kiếm Tự do, họ phải đối mặt với muôn vàn hiểm nguy, thậm chí đánh đổi cả mạng sống. Nhiều người đã bỏ mình dưới lòng biển cả hay trong rừng thẳm. Trong số những nạn nhân xấu số đó, có cả người thân yêu của tôi. Đã mấy mươi năm trôi qua, nhưng mỗi khi nhớ lại biến cố đau thương này, tôi vẫn không khỏi ngậm ngùi! 

    Biết bao gia đình đã ly tán vì hệ lụy của cuộc đổi đời. Người cha, người chồng bị đưa vào các trại tù cải tạo, để lại vợ con nheo nhóc, bơ vơ. Nhiều người phải rời bỏ thành phố, nhà cửa để đi đến “vùng kinh tế mới”—nơi rừng thiêng nước độc, để khai hoang những vùng đất đai cằn cỗi hoang vu.

    Sau năm 1975, ngay cả miền Nam là vựa lúa của cả nước cũng lâm vào  hoàn cảnh đói khát. Người dân phải ăn độn ngô, khoai, bo bo… Cuộc sống trở nên cùng cực sau thời hậu chiến. Những khẩu hiệu tuyên truyền tốt đẹp không thể che lấp nỗi cơ cực, nghèo đói và đàn áp…đè nặng lên tinh thần người dân miền Nam; khiến họ phải tìm mọi cách để thoát khỏi đất nước bằng bất cứ giá nào. 

    Những ai không có cơ hội hay khả năng ra đi đành chấp nhận số phận trong cảnh khốn cùng. Thanh niên không có việc làm, nhà nước phải “xuất khẩu lao động” đưa họ ra nước ngoài kiếm sống; còn nhiều phụ nữ bạc phước bị đẩy vào con đường mại dâm nơi xứ người. Kinh tế kiệt quệ, xã hội suy đồi, văn hóa và đạo đức xuống cấp trầm trọng. Một đất nước từng được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông” giờ đây chỉ còn lại nỗi buồn và sự tủi hổ!

    Hồi tưởng lại lần đầu tiên trở về thăm gia đình sau nhiều năm xa cách. Vừa bước ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, tôi sững sờ và hụt hẫng khi nhìn thấy một biển người đang chờ đón thân nhân từ nước ngoài. Họ trông xơ xác, làn da sạm đen, vẻ mặt hốc hác, bệnh hoạn… Một nỗi xót xa tràn ngập trong lòng, nước mắt tôi cứ tuôn rơi không sao ngăn được. Tôi đưa mắt tìm kiếm gia đình… Kìa, Ba Mẹ và các chị em đang đứng ngóng cao cổ chờ đón tôi. Cảm xúc càng dâng trào khi nhận ra những người thân yêu của mình cũng chẳng khác gì những người xung quanh – gầy gò, xanh xao… Tôi đau lòng đến nghẹn ngào. Người nước ngoài, dù sống ở đâu, da dẻ họ vẫn hồng hào, khỏe mạnh; còn gia đình tôi và đồng bào tôi giờ ra nông nỗi này sao? Họ tiều tụy đến mức tôi không dám nhìn thẳng vào mặt họ, kể cả người thân của tôi, e rằng họ sẽ tủi hổ. 

    Không chỉ gia đình tôi, mà biết bao người khác cũng mơ ước được sống trong bầu không khí tự do, được hưởng cuộc sống đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, để con cái họ có  tương lai tươi sáng, không còn cảnh tha phương cầu thực, không còn bị áp bức … Đó là niềm khát vọng lớn lao vẫn luôn âm ỉ cháy trong lòng mọi người của từng giai cấp xã hội, là tia hy vọng duy nhất để họ bám víu mà sống qua ngày. 

    Cụ già bán hàng rong

    Thật chua xót! Trên những con phố đông đúc, nhiều người buôn gánh bán bưng, kể cả những cụ già lưng còng gánh hàng buôn bán mưu sinh qua ngày. Những người đạp xích lô còm cõi chở khách dưới cái nắng gay gắt, hoặc dầm mình trong những cơn mưa dai dẳng. Thật tủi nhục!  có cả những thầy giáo, giáo sư từng cầm phấn đứng trên bục giảng, nay phải lang thang mưu sinh bằng nghề đạp xích lô chỉ vì từng phục vụ trong chính quyền cũ. Họ trở thành những “trí thức đạp xích lô” – một hình ảnh thực tế đau lòng được nhắc đến trong tác phẩm “Sài Gòn: Một Góc Ký Ức và Bây Giờ” của tác giả Vũ Thế Thành.

    Hình ảnh“Trí thức đạp xích lô”

    Phải chăng nền giáo dục đương thời đã và đang xuống cấp trầm trọng? Tầng lớp trí thức bị bạc đãi vì chế độ chủ trương chính sách “ngu dân” để  dễ dàng thống trị người dân? Ngay sau 30 tháng tư 1975, nền văn hóa cũ phải bị xóa sạch bằng cách đốt sách vở, báo chí, tài liệu giáo khoa trong các nhà sách, thư viện, trường học, nhà xuất bản… Một hành động thể hiện rõ sự thiếu hiểu biết và đố kỵ đối với nền văn hóa văn minh tiến bộ của miền Nam. Dưới chế độ Tự do Dân chủ, miền Nam đã đào tạo ra biết bao nhân tài, từ những tướng lãnh tài ba, những chiến binh dũng cảm trong quân đội, đến những Bác sĩ tận tâm, Kỹ sư, Kiến trúc sư, Luật sư, Giáo sư, Văn nghệ sĩ, Linh mục, Thượng tọa… Họ là những bộ óc sáng suốt, những  người có năng lực có thể góp phần xây dựng đất nước; nhưng thay vì được trọng dụng, họ lại bị gạt ra bên lề xã hội. Xót xa hơn nữa, họ lại bị giam cầm, đày ải trong lao tù – chỉ vì họ là “trí thức”. 

    Nửa thế kỷ đã trôi qua, những đau thương của cuộc nội chiến đẫm máu vẫn chưa phai mờ trong lòng người Việt và trang sử đen tối vẫn chưa được khép lại. Người dân còn ở lại trong nước vẫn khắc khoải mong chờ một ngày mai tươi sáng,  khát vọng được hít thở bầu không khí tự do, mong mỏi có một cuộc sống đầy đủ và bình an. Những người Việt viễn xứ khắp bốn phương trên thế giới, lòng vẫn luôn hướng về quê hương, vẫn nhớ về Sài Gòn yêu dấu – nơi có gia đình, bạn hữu, thầy cô, và những ký ức của một thời tuổi trẻ không thể  phai nhòa!  Vẫn luôn khát vọng ngày trở về mảnh đất quê hương Việt Nam dấu yêu!

    Sai gon…Ngày Tháng Cũ

    Saigon đẹp thuở nào…còn đâu nữa

    Tan trường về những buổi chiều mưa

    Hàng cây bên đường lá ướt đẫm

    Mưa giăng giăng ướt lối trường xưa

    Áo trắng học trò ngày tháng cũ

    Con đường dài phủ lá me bay

    Saigon êm đẹp…mộng mơ ấp ủ

    Nắng vàng nhẹ dìu bước em đi

    Saigon… giờ đây từng ngày thầm nhủ:

    Con đường cũ sao nằm lặng thinh?

    Đợi người xưa ôm ghì nỗi nhớ

    Mỏi mòn dưới đèn vàng lung linh!

    Saigon ơi! Gọi tên người mãi

    Gắng đợi chờ tôi, ngày trở lại

    Saigon nắng lụa vàng bay trên phố

    Đón bước ai về …một ngày mai

    California, tháng 4 năm 2025

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    KỶ NIỆM 26 NĂM THÀNH LẬP THƯ VIỆN VIỆT NAM

    Khánh Lan

    Nhận được thiệp mời và điện thoại từ Ký Giả Du Miên thì Khánh Lan không thể vì một lý do gì mà không đến chung vui với tất cả các vị huynh trưởng đã có công trong việc thành lập thư viện Việt Nam đầu tiên tại quận Orange, California, tọa lạc trong khu vực của Little Sài Gòn. Mặc dù hôm ấy có đến 3 tổ chức trong cùng ngày, cùng giờ, thế mà khánh phòng của thư viện đã đón tiếp rất đông quan khách đến tham dự. Đó là một điều rất vui.

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cũng có mặt gồm: Phạm Gia Đại, Trần Mạnh Chi, Lưu Mạn Bổng & Khánh Lan, Giáo Sư Dương Ngọc Sum. Truyền thông báo chí gồm, các ký giả: Thanh Phong, Văn Lan, Thanh Huy, đài VNA, SBTN, LITTLE SAIGON TV.

    Trong dịp này, quyển cẩm nang LITTLE SAIGON CHRONICLES của tác giả Ngọc Hà-Du Miên cũng được đem trình làng trong cùng ngày. Sách dầy khoảng 300 trang với hình bìa sách trang trí giản dị nhưng tuyệt đẹp do Giáo Sư Kỹ Thuật Phạm Hồng Thái thiết kế: Chữ viết tựa của sách Little Saigon màu vàng kiêu kỳ và chữ Chronicles màu xanh hòa nhã đã làm nổi bật dưới nền màu đen, Phía dưới của bìa sách là tấm bảng Little Saigon-next Exit rất tượng hình và đầy ý nghĩa.

    Tưởng cũng xin nhắc lại là năm 2024, Anh Chị Ngọc Hà-Du Miên cũng đã giới thiệu đến độc giả quyển VIỆT EDEN-ĐỊA ĐÀNG HẠ GIỚI dầy 330 trang, sách đã cống hiến cho cộng đồng một số các chi tiết về sự thành hình của Little Saigon. Có thể nói rằng cả hai tác phẩm trên là những báu vật cho người Việt Nam chúng ta. Thật vậy, từ khi cái tên Little Saigon có mặt trên lãnh thổ Hoa Kỳ, hầu như tất cả những ai đã ít nhất một lần nghe và ghé thăm khu phố Little Saigon đều thắc mắc và muốn biết: Ai đã thành lập ra khu phố Little Saigon? Và ai đã đứng lên tranh đấu cho lá cờ vàng ba xọc đỏ bay phất phới trên bầu trời xanh tràn đầy hy vọng. Hy vọng ngày trở về quê hương Việt Nam trong độc lập tự do như các vị huynh trưởng đã nói trong buổi họp mặt ngày 30 tháng 03, 2025 vừa qua.

    Trở lại với buổi lễ kỷ niệm 26 năm thành lập của thư viện Việt Nam, buổi họp mặt đã diễn ra trong bầu không khí long trọng và trang nghiêm với sự hiện diện của các vị đại diện cộng đồng, dân biểu, nghị sĩ đến chúc mừng và trao bằng tưởng lục cho đại diện là Ký Giả Du Miên.

    Đặc biệt nhất là sự có mặt của các vị đã có công trong việc thành lập Little Saigon. Được biết qua Ký Giả Du Miên, Little Saigon năm 1975-1980 là một vườn cam nhưng chỉ vài năm sau, với những cố gắng, hy sinh, khuất phục gian nan, cực khổ, các vị huynh trưởng đã biến vườn cam ấy thành một khu thương mại Little Saigon xầm uất nhất nước Hoa Kỳ. Một niềm hãnh diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Qua sự chiến đấu gay go với cộng đồng Hoa Kiều sinh sống tại quận Orange cái tên CHINA TOWN đã bị đẩy lùi và cái tên LITTLE SAIGON xuất hiện (do ông Đặng Bá Huy đặt) và được Văn Hóa Việt Nam chấp thuận.

    Sau phần chào quốc kỳ, Bác Sĩ Võ Đình Thuận khai mạc buổi lễ, kế đến là ông Nguyễn Ngọc Chấn giới thiệu Chú Tám, ông đã gần 90 tuổi và là người đầu tiên mở hãng sửa xe Thiên Tạo năm 1988.

    Ông Hứa Trung Lập chủ tiệm Lập photo 1979. Ông Nguyễn Văn Chuyên là một trong những vị đã góp một cánh tay trong việc hình thành Little Saigon. Lời phát biểu của ông Chuyên rất cảm động và Khánh Lan chỉ xin tóm tắt như sau: Chúng tôi nay đã lớn tuổi và nhất là một số anh em cũng đã ra đi. Chúng tôi không còn nhiều thời gian để chu toàn những ước mơ, vì vậy chúng tôi mong những người trẻ tiếp tục con đường mà chúng tôi đã khởi đầu…Đông thời, ông Nguyễn Văn Chuyên cũng nói về Giai Đoạn Lịch Sử và sự diễn tiến của Little Saigon qua dòng thời gian từ năm 1979 cho đến nay. Hội chợ Tết đầu tiên được ông Trần Như Học khởi xướng. Buổi chợ Tết VNCH được tổ chức với sự hiện diện của Cựu Hoàng Đế Bảo Đại đã về từ Paris, khai mạc hội chợ và đặc biệt mùa xuân năm ấy, Lá cờ VNCH đầu tiên được dựng lên trên con những đường của phố Bolsa. Tiếp tục là Nguyễn Đức Luận, Trần Mạnh Chi, Bùi Phát tổ chức chợ Tết và Hoa Hậu Áo Đài để giúp các đồng bào tị nạn do Sinh Viên Long Beach tổ chức gây quỹ… rồi sau này chuyển lại cho Tổng hội Sinh Viên đảm trách. Tổng cộng từ trước đến nay có tất cả 12 lần diễn hành Tết. Được biết chi phí cho việc tổ chức diễn hành Tết rất cao, khời xướng là $40,000 nay đã lên đến 80,000 và từ sau năm 2020 là $100,000 phải trả cho thành phố, số tiền này là do sự bảo trợ và đóng góp của các nhà hảo tâm và đồng bào.
     

    Ông Bùi Phát duyệt qua về quá trình lịch sử của những di tích lịch sử của Little Saigon như: Năm 2000, ông đã cùng Du Miên tranh đấu để có bảng Welcome Little Saigon. Tượng Đức Trần Hưng Đạo do Du Miên khởi xướng và Trần Huy Đạo lãnh trách nhiệm gây quỹ và hoàn tất và công việc xây tượng Vua Quang Trung và con đường Hoàng Đế Quang Trung thành hình.   

    Ông Nguyễn Đức Luận là người tổ chức diễn hành trên đường Bolsa và từ năm 1997-2004 đã có 12 buổi diễn hành trên tuyến đường Bolsa. Số tiền gây quỹ để tổ chức diễn hành đều do đồng bào Việt Nam đóng góp. Ông Phan Kỳ Nhân cũng có mặt trong buổi họp mặt và được Ký Giả Du Miên đặt cho biệt hiệu là “VUA BIỂU TÌNH”. Ông năm nay cũng đã ngoài 90. Ông Phan Kỳ Nhân phát biểu một câu nói rất hào hùng: “Nơi nào có lá cờ Việt Nam thì nơi đó sẽ không thể có lá cờ cộng sản”

    Chương trình bế mạc lúc 3:00pm, chấm dứt một ngày vui.

    Chúc mừng các anh chị trong ban chấp hành của Thư Viện Việt Nam.

    Khánh Lan, March 2025

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Cái Tóc Là Góc Con Người

    Vương Trùng Dương

    Cái răng, cái tóc là góc con người

    Nhưng cái tóc thường ám chỉ với nữ giới vì “người đẹp nhờ tóc”. Về nhân tướng học, có nhiều khuôn mặt thích ứng cùng với mắt, mũi, miệng… và kèm theo đó với răng và tóc. Trong Hồi Ức Một Đời Người của Nguyễn Ngọc Chính có chương đề cập đến mái tóc, và tùy theo nhãn quan của mỗi người với phái nữ về tóc ngắn, tóc dài.

    Theo Nguyễn Ngọc Chính: “Tôi rất dễ bị ‘hớp hồn’ vì những mái tóc dài của phụ nữ. Điều này đồng nghĩa với việc tôi không thể dành cảm tình cho những mái tóc ngắn kiểu ‘demi-garcon’ như trong bài hát Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ của Phạm Duy, phổ nhạc theo thơ Nguyễn Tất Nhiên:

    “Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ. Này cô em tóc demi garçon”…

    Cô em Bắc Kỳ nho nhỏ thì được. Nhưng cô em tóc demi-garçon lại không phải là ‘gout’ của tôi. Một mái tóc ngắn làm sao tạo cảm giác hấp dẫn mỗi khi vuốt ve. Đó là chưa nói đến hình ảnh gợi cảm của một mái tóc dài, chỉ nhìn thôi cũng đã thấy quyến rũ hơn một cái đầu ngổ ngáo kiểu con trai. Biết đâu chừng, trong suốt cuộc đời chưa bị một người phụ nữ tóc ngắn kiểu ‘demi garçon’ nào ‘hớp hồn’ cho nên tới giờ này chuẩn bị ‘xuống lỗ’ mà vẫn còn… chung thủy với cái ‘gout’ tóc dài từ thời niên thiếu.

    Có một dạo, khoảng thập niên 1960s, các cô gái Sài Gòn chuộng ‘mốt’ buộc thêm cái bandau lên mái tóc. Dẫu rằng bandau có những tác dụng thiết thực như giữ cho tóc khỏi lòa xòa trước trán nhưng tôi không cho như thế là đẹp. Bandau, nếu là màu trắng trên trán, khiến cho người đối diện liên tưởng đến vành khăn tang và như thế đâu còn nét quyến rũ của người phụ nữ trước cánh đàn ông nữa. Thay vào đó là ý nghĩ tang tóc đáng sợ!

    Tóc cột theo kiểu ‘đuôi gà’ (queu de cheval – người phương Tây gọi là kiểu tóc đuôi ngựa) cũng là một ‘mốt’ của các cô thời đó, nhưng có điều chỉ thích hợp với những người còn trẻ…

    … Thật không ngờ, mấy chục năm sau mái tóc đuôi gà lại xuất hiện trong đời tôi qua hình ảnh người tình. Dù chỉ là sự xuất hiện thoáng qua nhưng cũng để lại một kỷ niệm khó quên. Hôm đó là một buổi trưa móng bức giữa Sài Gòn, nàng sửa soạn đi dạy học và bước ra đường với một mái tóc kẹp lệch sang một bên cho đỡ nóng. Một thoáng rùng mình. Tôi ngây ngất đứng nhìn nàng bước ra khỏi nhà với mái tóc đuôi gà…

    Mái tóc vén cao cũng là một hình ảnh quyến rũ của người phụ nữ, nhất là những người có vóc dáng quý phái, sang trọng. Tóc vén cao thường hợp với những làn da trắng nuốt trên gáy, nổi bật với vài sợi tóc lòa xòa trên cổ…

    Vào thời đại hiện tại, văn minh tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp các bà các cô ‘duỗi tóc’ thật thẳng hay nhuộm tóc đủ màu và thậm chí còn ‘hilight’ pha màu từng cụm tóc trông như một ‘palette technicolor’ của người họa sĩ chuẩn bị vẽ một bức tranh. Tôi quan niệm, cái đẹp phải xuất phát từ tự nhiên. Đẹp tức là những gì tự bản thân mình có chứ không thể nào vay mượn từ những cái mình không có (?)…

    … Tôi kỵ nhất khi phải đối diện với phụ nữ trên đầu chỉ toàn… ống cuốn tóc. Thường thì các ông chồng phải cam chịu ‘ngậm đắng nuốt cay’ với cảnh này. Các bà vợ muốn ra đường với một mái tóc đẹp nên rất chịu khó cuốn tóc khi còn ở trong nhà và các ông chồng là người chịu nhiều thiệt thòi nhất: phần xấu xí mình phải gánh chịu còn phần tốt đẹp thì thiên hạ được chiêm ngưỡng…”

    Ca dao ta có câu “Tóc mai sợi ngắn (vắn) sợi dài. Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”. Tác phẩm Tóc Mai Sợi Ngắn Sợi Dài của Phạm Tú Uyên gồm 13 chương. Tác giả viết về cố đô Huế của thuở học trò với chân dung người tình qua mái tóc “Tôi mơ màng về lại ngày xưa, em hiện ra xinh xắn với mái tóc dài đen mượt, đang ngồi bàn trên lớp học. Mái tóc đong đưa, nhảy múa trước mặt và cả mùi hương từ tóc em đã cột chặt hồn tôi lại, đã đưa tôi bồng bềnh trong nỗi nhớ mênh mang” (Chương 6). Tác giả viết về cố đô Huế với những kỷ niệm bên cạnh người tình cho đến thời điểm tang thương vào tháng Ba năm 1975, chàng bị cụt chân, người tình ghé thăm với mái tóc ngày nào còn phảng phất mùi mùi hương…

    Tác giả nầy yêu quá sớm, thuở đó thời học sinh ở trung học Đệ Nhất Cấp (Đệ Thất đến Đệ Tứ) nam nữ học chung, ngồi sau nữ sinh, chúng tôi thuộc loại “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” chưa yêu nên quậy tới bến, cột tóc dài của mấy cô ngồi trước… nên vài lần bị thầy/cô cho ra khỏi lớp. Khi lên Đệ Nhị Cấp ban C mới “Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Thơ Xuân Diệu).

    Nhạc sĩ Phạm Duy lấy từ ca dao nầy soạn thành ca khúc Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài “Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc. Thuở ấy anh vừa thôi học xong”.

    Tóc mai là phần tóc ở phía trước vành tai, và kéo dài đến cuối lỗ tai. Nam thì cắt tóc, chấn ngang giữ vành tai, nữ thì để tự nhiên, tăng thêm sự hài hòa, thanh thoát trên khuôn mặt.

    Tròng bài thơ Màu Thời Gian của thi sĩ Đoàn Phú Tứ ca ngợi hình ảnh:

    “Tóc mai một món chiếc dao vàng

    Nghìn trùng e lệ phụng quân vương”.

    Hai chữ dao vàng trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:

    “Tiên thề cùng thảo một chương

    Tóc mây một món dao vàng chia đôi”.

    (Trong Truyện Kiều chú giải: Dao vàng, vàng đây là dịch chữ kim trỏ kim loại, kim thuộc như đồng, sắt… Vậy dao vàng không nên hiểu kim loại bằng vàng, chỉ là con dao thường bằng sắt. Nói thế cho đẹp lời văn mà thôi. Kiều lấy dao cắt một ngụm tóc để thề).

    Với phái nữ, tóc dài, tóc ngắn tùy theo khuôn mặt để có sự hài hòa, thanh thoát và tùy theo sở thích của mỗi người (nam, nữ) được diễn tả trong thi ca, âm nhạc…

    Chuyện vãn lần nầy nói về tóc dài của thuở xa xưa ở quê nhà với nữ giới vì với Âu Mỹ thường là tóc ngắn nên không có sự phân biệt gì cả.

    Nhân Ngày Hiền Mẫu, trước đây tôi viết bài về hình ảnh mẹ tôi của thời ấu thơ, mẹ tôi bán sạp vải ở chợ, buổi trưa giao cho con gái về nhà gội đầu chùm kết (bồ kết) và vỏ bưởi, khi hong tóc mùi thơm loan tỏa khắp nhà, tôi quạt cho tóc mẹ mau khô. Tóc mẹ rất dài và búi tóc (từ mái tóc đen cho đến khi bạc trắng) và từ đó hình ảnh tóc dài đã in sâu trong tâm hồn… Vì vậy (với cá nhân) thiện cảm với tóc dài. (Người Bắc thì quấn khăn vành dây bằng nhung).

    Trong bài Những Sợi Tóc của Nguyễn Ngọc Chính: Xứ Huế có câu ca dao “Bớ cô tóc xõa kề bề. Cô mặc áo trắng, tóc thề ngang vai”… Nhiều người tự hỏi, tại sao gọi là “tóc thề”? Một giải thích cho rằng những cô gái miền Sông Hương, Núi Ngự để “tóc thề” để nói lên sự ngây thơ, khép kín. Rồi mái tóc thề xuông đuột xõa kín bờ vai đó sẽ có ngày biến mất khi nàng thơ sang ngang để lại một nỗi buồn man mác trong lòng kẻ tình si!”.

    Tóc thề là những sợi tóc ngắn phất phơ hai bên trán và vành tai, tạo vẻ duyên dáng, thơ ngây. Tóc thề ngoài ý nghĩa thề hẹn, biểu tượng sự thủy chung, sắc son… Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du:

    “Tóc thề đã chấm ngang vai

    Nào lời non nước, nào lời sắc son”.

    Với Huế, ca khúc Huế Ngọc của nhạc sĩ Võ Tá Hân:

    “Huế có gì để tôi phải thương

    Bên ni bên nớ mấy độ đường…

    Mái tóc thề xõa trên bờ vai

    Cho tôi nhung nhớ tháng năm dài

    Nón lá nghiêng che đôi mắt ngọc

    Cho tôi thờ thẫn mộng thiên thu”

    Trong ca dao với hình ảnh:

    “Một thương tóc xõa đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

    Ba thương má lúm đồng tiền

    Bốn thương đôi mắt như sao hiền mùa thu…”

    Nhạc sĩ Châu Kỳ, người con xứ Huế với ca khúc Mái Tóc Thề:

    “Tôi thương mái tóc thề dịu men tình trong nhân thế

    Tôi thương mái tóc thề con đường màu thắm hương quê

    Hình dáng đó còn mơ em tôi ơi đẹp thơ

    Mái tóc thề tình xưa”.

    Nhà thơ Kiên Giang với bài thơ Tóc Thề Xứ Huế

    “Cuối tháng, thầy vô trường võ bị

    Xa trời Đồng Khánh, học trò yêu.

    Xa rời Bến Ngự sông An Cựu

    Nắng đục, mưa trong lắng tiếng chiều…

    Đêm nay em viết trong lưu bút

    Xin gọi thầy bằng một tiếng anh.

    Đuôi tóc thề kèm thư mới viết

    Gởi về Gia Định, mộng ngày xanh”.

    Ca khúc Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương:

    “Em buông lơi tóc thề

    Tình mình theo cơn lốc về

    Em như mưa nắng hạ

    Hôn bờ biển xanh sỏi đá…”

    Với mái tóc thề khi thắt bím của tuổi nữ sinh với nhà thơ Kim Tuấn, người con xứ Huế trong bài thơ Ngày Em Còn Thắt Bím:

    “Tóc bím nghĩa là tóc dễ thương

    Tóc bâng khuâng lá rụng bên đường

    Tóc chia đường gió, chia thương nhớ

    Chia nỗi buồn cho ai vấn vương.

    Tóc bím nghĩa là tóc mộng mơ

    Để ai thương nhớ, để ai chờ

    Để ai ngơ ngẩn giờ tan học

    Em vẫn vô tình, em lửng lơ”.

    Với mái tóc dài được mô tả như suối tóc. Ngày đó, nhà thơ Quang Dũng với hình ảnh Suối Tóc:

    “Thuở ấy em ngồi trên cửa gác,

    Tóc buông hong với gió đầu thu

    Em mải mơ gì dưới nắng êm?

    Tóc như suối mực chảy êm đềm”

    Nhạc sĩ Văn Phụng qua ca khúc Suối Tóc:

    Tìm cho thấy liễu xanh, xanh lả lơi

    Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai

    Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai

    Anh với em một đêm thu êm ái…

    Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau

    Như chúng ta đôi lần hàng gắn thương yêu”.

    Ca khúc Chiều Tím của nhạc sĩ Đan Thọ:

    “Chiều tím, chiều nhớ thương ai

    Người em tóc dài

    Sầu lên phím đàn

    Tình vương không gian

    Mây bay quan san có hay?…

    … Tóc bay dài, gió viễn khơi”

    Trong bài viết Người Đẹp & Suối Tóc của ca sĩ Quỳnh Giao ghi nhận:

    “… Ngẫm lại thì nhạc ngoại quốc có lời từ ca tụng nhiều nhất là đôi mắt, ngay sau đó tới… thân hình. Còn các nhà thơ và giới sáng tác của chúng ta chỉ cần mê đôi mắt và… ca tụng mái tóc thì “cũng đủ lãng quên đời”. Hèn chi mà Đinh Hùng viết “một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc….”

    Vì vậy, xin nói về mái tóc trong các nhạc khúc xa xưa.

    Từ thuở phôi thai của nền tân nhạc, Thẩm Oánh có bài Suối Huyền nhịp Slow, viết theo giai điệu Hạ Uy Di, nghe lả lướt óng chuốt, tiếc là đã lâu không còn ai hát lại nữa. Người viết thì còn nhớ hình bìa in ảnh cô Tâm Vấn với mái tóc dài, dợn sóng và khóe mắt hồ thu. Cũng theo lời thân mẫu kể lại thì ông viết để tặng mái tóc nổi tiếng ấy.

    Suối huyền, lả buông làn tóc

    Thướt tha, óng chuốt uốn lưng ong…

    Nhớ lại thì cả Thẩm Oánh và Văn Phụng đều cùng thấy mái tóc óng mượt chảy xuôi như môt dòng suối.

    Khi kết duyên cùng Châu Hà, nhạc sĩ Văn Phụng viết bài Suối Tóc, với lời của Thy Vân. Ca khúc có nét tân kỳ quý phái với điệu Boston dìu dặt như nhịp bước của đôi tình nhân. Không biết tác giả có lời yêu cầu với ông Thy Vân không, mà lời ca thì rõ là để tả mái tóc thời ấy của cô Châu Hà. Buông dài đến tận lưng, mầu nâu nhạt óng ả. Cho đến nay, ca khúc này vẫn còn được hát, đơn ca hay song ca, tam ca đều hay. Và dĩ nhiên người hát bài này tình tứ nhất là Châu Hà. Chứ còn ai nữa!… (sau nầy ca sĩ Châu Hà cắt tóc ngắn)

    Nhạc sĩ Nguyễn Hiền có nét nhạc bay bướm mềm mại và viết bài Mái Tóc Dạ Hương phổ thơ Đinh Hùng rất đạt. Nhịp Boston êm đềm và cung Trưởng trong sáng làm cho ca khúc dễ hát dễ nghe. Ngày xưa Thanh Lan hát bài này trong cassette của Phạm Mạnh Cương rất dễ thương.

    Từ giã hoàng hôn trong mắt em

    Tôi đi tìm những phố không đèn

    Gió mùa thu sớm bao dư vị

    Của chút ân tình hương tóc quen…

    Hồi còn làm nhân viên cho phòng kỹ thuật cho đài phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ Hoài Linh có sáng tác bài Về Đâu Mái Tóc Người Thương, thường được Thanh Thúy trình bầy và thính giả rất thích vì tưởng tượng ngay ra mái tóc rất đặc biệt của người nữ ca sĩ có nét đẹp rất Liêu Trai…

    Hồn lỡ sa vào đôi mắt em

    Chiều nao xoã tóc ngồi bên rèm…

    Cũng ở hải ngoại, nhạc sĩ Thanh Trang của Duyên Thề sáng tác thêm nhiều ca khúc trữ tình đẹp cả từ lẫn nhạc. Bài anh viết về mái tóc phổ thơ Hà Nguyên Dũng có tựa đề rất nên thơ là Tóc Em Vẫn Là Hương Của Mẹ. Nét nhạc mang âm hưởng cổ kính của đất Thần Kinh.

    Trời đang nắng bỗng mưa nào ai biết

    Mưa ướt rồi mái tóc sẽ phai hương

    Anh yêu lắm mùi hương trên làn tóc

    Em đi qua thơm ngát cả con đường…

    Cho ai lời hẹn xưa…

    Chắc là còn nhiều lắm mà khuôn khổ một bài tạp ghi không cho người viết kể lể nhiều hơn. Người Tây phương ít khi rưng rưng chỉ vì một sợi tóc, chứ người Việt chúng ta lãng mạn mà kín đáo. Thương mái tóc là nhớ cả dáng người. Phải chăng vì mái tóc là biểu tượng của sự dịu dàng thơm tho, và cả nét đẹp của tâm hồn người yêu mái tóc nữa?

    Nghĩ lại thì lối ca tụng cái đẹp tinh khiết và thánh thiện đó là một phong cách văn minh mà mình nên gìn giữ” (Quỳnh Dao)

    Theo lời kể Văn Phụng không biết đặt tên cho bản nhạc ấy là gì. Rồi bỗng nhìn mái tóc Châu Hà dài chấm đất của cô gái và nói: “Mái tóc cô đẹp quá, thật là suối tóc. Đặt tên bản nhạc là Suối tóc nhé!”. Ca khúc Suối Tóc ra đời từ buổi đó. Ban tam ca với các ca sĩ Châu Hà, Mộc Lan, Kim Tước trong ban Tiếng Tơ Đồng một thời nổi tiếng ở Sài Gòn, nay chỉ còn ca sĩ Kim Tước ở Quận Cam (Tôi rất thích ca khúc Cát Biển của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ban tam ca nầy, sau nầy có ban tam ca Kim Tước, Quỳnh Dao, Mai Hương ở Little Saigon, ngoài ra không thể nào có ban tam ca nữ nào như vậy).

    Nhà thơ Đinh Hùng trong bài Mái Tóc Viễn Phương:

    “Xa trời, lưu lạc hồn quê

    Có phai, xin để ngày về hãy phai

    Viễn phương mái tóc bay dài

    Nghiêng vai sương lạnh, thương hoài vầng trăng”.

    Và cuối cùng “Tóc em xõa xuống đôi bờ vai nhỏ. Dòng thác nào cuộn chảy giữa lòng tôi” (Cây Điệp Vàng, nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện, thơ: Nguyễn Thái Dương). Rồi “Một ngày nào đó tóc xanh xưa bạc màu” (Bản Tình Cuối của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên). Đến khi đó thì  “Tình cờ đất khách gặp nhau. Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được?” (Tình Già của nhà thơ Phan Khôi). “Thôi em xanh mắt bồ câu. Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau” (Kiếp Sau của nhà thơ Cung Trầm Tưởng).

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, Valentine’s Day

  • Kiều My,  Sinh Hoạt

    NHỮNG KHOẢNH KHẮC KHÓ QUÊN

    Kiều My

     Cơn mưa ướt lạnh của những ngày cuối đông đã qua đi, nhường chỗ cho không gian xinh đẹp của miền Nam nắng ấm California. Dưới bầu trời xanh lơ, những tia nắng vàng chiếu sáng lớp thủy tinh bao bọc bên ngoài Nhà Thờ Chánh Tòa  CHRIST CATHEDRAL trở nên rực rỡ, lóng lánh, trông như một khối kim cương khổng lồ… thật nguy nga!

    CNS Lâm Dung, Minh Thư, anh chị Tony Hiếu, Minh Khai, NV Nguyễn Quang, GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, Sử Gia Pham Trần Anh và phu nhân, NV Kiều My, CS Huỳnh Anh (tại mộ phần của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh)

    Hôm nay ngày Chủ nhật 16 tháng 2 năm 2025, Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm có: Gs. Dương Ngọc Sum, sử gia Phạm Trần Anh và phu nhân; các nhà văn Nguyễn Quang, Việt Hải, Kiều My, Hoàng Đình Khuê và các ca nhạc sĩ: Lâm Dung, Lệ Hoa, Tony Hiếu, Thanh Mai, Minh Khai, Minh Châu, Huỳnh Thu v.v…tụ họp về nhà thờ Christ Cathedral lúc 2:30 pm, để viếng mộ của cố Gs. Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, dưới sự hướng dẫn của Gs. Quyên Di.

    Giáo Sư Quyên Di

    Ngước nhìn lên bia đá khắc tên Profesor Anphonso Nguyễn Xuân Vinh, trong lòng mọi người chắc hẳn đều bùi ngùi thương tiếc một nhân tài đất Việt, tài đức vẹn toàn đã vĩnh viễn ra đi về bên kia thế giới. Nơi an nghỉ  nghìn thu của ông thật trang trọng và bình an trong khu vườn The Memorial Garden rất trang nhã, tọa lạc trong khuôn viên của Christ Cathedral. Thật xứng đáng cho một danh nhân đã mang lại những điều tốt đẹp và hữu ích cho nước Việt và thế giới được an nghỉ trong nhà Chúa. 

    Nơi an nghỉ của GS Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh

    Lúc sinh thời, ông đã nghiên cứu và khám phá về một kỳ công vĩ đại của vũ trụ bao la…đã làm kinh ngạc các khoa học gia; vì sự hiểu biết hạn hẹp của con người không thể hiểu thấu về sự kỳ bí của vũ trụ.  Sự việc này đã nảy nở trong tâm hồn ông về niềm tin – có sự hiện hữu của Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hóa của toàn thể nhân loại và vũ trụ trường tồn. Chính vì thế, vào những ngày tháng cuối đời, Gs. Vinh đã trở thành người con khiêm hạ của Thiên Chúa và còn là một chứng nhân cho niềm tin mãnh liệt về Thiên Chúa Toàn Năng.

    Từ thẳm sâu trong tâm hồn, tôi suy tư về sự chết – ví như sân ga cuối cùng của một đời người để trở về nhà… Chúa. Vì thế, “chết” không phải là dấu chấm hết; mà là sự bắt đầu cho một cuộc sống vĩnh cửu bên kia thế giới. Đây là niềm tin của Ki tô giáo! Vì thế, nếu chúng ta ước vọng có được cuộc sống miên viễn tốt đẹp sau khi từ giã cõi đời, hãy lắng nghe lời khuyên của Thánh nhân Francis Assisi  rất ý nghĩa và thực tế dành cho mọi người:

    “Hãy nhớ rằng khi rời khỏi mặt đất này, bạn không thể mang theo bất cứ thứ gì đã nhận được, chỉ những gì bạn đã cho đi.” (Remember that when you leave this earth, you can take with you nothing that have received- only what you have given.)

    Trước khi từ giả Gs. Nguyễn Xuân Vinh, chúng tôi thành kính dâng lời kinh cầu nguyện cùng Thiên Chúa sớm đưa linh hồn Anphonso được hưởng vinh phúc vĩnh cửu thiên đàng. Sau đó, chúng tôi được nhiếp ảnh gia Thiều Minh chụp vài bức ảnh kỷ niệm dưới bia đá khắc tên của Giáo sư Vinh, để lưu lại trong sách TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ NGUYỄN XUÂN VINH.  Dường như mọi người còn lưu luyến nơi này; một nơi thật đẹp, và bình an… nơi có Gs. Vinh  được an nghỉ, mà không muốn rời đi.

    Chào vĩnh biệt Gs. Anphonso Nguyễn Xuân Vinh

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Bước qua bãi cỏ xanh mướt, đối diện mộ phần của Gs. Vinh, là nơi đặt hài cốt thân phụ và anh trai của Gs. Quyên Di. Chúng tôi kính cẩn cúi đầu chào người quá cố và cùng cầu nguyện cho hai linh hồn Phêrô Bùi Văn Thư và Phaolô Bùi Văn Ngọc được sớm về nước Chúa. 

    Nhìn hai phần mộ người thân yêu của Gs. Quyên Di ẩn trong bức tường đá, nơi an nghỉ trang trọng và bình an trong khuôn viên của Christ Cathedral, lòng tôi thầm cảm kích về tấm lòng hiếu thảo và tình thương sâu sắc mà Gs. Quyên Di dành cho gia đình. Gs. phải về Việt Nam và vượt qua những khó khăn để mang hài cốt của Bố và anh trai sang Hoa Kỳ để đặt vào nhà Chúa, hầu GS được gần gũi và thăm viếng thường xuyên. Chắc hẵn linh hồn người quá cố rất được an ủi và thật ấm áp khi được về gần gia đình, dù đó là nơi đất khách, không phải nằm lạnh lẽo dưới lòng đất quê hương VN cách một đại dương. Riêng Gs. Quyên Di cũng an lòng và cảm thấy mãn nguyện vì đã làm tròn bổn phận của mình.

    Xin thắp nén hương tưởng nhớ những người đã ra đi về miền vĩnh cửu.

    MỪNG THƯỢNG THỌ CỦA CỰU SĨ QUAN VÕ BỊ ĐÀ LẠT: HOÀNG ĐÌNH KHUÊ 

    Kiều My

    Happy birthday Bình Luận gia: Hoàng Đình Khuê

    Một ngày trôi qua, bóng hoàng hôn thấp thoáng trên những hàng cây bên đường, là lúc từng nhóm nam thanh nữ tú đến tham dự tiệc sinh nhật thứ 85 của cựu SQVB Đà Lạt khóa 16 Hoàng Đình Khuê, tại Diamond Seafood Restaurant III, thành phố Westminster, Ca., được tổ chức thật tưng bừng. 

    Tiệc sinh nhật được diễn ra là cơ hội  để những người thân yêu, bạn hữu tận hưởng những khoảnh khắc vui vẻ bên nhau và cũng không thiếu những lời chúc “Happy Birthday” vang lên. Tiếng cười nói rộn ràng chào hỏi nhau vui vẻ trong khánh phòng như một ngày hội lớn. 

    Nhân vật tỏa sáng trong buổi tiệc đình đám đêm nay là ông Hoàng Đình Khuê, trân trọng chào mừng và cảm tạ quan khách tham dự. Cựu Thiếu tá Hoàng Đình Khuê là người văn võ song toàn, là một bình luận gia lưu loát và am tường về chính trị Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới. Là một cựu sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với chức vụ sau cùng là Thiếu tá; vì  thế, ông cũng phải  thọ án  tù Cộng  Sản nhiều năm sau 1975. Hiện ông giữ chức vụ Chủ tịch đảng Tân Đại Việt, với trọng trách nối nghiệp và duy trì đường lối kỷ cương của đảng, do cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy tài đức dày công sáng lập

    Nhiều thân hữu tham dự trong buổi tiệc gồm có: Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (ban tổ chức); Cựu Sĩ quan Võ Bị Đà Lạt; Thành viên đảng Tân Đại Việt; Việt Nam Quốc Dân đảng; Mạng Lưới Nhân Quyền; v.v…       

    Sau đó, những vị thay mặt từng nhóm lên phát biểu về cảm nghĩ, cũng như sự quan hệ với ông Hoàng Đình Khuê trong tình huynh đệ chi binh, bạn tù, hay trong những đảng phái chính trị tại Hoa kỳ, hoặc tình nghệ sĩ v.v…Riêng với Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, nhà văn Khánh Lan đọc 6 câu thơ lục bát thật vui tai khiến ai cũng thích, nhất là các đấng vào lứa tuổi dưới đây, rằng: Trong xã hội ngày nay:

    Nhà văn Khánh Lan

    60 chưa phải là già

    60 là tuổi mới qua dậy thì

    65 hết tuổi thiếu nhi

    70 là tuổi mới đi vào đời

    75 là tuổi ăn chơi

    80 là tuổi yêu người yêu hoa

     Vậy thì, bình luận gia Hoàng Đình Khuê vừa đến lứa tuổi “yêu người yêu hoa”??? Bài thơ dí dỏm này đã làm cho khách tham dự thích thú và phá lên cười dòn tan. Kế tiếp, Nv. Khánh Lan diễn ngâm bài thơ Xuân Về Chúc Thọ do văn thi sĩ Trần Việt Hải sáng tác để chúc mừng sinh nhật ngôi sao sáng đêm nay:    

    Tám chục an khang say thái bình

    Hoàng Khuê chưa già, xuân vẫn mạnh

    Người thông, sức khỏe, chúc phúc an

    Tám chục vẫn còn ngàn tuổi thọ

    Xuân về xin chúc chén trăm năm…

    Tiếng nhạc bắt đầu trổi lên đã làm dậy sóng một quang cảnh vui tươi, được thể hiện qua những tiếng hát: Phạm Gia Đại, Lệ Hoa, Minh Khai, Tony Hiếu, Lâm Dung, Thụy Lan, Kiều My, Mạnh Bỗng, Kim Đức, Minh Thư, Thiên Phượng, Đình Khôi v.v… đồng thời mọi người cùng thưởng thức những món ăn ngon thơm lừng của nhà hàng chiêu đãi.

    Nhà văn, ca sĩ Kiều My                     Ca sĩ: Lệ Hoa, Thụy Lan, Minh Thư

    Nhà văn: Nguyễn Quang, Việt Hải, Lệ Hoa, nữ sĩ Lê Nguyễn Nga

    Happy Birthday to you…Happy Birthday to you…

    Mọi người cùng hát vang lên khúc nhạc rộn rã mừng sinh nhật rất quen thuộc, bỗng tiếng chai rượu champagne nổ tung như pháo nổ …văng bọt thơm ngon trắng xóa. Một vài bức ảnh kỷ niệm được chụp để lưu lại những “khoảnh khắc đáng ghi nhớ” ngày sinh nhật thứ 85 của cựu SQVB ĐÀ LẠT KHÓA 16 HOÀNG ĐÌNH KHUÊ.

    Kiều My, California  Feb, 16, 2025

    TỪ CHỊ TÂM AN

    Trong niềm vui – hạnh phúc & trong tâm tình mỗi ngày còn được nhìn thấy nhau bình yên & mạnh khỏe, Tiệc chúc mừng thượng thọ 85 VBĐL KHÓA 16 Ông HOÀNG ĐÌNH KHUÊ, do NVNT & TTG tổ chức trọng thể trong không khí thân mật gia đình và không gian trang trọng & đầm ấm với hơn 150 khách mời gồm Gia đình, bạn bè , thân hữu và Anh Em Đồng đội cũ vào chiều Chúa Nhật 16 tháng 2 năm 2025 tại nhà hàng Diamond Seafood III , thành phố Westminster, Nam California. Đặc biệt, có hơn 3 bàn với sự góp mặt của Gia đình VBĐL Nam California, nhiều Niên trưởng, đồng đội Gia đình VBĐL, đơn vị mà Cựu Thiếu tá Hoàng Đình Khuê đã sinh hoạt từ những ngày còn ở Trung tâm Thụ Huấn VBQG/ Đà Lạt. … Và cũng có sự tham dự của nhiều Hội đoàn, đoàn thể thường xuyên sinh hoạt trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia miền Nam California (MLNQVN, Tân Đại Việt, Việt Quốc, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Cách Mạng Đảng, Báo Tiếng Việt San Diego, Họp Mặt Dân Chủ, Cộng Đồng Nam Cali, …..v…v…)

    http://chinhnghiavietnamconghoa.com/nhan-van-nghe-thuat-tieng-thoi-gian-tiec-mung-thuong-tho-85-vo-bi-da-lat-k-16-hoang-dinh-khue-feb-16th-2025/

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    NVNT & TTG THAM DỰ TIỆC TÂN NIÊN ẤT TỴ 2025 & MỪNG SINH NHẬT THỨ 19 NĂM THÀNH LẬP GIA ĐÌNH THỂ DỤC KHÍ CÔNG HOÀNG HẠC

    Khánh Lan

    KS Nguyễn Đại Thành, Thụy Lan, Ái Liên, Khánh Lan, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, Lệ Hoa, Minh Khai, Mạnh Bổng

    Ngày 8 tháng 2, 2025 Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian(NVNT & TTG) đã đến tham dự buổi tiệc Tân Niên mừng xuân Ất Tỵ & mừng ngày kỷ niệm 19 năm thành lập của gia đình thể dục khí công Hoàng Hạc. Bữa tiệc có rất nhiều quan khách tham dự, riêng phần của Liên nhóm NVNT & TTG, Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của NV Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, KG NV Vương Trùng Dương, BLG Hoàng Khuê, NV Nguyễn Quang, CS Hồng Tước, Thụy Lan, Ái Liên, Minh Khai, KS Nguyễn Đại Thành, Mạnh Bỗng & Khánh Lan.

    (?), Bà Kiều Hạnh (Phu nhân của cố BS Phạm Gia Cổn, KG NV Vương Trùng Dương, Mạnh Bổng, Khánh Lan, BLG Hoàng Đình Khuê.

    Minh Khai, Hồng Tước, Thụy Lan, Lệ Hoa, NV Nguyễn Quang và NV Việt Hải

    Trong phần phụ diễn văn nghệ, Khánh Lan nhận thấy phần biểu diễn Thể dục Khí công Hoàng Hạc rất đặc sắc và thu hút sự chú ý của quan khách nhiều nhất.

    Khánh Lan, Hồng Tước, Minh Khai

    Theo Nhà báo Trần Mỹ Duyệt của Việt Báo: “Bác Sĩ PHẠM GIA CỔN người sáng lập môn thể dục KHÍ CÔNG HOÀNG HẠC nguyên là giảng sư tại Đại học UCLA, California, chuyên ngành Anesthesiology, Critical care medicine, Pain Medicine, chưởng môn thừa kế Việt Nam Thất Sơn Thiếu Lâm; Cửu Đẳng Hapkido; Bát Đẳng Taekwondo. Ngoài ra, ông còn là một ca-nhạc sỹ, sử dụng Saxophone, Trumpet, và Clarinet. Trong tinh thần Y-Võ-Nhạc, ông đã khai sáng môn thể dục khí công này là để phục vụ sức khỏe con người trên ba phương diện: tinh thần, thể chất và xã hội.

    Theo Bác Sỹ Dương Xuân Huyên, phụ giảng thì: Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc thể hiện những động tác của đôi cánh tay thật nhu nhuyễn, khoan thai, liên tục và nhịp nhàng với những chuyển động đơn giản và thanh thoát của đôi chân hòa nhịp với hơi thở tự nhiên, “tâm ý-hô hấp-cử động” hợp nhất, “mỏi mà không mệt”, nên thích hợp với mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ, nhất là với người lớn tuổi.

    Cũng theo Bác Sỹ Huyên, Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc là phương pháp đơn giản, tái lập và củng cố sự quân bình âm dương trong cơ thể, mang lại cho người tập một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, khiến gia tăng niềm an lạc, hoàn chỉnh nhân cách và một đời sống tốt đẹp hơn.

    NGUYÊN TẮC CĂN BẢN

    Khí Công Hoàng Hạc, theo tinh thần vị sáng lập mô phỏng hình ảnh, và nếp sống của một loài chim quí là hoàng hạc. Hạc là loài chim có thể sống đến 30 năm, một thời gian tương đối thọ nếu so với con người. Chúng có lối sống hợp đoàn, thanh thản, nhanh nhẹn. Với kiến thức và sự phối hợp nhiều môn võ, dựa vào những quan sát loài hạc, Bác sỹ Chưởng Môn đã rút tỉa và áp dụng với tình trạng sức khỏe con người trong tinh thần y học. Cũng do thấm nhuần tinh thần nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của võ đạo, ông đã mang những tinh túy này cùng với lòng thao thức chuyên tập: “quả dục, thanh tâm, tinh nghiên, chuyên luyện” vào những thế tập và tinh thần của Hoàng Hạc.

    Khí Công Hoàng Hạc dựa trên 4 nguyên tắc căn bản: Bấm, Vòng, Vươn, Buông. Bạn có thể tưởng tượng những động tác này khi nhìn đôi hạc trên nền trời xanh vào một buổi chiều hoàng hôn. Hãy nghe tiếng hát Thái Thanh để ru hồn bạn vào khoảnh khắc thiên nhiên đầy lãng mạn này: “Trời cao xanh ngắt ô kìa. Hai con hạc trắng bay về bồng lai”. Trên nền trời xanh thẳm với lối xải cánh nhịp nhàng, cũng như khi chúng hạ cánh bám vào một cành cây, hoặc khi chúng vỗ cánh tung bay. Người tập Khí Công Hoàng Hạc cũng dùng 10 ngón chân bấm trụ trên sàn nhà, dùng đôi bàn tay xoa nhẹ vào không khí, vươn đôi tay như đôi cánh, hít thở bầu không khí trong lành, và buông xả một cách nhẹ nhàng như cú đáp nhẹ.

    Tóm lại, theo vị chưởng môn, bấm, vòng, vươn và buông “áp dụng vào những thế tập sẽ giúp cho con người được năng lượng khá hơn, làm cho bắp thịt săn chắc, giúp giảm bớt đau nhức, và cũng không mang lại sự nguy hiểm khi tập luyện, mà còn giúp cho tinh thần của người tập được thanh thản, sảng khoái, điềm tĩnh, vui vẻ và yêu đời hơn.”

    Ngoài ra, những động tác bấm, vòng, vươn, buông khi thực tập được dựa trên nguyên tắc Tam Hợp: Tâm – Thân -Thở (Ý/Tâm – Thân Pháp – Hơi Thở). Tại sao lại là Tâm, Thân, Thở?

    Đó là vì Khí Công Hoàng Hạc luôn chú tâm đến cái tâm an bình, sự uyển chuyển nhịp nhàng của toàn thân, và làn hơi thở nhẹ nhàng kết tụ tinh khí của đất trời. Đây cũng là ứng dụng của nguyên tắc Y học Đông Phương khi nói đến ba vị trí của đan điền, và cách tích tụ, di chuyển khí huyết trong nội tạng” (Theo Trần Mỹ Duyệt/Viêt Báo) 

    http://chinhnghiavietnamconghoa.com/gia-dinh-the-duc-khi-cong-hoang-hac-tiec-tan-nien-at-ty-2025-mung-sinh-nhat-thu-19-nam-thanh-lap/

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    Ngũ quả ngày Tết

    Trong văn hóa Á Đông, số 5 có ý nghĩa tượng trưng đặc biệt.

    Đó có thể là Ngũ Hành : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, và Thổ.

    Đó có thể là Ngũ Phúc : Phú (giàu có), Quý (sang cả), Thọ (sống lâu), Khang (khỏe mạnh), và Ninh (an toàn).

    Trong kinh Vu Lan Bồn do Đức Phật thuyết pháp. Để cứu mẹ khỏi kiếp ngạ quỷ, Mục Kiền Liên cần chuẩn bị các lễ vật để cúng dường chư Tăng. Trong đó, có ngũ quả.

    Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ.

    Mười phương Tăng đều dự lễ này.

    Phải toan sắm sửa chớ chầy,

    Thức ăn trăm món, trái cây năm màu.

    Ngũ quả (5 loại trái cây) tượng trưng cho Ngũ Căn-Ngũ Lực : Tín, Tấn, Niệm, Định và Tuệ.

    Trong việc chọn ngũ quả thể hiện lòng thành dâng cúng tổ tiên, thần thánh, người dân miền Nam Việt Nam đã có cách chơi chữ thú vị theo cách “đồng âm, khác nghĩa”.

    Đó là dùng 5 loại trái cây : mãng cầu, thơm, dừa, đu đủ, và xoài.

    Tên 5 loại trái cây đó ghép lại, đọc thành : Cầu Thơm Vừa Đủ Xài.

    Bởi, theo cách phát âm của người miền Nam, “vừa” đọc là “dừa”, còn “xoài” đọc là “xài”.

    Có người thay trái thơm bằng trái sung, khi ghép lại, thành : Cầu Sung Vừa Đủ Xài.

    Cũng vì thế, người dân Nam bộ thường tránh chưng những thứ trái cây có tên “nghe” xui xẻo, như trái chuối, vì “chuối” đọc thành “chúi”, tức “chúi nhủi”, cắm đầu xuống, tức thất bại.

    Trái lê là “lê lết”, hàm ý không khá nổi.

    Trái táo, là trái nhập từ Pháp, có tên Tây là “pomme”. Người Việt đọc là “bom”, nghe lại giống tiếng Anh là “bomb”, tức trái bom nổ. Chơi chữ tới 3 tầng lận !

    Sầu riêng không được chưng, vì có chữ “sầu”. Còn ớt chắc không được vì “cay như ớt”. Mướp lại càng không, vì là… “rách như xơ mướp” !

    Cam, quýt thì sao ? Tục ngữ có câu : “Quýt làm, cam chịu”, hàm ý mình phải chịu oan ức vì lỗi người khác làm ra.

    Thế nhưng, cũng có người cắc cớ, dùng những loại quả đặc biệt :

    Vú sữa, Măng cụt, Dừa, Đu đủ, trái Vải, và Sầu riêng.

    Mâm “lục quả” này, hẳn dành riêng cho quý vị đàn ông “hảo ngọt” ?

    Tết Bình An

    Cầu mong năm mới yên vui.

    Vừa lòng tất cả mọi người lạ quen.

    Đủ đầy gạo, muối, thuốc men.

    Xài tiền làm phước, càng thêm nhiều tiền !

    Tết Thịnh Vượng

    Cầu cho thiên hạ nơi nơi.

    Vừa giàu, vừa khỏe, lại vừa tâm an.

    Đủ đầy hạnh phước thế gian.

    Thơm danh người thiện đa mang việc đời.

    Tết Thái Hòa

    Cầu tình yêu ấy mãi tươi mầu.

    Sung sướng bên nhau thật dài lâu.

    Vừa nhiều tiền bạc, vừa nhiều phước.

    Đủ cả cháu con, đủ rể dâu.

    Xài hoài vẫn giầu…

    Tôn Thiên Nguyễn, Xuân Ất Tỵ

  • ĐỖ BÌNH, PARIS,  THO

    GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG

    Đỗ Bình, Paris

    Xuân đã về, thời gian như gió thoảng, một thoáng 50 năm! Xin gởi đến các anh chị mấy bài thơ năm xưa thuở mà Sài gòn mới thay tên. Có bài thành kỷ niệm nên tôi còn giữ, nhưng cũng có bài đã quên vì dòng thời gian cuốn trôi.

    Trong cuộc bể dâu thời thế thay đổi ấy có rất nhiều cảnh đời bi thảm, mà cho đến hôm nay có rất nhiều người là nạn nhân của cuộc đổi đời bi thảm đó đã kể  lại trên các đài phát thanh, truyền hình ở hải ngoại trong các chương trình chủ đề về lịch sử. Những nỗi đau thương đó được in thành sách, báo và phim ảnh do chính các tác giả là những nạn nhân viết ra. Nhưng có lẽ người thân của những người bị đi “cải tạo” ở bên ngoài phải nuôi tù là chịu nhiều đau khổ! Đó là các bà mẹ, các người vợ, những người tình… Người phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa đã chịu bao nỗi gian nan vất vả, trong lúc còn chiến tranh, hay trong thời bình vẫn là người chịu nhiều thiệt thòi nhất. Họ luôn luôn thể hiện tấm lòng cao cả, suốt đời tận tụy hy sinh cho gia đình. Xin nghiêng mình ngưỡng mộ đức tính hy sinh cao đẹp đó. Xin Cảm Ơn Các Bà.

    Người nghệ sĩ trong bất cứ mọi hoàn cảnh nào dù lúc thăng hay trầm, tự do hay bị quản thúc vẫn luôn phóng tâm hồn mình hòa nhập với không gian, thời gian để ghi lại những trạng thái cảm súc, hoàn cảnh sống của chính mình hoặc tha nhân.

    Xin kể với các anh chị một giai thoại văn chương:
    Ngày đó tôi và người bạn cũ là nhà thơ, nhà văn, họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật ở chung một trại tù, cùng nằm chung bệnh xá. Dù cuộc sống trong tù gian khổ nhưng nguồn cảm hứng của nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật vẫn dồi dào, lúc nào anh cũng làm thơ. Anh thường đọc cho tôi nghe một số bài thơ Không Đề. Một số  bài thơ đó tôi còn nhớ nên sau này ra hải ngoại, gặp lại anh tôi đọc cho anh nghe và anh đã đưa vào những thi tập của anh.

    NGHĨA MẸ

    “Mẹ là suối, là hoa
    Dòng êm tóc lượn, hương sa nụ cười
    Mẹ là đất, mẹ là trời
    Ngọt thơm hạt gạo, sáng ngời ánh trăng.”


    KHÔNG ĐỀ
    «Mẹ ngồi tụng kinh Liên Hoa
    Làm thơm suốt cả dãy nhà ba gian.
    Mình con ngủ gật cạnh bàn,
    Bài chưa thuộc hẳn, mộng toàn hoa sen. »


    KHÔNG ĐỀ
    « Trăng lồng bóng nước in trăng,
    Nước gương soi sáng, ánh trăng chiếu ngời
    Ngọn ngành lấp lánh biển khơi,
    Dẫu trôi con nước, chẳng rời bóng trăng. »

    KHÔNG ĐỀ

    “Cô vào lớp dạy học trò,
    Văn chương trong sáng dạy cho yêu người.
    Ngoài cửa xổ, là cuộc đời,
    Thế cô có dạy khi cười mà lại đau?
    Đêm về nằm mộng gặp nhau,
    Bẻ đôi cục phấn ngày sầu dài thêm!”

    KHÔNG ĐỀ

    “Nếu thật chờ nhau mà hóa đá,
    Thì em thử đợi một lần xem?
    Chỉ sợ khi anh thành núi biếc,
    Ngàn năm không thấy dấu chân em!”

    NHỚ NGUỒN

    «Em không chỉ làm vợ anh,
    Mà là tất cả đời anh vui buồn.
    Con sông ra biển nhớ nguồn,
    Nằm nhe sóng vỗ bờ còn biết đau.»

    Đến khi vợ sau của anh là nhà văn Nguyễn Thị Vinh, nngười cuối cùng trong Nhóm Tự Lực Văn Đoàn đến thăm nuôi anh, tôi thấy Nguyễn Hữu Nhật bỗng vui hơn, và sau đó anh làm bài Hoa Cúc Vàng để tặng vợ.

    “Chỗ em đứng chờ anh ra                                                                                                                                                   Bây giờ thiên hạ trồng hoa cúc vàng                                                                                                                            Mỗi lần có dịp đi ngang                                                                                                                                                    Nhớ em anh tưởng áo hàng lụa bay.”                                                                                                                      Nguyễn Hữu Nhật

     Hai người bạn văn thơ của tôi đã thành thiên cổ đã lâu, nhưng thơ văn và kỷ niệm của anh chị ấy vẫn còn. Theo quy luật của tạo hóa, dòng thời gian đã mang đi quá nhiều văn hữu, khiến tôi buồn và cô đơn nên ít muốn viết! Nhưng vườn Thơ Văn Hải Ngoại hôm nay vẫn nở rộ, vẫn rực rỡ những bông hoa mới đầy hương thơm và muôn sắc. Mừng cho dòng văn học nghệ thuật được tiếp nối.
     Xin cảm ơn Văn Thơ  Nhạc và cảm ơn Người. 

     Chúc các Anh Chị nhiều sức khỏe.

     thân mến
    Đỗ Bình

     TÌNH MẸ

    Tình mẹ ngút cao tận cuối trời,
    Là trăng soi sáng khắp muôn nơi.
    Mỗi lần con ngã trên đường dốc .
    Nhớ tiếng mẹ ru ấm cuộc đời.

    LÒNG MẸ

    Mẹ ngồi bên cửa buồn như liễu
    Tóc trắng mong con cảnh tịch liêu.
    Năm tháng mắt lòa trong nỗi nhớ
    Thương con mù khuất áng mây chiều!

     TÌNH NGHĨA

    Thời thế đổi thay quá ngỡ ngàng,
    Người đi xóm vắng kiếp lang thang.
    Em thôi đến lớp trò thôi học,
    Phấn trắng bảng đen cũng bẽ bàng!
    Ngày tháng giăng sầu hồn tím mãi
    Thương ta đày ải áo sờn vai.
    Mây trắng ngàn năm là sương khói,
    Làm sao phải hẹn đến kiếp mai.
    Nếu muốn chờ nhau ngày tháng đó
    Thăm ta em chớ có dặn dò,
    Lén bỏ trong qùa bài thơ cũ,
    Phòng tối ta cần gẫm tự do!
    Ta phóng đời qua lỗ khóa con,
    Để còn trông thấy bóng trăng non.
    Thèm nghe tiếng gió lời tâm sự,
    Và biết em buồn nhưng sắt son.
    Ta muốn làm chim cất cánh bay,
    Về miền xa thẳm tít trời mây
    Thả hồn lướt cánh bay trong nắng,
    iải thoát đời qua kiếp đọa đày!
    Lặng lẽ thời gian nỗi héo hon,
    Mặc ngày tháng úa giết hao mòn,
    Quanh ta đôi mắt màu đêm tối,
    Vẫn thấy em buồn như nước non!

    CHỜ ANH
    Từ độ xa anh đời ngõ vắng
    Xóm đông người lạ đến hung hăng!
    Nửa đêm tiếng dế buồn hiu hắt
    Cuộc sống chênh vênh cứ nhập nhằng!
    Chó đói sửa ăn, chồm cắn bóng
    Kẻ giàu lơ láo bước long đong!
    Phố nghèo tơi tả đời thêm rách
    Cơm áo giành nhau thấy não lòng.
    Năm tháng quắt quay con mắt đỏ
    Vỉa hè manh chiếu kẻ co ro!
    Chiều nghiêng nắng ngả cành hoa tím
    Em đến trường nay sợ học trò!
    Thời buổi đỉnh cao làm hướng tiến
    Văn chương trong sáng chỉ ưu phiền.
    Con đường chủ nghĩa đầy hoa mộng
    Là sự đổi thay đời đảo điên!
    Cây đàn em giữ, nghèo không bán
    Sợ phiếm cung xưa vẳng tiếng than.
    Đã mấy mùa trôi xuân gối chiếc
    Chờ anh nào biết độ trăng tàn!

    HẠNH PHÚC CUỐI TRỜI

    Em đến thăm từ ngàn trùng cách trở,
    Ở nơi đây miền rừng núi hoang xơ. 
    Thoáng gặp nhau nói gì vơi nỗi nhớ,
    Đường về xa đừng lưu luyến thẫn thờ!
    Tình em đẹp như nắng mai huyền ảo,
    Buồn làm chi  cho mắt úa xanh sao.
    Ngày tháng mộng cuốn theo mùa gió bão,
    Chim bỏ rừng cũng sợ tiếng lao xao.
    Đời biến đổi cách ngăn lòng nhân ái
    Nhìn lá rơi ta bỗng thấy tàn phai.
    Rừng quạnh quẽ vẫn tiêu điều cỏ dại,
    Người liêu xiêu những da bọc hình hài!
    Em khóc nữa chỉ buồn cho kẻ ở
    Về biển xanh theo nốt nhạc chiều mơ,
    Miền đất mới trời tự do rộng mở,
     Đời bay cao  sẽ hạnh phúc đón chờ.
    Đỗ Bình

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    TRỐNG ĐỒNG

    Khánh Lan sưu tầm

    Trống đồng là một trong những di vật của thế giới, một khảo cổ quan trọng được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á và vùng phía Nam nước Tàu như: Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, Malaysia, Philippines và Nhật Bản. Trống đồng được tìm thấy ở những vùng có nhóm người dân tộc từng sống tại đây và đã sử dụng trống đồng từ thời tiền sử cho đến ngày nay, một số lớn trống đồng được tìm thấy ở những khu vực quan trọng, nơi có những ngôi mộ của các nhân vật quan trọng được mai tang tại vùng này, một số lớn trống đồng được tìm thấy dọc theo các con sông hay dọc theo các đường thủy ở trong vùng Đông Nam Á vì có thể đây là đường giao thông chính của dân cư bản địa thời thời đó.

    Từ ngàn xưa đã có nhiều truyền thuyết cho rằng trống đồng chính là nguồn gốc của lịch sử thế giới, trống đồng cũng đã được các sử gia ghi lại trong sách sử như quyển Việt Điện U Linh Tập, Lĩnh Nam Chích Quái thế kỷ 14, và ngay cả các cuốn sử như Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng nói đến trống đồng. Gần đây nhất, Nhà Biên Khảo, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang cũng đã bỏ ra một thời gian rất dài để tìm hiểu, nghiên cứu về trống đồng, đặc biết về loại trống đồng Đông Sơn. Ông cũng đã cho xuất bản một bộ sách gồm 7 tập chuyên về lĩnh vực này. Loại trống đồng do Nhà Biên Khảo, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang sưu khảo thuộc văn hóa Việt vùng Đông Sơn, một nền văn hóa được biết đến với những loại trống đồng: Đông Sơn và Ngọc Lũ.

    TÌM HIỂU TRỐNG ĐỒNG QUA SÁCH VỞ CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN QUANG

    Đó lả một công trình mang giá trị khảo cứu đồ xộ đòi hỏi công sức, thì giờ sưu khảo quy mô mà tác giả Nguyễn Xuân Quang thực hiện, khiến tôi đã đọc và tìm hiểu sâu hơn về công trình khảo luận của ông. Trong bộ sách 7 tập, tổng cộng 7 cuốn suýt soát 3000 trang font chữ 10; mà hai tập đầu ông tập trung vào chủ điểm: Giải Đọc Tổng Quát Về Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương). Do vì thời lượng có hạn, cho nên phần trình bày của tôi xin lượt qua những chủ điểm trong bộ sách này, chúng sẽ tập trung vào vấn đề chính cần biết về bộ sách gồm 7 tập khá chi tiết trong kho tài liệu của bộ sách.

    TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU VÀ Ý NGHĨA CÓ GÌ?

    Nguồn Gốc Trống Đồng Đông Sơn Và Ý Nghĩa Của Trống ĐồngTrống đồng Đông Sơn được xem là biểu tượng văn hóa dân tộc của người Việt Nam. Với lịch sử hình thành lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hiện nay trống đồng Đông Sơn được rất nhiều người dùng để trang trí trưng bày hay cũng như làm quà tặng. Tuy nhiên Trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc từ đâu và có ý nghĩa đặc biệt gì? Thì trong bài viết Xưởng đồng Đông Sơn sẽ giúp quý vị giải đáp những thắc mắc này.

    Nguồn gốc của trống đồng Đông Sơn

    Trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc từ Việt Nam, là loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (từ thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ I-II sau Công) và nền văn minh sông Hồng của người Việt cổ thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn Lang. Trống đồng đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của người Việt Nam.

    Quê hương của trống đồng Đông Sơn là vùng đất Tổ trung du Phú Thọ và các tỉnh vùng Bắc bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam. Trống đồng Đông Sơn đã tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên đến thế kỷ 6 sau Công nguyên. Đây là sản phẩm đầy trí tuệ của người Việt cổ. Tổ tiên ta đã vượt lên những khắc nghiệt của thiên nhiên bằng sự dũng cảm, thông minh và sáng tạo, họ đã tạo nên kỹ thuật luyện kim đồng thau mang đậm yếu tố bản địa của người Việt. Từ đó tạo nên nền văn hóa đồng thau vào loại bậc nhất ở Đông Nam châu Á.

    Ý nghĩa của trống đồng Đông Sơn

    Trống đồng không chỉ là vật linh thiêng mà còn là thông điệp làm nên biểu tượng tập trung nhất những thành tựu trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội, và là quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên đất nước ta – Nhà nước Hùng Vương.

    Đôi nét về Trống đồng Đông Sơn 

    Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100) của người Việt cổ. Nhiều chiếc trống loại này với quy mô đồ sộ, hình dáng cân đối, hài hoà đã thể hiện một trình độ rất cao về kỹ năng và nghệ thuật, đặc biệt là những hoa văn phong phú được khắc họa, miêu tả chân thật sinh hoạt của con người thời kỳ dựng nước. Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã lưu giữ một số lớn trống đồng Đông Sơn. Cho đến nay, theo các số liệu đã công bố, đây là bộ sưu tập lớn nhất thế giới.

    Nguồn gốc trống đồng và hành trình lịch sử 

    Trống đồng là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển, là di vật tiêu biểu cho nền văn hóa của người Việt cổ thời kỳ dựng nước. Nổi bật trong số ấy phải kể đến hình ảnh Trống đồng Ngọc Lũ và trống đồng Đông Sơn. Trong bài viết này, hãy cũng Royal Gift tìm hiểu về Trống đồng Đông Sơn với họa tiết hoa văn vô cùng tinh xảo và độc đáo, thể hiện sự sáng tạo đỉnh cao về nghệ thuật từ những buổi đầu sơ khai của nền văn minh, văn hóa Âu Lạc.

    Trống đồng Đông Sơn được phát hiện năm nào?

    Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100) của người Việt cổ. Về nguồn gốc ra đời của trống đồng Đông Sơn, có 3 luồng ý kiến khác nhau.

    • Tại phương Tây, người ta đã biết về trống đồng từ năm 1682 nhưng mãi đến thế kỷ 19, mới có học giả bàn về trống đồng: điển hình như học giả Hirth (1890) cho rằng trống đồng là của Trung Quốc, nhưng học giả De Grooth (1901) cho rằng nguồn gốc trống đồng của Việt Nam.
    • Các học giả Trung Quốc cho rằng quê hương của trống đồng là ở Vân Nam, Trung Quốc.
    • Các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng khẳng định xuất thân của trống đồng là ở vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Bộ Việt Nam.

    Mặc dù chưa có một kết luận nào chắc chắn và được công nhận nhưng bài viết đi theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ học Việt Nam phân tích về nguồn gốc của trống đồng Đông Sơn. Trong cuốn sách Nguồn gốc và sự phát triển của trống đồng Đông Sơn, tác giả Tạ Đức đã đưa ra các luận cứ với nhiều bằng chứng, chứng minh quê hương trống đồng chính là thành Cổ Loa (Hà Nội). Theo đó, An Dương Vương trị vì vùng trung tâm, nơi đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, giao thông đường thủy thuận lợi. Với tư cách là thủ lĩnh uy quyền, An Dương Vương là vị vua duy nhất huy động được nhân lực, tài lực để tạo ra chiếc trống đồng lớn và đẹp nhất tượng trưng cho vương quyền và thần quyền Bách Việt…

    CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE KHÁC VỚI CHỮ NÒNG NỌC KHOA ĐẨU

    Trước hết xin nói ngay để tránh khỏi lầm lẫn hay ngộ nhận là chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (cirle-rod writing) là loại chữ viết do tác giả Nguyễn Xuân Quang khám phá ra không phải là thứ chữ nòng nọc khoa đẩu (tadpole writing) mà hiện nay chúng ta thường nghe nói tới. Chữ viết nòng nọc hiện nay mà Hán ngữ gọi là chữ khoa đẩu tức là loại chữ viết có nét cong, ngoằn ngoèo trông như con lăng quăng bơi trong nước. Ví dụ như chữ Hán cổ, chữ Phạn, chữ Thái Lan, chữ Campuchia, v.v…Đúng ra Chữ khoa đẩu lăng quăng này chỉ là những chữ viết hậu duệ, những chữ viết con cháu của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thật sự do tác giả Nguyễn Xuân Quang khám phá ra. Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que là thứ chữ có hai mẫu tự căn bản là mẫu tự vòng tròn (O) giống thân con nòng nọc và mẫu tự nọc que (I) giống đuôi con nòng nọc.

    Để hiểu rõ về sự thành hình chữ nòng nọc vòng tròn-que xin nói thật sơ lược qua sự thành hình chữ viết loài người nói chung. Sự thành hình chữ viết của loài người nói đại lược khởi đầu từ một vạch, một nét vẽ của người tiền sử, rồi tiến tới một dấu hiệu (sign), một hình (picture). Sau đó có mang thêm ý nghĩa. Vậy chữ là chữ nòng nọc vòng tròn-que là thứ chữ có hai mẫu tự căn bản là chữ cái Nòng vòng tròn (O) và chữ cái Nọc que (I) có mang ý nghĩa.

    Trích trong hai quyển sách I và II trong bộ sách 7 quyển của tác giả Nguyễn Xuân Quang, ông giải thích: Chữ nòng vòng tròn (O) và chữ nọc que (I) là hai chữ cái cổ nhất của nhân loại có nguồn gốc nguyên khởi do hình vẽ diễn tả theo hình dạng của bộ phận sinh dục nường và nõ. Hình tự nường lỗ sinh dục phái nữ nòng tròn O và hình nõ nọc que I đàn ông còn thấy rất nhiều qua các hình vẽ trên đá (petroglyphs) thời tiền sử. Sau đó thấy trong tín ngưỡng thờ nường nõ như trong Ấn giáo thờ linga hình nõ nọc I que cắm trên bệ nường yoni hình nòng tròn O. Khi con người có một đời sống tâm linh cao hơn, hai chữ viết nòng nọc vòng tròn que trở thành hai chữ diễn tả cái đực, nường nõ, nòng nọc, âm dương, trở thành một thứ chữ căn bản có hệ thống của một tôn giáo cổ nhất của con người là vũ trụ giáo dựa trên cái đực, nòng nọc, âm dương, lưỡng hợp, vũ trụ tạo sinh, dịch học.

    Tuy vậy không một nơi nào trên thế giới chữ nòng nọc vòng tròn-que được viết nhiều nhất, đầy đủ nhất, đa dạng nhất, chuẩn nhất, theo đúng ngữ pháp nhất như người Đông Sơn viết trên đồ đồng Đông Sơn, nhất là trên trống Đông Sơn, nó là Bộ Từ Điển Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que. Việt Dịch Đồng Đông Sơn là bộ dịch bằng hình viết bằng hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que duy nhất của nhân loại.

    Trống đồng Đông Sơn được xét qua những điểm như là:

    • Trống thiêng liêng, trống thờ, trống mang tính biểu tượng, không phải là trống làm ra có mục đích chính dùng làm bộ gõ trong âm nhạc.
    • Trống Đông Sơn là một loại trống đặc biệt mang tính nhị nguyên nòng nọc (âm dương)
    • Về hình thể: mặt kín dương. Mặt đáy hở âm. Nội dung: mặt trời dương nằm trong vòng không gian âm.
    • Mặt trời cũng có mặt trời dương và mặt trời âm.

    Trên trống Đông Sơn có tượng loài lưỡng cư cóc/ếch.

    • Trống có tượng cóc (chỉ sống trên đất mang dương tính) là trống sấm dông gió (mang dương tính, thiếu âm)
    • Trống có tượng ếch sống được dưới nước mang âm tính thái âm là trống sấm mưa (mưa mang tính thái âm).

    Những nét khắc vẽ trên trống có hoa văn, hìng tượng như:

    • Chim thú, vật tổ biểu tượng của người Việt đều có nghĩa là Việt, là mặt trời (chim Việt: chim mỏ sừng Cắt Hồng hoàng, Hươu Việt: hươu sừng, Cá sấu Việt: sấu Lạc mõm dao, Rắn Việt: rắn mồng, rắn có sừng).
    • Phụ nữ Việt đội nón thúng quai thao cổ truyền hình mặt trời mà J. Cuisinier gọi là Chapeau de Soleil. Phụ nữ Việt mang dòng máu Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ, mặt trời rạng sáng (nhật tảo).
    • Đền thờ Nhật Tảo ở làng Diềm, Viêm Xá, xã Hòa Long, huyện Yên Phong, Bắc Ninh thờ một vị thần làng nữ Nhữ Nhương, hình bóng của thái dương thần nữ Âu Cơ, mặt trời nhật tảo hừng rạng.

    Tác giả Nguyễn Xuân Quang là người đích thân tìm vào Sử đồng như vào những khảo cổ học khác. Tác giả nghiệm ra rằng trống Đồng của đại tộc Đông Sơn là bộ sử đồng của Việt Nam trong Bách Việt. Ông giải thích: Sử đồng là hiện vật thấy được tận mắt, sờ thấy được tận tay cái căn cước Việt. Căn cước Việt đã được khắc ghi lại từ cách đây trên dưới 3.000 năm và được chôn vùi sâu dưới lòng đất không hề bị sửa đổi, không hề bị ảnh hưởng của các nền văn hóa ngoại lại khác. Sử đồng Việt Đông Sơn thuần Việt, tinh ròng Việt có độ xác tín rất cao.

    Yếu tố nguồn gốc chữ viết hay nét hoa văn nòng nọc được tác giả khai triển khá rõ. Như tìm hiểu về Nòng nọc âm dương mang ý nghĩa như sau:

    Nòng nọc âm dương là nguyên lý nhị nguyên căn bản (biểu hiện cho âm O và dương là I, yếu tố cơ bản của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học. Do vậy nhìn chung về vũ trụ quan trống đồng Đông Sơn biểu tượng vũ trụ giáo diễn đạt vũ trụ tạo sinh. Dịch học dựa trên nguyên lý nhị nguyên căn bản nòng nọc (âm dương). Nhìn riêng theo duy dương, ngành mặt trời vì trống có một khuôn mặt chủ là trống (đực: gà trống), dương, thì trống đồng là trống biểu tượng của mặt trời tạo hóa nhị nguyên thái dương.

    Trống đồng là một hiện vật do con người làm ra. Vậy chủ nhân ông của trống là một đại tộc có vũ trụ quan là vũ trụ tạo sinh theo vũ trụ giáo, mặt trời giáo. Đó là biểu hiệu của người Việt làm ra, người Mặt Trời Thái Dương (tác giả ghi nhận là ông đã tìm ra trên 100 bằng chứng Người Việt là Người Mặt Trời) theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, mặt trời giáo dựa trên nguyên lý nhị nguyên căn bản nòng nọc (âm dương), Chim-Rắn, Tiên Rồng. Tổ Hùng Lang sinh ra từ Bọc Trứng Chim có một khuôn mặt là mặt trời tạo hóa nhị nguyên phân ra hai ngành. Như vậy thì người Việt chính là chủ nhân của loại trống đồng Đông Sơn. Lý do vì trống đồng được cho là làm ra vào thời đại Hùng Vương. Mỗi tộc người, mỗi bang người Việt trong liên bang Văn Lang thuở xưa có ít nhất một trống biểu riêng. Do đó ta mới có cả trăm trống khác nhau.

    PHÂN LOAI TRỐNG ĐỒNG THEO NHÀ KHẢO CỔ HỌC NGƯỜI ÁO FRANZ HEGER

    1. Trống Heger I, còn được gọi với tên là trống đồng Đông Sơn, thuộc loại trống lớn và lâu đời nhất và đã giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong văn hóa Đông Sơn, một nền văn hóa được biết đến với những trống đồng trang trí cầu kỳ, được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á và Bắc Việt Nam. Số lượng lớn trống Đông Sơn đã được tìm thấy tại Mê Linh, trung tâm của văn hóa Đông Sơn và ở đồng bằng sông Hồng, vùng dân cư đông đúc thời cổ.

    Trống Hegers I được phân phối ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, của Trung Quốc và ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà khảo cổ Trung Quốc tin rằng Vân Nam là vùng nguyên thủy có sự xuất hiện của trống đồng. Nhưng trên thực tế cho thấy một số trống có tuổi lâu đời hơn đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam nên không thể kết luận Vân Nam là cái nôi của trống đồng vì những lý do dưới đây:

    a) Giai đoạn một: (thế kỷ thứ III-thế kỷ thứ I, TCN)

    Nhiều chiếc trống thuộc loại hóa thạch (Thạch Sơn) đã được phát hiện ở miền Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ở Việt Nam có những chiếc trống thuộc văn hóa Đông Sơn đã được khai quật. Hai chiếc trống Thạch Sơn đã được tìm thấy ở Thái Lan, Indonesia và 10 chiếc trống Đông Sơn cũng tìm thấy ở hai nước này.

    b) Giai đoạn hai (thế kỷ thứ I TCN-thế kỷ thứ I CN)

    Trong giai đoạn này chỉ có bốn chiếc được phát hiện ở Vân Nam và Quảng Tây. Do đó có thể trống đồng đã biến mất khỏi miền Nam Trung Quốc và Văn hóa Đông Sơn của Việt Nam bắt đầu mở rộng vào tỉnh Quảng Tây và các vùng lân cận. Trong khi đó Việt Nam vẫn sản xuất trống đồng, mặc dù số lượng trống đồng ở Thanh Hóa đã giảm đi, nhưng ở Thái Lan, Mã Lai và nhất là Indonesia đã phát hiện với số lượng khá nhiều và với hình dáng, hoa văn trông giống với trống đồng tại Việt Nam.

    c) Giai đoạn ba (thế kỷ II trở đi)

    Người ta tìm được hai mẫu trống đồng phát xuất từ Việt Nam, nhưng ở khu vực miền Nam có ba chiếc trống được phát hiện theo tiêu chỉ của văn hóa Đông Sơn, cho thấy loại trống này có nguồn gốc từ khu vực miền nam Việt Nam. Tuy nhiên, loại trống Kham Cha từ Thái Lan, đã thay đổi rất nhiều so với truyền thống Đông Sơn, cho thấy chúng có cùng loại với trống Pejeng của Indonesia hơn.

    • Trống Heger II, thân trống chỉ có 2 phần, trên mặt trống không có hình ảnh của người hoặc con vật, thay vào đó toàn là hoa văn hình học kinh tế. Trên mặt trống thường có 4 hoặc 6 con cóc và ngôi sao 8 cánh tượng trưng cho mặt trời. Loại trống này được tìm thấy ở Nam Trung Quốc và Bắc Việt. Ở miền Nam Trung Quốc, loại trống Heger II được tìm thấy phần lớn là ở vùng Quảng Đông và Quảng Tây. Ở Việt Nam, loại trống này xuất hiện tại các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa, phần lớn loại trống này được tìm thấy và khai quật tại các vùng của người Mường sinh sống. Hiện nay, có nhiều loại trống Heger II vẫn còn được người Mường sử dụng, nên chúng có tên là trống Mường. Nhưng cũng có một số nhà khảo cổ học cho rằng những chiếc trống này thông dụng ở các đời vua nhà Lý-Trần. 

    Trước đây, một số học giả chia loại trống này thành hai nhóm:

    • Nhóm 1, thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Thanh Hóa.
    • Nhóm 2, thuộc các tỉnh Nghệ An.

    Hầu hết các nhà khảo cổ đều cho rằng niên đại của trống đồng Heger II Khoảng từ 1000 niên kỷ I SCN đến thế kỷ XVI-XVII. Tại Hội nghị Khoa học Trống đồng Việt Nam năm 1985, một số nhà khảo cổ học đã chia trống Heger II thành 3 nhóm có niên đại khác nhau:

    • Nhóm từ năm 1005 SCN.
    • Nhóm triều đại Lý-Trần
    • Nhóm sau thời Lý-Trần.
    • Trống Heger III, (trống đồng Tân Độ), hiện trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam. Trống Heger III có quai nhỏ đẹp, nổi bật với hoa văn hình học, đẹp và tinh tế, thân trống thường không cân đối, phần trên to phần dưới thon, đường kính của mặt trống lớn hơn các phần còn lại. Mặt trống được trang trí với ngôi sao 12 cánh tượng trưng cho mặt trời, 12 con cóc chia ra 4 góc, chung quanh là các hoa văn hình học. Dưới chân có đoàn voi đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống“. Đôi khi ốc thay voi. Được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanma và Vân Nam (Trung Quốc). Trống Heger III được tìm thấy ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Loại trống này được chia làm hai nhóm:
    1. Nhóm DânTộc thuộc hệ ngôn ngữ Khmer.
    2. Nhóm dân tộc thuộc ngôn ngữ thái cổ. Ở Việt Nam số lượng trống này ít hơn loại trống Heger I và Heger II.
    • Trống đồng Heger IV (trống đồng Long Đọi Sơn), trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam. Trống Heger IV có kích thước và có quai nhỏ, không có cóc. Trang trí của trống này tương tự như trống Heger I, nhưng hình dáng không cân đối và họa tiết hình học không cầu kỳ. Hình mặt trời có 12 cánh sao tượng trưng cho 12 con giáp, 4 góc-mỗi góc có ba con cóc chồng lên nhau thành 12 con. Dưới chân có đoàn voi hay ốc đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống“. Loại trống Heger IV thường được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanmar và Vân Nam (Trung Quốc).

    Có rất nhiều dân tộc sử dụng loại trống này trong đó có một số người phương Bắc như người Hán, người Mông Cổ. Loại trống này có liên quan mật thiết với các dân tộc bản địa như người Giày, Giao, Thái … Ở Việt Nam, nhiều loại trống này đã tìm thấy ở các vùng núi phía Bắc như Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La. Heger IV là loại trống đồng Nam Dương như Java, Sumatra, ảnh hưởng hồi giáo…

    PHÂN LOAI TRỐNG ĐỒNG THEO TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN QUANG

    Với tác giả Nguyễn Xuân Quang, ông phân loại trống đồng thành 6 loại như sau: NXQ I, NXQ II, NXQ III, NXQ IV, NXQ V, NXQ VI.

    1. Trống Trứng Vũ Trụ [Cosmic egg drums or Nguyen Xuan Quang type I (NXQ I)] drums. Tức trống Nguyễn Xuân Quang I (không có trong sự phân loại của Heger) có hình trứng giống như trống cái, trống thùng (barrel) bịt da nhưng hở đáy (mang tính nòng nọc, âm dương) ví dụ như trống đồng để ở chùa Cổ Lễ, chùa Keo, đền Hùng Vương… (4).
    • Trống tượng Lửa [Fire-drums or Nguyen Xuan Quang type II (NXQ. II)]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang II (không có trong sự phân loại của Heger) hình trụ (tubular or cylindrical forms). Trống moko hình trụ có eo của Nam Dương là trống biểu tượng cho tượng Lửa của ngành nước.
    • Trống tượng Gió [Yang Wind sun Drums or Parasol-Shaped drums or Nguyen Xuan Quang Type III (NXQ. III) or Heger III]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) hình lọng, dù, ô (thân và đế thẳng tuột như thân cây lọng), thấy nhiều ở tộc Shan thuộc sắc tộc Tai, nói tiếng Tai-Kadai. Tộc này có nhà hình vòm mu rùa biểu tượng cho bầu trời, bầu không gian, gió.
    • Trống tượng Nước [Yang Water drums or Squat drums or Nguyen Xuan Quang Type IV (NXQ IV) or Heger IV]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) trông giống cái âu (vật đựng mang âm tính liên hệ với nước) không có thân trống nên trông lùn tịt gọi là trống trệt (squat drum) mang nhiều âm tính biểu tượng cho nước (trống này thấy nhiều ở Nam Trung Hoa nên Heger gọi là trống trệt Nam Trung Hoa). Có thể loại trống này thấy nhiều ở tộc Choang (Zhuang). Người Zhuang nhận mình là con cháu của Rồng và có một chi tộc tên là Shui (Thủy) liên hệ với Lạc Long Quân.
    • Trống tượng Đất, núi Trụ Thế gian [Pillar-shaped drums or yang Earth-drums or Nguyen Xuan Quang type V (NXQ. V) or Heger II]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang V (Heger II, trống vùng cao, vùng núi ở Bắc Việt Nam).
    • Trống Vũ Trụ Tạo Sinh, trống biểu của Vũ Trụ giáo [Cosmogenic drums or Cosmic Mushroom drums or Nguyen Xuan Quang Type VI (NXQ.VI) or H.I]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) có hình Cây Nấm Vũ Trụ, tức trống Đông Sơn của các tác giả Việt Nam. Trống này có nhiều nhất ở Việt Nam.

    Trống Cây Nấm Vũ Trụ biểu tượng cho Vũ Trụ giáo có chu vi vòng ngoài hình trứng tức trống Trứng Vũ Trụ NXQ I (xem hình bìa quyển Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, tập I). Trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI nằm trong trống Trứng Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang I.

    Như trên cho thấy sự khảo sát trống đồng dựa theo 2 tiêu chuẩn của Franz Heger và của Nguyễn Xuân Quang có điểm tương đồng như trong Trống tượng Gió (Heger III), Trống tượng Nước (Heger IV), Trống tượng Đất (Heger II), Trống vũ trụ tạo sinh (Heger I). Hầu như tất cả các trống đồng Đông Sơn được chia thành ba phần: phần trên, phần giữa và phần cuối. Chúng có thân hình trụ thẳng đứng, mặt dưới của chúng không có hình, mặt trên có hình sao được đúc nổi với 12 cánh. Một số trống đồng có tám cánh như trống đồng Quảng Xương, hoặc 14 cánh như trống đồng Ngọc lũ, Sông Đà, Thượng Lâm, thậm chí có khi lên đến 16 cánh như hoàng Hạ và Salayar.

    Tóm lại: Việt Nam được xem là nơi tập trung nhiều trống đồng đa dạng nhất. Trống trống đồng Đông Sơn không chỉ là một biểu tượng nghệ thuật độc đáo mà còn là một cổ vật lịch sử phản ảnh văn hóa sâu sắc của Việt Nam. Từ kỹ thuật đúc chảy kim loại đến hình dáng tinh tế, mỗi chiếc trống là một tác phẩm nghệ thuật mang đậm dấu ấn của nền văn minh Đông Sơn. Nhiều khoa học gia cho rằng các nước lân cận có thể bị ảnh hưởng hoặc đã du nhập nền văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ vào nước của họ.

    Khánh Lan, Mùa Xuân 2025

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  KÝ SỰ

    NVNT & TTG ĐÓN XUÂN VÀ MỪNG XUÂN ẤT TỴ TẠI TÒA BÁO NGƯỜI VIỆT

    Khánh Lan

    NVNT & TTG ĐÓN XUÂN ẤT TỴ TẠI VIETLIFE TV-NGÀY 02 THÁNG 02, 2025- MỒNG NĂM TẾT

    Kính chúc quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em luôn vui tươi, hạnh phúc, khỏe mạnh, an bình và vạn sự như ý. NVNT & TTG.

    Năm nay, chị Tâm An đứng lên tổ chức buổi họp mặt mừng Xuân tại trụ sở của chị. Đặc biệt năm nay có sự hiện diện của NV Nguyễn Tường Cường và phu nhân, Chị Bích Điệp đến từ Ohio, cũng như Thi Sĩ Lệ Hằng và phu quân đến từ Paris, Pháp Quốc. TS Lệ Hằng là thành viên của Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris mà chúng tôi có dịp gặp trong chuyến du lịch Pháp Quốc năm 2022 và tham dự buổi họp mặt văn hóa với các Văn Thi Sĩ của Câu Lạc Bộ.

    Hàng đứng: Chị..?…, Lệ Hoa, Bích Điệp, Tường Cường, Mạnh Chi, Viết Đang, Lệ Hằng, OX của chị Lệ Hằng (?), Tô Châu, (?), Ngọc Châu, Khánh Lan, Vương Trùng Dương. Hàng ngồi: Mạnh Bổng, Cô Sang, Nguyễn Quang, Việt Hải.

    Nhập tiệc mừng Xuân là những món ăn “Homemade food” do các chị nội trợ khéo tay trong nhóm nấu, đặc biệt là vừa ngon, bổ lại rẻ nữa. Tết năm nay, một số lớn các anh chị trong nhóm bận “chạy show” hoặc đi du lịch hoặc bận việc nhà nên không đến họp mặt đầy đủ như mọi khi. Dù vậy, không khí ngày Tết và đón khách phương xa vẫn vui nhộn và các anh chị “ca sĩ của TTG” tranh nhau hát ca mệt nghỉ.

    Chương trình bế mạc lúc 11 giờ, chúng tôi phụ nhau dọn dẹp và kéo nhau đi ăn phở trước khi chia tay. Kết thúc một ngày vui.

    NHẬT BÁO NGƯỜI VIỆT ĐÓN XUÂN-NGÀY 29 THÁNG 01, 2025–MỒNG MỘT TẾT

    Tòa báo Người Việt mừng Xuân Ất Tỵ

    Khai mạc buổi họp mặt với những tràng pháo nổ vang trời. Lúc đầu bà Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh mời quan khách ra sân để ngắm pháo mổ, nhưng chỉ trong khoàng một phút, mọi người đã chạy làng vì tiếng pháo nổ quá lớn, xác pháo bắn tung tué và khói pháo bao phủ cả một khoảng không gian quanh tòa báo khiến mọi người hoảng sợ…”bỏ chạy” vào trong khánh phòng. Sau màn đốt pháo là tiết mục lì xì và tặng Giai Phẩm Xuân Ất Tỵ-Người Việt 2025 với những tiết mục rất hay và hữu ích.

    Các nhân viên & cộng tác viên và khách mời của tòa báo Người Việt-họp mặt mừng xuân Ất Tỵ

    Đây là lần đầu tiên tôi đến dự buổi họp mặt mừng Xuân do tòa báo Người Việt tổ chức. Năm nay, buổi họp mặt vào đúng vào ngày mồng một Tết, nhằm ngày 29 tháng 01, 2025 thay vì mồng hai Tết như mọi năm. Theo thường lệ, hằng năm, Bà Giám Đốc Hoàng Vĩnh cho tổ chức 2 buỗi họp mặt quan trọng: Đó là mừng Xuân và mừng Chúa Giáng Sinh cho các nhân viên hay các cộng tác viên trong đó có tôi.

    Chuyện là 3 năm trước, tôi được Giáo Sư Quyên Di đại diện cho tòa báo Người Việt mời đến cộng tác với các anh chị em trong Department of Education. Thế là từ ngày ấy, tôi đương nhiên trở thành cộng tác viên của tòa báo Người Việt (tôi đoán thế) và cứ thế, năm nào tôi cũng được hân hạnh đến tham dự những tiệc vui do tòa báo Người Việt tổ chức.

    Múa lân khai mạc buổi tiệc

    Cô Đỗ Bảo Anh, trưởng nữ của cố Nhà Báo Đỗ Ngọc Yến, Chủ Nhiệm kiêm sáng lập viên của tòa báo Người Việt

    Vài hàng về bà Đỗ Ngọc Anh theo Ký Giả Thanh Phong, bà sinh trưởng tại Saigon, tốt nghiệp ngành báo chí và anh ngữ tại University of South California (USC). Bà hiện là một ký giả kỳ cựu của nhật báo The Los Angeles Times (LAT) từ năm 2012. Ngoài ra, bà còn từng làm việc cho các nhật báo khác gồm Seattle Times, Orange County Register và nhật báo Người Việt, tờ báo do thân phụ của bà là nhà báo Đỗ Ngọc Yến thành lập.

    Bà viết về nhiều đề tài khác nhau như mối liên hệ chủng tộc, văn hóa Nam California, người nhập cư, v.v… Bà cũng được biết đến qua các bài viết về người Mỹ gốc Việt, cộng đồng LGBTQ, sự đánh giá của lớp người bị xã hội coi là thấp hèn. Qua những đề tài sâu sắc này, bà Anh Đỗ đã đoạt được nhiều giải thưởng từ Columbia University, học bổng báo chí của Yale University, và Hiệp Hội Ký Giả Người Việt gốc Á Châu.

    Năm 2016, bà Anh Đỗ ở trong danh sách phóng viên LAT và đoạt giải Pulitzer qua bản tin về vụ khủng bố ở San Bernardino. Năm 2024, bà Anh Đỗ trong danh sách chung kết giải Pulitzer với bản tin về vụ xả súng ở Monterey Park.

    Bà Hoàng Vĩnh, tổng giám đốc kiêm chủ nhiệm nhật báo Người Việt. và đại diện của ông Trí Tạ

    Hôm ấy tôi đến sớm lắm vì sợ không có chỗ đậu xe hoặc phải đậu xe quá xa bởi tôi vốn “Ngại” đi bộ. Bước vào khánh phòng, vắng hoe, chỉ thấy có khoảng 5 hay 6 người gồm các anh đang gắn máy móc, gắn keyboard và các chị phụ bếp. Người đầu tiên tôi gặp là chị Minh Phú, thế là tôi được anh Philippe Dương chụp “ké” cho những tấm hình đẹp.

    Khách tham dự

    Quan khách tham dự buổi tiệc họp mặt mừng Xuân Ất Tỵ tại tòa báo Người Việt rất đông, tôi nhận thấy có sự hiện diện của rất nhiều nhân vật quan trọng trong cộng đồng gồm các vị đại diến và các vị nghị viên của tiểu bang, liên bang, thành phố và trường học, v.v…Các giáo chức như GS Phạm Thị Huê, GS Quyên Di, GS NS Lê Văn Khoa, v.v…Xướng Ngôn Viên Thanh Thảo và rất nhiều vị mà tôi không biết tên.

    Nhập tiệc mừng Xuân–Chúc mừng năm mới

    Phần văn nghệ tôi nhận thấy có Chị Thiên Hương của đoàn Du Ca, các ca sĩ: Ngọc Hà, Lê Uyên Phương, Hồng Tước, v.v…mở đầu với Ly Rượu Mừng rồi bài Đón Xuân của NS Phạm Đình Chương,…

    CS Ngọc Hà, Chị Minh Phú, Khánh Lan, GS NS Lê Văn Khoa

    Hợp ca: Ly Rượu Mừng

    Hợp ca: Đón Xuân

    Bài hợp ca bế mạc. Buổi họp mặt kết thúc lúc 3:00 pm, chấm dứt một ngày vui.

    Khánh Lan, tháng 2 ngày 4, 2025