• KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Năm Thìn Nói Chuyện Rắn Trong Tác Phẩm Kim Dung

    Vương Trùng Dương

    Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới  WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.

    Theo truyền thuyết phương Đông, Trung Hoa từ thời cổ đại cho rằng thần Nữ Oa đầu người thân con  rắn là vị thần sáng thế, có quyền uy tối thượng, đội đá vá trời khi bầu trời rách toang, đất đai rung chuyển, núi rừng bốc cháy, nước ngập mênh mông, loài người hốt hoảng kéo nhau chạy trốn. Thần Nữ Oa luyện hơn ba mươi sáu nghìn viên đá ngũ sắc lấp lại bầu trời cho loài người cư ngụ.

    Theo bài viết của BS Nguyễn Xuân Quang cho rằng Nữ Oa cũng không phải là người Tàu, Nữ Oa khi chết biến thành chim Tinh Vệ đội đá vá trời, tha đá lấp biển đông. Tương truyền rằng con gái vua Viêm Ðế ngày xưa vượt biển chết chìm, hóa ra chim Tinh Vệ, ngậm đá ở núi Tây về lấp biển Ðông… Tinh Vệ là con gái vua Viêm Ðế mà Viêm Ðế là tên hiệu của Thần Nông. Nữ Oa Tinh Vệ là con của Mẹ Trứng Nước Thần Nông Viêm Ðế. Như thế rõ như hai năm là mười Nữ Oa không phải là người Trung Hoa.

    Thần thoại Việt Nam, Thần Nam Thần Nữ là hai vị thần đầu tiên sinh ra con người. Thần Nam tên là ông khổng lồ Tứ Tượng và Thần Nữ là bà Nữ Oa. Theo truyện này thì bà Nữ Oa có chồng là ông Tứ Tượng. Ông này ngỏ ý muốn lấy Nữ Oa. Bà Nữ Oa thách ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông đắp cao hơn bà sẽ lấy làm chồng. Kết quả ông Tứ Tượng đắp núi thua bà. Nữ Oa đắp một ngọn núi cao ngất trời, đứng trên đó có thể thấy khắp cõi trời đất. Dấu tích còn lại của ngọn núi cao của bà Nữ Oa đắp, dân gian cho là núi Nam giới ở Hà Tĩnh ngày nay. Ông Tứ Tượng đắp núi thua nhưng kiên gan trì chí đeo đuổi mãi, cuối cùng bà Nữ Oa cũng xiêu lòng lấy ông làm chồng.

    Như thế rõ ràng theo thần thoại Việt Nam thì Nữ Oa là vị Thần Nữ đầu tiên. Và ta cũng thấy thần Nam thua tài thua sức Thần Nữ Nữ Oa. Nữ Oa chính vị Thần Nữ đầu tiên sinh ra loài người, trong đó chính yếu là Hừng Việt đúng như truyền thuyết Việt Nam.

    Trong võ học cổ truyền, rắn là một trong những loài động vật tiêu biểu được các võ sư ngày xưa tìm hiểu, quan sát để hình thành các bí quyết võ công với tên gọi Xà Quyền. Xà Quyền có các bài múa: Rắn thần luyện trăng (xà thần luyện nguyệt), rắn vàng từ đất nhô lên (kim xà lục khởi), rắn quật động trời (xà phiên thiên chân), rắn trắng phun bọt (bạch xà phẫn mạt), rắn lăng lướt sương (xà đằng tẩu lộ), rắn sừng quẫy đuôi (giác xà ứng vĩ)… vừa nhu vừa cương với nhiều thế võ bí hiểm. Về kiếm pháp có xà hành đao, xà hành kiếm.

    Môn võ nầy xuất xứ từ Trung Hoa và sau đó truyền sang Việt Nam cũng như các môn Long Quyền (Võ Rồng), Hổ Quyền (Võ Hổ), Hầu Quyền (Võ Khỉ), Hầu Quyền (Võ Khỉ), Hạc Quyền (Võ Hạc), Kê Quyền (Võ Gà)…

    Các thế Xà Quyền với nhiều bộ thế linh động, bài võ liên hoàn, thủ và công linh hoạt khi chiến đấu sắc bén làm cho đối phương trở tay không kịp.

    Nhà văn Kim Dung dựa vào môn võ nầy đã sáng tạo ra các nhân vật và võ công cái thế trong chốn võ lâm.

    Năm 1955, ông bắt đầu viết tiểu thuyết võ hiệp. Bộ truyện đầu tay của ông là Thư Kiếm Ân Cừu Lục. Năm 1956, ông bộ thứ hai là Bích Huyết Kiếm. Năm 1957, bộ truyện thứ ba là Tuyết Sơn Phi Hồ và sau đó là Xạ Điêu Tam Bộ Khúc (gồm 3 bộ Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký, 1961). Năm 1963 với Thiên Long Bát Bộ gồm Lục Mạnh Thần Kiếm. Năm 1967 với Tiếu Ngạo Giang Hồ và năm 1969 với Lộc Đỉnh Ký. Toàn bộ tác phẩm của Kim Dung được tóm gọn thành hai câu đối:“Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc. Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên” (Phi Hồ Ngoại Truyện – Tuyết Sơn Phi Hồ – Liên Thành Quyết – Thiên Long Bát Bộ – Xạ Điêu Anh Hùng – Bạch Mã Khiếu Tây Phong – Lộc Đỉnh Ký – Tiếu Ngạo Giang Hồ – Thư Kiếm An Cừu Lục  – Thần Điêu Hiệp Lữ – Ỷ Thiên Đồ Long – Bích Huyết Kiếm – Uyên Ưng Đao).

    Trong các tác phẩm nầy, trích dẫn vài nhân vạt điển hình đã gây sóng gió trong chốn võ lâm.

    * Bích Huyết Kiếm & Kim Xà Lang Quân

    Vào cuối thời nhà Minh Viên Sùng Hoán bị cáo buộc thông đồng với ngoại phiên và bị hoàng đế Sùng Trinh xử tử. Con trai Viên Sùng Hoán là Viên Thừa Chí nhờ may mắn được đưa lên núi Hoa Sơn, được Mục Nhân Thanh và Mộc Tang đạo nhân truyền thụ võ nghệ. Trên núi Hoa Sơn, Viên Thừa Chí tình cờ phát hiện ra Kim Xà Kiếm và Kim Xà Bí Kíp – di vật của Hạ Tuyết Nghi và học được kiếm thuật vô địch – nổi danh với tên gọi Kim Xà Lang Quân.

    Kim Xà Kiếm có nguồn gốc từ Ngũ Độc Giáo, thanh kiếm này khác với những thanh kiếm ở Trung Nguyên, nó không thẳng mà uốn lượn như hình con rắn, mỗi khi xuất chiêu vận nội công, thanh kiếm sẽ chuyển sắc vàng, đồng thời đầu kiếm tỏe ra như lưỡi rắn.

    Với nọc độc của các loài động vật rất nhiều, nguy hiểm nhất như: bọ cạp, nhện phễu, rết, cóc… nhất là rắn, khoảng 450 loài rắn có nọc độc. Nọc rắn được tạo ra bởi các tuyến nước bọt hàm dưới chứa nhiều loại độc tố rất nguy hiểm.

    Ngũ Độc Giáo nguồn gốc từ Tây Vực là tà phái với hai bí kíp võ công xuất hiện trong ba tiểu thuyết Tiếu Ngạo Giang Hồ, Bích Huyết KiếmvàLộc Đỉnh Ký. Ngũ Độc Giáo nổi tiếng với khả năng dùng độc cũng như các võ công có liên quan đến độc dược. Hà Thiết Thủ, giáo chủ Ngũ Độc Giáo, trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, chưởng môn nhân của Ngũ Độc Giáo là Lam Phượng Hoàng.

    Ngũ Độc Giáo cho người trong giang hồ không tên thật của giáo phái này mà là Ngũ Tiên Giáo. Ngũ Độc Giáo có trụ sở tại vùng Miêu Cương, tỉnh Vân Nam và sau đó dưới trướng Nhật Nguyệt Thần Giáo.

    Môn võ công trứ danh và lợi hại nhất của Ngũ Độc Giáo là Ngũ Thánh Tam Bảo. Ngũ thánh gồm rắn, rết, bọ cạp, nhện và cóc. Nếu phối hợp với các loại cỏ cây hoa lá lạ thì sẽ tạo ra loại rượu ngũ bảo hoa mật tửu, khi bị đầu độc thì hết thuốc chữa. Ngũ Độc Giáo có ba món bảo vật là Kim Xà Kiếm, Kim Xà Chùy và Tàng Bảo Đồ. Về sau 3 món bảo vật bị Hạ Tuyết Nghi dụ dỗ Hà Hồng Dược – công chúa của Ngũ Độc Giáo lấy cắp.

    Từ đó Ngũ Độc Giáo có môn quy kỳ lạ nhất, theo đó, Ngũ Độc Giáo chỉ truyền chức giáo chủ cho nữ. Ngày lên ngôi, giáo chủ phải chặt bỏ một tay sau đó lắp tay giả bằng móc sắt. Bàn tay này vừa có dụng ý nhắc nhở các giáo chủ câu chuyện năm xưa của Hà Hồng Dược, vừa có tác dụng giúp luyện độc. Trên cánh tay giả được tẩm thêm nhiều loại độc dược mà không ai có thuốc giải.

    Cả gia đình Hạ Tuyết Nghi bị Ôn Lão Lục của phái Ôn Gia giết hại. Hạ Tuyết Nghi may mắn sống sót trốn thoát và xâm nhập vào Ngũ Độc Giáo luyện tập bảo vật trấn bang của Ngũ Độc Giáo, nguồn gốc từ Tây Vực.

    Kim Xà Kiếm hình dạng rất khác biệt. Lưỡi kiếm không thẳng mà uốn lượn như hình con rắn. Mỗi khi xuất chiêu vận nội công, thanh kiếm sẽ chuyển sắc vàng, lưỡi kiếm từ một tách ra làm đôi, hệt như hình lưỡi rắn. Kim Xà Kiếm có sát khí rất nặng, chém sắt như chém bùn. Bị kiếm này đâm, chất độc xâm nhập toàn thân tê liệt.

    Hạ Tuyết Nghi nhờ thanh kiếm nầy đánh đâu thắng đó, nhưng cuối cùng bị Ôn Gia Phái hạ độc rồi vây khốn trong Ngũ hành trận. Mang mối thù không đội trời chung với Ôn Gia, Hạ Tuyết Nghi giết 50 người và làm nhục 10 phụ nữ khác trong gia đình họ Ôn. Tuy nhiên, sau khi bắt cóc được Ôn Nghi, ông bị vẻ đẹp bên trong của nàng cảm hóa. Tuy Hạ Tuyết Nghi võ nghệ cao thâm, nhiều lần bất phân thắng bại với Ôn Gia Ngũ Lão nhưng ông đã bị Ôn Gia Ngũ Lão đầu độc bằng Túy Tiên Mật trong bát canh hạt sen do Ôn Nghi đưa mà không biết có độc bên trong chén canh.

    Cuối cùng Hạ Tuyết Nghi bị bắt, bị cắt hết gân tay, gân chân, trở thành phế nhân, trốn trong một hang đá ở Hoa Sơn, dành những ngày cuối đời để mài giũa Kim xà kiếm pháp và phá giải Ngũ hành trận của Ôn Gia nhưng bất thành và ôm hận mà chết trong hang đá, không người chôn cất. Ác lai ác báo.

    * Tây Độc Âu Dương Phong

    Trong Võ Lâm Ngũ Bá (Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp) xuất hiện 5 nhân vật  bá chủ võ lâm là Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, Tây Độc Âu Dương Phong, Bắc Cái Hồng Thất Công, Đông Tà Hoàng Dược Sư và Nam Đế Đoàn Trí Hưng (sau nầy xuất gia là Nhất Đăng đại sư).

    Âu Dương Phong là chủ nhân núi Bạch Đà ở Tây Vực, nhân vật độc ác, nhiều mưu mô thủ đoạn, gian trá. Võ công rất cao, thường dùng một cây gậy có thả hai con rắn độc ở đầu làm vũ khí. Ngoài tuyệt kỹ của y là Cáp Mô Công, ông chế ra các loại thuộc độc không ai giải được, ông bị người trong giang hồ gọi là Lão Độc Vật.

    Âu Dương Phong người thô kệch, đầu đội khăn xanh như người Hồi, râu quai nón, da đen bóng, mắt to tròn. Sau lần Hoa Sơn luận kiếm thứ nhất, Âu Dương Phong được bầu vào Thiên hạ ngũ tuyệt, danh xưng là Tây Độc. Không có nhân vật nào địch nổi với Tây Độc.

    Khi thấy Vương Trùng Dương (giả chết) ốm nặng sắp qua đời, y liền tìm đến nhằm lấy cắp Cửu Âm Chân Kinh, không ngờ Vương Trùng Dương đã chuẩn bị trước, đánh y trọng thương. Âu Dương Phong đành chạy về Tây Vực dưỡng thương suốt mười năm mới tái xuất giang hồ.

    Âu Dương Phong và Dương Khang (con của Dương Thiết Tâm và Bao Tích Nhược nhận làm con nuôi) lên Đào Hoa đảo của Đông Tà và giết chết năm người trong nhóm Giang Nam Thất Quái, chỉ để lại một mình Kha Trấn Ác vốn bị mù để đổ tội cho Hoàng Dược Sư. Nhưng mưu kế này sau đó bị Hoàng Dung phát hiện. Tại Miếu Thiết Thương, Hoàng Dung thông qua lời kể của Cô Ngốc đã vạch tội Dương Khang giết Âu Dương Khắc (tuy gọi Âu Dương Phong là chú, nhưng chính là con ruột của Âu Dương Phong trong cuộc tình vụng trộm giữa Tây Độc và chị dâu mình sinh ra). Dương Khang sợ bị lộ chuyện nên định giết người diệt khẩu đánh một chưởng vào người Hoàng Dung, nhưng không ngờ lại trúng độc của Âu Dương Phong dính từ trước trên áo của Hoàng Dung. Âu Dương Phong đã bỏ mặc Dương Khang bị trúng độc chết mà không cứu.

    Nói về vũ khí đáng sợ thâm độc nhất của Âu Dương Phong là Xà Nhi với con rắn trong tay gã. Âu Dương Phong đã dày công nghiên cứu hàng chục năm, kết hợp vô số thứ rắn độc nhất thiên hạ vào trong con rắn này khiến độc dược của nó trở nên vô cùng khủng khiếp.

    Trúng loại độc này, nếu không được chính Âu Dương Phong giải thì chỉ có chết. Mà chết chưa phải là hết, sự đáng sợ của con Xà Vương này nằm ở chỗ nó biến nạn nhân của nó trở thành một nguồn độc lây bệnh mới. Bất cứ ai chạm vào cái xác đều sẽ bị nhiễm độc và chịu cái chết đau đớn.

    Khi lão thổi tiêu thì bầy rắn độc đột nhiên xuất hiện đến tấn công địch thủ vì vậy lão không ngán “nan địch quần hùng”.

    Có lần Âu Dương Phong và Chu Bá Thông rời Đào Hoa đảo. Chu Bá Thông thách Âu Dương Phong có thể giết hết cá mập trên biển. Âu Dương sai người bắt một con cá mập ở dưới biển lên, lấy nọc con rắn trên gậy đổ vào miệng, con cá chết ngay lập tức. Sau đó, con cá mập được thả xuống biển, các con cá khác lại ăn xác và cũng chết liền. Lần lượt, con sau ăn xác con trước, thế mà cuối cùng cả vùng biển xác cá mập nổi lên trắng xóa.

    Trong lần thâm nhập vào phủ vương gia nước Kim, Quách Tĩnh vô tình uống được máu của con bảo xà mà Lương Tử Ông đã nuôi 20 năm. Sau đó, không chỉ công lực được gia tăng Quách Tĩnh cũng không bị trúng bất kỳ loại độc rắn nào khác trong thiên hạ.

    Trên đảo Đào Hoa, Lão Ngoan Đồng (Chu Bá Thông, đệ tử của Vương Trùng Dương) với võ công tuyệt thế Cửu Âm Chân Kinh, Song Thủ Hỗ Bác làm cho Tây Độc ở thế bị động. Tây Độc dỡ thủ đoạn bá đạo cho mãng xà cắn, Lão Ngoan Đồng nhiễm độc toàn thân, Quách Tĩnh giúp ông hút chất độc ra ngoài nên bình an vô sự.

    Với dĩ độc trị độc, có vài nhân vật không sợ độc. Ngoài Quách Tĩnh có Du Thản Chi còn có tên gọi khác là Trang Tụ Hiền, xuất hiện trong Thiên Long Bát Bộ. Du Thản Chi si mê A Tử (A Tử, đệ tử của Đinh Xuân Thu). Quá si tình nên gã mê muội cam tâm tình nguyện phục thị A Tử và cho rằng đó là lý tưởng, là mục tiêu, là hoài bão của cuộc đời mình. Du Thản Chi chấp nhận tất cả thủ đoạn tàn độc của A Tử, dù là bị đau đớn, sỉ nhục, hành hạ và hủy hoại thân xác lẫn linh hồn chỉ với tâm niệm được yêu nàng, dù là mối tình câm, chỉ mong được gần nàng.

    A Tử cho người đem khuôn sắt nung chảy lên đầu Du Thản Chi, nỗi đau đớn tột cùng thế nhưng, trong cơm đau giày xé, tâm hồn gã vẫn hạnh phục và luôn hướng về A Tử mà không chút hối hận.

    A Tử lấy cắp Bích Ngọc Vương Đỉnh trốn về trung thổ mang đỉnh ngọc trong mình, phóng ngựa ra ngoài thành, Du Thản Chi chạy theo. Đến góc rừng vắng vẻ, A Tử xuống ngựa, đốt hương thơm bỏ vào trong đỉnh. Mùi hương quyến gọi loài độc trùng rắn, rết, nhện, bọ cạp… quanh đó kéo đến. Độc trùng theo mùi hương mò vào đỉnh ngọc. A Tử bắt Du Thản Chi thò tay vào đỉnh cho độc trùng hút máu tươi. Khi độc trùng no máu, bụng căng phồng, rời cánh tay Du Thản Chi rơi xuống, A Tử đập chết độc trùng, lấy máu xoa vào hai lòng bàn tay, luyện công.

    Trong một đêm bị nọc độc hành hạ khủng khiếp Du Thản Chi lăn lộn, quằn quại trên sàn đá. Tình cờ gã nhìn thấy hình vẽ trong một quyển sách mang theo. Hình vẽ người nằm trong tư thế giống như kiểu gã đang nằm. Trong lục phủ, ngũ tạng của người trong hình vẽ có một đường chỉ đỏ chạy qua những kinh mạch. Du Thản Chi hướng dẫn bằng tâm ý cơn ngứa trong người chàng theo đường chỉ đỏ ấy. Gã cảm thấy cơn ngứa hạ đi, dễ chịu. Từ đó mỗi đêm gã dùng cách đó để hoá giải… Vô tình gã đã học được phép luyện công theo Dịch Cân Kinh. Bí kíp Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm Tự bị đánh cắp, gã mang theo mà không ai biết. Gã vô tình luyện được bí kiếp nầy nên tích tụ một lượng độc tính âm hàn khủng khiếp. A Tử ngạc nhiên khi thấy Du Thản Chi bị loại độc trùng kịch độc như con Hàn Ngọc Băng Tầm cắn mà vẫn không chết.

    Với khả năng hộ thể từ Dịch Cân Kinh, Du Thản Chi tiếp tục hấp thụ nhiều loại dị độc khác, đặc biệt là độc từ con Thiên Sơn Băng Tằm. Mọi loại hàn độc đều không có tác dụng với Du Thản Chi. Với tính chí âm chí hàn từ con vật quý hiếm này, nội công của Du Thản Chi gia tăng vượt bậc, thậm chí chưởng pháp âm độc của Tinh Túc lão quái Đinh Xuân Thu cũng không thể xâm nhập cơ thể Du Thản Chi.

    Trương Vô Kỵ (con của Trương Thúy Sơn – chính phái  và Ân Tố Tố – tà giáo) trong Ỷ Thiên Đồ Long. Khi Triệu Mẫn (Triệu Minh) người Mông Cổ xâm nhập vào Trùng Nguyên gây chấn động giang hồ với Thập Hương Nhuyễn Cân Tán loại chất độc này không màu, không mùi, không vị, cho dù có dùng kim châm cũng không thể phát hiện. Người bị trúng độc thân thể tê liệt, hoàn toàn vô lực, không còn khả năng kháng cự. Loại độc dược này nguy hiểm hơn ở chỗ có thể dễ dàng phát tán trong không khí, pha vào nước uống hoặc đồ ăn, khiến người trúng độc thậm chí không biết lý do tại sao gặp họa và trúng độc lúc nào… chính vì vậy, rất nhiều bậc đại cao thủ võ lâm kinh nghiệm đầy mình, cảnh giác cơ trí hơn người, nhưng khi đối mặt với Thập Hương Nhuyễn Cân Tán của Triệu Mẫn cũng đành bó tay chịu trói, giao phó tính mạng cho nàng.

    Triệu Mẫn là người xinh đẹp, thông minh tài trí, mưu mẹo hơn người nhưng cũng không kém phần độc ác. Triệu Mẫn không chỉ bắt nhốt các môn phái, khiến cho võ lâm chao đảo, khiếp sợ và thù ghét, nàng còn suýt nữa là rạch khuôn mặt xinh đẹp của Chu Chỉ Nhược nếu không có Trương Vô Kỵ cứu.

    Vô Kỵ bị trúng độc được Thường Ngộ Xuân dẫn đến Hồ Điệp cốc để gặp thần y Hồ Thanh Ngưu chữa hàn độc trong người, nhờ vậy Vô Kỵ đã lĩnh hội toàn bộ y thuật của Hồ Thanh Ngưu và trở thành lang trung giỏi.

    Vô Kỵ bị cha con Chu Trường Linh lừa gạt, chàng tình cờ phát hiện ra âm mưu thâm độc này nên bỏ trốn rồi bị kẻ thù truy đuổi trên núi tuyết Côn Luân đã vô tình lạc vào một thung lũng, may mắn bò vào được sơn cốc thông qua một cái hang hẹp, mổ bụng cứu con vượn già và đã học được toàn bộ nội công Cửu Dương Chân Kinh (Cửu Dương Thần Công) nhờ đó đã thành công hóa giải hàn độc của Huyền Minh Thần Chưởng trong người và được miễn nhiễm độc dược.

    Khi luyện thành Cửu Dương Chân Kinh có được nội công hùng hậu vào loại bậc nhất trong thiên hạ. Cửu Dương Chân Kinh giúp người luyện hoán gân chuyển cốt, khiến cơ thể bách độc bất xâm. Sau này Vô Kỵ nhờ vào nội lực Cửu Dương Chân Kinh thâm hậu cùng tâm pháp nội công Càn Khôn Đại Na Di nên Vô Kỵ đã học được nhiều tuyệt kỹ võ công thượng thừa, trở thành cao thủ có võ công và nội lực tuyệt đỉnh.

    Trong Ỷ Thiên Kiếm Đồ Long Đao, Hân Thù Nhi luyện võ công Thiên Thù Tuyệt Hộ Thủ, lấy nọc độc của loài nhện độc để luyện công. Vì có nọc độc trong máu nên mặt và da thịt Hân Thù Nhi sần sùi, xanh đỏ dễ sợ. Vô Kỵ giải trừ chất độc và chỉ cho nàng cách khác để luyện võ công, Hân Thù Nhi trở lại xinh đẹp

    Trong tác phẩm Kim Dung chỉ đề cập đến độc dược trong tà phái sử dụng trong ám khí, đao, kiếm, rượu, phấn… và cả võ công nên thược loại bá đạo, vì vậy trong chính phái không sử dụng đến.

    * Dĩ Độc Trị Độc

    Trong tác phẩm của Kim Dung có 5 cao thủ vạn độc bất xâm.

    Quách Tĩnh

    Quách Tĩnh là một trong những tuyệt thế cao thủ xuất hiện chính trong 2 tác phẩm Thần Điêu Đại Hiệp và Thần Điêu Hiệp Lữ. Không chỉ võ công siêu phàm, khả năng kháng độc của Quách Tĩnh cũng ít ai sánh bằng.

    Trong lần thâm nhập vào phủ vương gia nước Kim, Quách Tĩnh vô tình uống được máu của con bảo xà mà Lương Tử Ông đã nuôi 20 năm. Sau đó, không chỉ công lực được gia tăng nhiều phần, mà Quách Tĩnh cũng không bị trúng bất kỳ loại độc rắn nào khác trong thiên hạ.

    Trên đảo Đào Hoa của Đông Tà Hoàng Dược Sư, Lão Ngoan Đồng bị mãng xà của Âu Dương Phong cắn, Quách Tĩnh đã giúp ông hút chất độc ra ngoài mà vẫn bình an vô sự.

    Trương Vô Kỵ

    Giáo chủ đời thứ 34 của Minh Giáo trong Ỷ Thiên Đồ Long nhờ cơ duyên luyện được tuyệt thế võ công như Cưu Dương Thần Công, Càn Không Đại Na Di, Thái Cực Thần Công. Đặc biệt, kể từ sau khi luyện được trọn vẹn Cửu Dương Thần Công, khả năng kháng độc của Trương Vô Kỵ càng được gia tăng mạnh mẽ, có khả năng kháng độc.

    Vô Kỵ khi bị trúng Huyền Minh thần chưởng của Huyền Minh nhị lão, Trương Vô Kỵ dù được Thái cực tôn sư Trương Tam Phong tìm mọi cách cứu chữa nhưng không thể nào bài trừ được chất độc trong người. Phải đến khi bị rơi xuống vực và vô tình luyện được Cửu Dương Thần Công lấy được trong bụng con bạch hầu, thì hàn độc của Huyền Minh thần chưởng mới tiêu tan.

    Du Thản Chi

    Trong quyển Thiên Long Bát Bộ, Du Thản Chi còn có tên gọi khác là Trang Tụ Hiền. Sau khi rời khỏi Tụ Hiền Trang và lưu lạc đến nước Liêu, cơ duyên kỳ ngộ đã giúp Du Thản chi luyện thành Dịch Cân Kinh. Với khả năng hộ thể từ Dịch Cân Kinh, Du Thản Chi tiếp tục hấp thụ nhiều loại dị độc khác, đặc biệt là độc từ con Thiên Sơn Băng tằm.

    Với tính chí âm chí hàn từ con vật quý hiếm này, nội công của Du Thản Chi gia tăng vượt bậc, thậm chí chưởng pháp âm độc của Tinh Túc lão quái Đinh Xuân Thu cũng không thể xâm nhập cơ thể Du Thản Chi. Du Thản Chi là nhân vật đặc biệt si tình, chấp nhận mọi khổ hình độc ác của A Tử coi như “thú đau thương”!

    Viên Thừa Chí

    Trong quyển Bích Huyết Kiếm, Viên Thừa Chí nhờ Chu Thiên Bằng Thiềm hút mọi loại độc trong cơ thể. Chu Băng Thiềm sẽ tự động hút chất độc ra ngoài. Ngay cả Hà Thiết Thủ, giáo chủ Ngũ Độc Giáo khi nhìn thấy Băng Thiềm cũng không khỏi ngưỡng mộ.

    Đoàn Dự

    Trong quyển Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự nhờ cơ duyên may mắn nên học được Bắc Minh Thần Công có thể hút công lực của người khác. Đoàn Dự sau khi vô tình ăn được Mãng Cổ Chu Cáp, một con cóc thần thoại được xưng là Vạn Độc Chi Vương, cơ thể Đoàn Dự cũng tự nhiên trở nên vạn độc bất xâm. Bất kỳ loại độc nào trong thiên hạ, dù có độc tính mạnh mẽ tới đâu cũng hoàn toàn vô dụng với Đoàn Dự.

    Trong các tác phẩm của Kim Dung, chính phái không luyện và sử dụng độc dược, chỉ có tà phái nhưng không khống chế võ lâm, đó là hậu ý của ông.

    Nhân Năm Thìn, Nói Về Rắn Trong Tác Phẩm Kim Dung chỉ đề cập tổng quát vài nhân vật, môn phái xuất hiện trong chốn võ lâm liên quan đến độc hại của loài rắn.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, 1/2024

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN: CHÚC MỪNG SINH NHẬT 80 NỮ SĨ LÊ NGUYỄN NGA

    Khánh Lan tường trình

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em vào xem video trên để theo dõi diễn tiến buổi chúc mừng sinh nhật Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga ngày 12 tháng 01, 2025 vừa qua.

    Trong bầu không khí thân mật và ấm cúng, buổi chúc mừng sinh nhật thứ 80 của Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga diễn tiến thật hoàn mỹ. Hiện diện trong bữa tiệc, Khánh Lan nhận thấy có sự tham dự của rất nhiều quý giáo sư, văn thi sĩ và các bạn bè gần xa cũng như các anh chị em trong gia đình Lê Nguyễn đều có mặt đầy đủ để mừng tuổi Mẹ và bà Ngoại.

    NVNT & TTG GIRLS: Minh Thư, Xuân Tạ, Lệ Hoa, Minh Khai, Minh Châu, Khánh Lan, Kiều My chào mừng quan khách

    Đại Gia Đình: Lê & Nguyễn

    Chương trình đươc soạn thảo thật thứ tự, mở đầu với những bản “Warm-up musics” của chị Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, anh Hùng Ngọc, anh Huỳnh Anh, anh Dương Viết Đang, v.v… Sau phần chào quốc kỳ, con gái Katherine Minh Thư và con rể Brian song ca nhạc phẩm God Bless The USA. Và tiếp theo đó là những bài thơ của Nữ Sĩ như Lá Rơi Bên Thềm, Giấc Mơ Xuân, Nắng Chiều Ngừng Trôi, phổ nhạc bởi Ca Nhạc Sĩ Lâm Dung và Nhạc Sĩ Tuấn Nguyễn được lần lượt trình diễn song song với những sáng tác của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn như Nắng Chiều và Cát Biển, v.v…

    Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga và con gái Katherine Minh Thư

    Trong phần chia sẻ tâm tình cùng Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga của các vị: GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, Ca Sĩ Thanh Mỹ, HS Hoàng Vinh, TS Đình Phương, NS Dương Hồng Anh, v.v… là những lời chúc tụng và kể lại kỷ niệm của những ngày tháng cũ.

    Cũng trong chương trình, Khánh Lan đã diễn ngâm một bài thơ Gió Đông Xuân, Thơ Lê Nguyễn Nga, viết vào mùa đông 2021 để kính tặng Nữ Sĩ nhân ngày kỷ niệm sinh nhật thứ 80 của bà. Kính chúc Nữ Sĩ luôn dồi dào sức khỏe và tiếp tục lan tỏa ngọn lửa nghệ thuật đến nhiều thế hệ mai sau.

    Hàng đứng: John Tạ, Thụy Lan, Susan Tạ, Khánh Lan, ông bà Tẩu Bùi. Hàng Ngồi: Phu Nhân họa sĩ Hoàng Vinh, NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga.

    Hàng đứng: CSVSQVB Đà Lạt Hoàng Đình Khuê, CSQHQ Tẩu Bùi và phu nhân, NV Nguyễn Quang, TS Đình Phương, NV Kiều My, CS Thụy Lan. Hàng Ngồi: NS Dương Hồng Anh, HS Hoàng Vinh, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga, GS Dương Ngọc Sum.

    Hôm ấy cũng là ngày giới thiệu tác phẩm mới nhất của Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga: TUYỂN TẬP THƠ NHẠC LÊ NGUYỄN NGA sẽ được ra mắt cộng đồng trong dịp Xuân Ất Tỵ. Đây là một tuyển tập kết hợp giữa âm nhạc vả thi ca, gồm gần 80 bản nhạc được trình bày dưới dạng video trên youtube và 75 bài thơ được thể hiện qua tranh thơ đầy nghệ thuật mà mỗi bức tranh là một câu chuyện, một khung cảnh gắn liền với những vần thơ sâu lắng, phản ảnh tình yêu và những kỷ niệm trong hành trinh thơ nhạc dưới dạng ebook. Tuyển tập thơ & nhạc sẽ được tác giả gởi đến quý bạn bè, thân hữu và quý vị yêu thơ như một món quà đặc biệt trong dịp xuân về.

    Mộng Thủy, HS Hoàng Vinh, GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga, TS của hội Văn Bút, NS Dương Hồng Anh, CS Thanh Mỹ.

    HAPPY BIRTHDAY TO YOU……HAPPY BIRTHDAY TO YOU…….AND MANY MORE……..

    KÍNH CHÚC NS LÊ NGUYỄN NGA TRƯỜNG TRƯỜNG THỌ

    VĂN NGHỆ…VĂN NGHỆ…

    Khánh Lan, Mùa Xuân Ất Tỵ 2025

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TS MAI THANH TRUYẾT

    Nói chuyện với Thiên nhiên

    Mai Thanh Truyết

    Qua cơn bão Yagi vừa qua với sức tàn phá kinh hoàng ở các tỉnh cực bắc của Việt Nam, với mức thiệt hại về nhân mạng và tài sản cá nhân nặng nề, cộng thêm nạn sạt lở, đất chuồi, lũ lụt … làm đảo lộn hệ sinh thái cả một vùng rộng lớn.

    Chúng ta nghĩ gì? Thiên nhiên có phải là nguyên nhân tạo ra những cơn bão, hạn hán, lũ lụt hay có sự góp tay của con người hay không?

    Từ những thắc mắc trên, câu hỏi được đặt ra là, thiên nhiên là sản phẩm của Thượng đế ban cho con người, và con người cần phải trân quý, bảo quản và gìn giữ như thế nào… Và câu chuyện trao đổi với Cô Trà My, VOA hôm nay sẽ xoay quanh đề tài “Trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên”.

    Trước hết, để trả lời câu hỏi “Thiên nhiên có phải là nguyên nhân chính tạo ra những cơn bão, hạn hán, lũ lụt hay có sự góp tay của con người hay không?” Xin thưa, thiên nhiên và con người đều có vai trò trong việc hình thành và làm trầm trọng thêm các hiện tượng thời tiết như bão, hạn hán và lũ lụt. Dưới đây là những nguyên nhân điển hình chứng minh thiên nhiên và con người đã và đang tương tác:

    • Thiên nhiên vớicác hiện tượng thời tiết như bão, hạn hán và lũ lụt chỉ là kết quả của các quy luật tự nhiên, như sự thay đổi nhiệt độ, áp suất không khí, và chu trình tuần hoàn nước. Sự biến đổi khí hậu tự nhiên theo thời gian cũng góp phần gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan. Cộng thêm sự tương tác giữa các yếu tố khí quyển như gió, mây và độ ẩm có thể tạo ra bão và mưa lớn.
    • Còn về con người, các sinh hoạt của con người, như đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng, đã làm gia tăng lượng khí nhà kính trong khí quyển, dẫn đến biến đổi khí hậu và làm tăng tần suất và cường độ các hiện tượng thời tiết cực đoan.Việc thay đổi xử dụng đất, chẳng hạn như đô thị hóa và nông nghiệp không bền vững, phủ lấp các trũng tự nhiên trong xây dựng, các hồ thiên nhiên nhằm điều tiết một lượng nước mưa quá tải trong một thời gian ngắn…; tất cả có thể làm giảm khả năng hấp thụ nước, dẫn đến lũ lụt hoặc hạn hán. Và việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên và phá hủy hệ sinh thái làm suy giảm khả năng tự phục hồi của môi trường, khiến thiên nhiên dễ bị tổn thương hơn trước các hiện tượng thời tiết cực đoan kể trên.

    Vì vậy, thiên nhiên có thể tạo ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhưng hoạt động của con người hiện đang làm trầm trọng thêm những hiện tượng này. Do đó, để giảm thiểu tác động tiêu cực, cần có sự kết hợp giữa hiểu biết về quy luật tự nhiên và quản lý bền vững từ phía con người.

    Khái niệm về thiên nhiên

    “Trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên” là một khái niệm chỉ việc bảo vệ, phục hồi và giữ gìn môi trường tự nhiên, để duy trì sự cân bằng và hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Các lý do quan trọng để trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên:

    1. Bảo vệ đa dạng sinh học: Thiên nhiên cung cấp môi trường sống cho hàng triệu loài động, thực vật. Việc trả lại thiên nhiên còn nguyên trạng là giúp duy trì sự đa dạng sinh học, bảo vệ các loài động thực vật khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
    2. Cân bằng hệ sinh thái: Các hệ sinh thái cần được giữ gìn để duy trì sự cân bằng tự nhiên, giúp các chuỗi thức ăn và vòng tuần hoàn tự nhiên hoạt động hiệu quả.
    3. Chống biến đổi khí hậu: Thiên nhiên giúp hấp thụ khí carbon dioxide. Khôi phục    rừng, đầm lầy và các hệ sinh thái tự nhiên có thể hấp thụ carbon dioxide do sinh hoạt của con người tạo ra, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
    4. Thiên nhiên có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sức khỏe con người thông qua nhiều cách khác nhau. Rừng và cây xanh giúp việc lọc không khí, giảm ô nhiễm và cung cấp oxy, từ đó cải thiện sức khỏe hô hấp.
    5. Các hệ sinh thái như sông, hồ và đầm lầy đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước sạch, cần thiết cho sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày. Thiên nhiên cung cấp các nguồn thực phẩm đa dạng, bao gồm rau quả, hạt, và động vật, cung cấp dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể. Và, thiên nhiên mang lại cảm giác thư giãn và giảm căng thẳng. Việc tiếp xúc với thiên nhiên có thể cải thiện tâm trạng và sức khỏe tinh thần. Các hoạt động ngoài trời như đi bộ, chạy, hoặc đạp xe trong môi trường tự nhiên không chỉ giúp rèn luyện thể lực mà còn tăng cường sức khỏe tổng thể. Và sau cùng, một số nghiên cứu cho thấy các hợp chất tự nhiên trong cây cối và đất có thể hỗ trợ hệ miễn dịch, giúp cơ thể chống lại bệnh tật.

    Tóm lại, thiên nhiên không chỉ là nguồn sống mà còn là yếu tố quan trọng trong việc duy trì và cải thiện sức khỏe con người.

    • Tôn trọng quyền của các thế hệ tương lai: Con người có trách nhiệm bảo vệ hành tinh mà chúng ta đang sống. Việc trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên thể hiện sự tôn trọng đối với môi trường và các sinh vật khác.  Bảo vệ thiên nhiên cho các thế hệ sau. Mỗi hành động nhỏ của chúng ta đều có thể góp phần bảo vệ thiên nhiên và tạo ra một tương lai bền vững.

    Thiên nhiên có tự bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên hay không hay cần phải có bàn tay con người giúp sức?

    Thiên nhiên có khả năng tự bảo vệ và phục hồi nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp, nhưng thông thường thì cần có sự can thiệp và quản lý của con người để bảo đảm sự bền vững. Dưới đây là một số điểm quan trọng:

    Thiên nhiên tự bảo vệ qua những “hành động thiên nhiên” như: – Nhiều hệ sinh thái có khả năng tự phục hồi sau các tác động như thiên tai. Ví dụ, rừng có thể phục hồi sau hỏa hoạn hoặc lũ lụt. – Các loài động thực vật trong tự nhiên duy trì mối quan hệ cân bằng, giúp kiểm soát quần thể sinh vật và bảo vệ môi trường. – Sự tuần hoàn của nước, carbon, và các chất dinh dưỡng được tái chế qua các chu trình tự nhiên, bảo đảm sự tồn tại của hệ sinh thái nguyên thủy.

    Tuy nhiên, con người cũng là tác nhân là suy giảm “sức khỏe” của thiên nhiên, cũng như giúp sức, tham dự, và can thiệp vào các sinh hoạt: – Hoạt động của con người như khai thác tài nguyên, đô thị hóa, và ô nhiễm có thể làm suy giảm hệ sinh thái. – Cần có các biện pháp bảo vệ và phục hồi để giữ cho thiên nhiên khỏe mạnh. – Con người cần áp dụng các phương pháp quản lý bền vững cho tài nguyên thiên nhiên, như bảo tồn rừng, quản lý nguồn nước, và nông nghiệp hữu cơ. – Con người cũng cần tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên sẽ giúp cộng đồng hành động tích cực hơn.

    Tóm lại, thiên nhiên có khả năng tự bảo vệ, nhưng sự can thiệp và quản lý của con người là rất cần thiết để bảo đảm sự bền vững và phục hồi tài nguyên thiên nhiên.

    Việc dân tộc Viking xuôi Nam vào cuối thế kỷ thứ 8 phải chăng là do sự biến đổi tuần hoàn của khí hậu từ chu kỳ ấm qua chu ky lạnh khiến họ phải xuôi Nam tìm nguồn sống?

    Việc dân tộc Viking xuôi nam vào cuối thế kỷ thứ 8 không chỉ là kết quả của sự biến đổi khí hậu, mà còn do nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, khí hậu là một yếu tố quan trọng trong bối cảnh lịch sử này.

    1. Do biến đổi khí hậu: Trước khi họ di cư, khu vực Bắc Âu trải qua một thời kỳ ấm hơn, cho phép nông nghiệp và chăn nuôi phát triển. Đến cuối thế kỷ thứ 8 và đầu thế kỷ thứ 9, nhiệt độ bầu khí quyển bắt đầu hạ thấp, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và khiến cuộc sống trở nên khó khăn hơn.

    2. Tìm kiếm nguồn sống: Sự thay đổi khí hậu từ một chu kỳ ấm qua một chu kỳ lạnh,  có thể đã thúc đẩy người Viking tìm kiếm vùng đất mới để khai thác tài nguyên và nguồn sống, dẫn đến các cuộc xâm lược và định cư tại các khu vực như Anh, Ireland và các vùng khác của châu Âu như Ukraina và Nga.

    Việc dân tộc Viking xuôi nam vào cuối thế kỷ thứ 8 là một quá trình phức tạp, có sự tác động của biến đổi khí hậu, nhưng cũng bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế, chính trị và tinh thần khám phá. Sự kết hợp của những yếu tố này đã dẫn đến những cuộc di cư và xâm lược nổi tiếng của họ trong suốt một thời gian dài…

    Có lẽ chúng ta cũng cần đem yếu tố di cư của dân tộc Viking từ cuối thế kỷ thứ 8, cũng như thời tiết bắt đầu nóng lên vào cuối thế kỷ 20 là những yếu tố nhằm giảm thích sự biến đổi khí hậu. Phải chăng thiên nhiên và sự thay đổi khí hậu chỉ là một chu kỳ tuần hoàn của trái đất: Chu kỳ ấm và chu kỳ lạnh và mỗi chu kỳ kéo dài khoảng 12 thế kỷ. Khoa học hiện đại chỉ có khả năng ghi nhận khoảng hàng trăm năm những sự thay đổi của quả đất, vì vậy không đủ dữ kiện để thiết lập một mô hình toán cho tương lai hàng trăm năm được. Thành thử, việc trái đất “nóng lên” đưa đến những hệ quả nguy hiểm cho con người vào thời điểm năm 2100 cũng chỉ là giả thuyết mà thôi.  

    Rốt cuộc rồi… trước thách thức của biến đổi khí hậu, “trở về với thiên nhiên” vẫn là một khái niệm then chốt. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái, kêu gọi mọi người tôn trọng các quy luật của thiên nhiên và giảm thiểu thiệt hại của con người đối với môi trường. Đây không chỉ là bảo vệ hệ sinh thái hiện tại mà còn là trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Phát triển bền vững có nghĩa là cân bằng nhu cầu của con người với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, cho phép thiên nhiên tự phục hồi và duy trì sự cân bằng hệ sinh thái của trái đất ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hóa của thế giới.

    Mai Thanh Truyết, 23//9/2024

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TS MAI THANH TRUYẾT

    Trị liệu pháp logo: Sáng tạo một nền văn hóa có mục đích-Logotherapy: Creating a culture of purpose

    Mai Thanh Truyết

    Mọi thứ đều có thể bị lấy đi khỏi một người đàn ông ngoại trừ một thứ: quyền tự do cuối cùng của con người, quyền lựa chọn thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào” – Viktor Frankl

    Everything can be taken from a man but one thing: the last of the human freedoms to choose one’s attitude in any given set of circumstances” – Viktor Frankl

    Logotherapy dịch sang tiếng Việt là “Trị liệu pháp ý nghĩa” hoặc “Trị liệu pháp tìm kiếm ý nghĩa”. Đây là một phương pháp trị liệu tâm lý được Viktor Frankl phát triển, tập trung vào việc giúp cá nhân tìm kiếm và xác định ý nghĩa trong cuộc sống của họ, đặc biệt khi họ đối mặt với đau khổ, khủng hoảng, hoặc thử thách.

    “Logotherapy” xuất phát từ từ Hy Lạp “logos,” có nghĩa là “ý nghĩa” hoặc “mục đích,” và “therapy,” có nghĩa là “trị liệu” hoặc “chữa trị.” Do đó, “Liệu pháp ý nghĩa” phản ánh mục tiêu chính của phương pháp này là giúp con người khám phá và kết nối với những yếu tố ý nghĩa và giá trị trong cuộc sống của họ.

    • Bằng cách tạo ra một tác phẩm hoặc làm một việc gì đó;
    • Bằng cách trải nghiệm điều gì đó hoặc gặp gỡ ai đó;
    • Và bằng thái độ chúng ta dành cho nỗi đau khổ không thể tránh khỏi (unavoidable suffering).

    Do đó, liệu pháp Logotherapy “ý chí hướng đến ý nghĩa – the will to meaning” rất phù hợp và có ý nghĩa trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

    1. Logotherapy là gì?

    Do đó, mục tiêu của logotherapy là giúp người bệnh tìm ra ý nghĩa và mục đích cá nhân của họ, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn.

    Logotherapy có ba nguyên tắc chính:

    1. Tìm kiếm ý nghĩa: Theo Viktor Frankl, mỗi người có nhu cầu tìm kiếm một mục đích và ý nghĩa trong cuộc sống của mình. Việc này không chỉ giúp con người cảm thấy cuộc sống có giá trị mà còn cung cấp động lực trong những thời điểm khó khăn. Mỗi người có thể tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống của mình qua các trải nghiệm, mục tiêu và giá trị cá nhân.
    2. Tự do và trách nhiệm: Con người có quyền tự do và trách nhiệm trong việc lựa chọn cách họ phản ứng với hoàn cảnh và tìm kiếm ý nghĩa trong đó. Sự tự do này cho phép họ định hình cuộc sống của mình theo cách phù hợp với giá trị và mục tiêu cá nhân.
    3. Khả năng vượt qua đau khổ: Ngay cả khi đối mặt với đau khổ, người ta vẫn có thể tìm thấy ý nghĩa trong những trải nghiệm đó. Việc chấp nhận và hiểu rằng đau khổ có thể là một phần của cuộc sống có thể giúp tăng cường sự chịu đựng và phát triển cá nhân.

    Logotherapy đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, từ trị liệu tâm lý đến tư vấn nghề nghiệp và phát triển cá nhân.

    • Cách tiếp cận Logotherapy
    • Bước 1: Suy ngẫm về lý do cốt lõi khi bước vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Bằng cách xem lại động lực ban đầu (ví dụ: mong muốn giúp đỡ người khác, tạo ra sự khác biệt hoặc mang lại sự an ủi), cá nhân có thể kết nối lại với các khía cạnh có ý nghĩa của vai trò của mình.
    • Bước 2: Xác định những khoảnh khắc có ý nghĩa trong các nhiệm vụ hàng ngày. Ví dụ, nhận ra rằng hành động của họ đóng góp vào sự hồi phục của bệnh nhân hoặc mang lại sự thoải mái trong những thời điểm khó khăn có thể giúp thay đổi công việc của họ thành một nỗ lực ý nghĩa hơn là chỉ là một nguồn căng thẳng.
    • Bước 3: Khám phá những con đường mới để hoàn thiện bản thân. Điều này có thể bao gồm đặt ra những mục tiêu nghề nghiệp mới, chẳng hạn như nâng cao kiến thức trong một lĩnh vực y tế cụ thể hoặc tình nguyện cho các sáng kiến sức khỏe cộng đồng, củng cố cảm giác về mục đích và phương hướng.
    • Trong đời sống logotherapy giúp con người vượt qua những bất ổn tâm lý như thế nào?

    Cách áp dụng liệu pháp logotherapy vào cuộc sống hàng ngày

    1. Tạo ra thứ gì đó.

    2. Xây dựng các mối quan hệ.

    3. Tìm mục đích trong nỗi đau.

    4. Hiểu và chấp nhận rằng cuộc sống là bất công.

    5. Nắm bắt sự tự do để tìm kiếm ý nghĩa.

    6. Tập trung vào người khác.

    7. Chấp nhận điều tồi tệ nhất.

    Logotherapy tập trung vào việc tìm kiếm và khôi phục ý nghĩa trong cuộc sống, đặc biệt trong các hoàn cảnh khó khăn hoặc khủng hoảng. Từ việc truy tìm ý nghĩa căn bản của cuộc sống, từ đó suy nghiệm ra cung cách thực hành logotherapy. Logotherapy còn có thể giúp con người vượt qua các bất ổn tâm lý bằng cách tập trung vào việc tìm kiếm và khôi phục ý nghĩa trong cuộc sống.

    Trong đời sống, luôn có khoảng trống hiện sinh. Đây chính là trạng thái trống rỗng bên trong và thiếu mục đích, thường biểu hiện qua sự buồn chán, thờ ơ hoặc cảm giác vô nghĩa. Khi con người không thể tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống, họ có thể trải qua “rối loạn tâm lý – mental disorder,” đặc trưng bởi cảm giác vô nghĩa, dẫn đến các vấn đề tâm lý như trầm cảm, nghiện ngập hoặc lo âu.

    Với trọng tâm là tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống, Logotherapy có thể hỗ trợ trong quá trình điều trị trầm cảm, nhưng không nên xem nó như là một phương pháp duy nhất hoặc thay thế cho các phương pháp điều trị khác. Đặc biệt trong trường hợp trầm cảm nghiêm trọng, việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ chuyên gia tâm lý học hoặc bác sĩ là cực kỳ quan trọng. Dưới đây là cách bạn có thể áp dụng logotherapy như một phần trong quá trình điều trị trầm cảm:cũng như việc hỗ trợ trong việc giải quyết và vượt qua các bất ổn tâm lý:

    Trong trường hợp trầm cảm nặng hoặc kéo dài, logotherapy nên được xử dụng như một phần trong kế hoạch điều trị tổng thể, bao gồm tư vấn từ các chuyên gia tâm lý học, bác sĩ tâm thần, hoặc các phương pháp điều trị khác như thuốc hoặc liệu pháp tâm lý khác. Trầm cảm là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng và cần được điều trị toàn diện và chuyên nghiệp.

    • Trị liệu pháp logotherapy có gì gây tranh cãi?

    Ngày nay, liệu pháp logotherapy được Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ và Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ công nhận là một trong những trường phái trị liệu tâm lý có cơ sở khoa học.

    Rollo May, một nhà phê bình trị liệu pháp logotherapy, tin rằng phương pháp nầy mang tính độc đoán và không cho phép cá nhân khám phá ý nghĩa. Những người khác chỉ trích tính tôn giáo của liệu pháp logotherapy, cho rằng nó chịu ảnh hưởng của tôn giáo Do Thái của Frankl.

    Các nguyên tắc cốt lõi của trị liệu pháp logotherapy như sau:”Mỗi người là một con người độc nhất và không thể thay thế, sự tồn tại của họ là điều đặc trưng bởi sự tự do lựa chọn, trách nhiệm cá nhân và tinh thần nhân văn.”

    Yếu tố chính là, mỗi người đều có quan điểm riêng, bạn có quan điểm của bạn, họ có quan điểm của họ. Và nếu chúng ta phân tích cả hai quan điểm này, thì mỗi quan điểm đều có vẻ hợp lệ và hợp lý như nhau. Do đó, mục tiêu là không để cuộc chiến trở thành cuộc chiến về quan điểm. Trên thực tế, mục tiêu của chúng ta là tham gia vào một cuộc thảo luận và hiểu được người kia cảm thấy bạn đã làm họ thất vọng ở đâu và tự kiểm tra xem bạn có thể hoàn thành những gì họ mong đợi ở bạn trong một tình huống nhất định hay không.

    Người ta có thể nói rằng mỗi khoảnh khắc quyết định quỹ đạo cuộc sống của chúng ta, nhưng trị liệu pháp Logotherapy sẽ nói rằng, cách chúng ta phản ứng với từng khoảnh khắc trong cuộc sống sẽ quyết định cách nó diễn ra. Thật khó để sống với nhận thức này vì thông thường, chúng ta đang ở chế độ “lái tự động” và chúng ta cần ở chế độ đó để thích nghi với cuộc sống.

    Trị liệu pháp logotherapy nhấn mạnh rằng có một thứ gì đó vượt ra ngoài con người, đó là sự sống. Nếu con người chọn cách vượt qua và thừa nhận sự hiện diện của một thứ gì đó vượt ra ngoài họ, con người sẽ có một cuộc sống có ý nghĩa.

    • Kết luận

    Cuộc sống vốn đã bất toàn. Đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống không phải là một chuyện làm dễ dàng, nhứt là trong những lúc tâm trạng bất an, rối bời vì chính cuộc sống mang lại.Làm sao mà hiểu được cái Đẹp trong sự bất toàn trong tinh thần Wabi-sabi của Nhựt? Người viết chỉ nhìn thấy được “cái đẹp” nầy trong vòng 10 năm trở lại đây thôi, nghĩa là tâm thức đã “mù lòa” trong suốt một chặng đường dài trong cuộc sống.

    Người viết trong một mãn thời gian thật dài ước chừng khoảng trên dưới 60 năm, đã từng “cứng ngắt” với quan điểm về người “đàn ông” của chính mình, đã từng “cứng rắn” huấn luyện con khi còn rất nhỏ:”Là con trai, không bao giờ để lộ tình cảm của mình trước người khác, không cho ai thấy giọt nước mắt của mình cả, nhứt là trước một người con gái”. Với tinh thần đó, cuộc sống đã quá … khô cằn trong một thời gian … dài!.

    Người viết đã từng để lỡ một mái gia đình êm ấm hạnh phúc. Tất cả cũng chỉ vì cái ngã của bản thân. Đã từng từ chối bước xuống tàu trong cơn can qua của đất nước vì muốn đứng trên bàn chân của mình, không lệ thuộc vào người khác, cho dù quyết định trên đã đánh đổi trên 7 năm sống dưới chế độ csBV.

    Người viết đã từng “không chịu” quay đầu về núi, khuất phục VC theo lịnh của một người”!

    Người viết, với quan niệm không bao giờ “looking back” mà chỉ biết “go forward”, nhưng hôm nay, nhìn lại chính mình khi suy nghĩ về… ý nghĩa đích thực của cuộc sống?

    Không có gì mâu thuẫn cả, tất cả chỉ là một tiến trình chuyển hóa của con người theo thời gian mà thôi. Cái tôi, cái ngã, cái “đã từng chạy theo hào quang hào nhoáng” rồi cũng phải nhường chỗ cho bản năng tích thiện trong mỗi con người.

    Hôm nay, nhân chia xẻ về việc tìm hiểu và “truy tìm” ý nghĩa của cuộc sống đích thực, đây cũng là lần đầu tiên, với tuổi trên 80, người viết một lần… nhìn lại bản thân.

    Tóm lại, nhìn lại bản thân, tức là đã áp dụng những lới khuyên qua logotherapy dưới đây:

    1. Tìm hiểu về ý nghĩa cá nhân;
    2. Chấp nhận sự đau khổ;
    3. Tập trung vào sự tự do lựa chọn;
    4. Tạo giá trị qua hành động và quan hệ;
    5. Khám phá các tài liệu của Viktor Frankl.

    Đọc các tác phẩm của Viktor Frankl, đặc biệt là cuốn “Man’s Search for Meaning” (Tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời), có thể giúp bạn hiểu sâu hơn về logotherapy và cách áp dụng nó trong cuộc sống hàng ngày.

    Điểm mạnh của Logotherapy nằm ở việc tập trung vào ý nghĩa, điều này giúp cá nhân nhìn xa hơn những khó khăn hiện tại và chấp nhận giá trị nội tại của sự tồn tại của họ. Bằng cách tìm kiếm mục đích trong cuộc sống, con người có thể vượt qua đau khổ, nuôi dưỡng sức mạnh bên trong và đạt được sự bình an trong tâm hồn. Dù là qua công việc, các mối quan hệ hay vượt qua nghịch cảnh cá nhân, logotherapy cung cấp một lộ trình để điều hướng những thách thức của cuộc sống bằng cách làm nổi bật sức mạnh biến đổi của ý nghĩa.

    Theo lời của Nietzsche, “Người có lý do để sống có thể chịu đựng hầu như bất kỳ hoàn cảnh nào” – “He who has a why to live for can bear almost any how”. Trong Man’s Search for Meaning, Viktor Frankl kể lại những trải nghiệm của mình trong các trại tập trung khác nhau của Đức Quốc xã để giải thích về khám phá của ông về liệu pháp logotherapy. Những lời của Nietzsche cho thấy giọng điệu mà Frankl xử dụng khi giải thích khái niệm trị liệu pháp logotherapy vì nó tóm tắt các trụ cột mà phương pháp nầy dựa trên trong một câu. Frankl định nghĩa trị liệu pháp logotherapy là một khái niệm tâm lý nhằm mục đích trao cho bệnh nhân khả năng nhìn thấy ý nghĩa trong cuộc sống của họ thay vì áp đặt một câu trả lời chắc chắn cho cuộc tìm kiếm của bệnh nhân trong cuộc sống. (Frankl defines logotherapy as a psychological concept that aims to confer the patient the ability to see meaning in their lives rather than imposing a definitive answer to the patient’s quest in life.)

    Hy vọng những lời góp nhặt cát đá trên sẽ giúp bạn tiếp cận logotherapy một cách hiệu quả và tìm thấy sự bình yên cũng như ý nghĩa trong cuộc sống của chính mình.

    Mai Thanh Truyết, Houston, 14/9/2024

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    NVNT & TTG’S CHRISTMAS 2024

    NVNT & TTG KÍNH CHÚC QUÝ GIÁO SƯ, VĂN THI SĨ VÀ CÁC ANH CHỊ EM MỘT MỦA GIÁNG SINH ANH LÀNH VÀ HẠNH PHÚC

    Từ trái qua phải: Viết Đang, Kiều My, Khắc Đức, Tuyết Nga, Anh Chị Kính, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Gia Đại, Thầy Sum, Chị Nga, Việt Hải, Lệ Hoa, Minh Thư

    NV Thùy Nhơn, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga, GS Dương Ngọc Sum, HS Hoàng Vinh & Phu Nhân

    Khánh Lan, Lệ Hoa, Đức Học, Tuyết Nga, Kiều My, Cô Hoa, Minh Khai, Lâm Dung, Kim Hương, Minh Thư

    Khánh Lan

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TS MAI THANH TRUYẾT

    SỰ HOÀI NGHI-MERCHANTS OF DOUBT

    Mai Thanh Truyết, Houston

    Lời người viết: Vừa qua, Elon Musk có nêu tên 6 cuốn sách và khuyên mọi người cần đọc để tìm hiểu thêm về thế giới. Người viết lưu ý đến cuốn Merchants of doubt của Naomi Oreskes, Giáo sư Harvard nghiên cứu về sự liên kết khoa học giữa trái đất và môi trường. Xin mạo muội chia xẻ cùng người đọc vài suy nghĩ cá nhân lẫn “góp nhặt cát đá” trên mạng toàn cầu.

    1. Về tác giả Naomi Oreskes

    Naomi Oreskes, Giáo sư Liên kết Khoa học Trái đất và Hành tinh – Affiliated Professor of Earth and Planetary Sciences tại Đại học Harvard. Các lĩnh vực nghiên cứu chính:

    -Agnotology (Thuyết vô thần (?));

    – Kinh tế chính trị của Kiến thức khoa học;

    – Lịch sử và Triết học của Khoa học Trái đất và Môi trường,

    – Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ (STS);

    – Lịch sử của Thông tin sai lệch về Biến đổi khí hậu.

    Các lĩnh vực quan tâm thứ cấp: Chính sách khoa học, Khoa học và Tôn giáo, Nghiên cứu về Phụ nữ và Giới tinh. Là một nhà khoa học về Trái đất, nhà sử học và diễn giả nổi tiếng thế giới, bà là tác giả của cuốn sách bán chạy nhất, Merchants of Doubt (2010) và là tiếng nói hàng đầu về vai trò của khoa học trong xã hội, thực tế về biến đổi khí hậu do con người gây ra và vai trò của thông tin sai lệch trong việc ngăn chặn hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Naomi Oreskes | Department of the History of Science, Harvard UniversityOreskes là tác giả hoặc đồng tác giả của 9 cuốn sách và hơn 150 bài báo, tiểu luận và bài bình luận, bao gồm Merchants of Doubt (Bloomsbury, 2010), The Collapse of Western Civilization (Nhà xuất bản Đại học Columbia, 2014), Discerning Experts (Nhà xuất bản Đại học Chicago, 2019), Why Trust Science? (Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2019) và Science on a Mission: American Oceanography from the Cold War to Climate Change (Nhà xuất bản Đại học Chicago, 2021). Merchants of Doubt, đồng tác giả với Erik Conway, là chủ đề của một bộ phim tài liệu cùng tên do đơn vị tham gia Media sản xuất và được SONY Pictures Classics phân phối, và đã được dịch sang chín thứ tiếng. Một phiên bản mới của Merchants of Doubt, với lời giới thiệu của Al Gore, đã được xuất bản vào năm 2020.

    Oreskes đã viết Lời giới thiệu cho ấn bản Melville House của Thông điệp của Giáo hoàng về Biến đổi khí hậu và Bất bình đẳng, Laudato Si, và các bài tiểu luận và bài bình luận của bà về biến đổi khí hậu đã xuất hiện trên các tờ báo hàng đầu trên toàn cầu, bao gồm The New York Times, The Washington Post, The Los Angeles Times, The Times (London) và Frankfurter Allgemeine. Nhiều giải thưởng và giải thưởng của bà bao gồm Giải thưởng Mary C. Rabbitt của Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ năm 2019, Giải thưởng Stephen Schneider năm 2016 cho Truyền thông Khoa học Khí hậu xuất sắc, Giải thưởng Dịch vụ Công cộng năm 2015 của Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ, Giải thưởng Herbert Feis năm 2015 của Hiệp hội Lịch sử Hoa Kỳ cho những đóng góp của bà cho lịch sử công cộng và Giải thưởng Trích dẫn của Tổng thống Liên minh Địa vật lý Hoa Kỳ năm 2014 cho Khoa học và Xã hội. Bà là thành viên của Liên đoàn Địa vật lý Hoa Kỳ, Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ, Hiệp hội vì sự tiến bộ của Khoa học Hoa Kỳ, Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Hoa Kỳ và Hiệp hội Triết học Hoa Kỳ. Năm 2018, bà được vinh danh là Học giả Guggenheim và năm 2019, bà được trao tặng Huy chương Viện Hàn lâm Anh.

    Cuốn sách mới của bà, cùng với Erik Conway, là The Big Myth: How American Business Taught Us to Loathe Government and Love the Free Market, do Bloomsbury Press xuất bản.

    Merchants of Doubt của Naomi Oreskes và Erik M. Conway khám phá cách một nhóm nhỏ các nhà khoa học và chuyên gia, nhiều người trong số họ có liên quan đến ngành công nghiệp thuốc lá, đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự nhầm lẫn và hoài nghi của công chúng xung quanh sự đồng thuận khoa học về một số vấn đề, bao gồm hút thuốc lá, mưa axit, suy giảm tầng ôzôn và biến đổi khí hậu. Cuốn sách nêu bật cách những cá nhân này, thường được các nhóm trong ngành hỗ trợ tài chính, cố tình gieo rắc sự nghi ngờ về các sự kiện khoa học đã được xác lập để bảo vệ lợi ích của công ty.

    • The Havre de Grace Green Team Environmental Film Series: "Merchants of Doubt"  | Havre De Grace MD EventsNội dung cuốn sách:

    Cuốn sách “Merchants of Doubt, tạm dịch: “Thương nhân của sự hoài nghi” của tác giả Naomi Oreskes và Erik M. Conway đã vạch trần chiến dịch tuyên truyền và bóp méo thông tin khoa học của các công ty và tổ chức có lợi ích liên quan đến các vấn đề môi trường và sức khỏe công cộng. Nội dung chính của cuốn sách bao gồm:

    • Chiến dịch chống lại khoa học về biến đổi khí hậu: Các tác giả chỉ ra cách các công ty như ExxonMobil và các tổ chức như Viện Hoover đã tài trợ cho các nghiên cứu và tuyên truyền nhằm tạo ra sự hoài nghi về khoa học biến đổi khí hậu.
    • Chiến dịch chống lại khoa học về tác hại của thuốc lá: Các tác giả chỉ ra cách các công ty thuốc lá đã tài trợ cho các nghiên cứu và tuyên truyền nhằm tạo ra sự hoài nghi về khoa học về tác hại của thuốc lá.
    • Chiến dịch chống lại khoa học về ô nhiễm không khí: Các tác giả chỉ ra cách các công ty và tổ chức đã tài trợ cho các nghiên cứu và tuyên truyền nhằm tạo ra sự hoài nghi về khoa học về ô nhiễm không khí.
    • Vai trò của các “thương nhân của sự hoài nghi”: Các tác giả chỉ ra cách các nhà khoa học và các chuyên gia đã được thuê để tạo ra sự hoài nghi về khoa học và tuyên truyền cho các lợi ích của các công ty và tổ chức. Cuốn sách “Merchants of Doubt” đã nhận được nhiều đánh giá tích cực và đã được coi là một trong những cuốn sách quan trọng nhất về khoa học và chính trị trong những năm gần đây.

    Sau đây là những ý chính tác giả muốn trang trải:

    • Vai trò của các nhà khoa học trong các chiến dịch phủ nhận

    Luận điểm chính của cuốn sách là một nhóm các nhà khoa học có ảnh hưởng, thường được các tập đoàn tài trợ, đã sử dụng các chứng chỉ khoa học (scientific credentials) của họ để gieo rắc sự nghi ngờ về những phát hiện khoa học đã được xác lập. Những cá nhân này có thể tác động đến dư luận và chính sách của công chúng bằng cách đưa ra những tranh cãi khoa học ở những nơi không tồn tại. Họ thực sự hành động như những “thương nhân của sự nghi ngờ” để gây nhầm lẫn cho công chúng và các nhà hoạch định chính sách.

    2.2- Ảnh hưởng của ngành công nghiệp thuốc lá đến khoa học sức khỏe cộng đồng

    Hai tác giả khám phá cách ngành công nghiệp thuốc lá tiên phong trong các chiến thuật này để làm suy yếu sự đồng thuận khoa học liên kết hút thuốc với ung thư và các vấn đề sức khỏe khác. Bằng cách thuê các nhà khoa học để công khai đặt câu hỏi về bằng chứng, ngành công nghiệp thuốc lá đã trì hoãn thành công việc quản lý trong nhiều thập kỷ, mặc dù có bằng chứng khoa học áp đảo về mối nguy hiểm của việc hút thuốc.

    •  Lợi dụng lòng tin của công chúng vào khoa học

    Những “thương nhân của sự nghi ngờ” đã lợi dụng lòng tin của công chúng vào khoa học, sử dụng các chứng chỉ học thuật và kiến ​​thức về phương pháp khoa học của họ để khiến những nghi ngờ về sự đồng thuận khoa học có vẻ hợp lý. Họ sử dụng các chiến lược như chọn lọc dữ liệu, nhấn mạnh vào sự không chắc chắn và thúc đẩy ý tưởng rằng các vấn đề khoa học “vẫn còn để tranh luận”, ngay cả khi phần lớn cộng đồng khoa học đã đạt được sự đồng thuận.

    •  Mở rộng sự nghi ngờ sang các vấn đề khác

    Sau thành công trong vụ thuốc lá, các nhà khoa học này đã mở rộng nỗ lực của mình sang các vấn đề khác về môi trường và sức khỏe cộng đồng, bao gồm:

    • Mưa axit: Họ hạ thấp mối liên hệ giữa ô nhiễm không khí và mưa axit, đặt câu hỏi về bằng chứng khoa học và lập luận rằng vấn đề này đã bị cường điệu hóa (overstated).

    • Suy giảm tầng ôzôn: Các chiến lược tương tự đã được sử dụng để gieo rắc sự nghi ngờ về tác động của CFC (chlorofluorocarbon) lên tầng ôzôn, mặc dù khoa học ngày càng đồng thuận rằng CFC đang gây ra sự suy giảm tầng ôzôn.

    • Biến đổi khí hậu: Cuốn sách cũng nêu bật cách những cá nhân này, hoặc đồng minh của họ, sau đó đã tham gia vào việc gieo rắc sự nghi ngờ về sự đồng thuận khoa học về biến đổi khí hậu. Họ đã sử dụng các chiến thuật tương tự để đặt câu hỏi về bằng chứng về sự nóng lên toàn cầu do con người gây ra, thường coi đó là không chắc chắn hoặc phóng đại.

    • Động cơ chính trị và ý thức hệ

    Hai tác giả lập luận rằng nhiều “thương nhân nghi ngờ” này được thúc đẩy bởi một ý thức hệ chính trị phản đối quy định của chính phủ và tìm cách bảo vệ các nguyên tắc thị trường tự do. Họ thường liên kết với các nhóm nghiên cứu bảo thủ và các nhóm chính trị phản đối sự can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh doanh. Trong nhiều trường hợp, các chiến dịch phủ nhận của họ không chỉ liên quan đến khoa học mà còn liên quan đến việc bảo vệ một chương trình nghị sự chính trị và kinh tế cụ thể.

    •  Mối nguy hiểm của thông tin sai lệch

    Oreskes và Conway nhấn mạnh rằng việc truyền bá sự nghi ngờ và thông tin sai lệch đã gây ra hậu quả thực tế. Bằng cách làm suy yếu lòng tin của công chúng vào khoa học, các chiến dịch này đã trì hoãn hành động chính sách cần thiết về các vấn đề môi trường, bao gồm quy định về thuốc lá, kiểm soát ô nhiễm và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Điều này đã gây hại cho sức khỏe cộng đồng và môi trường và làm chậm trễ các nỗ lực giải quyết các thách thức toàn cầu cấp bách.

    • Hậu quả lâu dài của sự nghi ngờ

    Cuốn sách thảo luận về cách những nỗ lực của những thương nhân nghi ngờ này đã gây ra những tác động lâu dài như thế nào đối với chính sách công và truyền thông khoa học. Nó chỉ ra rằng các chiến thuật mà họ sử dụng vẫn tiếp tục được các nhóm công nghiệp và nhóm lợi ích sử dụng ngày nay, đặc biệt là trong cuộc tranh luận về biến đổi khí hậu, nơi các chiến lược tương tự vẫn được sử dụng để ngăn chặn các hành động có ý nghĩa.

    Tóm lại, Merchants of Doubt tiết lộ cách một nhóm cá nhân nhỏ nhưng có quyền lực, được hỗ trợ bởi các lợi ích của công ty, đã có hệ thống đánh lừa công chúng về các vấn đề khoa học để bảo vệ lợi ích kinh doanh. Cuốn sách đóng vai trò:

    • Như một câu chuyện cảnh báo về những nguy cơ của việc thao túng khoa học và dư luận, thúc giục độc giả chỉ trích các chiến dịch tìm cách gieo rắc sự nghi ngờ về các sự kiện khoa học vì lý do ý thức hệ hoặc tài chính.
    • Đồng thời, nó cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tin tưởng vào cộng đồng khoa học và việc ra quyết định dựa trên bằng chứng vì lợi ích của xã hội.
    • Cuốn sách có thể có ý định cảnh báo thế giới không?

    Đúng. Merchants of Doubt của Naomi Oreskes và Erik M. Conway có thể nhắm tới mục đích xa là cảnh báo thế giới về mối nguy cơ tiềm ẩn của một số khoa học gia muốn “bẽ lái” dư luận theo chiều hướng khoa học (?) phù hợp với những tập đoàn kỹ nghệ của phe nhóm thích hợp. Cuốn sách là một phân tích phê phán về cách một số cá nhân, nhiều người có quan hệ với các lợi ích của công ty và chính trị, đã cố tình phát tán thông tin sai lệch và gây nghi ngờ về những phát hiện khoa học đã được xác lập để bảo vệ chương trình nghị sự kinh tế hoặc ý thức hệ của họ. Mục đích chính của nó là làm nổi bật các chiến thuật được sử dụng bởi những “thương nhân nghi ngờ” này và tác động tiêu cực của họ đối với sự hiểu biết của công chúng về các vấn đề khoa học quan trọng, chẳng hạn như hút thuốc lá, mưa axit, suy giảm tầng ozon và biến đổi khí hậu.

    • Trọng tâm của cuốn sách:

    Cuốn sách không đề xuất một trật tự thế giới mới hoặc một phương pháp kiểm soát các vấn đề toàn cầu. Thay vào đó, nó tập trung vào cách một số cá nhân và nhóm nhất định đã lợi dụng lòng tin của công chúng vào khoa học để trục lợi cho riêng mình hay cho phe nhóm mình, thường sử dụng các động cơ chính trị và kinh tế.

    Nó cung cấp một bản tường trình lịch sử về cách những “thương nhân của sự nghi ngờ” này đã nhiều lần làm suy yếu sự đồng thuận khoa học để trì hoãn hoặc ngăn chặn các quy định của các chính phủ có thể gây hại cho lợi ích của các tập đoàn, chẳng hạn như ngành công nghiệp thuốc lá hoặc các công ty nhiên liệu hóa thạch.

    Oreskes và Conway sử dụng các ví dụ lịch sử để chỉ ra cách những nỗ lực này tác động đến chính sách công và hành động toàn cầu về các vấn đề quan trọng, chẳng hạn như rủi ro sức khỏe liên quan đến hút thuốc và biến đổi khí hậu.

    Merchants of Doubt không phải là về việc kiểm soát thế giới mà là về việc tiết lộ những thế lực hùng mạnh đã tác động đến dư luận và chính sách của công chúng bằng cách gieo rắc sự nghi ngờ về khoa học. Mục đích của nó là giáo dục độc giả về tầm quan trọng của tính toàn vẹn khoa học và những rủi ro khi cho phép các lợi ích về mặt ý thức hệ hoặc doanh nghiệp định hình sự hiểu biết của công chúng về những sự kiện ảnh hưởng đến sức khỏe toàn cầu và môi trường.

    • Tại sao Elon Musk giới thiệu cuốn sách này cho độc giả? Và mục đích của ông là gì?

    Việc Elon Musk nhắc đến Merchants of Doubt có thể phục vụ cho mục đích chiến lược phù hợp với sở thích rộng hơn của ông về công nghệ, các vấn đề môi trường và sự hoài nghi về thông tin sai lệch. Musk nổi tiếng với quan điểm thẳng thắn về nhiều chủ đề, bao gồm biến đổi khí hậu, năng lượng tái tạo và vai trò của sự đồng thuận khoa học. Mặc dù  không thể suy đoán động cơ chính xác của Musk khi giới thiệu cuốn sách này, nhưng có một số lý do được phác thảo thiết nghĩ hợp lý tại sao ông ta có thể giới thiệu nó cho độc giả. Đó là:

    Elon Musk | Book by Walter Isaacson | Official Publisher ...5.1- Làm nổi bật mối nguy hiểm của thông tin sai lệch và thao túng phương tiện truyền thông: Merchants of Doubt vạch trần cách các nhóm lợi ích hùng mạnh (thường có liên quan đến các tập đoàn) đã thao túng diễn ngôn khoa học để trì hoãn hành động đối với các vấn đề quan trọng như sử dụng thuốc lá, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Musk, một người ủng hộ mạnh mẽ cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu thông qua các công nghệ như xe điện (thông qua Tesla) và năng lượng mặt trời (thông qua SolarCity), có thể đang thu hút sự chú ý đến các chiến thuật được sử dụng bởi các nhóm trước đây đã hạ thấp hoặc phủ nhận khoa học về biến đổi khí hậu, cũng như những nhóm truyền thông khuynh tả truyền đạt những tin tức sai sự thật trong những ý định chính trị của phe nhóm.

    Bằng cách giới thiệu cuốn sách, Musk có thể muốn nhấn mạnh đến những nguy cơ của thông tin sai lệch và cách các ngành công nghiệp, đặc biệt là các công ty nhiên liệu hóa thạch, đã sử dụng các chiến thuật tương tự để tạo ra sự nghi ngờ về biến đổi khí hậu, giống như các công ty thuốc lá đã làm liên quan đến rủi ro sức khỏe do hút thuốc.

    5.2- Ủng hộ việc ra quyết định dựa trên bằng chứng

    Musk là người ủng hộ mạnh mẽ việc ra quyết định dựa trên bằng chứng trong cả kinh doanh và chính sách. Bằng cách tham khảo Merchants of Doubt, ông có thể củng cố niềm tin của mình rằng sự đồng thuận khoa học nên hướng dẫn các quyết định chính sách, đặc biệt là về các vấn đề quan trọng như tính bền vững của môi trường và đổi mới công nghệ. Việc khám phá cách các ngành công nghiệp có thể thao túng nhận thức của công chúng có thể đồng điệu với sự nhấn mạnh của Musk về sự đổi mới giải quyết các vấn đề trong thế giới thực, đặc biệt là về năng lượng và khí hậu.

    5.3- Khuyến khích tư duy phản biện và hoài nghi

    Musk nổi tiếng với việc ủng hộ tư duy phản biện và thách thức hiện trạng, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp như hàng không vũ trụ, ô tô và năng lượng. Bằng cách tham khảo một cuốn sách tiết lộ cách một số nhà khoa học và nhóm ngành cố tình tạo ra sự nhầm lẫn xung quanh các sự kiện khoa học, Musk có thể đang khuyến khích những người theo dõi và độc giả của mình suy nghĩ phản biện về thông tin mà họ tiếp nhận. Điều này phù hợp với cách tiếp cận của Musk trong việc đặt câu hỏi về các chuẩn mực đã được thiết lập và thúc đẩy các cách tiếp cận minh bạch hơn, dựa trên thực tế để giải quyết vấn đề.

    5.4- Liên kết lợi ích của doanh nghiệp với các vấn đề môi trường

    Musk đã chỉ trích mạnh mẽ các ngành công nghiệp mà theo quan điểm của ông, ưu tiên lợi nhuận hơn tính bền vững lâu dài. Bằng cách đề cập đến Merchants of Doubt, Musk có thể đang vẽ ra sự tương đồng giữa các chiến thuật lịch sử mà các tập đoàn sử dụng để bảo vệ lợi ích tài chính của họ (như các công ty thuốc lá hoặc ngành công nghiệp nhiên liệu hóa thạch) và nhu cầu thay đổi các chính sách toàn cầu hướng tới năng lượng sạch hơn và tính bền vững. Ông có thể muốn độc giả nhận ra các lợi ích của doanh nghiệp có thể làm suy yếu các nỗ lực giải quyết các vấn đề cấp bách như biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường.

    5.5- Định vị bản thân là Nhà vô địch của Tiến bộ và Đổi mới

    Việc Musk tham khảo cuốn sách này cũng có thể là một cách định vị bản thân là người ủng hộ tiến bộ, đổi mới và tính toàn vẹn khoa học. Bằng cách thu hút sự chú ý đến những cách mà thông tin sai lệch và sự nghi ngờ đã được sử dụng để cản trở tiến bộ, ông có thể củng cố ý tưởng rằng các công ty của mình (như Tesla, SpaceX và Neuralink) đang tiến về phía trước với mục tiêu giải quyết những thách thức lớn nhất của nhân loại. Trong bối cảnh này, việc giới thiệu Merchants of Doubt đóng vai trò như một lời kêu gọi hành động để mọi người nhận ra tầm quan trọng của sự đổi mới và lòng tin vào khoa học.

    5.6- Giải quyết cuộc tranh luận về biến đổi khí hậu

    Với cam kết của Musk trong việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, việc tham chiếu đến Merchants of Doubt có thể là một nỗ lực nhằm làm nổi bật những cách thức mà sự phủ nhận biến đổi khí hậu đã được những người có ảnh hưởng với các lợi ích cố hữu truyền bá. Nội dung của cuốn sách về sự phủ nhận biến đổi khí hậu phù hợp với những nỗ lực của Musk nhằm chống lại tình trạng nóng lên toàn cầu thông qua việc phát triển các công nghệ bền vững. Bằng cách giới thiệu cuốn sách này, Musk có thể đang cố gắng vạch trần cách thức một số lợi ích nhất định hoạt động để che giấu sự thật về biến đổi khí hậu và tầm quan trọng của việc chuyển đổi sang năng lượng sạch.

    • Kết luận

    Từ một cậu bé con trong thời gian học tiểu học, cuộc đời của cậu Musk bắt đầu quan tâm đến máy tính và tự học cách lập trình. Khi 12 tuổi, Musk đã phát triển trò chơi của riêng mình có tên là Blastar và bán được với giá 500 đô la. Anh thường đắm chìm trong mơ mộng về những phát minh đến nỗi cha mẹ và bác sĩ đã yêu cầu kiểm tra thính giác của anh.

    Cậu bé thấp bé, hướng nội và ham đọc sách này đã bị bắt nạt cho đến năm 15 tuổi. Vào thời điểm đó, anh đã trải qua một đợt tăng trưởng đột biến và học cách tự vệ bằng karate và đấu vật. Anh vẫn tiếp tục luyện võ khi trưởng thành. Vào năm 17 tuổi, năm 1988, Elon chuyển đến Canada bất chấp mong muốn của cha mẹ để theo học đại học và tránh nghĩa vụ quân sự bắt buộc trong quân đội Nam Phi. Anh đã có quốc tịch Canada vào năm đó, một phần vì anh cảm thấy sẽ dễ dàng hơn để có được quốc tịch Hoa Kỳ thông qua con đường đó. Elon chuyển đến Hoa Kỳ vài năm sau đó và chính thức trở thành công dân Hoa Kỳ vào năm 2002.

    Ngoài công việc và cuộc sống gia đình, Musk còn là một người chơi trò chơi điện tử cuồng nhiệt. Nhà viết tiểu sử Walter Isaacson, người đã công bố một tài khoản được ủy quyền về cuộc đời của Musk vào năm 2023, thậm chí còn phân loại sở thích này là một “cơn nghiện”. Ông là một người hâm mộ lớn của Elden Ring, mà trước đây ông gọi là “tác phẩm nghệ thuật đẹp nhất mà tôi từng thấy”.

    Quyển sách “Tiểu sử của Isaacson về Musk” từng là cuốn sách bán chạy nhất của New York Times, hiện đang trong quá trình trở thành phim tiểu sử. Đạo diễn Darren Aronofsky đã tham gia vào bộ phim. “Thật vui vì Darren đang làm điều đó”, Musk chia sẻ trên mạng xã hội sau khi tin tức về dự án này nổ ra vào cuối năm 2023. “Anh ấy là một trong những người giỏi nhất”.

    Thế mà, việc Musk giới thiệu Merchants of Doubt có thể phản ảnh mong muốn của ông trong việc thúc đẩy tầm quan trọng của tính chính trực khoa học, mối nguy hiểm của thông tin sai lệch và nhu cầu ra quyết định dựa trên bằng chứng trong việc giải quyết các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu. Ông cũng có thể đang cố gắng làm nổi bật các chiến thuật mà các tập đoàn sử dụng để thao túng dư luận và trì hoãn hành động cần thiết đối với các vấn đề quan trọng. Cuối cùng, mục đích của ông có thể là khuyến khích người đọc suy nghĩ phản biện, nhận ra tác động của thông tin sai lệch và ủng hộ các chính sách dựa trên bằng chứng khoa học đáng tin cậy.

    Alon musk, Ông là ai mà có những viễn kiến như vậy?

    Và quyển sách Merchants of Doubt phải chăng sẽ là tiếng chuông cảnh tỉnh những bước chân lạc loài của “các nhà khoa học có định hướng”?

    Mai Thanh Truyết, Houston, Ngày Chúa Chào Đời – 12-24-2024

  • Tin tức,  Vương Trùng Dương

    Vĩnh biệt anh Mạc Vũ Phạm Gia Cổn

    Vương Trùng Dương

    Bác Sĩ Phạm Gia Cổn qua đời vào sáng Thứ Tư, 30/11/2022 tại bệnh viện MemorialCare Orange Coast Medical Center, Fountain Valley, hưởng thọ 80 tuổi.

    BS Phạm Gia Cổn là khuôn mặt rất quen thuộc trong sinh hoạt cộng đồng người Việt ở Little Saigon và hải ngoại. Giáo Sư tại Đại Học UCLA suốt 28 năm từ năm 1982 đến năm 2010. Anh từng là Chủ Tịch Hội Y Sĩ Việt Nam, Nam California. Tại Little Saigon, năm 2006, Bác Sĩ, Võ Sư Phạm Gia Cổn đã phối hợp y khoa và võ thuật, sáng lập ra môn phái Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc. Lớp học miễn phí, trong suốt thời gian qua, có cả ngàn môn sinh (học viên tham dự). Địa điểm 9032 Hazard Ave (Góc Hazard & Magnolia) với 4 buổi sáng trong tuần.

    Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc được phổ biến ở Phần Lan, Úc Châu… và các nơi khác như Texas, Florida, San Jose… gọi là Gia Đình Hoàng Hạc TDKC (Thể Dục Khí Công). Đây cũng là dịp Chưởng Môn đi đây đi đó thăm các Gia Đình Hoàng Hạc và phổ biến trong cộng đồng người Việt.

    Là con người tài hoa trên nhiều lãnh vực, tính tình điềm đạm, khiêm nhượng nên được mọi người cảm mến. Khi nhận tin BS Phạm Gia Cổn qua đời, mọi người không thể ngờ vì anh vẫn khỏe mạnh và hiện diện trong các buổi sinh hoạt hội đoàn trong tháng 11 vừa qua. Vĩnh biệt anh, ghi lại vài dòng kỷ niệm về nhạc sĩ Mạc Vũ Phạm Gia Cổn.

    Năm 2016, anh Phạm Gia Cổn đã thực hiện xong 11 ca khúc do anh sáng tác và nhờ tôi thực hiện bìa của CD.

    CD Hẹn Ước – thơ phổ nhạc – Mạc Vũ Phạm Gia Cổn – Hòa Âm: Ngọc Dũng

    1.- Đã Một Lần (Cổ Tích Tôi) – Thơ: Định Nguyên – tiếng hát Tâm Thư. 2.- Hẹn Ước – Thơ: Phan Xuân Hiệp – Tâm Thư. 3.- Một Lá Thư – Thơ: Phạm Kim Khôi                         – Trung Hiếu. 4.- Lệ Hoa  – Thơ: Phan Xuân Hiệp – Tâm Thư. 5.- Buổi Chiều, Nhớ – Thơ: Như Thường – Tâm Thư. 6.- Hai Bàn Tay – Thơ: TSN Ngọc Diệp – Quang Châu. 7.- Buổi Sáng – Thơ: Long Ân – Khánh Vy. 8.- Nhớ – Thơ: Sương Mai – Khánh Vy. 9.- Tiễn Anh – Thơ: Trần Đức Tường – Trung Hiếu. 10.- Phương Chờ Em – Thơ: Lan Đàm – Trung Hiếu

    11.- Why I Write – Thơ: Amy Hồ – Cẩm Vân

    Trong khi đang thực hiện CD, anh đưa cho tôi nghe vài ca khúc để có cảm hứng khi trình bày bìa.

    Mời nghe những ca khúc trong CD Hẹn Ước thực hiện trên YouTube:

    Trong thời gian anh đến nhà tôi để cùng nhau thực hiện cũng là lúc trò chuyện nhau thật thú vị vì gặp nhau ở quán cà phê đông người chỉ tán gẫu vài mẫu chuyện vui cùng bạn bè. Anh cho biết họ Mạc có sự liên quan đến tổ tiên ở thế kỷ 16 trong cuộc nội chiến Lê-Mạc và khi Trịnh Tùng truy sát họ Mạc đến cùng nên một số thay tên đổi họ ẩn cư. Đó cũng là bí ẩn của giai đoạn bi thương lịch sử.

    Với võ sư bát đẳng Hiệp Khí Đạo (Hapkido) nên sức khỏe rất tốt luyện tập saxophone, clarinet. Với những nghệ sĩ saxophone tài danh tuyệt vời Sando Pharoah, Albert Ayler, Dexter Gordon, Charlie Parker, Dizzy Gillespie và Bud Powell… với tiếng kèn và phong cách trình diễn của họ đã mê hoặc niềm đam mê của anh…

    Trước đây, Đêm Tưởng Niệm & Vinh Danh cố Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn được tổ chức tại phòng sinh hoạt nhật báo Viễn Đông, TP Westminster, tối Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4, 2005. Sở dĩ Đêm Tưởng Niệm sau ngày giỗ một năm vì gia đình thực hiện tuyển tập nhạc Lê Trọng Nguyễn vừa xong.

    Ban nhạc The Star Band (Stars Band), với sự góp mặt của hai thế hệ như các nhạc sĩ: Nguyễn Hiền (accordeon), Trần Trịnh (Electric keyboard), Quang Anh (keyboard), Phạm Gia Cổn (saxophone, clarinet), Lý Văn Quý (lead guitar), Châu Hiệp (guitare), Nguyễn Đức Trịnh (drum), Bách Tùng Trịnh (trumpet), Deanna (trumpet), Tina Huỳnh (flute), Kim Chi (clarinet), Kim Ngân (trombone)… Nhạc sĩ Nguyễn Đức Lưu (violin nhưng về San Diego). Với sự góp mặt của các ca sĩ Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao…

    The Star Band rất hạn chế khi đóng góp trong các buổi sinh hoạt văn nghệ. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Trần Trịnh, Phạm Gia Cổn… là những người sáng lập ra ban nhạc nầy.

    Ngày 5/5/2005, tôi ra tờ Cali Weekly, tiếp xúc với các nhạc sĩ và viết về ban nhạc nầy. Thời gian đó BS Phạm Gia Cổn còn làm dạy ở UCLA nên cuối tuần mới gặp nhau ở Factory Coffee. Sau khi anh nghỉ hưu, mỗi sáng anh ra quán cà phê gặp anh em và “mở phòng mạch” để tán chuyện với những “bệnh nhân” thường trực “nhớ nhà châm điếu thuốc”…

    Trở lại với các nhạc phẩm do anh phổ thơ, chỉ có một số bạn bè thân mới biết anh thích thi ca. Khi tôi hỏi anh, “Với bạn bè thân đã nổi tiếng trong lãnh vực thi ca, sao không chọn bài thơ nào để phổ thơ?”. Anh trả lời rất tế nhị và khiêm tốn với ý là thơ hay và cảm hứng sáng tác tùy lúc, và cũng không thích phải núp vào cái bóng nào… Đúng là nghệ sỹ với tinh thần võ sĩ đạo, y sỹ tiền tuyến trong binh chủng Nhảy Dù.

    Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Hoàng Hạc Khí Công (2006-2016), anh Phạm Gia Cổn nói tôi viết bài cho đặc san kỷ niệm. Bài viết cho đặc san nầy: Từ “Ngàn Cánh Hạc” đến “Hoàng Hạc” (còn lưu trữ trên trang web https://www.dutule.com/a9062/vuong-trung-duong-ngan-canh-hac-tra-dao-tinh-duc).

    Ngàn Cánh Hạc là một trong ba tác phẩm của nhà văn Nhật Kawabata được giải thưởng Văn Chương Nobel năm 1968. Xứ Tuyết (Yukigun – Snow Country, 1937), Ngàn Cánh Hạc (Sembazuru – Thousand Cranes, 1949). Cố Đô (Kyoto – The Old Capital, 1962)…

    Với văn hóa Nhật Bản, xứ sở Phù Tang, chim hạc được coi là linh điểu, là biểu tượng của sự linh thiêng cao quý. Với phái nữ, chim hạc là biểu tượng sự thủy chung, hòa hợp với đạo nghĩa vợ chồng. Trang phục cưới kimono và nhiều đồ vật khác, với họa tiết hình chim hạc là hoa văn phổ biến và rất được ưa chuộng.

    Từ những mẩu chuyện theo truyền thuyết, với ý nghĩa tâm linh hạc giấy trong nghệ thuật xếp hình ori-gami, người Nhật tin rằng, nếu ai đó xếp đủ 1.000 con hạc giấy thì họ sẽ có một điều ước cho sự may mắn, an lành và hạnh phúc. Với biểu tượng cao đẹp đó, chim hạc được đề cập rất nhiều trong thơ văn, điêu khắc, hội họa, công trình kiến trúc, trên đồng Yen, hãng hàng không…

    Theo quan niệm Đông Phương từ ngàn xưa, hạc là chim tiên, người ta nói nó có khí phách và phong độ của bậc tiên nhân đạo sĩ. cuốn Tường Hạc Kinh gọi hạc là “thọ bất khả lượng” (sống lâu không thể tính được), cuốn Hoài Nam Tử nói “hạc thọ thiên tuế” (hạc sống nghìn năm). Cho nên đời sau thường dùng những từ như “hạc linh”, “hạc thọ”, “hạc toàn” để chúc trường thọ. Có người đã đặt tên mình là “hạc” để thể hiện ý muốn trường thọ, như “hạc thọ”, “hạc niên”, “hạc linh”… Cũng như vậy, hạc cũng được dùng để chúc thọ, phần nhiều là tranh chúc thọ, bình phong chúc thọ hoặc những tranh vẽ hoặc đồ chạm khắc khác. Tuổi già ngày nay được gọi là tuổi hạc…

    Bác Sĩ Võ Sư Phạm Gia Cổn lấy biểu tượng Hạc Vàng cho môn Thể Dục Khí Công  rất ý nghĩa.

    Trưa Thứ Sáu, ngày 9/12 BS Phạm Gia Cổn yên giấc nghìn thu tại Gateway Crematory ở TP Fullerton. Vĩnh biệt anh, vĩnh biệt!

    “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản” Thôi Hiệu (704-754). Văn hào Kawabata vĩnh biệt Ngàn Cánh Hạc năm 1972, đúng 50 năm sau Chưởng Môn Phạm Gia Cổn vĩnh biệt Hoàng Hạc TDKC.

    Little Saigon, December 03, 2022

    Vương Trùng Dương

  • Tin tức

    Uống cà phê để giảm nguy cơ các chứng bệnh Alzheimer, Parkinson và Đãng Trí Lewy Body ở tuổi già

    Phạm Hiếu Liêm, MD

    Trước đây vài năm, khảo cứu từ kho dữ liệu đã cho thấy người uống cà phê mỗi ngày có 30% cơ may sống thọ hơn những người không uống cà phê. Nguy cơ tử vong ở tuổi già thường là do bệnh tim mạch, các chứng ung thư và các bệnh đãng trí do suy thoái não bộ. 

    Trong óc người lớn tuổi, một vài loại protein trước đây được đào thải tự nhiên lại bị tích tụ do hư hỏng ở tuổi già. Ví dụ chất beta-amyloid precursor có thể bị hư do sản xuất quá nhiều trên trẻ em có hội chứng Down (Mongoloid, Trisomie-21), hay trên các nạn nhân Hậu Chấn Thương Sọ Não có di truyền Gen Apoe4, bệnh nhân Tiểu Đường loại 2 lớn tuổi vân vân….khiến precursor trở thành dimer và polymer rồi kết mãng (plaque) gây phản ứng viêm hư hại các tế bào não bộ kế bên. Các protein khác như ubiquitin và neurofibrin trong tế bào cũng thoái hóa thành Tau protein gây ra rối rắm cấu trúc trong tế bào não (neurofibrillary tangles) khiến não bộ mất hoạt động đúng cách. Mãng beta-amyloid và rối do Tau là hai sự bất thường trong óc có bệnh Alzheimer, chứng bệnh gây đa số (hơn 60%) trong các bệnh đãng trí trên người già.

    Một protein khác là alpha-synuclein khi suy thoái trên tuổi già lại trở thành thành Hình Thể Lewy (Lewy Body) khi tích tụ nhiều trong vùng basal ganglia của não làm hư hỏng các tế bào não chứa dopamine gây ra bệnh Parkinson, khi tích tụ nhiều ở thùy thái dương lại gây bệnh Đãng Trí  Lewy Body.

    May thay cho nhân loại, các khảo cứu trên mô hình thú vật, trên người và phân tích dữ liệu cho thấy uống cà phê mỗi ngày, nhất là từ hai tách (ly) trở lên làm giảm sự thoái hóa và tích tụ của các protein độc hại beta-amyloid, Tau và alpha-synuclein trong não bộ. Do đó cà phê có thể làm giảm nguy cơ của bệnh Alzheimer khoảng 30% và bệnh Parkinson cùng bệnh Đãng Trí Lewy Body khoảng 35%.

    Khảo cứu trên tế bào, mô và thú vật cho thấy cà phê rang sậm (dark roast) có nhiều công hiệu nhất và cà phê pha theo cách Espresso có thể là công hiệu hơn để ngăn chặn Tau protein. Y học và Dược khoa hiện nay chưa có cách nào để ngừa các chứng bệnh suy thoái não bộ người già kể trên với bằng chứng tốt hơn cà phê.

    Xin đừng nhầm lẫn cà phê với caffeine. Cà phê có hai ngàn hóa chất mà trong đó caffeine chỉ là một chất có khả năng kích thích nhịp tim và não bộ. Khả năng ngăn chặn sự phát huy của mãng beta-amyloid, rối fibril do Tau và ngăn ngừa Lewy Body đến từ các hóa chất khác sinh ra do rang hạt cà phê. Dữ liệu cho thấy uống cà phê decaf vẫn có công hiệu gần bằng cà phê có caffeine. Uống hai ly cho đến năm ly mỗi ngày là tốt nhất tùy sở thích cá nhân với mục đích muốn phòng ngừa và bảo vệ não bộ khi lớn tuổi.

    Cà phê có khả năng chống chứng Kháng Insulin ở tuổi trung niên và già nhiều hơn socola sẫm và trà, có lẽ vì vậy mà trà và sô-cô-la không có bằng chứng bảo vệ được sự suy thoái não bộ ở tuổi già như cà phê. 

    Phạm Hiếu Liêm, MD  

  • Khánh Lan,  TẾT

    YEAR OF 2025

    LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN mến chúc quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Anh Chị Em cùng toàn Quý Quyến tân Niên 2025 Vạn An, Vạn Vạn Phúc.

  • RA MẮT SÁCH

    CHÚC MỪNG SINH NHẬT 72 (NVNT&TTG) RA MẮT T/PH VĂN HỌC “VANG BÓNG MỘT THỜI” CỦA NHÀ VĂN TRẦN VIỆT HẢI

    “Cho ta gởi đôi ba dòng tâm sự,

    Của những tháng cũ đã xa xôi,

    Mảnh tâm tình bao năm ta ấp ủ,

    Vương vấn trong tim suốt cả đời.”…

    (Khánh Lan)

    “Chủ nhật ngày 08 tháng 12, 2024. Nhà Văn Trần Việt Hải đã ra mắt tác phẩm VĂN HỌC “VANG BÓNG MỘT THỜI” trong ngày sinh nhật thứ 72 của ông sau hơn 25 năm cầm bút và gần 30 năm kể từ ngày ông bị tai biến mạch máu (1996-2024), tại Viet Life Club, số 15609 Beach Blvd, thành phố Westminster, Nam California.

    28 năm trước, Nhà văn Trần. Việt Hải đã trải qua bước ngoặt lớn khi ông bị hai lần đột quỵ ở tuổi 42. Cơn đột quỵ đã khiến anh gặp nhiều khó khăn trong việc đi đứng, nói chuyện, và chỉ còn có thể sử dụng một cánh tay trái. Với nhiều người, đây là một thử thách khó có thể vượt qua, nhưng đối với ông, đó là sự khởi đầu của một hành trình mới – hành trình tìm kiếm ý nghĩa và mục đích sống.

    Bên cạnh & được sự động viên, chăm sóc tận tình của người vợ hiền mà mọi người hay gọi là “cô tiên LỆ HOA” ông đã tìm lại được niềm tin và khám phá niềm vui trong thế giới văn chương, nơi ông kết nối với những người bạn văn thơ khắp nơi. Phải chăng trong cuộc đời có những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua, nhưng chính trong khoảnh khắc đen tối ấy tinh thần con người lại thể hiện ý chí phấn đấu mãnh liệt nhất!…”

    Phạm Thái & Khánh Lan

    Video: Tâm An

    http://chinhnghiavietnamconghoa.com/chuc-mung-sinh-nhat-72-nhan-van-nghe-thuat-tieng-thoi-gian-nvnt-ttg-ra-mat-tac-pham-van-hoc-vang-bong-mot-thoi-cua-nha-van-tran-viet-hai-12-2024/ 

  • TẾT,  Vương Trùng Dương

    Pháo Tống, Pháo Chuột & Nổ

    Vương Trùng Dương

    “Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo;

    Nhân tình trắng thế lại bôi vôi”

    (Trần Tế Xương)

    Từ thời cổ đại, triết gia Platon đã nói: “Cái vỏ rỗng kêu to nhất, nên người ít thông minh nhất cũng lắm lời nhiều nhất”. Triết gia Jean Jacques Rousseau nói: “Người biết ít thường nói nhiều, trong khi người biết nhiều thường nói ít”. Văn hào William Shakespeare nhận xét: “Cái vỏ rỗng tạo ra âm thanh lớn nhất”. Ivan Petrovich Pavlov, người đã đoạt giải Nobel sinh lý và y khoa năm 1904 với lời khuyên: “Đừng bao giờ kiêu ngạo. Bởi vì khi bạn kiêu ngạo, bạn sẽ trở nên cố chấp. Khi bạn kiêu ngạo, bạn sẽ từ chối những lời khuyên và sự giúp đỡ của người khác. Khi bạn kiêu ngạo, sự khách quan sẽ bị mất”.

    *

    Nhân dịp đầu năm 2025, tròn nửa thế kỷ năm mất nước với Chuyện Vãn: Pháo Tống, Pháo Chuột & Nổ. Năm 1975 Quân Cán Chính VNCH vào chốn lao tù không có pháo tống, pháo chuột để đốt nhưng lại nghe pháo nổ đinh tai nhức óc phát ra từ miệng!

    Trong bài viết Khi Việt Cộng Nói Phét của Người Lính Già Oregon (người bạn cùng đơn vị với tối) trước đây:

    “Trong một trại tù cải tạo ngoài Bắc, tên cán bộ răng đen mã tấu, không biết sinh đẻ ở vùng nào mà ngọng đặc, ngọng líu ngọng lô, đang hăng say lên lớp:

    – Các anh biết không, nịch sử lước ta toàn nà anh hùng. Cứ ra ngõ nà gặp anh hùng. Nạ thật. Bắt đầu nà anh hùng Nạc Nong Quân nấy bà Triệu Ẩu đẻ ra một bọc trứng…

    Cả hội trường cười ồ. Mất hứng, hắn có vẻ bực mình, quắc mắt, hỏi tại sao cười.

    Một “cải tạo viên” (người tù) đứng lên, lịch sự trả lời thay cho tất cả:

    – Thưa cán bộ, vua Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, chứ không phải bà Triệu Ẩu.

    Hắn khó chịu, im lặng vài giây, và quay sang “hội ý” với tên cán bộ phụ tá, hai thằng rủ rỉ rù rì với nhau một hồi, rồi thằng phụ tá ngẩng đầu lên, dõng dạc nói:

    – Nạc Nong Quân nà vua, ông ấy muốn nấy gái lào mà chả được. Bà Âu Cơ hay bà Triệu Ẩu gì cũng đều nà gái tốt cả, nao động tốt cả…

    Trong hội trường của một trại tù cải tạo khác, lại một tên răng đen mã tấu, thao thao bất tuyệt:

    – Các anh biết không, đất nước ta giàu có cực kỳ, tiền rừng bạc bể, mỏ dầu vô kể. Mà lạ quá, nhiều nơi trên miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa của ta, chỉ cần cắm ống nứa xuống đất là dầu hỏa phụt lên, thế là ta cứ việc mang thùng ra hứng đem về tha hồ đốt.

    Cả lớp im lặng. Hắn hứng chí tiếp:

    – Ngoài mỏ dầu, miền Bắc còn có đủ các loại mỏ khác như mỏ than, mỏ vàng, mỏ xăng, mỏ nhớt…

    Mọi người cười ồ. Một anh tù già, gốc Bắc kỳ 9 nút, ưa xỏ xiên, giơ tay xin hỏi:

    – Thưa cán bộ, có một thứ mỏ mà không biết miền Bắc có không, nhưng miền Nam nghèo đói của chúng tôi thì chắc chắn không thấy, đó là mỏ lết.

    Hắn bỉu môi:

    – Anh nói gì, mỏ lết hả? Cái gì chứ mỏ lết thì miền Bắc thiếu giống gì. Đảng và nhà nước ta đang có phương án khai và thu hoạch đấy.

    Cũng lại một tên răng đen mã tấu nữa. Ngoài chuyện (quá nhàm) máy bay MIG 21 tắt máy phục kích trong mây, chờ B52 của đế quốc đến, chiến sĩ lái nhảy ra bắt sống, hắn kể một chuyện khác, ly kỳ hơn: – Năm 1962, Bác Hồ bị ốm. Nước Cuba anh em lúc ấy đang bị đế quốc Mỹ đe dọa bắn tên lửa. Tuy thế, nghe tin Bác ốm, đồng chí Fidel Castro cũng đã lấy máy bay đi thăm. Đến Hà Nội, để khỏi tốn thì giờ, đồng chí nhảy dù xuống quảng trường Ba Đình, và chưa kịp tháo dù, đã vội vàng chạy vào phòng Bác, hỏi thăm sức khỏe, và ôm hôn Bác thắm thiết. Bác liền trách đồng chí, như sau: “Nước chú đang bị đế quốc Mỹ đe dọa, sao chú lại bỏ đi thăm tôi? Chú nên về ngay đi”. Đồng chí Castro tuân lệnh, ra về.

    Đến đây thì tên cán bộ không nói Castro về bằng cách nào. Bị cải tạo viên vặn hỏi, nó đáp tỉnh bơ:

    – Máy bay bay ngang qua đón, và đồng chí Castro đã nhảy dù lên máy bay chứ còn làm gì nữa mà hỏi lôi thôi…

    Một tên cán bộ khác, một hôm đang lên lớp về bài học “Đất nước ta giàu mạnh, tiền rừng bạc bể”, phun ra một hơi:

    – Các anh biết không, mỏ than đá Hòn Gay của nước ta là tốt nhất, chất lượng số một trên thế giới. Các nước trên thế giới thèm lắm, gửi phái đoàn đến xin thương lượng khai thác, nhưng Đảng quang vinh của ta dứt khoát từ chối. Vừa rồi, nước Pháp cử đại diện đến xin mua than của ta, đem về làm khí đốt cho đầu máy xe hỏa, vì than của họ kém chất lượng, nhưng Đảng ta không bán…

    Rồi hắn huyênh hoang tiếp:

    – Bị từ chối, đại diện Pháp lại năn nỉ ta cho phép họ cạo lấy những lớp mọ hóng (bồ hóng) bám vào các ống khói xe hỏa của ta đem về vo thành viên than để đun nước, nấu ăn.

    Một tên quản giáo đang kể lại trận đánh đồn Tây tại Điện Biên Phủ, năm 1954:

    – Đồng chí anh hùng Núp bị thương nặng, ruột đổ ra ngoài, nhưng vẫn kiên cường bám trụ. Đồng chí đặt súng liên thanh vào ổ châu mai, vừa bắn vừa ném lựu đạn vừa ấn chùm ruột vào bụng trở lại, giết không biết bao nhiêu là địch…

    Một cải tạo viên lên tiếng hỏi:

    – Thưa cán bộ, như thế thì anh hùng Núp lấy tay nào bắn, tay nào ném lựu đạn, tay nào ấn chùm ruột vào bụng?

    Tên cán bộ cười đắc chí:

    – Thế mới tài chứ lị. Cái gì khó khăn, anh hùng ta đều khắc phục, làm được tất…

    Một tối, tại K5 trại tù cải tạo Vĩnh Phú cho chiếu phim Liên Xô “Thép đã tôi thế đấy”. Trong phim, nhân vật chính, Pavel, là một thanh niên “phấn đấu” hết mình để trở thành một đảng viên. Về sau, giựt vợ của một đồng chí. Chiếu xong, trại trưởng muốn biết phản ứng cải tạo viên về cuốn phim. Ai cũng phải khen, cho có lệ. Nhưng một anh, gốc Quảng, giơ tay thắc mắc:

    – Thưa coáng bộ, tui thấy đoảng viên mà đi lấy vợ người khoác lòa không được, kỳ quóa.

    Trại trưởng hứa ngày mai sẽ trả lời. Hôm sau, hắn nói :

    – Lấy vợ lại (tiếng lóng? hắn ám chỉ lấy vợ người khác?) đó là tập tục thông thường của Liên Xô và Tây Phương nên ta có thể chấp nhận được. Lại nữa, công lao của anh hùng đảng viên Pavel quá lớn, đồng chí muốn lấy ai cũng không vi phạm đạo đức…

    Hết ý kiến. Trong hàng, một anh bạn thân rỉ vào tai tôi:

    – Tiên sư cha chúng nó. Nói xuôi cũng nó, nói ngược cũng nó. Thằng X bạn tao ở đội C được thăm nuôi. Vợ nó là đầm lai. Thấy nhau, hai đứa vừa chạy lại ôm hôn nhau chùn chụt như xi-nê thì bị tên quản giáo đến tách ra, mắng mỏ: “Cách mạng rồi mà anh chị vẫn không chịu bỏ cái thói văn hóa đồi trụy khốn nạn của Mỹ ngụy”…

    (Ngưng trích)

    Còn nhiều mẩu chuyện nữa xảy tương tự như vậy, không hiểu được tuyên truyền thế nào mà các trại tù từ Bắc và Nam cán ngố đều nổ như nhau!

    *

    Với nghĩa thông thường trong dân gian thì “nổ” ám chỉ cho người nào tán phét, cương ẩu, nói điêu (nói những điều không có), khoác lác (nói hươu nói vượn), nói ngoa (phóng đại), nói nhăng nói cuội, nói đất nói trời (ba hoa chích chòe), nói lếu nói láo, nói thánh nói tướng, nói trời nói đất… nên khi nghe thì ví von “kho đạn Long Bình”. Nói nôm na là            phịa, bựa!

    Kho vũ khí Long Bình (diện tích khoảng 24 km vuông) nằm ở Biên Hòa (cách Sài Gòn khoảng 20 km), được Mỹ xây dựng từ giữa năm 1965. Đây cũng là kho bom, đạn lớn của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

    Xung quanh kho được bảo vệ rất kỹ, canh gác cẩn mật, có từ 7 đến 12 lớp hàng rào, ngoài ra có các lũy đắp bằng đất hoặc thùng phuy, container đổ đầy đất. Bên trong là đường tuần tra với nhiều tháp canh, lô cốt có đèn pha chiếu sáng. Giữa các khu kho cũng có hàng rào thép gai ngăn cách. Kho được quy hoạch một cách khoa học và ngăn nắp. Các kho trên mặt đất được lắp ghép bằng nhà thép tiền chế, lợp bằng tôn. Các kho dưới tấng đất rất kiên cố, tất cả các cửa với mã số đặc biệt. Để ra vào tổng kho có 12 cổng mở theo nhiều hướng khác nhau, được kiểm soát rất kỷ bảo vệ an ninh. Vài nguồn tin cho biết, sau khi VC cưỡng chiếm miền Nam không thể nào mở được các tầng hầm vì không có mã số, nếu phá cửa sẽ xảy ra những vụ nổ lớn. Khi VC nhờ Liên Xô nhưng cũng bó tay.

    Vì vậy khi nghe ai nổ sảng, chỉ ví von nhà gần kho đạn Long Bình hay nhân viên kho đạn nầy!

    Nổ như tạc đạn phát xuất từ hình ảnh súng liên thanh gắn băng đạn, khi siết cò nổ cả băng đạn trong tích tắc. Nhà văn Hoàng Hải Thủy phóng tác Après moi le Déluge nằm trong Série Noire với tựa đề Nổ Như Tạc Đạn đăng feuilleton trên báo Ngôn Luận và ấn hành năm 1964. Với lối hành văn dí dỏm, châm biếm nên quyển sách nầy rất ăn khách. Sau nầy trở thành câu nói thông dụng cho các “xạ thủ bất đắc dĩ” nổ sảng, nổi dai.

    Trong nhiều lần ngồi quán cà phê tán gẫu với bạn hữu, bỗng dưng có xạ thủ mò đến “nổ như tạc đạn” làm cụt hứng, điếc con ráy nhưng vì tế nhị không bỏ đi chỗ khác, tội nghiệp cho lỗ nhĩ bị sách nhiễu hành hạ!

    Về sách, sau ngày “bên thắng cuộc” có những cuốn sách “nổ như tạc đạn” ra đời coi “mục hạ vô nhân” tùy tiện phét lác còn hoang tưởng hơn trong truyện hư cấu kiếm hiệp.

    Về văn bằng với “lò ấp Tiến Sĩ”, nhan nhản trong nước với biếm họa, bài viết về cái lò nầy, chưa xong trung học phổ thông vào “lò ấp” đầy dẫy tai to mặt lớn có ngay Tiến Sĩ giấy và cả thành phần giáo sư đại học… Ngoài ra với bằng mua ở Mỹ từ vài trăm đô trở lên để lộng kính treo tường… nổ cho thiên hạ lóa mắt.

    Bài viết của  Thành Lâm trên BBC ngày 11 tháng 5 năm 2022 “Thực trạng đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam?” cho thấy về cái lò trong nước:

    “Những năm gần đây, vấn nạn “lò sản xuất tiến sĩ” và “tiến sĩ giấy” khiến dư luận Việt Nam quan tâm và đặt câu hỏi về chất lượng đào tạo tiến sĩ trong nước.

    Trao đổi với BBC, Tiến Sĩ Đào Minh Hồng, Đại Học Kinh Tế Tài Chính (ở Sài Gòn) thẳng thắn đánh giá: “Thực trạng đào tạo tiến sĩ ở VN cho đến năm nay từ sau vụ ‘lò sản xuất tiến sĩ’ vẫn không hề thay đổi, mà càng ngày càng tệ hơn…

    “Thực trạng đào tạo tiến sĩ ở VN cho đến năm nay từ sau vụ ‘lò sản xuất tiến sĩ’ vẫn không hề thay đổi, mà càng ngày càng tệ hơn”. Và cũng theo ông nguyên nhân dẫn đến sự “thụt lùi” của đào tạo tiến sĩ ở trong nước, cụ thể là trong chuyên ngành Khoa Học Xã Hội như: những người cầm cân nảy mực là những người chỉ “mua danh tiến sĩ”.

    Câu nói dân gian mỉa mai “vô tiến sĩ bất thành nhân” vì vậy tiểu sử quan lớn, quan nhỏ từ thủ đô đến thành phố, huyện xã “thất học… nhảy bàn độc tiến sĩ”!

    Cụ Tam nguyên Yên Đổ – nhà thơ Nguyễn Khuyến – giễu người đời “dại”, đốt pháo, pháo nổ, chó sợ chạy trốn, có khi trốn mất không về.

    “Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó

    Ông đây khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm khoèo”

    Pháo có từ ngàn xưa, đại khái có rất nhiều loại thông dụng:

    Các loại pháo lớn: Pháo tống, pháo cối, pháo đại, pháo đùng (to bằng cổ tay) khi nổ âm thanh rất lớn, xác pháo tung lên cao với hằng trăm mẩu giấy đỏ như hoa đào tung bay. Pháo đất, làm bằng đất nặn thành một cái nồi trống miệng. Pháo nâng lên cao rồi thảy xuống đất. Hơi nén trong nồi phá vỡ đáy nồi phát ra tiếng nổ. Pháo trúc nhồi thuốc súng vào đốt tre để làm pháo, treo cùng bùa trên cây nêu, đốt trong ngày Tết để trừ ma quỷ.

    Các loại pháo nhỏ: Pháo chuột, pháo tôm, pháo tép… tiếng nổ nhỏ “Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột” (Trần Tế Xương)

    Tràng pháo còn gọi là pháo phong, pháo bánh, pháo cuộn, pháo dây… thường kết với vài cái pháo tống cho đủ tiểu, đại để khi đốt nghe rộn ràng hơn.

    Ngoài ra còn có pháo hoa, pháo bông, pháo thăng thiên… và cả pháo điện tử có remote điều khiển (Tôi có phong pháo nầy, ngày Tết đốt trước cửa rồi và đem vào back yard để khỏi có xác pháo dơ nhà, sử dụng từ năm nầy sang năm khác).

    Đốt pháo không những trong ngày Tết mà trong các dịp cưới hỏi, khai trương business… Người Việt định cư tại Mỹ, điển hình như thành phố Westminster ở Little Saigon, trong những thập niên qua mang phong tục nầy ngày xưa trên xứ người, chính quyền địa phương cho phép cộng đồng người Việt đáp ứng theo điều kiện hợp pháp.

    Trở lại chuyện vãn về “nổ” với pháo mang lại niềm vui và nghe khoái lỗ tai nhưng phát ra từ miệng thì chán ngấy!

    Từ thời cổ đại, triết gia Platon đã nói: “Cái vỏ rỗng kêu to nhất, nên người ít thông minh nhất cũng lắm lời nhiều nhất”. Triết gia Jean Jacques Rousseau nói: “Người biết ít thường nói nhiều, trong khi người biết nhiều thường nói ít”. Văn hào William Shakespeare nhận xét: “Cái vỏ rỗng tạo ra âm thanh lớn nhất”. Ivan Petrovich Pavlov, người đã đoạt giải Nobel sinh lý và y khoa năm 1904 với lời khuyên: “Đừng bao giờ kiêu ngạo. Bởi vì khi bạn kiêu ngạo, bạn sẽ trở nên cố chấp. Khi bạn kiêu ngạo, bạn sẽ từ chối những lời khuyên và sự giúp đỡ của người khác. Khi bạn kiêu ngạo, sự khách quan sẽ bị mất”. Thành ngữ ta có câu: “Thùng rỗng kêu to”.

    Ngẫm cho cùng tư tưởng của các bậc vĩ nhân trên thế giới rất hữu lý. Ông bà ta thường nói “Bệnh từ ngoài vào, bệnh từ miệng ra” và “nổ” coi như bệnh từ miệng ra, vì vậy những kẻ hay “nổ” coi như bệnh – bệnh nổ – hết thuốc chữa! Thiện tai! Bán trời không văn tự.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, January 2025

  • Tin tức

    NHỮNG GÌ CÒN LẠI

    Nhạc sĩ TUẤN KHANH

    Rằm tháng Giêng Mậu Tuất, tức ngày 2/3/2018 tại Sài Gòn, đám tang của nhạc sĩ, đại tá Nguyễn Văn Đông xuất hiện một cảnh tượng xúc động, khi lễ di quan diễn ra, nhiều người đàn ông mặc thường phục, không ai bảo ai, đã bất ngờ đưa tay lên chào theo kiểu nhà binh. Thấp thoáng trong những hàng khác, cũng có những cá nhân im lặng đưa tay chào, không cần hiệu lệnh. Hầu hết đó là những cựu thiếu sinh quân VNCH cùng trường với ông, và những người khác là cựu quân nhân đã chào tiễn biệt ngài đại tá Chánh Văn phòng của Tổng Tham mưu Phó quân lực Việt Nam Cộng Hòa về nơi an nghỉ cuối cùng. Hàng người đứng chào theo kiểu nhà binh trước đám tang của nhạc sĩ – đại tá Nguyễn Văn Đông. Nhưng có lẽ còn đặc biệt hơn với câu chuyện Việt Nam, khi mọi thứ về con người và hệ thống của chính quyền miền Nam bị săn lùng, giam giữ và hủy diệt nhiều năm, nhưng vẫn ẩn khuất đâu đó, rồi bất ngờ hiển lộ. Nhưng ngoài âm nhạc, vẫn còn đôi chuyện về đại tá Nguyễn Văn Đông chưa được nói hết. Bài viết này là những gì còn lại, chưa kể, sau cuộc tiễn đưa đó.Đọc tiểu sử cá nhân sau năm 1975, người ta chỉ biết ngắn gọn rằng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đi trại tù của Nhà nước Bắc Việt trong 10 năm, và sau đó không đi Mỹ theo diện H.O (Humanitarian Operation). Đó là một chiến dịch nhân đạo do tổng thống Mỹ Ronald Reagan bật đèn xanh nhằm giải thoát hàng trăm ngàn quân nhân cựu quân nhân VNCH bị đưa đi tù, dưới danh nghĩa cải tạo (Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program). Mọi thứ về đời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, lâu nay vẫn được mô tả thoáng qua, y như cách mà báo chí Nhà nước đưa tin ông mất. Ấy vậy mà vài ngày sau đám tang, nhiều tờ báo vẫn còn bị khiển trách vì đã có thái độ trân trọng thái quá với một “sĩ quan ngụy”. Năm 1975, ngay sau khi đại tá Nguyễn Văn Đông ra trình diện, dù được chính quyền quân quản tuyên bố là chỉ đi “học tập tư tưởng mới” trong vài tháng. Thế nhưng, sự thật sau đó là 10 năm dài tù đày ở trại Suối Máu, Biên Hòa. Cho đến sau năm 1980 thì đưa về Chí Hòa. Đại tá Nguyễn Văn Đông được trả về nhà vào năm 1985 để được chết ở nhà, theo chính sách khoan hồng của cách mạng. Bà Nguyệt Thu, vợ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông kể rằng khi chia tay ông 10 năm trước, bà vẫn còn nhớ hình dáng một người đàn ông gầy nhưng khỏe mạnh, để rồi khi nhận lại ông, thì lúc đó gần như chỉ là một cái xác, chỉ còn thoi thóp.Bà Nguyệt Thu, vợ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông kể lại rằng gia đình lúc đó chỉ còn đợi ngày để chôn ông, vì do ông mang quá nhiều căn bệnh cũng như thuốc men lại quá đắt đỏ và khan hiếm vào thời đó. Rồi nhiều năm sau, ông sống lại như một kỳ tích, khỏe mạnh. Hai người im lặng sống trong căn nhà nhỏ chỉ có đôi vợ chồng già, không con cái, không nhiều sinh hoạt với xã hội. Bà Nguyệt Thư nói rằng cho đến nhiều năm sau khi ông được thả về, bà vẫn còn khả năng sinh con nhưng ông không còn có thể. Vì vậy hai người đã chọn sống cô đơn cùng nhau đến ngày chung cuộc.Lời của bà kể như tiếng chuông chùa xa xăm về một nỗi đau không lời. Về với ông được 2 năm, thì bà bị chia cắt với đại tá bởi 10 năm tù không hề tòa án, cũng như không hề có lời giải thích. Khi được trả về nhà, thì ông đã như một phế nhân. Bà nói rằng không muốn sinh con vì ông quá yếu. Nhưng cũng có thể bà không muốn có một đứa con, bởi cuộc sống như ác mộng mà bà và ông trãi qua, nếu có đơm hoa kết trái thì chắc cũng không thể có được lúc tỏa hương.Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bị đưa đến trại Suối Máu ngay sau khi trình diện. Thực tế là trại này tên là trại Tân Hiệp, Biên Hòa, từng là nơi giam giữ các binh sĩ Bắc Việt chờ trao trả theo các thỏa ước. Tên Suối Máu là do các tù nhân sau năm 1975 gọi thành quen mặc dù bị quản giáo cấm. Bởi năm 1968, cuộc đột kích thất bại ở cứ điểm này, mà dân trong vùng mô tả máu dân thường và của hai bên Nam Bắc chảy như suối, từ đó mà thành tên.Trại Suối Máu giam giữ khoảng 5000 người, chia làm năm trại theo ký hiệu K. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ở K5.Chỉ một năm ở trại này, do điều kiện giam giữ và ăn uống khắc nghiệt, không chỉ đại tá Nguyễn Văn Đông mang bệnh, mà rất nhiều người cũng đổ ra đủ thứ bệnh từ nội khoa đến ngoại khoa. Mà thuốc thì chủ yếu là một loại dược phẩm dân tộc được bào chế ở miền bắc có tên là Xuyên Tâm Liên. Bệnh gì cũng uống một loại ấy.Nhà văn Hà Thúc Sinh, tác giả của tác phẩm Đại Học Máu, đã kể rằng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vì bị mang bệnh ghẻ nhầy nhụa kỳ lạ, khiến cả mảng lưng của ông lở loét. Đã vậy nhiều chứng bệnh khác như đau bao tử, thấp khớp, huyết áp… ập tới hành hạ ông liên tục nhiều năm. Vào lúc thập tử nhất sinh, anh em khiêng lên trạm xá được ít bữa thì y tá ở đó đuổi về. Lý do là ở bệnh xá không có thuốc điều trị, cũng như cho về thì khỏi mang trách nhiệm.Nhà văn Hà Thúc Sinh viết rằng mấy người bạn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông khiêng ông ra hố nước để tắm lại sau nhiều ngày nằm liệt, như một cách giúp duy nhất có thể. Nhưng do phải đi lao động nên mọi người chỉ kịp nhìn thấy ông Nguyễn Văn Đông nằm sấp trên mặt đất, chứ không còn đứng nổi, cố múc nước rồi nằm quơ quào cố tắm rửa một mình như vậy.Nói về sáng tác trong giai đoạn đó, đại tá Nguyễn Văn Đông đã cố giữ lại cảm hứng của mình trong những năm đầu bị tù, vì nghĩ rằng cùng lắm 2-3 năm gì đó sẽ ra. Nhưng rồi dần dần mọi thứ thui chột theo sức khỏe và niềm hy vọng. Ngay lúc bệnh đã nặng, nhưng phát hiện tù nhân Đỗ Văn Phúc là em họ của ca sĩ Duy Khánh cũng bị tù chung trại, ông đã vui đến mức sáng tác lại. Cảm mến giọng hát của người này mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông viết riêng một bài hát để tặng, có tựa đề là “Sài Gòn trong trái tim tôi”. Tác phẩm này, giờ chắc đã tuyệt bút, chỉ còn được nhắc lại với đôi ba câu với những ai từng nghe qua như “Sài Gòn tiếc nuối không thôi, Hà Nội héo hắt răng môi, cho nhớ thương vời vợi. Ôi, Sài gòn trong trái tim tôi…”Năm 1985, khi khiêng ông về nhà, bà Nguyệt Thu nói rằng không nghĩ ông sống qua được năm đó. Sự tuyệt vọng tràn ngập đến mức khi nhận được hồ sơ ghi danh đi chương trình H.O ngay trong nhóm đầu, ông đã từ chối vì muốn được chết trên quê hương mình. Bà cũng thuận theo ý ông. Ấy vậy mà với sự chăm sóc nhẫn nại và yêu thương của người vợ hiền, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã chậm chạp sống lại một lần nữa, cho đến ngày buộc phải chia tay trần thế. Buổi chia tay nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không có nhiều người khóc. Chỉ có những cánh tay đưa lên, im lặng chào đưa tiễn ông. Động tác rất quen thuộc khiến những người xa lạ nhau như gần lại. Có điều gì đó dâng lên trong suy nghĩ, đầy xúc động. Quả là có những triều đại nguy nga lộng lẫy, nhưng mọi thứ đã không còn. Nhưng cũng có những chế độ đã mất nhưng con người và tinh thần quốc gia thì còn sống mãi.

  • Tin tức

    Đ Ê M T H Á N H V Ô C Ù N G (S i l e n t N i g h t)

    Thủy Nguyễn

    Sáng tác Josef Mohr & Franz Xaver Gruber

    Ðêm Thánh vô cùng, giây phút tưng bừng

    Ðất với trời se chữ Ðồng

    Ðêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ

    Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa….!

    ….”Đêm Thánh vô cùng” hoặc “Đêm yên lặng” (tiếng Đức: “Stille Nacht”; tiếng Anh: “Silent Night”) là một trong những ca khúc Giáng sinh nổi tiếng, với phần lời gốc do linh mục Josef Mohr viết bằng tiếng Đức và phần giai điệu do nghệ sĩ organ Franz Xaver Gruber sáng tác năm 1818, cả hai đều là người Áo. Phiên bản đang được sử dụng rộng rãi ngày nay có đôi chút khác biệt với nguyên bản của Gruber. Ca khúc này đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào tháng 3 năm 2011.

    – Ca khúc được sáng tác hoàn tất vào ngày 25 tháng 12 năm 1818 và được trình diễn lần đầu tại Nhà thờ Thánh Nicôla (Nicola-Kirche) ở Obendorf thuộc nước Áo. Linh mục Mohr viết lời cho bài hát từ năm 1816, nhưng mãi đến đêm vọng Lễ Giáng Sinh năm 1818 mới tìm gặp nghệ sĩ Gruber để nhờ soạn phần giai điệu cũng như phần phối âm cho đàn ghita. Có lẽ linh mục Mohr muốn có một ca khúc Giáng Sinh mới dành cho Thánh lễ nửa đêm Giáng Sinh, nhưng đàn phong cầm của nhà thờ đã bị hỏng. Lúc đầu, Gruber không đồng ý với đề nghị của Mohr vì e rằng giáo dân đến dự lễ sẽ không thích loại âm nhạc được trình bày với đàn ghita, bởi lẽ lúc đó quy chế về nhạc cụ trình diễn thánh ca phải là phong cầm. Nhưng vì không còn sự lựa chọn nào khác, Gruber phải chấp nhận và bắt tay vào việc. Chỉ trong vài giờ đồng hồ, phần nhạc của ca khúc được hoàn tất. Lúc đầu, người dự lễ tỏ ra kinh ngạc khi nghe ca khúc được trình bày với đàn ghita, nhưng chẳng bao lâu mọi người bị mê hoặc bởi giai điệu ngọt ngào của bài hát.

    – Từ đầu thập niên 1900, Nhà thờ Thánh Nicôla bị lũ lụt tàn phá, thị trấn được dời lên một nơi an toàn hơn ở thượng nguồn dòng sông, một ngôi nhà thờ mới được xây dựng bên cạnh một chiếc cầu. Một nhà nguyện nhỏ gọi là Stille-Nacht-Gedächtniskapelle (Nhà nguyện Tưởng nhớ Ca khúc Đêm Yên Lặng) được dựng lên ngay tại địa điểm của ngôi nhà thờ cũ bị phá hủy, và ngôi nhà kế cận được biến thành nhà bảo tàng, quanh năm thu hút du khách đến từ khắp nơi trên thế giới, nhưng đông nhất vẫn là trong tháng 12.

    – Mặc dù bản gốc của ca khúc đã bị thất lạc, một bản viết tay của Mohr đã được tìm thấy vào năm 1995, các nhà nghiên cứu xác định nó thuộc vào khoảng năm 1820. Điều này cho thấy linh mục Mohr đã viết lời bài hát vào năm 1816 khi ông được phân công đến một nhà thờ hành hương ở Mariapfarr (Áo), và phần nhạc được sáng tác bởi Gruber vào năm 1818. Đây là bản cổ nhất, cũng là bản viết tay duy nhất của Mohr. Giai điệu được sáng tác bởi Gruber chịu ảnh hưởng của âm nhạc truyền thống tại các vùng nông thôn, phảng phất những nét đặc trưng của dân ca Áo.

    – Năm 1859, John Freeman Young (Giám mục Giáo phận Florida, Hoa Kỳ) cho ra đời bản dịch tiếng Anh của ca khúc, và nó trở thành bản được nhiều người biết đến nhất hiện nay. Nói chung, các phiên bản hiện nay có giai điệu được sử dụng thường là chậm, theo lối hát ru, có một chút khác biệt so với bản nguyên gốc của Gruber (đặc biệt là ở các dòng cuối cùng) có tiết tấu linh hoạt, gần như nhạc khiêu vũ. Ngày nay, lời và giai điệu ca khúc đã được đưa vào phạm vi công cộng của điều luật tác quyền.

    – Ca khúc vẫn thường được trình diễn không cần nhạc đệm theo lối a cappella. Mặc dù được sáng tác bởi hai tín hữu Công giáo, bài hát này cũng có một vị trí đặc biệt trong các nhà thờ thuộc Giáo hội Luther. Người ta tin rằng ca khúc Giáng Sinh này đã được dịch ra hơn 140 ngôn ngữ trên khắp thế giới, và là một trong những bài hát được yêu thích nhất mọi thời đại.Phần chuyển ngữ và đặt tựa tiếng Việt của nhạc sĩ Hùng Lân.

    – Ca khúc này cũng từng được hát cùng một lúc bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Đức trong ngày hưu chiến đêm Giáng sinh năm 1914 trong Chiến tranh thế giới thứ I, vì đây là một thánh ca mà các binh sĩ của cả hai bên của cuộc chiến đều biết.’/.

    Đ ê m T h á n h. V ô C ù n g

    Lời Việt Hùng. Lân

    Ðêm Thánh vô cùng, giây phút tưng bừng

    Ðất với trời se chữ Ðồng

    Ðêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ

    Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa

    Ơn châu báu không bờ bến

    Biết tìm kiếm của chi đền

    Ôi Chúa thiên đàng, cam nếm cơ hàn

    Nhấp chén phiền vương phong trần

    Than ôi Chúa thương người đến quên mình

    Bơ vơ chốn quê nhà lúc sinh thành

    Ai đang sống trong lạc thú

    Nhớ rằng Chúa đang đền bù

    Tinh tú trên trời, sông núi trên đời

    Với thánh thần mau kết lời

    Cao sao hóa công đã khéo an bài

    Sai con hiến thân để cứu nhân loại

    Hang chiên máng rêu tạm trú

    Bốn bề tuyết sương mịt mù…!

    THUY NGUYEN

  • TRẦN PHÙNG NĂNG,  TRANG NGHỆ SĨ

    NHẠC SĨ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG VÀ ĐÊM CUỐI CÙNG…

    Trần Phùng Năng

    Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, cả hai thân sinh ra ông đều chơi nhạc cổ truyền. Thân phụ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long. Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.

    Ông được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng các anh em Phạm Đình Viêm, Phạm Thị Quang Thái và Phạm Thị Băng Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV.

    Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947, khi 18 tuổi, với tác phẩm đầu tay là ca khúc “Ra đi khi trời vừa sáng”. Năm 1951, ông và gia đình chuyển vào miền Nam. Với các anh em Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng ông thành lập Ban hợp ca Thăng Long danh tiếng. Trong thập niên 1950, ông đã viết những tác phẩm thành công và để đời như “Ly rượu mừng”, “Xuân tha hương”, “Thủa ban đầu”, “Tiếng dân chài” v.v.. Đáng kể nhất là trường ca bất hủ “Hội trùng dương” mà ông viết về đất nước Việt Nam hoa gấm, qua ba bài ca nói về con sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long. Theo như lời ông đã nói với gia đình, trường ca này đã phải tốn mất 4 năm để hoàn tất.

    Một sáng tác lãng mạn và để đời thứ hai trong thập niên 1950 đã gắn liền vào tên tuổi Phạm Đình Chương: đó là ca khúc bất hủ phổ thơ Đinh Hùng nhan đề “Mộng dưới hoa”. Riêng nói về “Mộng dưới hoa”, ca khúc này đã theo năm tháng để trở thành một trong những bài tình ca được ưa chuộng và hát nhiều nhất của nhạc Việt.

    Trong thập niên 1960, ông đã sáng tác một loạt ca khúc phổ thơ rất thành công và được yêu chuộng như “Nửa hồn thương đau”, “Ngợi ca tình yêu” và “Đêm màu hồng” (thơ Thanh Tâm Tuyền), “Khi cuộc tình đã chết” (Du Tử Lê), “Người đi qua đời tôi” (Trần Dạ Từ) và nổi bật nhất là ca khúc “Đôi mắt người Sơn Tây” (Quang Dũng).

    Từ đó, Phạm Đình Chương thường được cho là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Giai đoạn này cũng là lúc ông lập ra phòng trà tên gọi Đêm Màu Hồng và với ban hợp ca Thăng Long, đã biến nơi này thành chỗ hội tụ của các văn nghệ sĩ đương thời.

    Sau năm 1975, Phạm Đình Chương sang định cư tại California, Hoa Kỳ vào năm 1979. Ông ở tại quận Cam cùng gia đình từ đó. Trong khoảng thời gian sống tại Hoa Kỳ, ông đã viết một số ca khúc cuối cùng gồm những tác phẩm phổ thơ như “Đêm nhớ trăng Sài gòn”, “Quê hương là người đó”, “Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển” (phổ thơ Du Tử Lê), “Hạt bụi nào bay qua” (Thái Tú Hạp) v.v.. Ngoài ra, ông đã hoạt động rất thành công qua những buổi trình diễn tại các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới.

    Vào mùa hè năm 1991, ông lâm bệnh và mất vào ngày 22 tháng 8 năm 1991 tại quận Cam, California ở tuổi 62. Theo như gia đình ông kể lại, sau khi người anh của ông là nghệ sĩ lão thành Hoài Trung qua đời 8 năm sau đó, năm 1998. Vào một buổi sáng nắng ấm tại miền Nam Cali, gia đình ông đã đem tro cốt của hai ông rải ngoài biển như trong một ca khúc ông viết trong thời gian cuối cùng có nhan đề “Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển” phổ từ thơ thi sĩ Du Tử Lê”.

    Ca khúc “Đêm cuối cùng” sáng tác vào năm 1961 mở đầu với những giai điệu buồn thê thiết, nhịp Boston chậm rãi, là những lời đôi tình nhân trao cho nhau trong đêm cuối cùng còn được ở bên nhau. Không rời tay nhau khi cùng bước bên nhau trên phố đêm giá lạnh, môi vẫn gượng cười trước giây phút chia tay sẽ để lại cả một trời nhớ thương, hai kẻ yêu nhau vẫn giữ niềm tin dù có bao cách trở, tình yêu sẽ vẫn mãi thắm thiết:

    Đêm nay đêm cuối cùng gần nhau

    Lệ buồn rưng rưng, lời hát thương đau

    Nhịp bước bâng khuâng ngoài phố lạnh.

    Giọt sầu rơi rớt hồn phiêu linh

    Nắm tay không rời

    Cố hé run run môi cười

    Lúc chia tay bên trời tiếc thương.

    Em ơi đêm cuối cùng gần nhau

    Hẹn rằng một ngày mai nối mộng ban đầu

    Em ơi đừng khóc sầu chia ly

    Vì lệ tuôn rơi làm héo xuân thì.

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    NVNT & TTG MỪNG LỄ GIÁNG SINH 2024

    Khánh Lan

    NVNT & TTG CHÀO MỪNG QUAN KHÁCH

    QUANG CẢNH BỮA TIỆC MỪNG GIÁNG SINH CỦA NVNT & TTG

    NVNT & TTG’s girls

    Ns. Lê Nguyễn Nga và NVNT & TTG’s boys

    Trong bầu không khí ấm cúng và thân mật Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG đã tổ chức một buổi họp mặt mừng lễ Giáng Sinh cùng với một số bạn bè thân quý tại Diamond Seafood 3 ngày 15 tháng 12, 2024.

    Mở đầu chương trình với hai MC khả ái và duyên dáng Mộng Thủy &  Minh Thư  chào mừng cũng như giới thiệu quan khách đã đến tham dự buổi tiệc. Tiếp theo là Nv. Việt Hải ngỏ lời chúc lành đến các vị trưởng thượng, các thành viên và thân hữu. Nv. Khánh Lan cũng được mời lên để tường trình về những sinh hoạt trong năm 2024 và những dự định của năm 2025.

    Ts. Thùy Nhơn, Nv. Nguyễn Quang, Nv. Việt Hải, Ns. Lê Nguyễn Nga, Gs. Đặng Ngọc Sum, Hs. Hoàng Vinh và phu nhân.

    Dương Viết Đang, Kiều My, Khắc Đức, Ngọc Châu, Tuyết Nga, Anh Chị Kính, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Gia Đại, Việt Hải, Chị Nga, Thầy Sum, Lệ Hoa và Minh Thư

    Trong phần giới thiệu ban chấp hành gồm có gồm có các vị cố vấn: Gs. Dương Ngọc Sum và Nv. Nguyễn Quang (rất tiếc là Gs. Trần Huy Bích, Gs. Quyên Di và Gs. Phạm Thái không đến được ngày hôm ấy), Nv. Khánh Lan, CNS Lâm Dung, MC Mộng Thủy và Thủ quỹ Minh Thư.

    CNS Lâm Dung, Nv. Khánh Lan, TS MC Mộng Thủy, Thủ Quỹ-Ds. Minh Thư và Nv. Việt Hải

    Đúng 12:30 pm, những món ăn được nhà hàng đơn dọn lên với:

    Tám món ăn ngon…..

    Nv. Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm, Nv. Việt Hải, Gs. Dương Ngọc Sum, Nv. Nguyễn Quang và Mạnh Bổng

    Cô Kim Thanh, Ts. Vũ Thùy Nhơn (VBVNHN), Ts. Võ Ngọc Hoa (VBHNVN), CNS Lâm Dung, Ns. Lê Nguyễn Nga

    Trong lúc đó những bài thánh ca mừng giáng sinh được vang lên bởi những giọng hát của các anh chị Đình Khôi, Kiều My và Kim Phượng trình diễn nhạc phẩm “Hang Bê-lem”, phần đệm nhạc của Ns Vũ Đình Ân. Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương, thơ Kiều My, nhạc Phạm Thái do Đình Khôi & Kim Phượng, CNS Lâm Dung với nhạc phẩm Silence Night cùng sự phụ họa của 3 giọng nữ.

    Anh Ngọc Tú và Ns. Vũ Đình Ân

    Lâm Dung, Kiều My, Kim Phương và Đình Khôi với nhạc phẩm Silence Night

    Và rồi lần lượt những bài hát về Giáng Sinh theo sau Magical Christmas Night, nhạc và lời của Gs. Ns. Phạm Thái, Minh Thư trình bày. Bài Thánh Ca Buồn do Ngô Thiện Đức, Disco Xmas Medley by Shellies-Rivers of Babylon / Mary’s Boy Child với Thụy Lan, Minh Thư, Lệ Hoa, Tà Áo Đêm Noël với Tony Hiếu.

    Bài Thánh Ca Buồn với Ngô Thiện Đức

    Magical Christmas Night với Minh Thư

       Tà Áo Đêm Noël  với Tony Hiếu

    Disco Xmas Medley by Shellies-Rivers of Babylon / Mary’s Boy Child với Thụy Lan, Minh Thư, Lệ Hoa

    Sau phần ăn trưa, một tiết mục đặc biệt mà ban tổ chức của chúng tôi không thể thiếu trong bữa tiệc giáng sinh: Đó là màn xổ số vui và sôi động do Cô thủ quỹ Minh Thư thực hiện, gồm 10 giải thưởng. Món quà  trúng giải là những chai rượu, chai nước mắm, chai mắm ruốc, v.v… Tất cả món quà đều được bỏ vào một thùng giấy lớn. Các anh chị trúng giải thưởng đã được mời lên sân khấu và họ tự rút ra trong thùng giấy món quà của mình. Đây là ý kiến rất độc đáo của Thủ quỹ Minh Thư, cô bé luôn có những sáng kiến hay và tạo ngạc nhiên thích thú đến cho mọi người đi theo những trận cười nghiêng ngả của mỗi mọi người.

    Minh Thư và chị Kim Hương trúng giải thứ …

    Tường Anh…đã quá…tối nay khỏi ngủ luôn…uống cho say….

    Kiều My…đỡ quá…nhà bếp của ta không còn một chai nước mắm nào…

    Các thành viên trúng số….cuối năm rồi mà còn hên quá ta…

    Quy luật được lãnh giải chỉ dành riêng cho thành viên NVNT & TTG, gia đình và thân hữu. Các vị cố vấn NVNT và ban chấp hành bị lọt sổ nên Gs. Dương Ngọc Sum và Nv. Nguyễn Quang đã kịch lịch phản đối…

    Gs. Dương Ngọc Sum đang “complain” vì không được dự phần vào cuộc vui…với Mộng Thủy và Chị Trầm Hương…

    Sau phần xổ số là tiết mục khiêu vũ, cắt bánh Sinh Nhật, chụp hình lưu niệm. Chương trình bế mạc lúc 3 giờ chiều.

    Cắt bánh mừng Giáng Sinh 2024

    Dancing all night

    Tường Anh

    Minh Thư với I will survive

    Thụy Lan

    Ngọc Châu, Tuyết Nga, Khánh Lan

    MỘT NGÀY VUI TRỌN VẸN. MERRY CHRISTMAS TO EVERYONE. LOVE FROM NVNT & TTG.

    Khánh Lan, Dec. 15, 2024

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    Ý NGHĨA CỦA LỄ GIÁNG SINH

       Lễ Giáng Sinh là ngày Christmas khá trọng đại. Trọng đại vì đây là ngày đã được mọi quốc gia, mọi tôn giáo coi như ngày vui chung của nhân loại, chứ không riêng gì đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo. Do đó, có người đã nói, Christmas là một cơ hội hãn hữu để nhắc nhở mọi người  có bổn phận đối với những người mà ta không quen biết cũng như đôi khi không ưa thích.Và đồng thời mọi người cũng hân hoan hát các điệu nhạc Giáng sinh như “We wish you a Merry Christmas”, như “Silent Night”, Đêm Thánh Vô Cùng mừng Chúa Hài Đồng ra đời.

                …Ôi Chúa thiên đàng, cam nếm cơ hàn
                Nhấp chén phiền vương phong trần
                Than ôi Chúa thương người đến quên mình
                Bơ vơ chốn quên nhà lúc sinh thành
                Ai đang sống trong lạc thú
                Nhớ rằng Chúa đang đền bù…

                Theo lời ghi lại thì khi Chúa Jesus cất tiếng khóc chào đời trong một cái máng cỏ ở hang Bethlelem có ba vị Vua phương Đông mang ba món quà đến để bày tỏ sự thành kính của họ. Trong khi đó, những người chăn cừu nghèo khó cũng lòng thành tặng Chúa Jesus hoa quả và những món đồ chơi do chính họ làm ra…

                Lễ Giáng Sinh Christmas là lễ kỷ niệm  ngày sinh của Chúa Jesus. Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Christ là tước vị của Đức Giêsu, chữ Mas là Thánh lễ. Thượng Đế đã gửi con yêu quý của mình xuống thế để chuộc tội và mang lại tình thương, hòa bình, hạnh phúc cho nhân loại. Tuy là lễ riêng của tín đồ Cơ Đốc Giáo, nhưng hầu như mọi người đều trân trọng, chung vui. Với tất cả, Lễ Giáng Sinh là thời gian tuy ngắn ngủi nhưng tràn ngập thương yêu với những gói quà dưới cây Noel, sao sáng lung linh nơi cửa sổ, những cánh thiệp chúc tụng gửi đó đây, những bữa ăn đoàn tụ thân bằng quyến thuộc với tiếng cười nói hân hoan hạnh phúc, với tuyết trắng phủ kín sân nhà, đường phố…

    Cho nên, tinh thần của Lễ Giáng Sinh là chia sẻ, bao dung, thương yêu và giảm thiểu giận hờn.

    Tiểu thuyết gia Oren Arnold gợi ý về quà tặng Giáng Sinh như sau: “Với kẻ thù, cho sự Tha thứ; với đối thủ cho sự Chịu đựng; với bạn bè cho Trái Tim; với khách hàng cho Phục Vụ Chu Đáo; với các cháu bé Làm Gương Sáng để cháu noi theo và với chính mình, cho niềm Tự Trọng”.

    Trong thông điệp gửi cho nhân dân Hoa Kỳ, vị Tổng Thống thứ 30 của quốc gia này là Calvin Coolidge (1872-1933), nhắn nhủ: “Christmas không phải là một thời gian hoặc một mùa nhưng là một tâm trạng. Để chào mừng hòa bình và thiện ý, để có đầy đủ tình yêu thương”.

    Tiểu thuyết  gia nước Anh là Charles Dickens ((1812–1870) cũng đồng ý với “ Tôi luôn nghĩ Christmas như là thời gian vui thú ; một thời gian thân tình, tha thứ, độ lượng, thoải mái; thời gian mà nam cũng như nữ dường như tự do rộng mở trái tim, do đó tôi xin Thượng Đế chúc lành cho Christmas”.

    Tác giả Wilda English viết :”Thượng Đế ban cho ta ánh sáng của Christmas, đó là niềm tin;  ấm áp của Chrismas, đó là tình yêu; rực rỡ của Christmas, đó là sự trong sáng;  chính trực của Christmas, đó là công lý; lòng tin tưởng ở Christmas, đó là sự thật; mọi ý nghĩa của Christmas, đó là Chúa Giê Su”.

    Kế cận những bên nhau hạnh phúc, Giáng Sinh còn quá nhiều người không mua, không nhận được quà tặng, không lo được bữa ăn ngon, những em bé bán diêm chết cóng trong đêm băng giá, những đứa con bị cha mẹ bỏ rơi, những người bệnh không được thuốc thang chăm sóc…

    Nhưng có Mother Teresa, người được Chúa Jesus kêu gọi để phục vụ những kẻ bất hạnh từ Giáng Sinh năm 1948. Bà từng nói “Mỗi năm tôi khởi  sự việc làm vào ngày Christmas”.

    Vì, theo bà, “Là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta để Thượng Đế thương yêu người khác qua ta…và  là Lễ Giáng Sinh  mỗi khi ta mỉm cười với anh em của ta và cứu giúp họ”.

    Đó là thánh ý Thiên Chúa.

    Mà trong Lễ Giáng sinh, thường thường người ta cũng hay cầu nguyện

    Cầu nguyện không phải chỉ là sự thờ phượng mà còn là một nguồn sinh lực dồi dào, mạnh mẽ mà con người có thể tạo ra. Ảnh hưởng của sự cầu nguyện lên tinh thần và thể chất có thể chứng minh được.  Ảnh hưởng đó được đo lường bằng sự phục hồi thể xác, đưa tới một trí tuệ sáng suốt, một lương tri ổn định và sự thấu hiểu những mặt khàc nhau trong sự giao thiệp giữa mọi người.

    Nếu ta thành thật tạo ra một thói quen cầu nguyện, cuộc sống của ta sẽ thay đổi rõ ràng. Lời cầu nguyện sẽ để lại trong hành động và thái độ của ta những dấu ấn khó xóa nhòa. Một tác phong bình thản, một nét mặt ung dung tự tại ở những ai đã có một nội tâm phong phú. Trong chiều xâu của lương tri là ngọn lửa của nhân ái. Và con người tự nhìn thấy mình. Họ nhìn ra tính ích kỷ, thái độ kiêu hãnh, tâm trạng  sợ hãi, lòng tham lam, những sai lầm ngớ ngẩn của mình. Họ sẽ triển khai một nghĩa vụ đạo đức, một trí tuệ khiêm cung lâu dài.

    Câu nói, “Hãy cầu xin và sẽ được đáp ứng” đã được chứng minh bằng kinh nghiệm của nhân loại.Thực ra, cầu nguyện không thể mang lại sự sống cho em bé đã chút hơi thở cuối cùng hoặc chấm dứt được cơn đau thể chất. Nhưng cầu nguyện, như hạt radium, là nguồn sinh lực tự tạo sáng chói không bao giờ hết. Khi cầu nguyện, ta đã kết nối bản thân với nguồn sức mạnh bất tận đang quay cuồng trong vũ trụ. Ta xin một phần năng lượng đó cho nhu cầu thiếu hụt của ta để tăng cường bổi bổ. Nhưng đừng cầu nguyện Thượng Đế để thỏa mãn lòng ham muốn nhất thời.

    Ta có thể cầu nguyện bất cứ ở đâu, một mình hoặc với người khác. Hãy nghĩ tới Thượng Đế nhiều hơn là hơi thở khiến cho cầu nguyện trở thành một thói quen.Và đừng cầu nguyện vào buổi sáng rồi suốt ngày sống như một con người man rợ độc ác.

                Hơn bao giờ hết, cầu nguyện bây giờ là một gắn bó cần thiết trong nếp sống của con người. Thiếu quan tâm tới ý nghĩa của tôn giáo đã đưa thế giới tới ngưỡng cửa của sự diệt vong. Nguồn sức mạnh xâu sắc, toàn hảo nhất của chúng ta đã bị lãng quên một cách thảm bại. Cầu nguyện phải được tích cực áp dụng trong nếp sống của chúng ta. Vì nếu sức mạnh của sự cầu nguyện được áp dụng trong đời sống thường nhật thì còn nhiều hy vọng rằng những lời cầu nguyện cho một thế giới tốt đẹp hơn sẽ được đáp ứng.

                Để kết luận, xin mượn lời của nhà văn danh tiếng nước Anh Charles Dickens như sau, khi ông nói tới Christmas: “I will honor Christmas in my heart, and try to keep it all the year”, Tôi sẽ tôn vinh Christmas trong trái tim của tôi và trân trọng Christmas suốt năm”.

     Bác sĩ Nguyễn Ý Đức 

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Chuyện Vãn: Giang Hồ, hai nghĩa tương phản

    Hai chữ giang hồ không mấy xa lạ trong đời sống của mỗi người đều thường đề cập trong thơ, văn, điện ảnh… và cũng là câu nói thường tình với cá nhân, nhóm người trong xã hội.

    Tác phẩm Thủy Hử ban đầu là Giang Hồ Khách Truyện, sau lấy tên là Thủy Hử vì “căn cứ địa” Lương Sơn là vùng đầm, hồ nên Thủy Hử (bến nước). Truyện nầy qua bản dịch của La Thần và Á Nam Trần Tuấn Khải, gồm 3 cuốn, năm 1973, sau đó với Tử Vi Lang nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam.

    Trong truyện Thủy Hử của của nhà văn Thi Nại Am (1296-1372) ở Trung Hoa vào triều Nguyên-Mông (1295-1368), kể về câu chuyện của Tống Giang triều nhà Tống, nổi dậy kéo theo “giang hồ hảo hán” gồm 108 người đến núi Lương Sơn. Gọi là anh hùng Lương Sơn Bạc.

    Tác giả phác họa chân dung từng nhân vật tầng lớp nông dân, võ biền “thế thiên hành đạo” chống lại ách độc tài của triều đình.

    Sau khi Thi Nại Am đã sáng tác xong 70 hồi truyện Thủy Hử, vua nhà Nguyên tuy đã cướp ngôi nhà Tống nhưng đọc xong truyện đã nổi giận bắt giam Thi Nại Am và hạ lệnh phải viết tiếp đoạn sau, kể về việc Lương Sơn Bạc bị dẹp, nếu không sẽ bị xử tội. Lý do của vua Nguyên là sự nổi dậy của “nghĩa quân” sẽ ảnh hưởng cho chế độ hiện tại.

    Thi Nại Am lo lắng, liên lạc với học trò là La Quán Trung (1330-1400, tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa) tới nhà lao cùng bàn bạc. Hai người cùng viết tiếp Hậu Thủy Hử kể việc thất bại của quân Tống Giang. Sau 1 năm, Hậu Thủy Hử hoàn thành, hai thầy trò mang dâng vua Nguyên. Vua Nguyên xem xong bằng lòng, hạ lệnh thả Thi Nại Am.

    Chương đầu của Thủy Hử, khi kể về sự hình thành của nhóm hảo hán Lương Sơn Bạc, Thi Nại Am viết: “Những người trong giang hồ có nghĩa khí đều tụ hội ở Lương Sơn Bạc”.

    Khi Chu Nguyên Chương (1328-1398), xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ, từng giữ dê chăn bò cho địa chủ, khi gia nhập nghĩa quân Quách Tử Hưng, dần dà lập công trạng tiêu diệt Trần Hữu Lượng rồi dẫn 25 vạn đại quân Bắc phạt chiếm được Sơn Đông. Quân nhà Nguyên chạy về Mông Cổ. Tháng Giêng năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng Đế, đặt quốc hiệu là Minh, trở thành vua Minh Thái Tổ. Chu Nguyên Chương gọi Thi Nại Am làm quan nhưng ông từ chối, ông nhuận sắc lại Thủy Hử viết chung với La Quán Trung (có tài viết chương, hồi và hư cấu) lưu lại hậu thế. Vì Chu Nguyên Chương gốc gác như như các nhân vật của Lương Sơn Bạc và sự đời “Được làm vua, thua làm giặc” nên chữ nghĩa văn chương biến hóa từ “giặc” (khi thua) thành “nghĩa quân” khi lật đổ quan quân, triều đình… Trong quyển Ỷ Thiên Đồ Long của Kim Dung đề cập đến Chu Nguyên Chương với hình ảnh hư cấu “Chu Nguyên Chương thống lĩnh Minh Giáo và nhờ binh pháp trong Vũ Mục Di Thư đánh đuổi người Mông Cổ, lập ra nhà Minh”.

    “Giang hồ” từ Việt gốc Hán. Chữ “giang” thuộc bộ thủy, nghĩa là “sông”; “hồ” cũng thuộc bộ thủy nên “giang hồ” chính là “sông và hồ”. Danh từ “Giang” và “Hồ” khi đi với nhau thành tính từ, không còn liên quan gì đến nghĩa của từ gốc

    Trong Tầm Nguyên Từ Điển của Bửu Kế (Sài Gòn 1955): “Giang là sông; Hồ là hồ nước… nghĩa bóng là người sống lang bạt, bất định. Cảnh sống nay đây mai đó, tự do, phóng túng như “thú giang hồ, giang hồ lãng tử” không bị ràng buộc trong phép vua, lệ làng…

    Theo học giả Đào Duy Anh “Nghĩa đen là sông hồ, xuất phát từ chữ Tam Giang (sông Trường Giang, sông Hán Giang và hồ Bành Lãi; Ngũ Hồ (năm hồ lớn của Trung Hoa) nơi người ta hay đến chơi, sau đó chữ giang hồ chỉ những người ngao du nay đây mai đó, hoặc những người lang thang không theo triều đình. Khi áp dụng cho đàn bà, nó chỉ người làm gái điếm”.

    Trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du đã linh động sử dụng hai chữ giang hồ uyển chuyển tùy theo mỗi trường hợp.

    Từ Hải có ý chí độc lập ngang tàng, không chấp nhận sự khuất phục của triều đình nên:

    “Đội trời đạp đất ở đời,

    Họ Từ, tên Hải vốn người Việt Đông.

    Giang hồ quen thói vẫy vùng,

    Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”.

    (Câu 1791-1793)

    Nhưng khi Thúc Sinh nói với Hoạn Thư về nàng Kiều thì Nguyễn Du đã dùng giang hồ theo một hàm ý khác:

    “Tiếc thay lưu lạc giang hồ,

    Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài”.

    (Câu 1989-1990)

    Hay hình ảnh khi Hoạn Thư nổi cơn ghen vì vậy Thúy Kiều cảm thấy:

    “Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,

    Một màu quan tái bốn mùa gió trăng”

    (Câu 1595-1596)

    Trong thi ca cũng thường đề cập đến hai chữ giang hồ, điển hình như các bậc tiền nhân:

    Giang Hành, bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi

    “Tây tân sơ nghĩ trạo

    Phong cảnh tiện giang hồ

    Vũ quá sơn dung sấu

    Thiên trường nhạn ảnh cô…”

    (Bến tây thuyền mới ghé mái,

    Phong cảnh đã là giang hồ rồi.

    Mưa qua rồi trông dáng núi gầy;

    Trời rộng bóng nhạn như đơn chiếc…)

    Bài thơ chữ Hán Giang Hồ Ngụ Hứng của Nguyễn Thượng Hiền:

    “Giang hồ ngụ khách,

    Thiên địa tản nhân.

    Nhất tháp nhàn ngâm,

    Chung niên lãn ngoạ…”

    Quốc Kêu Cảm Hứng của nhà thơ Nguyễn Khuyến

    “Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,

    Đây hồn Thục Đế thác bao giờ…

    Ban đêm ròng rã kêu ai đó?

    Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ”.

    Vào thời tiền chiến với các nhà thơ:

    Bài thơ Dâng Tình của Vũ Hoàng Chương với hai chữ giang hồ:

    “Lũ chúng em chờ chàng qua chín kiếp

    Tình giang hồ phong nhụy vẫn nguyên hương…

    … Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt

    Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu”

    Bài thơ Mộng Xuân Hương của Bích Khê:

    “Nửa cánh giang hồ bạt nhớ thương

    Đêm nay buồn lắm, gục bên giường

    Ngoài ly Lý Bạch trời như mộng

    Sau khói phù dung mộng cố hương”

    Trong văn chương, ngày xưa hai chữ giang hồ liên quan với kiếm khách, điển hình như tác phẩm Giang Hồ Kiếm Khách của nhà văn Nhật Yoshikawa Eiji. Ban đầu truyện nầy đăng tải trên báo Asahi, tác giả dự tính chỉ vài chục chương nhưng rất lôi cuốn độc giả ái mộ nên tờ báo yêu cầu tác giả viết tiếp vì vậy đăng liên tục từ ngày 23 tháng 8 năm 1935 đến ngày 11 tháng 7 năm 1939. Sau đó in thành sách gồm năm tập khoảng một nghìn năm trăm trang.

    Bối cảnh xảy ra ở thế kỷ 16 viết về cuộc đời kiếm sĩ Musashi từ thuở thiếu niên với nhiều bất trắc, quyết lập thân bằng kiếm đạo cho đến lúc trở thành kiếm sĩ vang danh thiên hạ. Kiếm khách thời đó dưới sự thống trị của kẻ quyền lực nên lộng hành trấn áp khắp nơi. Dĩ nhiên “tức nước vỡ bờ” nên có sự nổi dậy của kiếm sĩ chống lại ách độc tài. Đây là một trong những tác phẩm kinh điển nổi tiếng của Nhật.

    Và, điển hình như tác phẩm hư cấu Tiếu Ngạo Giang Hồ của nhà văn Kim Dung trong chốn võ lâm. Nhà văn Cổ Long với Tuyệt Đại Song Kiêu hay Giang Hồ Thập Ác ở Đài Loan vào giữa thập niên 1960.

    Tiếu Ngạo Giang Hồ là một trong những tác phẩm rất ăn khách với độc giả ở miền Nam Việt Nam cũng vào thập niên 1960’ ở Hồng Kông. Tác phẩm đặt theo bản nhạc cầm tiêu hợp tấu giữa hai cao thủ võ lâm chánh/tà. Lưu Chính Phong của phái Hành Sơn và Khúc Dương của Nhật Nguyệt Thần Giáo cảm thấy chốn võ lâm gió tanh mưa máu nên quyết định rời khỏi chốn võ lâm “gió tanh mưa máu” dùng âm nhạc ngao du với đất trời nhưng rồi bị hai phe chính/tà truy sát. Khúc nhạc đó truyền lại cho Lệnh Hồ Xung, chánh phái Võ Đang và Nhậm Doanh Doanh, tà phái Nhật Nguyệt Thần Giáo… Trải qua bao sóng gió, oan nghiệt, cuối cùng hai người trai tài, gái sắc chán cảnh thị phi, chém giết, dắt tay nhau tiếu ngạo giang hồ.

    Thú vị nhất trong truyện, phim kiếm hiệp (chưởng) luôn nhắc đến hai chữ giang hồ hầu như dành cho chánh phái, ơn đền oán trả, nghĩa khí võ sĩ, trượng phu với kẻ ngã ngựa… Hình ảnh Cain Bang ăn mặc rách rưới, sống “đầu đường xó chợ” nhưng hành hiệp đạo nghĩa.

    Về âm nhạc, ca khúc Dừng Bước Giang Hồ của nhạc sĩ Hoàng Trọng với ban hợp ca Thăng Long đã một thời vàng son với giới mộ điệu âm nhạc:

    “Chiều nay sương gió, lữ khách dừng bên quán xưa

    Mơ màng nghe tiếng chuông chiều, vương về bên quán tiêu điều…

    Tới đây nơi xưa, gió êm êm đưa

    Áng mây trôi tới xa xôi khuất nơi sau đồi

    Quán tranh xiêu xiêu, chốn đây cô liêu,

    Nhắc cho ta biết bao nhiêu dáng xưa yêu kiều…

    Đã bao năm qua, sống nơi phương xa,

    Về phương cũ đành dừng bước chân giang hồ”

    Ca khúc Tình Kỹ Nữ của nhạc sĩ Phạm Duy

    “Đêm nay đôi người khách giang hồ

    Gặp nhau tình trăng nước

    Sánh vai nhịp bước giang hồ

    Kề vai ước xây nhà bên suối

    Kề môi ước gây vài đường tơ…

    … Đêm nay khi tàn giấc mơ vàng

    Ngồi đây sầu ngơ ngác

    Ngắm bao tình khách giang hồ

    Lòng ta nhớ duyên tình kỹ nữ

    Lòng ta nhớ cung đàn mùa xưa”.

    Hai chữ giang hồ với những dòng trích trên với hình ảnh đẹp trong tâm hồn lãng tử, phiêu bồng, không vướng bụi trần với thiên nhiên hữu tình. Ngày đó. hai chữ giang hồ đi kèm với lãng tử, những chàng trai nét phong trần ưa lang bạt nay đây mai đó vì “Thời lai đồ điếu thành công dị. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa” (Cảm Hoài của danh sĩ Đặng Dung) hay đâu đó “Chí lớn trong thiên hạ đựng không đầy đôi mắt mỹ nhân” của Phạm Thái.

    Trong bài viết của Hà Khánh Quân (Luân Hoán) về người bạn cùng cố hương với tựa đề: Nguyễn Đông Giang, Thơ Của Người Giang Hồ. “Người Giang Hồ của đám chiến sĩ sớm ngã ngựa, có tên thật Nguyễn Văn Ngọc. Anh được ra đời vào ngày 06 háng 02 năm 1943 tại làng An Hải, Đông Giang, quận 3 thành phố Đà Nẵng. Anh theo học tiểu học tại trường Hoàng Diệu rồi vào Khóa 19 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

    Năm ngón tay của một bàn tay phải, là món quà lưu niệm, anh dành cho cuộc chiến tranh Việt Nam. Nguyễn Đông Giang thành thầy giáo tại các trung học Quốc Gia Nghĩa Tử, Đông Giang, Bồ Đề, Khiết Tâm,Vinh Sơn, Duy Nhân (Đà Nẵng), Trần Quý Cáp (Hội An)… Sau 1975, không thủ phận, nên anh có mặt trong tổ chức phục quốc. Được ghép vào thành phần “âm mưu lật đổ chế độ”, Nguyễn Đông Giang có cơ hội ăn cơm tù Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sáu năm. Ra tù bị quản chế tại gia, cấm vượt khỏi Đà Nẵng. Anh nhanh chóng trở thành một ông xe thồ lành nghề.

    Ngoài cái thân trần, không có mảnh giấy nào lận lưng, kể cả bằng tốt nghiệp “cải tạo” tốt, Nguyễn Đông Giang đến Hồng Kông một mình năm 1991. Không có bất cứ thứ gì để chứng minh thân thế, sự nghiệp, anh bị giữ tại trại một thời gian năm năm. Có tay nghề tranh đấu, nên anh tiếp tục hành nghề trước những bất công trong trại tạm trú. Song song với công việc giúp mình, giúp người, anh làm thơ. “Cuối cùng, một số thơ, một số bài viết của ông, đã là đầu mối cho International Pen in London và Liên Hiệp Quốc can thiệp, vớt anh đến Hoa Kỳ vào năm 1996, theo diện nhà báo tị nạn chính trị”.

    *

    Giang hồ mang hình ảnh xấu với băng đảng, các tay anh chị sống ngoài vòng pháp luật, mạnh được yếu thua. Giang hồ nghĩa xấu chỉ bọn lưu manh, du đãng, du côn, du thủ du thực, đầu gấu, trộm cắp, đâm thuê chém mướn… Ngày nay, người ta nói rằng nhiều người tự xưng là giang hồ thực ra là du đãng, lưu manh, họ không có tư cách và phẩm chất của những giang hồ xưa.

    Nhà văn Duyên Anh với các tác phẩm Nặng Nợ Giang Hồ, Điệu Ru Nước Mắt Luật Hè Phố, Dzũng Đa-Kao, Vết Thù Hằn Trên Lưng Con Ngựa. Nhà văn Nguyễn Thụy Long với Bước Giang Hồ, Loan Mắt Nhung, Nợ Máu… Tuy nhiện trong vài tác phẩm nầy, tác giả cũng đề cao vài nhân vật trong băng nhóm có tính nhân bản, sống chết có nhau để hài hòa trong xã hội đen.

    Trong quyển Điệu Ru Nước Mắt với hình ảnh Trần Đại (Đại Cathya) đứng đầu “tứ đại giang hồ. Duyên Anh nghe Trần Đại kể lại cuộc đời giang hồ, những trận đấm đá, đem chém thư hùng đẫm máu trên đường phố, dựng nên tác phẩm.

    Bài thơ tặng cho Đại Cathay

    Trần Đại trong Điệu Ru Nước Mắt xuất thân là con nhà giàu, học giỏi nhưng chán ghét thời cuộc, bỏ nhà theo tiếng gọi giang hồ, làm đại ca nhưng vô cùng nghĩa hiệp, cứu giúp kẻ thân cô thế cô, dám đánh cảnh sát ăn hối lộ. Cuối cùng, vì chung thủy với mối tình cô gái (con nhà trâm anh thế phiệt, học trướng Tây ở Đà Lạt và Sài Gòn, chán ghét xã hội thượng lưu dối trá nên gia nhập vào băng nhóm) vô cùng lãng mạn, đã dũng cảm chết bi tráng trên hàng rào kẽm gai…

    Trong quyển Loan Mắt Nhung của Nguyễn Thụy Long với hình ảnh Loan có đôi mắt đen huyền đẹp như nhung, do biến cố cuộc sộng, thời cuộc đẩy đưa, từ thiếu niên ngây thơ trong sáng thật thà gia nhập băng đãng, bản lĩnh lỳ  lợm, trở thành đại ca giang hồ. Tuy sống trong xã hội đen nhưng bản chất lương thiện.

    Hai nhà văn không đề cao xã hội đen, đâm thuê chém giết nhưng đề cập đến trong vũng lầy tội lỗi đó cũng có vài nhân vật có nghĩa, có tình trong giới giang hồ (?).

    Trong ca dao có câu: “Trai tứ chiếng gái giang hồ. Gặp nhau làm nổi cơ đồ cũng nên” đề cập đến hình ảnh “trai tứ chiếng, gái giang hồ” thường bị khinh bỉ tùy theo môi trường và xã hội.

    Thoạt đầu “trai tứ chiếng” xưa kia có nghĩa gốc là nơi quy tụ bốn kinh trấn xung quanh kinh đô Thăng Long, đã từng trải qua bốn phương trời tụ hội. Theo thời gian và môi trường xã hội xấu, nó trở thành trai “tứ cố vô thân” tụ tập nhau làm điều bất chính.

    “Gái giang hồ” với nghĩa xấu ám chỉ hình ảnh gái làm điếm bụi đời, trùm băng đảng dụ dỗ, bắt cóc con gái vào tệ nạn buôn bán tình dục và cả móc túi… Trong những thập niên qua, báo chí trong nước đề cập rất nhiều loại “gái giang hồ” nầy từ nơi nầy đến nơi khác, qua mặt luật pháp, làm ăn phi pháp.

    Như đề ở trên, giang hồ, hai nghĩa tương phản (tốt/xấu, tích cực/tiêu cực) vì vậy khi đề cập đến hai chữ nầy không nên nhìn phiến điện mà xét từng nhân vật, thời điểm cũng như vai trò của nó trong cuộc sống.

    *

    Sau năm 1975 ở trong Nam có hai bài thơ viết về Giang Hồ rất thú vị.

    Nhà thơ Linh Phương, Thư ký tòa soạn tuần san Tinh Hoa Nữ Sinh 1967. Tác giả bài thơ Kỷ Vật Cho Em, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc trước năm 1975 được phổ biến rộng rãi. Tác phẩm đã xuất bản: Thơ Tình Linh Phương (Thơ – NXB. Ngựa Hồng – Sài Gòn 1967), Kỷ Vật Cho Em (Thơ – NXB. Động Đất – Sài Gòn 1971), anh đã phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến.

    Giang Hồ

    “Giang hồ từ thuở ta thất thế
    Chí lớn không thành thà ẩn cư
    Viễn xứ. Ờ! Thôi thì viễn xứ
    Hết đời phiêu bạt chốn quê xa…
    … Cha xưa cầm súng ra đánh trận
    Bỏ xác trên rừng mấy mươi năm
    Lần đi đưa tiễn – tay chưa nắm
    Vạt áo che ngang mẹ khóc thầm…
    … Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận
    Vẫn thấy lòng đau rứt ruột đau
    Thèm nghe tiếng dế thời thơ ấu
    Ngắm cánh diều bay giữa vô cùng
    Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận
    Thầm hẹn mai này quy cố hương
    Ta về làm bạn cùng chim chóc
    Lẫn với muỗi mòng chín cửa sông”

    Bài thơ Giang Hồ của Phạm Hữu Quang, quê An Giang, cựu sinh viên Đại Học Sư Phạm Sài Gòn và Đại Học Cần Thơ, bị stroke lần thứ hai, qua đời ngày 28/4/2000 lúc 49 tuổi. Phạm Hữu Quang viết bài thơ vào tháng 5/1991.

    Giang Hồ

    “… Giang hồ đâu bận lo tiền túi

    Ngày ta đi chỉ có tay không…

    Giang hồ ta ghé nhờ cơm bạn

    Đũa lệch mâm suông cũng gọi tình…

    Giang hồ có buổi ta ngồi quán

    Quán vắng mà ta chửa chịu về

    Cô chủ giả đò nghiêng ghế trống

    Đếm thấy thừa ra một gốc si

    Giang hồ mấy bận say như chết

    Rượu sáng chưa lưa đã rượu chiều

    Chí cốt cầm ra chai rượu cốt

    Ừ. Thôi. Trời đất cứ liêu xiêu

    Giang hồ ta chẳng hay áo rách

    Sá gì chải lược với soi gương…

    Giang hồ ba bữa buồn một bữa

    Thấy núi thành sông biển hoá rừng

    Chân sẵn dép giày, trời sẵn gió

    Ngựa về. Ta đứng. Bụi mù tung…

    Giang hồ tay nải cầm chưa chắc

    Hình như ta khóc mới hôm qua

    Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt

    Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”.

    Mấy câu thơ “Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận. Vẫn thấy lòng đau rứt ruột đau” (LP) và “Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt. Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà” (PHQ) quá tuyệt.

    Hai bài thơ của Linh Phương và Phạm Hữu Quang trong hoàn cảnh xã hội lúc đó của bản thân tựa nhưi kẻ sĩ ngày xưa khi thất thế.

    Lục Du viết “Chính xã hội thay đổi sau những biến cố lớn, quan niệm trong văn hóa truyền thống bị thay bằng những quan niệm duy vật, tôn sùng kim tiền, vật chất, không tin vào nhân quả, luân hồi đã tạo điều kiện cho cái xấu, cái ác lên ngôi, hình thành môi trường sống thuận lợi cho những người giỏi luồn lách ký ức”.

    Trong quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ của nhà văn Khái Hưng ấn hành năm 1967, dày hơn bốn trăm trang gồm hồi.

    Hồi 3: Tiêu Sơn Kết Nghĩa, “Trần Quang Ngọc, hai mươi nhăm tuổi, Phạm Thái hai mươi tuổi, Lê Báo mười chín tuổi, xin theo gương ngài cùng họ Lưu, họ Trương, kết nghĩa anh em, trước là để phò nhà Lê, sau nữa là để rửa thù cho cha chúng tôi. Tôi thề rằng tôi coi Phạm Thái, Lê Báo như hai anh em ruột, cũng hai người sống chết có nhau. Nếu tôi ở không đúng lời thề xin chết như thế nầy”. Hình ảnh 3 chàng trai trẻ với nghĩa khí vì vận mệnh đất nước lên vùng Kinh Bắc “kết nghĩa giang hồ” quá đẹp.

    Hình ảnh Phạm Thái (1777-1813) quê làng Yên Thị, con của võ tướng Trạch Trung Hầu Phạm Đạt. Tuổi đôi mươi, Phạm Thái nối chí cha, kết giao với những người đồng chí hướng, khi bị truy nã thì cắt tóc, giả làm nhà sư vào tu ở chùa Tiêu Sơn, đặt đạo hiệu là Phổ Chiếu thiền sư. Đi tu được mấy năm, nhưng sự chưa đâu vào đâu thì Trương Đăng Thụ ốm chết, Phạm Thái hay tin liền vội vã về quê bạn ở làng Thanh Nê, Kiến Xương để điếu tang, rồi được gia chủ mến tài lưu lại trong nhà. Định mệnh run rủi, Phạm Thái gặp gỡ, xướng họa thơ văn rồi nảy lòng si tình Trương Quỳnh Như, em gái Trương Đăng Thụ. Cuộc tình không thuận, mẹ Trương Quỳnh Như nhất quyết muốn gả nàng cho gia đình giàu có Trịnh Nhị, khiến nàng phẫn uất tự vẫn. Đại nghiệp chưa thành, tình duyên đau khổ, Phạm Thái chẳng màng thế sự, trổ hết tài hoa làm thơ và lang bạt, rồi ốm đau tử tận ở Thanh Hóa lúc mới 36 tuổi”.

    Trong tác phẩm nầy đề cập đến các tráng sĩ hoài Lê để chống lại nhà Tây Sơn. Nhân đây nhắc sơ về Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792) xuất thân từ Tây Sơn, Bình Định. Ba anh em Tây Sơn tam kiệt, lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chấm dứt cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh. Bắc Bình Vương Quang Trung đánh Nam dẹp Bắc lập nên nhiều chiến công hiển hách như Trận Ngọc Hồi – Đống Đa (Chiến Thắng Kỷ Dậu) làm quân Thanh xâm lược khiếp hồn bạt vía, và sau đó lên ngôi Hoàng Đế Quang Trung, chẳng may qua đời trong 4 năm làm vua, nên quân Tây Sơn như rắn mất đầu trong cuộc nội chiến và dẫn kết hậu quả thảm hại!

    Trải qua một trăm năm mươi năm, Nguyễn Huệ không những chìm trong quên lãng mà lăng mộ thân xác cũng bị làm nhục! Từ danh tướng, hoàng đế trở thành tội đồ!…

    Danh dự nhân vật lịch sử được phục hồi, vinh danh trở lại, ghi trang sử mới trong lịch sử Việt Nam. Thời Việt Nam Cộng Hòa Quang Trung – Nguyễn Huệ: Thánh Tổ binh chủng Quân Vận (hình ảnh ngảy xưa điều quân thần tốc). Chân dung Quang Trung được in trện tờ 200 đồng và nhiều con đường, ngôi trường mang tên Quang Trung, Nguyễn Huệ, ngay cả Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung… Đây cũng là giai đoạn bi thảm của lịch sử vì chỉ là chuyện vãn nên không đề cập nhiều sẽ lạc đề.

    Giang hồ ngày xưa là vậy, giang hồ của kẻ sĩ trước hoàn cảnh nhiễu nhương của xã hội nên bôn ba kết nghĩa dấn thân cho đại cuộc. Giang hồ ngày xưa là hình ảnh những người chán cảnh ô trọc trong xã hội, không muốn vương lụy, bon chen nên tự chọn con đường phiêu lãng… Còn giang hồ ngày nay chỉ là phần tử “giá áo túi cơm” băng nhóm bất hảo, gian manh chỉ làm băng hoại xã hội!

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, December 2024

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TS MAI THANH TRUYẾT

    WABI SABI – TRIẾT LÝ CỦA SỰ BẤT TOÀN

    Knowing yourself is the beginning of all wisdom – Biết chính mình là điều khởi đầu cho trí tuệ.  Aristotle

    Kính dâng và tưởng nhớ GS Nguyễn Văn Trường, người luôn luôn tôn trọng và chấp nhận tất cả những bất toàn trong cuộc sống của người viết…

    Wabi-Sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén. Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh. Các chén cổ trong phòng khách của bạn được đánh giá cao vì những vết nứt và sứt mẻ của nó?

    Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách “phát giải thưởng” những bất toàn, vết nứt trong lòng và những khiếm khuyết trong cuộc sống lộn xộn của chúng ta?

    1. Khái niệm về Wabi-Sabi – Tại sao sự hoàn hảo là mục tiêu sai lầm

    Wabi-Sabi (侘 寂) là một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu là sự chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ.

    Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi của suốt cuộc đời bạn, việc theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!

    Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…

    Để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như: trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận.

    Thực sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa? Do đó, sẽ còn những cái nhứt tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra. Tuy nhiên, nơi hoàn hảo nhứt đối với sự đổi mới là gì? Trong một thế giới hoàn hảo, những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến cơ hội không hoàn hảo!

    Nếu chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời – nhưng cần phải mất một thập kỷ để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên được thực hiện để hành động như thể nó là hoàn hảo.

    Chúng ta cần các số liệu mới, các quy trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng các căn bản hạ tầng để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới quan của mình. Chúng ta không chỉ phải thay đổi cách chúng ta nghĩ, mà là những gì chúng ta tin. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi mới trong ta.

    Vài ý nghĩa của Wabi-sabi – Lối sống wabi sabi là gì?

    Nguồn gốc của wabi-sabi xuất phát từ Thiền tông, có nghĩa là có một khía cạnh tâm linh quan trọng đối với nó. Wabi xuất phát từ gốc “wa” có nghĩa là hòa hợp, hòa bình, yên bình và cân bằng. “Sabi” có nghĩa là “sự nở rộ của thời gian“.

    Nghệ thuật nhiếp ảnh Wabi-sabi là gì?

    Wabi-sabi dành cho nhiếp ảnh gia. … Đơn giản chỉ cần đặt: “Wabi-sabi” là thẩm mỹ Nhật Bản Zen về vẻ đẹp của sự không hoàn hảo, vô thường, và tự nhiên”. Nếu bạn có một chiếc quần jean yêu thích đã “dính” vào cơ thể của bạn trong những năm dài đằng đẵng, đó là “wabi-sabi“.

    Thẩm mỹ Nhật Bản là gì?

    Thẩm mỹ Nhật Bản là một tập hợp các lý tưởng cổ xưa bao gồm wabi (vẻ đẹp thoáng qua và rõ rệt), sabi (vẻ đẹp của sự tự nhiên và thời gian), và yūgen (ân sủng sâu sắc và tinh tế). Những ý tưởng này, và những ý tưởng khác, nhấn mạnh đến nhiều tiêu chuẩn văn hóa và thẩm mỹ của Nhật Bản về những gì được coi là trang nhã và ôn nhu.

    Phong cách Wabi-sabi là gì?

    Trong tính thẩm mỹ truyền thống của Nhật Bản, wabi-sabi (侘 寂) là quan điểm của thế giới tập trung vào việc chấp nhận sự thoáng qua và không hoàn hảo. Thẩm mỹ đôi khi được mô tả là một trong những vẻ đẹp “không hoàn hảo, vô thường và không đầy đủ”.

    • Hãy rời xa “hoàn hảo”

    Các bạn hình dung trong một thời điểm nào đó, khi con cái của bạn còn trong thời kỳ tuổi thơ, chập chững trong các lớp thời tiểu học. Mỗi lần tan trường về, chúng lượm những lá cây khô, một vài hòn sỏi có góc cạnh “đẹp đẹp”. Đối với chúng, những vật thể trên rất quý giá, được chúng nâng niu, ít nhứt là trong một khoảnh khắc nào đó. Từ đó, bạn có thể nghĩ là, đó là những kho báu của chúng qua những kết cấu, hình dạng và màu sắc đặc biệt của các vật thể trên, mỗi thứ độc đáo mỗi vẽ. Vì vậy, điều kỳ diệu chỉ là cung cách chúng đang có, chỉ vậy thôi!

    Trong cuộc sống và văn hóa Nhựt, “sự đơn giản” thường là hình thức bề ngoài cho một cuộc sống đã được tổ chức tỉ mỉ, tính toán cho sự hoàn hảo. Người Nhựt thường được dạy từ nhỏ trong gia đình, là cố gắng tối đa để làm cho tốt nhất, sáng nhất, và phi thường nhất.

    Nhưng cái gì có thể nguyên thủy đơn giản hơn là chấp nhận? (But what could be more radically simple than acceptance?) 

    • Wabi-Sabi chào mừng bạn đang chia sẻ một ấm trà với bạn bè. Nó đang chuẩn bị thức ăn ngon để nuôi dưỡng, không phải để thể hiện. Nó giữ một giỏ dép ấm cúng ở cửa cho khách. Đó là bộ khăn trải giường đã mài mòn, bó hoa của cành cây được bó lại, muỗng nĩa không cùng bộ và chén bát gia truyền truyền với tinh thần của các bữa ăn được phục vụ với tình thương yêu.
    • Richard Powell, tác giả của “Wabi Sabi Simple” nhận định: “Chấp nhận thế giới là không hoàn hảo, chưa hoàn thành, và thoáng qua, và sau đó đi sâu hơn và tung hê thực tế đó, cũng giống như sự tự do.” (“Accepting the world as imperfect, unfinished, and transient, and then going deeper and celebrating that reality, is something not unlike freedom”).

    Do đó, ý tưởng từ bỏ “hoàn hảo” và thậm chí “đủ tốt” (good enough) không thể cưỡng lại sự hấp dẫn trong cuộc sống, thí dụ như các dấu vân tay, vết sẹo trên thân thể và những đường “xếp” trên mặt khi chúng ta cười. Tất cả hoàn toàn không hoàn hảo, và mỗi người trong chúng ta đều có thể ngắm lấy vẻ đẹp không hoàn hảo trong đó.

    Nhìn về phía Đông

    Wabi-sabi đại diện cho sự chấp nhận sự bất toàn (imperfection). Khái niệm này có nguồn gốc từ giáo lý Phật giáo và bao gồm việc công nhận sự bất đối xứng, bất thường, và khiêm tốn như các thuộc tính của sắc đẹp tùy theo nhản quan của mỗi người.

    Từ thế kỷ thứ 15, người Nhật đã cũng nghĩ ra một nghệ thuật tên là Kintsugi (hoặc Kintsukuroi), có nghĩa là “sửa chữa vàng“. Nghệ thuật Nhật Bản sửa chữa đồ gốm bị phá vỡ với một sơn mài đặc biệt phủ bột vàng, bạc, hoặc bạch kim. Các đường nối vàng rực rỡ trong các vết nứt của đồ gốm, tạo ra một ngoại hình độc đáo cho mảnh ghép.

    Phương pháp sửa chữa bảo tồn kỷ niệm lịch sử độc đáo của mỗi tạo tác bằng cách nhấn mạnh lịch sự “gãy xương” và bị phá vỡ của nó, thay vì che giấu hoặc ngụy trang những nét gẩy. Kintsugi thường làm cho mảnh được sửa chữa thậm chí đẹp hơn bản gốc, làm sống lại nó với cuộc sống mới.

    Nhửng kỹ thuật này họ học từ thiền học, cái cũ và cái mới có thể sống chung với nhau để tạo nên cái gì đẹp hơn.

    Trong một ý nghĩa rất thực tế, ý tưởng của wabi-sabi mời gọi người xem xét sự không hoàn hảo – một vết lõm trong một cái chén đồng hoặc một vết nứt trong một bình thủy tinh – hay những nét đổ nát qua thời gian của bức tượng Phật.

    Tất cả như là một vật thể có giá trị.

    Ý tưởng ôm lấy sự không hoàn hảo hoàn toàn là cái nhìn ngược lại của chúng ta có trong thế giới Tây phương.

    Và như vậy, khi bạn chiêm nghiệm để tạo ra một nền văn hóa của sự đổi mới – để truyền cảm hứng cho những người tốt nhất và sáng nhất của bạn để đổi mới – biết rằng trước tiên bạn phải khuyến khích việc theo đuổi sự không hoàn hảo. Điều này không có nghĩa là chấp nhận thất bại. Nó có nghĩa là để nắm bắt học tập. Các nhà sáng tạo không có ý định thất bại từ ban đầu. Họ quyết định học hỏi, tìm tòi. Họ sử dụng sự không hoàn hảo như một phương tiện để kiểm tra các giả định của họ về những gì có thể. Và một ngày nào đó, họ sẽ có một sản phẩm hoàn hảo vào thời điểm đó.

    • Robabi Griggs Lawrence, tác giả của cuốn sách “Bất toàn đơn giản: Xem xét lại ngôi nhà Wabi-Sabi” (Simply Imperfect: Revisiting the Wabi-Sabi House), trong đó, nếu một cái rương cũ có ý nghĩa với bạn, hay một ngăn kéo của bàn viết của bạn bị mất đi, thì những điều đó không nhất thiết phải là một chướng mắt. Nó cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy các mãnh (có vết tích trên) đã được xử dụng và rất được ưa thích. Utsukushii, một từ ngữ tiếng Nhật có ý nghĩa là cho “đẹp“, đã xuất phát từ ý nghĩa ban đầu là “được yêu.”
    • Hãy suy nghĩ về màu sắc có trong tự nhiên: xanh, xám, tông màu đất và rỉ sét. Điều này tạo ra một bầu không khí yên bình và hài hòa. Wabi-sabi không có nghĩa là ôm lấy sự lộn xộn, mà là “có suy nghĩ và làm việc đằng sau nó, không bỏ bê.” Một ấm trà tinh tế không thể tỏa sáng nếu nó được nằm trong một tủ chất chứa đầy nghẹt những những vật thể khác; mà là bạn phải cần chuẩn bị một không gian để bạn có thể cho nó đứng riêng và thực sự đánh giá cao nó mỗi khi bạn đi qua đi lại. Mọi đồ vật trong nhà bạn phải đẹp, hữu ích, hoặc cả hai trong cái nghĩa wabi-sabi của bạn!

    http://www.wholeliving.com/sites/files/wholeliving.com/ecl/images/content/pub/body_and_soul/2010Q4/mbd106211_1010_food_06_5492_hd.jpg

    Sự chào đón sự không hoàn hảo này trong cuộc sống của bạn là trọng tâm của khái niệm wabi-sabi của Nhật Bản, có nghĩa là “vô thường, không hoàn hảo và không đầy đủ.” Từ này xuất phát từ hai từ riêng biệt. “Wabi” mô tả sự sáng tạo của vẻ đẹp hoàn hảo thông qua việc bao gồm các loại hoàn hảo đúng, chẳng hạn như một bất đối xứng trong một chén sứ thủ công (tương phản với độ chính xác của chén làm bằng máy). “Sabi” phản ánh loại vẻ đẹp phát triển theo độ tuổi, chẳng hạn như sự xuất hiện của quá trình oxy hóa bề mặt của một bức tượng đồng.

    Thông thường, wabi-sabi được áp dụng cho các nguyên tắc thiết kế, chẳng hạn như tạo không gian sống để tránh các phòng khách trùng hợp với nhau vào những năm 1940 hoặc ’50. Điều này bao gồm tập trung vào các loại không đối xứng bạn sẽ tìm thấy trong tự nhiên – ghế bằng gỗ thủ công, sự rủ xuống tự nhiên của một cánh hoa khô trong một chiếc bình hoặc một chiếc túi da mòn đã được đi theo bạn trong suốt một thời gian dài.

    Nhưng không phải tất cả wabi-sabi đều có chủ ý. Thiên nhiên là nguồn tốt nhất của thẩm mỹ wabi-sabi. Và khi bạn hòa hợp với thế giới bên ngoài, bạn bắt đầu thấy wabi-sabi ở những nơi khó xảy ra nhất. Đó là:

    • Các vết nứt trong vỏ cây, một dấu hiệu của sự trưởng thành khỏe mạnh;
    • Hoặc các vết nứt cằn cỗi trên khuôn mặt của chúng ta khi chúng ta già đi;
    • Hoặc nét mặt rám nắng, tự tin khi chúng ta đạt được sự khôn ngoan trên suốt quảng đường dài;
    • Và, Krishnamurti đi sâu hơn, nói rằng linh hồn chúng ta đều được cấu thành bằng cùng một loại giấy báo, xuất phát từ các nếp gấp trong bài báo và qua thời gian từ từ được gấp lại thành những nếp và khi mở ra, thì đó là những trải nghiệm của chính bạn.

    Rốt ráo lại:

    Hãy rung những chuông vẫn còn có thể rung

    Hãy quên đi lời đón mời hoàn hảo của bạn

    Trong mọi thứ đều có vết rạn nứt

    Đó là cách ánh sáng len vào”  

    Leonard Cohen

    (Ring the bells that still can ring

    Forget your perfect offering

    There’s a crack in everything

    That’s how the light gets in.

    Leonard Cohen

    Hiện tại

    Kết luận trong đời thường là:

    • Ngày hôm nay chúng ta không còn thấy cần thiết phải lấy tư tưởng về giáo dục, luân lý, những lời giảng dạy của Khổng Tử làm mẩu mực trong cuộc sống nữa;
    • Cũng không còn là lúc bình luận chiến lược, chiến thuật …đánh nhau qua các thế trận của …Binh pháp Tôn Tử nữa!

    Chính vì vậy mà con người và Đất Nước Việt phải chịu sự trì trệ biết bao thế hệ, đặc biệt trong chiều dài lịch sử trong suốt hơn 45 năm qua.

    Vì vậy,

    • Chúng ta cần phải áp dụng ý tưởng dân tộc từ tiền nhân để lại cộng thêm chiều hướng đổi mới của dòng lịch sử dân tộc để tiến đến sự toàn hảo trong cái bất toàn của trời đất.
    • Và một người bạn trên mạng đã góp ý như sau:” Nếu nói về sự ‘không hoàn hảo’ thì có thể lấy ngay trường hợp Việt Nam Cộng Hòa làm ví dụ là rất phù hợp. Nước VNCH từng nức tiếng là Hòn Ngọc Viễn Đông tức là VNCH là một đất nước xinh đẹp, tự do, phồn thịnh rồi, phải không ạ? Trước khi bị CS cướp nước, cũng có nhiều điều tiếng này nọ chê bai, chỉ trích nền Tự do, Dân chủ và các vị lãnh đạo của Nước VNCH. Nhưng đến hôm nay, sau mấy mươi năm nhìn lại, thì cũng chính các vị chê bai đấy, kể cả các vị từng ‘Ăn cơm Quốc gia, thờ ma CS’, thì hầu hết đều nhìn nhận Nước VNCH dù “không hoàn hảo” nhưng đã rất đẹp, rất Tự do, Dân chủ đấy sao??!!”

    Xin hãy chấp nhận sự bất toàn của dân tộc để làm kim chỉ nam cho những hướng mới trong việc mưu tìm sự toàn bích trong cái bất toàn…

    Mai Thanh Truyết–20-12-2020

  • Tin tức

    NAMASTE – I BOW TO THE DIVINE IN YOU

    Namaste – Tôi Cúi Đầu Trước Sự Thiêng Liêng Trong Bạn

    Những suy nghĩ dưới đây được người viết “góp nhặt cát đá” và đúc kết lại. Đây không phải là một suy nghĩ hay diễn giảng có tính cách tôn giáo mà là, theo người viết, một cách thể hiện “cái Tâm lành” sẳn có trong mỗi chúng ta. Thể hiện cái Tâm lành trên tức là chúng ta …đang đi trên con đường tự sám hối. Đã là một con người, ai không là người KHÔNG CÓ TỘI?

    Trời đất giao thoa đem giác ngộ

    Gió trăng hòa điệu xóa mê bờ

    Thơ Phương Hoa CĐ

    Namaste (/ ˈnɑːməsteɪ /, hay Devanagari: रमस तत, đây là biển hiện của một lời chào trong văn hóa Ấn Độ. Namasta thường được biểu hiện với một cái cúi nhẹ và hai bàn tay ấp vào nhau, hai lòng bàn tay chạm vào nhau và ngón tay hướng lên trên, ngón cái áp sát vào ngực và nhắm mắt lại. Cử chỉ này được gọi là Añjali Mudrā; tư thế đứng kết hợp nó là Pranamasana.

    Trong Ấn Độ giáo, nó có nghĩa là “Tôi cúi đầu trước sự thiêng liêng trong bạn“. Namasta cũng có thể được nói mà không có cử chỉ hay động tác nào, hoặc cử chỉ có thể được thực hiện bằng lời nói.

    Thuật ngữ namas được tìm thấy trong văn học Vệ Đà (Vedic). Namas-krita và các thuật ngữ liên quan xuất hiện trong kinh điển Rigveda của Ấn Độ giáo như trong Vivaha Sukta, theo nghĩa “thờ phượng, tôn thờ” (workship, adore). Đó là một biểu hiện của sự tôn kính, thờ phượng, tôn kính, một “sự tôn kính” và “chầu” trong văn học Vệ Đà và các văn bản hậu Vệ Đà như Mahabharata.

    Trong thời đại đương đại, “Namaḥ” có nghĩa là “cúi đầu’, ‘vâng lời”, “chào hỏi tôn kính” hoặc “chầu” và “te” có nghĩa là “với bạn”. Do đó, Namaste có nghĩa đen là “cúi chào bạn”.  Trong Ấn Độ giáo, nó cũng có một phần tâm linh phản ánh niềm tin rằng “thần thánh và linh hồn -divine and soul” cũng tương tự như là trong “bạn và tôi – you and me“, hay diễn nôm na và có hàm ý là: “Tôi cúi đầu trước sự thiêng liêng trong bạn”. Và nếu diễn giảng theo nhà thần học Oxhandler, đó là một thuật ngữ của Ấn Độ giáo có nghĩa là: ”sự linh thiêng trong tôi nhận ra sự thiêng liêng trong bạn – the sacred in me recognizes the sacred in you”.

    Trong văn hóa đương đại, Namaste có liên hệ chặt chẽ với yoga và gắn liền với yoga, trong đó một tôn hành giả có thể bắt đầu hoặc kết thúc một phiên với Namaste với một  cử chỉ giống như cầu nguyện đi kèm. Trong yoga phương Tây, Namaste thường có các ứng dụng tâm linh, một cách để nhận ra sự thiêng liêng trong tâm khảm (inner divinity) hoặc sự bình an (peace) bên trong của một người.

    Bạn có thể sử dụng Namaste để nói lời tạm biệt?

    Namaste có thể được sử dụng để nói “tạm biệt“. Điều này là bởi vì điều đó không có nghĩa là “xin chào” hay “tạm biệt“, mà là: ”Tôi cúi đầu trước sự thiêng liêng trong bạn”. Vì vậy, đó là một điều tôn trọng và tích cực để nói cả trong lời chào lẫn chia tay. Như khi nó được sử dụng như một lời chào, khi bạn nói Namaste khi chia tay, nghĩa là cùng với cử chỉ cúi đầu của bạn kèm theo.

    Namaste và đời sống

    Dưới đây là một vài cách giải thích về Namaste có thể ảnh hưởng và thay đổi tích cực cuộc sống của bạn.

    1. Đây là một nguyên tắc vàng (golden rule) khuyến khích chúng ta đối xử với người khác theo cách chúng ta muốn được đối xử. Nếu bạn thừa nhận sự đồng nhất của bản thân với Namaste, rõ ràng là bạn dễ dàng đối xử với mọi người bằng sự tôn trọng mà chính bản thân mong muốn.
    • Tất cả những gì tốt nhất và trang trọng nhất trong tôi đều chào đón tất cả những gì tốt nhất và trang trọng nhất trong bạn.  Như vậy, chúng ta thấy vui khi tập trung suy nghĩ vào những gì tốt nhất và trang trọng nhất trong nhau không?

    Thay vì chỉ phản ứng lại những gì tha nhân đang nói hay hành động có thể làm tổn thương bản thân hoặc gây ra phản ứng tiêu cực, bạn có thể tập trung vào một sự suy nghĩ tích cực hơn là: “Thay vì phản ứng lại, bạn có thể dừng lại và nhận thức rằng có lẽ người này đang sợ hãi hoặc đang bị một cảm xúc quá nặng”. Từ đó, phản ứng của bạn có thể thay đổi diễn tiến  của câu chuyện, và có thể làm dịu lại cảm xúc của người đối diện.

    • Nếu mỗi bản thân điều có cùng suy nghĩ: ”Tôi tôn vinh cả một vũ trụ trong bạn, tôi tôn vinh Tình yêu, Sự thật, Ánh sáng, và Bình an chất chứa trong bạn”. Khi bạn và tôi đều nói và nghĩ như vậy: Namaste đã ở trong bạn và tôi. Chúng ta là Một.

    Có một nơi thiêng liêng trong tất cả chúng ta, nơi tình yêu, sự thật, ánh sáng và bình yên ngự trị. Nếu chúng ta có thể tập trung vào những phần đó trong chính chúng ta và ở những người khác cùng một lúc, chúng ta đã thực sự hành xử trong cung cách Namaste.

    Thực hành Namaste

    Mỗi lần suy nghĩ về Namaste, bản thân đã thấy “ánh sáng trong tôi nhìn thấy ánh sáng trong bạn”. Bản thân nên tự hỏi điều gì sẽ thay đổi đối với mỗi chúng ta nếu chúng ta thực hiện hành vi Namaste thành một động tác áp dụng hàng ngày.

    Điều này có nghĩa là chúng ta có thể chọn xem sự thật của một ai đó bất kể họ đang hành động như thế nào…như vui, buồn, giận, tức! Chúng ta có thể thấy họ sống đầy đủ, nhà ở nguy nga tráng lệ, tình yêu dạt dào, phong phú, v.v.

    Nghĩ đến những điều trên, không có nghĩa là nếu một người đang làm điều gì đó khiến chúng ta không thích, chúng ta từ khước những hành vi hiện tại của họ. Mà, điều này chỉ có nghĩa là chúng ta được ở trong một không gian yêu thương ngự trị trong bản thân để nhìn thấy chân lý cao nhất, đẹp nhất ở người khác.

    Khi chúng ta đang phán xét người khác, chúng ta cũng đang nhận lại bản án đó. Như:

    • Sự phán xét mà chúng ta cảm thấy đối với người khác “đã” được cảm nhận trong bản thể chúng ta.
    • Nhưng khi chúng ta chọn nhìn thấy Chân lý cao nhất ở người khác, bất kể ngoại hình/ thói quen bên ngoài, chúng ta cũng “đã” chọn điều này cho chính mình.

    Điều tương tự cũng đúng khi chúng ta tự nhiên ngưỡng một sự thành đạt lớn ở người khác – những người cố vấn, anh hùng, bạn bè, gia đình của chúng ta, v.v. – nhưng có thể thấy “tự” bản thân mình không được như tha nhân. Nếu giảng giải theo Namaste, có nghĩa là “ánh sáng trong tôi nhìn thấy ánh sáng trong bạn”. Nó không có nghĩa là nói rằng ánh sáng yếu hơn của tôi nhìn thấy ánh sáng “sáng hơn” trong bạn. Mà là: ”Chúng ta có cùng một ánh sáng”.

    Vì vậy, khi chúng ta ngưỡng mộ những phẩm chất có trong người khác, chúng ta cũng thấy những gì cũng có trong chúng ta. Chúng ta đang cộng hưởng với nhau (resonance)

    Nhìn thấy sự “lớn mạnh” ở người khác một cách vô điều kiện cũng có nghĩa là tự thấy thấy sự “lớn mạnh” trong bản thân mình vô điều kiện.

    Tạm kết luận

    Từ đây, để tạm kết luận, có một tư thế thực sự cho thuật ngữ Namaste:

    • Để thực hiện Namaste, chúng ta đặt hai bàn tay vào nhau ở trung tâm trái tim, nhắm mắt và cúi đầu.
    • Nó cũng có thể được thực hiện bằng cách đặt hai bàn tay áp vào nhau trước mắt/trán, cúi đầu và sau đó đưa hai bàn tay xuống trái tim.

    Đây là một hình thức đặc biệt sâu sắc của sự tôn trọng. Từ đó, mọi người sẽ hiểu rằng chính cử chỉ đã thể hiện cho Namaste và do đó, không cần thiết phải nói gì cả…Và, trong khi cúi đầu, bạn đã nói hết lời và…tha nhân đã hiểu và sẽ cùng đáp lại. Chúng ta đã cùng thể hiệm một Tâm lành đối với nhau.

    Thực hành những cử chỉ trên trước tha nhân hay trước một đối tượng nào đó, và trong bất cứ tình huống nào, bạn luôn luôn cảm thấy trong Tâm có…Ánh sáng, Tình yêu, Sự thật và, Bình an. Như vậy là bạn đã hiểu và thấm nhuần Namaste rồi đó…

    Mai Thanh Truyết, July 2023

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  TS MAI THANH TRUYẾT

    Mười Năm Hoàng Hạc

    Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, võ sư sáng lập Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc, qua đời vào lúc 10 giờ 15 phút sáng Thứ Tư, 30 Tháng 11, 2022, tại bệnh viện MemorialCare Orange Coast Medical Center, Fountain Valley, hưởng thọ 79 tuổi.

    ”Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc có bốn nguyên tắc căn bản mà những môn tập khác  không có. Đó chính là: “BẤM, VÒNG, VƯƠN, BUÔNG”. Chính bốn nguyên tắc này, áp dụng vào những thế tập, giúp cho bạn đốt được năng lượng dư thừa, làm cho bắp thịt bạn săn chắc, giúp cho bạn giảm bớt đau nhức, khỏe mạnh hơn, không mang lại những nguy hiểm, giới hạn kể trên, mà còn giúp cho tinh thần của bạn được thanh thản, sảng khoái, điềm tĩnh, vui vẻ và yêu đời hơn.

    1.   Bấm: mười ngón chân luôn bấm xuống đất khi tập Hoàng Hạc. “Bấm”, phối hợp với “vươn” sẽ tiêu bớt đi những mỡ thừa trên cơ thể bạn, đồng thời tạo cho các bắp thịt thêm săn chắc. Có nhiều bạn còn khá trẻ, khi mới gia nhập Hoàng Hạc thường hay bị đau đầu gối, chân nặng, không co hoặc nhấc chân lên được. Khi bước đi, đầu gối còn phát ra những tiếng “pop”. Sau một thời gian tập “bấm” theo lời Bs Phạm-gia Cổn, sáng lập viên TDKCHH hướng dẫn, những vị này không còn thấy đau nữa, đầu gối không còn phát tiếng khi di chuyển. Đơn giản vì những thế bấm giúp các bắp thịt ở chân trở nên rắn chắc hơn, các khớp được cử động nhẹ nhàng, mang lại tính uyển chuyển đến khớp và cơ bắp, làm giảm đau nhức. Tốt hơn nữa là những vị này bây giờ lại có thể mang giầy cao gót một cách vô cùng thoải mái.

    2.   “Vòng”: Những thế vòng cổ tay và các ngón tay. Các thế vòng này giúp giảm nhức mỏi các ngón tay, cổ tay, vai và khuỷu tay. Thực tế có nhiều người, vì công việc làm hàng ngày phải dùng máy vi tính nhiều, bị chứng đau nhức cổ tay và tê các ngón tay. Chỉ sau một thời gian ngắn tập những thế vòng, chứng đau nhức này đã không còn nữa.

    4.   “Buông”: Buông lỏng cả người, từ tinh thần đến thể chất, buông lỏng vai. Thế nàygiúp bạn buông xả, thanh thản trong tĩnh lặng.

    Bốn nguyên tắc “Bấm, Vòng, Vươn, Buông” đã được Bs Phạm-Gia Cổn ghép vào thành bài tập căn bản 7 thế giản dị. Bài 18 và 64 thế phức tạp hơn. Tất cả được thực tập một cách thật tự nhiên, khoan thai và liên tục, tạo nên những bài tập nhịp nhàng, hữu hiệu và đẹp mắt.”

    Và với những chia xẻ với Bác sĩ Dương Đức Huyên khi phát biểu về ý nghĩa của khí công Hoàng hạc do Bs Phạm Gia Cổn chủ trương:”TDKC Hoàng Hạc là phương pháp phối hợp Y-Võ-Nhạc, mục đích giúp duy trì, bồi dưỡng sức khỏe con người trên 3 phương diện “Tinh Thần, Thể Chất và Xã Hội” với lối tập nhẹ nhàng và liên tục không phải chỉ là những thế đánh võ. Do đó không cần thiết đặt tên các từng thế một”.

    Với cảm khái mới đặt tên từng thế để diễn tả “tình cảm”, “nghĩa tình” gắn bó với nhau, Hoàng hạc đã thi vị hóa từng mỗi thế luyện tập phần trung cấp qua 18 thế, tiếp theo sau phần 7 thế sơ cấp đã nêu ở phần trên:

    Thế 1:   Khung trời bao la

    2:   Hoàng hạc tung cánh

    3:  Trao tặng cánh hoa

    4:  Tình yêu lứa đôi

    5:   Khai song vọng nguyệt

    6:  Nhấn mạnh nghĩa tình

    7:  Vòng tay thân ái

    8:   Song đôi sánh bước

    9:  Trao tặng cuộc đời

    10: Thiên địa chứng giám (a)

    11: Thiên dịa chứng giám (b)

    12: Xoa tai vuốt tóc (a)

    13: Xoa tai vuốt tóc (b)

    14: Tay phải yêu thương

    15: Tay trái mặn nồng

    16: Dắt tay du ngoạn

    17: Hạnh phúc lứa đôi

    18: Khắng khít trọn đời

     Mới đây mà đã mười năm qua. Bs Phạm Gia Cổn, một người bạn thời trung học LPK lại gọi và “ra lệnh” cho tôi phải viết bài cho Đặc san Kỷ niệm Mười năm Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc. Tôi cũng là một thành viên trong những ngày đầu ngay sau khi bạn Cổn phát động phong trào Hoàng Hạc nầy tại trụ sở của võ đường Hapkido nằm ở góc đường Hazard và Magnolia, thành phố Westminster.

    HH Đỗ Hải Minh – HH Nguyễn Văn Bon (Melbourne, Úc) – HH Chưởng môn Phạm Gia Cổn – HH Bùi Trọng Cường, Brisbane, Úc – HH Mai Thanh Truyết – 7/2016

    Riêng cho năm nay, kỷ niệm mười năm làm tôi liên tưởng đến một bài hát của nhạc sĩ Trần Quảng Nam, bản “Mười năm tình cũ”. Nhưng tôi thấy nơi đây, nơi các Hoàng hạc gặp nhau ngày thứ bảy, chủ nhựt không thấy gì …là mười năm tình cũ, mà mỗi lần gặp nhau, thấy mặt nhau là niềm vui rạng rỡ trên môi mọi người. Chúng tôi, Hoàng hạc Houston gặp nhau tại Trung tâm cộng đồng Alief của thành phố Houston trong một phòng rộng có máy lạnh dùng để sinh hoạt, và một trung tâm thứ hai của Thể dục Hoàng hạc đặt trong Lạc Hồng, một trung tâm chăm sóc sức khỏe cho người cao niên.

    Niềm vui đến từ mỗi thành viên của Hoàng Hạc là ngoài việc tập luyện ra, chúng tôi cùng chia sẻ với nhau rất nhiều chuyện, và bất cứ chuyện gì cũng là một câu chuyện tích cực từ việc thăm hỏi lẫn nhau giữa các thành viên hoàng hạc cho đến những trao đổi về việc vận hành của Đất và Nước của quê hương Việt. Từ câu chuyện dường như phép lạ của một hoàng hạc từ đi đứng khó khăn nay trở nên dễ dàng hơn, đến câu chuyện của một Hoàng Hạc khác hô hấp không được ổn định nay đã không còn cần phải dùng “inhaler”…Và chỉ sau một thời gian “vui chơi” thoải mái với Hoàng hạc, mọi sự trở lại bình thường, mang niềm vui đến với mọi Hoàng Hạc.

    Riêng với người viết, trong bốn động thái Bấm – Vòng – Vươn – Buông, hai động thái sau cùng là Vươn và Buông chính là hai công áng để nghiềm ngẫm và luyện tập, chuẩn bị cho một tương lai buông xả trong tĩnh lặng ở những ngày cuối đời…

    Xin trích đoạn vài tin vui khắp nơi qua kết quả của việc tập luyện Khí công Hoàng hạc như sau:

    “Tôi đã bắt đầu tập HH khoảng 3 tháng nay sau khi gặp anh Cổn ở một đám tang….  Lúc đó tôi đang bị đau hông bên trái và chân trái đi đứng khó khăn.  Anh Cổn đã giải thích thêm về HH và khuyến khích tôi tập.  Chỉ sau 2 ngày tập tôi đã cảm thấy giảm đau 50%, và sau 2 tuần thì hết hẳn đau.  Không những hết đau chân mà bệnh Acid Reflux (dịch vị trong bao tử trào lên họng khi nằm ngủ) đã làm tôi mất ngủ hằng đêm cũng đã hết hẳn.  Tôi cũng gầy đi khoảng 6, 7 pound sau khi tập 1 tháng.”

    Hoặc:

    “Bốn năm về trước vợ tôi bị đau vai, physical therapy và châm cứu chẳng giúp được gì, tiền mất tật vẫn mang. Trong chuyến thăm Cali, chúng tôi có đến phòng tập học được một lần, vài ngày sau thì đã được anh cổn dạy thêm một lần nữa tại nhà riêng của anh.  Lúc đó chưa có DVD để ôn các thế nên vợ tôi tập 7 thế chỉ năm bảy lần, nhưng sau đó vì quên nên chỉ làm 2 thế vòng ngửa và sấp thôi.  Thế mà sau một hai tháng kiên trì, vợ tôi đã khỏi bệnh đau vai.  Thỉnh thoảng (5, 6 tháng) khi cảm thấy đau nhẹ ở vai, bà ấy chỉ cần “múa” vòng chục lần thì hết đau.”

    Riêng tại Houston, Bs Phạm Gia Cổn đã đến nơi nầy nhiều lần, đến không phải để “thị sát” một đơn vị mà đến để chia sẻ kinh nghiệm những gì Hoàng Hạc Houston gặt hái được. Mỗi lần đến, Hoàng hạc Houston được trang bị thêm nhiều suy nghĩ trong khi tập luyện, bổ túc cho những động tác không đúng cách cũng như đặt trọng tâm nhiều vào việc hít thở, để sự việc nầy đến tự nhiên trong tinh thần thực sự của Hoàng hạc. Vẫn 7 thế căn bản, nhưng nếu mỗi người chiêm nghiệm thêm tùy theo thể trạng của riêng mình sẽ có một thế tập thích ứng với từng cá nhân hơn.

    Một suy nghĩ tôi đã hấp thụ được từ bạn tôi là:”Không có gì là PHẢI cả. Không cần phải tập trung trí nhớ để phải đi đúng bài bản. Không cần trả bài. Không cần phải làm giống người bên cạnh. Không cần phải cố gắng hít thở…” Mà, tất cả, tập trung vào việc bấm, vòng, vươn, buông…nhẹ nhàng và nhịp nhàng qua các động tác theo tiếng nhạc. Và từ đó, từ hơi thở đến bốn động tác căn bản trên sẽ chuyển vận hài hòa mà trí não của mình không cần tập trung để chỉ huy tứ chi.

    Nói với những người có tuổi

    Đối với những người “có tuổi” như chúng ta, từ sáu, bảy bó trở lên, ba kẻ thù rước mắt là mỡ, đường và áp huyết cao. Trong các xã hội dư thừa thực phẩm như ở xứ nầy,  nhà sản xuất nghiên cứu những phương pháp tiếp thị tối đa để “dụ khị” người tiêu dùng là chúng ta trong dịch vụ ăn uống như nhản hiệu, hình ảnh, màu sắc, và mùi vị… Nếu chúng ta, không có đủ “Phật tánh” trong người để hạn chế được, tham, sân, si…trong môi trường “ăn uống”, chắc chắn chúng ta sẽ vướng vào ít nhứt là một trong ba kẻ thù trên. Nhưng khổ thay, kẻ thù của chúng ta it khi đến đơn độc mà hầu như luôn luôn xâm nhập vào cơ thể chúng ta cả ba, nghĩa là một khi “dính” đường thì khó tránh khỏi cao máu và cao cholesterol, và ngược lại.

    Vì vậy, chúng ta cố gắng đừng để các lời mời gọi của các nhà hàng “fast food” với giá “sale”, với hàng mới, những nhà sản xuất các loại nước uống với các quảng cáo đầy hấp dẫn như nước tăng lực “Con bò Mộng”.

    Xin thưa, tất cả đều không đúng sự thật như những lời quảng cáo.

    Đó chỉ là hóa chất và hóa chất!

    Những thức ăn, thức uống trên có thể làm chúng ta khoái khẩu, đả khát…nhưng vô tình chúng ta tự đầu độc lấy chính mình. Chúng ta tự “nạp” mỡ, đường vào cơ thể mình.

    Một trong những kẻ thù khác của chúng ta là các tiệm ăn “all you can eat”. Các tiệm ăn nầy giá tương đối rẻ và dọn rất nhiều món, hàng trăm món ăn. Vì vậy, chúng ta cố ăn cho nhiều, ăn quá nhu cầu của cơ thể.

    Có bao giờ bạn tự hỏi, càng cua sao nhiều quá, tôm sao nhiều quá, cua đá sao nhiều quá, sao có nhiều sò quá, nhiều oyster quá, chưa kể đến gà, vịt,  heo, bò, đùi ếch. Chưa kể đến xíu mại, “hắc cảo”, bánh bao. Chưa kể đến đủ loại súp. Chưa kể đến shusi Nhựt Bổn, thậm chí đến phở bò nữa, hủ tiếu, bún bò Huế, mì thập cẩm, bánh canh cua, mì Quảng nữa… Và còn nhiều nữa bạn ơi! Chưa kể hàng mấy chục loại tráng miệng, từ trái cây cho đến đủ loại chè 3,4 màu, chè đậu, chè thưng, chè ba bốn màu, bánh đủ loại, đã được làm sẳn trong các hộp nhỏ.

    Nhưng sao lại quá rẻ? Ở Houston, chỉ trả $10 cho một “Senior” trên 65 tuổi mà thôi!

    Nhưng còn nhiều nữa bạn ơi. Với lứa tuổi trên sáu bó nầy, chúng ta còn tham gia hội đoàn cùng xứ sở, cùng trường, cùng đơn vị…chưa kể đám cưới của con cái, con cháu bè bạn khắp nơi. Bây giờ, bạn đã nghĩ làm cho việc “trả nợ áo cơm”, sao bạn lại tàn nhẫn bắt tim, gan, bao tử, lá lách, thận làm việc “overtime’ cho chính lòng đam mê “ăn uống” của bạn?

    Thưa bạn,

    Những điều tôi chia sẻ và viết ra đây là cũng để nhắc nhở cho chính mình. Thôi như vậy, mỗi người trong chúng ta cùng cố gắng gạt bỏ tham sân si trong “tiến trình ăn uống” nầy nghe!

    Chúng ta đang đứng trước một nguy cơ của toàn cầu cho tham vọng ngự trị thế giới của cường quyền là…đầu độc thế giới bằng hóa chất độc hại trong thức ăn, hàng tiêu dùng trong nhà, và bất cứ một phương tiện nào cần thiết cho con người. Và cướng quyền đó chính là Trung Cộng với sự tiếp tay của dảng cộng sản Bắc Việt mà chúng ta nên luôn luôn đề cao cảnh giác.

    Đó là mầm móng của các bịnh ung thư không kiểm soát được.

    Phải chăng thế giới đang bước vào một giai đoạn Hạ Ngươn chăng?

    Chỉ cần 10 phút làm những động tác thư giản, phối hợp với việc hạn chế lòng “đam mê” ăn uống, bảo đảm chúng ta sẽ đánh tan giặc thù ngoại xâm qua “khẩu nhập” qua sự kích thích thị giác, xúc giác, thính giác và cảm giác

    Nhân dịp kỷ niệm mười năm ngày thành lập Hoàng Hạc, thân chúc tất cả bạn bè thân, sơ cùng nhau ý thức được rằng tập luyện Hoàng Hạc không phải chỉ ở ngày thứ bảy hay chủ nhựt mà phải làm ở nhà, hoặc trong sở làm, một hay nhiều lần mỗi ngày để tăng cường và bảo tồn sức khỏe vô giá của mỗi chúng ta.

    http://www.nguyenkhapnoi.com/files/2015/10/1.-Ho%C3%A0ng-H%E1%BA%A1c.jpg  HH  Mai Thanh Truyết

    Kỷ niệm 10 năm Th ể Dục Khí Công Hoàng Hạc, Houston, TX 2016

    Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết

    In France:

    • Doctor in Structural Organic Chemistry, University of Besancon, France
    • Assistant Professor, Institute of Chemistry, Besancon.

    In Vietnam:

    • Associate Professor – Dean of Chemistry Department, Faculty of Pedagogy, Saigon, Vietnam.
    • Vice-President, Academic Affairs – University of Cao Đai, Tây Ninh, Vietnam.

    In the USA:

    • Post Doctorate, Research Associate – National Institute of Health, University of Minnesota, Minneapolis.
    • Instructor – Chemistry Department, King College, Fresno.
    • Laboratory Director – Toxic Liquid and Solid Waste Treatment Plant – Chemical Waste Management, Kettleman City, CA.
    • QA/QC Director – Weck Environmental Laboratories – Industry City. CA.
    • Director, Leachate Treatment Plant – BKK Corp., West Covina, CA.
    • Consultant on Foods – Health Dept., City of Westminster, CA.
    • Technical Director – Environment Services, Los Angeles, CA.

    Retired in 2012:

    • Pioneer – Writer – Lobbyist – Talk Show on Radio, TV – Guest Speaker for Vietnamese Communities around the world about Environmental Impacts in Vietnam, Toxins in Foods, and especially on “How to dethrone Vietnamese Communist”.

    Professional NGOs:

    • Chairman – Vietnamese American Science & Technology Society (VASTS) since 1997 – Present.
    • Chairman – Vietnamese Environmental Protection Society (VEPS) since 2016 – Present.
    • Group Leader – Nhóm Chống Tàu Diệt Việt Cộng (Anti-Communist of China and Vietnam Group) since 2011 – Present.

    Books published:

    • Câu Chuyện Da Cam/Dioxin ở Việt Nam (History of Orange Agent/Dioxin in Vietnam, 2008.
    • Từ Bauxite đến Uranium: Tiến trình Đô hộ Việt Nam của Trung Cộng (From Bauxite to Uranium: The process of Colonization of China Communist), 2009 and 2012.
    • Câu Chuyện Môi Trường Việt Nam (History of Vietnam’s Environment), 2010 and 2012.
    • Tâm Tình Người Con Việt (Reflections of Viet’s Child), 2011.
    • Việt Nam Tương Lai, Tập I & II (The Future of Vietnam Volume I & II), 2014.
    • Thư Cho Con, Tập 13 – 35 (Letters to My Children, Volume 13 -29, 2005 – 2023).
    • Lối Thoát Nào Cho Việt Nam? (What’s The Escape Route for Vietnam?), 2017.
    • Lối Thoát Cho Việt Nam (The Escape Route for Vietnam), 2018.
    • Tôi ( Myself), 2019.