• Khánh Lan,  Phạm Hồng Thái,  RA MẮT SÁCH

    RA MẮT TÁC PHẨM VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI CỦA NHÀ VĂN TRẦN VIỆT HẢI

    Khánh Lan & Thái Phạm

    Cho ta gởi đôi ba dòng tâm sự

    Của những tháng cũ đã xa xôi

    Mảnh tâm tình bao năm ta ấp ủ

    Vương vấn trong tim suốt cả đời.

    Chủ nhật ngày 08 tháng 12, 2024. Nhà Văn Việt Hải đã ra mắt tác phẩm VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI trong ngày sinh nhật thứ 72 của ông sau hơn 25 năm cầm bút và gần 30 năm kể từ ngày ông bị tai biến mạch máu. (1996-2024) tại Viet Life Club, số 15609 Beach Blvd., Westminster, CA 92683. 

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật chào mừng quan khách

    28 năm trước, Nv. Việt Hải đã trải qua bước ngoặt lớn khi ông bị hai lần đột quỵ ở tuổi 42. Cơn đột quỵ đã khiến anh gặp nhiều khó khăn trong việc đi đứng, nói chuyện, và chỉ còn có thể sử dụng một cánh tay trái. Với nhiều người, đây là một thử thách khó có thể vượt qua, nhưng đối với anh, đó là sự khởi đầu của một hành trình mới – hành trình tìm kiếm ý nghĩa và mục đích sống. Anh đã tìm lại được niềm tin và khám phá niềm vui trong thế giới văn chương nơi ông kết nối với những người bạn văn thơ khắp nơi. Phải chăng trong cuộc đời có những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua, nhưng chính trong khoảnh khắc đen tối ấy tinh thần con người lại thể hiện ý chí phấn đấu mãnh liệt nhất!

    Click vào hình để đọc sách

    VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI là tập hợp những bài viết tiêu biểu của Nv. Việt Hải trong suốt gần ba thập niên qua. Mỗi bài viết không những chỉ chứa đựng kiến thức uyên bác về văn học nghệ thuật, mà còn là minh chứng cho sự kiên cường, lòng đam mê văn chương và tinh thần phục vụ nghệ thuật của tác giả. Điều đáng trân trọng là dù đã viết rất nhiều bài có giá trị trên nhiều bài báo, tuyển tập và trang website, facebook, v.v…Nv. việt Hải chưa từng nghĩ đến việc viết riêng cho mình một tác phẩm. Đây là biểu hiện cao đẹp của một tâm hồn luôn khiêm nhường, biết quý trọng, và hy sinh vì bạn bè.

    Món quà sinh nhật đặc biệt đầy ngạc nhiên, riêng tặng Nv. Việt Hải của Nv. Khánh Lan

    Những bài viết của Nv. Việt Hải đươc lưu trữ trong website ninhhoa.com lên đến cả ngàn bài. Chúng tôi rất vinh hạnh đã được Nv. Việt Hải đã cho phép chọn ra một số bài viết trong các bài viết của ông để thực hiện quyển sách đầu tiên này. Để tỏ lòng kính trọng tác giả, một món quà sinh nhật đặc biệt đầy ngạc nhiên với gần 1000 bài viết của anh do Nv. Khánh Lan edit và layout hai quyển sách dày gần 500 trang với tên TÂM TÌNH VÀ KỶ NIỆM I & II, in trên giấy màu, đẹp và trang nhã, để kính biếu đến một tâm hồn văn học “Nghệ thuật vị nghệ thuật” của Nv Việt Hải.

    QUAN KHÁCH THAM DỰ

    Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga, Thi Sĩ chủ tịch Đình Duy Phương và các thi sĩ trong hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ.

    Kiều My, Tuyết Nga, Ngọc Châu, Mạnh Bổng, Quốc Dân, Kim Hương và hai vị quan khách.

    Theo lời yêu cầu của Nv. Việt Hải, đây là một buổi giới thiệu tác phẩm xuất bản đầu tiên của ông trong bầu không khí thân mật và ấm cúng, nhưng tụ họp những bạn bè thân thiết mà ông yêu quý. Hiện diện trong buổi ra mắt sách, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của các vị như Gs. Ts. Trần huy bích, Gs. Ts. Quyên Di, Gs. Ts. Mai Thanh Truyết từ Texas, Gs. Đặng Ngọc Sun, Gs. Ns. Lê Văn Khoa và phu nhân, Ca Sĩ Ngọc Hà, Họa sĩ Hoàng Vinh và phu nhân, Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, Thi Sĩ Đình Duy Phương và các thi sĩ trong Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Miền Tây Nam Hoa Kỳ, các nhà văn & ký giả: Vương Trùng Dương, Phạm Quốc bảo và Thanh Huy, Nhiếp Ảnh Gia Nguyễn Thiệu Minh, Nv. Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm và phu nhân, Nv. Kiều My, Khoa Học Gia Lâm Quốc Dân và phu nhân, Kim Hương, Chủ Tịch Công Ty Dược Thảo Princess Lifestyle, John Tạ và phu nhân Suzan Tạ, cựu SVSQDL Hoàng Khuê và nhiều nhân vật nổi tiếng trong làng văn học cũng như các anh chị em trong liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.

    Sau phần chào quốc kỳ, giới thiệu quan khách tham dự là giây phút tâm tình cùng quý giáo sư và các văn thi sĩ.

    Nv. Việt Hải trò chuyện cùng quan khách trong vòng 1:30 phút trước khi bước vào phần văn học.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và MC CS Thụy Lan

    Trong dịp này, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã đọc tặng Nv. Việt Hải bài thơ “Mừng sinh nhật nhà văn Trần Việt Hải“:

    Mừng sinh nhật nhà văn Trần Việt Hải

    Cali nắng ấm chan hòa

    Mừng xuân đang đến mượt mà tươi xinh

    Dang tay ôm nắng bình minh

    Mừng anh Việt Hải cánh chim đầu đàn

    Tin vui ra sách vừa loan

    Văn chương thơ nhạc tao đàn nở hoa

    Tin vui lan khắp gần xa

    Tao nhân mặc khách đàn ca đón chào

    Tặng anh một đóa hồng đào

    Xây nền văn học biết bao chăng đuòng

    Tặng anh ngọn bút văn chương

    Thơ văn trẻ mãi muôn phương sáng ngời

    Vườn hoa văn nghệ tuyệt vời

    Nhân văn nghệ thuật bừng tươi suối hồn

    Chờ mai xuân đến xuân hồng

    Bút thơ dệt mộng non sông bốn mùa

    Tao đàn thơ nhạc niềm mơ

    Trời mây lãng đảng Hương đưa ngọt ngào.

    Dương Hồng Anh

    Anh Tiến Trần là em trai của Nv. Việt Hải, anh nói về ảnh hưởng của Phật giáo và anh Ngô Thiện Đức nói về ảnh hưởng của Đạo Cao Đài trong văn chương Việt Nam.

    Trước khi vào phần văn học, chương trình khai mạc với tứ ca Thụy Lan, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh và Ái Liên qua nhạc phẩm hào hùng “Việt Nam Minh Châu Trời Đông“.

    PHẦN VĂN HỌC

    Mở đầu phần văn học, MC Mộng Thủy giới thiệu vị diễn giả đầu tiên, Gs. Ts. Trần Huy Bích qua phần giới thiệu tác phẩm VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI. Sau phần tóm lược sách, Gs. Trần Huy Bích đã sử dụng một kỹ thuật mới lần đầu tiên và cũng là người tiên phong dùng AI  (Artificial Intelligence) nói về một nhân vật trong bài diễn văn tại buổi Ra Mắt Sách của NVNT & TTG. Gs. Bích đã dùng AI để phân tích về nhân vật: Trần Việt Hải, nghe rất hay, rất lạ, rất bùi tai và rất đúng.

    Gs. Trần Huy Bích giới thiệu tác phẩm

    AI phân tích về tiểu sử và lãnh vực đóng góp trong văn chương của Nv. Việt Hải như sau: Trần Việt Hải là người giữ vai trò quan trọn trong lãnh vực lưu giữ và quảng bá văn hóa Việt Nam trong bối cảnh xa quê hương. Trong lãnh vực nghiên cứu và viết lách, ông viết dưới nhiều chủ đề từ phân tích vấn đề văn hóa, lịch sử, giáo dục, khoa học thực tiễn, v.v… với tinh thần trách nhiệm, sâu sắc và truyền đạt, bảo tồn giá trị truyền thống thông qua các bài viết đến thế hệ trẻ tại hải ngoại. Ông tham gia, góp phần và có ảnh hưởng trong những sinh hoạt cộng đồng, hội thảo giao lưu và học hỏi của người Việt tại hải ngoại.

    Nói về Nhóm NVNT & TTG, AI phân tích như sau: Là một tập hợp trí thức bao gồm văn thi nghệ sĩ và văn nhân, thành lập sau năm 1975 tại hải ngoại với mục đích gìn giữ, phát triển, duy trì và quảng bá văn hóa và nghệ thuật Việt Nam do một số văn sĩ di cư ra hải ngoại. Với mục đính giữ gìn bản sắc văn hóa Việt và tập trung vào các tác phẩm có giá trị, sáng tác và nghiên cứu…

    Để kết luận, Gs. Trần Huy Bích nói: “Hữu xạ tự nhiên hương” có nghĩa là “Khi mình làm được nhiều điều tốt thì tự nhiên mọi người sẽ biết”. Sau cùng Gs. Trần Huy Bích chúc mừng sinh nhật và cầu chúc Nv. Việt Hải có nhiều sức khỏe để duy trì và truyền bá văn hóa Việt Nam.

    Diễn giả thứ hai là Gs. Quyên Di, ông nói về ba điểm quan trọng trong cuộc đời của Nv. Trần Việt Hải.

    1. Nhạc phẩm Niềm Vui Mới đánh dấu một kỳ niệm sâu đậm giữa Gs. Ns. Trần Quang Hải, Gs. Quyên Di và phu nhân, Ns. Hồng Trang và Nv. Việt Hải. Bài hát do Nv. Việt Hải viết lời, Gs. Ns. Trần Quang Hải hòa Âm với sự phụ giúp của Ns. Hồng Trang và Gs. Quyên Di. Bài nhạc gồm 3 phiên khúc: Phiên khúc I: Đề cao tình bạn. Phiên khúc II: Vinh danh Thiên Chúa và phiên khúc III: Vinh danh các thuyền nhân đã vượt biển đi tìm tự do trong năm 1975.
    2. Nhạc phẩm Và Con Tim Đã Vui Trở Lại của Ns. Đức Huy. Đây là bài hát mà ông đã nghe được trên con đường từ Nursing Home về nhà sau 4 tháng nằm liệt giường. Vâng, một niềm vui vô tận khi ông nhận ra rằng mình đã đánh bại lưỡi hái của tử thần. Thật đúng với bản nhạc “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại”.
    3. Gs. Quyên Di nói tiếp: Con người của Việt Hải có đến 5 cái dài: Thứ nhất là tay dài vì đã kết nối được nhiều bạn bè, ai cũng là người quen và ai cũng là bạn. Thứ hai là ngón tay dài vì đánh máy có một ngón tay và “cừ ” ra phết. Môi dài vì nói nhiều và dài quá đến nỗi môi cũng phải xưng “vếu” lên. Đầu dài hay đầu to vì cái gì, đề tài gì cũng viết được thế mới tài chứ (?). Chân dài vì đi đâu cũng đi, chẳng quản ngại đường xa (mà chỉ ngại cho người đẩy xe lăn cho anh như Mạnh Bổng và Lệ Hoa thôi, như có lần Lệ Hoa nói: Chỉ có anh Việt Hải là sung sướng và thoải mái thì Mạnh Bổng vội đáp lời Lệ Hoa là: Việt Hải càng thoải mái thì Mạnh Bổng càng đổ mồ hôi dầu & hết xí quách…)

    Bài diễn văn thứ ba của MC Mộng Thủy, cô MC duyên dáng, khả ái, văn hay chữ tốt và dí dỏm của NVNT & TTG luôn để lại trong lòng quan khách những trận cười nghiêng ngả với những mẩu chuyện “chưa từng kể, chưa ai biết, chẳng ai hay về những bí mật của cuộc đời Trần Việt Hải”. Bài diễn văn của Mộng Thủy tuy rất dài nhưng rất thu hút người nghe. Nhưng trong bài viết này, Khánh Lan chỉ xin tóm lược một vài đoạn như sau.

    “…5 “top secrets” quốc phòng do AI tiết lộ:

    1. Các “Miêu Miêu” từ New York và Paris yêu cầu Việt Hải làm rể phương xa nhưng ông phải gạt bỏ tình cảm riêng tư để chu toàn bổn phận giúp Mẹ nuôi các em. (Miêu Miêu ở đây có nghĩa là “EX-GIRLFRIEND”, Mộng Thủy giải thích)…
    2. 39 năm trước, trong một chuyến theo người anh họ thăm thành phố Sacramento. Nv. Việt Hải đã “bén mắt” vào Lệ Hoa. Vỉ thế nên: “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”. Và sau đó, Việt Hải trở về nhà tâm tư âu sầu, lòng lo trăm mối, trăm thương ngàn nhớ, tơ tình vương vấn…
    3. Nếu còn duyên nợ đợi chờ nhau, xin hẹn nghìn năm ở kiếp nào… Lệ Hoa có nợ từ tiền kiếp trước và …kiếp sau Việt Hải phải trả ơn bội hậu cho Lệ Hoa….Kết thúc là …Việt Hải xin nâng khăn sửa túi cùng người đẹp Lệ Hoa…còn Lệ Hoa thì kiếp sau mà lỡ có gặp lại Việt Hải thì nàng sẽ quay mặt làm ngơ…
    4. Đi cầu tự tại Chùa Vàng (Golden Temple) tại Thái Lan. Việt Hải đã đi 1993 cầu tự một mình và kết quả là Hải Nam chào đời và chỉ 14 tháng sau Hải Việt theo ra sau đó. Khiến vui vẻ cả nhà…
    5. Việt Hải trổ tài lái xe về nhà sau một party lúc 1 giờ sáng….và kết quả là…”RẦM“… xin quý độc giả đoán xem là chuyện gì đã xảy ra nhé.

    PHẦN CẮT BÁNH SINH NHẬT

    HAPPY BIRTHDAY VIỆT HẢI & VÀ CON TIM ĐÃ VUI TRỞ LẠI

    Đây mới là phần chính của chương trình: Đó là mừng sinh nhật thứ 72 của Nv. Việt Hải. Thật vậy, cả khánh phòng vang lên lời chúc tụng đến ông và bài hát Happy Birthday & Và Con Tim Đã Vui Trở Lại vang dội. Chưa bao giờ chúng tôi thấy Nv. Việt Hải vui như vậy, với vẻ mặt sáng ngời, với nụ cười “xả ga”, ông nói không lên lời. Trong buổi tiệc mừng sinh nhật này, toàn thể anh em trong nhóm và các thân hữu tham dự muốn gởi đến Nv. Việt Hải lòng tri ân về những gì ông đã đóng góp cho văn học Việt cũng như tấm gương nghị lực phi thường và tình yêu thương mà ông đã khơi dậy trong lòng mọi người.

    Nụ cười trong hạnh phúc và sung sướng

    Nếu còn duyên nợ đợi chờ nhau, xin hẹn nghìn năm ờ kiếp nào.

    Phu nhân Lệ Hoa tặng hoa cho phu quân Việt Hải kỷ niệm 39 năm “Hấp Hôn”

    NVNT & TTG kính chúc Nv. Việt Hải trường trường thọ, hạnh phúc và yêu đời mãi mãi.

    Nào cùng cạn ly chúc mùng Nv. Việt Hải….Anh ơi có bao nhiêu, 72 cuộc đời…cho thêm 28 năm nữa, sẽ là 100 thôi…Khó gì?

    Khánh Lan & Phạm Thái

  • Dương Viết Điền,  RA MẮT SÁCH

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức buổi ra mắt sách Tuyển Tập Thơ và Nhạc của Nhà Văn Dương Viết Điền

    Ký Giả Thanh Huy-Việt Báo Foundation

    Tại Viet Life Club số 15609 Beach Blvd, Thành Phố Westminster CA 92683.  Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức thành công buổi ra mắt sách Tuyển Tập Thơ và Nhạc của Nhà Văn Dương Viết Điền.

    Tham dự buổi ra mắt sách ngoài các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ trong  Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, về quan khách tham dự nhận thấy có: Giáo Sư Trần Huy Bích, GS. Dương Ngọc Sum, GS. Trần Mạnh Chi, Nhà Văn Nguyễn Quang Huy, Nhà thơ Phạm Quốc Bảo, Nhà thơ Nguyễn Tiến Quỳnh Giao, Nhà văn, nhà báo Vương Trùng Dương , Ông Hoàng Đình Khuê, Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt, Nhà văn Nguyễn Nga phu nhân cố Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn, Nhà Văn Việt Hải và phu nhân, nhà văn Kiều My, nhà văn Khánh Lan, nhà báo Nguyễn Văn Liêm, Ca sĩ Huỳnh Anh, Dương Viết Định, Anh Dương Viết Diền, Dương Viết Đang em Dương Viết Điền và một số những người thân trong gia đình nhà  văn Dương Viết Điền, Nhà truyền thông Tâm An cùng một số các cơ quan truyền thông và thân hữu…

    Điều hợp chương trình buổi ra mắt sách do 2 MC duyên dáng đó là Mộng Thủy và Thụy Lan.

    Trước khi bước vào chương trình chính thức, một số các ca sĩ trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cùng thân hữu đã hát những bản nhạc của Nhạc Sĩ Dương Viết Điền.

    Chương trình chính thức bắt đầu với nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm do MC. Mộng Thủy điều hợp. Sau phần nghi thức MC Mộng Thủy tuyên bố lý do buổi ra mắt sách, sau đó MC Mộng Thủy mời MC. Thụy Lan lên giới thiệu thành phần tham dự.

    Tiếp theo MC. Mộng Thủy và MC. Thụy Lan mời nhà văn Việt Hải, Trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian lên chào mừng, cảm ơn quan khách và những thân hữu tham dự.

    Nói về Tuyển Tập Thơ và Nhạc Dương Viết Điền nhà văn Việt Hải đã nói: “Trong CD Mấy tình khúc cho đời” và “Thi tập Nghẹn Ngào (Speechless). Nhà Văn Thanh Quang và Nhạc Sĩ Hồ Xuân Mai, đã khen là thi ca và âm nhạc của Dương Viết Điền như quyện vào nhau và đó là biệt tài đặc trưng của Dương Viết Điền, Năm 2013 ban tổ chức giải thi tuyển âm nhạc của Trung Tâm Asia bài hát “Thương Em” đã được chọn chấm giải nhạc hay và hai Nhạc Sĩ Lam Phương và Anh Bằng ngợi khen bài “Thương Em” và “Tóc Bay” của Dương Viết Điền. Riêng tôi, khi anh phổ nhạc cho hai bài thơ của tôi: “Dĩ Vãng Có Em”  theo thể điệu Bossanova Rumba và “Lệ Ước Hoen Mi”  theo nhịp điệu Tango Habanera, đã đánh dấu một kỷ niệm đẹp giữa hai chúng ta.”

    Sau đó MC. Mộng Thủy mời nhà văn Dương Viết Điền tác giả Tuyển Tập Thơ và Nhạc Dương Viết Điền lên có lời chào mừng và cảm ơn tất cả những người tham dự. Trong niềm xúc động, nhà văn Dương Viết Điền đã cảm ơn Nhà Văn Việt Hải và những anh chị em trong Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã hết lòng thực hiện tuyển tập Thơ và Nhạc Dương Viết Điền cũng như tổ chức buổi ra mắt sách ngày hôm nay, Ông không biết nói gì hơn chỉ chân thành cảm ơn tất cả.

    Hai anh em: Dương Viết Điền & Dương Viết Đan

    Tiếp theo,  GS. Trần Huy Bích nhuận sắc tác phẩm Nhạc và Thơ Dương Viết Điền, Ông nói: “ Những kỷ niệm về các nhạc sĩ mà nhà thơ, nhạc sĩ Dương Viết Điền, Hạ Ái Khanh đã kể bằng một lối văn có sao viết vậy không hư cấu. Tuyển tập Thơ, Nhạc Dương Viết Điền là thi ca, âm nhạc quyện vào nhau, sau đó GS Trần Huy Bích cũng đã trích đọc một số bài thơ gắn liền với giai đoạn lịch sử của quê hương mà Dương Viết Điền đã kể lại qua thơ nhạc…”

    MC. Mộng Thủy mời ca sĩ Thụy Lan hát bài Chạnh Lòng, thơ Hạ Ái Khanh,

    Tiếp theo, GS Trần Mạnh Chi có lời tâm tình gởi lời chúc lành đến NS Dương Việt Điền.

    Sau đó Ca Sĩ Thụy Lan hát nhạc phẩm “Thương Em”, NS. Dương Viết Điến sáng tác tặng hiền thê khi còn ở trong tù CS.

    Nhà văn Khánh Lan trình bày hoàn cảnh tù đầy bi thương của nhà văn Dương Viết Điền. Nhà thơ Khánh Lan ngâm tao đàn bài thơ nhớ hiền thê là Hoài Thê, thơ Hạ Ái Khanh. Nhà văn Khánh Lan cũng đã nói: “Có những phút ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.” Đó là hai câu nói đi vào lịch sử văn học của Nhà Thơ Phùng Quán viết khi ông trải qua quá nhiều biến động trong cuộc sống từ cảnh nghèo đói, đàn áp, cầm tù đến cầm viết lách. v.v… Hôm nay đọc những vần thơ trong tác phẩm mới nhất của Dương Viết Điền như bài thơ Đợi Anh Về. Mẹ ơi con đã về. Hẹn một ngày về như xé nát tâm tư người đọc. “Những người tù không bản án. Di chúc cho người tình cuối cùng”  khiến tôi rùng mình khiếp sợ và những “Nay ở quê người, Xuân nhớ quê hương” cho lòng tôi tê tái…

    Sau đó MC Mộng Thủy giới thiệu ban tam ca The Shellies 3 (Minh Thư, Thụy Lan, Lệ Hoa) qua ca khúc Bức Họa Đồng Quê:

    Viết về Dương Viết Điền, Nhà Văn nhà báo Vương Trùng Dương cho biết:

    Bước vào tuổi tám mươi nhà thơ Hạ Ái Khanh (Dương Viết Điền) sức khỏe rất yếu, không còn ngồi được để thực hiện tiếp những tác phẩm còn dang dở nên nhờ Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời gian giúp anh thực hiện tuyển tập Thơ & Nhạc.

    Sau 20 tác phẩm từ năm 1993 đến năm 2021 (trong đó có Nhật Ký Thuở Học Trò năm 2014 và 7 Nhật Ký Lúc Chiều Tà từ 2014 – 2021), anh ấn hành tác phẩm Những Kỷ Niệm Với Các Nhạc Sĩ Việt Nam năm 2022.

    Với tác phẩm nầy tôi được “vinh dự” thay anh viết Đôi Lời Phi Lộ (trang 5-8) vì trong 11 nhạc sĩ anh đề cập tôi quen biết những nhạc sĩ và đã viết bài.

    Trích: “Tác phẩm Những Kỷ Niệm Với Các Nhạc Sĩ Việt Nam của nhà văn Dương Viết Điền là tuyển tập hồi ký mười một nhạc sĩ đã viết trong thời gian qua. Từ những nhạc sĩ đã quen nhau từ thời học sinh ở Đà Nẵng như Nhật Ngân, trong ngành Chiến Tranh Chính Trị như Nguyễn Đức Quang, trong trại tù Bình Điền như Đinh Miên đến những nhạc sĩ ở hải ngoại như Nguyễn Hiền, Anh Bằng, Lam Phương, Lê Văn Khoa, Tuấn Khanh, Lê Trọng Nguyễn, Lê Dinh, Hồ Xuân Mai.

    Dương Viết Điền là bạn văn và cũng là bạn cùng khóa (Khóa Nguyễn Trãi I Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt) và cùng định cư tại Hoa Kỳ năm 1990 (Diện H.O). Anh ở Los Angeles, tôi ở Little Saigon nên có nhiều dịp gần gũi bạn bè cùng khóa và sinh hoạt văn học nghệ thuật. Thời gian sau nầy, anh không lái xe được, anh gom lại các bài viết, ấn hành tác phẩm nầy.

    Khi ra trường, anh phục vụ tại Tiểu Đoàn 10 CTCT, sau đó biệt phái sang Phòng Báo Chí, Khối CTCT Quân Đoàn I nên có cơ hội quen biết với giới cầm bút trong thời gian quân ngũ.

    Với bút hiệu Hạ Ái Khanh qua thi và và âm nhạc, với niềm đam mê và cảm hứng đã sáng tác một số ca khúc, khi tham gia trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ tạo thêm môi trường thuận lợi cho anh tiếp xúc với các nhạc sĩ được anh trang trải qua các bài viết…

    Nhà văn Dương Viết Điền qua những mẩu chuyện kể trong Những Kỷ Niệm Với Các Nhạc Sĩ Việt Nam. Tôi gọi là “mẩu chuyện” vì có sao viết vậy, không hư cấu, không cường điệu, màu mè… với bản chất thật thà, hiền lành ngay từ thuở ở quân trường”…

    Dương Viết Điền làm thơ (với bút hiệu Hạ Ái Khanh), viết văn, sáng tác nhạc và viết nhiều bài về văn học nghệ thuật…

    Khi bước vào tuổi bảy mươi, Dương Viết Điền dành hết thời gian để thực hiện Nhật Ký Lúc Chiều Tà gồm 7 quyển khoảng hai nghìn trang ghi lại quãng đời từ thời trai trẻ, trong quân trường, ngoài đơn vị, trong lao tù, ở hải ngoại với nhiều lần hội ngộ cùng bạn bè gần xa… Anh có trí nhớ rất tốt để hồi tưởng và viết rất chân tình. Anh còn dẫn chứng qua tất cả emails (nguyên văn) trao đổi với nhau… Nếu viết về anh qua nhật ký ghi lại, có lẽ vài chục trang cũng chưa nói hết.

    Với tuyển tập Thơ, Nhạc nầy chỉ là những sáng tác tượng trưng trong toàn bộ tác phẩm của anh. Và có lẽ ở tuổi tám mươi, tuổi hoàng hôn của cuộc đời, có thêm đứa con tinh thần lưu niệm. Khi anh gọi cho tôi, mày ngày nào cũng cà phê, thuốc lá liên miên nhưng vẫn còn khỏe, minh mẫn, viết văn phụ trách tờ báo. Tao bây giờ quá yếu, chờ ngày… tôi thật xúc động…

    Dương Viết Điền tên thật, Bút hiệu Hạ Ái Khanh, Cựu Sinh Viên Đại Học Luật Khoa Huế, Xuất thân Khóa I trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, Cựu tù nhân chính trị 10 năm trong tại tù cộng sản, hiện cư ngụ tại Tiểu Bang California.

    Trong tuyển tập Thơ Nhạc Dương Viết Điền có:Thơ: Nắng Xuân- Ngậm Ngùi-Di chúc cho người tình cuối cùng- Mấy dòng ngũ ngôn cho Huế- Nhớ Huế- Xuân Khóc Mẹ- Tình Chiều- Loving you- Bên Ni, Bên Nớ- Thôi Đành- Nếu Mùa Xuân Năm Ấy- Đi trong mưa- Vó ngựa hồi hương- The broken-hearted dream- Giấc mơ đau long- Người tình cuối cùng của một niên kỷ- Đón giao thừa- Tình sầu mây trôi- Chuyện tình thành huyền thoại- Tìm nơi đâu-Nhớ em- Về đi- Điếu văn nhạc sĩ Anh Bằng- Vương vấn- Nay ở quê người- Mùa thu nhớ thuở học trò- Xuân nhớ quê hương- Em chẳng cần chi- Hẹn một ngày về- Tình sầu- Hững hờ- Đợi Anh về- Nuối tiếc- Nếu mùa xuân năm ấy- Ta muốn- Vĩnh biệt.

    Về Nhạc có: Tình khúc thứ nhất cho người vợ hiền- Tình khúc thứ hai cho người vợ hiền- Đêm tù nhớ bạn- Người em tóc mây- Ai có về sông Đà- Thương em- Chạnh lòng- Nỗi buồn của người tù không án- Tóc bay- Lệ ướt hoen mi- Tình thu- Nhớ rừng- Hoa thơ- Em ra đi rồi- Chín mười năm biền biệt- Speechless- Mẹ ơi con đã về- Khi tình yêu đổ vỡ…

    Độc giả muốn có tuyển tập Thơ và Nhạc Dương Viết Điền xin liên lạc về nhà văn Việt Hải (818) 451-5157.

    Kết thúc chương trình, mọi người cùng chụp chung một tấm hình lưu niệm và cùng cắt bánh mừng sinh nhật nhà văn Dương Viết Điền.

    Một buổi chiều Chủ Nhật trời Nam California se lạnh nhưng trong phòng ra mắt sách thật ấm áp tình người, tình thân của các văn thi hữu, bằng hữu, những mẩu chuyện vui buồn sau nửa thế kỷ qua biến cố 30 tháng Tư 1975.

    Thanh Huy (Việt Báo Foundation)

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Vương Trùng Dương

    Ra mắt tuyển tập thơ nhạc của Dương Viết Điền

    Tường trình: Vương Trùng Dương & Khánh Lan

    Trưa Chủ Nhật 24/11/2024 nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức ra mắt tuyển tập Thơ & Nhạc của Dương Viết Điền trong vòng thân mật tại Viet Life Club, 15609 Beach Blvd., Westminster, CA 92683.

    Nhà Văn Dương Viết Điền ra mắt sách

    Sau phần chào Quốc Kỳ, Nhà Văn Việt Hải đại diện NVNT & TTG chào mừng quan khách tham dự, ông nói:

    “Đã không biết bao nhiều lần tôi lên đây để thưa chuyện cùng quan khách, thế mà lần này tôi run quá, có lẽ vì mối thân tình mà tôi và VTNS Dương Viết Điền quá thân thiết trong hơn 30 năm qua và chúng tôi coi nhau như anh em trong một nhà…..”

    Giáo Sư Trần Mạnh Chi cũng có mặt để chia vui cùng VTNS Dương Viết Điền nhưng ông phải về sớm vì có buổi họp quan trọng lúc 3:00 giờ chiều.

    VTNS Dương Viết Điền và GS Trần Mạnh Chi

    Các diễn giả gồm có sự góp mặt của Giáo Sư Trần Huy Bích, Văn Thi Sĩ Khánh Lan và MC Mộng Thủy. GS Trần Huy Bích nói về nội dung, ý thơ và những bản nhạc trong tuyển tập Thơ và Nhạc của Văn, Thơ, Nhạc Sĩ Dương Viết Điền,

    Tiếp theo, Khánh Lan chia sẻ về hình thức, kỹ thuật layout và vẻ đẹp của tuyển tập sau khi in ấn. Khánh Lan đã duyệt qua 3 lãnh vực chính trong Tuyển Tập Thơ và Nhạc của VTNS Hạ Ái Khanh Dương Viết Điền, gồm những bài thơ viết cho người vợ thủy chung, Hoàng Thị Kim Cúc qua hai bài thơ Thương Em và Thương Người Vợ Ở Quê Nhà.

    Thương em quá, lệ sầu thường nhỏ giọt

    Khóc cho em, mai một tuổi xuân thì

    Trời xanh kia, sao gây cảnh biệt ly

    Để kẻ ở, người đi không về được…

    …Ai xa vắng, mà không buồn tê tái

    Ai xa nhau, mà không mãi sầu thương

    Dù chuyện thần thoại, cũng vấn vương

    Nói chi nữa, đến tình thương chồng vợ

    Hay trong bài thơ THƯƠNG EM, DVD viết:

    Ngày ấy năm nào

    Thân cò lặn lội tìm vào Rừng sâu

    Nuôi chồng “Cải tạo”, âu sầu

    Đầm đìa giọt lệ, úa màu Thời gian

    Nắng mưa, Những mấy thu tàn

    Bao mùa lá rụng, triền miên ngậm ngùi….

    Nói về tình mẫu tử, về hình bóng Mẹ già lên trại cải tạo thăm con và chờ đợi ngày người con tù tội trở về qua bài thơ Ra Thăm Mẹ đã gây lên sự xúc động trong lòng quan khách tham dự.

    Chín năm biền biệt rừng sâu chưa về

    Nay gặp mẹ, vui tràn trề

    Mừng mừng, tủi tủi, mải mê chuyện trò

     Mẹ hỏi con: “Thế bao giờ

    Con về với mẹ, đợi chờ còn lâu?

    Hay sự bàng hoàng trong nỗi mừng tủi lẫn lộn khi nhìn thấy Mẹ.

     Thấy con mẹ khóc, ngẩng đầu nhìn chăm

    Con mừng nhìn mẹ đăm đăm

    Rưng rưng giọt lệ, chín năm mong chờ

    Thấy mẹ con thật không ngờ

    Mẹ nay khác hẳn, ngày xưa ở nhà

    Thảo nà, nhìn mẹ không ra

    Tóc mẹ bạc hết, tuổi già từ lâu

    Da nhăn, má hóp, mắt sâu

    Nhớ con mẹ khóc, mẹ sầu lắm không?

    Và sau cùng, trong nỗi xót xa, chua chát khi Dương Viết Điền nhớ về những người bạn đã cùng ông sống sót trong cảnh lao tù, ông đã ví các người tù như những con hổ bị nhốt trong cái bẫy lao lý, không bản án, không hẹn ngày trở về qua bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ tặng Nguyễn Tường Tam (Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

    Gặm một khối, căm hờn trong cũi sắt,
    Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
    Khinh lũ người kia, ngạo mạn, ngẩn ngơ,
    Giương mắt bé, riễu oai linh rừng thẳm

    Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
    Để làm trò, lạ mắt, thứ đồ chơi.
    Chịu ngang bầy, cùng bọn gấu dở hơi,
    Với cặp báo, chuồng bên vô tư lự.

    Ta sống mãi, trong tình thương nỗi nhớ,
    Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
    Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,

    Với khi thét khúc, trường ca dữ dội
    Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

    Lượm tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

    Vờn bóng âm-thầm, lá gai, có sắc

    Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc

    Là khiến cho mọi vật đều im hơi

    Ta biết ta, chúa tể của muôn loàiGiữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi…

    Diễn giả sau cùng là MC Mộng Thủy, hơn bao giờ hết, cô thật duyên dáng, dí dỏm và yêu kiều trong phần nói chuyện cùng khán giả về “Những điều chưa biết về VTNS Dương Viết Điền”. Ai có thể ngờ rằng VTNS họ Dương của chúng ta đã từng là Hollywood Movie Star đóng vai “Anh Thượng-sáu múi” nay chỉ còn “một múi” (theo lời NVKG Vương Trùng Dương).

    Hậu quả của 10 năm tù đầy, sức khỏe của VTNS Dương Viết Điền bị suy giảm rất nhiều trong thời gian gần đây, ông không còn tham dự vào nhiều sinh hoạt văn học trong cộng đồng như xưa cũng như với nhóm NVNT & TTG, nhưng lần nầy, ông đã cố gắng hiện diện trong buổi RMS.

    Ngoài phần văn học, phần văn nghệ cũng rất đặc biệt với những bài hát do VTNS Dương Viết Điền phổ nhạc qua những bài thơ của ông. Với giọng ca ấm và truyền cảm của Thụy Lan đã đi vào lòng người và Khánh Lan cũng đã có cơ hội ngâm bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ để tặng ông và quan khách. Đây là buổi RMS đầu tiên mà NVNT & TTG đã lồng vào phần văn học với những tác phẩm mà tác giả sáng tác. Phần văn nghệ, chúng tôi nhận thấy có sự góp mặt của Ca Sĩ Ngọc Hà, Mạnh Bổng, Ngọc Quỳnh, Lệ Hoa, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Anh Hiếu, Huỳnh Anh, v.v…

    DVĐ cùng Khóa Nguyễn Trãi I ở Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị với Nhà Văn Ký Giả Vương Trùng Dương và ông đã viết hai bài trong hồi ký Những Kỷ Niệm Với Các Nhạc Sĩ Việt Nam và trong tuyển tập nầy. Dương Viết Điền đã ấn hành khoảng hơn 20 tác phẩm gồm văn, thơ, nhạc từ khi định cư tại Los Angeles.

    Kết thúc buổi RMS là phần cắt bánh chúc VTNS Dương Viết Điền nhiều sức khỏe để cùng sinh hoạt văn hóa với NVNT & TTG.

  • KÝ SỰ,  RA MẮT SÁCH,  Vương Trùng Dương

    Lời Giới Thiệu Hồi Ký Sinh Lầm Thế Kỷ của Nhà Văn Khánh Lan

    Vương Trùng Dương (Bài viết vừa đăng trong mục Văn Nghệ nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số 184, tháng 12/2024)

    Trưa Chủ Nhật, 3 tháng 11 vừa, tại NT Studio, Westminster, ra mắt sách ba tác giả nữ Dương Hồng Anh, Khánh Lan và Kiều My, thuộc Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Buổi RMS đã được tường thuật của Văn Lan trên nhật báo Người Việt vào Thứ Thư 13/11/2024 và có buổi ra mắt năm tác và Khánh Lan, Kiều My trên trang mạng Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Buổi RMS với các diễn giả Trần Huy Bích (Cõi Thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh), Phạm Thị Huê (Thi tập Bóng Thời Gian của Khánh Lan), Quyên Di (thi phẩm Như Lá Cỏ Tàn Phai của Kiều My), Phạm Gia Đại (Sinh Lầm Thế Kỷ của Khánh Lan) và Hoàng Đình Khuê (Tản văn Thêm Ngày Nửa Để Yêu Thương). Với các diễn giả trên thường tham dự và giới thiệu trong những lần RMS các tác giả, tác phẩm là niềm vinh dự trong nhóm NVNT & TTG suốt thời gian qua.

    Với tác phẩm Sinh Lầm Thế Kỷ (Hồi ký của một linh hồn lạc lõng) của nhà văn Khánh Lan dày 146 trang, gồm 9 chương, trước khi ấn hành đã chuyển file M. Word cho nhà văn Phạm Quốc Bảo viết về cảm nghĩ và tôi viết Lời Giới Thiệu để in vào tác phẩm. Hồi ký không viết theo thứ tự thời gian các sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời.

    Tác giả cho biết viết tác phẩm nầy trong một tuần lễ để theo dòng suy tưởng liên tục. Và sau đó tác giả dịch ra tiếng Anh với tựa đề Born In The Wrong Century. Thân phụ tác giả đã phục vụ trong Ngự Lâm Quân dưới thời Vua Bảo Đại (Quốc Gia Việt Nam) và sĩ quan trong QLVNCH vì vậy coi như thế hệ thứ hai của người Việt tị nạn góp mặt trong dòng văn học hải ngoại trong nửa thế kỷ lưu vong.

    Lời Giới Thiệu (trang 13-20)

    Trong bài thơ Phương Xa của nhà thơ Vũ Hoàng Cương (1915-1976) có hai câu: “Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ. Một đôi người u uất nỗi chơ vơ”. Với hai câu thơ nầy, thế hệ chúng tôi trải qua thời chinh chiến, tù đày và lưu vong đã mượn ý thơ để viết về thân phận đời trai “sinh bất phùng thời” trên quê hương. Và lần nầy, nhà văn nữ Khánh Lan với tác phẩm Sinh Lầm Thế Kỷ khoảng một trăm bốn mươi trang, 9 chương từ “Ký Ức Ngày Cha Mất” đến “Khánh” (tác giả, con út trong 6 anh chị em). Theo lời tác giả là truyện dài (chỉ thay đổi nhân vật) với tôi là hồi ký vì qua chín chương, tác giả ghi lại tất cả sự kiện xảy ra rất thật, chân tình từ khi sinh ra đến nay.

    Khi đọc Sinh Lầm Thế Kỷ, cảm thấy xót xa, thương cảm… với từng giai đoạn vì đã trải qua bao nghịch cảnh, bi đát nhưng rồi cũng may mắn “hết bĩ cực đến thái lai”.

    Theo lời Khánh Lan “Quyển sách viết về cuộc đời bản thân, trong gia đình và vài  người bạn thân”  với “người thật việc thật” nhưng vì lý do riêng rất tế nhị nên khác tên.

    Trong quá khứ đã có những tác phẩm (hồi ký) của phái nữ được nổi tiếng như The Liars’ Club của Mary Karr, Fun Home: A Family Tragicomic của Alison Bechdel, Girl, Interrupted của Susanna Kaysen, Lucky của Alice Sebold, Men We Reaped của Jesmyn Ward, First They Killed My Father: A Daughter of Cambodia Remembers của Loung Ung, Mom & Me & Mom của Maya Angelou của Autobiography of A Face của Lucy Grealy…

    Trong 3 chương đầu của tác phẩm, Khánh Lan viết về hoàn cảnh gia đình, tác giả khi còn bé thơ đã chứng kiến nỗi đau: “Ngày tang lễ, chiếc quan tài của Cha tôi đặt giữa hai hàng nến và hai dàn sĩ quan đứng chào. Hôm sau, người ta đưa tiễn Cha tôi đến Nghĩa Trang Quân Đội, dưới cơn mưa nặng hạt của cuối tháng Tám…” (Chương I: Ký Ức Ngày Cha Mất)

    Thân mẫu phải lo chăm sóc nuôi nấng đàn con, may nhờ bà ngoại, có chỗ nương tựa nên các anh chị em được học hành, dấn thân trong cuộc sống.

    Với 6 chương kế tiếp, ghi lại giai đoạn vào thời điểm tháng Tư năm 1975 cho đến thời gian ở Mỹ, trong đó nhắc lại ngày tháng cũ, nỗi đau của người mẹ trong nghịch cảnh: “Lần cuối cùng anh Phương về lễ Cha tôi là năm 1967 và cũng là lần cuối cùng Mẹ tôi nhìn thấy con”. (Chương III: Buổi Chia Ly)

    Với trường hợp “Đương là một sinh viên y khoa của đại học Y Khoa Sài Gòn, anh Phương đột nhiên mất tích. Hay tin dữ, Mẹ tôi như chết điếng trong lòng, vật vã than trách đất trời và khóc hết nước mắt cho đến ngày Mẹ tôi nhắm mắt xuôi tay. Sự biến mất của anh Phương không ai hiểu vì sao, cho mãi đến sau này, khi anh Phương lén lút về thăm nhà trong ngày giỗ mãn tang của Cha tôi, Mẹ tôi mới biết được lý do tại sao anh Phương đã rời bỏ khuôn viên đại học để theo ‘cách mạng’ tập kết ra Bắc: rồi biệt tăm từ đó…” (Chương VI: Thảm Cảnh Gia Đình).

    Trong khi đó, hai người anh của Khánh Lan: “Ngày mất Sài Gòn cũng là ngày mà gia đình tôi tan nát, kẻ ở người đi. Gia đình tôi sau tháng 4, 1975 còn hai anh Tuấn, Bảo và hai chị Thu, Thảo còn kẹt lại Sài Gòn. Anh Phương đã hy sinh trong chiến dịch mùa Xuân, Mùa hè đỏ lửa 1972 và được nhà nước Việt Nam ghi vào danh sách “tổ quốc ghi công”. Anh Tuấn trở thành người tù không bản án. Anh Bảo là giáo chức nên chỉ phải đi học tập cải tạo 3 ngày. Hai chị Thu và Thảo rơi vào một cuộc sống lao đao lận đận như bao nhiêu người đàn bà còn ở lại Việt Nam, và tôi, Khánh sống cô đơn nơi đất khách quê người…

    “Anh Tuấn cũng rời bỏ mái trường cùng các bạn lên đường nhập ngũ… Biệt Động Quân. Cuối năm 1979, anh Tuấn được thả về sau 4 năm rưỡi tù cải tạo.

    Anh Bảo được tin Ngoại, Mẹ tôi và chị Oanh mất (khi định cư ở Mỹ), anh như người mất trí, sống lang thang như người không nhà (homeless). Anh bỏ Sài Gòn ra Phước Tỉnh, rồi lại tử Phước Tỉnh về Sài Gòn, có lẽ anh hy vọng là sẽ tìm lại được vợ và con lưu lạc nơi nào trở về chăng? Sau 2 tháng lăn lộn, sống nay đây mai đó, anh Bảo về sống chung với hai chị tôi, Thu và Thảo. Nhờ sự chăm xóc của hai em, anh Bảo nguôi ngoai và bớt đau khổ…”

    Thời điểm bỏ nước ra đi “Ngày 27/4/1975, vượt biên con tàu đánh cá tại Phước Tỉnh 1975 “Mang theo gia đình tôi gồm: Ngoại, Mẹ, chị Oanh, đứa con 8 tháng của chị và anh Bảo, và tôi. Tôi chưa đi biển bao giờ nên khi ra khơi bị say sóng và chẳng biết chuyện gì đã xảy ra cho gia đình mình. Khi tôi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trong phòng cấp cứu của Hàng Không Mẫu Hạm Hoa Kỳ USS Midway. Người y tá Mỹ cho tôi biết rằng tôi may mắn được mang lên tàu bởi một thủy thủ khi tôi nằm bất tỉnh trên boong tàu đánh cá. Tôi ngơ ngác nhìn quanh, không thấy gia đình tôi bên cạnh, tôi hoảng sơ, bật khóc!”

    (Chương IV: Những Ngày Đen Tối Của Đất Nước, 30 Tháng 4 Năm 1975)

    Ở Chương VII: Trái Tim Vụn Vỡ, đề cập đến người chị (Thu), theo lời kể với mối tình ngang trái với anh Hoài An, Thiếu Tá Cảnh Sát với bản án 13 năm tù ở núi rừng miền Bắc. Đây là chương tác giả viết dài nhất về người chị với anh Hoài An (tuy không chính thức) nhưng đã lặn lội thăm nuôi… Trong chuyến vượt biên, Thu cùng người em Thảo gặp phải hải tặc “Có 15 cô gái bị hiếp, nhiều cô mang bệnh giang mai, một cô có bầu, một cô nhảy xuống biển tự vẫn nhưng đã được cứu sống”. May mắn hai chị em nhờ lanh trí nên không lâm vào thảm cảnh đó. Khi định cư tại Mỹ, Thu đợi chờ Hoài An ra tù và sau đó được đoàn tụ ở Los Angeles.

    Chương VIII: Hồng Nhan Đa Truân với người chị (Thảo) “Cuối năm 1979 khi chị Thảo định cư tại Mỹ thì anh Đức cũng được gia đình bảo lãnh qua Canada.

    Một tháng sau, anh Đức đột nhiên biến mất mà không để lại một lời từ giã. Một tháng sau ngày anh Đức mất tích, chị Thảo nhận được một lá thư bí mật gởi từ Canada, tiết lộ là anh Đức hiện đang sống với một người đàn bà tại Texas… Chị Thảo như chết điếng trong lòng, chị khóc cả tuần, rồi cả tháng và buồn cả năm…”. Hết nỗi đau nầy đến nỗi đau khác, khi gặp Rahul, lái xe vận tải xuyên tiểu bang, tưởng chứng cuộc tình êm đẹp nhưng nào ngờ “Lần này chị mất cả chì lẫn chài vì khi đưa tiền cho Rahul chị không làm giấy tờ”. Và sau đó cũng rơi vào hoàn cảnh trớ trêu! Trong ba chị em thì người chị nầy của tác giả đáng thương hại nhất!

    Qua hình ảnh của Phương (bạn của anh ruột tác giả), Tuấn là chồng của bạn thân, Thu là bạn khi định cư ở Mỹ, Thảo là chị của dâu (vợ của người anh ruột Bảo)… qua từng mẩu chuyện được kể lại và chứng kiến, tác giả linh động lồng vào người thân trong gia đình như “tự truyện”.

    Chương IX: Khánh

    Khánh Lan rời quê hương vào thời điểm đen tối của lịch sử trong tháng 4 năm 1975, tuy rời quê hương với phương tiện khác nhưng trường hợp của gia đình người bạn thân trong hoàn cảnh bi thảm ra đi bằng đường biển, bất chấp mạng sống để tìm lối thoát…

    Dòng cuối của tác phẩm “Có lẽ trong 6 anh chị em tôi, tôi là người may mắn nhất và có một cuộc sống êm đềm không nhiều sóng gió”.

    Như đã đề cập ở trên, tác giả viết bởi cảm xúc, chân tình cả người và sự kiện xảy ra, không có gì hư cấu, cường điệu. Trong những nhân vật được đề cập cả tốt lẫn xấu, nỗi khổ và niềm vui.

    Với tựa đề Sinh Lầm Thế Kỷ, bản thân tác giả và trong gia đình cũng như những người thân đã lâm vào trường hợp như vậy cũng tương tự như nhiều gia đình khác trong thời kỳ chiến tranh, khi mất nước. Đây chỉ là vài ý chính trong tác phẩm, với cách hành văn và diễn đạt của tác giả sinh động và lôi cuốn, dẫn dắt người đọc cảm nhận những điều chia sẻ từ khổ đau đến hạnh phúc.

    Tác phẩm (truyện) nhưng ghi Hồi Ký Viết Dưới Hầm của nhà văn Nga Dostoevsk năm 1865 (Memoir from Underground – Note du Sous-sol), tác giả ghi, chép (memoir – note) từ những sự kiện “tai nghe mắt thấy” xảy ra trở thành chứng nhân của giai đoạn lịch sử.

    Và đây là tác phẩm thứ tám của nhà văn Khánh Lan. Trong bốn năm đã ấn hành tám tác phẩm gồm nhiều thể loại từ thơ, văn, tôn giáo, triết học… và sẽ ấn hành vài tác phẩm khác. Đọc tác phẩm Dĩ Vãng Khôn Nguôi, nay đọc Sinh Lầm Thế Kỷ, thật không ngờ nhà văn Khánh Lan trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã bước vào cõi văn chương nơi hải ngoại với “đôi hia bảy đạm”.

    (Little Saigon, July 24. 2024 – Vương Trùng Dương)

    *

    Ngày xưa học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898) với tác phẩm Nỗi Oan Thế Kỷ đề cập đến thời kỳ của cụ trong giai đoạn lịch sử đầy biến động và bi thương.

    Thời Việt Nam Cộng Hòa, người lính, nhà thơ Trần Hoài Thư đã viết nhiều bài thế hệ của anh (chúng tôi) sinh ra và lớn lên trong thời chinh chiến với vết sẹo từ một cuộc chiến tàn khốc. Vết sẹo từ những kẻ sinh lầm thế kỷ. Và hai câu thơ: “Thế hệ chúng tôi đã mang đầy vết sẹo. Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn”. Anh và tôi quen nhau khi ở trong Ban Biên Tập SVSQ ở trường Bộ Binh Thủ Đức khi tôi được gởi học giai đoạn đoạn I đầu năm 1967. Trong bài viết của tôi: Trần Hoài Thư & Thủ Đức Gọi Ta Về:

    “Là nhà giáo, nhà văn, nhà thơ, gầy gò, cận thị… nhưng khi ra trường BB Thủ Đức lại về đơn vị tác chiến trong cương vị Trung Đội Trưởng của Đại Đội Thám Kích 405. Trần Hoài Thư đã 3 lần bị thương ngoài mặt trận… Thế nhưng anh không oán hận. Người lính vừa đánh giặc vừa cầm bút, “Cảm thấy mình thật hãnh diện, bởi vì tôi nguyên một giáo sư đệ nhị cấp, với đôi mắt cận 7 độ, gầy như que củi, từng được hoãn dịch vì lý do sức khỏe, lại có mặt tại một đơn vị đã từng tạo nên một thành tích kỷ lục có một không hai trong QLVNCH. Khó có một ai trong bất cứ đơn vị nào được Tướng Đỗ Cao Trí thăng cấp hai lần trong vòng hai tháng ngay tại mặt trận.” (Về Một Đại Đội Cũ). Và “Từ 405, tôi cũng đã mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả”. Thật là “Đại Đội 405 là một dấu ấn đậm sâu vào tâm trí của một người lính cũ” (Về Một Đại Đội Cũ). Đây cũng là chất liệu, môi trường trong sự nghiệp cầm bút của anh.

    Tập truyện Ra Biển Gọi Thầm của Trần Hoài Thư gồm hai mươi truyện ngắn. Là người lính, Trần Hoài Thư thấm được cái đau của bản thân, cùng thế hệ trong cuộc chiến, của đồng đội khi vào sinh ra tử. Người lính bại trận bị đày đọa trong ngục tù, khi ra tù sống bất hạnh bên lề xã hội…

    Trong tập truyện nầy, anh đã nói lên nỗi đau, bi phẫn trước và sau cuộc chiến với thế hệ tuổi trẻ của chúng tôi phải gánh chịu. Và có nhiều tác phẩm của người lính VNCH đã nói lên trong giai đoạn lịch sử bi thương nầy.

    Với Khánh Lan tuy không trải qua “đoạn đường chiến binh” như chúng tôi trong thời chiến nhưng cũng là con người lính như bao cô gái khác chẳng may mang nỗi bất hạnh, bi thương, và thay mặt cho thế hệ hệ nầy của cô để trang trải nỗi đau đó qua Sinh Nhầm Thế Kỷ.

    Little Saigon, November 2024

    Vương Trùng Dương

  • Lê Nguyễn Nga,  THO

    TẠ ƠN TRỜI CHO NGÀY BÌNH AN

    Lê Nguyễn Nga 

    Sáng hồng tia nắng thái dương 
    Tiếng chim réo bạn kiếm đường tung bay  
    Cỏ cây lóng lánh sương mai
    Cành hoa chớm nở khoe vài sắc hương 
    Cuộc đời biến đổi ngàn phương 
    Chung vòng sinh tử bên đường xá chi   
    Tình yêu vui đến rồi đi 
    Ganh đua danh vọng sân si nghiệp tràn
    Quên đi tai ác ngàn trùng
    Phù du bổng lộc xin đừng vẫn vương  
    Nụ hoa kia nở tinh sương 
    Chiều về tan tác sắc hương trong vườn 
    Qua bao tĩnh thức đêm trường 
    Ngày vui khoảnh khắc vô thường nhịp tuôn 
    Nhìn quanh phảng phất mùi hương 
    Muôn hoa vui đón ánh dương đầu ngày 
    Cảm ơn đời vẫn chưa phai 
    Cho ta thức dậy chào ngày bình an 
    Tạ Ơn Trời Đất vô vàn
    Ơn Trên xin cứu muôn ngàn chúng sinh.

    Lê Nguyễn Nga 

  • DU LỊCH,  Khánh Lan

    NVNT & TTG DU LỊCH HÀN QUỐC & NHẬT BẢN

    Khánh Lan tường trình

    Năm nay, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) đã du lịch-thưởng ngoạn ngắm hoa vàng trên du thuyền Norwegian Spirit từ ngày 12 tháng 10, 2024 đến ngày 23 tháng 10, 2024 tại hai quốc gia Nhật Bản và Đại Hàn. Chuyến đi này có khá đông các anh chị tham dự, 30 người gồm NVNT & TTG cùng các anh & chị cựu nữ sinh trường Trưng Vương và Chu Văn An, Sài Gòn.

    Mạnh Bổng, Khánh Lan, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Kim Hương, Quốc Dân

    Mạnh Bổng và các anh cựu nam sinh trường Chu Văn An, chị cựu nữ sinh trường Trưng Vương, Sài Gòn

    NGÀY 09 THÁNG 10, 2024, BAY SANG ĐẠI HÀN

    Chuyến bay 11 tiếng đáp xuống phi trường Seoul Incheon International Airport lúc 5:50 pm ngày 10 và sau khi lấy hành lý, chúng tôi thuê taxi về khách sạn Travelodge Myeongdong Namsan và Fairfield by Marriot Seoul-Gyeongin-ro. Tất cả chúng tôi đều mệt và buồn ngủ, nên chỉ kịp ăn vội bữa cơm dã chiến ngoài phố, về lại khách sạn và chuẩn bị lên giường …Thế là đã mất một ngày…

    INCHEON, ĐẠI HÀN là nơi du thuyền Norwegian Spirit cập bến tại Incheon International Cruise-Teminal 438, Gukjchan-daero-yeonsu-gu, Incheon Port. Incheon thuộc tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc cùng với Yeoju, Incheon được biết đến là trung tâm sản xuất đồ gốm Hàn Quốc và là thành phố thủ công mỹ nghệ & nghệ thuật dân gian của UNESCO. Là nền văn hóa bảo thủ truyền thống của Hàn Quốc, Incheon là nơi giao hòa giữa văn hóa indie và giới trẻ của Seoul.

    MÙA THU HÀN QUỐC

    Trước khi chuẩn bị cho chuyến du lịch, chúng tôi thầm nghĩ: Hàn Quốc vào mùa thu chắc sẽ tuyệt đẹp, thời tiết mát dịu và se se lạnh…Nhưng chúng tôi đã lầm to… Nhiệt độ ẩm và không khí ngột ngạt, oi bức của mùa hè tưởng đã đi qua để nhường lại cho một bầu trời trong xanh, mang theo cơn gió lành lạnh của những ngày đầu Thu chỉ là lòng ao ước của chúng tôi. Thật vậy, năm nay nhiệt độ và thời tiết tại Đại Hàn và Nhật Bản đã không dễ chịu mà còn giữ nguyên cái nóng bức của mùa hè, biến tháng 10 thành khoảng thời gian chẳng lý tưởng cho việc đi du lịch ngắm lá thu vàng. Lòng ao uớc được khám phá cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp tuyệt vời của những khu rừng cây đang thay lá, đổi màu không như chúng tôi chờ đợi. Cái tiết Thu êm ả của tháng 10 đầy thơ mộng và lãng mạn đã không xảy ra.

    Ôi! Chỉ là giấc mơ thôi!

    NGÀY 11 THÁNG 10, 2024. INCHEON, KOREA

    Namchang-dong and Gyeongbokgung Palace

    Sau một đêm nghỉ ngơi, chúng tôi hăng hái lên đường đi “bát phố”trên con đường Hoehyeon-dong-ga. Incheon là một thành phố nhỏ nên chỉ mất khoảng vài tiếng là đã đi hết phố. Tuy là tháng 10, nhưng khí hậu nóng như mùa hè, vậy mà chúng tôi đứa nào cũng áo đơn áo kép thế có chết người không cơ chứ.

    Hoehyeon-dong-ga, Seoul

                Vừa đi vừa nói chuyện nên khoảng 2 tiếng sau chúng tôi đã đến khu Namchang-dong, Seoul. Đây là khu shopping bày bán không thiếu một thứ gì, từ thức ăn, quần áo, giầy dép, nón mũ, túi sách tay bình dân với giá rất rẻ.

    Namchang-dong, Seoul

    Sau bữa ăn trưa, chúng tôi rủ nhau thuê taxi đến seoul-Sejongno, thăm Gyeongbokgung Palace hay Royal Palace. Không ngờ nơi đây đã để lại trong chúng tôi một ngày vui và nhiều kỷ niệm đẹp. Để không phải trả tiền vé vào cửa của Gyeongbokgung Palace chúng tôi mướn bộ trang phục truyền thống của Hàn Quốc, Hanbok với giá $35 một bộ trong vài tiếng. Nhưng đến khi mặc bộ áo Hanbok vào người, chúng tôi không khỏi bật cười nhất là nhìn Khánh Lan và Kim Hương, trông hai đứa như hai cái “lu biết đi” vì cả hai chúng tôi đều bị “yêu cầu” phải để nguyên cái áo len dầy cộm ở bên trong áo Hanbok. Cái cảm giác ban đầu khi nhìn bộ trang phục Hanbok là nó có vẻ sặc sỡ, cồng kềnh, cứng đơ làm khó chịu cho người mặc, nhưng trang phục này lại biểu tượng tính chất văn hóa và thể hiện được rõ nét thanh lịch và nét đẹp của phụ nữ Hàn quốc.

    Gyeongbokgung Palace-Royal Palace-Sejongno, Seoul Và 3 bà lão vớ được trai tơ (hehehe…)

    Hanbok là một biểu tượng lịch sử bắt nguồn từ thời kỳ Cao Câu Ly, một quốc gia nổi tiếng trong Tam Quốc nằm trên bán đảo Triều Tiên từ năm 37 TCN đến năm 668. Hanbok có màu sắc tươi sáng, đường may đơn giản và không có túi, trở thành biểu tượng của văn hóa Hàn với quan niệm về sự hòa hợp giữa các yếu tố như trời – đất, nước – lửa, cây – gió. Hanbok nổi bật với sự kết hợp tinh tế giữa đường nét và sự phong phú của màu sắc tự nhiên. Sự mộc mạc nhưng đầy sang trọng của Hanbok. Trong lịch sử của Hàn Quốc, tồn tại hai loại Hanbok phân biệt cho giai cấp quý tộc và dân thường. Những giai cấp quý tộc thường ưa chuộng trang phục mang đậm ảnh hưởng phong cách từ ngoại quốc, trong khi đó, dân thường thì trung thành với trang phục truyền thống Hàn Quốc.

    NGÀY 12 THÁNG 10, 2024-INCHEON-DU THUYỀN ORWEGIAN SPIRIT

    Tàu Norwegian Spirit là tàu lâu đời nhất của Norwegian Cruise Line, ra mắt vào năm 1998. Đây không chỉ là tàu lâu đời nhất mà còn là tàu nhỏ nhất trong Norwegian Cruise Line. Tàu có chiều dài là 880 ft, số hành khách trên tàu là 1972 người và 904 nhân viên.

    Norwegian Spirit welcome NVNT & TTG

    Giờ lên tàu của chúng tôi là 12 giờ trưa nên sau khi làm xong thủ tục “check in” chúng tôi kéo nhau lên trên boong tàu và chụp những tấm hình lưu niệm.

    Khánh Lan, Đức Hạnh, Tuyết Nga và các anh chị Chu Văn An & Trưng Vương Ngày đầu trên du thuyền Norwegian Spirit

    NGÀY 13 THÁNG 10, 2024-JEJU ISLAND

    Jeju Island là một hòn đảo có diện tích 1850 km2 và lớn nhất Hàn Quốc. Nằm ở phía nam bán đảo Triều Tiên, được hình thành bởi sự bồi tụ, xếp chồng của các mảng địa chất kết thành khi các ngọn núi lửa dưới lòng đại dương hoạt động. Đó là lý do vì sao chúng tôi đã mua tour Jeju Island Highlight.

    Nhưng sự hy vọng ấy đã trờ thành thất vọng khi đọc lá thư của Norwegian Cruise Line Shore Excursions để trên bàn phấn, báo cho chúng tôi biết là tour Jeju Island Highlight sẽ thay thế bởi tour Jeju City Highlight. Tour Jeju Highlight gồm Thác Cheonjiyeon có dòng nước đổ thẳng xuống từ một vách đá dựng đứng có tên là Cheonjiyeon, nghĩa là “bầu trời nối liền với đất liền”. Thác Cheonjiyeon nằm ở một vị trí đặc biệt, nổi tiếng bởi sự hùng vĩ và nằm giữa núi rừng. Thác còn có tên là “đầm nước của thần linh” bởi điểm kết thúc của thác là một con suối với dòng nước chảy trắng xóa.

    Vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thác nước Cheonjiyeon

    Thác nước Cheonjiyeon nằm ở phía đông nam của đảo Jeju với vẻ đẹp thơ mộng và huyền ảo. Cao 22 mét và rộng 12 mét. Phía dưới thác là hồ nước lớn nhân tạo, sâu 20 mét. Thác nước Cheonjiyeon với một truyền thuyết bí ẩn là xưa kia có 7 nàng tiên hạ trần đi ngang qua Thác, họ say đắm với cảnh sắc nơi đây và đã xuống con thác để tắm. Thác Cheonjiyeon có sự đa dạng sinh học với nhiều loài cây cối tươi tốt tạo nên một thảm thực vật phong phú.

    Nằm dưới chân thác Cheonjiyeon là khu rừng Dampalsu được công nhận là di tích thiên nhiên của Hàn Quốc và có rất nhiều loài cây quý hiếm. Con hồ dưới chân thác có loài lươn Mutae là loài lươn rất quý hiếm, chúng có thân hình to lớn, màu đen tuyền, vẩy bóng loáng, loài lươn này được coi là biểu tượng của sức khỏe và tài lộc.

    Norwegian Cruise Line Shore Excursions Jeju City Highligh

              Đây là tour mà du thuyền thay thế cho tour Jeju Island. Sau bữa điểm tâm, chuyến xe bus mang số 17 đưa chúng tôi đến thăm thành phố Jeju. Thắng cảnh đầu tiên là Yongduam Rock hay Dragon Head Rock. Có rất nhiều truyền thuyết bí ẩn về Dragon Rock, một trong những truyền thuyết cho rằng sự hình thành của Dragon Head Rock là do dung nham thạch từ những núi lửa dưới đáy biển phun trào lên, khi chúng gặp gió mạnh và sóng lớn đánh vào và qua hàng nghìn năm, chúng kết hợp thành hình thể giống như đầu con rồng.

    Dragon Head Rock

    Điểm dừng chân kế đến là Viện Bảo tàng Lịch sử Folklore and Natural History Museum, nơi trưng bày các di tích dân gian và lịch sử của hòn đảo từ khi thành hình, đến hệ sinh thái của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nền văn hóa độc đáo của hòn đảo.

    Kim Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Khánh Lan và Liên

    Sau cùng xe bus chở chúng tôi đến thăm ngôi Chợ truyền thống Dongmun, một trong những khu chợ lớn nhất tại Thành phố Jeju trải dài từ Suối Sanju đến đường Jungang, khu chợ này là nơi hoàn hảo để quan sát người dân địa phương sinh sống trong cuộc sống hàng ngày của họ.

    Quốc Dân, Kim Hương, Liên, Hùng, Khánh Lan, Mạnh Bổng

    Trong chợ truyền thống Dongmun bày bán đủ mọi thứ, nào là bánh gạo truyền thống Jeju hay bánh Omegitteok là một món ăn rất được ưa chuộng. Bánh gạo truyền thống Jeju làm bằng bột kê nếp, kết hợp cùng với bột đậu tương hoặc đậu đỏ nghiền.

    Chợ truyền thống Dongmun

    Quýt Hallabong là một đặc sản khác cũng nổi tiếng không kém của Jeju, nó có vị ngọt, thơn, mọng nước và hàm lượng vitamin C cao, tốt cho sức khoẻ và có thể làm giảm mệt mỏi.

    Quýt Hallabong

    THỨ HAI NGÀY 14 THÁNG 10, 2024: AT SEA

    Du thuyền vượt đại dương để đến hải phận của nước Nhật Bản. Sau 4 ngày đi lang thang ngoài phố, hôm nay là ngày hoàn hảo để chúng tôi lấy lại sức mà đi ngao du tiếp khi đến sứ phù tang. Hôm nay cũng là ngày cho các “chàng & nàng” tha hồ “dress-up” và chụp hình đấy.

    Dressing-up for the party

    MÙA THU ĐÔNG KINH (NHẬT BẢN)

    Mùa Thu Đông Kinh vẫn được cho là đẹp tuyệt diệu từ tháng 10 cho đến giữa tháng 12. Đó là thời điểm đẹp nhất để thăm viếng Nhật Bản khi nhiệt độ giảm xuống mức dễ chịu với lượng mưa ít hơn và phong cảnh mùa thu đang vào thời kỳ tuyệt vời. Thế nhưng, những ước mơ ngắm cảnh đồi núi với những rừng cây đầy màu sắc, tận hưởng sắc thu đều là trong mộng tưởng. Bởi nhiệt độ tại Nhật Bản chẳng khác gì Đại Hàn với khí hậu nóng và oi bức.

    Ôi! Chì là giấc mơ thôi!

    THỨ BA NGÀY 15 THÁNG 10, 2024-ISHIGAKI-OKAWA

    Nằm ở phía Tây đảo Okinawa, thuộc Quần đảo Yaeyama và ở phía Đông của Đài Loan. Đảo Ishigaki được xem là một trong những hòn đảo lớn nhất thuộc Quần đảo Yaeyama.

    Điểm dừng chân đầu tiên tại Nhật Bản là đảo Ishigaki, đảo này được mệnh danh là Thiên đường của biển với đại dương xanh ngát, trong veo như pha lê và những bãi cát trắng trải dài, những ngọn đồi, rặng núi phủ đầy rêu phong.
     

    Đảo Ishigaki là một hòn đảo đặc biệt vì có sự giao hòa giữa nền văn minh hiện đại mà vẫn giữ được nét đẹp hoang sơ, thuần khiết của thiên nhiên. 

    Dạo phố Ishigaki: Hùng, Liên, Lệ Hoa, Khánh Lan, Mạnh Bổng,

    Tuyết Nga, Quốc Dân, Đức Hạnh, Việt Hải

    Thế nhưng chúng tôi đã không đi tắm biển mà rủ nhau đi đạo phố. Lang thang trên đường phố sau gần hai tiếng dưới cơn nóng trên 85 độ khiến mọi người đều mệt nhoài và khát nước. Lúc này thì những chiếc áo len mặc trước khi ra phố được dịp và tha hồ tra tấn thân xác những ai lỡ dại mặc nó. Đã vậy, thỉnh thoảng trời lại đổ mưa, nên hôm ấy thật đúng với câu “dầm mưa dãi nắng”.

    Nhưng “trời mưa thì mặc trời mưa”, cuối cùng chúng tôi đã đến khu mua sắm chính của thành phố Ishigaki. Một khu phố bình dân nhưng rất lớn và bày bán không thiếu một thứ gì mà giá cả lại rất rẻ.

    THỨ TƯ NGÀY 16 THÁNG 10, 2024-NAHA-OKINAWA

                Quần đảo Okinawa bao gồm Naha, Okinawa, Kerama  Naha là thủ phủ của Okinawa, là trung tâm thương mại, văn hóa, giáo dục và là thành phố lớn nhất của tỉnh Okinawa. Naha được thành lập vào năm 1920 tại địa điểm trước là kinh đô của vương quốc Ryukyu từ đầu thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 19. Naha nằm bên bờ biển phía Nam đảo chính Okinawa, rộng 39,98 km².

    Naha nổi tiếng với Thành Shuri, hoàng thành của vương quốc Ryūkyū, một di sản văn hóa thế giới bao gồm quần thể thành trì. Đại lộ, sân bay Naha và cảng Naha kết nối thành phố này với các vùng đất khác của Nhật Bản. Naha cũng là cảng hàng không chính của Okinawa. Hệ thống monorail Yui Rail đi tuyến đường từ nhà ga của sân bay Naha tới Đại lộ Kokusai, Shintoshin. Ga Shuri gần thành Shuri. Naha là nơi phát xuất môn phái võ Naha-te cùng với Tomari-te (miền Nam Trung Quốc) và Shuri-te (võ của hoàng gia Ryukyu) là các nguồn gốc của Okinawa-te, tiền thân của Karate.

    Sau khi ăn sáng trên du thuyền, chúng tôi rủ nhau tản bộ trên Đại lộ Kokusai và ngộ ra rằng đó là một sai lầm vô cùng tai hại, bởi cả ngày hôm ấy khí hậu thật cay nghiệt, nhiệt độ lên đến gần 90°C và trời trở mưa, nắng thật bất thường. Chúng tôi, không ai chuẩn bị áo mưa hay dù nên cả lũ bị ướt và lạnh. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn không nản trí và cứ “lội mưa mà đi”.

    “Con đường Kokusai” là một khu phố sầm uất với các cửa hàng mua sắm, quán ăn nhộn nhịp tọa lạc ở trung tâm thành phố Naha, dài 1.6km. Con đường này thành hình sau khi chiến tranh kết thúc, với mong muốn vực dậy nền kình tế Okinawa với cái tên “Kiseki no Mairu – 1 dặm kì tích”.

    Sau đó, chúng tôi ghé thăm ngôi chợ hải sản Makishi. Khu chợ này có thể xem như là “nhà bếp” của Okinawa với hơn 115 hàng quán, bày bán tất cả mọi thực phẩm do Okinawa sản xuất từ đủ loại trái cây, rau củ quả nhiệt đới. Các quầy thịt heo và hải sản lúc nào cũng đầy ắp những mặt hàng hóa không thể thấy được ở các tỉnh khác của Nhật.

    Khu hàng bán hải sản Makishi

    THỨ NĂM NGÀY 17 THÁNG 10, 2024-AT SEA

    Hôm nay là ngày thứ hai At Sea, là ngày mà chúng tôi tận hưởng những giây phút “relax” tuyệt diệu cho cả nhóm sau hai ngày vật lộn với thời tiết khắc nghiệt của Nhật Bản. Một vài người trong nhóm đã húng hắng ho trong đó có cả chúng tôi. Chị Kim Hương và Tuyết Nga ví như một nhà thuốc lưu động sẵn sàng cung cấp thuốc cho chúng tôi khi cần. Tuy thế, bệnh tật cũng chẳng làm chùn bước chân của nhóm “trẻ và khỏe” NVNT & TTG, nên chúng tôi vẫn tiếp tục ăn, chơi và đấu láo từ 7 giờ sáng đến 12 giờ đêm và cà ngày bận rộn với rủ nhau đi ăn rồi lại rủ nhau đi ăn…

    Du thuyền Norwegian Spirit gọi “Formal Dress” là “Smart Dress” nên đã tạo nhiều “confuse” cho chúng tôi, chính vì thế mà 4 chúng tôi (Lan, Hương, Hạnh, Nga) quyết định đánh một vòng trên khu “Central Deck” xem thiên hạ “diện” ra sao. Ôi! Tí nữa thì quê chết được, tại Central Deck, người ta, nào là “quần là áo lượt” dập dìu “tài tử giai nhân” đứng chờ đến phiên chụp hình. Thế là 4 bà xã xệ chuồn về phòng ngay để chuẩn bị đi “dung dăng dung dẻ” với thiên hạ chứ…
     

    At Sea còn là ngày mà mọi người đi bộ thể dục thể thao trên du thuyền, nhóm NVNT chạy đua cùng các anh chị Trưng Vương & Chu Văn An. Và dĩ nhiên, kết quả vẻ vang đã về tay nhóm NVNT. Hihihi…hahaha và nhất là được thưởng thức những món ăn ngon mà hãng tàu cung cấp.

    THỨ SÁU NGÀY 18 THÁNG 10, 2024-HIROSHIMA

    Mùa Xuân 2005, chúng tôi đã có dịp ghé thăm Nhật Bản để tận hưởng vẻ đẹp của mùa hoa anh đào. Những cánh hoa sắc hồng và trắng tràn ngập bầu trời trong xanh và bao phủ khắp các thị trấn, công viên, đồi núi trên xứ phù tang, nhưng lần ấy, land tour SuperValue đã không dừng lại ở hòn đảo Honshu. Lần này, du thuyền Norwegian Spirit dừng lại ở đảo Honshu 8 tiếng, nên chúng tôi không thể không ghé thăm một địa danh lịch sử, nghĩ vậy; chúng tôi đã quyết định mua tour Panoramic Hiroshima với du thuyền để không bị bỏ lỡ cơ hội thăm Hiroshima Peace Memorial Park.

    Hiroshima, hình chụp từ trên boong tàu

    Hiroshima là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở vùng Sanyo và vùng núi Chugoku trên đảo Honshu. Với diện tích 90501 km vuông bao gồm một số dãy núi, sông, đồng bằng ven biển và nhiều đảo nhỏ. Hiroshima là thành phố đầu tiên của thế giới phải đối mặt với chiến tranh hạt nhân. 

    Công viên Tưởng niệm Hòa bình, Hiroshima Peace Memorial Park

    Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên “Little Boy” đã thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản lúc 8:15 sáng. Quả bom thứ hai mang tên “Fat Man” đã phát nổ tại thành phố Nagasaki ngày 9 tháng 8 năm 1945, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đế quốc Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện với Khối Đồng Minh và ký vào văn kiện đầu hàng ngày 2 tháng 9 năm 1945, chính thức chấm dứt chiến tranh thế giới thứ hai.

    Đồng hồ trên đỉnh chỉ giờ khi quả bom nguyên tử đầu tiên đã thả xuống Hiroshima lúc 8:15 sáng ngày 6 tháng 8 năm 1945.

    Trái bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki trong thế chiến thứ hai

    Quả bom nguyên tử đầu tiên có ​​sức công phá tương đương 15.000 tấn thuốc nổ TNT. Hiroshima được chọn làm mục tiêu vì đây là một cảng quan trọng ở phía nam đảo Honshu và là trụ sở của Tập đoàn quân số 2 của Nhật Bản với 40.000 quân nhân trong thành phố, và là thành phố lớn duy nhất không có trại tù binh chiến tranh. Dự định ném xuống Cầu Aioi, quả bom đã trượt mục tiêu 240 m (790 ft) và phát nổ ngay trên Bệnh viện Shima, rất gần với Genbaku Dome. Tâm vụ nổ nằm cách Dome 150 m (490 ft) theo chiều ngang và 600 m (2.000 ft) theo chiều dọc.

    Các cột dọc của tòa nhà, một phần của tường ngoài bằng bê tông và gạch vẫn còn nguyên vẹn. Genbaku Dome gần như vẫn đứng nguyên như sau vụ đánh bom ngày 6 tháng 8 năm 1945. Từ năm 1950 đến năm 1964, Công viên Tưởng niệm Hòa bình Hiroshima được thành lập xung quanh mái vòm bom nguyên tử Genbaku. Hội đồng Thành phố Hiroshima thông qua nghị quyết bảo tồn vĩnh viễn Vòm Genbaku hay Đài tưởng niệm Hòa bình Hiroshima năm 1966.

    Mái vòm Bom Nguyên tử Genbaku

    Excursion: Panoramic Hiroshima

    Từ 9 giờ sáng chúng tôi đã có mặt tại Stardust Theater của du thuyền Norwegian để chuẩn bị lên xe bus. Đúng 9:30 sáng, xe bus #17 chở chúng tôi đi xem thành phổ Hiroshima, thỉnh thoảng xe dừng lại tại các điểm nổi bật trong lịch sử và những khu vực đã được tái tạo trong thành phố sau sự tàn phá gần như hoàn toàn bởi một quả bom nguyên tử vào năm 1945. Điểm dừng chân đầu tiên là Hiroshima Peace Memorial Park với Mái vòm Bom Nguyên tử Genbaku, một công trình kiến ​​trúc duy nhất còn sót lại sau vụ nổ bom nguyên tử và nó đã trở thành biểu tượng của hòa bình và hy vọng loại bỏ vũ khí hạt nhân.

    Mái vòm Bom Nguyên tử Genbaku

    Lâu đài Hiroshima, biểu tượng kiên cường của thành phố Hiroshima

    Điểm dừng chân thứ hai là sự tái thiết tuyệt vời của Lâu đài Hiroshima, một tòa nhà lịch sử đã bị bom nguyên tử san bằng. Nằm ở quận Naka, được xây dựng lại vào năm 1958, lâu đài bằng đá và gỗ cao 5 tầng trên khu đất có quang cảnh tuyệt đẹp được bao quanh bởi một con hào bảo vệ. Thành phố Hiroshima đã tồn tại qua nhiều biến cố thăng trầm, chứng kiến sự phát triển và những mất mát của thành phố. Lâu đài Hiroshimalà một trong những hành trình lịch sử và văn hóa của Nhật Bản.

    Lâu đài Hiroshima

    Lâu đài Hiroshima được xây dựng vào cuối thế kỷ 16 bởi Fukushima Masanori, là trung tâm quyền lực và là nơi cư trú của các lãnh chúa vùng Hiroshima cho đến cuối thời Edo (1868). Kiến trúc của lâu đài kết hợp hài hòa giữa phong cách xây dựng kiên cố và tính thẩm mỹ tinh tế. Lâu đài chính là mái nhà được thiết kế cong cong, mang biệt danh “Hijo-jō” (Lâu đài Cá chép).

    Lâu đài Hiroshima đã phải trải qua nhiều lần tu sửa và xây dựng lại sau trận động đất năm 1875 và thảm họa sau vụ đánh bom nguyên tử vào Hiroshima năm 1945 khiến hầu như toàn bộ kiến trúc của lâu đài bị phá hủy. Sau chiến tranh, người dân Hiroshima khôi phục lại di sản văn hóa, và công cuộc tái thiết Lâu đài Hiroshima bắt đầu vào năm 1958. Lâu đài Hiroshima là một trong những lâu đài đầu tiên ở Nhật Bản được xây dựng bằng đá. Bên trong khuôn viên lâu đài làBảo tàng Lịch sử Thành phố Hiroshima, trưng bày các hiện vật và tư liệu quý giá về lịch sử của thành phố.
     

    THỨ BẢY NGÀY 19 THÁNG 10, 2024-OSAKA-KYOTO & CHỦ NHẬT NGÀY 20 THÁNG 10, 2024-OSAKA

    Thành phố Osaka nằm ở phía tây giáp vịnh Osaka. Khi thành phố được thành lập vào năm 1889, ngày nay là các phường Chuo và Nishi. Osaka nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm ướt với bốn mùa rõ rệt. Mùa đông thường với tháng giêng là tháng lạnh nhất. Mùa xuân khi hậu ôn hòa, nhưng có khi nóng và ẩm với tsuyu (mưa xuân) xảy ra từ đầu tháng 6 tới cuối tháng 7. Mùa hè rất nóng và ẩm ướt, tháng 8 là tháng nóng nhất. Mùa thu ở Osaka mát mẻ, với lượng mưa rất nhiều.

    Thành phố Osaka là tỉnh lỵ của tỉnh Osaka và là một đô thị của quốc gia Nhật Bản. Osaka nằm ở vùng Kinki trên đảo Honshu (Tokyo, Osaka, Kyoto, Hiroshima), ngay cửa sông Yodo trên vịnh Osaka. Thành phố Osaka chiếm phần lớn nhất vùng đô thị Keihanshin, Kyoto-Osaka-Kobe là thành phố lớn thứ hai ở Nhật Bản. Đây là trung tâm thương mại, là trung tâm công nghiệp và hải cảng chính, là trái tim của vùng đô thị Kansai.

    Khi du thuyền cập bến tại cảng Osaka, chúng tôi không mua tour mà tự mướn hai taxi, mỗi taxi chở 4 người, gồm Việt Hải, Lệ Hoa, Quốc Dân, Kim Hương, Mạnh Bổng, Khánh Lan, Hạnh và Nga. Từ Cảng Osaka Tempozan Wharf 3 đến Osaka khoảng 1 giờ bằng xe hơi. Những địa điểm chúng tôi sẽ ghé thăm là Katsuo-ji Temple, Dotombori Canal, Osaka Castle, Nara Deer Park.
     

    Cảng Osaka Tempozan Wharf 3

    Katsuo-ji Temple

    Là điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi, hôm ấy đúng là ngày đầu của mưa Thu, mưa nhẹ hạt nhưng cũng làm ướt cả người nên chúng tôi ghé lại một gift shop trước cửa chùa để mua vé vào cửa, dù và áo mưa. “Trời mưa thì mặc trời mưa” chúng tôi vẫn tung tăng trên những con dốc và bậc thang bằng đá dài lê thê, nào là chụp hình, ngắm vẻ đẹp như tranh vẽ quanh chùa, v.v… và quên cả trời mưa.

    Đây là ngôi chùa được mệnh danh là chùa may mắn. Rất nhiều người tới đây để cầu xin được thành công trong kinh doanh, buôn bán…. Các sĩ tử thì tời cầu xin thi cử đỗ đạt…

    Katsuoji-ngôi chùa nổi tiếng để cầu may mắn tại osaka

    Chùa Katsuoji được xây dựng từ hơn 1100 năm trước. Truyền thuyết kể rằng, Thiên Hoàng thời đấy bị bệnh nặng và mọi người đã tới chùa này cầu nguyện cho Thiên Hoàng mau chóng khỏi bệnh. Để cảm tạ Thiên Hoàng đã đặt tên cho ngôi chùa này là Katsuo-ji (Thắng Vương Tự), nhưng từ “Thắng Vương” bị cho là phạm thượng, vì vậy sau này được đổi tên lại là “Thắng Vĩ Tự” hay Katsuo-ji.

    Chùa Katsuoji

    Búp bê Daruma tại chùa Katsuo-ji còn được gọi là Kachi-darumak, khuôn mặt của búp be Daruma không có mắt, khi muốn cầu xin một điều gì đó, người ta tự vẽ lên trên mặt Daruma một con mắt, và sau khi lời nguyện xin trở thành sự thật, thì họ trở lại và vẽ thêm con mắt thứ hai. Cảnh sắc 4 mùa tại Katsuoji có vẻ đẹp khác nhau, nhưng đẹp nhất vẫn là mùa thu với nhiều lá đỏ và mùa xuân với hoa anh đào sắc hồng phủ kín khắp ngôi chùa, đặc biệt là hoa anh đào rủ, đẹp quyến rũ.

    Búp bê Kachi-Daruma – mang đến sự may mắn.

    Dotonbori Canal là con kênh nổi tiếng có từ năm 1600 và nằm trong khu Dotonbori, một khu giải trí và ẩm thực đường phố của Osaka. Dọc theo tuyến đường thủy, các con phố chật cứng với các cửa hàng quần áo, izakaya, quầy hàng thực phẩm và các biển hiệu neon cao chót vót. Từ du thuyền trên kênh qua Cầu Dōtonboribashi đến Cầu Nipponbashi ở quận Namba thuộc phường Chūō là khu vực có cuộc sống về đêm chính của Osaka. Đôi khi người ta gọi đó là sông “Dotonbori”, nhưng thực ra đó là con kênh “Bori Kanji”. Người dân địa phương đặt biệt danh cho nó là ‘Tonbori‘, hoặc viết là “Dotombori”. Từ “Doton” bắt nguồn từ người đàn ông bắt đầu đào kênh vào thế kỷ 17, Yasui Doton với kế hoạch là nối nhiều con sông của Osaka lại với nhau. Ông đã tử trận trước khi hoàn thành, những người anh em họ của ông đã tiếp tục hoàn thành công việc và đặt tên cho kênh đào là Dontonbori để tưởng nhớ ông. 

    Osaka Castle

                Khi xe dừng lại ở lâu đài Osaka thì trời vẫn còn mưa nho nhỏ, nhưng những hạt mưa bụi ấy không làm chùng lòng chúng tôi. Một khung cảnh thơ mộng, đáng yêu trên khắp nẻo đường từ cổng dẫn vào khu vực của lâu đài. Trên đường, từng hàng người nối đuôi nhau với những chiếc dù muôn màu, chuyển động nhịp nhành trên đường trông như một cuốn phim đang quay chậm, thật đẹp mắt. Chúng tôi cũng không ngoại lệ, chân vẫn bước, mắt vẫn mở lớn, trông trước nhìn sau và tay không rời cái iphone, nhấn nút máy hình luôn.

    Ôi! Tòa lâu đài đẹp và nguy nga quá, ai có thể không dừng chân lại để chụp ít nhất vài tấm hình kỷ niệm.

    Lịch sử Nhật Bản vào thế kỷ 16 gắn liền với 2 nhân vật là Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi. Nobunaga là lãnh chúa với tham vọng thống nhất Nhật Bản với sự phò tá của Toyotomi Hideyoshi. Lâu đài Osaka hay thành Osaka được lãnh chúa Toyotomi Hideyoshi xây dựng vào năm 1583 để làm nơi cư ngụ và tốn 16 năm để hoàn tất. Đây cũng chính là lâu đài lớn nhất khi ấy, được dựng trên nền của đền Ishiyama Honganji đã bị phá hủy Ozaka-jo.

    Lâu đài Osaka vào mùa thu vào dầu tháng 11 với những hàng cây muôn màu và mùa xuân với hoa anh đào nở rộ vào cuối tháng 3 là những mùa đẹp nhất tại đây với phong cảnh thên nhiên của hoa lá phản chiếu trên mặt hồ. Một khung cảnh thần tiên.

    Dựa theo Internet, khi Nobunaga chết sau một cuộc đảo chính, Hideyoshi chính là người thay ông thống nhất toàn cõi và xây dựng thành Osaka để kỷ niệm. Thành Osaka được các con hào bao quanh và bảo vệ người sống bên trong, một phần lớn tường thành đã bị thiêu rụi khi gia tộc Toyotomi diệt vong. Lâu đài Osaka chính là biểu tượng cho sự hùng mạnh, thịnh trị của triều đại Hideyoshi với 5 tầng bên ngoài và 8 tầng bên trong, hai bên trang trí bằng vàng kể cả phòng trà của Hideyoshi. Lâu đài Osaka được xem là một trong Tam đại danh thành của Nhật Bản, bên cạnh lâu đài Nagoya và lâu đài Kumamoto. 

    Năm 1615, sau khi Hideyoshi chết lâu đài Osaka đã bị Tướng quân Tokugawa Ieyasu đốt cháy thành tro. Năm 1620, lâu đài được xây dựng lại nhưng sau đó bị sét đánh 2 lần và bị thiêu rụi vào năm 1660 và 1665. Những cuộc bạo loạn thời Minh Trị và các trận đánh bom trong Thế chiến thứ II cũng gây tổn hại nặng nề cho lâu đài Osaka. Đến năm 1990, chính phủ Nhật Bản chính thức tài trợ khôi phục lại bên ngoài cho lâu đài và có đặt thêm thang máy. Trong thành lũy và bên ngoài lâu đài vẫn còn lưu giữ được nhiều tài sản văn hóa quan trọng như cổng Sakuramon, cổng Otemon, 5 tháp canh bao gồm Tháp pháo Tamon, 2 nhà kho và mái nhà trên giếng Kinmeisui. Tòa tháp canh chính và các tháp Yagura còn lại hiện tại đã được xây dựng từ thời Edo.

    Trong thành lũy và bên ngoài lâu đài

    Tường đá hùng vĩ của cổng Otemon là những bức tường đá và hào nước được giữ nguyên từ thời Tokugawa và được trùng tu lại vào thời Showa. Từ Osakajo Otemae Shibafu Hiroba, những viên đá được xếp theo thứ tự trong khi bức tường bên trái xếp chồng lên nhau. Thời gian xây thành Osaka kéo dài đến 10. Lâu đài Osaka đã sử dụng từ 500.000 đến 1 triệu viên đá lớn. Các bức tường hào cao tới 20 mét và rộng 90 mét.

    Cổng Sakuramon được xây vào năm 1626 trong thời kỳ đầu Edo nhưng sau đó bị cháy rụi năm 1868 và khôi phục lại vào năm 1887. Tên cổng bắt nguồn từ “sakura” tức hàng cây hoa anh đào được trồng gần cổng khi Toyotomi xây lâu đài Osaka. Những tảng đá khổng lồ hai bên cổng Sakuramon là Ryukoishi, tức đá rồng và đá hổ, gắn liền với sự tích hình ảnh rồng và hổ sẽ xuất hiện trên đá sau khi trời mưa. 

    Tháp lâu đài Osaka được xem là biểu tượng của cả thành phố Osaka nói riêng và Nhật Bản nói chung. Tòa tháp trắng lộng lẫy trên bức tường cao là chứng nhân cho biết bao sự kiện trong lịch sử. Trên tầng thượng tháp có tác phẩm điêu khắc Shachihoko bằng vàng (sinh vật có đầu hổ và mình cá trong văn hóa dân gian Nhật Bản), và trên bức tường đen là một con hổ vẽ bằng vàng.Đài quan sátnằm trên tầng 8 là địa điểm ngắm nhìn toàn cảnh thành phố.

    Bảo tàng Lâu đài Osaka, tọa lạctrên tầng 2, lưu trữ nhiều hiện vật lịch sử khác nhau như con hổ vàng, bản sao của vật trang trí trên mái nhà bằng vàng Shachihoko. Lâu đài Osaka là một địa danh nổi tiếng ở Nhật Bản và là nhân tố chủ chốt trong quá trình thống nhất đất nước vào thế kỷ 16. Lâu đài là một bảo tàng sống, với mỗi tầng trưng bày một giai đoạn khác nhau trong lịch sử Nhật Bản như các hiện vật samurai trong các phòng trưng bày và các tác phẩm điêu khắc treo trên tường.

    Vườn Nishinomaru trồng 600 cây hoa anh đào cùng một quán trà với phong cảnh tuyệt đẹp.  

    Vườn Nishinomaru

    CHỦ NHẬT NGÀY 20 THÁNG 10, 2024-OSAKA-KYOTO

              Du thuyền Norwegian Spirit ở lại qua đêm tại Osaka, do đó chúng tôi có cơ hội thăm Kyoto. Cũng như ngày hôm trước, chúng tôi thuê 2 taxi và mất khoảng 1 giờ 15 phút thi đến khu phố Kyoto. Kyoto thành hình từ hơn 1000 năm và được ví như “cái nôi” của văn hóa truyền thống và được mệnh danh là “linh hồn của Nhật Bản”, một vùng đất mang đậm văn hóa và lịch sử, nhiều chùa chiền và các đền thờ Thần Đạo, nơi chứng kiến bao thăng trầm của đất nước.

    Kyoto là cố đô của nước Nhật với đường phố nhỏ hẹp và những ngôi nhà thấp. Đặc biệt, thành phố không có các tòa nhà chọc trời hay bất kỳ công trình hiện đại nào. Mảnh đất này là hiện thân của nước Nhật cổ xưa – nơi có nhịp sống chậm rãi, thanh bình và hòa nhã. Thành phố Kyoto có khoảng 17 địa danh được Unesco công nhận là Di sản thế giới. Đặc biệt, cố đô có tới 1.600 ngôi chùa Phật giáo và khoảng 400 ngôi đền thờ Thần đạo, rất nhiều công trình kiến trúc cổ xưa như cung điện, lâu đài, v.v… vẫn còn được gìn giữ nguyên vẹn cho đến ngày nay.

    Rừng trúc Arashiyama hay Rừng tre Sagano (Sagatenryujitateishicho)

    Điếm đầu tiên là Rừng trúc Arashiyama. Nằm dưới chân núi Arashiyama, phía Tây cố đô Kyoto, gần dòng sông Hozu và bao phủ một diện tích rộng lớn khoảng 16 km². Đây là một khu rừng tre tự nhiên với vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, nổi bật với những hàng tre mōsō xanh mát trải dài bất tận, tạo nên một khung cảnh yên bình và cuốn hút. Những thân tre cao vút, thẳng tắp, lá xanh mướt, tựa như một mê cung tự nhiên, kỳ diệu. Đặc biệt, khi dạo bước trong rừng tre Sagano, âm thanh xào xạc của lá tre như làm mê hoặc người nghe, tựa như lời thì thầm của thiên nhiên. Âm thanh tự nhiên này đã được Bộ Môi Trường Nhật Bản đưa vào danh sách 100 âm thanh cần bảo tồn.

    Sự kết hợp hài hòa giữa môi trường rừng tre và các khu vườn truyền thống Nhật Bản tạo nên một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc và môi trường sống lành mạnh. Khu vực này không chỉ là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo vệ môi trường sinh thái của vùng Kyoto. Rừng tre Sagano mang vẻ đẹp tự nhiên và ẩn chứa những giá trị văn hóa lâu đời của Nhật Bản. Tre trong văn hóa Nhật là biểu tượng của sự bền bỉ, sức mạnh và thanh tao. Rừng tre Sagano đã xuất hiện trong nhiều hoạt động và lễ hội truyền thống của người Nhật, gắn liền với đời sống tinh thần của dân tộc này qua nhiều thế kỷ.

    À há! vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm!

    Tenryu-ji Zen Temple-Sogenchi Garden và Haritsunajinja Shrine

    Gần rừng tre Sagano là chùa Tenryuji, một ngôi chùa nằm trong danh sách Di sản Thế giới của UNESCO. Ngôi chùa này nổi tiếng với kiến trúc tinh tế và khu vườn Zen độc đáo, mang đến sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Cây tre được cho là có khả năng xua đuổi tà ác, nên chùa Tenryu-ji đã được xây dựng gần rặng tre như một cách bảo vệ và tôn vinh sức mạnh thiên nhiên.

    Một thú vị bất ngờ là khi đến thăm rừng tre Sagano, du khách có thể thuê và mặc bộ Kimono truyền thống, chụp ảnh giữa khung cảnh tuyệt đẹp của rừng tre khiến người ta có cảm giác như đang hòa mình vào không khí văn hóa Nhật Bản xưa.

    Xe kéo (jinrikisha, nghĩa đen là “xe chạy bằng sức người”), 30 phút cho hai người có giá khoảng 9000 yen

    Chùa Kinkakuji-The Golden Pavilion – Rokuon-Ji

    Kinkakuji trở thành biểu tượng văn hóa đặc trưng của “xứ sở hoa anh đào” và là một ngôi chùa nổi bật với sự kết hợp của dát vàng cùng kiến trúc truyền thống.

    Chùa vàng là công trình nổi tiếng và được UNESCO công nhận

    Nằm ở phía Bắc thủ đô Kyoto và từng là dinh thự của tướng Ashikaga Yoshimits, ngôi chùa Kinkakuji được xây vào năm 1408 và được dùng để làm đền thờ Zen của giáo phái Lâm Tế. Chùa Kinkakuji sở hữu vẻ đẹp cổ kính, trang nghiêm, kết hợp cùng phần vàng thật được dát xung quanh làm cho vẻ đẹp của chùa trở nên uy nghi với cảnh vật thiên nhiên lãng mạn, nhẹ nhàng bao quanh. Từ ao hồ, đến cây xanh, tầng gác đều góp phần tạo nên một cảnh đẹp quanh chùa. Ngay nay, chùa Kinkakuji đã trở thành di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận.

    Đức Hạnh & Tuyết Nga

    Chùa Kinkakuji có 3 tầng được xây dựng ngay bên ao Kyoko-chi, nên trong những ngày đẹp trời, hình ảnh của ngôi chùa in bóng trên mặt nước của hồ tựa như một bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp. Với lối kiến trúc độc đáo của văn hóa Nhật Bản đã tạo nên ấn tượng cho chùa Kinkakuji, đó chính là lối kiến trúc kết hợp giữa gỗ, thạch cao theo phong cách Shinden thường thấy tại các cung điện thuộc thời kỳ Heian. Bên trong tầng một được đặt tượng Đức Phật Shaka và tượng của Yoshimitsu. Tầng thứ hai sử dụng phong cách Bukke thường thấy của các dinh thự samurai và có mặt bên ngoài dát vàng thật. Trong tầng hai được đặt tượng Bồ tát Kannon, Đức Phật Shaka và Tứ Đại Thiên Vương… Ở tầng thứ ba sử dụng kiểu xây dựng đặc trưng của Thiền Đường Trung Quốc được mạ vàng bên ngoài và phần đỉnh Phượng Hoàng cũng mạ vàng nổi bật.

    Mạnh Bổng & Khánh Lan và Lệ Hoa & Việt Hải

    Ngắm nhìn cảnh vật chùa qua bốn mùa, chùa Kinkakuji với cảnh vật lãng mạn, thu hút. Bao quanh chùa là cây xanh tự nhiên và ao Anmintaku trong vắt không bao giờ cạn. Sự thay đổi khác nhau trong năm theo từng mùa góp phần vào việc tạo vẻ đẹp uy nghiêm, tĩnh lặng của một ngôi đền Zen lâu đời. Xung quanh khu vực chùa có đền Fudo Hall thờ tượng Fudo Myoo – Một trong những vị vua thông thái của Nhật Bản và luôn bảo vệ Phật giáo.

    Hồng Thủy, Khánh Lan, Theresa, Thanh Bình, Kim Hương

    Japan’s Nara Park Deer and Todaiji Temple

    Công viên Nara nằm ở thành phố Nara dưới chân núi Wakakusa, thành lập vào năm 1880, và là một trong những công viên lâu đời nhất ở Nhật Bản. Về mặt hành chính, công viên nằm dưới sự quản lý của Tỉnh Nara, một trong những “Địa điểm danh lam thắng cảnh” được Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (MEXT) công nhận là di sản văn hóa. Hơn 1.200 con hươu hoang thả tự do đi lại trong công viên và được phân loại là báu vật thiên nhiên. Trong khu diện tích khoảng 502 ha (1.240 mẫu Anh), bao gồm khuôn viên của Tōdai-ji, Kōfuku-ji với Đại Phật đường Todaiji và bức tượng Phật bằng đồng lớn nhất thế giới, nặng ước tính 300 tấn. Đền Kasuga và Bảo tàng Quốc gia Nara được bao quanh bởi Công viên Nara, có diện tích lên tới 660 ha (1.600 mẫu Anh).

    Theo truyền thuyết địa phương, loại hươu sika được Đền thờ Kasuga và Kōfuku-ji coi là linh thiêng và cao quý do Takemikazuchi, một trong bốn vị thần của Đền thờ Kasuga đã đến thăm công viên từ Đền thờ Kashima ở Tỉnh Ibaraki. Ông cưỡi một con hươu trắng và xuất hiện trên Núi Mikasa (Núi Wakakusa). Giết một trong những con hươu này là một tội tử hình cho đến năm 1637. Để cho hươu ăn, một loại bánh quy đặc biệt được bán độc quyền bởi công ty WNOW.
     

    Sau Thế chiến II, loài hươu chỉ được coi là di tích thiên nhiên và được bảo vệ. Vào tháng 1 năm 2023, một nhóm nghiên cứu từ Đại học Fukushima, Đại học Yamagata và Đại học Sư phạm Nara cho rằng trong số những con hươu sika sinh sống ở Bán đảo Kii là một quần thể di truyền độc đáo. Kết quả nghiên cứu di truyền cho thấy trong 18 kiểu gen DNA ở những con hươu sống trong công viên Nara là những loài hươu sống ở Bán đảo Kii. Sự phân hóa di truyền của loài hươu Công viên Nara với quần thể hươu Bán đảo Kii diễn ra cách đây khoảng 1,400 năm trước. Về mặt di truyền gần với năm 768, khi Đền thờ Kasuga được xây dựng. Kết quả nghiên cứu này xác nhận rằng người Nhật đã bảo vệ loài hươu ở khu vực này trong hơn 1.000 năm với tư cách là sứ giả của Takemikazuchi, vị thần chính của Đền thờ Kasuga. Điều này cho thấy loài hươu ở khu vực này duy trì quần thể của chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    THỨ HAI NGÀY 21 THÁNG 10, 2024-NAGOYA

    Nagoya nằm ở trung tâm Nhật Bản, Nagoya là thủ phủ của tỉnh Aichi và được bao quanh bởi biển, núi, sông và đồng bằng. Đồng bằng Nobi rộng, bằng phẳng và màu mỡ là nơi lý tưởng cho việc sản xuất lúa và trồng cây. Biển phía nam là ngư trường phong phú. Nhiều con sông xung quanh là nơi lý tưởng cho giao thông và thương mại. Gỗ, đất sét và đá từ những ngọn núi, khu vực giàu có này là trung tâm của thời Chiến Quốc, vì vậy, khi Oda và Tokugawa chọn Nagoya là địa điểm lý tưởng để xây lâu đài. Con Robot gỗ đầu tiên trên thế giới, gọi là búp bê Karakuri được phát minh ở Nagoya vào đầu những năm 1600. Ban đầu được sử dụng trong ngày lễ hội truyền thống ở khu vực này. Những kỳ quan cơ khí bằng gỗ thủ công đã dẫn đến việc sản xuất máy dệt tự động, ảnh hưởng đến công nghệ và đưa đến một ngành công nghiệp mạnh mẽ ở Nagoya. Sản xuất đồ sứ trong hơn 1.000 năm và nổi tiếng với các ngành công nghiệp dệt may. Những hãng xe Toyota, Rinnai, Brother, Noritake, NGK, Buffalo, Mitsubishi Heavy Industries phát xuất từ Nagoya.

    Khi du thuyền Norwegian Spirit cặp bến cảng Kinjo Whart-80-Minato-Ku, 8 chúng tôi lại thuê 2 taxi để đi xem thành phố. Những địa điểm gồm có Osu-kannon Temple, Lâu đài Nagoya, Haritsuna-jinja Shrine và Atsuta Jingu Shrine.

    Osu-kannon Temple

    Chùa Osu Kannon được xây vào thế kỷ 20 ở khu vực Hashima của thành phố Gifu vào thế kỷ 14 bên ngoài thành phố Nagoya trong thời kỳ Kamakura (1192-1333). Ngôi chùa với nét kiến trúc truyền thống Nhật Bản, mái ngói cong, cột gỗ đỏ sẫm và các chạm khắc tinh xảo. Năm 1612, ngôi chùa được Tokugawa Ieyasu (Shōgun đầu tiên của Mạc phủ Tokugawa, nắm quyền từ sau trận Sekigahara năm 1600 cho đến Minh Trị Duy Tân năm 1868) chuyển đến vị trí như hiện nay và bị lũ lụt tàn phá nhiều lần, các điện thờ ngày nay được tái xây dựng vào thế kỷ XX.

    Osu-kannon Temple

    Chùa Osu Kannon (Đại Tự Quan Âm) với vẻ đẹp cổ kính và thanh tịnh giữa lòng thành phố Nagoya. Ngôi chùa không chỉ là chốn linh thiêng bậc nhất của Phật giáo Nhật Bản, mà còn là một bảo tàng sống động, lưu giữ những giá trị văn hóa và lịch sử lâu đời. Trong chính điện, một chiếc lồng đèn màu đỏ rất lớn để người hành hương viết những điều ước muốn trên những mảnh giấy nhỏ và gắn vào dây đỡ lồng đèn để được đức Phật Quan Âm chứng giám. Bên dưới chính điện là Thư phòng Shinpukuji nơi lưu giữ hơn 15,000 văn thư cổ của Trung Quốc và Nhật Bản. Ngoài ra, nơi đây cũng lưu trữ nhiều đồ vật linh thiêng được gọi là báu vật của quốc gia, di sản văn hóa của Nhật Bản cũng như 7 bản sao viết tay được cho là cổ nhất của Kojiki – biên niên sử về lịch sử và thần thoại thời kỳ đầu của Nhật Bản được biên soạn vào năm 712.

    Chính điện được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ với các chi tiết được ghép nối khéo léo mà không cần sử dụng đinh. Bên trong chính điện được trang trí bằng nhiều bức tranh treo trên tường, tượng Phật, đèn lồng và các vật dụng thờ cúng khác tạo nên một không gian linh thiêng. Trên các cột, kèo, những hình chạm khắc tinh xảo về hoa lá, chim muông, rồng phượng và các nhân vật trong Phật giáo. Bên trong chính điện có bức tượng Phật Bà Quan Âm được làm bằng gỗ phủ vàng.

    Lâu đài Nagoya

    Lâu đài Nagoya còn gọi là Nagoyajō, đây là một trong những công trình kiến trúc lịch sử quan trọng và đẹp nhất ở Nhật Bản. Nằm ở trung tâm thành phố Nagoya, lâu đài này đã trở thành biểu tượng độc đáo của vùng Chubu và có một lịch sử hùng vĩ, bắt đầu vào thế kỷ 17 khi Tokugawa Ieyasu ra lệnh xây. Mục tiêu của việc xây lâu đài này là để thể hiện sự thống nhất và kiểm soát của shogunate Tokugawa trên khu vực Chubu. Từ đó, lâu đài Nagoya trở thành một phần quan trọng của hệ thống lâu đài trên toàn quốc và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định và an ninh. Một điểm đặc biệt của lâu đài Nagoya là lối kiến trúc bằng gạch và gỗ với tầng trên lớn và tầng dưới nhỏ hơn.

    Lâu đài Nagoya là một trong những tòa tháp lâu đài lớn nhất và được cho là cung điện tốt nhất trong lịch sử Nhật Bản. Được xây dựng bởi Tướng Ieyasu Tokugawa và hoàn thành vào năm 1612. Ở Nagoya, có một bộ sưu tập vũ khí và vật dụng hàng ngày lớn nhất của daimyo, đồ nội thất, quần áo, dụng cụ pha trà và đồ dùng cá nhân tại Bảo tàng Nghệ thuật Tokugawa.

    Lối kiến trúc bên trong lâu đài mới đáng kể, đó là những căn phòng nhỏ với những bức họa tuyệt mỹ vẽ trên tường của mỗi căn phòng.

    Thành Nagoya

    Thành Nagoya được xây dựng theo lệnh của tướng quân Tokugawa Ieyasu để bảo đảm một vị trí quan trọng mang tính chiến lược trên tuyến đường Tokaido và ngăn ngừa các cuộc tấn công từ hướng Osaka của quân Toyotomi. Thành được xây dựng và hoàn thành vào năm 1612. Vào tháng 05 năm 1945, trong các cuộc không kích của quân Mỹ đã phá hoại một số công trình kiến trúc trong tòa thành, nhưng tòa tháp và một số công trình như cánh cổng vẫn còn nguyên vẹn. Cung điện Hommaru mới được phục hồi trong năm 2009 và 2018.

    Haritsuna-jinja Shrine

    Ngôi đền này nằm ở Thành phố Inuyama, đó là một sochinju, nó có nghĩa là trung tâm để cầu nguyện các vị thần địa phương cho khu vực Nobi, và được cho là vị thần hộ mệnh của Lâu đài Inuyama. Vì chú của Oda Nobunaga, Oda Nobuyasu, đã tặng một bức tượng chó được chạm khắc thủ công. Hàng năm vào tháng 4, Lễ hội Inuyama nổi tiếng được tổ chức và đặc biệt khi hoa anh đào nở rộ và có một cuộc diễu hành vào ban đêm với những chiếc xe diễu hành di chuyển xung quanh dưới ánh sáng của đèn lồng giấy, tạo nên một cảnh tượng rực rỡ.

    Tại chùa, có những cập vợ chồng trè đến để cầu nguyện xin phước lành cho việc thụ thai, sinh nở dễ dàng và trường thọ
     

    Phong cảnh ở đây rất thơ mộng và hữu tình, một số cây quanh chùa đã đổi màu như báo hiệu nàng Thu đang đến.

    Atsuta Jingu Shrine

                Đây là ngôi đền được kính trọng thứ hai ở Nhật Bản, thành lập cách đây 1,900 năm trước và là nơi lưu giữ thanh kiếm Kusanagi huyền thoại, là ba trong số những báu vật thiêng liêng của đất nước. Nagoya là nơi sinh ra của Shogun Gen Yoritomo, Nobunaga Oda, Hideyoshi Toyotomi và Ieyasu Tokugawa, họ là những người đã trở thành Shogun cùng với nhiều samurai, xây dựng nền tảng vững chắc cho Nhật Bản hiện đại.

    Lối vào chùa

    Ngoài ra, vì là trung tâm của thời Chiến Quốc, khu vực Nagoya và môi trường xung quanh cũng trải qua những trận chiến nổi tiếng nhất trong lịch sử.

    THỨ BA NGÀY 22 THÁNG 10, 2024-SHIMIZU-MT. FUJI

                Khi du thuyền cặp bến Hinode Warft, Shimizu-ku, Shizuoka, chúng tôi lại mướn hai taxi chở chúng tôi đi 4 chỗ gồm làng cổ Oshino Hakkai, Đồi Cỏ Hồng Fujikawaguchiko-Oishi, Fujinomiya-KamlideOtodome no Taki Waterfalls và Mt. Fuji World Heritage Center.

    Làng Cổ Oshino Hakkai

    Làng cổ Oshino Hakkai toạ lạc bên dưới chân núi Phú Sĩ, tại tỉnh Kanagawa. Làng sở hữu nét kiến trúc đậm chất Nhật Bản cổ xưa với khung cảnh thanh bình tuyệt đẹp. Khu vực xung quanh núi Phú Sĩ xưa kia được bao bọc bởi hệ thống các hồ là Kawaguchi, Yamanaka, Sai, Motosu, Shoji; làng Oshino Hakkai chính là hồ thứ 6 tuy nhiên nơi đây đã cạn nước từ hàng trăm năm trước và hình thành nên ngôi làng nhỏ cho cư dân sinh sống. Hiện trong làng cổ Oshino Hakkai vẫn còn sót lại 8 hồ nước nhỏ nằm bên trong làng.

    Làng cổ Oshino Hakkai

    Làng cổ Oshino Hakkai nổi tiếng với không khí yên tĩnh, thanh tịnh và giản dị mang đến cảm giác rất thanh bình. Nơi đây có nhiều ao hồ cùng các mảng cỏ xanh mát mẻ, xa xa là các ngôi nhà được lợp bằng các loại cỏ đặc biệt.Trên những hồ lớn được xây những chiếc cầu tuyệt đẹp bắc ngang. Đây cũng chính là nơi rất lý tưởng để ngắm nhìn toàn cảnh làng Oshino Hakkai.

    Giữa hồ còn có thêm các guồng quay nước bằng gỗ. Các hồ nước tại làng được kiến tạo từ macma phun nước. Tại làng cổ Oshino Hakkai có một chiếc hồ có độ sâu đến 8m, làn nước trong vắt với từng đàn cá Koi bơi lội tung tăng bên dưới. Nước tại hồ này chính là từ băng tuyết tan chảy trên núi Phú Sĩ, thấm qua nhiều lớp dung nham kiến tạo 80,000 năm. Chính vì thế mà chiếc hồ này được dân làng tại đây trân quý và tôn trọng.

    Đặc biệt, phần đáy của hồ có cấu tạo chủ yếu là nhan thạch do quá trình kiến tạo địa chất và lấy nguồn nước từ băng tuyết chảy từ trên đỉnh của núi Phú Sĩ. Những hồ nước này ngày càng đẹp và tinh khiết hơn nhờ sự chăm sóc và giữ gìn của người dân nơi đây. Lối kiến trúc độc đáo mang vẻ đẹp hoài cổ, thanh nhã vừa yên bình.

    Nghi thức rửa tay trước vào làng.

    Nghi thức rửa tay trước khi vào làng cổ Oshino Hakkai bao gồm: Dừng chân trước bể nước, dùng gáo nước bằng ống tre dội lên tay trái trước, rồi mới đến tay phải sau đó dùng nước xoa nhẹ lên mặt. Tiếp theo, bạn lấy thêm một chút nước, giữ gáo bằng hai tay và xối nước xuống phần tay cầm, cuối cùng đặt gáo nước vào vị trí cũ cho những người dùng kế tiếp.

    Nghi thức rửa tay truyền thống trước khi vào làng

    Ngoài ra, du khách cũng có thể rửa tay ở một bể nước khác gần đó. Bể nước được thiết kế theo hình núi Phú Sĩ có ghi dòng chữ: mời du khách nhúng hai tay vào bể nước trong một phút. Bên trong bể chứa là nguồn nước chảy từ đỉnh núi Phú Sĩ với nhiệt độ ngoài trời khoảng 22 độ C. Thường thì nước trong hồ có màu xanh ngọc bích nhưng khi tiến lại gần hồ thì màu sắc của hồ thay đổi thành tím sậm.

    Khung cảnh làng Oshino Hakkai vào mùa đông

    Hồ Fujikawaguchiko-Oishi và Cỏ Hồng Kochia

    Hồ Fujikawaguchiko ở Tỉnh Yamanashi là Di sản Thế giới nằm dưới chân Núi Phú Sĩ với quang cảnh tuyệt đẹp của những ngọn núi hùng vĩ của Nhật Bản, đẹp nhất là từ Công viên Oishi của hồ.

    Công viên Oishi cũng nổi tiếng vi quang cảnh ngoạn mục trong tháng 10 với những bụi cỏ kochia đỏ rực.

    Fujinomiya-KamlideOtodome & Shiraito No Taki Waterfalls

    Thác Otodome là một trong hai thác nước lớn có thể đi bộ đến được trên Sông Shiba ở Fujinomiya (thác còn lại là Thác Shiraito). Thác Otodome chảy mạnh trên vách đá và đổ xuống hồ nước bên dưới từ độ cao 25 ​​mét, là thác nước nổi tiếng nhất ở Shizuoka và được chọn là một trong 100 thác nước hàng đầu của Nhật Bản cùng với Thác Shiraito no Taki! Ngược lại với Shiraito no Taki, nước ở Thác Otodome đổ xuống với lực cực mạnh.

    Thác Kamlide Otodome & Mt. Fuji

    Thác Shiraito No Taki gồm một thác lớn và nhiều thác nhỏ dọc theo vách hẻm núi đổ xuống một hồ nước tuyệt đẹp. Nằm ở Thành phố Fujinomiya, Thác Shiraito no Taki có độ cao 20 mét và chiều rộng khoảng 150 mét. Thác nước này có tên như vậy là do nước ngầm từ núi Phú Sĩ chảy qua cùng với những sợi nước mỏng trông giống như những sợi tơ trắng treo lơ lửng (shiraito).

    Thác Shiraito No Taki

    Mt. Fuji & Kawaguchi Lake

    Núi Phú Sĩ là ngọn núi cao nhất (4,700m) và là biểu tượng quốc gia của Nhật Bản và đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới như một địa điểm linh thiêng.

    Hồ Kawaguchi nằm ngay thị trấn Fuji Kawaguchi, đây là khu vực ranh giới của Minobu và Fuji Kawaguchi, nằm trong số ngũ hồ, có đường bờ hồ dài nhất và diện tích lớn thứ 2 trong 5 hồ nước. Hồ nước nằm trên độ cao gần 800m. Tùy theo mùa, quanh hồ được phủ lên những tấm áo rực màu hoa đào, hoa Lavandula, hoa Mitsuba Tsutsuji sắc đỏ cạnh những rừng lá phong tươi tốt.

    Từ Hồ Kawaguchi vào ngày trời trong xanh có thể thấy Núi Phú Sĩ in bóng trên mặt hồ trong như gương. Hồ Kawaguchi nằm ở phía đông nam của Yamanashi, gần giáp ranh Shizuoka. Vào mùa xuân, hồ được bao quanh bởi những cây anh đào nở rộ. Những cây ở bờ phía bắc sẽ được thắp sáng vào ban đêm trong Lễ hội Hoa anh đào Fuji-Kawaguchiko vào giữa tháng 4. Vào mùa hè, Lễ hội Thảo mộc Kawaguchiko được tổ chức, và sắc tím của những bông hoa oải hương tràn ngập bờ biển từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7. Lễ hội Lá mùa thu Fuji-Kawaguchiko cũng được tổ chức ở bờ phía bắc của hồ từ ngày 1 tháng 11 và kéo dài trong suốt tháng, với cảnh Núi Phú Sĩ được bao quanh bởi những tán lá phong. Mùa đông, một lớp tuyết bao phủ trên đỉnh núi khiến cho núi Phú Sĩ trở nên tuyệt đẹp, đây là thời điểm tốt nhất để ngắm Núi Phú Sĩ rõ ràng.

    Mt. Fuji World Heritage Centre (Shizuoka-ken Fujisan Sekisan Centre)

    Trung tâm Di sản Thế giới Núi Phú Sĩ là một bảo tàng ở Fujinomiya dành riêng cho Núi Phú Sĩ. Mở cửa vào năm 2017 để kỷ niệm việc ngọn núi được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới bốn năm trước đó, trung tâm có một đài quan sát và nhiều cuộc triển lãm liên quan đến địa chấn, lịch sử và ý nghĩa văn hóa của núi lửa. Tòa nhà có hình nón ngược phản chiếu xuống ao bên ngoài để lộ hình dạng của ngọn núi Fuji. Tòa nhà gồm có ba tầng và được bao phủ bởi lưới gỗ có hình nón ngược. Lưới gỗ này được làm từ cây bách Fuji. Từ tầng trên cùng nhìn ra khung cảnh hùng vĩ của Núi Phú Sĩ đẹp như tranh vẽ. 

    THỨ TƯ NGÀY 23 THÁNG 10, 2024-TOKYO & THỨ NĂM NGÀY 24 THÁNG 10, 2024-TOKYO

    Hành trình du lịch Đại Hàn và Nhật Bản trên du thuyền Norwegian Spirit chấm dứt 8 giờ sáng nay.  Lấy hành lý xong, chúng tôi thuê taxi đi về hotel Marita Tobu Hotel Airport. Hotel rất đẹp, khang trang và lịch sự nhưng hơi xa thành phố Tokyo.  

    Marita Aeon Mall with Tuyết Nga, Khánh Lan, Đức Hạnh, Lệ Hoa

    Chính vì thế mà chúng tôi quyết định đi dạo phố Narita và dùng cơm tối tại Narita Aeon Mall. Thức ăn bán ngay trong chợ, ngon và rẻ. Sashimi tươi, sushi vừa miệng, Tempura vừa chiên nóng & dòn tan ngon và rẻ. Japanese noodle soups, Shimp và pork dumpling dù chiên hay hấp cũng không được ngon như ở các nhà hàng nhật tại California.

    Bữa cơm tối Sashimi Narita Aeon Mall

    Sáng ngày 24, sau khi ăn điểm tâm tại khách sạn Marita Tobu, chúng tôi lấy xe lửa Skyliner #1 và mất khoảng 1 giờ 15 phút thì đến Tokyo. Thời tiết tháng 10 tại Tokyo Nhật Bản, nhiệt độ cao hàng ngày từ 75°F xuống 66°F. Nhiệt độ thấp vào ban đêm từ 50°F đến giữa 30°F từ nam ra bắc. Điều này làm cho việc sinh hoạt ngoài trời trở nên dễ chịu vào ban ngày.

    Hình trên Ga xe lửa đi Asakusa. Hinh dưới: Quốc Dân, Lệ Hoa, Việt Hải, Khánh Lan

    Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là khu phố Nakamise cạnh chùa Asakusa Kannon-SensoJi, lúc ấy đã quá trưa, chúng tôi quyết định dừng lại một tiệm ăn trong phố Nakamise để dùng cơm trưa. Khi còn đi loanh quanh và không biết vào tiệm nào thì chúng tôi nhìn thấy một tiêm ăn rất đông khách, phần lớn khách là các bạn trẻ tuổi, chúng tôi quyết định ăn trưa tại đây. Những món ăn trông rất lạ mắt nên chúng tôi đành gọi món ăn bằng cách liếc qua bàn bên cạnh xem là họ ăn món gì, thì gọi theo món ấy. Kết quả những món ấy lạ và rất ngon miệng.

    Ăn trưa tại phố Nakamise

    Món Mì sào hải sản

    Món gì đây? Không biết, nhưng rất ngon

    Nakamise dori

    Nakamise dori là con đường mua sắm, dài khoảng 250m kéo dài từ Kaminarimon đến Hozomon. Ban đầu được thành lập vào năm 1685, con đường được lát gạch, hai bên đường là những cột nhà màu đỏ son. Có khoảng 90 gian hàng hai bên đường. Tại đây, ngoài những món quà lưu niệm truyền thống đặc trưng của Nhật Bàn như yukata hay quạt giấy, còn có những quầy hàng lưu niệm và ẩm thực độc đáo của địa phương Asakusa. Ở cuối phố mua sắm là cổng thứ 2 của ngôi đền gọi là Hozomon.

    NVNT’s girls trong quốc phục Kimono

    Việc đầu tiên phải làm là 5 chúng tôi (Kim Hương, Lệ Hoa, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Khánh Lan) phải vào tiệm mướn ngay bộ quốc phục Kimono để đi dạo phố. Giá tiền một bộ là $50 và phải trả trước 5 giờ chiều. Trong 5 đứa chúng tôi, Kim Hương và Đức Hạnh trông giống phụ nữ nhật nhất còn Khánh Lan và Lệ Hoa thì trông thật là “đẫy đà và phúc hậu”.

    NVNT girls trong quốc phụ Kimono dạo phố Nakamise dori

    ĐỀN ASAKUSA KANNON- SENSO JI

                Asakusa là trung tâm của shitamachi (“thành phố thấp“), một trong những quận của Tokyo. Điểm thu hút chính của Asakusa là Sensoji, một ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng, xây vào thế kỷ thứ 7, ngôi chùa được tiếp cận thông qua Nakamise, một phố mua sắm và bán thức ăn nhẹ truyền thống, địa phương và đồ lưu niệm.

    Trong nhiều thế kỷ, Asakusa từng là khu giải trí hàng đầu của Tokyo. Trong thời kỳ Edo (1603-1867), Asakusa là địa điểm của các nhà hát kabuki và một khu đèn đỏ lớn. Vào cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900, có sư xuất hiện của các loại giải trí hiện đại như rạp chiếu phim. Tuy nhiên, phần lớn Asakusa đã bị phá hủy trong các cuộc không kích năm 1945. Khi các khu vực xung quanh Sensoji được xây dựng lại thì khu giải trí của Asakusa lại không và việc khánh thành Tokyo Skytree cao 634 mét, cách Asakusa hai mươi phút đi bộ qua Sông Sumida, đã khiến lãnh vực du lịch tăng trở lại.

    Đền Asakusa Kannon còn được biết đến với tên gọi là Sensoji. Senso là một cách gọi khác của Asakusa, còn “ji” tiếng Nhật có nghĩa là đền, chùa. Sensoji là ngôi đền cổ xưa nhất không những của Asakusa, mà là của cả thành phố Tokyo. Xây dựng vào năm 645 dùng để thờ, tôn vinh bức tượng bồ tát Kannon. Sau này có nhiều bức tượng được đem đến đây và nơi đây trở thành trung tâm văn hóa Edo.

    Việt Hải & Mạnh Bổng cùng 4 kiều nữ: Khánh Lan, Lệ Hoa, Tuyết Nga, Đức Hạnh

    Lịch sử về Chùa Asakusa Kannon- Senso Ji

    Theo truyền thuyết vào năm 628 trong khi đánh bắt cá trên sông Sumida, hai anh em Hinokuma Hamanari và Hinpkuma Takenari đã tìm thấy một bức tượng Phật Quan Âm có chiều cao là 5.5 cm, mặc dù đã thả bức tượng nhiều lần đi nhưng không hiểu sao nó vẫn trôi dạt về chỗ hai người. Các vị trưởng lão ở trong làng Hajino Nakamoto đã nhận thấy đây là điều linh thiêng và lập một ngôi đền nhỏ để thờ Phật Quan. Năm 645 sau công nguyên ngôi đền được thành lập và trở thành ngôi đền linh thiêng nhất ở Tokyo. Ngôi đền được dành cho Guan Yin hoặc Bồ tát Kannon người được cho là đã bảo vệ con người suốt 1.500 năm.

    Kaminarimon – Cổng Sấm

     Kaminarimon-Cổng Sấm là cổng chính của ngôi chùa Asakusa (Cổng thứ nhất). Ban đầu nó được xây dựng từ năm 942 bởi Tairano Kinmasa, người cai trị quận Musashi. Cổng đã bị phá hủy nhiều lần và vẫn giữ nguyên hình dạng hiện tại kể từ năm 1950. Trước cổng treo một chiếc đèn lồng đỏ cao 4m, chu vi 3,4m, nặng khoảng 670kg, hai bên có hai vị thần sấm và gió. Do đó, tên chính của cánh cổng phải là Furaijin Mon – Cổng sấm và gió. Trước đây, cổng nằm gần Komagata, nhưng sau đó nó đã được xây dựng lại tại vị trí hiện tại sau thời Kamakura (1192-1333), do người ta tin rằng đó là nơi vị thần sấm sét và thần gió lần đầu tiên xuất hiện.

    Cổng Hozomon

    Hozomon là cổng chính thứ 2 của ngôi đền Asakusa, cổng cũng bị cháy nhiều lần và được xây dựng lại bằng bê tông vào năm 1964. Tính năng độc đáo: Một đôi dép rơm khổng lồ treo ở một bên. Trước đây, cổng còn được gọi là (Niomon) vì có hai vị thần bảo vệ Nioh của Đức Phật ở hai bên cổng. Ngày nay, cánh cổng được gọi là Hozomon: Hozo có nghĩa là nhà kho báu, vì nhiều kho báu của chùa Asakusa được cất giữ tại đây. Trước cổng là sân chính và chùa Asakusa. Bên phải là khu lăng mộ Kasakura; phía bên trái là ngôi chùa 5 tầng và điện Dempoin. 

    Hozomon – Cổng chính thứ 2 của ngôi đền Sensoji

    Tháp 5 tầng Gojunoto

    Tổng chiều cao của tháp là 53m, trong đó các cột trụ cao 5m, được xây bởi Tairano Kinmasa từ năm 942, ngôi đền đã bị phá hủy nhiều lần và được xây dựng lại từ năm 1648, nhưng nó tiếp tục bị đốt cháy trong cuộc không kích vào Tokyo năm 1945. Tháp được tu sửa lại vào năm 1973. Mái ngói của chùa bằng hợp kim nhôm.

    Đức Phật Busshari (Tro của Đức Phật) và Reihai (Bài vị của Đức Phật) được đặt tại Tháp 5 tầng này.

    Kannondo – Điện Quan Âm

    Kannondo là đại điện chính của đền thờ Asakusa, được xây lại từ năm 1649 và được công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia. Thế nhưng, từ năm 1945, đại điện đã bị thiêu rụi trong cuộc không kích Tokyo và hiện được xây lại bằng bê tông từ năm 1958 (năm thứ 33 của thời đại Chiêu Hòa). Đại điện hướng về phía nam và bên trong đại điện được chia thành hai khu vực: 1) Khu vực dành cho tín đồ ở phía trước. 2) Khu vực đặt các bức tượng Phật quan trọng bên trong. Hàng năm, đến ngày 13 tháng Chạp, cửa chánh điện được mở nhưng tín đồ chỉ được thắp hương và ngắm tượng Phật Quan Âm ở bên ngoài còn khu vực tượng Phật quan trọng bên trong không được vào.

    Kannondo – Điện Quan Âm: đại điện chính của chùa Asakusa

    Nitenmon – Cổng Nhị Thiên

    Nitenmon – Cổng Nhị Thiên gần Điện Quan Âm và đền thờ thần đạo Asakusa. Đây là cổng phía đông của chùa Asakusa, phía đông của Điện Quan Âm và phía tây của đền thờ thần đạo Asakusa. Trước kia là cổng Zuishin Mon của Đền Asakusa Toshogu. Năm 1642, đền Toshoga bị cháy, nhưng cổng Nhị Thiên vẫn còn tồn tại. Bởi vì nó là nơi tọa vị của hai vị thần Toyoiwamadonomikoto and Kushiiwamadonomikoto của đền Toshogo, nên nó được gọi là cổng Yadaijin. Tuy nhiên, vào đầu thời Minh Trị, hai trong số bốn vị thần trong kinh Phật của đền Tsurugaoka Hachimangu Shrine đã được chuyển đến đây, vì vậy tên được đổi thành Niten Mon (Niten có nghĩa là hai vị thần). 

    Nhà hàng Kobe Beef

    Dạo phố Nakamise và viếng Đền Asakusa Kannon xong mọi người lại đói meo. Đến Nhật mà không thử món bò Kobe là một điều đáng tiếc, thế nên chúng tôi ghé vào nhà hàng Kobe trong phố Nakamise. Giá tiền rất mắc, chúng tôi phải trả $140 cho mỗi phần ăn và cho mỗi người. Tuy giá mắc nhưng thức ăn không nhiều “chỉ độ dính răng” mà thôi. Nhưng phải công nhận là miếng thịt bò rất mềm, thơm và không ngấy. Quả thật, Kobe beef với vị ngọt, có hương thơm khi thưởng thức.

    Nhà hàng Kobe Beef trong khu phố Nakamise

    Dựa trên fyer của nhà hàng về loại thịt bò này cũng rất đặc biệt, để trở thành Kobe Beef thì thật là một quá trình độc đáo! Đầu tiên, những chú bò Tajima được sinh ra và nuôi dưỡng tại tỉnh Hyogo, chúng phải thuộc hệ thuần chủng. Sau đó, khi chúng được 2 đến 5 tuổi, chúng phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt nên không phải tất cả những chú bò Tajima đều có thể đáp ứng các quy tắc này. Công ty Kisshokichi Group sử dụng Nakanishi Ranch để nuôi và sản xuất ra số lượng thịt bò Kobe. Kisshokichi Group đích thân tham dự phiên đấu giá thịt bò Kobe để đảm bảo sự an tâm cho khách hàng.

    Thực đơn $140 một phần cho một người

    Thứ Sáu ngày 25 tháng 10, 2024-flight to California

    Đức Hạnh, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Quốc Dân, Kim Hương, Tuyết Nga lưu luyến chia tay cùng các anh chị trong nhóm Chu Văn An & Trưng Vương

                Ngày cuối ở Nhật Bản, nhóm 30 người chúng tôi cùng gặp nhau ở Loby của khách sạn Narita Tobu sau khi ăn sáng. 15 ngày trôi qua nhanh quá, chúng tôi chia tay mỗi người một ngả trở về “Home sweet home”. Quả đây là một chuyến du lịch với nhiều kỷ niệm và luôn nhớ mãi.

    Lưu luyến chia tay

    Cùng các anh chị trong nhóm Chu Văn An

    Và các chị trong nhóm Trưng Vương
     Xin quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các Anh Chị Em bấm vào link dưới đây để xem thêm hình.

    https://drive.google.com/drive/folders/1BVcm3zge8_qqbnzU3XByd_hD8fzMLuRn?usp=sharing

    Khánh Lan

  • Tin tức

    Dương Hồng Anh, Khánh Lan, Kiều My ra mắt sách tại Little Saigon

    Logo

    WESTMINSTER, California (NV) – Ba tác giả nữ Dương Hồng Anh, Khánh Lan, và Kiều My, thuộc Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, có buổi ra mắt năm tác phẩm vào sáng Chủ Nhật, 3 Tháng Mười Một, tại NT Studio, Westminster.

    Từ trái, ba tác giả Kiều My, Dương Hồng Anh, Khánh Lan. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

    Tại đây, tác giả Dương Hồng Anh ra mắt “Cõi Thơ,” Khánh Lan giới thiệu thi tập “Bóng Thời Gian” và hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ,” và Kiều My ra mắt tập thơ “Như Lá Cỏ Tàn Phai” và tập truyện ngắn “Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương.”

    Giáo Sư Trần Huy Bích giới thiệu “Cõi Thơ,” cho thấy bút lực của nữ sĩ Dương Hồng Anh tràn đầy nội lực trong những áng thơ yêu đời, yêu người, dù bà đã 94 tuổi nhưng vẫn còn sáng tác rất mạnh.

    Theo Giáo Sư Bích, nữ sĩ Dương Hồng Anh là cháu nội trực hệ của cụ Dương Khuê, Vân Đình, Hà Đông, bà làm thơ từ năm 16 tuổi (1947). Thừa kế truyền thống văn học của dòng họ Dương, ngôn ngữ thi ca của nữ sĩ Dương Hồng Anh đậm nét nhân hậu, khiêm nhường và vị tha. Tập thơ đầu tay “Hương Mùa Chinh Chiến” của bà được chọn đăng trên báo Cậu Ấm Cô Chiêu năm 1949, và được đăng trên nhiều báo khác.

    Tiếp theo, Giáo Sư Phạm Thị Huê giới thiệu thi tập “Bóng Thời Gian” của Khánh Lan, rằng tác giả kể lại những nỗi niềm trăn trở trong cuộc sống, tâm tình cùng gia đình, thân hữu, nhớ về mẹ cha, nhớ về tổ quốc, dân tộc.

    Những vần thơ Khánh Lan thường nói lên niềm tin mãnh liệt nơi tôn giáo và tình yêu của riêng mình. Chủ đề “Bóng Thời Gian,” đã lần lượt đem vào tập thơ từ tuổi ấu thơ cho đến thời gian hiện tại với những ký ức, những niềm nhớ mang theo lúc từ giã quê hương ngàn trùng xa cách.

    Kế đến, Giáo Sư Quyên Di giới thiệu Kiều My qua thi tập “Như Lá Cỏ Tàn Phai,” cho thấy thơ là ý tưởng và tình cảm lắng đọng trong hình ảnh và ngân vang trong nhạc điệu.

    Thơ Kiều My đã nói lên được ý sâu sắc, tình cảm dạt dào, hình ảnh linh động và nhạc điệu rất lạ, ở chỗ Kiều My đôi khi không theo niêm luật của thơ, có những câu thơ lục bát chuyển biến khiến vần thơ khác đi, ẩn khuất trong tâm hồn. Thơ Kiều My luôn có tính cách thanh nhã, nhất là vần điệu trong thơ.

    Nữ sĩ Dương Hồng Anh và Giáo Sư Dương Ngọc Sum vui mừng gặp lại trong ngày ra mắt sách. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

    Sau ba diễn giả giới thiệu ba tập thơ, đến lượt ông Hoàng Đình Khuê, chủ tịch Đảng Tân Đại Việt, giới thiệu tuyển tập truyện ngắn “Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương” của Kiều My.

    Tập truyện phản ảnh nét đẹp của tình người qua tấm lòng rộng mở, yêu thương và đồng cảm với số phận đầy thử thách của phụ nữ. Tác phẩm nói về thân phận mong manh của con người khi đối diện với những hệ lụy của chiến tranh, gia đình ly tán và đất nước chìm trong tang thương.

    Cuối cùng, ông Phạm Gia Đại, một nhân sĩ trong cộng đồng, giới thiệu tác phẩm “Sinh Lầm Thế Kỷ” được Khánh Lan viết bằng Việt Ngữ và Anh Ngữ, là một hồi ký chân thực về cuộc sống ở Việt Nam sau năm 1975.

    “Sinh Lầm Thế Kỷ” kể về một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại những ký ức đau thương về chiến tranh và nỗi khổ đau của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Đây cũng là một tác phẩm văn học phản ảnh các sự kiện lịch sử và bi kịch của dân tộc và đất nước Việt Nam. Tác giả bày tỏ nỗi tiếc thương cho dân tộc, với ước mơ về hòa bình và tự do đã bị ngực tù và áp bức thay thế. Và đây cũng là một phần câu chuyện thật trong gia đình bà.

    Theo ban tổ chức, tác giả Kiều My hiện là thành viên trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian do nhà văn Trần Việt Hải chủ xướng. Bà thích làm thơ, viết văn, ca hát, khiêu vũ, thích cảnh đẹp thiên nhiên và sinh hoạt trong ca đoàn giáo xứ Maria Magdalena, yêu thích đời sống tâm linh.

    Bà dự tính trong tương lai sẽ sáng tác nhiều tác phẩm văn thơ, cống hiến đến quý độc giả yêu thích văn chương, với mong ước được đóng góp phần nhỏ trong vườn hoa văn chương Việt Nam hải ngoại. Các sáng tác đã xuất bản của Kiều My gồm “Đóa Hoa Nở Muộn” (2021, truyện dài), “Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương” (2024, tản văn), “Như Lá Cỏ Tàn Phai” (2024, thơ), cùng những bài tường trình hay đoản văn như “Âm Nhạc Trong Đời Sống,” “Tuổi Hạc Nơi Vùng Trời Bình Yên,” “Một Chuyến Đi Khó Quên,” “Ảnh Hưởng Âm Nhạc Trong Đời Sống”…

    Tác giả Khánh Lan tốt nghiệp Master of Science, Counseling, Marriage Family Therapist năm 2002. Bắt đầu viết văn và xuất bản 10 tác phẩm từ năm 2020 cho đến 2024 gồm biên khảo, nghiên cứu tôn giáo, truyện dài, truyện ngắn, truyện trinh thám, hồi ký và thi tập “Bóng Thời Gian.”

    Nhà văn Trần Việt Hải (thứ hai từ trái), trưởng Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, giới thiệu ba tác giả nữ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

    Bà cộng tác và đăng bài trên nhiều trang website, sách báo, nguyệt san… Bà được vinh danh trong số 100 tác giả văn hóa Việt Nam trong quyển “Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại” của Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris. Bà thuộc ban giám khảo chấm thi cuộc thi viết văn về ứng dụng Phật pháp trong đời sống do chùa Hương Sen Buddhist Temple ở Perris, California, tổ chức năm 2022.

    Buổi ra mắt càng thêm thi vị khi xen kẽ trong chương trình là phần trình diễn của các ca sĩ Ngọc Hà, Lily, Giáng Tuyết, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Kim Đức, Ngọc Châu, cùng MC Mộng Thủy và MC Cao Xuân Thanh Ngọc điều hợp chương trình. [qd]

  • Sinh Hoạt,  Vương Trùng Dương

    Giới Thiệu Phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi

    Tường Trình bởi NV Vương Trùng Dương

    Vào 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 1/9/2024, tại Lavender (OC Entertainment), 14190 Beach Blvd, thành phố Westminster đã trình chiếu phim tài liệu My South Vietnam (song ngữ, lời Việt, phụ đề Anh ngữ).

    Đầu năm 2022, Vietnam Film Club của đạo diễn Chu Lynh bắt đầu thực hiện bộ phim tài liệu My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi, phát hành tháng 12 năm 2022. Trong 2 năm qua, phim được trình chiếu khắp nơi và lần nầy ra mắt tại Little Saigon

    Hình của buổi chiếu phim

    Hơn 400 quan khách tham dự buổi chiếu phim

    Vietnam Film Club được thành lập năm 2010 bởi giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và đạo diễn Chu Lynh.

    GS Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016), năm 1954 du học tại Hoa Kỳ, sau nhiều năm làm việc ở ngoại quốc, về nước năm 1972 cùng với hiền thê là TS Đào Thị Hợi thành lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn, Cục Trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi, Tổng Giám Đốc sau cùng của Việt Tấn Xã.

    Năm 1975 định cư ở Hoa Kỳ giảng dạy tại các đại học George Mason (1979-89), Trinity College (1979-81) và Georgetown University (1980-86). GS Nguyễn Ngọc Bích là Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) từ ngày thành lập cho đến lúc về hưu năm 2003.

    Đạo diễn Chu Lynh, sinh năm 1945 tại Quảng Bình, 1954 di cư vào miền Nam. Theo học tại các trường Institut de la Providence Huế, Bình Minh Huế, Lê Bảo Tịnh Sài Gòn.

    Đạo diễn Chu Lynh

    Năm 1965 nhập ngũ khóa 22 tại Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức. Phục vụ trong ngành Quân Nhu. Sau năm 1975 bị tù nhiều năm.

    Năm 1995, định cư tại Virginia, Hoa Kỳ theo diện H.O.

    Năm 2005, thành lập Câu Lạc Bộ Đằng Phương (bút hiệu Đằng Phương của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy). Trước khi thành lập Vietnam Film Club đã thực hiện các phim tài liệu. Từ đó đến nay đã thực hiện nhiều phim tài liệu giá trị. Ngoài ra Chu Lynh cũng là tác giả với tác phẩm Mảnh Da Vàng…

    Chu Lynh rất tâm huyết khi thực hiện bộ phim My South Vietnam 12 tập, mỗi tập một chủ đề riêng khoảng 30-50 phút, đề cập đến những lãnh vực của xã hội miền Nam trước năm 1975 và phần nào sau năm 1975.

    Theo lời đạo diễn, bộ phim “Không những cho những người đã sống ở Miền Nam Việt Nam nhìn lại bức tranh miền Nam với những kỷ niệm, và những nỗ lực chiến đấu, xây dựng Miền Nam” của họ, mà còn cho người miền Bắc và giới trẻ không can dự vào chiến tranh hiểu được về xã hội thực của miền Nam. Và theo lời Chu Lynh VNCH đã thành quá khứ “Những cái gì xảy ra tại Miền Nam Việt Nam chỉ còn trong hồi tưởng và internet” vì vậy đạo diễn đã chịu khó đi khắp nơi phỏng vấn từ những vị thức giả, sĩ quan cao cấp, giới chức trong QLVNCH, những tù nhân chính trị, giới văn nghệ sỹ, giới truyền thông, giáo chức, thuyền nhân và người dân… tạo thành bức tranh toàn diện làm chứng nhân lịch sử.

    Với tâm huyết của nhà làm phim, Vietnam Film Club không gây quỹ, không kêu gọi đóng góp, và cũng không có nhà bảo trợ. Các thành viên tự lo chi phí, và vì thế gặp nhiều khó khăn. Và khi trình diễn cũng “vào cửa miễn phí”.

    Vẫn theo anh “Sở dĩ chúng tôi thực hiện các phim tài liệu, là vì chúng tôi thấy hải ngoại có nhiều video nói về lịch sử và chiến tranh Việt Nam trên internet, nhưng những video này chưa được thực hiện một cách có hệ thống về các khúc quanh lịch sử quan trọng”. Vả lại “Người Mỹ thường không hiểu và có cái nhìn sai lệch về cuộc chiến hoặc về Quân Đội VNCH, đa số những cuốn phim, những tác phẩm của họ là bào chữa cho sự rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam, và đổ lỗi cho Quân Đội VNCH.

    … Lịch sử Việt Nam quá nhiều đau thương. Nói đến người dân Việt Nam là nói đến những thảm kịch của chịu đựng, đau khổ, chết chóc, tan nát trong chiến tranh và sau chiến tranh.

    Chúng ta nên nhìn lại căn cước của mình thuộc về tổ tiên xây dựng đất nước và chống ngoại xâm. Nhìn nhau như vậy thì thấy gần gũi nhau hơn, và không lấy một chi tiết nhỏ như ‘anh theo đảng này, tôi đảng kia’ rồi trở thành đả kích, chia rẽ”.

    Với tâm tư tình cảm của người con, người lính khi rời khỏi quê hương: “Người Việt Nam nên nghĩ thân phận dân tộc Việt Nam đã đau khổ quá nhiều trong chiến tranh. Tìm hiểu quá khứ để có những bài học, để lý giải được hiện tại, từ đó có cái viễn kiến về tương lai.

    Người Việt Nam làm được việc nếu hiểu được quá khứ lịch sử của đất nước mình, và coi trọng tinh thần dân tộc hơn tất cả quyền lợi cá nhân và đảng phái.”

    Phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi của đạo diện Chu Lynh tóm gọn 4 tập với từng chủ đề: Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – Văn Hóa Giáo Dục – Truyền Thông Báo Chí và Y Tế VNCH… Tất cả thể hiện tinh thần nhân bản, khai phóng của nền dân chủ tự do trong suốt hai thập niên qua. Sau năm 1975 nhìn lại các lãnh vực trên đã đảo ngược hoàn toàn.

    Nếu đạo diễn Chu Lynh có cùng ê-kíp đủ điều kiện để khi khắp nơi trên thế giới, gặp gỡ thân hào nhân sĩ và đồng hương hải ngoại thì phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi trở thành tài liệu quý giá cho người Việt xa xứ. Không biết cuốn phim nầy đã phổ biến trên YouTube, người dân và giới trẻ có được theo dõi” Nếu được chuyển lửa là niềm vinh dự cho đạo diễn và cũng là hoài bão của chúng tôi.

    Trước đây, khi phim My South Vietnam được trình chiếu, tôi viết tổng quát trong mục Văn Nghệ của tờ báo. Nay được trình chiếu ở Little Saigon nên viết đôi giòng giới thiệu với đồng hương.

    Little Saigon, August 14, 2024

    Vương Trùng Dương, Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa

    Một vài hình ảnh trong buổi trình chiếu cuốn phim My South Vietnam

    Dân Biểu Tạ Đức Trí và Cô Michelle Đỗ (đại diện cho văn phòng của bà Janet Nguyễn)

    Các đại diện tiểu bang và học khu Westminster & Garden Grove

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    RA MẮT TÁC PHẨM MANIFEST DESTINY CỦA NV NGUYỄN QUANG

    Tường trình bởi Khánh Lan

    Manifest Destiny-An Odyssey Of Human Process là một tài liệu nghiên cứu lịch sử được nhà văn Nguyễn Quang viết trong 4 năm, từ năm 2021 đến năm 2024 bằng Anh ngữ, sau được ông chuyển sang Việt ngữ với tựa đề Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân Loại.

    Bán sách

    Trong bài viết này, Khánh Lan rất đồng ý với lời mở đầu bài diễn văn của Giáo sư Nhà văn Quyên Di bởi quả thực đây là một tác phẩm vĩ đại. Vĩ đại không phải vì bề dày của quyển sách mà chính là về nội dung của nó đã chất chứa những ngôn từ trí thức và gói ghém nhiều sự kiện lịch sử, trải qua từ thời thượng cổ và kéo dài cho đến ngày hôm nay. Đó chính là sự vĩ đại của tác phẩm.

    NV NGUYỄN QUANG TRONG BUỔI RMS TẠI VIỆN BẢO TÀNG RVN, ARMED FORCES

    NV Nguyễn Quang ký sách tặng quan khách

    Buổi ra mắt sách được tổ chức rất long trọng tại Viện Bảo Tàng RVN Armed Forces lúc 1:00 pm ngày 25 tháng 08 năm 2024. Hôm ấy, Khánh Lan đã có cơ hội phỏng vấn bác sĩ Nguyễn Hoàng Quan về lịch sử của Viện Bảo Tàng này. Bác sĩ Quan cho biết, Viện Bảo Tàng RVN trước kia là viện bảo tàng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, sau được Bác sĩ Quan và một số anh chị em thiện nguyện viên đứng lên bảo trợ tài chánh, thời gian và công sức để bảo trì Viện Bảo Tàng. Cũng theo BS Quan, đây là một tổ chức chức vô vụ lợi nhằm mục đích phục vụ cộng đồng hải ngoại, lưu trữ những tác phẩm văn học, những tài liệu có giá trị cũng như những kỷ vật của các nhà tiền bối. Bảo tàng viện RVN hiện tọa lạc tại số 9842 Bosa Ave., #205, Westminster, CA 92683 và dự trù sẽ rời đến một địa điểm mới, rộng lớn hơn trong tháng 10 năm nay. BS Quan nói, người có công nhiều nhất trong ban tổ chức là Nha Sĩ Crystal Kim Nguyễn, anh Phạm Đạt và anh Phạm Thái, là những người đã bỏ ra rất nhiều thời gian để điều hành và hoạch định chương trình cũng như hoàn tất tác phẩm Manifest Destiny-An Odyssey Of Human Process hay Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân Loại.

    Họa Sĩ Lê Minh Châu, BS Nguyễn H. Quan & phu nhân, Pauline

    NV Nguyễn Quang nhận MÓN QUÀ LƯU NIỆM TỪ BẢO TÀNG VIỆN RMS TRAO TẶNG

    Buổi ra mắt sách bắt đầu với 3 MC: Mộng Thủy, Thúy Anh và Đinh Quang Anh Thái. 

    MC Thúy Anh & MC Đinh Quang Anh Thái

    Được biết trong chương trình, ngoài những bài diễn văn ra, những nhạc phẩm được chọn lọc kỹ càng, hát xen lẫn giữa các bài diễn văn khiến buổi giới thiệu sách trở nên thú vị và không buồn chán. Những bài ca thắm đậm tình quê hương như Dòng Sông Mẹ, Ai Trở Về Xứ Việt phổ theo thơ của Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh viết trước năm 1962 tại Pháp, dưới thời Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề của chính quyền Pháp. Bài hát được sáng tác do nguồn cảm hứng khi thấy một toán tù binh xuống sông tắm trước khi về trại. Ai Về Xứ Việt được chuyên chở qua giọng hát truyền cảm của anh Robert Nguyễn đã làm rung động trái tim của những người con Việt sống viễn du.

    AI TRỞ VỀ XỨ VIỆT VỚI ROBERT NGUYỄN

    Ai trở về xứ Việt
    Nhắn giùm ta người ấy ở trong tù
    Nghe đâu đây vang giọng hờn rên siết
    Dài lắm không?… Đằng đẵng mấy mùa thu
    Ai trở về xứ Việt
    Thăm giùm ta người ấy ở trong tù
    Cho ta gửi một mảnh trời xanh biếc
    Thay giùm ai mầu trời ngục âm u
    Các bạn ta ơi bao giờ được thả
    Đến bao giờ ăn được bát cơm tươi
    Được lắng nghe tiếng chim cười trong gió lá
    Đến bao giờ?
    Bao giờ hờn uất mới nguôi?
    Người bạn tù ơi, ta không quên đâu
    Nhớ hôm xưa nhìn đôi tay cùm xích
    Hàng song thưa chia cách vạn tình ngâu
    Ai tra tấn nghe lòng ai kim chích
    Anh sửa soạn lên đường về xứ Việt
    Ta gửi về theo một ít tự do
    Và nhiều lắm, nhiều nhớ thương tha thiết
    Đến cửa ngục tù chia bớt chút buồn lo
    Còn bạn nữa, biết nhau từ ngày ấy
    Ta sẽ về đón ở cửa âm u
    Đời sẽ đẹp, mùa xuân hồng biết mấy
    Dầu ngoài kia mây có trĩu mùa thu.

    Minh Đức Hoài Trinh, Paris 1962

    Michelle Thanh Mai, Quyên Di, Ái Liên, Robert Nguyễn, Khánh Lan.

    Vâng, Ai Trở Về Xứ Việt cho ta gởi về 2 chữ TỰ DO.

    Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Thụy Lan, Mộng Thủy, Lệ Hoa, Ngọc Lân, NS Võ Tá Hân, CSQVBDL Hoàng Khuê

    GIỜ KHAI MẠC:

    Đồng hồ điểm đúng 2:00 pm, khi 2 bản quốc ca Hoa Kỳ và Việt Nam cũng như phút mạc niệm chấm dứt. MC Mộng Thủy giới thiệu quan khách và lướt qua phần chương trình. Khánh Lan ghi nhận qua lời giới thiệu của MC Mộng Thủy là có rất nhiều vị khách quan trọng trong cộng đồng đến tham dự như Dân Biểu Tạ Đức Trí, cô Michelle Đỗ đại diện cho văn phòng của Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn. Cơ quan truyền thông báo chí có ký giả Thanh Phong, Thanh Huy, Tina Hà Giang, v.v…Nhiệp Ảnh Gia Tào Nguyễn, NAG Thiên Sơn, Điều phối viên Đạt Phạm, Nha Sĩ Christal Kim Nguyễn, Ký Giả Nhà Văn Vương Trùng Dương, Nha Sĩ Cao Minh Hưng và phu nhân, BS Nguyễn Xuân Quang và phu nhân Michelle Thanh Mai, BS Nguyễn H. Quan và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, Họa Sĩ Lê Minh Châu. GS Dương Ngọc Sum, CSQVBDL Hoàng Đình Khuê, NV Kiều My, GS Quyên Di, Princess lifestyle’s president, John Tạ, GS Phạm Thị Huê và phu quân, Chị Tâm An của Mạng Lưới Nhân Quyền, Quản Lý Viện Việt Học, Kim Ngân, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và anh Nguyễn Đại Thành, NV Phạm Gia Đại, Thi Sĩ Lê Nguyễn Nga, v.v…

    Đi theo sau phần giới thiệu quan khách là bản hợp ca Việt Nam Minh Châu Trời Đông vang lên, hùng hồn, mãnh liệt với ban hợp ca của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG). Ngoài những tiếng hát của NVNT & TTG còn có nhiều tiếng hát khác như Thúy Anh, Nga My, Quốc Bảo, Thụy Lan, Phạm Gia Đại, Minh Khai, Anh Hiếu & chị Mai, Mộng Thủy, v.v…

    Cô Michelle Đỗ đại diện cho văn phòng của Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn

    Dân Biểu Tạ Đức Trí

    Quan khách tham dự

    Quan khách tham dự buổi RMS

    Tiếp tục chương trình, MC Thúy Anh giới thiệu Nhà Văn Việt Hải & Nhà Văn Khánh Lan đại diện cho Liên Nhóm NVNT & TTG lên chúc mừng NV Nguyễn Quang. NV Việt Hải nói về mối liên hệ mật thiết giữa Liên nhóm NVNT & TTG và những tác phẩm mà NV Nguyễn Quang đã cho ra mắt đồng hương trong 10 năm qua. Vì thời gian không cho phép, NV Khánh Lan thay mặt cho NVNT & TTG gởi lời chào đến quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ, các anh chị trong giới truyền thông báo chí và tất cả các quý quan khách hiện diện trong buổi RMS, cũng như gởi lời chào và chúc mừng đến NV Nguyễn Quang. Cầu chúc ông luôn có sức khỏe và an khang trường thọ.

    Nhà Văn Việt Hải & Nhà Văn Khánh Lan

    Mở đầu phần giới thiệu tác phẩm Manifest Destiny-An Odyssey Of Human Process, MC Đinh Quang Anh Thái giới thiệu diễn giả Giáo Sư Phạm Thị Huê, Khoa cố vấn giáo dục tại Orange Coast College. Trong phần này, Khánh Lan xin tóm tắt một phần bài diễn văn của GS Huê như sau:

    GS Phạm Thị Huê

    Ngày nay chương trình hướng học đã thay thế cho lãnh vực nông nghiệp, nhất là khi có sự xuất hiện của AI và nó hiện đang phát triển rộng rãi trên thế giới. Vì vậy, dù muốn hay không, chúng ta không thể đứng ra ngoài cuộc hành trình này, bởi nếu không chúng ta sẽ bị đẩy lùi lại phía sau. Các em học sinh nên ghi nhớ rằng, chọn một ngành nghề cho chính mình trong tương lai rất quan trọng, bởi nếu chúng ta không chọn đúng ngành nghề ấy thì các học sinh ngoại quốc sẽ nhận hết việc đó. Cho nên, chúng ta phải đi theo sự vận chuyển của thời thế thì mới mong vượt qua được. Hành trình của nhân loại tiến hóa qua nhiều thời đại, nếu chúng ta không đáp lại thì sẽ bị đào thải ra ngoài cuộc sống bởi vì văn minh của nhân loại sẽ tiếp tục tiến. Kết thúc bài diễn văn, Giáo sư Huê cũng không quên gởi một thông điệp nhắn nhủ đến các em học sinh rằng:

    “we are living in the world changing so much. Our ancestors develop sources for us to utilize them, but you, yourself, what can you do for your future?”

    Diễn giả kế tiếp là Giáo sư Nhà văn (GSNV) Quyên Di. Trong phần này, Khánh Lan cũng xin được tóm tắt như sau: trước hết, GSNV Quyên Di ngỏ lời chúc mừng đến Nhà văn Nguyễn Quang đã cho ra một tác phẩm vĩ đại ghi lại những sự kiện lịch sử từ thời thượng cổ đại.

    GS NV Quyên Di

    GSNV Quyên Di nói: Trong tác phẩm Manifest Destiny-An Odyssey Of Human Process hay Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân Loại có đề cập đến nhiều sự việc, nhưng có lẽ một vấn đề mà Nhà văn Nguyễn Quang chưa đề cập đến hoặc sẽ viết sau này là bí mật của lịch sử nhân loại, tại sao nó lại bị triệt thoái hoặc biến mất theo thời gian? Nguồn gốc của con người từ đâu mà ra? v.v… GSNV Quyên Di ví Nhà văn Nguyễn Quang như một hậu duệ của người khổng lồ với trái tim to và khối óc lớn. Bởi có trái tim to nên ông dễ bị xúc động điển hình là trong một buổi tiệc với chủ đề “MẸ” và khi nói về Mẹ mình, Nhà văn Nguyễn Quang đã khóc, cũng như khi nói tới Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh ông lại cũng khóc, và bây giờ, trong lúc này, ông lại sắp sửa khóc.

    Đối với người khổng lồ Nguyễn Quang, GSNV Quyển Di nói: “Nhà văn Nguyễn Quang với cái đầu to mà khôn bởi vì tác phẩm của ông chất chứa nhiều tính trí thức. Ngẫm lại cá nhân bản thân mình, GSNV Quyên Di muốn nói đến quan điểm niềm tin của con người và thuyết khoa học đối với vũ trụ. GSNV Quyên Di cho rằng Phật giáo là một tôn giáo gần nhất với thuyết khoa học và được coi như là “cái duyên”. Chính cái duyên đã tạo nên tất cả mọi sự trong cuộc sống. Vậy, trong triết lý và niềm tin thì Phật giáo là thuyết gần nhất với sự phát triển của nhân loại.

    Giáo sư nhà văn Quyển Di kết luận: Định mệnh của con người là thế, vậy định mệnh của cá nhân thì sao? Phải chăng mỗi chúng ta đều có một định mệnh riêng? Như vậy, chúng ta có thể nói là: Định mệnh nằm ở trong tay của chúng ta như GS Huê đã đề cập trong bài diễn văn của bà. Lại trong tuyệt tác phẩm Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du có câu: “Nhân định thắng thiên”. Vậy chúng ta phải làm gì để có thể thắng thiên định? Cuối cùng GSNV Quyên Di kết thúc bài nói chuyện của ông với bài thơ Giờ Quốc Sử của Đoàn Văn Cừ, một bài thơ đã trải qua hơn 70 năm nhưng nội dung có một giá trị rất cao trong lãnh vực giáo dục và luôn được ghi nhớ.

    Những buổi sáng, vừng hồng le lói chiếu

    Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,

    Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe

    Tiếng thầy giảng suốt trong giờ Quốc sử.

    Thầy tôi bảo: “Các em nên nhớ rõ,

    Nước chúng ta là một nước vinh quang.

    Bao anh hùng thưở trước của giang san,

    Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.

    Các em phải đêm ngày chăm chỉ học,

    Để sau này nối được chí tiền nhân.

    Ta chắc rằng, sau một cuộc xoay vần,

    Dân tộc Việt sẽ là dân hùng liệt.

    Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,

    Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam.

    Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm,

    Đầy chiến thắng, đầy vinh quang máu thắm.”

    NV Nguyễn Quang, Dr. Miller và em Thọ Nguyễn

    Tiếp theo chương trình MC Đinh Quang Anh Thái giới thiệu một người bạn thân của nhà văn Nguyễn Quang từ Pháp đến, Dr. Miller và người cháu nội đích tôn của NV Nguyễn Quang, em Thọ Nguyễn. Dr. Miller và em Thọ Nguyễn gởi lời chúc mừng đến Nhà văn Nguyễn Quang và cảm ơn khán giả đã đến chia vui cùng Nhà văn. Kế đến là cô Vĩnh Thụy, (con gái của chị Bảy Minh Khai, em gái út của NS Lam Phương) đại diện BTC lên tặng hoa cho NV Nguyễn Quang và gởi lởi chúc mừng ông.

    NHỮNG PHÚT GIÂY HẠNH PHÚC

    NV Nguyễn Quang ngỏ lời cám ơn quan khách đến tham dự buổi RMS. Đứng bên cạnh ông là người cháu đích tôn Thọ Nguyễn đến từ Pháp.

    NV Nguyễn Quang ngỏ lời cảm tạ đến các diễn giả, quan khách đến tham dự và những anh chị em, bạn bè đã giúp ông tổ chức buổi RMS

    Để tỏ lời cám ơn quan khách đã đến tham dự buổi RMS, NV Nguyễn Quang với giọng nói như nghẹn trong cổ họng, có lẽ ông đã trải qua một cơn xúc động bởi sự nhiệt tình của quan khách, bạn bè đã đến rất đông và chúc mừng cho sự thành công của ông. Lời lẽ ngắn gọn với giọng run run, NV Nguyễn Quang giải thích lý do vì sao ông đã quyết định nghiên cứu những tài liệu về Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân Loại và vì sao ông lại quyết định viết bằng Anh Ngữ. Bởi ông hy vọng với tác phẩm này sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu về cội nguồn của các em và những biến cố đã xảy ra cho tố tiên cũng như đất nước Việt Nam.

    Chương trình giới thệu sách chấm dứt sau 4:00 pm. Một tiết mục rất đặc biệt mà theo lời giải thích của Nhà Văn Nguyễn Quang thì đó là tiết mục “phóng sinh bồ câu” nguyện cầu hòa bình cho thế giới. Những con chim bồ câu trắng tung bay trong gió, nổi bật trên nền trời xanh biếc giữa tiếng cười vang và nét mặt hân hoan của mọi người. Trong số đó có lẽ Nhà Văn Nguyễn Quang là người vui nhất, sự vui tươi ấy đã hiện rõ trên nét mặt hiền hòa đôn hậu của ông.

    Khánh Lan, August 2024

    Phóng Sinh chim bồ câu trắng cầu nguyện cho thế giới hòa bình

    Cô Vĩnh Thụy & NV Phạm Gia Đại: Xin hãy đem hòa bình về cho thế giới và hạnh phúc cho nhân loại

    Giới thiệu sách Manifest Destiny (Định Mệnh) của Nhà văn Nguyễn Quang RMS bởi Ký giả Nhà văn Vương Trùng Dương

    Trong bài viết về nhà văn Nguyễn Quang vào tháng 6/2024. Nhập đề tôi viết “Chiều Thứ Sáu, 17/5/2024, nhân ngày giỗ cố nhạc sĩ Lam Phương tại tư gia Minh Khai (em gái Lam Phương) thành phố Fountain Valley, Nam California. Vì trong tình thân hữu nên chỉ có ít thân hữu và Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tham dự. Nhà văn Nguyễn Quang và tôi ra sân sau trò chuyện, ông cho biết sẽ thực hiện hồi ký lịch sử viết tiếng Anh…”. Tôi nghĩ vì cuộc đời ông đã trải qua giai đoạn thăng trầm từ thập niên 1940’ cho đến nay qua tám thập niên. Tôi nghĩ tác phẩm nầy sẽ có giá trị vì tác giả là chứng nhân thời cuộc ghi lại từ trong nước đến hải ngoại. Tác phẩm Manifest Destiny của nhà văn Nguyễn Quang viết tiếng Anh để độc giả (nhất là giới trẻ) biết thêm về sự đóng góp của người Việt lưu vong đã đóng góp theo dòng lịch sử thế giới và Hoa Kỳ. Nay nhà văn Nguyễn Quang ở tuổi 94, có thể nói là một trong những người Việt lưu vong cao tuổi nhất vẫn còn minh mẫn thể thực hiện hoài bảo cùng với các thế hệ con, cháu…

    Gẩn đây tuy đi đứng tuy khó khăn nhưng với tâm nguyện tác giả cho biết sẽ RMS quyển Manifest Destiny (Định Mệnh) vào lúc 1 giờ trưa Chủ Nhật, ngày 25/8/2024 tại Museum RVN, 9842 Bolsa Ave # 205. TP Westminster. Đây là quyển sách tóm lược về lịch sử thế giới…

    Tóm lược quyển Định Mệnh – Nguyễn Quang

    Trong FB của nhà văn Nguyễn Quang tóm lược quyển Định Mệnh với tiếng Viêt, Anh:

    Cuốn sách Định Mệnh là một hành trình xuyên suốt lịch sử loài người, từ những bước đi đầu tiên ở châu Phi cách đây hàng triệu năm đến thế giới hiện đại ngày nay.

    Tác giả dẫn dắt người đọc qua các mốc quan trọng như sự phát triển của nông nghiệp, sự ra đời của chữ viết và những nền văn minh đầu tiên. Tác giả khắc họa chân dung của những nhà lãnh đạo và chinh phục vĩ đại trong lịch sử, từ Alexander Đại đế đến Thành Cát Tư Hãn, và phân tích tác động của họ đối với sự phát triển của nhân loại.

    Tác giả cũng đánh giá lại những nhân vật lịch sử này dưới góc nhìn của thời đại Khai sáng, cho thấy vai trò phức tạp của họ trong việc kết nối các nền văn minh. Từ thời kỳ Phục hưng với những thiên tài như Leonardo da Vinci, cuốn sách tiếp tục khám phá thời đại Khám phá và chủ nghĩa thực dân, trước khi tập trung vào sự ra đời và phát triển của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

    Tác giả so sánh lý tưởng cách mạng của Mỹ với lịch sử lâu đời của các cường quốc châu Âu. Phần cuối của cuốn sách bàn về những sự kiện định hình thế kỷ 20 như hai cuộc thế chiến, chiến tranh lạnh và cuộc đua không gian cũng như sự nghịch lý của tiến bộ dẫn đến những xung đột và tàn phá. Cuốn sách kết thúc bằng những suy tư về tương lai của nhân loại, nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục đạo đức, hợp tác toàn cầu và sử dụng công nghệ một cách khôn ngoan.

    Tác giả tin rằng sự trùng hợp về hình dạng của bản đồ Hoa Kỳ với Tàu Noah nói lên sứ mệnh của Mỹ trong vai trò dẫn dắt thế giới tới một tương lai hòa bình và thịnh vượng.

    Summary of The Book Manifest Destiny by Nguyen Quang

    Destiny chronicles the journey throughout human history, from the first steps in Africa millions of years ago to today’s modern world.

    The author guides the reader through significant milestones such as the development of agriculture, the advent of writing, the first civilizations, and the great leaders and conquerors in history, from Alexander the Great to Genghis Khan.

    The book highlights the extraordinary intelligence of Renaissance polymaths like Leonardo da Vinci, whose talents spanned art, science, engineering, and invention.

    It also recounts the Age of Exploration, colonialism, and the imperial ambitions of European powers such as France and Britain and their impact on the Americas, Africa, and Asia.

    In addition to summarizing the formation of the United States, from the Declaration of Independence and the drafting of the Constitution to the forces driving westward expansion, the author also draws comparisons between American revolutionary ideals and the histories of ancient European powers like France and Britain. Important events of the 20th century, such as the two World Wars, the Cold War, and the Space Race, are discussed. Conflicts and wars are shown to have driven social changes, technological breakthroughs, and the spread of knowledge while also causing immense destruction.

    The book concludes with reflections on the future of humanity, emphasizing the importance of moral education, global cooperation, and the wise use of technology. With the belief that the United States can lead the world towards a future of peace and prosperity, the author makes an intriguing comparison of the shape of the United States map to Noah’s Ark, suggesting that both symbolize a mission of global unity and harmony. Americans have learned to live in harmony, respect each other’s cultural diversity and beliefs, and create a model of unity for the world. Global leadership requires persistent and long-term efforts to carry out this noble mission.

    Trân trọng kính mời

    Vương Trùng Dương

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Nguyên Sa & Tám Phố Sài Gòn

    Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường vào đầu thế kỷ XIX của khuyết danh chỉ đề cập tổng quát, được đề cập nhiều (Sau nầy có bài thơ của Nguyễn Bính nhưng không có gọi tên phố phường). Tác phẩm Hà Nội 36 Phố Phường của nhà văn Thạch Lam (1910-1942) ấn hành năm 1943 được phổ biến rộng rãi, được mọi người biết đến nếp sống, sinh hoạt… của Hà Nội xa xưa.

    Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường trong tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang năm 1940:

    “Hà Nội ba mươi sáu phố phường,

    Lòng chàng có để một tơ vương.

    Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,

    Góp lại đường đi: vạn dặm đường…

    Hà Nội ba mươi sáu phố phường,

    Lòng chàng đã dứt một tơ vương,

    Chàng qua chiều ấy qua chiều khác.

    – Có một người đi giữa đám tang”.

    Bài thơ chỉ là tâm trạng của chàng trai khi lang thang trên phố cổ, nếu không ghi “Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường” thì có thể nơi đó cũng gán cho cố đô Huế, phố cổ Hội An…

    Bài thơ Hà Nội 36 Phố Phường của khuyết danh (?) in trong quyển Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của học giả Dương Quảng Hàm ấn hành năm 1942:

    “Rủ nhau chơi khắp Long Thành,

    Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai

    Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai,

    Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay,

    Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày,

    Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn,

    Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Ngang,

    Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng,

    Hàng Muối, Hàng Nón, cầu Đông,

    Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè,

    Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre,

    Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà.

    Quanh đi đến phố Hàng Da,

    Trải xem Hàng phố, thật là cũng xinh.

    Phố hoa thứ nhất Long Thành,

    Phố giăng mắc cửi, đàn quanh bàn cờ.

    Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,

    Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền”

    Như vậy hình ảnh Hà Nội vào thập niên 1940’ tiêu biểu qua tùy bút của Thạch Lam và hai bài thơ.

    Với Sài Gòn đã có nhiều tác phẩm trước năm 1975 như hồi ký Địa Danh Cũ Sài Gòn của Bình Nguyên Lộc, Đất Gia Định – Bến Nghé Xưa & Người Sài Gòn, Giới Thiệu Sài Gòn Xưa (300 Năm)… của Sơn Nam, Sài Gòn Năm Xưa của Vương Hồng Sển… nhưng ít được biết đến như tác phẩm của Thạch Lam.

    Thi ca về Sài Gòn từ năm 1975 trở về trước cũng khá nhiều nhưng đặc biệt với bài thơ Tám Phố Sài Gòn của Nguyên Sa.

    Trong thời kỳ Việt Minh Trần Bích Lan (Nguyên Sa) bị bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài Pháp, học triết tại đại học Sorbonne, Paris. Năm 1955 lập gia đình với bà Trịnh Thúy Nga, gặp nhau trên đất Pháp năm 1953 (bà ở Hà Nội du học năm 1952). Đầu năm 1956, ông bà về sống tại Sài Gòn. Ông dạy triết tại Trường Trung học Chu Văn An, cũng có thời gian dạy triết tại Đại Học Văn khoa Sài Gòn. Ông mở hai trường tư thục là Văn Học và Văn Khôi và dạy triết các trường trung học ở Sài Gòn. Năm 1960, Nguyên Sa thành lập tờ Gió Mới (cùng với Trần Dzạ Từ) và cùng năm Nguyên Sa ra đời tạp chí Hiện Đại nhưng chỉ “thọ” được 9 số.

    Nguyên Sa – Trần Bích Lan đã ấn hành những tác phẩm, sách nhiều thể loại Biên Khảo, Truyện Dài, Truyện Ngắn, Bút Ký & Hồi Ký, Sách Giáo Khoa, Triết… nhưng thường gọi là nhà thơ Nguyên Sa với 4 tập Thơ Nguyên Sa (1957-1998). Thơ Nguyên Sa toàn tập (2000) và Nguyên Sa, Cuộc Hành Trình Trên Là Lục Bát do hiền thê của ông ấn hành. Với bút hiệu Hư Trúc (nhân vật trong Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung) qua các bài viết phiếm, bút chiến, không ân hành tác phẩm nào. Riêng tập thơ Những Năm Sáu Mươi trong thời gian nhập ngũ. Tập thơ nầy không được Bộ Thông Tin cấp giấy phép xuất bản, năm 1971 nhà xuất bản Trình Bày của Thế Nguyên in lén qua hình thức quay roneo, phổ biến hạn chế trong thân hữu.

    Tháng 12/1966 ông động viên vào khóa 24 Trường Bộ Binh Thủ Đức và ở trong Ban Biên Tập SVSQ liên khóa 23 & 24 của nguyệt san Bộ Binh Thủ Đức (tôi biết ông khi ở trong BBT nầy). Ông phục vụ tại Trường Quốc Gia Nghĩa Tử cho đến tháng 4/1975 định cư ở Pháp, sau đó về định cư tại Little Saigon.

    (Năm 1998, tôi viết bài Nguyên Sa: Lời Thơ Ý Nhạc… trên tờ Thế Giới Nghệ Thuật, trước khi ông qua đời, ghi rõ về cuộc đời nhà thơ và những bài thơ được phổ nhạc). Vì vậy trong bài viết nầy chỉ đề cập với bài thơ Tám Phố Sài Gòn bài thơ 8 khổ 32 câu vào năm 1965.

    Trong Hồi Ký Nguyên Sa (Đời, 1998), gồm bốn phần, không theo trình tự thời gian, ghi chép lại những biến cố trong cuộc sống trải qua những biến động của xã hội cùng những nhân vật thời thế… Trong đó ông đề cập đến bài thơ Tám Phố Sài Gòn, theo ông ghi lại trong hồi ký thì bài thơ nầy xuất hiện trên Số Xuân năm 1965 của tờ Văn theo lời yêu cầu của ông Nguyễn Đình Vượng. (Tạp chí Văn, do Trần Phong Giao đảm nhận từ số 1 năm 1964 đến cuối năm 1971. Ông Nguyễn Ðình Vượng mời hai nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng và Mai Thảo thực hiện cho đến tháng 4/1975).

    Tám Phố Sài Gòn

    “Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều

    Cánh tay tà áo sát vòng eo

    Có nghe đôi mắt vòng quanh áo

    Năm ngón thơ buồn đứng ngó theo

    Sài Gòn phóng solex rất nhanh

    Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants

    Có nghe hơi thở cài vương miện

    Lên tóc đen mềm nhung rất nhung

    Sài Gòn ngồi thư viện rất nghiêm

    Tờ hoa trong sách cũng nằm im

    Đầu thư và cuối cùng trang giấy

    Những chữ y dài trông rất ngoan

    Sài Gòn tối đi học một mình

    Cột đèn theo gót bóng lung linh

    Mặt trăng theo ánh đèn: trăng sáng

    Đôi mắt trông vời theo ánh trăng

    Sài Gòn cười đôi môi rất tròn

    Vòng cung mầu đỏ, nét thu cong

    Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng

    Hay đã đưa dần sang nhớ mong

    Sài Gòn gối đầu trên cánh tay

    Những năm mười sáu mắt nhìn mây

    Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn

    Tiếng nhạc đang về dang cánh bay

    Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa

    Thứ Bảy Sài Gòn đi Bonard

    Guốc cao gót nhỏ mây vào gót

    Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ

    Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng

    Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân

    Lưng trời không có bầy chim én

    Thành phố đi về cũng đã Xuân”

    Bài thơ cho báo Xuân mà chỉ có chữ Xuân cuối bài thơ. Sài Gòn tám phố, tuy có mười lần nhắc đến tên Sài Gòn và hình ảnh con đường Bonard vào thời Pháp thuộc đã đổi tên đường Lê Lợi sau năm 1954.

    Lúc đó nhà thơ Nguyên Sa đã nổi danh nên không có ai nói tám phố Sài Gòn mà chẳng thấy hình ảnh tám phố thế nào (như bài thơ về Hà Nội của Nguyễn Bính), ít ra như Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn của nhà thơ Du Tử Lê:

    “Đêm về theo bánh xe qua

    Nhớ em xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh…

    Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè

    Nắng Trương Minh Giản trưa hè Tự Do

    Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè

    Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường”

    Bài thơ nầy được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc cùng tên và tôi đã viết vào năm 2007 khi uống cà phê với nhau, được Du Tử Lê chia sẻ.

    Về địa danh, ngày 22/10/1956 của Tổng Thống VNCH ban hành sắc lệnh Đô Thành Sài Gòn – Chợ Lớn đổi thành Đô Thành Sài Gòn có 8 quận: Quận Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy và Tám.

    Ngày 10 tháng 10 năm 1965, Tổng Long Vĩnh Hạ lại được tách khỏi quận Dĩ An, nhập trở lại quận Thủ Đức. Năm 1967 xã An Khánh được cắt khỏi quận Thủ Đức, nhập vào Quận 1 của Đô Thành Sài Gòn và được chia thành hai phường là An Khánh và Thủ Thiêm. Sau, 2 phường An Khánh và Thủ Thiêm lại được tách ra để thành lập Quận 9 của Đô Thành Sài Gòn. Tuồng cải lương “Ông Cò Quận 9”  hay “Tuyệt Tình Ca” của Hà Triều – Hoa Phượng vào năm 1965, lúc đó chưa có quận 9 nên đặt tên để tránh sự đụng chạm.

    Sau Tết Mậu Thân 1968, người dân tản cư về Đô Thành sinh sống rất đông vì vậy Tòa Đô Chánh Sài Gòn thành lập thêm hai quận nầy vào khoảng tháng 7/1969, nâng số quận tại Đô Thành thành 11 quận.

    Với bài thơ Paris Có Gì Lạ Không Em? và Tám Phố Sài Gòn là hai địa danh qua dòng thơ Nguyên Sa trải qua nhiều thập niên vẫn được yêu thích. Với tâm hồn lãng mạn với hình ảnh giai nhân trong Tám Phố Sài Dài Gòn như: Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants. Có nghe hơi thở cài vương miện. Lên tóc đen mềm nhung rất nhung… Guốc cao gót nhỏ mây vào gót. Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ”. Trong khi Paris Có Gì Lạ Không Em với hình ảnh: “Anh về giữa một giòng sông trắng, Là áo sương mù hay áo em?… Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay. Tóc em anh sẽ gọi là mây… Vì em hay một vừng trăng sáng. Đã đắm trong lòng cặp mắt em?”có lẽkhông dễ thương như bóng hồng ở Sài Gòn (?).

    Tạp chí Văn Học số 99, ngày 15/12/1969 với chủ đề Nguyên Sa, thi sĩ của tình yêu. (Trong số nầy có cuộc phỏng vấn của Vũ Bằng, Thượng Sỹ, Phan Kim Thịnh với Nguyên Sa và nhà thơ nói đến quan điểm về thơ). Ngoài những nhà thơ từ thời tiền chiến, Nguyên Sa là một trong những nhà thơ trẻ ở miền Nam VN vào giữa thập niên 1950’ & 1960’ nổi bật về lãnh vực nầy. Tuy nhiên trong Hồi Ký Nguyên Sa “Tôi là người làm thơ, thơ tình, mà vẫn xúc động trước những khổ đau của quê hương, dân tộc tôi”

    Những bài thơ tình lãng mạn của ông như “thông điệp tình yêu” (bài thơ Cần Thiết) của một thời sinh viên, học sinh đi vào lớp học “Không có anh lấy ai đưa em đi học về. Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học” hay “Thơ học trò anh chất lại thành non. Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu” và “Cả những giờ bên lớp học, trường thi. Tà áo khuất thì thầm: ‘chưa phải lúc…’. Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường”…

    Bài thơ Buổi Sáng Học Trò với hình ảnh: “Trang sức bằng nụ cười phì nhiêu. Nhẩy bằng chân chim trên giòng suối cạn. Ấy là em trên đường đi buổi sáng. Trăng ở trên môi và gió ở trong hồn. Mái tóc mười lăm trên lá tung tăng. Em ném vào phố phường niềm vui rừng núi”. Nụ cười phì nhiêu không có trong tự điển và đây lần đầu tiên nhà thơ đề cập đến.

    Bài thơ Áo Lụa Hà Đông với tuổi học trò mới chớm yêu mà “Gặp một bữa anh đã mừng một bữa. Gặp hai hôm thành nhị hỉ của tâm hồn. Thơ học trò anh chất lại thành non. Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu”. Nhiều bài thơ của Nguyên Sa đã được phổ nhạc, bài thơ nầy Ngô Thụy Miên phổ nhạc năm 1971 và sau nầy ở hải ngoại đến với nhau với nhiều tình khúc, điển hình như: Tháng Sáu Trời Mưa, Paris Có Gì Lạ Không Em, Tuổi Mười Ba, Cần Thiết… (Bài thơ Cần Thiết trước kia do Song Ngọc phổ nhạc, và nhạc sĩ Anh Bằng dựa theo ý thơ phổ thành ca khúc Nếu Vắng Anh vào năm 1971. Khi nhạc phẩm được ấn hành cũng là món quà của người lính tặng cho người yêu khi rời hậu phương).

    Trong bài thơ Tám Phố Sài Gòn, nhà thơ không phải là người con của Nam Kỳ Lục Tỉnh mà viết “Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng”, chữ “cưng” là cách xưng hô quen thuộc, thân mật, trìu mến, thông dụng trong giao tiếp với nhau dù thân, sơ trong gia đình, ngoài xã hội của người miền Nam. Sau nầy rất phổ biến trong đôi lứa, bạn bè (nữ) và người thân. Trong các tác phẩm của Hồ Trường An thường dùng các gọi chữ “cưng” như “mèn ơi! Cưng”…

    Nửa thế kỷ trôi qua, sống nơi xứ người, tuy không còn tên Sài Gòn nữa nhưng với nơi chốn đó “gọi nhau bằng cưng” cảm thấy như người thân.

    Những lời ngắn ngủi, chân tình như: “Cưng ơi, chỉ dùm nhà của bà X… Chỗ này có ai ngồi không cưng?”, “Mua giùm dì đi cưng”… Khi thấy tai nạn xảy ra “Trời ơi, có sao hông cưng!”, “Tội nghiệp cưng quá”… Chỉ một chữ nhưng thể hiện nét đẹp trong văn hóa xử thế… Là dân Hà Nội, khi sống trong Nam, nhà thơ nhân cách hóa địa danh rất tuyệt.

    Qua biến thiên của cuộc đời, nhà thơ Nguyễn Đình Toàn với nỗi niềm với Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên. Mất từng con phố đổi tên đường… Sài Gòn ơi! Tôi mất người như người đã mất tôi. Như trường xưa mất tuổi thiên thần… Còn gì đâu…”. Và nay, người con xa xứ vẫn coi nơi chốn nầy như câu thơ Nguyên Sa “Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng” khi nhà thơ nhân cách hóa rất tuyệt.

    Sau thời gian lâm bệnh, sau khi giải phẫu, sức khỏe yếu kém, nhà thơ qua đời ngày 18/4/1998. Là nhà giáo, nhà văn với nhiều sách, tác phẩm nhưng thơ là tim, óc của Nguyên Sa, có lẽ bài thơ Sợi Tóc sáng tác cuối cùng như “di cảo” khắc trên mộ bia của nhà thơ ở Peek Funeral Home (Little Saigon) khắc 6 câu thơ lục bát:

    “Nằm chơi ở góc rừng này

    Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang

    Xin em một sợi tóc vàng

    Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau

    Biết đâu thảo mộc bớt đau?

    Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”

    Nhà thơ Nguyên Sa của Sài Gòn năm xưa, khi định cư tại Paris có nhiều bạn bè, thân hữu nhưng bỏ “kinh đô ánh sáng” đến miền nắng ấm Nam California và an giấc nghìn thu tại nghĩa trang ở Little Saigon vĩnh viễn “Nằm chơi ở góc rừng này”. Trần Bích Lan trở về thuở nguyên sơ hạt cát (sa) nhưng hạt cát vĩnh cữu trong dòng sinh mệnh Văn Học Việt Nam.

    Little Saigon, August, 2024

    Vương Trùng Dương

  • Sinh Hoạt,  TRẦN MẠNH CHI

    DƯ ÂM NGÀY THÁNG CŨ

    Những ngày vui trôi qua rất nhẹ, êm đềm và thoáng qua như một cơn gió thoảng. Những ngày tháng đong đầy những yêu thương không vương chút bụi ưu tư.

    Hôm nay nhận được những tấm hình họp mặt tại nhà của Katherine Minh Thư do anh Trần Mạnh Chi chụp, Khánh Lan gởi các bạn xem để nhớ lại những ngày vui bên nhau.

    Minh Khai, Khánh Lan, Ngọc Châu, Lyly, Giáng Tuyết

    Thụy Lan, Chi Mai, Minh Khai, Kiều My, Minh Châu, Ái Liên, Khánh Lan, Lâm Dung, Lệ Hoa, Minh Thư, LyLy, Ngọc Châu, Giáng Tuyết, Kim Thoa

    Các anh trai NVNT & TTG & khỏe vì……(?)

    Khánh Lan, Tháng 8, 2024

  • Sinh Hoạt,  Vương Trùng Dương

    MY SOUTH VIETNAM

    Vào 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 1/9/2024, tại Lavender (OC Entertainment), 14190 Beach Blvd, thành phố Westminster sẽ trình chiếu phim tài liệu My South Vietnam (song ngữ, lời Việt, phụ đề Anh ngữ).

    Đầu năm 2022, Vietnam Film Club của đạo diễn Chu Lynh bắt đầu thực hiện bộ phim tài liệu My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi, phát hành tháng 12 năm 2022. Trong 2 năm qua, phim được trình chiếu khắp nơi và lần nầy ra mắt tại Little Saigon

    Vietnam Film Club được thành lập năm 2010 bởi giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và đạo diễn Chu Lynh.

    GS Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016), năm 1954 du học tại Hoa Kỳ, sau nhiều năm làm việc ở ngoại quốc, về nước năm 1972 cùng với hiền thê là TS Đào Thị Hợi thành lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn, Cục Trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi, Tổng Giám Đốc sau cùng của Việt Tấn Xã.

    Năm 1975 định cư ở Hoa Kỳ giảng dạy tại các đại học George Mason (1979-89), Trinity College (1979-81) và Georgetown University (1980-86). GS Nguyễn Ngọc Bích là Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) từ ngày thành lập cho đến lúc về hưu năm 2003.

    Đạo diễn Chu Lynh, sinh năm 1945 tại Quảng Bình, 1954 di cư vào miền Nam. Theo học tại các trường Institut de la Providence Huế, Bình Minh Huế, Lê Bảo Tịnh Sài Gòn.

    Năm 1965 nhập ngũ khóa 22 tại Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức. Phục vụ trong ngành Quân Nhu. Sau năm 1975 bị tù hơn 10 năm.

    Năm 1995, định cư tại Virginia, Hoa Kỳ theo diện H.O.

    Năm 2005, thành lập Câu Lạc Bộ Đằng Phương (bút hiệu Đằng Phương của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy). Trước khi thành lập Vietnam Film Club đã thực hiện các phim tài liệu. Từ đó đến nay đã thực hiện nhiều phim tài liệu giá trị. Ngoài ra Chu Lunh cũng là tác giả với tác phẩm Mảnh Da Vàng…

    Chu Lynh rất tâm huyết khi thực hiện bộ phim My South Vietnam khoảng mười tập, mỗi tập một chủ đề riêng khoảng 30-50 phút, đề cập đến những lãnh vực của xã hội miền Nam trước năm 1975 và phần nào sau năm 1975.

    Theo lời đạo diễn, bộ phim “Không những cho những người đã sống ở Miền Nam Việt Nam nhìn lại bức tranh miền Nam với những kỷ niệm, và những nỗ lực chiến đấu, xây dựng Miền Nam” của họ, mà còn cho người miền Bắc và giới trẻ không can dự vào chiến tranh hiểu được về xã hội thực của miền Nam. Và theo lời Chu Lynh VNCH đã thành quá khứ “Những cái gì xảy ra tại Miền Nam Việt Nam chỉ còn trong hồi tưởng và internet” vì vậy đạo diễn đã chịu khó đi khắp nơi phỏng vấn từ những vị thức giả, sĩ quan cao cấp, giới chức trong QLVNCH, những tù nhân chính trị, giới văn nghệ sỹ, giới truyền thông, giáo chức, thuyền nhân và người dân… tạo thành bức tranh toàn diện làm chứng nhân lịch sử.

    Với tâm huyết của nhà làm phim, Vietnam Film Club không gây quỹ, không kêu gọi đóng góp, và cũng không có nhà bảo trợ. Các thành viên tự lo chi phí, và vì thế gặp nhiều khó khăn. Và khi trình diễn cũng “vào cửa miễn phí”.

    Vẫn theo anh “Sở dĩ chúng tôi thực hiện các phim tài liệu, là vì chúng tôi thấy hải ngoại có nhiều video nói về lịch sử và chiến tranh Việt Nam trên internet, nhưng những video này chưa được thực hiện một cách có hệ thống về các khúc quanh lịch sử quan trọng”. Vả lại “Người Mỹ thường không hiểu và có cái nhìn sai lệch về cuộc chiến hoặc về Quân Đội VNCH, đa số những cuốn phim, những tác phẩm của họ là bào chữa cho sự rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam, và đổ lỗi cho Quân Đội VNCH.

    … Lịch sử Việt Nam quá nhiều đau thương. Nói đến người dân Việt Nam là nói đến những thảm kịch của chịu đựng, đau khổ, chết chóc, tan nát trong chiến tranh và sau chiến tranh.

    Chúng ta nên nhìn lại căn cước của mình thuộc về tổ tiên xây dựng đất nước và chống ngoại xâm. Nhìn nhau như vậy thì thấy gần gũi nhau hơn, và không lấy một chi tiết nhỏ như ‘anh theo đảng này, tôi đảng kia’ rồi trở thành đả kích, chia rẽ”.

    Với tâm tư tình cảm của người con, người lính khi rời khỏi quê hương: “Người Việt Nam nên nghĩ thân phận dân tộc Việt Nam đã đau khổ quá nhiều trong chiến tranh. Tìm hiểu quá khứ để có những bài học, để lý giải được hiện tại, từ đó có cái viễn kiến về tương lai.

    Người Việt Nam làm được việc nếu hiểu được quá khứ lịch sử của đất nước mình, và coi trọng tinh thần dân tộc hơn tất cả quyền lợi cá nhân và đảng phái.”

    Phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi của đạo diện Chu Lynh tóm gọn 4 tập với từng chủ đề: Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – Văn Hóa Giáo Dục – Truyền Thông Báo Chí và Y Tế VNCH… Tất cả thể hiện tinh thần nhân bản, khai phóng của nền dân chủ tự do trong suốt hai thập niên qua. Sau năm 1975 nhìn lại các lãnh vực trên đã đảo ngược hoàn toàn.

    Nếu đạo diễn Chu Lynh có cùng ê-kíp đủ điều kiện để khi khắp nơi trên thế giới, gặp gỡ thân hào nhân sĩ và đồng hương hải ngoại thì phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi trở thành tài liệu quý giá cho người Việt xa xứ. Không biết cuốn phim nầy đã phổ biến trên YouTube, người dân và giới trẻ có được theo dõi” Nếu được chuyển lửa là niềm vinh dự cho đạo diễn và cũng là hoài bão của chúng tôi.

    Trước đây, khi phim My South Vietnam được trình chiếu, tôi viết tổng quát trong mục Văn Nghệ của tờ báo. Nay được trình chiếu ở Little Saigon nên viết đôi giòng giới thiệu với đồng hương.

    Little Saigon, August 14, 2024

    Vương Trùng Dương, Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa

  • Kiều My,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt

    “TẤM HÌNH BIẾT NÓI”- Đã Nói lên Điều Gì?

    Ngày 10 tháng 8, 2024-Ngày RMS 4 tác phẩm với một mục đích nhân đạo và tràn ngập tình người. Theo như lời của NV Chinh Nguyên thì đây chính là buổi gây quỹ để giúp LM. Nguyễn Văn Lý hiện đang trị bịnh do kết quả của những ngày tháng lao tù dưới chế độ cay nghiệt của nhà nước cộng sản Việt Nam. Số tiền quyên được do bán 4 tác phẩm và quyên góp từ các thành viên của Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) và các nhà hảo tâm, sẽ được trao hết cho LM Nguyễn Văn Lý để Người lo việc thuốc thang và chữa trị bịnh. Buổi RMS và quyên góp lần này do sự hợp tác giữa hai nhóm, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Văn Thơ Lạc Việt (VTLV). Tại California, chúng tôi thu được gần $7,000, thật là quý giá và chúng tôi xin mượn giây phút này để cám ơn các nhà hảo tâm đã cùng chung một cánh tay với chúng tôi giúp cho buổi gây quỹ được thành công mỹ mãn.

    Từ hôm thứ sáu ngày 9 tháng 8, 2024, phái đoàn Văn Thơ Lạc Việt từ San Jose đã có mặt tại Orange County. 7 giờ tối, NVNT & TTG và VTLV họp cho việc RMS và dùng cơm tối tại tiệm phở Flavor vùng Fountain Valley.

    Thứ sáu ngày 9 tháng 8, 2024-thảo luận và dùng cơm tối tại tiệm Phở Flavor.

    Vừa đúng 11:30 am, phái đoàn San Jose cũng như GS Trần Mạnh Chị và NV Khánh Lan đã có mặt tại trước cửa của Thư Viện Việt Nam sách, nước, thức ăn. 12 giờ trưa NV Du Miên và phu nhân đến mở cửa và phụ anh em chúng tôi xếp bàn ghế, sách, v.v…và chuẩn bị đón khách tham dự.

    VN Du Miên

    Đón khách

    XNV Mỹ Linh phỏng vấn NV Chinh Nguyên

    Trong buổi ra mắt sách của nhà văn Chinh Nguyên tại THƯ VIỆN VIỆT NAM, nam California, một bích chương nổi bật với hàng chữ lớn “TẤM HÌNH BIẾT NÓI” trong khán phòng, đã gây ấn tượng sâu sa trong lòng quan khách tham dự. Vậy bốn chữ in đậm nét trong dấu ngoặc kép này đã nói lên điều gì?

    NV Kiều My

    Vào ngày thứ bảy 10 tháng 8, năm 2024, trong không khí nắng ấm của mùa hè vùng thủ đô người Việt tị nạn, Little Saigon…Người ta nhận thấy có các vị giáo sư, các văn nhân, thi sĩ, các cựu sĩ quan Không quân, các thân hữu, hội Đồng Hương và hội Học Sinh, tổng hội Ban Mê Thuộc, sư đoàn 5 Bộ Binh, đặc biệt có nhóm Văn Thơ Lạc Việt từ San Jose…đến Thư Viện Việt Nam tham dự buổi ra mắt 4 tác phẩm của nhà văn Chinh Nguyên. Những tác phẩm mang đậm nét văn hóa với những tư tưởng đầy tính nhân bản, mà tác giả Chinh Nguyên mong muốn cống hiến cùng độc giả yêu chuộng văn chương tại hải ngoại.

    4 MC điều khiển chương trình: DS Thanh Ngọc, NV Phạm Gia Đại, XNV Mỹ Linh, GS Trần Mạnh Chi

    Để khai mạc chương trình, nhà văn Phạm Gia Đại đã long trọng cử hành nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ, do ban Tiếng Thời Gian đồng ca. Tiếp đến là phút mặc niệm trong không khí trang nghiêm để tưởng nhớ đến những anh hùng vị nước vong thân, các dân quân cán chính đã chết trong những trại tù, cùng những nạn nhân đã thiệt mạng trên hành trình đi tìm tự do…

    Sau đó, MC. Mỹ Linh giới thiệu CHƯƠNG TRÌNH GÂY QUỸ “TẤM HÌNH BIẾT NÓI” và nhà văn Trần Việt Hải trưởng liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chào mừng và tri ân quan khách đã đến tham dự buổi ra mắt sách của nhà văn Chinh Nguyên.

     NV Chinh Nguyên, NV Việt Hải, Hội Trưởng nhóm Văn Thơ Lạc Việt, San Jose

    Khánh Lan & Mộng Thủy trao chi phiếu gần $7, 000 cho NV Chinh Nguyên

    Ông Lê Văn Hải, hội trưởng Văn Thơ Lạc Việt San Jose phát biểu cảm tưởng. Ông chân thành cảm tạ quan khách hiện diện như là một món quà tinh thần lớn lao dành cho Linh mục Nguyễn Văn Lý và nhà văn Chinh Nguyên. Cảm tạ nhà văn Trần Việt Hải và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật &Tiếng Thời Gian đã hợp tác với Văn Thơ Lạc Việt tổ chức cho sự kiện hôm nay thật tốt đẹp.

    XNV Mỹ Linh, NV Chinh Nguyên và phu nhân

    Nhà văn Chinh Nguyên phát biểu về tình trạng linh mục Nguyễn Văn Lý mang bệnh tật sau 4 lần bị cầm tù vì nói lên tiếng nói của lương tâm và nhân quyền. Ngoài linh mục Lý ra, ở trong nước còn rất nhiều người cũng bị giam cầm trong những trại tù khắc nghiệt chỉ vì tranh đấu cho tự do dân chủ. Vì thế, chúng ta là những người Việt hải ngoại có nợ với những người đã dám hy sinh mạng sống cho đồng bào trong nước cũng như cho dân tộc. Do đó, chúng ta nên làm bất cứ điều gì có thể để đền bù lại phần nào cho sự hy sinh quá lớn lao của họ, như trường hợp của linh mục Nguyễn văn Lý. Lm. Lý cũng gửi lời cảm tạ tất cả những quan khách đến tham dự buổi ra mắt sách và hổ trợ cho chương trình “Tấm Hình Biết Nói”. Đồng thời, Lm. Cũng nhắn nhủ rằng: Người Việt hải ngoại nên đoàn kết tranh đấu cho người Việt trong nước được tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và cho thế hệ mai sau.

    Bản hùng ca Việt Nam Việt Nam, sáng tác của cố nhạc sĩ Phạm Duy, vang lên trong hội trường qua tiếng hát của ban Tiếng Thời Gian, với những tà áo dài tha thướt truyền thống, hòa lẫn với tiếng ca hùng hồn của các nam ca sĩ; đã tạo nên một khí thế hùng hồn trong khoảng không gian ấm cúng của vùng trời tự do. “Việt Nam…Việt Nam” vọng lại bên tai… tiếng yêu thương, ngọt ngào …man mác nỗi ngậm ngùi cho quê hương khốn khổ đã bỏ lại sau lưng; nhưng không bao giờ lãng quên trong tâm tưởng, dù bất cứ nơi đâu trên hành tinh này của người Việt tha hương.

    Quà lưu niệm từ San Jose.

    Khách tham dự

    Sau phần bày tỏ cảm tưởng về buổi ra mắt sách hôm nay của nhà văn Du Miên, giám đốc Thư Viện Việt Nam là phần trình bày của nhà báo kiêm ký giả Kiều Mỹ Duyên, cô bày tỏ:

    Ký giả Kiều Mỹ Duyên

    “Vì sự cảm thông sâu sắc đối với những vị cao niên đau yếu trong các viện dưỡng lão mà không có thân nhân thăm viếng, rất đáng thương…Xin Chúa, Phật phù hộ cho họ được trải qua những ngày tháng hiu quạnh được bình an trong tâm hồn.”

    Nhà văn Trần Việt Hải và Dược sĩ Cao Thanh Ngọc nói về quyển song ngữ ANTI-AUTHORITARIAN (CẨM NANG CHỐNG ĐỘC TÀI) của nhà văn Phạm Đoan Trang. Thanh Ngọc là hậu duệ của VNCH, cô trình bày về tác phẩm Cẩm Nang Chống Độc Tài như sau:

    NV Việt Hải và DS Thanh Ngọc

    “Là cuốn sách nói lên sự thật về hiện tại của XHCNVN  Với tất cả tấm lòng yêu mến, Phạm Đoan Trang xin cống hiến quyển sách này cho những người đã đang và sẽ hy sinh vì dân tộc. PĐT ôm ấp hoài bão cho VN có được tự do, dân chủ và nhân quyền. Chính vì sự tranh đấu này mà tác giả đã bị nhà cầm quyền VN bỏ tù và bị ghép vào tội “có âm mưu lật đổ chính quyền”

    Việt Nam Minh Châu Trời Đông – nhạc sĩ Hùng Lân sáng tác. Ban Tiếng Thời Gian đã hùng hồn ca ngợi đất nước Việt anh hùng, lừng lẫy bên bờ Thái Bình Dương. Người con dân Việt mong báo đền ơn nước và thề hứa trung thành với sơn hà nước Nam.

    Diễn giả Mộng Thủy trình bày tác phẩm MY LIFE, một sáng tác của nhà văn Đông Anh, do nhà văn Chinh Nguyên chuyển sang Anh ngữ. Mộng Thủy đã diễn giải về tác phẩm My Life như sau:

    “Mặt trời mọc phương đông. Chiều lặn phương tây. Thời gian trôi không cảm xúc, nên lưu giữ trân trọng những kỷ niệm của thời gian của đời người, dù rằng kỷ niệm ấy khổ đau hay hạnh phúc. Tác giả Đông Anh đã gửi gấm những tư tưởng sâu lắng như một tiếng chuông gõ nhẹ vang vọng vào tiềm thức của con người để giúp chúng ta nâng niu những chân lý mới.”

    Tiếp theo, nhà văn Kiều My đảm trách vai trò diễn giả cho tác phẩm song ngữ Anh Việt “PLEASE COME IN…Có nghĩa là VÀO ĐI TÌNH ƠI…

    “Nói về một cô gái rất trẻ đi vào vùng núi rừng hoang vu để tìm người cha mà chưa bao giờ biết mặt. Cô đến xin tá túc nhà một người đàn ông đã đứng tuổi…và tình yêu đã nãy sinh giữa hai người dù tuổi tác quá chênh lệch. Chuyện trái cấm tình yêu này đã nói lên: tình yêu không biên giới dù ở trời đông hay trời tây, từ cổ chí kim cũng thế. Một triết gia đã từng nói: “Con tim có những lý lẽ riêng của nó, mà lý trí cũng không thể hiểu được.”

    Bài Ca Chiến Thắng được hát lên phá vỡ bầu không khí trang trọng của phần văn học. Gợi lại lòng người để hồi tưởng về một thời oanh liệt của chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    THORN IN THE HEART – tác phẩm thứ tư bằng Anh ngữ của nhà văn Chinh Nguyên, qua phần diễn giải của nhà văn Khánh Lan:

    “Nội dung từ một câu chuyện thật do tác giả ghi lại…THORN IN THE HEART là một tác phẩm viết bằng anh ngữ mà Khánh Lan xin tạm dịch nôm na là “Trái tim vụn vỡ” với mục đích giới thiệu đến thế hệ trẻ về những nỗi đau đớn mà ông cha của các em đã trải qua. Tác phẩm ghi lại cuộc đời của một chiến sĩ viễn du nơi đất khách quê người, cố tìm sống lại quãng thời gian đã mất, và quay ngược về quá khứ trải dài qua nhiều giai đoạn khác nhau. Từ những ngày tháng thanh bình của một thời thơ ấu đến những kỷ niệm vàng son, tràn gặp niềm vui của tuổi trưởng thành nhiều mơ ước và những ngày đen tối của chiến tranh với những biến cố tang thương, với âu lo, bom đạn và chiến tranh trường kỳ.

    NV Khánh Lan cũng nhắc đến Đại Văn Hào Marcel Proust đã viết trong tác phẩm À la recherche du temps perdu và cho rằng thời gian đã mất thì khó mà tìm lại được. Tiếc thương cho những hồn Việt và ước mơ cho một ngày thanh bình, độc lập, tự do, nay đã thay thế bởi “Ngục tù tăm tối và Người tù không bản án”…NV Khánh Lan cho rằng tác phẩm “Thorn in the Heart” hay “Trái tim vụn vỡ” là tiếng khóc trong tim của những chàng trai thế hệ nay vẫn sống lưu vong vì thời cuộc, binh biến trong giấc mộng Kinh Kha phục vụ quê hương. Chấm dứt bài diễn đọc, NV Khánh Lan gởi đến Đại Bàng Không Quân Chinh Nguyên với vần thơ kết sau đây.

    Chiến sĩ lưu vong tạm gác nghiệp binh

    Hồn Việt cơ đồ giấc điệp khôn nguôi.

    Giấc mộng kinh kha hận còn đậm nét

    Trong trái tim vụn vỡ sống lưu vong.

    Bản hùng ca “Cờ Ta Bay Trên Quảng Trị Thân yêu” đã bế mạc chương trình ra mắt sách của nhà văn Chinh Nguyên, thành công ngoài dự tính.

    Qua “TẤM HÌNH BIẾT NÓI” tự nó đã nói lên tất cả ý nghĩa, mà không cần từ ngữ nào để giải thích. Và nó đã bay đi khắp nơi trên thế giới này để phơi bày một “sự thật” sau bức màn sắt! Vì “Tấm Hình Biết Nói” này, mà nhà văn Chinh Nguyên đã nặng lòng, đem tim óc viết thành những tác phẩm để bán kiếm tiền gửi về cho nạn nhân trong tấm hình; đó là Linh mục Nguyễn Văn Lý. Người đang mang trọng bệnh sau nhiều năm bị tù đày vì nói lên tiếng nói của “lương tâm.” Mọi người ngưỡng mộ tấm lòng bác ái và hào phóng của nhà văn Chinh Nguyên đã thực hiện một nghĩa cử thật tuyệt vời!

    Kiều My, Nam California, August 8, 2024

    KHÁCH THAM DỰ

    CS Ngọc Hà, GS Lê Văn Khoa, NV Du Miên, NV Vương Trùng Dương

    NV Khánh Lan, GS Dương Ngọc Sum, NV Du Miên, NV Phạm Gia Đại

    NT Nguyễn Đại Thành & NS Dương Hồng Anh

    DS Thanh Ngọc & NV Khánh Lan

    KS Lân Pham, GS Dương Ngọc Sum, NS Dương Hồng Anh, GS Trần Huy Bích, KS Nguyên Hồng

  • Kiều My,  Sinh Hoạt

    CHAN CHỨA TÌNH HÈ

    Hàng phía trước: Thanh Mai, Minh Khai, Kiều My, Ái Liên, Lâm Dung, LyLy, Ngọc Châu, Giáng Tuyết, Em gái anh Trần Mạnh Chi. Hàng phía sau: Minh Châu, Khánh Lan, Thụy Lan, Lệ Hoa, Katherine Minh Thư.

    Ds. Minh Thư là một nghệ sĩ vui tánh ca hát hồn nhiên như sơn ca hay họa mi giữa thiên nhiên, Minh Thư ghé Hawaii, yêu thiên nhiên hùng vĩ Hawaii. Những hải đảo Hạ Uy Di được coi như “Thiên đường hạ giới”. Người thổ dân Hawaii hay người hải đảo Caribbean có nguồn gốc Polynesia, các nơi có văn hóa riêng như cách phục sức, ẩm thực, âm nhạc, ngôn ngữ,.. ghé Jamaica, Bahamas, hay Puerto Rico, Bermuda,… ta nghe nhạc Calypso, Reggae, Rumba Cubana, Blue Jazz Hawaii,

    Jazz Bossa Nova,… Hôm họp mặt Aloha Luau Ohano tại tư gia Minh Thư, đôi song ca Lâm Dung và Ái Liên đã hát duo calypso bản  Lời yêu thương (Jamaica farewell) nhạc do NS. Harry Belafont. Khi tôi ghé qua Blue Note Hawaii jazz club, Outrigger Waikiki Beach Resort trên đại lộ Kalakaua, Honolulu, nghe Sleep Walk, Somewhere Over the Rainbow, hay What a Wonderful World,… âm thanh chen lẫn ukulele, bongo, hawaiian slide guitar… trong chuyến viếng thăm hải đảo Hạ Uy Di, tôi thực sự nhớ, và thấy từ “Thiên đường hạ giới” một Hawaii hồn nhiên bên thiên nhiên, một Hawaii  mang âm hưởng reggae, kanaka maoli (native music Hawaiian), có âm vang gospel blue jazz nhẹ nhàng, du dương, mát tai, … 

    Cám ơn bạn bè, cám ơn chủ nhà Brian và Katherine. 

    Trần Việt Hải

    NV Việt Hải & TS Lê Nguyễn Nga

    Chủ nhà Brian & Katherine và NV Phạm Gia Đại

    Hawaiian Party là buổi họp mặt mà nhóm chúng tôi dự định nhóm họp từ một năm trước, thế mà mãi đến hôm nay mới thực hiện được. Lần này Katherine Minh Thư đứng lên tổ chức tại nhà của cô. Cảm ơn Katherine nhé.

    The boys: Em TS Lê Nguyễn Nga, Trần Mạnh Chi, Brian, Mạnh Bổng, Michael, Tony Hiếu, em trai and Trần Mạnh Chi, Hùng Ngọc.

    The Girls: Khánh Lan, Minh Khai, Thanh Mai, Lệ Hoa, Thụy Lan, Minh Thư, Ngọc Châu, em gái anh Trần Mạnh Chi

    Khánh Lan nhớ là khoảng 4:00 chiều mọi người đã có mặt, ai cũng trong trang phục Hawaii thật dễ thương với những vòng hoa thật đẹp trên cổ. 

    Thế còn khánh Lan thì sao? Gớm, hôm ấy cô nàng điệu quá, súng sính trong cái áo đầm Hawaii dài đến chân, cái áo mà con gái khánh Lan đã mua tặng từ năm ngoái dự định sẽ mặc trong ngày kỷ niệm tám năm thành lập của Nhân văn nghệ thuật và Tiếng thời gian, nhưng đợi mãi chẳng ai hưởng ứng, nên cái áo đành cất trong tủ, cho đến hôm nay mới được đem ra mặc, mừng quá. Lại cám ơn Katherine lần nữa đã cho Khánh Lan cơ hội mặc áo mới.

    NV Việt Hải, TS Lê Nguyễn Nga, CS Ngọc Hà, GS Lê Văn Khoa, NV Khánh Lan

    Thức ăn trong  bữa bữa tiệc có nhiều món ngon và ban nhạc thì thật tuyệt vời. Tiệc tàn lúc 11.30 tối nhưng anh em chúng tôi ngồi tán gẫu mãi đến hơn 12.30 sáng. Về đến nhà là 01:30 sáng. Mệt phờ nhưng đây là một buổi họp mặt mùa hè vui quá.

    Khánh Lan

    Buổi tiệc họp mặt Hawaiian Party tại tư gia của Brian & Minh Thư cuối tuần qua, là một kỷ niệm khó quên của mùa hè 2024 vùng Diamond Bar, nam California đối với nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.

    NV Việt Hải, TS Lê Nguyễn Nga, CNS Lâm Dung, CS Ái Liên, NV Kiều My

    Buổi chiều hôm ấy, trời thật đẹp! Thiên nhiên đã chiều lòng người ban đến luồng không khí mát dịu, khiến mọi người hăng hái đến với nhau tham dự buổi tiệc họp mặt theo phong cách Hạ Uy Di. Những vòng hoa đủ màu sắc vòng quanh cổ, những đóa hoa rực rỡ gắn lên những mái tóc…tưởng chừng như mình đang thưởng ngoạn vùng hải đảo Hawaii, trên những bờ biển cát trắng chạy dài. Mọi người thưởng thức những món ăn thuần túy quê hương…rất ngon, xen lẫn tiếng cười tiếng nói…thật vui thật hồn nhiên.

    MC NV Phạm Gia Đại

    Dancing all night

    Hoàng hôn dần buông xuống, tiếng hát tiếng nhạc trổi lên dưới bầu trời tươi mát giữa vùng núi đồi Diamond Bar.

    Nhìn xuống thung lũng dưới đồi, ánh đèn đã thắp sáng lên của một thành phố bình an. Mọi người có vẻ tận hưởng một buổi tối thật đẹp của tình bạn hữu giữa tiếng ca, tiếng nhạc trong những điệu nhảy tưng bừng…lả lướt với những nụ cười trên môi. Về đến nhà…nhìn đồng hồ đã 2 giờ sáng. Chao ôi! KM mệt lả và trong lòng dâng lên nỗi lo lắng, không biết sáng mai còn sức để hát  bài Giòng An Giang có những nốt nhạc cao chót vót?

    Mặc dù suốt đêm qua không ngủ, nhưng KM vẫn không quên bổn phận của mình là phải hát hai bản Giòng An Giang và Về Đây Nghe Em trong chương trình lễ giỗ cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, cựu chủ tịch đảng Tân Đại Việt. Nhưng thật may mắn! Sáng sớm Ngọc Hà text cho KM nói rằng: “Tối qua thấy mặt KM trông miserable quá! Gọi Hà nhé!” KM gọi Hà rồi hai đứa hẹn nhau đi ăn phở Holic cho tỉnh táo, Hà hứa sẽ song ca giúp KM. Mọi lo lắng đã trút xuống và niềm vui đến là sau khi hát bản Giòng An Giang được khán giả vỗ tay kèm theo tiếng “bis” vang lên. Thừa thắng xông lên, đôi song ca hát tiếp bài về Đây Nghe Em. Thật đúng với câu Benjamin Franklin đã nói: “A friend in need is a friend indeed”. Cảm ơn Ngọc Hà thật nhiều đã giúp KM. vượt qua ải lo âu.

    Không riêng gì KM, chắc chắn các bạn tham dự buổi tiệc Hạ Uy Di đêm ấy sẽ để lại dấu ấn thật sâu đậm trong tâm hồn với những kỷ niệm đẹp khó quên. Chân thành cảm tạ Brian và Minh Thư đã tạo cơ hội cho nhóm NVNT&TTG, được trải qua khoảnh khắc thật thú vị của một mùa hè chứa chan tình người.

    Kiều My

  • Tin tức,  Vương Trùng Dương

    VƯƠNG TRÙNG DƯƠNG, MỘT CÂY BÚT DA DIỆU

    Hơn ba mươi năm trở lại đây, trên các báo Việt ngữ ở hải ngoại, độc giả đã quen biết bút hiệu Vương Trùng Dương, một cây bút viết nhanh, viết đều, đủ loại, viết những gì cần thiết, trên rất nhiều phương tiện thông tin, báo giấy, báo mạng, nhật báo lẫn tuần báo, tạp chí, những blog, web văn học.

    – Viết nhanh, và đều. Rất nhanh, mỗi ngày có một sự kiện gì trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, âm nhạc, là chỉ cách một vài ngày sau đó, đã có ngay bài viết của Vương Trùng Dương. Dù một bản tin vẫn có ít nhiều tư/tài liệu cần biết về sự vụ ấy.

    – Viết đủ loại. Một tác phẩm mới của một tác giả vừa ra mắt độc giả, một văn nghệ sĩ vừa qua đời, một cuộc triễn lãm hội họa, một đêm ca nhạc tầm cở, buổi thuyết trình văn học đáng lưu tâm, đều có bài viết của Vương Trùng Dương. Khi là tường thuật hiện tình, đôi khi là một bài nhận định, tiểu luận. Đương nhiên, theo cách viết “trường phái nhanh gọn” Vương Trùng Dương, không phải “chuyên sâu” như các phê bình gia chuyên nghiệp. Nhưng với Vương Trùng Dương, ta có ngay “Cái để đọc”.

    Đây là một lợi điểm của Dương, trong một nhơn loại đương thì, cần thức ăn nhanh, ham cái “biết ngay tích tắc”. Thái độ chung hiện nay của quần chúng, qua mọi lĩnh vực, là lướt qua, lướt qua. Nhưng những qua nhanh này là biểu kiến của văn minh, của tiến hóa, không là cái lụp chụp kiểu ăn xổi ở thì.

    – Viết những gì cần thiết. Mỗi ngày, mỗi tỉ sự vụ, làm sao viết cho hết. Sự phân loại, lựa ra những hiện tình cần thiết để loan, đề viết về, là một nghệ thuật. Vương Trùng Dương đã rất nhạy bén, nên đã có hằng trăm bài về các nhạc sĩ, văn gia, thi sĩ, những nhân vật nổi tiếng, xưa, tận nay. 

    Qua hàng chục năm cầm bút, Vương Trùng Dương, đã viết về những tên tuổi được liệt kê dưới đây:

    – Nhạc sĩ, ca sĩ:

    Hoàng Trọng, Đoàn Chuẩn, Lê Thương, Lê Trọng Nguyễn, Lan Đài, Trầm Tử Thiêng, Song Ngọc, Hoàng Nguyên, Lê Trạch Lựu, Nguyễn Văn Đông, Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nguyễn Hiền, Vũ Đức Nghiêm, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Đan Thọ… Thái Thanh, Mộc Lan, Thanh Thúy, Hà Thanh, Lệ Thanh, Lê Thu, Mai Hương…

    – Nhà văn, nhà thơ:

    Khái Hưng, Nhất Linh, Phan Khôi, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thạch Kiên, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Bà Tùng Long, Cung Tích Biền, Nguyện Thị Thụy Vũ, Linh Bảo, Văn Quang, Văn Phan, Nguyễn Quang, Hà Mai Anh, Nguyễn Thụy Long, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Mai Trung Tĩnh, Võ Thạnh Văn, Trạch Gầm, Trần Yên Hòa, Dương Viết Điền, Phan Xuân Sinh, Lê Đức Luận…

    Hoàng Cầm, Quang Dũng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Hữu Loan, Nguyễn Bá Trác, Nguyên Sa, Lê Trạch Lựu, Lê Thương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đình Toàn, Du Tử Lê, Trần Tuấn Kiệt, Hà Huyền Chi, Phan Nhự Thức, Lê Văn Trung, Trần Văn Sơn…

    – Nhà nghiên cứu, nhà giáo:

    Hồ Biểu Chánh, Trần Huy Bích, Lê Văn Khoa, Lê Mộng Nguyên… Những đề tài liên quan về Văn học Nghệ thuật, Âm nhạc…

    Nhìn chung, Cõi viết của Vương Trùng Dương thiên về âm nhạc. Tâm sự về ngọn nguồn “ma đưa lối quỷ dẫn đường” vào cái cõi réo rắc lênh đênh của dây tơ tiếng kèn, chính Dương  đã có lời tâm sự. Rằng thì, từ thuở bé anh đã say mê lời ca tiếng hát. Âm nhạc giúp anh hiểu biết hơn, giải khuây khi buồn, làm dịu cơn đau, mở rộng tâm hồn để tiếp cận với cái đẹp của thiên nhiên, con người.

    Xem ra, hơn nửa số lượng Dương đã viết là về âm nhạc. Món này nó đa đoan diễm lệ hơn chốn văn chương thơ phú, hội họa rất nhiều. Bởi vì nó luôn, anh anh em em, người tình già đầu non, cô tình trẻ chỗ cổng trường; trong thị thành con đường tình bóng mát lá me bay, nơi chiến trường lửa đạn xương gãy thịt rụng tùm lum, vầy mà qua âm nhạc, tình huống nào cũng gởi gắm được cái nhớ nhung quyến luyến, quanh quẩn với Chữ Tình. Nhà văn, bị người tình cho ra rìa, hiếm khi ngồi kỳ khu, ra công viết cái truyện tả oán. Nhưng với một nhạc sĩ, lời than van tình lỡ tình sầu, tình oan trái, tình thiên thu, tình trong giây phút, tình nghèo tình muộn tình xa’’… lắm khi lại trở thành những tuyệt tác.

    Nhạc sĩ nói riêng, âm nhạc nói chung là vị thần tình ái. Đủ mùi ca ngâm chỗ biệt ly tái hội. Tiếng tơ đồng, nhịp phách, lời ca nó xoáy vào tâm can con người, đục thẳng và tức thì, hơn mắt phải đọc, mặt phải nhìn từng dòng từng trang chữ. Lại khổ chữ lớn chữ nhỏ trên giấy tốt giấy xấu, đeo kính vào gỡ kính ra. Viễn thị cận thị thậm chí đui mắt vẫn rung cảm khi nghe tiếng nhạc. Nấu bếp, nhậu nhẹt, ngủ với vợ, là lúc sách vở, tranh họa đi chỗ khác chơi, bấy giờ tiếng nhạc lời ca lên ngôi.

    Vương Trùng Dương mê nhạc, viết về âm nhạc, là đúng vậy rồi.

    Luôn luôn làm việc nhưng thấy Dương cũng khá thảnh thơi. Mỗi sáng luôn có mặt ở một quán cà phê quen thuộc, cùng anh em, ngay cả thời gian 7 năm, phụ trách Section B (bài vở và layout) nhật báo. Những câu chuyện văn nghệ, lan man những sự đời gió trăng mây nước. Dương luôn vui vẻ, khiêm tốn, hài hòa thân thiện với mọi người. Văn là người. Văn phong của Dương cũng nhẹ nhàng, thoáng đảng. Chữ nghĩa khá dể hiểu.

    *

    Một khối tình con. Vì đời còn là một bài thơ.

    Vương Trùng Dương, tên khai sinh là Trần Ngọc Dưỡng, sinh đầu tháng 2 năm 1945 (âm lịch tuổi Giáp Thân) tại Quảng Nam. Gia đình của Dương, từ lâu, định cư tại Chợ Được, một ngôi chợ khang trang nằm bên bờ sông Trường. Chợ cũng là bến ghe thuyền. Đò dọc theo sông dài, đò ngang qua bên kia sông là vùng ven biển Đông. Gần biển, những đêm mùa đông, trong chiếu chăn hãy còn nghe tiếng sóng biển ầm vang.

    Buổi chiều, đêm trăng, ngồi bến sông Chợ Được, nhìn sông dài trời rộng, những thuyền trôi, đẹp vô cùng. Sông Trường, non chín mươi năm trước, khi tôi tuổi lên mười, là con sông huyền hoặc, khá đặc biệt của Xứ Quảng.

    Tại miền Trung Việt, hầu hết các con sông đều bắt nguồn từ cao, trong lòng dãy Trường Sơn, đổ xuống đồng bằng rồi ra cửa biển. Sông Trường không như thế. Nó chảy dọc theo bờ biển, gần như song song với con đường Cái quan, từ bắc vào nam. Nếu gọi nó có nguồn từ nam ra bắc cũng chẳng ai cãi cọ. Vì nó là một hợp dòng từ hai cửa biển chảy qua về với nhau. Phía bắc là cửa Đại, Hội An, phương nam là cửa An Hòa, Tam Kỳ.

    Chẳng ai hiểu nó bắt nguồn từ cửa biển nào. Nên chẳng biết bờ sông bên nào là tả, hoặc là hữu ngạn của nó.

    Hằng ngày, tuổi thơ, Dương nhìn ngắm sông, mê mây trôi lòng nước, cùng bọn nhóc nhảy ùm, tắm sông. Ký ức đã dìu dặt.

    Sông Trường, có hai dòng nước từ hai cửa biển chảy vào ngược chiều nhau, An Hòa đổ ra, Hội An chảy vào. Mỗi khi thủy triều dâng, biển chảy vào mỗi cửa sông. Thủy triều hạ, nước biến cửa nào tự chảy trả về biển đó. Lúc triều dâng hay rút, nước sông Trường vẫn một dòng nước ngọt, không hề có cái lờ lợ vì pha nước biển. Nơi hai dòng nước ngược chiều đụng/gặp nhau là bến Tây Giang. Suốt chiều ngang sông từ bờ này sang bờ kia song, chỗ này, có một ngấn nước cao. Thủy triều hạ, ngấn nước tan. Sông lại hoàn sông. Chờ ngày mai, thủy triều lên, sự tình lại tái hiện.

    Tuổi lên mười, tôi có dịp đến Chợ Được, may còn có dịp nhìn con sông rộng, những đêm trăng, thuyền bến, khu chợ đã vắng người, một vùng quê thơ mộng, bãng lãng vô cùng. Hôm nay Trường Giang đã cạn, chỉ là một con lạch nhỏ, những bùn lầy.

    Hội An, một đô thị cổ, một thời rực rỡ cửa biển,  mở ra đại dương với những thương thuyền Bồ Đào Nha, Y Pha Nho, Pháp Lang Sa, Nhựt Bổn… Hội An một thời ngủ dài, ngủ những mấy trăm năm, Hội An thức giấc với xiêm y, hình hài một di sản thế giới; Và, Sông Trường huyền hoặc bên này, Trường Sơn kỳ vĩ núi kia; những quần thể tháp Chàm Mỹ Sơn Đồng Dương; Và, Dòng sông Thu sức chảy bạt ngàn, phá bờ này thành vịnh nước sâu, bồi qua bờ kia thành những bãi dâu xanh chiều chiều; Quảng Nam, khí thiêng ấy đã giúp gì cho những danh nhân Xứ Quảng ở khắp mọi lĩnh vực?

    *

    Một lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước, theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em. Trong số này có hai người chị của Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi. Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi. Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông. Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy bóng mát, là do chính thân phụ Vương Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn đã lâu năm.

    Hai tuần ở Chợ Được là những ngày vui, những giờ hạnh phúc của chúng tôi.

    *

    Thời thế đã mau chóng đổi trắng thay đen, chiến tranh, ly tán. Mỗi phận người bỗng là, “Một chiếc linh hinh hồn nhỏ / man man thiên cổ sầu” (Huy Cận). Xa nhau tưởng đã quên nhau. Hai mươi bảy năm sau, 1987, tôi tình cờ gặp lại Vương Trùng Dương từ Đà Lạt về Sài Gòn, lúc Dương ghé thăm tôi

    Bấy giờ Dương đã là một sĩ quan quân đội Cộng Hòa. Xuất thân khóa I Nguyễn Trãi, Đại học Chiến tranh Chính trị Đà Lạt (12/1966-5/1969). Phục vụ ở Tiểu Đoàn 20, rồi Tiểu đoàn 10 CTCT, sau cùng trở về quân trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Năm 1975, một thời gian đi trại tù Cải tạo trở về, Dương ghé thăm tôi, chuẩn bị cho năm 1990, đi định cư theo diện H.O tại Mỹ.

    Lại 29 năm sau, năm 2016 tôi gặp Dương tại Mỹ. Trên 55 năm (1959-2016) hai anh em chúng tôi chỉ gặp nhau một lần (1987) Sự quý hiếm ấy tạo ra cái tình thân thiết. Vàng này được thử lửa đời.

    Lúc này, sau khi có mặt trên đất Mỹ, Vương Trùng Dương, đã có một bề dày hoạt động văn nghệ báo chí khá đáng khen. Là, thành viên trong Trung Tâm Văn Bút VN Nam California những năm đầu của thập niên 1990s và Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại. Tổng Thư Ký các tờ Việt Press, nguyệt san Thế Giới Nghệ Thuật, tuần báo Tình Thương, Đất Nước, Rạng Đông, bán nguyệt san KBC (2002-2005), nguyệt san văn học Tân Văn (một thời gian), nguyệt san Hồn Việt…

    Năm 2005, Chủ Nhiệm Cali Weekly và trang web Cali Weekly. Năm 2008, phụ trách Section B của nhật báo Saigon Nhỏ (2008-2016, đảm trách bài vở và layout) & Tổng Thư Ký, Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa cho đến nay.

    Hiện nay Vương Trùng Dương sống tại Little Saigon, nhà cửa khang trang, con cháu đông đúc, tất cả học hành giỏi dang.

    Viết những dòng này, tôi đã ở thềm tuổi 90, người em Vương Trùng Dương đã 80. Nhưng còn viết, còn chuyện trò được, cười vui cùng hoa cỏ, nếu tất cả có thể, thì cứ là vui.

    Vương Trùng Dương viết nhiều về bạn bè, thân hữu… Nhưng, theo lời tâm sự chỗ riêng tư, Dương cho biết đã từ chối phỏng vấn về bản thân (chỉ có 2 lần với nhà báo Uyên Vũ và nhà thơ Triều Hoa Đại). Với tôi, Dương vẫn luôn luôn coi tôi như một người anh, một Huynh Trưởng trong Gia Đình Phật Tử vào cuối thập niên 1950s nơi quê nhà, vì tôi và người chị thứ sáu của Dương cùng tuổi và trong GĐPT (nay đã ra người thiên cổ).

    Cuộc đời gẫm lại, là một bài thơ. Bài thơ lung tung, không vần, không niêm luật bắt buộc, nhiều nắng vàng gió mưa tự động, bao rủi may bất ngờ, là một đời thanh thoát. Cứ là, tôi đến từ buổi sơ nguyên, và hẹn em ở thế kỷ sau. Lãng mạn dỏm, xem sao.

    Cung Tích Biền, Senior Village Garden Grove, Orange County, July, 2024

  • Tin tức

    Nhà Văn Nguyễn Quang, Văn Chương & Cuộc Tình Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh

    Chiều Thứ Sáu, 17/5/2024, nhân ngày giỗ cố nhạc sĩ Lam Phương tại tư gia Minh Khai (em gái Lam Phương) thành phố Fountain Valley, Nam California. Vì trong tình thân hữu nên chỉ có ít thân hữu và Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tham dự.

    Nhà văn Nguyễn Quang và tôi ra sân sau trò chuyện, ông cho biết sẽ thực hiện hồi ký lịch sử viết tiếng Anh vì cuộc đời đã trải qua giai đoạn thăng trầm từ thập niên 1940’ cho đến nay qua tám thập niên. Tôi nghĩ tác phẩm nầy sẽ có giá trị vì tác giả là chứng nhân thời cuộc ghi lại từ trong nước đến hải ngoại.

    Cuối tháng 5/2024, người bạn gợi ý với tôi việc thực hiện tuyển tập (tổng quát) với các nhà văn, nhà thơ lão thành trên chín mươi tuổi còn sống và sáng tác vào năm 2025 để đánh dấu nửa thế kỷ văn học hải ngoại. Đây là ý kiến hay, ở Mỹ đã có chúng tôi và sẽ liên lạc với vài bạn văn phương xa.

    Ở Little Saigon, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thọ 103 tuổi, lúc trên 90 tuổi vẫn còn sáng tác. Nữ sĩ Dương Hồng Anh, 93 tuổi ra mắt thi phẩm thứ 12 Những Gì Để Nhớ vào mùa xuân 2024… Nhà văn Nguyễn Quang (phu quân cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh) ở tuổi 93 vẫn còn minh mẫn, viết lách và sẽ ấn hành tác phẩm. Khi bạn tôi vào Google tìm “nhà văn Nguyễn Quang” thì không biết gì cả! Tôi cảm thấy đây là sự thiếu sót của chính bản thân và vài bạn cầm bút quen biết khi viết về nhà văn Nguyễn Quang mà không phổ biến rộng rãi trên các websites với nhà văn đã một thời dấn thân cho văn nghiệp nhưng bản tính khiêm nhường và chỉ quan tấm đến người bạn đời (tác phẩm và cuộc sống) nên có lẽ phần nào bị “đóng khung” trong sự nghiệp văn chương.

    Tháng 6/2024 là ngày giỗ nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (nhà báo, nhà thơ, nhà văn) nên nhân dịp nầy tôi viết về cuộc tình của bà với nhà văn Nguyễn Quang. Nữ sĩ MĐHT nổi tiếng từ trong nước đến hải ngoại, và cũng là người phục hồi lại Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nên tên tuổi bà được mọi người biết đến nhưng “Đằng sau một người đàn bà thành công luôn có bóng dáng người đàn ông” ở trường hợp nầy. Trong thời gian qua, tôi thấy có vài tác phẩm về văn học hải ngoại không đề cập đến các tác giả đã hiện diện trong những thập niên qua (ngay cả nhà văn Linh Bảo).

    Hơn mười năm qua, tôi không còn phụ trách mục sinh hoạt văn nghệ cho tờ báo nên ít tham dự trong những buổi ra mắt sách, ngoại trừ tác giả thân quen và trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời Gian (nhưng có các bài viết của Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My…)

    Nhà văn Nguyễn Quang đã ấn hành nhiều tác phẩm và đã từng ra mắt sách (RMS) nhưng đến năm 2022, tôi mới ghi nhận: RMS Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân.

    (Trích): “Ban Tổ Chức Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức buổi RMS hai tác phẩm Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang tại hội trường Thư Viện Việt Nam, thành phố Garden Grove. Nhà văn Nguyễn Quang là phu quân nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017). Tuy bước sang tuổi 90 nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn khỏe mạnh và hoàn thành hai tác phẩm thứ 8 & 9: Phận Đàn Bà & Ôn Cố Tri Tân.

    Nhà văn Nguyễn Quang (Nguyễn Quang Huy) sinh quán tại Phú Nổ, làng Khánh Hưng, Tỉnh Sóc Trăng, du học tại Pháp từ năm 1950, đỗ Cử Nhân Toán. Năm 1955-1962, theo học tại đại học Cambridge ở Anh, đỗ Cao Học Kinh Tế (nay gọi là Thạc Sĩ). Ông trở lại Pháp, làm việc cho nhiều nhà xuất bản tuần báo ở Paris. Ông làm phó chủ bút cho tờ Paris Match…

    Tuy xa quê hương gần bảy thập niên nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc. Cũng vào thời điểm nầy, Chủ Nhật, 13/4/2014 tại hội trường Thư Viện Việt Nam, nhân dịp sinh nhật 83 tuổi, nhà văn Nguyễn Quang đã ra mắt tác phẩm Một Giấc Mơ. Nhà văn Nguyễn Quang cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.

    Trong tác phẩm Phận Đàn Bà (“Đau đớn thay phận đàn bà” – Nguyễn Du), nhà văn Nguyễn Quang đã khéo léo trong việc sử dụng những hình ảnh, ngôn ngữ, hoàn cảnh để so sánh, để ví von. Lời văn ẩn dụ những sinh hoạt quen thuộc hàng ngày trong một gia đình tưởng như hoàn mỹ, để truyền tải sâu sắc ý tưởng của mình. Đọc tác phẩm Phận Đàn Bà cho chúng ta ba ý niệm khác nhau, cả ba phần đều đề cặp đến cuộc đời, danh phận cũng như sự kiên nhẫn, nhịn nhục và chịu đựng của người đàn bà.

    Phần một thuộc thể loại tình cảm xã hội về một gia đình được coi là lý tưởng nhưng lại trải qua nhiều uẩn khúc như sự giằng co giữa lương tâm nghề nghiệp, bổn phận với vợ con và trách nhiệm với người tình.

    Trong phần thứ hai thì lại đặt nặng về phần văn hóa xoay quanh những tranh luận về phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia. Phần này rất có ích cho những ai muốn học hỏi, nghiên cứu để mở mang kiến thức.

    Phần thứ ba là những câu chuyện qua từng mẩu chuyện mà tác giả đã thu nhận được từ bạn hữu, từ những mẩu chuyện “đàn ông đàn bà”, những chuyện do “mắt thấy tai nghe“, được ông ghi lại trên trang giấy. Trong từng mẩu chuyện, với tâm hồn nhận bản, phác thảo bức tranh về nhân tình thế thái…

    Về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang ôn lại lịch sử nước Việt, từ thời Hồng Bàng với các vị vua Hùng Vương, rồi qua các triều đại Lý, Lê, Trần, Nguyễn… đất nước ta trải qua ngàn năm Bắc thuộc, gần 100 năm Pháp thuộc, chiến tranh Quốc Cộng, thời CSVN thống trị…

    Thành ngữ “Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ” (ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay). Tác giả gợi lại bài học lịch sử từ thời lập quốc trải qua các thời kỳ Bắc thuộc từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên đến thế kỷ mười lăm sau công nguyên với các bậc anh thư, anh hùng dân tộc yêu nước đã đứng lên chống trả quân xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc với những sĩ phu yên nước dân thân cho đại cuộc… Thời kỳ Cộng Sản xâm nhập cho đến hiện tại với thảm họa như quá khứ… Với tinh thần bất khuất của người dân Việt, noi gương những bậc tiền nhân để xây dựng lại trang sử vàng son.

    Tác phẩm văn chương mang tâm huyết của người Việt lưu vong cho thế hệ hiện tại và các thế hệ tiếp nối có giá trị về bài học lịch sử Việt Nam suy ngẫm để xây dựng đất nước trong tương lai thanh bình, thịnh vượng.

    Những bài học từ quá khứ để suy nghiệm hiện tại. Trước đây, tôi có giới thiệu khái quát về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân, trong đó có nhắc đến: “Cụ Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942) tự Ôn Như là nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam. Tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ. Quyển Cổ Học Tinh Hoa (cùng Trần Lê Nhân) ấn hành năm 1928 đến nay gần một thế kỷ vẫn được ấn hành và lưu truyền. Hai vị biên soạn đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu những tinh hoa của nền cổ học phương Đông. Với 250 mẩu chuyện liên quan trong cuộc sống, con người, cách xử sự sao cho phù hợp với từng nơi từng lúc. Có thể nói đó là cuốn sách “dạy làm người” để biết nhìn nhận “cái xưa” để xử thế “cái nay” mà qua từng mẩu chuyện với lời bàn rất hữu ích.

    Nhà văn, dịch giả Mộng Bình Sơn (1923–2011) đã viết nhiều tác phẩm, trong đó có quyển Ôn Cố Tri Tân gồm 3 tập, ấn hành năm 1967, Sống Mới xuất bản tại Sài Gòn. Dẫn chứng hai quyển sách của người xưa của nước ta về Ôn Cố Tri Tân vẫn còn giá trị trong cuộc sống. Sau nầy nửa thế kỷ ở hải ngoại, tác giả Nguyễn Quang nay ở tuổi chín mươi mốt vẫn mang hoài bão của bậc cao tuổi nơi quê người qua tác phẩm…

    Trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang như Nhập Gia (2007), Ông Giáo Làng (2009), Ốc Mượn Hồn (2012), Một Giấc Mơ (2013), Ngoại Tình (2016), Thần Giao Cách Cảm (2017), Ôn Cố Tri Tân (2020) và Phận Đàn Bà (2022)… có vài tác phẩm đã RMS ở Trung Tâm Minh Đức và Thư Viện Việt Nam, Little Saigon.

    Cuộc Tình cùng Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh

    Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh (MĐHT) tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó biết sự lợi dụng của phong trào, bà bỏ về Huế tiếp tục học. Năm 1964, bà du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Á Đông La Sorbonne, Paris. Năm 1967, bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF (Office de la Radiodiffusion et Television Francaise, tiền thân đài RFI hiện nay), làm phóng sự nhiều nơi như Algérie (Bắc Phi) và Việt Nam.

    Năm 1972, bà được cử theo dõi và tường thuật Hòa Đàm Paris. Năm 1973, bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, từ năm 1974 đến năm 1975. (Hai bài thơ của bà được Phạm Duy phổ thành ca khúc Kiếp Nào Có Yêu Nhau & Đừng Bỏ Em Một Mình. Ngoài ra nhạc sĩ Võ Tá Hân, cháu gọi cô, phổ những bài thơ qua ca khúc Mẹ bảo ta đừng nhìn qua cửa sổ, Mẹ bảo, Nhớ mẹ, Thức thêm một giờ nữa, Viết bài thơ này… Bài thơ Ai Trở Về Xứ Việt  (1962) do Phan Văn Hưng phổ nhạc cũng nổi tiếng).

    Sau biến cố tang thương 1975, bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí Hồn Việt Nam và trở lại cộng tác với đài ORTF. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhận tư cách hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế vào năm 1979. Với các tác phẩm của MĐHT như Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang, Paris 1976)… với sữ hỗ trợ của phu quân.

    Mùa Xuân năm 1971, MDHT làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp (một trong những đài truyền hình lâu đời nhất thế giới), mời nhà văn Nguyễn Quang tới phỏng vấn trên đài. Từ buổi gặp gỡ đó, có sự đồng cảm với nhau.

    Khi trở lại trong Hiệp Định Paris, trong tinh thần yêu nước của người Việt và nhóm sinh viên lúc tranh đấu cho Việt Nam Cộng Hòa, cùng lý tưởng, hai trái tim họ gặp nhau.  Vì công việc bà trở lại Sài Gòn, năm 1975 định cư tại Paris, nhà văn Nguyễn Quang và nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh nên duyên vợ chồng (trước đó ông và bà đã có con riêng).

    Năm 1980, nhà văn Nguyễn Quang sang Mỹ với người bạn đời Minh Đức Hoài Trinh (các con ở lại Pháp). Với bằng cấp chuyên môn ở Anh, ông tiếp tục với lãnh vực nầy. Với hoài bão sáng tác của nữ sĩ MĐHT, ông tận tình thực hiện và phổ biến. Những tác phẩm của nữ sĩ MĐHT đều do phu quân thực hiện như Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư I (tái bản 1987), Niệm Thư II (1988), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990), Bất Đáo Trường Thành Phi Hảo Hán (1990), Ngõ Trúc (1997), Chính Khí Của Người Cầm Bút (2014)… nhất là tác phẩm Văn Nghiệp & Cuộc Đời của Minh Đức Hoài Trinh, RMS tại Hội trường nhật báo Người Việt ngày 17/9/2005, tác phẩm nầy được RMS ở các nới khác (bà không viết hồi ký nên tác phẩm nầy với công việc biên soạn của ông đóng góp cho nền văn học). Ông viết: “

    Nhà văn Nguyễn Quang chia sẻ về người bạn đời:

    “Trong lúc tôi soạn đọc một số lớn tư liệu của Minh Đức Hoài Trinh, ngẫu nhiên tìm ra một mảnh giấy nhỏ viết tay viết từ ngoài chiến trường, dù bị gián đoạn, chỉ có một vài dòng nhưng tôi cảm nhận được tâm tư xót xa của một ký giả chiến trường, tôi rất xúc động nên muốn chia xẻ cùng quí độc giả như sau:

    “Mùi hôi không cản được tình thương”, Minh Đức Hoài Trinh.

    “Đi đếm xác chết đó là một công việc tôi hay làm trong những năm hành nghề ký giả. Ai nghe nói cũng nhắm mắt rùng mình, kêu ghê, kêu sợ, kêu eo ôi gì mà kinh thế. Nhưng mỗi người, nhất là mỗi đứa sống với cái nghề cầm bút thường mang một chứng điên khác nhau riêng biệt. Ở giai đoạn chiến tranh lịch sử nầy mà không cầm súng ra trận thì cũng phải làm một cái gì. Nói cầm súng ra trận không phải là tại thích nhìn cảnh bắn giết nhau, nhưng để nghe những tiếng khóc của chính trong lòng mình. Khóc người đang quằn quại, đang gục ngã, đang hấp hối. Đi tìm cảm giác lạ, mỗi người “viết sĩ đi tìm một nẻo khác nhau, bên bàn đèn, trong cánh tay, mái tóc tình nhân, trong hộp đêm trong điệu nhạc, hoặc là những đứa như tôi, thẩn thờ quanh quẩn bên mấy cái xác chết. Tại sao tôi không đi tìm cảm hứng ở những nơi khác, chính tôi cũng có lần đặt câu hỏi tại sao?

    Có lẽ vì tò mò muốn nhìn xem những cái xác ấy mới hôm qua còn thơm sạch, còn cười nói, ăn uống, những sự học hỏi, suy nghĩ, những lời đùa vui dí dỏm mới ngày hôm trước đã phát ra từ cái mắt cái miệng ấy. Thế rồi chỉ một tiếng nổ, một lát gươm, tất cả đều tiêu tan, không phải được thành mây khói…“. “

    Minh Đức Hoài Trinh lặn lội săn tin trên các vùng lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, ghi nhận những sự kiện giao tranh mất còn, từ miền Nam ra miền Trung. Miền Trung là nơi sinh quán và miền Nam là nơi trú quán.

    Sau những cuộc chiến có những tử sĩ con yêu của miền Nam Việt Nam hay những chàng trai thế hệ của QLVNCH đã vĩnh viễn ra đi vì bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn”, trong bài viết “Mây Trên Đèo Hải Vân”, Minh Đức Hoài Trinh viết: “Trực Thăng từ từ hạ cánh chúng tôi trở về phòng đợi. Đợi mây tan nhận nụ cười an ủi trên môi người phi công kiên nhẫn, chỉ có thế không có cách gì khác. Mãi đến hai giờ chiều chúng tôi trở lên trực thăng. Chiếc áo quan vẫn còn nằm đấy, y nguyên…

    Mây đã chịu tan bớt đi trên đỉnh đèo, trực thăng đã đủ sức vượt qua làn mây. Phi trường Phú Bài không mở chúng tôi đỗ ở phi trường Đại Nội trong thành Huế.

    Trước khi ra khỏi phi cơ tôi quay lại nhìn cái hòm, nhìn cái hòm lần cuối cùng, nhìn người chết, nhìn lá cờ VNCH, thì thầm một lời vĩnh biệt. Anh ngủ cho yên và lá cờ hãy che chở cho anh”, Minh Đức Hoài Trinh.

    Trong tác phẩm Ngoại tình của ông với câu chuyện tình rất lãng mạn, đẹp trích vài câu thơ tiếng Pháp để nói về tình yêu. Cuộc tình của ông, từ khi gặp nhau ở Pháp và sang Hoa Kỳ cũng vậy nhưng không ghi lại. Những năm cuối đời, nữ sĩ MĐHT ốm yếu, bệnh hoạn được phu quân tận tình chăm sóc cho đến khi bà về cõi vĩnh hằng. có người cho rằng nữ sĩ MĐHT nổi tiếng, “cây đại thụ” với ông (?) nhưng với tôi, ông chính là “cây đại thụ” chăm sóc cho những tác phẩm của bà qua những thập niên xuất hiện trên văn đàn hải ngoại. Ông chính là bạn văn, bạn đời tận tụy, thủy chung trong cuộc sống.

    Nhà Văn Nguyễn Quang & NVNT – TTG

    Khoảng mười năm nay, nhà văn Nguyễn Quang sinh hoạt với Nhân Ảnh Tân Văn và sau nầy thành Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Với tuổi già tham gia cùng bạn trẻ (theo tuổi tác của ông) là niềm vui và cũng là niềm khích lệ trong sinh hoạt đời sống và văn nghệ. Mọi cuộc sinh hoạt trong nhóm nầy đều có sự hiện diện của ông. Khi nữ sĩ Minh Dức Hoài Trinh qua đời (chiều Thứ Sáu, 9 tháng Sáu, tại bệnh viện Huntington Valley Healthcare Center, Huntington Beach. Hỏa táng tại Peek Funeral Home, Chủ Nhật 25/6). Để an ủi nỗi buồn sống cô đơn của ông, nhóm nầy cũng thường đến hội ngộ tại tư gia của ông (tôi nhớ khoảng cuối năm 1990, vài lần ghé ngôi nhà của ông bà có hàng trúc phía trước nên gọi là “đường trúc thư quán” sau nầy chuyển về khu người già gấn đó cũng thuộc Midway City – Thị Trấn Giữa Đàng).

    Theo nhà văn Việt Hải con chim đầu đàn, trong phần phát biểu và cám ơn quan khách, ông đã chia sẻ như sau: “Nói đến nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, năm 2015 khi đó chúng tôi chỉ có 5 người. Tôi, GS Trần Mạnh Chi, HS Lưu Anh Tuấn, Ngô Thiện Ðức và Lý Tòng Tôn. Ngày nay, bao gồm thành viên và các thân hữu ở khắp nơi chúng tôi có khoảng 4, 5 trăm người. Chủ trương chính của chúng tôi tập trung trên hai mảng văn học nghệ thuật và âm nhạc. Bên VHNT thì lo về in ấn, tưởng niệm và ra mắt sách của một số các nhà văn nổi tiếng và một số đã khuất núi. Bên Tiếng Thời Gian lo phần âm nhạc cho các buổi ra mắt sách. Ngoài ra chúng tôi cũng thành lập một khoá giảng dạy âm nhạc căn bản cho thành viên của nhóm…”

    Nhà văn Khánh Lan, người đảm trách blogpot NVNT & TTG từ tháng 5/2018 cho đến nay đã phổ biến vài trăm bài viết, sơ lược các sinh hoạt trong quá khứ của nhóm như tổ chức các buổi ra mắt sách của các văn, thi, nhạc sĩ… vinh danh và chúc thọ các vị tiền bối, tổ chức các buổi party và mừng sinh nhật.

    Trong 9 năm qua, mỗi năm thường tổ chức 5, 6 lần từ Tất Niên đến Giáng Sinh trong đó có vài lần ra mắt sách, sinh nhật, chúc thọ… Với “cây nhà lá vườn” nhiều ca sĩ trong nhóm đóng góp cho chương trình văn nghệ đa dạng, phong phú vì vậy việc tổ chức dễ dàng.

    Hơn ba thập niên làm báo, tôi đã tham dự nhiều lần sinh hoạt nhưng với nhóm nầy tôi cảm thấy sự đồng tình, thân thiện “mỗi người một tay” cùng nhau góp sức và tài chánh cho việc chung, rất quý. Với tinh thần tự nguyện và tự lập nên nhóm NVNT & TTG đã đóng góp nhiều lần sinh hoạt không bị tai tiếng…

    Trở lại với nhà văn Nguyễn Quang, với tác phẩm Một Giấc Mơ (2013, RMS tại Thư Viện Việt Nam, tháng 5/2014) ông cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.

    Hình bìa tác phẩm với cô gái mặc  áo dài trắng với một bông hồng, tôi rất thích.

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa là người Cần Thơ, khi giới thiệu tác giả đã nhắc đến phu nhân của tác giả là nhà thơ Minh Ðức Hoài Trinh mà ông rất ngưỡng phục từ lâu nay. Nhắc đến tác phẩm của Nguyễn Quang được ra mắt, ông nói: “Một Giấc Mơ” của Nguyễn Quang là một giấc mơ không chỉ của cá nhân tác giả, mà là một giấc mơ vừa thương đau vừa thơ mộng của cả một dân tộc, lồng trong một cuộc tình của đôi nam nữ thời chinh chiến”

    Nhà giáo Lưu Trung Khảo nói: “Nhà văn Nguyễn Quang, xuất ngoại, xa đất nước từ năm 1950, hết ở Pháp, đến ở Anh rồi qua Hoa Kỳ mà vẫn còn nhớ đến tiếng Việt, không chỉ nhớ mà còn viết nên những tác phẩm cho các thế hệ sau muốn tìm hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của đất nước. Văn ông viết xuất sắc. Ngôn ngữ Việt Nam mà còn tồn tại được là chính từ những nhà văn của chúng ta còn sáng tác. Là một nhà giáo, tôi xin được trân trọng cảm ơn sự đóng góp của nhà văn Nguyễn Quang vào kho tàng văn học Việt Nam hải ngoại”

    Tuy xa quê hương hơn bảy thập niên, nhà văn Nguyễn Quang vẫn luôn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc. Đó cũng là tâm thức của nữ sĩ MĐHT, cùng tâm hồn, đồng cảm, lý tưởng với nhau cuộc tình.

    Hiện nay, theo tôi, chỉ có nhóm NVNT & TTG mới đủ tài liệu và gần gũi nhà văn Nguyễn Quang để thực hiện tác phẩm Nhà Văn Nguyễn Quang, Cuộc Đời, Tình Yêu & Sự Nghiệp để góp mặt trong văn đàn Việt Nam hải ngoại.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon , June 12, 2024

    From Giáo Sư Trần Huy Bích

    Tôi xin góp thêm một ý: Chúng ta không nên quên sự kiện từ nhiều năm nay, nhà văn Nguyễn Quang vẫn tích cực hoạt động trong Mạng Lưới Nhân Quyền VN (Vietnam Human Rights Network):

    (Vietnam Human Rights Network.
    vietnamhumanrights.net/viet/aboutus.htm

    Tố chức này theo dõi và lên tiếng mạnh mẽ mỗi khi nhà cầm quyền CS vi phạm, rồi đàn áp những tiếng nói bênh vực cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở trong nước, soạn các bản Báo cáo hàng năm về tình trạng nhân quyền ở VN, và cấp Giải thưởng cho những chiến sĩ tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền.

    Trong tổ chức này, nhà văn Nguyễn Quang giữ chức vụ Thủ Quỹ. Có nghĩa nếu chúng ta (hay bất cứ ai) ký một chi phiếu để ủng hộ các hoạt động của Mạng Lưới Nhân Quyền, thì người thay mặt tổ chức ấy ký bức thư cám ơn chúng ta, không ai khác hơn là nhà văn Nguyễn Quang:

    vietnamhumanrights.net/English/aboutus.htm

    vietnamhumanrights.net/viet/aboutus.htm

  • Sinh Hoạt,  Tin tức,  Vương Trùng Dương

    Nhà Văn Nguyễn Quang, Văn Chương & Cuộc Tình Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh

    Chiều Thứ Sáu, 17/5/2024, nhân ngày giỗ cố nhạc sĩ Lam Phương tại tư gia Minh Khai (em gái Lam Phương) thành phố Fountain Valley, Nam California. Vì trong tình thân hữu nên chỉ có ít thân hữu và Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tham dự.

    Nhà văn Nguyễn Quang và tôi ra sân sau trò chuyện, ông cho biết sẽ thực hiện hồi ký lịch sử viết tiếng Anh vì cuộc đời đã trải qua giai đoạn thăng trầm từ thập niên 1940’ cho đến nay qua tám thập niên. Tôi nghĩ tác phẩm nầy sẽ có giá trị vì tác giả là chứng nhân thời cuộc ghi lại từ trong nước đến hải ngoại.

    Cuối tháng 5/2024, người bạn gợi ý với tôi việc thực hiện tuyển tập (tổng quát) với các nhà văn, nhà thơ lão thành trên chín mươi tuổi còn sống và sáng tác vào năm 2025 để đánh dấu nửa thế kỷ văn học hải ngoại. Đây là ý kiến hay, ở Mỹ đã có chúng tôi và sẽ liên lạc với vài bạn văn phương xa.

    Ở Little Saigon, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thọ 103 tuổi, lúc trên 90 tuổi vẫn còn sáng tác. Nữ sĩ Dương Hồng Anh, 93 tuổi ra mắt thi phẩm thứ 12 Những Gì Để Nhớ vào mùa xuân 2024… Nhà văn Nguyễn Quang (phu quân cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh) ở tuổi 93 vẫn còn minh mẫn, viết lách và sẽ ấn hành tác phẩm. Khi bạn tôi vào Google tìm “nhà văn Nguyễn Quang” thì không biết gì cả! Tôi cảm thấy đây là sự thiếu sót của chính bản thân và vài bạn cầm bút quen biết khi viết về nhà văn Nguyễn Quang mà không phổ biến rộng rãi trên các websites với nhà văn đã một thời dấn thân cho văn nghiệp nhưng bản tính khiêm nhường và chỉ quan tấm đến người bạn đời (tác phẩm và cuộc sống) nên có lẽ phần nào bị “đóng khung” trong sự nghiệp văn chương.

    Tháng 6/2024 là ngày giỗ nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (nhà báo, nhà thơ, nhà văn) nên nhân dịp nầy tôi viết về cuộc tình của bà với nhà văn Nguyễn Quang. Nữ sĩ MĐHT nổi tiếng từ trong nước đến hải ngoại, và cũng là người phục hồi lại Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nên tên tuổi bà được mọi người biết đến nhưng “Đằng sau một người đàn bà thành công luôn có bóng dáng người đàn ông” ở trường hợp nầy. Trong thời gian qua, tôi thấy có vài tác phẩm về văn học hải ngoại không đề cập đến các tác giả đã hiện diện trong những thập niên qua (ngay cả nhà văn Linh Bảo).

    Hơn mười năm qua, tôi không còn phụ trách mục sinh hoạt văn nghệ cho tờ báo nên ít tham dự trong những buổi ra mắt sách, ngoại trừ tác giả thân quen và trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời Gian (nhưng có các bài viết của Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My…)

    Nhà văn Nguyễn Quang đã ấn hành nhiều tác phẩm và đã từng ra mắt sách (RMS) nhưng đến năm 2022, tôi mới ghi nhận: RMS Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân.

    (Trích): “Ban Tổ Chức Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức buổi RMS hai tác phẩm Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang tại hội trường Thư Viện Việt Nam, thành phố Garden Grove. Nhà văn Nguyễn Quang là phu quân nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017). Tuy bước sang tuổi 90 nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn khỏe mạnh và hoàn thành hai tác phẩm thứ 8 & 9: Phận Đàn Bà & Ôn Cố Tri Tân.

    Nhà văn Nguyễn Quang (Nguyễn Quang Huy) sinh quán tại Phú Nổ, làng Khánh Hưng, Tỉnh Sóc Trăng, du học tại Pháp từ năm 1950, đỗ Cử Nhân Toán. Năm 1955-1962, theo học tại đại học Cambridge ở Anh, đỗ Cao Học Kinh Tế (nay gọi là Thạc Sĩ). Ông trở lại Pháp, làm việc cho nhiều nhà xuất bản tuần báo ở Paris. Ông làm phó chủ bút cho tờ Paris Match…

    Tuy xa quê hương gần bảy thập niên nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc. Cũng vào thời điểm nầy, Chủ Nhật, 13/4/2014 tại hội trường Thư Viện Việt Nam, nhân dịp sinh nhật 83 tuổi, nhà văn Nguyễn Quang đã ra mắt tác phẩm Một Giấc Mơ. Nhà văn Nguyễn Quang cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.

    Trong tác phẩm Phận Đàn Bà (“Đau đớn thay phận đàn bà” – Nguyễn Du), nhà văn Nguyễn Quang đã khéo léo trong việc sử dụng những hình ảnh, ngôn ngữ, hoàn cảnh để so sánh, để ví von. Lời văn ẩn dụ những sinh hoạt quen thuộc hàng ngày trong một gia đình tưởng như hoàn mỹ, để truyền tải sâu sắc ý tưởng của mình. Đọc tác phẩm Phận Đàn Bà cho chúng ta ba ý niệm khác nhau, cả ba phần đều đề cặp đến cuộc đời, danh phận cũng như sự kiên nhẫn, nhịn nhục và chịu đựng của người đàn bà.

    Phần một thuộc thể loại tình cảm xã hội về một gia đình được coi là lý tưởng nhưng lại trải qua nhiều uẩn khúc như sự giằng co giữa lương tâm nghề nghiệp, bổn phận với vợ con và trách nhiệm với người tình.

    Trong phần thứ hai thì lại đặt nặng về phần văn hóa xoay quanh những tranh luận về phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia. Phần này rất có ích cho những ai muốn học hỏi, nghiên cứu để mở mang kiến thức.

    Phần thứ ba là những câu chuyện qua từng mẩu chuyện mà tác giả đã thu nhận được từ bạn hữu, từ những mẩu chuyện “đàn ông đàn bà”, những chuyện do “mắt thấy tai nghe“, được ông ghi lại trên trang giấy. Trong từng mẩu chuyện, với tâm hồn nhận bản, phác thảo bức tranh về nhân tình thế thái…

    Về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang ôn lại lịch sử nước Việt, từ thời Hồng Bàng với các vị vua Hùng Vương, rồi qua các triều đại Lý, Lê, Trần, Nguyễn… đất nước ta trải qua ngàn năm Bắc thuộc, gần 100 năm Pháp thuộc, chiến tranh Quốc Cộng, thời CSVN thống trị…

    Thành ngữ “Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ” (ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay). Tác giả gợi lại bài học lịch sử từ thời lập quốc trải qua các thời kỳ Bắc thuộc từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên đến thế kỷ mười lăm sau công nguyên với các bậc anh thư, anh hùng dân tộc yêu nước đã đứng lên chống trả quân xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc với những sĩ phu yên nước dân thân cho đại cuộc… Thời kỳ Cộng Sản xâm nhập cho đến hiện tại với thảm họa như quá khứ… Với tinh thần bất khuất của người dân Việt, noi gương những bậc tiền nhân để xây dựng lại trang sử vàng son.

    Tác phẩm văn chương mang tâm huyết của người Việt lưu vong cho thế hệ hiện tại và các thế hệ tiếp nối có giá trị về bài học lịch sử Việt Nam suy ngẫm để xây dựng đất nước trong tương lai thanh bình, thịnh vượng.

    Những bài học từ quá khứ để suy nghiệm hiện tại. Trước đây, tôi có giới thiệu khái quát về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân, trong đó có nhắc đến: “Cụ Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942) tự Ôn Như là nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam. Tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ. Quyển Cổ Học Tinh Hoa (cùng Trần Lê Nhân) ấn hành năm 1928 đến nay gần một thế kỷ vẫn được ấn hành và lưu truyền. Hai vị biên soạn đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu những tinh hoa của nền cổ học phương Đông. Với 250 mẩu chuyện liên quan trong cuộc sống, con người, cách xử sự sao cho phù hợp với từng nơi từng lúc. Có thể nói đó là cuốn sách “dạy làm người” để biết nhìn nhận “cái xưa” để xử thế “cái nay” mà qua từng mẩu chuyện với lời bàn rất hữu ích.

    Nhà văn, dịch giả Mộng Bình Sơn (1923–2011) đã viết nhiều tác phẩm, trong đó có quyển Ôn Cố Tri Tân gồm 3 tập, ấn hành năm 1967, Sống Mới xuất bản tại Sài Gòn. Dẫn chứng hai quyển sách của người xưa của nước ta về Ôn Cố Tri Tân vẫn còn giá trị trong cuộc sống. Sau nầy nửa thế kỷ ở hải ngoại, tác giả Nguyễn Quang nay ở tuổi chín mươi mốt vẫn mang hoài bão của bậc cao tuổi nơi quê người qua tác phẩm…

    Trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang như Nhập Gia (2007), Ông Giáo Làng (2009), Ốc Mượn Hồn (2012), Một Giấc Mơ (2013), Ngoại Tình (2016), Thần Giao Cách Cảm (2017), Ôn Cố Tri Tân (2020) và Phận Đàn Bà (2022)… có vài tác phẩm đã RMS ở Trung Tâm Minh Đức và Thư Viện Việt Nam, Little Saigon.

    Cuộc Tình cùng Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh

    Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh (MĐHT) tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó biết sự lợi dụng của phong trào, bà bỏ về Huế tiếp tục học. Năm 1964, bà du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Á Đông La Sorbonne, Paris. Năm 1967, bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF (Office de la Radiodiffusion et Television Francaise, tiền thân đài RFI hiện nay), làm phóng sự nhiều nơi như Algérie (Bắc Phi) và Việt Nam.

    Năm 1972, bà được cử theo dõi và tường thuật Hòa Đàm Paris. Năm 1973, bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, từ năm 1974 đến năm 1975. (Hai bài thơ của bà được Phạm Duy phổ thành ca khúc Kiếp Nào Có Yêu Nhau & Đừng Bỏ Em Một Mình. Ngoài ra nhạc sĩ Võ Tá Hân, cháu gọi cô, phổ những bài thơ qua ca khúc Mẹ bảo ta đừng nhìn qua cửa sổ, Mẹ bảo, Nhớ mẹ, Thức thêm một giờ nữa, Viết bài thơ này… Bài thơ Ai Trở Về Xứ Việt  (1962) do Phan Văn Hưng phổ nhạc cũng nổi tiếng).

    Sau biến cố tang thương 1975, bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí Hồn Việt Nam và trở lại cộng tác với đài ORTF. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhận tư cách hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế vào năm 1979. Với các tác phẩm của MĐHT như Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang, Paris 1976)… với sữ hỗ trợ của phu quân.

    Mùa Xuân năm 1971, MDHT làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp (một trong những đài truyền hình lâu đời nhất thế giới), mời nhà văn Nguyễn Quang tới phỏng vấn trên đài. Từ buổi gặp gỡ đó, có sự đồng cảm với nhau.

    Khi trở lại trong Hiệp Định Paris, trong tinh thần yêu nước của người Việt và nhóm sinh viên lúc tranh đấu cho Việt Nam Cộng Hòa, cùng lý tưởng, hai trái tim họ gặp nhau.  Vì công việc bà trở lại Sài Gòn, năm 1975 định cư tại Paris, nhà văn Nguyễn Quang và nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh nên duyên vợ chồng (trước đó ông và bà đã có con riêng).

    Năm 1980, nhà văn Nguyễn Quang sang Mỹ với người bạn đời Minh Đức Hoài Trinh (các con ở lại Pháp). Với bằng cấp chuyên môn ở Anh, ông tiếp tục với lãnh vực nầy. Với hoài bão sáng tác của nữ sĩ MĐHT, ông tận tình thực hiện và phổ biến. Những tác phẩm của nữ sĩ MĐHT đều do phu quân thực hiện như Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư I (tái bản 1987), Niệm Thư II (1988), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990), Bất Đáo Trường Thành Phi Hảo Hán (1990), Ngõ Trúc (1997), Chính Khí Của Người Cầm Bút (2014)… nhất là tác phẩm Văn Nghiệp & Cuộc Đời của Minh Đức Hoài Trinh, RMS tại Hội trường nhật báo Người Việt ngày 17/9/2005, tác phẩm nầy được RMS ở các nới khác (bà không viết hồi ký nên tác phẩm nầy với công việc biên soạn của ông đóng góp cho nền văn học). Ông viết: “

    Nhà văn Nguyễn Quang chia sẻ về người bạn đời:

    “Trong lúc tôi soạn đọc một số lớn tư liệu của Minh Đức Hoài Trinh, ngẫu nhiên tìm ra một mảnh giấy nhỏ viết tay viết từ ngoài chiến trường, dù bị gián đoạn, chỉ có một vài dòng nhưng tôi cảm nhận được tâm tư xót xa của một ký giả chiến trường, tôi rất xúc động nên muốn chia xẻ cùng quí độc giả như sau:

    “Mùi hôi không cản được tình thương”, Minh Đức Hoài Trinh.

    “Đi đếm xác chết đó là một công việc tôi hay làm trong những năm hành nghề ký giả. Ai nghe nói cũng nhắm mắt rùng mình, kêu ghê, kêu sợ, kêu eo ôi gì mà kinh thế. Nhưng mỗi người, nhất là mỗi đứa sống với cái nghề cầm bút thường mang một chứng điên khác nhau riêng biệt. Ở giai đoạn chiến tranh lịch sử nầy mà không cầm súng ra trận thì cũng phải làm một cái gì. Nói cầm súng ra trận không phải là tại thích nhìn cảnh bắn giết nhau, nhưng để nghe những tiếng khóc của chính trong lòng mình. Khóc người đang quằn quại, đang gục ngã, đang hấp hối. Đi tìm cảm giác lạ, mỗi người “viết sĩ đi tìm một nẻo khác nhau, bên bàn đèn, trong cánh tay, mái tóc tình nhân, trong hộp đêm trong điệu nhạc, hoặc là những đứa như tôi, thẩn thờ quanh quẩn bên mấy cái xác chết. Tại sao tôi không đi tìm cảm hứng ở những nơi khác, chính tôi cũng có lần đặt câu hỏi tại sao?

    Có lẽ vì tò mò muốn nhìn xem những cái xác ấy mới hôm qua còn thơm sạch, còn cười nói, ăn uống, những sự học hỏi, suy nghĩ, những lời đùa vui dí dỏm mới ngày hôm trước đã phát ra từ cái mắt cái miệng ấy. Thế rồi chỉ một tiếng nổ, một lát gươm, tất cả đều tiêu tan, không phải được thành mây khói…“. “

    Minh Đức Hoài Trinh lặn lội săn tin trên các vùng lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, ghi nhận những sự kiện giao tranh mất còn, từ miền Nam ra miền Trung. Miền Trung là nơi sinh quán và miền Nam là nơi trú quán.

    Sau những cuộc chiến có những tử sĩ con yêu của miền Nam Việt Nam hay những chàng trai thế hệ của QLVNCH đã vĩnh viễn ra đi vì bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn”, trong bài viết “Mây Trên Đèo Hải Vân”, Minh Đức Hoài Trinh viết: “Trực Thăng từ từ hạ cánh chúng tôi trở về phòng đợi. Đợi mây tan nhận nụ cười an ủi trên môi người phi công kiên nhẫn, chỉ có thế không có cách gì khác. Mãi đến hai giờ chiều chúng tôi trở lên trực thăng. Chiếc áo quan vẫn còn nằm đấy, y nguyên…

    Mây đã chịu tan bớt đi trên đỉnh đèo, trực thăng đã đủ sức vượt qua làn mây. Phi trường Phú Bài không mở chúng tôi đỗ ở phi trường Đại Nội trong thành Huế.

    Trước khi ra khỏi phi cơ tôi quay lại nhìn cái hòm, nhìn cái hòm lần cuối cùng, nhìn người chết, nhìn lá cờ VNCH, thì thầm một lời vĩnh biệt. Anh ngủ cho yên và lá cờ hãy che chở cho anh”, Minh Đức Hoài Trinh.

    Trong tác phẩm Ngoại tình của ông với câu chuyện tình rất lãng mạn, đẹp trích vài câu thơ tiếng Pháp để nói về tình yêu. Cuộc tình của ông, từ khi gặp nhau ở Pháp và sang Hoa Kỳ cũng vậy nhưng không ghi lại. Những năm cuối đời, nữ sĩ MĐHT ốm yếu, bệnh hoạn được phu quân tận tình chăm sóc cho đến khi bà về cõi vĩnh hằng. có người cho rằng nữ sĩ MĐHT nổi tiếng, “cây đại thụ” với ông (?) nhưng với tôi, ông chính là “cây đại thụ” chăm sóc cho những tác phẩm của bà qua những thập niên xuất hiện trên văn đàn hải ngoại. Ông chính là bạn văn, bạn đời tận tụy, thủy chung trong cuộc sống.

    Nhà Văn Nguyễn Quang & NVNT – TTG

    Khoảng mười năm nay, nhà văn Nguyễn Quang sinh hoạt với Nhân Ảnh Tân Văn và sau nầy thành Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Với tuổi già tham gia cùng bạn trẻ (theo tuổi tác của ông) là niềm vui và cũng là niềm khích lệ trong sinh hoạt đời sống và văn nghệ. Mọi cuộc sinh hoạt trong nhóm nầy đều có sự hiện diện của ông. Khi nữ sĩ Minh Dức Hoài Trinh qua đời (chiều Thứ Sáu, 9 tháng Sáu, tại bệnh viện Huntington Valley Healthcare Center, Huntington Beach. Hỏa táng tại Peek Funeral Home, Chủ Nhật 25/6). Để an ủi nỗi buồn sống cô đơn của ông, nhóm nầy cũng thường đến hội ngộ tại tư gia của ông (tôi nhớ khoảng cuối năm 1990, vài lần ghé ngôi nhà của ông bà có hàng trúc phía trước nên gọi là “đường trúc thư quán” sau nầy chuyển về khu người già gấn đó cũng thuộc Midway City – Thị Trấn Giữa Đàng).

    Theo nhà văn Việt Hải con chim đầu đàn, trong phần phát biểu và cám ơn quan khách, ông đã chia sẻ như sau: “Nói đến nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, năm 2015 khi đó chúng tôi chỉ có 5 người. Tôi, GS Trần Mạnh Chi, HS Lưu Anh Tuấn, Ngô Thiện Ðức và Lý Tòng Tôn. Ngày nay, bao gồm thành viên và các thân hữu ở khắp nơi chúng tôi có khoảng 4, 5 trăm người. Chủ trương chính của chúng tôi tập trung trên hai mảng văn học nghệ thuật và âm nhạc. Bên VHNT thì lo về in ấn, tưởng niệm và ra mắt sách của một số các nhà văn nổi tiếng và một số đã khuất núi. Bên Tiếng Thời Gian lo phần âm nhạc cho các buổi ra mắt sách. Ngoài ra chúng tôi cũng thành lập một khoá giảng dạy âm nhạc căn bản cho thành viên của nhóm…”

    Nhà ăn Khánh Lan, người đảm trách blogpot NVNT & TTG từ tháng 5/2018 cho đến nay đã phổ biến vài trăm bài viết, sơ lược các sinh hoạt trong quá khứ của nhóm như tổ chức các buổi ra mắt sách của các văn, thi, nhạc sĩ… vinh danh và chúc thọ các vị tiền bối, tổ chức các buổi party và mừng sinh nhật.

    Trong 9 năm qua, mỗi năm thường tổ chức 5, 6 lần từ Tất Niên đến Giáng Sinh trong đó có vài lần ra mắt sách, sinh nhật, chúc thọ… Với “cây nhà lá vườn” nhiều ca sĩ trong nhóm đóng góp cho chương trình văn nghệ đa dạng, phong phú vì vậy việc tổ chức dễ dàng.

    Hơn ba thập niên làm báo, tôi đã tham dự nhiều lần sinh hoạt nhưng với nhóm nầy tôi cảm thấy sự đồng tình, thân thiện “mỗi người một tay” cùng nhau góp sức và tài chánh cho việc chung, rất quý. Với tinh thần tự nguyện và tự lập nên nhóm NVNT & TTG đã đóng góp nhiều lần sinh hoạt không bị tai tiếng…

    Trở lại với nhà văn Nguyễn Quang, với tác phẩm Một Giấc Mơ (2013, RMS tại Thư Viện Việt Nam, tháng 5/2014) ông cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.

    Hình bìa tác phẩm với cô gái mặc  áo dài trắng với một bông hồng, tôi rất thích.

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa là người Cần Thơ, khi giới thiệu tác giả đã nhắc đến phu nhân của tác giả là nhà thơ Minh Ðức Hoài Trinh mà ông rất ngưỡng phục từ lâu nay. Nhắc đến tác phẩm của Nguyễn Quang được ra mắt, ông nói: “Một Giấc Mơ” của Nguyễn Quang là một giấc mơ không chỉ của cá nhân tác giả, mà là một giấc mơ vừa thương đau vừa thơ mộng của cả một dân tộc, lồng trong một cuộc tình của đôi nam nữ thời chinh chiến”

    Nhà giáo Lưu Trung Khảo nói: “Nhà văn Nguyễn Quang, xuất ngoại, xa đất nước từ năm 1950, hết ở Pháp, đến ở Anh rồi qua Hoa Kỳ mà vẫn còn nhớ đến tiếng Việt, không chỉ nhớ mà còn viết nên những tác phẩm cho các thế hệ sau muốn tìm hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của đất nước. Văn ông viết xuất sắc. Ngôn ngữ Việt Nam mà còn tồn tại được là chính từ những nhà văn của chúng ta còn sáng tác. Là một nhà giáo, tôi xin được trân trọng cảm ơn sự đóng góp của nhà văn Nguyễn Quang vào kho tàng văn học Việt Nam hải ngoại”

    Tuy xa quê hương hơn bảy thập niên, nhà văn Nguyễn Quang vẫn luôn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc. Đó cũng là tâm thức của nữ sĩ MĐHT, cùng tâm hồn, đồng cảm, lý tưởng với nhau cuộc tình.

    Hiện nay, theo tôi, chỉ có nhóm NVNT & TTG mới đủ tài liệu và gần gũi nhà văn Nguyễn Quang để thực hiện tác phẩm Nhà Văn Nguyễn Quang, Cuộc Đời, Tình Yêu & Sự Nghiệp để góp mặt trong văn đàn Việt Nam hải ngoại.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon , June 12, 2024

    From Giáo Sư Trần Huy Bích

    Tôi xin góp thêm một ý: Chúng ta không nên quên sự kiện từ nhiều năm nay, nhà văn Nguyễn Quang vẫn tích cực hoạt động trong Mạng Lưới Nhân Quyền VN (Vietnam Human Rights Network):

    (Vietnam Human Rights Network.

    vietnamhumanrights.net/viet/aboutus.htm

    Tố chức này theo dõi và lên tiếng mạnh mẽ mỗi khi nhà cầm quyền CS vi phạm, rồi đàn áp những tiếng nói bênh vực cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở trong nước, soạn các bản Báo cáo hàng năm về tình trạng nhân quyền ở VN, và cấp Giải thưởng cho những chiến sĩ tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền.

    Trong tổ chức này, nhà văn Nguyễn Quang giữ chức vụ Thủ Quỹ. Có nghĩa nếu chúng ta (hay bất cứ ai) ký một chi phiếu để ủng hộ các hoạt động của Mạng Lưới Nhân Quyền, thì người thay mặt tổ chức ấy ký bức thư cám ơn chúng ta, không ai khác hơn là nhà văn Nguyễn Quang:

    vietnamhumanrights.net/English/aboutus.htm

    vietnamhumanrights.net/viet/aboutus.htm
  • Âm nhạc,  Khánh Lan

    DÒNG NHẠC BOLÉRO

    BOLERO VÀ NGUỒN GỐC

    Sánchez (guitar, left) and Emiliano Blez (tres) with three singers (standing)

    Bolero là một thể loại âm nhạc, kèm theo nhạc cụ và khiêu vũ, bắt nguồn từ thành phố Santiago de Cuba và lan rộng khắp Cuba. Santiago là một thành phố phía đông nam đảo quốc Cuba, nơi thịnh hành những nghệ sĩ du ca dùng guitar đàn hát để lưu diễn và kiếm sống trong ba thập niên cuối của thế kỷ 19.  Những sáng tạo đầu tiên của bolero đều từ Santiago. Một trong những người tiên phong, chủ xướng, định hình phong cách đặc trưng cho bolero là Pepe Sánchez (1856 – 1918), một nghệ sĩ – thầy giáo, người đã sáng tác bản bolero đầu tiên Tristezas (Những niềm đau) vào khoảng năm 1883.

    Pepe Sánchez (1856 – 1918)

    Với giai điệu sang trọng, tinh tế, những bài bolero với sức hấp dẫn của âm nhạc nhảy chậm buồn và lãng mạn, giai điệu bolero nhanh chóng lan truyền sang Mexico và các quốc đảo ở vùng Caribe cũng như các quốc gia Nam Mỹ như Brazil, Argentina, Colombia, Chile, Venezuela, Ecuador, Bolivia và Tây Ban Nha.

    Thời kỳ hoàng kim của bolero ở các quốc gia Mỹ Latin bắt đầu từ những năm 1930 và kéo dài liên tục trong suốt ba thập kỷ, với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Antonio Machin, cặp song ca Los Compadres (Cuba), nhóm nhạc Los Panchos, Los Hermanos Martínez Gil và Trío Tarácuri, Agustín Lara (Mexico),… , Lucho Gatica (Chile)… Thời kỳ này, bolero cũng ảnh hưởng sang thế giới nói tiếng Anh, được biểu diễn bởi nhiều nghệ sĩ Mỹ như: Bing Crosby, Nat King Cole hay Frank Sinatra.

    Bolero du nhập vào các quốc gia vùng Caribe và Nam Mỹ được đón nhận nồng nhiệt bởi nó gần gũi với kiểu chơi nhạc lãng mạn, trữ tình và phóng khoáng của người Mỹ Latin và đương nhiên Bolero trở thành âm nhạc của quần chúng. Những bản bolero nổi tiếng bậc nhất thế giới, minh chứng cho những đỉnh cao và sự bền bỉ của một trong những dòng nhạc đứng vững như một biểu tượng văn hóa đại chúng của các nước Mỹ La Tinh. Theo hai tác giả Lisa Shaw, Stephanie Dennison của cuốn sách Pop Culture Latin America: Media, Arts, and Lifestyle (Văn hóa đại chúng Mỹ La Tinh: Truyền thông, Nghệ thuật và Lối sống), hầu hết giới nghiên cứu cho rằng nhạc bolero xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 19. Những bài bolero đầu tiên khởi sinh từ Cuba, nhanh chóng lan tỏa sang các đảo quốc ở vùng biển Caribbean và Mexico.

    THĂNG TRẦM CỦA TRĂM NĂM

    Nhạc sĩ hai nước Cuba và Mexico có công phát triển bolero, biến tấu nó với các giai điệu tương tự viết theo phép ký âm 4/4, tạo ra một dòng nhạc bolero mới; xôn xao hơn, rực rỡ hơn, lãng mạn hơn và đậm chất Latin. Dòng nhạc bolero này bao gồm các điệu bolero, rumba, rumba bolero, mambo, calypso, baiao; kể cả tango, tango habanera, chachacha. Mẫu số chung là kiểu viết nhạc 4/4 tương tự nhau; chỗ khác nhau là cách thức biểu diễn ca khúc.

    Như các thể loại khác, bolero được cho là từ một điệu nhạc nhảy theo nhịp ¾ ở Tây Ban Nha vào thế kỷ 18, nhưng điệu bolero mới này đã thay đổi nhịp thành 2/4, và sau đó là nhịp 4/4. Tuy nhiên, nó cũng bị pha trộn bởi nhiều điệu nhạc gốc Châu Âu và Châu Phi như danza, habanera, trova, son bởi tiếng đệm đàn guitar ảnh hưởng lên giai điệu.

    Los Panchos là một trong những nhóm nhạc bolero nổi tiếng khu vực châu Mỹ La tinh vào những năm 30 của thế kỷ 20. Những bản tình ca sang đã làm rung động hàng triệu con tim như “Besame Mucho”, “Guantanamera”, “My Heart Will Go On” hay thậm chí “Yesterday” của nhóm nhạc lừng danh. Có lẽ bản bolero nổi tiếng nhất trong lịch sử chính là Bésame mucho (Hãy hôn em thật nhiều, 1941), được nữ nghệ sĩ người Mexico Consuelo Velásquez sáng tác vào năm cô chỉ mới 15 tuổi.

    BOLERO TẠI VIỆT NAM

    Bolero du nhập vào Việt Nam, khoảng đầu thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Nhiều nhạc sĩ bắt đầu sử dụng giai điệu phương Tây thay cho giai điệu truyền thống. Nền tân nhạc của Việt Nam đã nhanh chóng thẩm thấu giai điệu bolero và biến nó thành một dòng nhạc tình ca. Bolero được sử dụng phổ biến nhất trong các bài nhạc tại miền Nam Việt Nam, và trở thành một phần quan trọng của văn hóa âm nhạc dân gian Việt Nam.

    Đặc điểm của điệu Bolero trên thế giới được các nhạc sĩ áp dụng sáng tác trong cả nhạc cổ điển lẫn nhạc đại chúng. Ở Việt Nam, bolero được áp dụng để sáng tác cho loai nhạc nhẹ bởi khi Bolero du nhập vào Việt Nam được Việt hóa cho hợp với lối nói phát âm của người Việt. Boloro Việt Nam hát theo kiểu truyền thống, ngân rung, làm cho bài hát trở nên vừa dễ hát, vừa dễ thuộc. Ngoài ra nó còn rất hợp với chất cải lương, để hát tân cổ giao duyên.

    ĐẶC ĐIỂM QUAN TRỌNG CỦA NHỮNG BÀI HÁT VIẾT BẰNG ĐIỆU BOLERO VIỆT NAM LÀ:

    • Nhiều bài hát mang đậm chất dân ca Nam Bộ.
    • Giai điệu cấu trúc đơn giản, tiết tấu đều đều, chậm, thường là nhịp 4/4, ít biến đổi nhịp, ít quãng cao, dễ hát, khi hát thường luyến láy, cho mềm mại và mùi mẫn.
    • Lời ca bình dân, có nhiều vần và dễ thuộc, dễ nhớ.
    • Có các đặc điểm như khái quát, buồn.

    Nhạc Bolero rất phổ biến tại miền Nam Việt Nam, và trở thành một phần quan trọng của văn hóa âm nhạc dân gian Việt Nam. Một nhạc sĩ tài hoa kiêm nhà nghiên cứu âm nhạc đã thành công bài rumba bolero đầu tiên, và trở thành bài tình ca nổi tiếng trong thế kỷ 20. Đó là nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ca khúc Nắng chiều, NS Anh Hoa là người đã nối gót NS Lê Trọng Nguyễn với ca khúc “Trăng phương Nam”, và tiếp theo là “Chiều trong rừng thẳm” của Anh Việt sáng tác trước 1954.

    NẮNG CHIỀU QUA THỂ LOẠI BOLERO

    Nắng Chiều là tên của một nhạc phẩm nổi tiếng của NS Lê Trọng Nguyễn viết trước năm 1950 và hoàn tất năm 1953. NS Lê Trọng Nguyễn với bài tình ca viết dưới thể điệu rumba bolero đầu tiên có sức chinh phục, cuốn hút người nghe đã đem đến một sự thành công vượt bực bởi những ca từ trong Nắng chiều giàu tính văn học, giàu chất thơ, nhẹ nhàng và lãng mạn. Nó thoát ra hẳn phong cách xôn xao, rực rỡ và khá nhanh của dòng bolero Mỹ Latin; tạo nên một phong cách bolero Việt Nam chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo). Nắng chiều với phong cách rumba bolero đã trở thành bài tình ca đẹp của thế kỷ thứ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Nắng chiều không chỉ chinh phục khán thính giả Việt mà còn vươn ra ngoài biên giới.

    • Nhạc phẩm Nắng Chiều được các nhà xuất bản An Phú (Sài Gòn), Tinh Hoa Sài Gòn và Huế in ra nhiều lần thành bài rời; mỗi lần in khoảng 3.000 bản.
    • Ca khúc Nắng Chiều được thu thanh lần đầu tiên năm 1953 bằng đĩa do Hãng đĩa Việt Nam (Sài Gòn) sản xuất với tiếng hát của danh ca Minh Trang và NS Lê Trọng Nguyễn là người đã soạn hòa âm và phối khí cho dàn nhạc chơi bài này.
    • Năm 1958, nữ ca sĩ Nhật Bản Satsuki Midori gặp Lê Trọng Nguyễn và đã dịch bài hát sang tiếng Nhật với tựa đề Việt Nam tình ca, thu thanh ở Tokyo. Cũng trong năm 1958, nhạc sĩ Nguyễn Hiền là người điều hợp viên chương trình văn nghệ của Hội Chợ Thị Nghè, ông đã giới thiệu nhạc phẩm này với Midori Satsuki trong đoàn Ca Vũ Nhạc Nhật Bản Toho và mời cô sang trình diễn lần đầu tiên tại Hội Chợ liên tiếp trong hai tuần lễ.
    • Năm 1960, nữ ca sĩ Đài Loan Kỷ Lộ Hà cũng đã hát và thu thanh bài Nắng Chiều bằng tiếng Quan thoại, tựa đề là Tịch dương hay Việt Nam Tình Ca hay Nam Hải Tình Cado Thận Chi đặt lời. Nhạc phẩm này đã được dân chúng Đài Loan và Hồng Kông đón nhận nồng nhiệt cũng như báo chí tại hai nơi này đăng tin Nắng Chiều là một trong những bài tình ca hay nhất.
    • Sau đó, Nắng chiều còn được dịch qua tiếng Anh, tiếng Thái, tiếng Khmer và trở thành một bài Á châu tình ca!
    • Năm 1971, bài hát là nguồn cảm hứng cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Mộng Hoàng.
    • Ngày 20 tháng 8 năm 2005, “Nắng Chiều” được nữ ca sĩ trẻ Doanh Doanh trình bày bằng tiếng Trung Hoa trong chương trình video có thu hình của trung tâm Asia tại thành phố Houston.
    • Sau này,Nắng chiều được phát liên tục trên Đài phát thanh Sài Gòn, Đài Pháp Á và Đài phát thanh Huế qua các giọng ca của các ca sĩ nổi tiếng như Quỳnh Giao, Mai Hương, Kim Tước, Hà Thanh, Anh Ngọc, Ngọc và được người yêu nhạc tán thưởng.

    VÌ SAO NHẠC PHẨM NẮNG CHIỀU TRỞ NÊN NỔI TIẾNG?

    Bởi những ca từ trong nhạc phẩm Nắng Chiều giàu tính văn học, giàu chất thơ, chứng tỏ NS Lê Trọng Nguyễn là con người từng thấu hiểu một cách sâu đậm văn chương Việt Nam. Nắng chiều được viết dưới phong cách rumba bolero và đã trở thành bài tình ca đẹp của thế kỷ thứ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Bolero Việt Nam với phong cách chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo). Sau này, Lê Trọng Nguyễn tiếp tục lối sáng tác ấy để viết hai ca khúc Bến giang đầu (Nắng chiều 2) và Chim chiều không tổ. Hai ca khúc này đều viết với cung “re trưởng” với chất bolero thật đậm nét. Ông còn là người dung hợp các điệu nhạc đặc trưng của Mỹ và đảo Hawaii như jazz, blue, boston rock, slow để viết những bài tình ca khác. Cho đến ngày nay, nhạc phẩm Nắng Chiều vẫn giữ một vị trí ưu ái trong lòng khán giả mến yêu âm nhạc và đó là những điểm son của nhạc phẩm Nắng Chiều theo dòng thời gian.

    Tóm lại, Bolero đã trở thành một phần quan trọng của nền văn hóa âm nhạc Việt. Đem đến những giai điệu và lời bài hát sâu sắc, thể hiện những cảm xúc chân thành và tình yêu đích thực. Hy vọng qua bài viết trên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nhạc bolero và những giá trị mà dòng nhạc bolero mang sắc thái bolro tình tự dân tộc Việt Nam.

    Khánh Lan sưu tầm (May 25, 2024)

  • Âm nhạc,  Khánh Lan,  Lâm Dung

    SO SÁNH TRƯỞNG VÀ THỨ

    Bài viết này để ghi nhớ đến hai vị Giáo Sư Âm Nhạc, Cao Minh Tâm và Đỗ Bằng Lăng đã bỏ rất nhiều công sức để dìu dắt chúng tôi trong lớp hòa âm niên khóa 2022-2023.

    TẠI SAO GIỌNG TRƯỞNG VUI VÀ GIỌNG THỨ BUỒN

    Thông thường trong âm nhạc chúng ta thường nghe các nhạc sĩ hay ca sĩ nói một cách vắn tắt khi phân loại hợp âm trưởng và hợp âm thứ là trưởng và thứ. Vậy thì hợp âm trưởng và hợp âm thứ có nghĩa là gì? Trong âm nhạc, khái niệm “trưởng” và “thứ” dùng để mô tả một tác phẩm âm nhạc, Trưởng và thứ thường được ký hiệu trong những bài nhạc cổ điển, đặc biệt trong việc tìm điệu tính của cả bài nhạc.

    Trong Cycle Of Fifth (Vòng Tròn Bậc 5) phân chia rõ ràng các cặp trưởng và thứ. Vậy chúng có gì khác nhau? Hay cùng chúng tôi đi tìm lời giải thích nhé.

    So sánh Âm Giai Trưởng và Thứ

    Tại sao âm giai Trưởng hay giọng trưởng lại “vui” và âm giai thứ hay giọng thứ lại “buồn” là do đâu? Mặc dù, cả 2 âm giai đều có cùng bốn nốt nhạc là 1 2 4 5 giống nhau và ba nốt nhạc khác nhau là 3 6 7. Nguyên do sự đối lập cảm xúc giữa 2 âm giai trưởng và thứ nằm trong ba nốt nhạc khác nhau này. Các nốt thứ 3, 6 và 7 ở các âm giai thứ thấp hơn nửa cung so với các âm giai trưởng. (Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần phải hiểu Âm Giai là gì? Vị trí Âm giai trưởng & âm giai thứ và Nhạc Lý Căn Bản #2)

    So sánh Hợp âm Trưởng và Thứ

    Ở đây chúng ta sẽ so sánh hợp âm 3 nốt (Triads). Hợp âm được hình thành khi bạn đánh một nốt trong thang âm, bỏ nốt liền kề ở bên phải và đánh nốt phía trên nó. Sau đó lặp lại cho đến khi bạn có hợp âm mà bạn muốn. (Để hiểu rõ hơn, bạn có thể tìm đọc bài viết về hợp âm là gì? và nó được cấu tạo như thế nào?)

    Thí dụ:

    • A major triad gồm ba nốt trong Hợp âm A (La trưởng) là A C♯ E.
    • A minor triad gồm bộ nốt trong Hợp âm Am (La thứ) là A C E. Nghe có vẻ buồn.

    Hai hợp âm chỉ khác một nốt thứ 3 là C và C#, vậy mà cảm xúc lại trái ngược nhau. Điều này tiết lộ rằng nốt bậc ba, hoặc nốt thứ 3 là thành phần kỳ diệu trong âm nhạc tạo ra các hợp âm và bậc thang âm thanh vui hoặc buồn của chúng. Vậy thì tại sao hợp âm Trưởng nghe vui tai mà hợp âm Thứ lại nghe buồn bã thế? Như 2 phần trước chúng ta thấy:

    • Âm thứ 3 trong bộ ba thứ gần với nốt gốc hơn (ba nửa cung); do đó kém hài hòa hơn, gây ra âm thanh và cảm xúc bất hòa hoặc xung đột, dẫn đến cảm xúc buồn.
    • Âm thứ 3 trong bộ ba trưởng ở xa nốt gốc hơn (bốn nửa cung); do đó, rung động hài hòa hơn, gây ra một phụ âm hay và âm thanh dễ chịu dẫn đến cảm xúc vui.

    Nốt cuối của hai bộ ba này được gọi là nốt bậc 5 hoàn hảo, do tỷ lệ toán học hoàn hảo của nó với nốt gốc. Điều này cũng đúng về quãng tám, đó là lý do tại sao nó còn được gọi là quãng 8 hoàn hảo.

    TÌM CHỦ ÂM CỦA BÀI NHẠC

    Khi nhìn vào bộ khóa ở đầu bài nhạc, ta sẽ thấy có 3 trường hợp xảy ra:

    1. Bộ khóa không có dấu thăng giảm: Chủ âm của bài có thể là Do trưởng (C) hay La thứ (Am).  
    2. Bộ khóa có dấu thăng: Từ dấu thăng cuối cùng, cộng thêm nửa cung thì sẽ có tên chủ âm trưởng, rồi từ đó đếm xuống 2 nốt sẽ có tên âm giai tương ứng là chủ âm thứ.
    3. Bộ khóa có dấu giảm: Nếu có 1 dấu giảm (Bb) thì chủ âm của bài có thể là Fa trưởng (F) hay Re thứ (Dm). Nếu có hơn 1 dấu giảm (Bbb), thì dấu giảm ngay trước dấu giảm cuối sẽ là tên của chủ âm trưởng và sau đó đếm xuống 2 nốt sẽ có tên của chủ âm ở cung thứ.

    Thực tập:

    a) Bộ khóa có 3 dấu thăng: 3 dấu thăng này theo thứ tự là Fa, Do, Sol. Dấu thăng cuối cùng là Sol (G), vậy bài này có thể ở chủ âm (Sol # cộng ½ cung là La) La trưởng (A). Cha tên là La (A) thì bà mẹ (âm giai tương ứng) là gì? Từ La, đếm xuống Sol, rồi xuống Fa (F). Phải chăng bà mẹ tên là Fa thứ? Không hẳn vậy, vì nhìn nơi bộ khóa thì sẽ thấy có dấu F# ngĩa là tất cả các nốt Fa trong bài sẽ mang dấu thăng. Do đó bài này cũng có thể thuộc chủ âm Fa thăng thứ (F#m)

    b) Bộ khóa có 2 dấu giảm: 2 dấu giảm này là Si (B), Mi (E). Dấu giảm trước cuối cùng là Si (B), nên chủ âm bài này có thể là Si giảm trưởng (Bb major) hay Sol thứ (Gm)

    Ðến đây thì bạn đã tìm ra được bài nhạc này có thể thuộc một trong 2 chủ âm. (Ðiều này tương tự như người cha (trưởng), người mẹ (thứ) trong gia đình nhưng chưa biết ai là người … “cầm quyền” trong nhà?)

    TÌM CHỦ ÂM NÀO LÀ CHÍNH?

    Muốn vậy bạn chỉ cần nhìn vào nốt cuối cùng trong bài nhạc, nếu nó là nốt nào trong 2 nốt này thì đó là nốt chủ âm của bài.

    Thí dụ:

    a) Bộ khóa có 2 dấu thăng (Fa# và Do#) và tận cùng bằng nối Si (B): Bài này thuộc cung Si thứ (Bm) và âm giai tương ứng là Re trưởng (D). Nói một cách khác, trong gia đình này thì người vợ (Bm) cầm quyền (!) và người chống (D) chỉ đóng vai trò thứ yếu. Bài nhạc ở cung thứ thường có âm hưởng buồn

    b) Bộ khóa có 3 dấu giảm (Si b, Mi b, La b) và tận cùng bắng nốt Mi b (Eb): Bài này ở cung Eb major và âm giai tương ứng là Do thứ (Cm). Trong “gia đình” này thì người chồng (Eb) cầm quyền, và người vợ (Cm) giữ vai trò thứ yếu.

    Bài nhạc ở cung trưởng có âm hưởng vui tươi, mạnh mẽ

    TÌM CÁC HỢP ÂM TRONG BÀI NHẠC

    Thông thường thì các bài nhạc Việt chỉ dùng 6 hợp âm chính. Thử tưởng tượng trụng cho gia đình này có 4 con, 2 trai và 2 gái. Ta đã tìm được 2 hợp âm chủ nhà rồi thì chỉ cần tìm thêm 4 hợp âm còn lại (tên của 4 đứa con) bằng cách áp dụng luật 1 – 4 –5 như sau:

    Thí dụ:

    Bài nhạc thuộc cung Do trưởng (C) nghĩa là âm giai tương ứng là La thứ (Am). Nếu người cha là Do thì có thể tìm tên 2 đứa con trai bắng cách dùng 5 ngón của bàn tay trái mà đếm như sau:

    1. Ngón cái: 1 Do – ngón trỏ 2 Re bỏ – ngón giữa 3 Mi bỏ – ngón áp út 4 Fa OK – ngón út 5 Sol OK. Như vậy thì bên phía cha và 2 con trai, ta sẽ có 3 hợp âm: Do (C), Fa (F) và Sol (G).
    2. Qua phía người mẹ (âm giai tương ứng), tương tự như trên ta sẽ có tên của người mẹ và 2 con gái là La thứ (Am), Re thứ (Dm) và Mi trưởng (E).

    Thế thì tại sao 2 cô con gái lại là Re thứ (mà không la Re trưởng) và Mi trưởng (mà không là Mi thứ) thì phải biết về các nốt trong 1 âm giai (scale) và tên các quãng (interval). Trong âm giai Am thì các nốt là A-B-C-D-E-F-G#-A, Tên của cô con gái thứ nhất bắt đầu ở nốt thứ 4 (đếm La Si Do “Re”) Hợp âm Re co 3 nốt chồng lên nhau là Re Fa La (D F A) và nốt Fa không có dấu thăng.

    Quãng D-F là quãng 3 thứ, nên cô con gái thứ nhất tên là Re thứ (Dm). Trong khi đó tên của cô con gái thứ hai bắt đầu ở bậc 5 (đếm La Si Do Re “Mi”). Chồng 3 nốt lên nhau ở Mi (E) sẽ có E – G# – B (để ý G# trong âm giai La thứ) và vì quãng E G# là quãng 3 trưởng, nên cô con gái thứ hai sẽ mang tên Mi trưởng (E).

    Nếu muốn tìm 6 hợp âm chính cho bài nhạc chỉ cần nhớ luật 1 – 4 – 5 , đại khái là:

    a) Ba hợp âm theo chủ âm trưởng (cha & 2 trai) : 1 – 4 –5 (tất cả đều trưởng)

    b) Ba hợp âm theo chủ âm thứ (mẹ & 2 gái) : 1 thứ – 4 thứ – 5 trưởng

    Thí dụ:

    Tìm 6 hợp âm dùng trong 1 bài nhạc có 1 dấu thăng:

    a) Bài này có thể thuộc Sol trưởng (G) hay Mi thứ (Em)

    b) Dùng luật 1-4-5 theo nhánh G sẽ có 3 hợp âm G, C, D

    c) Dùng luật 1-4-5 theo nhánh Em sẽ có Em, Am, B

    Sáu hợp âm này là G – C – D – Em –Am – B. Ðây là 6 hợp âm căn bản của mỗi bài nhạc mà người mới chơi đàn cần nắm vững. Từ những hợp âm “gốc” này mà người ta thêm vào thành hàng trăm, hàng nghìn hợp âm mà các bạn có thể thấy trong các tập sách nhạc. Một trong những biến thể đó là loại hợp âm 7, được thành lập bằng cách đặt thêm 1 nốt thứ tư trên 3 nốt của hợp âm căn bản (tức là sẽ có 4 nốt ở bậc1-3-5-7). Để có thể tìm hợp âm nhanh, bạn chỉ cần nhớ 1 điểm nhỏ sau đây:

    Ðể nghe êm tai hơn, tên của người con trai thứ hai và người con gái thứ hai (D và B trong thí dụ trên) có thể đổi thành hợp âm 7. Như thế là tạm thời hoàn tất việc tìm tên 6 người trong gia đình, và theo thí dụ trên thì 6 hợp âm này sẽ là:

    G – C – D7 – Em – Am –B7

    ÐẶT CÁC HỢP ÂM VÀO BÀI NHẠC

    Biết được 6 hợp âm chính dùng trong bài rồi, câu hỏi kế tiếp là làm sao biết khi nào thì đổi hợp âm? Có mấy luật căn bản sau đây:

    a) Thông thường với các bài nhạc Việt thì mỗi ô nhịp dùng 1 hợp âm., đổi ở phách 1, đầu nhịp. Với những bài nhịp 4 thì đôi khi có thề dùng 2 hợp âm trong 1 ô nhịp, đổi ở phách 1 và 3.

    b) Bài nhạc bắt đầu bằng chủ âm và kết ở ô nhịp cuối bằng chủ âm

    c)Tùy theo chủ âm nào (trưởng hay thứ) mà những hợp âm của phe cha hay mẹ nắm đa số. Một bài bắt đầu ở cung La thứ (Am) thì hầu như 2 cô con gái (Dm và E7) sẽ theo sau. Mẹ và con gái hát đã đời các hợp âm Am-Dm-E7 rồi thì ông cha và 2 con trai (C- F-G7) lúc ấy mới … có thể lên tiếng … để thay đổi không khí! Tuy nhiên vì chủ âm là La thứ nên sau đó thì phải trở về cụm Am-Dm-E7 để chấm dứt ở Am

    Nếu nắm vững lý thuyết căn bản âm nhạc thì chỉ cần nhìn vào các nốt trong mỗi ô nhịp là cũng biết ngay ô nhịp ấy thuộc hợp âm gì? Trong trường hợp học đệm đàn “cấp tốc” như sau:

    • Tìm một bản ghi các hợp âm căn bản cho guitar. Bạn không cần những quyển sách dày cộm mà chỉ cần một trang căn bản, in vài chục hợp âm là đủ.
    • Dùng cây guitar đánh trải 6 hợp âm trên cho thật nhuyễn và quen tai.
    • Bắt đầu với chủ âm ở ô nhịp đầu tiên, hát ô nhịp kế tiếp và so với 6 hợp âm trên nghe xem hợp âm nào thuận tai nhất.
    • Nên nhớ theo đúng 3 lời khuyên ghi ở đầu bài 3 này và tránh đừng chuyển đổi hợp âm lung tung.

    Nói một cách vắn tắt, bạn chỉ cần theo mấy luật căn bản trong 3 bài trên đây là có thể tìm được các hợp âm căn bản khoảng … 90% những bài nhạc Việt.

    Chúc các bạn thành công,

    Khánh Lan, California 2024