-
RA MẮT TÁC PHẨM: NIỀM TIN & THƯƠNG YÊU

NHÀ THƠ LÊ NGUYỄN NGA
Bầu trời Nam California hôm nay nhiều mây, từng giọt nắng vàng võ đong đưa theo làn gió nhè nhẹ của những ngày cuối Xuân. Nhưng, nơi một góc phố của thành phố Westminster, Hoa Kỳ… chợt bừng sáng lên bởi NIỀM TIN & THƯƠNG YÊU – Niềm Tin & Thương Yêu là tên tác phẩm của nữ sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga được trình làng cùng quý độc giả yêu văn thơ ngày Chủ nhật 2 tháng 6 năm 2024 vừa qua.

Quan khách tham dự buổi RMS


Mạnh Bổng, GS Trần Huy Bích, Ông Hoàng Khuê, TS Đại Thành

NT Nguyễn Tiến Quỳnh Giao, Anh Viết Đan, Ông Lâm Quách, Anh Tẩu.

TS Đại Thành, NV Vương Trùng Dương, NV Khánh Lan, TS Quỳnh Giao, GS Trần Huy Bích, Ông Hoàng Khuê

NV Vương Trùng Dương, Anh Viết Đan, MC Mộng Thủy, NV Khánh Lan, Lệ Hoa, NV Phạm Gia Đại, NV Nguyễn Thị Mắt Nâu.
Những bạn hữu thân thương gần xa đã đến với nữ sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, trong bầu không khí vui tươi cởi mở. Mọi người chúc mừng nữ sĩ, cũng như mở rộng vòng tay chào đón tác phẩm Niềm Tin & Thương Yêu, mang nặng tâm huyết của tác giả đã trải qua 3 năm để hoàn thành.

Trong sự kiện hôm nay với sự hiện diện của giới tinh hoa của nền văn học hải ngoại gồm nhóm NVNT&TTG như: Giáo sư Nhạc sĩ Lê Văn Khoa cùng phu nhân ca sĩ Ngọc Hà, Gs. Trần Huy Bích, Gs. Dương Ngọc Sum, nhà văn Nguyễn Quang, nữ sĩ Dương Hồng Anh, Nv. Vương Trùng Dương (chủ bút tập san Chiến Sĩ Cộng Hòa) Nv.Vi Khiêm (chủ bút báo Diễn Đàn Giáo Dân, giáo phận Orange County) Nv. Trần Việt Hải (sáng lập viên NVNT&TTG) và phu nhân ca sĩ Lệ Hoa, Nv. Khánh Lan và phu quân ca sĩ Mạnh Bỗng, Nv. Phạm Gia Đại, MC Trần Mạnh Chi, Nv. ca sĩ Kiều My, ca sĩ Thụy Lan và phu quân ca sĩ Jean Michael, ông bà John Tạ (giám đốc Cty Princess Lifestyle), ca sĩ Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Minh Thư, Minh Khai, Ngọc Châu, Hùng Ngọc, ông Hoàng Đình Khuê (chủ tịch đảng Tân Đại Việt). Ông Bùi Văn Tẩu cựu Hải quân sĩ quan VNCH, ông bà Bs. Trần Du, dược sĩ Nguyễn Tường Anh, NV Nguyễn thị Mắt Nâu.

Ông Bà Chủ tịch công ty dược thảo Princess lifestyle, NT John Tạ & phu nhân Susan Tạ, GS Trần Mạnh Chi, NV Việt Hải, NV Kiều My.

NV KIỀU MY, NV KHÁNH LAN, CS THỤY LAN, GS TRẦN MẠNH CHI, MC MỘNG THỦY, NV VIỆT HẢI

LIÊN NHÓM NVNT & TTG: CS keyboard Ngọc Tú, Lệ Hoa, Ngọc Châu, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Katherine Minh Thư, một vị khách, Tường Anh, Mộng Thủy, Micheal, Thụy Lan, Viết Dan, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, GS Ngọc Sum, NT Lê Nguyễn Nga, NT khách hội VBHN
Đặc biệt với sự tham dự của nhóm Văn Bút Việt Nam hải ngoại, gồm các vị: Hiếu Trần, Ngân Huỳnh, Ngô Thy Vân, Võ Ngọc Hoa, Năng Khiếu, Nguyễn Mắt Nâu và Chủ tịch hội Văn Bút Đinh Duy Phương. Ngoài ra, nữ giám đốc của VietLife TV và cũng là chủ tịch của tổ chức CHÍNH NGHĨA VIỆT NAM CỘNG HÒA là Tâm An, luôn hoàn thành tốt đẹp những video clip, để ghi lại khoảnh khắc đáng ghi nhớ trong những sự kiện quan trọng.

NHÓM VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Ngôi sao sáng của sự kiện hôm nay chính là: nữ sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga.

Buổi ra mắt sách được khai mạc bằng những lời chào mừng thân ái đến tất cả quan khách bởi ái nữ và con trai của cố NS Lê Trọng Nguyễn là Katherine Minh Thư và Felix Trọng Phúc. Katherine Minh Thư cũng ngỏ lời cám ơn đến quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và quan khách hiện diện trong buổi RMS.

Sau đó, nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ diễn ra trong sự cung kính trang nghiêm. Giai điệu hùng hồn của quốc ca Việt Nam trổi lên đã làm xao xuyến lòng người Việt hải ngoại. Âm vang của hồn thiêng sông núi trong bản quốc ca, gợi lên nỗi nhớ xót xa về Tổ quốc bên kia Thái Bình Dương. Sau đó, quốc ca Hoa Kỳ vang lên trong thính phòng, đã gợi lên niềm cảm động và tri ân về đất nước cũng như người dân Hoa Kỳ, đã cưu mang người Việt tị nạn, đã bỏ nước ra đi tìm “tự do”. Kế tiếp là “phút mặc niệm” thật lắng đọng…Bồi hồi tưởng nhớ đến những chiến sĩ trong QLVNCH đã hy sinh vì Tổ quốc; những người tù đã chết đau đớn trong những trại cải tạo CS; những thuyền nhân chết tức tưởi trên những chiếc thuyền nhỏ bé mong manh, đã bỏ thây dưới lòng đại dương, hay những nơi rừng sâu nước độc… trên hành trình đi tìm “tự do”.

Ý TƯỞNG VỀ NIỀM TIN và THƯƠNG YÊU
Đọc tựa đề sách NIỀM TIN & THƯƠNG YÊU, mang đến cho tôi vài nhận xét về ý nghĩa sâu sắc của nó.

NIỀM TIN: được hiểu là sự tin tưởng vào một điều gì đó tồn tại, đúng đắn hoặc có giá trị. Điển hình như niềm tin tôn giáo, hay là sự tin tưởng vào bản thân, vào người khác, hay một thế lực thiên nhiên, hoặc một hệ thống giá trị. Niềm tin có thể được hình thành từ nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống. Chẳng hạn như: niềm tin bắt nguồn từ kinh nghiệm sống, từ giáo dục hay ảnh hưởng bởi những người xung quanh. Như vậy, niềm tin bắt nguồn từ nhiều khía cạnh khác nhau mà tạo thành.
THƯƠNG YÊU: Thường là một cảm xúc thu hút mạnh mẽ và cũng là nhu cầu muốn được ràng buộc gắn bó. Ngoài ra, thương yêu được xem như một đức tính đại diện cho lòng tốt, lòng trắc ẩn xót thương và đó cũng chính là tình cảm của con người. Thương yêu là đức tính lương thiện được thể hiện qua hành động từ bi và tình cảm dành cho tha nhân cũng như động vật.
Chương trình ra mắt sách có 2 phần: Văn Học và Văn nghệ & Khiêu vũ. MC phụ trách chương trình là CS Thụy Lan và GS Trần Mạnh Chi.

PHẦN VĂN HỌC
1/ Diễn giả Giáo sư Tiến sĩ Trần Huy Bích: Trình bày về nội dung của tác phẩm Niềm Tin & Thương Yêu gồm 4 phần:

DIỄN GIẢ GS TRẦN HUY BÍCH
A/ VĂN: có18 bài viết về tôn giáo, tình gia đình, tình quê hương và tình bạn hữu…Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga là một Phật tử thuần thành, lấy Phật pháp làm lẽ sống đời mình. Đối với quê hương, nữ sĩ luôn cầu mong cho đất nước sớm được thanh bình. Nữ sĩ là người rất trân quý tình gia đình với người phối ngẫu và con cháu. Đối với tình bạn hữu là những gì nữ sĩ luôn chắt chiu và gìn giữ, ngay cả những người bạn đã về bên kia thế giới.
B/ THƠ: gồm 26 bài thơ chan chứa tình cảm dào dạt trong tình vợ chồng, tình yêu trong sáng của mối tình đầu, những cảnh đẹp thiên nhiên của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Những vần thơ mượt mà về những cảnh hữu tình của quê hương…
C/ TRANH THƠ: Gồm những bài thơ trữ tình với những bức tranh và hình ảnh mang đầy ý nghĩa của những kỷ niệm khó quên được lồng vào trang thơ.
D/ NHẠC: phổ từ thơ Lê Nguyễn Nga do những nhạc sĩ: Hồng Tước, Nguyễn Tuấn, Hạnh Cư, Phan Đình Minh, Lâm Dung, Lam Thủy qua 32 bài thơ dạt dào tình cảm trong cung nhạc êm ái du dương.
Chương trình văn nghệ trong buổi RMS với sự đóng góp của các ca sĩ Tiếng Thời Gian, qua những ca khúc của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và những ca khúc được phổ từ thơ Lê Nguyễn Nga.
HAI VÌ SAO LẠC: ca khúc do Ns. Hạnh Cư phổ nhạc từ thơ Lê Nguyễn Nga, do ca sĩ Minh Thư (ái nữ của tác giả) trình bày, trong giai điệu valse du dương, bay bổng lên cao như những vì sao trên bầu trời.

KATHERINE MINH THU, ÁI NỮ CỦA NS LÊ TRỌNG NGUYỄN & NT LÊ NGUYỄN NGA
2/ Diễn giả Mộng Thủy: trình bày về tiểu sử của nữ sĩ Lê Nguyễn Nga. Gia đình bà nguồn gốc Bắc Giang, miền Bắc Việt Nam; nhưng bà được sinh trưởng ở Cần Thơ vùngTây Đô, miền tây Nam Việt. Hồn thơ của nữ sĩ Lê Nguyễn Nga bàng bạc trải dài từ Bắc Giang, vùng đia linh nhân kiệt, nơi có nền văn hóa phong phú với dân ca Quan Họ; kết hợp với vùng đồng bằng sông Cửu Long, có đồng ruộng cò bay thẳng cánh với gạo trắng nước trong. Những yếu tố thiên nhiên tốt đẹp này đã đúc kết nên “hồn thơ” của nữ sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga – hầu sáng tác nên những vần thơ đẹp dâng cho đời và cho nền thi ca Việt Nam.

DIỄN GIẢ MC MỘNG THỦY
NẮNG CHIỀU NGỪNG TRÔI: thơ Lê Nguyễn Nga, nhạc Nguyễn Tuấn, được hát bởi giọng ca thu hút của ca sĩ Ái Liên.

LÁ RƠI BÊN THỀM: ca khúc bán cổ điển do cố Ns. Lê Trọng Nguyễn & Nguyễn Hiền sáng tác vào năm 1962-1963, được trình bày qua giọng hát phong phú truyền cảm của ca sĩ Ngọc Quỳnh.

3/ Diễn giả Nv. Khánh Lan: Trình bày về NẮNG CHIỀU QUA THỂ LOẠI BOLERO của cố Ns. Lê Trọng Nguyễn viết vào năm 1950 và hoàn tất năm 1953, trong giai điệu Bolero và xuất xứ của điệu nhạc này. Điệu Bolero được sáng tác do nghệ sĩ Tây ban cầm cổ điển Fernando Ferandiere (1740-1816) và lan truyền rộng rãi trên khắp thế giới, bởi sự lôi cuốn mãnh liệt của âm điệu trữ tình của dòng nhạc Bolero. Kiều My ghi nhận bài nói chuyện như sau do Nv. Khánh Lan cung cấp.

NV KHÁNH LAN VÀ NẮNG CHIỀU QUA THỂ LOẠI BOLERO
NẮNG CHIỀU là tên của một nhạc phẩm nổi tiếng của NS Lê Trọng Nguyễn viết trước năm 1950, và hoàn tất năm 1953. Bản nhạc được hai nhà xuất bản Sài Gòn, là An Phú và Tinh Hoa, in ra nhiều lần và mỗi lần in khoảng 3,000 bản.
Năm 1953, Hãng đĩa Việt Nam (Sài Gòn), lần đầu tiên thu thanh tiếng hát của danh ca Minh Trang, và NS Lê Trọng Nguyễn là người đã soạn hòa âm và phối khí, cho dàn nhạc.
Nắng chiều không chỉ chinh phục khán thính giả Việt mà còn vươn ra ngoài biên giới của VN.
- Năm 1958, nữ ca sĩ Nhật Bản Satsuki Midori gặp Lê Trọng Nguyễn và đã dịch Nắng Chiều sang tiếng Nhật với tựa đề Việt Nam tình ca, thu thanh ở Tokyo. Cũng trong năm 1958, nhạc sĩ Nguyễn Hiền mời cô ca sĩ này trình diễn lần đầu tiên tại Hội ChợThị Nghè liên tiếp trong hai tuần lễ.
- Năm 1960, nữ ca sĩ Đài Loan Kỷ Lộ Hà hát và thu thanh bài Nắng Chiều bằng tiếng Quan thoại, tựa đề là Tịch dương hay Việt Nam Tình Ca. Nhạc phẩm này đã được dân chúng Đài Loan và Hồng Kông đón nhận nồng nhiệt.
- Sau đó, Nắng chiều còn được dịch qua tiếng Anh, tiếng Thái, tiếng Khmer và trở thành một bài Á châu tình ca!
- Năm 1971, bài hát là nguồn cảm hứng cho bộ phim cùng tên, của đạo diễn Lê Mộng Hoàng.
NS Lê Trọng Nguyễn với bài tình ca Nắng Chiều, viết dưới thể điệu rumba bolero đầu tiên, có sức chinh phục, cuốn hút người nghe, và đã đem đến một sự thành công vượt bực bởi: những ca từ trong bài hát giàu tính văn học, giàu chất thơ, nhẹ nhàng và lãng mạn, tạo nên một phong cách bolero Việt Nam chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo).
Bolero là một thể loại âm nhạc, bắt nguồn từ thành phố Santiago de Cuba từ cuối thế kỷ 19. Bolero du nhập vào VN khoảng đầu thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Đặc trưng của Bolero khi vào Việt Nam được Việt hóa, cho hợp với lối phát âm của người Việt, hát theo kiểu truyền thống, ngân rung, làm cho bài hát vừa dễ hát vừa dễ thuộc. Ngoài ra nó còn rất hợp với chất cải lương, để hát tân cổ giao duyên.
Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã thành công với ca khúc Nắng Chiều với phong cách rumba bolero đầu tiên và trở thành bài tình ca nổi tiếng trong thế kỷ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Cho đến nay, nhạc phẩm Nắng Chiều vẫn giữ một vị trí ưu ái, trong lòng khán giả mến yêu âm nhạc, và đó là điểm son của nhạc phẩm Nắng Chiều theo dòng thời gian. NS Lê Trọng Nguyễn được vinh dự là hội viên của các nhà soạn nhạc Pháp Quốc S.A.C.E.M (Societe des Auteurs, Compositeurs, Editeurs de Musique).
. Nắng Chiều là niềm hãnh diện của NS Lê Trọng Nguyễn nói riêng và của làng âm nhạc VN nói chung.

NẮNG CHIỀU: Ban họp ca tiếng Thời Gian trình bày ca khúc Nắng Chiều qua ba ngôn ngữ: Hoa, Pháp và Việt, với những giọng ca:

Ngọc Hà – Hoa ngữ; Kiều My – Pháp ngữ; Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư, Ngọc Quỳnh, Ái Liên – Việt ngữ…Ban họp ca đã làm sống động khánh phòng qua lời ca tiếng nhạc tuyệt đỉnh của Nắng Chiều…một ca khúc bất hủ của Ns Lê Trọng Nguyễn… được khán giả vỗ tay nhiệt liệt tán thưởng.
GIẤC MƠ XUÂN: thơ Lê Nguyễn Nga, nhạc Nguyễn Tuấn, được trình bày qua tiếng hát mượt mà, gợi cảm của ca sĩ Thụy Lan.

4/ Diễn giả Nv. Nguyễn Thị Mắt Nâu: nói về quan hệ tình bạn cũng như cơ duyên gặp gỡ giữa nữ sĩ Lê Nguyễn Nga và diễn giả. Một tình bạn bền chặt với những kỷ niệm khó quên dù thời gian đã trôi qua vài thập kỷ.

CÁT BIỂN: Ban tam ca Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư… trong lối phục sức Hạ Uy Di với vòng hoa trên cổ, đã đồng diễn ngoạn mục ca khúc Cát Biển, sáng tác của Lê Trọng Nguyễn. Giai điệu của Cát Biển dào dạt như những con sóng nhấp nhô, mang đến cảm giác như ta đang đi dạo trên bãi cát trắng Hawaii.


CS Ngọc Hà với nhạc phẩm Hải Ngoại Thương Ca

*Cảm tạ
Nữ Sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga đã bày tỏ lòng chân thành tri ân đối với những quan khách đến tham dự buổi ra mắt sách NIỀM TIN&THƯƠNG YÊU. Trong cuộc phỏng vấn ngắn gọn, nữ sĩ đã giải thích cho Kiều My ý nghĩa về chủ đề của tác phẩm.
NIỀM TIN: là đặt niềm tin vào Thượng Đế, Thần Thánh bất luận là Thiên Chúa Giáo hay Phật Giáo và hãy sống một đời sống tốt đẹp.
THƯƠNG YÊU: tình thương đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái, yêu thương bằng hữu hay tha nhân, yêu tổ quốc cũng như người dân Việt đang sống trong cảnh lầm than.
HẢI NGOẠI THƯƠNG CA: sáng tác của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua tiếng hát cao vút, điêu luyện của ca sĩ Ngọc Hà.
PHẦN VĂN NGHỆ & KHIÊU VŨ

Sau phần trang nghiêm của VĂN HỌC, không khí chợt sôi động với điệu Chachacha trổi lên trong bản:
IT’S NOW OR NEVER: qua giọng ca lôi cuốn của ca sĩ Mạnh Bỗng, như ca sĩ Elvis Presley một thời nổi tiếng qua bản nhạc này.

ĐOÀN LỮ NHẠC: điệu quân hành Pasodoble qua hai giọng ca Ngọc Quỳnh và Ái Liên, cũng là những ca sĩ nồng cốt của ban Tiếng Thời Gian.

THUYỀN HOA & AUTUMN LEAVES: ca sĩ Phạm Gia Đại đã diễn đạt ca khúc qua giọng hát trầm ấm lôi cuốn của anh qua điệu Valse và Rumba
Ngọc Châu với …. “Thêm một bài nữa nhé????”

ETERNALLY & BESAME MUCHO: là những nhạc phẩm lừng danh trên thế giới, với tiếng hát trữ tình của ca sĩ Kiều My qua điệu Boston và Chachacha.

RIVERS OF BABYLON: do ban tam ca Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư trình diễn. Gợi lên nỗi nhớ về bản nhạc nổi tiếng này đã đưa ban nhạc Bonni M lên đài danh vọng.
NGỌC TÚ & TƯỜNG ANH VỚI DANCING ALL NIGHT.….

Ngọc Tú & Tường Anh

Micheal, Minh Thư, Thụy Lan, Lệ Hoa

Dancing all day and let’s it loud.

Tiếp theo là những điệu nhạc vui nhộn của Dancing All Night, Twist, Chachacha…đã lôi cuốn bước chân mọi người ra sàn nhảy…nhảy đến mệt nhoài mà quên đi thời gian… Buổi ra mắt sách NIỀM TIN & THƯƠNG YÊU chan chứa niềm vui đã khép lại. Các bạn hữu trong hội Văn Bút đã cùng vui chơi với nhóm NVNT&TTG đến giờ chót; ngần ấy đã nói lên sự thành công tốt đẹp về buổi ra mắt sách của tác giả. Kiều My thay mặt NVNT&TTG cùng nữ sĩ Lê Trọng Nguyền Nga chân thành cảm tạ tất cả bạn hữu. Hẹn ngày tái ngộ!
Kiều My, California, May 2024
-
CANON IN D MAJOR
Viên ngọc quý được tìm thấy sau một thời gian dài thất lạc, Canon in D major – bản luân khúc cung Rê trưởng của nhà soạn nhạc người Đức Johann Pachelbel, thường được gọi là Canon cung Rê trưởng. Được sáng tác ở thế kỷ 17, nhưng mãi tới thế kỷ 20 người ta mới tìm lại được viên ngọc quý này và vĩnh viễn nó đã trở thành bản nhạc bất hủ say mê…
Nguồn cảm hứng dường như bất tận của Canon in D cho âm nhạc đương đại…Quả thật, Canon in D có sức hấp dẫn đặc biệt nhất trong lịch sử âm nhạc cổ điển ở thời hiện đại. Nếu tìm trên các trang nhạc trong hay ngoài nước thì những bản hòa âm lại của nó một cách chính thức có đến hàng trăm bản, chưa có một bản nhạc cổ điển nào trong lịch sử có sức ảnh hưởng đến thời cận đại như vậy.
Canon in D thường vang lên réo rắt ở các nhà thờ, trong các lễ cưới, các buổi tập nhạc của những người mới đến với nhạc cổ điển, trên các chương trình truyền hình, những chiếc hộp nhạc dễ thương và tất nhiên là cả các CD tuyển chọn những bản nhạc hay nhất mọi thời đại…Khi giai điệu của Canon vang lên, cảm giác hạnh phúc tràn ngập được mang lại và sự hoài niệm đưa người nghe trở về những kỉ niệm đẹp nhất trong đời.
Những ca khúc, những bộ phim, những đoạn video quảng cáo, music box… hoặc có sử dụng nhạc nền hoặc lấy cảm hứng từ Canon in D thì lên tới hàng trăm, hàng nghìn, hàng triệu triệu phiên bản… Tác phẩm này cũng được sử dụng làm nhạc chủ để trong rất nhiều bộ phim khác nhau như: “Father of the Bride” hay “Runaway bride”, “The Classic”…
Dãy hợp âm nổi tiếng…Dãy hợp âm nổi tiếng của Canon, được các nhạc sĩ áp dụng rất nhiều trong sáng tác cũng bắt nguồn từ bài Canon in D mà ra. Có lẽ với những bạn từng học qua tác phẩm này sẽ không lạ gì chuỗi hợp âm: D-A-Bm-Fm-G-D-G-A7. Chuỗi hợp âm lừng danh được lặp đi lặp lại trong suốt tác phẩm với nhiều biến tấu cực kỳ khỏe khoắn, tạo nên cảm giác sảng khoái bay bổng. Nhiều tác phẩm nổi tiếng hiện đại cũng dùng lại chuỗi hợp âm này như: “Let it be” của The Beatles, hay “Crying” của Aeronsmith, “Our Canon in D” của Aaron Angello hát hay “Rain and Tear” của Aprodite’s Child, “Graduation (Friend Forever)” của Vitamin C…
Viên ngọc quý tìm lại…Canon cung Rê trưởng, cũng như bản Adagio cung sol thứ của nhà soạn nhạc Ý Tomaso Albinoni, đều là những sáng tác của thời kỳ Baroque (tiền cổ điển). Cũng như Adagio cung sol thứ, tuy tác phẩm được sáng tác trong khoảng 1680-1706, nhưng mãi tới thế kỷ 20 người ta mới tìm lại viên ngọc quý này.

Johann Pachelbel (1653-1706). Ảnh: Wikipedia
Năm 1968 bản ghi âm bởi Jean-François Paillard cùng dàn nhạc đã trở nên bất ngờ phổ biến trong thập kỷ kế tiếp. Từ những năm 1970 đến đầu những năm 2000, các yếu tố của tác phẩm, đặc biệt là tiến trình hợp âm của nó, đã được sử dụng trong một loạt các bài hát nhạc pop. Và cũng như Adagio, tác phẩm đột nhiên trở nên nổi tiếng đến mức không thể hình dung.
Sức ảnh hưởng kỳ lạ của Canon cung Rê trưởngTên đầy đủ của Canon in D là Kanon und Gigue in D-Dur für drei Violinen und Basso Continuo, nghĩa là bản luân khúc rê trưởng dành cho vĩ cầm và bè trầm. Tác phẩm viết theo thể loại Gigue (Gigue là một điệu nhảy theo phong cách thời Baroque) cho 3 đàn vĩ cầm và basso, nên đôi khi tác phẩm còn được gọi là Gigue in D.

(Photo Credit: Internet)
Ban đầu, bản nhạc được viết dành cho đàn violin và bè trầm như vậy, và được chơi trong các nhà thờ ở hình thức thánh ca là chính. Tuy nhiên sau này, với sự quá nổi tiếng và được yêu thích trên toàn thế giới, Canon in D được thể hiện lại bằng nhiều nhạc cụ khác nhau, từ piano, violin, classical guitar, guitar điện, harp, flute, xylophone… đến những nhạc cụ truyền thống của các nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc v.v, thậm chí Pop, Rock, Acappella, Beatbox, Hip-hop, Dance…Nhiều người nhầm lẫn canon này với cannon (khẩu thần công), thực tế canon chỉ có nghĩa là luân khúc thôi.
Người ta cảm thấy thế nào khi nghe Canon in D?Bản Canon in D – Cello & Piano, biểu diễn bởi nhóm nhạc Brooklyn Duo. Canon in D hội tụ rất nhiều yếu tố của một bản giao hưởng đỉnh cao khi đem lại sự thư thái, cảm xúc nhẹ nhàng cho người nghe ngay từ những nốt nhạc đầu tiên.
Giai điệu của Canon đúng như cái tên dòng nhạc của nó, Relax Baroque.
Khi giai điệu của Canon vang lên, cảm giác hạnh phúc tràn ngập được mang lại và sự hoài niệm đưa người nghe trở về những kỉ niệm đẹp nhất trong đời. Canon vui tươi, nhạc thái trong sáng dễ đi vào lòng người. Vì thế mà không gì thích hợp hơn cho một lễ cưới như Canon in D. Phần giai điệu được đánh giá là chuẩn mực với những phân đoạn chính được lặp lại 30 lần, không quá dài hay quá ngắn mà chỉ vừa đủ để người nghe có thể cảm nhận trọn vẹn bản giao hưởng tuyệt vời này.
Những mỹ từ ca tụng Canon in D
Mỗi lần thưởng thức Canon in D thì luôn có một cảm giác hết sức bay bổng, thư thái và dễ chịu… Đó là điều kỳ diệu “bẩm sinh” của Canon in D. Mặc dù có tiết tấu không thật sôi động nhưng nó sẽ luôn phát huy tác dụng như một liệu pháp âm nhạc mỗi khi bạn mệt mỏi. Bất kể lúc vui hay buồn, khi bạn thưởng thức Canon in D cũng không bao giờ khiến bạn cảm thấy buồn hơn, ngược lại bạn sẽ có những suy nghĩ tích cực hơn về cuộc sống vốn rất nhiều phiền muộn.
Khi bạn vui, bạn sẽ thấy Canon in D vẽ ra cho bạn một bức tranh của một cuộc sống tuyệt đẹp, thật vui tươi giống như bạn đang được tung tăng nô đùa cùng những người mà bạn yêu quý trên một khoảng không gian thoáng đãng, và nó thật sự dịu ngọt như chính tình yêu, khiến bạn cảm thấy vui hơn. Còn khi bạn buồn cũng hãy đến với Canon in D để bạn tìm lại được những giá trị đã mất, bạn sẽ thấy một sự yên bình, thanh thản đến kì lạ. Nhẹ nhàng như một cơn gió, êm ái như một cánh hoa, một cảnh tượng thật đẹp, như thể bạn đang nằm ngả lưng giữa một cánh đồng đầy cỏ xanh mơn mởn và những bông hoa thơm ngát.
Canon in D – violin & Piano, biểu diễn bởi nhóm nhạc Brooklyn Duo:
Thế giới đã dành không biết bao nhiêu mỹ từ cho bản nhạc mà đã ra đời cách đây hơn 3 thế kỷ, có người nói Canon in D là “dòng suối mát cho tâm hồn”. Sẽ là rất lạ nếu một lần nghe qua Canon in D mà bạn không ấn tượng với nó… Nhưng sẽ rất bình thường nếu bạn cảm thấy yêu thích nó, thấy nhớ nó, không bao giờ quên được nó…Pachelbel đã để lại cho nhân loại một bản nhạc cổ điển có thể giúp những thính giả thông thường tiếp cận được dễ dàng đỉnh cao của âm nhạc cổ điển.
Với bản Canon in D nhẹ nhàng, không quá khó đối với thính giả thông thường như những bản giao hưởng khác, nhiều người vì vậy đã đặt cho Canon in D những lời tán tụng “có cánh” như “đại kiệt tác âm nhạc siêu ngọt ngào”, “siêu lãng mạn”, “siêu cảm xúc”!
Sau đây, mời quý độc giả thưởng thức “siêu tác phẩm” Canon in D major bản giao hưởng đầy đủ của dàn nhạc Navidas Ochestra. Xin vào các websites dưới đây.
Beethoven – Für Elise (60 Minutes Version)- Concerto Ludwig van Beethoven:Beethoven – Für Elise (60 Minutes Version)
The Best of Pachelbel. 1 Hour of Top Classical Baroque Music. HQ Recording Canon In D. Classical Tunes:
The Best of Pachelbel. 1 Hour of Top Classical Baroque Music. HQ Recording Canon In D
Canon in D (Pachelbel’s Canon) – Cello & Piano [BEST WEDDING VERSION]
Canon in D (Pachelbel’s Canon) – Cello & Piano [BEST WEDDING VERSION]Canon1hour/Instrument Music/Pachelbel /Piano/Wedding Song:
カノン1時間【勉強用・作業用・睡眠用BGM】ピアノ/パッヘルベル/楽譜あり/Canon1hour/Pachelbel /Piano/Instrument Music/CANACANAAve Maria (Schubert) – Cello & Piano [BEST WEDDING VERSION]
Ave Maria (Schubert) – Cello & Piano [BEST WEDDING VERSION]
Schubert, AVE MARIA for Cello & Piano/Wedding Song:
Schubert, AVE MARIA for Cello & PianoÂM NHẠC, VIỆT HẢI: MẠN BÀN VIỆC PHỔ NHẠC CHO BÀI THƠ:
MẠN BÀN VIỆC PHỔ NHẠC CHO BÀI THƠ – MẠN BÀN VIỆC PHỔ NHẠC CHO BÀI THƠ
Việt Hải sưu tầm
-
Ý Nghĩa Ngày Của Mẹ!

Mẹ là người có thể thay thế bất kỳ ai khác, nhưng không ai có thể thay thế được mẹ.
(Gaspard Mermillod)
- Mẹ là món quà yêu thương đặc biệt nhất, mà Thượng Đế ban cho mỗi con người.
-Mẹ là dòng suối dịu hiền, Mẹ là bài hát thần tiên, là bóng mát trên cao, là mắt sáng trăng sao, là ánh đuốc trong đêm, khi lạc lối.
-Mẹ là tất cả! Mẹ là người có thể thay thế tất cả những ai khác, nhưng không ai có thể thay thế được Mẹ!
-Mẹ chăm sóc ta cả cuộc đời, làm những việc cực nhọc nhất, mà không cần trả lương! Mẹ nắm tay những đứa con mình không phải chốc lát, mà giữ trong trái tim suốt cả cuộc đời! cho dù con lớn bao nhiêu tuổi cũng thế!
Nên Tình Mẹ Con, Mẫu Tử là một tình cảm vô cùng thiêng liêng, cao quý nhất. Tất cả mọi người mẹ trên cõi đời này, đều thương yêu con của mình, đấy là bản tính, là thiên tính Trời ban cho người phụ nữ. Chính nhờ tình thương của mẹ, mà người con được lớn lên. Tình thương yêu của mẹ, đã giúp cho người con quân bình, thành người, về các phương diện tâm sinh lý. Người Mẹ tuy âm thầm, nhưng có ảnh hưởng rất lớn trong mỗi cuộc đời con người!
Lịch Sử Ngày Lễ Hiền Mẫu Mother’s Day
Ngày của Mẹ (Mother’s Day) ấn định mừng vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5 hằng năm. Đây là ngày để tôn vinh các bà mẹ, bà nội, bà ngoại, vì những đóng góp to lớn của họ cho gia đình, cộng đồng và xã hội
Nguồn gốc ngày của Mẹ có từ rất lâu, vào thời kỳ cổ Hy Lạp và La Mã. Nhưng cái gốc lịch sử Ngày Của Mẹ, có thể tìm thấy ở Anh Quốc, nơi đó Chủ Nhật Ngày của Mẹ, đã được tổ chức tưng bừng, trước khi lễ mừng này được “di cư” thành hình, bên Hoa Kỳ.
Dầu vậy, việc ăn mừng liên quan của ngày này, lại được coi là một hiện tượng, chỉ mới gần đây, mới hơn một trăm năm.
Thật ra, phải cảm tạ công khó của những phụ nữ tiền phong, như Julia Ward Howe và Anna Jarvis, mà “ngày này” mới được chính thức thành hình.
Ngày nay, việc tổ chức, tiệc mừng cho Ngày của Mẹ, đã được trên 50 quốc gia của thế giới công nhận. (Mặc dầu vào những ngày khác nhau) Trở thành những Ngày Lễ ý nghĩa, mà mọi người yêu thích nhất! Hàng triệu người trên khắp thế giới, dùng cơ hội này để nhớ đến, kiếm cách trả ơn bà mẹ của mình, tri ân họ về việc sanh thành, dưỡng dục, để họ thành người.
Ngày của Mẹ, được tổ chức tưng bừng nhất ở những quốc gia như: Mỹ, Nga, Anh Quốc, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhỉ Kỳ, Úc Đại Lợi, Mễ Tây Cơ, Gia Nã Đại, Trung Hoa, Nhật Bản, và Bỉ. Người ta dùng cơ hội của ngày này, để tỏ lòng tôn kính mẹ của mình và tri ân họ về tình yêu thương, sự nâng đỡ của Mẹ trong đời sống.
Nhưng ngày này, càng ngày càng phai mờ ý nghĩa, vì bị thương mại hóa. Đường dây điện thoại thì bận rộn, kẹt cứng nhất trong năm. Tiêu thụ hoa, quà, card, nhiều nhất! Nhà hàng cũng có khách đông nhất vào ngày lễ này. Ngày của Mẹ trở thành ngày làm ăn hốt bạc, cho những tiệm cắm hoa, những nhà làm thiệp và người bán quà tặng, cho cả dịch vụ du lịch. Cơ hội hiếm có để kiếm tiền trong ngày này. Bằng chứng qua những cuộc quảng cáo quy mô, trước đó vài ba tháng, để thu hút khách hàng.
Thật là tiếc để ghi nhận rằng, bà Anna Jarvis đã bỏ hết cuộc đời, cho việc vinh danh ý nghĩa cao đẹp ngày của Mẹ. Giờ chỉ còn là dịp để vui chơi, quà cáp, ăn uống, trong ngày lễ. Những bà mẹ già, vẫn cô đơn mừng ngày này, trong các viện dưỡng lão. Trong khi các con của mình, tưng bừng hội hè ăn chơi phía ngoài, chẳng còn nhớ gì đến Mẹ của mình cả. Thật chua xót về tính cách thương mại hóa của ngày này. Mà đâu phải một lễ này đâu, lễ nào trên đất Mỹ này cũng thế!
Những câu danh ngôn về Mẹ nổi tiếng và ý nghĩa nhất
- Với mẹ, dù lớn bao nhiêu, con mãi là một đứa trẻ! trong trái tim mình. (Khuyết danh)
- Chúa không thể ở khắp mọi nơi, để ban tình thương, ơn lành, nên Ngài sinh ra người mẹ! (Proverbe Yiddish).
- Khi bạn nhìn vào mắt của một người mẹ, bạn sẽ nhận biết được, tình yêu tinh khiết nhất, tuyệt vời nhất, mà bạn có thể tìm thấy trên trái đất. (Mitch Albom).
- Tương lai của đứa con, luôn là công trình, tuyệt phẩm! hãnh diện nhất của người mẹ. (Napoleon).
- Tình thương của người mẹ, không bao giờ bị già nua, khi năm tháng trôi qua. (Tục ngữ Đức).
- Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt diệu, quý báu nhất, là trái tim người mẹ! (Bernard Shaw).
- Không tình yêu nào vĩ đại, như tình yêu của người mẹ, dành cho đứa con của mình. (Khuyết danh).
- Người mẹ thật sự chẳng bao giờ rảnh rỗi, hình bóng con, luôn luôn hiện diện trong đầu và trái tim của Bà suốt cả đời! (Balzac).
- Tình yêu của người mẹ là yên bình, bình đẳng. Nó không cần bạn phải thông minh, đẹp đẽ, giỏi giang. Nó không cần bạn phải xứng đáng hay không! Nhiều khi khuyết tật, bạn còn nhận được nhiều hơn nữa! (Erich Fromm).
- Mẹ hiền sinh con ngoan, cây tốt sinh trái ngọt, lúa tốt cho gạo ngon. (Ngạn ngữ Trung Quốc).
- Người ta không bao giờ hiểu hết, nói hết về Thượng Đế, cũng như nói hết về người Mẹ. (Ngạn ngữ Ấn Độ)
- Mẹ nuôi con biển bờ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày. (Tục ngữ Việt Nam)
- Con đi ngàn dặm mẹ lo âu, Mẹ đi ngàn dặm con chẳng sầu. (Ngạn ngữ Trung Quốc)
- Khi bạn là một người mẹ, bạn không bao giờ thực sự cô độc trong suy nghĩ của mình. Một người mẹ luôn phải nghĩ hai lần, một lần cho bản thân và một lần cho con cái. (Sophia Loren)
- Một người mẹ vẫn mãi là một người mẹ, luôn luôn quan tâm đến những đứa con. Cho dù những đứa con đó đã lớn lên, vẫn là những đứa trẻ của riêng mình. (Khuyết danh)
- Trái tim của người mẹ là vực sâu muôn trượng, mà ở dưới đáy, bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ. (Balzac)
- Làm mẹ là một thái độ sống, thiêng liêng, không chỉ là mối liên hệ về sinh học. (Robert A Heinlein)
Phong tục “Happy Mother’s Day!” tại các nước trên thế giới
Đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay, ăn mừng Ngày của Mẹ, với các phong tục bắt nguồn từ Bắc Mỹ và Châu Âu. Khi được phổ biến tại các nước khác, ngày của mẹ đôi khi được thay đổi đôi chút, để phản ảnh nền văn hóa từng nơi. Một số nước để hợp nhất ngày lễ này, với những sự kiện quan trọng của nhiều phong tục bản xứ (ví dụ như tôn giáo, lịch sử, và truyền thuyết)
*Ngày của mẹ ở Anh
Ngày của mẹ ở Anh cũng trùng vào ngày Chủ Nhật, bởi vậy mọi người thường tới nhà thờ làm lễ, sau đó mới trở về nhà của mình. Các thành viên trong gia đình, dù ở xa cũng sẽ cố gắng họp mặt đông đủ trong ngôi nhà của cha mẹ. Họ thường tổ chức một buổi tiệc có thiệp mừng, bánh gato, hoa quả, rượu và tặng quà cho những người mẹ.
*Ngày của mẹ ở Mỹ
Ngày của mẹ được khởi xướng trở lại sau thế chiến thứ hai tại Mỹ, do bà Anna Marie Jarvis đấu tranh xác lập, tại phố Grafton, tiểu bang Tây Virginia, Hoa Kỳ. Bà Anna Marie Jarvis quyết tâm thực hiện di nguyện của người mẹ quá cố. Người mẹ của bà Anna khi còn sống là một nhân viên an sinh, luôn đấu tranh không ngừng để làm rạng danh các bà mẹ, tri ân công sức của họ trong đời sống và vì hòa bình. Sau khi người mẹ mất, cộng thêm thái độ thờ ơ lãnh đạm của người dân Hoa Kỳ với thân mẫu của mình, càng thôi thúc quyết tâm của bà. Sau nhiều năm đấu tranh quyết liệt, vào năm 1911, Ngày Của Mẹ được tổ chức ở hầu hết các tiểu bang ở Mỹ. Vào ngày 8/5/1914, tổng thống Mỹ đã ký quyết định ấn định ngày Chủ nhật thứ hai của tháng Năm hàng năm là Ngày của Mẹ. Dần dần trở thành, một trong những ngày lễ được yêu thích nhất. Tiệc tùng cũng linh đình nhất!
*Ngày của mẹ ở Ấn Độ
Người Ấn Độ gọi ngày của mẹ là Durga Puja, trong đó “Durga” là tên của một nữ thần bảo vệ cho người dân Ấn Độ, khỏi mọi nguy hiểm trong cuộc sống. Họ tổ chức Ngày của mẹ như một lễ hội lớn vào tháng Mười, trong vòng… mười ngày! Đồng thời, với những người mẹ thật sự trong cuộc sống, mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày, cũng sẽ được người con vào bếp trổ tài nấu ăn và tặng quà cho mẹ.
*Ngày của mẹ ở Tây Ban Nha
Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng năm ở Tây Ban Nha. Người lớn thường tặng mẹ sôcôla, thiệp chúc mừng hay một số món quà ý nghĩa khác. Còn trẻ em thì tự tay làm tặng mẹ những tấm thiệp, hoặc làm món quà đơn giản.
*Ngày của mẹ ở Nhật Bản
Trong ngày của mẹ, trẻ em sẽ vẽ những bức tranh dành tặng cho mẹ của mình và tập hợp những bức ảnh đó thành một cuộc triển lãm nhỏ, với chủ đề tình cảm mẹ con và sự hi sinh thầm lặng của các bà mẹ Nhật.
*Ngày của mẹ ở Úc
Hoa cẩm chướng là loài hoa biểu trưng cho ngày của mẹ ở Úc. Bông hoa cẩm chướng vàng dùng để tặng người mẹ đang còn sống. Còn hoa cẩm chướng trắng được dành tặng một người mẹ đã quá cố. Vào ngày này, trẻ em thường dậy sớm, làm tặng mẹ đồ ăn sáng và mang đến bên giường ngủ, để mẹ thức dậy và thưởng thức.
Nghiên cứu khoa học xã hội: Các bà mẹ nuôi con, thành công, nên người, hay nhất!
Theo suy xét nhìn nhận từ xã hội, những đứa trẻ không cha, không mẹ thường gặp phải rắc rối trong cuộc sống. Chúng sẽ bị khinh bỉ, chọc ghẹo khi tới trường. Vì thế, mà khó làm chúng thành công trong cuộc sống trưởng thành. Nhưng theo thống kê, đứa trẻ ở với Mẹ, lại dễ thành công trong cuộc đời, hơn ở với người cha.
Hãy xét về trường hợp thành công ngoài sức tưởng tượng, như trường hợp của cựu tổng thống Barack Obama, vận động viên bơi lội Olympic Michael Phelps và rất nhiều người danh tiếng khác, khi chỉ sống với mẹ. Rồi tương tự như trường hợp của nhà vô địch môn xe đạp giải Tour de France Lance Armstrong, thị trưởng Massachusetts Deval Patrick và diễn viên Banjamin Bratt, đều thật sự trưởng thành như một người đàn ông chững chạc, ngay khi còn thanh niên dù cuộc sống không có cha, chỉ ở với mẹ!
Nhiều người cho rằng: “Sở dĩ những bà mẹ đó làm được điều kỳ diệu ấy, vì người mẹ nhạy bén, biết cách khuyến khích tài năng của con mình, kiên trì dùng tình thương định hướng, tập cho con sự tư duy độc lập và cảm giác phiêu lưu, muốn được chinh phục.”
Nên khi gia đình tan vỡ, đứa trẻ tốt hơn khi ở với mẹ, hơn là ở với cha.
Nghiên cứu: Thời gian 8 giờ sáng, là thời gian căng thẳng (stress) nhất với các bà Mẹ thế kỷ thứ 21
Một cuộc khảo sát cho thấy 8 giờ sáng là thời gian căng thẳng nhất, trong ngày của các bà mẹ bận rộn thế kỷ 21.
Tracey Hyem, giám đốc chi nhánh tại Anh, của công ty trang sức Bỉ Uniroyal cho biết: Qua cuộc khảo sát 2.000 bà mẹ nước này, cho thấy, việc chuẩn bị để đưa trẻ đến trường (đánh thức trẻ dậy, cho chúng ăn sáng và kiểm tra cặp sách của chúng) thường khiến các bà mẹ mất bình tĩnh, bối rối ngay cả trước khi rời nhà. Rồi còn kẹt xe…
Điều tra cũng cho thấy đa số các bà mẹ vừa lo đi làm, vừa lo quán xuyến việc gia đình hàng ngày, khiến họ luôn trong tình trạng stress, đặc biệt cao điểm nhất vào buổi sáng, lúc 8 giờ!
Một vài Truyện Ngắn, Câu Thơ Của Nhiều Tác Giả Về Mẹ
NÓ
Ba nó bỏ đi lúc nó còn đỏ hỏn. Ngoại và mẹ nuôi nó trong nghèo khó, đau khổ và cả hạnh phúc. Được vài năm, cái đói nghèo cướp mất bà ngoại. Thiếu hơi bà, nó thút thít khóc cả đêm, mẹ chỉ ôm nó vào lòng, để tay lên ngực trái dỗ dành:
– Ngoại có đi đâu! Ngoại ở đây mà!
Vậy là nó nín.
Rồi mẹ cũng theo bà! Hôm tang mẹ, nó thấy dì khóc, nó bảo:
– Mẹ có đi đâu, Mẹ ở đây mà!
Rồi lấy tay đặt lên ngực trái, chỗ trái tim.
Nó dỗ thế mà dì chẳng nín, lại ôm nó khóc to hơn nữa.
Lần này, nó không nghe lời mẹ nó, tay vẫn để ở trái tim, nhưng khóc theo dì! Gào lên Mẹ ơi! Sao bỏ con!
Quà sinh nhật
Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất, chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn nhau nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mỗi bàn bao nhiêu người.
Chị lặng lẽ đến bên má:
– Má ơi, má thèm gì? Để con nấu cho má ăn!
Chưa tan tiệc, má xin phép về sớm vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi:
– Sao má chẳng ăn gì?
Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn tô canh chua lá me và đĩa cá bống kho tiêu mà chị mang đến, ăn ngon lành!
KHÓC
Vừa sinh ra đời, không biết vì sao, chồng tôi đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm một lần nào nữa. Năm 20, qua nhiều khó khăn, anh tìm được mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa, bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ. Hôm nay 40 tuổi, đọc tin mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc, anh nói:
– Tội nghiệp mẹ! Chắc 40 năm qua mẹ còn khổ tâm hơn cả anh nhiều lắm.
NHỚ MẸ
Dưới quê học hành khó khăn, nên mới lớp 2, thằng Út đã được gởi lên thành phố ở với chị Hai. Lâu lắm mẹ mới ra thăm. Lần nào chị Hai cũng nhằn, vì mẹ cứ nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày, lại vứt bã trầu lung tung. Lần nào cũng vậy. Đưa mẹ ra bến xe về quê xong, chị Hai về thấy nhà vắng ngắt. Tìm mãi mới thấy thằng Út đứng sau kẹt cửa, tay cầm mấy cái bã trầu khô, nước mắt nhạt nhòa trên má! Thấy chị, nó òa lên khóc!
CON GÁI
Ngoại hấp hối, cả nhà dắt díu nhau về quê thăm ngoại. Ngoại mất. Từ thành phố, anh Ba đang dở mùa thi cũng vội về chịu tang.
Chị Hai lấy chồng quê ngoại, nhà cách có vài quãng đồng mà lại không về được.
Bố chép miệng xót xa:
– Con gái là con người ta.
Mẹ gục đầu nức nở. Hơn hai mươi năm theo chồng xa xứ, đây mới là lần đầu tiên mẹ được về với ngoại. Mẹ cũng là con gái…
LÒNG MẸ
Nhà nghèo, chạy vạy mãi mới được suất hợp tác lao động, Thanh coi đó như cách duy nhất để giúp đỡ gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan, xứ người chẳng phải thiên đường, Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng. Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong mơ.
Ngày về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống trong mơ. Đêm. Chỉ còn mẹ. Hết nắn tay nắn chân Thanh rồi mẹ lại sụt sùi. Thanh nghẹn ngào khi nghe mẹ nói:
– Dối mẹ làm gì. Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở con!
Lễ Mẹ, Sao Con Khóc!
Thui thủi mình con giữa chợ đời
Chiều nay nhớ Mẹ quá đi thôi
Hải hà công đức như sông biển
Thiên địa thương yêu tựa đất trời
Suốt kiếp chỉ lo con trượt ngã
Một đời quên mất Mẹ thân côi
Bao người Lễ Mẹ mừng vui chúc
Thơ thẩn con ngồi khóc Mẹ thôi
NHỚ MẸ
Cơm nghèo Mẹ nấu vậy mà ngon
Giọng nói thân thương mãi chẳng còn
Ước được sum vầy như thuở trước
Nụ cười ấm áp cõi lòng con.
Không màng đánh mất tuổi thanh xuân
Vất vả đắng cay mẹ đã từng…
Tất cả cho con không hoàn lại
Thương người khóe mắt trẻ rưng rưng.
Nhân Ngày “Lễ Mẹ”, Nghĩ Gì Về Những Bà Mẹ Cô Đơn?
Trong giờ lễ Chủ Nhật, nhằm ngày Lễ Mẹ, tại nhà thờ Saint Columban, linh mục T. đã làm nhiều người nghe phải nhỏ lệ khi ông kể một câu chuyện về một người Mẹ đã nuôi cả mười đứa con thành công về tài chánh, đứa Bác Sĩ, đứa Kỹ Sư, Dược Sĩ, nhưng rồi cả mười đứa con ấy, không nuôi nổi một bà Mẹ già. Đứa nào cũng có lý do để từ chối không muốn ở với Mẹ. Linh mục T. cũng kể lại lúc ông còn ở Chicago, có một lần trong thời tiết lạnh giá, đến thăm một bà Mẹ, thấy căn nhà rộng mông mênh, không có ai, vì hai vợ chồng đứa con đi làm cả.
Điều ông quan tâm là thấy trong nhà rất lạnh, bà Mẹ phải mặc hai áo nhưng vẫn lạnh cóng. Ông có hỏi bà mẹ tại sao không mở máy sưởi, thì bà Mẹ cho biết là không dám mở vì sợ khi con đi làm về, sẽ càm ràm là “tốn tiền điện quá!” Những đứa con sang trọng kia, có thể chờ đến ngày Lễ Mẹ, thì đưa mẹ ra ăn tô phở, hoặc gọi điện thoại về nhà, nói: “I love you, mom!” Thế là đủ bổn phận của một đứa con thành công ở Mỹ đối với người mẹ yêu dấu của mình.
Những Bà Mẹ ở đây là hiện thân của Mẹ Việt Nam đau khổ, đã hy sinh cả cuộc đời cho con cái, nhưng khi con cái phụ rẫy, bỏ bê, cũng im lặng chấp nhận cho đến hết cuộc đời.
Có biết bao nhiêu trường hợp như thế trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại? Biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng tất cả những đau khổ từ khi lấy chồng, sinh con, rồi ráng nuôi dậy con nên người, sau đó lại chấp nhận những đứa con bất hiếu như một định mệnh mà không hề thốt lời than vãn?
Một bà mẹ đã dành dụm bao năm buôn gánh bán bưng để cho con vượt biên một mình, sau đó, khi qua đến Mỹ, thằng con sợ vợ quá, không dám để mẹ ngủ trong phòng, mà bảo mẹ phải ngủ dưới đất trong phòng khách. Một lần, con chó xù của hai vợ chồng đứng đái ngay vào đầu mẹ. Bà mẹ kêu lên, thì đứa con dâu cười ha hả trong khi thằng chồng đứng yên, chẳng dám nói gì.
Bà mẹ khác, không được ở chung với con trai, phải thuê một phòng của người bạn, vì sức khoẻ yếu, lúc nào cũng lo là chết không có ai chôn. Khi nghe nói về bảo hiểm nhân thọ, bà có năn nỉ thằng con trai đứng tên mua giùm, để bà bớt chút tiền già và đóng hàng tháng để mai sau, con có tiền lo hậu sự cho bà, nhưng đứa con dâu nhất định không chịu, cho rằng “tốn tiền vô ích, chết thì thiêu, liệng tro xuống biển là xong, chôn làm quái gì cho mất thời giờ đi chăm sóc.” Bà cụ uất quá, phát bệnh và qua đời. Không biết rồi bà có được chôn cất đàng hoàng theo ý muốn, hay lại bị cô con dâu vứt tro ra biển.
Không thiếu những bà mẹ khi đến thăm con trai, phải ngồi nhìn vợ chồng chúng nó ăn uống ríu rít với nhau, vì con dâu không chịu dọn thêm một chén cơm mời mẹ. Một bà mẹ nhớ con nhớ cháu quá, đến thăm con, nhưng sợ con dâu sẽ nhiếc móc thằng chồng, nên vừa vào tới cửa đã vội thanh minh: “Mẹ không ăn cơm đâu! Mẹ vừa ăn phở xong, còn no đầy bụng. Mẹ chỉ đến cho thằng cháu nội món quà thôi!”
Không thiếu những bà mẹ vì lỡ đánh đổ một chút nước trên thảm mà bị con nhiếc móc tơi bời. “Trời đất ơi! Cái thảm của người ta cả vài ngàn bạc mà đánh đổ đánh tháo ra thế thì có chết không?” Có bà mẹ bị bệnh ung thư, biết là sắp chết, mong được con gái đưa về Việt Nam, nhưng con đổ thừa cho chồng không cho phép về, rồi biến mất tăm, sợ trách nhiệm. Mẹ phải nhờ người đưa ra phi trường, nhờ người dưng đi cùng chuyến bay chăm sóc cho đến khi về tới nhà. Từ lúc đó đến lúc mẹ mất, cả con gái lẫn con rể, cháu chắt cũng chẳng hề gọi điện thoại hỏi thăm một lần.
Một bà mẹ già trên 70 tuổi rồi, có thằng con trai thành công lẫy lừng, bốn năm căn nhà cho thuê, nhưng bà mẹ phải lụm cụm đi giữ trẻ, nói đúng ra là đi ở đợ vì phải lau nhà, rửa chén, nấu cơm, để có tiền tiêu vặt và để gộp với tiền già, đưa cả cho.. con trai, một thanh niên ham vui, nhẩy nhót tung trời, hai, ba bà vợ. Mỗi khi gặp bà con, chưa cần hỏi, bà đã thanh minh: “Ấy, tôi ngồi không cũng chả biết làm gì, thôi thì đi làm cho nó qua ngày, kẻo ở nhà rộng quá, một mình buồn lắm!”
Trong một cuộc hội thoại, một bà mẹ đã khóc nức nở vì chỉ đứa con gái phụ rẫy, bỏ bà một mình cô đơn. Bà chỉ có một đứa con gái duy nhất, chổng chết trong trại cải tạo. Trong bao nhiêu năm, bà đã gồng gánh nuôi con, rồi cùng vượt biên với con, tưởng mang hạnh phúc cho hai mẹ con, ai ngờ cô con chờ đúng 18 tuổi là lẳng lặng sắp vali ra đi. Nước mắt bà đã chảy cho chồng, nay lại chảy hết cho con.
Tại những nhà dưỡng lão gần trung tâm Thủ Đô Tị Nạn, có biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm ngóng con đến thăm nhưng vẫn biệt vô âm tín. Một bà cụ suốt ba năm dài, không bao giờ chịu bước xuống giường, vì biết rằng chẳng bao giờ có đứa con nào đến thăm. Bà đã lẳng lặng nằm suốt ngày trên giường như một sự trừng phạt chính mình vì đã thương yêu con cái quá sức để đến tình trạng bị bỏ bê như hiện tại. Sau ba năm, bà mất vì các vết lở, vì nỗi u uất, mà những người chăm sóc bà vẫn không biết gia cảnh bà như thế nào, vì bà không hề nhắc đến. Có điều chắc chắn là khi bà còn là một thiếu nữ, bà phải là một mẫu người làm cho nhiều người theo đuổi, quyến luyến, tôn sùng. Chắc chắn bà đã trải qua bao năm tháng thật tươi đẹp, vì cho đến khi mất, khuôn mặt bà, những ngón tay bà, và dáng dấp bà vẫn khoan thai, dịu dàng, pha một chút quý phái. Nhưng tất cả những bí ẩn đó đã được bà mang xuống mồ một cách trầm lặng.
Một buổi chiều tháng 5, tại một tiệm phở Việt Nam, một mẹ già đứng tần ngần bên cánh cửa. Khi được mời vào, mẹ cho biết mẹ không đói, nhưng chỉ muốn đứng nhìn những khuôn mặt vui vẻ, để nhớ đến con mình, đứa con đã bỏ bà đi tiểu bang khác, để mẹ ở với đứa cháu là một tên nghiện rượu, đã hăm dọa đánh mẹ hoài. Hắn đã lấy hết tiền trợ cấp của mẹ, lại còn xua đuổi mẹ như cùi hủi. Hôm nay, hắn lái xe chở mẹ đến đầu chợ, đẩy mẹ xuống và bảo mẹ cút đi! Mẹ biết đi đâu bây giờ?
Trong một căn phòng điều trị tại bệnh viện Ung Thư, một bà cụ đã gào lên nức nở khi người bệnh nằm bên được chuyển đi nơi khác. “Bà ơi! Bà bỏ tôi sao? Bà ơi! Đừng đi! Đừng bỏ tôi nằm một mình! Tôi sợ lắm, bà ơi!” Những tiếng kêu, tiếng khóc nấc nghẹn đó lặp đi lặp lại làm người bệnh sắp chuyển đi cũng khóc theo. Người y tá cũng khóc lặng lẽ. Anh con trai của người sắp đi xa, không cầm được giọt lệ, cũng đứng nức nở. Cả căn phòng như ngập nước mắt. Mầu trắng của những tấm trải giường, mầu trắng của tấm áo cánh của bà cụ như những tấm khăn liệm, tự nhiên sáng lên, buồn bã. Bà cụ nằm lại đó đã không có đứa con nào ở gần đây. Chúng đã mỗi đứa mỗi nơi, như những cánh chim không bao giờ trở lại.
Trên đại lộ Bolsa, thỉnh thoảng người ta thấy một bà mẹ già, đẩy chiếc xe chợ trên chứa đầy đồ linh tinh. Mẹ chỉ có một cái nón lá để che nắng che mưa. Khuôn mặt khắc khổ của mẹ như những đường rãnh bùn lầy nước đọng, đâu đó ở chợ Cầu Ông Lãnh, Thủ Thiêm, gần bến Ninh Kiều, Bắc Mỹ Thuận hay ở gần cầu Tràng Tiền, Chợ Đông Ba? Mẹ đi về đâu, hỡi Mẹ? Những đứa con của mẹ giờ chắc đang vui vầy trong nhà hàng nào đó, đón mừng ngày Lễ Mẹ, “Happy Mother’s Day!”
(C T Tiến)
BẢO VẬT CỦA MẸ
Mẹ thương con từ trong dạ
Chín tháng mười ngày êm ả trôi qua
Con chào đời khóc oa…oa…
Ôm ấp vào lòng món quà Chúa ban
Niềm vui hạnh phúc ngập tràn
Nâng niu bảo vật ngàn vàng là đây
Tâng tiu trong tay mẹ đầy
Mẹ ru con ngủ đêm ngày không ngơi
Thương con chẳng nói nên lời
Tuổi xanh mẹ đành đánh rơi bên đời
Mẹ thương con cao ngất trời
Không ngại bước trên đường đời chông gai
Cuộc đời sớm nắng chiều phai
Mong con được hưởng tháng ngày ấm êm
Lời ru mẹ hát êm đềm
Con say giấc ngủ những đêm canh trường
Một đời mẹ mãi yêu thương
Yêu con như nước đại dương tuôn tràn
“Vũ trụ có nhiều kỳ quan
Kỳ quan tim mẹ…vô vàn thương con!”
Jacqueline Kiều My.
Khánh Lan sưu tầm
-
TƯỞNG NHỚ NHẠC SĨ Đỗ Lễ.

Cô đơn không phải thứ cảm xúc dành riêng cho những người độc thân, sống một mình. Cả khi đang ở trong một mối tương quan tình cảm nghiêm túc, dài hạn, vẫn sẽ có những lúc ta thấy mình sao lẻ loi, cảm giác đơn độc. Cảm xúc cô đơn trong tình yêu có thể là dấu hiệu cảnh báo điều gì bất ổn đang xảy ra với mối quan hệ của hai người. Hoặc, nó cho thấy bạn đang mong mỏi người ấy giúp mình khỏa lấp một khoảng trống trong tâm hồn bấy lâu nay, nhưng đối phương vẫn chẳng nhận ra.
Theo nhiều ý kiến cho là tình yêu là ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ dại dồng của những tâm hồn yêu nhau. Có lẽ bởi thế, phải chăng lý lẽ là thế, lập luận đến đâu, những vấn đề trong tình yêu vẫn sẽ là nỗi trăn trở, day dứt, sầu muộn, như những tình khúc dang dở, hay chia phôi.
Sau đây là trích đoạn của 2 nhà văn Kiều My và Khánh Lan, góp ý nghĩ cho Văn Học Mới.
Vào năm 1931 thuở cổ xưa ấy, khi bài tình ca Besame Mucho ra đời, ngay lập tức nó đã trở thành một quả bom, tán dương nụ hôn tưởng tượng lãng mạn dắm say, người thiếu nữ như van xin người tình khi thầm van nài ”hãy hôn em thật nhiều”. Giai điệu bolero cùng với những lời ca nồng cháy cứ len lỏi, chầm chậm nhưng thấm sâu vào tâm gan người nghe, làm nên một nỗi buồn man mác. Đấy là tình yêu là ngôn ngữ của trái tim, và rồi một bài tình ca van nài tình yêu khác của chàng ca sĩ Michel Polnareff, (nhạc Frank Gérald), lời của bài Love Me Please Love Me như sau:

Nhạc phẩm “Love Me, Please Love Me” (Tác giả: Michel Polnareff, Frank Gérald)
Love me, please love me
Je suis fou de vous
Pourquoi vous moquez-vous chaque jour
De mon pauvre amour ?Love me, please love me
Je suis fou de vous
Vraiment prenez-vous tant de plaisir
A me voir souffrir.Si j’en crois votre silence
Vos yeux pleins d’ennui
Nul espoir n’est permis
Pourtant je veux jouer ma chance
Même si, même si…
Je devais why brûler ma vie.Love me, please love me
Je suis fou de vous
Mais vous moquerez-vous toujours
De mon pauvre amour ?Devant tant d’indifférence
Parfois j’ai envie
De me fondre dans la nuit
Au matin, je reprends confiance
Je me dis, je me dis…
Tout pourrait changer aujourd’hui.Love me, please love me
Je suis fou de vous
Pourtant votre lointaine froideur
Déchire mon coeur.Love me, please love me
Je suis fou de vous
Mais vous moquerez-vous toujours
De mes larmes d’amour ?Bài trích dẫn của Khánh Lan về Ca Nhạc Sĩ Lê Toàn viết lời việt.
Theo Trần Chí Phúc / SBTN, CNS Lê Toàn với 40 năm cống hiến cho nền âm nhạc hài ngoải và với ngón đàn ghi ta ông đã nghe những đĩa nhạc ngọai quốc để tập, để đàn hát lúc còn trẻ và với năng khiếu trời cho ông có đôi tai thính về âm nhạc. Ông kể rằng khi đi xem một cuốn phim, nghe nhạc nền và ông có thể guitar và đàn theo giống gần hết. Chính vì thế, ông là đã giúp ban nhạc của ông mang đến cho khán giả Việt Nam một trào lưu ca nhạc quốc tế.
Lê Toàn học trường Tabert Sài Gòn nên rất giỏi về tiếng Pháp, bài hát đầu tiên ông tự đàn guitar với Et Pourtant làm cho bạn bè kinh ngạc và tán thưởng trong buổi lễ phát thưởng cuối năm tại trường. Năm đệ tam, ông gia nhập một ban nhạc của trường chơi đàn Organ và đi trình diễn tại các trường trung học khác ở Sài Gòn. Năm 1971, Lê Trí trưởng ban nhạc The Family Love chính thức mời Lê Toàn gia nhập ban nhạc và giữ phần đệm guitar cùng với Minh Hải (ghi ta solo), Lê Trí (Organ), Tường Vân (Trống), Tường Nga (Bass), ca sĩ là Tami Lê và Christian Lê; chơi nhạc cho các câu lạc bộ Mỹ tại Sài Gòn. Từ lúc này Lê Tòan bắt đầu hát những bản tiếng Anh ngoài những bản nhạc Pháp. Năm 1974 ban nhạc Family Love chính thức chơi cho một vũ trường tại Sài Gòn. Lê Tòan cùng bằng hữu chơi cho những đám cưới tại các nhà hàng ở Sài Gòn sau khi trinh diễn tại một buổi hội chợ, ông đã hát bản Oh Darling ( Beatles) và được mọi người tán thưởng nhiệt liệt.
Biến cố tháng 4 năm 1975, ban nhạc Family Love di tản sang Hawaii và tiếp tục chơi nhạc mỗi đêm cho một vũ trường do người Nam Hàn làm chủ suốt 5 năm. Ban nhạc lúc này gồm Lê Trí, Lê Tòan, Lê Thanh, Christian Lê, Quốc Hùng (bass) và Hùng Thuận (trống). Trong năm 1977-1978, ban nhạc Family Love lưu diễn các tiểu bang miền Trung Tây Hoa Kỳ gồm North Dakota, Chicago, Minesota, Ohio..trong một năm. Sau nhiều năm trình diễn quanh khói thuốc, thức đêm, Lê Tòan mắc bệnh suyễn và ông phải nghỉ ca hát trong vòng 3 năm, ông chuyển về sống tại Quận Cam năm 1980. Ở đây ông tham gia vào ban nhạc Dreamer và chính ca sĩ Duy Quang đã hướng dẫn ông hát nhạc Việt Nam và ông bắt đầu sáng tác nhiều ca khúc Việt Nam.
Ông cũng đã thực hiện cuốn băng nhạc cassette với tiếng hát của Lê Tòan và Thái Hiền. Cuốn băng cassette Tình Vàng phát hành năm 1980 với một số sáng tác của Lê Tòan như Tình Vàng (Thái Hiền ca), Đường Tìm Tình Yêu, Chờ Trăng, Tiếng Ai Kêu, Cho Tâm Hồn Mộng Mơ… và được đón nhận nồng nhiệt.
Năm 1981, ban nhạc Family Love dọn về San Jose và Lê Tòan trở lại sum họp với các anh chị em trong ban nhạc. Ban nhạc Family Love tái lập và trình diễn ở Bắc Cali và các tiểu bang khác. Năm 1984, tại San Jose Convention Center, Family Love tổ chức một buổi ca nhạc thành công với mấy ngàn khán giả tham dự. Lúc này Lê Tòan là solo guitar và hát.
Năm 1985, vũ trường Lido khai trương trên đường số 2 trung tâm thành phố San Jose và ban Family Love đóng đô tại đây trong 5 năm, là nơi giải trí nghe nhạc và khiêu vũ của đồng hương San Jose đặc biệt trong sinh họat ca nhạc hải ngọai. Năm 1988, hai anh em Lê Trí và Lê Tòan có phòng thu âm riêng, thu băng cho một số ca nhạc sĩ như cuốn Mười Năm Tình Cũ (Trần Quảng Nam), cuốn tiếng hát Tuấn Anh, cuốn tíếng hát Diễm Châu…. Họ thực hiện những cuốn băng Cassette, mặt A có nhạc đệm và tiếng hát; mặt B chỉ tòan nhạc đệm để khán giả có thể hát theo; gọi là U Sing Along. Họ cũng ký hợp đồng với trung tâm Hải Âu để làm nhạc đệm cho cuốn nhiều cuốn Cassette U Sing Along. Phong trào hát U Sing Along sau một thời gian thì chuyển sang phong trào Karaoke.
Năm 1990, ban Family Love ngưng cộng tác vũ trường Lido và họ chuyển sang thực hiện nhạc đệm cho các đĩa Laser Disc do công ty Bruce Đòan sản xuất, sự cộng tác kéo dài trong vòng 5 năm. Cần nói thêm rằng Bruce Đòan là công ty đầu tiên thực hiện Laser Disc cho đồng hương Việt Nam hát Karaoke và với phần nhạc đệm của hai anh em Lê Trí và Lê Tòan, rất thành công vào thời điểm 1990 – 1995. Năm 1995 Family Love tự sản xuất đĩa Laser Disc Karaoke nhưng không thành công trong việc phát hảnh. Cũng năm 1995, sinh họat ca nhạc của Lê Tòan rực sáng với sự xuất hiện lần đầu trên băng hình Thúy Nga, ra mắt cuốn băng nhạc Si Mê Tình Em tại hai miền Nam Bắc Cali rất thành công. Lúc ở San Jose, từ 1992 đên1997, Lê Tòan được mời làm MC cho các chương trình văn nghệ thi Hoa hậu Bắc Cali hàng năm. Cuối năm 1997, Lê Tòan từ giã San Jose và dọn xuống Quận Cam. Hiện nay anh có công việc kỹ sư điện tóan ở hãng và cuối tuần tham gia sinh họat ca nhạc. Từ năm 1997 cho đến nay, Lê Tòan vẫn lưu diễn ở một số tiểu bang vừa hát vừa làm MC, anh hát nhạc ngọai quốc và nhạc Việt Nam.
Những cuốn Cassette gồm Tình Vàng 1980, Nhạc Trẻ Hiện Đại 1982, Mơ Ước Người Yêu 1983, Hey với 12 bài nhạc Pháp (Julio Iglesias hát) do Lê Tòan viết lời Việt, cuốn Ngày Ấy Nay Còn Đâu với các tiếng hát Family Love.
Lê Toàn đã sáng tác khỏang 50 bản có Bên Bóng Dừa, Tình Vàng…. Nhiều chương trình như Lê Tòan 30 Năm Âm Nhạc, Lê Tòan 40 Năm Âm Nhạc và Lê Tòan 60 Tuổi đã được tổ chức tại Quận Cam. Anh cũng phát hành CD Tình Mơ năm 2013. Tháng 9 năm 2013 Lê Tòan và Vân Quỳnh thực hiện đêm nhạc thính phòng tại quán Lạc Cầm với chủ đề nhạc ngọai quốc rất thành công.
Hiện nay Lê Toàn vẫn sáng tác , vẫn thu âm với một máy điện tóan cầm tay Laptop và Keyboard những bài hát cho riêng mình. Tuy đã lớn tuổi, nhưng ca nhạc sĩ Lê Tòan vẫn còn giữ nét sinh động của một nghệ sĩ với nhiều năm đàn hát trong dòng ca nhạc của cộng đồng người Việt Nam hải ngọai. Và niềm đam mê nghệ thuật trong anh vẫn còn nồng nàn.

Ca nhạc sĩ Lê Toàn.
Nhạc phẩm “Love Me, Please Love Me” (Lời Việt: Lê Toàn)
Love me, please love me
Lòng cuồng say với em
Cớ sao mà em cứ trêu ghẹo tình tôi
Cho trái tim này héo mònLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Hỡi em, một khi biết tôi mang niềm cay đắng
Em có thấy lòng sướng vui?Tuy tôi chưa nghe em trao duyên
Nhưng bao lần trong mắt em
Vẫn lóe lên nỗi u hoài
Cho nên đôi khi tôi mong sao
Dẫu mai sau đời tôi dở dang
Mong cho được sánh đôi bên emLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Cớ sao mà em mãi trêu ghẹo tình tôi
Cho trái tim này héo mòn…Không mong chi nơi tin yêu
Tôi âm thầm trong bóng đêm
Cứ ấp ôm một mối si tình
Nhưng hôm sau con tim như vui hơn
Vẫn yên tâm rằng khi nắng lên
May ra đời đổi thay… hôm nayLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Cớ sao mà em vẫn như là băng giá
để trái tim này nát tanLove me, please love me
Lòng cuồng say với em
Hỡi em, nhìn tôi đắng cay mong tình yêu tới
Em cớ sao đành sướng vuiLòng cuồng say yêu ẹm. Cớ sao mà em cứ dang dở tình tôi. Cho trái tim này héo mò. Love me, please love me. Lòng cuồng say yêu em. Hỡi em, một khi biết tôi mang niềm cay đắng. Em có thấy lòng mình yên vui? Và tình yêu là ngôn ngữ dại dồng của những tâm hồn yêu nhau. Có lẽ bởi thế, phải chăng lý lẽ yêu yên vui, yêu trong sầu bi, tình lụy như bài tình ca sau đây:
Mr. Lonely thuộc đề mục đau đầu vì tình yêu trắc trở, lời ca van lơn, xót xa tê tái cõi lòng. Mr. Lonely, hay “Người Cô Đơn” là một ca khúc đồng sáng tác và thu âm bởi . Bài hát ra đời trong năm 1962, nó vang dội được vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong tháng Mười cùng năm. Khi ca sĩ Bobby Vinton cho ra dĩa nhạc Greatest Hits của mình vào mùa thu năm 1964, bài nhạc leo thang tột đỉnh là hạng Top # 1 trên bảng xếp hạng Billboard trong tháng mười hai năm 1964. Hãy nghe người đàn ông cô đơn lạc hướng, tình si dương phương khổ lụy như thế nào nhé:
Hỡi cô đơn…
Tôi vốn mãi cô đơn,
Tôi không còn ai cả,
Nỗi niềm riêng tôi
Tôi là người cô đơn
Tôi không còn ai cả,
Nỗi niềm riêng tôi.
Này, bài hát này đã đi vào những đêm cô đơn của người cô dơn. Tuyệt tình làm làm saoo, khi người con gái ấy đã ra đi,..
Việt Hải ghi nhận sau đây:
Những tình khúc do yếu tố cô dơn, lẽ loi trong tình trường như trên. Tôi cũng xin dẫn nhập vào chủ dề nhạc sĩ Dỗ Lễ và những tình khúc do ông sáng tác. Trong chủ dề Tưởng Nhớ Nhạc Sĩ Đỗ Lễ, theo bài viết “Nhạc sĩ Đỗ Lễ và 3 ca khúc thất tình nổi tiếng: Sang Ngang, Chia Ly và Tình Phụ“, xin trích doạn như dưới đây:
“Bài hát Sang Ngang ra đời vào năm tác giả được 24 tuổi thì công chúng mới biết đến tên của ông. Trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975, hầu như ai cũng biết mối tình si mà Đỗ Lễ dành cho ca sĩ Lệ Thanh vào khoảng đầu thập niên 1960. Khi đó Lệ Thanh đã là một trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất của phòng trà Sài Gòn, còn Đỗ Lễ chỉ là một anh sinh viên đa tình, đêm nào cũng đến trồng cây si ở các phòng trà Anh Vũ tới Bồng Lai, Hòa Bình… hoặc bất kỳ nơi nào có Lệ Thanh trình diễn. Đỗ Lễ rất yêu tiếng hát của Lệ Thanh, là một ca sĩ được nhận xét là chỉ có sắc vóc trung bình nhưng sở hữu giọng ca nồng nàn với những nốt vuốt độc đáo mà cho tới bây giờ chưa có người thay thế.
Người ca sĩ trình diễn trên sân khấu, ánh mắt nhìn bâng quơ xuống hàng ghế khán giả, không chủ ý nhìn ai, nhưng nhạc sĩ Đỗ Lễ luôn tin rằng nàng ca sĩ đang nhìn mình, hát cho mình nghe, rồi ôm lòng tương tư. Rồi đến một ngày Lệ Thanh giã từ ca hát để đi lấy chồng, bỏ lại tất cả hào quang sân khấu và sự tiếc nuối của khán giả, và người hụt hẫng nhất chính là Đỗ Lễ. Dù chỉ là mối tình đơn phương, nhưng ông đã tưởng tượng rằng hai người đã yêu nhau thắm thiết, rồi người con gái ngoảnh mặt để sang ngang, để rồi sáng tác nên ca khúc gắn liền với sự nghiệp của ông với tựa đề là Sang Ngang: “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi… Mai bước sang ngang, lòng thêm nát tan, tình đã dở dang… Thôi khóc làm gì, đã lỡ duyên thề, thương nhau làm chi. Nỗi buồn ai hay, khi mình chia tay. Xa cách nhau rồi…”.
Click để nghe Thái Thanh hát Sang Ngang trước 1975 Nữ danh ca Thanh Lan nhận xét về ca khúc này như sau: “Đỗ Lễ đã đến với khán thính giả yêu nhạc bằng đôi hia bảy dặm, chỉ cần đặt bút viết xuống đôi lời thủ thỉ “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi…”, anh đã trọn vẹn nắm được con tim của tất cả những ai đã từng nếm được hạnh phúc cũng như đau thương của tình yêu đích thực”.
Ngay sau đó, nhạc sĩ Đỗ Lễ còn sáng tác một ca khúc khác, có nội dung gần giống với Sang Ngang, đó là Chia Ly, cũng với tâm trạng của một người phải tiễn người yêu sang ngang: “Mai lên xe hoa em sầu trong áo cưới Em lên xe hoa còn thương nhớ một người Ai gieo đau thương đếm từng đêm ướt gối Em đã đi rồi, em đã quên người tình xưa” Tuy nhiên, do một sự nhầm lẫn nào đó mà thời gian sau này, bài hát bị ghi nhầm tên thành Chuyện Buồn Tình Yêu…
Khi Nữ ca sĩ Lệ Thanh theo chồng và mai danh ẩn tích, hoàn toàn không trở lại với ánh đèn sân khấu lần nào nữa, và mối tình đơn phương của nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng dần nguôi ngoai theo thời gian. Đỗ Lễ lập gia đình với ca sĩ ít tên tuổi là Hoài Xuân, được xem là người đầu tiên hát ca khúc Sang Ngang. Tuy nhiên cuộc hôn nhân đó chỉ kéo dài 6 năm thì kết thúc. Đó là thời gian mà nhạc sĩ Đỗ Lễ bị lâm vào nỗi buồn đau một lần nữa vì tình yêu, nên đã sáng tác bài Tình Phụ: Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi… Click để nghe Lệ Thu hát Tình Phụ trước 1975 Nhạc sĩ Đỗ Lễ còn sáng tác rất nhiều ca khúc khác nữa, được ông đưa vào trong 4 băng nhạc tuyển Đỗ Lễ, tuy nhiên 3 bài nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của ông là Sang Ngang, Chia Ly và Tình Phụ, đều là những bài nhạc thất tình nổi tiếng nhất của nhạc vàng. Ba bài hát này rất buồn, và nỗi buồn đó như là đã vẫn vào cuộc đời của người sáng tác, bởi vì nhạc sĩ Đỗ Lễ đã vĩnh viễn ra đi vào năm 1997 ở tuổi 56, khi ông đã tự kết liễu đời mình vì những nỗi buồn riêng không thể giải tỏa được.
Người tình ở bên cạnh Đỗ Lễ những năm cuối đời là Vương Thị Lam Phương đã nhận xét về ông như sau: “Đỗ Lễ là một người rất ủy mị, con người anh ấy cũng rất yếu đuối, cứ gặp chuyện gì buồn là trở nên suy sụp, rất chán nản và không còn thiết hoạt động gì nữa, theo tôi nghĩ đó chính là điều đưa đến cái ᴄhếƭ của anh ấy!”.”
Nguồn: Nhạc vàng Bolero.
Sau dây là trích đoạn của nhà văn Kiều My, và chi tiết như sau:
Đỗ Lễ, người nhạc sĩ tài ba, đã kết liễu cuộc đời vì chữ “tình”! Người nhạc sĩ bạc mệnh này được giới yêu nhạc biết đến qua những bản tình sầu thảm như: Sang Ngang, Tình phụ, Chia Ly v.v…Những lời ca đau thương, ray rứt đã chiếm trọn trái tim của những ai từng trải qua đau khổ thất vọng trong tình yêu. Nhạc của Đỗ Lễ cưu mang một tình yêu tuyệt vọng, chứa đựng sự đau thương, âm thầm lặng lẽ… trong những tình khúc reo hờn từ trái tim rướm máu. Vì thất tình ca sĩ Lệ Thanh, ông quá đau khổ đã trải lòng mình qua ca khúc SANG NGANG:
“Thôi nín đi em lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi!
Em hỡi đôi mình, mộng nay đã tan, tình đã dở dang
Em khóc những chiều, anh xót xa nhiều, thương cho tình yêu…
Lời bài hát “Sang Ngang” mang nỗi niềm của tác giả quá nặng tình, lưu luyến, sắt son và thủy chung với mối tình tuyệt vọng. Ông đã say trong nỗi đau với men rượu và sáng tác ca khúc TÌNH PHỤ:
Chuyện tình mười mấy năm qua
Nay bỗng xót xa mỗi khi sầu dâng
Còn đâu ngày quen biết nhau
Đã yêu em rồi, yêu cả một đời…
Còn nỗi đau nào hơn trong cảnh “CHIA LY” với người mình yêu thương? Còn lời chua xót nào hơn bằng những giọt nước mắt chia xa?
Nói đi em câu chuyện buồn tình yêu
Nói đi em vì mình thương quá nhiều
Khóc làm chi cho hoen úa rèm mi…
Nhạc sĩ Đỗ Lễ đã từ giả cõi đời đầy đau khổ trong tình trường của ông. Nhờ thế, mà ông đã để lại cho đời “sự nghiệp âm nhạc Đỗ Lễ” bằng những tình khúc buồn…thật buồn!
oOo
Trong bài viết “Phận đời sầu thương của nhạc sĩ Đỗ Lễ” của tác giả Anh Nhi, chi tiết dược trích đoạn như sau:
“Nhạc sĩ Đỗ Lễ tên thật là Đỗ Hữu Lễ, ông sinh ngày 12/10/1941 tại Hà Nội. Từ nhỏ, ông đã là một người thông minh, có nhiều tài năng, được gia đình đầu tư cho học ở các ngôi trường nổi tiếng. Ông từng học tại Trường Hàng Vôi, sau đó là Trường Chu Văn An vào những năm trung học. Đến khi gia đình chuyển vào Sài Gòn (TP HCM) sinh sống, ông lại tiếp tục theo học những ngôi trường danh tiếng lúc bấy giờ là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (1953 – 1954), Đại học Khoa học Sài Gòn (1959), Đại học Luật Khoa Sài Gòn (1963).
Không những có nền tảng học vấn tốt, nhạc sĩ Đỗ Lễ còn có tài năng sáng tác âm nhạc từ bé. Từ năm 10 tuổi, ông đã tự học nhạc, đến năm 15 tuổi bắt đầu sáng tác những ca khúc đầu tiên. Tuy nhiên, trong giai đoạn thiếu thời, ông không gây được tiếng vang bằng tài năng âm nhạc của mình. Phải đến lúc ngoài hai mươi tuổi, trải qua mối tình day dứt với nữ ca sĩ Lệ Thanh, ông mới có những sáng tác để đời là chùm ba ca khúc “Sang ngang”, “Chia ly” và “Tình phụ”.
Câu chuyện tình của Đỗ Lễ với Lệ Thanh bắt đầu khoảng những năm 50 của thế kỷ trước. Lúc bấy giờ, Lệ Thanh đã là một ca sĩ có tiếng. Bà nổi bật nhờ vẻ đẹp nhẹ nhàng, trong trẻo, giọng ca dịu dàng, ấm áp. Các nhà văn thời đó ca tụng bà giống như một nữ sinh e ấp, ngọt ngào trong những bộ váy, áo dài màu thiên thanh, màu trắng, xám bạc,… khiến biết bao người đàn ông say mê trồng “cây si”. Nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng như vậy, ông yêu tha thiết nàng kiều nữ Sài Gòn.
Nữ danh ca Thanh Lan từng viết về nhạc sĩ Đỗ Lễ và ca khúc “Sang ngang” như sau: “Anh đến với khán thính giả yêu nhạc bằng đôi hia bảy dặm, chỉ cần đặt bút viết xuống đôi lời thủ thỉ “Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn thương nhớ ơi…”, anh đã trọn vẹn nắm được con tim của tất cả những ai đã từng nếm được hạnh phúc cũng như đau thương của tình yêu đích thực”…
Lâm Tường Dũ viết: “Khoảng cuối năm 1964, ở tại một phòng trà nhỏ nằm gần đường Đinh Tiên Hoàng, Dakao, Tân Định có cái tên rất là Nhựt Bổn Kontiki. Nhạc khúc “Sang ngang” được một ca sĩ hạng B tên Hoài Xuân trình bày. Cô ca sĩ khoảng 17, 18 tuổi rất xinh, rất đẹp có đôi mắt buồn não nuột. Nàng cất giọng ca thê lương băng giá cả màn đêm. Bản nhạc này được giới thưởng ngoạn buổi đó khen ngợi nhiệt tình…”.
Theo nhiều người kể lại, lần đầu chứng kiến ca sĩ Hoài Xuân hát ca khúc “Sang ngang”, Đỗ Lễ ngồi ở dưới không rời mắt khỏi vẻ đẹp u buồn, thoáng nét sầu mơ của cô. Từ đó về sau, dù cô đi diễn ở bất cứ phòng trà nào, ông cũng tham gia ngồi nghe. Đỗ Lễ ân cần đưa đón nữ ca sĩ trẻ về nhà, trở thành một điểm tựa cho cô. Tuy nhiên, một số người thân thiết với Đỗ Lễ cho rằng, ông tìm thấy những nét tương đồng của Hoài Xuân với Lệ Thanh khi cô trình diễn trong các phòng trà.
Vì vậy, cuộc hôn nhân của Đỗ Lễ và nữ ca sĩ Hoài Xuân diễn ra rất ngắn ngủi, hai người chóng vánh kết hôn, nhanh chóng ly hôn sau 6 năm chung sống. Cặp đôi có với nhau ba người con. Khi chia tay, đời tư của họ không còn được nhắc đến nhiều nữa. Thời gian đau khổ này ông sáng tác bài “Tình phụ”. Bài hát cũng đã được tuyển chọn vào vòng chung kết những nhạc phim hay tại Đại hội Điện ảnh Á châu tổ chức tại Tokyo vào đầu thập niên 1970 và cũng là bài hát trong phim “Sóng tình” với diễn viên chính là Thẩm Thúy Hằng.
Lời ca vận vào số phận
Đỗ Lễ được mệnh danh là “cha đẻ của những bản tình ca dang dở”, nhạc của ông mang cái lặng lẽ, âm thầm, sự đau thương trong tình khúc reo hờn trầm buồn đi thẳng vào cuộc đời. Từ muôn trùng, mỗi lần nghe tiếng nhạc trỗi vang là mỗi lần cảm thấy lòng bùi ngùi, se sắt lại, tình bâng khuâng với dòng nước, hồn lơ lửng theo mây gió. Trong những phút tuyệt vời ấy, người ta lại thầm nghĩ tới người nghệ sĩ đã soạn thành những tình khúc dang dở của tình yêu, hình dung đến cái đẹp hào hoa, tao nhã của con người nhiều lãng mạn và mộng mơ, để lòng thổn thức với thế nhân. Và có lẽ lời ca đã “tiên đoán” trước số phận buồn của Đỗ Lễ.
Chia Ly (Chuyện Buồn Tình Yêu)
(Tác giả: Đỗ Lễ).
Nói đi em câu chuyện buồn tình yêu
Nói đi em vì mình thương quá nhiều
Khóc làm chi cho hoen úa rèm mi
Cho héo úa xuân thì
Nhớ thương nhau rồi đi
Nói đi em khi chuyện mình dở dang
Nói đi em vì tình duyên lỡ làng
Khóc làm chi cho chua xót tình yêu
Cho cay đắng thêm nhiều
Yêu chẳng được bao nhiêu
Mai lên xe hoa em sầu trong áo cưới
Mai lên xe hoa còn thương nhớ một người
Ai gieo đau thương đếm từng đêm tiếc nuối
Em đã đi rồi, em đã quên người tình rồi
Nói đi em, cho vơi niềm thương đau
Nói đi em, để lòng nguôi nỗi sầu
Khóc làm chi, cho đau đớn người đi
Cho héo úa xuân thì, ta âm thầm chia ly”.
Về đường học vấn, ông học tiểu học ở trường Hàng Vôi, đến năm 11 tuổi được học trung học ở ngôi trường danh tiếng Chu Văn An (thường được gọi là trường Bưởi). Năm 1953, ông theo gia đình di cư vào Sài Gòn và từng theo học các trường Mỹ Thuật ở Sài Gòn và Gia Đình. Năm 1959, ông vào Đại học Khoa học Sài Gòn, sau đó học tiếp trường Đại học Luật khoa Sài Gòn vào năm 1963. Năm 1965, ông từng giành được huy chương vàng trong một cuộc thi Lực sĩ đẹp. Có thể nhận thấy nhạc sĩ Đỗ Lễ là một trí thức được đào tạo chính quy ở các trường học tiếng tăm nhất ở cả Hà Nội lần Sài Gòn. Ngoài ra, ông vốn có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ, từ năm 10 tuổi đã tự học nhạc, sau đó tập sáng tác năm 15 tuổi, với những bài hát đầu tay là Tình Mẹ Hiền, Tan Vỡ…, tuy nhiên phải đến năm 24 tuổi thì nhạc sĩ Đỗ Lễ mới được công chúng biết đến rộng rãi với ca khúc Sang Ngang, sáng tác cho mối tình đơn phương của tác giả với nữ danh ca Lệ Thanh.

“Sang ngang”
Thôi nín đi em!
Lệ đẫm vai rồi
Buồn thương nhớ ơi!
Anh hỡi đôi mình
Mộng nay đã tan
Tình đã dở dang
Em khóc những chiều
Anh xót xa nhiều
Thương cho tình yêu
Nỗi buồn chua cay
Khi lòng đổi thay
Thôi hết sum vầy
Điệp khúc:
Nếu biết răng…tình là giây oan
Nếu biết rằng… hợp rồi sẽ tan
Nếu biết răng.. yêu là đau khổ
Thà dương gian…đừng có chúng mình
Lau mắt đi em
Gần hết đêm rồi
Buồn thêm nữa sao
Mai bước sang ngang
Lòng thêm nát tan
Tình đã dở dang
Thôi khóc làm gì
Đã lỡ duyên thề
Thương nhau làm chi?
Nỗi buồn ai hay
Khi mình chia tay
Xa cách nhau rồi”
Đỗ Lễ cha đẻ của những bài ca dang dở…như: Ai từng yêu nhạc mà không âm thầm nghĩ đến Đỗ Lễ, cái lặng lẽ âm thầm ấy… là sự đau thương trong tình khúc reo hờn trầm buồn đi thẳng vào cuộc đời. Từ muôn trùng, mỗi lần nghe tiếng nhạc trỗi vang là mỗi lần cảm thấy lòng bùi ngùi se sắt lại, tình bâng khuâng với giòng nước, hồn lơ lửng theo mây gió. Trong những phút tuyệt vời ấy, người ta lại thầm nghĩ tới người nghệ sĩ đã soạn thành những tình khúc dang dở của tình yêu, hình dung đến cái đẹp hào hoa tao nhã của con người nhiều lãng mạn và mộng mơ, để lòng thổn thức với thế nhân.
Những hình ảnh đẹp rực rỡ huy hoàng của chàng nhạc sĩ Đỗ Lễ là người mang đầy những thơ mộng dày đặc những đau thương và sầu khổ đã phủ kín đời anh. Đỗ Lễ ra đời năm 1941 tại Hà nội, Trời đã phú cho Đỗ Lễ từ thuở nhỏ, năm 14 tuổi đã sáng tác, đến năm 18 tuổi nổi tiếng nhạc phẩm đầu tiên Tan Vỡ & Sang Ngang, tiếng nhạc trở nên réo rắt và tâm hồn trở nên tha thiết trong mối tình đầu dang dở ấy… Những tiếng nhạc buồn như mời mọc, van xin và sự sầu khổ man mác tạo thành những ca khúc tuyệt vời là tiếng lòng thổn thức của Đỗ Lễ. Tôi yêu nét nhạc đậm đà của Đỗ Lễ và Đỗ Lễ tiếp tục hát, nghe em!
Tan Vỡ (Tác giả : Đỗ Lễ).
“Bao nguồn vui đã mất, lòng chết theo ngàn tiếng ca
Nghe niềm đau day dứt hoa lá nức nở xót xa
Ôi làn da thơm hương trinh dâng lên tuyệt vời
Ôi bờ môi thắm thơ ngây in trong nụ cười
Khi tình yeu đã đến lòng đắm say ngàn ước mơ
Ôi mộng tình đôi lứa êm ái như ngàn ý thơ
Khi tình tan vỡ tan theo mơ uớc mot đời
Trong niềm băng giá con tim thổn thức không nguôi
Em ơi, nếu biet thế thà đừng quen nhau
Đừng mơ phút ban đầu cho tình ta thêm lâu
Em ơi, nếu biết thế thà dừng yêu nhau
Đừng yêu phút ban đầu cho tình ta thêm sầu
Phấn son chưa nhạt môi hồng
Xa xôi em còn nhớ không
Một chiều mưa bay giăng giăng
Anh gửi màu hoa tím
Như màu máu con tim đang tàn lửa hương duyên
Một mai mang xuống tuyền đài
Bóng hình em muôn kiếp không pha”
Ôn về tiểu sử…
Nhạc sĩ Đỗ Lễ tên thật là Đỗ Hữu Lễ, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1941 tại Hà Nội. Ông từng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (1953), Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định (1954), Đại học Khoa Học Sài Gòn (1959), Đại học Luật Khoa Sài Gòn (1963). Năm 1951, Đỗ Lễ tự học nhạc và bắt đầu sáng tác khi 15 tuổi. Bài Sang Ngang được ông viết trong tình cảnh tuyệt vọng khi người ông yêu (ca sĩ Lệ Thanh.) lên xe hoa. Sau đó ông kết hôn với nữ ca sĩ Hoài Xuân (người đầu tiên trình bày bài Sang Ngang), tuy nhiên cuộc tình này chỉ kéo dài 6 năm khi có với nhau 3 mặt con. Thời gian đau khổ này ông sáng tác bài Tình Phụ. Nhạc phẩm này cũng đã được tuyển chọn vào vòng chung kết những nhạc phim hay tại Đại hội Điện ảnh Á Châu tổ chức tại Tokyo vào đầu thập niên 70 và cũng là nhạc phẩm chính trong phim Sóng Tình với diễn viên chính là Thẩm Thúy Hằng. Nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng từng phụ trách một chương trình ca nhạc hàng tuần trên Đài Truyền hình Sài Gòn mang tên là Thời Trang Nhạc Tuyển. Chương trình này quy tụ các ca sĩ như Hoàng Oanh, Khánh Ly, Thanh Lan, Phương Hồng Hạnh, Ngọc Minh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan, Caroll Kim, Hoài Xuân, Xuân Đào, tam ca Sao Băng, 3 Con Mèo, 3 Trái Táo…
Sau năm 1975, nhạc sĩ Đỗ Lễ sinh sống bằng cách mở lớp dạy nhạc, đến năm 1994 thì được thân nhân bảo lãnh qua Mỹ định cư tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Tháng 10 năm 1996, ông trở về thăm quê hương và đến ngày 24 tháng 3 năm 1997 thì đột ngột kết liễu đời mình bằng một liều Quinine cực mạnh trong căn nhà đang thuê trên đường Trần Đình Xu, Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông để lại 2 lá thư tuyệt mệnh, một cho vợ và một cho một người bạn thân.
Theo bà Vương Thị Lam Phương thì Đỗ Lễ rất chán nản với cuộc sống tại Hoa Kỳ và ông “là một người rất ủy mị, con người anh ấy cũng rất yếu đuối, cứ gặp chuyện gì buồn là trở nên rất suy sụp, trở nên rất chán nản và không còn thiết hoạt động gì…theo tôi nghĩ đó chính là điều đưa đến cái chết của anh ấy…”
Về tác phẩm, ông sáng tác khoảng 700 bài.Điển hình như các bài ca sau:
Anh không muốn em buồn
Bốn mùa yêu nhau
Cay đắng
Chia ly
Khóc
Lệ sầu
Lụy tình
Ly tan
Niềm thương
Nỗi niềm
Nuối tiếc
Oan trái
Theo bài viết “Chuyện cuối đời về Nhạc Sĩ Đỗ Lễ” của tac giả Xuân Hòa xin trích doạn như sau:
“Có lần ngồi hàn thuyên tâm sự. Tôi có chút thắc mắc về ”Chuyện tình Sang Ngang” của Anh . Có một chút ngại ngần nào đó.
– Anh biết Xuân Hòa muốn hỏi gì rồi ! Đây không phải là chuyện tình “đơn phương” như người đời bạn bè đồn thổi đâu – Anh trả lời.
Thôi thì cứ tin như vậy để cuộc đời thêm vui Ca sĩ Lệ thanh cũng ” Yêu ” anh, nhưng vì Anh nghèo quá và Lệ Thanh gia đình danh giá, vì nghe lời gia đình nên phải bỏ anh để lấy chồng. Đó là lý luận của chàng Nhạc sĩ si tình. Với mối tình đớn đau này chàng nhạc sĩ họ Đổ đã biện minh cho mối tình đơn phương này nhạc phẩm Sang Ngang:
Thôi nín đi em! Lệ đẫm vai rồi Buồn thương nhớ ơi! Anh hỡi đôi mình Mộng nay đã tan Tình đã dở dang. Em khóc những chiều Anh xót xa nhiều Thương cho tình yêu Nỗi buồn chua cay Khi lòng đổi thay Thôi hết sum vầy.
Tôi và mấy cô em thỉnh thoảng vẫn đến để xem anh làm việc, Người Nhạc sỉ hiền lành đến tội nghiệp. Anh quên hết sự đời khi trên tay có cây đàn Guitar. Đây là niềm an ủi vô tận của nhạc sĩ Đổ Lễ. Và Cô ca sĩ hát bài hát Sang Ngang hay nhất ( theo nhận xét của tác giả ):Ca sĩ Hoài Xuân đã trở thành người vợ của chàng nhạc sĩ lãng đãng, đa tình .
Định mệnh một một lần nửa lại đùa cợt với chàng Nhạc Sĩ hiền lành đến ngơ ngác trong tình trường. Qua thời gian hạnh phúc với ba người con. Hoài Xuân cũng ôm cầm sang thuyền khác Và Người Nhạc Sĩ này lại một lần nửa chấp nhận với những đắng cay mà Định mệnh đã dành cho Anh. Không một lời oán trách Nhạc phẩm tình phụ đã xuất hiện trong thời điểm này không một lời trách móc oán hận:
Chuyện tình mười mấy năm qua nay bỗng xót xa những khi sầu dâng. Còn đâu ngày quen biết nhau đã yêu em rồi, yêu cả cuộc đời. Khi em đã phụ lòng anh, nỡ phụ lòng anh, đau thương để lại xót xa vô vàn. Chỉ là bội ước những lời hẹn thề mà lòng tái tê.
Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi. Thôi nhé em! người nào phụ tình! Lòng buồn một mình, ray rứt không thôi Khi phụ lòng, thì ngờ tình người Mang theo thương đau khi giã từ nhau! Chuyện mình tàn với năm qua mang thêm xót xa mỗi khi lệ rơi.
Sầu dâng ngày tháng đớn đau trách ai phụ mình, trách ai bạc tình. Cho em vẫn phụ lòng anh, vẫn phụ lòng anh Cho anh vạn sầu đắng cay tình đầu. Còn lại màu trắng xóa mờ cuộc tình đời còn dở dang. Thôi nhé em còn hận tình này, Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mà thôi. Thôi nhé em! người nào phụ tình! Lòng buồn một mình, ray rứt khi phụ lòng Thì ngờ tình người mang theo thương đau khi giã từ nhau!”
Tình Phụ
(Tác giả: Đỗ Lễ).
Chuyện tình mười mấy năm qua nay bỗng xót xa những khi sầu dâng.
Còn đâu ngày quen biết nhau đã yêu em rồi, yêu cả cuộc đời.
Khi em đã phụ lòng anh, nỡ phụ lòng anh,
đau thương để lại xót xa vô vàn.
Chỉ là bội ước những lời hẹn thề mà lòng tái tê.
Điệp khúc:
Thôi nhé em còn hận tình này,
Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi
Đem chôn vùi vào ngày thật buồn
cho anh cô đơn mãi mãi mà thôi.
Thôi nhé em! người nào phụ tình!
Lòng buồn một mình, ray rứt không thôi
Khi phụ lòng, thì ngờ tình người
Mang theo thương đau khi giã từ nhau!
Chuyện mình tàn với năm qua mang thêm xót xa mỗi khi lệ rơi.
Sầu dâng ngày tháng đớn đau trách ai phụ mình, trách ai bạc tình.
Cho em vẫn phụ lòng anh, vẫn phụ lòng anh
Cho anh vạn sầu đắng cay tình đầu.
Còn lại màu trắng xóa mờ cuộc tình đời còn dở dang.
Thôi nhé em còn hận tình này,
Bao nhiêu đắng cay, hãy cố quên đi
Đem chôn vùi vào ngày thật buồn cho anh cô đơn mãi mà thôi.
Thôi nhé em! người nào phụ tình!
Lòng buồn một mình, ray rứt khi phụ lòng
Thì ngờ tình người mang theo thương đau khi giã từ nhau!”.
***
Phần kết luận tôi xin đem thơ Nguyễn Bính, một nhà thơ lãng mạn trong thi ca, như trong âm nhạc có nhạc sĩ Đỗ Lễ vậy. Nguyễn Bính sáng tác thơ tương tu, thất tình trong bài “Vì em”, nhà thơ bảo rằng vì em mà ông làm thơ, để rồi nhớ mong, để rồi mơ được ôm em vào lòng, và để rồi hôn em bằng sự thơ ngây trong tâm hồn:
“Tôi xin ôm lấy vào lòng
Tôi xin giữ lấy trọn vòng thời gian
Tôi xin sung sướng vô vàn
Để ca ngợi, để mơ màng em luôn
Tôi xin dành một chiếc hôn
Đặt lên tất cả tâm hồn thơ ngây”
Cũng là “Vì Em” mà nhà thơ muốn kính cẩn “tôn thờ EM” sống mãi bên bờ sông yêu đương. Và bù lại chàng chỉ cần nàng ban cho nụ cười hay những lời ngọt ngào ái ân:
“Tôi xin kính cẩn vọng thờ
Thắp hương cầu nguyện bên bờ sông yêu
Nhưng đau lòng biết bao nhiêu !
Người tôi yêu chỉ biết yêu như người
Chỉ cho tôi những nụ cười
Chỉ cho được những lời ái ân…”

Xin cảm ơn tạp chí Văn Học Mới và nhà thơ Hà Nguyên Du khi cho tôi góp bài Tưởng Nhớ NS. Đỗ Lễ là đây. Hoàng Nam (VHLA)
Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My. (20/05/2024).
-
TƯỞNG NIỆM CỐ NHẠC SĨ LAM PHƯƠNG

Dòng nhạc Lam Phương dường như vẫn sống mãi theo thời gian; dù cho tác giả đã về cõi vĩnh hằng từ hơn 3 năm qua. Ông đã vĩnh viễn ra đi, nhưng để lại cho đời những ca khúc thấm sâu vào lòng người. Ở cõi xa xăm đó, ông có nghe được những người yêu nhạc của ông đã hát lên những ca khúc làm nên tên tuổi của ông, những bản tình ca trữ tình tiêu biểu cho người nhạc sĩ tài danh mang tên Lam Phương?

NS Út Huỳnh, GS Trần Mạnh Chi, NV KG Vương Trùng Dương, NV Phạm Gia Đại, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải.

NS Út Huỳnh, NV Khánh Lan, CS Ngọc Hà, NV Vương Trùng Dương, Minh Khai (Em gái của NS Lam Phương) Thụy Lan, Lệ Hoa, Phương Liên
Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian quy tụ về ngôi nhà khang trang của cô bảy Minh Khai, em gái nhạc sĩ Lam Phương; thực hiện buổi ca hát nhạc Lam Phương để tưởng nhớ đến ông, trong một buổi chiều ngày 17 tháng 5, 2024 tại thành phố Fountain Valley, Nam California. Với sự hiện diện của Gs. Ns. Lê Văn Khoa cùng phu nhân ca sĩ Ngọc Hà; các nhà văn như: Nguyễn Quang, Vương Trùng Dương, Phạm Gia Đại, Trần Việt Hải và phu nhân ca sĩ Lệ Hoa, Khánh Lan, Kiều My; nhà thơ Lê Nguyễn Nga, ca sĩ Thụy Lan và phu quân Michael, Minh Thư. Ngoài ra còn có anh Thiện và chị MiMi, từng là chủ nhân nhà hàng Ngọc Sương ở phố Bolsa. Đặc biệt, với sự tham dự của những người bạn từ Việt Nam sang Mỹ hội ngộ với nhóm NVNT&TTG sau một thời gian xa cách như: Phương Hiền, Phương Liên, Phương Anh và Huỳnh Út…Tất cả cùng ca hát với nhạc sĩ keyboardist Ngọc Tú, trong không gian ấm cúng, quây quần bên nhau đầy ắp tình bạn thân thương.

Katherine Minh Thư (Ái nữ của NS Lưu Trọng Nguyễn & NT Lê Nguyễn Nga)

NS Út Huỳnh & GS Trần Mạnh Chi

Phương Hiền, Anh Hiếu, Phương Anh, Minh Thư, Lệ Hoa
Âm điệu của dòng nhạc Lam Phương trong những ca khúc để đời và lan tỏa trong lòng người Việt Nam. Những bản tình ca Lam Phương rất lôi cuốn, như dòng suối đầy sức quyến rũ mang đậm nét tình Mẹ, tình quê hương, tình yêu khắng khít hoặc chia phôi của đôi tình nhân, hay tình lính trong thời chiến… từng vang danh một thời; đã đưa Lam Phương lên đỉnh cao sự nghiệp âm nhạc của người nhạc sĩ. Mỗi bản tình ca dang dở ông viết, là một kỷ niệm gắn bó rồi chia xa với một bóng hồng nào đó, cũng là một chất xúc tác, tô điểm cho cuộc sống cũng như nguồn cảm hứng sáng tạo. Trong những ca khúc của ông, nói lên niềm đam mê âm nhạc một cách nhẹ nhàng, sâu lắng và chan chứa nỗi niềm…của cảnh nghèo, hay cô đơn trống vắng, hoặc một thoáng hạnh phúc trong cuộc sống bình dị của ông.
Nhạc sĩ Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng (1937-2020) quê quán Rạch Giá, Kiên Giang. Bản nhạc đầu tay của ông là Chiều Thu Ấy, tiếp nối là những bản nổi tiếng như: Kiếp Nghèo, Tình Bơ Vơ, Chuyến Đò Vỹ Tuyến, Tình Anh Lính Chiến, Chiều Hành Quân, Phút Cuối, Biển Tình, Cho Em Quên Tuổi Ngọc, Chờ Người, Thiên Đường Ái Ân, Lầm, Khúc Ca Ngày Mùa, Thành Phố Buồn …và hàng trăm nhạc phẩm nổi tiếng khác.

Ca sĩ Ngọc Hà với nhạc phẩm “Phút Cuối” NS Keyboard Ngọc Tú
Trong buổi chiều tưởng nhớ cố nhạc sĩ Lam Phương, ca sĩ Ngọc Hà đã hát bản “Phút Cuối” qua giọng hát điêu luyện đầy cảm xúc, trong giai điệu Slow Rock trữ tình. Lời nhạc đong đầy nỗi xót xa của tác giả trước giây phút chia tay với người tình:
Chỉ còn gần em một giây phút thôi.
Một giây nữa thôi là xa nhau rồi
Người theo cánh chim về nơi cuối trời
Để lại thương nhớ cho kiếp đơn côi….

NV Kiều My với ca khúc “Cho Em Quên Tuổi Ngọc”
Sau đó, Kiều My nối tiếp dòng nhạc Lam Phương qua ca khúc “Cho Em Quên Tuổi Ngọc”; lời Pháp- C’est Toi – trong giai điệu Slow thật tha thiết, qua thân phận đơn côi của người con gái trót lầm lỡ:
C’est toi qui emportes mon coeur au firmament
Et qui me fais envie à chaque instant à chaque moment
Il n’y a que la mort qui change mon sort…
Cho em… xin một lời cuối ăn năn quê hương tội tình
Em xin được khóc cô đơn, ôi thân phận mình
Thế gian còn ai…em xin từ giả thơ ngây xuôi theo dòng đời…
Điệu Tango trổi lên trong ca khúc rất được ưa chuộng; đó là bản “Bài Tango Cho Em” qua giọng hát trong trẻo của ca sĩ Lệ Hoa:
Từ ngày có em về
Nhà mình tràn ánh trăng thề
Dòng nhạc tình đã tắt lâu
Tuôn trào ngọt ngào như dòng suối…

Mùa Xuân Không Còn Nữa” ca sĩ Minh Khai và Tony Hiếu
“Mùa Xuân Không Còn Nữa” trong điệu Rumba, qua tiếng hát đầy cảm xúc của ca sĩ Minh Khai và Tony Hiếu. Lời ca và điệu nhạc nức nở chạm trái tim người nghe:
Anh biết em hững hờ để rồi mùa xuân không còn nữa
Anh đã nghe mong chờ đi vào bóng tối bơ vơ…
Xa tiễn chân em về đường xưa vắng ánh trăng thề
Ngoài hiên gió rít lê thê, tình ơi! Sao quá não nề…
Một giọng hát từ Việt Nam, dào dạt như sóng biển cả. Đó là, Phương Hiền trong nhạc phẩm “Biển Tình” điệu Bossa Nova, nói lên sự mãnh liệt của trái tim đang yêu, cuồn cuộn như những cơn sóng tràn bờ:
…Biển rộng đất trời chỉ có ta
Thì dòng Ngân Hà mình cũng qua
Biển không biên giới như tình anh với em
Hơn cả những vì sao đêm.
Để chương trình văn nghệ thêm phong phú, đôi song ca Thụy Lan và Tony Hiếu đã trình bày nhạc phẩm “Biết Nói Gì Đây” của nhạc sĩ Huỳnh Anh rất truyền cảm:
Biết nói gì đây khi hai đường đời ngăn chia mình rồi
Bao nhiêu thương nhớ, bao nhiêu đợi chờ chưa hoen lối đi
Đêm đêm anh nhắn gió gửi mây về cho em
Trao cho em tiếng hát mình yêu nhau ngày ấy…
“Về Đây Nghe Em” sáng tác của nhạc sĩ Trần Quang Lộc qua giọng hát mạnh và ấm của Huỳnh Út:
Về đây nghe em, về đây nghe em
Về đây…mặc áo the đi guốc mộc
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới….
“Kiếp Nghèo” thể điệu Tango qua tiếng hát của ca sĩ Ngọc Hà, chứa chan bao cảm xúc qua cảnh đời nghèo khổ của tác giả:
…Êm êm tiếng hát ngân nga ôi lời mẹ hiền ru thiết tha
Không gian tím ngắt bao la như thương đường về ôi quá xa!
Mưa ơi có thấu cho ta lòng lạnh lùng giữa đêm trường
Đời gì chẳng tình thương không yêu đương…
Những cuộc tình tan vỡ của Lam Phương có thể ví như một cuộc chơi kỳ diệu lắm khổ đau và đầy thách thức. Đây cũng chính là “tác nhân” của những sáng tác tuyệt vời khiến những ca khúc của Lam Phương trở thành “bất tử” theo thời gian. Nhờ thế, mà chúng ta được thừa hưởng di sản âm nhạc quý giá của cố nhạc sĩ Lam Phương. Xuyên qua tài ba và đậm nét đam mê của nhạc sĩ, phối hợp với bản chất tinh túy và có hồn của ngôn ngữ âm nhạc…đã tạo nên một nhạc sĩ tài ba Lam Phương cho nền âm nhạc Việt Nam.
Trong buổi họp mặt hôm nay, gia chủ và Chef cook Michael đã đãi các bạn những món ăn thuần túy Việt vô cùng xuất sắc. Món cà ri gà bánh mì không đâu sánh bằng, kể cả nhà hàng. Món miến gà thật tuyệt hảo, ăn một lần sẽ nhớ mãi. Món cháo cá mú được ăn vào buổi tối khi mọi người đã mõi mệt, sẽ được hồi sức nhanh chóng. Món chè sâm bổ lượng ăn vào cảm thấy tươi mát do tài nội trợ của Lệ Hoa. Món xôi mặn ngon lành của Khánh Lan rất hấp dẫn. Anh Phạm Gia Đại tăng cường thêm món gỏi khô bò thấy phát thèm. Ngoài ra, còn có quít, nho xanh, nho đỏ ăn cho đỡ buồn…ngủ, do Kiều My cung cấp.
Tiệc nào rồi cũng tàn! Đối với Kiều My, đây là kỷ niệm khó quên của ngày tưởng nhớ cố nhạc sĩ Lam Phương. Riêng đối với các bạn Phương Hiền, Phương Liên, Phương Anh và Huỳnh Út, KM chúc các bạn trở về quê hương bình an. Hẹn tái ngộ cùng các bạn trong một ngày gần đây.
Xin thắp nén hương lòng để tưởng nhớ và tri ân người nhạc sĩ tài hoa Lam Phương, đã để lại trong kho tàng âm nhạc Việt Nam những ca khúc tuyệt vời, chứa chan biết bao tình! Những bài tình ca của Lam Phương đã bay đi khắp phương trời theo bước chân người Việt tha hương và vẫn luôn sống mãi trong lòng người Việt trên khắp hành tinh này.
Kiều My
-
Mười Năm – Nhớ Nguyễn Xuân Hoàng

Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng thấm thoát ra đi được 10 năm (Sinh ngày 7 tháng 7, 1940 tại Nha Trang, Khánh Hòa, và Mát ngày 13 tháng 9, 2014 (74 tuổi) tại San Jose, California, Hoa Kỳ. Ông là cựu học sinh Võ Tánh Nha Trang và Pétrus Kỳ Sài Gòn, lên đại học có lúc ông học dự bị y khoa nhưng cuối cùng vào văn chương, triết học ở Đại học Đà Lạt. Ông kể kỷ niệm dạy học ở trường Ngô Quyền, Biên Hòa, rồi một năm sau đó về dạy tại trường Petrus Ký ở Sài Gòn, nơi ông gắn bó hơn một thập niên cho đến ngày Sài Gòn bị giặc pắc pó, bắc nô cưỡng chiếm.
Trong bài “Tháng Chín, nhớ Nguyễn Xuân Hoàng” của tác giả Trần Doãn Nho đăng trên báo online Người Việt. Kể về mục sổ tay của Nguyễn Xuân Hoàng, bài ghi nhận như sau:
“Sổ Tay trước hết là sự kiện: xã hội, văn học, chính trị, bóng đá, thời tiết, ra mắt sách, tác phẩm mới, tác giả mới, phim mới… Lan man. Tản mác. Rời rạc. Nhưng đầy hơi thở, đầy hiện thực: gặp bạn bè ở Paris, ở Houston, ở Sài Gòn, lụt ở miền Trung năm 1999, ra mắt sách người này người nọ, những người bạn đến thăm, những người bạn đau, những người bạn qua đời, những chuyến đi, Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Orange County, những tác phẩm vừa xuất bản, cảm giác về những ngày mưa, ngày nắng, ngày tuyết, về giải bóng đá thế giới, về chuyến đi của Clinton sang Tàu, vân vân…
Sổ Tay là những hồi ức sống động.
“Một buổi tối, trong căn phòng hẹp nằm sau ‘ngõ hẻm’ Song Long, chủ nhà Mai Thảo tiếp Thụy Khuê, Bùi Bảo Trúc, vợ chồng nhà báo Đỗ Ngọc Yến, vợ chồng luật sư Đỗ Xuân Hòa, Khánh Trường… Nhà có ba chiếc ghế. Khách ngồi bệt xuống sàn, xung quanh là những cuốn sách, những chai rượu. Mọi người nói đủ thứ chuyện: cuộc sống, văn chương, thời sự… nhưng tuyệt nhiên không ai nói về sức khỏe của Mai Thảo và Khánh Trường. Từ gần một năm nay, cả hai nhà văn này không khỏe. Khánh Trường luôn cười nói, lạc quan hơn một người có sức khỏe bình thường. Thế nhưng, người ta biết ông đang bị sa sút về thể lý. Trong một tháng, hơn ba lần Khánh Trường vào bệnh viện. Có đôi lúc, tiếng nói ông thấp xuống, không còn cái ‘ồn ào sang sảng’ mỗi khi trêu ghẹo bạn bè. Rõ ràng là Khánh Trường không muốn nói và cũng không muốn nghe ai nói về tình trạng sức khỏe của mình. Còn Mai Thảo, chuyện di chuyển của ông đã bắt đầu khó khăn. Ăn rất ít. Chỉ những giọt rượu là những thang thuốc bổ còn giữ được ông ở lại với chúng ta.” (Văn, Tháng Bảy, 1997). Sổ Tay là những nhận xét cô đọng về người, về văn.
Cái chết của một người bạn: “Tối thứ hai 24 tháng Năm, Phạm Phú Minh từ quận Cam gọi lên San Jose cho biết Lê Đình Điểu đã từ giã bạn bè ra đi. Giờ đó tôi vẫn còn ngồi trong tòa soạn. Đồng hồ chỉ 10 giờ hơn. (…) Điểu là người không hút xách, không rượu chè, không bài bạc, anh sống ngăn nắp và đàng hoàng. Sống ngăn nắp và đàng hoàng là một điều rất khó trong đời sống của chúng ta.” (Văn, Tháng Sáu, 1999)”.
Chữ nghĩa Nguyễn Văn Sâm: “Nguyễn Văn Sâm đã nhìn Sài Gòn từ cái phía trái của nó. Bóng tối và sự khốn khó. Sài Gòn của mồ hôi và nước mắt. (…) Nguyễn Văn Sâm là người kể chuyện hơi rề rà nhưng có duyên.” (Văn, Tháng Tư, 2000)
Một nhà thơ đã mất: “Cao Đông Khánh là một hiện tượng trong thi ca Việt Nam. Chữ nghĩa trong tác phẩm ông cũ một cách rất mới, nồng nàn và sôi nổi, say sưa và mê sảng. Ông có đôi mắt của một vị thần lưu linh, và có lối đọc thơ của một người đồng thiếp.” (Văn, Tháng Bảy, 1997),… Sổ Tay cũng là nơi của bạn bè văn nghệ, bạn cũ bạn mới bạn trong nước bạn ngoài nước bạn quen lâu bạn mới quen. Bạn, chao ôi là bạn. Ở đâu cũng có bạn, đi tới đâu cũng bạn. Đầy ắp bạn. Bạn, tự nó cũng là một thứ văn chương. Cái thế giới bạn bè của Nguyễn Xuân Hoàng cũng là thế giới của văn chương. Anh gặp bạn anh sống bạn anh uống bạn anh viết bạn…
Tôi đọc bài viết “Nguyễn Xuân Hoàng Trên Con Dốc Tử Sinh” của nhà văn Ngô Thế Vinh. Tác giả viết kỷ niệm với nhà văn bạn như sau:
“Quen được Nguyễn-Xuân Hoàng trong hoàn cảnh nào thì tôi không nhớ, nhưng đó là một tình bạn khá lâu năm. Khoảng giữa thập niên 1960-1970 Nguyễn-Xuân Hoàng đã cùng với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật và Nguyễn Quốc Trụ chủ trương nhà xuất bản Đêm Trắng. Họ đều ở lứa tuổi trên dưới 30, với sức sáng tác đang sung mãn với phong cách riêng mỗi người, được coi như là nhóm “Tiểu Thuyết Mới”, với quán La Pagode như một điểm hẹn sinh hoạt. Và tên tuổi mỗi người trong nhóm, sau này đều trở thành nhân dáng những nhân vật tiểu thuyết của Nguyễn-Xuân Hoàng.
Giữa những năm giông bão của cuộc chiến tranh lúc đó, thỉnh thoảng tôi được đọc và cả quen biết họ trong những giai đoạn và các hoàn cảnh khác nhau, do rất khác về môi trường sinh hoạt và tôi thì cũng ít có thời gian ở Sài Gòn. Ra tới hải ngoại, hai người trong nhóm Đêm Trắng mà tôi còn giữ được mối liên lạc là Nguyễn-Xuân Hoàng và Nguyễn Đình Toàn….
Mấy dòng viết vội và muộn màng này chỉ là những hồi tưởng đứt đoạn để gửi tới một người bạn là Nguyễn-Xuân Hoàng. Xong bậc trung học 1959, khởi đầu Hoàng có ý định học Y khoa, là sinh viên PCB Đại học Khoa học Sài Gòn một năm, thấy ngành học không thích hợp, Hoàng chuyển sang học ban Triết, Đại học Đà Lạt, sau Hoàng Ngọc Biên một năm. Tốt nghiệp 1962, là giáo sư Triết trung học Ngô Quyền ở Biên Hoà một niên khoá và rồi được thuyên chuyển về trường Petrus Ký Sài Gòn cho tới 1975. Nhưng Nguyễn Xuân Hoàng lại được biết tới nhiều hơn như một nhà văn một nhà báo tên tuổi từ những năm 1970. Hoàng là tổng thư ký tạp chí Văn Sài Gòn từ 1972, tiếp nối Trần Phong Giao, cùng với những tác phẩm đã xuất bản gồm tuyển tập truyện ngắn: Mù Sương, Sinh Nhật; tuỳ bút: Bất Cứ Lúc Nào Bất Cứ Ở Đâu; tạp ghi: Ý Nghĩ Trên Cỏ; và hai truyện dài: Khu Rừng Hực Lửa, Kẻ Tà Đạo…
Thực ra không ai có thể chọn lựa một căn bệnh để được chết theo ý mình, ngoại trừ thứ tự do chọn lựa rất bạo động là tự sát cũng thường thấy ở các nhà văn như: Ernest Hemingway Ngư Ông và Biển Cả bằng súng (1961), Yukio Mishima Đền Vàng bằng gươm (1970), Yasunari Kawabata Ngàn Cánh Hạc bằng hơi ngạt (1972), Nhất Linh Đoạn Tuyệt bằng thạch tín (1963), Tam Ích Nghệ Thuật và Nhân Sinh treo cổ (1972)…
Hoàng thì đã và đang sống một cuộc sống tràn đầy, nên tôi cũng hiểu rằng “bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu”, bạn tôi cũng đã sẵn sàng chuẩn bị cho dặm cuối của một chặng đường cheo leo trên con dốc tử sinh. Mark Twain thì bao giờ cũng với một cái nhìn rất nhẹ nhàng về cái chết: “A man who lives fully is prepared to die at any time.” Và rồi ra, đến một lúc nào đó, ở một nơi nào đó chắc Nguyễn-Xuân Hoàng cũng sẽ ngoảnh lại rồi mỉm cười mà nhắn với bằng hữu rằng: “Tường thuật về cái chết của tôi có phần quá đáng/ The report of my death was an exaggeration. Mark Twain”.”
Với nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, hay nhạc sĩ Trần Quang Hải, cả hai tôi biết qua sân trường Petrus Ký. Hai ông bị dèm pha liên hệ vee cees. Một ông kẹt bên vợ, ông kia kẹt người cha về sinh sống bên Việt Nam. Tôi hiểu họ, đầu óc họ có sạn cả, những tiểu xảo marxisme socialisme, hay thế giới vô sản, thế giới đại đồng (le monde prolétarien, le monde universel, la fraternité universelle), là những trò bịp, bọn cee cees nắm giữ quyền bính, chúng tôi giơ ngón tay giữa ra thôi.
Hãy dọc Aleksandr Solzhenitsyn, với những ác mộng như One Day of Ivan Denisovich, Gulag Archipelago, First Floor of Hell, Cancer Ward, và The Gulag Archipelago, hay những Cry from the Abyss, Chants de Prison, Flowers from Hell (Nguyen Chi Thien).
Trong bài tôi viết cho Đặc San trường Petrus Ký, năm 2014 đề cập về GS. Nguyễn Xuân Hoàng, bài “Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, Văn Chương và Quê Hương” và bài “Văn Chương, Triết Học và Nguyễn Xuân Hoàng”, kỷ niệm thì tôi theo học lớp 12B4, thầy Hoàng dạy lớp 12B1, cách lớp tôi gần lắm, tôi gặp ông hàng tuần sang Mỹ thì kỷ niệm trao đổi văn học nhiều hơn. Tôi viết về Nguyễn Xuân Hoàng với những: Người Đi Trên Mây, Một Người Ngồi Trong Ghế Bành, Bụi Và Rác, Tự Truyện Một Người Vô Tích Sự, Căn Nhà Ngói Đỏ, Barbara,… Hãy hiểu chiều sâu nét bút của nhà văn như ông có những u buồn, hãy bao dung, hãy rộng mở, chiều sâu ngòi viết đó chất chứa phong văn lương thiện của bóng mây thoáng mát, Dĩ Văn Tải Đạo, hay Văn Dĩ Quán Đạo, hoặc “Le style, c’est l’homme”, nét bút của nhà văn trung thành với chữ nghĩa, trân quý với sách vở và yêu thương văn học.
Tôi ngẫm nghĩ sự lương thiện và thành thật trong nét bút của Nguyễn Xuân Hoàng, ông khai về gia đình mình, thân phụ rượu chè say sưa, là can phạm “hạ sát” ông tây Gaulois nào đó ở Marseille, xong kéo bà đầm Gauloise tình nhân bỏ trốn, hay thành tâm của nét bút kể về người anh cả theo CS trong khi người anh khác là trung tá Không quân của QLVNCH hy sinh đền nợ nước,… Ông chia chung cái khổ tâm của những nhà văn như những Yung Krall Đặng Mỹ Dung, Phan Nhật Nam,…
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng tâm sự lòng trong ngòi viết:
“Năm học sau cùng tôi vào Sài Gòn, được nhận vào trường Petrus Ký. Tôi học ban B, là ban Toán, như cách phân loại thời đó. Ở Petrus Ký hầu hết học sinh đều giỏi. Tôi chạy đua mệt nghỉ với các bạn cùng lớp. Ra trường, tôi ghi danh vào Đại học Khoa học, lớp PCB (viết tắt các môn học Physique, Chimie và Biologie). Tôi có ý định theo ngành y khoa… Đó là năm đầu tiên tôi bắt đầu đọc truyện. Tôi đọc Võ Phiến, Nguyên Sa, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Doãn Quốc Sỹ, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc… Tôi cũng đọc Phạm Công Thiện và Nhất Hạnh. Rồi tôi đọc André Gide, St. Exupéry, Marcel Proust, Hermann Hesse, Francois Mauriac, André Maurois, Camus, Sartre, Dostoievsky, Tolstoi… Tôi đọc cả Hemingway, Faulkner, Tennessee Williams, Arthur Miller… Đọc bản dịch Việt ngữ lẫn bản tiếng Pháp… Gặp sách gì cũng đọc, ngấu nghiến. Có cuốn đọc hiểu. Có cuốn không hiểu gì cả. Tôi tìm kiếm mò mẫm để không bị lạc. Nhưng tôi bị lạc thật. Cuốn sách tôi thích lúc đó là Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền. Và tôi thấy các môn Vật lý, Hóa học và Sinh học ở nhà trường sao mà buồn chán. Thế giới văn chương kỳ ảo và đầy hấp lực, mặc dù lúc đó tôi ao ước mình trở thành nhạc sĩ hơn là nhà văn….”
Hãy đọc tiếp Nguyễn Xuân Hoàng mô tả kỷ niệm xưa có những yếu tố ảnh hưởng đời ông: Đà Lạt, Văn Chương và Triết Học:
“Chưa hết niên học, tôi quyết định bỏ lớp, vì một lý do mà khi có dịp tôi sẽ viết lại dưới hình thức một truyện ngắn. Tôi ghi danh thi vào ban Triết, Đại Học Đà Lạt. Kỳ thi có khoảng 300 thí sinh, nhà trường tuyển 28 người. Và tôi là người đội sổ. Có hai đề thi để chọn. Tôi không nhớ đề kia, vì nó dính dáng đến một triết gia mà tôi chưa bao giờ nghe tên (vì có học hành gì đâu!), tôi chọn đề với câu nói của André Gide, tác giả La Porte Étroite. Bài luận văn của tôi phải là một bài dở nhất thế giới. Tôi nghĩ, mình thi chơi không đậu thì thôi, vì tôi cũng đã thi vào một trường khác và tôi đã được nhận. Buổi học đầu tiên Linh Mục giáo sư Alexis Cras sau khi chào mừng cả lớp, đã gọi tên tôi đứng dậy cho Cha biết mặt và Cha mỉm cười nói bài luận văn của tôi là một trường hợp đặc biệt. Cha không giải thích thế nào là đặc biệt, nhưng tôi biết đó là một bài viết được vớt vì người viết chẳng có chút kiến thức giáo khoa nào về triết cả.”
Nguyễn Xuân Hoàng, ông thầy điển trai qua làn da hoa bưởi, nhân dáng bảnh bao mà tôi bắt gặp trong khu hành lang đệ nhất B trên lầu 2 của trường Petrus Ký lắm lần. Ông sang Mỹ muộn màng để cắp sách lại đại học để thi thố cấp bằng cao như nhiều bạn bè của ông, hay như những học trò của ông tại đây, tôi muốn ám chỉ cái đất nước này, “American land, the Land of Opportunity”. Sự nhiêu khê, ác nghiệt của cuộc sống xung quanh khiến ông ở ẩn, sống trong im lặng với sự nuôi dưỡng của văn chương theo 2 nghĩa đen và bóng. Tôi hiểu ông, tôi ước gì Nguyễn Xuân Hoàng sống lại những ngày niên thiếu tại Nha Trang tĩnh lặng và hồn nhiên không có bóng mây mờ xung quanh ông. Nguyễn Xuân Hoàng hiền hòa tự bản chất, Nguyễn Xuân Hoàng cô đơn trong ý nghĩ sau:
“Mười năm sau, đặt chân lên đất nước này, tôi đã không còn tuổi trẻ. Trong văn chương ở đây tôi gặp lại một nền văn chương ở đó. Người ta dụng văn như một phương tiện. Những chiếc áo ngụy bán trong kia, và những chiếc nón cối bán bên này. Những người chống đối nhau nhưng sử dụng chữ nghĩa giống nhau như hệt. Phỉ báng, lăng mạ, chửi rủa, buộc tội… Giống nhau cho cả người thua kẻ thắng. Văn học nghệ thuật đích thực chỉ còn là một vùng đất nhỏ, bên này cũng như bên kia. Tôi học rất nhiều bằng sự câm lặng. Tôi khám phá ra chữ nghĩa của tôi đã không còn Chàng và Nàng, tôi lược bỏ không thương tiếc những tĩnh từ trong câu văn tôi. Tôi sợ những chữ mình viết ra chưa ráo mực đã cũ, như tấm ảnh rửa bằng thứ nước thuốc xấu, bị ố vàng dưới ánh sáng. Nhiều cuốn sách viết trước 1975 giờ đọc lại đã thấy cũ. Những đề tài thời thượng nhanh chóng bị đào thải. Tôi sợ những trang chữ của mình. Tôi cố đơn giản cùng cực trong cách dùng chữ. Tôi tránh cái sướt mướt. Tôi muốn những câu văn khô. Tôi “không ưa một nhà văn nói lý quá nhiều. Họ chỉ làm như vậy khi họ không còn tin vào cái lực của ngòi bút họ. Khi một người đàn bà đã qua thời nhan sắc vẫn thường bình luận nhiều về tình yêu, ghen tuông nhiều hơn và chẳng chịu thừa nhận bất cứ sắc đẹp của ai.” Ai đã nói câu đó vậy?”
Trích dẫn câu nói của một nhà văn bạn, ông cho phần kết thúc bài viết như sau:
“Nhà văn nào mà chẳng bất lực trước trang giấy trắng? Giá trị đến như Truyện Kiều mà Nguyễn Du thiên tài cũng chỉ mơ ước “mua vui được vài trống canh.” Giá trị văn học thường chỉ được người ta nhắc đến khi người viết không còn nữa… Ai lấp đầy những khoảng trống trong tư tưởng nhà văn? Ai? Người nào? May ra chỉ có thiên nhiên. Thiên nhiên sẽ lấp bằng đất, như đã từng lấp mộ các bậc đế vương hoặc bất kỳ một kẻ vô danh không tuổi không tên, không quê hương, không sự nghiệp.
Xin tha lỗi cho những suy nghĩ luộm thuộm đầu Ngô mình Sở của một người đang chuẩn bị chuyến hành hương.”
Nguyễn Xuân Hoàng xác định rõ trong phong cách viết: “chữ nghĩa của tôi đã không còn Chàng và Nàng”, bần bút xem trong tác phẩm “Một người ngồi trong ghế bành”, thú thật ông diễn tả đôi bạn tình nhân tỏ tình, lãng mạn mà theo tôi hình như có khoảng hư không ngăn cách, tôi viết văn yêu thì cho đôi tình nhân ấy được yêu nhau tới bến, gần gũi tình yêu “xáp lá cà”, yêu thương kiểu “alasso”, tapis tới tấp, nào những pha l’épaule sur l’épaule, main dans la main, hay lèvres scellées lèvres,… nhưng ông giữ biên cương nào đó, nên viết chuyện tình platonic, như tác phẩm của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, không như Mối tình nồng cháy chênh lệch quá mức tuổi tác của chú Đạt và cháu Diễm trong truyện “Yêu” của Chu Tử, hay Mối tình dị chủng giữa Martha và Chương mà hồn ái ân dâng trào, môi liền môi như trong “Dấu Chân Cát Xóa” của Doãn Quốc Sỹ, hoặc Tình yêu taboo như “Forbidden love” giữa cô giáo Trâm và cậu học trò nhỏ Minh trong truyện “Vòng Táy Học Trò” của Nguyễn Thị Hoàng,… Như vậy, truyện tình của Nguyễn Xuân Hoàng có biên cương ranh giới hẳn hòi, có hố sâu ngăn cách, có thắng hơi an toàn, một “roman” khá hiền hòa như các câu ái tình trong bài viết:
“Diệp thả tay tôi ra, nhưng mùi thơm của tóc nàng bay tận mũi tôi… Diệp ôm chặt cánh tay tôi bên hông nàng…”, rồi kế nữa cú văn hiền khô, “Tôi đẩy cửa kính và đứng qua một bên nhường Diệp vào trước. Nàng lột khăn xuống rũ nước mưa và chúng tôi chọn một chiếc bàn hơi khuất trong góc phòng… Nhưng liền ngay khi đó tiếng cười của nàng chợt tắt sau câu nói và mắt Diệp mở lớn ngạc nhiên hướng về chiếc ghế bằng da màu đỏ.
Dù sao, tôi phải công nhận là Diệp đẹp. Có lẽ vì cái dáng cao cao của nàng, bộ ngực khoẻ mạnh trên một thân thể khá mong manh, cái vẻ lạnh lẽo ở khuôn mặt cẩm thạch, cùng với mớ tóc rối đen khô làm tôi choáng váng.”
Hãy hỏi Nguyễn Xuân Hoàng có chân thật trong văn chương?
Như đã trình bày, những tác phẩm Nguyễn Xuân Hoàng cho nội dung lành mạnh, xây dựng theo phong thái tốt đẹp, những mơ ước thực sự của con người. Trong văn chương của Leo Tolstoy với “La Guerre et la Paix” (War and Peace), hay Boris Pasternak với “Doctor Zhivago”, con người là nạn nhân của chiến tranh. Cả Jean Jacques Rousseau, Khổng Tử hay Sigmund Freud minh định trong ý tưởng con người ban sơ vốn mang tính thiện, hiếu hòa, nhưng rồi cuộc sống ganh đua, tranh giành sinh ra ác tính, trong bình diện tiểu phẩm chia sẻ quan điểm nhìn cuộc đời, Nguyễn Xuân Hoàng viết lên “Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Đâu”. Trong chiến cuộc con người ước mơ hòa bình. Tôi đọc như xem cuốn phim của Pasternak. “Có phải là một điều nhảm nhí không khi ta nói đến tình yêu trong một thời đại mà người ta chỉ đề cập đến sự chết. Tôi vẫn nghĩ rằng con người càng đến gần với tình yêu chính là tiến gần đến cái chết. Yêu là chết. Và trước cái chết, người ta bao giờ cũng ham muốn sự sống. Và sự sống là gì nếu không là tình yêu? Ngụy biện quá, phải không?”.
Nguyễn Xuân Hoàng thích bạn bè văn chương, sống nội tâm, nhưng cô đơn trong bài viết, nỗi trăn trở của ông khi mà cuộc chiến ông mất đi người anh, những bạn bè thân, Sài Gòn vẫn vui chơi, vẫn sinh hoạt dửng dưng. Chính sự cô đơn đã khiến ông thu mình trong vỏ ốc trầm mặc, nội tâm dằn co mâu thuẫn, và viết lên bài viết này. Đọc văn ông để hiểu tâm trạng ông hơn. Đọc tác phẩm, ta cố đi sâu vào từng ngõ ngách thầm kín của tâm hồn mà nội dung chuyên chở ý tưởng sâu xa của người viết đặt để cốt truyện được tạo ra vậy.
Trong bài “Nhà Văn và Thời Gian”, tác giả Nguyễn Xuân Hoàng viết:
“Ông đã cho tôi nhiều suy gẫm về những giá trị đạo đức tinh thần, những trăn trở của một chiều dài lịch sử, những khát vọng, những đớn đau của một thời tuổi trẻ, một thời đạn bom. Cảm ơn ông đã đưa triết lý vào đời sống văn chương thật tài tình, để những khô rốc của triết lý nở rộ trong đời sống hằng ngày. Tôi nghĩ là ông đã thành công trong sự nghiệp văn chương của ông không phải bằng số lượng mà bằng chất lượng ông đã cẩn thận chắt chiu. Tôi cũng xin nói thêm là những tác giả, những bài viết mà Văn đã chọn lựa đã xứng đáng đứng trong trời đất, của hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau.”
Nói đến Nguyễn Xuân Hoàng không nhắc đến tác phẩm “Người Đi Trên Mây” (NĐTM) e là thiếu sót. Tác giả mô tả nhân vật nam chính, tên Trần Lâm Thăng, là người ngoại giao rộng quen biết nhiều với giới văn nghệ sĩ thời 1970 tại một thuở Sài Gòn. Thăng có cơ hội tiếp xúc với một khuôn mặt chính trị sáng giá thuở ấy, nhân vật Phan thì là một người đam mê quyền lực vô cùng. Thăng có nhiều đàn bà đẹp theo đuổi bên cạnh anh. Từ Lan, con gái ông Lý, người giàu có có ảnh hưởng đến đời Thăng. Rồi người con gái tên Uyên, con gái của ông Phan, rồi người con gái khác là Quỳnh với nét quyến rũ trời cho, đã sống chung với Thăng giữa một Sài Gòn đầy rẫy những dèm pha, và những tiếng đồn dị nghị. Trong khi chuẩn bị chờ ra tòa ly dị với Lan, Thăng bước vào tá túc trong biệt thự của ông Phan để tránh những phiền nhiễu, phá rối gây ra từ phía Lan và ông Lý. Nhưng rồi lại bị gò bó trong sự giam hãm trong một khung cảnh lệ thuộc quá chu đáo của bà Phan và cô Uyên, Thăng quyết định rời bỏ ngôi biệt thự sang trọng, bay đi tìm không khí tự do. Thăng quen với Quỳnh, và về chung sống với nàng tại một khu ổ chuột tồi tàn của Sài Gòn.
Khi con người lý tưởng cuộc sống, ông vua có thể bỏ ngai vàng sống theo ý muốn riêng của mình. Đó là quan niệm của hiện sinh, existentialisme trong truyện NĐTM. Đọc tiếp Nguyễn Xuân Hoàng sáng tác tác phẩm “Bụi và Rác” sau biến cố đổi đời khi khúc phim Miền Nam bị đứt. Vào cuối những ngày cuối tháng tư 1975, khi thành phố Sài Gòn lao đao trong hỗn loạn trước nguy cơ đổi thay của lịch sử. Thăng và Quỳnh, như mọi người là chứng nhân mục kích những cảnh đổi đời phi lý và oan trái. Với giới cầm quyền mới thì lạm danh chính phủ cách mạng, đứng trước sự kiện trớ trêu này khiến cho một người như Trần Lâm Thăng vốn có tâm thức kinh điển về triết Tây phương ngao ngán. Cách mạng à ? Làm cách mạng có phải là để cướp bóc tài sản của người dân lành ư ? Cách mạng có phải là làm trống trải những căn nhà này cho đầy căn nhà kia. Làm cách mạng có phải là hạ thấp mức sống của một xã hội đang ngăn nắp bình yên xuống thành một xã hội thụt hậu, mà cuộc sống đã bị ngưng đọng như chìm vào đáy vực nghèo khổ.
Những ý tưởng mà Thăng cảm thấy buồn bã và sự sống của mình tựa như chung quanh những hạt bụi giữa những đống rác thối tha hay thứ rác rưỡi bẩn thỉu giữa cuộc đời đầy bụi bặm. Không thể sống với cái đổi thay mà người ta gọi là “cách mạng”, và không thể hòa nhập vào cái không gian đầy ngờ vực nhau, ám khí bao trùm lên cả đất nước, Thăng tìm cách ra đi như bao người khác. Sau lần bị bắt ở miền Tây, rồi về lại Sài Gòn, căn nhà Thăng trở nên trống rỗng, khi biết Quỳnh đã đem con lao ra biển đông vượt biên tìm Thăng, thế là anh mất hết điểm tựa, cuộc sống vất vưỡng trong nỗi lo âu phập phồng cho những dự định ra đi.
Trong hai cốt truyện “Người Đi Trên Mây” và “Bụi và Rác”, ta thấy ẩn ý của tác giả nói lên sự tự do bị mất đi hay bị tước đoạt, chút gì đó suy tư trong quan điểm existentilisme được ông ươm mầm. Còn đọc tự truyện Một người vô tích sự là kể chuyện gia đình, đọc nó để hiểu con người và nếp suy tư của nhà văn. Càng đọc văn Nguyễn Xuân Hoàng người đọc nghiệm ra rằng thuở ấu thơ của ông hình như không được như ý, ông cho biết người cha say sưa, anh cả ra đi biền biệt, mặt nội tâm thiếu vắng sự hồn nhiên của tuổi thơ, vốn cần sự thanh thản dễ chịu. Quá khứ là một nỗi buồn thơ ấu không bình yên luôn ám ảnh ông. Bãi biển Nha Trang quê nhà mà có những lúc ông ra ngồi một mình cô đơn đến độ dày vò tâm thức và cô độc lạnh lùng. Kỷ niệm mang theo vào văn chương, tôi nhận thấy khi viết về quê nhà Nha Trang ông tri ân vùng đất cũ cưu mang ông, dù nơi đó có những kỷ niệm buồn tênh, tuổi niên thiếu chôn vùi ngày tháng cũ man mác qua đi.
Có lúc tôi lang thang vào blogpage (website) VOA của Nguyễn Xuân Hoàng, bài vở nhiều lắm, thong thả đọc, có bài do ông giáo Petrus Ký dạy môn văn chương, GS. Nguyễn Văn Sâm, được GS. Nguyễn Xuân Hoàng cho đăng trên VOA, dĩ nhiên người trong xứ “truy cập” vào rất nhiều. Trong cái nhìn của tôi khi ai viết về những vị ân sư, những vị thầy mình hâm mộ, mến mộ là sự hãnh diện, GS. Nguyễn Văn Sâm viết về vị thầy toán học của ông, GS. Nguyễn Văn Phú. GS. Phú dạy môn toán học vốn khó nuốt, ôi những phương trình vi phân, những phương trình tích phân; những ngữ toán như équation différentielle, équation intégrale mà những năm đầu tiên ngành kỹ sư của anh em chúng tôi va chạm trong các campus Mỹ. GS. Nguyễn Văn Phú còn là nhà văn biên khảo rất uyên bác, đặc biệt về triết lý Phật học.
Tôi bắt gặp Nguyễn Xuân Hoàng viết về quê xưa, Nha Trang.
” Nhatrang, đó là một thành phố của tình yêu và chia biệt, thành phố của những mối tình mùa hè, của những con sóng biển vô tình, những con dã tràng trên cát, những dấu chân bị nước cuốn đi không để lại một vết tích nào như thể trước đó nó không hề tồn tại…
Tôi là người có hai quê: cha tôi ở bên Thành, mẹ tôi ở N.H. Nhatrang nằm ở giữa. Đường đi lên Thành-Citadelle gần, nhưng đường từ Nhatrang đi N.H. xa hơn, cách nhau tới hai ngọn đèo, đèo Rù Rì và đèo Rọ Tượng. Mẹ tôi người Minh Hương. Và N.H. có thể nói là thị trấn của những người Minh Hương. Tính chất Minh Hương ấy hiện lên rất rõ trong những ngày lễ lạc. Cả một thị trấn chiếm một khúc ngắn trên quốc lộ Một và tỉnh lộ Hai Mươi Mốt này gặp ngày lễ lớn người ta thấy bay rợp trời những lá cờ Trung Hoa, họa hoằn lắm mới thấy một vài lá cờ Việt Nam. Và ngay cả những người dân sống trên con lộ chính này cũng là những người Hoa. Bà dì tôi đúng là một người Hoa, Hoa một trăm phần trăm, Hoa từ mái tóc ngắn kiểu “bôm bê” đến giọng nói, từ cách sống đến lối nghĩ, từ quần áo của bà mặc đến lối trang trí nhà cửa … Thế nhưng mẹ tôi, lạ thay không có chút mảy may Tàu. Trái lại bà có cái vẻ bề ngoài của một phụ nữ tây phương hơn là một người Á đông. Chỉ có y phục, cách ăn uống, cách dạy con, sự xuề xòa, giọng nói của bà là Việt Nam mà thôi. Bà giống một phụ nữ Việt nghèo khổ hơn là một người Hoa giàu có….”
Văn phong của Nguyễn Xuân Hoàng nhắc nhớ tâm hồn tôi về chốn đẹp quê hương, văn chương của ông cho tôi chút xao xuyến, chút bâng khuâng, và chút bồi hồi khi moi góc nhớ quê hương từ tiềm thức cũ mà hinh như đã chìm sâu vào quên lãng. Bài ông ghi nhận tiếp:
“Tôi hiểu vì sao tôi yêu những khóm dương trên biển hơn ngôi nhà, yêu bãi cát trên biển hơn chiếc giường tôi nằm chung với một đứa khác mỗi đêm… Nhatrang, thành phố của biển xanh, và cát trắng, của rừng dương, rừng dừa, của Hòn Chồng, Cầu Đá, của cầu Hà Ra, Xóm Bống, của Tháp Bà, của Lương Sơn, Đồng Ðế, …Nhatrang, thành phố ấy bao giờ cũng dính chặt vào trí nhớ tôi…. Ngôi trường tiểu học là thiên đường của tuổi thơ, nơi đã cho tôi những tình bạn trong sáng mà giờ đây khi hồi tưởng lại tôi vẫn thấy ấm áp cả trái tim…”, hay
“Nhatrang, thành phố đó đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về lòng nhân ái. Ông chú bà thiếm tôi là những người nhân ái như thế. Những người con của chú thiếm tôi cũng là những người nhân ái như thế. Nhưng tôi giống như một con vật bị săn đuổi vì thiếu cha, thiếu mẹ, chui rúc vào những hang động của tuổi thơ. Bãi biển đẹp nhất trên thế giới là nơi tôi tìm đến những ngày trốn học. Núp dưới bóng những gốc cây dừa, nằm giữa lùm cây trong rừng dương, hay ẩn mình trong hốc đá Hòn Chồng, tôi khám phá ra đời sống là một chuỗi những hạnh phúc và đớn đau, hay những đớn đau-hạnh phúc. Tôi thấy sự cô đơn trong đám đông và thấy cả nỗi ấm áp tình người trong sự cô độc…”
Tôi liên tưởng Nha Trong, nơi tôi ở khi bé xíu, noi bố tôi làm viêc. Đấy cũng là quê xưa. Một quê hương mang theo trong tâm tưởng. Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn, quê hương tiềm ẩn trong ký ức, rất khó quên, lòng yêu mến quê hương mà quyển sách xưa của văn hào người Ý, Edmondo de Amicis, tác giả của danh tác “Tâm Hồn Cao Thượng” (Les Grands Coeurs, Cuore [Heart] 1886), kể về lòng yêu nước của cậu bé Thành Padova yêu thương quê hương, một dấu ấn cho nhiều chúng ta của một thuở đã qua. Một chế độ chính trị, một thể chế cầm quyền có thể vi phạm sai lầm bởi yếu tố nhân tai, nhưng quê hương bởi bản sắc không bao giờ sai trái cả. Hãy ca tụng nơi bạn sinh ra, dù quê làng thôn xóm có nghèo khổ, nhưng đó là quê hương bởi định nghĩa, bởi tình yêu cho quê hương, quê hương là nôi sưởi ấm trong góc nhớ trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương. Khi bỏ nước ra đi, chúng ta mang theo trong lòng một [những] khuôn mặt, một giọng nói, một màu áo, một tiếng rao quà … mà chúng ta không hề ngờ tới. Chỉ khi nào trái tim ta đau buốt vì thương cảm, hoặc nổ tung ra vì hạnh phúc ta mới chợt nhớ ra quê hương đang ở trong lòng ta. Cũng có khi quê hương sống dậy vì một chút nắng, hay một giọt mưa, một bãi cát [vàng] hay một con sóng biển, một mầu trời hay một tiếng nói mang âm hưởng của vùng quê ta, … lúc đó ta biết rằng không có chi ngăn nổi trí nhớ nóng bỏng của ta làm hiện ra những hình ảnh cũ. Bởi vì thật bất ngờ, đôi khi chỉ thoảng một “mùi hương” cũng đủ khơi dậy trong ta biết bao kỷ niệm quê hương.
Nguyễn Xuân Hoàng tiếp:
“Đối với tôi, thời tiết giá buốt những ngày cuối đông đầu xuân ở California gợi lại trong tôi biết bao điều về thành phố quê hương, nơi đã nhìn tôi lớn lên, đã thêu dệt trong tôi biết bao mộng ảo, đã đày đọa tôi tới chín tầng địa ngục.
Nhatrang, đó là một thành phố của tình yêu và chia biệt, thành phố của những mối tình mùa hè, của những con sóng biển vô tình, những con dã tràng trên cát, những dấu chân bị nước cuốn đi không để lại một vết tích nào như thể trước đó nó không hề tồn tại…
Tôi là người có hai quê: cha tôi ở bên Thành, mẹ tôi ở N.H. Nhatrang nằm ở giữa. Đường đi lên Thành-Citadelle gần, nhưng đường từ Nhatrang đi N.H. xa hơn, cách nhau tới hai ngọn đèo, đèo Rù Rì và đèo Rọ Tượng. Mẹ tôi người Minh Hương. Và N.H. có thể nói là thị trấn của những người Minh Hương. Tính chất Minh Hương ấy hiện lên rất rõ trong những ngày lễ lạc. Cả một thị trấn chiếm một khúc ngắn trên quốc lộ Một và tỉnh lộ Hai Mươi Mốt này gặp ngày lễ lớn người ta thấy bay rợp trời những lá cờ Trung Hoa, họa hoằn lắm mới thấy một vài lá cờ Việt Nam . Và ngay cả những người dân sống trên con lộ chính này cũng là những người Hoa. Bà dì tôi đúng là một người Hoa, Hoa một trăm phần trăm, Hoa từ mái tóc ngắn kiểu “bôm bê” đến giọng nói, từ cách sống đến lối nghĩ, từ quần áo của bà mặc đến lối trang trí nhà cửa … Thế nhưng mẹ tôi, lạ thay không có chút mảy may Tàu. Trái lại bà có cái vẻ bề ngoài của một phụ nữ tây phương hơn là một người Á đông. Chỉ có y phục, cách ăn uống, cách dạy con, sự xuề xòa, giọng nói của bà là Việt Nam mà thôi. Bà giống một phụ nữ Việt nghèo khổ hơn là một người Hoa giàu có. [Những người Hoa trong thị trấn nhỏ này chỉ có người giàu chớ không có người nghèo]. Nhưng thời gian tôi ở với mẹ và cha tôi ít hơn là thời gian tôi ở với chú thiếm tôi ở thành phố Nhatrang. Và làng Quang Thạnh, quê của cha tôi, nơi tôi còn có những thân thích ruột thịt khác, những ông chú hiền lành, những ông bác khó tính, những bà cô khắc nghiệt, những người anh em họ hàng cùng lứa tuổi tôi gần gũi một cách nhạt nhẽo,… Tôi là một người khách lạ trong ngôi nhà trọ.
Gần như cả ngôi làng đó chỉ gồm toàn những người trong dòng họ nhà tôi. Cái bánh xe nước trong phim “Chúng Tôi Muốn Sống” do Lê Quỳnh đóng với Mai Trâm và Thu Trang thuộc vùng đất nhà từ đường phía cha tôi. Tôi không ở với cha tôi, mà cũng không ở với mẹ tôi. Tôi xa gia đtình từ nhỏ. Tôi ở nhà chú tôi vì cha tôi muốn tôi ở nhà quê, và vì mẹ tôi muốn tôi “phải đi học”. Chú tôi làm việc ở toà tỉnh Nhatrang, lúc đầu nhà ở đường Hoàng Tử Cảnh, sau dọn về đường Yersin. Ông chỉ là một công chức thường, lương ba cọc ba đồng, còn thiếm tôi thì vì sức khoẻ kém, gần như chỉ suốt ngày quanh quẩn trong nhà lo cho đàn con. Vậy mà chú thiếm tôi phải nuôi thêm một miệng ăn ngoài một đàn con gần mười đứa, không một lời than văn. Chú thiếm tôi rất thương tôi, những đứa em tôi, con của chú thiếm tôi, cũng tử tế với tôi như một người anh ruột. Nhưng tôi sớm nhận ra mình chỉ là một đứa bé lạc loài, một kẻ ăn nhờ ở đậu, một miệng ăn gây nhiều khó khăn cho một gia đình đông đúc. Và thế đó mà tôi lớn lên, lớn lên trong một đời sống tâm hồn khốn khổ, giữa một thành phố thơ mộng và đẹp đẽ là Nhatrang. Tôi không ở lâu trong một ngôi nhà nào. Mỗi nhà chứa tôi trong một thời gian ngắn.
Nhatrang, thành phố của biển xanh, và cát trắng, của rừng dương, rừng dừa, của Hòn Chồng, Cầu Đá, của cầu Hà Ra, Xóm Bống, của Tháp Bà, của Lương Sơn, Đồng Đế, …Nhatrang, thành phố ấy bao giờ cũng dính chặt vào trí nhớ tôi. Ngôi trường tiểu học là thiên đường của tuổi thơ, nơi đã cho tôi những tình bạn trong sáng mà giờ đây khi hồi tưởng lại tôi vẫn thấy ấm áp cả trái tim. Những Đoàn Lân, Lê Văn Quyền, Tôn Thất Lưu, Trần Lâm Cao, và Hà Thúc Nhơn, Duy Năng, Trần Ngọc Bích, Dương Hồng Ngọc, Trương Hồng Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Huỳnh Tấn…những người bạn gái như Bích Ngô, Bích Hường, Hoàng Thị Ngọc Táo, Minh Nguyệt, …những ông anh bà chị như Như Phú, Tuý Hoa, Dạ Khê, Nguyễn Hữu Trí, …những đứa em Hoàng Bắc, Ngọc Trúc, Liên Châu, Chúc, …và cả những người “yêu” Odette, Bạch Mai, Bích nếu tôi được phép gọi như thế. Những bạn ấy có người vẫn còn ở thành phố này nơi tôi đang sống, cũng có người đang ở những tiểu bang khác, những quốc gia khác…. Có người còn sống có người đã chết, nhưng dù đang có mặt tại đây nơi xứ lạ quê người, hay vẫn còn ở quê nhà bao giờ gặp lại hay nhắc đến cũng đều gợi lại trong tôi những tình cảm tốt đẹp, trong sáng, và thơ dại, như thể chỉ có trong những chuyện cổ tích hơn là ngoài đời.
Nhatrang, tên gọi đó với tôi không phải chỉ một thành phố, đó là một gia đình. Không phải gia đình được định nghĩa là một tổ ấm gồm cha mẹ con cái và anh em. Gia đình tôi trong những ngày cắp sách đến trường là những ngôi nhà luôn luôn thay đổi. Có khi là nhà bà Dì trên Xóm Mã Lạng; có khi là nhà bà Cô ở Rạch Rau Muống. Có khi là nhà ông Chú ở Hoàng Tử Cảnh. Nếu những bữa cơm gia đình tôi đói tình thương thì chính những giờ học làm tôi no nê kiến thức và tình cảm. Những ông thầy bà cô tôi là những khuôn mẫu đẹp đẽ không bao giờ phai trong trí nhớ tôi. Cả một thành phố Nhatrang là gia đình tôi. Lớp học, bãi biển, rừng dương, bầu trời, ngọn gió, tình bạn,…. Đó mới chính là gia đình tôi…
Nhatrang, thành phố đó đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về lòng nhân ái. Ông chú bà thiếm tôi là những người nhân ái như thế. Những người con của chú thiếm tôi cũng là những người nhân ái như thế. Nhưng tôi giống như một con vật bị săn đuổi vì thiếu cha, thiếu mẹ, chui rúc vào những hang động của tuổi thơ. Bãi biển đẹp nhất trên thế giới là nơi tôi tìm đến những ngày trốn học. Núp dưới bóng những gốc cây dừa, nằm giữa lùm cây trong rừng dương, hay ẩn mình trong hốc đá Hòn Chồng, tôi khám phá ra đời sống là một chuỗi những hạnh phúc và đớn đau, hay những đớn đau-hạnh phúc. Tôi thấy sự cô đơn trong đám đông và thấy cả nỗi ấm áp tình người trong sự cô độc. Tôi không phải là học sinh giỏi. Tôi càng không phải là một học sinh thông minh. Tôi chỉ là một đứa bé thấy thích thứ gì thì cố mà đi tìm hiểu cho ra thứ đó. Thủa đó tôi không tìm ra chữ nào phù hợp với suy nghĩ của tôi, nhưng gần đây tôi giật mình đọc được tựa đề một cuốn truyện dịch từ tác phẩm của Colleen McCullogh, The Thorn Birds, mà tôi rất “thích”: Tôi là một trong “Những con chim ẩn mình chờ chết”.
Tôi xa Nhatrang đã lâu. Lâu lắm. Tôi đã đi nhiều nơi, nhiều thành phố, nhiều nước. Tôi đã gặp gỡ nhiều người. Những người thông minh, khôn ngoan, đẹp đẽ, giàu có, sang trọng. Những người nghèo khó, vô gia cư, vô nghề nghiệp. Những người tha phương cầu thực. Tôi đã sống với họ, đã chia xẻ nỗi đau với họ. Tôi khám phá ra hình như tôi gần gũi hơn với những ngưòi cùng khổ. Tôi cũng là nạn nhân của bọn người hãnh tiến, bọn ăn xổi ở thì. Nhưng thật ra, họ giàu hay họ nghèo, họ có chức tước danh vọng hay họ chỉ là những người thường dân vô danh …bao giờ tôi cũng yêu thương họ. Yêu thương những con người bị đọa đày và tội nghiệp cho sự hãnh tiến của những kẻ số đỏ. Yêu thương sự chân thật lòng nhân ái của người này, và tha thứ những dối trá lọc lừa của người kia. Yêu thương cả những người trưóc đây từng chà đạp lên nỗi đau khổ của tôi. Cũng như tôi đã từng yêu thương những lằn roi xé thịt của cha tôi nhiều lần giáng xuống thân thể run rẩy của tôi, yêu thương những giọt nước mắt của mẹ tôi từng khóc vì tôi làm mẹ khổ.
Chính thành phố Nhatrang với biển khơi mênh mông của nó, rừng dương xanh đầy gai góc của nó, …đã trở lại với tôi. Nhatrang ở trong trái tim tôi. Nó nhắc tôi nhìn ra sự phù du và phù phiếm, nó chỉ cho tôi “ngoài trời có trời”, “ngoài biển có biển”. Chiều nay, tôi đi một mình đến Huntington Beach, một chút biển ở Cali để tìm ra một chút biển Nhatrang. Trên chiếc cầu bắc cao trên bờ cát một buổi tối tôi đã nhìn thấy biển đêm, nhìn thấy quê hương tôi mờ mịt. Tôi quên mất quá khứ, tôi không có tương lai. Và hiện tại? Tôi là “con chim ẩn mình chờ chết”…(Nguyễn Xuân Hoàng, California 1 tháng Ba, 1996).
Để kết thúc bài viết “Mười Năm – Nhớ Nguyễn Xuân Hoàng” cho tạp san Văn Học Mới, nhà thơ Hà Nguyên Du bảo “Nhớ ông Hoàng quá, ông phải viết cho thầy Hoàng Petrus Ký. Tôi nghe anh Hà Nguyên Du, khi thầy Hoàng ở tuổi mới lớn, ông lấy bút danh là Hoang Vu. Có thể Nguyễn Xuân Hoàng vẫn thao thức với bài thơ duy nhất của mình. Tựa bài thơ là Mang Mang… Rất triết tính và rất thiền tính mặc dù xa gần nói đến cái chết…

Mang Mang
Từ xa phố chợ đến giờ
chân quen bỏ lệ gõ bờ lộ quen
hoang vu chín đến độ thèm
lạnh tàn nhẫn rót vào đêm lên đường
mùa sương phố núi mù sương
nhịp buồn hút gió hồn nương sao rừng
chuyện linh hồn với bản thân
bàn tay thượng đế mộ phần chiêm bao
đồi thông xanh tóc nghẹn ngào
ngập ngừng lạnh xuống từ bao lâu rồi
còn tôi, còn chỉ mình tôi
mây bay đầu núi kéo trời lên xa
bàn tay thoáng nổi da gà
thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi
Hoang Vu (Nguyễn Xuân Hoàng)
———————————————————————–
Kỷ niệm Mười năm Nguyễn Xuân Hoàng vãng sanh tiên giới và mây bay đầu núi kéo trời lên xa, thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi,…
Việt Hải Los Angeles, lớp 12B4, Promo 1972, Mùa Hè Đỏ Lửa, Petrus Ký của nước VNCH (NEVER HỒ).
-
MẸ RU CON
HAPPY MOTHER’S DAY
MẸ RU CON
Mẹ ru con ngủ hàng ngày
Tiếng ru thấm mãi ơn dầy nghĩa cao
Con ơi hãy ngủ đi nào
Đêm khuya thao thức dạt dào tinh sâu
Dòng sữa Mẹ qúa ngọt ngào
Nuôi con khôn lớn mong sao nên người
Con ngủ say nét môi cười
Tiếng Mẹ ru mãi suốt đời không thôi
Con nay khôn lớn rạng ngời
Sức Mẹ luôn đã ngược xuôi, mỏi mòn
Tuổi đời chồng chất như non
Mẹ thương theo gót chân con, giúp tròn
Mẹ tôi nay đã không còn
Ơn sâu tình Mẹ núi non sánh bằng
Đời con, những bước gian nan
Mẹ tôi luôn mãi cưu mang mọi đàng
Mẹ ơi hoa nở rồi tàn
Tình Mẹ như thác trên ngàn không ngưng
Nhớ Mẹ nước mắt rưng rưng
Cánh hoa dâng Mẹ nhớ nhung ngập tràn.
Lê Nguyễn Nga
Ngày Lễ Mẹ 2020
-
MẸ ƠI CON ĐÃ MỒ CÔI
Nhân ngày Mother’s Day, Tha Nhân gửi bản nhạc này để nhớ về người Mẹ Kính yêu của mình.
Mong chia sẻ nỗi niềm mất mẹ với những vị đồng cảnh.
-
Những tác dụng bất ngờ của hạt hồ đào đối với sức khỏe

Hạt Hồ Đào (Pecan)

Hạt Óc Chó (Walnut)
Hạt hồ đào (pecan) thường bị nhầm lẫn với hạt óc chó (Walnut). Đây là loại quả hạch có nhiều công dụng đối với sức khỏe. Loại hạt được giáo sư đại học Mỹ ngợi khen vì tác dụng giảm mỡ máu tuyệt vời: Có…
1. Giá trị dinh dưỡng của hạt hồ đào
Hồ đào đặc biệt giàu các chất dinh dưỡng quan trọng, điển hình như chất xơ, thiamine và kẽm. Khoảng 28g hạt hồ đào có chứa: 196 calo, 2,5g chất đạm, 20,5g chất béo, 4g tinh bột, 2,7g chất xơ, 38% DV đồng, 16% DV thiamine (vitamin B1), – 12% DV kẽm, 8% DV Magie, 6% DV phốt pho, 4% DV sắt.
Đồng được biết đến là một khoáng chất quan trong có liên quan tới chức năng tế bào thần kinh, sức khỏe hệ miễn dịch và tăng sinh tế bào hồng cầu. Trong khi đó thiamine rất cần thiết trong quá trình chuyển hóa carbohydrate thành năng lượng cung cấp cho các hoạt động của cơ thể. Kẽm trong hạt hồ đào cần thiết cho chức năng miễn dịch, sự phát triển của tế bào, chức năng não và thúc đẩy quá trình chữa lành vết thương.
2. Những tác dụng của hạt hồ đào đối với sức khỏe
Dưới đây là một số tác dụng của hạt hồ đào đối với sức khỏe dựa trên các nghiên cứu khoa học được đăng tải trên NCBI:
2.1. Chống tăng cân quá mức: Theo Medical News Today, mới đây các nhà nghiên cứu tại NIH cho biết, những con chuột được ăn chế độ ăn nhiều chất béo bao gồm hạt hồ đào nguyên hạt hoặc chiết xuất polyphenol từ hồ đào có thể chống lại bệnh béo phì và gan nhiễm mỡ so với những con chuột có chế độ ăn nhiều chất béo nhưng không có hạt hồ đào hay chiết xuất hạt hồ đào.
Theo nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí Nutritions hồi tháng 5 năm 2023 này thì các lợi ích thu được khi thêm hạt hồ đào vào chế độ ăn của chuột cho thấy quá trình đốt cháy năng lượng của cơ thể được tăng cường, từ đó giúp kiểm soát cân nặng và sức khỏe tổng thể. Bên cạnh đó, các lợi ích bổ sung bao gồm giảm cholesterol, kháng insulin và giảm viêm.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng khi quan sát có sự giảm kích thước và hiện diện của các tế bào miễn dịch ở cả tế bào mỡ dưới da và nội tạng – thường được biết tới là nguyên nhân gây viêm nhiễm và các biến chứng có liên quan tới béo phì.
2.2. Đặc tính chống viêm mạnh mẽ: Theo WebMD, hạt hồ đào chứa chất béo omega-3 có thể giúp giảm viêm do viêm khớp. Khi kết hợp với magie, canxi, chất xơ, viamin E và kẽm cho thấy loại hạt này có đặc tính chống viêm mạnh mẽ.
Trong bảng xếp hạng hơn 100 loại thực phẩm theo mức độ chống oxy hóa của USDA thì hạt hồ đào nằm ở top 20. Cũng nhờ giàu chất chống oxy hóa và kháng viêm mà bổ sung hạt hồ đào vào chế độ ăn cũng giúp nâng cao hệ miễn dịch để chống lại nhiễm trùng và sửa chữa các tổn thương sẵn có. Folate trong hạt hồ đào cũng đang được xem xét với công dụng bảo vệ chống lại những thay đổi đối với DNA – nguy cơ dẫn tới ung thư.
2.3. Cải thiện sức khỏe tim mạch: Theo Healthline, hạt hồ đào là một nguồn axit béo không bão hòa đơn tuyệt vời có lợi cho sức khỏe tim mạch. Theo đó, ăn 30g hạt hồ đào mỗi ngày trong 12 tuần giúp cải thiện tỷ lệ cholesterol có lợi so với cholesterol xấu ở những người mắc bệnh động mạch vành.
Một nghiên cứu khác ở những người có lượng cholesterol bình thường bổ sung 68g hạt hồ đào mỗi ngày cũng cho thấy lượng cholesterol có hại giảm đáng kể sau 8 tuần so với nhóm không thêm bất kì loại hạt nào vào chế độ ăn.
Bên cạnh đó, hạt hồ đào cũng giàu magie, canxi và kali tốt giúp giảm huyết áp hiệu quả. Hơn nữa việc giảm lượng cholesterol có hại sẽ giảm nguy cơ đột quỵ hoặc đau tim.
2.4. Ổn định đường huyết: Theo Healthline, hạt hồ đào có thể thúc đẩy việc kiểm soát lượng đường trong máu tốt hơn nhờ hàm lượng chất xơ dồi dào – giúp làm chậm quá trình hấp thụ đường vào máu. Tác dụng này đặc biệt có lợi đối với những người bị tiểu đường, nhóm bị thừa cân hoặc béo phì để cải thiện khả năng sử dụng insulin hiệu quả của cơ thể.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các loại hạt có thể giúp ngăn ngừa bệnh tim ở những người mắc bệnh tiểu đường. Ăn nhẹ các loại hạt khi đói sẽ giúp bạn cảm thấy no, giúp bạn dễ dàng tránh các thực phẩm giàu carb và kiểm soát lượng đường trong máu.
Hơn nữa chế độ ăn này cũng giúp cải thiện chức năng của các tế bào beta trong tuyến tụy, chịu trách nhiệm với việc sản xuất insulin.
Ngoài ra, hạt hồ đào có chỉ số đường huyết rất thấp, có nghĩa là ăn chúng không làm tăng lượng đường trong máu, ngay cả ở những người mắc bệnh tiểu đường. Ăn quả hồ đào thậm chí có thể bù đắp tác động của thực phẩm có chỉ số đường huyết cao hơn khi ăn như một phần của cùng một bữa ăn.
2.5. Thúc đẩy chức năng não bộ: Hạt hồ đào chứa nhiều chất dinh dưỡng đem lại những tác dụng liên quan tới việc cải thiện chức năng não bộ bao gồm cả người lớn tuổi bị suy giảm nhận thức chẳng hạn như axit béo không bão hòa đơn và đa.
Đặc biệt, axit béo không bão hòa đơn có liên quan tới việc giảm tỷ lệ suy giảm tinh thần và giảm viêm cho cơ thể. Tuy vậy những nghiên cứu về chức năng này vẫn đang hạn chế về các số liệu liên quan tới mức độ ảnh hưởng trực tiếp của hạt hồ đào tới chức năng não bộ như thế nào.
3. Nhược điểm tiềm ẩn:
Mặc dù hạt hồ đào có liên quan tới một số lợi ích sức khỏe tiềm năng nhưng có một số vấn đề cần lưu ý:
– Không nên ăn hạt hồ đào nếu bạn có tiền sử dị ứng với các hạt, quả hạch trước đó như hạnh nhân, hạt điều, hạt dẻ và quả óc chó
– Hàm lượng calo của 28g hạt hồ đào tương đương gần 200calo – tương đối cao nên việc ăn nhiều khẩu phần có thể làm tăng lượng calo tiêu thụ hàng ngày của bạn. Bạn cần cố gắng kiểm soát lượng calo bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống hoặc tăng mức độ hoạt động thể chất khi thêm hạt hồ đào vào chế độ ăn hàng ngay.
4. Phân biệt quả óc chó và hạt hồ đào
Hồ đào và óc chó đều thuộc nhóm quả hạch nhưng là hai loại khác nhau. Bạn có thể phân biệt dựa trên hình dáng và mùi vị, cụ thể:
– Hình dáng của hai loại hạt tương đối giống nhau đều có các rãnh nhăn nhưng khác nhau về màu sắc:
+ Hạt óc chó có màu vàng sáng (vàng sữa)
+ Hạt hồ đào có màu vàng hoặc nâu sẫm
– Mùi vị:
+ Hạt óc chó khi ăn có vị chát ở đầu lưỡi
+ Hạt hồ đào có vị ngọt hơn.
Nhìn chung, hồ đào là một loại hạt tốt cho sức khỏe nhưng bạn chỉ nên ăn tối đa mỗi ngày một khẩu phần khoảng 28g để tránh tiêu thụ quá nhiều chất xơ gây khó chịu cho hệ tiêu hóa. Nếu băn khoăn về dị ứng hay tình trạng sức khỏe, bạn nên liên hệ với bác sĩ để nhận được lời khuyên phù hợp.
——————————————————————
Pecan, hạt hồ đào giàu dinh dưỡng cho sức khỏe
May 9, 2024: SAN DIEGO, California (NV) – Nói đến “superfood” người ta thường nghĩ ngay đến pecan, hay còn biết đến với cái tên là hạt hồ đào với vị thơm bùi đặc trưng. Đây là một trong những thực phẩm rất phổ biến mà bạn có thể chế biến nhiều cách khác nhau, không chỉ dùng trong bánh nướng, các món ăn mặn mà còn có thể dùng như một ăn vặt, đem lại năng lượng cho cơ thể, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, theo trang mạng mindbodygreen hôm 14 Tháng Ba. Hạt pecan có chất xơ, thiamine, zinc và manganium, là các khoáng chất cần thiết cho quá trình trao đổi chất và sức khỏe của xương. (Hình minh họa: Antoni Shkraba/Pexels)
Thành phần dinh dưỡng của pecan
Mỗi 1 oz pecan có đến 3 gram protein, 4 gram carbohydrate và 18 gram chất béo không bão hòa đơn, bao gồm cả oleic acid và chỉ có 2 gram chất béo bão hòa. Ngoài ra, trong hồ đào còn có chất xơ, thiamine, zinc và manganium, là các khoáng chất cần thiết cho quá trình trao đổi chất và sức khỏe của xương.
Món ăn vặt lành mạnh không thể chê
Ngành công nghiệp thực phẩm luôn thay đổi không ngừng và họ luôn tìm ra những công nghệ và thực phẩm mới để làm sao vừa có thể tiện lợi cho người dùng nhưng cũng vừa bảo đảm lành mạnh cho cơ thể. Trong đó, pecan là loại hạt được để ý hơn cả vì nó có thể thay thế các món ăn vặt khác mà vẫn tạo cảm giác ngon miệng, thơm ngon mà vẫn đầy đủ dưỡng chất.
Ngoài ra, hạt pecan có chứa đến 3 gram protein, nhưng không có gì là ngạc nhiên khi nó trở thành nguồn thực phẩm cung cấp năng lượng cho các vận động viên mỗi khi tập luyện hay cần phải hồi phục lại sức lực để duy trì sự bền bỉ.
Bánh pie hồ đào rất phổ biến ở Mỹ.
Bạn có thể dùng hồ đào như một topping cho nhiều món ăn, từ món yến mạch điểm tâm, bánh pudding hay thậm chí là cả sữa chua. Thay vì uống các loại sữa hạt như sữa hạnh nhân, sữa đậu nành thì bạn có thể tìm kiếm sữa hồ đào để uống, đem lại hương vị béo béo, bùi bùi. Ngoài ra bạn còn có thể dùng sữa hồ đào để pha cà phê sữa hoặc làm sinh tố, đem lại một thức uống bổ dưỡng mà không có quá nhiều calories.
Thêm một bí quyết nữa là hạt pecan được dùng rất nhiều trong các món bánh tráng miệng, đặc biệt là dùng để làm bánh quy, bánh quế và các vỏ bánh pie đặc sắc của người Mỹ. Không chỉ vậy, hạt hồ đào hiện nay còn được dùng trong rất nhiều món ăn chay, là nguồn nguyên liệu lý tưởng để ăn kèm với bánh mì và các loại salad khác.
Việt Hải sưu tầm
-
Buổi Ra Mắt Hồi Ký: NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ CỦA NV PHẠM GIA ĐẠI

Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chào mừng NV Phạm Gia Đại ra tác phẩm
Tập hồi ký “Người Muôn Năm Cũ” của nhà văn Phạm Gia Đại được ra mắt cùng độc giả ngày Chủ nhật 5 tháng Năm 2024 vừa qua, trong không khí vui tươi giữa không gian ấm cúng của Westminster Community Center tại thành phố Westminster, Nam California.
Thiên nhiên đã ưu đãi cho thủ đô người Việt tị nạn một ngày đẹp trời của tiết Xuân… mát mẻ dịu dàng. Người người nô nức về đây cùng tham dự buổi ra mắt sách của nhà văn, kiêm bình luận gia Phạm Gia Đại của đài truyền hình VCAL TV, mà mọi người rất quý mến. Bằng sự nhiệt tình, độc giả đã mở rộng vòng tay đón nhận quyển hồi ký thứ hai mang tên NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ của nhà văn Phạm Gia Đại, sau tập hồi ký thứ nhất NHỮNG NGƯỜI TÙ CUỐI CÙNG xuất bản năm 2011, thành công mỹ mãn.
Với sự tham dự đông đảo của nhiều thành phần trong cộng đồng người Việt tại thủ đô tị nạn Hoa Kỳ, trong sự kiện đặc biệt này. Chúng ta nhận thấy có sự góp mặt của GS. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân Ngọc Hà, các cựu quân nhân Sư đoàn 5 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những cựu tù nhân chính trị và hình sự; nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm có: Thụy Lan, Mộng Thủy, Minh Khai, Minh Châu, Minh Thư v.v… Những nhà văn tên tuổi như: Nguyễn Quang,Vương Trùng Dương, nhà thơ Lê Nguyễn Nga, nhà văn Khánh Lan và phu quân Mạnh Bỗng,Nhà văn ký giả Kiều Mỹ Duyên và nhà văn Kiều My…các thân hữu, quan khách và những hội đoàn: đặc biệt với sự hổ trợ của gia đình tác giả từ khắp nơi tề tựu về; khiến khánh phòng trở nên rộn rịp như một ngày hội.

GS Lê Văn Khoa & Phu Nhân, C Ngọc Hà và tác giả: NV Phạm Gia Đại

Susan Tạ, Khánh Lan, Minh Khai, Thụy Lan, Kiều My, Minh Thư

Tác giả Phạm Gia Đại cùng những người bạn tù

Quang Cảnh của hội trường Westminster trong ngày RMS
Khai mạc chương trình là nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa kỳ trong sự trang nghiêm cung kính…Người Việt hải ngoại cùng một lòng hướng về Tổ quốc Việt Nam thân yêu, dù nghìn trùng xa cách. Cũng như thế, mọi người kính cẩn nghiêng mình trước lá cờ Hoa Kỳ, bày tỏ lòng tri ân đối với nhân dân và đất nước này đã cưu mang những người Việt tị nạn CS. Sau đó, một phút mặc niệm trong thinh lặng thật cảm động, bùi ngùi thương cảm cho những chiến sĩ QLVNCH, dân quân cán chính, những người tranh đấu cho tự do, nhân quyền đã hy sinh vì Tổ quốc. Ngoài ra, sau 1975, hàng trăm ngàn nạn nhân xấu số đã vùi thây dưới lòng biển cả hay những nơi rừng thiêng nước độc trên con đường thoát hiểm đi tìm Tự do.
Ca khúc Ai Trở Về Xứ Việt: thơ cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc, mở đầu chương trình văn nghệ qua phần trình diễn của ca sĩ MC. Bích Ngọc…

MC Ngọc Bich và NV Phạm Gia Đại
Ký Giả Kiều Mỹ Duyên:
Nữ ký giả tài ba Kiều Mỹ Duyên đảm trách nhiều vai trò, vừa là ký giả, nhà báo, đồng thời là nhà văn. Bà là tác giả của 2 tác phẩm xuất sắc đã được xuất bản, đó là: “Chinh Chiến Điêu Linh” và “Hoa Cỏ Bên Đường”.
Nữ ký giả đã viết về hồi ký “Người Muôn Năm Cũ” như sau: “Nhà văn Phạm Gia Đại ở tù 17 năm vẫn còn sinh tiền, đã viết ra những nỗi khốn khổ nhất trên trần gian cho chúng ta đọc. Ông là người sống hết lòng với Tổ Quốc, có niềm tin tôn giáo mãnh liệt, yêu thương Mẹ và tha nhân, biết ơn cuộc đời, biết ơn mọi người đã giúp ông sống sót qua những năm tháng tối tăm nhất trong ngục tù CS. Người mà ông mang ơn nhất là thân mẫu của ông. Ông ngưỡng mộ những vị lãnh đạo tinh thần qua những việc làm bình thường nhưng rất phi thường của ngài Thượng tọa Thích Thanh Long.”
Trong LỜI TỰA ở trang đầu của tác phẩm Người Muôn Năm Cũ, ký giả Kiều Mỹ Duyên đã viết: “Cố gắng để sinh tồn, để vươn lên dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã. Trong khốn cùng mới thấy nghị lực phi thường và sĩ khí của người tù. Hãy đọc hồi ký NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ của nhà văn Phạm Gia Đại để thấy đời vẫn đẹp sao, để thấy rằng mình vẫn còn may mắn và hạnh phúc. Hãy tu nhân tích đức để mai này ra đi nếu được trở lại trần gian sẽ không phải trầm luân và có cuộc đời an vui hạnh phúc.”

Nhà Văn Ký giả Kiều Mỹ Duyên
Nhà văn, diễn giả Phạm Gia Đại:
Có thể nói: đây là tiết mục xuất sắc nhất trong chương trình. Nhà văn Phạm Gia Đại kiêm diễn giả, trình bày về hồi ký “Người Muôn Năm Cũ,” thật tuyệt vời! Trong suốt một giờ đồng hồ qua phần trình bày về tác phẩm của ông, mọi người trong khán phòng thinh lặng, lắng nghe…cảm động và thán phục!
Cả hội trường cùng trở về quá khứ với ông trong “Người Muôn Năm Cũ”, để cùng chia sẻ những ngày tháng tù đày của những người tù khốn khổ trong những trại tù “cải tạo” của CSVN. Dưới ngòi bút với lối văn phong trong sáng của tác giả, nhưhọa sĩ tài ba, đã vẽ lại bức tranh u ám về thảm cảnh đau khổ tột cùng của những tù nhân còm cõi không còn dáng dấp của con người. Tâm trí cũng như thể xác họ đã bị tê liệt bởi sự đọa đày khủng khiếp của những tên cai ngục lòng lang dạ thú, với dã tâm giết người tù chính trị chết lần mòn trong những trại giam tập trung. Người tù bị tra tấn hằng ngày qua nhiều hình thức như: bỏ đói, hành xác, lao động khổ sai, kết hợp rất tinh vi với tra tấn tinh thần qua những buổi học tập để nghe chính trị viên khoác lác tô vẽ về thiên đường ảo tưởng “Xã hội chủ nghĩa.” Những tay sai này có cơ hội lên án tù nhân chế độ cũ, hầu biện minh cho việc chính quyền Hà Nội đã giam cầm họ quá lâu, so với sự tuyên truyền “khoan hồng nhân đạo” khi mới chiếm đoạt miền Nam.

NV Phạm Gia Đại
Những người tù cuối cùng được sống sót thoát khỏi trại giam giết người sau 17 năm, có thể nói, đó là “một phép mầu”! Nhờ vào nhiều yếu tố thiết yếu như: sự tiếp tế lương thực, thuốc men, quần áo ấm, các vật dụng cần thiết…từ gia đình; nhờ vào sự tranh đấu bền bỉ và khốc liệt của nhiều cá nhân và đoàn thể với chính phủ Hoa Kỳ; nhờ vào sức chịu đựng phi thường của người tù, vượt lên trên tất cả những gì bình thường nhất về sức người trong cuộc đời. Ngoài yếu tố gia đình, tình đồng đội, sức chịu đựng phi thường của người tù – niềm tin vào đấng thiêng liêng là sức mạnh đã giúp họ sống sót. Lại thêm tấm lòng nhân bản của người tù đã xoay chuyển được cơn sóng dữ trong thảm trạng, trở thành một sự thường tình để chấp nhận và chịu đựng trong hoàn cảnh thiếu sống thừa chết.
Trải qua sóng gió của kiếp tù đày khổ sai trong ngục tù CS, nhà văn Phạm Gia Đại đã hít thở được không khí tự do, đã được nhìn thấy ánh bình minh cuối đời mình ở miền đất hứa…Đi lần về quá khứ để tìm những “Người Muôn Năm Cũ,” mà quãng đời còn lại của tác giả sẽ chẳng bao giờ quên. Hình ảnh gia đình thân thương từ những ngày còn ở Hải Phòng bên cha mẹ cùng những anh em, rồi di tản vào miền Nam qua hiệp định Geneve 1954, chia đôi đất nước. Sau khi di cư vào Nam, người cha qua đời vì bạo bệnh, Mẹ phải gánh vác hết mọi việc. Sau đó là biến cố miền Nam sụp đổ tháng 4, 1975. Tác giả đi tù khổ sai suốt 17 năm dài và hai người anh cũng đi tù nhưng được thả sớm hơn. Trong giai đoạn khó khăn sống chết này, chính người Mẹ đã chắt chiu từng đồng để gửi quà nuôi ba anh em trong tù. Ôi…tình thương của Mẹ dành cho con quá đổi bao la như biển cả, khiến ông luôn tưởng nhớ đến Mẹ, dù bà đã về cõi vĩnh hằng. Ngoài ra, còn gia đình những người em từ bên Mỹ cũng gửi quà về nuôi hai anh được kéo dài cuộc sống mõi mòn trong cảnh tù đày cho đến khi ra tù. Thuốc men, thực phẩm do gia đình gửi vào tù, nhờ vậy mà các bạn tù cũng được chia sẻ trong tình người (theo lời Mẹ ông căn dặn) – “một miếng khi đói bằng một gói khi no” vậy!
Trở về những ngày tháng tuổi học trò dù đã xa xưa lắm, nhưng tác giả vẫn nhớ đến những người bạn cũ với những kỷ niệm tuy đơn sơ, nhưng chan chứa tình cảm dạt dào của thời niên thiếu. Cậu bé tên Nam, người bạn đầu tiên của những lớp tiểu học ở bến Chương Dương, khi mới di cư vào Nam. Hai bạn Nguyễn văn Duyệt và Đặng Trần Đắc là hai người bạn thân ở bậc trung học. Khi định cư ở Hoa Kỳ, tác giả có dịp hội ngộ với bạn Đắc tại California; và chính Đắc là người đầu tiên khuyến khích Phạm Gia Đại viết quyển hồi ký thứ nhất “Những Người Tù Cuối Cùng” Trong “Người Muôn Năm Cũ”, có Lâm Minh Hạnh là bạn đồng nghiệp của tác giả làm việc tại Trung Tâm Chiêu Hồi Thị Nghè vào những năm 1966-1970. Đã nhiều năm xa cách, và cũng có duyên hội ngộ tại California cách đây vài năm.
Trong trận đại hồng thủy 1975, đã cuốn trôi một số lớn người vào những ngục tù tăm tối của CS, và họ nghĩ rằng cuộc đời mình sẽ vĩnh viễn chôn vùi trong đó. Nhưng may mắn thay! Tác giả đã gặp được những vị thầy, những ân nhân, những người bạn tù… đã giúp ông thêm kiến thức sâu sắc về chính trị và củng cố lập trường quốc gia vững chắc hơn. Những ân nhân này là thầy Tâm, Hòa thượng Thích Thiện Chánh và Thượng tọa Thích Thanh Long, là những bậc thầy đáng kính. Bên cạnh đó, còn có anh Thạnh, Lạng và Kiên trong tổ điện…là những người đã từng chia sẻ khổ đau với tác giả trong những ngày dài tù rạc.
Ngày ra tù là ngày chan chứa bao nỗi vui mừng, biết rằng mình vẫn sống còn để chờ ngày đi định cư Hoa Kỳ đoàn tụ với những người thân yêu. Trong thời gian này, tác giả đã kết thân với Jum Bum Seo, là C.E.O Đại Hàn trong công ty sản xuất giày thể thao Hừng Sáng, nơi tác giả làm việc. Một tình bạn mà tác giả không hề quên vì lòng tốt của bạn, là người an ủi ông trong những ngày tháng cô đơn, buồn bã khi ra tù ở Saigon.
Những “Người Muôn Năm Cũ” trong ký ức của tác giả còn có những người bạn tù đã cùng sống chết, chia sẻ với nhau trong những ngày đen tối, khổ ải của mười mấy năm chốn địa ngục. Họ là “những người tù cuối cùng” được thả sau 17 năm bị giam cầm gồm những thành phần như: tình báo, cảnh sát đặc biệt, an ninh quân đội, quân báo , trinh sát v. v…Là những người bạn vong niên mà tác giả nhớ nhiều nhất như: Hoàng Lãm, Trần quang Lựu, Nguyễn văn Quí, Lê Hữu Minh v.v…anh hồi chánh Miên. Ngay cả con chó trung thành Pepsi, chủ nhân của nó là Hoàng Hiểu luôn đi lẽo đẽo với những người tù ra bãi lao động, hay chạy lăn xăn theo đội đứng chờ điểm danh nhập trai, cũng là một thành viên của “người muôn năm cũ” luôn hiện diện trong ký ức của tác giả.
Sau cùng, chúng ta hãy luôn tưởng nhớ và tri ân hàng triệu quân dân cán chính VNCH, đã nằm xuống cho Tự Do, cho nền Dân chủ miền Nam, Việt Nam. Trong “Những Người Tù Cuối Cùng” đó, có những người đã là những ánh sao rơi rụng dưới bầu trời tự do, vì tuổi đã già, sức đã yếu sau những năm dài tù đày. Xin hãy an nghĩ chốn vĩnh hằng, nơi không còn đau thương đọa đày, không có chiến tranh tàn khốc, nơi có ánh sáng hiền hòa chào đón các anh! Nguyện thắp nén hương lòng để tưởng nhớ và tri ân các vị anh hùng đã hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam!
Sau khi diễn giả chấm dứt bài nói chuyện, cả hội trường vỗ tay tán thưởng phần trình bày lưu loát, tường tận và xúc tích về “Người Muôn Năm Cũ” của chính tác giả Phạm Gia Đại, đã gây niềm xúc động sâu sắc trong lòng người. Vì ông là một trong những người tù cuối cùng, đã chôn vùi một phần đời mình trong cảnh tù đày cùng cực, là nhân chứng của nhà tù CS. còn sống sót.
Ca khúc Trường Làng Tôi

Ca sĩ Thụy Lan và Minh Thư
Kết thúc phần văn nghệ cũng như chương trình ra mắt sách NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ bằng ca khúc Trường làng Tôi, với giai điệu vui tươi trong sáng qua tiếng hát Thụy Lan và Minh Thư, trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Ca khúc này gợi trong ta nỗi nhớ khôn nguôi thuở còn cắp sách đến trường… thật đẹp, thật bình yên trong 9 năm ngắn ngủi của nền đệ nhất Cộng Hòa miền Nam Việt Nam.

Thời gian đã qua đi có bao giờ trở lại để dân Việt được hít thở không khí trong lành của TỰ DO và NHÂN BẢN! Xin ơn trên ban phúc lành cho tất cả những cựu tù nhân và toàn thể dân Việt khắp nơi trên thế giới cũng như trong nước, luôn được an vui trong cuộc sống! Hầu chờ đón một ngày mai tươi sáng rạng ngời trên quê hương Việt Nam.
KIỀU MY
-
TIỆC MỪNG SINH NHẬT CỦA NHÀ VĂN BÁC SĨ NGUYỄN XUÂN QUANG
Khánh Lan tường trình buổi RMS

NV Kiều My, LS DS Michelle Thanh Mai, NV Khánh Lan, NV BS Nguyễn Xuân Quang (Ngồi)

Quận Cam hôm nay có đến 3 buổi RMS khác nhau gồm: Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng, Nhà Văn Phạm Gia Đại, Nhà Văn Đặng Thơ Thơ và buổi mừng sinh nhật & giới thiệu các tác phẩm mới của Nhà Văn Bác Sĩ (NV BS) Nguyễn Xuân Quang. Sự trùng hợp ngày RMS này đã tạo nên sự lo lắng khả quan cho 4 tác giả nói riêng vì số quan khách tham dự sẽ bị phân chia ra 4 nơi khác nhau, cũng như tạo nên sự phân vân không ít cho nhiều độc giả yêu sách trong cộng đồng người Việt tại vùng Little Saigon là không biết nên tham dự buổi RMS của ai?
Riêng phần chúng tôi (Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian) thì quen thân với cả hai nhà văn: NV BS Nguyễn Xuân Quang và NV Phạm Gia Đại. Chính vì vậy mà anh chúng tôi quyết định chia làm hai nhóm.
Nhóm thứ nhất sẽ tham dự buổi mừng sinh nhật và giới thiệu sách mới của NV BS Nguyễn Xuân Quang được tổ chức từ 11:30 sáng-3:00 chiều tại Golden Sea Restaurant. Chúng tôi gồm NV Nguyễn Quang, phu quân của cố NV Minh Đức Hoài Trinh, GS Dương Ngọc Sum, GS Trần Mạnh Chi, NV Kiều My, CNS Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Khánh Lan và phu quân, Mạnh Bổng. (NV Việt Hải bị bệnh bất thình lình nên xin lỗi vắng mặt).

Kiều My, Khánh Lan

NV Nguyễn Quang, XNV Thanh Thảo, NV BS Nguyễn Xuân Quang, GS Dương Ngọc Sum, Mạnh Bổng, NV Khánh Lan, GS Trần Mạnh Chi.
NV BS Nguyễn Xuân Quang và phu nhân, Luật Sư Dược Sĩ (LS DS) Michelle Thanh Mai Nguyễn đã rất chu đáo trong việc tiếp đãi quan khách. Đó là một bữa tiệc sinh nhật thịnh soạn tại nhà hàng Golden Sea. Hiện diện trong buổi tiệc Khánh Lan nhận thấy có rất nhiều quan khách và bạn hữu như NS Võ Tá Hân và phu nhân, GS Phạm Thị Huê và phu quân, XNV Thanh Thảo, XNV Hồng Vân và rất nhiều tao nhân mặc khách mà Khánh Lan xin lỗi không rõ quý danh…cũng trong số ấy, con gái trưởng của bác sĩ Quang là Luật sư Nguyễn Mai An và phu quân là Nguyễn Hữu Minh, cháu ngoại và cô con thứ của hai vị là Bác Sĩ Nguyễn Á Mỹ Amy cũng về để mừng tuổi “Bố”.

Mở đầu buổi tiệc và sau khi ngỏ lời cám ơn quan khách tham dự, NV BS nói: “Tôi vốn nói ít viết nhiều” nên tôi xin nhường lời lại cho “nhà tôi”, Michelle Thanh Mai. NV BS cũng không quên cám ơn LS DS Michelle Thanh Mai đã luôn đứng cạnh bên ông để hỗ trợ (support) và giúp ông trong lúc ông hoàn thành công việc như thu thập các tài liệu, dữ kiện nghiên cứu, chụp hình tranh ảnh, hình tượng, v.v… trong bảo tàng viện hay trong thư viện.
Tiếp lời NV BS Quang, LS DS Michelle Thanh Mai đã nói những lời thật cảm động đến BS Quang rằng bà rất vui đã được cùng BS sánh bước đi khắp nơi, thưởng ngoạn phong cảnh đẹp, bà hứa sẻ luôn ở bên ông và “support” BS Quang, để ông có thể hoàn thành những ước vọng của ông trong sự nghiệp văn chương, biên khảo… Kết luận, LS DS Michelle Thanh Mai với nụ cười luôn nở trên môi, rất duyên dáng, di dỏm, đáng yêu khi bà ví von: “Đằng sau sự thành công của người đàn ông, thì luôn luôn có người đàn bà ở bên cạnh để nhắc nhở”. (Phải chăng là những lúc NV BS quên không nhớ là định nói điều gì…)
Cô Mai An và cô Á Mỹ Amy cũng đã chia sẻ cảm nghĩ của cô về sự thành công & chúc mừng BS Quang ra tác phẩm mới cũng như chúc sức khỏe cho Bố Mẹ. Trong ngày vui của “Bố Quang”, Cô Mai An đã đại diện cho gia đình mình và em gái Á Mỹ Amy tặng BS một bức ảnh phóng lớn những tác phẩm của ông. Cô nói: Cô và em gái không biết biếu “Bố” quà gì? “Bố” cần gì? nên hai cô nghĩ món quà này là quý nhất.

Chương trình của buổi tiệc gồm hai phần: Phần đầu là giới thiệu 4 tác phẩm mới nhất của NV BS Nguyễn Xuân Quang và phần sau là văn nghệ phụ diễn của các anh chị trong nhóm Văn Nghệ Lạc Hồng, Nhóm Quan Họ Bắc Ninh và các thân hữu. Chen lẫn với chương trình văn nghệ là tiết mục giới thiệu tác phẩm “Trống Đồng” do chính tác giả trình bày trong hơn 45 phút, rất đặc biệt. Bộ sách Trống Đồng gồm 6 quyển, ghi lại tỉ mỉ từng chi tiết về di tích, lịch sử và nguồn gốc. Được biết NV BS Nguyễn Xuân Quang là nhà biên khảo duy nhất về trống đồng hiện nay và ông đã đi khắp nơi trên thế giới để nghiên cứu và thu thập tài liệu khi viết tác phẩm này. Ngoài bộ sách Trống Đồng, còn các loại sách khác như Tiếng Việt Huyền Diệu (2004), Ca Dao Tục Ngữ, tinh hoa dân Việt (2002), An Overview of The Ngọc Lũ, Bronze Drum, Through Its Bands, v.v…
Khoảng 2:30 chiều, anh em chúng tôi xin phép rời buổi tiệc mừng sinh nhật của NV BS Nguyễn Xuân Quang để tham dự buổi RMS của NV Phạm Gia Đại.
Nhóm thứ hai đã đến buổi RMS của NV Phạm Gia Đại được tổ chức từ 1:00 chiều đến 4:00 chiều gồm: Nhà thơ John Tạ & phu nhận Susan Tạ, Nhà Văn Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa & phu nhân, Ngọc Hà, Nhà Văn Vương Trùng Dương, NT Lê Nguyễn Nga, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Mộng Thủy.

Mộng Thủy, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Châu, Susan Tạ, Minh Khai

Chị Susan Tạ, Khánh Lan, Minh Khai, Thụy Lan, Kiều My, Minh Thư
NV Phạm Gia Đại RMS với tác phẩm thứ hai của ông sau tác phẩm hồi ký “Những Người Tù Cuối Cùng” xuất bản năm 2017. Sách dầy 493 trang. Đây là một tài liệu sống và trung thực ghi lại những đắng cay, gian khổ mà những người tù thuộc hàng ngũ quân nhân cán chính của chế độ VNCH đã trải qua sau năm 1975 trong các trại tù tập chung của CS VN.
Tác phẩm hồi ký thứ hai xuất bản năm nay, 2024, song ngữ Anh và Việt và có lẽ cũng là tác phẩm cuối cùng của NV Phạm Gia Đại, đó là lời tâm sự của tác giả. Tác phẩm thứ hai với tên gọi “Người Muôn Năm Cũ”, dầy 441 trang và là sự nối tiếp của tác phẩm thứ nhất, nhấn mạnh vào tấm lòng yêu tổ quốc, niềm tin tôn giáo, lòng yêu thương của cha mẹ & anh em, sau hết là lòng biết ơn của tác giả đến bạn bè cũng như tha nhân đã giúp ông vượt qua những khó khăn và sống sót qua những năm tháng tối tăm nơi cảnh tù đầy. (Mời quý độc giả đón xem bài tường trình về buổi RMS của NV Kiều My)
Rời bữa tiệc mừng sinh nhật của NV BS Nguyễn Xuân Quang, anh em chùng tôi thẳng tiến đến Westminster Community Center để ủng hộ buổi RMS của NV Phạm Gia Đại. Lúc ấy NV Phạm Gia Đai đang nói về những khó khăn gian khổ và những kỷ niệm cười ra nước mắt của các anh em tù trong trại “cải tạo”. Hai mẩu chuyện NV Phạm Gia Đại kể nghe thật chua chát mà Khánh Lan nhớ mãi.
- Chuyện thứ nhất là một người bạn tù của ông đã quấn 14 tờ báo (nhật trình) lên người để cho bớt lạnh, thế mà vẫn run lên cầm cập bởi cái “rét” (cái lạnh) buốt da, thấu xương thịt của miền Bắc.
- Chuyện thứ hai là khi NV Phạm Gia Đại trở về sau 17 năm trong tù “Cải Tạo”, ông ở trọ tại nhà của người anh rể. Một hôm có người hàng xóm đến chơi nhà ông anh rể, khi nhìn thấy NV, bà buột miệng nói: “Lạ quá, người ta ở nước ngoài về thì trông khỏe mạnh và đẹp trai, thế mà sao anh Đại lại trông gầy và xấu xí thế nhỉ?” Câu nói khiến ông anh rể của NV phải bật cười trong nước mắt. “Ấy, bà lầm mất rồi, chú ấy vừa được thả tù về đấy.” Nghe sao thảm thương và chua chát làm sao?
Mặc dù hôm nay có đến 4 buổi RMS nhưng lạ lùng thay hội trường Westminster Community Center lại đầy kín người là người và mọi người đã ở lại cho đến giờ phút cuối. Phần lớn quan khách là những bạn tù của nhà văn hoặc các chiến binh thuộc chương trình HO và các anh chị em cựu học sinh của trường Chu Văn An, Saigon. Chắc hẳn NV Phạm Gia Đại đã được các bạn đồng môn, đồng nghiệp lòng kính yêu rất nhiều trong quá khứ.
Buổi RMS của NV Phạm Gia Đại kết thúc lúc 4:00 chiều, anh em chúng tôi cùng ở lại để chụp chung một tấm hình kỷ niệm cùng nhà văn.

Tấm hình kỷ niệm ngày RMS của NV Phạm Gia Đại

Chúc mừng NV BS Nguyễn Xuân Quang & LS DS Michelle Thanh Mai Nguyễn và NV Phạm Gia Đại thành công trong buổi RMS.
Khánh Lan

NV BS Nguyễn Xuân Quang, LS DS Michelle Thanh Mai Nguyễn và NV Khánh Lan

-
TIỆC MỪNG SINH NHẬT CỦA NHÀ VĂN BÁC SĨ NGUYỄN XUÂN QUANG
Khánh Lan tường trình buổi RMS

NV Kiều My, LS DS Michelle Thanh Mai, NV Khánh Lan, NV BS Nguyễn Xuân Quang (Ngồi)

Quận Cam hôm nay có đến 3 buổi RMS khác nhau gồm: Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng, Nhà Văn Phạm Gia Đại, Nhà Văn Đặng Thơ Thơ và buổi mừng sinh nhật và giới thiệu các tác phẩm mới của Nhà Văn Bác Sĩ (NV BS) Nguyễn Xuân Quang. Sự trùng hợp ngày RMS này đã tạo nên sự lo lắng khả quan cho 4 tác giả nói riêng vì số quan khách tham dự sẽ bị phân chia và sự phân vân không ít cho nhiều độc giả yêu sách trong cộng đồng người Việt tại vùng Little Saigon là không biết nên tham dự buổi RMS của ai?
Riêng phần chúng tôi (Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian thì quen thân với cả hai nhà văn: NV BS Nguyễn Xuân Quang và NV Phạm Gia Đại. Chính vì vậy mà anh chúng tôi quyết định chia làm hai nhóm.
Nhóm thứ nhất sẽ tham dự buổi mừng sinh nhật và giới thiệu sách mới của NV BS Nguyễn Xuân Quang được tổ chức từ 11:30 sáng-3:00 chiều gồm NV Nguyễn Quang, phu quân của cố NV Minh Đức Hoài Trinh, GS Dương Ngọc Sum, GS Trần Mạnh Chi, NV Kiều My, CNS Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Khánh Lan và phu quân, Mạnh Bổng. (NV Việt Hải bị bệnh bất thình lình nên xin vắng mặt).

Hình phía trên: Kiều My, Khánh Lan
Hình phía dưới: NV Nguyễn Quang, XNV Thanh Thảo, NV BS Nguyễn Xuân Quang, GS Dương Ngọc Sum, Mạnh Bổng, NV Khánh Lan, GS Trần Mạnh Chi.

NV BS Nguyễn Xuân Quang và phu nhân, Luật Sư Dược Sĩ (LS DS) Michelle Thanh Mai Nguyễn đã rất chu đáo trong việc tiếp đãi quan khách. Đó là một bữa tiệc sinh nhật thịnh soạn tại nhà hàng Golden Sea. Hiện diện trong buổi tiệc Khánh Lan nhận thấy có rất nhiều quan khách và bạn hữu như NS Võ Tá Hân và phu nhân, GS Phạm Thị Huê và phu quân, XNV Thanh Thảo, XNV Hồng Vân và rất nhiều tao nhân măc khách mà Khánh Lan không rõ quý danh…cũng trong số ấy, con gái trưởng của bác sĩ Quang là Luật sư Nguyễn Mai An và phu quân là Nguyễn Hữu Minh và cháu ngoại. Con thứ là Bác Sĩ Nguyễn Á Mỹ Amy cũng về để mừng tuổi “Bố”.

Mở đầu buổi tiệc và sau khi ngỏ lời cám ơn quan khách tham dự, NV BS nói: “Tôi vốn nói ít viết nhiều” nên tôi xin nhường lời lại cho “nhà tôi”, Michelle Thanh Mai. NV BS cũng không quên cám ơn LS DS Michelle Thanh Mai đã luôn giúp ông trong lúc ông hoàn thành công việc thu nhập các tài liệu, dữ kiện nghiên cứu cũng như giúp chụp hình tài liệu, tranh ảnh, hình tượng, v.v… trong bảo tàng viện hay thư viện.
Tiếp lời NV BS Quang, LS DS Michelle Thanh Mai đã nói những lời thật cảm động đến BS Quang rằng bà rất vui đã được cùng BS sánh bước đi khắp nơi, thưởng ngoạn phong cảnh đẹp, bà hứa sẻ luôn “support” BS hoàn thành những ước vọng của ông. Kết luận, LS DS Michelle Thanh Mai với nụ cười luôn nở trên môi, rất duyên dáng, di dỏm, đáng yêu khi bà ví von: “Đằng sau sự thành công của người đàn ông, thì luôn luôn có người đàn bà ở bên cạnh để nhắc nhở” những khi NV BS quên không nhớ là định nói điều gì…
Cô Mai An và cô Á Mỹ Amy cũng đã chia sẻ cảm nghĩ của cô về sự thành công & chúc mừng BS Quang ra tác phẩm mới cũng như chúc sức khỏe cho Bố Mẹ. Trong ngày vui của “Bố Quang”, Cô Mai An đã đại diện cho gia đình mình và em gái Á Mỹ Amy tặng BS một bức ảnh phóng lớn những tác phẩm của ông. Cô nói: Cô và em gái không biết biếu “Bố” quà gì? “Bố” cần gì? nên hai cô nghĩ món quà này là quý nhất.

Chương trình của buổi tiệc gồm hai phần: Phần đầu là giới thiệu 4 tác phẩm mới nhất của NV BS Nguyễn Xuân Quang và phần sau là văn nghệ phụ diễn của các anh chị trong nhóm Văn Nghệ Lạc Hồng, Nhóm Quan Họ Bắc Ninh và các thân hữu. Chen lẫn với chương trình văn nghệ là tiết mục giới thiệu tác phẩm “Trống Đồng” do chính tác giả trình bày trong hơn 45 phút, rất đặc biệt. Bộ sách Trống Đồng gồm 6 quyển, ghi lại tỉ mỉ từng chi tiết về di tích, lịch sử và nguồn gốc. Được biết NV BS Nguyễn Xuân Quang là nhà biên khảo duy nhật về trống đồng hiện nay và ông đã đi khắp nơi trên thế giới để nghiên cứu và thu thập tài liệu khi viết tác phẩm này.
Ngoài bộ sách Trống Đồng, còn các loại sách khác như Tiếng Việt Huyền Diệu (2004), Ca Dao Tục Ngữ, tinh hoa dân Việt (2002), An Overview of The Ngọc Lũ, Bronze Drum, Through Its Bands, v.v…
Khoảng 2:30 chiều, anh em chúng tôi xin phép rời buổi tiệc mừng sinh nhật của NV BS Nguyễn Xuân Quang để tham dự buổi RMS của NV Phạm Gia Đại.
Nhóm thứ hai đã đến buổi RMS của NV Phạm Gia Đại được tổ chức từ 1:00 chiều đến 4:00 chiều gồm: Nhà thơ John Tạ & phu nhận Susan Tạ, Nhà Văn Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa & phu nhân, Ngọc Hà, Nhà Văn Vương Trùng Dương, NT Lê Nguyễn Nga, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Mộng Thủy.

Chị Susan Tạ, Khánh Lan, Minh Khai, Thụy Lan, Kiều My, Minh Thư
NV Phạm Gia Đại RMS với tác phẩm thứ hai của ông sau tác phẩm hồi ký “Những Người Tù Cuối Cùng” xuất bản năm 2017. Sách dầy 493 trang. Đây là một tài liệu sống và trung thực ghi lại những đắng cay, gian khổ mà những người tù thuộc hàng ngũ quân nhân cán chính của chế độ VNCH đã trải qua sau năm 1975 trong các trại tù tập chung của CS VN.
Tác phẩm hồi ký thứ hai xuất bản năm nay, 2024, song ngữ Anh và Việt và có lẽ cũng là tác phẩm cuối cùng của NV Phạm Gia Đại, đó là lời tâm sự của tác giả. Tác phẩm thứ hai với tên gọi “Người Muôn Năm Cũ” là sự nối tiếp của tác phẩm thứ nhất, nhấn mạnh vào tấm lòng yêu tổ quốc và niềm tin tôn giáo, lòng yêu thương của cha mẹ & anh em và lòng biết ơn của bạn bè cũng như tha nhân đã giúp ông sống sót qua những năm tháng tối tăm nơi cảnh tù đầy. (Mời quý độc giả đón xem bài tường trình về buổi RMS của NV Kiều My)
Rời bữa tiệc mừng sinh nhật của NV BS Nguyễn Xuân Quang, anh em chùng tôi thẳng tiến đến Westminster Community Center để ủng hộ buổi RMS của NV Phạm Gia Đại. Lúc ấy NV Phạm Gia Đai đang nói về những khó khăn gian khổ và những kỷ niệm cười ra nước mắt của các anh em tù trong trại “cải tạo”. Hai mẩu chuyện NV Phạm Gia Đại kể nghe thật chua chát mà Khánh Lan nhớ mãi.
- Chuyện thứ nhất là người bạn tù đã quấn 14 tờ báo (nhật trình) lên người để cho bớt lạnh, thế mà vẫn run lên cầm cập bởi cái “rét” (cái lạnh) thấu xương thịt của miền Bắc.
- Chuyện thứ hai là khi NV Phạm Gia Đại trở về sau 17 năm trong tù “Cải Tạo”, ông ở trọ tại nhà của người anh rể. Một hôm có người hàng xóm đến chơi nhà ông anh rể, khi nhìn thấy NV, bà buột miệng nói: “Lạ quá, người ta ở nước ngoài về thì trông khỏe mạnh và đẹp trai, thế mà sao anh Đại lại trông gầy và xấu xí thế nhỉ?” Câu nói khiến ông anh rể của NV phải bật cười trong nước mắt. “Ấy, bà lầm mất rồi, chú ấy vừa được thả tù về đấy.” Nghe sao thảm thương và chua chát làm sao?

Tấm hình kỷ niệm ngày RMS của NV Phạm Gia Đại
Buổi RMS của NV Phạm Gia Đại kết thúc lúc 4:00 chiều, anh em chúng tôi cùng ở lại để chụp chung một tấm hình kỷ niệm cùng nhà văn. Khánh Lan rất vui và mừng vì căn phòng đầy kín người là người và mọi người đã ở lại cho đến giờ phút cuối. Khánh Lan đoán có lẽ phần lớn quan khách là những bạn tù của nhà văn hoặc các chiến binh thuộc chương trình HO và các anh chị em cựu học sinh của trường Chu Văn An, Saigon. Chắc hẳn NV Phạm Gia Đại đã được các bạn đồng môn, đồng nghiệp kính yêu rất nhiều trong quá khứ.
Chúc mừng NV BS Nguyễn Xuân Quang & LS DS Michelle Thanh Mai Nguyễn và NV Phạm Gia Đại thành công trong buổi RMS.
Khánh Lan

NV BS Nguyễn Xuân Quang, LS DS Michelle Thanh Mai Nguyễn và Khánh Lan

-
Khám phá những phong cảnh của Costa Rica.

Costa Rica là quê hương của đội tuyển bóng đá sẽ đối đầu Tây Ban Nha tối nay. Khách nước ngoài coi đây là điểm đến tuyệt vời cho du lịch nghỉ hưu vì chi phí sinh hoạt rẻ, thời tiết đẹp. Dưới đây là những điểm đến thú vị cho chuyến du lịch đến Costa Rica.
Tận hưởng mùa hè thiên đường khi du lịch Barbados
Mặc dù chỉ là một hòn đảo nhỏ, nhưng khi du lịch Barbados, bạn sẽ được khám phá rất nhiều địa điểm thú vị như hang động kỳ bí Harrison, nhà máy sản xuất rượu Rum, các vườn hoa hoặc rừng nhiệt đới cũng như đắm mình trong làn nước trong xanh và tham gia các hoạt động thể thao thiên nhiên.
Barbados là một quốc đảo xinh đẹp thuộc vùng phía Đông của biển Caribbean. Mặc dù không có quá nhiều đặc điểm nổi bật nhưng vùng đảo này lại có một sức hút kỳ lạ với du khách đến từ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là những người yêu cái nắng, gió, cát của biển và đam mê lướt sóng. Ngay khi đặt chân đến đây, bạn sẽ cảm nhận được sự thoải mái và nhẹ nhàng của thiên nhiên cũng như con người nơi đây. Bên cạnh thiên nhiên tuyệt đẹp, khi du lịch Barbados bạn còn được khám phá nền văn hóa đậm đà bản sắc và làm quen với những người dân bản địa thân thiện. Đây sẽ là cơ hội để bạn ngắm nhìn những sinh vật biển dưới đại dương, những rạn san hô rực rỡ sắc màu hay một con tàu chìm đắm dưới nước. Hải sản tôm cua cá ghẹ,…
Oistins là thành phố nhỏ nhất của Barbados nhưng lại là một điểm đến đáng tự hào về lịch sử của cộng đồng đánh cá lớn nhất đảo. Đặt chân đến đây, bạn sẽ thấy rất nhiều tàu đánh cá và bạn hoàn toàn có thể mua những chú cá tươi ngon vừa được đánh bắt ngay tại khu chợ địa phương. Đặc biệt, vào tối thứ Sáu, nơi đây còn có hoạt động Fish Fry với những món ăn địa phương ngon được chế biến tại chỗ.
Holetown, ban đầu được gọi là Jamestown, được xem là nơi định cư đầu tiên ở Barbados vào năm 1627. Hàng tháng, tại đây sẽ diễn ra lễ hội Holetown kéo dài một tuần với nhiều sự kiện giải trí như các cuộc thi sắc đẹp, biểu diễn khiêu vũ, nhạc sống, biểu diễn thời trang, diễu hành xe cổ, thưởng thức ẩm thực địa phương và mua về những món đồ thủ công do Bajan sản xuất.
Hang động Harrison là một hang đá vôi kết tinh và là một trong những kỳ quan vĩ đại của Barbados với nhũ đá và măng đá tuyệt đẹp cùng dòng nước trong vắt. Bên cạnh tham quan, bạn cũng sẽ được nghe thuyết minh về lịch sử cũng như địa lý của hang động trong suốt hành trình. Ngoài ra, gần đây có có khu vực trưng bày các hiện vật khảo cổ được thu thập từ nhiều địa điểm khác nhau trên hòn đảo.
Tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Barbados, bạn sẽ được tận mắt chiêm ngưỡng các loài động vật ở cự ly gần trong môi trường sống tự nhiên của chúng. Nơi đây là nhà của nhiều loại chim như hồng hạc, vẹt, bồ nông và chim công. Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều loài động vật khác, đặc biệt là loài khỉ xanh.
Biển Crane, với bãi cát màu hồng tuyệt đẹp, là một trong những bãi biển nổi tiếng nhất ở Barbados. Du khách thường đến đây để vui đùa trên con sóng lượn, tắm nắng trên những bãi cát mềm mại và ngắm nhìn biển xanh mây trắng.
Với khung cảnh tuyệt đẹp nằm trên những ngọn đồi ở trung tâm Barbados, Rừng hoa bao gồm hệ thực vật nhiệt đới yên bình. Nếu bạn là người yêu thích hoa thì có thể tản bộ dọc theo những con đường mòn để ngắm nhìn những cây cọ xinh đẹp, những nhành hoa lan đầy màu sắc hay nhiều loài hoa rực rỡ khác.
Bi giớ tui ghing bồ tèo sang Bahamas của madam Khánh Lan nhé, bà Kiều My cứ quảng bá Hawaii và Paris, và Cannes, Monaco và Nice, French Riviera, Cote d’Azur,… Kiều My sang hướng dó coi chừng cha Poutine, sang hướng Caribbean Beach Resort chỉ gặp cha MAGA DJ Trump thôi. We’re okay. Bahamas nhé !…
Bahamas là một quần đảo nằm trong Đại Tây Dương về phía đông Hoa Kỳ. Với cảnh quan tuyệt đẹp, quyến rũ, bầu không khí trong lành, mát dịu và đặc biệt còn khá hoang sơ nên được rất nhiều du khách ví đây là thiên đường của hạ giới. Nếu bạn đang lên kế hoạch du lịch Bahamas hãy cùng tham khảo những thông tin dưới đây nhé, chắc chắn sẽ giúp chuyến đi của các bạn suôn sẻ, thuận lợi hơn.
Thời điểm lý tưởng để du lịch Bahamas
Bahamas thuộc kiểu khí hậu cận nhiệt đới nên quanh năm luôn mát mẻ, dễ chịu. Tuy nhiên do nằm ngoài khơi nên Bahamas cũng thường hứng chịu nhiều thiên tai như bão, lũ, thủy triều, sóng thần,…Thông thường bão, lũ sẽ xuất hiện vào mùa hè hoặc mùa thu. Chính vì thế, thời điểm thích hợp nhất để du lịch Bahamas là vào mùa đông. Lúc này thời tiết không quá lạnh cũng không quá nóng mà luôn ấm áp, dễ chịu, thích hợp với những chuyến tham quan hay lặn biển.
Nassau – Phương tiện di chuyển ở Bahamas
Nếu đến những hòn đảo lớn, bạn có thể di chuyển bằng taxi hay xe bus. Giá vé sẽ phụ thuộc vào chặng đi và tuyến đường, trung bình khoảng 1 – 2,5 USD/người. Tuy nhiên nếu giá cả không phù hợp bạn nên chủ động mặc cả để có được mức giá tốt nhất. Đặc biệt tại thủ đô Nassau, bạn có thể thuê một chiếc xe ngựa (3 chỗ ngồi) để di chuyển vòng quanh thành phố, thăm thú phố phường và ngắm nhìn khung cảnh tươi đẹp, thanh bình của đô thị hải đảo. Du lịch nước ngoài đến quần đảo Bahamas, bạn không chỉ được chiêm ngưỡng những hòn đảo tuyệt đẹp, thỏa sức vui đùa cùng nắng gió, tham gia các lễ hội độc đáo mà còn được tận hưởng những phút giây thật sự thư giãn cùng gia đình, bạn bè. Đảo Nassau là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Bahamas. Nơi đây có những bãi cát trắng mịn trải dài, những khu mua sắm sầm uất, những con phố lung linh về đêm – là địa điểm rất lý tưởng để du khách tận hưởng kỳ nghỉ trọn vẹn.
Bờ biển Cabbage được xem là một trong những bãi biển đẹp nhất Bahamas, du khách đến đây có thể đắm mình trong làn nước trong xanh, tận hưởng bầu không khí mát lành và tham gia những hoạt động thú vị. Andros được mệnh danh là đảo tình yêu, với khung cảnh nên thơ, lãng mạn, rất thích hợp nghỉ tuần trăng mật. Vườn quốc gia Lucayan là hệ thống hang động dưới nước, đến đây bạn sẽ có những trải nghiệm vô cùng thú vị và đáng nhớ. Nếu bạn đã không còn hứng thú với những chuyến du lịch theo tour thì kỳ nghỉ này thử một lần vi vu đến Bahamas đi, đảm bảo các bạn sẽ muốn ở mãi chẳng muốn về hoặc có về thì chắc sẽ hối tiếc, mong một ngày nào đó sẽ trở lại. Nằm trên bờ biển Caribbean gần Panama, Puerto Viejo nổi tiếng với giới trẻ và khách du lịch bụi vì những bãi biển xinh đẹp. Nơi đây còn có nhiều hoạt động hấp dẫn như lướt sóng, tiệc tùng trong bầu không khí náo nhiệt… Puerto Viejo sở hữu những bãi biển tuyệt đẹp. Thị trấn vô cùng sôi động về đêm và được coi là một nơi nổi tiếng nhất khu vực bờ biển Caribbean. Ngoài ra, Puerto Viejo còn có nhiều khách sạn bãi biển yên tĩnh, dành cho những ai đang tìm kiếm sự yên bình, thư giãn.
Cahuita là một thị trấn nhỏ nằm ngay cạnh công viên quốc gia Cahuita, cách Puerto Viejo khoảng một giờ về phía Bắc. Đây là một nơi lý tưởng để thư giãn với quán bar sôi động mở trong thành phố. Xong viếng Công viên Quốc gia Cahuita là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã. Tuy nhiên, phần lớn mọi người chỉ thích ngồi một chỗ để nghỉ ngơi, đọc sách sau những chuyến du ngoạn dài bằng đường bộ, khám phá thảm động vật, bơi lội, hoặc lướt sóng tại đây. Nếu ưa thám hiểm, bạn có thể tham gia chuyến tham quan có hướng dẫn đến Công viên Quốc gia Cahuita. Tortuguero (có nghĩa là Vùng đất của Rùa) là phiên bản tiếng Costa Rica của rừng nhiệt đới Amazon. Nằm trên bờ biển phía bắc, Vườn quốc gia Tortuguero trải rộng trên 77.000 mẫu Anh. Khu vực rộng lớn này có một loạt các con sông và kênh đào xuyên qua rừng rậm.Điểm thu hút lớn nhất đối của Tortuguero là số lượng lớn rùa đến làm tổ dọc theo bờ biển. Thời điểm tốt nhất để xem chúng đẻ trứng là vào tháng 4 và tháng 5. Tuy nhiên, nếu không đến vào khoảng thời gian này, bạn vẫn có thể dạo quanh và bắt gặp nhiều loài động vật hoang dã ở đây quanh năm.
Vườn quốc gia Corcovado nằm trên bán đảo Osa xa xôi ở phía tây nam Costa Rica. Được thành lập vào năm 1975, công viên có diện tích 424 km vuông và trở thành công viên lớn nhất trong cả nước. Corcovado từng rất nổi tiếng trước kia nhưng giờ đây, vườn quốc gia này trở nên cũ kỹ và lạc hậu hơn so với nhiều nơi khác ở Costa Rica. Đường đến bán đảo cũng không dễ đi, nhưng bù lại, du khách sẽ được khám phá với những bãi biển tuyệt đẹp nhưng vắn vẻ, vô số loài động vật hoang dã, đi bộ đường dài, cắm trại… tuyệt vời tại đây. Nằm ở độ cao 1.670m so với mực nước biển, Arenal là một trong nhiều ngọn núi lửa của Costa Rica. Thỉnh thoảng, ngọn núi lửa này vẫn phun trào và nếu có duyên, bạn sẽ có thể nhìn thấy dung nham chảy xuống từ đỉnh núi. Tuy nhiên, điều đó ít có khả năng xảy ra vì núi lửa đã không hoạt động trong bảy năm qua. Ngoài ra, khu vực này còn có rất nhiều điểm đến thú vị như có thác nước La Fortuna, công viên quốc gia với hoạt động đi bộ đường dài hấp dẫn, cảnh hoàng hôn trên hồ, thám hiểm hang động, vượt thác, đi bè, tắm suối nước nóng… Đây cũng là một trong những nơi được ghé thăm nhiều nhất trong cả nước.
Manuel Antonio là bãi biển nổi tiếng nằm trên bờ biển Thái Bình Dương với không gian rộng lớn, cát trắng và làn nước trong xanh ấm áp. Tuy nhiên, đây chưa phải là điểm thu hút nhất của Manuel Antonio. Kế dến là Manuel Antonio, nơi gần Manuel Antonio có một công viên quốc gia mở cửa từ năm 1972, mỗi năm đón hơn 150.000 du khách. Nơi đây có những con đường mòn đi bộ tuyệt đẹp, một số bãi biển yên tĩnh, và nhiều loại động vật hoang dã ở địa phương. Thôi tui đưa bồ sang Cóta Rica của Mộng Thủy nha, mời xem,…
Costa Rica – Thiên đường du lịch khám phá thiên nhiên.

Costa Rica giống như một ốc đảo bình yên giữa các nước láng giềng ồn ào và là một thiên đường du lịch, nhất là loại hình du lịch sinh thái, được ví là “hòn ngọc của Trung Mỹ”. Hơn một phần tư diện tích Costa Rica là những khu bảo tồn quốc gia. Diện tích chỉ 51.000km2, nhưng Costa Rica có số lượng các loài động vật nhiều hơn cả hai nước Mỹ và Canada cộng lại; hệ thực vật phong phú không kém với hơn 3.000 chủng loài hoa lan dại…
Là một quốc gia nhỏ ở vùng Trung Mỹ, Costa Caribbe nằm kẹp giữa nước Nicaragua ở phía bắc và Panama phía nam, còn phía đông là biển Caribbe và phía tây là biển Thái Bình Dương. Quốc gia này có một thảm rừng xanh quý giá với hàng ngàn loài chim lạ, hơn 15 ngàn loài bướm, 3.000 loài hoa lan đẹp cùng nhiều loại thú quý hiếm… Các nhà khoa học đến đây nghiên cứu cho biết không nơi đâu trên thế giới có thảm rừng phong phú về sinh vật và thực vật lạ như ở đây. Nhờ vậy mà Costa Rica thu hút hàng triệu du khách mỗi năm. Du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của Costa Rica nên chính quyền đã có chính sách bảo vệ thiên nhiên một cách hữu hiệu. Họ đã dành hơn 30% diện tích đất đai cho thiên nhiên, muông thú và con người chỉ được thăm viếng giới hạn, tuyệt đối không được sinh sống, khai phá và săn bắn trong vùng này. Điều này khiến cho du khách yêu thiên nhiên rất hài lòng.
Vườn quốc gia Toruguera là một trong những điểm đến không thể bỏ lỡ trong hành trình khám phá đất nước Costa Rica. Nằm trong vịnh Caribbe, vườn quốc gia Toruguera là tổ ấm được bảo vệ cho loài rùa xanh đến sinh sản đầu mùa hè đến cuối mùa thu hàng năm. Du khách chỉ có thể đến thăm vùng này bằng máy bay thủy động cơ hay bằng tàu nhỏ. Nếu đi bằng tàu, du khách sẽ được len lỏi vào những con rạch nhỏ, tận hưởng cảnh vật thiên nhiên, muôn thú đủ loại hiện ra trước mắt. Dọc hai bên bờ, rừng cây soi bóng trên mặt nước trong veo, đàn cò nhởn nhơ tìm mồi, đàn cá sấu lười biếng nằm bất động trên cồn cát phơi nắng. Trên cành cây, tiếng chim ríu rít gọi đàn, từng đàn khỉ leo trèo, chuyển động vang cả góc rừng… Để giúp du khách thăm rừng, các cơ quan du lịch ở Costa Rica cho làm những cây cầu treo dài và chắc chắn, giúp du khách “đi trên ngọn cây” xuyên rừng, tha hồ ngắm cảnh, chụp ảnh… Phong cảnh, cây cối và hoa sắc nơi đây tương tự như vùng Hawaii. Với du khách thích cảm giác mạnh thì có những thang đu hoặc dây đu chắc chắn để đu mình như kiểu Tarzan từ cây này qua cây khác…
Rời vườn quốc gia Toruguera, du khách đến tham quan khu bảo tồn Monteverde. Khu bảo tồn thú hoang dã này bao gồm 6 hệ sinh thái khác nhau với tổng diện tích là 4 ha. Đi bộ từ cổng vào khu bảo tồn đến ranh giới lục địa bắc và nam Mỹ, du khách sẽ chứng kiến sự thay đổi của hệ sinh thái từ rừng khô ráo cho đến rừng ẩm ướt. Có đến 2.000 loài thực vật bản xứ sống tại khu vực này, đáng chú ý nhất là phong lan. Ngoài ra còn có khoảng 350 loài chim và 100 loài thú có vú. Du khách sẽ thú vị và kinh ngạc khi đến thăm khu vườn bướm Monteverde. Khu vườn này bao gồm một hệ thống nhà lưới và hai khu nhà kính. Khu nhà kính thứ nhất mô phỏng môi trường của các cánh rừng vùng hạ lưu, còn nhà kính thứ hai giống với môi trường rừng vùng trung du. Hai khu nhà kính này chứa đến hàng trăm con bướm nhiệt đới thuộc 40 loài khác nhau.
Công viên quốc gia Manuel Antonio là rừng bảo tồn nhỏ nhất và đẹp nhất của Costa Rica. Khu bảo tồn được bao bọc bởi những bãi cát trắng trải dài theo bờ biển Thái Bình Dương nổi tiếng nhờ sự đa dạng về hệ động thực vật: có đến 184 loài chim và 109 loài thú có vú trú ngụ. Đây là nơi duy nhất trên thế giới du khách có thể tìm thấy loài khỉ Titi. Trong khi đi dạo trong rừng Manuel Antonio, du khách có cơ hội được trông thấy loài giông mào, khỉ và nhiều loài chim rực rỡ sắc màu. Vào ngày thứ bảy hằng tuần, Công viên quốc gia Manuel Antonio còn tổ chức các hoạt động như: đi bè qua các thác nước, câu cá, tham quan rừng đước, cưỡi ngựa… Đến Costa Rica, du khách không chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của núi lửa Arenal, rừng rậm Monteverde ẩn trong sương, thác nước huyền bí La Paz… mà còn được nghỉ ngơi trong những khách sạn sinh thái (không máy lạnh, không truyền hình và không điện thoại) ẩn mình trong các khu rừng nhiệt đới bên bờ Thái Bình Dương.
Việt Hải, May 6, 2024
-
Auld Lang Syne & Nhạc Chế

Nói về nhạc chế với tuổi trẻ thời đi học vào thập niên 1950’ ở miền Nam VN, thịnh hành nhất với bài ca dân ca với giai điệu đơn giản được nhà soạn nhạc Herbert Stothart đưa ca khúc Auld Lang Syne vào phim Waterloo Bridge (La Valse dans l’ombre) từ thập niên 1940’. Ca khúc nầy với nhiều lời nhạc chế, trong đó phổ biến nhất với “Tò te, ma le đánh đu, Tarzan nhảy dù, cao bồi bắn súng. Chết cha con ma nào đây, làm tao hết hồn, thằn lằn cụp đuôi…”.
Phim Waterloo Bridge (trắng đen) ra đời vào thập niên 1940’ (thế kỷ XX) ở Hollywood với hai diễn viên chính là Vivien Leigh và Robert Taylor. Phim được đạo diễn Mervyn LeRoy được chuyển thể từ một vở nhạc kịch trên sân khấu Broadway,
Vivien Leigh (Vivian Mary Hartley) sinh ra Tây Bengal, Ấn Độ (1913-1967), minh tinh điện ảnh nổi tiếng người Anh. Bà đã giành được 2 giải Oscar trong vai Scarlett O’Hara trong phim Gone with the Wind (Cuốn Theo Chiều Gió năm 1939).
Robert Taylor (1911-1969) là một trong những tài tử gạo cội của điện ảnh Mỹ. Ông được gọi ví von là Robert Tay Bưng… cho các anh bồi nhà hàng của Pháp ở Việt Nam.
Từ ngày người Pháp đem phim vào chiếu ở Việt Nam (những năm đầu là phim câm). Lúc đó Pháp nhập phim Mỹ vào Pháp, trong hợp đồng khai thác có thêm khoản sẽ đem những phim Mỹ ấy sang chiếu các nước khác, phim Mỹ vào Pháp được người Pháp chuyển âm sang nói tiếng Pháp hay phụ đề chữ Pháp… Vì vậy phim Waterloo Bridge qua tựa đề La Valse dans l’ombre (Điệu Vũ Trong Bóng Mờ) tiếng Pháp, phụ đề Việt ngữ, quen thuộc với khán giả trong nước.
Cốt truyện xảy ra trong hoàn cảnh chiến tranh Đệ Nhất Thế Chiến. Roy (chú của Roy là một công tước nước Anh) và Myra tình cờ gặp nhau trên cầu Waterloo (London) khi có còi báo động chiến tranh. Họ cùng nhau trú trong ga tàu điện ngầm, tại đây Myra (Vivien Leigh) mời Roy (Robert Taylor) đến xem vở balette Hồ Thiên Nga, cô tham gia diễn xuất tuy nhiên Roy đã rất tiếc không đến được vì có việc riêng. Nhưng Myra đã bất ngờ khi nhìn thấy Roy đến trong buổi trình chiếu. Tình yêu của họ nhanh chóng nảy nở sau buổi tối lãng mạn tại câu lạc bộ Candlelight. Ngày hôm sau, Roy và Myra quyết định làm đám cưới trước ngày anh lên đường ra chiến trận.
Vì không tham gia vào một buổi diễn, Myra bị đuổi khỏi đoàn, cô bạn Kitty bất bình cho Myra và quyết định ra đi cùng cô. Mẹ của Roy hẹn gặp Myra nhưng trong lúc chờ đợi mẹ anh đến, Myra bất ngờ đọc trên báo tin Roy đã hy sinh trên mặt trận, đầu óc cô choáng váng. Do quá đau khổ Myra đã có thái độ khiếm nhã với mẹ của Roy.
Đau khổ và thất nghiệp, Myra lao vào cuộc đời vũ nữ. Trong lúc chờ khách tại sân ga, cô lặng người khi nhìn thấy Roy trở về. Roy hân hoan khi gặp người yêu cũ còn Myra cảm thấy choáng váng và tủi thân nhưng cô vẫn quyết định vẫn tiếp tục tình yêu với Roy. Trở về lâu đài của Roy ở Scotland, Myra đã không hoà nhập vào cuộc sống ở đây vì mặc cảm không còn xứng đáng với người yêu, cô bỏ đi. Roy và cô bạn Kitty tìm Myra khắp các quán bar nhưng không thấy, Myra đã lao vào các đoàn xe đi ngược chiều để tự vẫn trên cây cầu Waterloo.
Cuộc tình quá bi thảm trong hoàn cảnh trớ trêu trong ca khúc tiếng Pháp là Ce n’est qu’un au Revoir (Chant des Adieux), thi hào Scotland, Robert Burns, viết vào năm 1788. Ca khúc vang vọng trong các lần chia tay và lần vĩnh biệt khi Roy đứng trên cây cầu Waterloo (nơi lần đầu tiên họ gặp nhau) tưởng nhớ hình ảnh người tình nơi lần đầu tiên họ gặp nhau. Cuốn phim nầy ban đầu không cho chiếu ở Anh vì Roy là sĩ quan và cháu của công tước lại say mê “gái làng chơi”!
Bài hát nầy rất thông dụng, được phổ biến hầu như khắp hoàn cầu nhưng lại được hát vào những dịp khác nhau. Nguyên thủy của bài hát là dùng để “mừng đón” niềm vui mới đến (Quảng Trường Time Square ở New York, khi quả cầu tụt xuống theo 12 tiếng chuông đồng hồ để rồi ngân vang ca khúc nầy), nhưng về sau nó lại được sử dụng để ngậm ngùi “tiễn đưa” trong luyến tiếc trong những cuộc chia tay.
Ca khúc nầy nguyên thủy theo ca dao của xứ Scotland (Tô Cách Lan), hai người bạn thân rất lâu không gặp nhau rồi rủ nhau nhậu bia, nhậu rượu, nhưng với điều kiện tiền ai nấy trả. Hai ông cùng lè nhè nhắc lại bao nhiêu chuyện cũ thuở năm xưa năm xửa như: Nào là cùng nhau leo đồi, nào là cùng nhau lội suối… Cứ nhắc xong một kỷ niệm thì họ lại cùng nâng ly nốc cạn. Uống cho đến say thì thôi. Trong cuộc đời lính tráng thuở trước, gặp nhau nhậu nhẹt “ Tò te, ta nâng cốc lên, nhậu cho đã đời, rồi mai xa cách. Uống đi, ai say thì say, rồi ra chiến trường, người còn người không!”…
Lời ca khúc Auld Lang Syne (Rod Stewart) tiếng Anh: In the Days gone by
“Should auld acquaintance be forgot and never brought to mind?
Should auld acquaintance be forgot and the days of auld lang syne?
For auld lang syne, my dear, fFor auld lang syne
We’ll drink a cup of kindness yet, for the sake of auld lang syne…”
Lời tiếng Pháp (Jacques Sevin): Joyeux Au Revoir
“Faut-il nous quitter sans espoir sans espoir de retour?
Faut-il nous quitter sans espoir de nous revoir un jour?
Ce n’est qu’un au revoir, mes frères, ce n’est qu’un au revoir.
Oui, nous nous reverrons, mes frềres, ce n’est qu’un au revoir!…”.
Năm 1940, nhà thơ Thế Lễ lần đầu tiên đã dịch sang tiếng Việt: Bài Ca Tạm Biệt
“Ngày nay sắp cùng bùi ngùi xa cách
Cớ sao ta không còn trông
Rồi đây có ngày mình còn gặp nhau
Cách nhau nhưng ta hằng vui
Vì nay biết sau còn ngày sung sướng
Cách xa nhưng ta hằng mong
Rồi đây có ngày lại còn gặp nhau…”
Phim tình cảm trong chiến tranh như tựa đề tiếng Anh Waterloo Bridge tưởng như phim thời sự, tựa đề tiếng Pháp La Valse dans l’ombre có vẻ lãng mạn và hấp dẫn hơn. Chẳng hạn phim Cầu Sông Kwai (tiếng Anh: The Bridge on the River Kwai, (tiếng Pháp: Le Pont de la Rivière Kwai) về đề tài chiến tranh vào Đệ Nhị Thế Chiến, quay ở Thái Lan. Nhạc phẩm nầy không có nhạc chế, đặc biệt huýt gió rất hay.
Thuở đó cụ bà Vivien Leigh được mệnh danh là người đẹp của thế kỷ, sáng chói danh vọng, thần tượng của nữ giới nhưng “hồng nhan đa truân” không những về bệnh tình mà những bi kịch trong cuộc đời tình yêu và hôn nhân. Ngoài những người đàn ông qua đời cụ, 3 mối tình từ lúc 19 tuổi với người chồng lớn hơn 13 tuổi cho đến khi 47 tuổi lấy người chồng kém hơn 4 tuổi… Vì nhan sắc và tài hoa trên nghệ thuật thứ bảy, ông chồng nào cũng ghen nên cuộc sống không được thoải mái… Cây càng cao thì hưng chịu nhiều gió. Cuộc đời là vậy.
Tình cờ được tin người bạn từ thuở xa xưa nơi cố hương vừa qua đời. Hồi đó tôi cũng sở trường với nhạc chế nhưng người bạn nầy được tôn làm “sư phụ” vì dám xâm mình nhạc chế bài “suy tôn” của nhạc sĩ Ngọc Bích, dễ bị tù như chơi! Ca khúc Auld Lang Syne qua nhạc chế của bạn tùy hứng theo đối tượng (cả thầy, cô) chọc cười trong lớp.
Bạn cũ ra đi, không biết nói gì, gởi bạn lời vĩnh biệt!
Nghe ca khúc ca khúc Auld Lang Syne, nhớ lời nhạc chế thuở nào với bạn cố hương.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, April 2024
-
DU LỊCH ANH VÀ PHÁP QUỐC.

Chiếc phi cơ hãng hàng không United Airlines Boeing 747 cất cánh tại phi trường quốc tế San Francisco lúc 1:00 giờ ngày 19 tháng 10 năm 2007 và đã đáp xuống phi trường quốc tế Heathrow tại Luân đôn ở Anh quốc lúc 7:10 sáng ngày 20 tháng 09 năm 2007 sau 10 giờ bay.
Vừa xuống phi trường, toán chúng tôi sáu người gồm anh chị Lê văn Chính, anh chị Bùi phước Ty, và vợ chồng tôi cùng một số người khác phải ngồi chờ ông trưởng đoàn hướng dẫn du lịch từ Los Angeles dẫn một toán khác sang theo lời dặn của nhân viên tại đại lý bán vé máy bay ở California.
Hai giờ sau, ông trưởng đoàn hướng dẫn người Hoa dẫn một toán khác từ Los Angeles cũng vừa đến. Vì chúng tôi có mang dấu hiệu của hãng du lịch Tour Ritz màu đỏ ở trên túi áo của từng người, cũng như ông trưởng đoàn cầm cây cờ nhỏ trên tay có in hình của hãng Tour Ritz trên lá cờ nên chúng tôi nhận ra nhau rất nhanh. Đọc tài liệu của hãng du lịch, chúng tôi đã biết ông trưởng đoàn là người Hoa mang tên Leung Reddy chứ chưa được diện kiến. Bây giờ chúng tôi mới thấy ông khi ông tập họp chúng tôi để điểm danh. Ông ta trạc độ 58 tuổi, người thấp, nước da ngâm ngâm. Thế là hai toán chúng tôi lên xe buýt qua Terminal 4 để đón một toán khác nữa cũng vừa từ New York sang. Sau khi đã tập họp ba toán lại với tổng số 42 người, ông Leung Freddy trưởng đoàn hướng dẫn du lịch chỉ thị cho tài xế xe buýt lái xe hướng về lâu đài Windsor Castle tại Anh quốc để bắt đầu cuộc hành trình du lịch 4 nước ở Âu châu gồm Anh, Pháp, Thụy sĩ và Ý.
Vừa đến gần lâu đài Windsor Castle thì trên trời bỗng xuất hiện một vài đám mây và mấy phút sau trời bắt đầu mưa nhè nhẹ. Chúng tôi liền lấy dù ra để che mưa. Ông trưởng đoàn du lịch sau khi gặp một bà đầm người Anh liền giới thiệu với chúng tôi và cho chúng tôi biết tên bà ta là Venesha. Sau đó ông ta dặn chúng tôi hãy đi theo bà đầm này để nghe bà ta

Lâu đài Windsor Castle tại Luân đôn nhìn từ trên không (Hình trích từ Wikipedia)
thuyết minh, giải thích, kể chuyện về lịch sử lâu đài chúng tôi sắp vào xem. Theo sự hướng dẫn của ông trưởng đoàn du lịch, chúng tôi liền đi theo bà Venesha này để nghe bà ta kể chuyện. Cứ mỗi lần bà ta nói xong, ông trưởng đoàn lại dịch sang tiếng Hoa cho những người không biết tiếng Anh. Cứ theo lời giải thích của bà Venesha thì chúng tôi biết tổng quát được rằng, Windsor Castle nằm trong quận Birkshire thuộc thành phố Luân đôn. Đây là lâu đài lớn nhất thế giới. Diện tích của lâu đài này khoảng 484,000 square feet.Trong thời chiến, đây là thành lũy kiên cố chống ngoại xâm và cũng là nơi ở của các vị vua chúa qua các triều đại quân chủ của hoàng gia Anh. Tại lâu đài này, nữ hoàng Elizabeth II thường hay về đây để nghỉ cuối tuần. Thế rồi chúng tôi được hướng dẫn đi khắp các phòng ốc trong lâu đài cổ kính này. Nào là nơi các vị hoàng đế tiếp tân, nào là nơi các vị hoàng đế hội họp, nào là nơi cất giấu những vũ khí trong thời chiến như cung, tên, gươm, giáo , kiếm, nào là nơi ăn chốn ở của các nữ hoàng vv… Sau khi xem qua giường ngủ của các vị vua và của các nữ hoàng, một du khách trong đoàn chúng tôi hỏi bà Venesha rằng, tại sao giường ngủ của nữ hoàng lại rộng hơn giường ngủ của vua. Bà ta vừa tủm tỉm cười vừa trả lời rằng, sở dĩ giường của nữ hoàng rộng hơn giường của vua là để thỉnh thoảng vua qua thăm nữ hoàng và ở lại với nữ hoàng!

Giường Nữ hoàng ( Hình trích từ Wikipedia )
BàVenesha vừa trả lời xong thì du khách chúng tôi đều nhoẻn miệng cười. Có người lại cười to lên như có vẻ thích chí, nhiều du khách khác lại chỉ mĩm miệng cười mà thôi.
Thế rồi bà Venesha lại hướng dẫn chúng tôi đến nơi khác trong cung điện để tiếp tục tham quan tất cả những di tích lịch sử trong lâu đài Windsor Castle nầy.

Lâu đài Windsor Castle năm 1907( Hình trích từ Wikipedia)

Nữ hoàng Victoria ( Hình trích từ Wikipedia)
Sau hơn một tiếng đồng hồ đi tham quan trong lâu đài Windsor Castle, chúng tôi tất cả 42 người ra điểm hẹn tại ngã ba đường để gặp ông trưởng đoàn. Sau khi điểm danh đầy đủ, ông Leung Freddy cầm một bì thư đựng tiền do chúng tôi đã nộp sẵn trao tặng cho bà Venesha rồi chúng tôi vỗ tay để cám ơn và tán thưởng sự tận tâm và thiện chí của bà trong trong thời gian hướng dẫn chúng tôi vừa qua. Sau khi từ giả bà venesha ông trưởng đoàn hỏi anh em trong đoàn du lịch chúng tôi rằng, nếu du khách nào muốn đến thăm đại học Cambridge thì nộp mỗi người 30 Euro, và số du khách đến tham quan phải trên 20 người mới được chấp thuận. Khi nghe ông trưởng đoàn nói như vậy một số người liền đưa tay lên. Ông trưởng đoàn đếm đi đếm lại vẫn không đủ 20 người nên phải hũy bỏ chuyến đi tham quan đại học Cambridge. Sau đó chúng tôi theo ông trưởng đoàn lên xe đến khu phố người Hoa để ăn cơm chiều .
Theo gót chân ông Freddy, chúng tôi vào tiệm ăn Gerrard’s corner Restaurant ở đường Gerrard Street Sw1. Vì ông trưởng đoàn du lịch là người Hoa nên ông ta có lẽ đã quen biết nhiều tiệm ăn của người Hoa. Vì vậy, ông luôn luôn dẫn chúng tôi vào ăn tại các phố nguời Hoa ở. Ngồi trên xe buýt xuyên qua những con đường dẫn đến tiệm ăn, chúng tôi thấy đường sá tại thành phố Luân đôn rất chật hẹp nhưng thật sạch sẽ. Hai bên đường hầu như không có chỗ đậu xe. Chỉ thấy người qua lại thật tấp nập trên lề đường như ngày hội mặc dầu hôm đó là ngày thứ hai chứ không phải là ngày thứ bảy. Mấy cô gái người Anh với mái tóc bồng bềnh sánh vai cùng các bạn trai đi dọc đại lộ giữa phố chiều thật nên thơ. Rất nhiều đàn ông mặc veston, thắt cà vạt đi dạo phố chiều làm cho khu phố tăng thêm vẽ quý phái giữa chốn phồn hoa đô hội. Cũng lắm trai thanh gái lịch ngồi uống cà phê trong các quán cà phê dọc hai bên đường trông thật thanh bình, vui vẻ. Một điều khác lạ đập vào mắt tôi khiến tôi nhớ lại lúc còn theo học ở bậc trung học, một vị giáo sư đã kể cho chúng tôi nghe về sự luân lưu của xe cộ trong thành phố ở Anh quốc: tất cả đều lái xe về phía bên trái. Thảo nào tài xế xe buýt chúng tôi đang lái trên lane bên trái khiến tất cả du khách trên xe đều cảm thấy là lạ. Sau khi dùng cơm chiều tại phố người Hoa xong, chúng tôi được lệnh lên xe buýt để về khách sạn Guoman nằm trên đại lộ St Katherine’s way, London E 1W1LD. Khách sạn này toạ lạc trên bờ sông Thames và đối diện với chiếc cầu nổi tiếng the Tower Bridge. Vừa đến khách sạn, chúng tôi ai nấy cũng đều mệt mỏi sau mười tiếng đồng hồ ngồi trên máy bay ngủ gà ngủ gật, và mấy tiếng đồng hồ đi xem lâu đài Windsor nên vội vàng lấy hành lý thật nhanh để vào khách sạn nghỉ ngơi.
Sau khi phân phối chìa khoá phòng cho chúng tôi, ông Leung Freeddy dặn dò chúng tôi rằng, sáng mai chuông điện thọai sẽ báo thức đúng 6 :15 giờ, ăn điểm tâm tại khách sạn 7:00 giờ, tập họp để đi tham quam các danh lam thắng cảnh tại Anh lúc7:45 giờ . Vừa ổn định chỗ ngủ tại các phòng trong khách sạn, anh Lê văn Chính, anh Bùi Phước Ty và tôi rủ nhau ra quán Starbucks gần khách sạn để uống cà phê và nói chuyện phiếm. Lần đầu tiên trong đời ngồi uống cà phê trong một quán ở bên đường nơi quê người đất khách tại Anh quốc, tâm hồn tôi cảm thấy hân hoan, hay hay, là lạ. Khoảng 11 giờ khuya, chúng tôi trở lại khách sạn để nghỉ ngơi ngõ hầu sáng mai thức dậy cho đúng giờ. Theo lời dặn dò của ông trưởng đoàn hướng dẫn du lịch, chúng tôi đều có mặt trước khách sạn Guoman đúng 7:45 giờ sáng. Vì địa điểm tham quan hôm nay gần khách sạn nên chúng tôi chỉ đi bộ vài phút rồi băng qua đường là đến. Đó là chiếc cầu the Tower Bridge of the River Thames và The Tower of London. Cũng như chiều hôm qua tại lâu đài Windsor, sáng nay ông Leung Freddy cũng giới thiệu với chúng tôi một bà đầm người Anh khác tên là Catherine làm hướng dẫn viên để đến thăm The Tour of London. Dĩ nhiên ông trưởng đoàn du lịch cũng đi theo bà ta để thông dịch ra tiếng Hoa cho những du khách người Hoa. Vì hãng du lịch này của người Hoa có cái tên là Ritz Tours nên du khách hầu hết là người Hoa. Trong số 42 người thuộc đoàn du lịch chúng tôi, chỉ có 8 gười là người Việt, số còn lại là người Hoa cả.
Thế là chúng tôi đi theo ông Leung Reddy và bà Catherine để nghe họ trình bày, giải thích, kể chuyện về chiếc cầu the Tower Bridge và the Tower of London. Theo sự trình bày và giải thích của bà Catherine chúng tôi được biết rằng, năm nhà thầu khoán chuyên nghiệp điều động 432 công nhân xây cất trong tám năm trời mới hoàn thành chiếc cầu nầy vào năm 1894. Hai khối đá gồm những tảng đá lớn ghép lại được đặt nằm dưới lòng sông
để giúp xây cất cầu. Trên11,000 tấn thép được xử dụng để làm khung cho cầu và đường đi bộ. Sau khi hoàn thành xong, mặc dầu hệ thống nâng cầu rất phức tạp, nhưng máy nâng có thể đưa cầu lên tối đa 80 độ chỉ trong một phút mà thôi.

Chiếc cầu The Tower Bridge bắc qua dòng sông Thames. (Hình trích từ Wikipedia)
Sau khi đã tham quan the Tower Bridge, chúng tôi liền đi bộ băng qua đường để đến tham quan the Tower of London. Tại đây bà Catherine cho chúng tôi biết tổng quát về di tích lịch sử này như sau : tháp Tower of London do William the Conqueror xây năm1078 . Đây vừa là chiến lũy chống ngoại xâm, vừa là nơi ở của Hoàng gia Anh vừa là ngục tù (đặc biệt dành cho những người tù cao cấp và những tù nhân thuộc Hoàng tộc). Đây cũng là nơi để hành quyết và tra tấn các tù nhân và cũng vừa là xưởng đúc vũ khí, nhà ngân khố, sở thú, nơi đúc tiền, đài thiên văn . Từ năm 1303, đây cũng là nơi cất giữ châu báu ngọc ngà của Vương Quốc Liên Hiệp.

The Tower of London (Hình trích từ Wikipedia)

Một người lính đứng gác gần mấy khẩu thần công đặt trong the Tower of London. ( Hình trích từ Wikipedia)

Tác giả chụp chung với hai nhân viên trong The Tower of London.
Sau khi tham quan tháp the Tower of London xong, ông Leung Reddy cũng trao cho bà Catherine một bì thư đựng tiền trước mặt chúng tôi để cám ơn bà. Sau đó, ông Leung Reddy chỉ thị cho anh tài xế chở chúng tôi đi vòng quanh trong thành phố Luân đôn rồi dừng lại từng địa điểm để xem như dinh Quốc hội, tháp Big Ben, quảng trường Trafalga, điện Burkingham, khu phố Westminster Abbey.
Cứ mỗi lần dừng lại một địa điểm nào, ông trưởng đoàn liền giải thích cho chúng tôi nghe về nguồn gốc lịch sử của từng địa điểm đó.

Khu phố Westminster Abbey( Hình trích từ Wikipedia)
Những thắng cảnh tại thành phố Luân đôn

Thành phố Luân Đôn, Ngự Lâm Quân trong ngày lễ sinh nhật thứ 80 của Nữ hoàng Elizabeth, Điện Burkingham (Hình trích từ Wikipedia)



Toà nhà Quốc hội ( Hình trích từ Wikipedia)

QUẢNGTRƯỜNG TRAFALGA

Tháp Big Ben (Hình trích từ Wikipedia)
Tại những nơi này, chúng tôi tha hồ chụp hình, quay phim để làm kỷ niệm trong chuyến du lịch tại Anh quốc. Sau khi tham quan những địa danh nói trên,ông trưởng đoàn nói anh tài xế xe buýt chở chúng tôi đến tiệm ăn Aroma ở China town để dùng cơm trưa. Và chiều hôm ấy, chúng tôi được tự do đi shopping tại China town rồi ai nấy tự túc mua vé xe buýt, xe tắc xi, xe điện ngầm để về lại khách sạn và bữa cơm chiều chúng tôi cũng sẽ tự túc đi tìm tiệm ăn mà lo liệu lấy.
Nhớ lại sau khi ăn cơm trưa xong, Ông Leung Freddy có mách cho chúng tôi một tiệm ăn của người Thái, đối diện với khách sạn chúng tôi đang trú ngụ nằm ở bên kia bờ sông Thames. Vì vậy sau khi đi shopping ở China town về, 6 người chúng tôi liền rủ nhau thả bộ qua cầu Tower Bridge để đi tìm tiệm ăn ở bên kia bờ sông Thames đối diện với khách sạn chúng tôi đang tạm trú. Sau vài phút đi bộ trên cầu hóng gió chiều và nhìn dòng sông Thames chảy qua cầu, chúng tôi đã tới bên kia cầu. Theo những bậc tầng cấp đi xuống đường, chúng tôi liền đến ngã tư gần cầu nhất rồi băng qua đường , đi ngược lại hướng hồi nãy để tới bên bờ sông. Đi dọc theo bờ sông đối diện với khách sạn bên kia bờ, chúng tôi thấy các tiệm ăn nằm san sát nhau. Tiệm nào tiệm nấy thực khách đều chật ních.
Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ giá cả ở những tiệm nầy chắc phải đắt lắm. Vì vậy chúng tôi chỉ đi dạo dọc bờ sông Thames chứ không vào tiệm nào cả. Tuy nhiên vì trời cũng vừa tối và ai nấy cũng đều cảm thấy đói bụng cả rồi nên chúng tôi liền băng qua một đường hẻm để đi tìm tiệm ăn người Thái mà ông trưởng đoàn đã giới thiệu trưa nay. Khoảng năm phút sau chúng tôi đã thấy tiệm ăn của người Thái. Thế là sáu người chúng tôi vào ngay trong tiệm để dùng cơm tối. Khoảng một giờ sau chúng tôi rời tiệm ăn để trở về khách sạn. Trên đường trở về, chúng tôi cũng đi bộ băng qua cầu Tower Bridge như lúc ban chiều. Vì đã chín giờ tối nên trên cầu đèn điện rất sáng. Đi trên cầu nhìn xuống dòng sông, chúng tôi thấy mấy chiếc thuyền đậu sát bên bờ đằng kia phản chiếu ánh đèn điện xuống mặt nước sông Thames thật tuyệt đẹp.
Sau hai ngày du lịch tại nước Anh, theo chương trình đã vạch sẵn, sáng mai chúng tôi phải lên đường để qua nước Pháp.
Vì đã được trưởng đoàn dặn dò chiều qua nên sáng nay chúng tôi thức dậy thật sớm để chuẩn bị lên đường. Thế là chúng tôi tất cả 42 người lên xe buýt để tiến về ga xe lửa làm thủ tục hải quan trước khi lên xe lửa vượt biển Manche qua đất Pháp. Đang say sưa nhìn cảnh vật dọc hai bên đường lần cuối, bỗng anh Bùi phước Ty nói nhỏ bên tai tôi:
– Điền, farewell to London!
Nghe anh bạn Bùi phước Ty nói như vậy lòng tôi bỗng chùng xuống đến ngậm ngùi! Thật thế, giờ phút chia ly đã điểm rồi! Chỉ vài giờ nữa là chúng tôi sẽ xa Luân đôn, xa Anh quốc ngàn năm. Biết bao giờ mới trở lại đây ? Thôi thì vĩnh biệt lâu đài Windsor, vĩnh biệt the Tower Bridge of the Thames River, vĩnh biệt the Tower of London, vĩnh biệt dòng sông Thames có dòng nước hiền hòa chảy ngang qua cầu tuyệt đẹp, khi mùa thu mới bắt đầu về qua biểu tượng mấy chiếc lá vàng vừa bay nhè nhẹ rồi rơi xuống giữa dòng sông. Bỗng tôi nhớ đến bài thơ When we two parted của thi sĩ Lord Byron Anh quốc nói về sự biệt ly khiến lòng mình thêm xúc động:
When we two parted
In silence and tears
Half broken hearted
To sever for years
mà một thi sĩ nào đó đã dịch như sau:
Giờ phút chia ly đã điểm rồi
Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi
Mang mang nửa cõi lòng tan tác
Ly biệt xui chi tủi trọn đời.
California, một chiều thu nhạt nắng .
(tháng 10 năm 2007)
Dương viết Điền
Sau khi mất hai giờ rưởi vượt biển Manche bằng xe lửa từ Waterloo để qua Pháp, như thường lệ, chúng tôi cũng làm thủ tục hải quan trước khi lên xe buýt đi xem các danh lam thắng cảnh của đất nước này. Tại ga xe lửa trên đất Pháp, chúng tôi lên xe buýt để tiến về sông Seine. Ông trưởng đoàn cho chúng tôi biết rằng trên đường đến bờ sông Seine, chúng tôi sẽ đi ngang qua trước điện Versaille nơi chúng tôi sẽ được ông ta hướng dẫn đến tham quan ngày mai. Vì vậy ông nói với chúng tôi rằng khi xe buýt chạy ngang trước điện Versaille, ông ta sẽ nói “Đây là điện Versaille” và chúng tôi tất cả đều chào mừng bằng cách nói to lên một chữ “wow”. Hân hoan trước những lời ông trưởng đoàn đề nghị, tất cả chúng tôi đều bằng lòng ngay. Và khoảng một phút sau, khi xe vừa chạy ngang trước điện Versaille, ông trưởng đoàn du lịch cất tiếng nói thật to:
-Đây là điện Versaille.
Tất cả chúng tôi đều vui mừng, đồng thanh cũng cất tiếng nói thật to:
-Wow !
Theo chương trình đã vạch sẵn, ông trưởng đoàn du lịch hướng dẫn chúng tôi đến bờ sông Seine của nước Pháp ở thủ đô Paris để lên du thuyền chạy vài vòng trên dòng sông Seine ngõ hầu du khách có thể ngắm cảnh dọc hai bên bờ.
Ước mơ nhìn dòng sông Seine mấy mươi năm trời bây giờ không ngờ đã thành sự thật.

Du khách trên thuyền đang ngồi nhìn dòng sông Seine.

Dòng sông Seine chảy qua thủ đô Paris ( Hình trích từ Wikipedia)
Ngồi trên thuyền đang nhẹ nhàng lướt sóng, chúng tôi say sưa nhìn hai bên bờ không để mất một lâu đài, một biệt thự, không để sót một bến nước, một gốc cây. Đằng kia phía bên trái bờ sông Seine, những lâu đài thật nguy nga, những biệt thự thật tráng lệ đang đứng sừng sững dưới trời cao giữa thu đô Pari trông sao mà huy hoàng và lộng lẫy. Xa xa, tháp Eiffel vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt đang ngạo nghễ dưới trời cao giữa thủ đô nước Pháp như đang đợi chờ tất cả 42 người trong đoàn du lịch Tour Ritz đến tham quan ngày mai. Bỗng đâu, mấy chiếc lá vàng bay bay rồi rơi nhè nhẹ xuống dòng sông Seine khiến lòng tôi chợt nhớ mùa thu đang về giữa thủ đô Paris, để rồi văng vẵng bên tai tôi tiếng hát của ca sĩ Hoàng Dũng qua bài “ Mùa thu không trở lại” của nhạc sĩ Phạm trọng Cầu:
Em ra đi mùa thu
mùa thu không trở lại
Em ra đi mùa thu
sương mờ giăng âm u.
Em ra đi mùa thu
Mùa thu không còn nữa
Đếm lá úa mùa thu
Đo sầu ngập tim tôi.
Ngày em đi
Nghe chơi vơi não nề
qua vườn Luxembourg
Sương rơi che phố mờ
Buồn này ai có mua?
Từ chia ly
Nghe rơi bao lá vàng
Ngập giòng nước sông Seine
Mưa rơi trên phím đàn
Chừng nào cho tôi quên.
Hôm em ra đi mùa thu
Mùa thu không trở lại
Lá úa khóc người đi
Sương mờ dâng lên mi.
Em ra đi mùa thu
Mùa lá rơi ngập ngừng
Đếm lá úa sầu lên
Bao giờ cho tôi quBỗng sóng nước vỗ mạnh vào mạn thuyền khiến nước văng tung toé lên thuyền rồi tạt vào mặt tôi làm tôi trở về với thực tại. Chị Hồ thị Thu Hương, phu nhân của anh Lê văn Chính, đang cầm máy chụp hình đứng đối diện với tôi liền bảo tôi và bà xã tôi hãy đứng sát bên nhau một tí nữa, rồi nhìn về phía tháp Eiffel để chị ấy chụp cho một bức hình trên dòng sông Seine làm kỷ niệm. Sau đó, sáu anh em chúng tôi đứng sát bên nhau rồi nhờ một du khách trên thuyền chụp cho chúng tôi một tấm hình làm kỷ niệm luôn.
Sau khoảng một giờ ngồi trên thuyền lướt sóng để ngắm nhìn hai bên bờ sông Seine, ông trưởng đoàn du lịch liền thúc dục chúng tôi bước xuống thuyền leo lên xe buýt lại, chuẩn bị đến trung tâm thương mại Lafayette ở China town của thủ đô Paris để đi mua sắm. Vừa đến trung tâm thương mại Lafayette, chúng tôi được ông trưởng đoàn du lịch Leung Freddy cho biết rằng, tất cả chúng tôi được tự do đi shopping trong hai giờ và đúng 6:oo giờ chiều phải có mặt tại nơi xe buýt đậu để đi ăn cơm tối. Tại đây chúng tôi đi qua đi lại nhìn áo quần bày bán trong các tủ kính mà chẳng ai mua sắm gì cả vì giá cả đắt quá. Anh Bùi phước Ty nói với tôi rằng tôi ít chú trọng đến ăn mặc nhưng anh ta cũng muốn cho tôi biết rằng, trước đây loại áo Montagu rất nỗi tiếng nhưng bây giờ không dám mua vì giá cả khá đắt. Thế rồi anh Ty dẫn tôi đến một cửa kính gần đấy và chỉ cho tôi một chiếc áo Montagu đang nằm trong tủ kính. Thấy tôi và anh Ty đang nhìn chiếc áo Montagu này, anh chàng đứng bán hàng tiến về phía chúng tôi.
Khi anh ta đứng trước mặt tôi, tôi liền chỉ chiếc áo Montagu nằm trong tủ kính và hỏi:
-Je voudrais cette chemise, c’est combien?( Cái áo này giá bao nhiêu vậy?)
Anh ta trả lời:
-Quatre-vingts francs (80 franc)
Tôi nói ngay:
-C’est trop cher!( Quá đắt )
Nói xong tôi và anh Ty bỏ đi.
Sau đó tôi và bà xã tôi lên thang máy để đi xem tổng quát cho biết trung tâm thương mại Lafayette ở Pháp trước khi ra chỗ hẹn tại nơi xe buýt đậu để cùng đoàn du lịch chuẩn bị đi ăn cơm tối. Sau khi ăn cơm tối xong, chúng tôi được ông Leung Freddy hướng dẫn đến một hý trường nỗi tiếng tại thủ đô Pari để xem một show thật ngoạn mục khoảng 3 tiếng đồng hồ, gọi là “ Moulin Rouge Cabaret Show”. Vì vé vào cửa cho mỗi người là 120 Euro tương đối đắt nên tôi nghĩ thầm rằng, không biết chương trình của show nầy có hấp dẫn không đây. Vì vậy khi thấy ông trưởng đoàn đi ngang trước mặt, tôi có hỏi ông về nội dung chương trình như thế nào, ông bảo chờ xem rồi sẽ biết. Và đúng như ông trưởng đoàn nói “chờ xem rồi sẽ biết”. Sau khi xem xong, tôi thấy nội dung chương trình cũng khá hấp dẫn vì có những tiết mục là lạ như hai ca sĩ vừa đi vừa hát trên không trung lúc điện trong rạp đều tắt cả, một anh chàng vật lộn với con trăn dưới nước, hay là những vũ khúc sexy 50% vv… Lúc chương trình chưa bắt đầu, các nhạc công chơi nhạc cho các ca sĩ hát để du khách ai muốn nhảy thì lên sân nhảy rồi cứ tự nhiên như người Hà nội mà nhảy theo những điệu nhạc các ca sĩ đang hát giữa thủ đô Paris. Anh chị Bùi phước Ty cảm thấy ngồi không yên khi nghe nhạc trỗi lên trên sân khấu nên đã kéo nhau lên nhảy mấy bản bolero cũng đỡ ghiền. Khoảng 11 giờ khuya, chúng tôi ra khỏi rạp rồi lên xe buýt về khách sạn Evergreen Laurel Hotel Paris ở tại số 8 Places Georges Pompidou 92300 Levallois để nghỉ ngơi.
Cũng như thường lệ trước khi vào khách sạn nghỉ ngơi, ông trưởng đoàn thường báo cho chúng tôi biết giờ báo thức, giờ điểm tâm và giờ khởi hành đi xem các danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử tại các nước chúng tôi đến du lịch. Tuy nhiên vì mới đến nơi đất lạ xứ người nên hơi khó ngủ, anh Lê văn Chính, anh Bùi phước Ty và tôi lại rũ nhau nhau xuống phòng trà ở tầng dưới của khách sạn để uống nước trà và nghe nhạc cổ điển Tây phương do một Pianist trình diễn đàn piano. Ngồi nghe nhạc và nói chuyện phiếm khoảng một giờ sau chúng tôi mới lên phòng ngủ.
Đúng 7:45 giờ sáng, tất cả 42 du khách chúng tôi có mặt đầy đủ trước khách sạn Evergreen Laurel để lên xe buýt đến xem Điện Versailles, một trong những niềm kiêu hãnh của Pháp quốc và sự đố kỵ của nhiều chế độ quân chủ tại Âu châu. Tại đây, chúng tôi cũng được ông trưởng đoàn giới thiệu một bà đầm người Pháp nhưng nói được tiếng Anh để hướng dẫn chúng tôi đi xem những di tích lịch sử của dòng họ các nhà vua Louis XIV, XV, XVI trong Điện Versailles. Cũng giống như vào tham quan các lâu đài Windsor ở bên Anh quốc, tại đây, chúng tôi cũng được hướng dẫn đi xem tất cả những gì nằm trong Điện Versailles như phòng tiếp tân của vua, phòng hội họp, phòng ngủ, phòng triển lãm những vũ khí thời đại phong kiến của chế độ, nơi trưng bày những ngọc ngà châu báu vv…

Điện Versailles (Hình trích từ Wikipedia)
Khi vào phòng này, chúng tôi được bà đầm người Pháp cho biết rằng, rất nhiều vàng nằm khắp trong phòng, trên cửa sổ, trong tủ kính, nơi cửa chính ra vào, trên kệ sách vv…đều là vàng 24 cà rá cả. Khi nghe bà ta nói như vậy anh Lê văn Chính nói với tôi rằng, chắc chắn có vàng lấy từ các nước thuộc địa về trong đó có vàng lấy từ Việt nam qua. Tôi liền mỉm miệng cười như đồng tình với anh ấy. Thế rồi anh em trong đoàn chụp hình quay phim liên hồi. Ai thích hình gì thì chụp hình ấy. Chúng tôi vừa quay phim vừa chụp hình say sưa đến nỗi đoàn du lịch chúng tôi đã qua phòng khác mà không biết. Thế là chúng tôi phải vừa đi vừa chạy cho kịp đoàn du lịch. Sau khi gặp bà đầm người Pháp nghe bà ta trình bày và giải thích chúng tôi mới biết rằng, sở dĩ bà ta nói rất nhanh rồi đi ngay qua phòng khác vì cứ mỗi năm phút lại có một đoàn du lịch khác vào nữa. Nếu không đi ngay thì phòng sẽ chật ních người và nếu không trình bày nhanh sẽ trễ những nơi khác không xem được theo chương trình đã vạch sẵn.
Sau khi tham quan Điện Versailles, chúng tôi lại lên xe buýt để sang xem Bảo tàng viện
Louvre. Nơi đây, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và thưởng ngoạn đến say mê mấy chục tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng nhất thế giới cũng như xem tất cả những gì liên quan đến di tích lịch sử của triều đại Hoàng đế Napoleon vang bóng một thời.

Bảo tàng viện Louvre (Hình trích từ Wikipedia)
Điều vui vui cho tôi là khi nhìn bức tượng của Napoleon Đại đế trong Bảo tàng viện Louvre, tôi cứ cười thầm trong bụng mãi vì nhớ đến câu chuyện của một giáo sư dạy môn kinh tế học kể cho chúng tôi nghe cách đây 41 năm, khi thấy chúng tôi ngủ gà ngủ gật trong đại giảng đường. Vị giáo sư ấy kể rằng có một lần trước khi dẫn đoàn quân bách chiến bách thắng trở về, Napoleon Đại đế đã gởi thư về cho người tình là Josephine dặn nàng khoan tắm đã. Giáo sư ấy vừa kể xong thì tất cả sinh viên trong đại giảng đường tỉnh táo lại hết, không còn ai ngủ gà ngủ gật nữa. Sau khi tham quan Điện Versailles và Bảo tàng viện Louvre, chúng tôi nghỉ ngơi để dùng cơm trưa tự túc, sau đó lại lên xe buýt vượt qua cầu bắc qua dòng sông Seine tiến về tháp Eiffel . Tại đây chúng tôi được ông trưởng đoàn nói sơ qua về nguồn gốc của tháp này theo đó tháp Eiffel do kỹ sư Alexandre Gustave Eiffel thiết kế. Tháp được xây cất khoảng giữa năm 1887 và 1889, sau đó được khánh thành vào ngày 31 tháng 03 năm 1889. Trong lúc tạo dựng tháp này, khoảng 300 công nhân ráp nối 18,038 miếng sắt đã được tôi luyện, xử dụng hai triệu rưởi đinh tán. Tháp Eiffel cao 342 mét, nặng 7, 300 tấn.

Tháp Eiffel và dòng sông Sein về đêm(Hình trích từ Wikipedia)
Năm 2006, có 6 triệu du khách đến tham quan tháp này và kể từ lúc khánh thành tháp này cho đến ngày nay, đã có hơn hai trăm triệu du khách đến thăm. Sau khi trình bày tổng quát những vấn đề liên quan đến tháp Eiffel, ông trưởng đoàn liền phát mỗi người một vé để lên tháp nhìn quang cảnh thành phố Paris giữa nắng chiều. Tiền mua vé này du khách chúng tôi đã nộp cho ông trưởng đoàn chiều hôm qua.Tất cả là 30 Euro cho mỗi người gồm vé ngồi trên thuyền để dạo trên dòng sông Seine và vé lên tháp Eiffel .Chúng tôi liền sắp hàng nối đuôi nhau vào thang máy để được đưa lên tháp Eiffel. Sau khoảng mười lăm phút , chúng tôi đã lên được tầng thứ hai của tháp. Vừa bước khỏi thang máy để ra vị trí đứng nhìn xuống thành phố Paris, bà xã tôi bỗng buột miệng nói bên tai tôi :
-Đẹp quá anh ơi! Nhìn xuống dưới kia kìa! Thành phố Paris sao mà đẹp quá! Dòng sông Seine càng đẹp hơn nữa anh à! Anh lấy máy ảnh ra mà chụp vài tấm hình đi anh.
Mà thật thế, đứng ở tầng thứ hai của tháp Eiffel nhìn xuống, chúng tôi thấy toàn cảnh của thành phố Paris đẹp tuyệt trần! Xa xa, Điện Versailles, Bảo tàng viện Louvre, Điện Champs Elysees như nổi bật một góc trời. Đẹp nhất và nên thơ nhất là dòng sông Seine chảy qua thành phố Paris đang uốn khúc giữa nắng chiều. Bởi mùa thu đang về trên nước Pháp, vì trời thu đang ngự trị giữa thành phố Paris nên lá vàng từ trên một số cây dọc hai bên bờ sông Seine đang bay nhè nhẹ rồi từ từ rơi xuống dòng sông. Nhìn dòng sông Seine đang uốn khúc giữa nắng chiều thu, nhìn lá vàng bay là đà rồi rơi trên dòng nước biếc, lòng tôi bỗng xúc động đến ngậm ngùi rồi bâng khuâng nhớ đến những thi nhân của nước Pháp cứ mỗi độ thu về đã từng dệt nên những vần thơ thật lãng mạn, đa tình, thật nghẹn ngào, nuối tiếc! Một Guillaume Apollinaire với L’Adieu thật nức nở sầu thương, một Alphonse de Lamartine với Le Lac thật hoang vắng đơn côi, một Paul Verlaine với Chansons D’automne thật ê chề đau đớn, đầy ắp những kỷ niệm nghẹn ngào! Bất giác tôi ngâm bài thơ Chansons D’automne của Paul Verlaine khi thấy nắng chiều đang trải dài trên dòng sông Seine tuyệt đẹp:
Les sanglots longs
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l’heures
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m’en vais
Au vent mauvais
Qui m’emporte
Decà delà
Pareil à la
Feuille morte
« Tiếng đàn ai đó lê thê
Vĩ cầm réo rắt ê chề lòng đau
Bơ vơ chuông đổ đồng hồ
Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa
Bao kỷ niệm, theo gió đưa
Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót xa
Bao năm lữ thứ xa nhà
Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi…”
(Lãng Du)
Dương viết Điền,
California, một chiều thu nhạt nắng. (tháng 10 năm 2007)
-
Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, 93 Tuổi Vẫn Sáng Tác Thi Ca
Bài viết của Ký Giả Thanh Phong, Nhật Báo Viễn Đông

Hai trong số các nhà thơ nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam là cụ Dương Khuê (1839 -1902) và cụ Nguyễn Khuyến (1835-1909); cả hai là bạn tri kỷ của nhau. Khi nghe tin cụ Dương Khuê mất Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ bất hủ “Khóc Bạn” (Khóc Dương Khuê) Bài thơ được coi là bài Văn Tế viết theo thể thơ song thất lục bát gồm 38 đã được ghi vào văn học sử. Hai câu đầu là tiếng than thở xót xa, bùi ngùi:
“Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta..”
Cụ Dương Khuê mất đi song có người cháu ruột là nữ sĩ Dương Hồng Anh, năm nay đã 93 tuổi nhưng chất thơ trong người thi sĩ vẫn chưa cạn và luôn tuôn trào lai láng trên những tập thơ để cống hiến cho đời thêm tươi đẹp.
Cách nay vài ngày, gia đình chúng tôi vinh hạnh đón tiếp nữ sĩ Dương Hồng Anh ghé thăm. Với tuổi đời gần 100, thi sĩ Dương Hồng Anh không còn lái xe nên đã nhờ thi sĩ Tha Nhân, một bạn thơ luôn yêu mến, kính trọng và coi nữ sĩ Hồng Anh như người chị, cả về tuổi tác lẫn thơ văn nên sẵn sàng chở nữ sĩ Hồng Anh khi cần đi đây đi đó. Sở dĩ chúng tôi được vinh dự đón tiếp một thi sĩ nổi tiếng như nữ sĩ Dương Hồng Anh và thi sĩ Tha Nhân là vì khi còn học Trung Học tại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ tôi được học Hán Văn với giáo sư Dương Tự Tam, một niên trưởng trong gia tộc thi sĩ Dương Hồng Anh.
Mặc dù đã cao tuổi nhưng sức khỏe và nhất là tinh thần nữ sĩ Dương Hồng Anh vẫn rất minh mẫn, nữ sĩ cho chúng tôi biết đôi nét về thân thế và sự nghiệp làm văn thơ của mình:
“Tôi sinh năm 1931 tại Hà Nội, nếu theo thế thứ họ Dương là Dương Nguyệt Anh – Hồng Anh, là cháu nội trực hệ cụ Dương Khuê, Vân Đình, Hà Đông. Thân phụ tôi là cụ Dương Tự Tám, từng làm Hiệu Trưởng trường tiểu học Nhật Tiến, Hà Nội trước năm 1945; bố tôi là nhà giáo sống thanh bạch nhưng rất ưa chuộng thi ca và nhờ giòng máu của bố, tôi cũng mê thi ca và khi còn nhỏ tuổi tôi đã làm bài thơ đầu tay được đăng trên báo Cậu Ấm Cô Chiêu năm 1949. Sau đó tôi làm nhiều bài thơ đăng rải rác trên các báo Cải Tạo, Hồ Gươm, Sinh Lực, Giang Sơn, Giác Ngộ. Từ năm 1952 đến năm 1954 tôi làm Thư Ký Tòa Soạn báo Sinh Lực tại Hà Nội. Tác phẩm đầu tiên là Hương Mùa Chinh Chiến in chung với các tác giả: Minh Tân, Hồng Anh, Minh Đức, Tuyết Lan năm 1952 tại Hà Nội. Sau khi sang định cư tại Hoa Kỳ, tôi sống tại thành phố Westminster và từ năm 2010 đến nay tôi đã xuất bản 11 thi tập: Từ Phương Trời Xa (2010), Chiều Bến Đợi (2012), Tiếng Thầm (2013), Đôi Bờ Thương Nhớ (2014), Mầu Trăng Thuở Ấy (2015), Sợi Nhớ Sợi Thương (2016), Tình Thu (2017), Vương Vấn Hồn Quê (2018), Nguồn Cội (2019), Mầu Thời Gian (2021), Những Gì Để Nhớ (2023) và tôi vẫn tiếp tục làm bạn với Thơ, vẫn sáng tác cho đến khi Trời không cho sáng tác nữa mới gác bút!”
Thi sĩ Dương Hồng Anh có biệt tài “Xuất khẩu thành thơ”, nữ sĩ có khả năng làm đủ các thể thơ: Lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn bát cú v.v.. Nhà văn Khánh Lan, một văn thi sĩ nổi tiếng tại hải ngoại đã yêu mến và tỏ lòng kính trọng nữ sĩ Dương Hồng Anh nên xin được gọi nữ sĩ Dương Hồng Anh bằng Cô (viết hoa), và nhà văn Khánh Lan viết về nữ sĩ Dương Hồng Anh : “..Với văn phong giản dị, nhẹ nhàng, trong sáng và chân thật, chắc hẳn nữ sĩ sẽ đưa khách thưởng ngoạn thi ca đến khu vườn hoa đầy hương sắc, êm đềm và thơ mộng… Trong thi phẩm “Những Gì Để Nhớ” tác giả ghi lại trên trang giấy những kỷ niệm êm đẹp, xen lẫn những vui buồn đã trôi theo thời gian qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, về quê hương cách xa ngàn dặm với Hà Nội mến yêu, về nghĩa mẹ tình cha, tình nghĩa phu thê, lòng hiếu đạo của các con, tình bạn bè, và sau cùng về chính cuộc đời mình…. Đọc thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, chúng ta không thể ngờ rằng Cô đã ngoài 90. Câu nói “90 tuổi vẫn còn xuân” có lẽ đúng với Cô Hồng Anh, bởi tâm hồn Cô vẫn trẻ trung, thơ Cô vẫn hồn nhiên và tươi mát như một đóa hoa mà Thượng Đế đã ưu ái dành cô Cô…”
Ở tuổi đời như nữ sĩ Dương Hồng Anh chắc hẳn đã chất chứa quá nhiều kỷ niệm, và với tài làm thơ thiên phú, lại được sống trong gia đình lễ giáo, nữ sĩ Dương Hồng Anh đã hấp thụ biết bao tinh hoa của ông bà, cha mẹ và những người thân trong gia tộc, nên trong 11 tác phẩm đều có những bài thơ “Thương cha, nhớ Mẹ”, nhớ quê hương như bài “Công Cha Nghĩa Mẹ”:
Ngồi đây mà nhớ sông Hồng
Bờ đê cát trắng nghe lòng nao nao
Giòng sông kỷ niệm tuôn trào
Công cha nghĩa mẹ, lẽ nào dám quên (Những Gì Để Nhớ)
Ngoài cha mẹ, nữ sĩ Dương Hồng Anh vẫn mãi không quên phu quân Nguyễn Sĩ Hiệp nay đã ra người thiên cổ:
Thế là đũa đã không đôi
Một người đi để một người cô đơn
Hoàng hôn rồi lại hoàng hôn
Có làn mây trắng chở buồn lang thang
Mấy mùa mưa nắng ngỡ ngàng
Mấy mùa hoa rụng lá vàng về đâu
Người đi đi mãi phương nào
Có nghe tâm sự gửi vào thiên thu ( Bài Thế Là trong tp Những Gì Để Nhớ)
Khi hay tin danh họa, nhà thơ Vũ Hối từ trần, nữ sĩ Dương Hồng Anh đã làm ngay bài thơ Tưởng Nhớ Vũ Hối:
Thế là xa cách từ nay
Tiếc thương Vũ Hối thiên tài văn chương
Thơ văn, Thư pháp sở trường
Anh đem gom tặng bốn phương bạn bè
Hoa tay, hoa bút đam mê
Lừng danh thế giới chẳng hề tính toan
Với đời, sống trọn nghĩa nhân
Với thơ, anh trải chữ tâm tháng ngày
Quà xuân Mậu Tuất còn đây
Mà sao anh vội về ngay nhà Trời
Tâm hương đưa tiễn ngậm ngùi
Chúc anh thanh thản mỉm cười Tiên Du
Viết về nữ sĩ Dương Hồng Anh đã có rất nhiều bạn thơ, văn như các nhà văn Khánh Lan, Trần Việt Hải, thi sĩ Tha Nhân ..và theo tôi, nhà văn Trần Minh Trí trong bài “Cảm nghĩ về thơ Dương Hồng Anh” đã nói hết cho người đọc biết về con người, về chất thơ, về tấm lòng yêu quê hương, bạn bè và tha nhân của nữ sĩ Dương Hồng Anh “..qua ba tập thơ xuất bản kế tiếp tại Hoa Kỳ: Từ Phương Trời Xa, Chiều Bến Đợi và Tiếng Thầm, tôi cảm nhận được hồn thơ dạt dào của bà trong cuộc sống, từ thời thơ ấu, lớn lên ở miền Bắc, di cư vào Nam ở tuổi thiếu nữ còn cắp sách đến trường Trưng Vương, và nay định cư tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ. Bà cảm xúc với cuộc đời, với vạn vật, với người thân, với bạn bè, với nơi chốn cư ngụ, với quê hương gấm vóc, với hồn thiêng sông núi, với danh lam thắng cảnh của Hà Nội đẹp như tiên cảnh, với địa danh chiến công hiển hách của các vị anh hùng dân tộc, với ngày vui lễ hội, với thời tiết bốn mùa, và..với tình yêu, không phải chỉ tình yêu ích kỷ của đôi lứa mà là tình yêu bao la cùng thế sự. Đối với nhà thơ Hồng Anh mọi thứ đã thành thơ . Cả cuộc sống thành thơ trong rung cảm thiết tha say đắm ít ai đạt được. Đọc thơ của bà là một lý thú được chia sẻ cùng bà những cảm xúc tuyệt vời của thơ hay…(Đôi Bờ Thương Nhớ).
Trước khi ra về, nữ sĩ Dương Hồng Anh còn cho chúng tôi nghe hai bài thơ, một bài nữ sĩ làm tặng nhà thơ Dương Tuyết Lan ở Hà Nội, nhưng cũng có ý nói với chúng tôi, bà “Vẫn Làm Thơ”:
Em ơi! Chị vẫn làm thơ
Vẫn còn đêm trắng thẫn thờ gió bay
Nhớ nhau đếm tháng đếm ngày
Sầu lên khói biếc hồn say ngàn trùng (Vẫn Làm Thơ trong tập thơ Nguồn Cội.
Bài thứ hai, là bài nữ sĩ vừa viết khi tuổi đời vừa đúng 93:
Mới đấy, mà nay đã chín ba
Con tàu chở chữ đậu sân ga
Ga này ga nữa đi chưa hết
Bút mực hành trang năm tháng qua
Tôi vẫn đi hoài vẫn bước đi
Mặc đời dâu bể có hề chi
Nâng niu kỷ niệm thương và nhớ
Một góc trời xa nghĩ ngợi gì…….”
Kính chúc nữ sĩ Dương Hồng Anh vẫn mãi làm thơ nâng niu kỷ niệm thương và nhớ, để cho đời mãi mãi nhớ thương./.

Nữ Sĩ Dương Hồng Anh Ra Mắt tập thơ thứ 12 do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức ngày 17 tháng 12, 2024. Từ trái sang Phải: NV Khánh Lan, NV Kiều My, NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, MC Mộng Thủy.
Thanh Phong
-
Du lịch ngắm hoa anh đào và thăm bạn

March 28, 2024: Cuộc thưởng ngoạn ngắm hoa anh đào vùng Washington D.C cuối tháng Ba đã đem đến cho chúng tôi nhiều ngạc nhiên và thích thú cũng như đã để lại trong chúng tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Tuy khởi đầu cuộc du lịch gặp nhiều trắc trở vì chuyến bay từ phi trường LAX đến phi trường Dulles International, Virginia bị đình trệ, “Stand by” flights đến ba lần vì hãng máy bay American đã “booked” quá tải, phải ngủ lại khách sạn một đêm, hành lý bị thất lạc, v.v… Tuy đó là “chuyện lớn” nhưng vẫn không làm nản lòng sáu chúng tôi gồm: Chị Tố Đoan, Kiều Chi, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Khánh Lan, và Mạnh Bổng.

Từ trái sang phải: Mạnh Bổng, Chị Hằng vợ anh Phạm Xuân Thái, Kiều Chi, Tố Đoan, Khánh Lan, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Anh Phạm Xuân Thái. (Hình chụp tại Alexandia Harbor)
March 29, 2024: Sau cùng chúng tôi đã được lên máy bay nhưng đường bay hoàn toàn thay đổi. Nếu đúng như chương trình hoạch định thì chuyến bay “one stop” của chúng tôi sẽ ghé phi trường Dallas Fort Worth (DFW) International, Texas rồi bay thẳng qua phi trường Dulles International, Virginia. Nhưng cuối cùng lại trở thành chuyến bay “Two stops”, máy bay đã dừng lại ở phi trường DFW, Texas và Des Moines International (DSM), Iowa trước khi bay đến phi trường Ronald Reagan National, Washington DC, thay vì đi đến phi trường Dulles International, Virginia như theo chương trình đã ấn định lúc ban đầu. Chính vì sự đảo lộn đó mà hành lý của chúng tôi đã đi theo máy bay về phi trường Dulles International, Virginia thay vì phi trường Ronald Reagan, Washington DC.
Sau khi máy bay hạ cánh tại phi trường Ronald Reagan, Washington DC khoảng 11:30 tối, chúng tôi đã nhận thấy anh Phạm Xuân Thái đứng ở khu lấy hành lý từ bao giờ. Anh Phạm Xuân Thái là anh của Kiều Chi, anh là người đã sống tại tiểu bang Washington DC từ năm 1975 cho đến nay và cũng là bạn rất thân với gia đình NV Hồng Thủy. Từ đầu tháng Ba, Anh Thái đã rất chu đáo và tận tình trong việc hướng dẫn & hoạch định chương trình thăm viếng ba vùng Washington DC, Virginia, Maryland cho chúng tôi lần này. Trong khi Kiều Chi giới thiệu chúng tôi với anh Thái thì cũng là lúc chúng tôi được biết hành lý của chúng tôi hiện đang ở phi trường Duller International, Virgina.
Từ giã anh Phạm Xuân Thái và Kiều Chi, chúng tôi thuê Uber về phi trường Dulles International, Virginia để lấy hành lý, lúc đó đã gần nửa đêm nên kho chứa hành lý của hãng máy bay American sắp đóng cửa. Lấy hành lý xong, chúng tôi đi lấy xe tại Dollar Rent A Car và lái xe về tư gia của NV Hồng Thủy, đồng hồ điểm 1:30 sáng. Thế mà NV Hồng Thủy vẫn thức để chờ đón chúng tôi. (Cám ơn lòng hiếu khách của chị Hồng Thủy). Như vậy, chúng tôi đã mất 2 ngày để bay từ California đến Washington DC.

Khánh Lan, Ngân (bạn của Kiều Chi từ tiểu bang Kansas), Kiều Chi, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Chị Tố Đoan.
March 30, 2024: Ngắm hoa anh đào tại bờ hồ Tidal Basin, Vì là Easter Spring Break nên du khách đến thưởng ngoạn hoa anh đào rất đông và chúng tôi không sao tìm được chỗ đậu xe. Anh Mạnh Bổng và anh Xuân Thái đành phải hy sinh lái xe lòng vòng quanh khu Tidal Basin sau khi “drop chúng tôi off“, chờ chúng tôi đi xem hoa và chụp hình. (Cám ơn sự kiên nhẫn đáng yêu của hai anh).
3,000 cây hoa anh đào Nhật Bản hơn 100 trăm năm tuổi đồng loạt nở rộ ở khu vực quanh bờ hồ Tidal Basin, thủ đô Washington D.C và đã thu hút hàng triệu người từ khắp nơi đến thưởng ngoạn. Quanh bờ hồ, những bông hoa đào đã nở rộ, rực rỡ. Những cánh hoa đào mong manh bay bay trong gió, những cành hoa đào nghiêng bóng xuống mặt hồ trong vắt tạo nên một khung cảnh thật thơ mộng và hữu tình.

Tuyết Nga, Khánh Lan, Chị Hằng, Ngân, Kiều Chi, Tố Đoan, Hồng Thủy, Đức Hạnh.
Hoa Anh Đào năm nay nở sớm do nhiệt độ bất thường tại Thủ đô Washington D.C., nhưng vẫn còn ưu ái để lại trên cành những chùm hoa màu trắng, màu Hồng xinh xắn. Du khách cũng như chúng tôi len lỏi, chen nhau ngắm hoa và chụp hình lưu niệm. Có lẽ để mừng lễ Phục Sinh nên khu Tidal Basin hôm nay vui quá, hàng ngàn cánh diều với nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau tung bay phất phới trên bầu trời trông thật vui mắt, thật đẹp và hay lạ. Chuyến du lịch ngắm hoa Anh Đào năm nay của chúng tôi thật đúng lúc, đúng thời gian và “lucky” vì NV Hồng Thủy cho biết qua năm 2025 sẽ có khoảng hơn 200 cây hoa anh đào quanh khu Tidal Basin bị chặt, đốn đi vì rễ cây đâm xuống làm nứt hồ nước.

NV Hồng Thủy & Khánh Lan
Lincoln Memorial và Thomas Jefferson Monument cũng không xa nên chúng tôi tản bộ qua để chụp những tấm hình lưu niệm trước khi ra về.

March 31, 2024: Ngắm hoa Anh Đào tại khu làng Kenwood: Theo lời chỉ dẫn của anh Phạm Hồng Thái, chúng tôi đi ngắm hoa anh đào tại khu làng Kenwood. theo tài liệu internet cho biết, Kenwood vào đầu những năm 1930 và 1940, một nhà phát triển địa phương đã trồng cây anh đào như một cách để thu hút những người mua nhà tại khu ngoại ô thành phố này. Hiện nay có hơn 1,200 cây hoa anh đào và những cây hoa Magnolia tại đây đã tô điểm cho khu làng Kenwood trở nên tuyệt vời với hàng trăm nghìn bông hoa nhỏ màu trắng xinh đẹp nở rộ trong mỗi mùa xuân. Làng hoa anh đào Kenwood là một trong những địa điểm ngắm hoa anh đào nổi tiếng tại thủ đô Washington D.C.

Hoa Magnolia và Khánh Lan

Khu làng Kenwood với những ngôi nhà trị giá hơn 1 triệu USD
Kenwood là một khu phố đẹp với những ngôi nhà trị giá hơn 1 triệu USD nằm giữa River Road và Little Falls Parkway ở Chevy Chase. Nó được phát triển bởi Edgar Kennedy – ông chủ tòa nhà chung cư Kennedy-Warren trong Quận – và cộng sự của ông là Donal Chamberlin. Ted Beverly, người đã sống ở Kenwood từ năm 1978 cho biết các cây hoa anh đào được bắt đầu trồng cây ngay cả trước khi những căn nhà được bắt đầu xây cất. Những ngôi nhà đầu tiên tại Kenwood được hoàn thành vào năm 1929.

Những con đường tràn ngập hoa anh đào
Khi những cây anh đào được trồng xung quanh Tidal Basin vào năm 1912 đã truyền cảm hứng cho Kennedy và Chamberlin. Nhưng thực ra chính một cư dân Quận Montgomery mới là người đầu tiên đề xuất trồng những cây có hoa cho khu vực này, David Fairchild là một “nhà thám hiểm thực vật” của Bộ Nông nghiệp sống ở Chevy Chase. Năm 1906, ông đã nhập cảng 100 cây hoa anh đào từ Công ty Yokohama và trồng chúng trên sườn đồi trong khu đất của mình và nhận thấy cây phát triển mạnh ở khu vực này và đến năm 1934, 2,000 cây anh đào Yoshino đã được trồng tài Washington D.C.
Vào mùa xuân, những cành hoa trĩu nặng uốn lượn trên các con phố Kenwood, che khuất bầu trời một màu trắng xáo tựa như một tấm màn phủ đầy tuyết và thu hút hàng ngàn du khách mỗi năm.

Phong cảnh đẹp trong khu làng Kenwood

Cũng trong ngày 31 tháng 3, chúng tôi tham dự buổi “Hội Ngộ Kinh Thương 2024” tại nhà Cô Vân Nga, giáo sư anh văn của trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức, Saigon. Sau bao năm không gặp nhau, các anh chị Kinh Thương kẻ còn người mất, tay bắt mặt mừng.

Khánh Lan và Cô Vân Nga

Kinh Thương Hội Ngộ 2024

Aril 1, 2024: The US Capital, Botanical Garden, Hirshhorn Sculpture Garden, Galery Of Art Museum, v.v…Thật là một cực hình để tìm được một chỗ đậu xe tại các địa điểm này, vì thế Anh Mạnh Bỗng thường bỏ chúng tôi trước cửa để đi tìm chỗ đậu xe hoặc chạy lòng vòng quanh phố để 5 đứa con gái như chúng tôi có cơ hội chụp những tấm hình đẹp. (Cảm ơn anh Mạnh Bổng).

The US Capital

Hirshhorn Sculpture Garden, Galery Of Art Museum

Botanical Garden, Khánh Lan, Tố Đoan, Đức Hạnh…cứ lội mưa mà đi…tỉnh bơ…

April 2, 2024: The White House: Sau khi lòng vòng bên ngoài của The White House và chụp hình phía ngoài cổng. Chúng tôi đi ăn trưa tại khu VN Eden Center, đây là trung tâm sinh hoạt thương mại của người Việt giống như khu Little Sài Gòn ở quận Cam của chúng ta. Khánh Lan đã gặp Ông Nam Lộc tại đây như theo lời dặn của NV Việt Hải và chụp một tấm hình lưu niệm với ông như NV Việt Hải giao phó. Hôm ấy Ông Nam Lộc làm MC cho chương trình đại nhạc hội của tiệm Teletron.

The White House

Chúng tôi đi ăn trưa tại khu VN Eden Center

Mạnh Bổng, Ngân, Hạnh, Khánh Lan, Kiều Chi, Xuân Thái, Tố Đoan, Tuyết Nga, Chị Hằng, Hồng Thủy, Mẫn
Buổi trưa, họp mặt tại nhà của anh Phạm Xuân Thái & Chị Hằng và cũng là buổi tiễn chân bạn hai bạn Mẫn & Ngân về lại tiểu bang Kansas. Tại đây, chúng tôi đã gặp con trai thứ của nhạc sĩ Hoàng Trọng, Ca nhạc sĩ Hoàng Cung FA và em họ của khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Dương Nguyệt Thu Lan. Cũng tại đây, chúng tôi đã gặp nhiều anh chị khác như anh chị Hiệp & Thư, anh chị Tiến & Thu Lan. Tất cả các anh chị này đều hát rất hay và hát các nhạc phẩm thuộc thể loại nhạc tiền chiến mà chúng tôi rất yêu thích.

Chị Hằng, Tuyết Nga, CNS Hoàng Cung Pha (Con của NS Hoàng Trọng), anh Xuân Thái, Mạnh Bổng, Đức Hạnh, Tố Đoan, Hồng Thủy, Khánh Lan

Hàng đứng: Các anh Tiến, Mẫn, Thái, Hiệp, Hoàng Cung Pha và chị Hằng. Hàng ngồi: Tố Đoan, Khánh Lan, Tuyết Nga, Chị Thư, Ngân, Hạnh, Kiều Chi, Chị Thu Lan, NV Hồng Thủy
Buổi tối, chúng tôi cùng NV Hồng Thủy đến dự buổi họp mặt văn nghệ tại tư gia của nhà văn tiến sĩ Lưu Nguyễn Đạt. Hôm ấy, ca sỹ Anh Dũng cũng đến giúp vui. Thật là thú vị được thưởng thức những tiếng hát rất hay và nghe những bản nhạc tiền chiến mà các anh chị đến giúp vui văn nghệ đã hát hôm ấy. Nhà văn tiếp sĩ Lưu Nguyễn Đạt đã tặng khánh Lan ba tác phẩm văn học của ông gồm: văn, thơ và biên khảo mà ông đã cho xuất bản cách đây vài năm trước. Ông cũng không quên gửi tặng NV Việt Hải một thi tập song ngữ: Heartfulness hay Hồn Nước.

Họp mặt tại nhà của NV TS Lưu Nguyễn Đạt. NV Lưu Nguyễn Đạt & Ca Sĩ Anh Dũng

Tại đây, chúng tôi cũng gặp được Thi sĩ Lê Thị Ý, Bà là tác giả của bài thơ Tưởng Như Còn Người Yêu. Bài thơ này đã được Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Chúng tôi cũng có cơ hội phỏng vấn Bà về nguồn cảm hứng gì đã khiến Bà sáng tác bài thơ này. Bà nói, Bà sống ở Ban Mê Thuật, nơi mà Bà đã nhìn thấy và là nhân chứng của nhiều chiến sĩ đã nằm xuống, cảnh những đám tang và những thiếu phụ đã khóc than trong đau khổ vì mất người yêu, v, v…nên vì thương cảm cho hoàn cảnh của họ, Bà đã viết nên bài thơ này.

NV Khánh Lan, TS Lê Thị Ý, NV Hồng Thủy
April 3, 2024: Thăm cô của Tuyết Nga ở Virginia cách Maryland khoảng hơn một tiếng lái xe và dùng cơm trưa với gia đình của cô.

Thăm gia dình Cô của Tuyết Nga
April 4, 2024: Thăm viếng “The Colonial Williamsburg” ở thành phố Virginia. Williamsburg là một thành phố của bang Virginia ở Hoa Kỳ, trước kia là thủ đô của Thuộc địa Virginia từ năm 1699 đến năm 1780 và đóng một vai trò quan trọng trong Cách mạng Hoa Kỳ. Nó tạo thành “Tam giác lịch sử” cùng với Jamestown và Yorktown. Trung tâm của nó là Colonial Williamsburg, một khu làng lịch sử và bảo tàng lịch sử với những sinh hoạt sống động, các diễn viên hoặc người bán hàng tại Colonial Williamsburg mặc những trang phục cổ xưa mô tả cuộc sống thuộc địa hàng ngày trên đường phố, cửa hàng và công xưởng.


Colonial Williamsburg






April 5, 2024, Philadelphia, Pennsylvania và thăm Cô của Khánh Lan: Chúng tôi quyết định đi thăm thành phố Philadelphia thuộc tiểu bang Pennsylvania và tiện thể thăm cô của Khánh Lan sau khi chúng tôi ghé thăm The Liberty Bell, The Love Park, the Old City Hall và The Rading Terminal Market. Rất tiếc là chúng tôi không có đủ thời gian để ghé thăm The Old town of Philadelphia và The Amis town. Đã bao năm không trở về đây, thành phố đã thay đổi rất nhiều, đẹp hơn và đông du khách hơn. (Đây là lần thứ ba Khánh Lan trở lại nơi này).


Tại “Liberty Bell”




Tuyết Nga & Đức Hạnh ở “The Rading Terminal Market”

Ghé thăm gia đình Cô của Khánh Lan
April 6, 2024, ghé thăm nhà thờ The Basilica of the National Shrine of the Immaculate Conception và dạo phố Old town Alexandria, National Harbor:

The Basilica of the Nationa Shrine of the Immaculate Conception hay Vương cung thánh đường của đền thờ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội

Địa chỉ: 400 Michigan Ave NE, Washington, DC 20017 và mở cửa chính thức năm 1959. Architect: Charles Donagh Maginnis và Architectural styles: Romanesque Revival architecture, Neo-Byzantine architecture.
Basilica of the National Shrine of the Immaculate Conception là nhà thờ Công giáo La Mã lớn nhất ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ, và là một trong mười nhà thờ lớn nhất trên thế giới. Nhà thờ được Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ chỉ định là Thánh địa cầu nguyện và hành hương quốc gia. Vương cung thánh đường là đền thờ Đức Mẹ nổi tiếng của quốc gia, dành riêng cho bổn mạng của Hoa Kỳ; Đức Trinh Nữ Maria dưới danh hiệu là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và thường được gọi là Nhà thờ Công giáo của Hoa Kỳ. Được viếng thăm bởi Giáo hoàng Phanxicô, Giáo hoàng Benedict XVI, Thánh John Paul II, và Thánh Teresa of Calcutta, Vương cung thánh đường, sánh ngang với các thánh địa lớn của châu Âu và thế giới.

Mang phong cách Byzantine-Romanesque, kiến trúc thượng tầng đồ sộ là nơi có hơn 80 nhà nguyện và phòng thí nghiệm liên quan đến các dân tộc, nền văn hóa và truyền thống vốn là kết cấu của đức tin Công giáo. Vương cung thánh đường cũng là nơi lưu giữ bộ sưu tập nghệ thuật giáo hội đương đại lớn nhất trên trái đất. Mở cửa 365 ngày mỗi năm, Vương cung thánh đường đón gần một triệu du khách hàng năm, thu hút khách hành hương cũng như khách du lịch từ khắp nơi trên đất nước và trên thế giới.
Vương cung thánh đường Đền thờ Quốc gia Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội phải mất 39 năm để xây dựng kể từ khi bắt đầu xây dựng vào năm 1920 cho đến khi hoàn thành vào năm 1959, sau một thời gian gián đoạn trong Thế chiến thứ hai. Các kiến trúc sư Maginnis và Walsh ở Boston đã chọn phong cách La Mã-Byzantine cho tượng đài Công giáo quốc gia để tượng trưng cho đức tin và tình yêu của Hoa Kỳ đối với người bảo trợ của nó, Đức Trinh Nữ Maria. Đức Maria dưới danh hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Kiến trúc La Mã được xác định bởi kích thước đồ sộ, tường dày, mái vòm, trụ cầu, vòm háng, tháp và xe cứu thương được trang trí, trong khi kiến trúc Byzantine được chú ý nhờ đặc điểm đặc biệt nhất của nó, mái vòm. Trong kiến trúc Byzantine, một mái vòm hình tròn hoặc hình elip được đặt trên một căn phòng hình vuông hoặc hình chữ nhật bằng các mặt dây chuyền, kết cấu hình tam giác giúp tăng cường và hỗ trợ phần đế giữ mái vòm. Phong cách Romanesque-Byzantine đã được chọn cho Đền thờ Quốc gia để cho phép xây dựng bên ngoài cùng một lúc và bên trong, để hài hòa với kiến trúc của Washington, D.C., và để phân biệt với Nhà thờ Quốc gia Washington – kiểu Gothic Nhà thờ Tân giáo có công trình đang được tiến hành vào thời điểm đó.

Ngày nay, Vương cung thánh đường Đền thờ Quốc gia Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội là nhà thờ Công giáo La Mã lớn nhất ở Bắc Mỹ và nằm trong số mười nhà thờ lớn nhất thế giới và được xây dựng hoàn toàn bằng đá, gạch, ngói – không có khung hoặc cột thép kết cấu. Vương cung thánh đường chứa bộ sưu tập nghệ thuật giáo hội đương đại lớn nhất thế giới. Hơn nữa, sự trang trí nghệ thuật của Vương cung thánh đường, cả trong lẫn ngoài, đều phù hợp với phong cách kiến trúc La Mã-Byzantine. Bên ngoài của Vương cung thánh đường có hình tượng của các vị thánh cũng như các cổng vòm và cổng vòm được điêu khắc tinh xảo.
Tympana được điêu khắc phù điêu trang trí các lối vào phía đông và phía tây bên trong cũng như các hốc khác nhau ở khu vực gian giữa và thánh đường. Cửa sổ kính màu và kính mài trang trí cho cả khu vực Nhà thờ Thượng và Hạ. Nghệ thuật Byzantine đáng chú ý ở việc sử dụng khảm và đá cẩm thạch. Điều này bao gồm việc trang trí khảm bảy mái vòm chính cùng với nhiều nhà nguyện và nhà nguyện bên cạnh. Nhà thờ cũng được trang trí bằng những tấm đá cẩm thạch tuyệt đẹp. Những viên bi mịn hơn mở ra cho phép các đường vân của đá cẩm thạch tạo thành các mẫu đối xứng. (dựa theo tài liệu Wikipedia)
Old town Alexandria, National Harbor:
Rời nhà thờ The Basilica of the Nationa Shrine of the Immaculate Conception, anh Phạm Xuân Thái đưa chúng tôi đi dạo phố Old town Alexandria và dùng bữa cơm trưa tại nhà hàng Thái. Ăn xong, chúng tôi đi đến National Harbor, chụp hình cùng với các pho tượng của các binh chủng Hoa Kỳ, pho tượng Marilyn Monroe, v.v…Sau cùng là thử thời vận, đen đỏ tại Casino. Xui quá, mỗi chúng tôi thua $20.
Alexandria Harbor


Dạo phố Alaxandria Harbor

Dùng bữa cơm trưa tại nhà hàng Thái, Mai Restaurant

Và dạo phố tại National Harbor




The Famous Pictures

April 7, 2024 thăm bạn của Chị Tố Đoan, một người bạn cùng quê và cùng trại tỵ nạn mà chị Tố Đoan đã không gặp lại từ ngày đi định cư tại Mỹ. Con gái của chị bạn này đã bị lạc đạn trong một lần đi chơi cùng các bạn tại Las Vegas khi em mới 21 tuổi, năm nay em mới 28 tuỗi. Em là đứa con gái duy nhất của bạn chị Tố Đoan.

April 8, 2024: Đạo phố RIO, Buổi sáng, sau bữa ăn điểm tâm, Chị Hồng Thủy rủ chúng tôi đi mua sắm tại khu shopping Rio. Rio Shopping Center là khu mua sắm sang trọng của các khách hàng giầu có. Nơi đây có phong cảnh đẹp, hồ nước và các nhà hàng lịch sự. Sau khi mua sắm một vài món hàng và dạo phố, chúng tôi dùng bữa cơm trưa tại một nhà hàng Mexico.

Rio Shopping Center

Buổi chiều, chúng tôi cùng Chị Hồng Thủy chuẩn bị bữa cơm mời anh chị Thái & Hằng. Chị Hồng Thủy thật chu đáo và hiếu khách. Từ hôm trước, chị đã chuẩn bị thức ăn cho mọi người, nào là bún riêu cua, mì xào dòn. Đây là hai món ăn đặc biệt mà chị nấu rất ngon. Chiều nay, chúng tôi đã có một bữa tiệc gia đình thân mật và đầm ấm. Cám ơn Chị Hồng Thủy nhiều và nhiều lắm.

Bữa cơm thân tình
April 9, 2024: Ngày cuối ở Maryland và chuẩn bị về lại California. Chuyến bay non-stop lúc 5:30 chiều nay sẽ đưa chúng tôi trở về California. Hôm nay, chúng tôi không đi đâu cả và quyết định “spend some times” với Chị Hồng Thủy. Mười mấy ngày rong chơi, hôm nay là ngày đầu tiên chúng tôi “take it easy” và chị em ngồi nói chuyện với nhau như thể cùng sống chung trong một mái nhà từ lâu. Chúng tôi vừa ôn lại chuyện cũ và chia sẻ những chuyện mới. Có thể nói, đây là chuyến du lịch đầu tiên mà chúng tôi cảm nhận được cái không khí thân tình giữa tình bạn hữu, sự ân cần, chăm lo của một người chị (Hồng Thủy) khiến chúng tôi vô cùng cảm kích.

Trước cửa nhà của Chị Hồng Thủy

Chúng tôi cũng xin mượn giây phút này để gửi lời cảm ơn đến anh Phạm Xuân Thái và chị Hằng đã rất chu đáo và hướng dẫn rất tường tận các địa điểm du lịch cũng như thắng cảnh đẹp. Nhất là Chị Hồng Thủy đã tiếp đón chúng tôi rất nồng hậu, nhiệt tình và chu đáo từ miếng ăn đến giấc ngủ như một người chị cả. Chúng em cảm ơn Chị thật nhiều.
Khánh Lan, California 2024

Khánh Lan tại “The Love Park”
-
CHINH PHỤ NGÂM & VƯỜN HOA THƠ

Lời Tựa Của Tác Gỉả (Vương Thanh)
(Preface for Vietnamese & Bilingual Readers)
Chinh Phụ Ngâm, nguyên tác của danh sĩ Đặng Trần Côn, diễn nôm song thất lục bát của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm là một áng thơ tình kiệt tác của Việt Nam và thế giới. Tập thơ diễn tả nỗi thương nhớ chồng, người chinh phu nơi quan ải, và những đau khổ người khuê phụ thời chiến loạn phải chịu đựng trong sự sự bạo tàn của chiến tranh. Tiếp tục sự đóng góp cá nhân cho công trình bảo tồn và phổ biến văn hóa Việt mà tôi bắt đầu từ tập thơ nhạc song ngữ “A Garden of Vietnamese Lyrics & Verse”, gồm khoảng 150 bài thơ và nhạc của nhiều tác giả, tiền chiến và hiện đại, xuất bản năm 2019, cho đến tác phẩm song ngữ “The Tale of Kiều” được phổ biến năm 2023 qua ebook, sách in, trang mạng và youtube videos, rồi năm giáp thìn này, tôi vừa hoàn tất tập thơ song ngữ “Chinh Phụ Ngâm / Lament Song of a Soldier’s Wife”.
Để tiện lợi cho việc phổ biến văn hóa Lạc Hồng tới tay những người yêu thơ ở khắp nơi trên thế giới, tôi làm ebook thay vì sách in, tuy cũng có bản giấy đen trắng được phổ biến trên Amazon cho hai tập thơ nhạc song ngữ “The Tale of Kieu” và “A Garden of Vietnamese Lyrics & Verse”. Với sách ebook, tranh ảnh, lời thơ có màu sắc, đẹp, dễ đọc và có thể mang theo trong phone hay để trên mạng và xem bất cứ nơi nào, lúc nào. Ebook (sách điện tử) có links để bấm vào xem những tài liệu liên quan ở trên mạng Internet, hay là nghe nhạc, xem youtube videos. Bản giấy in không thể làm được những điều này.
Chinh Phụ Ngâm dùng nhiều từ cổ và điển tích, nên bản tiếng Việt cũng không dễ đọc. Dưới mỗi trang thơ gồm những đoạn thơ Việt, Anh đối chiếu, tôi để chú thích tiếng Việt và có khi chú thích tiếng Anh. Chú thích tiếng Anh ít khi cần thiết vì bản dịch tiếng Anh cũng giải thích vừa đủ để thưởng thức và không có những từ cổ như bản tiếng Việt. Tôi nghĩ một thiếu niên lớp 10, lớp 11 ở Hoa Kỳ có thể đọc hiểu bản dịch tiếng Anh thoải mái.Thể thơ tự do được dùng trong việc chuyển ngữ. Với sự khác biệt rất lớn giữa hai ngôn ngữ Anh, Việt, thì chỉ có thể thơ tự do mới có thể diễn tả tương đối trọn vẹn ý nghĩa của một áng thơ nguyên tác dài. Không bị gò bó bởi khuôn khổ, bởi vần điệu, âm tiết, số câu, số chữ, nên có thể dùng những cụm từ thích hợp nhất với ý nghĩa của nguyên tác. Tuy thể tự do, nhưng cũng khá nhiều vần điệu vì tôi là nhà thơ song ngữ và là người Việt Nam, nên cố gắng làm cho những lời thơ dịch nghe nhẹ nhàng, tự nhiên, ngát hương vị thơ, để khỏi phụ lòng những áng văn chương kiệt tác của quê hương.
Dịch thơ Việt qua tiếng Anh khác khá nhiều với dịch thơ tiếng Hán qua tiếng Việt. Tiếng Việt có rất nhiều vần và có nhiều từ Hán Việt thông dụng, nên dịch qua thơ Việt khá dễ dàng.
Trong hơn 50 bài Hán thi mà tôi dịch qua thơ Việt, với những tác giả Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lý Thương Ẩn, Lương Ý Nương, Tô Đông Pha, v.v., tôi đã dùng nhiều thể loại thơ bao gồm bát cú, lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn, lục ngôn, tự do (và tự do phối hợp nhiều thể loại thơ). Quan điểm chính yếu trong dịch thuật của tôi là phải dịch tương đối sát ý nghĩa với nguyên tác, và cho bản dịch có “Hồn”, lời nghe tự nhiên, còn dùng thể thơ nào chỉ là tùy duyên.
Tôi dịch những tác phẩm truyện Kiều, Khu Vườn Thơ Nhạc Việt, Chinh Phụ Ngâm, v.v. qua Anh ngữ cũng là DUYÊN.. Duyên là vì tôi lớn lên và ở Hoa Kỳ gần nửa thế kỷ và làm thơ từ thuở thiếu niên. Một hôm, tôi đọc lướt qua một số câu dịch truyện Kiều qua tiếng Anh của vài dịch giả, đăng ở trên mạng. Tôi thấy có những bản dịch phóng tác quá nhiều, thêm thắt ý tưởng, lời riêng của dịch giả để gò ép cho có vần, hay có bản vì gò ép số âm tiết (syllables) cho mỗi câu, nên nghe rất không tự nhiên, có khi rườm lời, có khi thiếu sót và làm mất đi khá nhiều cái Hay, cái Đẹp của câu thơ trong nguyên tác. Vì cái Duyên ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, vì cái Duyên là một nhà thơ song ngữ, vì cái Duyên yêu thích thơ cổ phong (mời đọc áng thơ Vọng Tiền Nhân của VT), vì cái Duyên tôn trọng sự chính xác của một người làm việc trong ngành kỹ thuật, tôi muốn đóng góp, sau khi tham khảo vài bản dịch khác, một bản dịch truyện Kiều thật xứng đáng với văn chương tuyệt diệu của thi hào Nguyễn Du. Tôi đưa phổ biến đầu năm 2023, rồi mùa đông vừa qua,
tôi chợt có cảm hứng muốn dịch áng thơ gửi gấm nỗi lòng người chinh phụ thời ly loạn: kiệt tác phẩm Chinh Phụ Ngâm. Quyển sách ebook gồm hai tập thơ: “Chinh Phụ Ngâm” và “Vườn Hoa Thơ Nhạc Lạc Hồng”.
Lúc đầu, tôi tính chỉ cho vào một ít thơ văn nhạc của mình ở cuối sách để bạn đọc biết thêm một chút về dịch giả Chinh Phụ Ngâm. Nhưng trước khi xuất bản lại chợt muốn chia sẻ một ít di sản của nền thi ca, âm nhạc Việt, nên quyết định làm một vườn hoa thơ nhạc cho vào cuối tập để tiện việc phổ biến văn hóa quê hương. Từ đó, tập thơ “Vườn Hoa Thơ Nhạc Lạc Hồng” ra đời với thơ và nhạc của 165+ tác giả, 60+ nghệ sĩ, đường dẫn vào (links) 120+ youtube videos và mp3s, và 180+ đóa hoa thơ, hoa nhạc.
Chúc bạn đọc những khoảnh khắc an vui, thoải mái khi xem tập thơ Chinh Phụ Ngâm và dạo bước Vườn Hoa Thơ Nhạc Lạc Hồng. Xin tùy tiện chỉa sẻ tập thơ nhạc này với gia đình và quý bằng hữu.Vương Thanh
March 25, 2024***********Lời Giới Thiệu (Nhất Hùng)CŨNG LÀ MỘT “CÔNG ĐỨC”
Nhất Hùng Mar 01, 2024Là người yêu văn học, vì thế chẳng thể nào lại không nghiền ngẫm những tác phẩm “Văn Học Trung Đại” lớn của Việt Nam như TRUYỆN KIỀU, CUNG OÁN NGÂM KHÚC, CHINH PHỤ NGÂM. Trong dòng Văn Học Trung Đại ấy tôi đặc biệt yêu thích tác phẩm CHINH PHỤ NGÂM của Đặng Trần Côn bởi vì đây là một tác phẩm Văn Học có giá trị, có nội dung và có tính nghệ thuật sâu sắc, một viên ngọc quý trong kho tàng Văn Học Việt Nam. Chinh Phụ Ngâm còn là một trong những tác phẩm đầu tiên của thể loại ngâm khúc, nó có ảnh hưởng lớn đến các tác phẩm ngâm khúc sau này như Cung Oán Ngâm Khúc, Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm…Và quan trọng nhất tác phẩm này vẫn còn nguyên giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc cho đến ngày nay.
Điểm qua nội dung, tác phẩm Chinh Phụ Ngâm thể hiện giá trị nhân đạo, đồng cảm sâu sắc với những nổi đau khổ, bất hạnh của người “chinh phụ” phải chịu cảnh xa cách, biệt ly chồng trong hoàn cảnh ly loạn, điều này đúng cho bất cứ “chinh phụ” nào ở khắp nơi trên quả địa cầu. Tác phẩm đã gởi lời ẩn dụ lên án những cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn khốc, gieo rắc bao bi thương mất mát cho con người, nhất là phụ nữ trong thời chiến, ở bất cứ nơi nào, bất cứ thời đại nào.
Điểm qua giá trị nghệ thuật, Đặng Trần Côn sử dụng thành công thể thơ Song Thất Lục Bát, thể hiện được những cung bậc cảm xúc phức tạp của nhân vật mà lại trữ tình sinh động và hiệu quả.
Tác giả lại sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, so sánh, nhiều điển tích điển cố để thể hiện nội dung tác phẩm một cách sâu sắc, gợi cảm. Bút pháp tả cảnh ngụ tình thể hiện tâm trạng nhân vật thật tinh tế thật hiệu quả.
Một tác phẩm đạt được nhiều ưu điểm của Văn Học Việt Nam như thế mà lại không chuyển ngữ không giới thiệu cho những người yêu thích văn học của thế giới thì thật đáng tiếc. Đặc biệt là ở Mỹ, nơi có hàng triệu con em Việt đang trưởng thành, nếu bảo các em các cháu nói-viết tiếng Anh còn sõi hơn tiếng Việt chắc không sai. Thế sao không giúp cho thế hệ này biết các kiệt tác văn chương Việt Nam. Muốn thế thì phải chuyển ngữ mà chuyển ngữ tác phẩm Chinh Phụ Ngâm sang tiếng Anh, quả thật không đơn giản. Nó đòi hỏi dịch giả phải là người am tường, hiểu được cái tinh túy, cái thâm thúy của Văn Chương Việt
Lại còn phải hiểu điển tích, điển cố xuyên suốt trong tác phẩm. Một câu thơ, một vài chữ điển tích điển cố được tác giả sử dụng nhưng lại diễn tả một câu chuyện, kể ra có khi dài hơn một trang giấy.
Những tưởng sẽ không có ai có kỳ công làm cái chuyện tựa “dời non, lấp biển” này.
Vậy mà hôm nay, bạn trẻ Vương Thanh báo cho biết, đã hoàn tất bản dịch CHINH PHỤ NGÂM qua Anh Ngữ và chuẩn bị in thành tác phẩm song ngữ. Trước hết, cảm ơn bạn đã đóng góp công sức truyền bá, phổ biến Văn Chương Việt cho ít nhất là thế hệ trẻ Việt ở hải ngoại, chỉ có người có tấm lòng yêu Văn Chương Việt, yêu tiếng Việt mới kỳ công đến thế, đúng là Công Đức Vô Lượng.
Giá trị của tác phẩm Chinh Phụ Ngâm đã được khẳng định. Phần đánh giá bản chuyển ngữ qua tiếng Anh của bạn Vương Thanh xin dành cho độc giả thẩm định. Nhưng tha thiết mời bạn đọc và quảng bá rộng cho thế hệ trẻ Việt ở hải ngoại, làm thế là quý vị đã đóng góp một phần công đức trong nỗ lực ngợi ca và duy trì văn hóa Việt nơi xứ người.
Được biết bạn Vương Thanh là con trai út của Nữ Sĩ Tuệ Nga, người đã thành danh trong giới Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam. Quả là “Hổ Phụ Sinh Hổ Tử”.
Chúc Mừng Nữ Sĩ Tuệ Nga, Chúc Mừng Bạn Vương ThanhNhất Hùng
-
Hồi Ký “Người Muôn Năm Cũ” của nhà văn Phạm Gia Đại
Vương Trùng Dương

Alexander Solzhenitsyn sau 8 năm lao tù (1945-1953) trong chế độ Cộng Sản Liên Xô đã ghi lại hình ảnh kinh hoàng, đau thương đó trong các tác phẩm The First Circle (Tầng Đầu Địa Ngục), One Day in The Life of Ivan Denitsovich (Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denitsovich), Khu Ung Thư (Cancer Ward), Tầng Đầu Địa Ngục (The First Circle), Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago)… Những tác phẩm này đã được dịch sang Việt ngữ, ấn hành trước năm 1975 ở Sài Gòn. (Bài viết “Solzhenitsyn, Chiến Hữu Văn Nghệ” của tôi đăng trên Đặc San Ức Trai của Trường ĐH.CTCT Đà Lạt năm 1973, giới thiệu tổng quát về giá trị tác phẩm của người cầm bút đã sống trong gông cùm của guồng máy cai trị độc tài đảng trị được phổ biến trên văn đàn quốc tế).
Ngày 10 tháng 12 năm 1970, Hàn Lâm Viện Thụy Điển tuyên bố trao tặng giải Nobel Văn Chương trong toàn bộ tác phẩm của ông đánh động lương tâm mọi người trên thế giới.
Trong thời gian ở Hoa Kỳ, nhà văn Solzhenitsyn tiếp tục cho ra đời những tác phẩm: Russian Nights, 1977 (Đêm Nước Nga), The Mortal Danger, 1980 (Nguy Hiểm Tử Vong), The Red Whell (Bánh Xe Đỏ), August 1914 (Tháng Tám 1914), October 1916 (Tháng Mười 1916), March 1917 (Tháng Ba 1917) và April 1917 (Tháng Tư 1917)…
Sau khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam năm 1975, Quần Đảo Ngục Tù dựng lên từ Nam ba Bắc. Trong chốn lao tù nầy đã có nhiều tù nhân đã ấn hành tác phẩm, tiêu biểu như: Cùm Đỏ của Phạm Quốc Bảo, Đáy Địa Ngục của Tạ Tỵ, Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Cuối Tầng Địa Ngục của Đỗ Văn Phúc, Trại Ái Tử & Bình Điền của Dương Viết Điền… họ là những nhà văn nên viết hồi ký cũng là lẽ thường tình.
Trải qua 17 năm trong lao tù, tác giả Phạm Gia Đại ấn hành hồi ký Người Tù Cuối Cùng năm 2011. Chương II với Cánh Cửa Địa Ngục, “Một năm ở trại Long Thành, họ đã để cửa ngỏ, bây giờ lần đầu tiên họ chính thức đối xử với chúng tôi như những tù nhân… Cánh cửa của Địa Ngục vừa mở rộng ra để đón nhận chúng tôi vào”. Chương Ngày Trở Về nơi trại tù Hàm Tân (Chương I Khu Rừng Lá Buông) có 3 chương. Chương XXIII (Kết). Danh sách hai mươi người cuối cùng còn sót lại bao gồm bốn ông tướng là Lê Minh Đảo, Lê Văn Thân, Đỗ Kế Giai và Trần Bá Di, mười lăm anh em nữa là hai anh Bửu Uy và trung úy Thắng trong Phủ Đặc Ủy; ba cảnh sát là hai trung tá NH Hải, TV Xoàn, thiếu tá PT Ngưu; người về từ Việt Nam Thương Tín Hoàng Hiểu; thiếu úy PRU trinh sát tỉnh Hòa “điếc”; anh Miên “hồi chánh viên”; ANQĐ là đại tá Sảo, Hãn, trung tá Hiếu, Kiên, thiếu tá Mẫn; lực lượng đặc biệt là thiếu tá LH Minh, nhà văn Thảo Trường TD Hinh và tôi thuộc tòa đại sứ HK”.
Ngày trở về, anh không được niềm vui trọn vẹn vì người bạn đời “chia tay” trong lúc anh còn ở trong lao tù. Nhưng câu kết: “Anh muốn nói với em rằng anh còn thương yêu em, thương em rất nhiều dù cho kỷ niệm của chúng mình đã phần nào phai nhòa theo năm tháng”.
Khi chúng tôi cùng làm chung tờ báo trong tòa soạn, tôi mới biết người bạn đời đó là em gái của người bạn cùng khóa với tôi và cùng học với anh ở trường trung học Chu Văn An.
Tác phẩm Người Tù Cuối cùng với lối hành văn giản dị, nhẹ nhàng, không có gì hằn học nhưng qua từng chương sách với từng cảnh ngộ, nỗi xót xa, đau khổ qua tháng ngày nghịch cảnh và tình cảm cao đẹp của những người tù cư xử với nhau trong hoàn cảnh nghiệt ngã nên rất cảm động.
Hồi Ký nầy do tác giả dịch sang Anh ngữ The Last Prioners để độc giả ngoại quốc và giới trẻ am hiểu.
Tác phẩm Những Người Tù Cuối Cùng ra mắt ở Little Saigon ngày 18/5/2011 và The Last Prioners cũng ra mắt vào ngày 15/5/2016. Tác phẩm Người Muôn Năm Cũ sẽ ra mắt vào Chủ Nhật (từ 1 giờ chiều đến 4 giờ chiều) tại Westminster Community, 8200 Westminster Blvd. TP Westminster, đối diện Tượng Đài Việt-Mỹ. Tác giả chọn ngày ra mắt vào tháng 5 rất ý nghĩa vì đó là ngày mất nước.
Hồi ký Người Muôn Năm Cũ dày trên 500 trang với 17 chương là tác phẩm thứ nhì của nhà văn Phạm Gia Đại.
Trải qua 17 năm lao tù với con người mảnh khảnh nhưng rất nghị lực, anh dấn thân trong lãnh vực truyền thông, xông xáo trong sinh hoạt cộng đồng trong những thập niên qua, thật đáng quý.
Trong hai câu thơ của Vũ Đình Liên vào thời tiền chiến “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ” thường được nhắc đến qua các bài viết khi nhớ đến hình ảnh trong quá khứ, nay nhà văn Phạm Gia Đại chọn tựa đề trong tác phẩm qua 17 chương để độc giả nhớ lại ngày tháng cũ… Nếu gọi “văn tức là người” thì bản tính hiền hòa, nhân hậu của tác giả sẽ cùng đồng cảm với người đọc.
Vương Trùng Dương–Little Saigon, March 28, 2024
-
Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa & Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds)


Tên tuổi Lê Văn Khoa, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, nhiếp ảnh gia, giáo sư… đã được đề cập rất nhiều trước năm 1975 ở trong nước và những thập niên ở hải ngoại.
Chiều Thứ Bảy 13/11/2013, Hội Hiếu Nhạc và Tổng Hội Sinh Việt Nam đứng ra tổ chức “Lê Văn Khoa – Một Đời Âm Nhạc (A Lifetime of Music)” tại hí viện La Mirada Theatre mừng sinh nhật ông ở tuổi tám mươi và tri ân nguời nhạc sĩ đã dành cả đời hơn nửa thế kỷ phục vụ cho nghệ thuật, cho âm nhạc.
Trước và sau đó đã có những buổi vinh danh và trình diễn những tác phẩm âm nhạc của ông từ tân nhạc, cổ nhạc đến nhạc cổ điển Tây phương.
Người con sinh ra trên mảnh đất Tây Đô, Cần Thơ bước vào tuổi chín mươi mốt, tuy sức khỏe yếu nhưng với âm nhạc như “liều thuốc bổ” nên từ Orange County bay sang thành phố Allen, tiểu bang Texas để tham dự buổi trình diễn Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds) với dàn đại hoà tấu Allen Philharmonic và ban hợp xướng Allen Symphony Chorus, vào tối ngày 6 tháng Tư 2024 tại khán thính đường của Allen High School Performing Art Center. Chương trình được chuẩn bị từ tháng Hai năm nay, có sự chấp thuận và ủng hộ của Chủ Tịch Kathy Litinas cùng ban quản trị The Allen Philharmonic tại thành phố Allen cùng các nhạc trưởng, giám đốc âm nhạc như Ryan Ross, Rusty King…. Giám đốc điều hành chương trình, Ian Bùi, Diễm Tú, nghệ sĩ Hải Yến và Chủ Tịch The Allen Philharmonic Kathy Litinas. Cô Diễm Tú viết và đọc các mẩu giới thiệu Anh-Việt cho từng bản nhạc.
Theo các bản tin, bài viết ghi nhận được, tổng hợp chương trình nhạc giao hưởng với các ca nhạc sĩ Việt Nam và Mỹ. Theo nhà thơ Đinh Yên Thảo:
Theo lời Ban Tổ Chức, “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là sự kết hợp Đông-Tây độc đáo, mang những thang âm mới mẻ, chưa từng được công diễn bất cứ nơi nào qua những tiếng đàn bầu, đàn kìm, đàn tranh, đàn T’rưng hoà quyện cùng dàn nhạc giao hưởng và ban hợp xướng Tây phương. Từ vọng cổ Cao Văn Lầu cho đến opera, từ nhạc sĩ Lê Văn Khoa cùng các nhạc sĩ qua nhiều thế hệ… Từ những tài danh Việt-Mỹ từng đoạt giải thưởng âm nhạc Grammy danh giá cho đến các nhà soạn nhạc trẻ tài năng gốc Việt đang tạo tiếng vang tại hải ngoại, chương trình là câu chuyện kể về chiến tranh và ước vọng hoà bình, về những mất mát trong hành trình tìm tự do.
“Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là cuộc hội ngộ văn hóa hiếm hoi tại Mỹ, không chỉ giới thiệu nhạc Việt và những tài năng trình diễn và sáng tác nhạc cổ điển gốc Việt đến các khán giả Mỹ mà còn mang đến cho khán giả Việt một hành trình âm nhạc Việt Nam, những hoài niệm về lễ hội trăng rằm, những ngày quê hương thanh bình ngày xưa, cùng niềm tự hào và hy vọng về một thế hệ trẻ gốc Việt đang bước vào lãnh vực nghệ thuật chưa mấy được phổ biến trong cộng đồng…
Với gần 20 tiết mục, mỗi tiết mục đều mang một sắc thái và phong cách riêng biệt, đã mang lại sự bất ngờ, thú vị lẫn cảm kích cho khán giả hiện diện, trong đó có không ít khán giả đến từ các thành phố trong và ngoài Texas.
Ca sĩ Teresa Mai, nghệ danh Sangeeta Kaur, người Mỹ gốc Việt “Nàng công chúa âm nhạc và khúc thanh âm” đầu tiên đoạt giải Grammy vào năm 2022 với dĩa ‘Mythologies’, hạng mục Best Classical Vocal Album. Teresa có bằng Cử Nhân môn Opera Performance từ California State University và bằng Cao Học (MS) môn Vocal Performance từ Nhạc Viện Berklee danh tiếng ở Boston. và ca sĩ Hila Plitmann gốc Do Thái đã hai lần được trao giải Grammy.
Ba ca khúc trong trường ca Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương được ban hợp xướng Allen trình bày dưới sự phụ họa các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam là một tiết mục thật xuất sắc.
Nhạc trưởng Jon Lê Culpepper cho biết, anh lớn lên và theo đuổi đam mê trong môi trường không có nhiều nhạc sĩ cổ điển người Việt thì chương trình “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” có lẽ đã mang lại cho anh và khán giả người Việt một cơ hội được gặp gỡ không chỉ nhạc sĩ Lê Văn Khoa mà cả những tài năng gốc Việt còn rất trẻ trong lãnh vực âm nhạc cổ điển này.
Nhạc sĩ Patrick Vũ, đang theo học cao học âm nhạc nhưng tác phẩm của anh đã được các dàn hợp xướng Mỹ trình diễn nhiều nơi và đã được National Concerts mời sáng tác một bản hợp xướng sẽ được trình diễn tại Carnegie Hall tại New York, là một trong những trung tâm trình diễn âm nhạc cổ điển uy tín và danh giá nhất thế giới.
Dylan Trần từ Lousiana, nhà soạn nhạc và từng được nhiều giải thưởng sáng tác và có tác phẩm được trình diễn ra ngoài nước Mỹ, như tại Úc, Anh, Pháp, Áo, Phần Lan… cựu sinh viên cao học về nhạc phim tại USC và là nhà soạn nhạc có những khách hàng như Sony, Samsung…, các tác phẩm của anh từng xuất hiện trong các liên hoan phim như Sundance, Hollyshorts… Nhạc sĩ Duy Trần cũng là nhà sản xuất chương trình “Dòng Chuyển Của Âm Thanh”, người đã bỏ rất nhiều công sức để phân lại các tác phẩm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa cho từng nhạc cụ trong dàn giao hưởng, phối hợp cùng nhóm kỹ sư âm thanh và cùng với cô Diễm Tú làm MC với khán giả Việt-Mỹ.
Jon Lê Culpepper là người sáng lập ca đoàn Dallas Chamber Choir và hiện là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị. Dưới sự điều khiển của Jon, DCC đã đoạt giải American Prize in Choral Performance – Professional Division năm 2019-2020. DCC từng trình diễn với Fort Worth Symphony, nhạc sĩ Hans Zimmer (2 Oscars, 4 Grammys) và Ramin Djawadi (“Game of Thrones”). Năm 2021 Jon được tặng American Prize của giải Dale Warland Award cho bộ môn Choral Conducting, hạng mục Professional Division. Jon sẽ điều khiển một ban hợp xướng học sinh chọn lọc từ ca đoàn của Allen High School.
Chương trình kết thúc với nhạc phẩm “Việt Nam, Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Duy do nhạc sĩ Lê Văn Khoa hòa âm. Dàn hợp xướng Allen Symphony Chorus của Dallas, Texas đã kỳ công quyết định hát Việt Nam, Việt Nam bằng tiếng Việt cho bằng được, cho dù đã có lời đề nghị giảm khó khăn, chỉ hát với bản Anh ngữ của dịch giả Ian Bùi. Thời gian luyện tập phát âm, đã buộc các thành viên dàn hợp xướng làm việc gấp ba để có thể trọn vẹn trình diễn, và tạo những tràng pháo tay, và cả những giọt nước mắt của các khán giả Việt.
Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã chia sẻ, điều ông vui nhất là chúng ta đã đưa nhạc Việt âm vang, hoà vào với nhạc giao hưởng Tây Phương và khán giả Việt lần đầu được nghe ban hợp ca Mỹ trình bày một số ca khúc Việt quen thuộc. Ông cũng nói thêm rằng, các nhạc sĩ Mỹ trong chương trình đều bày tỏ sự thích thú và cảm ơn ông đã biên soạn những tấu khúc Việt Nam mà lần đầu tiên họ trình diễn.
Nghệ sĩ Hải Yến, người trình diễn nhiều tiết mục nhạc cụ dân tộc phối hợp với dàn nhạc giao hưởng, các thành viên ca đoàn ở Dallas nói “Tự nhiên chúng tôi có cảm giác rất thân thuộc với người Việt Nam, với văn hóa Việt Nam”.
Ca sĩ Phạm Hà (họ Nguyễn) là một giọng ca Baritone khá quen thuộc trong những chương trình nhạc thính phòng tại Nam Cali từ năm 1999 đến nay. Anh thường xuyên xuất hiện cùng ban hợp xướng Ngàn Khơi hoặc trình diễn solo những ca khúc operatic cổ điển bằng tiếng Anh, Pháp, Ý… Khi hay tin có “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” anh tình nguyện tham gia, ví von với điều kiện “Chỉ cần bù cho mình tiền lương 3 ngày nghỉ việc!”.
Đặc biệt Nguyễn Đức Đạt, khiếm thị từ nhỏ, sang Mỹ năm 1991 và được học bổng Âm Nhạc tại đại học Cal State Fullerton. Nguyễn Đức Đạt từng thắng nhiều giải Guitar như Disney Creative Challenge Award, National Panasonic Young Solo Artist Competition.
Với nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa, không thể nào quên Symphony 1975 và ngôn ngữ âm nhạc phi biên giới của nó vang vọng ở mọi nơi và được cảm thấu về nỗi đau của một quốc gia đã bị bôi xóa. Năm 2005, khi biểu diễn tại Úc với ban đại hòa tấu và hợp xướng Royal Melbourne Philharmonic, khán phòng phải chứa đến 2,000 khách. Khi chấm dứt Symphony 1975, khán giả đứng lên vỗ tay không ngớt trong gần năm phút, khiến nhạc trưởng Andrew Wailes phải ra hiệu cho dàn nhạc chơi lại phần chót Ca Ngợi Tự Do để đáp ứng thịnh tình khán giả.
Nhạc sĩ Lê Văn Khoa trong những thập niên qua, ngoài đất nước nầy, đã từng “đem chuông đi dấm xứ người” với nhiều quốc gia trên thé giới, đặc biệt với Ukraine, đã mang lại tiếng vang, đem lại niềm hãnh diện tài hoa nhạc sĩ Việt Nam lưu vong.
Hy vọng, tuy tuổi hạc đã cao nhưng với tấm lòng nhiệt huyết và uy tín, hy vọng sẽ có những buổi Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds) được quy tụ ca nhạc sĩ Việt-Mỹ trong nay mai để được thưởng thức.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, April 12, 2024