-
NẾU CÓ DỊP
NẾU CÓ DỊP
Tha Nhân kính phụng họa Bài ‘’Còn gặp Nhau’’ của nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương
Nếu có dịp thì ta cứ vui
Thời gian vẫn chảy giọt mưa trôi
Công danh tăm tiếng rồi quên lãng
Còn mãi tình thương sống với đời
Nếu có dịp thì ta cứ thương
Văn thơ nghiệp chướng lỡ tơ vươngGóp gom từng chút tình thương đó
Đem biếu nhân gian khắp mọi đường.
Nếu có dịp thì ta cứ chơi
Chơi cho thoải mái chút quên đời
Chơi cho thanh lịch và cao thượng
Xả hết chân tình chớ nửa vời!
Nếu có dịp thì ta cứ cười
Cười vang sảng khoái dạ vui tươi
Đề hoa thêm sắc hương thêm ngát
Để thắm tình đời đẹp nết người
Nếu có dịp thì ta cứ chàoCho dù biển rộng với trời cao
Mặc cho biến đổi trò đen bạc
Vẫn chữ chân tình mà đãi nhau
Nếu có dịp thì ta cứ say
Say thơ say nhạc vẫn lâu nay
Say tình say nghĩa say bằng hữu
Say để cho quên những tháng ngày
Nếu có dịp thì ta cứ đi
Đi thăm bạn hữu, kẻ hàn vi
Dùng lời an ủi, hay tâm lýGiúp được tha nhân vui lạ kỳ!!
-
KỶ NIỆM NGÀY RA MẮT SÁCH TẬP THƠ NHỮNG GÌ ĐỂ NHỞ CỦA NS DƯƠNG HỒNG ANH.
Sau ngày Ra Mắt Sách thi tập NHỮNG GÌ ĐỂ NHỚ ngày 17 tháng 03, 2024, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã sáng tác bài thơ “Kỷ Niệm Ngày Ra Mắt Sách” để gởi tặng Liên Nhóm NVNT & TTG. Khánh Lan xin gởi đến quý Giáo Sư, quý Văn Thi Sĩ và quý Anh Chị Em.

Nữ Sĩ Dương Hồng Anh


NS Dương Hồng Anh cắt bánh mừng ngày ra mắt thi phẩm NHỮNG GÌ ĐỂ NHỚ

Mạnh Bổng, TS Lê Nguyễn Nga, NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, Lệ Hoa, NV Khánh Lan

Mừng ngày RMS của NS Dương Hồng Anh

Mừng ngày RMS của NS Dương Hồng Anh: Ái Liên, Khánh Lan, Lệ Hoa, NS Dương Hồng Anh, Việt Hải, Minh Thư, Lâm Dung, Thụy Lan

Con dâu Học Đức tặng hoa cho Mẹ chồng Hồng Anh

Con trai Nguyễn Đại Thành và con dâu Học Đức tặng hoa
mừng ngày RMS của Mẹ Hồng Anh
BÀI THƠ MẸ TÔI
Tuổi thơ nghịch té, mẹ vỗ về
Miếng ngon cho bé, mẹ hy sinh
Vào đời ngơ ngác, mẹ cận kề
Đưa lối ta thấy ánh bình minh
Nếu hỏi rằng mẹ có hoàn hảo?
Trả lời không … mẹ cũng thường tình
Nhưng hoàn hảo, tôi không hoài bảo
Chỉ cần mẹ đúng cho chính mình
Trách nhiệm trong đời đã qua lâu
Nay tuổi lớn, vai trò khác cũ
Văn chương thơ phú, ngày qua mau
Chỉ cần mẹ sống vui là đủ
Nguyễn Đại Thành

Nguyễn Đại Thành đọc bài thơ “Mẹ Tôi” do anh sáng tác để mừng NS Dương Hồng Anh ra tác phẩm.
Trong dịp này Khánh Lan cũng thay mặt Liên Nhóm NVNT & TTG sáng tác BÀI THƠ CẢM TÁC VỀ NS DƯƠNG HỒNG ANH, và bài thơ này cũng được ghi lại trong album CHẮT CHIU KỶ NIỆM.
BÀI THƠ CẢM TÁC VỀ NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH
Hồng Anh người bạn vong niên
Hạc vàng cao vút trong nền thi ca
Thơ văn gắn kết chúng ta
Tâm đầu ý hợp vui niềm văn chương
Tình bạn chan chứa tình thương
Rạng ngời tinh tú bốn phương tuyệt vời
Thi ca tâm đắc cho đời
Tâm tình tri kỷ muôn lời thiết tha.
Khánh Lan, March 17, 2024

Album CHẮT CHIU KỶ NIỆM mà Liên Nhóm NVNT & TTG kính tặng NS Dương Hồng Anh, do GS Phạm Thái & NV Khánh Lan đã layout và design.

GS Phạm Thái, NS Dương Hồng Anh, NV Khánh Lan

GS Dương Ngọc Sum và NV Nguyễn Quang thay mặt Liên Nhóm NVNT &TTG kính biếu NS Dương Hồng Anh tập album lưu niệm những sinh hoạt với Nữ Sĩ từ ngày Nữ Sĩ gia nhập hội (2019-2024).

NS Dương Hồng Anh đọc bài thơ “Tôi Vẫn Còn Đây” để cám ơn khách tham dự ngày RMS
TÔI VẪN CÒN ĐÂY
Hôm nay hoa nắng bay nhiều quá
Hoa nắng vào thơ, ươm sắc xuân
Mây nước hồng tươi, vui chào đón
Tao nhân mặc khách mộng tao đàn
Cám ơn bằng hữu đến chiếu nay
Tôi vẫn còn đây mộng ước đầy
Những gì để nhớ trong tim óc
Chia sẻ cùng nhau, tay nắm tay
Tôi vẫn còn đây dưới nắng chiều
Nâng niu ngọn bút rất thân yêu
Những gì để nhớ xin trao tặng
Bằng hữu văn chương nhạc khúc reo
Tôi vẫn còn đây trải mộng hồn
Gửi về quê mẹ tấm lòng son
Nhạc thơ bừng nở mừng xuân mới
Còn đón hoàng hôn trong mắt trong.
Hồng Anh, 20 tháng 02, 2024

Mừng ngày RMS của NS Dương Hồng Anh

Chúc mừng Nữ Sĩ Dương Hồng Anh,
Khánh Lan, March 25, 2024
-
DU LỊCH THỤY SĨ
…Đúng 8:00 giờ sáng, chúng tôi tất cả đều có mặt trước khách sạn Evergreen Laurel để lên xe buýt rời nước Pháp để tiếp tục cuộc hành trình du lịch sang Thuỵ sĩ. Sau khi trưởng đoàn du lịch điểm danh xong, xe buýt từ từ chuyển bánh. Vì phải mất 9 giờ mới đến Thuỵ sĩ nên anh tài xế biết chắc ngày hôm ấy không thể đi xem danh lam thắng cảnh nào kịp. Điều này khiến anh tài xế lái xe thong thả, không vội vàng như những lần trước. Vì vậy lúc xe buýt chạy chầm chậm ngang qua những con đường giữa thủ đô Paris, chúng tôi ngoái cổ nhìn Paris lần cuối. Paris ơi! Biết bao giờ trở lại chốn phồn hoa đô hội này để nhìn lại dòng sông Seine thơ mộng uốn khúc giữa nắng chiều? Paris ơi! Biết bao giờ trở lại đây để lên tháp Eiffel nhìn xuống thành phố Paris đẹp tuyệt trần khi mùa thu đang về trên đất Pháp? Thôi thì trăng tròn rồi lại khuyết, hoa nở để mà tàn, sum họp rồi ly tan. Xin vĩnh biệt dòng sông Seine, vĩnh biệt tháp Eiffel, vĩnh biệt Điện Versaille, vĩnh biệt Bảo tàng viện Louvre, vĩnh biệt Paris ! Xúc động trước sự ly biệt nầy, bất giác tôi cất tiếng hát bài “Adieu, Paris” của nhạc sĩ Trần văn Lương:
Adieu, Paris
(Vĩnh biệt Paris)
Ami, c’est à Paris,
Cette ville éternelle,
Qú une ironie mortelle
Du sort nous a unis.
Anh yêu, thành phố Paris
Muôn đời là kinh kỳ
Éo le truyện trần thế
Se ta như phu thê.
Notre amour, à Paris,
A embrasé ma vie,
Et ces jours, ralentis,
De douceur l’ ont remplie.
Paris, ta yêu nhau
Tình em như lửa cháy
Ngày chầm chậm qua mau
Đầy dịu dàng nhiệm mầu.
Le bonheur, à Paris,
Est, hélas, si fragile.
Quand j’ai quitté la ville,
Nos voeux étaient finis.
Paris, ta hạnh phúc
Nhưng sao quá mong manh
Khi em rời kinh thành
Hẹn ước đã tàn nhanh .
Tu trouves, à Paris,
Ta nouvelle romance.
En ce lointain pays,
Je pleure ma malchance.
Hóa ra Paris này
Anh có tình yêu mới
Phương trời xa vời vợi
Em khóc đời chơi vơi
J’ enverrai à Paris
Mon âme déchirée,
Et à toi les sourds cris
D ‘ une amante oubliée.
Paris, em gửi về
Hồn em đau não nề
Trao anh tiếng nấc nghẹn
Của người tình bị quên .
Il fait beau à Paris,
Ensemble on se promène.
Tu parles et tu ris,
Connais-tu pas ma peine?
Paris, trời nắng to
Người đẹp đi bên anh
Anh cười nói bên cạnh
Em đau, biết chăng anh?
Il fait froid à Paris,
Tu embrasses ta belle,
L’ ardent feu de jadis
Bru^le à présent pour elle.
Paris, trời trở lạnh
Ôm người đẹp bên anh
Lửa tình xưa, nay dành
Cho người mới yêu anh
Il fait chaud à Paris,
Ton coeur est en délire.
Chaque mot qú elle dit
T’ apporte le sourire.
Paris, trời đang nóng
Tim anh như lửa bỏng
Lời nàng nghe như mộng
Anh cười dễ như không .
Il fait gris à Paris,
Tu lui lis le poème,
Jadis pour moi écrit,
Quand tu m’ as dit : “Je t’ aime!”
Paris, trời ủ rũ
Đọc cho nàng thơ cũ
Ngày xưa viết tặng em
Anh đã nói : “ yêu em!”
Il pleut fort à Paris,
Heureux, tu oublies l’ heure.
Jamais tu ne saisis
Que pour moi Paris pleure.
Paris, trời mưa to
Mải vui, quên thời giờ
Có khi nào anh nhớ
Vì em, Paris nức nở .
Il fait nuit à Paris,
Lentement l’ ombre efface,
Sous son pas, toute trace
De mon faux paradis.
Paris đã vào đêm
Bóng tối xóa chậm êm
Bóng đêm, giờ còn lại
Thiên đường ma của em !
Il est tard à Paris,
S’ endort la citadelle.
Tu ne penses qú à elle,
Et n’ entends point mes cris.
Paris, đêm vào khuya
Thành phố trong giấc nồng
Anh đang say bóng hồng
Có nghe em khóc không .
Adieu, ami,
Adieu, romance.
Adieu, souffrance,
Adieu, Paris.
Xin vĩnh biệt anh yêu
Xin vĩnh biệt cuộc tình
Xin vĩnh biệt khổ đau
Paris, Vĩnh biệt nhau !
(Nguyễn Đàm Duy Trung chuyển ngữ)
April 6, 2002Chiếc xe buýt đã lăn bánh ra khỏi thành phố Paris . Ông trưởng đoàn du lịch đã cho chúng tôi biết phải mất chín giờ mới đến thành phố Lucerne ở Thuỵ sĩ. Vì vậy khuyên chúng tôi hãy nhìn ra hai bên đường xem những phong cảnh thơ mộng hữu tình để giết thì giờ. Thế rồi ông trưởng đoàn Leung Reddy bắt đầu kể chuyện vui cho anh chị em du khách trong đoàn du lịch nghe. Hết chuyện này ông ta kể đến chuyện khác. Ông ta nói liên tu bất tận. Cứ mỗi lần nói tiếng Anh xong ông ta lại nói sang tiếng Hoa để cho một số người Hoa không biết tiếng Anh cũng có thể nghe được. Hết kể chuyện ông ta lại bắt đầu ca hát. Ông hát liên tục sáu, bảy bài mà không biết mệt. Ai đề nghị bài nào ông ta hát bài đó. Dĩ nhiên nhạc ông ta hát tất cả đều là nhạc bằng tiếng Hoa.
Chúng tôi tất cả 42 người lúc đầu ai cũng lắng tai nghe để cho quên đường sá xa xôi, để cho quên nơi đến tham quan trên đất Thuỵ sĩ còn xa ngút ngàn. Dần dần một số người trong đoàn bắt đầu ngủ gà ngủ gật. Một số người khác lại tham gia chương trình văn nghệ bỏ túi trên xe buýt với ông trưởng đoàn bằng cách lên cầm Micro hát một bài giúp vui. Tôi và bà xã tôi khi thức khi ngủ. Nếu ngủ thì thôi còn thức thì cũng lắng tai nghe chương trình văn nghệ bỏ túi ấy. Vừa nghe chương trình văn nghệ vừa nhìn ra ngoài, tôi thấy cảnh vật dọc hai bên đường cũng thơ mộng lắm. Hằng trăm mẫu đất trồng nho nằm sát bên đường trông thật xinh xắn. Thỉnh thoảng cứ cách nhau vài trăm mét lại có một đàn bò trắng đang gặm cỏ dưới ánh nắng chiều trông thật đẹp mắt. Đặc biệt có nhiều đồi núi sao mà giống núi đồi ở Đà lạt quá. Nhất là những dãy núi đồi nằm phía bên phải con đường giống hệt như những núi đồi từ thác Liên khương về đến thành phố Đà lạt vậy. Không ngờ những nhận xét của tôi lại trùng hợp với nhận xét của anh Bùi phước Ty khi anh Ty ngồi ghế phía trước tôi ngoái cổ lại nói nhỏ với tôi:
-Điền nhìn dãy núi đồi phía bên phải kìa, sao mà giống hệt như dãy đồi núi từ thác Liên khương về tới thành phố Đà lạt quá .
Thế rồi cái gì đến đã đến. Chẳng mấy chốc xe buýt chúng tôi đã đến gần biên giới của Pháp và Thuỵ sĩ. Bỗng tài xế cho xe dừng lại. Ông trưởng đoàn nói cho chúng tôi biết là chúng tôi có 20 phút để làm vệ sinh cá nhân. Thế là chúng tôi cùng nhau xuống xe buýt vào nhà hàng bên đường tìm nhà vệ sinh. Lúc này tôi vẫn còn đau bụng đi tháo dạ vì không biết đã ăn nhằm thực phẩm độc gì ở restaurant tại Anh hay tại Pháp nên tôi cố đi hơi nhanh để tìm nhà vệ sinh. Khi thấy nhà vệ sinh rồi, tôi liền mở cửa từng phòng để vào. Tất cả trong nhà vệ sinh này có 4 phòng để đi cầu. Tôi mở phòng nào cũng không được cả vì tất cả đều bị khoá hết. Nhìn vào phía dưới chẳng thấy ai trong nhà cầu cả. Chỉ thấy một phòng có người ở bên trong thôi. Thế là tôi đứng chờ trước phòng có người ngồi bên trong. Chờ một phút rồi mà anh chàng ở trong phòng chưa chịu ra trong lúc Tào Tháo rượt gần kịp tôi rồi! Bí quá tôi quay lưng lại xem có người nào làm việc trong nhà hàng này để hỏi xem tại sao ba nhà cầu kia lại khoá lại. Bỗng có một bà bán trong nhà hàng này đi ngang qua, tôi liền đến hỏi bà ta bằng một câu tiếng Anh:
-Mrs,why did you lock the door of the restroom like that?
Nghe tôi hỏi như vậy bà ta chỉ mở to cặp mắt nhìn tôi như có vẻ không hiểu tôi nói gì cả.
Thấy bà ta có vẻ như không hiểu câu hỏi của tôi tôi liền hỏi lại bằng tiếng Pháp:
-Madame, pourquoi fermez vous la porte de la toilette ?
Lại một lần nữa bà ta nhìn tôi rồi nheo mắt lại!
Thấy thế tôi nghĩ bụng, Tào Tháo rượt tới nơi rồi mà bà ta vẫn không hiểu gì cả thì coi như sắp bỏ mạng sa trường rồi! Bỗng một tia sáng loé lên trong đầu tôi, hay là ta hỏi bằng tiếng Tây ban nha xem sao. Nghĩ thế tôi liền hỏi ngay bà ta một lần nữa bằng tiếngTây ban nha:
– Senora, por qué cerras Usted la puerta de tocador?
Nghe tôi hỏi như vậy, bà ta liền trợn mắt nhìn tôi rồi đưa hai tay lên trời và bỏ đi khiến tôi kêu trời không thấu!
Bỗng đâu ông trưởng đoàn Leung Reddy xuất hiện như là vị cứu tinh khẩn cấp của tôi. Tôi liền hỏi ông trưởng đoàn ngay, dĩ nhiên bằngtiếng Anh:
-Tại sao họ lại đóng cửa cả ba phòng kia làm sao mà đi cầu đây ông Leung Freddy ?
Ông trưởng đoàn vừa chỉ tay vào nhà cầu vừa trả lời:
-Họ mới mở thêm một phòng nữa kia kìa anh vào đi.
Vừa nghe ông trưởng đoàn nói như vậy tôi liền bay thật nhanh như hoả tiển liên lục địa vào phòng vừa mới mở. Vừa ngồi xuống chưa kịp đóng cửa, một dòng thác từ trong ruột già đổ xô ào ạt xuống nhà cầu làm cho tôi thất điên bát đảo! Đi du lịch mà gặp đại nạn như thế này thì đúng là kêu trời không thấu.
Sau khi lên xe buýt an toạ, tôi nghĩ lại chuyện đi vào nhà vệ sinh vừa rồi khiến lòng tôi có một vài thắc mắc. Tại sao tôi nói cả ba thứ tiếng rồi mà bà ta vẫn không hiểu? Hay là vì tôi phát âm không rõ hoặc là nói tiếng bồi nên bà ta không nghe được? Hay bà ta là người Đức, người Ý mới không hiểu được ba thứ tiếng kia? Chỉ có trời biết!
Tôi đang miên man suy nghĩ thì xe buýt bắt đầu chuyển bánh lên đường.
Thường thì mỗi lần đến nước nào khi chuẩn bị để vượt qua biên giới lãnh thổ của hai nước, chúng tôi luôn luôn phải qua thủ tục hải quan. Nhưng có lẽ tại biên giới Thuỵ sĩ và Pháp, vấn đề thủ tục hải quan tương đối dễ dàng sao đó, và có lẽ ông trưởng đoàn đã báo cáo tổng số du khách trên xe trước rồi nên chỉ sau mấy phút anh tài xế trình bày với giới hữu trách tại biên giới Pháp vàThuỵ sĩ, xe chúng tôi liền được phép vưượt qua biên giới để tiến về thành phố Lucerne. Mất một ngày đi đường rồi nên khi trời vừa tối, xe buýt chúng tôi cũng vừa đến thành phố Lucerne của Thuỵ sĩ. Tại đây chúng tôi được ông trưởng đoàn sắp xếp phòng ốc ngay trong khách sạn Astoria ở đường Pilatusstrasse 29,CH6002Lucerne Switzerland.Sau đó chúng tôi tự túc ăn cơm tối sau khi ông trưởng đoàn giới thiệu cho chúng tôi tiệm Mac Donal ở một góc đường gần khách sạn .
Như vậy nếu tính ngày giờ đã đi qua, chúng tôi đã du lịch tại Anh quốc hai ngày (ngày 20 và 21), tại Pháp 2 ngày ( ngày 22 và 23). Và hôm nay là ngày 24 tháng 09 năm 2007, chúng tôi bắt đầu đến Thụy sĩ.
Như thường lệ sau khi điểm tâm xong, chúng tôi tất cả 42 người đều tề tựu đông đủ trước khách sạn Astoria để lên xe buýt đi xem các danh lam thắng cảnh tại Thuỵ sĩ.
Lúc này ngoài trời mưa đang bay nhè nhẹ nên chúng tôi đều mang dù và áo mưa theo.
Sau khoảng nửa giờ vòng quanh trong thành phố, xe buýt bắt đầu dừng lại. Chúng tôi liền xuống xe đi theo ông Leung Reddy để ông ta hướng dẫn đến đài tưởng niệm The Lion Monument . Khi ông trưởng đoàn du lịch đang giải thích và đề cập đến di tích lịch sử của đài tưởng niệm nầy thì trời bắt đầu mưa hơi lớn. Chúng tôi liền lấy dù và áo mưa ra để mặc và che mưa. Vừa nghe ông ta giải thích, chúng tôi vừa quay phim vừa chụp hình. Nhìn đài tưởng niệm The Lion Monument, tôi thấy những nét điêu khắc trực tiếp trên đá thật tinh xảo và tuyệt vời.

The Dying Lion Monument (Hình trích từ Wikipedia)
Thảo nào nhà văn Mark Twain đã diễn tả bức tượng con sư tử đang hấp hối này là một mẫu đá buồn nhất và cảm động nhất trên thế giới. Sau đó ông trưởng đoàn cho chúng tôi tự do đi shopping và vào các tiệm xem đồng hồ Thuỵ sĩ . Nhân lúc tôi đang bị đau bụng tháo dạ uống thuốc Pepto Bismol chúng tôi mang theo sẵn vẫn không hiệu quả, sau khi uống thêm mấy viên thuốc nho nhỏ màu trắng chị Ánh Tuyết cho vẫn chưa cầm hẳn, tôi và bà xã tôi liền ghé vào một tiệm thuốc Tây trong thành phố hỏi mua lọai thuốc trị bệnh đi cầu tháo dạ tương đối mạnh hơn hai loại thuốc kia. Bà chủ tiệm thuốc Tây liền bán cho chúng tôi một vĩ thuốc có tên imodium và nói với chúng tôi rằng lọai thuốc này rất hay. Thật thế, sau khi uống hai viên vào, tôi không còn đi cầu nhiều lần nữa và từ từ ngưng hẳn. Khi đến Thuỵ sĩ, bà xã tôi cũng bị đi cầu tháo dạ liền uống thuốc Imodium vào nên cũng đỡ dần dần. Trưa ấy đang ngồi trên xe buýt, bỗng một chị người Hoa trong đoàn du lịch của chúng tôi đến xin thuốc vì chồng chị ấy cũng bị đi cầu tháo dạ. Bà xã tôi liền cho chị ấy vài viên Sau đó rất nhiều người cũng đến xin, vì chúng tôi cũng vừa hết bệnh nên còn mấy viên cuối cùng bà xã tôi tặng hết cho họ luôn. Sau khi hỏi ra mới biết rằng khoảng hai phần ba du khách trong đoàn đều bị đi cầu tháo dạ cả! Họ cũng bị Tào Tháo rượt chạy như điên. Người thì bị rượt ban đêm, người thì bị rượt ban ngày. Kẻ thì bị rượt lúc đang ngồi dùng cơm trưa, người thì bị rượt lúc đang đi shopping, người khác thì bị rượt lúc đang chụp hình, quay phim, nhưng tất cả những người bị Tào Tháo rượt đều câm lặng như hến! Chỉ biết lặng lẽ đi tìm nhà cầu để trút bỏ bầu tâm sự kỳ quái này mà thôi! Sau khi biết được chuyện nầy, ông trưởng đoàn du lịch nói với chúng tôi rằng, ông ta rất ngạc nhiên vì đã nhiều lần hướng dẫn những đoàn du lịch khác đi, ông ta chưa bao giờ gặp những trường hợp như thế nầy cả. Không biết vì “ lạ nước, lạ cái” ở quê người đất khách hay vì ăn nhằm những đồ ăn thiếu vệ sinh trong các tiệm ăn nên mới bị đi tiêu chảy gần hai phần ba đoàn du lịch như vậy.
Trở lại vấn đề đi shopping ở trên, khoảng 30 phút sau chúng tôi lại theo gót chân ông trưởng đoàn du lịch đến xem thắng cảnh ở bên bờ hồ Lucerne Lake giữa thành phố Lucerne.

Hồ Lucerne ở Thuỵ sĩ (Hình trích từ Wikipedia)
Nơi đây chúng tôi cũng đã đi qua chiếc cầu gỗ nỗi tiếng Kapell Bridge bắc qua hồ Lucerne thật đẹp và thơ mộng. Theo sự giải thích của ông trưởng đoàn du lịch, cầu nầy nằm gần nơi nối liền con sông với hồ Lucern. Chiếc cầu Kapell Bridge được xây cất vào năm 1335, chiều dài 200 mét. Tuy nhiên khi nhìn vào chiếc cầu người ta thấy có vẻ còn mới chứ không cũ lắm. Sở dĩ như vậy là vì năm 1993, một trận hoả hoạn đã thiêu rụi gần như toàn bộ cây cầu nầy và tất cả đều mới được sửa chữa và phục hồi lại.
Vì vậy mà ngày hôm nay khi nhìn vào ai cũng thấy cây cầu có nhiều nét có vẽ tân kỳ.

Cầu Kapell (Hình trích từ Wikipedia)
Sau đó ông trưởng toán hướng dẫn chúng tôi lên một chiếc du thuyền để được lái đi vòng quanh bờ hồ Lucerne vừa nhìn phong cảnh hữu tình vừa ngồi ăn cơm trưa thật vui thú và hạnh phúc. Chiếc du thuyền này gọi là “ Lake Lucerne Happy Hour Cruise”.Vé để được ngồi trên du thuyền này là 30 Euro cho mỗi một người. Khoảng một giờ sau, chúng tôi từ giả du thuyền rồi lên xe buýt để về lại khách sạn.
Sáng hôm sau, chúng tôi lại tập họp đầy đủ trước khách sạn để ông trưởng đoàn hướng dẫn lên đỉnh núi Mt.Titlis. Đây là ngọn núi cao nhất ở Thuỵ sĩ , độ cao 10,000 feet khoảng 3 cây số. Trong đoàn chúng tôi có một số du khách không tham dự vụ leo lên đỉnh núi nầy. Có lẽ có người không thích, có người không đem đủ tiền để mua vé vv…
Giá vé cho mỗi người để được lên đỉnh Mt.Tilis là 50 Euro. Lúc ở nhà, tôi cứ tưởng leo lên đỉnh núi bằng cách đi lên tầng cấp. Vì vậy tôi mang theo một cái gậy và một cái belt để thắt lưng dự trù gặp trường hợp leo núi khó khăn tôi phải chống gậy và mang dây belt vào, vừa để khỏi té vừa đỡ đau lưng vì lưng tôi bị đau cột sống từ lâu. Nhưng khi đến nơi tôi mới biết rằng, chúng tôi lên tận đỉnh núi Mt.Titlis cao chót vót kia bằng cách ngồi vào trong những chiếc xe nho nhỏ do một hệ thống dây cáp (cable) vĩ đại kéo từ dưới mặt đất từ từ lên tận đỉnh núi. Mỗi xe ngồi chỉ 6 người, xe này cách xe kia khoảng vài chục mét. Sau khoảng 15 phút, chúng tôi đã đến đỉnh núi Mt.Titlis cao 10,000 feet. Tại đây, nhìn chung quanh tất cả bốn phương tám hướng, chúng tôi chỉ thấy toàn tuyết và tuyết trắng xóa mà thôi .Chẳng thấy mây trời cũng chẳng thấy cây cối và núi đồi đâu cả. Dĩ nhiên vì chung quanh chỉ thấy một màn tuyết trắng nên khí hậu cũng lành lạnh. Tuyết bay khắp nơi rồi phủ vào cả áo quần của du khách.

Đỉnh núi tuyết Mt. Titlis (Hình trích từ Wikipedia)
Thấy quang cảnh cũng hay hay và là lạ nên anh em lại rủ nhau quay phim và chụp hình. Mỗi toán lên xem khoảng vài chục người nên sau khoảng mười lăm phút, chúng tôi lại được lệnh xuống núi để cho toán khác lên xem. Thế là chúng tôi lại vào ngồi trong xe nho nhỏ như lúc mới lên và hệ thống dây cáp từ từ di chuyển đưa chúng tôi xuống lại mặt đất.
Sau khi điểm danh đầy đủ, ông trưởng đoàn du lịch bảo lên xe buýt để về lại khách sạn chuẩn bị ăn cơm chiều. Sau đó như thường lệ, ông trưởng đoàn thông báo cho chúng tôi biết sáng mai sẽ rời khách sạn để sang nước Ý.
(Trích từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Âu Châu và Hạ Uy Di” xuất bản năm 2009)
Dương viết Điền
-
Tình bạn tri kỷ, tâm giao … dư âm hoài niệm tại Từ Mai Gia Trang (GS Trần Huy Bích)
Khánh Lan
Theo danh nhân thi ca Kahlil Gibran (1883-1931), thi sĩ và họa sĩ người gốc Lebanese (Li-băng), được xem như một trong các đạo sư vĩ đại của thế kỷ 20. Các tác phẩm của ông chứa đựng những thông điệp cao cả, nhất quán và vượt thời gian về một thế giới đại đồng, tôn giáo hòa đồng, tình huynh đệ, một tình thương vĩnh hằng nối kết con người với nhau trong tình yêu thương nhân loại từ Thượng đế giữa một trần gian hiệp nhất với không gian. Do vậy, Ngôn sứ (prophet), được hiểu như một sứ giả chuyển giao một thông điệp bằng ngôn từ…” Về Tình bạn.”
Một người tuổi trẻ thưa, Hãy nói cho chúng tôi về tình bạn và Gibran đáp lại rằng:”Người bạn là những cần thiết của các bạn được đáp ứng”.
Phải chăng,Giáo sư Từ Mai Trần Huy Bích chính là cánh đồng bao la với con tim vĩ đại và Từ Mai Trang là điểm hẹn để các bạn gieo hạt yêu thương và sẽ gặt hái tình bạn chân thật với lòng biết ơn người đã vun tưới nó …
Cánh đồng Từ Mai Trang là bàn ăn đầy ắp thực phẩm và cái lò sưỡi kia là nơi ấp áp trong mùa đông lạnh giá. Đến gia trang của Thày Từ Mai Huy Bích hẳn các bạn đã tìm đến nơi tràn ngập sự bình an. Các bạn ơi, bạn có biết, bạn đã tìm đến một nơi để nghe thông điệp ngôn sứ của Thày Từ Mai Huy Bích về thế nào là tình bạn thực sự. Xin thưa rằng khi bạn đến với Từ Mai Gia Trang là bạn đã nghe The Prophet, một danh tác về tình bạn của cụ Khalil Gibran, giáng cơ qua Thày Từ Mai Trần Huy Bích.
Tình Bạn và thi ca
Một thi tác, bài thơ “The Pleasures of Friendship“, của thi sĩ Stevie Smith về ý nghĩa sâu xa của tình bạn.

Stevie Smith [1902-1971]
Stevie Smith sinh ra ở miền Bắc nước Anh nhưng bà chuyển đến London rất sớm. Bà là một trong những nhà thơ được yêu thích nhất nước Anh, giành được Huy chương Vàng của Nữ hoàng về Thơ vào năm 1969. Bài thơ “Không vẫy tay chào chia tay nhưng chết đuối” của bà thường xuyên nằm trong số 10 bài thơ hay nhất ở Anh trong các cuộc bình chọn của đài phát thanh Vox Pop.
Những niềm vui của tình bạn (The Pleasures of Friendship):
Niềm vui của tình bạn thật tuyệt vời,
Thật thú vị biết bao khi được đi thăm một người bạn!
Tôi đến bên bạn tôi, chúng tôi đi dạo trên bãi cỏ,
Và những giờ phút như phút trôi qua.
Phân tích bài thơ The Pleasures of Friendship: Bài thơ này ca ngợi những niềm vui giản dị của tình bạn, sự hài lòng trong những trải nghiệm được sẻ chia và thời gian trôi qua. So với những tác phẩm u ám hơn của Smith, nó mang đến một khoảng thời gian nghỉ ngơi sảng khoái với giọng điệu vui vẻ và tập trung vào những khía cạnh tích cực của sự kết nối tình bạn giữa con người với nhau. Nó phản ảnh của sự mong muốn được an ủi bằng sự thoải mái của thời hậu Thế chiến thứ hai, nhấn mạnh tầm quan trọng của mối liên kết giữa con người với nhau trong một thế giới đang phục hồi tái thiết sau chiến tranh và chịu dựng những mất mát.

NV Việt Hải, GS Quyên Di, Chị Topaz, GS Trần Huy Bích, Minh Khai, GS Dương Ngọc Sum.

Nói về tình bạn, Khánh Lan cũng đã sáng tác một bài thơ về tình bạn như sau:
Tình Bạn Vô Biên
Thời gian trôi lặng lẽ
Thấm thoát bảy thập niên
Văn thuần, thơ hiệp ý
Tâm đắc bạn văn chương.
Ước giao tình Tri kỷ
Xướng họa cùng ngâm nga
Thầm khen thơ ý lạ
Đáng yêu hạ bút thôi.
Nhớ mãi những buổi chiều
Cảm tác đôi vần thơ
Vô biên về tình bạn
Luôn đậm đà thiết tha.
Hỡi tâm hồn khoáng đạt
Mãi say đắm mộng mơ
Những dòng thơ hoa mỹ
Vằng vặc dưới trăng ngà.
Xuân về tại Từ Mai Gia Trang:

Trong bữa tiệc Tân Niên tại Gia Trang của Giáo Sư Từ Mai Trần Huy Bích, Nhà Văn Khánh Lan đã chúc Tết quý Thày Cô qua mấy câu thơ và gởi lời chân thành cám ơn Giáo Sư Trần Huy Bích cùng quý vị niên trưởng và quý anh chị em…
Xuân về kính chúc quý thầy cô.
An khang, thịnh vượng, bao niên kỷ.
Trường thọ, Thanh Nhàn, khoáng đạt tâm
Văn chương, lịch sử thời thông suốt
Rạng danh nhà giáo khắp bốn phương.
Nhân dịp xuân về Khánh Lan đã thảo một bài thi ca Hán Việt, tứ ngôn tứ tuyệt thể biền ngẫu cân đối:
Mai khai phú quý.
Đào tải an khang
Thọ sinh vạn phúc
Lộc cung thắng lợiPhúc cầu toàn gia.

Mùa xuân đến, thiên nhiên chuyển mùa, không gian bừng sinh, Khánh Lan đã họa bài thơ chúc mừng xuân mới như sau:
Xuân nay trở về
Không gian tái sinh
May mắn vào cửa
Hoan hỉ tràn dầy.
Khánh Lan cho rằng không hẳn chỉ có mùa Xuân ở Trung Hoa hay Việt Nam, mà mùa Xuân còn ở những nơi như Teipei (Đài Bắc Đài Loan), Seoul (Đại Hàn) …
Đôi Nét về Thi Ca Truyền Thống Nhật Bản (Haiku) và thi ca Truyền Thông Đại Hàn (Sijo)
Dựa theo bài viết trên trang nhà KBS-World-Âm Điệu Ngàn Xưa thì “khi ta đề cập đến thi ca truyền thống Nhật Bản, người ta thường nghĩ về thể thơ Haiku (句) bởi lẽ đây là một thể thơ thịnh hành ở Nhật Bản. Haiku là sự dung nạp và kết tinh của nhiều giá trị văn hóa tinh thần của người phương Đông như Hoa, Nhật, Hàn hay Việt tộc. Tương tự như thơ Haiku của người Nhật Bản, thơ Sijo (소지) của Đại Hàn. Xét về thơ cổ Sijo là thể thơ truyền thống của dân tộc Hàn, một bài thơ thuộc thể loại này thường có bố cục ba dòng truyền thống. Thơ cổ Sijo là thể thơ truyền thống của dân tộc Hàn. Một bài thơ thuộc thể loại này thường có bố cục ba dòng. Mỗi dòng có hai nhịp, mỗi nhịp có từ 3 đến 4 chữ. Vậy nên thơ cổ Sijo còn được gọi là thể thơ ba dòng sáu nhịp.
동짓달 기나긴 밤을 한 허리 둘에 내어
춘풍 이불 아래 서리서리 넣었다가
임 오는 밤이어들란 구비구비 펴리라.Thơ cổ Sijo vừa là tác phẩm văn học vừa có thể trở thành lời của bài hát với những câu chữ ngắn gọn nhưng lại sâu sắc, có thể diễn tả mọi cung bậc của cảm quan, cảm xúc. Sau này bố cục truyền thống của thơ cổ Sijo dần biến đổi cách tân, thành thể loại có số âm tiết nhiều hơn được gọi là Saseolsijo. So với thơ cổ truyền Pyeongsijo, nhịp điệu và tiết tấu của thơ cổ Saseolsijo nhanh và sôi động hơn.
Thơ cổ phổ nhạc Pyeongsijo và Saseolsijo
Một bài thơ cổ Sijo thường có khoảng trên dưới 45 chữ. Đây là thể loại thơ cổ phổ biến và còn được gọi là Pyeongsijo. Sau này bố cục truyền thống của thơ cổ Sijo dần biến đổi thành thể loại có số âm tiết nhiều hơn được gọi là Saseolsijo. So với thơ cổ Pyeongsijo, nhịp điệu và tiết tấu của thơ cổ Saseolsijo nhanh và sôi động hơn.
Trong tên của thể loại thơ cổ phổ nhạc Saseoljireumsijo, từ “Saseol” có nghĩa là “ca từ nhiều chữ”, ám chỉ không theo quy tắc thơ ba bốn chữ mà sáng tác tự do. Còn “Jireum” có nghĩa là “hét lên”, ám chỉ là “phần đầu của khúc hát được hát với giọng cao”. Vốn dĩ thơ cổ Pyeongsijo được hát với giọng đều đều, không quá cao hay quá thấp. Nhưng trích đoạn “Sanjunghae” (Giữa rừng xanh) mà chúng ta vừa nghe lại có phần đầu được hát bằng giọng rất cao. Câu ca mượn lời thoại giữa người thợ săn và con ngỗng trời để ví von tâm trạng sầu thảm của những người yêu nhau khi chia tay. Ngỗng trời nói rằng:
Hỡi anh thợ săn vai đeo súng trong rừng xanh núi thẳm
Dù anh có vác súng bắn muôn thú
Thì cũng đừng bắn ngỗng trời đang khóc vì mất đôi
Nghe vậy, người thợ săn liền trả lời, rằng: “Dù có vô tình thế nào đi chăng nữa thì chúng tôi cũng đâu nỡ bắn những con vật đáng thương”.
Theo dòng chảy của thời gian, thơ cổ phổ nhạc chữ tình Pyeongsijo phát triển thành thể loại thơ cổ phổ nhạc tự do Saseolsijo trong sáng, đầy hứng khởi. Ví như “Saseol Nanbongga” (Lan phùng ca thể thơ tự do) có đoạn:
Cô gái trước nhà đi lấy chồng, chàng trai sau nhà đi treo cổ
Người chết thì không tiếc nhưng chẳng qua là không có dây thừng
Chàng bỏ thiếp đi, chưa đi được 10 dặm đã đổ bệnh
Chưa đi được 20 dặm đã gặp toán cướp
Chưa đi được 30 dặm đã phải quay về bên thiếp
Vài nét khác biệt giữa thơ cổ phổ nhạc Sijo và dân ca Minyo ở Hàn Quốc
Trước hết ta hay xem quá trình hình thành nên các khúc dân ca Minyo ở Hàn Quốc. Dân ca Minyo thường không phải là những khúc hát có người phổ nhạc và người soạn lời riêng. Dân ca Minyo vốn là dòng nhạc mà ai cũng có thể nói lên tâm tư tình cảm của mình theo nhịp điệu nhất định nào đó. Và theo dòng chảy của thời gian, nó được nhiều người đồng cảm, hát theo và định hình thành khúc hát dân gian. Rồi mỗi người lại chỉnh sửa chút ít cho hợp với phong cách và tâm tư tình cảm của mình. Gần đây nghệ sĩ Lee Hee-mun đã biến tấu khúc ca “Saseol Nanbongga” thành khúc hát đại chúng“Saseol Nanbong” có phong cách và sắc thái khác hẳn với khúc ca gốc và còn được giới trẻ ngày nay hưởng ứng hơn nữa. Thế nên những người có tuổi khi nghe khúc hát này còn nói rằng “Liệu có thể gọi đây là khúc hát truyền thống hay không?”. Tuy nhiên, “Saseol Nanbong” của nghệ sĩ Lee Hee-mun vẫn được coi là một khúc hát truyền thống”.
Nguồn:
* Khúc thơ phổ nhạc “Pureun Sanjunghae” (Giữa rừng xanh) theo thể loại Saseoljireumsijo / Lee Jun-ah
* Khúc thơ cổ phổ nhạc “Lan phùng ca” theo thể loại thơ tự do Saseolsijo / Kim Yeong-im
* Khúc hát “Saseol Nanbong” mang âm hưởng hiện đại / Lee Hee-mun
Sau đây là bài đoãn thi chúc Tết theo thi ca Hàn ngữ: Bài “Vừa Đủ“. Bài “Vừa Đủ” là Thi Ca Biền Ngẫu Dạng Thức: 10-10-10-10. Ý tưởng khi Nếp sống vừa đủ là một triết lý hay nhân sinh quan của thi sĩ Nguyễn Công Trứ trong bài thơ nổi danh “Chữ nhàn “… trong chiều hướng tương đồng, bài thơ “Vừa Đủ” của Khánh Lan dưới đây như lời chúc đầu năm đến các mọi người: “Năm mới chúc mọi người vừa đủ, vừa đủ”
Bài thơ Vừa Đủ
Vừa đủ HẠNH PHÚC cho tâm hồn được bình an
Vừa đủ THÀNH CÔNG cho mình luôn mãi kiên cường
Vừa đủ HY VỌNG để thấy mình đủ hạnh phúc
Vừa đủ THÀNH CÔNG để giữ cho mình mãi nhiệt tâm.
Trích dẩn thơ của Nguyễn Công Trứ: Bài “Chữ Nhàn”.
Link: Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc

Bài Thơ Chữ Nhàn của Thi Hào Nguyễn Công Trứ
Thị tại môn tiền náo,
Nguyệt lai môn hạ nhàn.
So lao tâm lao lực cũng một đàn,
Người trần thế muốn nhàn sao được?
Nên phải giữ lấy nhàn làm trước,
Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài.
Cuộc nhân sinh chừng bảy tám chín mười mươi,
Mười lăm trẻ, năm mươi già, không kể.
Thoắt sinh ra thì đà khóc choé,
Trần có vui sao chẳng cười khì?
Khi hỷ lạc, khi ái dục, lúc sầu bi,
Chứa chi lắm một bầu nhân dục.
Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc,
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?
Cầm kỳ thi tửu với giang san,
Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế.
Ngã kim nhật tại toạ chi địa,
Cổ chi nhân tằng tiên ngã toạ chi.
Ngàn muôn năm âu cũng thế ni,
Ai hay hát mà ai hay nghe hát?
Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất,
Để ông Tô riêng một thú thanh tao.
Chữ nhàn là chữ làm sao?
Dẫn giải ý thơ “TRI TÚC TIỆN TÚC”

“Tri túc tiện túc, đãi túc, hà thời túc”
(Biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì bao giờ mới đủ).
“Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn”
(biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn thì bao giờ mới nhàn)
Hai câu thơ trên có nghĩa là làm người phải biết thế nào là đủ thì mới có thể vui hưởng cuộc sống. Ai không biết thế nào là đủ sẽ luôn cố sức, lao tâm lao lực để có nhiều hơn, hay để thõa mãn tự ái và tham vọng của mình. Nhưng đời người không phải lúc nào cũng may mắn vì theo quy luật đời sống thì có nhiều biến thiên, thăng trầm như trăng tròn rồi lại khuyết, …không khéo, khi hết thời mà không biết dừng sẽ bị mất hết những cái mình đang có. Thật vậy, chỉ có những người sống phải đạo, có ân phước của thánh thần mới được che chở tránh được những cơn lốc bất ngờ của số mệnh. Người có tài mà ỷ tài, kiêu ngạo thì bao nhiêu nỗ lực để đạt tham vọng không đáy của cá nhân rốt cuộc cũng sẽ trở thành công dã tràng mà thôi.
Bài “Chữ Nhàn” được nhiều người coi là tuyệt tác trong các bài hát nói. Tác giả vạch rõ chữ nhàn rất dễ kiếm, ai cũng có thể có, dễ như thế mà các thi nhân từ xưa chưa ai tìm ra được. Những câu thơ cổ mà tác giả mượn dẫn vào thực là đắc cú, phân minh, chuyển đi láy lại tài tình. Vì thế, ngày xưa những khách phong lưu đi hát ưa nghe bài này, là có ý mượn tiếng giai nhân để kể lại áng văn chương danh cú.
Sự bình an là trạng thái tâm trí, tinh thần của một người khi cảm thấy yên tĩnh, thoải mái, không có lo lắng, căng thẳng hay áp lực. Nó thường được miêu tả như một cảm giác an tĩnh, yên bình và ổn định bên trong thân tâm ta. Sự bình an được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt là trong thời đại ngày nay với nhịp sống nhanh, áp lực của công việc và sự bận rộn trong cuộc sống. Sự bình an giúp chúng ta có thể tập trung, đạt hiệu quả khi làm những việc tốt hơn, tăng cường sức khỏe và tạo ra cảm giác hạnh phúc. Bình an là khi ta cần để tâm trí mình được nghỉ ngơi, nhìn sâu bên trong bản thân mình và tìm hiểu về bình an nội tâm. Vậy, giá trị của an bình, yên ổn là gì?
Xét về ý tưởng “Đi tìm sự bình yên trong tâm hồn“, ai trong chúng ta cũng đều mong ước có được một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Nếu không dành thời gian để nhìn nhận mọi việc một cách đầy đủ, chúng ta sẽ không thể cảm nhận được cảm giác yên bình. Muốn giữ được sự bình yên trong tâm, chúng ta biết giữ lấy sự tĩnh lặng của tâm hồn, sự buông lỏng những căng thẳng lo âu. Cố gắng trong công việc là điều cần thiết nhưng chúng ta cũng phải biết cho đi, sẵn sàng giúp đỡ người khác, thấy được những giá trị tốt đẹp của cuộc sống… Cho nên bình yên là cảm giác xuất phát từ nội tâm. Đó là khi chúng ta vui vẻ, thoải mái, cảm thấy hài lòng với những điều mình đang có; là khi ta sống lạc quan, tích cực; không tham lam, đấu đá, tranh giành; không suy nghĩ, ghen ghét, đố kỵ với những người xung quanh…
Bình yên giống như liều thuốc bổ giúp mỗi người thêm khỏe mạnh, hạnh phúc. Bình yên giúp mỗi người sẽ càng yêu và trân trọng hơn những điều bình dị quanh mình. Có được sự bình yên trong cuộc đời là vô cùng quý giá, là bởi vì dẫu cho chúng ta có công danh, sự nghiệp như ý nhưng trong lòng không có được sự bình yên thì cuộc đời cũng sẽ mất đi ý nghĩa đích thực. Trái lại, khi chúng ta luôn cảm thấy bình yên, tất thảy mọi điều tốt đẹp sẽ tới, cuộc đời mỗi người vì thế mới trọn vẹn, ý nghĩa. Khi cảm nhận vừa dủ là vừa đủ, hãy bình yên giúp mỗi người biết buông bỏ những thứ không cần thiết để có cuộc sống hạnh phúc. Có thể thấy là sự bình yên trở thành thứ tài sản vô giá mang đến cho con người cuộc sống viên mãn, từ đó sản sinh ra nhiều giá trị nhân sinh cao đẹp khác như: tình yêu thương, lòng vị tha, tính bao dung; loại bỏ những thói quen, giá trị tiêu cực mà không hề đắn đo, suy tính. Khi một cá nhân hạnh phúc thì xã hội sẽ hạnh phúc. Và khi xã hội hạnh phúc luôn là khát vọng luôn mơ ước của mỗi quốc gia và toàn thể nhân loại.
Bình yên là tấm gương phản chiếu của hạnh phúc. Muốn có được bình yên, bạn sẽ tự khắc biết cách đi tìm, bởi “không ai mang lại cho bạn sự bình yên ngoài chính bạn”. Dựa theo tư tưởng của Lão Tử trong Lão giáo; Hầu như toàn bộ Đạo Đức Kinh của Lão Tử nhằm nói đến sức mạnh của cái Nhu, của Vô Vi. Trong ý niệm đó, đặc biệt ở chương 8, Nước được coi như hình ảnh đặc thù để chuyển tải một triết lý sống và cũng chính là một nghệ thuật sống lý tưởng. Ông cho thấy đường lối sống Đạo tự nhiên như nước chảy xuôi: ở thì chuộng chỗ thấp, ân tình thì chuộng thâm sâu, xử sự chuộng lòng nhân, nói thì chuộng chân thật, cai trị thì làm cho cuộc sống an bình, làm việc thì hợp với tài năng, hành động thì hợp thời đúng lúc. Đức tính của nước là làm lợi cho tất cả thiên hạ mà không tranh công đoạt lợi, gặp chỗ thiếu thì chảy vào, chỗ thừa thì chảy ra, trên đời làm mưa, dưới đất thành sông lạch: “Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh”. Lão Tử nhận ra ưu điểm của nước là tính vô kỷ, vị tha, “Nhu thắng cương“, như cung cách ứng xử: “Cường đại xử hạ, nhu nhược xử thượng”: cư xử mạnh bạo là hạng dưới, mềm dịu là hạng trên. Thực tế cho ta thấy thái độ khắt khe, cứng cỏi là tiêu biểu những tâm hồn cằn cỗi, thấp kém. Uyển chuyển, khéo léo, dịu dàng mới tiêu biểu những tâm hồn cao thượng. Bởi vậy có câu thơ:
“Phàm phu mới cứng, mới cương,
Dịu dàng mới thực lối đường người trên“
Bản chất của nước (l’eau, water) là như thế, không câu nệ vào một hình thức, khi tràn vào đủ nước ngưng lại trong trạng thái tĩnh lặng, bình yên. Đấy là nước, Nước lại còn có tính cách nén chịu, sự nén chịu của con đường Nhu: “Thọ quốc chi cấu”: nhận lấy cho mình bụi bặm của quốc gia. Đồng thời “Thọ quốc chi tường”: nhận lấy cho mình sự rủi ro của nước nhà. Đó cũng là tận cùng của vị tha, nhưng chính nhờ thế mới thực làm chủ được sơn hà, xã tắc. Nước nhà, xã hội cần thành công, gia dình cần hạnh phúc, với ý tưởng sao cho “vừa dủ“. Thi ca hạnh phúc, cho tâm hồn được bình an:
Tóm lại, thể thơ Haiku của người Nhật Bản, hay thơ Sijo của Đại Hàn là những loại thơ biền ngẫu, y như thơ Lục Bát của Việt Nam (6-8), chịu sự chi phối của quy luật sắp sẵn.
Khánh Lan, Kỷ niệm Từ Mai Gia Trang, Tháng 3 mùa Xuân Hội Ngộ 2024.

-
Du Lịch Hạ Uy Di.
…Sau khi tham quan tất cả các làng trong Trung Tâm Văn Hoá Polynesian, chúng tôi liền đến bờ hồ, nơi được chọn để tất cả các bộ tộc biểu diễn các vũ khúc của mình trên một chiếc phà hay chiếc đò, để xem các vũ khúc do các diễn viên của các làng hồi nãy trình diễn chung trong cùng một chương trình. Trên đoạn đường từ làng của bộ tộc TONGA đến bờ hồ, trời lúc đó đã về chiều, xa xa khói lam chiều từ mái nhà tranh sau lùm cây bay lên cao làm tôi bỗng nhớ nhà da diết. Bất giác, tôi hát bài Chiều, thơ của thi sĩ Hồ Dzếnh do nhạc sĩ Dương thiệu Tước phổ nhạc:
“Trên đường về nhớ đầy. Chiều chậm đưa trong ngày. Tiếng buồn vang trong mây. Tiếng buồn vang trong mây. Chim rừng thôi cất cánh. Xót xa tình ngây ngây. Có ai sầu vạn cổ.Chất trong hồn chiều nay.Chất trong hồn chiều nay. Tôi là người lữ khách. Trời chiều có làm khuây. Ngỡ hồn mình là rừng. Ngỡ hồn mình là mây. Nhớ nhà châm điếu thuốc. Khói buồn vang trong mây.”
Vừa hát xong bài Chiều thì chúng tôi cũng vừa đến bờ hồ.
Nơi đây, tất cả các du khách đều ngồi ở những ghế đá có sẵn quanh bờ hồ nhìn ra giữa hồ để xem trình diễn. Một sân khấu lộ thiên ở cuối bờ hồ đã được dựng lên từ trước để các ca sĩ, các vũ công TRUNG TÂM đứng giới thiệu chương trình và các tiết mục trình diễn của từng bộ tộc.
Các diễn viên của các bộ tộc gồm cả nam lẫn nữ mang áo quần đủ loại màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng,vừa hát vừa múa may quay cuồng trên một chiếc thuyền, hay phà theo những điệu vũ mang sắc thái văn hoá của bộ tộc mình, trông thật đẹp mắt, thật quyến rũ, thật thơ mộng. Đặc biệt các nam diễn viên hầu hết là những chàng trai vai u thịt bắp, nước da người nào người nấy rám nắng chứng tỏ ngày nào họ cũng phải trình diễn cho du khách thưởng ngoạn dưới ánh nắng mặt trời. Các nữ diễn viên múa thật điêu luyện, thật nhịp nhàng, uyển chuyển, chẳng khác gì vũ khúc của những tiên nữ ở trên Đào Hồng mà Lưu Nguyễn ngày xưa đã lạc bước vào thăm! Có bộ tộc thì vừa múa vừa hát những bản nhạc nghe thật nhẹ nhàng, êm dịu. Trái lại có những bộ tộc vừa hát vừa múa may quay cuồng vừa la hét thật ghê rợn như muốn ăn tươi nuốt sống người nào!
Có một chiếc thuyền vì các diễn viên trình diễn vừa múa vừa nhảy quá mạnh khiến anh chàng chèo thuyền đứng thất thế nên rớt xuống nước ướt cả áo quần. Anh ta liền phải leo lên thuyền lại gấp rồi chèo cho chiếc thuyền đi nhanh để thuyền bộ tộc khác ra trình diễn.
Sau đây là các hình ảnh của những thanh niên và thiếu nữ của các bộ tộc trình diễn trên hồ cho du khách xem:



Màn trình diễn của bộ tộc này vừa chấm dứt thì một chiếc thuyền xuất hiện từ bờ hồ đằng xa từ từ tiến ra giữa hồ. Trên thuyền, một người đàn ông mang hia đội mũ, trang phục màu vàng đỏ như những vị vua chúa ngày xưa, ngồi chểm chệ trên một chiếc ghế bành được đặt giữa thuyền. Bên cạnh là một người đàn bà bận áo quần muôn màu sặc sỡ: đó là Hoàng đế và Hoàng hậu của xứ HẠ UY DI một thời vang bóng. Hai bên có hai người lính cầm giáo đứng hầu.

Chiếc thuyền này được người chèo thuyền chèo chầm chậm để du khách có thể quan sát, chiêm ngưỡng vua và hoàng hậu của xứ Hạ uy di, một xứ sở được mệnh danh là thiên đường hạ giới, một hải đảo mà văn sĩ Mark Twain gọi đây là miền đất thanh bình và hạnh phúc nằm giữa Thái bình dương với khí hậu quanh năm suốt tháng luôn luôn hiền hoà, dịu mát.

Khi chiếc thuyền chở vị Vua và Hoàng hậu vừa biến mất cuối bờ hồ là xem như chấm dứt cuộc trình diễn ngày hôm nay của các bộ tộc, chúng tôi liền theo du khách vào Restaurant để chuẩn bị ăn cơm tối. Mặc dầu lúc bấy giờ đã 07 giờ chiều, nhưng vì mùa hè nên trời vẫn còn sáng. Sau khi làm thủ tục nộp vé vào cổng, cũng giống như buổi trưa lúc mới vào cổng để bắt đầu đi tham quan các làng, một thanh niên thân hình vạm vỡ và một thiếu nữ của một bộ tộc thay phiên nhau choàng cho chúng tôi mỗi người một vòng hoa tươi như mới hái từ trên cây xuống. Chúng tôi rất thích thú khi mang những vòng hoa này vì đây có lẽ là biểu tượng rõ nét nhất của cuộc du lịch trên xứ Hạ uy di nầy. Nhớ lại sáng nay khi được choàng những vòng hoa kết bằng những vỏ ốc nho nhỏ, chúng tôi cũng không được vui lắm và cũng hơi ngạc nhiên tại sao người ta lại không choàng cho mình vòng hoa mà lại choàng bằng vòng “võ ốc”. Sau khi suy nghĩ vài dây tôi nghiệm ra rằng trưa nay, có lẽ người ta chưa choàng cho mình những vòng hoa tươi, mà chỉ choàng bằng những vòng “võ ốc” vì trong thời gian đi từ làng này qua làng khác giữa trời nắng chang chang, những vòng hoa này sẽ bị héo đi chăng?
Sau khi choàng những vòng hoa xong, họ cũng mời chúng tôi chụp chung một bức hình làm kỷ niệm. Khi đứng chụp hình với chúng tôi, chàng thanh niên và nàng thiếu nữ nầy cũng để các ngón tay thành biểu tượng của hangloose (relax) như chàng thanh niên và nàng thiếu nữ sáng nay vậy.

Sau khi chụp chung một bức hình làm kỷ niệm, chúng tôi được nhận một tấm phiếu có đề số để vài giờ sau, nếu muốn lấy hình thì cầm phiếu ấy kèm thêm 15$ đến lấy hình về! Sau đó chúng tôi được mời vào phòng ăn để dùng cơm tối. Phòng ăn khá rộng rãi, có thể chứa khoảng 200 thực khách.

Đối diện với phòng ăn là một sân khấu lộ thiên tương đối rộng được thiết lập đâu từ trước, nơi đây các diễn viên của các bộ tộc sẽ trình diễn văn nghệ giúp vui lúc du khách đang ngồi ăn cơm tối. Lần lượt từng bàn nọ đến bàn kia, chúng tôi tự động sắp hàng đi lấy dồ ăn kiểu self-service rồi đem về lại chỗ ngồi vừa ăn vừa xem văn nghệ. Tuy nhiên trước khi bắt đầu dùng cơm tối, một xướng ngôn viên đứng trên sân khấu thông báo cho toàn thể thực khách rằng, ai muốn đến xem lấy con heo quay dưới đất lên thì hãy tiến về phía trái của sân khấu. Con heo này được quay theo một tiến trình đặc biệt khác với heo quay như người ta vẫn làm ở nững nơi khác. Khi đến xem, tôi thấy người ta bắt đầu lấy lớp bao bố ở phía trên ra. Khi bao bố vừa
được lấy ra, hơi nóng vẫn còn đang bốc lên. Sau lớp bao bố là một lớp lá chuối phủ lên trên. Hơi nóng cũng đang bốc lên từ lớp lá chuối này. Khi lấy hết lớp lá chuối, một chiếc rọ bằng sắt hiện ra trước mặt mọi người và dưới rọ là con heo đã được quay xong đang còn bốc hơi. Nước mỡ từ thân con heo quay chảy xuống đất toả mùi thơm phức khi người ta khiêng con heo lên để đem vào trong thái thịt cho thực khách dùng. Khi con heo vừa được nhấc lên, người ta thấy một lớp đá cuội nằm dưới cùng vẫn còn nóng và đang bốc hơi. Như vậy là lò lửa được thiết lập dưới đất bằng than, rồi được đun nóng thường xuyên trong một thời gian nào đó đủ để con heo vừa được quay chín vàng là có thể lấy ra ăn được. Sau khi xem lấy con heo quay ở lò quay ra, chúng tôi liền đi lấy thức ăn rồi vừa ngồi ăn vừa xem văn nghệ do các diễn viên của trung tâm văn hoá Polynesian trình diễn. Cũng giống như tại các làng chúng tôi ghé lại lúc buổi trưa và buổi chiều, tại đây chương trình văn nghệ gồm những vũ khúc và những bài ca cũng mang những sắc thái của nền văn hoá từng bộ tộc. Các diễn viên nam nữ trình diễn rất nhuần nhuyễn. Nhìn những trang phục đủ màu sắc loè loẹt, nghe những lời ca khi thì nhẹ nhàng khi thì man rợ, khi thì chát chúa khi thì hãi hùng, du khách ngồi xem có thể đoán được nền văn hoá của từng bộ tộc như thế nào. Nếu đem so sánh những điệu vũ cũng như những giai điệu và tiết tấu trong các bản nhạc của nền văn hoá Polynesian này, tôi thấy nền văn hoá này không khác gì nền văn hoá của các dân tộc thiểu số ở nước ta bao nhiêu cả.

Sau khoảng một giờ ngồi vừa dùng cơm tối vừa xem văn nghệ, chúng tôi lại chuẩn bị vào hội trường gần đấy để xem một màn trình diễn vĩ đại đầy đủ tất cả tiết mục mang hầu hết sắc thái văn hoá của các bộ tộc SAMOA, AOTEAROA, FIJI, HAWAII, MARQUESAS ISLANDS, TAHITI, TONGA. Sau khi nộp vé vào cửa, chúng tôi liền đi tìm số ghế để ngồi xem. Đứng trước chiếc ghế đã tìm ra số, tôi đảo mắt nhìn quanh một vòng trong hội trường mới thấy hội trường này thật là rộng, có thể chứa khoảng 10 nghìn người.
Vị trí ngồi của khán giả xuôi như mái nhà từ cao xuống thấp trông giống như chỗ ngồi ở ngoài sân vận động vậy. Mặc dầu lúc bấy giờ đã gần 08 giờ tối nhưng trời vẫn còn sáng nên chúng tôi nhìn lên sân khấu vẫn còn thấy sân khấu rất rõ ràng. Nói là nhìn lên sân khấu, nhưng thực ra là nhìn xuống vì chúng tôi đang ngồi ở một vị trí trên cao của hội trường.
Nhìn thật kỹ trái, phải, trước, sau của sân khấu, tôi thấy đây là một ngọn núi nho nhỏ được biến chế, thiết lập, xây cất với những cây cối um tùm, rậm rạp bao bọc xung quanh. Một thác nước từ trên cao chảy xuống thường xuyên trông rất đẹp mắt nằm ngay phía sau sân khấu. Sân khấu là một mặt bằng diện tích rất rộng, bên trái, bên phải, phía sau sân khấu có những lối đi bằng đường hầm để các diễn viên đi từ sân khấu ra hậu trường và từ hậu trường ra sân khấu. Đặc biệt ở phía bên trái, bên phải của sân khấu nhìn lên cao, tôi thấy có hai mặt bằng tạo thành hai sân khấu nho nhỏ nằm ở lưng chừng núi, bao quanh với những cây cối um tùm để các diễn viên xuất hiện đột xuất khi trình diễn những vũ khúc man rợ giữa núi rừng. Tóm lại, mặt bằng sân khấu như là một thung lũng nho nhỏ được vây quanh bởi ngọn núi có cây cối rậm rạp và thác nước chảy liên tục đêm ngày.
Sau khi tất cả du khách an tọa đầy đủ trên các dãy ghế trong hội trường thì trời cũng bắt đầu tối, đèn điện trên sân khấu được bật sáng. Một vị đại diện lên chào du khách và đọc chương trình văn nghệ giúp vui, hầu hết là những vũ khúc của tất cả các bộ tộc mà tôi đã đề cập ở trên. Sau đó các vũ khúc của các bộ tộc bắt đầu. Trang phục của các diễn viên đủ tất cả màu sắc loè loẹt, sặc sở trên trần gian này. Xanh có, đỏ có, tím có, vàng có, nâu có, vv…Nhiều vũ khúc chỉ có hai hoặc ba người, nhiều vũ khúc năm hoặc mười người, có vài vũ khúc lên đến ba bốn chục người, năm chục người, hay gần một trăm người.
Nhiều vũ khúc chỉ có nữ diễn viên của các bộ tộc trình diễn, lắm vũ khúc chỉ có nam diễn viên mà thôi, nhưng cũng có nhiều vũ khúc gồm cả nam lẫn nữ trình diễn chung với nhau.

Khi những vũ khúc chỉ gồm những nữ diễn viên trình diễn, dưới ánh điện mờ mờ ảo ảo thêm vào những ánh trăng ảo ảo mờ mờ từ trên trời rọi xuống, tôi thấy những đôi tay của các thiếu nữ múa qua múa lại thật mềm mại, uyển chuyển, nhẹ nhàng, thật nhịp nhàng đều đặn, miệng luôn luôn nở những nụ cười thật là xinh. Toàn cảnh trên sân khấu trông rất đẹp mắt, thật ngoạn mục giống như những tiên nữ giáng trần đang múa những khúc nghê thường dưới chốn dương gian giữa rừng khuya đêm vắng.

Bỗng đâu nơi hai sân khấu nho nhỏ ở trên cao giữa mấy lùm cây về phía trái và phía phải của sân khấu lớn xuất hiện hai cô sơn nữ mang gùi, mắt ngẩng lên nhìn ánh trăng đêm, nhìn lá vàng rơi, miệng cất tiếng ca giống như tiếng ca của đoàn vũ nữ đang vừa hát vừa múa dưới sân khấu chính, tạo thành một cảnh thật linh động như trên nguyệt điện của chị Hằng nga. Thấy hai cô sơn nữ mang gùi vừa múa vừa hát, vừa nhìn trăng rồi nhìn lá vàng rơi làm tôi chợt nhớ đến bài Sơn nữ ca.
Bất giác tôi cất tiếng hát:
“Một đêm trong rừng vắng, ánh trăng chênh chếch đầu ghềnh thấp thoáng bóng cô sơn nữ miệng cười xinh xinh. Một đêm trong rừng núi, có anh lữ khách nhìn trời xa xa biết đâu sơn nữ nhìn mình đăm đăm. Môt đêm trong rừng vắng, có cô sơn nữ miệng cười khúc khích ngắm anh lữ khách rồi lòng bâng khuâng. Một đêm trong rừng núi, có anh lữ khách nhìn trời xa xa ngắm trăng say đắm một mình bâng khuâng.
Sơn nữ ơi! Đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian vun vút trời mây. Sơn nữ ơi!
Đành lòng sống với bên rừng thơ mộng cùng hoa với lá ngàn hương.
Sơn nữ ơi! Làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian rồi thương rồi nhớ. Sơn nữ ơi!
Hoàng hôn xuống rồi đợi chờ ai đây.
Hãy nhìn trăng lên, rồi lu mờ dần. Khi nhìn chim bay, thiết tha về ngàn chờ đợi tay người sơn nữ. Khi nhìn chim bay, bay đi tìm đàn, khi nhìn gió cuốn, lá thu rời cành cuộn bay lên người sơn nữ. Sơn nữ ơi! Làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian rồi thương rồi nhớ. Sơn nữ ơi! Hoàng hôn xuống rồi đợi chờ ai đây.”
Tôi vừa hát bài sơn nữ ca xong thì vũ kúc cũng vừa chấm dứt, đèn điện trên sân khấu bỗng vụt sáng. Thác nước sau sân khấu vẫn đổ xuống ào ào đều đều trông thật thơ mộng.
Màn vũ tiếp theo tôi nghe giới thiệu không rõ thì bỗng đâu, mấy chàng thanh niên thuộc bộ tộc nào đó vừa nhảy ra sân khấu vừa cầm giáo, mác, đoản côn, trường côn, vừa nhảy vừa múa, vừa la, vừa hét, làm âm thanh dội cả một góc rừng thật đinh tai nhức óc. Mấy anh chàng nầy có rất nhiều hình xâm trên mặt, trên người, trên tay, sau lưng, đầu chít một vòng đầy những lông chim giống hình ảnh của dân da đỏ. Họ vừa đi, vừa chạy, vừa nhảy, vừa hét, vừa quay lui, quay tới, trông thật hãi hùng man rợ cứ tưởng như họ sắp ăn tươi nuốt sống người nào. Khoảng mười phút sau, mấy anh chàng này chia làm hai toán, mỗi toán đi vào mỗi đường hầm nằm hai bên sân khấu rồi mất dạng.
Nói chung, tất cả các vũ khúc mang sắc thái văn hoá của mấy bộ tộc thuộc quần đảo Polynesia đều được trình diễn trong đêm cho tất cả du kách xem. Vũ khúc độc đáo nhất và nguy hiểm nhất là vũ khúc múa đuốc. Gần năm, sáu chục người ở trên sân khấu cầm đuốc được thắp sáng rực cả một góc trời. Họ vừa cầm đuốc vừa nhảy vừa múa, chàng nào cũng ở trần, chỉ mang một cái váy che thân, nếu sơ ý một tí là đụng lửa vào da sẽ bị phỏng ngay. Vậy mà chẳng có chàng nào bị phỏng cả. Tuy nhiên tôi nhớ hồi còn đang theo học ở bậc trung học, một giáo sư vật lý có giải thích cho tôi nghe về một chất hoá học dưới dạng chất lỏng. Nếu bôi chất lỏng này vào da hay bất kỳ chỗ nào trên cơ thể thì khi đụng lửa, da ở nơi đó vẫn không bị phỏng. Vì vậy trong các gánh xiệc, khi một người biểu diễn đưa một que vải tẩm dầu với lửa đỏ rực vào miệng, khi lấy que lửa ra, miệng anh ta vẫn không bị gì cả nhờ đã bôi trong miệng một lớp chất nước hoá học kia rồi. Vậy thì tôi nghĩ rằng, chắc các chàng diễn viên nầy đã bôi một lớp nước hoá học kia khắp cả cơ thể rồi nên mới múa may quay cuồng mà chẳng lo ngại gì chăng?
Đó cũng là lý do tại sao khi tôi thấy một anh chàng diễn viên người hơi thấp, đầu chít một vòng dây gắn mấy sợi lông gà, tay cầm một ngọn đuốc sáng rực đứng múa may quay cuồng giữa cả một rừng đuốc trên sân khấu, quay ngọn đuốc vòng quanh cơ thể mình rất nhanh, rất mạnh, lắm lúc đụng chân, đụng tay mà chàng ta vẫn cười tươi như hoa nở!

….Đúng 6 giờ sáng, vừa nghe đồng hồ báo thức từ chiếc cell phone, chúng tôi liền vùng dậy ngay. Nghe tiếng sóng vỗ ầm ầm ngoài xa , biết rằng sắp ra đi, biết rằng sắp giả từ, tôi và bà xã tôi tiến về phía cửa nhìn ra ngoài biển cả mênh mông bát ngát, nhìn xuống bãi biển sóng đang vỗ rì rào mà lòng buồn vời vợi vì “nghìn trùng xa cách, người sắp đi rồi, còn gì đâu nữa, mà khóc với cười!”. Bất giác tôi đọc mấy câu thơ của thi sĩ Lord Byron:
When we two parted
In silence and tears
Half broken hearted
To sever for years.
mà một thi sĩ nào đó đã dịch là:
“Giờ phút chia ly đã điểm rồi
Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi
Mang mang nửa cõi lòng tan tác
Ly biệt xui chi tủi trọn đời.”
Bỗng chuông điện thoại reo lên, tôi nhấc điện thoại lên nghe thì từ đầu dây, anh”TÀI xế” hỏi chúng tôi đã chuẩn bị hành trang xong xuôi chưa để xuống ăn điểm tâm mà lên đường. Sau đó chúng tôi liền xuống thang máy, ra nhà điểm tâm ăn qua loa vài món rồi lên lại phòng xách hành trang xuống văn phòng làm thủ tục trước khi rời khách sạn. Khoảng 5 phút đợi chờ, nhânviên khách sạn đã lái xe ra cho chúng tôi và chúng tôi bắt đầu lên xe nhắm hướng phi truờng HONOLULU trực chỉ. Vì sợ đến trễ sẽ vội vàng mệt nhọc nên chúng tôi quyết định đi thật sớm cho thoải mái .Theo chương trình, đúng 11 giờ máy bay sẽ cất cánh. Vì vậy chúng tôi quyết định đến phi trường trước khi bay 2 giờ để nếu vừa kẹt xe vừa làm thủ tục mất thì giờ cũng không thể nào bị trễ được. Vì đã thuộc đường đi nước bước nên anh“TÀI xế” lái một mạch đã đến phi trường. Sau khi làm thủtục trả xe rồi leo lên xe của hảng để vào phi trường làm thủ tục trước khi bay, chúng tôi đến trước giờ bay 1 giờ 30 phút nên cùng nhau ngồi chờ. Trước khi đi vào phòng đợi, chúng tôi phải đi ngang qua một phòng, tại đây có một ban nhạc đang trình diễn cho du khách xem trước khi du khách giả từ Hạ uy di. Khi đi ngang qua đây, tôi thấy một thiếu nữ có trang phục giống các cô đã trình diễn tại trung tâm văn hoá POLYNESIAN, cổ choàng một vòng hoa tim tím, vừa múa vừa hát theo tiếng đàn, tiếng trống của các nhạc công rất đẹp mắt và thật dễ thương.Sau những phút chờ đợi, chúng tôi được lệnh vào phòng để lên máy bay. Đúng 11 giờ, máy bay bắt đầu cất cánh rời phi trường HONOLULU để bay về California.
Ngồi trên máy bay nhìn xuyên qua cửa kính, tôi thấy thành phố HONOLULU mỗi lúc một xa dần, xa dần, rồi quần đảo Hawaii cũng dần dần nhỏ lại, dần dần lu mờ. Thôi thế là hết! Biết bao giờ trở lại Hạ uy di để nghe sóng vỗ rì rào suốt ngàyđêm trên bờ biển. Biết bao giờ trở lại Hạ uy di để tắm nắng chiều trên bờ cát trắng dưới những bóng dừa loang loáng ánh nắng vàng. Xin tạm biệt Hawaii, xin tạm biệt các cô sơn nữ rất khả ái dễ thương như những nàng tiên giáng trần miệng luôn luôn nở những nụ cười tươi như hoa nở. Xin tạm biệt các chàng trai thân hình vạm vỡ, nước da ngâm ngâm của các bộ tộcSAMOA,AOTEAROA,FIJI,HAWAII,MARQUESA, TAHITI. Ngồi trong máy bay, tôi đưa tay vẫy chào Hạ uy di lần cuối mà lòng xao xuyến bâng khuâng, bất giác tôi cất tiếng hát bài Biệt ly của nhạc sĩ Doãn Mẫn:
Biệt ly nhớ nhung từ đây
Chiếc lá rơi theo heo may
Người về có hay
Biệt ly sóng trên giòng sông
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Và mây trôi nước trôi
Ngày tháng trôi cùng lướt trôi
Mấy phút bên nhau rồi thôi
Đến khi bóng em mờ khuất
Người về u buồn khắp trời
Người ra đi với ngàn nhớ thương
Mấy phút bên em rồi thôi
Dáng em sống trong hồn tôi
Xa cách ta còn tìm đâu ngày vui
Biệt ly ước bao đường tơ
Réo rắt trong muôn hương mơ
Thành sầu tiễn đưa
Biệt ly ước mong hoàng hôn
Êm đềm về ru ấm tâm hồn
Người yêu đương cách xa
Đành sống vui cùng gió sương.California, ngày 14 tháng 10 năm 2006.
Dương viết Điền(Trích từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Âu châu và Hạ uy di” xuất bản năm 2009). -
Những Huyền Thoại và Ý Nghĩa của Tuổi Thìn trong Năm Giáp Thìn

Rồng đã tồn tại từ thời xa xưa với những câu chuyện kỳ bí và những truyền thuyết đầy màu sắc. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực và sự thịnh vượng. Trong những nền văn minh khác nhau trên thế giới, rồng được tưởng tượng với những khả năng phi thường như biết bay, khạc ra lửa và hô mưa gọi gió…
Rồng phương Đông được tôn sùng và thờ cúng trong các quốc gia châu Á, nhưng hình ảnh của chúng thay đổi tùy theo địa lý và thời đại. Ở Việt Nam, rồng được mô tả với hình ảnh mềm mại, hiền hòa, thường xuất hiện trong kiến trúc và nghệ thuật dân gian. Trong khi đó, rồng phương Tây thường được xem là biểu tượng của sự độc ác và hủy diệt, được tưởng tượng với khả năng khắc ra lửa và gây ra tai họa.
Cũng theo truyền thuyết, rồng được chia thành bốn loại tượng trưng cho bốn yếu tố của thiên nhiên: lửa, nước, đất và gió. Bên cạnh đó, rồng còn có chín đứa con, mỗi đứa con mang một ý nghĩa riêng biệt và được tôn vinh theo cách khác nhau.
Trong hệ thống 12 con giáp, con Rồng đứng ở vị trí thứ năm và là linh vật duy nhất trong bộ tứ linh được tôn sùng.
Năm Giáp Thìn (1904, 1964, 2024) là năm con Rồng theo Âm lịch. Những người sinh năm này thường được coi là mạnh mẽ, sáng tạo và giàu trí tưởng tượng. Đối với những người sinh vào năm Giáp Thìn và các năm kết hợp như Bính Thìn, Mậu Thìn, Canh Thìn và Nhâm Thìn, con Rồng mang lại sức mạnh, quyền lực và may mắn trong cuộc sống.
Ngoài ra, tuổi Thìn cũng có những kết hợp tốt và xấu với các tuổi khác. Những người tuổi Thìn thường hợp với tuổi Dậu, Tý và Thân, trong khi kỵ những người tuổi Tuất, Sửu và Mùi.
Màu sắc
Về màu sắc, người tuổi Thìn thường hợp với màu xanh lá cây, đỏ, hồng và tím, tạo nên một sức hút đặc biệt và tạo nên may mắn cho cuộc sống.
Tính cách
Những người sinh năm Giáp Thìn thường có tính cách mạnh mẽ, quyết đoán và tự tin. Họ là những người có tham vọng lớn và luôn nỗ lực để đạt được mục tiêu của mình. Họ cũng rất sáng tạo và giàu trí tưởng tượng, luôn có nhiều ý tưởng mới mẻ và độc đáo.
Sự nghiệpNhững người sinh năm Giáp Thìn thường rất thành công trong sự nghiệp. Họ là những người thông minh, nhanh trí và có khả năng giải quyết vấn đề tốt. Họ cũng rất chăm chỉ và luôn nỗ lực hết mình để đạt được mục tiêu của mình. Những người này thường phù hợp với các công việc đòi hỏi sự sáng tạo, độc lập và khả năng lãnh đạo.
Tình yêu và gia đìnhNhững người sinh năm Giáp Thìn thường rất chung thủy và tận tụy trong tình yêu. Họ luôn hết lòng vì người mình yêu và luôn cố gắng vun vén cho gia đình. Họ cũng rất yêu thương con cái và luôn cố gắng dành thời gian cho gia đình.
Sức khỏeNhững người sinh năm Giáp Thìn thường có sức khỏe tốt. Họ là những người năng động và luôn cố gắng giữ gìn sức khỏe của mình. Tuy nhiên, họ cũng nên chú ý đến chế độ ăn uống và luyện tập thể dục để duy trì sức khỏe tốt.
Những người nổi tiếng sinh năm Giáp Thìn:
– Albert Einstein
– Sigmund Freud
– Adolf Hitler
– Martin Luther King Jr.
– Nelson Mandela
– Bill Gates
– Warren Buffett
– Oprah Winfrey
– Michael Jordan
– PeleTóm lại, tuổi Thìn không chỉ là một con giáp trong hệ thống 12 con giáp mà còn là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực và may mắn trong đời sống con người. Hình ảnh của con Rồng và những truyền thuyết xoay quanh nó đã và đang làm cho tuổi Thìn trở nên đặc biệt và có ý nghĩa sâu sắc trong lòng mỗi người.
Thái Phạm
-
ICON OF THE SEAS

Icon of the seas là Siêu Du Thuyền mới và lớn nhất thế giới của Royal Caribbean Cruise Line, chính thức hạ thủy vào ngày 28 tháng 01 năm 2024. Đây là một du thuyền với thông số kỹ thuật đáng kinh ngạc:
- Chiều dài: 364.75 mét (1,196.7 ft) (dài hơn chiều cao của Tháp Eiffel).
- Chiều cao: 20 tầng.
- Tổng trọng tải: 250,800 tấn.
- Sức chứa: 9,950 người (bao gồm 7,600 khách và 2,350 thủy thủ đoàn).
- Tổng cộng số phòng ngủ: 2805, bao hồm179 dãy phòng, 1815 phòng ngủ có ban công, 276 phòng có cửa sổ hướng ra biển và 535 phòng.
Icon of the Seas là tàu du lịch được đóng cho Royal Caribbean International Cruise Line và đã hoàn thành các chuyến chạy thử trên biển vào tháng 6 và tháng 11 năm 2023, sau đó giao cho Royal Caribbean Cruise Line ngày 27 tháng 11 năm 2023. Con tàu mới này đã ghé đến Cadiz, Tây Ban Nha và Ponce, Puerto Rico và CocoCay trước khi tới Miami vào ngày 10 tháng 01 năm 2024 . Icon of The Seas chính thức hoạt động ngày 27 tháng 01 năm 2024 tại Cảng Miami, Florida, Hoa Kỳ. Theo Wikipedia, chi phí đóng tàu là 1,65 tỷ Euro (Meyer Turku).

Lễ khai mạc Icon of the Seas diễn ra vào ngày 27 tháng 1 năm 2024, khởi đầu cho các chuyến du ngoạn khởi hành từ Miami và chọn Miami là bến đậu chính cho đến tháng 4 năm 2026. Theo ông Matt Hochberg, Icon of the Seas là tàu du lịch mới nhất của Royal Caribbean và sẽ bắt đầu cung cấp các chuyến du ngoạn vào cuối tháng 01 năm 2024. Hành trình hoạt động của tàu là các hành trình Đông và Tây Caribe kéo dài một tuần. Mỗi chuyến sẽ ghé thăm các hòn đảo tư nhân của Royal Caribbean và CocoCay. Icon of the Seas có 2 tuyến đường chính:
- Chuyến du hành 7 ngày về phía Đông Caribbean gồm: Miami; Phillipsburg, St Maarten; Charlotte Amalie, St. Thomas; CocoCay hoặc CocoCay, Basseterre, St Kitts & Nevis, Charlotte Amalie, St. Thomas; Miami.
- Hành trình du lịch 7 ngày về phía Tây Caribbean gồm: Miami; Roatan, Honduras; Costa Maya, Mexico; Cozumel, Mexico; CocoCay; Miami.
Icon of The Seas không chỉ là phương tiện di chuyển trên đại dương, mà còn được coi là một tòa nhà hay hay một thành phố di động với đầy đủ tiện nghi và sang trọng. Du ngoạn trên siêu du thuyền này, chắc chắn sẽ để lại nhiều kỷ niệm khó phai trong lòng khách thưởng ngoạn. Giá vé du lịch trên Icon of the Seas thay đổi tùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người như loại phòng lớn hay nhỏ và địa điểm du lịch, v.v… Giá vé sẽ nằm trong khoảng $2,000 – $10,000 cho mỗi hành trình du ngoạn 7 ngày.

Trên du thuyền, du khách sẽ được hưởng mọi tiện nghi và dịch vụ, tương tự như ở một khách sạn sang trọng trên đất liền. Trên tàu có bác sĩ, nhân viên y tế thường trực và sẵn sàng phục vụ trong trường hợp cần thiết. Các nhà hàng và quầy bar trên tàu luôn mở cửa để phục vụ du khách 24/24. Ngoài ra còn có rất nhiều tiết mục giải trí hấp dẫn như sân khấu Broadway biểu diễn những màn nhảy ngoạn mục cũng như các buổi hòa nhạc hầu như mỗi tối. Casino mở của chào đón khách thích thử thời vận, đỏ đen mỗi khi tàu nhổ neo ra biển. Các sinh hoạt lành mạnh khác như bơi lội, dạy khiêu vũ, phòng tập thể dục (Fitness Center), leo núi, v.v…khiến du khách không bao giờ cảm thấy buồn chán. Các quán ăn Fastfood như Hamburger, Pizza, Café, Ice Cream, v.v… mở cửa ngày đêmđể phục vụ khách hàng.

Ngoài ra, du thuyền còn có các nhà hàng sang trọng và thực đơn đa dạng; chẳng hạn như nhà hàng Á châu là nơi du khách đến thưởng thức các món ăn từ Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Thái Lan, các nhà hàng với hương vị Ý, Pháp, Mỹ, v.v…cung cấp những thực đơn nội tiếng của quốc gia họ. Nhà hàng hải sản luôn có sẵn những loại hải sản tươi ngon.
Trong suốt chuyến du lịch, du thuyền dừng lại nhiều địa điểm khác nhau. Du khách có thể ghé thăm những thành phố hải cảng ven biển của nhiều quốc gia mà du khách không cần di chuyển hành lý từ khách sạn này sang khách sạn khác. Điều này rất tiện lợi cho những người thích đi du lịch dài hạn cũng như thuận tiện cho những buổi họp mặt của gia đình nhất là có con nhỏ hay cho những buổi hội ngộ với bạn bè để tận hưởng những khoảnh khắc đáng ghi nhớ.
Khi du thuyền dừng chân tại bất kỳ hải cảng (port) nào bao gồm trong chuyến du hành, du khách có thể mua những tour (excursion) trên tàu để đi thăm viếng các thành phố của hải cảng ấy. Giá của các tour tùy thuộc vào sự lựa chọn của du khách, trung bình giá mỗi tour từ $50 tới $300; hoặc du khách cũng có thể trả giá các tour của tư nhân đứng bán ở ngoài phố hay dưới bến tàu. Giá vé thường rẻ hơn nếu mua theo nhóm từ 6 tời 15 người.

Khi mới bước lên tàu, du khách sẽ thấy một bức tường kính cao, khổng lồ và nhiều tầngvới ánh sáng tự nhiên để có thể nhìn thấy đại dương tuyệt đẹp bao quanh con tàu. Kế đến Đường Tản Bộ Ngọc Trai (The Promenade là The Pearl) được xây bằng 3,000 viên gạch động học. Royal Promenade có sân trượt băng “Absolute Zero“, Giovanni’s Italian Kitchen and Wine Bar. Ngoài ra còn có quán bar Dueling Pianos, tiệm bánh pizza Sorrento, Point and Feather Pub, Spotlight Karaoke, Boleros và Schooner Bar.
Icon of the Seas có hơn 20 tiệm ăn, gồm 11 tiệm ăn miễn phí và 1,400 quầy rượu Bar với nhà pha chế rượu nổi tiếng như Tony Abou-Ganim. Chợ AquaDomecung cấp các món ăn riêng biệt, chẳng hạn như phô mai, bánh pita kiểu Hy Lạp, các món ăn châu Á. Ba địa điểm chính cho các buổi biểu diễn là AquaDome, sân trượt băng và Sân khấu Hoàng gia. Các buổi trình diễn mà du khách không thể bỏ qua tại AquaDome sẽ là “Aqua Nation!” và “Cướp biển vs Nàng tiên cá“. “Starburst” là tên của chương trình biểu diễn trượt băng tại đấu trường trượt băng Absolute Zero. “Ngày xửa ngày xưa” hay “Wizard of Oz” sẽ là những vở nhạc kịch nổi bật trên Icon of the Seas và chương trình kéo dài khoảng 90 phút.
Công viên Icon of the Seas nổi bật so với các du thuyền khác nhờ đặc điểm độc đáo như không gian trong sạch, cây cối xanh tươi với hàng ngàn loài thực vật thuộc các giống khác nhau. Khu vườn ngoài trời là nơi mà du khách có thể tận hưởng những thức ăn, thức uống và giải trí. Khu vườn này mang đến sự thoải mái cho những bữa ăn ngoài trời hữu tình và thú vị với dàn nhạc sống cho phép hành khách tận hưởng bầu không khí sôi động giữa thiên nhiên.

Icon of the Seas là du thuyền đầu tiên trong loại tàu du lịch Royal Caribbean mới với nhiều sinh hoạt thích thú và thu hút bộ óc hiếu kỳ của du khách, bao gồm công viên nước, khu vực mới dành riêng cho gia đình cũng như các buổi họp mặt của bạn bè, hội đoàn. Một câu lạc bộ nhạc jazz ở Công viên Trung tâm Icon, Lou’s Jazz ‘n Blues. Câu lạc bộ nhạc jazz là một địa điểm lý thú và thuận lợi để tổ chức “nhạc jazz trong công viên“, hành khách cũng có thể trổ tài biểu diễn nhạc Jazz tại đây. Nếu rượu sâm banh là sở thích của du khách, họ có thế ghé qua Bubbles vì đây là cửa hàng bán rượu sâm banh hay nhâm nhi, thưởng thức những ly mimosas, prosecco. Nhà hàng sushi tọa lạc ngay gần lối đi vào Công viên Trung tâm Icon. Quán Izumi bên trong công viên có các món bánh cuộn, nigiri và các món ngọt Nhật Bản. Quán rượu Trellis cũng ở trong công viên và lần đầu tiên có phục vụ đồ ăn.
Khu vực AquaDome có sức nặng 363 tấn, phản chiếu qua hơn 600 tấm kính, trong khu vực này có AquaTheater với sân khấu kính khổng lồ chạy từ trần xuống sàn cho tầm nhìn 220 độ. Ở đây còn có những buổi trình diễn ngoài trời với các màn biểu diễn nhào lộn trên không, nhảy cao và lặn sâu trong thác nước cao 55 feet. Hai buổi biểu diễn rất ngoạn mục tai AquaTheater là “Aqua Nation!” và “Cướp biển vs Người cá.” Tại khu vực AquaDome, khi không có các buổi trình diễn, hành khách có thể ngồi tại đây, vừa thưởng thức thức ăn hoặc thức uống, vừa ngắm nhìn khung cảnh đại dương hay ngắm nhìn thác nước.

Đặc biệt là khu vực Chill Island, du khách có thể hìn ra đại dương từ khu vực hồ bơi ba tầng với Swim & Tonic, quán bar bán rượu ngay trong hồ bơi lội. Đây là một thiết kế mới lạ để du khách vừa trầm mình trong nước vừa nhâm nhi ly rượu vừa ngắm đại dương.

Royal Bay là hồ bơi lớn, ồn ào và vui nhộn nhất trên biển; trái lại, Cove là hồ bơi yên tĩnh, có ghế nằm trong nước để giải trí. Cloud 17 ban đầu được dự định là khu vực chỉ dành cho người lớn, nhưng Royal Caribbean đã thay đổi thành The Hideaway và mở cửa Cloud 17 cho tất cả khách hàng. Cloud 17 còn có bồn tạo sóng và quầy bar Lime & Coconut. Crown’s Edge vừa là đường đi bộ trên không, vừa là đường đi trên dây cho những du khách thích mạo hiểm. Du khách được buộc dây và đi bộ ở độ cao 154 feet so với mặt nước biển để tạo cảm giác mạnh, kéo dài khoảng hai phút rưỡi là đi đến cuối đường dây. Một thiết bị mô phỏng lướt sóng FlowRider trên tàu cho các du khách yêu thám hiểm leo núi đỉnh cao, trên tàu cũng có sân thể thao và sân mini-golf Lost Dunes.

Basecamp hay Desserted là một quán sữa lắc có cồn hay lướt sóng Surfside, một khu phố mới dành riêng cho các gia đình trẻ và là trung tâm giải trí của Icon of the Seas. Trong khu phố này còn có các khu vực dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Có hồ bơi và một quán bar với các loại nước trái cây có pha rượu nhẹ cho phù hợp với phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên cũng có loại cocktail dành cho người lớn. Trẻ em sử dụng Splashaway Bay phải được huấn luyện ngồi bô đầy đủ, nhưng Baby Bay là nơi dành cho trẻ em vẫn còn mặc tã. Ngoài ra, cầu trượt trong Vịnh Splashaway yêu cầu các em nhỏ phải có chiều cao tối thiểu là 42” và sức nặng tối đa là 300 lbs.

Tại khu Adventure Ocean và câu lạc bộ thanh thiếu niên, người lớn có thể giải trí tại hồ bơi Water’s Edge trong lúc các trẻ nhỏ chơi đùa ở Vịnh Splashaway và Vịnh Baby. Cả hai vịnh này đều có đầy đủ các đường trượt, đài phun nước, vòi phun nước, bồn đựng nước… The Hideaway là dạng câu lạc bộ bãi biển chỉ dành cho người lớn. The Hideaway có hiên phơi nắng nhiều tầng, bồn tạo sóng và quầy bán rượu. Boong tắm nắng rộng rãi, và Phố Đi Dạo Royal Promenade trên Icon of the Seas dài 362 feet và có tầm nhìn ra đại dương.
Giữa các boong 16 đến 19 là khu vực The Grove, dành cho hành khách hạng sang (suite) có phòng khách riêng và khu vực ngoài trời dành riêng cho họ. Khu vực này là khu vực lớn nhất của Royal Caribbean bao gồm hiên tắm nắng riêng, nhà hàng Coastal Kitchen và một quán ăn bình dân. The Grove mới chỉ dành cho khách lưu trú tại suite.
Ngày nay, du lịch bằng du thuyền dài hạn đã trở thành một xu hướng phổ biến và tiện lợi cho nhiều người ở tuồi về hưu hay có con nhỏ. Dưới đây là một số lợi ích khi chọn du lịch bằng du thuyền trong thời gian dài:
- Giá tiền không chênh lệch nhiều so với thuê apartment hoặc condo cho những du khách du lịch dài hạn hay đã về hưu:
- Giá tiền du lịch bằng du thuyền thường thay đổi, đặc biệt là khi lựa chọn các hành trình dài hạn, bạn chó thể được hưởng giá đặc biệt (30 ngày hoặc hơn).
- Tiện nghi và dịch vụ y tế:
- Bác sĩ và chăm sóc y tế: Trên du thuyền, luôn có bác sĩ và nhân viên y tế sẵn sàng phục vụ du khách trong trường hợp cần thiết.
- Ăn uống và giải trí miễn phí: Bạn không phải lo lắng về việc tìm đồ ăn, thức uống hay giải trí. Các nhà hàng, quầy bar, sân khấu trình diễn và các hoạt động giải trí luôn sẵn sàng.
- Du thuyền dừng lại ở nhiều địa điểm trong hành trình du lịch.
- Du khách có thểm thăm viếng nhiều nơi mà không cần di chuyển từ khách sạn này sang khách sạn khác.
- Du khách có thể giải trí trên tàu.
- Thuận tiện cho gia đình và nhóm bạn:
- Là lựa chọn tốt cho gia đình hoặc nhóm bạn để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và tận hưởng những khoảnh khắc đáng nhớ.
Muốn đi du lịch với giá rẻ, bạn có thể theo dõi tin tức trên internet hay email quảng cáo trong ngành du lịch đường biển (Cruise). Thứ Năm thường là ngày tốt nhất để đặt mua chuyến du lịch. Giá cả có thể thay đổi hằng ngày tùy theo số cung và cầu. Theo nghiên cứu của CruiseWatch, thứ Năm có nhiều đợt giảm giá nhất, trong khi mức tăng giá nhiều nhất xảy ra vào Thứ Tư. Tuy nhiên, nghiên cứu cung cho rằng giá du lịch vào cuối tuần thường không thay đổi.
Giá vé du lịch thường rẻ hơn ở một số thời điểm trong năm như khi mùa biển có sóng lớn, bão hay vào hạ giá phút cuối (Last minutes cruise). Thường thì từ tháng 1 đến tháng 3, các hãng du lịch đưa ra các chương trình hạ giá vào mùa sóng để thu hút du khách đặt chỗ sớm.
Khi đặt mua vé, du khách phải đặt cọc (deposit) một khoản tiền nhỏ để giữ chỗ và phần còn lại sẽ phải thanh toán khoảng từ 60 đến 90 ngày trước khi khởi hành. Sau khoản thanh toán cuối cùng này, các hãng du lịch sẽ biết rõ hơn về các cabin trống của tàu. Nếu tàu quá trống, hãng du lịch có thể đưa ra các giá đặc biệt vào phút chót để lấp đầy các cabin chưa bán được. Mua vé theo đoàn thể (group) cũng được giảm giá.
Muốn tìm hiểu thêm xin vào: https://www.explore.com/1228576/why-thursdays-are-the-best-day-to-book-a-cruise/
-
CELEBRITY ASCENT-TÀU DU LICH 7 NGÀY MỚI NHẤT QUA CÁC HẢI CẢNG: SPAIN, FRANCE & ITALY

Celebrity Ascent là tàu du lịch mới nhất hoàn thành năm 2023 và được giao cho Celebrity Cruise Line từ xưởng đóng tàu ở Saint-Nazaire, Pháp. Lễ cắt thép cho Celebrity Ascent được tổ chức và chính thức giao hàng từ nhà máy đóng tàu Chantiers de l’Atlantique vào ngày 8 tháng 11 năm 2023. Tàu được thả neo vào tháng 1 năm 2023 và Celebrity Ascent dự định sẽ ra mắt du khách vào tháng 12 năm 2023.
Year Built 2023-Capacity 3,260 passengers-Tonnage 140,600-Builder Chantiers de l’Atlantique (Saint-Nazaire, France)-Class Celebrity EDGE-Building cost 770 million EUR (900 million USD)-Speed 22 km / 41 km / h /25 mph-Leight 313m-Width 39m and the price ranges from $1,849.00 for an inside cabin to $5,736.00 for a suite.
Celebrity Ascent là con tàu thứ tư trong dòng Edge Series từng đoạt giải thưởng, khởi sự xây vào ngày 22 tháng 11 năm 2021 và thực hiện chuyến hành trình đầu tiên ngày 3 tháng 12 năm 2023 từ Florida. Celebrity Ascent có tất cả các tiện nghi như Resort Deck, Magic Carpet (phòng chờ có mái vòm đầu tiên trên thế giới trên biển), Rooftop Garden, v.v… Tàu du lịch Celebrity Ascent nặng 141 nghìn tấn, có 1646 phòng, hành khách tối đa là 3950 người và được phục vụ bởi 1400 thủy thủ đoàn. Celebrity Ascent thuộc Celebrity Cruise line.
Celebrity Cruise Line được các du khách cũng như các chuyên gia công nhận là loại du thuyền hạng sang, Celebrity Cruises có tổng cộng 15 tàu đang hoạt động và cứ trung bình khoảng hai năm hãng du lịch này cho ra một tàu mới, du thuyền nổi tiếng và lâu đời nhất là Celebrity Millennium, đã 23 tuổi. Các du thuyền Celebrity khởi hành từ các thành phố của Hoa Kỳ như Honolulu, Miami, Boston và Seattle. Tuy nhiên, Royal Caribbean Group là chủ sở hữu và điều hành ba thương hiệu du lịch từng đoạt giải thưởng là Royal Caribbean International, Celebrity Cruises và Silversea Cruises, đồng thời cũng là chủ sở hữu 50% của một liên doanh vận hành TUI Cruises và Hapag-Lloyd Cruises.
Celebrity Cruise Line được coi là một hãng du thuyền sang trọng, hầu hết khách là người lớn và không có nhiều trẻ nhỏ. Trẻ sơ sinh phải ít nhất 6 tháng tuổi hoặc 12 tháng tuổi tuy theo quy luật của mỗi du thuyền. Người cao tuổi được giảm giá và có giá đặc biệt dành cho cảnh sát, lính cứu hỏa, quân nhân. Celebrity cruise Line còn là lựa chọn tốt cho các thanh thiếu niên yêu thích các sinh hoạt về thể thao hay phiêu lưu. Tuy nhiên, trên thế giới có một số tuyến du thuyền dành cho người lớn như:
- Luxury Cruise: Viking Cruises.
- Cruise for Older Couples: Saga Cruises. …
- Cruise for Single Adults: Virgin Voyages. …
- Adults-Focused Luxury Cruise: Regent Seven Seas Cruises. …
- Adults-Focused All-Inclusive Cruise: Seabourn Cruise Line
Trung tâm ẩm thực:
Celebrity Ascent có 32 nhà hàng, quán bar, các thực đơn được chế biến bởi đầu bếp từng đoạt giải Michelin, Cornelius Gallagher, và các món ăn nấu được biến chế theo từng vùng mà du thuyền ghé thăm trên khắp thế giới. 14 quán cà phê, quán bar, 8 nhà hàng đặc sản, 4 nhà hàng ăn uống chính, 4 địa điểm ăn uống bình dân miễn phí và 2 nhà hàng độc quyền Eden Café cung cấp đủ loại đồ uống và các món ăn bình dân. Spa Café và Juice Bar, câu lạc bộ trẻ em Le Voyage và khu giải trí dành cho trẻ em, lớp dạy làm bánh pizza, phòng chơi máy điện tử và bắn cung, v.v…
Ngoài ra còn có một số nhà hàng đặc biệt như Oceanview Café với Sunset Bar và khu ăn uống ngoài trời, gồm hai tầng và có cửa sổ làm bằng kính suốt từ trần đến sàn. Mast Grill với hồ bơi và khung cảnh đại dương, thực đơn gồm bánh mì kẹp thịt, salad hoặc bánh sandwich. Le Voyage của Daniel Boulud cho thực đơn đặc biệt trên thế giới do chính anh sáng tạo. Fine Cut Steakhouse với sườn cừu mềm Fed Fed, đuôi tôm hùm Maine nướng áp chảo với sốt tỏi kem hoặc gà nướng. Le Grand Bistro là quán rượu cổ điển của Pháp với khung cảnh, mùi hương và âm thanh hấp dẫn của một tiệm bánh ngọt nhộn nhịp.
Le Petit Chef với loại hình nghệ thuật Skullmapping hoạt hình 3D của các nghệ sĩ nổi tiếng trên thế giới, thức ăn, nước uống với thực đơn do đầu bếp Michelin sáng tạo. Rooftop Garden Grill và Raw on 5 là quán ăn thân mật với một loạt món ngon, có tầm nhìn từ biển ra đến tận đường chân trời. Thực đơn tại Magic Carpet trên Tầng 5, gồm các món ăn thông thường như salad tôm, tôm hùm, sushi và sashimi do các đầu bếp sushi chuyên nghiệp chế biến.

Nhà hàng Eden là một nhà hàng ẩm thực đặc biệt cung cấp thực đơn nhiều món khai vị, món chính và món tráng miệng. Blu, Blu, là nhà hàng độc quyền dành cho khách AquaClass, cung cấp các lựa chọn thực đơn ẩm thực lành mạnh, biodynamic wines, phong cách trang trí và dịch vụ hoàn hảo.

Nhà hàng Cyprus là một nhà hàng Hy Lạp với thực đơn hải sản hấp dẫn và đồ uống thuộc khu vực Địa Trung Hải. Nhà hàng Tuscan với Tuscan Grille với thực đơn Ý, nổi bật với thiết kế cổ điển hiện đại lấy cảm hứng từ thời trang và phim ảnh Ý.

Nhà hàng Normandie phục vụ ẩm thực Pháp đương đại trong khung cảnh hiện đại và tinh tế, gợi lên sự lãng mạn của mùa hè ở Paris trên các khu phố Pháp, với bảng màu hoa anh đào nở rộ.

Nhà hàng Cosmopolitan là nhà hàng ăn chính của du thuyền Celebrity Ascent.
Trung tâm giải trí:
Với các quán rượu như Martini bar, Pool Bar, Sunset Bar và Craft Social Bar có, rượu vang, cocktai, bia ướp lạnh hay quán café đặc sản thơm ngon như Café al Bacio, Phòng chờ Retreat dành riêng cho khách của The Retreat có chương trình giải trí trực tiếp, không khí ấm cúng và hấp dẫn với quầy rượu đầy ắp thức ăn ngon. Retreat Lounge do Kelly Hoppen thiết kế với Boong tắm nắng Retreat Sundeck Retreat và bồn tắm nước nóng. Zen Grarden với không khí êm dịu, cây cối thiên nhiên.
Resort Deck gồm Rooftop Garden, hồ bơi Solarium dành cho người lớn và Hồ bơi chính có bậc thang hướng ra ngoài đại dương. Magic Carpet với chỗ ngồi và quầy bar đầy đủ tiện nghi và trình diễn nhạc sống. Vườn Địa Đàng Eden sẽ mang lại nhiều ngạc nhiên cho du khách, tại đây, Eden có nhiều cửa kính hướng ra ngoài và ở bất kỳ địa điểm nào trên biển.
Rạp hát là nơi giải trí thú vị với các vũ công nổi tiếng với các chương trình ca vũ đặc sắc mỗi tối. . Câu lạc bộ với các sinh hoạt như lớp học DJ và bắn cung, Trung tâm thương mại Grand Plaza bày bán những sản phẩm của các công ty thiết kế Jouin Manku. Casino xây theo phong cách Vegas. Hệ thông đèn Chandelier, một tác phẩm nghệ thuật ngoạn mục dưới ánh sáng rực rỡ. Những quán rượu phục vụ các loại rượu hấp dẫn như Bella Cera pha trộn với Chameleon cachaça, Bombay Sapphire gin, nước cốt chanh, rượu đắng Angostura và bia gừng. Loại rượu pha Marmalade Smash kết hợp rượu bourbon Bulleit, nước chanh, xi-rô đơn giản, mứt cam và gừng tươi. Khu vườn trên sân thượng được mở rộng ngay trên mép nước và khung cảnh đô thị sống động trên Edge Series nhờ vào các nhà thiết kế nổi tiếng trên thế giới như Kelly Hoppen, CBE và kiến trúc sư Tom Wright của WKK.

The Martini Bar trong khu Grand Plaza với quầy bar hình tròn dưới ánh sáng rực rỡ của đèn chùm LED.

Secondo Bacio trong khu Oceanview Café cung cấp cà phê đặc sản và nước trái cây ép. The Pool Bar là quầy rượu ngay trong hồ bơi, đây là pool bar đầu tiên được xây trên du thuyền.
Excursions
Hơn 280 điểm đến ngoạn mục và tùy thuộc vào sự lựa chọn của du khách.
Kids and Teen Programs
Chương trình dành cho trẻ em và thanh thiếu niên bắt đầu tại Camp At Sea mang đến cho trẻ em có cơ hội tham gia một số hoạt động giải trí, bao gồm săn tìm kho báu, nghệ thuật và thủ công, thể thao và các bữa tiệc theo chủ đề, tất cả đều dưới sự hướng dẫn của đội ngũ nhân viên trẻ có nhiều kinh nghiệm. Câu lạc bộ Thanh thiếu niên là nơi lý tưởng và có thể kết bạn mới, tham gia các cuộc thi trò chơi điện tử, các bữa tiệc dành cho thanh thiếu niên và các lớp học nấu ăn. Các hoạt động do đội ngũ cố vấn thanh thiếu niên.
Ngoài viếc bơi lội trong hồ bơi, ngắm hoàng hôn trong những bồn tắm nước nóng, xem chiếu phim dưới bầu trời đầy sao, những bữa tiệc disco và giải đấu bắn cung, v.v… Lawn Club hoặc Resort Deck là nơi có những phông tuyệt đẹp để chụp những bức ảnh lưu niệm.
Celebrity Ascent, 7 Night Spain France & Italy gồm:
From Barcelona, Spain
Du thuyền Celebrity Ascent đi từ Barcelona, Spain. Trong hành trình 7 Night Spain France & Italy sailing, Celebrity Ascent sẽ thăm viếng 6 hải cảng.
Barcelona, Spain

Barcelona được biết đến với kiến trúc độc đáo, bao gồm Sagrada Familia, một nhà thờ Công giáo La Mã lớn được thiết kế bởi kiến trúc sư nổi tiếng Antoni Gaudi. Không những thế, Barcelona là một thành phố giàu văn hóa, lịch sử, giải trí, viện bảo tàng, phòng trưng bày di tích như Viện bảo tàng Picasso, Quỹ Joan Miro và Parc de la Ciutadella, Torre Giories, Arc de Triomf, Edificio Colon and La Rambia, Venetian Towers and Palau Nacional, Casa Mila, Gaudi’s Park, v.v…
Barcelona còn là một địa điểm du lịch nổi tiếng với những bãi biển đẹp, cuộc sống về đêm, ẩm thực ngon và là quê hương của một số đội thể thao chuyên nghiệp, trong đó có FC Barcelona, một trong những câu lạc bộ bóng đá thành công nhất trên thế giới. Cảng Barcelona, Tây Ban Nha nằm bên bờ biển Địa Trung Hải, là thủ đô của Catalonia, trung tâm văn hóa và là thành phố lớn thứ hai ở Tây Ban Nha. Ngôn ngữ đầu tiên là tiếng Catalan, tiếng mẹ đẻ của vùng Catalonia độc lập.
Palma De Mallorca, Spain

Palma de Mallorca, nằm ở Quần đảo Balearic và là thủ đô của Quần đảo Balearic, Palma de Mallorca cũng là tiền đồn của Tây Ban Nha ở Địa Trung Hải. Thị trấn Palma tự hào có quảng trường rợp bóng mát gần Nhà thờ Gothic và là một địa điểm du lịch nổi tiếng. Thành phố này nổi tiếng với kiến trúc tuyệt đẹp, trong đó có Nhà thờ La Seu nhìn ra Biển Địa Trung Hải, là nơi có nhiều bãi biển đẹp như Playa de Palma nổi tiếng. Thành phố này là nơi có nhiều bảo tàng viện, phòng trưng bày di tích lịch sử văn hóa, nổi tiếng với cuộc sống về đêm với nhiều quán bar, câu lạc bộ, nhà hàng và trung tâm mua sắm.
Civitavecchia, Italy

Civitavecchia (Rome) là một thành phố hải cảng hoàn hảo nhất về mặt địa lý trên thế giới, nằm ở vùng Lazio của miền trung nước Ý, cách Rome khoảng 80 km về phía tây bắc, là thủ đô của tỉnh Civitavecchia và là bến cảng của các tàu du lịch. Thành phố này được biết đến với bến cảng cổ xưa được Hoàng đế La Mã Trajan xây vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên và là nơi tìm hiểu về văn hóa của Ý.
Pháo đài Michelangelo thành lập vào năm 108 sau Công nguyên cũng bởi Hoàng đế La Mã Trajan và ban đầu được gọi là Centumcellae. Đây là một cảng quan trọng của Đế chế La Mã và được sử dụng để vận chuyển hàng hóa của những người đến và đi từ Rome. Đây cũng là nơi diễn ra trận hải chiến lớn vào thế kỷ 16 giữa Đế chế Ottoman và Holy League. Nhiều di tích lịch sử, bao gồm Castello di Santa Severa, Torre di San Pancrazio, thời Phục hưng và các bức tường thời Trung cổ. Các thị trấn lân cận Tarquinia và Cerveteri là nơi có một số di tích Etruscan, Nhà thờ San Francesco, Nhà thờ San Pietro và Nhà thờ San Paolo.
Civitavecchia là một địa điểm du lịch nổi tiếng với nhiều bãi biển đẹp từ những bãi biển đầy cát trắng nước trong ở Santa Marinella đến những bãi biển đầy đá ở Santa Severa. Nhà hàng và trung tâm mua sắm Porto di Civitavecchia là nơi tập trung nhiều cửa hàng, từ cửa hàng thời trang đến chợ địa phương bán đồ lưu niệm. Các cửa hàng bán đồ da nổi tiếng La Pelletteria hoặc đi thuyền đến các đảo Giglio và Giannutri với cửa hàng trang sức nổi tiếng Gioielleria Gioielli.
La Spezia, Italy

La Spezia là thành phố lớn thứ hai ở vùng Liguria, sau Genoa. Nằm gần giữa Genoa và Pisa, trên Biển Ligurian với cảnh tuyệt đẹp về vịnh và dãy núi Apuan Alps. La Spezia còn là nơi có căn cứ hải quân lớn của Ý và được coi là cửa ngõ vào Cinque Terre, là trung tâm thành phố lịch sử với các viện bảo tàng và trung tâm văn hóa. Những ngôi làng ven biển đẹp như tranh vẽ, những khu chợ và nhiều khu phố với những quán cà phê và nhà hàng xinh xắn dọc hai bên.
Nhiều du khách sử dụng La Spezia làm điểm xuất phát cho các chuyến đi đến Cinque Terre và các điểm du lịch lân cận khác vì La Spezia là một thành phố gần Cinque Terre. Từ Rome, Tuscany hay Venice, du khách phải đi qua La Spezia để đến con đường ven biển Cinque Terre nếu đi xe. Nếu đi tàu, du khách phải đổi tàu ở ga La Spezia Centrale.
La Spezia nằm ngay biên giới giữa Liguria, Tuscany và cách không xa Cinque Terre, Pisa và Florence.
Portofino, Italy

Mệnh danh là “Hòn ngọc vùng Riviera“, một địa điểm quyến rũ trên Biển Ligurian là nơi nghỉ mát yêu thích của nhiều người châu Âu giàu có và sang trọng. Từng là một làng chài yên tĩnh, đẹp như tranh vẽ nằm trên vùng Riviera của Ý, Portofino được biết đến với những tòa nhà đầy màu sắc, bến cảng tuyệt đẹp và khung cảnh ngoạn mục của Biển Địa Trung Hải. Ngôi làng là điểm nổi tiếng của khách du lịch đến để tận hưởng khí hậu ấm áp, làn nước trong vắt và bầu không khí độc đáo với thực vật tươi tốt.
Ngoài phong cảnh thiên nhiên và bến cảng Portofino tuyệt đẹp, du khách có thể tận hưởng nhiều sinh hoạt như tản bộ trên những con đường thơ mộng, quyến rũ của Portofino hay đi thuyền ngắm cảnh bờ biển, hoặc chèo thuyền kayak. Portofino với nhiều nhà hàng, quán cà phê và cửa hàng mua sắm. Du khách cũng có thể tham dự những buổi họp văn hóa, thăm viếng nhà thờ hay viện bảo tàng địa phương hoặc tham dự vào những buổi lễ hội.
Ý nổi tiếng với khu mua sắm sang trọng với các cửa hàng trang sức và cửa hàng thời trang nổi tiếng như La Bottega di Portofino, cửa hàng lưu niệm, phòng trưng bày nghệ thuật và cửa hàng đặc sản. Cửa hàng chuyên về các mặt hàng thủ công, đồ trang sức, đồ gốm và quần áo hay cửa hàng rượu vang và rượu mạnh của địa phương.
Bãi biển ở Portofino có những bãi biển đẹp nhất thế giới được bao quanh bởi cây xanh và những vách đá tuyệt đẹp, khiến chúng trở thành địa điểm hoàn hảo và lãng mạn. Bãi biển Spiaggia di Paraggi là một bãi biển cát trắng tuyệt đẹp với làn nước trong vắt và tầm nhìn tuyệt đẹp ra Biển Địa Trung Hải. Ngoài ra còn có một số bãi biển nhỏ hơn gần đó như San Fruttuoso, Camogli và Chiavari. Bãi biển San Fruttuoso, Paraggi và Santa Margherita Ligure là hai bãi biển tuyệt đẹp với làn nước trong vắt, nằm gần Portofino và là địa điểm nổi tiếng để bơi lội, tắm nắng và lặn với ống thở. Gần đó cũng có rất nhiều nhà hàng và quán bar, khiến nơi đây trở thành địa điểm tuyệt vời để thưởng thức đồ ăn hoặc đồ uống giải khát.
Marseille, France

Marseille là một thành phố cảng nằm ở vùng Provence của Pháp và đã tồn tại từ khi người Hy Lạp Phocaean xâm chiếm vào khoảng năm 600 Trước Công nguyên. Đây là thành phố lớn thứ hai ở Pháp và lớn nhất ở vùng Provence-Alpes-Côte d’Azur, đồng thời là thành phố đông dân nhất ở Pháp sau Paris. Thành phố này được biết đến với lịch sử, văn hóa, ẩm thực phong phú và là nơi có nhiều điểm du lịch đẹp và nổi tiếng.
Marseille có tất cả cảnh đẹp của vùng đất Địa Trung Hải bao gồm Cảng Cũ của Marseille, nhà thờ Đức Bà De la Garde và Công viên Quốc gia Calanques. Thành phố này còn nổi tiếng với cuộc sống về đêm với nhiều quán bar, câu lạc bộ và nhà hàng. Marseille cũng là nơi có nhiều viện bảo tàng lịch sử với các phòng trưng bày di vật của các nền văn hóa khác. Nổi tiếng với khí hậu dịu mát của vùng Địa Trung Hải, những bãi biển tuyệt đẹp và phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Marseille là một nơi tuyệt vời để học hỏi thêm về nền văn hóa, lịch sử và ẩm thực độc đáo của Pháp. Các hoạt động ngoài trời như đi bộ, đi xe đạp và chèo thuyền cũng rất phổ biến. Công viên Quốc gia Calanques gần đó là địa điểm không thể bỏ qua đối với những người yêu thiên nhiên.
Cảng Cũ của Marseille là địa điểm không thể bỏ qua đối với bất kỳ hành khách du lịch nào đến thăm thành phố này. Bến cảng đẹp và là bến đậu của rất nhiều thuyền, nhà hàng và cửa hàng mua sắm, du khách có thể đi dạo dọc theo bờ sông, ngắm cảnh bằng thuyền hay thuyền Kayak. Calanques là một loạt vách đá vôi bao quanh vịnh nhỏ tuyệt đẹp nằm ngoài khơi Marseille. Calanques cũng là nơi có nhiều bãi biển hẻo lánh, khiến chúng trở thành địa điểm tuyệt vời để bơi lội và tắm nắng.
Nhà thờ Đức Bà de la Garde xinh đẹp này nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhìn ra thành phố, bến cảng cũng như các khu vực xung quanh. Vương cung thánh đường de la Garde với lối kiến trúc phức tạp và cũng là nơi trưng bày một số hiện vật tôn giáo và tác phẩm nghệ thuật.
Ẩm thực Marseille nổi tiếng với nhiều nhà hàng và quán cà phê phục vụ các món ăn truyền thống của vùng Provence. Nhiều nhà hàng được trao giải Michelin, phục vụ một số món ăn Pháp ngon nhất trong nước và nổi tiếng với các món ăn hải sản. Mua sắm tại các khu chợ ở Cảng Marseille (Provence) có nhiều loại sản phẩm địa phương tươi sống hay mua gia vị và hàng thủ công.
La Vieille Charite, Les Terrasses du Port và Le Panier Le Panier là những trung tâm mua sắm xinh đẹp nằm ở trung tâm thành phố Marseille. Nó cung cấp nhiều loại quà lưu niệm, từ các mặt hàng truyền thống của vùng Provence đến nghệ thuật và đồ trang sức hiện đại. Trung tâm cũng có nhiều nhà hàng và quán cà phê, khiến nơi đây trở thành một nơi tuyệt vời để ghé thăm.
Bãi biển ở Marseille (Provence), Pháp là nơi quy tụ của một số bãi biển đẹp nhất Địa Trung Hải với cát trắng, nước trong vắt và tầm nhìn tuyệt đẹp ra Biển Địa Trung Hải. Các bãi biển nổi tiếng nhất gần cảng là Les Goudes, Calanque de Sormiou và Calanque de Morgiou. Les Goudes là một bãi biển nhỏ với làng chài đẹp như tranh vẽ, trong khi Calanque de Sormiou và Calanque de Morgiou đều là những vịnh nhỏ tuyệt đẹp với làn nước trong vắt và những vách đá. Bãi biển Carry-le-Rouet, Les Goudes và Calanque de Sugiton có rất nhiều nhà hàng, quán bar và nhiều hoạt động khác chẳng hạn như chèo thuyền kayak, lướt ván và chèo thuyền. Bãi biển còn nổi tiếng với những khối đá tuyệt đẹp, khiến nơi đây trở thành một địa điểm tuyệt vời để chụp ảnh.
Khánh Lan, 2024
-
ÂU CHÂU, TRĂM NĂM CỔ KÍNH

Từ lúc trẻ được biết đến Âu Châu chỉ qua sách vở, lòng tôi hằng mơ ước được đặt chân đến trời Âu. Thật là vui, một chuyến thăm Âu Châu đã đến với tôi và một nhóm bạn vào
tháng 7 năm 1997. Đó là chuyến Tour Du Lịch COSMO. Mười chín ngày với nhóm 45 người. Riêng nhóm bạn chúng tôi gồm sáu người cùng làm chung một department tại Cali.
Chuyện du lịch được khởi hành với chuyến bay từ Los Angeles đến London.
Theo lịch trình chúng tôi sẽ tham quan sáu nước gồm:
– London, Anh quốc
– Đi tàu qua Belgium,
– Đi xe bus 18 ngày
– Luxembourg 1 ngày
– Thụy Sĩ. 2 ngày, một đêm
– Ý Đại Lợi. 4 ngày 3 đêm
– Pháp
Chuyến đi xe lửa qua đường hầm đi qua 101 hầm đến đất Pháp. Chuyến đi qua nhiều nơi nên phải rất nhanh và luôn sẵn sàng di chuyển mỗi buổi sáng sớm, nên có được tên vui là Pyjama Tour. Ngay sau khi máy bay đáp xuống, trạm đầu tiện là London, chúng tôi book hotel, mang tên là ROYAL HOTEL, khách sạn này không đẹp lắm. Tha hồ được viếng thành phố đẹp, đầu tiên chúng tôi đi ngang qua London Bridge, thấy rõ London Tower sừng sững. Nơi đây có nhà tù nổi tiếng của Anh từ vài trăm năm trước.
London, Anh Quốc

Điện Buckingham
London có nhiều lâu đài cổ xưa. Nổi tiếng nhất là điện Buckingham. Thật thú vị được xem đoàn vệ binh cỡi ngựa hoàng gia, xem lính gác đổi phiên trước cửa điện Buckingham của Nữ Hoàng Elisabeth II. Chúng tôi tham quan các Chateaux, các nhà thờ nói tiếng của England, Westminster Abbey, và nhiều nhà thờ đẹp của Anh Giáo.

Trung Tâm Luân Đôn Chúng tôi đi dạo trong thành phố thấy xe bus hai tầng. Chúng tôi đi dạo và ăn trưa rất ngon với món ăn phổ biến là “fish and chip”. Dạo phố nơi đâu cũng thấy người dân ăn mặc lịch sự, dáng người cao và thon. Chỗ nào cũng thấy nhiều cửa hàng với bảng hiệu có chữ Royal.
Chỉ trên một đoạn đường thôi đã có tới hai tiệm mang tên Bistro of the King và The King of Bistro.
Di chuyển thông dụng nhất là xe bus hai tầng. Dòng sông nổi tiếng, với nhà gare mang tên Thames, luôn tấp nập.
Hôm sau chúng tôi ra bến cảng, đi tàu qua Pas de Calais vào đất liền của Âu Châu. Pas de Calais hay Chanel 5, là một eo biển nhỏ giữa UK và đất liền Âu Châu. CaLais mang chứng tích lich sử của những trận chiến lớn của Âu Châu và thế giới, trong đó có Thế Chiến thứ 2.
Nơi đây đã ghi lại chiến tich vĩ đại của quân đội Đồng Minh đã đổ bộ lên bờ biển Normandie ngày 6 tháng 6, 1944. Cuộc chiến thắng này đã giải phóng Paris khỏi sự xâm lăng của quân đội Đức Quốc Xã.
Belgium là một đất nước nhỏ, văn minh. Người dân sống mức trung bình, êm ấm. Lâu đài của Hoàng gia thật to rộng, uy nghiêm và trang trọng.
Đoàn xe của chúng tôi đi ngang qua Bruges. Bruges là một dòng sông nhỏ có nhiều chiếc du thuyền đẹp. Đây cũng được gọi là Venice của Belgium. Chúng tôi ngủ lại đêm tại Belgium.
Rời Belgium. Qua đến Luxembourg một vương quốc nhỏ, đẹp nhưng rất giàu. Đã qua nhiều triều đại, ít chiến tranh với nếp sống yên bình, giàu sang.
SWITZERLAND
Đoàn xe di chuyển qua Thụy Sĩ ghé lại thăm Geneve. Chúng tôi ngủ lại đêm trong một hotel nhỏ trên một ngọn đồi vắng, rất yên tĩnh. Sáng hôm sau chúng tôi đến viếng Lucerne trung tâm biển hồ gồm bốn hồ gần nhau. Chung quanh là những ngọn núi đẹp nổi tiếng, thu hút người trượt tuyết vào mùa đông. Đất nước thanh bình, nhà cửa xinh đẹp. Người dân được sống yên ấm trong đất nước được mệnh danh là hòa bình nhất thế giới. Từ sáng sớm mặt trời vừa lên đã được ăn điểm tâm nhẹ với cafe sữa và bánh mì fromage. Chúng tôi đi thăm những thắng cảnh nổi tiếng. Trong đó có chiếc cầu treo dài và đẹp nhất nước. Được đi thăm Lucerne và đi du thuyền trên hồ, hồ đẹp với những căn nhà nhỏ xinh đẹp chung quanh hồ của các nhà tỷ phú trên thế giới.

Hôm nay sẽ đi vào một đất nước mà tất cả moi người đều mong đợi. Xe đi trên quốc lộ hai bên là đồng cỏ hay là những canh đồng hoa. Âu Châu rất đẹp, và rất nhỏ, chúng tôi được di chuyển theo ba biên giới. Trong đó có biên giới lịch sử chiến tranh Alsace Loraine giữa Đức và Pháp. Chúng tôi đang đi đến Italy.
ITALY.
Đến ranh giới Italy chúng tôi thấy những cánh đồng hoa, nhiều nhất là hoa hướng dương. Bên cạnh những cảnh sống gần với nông trại. Chặng đường dẫn đến một thanh phố nhỏ yên tĩnh, nhưng đã thu hút khách du lich với một tháp nghiêng.
PISA

Đoàn xe dừng lại tại Pisa. Thật lạ thay, tôi được chiêm ngưỡng Leaning Tower. Một kỷ niệm là một tháp bi nghiêng khoảng 30 degree mà vẫn đứng vững mãi. Chụp hình kỷ niệm và mua quà kỷ niệm.
Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình, tuy mệt nhưng vui và đầy thú vị.
Rome.

Thật cảm động khi được nhìn lịch sử oai hùng của thời La Mã xưa. Một đấu trường đã sụp đổ nhưng vẫn còn được để nguyên để moi người được chiêm ngưỡng sự tồn tại của lịch sử oai hùng thời La Mã.
Xe chạy giữa thành phố, chúng ta đang sống trong hiện tại và thấy được “đấu trường – Coliseum” của thời cổ La Mã hơn 2.000 năm trước.
Florence

Florence là trung tâm văn hoá, đầy di tích xưa. Chúng ta được chiêm ngưỡng những bức tượng của Leonardo Da Vince. Được thăm viếng các di tích văn hóa. Căn nhà với balcon lịch sử chuyện tình Romeo – Juliette. Nhưng bức tượng nam khoả thân. Nổi tiếng nhất là bức tượng David của Michael Angelo.
Vatican

là một quốc gia nhỏ riêng biệt và độc lập. Là nơi Đức Giáo Hoàng ban hành Thánh Lễ. Bước vào Toà Thánh, nhìn kiến trúc thật đẹp ngoài tưởng tượng. Trần nhà thật ý nghĩa với các tượng hình của Michael Angelo, Leonardo Da Vince.
Xe bus của chúng tôi đi đến Venice là một địa thế ở bờ biển phía bên khác.
Venice

Trên thuyền Gondola
Thành phố nổi trên cửa biển, đang bị xụp xuống dần gần mặt nước biển. Nhưng mức nước biển ngày càng cao hơn trước. Được thuê thuyền nhỏ Gondola, chèo tay, ngắm thành phố floating cảm giác thật thú vị. Nhưng, khi nhìn nước thấy vùng vịnh biển nước đen quá không sạch mà thấy mất cảm hứng. Đi thuyền giữa những tiệm buôn. Thú vị nhất là ghé vào xem nơi “thổi ve chai” với những sản phẩm đắt tiền viền vàng.
Chúng tôi ở lại đây ba ngày. Ngủ lại Italie ba đêm, sáng hôm sau về Pháp, băng đường xe lửa xuyên qua núi giữa hai biên giới. Một chuyến đi xe lửa thú vị.
MONACO

Trên bờ biển Monaco, Xe xuyên qua 101 hầm về Pháp
Chúng tôi ghé Monaco, một quốc gia nhỏ, độc lập. Trong thành phố được xem lâu đài trang trọng. Các đường đi lót gạch đỏ, sạch sẽ. Được viếng thăm Monte Carlo, một sòng bài nổi tiếng của Âu Châu. Vương quốc Monaco với những đường núi cao vòng vo bên biển đẹp. Nơi đây chúng tôi dừng lại ăn tối và đi viếng cảnh đẹp, với chiếc du thuyền lịch sử của Prince tặng hoàng hậu Grace Kelly khi đám cưới.
PHÁP
Lyon

Một thành phố yên tĩnh với sân bay xưa, với nhà gare mang tên Lyon mà nhà thơ Cung Trầm Tưởng đã viết.
“Lên xe tiễn em đi – Gare Lyon đèn vàng…
Đến đây tình cờ chúng tôi gặp được cuộc diễn binh Ngày Quốc Khánh Pháp 14 Juillet. Chúng tôi phải dừng lại hơn một tiếng để xem diễn binh. Rồi sau đó tiếp tục di chuyển về đến Paris.
Paris,
Trước khi đến Paris, chúng tôi dùng dinner tại restaurant Bạch Mã “White Horse / Cheval Blanc” và ngủ đêm tại Paris. Chặng đường dài đầy quyến rũ nhưng Paris vẫn là niềm hãnh diện của nước Pháp cho đến hôm nay.
– Tuy nhiên câu nói của người Pháp- “Voir Paris et Mourrir”. Có thể sẽ bị phai mờ vì phương tiện du lịch trên toàn cầu đã đưa hàng triệu người đến viếng Paris mỗi năm.
Vào đến trung tâm phải đi ngang đại lộ huy hoàng nhất, Champs Elysees. Con đường này dẫn đến cung điện Elysees, là nơi cư ngụ và làm việc của tổng thống Pháp. Cũng là nơi tiếp đón các nguyên thủ quốc gia trên khắp thế giới.
Arc de Triomphe

Khải Hoàn Môn được làm để chào đón Đại đế Napoleon thắng trận trở về nước. Trung Tâm Paris, Khải Hoàn Môn mở ra năm ngã đường lớn nhất Paris.
Eiffel Tower.

Chúng tôi mua vé lên xem kính viễn vọng thấy toàn cảnh Paris theo giòng sông Seine uốn khúc. Rất nhiều tỉnh và thành phố được mang tên ghép với sông Seine, ví dụ Neuilly Sur Seine.
Thủ đô Paris hình tròn, với một hệ thống đường hầm rất tiện việc di chuyển hàng ngày cho người dân sinh sống và cho khách du lịch đến từ các nước trên thế giới. Đường hầm Metro coi như là một phương tiện chung cho người
dân Pháp đến làm việc tại Paris. Phương tiện chung của Parisiens và của khách du lịch đến từ các nơi trên thế giới.
Kế đến chúng tôi đi ngang qua đại lộ Opera, với một nhà hát OPERA nổi tiếng, đi qua vườn cây Tuleries, cảnh đẹp.
Louvre
Paris là nơi có rất nhiều viện bảo tàng, vì nước Pháp yêu chuộng văn hóa. Paris là biểu tượng của văn hóa và nghệ thuật của cả thế giới. Từ xa chúng tôi đã thấy khuôn viên Louvre. Trước mặt Louvre là một kim tự tháp. Du khách trước khi vào xem, phải đi qua đường hầm. Hầu như tất cả công trình văn minh của thế giới được gom lại và tàng trữ nơi đây. Từ thời cổ đại Hy lạp, qua thời Phục Hưng, Baroque, rồi đến Hiện Đại đều hiện diện trong viện bảo tàng cổ kính này.
Cung Điện Versailles

Cung điện huy hoàng, của Hòang Gia xưa, qua nhiều đời vua thăng trầm trên 2.000 năm lịch sử. Trước cổng chính, ta nhìn thấy nhiều building to lớn, oai nghiêm với những cánh cổng mạ vàng. Bên trong với những bức hình nổi tiếng của các vị vua qua nhiều triều đại vàng son, chen lẫn với triều vua đau khổ. Tranh của Vua Louis 16, và hoàng hậu Marie Antoinette. Vua và hoàng hậu này bị chém đầu trong cuộc Cách Mạng Pháp 1789.
Đi thăm viếng Cung điện Versailles. Một hoàng cung hùng vĩ với cả chục toà buildings to lớn. Bên trong cung điện trang hoàng với hàng trăm chandeliers của thời vua xưa. Nét đẹp sáng láng. Trên tường những phòng rộng lớn với hàng trăm bức chân dung các vị vua và di tích lich sử tràn ngập. Hàng trăm năm đã trải qua nhưng kỳ tích vẫn còn ở lại Cung điện Versailles mãi mãi.
Vườn hoa Versailles
Phía sau Điện Versailles là Vườn Thượng Uyển của các Vị Vua xưa. Hồ nước phun, vườn cây cắt xén ngắn, gon và rất đẹp. Có một hồ nuôi rùa, có cả trăm con rùa nhỏ. Được biết là rùa nay đã được nuôi dưỡng liên tiếp sinh nở từ vài trăm năm qua. Lâu đài tráng lệ thì vẫn còn đây, nhưng nhiều thăng trầm của các triều vua đã qua.
Lê Nguyễn Nga 2012
-
Tu viện Benedictine và Vương Cung Thánh Đường Montserrat, Barcelona, Spain

Từ Barcelona, sau 90 phút lái xe qua con đường uốn quanh núi mang đến tầm nhìn tuyệt đẹp ra khắp thung lũng, cũng như vùng nông thôn đẹp như tranh vẽ và những ngôi làng nhỏ rải rác trên đồi thì đến ngọn núi Montserrat cao 4.051 feet. Quảng trường của Vương cung thánh đường Hoàng gia Montserrat xây trên vị trí bên vách đá, kiến trúc theo phong cách tân La Mã và là một kỳ quan tuyệt đẹp, một tác phẩm điêu khắc theo phong cách La Mã nổi tiếng thế kỷ 12 của Virgen Moreneta.
Montserrat là ngọn núi lởm chởm như răng cưa của Montserrat và Tu viện Benedictine. Tu viện Benedictine và Vương Cung Thánh Đường Montserrat đã từ lâu được Tây Ban Nha coi là bảo vật quốc gia, là khu bảo tồn về văn hóa và tôn giáo uy nghi này nằm cách thành phố Barcelona chừng 50 cây số về hướng đông-bắc. Giữa sơn thủy Địa Trung Hải du khách có dịp tản bộ qua hàng ngàn bậc thang và những con đường mòn để hướng về tu viện Benedictine, Montserrat. Nơi đây không chỉ đặc biệt nhờ vẻ kiến trúc, địa thế sơn thủy, mà còn bởi các huyền thoại với bức tượng linh thiêng Đức mẹ đồng trinh Black Madonna.
Lịch sử Tu viện bắt đầu vào năm 880 có một nhóm trẻ chăn cừu nhìn thấy luồng ánh sáng từ bầu trời ở vùng núi Montserrat. Và cùng lúc đó, các em bé chăn cừu đã nghe được tiếng hát của các thiên thần và những giai điệu trong các bản nhạc khiến các em được đón nhận với một niềm vui rạng rỡ. Một tháng sau đó, cha mẹ của các em cũng tận mắt chứng kiến những “phép lạ” tại đây. Các vị trưởng lão tôn giáo cũng đã chứng kiến hình ảnh của Đức Trinh Nữ Maria trong hang động nơi phát đi những ánh sáng kỳ lạ đó. Kể từ đó khu hang động này đã trở thành một nơi tôn nghiêm thánh thiện cho người dân bản xứ và khách hành hương đến thăm viếng và cầu nguyện.
Nói về lòng sùng kính Đức Mẹ Montserrat đã có từ xa xưa. Đó là vào thế kỷ thứ VII, khi vó ngựa của người Ả-rập chiếm đóng Tây Ban Nha. Bức tượng Đức Mẹ Black Madonna đã được cất giấu trong khi đội quân Hồi Giáo Ả-rập tấn công, và mãi cho đến thế kỷ thứ 9 thì người ta mới tìm lại đước bức tượng Đức Mẹ Black Madonna.

Statue of Black Madonna, Montserrat
Vào năm 1025, Đức Giám Mục cai quản địa phận Barcelona đã chính thức cho thành lập tu viện Montserrat. Trong hai thế kỷ 12 và 13, một Vương Cung Thánh Đường Santa Maria Basilica đã được xây cất tại Montserrat. Trong thời gian này du khách bắt đầu hành hương đến tu viện Montserrat mỗi ngày một đông. Một sự kiện lạ lùng xảy ra vào năm 1493, các tu sĩ của tu viện Montserrat đã tham gia cùng nhà thám hiểm Christopher Columbus đi chinh phục Mỹ Châu lần thứ hai và một trong những hòn đảo của khu vực Trung Mỹ được đặt theo tên Montserrat. Đảo Montserrat Trung Mỹ hiện nay là xứ tự trị thuộc Anh Quốc, tọa lạc trong quần đảo Leeward, thuộc vùng biển Caribbean.
Vương Cung Thánh Đường Santa Maria ở Montserrat với lối kiến trúc theo trường phái Gothic pha trộn với nét nghệ thuật kiến trúc Tây Ban Nha. Ngay trước tiền sảnh Vương Cung Thánh Đường là một khoảng sân có mái che 5 vòm. Trung tâm thánh đường luôn làm mê hoặc du khách với những bức tường đá cẩm thạch màu đen và màu trắng, như với Thánh đường Rome do danh họa Michelangelo thiết kế. Xung quanh nhà thờ, du khách bị cuốn hút bởi nhiều nếp trang trí công phu. Đây là một phong cách trang trí thắp sáng của Tây Ban Nha có từ sau cuộc nội chiến Tây Ban Nha năm 1811-1812. Những cột trụ trung tâm ở gian giữa là những tác phẩm điêu khắc của các nghệ sĩ bậc thầy như: Ezekial, Jerome, Isiah và Daniel.
Tác phẩm điêu khắc bằng gỗ Tượng Đức Mẹ Đồng Trinh Maria Màu Đen (The Black Madonna) nằm ở phía sau của nhà thờ. Theo truyền thuyết, khi khởi công xây Tu viện này, các thày tu dòng Benedictine có ý định di dời bức tượng Đức Mẹ đi một nơi khác để xây tu viện, nhưng khi bắt đầu đưa bức tượng Đức Mẹ đi thì trời đổ mưa, giông bão nổi lên và bức tượng Đức Mẹ Balck Madonna nặng tới độ không thể di dời được, và đó cũng chính là ý của Đức Mẹ nên mọi người quyết định không chuyển bức tượng Đức Mẹ đi nơi khác nữa mà đặt nguyên tại đó rồi xây tu viện. Và đó cũng chính là lý do mà Bệ Thánh và Cung Thánh của Tu viện lui về phía sau của Tu viện.

Santa Maria Basilica, Montserrat
Nói về bệ thánh hay bệ thờ Đức Mẹ, bức tượng được đóng khung trong một ô cửa sổ được trang trí tuyệt đẹp, và du khách có thể diện kiến Đức Mẹ ở mọi nơi, kể cả lúc ngồi nghỉ mệt trên băng ghế dài của nhà thờ. Ở hai bên tượng của Đức Mẹ có chín cái đèn bằng bạc, đại diện cho 8 Giáo phận của Catalunya và Montserrat. Tượng Đức Mẹ ở tu viện Montserrat có màu đen với tên gọi là The Black Madonna được giải thích theo các tu sĩ tại đây, thì màu đen đó không phải là màu da của phụ nữ Phi Châu mà là màu tối của gỗ theo thời gian. Cũng vì sắc đen của khuôn mặt Đức Mẹ nên người dân địa phương đã có biệt danh cho Đức Mẹ là La Moreneta (người phụ nữ da đen nhỏ).

Abbey of Montserrat
Vào năm 1844, Đức Giáo Hoàng Leo XIII trong lời rao giảng tin mừng đã nói “tượng Đức Mẹ Đồng Trinh Maria Màu Đen tại Montserrat là một trong những bức tượng Đức Mẹ nổi tiếng nhất thế giới”! Cố Đức Giáo Hoàng Joan-Phaolo đệ nhị, vào năm 1982 sau khi Ngài qua khỏi sau vụ ám sát năm 1981 đã tới đây để tạ ơn và dâng kính Đức Mẹ trước hồng ân “phép lạ” mà Ngài đã lãnh nhận từ Đức Mẹ.
Tượng Montserrat đã thu hút rất nhiều người đến vùng núi này. Vương cung thánh đường Hoàng gia là một trong những địa điểm hành hương quan trọng nhất ở Tây Ban Nha trong hàng trăm năm. Hầu hết các ngày trong tuần, ca đoàn thiếu nhi hát trong tu viện vào giữa trưa. Nơi đây có một bảo tàng, nhà hàng và cửa hàng.
Khánh Lan ghi lại di tích tu viện Benedictine và Vương Cung Thánh Đường Montserrat qua bài viết của tác giả Diễm Thi
-
DÒNG NHẠC CHICANO HAY NHẠC LATIN POP
Nhạc pop Latin (tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha: Pop latino) là một nhánh nhạc pop là sự kết hợp giữa sản xuất âm nhạc theo phong cách Hoa Kỳ với các thể loại nhạc Latin từ mọi nơi ở Châu Mỹ Latinh và Tây Ban Nha. Bắt nguồn từ các nhạc sĩ nói tiếng Tây Ban Nha, [Nhạc pop Latinh cũng có thể được tạo ra bởi các nhạc sĩ bằng tiếng Bồ Đào Nha (chủ yếu bằng tiếng Bồ Đào Nha Brazil) và các ngôn ngữ Creole Lãng mạn khác nhau. Nhạc pop Latin thường kết hợp nhạc Latin sôi động với nhạc pop Mỹ. Nhạc pop Latin thường gắn liền với nhạc pop, rock và dance nói tiếng Tây Ban Nha.
Lịch sử
Nhạc pop Latin là một trong những thể loại nhạc Latin phổ biến nhất hiện nay. Tuy nhiên, trước sự xuất hiện của các nghệ sĩ như Alejandro Sanz, Thalía, Luis Miguel, Selena, Paulina Rubio, Shakira, Carlos Vives, Ricky Martin, Gloria Trevi và Enrique Iglesias, nhạc pop Latin lần đầu tiên đến với khán giả toàn cầu thông qua tác phẩm của thủ lĩnh ban nhạc Sergio Mendes vào năm vào giữa những năm 1960,[5] mặc dù các nghệ sĩ như Carmen Miranda đã phổ biến nhạc samba Latin ở Hollywood nhiều thập kỷ trước đó. Trong những thập kỷ sau đó, nó được định nghĩa bởi những bản ballad lãng mạn mà các nghệ sĩ huyền thoại như Julio Iglesias hay Roberto Carlos sản xuất vào những năm 1970.
Linda Ronstadt – Blue Bayouhttps://www.youtube.com/watch?v=_qqvdOwoN-Y
Ảnh hưởng và sự phát triển
Ricky Martin là một ca sĩ quốc tế người Puerto Rico. Ông được coi là Vua nhạc Pop Latin.
Nhạc pop Latin đã trở thành hình thức âm nhạc Latin phổ biến nhất ở Hoa Kỳ trong những năm 1980 và 1990, với các nghệ sĩ như nhóm nhạc nam Puerto Rico Menudo, thậm chí còn đạt được thành công vang dội đối với những người nghe không phải người Latinh vào cuối những năm 1990. Mặc dù không bị giới hạn ở Mỹ dưới bất kỳ hình thức nào, nhạc pop Latin bị ảnh hưởng sâu sắc bởi kỹ thuật sản xuất và các phong cách âm nhạc khác – cả tiếng Latin và các phong cách khác – có nguồn gốc chủ yếu ở Hoa Kỳ. Âm nhạc Tejano, tập trung ở Texas và khu vực biên giới Hoa Kỳ/Mexico, đã bắt đầu giới thiệu các bộ tổng hợp, sản xuất mượt mà và khả năng cảm nhận thành thị hơn đối với các phong cách gốc trước đây như norteño và liên hợp.
NEW * You’re No Good – Linda Ronstadt {Stereo} 1974https://www.youtube.com/watch?v=XxgwjC3Rxi4
Thalía là ca sĩ người Mexico được mệnh danh là “Nữ hoàng nhạc Pop Latin”.
Hơn nữa, New York và Miami là nơi có các câu lạc bộ Latinh phát triển mạnh, trong những năm 1980 đã dẫn đến sự nổi lên của phong cách tự do Latinh, một loại nhạc khiêu vũ hướng đến câu lạc bộ bắt nguồn từ nhịp điệu Latinh nhưng lại dựa vào bộ tổng hợp và máy đánh trống trong hầu hết các cách sắp xếp của nó. . Cả hai âm thanh này đều ảnh hưởng đến sự trỗi dậy của nhạc pop Latin, loại nhạc vẫn giữ nhịp điệu Latin ở những con số có tiết tấu nhanh nhưng dựa nhiều hơn vào nhạc pop chính thống vì cảm giác du dương của nó.
Ngôi sao lớn đầu tiên của nhạc pop Latin là Gloria Estefan, người đã ghi liên tiếp các bản hit dance-pop không dành cho câu lạc bộ trong suốt từ giữa đến cuối những năm 1980, nhưng cuối cùng được biết đến nhiều hơn với tư cách là một diva đương đại trưởng thành với niềm đam mê với những bản ballad sâu rộng. Sự pha trộn giữa dance-pop Latin hóa và ballade đương đại dành cho người lớn đã thống trị nhạc pop Latin trong suốt những năm 1990. Hầu hết các nghệ sĩ của họ hát bằng tiếng Tây Ban Nha cho khán giả Latinh, mặc dù sự giống nhau của nhạc pop Latinh với dòng nhạc chính thống đã giúp một số nghệ sĩ biểu diễn đạt được nhiều bản hit khi họ chọn thu âm bằng tiếng Anh. Jon Secada đã đạt được một số bản hit nhạc pop vào giữa những năm 1990, và album Dreaming of You của ngôi sao nhạc pop Tejano Selena thực sự đã ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng album khi phát hành năm 1995.
Cuối những năm 90 và đầu những năm 2000 chứng kiến các nghệ sĩ Latin như Ricky Martin, Enrique Iglesias, Shakira, Jennifer Lopez và chồng cũ Marc Anthony, Paulina Rubio, Jade Esteban Estrada, Thalía, cùng những người khác, đạt được thành công chung. Các nghệ sĩ nhạc pop truyền thống khác cũng lấn sân sang nhạc pop Latin hoặc đạt được thành công khi thử nghiệm âm thanh, chẳng hạn như Debelah Morgan và 98 Degrees, hoặc thu âm phiên bản tiếng Tây Ban Nha của các bài hát hoặc album của họ, chẳng hạn như Christina Aguilera và Jessica Simpson, cùng một số nghệ sĩ khác. ..
Sự trỗi dậy của nhạc Pop Latin
Nhạc Pop Latin là thể loại con cần thiết của Nhạc Pop mang đến hương vị và nhịp điệu cho một thể loại đôi khi có thể tổng hợp quá mức các giai điệu và thiếu tính đa dạng trong âm nhạc. Lịch sử của phong cách âm nhạc này có thể được phân loại thành một thể loại phụ kết hợp nhạc Pop cổ điển với nguồn gốc Mỹ Latinh và Caribe.
Nó thường được liên kết với các quốc gia như ‘Mexico, Colombia, Brazil, Cuba, Puerto Rico và Argentina’1. Có thể khó xác định được thể loại phụ này sẽ tiếp quản nền âm nhạc Mỹ nhưng một khi đã đến – nó sẽ tồn tại ở đây. Nhịp điệu cao của nhạc Pop kết hợp tốt với các yếu tố nhịp nhàng thường thấy trong âm nhạc có nguồn gốc từ Châu Mỹ Latinh và có thể cho phép các bài hát duy trì nhịp điệu cơ bản ổn định mà không trở nên quá lặp lại. Một số người có thể coi các nghệ sĩ như Ricky Martin và Enrique Iglesias là những người đi đầu cho sự nổi lên của Nhạc Pop Latin trong thế giới phương Tây, mặc dù mặc dù họ là những người đóng góp chính nhưng chúng ta có thể sớm đi sâu vào các cuốn sách lịch sử âm nhạc.
Nhạc Pop Latin bắt đầu như thế nào:
Nghệ sĩ đa tài đầy nhiệt năng, Gloria Estefan, có thể được coi là người đẵ lót đường cho những tên tuổi lớn của nhạc Pop Latin, như Jennifer Lopez và Luis Fontes, đi theo. Ca sĩ/nhạc sĩ người Mỹ gốc Cuba bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là ca sĩ chính của ‘Miami Sound Mârachi, nhiều ca nhạc trẻ vươn lên vờin nhạc latin pọp Nhìn về Việt Nam, thì dõng nhạc Việt Pop, đã nảy sinh do ban nhạc Hải Âu, rồi Ban Nhạc Phượng Hoàngvo71i những thành viên những người trụ cột (đã mất): Lê Hựu Hà (đầu hàng, trái qua) và Nguyễn Trung Cang xem hình kèm từ thứ hai, phải qua), sau này có thêm Đức Huy, Trịnh Nam Sơn, Phạm Vĩnh,…

Kỷ niệm nhạc Rock Việt Nam và Phượng Hoàng – Việt Hải Los AngelesKỷ niệm nhạc Rock Việt Nam và Phượng Hoàng – Việt Hải
Ban Nhạc Phượng Hoàng
(Những người trụ cột (đã mất): Lê Hựu Hà (đầu hàng,
trái qua) và Nguyễn Trung Cang (thứ hai, phải qua)Thế hệ chúng tôi lớn lên trong các thập niên 60s và 70s khi mà ảnh hưởng người Pháp bắt đầu nhường chỗ cho người Mỹ bước vào Nam Việt Nam. Trong sự chuyển tiếp như vậy nhạc Pháp và nhạc Anh Mỹ đã góp mặt vào sở thích nghe nhạc của người dân trong xứ là lẽ đương nhiên. Âm nhạc là ngôn ngữ quốc tế, bỏ ra phần lời vì ngôn ngữ thì nếu thính giả cảm nhận được cái hay của nó, nên có sự thông cảm.
Tôi có anh bạn mê nhạc pop/rock, anh thích nghe nhạc của Beatles, Rolling Stones, Elvis Presley, Birds, Yardbirds, Monkees, Santana, Neil Diamond, CCR,… ngặt một nỗi ông ngoại của anh Giang là mẫu người mô phạm nho giáo. Cụ mang quan điểm siêu thủ cựu, super-conservative, cụ đả phá quan niệm tóc dài, âm nhạc lắc lư cơ thể, nhúng nhẩy như con “múa rối”, tiếng đàn trống in ỏi,… khiến cụ rất khó chịu, cụ chê trách là nhạc vong bản, chả ra thể thống gì cả. Ở chung nhà với ông cụ vốn bảo thủ, nên bạn tôi phải vác đàn ghi-ta điện sang nhà bạn bè dợt nhạc. Chúng ta có thể hiểu ở buổi giao thời giữa các nền văn hóa va chạm nhau, khi mà văn hóa Việt, văn hóa nho giáo gặp gỡ văn hóa Gaulois, văn hóa Anglo-Saxon, khó lòng lắm khi mà quý ngài Khổng Mạnh cho ngồi cùng chiếu với quý ngài yé yé như Johnny Halliday, Elvis Presley, George Harrison, John Lennon, Paul McCartney, Mick Jagger,… sẽ hỏng bét.
Với tuổi trẻ chúng tôi nó như là một làn gió mát, những dòng nhạc xao xuyến tâm hồn khi tôi nghe thanh âm của Never my love, Rhythm of the rain, The sound of silence, Deborah, Oh Carol, It’s now or never,… Tôi học Anh văn tại Hội Việt Mỹ, bà giáo dạy tôi gốc từ Louisville, Kentucky, rất yêu âm nhạc, bà đàn ghi-ta rất giỏi, bà đàn những bài như Ghé bến Sài Gòn, Nắng chiều, Diễm xưa, Lệ đá, Tôi muốn,… đưa midi music sheets bà đàn nhuyễn nhừ như cháo, bà bảo bà cảm nhận và rung động với dòng nhạc Việt, nhạc hay lắm. Giờ đây cụ ngoại của anh Giang chắc không còn nữa, tôi nhớ những lời xưa gắt gỏng mà cụ nói, nhưng nếu có sự ái mộ bà giáo Judy cảm nhận nhạc mình, đàn nhạc mình tuyệt vời có lẽ cụ ngoại sẽ vui thích và dễ dãi hơn với con cháu. Cháu cụ đàn nhạc xứ người, bà Judy đàn lại nhạc mình, thế là một đều, huề tiền rồi.
Bây giờ thì xét xem phong trào nhạc pop/rock du nhập vào Việt Nam ra sao, như thế nào nhé. Khi quân đội đồng minh Hoa Kỳ viễn chinh tham chiến tại Việt Nam, các club nhạc mở ra để cho họ có nguồn giải trí. Thời bấy giờ ở Sài Gòn, tầng lớp học sinh sinh viên ảnh hưởng văn hóa Pháp tiếp tục nghe nhạc Pháp như là hiện tượng để chống trả lại sự thâm nhập văn hóa Mỹ đang ngày càng bành trướng. Nhưng dần dần những người chơi nhạc nhận ra nét độc đáo của nhạc pop/rock của Anh và Mỹ. Và rồi từ thủ dô Sài Gòn đến các thành phố lớn Đà Nẵng, Qui Nhơn, Biên Hòa, Vũng Tàu, Cần Thơ cùng nhiều nơi khác chấp nhận loại nhạc rock dù nguyên gốc hay được Việt hóa trong đời sống văn hóa của lớp người trẻ thời bấy giờ.
Những ban nhạc góp mặt như Fanatiques, Blue Stars, Spotlights, Pénitents, Vampires/Rocking Stars, Uptight, Hammers, Enterprise, Hard Stones, CBC, Crazy Dogs, Magic Stones, Dreamers, Peanut Company, Apple Three, Cat Trio, Strawberry Four,… Thời kỳ này các ban nhạc thường cộng tác ở các câu lạc bộ dành cho quân nhân Hoa Kỳ.
Bài viết này chú trọng vào sự góp mặt đặc biệt của ban nhạc Phượng Hoàng, mà sự xuất hiện của nó tạo nên sắc thái nhạc rock Việt thật độc đáo, air nhạc mang làn hơi hướm rock Tây phương, nhưng do những nhạc sĩ người Việt viết nhạc. Tiền thân của Phượng Hoàng là ban nhạc Hải Âu. Phượng Hoàng được thành lập năm 1963 với 2 thành viên chủ yếu là hai nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà. Ngày Hồ Trầm Tuấn Phương, trưởng ban văn nghệ trường đại học Kinh Thương Minh Đức mời nhạc sĩ Lê Hựu Hà vào giúp vui cho buổi liên hoan văn nghệ Giáng sinh của trường, tôi chứng kiến anh Lê Hựu Hà trình bày hai nhạc phẩm Yêu em, Tôi muốn. Tôi vốn mê 2 bài này. Bài Yêu em trong phần điệp khúc anh Hà thổi đệm harmonica thật réo rắt, lả lướt. Tác phẩm gợi cảm qua nhịp điệu slow rock, tiết tấu quyện vào lời tỉ tê, ý lãng mạn vô song khi yêu là yêu thôi. Tuổi vừa biết yêu tí ti, khi tôi nghe nhạc yêu em bất cần đời, yêu em cũng bất cần trời thì hồn phải phê rồi chứ còn gì nữa. Tôi có kỷ niệm nhiều với bài hát khi cô bạn tôi ngồi bên cạnh hỏi tôi nghĩ sao về “Yêu em”. Giời ơi bài ca có chủ âm D major yêu em tình tứ, yêu em chậm buồn thướt tha như vậy mà còn hỏi. Ông nhạc sĩ đã nói rõ ràng cho ta, mà người ta vẫn chưa hiểu nữa, khổ đời, khổ chưa giời ơi có thấu?
“Yêu em vì ta ghét buồn, yêu em vì ta ghét hờn
Yêu em vì ta khinh khi dối gian.
Yêu em vì ta chán người, yêu em vì ta chán đời
Yêu em vì ta không tin ở trờị
Ta không thèm mái tóc huyền, ta không thèm đôi mắt đẹp
Ta không màng lời khen chê thế gian.
Ta không cần ai hiểu mình, khi ta ngợi ca ái tình
Khi ta dìu em đi trong ý thơ
Em ơi, anh muốn nói rằng, sao em còn mãi hững hờ.
Khi anh trọn lòng yêu em thiết tha
Xin em đừng luôn dối lòng, khi tim làm đôi má hồng.
Cho ta được gần nhau trong giấc mộng.”
Người nhạc sĩ sáng tác có thể tạo sắc thái riêng biệt cho dòng nhạc mình, và do sự rung động từ tâm thức nói lên ý nghĩ sâu kín nhất của mình ra với thế gian, dù là những ý tưởng chuyên chở nội dung hiện sinh, tác giả kêu gọi thế giới hãy yêu thương nhau khi “Tôi muốn” hay nói với người thương khi “Yêu em” bằng những ý tưởng chán chường, yếm thế. Những nhạc phẩm khác của anh như: Hãy ngước mặt nhìn đời, Hãy nhìn xuống chân, Hãy vui lên bạn ơi, Huyền thoại người con gái, Lời người điên, Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào, Yêu người và yêu đời,… Anh sáng tác khoảng 50 bài. Điểm quý báu là anh chủ trương Việt Nam mình có nhạc rock riêng. Thật vậy, âm thanh của Phượng Hoàng đã vang dội, đã bay bỗng tuyệt diệu với những: Tôi muốn, Yêu em, Yêu người và yêu đời, Thương nhau ngày mưa, Phiên khúc mùa đông, Còn yêu em mãi,…
Sau đây tôi xin chôm “nguyên con” bài viết chi tiết hơn về nhạc sĩ Lê Hựu Hà (1946-2003) từ website của nhạc sĩ Trần Quang Hải:
“Nhạc sĩ Lê Hựu Hà – tác giả của một loạt ca khúc: Vào hạ, Hãy yêu như chưa yêu lần nào, Yêu em, Hãy vui lên bạn ơi… đột ngột ra đi vào lúc 8 giờ ngày 11/5/2003 tại căn nhà của mình nằm trong hẻm 98 Hồ Hảo Hớn, Q.1, Sài Gòn.
Nhạc sĩ Lê Hựu Hà sinh tại Sài Gòn ngày 5 tháng 6 năm 1946, được nhiều nhạc sĩ đi trước đánh giá là một trong những người Việt hoá nhạc trẻ Âu Mỹ đầu tiên. Anh bắt đầu hoạt động âm nhạc có thể tính từ năm 1965 với ban nhạc Hải Âu tại Đại hội nhạc trẻ ở trường Taberd. Đến đầu thập niên 1970 anh nổi lên cùng với ban nhạc Phượng Hoàng. Các ca khúc do anh sáng tác được phổ biến lúc này là: Tôi muốn, Lời người điên, Hãy nhìn xuống chân…
Sau khi Phượng Hoàng tan rã, anh thành lập ban Mây Trắng và tung ra ca khúc mới như: Hãy ngước mặt nhìn đời, Đôi khi ta muốn khóc. Sau năm 1975, ban Hy Vọng (gồm Mạnh Tuấn, Huỳnh Hiệp, Bảo Chân, Lý Được, Minh Hải, Quốc Dũng và các ca sĩ Sĩ Thanh, Tuyết Loan, Trang Kim Yến) của Lê Hựu Hà là lực lượng hùng hậu nhất so với các ban nhạc đương thời. Phiêu Bồng là địa chỉ cuối cùng của Lê Hựu Hà hoạt động dưới hình thức ban nhạc.
Không chỉ sáng tác các ca khúc có giai điệu, tiết tấu hiện đại của nhạc trẻ Phương Tây, nhạc sĩ Lê Hựu Hà còn là một trong những nhạc sĩ khá chuyên tâm trong việc dịch chuyển, biên soạn lời Việt cho các ca khúc quốc tế, anh đã viết lời Việt khoảng gần 100 ca khúc, nổi tiếng có bản: Đồng xanh, Những lời dối gian, Ngày hôm qua, Không có em…
Một Chốn Riêng Của Lê Hựu Hà
Ở Sài Gòn, vào năm 1958, những cuộc trò chuyện về âm nhạc say mê đến hàng giờ của ba gã học sinh Trường Kỳ, Nam Lộc và Lê Hựu Hà có thể coi là trang mở đầu của cuốn lịch sử pop – rock Việt Nam về sau này.
Tại sao có một loại nhạc mà tiết điệu của nó lại trẻ trung đến thế? Tại sao nó có những lối trình bày ca khúc lại phóng khoáng và tự do đến thế? Tại sao âm nhạc Việt Nam cứ mãi bám với lối hát, với ca khúc chậm rãi và đều đều như vậy? Tạo sao…? Những câu hỏi như thế cứ vây quanh cậu học sinh Lê Hựu Hà nhưng dường như không có ai có thể trả lời vào lúc ấy. Hơn bao giờ hết, những câu chuyện về Paul Anka với album Diana hay Brenda Lee với Sweet nothing, I’m in mood for love… đã bán được một triệu đĩa ở tuổi 15 đã theo vào giấc mộng của Lê Hựu Hà hằng đêm. Âm thầm từ đó, những ca khúc nhạc trẻ đầu tay của Hựu Hà đã ra đời vào năm 17 tuổi. Nhưng dĩ nhiên, anh chỉ dám hát riêng cho mình cho đến khi lập ban nhạc sinh viên mang tên Hải Âu, thì một vài ca khúc ấy mới được thể nghiệm với dàn nhạc điện tử. Đây cũng là một ban nhạc trẻ có khuynh hướng Việt hóa pop – rock (lúc đó còn đang học lớp 11), sau này cũng đã trở thành một trong những ca sĩ rất nổi tiếng của Việt Nam – đó là Thanh Lan.
Mãi cho đến năm 1966, ban Hải Âu của Lê Hựu Hà mới có dịp trình làng với công chúng trẻ qua đại nhạc hội học sinh – sinh viên ở trường Taberd. Tuy không gây tiếng vang như các ban Les Fanatiques của Công Thành, Spotlights của Tuấn Ngọc, Les Vampires của Đức Huy… nhưng Lê Hựu Hà đã làm giới trẻ Sài Gòn lúc đó bất ngờ về một khái niệm còn rất mới: người Việt vẫn có thể tạo ra cho một lối chơi pop – rock của riêng mình. Năm 1970, Lê Hựu Hà lập ban Phượng Hoàng cũng với phong cách đó, mà lúc bắt đầu được mọi người hào hứng đón nhận. Phong cách này như được chắp cánh với sự tham gia của Nguyễn Trung Cang và Elvis Phương.
Sau năm 1975, nhạc sĩ Lê Hựu Hà tiếp tục niềm say mê của mình, tuy có chựng lại ít nhiều. Các tác phẩm của anh vẫn thầm lặng ra đời. Và dù thời gian đã đi qua suốt các chặng đường nhiều đổi thay của nhạc trẻ với rock’n ‘roll rồi swingin pop… cho đến heavy rock, grunge…, nhạc sĩ Lê Hựu Hà vẫn trung thành với phong cách mà anh đã chọn. Vì vậy, trong thế giới âm nhạc riêng của người Việt, vẫn có đâu đó một góc nhỏ rất riêng của nhạc sĩ Lê Hựu Hà.
(Chú thích: Một chốn riêng của Lê Hựu Hà, đây là một trong những bài hát hiếm hoi viết về nhạc sĩ Lê Hựu Hà trên báo chí VN sau 1975. Bài viết này do NSTuấn Khanh viết trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 2-96, ra ngày 14-1-1996, trong thời gian NS Tuấn Khanh được giao quyền hạn biên tập trang âm nhạc. Sau đó, NS Tuấn Khanh trở thành thành viên nhóm Du ca Phiêu Bồng của NS Lê Hựu Hà. Nhóm nhạc unplugged cuối cùng này trong sự nghiệp của nhạc sĩ Lê Hựu Hà đã biểu diễn thành công ở nhiều nơi với hình thức Lê Hựu Hà (guitar, harmonica, hát), Hoàng Triều (guitar, hát) và Tuấn Khanh (flute, guitar, hát). Giai đoạn này cũng đánh dấu khoảng thời gian vô cùng thân thiết giữa NS Lê Hựu Hà và NS Tuấn Khanh.
Trong suốt giai đoạn nhạc sĩ Lê Hựu Hà còn sống, anh im lặng và chấp nhận sự quên lãng của hệ thống thông tin đại chúng. Bản thân NS Tuấn Khanh khi đi nhiều nơi để xin làm album của NS Lê Hựu Hà lúc đó, đều gặp những khó khăn về “nhân thân”, “tư tưởng thể hiện ca khúc”… của nhạc sĩ Lê Hựu Hà nên cho đến lúc anh mất đi, vẫn không có một album trọn vẹn nào của anh do các công ty sản xuất tại VN thực hiện, ngoài bản cassette duy nhất mang tên Đồng Xanh do chính anh hợp tác với nhạc sĩ Bảo Thu thực hiện và phát hành bán chính thức tại Saigon (tương tự như trường hợp phát hành bản cassette Chiều Hạ Vàng của ca sĩ Bảo Yến và nhạc sĩ Quốc Dũng)”.
Nói về Phượng Hoàng nếu không thể thiếu nhạc sĩ Lê Hựu Hà thì tương tự không thể thiếu nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang. Anh Cang đánh tây ban cầm điện chính (lead guitar), và soạn các nhạc phẩm trình diễn cho ban nhạc, vào thời cuối thập niên 60, đầu 70, nhạc anh làm ảnh hưởng tích cực đến phong trào nhạc trẻ pop/rock.
Bài Còn yêu em mãi là tác phẩm cuối cùng của anh, vì vài tháng sau khi anh soạn bài hát gửi về tặng vợ từ trong rừng sâu ngục tù CS, anh đã chết vì kiệt lực.
Xét về phần lời ca của Phượng Hoàng, hai con chim đầu đàn Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang nghiêng nhiều về những đề tài có tính cách bi quan, yếm thế, nét hiện sinh ẩn chứa. Chi tiết về năm tháng và nguyên nhân đưa đến cái chết của anh cho đến nay vẫn còn mù mờ nên không có tài liệu nào xác định rõ ràng.
Trong khoảng 26 tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang, tôi xin đan cử một số bài tiêu biểu như: Phiên khúc mùa đông, Bâng khuâng chiều nội trú, Bước tình hồng, Còn yêu em mãi, Cúi xuống, Tình nhân loại, Tình như sương khói, Về với yêu thương, Đời bỗng giăng mưa, Mặt trời đen, Một giấc mơ, Nắng hạ, Như giọt cà phê, Thương nhau ngày mưa,… Như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, nhạc mang khuynh hướng hiện sinh của Nguyễn Trung Cang như tiêu biểu qua các bài Mặt trời đen, Tình nhân loại,…
Để kết thúc bài viết, khi nhìn lại dĩ vãng với hai thập niên 60s và 70s mà âm nhạc Pháp Anh Mỹ ảnh hưởng đến nhiều anh chị em thế hệ chúng tôi, chúng tôi học sinh ngữ, nghe nhạc xứ người, nhìn nhận cái hay của tiết tấu, âm điệu của âm nhạc, dù rock hay blue hay jazz, thì âm nhạc chỉ là sự cảm nhận nội tâm, hãy chấp nhận ý tưởng âm nhạc là ngôn ngữ quốc tế, bởi vì ít ra những nhận xét khắt nghiệt như vong bản hay vọng ngoại đã làm tâm tư anh em chúng tôi ray rứt.
Phải chăng từ đó có phong trào Việt hóa âm nhạc bùng dậy, công của quý anh khai phong như Trường Kỳ, Nam Lộc, Kỳ Phát, Vũ Xuân Hùng,…, và Lê Hựu Hà. Để rồi từ đó, Phượng Hoàng cất cánh với những Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang đã tung ra nhiều nhạc phẩm đại diện cho rock Việt Nam, pop Việt Nam chính hiệu bà lang trọc, để giới trẻ nghe trong sự thích thú, không mặc cảm vì âm nhạc vong bản, hay âm nhạc chôm chỉa. Chỉ tiếc là hai anh Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang đã vắn số, không có may mắn hay hoàn cảnh thuận lợi để tung hết nội công sáng tác âm nhạc, dốc toàn bộ trí tuệ cho thêm nhiều tác phẩm âm nhạc cho niềm hãnh diện rock Việt Nam, hay pop Việt Nam.
Viết cho các bạn KTMĐ xưa Phó Đức Trường, Nguyễn Ngọc Bảo, Hoàng Trí Dũng, Hồ Trầm Tuấn Phương,… cho các anh Trần Quang Hải, Jo Marcel, Nguyễn Nam Lộc, Huỳnh Kỳ Phát,… và cho các em trong CLBTNS như Cao Minh Hưng, Bùi Minh Tuấn, Phạm Khải Tuấn, Fatima Ysa Moug, Trang Hoa Sơn, Eric Phúc Lê, Đỗ Quang Màu,… với niềm tin và sự thủy chung với âm nhạc vì âm nhạc.
-
CHÚC TẾT GIÁP THÌN

-
THƠ: LỜI TỬ SĨ
Ngày cuối năm, kính mời quý vị bớt ít phút lắng nghe bản nhạc để nhớ về những tử Sĩ VNCH
những đồng đội của chúng ta đã xả thân bảo vệ Đất Nước VNCH,và đã hy sinh mạng sống để
lại người vợ góa bụa bơ vơ trên đời cô đơn này., qua những dòng thơ đầy tình cảm của nhà thơ lão thành Trần Quốc Bảo bên dưới:
Kính chúc toàn thể quý vị năm mới Giáp Thìn luôn vui khỏe an bình và hạnh phúc…
THA NHÂN
LỜI TỬ SĨ
https://youtu.be/b2h5aowL-wwTạ ơn em, đến thăm anh,
Nằm ngoan, ôm nấm cỏ xanh trên mồ!
Mùi hương lan tỏa mơ hồ,
Thấm vào lòng huyệt, thơm tho nồng nàn.
Thôi em! Xin chớ khóc than,
Để hồn anh được bình an miên trường!
Tình mình, chẳng trọn yêu thương,
Biệt ly nhau, giữa đoạn đường thanh xuân.
Anh xin chịu lỗi muôn phần,
Làm em đứt ruột bao lần xót thương!
Anh nằm xuống giữa chiến trường!
Dâng lên Tổ Quốc, máu xương hình hài.
Tình nhà, tình Nước: hai vai,
Đáp đền chỉ một, trong hai mối tình!
Trận tiền, thập tử nhất sinh,
Bỏ em đành đoạn, một mình lẻ loi!
Bơ vơ góa bụa nửa đời,
Khăn tang ủ rũ, bời bời tóc xanh!
Tạ ơn em, đến thăm anh,
Hai dòng nước mắt, tưới xanh cỏ vàng!
Trần Quốc Bảo, Richmond, Virginia
Địa chỉ điện thư của tác giả: quocbao_30@yahoo.com
-
DU LỊCH Ý ĐẠI LỢI
Dương viết Điền
Đúng 8:00 giờ sáng, xe buýt từ từ chuyển bánh để qua nước Ý đến thành phố Milan .
Milan là một trong những hành phố lớn nhất của nước Ý. Nơi đây có nhiều di tích lịch sử nên ông trưởng đoàn cho chúng tôi vào thành phố nầy để thưởng ngoạn. Thành phố nầy cũng là trung tâm của thời trang về nhiều loại sản phẩm nỗi tiếng nhất thế giới như áo quần, giày dép, crystal pha lê vv…Vì vậy chúng tôi được ông trưởng đoàn cho lên tàu vượt dòng sông để đến bờ bên kia xem trung tâm chế tạo ly, tách và những sản phẩm được chế tạo bằng cát rồi biến chế để trở thành trong sáng như thuỷ tinh, pha lê.
Sau đó để tiếp tục cuộc hành trình, chúng tôi được hướng dẫn đến thăm nhà thờ nỗi tiếng Milan, người Ý gọi là Dumo Di Milano. Nhà thờ này được xây dựng từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 19 nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành. Đây là một trong những nhà thờ lớn nhất thế giới, sau đền thánh Saint Peter ở La mã. Tôi và bà xã tôi cũng đã vào xem nhà thờ này trong khi nhiều người khác thích đi shopping ở ngoài hơn vì biết rằng nhà thờ này còn đang tiếp tục được xây cất chưa hoàn thành. Khi đến gần một cột trụ xây bằng đá ở trong nhà thờ, tôi dang tay ôm cột trụ để ước luợng khoảng bao nhiêu người ôm mới xuể. Sau đó tôi thấy rằng phải đến bốn người mới ôm hết cột trụ này. Điều này chứng tỏ cột trụ bằng đá trong nhà thờ Milan to đến chừng nào.

Thánh đường Dumo Di Milano (Hình trích từ Wikipedia)
Sau đó chúng tôi đến xem bức tượng của nhà danh họa Ý đại lợi, Da Vinci, người Ý gọi là Leonardo Da Vinci, tác giả của hai bức danh họa Mona Lisa và The last Supper. Ông trưởng đoàn cho chúng tôi biết rằng, Leonardo Da Vinci không những là một danh hoạ mà còn là một nhà toán học, một kiến trúc sư, một điêu khắc gia, một nhạc sĩ, và cũng là một văn sĩ nữa.

Nhà danh họa Leonardo Da Vinci (Hình trích từ Wikipedia)
Sau đó chúng tôi đến xem hý trường La scala nỗi tiếng của thành phố. Hý trường bị hoả hoạn vào tháng 02 năm 1776, sau đó được xây dựng lại và đã được khánh thành vào ngày 03 tháng 08 năm 1778. Đây là Opera House lớn nhất của thành phố Milan.

Hý trường La Scala (Hình trích từ Wikipedia)
Sau khi đi xem một số di tích lịch sử trong thành phố, chúng tôi nghỉ ngơi để ăn cơm trưa. Chiều hôm đó chúng tôi được ông trưởng đoàn hướng dẫn đến ngôi nhà cũ của nàng Juliete trong chuyện tình Romeo và Juliete mà văn sĩ nỗi tiếng Anh quốc Shakespear đã viết lại trong tác phẩm của ông ta.
Lúc bắt đầu bước vào ngõ hẻm dẫn vô nhà ở của nàng Juliete, tôi thấy một tấm bảng nho nhỏ vuông vắn gắn trên một cột bằng đồng nhỏ đề mấy chữ bằng tiếng Ý:
CASA DI GIULIETTA (Ngôi nhà của Juliete ).
Đi theo ngõ hẻm vào trong, chúng tôi thấy bức tượng bằng đồng của nàng Juliete đứng trước ngôi nhà nhìn ra ngoài đường.Nhiều du khách đang chụp hình bức tượng, kẻ khác lại đứng gần bức tượng rồi nhờ bạn bè chụp một tấm hình để làm kỷ niệm. Tôi và bà xã tôi cũng muốn chụp mỗi người một tấm hình để làm kỷ niệm. Tuy nhiên tôi phải đợi một du khách khác đang đứng sát bức tượng để nhờ bạn anh ta chụp xong tôi mới đến gần được. Nhưng ông du khách này lại đùa giởn thật kỳ quái làm mất thì giờ của những người khác đang chờ: ông ta cứ đưa tay vừa thoa vừa bóp cái vú bên phải của bức tượng, vừa cười một cách trơ trẻn. Sau khi bạn ông ta chụp xong, vợ chồng tôi mới thay phiên nhau tiến đến gần bức tượng để chụp hình làm kỷ niệm.

Bức tượng Juliete
Sau đó chúng tôi liền mua vé để vào trong ngôi nhà của nàng Juliete cách đây mấy trăm năm mà xem cho được tường tận khi nhớ lại chuyện tình của chàng Romeo và nàng Juliete sao mà buồn vời vợi. Một chuyện tình thật bi thương và cay đắng, một chuyện tình thật nghẹn ngào đầy nước mắt. Khi vào trong chúng tôi thấy một số đồ đạc của gia đình Juliete vẫn còn nguyên vẹn tuy có hơi cũ mà thôi. Chiếc giường của nàng còn đó. Trên giường có trải một tấm ra trắng .Cạnh chiếc giường là hai chiếc ghế bằng gỗ mà trên hai chiếc ghế này, đã nhiều lần Romeo trốn vào đây ngồi bên cạnh Juliete để tỏ bày tâm sự , để chàng và nàng cùng nhau nức nở lệ sầu. Vì cấm chụp hình lúc vào xem trong ngôi nhà này, nhưng vì một lần đi là một làn khó, biết bao giờ trở lại được nơi nầy nên nhanh như chớp, tôi đưa máy chụp hình cầm sẵn trên tay chụp liền hai hình để làm kỷ niệm: một hình chụp chiếc giường nàng Juliete nằm, một hình chụp hai chiếc ghế bằng gỗ nơi chàng Romeo và nàng Juliete ngồi tâm sự chuyện tình cách đây mấy trăm năm.

Chiếc giường gỗ của Juliete nằm.

Hai chiếc ghế đặt trong nhà Juliete.
Sau đó tôi và bà xã tôi ra đứng tại cửa sổ, nơi nàng Juliete đêm đêm đứng trông ngóng chàng Romeo đến thăm nàng. Bỗng bà xã tôi hỏi:
-Làm sao mà Romeo leo lên cửa sổ nầy được anh ?
Nghe bà xã tôi hỏi như vậy tôi không biết trả lời làm sao cả. Bởi vì khi đứng trên cửa sổ tầng thứ nhất của ngôi nhà Juliete nhìn xuống, tôi thấy khó mà leo lên được cửa sổ nầy thật. Tuy nhiên có một bức tường chung của nhà hàng xóm bên cạnh với nhà của nàng Juliete nằm phía bên phải cách cửa sổ của nhà nàng Juliete khoảng ba thước nên tôi nghĩ rằng, anh chàng Romeo có thể leo lên bức tường ấy rồi đu dây qua được cửa sổ nầy chăng?
Bỗng thấy chị Thu Hương đang cầm máy chụp hình đứng dưới nhìn lên cửa sổ chúng tôi đang đứng, tôi cất tiếng nói vọng xuống:
-Juliete đấy à, Juliete ơi ! Romeo đang đứng trên cửa sổ đây nè, chụp cho Romeo một tấm hình đi Juliete.
Sau khi nghe tôi nói xong, chị Thu Hương nhìn lên, điều chỉnh camera ba mươi dây rồi bấm nút. Khi tia flash loé sáng, chị ấy cười đắc chí vì đã chụp được một Romeo « dỏm » đứng bên cạnh một Juliete cũng « dỏm » là bà xã tôi, tại cửa sổ thật của nhà nàng Juliete thật ở tại thành phố Verona (Milan) trên đất nước Ý.
Sau khi từ giả nhà Juliete để ra ngoài, chúng tôi thấy trên mấy bức tường, hằng trăm câu viết, chữ ký của du khách viết để kỷ niệm nằm chằng chịt sát bên nhau. Thôi thì đủ loại mực, xanh, đỏ, tím, vàng vv…, và đủ các thứ ngôn ngữ trên cõi ta bà này.
Vì chuyện tình Romeo và Juliete là một chuyện tình buồn vời vợi mà tất cả mọi người trên thế giới đều biết từ lâu nên khi đã đến thăm đất Ý đại lợi, du khách của tất cả các nước với hằng chục ngôn ngữ khác nhau, không thể không ghé lại ngôi nhà của Juliete được bởi đây là cơ hội ngàn năm một thưở. Đó là lý do tại sao ta thấy quá nhiều ngôn ngữ được viết trên mấy bức tường này vậy.

Cửa sổ nhà Juliete (Hình trích từ Wikipedia)
Sau khi tham quan ngôi nhà của nàng Juliete, ông trưởng đoàn bảo anh em chúng tôi lên xe để đến thành phố Venice ăn cơm tối. Khoảng một giờ đồng hồ sau xe buýt đã đến khách sạn Sheraton Padova ở Corso Argentina 535129 Padova tại Ý. Sau khi ăn uống xong chúng tôi lên phòng ngủ để sáng mai tiếp tục cuộc hành trình của mấy ngày du lịch còn lại. Cũng giống như những lần khác, đúng 8:00 giờ sáng, sau khi ăn điểm tâm xong chúng tôi lại lên xe buýt để đi tham quan những danh lam thắng cảnh trong thành phố. Tại đây dưới sự hướng dẫn của ông trưởng đoàn, chúng tôi đến xem đại giáo đường thánh Mark, the Magical Piazza San
Marco và chiếc cầu Bridge of Sighs.

Thánh đường The Magical Piazza San Marco

The Bridge of Sighs (Hình tích từ Wikipedia)
Tên chiếc cầu nầy do thi sĩ Lord Byron đặt ra . Vì khi tội nhân nào vào nhà tù cũng đi ngang chiếc cầu nầy và khi đi qua cầu nầy, tội nhân hay than vắn thở dài nên nhà thơ Lord Byron đặt tên là cầu thở dài(Bridge of sighs). Sau đó, chúng tôi được hướng dẫn đến địa điểm bước xuống thuyền để đi vòng quanh trên lạch nước the Grand Canal thơ mộng nằm giữa thành phố Venice gọi là “Serenade Gondola Ride”. Du khách muốn được ngồi trên thuyền này phải mua vé, 35 Euro cho mỗi người. Nhóm chúng tôi vẫn 6 người như thường lệ ngồi trên một chiếc thuyền màu đen do một anh chàng người Ý khoẻ mạnh chèo thuyền đưa chúng tôi dạo quanh con lạch . Thuyền này cách thuyền kia khoảng mười thước. Thuyền nào ít người thì có ban nhạc ngồi chung. Họ vừa đàn vừa hát giúp vui cho du khách ngồi trên các thuyền thưởng thức. Dưới ánh nắng dịu hiền của mùa thu mới về trên đất Ý, chúng tôi ngồi trên thuyền nghe tiếng đàn, tiếng hát của mấy chàng ca sĩ người Ý ở chiếc thuyền trước mặt cũng khiến cho tâm hồn chúng tôi cảm thấy rộn ràng, hân hoan, cảm thấy hạnh phúc, vui tươi. Bất giác tôi cất tiếng hát bài Le Beau Danube Bleu của nhạc sĩ nổi tiếng Johann Strauss Jr mà nhạc sĩ Phạm Duy dịch sang tiếng Việt là Dòng Sông Xanh :
Một dòng xanh xanh, một dòng tràn mông mênh
Một dòng nồng ý biếc, một dòng sầu mấy kiếp
Một dòng trời xao xuyến, một dòng tình thương mến
Một dòng còn quyến luyến, một dòng nhớ
Quay về miền đời lúc mơ huyền
Ánh dương lên xôn xao, hai ven bờ sông sâu
Cười ròn tiếng người, đẹp lòng sớm mai.
Những cô em tươi môi ngồi giặt yếm yên vui
Thả ý thắm theo người chở gió về xuôi.
Hát vang lên cho vui, cô nàng ngồi bên tôi
……………………………………………..

Lạch nước The Grand Canal (Hình trích từ Wikipedia)

Ngồi trên thuyền dạo chơi trên lạch nước The Grand Canal tại thành phố Venice
Vì cảnh mấy chiếc thuyền đen đang lướt nhẹt trên lạch nước chảy quanh thành phố Venice dưới ánh nắng thu thật tuyệt đẹp nên chúng tôi thay phiên nhau quay phim, chụp hình. Thuyền này chụp thyền kia, người kia chụp người nọ liên hồi.
Khoảng nửa giờ sau anh chàng lái thuyền người Ý cho thuyền chúng tôi cập bến rồi gác mái chèo. Chúng tôi liền lên bờ và theo ông trưởng đoàn để đi ăn cơm trưa.
Thế rồi chiều hôm ấy, chúng tôi đến tham quan tháp nghiêng Pisa rồi chụp hình làm kỷ niệm. Vì tháp hơi nghiêng và lên tầng cấp hơi khó khăn, cũng như phải mua vé mới lên xem được, vì vậy rất nhiều người trong đoàn du lịch chúng tôi không muốn lên xem. Riêng nhóm 6 người chúng tôi nhất quyết lên xem cho được mặc dầu tôi bị đau lưng và bà xã tôi mới bị té sáng qua nên lưng bị sưng lên làm hơi đau đớn. Trước khi leo lên tháp Pisa, ông trưởng đoàn cũng nói cho chúng tôi biết sơ tiểu sử về di tích của tháp này. Tháp The Leaning Tower of Pisa tiếng Ý là Torre pendente di Pisa hay là La Torre di Pisa. Tháp này là cấu trúc thứ ba trong quãng trường Piazza del Duomo và được xây đứng một mình bên cạnh nhà thờ thành phố Pisa ở Ý. Lúc xây thì tháp thẳng đứng, nhưng sau khi xây xong vào năm 1173, tháp bị lệch hướng và nghiêng về phía đông nam vì có một nền móng của tháp bị yếu vì thiếu chất nền. Tháp cao 55.86 mét, rộng 4.09 mét, đỉnh rộng 2.48 mét. Từ dưới lên trên có tất cả 294 tầng cấp. Độ nghiêng của tháp 5.5 và nặng
14, 500 tấn. Tháp nầy được xây qua 3 giai đọan trong thời gian 177 năm. Sau khi xác định lại một lần nữa, các kiến trúc sư cho biết rằng tháp sẽ vẫn còn vững chắc ít nhất 300 năm nữa. Sau khi nghe ông trưởng đoàn trình bày xong, chúng tôi liền đến gần tháp để mua vé rồi leo lên tháp tham quan.

Tháp nghiêng Pisa (Hình trích từ Wikipedia)
Vì phải mua vé để lên cho kịp giờ nên anh Lê văn Chính đi nhanh đến chỗ bán vé để mua trước cho anh em chúng tôi trong lúc tôi, bà xã tôi và chị Thu Hương phụ giúp chúng tôi đi gởi xách và túi đeo lưng của tôi tại phòng gởi vì không được mang xách, túi đeo lưng lên tháp. Sau đó, tôi và bà xã tôi dìu tay nhau kẻ sau người trước vừa đi lên chầm chậm vừa nghỉ. Đến tầng thứ tư của tháp Pisa, vì quá đau lưng nên bà xã tôi không muốn đi lên nữa. Nhờ sự thuyết phục và động viên của tôi và nhờ tôi dìu bà xã tôi đi chầm chậm, cuối cùng chúng tôi đã lên được đỉnh của tháp Pisa. Lúc đứng trên tháp Pisa nhìn xuống, tôi nói với bà xã tôi rằng chúng mình đã chiến thắng nhờ cố gắng khắc phục được sự đau lưng nên mới lên tới đỉnh tháp Pisa. Thế rồi chúng tôi chụp vài bức hình làm kỷ niệm trước khi đi xuống.

Hình chụp trên đỉnh tháp Pisa.
Sau khi về khách sạn nằm nghĩ lại vụ leo lên tháp, tôi thấy tôi và bà xã tôi thật liều lĩnh và quá chịu đựng vì đã leo tất cả 294 tầng cấp (bậc thềm) đang trơn trợt vì có nước ở các tầng cấp trong khi lưng chúng tôi đau nhói lúc đang leo. Có lẽ một lần đi là một lần khó cũng như biết rằng chẳng bao giờ trở lại tháp Pisa nầy nữa nên phải quyết chí mà thôi .
Sau khi từ giả tháp nghiêng Pisa, chúng tôi được ông trưởng đoàn du lịch hướng dẫn về khách sạn Grand Hotel Guinigi ở tại Via Romana 1247, Lucca thuộc tỉnh Lucca nướcÝ để nghỉ ngơi và ăn cơm tối.
Sáng hôm sau ông trưởng đoàn du lịch đưa chúng tôi đi tham quan một số di tích lịch sử trong thành phố Florence. Chúng tôi đã đến xem Cổng Thiên Đàng (the Door of Paradise) hay còn gọi là the Bronze Door of the Baptistery, quãng trường Signoria, trung tâm thương mại Duomo và di tích “ the 13 Santa Crose”. Sau khi tham quan những di tích lịch sử nầy chúng tôi đuợc hướng dẫn đi xem các cửa tiệm bán áo quần, giày dép vv…làm bằng da thuộc của thú vật chính hiệu con nai vàng. Đến chiều, ông trưởng đoàn du lịch dẫn chúng tôi đến thành phố nổi tiếng nhất trên thế giới của Thiên chúa giáo, đó là thành phố La mã. Tại đây ông trưởng đoàn cho chúng tôi vào tham quan toà thánh Vatican trước. Sau khi mua vé vào cửa xong, 36 Euro cho mỗi một người, chúng tôi đứng sắp hàng nối đuôi nhau để vào xem. Vì hằng trăm đoàn du lịch từ khắp nơi trên thế giới đổ xô về đây để tham quan toà thánh La mã, nên chúng tôi tuy đã sắp hàng nối đuôi nhau rồi, nhưng vẫn di chuyển rất chậm chạp từng bước một và phải mất một giờ bốn mươi lăm phút mới vào được bên trong toà thánh La mã. Tại đây, chúng tôi được tham quan quãng trường và đại giáo đường Thánh St.Peter. Trong lúc nhìn kỹ lối kiến trúc và những bức tượng được đặt trong đền Thánh St.Peter, anh Lê văn Chính đi bên cạnh tôi ca ngợi liên tục. Anh nói:
-Điền thấy không, nhìn lối kiến trúc của ngôi đền từ ngoài vào trong từ trong ra ngoài, cũng như những nét điêu khắc, chạm trổ thật điêu luyện và tinh vi của mỗi bức tượng, mình phải thán phục những nghệ nhân cách đây mấy thế kỷ. Nếu so sánh nghệ thuật thưở ấy và bây giờ mình phải nói nghệ thuật của người xưa quá tuyệt vời.
Theo sự trình bày và giải thích của một cụ già ngườiÝ được ông trưởng đoàn du lịch giới thiệu cho chúng tôi, đại giáo đường Saint Peter tiếng Ý gọi là Basilica di San Pietro in Vaticano. Đây là một trong bốn đại giáo đường quan trọng nhất của La mã. Đại giáo đường này là biệt thự nỗi bật nhất bên trong thành phố Vatican và được xây dựng ngay trên nơi hoang tàn đổ nát của đại giáo đường cũ. Đại giáo đường này chiếm một diện tích 5.7 acres và có khả năng chứa trên 60,000 người.

Thánh đường Peter (Hình trích từ Wikipedia)
Tân ước không đề cập đến sự hiện diện của thánh Peter tại La mã, nhưng truyền thống của Thiên chúa giáo nghĩ rằng, ngôi mộ của thánh Peter được an táng ở phía dưới đền thờ của ngài. Vì lý do nầy, nhiều Giáo hoàng, bắt đầu với những vị đầu tiên, đã được an táng nơi đây. Đại giáo đường ngày hôm nay được xây trên chỗ hoang tàn đổ nát cũ bắt đầu ngày 18 tháng 04 năm 1506 và hoàn thành xong vào năm1626. Vào ngày 23 tháng 12 năm 1950, trong lần phát thanh trước lễ Giáng sinh trên toàn thế giới, đức Giáo Hoàng Pio 12 thông báo cho toàn thể thế giới biết rằng các nhà khảo cổ đã tìm ra ngôi mộ của Thánh Peter sau 10 năm tìm kiếm dưới hầm mộ của đại giáo đường.
Còn quãng trường Thánh Peter ( Piazza di San Pietro) nằm ở phía đông của nhà thờ do Gianlorenzo Bernini kiến tạo giữa năm 1656 và 1667. Quãng trường này được bao quanh bởi một số dãy cột hình bầu dục với hai đôi cột, theo kiểu thật giản dị của Hy lạp thưở trước, tạo thành chiều rộng của quãng trường. Mỗi cột mang một cái mũ trên cột theo lối kiến trúc cũ. Những dãy cột này như như dang rộng vòng tay quanh quãng trường, như ôm ấp niềm tin trong cánh tay của người mẹ ở trong giáo đường.

Quãng trường Thánh Peter(Hình trích từ Wikipedia)
Sáng nay đáng lẽ chúng tôi vào thăm di tích cổ thành La mã trước, nhưng khi đến nơi, các đoàn du lịch khác nối đuôi nhau vào xem quá đông nên ông trưởng đoàn sau khi hướng dẫn chúng tôi đi thăm một vài di tích ở bên ngoài thành liền thay đổi chương trình, qua thăm toà thánh La mã trước. Trong khi điểm danh lại trên xe buýt, ông trưởng đoàn thấy mất tích hai người. Ông liền chỉ thị cho tài xế xe buýt phải chờ hai vợ chồng người Hoa kia trở lại rồi mới khởi hành. Trong lúc đó, ông trưởng đoàn cầm cây cờ hãng du lịch Tour Ritz chạy tới chạy lui trong mấy đám đông mất mười lăm phút toát mồ hôi hột vẫn không tìm thấy hai người kia đâu cả. Cuối cùng, ông trưởng đoàn quyết định cho tài xế lái xe buýt qua thăm toà thánh La mã nếu không sẽ bị trễ dây chuyền ở những nơi khác. Cũng may là ông trưởng đoàn đã cho tất cả du khách trong đoàn biết số cell phone của ông ta nên khi hai vợ chồng người Hoa kia bị lạc, họ đã gọi cell phone cho ông trưởng đoàn . Sau đó nghe đâu ông chồng người Hoa này bị Tào tháo rượt nên phải tìm nơi đi cầu. Vì vậy bà vợ phải chờ ông ta nên khi ông trưởng đoàn tập họp du khách lại để lên đường, hai vợ chồng người Hoa này không ra kịp nên bị lạc. Đi du lịch kiểu này vợ chồng luôn luôn phải sát cánh bên nhau mới khỏi bị lạc nhau. Thà lạc đoàn du lịch rồi nhờ cảnh sát tìm cách liên lạc lại sau chứ vợ lạc chồng hay chồng lạc vợ thì rắc rối cho cuộc tình! Cuối cùng hai vợ chồng người Hoa này đã gọi tắc xi về khách sạn. Không hiểu đồ ăn thức uống tại các tiệm ăn như thế nào mà hết nửa đoàn du lịch chúng tôi đều bị Tào tháo rượt! Vì vậy vấn đề đi tìm phòng vệ sinh lắm lúc làm trở ngại cho cả đoàn. Dĩ nhiên đây là những trường hợp xảy ra ngoài ý muốn của mọi người.
Trở lại vấn đề trên, sau khi tham quan toà thánh La mã xong, chúng tôi liền lên xe buýt để đến xem cổ thành La mã. Tại đây ông trưởng đoàn hướng dẫn đi thăm những di tích lịch sử còn lại tại thành phố La mã như the eternal Colosseum, the Roman Forum, Constatine’s Triumphal Arch, Spanish Steps, và Trevi Fountain.
Cũng như những nơi khác, cứ mỗi lần đến thăm di tích nào ông trưởng đoàn cùng người hướng dẫn địa phương lại phải giải thích cũng như thuyết minh về nguồn gốc của từng thắng cảnh một. Chúng tôi khi thì lắng tai nghe khi thì đành bỏ nghe để chụp hình, quay phim những nơi chúng tôi đến tham quan vì mỗi lần đi là một lần khó nên phải nhanh tay chụp hình để làm kỷ niệm, nếu không lúc ông trưởng đoàn dẫn đến những thắng cảnh khác thì không sao chụp lại hình nơi mình đã đến được. Vì vậy nhiều lúc các du khách say sưa chụp hình nầy, chụp hình nọ nên đã bị đi lạc đoàn du lịch mấy lần khiến ông trưởng đoàn kêu trời không thấu!

The Roman Forum. ( Hình trích từ Wikipedia)

The Arch of Constatine. (Hình trích từ Wikipedia)

Cổ thành La mã (Hình trích từ Wikipedia)

The Spanish Steps. (Hình trích từ Wikipedia)


The Trevi Fountain. (Hình trích từ Wikipedia)
Cũng như những nơi khác, chúng tôi thay phiên nhau chụp hình, quay phim cổ thành La mã để làm kỷ niệm. Thế rồi chiều hôm ấy, sau mười mấy ngày đi du lịch qua 4 nước Anh, Pháp, Thuỵ sĩ, Ý, sau khi tham quan những nơi đã vạch sẵn trong chương trình du lịch, chúng tôi còn khoảng một đến hai giờ đồng hồ nữa là chấm dứt cuộc du lịch 4 nước Âu châu. Chỉ còn một hai giờ phù du còn lại, chúng tôi được ông trưởng đoàn cho đi shopping để mua sắm quà kỷ niệm tặng bạn bè và nhìn thành phố La mã lần cuối trước khi đi ăn cơm tối, rồi về khách sạn nghỉ ngơi để sáng mai lên máy bay trở lại quê nhà.
Cuối cùng ông trưởng đoàn tập họp điểm danh chúng tôi trước khi hướng dẫn chúng tôi về khách sạn Holiday Inn Rome Eur Parco dei Medici ở tại Viale Castello della Magliana 65, 00148 thành phố Rome tại Ý.
Tại đây, ông trưởng đoàn dẫn chúng tôi vào một tiệm ăn người Ý để dùng cơm tối. Vì đây là bữa cơm chung vui cuối cùng của tất cả du khách trong đoàn nên mỗi người đóng góp 45 Euro cho ông trưởng đoàn để ông ta đặt trước tại nhà hàng. Vì là một bữa tiệc ly biệt nên tối hôm ấy ông trưởng đoàn du lịch đã cùng anh em trong đoàn chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác say sưa bên nhau rất là vui vẻ. Vui nhất là các anh bồi bàn ngườiÝ. Họ luôn luôn diện veston, thắt cà vạt lúc bưng đồ ăn ra cho thực khách. Không biết đây có phải truyền thống đùa vui trong tiệm ăn của người Ý hay không mà mấy anh chàng bồi bàn này mỗi lần bưng một món ăn cho một phụ nữ, họ thường cầm theo một cánh hoa hồng để tặng cho người phụ nữ đó. Trước khi tặng cho người phụ nữ nào, các anh chàng này làm một dấu hiệu để xin các nàng một nụ hôn. Nhiều nàng chiều ý chàng để cho chàng hôn lên má, nhiều nàng lại không muốn chiều chàng vì có chồng bên cạnh nên chỉ biết cười rồi ngoảnh mặt đi. Tuy nhiên có một chàng bồi bàn lại liều lĩnh khi xin nàng một nụ hôn và vì thấy nàng cười có vẻ như ưng ý, chàng ta liền lấy một khăn trắng để sẵn trên bàn rồi thả nhẹ để phủ trên đầu và mắt người chồng ngồi bên cạnh nàng. Nhanh như chớp, anh chàng bồi bàn kia vừa hôn nhẹ lên má nàng vừa trao cánh hoa hồng cho nàng. Vì động tác của chàng bồi bàn quá nhanh nên nàng trở tay không kịp. Cuối cùng nàng chỉ biết ngồi cười hì hì trong lúc chồng nàng cũng vừa lấy chiếc khăn trắng ra khỏi đầu. Tất cả thực khách thấy thế đều cười to lên khiến người chồng của nàng kia cũng ngạc nhiên không biết tại sao mọi người lại cười như thế. Tiếp theo trò tặng hoa hồng của mấy anh chàng bồi bàn là những bài hát nhạc dạo của hai chàng ca sĩ ngườiÝ. Lúc chúng tôi đang ngồi chờ những thức ăn khác, có hai thanh niên người Ý bước vào. Anh chàng lớn tuổi hơn thì cầm kèn clarinet, anh chàng nhỏ tuổi hơn cầm đàn guitare. Cả hai vừa đàn vừa hát một bản nhạc của nước Ý. Sau khi họ hát xong chúng tôi vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Nhiều người lấy tiền tặng cho họ. Tôi cũng lấy 5 đô la để sẵn trong túi ra tặng cho họ. Sau đó tôi đề nghị họ hát bài “Torna A Surriento” của nhạc sĩ người Ý tên là Ernesto De Cutis, tức là bài Come back to Sorrento ( Trở về mái nhà xưa ). Anh chàng lớn tuổi hơn bảo tôi rằng họ không biết bài đó. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe chàng ta nói như vậy bởi vì bài này rất phổ biến tại nước Ý và đã ra đời cách đây hơn 100 năm cả thế giới đều biết.Tuy nhiên ba mươi giây sau họ nói với tôi rằng họ đùa chơi vậy thôi, để họ hát cho mà nghe! Có thế chứ ! Tôi liền nhìn anh Bùi Ty ngồi trước mặt rồi nói :
-Ca sĩ Ý mà không biết bài “Trở về mái nhà xưa” của nhạc sĩ Ernesto De Cutis thì đập vỡ cây đàn guitare đi là vừa Ty há.
Thế là anh chàng lớn tuổi thổi kèn clarinet trong lúc anh chàng cầm đàn guitare vừa đàn vừa hát bài “Trở về mái nhà xưa” bằng tiếng Ý thật du dương, nhẹ nhàng, thật khoan thai và điêu luyện.

Hai ca sĩ hát dạo người Ý đang trình diễn
Lúc tiếng hát vừa dứt anh em vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Sau đó anh chàng lớn tuổi hỏi chúng tôi rằng trong chúng tôi ai là người biết nhảy đầm, tôi liền chỉ ngay anh chị Bùi Ty ngồi trước mặt tôi. Thế là hai anh chàng này mời anh chị Bùi Ty đứng lên để họ đàn và hát cho anh chị Bùi Ty nhảy. Bài “Besame mucho” nhạc của Mễ tây cơ được hai anh chàng kia chọn để hát cho anh chị Bùi Ty nhảy. Họ đàn bản nhạc này theo điệu cha cha cha và anh chị Bùi Ty cứ thế nhảy liên tục cho đến hết bài làm cho phòng ăn trở nên vui nhộn khác thường. Sau khi tiếng hát vừa dứt, anh chị Bùi Ty vừa về lại chỗ ngồi thì ông trưởng đoàn du lịch thừa thắng xông lên rót rượu đỏ trong chai ra hết rồi mời anh chị em cùng nâng cốc chung vui. Sau khi cạn ly, chúng tôi liền có đôi lời từ biệt với nhau rồi tất cả lên xe buýt để về khách sạn nghỉ ngơi, sáng mai chuẩn bị lên đường trở về quê cũ. Theo lời dặn của ông Leung Reddy, trưởng đoàn du lịch, chúng tôi dậy thật sớm và đúng 5:00sáng , chúng tôi lên xe buýt để vào phi trường lên máy bay qua Thụy sĩ. Tại thuỵ sĩ, chúng tôi lại sang máy bay khác để về San Francisco. Sau khi dẫn toán chúng tôi vào phi trường, ông trưởng đoàn từ biệt chúng tôi để về lại khách sạn dẫn toán còn lại vào phi trường một lần nữa vì toán nầy phải qua Luân đôn rồi từ phi trường Heathrow tại Luân đôn, họ sẽ lên máy khác để bay về Los Angeles.
Lúc máy bay vừa cất cánh bay cao giữa mây trời bát ngát, tôi ngoái cổ nhìn xuống những lâu đài cổ kính, những biệt thự nguy nga của nước Ý mà lòng buồn vời vợi. Mới hôm qua đây, chúng tôi đã vào tham quan những kiến trúc thật tinh xảo, những nhà thờ thật vĩ đại, những công trình xây cất quá công phu và đầy nghệ thuật. Mới hôm qua đây chúng tôi đã cùng nhau chụp biết bao nhiêu tấm hình, quay biết bao nhiêu là phim ảnh khi vào trong toà thánh La mã, khi viếng thăm cổ thành, khi leo lên tháp Pisa, khi ngồi trên thuyền lướt nhẹ trên lạch nước trong thành phố Venice thật nên thơ và dịu hiền. Vậy mà giờ phút này đây tất cả đều xa dần, xa dần , chỉ còn thấy mây trời bay trong nắng. Chuyến du lịch bốn nước Âu châu giờ đây đã chấm dứt sau mười hai ngày phiêu bạt giang hồ để trở về mái nhà xưa, trở về nơi quê cũ . Không có gì thoải mái và tuyệt đẹp bằng quê nhà. Không có gì hiền hoà và ấm cúng bằng nơi ta ở. Bỗng đâu văng vẵng bên tai tôi giọng ca bài “Trở về mái nhà xưa” bằng tiếng Ý của hai anh chàng thanh niên người Ý cầm cây đàn guitare và cây kèn clarinet hát dạo trong đêm tiệc chia tay của chúng tôi ở nhà hàng tại nướcÝ chiều qua:
TORNA A SURRIENTO
Vide ‘o mare quant’è bello.
Spira tantu sentimento,
Comme tu a chi tiene mente,
Ca scetato ‘o faie sunnà.
Guarda, guá, chisto ciardino.
Siente, sié sti sciure arance,
Nu profumo accussì fino
Dinto ‘o core se ne va.E tu dice: “Í parto, ađio!”
T’alluntane a stu core,
Da sta terra de l’ammore
Tiene ‘o core ‘e nun turnà?
Ma nun me lassà,
Nun darme stu turmiento!
Torna a Surriento,
Famme campà!Vide ‘o mare de Surriento,
Che tesoro tene ‘nfunno,
Chie ha girato tutto ‘o mummo
Nun l’ha visto comm’a ccà.
Guarda attuorno sti Sserene,
Ca te vonno tantu bene
Te vulessero vasà.E tu dice: “Í parto, ađio!”
T’alluntane a stu core,
Da sta terra de l’ammore
Tiene ‘o core ‘e nun turnà?
Ma nun me lassà,
Nun darme stu turmiento!
Torna a Surriento,
Famme campà!Rồi cũng lại văng vẵng bên tai tôi giọng hát của ca sĩ Trần thái Hoà bài “Trở về mái nhà xưa “ bằng tiếng Việt:
Về đây khi mái tóc còn xanh xanh.
Về đây với mầu gió ngày lang thang
Về đây xác hiu hắt lạnh lùng.
Ôi lãng du quay về điêu tàn.
Đâu tiếng đàn ngoài hiên mưa?
Và đâu bướm tơ, vui cùng mùa?
Một mùa Xuân mới, mắt êm nắng hào hoa.
Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan.
Về đây lắng trầm khúc nhạc truy hoan.
Về đây nhé! Cắm xong chiếc thuyền hồn
Ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đờn.
Mái tóc nhà lưu luyến vạt trăng xanh.
Nếu mưa về yêu lấy hạt long lanh.
Chờ mong nắng cho tươi đời xuân xanh.
Người xa vắng biết đâu nấm nhà buồn
Đốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh.
Sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh.
Và nghe thấy kiếp xưa bước nhẹ về
Đang khóc than trên đường não nề.
Thôi nhé đừng hoài âm xưa
Giọt mưa đã gieo trên thềm nhà
Người ngồi im bóng
Lắng nghe tháng ngày qua.California, một chiều thu nhạt nắng .
Dương viết Điền (tháng 10 năm 2007)
(Trích từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Âu Châu và Hạ Uy Di” xuất bản năm 2009)
-
GIỌT MƯA XUÂN
-
CHIẾN HỮU…CỦA MÙA XUÂN

Ngày Birthday 98th chúc mừng cựu đại tá Lê Thương
Dường như Xuân đang đến giữa mùa Đông trên vùng trời Nam California? Ánh nắng chan hòa lan tỏa khắp bầu trời xanh lơ, mang đến lòng người một sự ấm áp dịu dàng của ngày thứ bảy cuối tuần. Nơi một góc phố, từng lớp nam thanh nữ tú nô nức đến dự tiệc MỪNG XUÂN & LỄ THƯỢNG THỌ CỰU ĐẠI TÁ LÊ THƯƠNG. Lòng người đầy hân hoan như một ngày hội lớn, hòa lẫn tiếng cười tiếng nói giữa một rừng mai vàng rạng rỡ của mùa xuân, trong khánh phòng rực ánh đèn.

Đoàn trống Nghệ Thuật Thiên Ân
Quang cảnh nhà hàng White Palace thành phố Westminster, Nam California chiều nay rất náo nhiệt. Đoàn trống Nghệ Thuật Thiên Ân đã trình diễn màn trống “Đón Xuân” vô cùng ngoạn mục. Qua tiếng trống vang rền, các em thiếu nhi muốn gửi lời cầu chúc đến mọi người – Một năm mới THỊNH VƯỢNG, HẠNH PHÚC và DỒI DÀO SỨC KHỎE. Đây là niềm mơ ước của tất cả mọi người trong những ngày đầu xuân.
Trong khoảnh khắc, quan khách cùng hướng về cửa chính nhà hàng để chào đón các cựu sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đang hộ tống cựu Đại tá Lê Thương tiến vào khánh phòng, người chủ tọa buổi tiệc đêm nay. Nhìn hình ảnh già yếu của cựu Đại tá Lê Thương, chỉ huy trưởng sư đoàn 2 Pháo binh ngày nào oai phong lẫm liệt trước ba quân tướng sĩ… mà không khỏi chạnh lòng?
Hai MC Mộng Thủy và Trần Mạnh Chi đã làm bừng sáng sân khấu, khi ngỏ lời chào mừng quan khách, cùng tiếng nhạc trổi lên trong bầu không khí tưng bừng. Sự kiện hôm nay được tổ chức dưới sự phối hợp nhịp nhàng của gia đình cựu Đại tá và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian của nhà văn Trần Việt Hải. Những tà áo dài tha thướt đủ màu sắc và những áo dạ hội rực rỡ của phái đẹp, đã làm cho hội trường trở nên lộng lẩy. Lại tô điểm thêm những bộ quân phục với mũ: trắng, xanh, nâu, đỏ, xám…của những người hùng thuộc các binh chủng: Hải quân, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Không Quân…oai phong như gươm lạc giữa rừng hoa…đã gieo vào lòng người nỗi xúc cảm sâu sắc. Hình ảnh những chiến sĩ hôm nay, đã đưa mọi người trở về thời chiến của đất nước trong quá khứ. Nhìn cựu Đại tá tuổi già sức yếu, cũng như những cựu chiến sĩ không còn trẻ nữa…Trong tâm tư của từng người hiện diện trong khánh phòng, làm sao không khỏi hồi tưởng về quá khứ của một chiến sử cách nay đã 5 thập kỷ. Thời chiến của Việt Nam trước 1975 đã sống lại – qua hình ảnh của những chiến binh trong quân phục trước mắt, những người đã cống hiến tuổi thanh xuân đời mình để phục vụ đất nước, giữ gìn non sông và bảo vệ đồng bào.
Chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ
Bài quốc ca Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ đã trổi lên…Dưới màu cờ vàng ba sọc đỏ…mà các chiến sĩ đã thề nguyền bảo vệ Tổ Quốc thân yêu khỏi tay giặc thù…Âm vang hùng hồn của bản quốc ca với hình ảnh cờ vàng ba sọc đỏ thân thương, đã khơi dậy tình yêu Tổ quốc và chắc hẵn sẽ sống mãi trong lòng người Việt tha hương. Phút mặc niệm trong thinh lặng, cả hội trường nghiêm chỉnh cúi đầu tưởng niệm đến những anh hùng vị nước vong thân, những chiến sĩ vô danh, dân quân cán chính và những nạn nhân bỏ mạng trên con đường tìm Tự Do…trong bùi ngùi thương cảm! Xin thắp nén hương lòng để tưởng niệm những nạn nhân đã ra đi trong ngậm ngùi chua xót!

Ngày Birthday 98th chúc mừng cựu đại tá Lê Thương
Cựu Đại tá và ái nữ Thụy Lan ngỏ lời cảm tạ đến quan khách hiện diện trong buổi tiệc đầy ý nghĩa và đáng ghi nhớ này.
Tiểu sử Cựu Đại tá Lê Thương
Sau đó, nhà văn Vi Khiêm đã nói về tiểu sử cũng như cuộc hành trình trên đường dài chiến binh của cựu đại tá Lê Thương. Ông là cấp chỉ huy có lòng nhân ái đối với hạ cấp, luôn thương yêu binh sĩ và gắn bó với họ đến giờ phút cuối cùng. Đây là nét son trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Chính vì thế, mà trong tiệc mừng thượng thọ thứ 98, các chiến hữu của mọi binh chủng đã đến với ông, chia sẻ niềm vui và cầu chúc ông những điều tốt đẹp nhất. Tình chiến hữu keo sơn đã thể hiện tốt đẹp nơi xứ người, qua thời gian dài mà vẫn không phôi pha. Quây quần bên ông, còn có những bạn hữu thân thương đã từng gắn bó với ông suốt mấy thập kỷ qua. Như cựu Thủ tướng Anh quốc Winston Churchill đã từng nói: “Chúng ta tồn tại nhờ những gì ta nhận, nhưng chúng ta sống nhờ những gì cho đi”. Thật vậy! Tư tưởng của Churchill rất thâm thúy qua sự kiện hôm nay.

Trong quá trình hoạt động văn hóa, Thụy Lan là một thành viên trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, đã viết bài Tuổi Thơ Trong Bom Đạn. Trong bài tùy bút này, tác giả đã ghi lại những kỷ niệm thời quá khứ, mà tuổi thơ của cô gắn liền với thân phụ, người trót mang cuộc đời binh nghiệp. Trong tháng 3/1975 trước ngày miền Nam Việt Nam thất thủ, thân phụ cô đã tìm đủ mọi phương tiện đưa gia đình từ Huế vào Saigon an toàn. Tác giả viết…
…“Nhưng cha tôi không thể bỏ Sư đoàn, bỏ nhiệm vụ để cùng gia đình bỏ trốn đi, và đành phải chia tay nhau tại phi trường Đà Nẳng để trở về lại căn cứ Chu Lai thu xếp mọi chuyện như: phá hủy giấy tờ quan trọng, thủ tiêu súng đạn, chỉ huy thu xếp chỗ trên các chiến hạm để cho tất cả quân nhân Sư đoàn 2 và gia đình họ vĩnh viễn rời khỏi căn cứ Chu Lai sau đó. Cha tôi cùng đoàn người di tản trên chiếc hạm cập bến tại cảng Đà Nẳng đi vào Nam ngày 3/4/1975, và cuối cùng tàu đã cập bến Phan Rang an toàn trước ngày Phan Rang thất thủ 16/4/1975. Cha tôi thoát chết sau 8 ngày phải lẫn trốn, và băng rừng vượt suối, để cuối cùng gặp lại gia đình tại Saigon ngày 24/4/1975. Đến ngày 30/4/1975, chính phủ do ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng CS.
Đó là những đoạn đường mà cuộc đời binh nghiệp đã đưa cha tôi qua không biết bao nhiêu gian truân, để cuối cùng thân xác bị lưu đày vào tù CS trong suốt 13 năm trời kể từ ngày mất nước.”
…Hình ảnh của cha tôi trong quân phục bộ binh là một hình ảnh mà tôi tôn thờ, ngưỡng mộ và yêu quý nhất đời mình. Vì vậy tôi luôn tôn kính và yêu thương những người lính đã hy sinh vì hạnh phúc và sự sống còn của quê hương và dân tộc, cũng như những ai đang phục vụ trong quân đội. Tất cả là từ hình ảnh tuyệt vời của cha tôi, người đã cho tôi thấy những nỗi đau, sự chịu đựng và lòng hy sinh quên mình vì dân tộc…”
Qua một đoản văn của bài viết “Tuổi Thơ Trong Bom Đạn,” Thụy Lan đã bộc bạch cho độc giả thấy về tinh thần trách nhiệm cao quý của vị chỉ huy trưởng sư đoàn 2 Pháo binh Lê Thương. Ông đã đặt tình đồng đội lên trên cả tình gia đình vợ con. Trong những lúc gian nguy của chiến cuộc, ông vẫn ở lại đơn vị để bảo vệ những người lính của ông, ông đã cho đi hết lòng. Vì thế mà trong tiệc mừng thượng thọ 98 hôm nay, các chiến sĩ đã đến với ông cho trọn tình “Huynh Đệ Chí Binh”. Anne Frank đã khẳng định: “Không ai trở nên nghèo túng vì cho đi”- “No one has ever become poor by giving” Thật vậy! Khi cho đi sẽ nhận lại nhiều hơn thế!
Trận đánh giải vây Tết Mậu Thân 1968
Thiếu tá Hồ Đắc Huân đã tường thuật về cuộc chiến giải vây thành phố Huế Tết Mậu Thân 1968, mà sư đoàn 2 Bộ Binh, đơn vị Pháo Binh của cựu đại tá Lê Thương đã chiến đấu ròng rã trong gian khổ hiểm nguy để dành lại cố đô Huế. Song song với bài tường thuật là màn hoạt cảnh của các chiến sĩ trong màu áo trận. Tiếng súng nổ vang rền, những binh sĩ (do hậu duệ QLVNCH trình diễn) kiên cường chiến đấu với quân thù để dành lại từng tấc đất của cố đô và bảo vệ người dân xứ Huế. Những người dân thành thị chưa bao giờ chứng kiến sự kinh hoàng của chiến tranh; giờ đây, qua màn hoạt cảnh có thể hình dung được phần nào về cuộc chiến tàn khốc mà chính những người chiến sĩ có mặt nơi đây hôm nay đã dự phần. Tôi đã nghẹn ngào trong nước mắt! Tôi mạo muội xin thay mặt người công dân Việt Nam Cộng Hòa, gửi lời tri ân chân thành muộn màng đến cựu đại tá Lê Thương, cùng tất cả cựu chiến binh các cấp và thương phế binh trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã đóng góp xương máu và một phần đời mình trong cuộc chiến. Cầu chúc tất cả các anh chiến sĩ may mắn sống còn trong cuộc chiến, được hưởng cuộc sống an vui nơi xứ người và cũng không quên cầu chúc những cựu quân nhân, thương phế binh còn lại quê nhà luôn được bình an.

Hoạt cảnh giải vây Tết Mậu Thân 1968
Kỹ thuật chỉ huy pháo pháp như “đề lô” (delo pháo binh), thám thính mục tiêu tính toán tọa độ, trinh sát định vị mục tiêu tác xạ sao cho chính xác, chỉnh chu. Trong binh pháp chiến đấu “Tiền Pháo Hậu Xung“, đơn vị Pháo Binh sư đoàn 2 yểm trợ trận đánh đã chiến thắng vẻ vang ở mặt trần Sa Huỳnh. Một bài viết đã tường thuật công lao của Đại tá Lê Thương, trong Việt Báo, tựa đề “Pháo Thủ Sư Đoàn 2 Bộ Binh Tại Mặt Trận Nam Quảng Ngãi”, ngày 01/09/1999, do phóng viên Vương Hồng Anh, Mặt trận Nam Quảng Ngãi tháng 2/1972: ghi nhận như sau:
Trong loạt bài viết về trận tấn công của CQ vào hải cảng Sa Huỳnh, (phía Nam tỉnh Quảng Ngãi, gần Quốc lộ 1) vào ngày 28 tháng 1/1973 ngay sau khi Hiệp định ngưng bắn có hiệu lực. Chúng tôi trình bày sơ lược về chiến tích yểm trợ hỏa lực của Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh trong cuộc tổng phản công tái chiếm Sa Huỳnh. Đây là cuộc hành quân do bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 BB khởi động với nỗ lực chính là trung đoàn 5BB, tiểu đoàn 2/ trung đoàn 4, thiết đoàn 4 Kỵ binh thuộc Sư đoàn và liên đoàn 1 Biệt động quân tăng phái. Chính trong cuộc hành quân này, Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh đã đóng góp đáng kể trong chiến thắng chung tại mặt trận Sa Huỳnh. Các trận hỏa công của pháo thủ Sư đoàn 2 BB đã được ghi vào chiến sử Pháo binh VNCH.

Tại chiến trường Nam-Tín-Ngãi (Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi), trong cuộc chiến Mùa Hè 1972, Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh đã yểm trợ hỏa lực cho trung đoàn 5 Bộ binh tại mặt trận Quế Sơn. Cuối tháng tháng Giêng 1973, khi CSBV tung quân tấn công cường tập hải cảng Sa Huỳnh, vi phạm lệnh ngưng bắn của Hiệp định Ba Lê (có hiệu lực từ 8 giờ sáng ngày 28 tháng 11/1972), bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn 2 BB đã điều động cùng một lúc 2 tiểu đoàn Pháo binh 105 và 155 ly, đồng bộ yểm trợ trực tiếp cho Trung đoàn 5 Bộ binh và Liên đoàn 1 Biệt động quân 12 phản công tái chiếm Sa Huỳnh, tổng số đạn tiêu thụ trong trận đánh này lên đến trên 200 ngàn quả, mở một kỷ lục cho Pháo binh QLVNCH.
* Pháo binh sư đoàn 2 Bộ binh và trận chiến Sa Huỳnh:

Pháo binh QLVNCH tác chiến
Dựa theo tài liệu của cựu đại tá Lê Thương, nguyên chỉ huy trưởng Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh, đối chiếu với một số bài viết trong tạp chí KBC và tài liệu của Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, diễn tiến về các trận pháo chiến và pháo yểm trợ của Pháo binh Sư đoàn 2 BB tại mặt trận Quảng Ngãi được tổng hợp như sau:
Như đã trình bày, trong 12 ngày đầu của cuộc hành quân, các đơn vị bộ chiến đã gặp sự kháng cự quyết liệt của CQ, địch đã lập các cụm chốt kiên cố liên hoàn trên các lộ trình đến Sa Huỳnh, đồng thời sử dụng đủ loại đại pháo, hỏa tiển chống chiến xa AT 3 để ngăn chận các mũi tiến quân của lực lượng bộ chiến VNCH, nhất là ở hướng tiến quân của trung đoàn 5 BB từ phía Tây Quốc lộ 1. Trước tình hình đó, ngày 9 tháng 2/1973, trung tướng Ngô Quang Trưởng – tư lệnh Quân đoàn 1 và Quân khu 1, đã bay đến bộ tư lệnh hành quân của Sư đoàn 2 Bộ binh để đôn đốc sự phản công. Trung tướng Trưởng đã ra lệnh thẳng cho đại tá Lê Thương chỉ huy trưởng Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh (gồm 3 tiểu đoàn 105 ly, 1 tiểu đoàn 155 ly) là phải tập trung tất cả phương tiện hỏa lực của Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh, yểm trở mạnh mẽ cho các đơn vị bộ chiến tái chiếm gấp Sa Huỳnh trong vòng 7 ngày, trước khi Ủy hội Quốc tế đến giám sát và kiểm tra về sự vi phạm của Cộng quân.
Sau khi nhận lệnh của trung tướng Trưởng, ngay trong chiều ngày 9 tháng 2/1973, đại tá Lê Thương đã cho điều động hai tiểu đoàn Pháo binh với 6 pháo đội tác xạ (18 khẩu pháo 105 ly và 16 khẩu pháo 155 ly) khai triển đội hình để yểm trợ các đơn vị bộ chiến tấn công địch quân, tái chiếm các vị trí trọng điểm ở Sa Huỳnh, trong đó có hải cảng và căn cứ hỏa lực tại đây. Cũng cần ghi nhận rằng, theo tổ chức, lực lượng Pháo binh cơ hữu của mỗi sư đoàn Bộ binh gồm có: 3 tiểu đoàn Pháo binh 105 ly, 1 tiểu đoàn Pháo binh 155 ly, có thể được tăng cường 1 pháo đội 175 ly của Pháo binh Quân đoàn. Trong cuộc hành quân tái chiếm Sa Huỳnh, ngoài hai tiểu đoàn Pháo binh được sử dụng làm nỗ lực chính trong kế hoạch hỏa tập, trong giai đoạn đầu từ ngày 28/1/1973 đến ngày 9/2/1973, sự yểm trợ hỏa lực cho các cánh quân được bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh phối trí như sau:
– Tiểu đoàn 21 Pháo binh yểm trợ trực tiếp cho liên đoàn 1 Biệt động quân tiến chiếm các mục tiêu Đông Quốc lộ 1, dọc theo bờ biển.
– Tiểu đoàn 22 Pháo binh yểm trợ trực tiếp cho trung đoàn 5 Bộ binh tiến quân tái chiếm các cao điểm phía Tây Quốc lộ 1.
* Các trận hỏa công của Pháo binh Sư đoàn 2 BB:
Diễn tiến kế hoạch hỏa yểm của Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh đã được cựu đại tá Lê Thương kể lại trong một bài viết được phổ biến trong tạp chí KBC với nội dung như sau:
Ngày 9 tháng 2/1973, tại phòng họp hành quân của trung đoàn 4 ở Đức Phổ (bộ chỉ huy nhẹ của Sư đoàn 2 BB cũng đặt tại đây), sau khi nghe trình bày xong tình hình, trung tướng Ngô Quang Trưởng – tư lệnh Quân đoàn 1 đã hướng thẳng vào tôi và ra lệnh: “Tôi giao cho anh trách nhiệm, làm sao tôi không cần biết, tập trung tất cả phương tiện hỏa lực mà anh có thể có, đạn không hạn chế, bảo đảm cho quân bạn tiến gấp chiếm Sa Huỳnh. Chúng ta chỉ còn 7 ngày thôi. Phái đoàn Quốc tế đình chiến đang nằm chờ tại Đà Nẵng.” Sau lời “vâng” của tôi, trung tướng Trưởng hỏi có cần gì không. Tôi trả lời chỉ xin bộ Chỉ huy Tiếp vận tiếp tế đạn dược trực tiếp đến vị trí súng cho chúng tôi. Đây là một lệnh ban hành sai nguyên tắc, vì đúng ra phải qua chuẩn tướng Nhựt, người chỉ huy trực tiếp của tôi. Tôi cũng không lạ gì, vì tôi đã nhận những lệnh loại như vậy khi tôi phục vụ tại Sư đoàn 1 BB, chỉ vì yếu tố lòng tin vốn có. Cũng là dịp tốt cho tôi thực hiện được khả năng của mình và ý chí quyết tâm giúp quân bạn thành công.

Ngay chiều hôm đó là một sự điều động Pháo binh dồn dập, và hôm sau (ngày 10/2/1973), hai tiểu đoàn thống nhất đồng bộ do chính hai tiểu đoàn trưởng chỉ huy, đó là thiếu tá Thái Thanh Hội và thiếu tá Trần Thanh Hào với 6 pháo đội tác xạ được dàn ra. Từng đoàn xe có móc hậu lớn (Lowboy) chở đạn đến chiến trường. Hầu hết các tác xạ đều thực hiện đồng thời (TOT: target-on-time), bất ngờ như B 52 thả bom. Từ đó danh từ B 53 đã được trung đoàn 5 BB đặt tên khi xin yểm trợ để đối đầu với sự tăng cường của địch từ hướng Tây. Có lần chính đích thân trung tá Võ Vàng – trung đoàn trưởng, liên lạc thẳng, kêu gọi tác xạ khẩn cấp vì địch quá đông. Địch từ hướng Tây đang nỗ lực tăng cường cho cuộc chiến. Pháo binh làm hết sức mình để đáp ứng nhanh nhất và hữu hiệu nhất.
Cứ tưởng tượng rằng mỗi yếu tố chỉ bắn hai quả/khẩu để bao trùm mục tiêu nhanh nhất. Mỗi pháo đội bắn 9 yếu tố bao trùm 300 x 300 mét. Mỗi tác xạ TOT với 6 pháo đội tiêu thụ 648 quả đạn có thể bao 300 x 1800 m, hoặc 600 x 900 mét, hoặc thu hẹp hơn tùy mục tiêu và cách sắp xếp. Điều đáng nói là 34 quả đợt đầu rơi đồng loạt rồi kế tiếp liên hồi bắn nhịp độ nhanh nhất để địch không thể tìm nơi ẩn núp. Nếu đúng chỗ, địch khó mà thoát thương vong. Nếu chỉ có một pháo đội, dù bắn đến 5 ngàn quả, hiệu quả vẫn chưa bằng.
Chiến thuật này còn gây cho địch tình trạng tâm lý hoang mang thường trực, tinh thần phải luôn luôn đề phòng lo sợ. Hễ nghe súng nổ bất kỳ từ đâu, bất kỳ ai bắn, cũng đều run. Về phần Pháo binh, việc thực hiện không phải là đơn giản. Phải có sự tự tin vào khả năng vì rất dễ bắn nhầm vào quân bạn. Chẳng hạn phải có công tác địa hình chính xác, yếu tố bắn phải tính kỹ không sai, và khi bắn, vô tuyến im lặng hoàn toàn để nhận lệnh ngưng bắn kịp thời khi bất trắc. Có lần đã cho kinh nghiệm, địch lợi dụng bắn cùng lúc để cho ta tưởng bắn lầm mà ngưng tác xạ.
Ở đợt tấn công cuối vào thị trấn Sa Huỳnh, từ trực thăng bay dọc bờ biển, tôi đã điều khiển bắn ba đợt hơi cay xen kẽ với ba đợt đạn nổ vừa cao, vừa chạm, vừa chậm, bao trùm suốt triền núi phía Tây, quyết diệt địch không cho cơ hội ẩn náu, bảo đảm an toàn cho quân bạn chiếm Sa Huỳnh. Đa số súng lớn và phòng không đã đặt tại khu vực này. Cùng hôm đó, nhìn ra biển tôi thấy một hàng rải rác mấy trăm thùng phuy màu đỏ gạch, chắc đựng xăng, và nhìn kỹ bằng ống nhòm xác định được vô số bao cùng màu nước biển. Sau này xác nhận là gạo bao loại 100 ký bọc hai lớp ny lông, vừa khỏi thấm vừa dễ nổi.

Hoạt cảnh dánh chiếm Sa Huỳnh.
Những ngày cuối của cuộc hành quân, trong phòng thuyết trình Sư đoàn, mọi người hân hoan chia xẻ niềm hãnh diện của chúng tôi khi nhìn tổng số đạn dược được tiêu thụ ở con số khinh khủng, trên 200 ngàn quả, kể cả hải pháo, một kỷ lục suốt mọi chiến trường Việt Nam. Xử dụng cùng một lúc trọn hai tiểu đoàn Pháo binh đồng bộ yểm trợ trực tiếp cũng là một kỷ lục của Pháo binh VNCH trong thời chiến.
Ngày 15/2/1973, Quốc lộ 1 khai thông một ngày trước hạn định. Đoàn xe dân sự dài mấy cây số, chờ đợi cả nửa tháng nay vui mừng lăn bánh trở vào Nam. Ngày 16 tháng 2/1973, trung tướng Ngô Quang Trưởng tư lệnh Quân đoàn 1 dẫn phái đoàn Quốc tế Kiểm soát Đình chiến đến chứng kiến, sau đó dạo một vòng thăm tỉnh Bình Định (phía Nam Sa Huỳnh) trước khi trở về Đà Nẵng.
Về chiến lợi phẩm, chỉ kể riêng súng lớn, có 8 khẩu phòng không 12 ly 8, một khẩu 14 ly 5, một súng không giật 75 ly, và đặc biệt một hỏa tiễn AT 3 còn nguyên vẹn và mới tinh, xăng và gạo dân chúng ra biển tha hồ vớt về dùng. Hai cánh quân thâu lượm chiến lợi phẩm nhiều nhất là liên đoàn 1 Biệt động quân và tiểu đoàn 2/4. Nếu ai muốn đặt vấn đề công lao, ai nhiều ai ít, thì người pháo thủ xưa nay ít can dự, vì thông cảm với sự hy sinh của những chiến hữu dùng hai chân cuốc bộ, dơ ngực ra đỡ đạn quân thù. Khi chiến thắng xong, thông thường ít có cấp chỉ huy nhắc công lao pháo thủ. Riêng trận chiến này, chúng ta hãy xét kỹ và cho đó là một thắng lợi chung.
Cũng theo lời đại tá Thương, trước khi có quyết định của trung tướng Trưởng cho trung hỏa lực để yểm trợ cho các đơn vị tái chiếm SA Huỳnh, ông đã đề nghị với chuẩn tướng Nhựt – tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh, cần phải hy sinh một vài nơi khác, tập trung hỏa lực cho cuộc hành quân tái chiếm Sa Huỳnh; nhưng chuẩn tướng Nhựt do dự rồi bỏ qua vì tình hình chung lúc đó nơi nào cũng căng thẳng cả.
*Trong tiệc hôm nay, cũng có sự hiện diện của cựu chiến sĩ khóa 1 Chiến Tranh Chính Trị – nhà văn, nhà báo và nhiếp ảnh gia Vương Trùng Dương. Anh đã lưu lại những hình ảnh đẹp và mang đầy ý nghĩa trong bài viết “Chiến Hữu… Của Mùa Xuân”. Kiều My chân thành cảm tạ Nhiếp ảnh gia Vương Trùng Dương.
Nhạc Xuân và Dạ tiệc
Tiếng nhạc rộn ràng của mùa xuân lại trổi lên. Ban tù ca Xuân Điềm đã mang đến niềm phấn khởi cho mọi người qua ca khúc Xuân Quê Hương. Tiếp đến là một giai điệu vui tươi, thoang thoảng hương vị ngày Tết miên man qua khúc nhạc Đón Xuân được trình bày bởi Ngũ Long Công Chúa: Lan, Mai Bích, Loan, Anh (những ái nữ của cựu đại tá Lê Thương) Giữa muôn cánh mai vàng rực rở với những bao lì xì đỏ treo lủng lẳng trên những cành cây, là những nét đặc trưng của ngày Tết truyền thống; khiến trong tâm hồn người cảm thấy nao nức như những ngày còn thơ.
Đặc biệt hôm nay có sự hiện diện của Linh mục Vũ Minh, ngài là Tuyên úy của Không quân, đã ban phép lành cho thức ăn và tạ ơn thực phẩm mà Thiên Chúa ban cho. Giờ đây bắt đầu phần dạ tiệc! Những món ăn thơm ngon bốc khói được nhân viên phục vụ dọn lên bàn, trông hấp dẫn làm sao! Quan khách vừa thưởng thức món ăn, vừa nghe nhạc và được xem những màn hoạt cảnh rất linh động do ban hậu duệ QLVNCH thực hiện, vô cùng thích thú!
Văn nghệ chủ đề LÍNH và XUÂN

Bản Lục Quân Hành Khúc trong điệu quân hành rất đỗi hùng hồn, do hậu duệ QLVNCH trong những bộ quân phục của 6 binh chủng trình bày đầy khí thế hào hùng:
“…Muôn bóng quân Nam chập chùng
Xây thành vinh quang tiếng vang
Muôn đời Lục Quân Việt Nam”
Âm vang kiêu hùng của bản nhạc “Lục Quân Hành Khúc” gợi lại một thuở oanh liệt của QLVNCH, đã lập nên những chiến công hiển hách vang danh muôn đời trong quân sử như: trận Tết Mậu Thân, Cổ thành Quảng Trị, Sa Huỳnh, Bình Giã, Khe Sanh, Hạ Lào, v.v…
Màn hoạt cảnh “Anh Không Chết Đâu Em” với giọng ca đầy xúc cảm của ca sĩ Trần Hào Hiệp, là nhạc trưởng của ban nhạc, phối hợp với ban hậu duệ QLVNCH đồng diễn…Mang đến nỗi xúc động dào dạt trong tâm hồn của những người đã từng sống trong thời chiến. Là những người đã trải qua hay chứng kiến cảnh chia lìa của những đôi uyên ương bằng nước mắt, hay vành khăn sô trên đầu của những góa phụ trẻ và những đứa con thơ dại. Đây là một thảm cảnh trong thời chiến mà nhiều gia đình phải hứng chịu niềm đau mất mác người thân yêu.
Ánh sáng trong khánh phòng đã dịu hẵn, làm nổi bật những ánh đèn lập lòe như những con đom đóm trên tay các con cháu của cựu đại tá Lê Thương qua màn hoạt cảnh You Raise Me Up. “You Raise me Up” là bài Thánh ca (Gospel ballad) do Rolf Lovland viết nhạc và Brendan Graham phổ lời. Ca khúc này dựa trên một câu chuyện rất đẹp về tâm linh giữa Thiên Chúa và chàng trai trẻ. Nhưng qua hoạt cảnh của những con cháu cựu đại tá, để nói lên lòng biết ơn của con cái đối với đấng sinh thành qua bao năm gian khổ nuôi con cái khôn lớn, đã gây xúc động trong lòng người. Tiếng hát đồng ca cất lên qua ánh nến lung linh:
“…Cha nâng đỡ con, vì vậy con có thể đứng trên những đỉnh núi
Cha nâng đỡ con, để con có thể đi trên biển giữa trời giông bão
Con mạnh mẽ khi dựa vào bờ vai cha
Cha nâng đỡ con, khiến con vượt lên hơn cả chính mình”
***
You raise me up, so I can stand on mountains
You raise me up, to walk on stormy seas;
I am strong when I am on your shoulders
You raise me up…To more than I can be.”

Ngũ Long Công Chúa xướng ca bản Quê Mẹ”
Sau đó, Ngũ Long Công Chúa xướng ca bản Quê Mẹ, một sáng tác của cố nhạc sĩ Thu Hồ để tưởng nhớ đến người mẹ quá cố. Các nàng công chúa rưng rưng nước mắt khi hát bản này. Tôi cũng đã chạnh lòng, nhớ lại những ngày vượt biên tạm cư ở Singapore, tôi thường hay nghêu ngao bản Quê Mẹ…Tôi nhớ khôn xiết đến gia đình, cha mẹ, chị em, những bạn hữu và quê hương…mà nước mắt cứ tuôn rơi!
“Đêm khuya trăng mơ mắt trông về trong cõi xa mờ
Nơi xa xăm kia tôi say nhìn quê cũ dấu yêu
Ôi tình quê hương nơi chốn xưa có người mẹ hiền
Tóc màu hoa bạc chiều chiều mắt ngấn lệ vì con…”
Sau đây là lời tâm tình của ái nữ Đại tá Lê Thương:

Chúng con xin kinh chào quý Bác, quý Cô Chú, và toàn thể quý vị đến tham dự tiệc mừng Đại Thọ của thân phụ chúng con hôm nay. Sự hiện diện của quý vị nói lên tấm lòng quý mến dành cho gia đình chúng con. Đặc biệt cho Ba chúng con, cựu Đại Tá Lê Thương, là một người bạn, một vị chỉ huy, đã cùng đồng hành sát cánh với các chiến sĩ VNCH bảo vệ quê hương trên khắp các vùng miền Trung Việt Nam đầy khói lửa trên hai thập kỷ, cho đến ngày 30/4/1975. Rồi bị giam giữ nghiệt ngã trong lao tù Cộng sản suốt 13 năm, cùng với nhiều vị sĩ quan trong quân lực VNCH sau ngày mất nước…
Một vị sĩ quan phục vụ dưới sự chỉ huy của Ba trong SĐ2BB là chú Phạm Đình Long trên Minnesota cho biết chú ấy RẤT TIẾC không vể Cali dể chúc mừng Ba, vì chú trải qua cuộc giải phẫu tim. Chú viết trong email:
“Tôi hãnh diện niên trưởng Lê Thương CHTPB/SD2BB kiêm nhiệm Trung tâm trưởng trung tâm Phối hợp hỏa lực đã ở bên cạnh anh em chiến sĩ chiến đấu cho tới phút cuối cùng khi chiến tuyến Phan Rang thất thủ. Từ đó đến nay tôi không được gặp niên trưởng nữa.Tôi bị bắt cùng một số chiến hữu khác. Tôi đã được đi cùng với Chuẩn tướng Sang và VC đã áp giải ra đất Bắc. Trong khi Đại tá Lê Thương vẫn theo Sư Doàn vào tử thủ tại Phan Rang. Tôi rất kính trọng Đại tá Lê Thương đã không rời bỏ anh em chiến hữu vào phút cuối cùng. Đáng ngả nón cúi đầu và trân trọng.”
Thưa Ba, theo con đây là món quà cao quý chú Long gửi đến Ba: “Một vị chị huy trong cơn nguy khốn, đã không bỏ thuộc cấp”. Con cám ơn Ba về nguyên tắc này.
Thưa quý vị, theo Tổng thống Abraham Lincoln cho cảm nghĩ là: “Hãy vinh danh những người chiến binh xả thân cho quê hương xứ sở chúng ta, những người lính dũng cảm gánh vác giang sơn đất nước. Ngoài ra, hãy tôn vinh những người đồng đội lo lắng cho những người chiến sĩ dồng đội của mình trên các mật trận mà ông ta đã cật lực phục vụ cho một mục tiêu lý tưởng như vậy”.
Thưa quý vị,
Từ thuở bình minh trong lịch sử con người, sống thọ là Thiên tước tức là tước vị Trời ban cho – 70 năm được kể là thọ, 80 năm là thượng thọ. Thân phụ chúng con nay đã được 98 niên tuế, mà trong thời đại này, được kể vào thành phần “cổ lai hy”.
Tiệc mừng hôm nay, cũng như bao gia đình khác, chúng con đã mạn phép tổ chức để mang tâm tình tạ ơn công đức sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Mừng Cha đại thọ, chúng con tưởng nhớ Mẹ, người đã về miền miên viễn lìa xa chúng con hơn 3 năm trước. Mừng thọ cha mẹ, ông bà là nét đẹp văn hóa truyền thống từ ngàn xưa của người Việt Nam, thể hiện đạo lý làm người mà chúng con muốn nêu gương cho con cháu mai sau.
“Dẫu con đếm được cát sông
Làm sao đếm được tấm lòng mẹ cha”.
Người ta nói rằng trên thế giới có lắm kỳ quan, nhưng kỳ quan đẹp nhất vẫn là trái tim của Mẹ, và tấm lòng của Cha. Đúng như thế, Cha là ngọn Thái Sơn hùng vĩ, là điểm tựa vững vàng cho chúng con giữa dòng đời nổi trôi với bao gian nan thử thách.
Trong ngày trọng đại hôm nay, chúng con xin phép dâng kính Cha chúng con lời thơ của nhân gian:
“Tuổi già chí vẫn sáng tươi
Sống vui, sống khỏe, sống đời thanh tao
Cõi xuân tuổi hạc càng cao
Cây bền, gốc vững thắm bao nhiêu cành
Nhờ cây muôn lá tươi xanh
Xum xuê tỏa bóng, mát cành cháu con”
Quý vị hiện diện nơi đây cùng với Nhóm NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN để chia sẻ niềm vui với gia đình chúng con, cũng như chứng kiến việc làm nhỏ bé này, nhưng gói trọn trái tim chúng con trong việc tỏ lòng đền đáp công ơn của Đấng Sinh Thành.
oOo
Xin chân thành cảm tạ sự hiện diện cùng với tấm lòng ấm áp của toàn thể quý vị.”
Phần cắt bánh và Chúc thọ
Ngày Birthday 98th chúc mừng cựu đại tá Lê Thương

Chiếc bánh sinh nhật 98 được cắt ra để chia sẻ những vị thơm ngon ngọt bùi cho mọi người sau khi ban nhạc trổi lên…Happy Birthday to you…Happy Birthday to you…rất vui nhộn. Từng người đại diện của nhóm, đến chúc mừng cựu đại tá Lê Thương những lời chúc tốt đẹp nhất và chụp ảnh lưu niệm với ông.
Sau đó, ban hậu duệ QLVNCH kết hợp với đội Biệt Kích biên phòng trong màu áo trận, trình diễn màn hoạt cảnh Chiến Sĩ Vô danh, sáng tác của cố nhạc sĩ Phạm Duy. Thêm một lần nữa, những chiến sĩ oai hùng đã gây xúc động mãnh liệt trong lòng người, khiến nước mắt lại lưng tròng! Chiến Sĩ Vô Danh là ai? Là “Những anh hùng không tên tuổi. Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông” …Họ đã gục ngã không toàn thây trên chiến trường đẫm máu, đã hy sinh mạng sống mình cho đất nước, mà tên tuổi chưa được một lần ghi danh trong quân sử. Trong giây phút bồi hồi… nghe trong tôi một dấu “lặng”… âm thầm…!!!
…”Gươm anh linh đã bao lần vấy máu
Còn xác xây thành, thời gian luống vô tình
Rừng trầm phai sắc, thấp thoáng tàn canh
Dạ Vũ
Để xóa đi những khoắc khoải trong lòng, giai điệu của nhạc khiêu vũ vang lên…lôi cuốn vô cùng! Từng cặp dìu nhau ra sàn nhảy, lả lướt theo từng điệu nhạc: Pasodoble, Rumba, Chachacha, Twist, Tango, Slow Rock…Môn khiêu vũ chẳng những có ích lợi đơn thuần về thể chất, mà còn giúp cho tinh thần được sảng khoái, ngoài ra còn giúp ích cho việc trị bệnh. Vì thế, nhiều người thích bộ môn này, được xem như môn thể dục thể thao lành mạnh cao cấp cho mọi lứa tuổi, và sẽ còn yêu chuộng mãi theo thời gian.
Ngày Birthday 98th chúc mừng cựu đại tá Lê Thương

Trời đã vào đêm và cuộc họp mặt đã tan. Mọi người từ giả ra về. Chắc hẵn trong ký ức từng người sẽ ghi lại những hình ảnh, cũng như những kỷ niệm đậm nét trong buổi tiệc Mừng Xuân và Thượng Thọ của cựu Đại tá Lê Thương đêm nay. Tiệc đã kết thúc! Nhưng dư âm về lòng hiếu thảo của con cháu đối với cha ông, là cựu Đại tá Lê Thương, sẽ còn mãi vang vọng trong lòng người. Mặc dù sống ở hải ngoại, nhưng gia đình của cựu Đại tá vẫn duy trì văn hóa đạo đức Việt Nam – là sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ. Đây là niềm an ủi và cũng là nguồn hạnh phúc vô biên dành cho cựu Đại tá Lê Thương trong tuổi hoàng hôn vậy! Cầu chúc ông Phước như Đông Hải, Thọ tựa Nam Sơn!
Kiều My
Xuân Giáp Thìn 2024.
-
HÁT QUAN HỌ BẮC NINH-ÂM NHẠC DÂN GIAN-CA TRÙ BẮC PHẦN

Trước tiên khi nói về nghệ thuật ca trù thì ca trù có nhiều tên gọi, tùy từng địa phương, từng thời điểm mà hát ca trù còn gọi là hát ả đào, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát cô đầu, hát nhà tơ, hát nhà trò và hát ca công. Đây là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt.
Ca trù là một hình thức “ca nhạc thính phòng”, thịnh hành từ thế kỷ 15, vốn là một loại ca nhạc trong cung đình, được sử dụng cho các buổi hát chúc thọ vua chúa và các buổi lễ trong triều đình, qua thời gian, ca trù dần dần phát triển rộng ra dân gian qua giới quan lại, đại gia, một số tầng lớp sĩ phu nho học giàu sang… và trở nên thông dụng. Tuy vậy ca trù khác với các loại hình dân ca khác ở chỗ nó có yêu cầu rất nghiêm ngặt quy định về số câu, số chữ, lời văn, quy định về đối ngẫu … có lẽ vì vậy mà ca trù vẫn được thưởng thức tập trung phần lớn ở tầng lớp có học thức cao rộng trong xã hội xưa.
Chữ trù có nghĩa là thẻ tre. Những người đào hát thường dùng các thanh tre làm phách khi hát và người nghe dùng “trù” (cái thẻ tre) để thưởng cho những chỗ hát hay, cuối cùng đếm thẻ để bình giá và thưởng tiền, vì thế mà có tên gọi là Ca trù. Tư liệu sớm nhất có nói đến những chữ Ca Trù và Ả Đào là vào thế kỷ XV, căn cứ vào bài thơ Nghĩ hộ tám giáp bài văn thưởng cho cô đào được giải sáng tác trước năm 1500 của Tiến sĩ Lê Đức Mao, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Bài thơ này chép trong Lê tộc gia phả (A.1855) có hai lần nhắc đến 2 chữ ca trù, cho biết: hát cửa đình là hát để thờ thần trong dịp đầu xuân và việc hát ca trù đã có dùng thẻ để thưởng cho đào nương (ả đào). Như vậy, đình Đông Ngạc, Hà Nội là nơi diễn ra lệ hát Cửa đình từ rất sớm. Và đây cũng là nơi gìn giữ được tục lệ thưởng đào rất đặc sắc.
Nghệ thuật ca trù được quốc tế công nhận:
Ca trù đã được Hội đồng thẩm định di sản của UNESCO đánh giá như sau:
Ca trù đã trải qua một quá trình phát triển ít nhất từ thế kỷ 15 đến nay, được biểu diễn trong không gian văn hóa đa dạng gắn liền, ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Ca trù thể hiện một ý thức về bản sắc và sự kế tục trong nghệ thuật biểu diễn, có tính sáng tạo, được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua các tổ chức giáo phường. Những giáo phường này đã duy trì các cộng đồng có quan hệ mật thiết, tạo nên nét đặc trưng cho ca trù. Mặc dù trải qua nhiều biến động lịch sử, xã hội nhưng ca trù vẫn có một sức sống riêng bởi giá trị nghệ thuật của nó đối với văn hóa Việt Nam.

Ca trù độc đáo ở không gian nghệ thuật riêng, nhạc cụ và thể thơ riêng biệt. Theo các nghệ nhân dân gian, ca trù có 56 thể thức hoặc giai điệu khác nhau, mỗi loại này được gọi là thể cách. Kỹ thuật hát rất tinh tế, công phu như thể ca sĩ nắn nót, trau chuốt từng chữ. Nhạc cụ được tinh giản với sự tương phản âm sắc đã làm tôn vẻ đẹp của từng thành phần tham gia hoà tấu.
Tham gia biểu diễn ca trù có ít nhất 3 người:
Một ca sĩ luôn là nữ (gọi là “đào” hay “ca nương”) hát theo lối nói và gõ phách lấy nhịp (phách là một nhạc cụ làm bằng gỗ hoặc tre, được gõ bằng 2 que).
Một nhạc công nam giới (gọi là “kép”) đệm đàn đáy cho người hát. Đán đáy là một loại đàn cổ, dài, với 3 sợi dây tơ và 10 phím đàn.
Ngoài ra, còn có một người chơi trống hoặc đánh trống chầu (gọi là “quan viên”, thường là tác giả bài hát). Sự tán thưởng mà “quan viên” dành cho người hát, hoặc bài hát được biểu lộ qua cách đánh trống. “Quan viên” đánh vào thành trống nhiều lần biểu lộ chỗ đắc ý. Nếu không hài lòng với người hát, “quan viên” đánh hai nhịp trống.
Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ và sự tham gia từ phía khán giả là rất cần thiết. Hát ca trù là nghệ thuật hát thơ, có một hệ bài bản phong phú quy định cho từng lối hát thờ, hát chơi và hát thi. Lời lẽ, ca từ của ca trù mang tính uyên bác, ít lời mà nhiều nghĩa, giàu chất thơ, mang nhiều cảm xúc, trầm ngâm, sâu lắng. Ca trù có đủ các thể loại từ trữ tình lãng mạn đến sử thi anh hùng, triết lý giáo huấn… đã thu hút sự tham gia sáng tác, thể nghiệm tài năng của nhiều văn sĩ và trí thức. Có hiểu thấu nội dung và nghệ thuật ngôn từ trong các bài ca cùng sự biểu hiện tinh tế của các ca nữ trong sự phối hợp nhịp nhàng với ngón đàn, khổ phách… mới thấy hết vẻ đẹp và giá trị của loại hình nghệ thuật này.
Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, đến giữa năm 2009 có 63 câu lạc bộ với khoảng 769 người (bao gồm 513 đào nương và 256 kép đàn và người đánh trống chầu) ở 14 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Ðịnh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, TP. Sài Gòn) trên cả nước có hoạt động thường xuyên và có kế hoạch luyện tập truyền nghề ca trù. Tuy nhiên, số nghệ nhân có thể hát được từ 10 làn điệu trở lên là rất hiếm. Tại Viện Âm nhạc hiện đã lưu trữ được 7 điệu múa ca trù và 42 bài bản ca trù. Các văn bản Hán Nôm về ca trù là 26 bản và khoảng 25 cuốn sách về ca trù.
Ca trù được công nhận là đã có đóng góp lớn vào văn hóa Việt Nam. Từ ca trù, một thể thơ độc đáo ra đời và trở nên có vị trí sáng giá trong dòng văn học chữ Nôm của dân tộc. Đó là thể thơ hát nói, được ưa chuộng qua nhiều thế kỷ. Ngoài ra, đàn Đáy và Phách đã trở thành những nhạc khí đặc trưng của ca trù, góp phần đưa ca trù trở nên một thể loại thanh nhạc kinh điển của Việt Nam. Với chiều dài về lịch sử, chiều sâu của nghệ thuật và mang bản sắc dân tộc rõ rệt ca trù đã khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới.
Lối hát Ca Trù được công nhận là Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể: (L’opéra de Ca Tru est un patrimoine culturel immatériel):
Ca trù là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt. Theo các nhà nghiên cứu khảo cổ, lịch sử, mỹ thuật, âm nhạc, vào thế kỷ XV, Ca trù đã có mặt trong văn hóa Việt Nam. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, Ca trù đã ngày càng thẩm nhập vào hầu hết các cuộc diện của đời sống từ quá khứ và hẳn đã khẳng định tư cách độc lập và độc đáo của nó trong bức tranh chung của văn hóa dân tộc. Nghệ thuật Ca trù diễn ra trong các không gian ở đình làng, đền thờ thần, nhà thờ tổ nghề, dinh thự và ca quán thính phòng. Cùng với đó là các hình thức hát thờ, hát thi, hát cúng tế lễ lạc, hát ca tài tử, không những đóng góp vào sinh hoạt của cộng đồng làng xã, của giới trí thức mà còn góp phần vào các hoạt động lễ tiết của quốc gia trong khuôn khổ của văn nghệ đón tiếp ngoại giao.
Ca trù được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể (intangible cultural heritage) cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại năm 2009. Phú Thọ nằm trong 17 tỉnh, thành vùng lan tỏa của Ca trù. Phú Thọ là một trong những vùng sớm được tiếp nhận và sử dụng lối hát Ca Trù trong các dịp lễ hội, đình đám, vui chơi giải trí và nó cũng là một sản phẩm tinh thần trong đời sống sinh hoạt văn nghệ dân gian của công chúng, tồn tại song hành với các làn điệu Hát Xoan, Hát Ghẹo ở vùng trung du đất Tổ. Trong 2 năm (năm 2013 – 2015), địa bàn tỉnh Phú Thọ thực hiện việc kiểm tra di sản văn hóa trong phạm vi tỉnh, trong đó có sự kiểm nhận đối với di sản Ca trù. Kết quả kiểm tra này cho thấy di sản văn hóa phi vật thể Ca trù đang được lưu giữ, thực hành ở thôn Trinh Nữ, xã Bình Bộ, huyện Phù Ninh và một số Câu lạc bộ hát dân ca địa phương.
Về Lịch Sử Và Nghệ Thuật Ca Trù…
Lịch sử và Nghệ thuật ca trù là công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Diện, ca trù được trình bày khá rõ nét, nhiều chi tiết quan trọng cần biết về ca trù, được ghi nhận trong luận án tiến sĩ của ông, in lần đầu năm 2007. Quyển sách này đã được tái bản ra mắt bạn đọc toàn quốc nhân kỷ niệm tròn 1 năm ngày nghệ thuật ca trù được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại (vào 01/10/2009). Thư tác này của nhà biên khảo Nguyễn Xuân Diện đã cho biết thêm rất nhiều chi tiết về loại hát Ca trù trong thư mục mà tác giả đã cho biết thêm bảy quyển sách khác có nội dung về nghệ thuật ca trù theo những thể thức khác, và lại còn liệt kê ra trên bảy chục văn bia viết bằng chữ Nôm đang được tàng trữ tại Viện Hán Nôm.
Nhờ đó, có nhiều khám phá mới mà từ trước đến nay chúng ta chưa được biết. Có những nghi vấn về Ông Tổ của Ca trù, về lúc nào danh từ “Ca trù” được dùng lần đầu tiên thì luận án văn hóa âm nhạc này đã đưa ra những bằng chứng đáng tin cậy. Mặc dầu đề tài luận án đặt trọng tâm vào nguồn tư liệu Hán Nôm về việc nghiên cứu ca trù, có lẽ tác giả sách nên ghi thêm một phụ lục vào những bài viết đáng kể về ca trù của các tác giả ngoại quốc như Samuel Baron vốn am tường về nghệ thuật ca trù, và cũng nên có một bảng ngữ vựng về những thuật ngữ chuyên môn trong nghệ thuật ca trù.
Ca trù chỉ một lối hát cổ truyền của người Việt. Tên gọi ca trù cũng đã được tài liệu cổ ghi nhận. Trên các tài liệu Hán Nôm chữ “trù” trong “ca trù” 歌 籌đều dùng chữ “trù” 籌. Theo đó Trù籌là thẻ làm bằng tre, trên thẻ có ghi số tiền (hoặc quy định ngầm với nhau là mỗi thẻ tương ứng với một khoản tiền), dùng để thưởng cho đào và kép ngay trong khi biểu diễn thay cho việc thưởng bằng tiền mặt; cuối chầu hát sẽ căn cứ vào số thẻ mà tính tiền trả cho đào và kép hoặc giáo phường. Người quyết định việc thưởng này chính là vị quan viên (khách nghe hát), sử dụng trống chầu (gọi là cầm chầu). Đó là nguồn gốc của tên gọi ca trù; cũng là thuật ngữ sử dụng trong chuyên khảo này. Tuy nhiên ca trù, với ý nghĩa là một lối hát có dùng thẻ để thưởng như đã nói ở trên thì chỉ có ở hát ca trù ở đình đền, tức là hát thờ.
Ca trù sử dụng ba nhạc khí đặc biệt (không chỉ về cấu tạo mà còn về cách thức diễn tấu) là đàn đáy, phách và trống chầu. Về mặt văn học ca trù làm nảy sinh một thể loại văn học độc đáo là hát nói. Đây là một bộ môn nghệ thuật ca nhạc “thính phòng” được hình thành trên nền tảng âm nhạc dân gian Bắc phần, người nghe cũng tham gia vào cuộc hát bằng việc cầm chầu. Ca trù còn có những cái tên khác như: hát cửa đình, hát nhà trò (hát ở đình, đền, miếu), hát cửa quyền (trong cung phủ), hát nhà tơ (hát ở dinh quan, tư gia các gia đình quyền quý), hát ả đào, hát cô đầu (hát ở các ca quán)…
Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định ca trù là một bộ môn nghệ thuật lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng ca nhạc của người Việt Nam. Ca trù gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt. Do vậy nghiên cứu ca trù cũng là góp phần vào việc nghiên cứu các giá trị truyền thống trong văn hóa Việt Nam. Thật vậy, nghệ thuật ca trù là một di sản văn hóa đặc trưng của Việt Nam. Đặc sắc ở sự phong phú làn điệu, thể cách, cả không gian, thời gian biểu diễn và phương thức thưởng thức; đặc sắc còn vì từ cội nguồn nó gắn bó mật thiết với lễ nghi, phong tục, với những sinh hoạt dân gian, với công chúng. Ca trù làm người ta nhớ tới những tao nhân mặc khách với lối chơi ngông, chơi sang, rất tinh tế và giàu cá tính sáng tạo của những danh nhân như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tản Đà…Và cùng với đó là mối quan hệ giữa văn nhân (nhà thơ, nhà báo, họa sĩ) với Ả đào – mối quan hệ quan trọng nhất của lối thưởng thức ca trù. Bởi quá trình tham gia sinh hoạt ca trù là quá trình văn nhân sáng tạo, thể nghiệm và thưởng thức các tác phẩm của mình.
Cũng theo TS. Nguyễn Xuân Diện trong tác phẩm khảo cứu Vị Trí Của Hát Nói (hay Ca Trù) Trong Dòng Văn Học Chữ Nôm, do Viện Nghiên cứu Hán-Nôm/ Hội thảo Quốc tế về chữ Nôm, Huế, 2006, các chi tiết quan trọng vê ca trù được ghi nhận như sau…

Nguồn gốc Hát nói:
Hát nói là một thể thi ca dân tộc được sinh ra từ nhu cầu của bộ môn nghệ thuật ca trù và trở nên một thể thơ độc đáo trong nền văn học Việt Nam nói chung, văn học chữ Nôm nói riêng. Trước nay cũng đã có một số công trình bài viết nghiên cứu về thơ hát nói ca trù và cũng đã có nhiều vấn đề của hát nói được làm sáng tỏ và khẳng định. Tuy nhiên vị trí và tầm vóc của hát nói trong văn học sử nói chung và trong dòng văn học chữ Nôm nói riêng thì vẫn chưa được khẳng định một cách mạnh mẽ.
Tên gọi, gốc gác, đặc điểm của thể hát nói
Trước đây, học giả Nguyễn Văn Ngọc trong Ðào nương ca nhắc rằng có người cho là hát nói là lối nói sử. Trương Tửu trong Văn nghệ bình dân Việt Nam cũng viết rằng điệu hát nói là những điệu nói sử. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ðức Mậu cho biết năm 1900 đã có tài liệu nói về ca trù và gọi hát nói là nói Nôm. Tuy nhiên, về vấn đề này, các tài liệu Hán Nôm cũng vẫn còn cho những thông tin đáng chú ý, góp phần làm sáng tỏ hơn nữa về tên gọi, gốc gác, đặc điểm của thể loại này. Sách Ca trù thể cách viết về hát nói như sau:
“Tiếng đàn của hát nói thuộc cung Nam. Nếu nữ hát thì gọi là hát nói, nam hát thì gọi là Hà nam. Lối văn này, xưa và nay đều có. Lối văn
này, mối bài chỉ có 11 câu mà thôi. Câu 1 và 2 gọi là tổng mạo. Câu 3 và 4 gọi là Thừa đề. Câu 5 và 6 thì dùng lối thất ngôn, hoặc cổ thi,
hoặc quốc âm; như là treo cái ý của toàn bài vào giữa bài thơ, để nói hết cái đại ý của toàn bài. Các câu 7, 8, 9 đều nối theo cái ý của câu 5
và 6 mà phô diễn thêm ra, để làm rõ ý nghĩa. Câu 11 là tổng kết ý nghĩa trong cả bài, mà cũng là một câu kết thúc. Cũng có khi đến đây,
lại thêm hai câu hoặc 4 câu nữa, liền sau đó nói dông dài thêm cái dư ý của bài thơ, ấy là muốn dẫn cho dài thêm. Người trong làng ca gọi là
Hát nối.” (trang 12b)…”
Theo sách trên thì thể thơ lục bát là một thể thơ được sử dụng phổ biến trong ca trù. Và thể thơ này lại được sử dụng chủ yếu trong làn điệu hát của ca trù. Các điệu hát được các nhà nghiên cứu ghi nhận là các điệu ca trù cổ đều có ca từ là thơ lục bát. Ðó là các làn điệu: Bắc phản, Chừ khi, Cung bắc, Dịp ba cung bắc, Ðại thạch, Hãm, Hồng hạnh, Non mai, Thư phòng, Mưỡu, Ngâm vọng và Thổng.
Trong các lối hát truyền thống như chèo, quan họ cũng sử dụng thơ lục bát trong nhiều làn điệu. Ðiều này càng cho thấy sự gần gũi của ca trù với các lối hát chèo và quan họ, nếu xét dưới góc độ thanh điệu ca từ. Tuy vậy cùng sử dụng thể thơ lục bát, nhưng các lối hát truyền thống này cũng đã tạo nên những vẻ đẹp khác nhau trong nhạc điệu làm phong phú cho vốn âm nhạc cổ truyền Việt Nam, và càng khẳng định sức sống của thơ lục bát trong văn học và văn hóa Việt Nam. Trong số các thể thơ được dùng trong ca trù, thể hát nói để lại số lượng tác phẩm lớn nhất, được ưa chuộng nhất. Hát nói đã gắn với những tên tuổi lớn trong lịch sử văn học Việt Nam như: Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Ðà, Phan Bội Châu, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, …

Nói thêm về thi nhân Dương Khuê là người văn hay, chữ tốt. Năm 1864, ông đỗ Cử nhân (cùng khoa này có Nguyễn Khuyến đỗ Giải nguyên). Năm Mậu Thìn (1868), thời vua Tự Đức, ông dự thi Đình đỗ Tiến sĩ. Đường hoạn lộ, thuở ban đầu, Dương Khuê được bổ làm Tri phủ Bình Giang (Hải Dương), rồi thăng làm Bố chính. Vào đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ 19, tay lái buôn Jean Dupuis uy hiếp các quan chức người Việt ở Bắc Kỳ để tự do sử dụng sông Hồng, ông ở trong nhóm những sĩ phu cương quyết chống lại. Ông dâng sớ về triều xin có thái độ quyết liệt với người Pháp, bị vua Tự Đức phê là “bất thức thời vụ” (không biết thời cuộc), rồi bị giáng xuống chức Chính sứ sơn phòng lo việc khai hoang. Năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất. Sau khi thương thuyết, họ chịu trả lại bốn thành cho triều đình Huế, thì Dương Khuê được điều động làm Án sát Hải Phòng. Năm 1878, nhân lễ “ngũ tuần khánh thọ ” của mình, vua Tự Đức xuống chỉ cho ông làm Đốc học Nam Định. Sau đó, ông lần lượt trải các chức vụ quan hành chính như: Bố chính, Tham tá Nha kinh lược Bắc Kỳ, Tổng đốc Nam Định-Ninh Bình. Năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer xóa bỏ điều 7 của Hòa ước Giáp Thân 1884, đặt cơ sở cho guồng máy cai trị của Chính phủ bảo hộ, thì Dương Khuê xin cáo quan, lúc 58 tuổi, được tặng hàm Thượng thư bộ Binh.
Khi ông mất (ngày 6 tháng 3 năm Nhâm Dần, 1902), nghe tin buồn bạn thân ra đi, Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ bất hủ Khóc Bạn (Khóc Dương Khuê) khi tang viếng. Bài thơ được vào văn học sử. Bài thơ có thể xem đây cũng là một bài văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy lệ lòng, gồm có 38 câu thơ. Mở đầu bài thơ là một tiếng than thở xót xa bùi ngùi:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) khóc bạn cũng là tự khóc mình, giọng thơ u uẩn thiết tha. Ông trách bạn “vội đi xa” để mình lẻ loi, cô đơn. Cuộc sống trở nên chán chường, vô nghĩa:, nhất là 2 câu sau rất phổ thông ở các bàn tiệc sau này:
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Khóc Dương Khuê (1839-1902) cho thấy một tình bạn đẹp và cảm động của giới nho gia thuở trước. Sau hơn một thế kỷ, chúng ta vẫn thấy nỗi bùi ngùi xúc động khi đọc bài thơ này. Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng là khóc cho một thế hệ nhà nho và cũng là tự khóc cho minh: “Ai chẳng biết chán đời là phải”…
Tác phẩm của Dương Khuê để lại có một số bài ca trù, bài văn, câu đối, trướng… Có lẽ nên đề cập bài Hồng Hồng Tuyết Tuyết,… bài ca trù nghe thanh thoát, bông đùa, dí dỏm và hóm hỉnh. Giới thiệu một bài ca trù dưới đây là bài ca trù tiêu biểu và nổi tiếng của nhà thơ Dương Khuê:
Gặp Lại Cô Đầu Cũ
Hồng Hồng Tuyết Tuyết,
Mới ngày nào chửa biết cái chi chi.
Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì!
Ngoảnh mặt lại, đã tới kỳ tơ liễu.
Ngã lãng du thời, quân thượng thiếu,
Kim quân hứa giá, ngã thành ông
Cười cười nói nói thẹn thùng,
Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại.
Riêng một thú Thanh Sơn đi lại,
Khéo ngây ngây dại dại với tình.
Đàn ai một tiếng dương tranh…
Hà Nội tức cảnh
Phất phơ ngọn trúc trăng tà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Tiếng chày An Thái, mặt gương Tây Hồ.
(bài thơ này nằm trong cuốn Vân Trì thi thảo).
Tham khảo một số sách báo và tiếp xúc với các nghệ nhân ca trù chúng ta được biết, trên thực tế ngoài hát nói đủ khổ (11 câu thơ) thì thể hát nói còn có một số biến thể khác như: Hát nói thiếu khổ (bài hát chỉ có 6 câu thơ); Hát nói dôi khổ tức là dôi thêm một hoặc nhiều khổ (mỗi khổ 4 câu thơ), Hát nói gối hạc (một vài câu thơ kéo dài ra, số chữ trong một câu thơ có thể lên tới 12, 18 hoặc thậm chí 24 chữ). Và hát nói thường hay đi kèm với hát mưỡu. Hát mưỡu ít khi được hát riêng rẽ với tư cách một bài hát trọn vẹn, mà thường được hát mở đầu hoặc kết thúc cho một bài hát nói. Do vậy khi hát mưỡu kết hợp với hát nói lại có các dạng Hát nói mưỡu tiền (hát mưỡu mở đầu rồi vào hát nói), Hát nói mưỡu hậu (hát mưỡu kết thúc sau khi hát nói); Hát nói mưỡu đơn (hát mưỡu bằng một câu thơ lục bát), Hát nói mưỡu kép (hát mưỡu bằng hai câu thơ lục bát).
Thể hát nói trong thơ ca trù
Trong nghệ thuật ca trù, thơ là một thành tố quan trọng. Ca trù có nhiều làn điệu, nhiều thể ca trù sử dụng các thể thơ quen thuộc và thuần Việt như lục bát, song thất lục bát. Trong số 34 thể ca trù mà thư tịch Hán Nôm có ghi nhận về lời thơ, thì các thể thơ được dùng là:
– Thể lục bát: dùng trong 17 thể ca trù
– Thể song thất lục bát: dùng trong 1 thể ca trù
– Thể hát nói là thể riêng của ca trù
– Thể thơ 7 chữ và một câu lục cuối bài: dùng trong 3 thể ca trù
– Thể thơ 7 chữ và một câu lục bát cuối bài: dùng trong 1 thể ca trù
– Thể thơ Ðường luật (thất ngôn, tứ tuyệt): dùng trong 8 thể ca trù
– Thể phú: dùng trong 1 thể ca trù
– Thơ Ðường luật trường thiên: dùng trong 2 thể ca trù (trong đó có bài Tỳ
bà hành của Bạch Cư Dị).

Nhắc lại, về thành phần trình diễn ca trù, với một chầu hát cần có ba thành phần chính:
Một nữ ca sĩ (gọi là “đào” hay “ca nương”) sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,
Một nhạc công nam giới (gọi là “kép”) chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát
Người thưởng ngoạn (gọi là “quan viên”, thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống. Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là “tức tịch,” nghĩa là “ngay ở chiếu.”
Âm nhạc ca trù hay hát nói thì ca trù vừa là loại thanh nhạc (vocal music), vừa là loại khí nhạc (instrumental music). Có một ngôn ngữ âm nhạc tế nhị, khá độc đáo và tinh vi. Vì là yếu tố thanh nhạc nên ca nương phải có giọng ca thanh thoắt, cao vút và âm vực rộng để ngân vang xa, khi hát phải biết ém hơi, nhả chữ và hát tròn vành rõ chữ, biết nảy hạt (đổ hột), đổ con kiến. Ca nương vừa hát, vừa gõ phách. Phải biết rành 5 khổ phách cơ bản, đánh lưu không, tiếng phách phải chắc và giòn, lời ca và tiếng phách phải ăn khớp với nhau.
Và vì sử dụng âm khí nhạc nên kép đàn dùng đàn đáy phụ họa. Bản đàn không nhất thiết phải đi theo bài hát, vì phải theo khổ đàn, nhưng khổ đàn – khổ phách – tiếng ca hợp nhau, hài hòa nhuần nhuyễn. Có những cách đàn ca chân phương- theo lề lối hay hàng hoa- sáng tạo và bay bướm. Quan viên là người cầm chầu, tiếng trống chầu vừa chấm câu khi tham gia vào cuộc diễn tấu, nhưng có tính chất phê phán, khen chê đúng chỗ, để khích lệ ca nương – kép đàn, giúp cho thính giả biết được đoạn nào hay – thật hay và như thế được giáo dục âm nhạc trong cách nghe.
Xét về một số tác phẩm nổi tiếng như sau…
Bài bản ca trù có nhiều loại. Phổ thông nhất là hát nói, một thể văn vần có tính cách văn học cao. Những bài hát nói nổi tiếng phải kể đến:
– Cao Bá Quát với “Tự tình”, “Hơn nhau một chữ thì”, “Phận hồng nhan có mong manh”, “Nhân sinh thấm thoắt”…
– Nguyễn Công Trứ với “Ngày tháng thanh nhàn”, “Kiếp nhân sinh”, “Chơi xuân kẻo hết xuân đi”, “Trần ai ai dễ biết ai”…
– Dương Khuê với “Hồng hồng, tuyết tuyết” tức “Gặp đào Hồng đào Tuyết”.
– Chu Mạnh Trinh với Hương Sơn phong cảnh.
– Tản Đà với “Gặp xuân”,”Xuân tình”, “Chưa say”
– Nguyễn Khuyến với “Hỏi phỗng đá”, “Duyên nợ”
– Nguyễn Thượng Hiền với “Chơi chùa Thầy”;
– Trần Tế Xương với “Hát cô đầu”.
Ngoài ra còn có những làn điệu cổ điển khác như “Tỳ bà hành” (bản diễn Nôm của Phan Huy Vịnh theo cổ bản của Bạch Cư Dị). Những điệu huê tình, gửi thư, bắc phản, hát giai… cũng thuộc thể ca trù.
Theo như đã trình bày trên, thể thơ lục bát là một thể thơ được sử dụng phổ biến trong ca trù. Và thể thơ này lại được sử dụng chủ yếu trong làn điệu hát của ca trù. Các điệu hát được các nhà nghiên cứu ghi nhận là các điệu ca trù cổ đều có ca từ là thơ lục bát. Ðó là các làn điệu: Bắc phản, Chừ khi, Cung bắc, Dịp ba cung bắc, Ðại thạch, Hãm, Hồng hạnh, Non mai, Thư phòng, Mưỡu, Ngâm vọng, Thổng.
Trong các lối hát truyền thống như chèo, quan họ cũng sử dụng thơ lục bát trong nhiều làn điệu. Ðiều này càng cho thấy sự gần gũi của ca trù với các lối hát… Xét tiếp về lối hát Ca trù – Hát dân ca Bắc Ninh. Ca trù hay Hát nói là biến thể của song thất lục bát. Các nhà viết sách thời xưa cho rằng Hát nói là một hình thức biến đổi của thể ngâm Song thất lục bát: Trong hát nói có Mưỡu là những câu thơ lục bát, nhiều câu 7 chữ có vần bằng, vần trắc, có cước vận, yêu vận. Nhưng khi đã phát triển, Hát nói là một thể tài hỗn hợp gồm: thơ, phú, lục bát, song thất, tứ tự, nói lối,… Trong lối Hát ca trù có nhiều loại như: Dâng hương, Giáo trống, Gửi thư, Thét nhạc thì Hát nói là lối thông dụng và có tính văn chương lý thú nhất.
Hát kể trong ca trù thường được mô tả là hát kể chuyện về một chuyện tình cảm trong thi ca văn học dân gian Việt Nam. Nói đến hát kể chuyện trong ca trù ví dụ như là bài Bèo Dạt Mây Trôi. Cốt truyện được kể lại bằng lối hát của ca trù trong bài Dân Ca Quan Họ tiêu biểu này như sau:
Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi,
Anh ơi, em vẫn đợi… í i ì… bèo dạt
Mây í i ì… trôi,
chim sa, tang tính tình… í i ì…, cao vời
Ngậm một tin trông, hai tin đợi, ba bốn tin chờ
sao chẳng thấy anh…
Một mảnh trăng treo, suốt năm canh,
Anh ơi, trăng đã ngã… a á à… ngang đầu
Thương nhớ… ờ ơ… ai, sao rơi… đêm sắp tàn… í i ì…
trăng tà,
Người ra đi có nhớ, (hay người xa có nhớ)
là nhớ ai ngồi trông cánh chim trời,
sao chẳng thấy anh…
Mòn mỏi thâu đêm, suốt năm canh
Anh ơi, em vẫn đợi… í i ì… mỏi mòn
Thương nhớ… ờ ơ… ai
Sao rơi, trăng sắp tàn .. í i ì… trăng tà
Cành tre đu trước ngõ
Là gió la đà em vẫn mong chờ, sao chẳng thấy anh…
Thương nhớ.. ờ ơ… ai
Sao rơi, trăng sắp tàn .. í i ì… trăng tà
Cành tre đu trước ngõ
Là gió la đà em vẫn mong chờ, sao chẳng thấy anh.

Hát dân ca Quan Họ vốn thịnh hành trong những ngày lễ Tết, vì cứ vào dịp trung tuần tháng giêng, khoảng từ 12 đến 14, ngay sau Tết Nguyên Đán, người dân vùng đất Quan Họ Bắc Ninh lại tổ chức lễ hội vui xuân đầu năm, là dịp để các liền anh, liền chị gặp mặt chúc tụng, hội hè và cũng là lúc để tiếng hát Quan Họ ở vùng đất kinh Bắc được ca vang khi du khách từ khắp nơi thưởng ngoạn văn nghệ qua âm thanh Quan Họ vào mùa Xuân về, mùa Xuân cũng bao hàm ý nghĩa là mùa lễ hội Quan Họ, là không gian vui tươi của Quan Họ; môi trường trẩy hội tưng bừng Quan Họ là vào mùa Xuân. Nhân dịp Xuân 2020, Tết Nguyên đán Canh Tý, bài viết này chúng tôi xin kính gửi Hội Bắc Ninh tại Nam California, Hoa Kỳ. Việt Hải và Khánh Lan đại diện Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian xin kính chúc quý đồng hương Một Năm Mới nhiều hạnh phúc, an lành và thịnh vượng.
Việt Hải & Khánh Lan
-
Mùa xuân với Lễ hội Bắc Ninh vui ca Quan Họ

Tập tục “Ăn Tết” theo người Việt chúng ta, là dịp những ngày Tết rơi vào thời điểm nông dân nghỉ ngơi nhàn hạ, mà nó được tính theo theo ngày âm lịch, và thi sĩ Nguyễn Bính trong bài thơ “Xuân Về”, ông ghi nhận:
Thong thả nhân gian nghỉ việc đồng
Lúa thì con gái mượt như nhung
Ðầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng
Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng
Dòng đầu “Thong thả nhân gian nghỉ việc đồng”, theo như vậy là người ta chờ đón cái Tết cùng với mùa màng đang là dịp nông dân nhàn hạ. Và mỗi một năm khởi đầu từ Mùa Xuân, sau ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán, nhiều làng bắt đầu mở hội, và những hội Xuân đó kéo dài suốt trong 3 tháng Tết ở khắp cả các nơi, ví dụ như ở Miền Bắc Việt Nam. Dịp trẩy hội mùa xuân trên quê hương quan họ. Du khách lữ thứ có thể thăm viếng những mái đình cổ kính, hay ngao du lênh đênh trên dòng sông Cầu, sông Đuống thơ mộng và để nghe những làn điệu dân ca mượt mà, hay đắm say lòng người mộ điệu trên vùng đất Bắc Ninh.

Viếng thăm Làng Lim Trẩy Hội Mùa Xuân:
Hội Lim là một sinh hoạt văn hoá nghệ thuật đặc sắc của nền văn hoá truyền thống lâu đời ở xứ Bắc Ninh và dân ca Quan họ trở thành tài sản văn hoá chung của dân tộc Việt, tiêu biểu cho loại hình thức dân ca trữ tình Bắc phần.
Thơ rằng:
Về làng Lim trẩy hội xuân
Du xuân Bắc Ninh bao lần mãi nhớ.
Hội Lim là một sinh hoạt văn hoá – nghệ thuật đặc sắc của nền văn hoá truyền thống lâu đời ở xứ Bắc và dân ca Quan họ trở thành tài sản văn hoá chung của dân tộc Việt, tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình Bắc Bộ.
Đôi nét về Hội Lim
Hội Lim được cho là lễ hội đáng chú ý nhất tại Bắc Ninh nhân dịp đầu năm, đây là niềm vui của người dân địa phương. Lễ hội chính thức được tổ chức vào ngày 13/1 Âm lịch tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Hội Lim bao gồm những nghi lễ trang nghiêm, nhằm nhắc nhở lại những làn điệu dân ca độc đáo quan họ, cùng các hoạt động văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh truyền thống. Nhiều trò chơi dân gian diễn ra sôi nổi như đấu vật, đấu cờ, đánh đu, thi dệt cửi, ca thuyền…
Hoạt động nổi bật nhất trong lễ hội vẫn là hát quan họ. Các liền anh, liền chị có dịp trình diễn những làn điệu quan họ trữ tình, âm vang trên chiếc thuyền hình rồng tại hồ nước sát bên cánh đồng làng Lim. Người tới trẩy hội thường là các nam thanh nữ tú, bởi đây được coi là dịp tìm bạn, tìm duyên.
Vào mỗi dịp đầu xuân, người dân chào đón những lễ hội diễn ra hàng năm tại nhiều nơi, cùng một trong số những lễ hội truyền thống nổi bật mà ai cũng biết chính là Hội Lim Bắc Ninh. Hội Lim là hội của những làng xã cổ nằm quanh núi Lim và đôi bờ sông Tiêu Tương, đấy là lễ hội lớn trong vùng, có thể nói sự sâu đậm nét văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh của người dân xứ Kinh Bắc.
Về nguồn gốc của Hội Lim, theo lịch sử Hội Lim được truyền khẩu qua rất nhiều phiên bản khác nhau. Có quan niệm cho rằng: Hội Lim có nguồn gốc từ hội chùa, hội hát, liên quan đến tiếng hát của chàng Trương Chi mà dấu xưa để lại là hình vết dòng sông Tiêu Tương khá rõ ở các làng quê vùng Lim. Giả thuyết này căn cứ vào truyền thuyết Trương Chi – Mỵ Nương.
Hội Lim có truyền thống lâu đời, nó phát triển tới quy mô hội hàng tổng (tổng Nội Duệ). Trên căn bạn lễ hội truyền thống của các làng xã trong tổng Nội Duệ (bao gồm 6 xã phường: Nội Duệ (Đình Cả và Lộ Bao), Nội Duệ Khánh, Nội Duệ Nam, Lũng Giang, Xuân Ổ và phường hát cửa đình Tiên Du (sau là Duệ Đông) với nhiều nghi lễ rước, tế lễ và các hoạt động nghệ thuật dân gian khá phong phú. Như hát trống quân, hát chèo, ca trù, hát tuồng và hát quan họ…, viên quận công Đỗ Nguyên Thụy – người thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc đã tự hiến nhiều ruộng vườn và tiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa, mở mang hội hè, gìn giữ thuần phong mỹ tục. Ông đã quy định lễ nhập tịch cầu phúc vào dịp tháng Giêng hàng năm, theo truyền thống “xuân thu nhị kỳ”. Như vậy, quận công Đỗ Nguyên Thụy là người có công phát triển từ lễ hội đình tế thần cầu phúc của các làng xã vùng Lim lên lễ hội hàng tổng Nội Duệ vào dịp mùa thu, tháng Tám, với những quy định chung, đồng thời ông cũng chính là người xây dựng bước đầu những lệ tục của lễ hội vào mùa xuân, tháng Giêng.
Sau đấy 40 năm, túc vào nửa sau thế kỷ XVIII, cũng chính người làng Đình Cả, tướng công Nguyễn Đình Diễn lại tiếp tục phát triển và đổi mới hội Lim. Ông đã cấp ruộng và tiền cho hàng tổng để chuyển hội hàng tổng từ mùa thu tháng Tám sang hẳn mùa xuân tháng Giêng. Ông cũng bỏ tiền mua nửa quả núi Hồng Vân (tức núi Lim) để xây lăng mộ của mình trên đỉnh núi. Hội Lim được duy trì trong suốt thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX. Ngày nay, hội Lim được mở vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Do được mở rộng cả về diện tích lẫn quy mô không gian nên phải nói rằng hội Lim là một lễ hội lớn và được tổ chức công phu hằng năm.
Hội Lim Bắc Ninh thờ ai?
Không gian lễ hội lấy đồi Lim làm trung tâm, có chùa Lim – nơi thờ ông Hiếu Trung Hầu – người sáng lập tục hát Quan họ và diễn ra tại 3 địa phương bao quanh là: xã Nội Duệ, xã Liên Bão và thị trấn Lim. Hội Lim thường được kéo dài trong khoảng 3 ngày (từ ngày 12 đến 14 tháng Giêng âm lịch hàng năm), trong đó ngày 13 là chính hội với nhiều hoạt động tập trung. Bởi vậy mà du khách cũng tập trung du lịch Bắc Ninh vào ngày 13 để có mặt tại hội Lim trong ngày chính hội.
Lễ rước ở Hội Lim: Hội Lim bắt đầu bằng một lễ rước. Thành phần đoàn rước là những người dân được mặc bộ lễ phục thời xưa với màu sắc sặc sỡ. Trong ngày lễ chính (ngày 13 tháng Giêng) với các nghi thức rước, tế lễ các thành hoàng các làng, các danh thần liệt nữ của quê hương tại đền Cổ Lũng, lăng Hồng Vân, lăng quận công Đỗ Nguyên Thụy, dâng hương cúng Phật, cúng bà mụ Ả ở chùa Hồng Ân. Ngoài phần lễ, hội còn có nhiều trò chơi dân gian như đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm… và đặc sắc hơn cả là phần hát hội.

Đầu xuân về làng Quan họ hòa mình vào hội Lim xứ Kinh Bắc
Lễ hội này là nhằm vào sự tưởng nhớ nguồn cội, cầu chúc may mắn hay còn là nơi gặp gỡ giao duyên của bạn hữu gần xa. Và hội Lim chính là một hội xuân như thế. Người xưa có câu tháng Giêng là tháng ăn chơi, chắc vì thế cho nên mỗi độ tết đến xuân về cũng là lúc những lễ hội trên khắp cả nước diễn ra nhộn nhịp. Đi Hội xuân dường như là thú vui, là nét đẹp văn hóa còn được lưu truyền từ ngày xưa đến tận bây giờ. Nói về di sản quan họ trên quê hương Kinh Bắc được tiếp nối và trao truyền một cách liên tục là minh chứng rõ nét cho thấy tình yêu, sự trân quý dân ca quan họ của cộng đồng nơi đây. Mỗi vùng có cách làm khác nhau để gìn giữ vốn văn hóa cao quý, nếu bắc sông Cầu (Bắc Giang) có những lớp truyền dạy và liên hoan quan họ cho thiếu nhi, hỗ trợ trang phục cho liền anh, liền chị thì bờ nam sông Cầu (Bắc Ninh) có những cuộc thi hát quan họ trên truyền hình thu hút nhiều đối tượng tham gia. Hội Lim nay đã trở thành nổi tiếng, được người dân khắp các vùng ca ngợi, cũng như truyền tụng:
Ba năm hai cái hội chùa,
Nào ai có lỡ bỏ bùa cho ai.
Già già, trẻ trẻ, gái trai,
Đua nhau ăn mặc, hán hài đi xem.
Hội Lim ai thấy chẳng thèm,
Tổ tôm, bài điếm, giò nem thiếu gì.
Đồn sắp có dệt cửi thi,
Cao lâu trăm thức thiếu gì thức ngon.
Về với đất Kinh Bắc chỉ cách trung tâm Hà Nội khoảng chừng 30km, bạn có thể về bất kỳ mùa nào trong năm nhưng để vào mùa du lịch đẹp nhất thì đó chính là mùa xuân và vào dịp lễ hội thì bạn có thể được thưởng thức những làn điệu dân ca mượt mà và độc đáo của đất Bắc Ninh. Về với Lễ Hội Lim là về với một bầu trời âm thanh, một khung cảnh bao gồm thơ và nhạc náo nức không gian đến xao xuyến lòng người. với những lời ca, tiếng hát hay nghe điệu hò câu thơ, còn nhớ những câu thơ ngày còn đi học nói về ngày hội Lim đầy ngẫu hứng. Hội Lim chính là hội chùa làng lim và đôi bờ sông Tiêu Tương. Một lễ hội không những mang lại vẻ đẹp của vùng đất thơ ca, trù phú mà còn là điểm đến tâm linh cho dịp đầu năm này. Mọi người có thể cùng nhau cầu chúc cho một năm ăn lên làm ra, phát tài, phát lộc,…
Những lễ hội đầu xuân nhộn nhịp ở Bắc Ninh, vì Bắc Ninh vốn là trung tâm của vùng văn hóa Kinh Bắc trước kia, cái nôi của dân ca quan họ, đồng thời lưu giữ những giá trị văn hóa lâu đời, những lễ hội, phong tục truyền thống. Giữa xã hội ngày càng hiện đại và phát triển, Bắc Ninh vẫn giữ được nét cổ kính, giản dị, mang đậm màu sắc dân gian. Quê hương quan họ là điểm đến lý tưởng trong ngày tết cổ truyền để du khách có dịp ôn lại những nét văn hóa truyền thống.
Hát quan họ trên thuyền ở Hội Lim, người ta nghe những làn điệu được gìn giữ từ bao đời nay và đã trở nên quen thuộc với những người yêu quan họ, yêu vùng giàu truyền thống. Kinh Bắc xưa nổi tiếng là vùng đất của những câu truyện cổ, những sự tích văn hoá. Vì truyền thống này mà nơi đây sở hữu nhiều lễ hội dân gian, trong đó lễ hội được nhiều người quan tâm nhất là Hội Lim tại thị trấn Lim, Tiên Du, Bắc Ninh. Những làn điệu Quan họ được truyền giữ từ bao đời, qua bao kỳ hội luôn làm say lòng người bởi vẻ mặn nồng, nghĩa tình, e ấp từ lời từ điệu và càng đằm thắm hơn qua chất giọng đặc trưng của liền anh, liền chị xứ này. Những áo mớ bảy mớ ba, nón ba tầm, quai thao, dải yếm lụa sồi, những ô lục soạn, khăn đóng, áo cặp the hoa gấm… cũng là một nét đẹp của quan họ Kinh Bắc…

Về Kinh Bắc đón xuân cùng người quan họ
Mỗi độ Tết đến, xuân về, trên vùng quê Kinh Bắc – Bắc Ninh lại ngập tràn sắc màu của lễ hội dân gian, cùng những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, đằm thắm. Ai đã từng đến với vùng quê này vào những ngày xuân, sẽ cảm nhận rõ hơn sự đằm thắm, đậm đà của sắc xuân trên miền quan họ. Thời gian của quan họ là suốt bốn mùa xuân – hạ – thu – đông. Nhưng mùa xuân mới thực sự là mùa của quan họ. Mùa xuân, trên vùng quê Kinh Bắc mà như người xưa đã có câu “tháng giêng là tháng ăn chơi”, thời điểm này các làng vào đám (hội), nam thanh nữ tú đua nhau trẩy hội tưng bừng. Những “hội hề, đình đám” kéo dài trong suốt 3 tháng xuân, từ làng này, qua làng khác:
“Mồng bốn là hội Kéo Co
Mùng năm hội Ó chẳng cho nhau về
Mồng sáu đi hội Bồ Ðề
Mùng bảy trở về đi hội Ðống Cao”

Người quan họ thường có câu nói cửa miệng rằng “Yêu nhau cái nết, trọng nhau cái tình và say nhau ở giọng hát câu ca”. Quan họ không chỉ để nghe, mà quan họ có tinh mới tường – tức là có chơi thì mới hiểu được người quan họ. Mỗi câu hát đều cho thấy ý tứ của người hát, mỗi ánh mắt, nụ cười không chỉ là sự làm duyên mà còn ẩn ý bao điều muốn nói. Các liền anh ngồi một bên, liền chị ngồi một bên, qua lời hát và cử chỉ người ta hiểu được tấm lòng của nhau.
Khi Tết về hay Xuân sang khi nhắc đến những di sản truyền thống văn hóa Quan Họ Bắc Ninh lâu đời như Trẩy Hội Lim mùa xuân qua những bài hát câu thơ về quan họ, vào đầu xuân về làng Quan họ hòa mình vào hội Lim ở xứ Kinh Bắc, hãy nhớ bài thơ lãng mạn sau đây phổ biến trong dân trong dân gian. Hội Lim là lễ hội văn hoá nghệ thuật đặc sắc của những làng quê quan họ, hình thành từ xa xưa. Ngày hội đã thu hút nhiều thành phần, lứa tuổi từ khắp nơi về trẩy hội vui xuân, trong đó phần đông là trai thanh gái lịch. Đến hẹn lại lên, họ đến với nhau để ca hát, với người lớn tuổi thì đến hội là dịp tìm về tuổi xuân, với nam thanh nữ tú thì hội là dịp tìm bạn, tìm duyên. Sự kiện văn hoá độc đáo này trở thành tài sản vô giá trong kho tàng văn hoá dân gian Việt Nam. Với người Quan họ, ngày xưa khách đến phải là:
Mấy khi khách đến chơi nhà,
Lấy than, quạt nước tiễn trà người xơi.
Trà này ngon lắm người ơi,
Người xơi một chén cho tôi bằng lòng.
Và đến lúc phải về, cuộc chia tay thật khó dứt, vì lời ca bao giờ cũng như níu chân khách lại qua cân nhắn nhủ: “Người ơi, người ở đừng về…”
Bài dân ca Quan họ nổi tiếng này mà nhiều người biết đến qua tên là “Người ơi! Người ởi đừng về”, đây là tên một bài hát dân ca Quan họ Bắc Ninh do Xuân Tứ cãi biên từ bài Quan họ cổ điển Chuông Vàng Gác Cửa Tam Quan và bài hát được viết xuất xứ từ một bài thơ dân gian. Bài hát thường được cất lên vào lúc lễ hội tàn cuộc, nhất là khi từ giã nhau. Trong ý thơ chan chứa chan lời hò hẹn, nhắn nhủ khi ta nghe câu ca “Người ơi người ở đừng về”, xin dẫn lời trích toàn bài thơ Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh này như sau.
Người ơi! Người ởi đừng về,
Người ơi! Người ởi đừng về,
Người về em vần (í i ì i), (Có mấy) khóc i thầm
Đôi bên (là bên song như) vạt áo
(Mà này cũng có a ướt đầm), Ướt đầm như mưa.
Người ơi! Người ởi đừng về,
Người về em vẫn (í i ì i có mấy) trông theo,
Trông (ư ư) nước (tình chung là như) nước chảy,
(Mà này cũng có trông a bèo.
Trông bèo (là) bèo trôi.
Người ơi! Người ởi đừng về.
Người về, em vẫn (í i ì i)
(Có mấy) tái (i) hồi yêu (a),
(Em là) em (mong anh)
Xin chớ (mà này cũng có a), đứng ngồi (đứng ngồi) với ai.
Người ơi! Người ởi đừng về.
Người ơi! Người ởi đừng về.

Bài hát quan họ trên đây cũng là phần kết luận của bài viết này. Chúng tôi xin kính chúc quý độc giả bốn phương được An Khang và May Mắn nhân dịp đầu năm Xuân về.
Trần Việt Hải & Trần Mạnh Chi.
(Hình ảnh tham khảo internet).
-
Nhìn Lại Văn Hóa Kinh Bắc.

Nhận thức được vai trò trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản Dân ca Quan họ, Ca trù trong những năm qua, được bảo tồn khá tốt. Bài viết này xoay quanh chủ đề âm nhạc truyền thống của vùng Việt Yên – Kinh Bắc. Xin vào đề.
Xét về địa lý, Việt Yên nằm ở vị trí trung tâm trên con đường chiến lược của tỉnh Bắc Giang nối Lạng Sơn với Bắc Ninh và Thủ đô Hà Nội, vùng đất giàu tài nguyên ở nơi địa đầu cửa ải mà phía Đông Bắc đất nước, tọa lạc có sông Cầu là tuyến giao thông đường thủy huyết mạch cắt ngang địa hình, phân cách với tỉnh Bắc Ninh, nơi nối liền vùng hạ các tỉnh như Hải Dương, Hải Phòng với Bắc Ninh, Bắc Giang, và Thái Nguyên.
Tóm lại, Việt Yên là huyện trung du nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Bắc Giang 10 km. Diện tích tự nhiên 17.135 ha, gồm 19 xã, thị trấn. Cũng nên ghi nhận Việt Yên còn là vùng đất địa linh nhận kiệt, nơi sinh ra danh nhân văn hóa Thân Nhân Trung; Hán Quận công Thân Công Tài, nơi đang lưu giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh tiêu biểu, nổi tiếng. Toàn huyện có trên 331 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 02 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 20 di tích cấp quốc gia và 71 di tích cấp tỉnh. Tiêu biểu như di tích cấp quốc gia đặc biệt chùa Bổ Đà – Nơi sở hữu và bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc: Bộ Mộc bản kinh Phật là bảo vật quốc gia, Lễ hội chùa Bổ Đà làdi sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, vườn tháp chùa Bổ Đà là vườn tháp lớn và đẹp nhất Việt Nam.
Việt Yên còn sở hữu nhiều di sản văn hóa phi vật thể như hát Chèo, Tuồng cổ, đặc biệt là Dân ca Quan họ, Ca trù đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 30/9/2009. Đây là niềm vinh dự, tự hào vô cùng to lớn đối với người dân Việt Yên nói riêng và tỉnh Bắc Giang nói chung.
Một trong những thành tựu nổi bật là hàng năm đã tổ chức liên hoan hát Quan họ của Việt Yên tại Lễ hội Chùa Bổ Đà. Tính từ năm 2000 – 2019, liên hoan hát Quan họ của huyện đã tổ chức được 19 lần. Thành quả ghi nhận như điều nghiên, ghi chép thu thanh 19 bài Quan họ dị bản tại làng Quan họ Trung Đồng. Đây là tư liệu đặc biệt quý cần phải lưu giữ và bảo tồn, phát huy, truyền dạy cho các thế hệ về sau.
Đề án Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể Ca trù cần được bảo vệ tại huyện Việt Yên giai đoạn 2014-2020. Huyện đã tổ chức và triển khai Đề án “Khôi phục lối hát đối đáp Quan họ” tới 100% các làng Quan họ ven sông Cầu thuộc các xã Tiên Sơn, Vân Hà, Ninh Sơn, Quảng Minh, Quang Châu, Vân Trung, thị trấn Nếnh.
Về thành tựu bảo tồn và phát huy giá trị di sản Dân ca Quan họ, Ca trù, sau khi được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: 10 năm qua, môi trường thiên nhiên và xã hội của sinh hoạt văn hóa Quan họ là các thôn làng Quan họ được bảo tồn và phát triển. Các di tích lịch sử văn hóa và lễ hội truyền thống gắn với sinh hoạt văn hóa Quan họ được cơ quan liên hệ xếp hạng bảo tồn.
Phong trào quần chúng tham gia vào việc bảo tồn, phát huy Dân ca Quan họ, Ca trù đã tập hợp các tổ chức, cá nhân trong và ngoài huyện chung tay góp sức tham gia. Đến nay toàn huyện có 18 làng Quan họ cổ. Nhắc đến quan họ, nhiều người chỉ nghĩ đến Bắc Ninh như một chỉ dẫn địa lý. Thế nhưng, ngay bên kia bờ bắc sông Cầu, mảnh đất Việt Yên cũng được coi là một trong những cái nôi khai sinh ra những câu giao duyên đằm thắm, mặn mà.
Việt Yên cũng là huyện duy nhất của tỉnh Bắc Giang có 5 làng quan họ cổ thuộc danh sách 49 làng quan họ Kinh Bắc được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh vào năm 2009.
Tại Việt Yên người dân nơi đây vẫn truyền nhau câu nói: “Trọng nhau vì nghĩa, mến nhau vì tài.” Đó chính là cái tình của người Quan Họ. Cái tình ấy được nâng niu, gìn giữ, đúc kết thành lời ăn nết ở của người dân Kinh Bắc; góp phần quan trọng làm nên sức sống, sức lan tỏa của quan họ trong đời sống đương đại, bà Đoàn Thị Mùi, một chị cho biết như thế.
Người Kinh Bắc nói chung và người Việt Yên nói riêng vốn trọng chữ “tình.” Bởi vậy, mọi cử chỉ, lời nói đều rất cẩn trọng, ý nhị. Điều này được biểu hiện một cách tinh tế qua từng câu hát trong tổng số hơn 200 làn điệu Quan Họ cổ (với hàng ngàn dị bản) đang được lưu giữ, bảo tồn trong đời sống cộng đồng.
Ngoài ra, các bậc cao niên cũng chỉ biết rằng, từ hàng trăm năm nay, trải qua bao biến thiên của thời cuộc, lịch sử, quan họ vẫn tồn tại, ngấm sâu trong đời sống người Kinh Bắc.
Từ hàng trăm năm nay, trải qua bao biến thiên của thời cuộc, lịch sử, quan họ vẫn tồn tại, ngấm sâu trong đời sống người Kinh Bắc. Trong một số giai đoạn cụ thể (thập niên 1950s-1960s), do điều kiện lịch sử, nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống thu hút đông người tham gia (trong đó có Quan Họ) không diễn ra phổ biến, thường xuyên.
Các nghệ nhân Quan Họ ở Việt Yên cho biết: “Trước đây, cổ nhân không gọi là “hát Quan Họ” như hiện nay mà gọi là “chơi Quan Họ.” “Hát Quan Họ” thì nhiều người thực hành được, nhưng “chơi” Quan Họ cho đúng bài bản, lề lối cổ thì không phải ai cũng làm được. Bởi lẽ, “chơi” quan họ mang sắc thái thanh tao, nền nã, lời ca vang ngân vừa phóng khoáng, vui thú vừa đắm đuối, nền nã”, liền chị Đàm Thị Mùi chia sẻ. Bà Mùi là Chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Quan Họ Nội Ninh.
Một canh hát Quan Họ cổ thường có ba chặng. Ở chặng đầu tiên, các liền anh, liền chị thường hát theo đúng niêm luật, lề lối cổ. Chặng thứ hai là chặng vặt, người hát sử dụng các làn điệu phổ biến trong đời sống sinh hoạt. Chặng thứ ba được gọi là chặng giã, đòi hỏi cách hát lưu luyến, luyến láy trữ tình.
Hơn nữa, người xưa cũng không gọi là “bài” Quan Họ như hiện nay. Thay vào đó, người Quan Họ gọi là “câu.” Thông thường, mỗi liền anh, liền chị thuộc từ 50 đến 70 “câu,” mỗi nghệ nhân “nằm lòng” hàng trăm “câu” Quan Họ.
Một trong những không gian sinh hoạt truyền thống của quan họ cổ là “nhà chứa” (nơi truyền dạy, tiếp đón các anh hai, chị hai từ những nơi xa đến). Trong quá trình bảo tồn và phát triển, toàn huyện đã có hơn 15 “Nghệ sĩ xuất sắc“, hay “Nghệ nhân” hạng tài ba, ưu tú. Đây là những người có tài năng và thành tích xuất sắc trong việc nắm giữ và truyền dạy di sản Quan Họ, hay Ca Trù cho các lớpkế cận. Thực hiện sự hướng dẫn của Huyện, ngành Giáo dục tổ chức triển khai lồng ghép chương trình giảng dạy Dân ca Quan Họ vào trong trong hệ thống các trường Tiểu học và Trung học cơ sở trong toàn huyện. Với các kết quả hoạt động trên, Dân ca Quan Họ được bảo tồn bền vững và phát triển sâu rộng trong mọi thành phần xã hội, đặc biệt là gIớI thanh thiếu niên.
Văn hóa phi vật thể, là gÌ?
Di sản văn hóa phi vật thể (tiếng Anh: Intangible cultural heritage, tiếng Pháp: Patrimoine culturel immatériel) là sản phẩm tinh thần gắn liền với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa có liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng thế giới, không ngừng bỏ mà được tái tạo và được bảo tồn và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Vào năm 2019 thì với việc “Kỷ niệm 10 năm Dân ca Quan Họ, Ca Trù” được UNESCO từ 2009 vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và những thành tựu khả quan trong việc bảo tồn và phát huy Dân ca Quan Họ, Ca Trù trong thời gian qua không chỉ là minh chứng cụ thể và sinh động sự cam kết của ngườI dân Việt Yên nói riêng và tỉnh Bắc Giang nói chung trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản của ngườI loại, mà còn làm cho Dân ca Quan Họ, Ca Trù trở thành nguồn văn hóa xã hội quý báu của Việt Nam nói chung, hay Bắc Ninh nói riêng.
Quan Họ là một loại hình dân ca phong phú về giai điệu. Quan Họ được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác qua phương thức truyền khẩu. Phương thức này là một yếu tố giúp cho Quan Họ trở thành một loại hình dân ca có số lượng lớn bài hát với giai điệu khác nhau. Tuy nhiên, cũng chính phương thức này đã làm cho các bài Quan Họ lưu truyền trong dân gian bị biến đổi nhiều, thậm chí khác hẳn sẽ với ban đầu. Nhiều giai điệu cổ đã mất hẳn. Mặc dù sự thay đổi này cũng làm cho Quan Họ phát triển, nhưng ở trong bối cảnh văn hóa Phương Tây đang xâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, vấn đề bảo tồn nguyên trạng Quan Họ trong từng giai đoạn phát triển là việc làm cấp thiết.
Những bài hát nhắc về Quan Họ phỏ thông như:
Những bài hát Quan Họ phổ thông như: Năm liệu bảy lo, Trẩy Hội Xuân, Bèo dạt mây trôi, Xe chỉ luồn kim, Trống cơm, Cò lả, Lý giao duyên, Bạn tình ơi, Mười nhớ, Tìm em trong chiều Hội Lim, Gửi về Quan Họ, Cây trúc xinh, Dân ca Quan Họ, Nhớ về Hội Lim, Trầu cau Quan Họ, Lý tình tang, Người ơi người ở đừng về, Qua cầu gió bay, Ngồi tựa mạn thuyền, Song đào, Đêm qua nhớ bạn, Để nhện giăng mùng, Tương phùng tương ngộ, Hồng Hồng Tuyết Tuyết…
Trích doạn bài ca trù Hồng Hồng Tuyết Tuyết
Tuyết muốn lấy ông…
Xưa …ngày xưa Tuyết muốn lấy ông
Ông chê. Ông chê Tuyết bé Tuyết không biết gì
Đến thì. Bây giờ Tuyết đã đến thì
Ông muốn lấy Tuyết.
Tuyết – Tuyết chê ông già
Hồng Hồng Tuyết Tuyết
Mới ngày nào còn chưa biết chi chi
Mười lăm năm thấm thoát có xa gì
Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu
Ngã lãng du thời khanh thượng thiếu
Khanh kim hứa giá, ngã thành ông
Cười cười nói nói sượng sùng,
Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại
Riêng một thú Thanh Sơn đi lại
Khéo ngây ngây
Khéo ngây ngây dại dại với tình…
Ví dụ bài ca Quan Họ phổ thông khác, xin trích đoạn lời bài hát: Người ở đừng về:
Nữ:
Em về em vẫn í ì i í i
Nay có ó o mấy khóc ơ nay ở ớ khóc thầm là
Đôi í ơ bên là đôi bên vạt áo
Mà này cũng có a ướt đầm
Ướt đầm như mưa
Người ơi ngươi ở em về
Nam:
Người về tôi dặn í ì i í i
Nay có ó o mấy lời này ở ớ nhời này là
Sông í ơ sâu là sâu song bên chớ lội.
Mà này cũng có a đo đầy.
Đò đầy người chớ qua.
Người ơi ngươi ở đừng về….
Có khuynh hướng mới là nên cải tiến, đổi mới những bài ca Quan Họ cũ. Nhạc sĩ Đức Miêng đã có số “vốn liếng” đồ sộ với hơn 200 tác phẩm bao gồm ca cảnh, hoạt cảnh, Quan Họ lời mới và âm hưởng dân gian Quan Họ. Ông cho ra những sáng tác với ca từ mới cho Quan Họ.
Nhạc sĩ Đức Miêng trình bày: “Chuyện này thì anh em nhà hát nói quá rồi. Thực ra tôi không phải là người đi đầu trong việc soạn ca từ mới cho Quan Họ. Việc này, các cụ đã làm từ rất lâu rồi, nói đúng hơn đó là một đặc tính cụ thể trong sáng tạo các làn điệu Quan Họ cổ… Người hát là người nghe nhưng đồng thời cũng là người sáng tác các làn điệu mới để đối lại bài bên kia ra. Cứ qua một mùa lễ hội, lại có thêm vài làn điệu mới đóng góp vào vốn Quan Họ cổ của dân tộc.”
Thật vậy, người nhạc sĩ chủ trương với ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, giữ hồn bài ca, và biểu hiện nét tình tự dân tộc tronng bài ca Quan Họ mới, giúp chuyển tải những bài học nhân sinh sâu sắc cho thế hệ trẻ về sau này.
Viết đến đây, tôi chạnh nhớ đến Nhạc sĩ Anh Bằng, có lần tôi tâm sự cùng ông, tôi vốn thích âm nhạc Quan Họ Kinh Bắc, những bài như Người ơi người ở đừng về, hay Hồng Hồng Tuyết Tuyết, tôi đề nghị ông “hóa phép” ra phiên bản nhạc mới.
Ông chọn bài “Người ơi người ở đừng về“, bởi vì ông đọc qua lời thơ, ông có nguồn cảm tác ngay. Xin trích doạn bài viết của Nhạc sĩ Anh Bằng như sau…
“Mới đây anh bạn Việt Hải ngỏ ý là tôi hãy phổ nhạc một bài dân ca Quan Họ, tôi bảo tôi chỉ phổ theo lối dân ca quê hương mà thôi. Vì dân ca Quan Họ cần những quy tắc về điệu hát và nhạc cụ chuyên môn, nó không phải phạm trù chuyên môn của tôi. Bài hát Quan Họ mà Việt Hải bàn luận là bài hát nổi tiếng mà nhiều người biết đến là Người Ở Đừng Về, đây là tên một bài hát dân ca Quan Họ Bắc Ninh do Xuân Tứ cãi biên từ bài Quan Họ cổ điển Chuông Vàng Gác Cửa Tam Quan và bài hát được viết xuất xứ từ một bài thơ dân gian. Bài hát thường được cất lên vào lúc hội tàn, nhất là khi từ giã nhau. Trong ý thơ chan chứa lời hò hẹn, nhằn nhủ khi ta nghe câu ca “Người ơi! Người ở đừng về”.

(Hình minh họa Ngọc Khánh)
Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn khóc thầm
Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa
Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn trông theo,
Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi
Người ơi người ở đừng về
Người về em nhắn tái hồi
Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai
Việt Nam là quốc gia mà nền kinh tế và xã hội được phát triển từ nông thôn, do đó nếp dân sinh ở các xóm làng miền quê, tình yêu trai gái được ghi nhận qua nhiều trong vần thơ hay các câu đồng dao. Sự lãng mạn của trai gái bị nếp lễ giáo nho phong ràng buộc, hãy nghe tiếp đoạn cuối:
Mình về, ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành:
Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba.
Chữ Trung thì để phần cha,
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình.
Những bài dân ca Quan họ khác thịnh hành là: Ngồi tựa song đào, Tương phùng tương ngộ, Bèo dạt mây trôi, Ngồi tựa mạn thuyền, Đêm qua nhớ bạn…
Sau đây xin đính kèm bản nhạc mà bài Người Ở Đừng Về mà tôi phổ thành nhạc như sau, dẫn ý lời trìch từ bài thơ nêu trên.
Mình Ơi Em Chẳng Cho Về
Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn tỉ tê (mà) khóc thầm
Người về em đứng em nằm
Đôi bên vạt áo ướt đầm (mà) như mưa
Người ơi nười ở đừng về
Người về em vẫn kè kè (mà) trông theo
Người ơi em vẫn trông theo
Trong nước nước chảy trông bèo (mà) bèo trôi
Mình ơi!
Mình ơi đừng ở đừng có về nghe
Mình về em nhắc lời thề (mà) nhớ thương
Nhớ thương nhớ thương em vẫn nhớ thương
Yêu em xin chớ chung giường (mà) với ai
Mình ơi em chẳng cho về
Em níu vạt áo em đề (mà) bài thơ
Chữ Trung xin để phần cha
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta (là) chữ Tình
Tình tình tình ơi hỡi tình ơi
Tình tình tình ơi hỡi là tình
Tình tình tình ơi hỡi tình ơi
Tình tình tình ơi hỡi là tình
(Anh Bằng).” Bài hát này được cô “Nghệ sĩ Dân ca ba miền” Thúy Anh trình bày trong nét chút nũng nịu, chút làm dáng khiến các liền anh, liền ông lên cơn sốt tâm can thì phải? Nghe Thúy Anh ca xong anh Bằng và tôi tâm đắc rất vui. Phiên bản “Mình Ơi Em Chẳng Cho Về” của Nhạc sĩ Anh Bằng, với tôi có sự dễ thương nào đó, nó mang hồn tôi đến vùng trời Việt Yên- Kinh Bắc trong mộng tưởng, bởi vì tôi, trai nam kỳ chưa hề bước chân qua khỏi vĩ tuyến 17. Nhưng quê hương quá nhiều nơi đẹp đẽ, và văn hóa quê hương dường như đã ăn sâu vào dòng huyết quản của tôi tự thuở nào.

(Hình: Thiện Lê/Người Việt)
Bài viết dựa vào nhiều nguồn tài liệu internet. Bài viết đăng trên báo Xuân cũa Hội Đồng Hương Bắc Ninh Nam California nhân dịp Tết Giáp Thìn 2024
-
Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền, Những Kỷ Niệm Xa Xưa
(Tưởng nhớ nhạc sĩ Nguyễn Hiền nhân ngày mất vào dịp Giáng Sinh 2005)

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền và nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cùng tuổi (sinh năm 1927) và bạn thân với nhau. Lê Trọng Nguyễn qua đời sáng ngày 9 tháng 1 năm 2004. Nguyễn Hiền và gia đình Lê Trọng Nguyễn thực hiện tuyển tập nhạc Lê Trọng Nguyễn nên Đêm Tưởng Niệm và Vinh Danh cố Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn được tổ chức ngày 17 tháng 4, 2005 tại Little Saigon. Lúc đó sức khỏe ông tuy yếu nhưng vì tình bạn thâm tình, ông cùng với các nhạc sĩ trong The Stars Band đảm trách chương trình âm nhạc với các ca sĩ ngày xưa ở Sài Gòn trình bày những ca khúc của Lê Trọng Nguyễn.
Nào ngờ, Nguyễn Hiền qua đời vào sáng 23/12/2005. Lễ Hỏa Táng ngày 31/12 tại Peek Family Funeral Home. Pháp danh Minh Trí. Ông ra đi rất thanh thản. Trước đó còn lái xe chỉ cảm thấy mệt mỏi, hiền thê của ông khuyên đến bác sĩ khám bệnh, phát hiện bị ung thư phổi. Một tháng sau, ông qua đời.
Vào những năm đầu của thập niên 1990s, cùng uống cà phê với nhau ở quán Tài Bửu (góc Bolsa & Magnolia) với ông, nhà văn Nguyễn Thạch Kiên (1926-2009), nhà văn Viên Luông, gợi ý tôi tham gia vào Trung Tâm Văn Bút ở Nam Califorinia. Ông là Tổng Thư Ký năm 1992 và Chủ Tịch năm 1999. Có một nhiệm kỳ tôi làm Tổng Thư Ký. Lúc đó, Trần Ngọc có văn phòng đại diện luật sư trên dãy lầu trong khu chợ Anh Minh (Góc đường Ward & Bolsa) nhưng nhiều năm chẳng thấy bạn tôi hành nghề (ngay cả những vụ đụng xe) nơi đó cũng là chỗ sinh hoạt của Trung Tâm Văn Bút. Thỉnh thoảng, buổi tối anh em hội viên và thân hữu gặp nhau trò chuyện, văn nghệ bỏ túi. Sau đó vì có sự tranh chấp với nhau (giữa danh xưng Tây Nam Hoa Kỳ, Nam California…) nên không sinh hoạt nữa.
Năm 1997, nhà văn Nguyễn Thạch Kiên thực hiện tuyển tập về nhà văn Khái Hưng, gồm 2 quyển dày hơn một nghìn trang, ông là người cộng tác nhiệt tình nhất, edit các bài viết, còn tôi chỉ giúp typset vài bài viết. Đây là quãng thời gian tôi được gần gũi, trò chuyện với các ông.

Ngoài tài hoa về âm nhạc, ông biết sử dụng nhiều nhạc cụ trong đó hawaiian (hạ uy cầm) và accordéon (phong cầm) rất tuyệt, thông thạo Anh, Pháp. Ông được nhiều người gọi là “tự điển sống” với trí nhớ rất tốt. Ông am tường về nhạc sử và các nhạc sĩ cổ điển Tây Phương. Nguyễn Hiền học nhạc năm 8 tuổi với thấy dạy nhạc người Pháp, sau đó ông ghi tên học bốn năm tại École Université de Paris, tốt nghiệp năm 1951 rồi trở thành nhạc trưởng trong Hotel de Paris tại Hà Nội. Năm 1953 theo lời ông “Tôi cưới nhà tôi, tôi không hề biết mặt và hai cụ bà gặp nhau ở chùa, hứa hẹn với nhau, móc ngoặc với nhau, thế thành ra chúng tôi thành vợ chồng”, là nghệ sỹ dưới ánh đèn màu nhưng một đời thủy chung với vợ.
Tháng 9 năm 1954, gia đình Nguyễn Hiền di cư vào Nam. Ông là công chức phục vụ trong Bộ Công Dân Vụ thời Việt Nam Cộng Hòa, tiền thân của Bộ Thông Tin, Xây Dựng Nông Thôn, Dân Vận & Chiêu Hồi… Ông từng làm Chủ Sự Phòng Văn Nghệ của đài phát thanh Sài Gòn, phụ tá Giám Đốc đài truyền hình Việt Nam Cộng Hòa.
Ông là người hướng dẫn các xướng ngôn viên đọc đúng tên gọi nhân vật, địa danh ngoại quốc viết theo tiếng Anh, tiếng Pháp… Trong những lần trò chuyện, ông kể vanh vách từng người, đảm nhận công việc trong hai thập niên cùng làm việc với nhau.
Về sáng tác, khi mới 18 tuổi, là phổ bài thơ mang tên Người Em Nhỏ của nhà thơ Thiệu Giang, bạn thân với nhau ở Hà Nội.
Nhạc phẩm của ông không nhiều nhưng có các ca khúc nổi tiếng. Những ca khúc của ông như: Em Là Vì Sao Sáng, Gửi Một Cánh Chim, Hương Thề, Huyền Trân Công Chúa, Ngàn Năm Mây Bay, Thầm Ước, Xuân Vui Ca, Ý Nhạc Chiều…
Ông thích thơ nên có nhiều ca khúc của ông phổ thơ như: Anh Cho Em Mùa Xuân (thơ: Kim Tuấn, Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân), Lá Thư Gửi Mẹ (thơ Thái Thủy), Chiều Nào Em Đến (thơ Đinh Hùng), Mái Tóc Dạ Hương (thơ Đinh Hùng, nguyên tác Một Tiếng Em)… Chuyện Đêm Mưa (lời Hoài Linh), Thanh Bình Ca (lời Thanh Nam), Hoa Bướm Ngày Xưa (lời Thanh Nam). Khi ở Hoa Kỳ ông ấn hành tuyển tập với tựa Hoa Bướm Ngày Xưa để nhớ người bạn thân.
Ông sáng tác chung với các nhạc sĩ: Ân Tình Lên Ngôi (với Minh Kỳ), Bước Chân Dĩ Vãng (với Lan Đài), Buồn Ga Nhỏ, Đã Mấy Thu Rồi, Từ Giã Thơ Ngây (với Minh Kỳ), Đêm Sơn Cước (với Thiện Huấn), Hai Mươi Câu Tuổi Trẻ (với Song Hồ), Hoa Đào Năm Trước (với Lê Dinh), Hoài Thơ (với Hà Dũng), Về Đây Anh (với Nhật Bằng), Lá Rơi Bên Thềm, Màu Tím Hoàng Hôn (nhạc Lê Trọng Nguyễn, lời Nguyễn Hiền), Tiếng Hát Học Trò (với Minh Kỳ).
Tác phẩm Ngàn Năm Mây Bay của nhà văn Văn Quang, năm 1963 đạo diễn Hoàng Anh Tuấn dựng thành phim với các diễn viên chính Lê Quỳnh, Kiều Chinh, Bích Sơn, Bích Thủy. Thái Lai sản xuất (có lẽ vào thời điểm đó với biến động về chính trị nên phim không được thành công) nhưng ca khúc Ngàn Năm Mây Bay rất nổi tiếng.

Trong lần xuất hiện trên Paris by Night, ông chia sẻ: “Khi tôi nghe thấy tên phim ấy là Ngàn Năm Mây Bay, tôi cũng thích văn chương, nhất là văn chương cổ cũng như văn chương Pháp rất là romantic. Thành ra tôi liên tưởng đến bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, trong đó có hình ảnh cánh hạc bay đi rồi mà ngàn năm mây trắng vẫn còn bay, thì tôi viết tựa trong bài nhạc Ngàn Năm Mây Bay “Em đi như cánh hạc vàng. Ngàn năm mây trắng ngỡ ngàng còn trôi” dưới tựa đề trong ca khúc”.
Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của nhà thơ Thôi Hiệu vào thế kỷ thứ 8 đời nhà Đường hay đến nỗi, khi nhà thơ Lý Bạch đến Hoàng Hạc Lâu thấy bài thơ phải thốt lên: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc. Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”. Rất nhiều nhà thơ dịch bài thơ nầy, sau 1975 bản dịch của nhà thơ Vũ Hoàng Chương dịch hay nhất. Bản dịch của Vũ Hoàng Chương gởi “chui” cho nhạc sĩ Cung Tiến, dựa vào bài thơ nầy phổ nhạc năm 1976 ở Úc. Trong tuyển tập của anh lấy tên ca khúc Hoàng Hạc Lâu đặt tên cho tuyển tập ấn hành năm 2010 để nhớ vị thầy Vũ Hoàng Chương dạy học ở Chu Văn An.
Với hai câu đề trong bài thơ thất ngôn bát cú (đề, thực, luận, kết), Vũ Hoàng Chương dịch thơ: “Vàng tung cánh hạc đi đi mãi. Trắng một màu mây vạn vạn đời”. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền không nói đến người xưa mà hình bóng “Em đi như cánh hạc vàng”.
Lời ca phác họa hình ảnh người yêu bóng giai nhân xa cách:
“Chiều tím không gian
Mênh mang niềm nhớ
Mây bay năm xưa còn đó
Đâu tìm người hẹn hò.
… Ngàn kiếp mây bay
Không phai niềm nhớ
Thu sang lòng thấy bơ vơ
Giờ chỉ còn mộng mơ”
(Nhạc phẩm nầy ấn hành năm 1964)
Năm 2023, ca sĩ Kim Tước thực hiện CD, lấy ca khúc nầu cho CD. Với tôi, giọng mezzo-soprano rất hợp và hay nhất trong các ca sĩ đã hát.
Hầu hết lời ca của ông qua những tình khúc mang nỗi buồn man mác, không ủy mị mà thường nhắc đến hình bóng xa xôi, tiếc nuối.
Tác phẩm Tiếng Hát Học Trò của nhà văn Văn Quang, Thái Thúc Nha (cậu ruột của Thanh Lan) đạo diễn với hai diễn viên chính Huy Cường và Thanh Lan thành phim cùng tên với ca khúc Tiếng Hát Học Trò (chung với Minh Kỳ) với tiếng hát Thanh Lan sản xuất năm 1970. Tuy phim trắng đen nhưng hình ảnh Thanh Lan sexy đã gây đình đám.
Phần cuối của phiên khúc:
“Tà áo năm xưa còn mãi trong tôi
Còn thiết tha như giọng hát buông lơi
Rồi thời gian trôi Xuân qua Hè tới
Mùa Thu mâý báo khắp trời
Gieo niềm thương nhớ đầy vơi”
Ông là người mẫu mực, thận trọng từ giai điệu đến lời ca qua những nhạc phẩm sáng tác nhưng cũng có vài trường hợp ông viết ngay tại chỗ. Gặp nhà thơ Đinh Hùng khi ăn phở, ĐH khoe: “Này, có bài thơ tôi đưa cho ông đây, ông xem ra làm sao”, ông thấy bài thơ tên là Một Tiếng Em, ca ngợi người phụ nữ trong lý tưởng của anh ấy là một người có nét sầu mộng. Ngay tại tiệm phở ông phổ nhạc bài thơ thành ca khúc Mái Tóc Dạ Hương.
Với 4 câu cuối trong phiên khúc:
“Dĩ vãng nào xanh hơn mắt em
Chao ôi! màu suối tóc buông mềm
Nét buồn khuê cát hoen sương phủ
Nhạt ánh sao ngàn bên dáng xiêng”.
Với ca khúc Anh Cho Em Mùa xuân, theo lời ông:
“Có một hôm vào mùng 5 Tết, lúc đó tôi làm việc ở Bộ Thông Tin, làm phụ tá cho Văn Hóa Bộ Trưởng, trụ sở của nó ở số 15 đường Lê Lợi, đối diện với G-France ở bên kia. Buổi sáng mùng 5 Tết thì cũng buồn thôi, anh Thượng Sĩ Già là một nhà phê bình văn học và anh Sĩ Trung cũng làm việc ở đó, lúc về thì tôi thấy trên bàn giấy có một tập thơ nhan đề là 40 Bài Thơ Của Vương Đức Lệ, trong đó có Mai Trung Tĩnh – Định Giang là một anh sĩ quan hải quân trẻ tuổi và có Kim Tuấn.
Trong 40 bài thơ ấy tôi mới lật, lật – đúng là mùng 5 Tết, không khí xuân vẫn còn tràn trề trong người nên còn nhiều hứng khởi. Mở ra thì gặp đúng cái bài Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân của Kim Tuấn. Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân thì lúc ấy không khí xuân vẫn còn thì tôi mới lấy giấy ra – không có giấy nhạc, tôi lấy tay kẻ khuông nhạc và không ngờ cũng là cái duyên, tôi viết xong độ 1, 2 tiếng thì đã xong bài, xong tôi cất ở trong ngăn kéo, sáng hôm sau có một anh trẻ tuổi đến tìm tôi, nói rằng hôm qua tôi đến tìm anh biếu tập 40 bài thơ, tự giới thiệu là Kim Tuấn… “Ủa? Kim Tuấn à? Tôi vừa mới phổ cái bài của anh ra thành nhạc đây này!”, anh ấy mới xin tôi chép lại một bài, và ngay lúc đó thì ông chủ hãng Asia thâu đĩa ghé qua, chắc cũng đói bài, mới bảo “Có bài gì mới không?”, tôi mới nói “Có bài mới toanh đây này!” – đưa cho ông ấy thì ông ấy ký contrat (hợp đồng) với anh Kim Tuấn, tôi cưa đôi cho ảnh một nửa. Thế rồi hãng xuất bản Tinh Hoa là anh Lê Mộng Bảo, anh ấy cũng lại in bài đó, thành ra chúng tôi cũng cứ chia nhau, chia hai hết tất cả chứ không tứ lục tục gì cả”. Lời ca khúc sát với bài thơ 5 chữ.
Qua ca nhúc nầy, nhà thơ Kim Tuấn được biết đến. Trước đó Kim Tuấn dã ấn hành các tập thơ: Hoa Mười Phương (1959), Ngàn Thương (in chung với Định Giang 1969), Dấu Bụi Hồng (1971) nhưng ít người biết đến, qua cac khúc nầy ấn hành Thơ Kim Tuấn đầu năm 1975. Gồm những bài thơ chọn lọc trong các tập thơ cũ.
Theo nhà thơ Du Tử Lê: Lần đầu tiên tôi được gặp nhạc sĩ Nguyễn Hiền vào khoảng đầu năm 1965 ở tiệm phở 44, trước đài phát thanh Sài Gòn, cuối đường Phan Đình Phùng… Sau khi nghe thi sĩ Đinh Hùng giới thiệu về tôi, họ Nguyễn bảo, ông tin cuộc đời có cái gọi là “hữu duyên”!… Là một nhạc sĩ nổi tiếng, nhưng họ Nguyễn cũng là con người của đời sống gia đình. Có thể vì thế , dù ở cùng một thành phố với nhau, tôi chớ gặp ông ở những quán café, nhà hàng chúng tôi hay la cà, thuở ấy. Mỗi khi muốn gặp ông, để nói một chuyện gì đó, tôi phải điện thoại trước và, điểm hẹn thường là phở 44, trước giờ ông thu thanh.”. Ông là người ít quan tâm về tiền nhuận bút và bản quyền. Và từ đó cho đến khi cùng định cư ở Little Saigon vẫn thường gặp nhau.
Năm 1978 nhạc sĩ Nguyễn Hiền bị quy là dính líu đến tổ chức phục quốc và bị giam đến năm 1980. Ông thoát khỏi Trong quyển Vụ Án Hồ Con Rùa trong đó có các văn nghệ sĩ. điển hình như: Trần Dạ Từ – Nhã Ca, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Thái Thủy, Mặc Thu, Vũ Hoàng Chương, Thanh Thương Hoàng, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Uyên Thao, Lý Đại Nguyên, Hoàng Vĩnh Lộc, Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hiệu… Năm 1998, gia đình ông được bảo lãnh, định cư tại Little Saigon.

*Trong sinh hoạt cộng đồng, nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã tham gia Ủy Viên Văn Hóa & Nghệ Thuật của thành phố Westminster, với Hội Cao Niên Á Mỹ, ông từng là Chủ Tịch và cố vấn. Đặc san Hạc Trắng giao cho tôi layout, nhà ông ở nhà nhà tôi nên có nhiều dịp tiếp xúc với nhau. Ông cũng tham gia, cố vấn Kế Hoạch Phát Triển Tổng Hội Phát Triển Võ Thuật Thế Giới. (Tuy ông không phải là võ sĩ nhưng các võ sĩ trong tổng hội thân quen với ông mời giữ vai trò cố vấn vì có nhiều kinh nghiệm về việc tổ chức).
Ông là người điềm đạm, lịch sự, rất tế nhị khi giao tiếp và sẵn sàng hỗ trợ bạn văn. Điển hình như nhà văn Dương Viết Điền (người bạn cùng Khóa Nguyễn Trãi I với tôi ở Los Angeles). Theo Dương Viết Điền:
“… Chiều ngày 08 tháng 12 năm 2004, tôi đã gọi điện thoại xuống cho nhạc sĩ Nguyễn Hiền hỏi xem thử Lời Bạt về hai tác phẩm (hồi ký) của tôi đã được viết xong chưa để tôi xuống lấy thì nhạc sĩ trả lời mới viết xong được một lời bạt thôi, cuốn thứ hai đang viết nửa chừng.
… Cuối cùng thì nhạc sĩ Nguyễn Hiền cũng đã viết cho tôi hai Lời Bạt, một cho tác phẩm Trại Ái Tử & Bình Điền, và một cho tác phẩm Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân”. (Trong hai tác phẩm của Dương Viết Điền, tôi đã trích và dăng trên tờ báo của tôi)
*
Với Hà Nội, tôi là dân Quảng Nam nhưng trước năm 1975, đọc Hà Nội 36 Phố Phường của nhà văn Thạch Lam, Thương Nhớ Mười Hai của nhà văn Vũ Bằng, các tác phẩm của Vũ Trong Phụng vào thập niên 1930s và nhiều bài viết về nơi chốn nầy nên rất thích.
Năm 1972, bố vợ từ Nha Trang lên Đà Lạt thăm vợ chồng tôi, lúc đó mới có dịp bố con trò chuyện với nhau. Cụ ông, con trai vị thầu khoán ở phố Hàng Đào, phục vụ trong ngành Cảnh Sát vì vậy có nhiều dịp “nay đây mai đó” khắp phố cổ Hà Nội từ tuổi thơ cho đến tháng 8, 1954 di cư vào Nha Trang. Cụ ông nhớ rất rõ từng con đường, góc phố, những món ăn đặc sản, nơi vui chơi ở mỗi phố, hàng, con đường từ Hà Nội ra ngoại thành. Hà Nội có khoảng sáu mươi hàng (con dường ngắn khoảng 100 mét đến 1 km, có quán xá hai bên)… Mỗi phố, có khi chỉ một hàng, có khi hai, ba hàng nên rộng hẹp khác nhau. Đặc biệt với phố Huế, giữa lòng Hà Nội, cùng tên với cố đô Huế… Qua lời kể, tôi viết Hà Nội, Giấc Mơ Mịt Mù (ký bút hiệu Hoàng Bích Yên) đăng trên đặc san Ức Trai của Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị năm 1973. Nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, Quản Đốc đài phát thanh Đà Lạt (sau nầy ở Hoa Kỳ ấn hành thi phẩm Yêu Em, Hà Nội) tưởng tôi là người Hà Nội nên cùng với nhà thơ Tô Kiều Ngân thực hiện chương trình ca nhạc với bài viết nầy.
Sau hai thập niên, những lần cà phê ở Little Saigon, nhạc sĩ Nguyễn Hiền kể về Hà Nội với trí nhớ làm tôi kinh ngạc. Ông nhớ cả số nhà vũ trường, vài văn nghệ sĩ từng quen biết từ cách ăn mặc cho đến thói quen…
Khi tôi viết bài Quang Dũng, Sổ Tay & Cuộc Tình, trong bài thơ Tây Tiến có hai câu thơ rất trữ tình: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới. Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. (Theo thủ bút của Quang Dũng trong Sổ Tay thì chữ giáng Kiều) nhưng sau nầy in lại ghi là dáng kiều. Ngôi nhà 68 phố Hàng Bông, nơi trú ngụ của bốn chị em họ Nguyễn là Kiều Vinh, Kiều Hinh, Kiều Hương, Kiều Dinh. Quang Dũng lấy hình ảnh 4 nàng Kiều nầy ghi trong thơ. Tôi hỏi nhạc sĩ Nguyễn Hiền và ông xác nhận đó là “giáng Kiều” không phải là “dáng kiều”.
Ngày 5/5/2005, tôi ra tờ Cali Weekly, khổ standard (nhật báo), 24 trang, có 4 trang full color (1, 2 & 23, 24), (Chủ Nhiệm: Vương Trùng Dương, Chủ Bút Nguyễn Ngọc Chấn, Tổng Thư Ký: Việt Hải) số ra mắt tôi viết bài về Stars Band (trang 1 & 9) khi tiếp xúc, phỏng vấn vài nhạc sĩ tham gia được hình thành từ năm 1995 do nhạc sĩ Mạc Vũ (BS Phạm Gia Cổn) cùng các nhạc sĩ Trần Trịnh, Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hiền (3 năm sau, nhạc sĩ Nguyễn Hiền vừa mới định cư được mời tham gia).
Nhớ những lần cùng uống cà phê với nhau, ông và Phạm Gia Cổn luôn “Nhớ nhà châm điếu thuốc” (Chiều – Hồ Dzếnh) rồi “liều một đám – làm một điếu”.
Không ngờ sau đó, cả hai trở thành người thiên cổ!
Nhờ những lần gặp gỡ nhạc sĩ Nguyễn Hiền, với kiến thức, trí nhớ và sự cởi mở, chân tình của ông giúp tôi hiểu biết thêm về nhạc sử cổ điển Tây phương qua các thời kỳ Trung Cổ, Phục Hưng, Baroque, Cổ Điển, Lãng Mạn… hai giai đoạn âm nhạc thời tiền chiến và hai thập niên ở miền Nam Việt Nam.
Hầu như mọi người được tiếp xúc với nhạc sĩ Nguyễn Hiền đều quý trọng nhân cách, trí nhờ và tài hoa sáng tác, sử dụng những nhạc cụ điêu luyện và sự dấn thân của ông trong sinh hoạt cộng đồng.
Vương Trùng Dương

