• HUY ANH,  Khánh Lan,  MINH ĐỨC,  Sinh Hoạt

    RA MẮT CỦA LIÊN NHÓM VĂN CHƯƠNG VIỆT & TIẾNG ĐÀN XƯA

    Khánh Lan tường trình

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian hân hoan chào đón sự ra mắt của Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa do hai thi sĩ Minh Đức (Ngô Thiện Đức) và Huy Anh (Nguyễn Đại Thành) chủ xướng.

    Ngày 22 tháng 06, 2025-Buổi họp mặt diễn ra trong bầu không khí thân mật và ấm cúng ngày 22, tháng 06, 2025 tại Vietlife TV Studio, tọa lạc trên đường Beach thuộc thành phố Westminster, California.

    Hai Thi Sĩ: Minh Đức & Huy Anh

    Sau nghi thức chào quốc kỳ và giây phút mặc niệm, Thi sĩ Minh Đức và Thi Sĩ Huy Anh ngỏ lời cám ơn sự hiện diện của các quan khách, thành viên và thân hữu. Bởi hôm ấy cũng là ngày tưởng niệm và mừng Father’s day & Mother’s day. Thi sĩ Minh Đức đã nói về ý nghĩa của ngày Lễ Cha (Father’s Day) và chia sẻ những kỷ niệm đã có với đứng sinh thành ra anh. Anh nói:

    Ngày Lễ Father’s Day là để tôn vinh những đóng góp và sự hy sinh cao cả của người cha, một người có công sinh thành và che chở cho cuộc đời những đứa con thơ. Ngày của cha thường được tổ chức vào Chủ nhật thứ 3 của tháng 6 hàng năm. Nguồn gốc của Ngày Lễ Cha được ăn mừng và phổ biến từ những năm đầu thế kỷ 20. Nhưng việc ăn mừng Ngày của Cha được biết đến sớm nhất diễn ra ở Fairmont, Tây Virginia vào ngày 5 tháng 7 năm 1908. Sự kiện được bà Grace Golden Clayton tổ chức, với mong muốn vinh danh cuộc đời của người cha bị mất vài tháng trước trong Thảm họa Monongah Mining ở Monongah, Tây Virginia, vào ngày 06/12/1907. Có thể Clayton chịu ảnh hưởng bởi việc ăn mừng Ngày của Mẹ lần đầu tiên trong năm đó, Clayton đã chọn ngày Chủ nhật gần nhất so với ngày sinh của người cha vừa mới qua đời của bà. Tuy nhiên, sự kiện đó bị lu mờ bởi các sự kiện khác trong thành phố. Tiểu bang Tây Virginia không chính thức công nhận ngày lễ này, và nó không được tổ chức trở lại. Tất cả công lao trong việc giúp Ngày của Cha ra đời về sau lại được ghi nhận cho Sonora Dodd người Spokane, đã tổ chức Ngày của Cha một cách độc lập vào 2 năm sau đó. Sự kiện của bà cũng chịu ảnh hưởng từ Ngày của Mẹ.

    Vào một ngày trong năm 1909, trong khi đang nghe bài thuyết giáo về Ngày của Mẹ, cô Sonora đã nghĩ đến một ngày để vinh danh các người cha. Sonora là con gái lớn nhất trong sáu chị em, mẹ cô qua đời trong lúc sinh nên cha cô là ông William Jackson Smart đã một mình nuôi sáu chị em khôn lớn. Sonora yêu quý và kính trọng cha vì hiểu những nỗi vất vả của ông. Người cha trong mắt cô là biểu tượng của sự hy sinh, vị tha, bao dung. Vì vậy, cô muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh cha mình. Sonora đã chọn ngày 19 tháng 6 là “Ngày của Cha” vì ngày đó là sinh nhật của cha cô.

    Sau đó, vào năm 1966, tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã quyết định chính chức chọn ngày Chủ nhật thứ 3 trong tháng 6 hàng năm là Ngày của Cha trên toàn nước Mỹ. Ngày của Cha đã được tổ chức kỷ niệm hàng năm kể từ khi tổng thống Mỹ Richard Nixon ký luật công nhận Ngày của Cha có giá trị là một ngày lễ chính thống vĩnh viễn vào năm 1972. Ngày của cha được tổ chức rộng khắp trên nhiều quốc gia. Ở mỗi quốc gia lại có một cách chào đón Ngày của Cha một cách khác biệt.

    Thi Sĩ Minh Đức (Ngô Thiện Đức)

    Sau cùng, Thi Sĩ Minh Đức đã diễn đọc bài thơ Mẹ Thiêng Liêng mà anh đã sáng tác sau ngày anh mất đi người Mẹ thân yêu của đời mình và khi nhớ lại những buổi đi làm về khuya mà Mẹ anh vần chờ đợi hay gọi điện thoại thăm hỏi anh. “Con có mệt không?” hoặc “Con đã ăn cơm chưa?” v.v…

    Bài thơ Mẹ Thiêng Liêng là cả một nỗi niềm tâm sự của thi sĩ Minh Đức khi nhớ về người Mẹ đã khuất bóng đã gây nên sự xúc động cho mọi người đang hiện diện trong khánh phòng. Người viết xin trích toàn thể bài thơ như sau:

    Mẹ là biển cả thiêng liêng

    Như giòng sữa ngọt mẹ hiền từ tâm

    Bao năm khổ cực âm thầm

    Như gương từ mẫu Quan Âm tình tràn

    Cho con hạnh phúc bình an

    Mẹ là hùng vĩ kỳ quan muôn đời

    Nay con dâng mẹ đôi lời

    Thơ này kính tặng “Mẹ tôi!” nhân từ ,…

    Tiếp theo là NV Khánh Lan chia sẻ về ý nghĩa của ngày Lễ Mẹ (Mother’s Day), cô nói:

    Ngày của Mẹ (Mother’s Day) là một ngày lễ nhằm để tôn vinh người Mẹ trong gia đình và những ảnh hưởng của người mẹ trong xã hội. Có nhiều tài liệu ghi lại rằng: Ngày Lễ Mẹ có nguồn gốc vào thời kỳ Hy Lạp và La Mã, được tổ chức thường niên vào mùa xuân. Người dân La Mã tổ chức lễ hội Hilaria để tưởng nhớ mẫu chúa Cybele vào ngày 15 tháng 3, kéo dài ba ngày với diễn hành dạ hội hóa trang và nhiều trò chơi thú vị. Cũng có tài liệu khẳng định rằng: Lịch sử Ngày Của Mẹ xuất hiện ở nước Anh vào khoảng năm 1600, được tổ chức 40 ngày trước lễ Phục Sinh để tri ân các bà mẹ. Trong ngày của Mẹ, các em nhỏ mang hoa, bánh bột nhân trái cây đến tặng và tri ân các bà mẹ của mình. Tuy nhiên, phong tục này bị quên lãng vào thế kỷ thứ 19.

    Sau một thời gian dài bị bỏ quên, Ngày của Mẹ (Mother’s Day) được khởi xướng ở nước Mỹ nhờ công lao của hai người phụ nữ: Đó là bà Ann Maria Reeves Jarvis và con gái của bà là Anna Marie Jarvis cách đây 100 năm. Bà Ann Maria Reeves Jarvis thuộc tiểu bang West Virginia, Hoa Kỳ đã lập ra một nhóm có tên gọi “Ngày của tình Mẹ” do mong muốn phục hồi và gắn kết lại tình cảm gia đình, vốn đã bị sao lãng bởi cuộc nội chiến NAM BẮC từ năm 1861-1865. Sau khi thành lập nhóm, bà ao ước tổ chức một ngày đặc biệt hàng năm để nhớ về những người Mẹ. Nhưng tiếc thay, bà đã mất trước khi biến tâm nguyện này thành hiện thực.

    Anna Jarvis là con gái của Ann Maria Reeves Jarvis đã đấu tranh và đề nghị Thượng nghị viện Mỹ tổ chức ngày của Mẹ trên toàn quốc. Sau nhiều nỗ lực, dù là nghị quyết chưa được thông qua, nhưng bà Anna jarvis đã tổ chức lễ kỷ niệm “Ngày của Mẹ” (Mother’s Day) đầu tiên tại nhà thờ Andrew’s Methodist Church năm 1908.

    Năm 1911, Ngày của Mẹ được tổ chức hầu hết các tiểu bang của Hoa Kỳ. Ngày 8/5/1914, Tổng Thống Woodrow Wilson ký một nghị quyết ấn định ngày Chủ Nhật thứ hai của tháng Năm là Ngày của Mẹ. Từ đó, ngày của Mẹ được mọi người đón nhận bởi đây cũng là cơ hội để tôn vinh những công lao, đóng góp của những người mẹ đối với gia đình và xã hội. Ngày Của Mẹ cũng là ngày những người con nhớ về mẹ của mình và thể hiện những tình cảm yêu thương, trân trọng và biết ơn đến người Mẹ kính quý.

    Khánh Lan đã kết thúc với 8 câu thất ngôn bát cú do Khánh Lan sáng tác để nhớ về Mẹ mình.

    Bài thơ LÒNG MẸ
    tác giả: Khánh Lan

    Mẹ là ánh sáng giữa đêm thâu
              Dìu con qua những lúc u sầu
              Tấm lưng oằn xuống vì giông bão
              Chở che con giữa cuộc bể dâu

              Mẹ là tia nắng ấm ban mai
              Sưởi ấm hóa tan những u hoài
              Cả đời mẹ đã luôn tận tụỵ
              Dệt cho con giấc mộng tương lai.

    Tiếp theo là Thi Sĩ Huy Anh chia sẻ những kỷ niệm về Mẹ mình, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh với những ngày tháng của thời thơ ấu, của những ngày đầu của niên học, của “Ngày Khai Trường” như đã được nhắc trong tác phẩm của Khoa Học Gia Nguyễn Xuân Vinh thuở nào. Phải, vẫn còn nhớ như in trong ký ức của cậu bé Nguyễn Đại Thành, “Ngày Mẹ Hồng Anh dẫn tôi vào lớp học, âu yếm dặn dò tôi với ánh mắt trìu mến đong đầy yêu thương”…Và sau hết, Thi Sĩ Huy Anh nhờ Khánh Lan thay mặt Huy Anh diễn ngâm bài thơ Lời Ru Của Mẹ để riêng tặng Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và tặng cho toàn thể các bà Mẹ nói chung.

    Theo như Thi sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành, anh tâm sự khi đọc bài văn ĂN NỬA TRÁI SIM của NV BẠCH PHỤNG trong Nguyệt San Nhân Văn Nghệ Thuật, số 1.  Bài văn này có đề cập đến LỜI RU CỦA MẸ. Huy Anh cảm hứng dâng trào nên anh đã sáng tác bài thơ lục bát có cùng tên để riêng tặng Mẹ của anh là Nữ Sĩ Dương Hồng Anh. Khánh Lan đã thay mặt TS Huy Anh diễn ngâm bài thơ này.

    LỜI RU CỦA MẸ
    Tác giả: Huy Anh

    Lời ru mẹ hát ngày nào
    Nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng ta
    Như dòng sông suối đi qua
    Lời ru của mẹ đưa ta vào đời

    Bao nhiêu ngày tháng qua rồi
    Lời trong tâm thức trau dồi trí con
    Nhận ghi tình nghĩa sắt son
    Tri ân lời mẹ ru con ngày nào. 

    Thi Sĩ Huy Anh (Nguyễn Đại Thành)

    Hai Thi Sĩ Minh Đức & Huy Anh cắt bánh khai mạc buổi ra mắt của Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa

  • Âm nhạc,  Viet-Hải

    PHÍM ĐÀN LÃNG MẠN BEETHOVEN VÀ TÌNH KHÚC “FÜR ELISE”

    Für Elise (hay For Elise), theo Đức ngữ có nghĩa là Gửi Elise, là tên của tấu khúc bagatelle, La thứ, 59, một tiểu phẩm cho piano độc tấu do Ludwig van Beethoven sáng tác vào khoảng năm 1810 khi ông 40 tuổi, đã nổi danh tiếng là một trong những nhà soạn nhạc lớn nhất trong mọi thời đại. Für Elise là bản nhạc viết với nét trong sáng và tràn đầy tình cảm, giai điệu dịu dàng, tha thiết. Nhưng không ai biết tại sao nhạc sĩ thiên tài lại đặt tên bản nhạc là ” Für Elise ” và Elise là ai? Đến nay, những nốt nhạc trong Für Elise dùng nhiều thể loại, từ rock, jazz, cho tới chuông điện thoại, một minh chứng cho thấy sự phổ biến của bản nhạc trong đời sống văn hóa đại chúng. Nếu Beethoven còn sống và được nhận tác quyền, nhà soạn nhạc tài hoa này hẳn sẽ là một quý ông giàu có.

    Với nguồn cảm xúc dạt dào của tình yêu Für Elise mang lại cho người nghe một sự cuốn hút khó kiềm chế. Bản nhạc không quá phức tạp về mặt kỹ thuật, thậm chí bạn có thể chơi nó bằng một tay trên phím dương cầm. Nhưng để đạt được tình cảm sâu lắng, tinh tế và đặc biệt rất trong sáng của Beethoven thể hiện trong bản nhạc là điều không đơn giản và rất khó khăn. Nhạc sĩ Beethoven đã sáng tác Für Elise, Beethoven đã 40 tuổi và đã bị điếc rồi. Vậy thì Für Elise đã được sáng tác trong cái sự “yên tĩnh” của nhạc sĩ.  Có phải “Tình yêu có chiều sâu hơn khi người ta lớn tuổi”. Für Elise mang lại sự sâu sắc như sự chiêm nghiệm của người đàn ông đã trải qua bao thăng trầm, cay đắng nhưng vẫn còn nguyên vẹn một tình yêu mãnh liệt và trong sáng trước một cô gái.

    Für Elise như một lời tỏ tình nhẹ nhàng du dương nhưng cháy bỏng. Tôi nghĩ rằng bạn không thể nghe nó một lần. Cũng giống như sự quyến rũ của tình yêu bạn cho phép mình được bay bổng và “phá cách” trong suy nghĩ và hành động để bày tỏ cảm xúc với người tình…Bạn có thể luyện kỹ thuật như: tốc độ cho đúng, hợp lý, âm thanh rõ ràng sau một thời gian tập luyện, nhưng một yêu cầu quan trọng khác không thấy được viết vào bản nhạc, đó là tinh thần, tư tưởng, tình cảm của cuộc đời của Beethoven. Và chính vì vậy đã hàng ngàn nghệ sĩ piano biểu diễn Für Elise vẫn miệt mài tập luyện, vì muốn thể hiện bản nhạc một cách “toàn vẹn”. Để đọa được sự “toàn vẹn” ấy cần rất nhiều thời gian hiểu biết, tích lũy, cảm nhận để làm sao thể hiện những dòng âm thanh trào dâng mà vẫn sâu lắng và đặc biệt là trong sáng một cách kỳ lạ của người đàn ông 40 tuổi trải qua quá nhiều vất vả, bi kịch trong cuộc đời mà vẫn đang yêu đắm say…

    ELISE LÀ AI?

    Và cái tên “Für Elise” do Beethoven viết trên bản thảo là cho người yêu? Bởi Beethoven đã không lập gia đình. Theo các nhà nghiên cứu thì trong khoảng thời gian Beethoven sáng tác bản nhạc này, ông đã yêu Therese Malfatti. Một tình yêu đơn chiếc vì Therese Malfatti đã từ chối lời cầu hôn của Beethoven. Tuy nhiên, nét chữ của tác giả ký tặng trên bản thảo đã nhàu nát theo thời gian (20 năm). Do vậy, một số học giả đã suy ra cái đầu đề của bản nhạc là do đọc nhầm từ chữ “Therese” thành “Elise” chăng? Vả lại, không một tài liệu, thư từ nào của những người cùng thời với Beethoven nhắc tới cái tên “Elise”, nhưng cũng không hẳn là không có cái tên này trong cuộc đời của nhạc sĩ?

    Với chứng bệnh điếc của mình, Beethoven đã dần dần tự mình rút lui ra khỏi đám đông. Tuy vậy, một số thư từ, tài liệu đã được tìm ra sau thời gian nhạc sĩ bị điếc, thì vào năm 1827 có bức thư cho “người tình bất hủ”. Mặc dù vậy, với rất nhiều nghiên cứu và phỏng đoán thì “người tình” này và Elise cũng chưa chưa chắc đã là một người. Và có thể cái tên Elise là một trong những điều bí hiểm ẩn còn phải nghiên cứu trong cuộc đời của Beethoven

    Elise, cho dù có là ai chăng nữa cũng không phải là nàng thơ bí ẩn duy nhất xuất hiện trong cuộc đời của Beethoven. Bức thư tình Immortal Beloved (Tình yêu Bất diệt) không có lời đề tặng của ông cũng đã được mang ra bàn luận rất nhiều. Với một chất thơ đầy trữ tình, chứa đựng trong mình những tình cảm sâu lắng và tinh tế của người đàn ông với một cuộc đời trải qua bao thăng trầm, Für Elise có thể được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Für Elise, mặc dù được công nhận trên toàn thế giới, đã trải qua nhiều năm tồn tại; mặc dù, ban đầu không được công nhận và giấu kín. Für Elise cũng là một trong nhiều tác phẩm dang dở của tác giả Beethoven, xét đến vị thế của nó thì đó chính là số phận của kiệt tác Für Elise trong suốt cuộc đời của Beethoven.

    Beethoven, một trong những nhà soạn nhạc sung mãn nhất trong lịch sử (1810), đó là thời kỳ Beethoven phải vật lộn với những nghịch cảnh cá nhân, chứng khiếm thính ngày càng trầm trọng, nhưng ông vẫn tiếp tục sáng tác vô số tác phẩm âm nhạc vượt qua những thử thách cá nhân. “Für Elise” ra đời trong giai đoạn sáng tác sung mãn này nhưng không được công nhận ngay lập tức nên nó đã nằm lẫn lộn giữa những giấy tờ cá nhân của Beethoven.

    Hơn nửa thế kỷ sau khi Für Elise được sáng tác, thế giới mới biết đến vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó, một khoảng thời gian đáng kể sau khi Beethoven qua đời vào năm 1827. Năm 1867, nhà âm nhạc học Ludwig Nohl đã tình cờ phát hiện ra kiệt tác này khi đang nghiên cứu những bản thảo bị lãng quên từ lâu của Beethoven. Nhận ra tầm quan trọng của những gì mình tìm thấy, Nohl đã tự mình xuất bản Für Elise. Với việc xuất bản, viên ngọc ẩn giấu này cuối cùng đã được hé lộ với thế giới.

    Ngay từ khi được khám phá, “Für Elise” đã bắt đầu thu hút khán giả. Mô-típ năm nốt nhạc đặc trưng, vốn là đặc điểm của tác phẩm, đã trở thành biểu tượng như những nốt nhạc mở đầu của Giao hưởng số 5 của Beethoven. Chính sự giản dị và dễ hiểu của tác phẩm đã khiến nó được nhiều người yêu thích, nhưng cũng chính chiều sâu và sự bí ẩn bao trùm khiến nó trở thành một câu đố thú vị, một đối tượng của sự say mê và nghiên cứu bất tận.

    HÒA ÂM, CẤU TRÚC VÀ GIAI ĐIỆU

    Xét về cấu trúc của tác phẩm “Für Elise”, nó là một tác phẩm ngắn gồm ba phần trong đó có hai phần chính. Phần đầu tiên, dưới dạng chủ đề và biến tấu, đặc trưng bởi giai điệu thanh thoát, du dương, được lặp lại và phát triển theo nhiều cách khác nhau. Phần thứ hai, dưới dạng tam tấu, giới thiệu một giai điệu mới, êm dịu hơn, trầm tư hơn. Tác phẩm kết thúc bằng việc trở lại phần đầu tiên, mang đến một kết thúc viên mãn và hài hòa. Sự giản dị trong cấu trúc của Für Elise không nên bị nhầm lẫn với sự thiếu tinh tế. Beethoven sử dụng các kỹ thuật âm nhạc tinh tế để tạo nên một trải nghiệm cảm xúc phong phú. Những thay đổi về nhịp điệu, sự chuyển điệu hòa âm và những điểm nhấn giai điệu tạo thêm chiều sâu và sự đa dạng cho tác phẩm, khiến nó vừa dễ tiếp cận vừa kích thích.

    Thêm một sự dặc biêt khác là có một điều lý thú nữa là giai điệu bản nhạc được bắt đầu là E (mi) – D# (rê thăng) – E (mi), có thể tương tự là E (mi) – Eb (mi giáng) – E (mi). Ba nốt nhạc này ở tiếng Đức được ký hiệu là E – Es – E, và những chữ cái này có trong chữ ThErESE hoặc là EliSE. Nhưng cho dù cái tên “Elise” là do đọc sai, hay là một mối tình bí mật nào đó, hay là một người phụ nữ nào đó đã đem lại nguồn cảm hứng sáng tác cho Beethoven.

    Điểm tinh tế của bản nhạc “Für Elise” được viết ở giọng La thứ buồn (A minor – a moll) và còn được goi là bản Bagatelle.Thế nào là giọng La thứ? Đi sâu vào lý thuyết âm nhạc thì hơi rắc rối. Nhưng để phân biệt sự khác nhau giữa các giọng, cơ bản người ta quy định ra 15 loại khác nhau. Đó là từ không có dấu gì ở đầu dòng nhạc đến 7 dấu thăng (#) hoặc dấu giáng (b) (tuy là có 3 cặp khác tên nhưng trùng âm thanh.) Ở đây, giọng La thứ là giọng không có dấu gì ở đầu dòng nhạc và gần như là giống với giọng Đô trưởng (C major – C dur), hay còn gọi là giọng Đô.Bản Bagatelle? Thường là tác phẩm ngắn và nội dung có thể là để thể hiện, mô tả những sự bất thường của thời tiết, sự thay đổi của thiên nhiên.Bắt đầu bản “Für Elise” là nét chuyển động nhẹ nhàng mềm mại. Nhưng sau đó được chia ra làm 2 hướng phát triển khác lạ, không đoán trước được, mà đều bắt nguồn từ nét nhạc đầu tiên của bản nhạc. Và nét nhạc chính thì luôn luôn được vang lên trong toàn bộ tác phẩm. Hình thức (form) của tác phẩm được viết theo hình thức rondo. Một hình thức mà sau khi hết phần giai điệu đầu tiên (A) tiếp theo là phần phát triển (B), sau khi hết phần B thì phần A được nhắc lại, và sau đó là một phần phát triển khác (C), kết thúc là phần A được nhắc lại lần nữa. Có thể viết tắt là A B A C A. Đây là mẫu thường được dùng nhất, nhưng hình thức rondo cũng có thể có thêm nhiều các phần phát triển khác nữa (D, E, F …vân vân), còn tùy thuộc vào ý đồ tác giả.

    Về Nhịp độ, mặc dù “Für Elise” thường được biểu diễn ở nhịp độ vừa phải, nhưng các nghệ sĩ piano giàu kinh nghiệm có thể thử nghiệm với những thay đổi nhỏ về tốc độ (rubato) để tăng thêm tính biểu cảm cho màn trình diễn. Kỹ thuật này có thể thổi hồn vào âm nhạc, khiến nó trở nên tự nhiên và cộng hưởng về mặt cảm xúc hơn. Xét về cường độ nhạc, “Für Elise” không cung cấp các dấu hiệu cường độ rõ ràng. Là một người chơi có trình độ cao, bạn có cơ hội thêm vào cách diễn giải và cường độ của riêng mình. Cường độ, hay các biến thể về âm lượng, có thể thêm chiều sâu và cảm xúc cho bản nhạc. Việc bạn quyết định chơi nhẹ nhàng (piano) hay mạnh mẽ (forte) có thể định hình tính cách và cảm xúc của bản nhạc. Crescendos (dần dần to hơn) và diminuendos (dần dần nhỏ hơn) có thể được sử dụng để xây dựng và giải tỏa sự căng thẳng trong âm nhạc.

    Như dã đề cập bên trên, tấu khúc gửi Elise là một bản nhạc bagatelle, một thuật ngữ âm nhạc có nghĩa là một bản nhạc ngắn, nhẹ nhàng. Nó được viết ở cung La thứ và sử dụng hình thức rondo tuần tự (A-B-A-C-A). Đoạn La, chủ đề chính, là đoạn nổi tiếng và dễ nhận biết nhất. Nó được đặc trưng bởi giai điệu đơn giản, lặp lại, dễ nhớ và dễ đàn.

    Xin thêm ý về rondo trong âm nhạc cổ điển. Rondo, trong âm nhạc, là một hình thức nhạc cụ đặc trưng bởi câu mở đầu và câu phát biểu lại sau đó của một giai điệu hoặc phần cụ thể, các câu phát biểu khác nhau được phân tách bằng cung cách tương phản. Pháp ngữ là rondeau (Anh ngữ rondo) là một hình thức âm nhạc chứa một chủ đề chính (đôi khi được gọi là “điệp khúc”) xen kẽ với một hoặc nhiều chủ đề tương phản (thường được gọi là “tập”, nhưng cũng được gọi là “đoạn lạc đề” hoặc “cặp đôi”). Một số mô hình có thể bao gồm: ABACA, ABACAB, ABACBA hoặc ABACABA (với chữ cái ‘A’ đại diện cho điệp khúc). Hình thức rondo xuất hiện trong thời kỳ Baroque và ngày càng trở nên phổ biến trong thời kỳ Cổ điển. Những ví dụ sớm nhất về các tác phẩm sử dụng hình thức rondo được tìm thấy trong các aria và hợp xướng opera Ý từ những năm đầu thế kỷ 17. Những ví dụ này sử dụng rondo nhiều cặp đôi hoặc “rondo chuỗi” (ABACAD) được gọi là rondo Ý. Hình thức rondo, còn được gọi trong tiếng Anh bằng cách viết tiếng Pháp là rondeau, không nên nhầm lẫn với hình thức không liên quan nhưng có tên gọi tương tự là forme fixe rondeau, một hình thức thơ ca và nhạc chanson của Pháp vào thế kỷ 14 và 15.

    “Für Elise” mang cấu trúc chi tiết như dạng của tác phẩm có thể được chia nhỏ như các phân doạn nhạc sau:

    Đoạn A (chủ đề chính): Giai điệu mang tính biểu tượng ở cung La thứ.

    Đoạn B: Một chủ đề tương phản, nhịp nhàng và năng động hơn.

    Đoạn A (trở về): Tái lập chủ đề chính.

    Đoạn C: Một chủ đề trữ tình và biểu cảm hơn, thường khó chơi hơn.

    Đoạn A (trở về cuối): Sự xuất hiện cuối cùng của chủ đề chính, kết thúc tác phẩm.

    Hòa âm của Für Elise tương đối đơn giản, chủ yếu sử dụng các hợp âm La thứ, Mi trưởng và Đô trưởng. Sự đơn giản về hòa âm này góp phần giúp tác phẩm dễ tiếp cận với người mới bắt đầu. Giai điệu, mặc dù đơn giản, nhưng cực kỳ hiệu quả và dễ nhớ. Việc sử dụng các đoạn lặp lại và biến tấu tinh tế giúp duy trì sự hứng thú của người nghe trong suốt tác phẩm. Bản nhạc gồm 103 ô nhịp và kéo dài khoảng 3 phút.

    “Thư gửi Elise” (La Lettre à Élise) gồm ba phần: một giai điệu đơn giản, trôi chảy được khi đàn bằng tay phải, một biến tấu của phần đầu được dàn bằng tay trái, và một đoạn lặp lại của phần đầu được chơi bằng tay phải. Đây là tác phẩm piano nổi tiếng nhất thế giới, và cũng là tác phẩm được chơi nhiều nhất bởi những người mới bắt đầu. Thậm chí, những người qua đường đam mê piano thường nghe thấy tác phẩm này được chơi trên đàn piano tại các nhà ga, giống như bản Canon nổi tiếng của Pachelbel. Nhưng nó được sáng tác như thế nào, dành cho ai và tại sao? Chúng tôi sẽ giải đáp tất cả những câu hỏi này thông qua bốn giai thoại ít được biết đến về lịch sử của Bức thư gửi Elise.

    ĐÔI NÉT VỀ BEETHOVEN:

    Tay đàn điêu luyện, Ludwig Van Beethoven (1770-1827), người Đức, một nhạc sĩ bị điếc. Beethoven được coi là một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng ông cũng nổi tiếng về tính cáu bẳn của mình, thật khó mà hình dung nổi những đau khổ vất vả mà người nhạc sĩ vĩ đại này đã từng trải qua trong đời.

    Tài năng biểu diễn âm nhạc của Beethoven đã bộc lộ rất sớm từ lúc còn nhỏ, và ông bị người cha ác nghiệt nghiện rượu đã tận dụng tài năng của đứa con để kiếm tiền. Kỹ thuật chơi đàn của Beethoven tiến bộ rất nhanh, nhưng tiền thì đã không kiếm được nhiều như mong muốn. Khi Beethoven 11 tuổi, ông có thể chơi đàn trong cung đình thay cho thầy của mình. Khi Beethoven 17 tuổi, ông đến Vienna. Theo dự định thì ông sẽ học sáng tác với Mozart, nhưng Beethoven lại phải quay về nhà ngay tức thì vì mẹ của ông đang hấp hối và qua đời.

    Vài năm sau, Beethoven trở lại Vienna, nhưng ông không còn cơ hội học sáng tác nữa, vì Mozart đã qua đời ở tuổi 35. Bố của nhạc sĩ Beethoven cũng qua đời sau đó và cùng năm ấy, Beethoven quay lại Vienna. Lúc đó, Beethoven ở độ tuổi hai mươi mấy, ông theo học với một số nhạc sĩ nổi tiếng. Trong thời gian này, Beethoven đã sáng tác một số nhạc phẩm, có những tác phẩm sáng tác của ông bắt đầu được chú ý tới với cả khen lẫn chê. Tuy vậy, Beethoven được khẳng định là một trong những người chơi đàn ngẫu hứng giỏi nhất thời đó. Người ta kể lại rằng tay đàn của ông đạt tới trình độ mà nhiều nghệ sĩ đàn piano mơ ước.

    Khoảng năm 1800, ông cho xuất bản 2 bản sonata, đó là bản Pathétique và bản Sonata Ánh trăng. Có thể coi cả 2 bản này đã là bước chuyển lớn từ thời kỳ cổ điển sang lãng mạn, cái thời mà các nhạc sĩ bắt đầu viết ra những cảm xúc riêng tư của mình mà không bị bó buộc vào việc sáng tác nhạc cho nhà thờ hoặc cho các cung điện đem đên sự lạc quan cho Beethoven, nhưng những tai ương trong cuộc đời lại đến với Beethoven. Tình trạng sức khỏe của Beethoven gia tang, ông đau yếu thường xuyên, ông bắt đầu cảm nhận khả năng nghe của mình càng ngày càng kém và đi đến tình trạng hoàn toàn điếc. Đây là thời gian thật kinh khủng đối với nhạc sĩ Beethoven và ông đã có lần viết di chúc và có ý định tự tử. Nhưng ông đã vượt qua và tiếp tục sự nghiệp âm nhạc vĩ đại của mình với một sự lạc quan đến diệu kỳ, ông đã viết như sau: “Linh hồn ta sẽ điều khiển cái thân thể yếu đuối của ta”.

    Với khả năng thật phi thường, kỹ thuật sáng tác của ông vẫn luôn tiếp tục phát triển, mặc dù ông bị điếc, nhưng một số lượng rất lớn tác phẩm của ông được viết ra trong khi ông không nghe được chút nào. Nhưng tinh thần, tư tưởng và sức sống mãnh liệt của ông thể hiện rất rõ trong từng tác phẩm. Dù rằng con đường âm nhạc của ông đã nổi tiếng khắp châu Âu, nhưng càng ngày ông càng xa lánh mọi người.

    Người đời kể lại rằng khi bị điếc Beethoven đã thèm được nghe tiếng đàn piano đến nỗi ông nằm áp tai xuống sàn nhà, và với tay lên đánh mạnh xuống phím đàn, để mong cảm nhận được sự rung động của âm thanh. Tuy tay đàn của ông vẫn hoàn hảo mỗi khi ông chơi đàn một mình, nhưng ông cũng đã không còn có thể biểu diễn cùng dàn nhạc được như trước nữa. Cũng có thể nói, Beethoven là một nhạc sĩ không hề biết mệt mỏi, trong đời ông, ông đã thay đổi địa chỉ đến 50 lần. Ông sống chủ yếu ở Bonn (Đức), là nơi ông sinh ra, và ở Vienna (Áo), thủ đô âm nhạc của thế giới. Ở Bonn, người ta làm một bảo tàng về ông. Không ai biết ngày sinh sủa Beethoven. Nhưng có tài liệu nói là ông được làm lễ rửa tội vào ngày 17 tháng 12. Mà lễ rửa tội thường được làm sau khi ra đời một ngày, cho nên nhiều người cho rằng ông sinh ngày 16. Với bao lần đổ vỡ trong tình yêu, cộng với cái tính nóng như lửa của ông đã làm ông suy sụp. Năm 1827, Beethoven qua đời. Ông đã để lại cho hậu thế những bản nhạc bất hủ và tiếp tục được lưu truyền tới hàng trăm năm sau…

    Nhận xét là tác phẩm được viết ở cung La thứ, một cung thường gắn liền với nỗi buồn và sự u sầu. Tuy nhiên, “Thư gửi Elise” không phải là một tác phẩm buồn. Ngược lại, nó thường được mô tả là ngọt ngào, tươi thắm, dịu dàng và lãng mạn.

    Phải nói là “Für Elise” vốn như một giai điệu vượt thời gian. Bản nhạc “Für Elise” không chỉ là một giai điệu nổi tiếng. Nó là một hành trình nghệ thuật và cảm xúc được tạo nên bởi một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại. Quá trình sáng tác của nó ẩn chứa một bức màn bí ẩn, giai điệu ám ảnh và khó quên, cùng với ảnh hưởng văn hóa sâu rộng và lan tỏa.Dù đã hơn 200 năm tuổi, tác phẩm âm nhạc này vẫn tiếp tục thu hút khán giả, truyền cảm hứng cho các nhạc sĩ và là cánh cổng dẫn vào thế giới âm nhạc cổ điển cho vô số cá nhân. Âm hưởng của nó là minh chứng cho khả năng phi thường của Beethoven trong việc thấu hiểu thân phận con người, vượt qua mọi rào cản về thời gian, văn hóa và ngôn ngữ.

    Bagatelle số 25, “Für Elise“, là minh chứng cho thiên tài của Beethoven và sức mạnh trường tồn của âm nhạc. Giai điệu đơn giản và những cảm xúc phức tạp của nó đã mê hoặc người nghe trong hơn hai thế kỷ, khiến nó trở thành một trong những tác phẩm được yêu thích nhất trong các tiết mục cổ điển. Bí ẩn xung quanh sự ra đời của nó và bản sắc của “Elise” càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của nó, khiến nó trở thành một chủ đề hấp dẫn đối với cả những người yêu âm nhạc và các nhà sử học. Âm nhạc Beethoven mang nétlãng mạn tinh và quyến rũ thính giác, Bài nhạc gửi người yêu dấu hình như là một tác phẩm bắc cầu nối liền giữa thời kỳ cổ điển và hiện đại, “Für Elise” là biểu tượng của nghệ thuật vượt thời gian và ngôn ngữ âm nhạc phổ quát. Câu chuyện của nó, đầy bí ẩn, cảm xúc và vẻ đẹp nghệ thuật rực rỡ, tiếp tục mê hoặc và truyền cảm hứng, khẳng định vị trí của nó trong lịch sử âm nhạc.

    Sau Mozart và Haydn, Bethoven là biểu tượng cuối cùng của phong trào mang tên Chủ nghĩa Cổ điển Vienna, và thông qua các sáng tác của mình, ông đã mở đường cho sự ra đời của Chủ nghĩa Lãng mạn. Ông cũng được coi là một trong những nghệ sĩ piano xuất sắc nhất mọi thời đại.

    VHLA, 12/07/ 2925.

    (Cet arti.cle est envoyé à mes copains qui aiment la musique classique ou semi-classique: Khánh Trang, Diễm Hạnh, Mỹ Hạnh, Khành Lan, Kiêu My, Phạn Hồng Thài, Cao Minh Tâm, Đỗ Bằng Lăng).

  • Khánh Lan,  TRẦN MẠNH CHI,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    TALKSHOW KỲ 6 VÀ 7: NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN

    Trong hai ngày 27 tháng 6, 2025 và ngày 11 tháng 7, 2025, Khánh Lan và Trần Mạnh Chi đã hội luận trên đài Việt Nam America Television (VNA-57.3) hai đề tài rất quan trọng trong lãnh vực bất động sản. Đó là Thị trường địa ốc tại Hoa Kỳ và Cách đứng tên trên bất động sản. Và còn một kỳ nữa không kém phần quan trọng đó là Living Trust (Di chúc sống) sẽ được anh em chúng tôi mạn đàm vào ngày 25 tháng 7, 2025.

    Chương trình NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT được chiếu hàng tuần vào ngày thứ Tư trên băng tầng 57.3 từ 5:30 đến 6:30 chiều.

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các Anh Chị Em vào xem.

    Khánh Lan & Trần Mạnh Chi

    THỊ TRƯỜNG ĐỊA ỐC TẠI HOA KỲ

    PHẦN I: https://youtu.be/eGaEA-mbIpo

    PHẦN II: https://youtu.be/E3hWzWgYc0E

    PHẦN III: https://youtu.be/qVowEnR11rQ

    CÁCH ĐỨNG TÊN CHỦ QUYỀN TRÊN BẤT ĐỘNG SẢN

    PHẦN I: https://youtu.be/QdFWMkWlCyo

    PHẦN II: https://youtu.be/P_QmorBdqI4

    PHẦN III: https://youtu.be/CPOpqQi4z4I

    Khánh Lan & Trần Mạnh Chi kính mời.

  • TÁC GIẢ & TÁC PHẨM,  Viet-Hải

    Mạn đàm Người Lính Buông Súng,vẫn Ghì Bút mãn kiếp

    Trần Việt Hải

    Nhà văn Vương Trùng Dương, có tên thật là Trần Ngọc Dưỡng, sanh năm 1944 tại Quảng Nam, tuổi Giáp Thân, mạng Tuyền Trung Thủy. Anh là người thông minh, tinh tế, giỏi chữ nghĩa, có óc lãnh đạo. Có số làm quan nếu sanh ở Á châu, còn nếu sanh ở Âu châu hay Mỹ châu có chức phận cao như lãnh đạo quốc gia. Đối tượng này tiềm ẩn dưới các vì sao Văn Xương và Văn Khúc, thiên phú văn chương một kho chữ nghĩa, lại được vô số các vì sao Hóa Khoa và Hóa Lộc bổ sung cung mạng. Hóa Lộc vì thực lộc bất khuyết, phát triển tài năng thuận lợi hài hòa. Người Hóa Lộc vốn có trực giác bén nhậy, thông minh trí tuệ, có khả năng phát huy, phát triển mọi việc trong gia đình và ngoài xã hội là điểm son của người tài hoa. Hóa Khoa theo khoa chiêm tinh thuyết Âm Dương Ngũ Hành, vì sao Hóa Khoa thuộc hành Thủy, thuộc về mùa Thu ly hương, đối tượng mạng Thủy Faifo gặp đối tượng nữ Khánh Hòa biển cả, nam hầu tước sẽ ly hương mãn kiếp, nước hòa vào nước sẽ không thấy bến bờ đâu cả. Như người có sao Hóa Khoa phù trợ thường liêm chính, thanh liêm, văn chương làm báo mãn kiếp, tính chân chất, du xuề xòa mộc mạc, ngủ garage, café garage, Bastos xánh gấp, chơi với bạn bè một lòng một dạ, khuynh hướng thủy chung trước sau như một. Đối tượng nam tước này còn có vì sao Văn Xương chủ tế về khoa giáp, luôn luôn có những thành tựu to lớn về nghiệp văn chương chữ nghĩa. Sao Hóa Lộc mang sao Văn xương hợp nhất với sao Hóa Khoa đưa tài năng trong máu hợp phạm trù văn nghệ và học thuật graphics đesign càng được bộc lộ rõ nét mỹ thuật mát tay. Sao Văn Khúc ếm mạng tốt nhất suốt đời, gia đình hạnh phúc, vợ chồng hòa thuận, con cái khôn ngoan, hiếu hạnh.

    Vương Trùng Dương sinh hoạt trong Trung Tâm Văn Bút Nam Cali (một nhiệm lỳ làm Tổng Thư Ký) và Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại (Một NK Ủy viên Thông Tin, 1 NK làm Phó Chủ Tịch Nội Vụ & I NK Tổng Thư Ký). Khoảng mười năm Trưởng Khối Báo Chí cho Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam Cali. Nhưng anh bỏ Văn Bút, tôi cũng bỏ theo bước chân anh. Trong một buổi họp hội đồng huong BT, tôi gặp ông Võ Long Triêu cùng anh ĐS Châu Văn Để và GS. Nguyễn Thanh Liêm, tôi bỗng nhớ ông bạn vàng VTrD một thuở báo chí.

    Như vậy Trần Ngọc Dưỡng có gì để nhớ mãi? Thuua có nhiều chứ. Như trong tác phẩm tựa Kim Dung “Võ Lâm Ngũ Bá”, tên “Trùng Dương” do sư phụ Thanh Hư chân nhân đặt, lấy ý ông đã chết rồi còn được cứu sống lại. Cũng trong tác phẩm này, tên hồi nhỏ của ông là “Vương Tiêu Thu”. Xem Ngũ Lâm Võ Bá, thì Hoa Sơn luận kiếm lần thứ nhất, Vương Trùng Dương được bầu làm người võ công cao nhất, biệt hiệu là Trung Thần Thông, được giữ bộ Cửu Âm chân kinh. 4 người còn lại là Đông Tà Hoàng Dược Sư, Tây Độc Âu Dương Phong, Nam Đế Đoàn Trí Hưng và Bắc Cái Hồng Thất Công.

    Riêng Âu Dương Phong (Trương Quốc Vinh) sau khi rời khỏi núi Bạch Đà, đã dừng chân tại một sa mạc, dựng quán và trở thành một kẻ môi giới chuyên giải quyết mọi vấn đề rắc rối của người khác. Những khách hàng lần lượt đến tìm tửu quán của Âu Dương Phong, không chỉ để đưa ra những yêu cầu đặc biệt hay nghỉ ngơi đơn thuần, mà còn để kể về những chuyện tình của họ… Những câu truyện của các nhân vật đan xen suốt nội dung phim, nhưng tất cả có thể chia làm bốn câu truyện chính. Ngòai đời ở Bolsatown, tôi nghe Âu Đông Tà super MAGA sao tôi nhớ Vương Tây Độc VTrD những nhị ba chưởng bang, rồi tôi lại nhớ thầy Bích và thầy Vinh qua chừng nè. Thầy Bích biết tôi chuộng goût Aztec charms, Yucatán mascots, thầy Bich bảo thôi đi, 不做壞事,你會得到祝福, ở hiền gặp lành.

    Nhớ VTrD nhớ kỷ niệm gì? Nhớ sách Chiều Cuối Tuần bên “Văn Nhân & Tình Sử”. Tôi ghi nhận như sau:

    ” Hôm nay chiền thứ sáu cuối tuần ông đưa thư có hàm râu xồm xoàn như lão Fidel Castro bấm chuông trao colis sách. Cuốn sách mới của nhà văn Vương Trùng Dương, sách nóng hổi và dày cộm. Ông đưa thư quay gót đi, tôi “bóc nhãn” xem ngay ông bạn Dương Trần viết gì trong đấy. Nhân nhận được sách mới, cám ơn ông anh văn nghệ vui tính, một thuở làm báo chung, khi Vương Trùng Dương (thường được viết tắt VTrD), ra tờ tuần báo Caliweekly do anh làm chủ nhiệm tự layout báo lấy, Nguyễn Ngọc Chấn làm chủ bút, và tôi giữ “dốp” TTK. Khi ấy có bài vở của Phan Bá Thụy Dương, Vũ Uyên Giang, Phương Triều, Dương Viết Điền, Phan Nhật Nam, Trần Quang Hải, Thiết Trượng, Trạch Gầm, Trần Trung Đạo, Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Quý Đại, Tiểu Tử, Tiểu Thu, Hồ Trường An, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, Bùi Ngọc Tuấn, Phan Anh Dũng, Hoàng Thy, Quách Nam Dung, Khiếu Long, Đào Vũ Anh Hùng, Vũ Hối, Hồng Vũ Lan Nhi, Thái Tú Hạp, Trần Hoài Thư, Vũ Đình Trường, Mạc Phương Đình, Viên Luông, Hải Đà Vương Ngọc Long, Thanh Huy,… Nguyên băng l’amour yêu văn học è cổ ra viết bài, chủ nhiệm lo dốp quảng cáo, chủ nhiệm lo đánh đông dẹp bắc cả trăm thứ, chủ nhiệm mỏi mệt kiệt sức, đồng tiền ra nhiều mà vô ít, mà quảng cáo là huê lợi chính, báo mãi rỉ máu, bác sĩ chê bảo chúng tôi đình bản tờ Caliweekly sau gần 2 năm tung hoành.

    VTrD yêu văn học, phải nói văn học nằm trong máu của VTrD, anh nhai nằm lòng những Thủy Hử, Tây Du Ký, Đông Châu Liệt Quôc, Tam Quốc Chí, rồi những tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung anh nhai nát cả. Đấy là bên văn chương HD891. Bên văn chương quốc văn phe ta, anh đọc Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chưong, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Sa, Bình Nguyên Lộc, Tự Lực Văn Đoàn, Hồ Biểu Chánh,… VTrD có sự hiểu biết rộng, sức viết khỏe, mỗi trưa thứ ba anh gọi phôn nhắc tuồng “Bài xong chưa bồ tèo?”, hay “Gần lễ noël cho mình bài giáng sinh nhe bạn hiền!”. VTrD đọc Ernest Hemingway, Mark Twain, Charles Dickens, Fyodor Dostoyevsky, Leo Tolstoy, Aleksandr Solzhenitsyn, William Faulkner… Truyện dịch hay nguyên bản Anh ngữ. Thật vậy, anh em chúng tôi thân nhau và còn thở được là do nguồn nhiệt năng ham vui chữ nghĩa văn học tiếp dẫn goût chơi chung.”

    Tôi lại nhớ sách “Âm Nhạc: Người Muôn Năm Cũ”. VTrD cho lời ngỏ như sau:

    “Trong 3 thập niên qua, trong lãnh vực văn học nghệ thuật với văn, thơ, âm nhạc… tôi đã viết về tác giả, tác phẩm cho các tờ báo cộng tác và đảm trách sau đó được phổ biến trên các website & blogspost… Quyển sách đầu tay với Ngẫm Chuyện Nhân Sinh, một thập niên sau, gom số bài viết đã ấn hành quyển Văn Nhân & Tình Sử năm 2015. Năm 2019, tôi chọn những bài viết liên quan đến Quân Đội, một thời đã dấn thân để thực hiện quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, đang layout dang dở thì bệnh dịch Covid-19 xảy ra, trước thảm họa nầy, tôi nghĩ mọi người bị ảm ảnh cảnh chết chóc, không còn bụng dạ nào để đọc nên bỏ ngang.

    Tôi thích âm nhạc từ nhỏ nơi phố cổ, và trở thành người bạn đồng hành trong cuộc sống thăng trầm theo biến thiên của lịch sử. Nếu nhà thơ Phùng Quán cho rằng: “Có những phút ngã lòng. Tôi vịn câu thơ và đứng dậy…” thì những lần tôi lâm vào hoàn cảnh nghiệt ngã, cô đơn… âm nhạc như người bạn tri kỷ chia sẻ, an ủi nỗi buồn cho vơi bớt sự đơn độc, nỗi đau…Quyển sách nầy không mang màu sắc chính trị vì chính trị chỉ là giai đoạn, nghệ thuật mới lâu dài. Nhưng những nhạc sĩ đã được đề cập đã dấn thân cho nghệ thuật, họ phục vụ cho lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc và trong quân ngũ là lẽ đương nhiên, phải nhắc đến, đáng trân trọng. Vào thời tiền chiến xảy ra vụ tranh cãi giữa “nghệ thuật vị nghệ thuật & nghệ thuật vị nhân sinh” nhưng với âm nhạc thì cả nghệ thuật và nhân sinh mới in sâu vào tâm hồn giới thưởng ngoạn…”

    Vương Trùng Dương cho kết luận:

    “Sách dày 324 trang trên giấy vàng nhạt 70lb, gồm các bài viết Lê Trọng Nguyễn, nôi âm nhạc phố cổ – Nguyễn Hiền, những kỷ niệm xa xưa – Lan Đài, đường trần quên lãng – Nguyễn Văn Đông, tình khúc thời chinh chiến – Trầm Tử Thiêng, những dòng chia sẻ – Nhạc Boléro, dòng nhạc bị bức tử được hồi sinh – Trần Thiện Thanh, người viết sử thi – Song Ngọc, dòng nhạc của một thời – Cung Tiến, một thoáng hương xưa – Phạm Đình Chương, ca khúc & định mệnh – Vũ Đức Nghiêm, gọi người yêu dấu – Đan Thọ, sầu trên phím đàn – Nguyễn Đình Toàn, nhạc chủ đề & áo mơ phai – Âm Nhạc & Cuộc Sống – Nhịp & Phách trong nhạc phẩm – Dạ Khúc (Sérénade), hai trăm năm cô đơn.”

    Mới gần đây, Ngưởi Lính Già 8 Bó cho ra sách mới còn xao xuyến thơm mùi giấy “Người Lính và Chiến Hữu Văn Nghệ”. “Hơn ba thập niên qua, trong lãnh vực văn học nghệ thuật với văn, thơ, âm nhạc… tôi đã viết về tác giả, tác phẩm cho các tờ báo và sau đó được phổ biến trên các website & blogspost…Sau quyển Văn Nhân & Tình Sử năm 2015. Năm 2019, tôi chọn những bài viết liên quan đến Quân Đội để thực hiện quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, đang layout dang dở thì bệnh dịch Covid-19 xảy ra, trước thảm họa nầy, tôi nghĩ mọi người không còn bụng dạ nào để đọc trong hoàn cảnh tang thương đang gieo rắc thảm họa nên bỏ ngang.

    Năm 2024, tôi ấn hành quyển Âm Nhạc & Người Muôn Năm Cũ, với những nhạc sĩ nổi tiếng, có công đóng góp nền tân nhạc ở Miền Nam Việt Nam và sau nầy ở hải ngoại. Ngoài ra, có 3 bài viết về âm nhạc. Với công việc đảm trách cho các tờ báo, hầu hết bài viết đã được đăng báo và sau đó phổ biến trên internet, theo gợi ý của các bạn văn và thân hữu nên gom lại để ấn hành sách để được đọc liên tục.Khi ấn hành quyển sách nào, với các bài viết trước đây đã phổ biến, để thích nghi với thời gian tính nên nhuận sắc lại và bổ túc thêm.

    Với quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ, trong tình bạn, tình chiến hữu với nhau nên khi tác giả ấn hành tác phẩm, tôi giới thiệu, đề cập qua các bài viết, nay phải gom lại thành bài theo mỗi tác giả. Với 12 tác giả, ngoài nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, nhà thơ Hà Huyền Chi, nhà văn Văn Quang còn 8 tác giả là bạn thân từ ngày bước chân vào “Ngưỡng Cửa Quân Đội” và thời gian sống ở Mỹ. Phan Nhự Thức, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Dương Viết Điền, Thái Tú Hạp, Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, Trạch Gầm, Phạm Tín An Ninh.

    Với quyển sách nầy ấn hành năm 2025 để đánh dấu 50 năm mất nước và 70 năm chia đôi đất nước, gây ra cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam nên trai thời loạn phải dấn thân vào Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để bảo vệ quê hương….Xin trich đoạn VTrD viết về: Thanh Tâm Tuyền như kỷ niệm,..”Tập thơ đầu tay là Tôi Không Còn Cô Độc vào năm 1955 đến năm 1964 mới xuất hiện thi phẩm Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy và Thơ Ở Đâu Xa được ấn hành năm 1990 tại Hoa Kỳ. Về văn, Thanh Tâm Tuyền có nhiều tác phẩm như Bếp Lửa (1957), Khuôn Mặt (1964), Dọc Đường (1966), Ba Chị Em (Kịch, 1967), Cát Lầy (1967), Mù Khơi (1970), Tiếng Động (1970), Tạp Ghi (1970)…Thanh Tâm Tuyền được nổi tiếng về thơ hơn văn vì ông là người làm sống lại thơ tự do được hình thành từ những thập niên về trước và mang làn gió gió mới trong thi ca Việt Nam hiện đại.

    Ông dạy Việt Văn tại trường trung học Trường Sơn (Nguyễn Sỹ Tế, Hiệu Trưởng), năm 1962 nhập ngũ Khóa 14 Sĩ Quan Thủ Đức. Ông được thuyên chuyển về trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, phụ trách tờ Đa Hiệu và sau đó phụ trách nguyệt san Quốc Phòng. Bắt đầu con đường văn nghệ khá sớm, cùng bạn Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp… chủ trương nguyệt san Lửa Việt năm 1954. Một trong những cây bút nòng cốt của nhóm Sáng Tạo từ năm 1956 đến năm 1960. Nhập ngũ năm 62, giải ngũ năm 66, rồi tái ngũ năm 68. Sau 75 bị bắt đi tù “cải tạo” ở Việt Bắc. Sau năm 1975, ông trải qua 7 năm tù. Được định cư tại Minnesota, Hoa Kỳ trong suốt mười mấy năm qua.Tháng 4 năm 1990, định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO, lúc đầu ở tiểu bang Louisiana, sau định cư ở Roseville, tiểu bang Minnesota. Theo học Điện Toán và làm việc tại St. Paul Technical College đến khi về hưu năm 2001. TTT sống như người ẩn dật, viết rất ít, chỉ khi nào thật sự cần thiết mới viết, như dịp tưởng niệm các bạn ông: Mai Thảo, Ngọc Dũng, tuyên dương Doãn Quốc Sỹ… Theo lời người bạn thân Trần Thanh Hiệp, TTT cho rằng “Nếu không tìm được gì thật mới thì sẽ thôi hẳn không viết nữa”.

    Bài viết Nhìn Lại Một Thời của nhà văn Doãn Quốc Sỹ vào tháng 5 năm 2005, đề cập đến giai đoạn hình thành của nhóm Sáng Tạo và sự hiện diện của Thanh Tâm Tuyền: “Năm 1954 hai vợ chồng tôi cùng hai đứa con gái đầu long và cô em gái – năm người cả thảy – ra phi trường di cư vô Nam. Danh từ thời thượng mệnh danh là Bắc Cờ Năm Mươi Tư. Thuở đó tôi còn là sinh viên, gặp Trần Thanh Hiệp – sinh viên Luật Khoa – chúng tôi bèn thành lập đoàn thể Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư, Trần Thanh Hiệp đứng ra làm chủ tịch…”

    Xin trich đoạn VTrD viết về Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, từ Nhà Giáo Đến Chiến Hữu Cầm Bút. VTrD ghi nhận sau đây,…” Tôi vẫn nhớ mãi, kể từ đêm ấy. Rồi một số được thả về, phần đông là giới Y Dược, trong đó có năm chàng của tổ tôi. Còn lại, rất đông, bị “biên chế” phân tán đi các đội khác, để vài tháng sau được tàu Sông Hương chở ra Bắc giao cho Công An, bắt đầu một cuộc hành trình mới gian nan hơn, khắc nghiệt hơn, dành cho những tù nhân chính trị chánh hiệu…” (Đêm Giáng Sinh Trong Trại Tù Long Giao). Rồi thời gian sau, anh bị lưu đầy sang trại tù ở núi rừng Miền Bắc cũng như nhiều chiến hữu khác. Trong chốn lao tù, anh đã kể lại trong bài thuyết trình ở Pháp để minh chứng những gì xảy ra khi mất nước.

    Trải qua 8 năm tù, sau khi thả về anh vượt biên lần thư nhất tại Cần Giuộc bị thất bại, Công An dùng khúc gỗ phang ngang lưng! Và lần thứ hai ở Nha Trang cùng với em gái, tị nạn tại Oregon. Nơi nầy, anh vừa đi “cày” vừa đi học, Hè năm 1990 tốt nghiệp Tiến Sĩ Văn Chương Pháp với luận án La prison dans l’œuvre romanesque de Stendhal (Tù Ngục Trong Tiểu Thuyết Của Stendhal) tại Eastern Washington University và University of Oregon. Theo lời anh chia sẻ thì trước năm 1975 ít người biết đến nhà văn Pháp Stendhal từ thế kỷ XIX hơn nữa những tác phẩm của anh đã in sâu trong tâm trí anh trong thời gian lao tù.

    Trong bài viết Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam của tôi trong năm trong năm 2022. Không có bản dịch nào của nhà văn Pháp Stendhal (1783-1842). Ông là nhà văn nổi tiếng của chủ nghĩa hiện thực phê phán (réalisme) và lãng mạn (romantisme). Điển hình hai tác phẩm Rouge et le Noir, 1830 (Đỏ & Đen), La Chartreuse de Parme, 1839 (Tu Viện Thành Parma). Stendhal trở thành bậc thầy mở đầu cho dòng tiểu thuyết tâm lý ở Pháp, cũng như Dostoevsky ở Nga vào thế kỷ XIX. Cuốn La Chartreuse de Parme mô tả chiến tranh thời Napoléon vì ông là sĩ quan pháo binh trong trận chiến ở Sebastopol như trận đánh Waterloo đã đi vào lịch sử.

    Nguyễn Kim Quý chọn nhà văn Stendhal để làm luận án tiến sĩ vì theo anh “Thế giới trong tiểu thuyết của Stendhal, kể cả những truyện về tù ngục, vì thế, ngạt ngào phấn hương nhờ tình yêu, hạnh phúc và hình bóng mỹ nhân. Lúc Stendhal còn sống, không ai đọc sách của ông. Mãi 50 năm sau khi chết, ông mới được nổi tiếng và trở thành một hiện tượng trong văn học sử Pháp”.

    Cuối năm 1991, anh xuống Little Saigon thăm bạn bè, nhân dịp này tôi viết hai bài “Bông Hồng” Cho Người Cựu Tù Nhân Chính Trị và Giới Thiệu Luận An Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý (Luận án nầy dày 550 trang khổ 8.5×11 inches bằng tiếng Pháp nên anh nói tổng quát về nội dung để tôi ghi lại) đăng trên nhật báo Người Việt & tuần báo Saigon Times. Trong dịp nầy, anh có ghi “tặng” tôi hai bài và tôi cũng viết về anh một bài trên Đặc San Nha Trang.

    Tháng 3, 1992, TS Nguyễn Kim Quý sang Pháp thuyết trình về đề tài Stendhal et mes saisons en enfer Communiste (Stendhal và Những Mùa Của Tôi Dưới Hỏa Ngục Cộng Sản, nhân ngày mất lần thứ 150 của văn sĩ được tổ chức tại Paris, dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Pháp François Mitterrand. Bài của các thuyết trình viên đều được in thành sách bán tại Paris. (Trước khi sang Pháp, anh xuống Little Saigon gặp gỡ thân hữu để chia sẻ với nhau)

    Trong phần 3 của bài thuyết trình với cử tọa, nhân cơ hội nầy anh lại nhắc đến miền Nam Việt Nam sau ngày mất nước: “Chúng ta đang ở vào năm 1975. Nền hòa bình nhục nhã, áp đặt bởi những siêu cường lực trên đất nước chúng tôi ngày 30 tháng 4, chấm dứt một cuộc chiến cũng không kém nhục nhã và khai tử quốc gia VNCH từ nay bị trao vào tay bọn bạo tàn miền Bắc… Chế độ mới, tự gọi là “cách mạng”, đỏ từ đầu đến chân, nhanh chóng tự gắn cho mình một nhiệm vụ “vĩ đại”: lùa tất cả sĩ quan và cán bộ miền Nam vào tù. Tại đó bắt đầu mọi bất hạnh của chúng tôi. Nhưng rồi, lòng tin vào Thượng Đế bỗng nhiên thức dậy trong tôi và sự mê say không phai nhạt đối với Stendhal và những tiểu thuyết của ông thực sự đã cứu vớt tôi, không chỉ thoát khỏi những xấu xí của đời sống mà còn sự tàn nhẫn của cái chết -cái chết mà bây giờ tỏ ra ngàn lần đe dọa hơn trong lúc chiến tranh. Như thế, nhờ ơn Chúa và nhờ Stendhal, tôi đã có thể sống sót sau tám năm giam hãm, đói khát, đau khổ, thiếu thốn, trong những trại tù khác nhau và cuộc đọa đày khủng khiếp xuống dưới hỏa ngục…

    … Bọn họ đã ra lệnh cho các sĩ quan phải trình diện những “ủy ban cách mạng nhân dân”, chuẩn bị một khóa học cải tạo mà theo thông cáo chính thức với lối hành văn mơ hồ và bịp bợm sẽ kéo dài chỉ mười ngày hoặc một tháng tùy theo cấp bậc. Lúc ấy vào tháng sáu 1975… Rồi một ngày đẹp trời, bọn họ quyết định chuyển ra núi rừng Miền Bắc khoảng một trăm ngàn “phần tử” bị xét là “phản động” nhất, nghĩa là nguy hiểm nhất… Trong vài chiếc tàu chở than cũ kỹ tịch thu của “ngụy quyền”. Chúng tôi bị còng tay, bị nhốt hàng ngàn người trong các hầm tàu, và như thể súc vật. Chuyến đi kéo dài ba ngày. Ba thế kỷ. Không khí thiếu. Nước cũng thiếu. Thức ăn cho cả ngày là một ảo tưởng: mỗi tù nhân được phát hai phong bánh bích qui mốc của lính made in China, lớn bằng hai hộp diêm, chỉ vừa đủ để khỏi chết đói. Phía trên, không có gì ngoài một vòm tối đen. Chung quanh, những thân xác bất động chất đống cạ vào nhau và mình mẩy dính đầy bụi than. Cái nóng kinh hồn hành hạ tù nhân. Ngay những giờ đầu, bốc lên một mùi hôi thối, làm ngộp thở, đầu độc căn hầm đầy người. Khắp nơi, im lặng như chết…

    … Cuộc sống tại các trại Miền Bắc còn hơn là hỏa ngục. Không cách nào đào thoát được. Chúng tôi bị bao vây một cách tuyệt vọng bởi những rặng núi trùng điệp làm thành những tường lũy thiên nhiên kiên cố. Nhưng rồi, ngay cả nếu thoát được, làm sao, ở trên núi, có thể sống sót với cái lạnh, đói khát và sức kiệt! Chúng tôi bị giam trong những túp nhà cũ thấp mái rạ, nằm ngủ trên một thứ giường tập thể làm bằng những tấm gỗ thô, không chiếu, không gối, không đệm, để rồi sáng mai thức dậy mặt mày, mình mẩy rải đầy những vết rệp và muỗi cắn. Ngoài ra, cái lạnh tột độ, làm buốt xương. Về quần áo, người ta chỉ phát cho chúng tôi một bộ đồng phục màu xanh da trời bằng vải thô dùng trong kỳ hạn hai năm và một tấm chăn cũ nát nhỏ xíu bằng len xấu. Không săng đan, không tất vớ, không mũ nón. Những thứ này, chúng tôi phải tự xoay xở lấy, người ta bảo chúng tôi, hoặc là mặc kệ! Vào mùa đông hay mùa mưa, không tài nào ngủ được, vì cái lạnh và ẩm ướt khắc nghiệt, không thể chịu nổi nữa và chúng tôi bị cấm đốt lửa trong nhà!…

    … Những người còn sống sót cứ tiếp tục nhai sắn khô bằng thích, tiếp tục đói, tiếp tục đau, và nhất là tiếp tục lao động khổ sai. Cai tù không ngớt lặp đi lặp lại rằng lao động là nguồn gốc mọi vinh quang, rằng khởi thủy, con người đầu tiên, nghĩa là ông tổ của chúng ta, là một con khỉ, rằng con khỉ ấy vì phải trèo lên cây hái trái, xuống ruộng trồng lúa, vào rừng săn thỏ, vắn tắt, lao động vất vả, đã dần dần mất bộ lông dài để trở thành đẹp đẽ, trơn tru như chúng ta hôm nay. Vì thế, người ta hét vào tai chúng tôi, hãy tống cổ những kẻ chây lười lao động, ăn bám, mình còn đầy lông lá, ra khỏi thiên đàng Cộng sản!

    … Bấy giờ, tôi bắt đầu cầu nguyện trở lại, ban đêm, và đọc lại với sự say mê của một người tình cũ những tiểu thuyết Stendhal, nhưng bằng trí nhớ, dĩ nhiên. Từ đó, tôi sống một thực tế khác, tự xem mình đã chết đối với cuộc đời, như Octave trong Armance. Tôi quên, cố gắng quên, bọn cai ngục và trại tù, đói và bệnh, quần áo tả tơi và thân xác khô héo – tất cả những điều nhắc tôi không ngừng vẻ xấu xí của địa ngục. Tôi chiến thắng nỗi bất hạnh của tôi bằng cách thôi tưởng nhớ những người đàn bà đẹp mà tôi đã quen biết và có khi yêu thương trong cuộc đời và bây giờ đã trở thành một thực tế còn khó với nắm, còn xa xôi hơn cả chính mộng mơ. Trái lại, tôi chỉ nghĩ đến những nữ nhân vật của Stendhal: Mathilde, Mme de Rênal, Clélia, la Sanseverina, Armance, Mme de Chasteller, giữa những nàng khác – mà hình bóng trác tuyệt, vĩnh viễn trẻ và đẹp, đã đưa tôi rất nhẹ nhàng ra khỏi thực tế phũ phàng và tầm thường, cái thực tế mà tôi nghĩ tôi không phải sinh ra để ôm lấy, ngay cả thời trước khi vào tù… Cuộc sống của tôi, hay đúng hơn cái chết của tôi, một cách xứng đáng nhất, cho đến ngày 18 tháng Ba năm 1983, thời điểm tôi được thả. Sau tám năm trời!…”

    Cuối cùng VTrD cho kết luận như sau:

    “Trong vài năm sau nầy chỉ biết tình trạng sức khỏe của anh rất yếu không còn viết lách nữa và không liên lạc nhau vì vậy không biết nhiều về đời sống và sinh hoạt của anh sau nầy. Bỗng nhận được tin buồn: Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý (Kim Thanh, Người Lính Già Oregon) qua đời vào Thứ Tư, ngày 12 tháng Hai năm 2025 tại thành phố Portland, Oregon. Theo Mục Sư Huỳnh Quốc Bình, bà Nguyễn Kim Quý cho biết, lúc sinh tiền đã dặn dò vợ con khi lìa trần, tang lễ của ông phải hết sức đơn giản. Trong tang lễ không có điếu văn, không phủ cờ và không vòng hoa gì cả. Vợ con chỉ cần đưa xác đến nhà quàn để hỏa thiêu, sau đó báo cho anh chị em của anh và vài bạn hữu của anh biết mà thôi vì không muốn làm phiền bất cứ một ai khác trong tang lễ… Với bốn thập niên cư ngụ tại Oregon như quê hương thứ hai của người quá cố nên Thánh Lễ an táng ngày 18/2 được tổ chức long trọng với Giáo Xứ, tang quyến, thân hào nhân sĩ, các cựu SVSQ/ĐH. CTCT…

    Khi xem video của Vũ Ngọc Hải, người bạn cùng khóa, tang lễ trân trọng và ấm cúng với sự hiện diện, chia sẻ của quý vị Linh Mục, thân hữu… thể hiện sự thương tiếc, quý mến với người quá cố, tôi rất xúc động. Những bài viết hồi ký của Kim Thanh và NLGO không in thành tác phẩm nào, với anh luận án về Văn Hào Stendhal coi như tác phẩm nhận định về văn học đã được giới thiệu qua hai lần thuyết trình tại Pháp. Trong số bài viết của anh có chút “lửa” cũng như bản tính năng động và máu người lính trong tâm hồn anh.” Xin trich đoạn tiếp khi VTrD viết về tác giả sách Tình Cao Thượn, Nguyễn Mạnh Côn như sự luyến tiêc, cái chết đểbảo toàn danh dự…”Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử.

    Theo nhà văn Hoàng Hải Thủy, Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử xem như hồi ký của người trong cuộc vào thời điểm đó tham gia trong Tự Vệ Thành với tuổi trẻ khi chứng kiến nạn đói năm Ất Dậu (1945) “Ngót hai triệu người chết năm 1945 từ tháng Giêng đến tháng Tư… Ðó là hoàn cảnh cho phép đấu tranh bộc phát. Ðấu tranh lúc đó quy tụ cả vào mặt trận Việt Minh” do hậu quả của thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra. Tuổi trẻ dấn thân trong công cuộc giải phóng đòi tự do độc lập cho đất nước. Và, những lá thư đó viết từ Hà Nội đến những nơi khác: Hà Nội, nội thành, Liên Khu 1 ngày 3 tháng 9 năm 1945 (Việt Minh cướp chính quyền hớt tay trên các đảng phái quốc gia. Ngày 26 tháng 12 năm 1946 ở Hà Nội, trong nội ô thành phố, Tự Vệ Thành đã nổ súng đánh Pháp bắt đầu cho cuộc kháng chiến giành độc lập). Hà Ðông ngày 3 tháng 2 năm 1947 (Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức thành lập và cuộc đảng tranh đẫm máu và gay gắt nhất đã tạo những vết thương đau đớn cho dân tộc). Phú Thọ, Vũ Lao ngày 29 tháng 11 năm 1952 (khởi đầu cuộc cải cách ruộng đất và đấu tố để thực hiện đấu tranh giai cấp). Hải Phòng ngày 19 tháng 7 năm 1954, những dòng cuối thư vào ngày 1 tháng 8 năm 1954.

    Trong bài viết của Nguyễn Mạnh Trinh, trích phần tóm tắt tác phẩm Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử và Kỳ Hoa Tử:

    “Nội dung của Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử là những tâm sự của một chiến sĩ đang tranh đấu trực diện trong công cuộc giải phóng đòi tự do độc lập cho đất nước trong những bức thư viết ở những thời điểm quan trọng của lịch sử Việt Nam. Những không gian và thời gian như Hà Nội ngày 3 tháng 9 năm 1945… Hải phòng ngày 19 tháng 7 năm 1954, là những cột mốc đáng nhớ của một thời đại đầy biến động Việt Nam.

    Từ thời điểm ấy, Nguyễn Kiên Trung kể cho bạn đọc nghe về cuộc đời của mình và thế hệ mình theo ngõ đẩy đưa của thời cuộc. Và từ đó như tấm gương phản chiếu thấy được sự bội phản lường lọc của những người Cộng Sản Việt Nam.Với kỹ thuật tranh đấu được huấn luyện từ hệ thống Cộng Sản thế giới, họ áp dụng vào thực tế và đã thành công trong việc nắm giữ chính quyền và thực hiện chính sách vô sản chuyên chính.

    Tác giả Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử đã “trút ngay lên mặt giấy một sự cần thiết phaỉ gào thét, phải nức nở cho số phận những người bạn tôi sắp phải chết, ngoài kia, bên trên vỹ tuyến Bắc 17 độ. Nói là bạn, nhưng chỉ có một số nhỏ là bạn của tôi thật, còn nhiều người mới quen biết sơ qua trên con đường kháng chiến, nhiều người chưa hề được gặp mặt, nhiều người tôi đáng tôn lên là bậc thầy, Phan Khôi, Đào Duy Anh,Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, những người ấy sắp bị Việt Cộng mang ra xử án…”

    … Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử được viết cách nay nửa thế kỷ và xem ra tới bây giờ, vẫn còn nhiều suy nghĩ đáng chú ý. Lịch sử đã bị chế độ hiện hữu bôi xóa và những bài học để thế hệ sau hiểu biết chứa đầy những giả trá. Từ năm 1945, tới nay không xa, khoảng cách lịch sử vẫn còn gần để nhận thức, thế mà đã có nhiều sai lạc…” Xin trích đoạn VTrD viết về nhà văn Dương Viết Điền, Hành Trình Với Văn Thơ Nhạc, một người bạn thân đồng môn trường Đại Học Chié6n Trasnh Chính Trị, và là dồng khóa I Nguyễn Trãi. Vương Trùng Dương tâm tình như sau,…

    “Bước vào tuổi tám mươi, nhà văn Dương Viết Điền sức khỏe rất yếu, không còn ngồi được để thực hiện tiếp những tác phẩm còn dang dở nên nhờ Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời gian giúp anh thực hiện tuyển tập Thơ & Nhạc, ra mắt tác phẩm vào trưa Chủ Nhật 24/11/2024 tại VietLife Club, thành phố Westminster. Trong tuyển tập nầy có 3 bài viết của nhà văn Việt Hải, nhà văn Khánh Lan và tôi. Dương Viết Điền là bạn văn và cũng là bạn cùng khóa (Khóa Nguyễn Trãi I Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt) và cùng định cư tại Hoa Kỳ năm 1990 (Diện H.O). Khi ra trường, anh phục vụ tại Tiểu Đoàn 10 CTCT, sau đó biệt phái sang Phòng Báo Chí (phụ tá Trưởng Phòng), Khối CTCT Quân Đoàn I nên có cơ hội quen biết với giới cầm bút trong thời gian quân ngũ. Trong tình bạn tâm giao cố tri với nhau từ thời ở quân trường nên một số tác phẩm anh gợi ý tôi viết để chia sẻ cùng độc giả.

    Trong ba thập niên, anh đã sáng tác hơn hai mươi tác phẩm, và một loạt tác phẩm Nhật Ký Lúc Chiều Tà (tập I năm 2014 đến tập VII năm 2019) ghi lại quãng đời của anh từ thời trai trẻ, trong quân ngũ, trong lao tù và năm tháng tị nạn ở Mỹ. Theo anh, muốn tiếp tục ấn hành với nhật ký nầy đánh dấu nửa thế kỷ mất nước và những tác phẩm khác nhưng vì bệnh tình nên đành dang dở. Tác phẩm đầu tiên với Hồi Ký Trại Ái Tử & Bình Điền ấn hành năm 1993. Đây là một trong những tác phẩm (hồi ký) viết về chốn lao tù sau năm 1975, trước và sau đó có: Đáy Địa Ngục (Tạ Tỵ), Đại Học Máu (Hà Thúc Sinh), Cùm Đỏ (Phạm Quốc Bảo), Tầng Cuối Địa Ngục (Đỗ Văn Phúc), Vùng Đất Ngục Tù (Nguyễn Vạn Hu8ng2), Những Người Tù Cuối Cùng (Phạm Gia Đại), Thép Đen (Đặng Chí Bình), Hối Ký Người Tù Cải Tạo của Đại Tá Nguyễn Huy Hùng, Trại Tập Trung của Duyên Anh, Tù Cải Tạo Hồi Ký (Nguyễn Đức Cung), Một Cuộc Đổi Đời KALE (Lê Anh Kiệt, Hồi Ký 17 năm trong các trại tù cải tạo của Cộng Sản), Vết Nám: Hồi Ký Tù Cải Tạo (Hoàng Long Hải), Đóa Hồng Gai (Nguyễn Thanh Nga), Hồi Ký Cải Tạo & Vượt Biên (Nguyễn Duy Chính), Lao Tù Cải Tạo & Những Phần Đời Của Định Mệnh (Nguyễn Kỳ Dzương, năm 2024)…

    Các trại tù thuộc vùng I & II trước kia không bị đày ra Bắc vì cũng hắc ám trong quần đảo ngục tù (tác phẩm Arkhipelag Gulag của văn hào Solzhenitsyn, Quần Đảo Gulag hay Quần Đảo Ngục). Ái Tử vừa là tên làng thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Năm 1971 là Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 bộ binh. Bình Điền là địa danh thuộc tỉnh Thừa Thiên, căn cứ thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Cộng Sản dùng hai nơi nầy làm trại tù. Dương Viết Điền bị 10 năm tù đã ghi lại năm tháng nơi lao tù.

    Năm 2003, anh ấn hành quyển Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân, trong quyển nầy anh liệt kê những vị anh hùng tuẫn tiết trong ngày 30/4/1975, dựa vào các bài viết, hồi ký người tù từ Bắc chí Nam trở thành tài liệu đáng nhớ. (Nhạc sĩ Nguyễn Hiền là người rất thận trọng và khó tính nhưng là người giới thiệu về hai quyển sách nầy. Trong những lần cùng uống cà phê với ông, có vài tác giả đến nhờ ông viết nhưng ông từ chối rất tế nhị).

    Nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết Lời Giới Thiệu “… Đương nhiên sau ngày vận nước suy vong đó, chúng ta đã có một dòng văn học gồm những tù nhân chính trị viết lại sinh hoạt của họ trong các trại giam Cộng Sản. Và do vậy những cây bút ấy đã góp phần phong phú hóa cho vườn hoa văn học nghệ thuật hải ngoại thêm nhiều màu sắc. Trong số đó có văn hữu Dương Viết Điền đã viết hồi ký Trại Ái Tử & Bình Biền xuất bản năn 1993 và nay lại tái bản theo yêu cầu của độc giả hải ngoại. Lối văn hồi ký ghi những kỷ niệm trong thời gian đi tù “cải tạo” như kể chuyện đã hấp dẫn người đọc tìm hiểu về tâm tư của tác giả cùng những bạn tù và chế độ các trại giam của Cộng Sản…” Và nhận vât cuối cùng xin đan cử từ sách mới của nhà văn VTrD, Xin trích đoạn VTrD viết về một chiến hữu đồng hương Quảng Đà, Thi sĩ Thái Tú Hạp, Tác giả của Hạt Bụi Nào Bay Qua, và Nhà Thơ Viễn Xứ:

    Nặng Tình Với Quê Hương
    Vương Trùng Dương
    “Ta ở bên này đại dương nhớ
    Thời gian nuôi mãi tấm lòng son
    Trắng tay phiêu bạt đời hư ảo
    Hiu hắt hồn thơ với nước non”

    (Thái Tú Hạp)

    Hầu hết những bằng hữu của Thái Tú Hạp đều biết tuyển tập thi ca để đới của ông: ‘Suối Nguồn Tâm Thức,’ một đời thơ của Thái Tú Hạp. VTrD nhận xét về tác giả thji ca Thái Tú Hạp như sau:

    “* Quê Hương, Lao Tù và Viễn Xứ.

    Hầu như các thi phẩm của anh như đã đề cập ở trên đều mang nặng hình ảnh quê hương từ trong nước với tâm hồn người lính trong hoàn cảnh chiến tranh lan tràn nên cầu mong với “xin và cho”:

    “Xin ngày cho thấy mặt nhau
    Xin chuông chùa thức đêm sầu bi thương
    Xin thôi chia nẻo chiến trường
    Xin cơn đau đớn xa nguồn từ ly
    Xin chiều mắt mẹ từ bi…
    Xin em suối ngọc huyên vi
    Xin cho thanh tịnh đời phi nghĩa này…”
    (Nụ Chào Bao Dung, 1965)

    “Cho đêm bừng đóa mặt trời
    Cho thân thể mẹ qua rồi đớn đau
    Cho em tiếng hát ngọt ngào
    Cho vùng suy tưởng chở vào giấc thương
    Cho chim hoa bướm mùa xuân
    Cho lời kinh kệ tan cơn oán thù
    Cho tàn binh lửa đôi bờ
    Cho cành dương nước cam lồ vô biên
    Cho tiêu tan chuyện ưu phiền
    Cho quê hương đẹp trăm miền tinh khôi”

    (Lời Buồn Treo Cao, 1966)

    Hằng mơ tưởng mùa Xuân về trên quê hương “Để tìm lại bóng dáng của áo lụa Duy Xuyên, rừng quế Tiên Phước, rượu cần trên buôn sóc Trà Mi thưởng thức trà Tiên quế, Cam Đại Bình, bông Vạn Thọ”.

    “… Miền quê hương có Ngũ Phụng Tề Phi
    Núi Non Nước ngăn trời bão tố
    Sông Thu Bồn hiền dịu đổ phù sa”

    và:
    “Có nơi nào đẹp bằng quê hương ta đó
    Bao đời lịch sử liệt oanh
    Thăng trầm theo mệnh nước
    Nhưng sông núi muôn thuở vẫn kiên trinh

    (Từ Quê Hương Trở Về)

    Khi anh theo học Khóa Trung Cấp 3 tháng ở TĐH.CTCT Đà Lạt và hình ảnh nơi nầy:

    “… Mây Lâm Viên huyễn tích ngàn
    Non cao ẩn dụ loài hoang thú về
    Từ chim lạc. Thác Đam Mê
    Yersin khai lộ qua khe suối Chàm…
    … Đệ huynh chung một lời thề

    Nghìn năm bia đá không hề phôi pha”

    Khi định cư ở Mỹ với tâm thức nhà thơ bị đánh mất quê hương mang nặng nỗi niềm hoài cổ. Ngày xưa, trong bài thơ Lữ Dạ Thư Hoài, thi hào Đỗ Phủ đã bày tỏ:

    “Phiêu diêu hà sở tự
    Thiên địa nhất đa sầu”

    Ngày nay, hình ảnh ấy thoáng hiện nơi người viễn khách Thái Tú Hạp:

    “Buổi chiều nơi quán khách
    Lửa nến hắt hiu buồn
    Ghế đời tri âm khuất
    Vạn lý sầu cố hương”

    Hoặc:
    “Con bên bờ vực thẳm
    Ngắm mây sầu ly hương

    (Nhớ Mẹ)

    Hay:
    “Ta biền biệt quê hương
    Mang niềm đau bất tử”

    (Đêm Ở Quê Người)

    Sinh trưởng trong một thành phố cổ với mái ngói âm dương, rêu phong cổ kính, với đền chùa lăng miếu từ thuở xưa…ngoại cảnh đã ảnh hưởng đến tâm hồn thi sĩ. Đọc thơ anh làm nhớ lại những bài cổ phong, thi ca cổ điển… bàng bạc trong âm điệu lời thơ. Nhẹ nhàng và vương vấn nỗi buồn mang mác…Có lẽ cảm hứng từ ý thơ “Cử đầu vọng minh nguyệt. Đê đầu tư cố hương” trong bài thơ Tĩnh Dạ Từ của Lý Bạch, anh bày tỏ tâm trạng u hoài của con người đánh mất quê hương:

    “Người xưa ngẩng đầu nhìn trăng sáng
    Ta giờ trăng chết ở trong tâm
    Cố hương, trăng khuyết đìu hiu nhớ
    Dạ lý hoa còn phảng phất hương”

    Để rồi:
    “Thôi ngẩng đầu chi đêm trăng sáng
    Một mình nghe biển động xương khô”

    (Trăng Viễn Xứ)

    Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường:

    “Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
    Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
    Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
    Bạch vân thiên tải không du du…”
    Thôi hiệu đề thi tại thượng đầu!”

    Hơn 1200 năm sau, trong bài Cảm Hứng Đường Thi của anh đã gởi gắm vào đó tâm trạng lạc loài của nhà thơ trước hoang tàn của thời gian:

    “Thánh thi trên bia mục
    Hoàng hạc đã bay rồi
    Con trăng đồng trinh khuất
    Bên trời ta lẻ loi”

    Với bản dịch lục bát tuyệt vời Gác Hoàng Hạc của thi sĩ Tản Đà, thơ Thái Tú Hạp có lẽ cũng sở trường và thành công với dòng thơ lục bát như áng thơ cổ:

    “Đời tan rã bụi hư vô
    Nhớ quê lòng cũng nao nao muốn về
    Lòng ta ngậm mãi thương hoài…
    Nắng trôi giạt nắng sông đòi đoạn sông”
    (Cõi Chờ Mong)
    “Đời như cát bụi đìu hiu
    Cơn vui như tiếng sóng triều hư vô
    Ngàn xưa sau cõi mịt mờ
    Anh con thú vẫn hoài mơ nẻo về…”
    (Nẻo Về)

    Cũng như nhiều nhà thơ khác trong quân đội viết về chốn lao tù, bài thơ Đêm Trong Trại Tù:

    “Không đi tới mặt trời trước mắt
    Nỗi buồn cao như núi thẳm vây quanh
    Nỗi hờn căm cũng cao ngất rừng xanh
    Nuôi hy vọng da người xanh như lá
    Người tù binh khát khao nhớ mùa xuân
    Nhớ đôi mắt tự do ngoài cổng đợi
    Nhớ bóng chim vút cánh qua trời
    Không để lại vết tăm nào yêu dấu
    Đêm vẫn qua giữa trại tù mọi rợ
    Người tù binh vẫn thao thức mong chờ…”

    Ngay trong trại tù, ta gặp lại tâm trạng bi đát, đau đớn, u buồn, xót xa như vần thơ trong Tự Tình Khúc:

    “Sầu kia ai kẻ xiết lòng
    Chiều thôi lại tối, đêm xong lại ngày”
    Ở đây, ta lại chứng kiến giữa miền rừng núi Kỳ Sơn:
    “Nửa đêm kiểng lạnh lùng khua
    Trăng kinh hoàng động rừng khuya vỡ sầu
    Đời vi diệu cũng nát nhầu
    Trong ta biệt xứ cõi sâu non trùng
    Sáng ra mới biết hư không
    Một ngày qua nữa lòng mênh mông buồn”

    (Trong Tù Nghe Tiếng Chim)

    * Tư Tưởng Phật Giáo

    Bàng bạc trong các thi phẩm của anh đều nhuốm tư tưởng Phật Giáo. Tiếp thụ tinh thần đó, vì vậy trải qua nhiều thập niên sống ở hải ngoại trong “thế giới Văn Minh trả góp” như ngôn ngữ của Phạm Kinh Vinh, anh cảm thấy có điều gì lạc lõng giữa tâm hồn Đông phương, những tương tàn trong tình cảm bởi lối sống cá nhân, đeo đuổi theo vật chất, những toan tính lọc lừa, những ràng buộc dai dẳng vây quanh cuộc sống, con người tựa hồ chiếc kim đồng hồ… không có phút giây an nhàn, tự tại vì vậy tâm hồn lúc nào cũng vọng về Miền Yêu Dấu Phương Đông và coi như miền đất hứa vẫn là nơi yên nghỉ cuối cùng của cha mẹ, chan chứa tình người:

    “Ta hẹn em trở về
    Bên đồi lau xanh biếc
    Chim rủ nhau quay quít trên ngàn cây
    Cuối thôn rụng đầy trái đỏ

    (Trở Lại Suối Nguồn)

    Nguyên Giác (Phan Tấn Hải) là Phật Tử thuần thành, am tường triết lý Phật Giáo vì vậy trong bài viết Thái Tú Hạp: Làm Thơ Như Chép Kinh: “Tôi đã đứng tim như thế, đã kinh ngạc đọc đi đọc lại các dòng thơ (bài thơ Sao Khuya trong tập thơ Suối Nguồn Tâm Thức). Tôi đã nghiêng đầu, áp tai sát trang giấy để nghe xem tiếng hạc buồn lê thê thế nào. Tôi đã nghiêng trang giấy qua lại để xem có ngôi sao nào rơi ra từ giữa những dòng thơ. Khi đó, tôi đã thắc mắc vì sao có hình ảnh cổng chùa chưa khép trong thơ, có phải vì nhà sư thi sĩ đã đi lạc nơi phố chợ và quên mất lối về…

    Chỉ mở trang sách ra để đọc thơ Thái Tú Hạp thôi, cũng y hệt như mùa xuân bay qua để hiện lên những cánh đồng hoa bên đồi. Trong cõi đó, tôi ưa thích nhất, là những dòng thơ rất mực u hoài cổ tích của anh. Không gian thơ này là cái gì rất gần gũi với tôi: những mái chùa ở quê nhà, tiếng chim hót hòa vào lời kinh tụng. Đó là những hình ảnh không dễ tìm được nơi hải ngoại. Đối với Thái Tú Hạp, hình như làm thơ cũng là một pháp tu. Bởi vì có những dòng thơ như dường nhắc tới các pháp ấn. Như bài Một Thoáng Phù Vân ngay nhan đề đã nêu lên pháp ấn vô thường,…” Cá nhân người viết bài này rất chuộng loại thơ nặng tính thiề thi tâm linh của Thi sĩ Thái Tú Hạp, ví dụ như:

    Thanh Tịnh Khúc
    Mai ta về giữa non cao
    Xé mây làm áo lụa đào cho em
    Nghiệp từ mấy thuở trần duyên
    Nắng thanh xuân đậu ngoài hiên ta bà
    Đưa nhau dạo giữa ngân hà
    Bỏ nhân gian lại chốn tà huy câm
    Mai sau tình vỡ hư không
    Có nghe tiếng hót tiền thân chim ngàn
    Từ trong thiên cổ tri âm
    Tiễn nhau xuống núi cưu mang kiếp sầu
    Mai về khép cánh biển dâu
    Giở trang vô tự trắng nhòa sắc không
    Chờ nhau dưới cội vô thường
    Soi tâm tư hiện một vừng trăng xưa.

    [Thơ Thái Tú Hạp, Tập san Pháp Luân số 4, PL 2548]

    Bài thiền thi trên cũng đã khép bài viết “Mạn đàm Người Lính Buông Súng – Vẫn Ghì Bút Mãn Kiếp.”, đặc biệt về tác phẩm Giới thiệu ‘Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ’ của Nhà văn Vương Trùung Dương, đại diện cho lớp hậu nhân, sóng sau Khánh Lan, Kiều My, Thanh Ngọc, Minh Đúc, Việt Hải và Huy Anh xin chia vui cùng tác giả Vương Trùng Dương cho ra văn tập mới này, mong sao Vương văin nhân vẫn mạnh tiến sáng tác thêm nhiêu ân phẩm giá trị khác nữa trong tương laị.

    Trần Việt Hải, Nam Cali, 01/07/ 2025.

    Tiểu sử Vương Trùng Dương:

    https://vietvanmoi.fr/VUONGTRUNGDUONG.html
    ———————————————————————-
    La littérature est un flux intarissable, aidons-la à s’écouler.
    NGUYEN QUANG
    Văn học là một dòng suối chảy không ngừng, hãy giúp nó luân lưu.
    NGUYỄN QUANG
    Literature is a never-ending stream, let’s help it flow.
    NGUYEN QUANG

  • MINH ĐỨC,  THO

    Hướng Đạo Thẳng Tiến

    Bài thơ Song Thất Lục Bát

    Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Đại Đạo Thanh Niên Hội – Cao Đài

    Từ năm 1965 to 2025 và nhân dịp Đại Hội Thanh Thiếu Niên Cao Đài Thế Giới lần thứ XI tổ chức tại San Jose vào dịp July 4, 2025

    Hướng Đạo Thẳng Tiến

    Từ khắp nơi về châm lửa trại

    Sói trưởng Thẳng Tiến bên nhau đây

    Vui Khúc ca hát tình đầy

    Hợp đoàn cùng nhau chung tay xây lều

    Trời mây rừng suối chốn mỹ miều

    Powell tổ đạo sống thiên nhiên

    Bên nhau từ khắp mọi miền

    Gian nan khắc phục ưu phiền có nhau

    Hội doàn sinh hoạt mãi bền lâu

    Đoàn kết một lòng ơn nghĩa sâu

    Kỷ cương học hỏi ban đầu

    Thanh niên tráng trưởng tạo bầu tình thân

    Học đời hướng đạo điều giúp ích

    Cộng dồng xã hội ta dang tay

    Nguyện lời tâm niệm từ nay

    Chía chung lý tưởng ngày mai giúp đời

    Nắng hè rạng rỡ tỏa muôn nơi

    Liên tâm bách hợp chung tấm lòng

    Quyết chí vững bên núi sông

    Quyết chiến ta giống dân Lạc Hồng

    Khúc “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”

    Phù Đổng thánh hiền giữ non sông

    Bạch Đằng sông nước tô hồng

    Sử Nam sách Bắc chung lòng đắp xây

    Hưng Đạo minh vương vinh năm tháng

    Sử xưa ghi phanh thây quân thù

    Hồn tử sĩ vang ù ù…

    Thiên hùng ca ngàn thu ngạo nghễ !

    Ngô Thiện Đức

  • NGUYỆT SAN NVNT

    ĐẶC SAN NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT SỐ 1

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ, các anh chị em và thân hữu,

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian và Liên Nhóm Văn Chương Việt và Tiếng Đàn Xưa hân hoan giới thiệu đến quý quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ cùng Các Anh Chị Em nguyệt san Nhân Văn Nghệ Thuật, số 1 gồm các bài vở về văn học như thi ca, văn xuôi, âm nhạc, nghệ thuật, điện ảnh, nhiếp ảnh, hội họa…dưới dạng ebook.

    Tuyển tập sẽ được phát hành trong thời gian khoảng ba tháng một số, lấy tam cá nguyệt làm chuẩn. Đây là tuyển tập nhằm quảng bá và phát huy những hoạt động sáng tác và trình diễn những tác phẩm do những hội viên của hai tổ chức cùng các thân hữu hình thành.

    Bạn chủ trương cùng ban biên tập chúng tôi hy vọng rằng những sáng tác trong nguyệt san Nhân Văn Nghệ Thuật sẽ đem những niềm vui đến cho quý độc giả.

    Kính mời quý giáo sư, văn thi sĩ, các anh chị em và thân hữu vào xem ở link dưới đây.

    Đây là link của NVNT-1 flipbook: Online Flipbook

    Nhóm chủ trương và ban biên tập kính mời.

  • KÝ SỰ,  Việt Hải

    NHỚ BẠN

     Trần Triệu Đông ( 1946 – 2015 )

    Hoàng Thy (1946-2015) tên thật là Trần Triệu Đông, là nhạc sĩ, nhà thơ, sống tại San Diego, Hoa Kỳ.

    Thi sĩ Hoàng Thy San Diego, người thứ 3 tử bên phải, tôi chơi short đứng cạnh anh.

    Hôm nay tình cờ lục ra email cũ về anh bạn khá thân, thi sĩ Hoàng Thy San Diego, xem hình xưa, người thứ 3 tử bên phải, tôi đứng cạnh anh. Khi ấy, tôi vừa trải qua cơn đột khụy (stroke) tưởng là không qua khỏi. Thi sĩ Cát Biển thông báo bạn bè thuê 4 chiếc VAN từ San Diego, Orange County trực chỉ lên nhà thương Thousand Oaks. Từ hướng bắc đi lên Santa Barbara, từ phố Bolsa, lái xe 2 tiếng rưỡi, nhưng vì kẹt xe nên 3 tiếng hơn mới đến. Anh chị HOÀNG THY thì lái xe mất 4 tiếng rưỡi từ SAN DIEGO.

    Khi xuất viện tôi ngồi xe lăn vì sức khỏe còn yếu quá, nhưng khi nhận được thiệp mời của anh chị Hòang Thy gả cô con gái lớn. Khi vợ chồng tôi lên đến nơi, anh Hoàng Thy mừng và lo đẩy xe lăn cho tôi. Tôi cảm động bảo “Tôi okay, anh lo lễ cười đi”. Tôi rất quý anh Hoàng Thy với bản tính hiền lành, dung di, xuề xòa, khiêm tốn. Anh chơi guitar giỏi, thích văn nghệ, và có hoa tay nên vẽ rất đẹp.

    Hôm nay đọc bài viết cũ, xem ảnh xưa chợt nhớ Anh Chị Hoàng Thy đã khuất núi, lòng bồi hồi tôi nhớ thương bạn cũ. Hôm gặp chị thi sĩ Quỳnh Giao than thở: Sau tuổi bát tuần bà chị yếu quá, tôi bảo bà chị nên nhóm họp bạn bè của chit như: Thanh Huy, Vương Trùng Dương, Dương Viết Điền, Hồng Vũ Lan Nhi, Hồng Tước,.. xong tổ chức chiều hội ngộ, mở party tao ngộ ở Lữ Quán Cô Đơn. Hôm ấy, Chị Quỳnh Giao bốc quẻ bảo tôi thọ hơn 95+, tiễn tha hồ có dịp đưa tiễn quý cụ, mợ lên thiên đàng Peek’s family, xong nhận visa của Thánh Phê-Rô cho vào thiên cuốc sau cùng, dù là có visa hơi muộn màng. Tuy nhiên, Chị Quỳnh Giao không nên vội gặp Thánh Phê-Rô sớm nhá, hãy đợi bà con rồi cùng bay cao một lượt cho vui nhá,.. hihi,..

    Sáng nay, vào mạng tôi tình cờ xem bài tùy bút “Nếu ra đi” của tác giả tên Trầm Mặc Vân, ông/bà này ghi nhận: “Khi một người bạn ra đi, bạn bè còn nhớ họ hay không, dù ít nhiều do tình cảm đã có lúc sinh thời với nhau, thân nhiều hay thân ít, có thể do lòng của người và người thôi. Nhưng chính chúng ta nên tạo lề lối nhớ đến người bạn đã khuất, những bạn thân hay không, vì đấy là tình cảm giữa người và người. Vì lỡ nếu ta “quên người bạn mình, dù thân hay không, nay đã mất sẽ đồng nghĩa là ta làm cho họ mất thêm một lần nữa hay sao ?” …”.

    Lời nhận định của Trầm Mặc Vân mang một triết lý nào đó trong tương quan sống ở đời. Với anh Hoàng Thy, nếu ai đã từng tiếp xúc, cá tính của anh ấy khá kín đáo, ít nói, rất hòa nhã, hiền lành, anh thường biểu hiện câu nói qua nụ cười hiền hòa. Tôi không hiểu người hiền lành như bụt sao lại chọn binh chủng biệt kích, tiếp cận cái chết không khó, một binh chủng được tô luyện đánh giặc chuyên nghiệp, đánh thiện nghệ mỗi khi xung trận. Có lúc anh bảo thời cũ qua rồi, rồi cười cười.

    Một hôm, Anh Hoàng Thy gọi phone cho tôi, anh bảo thấy tôi hoạt động nhiều trên internet, anh biết tôi khỏe mạnh. Thật vậy, so với khi tôi còn nằm trong khu ICU, anh có vào thăm tôi. Thú thật, khi ấy tôi giống như con gà nuốt dây thun, chả nói được, mà nếu có nói thì toàn là những lời thều thào như ngôn ngữ của giới cận tử biệt ly của bài tình ca “If you go away…”. Tôi trả lời anh là tôi đã phục hồi nhiều so với khi xưa, nhưng vướng mắc vào căn bệnh hiểm nghèo này (stroke), rất phức tạp, ví như chuối ba hương, rơi rụng lúc nào chả biết. Anh nói câu mà bây giờ tôi suy nghĩ nhiều, anh nhận định về sự ra đi trong đời này, chút gì đó mâu thuẩn. Anh nói: “Coi người yếu như vậy mà không di, người mạnh lại đi, làm sao biết được, anh nhỉ ?“.

    Anh Hoàng Thy ơi, phải chăng anh tiên đoán cái định mệnh vừa xảy ra cho chính anh ? Tôi còn nhớ, khi 3 chúng ta: anh, tôi cùng anh Dương Viết Điền chạy ra bãi biển Mission Bay buổi ban mai, lúc 6 giờ sáng, khi khí trời còn se lạnh. Khi bước xuống xe, phố vắng người thưa. Ngoài biển, ánh bình minh chưa ló dạng, thế mà ba chúng ta chạy ra bãi biển. Biển Mission Bay có công viên lý tưởng cho picnic. Thực ra, sứ mạng của ba chúng ta là ra bãi sớm để “xí chỗ cắm dùi” trước bàng dân thiên hạ, còn các anh chị em thì vác đồ đạc ra sau. Thế mới biết, Biệt kích kiêm nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ Hoàng Thy, người của những công tác giao động nhanh nhẹn, xốc vác, bương chải, trong khi cá nhân tôi, cái dĩ vãng vương nghiệp stroke veteran 2 mùa nên chẳng giúp được gì. Còn phần anh nhạc sĩ, thi sĩ văn sĩ kiêm quan ba ngành CTCT đi tù VC 10 niên, cũng “thảm” như tôi, bởi ra tù cải tạo xong, lưng mọc gai xương sống tùm lum. Do đó tôi và anh Điền thuộc sư đoàn chuyên đi chậm. Vì vậy, anh cựu biệt kích Hoàng Thy năm xưa đành nhanh nhẹ đổ bộ xuống bãi sắp xếp ghế, căng dù, banner,…

    Tôi nhớ có một lần khi nhạc sĩ Hiếu Anh ra đi, nhà thơ Yên Sơn chia buồn trên forum với bài tiễn đưa cảm động, anh chêm 2 câu thơ của thi sĩ Thâm Tâm qua bài “Tống Biệt Hành“:
     
    “Đưa người ta không đưa sang sông,
    Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng
    “

    Rồi anh Dương Viết Điền có lần ngâm 2 câu thơ của Nguyễn Bính, tôi nghe buồn tê tái.

    “Mai sau ta sẽ lìa đời,
    Hai ta ai sẽ là người đưa ai ?”.

    Có lẽ tình bạn văn chương khi sống họ trao đổi văn chương, khi một người bạn ra đi họ cũng dùng văn chương đưa tiễn. Trong bài Ký Sự Du Ngoạn San Diego trong link bên dưới. Nhà văn Dương Viết Điền viết phần kết bài của chuyến đi như lời chia tay nhau trong quyến luyến, thôi thì giờ đây tôi xin gửi tất cả lời bạn bè viết về người bạn hiền hòa, dễ mến Hoàng Thy Trần Triệu Đông,
    “Vì đâu, anh em chúng ta, ngày nay sắp cùng bùi ngùi xa cách. Cách xa nhưng ta hằng mong rồi đây có ngày mình gặp lại nhau…”.

    Vâng, chúng ta tất cả sẽ gặp lại nhau sau này. Điều khác nhau là ai đi trước và ai đi sau mà thôi.

    Việt Hải Los Angeles

    http://www.vietfederationsd.org/Culture/VuongMauKyNiem.htm

    http://saigonocean.com/gocchung/html/dien-kysu.htm

    NHỮNG CẢM NHẬN VĂN HỌC NHÂN KHI DỌC TUYỂN TẬP THI VĂN: “ NHỮNG CON ÐƯỜNG’ CỦA HOÀNG THY TRẦN TRIỆU ÐÔNG

    Kính thưa quý vị và các thi văn hũu thân mến,

    Chúng ta không lạ gì khi Hoàng Thy Trần Triệu Ðông đã chọn bài thơ “ Những Con Ðường” để làm tiêu đề cho thi văn phẩm của anh. Bởi vì qua bài này, tác giả đã gởi gấm niềm tâm sự của mình bằng những mãn đề tài viết về quê hương, tình yêu, thân phận. Theo tôi nghĩ đây là những đề tài gợi nguồn cảm hứng nhiều nhất cho tác giả trong khi sáng tác.

    Khởi đi từ những con đường quê hương với khung trời kỷ niệm của một thời vang bóng. Yêu biết mấy những con đường rất thơ mộng. Con đường đã đưa em vào mộng của một thời sớm biết yêu. Con đường của những hàng me lợp nắng trên cao, cỏ vươn gót chân em. Con đường có những lời tình tự, có những người yêu tay trong tay đi về phía giáo đường để nguyện cầu cho tình mãi dài lâu. Ở đó có mùi hương của tóc em thoang thoảng bay trong gió như mùi lan dạ thảo, nhe lân lân đi vào hồn thi sĩ. ( Mùi Hương Tóc Em ). Ơû đó cũng có màu mắt em xanh thăm thẳm khung trời. Làn mi cong làm ngây ngất thi nhân ( Nửa mảnh Hồn Rơi ). Ở đó cũng có những ngón tay thon nuột nà, có mắ t tròn ngơ ngác, dáng kiêu sa, có bờ môi chín mọng và môi hồng nũng nịu đa tình. Ta cũng bắt gặp ở đó những cái lãng mạn khi nghĩ về người yêu như là gió, thổi vào hồn những vấn vương; là nắng để sưởi ấm lòng khi giá băng. Tất cả đã làm cho thi sĩ xao xuyến bân khuâng:

    “ Hờ hững hồn anh chết nửa vời

    Còn nửa hồn kia đi đâu mất

    Chỉ về trong những giấc mơ thôi”

     Bên cạnh bóng dáng hạnh phúc của những cuộc tình thơ mộng, trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta cũng bắt gặp những cuộc tình mong manh, bất hạnh bủa vây với những bẻ bàng, nuối tiêÙc, phân ly, chia lìa:

    “ Anh bước đi xa cuộc đời này

    Cố quên đi ngày tháng xa xưa

    Ðời chỉ là những ngày sầu

    Nuốt lệ buồn cúi mặt mà đi”

    Tiếp nối những con đường quê hương, ta bắt gặp những ảnh hình thương tâm của những người cha già đã ngã gục vì niềm đau oan khiên; những anh hùng bất khuất tự kết liễu đời trai, không hàng giặc; những chiến hữu tật nguyền mà đời chỉ còn là năm tháng thảm sầu.

    Cũng trong mảng đề tài viết về quê hương, tác giả cũng viết rất nhiều về những dòng hoài niệm. Hoài niệm với Hồ Gươm, Tháp Rùa một đời soi bóng nước. Hoài niệm về Hương Giang với những vẩy vàng lấp lánh dưới nắng mai, với hàng liễu in bóng phủ tóc dài, với tiếng hò cô gái trong khói mù sương. Hoài niệm về Sài Gòn phồn hoa, đô hội với Chợ bến Thành rộn rị[ kẻ bán người mua; với Bạch Ðằng lúc chiều xuống ( Ðưa Em về). Cùng hoài niệm về những mùa xuân của quê hương với gió nhẹ lay ngọn cỏ; với giọt sương đùa trong nắng; với mai vàng khoe sắc thắm; với đào, hồng rực rỡ hương. Tất cả giờ đây chỉ còn là vang bóng, bỏ lại trời quên:

    “ Ôi những mùa xuân đượm thảm sầu

    Miền quê yêu dấu giờ ở đâu

    Ai về xứ ấy cho ta nhắn

    Rằng kẻ tha hương vẫn đợi chờ”

    Cũng trong thơ Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta bắt gặp cái mênh mông, bát ngát , thơ mộng của thiên nhiên , cây cỏ hài hòa với sự biến đổi của đất trời; cái thanh thoát, man mác của vũ trụ bao la:

    “ Nơi đây có suối rừng mơ

    Quanh năm phố phủ sương mờ khói lam

    Rì rào thông đứng hai hàng

    Hồn thơ lộng giữa trăng vàng suối reo”

    ( Ðà Lạt Thần Tiên )

    Hay:

    “ Em hãy xem ráng chiều đang trải xuống

    Lùa mây về tận cuối nẻo xa xăm

    Dãi nắng vàng ôi sao quá mong manh

    Anh sợ sẽ vỡ tan thành muôn mảnh”

    ( Vạt Nắng )

    Ta cũng bắt gặp những sắc màu của không gian tịch mịch, im lặng của mùa thu với mây thu bàng bạc; với lá thu xào xạc; với gió thu mơn man đùa trên ngọn cỏ chiều thu chớm; với trăng thu bẽn lẽn nép mình sau rặng liễu ; với rừng thu vắng .

    Ta cũng bắt gặp cái huyền bí thâm cung với tiếng than vãn của “ Lũ Ma Hời ”  mà giờ đây những tháp cao chỉ còn lại là những trơ trọi, điêu tàn, đổ nát, rêu xanh phủ kín, mờ phai một dĩ vãng oanh liệt.

    “Chiều mơ tắt màn đêm sương mờ ảo

    Những tháp chàm ảo não đứng lặng câm

    Sắc tàn phai theo tháng năm âm thầm

    Mang chứng tích xưa kiêu hùng ngạo nghễ”

     ( “Tháp Chàm Xưa”)

    Ngoài ra, trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông cũng có đề cập đến thân phận của kẻ lạc loài . Lạc loài với quê hương người bỏ xứ. Lạc loài với những dấu tích ngày xưa. Lạc loài vời trường cũ giờ đã rêu phong. Lạc loài với thầy, Cô, bạn cũ, với người thân đã mỏi mòn trông đợi người đi biền biệt năm tháng ( Kẻ lạc Loài ).

    Cũng trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta bắt gặp những xót xa cho những phận đời mong manh. Xót xa với tuổi thơ ngây em đã mất. Xót xa những khổ đau, mất mát, tủi nhục, ê chề của kiêÙp lầm than. Ðể rồi cầu xin một nghĩa cử cao đẹp :

    “ Hãy bỏ lại sau lưng niềm phẫn uất

    Những đọa đày những tủi nhục xót xa

    Những thù hằn đau đớn của ngày qua

    Hàn gắn lại, yêu thương và tha thứ”

    ( Dòng Tâm Sự )

    Cũng trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta cũng thấy phảng phất thân phận buồn bã, cô đơn của người thi sĩ với lời thơ cung bậc; của nhạc sĩ với tiếng nhạc lời ca; của họa sĩ với những nét dọc ngang diễn tả tâm tình dù cho họ đã dệt cho đời biết bao hoa gấm:

    ( Người Nghệ Sĩ )

    Cũng trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta bắt gặp những phận đời bọt bèo của người kỷ nữ, mang kiếp tầm phải nhã tơ , ngấn lệ hoen mi khi đêm về, hay khi phấn son đã nhạt phai :

    “ Người đến chi với em bằng hờ hững

    Bằng cuộc vui ngắn ngủi thoáng qua thôi

    Bằng dối gian trên chót lưỡi đầu môi

    Rồi ngoảnh mặt vút xa tầm tay với ”

    ( “Người Kỷ Nữ”)

    Cũng trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta bắt gặp những phận đời lam lũ đè nặng trên vai người con gái Việt Nam xanh xao, gầy guộc, bàn tay dày, chai đá với tháng năm trên các nông trường hoang dại . Ðể rồi thi sĩ đã khóc cho tuổi trẻ Việt Nam :

    “ Tôi bỗng thấy mắt cay cay bật khóc

     Dọ lệ buồn cho tuổi trẻ Việt Nam

    Cớ vì sao em cơ cực muôn vàn

    Hãy đứng dậy, em ơi cùng đứng dậy”

    Cũng trong thơ của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông chúng ta bắt gặp những đớn đau, vật vã cùng những bi lụy khi phải giam mình trong bóng tối tù ngục , đọa đày vì đơn thuần chỉ là người lính Việt Nam ; cùng những phận đời mong manh khi phải ra đi tìm tự do trên những chuyến tàu lênh đênh trên biển cả.

    Bên cạnh những con đường đưa em về quê hương cũng có những con đường đưa em về với những người yêu thương . Ở đó có mẹ già mỏi mắt mòn trông con đi biền biệt năm tháng chưa về. Ở đó cũng có những hình ảnh của những người cha với số phận tù đày tủi nhục trong lao tù.

    Cũng ở đó có những con đường rợp bóng tre. Có con đò. Có tiếng ru e m giữa trưa hè nắng cháy. Có tiếng võng nhẹ đưa em tròn giấc ngủ . Cũng ở đó có con sông dài uốn khúc chảy quanh co . Có gió thơm mùa lúa chín. Có câu hò. Có trăng chếch bóng, ghếch đầu trên núi bạc. Những con đường tuy xa trong không gian nhưng rất gần trong tâm tưởng. Tất cả giờ đây chỉ còn là những kỷ niệm Nhạt nhòa trong vùng ký ức khó quên.

     “ Giờ tìm đâu những con đường xưa lối cũ

    Những con đường gần gũi rất thân thương

    Những con đường vàng gấm của quê hương

    Ðường xưa đó bao đại dương cách trở ”

    (“ Những Con Ðường ” )

    Kính thưa quý vị,

    Như quý vị đã biết, Hoàng Thy Trần Triệu Ðông vốn xuất thân là một người lính nên anh cũng đã dành cho hình tượng người chiến sĩ một chỗ đứng trang trọng và kiêu hùng trong thi văn phẩm của anh.

    Ta hãy nghe Hoàng Thy Trần Triệu Ðông nói về người lính VNCH :

     “ Họ là những người con yêu đất nước

    Theo tiền nhân đã cất bước lên đường

    Mang trên mình một sứ mạng thiêng liêng

    Bảo vệ giống Rồng Tiên non nước Việt ”

    ( “Họ Là Ai ”)

    Ðể rồi mãi tôn vinh người lính anh hùng bất khuất :

    “ Xin vinh danh những người con giữ nước

    Xin một lần được chiêm ngưỡng dung nhan

    Dẫu rằng anh nguyện ước chưa thành

    Chí can trường ngời lên bao thế hệ ”

    (“ Nhân Danh Người Lính QLVNCH”)

                Xen kẻ với những vần thơ viết về quê hương, tình yêu, thân phận, Hoàng Thy Trần Triệu Ðông  đã giới thiệu thêm cho giới thưởng ngoạn những mẩu chuyện ngắn như “ Bà Mai”; “ Một Chuyến Nghỉ Mát”; “ Người Khách Quá Giang”; “Thằng Bé Thiên Thần”; “ Một Vụ Ðụng Xe”.Trong nhong những mẩu chuyện ngắn này , Hoàng Thy Trần Triệu Ðông đã thể hiện nhân vật có vẻ thần bí , siêu hình nhưng lại lồng trong khung cảnh , không gian, thời gian rất đời thường. Vì vậy câu chuyện đã được mô tả rất hiện thự . Chính những yếu tố này đã làm cho những câu chuyện ngắn của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông được người đọc dễ dàng chấp nhận. Ðây là một điểm son của tác giả. Tôi nghĩ ở góc cạnh này, Hoàng Thy Trần Triệu Ðông sẽ thành công nếu anh biết chọn cho mình một hướng đi khi anh viết những chuyện ngắn xoay quanh những đề tài có vẻ siêu hình , khá hấp dẫn như đã nói ở trên.

                Kính thưa Quý vị,     

    Tính bình dị trong phong cách thể hiện, tính trung thực trong cách diễn đatï tình cảm; tính phong phú và đa dạng cũng được dễ dành khám phá qua những dòng thơ, chuyện ngắn của Hoàng Thy Trần Triệu Ðông trong tuyển tập thi văn. Bằng những lời thơ trong sáng, tác giả đã đưa người đọc đi từ rung động này sang cảm xúc khác; những khổ đau này sang những tiếc nuối khác.

    Lại nữa, tính nửa hiện thực, nửa siêu hình cũng được dễ dàng tìm thấy trong văn của anh, qua những mẩu chuyện ngắn trong tuyển tập thi văn “ Những Con Ðường” . Bằng lối hành văn giản dị,  Hoàng Thy Trần Triệu Ðông đã cuốn hút độc giả, đã đưa người đọc đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác; những tình tiết hấp dẫn , ly kỳ này sang những tình huống éo le, kinh dị khác; những say sưa thích thú này sang những bàng hoàng, xao xuyến khác khi văn thi phẩm “ Những Con Ðường “ được đóng lại. Tất cả đã giúp cho Hoàng Thy Trần Triệu Ðông thành công trong mảng đề tài này.

    Kính thưa quý vị,

    Với lòng nhân hậu, và với tâm hồn trong sáng cộng thêm một chút lãng mạn văn học, Hoàng Thy Trần Triệu Ðông đã hình thành nên tác phẩm “  Những Con Ðường”. Hy vọng tuyển tập thi văn sẽ được các giới thưởng ngoạn đón nhận như là một khích lệ để cho tác giả của nó đi xa hơn trong lãnh vực sáng tác hầu để tô điểm cho vườn hoa văn nghệ hải ngoại mãi mãi ngát hương.  

    Với sự trân trọng, tôi xin phép được đại diện cho một bạn bè, thân hữu gởi đến Hoàng Thy Trần Triệu Ðông những bông hoa tươi thắm nhất cùng với những tình cảm thân thương và nồng ấm nhất.

    Trân trọng kính chào quý vị và xin cám ơn sự lắng nghe của quý vi.

                                                    San Diego ngày 15 tháng 10 nam 2001

    PADgheSD050-1.jpg picture by tangolouis

    Những con đường (Hoàng Thy)

    Trần Việt Hải

    Cầm trên tay tác phẩm “Những con đường” của anh bạn Trần Triệu Ðông, tức thi, văn, họa, nhạc sĩ Hoàng Thy tôi rất lưu luyến với bức họa ở trang bìa do họa sĩ ViVi vẽ một cặp tình nhân, chàng trai chiến binh về thăm thủ đô Saigon choàng tay người em gái hậu phương. Bức hình đó đem tôi về những kỷ niệm xa xưa của cuộc nội chiến Việt Nam, mà người Mỹ chỉ gọi là Vietnam war. Tôi còn nhớ những bài tình ca bất hủ về đời lính, khi người em gái hậu phương nũng nịu ca cho anh chiến sĩ VNCH những khúc tình ca: “Nếu em không là người yêu của lính, ai đem cánh hoa rừng về tặng em….?” hay “Ai nói lính yêu, lính không sầu nhớ ? Không biết nói yêu mỗi khi mộng mơ”. Vâng, hình ảnh người lính VNCH vốn đẹp đẽ trong quan điểm của tôi, nhiều bạn trong đã trong quân ngũ, như Hoàng Thy, Cát Biển, Yên Sơn,… Hoàng Thy xếp bút nghiên từ giã đại học khoa học Saigòn theo nghiệp đao cung vì cuộc chiến khốc liệt dịp tết Mậu Thân 68 như Cát Biển, như Yên Sơn và như bao chàng trai thế hệ của miền Nam. Nếu một pilot Yên Sơn cưỡi mây ngàn trên vận tải cơ C-130 tung hoành ngang dọc đùa giỡn với chị Hằng hay những thiên thần trên cao của tuyết trắng hoặc như sailor Cát Biển cưỡi sóng của “Trùng dương sóng vỗ”, đứng trên đỉnh cao của chiến soái hạm, trên boong tàu chỉ huy những chuyến hải hành vượt ngàn khơi để đem hoa biển về tặng em thì Hoàng Thy lại kín đáo trong những điệp vụ Mission Impossible ở vùng Tam Biên, Mõ Vẹt, hành quân lục soát an ninh trong vùng ba biên giới để gìn giữ từng tấc đất quê hương, anh thuộc đơn vị Lực Lượng Ðặc Biệt trấn giữ tại vùng chiến tuyến hiểm nghèo mà với những sứ mạng commando liều lĩnh xem cái chết nhẹ như tơ hồng, chúng ta hãy nghe những vần thơ của Hoàng Thy về người lính VNCH:

    “Anh là ai, dáng sao oai hùng quá

    Áo hoa dù rạng rỡ tuổi hoa niên

    Vết giầy saut vương chút bụi sa trường

    Mà mắt vẫn ngời lên niềm kiêu hãnh…”

    Đúng vậy, người lính trẻ năm xưa của chúng ta, tiêu biểu qua hình ảnh màu áo hoa dù đã hiên ngang, đã oai hùng như:

    “An Lộc địa còn ghi chiến tích,

    Biệt cách dù vị quốc vong thân”

    Nói về tác phẩm “Những con đường” của Hoàng Thy tôi có quá nhiều điều để viết. Về tình cảm lãng mạng như:

    “Nắng xin lên cho làn môi em thắm,

    Trăng hãy về cho em trắng đôi tay,

    Gió qua mau cho đường tóc em bay,

    Mưa xin lại cho môi em ướt mọäng…”

    Rồi Hoàng Thy viết rất chân thành, rất đậm đà về tình phụ mẫu bao la trong bài “Tấm lòng của mẹ”:

    “Con hỡi con, lại gần đây một tí,

    Mà lắng nghe lời nhắn nhủ chân tình,

    Cha Mẹ thương từ lúc mới tượng hình,

    Qua bao tháng cưu mang nhiều hy vọng,

    Rồi đến ngày con chào đời góp mặt,

    Cha thương nhiều từng lúc bế trên tay,

    Hôn bên kia rồi lại đến bên này,

    Cứ như thế cả ngày không biết mệt,

    Mẹ ngắm nhìn mà lòng vui khôn xiết,

    Thịt da nào là của Mẹ, của Cha,

    Khối óc nào là Thượng Ðế ban cho,

    Tình yêu Mẹ dành cho con tất cả…”

    Hoàng Thy đem tôi đi từ tình non sông gấm vóc, đến tình phụ mẫu, rồi tình lãng mạn với người con gái anh yêu,… nhiều và nhiều lắm để bày biện ra những trang giấy này, anh nói về Tháp Chàm Xưa, Vịnh Non Nước, Ðà Lạt Thần Tiên,… tôi thích những áng thơ tình vô cùng nhẹ nhàng của anh khi nói về người con gái anh yêu, có thể tôi đã chủ quan chăng, vì với nhận định của riêng mình sự lãng mạn tuyệt đối vẫn là nguồn cảm hứng vô biên cho các nhà thơ chăng?

    “Mùi hương tóc em

    Anh nhớ mãi hương mùi hương thơm tóc em,

    Thoang thoảng bay như mùi lan dạ thảo

    Nhẹ len lén vào hồn anh một dạo,

    Rồi trải dần ra khắp cả châu thân.

    Anh thèm lắm được ôm ấp một lần,

    Ðôi tay nhỏ với nụ hôn trìu mến,

    Nhưng mỗi lần anh thấy em bẽn lẽn,

    Ðành quay đi giấu một tiếng thở dài”

    Thơ tiếp, Hoàng Thy nhớ hương mùi tóc em, hình ảnh người trai hôn lên tóc người nữ, tôi thích hình ảnh ấy. Tuyệt, đẹp,…

    “Anh nhớ mãi tóc em thơm mùi hương,

    Vương vương vấn trời sa sương mờ ảo,

    Ray ray rứt thật gần sao long lanh,

    Tê tê dại cõi lòng anh chết lịm.

    Em hãy giữ mùi hương trên mái tóc,

    Ðời mai này nếu lỡ có xa nhau,

    Anh sẽ bảo gió gom hết về đây,

    Cho anh sống một trời mây nhung nhớ”

    Hoàng Thy, San Diego 08/17/2001

    Hôn tóc người yêu là cử chỉ thay cho lời trìu mến, mùi hương tóc của người yêu dấu vẫn là những kỷ niệm xao xuyến khó quên, vẫn lưu luyến để góp nhặt cho đầy nhung nhớ, cho ngập hồn mơ tưởng về em, cho rừng thơ yêu đương thêm nhiều nồng nàn, cho dâng tràn hồn lãng mạn hương tình.

    Ngoài ra thơ của Hoàng Thy được các thân hữu hay chính tác giả phổ nhạc, tôi nghe diã CD của anh thực hiện qua tiếng hát của Kim Loan và Anh Tuấn, những người ca sĩ trẻ nhưng có giọng ca thật điêu luyện. Tôi thích 3 nhạc phẩm: Nửa mảnh hồn rơi, Vạt Nắng và Nửa cuộc tình buồn, do Anh Tuấn trình bày:

    “Dải nắng vàng ôi sao quá mong manh

    Anh sợ sẽ vỡ tan thành muôn mảnh

    Em hãy hong vạt áo dài gom lại,

    Những sợi vàng mềm mại quá đi thôi”

    Rồi Anh Tuấn lại thì thầm qua ca khúc “Nửa mảnh hồn rơi”:

    “Xin em đừng khép nhẹ làn mi,

    Ðể anh chiêm ngưỡng nét tuyệt vời,

    Gom cả khung trời trong đáy mắt,

    May ra tìm được mảnh hồn rơi”

    Hoàng Thy đã biết nơi tìm ra “Nửa mảnh hồn rơi” của anh, thơ của Hoàng Thy lãng mạn lắm phải không ? Xin người yêu đừng khép nhẹ làn mi, để anh gom cả khung trời trong đáy mắt, may ra tìm được mảnh hồn rơi…

    Rồi tôi nghe một giọng hát nữ dâng lên trong tâm hồn sầu vơi một tình ca bất diệt về Hà Nội, chốn ngàn năm văn vật: Mùa Thu Hà Nội với dáng ngọc cổ xưa, những nuối tiếc về Hà Nội những ngày trước vào mùa thu, và rồi ” Hà Nội vẫn chờ… những con người Hà Nội năm xưa, và chờ để làm gì thì chúng ta đều hiểu rõ, phải không thưa các bạn? Ngoài ra, Hoàng Thy còn nhân cách hoá Sài Gòn như là một người tình nhân của anh: “Ta tiếc thương em, giờ em không còn tên người”. Ôi, Sài Gòn không còn tên người… vậy thì bây giờ em Sài Gòn mang tên… con vật nào đó ư ? và Hoàng Thy mong sẽ có một ngày chắp nối lại được mối tình xưa cùng người yêu dấu… “Em Sài Gòn”.

    Trong tuyển tập “Những con đường” còn có 5 tác phẩm văn xuôi mang tựa đề: Bà Mai, Một Chuyến Nghỉ Mát, Người Khách Quá Giang, Thằng Bé Thiên Thần và Một Vụ Ðụng xe. Tất cả đều mang tính chất huyền bí như loại truyện ma thuật.

    Bờ biển La Jolla

    Một Chuyến Nghỉ Mát lấy bối cảnh bờ biển La Jolla, San Diego, một bờ biển tôi vốn yêu thích trong số những bờ biển của bên bờ tây Hoa Kỳ trải dài từ ranh giới Canada và Washington State xuống vịnh Mexico ở miệt Nam. Cốt truyện là Trung mang vợ và 2 con gái Thùy Hương và Thùy Trang đến nghỉ mát tại La Jolla, trong cảnh gia đình rất hạnh phúc, êm ấm bên thắng cảnh thiên nhiên, 2 cô bé mải mê bơi lội, bỗng Thùy Hương bị sóng cuốn hụt chân, xém chết đuối, một động lực vô hình khiến Trung lao mình vào những cơn sóng nghiệt ngã để cứu con mình. Ðộng lực đó chính là bé Trâm con của Thanh (là người bạn thân của Trung) đã chết đuối năm trước. Hiện về để cứu bé Thùy Hương thoát nạn. Truyện thứ nhì  Thằng Bé Thiên Thần cũng cùng loại truyện báo mộng loại kinh dị Omens hay Friday the 13th, Quỳnh và bé Phương, vợ con Quang thoát nạn trong một vụ xe đụng do sự báo mộng và cứu mạng của bé Thanh (con trai của vợ chồng Dũng, bạn của vợ chồng Quỳnh-Quang ). Theo cốt truyện Một Vụ Đụng Xe chất chưa nét định mệnh, Vinh dính líu vào một vụ đụng xe với người con gái tên Loan, Loan là chị song sinh với Phượng giống nhau như khuôn đúc, vì phải ra phi trường gấp nên Vinh bỏ đi vụ đụng xe với Loan, sau đó chàng mới truy ra người đụng xe mình, khi Vinh tìm ra, Phượng rất bỡ ngỡ vì Phượng không hiểu rõ đầu đuôi chuyện đụng xe của Vinh và Loan, Vinh lai đinh ninh Phượng chính là Loan. Khi tìm ra sự thật, Phượng cho Vinh biết Loan đã thực sự tử nạn trong một vụ đụng xe khác. Mối liên hệ kế tiếp giữa chàng trai độc thân và nàng Phượng còn đơn thân gối chiếc đưa đến hôn nhân vì một vụ đụng xe tuy nhẹ, nhưng rất tình cờ của “Tình Chị Duyên Em”.

    Nói chung khi viết 3 tác phẩm này tác giả đã phong phú hoá óc tưởng tượng như một Alfred Hitchcock, ông vua của những loạt phim kinh dị, ma quái từ những Vampires như Dracula, Frankeistein, Mummy của truyện cổ Ai Cập,… Tôi không biết trong những kỷ niệm cũ trong đời quân ngũ khi nhìn cái chết cận kề đã là một nguồn xúc tác của tác giả tuy rằng anh đã cảm tác hóa mối tình không đợi mà đến. “Ai nói lính yêu… lính không sầu nhớ, không biết nói yêu mỗi khi gần em ?”.

    Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc 4 phương tuyển tập thi văn học của tác giả Hoàng Thy, Trần Triệu Ðông, San Diego.

    Phụ chú thêm bài thơ “Anh Về” mà anh đã sáng tác vói bản dịch Anh ngữ của dịch giả Trần Bình Nhung:

    “Anh về ngõ vắng tiêu điều

    Như cơn gió thoảng chắt chiu nắng vàng

    Bước chân hờ hững đi hoang

    Niềm đau chất ngất ngỡ ngàng lối xưa

    Anh về gom những hạt mưa

    Thoa lên suối tóc cho vừa nhớ nhung

    Giọt sầu cô đọng tơ trùng

    Nẻo hồn tê tái nhẹ rung phím lòng

    Cho đời đôi chút chờ mong

    Mai sau thoát kiếp lưu vong lạc loài

    Ưu phiền dẫu có nguôi ngoai

    Em hong tóc xõa hình hài khói sương

    Dáng xưa lược dắt trâm cài

    Giờ trong ký ức mệt nhoài phấn hương

    Xa xôi một thủa miên trường

    Nắng chiều trải nhẹ vấn vương bạc lòng

    Anh về gom những chờ mong

    Kết thành một chuỗi long đong phận đời

    Tháng ngày lạc bước rong chơi

    Ngoài kia nắng nhẹ tơ trời mong manh”

    Hoàng Thy

    * Bản dịch Anh ngữ:

    ” Coming back home “

    Walking home on the deserted road

    Like a breeze on a golden afternoon,

    Your steps lead you in different directions

    With pain mounting high along the old path.

    You are back to collect the drops of rain

    To dampen her cascading hair and assuage your love.

    The drops of sorrow crystallize your thoughts and feelings

    Lightly strumming the cords of your heart.

    You hope that life will reserve a better lot

    Liberating the person from exile and loneliness

    Although the woes may be dimmed sometime

    Fanning her long hair, she is evanescent like dew.

    O silhouette of the past, with a comb in the hair,

    Now blurred in memory,

    painstakingly recorded as an old fragrance,

    So far away and imperceptible, how can you relive the moment

    Under the light dust of the afternoon sun.

    Back home, you collect the hopes

    Stringing them into a river of life uncertainties.

    For days and months you have wasted your time in

    little joys,

    Softly, the sun projects its fragile rays on the earth.

    Translated by Binh Nhung, 03/26/03

  • MINH ĐỨC,  THO

    THƠ CỦA MINH ĐỨC

    Tây Ninh Quê Mẹ

    Tây Ninh có núi Điện Bà

    Cao Đài Thánh Thất liên hoa cổng vàng

    Đồng quê, ruộng lúa ngút ngàn.

    Sông Vàm lượn khúc, nước tràn bờ mương

    Non cao đất rộng rẫy nương,

    Bắp ngô khoai sắn, rắng sương hai mùa.

    Ao sâu nước chảy cá đua,

    Sản phẩm cung cấp chứa đầy tình quê.

    Bạt ngàn thương cảm sơn khê

    Còn non còn nước còn về Việt Nam

    Ngô Thiện Đức

    Tây Ninh Quê Mẹ

    Chiều nay ghé núi Điện Bà

    Đường lên dốc núi xa xa chân trời

    Thắp hương khấn niệm khắp nơi,

    Tâm tư lắng đọng dâng lời cầu xin

    Cầu xin đất nước yên bình

    Việt Nam quê mẹ bình minh vĩnh hiền

    Tây Ninh đất tổ linh thiêng

    Ngàn năm quê mẹ mọi miền đẹp xinh.

    Ngô Thiện Đức

    Quê Nhà Tây Ninh

    Tây Ninh xin ghé Trảng Bàng

    Quê hương dịu mát ghé sang thánh đường

    Tha La xóm đạo tình thương

    Bánh canh bánh tráng vấn vương quê nhà

    Bến Cầu, Bàu Gõ, Long Hoa

    Gò Dầu Trảng Sụp kế là Cẩm Giang

    Hữu tình non nước quê làng

    Bình minh tỏa rạng, quan san yên bình

    Ngô Thiện Đức

    Chúc Mừng Bách Niên Khai Đạo Cao Đài

    Cao Đài đại hội bách niên khai

    Tín hữu qui về thánh thất đài

    Kính chúc thành công viên mãn hội

    Vui mừng đại lễ mở ngày mai

    Tín đồ tham dự càng đông đảo

    Chức Sắc lăn xăn áo trắng dài

    Phật Lão Nho đồng qui Giáo Pháp

    Cao Đài đại đạo mở tương lai.

    Ngô Thiện Đức

    Tôi Yêu Quê Nghèo

    Tôi yêu nước Việt miền Nam

    Yêu con sông Cửu yêu làng đồng quê

    Yêu quê ngàn dặm sơn khê

    Cầu tre lắc lẻo đi về miền Tây

    Nhà tranh vách đất chứa đầy tình yêu

    Tôi yêu nắng hạ hiu hiu,

    Mưa giông bảo tố không xiêu miệt vườn

    Quê nghèo khổ cực tôi thương

    Nắng mưa gió thổi mùi hương tràn đầy

    Người dân lam lũ tháng ngày

    Sớm trưa vất vả  cấy cày ruộng nương

    Quê tôi tình tự bốn phương

    Tôi yêu nước Việt quê hương mẹ hiền!

    Ngô Thiện Đức       

    Mẹ Thiêng Liêng

    Mẹ là biển cả thiêng liêng

    Như giòng sữa ngọt mẹ hiền từ tâm

    Bao năm khổ cực âm thầm

    Như gương từ mẫu Quan Âm tình tràn

    Cho con hạnh phúc bình an

    Mẹ là hùng vĩ kỳ quan muôn đời

    Nay con dâng mẹ đôi lời

    Thơ này kính tặng “Mẹ tôi!” nhân từ ,…

    Ngô Thiện Đức

    Nhớ Mẹ

    Mẹ ơi ! nhớ mẹ hoàng hôn

    Suốt đời vất vả chìu chồng nuôi con. 

    Công ơn dưỡng dục tựa non,

    Chín tháng mang nặng lại còn đẻ đau.

    Mẹ mang thai lớn thật mau,

    Sinh con, nuôi dưỡng mai sau giúp đời.

    Con nay tuy đã thành người,

    Bao năm con chỉ như thời trẻ thơ.

    Mẹ như hình ảnh tôn thờ

    Mẹ lo ăn mặc như thuở lên mười.

    Tình mẫu tử cao bằng trời,

    Công ơn cao cả suốt đời chẳng quên.

    Đêm Đêm khấn nguyện bề trên

    Cầu cho cha Mẹ sống đời với con

    Để con đền đáp công ơn

    Sinh thành dưởng dục non sơn cao này

    Mẹ già như chuối chín cây

    Gió lay mẹ rụng con rày mồ côi

    Mồ côi vắng mẹ sinh thời

    Đêm Đêm nhớ Mẹ phận đời nhiêu khê

    Nuôi con vất vả trăm bề

    Tình cha nghĩa mẹ hương quê ngày nào

    Vĩnh hằng một cõi trên cao

    Âm dương cách trở xa nhau mi trào

    Vũ trụ có một vì sao

    Mẹ hiền từ mẫu như sao sáng ngời

    Ca dao đồng ấu nhớ lời

    Sách xưa huấn dụ cả đời nhớ ơn

    “Công Cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ Mẹ kính Cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là Đạo con.”

    Ngô Thiện Đức

    Bài thơ Song Thất Lục Bát, Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Đại Đạo Thanh Niên Hội – Cao Đài. Từ năm 1965 to 2025 và nhân dịp Đại Hội Thanh Thiếu Niên Cao Đài Thế Giới lần thứ XI tổ chức tại San Jose vào dịp July 4, 2025

    Hướng Đạo Thẳng Tiến

    Từ khắp nơi về châm lửa trại

    Sói trưởng Thẳng Tiến bên nhau đây

    Vui Khúc ca hát tình đầy

    Hợp đoàn cùng nhau chung tay xây lều

    Trời mây rừng suối chốn mỹ miều

    Powell tổ đạo sống thiên nhiên

    Bên nhau từ khắp mọi miền

    Gian nan khắc phục ưu phiền có nhau

    Hội doàn sinh hoạt mãi bền lâu

    Đoàn kết một lòng ơn nghĩa sâu

    Kỷ cương học hỏi ban đầu

    Thanh niên tráng trưởng tạo bầu tình thân

    Học đời hướng đạo điều giúp ích

    Cộng dồng xã hội ta dang tay

    Nguyện lời tâm niệm từ nay

    Chía chung lý tưởng ngày mai giúp đời

    Nắng hè rạng rỡ tỏa muôn nơi

    Liên tâm bách hợp chung tấm lòng

    Quyết chí vững bên núi sông

    Quyết chiến ta giống dân Lạc Hồng

    Khúc “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”

    Phù Đổng thánh hiền giữ non sông

    Bạch Đằng sông nước tô hồng

    Sử Nam sách Bắc chung lòng đắp xây

    Hưng Đạo minh vương vinh năm tháng

    Sử xưa ghi phanh thây quân thù

    Hồn tử sĩ vang ù ù…

    Thiên hùng ca ngàn thu ngạo nghễ !

    Ngô Thiện Đức

  • HUY ANH,  THO

    THƠ: LỜI RU CỦA MẸ

    Huy Anh

    Ngày 4 tháng 5, 2025, Huy Anh tham dự tiệc Mother’s Day của ca sĩ Tuấn Đạt và một số ca sĩ khác tổ chức với chủ đề “Lời Ru Của Mẹ“. Gần đây, khi giúp lay-out Tập San Nhân Văn Nghệ Thuật số 1, Huy Anh được đọc bài ĂN NỬA TRÁI SIM của nhà văn Bạch Phụng. Bài viết này có chủ đề khác, nhưng có nhắc nhiều về “Lời Ru Của Mẹ”.  Cảm hứng với đề tài này, Huy Anh đã sáng tác bài thơ trên.

    Lời ru mẹ hát ngày nào

    Nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng ta

    Như dòng sông, suối đi qua

    Lời ru của mẹ đưa ta vào đời

    Bao nhiêu ngày tháng qua rồi

    Lời trong tâm thức trao dồi trí con

    Nhận, ghi tình nghĩa sắt son

    Tri ân lời mẹ ru con ngày nào

  • HUY ANH,  Khánh Lan,  MINH ĐỨC,  TALK SHOW,  VIẾT VỀ CHA,  Viết Về MẸ

    Chương trình talkshow của Nhân Văn Nghệ Thuật trên đài VNA, băng tầng 57.3

    Tháng 5 và tháng 6 là hai tháng kỷ niệm ngày lễ Mother’s day và Father’s day, ba anh em chúng tôi, Minh Đức, Huy Anh và Khánh Lan nhân cơ hội này đã có buổi mạn đàm về chữ HIẾU TRONG VĂN CHƯƠNG trên đài VNA. Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em vào xem:

    PHẦN I:

    PHẦN II:

    PHẦN III:

    Khánh Lan kính mời

  • Âm nhạc,  Phạm Hồng Thái,  Phạm Phan Lang,  VIẾT VỀ CHA

    NHỚ CHA MÙA LỄ PHỤ THÂN – Ca khúc Thái Phạm phổ thơ PhamPhanLang

    Nhân ngày Lễ Phụ Thân, trong niềm thương nhớ khôn nguôi dành cho người Cha kính yêu đã khuất, PLang xin được chia sẻ với quý anh chị một bài thơ nhỏ – “Nhớ Cha Ngày Lễ Phụ Thân” – như một lời thì thầm từ trái tim của người con xa xứ.

    Hai mươi mốt năm trôi qua kể từ ngày Cha ra đi nơi quê nhà Việt Nam, nhưng ký ức về những ngày cuối cùng được trở về bên Cha – đút từng thìa cháo, xoa bóp đôi chân đau buốt, đẩy chiếc xe lăn quanh sân nhỏ – vẫn còn vẹn nguyên trong tim. Những ánh mắt dịu dàng của Cha, những cái nhìn lặng lẽ ngày ấy… đã hóa thành thơ.

    Bài thơ này được nhạc sĩ Thái Phạm phổ nhạc thành ca khúc cùng tên, và qua giọng ca tha thiết, nghẹn ngào của Đông Nguyễn – từng câu, từng chữ như được cất lên từ chính tận cùng sâu thẳm của nỗi nhớ, làm PL không tránh được giọt lệ rưng rưng.  Xin chân thành cám ơn nhạc sĩ Thái Phạm và ca sĩ Đông Nguyễn.

    NHỚ CHA NGÀY LỄ PHỤ THÂN             MISSING FATHER ON FATHER’S DAY

    Cha ơi, con gọi nghẹn lời,                         Oh Father, I call, choked with pain,
    Mùa Cha trở lại, một trời nhớ thương.                         As Father’s Day nears, I miss you again.
    Bao năm biệt xứ dặm trường                          Long years away, I still remain
    Ngày đi đòi đoạn quê hương xa dần.                        A child of a land I may not regain…

    Nhớ xưa Hè chớm vào sân,                         That summer, just as flowers came,
    Hay tin Cha yếu, đôi chân rã rời.                            I heard you grew weak, your legs tired and lame.
    Con xin gác lại việc đời,                             I laid aside rank, job, and name,
    Trở về quê mẹ sớm mơi phụng thờ.                       Returned to your side, no thought of acclaim.

    Ngày ngày đút cháo nâng cơ,                         Each day I fed you, eased your frame,
    Xoa chân run rẩy, đẩy xe quanh vườn.                        Massaged your frail legs, wheeled you through the lane.
    Cha nhìn con mắt lệ tuôn,                            You looked at me with eyes that rained—
    Ánh nhìn chan chứa tình thương thuở nào.                      Still filled with the love that through childhood remained.

    Thấy Cha đỡ bệnh mấy phần,                           When you seemed better, less in pain,
    Con đành tạm biệt cánh bằng bay cao.                        I left with regret to fly home again.
    Về chưa xong việc là bao,                            Not long had I tried to maintain
    Tin Cha hấp hối như dao xé lòng.                           My scattered tasks—then grief sliced like a chain.

    Vội vàng trở lại đêm đông,                            I rushed through the cold night and rain,
    Vượt bao cách trở, cầu mong ơn Trời.                        Through borders and skies, I whispered your name.
    Kịp bên Cha phút cuối đời,                              One last breath you spent just the same—
    Nhìn con lần cuối, Cha rồi… lặng im.                            You saw me… then silence. No word ever came.

    Cha đi… trời đất lặng chìm,                             You left… and the earth lost its frame,
    Lệ buồn nhỏ giọt đẫm tim não nề.                           My heart drenched in sorrow no words could tame.
    Bao năm bóng ngã trưa hè,                             Years fall like sunlight, just the same,
    Lòng con vẫn thấy Cha kề đâu đây.                        Yet I still feel you, beside me, so near.

    Dẫu Cha khuất nẻo mây bay,                          Though clouds may hide you from me here,
    Ơn Cha như biển đong đầy tim con.                         Your love fills my heart like oceans sincere.
    Mỗi mùa Lễ Phụ Thân còn,                             Each time Father’s Day reappears,
    Con dâng giọt lệ, thay tròn chữ yêu…                          I shed one more tear, for a love most dear.

    phamphanlang, 1/6/2025

  • Khánh Lan,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    CHƯƠNG TRÌNH HÀNG TUẦN TRÊN ĐÀI 57.3

    Chương trình NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian phụ trách và thực hiện, phát hành mỗi tuần vào ngày Thứ Tư từ 5:30 tối đến 6:30 tối. Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em vào xem. Chương trình hôm nay với đề tài Ngôn Ngữ Việt.

    PHẦN 1

    Xin bấm vào 2 links dưới để xem phần 2 và phần 3.

    PHẦN 2

    https://youtu.be/m6X9-gN0e_0?si=1699qrM0NX1e6MYC

    https://youtu.be/Q8VA6mTGbZc?si=QLQkyLHYK-b24VcS

    PHẦN 3

    https://www.youtube.com/watch?v=GszD5LtzdW4&pp=ygUTbmhhbiB2YW4gbmdoZSB0aHVhdNIHCQmwCQGHKiGM7w%3D%3D

    Khánh Lan kính mời.

  • Tin tức

    NHỮNG BÀI VIẾT CỦA BA TÁC GIẢ: TRẦN VIỆT HẢI – HUY ANH – NGUYỄN AN NINH

    Vào ngày chủ nhật 25 tháng 5 , năm 2025, nhóm Hoàng Đình Khuê và thân hữu  tổ chức buổi hội thảo với chủ đề “50 năm Quốc Hận Nhìn Về Lịch Sử Việt Nam”
    với 3 diễn giả nặng ký người Hoa Kỳ là giáo Sư Stephen Young, tác giả của tác phẩm Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War; tác giả Frank Scotton của tác phẩm Uphill Battle; và diễn giả thứ ba là tác giả Frank Snepp của tác phẩm Decent Interval. Đây là buôi hội thảo về chiến tranh Việt Nam, và sự kết cuộc của nó, hầu rút tỉa kinh nghiệm những gì xảy ra, để những thế hệ về sau hiểu rõ lịch sử, về những rủi ro, những sai lầm nên tránh. Hội trường Việt Life studio với sự hiện diện khá đông những gương mặt chính giới quen thuộc và dồng hương vốn gắn bó với chuyện Việt Nam, những u buồn của tháng năm ly hương, xa xứ.

    Sơ lược lý lịch và nội dung thảo luận, bài viết ghi nhận như sau:

    Tiểu sử của Stephen B. Young:

     Ông tốt nghiệp Đại học Havard và Trường Luật Havard. Ông từng là Trợ lý Trưởng khoa Trường Luật Havard và là Trưởng khoa của Đại Học Luật Hamline; là Giám đốc Điều hành Toàn cầu của tổ chức Bàn Tròn Caux (CRT) về Chủ nghĩa Tư Bản Đạo Đức., một mạng lưới quốc tế gồm các nhà lãnh đạo doanh nghiệp giàu kinh nghiệm, những người ủng hộ cách tiếp cận nguyên tắc về kinh doanh trong nền kinh tế toàn cầu. Trong cuốn sách xã hội Những người tạo ra ra sự khác biệt: Cách các doanh nhân xã hội và thể chế xây dựng phong trào trách nhiệm doanh nghiệp của Tiến sĩ Sandra Waddock thuộc Đại học Boston. Ông Young được công nhận là một trong 23 người đã tạo ra phong trào trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trong chiến tranh Việt Nam, ông Young phục vụ trong Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USIA) tại Nam Việt nam từ 1968 đwến 1972 trong Chương trình Bình Định và Phát triển Nông thôn.Ông từng giữ chức vụ Trợ Lý Đặc biệt chuyên trách về Kinh tế thuộc Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Vào tháng 4 năm 1975, ông Young bắt đầu đề xuất môt chương trình định cư người tỵ nạn Nam Việt Nam tại Hoa Kỳ.Năm 1978, Ủy ban Công dân về Tỵ nạn Đông Dương-mà ông Young là thành viên -đã thuyết phục thành công Chính phủ Carter và Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Tỵ nạn 1980, cho phép Tuyền nhân Việt Nam và Lào Campuchia được định cư tại Hoa Kỳ. Giáo sư Stephen B. Young đã cùng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy viết sách Truyền thống Nhân Quyền tại Trung Quốc và Việt Nam, xuất bản năm 1989. Ông Young và vợ là Bà Phạm Thị Hòa đã dịch sang Anh ngữ tác phẩm “Đỉnh Cao Chói Lọi” của Dương Thu Hương.

    Professor Stephen B. Young

    Giáo Sư Stephen Young, với tác phẩm Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War. Sau dây là những trích doạn và links liên quan đến quyển sách của tác giả Stephen Young. Mời theo dõi như sau…

    Hòa đàm Paris đã bắt đầu từ năm 1968, nhưng hiệp định là kết quả cuộc thương lượng bí mật giữa ông Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Thống Richard Nixon, và phái đoàn CSBV do ông Lê Đức Thọ, ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) cầm đầu. Phía VNCH bị gạt ra ngoài các cuộc đàm phán bí mật do có quan điểm hoàn toàn trái ngược với ý đồ của ông Kissinger. Hiệp Định Paris 1973 có chín chương và 23 điều. Nội dung chính là Hoa Kỳ rút toàn bộ quân đội ra khỏi miền Nam trong vòng 60 ngày, chấm dứt hoạt động quân sự chống miền Bắc, đổi lại CSBV trả tự do cho tất cả tù binh Mỹ cũng trong 60 ngày. Trong khi đó CSBV vẫn tiếp tục được duy trì 140,000 bộ đội ở miền Nam – trái với lập trường của VNCH là các lực lượng bên ngoài (Hoa Kỳ và Bắc Việt) đều phải rút ra khỏi miền Nam cùng lúc. Một hiệp định như vậy rõ ràng là “án tử” cho VNCH, đặt căn cứ cho cuộc thôn tính miền Nam của các lực lượng cộng sản trong hơn hai năm sau đó. Đảng CSVN đánh giá Hiệp Định Paris là một “thắng lợi vĩ đại,” năm nào cũng tổ chức ăn mừng và tuyên truyền rầm rộ, nhưng thực chất thắng lợi của cộng sản là do quyết định của ông Henry Kissinger.
    Mục đích chính của ông Kissinger tại hòa đàm Paris là rút hết quân Mỹ “trong danh dự” và để đạt được điều đó ông sẵn sàng nhượng bộ cộng sản tối đa. Bản thân ông Kissinger biết rõ sự nhân nhượng ấy gần như là một sự phản bội” (sell-out) như bản ghi cuộc đối thoại Nixon-Kissinger ngày 14 Tháng Mười Hai, 1972 mới được giải mật cho thấy, nhưng ông ấy vẫn theo đuổi. Cuộc đối thoại này cũng tiết lộ ông Kissinger và ông Nixon biết Hiệp Định Paris không phải là “một văn kiện hòa bình mà là văn kiện cho một cuộc chiến tranh vĩnh viễn ở miền Nam Việt Nam, là Hoa Kỳ giúp áp đặt một chính phủ cộng sản lên người dân miền Nam Việt Nam trái với ý chí của họ.”

    Đặng Tiểu Bình Và TT Jimmy Carter

    Theo Giáo Sư Stephen Young, cựu khoa trưởng Khoa Luật, đại học Hamline University ở Minnesota, trong cuốn sách sắp phát hành “Sự phản bội của Kissinger: Hoa Kỳ thua cuộc chiến Việt Nam như thế nào,” ý đồ đi với cộng sản của ông Kissinger đã có từ lâu nhưng ông cố che giấu, cả với Tổng Thống Nixon.

    Cuối Tháng Giêng, 1971, đại sứ Liên Xô tại Hà Nội chuyển cho thủ tướng CSBV báo cáo của ông Dobrynin kèm theo chỉ thị của Moscow: “Nếu Hoa Kỳ cam kết rút toàn bộ lực lượng trong một thời hạn nhất định và có thể không yêu cầu rút đồng thời các lực lượng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khỏi miền Nam Việt Nam thì Bắc Việt phải cam kết tôn trọng lệnh ngừng bắn trong thời gian Hoa Kỳ rút quân cộng với một một thời gian nhất định, không quá dài… Nếu sau đó lại nổ ra chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam thì cuộc xung đột đó sẽ không còn là chuyện của Hoa Kỳ nữa.”. Sau khi được Moscow chỉ dẫn, CSBV đã sử dụng một cựu quan chức thuộc địa của Pháp, ông Jean Sainteny, để thông báo cho ông Kissinger trong bữa ăn trưa ngày 25 Tháng Năm, 1971 rằng Hà Nội chấp nhận đề nghị của ông. Ông Kissinger báo cáo với ông Nixon rằng ông đã gặp ông Sainteny nhưng không nói chi tiết nội dung cuộc trò chuyện. Ngày 31 Tháng Năm, 1971, trong cuộc gặp bí mật với ông Lê Đức Thọ tại Paris, ông Kissinger đưa ra đề nghị CSBV không cần phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và kết thúc bài phát biểu của mình bằng câu nói: “Khi các lực lượng Hoa Kỳ cuối cùng rút đi, tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam sẽ phải được giao cho người Việt Nam.” Ông Kissinger đã không báo cáo đề nghị này với ông Nixon.

    Tháng Bảy, 1971, ông Kissinger bí mật đến Bắc Kinh gặp Thủ Tướng Chu Ân Lai để sắp xếp cho chuyến đi lịch sử của Tổng Thống Nixon gặp Chủ Tịch Mao Trạch Đông. Nhân tiện, ông Kissinger nói với ông Chu Ân Lai đề nghị mà trước đó ông tiết lộ với đại sứ Dobrynin. Trang số 5 trong tài liệu tóm tắt của ông Kissinger chuẩn bị cho cuộc gặp với ông Chu có đoạn: “Thay mặt Tổng Thống Nixon, tôi muốn trân trọng bảo đảm với thủ tướng rằng Hoa Kỳ sẵn sàng thực hiện một cuộc dàn xếp sẽ thực sự giao sự phát triển chính trị của Việt Nam cho người Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng rút toàn bộ lực lượng vào một ngày ấn định và để cho thực tế khách quan định hình tương lai chính trị đó.”.

    Henry Kissinger và Lê Đức Thọ

    Ông Kissinger đã không báo cáo với Tổng Thống Nixon cam kết của ông với những người Cộng Sản Trung Quốc. Ở lề trái của trang đó, ông Kissinger viết: “Chúng tôi muốn có một khoảng thời gian hợp lý.”
    Điều trái khoáy là thỏa thuận để CSBV tiếp tục duy trì lực lượng ở miền Nam Việt Nam được ông Kissinger thông báo rất sớm tới Moscow, Bắc Kinh, và Hà Nội trong khi chính quyền Hoa Kỳ chưa hay biết gì cả. Trong suốt năm 1971, Tổng Thống Nixon vẫn trình bày công khai quan điểm của Hoa Kỳ là các lực lượng Hoa Kỳ và CSBV đều phải rút ra khỏi miền Nam, để cho người dân miền Nam quyết định tương lai của họ qua đàm phán. Lập trường của ông Nixon đã nhiều lần được đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, ông Ellsworth Bunker, thông báo cho chính phủ VNCH để thuyết phục Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử phái đoàn tham gia hội nghị Paris.

    Chính phủ VNCH và ông Nixon không biết đầy đủ về thủ đoạn tráo trở của ông Kissinger cho đến Tháng Mười, 1972, sau khi ông Kissinger được CSBV đồng ý về văn bản của hiệp định và trình bày dự thảo ấy cho hai tổng thống Thiệu và Nixon. Đến thời điểm đó, ông Nixon không thể rút lại sự nhượng bộ của ông Kissinger nữa. Phải ký Hiệp Định Paris nhưng ông Nixon đã cố gắng một cách tuyệt vọng để vừa sửa đổi dự thảo hiệp định theo cách có thể gia tăng khả năng chống cự của VNCH vừa thúc đẩy Quốc Hội Mỹ phê duyệt các khoản viện trợ quân sự mới…. Sau cùng Bắc Việt xua quân xé hiệp ước xâm chiếm miền Nam.

    Lý lịch của Frank Scotton

    Frank Scotton được gởi đến Sài Gòn-Việt Nam năm 1962 với tư cách là Cán bộ ngoại giao đặc biệt ở Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USIA).
    Tuy nhiên ông còn phụ trách nhiều nhiệm vụ quan trọng tùy theo nhu cầu của Chánh quyền Mỹ như nhân viên CIA, cố vấn lãnh đạo cấp cao, phụ tá Giám đốc USIA khu vực Đông Á, phụ tá Robert Komer tổ chức MACV/CORDS, phụ tá William Colby Giám đốc CORDS (1970), làm việc với John Paul Van, Trung tướng cố vấn Tư lệnh Quân Đoàn II, được mời điều hành và huấn luyện Nhóm Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force) số 5, với công tác đặc biệt ở Cao nguyên Trung phần và 4 Vùng Chiến thuật.Ông đã thực hiện nhiều công tác nguy hiểm, hành quân với các đơn vị Biệt kích, chạm súng với Việt Cộng và rớt Trực thăng …
    Ông cũng nhận nhiệm vụ ở Đài Loan, Mã Lai, Miến Điện, Thái Lan, Trung quốc.
    Ông nói thông thạo tiếng Việt, Trung hoa và Lào…Ông cũng là tác giả cuốn Hồi ký “UPHILL BATTLE”, (Cuộc Chiến Leo Thang)- 1962: Đến Sài Gòn, Cán bộ đặc biệt Ngoại giao (USIA)- 1963: Làm việc tại Quy Nhơn.- Tháng 8/1963: Chuyển đến Đàlạt tổ chức cuộc họp giữa Đại sứ Cabodge Lodge và Tổng thống Ngô Đình Diệm.
    – Tháng 12/1963: Lãnh đạo cuộc khảo sát đầu tiên Thôn Ấp ở Long An.
    – 1964: Tổ chức các đơn vị ở Quảng Ngãi, tiền thân của các Đội Hành Động CIA.
    – 1965: Tổ chức huấn luyện các đơn vị Lực Lượng Đặc biệt của Quân đoàn III và
    Quân Đoàn IV. – 1966: Tiếp tục huấn luyện với Nhóm Số 5 Lực Lượng Đặc Biệt (biên giới Châu Đốc- 1967: Phụ tá Robert Komer tổ chức MACV/ CORDS, tuyển mộ và thuyên chuyển Lực Lượng Đặc Biệt về MACV/CORDS
    – 1970: Phụ tà đặc biệt cho William Colby (Headquarter MACV/CORDS)
    – 1972: Trợ Lý Giám Đốc USIS/Sài Gòn.- 1976-1998: Công tác ở các quốc gia khác, làm việc ở Washington, Fort Bragg và USSOCO. NGHỈ HƯU: Sống ở California.

    Tác giả Frank Scotton và tác phẩm Uphill Battle

    Những dòng sau giới thiệu tác giả cùng tác phẩm như sau,… Sách Uphill Battle: Reflections on Viet Nam Counterinsurgency” (Cuộc Chiến Leo Dốc: Suy nghiệm về Chiến tranh Chống du kích tại Việt Nam) là hồi ký của Frank Scotton. Ông đã đến làm việc tại Việt Nam từ năm 1962 đến 1975, hoạt động như một ký giả săn tin nhưng cũng nhận công tác biệt phái mỗi khi có yêu cầu của các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ – như Phái Bộ Quân Viện MACV, Sở Tình Báo, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Frank Scotton đã đi khắp bốn vùng chiến thuật, tiếp xúc với người dân ở các thôn ấp, ngủ chung với Dân Vệ, vào các buôn làng Thượng để sinh hoạt với các dân tộc thiểu số. Nếu cảm thấy cần thiết, ông không ngần ngại tự lái xe đi qua những vùng không an ninh, hay nhảy trực thăng xuống một tiền đồn đang bị bao vây để tìm hiểu tình hình, có khi băng rừng qua những đường mòn không hề được vẽ trên bản đồ mà ở đó có thể bị chính “phe ta bắn lầm”. Tác phẩm này là quyển sách Uphill Battle – Reflections on Viet Nam, khi Uphill Battle cùng bản dịch là Cuộc chiến leo thang, Cuộc chiến nhọc nhằn. Trả lời cho câu hỏi về nguyên nhân thảm bại của Mỹ và VNCH trong Chiến tranh Việt Nam nhiều quyển sách, bài viết, báo chí đã nhắc đến sự bất lực, không có khả năng của nhà cầm quyền Miền Nam thời đó và ảnh hưởng của các vận động Phản Chiến trong giới Truyền thanh, báo chí cùng Thành phần thứ ba.

    “Việt Nam Cuộc chiến leo dốc” là tiếng nói trung thực của người trong cuộc đứng lên nhận lỗi về chính mình, những sai lầm của người Mỹ với các chiến dịch đưa ra hầu như được vẽ trong văn phòng thật cẩn thận, chi tiết, nhưng khi đem ra áp dụng ở thực địa đã cho thấy đổ vỡ ngay từ đầu, vì không phù hợp với tình hình địa phương. Làm thế nào chiến thắng được “ Việt cộng” một khi ngay trong các “Ấp chiến lược “ gần như đã có mặt của Việt cộng khắp nơi, thậm chí không chỉ có người dân đi theo Việt cộng, mà một số cấp chỉ huy và binh sĩ VNCH cũng đã “ngã” về phe Việt cộng hay sợ phải đối đầu cùng Việt cộng? Điểm quyết định thua cuộc tệ hại hơn nữa, là khi phải cùng chiến đấu với nhà cầm quyền đầy dẫy tham nhũng, lũng đoạn và cấu kết bao che cho nhau. Sau 75 có nhiều bài viết đã oán trách người Mỹ bỏ rơi bạn đồng minh, bỏ rơi VNCH. Nhưng có bao nhiêu bài viết từ những người thuộc VNCH viết lên được những điều VNCH đã làm sai, để dẫn đến việc thua trận trong cuộc chiến ? Qua quyển Uphill Battle, Frank Scotton đã chỉ ra được rằng Chính phủ VNCH chưa bao giờ vận động được sự ủng hộ của toàn thể dân chúng và không giúp binh sĩ sử dụng vũ khí có hiệu quả và đấu tranh chính trị quá thua kém trước một đối thủ đầy bản lĩnh trong lĩnh vực này. Qua đó cho thấy, cuộc chiến thất bại vì không được toàn dân ủng hộ và sai lầm của người Mỹ và VNCH là chỉ tin vào lực lượng vũ trang mà quên đi sức mạnh của nhân dân quần chúng. Qua đó cho thấy cách nhìn sáng suốt của TT Ngô Đình Diệm khi cương quyết tránh xa sự can thiệp của người Mỹ vào Việt Nam. Và có thể nói VNCH trong chiến tranh Việt Nam đã lãnh phần chiến bại ngay từ sau cái chết của VNCH đệ nhất. Qua cách kể chuyện về những sinh hoạt hàng ngày của tác giả trong Uphill Battle khiến nhớ đến tựa đề quyển sách “ Người Mỹ trầm lặng”. Có còn bao nhiêu người Việt Nam nhớ đến những “người Mỹ thầm lặng” khi xưa ở Việt Nam? Về sự sụp đổ của Nam Việt Nam, tác giả thẳng thắn bày tỏ:

    “Mục đích của một cuộc chiến là bắt đối phương phải phục tòng ý mình. Mục đích của chúng ta ngay từ đầu là giữ vững miền Nam, không để miền Bắc thống nhất đất nước theo điều kiện Cộng sản. Sau nhiều năm chiến đấu, chúng ta đã ký một hiệp định cho phép quân đội miền Bắc hiện diện ở miền Nam. Chúng ta rút lui vì không còn ý chí. Chúng ta thua.”

    Tiểu sử FRANK SNEPP

    Frank Snepp – Nhà phân tích CIA, chuyên viên thẩm vấn, người dự đoán ý định của Địch ở Việt Nam. Ông tốt nghiệp Trường Bang giao Quốc tế của Đại học Columbia.

     Sơ lược về tác giả sách “Khoảng Khắc Thích Họp”, mời xem như sau:

    Frank Snepp sinh ngày 3 tháng 5 năm 1943 tại Kinston, bang North Carolina, Hoa Kỳ. Sau khi  xong trung học, ông vào Đại học Columbia học Văn chương Anh và tốt nghiệp cử nhân vào năm 1965. Sau một năm làm việc cho hãng tin CBS News, anh trở về Đại học Columbia, học cao học ở Trường Quan hệ quốc tế và chính sách công School of International and Public Affairs và tốt nghiệp năm 1968. Năm 1968, Philip Mosely, phó khoa trưởng School of International and Public Affairs, đã giúp Cục Tình báo Trung ương CIA tuyển dụng ông.  Ông được phái sang châu Âu, trở thành chuyên gia phân tích các vấn đề của NATO và an ninh ở châu Âu, nhưng chỉ một năm sau được phái sang Việt Nam, làm chuyên gia phản gián và phân tích tình báo ở Đại sứ quán Mỹ tại Saigon. Ông được giao nhiệm vụ hỏi cung những tù binh Cộng sản và thu thập tin tức tình báo vào thời kỳ cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chuyển sang một bước ngoặt sau Tết Mậu Thân 1968.

     Sau khi trở về Mỹ vào năm 1971 làm việc trong Vietnam Task Force ở tổng hành dinh của CIA, ông trở lại Việt Nam vào tháng 10 năm 1972, tiếp tục làm chuyên gia phân tích tình báo cho tới tháng 4 năm 1975, là một trong những người Mỹ cuối cùng lên máy bay trực thăng di tản khỏi Đại sứ quán Mỹ tại Saigon.
    Trở về Mỹ, vào tháng 12 năm 1975, ông được tặng thưởng huy chương vì có công  trong ngành tình báo, nhưng đến tháng 1 năm 1976, ông nghỉ việc ở CIA, cáo buộc giới lãnh đạo của CIA đã không thừa nhận những sai lầm của họ ở Việt Nam và cáo buộc Chính phủ Mỹ đã bỏ mặc số phận của nhiều người Việt đã từng hợp tác hay có mối liên hệ với người Mỹ, trong đó có người vợ Việt và đứa con nhỏ của ông đã tự sát khi ông không thể đến cứu họ vào những ngày cuối cùng tháng 4 năm 1975.

    Năm 1977, ông cho in cuốn sách “Decent Interval” (Thời hạn chấp nhận được) được viết suốt 18 tháng dựa theo một bản báo cáo mà ông đã gởi cho CIA nhưng không được chấp nhận. Sau khi cuốn sách ra mắt, Giám đốc CIA lúc ấy là Stansfield Turner đã kiện anh ra tòa về tội không tôn trọng cam kết không tiết lộ những bí mật của CIA trong thời gian công tác. Tổng thống Jimmy Carter cũng đứng về phía Giám đốc CIA, cáo buộc anh đã tiết lộ “những bí mật của quốc gia”. Phiên tòa thượng thẩm vào năm 1980 đã xử Stansfield Turner thắng kiện, toàn bộ tiền tác quyền cuốn sách “Decent Interval” là 300.000 đô la phải chuyển hết cho CIA. Sau năm 1980, anh viết cho các báo như The New York Times, The Washington Post, Village Voice và thực hiện các chương trình truyền hình như World News Tonight (1987–1992) cho đài ABC và các chương trình cho đài CBS (2003–2005) và đài NBC. Đến cuối thập niên 1980, anh dạy môn báo chí ở Đại học California và năm 2001 cho in cuốn sách “Irreparable Harm” (Sự tồn hại không thể cứu vãn) kể về cuộc chiến pháp lý với CIA.

    Trần Việt Hải

    Huy Anh comemnted:

    Tham dự buổi hội thảo ngày 25 tháng 5, 2025 tại Vietlife TV với chủ đề 50 Năm Quốc Hận: Nhìn Lại Việt Nam, tôi nhận thấy có nhiều điều thú vị và cũng học thêm kiến thức lịch sử về Cuộc Chiến Việt Nam. Có lẽ hai vị đứng ra tổ chức (Hoàng Đình Khuê & Trần Việt Hải) bỏ nhiều thời gian và được sự hổ trợ của nhóm bạn nên sự kiện này có ý nghĩa và hào hứng.

     Cô MC Mộng Thủy mở đầu chương trình ngắn và gọn, gồm có quốc ca và giới thiệu tiểu sử vắn tắt của ba diễn giả – Frank Scotton, G. Stephen Young, và Frank Snepp. Ba vị này chia sẻ những kinh nghiệm và nhận xét của họ về Cuộc Chiến Việt Nam. Từ ông Frank Scotton, người đã làm việc nhiều với quân đội, tôi đã học được rằng chương trình Ấp Chiến Lược ở Việt Nam gặp những khó khăn vì địa lý các miền khác nhau, đặc biệt ở miền Nam sông rạch nhiều nên khó lập ấp chiến lược mà không ảnh hưởng tới đời sống của người dân. Tuy nhiên, cả 3 diễn giả đều nhận xét rằng chương trình Ấp Chiến Lược không phải là yếu tố chính đưa đến kết quả của cuộc chiến. Yếu tố chính là số quân lớn và số vũ khí lớn được Bắc Việt điều động vào miền Nam. Yếu tố thứ nhì là đa số truyền thông tại Mỹ phản chiến và không ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa.

    Ông Frank Snepp nói về người điệp viên tài ba Võ Văn Ba trong khía cạnh lịch sừ. (Quý vị có thể tìm hiểu thêm về điệp viên Võ Văn Ba qua Youtube clip này): Jackie Bong – South Vietnam’s Greatest Spy Vo Van Ba / Ex-CIA Frank Snepp kể về Điệp viên Võ Văn Ba. Ông Stephen Young nói về sự phản bội của ông Henry Kissinger góp phần vào sự thua cuộc của miền nam… Bình luận gia Nguyễn Kim Bình thông dịch các câu hỏi và trả lời và làm việc tốt đẹp.

     Có lẽ vì buổi hội thảo có ý nghĩa nên sau 3 tiếng (sau 4 giờ) mà còn khoảng 80% của người tham dự còn ở lại… Tôi đã chứng kiến một số người mua sách của Gs. Stephen Young với tác giả ký tên tại chỗ, trong số đó có nhà văn Kiều My của chúng ta.

    Huy Anh.

    Mr. Hoàng Đình Khuê, Mr. Scotton, Mr. Young, Mr. Snepp

    Những Nhận Xét, Ghi Nhận Của Cử Tọa Nguyễn An Ninh:

    FRANK SCOTTON

    Cha đẻ của Ấp chiến lược là đứa con tinh thần của Ngài Robert Thompson. Ông từng là cố vấn cho 5 đời tổng thống Mỹ. Chiến dịch Hamlet Chiến lược đã thất bại vì người Mỹ không hiểu văn hóa Việt Nam. Hầu hết người Việt không muốn rời xa quê hương và những ngôi mộ tổ tiên thân yêu của họ. Mặt trận Cách mạng Dân tộc (MTGPMN) đã sử dụng điều này để tuyên truyền rằng chính phủ Diệm đã đưa bạn vào nhà tù mở và sử dụng những bức ảnh có hình ảnh tàn bạo rằng người Mỹ đã thực dân hóa đất nước chúng ta giống như người Pháp. Những người đàn ông địa phương muốn ở gần nhà để họ có thể gần gia đình ông ta, đó là lý do tại sao họ tham gia NFRVN (MTGPMN).

    Theo Stuart Herrington, chương trình Phoenix đã bị các thành viên nhỏ lạm dụng. Họ đã sử dụng chương trình này để tống tiền và hãm hiếp phụ nữ bằng cách cáo buộc họ là những người ủng hộ cộng sản. Trong cuốn sách của mình, Scotton tuyên bố John Paul Vann đã chết trên trực thăng do thời tiết xấu, nhưng tôi nghi ngờ điều đó vì tôi nghe từ một người có câu chuyện khác mà tôi không biết.

    NFRVN đã sử dụng tuyên truyền để truyền bá mục đích của họ vì hầu hết mọi người sống sau bức màn tre của làng để xác định ranh giới từ thôn này sang thôn khác với khả năng giao tiếp hạn chế.

    Pro. Stephen Young và Ô, Hoàng Đình Khuê

    Trong cuốn sách “Những năm tháng biến động” của Kissinger, Giáo sư Young quên không nhắc đến việc Kissinger đã yêu cầu học trò của mình là người Pháp sắp xếp một cuộc hẹn với Bắc Việt để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Khó khăn nhất là khi người Mỹ rút khỏi Việt Nam không gặp phải sự kháng cự nào từ Nam Việt Nam. Khi người lính TQLC cuối cùng rời khỏi Việt Nam thì Gerald Ford và Kissinger ôm nhau và mỉm cười vì nhiệm vụ đã hoàn thành.

    Chúng ta có thể lên án Kissinger bán rẻ Việt Nam với tư cách là công dân Việt Nam, nhưng xét theo quan điểm của người Mỹ thì Kissinger đã hoàn thành nhiệm vụ mà Tổng thống Nixon giao phó. “Hòa bình trong danh dự”

    Người lính TQLC trẻ nhất tên là Dan Bullock đã hy sinh ở Việt Nam khi mới 15 tuổi vì McNamara đã gửi gần 300.000 binh lính với trình độ học vấn 7-8 không thể dạy được. Khi chúng tôi ở Việt Nam, chúng tôi thấy hầu hết binh lính là người Mỹ gốc Phi, người Mỹ Latinh và một số ít người da trắng.

    Westmoreland phản đối việc cung cấp súng trường M-16 cho binh lính Việt Nam. Cuối cùng, ông đã cung cấp Thủy quân lục chiến và M-16 Nhảy dù vào cuối năm 1967. Khi Thượng nghị sĩ Hollings từ tiểu bang Nam Carolina đến thăm VN, Westmoreland tuyên bố 10:1 nghĩa là chúng ta giết được mười VC và chỉ mất một. Thượng nghị sĩ Hollings trả lời ông rằng “Tôi chỉ quan tâm đến một”.

    Vào năm 1975, hầu hết người Việt Nam không biết chính phủ Hoa Kỳ hoạt động như thế nào, ngay cả với những người dân của chúng ta tốt nghiệp từ các trường danh tiếng, nhưng họ không sống ở Hoa Kỳ đủ lâu để hiểu được điều đó.

    Chiến tranh Việt Nam được hỗ trợ bởi Nghị quyết nhưng không phải là Đạo luật vì Quốc hội Hoa Kỳ chỉ cung cấp tiền và muốn cắt bất cứ lúc nào họ cắt.

    Westmoreland: Vị tướng bị đổ lỗi là đã đánh mất Việt Nam, nhưng vấn dề lại do sự điên rồ của BTQP McNamara: Việc sử dụng quân đội có chỉ số IQ thấp trong Chiến tranh Việt Nam.

    Mr. Young, ĐGM Nguyễn Thành Vân, Gs Dương Ngọc Sum

    FRANK SNEPP

    Snepp đã nói về Võ Văn Ba, một điệp viên người Mỹ. Ông đã cung cấp hầu hết thông tin từ phía đối phương. Frank Snepp dựa vào thông tin của mình để phân tích động thái tiếp theo của Nam Việt Nam.

    Võ Văn Ba đã mắc phải một sai lầm chết người là thói quen xấu khi uống Budweiser và hút thuốc lá Salem. Hãy tưởng tượng khi bạn thở ra mùi thuốc lá sẽ bốc lên trong không khí và mọi người có thể ngửi thấy. check DNA xác định danh tính của điệp viên.


    Nguyễn An Ninh

  • Kiều My,  Tin tức

    50 Năm Quốc Hận – Nhìn Lại Lịch Sử Việt Nam

    Kiều My

    Có những khoảnh khắc lịch sử như vết khắc sâu vào tâm khảm dân tộc – Ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Nửa thế kỷ bụi thời gian phủ mờ, nhưng trong tim hàng triệu người Việt tha hương, mỗi độ tháng Tư về, ký ức lại ùa về như ngọn sóng xô bờ, mang theo nỗi quặn thắt một vết thương chưa lành. Đó không chỉ là ngày mất nước, mà còn là ngày Quốc Hận – Một ngày đen tối mà lịch sử không thể xóa, một nỗi niềm uất nghẹn mà người Việt không thể quên.

    “50 Năm Quốc Hận: Nhìn Lại Lịch Sử Việt Nam” là một đề tài thấm đẫm ký ức với những nỗi ray rứt khôn nguôi trong lòng bao người Việt tị nạn trên khắp thế giới – Từ California nắng ấm đến trời Âu se lạnh, từ Úc châu xa xôi đến những ngôi nhà thờ và mái chùa nhỏ nơi xứ lạ – Tháng Tư hàng năm là tháng của cờ vàng, của tưởng niệm, của nước mắt, và của lời thầm nhủ: “Không bao giờ từ bỏ quê hương.”

    Cuộc nội chiến Nam, Bắc kéo dài suốt 21 năm, không chỉ là chiến tranh ý thức hệ mà còn là bi kịch của một dân tộc –  máu người Việt đổ xuống đất Việt. Để rồi khi tiếng súng ngừng nổ, chiến thắng thật sự không thuộc về ai  – chỉ có “ nỗi đau” là còn đó. Cuộc nội chiến Việt Nam là cuộc xung đột giữa hai mô hình đối nghịch: một bên là Việt Nam Cộng Hòa – đại diện cho lý tưởng dân chủ, tự do; bên kia là miền Bắc cộng sản – theo chủ nghĩa Marx-Lenin, được hậu thuẫn mạnh mẽ từ khối cộng sản quốc tế.

    Nhưng đây không chỉ là cuộc chiến trong lòng dân tộc, mà còn là chiến trường của  “Chiến Tranh Lạnh”; nơi mà số phận Việt Nam bị cuốn vào những toan tính chính trị thâm độc toàn cầu. Chính trị, như một bàn cờ lớn, đã đẩy hàng triệu con người Việt vào vòng lửa đạn – và đến ngày định mệnh ấy, miền Nam sụp đổ không chỉ vì quân sự, mà còn vì những toan tính ngoại giao, những thay đổi ‎‎chính trị bất ngờ và sự phản bội của đồng minh, và cả những sai lầm chiến lược bên trong chính quyền miền Nam, Việt Nam.

    Khi bước sang đầu thập niên 1970, cục diện toàn cầu thay đổi nhanh chóng. Sau nhiều năm sa lầy tại Việt Nam, Mỹ bắt đầu có kế hoạch rút lui qua chính sách “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”. Sau Hiệp định Paris 1973, Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam, bỏ lại miền Nam trong tình thế cô độc giữa vòng vây cộng sản. Cùng thời điểm đó, Tổng thống Nixon bắt tay với Trung Cộng,  Liên Xô để bước vào giai đoạn hòa dịu; còn Việt Nam – vốn từng là ưu tiên chiến lược – giờ trở thành con chốt hy sinh trên bàn cờ thế giới. Sự im lặng của cộng đồng quốc tế khi miền Bắc vi phạm Hiệp định Paris (hiệp định chấm dứt chiến tranh, k‎ý tại Paris ngày 27/1/1973) đã cho thấy một điều cay đắng: Việt Nam Cộng Hòa bị bỏ rơi, không phải vì không chiến đấu, mà vì thế cờ chính trị toàn cầu đã đổi chiều.

    Đến mùa xuân năm 1975, khi quân Bắc Việt tràn xuống với khí thế áp đảo, miền Nam không còn chỗ dựa, không còn phương tiện chiến đấu ngang bằng. Nội bộ tan rã, tướng lĩnh bất hòa và niềm tin lung lay, khiến cả một thể chế sụp đổ chỉ trong vòng 55 ngày – kết thúc ngày 30/4/1975. Đó là lúc chính trị đi trước, quân sự theo sau, và dân chúng là người cuối cùng chịu hậu quả.

    Những ai từng sống dưới hai nền Việt Nam Cộng Hòa, vẫn luôn tiếc nhớ một miền Nam tuy non trẻ nhưng đầy sức sống, tự do, nghệ thuật, học thuật, báo chí, văn chương nở rộ – như một đóa hoa nở tuy ngắn ngủi nhưng rực rỡ. Và ngày đó – ngày 30/4/75 – chính là lúc đóa hoa ấy bị dẫm nát. Bao gia đình tan tác…và rồi là từng đoàn người vượt biển Đông,  rừng sâu, trại cải tạo, trại tị nạn và cuộc sống lưu vong. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 không chỉ là ngày một chính quyền sụp đổ; đó là lúc cả một nếp sống văn minh, một nền văn hóa nhân bản, một khát vọng tự do bị vùi dập dưới chế độ mới. Và từ khoảnh khắc ấy, hệ lụy không chỉ đến ngay giai đoạn đó mà còn kéo dài suốt nhiều thập niên– chảy âm ỉ trong dòng máu Việt, cả trong nước lẫn hải ngoại. Các tổ chức, các hội đoàn, các cộng đồng vẫn giữ lá cờ vàng, vẫn tổ chức tưởng niệm mỗi tháng Tư hàng năm– không phải để nuôi hận, mà để giữ ký ức.Vì nếu không nhớ, ta sẽ lạc mất chính mình.

    “50 NĂM QUỐC HẬN”, để đánh thức tinh thần dân tộc – như tiếng chuông ngân giữa đêm dài, và để giữ vững ngọn lửa trái tim mình. Đã đến lúc ta không thể im lặng. Không thể để quá khứ bị chôn vùi dưới lớp bụi thời gian, không thể để tiếng nói của những người đã ngã xuống chìm trong quên lãng. Thế hệ hôm nay – dù sống ở quê hương hay lưu vong – đều đang đứng trước một ngã rẽ: hoặc cúi đầu chấp nhận một tương lai mù mịt; hoặc đứng lên khơi lại ngọn lửa dân tộc từng thắp sáng bao thế hệ. Đừng để cờ vàng ba sọc đỏ chỉ còn là biểu tượng cũ. Hãy để nó trở thành ngọn đuốc của chính nghĩa, của lòng tin vào một ngày mai tươi sáng cho quê hương – Một Việt Nam tự do thật sự, nơi mỗi người dân có quyền cất lên tiếng nói, có quyền mưu cầu hạnh phúc mà không bị kiểm soát bởi thế lực và nỗi sợ hãi của gông cùm, áp bức.

    Để tìm hiểu vì sao ngày 30 tháng 4 năm 1975 lại trở thành một vết thương đớn đau trong lịch sử dân tộc. Những lời giải thích xác đáng cho sự kiện này sẽ dành cho ba vị khách mời quan trọng và đặc biệt trong buổi hội luận vào ngày chủ nhật 25 tháng năm 2025 tại VietLife TV, Nam California, gồm có:

    • CỰU CIA FRANK SCOTTON
    • PROFESSOR STEPHEN B. YOUNG
    • CỰU CIA FRANK SNEPP

    Mr. Frank Scotton, Mr. Stephen B. Young, Mr. Frank Snepp

    Giữa khánh phòng ấm cúng trong không khí hân hoan chào đón ba vị diễn giả đến từ ba tiểu bang Hoa Kỳ. Đây là một vinh dự lớn lao cho quan khách cũng như  ban tổ chức, do: Cựu Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia khóa 16 Đà Lạt Hoàng Đình Khuê và Nhà văn Trần Việt Hải, trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian – cùng hợp tác để thực hiện buổi hội luận hiếm qu‎í  trong cộng đồng người Việt hải ngoại tại Nam California. Đây cũng là lần đầu tiên ba vị cùng hội luận với nhau trong một chương trình, mà cả ba vị có sự liên quan mật thiết đến chiến cuộc Việt Nam. Buổi hội luận hôm nay với sự tham dự đặc biệt của Đức Giám Mục Nguyễn Thành Vân, qu‎ý giáo sư, nhân văn thi sĩ, các cựu sĩ quan VNCH, nhóm NVNT&TTG, các đoàn thể, giới truyền thông và các thân hữu…

    Nv Kiều My, Gs Trần Huy Bích, Nv Khánh lan, Cs Mạnh Bỗng, Mc Mộng Thủy, Mr. Young, Mr. Scotton, Mr. Snepp. Mr. Hoàng Đình Khuê

    Sau phần chào quốc kỳ Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và phút mặc niệm trang trọng, quan khách  hướng về ba vị khách quí Hoa Kỳ –  Những người đã từng sống và vào sinh ra tử trên mãnh đất Việt trong những năm tháng mà dân tộc đáng thương của chúng ta oằn oại trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài. Ba diễn giả này đã lần lượt vạch trần những thâm cung bí sử giữa các chính khách; hay cục diện chính trị xoay chuyển không ngừng; hoặc sự phản bội của đồng minh và những lợi ích quốc gia…đã là những nguyên nhân gốc rễ dẫn đến biến cố sụp đổ miền Nam Việt Nam. Ba vị diễn giả trên là những nhân chứng sống của lịch sử Việt cận đại và ngay cả trong chính quyền Hoa Kỳ vào giai đoạn từ 1962 – 1975 (là những người bạn thân thiết lâu năm của ông Hoàng Đình Khuê), đã trực tiếp trả lời cho chúng ta biết vì sao miền Nam rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt.

    TIẾNG NÓI TỪ NHÂN CHỨNG HOA KỲ– SỰ THẬT SAU MÀN SƯƠNG CHÍNH TRỊ

    Để hiểu rõ nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta không thể không lắng nghe những lời tường trình của chính những người Mỹ đã từng làm việc trong guồng máy chiến lược, tình báo và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thời chiến tranh. Ba bài thuyết trình của ba diễn giả là sự tóm lượt ‎ý tưởng từ  ba quyển hồi ký dưới đây: UPHILL BATTLE (Frank Scotton) –KISSINGER’S BETRAYAL (Stephen Young) – DECENT INTERVAL (Frank Snepp) – Tuy được viết từ ba tác giả với ba góc nhìn khác nhau; nhưng đều đi đến cùng một kết luận:

    “Miền Nam Việt Nam không thua vì không chiến đấu, mà vì bị đồng minh phản bội, bị bỏ rơi, và hy sinh trên bàn cờ chính trị quốc tế.”

    Sau đây là phần thuyết trình của các diễn giả:

    Frank Scotton

    Frank Scotton – Như chúng ta biết, Ông Frank Scotton nhân viên ngoại vụ đặc biệt của USAID, đảm trách nhiều công tác dân sự và quân sự, cố vấn cho CIA, MACV/ CORDS. Ông từng làm việc trực tiếp với các lực lượng chống cộng sản ở miền Nam Việt Nam từ đầu thập niên 1960 đến năm 1975. Ông là tác giả cuốn Hồi ký “UPHILL BATTLE” (Cuộc Chiến Leo Thang)

    Trả lời cho câu hỏi về nguyên nhân thảm bại của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh Việt Nam, như trong UPHILL BATTLE, Frank Scotton đã nói lên tiếng nói trung thực của người trong cuộc, nhận lỗi về những sai lầm của Hoa Kỳ với các chiến dịch đưa ra rất tỉ mỉ chi tiết trong văn phòng; nhưng khi đem áp dụng ở thực địa đã không phù hợp với tình hình địa phương. Ngoài ra, còn những điểm then chốt mà Frank Scotten đã trình bày cùng cử tọa cũng đã được ghi lại trong quyển  hồi ký UPHILL BATTLE  của ông.

    Cuốn hồi ký này là cách nhìn trung thực và sâu sắc của một người trực tiếp tham gia các hoạt động bình định và chống nổi dậy, nhằm hỗ trợ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa xây dựng một nền tảng dân chủ, chống lại sự xâm nhập và tuyên truyền của cộng sản miền Bắc. Cuộc chiến là một “trận đánh chính trị” hơn cả quân sự. Là người từng gắn bó trực tiếp với chương trình bình định nông thôn tại miền Nam, Frank Scotton khẳng định:

    “Miền Nam có những con người dũng cảm và lý tưởng, nhưng bị kìm hãm bởi nội bộ yếu kém và sự rút lui vội vã của đồng minh.”

    Ông cho rằng Washington chưa bao giờ hiểu đầy đủ bản chất chính trị của cuộc chiến, và sự thất bại đến từ việc đánh giá sai lòng dân, cũng như rút quân quá sớm.

    “This was never just a military war. It was fundamentally a political battle.”

    Ông nhận xét: thắng bại không nằm ở súng đạn, mà ở khả năng xây dựng niềm tin nơi người dân – điều mà Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có tiềm năng nhưng thiếu sự thống nhất, quyết tâm và ngay cả thời gian.

    THÔNG ĐIỆP CHÍNH CỦA “UPHILL BATTLE”

    Cuộc chiến Việt Nam là một trận đánh chính trị, đòi hỏi sự kiên nhẫn, hiểu văn hóa và lòng tin từ nhân dân. Sự thất bại của miền Nam không đơn thuần là do súng đạn – mà do mất thế chiến lược, sự bỏ rơi từ đồng minh, và không kịp củng cố lòng dân trước khi quá muộn. Ông mô tả nỗi đau khi chứng kiến sự rút lui của Mỹ, sự suy sụp tinh thần trong nội bộ VNCH, và làn sóng quân Bắc Việt tràn vào như sự kết thúc đã được báo trước.

    VỀ SỰ THIẾU QUYẾT TÂM VÀ CHIẾN LƯỢC NHẤT QUÁN CỦA HOA KỲ:

    “Washington never truly understood that political legitimacy could not be imposed from the outside. We asked the Vietnamese to fight, but did not stay long enough to help them win peace.”
    (Tạm dịch: Washington chưa bao giờ thực sự hiểu rằng tính chính danh chính trị không thể áp đặt từ bên ngoài. Chúng ta yêu cầu người Việt chiến đấu, nhưng không ở lại đủ lâu để giúp họ đạt được hòa bình.)

    VỀ YẾU TỐ NỘI BỘ MIỀN NAM VIỆT NAM:

    “South Vietnam had brave people, but a weak structure. There was idealism in the field, but corruption at the top. The people wanted something to believe in, but they were often disappointed.”
    (Tạm dịch: Miền Nam có những con người dũng cảm, nhưng cấu trúc yếu ớt. Ở tuyến đầu có lý tưởng, nhưng ở thượng tầng lại là tham nhũng. Dân chúng muốn có niềm tin, nhưng họ thường thất vọng.)

     ÁP LỰC TỪ MIỀN BẮC VÀ SỰ BỎ RƠI CỦA ĐỒNG MINH:

    “When the North Vietnamese realized that the U.S. would not return in force, they pushed without restraint. And when Saigon fell, it fell not because the South stopped fighting, but because it stood alone.”
    (Tạm dịch: Khi Bắc Việt biết rằng Mỹ sẽ không trở lại với lực lượng mạnh, họ liền tấn công không kiềm chế. Và khi Sài Gòn thất thủ, không phải vì miền Nam không còn chiến đấu, mà vì họ đã bị bỏ lại một mình.)

     MỘT CÂU KẾT LUẬN ĐẦY XÓT XA VÀ NHÂN BẢN:

    “We lost Vietnam not only in the jungles or the cities, but in the hearts of those we failed to reach, to understand, to inspire.”

    (Tạm dịch: Chúng ta đã đánh mất Việt Nam không chỉ trong rừng rậm hay thành thị, mà trong trái tim của những người mà chúng ta không thể chạm đến, không thể hiểu, không thể truyền cảm hứng.)


    Stephen B. Young

    Stephen B. Young –Trong chiến tranh Việt Nam, ông phục vụ cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ USAID từ 1968-1972, qua Chương trình Bình định và Phát triển Nông thôn.  Ông là một trong những tiếng nói hiếm hoi tại Mỹ bênh vực VNCH bằng sự thật lịch sử, không bằng định kiến truyền thông.

    Ông là luật gia, phụ tá Khoa trưởng của trường luật Havard; là Khoa trưởng và Giáo sư Luật của trường Đại học Luật Hamline. Hiện nay ông là Giám đốc Điều hành Toàn cầu của Tổ chức Bàn tròn (CRT) về Chủ nghĩa Tư bản Đạo đức.

    Qua bài thuyết trình, Stephen Young thẳng thắn bày tỏ sự phản bội của đồng minh Hoa kỳ bởi Henry Kissinger – một nhân vật bất trung, là then chốt đưa đến việc sụp đổ miền Nam, Việt Nam. Những bằng chứng hùng hồn này ông đã ghi lại trong cuốn KISSINGER’ S BETRAYAL (Sự Phản Bội Của Kissinger). Cuốn sách nhằm phơi bày sự phản bội chiến lược của Henry Kissinger  “Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War” của Stephen B. Young – một cuốn sách đầy dũng khí và thẳng thắn, được viết từ trái tim của một người từng gắn bó với Việt Nam Cộng Hòa và hiểu rõ những gì đã bị đánh đổi trên bàn cờ chính trị quốc tế. Kissinger, người mà theo Stephen Young, đã đánh đổi miền Nam Việt Nam để đạt được lợi ích chính trị với Trung Quốc và Liên Xô, qua các cuộc đàm phán thiếu minh bạch, dẫn đến Hiệp định chấm dứt chiến tranh Paris 1973.

    “Hiệp định Paris 1973” – Văn kiện của sự phản bội

    “The Paris Agreement did not preserve peace. It created the conditions for conquest.”
    (Tạm dịch: Hiệp định Paris không bảo đảm hòa bình. Nó tạo điều kiện cho sự xâm lược.)

     Kissinger đã ký một hiệp định mà ông biết chắc sẽ bị Bắc Việt vi phạm, nhưng vẫn dùng nó để rút quân và tuyên bố “hòa bình trong danh dự”.

     Kissinger ưu tiên bắt tay với Bắc Kinh và Mát-xcơ-va hơn là bảo vệ đồng minh Sài Gòn:

    “Kissinger saw South Vietnam as expendable in the greater game of global diplomacy.”
    (Tạm dịch: Kissinger xem miền Nam Việt Nam là một quân cờ có thể hy sinh trong ván bài ngoại giao toàn cầu.)

      Sai lầm của Kissinger là không hiểu cuộc chiến Việt Nam vì lý tưởng tự do, không phải là địa bàn chiến lược:

    “He misunderstood the war. He thought it was a chess match; in truth, it was a fight for hearts and freedom.”(Tạm dịch: Ông ta hiểu sai về cuộc chiến. Ông tưởng đó chỉ là ván cờ, nhưng thật ra đó là cuộc chiến vì trái tim và tự do.)

     Kissinger và các nhà hoạch định chính sách Mỹ thiếu cái nhìn nhân văn và đạo đức về cuộc chiến – họ không thấu hiểu người Việt miền Nam chiến đấu vì lý tưởng dân chủ.

     Hoa Kỳ đã không giữ lời hứa bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa:

    “The U.S. Congress cut off aid. South Vietnam fought bravely but ran out of supplies. We broke our word.”(Tạm dịch: Quốc hội Hoa Kỳ cắt viện trợ. Miền Nam đã chiến đấu anh dũng, nhưng cạn kiệt tiếp tế. Chúng ta đã thất hứa.)

    THÔNG ĐIỆP CHÍNH CỦA “KISSINGER’S BETRAYAL”

    Miền Nam Việt Nam không thua vì không chiến đấu, mà thua vì bị phản bội.
    Hoa Kỳ – qua Kissinger – đã chọn quyền lợi cường quốc hơn là danh dự đồng minh, và cái giá phải trả là một dân tộc mất tự do, hàng triệu người vượt biên, và một chương đen tối trong lịch sử lương tâm Mỹ.

    “We lost not just an ally. We lost our honor.” (Tạm dịch: Chúng ta không chỉ đánh mất một đồng minh. Chúng ta đánh mất danh dự của chính mình.)

    Là một trong những tiếng nói đạo đức hiếm hoi trong giới trí thức Mỹ, Stephen Young tố cáo Henry Kissinger:

    “Miền Nam Việt Nam đã bị đem ra mặc cả để đổi lấy mối bang giao với Bắc Kinh và thỏa thuận với Liên Xô. VNCH là đồng minh bị bán đứng.”

    Ông nhấn mạnh rằng Hiệp định Paris 1973 chỉ là một văn kiện trá hình, nhằm rút Mỹ khỏi cuộc chiến trong khi Bắc Việt được tự do chuẩn bị cuộc tổng tấn công.


    Frank Snepp

    Frank Snepp – Cựu sĩ quan tình báo CIA, từng là trưởng nhóm phân tích chiến lược tại Sài Gòn, phục vụ cho tòa Đại sứ Hoa Kỳ đến những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Chính ông đã đưa cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu rời Saigon đến Đài Loan ngày 27 tháng 4 năm 1975. Ông là nhà phân tích CIA, chuyên viên thẩm vấn và người dự đoán ý định của miền Bắc sẽ tấn công miền Nam vào tháng 4 năm 1975.

    Ông là tác giả cuốn DECENT INTERVAL – (Khoảng Cách Hợp Lý) – Khoảng cách này là khoảng thời gian từ khi ký Hiệp định Paris (27/1/1973) cho đến ngày mất miền Nam (30/4/1975.  Mang ý ‎nghĩa:  là khoảng thời gian để giúp giữ danh dự cho Tổng thống Nixon không mang tiếng là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ thua cuộc chiến. Nội dung của Decent Interval  là lời cáo buộc nghiêm khắc và đau đớn về sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975, do sự phản bội của chính phủ Hoa Kỳ, đặc biệt là Đại sứ Graham Martin và Henry Kissinger Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ.

    Đặc biệt trong bài thuyết trình, ông đề cập và ca tụng một điệp viên nhị trùng Võ Văn Ba bí danh X92, đã giúp Mỹ và tình báo miền Nam rất đắc lực – có thể nói đây là một điệp viên hàng đầu của CIA ở Viêt Nam. Chúng tôi nhận được những tin tức bí mật thật tuyệt vời, toàn những tin tức nội bộ của bên kia. Ông được hàng ngũ cộng sản tín nhiệm đến nổi được tham gia các cuộc họp trong Bộ chỉ huy ở núi Bà Đen. Võ Văn Ba ở vào vị trí lý tưởng giúp chúng tôi; để đáp lại, chúng tôi giúp ông hoàn thành vai trò tốt của một thành viên cộng sản trung thành. Bằng cách: CIA và Cảnh sát Đặc biệt VNCH đã dàn dựng nhiều vụ tấn công vào các trạm Cảnh sát VNCH để quy trách nhiệm cho Võ Văn Ba…

    Frank Snepp đã viết về Võ Văn Ba gửi đến nhiều thư viện, viện bảo tàng để nói rằng: “quý vị phải cập nhật tài liệu về Chiến tranh Việt Nam, trong đó có sự đóng góp của vị anh hùng này, chính là Điệp viên xuất sắc Võ Văn Ba – người đã cống hiến cho chúng tôi những tin tức chính xác vào những thời điểm quan trọng của cuộc chiến.”

    Vừa qua, có tin chính thức về cái chết của Võ Văn Ba, người được coi là điệp viên hàng đầu  của CIA và VNCH; trong khi báo chí Hà Nội gọi đây là tên “Nội phản nguy hiểm”.

    MỸ CHỦ ĐỘNG BỎ RƠI SÀI GÒN – VÌ SỢ MANG TIẾNG “THUA TRẬN” QUÁ SỚM

    “The idea was to let the South fall – but slowly – so it wouldn’t look like we had engineered its collapse.”
    (Tạm dịch: Ý định là để miền Nam sụp đổ – nhưng từ từ – để tránh mang tiếng là chúng ta đã chủ động phá hoại họ.)

    ĐẠI SỨ GRAHAM MARTIN CHE GIẤU THÔNG TIN, TỪ CHỐI CHO VIỆC DI TẢN

    “Martin refused to believe the North Vietnamese would come. His illusions cost lives.”
    (Tạm dịch: Martin từ chối tin rằng quân Bắc Việt sẽ tràn vào. Ảo tưởng của ông ấy đã khiến nhiều người phải chết.)

    Sự cố chấp và sai lầm cá nhân trong chính quyền Mỹ đã khiến hàng ngàn nhân viên Việt bị bỏ lại, bị bắt, bị giết.

    DI TẢN HỖN LOẠN – MỘT VẾT NHƠ ĐẠO ĐỨC KHÔNG THỂ BIỆN MINH

    “We abandoned tens of thousands who had worked for us, believing we would protect them. We broke that trust.”

    (Tạm dịch: Chúng ta đã bỏ rơi hàng chục ngàn người từng làm việc cho ta, tin rằng ta sẽ bảo vệ họ. Chúng ta phản bội niềm tin ấy.)

     Cuộc tháo chạy hỗn loạn ở Tòa Đại sứ không phải vì không đủ trực thăng – mà vì sự bất lực có hệ thống và thiếu ý chí chính trị.

     KHÔNG PHẢI SÀI GÒN KHÔNG CHIẾN ĐẤU – MÀ LÀ BỊ “RÚT DÂY TIẾP MÁU”

    “The South still had some capacity to resist. But we had already shut off the resupply – both in weapons and hope.”

    (Tạm dịch: Miền Nam vẫn còn khả năng kháng cự. Nhưng chúng ta đã ngắt nguồn tiếp tế – cả về vũ khí lẫn hy vọng.)

     Sài Gòn không đầu hàng vì hèn nhát, mà vì bị bóp nghẹt cả thể xác lẫn tinh thần.

     THÔNG ĐIỆP CAY ĐẮNG – MỘT BÀI HỌC ĐẠO ĐỨC BỊ CHÔN VÙI

    “We didn’t just lose a war. We lost a generation’s worth of trust – in ourselves and in what we claimed to stand for.”

    (Tạm dịch: Chúng ta không chỉ thua một cuộc chiến. Chúng ta đánh mất cả một thế hệ niềm tin – vào chính mình, và vào những điều ta từng tuyên bố bảo vệ.)

    “DECENT INTERVAL” của Frank Snepp – một cuốn sách rất quan trọng và gây chấn động khi xuất bản, vì tác giả là một cựu sĩ quan CIA từng làm việc sát cánh với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho đến những ngày cuối cùng của Sài Gòn. Ông vạch trần:

    “Mỹ  chủ động để miền Nam sụp đổ – nhưng phải đủ chậm, để không mang tiếng là kẻ phản bội.”

    Ông kể lại sự hỗn loạn trong việc di tản, sự ngoảnh mặt của Đại sứ Martin, và nỗi hổ thẹn khi hàng ngàn cộng sự Việt Nam bị bỏ rơi, trong lúc chính phủ Mỹ chỉ lo giữ thể diện.

     Thông điệp chung từ ba chứng nhân: Frank Scotton, Stephen Young và Frank Snepp

    • Miền Nam không thiếu tinh thần.
    • Không thiếu lý tưởng.
    • Nhưng họ thiếu điều mà bất kỳ đồng minh nào cũng cần: – Sự đồng hành trọn vẹn, không bị điều kiện, và không bị tính toán thiệt hơn.
    • Miền Nam không thua vì yếu, mà vì bị bỏ rơi, bị phản bội.
    • Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến chính trị – đạo lý – nhân tâm, chớ không đơn thuần là chiến lược quân sự.
    • Mỹ không thua cộng sản, mà thua vì thiếu – hiểu biết,  niềm tin và kiên nhẫn.

    Khi Hoa Kỳ quay lưng, lịch sử Việt Nam rẽ sang một ngả đau thương, kéo theo hàng triệu thân phận vượt biển, hàng trăm ngàn tù cải tạo, và một đất nước bị bức tử trong chính nền văn hóa của mình. Chứng cớ không thể chối cãi từ những người từng ở trong guồng máy Hoa Kỳ, để tăng thêm  tính thuyết phục và sự minh bạch của lịch sử.


    Sự sụp đổ miền Nam, Việt Nam không chỉ là của Việt Nam Cộng Hòa, mà là bài học đạo đức cho Hoa Kỳ và các nền dân chủ trên thế giới. 50 Năm Quốc Hận không phải ghi lại những dòng lịch sử lạnh lùng;  mà như tiếng thở dài từ ký ức của một dân tộc từng bị chôn vùi giữa cơn lốc thời cuộc; cũng như để khơi lại ánh sáng từ những vết thương lịch sử. 50 Năm Quốc Hận đủ mạnh để gợi lại quá khứ đau thương và đánh thức niềm tin – về sự khôi phục lại cờ vàng ba sọc đỏ – biểu tượng ‎ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.

    Nv Nguyễn Quang, Nv Khánh Lan, phu nhân Thiều Minh, Nv Kiều My, Cs Lệ Hoa, Gs Dương Ngọc Sum, Nv Trần Việt Hải,

    Nv Nguyễn Quang, Mr .Stephen Young, Nv Trần Việt Hải, Gs Dương Ngọc Sum, ĐGM Nguyễn Thành Vân,

    Phu nhân Thiều Minh, Cs Lệ Hoa, Cs Minh Khai, Mc Mộng Thủy

    Mr. Frank Snepp & MC Mộng Thủy

    Ông Hoàng Đình Khuê

    Kiều My

    May 2025

  • Tin tức

    TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: ỨNG DỤNG, TÁC ĐỘNG VÀ TƯƠNG LAI.

    thaiphamacademy.com

    Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. AI là lĩnh vực khoa học điện toántập trung vào việc phát triển các hệ thống phần mềm có khả năng thực hiện những nhiệm vụ đòi hỏi trí thông minh của con người, như học tập, suy luận, phân tích dữ liệu và đưa ra các quyết định thông minh, chính xác. (Đọc tiếp…)

  • DU LỊCH,  Khánh Lan

    DU LỊCH ALASKA

    Khánh Lan

    Alaska giáp với Canada ở phía Đông, giáp Bắc Băng Dương ở phía Bắc, với Thái Bình Dương ở phía Tây và phía Nam, đối diện với đất liền Nga qua eo biển Bering. Alaska có diện tích 1,7 triệu km2 và là nơi chiếm gần một nửa lượng sông băng trên thế giới. Người bản địa chiếm giữ vùng đất nay là Alaska bắt đầu từ hàng nghìn năm trước và từ thế kỷ 18 trở đi, các thế lực Châu Âu đã có ý định việc khai thác lãnh thổ này.

    Người Nga bắt đầu định cư ở Alaska vào năm 1784, dân số chưa đến 1.000 người. Khoảng thế kỷ XIX, lãnh thổ Alaska của Nga là một trung tâm thương mại quốc tế. Tại thủ phủ của Alaska, Novo-Arkhangelsk (ngày nay là Sitka), giới thương nhân đã buôn bán vải vóc, trà Trung Quốc và đá lạnh. Ở đây cũng phát triển ngành đóng tàu và có rất nhiều nhà máy, hay các mỏ khoáng sản, đặc biệt là vàng.

    Sau cuộc chiến tranh Crimea từ năm 1853-1856, Nga bất ngờ quyết định bán lại Alaska cho Hoa Kỳ bởi khi đó, Hoa Kỳ và Nga là đồng minh, nên Nga tìm đến người Mỹ để thảo luận thương vụ Alaska. Nga đã cử một nhóm khảo sát đến Alaska để định giá tài nguyên thiên nhiên ở đây. Được định giá khoảng 10 triệu USD, song hầu hết các nhà khảo sát cho rằng Nga không nên bán Alaska, thay vào đó cần đặt vấn đề cải cách để phát triển. Bỏ ngoài tai lời khuyên của nhóm khảo sát, Sa hoàng Alexander II ra lệnh chuyển bản đánh giá đến chính phủ Mỹ. Sau các cuộc thảo luận, hai bên thương vụ mua bán hòn đảo ở mức 7,2 triệu USD. Tuy nhiên, các hoạt động thương thảo bị gián đoạn vài năm do nội chiến ở Mỹ.

    Lễ ký hiệp ước chuyển nhượng vùng lãnh thổ Alaska cho Hoa Kỳ ngày 30 tháng 3 năm 1867. Từ trái sang: Robert S. Chew, Ngoại trưởng Mỹ William H. Seward, William Hunter, Mr. Bodisco, Công sứ Nga de Stoeckl, Charles Sumner, và Fredrick W. Seward (Ảnh: Alaska Library).

    Đến ngày 30 tháng 3, 1867, tại Washington DC, Ngoại trưởng Mỹ khi đó là William H. Seward và Công sứ Nga là Edouard de Stoeckl đã ký Hiệp ước bán Alaska cho Mỹ. Theo đó, Nga đồng ý bán vùng đất rộng xấp xỉ 1,7 triệu km2 cho Mỹ với giá 7,2 triệu USD. Alaska trở thành tiểu bang thứ 49 của Hoa Kỳ, một vùng đất lạnh lẽo, giàu tài nguyên đã “đổi chủ” sau một thương vụ kỳ lạ cách đây hơn 150 năm. Đến tháng 4, 1867, Thượng viện Mỹ phê chuẩn thương vụ và Tổng thống Mỹ Andrew Johnson ký thông qua và Nga chính thức bàn giao Alaska cho Mỹ vào tháng 10, 1867. Việc chuyển giao đất đai diễn ra tại Novoarkhangelsk rất cảm động, binh sĩ hai bên đứng thành hàng bên cạnh cột cờ, lá cờ Nga bắt đầu hạ xuống. Sau đó, người Mỹ bắt đầu tiếp nhận các tòa nhà ở thị trấn, và đặt lại tên là Sitka. Khoảng một năm sau đó, vài trăm người Nga không nhận quốc tịch Mỹ đã được di chuyển tới các tàu buôn để trở về đất liền của Nga, chấm hết cho sự hiện diện của Nga ở Bắc Mỹ.

    Trong gần 30 năm đầu sau khi mua lại Alaska, Mỹ gần như không ngó ngàng đến vùng đất này. Alaska được điều hành thông qua các quy tắc quân sự, hải quân và tài chính. Năm 1884, Mỹ lập một chính quyền dân sự ở Alaska, đồng thời ban hành luật khai thác tài nguyên. Khu vực này trải qua một vài thay đổi về mặt hành chính trước khi được tổ chức thành một lãnh thổ vào ngày 11 tháng 5 năm 1912. Ngày 3 tháng 1 năm 1959, Alaska được công nhận là bang thứ 49 của Hoa Kỳ. Ngày nay, Alaska là một trong những tiểu bang giàu nhất của Mỹ với GDP hàng chục tỷ USD nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào như dầu mỏ, vàng và cá, cùng vùng đất hoang sơ rộng lớn. Ngoài lợi nhuận khổng lồ từ nguồn tài nguyên thiên nhiên, vùng đất này còn tạo vành đai bảo vệ Mỹ khỏi sự tấn công của các nước phương Tây.

    Lần đầu chúng tôi đến Alaska vào mùa hè của 30 năm trước (1995), Alaska là tiểu bang đầu tiên chúng tôi đi du lịch bằng đường biển và đây cũng là du thuyền đầu tiên chúng tôi đi. Du thuyền Majestic khởi hành từ Vancouver British Columbia qua 4  nơi của Alaska là Ketechikan, Skagway, Juneau, Hubbard Glacier và kết thúc tại port Seward, Alaska. Du thuyền Majestic đến từ Âu Châu vừa đẹp, sang trọng, lịch sự và giá cả phải chăng, nhưng rất tiếc là chỉ vài năm sau du thuyền này đã bị phá sản và hoàn toàn biến mất trên thị trường.

    30 năm sau (2025) chúng tôi trở lại Alaska lần thứ hai vào mùa đông với du thuyền Celibrity Sumit. Du thuyền này khởi hành từ Seward, Alaska và kết thúc ở port Vancouver British Columbia, đi qua 5 địa điểm là Ketechikan, Skagway, Juneau, Systrait Point Alaska và Hubbard Glacier. Lần này, chúng tôi bay từ phi trường Los Angeles đến phi trường Anchorage International, Alaska.

    Sau đó, chúng tôi mua vé xe lửa “The Alaska Railroad” đi đến thành phố Seward, Alaska, nơi mà du thuyền Celibrity Sumit sẽ khởi hành cho cuộc viễn du trên vịnh Alaska tuyệt diệu.

    ALASKA RAILROAD:

    Hơn 100 năm qua, những con đường sắt tại Alaska (Alaska railroad) là phương tiện để kết nối các thành phố lại với nhau, vận chuyển hàng hóa thiết yếu đến khắp nơi trên tiểu bang như một phần quan trọng trong sự phát triển của Alaska. Không những thế, Alaska railroad còn cung cấp dịch vụ đưa các cư dân và du khách đến các khu vực dọc theo đường rầy xe lửa, đồng thời mang đến những trải nghiệm độc đáo cho khách hàng như bạn có thể ngồi trong các toa xe có nóc làm bằng chất nhựa trong suốt, để tận hưởng những giây phút thoải mái và chiêm ngưỡng quang cảnh thiên nhiên đẹp nhất của Alaska. 

    Thật vậy, không gì có thể diễn tả toàn vẹn được vẻ đẹp của thiên nhiên khi bạn  chọn du lịch ngắm cảnh bằng xe lửa trên Alaska railroad. Tuyến đường 500 dặm đường rầy trải dài từ Anchorage đến Seward. kéo dài 4.5 giờ đồng hồ với tốc độ 40 km/giờ  đã cống hiến hành khách những phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Những đỉnh núi cao nhất ở Bắc Mỹ, Denali kỳ diệu và những rặng núi phủ tuyết trắng xóa, nối tiếp nhau, trùng trùng điệp điệp tưởng chừng như bất tận.

    Trên sườn đồi những rặng thông xanh vươn mình trong nắng ấm, dưới thung lũng sâu, những cành cây khô nằm phơi thây trên những vũng bùn màu xám xịt. ..nhưng lạ lùng thay, chính sự kết hợp giữa cái chết và sự sống của cây cỏ lại tạo ra một bức tranh tuyệt đẹp trước mắt mà bạn không thể ngờ được…

    những rặng thông xanh vươn mình trong nắng ấm

    Chúng tôi như chìm đắm trong phong cảnh hữu tình, 4.5 giờ đồng hồ thoảng qua nhanh như một cơn gió nhẹ đưa chúng tôi đến thành phố Seward lúc 11:00 giờ sáng. Từ bến xe lửa đến Port Seward, Alaska mất khoảng 10 phút đường bộ. Tuy nhiên, Celibrity Sumit cũng gởi xe buýt ra bến xe lửa để đón khách lên tàu. Celibrity Sumit khởi hành đi Juneau lúc 8 giờ tối và là thành phố đầu tiên du thuyền dừng lại.

    JUNEAU 

    Nằm dưới chân núi Juneau ở Alaska Panhandle, nơi phù hợp với nguồn nước Ruby của vùng đất liền Gastineau Channel. Juneau vốn thừa hưởng một số vịnh hẹp tuyệt đẹp và vì được bao quanh bởi sông nước với những ngọn núi cao chót vót, Juneau đã mở ra một con đường nối liền nơi này với thế giới bên ngoài. Ngày nay, các thị trấn được phát triển với quang cảnh đặc biệt như  ở Phi Châu.

    Juneau là một trong những nơi mà bạn có thể  thám hiểm để thử nghiệm về sự  hùng vĩ của đỉnh núi Robert đến Mendenhall Glacier và các băng đá rất độc đáo tại Juneau.

    SKAGWAY

    Skagway ngày nay với những con phố có vỉa hè bằng gỗ “buckboard” và các tòa nhà đã được phục hồi để chào đón du khách thì 100 năm trước, có đến 20,000 thợ đào mỏ chuyển đến sinh sống tại thị trấn nhỏ bé này, nhưng bởi sự khắc nghiệt của thời tiết khiến  chỉ còn khoảng 1000 người ở lại và lập nghiệp tại đây.

    Nếu chúng ta quay ngược dòng thời gian và sống lại cơn sốt vàng vào cuối thế kỷ 19, đó là quãng thời gian mà những người thuộc cơn sốt vàng Klondike bất chấp gian khổ để hy vọng đào được trúng kho vàng (Klondike to strike it Rick). Thật vậy, trong cơn sốt vàng Klondike, Skagway, Alaska tràn ngập những người đi tìm kiếm vàng, họ quyết tâm và sẵn sàng mạo hiểm  với hy vọng đào được mỏ vàng. 

    The White Pass và Yukon Route Railroad

    Những người tiên phong này bất chấp  mọi trở ngại, họ đã lên đường, vượt qua The White Pass và Yukon Route Railroad nguy hiểm. Bởi lúc bấy giờ, Skagway là vùng đất được  ví như viên ngọc quý tinh khiết ẩn mình giữa những ngọn núi cao chót vót nằm ở phần cực bắc. Đây cũng là một hành trình lý thú mà du khách ngày nay có cơ hội trải nghiệm trên tuyến đường sắt lịch sử White Pass và Yukon Route Railroad này.

    ICY STRAIT POINT HOONAH, ALASKA

    Icy Strait Point nằm gần thành phố Hoonah, đây khu định cư lớn nhất của người Huna da đỏ thuộc bộ lạc Tlingit ở Alaska. Hoonah có nghĩa là “nơi gió bắc không thổi“, là nơi mà người Huna Tlingit di dân đến sinh sống và lập nghiệp từ khi có sự xuất hiện của những tảng băng hà nhỏ trên biển gần nơi ở ban đầu của họ ở Vịnh Glacier. 

    Theo lời kể của người dân bản địa thì vùng biển này là nơi sinh sống của nhiều giống cá như cá voi lưng gù, cá voi sát thủ, cá heo Dall, hải cẩu, rái cá, cá bơn và năm loài cá hồi Thái Bình Dương. Vì vậy nếu bạn đi bộ dọc bờ biển, bạn sẽ không cảm thấy ngạc nhiên khi phát hiện ra một chú cá voi lưng gù hoặc một chị cá voi sát thủ đang bơi lội ngoài khơi. Tại đây bạn có cơ hội để thưởng thức những món hải sản tươi ngon với giá cả phải chăng như cá salmon và kinh crab cooktail.

    Vào những năm 1880, những người buôn bán lông thú đã đến Hoonah định cư, họ xây trường học, nhà thờ, cửa hàng buôn bán thực phẩm và  lông thú.

    Đến năm 1912, “ISP” của Eo biển đã xây nhà máy đóng hộp cá hồi lớn nhất ở Alaska, sản xuất tới 152,505 thùng trong một năm. Ngày nay, ISP là cảng du thuyền tư nhân duy nhất ở Alaska và hãng cá đóng hộp Huns Totem Corporation thuộc quyền sở hữu của 1350 người dân bản địa Alaska, mà nhiều người trong số ấy là tổ tiên của người Tlingit bản địa định cư ở đây.

    KETCHIKAN

    Ketchikan nằm gần mũi cực nam của vùng đất hẹp Alaska, nó trông giống như một chiếc khăn tay nhỏ bị kẹp giữa núi và biển. Người da đỏ Tlingit, Ketchikan  gọi nó là “Đôi cánh sấm sét của đại bàng” (Thundering Wings of an Eagle) và nó nhìn như đôi chân của con chim đại đang leo lên ngọn Deer  mountain cao 3000 foot nhìn ra thị trấn.

    “Đôi cánh sấm sét của đại bàng” (Thundering Wings of an Eagle)

    Toàn bộ trung tâm thành phố là khu vực di tích lịch sử quốc gia, là mối liên hệ của người dân bản địa với quá khứ văn hóa, Ketchikan cũng có bộ sưu tập cột mốc lớn nhất thế giới bởi Ketchikan nằm trong khu rừng mưa ôn đới trong khu rừng quốc gia Tongass.

    Ketchikan là một vùng đất hoang dã được tạo ra do đất bồi của dòng sông băng tuyết và được bao quanh bởi những ngọn núi phủ tuyết, thác nước. Những dòng suối của vùng đất này là nơi sinh sản của cá hồi biến Ketchikan thành một thị trấn đánh cá nổi tiếng trên thế giới. 

    Alaska vào tháng năm vẫn còn lạnh, nhưng lạ lùng thay công viên “Whale Park” lại rực rỡ với những cây hoa khoe sắc thắm bên cạnh những cành Japanese Mable đỏ rực như độ tiết thu.

    The Whale Park tại Ketchikan, Alaska

    Đẹp như mùa thu ở Japan

    HUBBARD GLACIER

    Khi du thuyền đến Hubbard Glacier thì đã 4 giờ chiều, khí hậu hôm ấy lạnh buốt và có mưa lất phất, nhưng trời mưa thì mặc trời mưa, tất cả mọi người ùa ra hai bên boong tàu như những đàn ong vỡ tổ. Trên tay của chúng tôi, người thì ống nhòm, kẻ thì máy ảnh, iPhone, miệng líu lo, tay chỉ  trỏ, không khí trở nên vui như ngày hội.

    Hubbard Glacier được đặt theo tên theo luật sư Gardiner Hubbard, dòng sông băng này mang một vẻ đẹp bao La với màu xanh phi thường mà từ xa trông như một tấm thảm màu xanh bằng đá dựng đứng, rất ngoạn mục. Hubbard Glacier là một sông băng nằm trong Công viên quốc gia và Khu bảo tồn Wrangell–St. Elias ở phía đông Alaska và Công viên quốc gia và Khu bảo tồn Kluane ở Yukon, Canada. Hubbard Glacier là sông băng thủy triều lớn nhất Bắc Mỹ. Nó dài 76 dặm, rộng 7 dặm và cao 600 feet ở mặt cuối (350 feet lộ ra trên mực nước và 250 feet bên dưới mực nước).

    Hubbard Glacier hay bất cứ một dòng sông băng tại Alaska đều là những kỳ quan thiên nhiên nằm trong vùng nước được bảo vệ. Hubbard Glacier nằm ở phía sau của Vịnh Yakutat và là một nhánh sông băng bắt đầu ở đỉnh cực đông trên sườn Núi Logan ở độ cao khoảng 5,600 nét. Trước khi trôi ra biển, Hubbard  Glacier được nối với sông băng Valerie ở phía tây qua các đợt dâng băng về phía trước đã thúc đẩy dòng chảy băng và cuối cùng sẽ chặn Vịnh hẹp Russell từ vùng nước của Vịnh Disenchantment.

    Tour Hubbard Glacier: Bạn có thể book tour để lên trên đỉnh của sông băng bằng máy bay trực thăng, giá khá cao nhưng bạn sẽ nhìn thấy tận mắt những tảng đá màu xanh biếc, những hồ nước đông đá mà bạn có thể đứng lên trên và những dẫy núi phũ đầy tuyết bao quanh. Đó là một cuộc mạo hiểm đầy lý thú.

    Hubbard Glacier đã tiếp tục phát triển trong khoảng một thế kỷ. Vào tháng 5 năm 1986, Hubbard Glacier dâng cao về phía trước, chặn lối ra của Vịnh hẹp Russell và tạo ra “Hồ Russell” và mùa hè năm đó, hồ đầy nước với mực nước tăng 25 mét và sự giảm độ mặn đã đe dọa sinh vật biển ở vùng này. Theo các nhà chuyên gia tiên đoán phải mất khoảng 400 năm để một khối băng đi hết chiều dài của sông băng, nghĩa là lớp băng dưới chân sông băng có tuổi đời khoảng 400 năm.

    Sông băng thường xuyên làm vỡ những tảng băng trôi có kích thước bằng một tòa nhà mười tầng. Nơi sông băng gặp vịnh, phần lớn băng nằm dưới mực nước và những tảng băng mới hình thành có thể bắn lên khá đột ngột, vì vậy các con tàu phải giữ khoảng cách với mép sông băng ở Vịnh Disenchantment.

    Cuộc vui nào rồi cũng tàn và chuyến du lịch nào rồi cũng phải kết thúc. Khi du thuyền Celibrity Sumit kết thúc tai cảng Vancouver, British Columbia đồng hồ chỉ 8 giờ sáng. Lấy hành lý xong, chúng tôi đón taxi ra phi trường Vancouver Internationa, từ bến tàu đến phi trường là 210 nautical miles.

    Chúng tôi về lại California lúc 4:30 chiều, chấm dứt một chuyến du lịch đầy lý thú.

    Khánh Lan, California 2025

    Sent from my iPhone