-
Chiều Tàn | Dưới Giàn Hoa Cũ
-
MỜI VÀO NGHE NHẠC CỦA LIÊN NHÓM NVNT & TTG
Mưa Chiều Nhớ Ai
Thơ: Trần Việt Hải
Nhạc: Phan Đình Minh
Hòa âm: Phạm Hồng Thái
Như Lá Cỏ Tàn
Thơ: Kiều My
Nhạc: Phan Đình Minh
Hòa âm: Phạm Hồng Thái
Giọt Tình Sầu
Thơ: Khánh Lan
Nhạc: Phan Đình Minh
Hòa âm: Phạm Hồng Thái
Tình Tuyệt Vọng
Thơ: Khái Hưng
Nhạc: Phan Đình Minh
Hòa âm: Phạm Hồng Thái
-
Xa Xăm Quê Nhà | Gọi Người Yêu Dấu
-
GIAI THOAI TRẠNG QUỲNH
Trạng Quỳnh là ai, có thật hay không?

Trạng Quỳnh là nhân vật nổi tiếng trong dân gian, tài trí, thông minh, dí dỏm, trào lộng, nhưng ít ai biết rằng thật sự Trạng Quỳnh là ai? Cuộc đời và sự nghiệp của Trạng Quỳnh không được được sách sử ghi lại rõ ràng. Trong văn học Việt Nam, Trạng Quỳnh là nhân vật hư cấu dưới thời Vua Lê – Chúa Trịnh. Nhưng dựa theo KenhKienThuc thì thân sinh Trạng Quỳnh là ông Nguyễn Bỗng và bà Nguyễn Thị Hương. Cha ông khi xưa từng là giám sinh ở Quốc Tử Giám.
Tên thật của Trạng Quỳnh là Nguyễn Quỳnh, sinh năm 1677 và mất năm 1748. Ông sinh ra và lớn lên trong giai đoạn lịch sử thời Vua Lê Thánh Tông và Chúa Trịnh Sâm. Quê hương của Trạng Quỳnh thuộc làng Bột Thượng, thị trấn Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc thôn Hưng Tiến, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa. Xứ Thanh vốn nổi tiếng là linh thiêng và nơi đây cũng là vùng đất địa linh nhân kiệt.
Thuở còn nhỏ Nguyễn Quỳnh đi học và sống với cha cùng ông nội, vốn thông minh, lanh lợi, cộng thêm bản tính tinh nghịch, ông thích bày trò lừa lũ trẻ con trong làng, lớn lên ông lại dùng văn thơ để phá phách, trêu chọc mọi người. Chẳng hạn như vào một dịp Tết Trung Thu, trong lúc vui đùa với các bạn, ông bảo tụi trẻ rằng: “Nếu chúng mày làm kiệu rước tao, thì tao sẽ dẫn chúng bay đi xem một người có cái đầu to bằng cái bồ”. Thế là lũ trẻ háo hức và tò mò, chúng cùng làm kiệu để rước ông. Khi thấy lũ trẻ đã nỏi mệt, ông liền chỉ cái bóng của mình trên tường và la lên: “A ha, a ha, ông đầu to đây rồi”. Lại một hôm, Trạng Quỳnh đến nhà ông Tú Cát và bị ông béo tai vì Quỳnh quá nghịch phá. Ông Tú Các nói: “Tao sẽ ra một câu đối, nếu mày đáp lại đươc thì tao sẽ tha cho.” Quỳnh đồng ý và ông Tú ra câu đối: “Trời sinh ông Tú Cát.” Chẳng cần suy nghĩ lâu la, Quỳnh đáp: “Đất nứt con bọ hung.”
Vào tuổi thiếu niên, Quỳnh theo học với Cụ Quan Bảng Đoàn là thân phụ của bà Đoàn Thị Điểm. Tật quấy phá nên Quỳnh chẳng tha cho ai, ông thường đợi khi Cụ Đoàn vắng nhà, thường ghé nhà Cụ Đoàn để trêu chọc Thị Điểm. Nhà Cụ Đoàn có nuôi bầy chó nên Thị Điểm hay dùng mấy con chó này để trị Quỳnh. Một hôm, Quỳnh ghé nhà thăm Cụ Đoàn, nhưng vừa thấy Quỳnh, Thị Điểm suỵt chó cắn Quỳnh nên ông phải chạy ra phía bờ ao sau nhà mà trèo lên cây tránh cho bầy chó khỏi cắn. Thị Điểm thản nhiên bảo Quỳnh là bà sẽ ra một câu đối, nếu Quỳnh đáp lại được thì bà sẽ xua đàn chó đi cho Quỳnh xuống. Nói xong Thị Điểm đi xuống ao tắm và đọc câu đối: “Thằng Quỳnh trèo lên cây cậy, d..i đỏ hồng hồng”. Quỳnh quát lên: “Cái Điểm lội dưới ao bèo, l… ngứa ráy ráy”.
Lại một tối hôm khác, khi Thị Điểm đang rũ màn định đi ngủ thì khám phá ra Quỳnh đã nằm trên giường từ bao giờ, bực tức Thị Điểm nói: “Tướng nội vô phong phàm tự lập“. (Trong phòng không có gió mà sao cột buồm căng). Quỳnh đáp: “Hung trung bất vũ thủy trường lưu“. (Ngoài kia không mưa sao nước lại lênh láng.)
Tính khí ngông cuồng, Quỳnh đã để lại nhiều giai thoại về những chuyện khôi hài, chọc phá thiên hạ do ông gây ra như có một lần ông vào nghỉ chân ở một quán bên đường, ông thấy một ông quan được lính hầu võng vào quán. Vị quan này ăn trầu và phun bã bừa bãi. Quỳnh thản nhiên lượm bã trầu lên ngắm nghía, vì thế vị quan hỏi ông: “Ngươi ngắm cái gì?. Quỳnh trả lời: “Bẩm hạ thần nghe đồn miệng nhà quan có gang có thép, nên hạ thần xem trong bã trầu có gang có thép hay không? Nhà quan biết là mình bị Quỳnh châm chọc, nên phán: “Xem ra ngươi cũng là người có học, vậy nếu ngươi đáp lại được câu đối của ta, ta sẽ tha cho, bằng không, ta sẽ nện cho mấy hèo”.
Nói xong, nhà quan đối: “Quan là mũ, để thì mới, đội thì cũ, đội rồi tiến vô phủ”.Quỳnh đáp lại: “Trộm là l.., để thì méo, đ.. thì tròn, đ.. rồi đẻ ra con”. Nhà quan thấy Quỳnh ăn nói tục tĩu thì kêu quân lính dẫn lên quan huyện. Khi nghe nhà quan kể đầu đuôi câu chuyện, bèn hỏi Quỳnh là ông đã đáp lại như thế nào. Quỳnh nhanh nhẩu thưa: “Đái là đai, để thì ngắn, vấn thì dài, vấn rồi bước lên ngai”. Thế là Quỳnh được tha cho về.
Trạng Quỳnh là người rất thông minh, học giỏi và nhanh trí, năm 1696, ông dự thi Giải Nguyên và đỗ. Ông thi đỗ Hương Cống nên người đời gọi ông là Cống Quỳnh. Ông đi thi Hội nhiều lần mà không đỗ nhưng người đời vẫn ưu ái gọi ông là Trạng Quỳnh bởi sự hào phóng, rộng lượng cùng khiếu hài hước vốn có sẵn ở ông nên họ coi ông như là một danh sĩ. Ông từng làm đại sứ Trung Quốc bởi tài hùng biện khôn khéo và thông minh. Những bài hùng biện của ông thường khiến các học giả Trung Quốc nể phục. Đến nay nhiều giai thoại về Cống Quỳnh được lưu truyền nhiều trong dân gian Để tưởng nhớ đến ông, người ta đã lập đền thờ Nguyễn Quỳnh (Trạng Quỳnh). Hiện nay, nhà thờ Nguyễn Quỳnh trở thành di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (năm 1992).

Trạng Quỳnh, ông nổi tiếng không chỉ ở sự thông minh, hào phóng, mà ở khả năng hài hước của ông. Bằng chứng là trong cuốn sách Nam Thiên Lịch Đại Tư Lược Sử đã nhận xét: “Nguyễn Quỳnh văn chương nổi tiếng ở đời, nói năng kinh người, thạo quốc âm, giỏi hài hước…” Những hình ảnh miêu tả Trạng Quỳnh trong tập truyện “Trạng Quỳnh – Tập 24 – Trạng Chết Chúa Cũng Băng Hà” thì ông có một chiếc trán cao, lông mày sắc nét và bụng bự.
Theo truyện Trạng Quỳnh, ông cưới vợ người xứ Nghệ, nhưng vợ của Trạng Quỳnh là ai thì chưa có sách sử nào ghi chép lại. Tuy nhiên, qua tuyển tập truyện Trạng Quỳnh thì vợ của ông là một người phụ nữ hiền lành và thương người nhưng bà rất nghiêm khắc trong việc giáo dục con cái. Trạng Quỳnh không có con nhưng có hai người con nuôi là Quỷnh và Mắm. Quỷnh là một cậu bé thông minh và tốt bụng, được cậu Quỳnh đặt cho biệt danh là “Quỷnh tai to”. Mắm được Trạng Quỳnh nhận nuôi khi cô còn là một bé gái xinh xắn chăn vịt ở nhà ông lý trưởng (Thanh Hóa). Mắm mang trong mình tính cách hiền lành và lẻo lính nhưng đôi khi cũng có chút lẻo mép.
Tại sao Trạng Quỳnh chết? Có người cho rằng Trạng Quỳnh chết do tính hay đả kích, chọc tức và gây chuyện với chúa Trịnh. Một hôm, Chúa Trịnh sai Đinh Nam Vương mời Cống Quỳnh ăn một bữa thịnh soạn nhằm “báo thù”. Khi được mời ăn, Trạng Quỳnh biết được mình sẽ bị hại chết, tuy nhiên ông vẫn nhận lời và nghĩ cách hại ngược lại Chúa Trịnh bởi ông nghĩ “mất đi một vị chúa tàn ác, bớt đi gánh nặng cho dân”. Sau khi ông về nhà, ông liền dặn vợ con “Nếu thấy anh để sách trên ngực thì không sao, còn để trên mặt thì đã đi rồi”. Ông dặn mợ Quỳnh đừng hoảng hốt mà hãy giữ nguyên hiện trường như vậy đợi khi nghe tin Chúa mất thì hãy làm tang lễ. Tin Trạng Quỳnh còn sống và đang nằm trên võng đọc sách lọt đến tai Chúa Trịnh. Ông không tin liền đem món thịt mà ông đã sai người đầu độc Trạng Quỳnh ra ăn thử thì băng hà vì chất độc có trong thức ăn.
Khánh Lan
Tài liệu tham khảo:
- Giai phẩm Xuân Quý Mão, 2023. Vietnamese magazine
- Internet.
-
Đà Lạt Hoàng Hôn / Đêm Nhớ Về Sài Gòn
-
TẾT, NÓI CHUYỆN TẾT
LTS. Những tài liệu dưới đây của các tác giả đã đăng bài nghiên cứu của họ trong Giai Phẩm Xuân Quý Mão 2023 của VIETNAMESE MAGAZINE với chủ đề TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI. Đó là những tài liệu có giá trị mà Khánh Lan nghĩ cần được lưu lại cho hậu thế, bởi đây những dữ kiện hữu ích cho giới trẻ học hỏi về những phong tục tập quán của con dân Việt. Khánh Lan xin phép được tóm lược nội dung của các bài viết này.

Duyệt qua 176 trang báo, Khánh Lan nhận thấy có một số bài vở đang trong sách thật hay, ghi lại những tài liệu có giá trị nói về lịch sử cũng như tập tục của ngày TẾT của người Việt. Trước hết Khánh Lan xin lần lượt tóm lược về từng tiêu đề. Theo Lý Thành Phương, sau một thời gian làm việc cực nhọc, người ta chọn mùa Xuân để nghỉ ngơi và ăn mừng khi cây cây cối bắt đầu đơm bông kết nụ. Người Việt Nam chúng ta cũng như thế giới không tránh khỏi sự chi phối của ba nền văn minh chính gồm: Văn minh La Mã, văn minh Ấn Độ và văn minh Hoàng Hà (Trung Quốc). Hầu như cả ba nền văn minh trên đều chọn ngày đầu năm để đánh dấu những biến cố quan trọng mà người Việt Nam chúng ta gọi là ngày TẾT.
- Văn minh La Mã: Dựa theo dương lịch và ăn mừng TẾT từ ngày Chúa Giáng Sinh, 25 tháng 12 cho đến hết ngày 1 tháng 1.
- Văn minh Ấn Độ: Như Sri-Lanka, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Cam Bốt thì TẾT sẽ vào khoảng tháng Ba dương lịch.
- Văn minh Hoàng Hà (Trung Quốc): Như Hồng Kông, Singapore, Đài Loank Hàn Quốc và Việt Nam thì theo âm lịch của Trung Hoa và ngày TẾT thường trễ hơn TẾT dương lịch từ một đến hai tháng.
Nước Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc do thời kỳ bị thế lực phương Bắc đô hộ cả ngàn năm. Tuy nhiên, những sinh hoạt trong ngày TẾT của người Trung Hoa và người Việt có nhiều điểm khác biệt. Theo Lý Thành Phương, Nước Việt Nam bắt đầu lập quốc từ thời kỳ Lạc Việt với một tập tục nhuộn răng đen, ăn trầu, xâm mình (để đối phó với Thủy quái), trồng lúa dưới nước và dùng trống đồng (Trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ) trong các sinh hoạt cộng đồng, dùng sản phẩm lúa gạo để gói bánh chưng, bánh tét (ăn mừng trong những ngày Tết). Những tập tục này bắt nguồn từ những phong tục và văn hóa đặc trưng của người Lạc Việt. Văn minh Lạc Việt có tính truyền bá, chia sẻ và phát triển qua nhiều sóng gió của thời thực dân đế quốc, nhưng vẫn tồn tại bởi người dân Việt có tinh thần cầu tiến, kiên nhẫn và chịu khó học hỏi những cái hay, cái tốt của người.
Bánh tét: Hương vị Tết quê nhà, bài viết của VT.

“…Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh…”
Nếu bánh chưng là loại bánh nếp truyền thống của miền Bắc thì tại miền Nam, bánh Tét không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên và đãi khách trong ba ngày Tết. Bánh chưng hay bánh tét luôn được ăn kèm với củ kiệu, củ hành, tôm khô thì mới đủ bộ. Nguyên liệu gói bánh chưng đều giống nhau, cái khác biệt chỉ là hình dạng bên ngoài của nó mà thôi. Gói hai loại bánh này cần phải có gạo nếp, đậu xanh không có vỏ, thịt ba chỉ hay thịt nạc, mỡ. Nhưng nếu gói bánh tét chay thì nguyên liệu làm nhân bánh lại khác như đậu đò, dừa nạo. Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải có lá chuối, lạt để buộc bánh (từ tre). Phần lớn, người ta nấu bánh khoảng vài ngày trước Tết.
Nếp phải được ngâm trước khi gói bánh khoảng 8 tiếng xong đổ ra rổ và để cho ráo nước, trộn vào gạo chút muối giúp cho nếp dễ thấm gia vị. Đậu xanh thì ngâm trước khoảng 4 tiếng rồi đổ ra rổ cho ráo nước. Bánh chay thì cắt dừa cắt mỏng và trộn vào nếp. Thịt và mỡ cắt thành miếng dài khoảng 10cm. Lá chuối rửa và lau sạch. Dây lạt để buộc bánh cần ngâm nước cho mềm.
Gói bánh chưng hay bánh tét đòi hỏi sự khéo tay, nhưng nếu có khuôn thì gói sẽ dễ hơn. Gói bánh tét thì khó hơn vì không có khuôn làm bánh tét. Bánh chưng hay bánh tét phải nấu từ 8 tới 12 tiếng nếu là nồi thường, ngày nay người ta dùng presure cooker, nên chỉ cần nấu khoảng 3 tiếng, bằng nước đã được đun xôi là bánh chín.
Tập quán ăn Tết Việt Nam, bài viết của Lý Thành Phương.

Tục lệ “ĂN TẾT” đã trở thành một tập quán lâu đời của người Việt Nam, những tập tục này bao gồm:
Đưa ông Táo về trời: (Ngày 23 tháng Chạp âm lịch).
Dựa theo lịch sử, sự phát triển và sinh tồn của con người là nhờ vào sự phát minh ra “LỬA”. Chính vì thế mà hầu hết xã hội nào cung có tập tục thờ “Thần Lửa”. Tuy nhiên hình thức thờ Thần Lửa có sự biết đổi theo thời gian tùy theo phong tục của từng quốc gia. Người Việt Nam dù hai chữ “Ông Táo” hay “Táo Quân” để ám chỉ Thần Lửa và theo sự tưởng tượng phong phú của dân gian, họ cho rằng Táo Quân là người nghe hết mọi chuyện trong thiên hạ, rồi chờ đến cuối năm sẽ cưỡi cá chép, bay về Thiên Đình báo cáo lại với Ngọc Hoàng đế người thưởng hay phạt bàng dân thiên hạ.
Tiệc Tất Niên:
Đó là bữa họp mặt mà hầu hết các cơ quan, xí nghiệp, trường học, bạn bè đều tổ chức vào dịp cuối năm trước khi chia tay về nhà nghỉ ngơi ăn Tết cùng với gia đình. Trong bữa tiệc, mọi người chia sẻ những món ăn đặc sắc của từng miền hay cùng nhau tham gia văn nghệ, đàn ca hát xướng.
Dọn dẹp nhà cửa:
Đây là lúc mà mọi người dù bận đến đâu cũng dùng chút ít thời gian để dọn dẹp nhà cửa, đánh bóng bộ lư hương, sơn nhà, v.v… với mục đích xóa bỏ những điều xúi quẩy của năm cũ để chuẩn bị đón cái may của năm mới.
Mua, Xắm, may quần áo mới:
“Già được bát canh, trẻ được manh áo mới” là câu ca dao rất quen thuộc đối với người Việt Nam. Vì thế, dù có khó khăn đến đâu đi nữa, bậc làm cha mẹ cũng cố gắng mua xắm cho con cái một bộ quần áo mới để mặc trong ba ngày Tết. Đặc biệt là sáng ngày mồng một Tết, các em được cha mẹ mặc cho bộ quần áo mới và được ông bà, cha mẹ lì-xì sau khi các em chúc tuổi đến các bậc trưởng thượng, ông bà, cha mẹ, v.v…và được cho đi chúc Tết họ hàng.
Viếng mộ và quét dọn mồ mả tổ tiên:
Thông thường, trong những ngày Tết, các con cháu từ khắp nơi đều về thăm quê hương, xứ sở và cùng gia đình đi thăm viếng mộ phần của tổ tiên cũng như có trách nhiệm lau chùi, quét dọn quanh mộ để thể hiện lòng kính trọng, hiếu đạo với đấng sinh thành và các bậc tổ tiên đã khuất bóng.
Đi chợ Tết:
Đi chợ Tết là một thú vui không thể bỏ qua và dĩ nhiên mọi người đều thích đi chợ Tết, dù có khi chẳng mua bán gì cả. Sở dĩ người ta thích đi chợ Tết vì nó hoàn toàn khác với những buổi họp chợ thường ngày trong năm. Phải, chợ Tết họp rất sớm, từ buổi sáng tinh mơ, chợ đã chật đầy người, chen chúc nhau, kẻ mua người bán. Hàng quán, hoa quả bầy đầy vỉa hè; hẻm này thì bày hoa cúc hoa lan; góc kia tràn đầy mai, đào, vạn thọ…Chợ Tết nhộn nhịp nhất là tuần lễ cuối cùng của một năm, đây là phiên chợ đông người nhất, bởi có nhiều người cho rằng mọi thứ như bánh, mứt, hoa quả và thức ăn sẽ rẻ hơn vì là phiên chợ cuối năm.
Gói bánh chưng:
Nhiều gia đình có tập tục gói bánh chưng ngày Tết vì lý do là vừa ngon, vừa sạch và vừa rẻ. Nhưng còn một lý do nữa là ngày mà các con cháu cùng quay quần và tụ họp bên nhau, thăm hỏi và chia sẻ những buồn vui trong năm. Thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu nguồn gốc của bánh giầy, bánh chưng. Cũng theo ông Lý Thành Phương thì bánh giầy và bánh chưng có từ thời vua Hùng. Chuyện kể rằng: Dưới thời Hùng Vương thứ 18. Một hôm, hoàng tử Tiết Liệu nằm mộng thấy có vị Thần hiện ra và bảo: “Này Con, vật trong trời đất không có gì quý ban82ng gạo, vì nó là thức ăn nuôi sống con người, con hãy lấy gạo nếp làm bánh hình tròn tương trưng cho Trời và hình vuông tượng trưng cho Đất. Hay lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh để tượng hình cho cha mẹ sinh thành”
Chưng hoa trong dịp Tết:
Người Việt Nam thường thích chưng hoa trong những ngày Tết, hoa đem lại sự tươi mát và không khí trong lành trong ngày đầu xuân. Các loại hoa như đào, mai, lan, cúc, thủy tiên và cây quất là những loại hoa quả thường thấy trong mọi gia đình. Hoa còn tượng trưng cho sự may mắn và thịnh vượng.
Mâm ngũ quả:
Trong những gia đình theo đạo Phật hay thờ ông bà thì mâm ngũ quả không thể thiếu trên bàn thơ tổ tiên nhất là trong những ngày Tết. Mâm ngũ quả gồm có 5 loại quả khác nhau tùy theo từng miền. Mâm ngũ quả với ý niệm là mong năm mới đem lại sự thịnh vương, yên bình. Mâm ngũ quả của những gia đình bình dân là “Cầu (Mãng cầu xiêm) – Sung (trái sung) – Dừa (trái dừa xiêm) – Đủ (trái đu đủ) – Xoài (Trái Xoài). Điều trên ngụ ý: “Cầu vừa đủ sài”.
Rước Ông Bà:
30 Tết là ngày “Rước ông bà” về chung vui Tết với gia đình. Một mâm cỗ sẽ được bày trên bàn thờ tổ tiên vào buổi trưa hay buổi chiều tùy theo từng gia đình. Thông thường một mâm cỗ gồm: Thịt kho trứng, tôm khô củ kiệu, một món canh, bánh chưng, v.v… Sau 3 ngày Tết, đến ngày mồng 4, một mâm cúng đơn giản hơn, được đặt trên bàn thờ tổ tiên để tiễn ông bà.
Đón giao thừa:
Giao thừa là thời diểm chuyển giao giữa năm mới và năm cũ. Lễ cúng giao thừa còn được gọi là lễ trừ tịch và được diễn ra vào phút cuối cùng của năm cũ với ý nghĩ là loại bỏ mọi điều xấu của năm cũ và đón những điều may mắn, tốt đẹp cho năm mới. Lễ cúng giao thừa thường được thể hiện ngoài trời với chung trà và bánh mứt. Những tràng tiểu pháo được đốt nổ vang xen kẽ với đại pháo để xua đuổi tà ma ác quỷ và mở đường cho vạn sự tốt lành.
Chúc Tết – Mừng tuổi -Lì Xì:
Tập tục lì diễn ra vào sáng mồng một Tết, các con cháu dậy sớm, thay quần áo mới, xong đứng xếp hàng và chúc tuổi ông bà cha me để được thưởng tiền lì xì trong một phong bì nhò, màu đỏ với hình vẽ rất đẹp trên mặt phong bì. Những câu chúc Tết thường là: “Năm mới, con xin chúc ông bà (cha mẹ, cô dì, chú bác…) sức khỏe vẹn toàn, sống lâu trăm tuổi, (làm ăn phát đạt, an khang thịnh vượng) vạn sự như ý, v.v…
Đi chùa – Hái lộc:
Đi chùa – hái lộc đầu năm là truyền thống của người Việt Nam. Vào chùa đốt nhang cầu cho quốc thái dân an, đất nước thái bình, gia đình hạnh phúc, ăn nên làm ra, sức khỏe và con cái học hành tấn tới.
Thăm mộ tổ tiên:
Sau ngày mồng một Tết, các con cháu cùng nhau đến thăm viếng mộ phần của tổ tiên. Đây cũng là dịp mà mọi người trong gia đình hội ngộ, thăm hỏi và ngồi quanh mâm cỗ cúng ngày Tết.
Đánh bài ngày Tết:
Đánh bài trong ba ngày Tết trong phạm vi gia đình được coi là một cách giải trí, mua vui và thư giãn vì số tiền ăn thua cho mỗi ván bài chỉ là trên dưới chục bạc. Có những màn Bầu cua cá cọp chỉ thu nhỏ từ .25 cents đến $1.00 cho mọi người có thể tham gia. Ngoài Bầu cua cá cọp người ta còn chơi bài cào ba lá, lô tô, cá ngựa, tam cúc hay tứ sắc.
Tóm lại, MỪNG TẾT – VUI XUÂN là một phong tục tốt, nên được duy trì, bởi ngoài việc nghỉ ngơi, thăm viếng họ hàng, bạn bè, nó còn mang một tinh thần giáo dục và bảo tồn văn hóa. TẾT là thời điểm để các con cháu nhớ đến và báo hiếu tổ tiên. Có nhiều địa phương cũng nhân dịp ngày TẾT để cám ơn những ân nhân của gia đình hay cá vị lãnh đạo tinh thần và các Thày Cô trong trường học đã dày công dậy giỗ các học sinh nên người.
Ngày Tết nói chuyện trà, bài viết của Đỗ Duy Ngọc.

“Khách đến nhà không trà thì rượu”
Uống trà vào ngày Tết là một truyền thống và mang những món quà ý nghĩa tới cho người than, bạn bè trong dịp tết cổ truyền dân tộc và không thể thiếu trong trong dịp Tết ở mỗi gia đình Việt. Sự hiện diện của chén trà góp phần làm cho những câu chuyện thêm ý nghĩa và là món quà mà con cháu biếu ông bà, cha mẹ để tỏ lòng hiếu kính, biết ơn đấng sinh thành. Uống trà đã trở thành việc không thể thiếu trong những câu chuyện đầu năm, khách đến chơi nhà thưởng trà, trò chuyện trong không khí rộn ràng của mùa xuân mới.
Trà không chỉ là thói quen hàng ngày mà nó còn là một trong những nét đẹp truyền thống trong ngày Tết, một nét văn hóa đẹp của người Việt. Ngày xưa, “miếng trầu là đầu câu chuyện” nhưng ngày nay, chén trà đã thay cho “miếng trầu”, để mở đầu cho mỗi câu chuyện, đặc biệt là những câu chuyện ngày Tết. Một ấm trà thơm ngon sẽ làm cho mọi người gần nhau hơn, ấm áp hơn trong tiết trời se se lạnh vì thế mà trà được các gia đình đặc biệt quan tâm trong ngày Tết.
Vị đắng của trà, vị ngọc của bánh mứt đã trở thành hình ảnh quen thuộc và không thể thiếu trong những ngày Tết. Ngày Tết. Thưởng trà là một trong những nét đẹp truyền thống trong ngày Tết, một nét văn hóa đẹp của người Việt. Uống trà trở thành việc không thể thiếu vào mỗi dịp Tết bởi nó có lợi cho sức khỏe như phòng chống được một số bệnh mãn tính như tim mạch, tiểu đường… làm đẹp như chống lão hóa, đẹp da… và vì thưởng trà đã trở thành một nét văn hóa trong nền văn hóa đa dạng của người Việt.
Người Nhật cũng như người Trung Hoa tôn trà thành đạo: Đạo Trà. Từ ngàn xưa, người Việt đã có nghệ thuật uống trà và là một trong những nước trong cây trà sớm nhất thế giới. Người Việt uống trà theo kiểu cách riêng của họ và cũng có quy tắc riêng nhưng không quá ngặt như Đạo Trà. Trà có tác dụng giải độc và kích thích sự hoạt động của trí não, giảm mỡ trong máu.
Thống kê trên thế giới ghi nhận có hơn 3,000 giống trà khách nhau. Tuy nhiên có 6 loại trà cơ bản: Trà xanh, trà trắng, trà vàng, trà đen, trà Ô long và trà phổ nhĩ.
- Trà Xanh là loại trà vừa hái xong, làm héo và diệt men. Trà xanh là một loại trà tươi như giống trà Thái Nguyên là một loại trà nổi tiếng tại Việt Nam bởi trà Thái Nguyên không để lên men nên vẫn giữ được chất diệp và phẩm chất của lá trà tươi.
- Trà Trắng còn được gọi là Bạch Trà trông ở vùng cao độ. Bạch trà được hái từ lúc còn là búp non, và vì trong trong vùng có nhiệt độ thấp nên búp trà có màu trắng. Hái xong sẽ được phơi ngoài nắng nên có độ lên men cao. Trà trắng có nguồn gốc từ Phúc Kiến, nhưng ngày nay, có nhiều nước cũng sản xuất loại trà này. Tại các tỉnh miền Tây Bắc Việt Nam ghi nhận là có loại trà này.
- Trà Vàng cũng giống như trà xanh, chỉ khác là sau khi diệp men, là trà được hấp ở nhiệt độ nhẹ khiến cho chất diệp lục tố (Chlorophyll) mất đi từ từ khiến cho chất xanthophylls (màu vàng) hiện ra rõ hơn.
- Trà Ô Long là loại trà có các công đoạn chế biến da dạng và mất thời gian. Trà ô long xanh có độ lên men là 12-20% nhưng trà ô long đen có độ lên men là 40-80%. Trà ô long được trồng nhiều ở Trung Quốc, Đài Loan. Lâm Đồng cũng trồng loại trà này lấy giống từ Đài Loan.
- Trà Đen còn được gọi là Hồng Trà vì nước trà có màu cam hoặc màu đỏ, xuất phát tử khu vực núi Vũ Di ở Trung Quốc với tên là Chánh Sơn Tiểu Chủng. Không qua giai đoạn diệt men. Loại trà này được người Âu Châu ưa chuộng.
- Trà Phổ Nhĩ được đặt theo tên của thành phố Phổ Nhĩ bên Trung Quốc. Loại trà này trồng tại vùng Tây Bắc Việt Nam. Sự chế biến giống như loại trà Xanh và Bạch Trà. Lá trà khô đóng thành bánh gọi là trà Phổ Nhĩ sống và nếu làm khô và ủ từ 30 đến 50 ngày thì gọi là trà Phổ Nhĩ chín.
Tùy theo từng loại trà mà người ta dùng độ nước sôi để pha. Thường là 85-100 độ C. Ấm pha trà củng tùy loại trà mà dùng ấm mỏng (Chu Nê) hay dày (Tử Sa). Ở Trung Quốc có thập loại danh trà, đứng đầu là:
- Trà Long Tĩnh của thôn Long Tĩnh, Hàng Châu, Triết Giang. Vì thời tiết mát mẻ nên trà Long Tĩnh ngon, chất lượng tốt và là một loại trà Xanh nổi tiếng được chế biến theo phương thức thủ công truyền thống nên lá trà có kích thước đều và giữ được màu xanh non đẹp mắt. Đặc trưng của loại trà này mang hương vị trà Xanh tươi mát, đậm đà, khi pha trà các búp trà đứng thẳng trong nước, nhìn rất đẹp.
- Bích Loa Xuân hay Hách Sát Hương Nhân được mệnh danh là đệ nhất trà Xanh có hương vị dịu ngọt, có nhiều chất dinh dưỡng, nước trà màu xanh ngọc.
- Thiết Quan Âm là loại trà khó trồng, búp trà ra quanh năm nhất là mùa Xuân nhưng vị trà lại thơm nhiều vào mùa Thu. Trà có nguồn gốc tại huyện An Khê. Lá trà hơi cong, đỉnh trà trong giống như đầu con chuồn chuồn, thân xoán, đuôi trông giống như chân con ếch, trên bề mặc của lá có một lớp sương mỏng gọi là “Sa lục”. Trà có 30 loại kháng chất khách nhau, có khả năng miễn dịch, trị bệnh mạch vành. Hương vị thơm, ngọt, xanh giúp trí óc thanh thản, sảng khoái, thư giãn.
- Hoàng Sơn Mao Phong tên trà được đặt theo quê hương “Mao Phong” và dãy núi “Hoàng Sơn”. Lá trà có lông tơ, nước trà thơm, vị đậm, nước màu vàng, tốt cho bệnh tim mạch.
- Trà Ngân Châm hay Trà Vàng xuất phát từ đảo Quân Sơn, tỉnh Hồ Nam. Hoa trà thường nở vào tháng 6 và có chất lương tốt nhất trong năm. Trà có hai loại là trà búp mọc ở phía Đông đảo Quân Sơn, đón nắng sớm nên ngon hơn và trà tơ mọc ở phía Tây đón ánh nắng muộn hơn, ban đêm lại có nhiều sương nên lá có nhiều tơ.
- Kỳ Môn Hồng Trà nổi tiếng tại huyện Kỳ Môn, tỉnh An Huy. Trà được lên men trong quá trinh hái, ủ và sấy. Các chế biến làm theo phương thức thủ công nghệ. Trà chứa nhiều chất Flavonoid rết tốt cho sức khỏe, giảm thiếu nguy cơ béo phì.
- Trà Đại Hồng Bào hay Nham Trà Đại Hồng Bào hay Đại Hồng bào Vũ Nhi vì trồng ở núi Vũ Di, Phúc Kiến, Trung Quốc. Trà thuộc dòng trà Ô Long. Trà có vị ngọt, hương thơm như hoa lan. Đây là loại trà mắc tiền nhất thế giới, có lúc lên đến $1000 USD/gr. Nên được nhà nước canh gác rất cẩn thận. Trà có thể thu hoạch quanh năm nhưng sản lượng và chất lượng thì mỗi mùa khác nhau. Trà có tác dụng chống ung thư, hạ huyết áp, cải thiện tim ma5chk giảm căng thẳng, tăng cường trí nhớ.
- Trà Lục An Qua Phiến hay Trà Qua Phiến là loại trà xanh trồng trên đỉnh Đại Sơn, Lục An, tỉnh An Huy. Chỉ dùng búp trà, bỏ phần mầm, gân rồi phơi khô. Trà có màu xanh ngọc, trong, hương thơm, vị nồng có chút chất ngọt.
- Bạch Hào Ngân Châm là trà Trắng búp non hay Baihao Yinzhen. Thuộc dòng họ trà Trắng, sản suất tại tỉnh Phúc Kiến. Thu hái là những búp non, mịn và có lớp lông tơ trắng bao quanh búp trà. Phương pháp là phơi trong bóng râm, nổi tiếng về hương, sắc và vị, từng là Hoàng gia Cống Phẩm và được Vua Chúa dùng trong các buổi Ngự Trà.
- Trà Phổ Nhĩ (Bửu Lị, Pu-erh) có nguồn gốc từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, thường dủng trong các nhà hàng Trung Hoa, nhất là sau bữa ăn Dim Sum. Trà được diệt men, vò nát, phơi nắng. Nuốc trà có màu đỏ đậm, vị hơi chát nhưng sau lại ngọt.
Các nước Á Châu ăn Tết Nguyên Đán ra sao? của tác giả THG (Dựa theo bài viết của THG).

“…Chiều ba mươi nợ réo tít mù
Co cảng đạp thằng bần ra cửa
Sáng mồng một rượu say túy húy
Giơ tay bồng ông phúc vào nhà…”
Tết Nguyên Đán còn được gọi là Tết Âm Lịch hay Lunar New Year. Đây là dịp lễ lớn được nhiều quốc gia Á Châu long trọng đón mừng. Phần lớn cá quốc gia Á Châu dưa trên chu kỳ của mặt trăng quay quanh trái đất, đó là ngày đầu tiên của chu kỳ của mặt trăng. Theo giáo sư Yeomin Yoon, thuộc đại học South Carolina thì Tết Nguyên Đán bắt đầu từ thời cổ đại. Tết Nguyên Đán không phải là Chinese New Year bởi Tết Nguyên Đán của người Trung Quốc gọi là “Chũ Jié” có nghĩa là “Lễ Hội Mùa Xuân”, kéo dài cả tuần.
Phần trên chúng ta đã nói về phong cách đón TẾT tại Việt Nam, sau đây chung ta tìm hiểu thêm về nghi thức đón Tết Nguyên Đán ở một số quốc gia Á Châu như: Trung Quốc, Đại Hàn, Singapore, Mã Lai Á, Đài Loan và Phi Luật tân.
- Tại Trung Quốc:
Tương tự như người Việt, Tết là dịp để gia đình quây quần bên nhau. Người Trung Hoa cũng tin rằng, mặc quần áo mới với màu tươi sáng (đỏ, vàng) để thu hút thần tài và mang lại sự giầu có trong năm. Cũng giống như người Việt, người Trung Hoa đặt têm cho mỗi năm tương ứng với một con vật trong 12 con giáp gồm các con: Chuột (Tý); Trâu (Sửu); Cọp (Dần); Thỏ/Mèo (Mẹo); Rồng (Thìn); Rắn (Tỵ); Ngựa (Ngọ); Dê (Mùi); Khỉ (Thân); Gà (Dậu); Chó (Tuất) và Heo (Hợi) và đến Chùa dâng hương cầu mong cho một năm mới tốt lành thịnh vượng. Nhưng người Trung Hoa thường kiêng không ăn thịt con vật tương ứng với con giáp của năm đó.
Trong ngày Tết, các món ăn cổ truyền được dùng là: Bánh bao, bánh nếp, mì, sủi cảo. Một phong tục khác là khi làm bánh bao, người Trung hoa giấu vào trong lòng bánh một đồng xu nhỏ, để các em nhỏ nếu nhận được bánh bao có giấu đồng xu ấy thì nên ăn hết cái bánh bao đó để lấy hên suốt cả năm. sủi cảo thường được ăn chung với cá tượng trưng cho sừ sung túc. Đêm giao thừa, mọi người quay quân bên nhau trong bữa cơm cuối năm, mồng một Tết cũng có đi chúc Tết và nhận tiền lì xì trong một phong bao màu đỏ. Người Trung Hoa có tục lệ không mua giầy mới, quét nhà ngày mồng một, không cắt tóc, gội đầu vào dịp Tết.
- Tại Đại Hàn:
Tại Đại Hàn Tết Nguyên Đán kéo dài 3 ngảy, theo phong tục của người Đại Hàn mọi người đều nhận thêm một tuổi vào ngày Tết. Y phục đón Tết là trang phục cổ truyền Hanbok và trẻ em phải cúi rạp người, cung kính chào người lớn tuổi, chúc thọ và nhận tiền lì xì cũng như nhận lời khuyên bảo, kinh nghiệm sống, v.v… của các vị niên trưởng.
Thức ăn trong dịp Tết gồm các món mandu (bánh bao), dduk-guk (súp bánh làm bằng bột gạo thái mỏng), mandu-guk (súp bánh bao), galbijjim (sườn om), japchae (miến) và ddeok (bánh gạo). Trò chơi truyền thống là Yut Nori (cờ chơi bằng que gỗ) và Yeonnalligi (thả diều để cầu may).
- Tại Singapore:
Da số người Trung Hoa sống ở Singapore (75%) nên họ ăn Tết rất lớn. Thức ăn là bánh nếp (nian gao), Yushering (gỏi cá sống truyền thống) và bánh dứa. Bao lì xì được trao tặng cho những người trẻ tuồi với chữ “Fú” trên phong bao màu đỏ. Người Singapore tỏ lòng kính trọng tổ tiến bằng cách đi chùa, thắp nhang vào dịp đầu năm.
Cuộc diễn hành Chingay với xe hoa rất long trọng, lộng lẫy được tổ chức hàng năm vào dịp Tết Nguyên Đán, cũng có múa lân. Ngoài ra trong dịp này, Lễ hội Tết River Hongbao cũng được tổ chức ở nhiều địa điễm khác nhau tại Singapore.
- Tại Mã Lai Á:
Cũng như Việt Nam, Trung Quốc, Đại Hàn và Singapore, Tết Nguyên Đán là dịp mừng Xuân và để mọi người trong gia đình quây quần bên nhau trong bữa cơm cuối năm. Tết tại Mã Lai kéo dài 15 ngày và ngày thứ 15 sẽ có lễ hội Chap Goh Mei dành riêng cho các phụ nữ độc thân, trong buổi lễ, các cô gái sẽ ném quả quýt có ghi ước mơ thầm kín của mình xuống biển.
Món sald Yee Sang là món được dùng trong bàn tiệc vì nó tượng trưng cho sự may mắn, thịnh vượng. Nian gao, quả quýt (tượng trưng cho sự may mắn) và phong bì đỏ (pow) được trao tặng cho các em nhỏ và những người chưa lập gia đình. Có những gia đình mời đoàn múa lân đến múa trước bàn thờ để xua đuổi tà ma. Khi ra đường các thiếu nữ mặc trang phục truyền thống, qipao (áo sường xám) màu đỏ vì họ tin rằng màu đỏ mang đến sự may mắn.
- Tại Đài Loan:
Người Đài Loan có tục lệ dù bận rộn đến đâu đi nữa, họ đều về hay về quê đón mừng năm mới cùng với gia đình. Những món ăn Tết gồm: Nian gao, bánh dứa, cá. Người Đài Loan cũng tin rằng khi dùng thức ăn hết món cá, mà để lại một ít thì sẽ mang đến sự may mắn cho gia đình. Trong dịp Tết, nhiều người Đài Loan không đi ra đường, mà ở nhà, nhất là có cha mẹ già. Phong tục lì xì và đốt pháo cũng phổ biến tại đây.
- Tại Phi Luật Tân:
Người Phi Luật Tân tin tưởng rằng trong đêm giao thừa, khi đồng hồ điểm 12 giờ đêm thì mọi người đều thi nhau nhẩy cho thật cao, vì họ cho rằng giờ phút ấy, nếu ai nhẩy càng cao thì chiều cao của họ sẻ tăng cao thêm lên.
Bữa ăn truyền thống trong ngày Tết gọi là Media Noche, một bữa ăn thịnh soạn để ăn mừng cho một năm thịnh vượng gồm các loại trái cây hình tròn tượng trưng cho sự may mắn. Phong tục này bắt nguồn từ Trung Quốc. Món ăn trong ngày Tết gồm xôi Biko, Bibingka và Nian gao vì họ tin rằng chất dính của nếp giúp gắn kết các thành viên trong gia đình lại với nhau. Mì dài Pancit với niềm tin là đem lại sự khỏe mạnh, trường thọ, may mắn.
Trang phục có hình chấm bi tròn tượng trưng cho thịnh vượng, tiền bạc, may mắn. Pháo nổ vang để xua đuổi những linh hồn xấu. Đèn bật sáng, cửa sổ và cửa ra vào được mở rộng, không tiêu tiền vào ngày đầu năm.
Hơn trăm năm trước người Sài Gòn ăn Tết ra sao? Và ngôn ngữ được dùng như thế nào? Bài viết của TNV.

Sự nghiên cứu của TNV dựa theo tờ Tân Đợi Thởi Báo, số 36, ra ngày 2 tháng 3 năm 1915 mô tả về ngôn ngữ được dùng và những sinh hoạt Tết tại chợ Sài Gòn năm 1915. Vậy, hơn trăm năm trước, phong cách ăn Tết cũng như ngôn ngữ được dùng như thế nào?
Những danh từ nghe lạ tai như Ý cựu lệ, chờ bữa 27, 28 và 29 Annam: chỗ gia tăng bằng hai đặng trừ bì (giảm bớt) ba bữa 30, thắp đèn điển khí (đèn điện) sáng trưng. Bước chân vào chợ ngống (cố gắng tìm kiếm) ngống lại…vì lòng đã mất thửa (mất đi bớt) sự mong vọng. Tả tự (viết chữ) rất xảo lại sãn thuộc làu. Khách Trú (người Hoa), Thí (miễn phí). Khán (khám), Langsa (chỉ người Pháp, Y phục Langsa là âu phục). Á xúc (chú), ván (bộ ngựa, bộ ván), Trếu (lạ ùng, kỳ cục). Bối(ăn trộm dưới ghe) và còn rất nhiều những từ ngữ khác mà ngày nay không còn lưu truyền trong dân gian.
Năm 1914, chợ Sài Gòn Mới nay được đổi tên thành chợ Bến Thành khánh thành sau hai năm xây dựng chưa được thịnh vượng và rầm rộ như ngày nay bởi có khi chợ được cất quá lớn và còn xa lạ với sự xắp xếp hàng bán. Thí dụ: Trước kia, hàng ăn, hàng vải (còn gọi là Chà và bán vải), thực phẩm, cây trái xen kẽ vào nhau. Nay, sự xắp xếp hàng quán có vẻ ngăn nắp hơn. Phía trong chợ bày bán hoa quả, thức ăn, hàng quán, bên ngoài chợ có nhiều hàng bông hoa đủ loại. Phía bên hữu thì thấy bày viết liễn, thiệp, v.v…Liễn (Câu đối) viết theo kiểu “Rồng bay Phượng múa”, màu xanh đỏ. Người dân mua liễn về dán trong nhà vào ba ngày Tết.
Người Trung Hoa ăn Tết sớm, khoảng 28 là họ đã treo cờ Ngũ Hành, cờ Tam Giác của Đại Pháp. Đêm 30 và trọn ngày mồng một Tết, pháo nổ liên hồi, đó là phong tục mà người Annam trừ năm cũ và ăn mừng năm mới, gọi là “Bộc trúc nhứt thinh trừ cựu”. Mồng hai, pháo đốt thưa dần và mồng ba thì im bặt. Trong ba ngày Tết, mọi người đều vui vẻ, trẻ em được cha mẹ cho ăn cam, ăn hồng, đốt pháo, lãnh tiền lì xì, người lớn thì đi thăm họ hàng, chúc cho bà con cô bác, bạn bè vạn sự hạnh tường. Trong ba ngày Tết, người ta nấu thịt hầm dưa giá, thịt kho, cá kho, nem, bì, tỏi, ớt, kiệu, bánh tét, bánh chưng.
Qua mồng bốn Tết, các cụ già rủ nhau đi khám bệnh miễn phí. Ngoài đường chật cứng xe, nào là xe lửa Mỹ Tho, Biên Hòa, Chợ Lớn đều đông khách, kẻ lên người xuống không ngớt. Nhất là khách Trung Hoa, họ mặc y phục tốt, áo dài kiểu xưa hay áo dài châu xá, che dù đi cung hỉ. Trên những chuyến xe lửa Biên Hòa, Gò Vấp thường chạy qua những khu nhà có chưng lồng đèn giấy, cành dừa kết thành hoa, v.v… có nhà thì lại thấy từng đám người, chụm năm chụm ba ngồi chật vào nhau trên một bộ ván mà chơi đánh bài. Xe cộ trong ba ngày Tết vừa mắc gấp đôi vừa đông người. Có khi còn thiếu cả xe chở khách.
Ly Rượu Mừng: 70 năm một khúc Xuân ca, bài viết của Trần Hữu Ngư.
Ban hợp ca Thăng Long với nhạc phẩm bất hủ: Mưa Sài Gòn – Mưa Hà Nội và Ly Rượu Mừng mang đậm dấu ấn văn hóa, nhân văn và nhân bản của nhạc sĩ Phạm Đình Chương như đã in sâu vào tâm khảm và sống mãi trong lòng người Việt. Ra mắt công chúng vào mùa Xuân 1953, ban hợp ca Thăng Long trước 1975 gồm: Phạm Duy, Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Hoài Trung/Phạm Đình Viêm (người anh cùng cha khác mẹ của Phạm Đình Chương), Thái Hằng/Phạm Thị Quang Thái (vợ nhạc sĩ Phạm Duy, chị gái ruột của Phạm Đình Chương, thân mẫu ca sĩ Thái Hiền, Duy Quang, Thái Thảo), Khánh Ngọc (vợ cũ của Phạm Đình Chương) và Thái Thanh/Phạm Thị Băng Thanh (em gái út của gia đình, thân mẫu ca sĩ Ý Lan). Sau 1975 có thêm Mai Hương và Quỳnh Giao.

Hàng trên từ trái qua: Phạm Duy, Hoài Bắc, Hoài Trung.
Hàng dưới từ trái qua: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh.BAN HỢP CA THĂNG LONG

Quỳnh Giao và Mai Hương Sau năm 1975, nhạc phẩm Ly Rượu Mừng không được phép hát tại Việt Nam vì có liên quan đến “Lính” qua câu:
“…Chúc người binh sĩ lên đàng.
Chiến đấu công thành.
Sáng cuộc đời lành.
Mừng người vì nước quên thân mình…”
Nhưng đến năm 2016, khi xét qua lý lịch của nhạc phẩm thì nhạc sĩ Phạm Đình Chương sáng tác nhạc phẩm này năm 1953, trước ngày đình chiến 1954. Ly Rượu Mừng mang giai điệu Valse êm dịu, một bài ca chúc mừng năm mới, phác họa nên nét đẹp của mọi giới trong xã hội gồm sĩ, nông, công, thương, binh.
“…Ngày Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhâng ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó…”
Mừng Xuân mà không nghe tiếng nhạc, lời ca thì hẳn là một điều thiếu sót và thú vị nhất là hát theo cô ca sĩ hay bạn bè, cùng cất tiếng hát ca những bài nhạc ca ngợi mùa Xuân. Khắp nơi trên thế giới và bất cứ nơi nào có cộng đồng người Việt mà không nghe nhạc phẩm Ly Rượu Mừng. Tuy rằng nhạc phẩm Ly Rượu Mừng không khó hát, nhưng phải hát cho rõ lời, dứt tiếng thì mới hay…Phải công nhận cái biệt tài sáng tác nhạc phẩm này của Phạm Đình Chương, trong ấy, ông đã không quên nhắc đến mọi tầng lớp trong xã hội, qua lời nhạc, ông đã đem đến nụ cười nở trên môi mọi người.
“…Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương
Xây tổ ấm trên cành yêu đương
Nào cạn ly, mừng người nghệ sĩ
Tiếng thi ca nét chấm phá tô nên đời mới…”
Chúc Mẹ quê ngày đêm trông ngóng con trai trở về từ chiến trường, mang lại món quà Xuân tinh thần mà hằng đêm bà khấn nguyện.
“…Kìa nơi xa xa có bà mẹ già
Từ lâu trông con mắt vương lệ nhòa
Chúc bà một sớm quê hương
Bước con về hòa nỗi yêu thương…”
Và hay cùng nâng ly:
“…Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hòa…”
Thơ ca ngày Xuân trong văn học Việt, bài viết của Ban Biên Tập Giai Phẩm Xuân Quý Mão 2023.

Trong thưở ban đầu, người Việt chưa có chữ viết nên các thơ ca ngày Xuân không được ghi chép lại trong lịch sử văn học Việt, Tuy nhiên nếu căn cứ theo các văn hoa ghi khắc lại trên Trống Đồng mà các nhà khảo cổ đào được trong thời kỳ cận đại thì dân tộc Việt đã mừng lễ hội từ xa xưa, đi song song với những sinh hoạt có sự phụ họa của kèn, trống, v.v…Theo dòng lịch sử và trải qua nhiều năm tiến hóa, con người càng ngày càng văn minh, tiến bộ, chính vì vậy mà các sinh hoạt hội hè, lễ lạc được ghi chép lại theo từng thời kỳ.
Thời kỳ lập quốc:
Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái và tu chỉnh bời sử gia Ngô Sĩ Liên dưới thời vua Lê Thánh Tông (1442-1497) ghi lại trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư thì sự tích bánh dầy bánh chưng xuất hiện vào đời vua Hùng Vương thứ 6 (1712-1632 TCN) khi vua dẹp xong giặc Ân, ngài có ý định truyền ngôi lại cho các con, nhưng không biết phải truyền ngôi cho hoàng tử nào. Trong dịp đầu Xuân, vua cha họp các con lại và phán rằng: “Trong các con, hoàng tử nào tìm được lễ vật dâng lên ta mà có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi cho.”
Trong số các vị hoàng tử ấy thì người con trai thứ 18 của vua Hùng Vương là Tiết Liêu, tính tình hiền hậu, đạo đức, hiếu thảo. Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị thần đến bảo: “Này con, trong trời đất không có gì quý bằng gạo, con hãy lấy gạo nếp làm một chiếc bánh hình tròn tượng trưng cho Trời và một cái bánh hình vuông tượng trưng cho Đất. Hay bọc lá bên ngoài, đặt nhân trong ruột bánh để làm hình tượng cho Cha Mẹ sinh thành.”
Đến ngày hẹn, Tiết Liêu đem lễ vật của mình dâng lên cho vua Hùng Vương, ngài lấy làm lạ, nhưng Tiết Liêu đã mau nắm kể cho vua cha nghe về giấc mộng của mình và ý nghĩa của sự tích bánh dầy và bánh chưng. Vua Hùng Vương nếm bánh và khen ngon, có ý nghĩa nên ngài đã truyên ngôi cho Tiết Liêu. Và từ đó người Việt có tục lệ gói bánh chưng để cúng tổ tiên trong những ngày đầu Xuân. Trong văn chương Việt Nam cũng có những câu ca dao và được truyền bá trong dân gian như:
Lạt này gói bánh chưng xanh
Cho mai lấy trúc cho anh lấy nàng
Bánh chưng xanh bên dưa hấu đỏ
Cành mai vàng ben nhánh đào tươi.
Thời kỳ 1000 Bắc thuộc (179 TCN – 905):
Trong giai đoạn này, giới thống trị phương Bắc dùng mọi nỗ lực để đồng hóa người Lạc Việt, nhưng truyền thống văn hóa như lễ hội, bánh chưng ngày Tết vẫn đứng vững.
Thời nhà Đinh – nhà Lê (968 – 980 & 980 – 1009):
Là giai đoạn đầu của thời kỳ tự chủ nhưng sách sử không ghi chép lại nhiều những phong tục Tết, có lẽ vì thời gian trị vì của hai vị vua này quá ngắn. Trong thời gian này người Việt cũng chưa có chữ quốc ngữ và vẫn phài dùng chữ Hán.
Thời Lý – Trần (1009- 1225 & 1226 – 1400):
Trong thời kỳ này, nước Việt trở thành một quốc gia độc lập và trên đà phát triển về mọi lãnh vực nhất là văn hóa. Một loại chữ viết gọi là chữ Môm được các nhà trí thức sáng tạo cho riêng người dân Việt. Chính vì thế mà các quá trình diễn tiến trong xã hội được ghi chép rõ ràng trong lịch sử. Qua các tư liệu lịch sử, lễ nghi truyền thống văn hóa của dân tộc được coi là trọng. Trong triều đình có tổ chức nghiêm trang về việc đón Tết theo quy luật của cung đình. Thiền sư Mãn Giác dưới thời Lý đã để lại bài thơ bất hủ, “Cáo Tật Thị Chúng”.
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị Xuan tàn hoa lạc tận
Dình Tiền tạc dạ nhất chi mai
Dịch
(Xuân đi trăn hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua – sân trước – một cành mai.)
Vua Trần Nhân Tông cũng có rất nhiều bài thơ ca tụng mùa Xuân, trong đó có bài “Buổi sớm mùa Xuân”.
Ngủ dậy tung song cửa
Nòa hay Xuân đã sang
Một đôi bươm bướm trắng
Gặp hoa, cánh vội vàng.
Ngoài ra, Vua Trần Nhân Tông còn sáng tác những vần thơ rất thoát tục như:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Dói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Dối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.
Thời Hậu Lê:
Sau 20 năm văn hóa của dân tộc Việt bị hủy diệt bởi chính sách đồng hóa của nhà Minh phương Bắc. Vua Lê Thánh Tông và Nguyễn Trãi là hai nhà thơ nổi tiếng trong giai đoạn này. Về thơ Xuân, Nguyễn Trãi có bài thơ sau.
Có Xuân đầu bếp xanh như khói
Thêm lại mưa Xuân trời nước đầy
Đường nội vắng teo hành khách ít
Thuyền côi gác bãi ngủ thâu đêm.
Thời vua Lê – Chúa Trịnh (1545 – 1787):
Trong giai đoạn này, người nắm quyền hành trong nước là chúa Trịnh và thế tử; tuy nhiên, trong những ngày Tết, vua Lê là người trụ trì các nghi thức quan trong trong triều đình. Trong thời kỳ này, chữ Nôm được phổ biến và xuất hiện nhiều nhà thơ Nôm như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, v.v…
Một năm Xuân đẹp chín mươi ngày
Vùn vụt thiều quang ngẫm xót thay
Cõi thế công danh chim cánh lướt
Sân nhàn thời tiết bóng oanh bay
(Nguyễn Du)
Ấy bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng rất xinh
Trăm vẻ như in tờ giấy trắng
Ngàn năm còn mãi cái Xuân xanh.
(Hồ Xuân Hương)
Triều Nguyễn (1802 – 1945).
Bởi chịu ảnh hưởng sâu đậm của nho giáo, nên việt tổ chức đón Tết trong cung đình trở nên trịnh trọng hơn. Trong dịp Tết, triều đình ra lệnh giảm thuế cho người dân tại những vùng có thiên tai, bão lụt, mất mùa. Ân xá cho tù nhân có hạnh kiểm tốt, cho phép đánh bài trong những ngày Tết vui Xuân.
Trong triều đại này có rất nhiều nhà thơ nổi tiếng như Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, v.v…
“…Gặp Xuân ta giữ Xuân chơi
Câu thơ chén rượu là nơi đi về
Hết Xuân, cạn chén, vui Xuân
Nghìn thu nét mực Xuân đề vẫn Xuân….”
(Tản Đà)
Năm ngoái năm kia đói muốn chết
Năm nay phong lưu đã ra phết!
Thóc mùa, thóc chiêm hãy còn nhiều
Tiền nợ, tiền công chưa trả hết
Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng
Ngoài ngõ bi bô rủ chung thịt
Ta ước gì được mãi như thế
Hễ hết Tết rồi, thời lại Tết!
(Nguyễn Khuyến)
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi bôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu…
…Bắt chước ai ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết ở trong đời.
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước,
Sao được cho ra cái giống người.”
(Tú Xương)
Thời Cận đại:
Đây là thời đại mà chữ quốc ngữ bắt đầu thịnh hành và phát triển, khởi đầu cho một nền văn học mới và cho ra đời nhiều tác phẩm văn chương cũng như văn vần. Những bài thơ Xuân xuất hiện bởi một số thi sĩ như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Vũ Đình Liêm, v.v…
“…Buổi đầu Xuân – đi giữa buổi đầu tiên
Như sáng nay cuộc đời vừa mới nở
Và ban đầu cây với gió cười duyên
Thiếu nữ bâng khuâng đợi một người
Chưa từng hẹn đến – giữa Xuân tươi
Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy
Thiếu nữ làm duyên, đứng mỉm cười.”
(Xuân Diệu)
“Đã thấy Xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm, cô em nhỏ
Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong….”
(Nguyễn Bính)
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám Xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi.
(Hàn Mạc Tử)
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, giấy đỏ
Bên phố dông người qua…
…Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”
(Vũ Đình Liêm)
Khánh Lan
-
Phạm Duy ra đi về cõi vĩnh hằng đã hơn 10 năm

(27/1/2013 – 27/1/2023) Tạp chí “Saigon Nhỏ” (Little Saigon, quận Cam, California) đã dành một ấn bản đặc biệt tưởng niệm 10 năm ngày mất của nhạc sĩ Phạm Duy có tựa đề “Bụi phù sa chờ ghé những bờ vai” với bài viết của nhiều tác giả: Khang Thụy, Duyên Anh, Phạm Xuân Đài, Phạm Văn Kỳ Thanh, Ngu Yên, Tuấn Khanh, Nguyễn Hoàng Linh…Trong dịp này, tôi được biết một số bạn hâm mộ nhạc Pham Duy ở Sài Gòn cũng tổ chức kỷ niệm 10 năm ngày mất của ông, qua đó, đặc biệt tôi được nghe lại giọng ca truyền cảm của ca sĩ Lệ Hồng qua bản “Hẹn Hò”, là một trong những bản nhạc của Phạm Duy mà tôi rất thích.
Tôi đã từng nhiều lần nghe Lệ Hồng hát ca khúc này trong một “video clip” với tiếng đàn của “guitarist Thiên An” mấy năm trước đây. “Hẹn Hò” cũng đã được nhiều ca sĩ nổi tiếng trong và ngoài nước trình bày như Thái Thanh, Ý Lan, Ngọc Hạ, Quang Dũng, Tuấn Ngọc, Họa Mi, Hương Lan, Thanh Thúy, Đức Tuấn, Thiên Tôn, Duy Quang, Khánh Ly, Lệ Thu, Thái Hiền, Thanh Hà…Trong số này, tôi thích nhất là giọng ca mượt mà của hai ca sĩ Ngọc Hạ và Họa Mi.
Dẫu vậy, cái lạ là, so với nhiều ca khúc khác của Phạm Duy, “Hẹn Hò” lại không nằm trong số những ca khúc phổ biến nhất của ông đối với công chúng cũng như đối với những nhà văn hay nhà nghiên cứu về nhạc Phạm Duy. Đọc qua hàng chục bài viết về Phạm Duy, rất ít tác giả đề cập đến ca khúc này. Thực tình, từ hồi còn nhỏ, võ vẽ tập đàn tập hát, tôi cũng không mấy khi “đụng” đến nó, có lẽ là vì mấy lý do sau: – lời ca kể một chuyện tình yêu tuyệt vọng, nhưng mơ mơ hồ hồ với khá nhiều hình ảnh ẩn dụ, không mấy gần gũi với mọi người, chỉ trừ hai chữ “mùa Ngâu”, ám chỉ một chuyện cổ tích mà bất cứ trẻ em nào cũng biết.
– nhạc điệu lê thê, trầm đều, ít kịch tính và lời ca cũng thế, lê thê, mỗi câu nhạc dài đến…12 chữ. Đây là một bản nhạc không… khó hát, nhưng hát…khó hay. Tôi thích đọc lời ca, nhưng không mấy khi hát, dù chỉ hát cho mỗi một mình nghe.
Nhắc lại việc sáng tác “Hẹn Hò”, Phạm Duy cũng chỉ nói qua loa trong hồi ký của ông. Ông cho biết, bản nhạc này chịu ảnh hưởng của dân ca, “được xây dựng trên giai điệu ngũ cung, kể lể một câu chuyện tình thảm thiết, giống như chuyện Ngưu Lang Chức Nữ.” (Hồi ký Phạm Duy, chương 3).
Giai điệu ngũ cung, hèn gì! Tôi chẳng rành gì về nhạc lý, nhưng khi nghe ông nói “ngũ cung”, tôi xem lại, mới hay toàn bản nhạc chỉ xoay lui xoay tới trong có năm nốt nhạc: Đô, Rê, Fa, Sol, La. Đã thế, chỉ trừ đoạn điệp khúc có hơi khác đôi chút, còn tất cả những câu 12 chữ, thì 5 chữ ở giữa câu đều cùng một nốt, chẳng hạn:
(Một người ngồi) bên kia sông im nghe (5 nốt sol)…
(Trời thì mưa) rơi mưa rơi không ngưng (5 nốt rê)…
Rõ ràng tác giả có dụng ý làm cho bài hát trở nên lê thê, phù hợp với câu “chuyện tình thảm thiết” mà ông “kể lể”. Mà thảm thiết thật! Trong truyện cổ, Ngưu Lang và Chức Nữ chỉ bị chia cách, nhưng rồi được gặp lại nhau hàng năm, do đó, những giọt nước mắt “mùa Ngâu”, dù sầu khổ, nhưng chỉ là nước mắt tạm biệt. “Hẹn Hò” của Phạm Duy, ngược lại, là vĩnh biệt. Chúng ta hãy theo dõi lại diễn tiến câu chuyện tình bi thảm này.
Hai người yêu nhau hẹn hò ở một địa điểm nào đó – bến đò hay một nơi vắng vẻ chẳng hạn – của giòng sông. Vào mùa nước cạn, có lẽ họ có thể qua lại dễ dàng để gặp nhau. Nhưng rủi thay, khi đến chỗ hẹn thì gặp tiết tháng Bảy mưa Ngâu, trời mưa liên tục, dòng sông nước lớn, không cách gì “sang sông” được. Cả hai đành ngồi, mỗi người ở một ven sông, người thì “im nghe”, người thì “trông hoa trôi”, chờ cho đến khi “chóng tạnh mùa Ngâu”:
Một người ngồi bên kia sông im nghe nước chảy về đâu
Một người ngồi đây trông hoa trôi theo nước chảy phương nào
Trời thì mưa rơi mưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đau
Người thì hẹn nhau sang sông mong cho chóng tạnh mùa Ngâu
Theo lời kể thì có vẻ như cả hai không chọn đúng thời điểm hẹn hò. Thực ra, đây là một cuộc tình vốn trắc trở ngay từ đầu, chắc chắn là do hoàn cảnh gia đình hai bên “cách một biển sâu”, kiểu “Em ngồi trong song cửa/Anh đứng dựa tường hoa/Nhìn nhau mà lệ ứa/ Mỗi ngày một cách xa” (thơ Lưu Trọng Lư), nên cho dù không có mùa Ngâu chăng nữa, họ cũng không thế nào chung sống với nhau được. Họ hẹn gặp nhau chẳng qua để làm trọn một lời “hứa vui về sau” của cái “thuở ban đầu” lưu luyến ấy, vì biết là họ “cách biệt dài lâu”:
Cuộc đời làm cho đôi bên yêu nhau cách một biển sâu
Hẹn hò tàn thu sang xuân bên nhau biết thuở ban đầu
Dù tình không nguôi đôi ta xin cho hứa vui về sau
Trời còn làm cho mưa rơi mưa rơi cách biệt dài lâu.
Hai người ngồi hai bên bờ sông nhìn giòng nước “không màu”, cứ vô tình trôi đi ngày này qua tháng khác, chẳng thể nào hiểu được cõi lòng tan nát của hai kẻ yêu nhau ngồi đợi chờ trong tuyệt vọng:
Nước vẫn trôi mau/ mắt vẫn hoen sầu
Đành để hồn theo nước trôi không màu
Cuối cùng, dù không trao đổi được với nhau bằng lời, nhưng cả hai đều hiểu từ trong trái tim của nhau rằng chỉ còn một cách để họ có thể “gần nhau” là “sông nước”:
Số kiếp hay sao/ không cho bắc cầu
Thì xin sông nước sẽ cho gần nhau.
Nghĩa là sao? Nghĩa là, họ quyết định chọn một giải pháp đau lòng: cùng nhau quyên sinh. Thế là bi kịch bắt đầu. Ở bên này sông:
Một người bèn ra ven sông buông theo nước cuồn cuộn mau
Một khoảnh khắc trước đó, ở bên kia sông:
Một người chìm sâu trong khi mưa Ngâu bỗng ngừng ngang đầu.
Cả hai, kẻ trước người sau, cùng nhảy xuống sông tự tử, một kẻ thì đã “chìm sâu”, một kẻ thì “buông theo nước cuồn cuộn mau”. Oái oăm thay, chính vào lúc đó, “mưa Ngâu” đã ngừng. Nhưng muộn mất rồi, hai thân xác đã theo dòng nước trôi về một nơi vô định:
Cuộc tình thương đau êm êm trôi theo nước xuôi về đâu.
Cuộc “hẹn hò” cụ thể ở trên bến sông trở thành một cuộc hẹn hò huyền ảo ở cõi vĩnh hằng, cõi “thiên thu”:
Hẹn hò gặp nhau thiên thu…
Đó là nơi không còn ai có thể chia cắt được mối tình da diết của họ. Phạm Duy kết thúc câu chuyện tình bi thảm bằng niềm hy vọng rằng người đời sau sẽ lấy đó làm gương: đừng bao giờ tìm cách cản trở mối tình của đôi lứa yêu nhau:
…cho phong phú đời người sau
Cuộc tình “Hẹn Hò”, như thế, trông có vẻ còn “bi kịch” hơn cả cuộc tình Romeo-Juliet của Shakespeare: trong lúc Romeo và Juliet chọn cái chết vì do hiểu lầm, thì đôi trai gái trong “Hẹn Hò” chọn cái chết vì do quá hiểu lòng nhau. Cũng là một cách nói cho vui thôi. Bi kịch là bi kịch!
Thời tôi còn nhỏ, khoảng thập niên 1960, mỗi khi cầm đến bản nhạc này là tôi nghĩ đến những vụ tự tử vì tình thỉnh thoảng lại xảy ra ở Huế. Phần nhiều trong số đó là các cô gái lứa tuổi mười tám, hai mươi nhảy tự tử ở sông Hương, trên cầu Bạch Hổ, gần cồn Dã Viên – nơi nước sông thì sâu mà đoạn cầu này lại rất vắng vẻ – vì gia đình hai bên không tán thành mối tình của họ, hoặc do không “môn đăng hộ đối” hoặc do những nguyên nhân riêng biệt khác, “làm cho đôi bên yêu nhau cách một biển sâu.” Cũng có vài vụ tự tử gây chấn động toàn thành phố như vụ một cặp trai gái uống thuốc tự tử chết cả hai ở lăng Thiệu Trị (hay Minh Mạng?) hay vụ một cặp khác cũng uống thuốc tự tử, chàng trai thì chết nhưng cô gái được cứu sống, ở vùng Gia Hội. Cuộc tình của hai cặp này rõ ràng là hao hao cuộc tình trong “Hẹn hò”.
Thực ra, theo tôi, cảm hứng để Phạm Duy sáng tác ca khúc này có lẽ không xuất phát từ một câu chuyện có thực như thế, mà là từ sự đào sâu ý niệm về tình yêu của ông: một tình yêu tuyệt đối. Một mặt, lời ca tuy chứa đựng nhiều chi tiết hiện thực, nhưng mơ mơ hồ hồ, có tính cách tượng trưng, bóng bẩy hơn là “tả thực” như ta có thể tìm thấy trong nhiều ca khúc hiện thực khác của ông. Mặt khác, cũng trong hồi ký, khi đề cập đến “Hẹn Hò”, ông có nói thêm, “Đây là lúc tôi hay nói tới chuyện thiên thu. Phải sống bon chen với thực tại, thỉnh thoảng tôi muốn sống với viễn mơ.”
Trên đây, tôi đã phân tích “Hẹn Hò” dựa theo nội dung văn bản: một cuộc tình bi thảm. Tuy nhiên, có một chi tiết khiến tôi nghĩ đến một cách giải thích khác, đó là, trong ấn bản đầu tiên (1954), vào cuối bản nhạc, tác giả có ghi: Saigon 1954 (thời chia đôi đất nước). Ông viết trong hồi ký: “Vào thời điểm này không phải chỉ có tôi viết về đất nước mến yêu hay soạn những bài hát nhớ quê hương khi đang sống trên quê hương. Cuộc di cư năm 54 của một triệu người đã khiến Vũ Thành soạn bài Giấc Mơ Hồi Hương, Hoàng Dương viết bài Hướng Về Hà Nội.” Ngoài ra, một số ca khúc khác vào giai đoạn này cũng đề cập đến chuyện chia đôi đất nước như “Tình cố đô”, “Chuyến đò vĩ tuyến” (Lam Phương), “Về đây anh” (Nguyễn Hiền & Nhật Bằng)…Cho nên, dù ông nói bản “Hẹn Hò” là để “xưng tụng ái tình”, nhưng rõ ràng Phạm Duy sáng tác ca khúc này trong nỗi ám ảnh – có thể là vô thức – của biến cố chia cắt đất nước mà hậu quả nặng nề của nó đang tác động trên mọi mặt của đời sống cá nhân cũng như xã hội lúc bấy giờ. Con sông trong ca khúc có phần chắc là hình ảnh của sông Bến Hải chia đôi đất nước; hai người ngồi hai bên sông có phần chắc là hình ảnh của người Việt ở hai bên bờ sông. Đọc kỹ lại từng câu, từng ý, và cả từng nhóm chữ, ta sẽ thấy hiện ra rành rành nỗi đau chia cắt: “đôi bên yêu nhau cách một biển sâu”, “cách biệt dài lâu”, “biết thuở ban đầu”, “bắc cầu”, “sông nước gần nhau”, vân vân.
Tuy nhiên, đất nước cũng như con người có lúc thăng lúc trầm, có lúc nhiễu nhương nhưng cũng có lúc thái bình an lạc. Trong cái buồn thảm, có chứa đựng niềm lạc quan về tương lai:
Hẹn hò gặp nhau thiên thu cho phong phú đời người sau.
Dù hiểu theo cách nào, tôi cho đó là ý nghĩa tích cực mà Phạm Duy muốn gửi cho chúng ta qua ca khúc chứa đầy chi tiết tiêu cực này.
TDN, (2/2023).
Tiểu sử Nhà văn Trần Doãn Nho
– Tên thật Trần Hữu Thục.
– Sinh năm 1945 ở Huế.
– Bút hiệu Trần Doãn Nho và Thế Quân.
– Học ở Huế và Sài Gòn. Tốt nghiệp đại học, ngành Triết.
– Trước 1975, viết văn viết báo, đi lính, dạy học. Cộng tác với các tạp chí văn học Văn, Vấn Đề, Khởi Hành, Bách Khoa, Tân Văn, Đối Diện.
– Sau tháng 4/1975, ở tù cho đến năm 1981.
– Năm 1993: định cư tại Hoa Kỳ.
– Hiện cùng gia đình sinh sống tại Worcester, bang Massachusetts, làm việc cho Sở Giáo Dục Thành Phố.
– Cộng tác với các tạp chí văn học và website hải ngoại: Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Việt, Thế Kỷ 21, Phố Văn, Gió Văn, Talawas, Gió O.
(Nguồn: vanngheboston.wordpress.com)
————————————————————————————–
Hợp Âm bài hát Hẹn Hò Sáng tác Phạm Duy, năm: 1954
-
Hiện tượng Cung Tiến trong tân nhạc Việt

NS. Cung Tiến Trong lịch sử tân nhạc Việt, dường như không có một nhạc sĩ nào nổi tiếng ngay với sáng tác đầu tay, ở tuổi niên thiếu, khi chỉ mới 14, 15 tuổi, như trường hợp Cung Tiến. Có dễ chính vì thế mà, có người không ngần ngại gọi hiện tượng Cung Tiến là thiên tài của bộ môn nghệ thuật này.
Nói vậy, không có nghĩa chúng ta không có nhiều nhạc sĩ (cũng như thi sĩ), bước vào sân chơi VHNT rất sớm. Thậm chí có người chỉ ở độ tuổi lên 9, lên 10… Nhưng để được đám đông biết đến hay, được những người cùng giới công nhận thì, chí ít cũng phải nhiều năm sau. Ở đây, chúng ta cũng không nên loại trừ trường hợp, nếu có những nhạc sĩ (hay thi sĩ) thành danh chỉ với một bài duy nhất thì, cũng có những người viết nhạc (làm thơ) trọn đời vẫn không được dư luận biết tới!
Đề cập tới những trường hợp kém may mắn này, sinh thời, đôi lần nhà văn Mai Thảo cho rằng, không phải tất cả những người bị định mệnh quay lưng đó, là những người không có khả năng hoặc, không có tài mà, chỉ vì họ không có “duyên” với văn học, nghệ thuật.
“Nếu mình chẳng may vô duyên với sự nổi tiếng thì chỉ có nước… chịu chết thôi. Chẳng thể làm gì được…” Tác giả “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền” nhấn mạnh.
Như đã nói, nhạc Cung Tiến là một hiện tượng ngoại lệ. Phần tiểu sử của ông, trên trang mạng Wikipedia-Mở có thể tóm tắt như sau:
Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật Cung Thúc Tiến, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1938, tại Hà Nội, là một nhạc sĩ được dư luận liệt kê vào hàng ngũ những nhạc sĩ theo dòng nhạc Tiền chiến. Ông được xem như nhạc sĩ trẻ nhất có 2 sáng tác sớm được phổ biến rộng rãi là “Thu vàng” và “Hoài cảm”. Cả hai bài này được họ Cung viết năm 14, 15 tuổi. Mặc dù xem âm nhạc như một thú tiêu khiển nhưng Cung Tiến đã để lại những nhạc phẩm rất giá trị như “Hương xưa”, “Hoài cảm”.
Trang mạng Wikipedia-Mở cũng cho biết, thời trung học, Cung Tiến đã học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng là Chung Quân và Thẩm Oánh.
Trong khoảng thời gian 1957 tới 1963, Cung Tiến du học tại Úc, ngành kinh tế. Nhân cơ hội này, ông ghi tên tham dự các khóa về dương cầm, đối điểm, và phối cụ tại Âm nhạc viện Sydney.
Trong những năm từ 1970 tới 1973, khi Cung Tiến nhận được một học bổng Cao học về Kinh tế, của British Council để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại đại học Cambridge, Anh quốc; ông cũng đã ghi tên tham dự các lớp về nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại…
Vẫn theo trang mạng kể trên thì, về ca khúc, Cung Tiến sáng tác rất ít và phần lớn các tác phẩm của ông đều viết sau 1954, trừ bài “Thu vàng”, “Hoài cảm” ông viết năm 1953 khi mới 14-15 tuổi. Tuy nhiên, các ca khúc này lại thường được xếp vào dòng nhạc tiền chiến bởi chúng có cùng phong cách trữ tình lãng mạn…
“Ra hải ngoại Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh phụ ngâm năm 1987, soạn cho 21 nhạc khí, trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3 năm 1988, tại San Jose, California, với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988…” Trang mạng kể trên viết. (1)
Theo dõi sinh hoạt sáng tác của Cung Tiến, kể từ sau biến cố 30 tháng 4-1975, ở hải ngoại, người ta được biết, ông dành nhiều thì giờ hơn cho việc sáng tác – – Từ phổ nhạc thơ, cho tới những công trình nghiên cứu dân ca Việt, nghiên cứu hình thái đặc thù của truyền thống Quan Họ Bắc Ninh v.v…
Bên cạnh lãnh vực âm nhạc, Cung Tiến cũng đóng góp nhiều cho lãnh vực văn học thuộc giai đoạn 20 năm Văn học, Nghệ thuật miền Nam. Với bút hiệu Thạch Chương, ông từng cộng tác với các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm, và Văn. Hai trong số những bản dịch thơ văn của Cung Tiến dưới bút hiệu Thạch Chương, được nhiều người biết tới thời trước 1975 ở Saigon là “Hồi ký viết dưới hầm” của Dostoievsky, và cuốn “Một ngày trong đời Ivan Denisovitch” của Solzhenitsyn.
Cách đây nhiều năm, khi được một ký giả hỏi về ca khúc “Thu vàng” viết từ thời niên thiếu, nhạc sĩ Cung Tiến đã tiết lộ, đại ý, sự thực, đó chỉ là một bài tập trong thời gian ông mới bước vào khu rừng nhạc thuật mà thôi. Tiết lộ này của họ Cung, từng gây nên nhiều nguồn dư luận thuận/ nghịch. Nhưng không vì thế mà “Thu vàng” có thể ra khỏi ký ức rộn rã những bước chân tung tăng, nhảy nhót thương yêu của rất nhiều thế hệ. Đó là những bước chân tung tăng đuổi theo không chỉ những chiếc lá vàng rơi mà, còn đuổi theo cả một mùa thu thơ dại trên đường phố nữa:
“Chiều hôm qua lang thang trên đường
Hoàng hôn xuống, chiều thắm muôn hương
chiều hôm qua mình tôi bâng khuâng
Có mùa thu về, tơ vàng vương vương
“Một mình đi lang thang trên đường
Buồn hiu hắt và nhớ bâng khuâng
Lòng xa xôi và sầu mênh mông.
Có nghe lá vàng não nề rơi không
“Mùa thu vàng tới là mùa lá vàng rơi
Và lá vàng rơi, khi tình thu vừa khơi
Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi
Nghe chừng đâu đây màu tê tái
“Chiều hôm qua lang thang trên đường
Nhớ nhớ, buồn buồn với chán chường
Chiều hôm nay trời nhiều mây vương
Có mùa Thu Vàng bao nhiêu là hương. (2)
Mặc dù trong ca từ “Thu vàng” của Cung Tiến, có câu “Nhớ nhớ, buồn buồn với chán chường”, nhưng toàn cảnh vẫn là một trong rất ít những ca khúc viết về mùa thu không bi lụy hóa, hoặc sầu thảm hóa như nội dung của hầu hết những ca khúc viết về mùa thu, đã thành khuôn sáo từ hơn nửa thế kỷ trước. Thí dụ ca khúc “Lá đổ muôn chiều” của Đoàn Chuẩn-Từ Linh:
“… Thu đi cho lá vàng bay,
lá rơi cho đám cưới về
Ngày mai, người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa
tình duyên đành dứt
Có những đêm về sáng
đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi
đã vội chi men rượu nhấp đôi môi
mà phung phí đời em không tiếc nhớ
“Lá đổ muôn chiều ôi lá úa,
phải chăng là nước mắt người đi
Em ơi đừng dối lòng
dù sao chăng nữa không nhớ đến tình đôi ta?
“Thôi thế từ đây anh cố đành quên rằng có người
Cầm bằng như không biết mà thôi
Lá thu còn lại đôi ba cánh
đành lòng cho nước cuốn hoa trôi…” (3)
Khuôn sáo hay ước lệ này, theo tôi nó vẫn đeo đẳng, xuất hiện trong rất nhiều ca khúc viết về mùa thu của những nhạc sĩ ở thế hệ sau! Làm như, nếu mùa thu trong ca khúc (cũng như thơ) của họ, không bi lụy, không tan tác, đổ vỡ, chia ly thì nó sẽ là một… mùa nào khác, chứ không phải là mùa thu vậy!?!

Hồn Tính Đông Phương Trong Ca Khúc Cung Tiến
Nhiều người cùng giới với nhạc sĩ Cung Tiến cho rằng đa số ca khúc của họ Cung được viết trên căn bản bán cổ điển tây phương, nên giai điệu rất sang trọng. Theo tôi, chúng ta có không ít nhạc sĩ xây dựng sáng tác của mình trên khung, nền bán cổ điển tây phương. Nhưng rất ít người cho phần ca từ của họ nhiều hồn tính đông phương như Cung Tiến.
Ngay ca khúc thứ hai, họ Cung viết khi còn ở độ tuổi 15 là ca khúc “Hoài cảm”, từ dòng chữ đầu tiên tới kết thúc, tính hoài cổ đã lồng lộng trong từng con chữ của ông. Mặc dù nội dung toàn thể ca từ, cho thấy tấm lòng thiết tha, trông ngóng về một tình yêu, vắng mặt. Nhưng, từ một góc độ nào khác, hay ở mặt bên kia, phía khuất lấp của tấm lòng thiết tha, trông ngóng một tình yêu, không nhất thiết phải là một người nữ (đối tượng cụ thể). Nó cũng có thể là một thứ tình yêu hướng về thiên cổ. Tựa những tiếng gõ thiết tha lên cánh cửa trăm năm, của một tâm hồn sớm cảm nhận được sự lạc lõng, bơ vơ của mình, trước hiện cảnh:
“Chiều buồn len lén tâm-tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa
“Quạnh hiu về thấm không gian
âm thầm như lấn vào hồn
Buổi chiều chợt nhớ cố nhân
Sương buồn lắng qua hoàng hôn
“Lòng cuồng điên vì nhớ
ôi đâu người, đâu ân tình cũ?
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ, thấy nhau lần nữa
“Một mùa thu xa vắng
Như mơ hồ về trong đêm tối
Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa?
“Chờ nhau hoài cố nhân ơi!
Sương buồn che kín nguồn đời
Hẹn nhau một kiếp xa xôi,
nhớ nhau muôn đời mà thôi!” (3)
Tôi muốn gọi ca từ của “Hoài cảm” của người nhạc sĩ tài hoa sớm phát tiết này là “thi sĩ của hoài niệm quá khứ”. Cụ thể khi ông dùng những chữ như “thấm” và “lấn” trong “Quạnh hiu về thấm không gian/ âm thầm như lấn vào hồn…” Hoặc động tự “che” trong câu “Sương buồn che kín nguồn đời…”
Về phương diện tu từ học (rhetoric) thì những con chữ kể trên của họ Cung, không chỉ được đặt đúng vị trí mà, nó còn cụ thể hóa những túc từ trừu tượng đứng ngay sau nó nữa. Cũng thế, với “Hương xưa”, tính chất “vạn cổ sầu” của tác giả còn rưng rưng nỗi niềm lạc loài, mất dấu hơn nữa. Tôi không biết tác giả sáng tác ca khúc này, bao lâu sau “Hoài cảm”? Nhưng trong cảm nhận của riêng tôi, nó vẫn những tiếng gõ thiết tha lên cánh cửa trăm năm hoặc, như những ngọn lửa khêu thức niềm bơ vơ “thất thổ”:
“Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao
Còn đó tiếng khung quay tơ,
Còn đó con diều vật vờ
Còn đó, nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa
“Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi
Buồn sớm đưa chân cuộc đời
Lời Đường Thi nghe vẫn rền trong sương mưa
Dù có bao giờ lắng men đợi chờ
Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô
Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ
Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó
“Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ
Dù đã quên lời hẹn hò
Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha
Chờ đến bao giờ tái sinh cho người
“Đời lập từ những đêm hoang sơ
Thanh bình như bóng trưa đơn sơ
Nay đời tan biến trong hư vô,
chết đầy từng mồ oán thù.
máu xương tơi bời nhiều mùa thu… (4)
Ở phân khúc 6, để làm nổi bật thời “hoàng kim” – thanh bình thuở xa xưa, tác giả nhắc tới cuộc kháng chiến tháng mùa thu 1945 của đất nước, từ đó dẫn tới những thảm kịch thương đau, nhấn chìm sự sống của cả một dân tộc, với câu “…Nay đời tan biến trong hư vô / chết đầy từng mồ oán thù / máu xương tơi bời nhiều mùa thu…”
Nhưng, tôi vẫn thấy được tố chất thi sĩ, với nhiều câu thơ đẹp trong ca khúc. Như những câu: “Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao…” Hoặc: “Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi / Buồn sớm đưa chân cuộc đời…” Hay (lập lại): “Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ/ Dù đã quên lời hẹn hò…” Tôi cho đó là những câu thơ mà, không ít người làm thơ mơ ước viết được một lần trong đời mình. (5)
Tóm lại, những ca khúc của Cung Tiến nằm trong khoảng thời gian 20 năm VHNT miền Nam, thủy chung, vẫn là nỗ lực tái hiện không gian nghìn năm trước, cho đời sau cơ hội sống lại, dù mơ hồ, sương khói…
Tuy nhiên, Cung Tiến không chỉ đem được vào cõi-giới tân nhạc của ông hồn tính đông phương, như một con bài chủ, một dấu ấn của riêng ông mà, họ Cung còn là nhạc sĩ đầu tiên(?) phổ nhạc thơ tự do.
Bằng vào tình thân giữa ông và cố thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, Cung Tiến đã rất thành công khi soạn thành ca khúc bài thơ “Lệ đá xanh” của tác giả “Tôi không còn cô độc”: “Đôi khi anh muốn tin, đôi khi anh muốn tin ngoài đời chỉ còn trời sao đáng kể, mà bên vì sao lấp lánh đôi mắt em, và đôi mắt em lấp lánh không thôi đến ngày cuối…/ Đôi khi anh muốn tin, đôi khi anh muốn tin, ngoài đời thơm thơm, cỏ hoa ươm hương dịu hiền/ mà bên trái cây ngọt ngào đôi môi em, ngọt ngào đôi môi em, ngọt ngào đôi môi em…/ Nguồn sữa mật khởi đầu/ Đôi khi anh muốn tin ngoài đời cỏ hoa tinh khiết, mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em, vòng ân ái, vòng âu yếm/ Đôi khi anh muốn tin, đôi khi anh muốn tin…/ Ôi những người, ôi những
người khóc lẻ loi một mình/ Đau đớn lệ, đau đớn lệ là những viên đá xanh/ Tim rũ rượi…” (6), (7)
Đề cập tới lãnh vực thơ phổ nhạc, những người yêu cõi-giới âm nhạc Cung Tiến, hẳn sẽ không quên ca khúc “Thuở làm thơ yêu em”, thơ Trần Dạ Từ hay; “Vết chim bay” thơ Phạm Thiên Thư… Tất cả những bài thơ này, đều được ông soạn thành ca khúc trước biến cố 30 tháng 4-1975 ở Saigòn.
Du Tử Lê
(Garden Grove, Sept. 2014)
_________________________________________________
Chú thích:
(1) Do MTQGTNGPVN (Hoàng Cơ Minh) chủ xướng.
(2) (3) Nđd.
(3), (4), (6) Nđd.
(5) Tôi không đề cập tới ca khúc “Nguyệt cầm” của họ Cung, mặc dù sáng tác này vẫn nằm trong mạch chảy “… nỗ lực tái hiện không gian nghìn năm trước” vì ca từ của bài này, vốn là thơ của nhà thơ Xuân Diệu.
(7) Tưởng cũng nên nói thêm, sau Cung Tiến, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương cũng đã cho thấy tài hoa của ông, khi phổ nhạc 2 bài thơ tự do cũng của Thanh Tâm Tuyền. Đó là các bài “Dạ tâm khúc” và “Bài ngợi ca tình yêu”. Riêng cố nhạc sĩ Phạm Duy, đã bước thêm một bước nữa, khi phổ nhạc bài thơ xuôi “Khi tôi về”, của nhà thơ Kim Tuấn.
Du Tử Lê

Du Tử Lê (1942-2019) tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam, miền Bắc Việt Nam. Sau Hiệp định Genève, 1954, ông di cư vào Nam cùng với gia đình. Đầu tiên ông định cư ở Hội An, Quảng Nam, sau đó là Đà Nẵng. Đến năm 1956, ông vào Sài Gòn và theo học trường Trần Lực, Chu Văn An, sau cùng là Đại học Văn Khoa. Ông làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Sài Gòn, Du Tử Lê bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1958 cho bài Bến tâm hồn, đăng trên tạp chí Mai.
Du Tử Lê từng là sĩ quan thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cựu phóng viên chiến trường, thư ký toà soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền phong (một tạp chí của Quân lực Việt
(theo tin website https://www.thivien.net)
——————————————————————————-
Hợp Âm bài hát Hoài Cảm, Sáng tác: Cung Tiến :
-
Em Tôi / Phiên Gác Đêm Xuân
-
Dạ Khúc Yêu Em (Đêm Khuya Nhớ Người Yêu).
Tình Yêu Cho Em hay Người Yêu Trong Nỗi Nhớ là yếu tố chính trong bài tình ca Dạ Khúc Yêu Em. Yêu Em để rồi nhớ nhung, như đêm khuya là lúc nỗi nhớ người yêu dâng tràn, là lúc để ta khiến tâm hồn mình lãng mạn hơn. Nhìn đồng hồ đêm khuya lặng lẽ cảm xúc gọi tên ai đó… hình như thời gian và không gian quá tĩnh lặng chỉ có em trong tiềm thức. Thôi rồi người ở phương xa gọi hồn nhớ nhung qua màn đêm yên bình, bao cảm nghĩ miên man, thôi rồi người ở phương xa ăn cắp cả trái tim ta đi xa rồi, xa mãi. She really stole my heart. Rõ khổ.
Đêm khuya rồi… Chúc ai đó ngủ ngon. Màn đêm sâu thẳm, ánh đèn khuya mờ nhạt, len qua khung cửa nhỏ, Bon Rêve!… Sleep well!
Bây giờ xét đến từ ngữ “Dạ khúc” nhé…
Dạ khúc (夜曲) mang ý Nghĩa trong tiếng Trung Hoa là bài ca về đêm, 乐夜曲。
Dạ khúc, với nghĩa khúc nhạc đêm, là: loại nhạc nocturne. Dạ khúc. Sérénade, Dạ khúc ( do Phạm Duy chuyển ngữ). Sérénade la ca khúc bất hủ của nhạc sĩ thiên tài Franz Schubert sáng tác khi rất trẻ.. Franz Schubert chỉ sống một cuộc đời rất ngắn ngủi 31 năm…nhưng đã để lại cho đời một khối lượng kiệt tác đồ sộ ở nhiều thể loại. Và trung tâm của khối kiệt tác ấy, nổi bật nhất chính là bản Sérénade.
Một bài ca nổi danh khác là thể loại Dạ khúc khác của nhạc sĩ Enrico Torricelli (cũng do Phạm Duy chuyển ngữ là Chiều Tà). Dạ khúc nằm trong câu chuyện kể về âm nhạc và khi màn đêm buông xuống, hay đêm trăng trút xuống mà lâm tư đầy vơi, để em êm đềm trong bóng tối cho gối mộng nhớ nhung, cho em yên lành.
Thể loại Nocturne
Nocturne: Dạ khúc: (theo tiếng Ý notturno): thế kỷ 18, một tác phẩm dành cho một vài nhạc cụ thường gồm nhiều chương; hay một tiểu phẩm trữ tình nhỏ thường dành cho piano độc tấu do nhà soạn nhạc người Ái Nhỉ Lan (Ireland ) John Field sáng tạo ra vào đầu thế kỷ 19 và được Frederic Chopin kế thừa và đưa lên đỉnh cao âm nhạc. Cái tên Nocturne lần đầu xuất hiện vào thế kỷ 18 để chỉ một tác phẩm viết cho dàn nhạc thính phòng gồm nhiều chương, thường xuyên được trình tấu trong các bữa yến tiệc về đêm và chủ yếu lấy cảm hứng ban đêm hoặc gợi lên không khí của màn đêm. Tác phẩm nổi tiếng nhất là Notturno cho đàn dây và kèn horn giọng Rê trưởng K. 286 và Serenata Notturna, K. 239 của danh tài Wolfgang Amadeus Mozart trình tấu. Tuy nhiên Nocturne được dùng với ý nghĩa phổ thông hơn là để chỉ tác phẩm có 1 chương duy nhất, chủ yếu dành cho đàn piano độc tấu vào đầu thế kỷ 19. Người sáng tác nên những bản Nocturne đầu tiên theo khái niệm này là nhạc sĩ người Ái Nhỉ Lan John Field; Ông được coi là cha đẻ của Nocturne lãng mạn. Đặc điểm riêng biệt của những bản nocturne của Field là giai điệu có thể hát lên được (cantabile) và sử dụng nhiều hợp âm rải. Tuy nhiên nhân vật tiêu biểu cho thể loại này là nhà soạn nhạc vĩ đại người Ba Lan Frederic Chopin. Ông đã viết tất cả 21 nocturne và hầu hết đều là những bản nhạc tuyệt vời. Những nhạc sĩ sau này cũng viết nocturne có thể kể đến Gabriel Fauré, Alexander Scriabin và Erik Satie,… Ta còn bắt gặp nocturne như là một chương ở trong những tác phẩm lớn dành cho dàn nhạc. Ví dụ như nocturne trích trong Giấc mộng đêm hè A Midsummer Night’s Dream ( của Felix Mendelssohn), hay chương 1 trong Violin Concerto số 1 của Dmitri Shostakovich cũng có tên là nocturne. Nhạc sĩ Claude Debussy cũng có một tác phẩm tên là Nocturne gồm 3 chương viết cho dàn nhạc và hợp xướng nữ. Phần lớn những bài Dạ Khúc (Seranade) thường được viết trên nhịp 3/4 như Dạ Khúc của Franz Schubert, hay của Enrico Toselli.
Serenata hay Sérénade là một bản nhạc ngắn, nhẹ nhàng, tĩnh lặng, viết riêng cho một người chơi đàn nào đó. Serenata mang gốc từ chữ sereno, có nghĩa là tĩnh lặng. Về sau này, serenata thường là một bản nhạc của một chàng hát riêng cho một nàng, vào buổi chiều tối, chàng đứng ngay dưới lan căn phòng nàng (và nàng có thể ra cửa sổ nhìn xuống đường, hay trốn biệt trong phòng vì e thẹn), thường với chỉ một nhạc cụ giản dị như mandolin hay guitar. Vì vậy người ta thường nghĩ đến từ serenata như là một loại nhạc chiều lãng mạn, và tiếng Việt gọi là Dạ Khúc (khúc nhạc đêm).
Trong truyền thống nhạc cổ điển, có lẽ hai bản dạ khúc ngày nay chúng ta biết nhiều nhất là bản của Franz Schubert (1797-1828) và bản của Enrico Toselli (1883-1926).
Dạ Khúc
(Schubert)
Lời nhạc của anh cầu xin em
Cả đêm
Hãy vào khu rừng yên lặng
Em yêu, đến với anh!
Hàng cây thì thầm
Dưới ánh trăng
Đừng sợ em ơi
Chẳng ai thấy ta cả
Em có nghe tiếng sơn ca?
Ô, chúng van nài ta
Tiếng than ngọt ngào của chúng
Cầu xin em cho anh
Chúng hiểu nhung nhớ của anh
Chúng biết những hành hạ của tình yêu
Những nốt nhạc lóng lánh của chúng
Rung động mọi quả tim hiền dịu
Hãy để chúng rung động tim em
Em yêu dịu ngot của anh, hãy nghe anh cầu khẩn
Anh run rẩy đợi em
Hãy đến, mang cho anh hạnh phúc
(TĐH dịch từ Anh ngữ)
Serenade
(Schubert)
My songs quietly implore you
through the night;
down to the silent wood
my love, come to me!
The tree tops whisper
in the light of the moon;
Don’t be afraid, my love,
no-one will observe us.
Can you hear the nightingales?
Oh! They implore you,
their sweet lament
pleads with you on my behalf.
They understand the yearning I feel,
they know love’s torture,
with their silvery notes
they touch every soft heart.
Let them touch yours, too,
sweet love: hear my plea!
Trembling I await you,
come, bring me bliss!
Dạ khúc – Franz Schubert (lời Việt Phạm Duy)
Sérénade
(Enrico Toselli)
Đến đây, chiều đang xuống
Thời gian đẹp hơn
Đến đây, em thấm lạnh
Đêm đã trải ra như chiếc áo choàng
Đến đây, tất cả đều rất dịu dàng
Đầy hứa hẹn
Ta có thể thấy những vuốt ve
Của những lời yêu ái ta nghe khi qùy trên đất
Nụ cười trong đôi mắt to tròn của em
Hé lộ cho anh cả một góc trời
Anh phải bình tâm lại
Tim anh đang đập đến vỡ
Anh yêu em mãi mãi
Không sợ hối hận
Hạnh phúc cám dỗ đời đời
Với những đắm say điên dại
Những rung động thiết tha trong tim em dấu ái
Anh yêu em mãi mãi
Không sợ hối hận
Hạnh phúc cám dỗ đời đời
Với những đắm say điên dại
Những rung động thiết tha trong tim em dấu ái
Ngày đang chết
Thời gian quý hóa
Hãy say đắm trong tình yêu
Mãi mãi, mãi mãi
(TĐH dịch từ Pháp ngữ)
Serenade
(Enrico Toselli)
Viens, le soir descend
Et l’heure est charmeuse
Viens, toi si frileuse
La nuit déjà comme un manteau s’étend.
Viens, tout est si doux
Si plein de promesses
On sent la caresse
Des mots d’amour qu’on écoute à genoux.
Un sourire en tes grands yeux
Me révèle un coin des cieux
Reviens apaiser
Mon coeur battant à se briser
Je t’aime à jamais
Sans crainte des regrets
Que le bonheur berce infiniment
Par son fol enchantement
Le cher émoi de ton coeur aimant.
Je t’aime à jamais
Sans crainte des regrets
Que le bonheur berce infiniment
Par son fol enchantement
Le cher émoi de ton coeur aimant.
Le jour agonise
L’heure est exquise
Enivrons-nous d’amour
Toujours, toujours !
Những bản tinh ca Dạ Khúc của Nguyễn Văn Quỳ viết trên nhịp 4/4 và điệp khúc chuyển đổi qua nhịp 3/4 dồn dập, giai điệu dồn dập, tiết tấu nhanh, vui tươi và mang phong thái bohemian lãng tử, hay gypsy style.
Đêm về trên bến cô liêu mờ xóa chiều tà
Lan thầm xơ xác run nghe sương chìm băng giá
Hồn ai về rền tiếng than như chập chờn
Hòa tan cùng nhịp sóng nước reo mịt mùng vẳng xa
Còn với Dạ Khúc của nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca soạn nhạc theo nhịp 3/4, trên âm giai Do trưởng, uyển chuyển và nhẹ nhàng. Bài hát dạo đầu như một nỗi bâng khuâng sâu lắng: Thanh nhạc gợi cảm qua tiếng vĩ cầm réo rắt, tiếng tơ chạm nhẹ như gió lướt qua, rồi hoà quyện với tiếng dương cầm thánh thót gõ nhịp…
Gió gây hương nhớ
Nâng tiếng đàn xa đưa
Sầu vương vấn
Gây mơ khóc trên dây tơ
Trong sầu nhớ bóng ai thoáng về cô phòng
Nào đâu thấy tình xưa mơ mộng.
Dạ khúc hoặc Sérénade (hay còn gọi là Serenata, Ý ngữ), nghĩa là khúc ban chiều – nhạc theo phong cách lãng mạn. Bản Sérénade thường chơi vào buổi chiều tà, ở ngoài trời, và ngày xưa thường ngay dưới cửa sổ nhà người yêu. Cho đến bây giờ, có hai bài viết theo thể Serenade nổi tiếng nhất mà chưa có bài nào vượt qua được hai bài bất hủ này. Đó là Sérénade của Schubert và Serenata của Enrico Toselli.


Theo những nhà bình luận đã tôn vinh vẻ đẹp của những bản Sérénade: ”Những lời nỉ non, thổn thức của ca từ quyện với một giai điệu lãng mạn, quyến rũ, các bản Dạ Khúc là một thông điệp tình yêu chuyển tải bẳng âm nhạc tuyệt vời. Nhưng hơn thế, “Dạ Khúc” còn là một bức tranh toàn bích, sâu lắng… mang dáng dấp hơi thở không chỉ của thời đại đó mà của muôn mọi thời đại. Các nhạc sĩ thiên tài đã nói lên tiếng lòng mình trong thời khắc đêm về, ngoài niềm khắc khoải thường tình về tình yêu đôi lứa, còn như thân phận con người nhỏ nhoi đầy bất trắc trước mênh mông vũ trụ…
Câu chuyện về sự ra đời của bản Sonate Ánh Trăng là một câu chuyện có thể khiến người ta hiểu được trọn vẹn thế nào là “cảm hứng sáng tác” của một thiên tài âm nhạc, như lời bộc bạch bên trên của chính nhà soạn nhạc thiên tài Ludwig van Beethoven.
Sérénade hay Khúc Ban Chiều; Dạ Khúc hay Nocturne…
Nhưng hơn thế, Dạ Khúc còn là một bức tranh toàn bích, sâu lắng… mang dáng dấp hơi thở không chỉ của thời đại đó mà của muôn mọi thời đại. Các nhạc sĩ thiên tài đã nói lên tiếng lòng mình trong thời khắc đêm về, ngoài niềm khắc khoải thường tình về tình yêu đôi lứa, còn như thân phận con người nhỏ nhoi đầy bất trắc trước mênh mông vũ trụ.
Chiều tà (Sérénade), tác giả: Enrico Toselli. Lời Việt: Phạm Duy
Trich đoạn:
Chiều êm êm đưa duyên về người
Đàn triền miên nắn tiếng sầu đời
Người hỡi!
Đến bên tôi nghe lời xao xuyến
Như chuyện thần tiên.
Niềm mơ xưa là đó
Cho ta nâng niu lời ca
Chiều mơ không gian
Hờ hững cõi Thiên Đàng
…
Xin hãy lắng nghe bao lời thơ chiều tà
Nhạc chiều của chúng ta
Là câu ân ái muôn đời
Bóng đã xế rồi
Hãy nép trong lòng cõi đời.
Tình Yêu mãi mãi…
…
Câu chuyện về sự ra đời của bản Sonate Ánh Trăng là một câu chuyện có thể khiến người ta hiểu được trọn vẹn thế nào là “cảm hứng sáng tác” của một thiên tài âm nhạc, như lời bộc bạch bên trên của chính nhà soạn nhạc thiên tài Ludwig van Beethoven.
Một bản sonata gần như là ngẫu hứng…
Đó là những cảm xúc bỗng tràn ngập trong tim, những điều thôi thúc bức bách muốn bật ra khỏi lồng ngực, không thể giữ lại thêm vì đã quá tràn đầy, để rồi cuối cùng bật ra, lưu lại hình hài trên những khuông nhạc và phím đàn, để có thể kể lại, không cần lời ca, về cả một cuộc đời, để có thể kể lại về ánh trăng, về màn đêm, về sóng trên dòng sông, về những đôi tình nhân bên bờ sông, về những xúc cảm trong trái tim, và muôn vàn điều kỳ diệu khác nữa trong cuộc sống… Đó chính là điều kỳ diệu của âm nhạc cổ điển mà người ta vẫn hay gọi là âm nhạc “hàn lâm”.
Nếu như âm nhạc hiện đại đa phần chỉ mô tả được một vài cung bậc cảm xúc, lại còn cần lời hát để thể hiện ý tứ ra, thì âm nhạc cổ điển là cả một câu chuyện dài oanh liệt, một ngôn ngữ không cần đến lời, một sự trau chuốt đầy công phu và mỹ lệ… Beethoven đã đặt tên cho nó là Sonata quasi una Fantasia, ý nghĩa là một bản sonata gần như là ngẫu hứng…
Bản sonate có phần cuối cùng (chương 3) đặc biệt ít thấy ở các bản sonate khác, và rất khó sáng tác, và đây cũng là một bản sonate có kiểu nhịp độ và định thể không chính thống (vào thời điểm bấy giờ các bản sonate thường bắt đầu với tiết điệu nhanh). Nhưng bản Sonate Ánh Trăng lại bắt đầu với thể chậm Adagio, phần giữa với vận hơi chậm Allegretto, phân đoạn cuối chơi rất nhanh:
Chương 1: Adagio sostenuto (cung Đô thăng thứ): Nhẹ nhàng, tình cảm
Chương 2: Allegretto (cung Rê giáng trưởng): Vui tươi
Chương 3: Presto agitato (cung Đô thăng thứ): Nồng nhiệt, mạnh mẽ như bão tố.
Chỉ với 3 chương nhưng âm nhạc của sonate Ánh Trăng đã diễn tả được hết những chuyển biến mãnh liệt trong các cung bậc tình cảm của con người. Bản sonate này là một trong những bản sonate của Beethoven được nhiều người yêu thích nhất qua tất cả các thời đại, và câu chuyện về sự ra đời của tác phẩm cũng đẹp tựa như một huyền thoại…
Nàng thơ của Beethoven…
Nàng thơ của Beethoven, người được tác giả sonate Ánh Trăng viết đề tặng
Giulietta Guicciardi – Nàng thơ của Beethoven, người được tác giả bản sonate Ánh Trăng viết lời đề tặng.

Giulietta Guicciardi và Beethoven. Ánh trăng bên hồ
Đã rất khuya, lúc này Beethoven đang đứng cô đơn một mình trên chiếc cầu bắc qua dòng sông Danube xinh đẹp, hiền hòa (Vẻ đẹp của dòng sông Danube sau này tạo cảm hứng cho Johann Strauss sáng tác bản Valse nổi tiếng Sông Danube xanh – The blue Danube). Gió và nước sông Danube lấp lánh ánh vàng làm Beethoven chợt thoát khỏi dòng suy nghĩ và nhận ra đêm nay là một đêm trăng rất sáng. Cả thành Vienna cổ kính đang chìm sâu vào giấc ngủ, tĩnh lặng dưới ánh trăng dịu dàng huyền ảo. Bất chợt ông nghe thấy đâu đó tiếng đàn Piano vang lên thánh thót nhưng buồn bã, xa vắng. Đi theo âm thanh xúc cảm của Beethoven đàn bên phím ngà.
Bản sonate Ánh Trăng bất hủ ra đời từ ấy, sau này Beethoven đã viết lời đề tặng bản sonate này cho nữ bá tước Giulietta Guicciardi để kỷ niệm mối tình đầu của mình. Bài Dạ khúc được Phạm Duy đặt khi làm lời Việt cho bản nhạc bán cổ điển Nächtliches Ständchen của Franz Schubert, Schubert là nhạc sĩ đầu tiên của trường phái Lãng mạn sau này đã lan ra khắp châu Âu. Âm nhạc của Schubert “chất trữ tình đầy đậm đà như mặt nước của con sông Rhein trôi êm đềm”. Người nhạc sĩ, với cuộc đời mong manh, mang theo vết thương không thể chữa lành trong trái tim, vẫn khát khao sống, khát khao yêu thương. Trong chiều hôm muộn, ánh sáng ngày vừa tắt, đối mặt với đêm dài và nỗi cô đơn vô hạn, bài ca tình yêu cất tiếng – Nỗi buồn và niềm tuyệt vọng vẫn trong sáng như ánh trăng thâu. Trong cái thinh lặng của đất trời, sự thẳm sâu đến lạnh người của nỗi cô đơn, bài ca vẫn theo gió ngân dài. Tình yêu và nỗi đau chỉ là hai mặt của cùng một tình cảm. Tiếng than ấy, thiên nhiên, và cả đất trời đều vang vọng. Ngoài ra, các nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Trung Cang, Lê Trọng Nguyễn, Phú Quang, Thanh Trang, Quốc Bảo cũng có các sáng tác mang tên Dạ khúc. Tác phẩm âm nhạc, có nội dung u buồn hay mơ màng, hợp với đêm khuya. Các dạ khúc của Chopin… Bản Dạ Khúc Bí Ẩn của Chopin Nocturne – Night Butterfly. Điệu nhạc có vẻ u buồn hợp với đêm khuya: Những dạ khúc của Chopin.
Nói về loại nhạc “Dạ Khúc” “Mộ Khúc” hay “Khúc Ban Chiều”, Sérénade, Nocturne, trội nôi vẫn là Sérénade của Schubert, hay Nocturne của Toselli (hay Nightingale Sérénade hoặc Toselli Sérénade). Nhưng hãy nói thêm Dạ khúc một danh từ phổ thông… Nocturne như Beethoven Nocturne (Moonlight Sonata), Nocturnes (Chopin) hay Nocturnes (Clair de Lune Debussy).
Trong “Clair de lune” của Debussy, một bầu không khí huyền ảo được vẽ ra bằng những nốt nhạc phảng phất. Như thể có đôi cánh chim chấp chới trong một luồng không khí hòa trộn những ấn tượng lạc điệu. Nhân vật chính ở đây không phải là những người tham gia lễ hội mà là ánh sáng – thứ luôn là nhân vật chính trong tác phẩm của những nhà Ấn tượng. Trong tác phẩm của Debussy có đến hai thứ ánh sáng. Ánh sáng ngoại cảnh là ánh trăng mờ mờ ẩn hiện qua làn sương mù bảng lảng. Ánh sáng nội tâm quan trọng hơn nhưng vẫn chịu tác động mạnh mẽ của ánh sáng ngoại cảnh.
Đó dường như là nỗi luyến nhớ thứ ánh sáng vằng vặc trong quá khứ của những tâm hồn đang chìm trong bóng mờ. Đó dường như là nỗi buồn khi nhận thức được rằng những ngày ta đang sống chỉ là phản chiếu mờ nhạt và đứt đoạn của một đời sống lý tưởng cao siêu như trong thời đại hoàng kim của Louis 14 – Đức vua Mặt trời.
Dạ khúc… Mộ đêm (từ tiếng Pháp là nocturne, từ tiếng La tinh nocturnus ) là một sáng tác âm nhạc được lấy cảm hứng từ hoặc gợi lên về đêm. Nocturne lần đầu tiên được áp dụng cho các tác phẩm âm nhạc vào thế kỷ 18, khi nó chỉ ra một đoạn hòa tấu trong một số chuyển động, thường được chơi cho một bữa tiệc buổi tối và sau đó được đặt sang một bên. Đôi khi nó mang những ký hiệu tương đương của tiếng Ý, notturno, chẳng hạn như Notturno của Wolfgang Amadeus Mozart trong D, K.286, được viết cho bốn bản hòa tấu tách biệt vang nhẹ của cặp sừng kết hợp với dây, và Serenata Notturna của ông, K. 239. Vào thời điểm này, tác phẩm không nhất thiết phải gợi về đêm, mà có thể chỉ nhằm mục đích biểu diễn vào ban đêm, giống như một cuộc dạo chơi . Sự khác biệt chính giữa serenade và notturno là thời gian buổi tối mà chúng thường được biểu diễn: buổi trước khoảng 9 giờ tối, lần sau gần 11 giờ đêm.
Với hình thức quen thuộc hơn là một bản nhạc ký tự chuyển động đơn lẻ thường được viết cho piano solo, nocturne được trồng chủ yếu vào thế kỷ 19. Những bản nocturne đầu tiên được viết với tiêu đề cụ thể là của nhà soạn nhạc người Ireland John Field , [3] thường được coi là cha đẻ của lãng mạn nocturne có đặc điểm là giai điệu cantabile trên phần đệm arpeggiated , thậm chí giống như guitar. Tuy nhiên, số mũ nổi tiếng nhất của dạng này là Frédéric Chopin , người đã viết 21 trong số đó . Một trong những bản nhạc salon nổi tiếng nhất của thế kỷ 19 là “Bản Nocturne thứ năm” của Ignace Leybach , người mà bây giờ hầu như đã bị lãng quên. Các nhà soạn nhạc sau này viết nhạc cho piano bao gồm Gabriel Fauré , Alexander Scriabin , Erik Satie (1919), Francis Poulenc (1929), cũng như Peter Sculthorpe . Trong phong trào mang tên ‘The Night’s Music’ (‘Musiques nocturnes’ trong tiếng Pháp) của Out of Doors cho piano solo (1926), Béla Bartók đã bắt chước âm thanh của thiên nhiên. Nó chứa các hợp âm cụm yên tĩnh, kỳ ảo, mờ ảo và mô phỏng tiếng chim kêu và tiếng kêu râm ran của các sinh vật sống về đêm, với những giai điệu cô đơn trong các phần tương phản. Nhà soạn nhạc người Mỹ Lowell Liebermann đã viết 11 bản Nocturne cho piano, trong đó số 6 được nhà soạn nhạc sắp xếp thành Nocturne cho dàn nhạc orchestre. Những người về đêm đáng chú ý khác từ thế kỷ 20 bao gồm những người của Michael Glenn Williams , Samuel Barber và Robert Help .
Các ví dụ khác về ban đêm bao gồm bản dành cho dàn nhạc từ bản nhạc ngẫu nhiên của Felix Mendelssohn trong A Midsummer Night’s Dream (1848), bộ ba dành cho dàn nhạc và dàn hợp xướng nữ của Claude Debussy (người cũng đã viết một bản cho piano solo) và bộ chuyển động đầu tiên của Bản hòa tấu vĩ cầm số 1 (1948) của Dmitri Shostakovich . Nhà soạn nhạc người Pháp Erik Satie đã sáng tác một loạt năm tiểu thuyết về đêm. Tuy nhiên, chúng khác xa so với Field và Chopin. Năm 1958, Benjamin Britten đã viết một bản Nocturne cho giọng nam cao, bảy nhạc cụ và dây obbligato, và phong trào thứ ba trong bản Serenade của ông cho Tenor, Horn và Strings (1943) cũng có tên là “Nocturne”.
Nocturne thường được coi là yên tĩnh, thường biểu cảm và trữ tình, và đôi khi khá u ám, nhưng trong thực tế, các tác phẩm với tên gọi nocturne đã chuyển tải nhiều tâm trạng khác nhau: bản thứ hai trong bản Nocturnes của dàn nhạc Debussy, chẳng hạn như “Fêtes”, rất sống động, như là một phần của Karol Szymanowski ‘s Nocturne và Tarantella (1915) và Kaikhosru Shapurji Sorabji ‘ s Symphonic Nocturne cho Piano Alone (1977-1978). Đây cũng là tác phẩm âm nhạc cho piano, có nội dung u buồn hay mơ màng, thích hợp cho đêm khuya. Bản dạ khúc của nhà soạn nhạc thiên tài Beethoven…. Dạ khúc số 20 của Chopin, sau 4 ô nhịp đầu trầm và buồn, gia điệu chính ở tay phải xuất hiện ở âm vực cao, thánh thót, trong trẻo và tinh khiết, các nốt được láy và rải tạo thành một chuỗi ngọc trai lấp lánh. Trong khi đó phần đệm ở tay trái ở âm vực thấp hơn vẫn dập dìu hòa theo làm nền, nâng đỡ cho giai điệu chính ở tay phải. Nếu nhắm mặt lại và thả hồn trong tiếng đàn, người nghe sẽ thấy tâm mình thánh thiện,
Có những bản nhạc đặc biệt, với những giai điệu sâu lắng, phù hợp với tiếng lòng đêm khuya, khi những tất bật, náo nhiệt của một ngày qua đi. Đêm về khi chúng ta lắng đọng và trở về chính mình, trong giấc mơ lãng mạn, những nét đẹp dần được tô điểm và hiện lên trên sự tĩnh lặng của màn đêm huyền ảo. Đó là hơi thở của tình yêu, là tiếng nói của các tâm hồn nghệ sĩ dành tặng cho những trái tim trần tục luôn thổn thức trước những phồn tạp cuộc sống. Những cảm xúc đọng lại thành những viên ngọc lấp lánh trong các nhạc phẩm, tạo nên những cảm giác dịu dàng cho những trái tim thổn thức, yếu đuối .

Dạ khúc (Nocturne) của Chopin. Có thể nói Dạ khúc (Nocturne) của Chopin, là những âm thanh nâng đỡ cho những trái tim đang chơi vơi, hụt hẫng trong cô đơn sầu muộn. Nocturne thường được định nghĩa là khúc nhạc đêm mượt mềm như một giấc mơ, như những vầng thơ lưu luyến, xuất hiện khoảng thế kỷ 17, thường được viết cho độc tấu piano, rất biểu cảm và trữ tình, đôi khi hơi…bi thiết. Fryderyk Franciszek Chopin là nhạc sĩ sáng tác rất nhiều Nocturne (21 bài), đó là những sáng tác nổi bật nhất của ông và cũng là những tác phẩm nổi tiếng nhất của thế loại dạ khúc. Hình thức chung của những bản dạ khúc này là một phần phát triển kịch tính được xen giữa những giai điệu mở đầu và kết thúc.
Chopin sáng tác Nocturne năm 1830 và được công bố năm 1870, là một trong những Nocturne hay nhất của ông, nhà soạn nhạc kiêm nghệ sĩ dương cầm vĩ đại Franz Liszt từng viết: “Chỉ duy nhất một thiên tài như Chopin mới đem lại cho thể loại dạ khúc tính chất nhạy cảm tinh tế và tình yêu mãnh liệt nồng cháy đến thế. Các Nocturne thơ mộng của Chopin không chỉ hát lên những bài ca du dương lòng người với những hoài niệm thanh cao dịu ngọt, mà còn lay động đến tâm trí con người những nỗi day dứt hoang mang đến ngộp thở.”

Claude Debussy – Clair de Lune. Dạ khúc – những điều chẳng dễ nói ra. Người con gái trong bài hát dường như đã bị sự cô đơn chất chứa ám ảnh, đau đáu một nỗi niềm. Nỗi niềm lo sợ một ngày hạnh phúc sẽ rời xa, người mình yêu thương sẽ không ở bên mình.
Serenata có từ thời trung cổ, và được định nghĩa là thể loại ca khúc êm dịu, được một anh chàng si tình nào đó, đứng trước nhà người đẹp, hướng lên cửa sổ, hay ban-công của phòng nàng mà hát để tỏ tình – như chàng Romeo đã tỏ tình với nàng Juliet trong kịch cổ điển của Shakespeare. Về sau, tới thời kỳ lãng mạn của nhạc cổ điển, đa số các nhà soạn nhạc đã sử dụng chữ “sérénade” của Pháp thay vì “serenata” của Ý, đồng thời nội dung cũng như hình thức của “sérénade” đã được nới rộng. Về nội dung, “sérénade” có thể để tặng người yêu, bạn thân, hay một người nào đó ngang hàng, hoặc vai vế thấp hơn, mà mình quý mến. Về hình thức, “sérénade” có thể là một ca khúc êm đềm, một nhạc khúc đơn giản – như trường hợp bản Sérénade của Schubert, cũng có thể là một bản giao hưởng ngắn – như trường hợp bản Sérénade của Mozart có tựa đề “Eine Kleine Nachtmusik” (Tiểu dạ khúc) mà chúng tôi đã nhắc tới trong bài trước. Với ý nghĩa, nội dung ấy, sérénade thường được trình diễn lúc chiều tối.
Bản Dạ Khúc Sérénade
Bản Sérénade (tiếng Đức: Ständchen) là nhạc khúc thứ tư trong quyển 1 của bộ Schwanengesang (Bài ca thiên nga) của Franz Schubert. Tuyển tập bài hát này được tìm thấy sau khi tác giả đã qua đời. Chiếu theo danh sách tác phẩm của nhà soạn nhạc thì bản nhạc này mang số thứ tự D 957. Franz Liszt là người sau này đã chuyển toàn tác phẩm trong tập Schwanengesang để độc tấu piano. Ludwig Rellstab là người soạn lời.
Lời bài hát
Lời gốc tiếng Đức
Leise flehen meine Lieder
Durch die Nacht zu Dir;
In den stillen Hain hernieder,
Liebchen, komm’ zu mir!
Flüsternd schlanke Wipfel rauschen
In des Mondes Licht;
Des Verräthers feindlich Lauschen
Fürchte, Holde, nicht.
Hörst die Nachtigallen schlagen?
Ach! sie flehen Dich,
Mit der Töne süßen Klagen
Flehen sie für mich.
Sie verstehn des Busens Sehnen,
Kennen Liebesschmerz,
Rühren mit den Silbertönen
Jedes weiche Herz.
Laß auch Dir die Brust bewegen,
Liebchen, höre mich!
Bebend harr’ ich Dir entgegen;
Komm’, beglücke mich!
Dịch ý: ‘Đêm khuya vẳng tiếng Anh hát thầm thì, dưới chòm cây tĩnh lặng. Đến đây hỡi người! Gió đùa lá xào xạc dưới trăng; đừng sợ chi kẻ phản trắc rình rập đâu đó. Em nghe chăng tiếng họa mi vang rền. Chúng gọi em đấy, chúng chuyển lời của anh cho em, vì chúng hiểu nỗi khắc khoải con tim, nỗi đau tình si. Giọng hót vang của chúng làm mỗi trái tim nồng nàn bớt thổn thức. Người yêu hỡi, em hãy để cho tiếng chim ca trong tim… Anh đang run rẫy, bồi hồi chờ em nơi đây. Đến đây chúc mừng anh! Chim sơn ca chỉ hót ban ngày, chỉ họa mi mới hót ban đêm, sơn ca hót vang lừng khi đang bay, họa mi hót vang cả cánh rừng. Tình yêu là một khái niệm vừa gần mà cũng vừa xa. Cũng có nhiều định nghĩa về nó, nhưng tôi không hiểu sao mỗi khi nhắc đến nó, không chỉ riêng tôi mà ai cũng cảm thấy bồi hồi. Giống như người ta nhớ đến một kỷ niệm của một thời đã qua.
oOo
Dạ Khúc Cho Tình Nhân (nhạc sĩ Lê Uyên Phương).
Bài nhạc dạ khúc tôi vốn thích của nhạc sĩ Lê Uyên Phương là Dạ Khúc Cho Tình Nhân (Sérénade pour l’amant). Dạ Khúc Cho Tình Nhân là một trong những ca khúc nổi tiếng của NS. Lê Uyên Phương, bài hát chất chứa nhiều nỗi niềm yêu thương cùng nỗi niềm nhung nhớ khôn nguôi. Sự lưu luyến và nỗi mong đợi hoài trong vô vọng khiến con người đã rơi vào những hoàn cảnh như cơn mộng ảo không lối thoát, như để vỗ về, tự an ủi, như tự xoa dịu nỗi đaυ của bản than; Nhạc phẩm Dạ Khúc Cho Tình Nhân được viết vào năm 1968, khi LUP vẫn còn ở Đà Lạt trong khi người thương của ông là Lê Uyên đang bị gia đình “giam lỏng”, “cách ly”, lockdown tại Sài Gòn vì muốn chia cắt tình yêu của đôi tình nhân. Tình cảnh trớ trêu đã khiến Lê Uyên Phương cảm nhận, ta thán cho cuộc tình của mình sao thật mong manh, nỗi buồn như muốn giết chết tâm hồn ông. Không ngăn được nỗi nhớ thương ngưởi yêu trong long ,Lê Uyên Phương đã bật thốt nên những câu hát của ca khúc Dạ Khúc Cho Tình Nhân.
Ngày em thắp sao trời
Chờ trăиg gió lên khơi
DẠ KHÚC
Trở lại chuyện tình yêu khác, bài Sérénade bất hủ mà Franz Schubert sáng tác là để tặng sinh nhật cho một thiếu nữ mà ông thầm yêu trộm nhớ. Ở châu Âu ngay từ thời trung cổ các chàng trai thường có lối tỏ tình bằng cách mượn âm nhạc, ban đêm đến đứng dưới cửa lầu “người đẹp” tự “cua” bằng tiếng đàn và giọng hát của chính mình. Những bài nhạc lãng mạn này gọi là “sérénade”.. Sérénade thời Trung cổ và Phục hưng được trình diễn không theo một hình thức đặc biệt nào, ngoại trừ nó được một người hát tự đệm bằng nhạc cụ có thể mang theo được, như chàng gypsy lãng tử đàn “cua nàng” (bằng guitar, mandolin…).
Để làm cho nàng bất ngờ, Schubert nhờ một bạn thân là ca sĩ, trình bày ngay dưới cửa sổ nhà nàng. Tối đó, người ta bí mật khiêng cây đàn piano vào trong vườn, tất cả đã sẵn sàng cho buổi trình diễn lãng mạn và độc đáo. Thế nhưng, Schubert lại quên không đến. Trớ trêu thay, cô gái lại đem lòng yêu chính chàng ca sĩ, chứ không dành trái tim cho Schubert. huhuhu…
Cho dù là trong hoàn cảnh nào thì bài Serenade của Schubert cũng thuộc loại bất tử! Những bài ca về chiều tà ta nêu ra như….
@ “Nhà ai vương khói khi chiều tà, đàn tim tung cách bay xa xa …”(Trên Đường Về của NS. Nguyễn Thiện Tơ (*),…
Trầm vương trong khói lam chiều xuống
một bóng chìm sâu trong màn sương
Chập chờn lang thang trong u tối
mờ khuất sau ngàn dâu, lặng ngẩn ngơ vì đâu
Người ơi lòng vương chi u sầu, *.
@ Chiều buồn nhớ người yêu như mối sầu tương tư, lặng lòng im nghe thoảng tơ chùng từ chốn xa xăm, vì “Có phải sầu vạn cổ, chất trong hồn chiều nay” thì trong ta đã ngập hồn thơ khi “Nhớ nhà châm điếu thuốc để khói huyền bay lên cây”. Trong vũ trụ gió mây nhè nhẹ bay bay như khói và bay đi thời gian “Chiều chậm đưa chân ngày”, chênh vênh trong không gian “lòng là rừng, hồn là mây, khói huyền bay lên cây…”, ngập ngừng giữa quê hương mà như xa xứ, giữa thực tại mà nghe gót phiêu du hồn lữ thứ, mênh mang chất ngất “Tiếng buồn vang trong mây”. Màu chiều ngập ngừng mà xôn xao tiếng lòng mà lời thơ, ca từ mang thanh âm vần bằng khiến thơ giàu nhạc tính. Những câu thơ nghiêng về thanh bằng tăng cường yếu tố âm nhạc và nghệ thuật luyến láy trong bài Chiều cho ta nhớ đến kỹ thuật tạo nhạc trong “Hòa Vang Chiều Tà” (Harmonie du Soir) như thi ca Pháp, *…
Hòa Vang Chiều Tà – thơ Charles Baudelaire
“Trời chiều ngàn hoa lung lay theo gió;
Hương hoa nhẹ bay thơm ngát khung trời;
Lùa theo gió thanh âm cùng hương đêm;
Hồn lâng lâng say đắm điệu valse buồn!”
(VHLA chuyển ngữ)
*: Voici venir les temps où vibrant sur sa tige;
Chaque fleur s’évapore ainsi qu’un encensoir;
Les sons et les parfums tournent dans l’air du soir;
Valse mélancolique et langoureux vertige!…
Harmonie du Soir – Charles Beaudelaire.
Giai điệu Chiều là những nốt rơi vang vang ngập ngừng đầy nét quyến rũ, vừa đượm nét u hoài buồn man mác, vừa nhè nhẹ để dừng lại ở “màu cây trong khói” ở hai câu cuối để rồi “Nhớ nhà châm điếu thuốc” mà rất đỗi chơi vơi “Khói huyền bay lên cây”.
“Chiều chậm đưa chân ngày, Tiếng buồn vang trong mây… “, câu thơ mô tả thời gian đi chầm chậm như bài thơ Le Lac của thi sĩ Alphonse de Lamatine (1790-1869),**…
“Ô, thời gian ơi xin dừng lại!
Xin đừng bay đi xa nhau:
Hãy vui bên phút giây ngắn ngủi này
Đẹp nhất ngày hôm nay!”
(VHLA chuyển ngữ)
**: Oh temps ! suspends ton vol, et vous, heures propices !
Suspendez votre cours :
Laissez-nous savourer les rapides délices
Des plus beaux de nos jours !
Tình thơ Lamartine.
Nocturne và Serenade
Giống như Nocturne, Serenade thường được định nghĩa là khúc nhạc đêm, là một thể loại ca khúc để hát vào buổi tối, đặc biệt cho giọng nữ. Ở phương Tây thể loại ca khúc này gọi là “Serenade” và nó rất được nhiều nhạc sĩ ưa chuộng, sáng tác… cho nên Dạ khúc không chỉ riêng một tác phẩm riêng biệt của một nhạc sĩ nào cả. Nhiều nhạc sĩ đã sáng tác trên chủ đề này, nhưng có lẽ được biết đến và ưa chuộng nhiều nhất (cho mãi đến ngày hôm nay) vẫn là Serenade của nhạc sĩ thiên tài Schubert.
Franz Peter Schubert (1797 – 1828) là một nhà soạn nhạc người Áo, được biết đến với các nhạc phẩm có giai điệu nhẹ nhàng và du dương. Các tác phẩm của ông mới khẳng định được tên tuổi của mình, một phần nhờ công lao phổ biến của các nhạc sĩ cùng thời như Franz Liszt, Robert Schumann, Felix Mendelssohn. Một trong những bản Serenade phổ biến, được biết đến nhiều nhất là bản Serenade của Franz Schubert, viết vào năm 1826. Bản Dạ khúc nầy còn được gọi là Khúc Nhạc Chiều (tiếng Đức: Ständchen) được viết lời bởi Ludwig Rellstab. Bản này có số thứ tự 4, nằm trong quyển 1 của tập Schwanengesang, bài hát Thiên Nga (Nhạc cổ điển). Đây là tuyển tập bài hát được sưu tầm sau khi tác giả Schubert qua đời, trong danh sách tác phẩm của nhà soạn nhạc nó có số thứ tự D 957. Nguyên bản của bài nhạc này được viết trên bè hai, với giọng nam hợp xướng, sau đó được sắp xếp lại dành riêng cho giọng nữ. Franz Liszt là người sau này đã chuyển thể các tác phẩm trong tập Schwanengesang cho độc tấu piano.
Dạ Khúc Yêu Em – Nguyễn Minh Châu, Trần Việt Hải – Pia Nguyễn:
Nguồn:
Wikipedia, DotChuoiNon, Dongnhacxua, Britannica, ClassicalMusic, AllMusic NPR.org, PBS.org.

NS. Nguyễn Minh Châu, Paris. Dạ Khúc Yêu Em – Nguyễn Minh Châu, Trần Việt Hải – Pia Nguyễn:
VIỆT HẢI TRẦN
Tình Yêu Khác Chủng Tộc, Việt Hải Los Angeles:
http://www.ninh-hoa.com/VietHai-TinhYeuKhacChungToc.htm
Je t’attendais, Frank Michael
FRANK MICHAEL ♥ღ¸.•°*♥♥♥❤️❤️JE T’ATTENDAIS❤️❤️♥ღ¸.•°*♥♥♥ (HD)
FRANK MICHAEL ♥ღ¸.•°*♥♥♥❤️❤️JE T’ATTENDAIS❤️❤️♥ღ¸.•°*♥♥♥ (HD)
Chúc vui,
VHLA
—– Forwarded Message —–
From: Andy N. Triet
To: VietHai Tran
Sent: Thursday, May 19, 2022, 07:43:56 PM PDT
Subject: Re: Da Khuc Yeu Em
Anh Hải,
Thật cám ơn và xúc động được anh cho nghe lại bản nhạc Dạ Khúc Yêu Em có tiếng hát của ca sĩ như tôi yêu cầu.
Điệu đàn du dương trầm bổng như tiếng nấc trong đêm, nay thêm tiếng ca dịu mềm như mê hoặc thật sự đã “làm tan chảy trái tim tôi”.
Nhân tiện xin báo anh rõ là anh Hà Nguyên Du đã hoàn thành việc in ấn cho quyển TUYỂN TẬP KHẢO LUẬN VĂN HỌC trong đó có in bài LỜI GIỚI THIỆU SÁCH CỦA NHÀ VĂN TRẦN VIỆT HẢI. Cám ơn anh thật nhiều đã mất nhiều thì giờ đọc và viết lời giới thiệu sách rất công phu. Đồng thời cũng có lời xin anh tha thứ cho tôi, vì tôi đã chỉnh sửa cũng như thay đổi thứ thứ một số đoạn để phù hợp với mục lục.
Tôi đã nhờ anh Hà gởi anh 1 quyển TUYỂN TẬP bìa cứng tặng anh, hi vọng anh sẽ hài lòng khi nhận được sách.
Thân chúc anh mọi sự an lành.
Thân kính,
NMTriet
————————————————————————-
From: Tung Cao Pham
To: VietHai Tran
Thu, May 19 at 3:51 PM
Anh Việt Hải thân mến,
Bài “Dạ Khúc Yêu Em” – ca sĩ và các nhạc sĩ trình diễn xuất sắc quá – xin gửi lời chúc mừng đến anh và chị Minh Châu cùng các nghệ sĩ trong nhạc phẩm phẩm này
Phạm Cao Tùng
On Thursday, May 19, 2022, 05:14:17 PM CDT, VietHai Tran wrote:
Merci anh MC, la chanteuse interprète notre chanson mélodieusement. C’est une chanson triste qui sanglote à l’heure de minuit, bat lento, solitaire et solitaire, pleine d’âme, pour faire fondre notre cœur. J’aime beaucoup le rythme du piano. Peut-on ajouter le son du violon au tempo du piano ? VH.
—– Forwarded Message —–
From: Minh Chau Nguyen
To: Tran Viet Hai
Sent: Thursday, May 19, 2022, 11:15:53 AM PDT
Subject: Dạ Khúc Yêu Em.
Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Vol.1
Nhạc Ngoai Quốc Lời Việt – Vol.2
NS. Phạm Duy – Những Tình Khúc Quốc Tế Chuyển Ngữ:
—————————————————————-
My Girl, Just For You!
My heart has only one person of love
Smiling love, smiling day, and smiling of life
yours as beautiful pearl ivory
I love you how dearly, so dearly
Your scent of lips is sweet, smooth and dreamy
I vow to love only you as my soul of poetry
Sincere feeling, do not doubt it in my spirit
Gathering all fresh dreams, day and night
My heart is forever dedicated to you
Sweet, sweet darling, as lily blooms at night
Sweet, sweet, how sweet its scent
Love you, love you forever, love you
How much love does in my flower verses
Give me a peace of mind, a comfort of love
Give me a wonderful life, the scent of spring flowers.
Give me an immense love, and an innocent love
Like the silvery waves of flashing ocean
that float for thousands of years!
VHLA, 05/25/2022.
—————————————————————
Ma fille, juste pour toi !
Mon coeur n’a qu’une seule personne d’amour
Sourire d’amour, sourire de jour et sourire de vie
vôtre comme belle perle ivoire
Je t’aime si chèrement, si chèrement
Ton parfum de lèvres est doux, doux et rêveur
Je jure de n’aimer que toi comme dans mon âme de poésie
Sentiment sincère, n’en doutez pas dans mon esprit
Rassembler tous les rêves frais, jour et nuit
Mon coeur t’est à jamais dédié
Douce, douce chérie, comme le lys fleurit la nuit
Doux, doux, comme son parfum est doux
Je t’aime, je t’aime pour toujours, je t’aime
Combien d’amour fait dans mes vers de fleurs
Donne-moi une tranquillité d’esprit, un confort d’amour
Donne-moi une vie merveilleuse, le parfum des fleurs printanières.
Donne-moi un amour immense, et un amour innocent
Comme les vagues argentées de l’océan clignotant
qui flottent depuis des milliers d’années !
VHLA, 25/05/2022.
-
Những Từ Dùng Sai Trong Tiếng Việt

I. Sai vì không hiểu nghĩa gốc:
1. CHUNG CƯ. Từ kép nầy được thành lập theo văn phạm Hán Việt vì tính từ đứng trước danh từ, cho nên cả 2 từ phải đều là Hán Việt.
Từ ‘chung’ không có nghĩa là chung chạ mà có nghĩa là cuối cùng. Vậy, chung cư 終居 không phải là nơi nhiều người ở chung mà là nơi ở cuối cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Vậy, phải đổi từ chung cư thành chúng cư 衆居 thì mới ổn.
2. KHẢ NĂNG. Khả năng 可 能 là năng lực của con người có thể làm được việc gì đó. Thế mà, người ta đã viết và nói những câu đại loại thế nầy: Hôm nay, khả năng trời không mưa. Khả năng con bò nầy sẽ chết vì bị bệnh… Nghe thực là kỳ cục. Tôi cho rằng, người ta đã nhầm lẫn giữa hai từ khả năng 可 能 (capacité, capable) với khả dĩ 可 以 (possibilité, possible). Nhưng thôi, chúng ta nên dùng từ thuần Việt là “có thể”, đúng và dễ hiểu, còn từ khả năng chỉ nên dùng để nói về năng lực của con người mà thôi.
3. QUÁ TRÌNH. Quá 過 là đã qua, trình 程 là đoạn đường. Quá trình là đoạn đường đã đi qua. Nói thế nầy là đúng: “Quá trình thực hiện công việc đã gặp nhiều trở ngại. Nhưng tôi lại thấy trong sách báo có câu đại loại thế nầy: “Quá trình thực hiện công tác sắp tới của tôi là sẽ rất thuận lợi”. Thực là sai lắm rồi. Trong trường hợp nầy, phải dùng chữ tiến trình, đúng cho cả 3 thì quá khứ, hiện tại và tương lai.
4. HUYỀN THOẠI. Người viết, kể cả những người có bằng cấp cao, không chịu học mà lại thích dùng từ để tỏ ra “ta đây” nên nhiều tiếng được dùng sai nghĩa một cách thực buồn cười. Thí dụ, tôi rất thường nghe đài truyền hình, truyền thanh và báo chí nói “huyền thoại Pélé” “huyền thoại Maradona”… Người có học nghe thực chướng tai, nhưng người nói chẳng ngượng miệng chút nào. Tại sao nghe chướng tai? Huyền 玄 là màu đen, nghĩa bóng là sâu xa, mờ ảo, không có thực. Thoại 話 là câu chuyện. Vậy huyền thoại là câu chuyện mờ mờ ảo ảo, không có thực, do truyền miệng mà ra. Thí dụ chuyện bà Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, chuyện ông Thánh Gióng cỡi ngựa sắt đi đánh giặc Ân là những huyền thoại. Đằng nầy, ông Maradona, ông Pélé có thiệt 100% sao gọi là huyền. Và 2 cầu thủ đó là con người sao gọi là thoại được. Nếu muốn dùng chữ huyền thoại để đề cao 2 cầu thủ đó thì phải nói thế nầy: “Cái tài của 2 ông nầy tưởng như chỉ có ở trong huyền thoại”. Ông bà mình thường nói: “Dốt thì hay nói chữ, có đúng trong trường hợp nầy hay không?”
5. HÔN PHU, HÔN THÊ. Hôn là cưới, phu là chồng, thê là vợ. Trong chữ phu và chữ thê đã có nghĩa của chữ hôn rồi cho nên gọi hôn phu và hôn thê là để chỉ người chồng người vợ là phi lý. Gọi hôn lễ (lễ cưới) hôn phối (lấy nhau) thì được. Còn nói hôn phu, hôn thê thì có thể hiểu 昬夫, 昬妻 là nguời chồng u mê, người vợ u mê cũng như nói hôn quân 昬君 là nhà vua u mê vậy.
II. Sai vì cố ý sửa nghĩa gốc.
1.ĐỘC LẬP. Độc 獨 là riêng một mình, Lập 立 là đứng. Vậy theo nghĩa gốc, độc lập là đứng riêng rẽ một mình, không đứng chung với ai cả. Rõ ràng từ nầy là sai nếu dùng để diễn tả tình trạng của một quốc gia không lệ thuộc nước khác. Ngày nay, các quốc gia như thế đâu có đứng riêng một mình mà đều có liên hệ với nhau trong các tổ chức quốc tế. Vậy từ độc lập là sai. Tôi thấy Cụ Trần Trọng Kim, Cụ Dương Quảng Hàm dùng từ “tự chủ” để thay thế từ độc lập. Như thế là rất hay. Có người bảo với tôi rằng, từ độc lập là do ông Tôn Dật Tiên đặt ra nên không thể bỏ được. Tại sao vậy? Ông Tôn Dật Tiên thì liên quan đến ngôn ngữ của Tàu chứ có liên quan gì đến ngôn ngữ của Việt Nam. Tàu dùng sai thì chúng ta đâu có buộc phải theo cái sai của họ.
2. PHONG KIẾN. 封建 Phong kiến gồm 2 chữ phong tước 封爵 (ban quan tước) và kiến địa 建地 (ban đất để dựng nước). Phong kiến chỉ chế độ hoàng đế phong tước cho người có công và cấp cho một vùng đất rất rộng để thành lập quốc gia, với quân đội, luật lệ và chế độ thuế má riêng biệt. Chế độ nầy hiện hữu ở đời nhà Chu bên Tàu với nước của thiên tử và nước của các chư hầu; từ nhà Tần trở đi thì chế độ phong kiến bị bãi bỏ và được thay bằng chế độ trung ương tập quyền. Chế độ phong kiến cũng tồn tại ở vài nước Âu châu như Pháp nhưng chỉ vào thời Trung cổ mà thôi. Ở Việt Nam không bao giờ có chế độ phong kiến (féodalité) mà chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế (royalisme absolu) mà thôi. Gọi chế độ quân chủ ở Việt Nam bằng từ phong kiến là sai. Có tài liệu còn bảo rằng, sự cúng tế ở đình chùa là tàn tích của phong kiến thì càng sai hơn nữa.
3. TIÊU CỰC, TÍCH CỰC 消極, 積極 Hiện nay, người ta gán vào hai từ nầy ý nghĩa tốt xấu hết sức rõ rệt. Hành động nào tốt thì được gọi là tích cực; trái lại, hành động xấu thì gọi là tiêu cực. Thực ra, suy từ nghĩa gốc thì sự gán ép như thế là sai. Tích cực, tiêu cực tự nó không có sẵn tính chất tốt hay xấu mà chỉ ấn định cường độ của hành động mà thôi. Thí dụ, trong một đoàn đi làm việc phước thiện thì ai tích cực là tốt và ai tiêu cực là không tốt. Nhưng, trong một bọn côn đồ đi tổ chức ăn cướp thì đứa nào tích cực lại là đứa xấu nhất. Trong truyện Tam quốc của Tàu, Từ Thứ, mưu sĩ của Lưu Bị bắt buộc phải về phục vụ dưới trướng của kẻ thù là Tào Tháo. Từ Thứ đã giữ thái độ tiêu cực nghĩa là không hiến mưu kế gì cho Tào Tháo. Thái độ tiêu cực nầy của Từ Thứ, từ cổ chí kim luôn luôn được khen ngợi; vậy tiêu cực có xấu đâu.
III. Sai vì không phân biệt được tiếng Hán Việt với tiếng thuần Việt (tiếng Nôm).
1. QUỐC GIỖ. Tôi có đọc được câu nầy: “Ngày giỗ tổ Hùng vương là ngày quốc giỗ”. Nói như vậy là sai. Giỗ là tiếng Nôm chứ không phải là tiếng Hán Việt nên không thể đặt sau tiếng quốc được. Hãy bỏ tiếng ngày quốc giỗ mà dùng tiếng thuần Việt là ngày giỗ của cả nước, vừa đúng, lại vừa dễ hiểu. Nơi tiếng Hán, ngày giỗ là kỵ nhật 忌. Ở một vài tỉnh của Trung Việt, người ta gọi ngày giỗ là ngày kỵ. Ta nên dứt khoát chỉ dùng từ Nôm là ngày giỗ để cho thống nhất toàn quốc.
2. GÓA PHỤ. Tôi đã gặp vài lần chữ góa phụ trong sách vở báo chí để chỉ người đàn bà có chồng đã chết. Gọi như thế là sai vì tính từ góa là tiếng Nôm, không thể đặt trước danh từ phụ được. Phải gọi người đàn bà góa (toàn Nôm) hay người quả phụ (toàn Hán Việt) thì mới đúng.
3. ĐỆ NHẤT THÁC. Ở ngõ đi vào của một địa điểm du lịch, có hàng chữ to tướng dùng để quảng cáo “Nơi đây có đệ nhất thác”. Viết như thế là sai. Đặt 2 chữ đệ nhất (tiếng thêm nghĩa) trước chữ thác (tiếng chính), là theo văn phạm Hán Việt thì cả hai chữ đều phải là tiếng Hán Việt mới được. Ở đây, tiếng thác là thuần Nôm, thế là bậy rồi. Không có tiếng Hán Việt nào có nghĩa thác nước. Thác theo tiếng Hán là bộc bố 瀑 布, nhưng đó lại là tiếng Hán thuần túy nghĩa là chưa được Việt hóa thành tiếng Hán Việt nên chưa thể dùng được. Trong trường hợp nầy, nên viết “Nơi đây có thác đẹp nhất”, vừa đúng, vừa dễ hiểu lại vừa hấp dẫn khách du lịch.
IV. Sai vì không phân biệt được văn phạm Hán Việt với văn phạm Nôm.
1. X QUANG. Mỗi lần có chuyện phải vào bệnh viện là tôi rất khó chịu khi nhìn thấy cái bảng “Phòng X quang” Tôi khó chịu vì cái chữ X quang nầy phạm đến 2 lỗi. Một là lỗi về ngữ pháp và một lỗi về kiến thức khoa học. Về ngữ pháp, quang là tiếng chính, X là tiếng bổ nghĩa. Đặt tiếng bổ nghĩa trước tiếng chính thì đích thị sử dụng văn phạm Hán Việt rồi. Mà muốn dùng lối văn phạm nầy thì cả 2 chữ đều phải là tiếng Hán Việt. Ở đây X là một mẫu tự Latin thì sai quá đi rồi. Về khoa học, quang 光 có nghĩa là sáng, ở đây chỉ tia sáng. Tia sáng là tia kích thích được tế bào thị giác để tạo ra ấn tượng sáng. Trong chuỗi sóng điện từ, các tia nầy chỉ chiếm một khoảng rất nhỏ bé với độ dài sóng từ 400 nano mét đến gần 800 nano mét mà thôi. Trong khi đó, tia X (với độ dài sóng từ 0.1 đến 10 nano mét) cách tia sáng khá xa, không kích thích được tế bào thị giác thì chắc chắn không phải là tia sáng rồi. Cho nên dùng chữ QUANG cho tia X là sai be bét về vật lý sơ đẳng của lớp 12 trung học. Tôi chẳng hiểu ông “đại giáo sư tiến sĩ” nào đã bày ra cái tên X QUANG đó. Tại sao không dùng chữ “TIA X” như trước đây ở miền Nam, vừa hay, vừa đúng, vừa đại chúng, vừa thuần túy Việt Nam. Không lẽ người ta muốn dùng chữ “X QUANG” để chứng tỏ ta đây biết “nói chữ” hay sao?
2. BÊ TÔNG HÓA con đường. Bê tông là từ phụ, hóa là từ chính. Đây cũng là văn phạm Hán Việt. Để thành lập từ kép thì cả 2 từ đơn đều phải tiếng Hán Việt. Ở đây bê tông lại là tiếng Pháp (béton) phiên âm ra, do đó nói bê tông hóa là sai. Ngoài ra, nghĩa cũng sai vì từ bê tông hóa được dùng phải được hiểu là con đường đã được biến hóa thành một khối bê tông. Vì vậy, không nên nói bê tông hóa mà nói một cách bình thường: tráng bê tông con đường, vừa đúng lại vừa dễ hiểu. Còn một lô HÓA rất bậy bạ trong sách vở báo chí, trong chương trình truyền thanh, truyền hình như: nghèo hóa, giàu hóa, no hóa, đói hóa, khôn hóa, dại hóa, vân vân. Tội nghiệp cho ngôn ngữ Việt Nam!
3. NỮ NHÀ BÁO Tôi còn nhớ, trong chiến tranh I rắc, sau khi lính Mỹ bắn nhầm nhân viên tình báo của Ý bảo vệ người nữ phóng viên vừa được bọn bắt cóc trả tự do, các đài truyền hình ở Việt Nam loan tin nhiều lần và nhắc đi nhắc lại nhóm từ nữ nhà báo. Thực là quá tệ! Nhà báo là tiếng Nôm nên phải dùng văn phạm xuôi và phải nói “nhà báo nữ” Còn muốn dùng văn phạm ngược thì phải dùng 3 từ Hán Việt: “nữ phóng viên” hay “nữ ký giả”. Ban biên tập các đài truyền hình không biết điều nầy sao?
3. TRIỀU CƯỜNG. Từ lâu rồi, tôi thấy xuất hiện rất thường xuyên hai từ triều cường khi người ta nói đến thủy triều trên sông… Hai chữ nầy có thể thay đổi vị trí trước sau và có hai ý nghĩa khác nhau. Cường triều 強 潮 gồm tính từ đứng trước danh từ thì tương đương với một danh từ và có nghĩa là con nước lớn (haute marée). Triều cường 潮 強 thì lại là một mệnh đề gồm một danh từ triều và một động từ cường và có nghĩa là con nước đang lớn lên (la marée monte). Lúc nào cũng dùng chữ triều cường thì có thể sai hơn phân nửa trường hợp rồi. Nhưng tại sao không nói con nước lớn (danh từ) và con nước đang lên (mệnh đề) vừa đúng lại vừa phù hợp với trình độ và thói quen của đại chúng.
4. HẠT NHÂN. Đây là từ vật lý học chỉ các hiện tượng xảy ra bên trong cái lõi hay cái nhân của nguyên tử. Miền Nam trước đây gọi là hạch tâm. Hạch 核 là cái hạt, tâm 心 là cái lõi hay cái nhân bên trong. Hạch tâm là cái nhân của hạt. Đó là từ ghép theo văn phạm Hán Việt, vì cả 2 từ đều là Hán Việt. Bây giờ người ta chuyển sang dùng 2 từ Nôm thì phải theo văn phạm nôm và phải gọi là “nhân của hạt” hay nhân hạt, cũng như bên ngoài gọi “vỏ hạt” chứ không thể gọi là “hạt vỏ” được. Gọi phản ứng hạt nhân, là sai với văn phạm rồi. Cần phải sửa lại: phản ứng nhân hạt mới đúng. Tuy nhiên, theo tôi, nên giữ từ phản ứng hạch tâm thì hay hơn nhiều. Từ nầy không phải là từ của giới bình dân nên cứ giữ tiếng Hán Việt, không cần chuyển sang tiếng Nôm.
5. TẶC. Từ Hán Việt nầy đang được dùng một cách rất bậy bạ và rất thường xuyên như bọn tôm tặc, vàng tặc, cà phê tặc, để chỉ những tên ăn trộm. Dùng như thế là phạm vào 2 điều sai. Thứ nhất là sai về ngữ pháp: một từ đơn thuần Việt không thể ghép với một từ đơn Hán Việt để thành một từ kép. Thứ hai là sai về nghĩa. Tặc 賊 có nghĩa là ăn cướp, đạo 盜 mới có nghĩa là ăn trộm, thí dụ đạo văn 盜文 là ăn trộm văn của người khác. Tại sao người ta không nói một cách giản dị và đúng là: bọn trộm tôm, trộm vàng, trộm cà phê… Cũng cần nói thêm về một từ đang được nhiều báo đem dùng. Đó là từ đinh tặc để chỉ bọn rải đinh trên đường phố. Đinh là một từ có gốc Hán Việt 釘 nhưng đã được Việt hóa hoàn toàn rồi nên ghép với từ tặc thì không ổn. Vả lại, nói đinh tặc là sai nghĩa vì từ đó có nghĩa là bọn ăn cướp đinh; thôi bỏ từ đó đi và nên nói một cách giản dị là “bọn rải đinh” thì hơn.
Còn vô số những từ sai khác cùng nguyên nhân trên đây như:
Lớp trưởng, phải sửa lại trưởng lớp;
Nhóm trưởng, phải sửa là trưởng nhóm;
Siêu rẻ, phải sửa lại là rất rẻ;
Siêu bền, phải sửa lại là rất bền;
Vi sóng, phải sửa lại vi ba hay sóng ngắn; vân vân…
V. Dùng từ vô nghĩa:
1. Bệnh viện DA LIỄU. Lần đầu tiên, thấy bảng chữ nầy, thú thật tôi không hiểu là cái gì. Sau hỏi người bạn bác sĩ mới biết đó là “nhà thương chữa bịnh ngoài da và bệnh hoa liễu”. Trời đất! Da là từ thuần Việt. Hoa liễu là từ Hán Việt, sao lại nhập chung một cách kỳ cục như thế. Xét về nguồn gốc, chữ Hoa liễu 花柳 có nghĩa là ổ điếm chứ không phải là một bịnh. Về sau, người ta dùng nhóm từ kép “bịnh hoa liễu” để chỉ cái bịnh lây qua đường tình dục cho những người hay lui tới các hoa liễu. Dùng riêng chữ hoa liễu cho một bịnh đã là sai rồi. Bỏ luôn chữ hoa, chỉ còn chữ liễu thôi thì càng tệ hơn nữa. Riêng chữ liễu 柳 thì có nghĩa là cây liễu. Bệnh viện da liễu tức là bệnh viện chuyên chữa cho bịnh ở da của cây liễu!!!
2. ĐẠI TRÀ. Tôi nhớ sau năm 1975, một người bạn dạy sử địa kể rằng, lần đầu tiên đọc sách giáo khoa từ miền Bắc đưa vào gặp câu: “Cây chè được trồng đại trà ở vùng nầy”. Anh ta hơi hoảng vì dạy sử địa bao năm mà bây giờ không hiểu đại trà là gì. Đại là lớn, còn trà là gì? Anh về lật nhiều tự điển kể cả tự điển Hán Việt ra tra thì chẳng thấy chữ đại trà ở đâu cả. Hỏi thăm mãi anh mới rõ trồng đại trà là trồng rộng rãi khắp nơi. Có lẽ ai đó nổi hứng bịa ra từ vô nghĩa đó để thay thế từ dễ hiểu và có sẵn, rồi sau đó những người khác bắt chước nói theo. Ngôn ngữ mà biến chuyển như thế thì cũng đáng buồn.
3. SỰ CỐ. Lại một từ vô nghĩa nữa nhưng đang được dùng một cách rộng rãi để chỉ một sự rắc rối vừa mới xảy ra. Trong tiếng tiếng Hán Việt có từ kép cố sự 故事 có nghĩa là chuyện cũ chứ làm gì có từ sự cố. Cái nghĩa mà hiện nay người ta gán cho từ vô nghĩa đó thực là lạ lùng, không thể chấp nhận được.
4. HOÀN CẢNH. Trong một bài báo, người ta viết: “Cô ây sống hoàn cảnh lắm”. Đố các bạn biết người ta muốn nói gì? Xin thưa, muốn nói “Cô ấy đang sống trong hoàn cảnh bi thảm”!!! Các bạn có chịu nổi với cách viết văn như thế không?
5. ĐÔI CÔNG. Kể từ giải túc cầu thế giới tại Nam Phi, đài truyền hình ở Việt Nam bịa ra một từ mới, đó là từ đôi công và rất thường được lặp đi lặp lại. Theo dõi nhiều trận, tôi mới hiểu ý của các ông trời đó muốn nói: 2 đội chơi đôi công nghĩa là cả 2 đội đều chơi tấn công. Đôi là một cặp (tiếng Nôm), công là tấn công (tiếng Hán Việt). Vậy đôi công là một từ bậy bạ do người kém hiểu biết bịa ra mà hiệu quả rõ ràng là làm xấu đi ngôn ngữ của dân tộc mình. Có người nghĩ rằng, cứ bịa ra những từ mới là làm giàu cho ngôn ngữ. Quan niệm như thế là sai; cũng như muốn làm giàu thì kiếm được thực sự nhiều tiền chứ không phải cứ nhét vào tủ các thứ giấy tờ bậy bạ mà gọi làm giàu được.
6. XÂY DỰNG. “Anh Hai tôi quyết định xây dựng với người yêu của mình” Các bạn đừng tưởng rằng 2 người quyết định đi xây nhà để ở nhé. Không, 2 người quyết định làm đám cưới đó. Viết văn như thế thì hết chỗ để phê bình rồi.
VI. Dùng sai nghĩa từ thuần Việt.
1. NGƯỠNG: Người ít học cũng biết ngưỡng là một giới hạn rất xác định, một gạch ngang rõ nét, và bước qua vạch ngang đó thì mọi việc sẽ thay đổi một cách căn bản. Thí dụ, ngưỡng cửa là một đường ngang, bên trong là phòng, bên ngoài là sân hay mái hiên chứ không còn là phòng nữa. Một thí dụ khác: khi lượng glucose trong máu tăng lên và vượt qua ngưỡng 1,2g/l thì đường có thể thoát ra ngoài theo nước tiểu, còn dưới cái ngưỡng đó thì không hề gì. Ngưỡng có nghĩa rõ ràng như thế và học sinh nào cũng biết. Thế mà mỗi đêm, trong mục dự báo thời tiết, xướng ngôn viên cứ lải nhải; nhiệt độ đạt ngưỡng từ 32 độ đến 35 độ. Nghe chịu hết nổi. Tôi không trách người xướng ngôn vì bản tin không phải do người xướng ngôn viết mà do các đấng đại trí thức trong ban biên tập viết nên.
2. KIÊU NGẠO. Có người nhờ tôi giải thích một câu nói trong sách báo nào đó: ”Thằng A hay kiêu ngạo người khác.” Tôi không giải thích được, vì không rõ câu nầy có nghĩa: “thằng A thường tỏ ra kiêu căng với người khác”, hay là “thằng A thường chế nhạo người khác”. Chắc chắn cả 2 cách giải thích đều không ổn vì dùng từ kiêu ngạo như thế là sai rồi thì không thể có cách nào giải thích câu nói cho đúng được.
3. TRAO ĐỔI. Từ nầy có nghĩa là đưa qua đưa lại các vật với nhau. Ngày nay người ta lại dùng từ nầy một cách sai lầm để thay thế cho từ bàn bạc hay thảo luận. Thí dụ: “Để thực hiện chỉ thị, tôi đã trao đổi với đồng chí chủ tịch”.
VII. Dùng từ thiếu chính xác:
1. CHẤT LƯỢNG. Chất 質 là cái khối chứa bên trong một vật (matière,) lượng 量 là tính chất của cái gì có thể cân đo đếm được (quantité). Vậy chất lượng hay khối lượng là cái chất bên trong của một vật có thể đo lường được (masse). Thí dụ: “khối lượng hay chất lượng của một vật là 1 kilo gramme”. Thế mà ngày nay người ta dùng từ chất lượng để chỉ cái tính tốt xấu của một vật, không thể đo đếm được (qualité). Thí dụ: “Chất lượng của nước giải khát nầy kém lắm, uống không ngon má còn có hại cho sức khỏe nữa”.
2. CẢM GIÁC. 感覺 Đó là sự nhận biết của cơ thể do ngoại giới tác động vào các giác quan của cơ thể. Thí dụ: “Gió về khuya gây cảm giác lạnh. Tiếng đàn gây cảm giác êm đềm”. Ngày nay, người ta thường dùng từ cảm giác thay cho từ cảm nghĩ. Thí dụ: ‘Với tình hình nầy, anh có cảm giác thế nào?”. Thực là sai một cách trầm trọng.
3. THỐNG NHẤT. Thống nhất 統一 là làm biến mất tình trạng chia rẽ bằng cách gom các thứ về một mối. Ngày nay người ta lại thường dùng từ thống nhất để diễn tả sự đồng ý, cùng chung quan điểm. Thí dụ, người ta đã nói: “Để thực hiện tốt chỉ thị, tôi cần thống nhất đồng chí chủ tịch”. Nói như vậy là sai.
4. GIẢI PHÓNG. Giải phóng 解放 là một từ thường dùng trong lĩnh vực chính trị để chỉ công cuộc cởi bỏ áp bức, trói buộc cho con người. Ngày nay, người ta lại dùng một cách sai lầm từ nầy cho vật chất. Thí dụ: người ta nói giải phóng mặt bằng thay cho từ đúng là giải tỏa mặt bằng.
5. ĐĂNG KÝ. Đăng ký 登記 là chép vào sổ một vật được đưa đến. Thế mà ngày nay, người ta nói: “Tôi đã đăng ký đi nước ngoài” Nghe như người ta sẽ gói tôi lại rồi đem gởi ra nước ngoài. Với con người, không thể nói đăng ký mà phải nói: ghi danh hay ghi tên mới đúng.
VIII. Từ vựng lộn xộn:
1. LÁI XE. Đó rõ ràng là một động từ, hay đúng hơn là một từ kép gồm một động từ và một túc từ. Tuy nhiên, ngày nay người ta cũng dùng từ nầy để chỉ người lái xe, tức là danh từ. Vì vậy, người ta có thể nói: “Sáng nay, lái xe đang lái xe gặp một lái xe khác cũng lái xe, cả hai lái xe cùng lái xe về nhà.” Thực là buồn cười. Trước đây ở miền Nam, lái xe dứt khoát chỉ là động từ, còn danh từ phải là người lái xe hay muốn nói gọn hơn thì dùng từ phiên âm Quảng Đông (?), tài xế cũng được rõ ràng minh bạch.
2. YÊU CẦU. Đây là một động từ. Thí dụ: “Tôi yêu cầu anh đi ngay”. Sau 75, tôi gặp ngay trong giáo án (tài liệu chính thức để dạy học) 2 chữ: mục đích và yêu cầu. Động từ yêu cầu đã biến hẳn thành danh từ.
3. NGHIÊN CỨU SINH. Sinh 生 là tiếng Hán Việt. Dùng làm động từ thì sinh có nghĩa là sống, còn dùng làm danh từ thì sinh có nghĩa là con người đang sống. Thí dụ học sinh là người đi học, giáo sinh là người đi dạy. Nguyên cứu sinh là người đi nghiên cứu. Rõ ràng như vậy, thế mà tôi đã nghe người ta nói và đã thấy người ta viết những câu như “Con tôi được đi nghiên cứu sinh tại Trung quốc” Như thế là nói bậy vì lấy một danh từ làm động từ!
4. ẤN TƯỢNG. Theo cụ Đào Duy Anh, ấn tượng 印象(impression) là cái hình tượng do ngũ quan cảm xúc mà còn in sâu vào óc. Vậy ấn tượng là một danh từ của tâm lý học. Thế mà ngày nay người ta đem dùng làm tính từ như “cảnh đó rất ấn tượng”, và cả động từ nữa, như “tôi rất ấn tượng cảnh đó”. Hết sức bậy bạ.
5. THẦN TƯỢNG. 神像 Từ nầy có nghĩa là hình tượng cao quý như thần. Vậy đây là danh từ nhưng, cũng như chữ trên đây, thần tượng được dùng như tính từ như “người đó rất thần tượng”, rồi cả động từ nữa “anh có thần tượng đồng chí đó không?”
6. TRÊN. Rõ ràng đây là một giới từ, bây giờ lại trở thành danh từ. Thí dự: “Cần phải báo cáo cho trên rõ” hay “trên bảo, dưới không nghe”.
7. LÀM TỐT. Tốt là một tính từ bổ túc nghĩa cho danh từ, như hạnh kiểm tốt, sức khỏe tốt. Ngày nay tốt được dùng làm trạng từ bổ túc nghĩa cho động từ, như làm tốt, học tốt, thay vì nói làm giỏi, học giỏi.
8. LÃNH ĐẠO. Tôi không tìm thấy chữ nầy trong các tự điển Hán Việt nhưng lại có trong tự điển của Tàu hiện nay 领导 và có nghĩa là điều khiển, hướng dẫn con đường đi. Vậy rõ ràng đây là một động từ. Tuy nhiên ngày nay người ta lại dùng làm danh từ. Thí dụ: “Lãnh đạo đã chỉ thị như thế”. Sự rối loạn về từ vựng trong ngôn ngữ thực là điều rất đáng tiếc. Từ đầu thế kỷ 20, do ảnh hưởng của tiếng Pháp, ngôn ngữ Việt Nam dần dần được minh bạch về từ vựng nên trở nên sáng sủa và rõ nghĩa, nay có biểu hiện rối rắm về từ vựng và trở nên tối tăm, có lẽ do mấy ông đi học bên Tàu về. Tiếng Tàu thì rất lôi thôi về từ vựng, ai cũng rõ điều đó.
IX. Cóp tiếng Tàu đang dùng.
1. LƯU BAN. Học sinh kém quá không được lên lớp thì gọi là lưu ban. Trong tiếng Tàu hiện nay, ban 班 là lớp học nhưng với tiếng Hán Việt (gốc từ tiếng Tàu đời Đường) thì ban không phải là lớp học mà có nghĩa rất xa lạ (ban phát, hạng thứ, đem quân trở về). Do đó, dùng tiếng lưu ban để nói học sinh không được lên lớp thì không ổn chút nào. Dùng chữ lưu cấp 留級 thì gần đúng nghĩa hơn. Nhưng thôi, lưu ban, lưu cấp làm chi. Mình đã có chữ thuần Việt đã dùng từ lâu là ở lại lớp rất hay, vì phụ huynh học sinh nào cũng hiểu được.
2. TRANH THỦ. Đây là từ mới được đưa vào Nam sau 1975, và có nghĩa là lợi dụng tình hình để làm được việc gì đó. Thí dụ: “trong chuyến đi thăm vừa qua, anh ấy đã tranh thủ kiếm chác được chút ít” Tôi đã cố tìm hiểu xuất xứ của từ nầy và nhận ra rằng từ tranh thủ không có trong tiếng Hán Việt nhưng hiện nay đang được dùng bên Tàu. Việc đem tiếng Tàu hiện nay, phiên âm Hán Việt rồi nhập vào ngôn ngữ Việt Nam là điều không hợp lý vì nó sẽ làm rối rắm ngôn ngữ của mình. Nên nhớ tiếng Hán Việt có nguồn gốc tiếng Hán ở đời Đường chứ không phải là tiếng Tàu ngày nay, đã khác khá nhiều với tiếng Tàu đời Đường, về phát âm cũng như về ý nghĩa. Thí dụ, 大家 , tiếng Hán Việt đọc đại gia và có nghĩa là người hay gia đình có vai vế trong xã hội, trong khi đó tiếng Tàu hiện đại đọc là dà jià và có nghĩa là tất cả mọi người. Một thí dụ khác: 東西 tiếng Hán Việt đọc là đông tây và có nghĩa là 2 phương hướng, trong khi tiếng Tàu hiện đại đọc là dòng xì và có nghĩa là hàng hóa. Cho nên tiếng Tàu ngày nay phải được xem là ngoại ngữ đối với ngôn ngữ Việt Nam và không nên nhập một cách bừa bãi vào tiếng Việt.
X. Đảo ngược từ kép làm sai nghĩa:
1. ĐIỂM YẾU. Từ kép nầy gồm 2 tiếng đơn ghép theo văn phạm Nôm có nghĩa là điểm không mạnh. Có người đem đảo ngược lại thành yếu điểm theo văn phạm Hán Việt thì lại có nghĩa hoàn toàn khác hẳn: điểm rất quan trọng.
2. THẤP ĐIỂM. Từ nầy thường được dùng sai một cách thực buồn cười. Cao là tiếng Hán đã được Việt hóa, nên có thể dùng theo văn phạm Hán hay Nôm cũng đều có một nghĩa duy nhất là “ở phía bên trên”. Thí dụ: điểm cao và cao điểm cùng một nghĩa. Trong khi đó thấp lại có hai nghĩa khác nhau tùy theo tiếng Hán hay Nôm. Theo tiếng Nôm thì thấp có nghĩa là ở bên dưới, nhưng với tiếng Hán thì thấp có nghĩa là ẩm ướt… Vì vậy, khi nói điểm thấp thì đó là chỗ ở dưới thấp, nhưng khi đảo lại thành thấp điểm thì có nghĩa là nơi ẩm ướt. Thực là buồn cười khi đọc báo thấy: “giao thông giờ cao điểm, giao thông giờ thấp điểm” hay “dùng điện lúc cao điểm và dùng điện lúc thấp điểm”.
XI. Đảo từ kép bừa bãi và không cần thiết:
1. XA XÓT. Tôi đọc được cách đảo kỳ cục trong một tác phẩm bán rất chạy trong thời gian gần đây. Nguyên câu đã viết là: “…ông Năm xa xót nhìn hai đứa trẻ…”. Đảo từ như thế là bừa bãi, chẳng nhằm lợi ích gì. Với văn vần thì có thể tạm chấp nhận sự đảo từ cho hợp thi luật; nhưng với văn xuôi thì không thể đảo từ một cách bừa bãi được.
Còn rất nhiều từ kép bị đảo xuôi đảo ngược vô tội vạ nữa: Nguy hiểm / hiểm nguy; đơn giản / giản đơn; khai triển / triển khai; từ chối / chối từ; bảo đảm / đảm bảo; bền vững / vững bền; minh chứng / chứng minh; phục hồi / hồi phục; biệt ly / ly biệt; tha thướt / thướt tha; thẩn thờ / thờ thẩn; tranh đấu / đấu tranh; thơ ngây / ngây thơ; xúc cảm / cảm xúc; quang vinh / vinh quang; kinh hoảng / hoảng kinh; ái ân / ân ái …..
Ôi thôi, nhiều quá, quá nhiều, không sao kể hết ngay tức thì được.
Có lẽ trên thế giới, không ngôn ngữ nào có các từ bị đảo ngược lung tung như ngôn ngữ Việt Nam hiện nay.
Cứ cái đà nầy, tôi e có ngày mình sẽ đọc được một câu thế nầy: “Người sĩ-chiến sinh-hi ngoài trận-mặt để vệ-bảo quốc-tổ, dân-nhân ở phương-hậu phải tỏ lòng ân-tri với các hùng-anh sĩ-liệt”!!!
XII. Ghép từ bừa bãi.
1. KÍCH CẦU. Đó là nhóm từ “kích thích nhu cầu tiêu thụ” được ghép cho ngắn lại làm cho nghĩa trở thành hết sức tối tăm. Nghe từ ghép “kích cầu”, tôi cứ tưởng công việc của mấy ông công chánh đang thực hiện ở dưới sông. Cách ghép nầy nghe rất chướng tai nhưng lại rất phổ biến hiện nay.
2. GIAO HỢP. Có một chuyện ghép từ rất khôi hài mà người ta thường hay kể lại. Chuyện thế nầy: Đồng chí giám đốc phái một nữ nhân viên qua một xí nghiệp bạn với lời dặn dò cẩn thận: “Cô hãy sang đó và cố gắng thuyết phục cho họ chịu giao hợp nhé”. Ý đồng chí giám đốc muốn nói giao hợp có nghĩa là giao thiệp và hợp tác; không biết cô nữ nhân viên có hiểu đúng ý đồng chí giám đốc hay không.
XIII. Dùng từ dao to búa lớn:
1. CHIẾN. Đá bóng chỉ là một trò chơi thể thao thuần túy thế mà các xướng ngôn viên và bình luận viên của chúng ta luôn luôn gọi đó là cuộc chiến. Cuộc chiến thì phải có đổ máu, phải có quyết tâm tiêu diệt kẻ thù hay ít ra làm cho kẻ thù phải khốn đốn. Một hôm đi ngang qua sạp báo tôi thấy một tờ báo chạy một cái tựa rất lớn ở trang nhất: “nội chiến ở bán đảo Ibérique”. Tôi giật mình không hiểu tại sao giữa hai nước anh em Tây ban nha và Bồ đào nha lại nổ ra chiến tranh. Tôi vội vã móc tiền ra mua ngay tờ báo đó rồi chạy nhanh về nhà để đọc. Đọc xong, tôi ngã ngửa. Thì ra, trong một cuộc bốc thăm do FIFA tổ chức, hai đội tuyển bóng tròn của Tân ban nha và Bồ đào nha gặp nhau trong cuộc chơi play-off. Thế mà người ta dám gọi là nội chiến. Xin chào thua cách dùng ngôn từ Việt Nam ngày nay.
2. CHIẾN ĐẤU. Tôi đã từng nghe nói: “Chúng ta phải cương quyết chiến đấu với tư tưởng sai trái”. Nghe thực đáng sợ.
3. NGÀI. Đã có lúc, nhân danh lập trường giai cấp, lập trường ta bạn thù, người ta gọi các lãnh tụ của nước tư bản bằng thằng nọ thằng kia. Bây giờ, chúng ta chơi với tư bản thì ai người ta cũng gọi bằng “ngài”. Ngài thủ tướng, ngài đại sứ, ngài nghị sĩ, vân vân. Nghe có vẻ nịnh bợ quá đi thôi.
4. THAM QUAN. 參觀 Đi chơi để ngắm cảnh thì gọi là tham quan, có nghĩa là tham dự vào một công cuộc xem xét, nghiên cứu.
5. NGHIÊN CỨU SINH. Đi học thêm ở ngoại quốc, chuyện quá tầm thường, nhiều khi lợi dụng làm chuyện bậy bạ, lại tự tâng bốc mình là đi nghiên cứu.
XIV. Dùng từ Hán Việt thay từ Nôm một cách kỳ cục:
1. KHẨN TRƯƠNG: Một đồng nghiệp của tôi định cư tại Úc từ năm 1975. Cách đây vài năm, thầy về Việt Nam lần đầu tiên và dùng tàu hỏa ra Hà nội thăm quê. Giữa khuya, tàu đến ga Đồng Hới thuộc tỉnh Quảng Bình. Đang ngủ say, bỗng thầy giật mình tỉnh dậy vì tiếng loa “… hành khách khẩn trương lên”. Thầy hoảng hồn phóng xuống giường, chạy ra khỏi buồng của toa xe vì tưởng xe trật đường rầy hay có hỏa hoạn xảy ra. Nhưng không, nhân viên trên toa tàu chỉ nhắc nhở hành khách nào xuống tàu ở ga nầy thì nhanh lên, thế thôi! Tội nghiệp, thầy Phụng hoảng hồn cũng phải vì ở miền Nam trước đây, người ta ăn nói một cách giản dị và chỉ hay dùng tiếng Hán Việt trong văn chương và khi có việc nghiêm trọng mà thôi.
2. BÁO CÁO. Một người bạn đã nói với tôi: “Báo cáo anh, chiều nay tôi phải lên xe về Hà Nội”. Tôi nghe chữ báo cáo thì cứ tưởng anh ta đang nói với một vị tư lệnh trên chiến trường.
XV. Thay từ Hán Việt thông dụng bằng từ Nôm bất hợp lý.
1. MÁY BAY LÊN THẲNG. Cái loại máy bay có thể bay lên mà không cần phi đạo, ngày trước người miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, từ người có học đến người thất học, đều gọi bằng một cái tên rất gọn là trực thăng. Sau 1975, người ta sửa lại là máy bay lên thẳng, không hiểu lý do tại sao.
2. LÍNH THỦY ĐÁNH BỘ. Ngày trước miền Nam có một binh chủng đặt tên là Thủy quân lục chiến. Đó gần như là một danh từ riêng. Sau 75 thì sửa lại là lính thủy đánh bộ cho có vẻ nôm na, dù thủy và bộ vẫn là tiếng Hán Việt. Có người bảo rằng cái gì của ta thì dùng tiếng Hán Việt mới bảnh, còn cái gì của kẻ thù thì dùng tiếng Nôm để làm giảm giá trị. Nếu quả đúng như thế thì đó thực là một quan niệm hết sức sai lầm và xúc phạm một cách trầm trọng đến giá trị tiếng thuần Việt của dân tộc mình.
XVI. Chưa có được những từ thỏa đáng cho khoa học và kỹ thuật hiện đại.
1. COMPUTER dịch là máy vi tính là không thỏa đáng. Máy vi tính có nghĩa là máy dùng làm những phép tính rất nhỏ. Chức năng của computer không phải chỉ như thế. Xin để dành cho các nhà chuyên môn về kỹ thuật và các nhà ngôn ngữ nói chuyện với nhau để chọn từ cho chính xác.
2. INFORMATION TECHNOLOGIE (I.T.) dịch là tin học, cần xét lại 2 điểm. Thứ nhất, technologie là một kỹ thuật, dịch bằng một chữ học trơ trọi thì không ổn. Thứ hai, muốn dùng từ kép “tin học” thì 2 từ đơn phải đều là tiếng Hán Việt. Nhưng tin là tiếng Nôm còn tín mới là tiếng Hán Việt.
3. ON LINE, OFF LINE, dịch là trực tuyến và ngoại tuyến thì e không ổn. Ở tiếng Mỹ, on và off là 2 từ đối nghịch nhau thì dịch sang tiếng Việt cũng cần 2 từ đối nghịch nhau mới được. Cho nên dùng 2 từ trực và ngoại thì chẳng ổn chút nào. Một lần nữa, chúng ta chờ đợi sự bàn bạc giữa các chuyên viên kỹ thuật và ngôn ngữ.
Hà Thủy Nguyên
-
STROKE IDENTIFICATION:
This email contains a link to a very important read about 4 indicators of Stroke that will prove to be very helpful in our every day lives. Please take a moment to read and educate yourself about how to recognize a stroke victim.
Stroke has a new indicator

Stroke has a new indicator
They say if you email this to ten people, you stand a chance of saving one life. Will you send this along?Blood Clots/Stroke – They Now Have a Fourth Indicator, the Tongue
I will continue to forward this every time it comes around!
STROKE: Remember the 1st Three Letters…..
S. T. R.
STROKE IDENTIFICATION:
During a BBQ, a woman stumbled and took a little fall – she assured everyone that she was fine (they offered to call paramedics) …she said she had just tripped over a brick because of her new shoes.
They got her cleaned up and got her a new plate of food. While she appeared a bit shaken up, Jane went about enjoying herself the rest of the evening.
Jane’s husband called later telling everyone that his wife had been taken to the hospital – (at 6:00 PM Jane passed away.) She had suffered a stroke at the BBQ. Had they known how to identify the signs of a stroke, perhaps Jane would be with us today. Some don’t die. They end up in a helpless, hopeless condition instead.
It only takes a minute to read this.
A neurologist says that if he can get to a stroke victim within 3 hours he can totally reverse the effects of a stroke…totally. He said the trick was getting a stroke recognized, diagnosed, and then getting the patient medically cared for within 3 hours, which is tough.
RECOGNIZING A STROKE
Thank God for the sense to remember the ‘3’ steps, STR. Read and
Learn!
Sometimes symptoms of a stroke are difficult to identify. Unfortunately, the lack of awareness spells disaster. The stroke victim may suffer severe brain damage when people nearby fail to recognize the symptoms of a stroke.
Now doctors say a bystander can recognize a stroke by asking three simple questions:
S *Ask the individual to SMILE.
T *Ask the person to TALK and SPEAK A
SIMPLE SENTENCE (Coherently)
(i.e. Chicken Soup)
R *Ask him or her to RAISE BOTH ARMS.
If he or she has trouble with ANY ONE of these tasks, call emergency numberimmediately and describe the symptoms to the dispatcher.
New Sign of a Stroke ——–
Stick out Your Tongue!
NOTE: Another ‘sign’ of a stroke is this: Ask the person to ‘stick’ out his tongue. If the tongue is
‘crooked’, if it goes to one side or the otherthat is also an indication of a stroke.
A cardiologist says if everyone who gets this e-mail sends it to 10 people; you can bet that at least one life will be saved.
-
Những tác-hại khủng-khiếp khi thức khuya
Hy vọng bài viết này phần nào bạn đã hiểu rõ tác hại của việc thức khuya và hãy khắc phục nó để cơ thể của bạn được bình thường và bạn luôn khỏe mạnh.
NGỦ MUỘN, NGUY CƠ CỦA NHIỀU BỆNH TẬT
★ Từ 21 – 23h là quãng thời gian hệ miễn dịch (bạch cầu lymph) bài độc (đào thải chất độc).
★ Từ 23h – 1h sáng là quãng thời gian bài độc của gan, cần tiến hành trong khi ngủ say.
★ Từ 1h – 3h sáng là thời gian bài độc của mật, cũng cần thực hiện trong giấc ngủ say
★ Từ 3h – 5h sáng là thời gian bài độc của phổi. Cũng chính là lý do tại sao mà người đang mắc bệnh ho lại hay ho dữ dội vào lúc này, bởi hoạt động bài độc đã chạy đến phổi. Vì thế, không nên dùng thuốc chống ho để tránh gây cản trở việc đào thải các chất cặn bã trong người vào lúc này.
★ Từ 5h – 7h là khoảng thời gian ruột già bài độc, cho nên cần đi toalet vào lúc này.
★ Từ 7h – 9h là lúc ruột non hấp thụ chất dinh dưỡng nhiều nhất, cho nên cần phải ăn sáng. Những người đang phải trị bệnh tốt nhất ăn sớm hơn, từ trước 6h sáng, còn với người ăn dưỡng sinh thì ăn trước 7h sáng. Những người không ăn sáng cần thay đổi thói quen xấu này, dù có đợi đến 9, 10h mới ăn cũng tốt hơn là không ăn.
★ Từ nửa đêm cho đến 4h sáng là thời gian tủy sống tạo máu, cần phải ngủ say, không nên thức khuya.
TÁC-HẠI CỦA VIỆC THỨC KHUYA, NGỦ MUỘN !
••• Giảm trí nhớ.
••• Uể oải, khó tập trung chú ý vào công việc.
••• Ù tai, chóng mặt, mắt mờ.
••• Nóng nảy, cáu bẳn (dù có chú ý để tránh nổi nóng thì cũng vô ích, tới lúc nóng là không kiềm chế nổi).
••• Đau mỏi cơ, có thể thỉnh thoảng bị chuột rút. Đối với những người tập thể hình thì việc thức khuya sẽ giảm khả năng phục hồi và phát triển của cơ bắp.
••• Trung khu thần kinh uể oải thì thần kinh vị giác cũng trì trệ, dẫn tới ăn uống không ngon miệng.
••• Da mặt nhợt nhạt, thiếu sinh khí, nhiều dầu, đôi khi sần sùi và nổi mụn, dưới mắt có quầng thâm. Thức khuya ảnh hưởng đến làn da, nhất là da mặt. Thông thường là khoảng từ 10h – 11h tối, da ở trong trạng thái dưỡng và hồi phục. Nếu như thường xuyên thức khuya sẽ làm rối loạn hệ tuần hoàn bình thường của việc trao đổi chất và hệ thống thần kinh, sẽ khiến cho da bị khô, giảm sức đàn hồi, bị sạm và không mịn màng…
••• Khô mắt, mỏi mắt, và nếu mắt phải làm việc khuya trong điều kiện thiếu ánh sáng thì dễ bị giảm thị lực.
••• Thức khuya hay ngủ ít có thể dẫn tới nguy cơ tăng cân theo chiều hướng tiêu cực, có thể gây thêm các tác dụng khác là nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, tăng huyết áp…
••• Bên cạnh đó thức khuya trong thời gian dài dẫn đến nguy cơ mắc bệnh ung thư cao hơn so với những người không thức khuya.
Đối với nhiều người giấc ngủ đến thật dễ dàng. Thế nhưng, con số đông còn lại đang phải vật lộn, chiến đấu, thậm chí giành giật để có giấc ngủ ngon đến với mình.
THEO ĐỒNG HỒ SINH HỌC THÌ
★ Trạng thái ngủ từ 0 đến 1 giờ sáng khiến cơ thể được nghỉ ngơi thực sự, giúp tinh thần sảng khoái, dung nhan tươi tắn khi tỉnh dậy. Nên ngủ trước đó tầm 1 hoặc 2 tiếng, để vào tầm thời gian nói trên thì đã chìm vào giấc ngủ sâu.
★ Từ 1h tới 5h sáng là lúc cơ thể tiết ra các chất tái sinh và nâng cao hệ miễn dịch. Thức khuya thì rút ngắn hoặc thậm chí làm cơ thể bỏ qua giai đoạn này, lâu dần sẽ suy sụp thấy rõ.
★ Trong các giai đoạn ngủ sâu thì cơ thể tiết nhiều hooc-môn để cân bằng và nâng cao sức đề kháng, mà thức khuya thì khiến hoạt động ấy xảy ra chậm và ít hơn.
Tác hại của việc thức khuya, ngủ muộn có rất nhiều, có loại về lâu dài mới phát tác, có loại thì ngay hôm sau đã có thể phát tác rồi, ví dụ như mắt thâm quầng, mệt mỏi, trí nhớ giảm sút. Thức khuya cũng ảnh hưởng đến hệ thần kinh. Nên nhớ rằng ban đêm hệ thần kinh giao cảm của con người sẽ nghỉ ngơi, vì ban ngày nó đã hoạt động rất mạnh để giúp con người làm việc và sinh hoạt. Nhưng những người thức khuya thì thần kinh giao cảm vẫn hoạt động mạnh.
Như vậy, ngày hôm sau chắc chắn chúng ta sẽ cảm thấy mệt mỏi, sa sút tinh thần, đầu óc căng thẳng, trí nhớ kém, khó tập trung tư tưởng, phản ứng chậm, hay quên, chóng mặt, nhức đầu… Lâu ngày sẽ dẫn đến bị bệnh suy nhược thần kinh.
Một giấc ngủ ngon là khi thức dậy, bạn cảm thấy hoàn toàn được nghỉ ngơi, tràn đầy năng lượng và vui vẻ. Nếu thường xuyên cảm thấy không thoải mái sau khi thức dậy, bạn nên thử chuyển sang các tư thế ngủ tốt nhất nằm nghiêng về bên phải.
Hy vọng bài viết này phần nào bạn đã hiểu rõ tác hại của việc thức khuya và hãy khắc phục nó để cơ thể của bạn được bình thường và bạn luôn khỏe mạnh.
Nguồn: Alobacsi
-
BAN NHẠC AVT
Chúc Xuân (Ban AVT Hải Ngoại) Thâu âm: TT Asia 10 – Video 4K: Trần Ngọc A. Ban nhạᴄ AVT xuất hiện lần đầu νàᴏ năm 1958, ɡồm 3 nɡhệ sĩ ᴄòn rất trẻ đều là tân binh ᴄủa Tiểu đᴏàn 1 CTCT, tên là Anh Linh (người thành lập) và Vân Sơn νà Tuấn Đănɡ, ᴄhuyên trình bày nhữnɡ bản nhạᴄ νui tươi, lối trình diễn rộn rànɡ νà khuấy độnɡ sân khấu. Họ lấy 3 ᴄhữ đầu ᴄủa tên 3 thành νiên tɾᴏnɡ ban nhạᴄ để ɡhéρ lại thành tên ban nhạᴄ AVT.
Thời ɡian đó, ban AVT rất đượᴄ yêu thích νà thườnɡ đượᴄ khán ɡiả phònɡ trà yêu ᴄầu hát thêm nhiều nhất, nên thù lao được trả ᴄho họ ᴄũnɡ rất ᴄaᴏ, mỗi nɡười nhận đượᴄ 1000 đồnɡ ᴄhᴏ 1 đêm diễn. Để sᴏ sánh thì được biết thời điểm đó tiền trả ᴄhᴏ “quái kiệt” Tɾần Văn Trạᴄh là 700 đồnɡ.
Hình ảnh quеn thᴜộc ᴄủa AVT thườnɡ thấy trên sân khấu là họ đều mặc qᴜốc phục νới khăn đónɡ, áᴏ dài, tự đàn ᴄáᴄ lᴏại nhạᴄ khí dân tộᴄ. Tuy nhiên trướᴄ khi sử dụnɡ các lᴏại nhạc cụ truyền thốnɡ đó thì họ dùnɡ nhạᴄ khí Tây phươnɡ: Anh Linh ᴄhơi ɡuitar, Vân Sơn ᴄhơi trốnɡ νà Tuấn Đănɡ sử dụnɡ ᴄᴏntrе-bass.
Sanɡ thập niên 1960, Ban AVT được Nhạᴄ sĩ Lữ Liên góp phần và phát triển caᴏ hơn để νiết ra nhiều ca khúc thuộc thể lᴏại nhạc mới lạ, ɡọi là nhạc tràᴏ phúnɡ, đượᴄ νiết trên ɡiai điệu nhạᴄ ᴄổ trᴜyền. Từ nhữnɡ bài hát này, ban AVT đã tạᴏ dựnɡ được một trườnɡ phái âm nhạc riênɡ biệt.
Ca khúc đầu tiên ᴄủa thể lᴏại đó là bài Tam Nɡhiệp, nội dunɡ mô tả 3 ᴄhànɡ Thợ Nhuộm, Thợ Sửa Khóa νà Thầy Bói. Khi AVT manɡ lên tɾình diễn ở rạp Thốnɡ Nhứt, lần đầu tiên khán ɡiả đã đượᴄ thưởnɡ thứᴄ một nhạc phẩm tràᴏ phúnɡ νới nhữnɡ âm điệu ᴄổ truyền quеn thuộᴄ, ᴄùnɡ nhữnɡ lời ca dí dỏm νà nɡhệ thuật trình diễn sốnɡ độnɡ, manɡ lại nhiều tiếnɡ ᴄười.
Kể từ đó Ban AVT bướᴄ νàᴏ một khúᴄ qᴜanh qᴜan tɾọnɡ, ᴄhᴜyên trình diễn nhữnɡ nhạᴄ phẩm trào phúnɡ, nội dunɡ bài hát ɡần ɡũi νới đời sốnɡ thườnɡ nɡày, đa ρhần là nhữnɡ sánɡ tác của Lữ Liên. Vàᴏ lúc này nhạc sĩ Lữ Liên (cha ᴄủa Tuấn Nɡọᴄ, Khánh Hà…) νẫn chưa ɡia nhậρ AVT, mà ᴄhỉ là nɡười ᴄhuyên sánɡ tác nhạᴄ để ban tam ᴄa hát.
Từ đầu thập niên 1960, AVT trở thành ban Tam ca ăn kháᴄh nhất trên khắp mọi phươnɡ tiện νà địa điểm biểu diễn, từ đài phát thanh, các phònɡ trà ca nhạc, νũ trườnɡ cũnɡ như ᴄác Đại Nhạᴄ Hội. Có thể nói AVT đã trở thành một hiện tượnɡ trᴏnɡ lànɡ nhạc Miền Nam νới một trườnɡ phái biểu diễn ᴄhưa từnɡ ᴄó trướᴄ đó: hình thứᴄ âm nhạᴄ tràᴏ phúnɡ manɡ lại nhiều tiếnɡ ᴄười ᴄhᴏ khán ɡiả.
Trᴏnɡ khᴏảnɡ thời ɡian từ 1960 đến 1964, Ban AVT đã đượᴄ 2 hãnɡ dĩa Sónɡ Nhạc νà Hãnɡ Dĩa Việt Nam mời thu đến 20 dĩa nhạc, trình diễn ở nhiều phònɡ trà ca nhạc νà νũ trườnɡ lớn ở Sài Gòn như Qᴜееn Bее, Quốᴄ Tế, Bồnɡ Lai…(Nhạc Sĩ Anh Bằng và Phạm Duy cũng viết một số bài cho Ban AVT trình diễn…)
Từ năm 1966-1967, Ban AVT đã thеᴏ Đᴏàn Văn Nɡhệ Việt Nam ᴄủa nhạc sĩ Hᴏànɡ Thi Thơ làm trưởnɡ đᴏàn đã đi trình diễn tại rất nhiều quốc ɡia như Làᴏ, Campuchеa, Philippinеs, Thái Lan, Sinɡapᴏrе, Malaysia, Nhật Bản… Sanɡ đến năm 1968 thì đᴏàn đi lưu diễn tận các nước Châu Âu như Pháp, Thụy Sĩ, Anh, rồi đến các nước Bắᴄ Phi là Marrocco, Alɡériе, Tunisiе… Nơi nàᴏ AVT cũnɡ ɡặt hái được nhữnɡ thành cônɡ rựᴄ rỡ, đó là thời ɡian cực thịnh của ban nhạc.
Thánɡ 4 năm 1975theo biến cố lịch sử, ban AVT tan rã. Nhạc sĩ Lữ Liên di tản sang Mỹ và quyết định tái lập ban AVT tại hải ɡồm Lữ Liên, Vũ Huyến νà Nɡọᴄ Bích. Năm 1977, nɡhệ sĩ Trườnɡ Duy thay thế Nɡọᴄ Bíᴄh.
Năm 1992, nɡhệ sĩ kịch Hᴏànɡ Lᴏnɡ thay thế Vũ Huyến.
Như νậy 3 nɡhệ sĩ ᴄuối ᴄùnɡ ᴄủa ban AVT là Lữ Liên, Trườnɡ Duy νà Hᴏànɡ Lᴏnɡ.
Nɡày 8 thánɡ 7 năm 2012, nhạᴄ sĩ Lữ Liên qua đời ở tuổi 92.
Nɡày 10 thánɡ 9 năm 2019, nɡhệ sĩ Trườnɡ Duy qua đời ở tuổi 71.
Và ɡần nhất là nɡày 11 thánɡ 11 năm 2020, nɡhệ sĩ Hᴏànɡ Lᴏnɡ đã qua đời ở tuổi 84.Đông Kha
-
Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam


Dân số miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) vào cuối thập niên 60 khoảng 17 triệu người, nông thôn chiếm 70% và thành thị chiếm 30%. Tuy ở trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng với nền giáo dục khai phóng được mở rộng tạo cơ hội cho tuổi trẻ trên bước đường học vấn… Về lãnh vực văn chương đã phổ biến rất nhiều tác phẩm sáng tác, riêng về sách dịch rất phong phú để độc giả tìm hiểu thêm về văn chương ngoại quốc.Trong phạm vi bài nầy chỉ đề cập đến Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam đã ảnh hưởng lớn với độc giả trong hai thập niên qua. Đây chỉ liệt kê phần nào trong toàn bộ sách dịch, vì tài liệu sưu tầm còn thiếu sót và không nhận định, phân tích nên chỉ ghi nhận tổng quát dịch giả, tác phẩm… – VTrD
<!>
Người đầu tiên đặt nền tảng chữ Quốc Ngữ (tiếng Việt) là giáo sĩ người Bồ Đào Nha thuộc Dòng Tên Francisco de Pina (1585-1625). Giáo Sĩ Alexandre de Rhodes (1591-1660) nối tiếp công việc hoàn thiện hơn việc dùng chữ Quốc Ngữ, hoàn thành cuốn tự điển Dictionarium Annamiticium – Lusitanium – Latinium (Tự Điển An Nam – Bồ Đào Nha – La Tinh) năm 1651.
Cuốn sách Catechismus “Phép Giảng Tám Ngày” giáo sĩ Alexandre de Rhodes được in tại Roma năm 1651. Đây là cuốn sách chữ Quốc Ngữ đầu tiên của Việt Nam. (Cuốn sách nầy còn lưu trữ ở nhà thờ tại Tuy Hòa, Phú Yên).
Vào cuối thế kỷ XIX, chữ Quốc Ngữ trở thành văn tự chính thức tại Nam Kỳ vào năm 1882, học giả Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) khi làm quản nhiệm (ngày 16/9/1869) Gia Định Báo, tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở miền Nam. Gia Định Báo ra đời ngày 15/4/1865, do người Pháp Ernest Potteau làm tổng tài (quản nhiệm), đến năm 1869 Trương Vĩnh Ký (Petrus Ký – Tiếng Latin là Petrus, tiếng Pháp là Pétrus) thay thế Ernest Potteau. Gia Định Báo chủ trương: cổ động tân học, truyền bá quốc ngữ và giáo dục quốc âm. Trước đó, chữ Hán và chữ Nôm được phổ biến rộng rãi nên từ khi có chữ Quốc Ngữ được quảng bá nên các bậc tiền nhân muốn khai phóng qua sách, báo… cho nền văn học đất nước.
Tại Sài Gòn, trường trung học Petrus Ký (Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký) được thành lập năm 1928, là một trong những ngôi trường nổi tiếng nhất ở miền Nam Việt Nam. Cổng trường Trung Học Petrus Ký có khắc hai câu đối của giáo sư Hán văn Ưng Thiều: “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt. Tây Phương khoa học yếu minh tâm!”, có tượng đồng bán thân của cụ ở giữa sân trường.
Vào đầu thế kỷ XX, học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) nhà báo, nhà văn, dịch giả… có công đóng góp cho nền dịch thuật Việt Nam. Ông là chủ bút đầu tiên tờ Đăng Cổ Tùng Báo, ra đời ngày 28/3/1907, xuất bản bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ.
Lục Tỉnh Tân Văn (1910), Đông Dương tạp chí (1913), Trung Bắc Tân Văn (1915, nhật báo đầu tiên)… Người đầu tiên dịch Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa từ chữ Hán ra chữ Quốc Ngữ năm 1909. Người đầu tiên dịch các tác phẩm văn học cổ điển Pháp của Victor Hugo, Honoré de Balzac, Alexandre Dumas, Molière, La Fontaine … ra tiếng Việt đã đã đăng trên Đông Dương tạp chí và đã ấn hành, trong đó có Thơ Ngụ Ngôn La Fontaine Diễn Nôm (Les Fables de La Fontaine, 44 truyện) phổ biến rộng rãi, được trích đăng rất nhiều. Đặc biệt với Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du dịch ra tiếng Pháp. Người đầu tiên đưa kịch nói (các tác phẩm của Molière) lên sân khấu nhà hát lớn Hà Nội năm 1920 (*).
(* Vương Trùng Dương: Bệnh Tưởng, Bi Kịch & Cuộc Sống trên trang web Đặc San Lâm Viên http://www.dslamvien.com/2022/02/benh-tuong-hai-kich-va-cuoc-song.html
Học giả Nguyễn Văn Vĩnh cũng là người sáng lập ra Hội Trí Tri và Hội Dịch Sách. Ngày 26/6/1907 ở Hội Trí Tri Hà Nội, ông đã diễn thuyết về Hội Dịch Sách, và phổ biến trên Đăng Cổ Tùng Báo.
Những tác phẩm Tây Phương qua dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh tiêu biểu vào tiền bán thế kỷ XX như: Thơ Ngụ Ngôn của La Fontaine (Fables de La Fontaine) Trẻ Con của Perrault (Les Contes de Charles Perrault), Mai-Nương Lệ-Cốt (Manon Lescaut) của Abbé Prévost, Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ (Les Trois Mouquetaires), của Alexandre Dumas, Những Người Khốn Khổ (Les Misérables) của Victor Hugo, Miếng Da Lừa (La Peau de chagrin) của Honoré de Balzac., Guy-li-ve Du Ký (Les Yoyages de Gulliver) của Jonathan Swift, Tê-lê-mặc Phiêu Lưu Ký (Les Aventures de Télémaque) của Fénélon, Sử Ký Thanh Hoa (Le Parfum des Humanités) của Emile Vayrac, Chàng Gil Blax Xứ Santillane (Gil Blas de Santillane) và Tục Ca Lệ (Turcaret) kịch của Lesage…
Bốn vở kịch nói của Molière: Trưởng Giả Học Làm Sang (Le Bourgeois Gentilhomme), Giả Đạo Đức (Le Misanthrope), Bệnh Tưởng (Le Malade Imaginaire), Lão Hà Tiện (L’Avare).
Và, từ đó những tác phẩm Tây Phương đã được các học giả, nhà văn, nhà báo từ Bắc đến Nam được dịch sang tiếng Việt.
Trong quyển Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan, ấn hánh năm 1941, quyển I, mục Những Nhà Văn Hồi Mới Có Chữ Quốc Ngữ từ trang 35 đến trang 190, tiên phong với Trương Vĩnh Ký, nhóm Đông Dương Tạp Chí với Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, nhóm Nam Phong Tạp Chí với Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Luật…
Theo nhà văn Vũ Ngọc Phan “Trong số những học giả Việt Nam theo Tây học ấy, người ta phải kể đến hai người có tiếng nhất là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Trai (tức Paulus Của). Hai ông đã dùng chữ Quốc Ngữ để truyền bá học thuật về tư tưởng Âu Tây và soạn tự điển Việt Pháp để người Nam có thể dùng mà học tiếng Pháp. Việt Pháp Tự Điển của Paulus Của là một bộ tự điển mà gần đây cả người Bắc lẫn người Nam vẫn còn dùng” (trang 37). Quan trọng nhất với Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, 2 cuốn, in tại Sài Gòn năm 1895 và 1896. Bộ sách nầy được in lại nhiều lần cho các thế hệ sau nầy tra cứu.
*
Trong phạm vi bài nầy, chỉ đề cập Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Học Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam vì nói đến dịch thuật với tất cả tác phẩm từ Á sang Tây, Mỹ… bao quát, không thể tổng hợp trong bài viết. Gọi là Tây Phương nhưng thực ra chỉ vài nước ở Âu Châu… Nguyễn Văn Lục với bài viết 20 Năm Văn Học Dịch Thuật Miền Nam 1955-1975 trên tờ Hợp Lưu vào cuối năm 2004, giới thiệu tổng quát về sách dịch.
Nhà văn Võ Phiến (1925- 2015) năm 1975 định cư tại Hoa Kỳ, là người làm sống lại nền Văn Học Miền Nam. Với bút hiệu Tràng Thiên đã ấn hành:
Hăm Bốn Giờ Trong Đời Một Người Đàn Bà (của Stéfan Zweig) Sài Gòn, 1963), Các Trào Lưu Lớn Của Tư Tưởng Hiện Đại (của André Maurois) Sài Gòn, 1964), Truyện Hay Các Nước, tập 1 & II (cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng) Sài Gòn, 1965.
Năm 1999, ông ấn hành bộ sách Văn Học Miền Nam gồm 6 cuốn về truyện (3 cuốn), ký, tùy bút và kịch, thơ.
Cuốn sách Văn Học Miền Nam Tổng Quan, NXB Văn Nghệ năm 1988, vào thời điểm đó được đánh giá là tài liệu về Văn Học đáng tin cậy để sưu tầm.
Theo Võ Phiến phần sách dịch chiếm đến 60% số đầu sách (tên sách, tựa đề tác phẩm dịch thuật) được xuất bản tại miền Nam đến năm 1973, nó đã lên đến 80%. Và theo Trần Trọng Đăng Đàn, trong bài viết Văn Hoá, Văn Nghệ Nam Việt Nam 1954-1975, số dịch phẩm tại miền Nam trong 20 năm đó có thể được chia ra thành: Pháp 499 cuốn, Đài Loan và Hương Cảng 358 cuốn, Mỹ 273 cuốn, Nga 120 cuốn, Anh 97 cuốn, Nhật 71 cuốn, Ý 58 cuốn, Đức 57 cuốn. Các nước khác chiếm 38 cuốn. Như thế, các sách được dịch, bao gồm cả sách nghiên cứu và các sáng tác, nhưng chủ yếu là tiểu thuyết, đến từ cả Tây Phương, Mỹ Châu và Á Châu…
Những tác giả đã có công dịch thuật như Nguyễn Hiến Lê, Trương Bảo Sơn, Vũ Đình Lưu (Cô Liêu), Phạm Công Thiện (dịch các tác phẩm triết), Bùi Giáng, Phùng Khánh & Phùng Thăng, Nguyễn Hiến Lê, Tam Ích, Bửu Ý, Ngọc Thứ Lang, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Hữu Hiệu, Đỗ Khánh Hoan, Mặc Đỗ, Trần Phong Giao, Hoài Khanh, Hoàng Hải Thủy (phóng tác)…
Trong quyển Văn Học Miền Nam 1954-1975 của Nguyễn Vy Khanh năm 2019, Chương 6 đề cập đến Dịch Thuật & Văn Học nước ngoài, giới thiệu các dịch giả đóng góp.
Ngoài ra, nhiều dịch giả với một, hai tác phẩm trên nhiều lãnh vực rất phong phú, mở rộng kiến thức để nghiên cứu và giải trí…
Tư tưởng triết học Tây Phương được phổ biến ở miền Nam VN như Hiện Tượng Luận với Edmund Husserl khởi xướng, Merleau-Ponty, Gabriel Marcel, Heidegger, Karl Jaspers, Paul Ricoeur, Emmanuel Lévinas và Mikel Dufrenne… Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998) ấn hành 2 quyển về Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Đại, Sài Gòn 1963, ông cho biết phải học thêm tiếng Đức để tra cứu tài liệu. Phạm Công Thiện dịch 2 tác phẩm của Martin Heidegger: Về Thể Tính Của Chân Lý, Sài Gòn, 1968); Triết Lý Là Gì?, Sài Gòn, 1969)…
*
A.- Nobel Văn Chương Tây Phương & Tác Phẩm Dịch Thuật
Nobel Văn Chương (Văn Học) là một trong 6 bộ môn: Y Học & Sinh Học, Hóa Học, Vật Lý, Kinh Tế & Hòa Bình.
Giải Nobel Văn Chương đã được trao 114 lần từ năm 1901 đến 2021 cho 118 người (nam giới: 101 và nữ giới: 17). Ngày 6/10/2022, Viện Hàn Lâm Thụy Điển thông báo giải Nobel Văn Chương 2022 với nhà văn Pháp, bà Annie Ernaux, 82 tuổi. Đây là lần thứ 16 nền văn học Pháp có tên trên bảng vàng, nhà văn Annie Ernaux là phụ nữ Pháp đầu tiên đoạt Nobel Văn Chương và một trong những người cao tuổi nhất được vinh dự nầy.
1914 Không trao giải vì xảy ra Đệ Nhất Thế Chiến và 5 năm (1940-1944) không trao giải do xảy ra Đệ Nhị Thế Chiến.
Với các nhà dịch thuật ở Việt Nam rất quan tâm về giá trị các nhà văn đoạt Giải Nobel Văn Chương nên vào tiền bán kỷ XX đã dịch và giới thiệu ở trong nước.
Trong phạm vi bài nầy đề cập đến Nobel Văn Chương từ năm 1915 đến 1974, trong đó có những tác phẩm Tây Phương được sang tiếng Việt trong 20 năm (1954-1975) tại miền Nam VN. Hầu hết được dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp…
Danh sách nầy trên dựa vào trang web Wikipedia và các websites khác để tóm lược. Điển hình với các tác giả:
1915: Nhà văn Pháp Romain Rolland (1866-1940), ông viết về nhiều thể loại từ thi ca, âm nhạc đến kịch nghệ… biên khảo và phê bình. Musiciens d’Autrefois (Nhạc Sĩ Thời Xưa, 1908), Musiciens d’Aujourd’hui (Nhạc Sĩ Thời Nay, 1908), La Vie de Tolstoï (Cuộc Đời Tolstoy, 1911), Tác phẩm Jean – Christophe (1904-1912, 10 tập) và Au-Dessus De La Mêlée (Bên Trên Cuộc Chiến, 1915) đã góp phần chính trong Nobel Văn Chương. Tuy không có sách dịch nhưng nhiều bài viết trên các tạp chí văn học về nhà văn nầy.
1921: Nhà văn Pháp Anatole France (1844-1924): L’Histoire Contemporaine (Chuyện Thời Nay, 1897-1901), Đảo Chim Cánh Cụt (L’île des Pingouins, 1908), La Vie Littéraire (Đời Sống Văn Học, 1888-1892). Đây là nhà văn với các đoản văn của ông được học trong chương trình Việt Văn (Ban C) vì cách hành văn gọn gàng dễ hiểu.
1925: Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950), ông coi là nhà viết kịch Anh lẫy lừng ngay sau Shakespeare. Và các tiểu thuyệt tiêu biểu như: Immaturity (Non Nớt, 1879), The Irrational Knot (Cuộc Hôn Nhân Không Hợp Lý, 1880), Love Among the Artists (Tình Nghệ Sĩ, 1881)… MỘt số bài thơ của ông đã được dịch trên các tạp chí văn học.
1927: Nhà nghiên cứu văn học & triết học Pháp Henri Bergson (1859-1941) với các tác phẩm tiêu biểu như L’Evolution Créatrice (Tiến Hóa Sáng Tạo, 1907), Matière et Mémoire (Vật Chất & Ký Ức, 1896)… Linh Mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế đúc kết qua tác phẩm Henri Bergson, Năng Lực Tinh Thần.
1929: Nhà văn Đức Thomas Mann (1875-1955) được đánh giá là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất của Đức. với các tác phẩm tiêu biểu: Der Zauberberg (Núi Thần, 1924), Buddenbrooks – Verfall Einer Familie (Gia Đình Buddenbrook, 1901), Der Tod in Venedig (Chết Ở Venice, 1913)… Có nhiều bài viết về ông trên các tạp chí văn học (*nt)
1937: Nhà văn Pháp Roger Martin du Gard (1881-1958) với Jean Barois (1913), Les Thibault (Gia đình Thibault, 1922-1940) (*nt)
1946: Nhà văn Đức Hermann Hesse (1877-1962) với các tác phẩm: Tuổi Trẻ Băn Khoăn (Demian, 1919), Câu Chuyện Dòng Sông (Siddartha, 1922), Sói Đồng Hoang (Der Steppenwolf, 1927), Hành Trình Về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932) với những tác phẩm nổi tiếng của ông khi được giải Nobel Văn Chương năm 1946 nên được dịch ra tiếng Việt, quen thuộc với độc giả ở miền Nam VN. Ông là người uyên bác triết lý Đông Phương qua hai tác phẩm Siddartha (Câu Chuyện Dòng Sông, Phùng Thăng & Phùng Khánh dịch) và Die Morgenlandfahrt (Le Voyage du Matin, dịch sang tiếng Việt là Hành Trình Về Phương Đông), tác phẩm nầy trùng tên bộ sách của nhà văn Mỹ Baird Thomas Spalding, Nguyên Phong dịch Hành Trình Về Phương Đông. …
1947: Nhà văn Pháp André Gide (1869-1951). Ông là nhà văn nổi tiếng nhất ở thế kỷ XX, tác phẩm của ông được dịch từ trước như La Porte Étroite (Tiếng Đoạn Trường) do Đình Thạch dịch, Trung Bắc Tân Văn ấn hành năm 1937; La Symphonie Pastorale (Khúc Nhạc Đồng Quê), Đào Đăng Vỹ dịch, ấn hành năm 1954…
Các tác phẩm của ông như: Paludes, Les Nourritures Terrestres, Isabelle, L’École des Femmes, Robert, Œdipe… Đặc biệt với L’Immoraliste, 1902, La Porte Étroite, 1909, Les Faux-Monnayeurs, 1926… được nhiều dịch giả cùng dịch.
1948: Nhà thơ Vương Quốc Anh Thomas Stearns Eliot (1888-1965) với các thi phẩm The Love Song of J. Alfred Prufrock (Bản Tình Ca Của J. Alfred Prufrock, 1917), The Waste Land (Đất Hoang, 1922), The Hollow Men (Những Kẻ Rỗng Tuếch, 1925), Ash Wednesday (Ngày Thứ Tư Tro Bụi, 1930), Four Quartets (Bốn Khúc Tứ Tấu, 1935-1945)… với thơ ít dịch nguyên thi phẩm mà chỉ dịch một số bài trên các tạp chí.
1950: Triết gia Vương Quốc Anh Bertrand Russell (1872-1970) – (Đề cập ở phần Khuynh Hướng Triết Học & Văn Học)
1952: Nhà văn Pháp François Mauriac (1885-1970). Tác phẩm Thérèse Desqueyroux (Người Vợ Cô Ðơn) do Mặc Đỗ dịch năm 1956, giới thiệu với độc giả sau khi được giải Nobel Văn Chương (Năm 2022 nhà văn T.Vấn, ở Texas, dịch từ tiếng Pháp và đối chiếu với bản tiếng Anh, giữ nguyên tựa đề Thérèse Desqueyroux). Các tác phẩm tiêu biểu của ông như: Le Nœud de Vipères (Ổ Rắn Độc), Le Mystère Frontenac (Bí Ẩn Nhà Frontenac), La Fin de la Nuit (Đêm Tàn), Les Chemins de la Mer (Những Con Đường Của Biển), La Pharisienne (Người Đàn Bà Đạo Đức Giả), Mémoires Intérieurs (Hồi Ký Nội Tâm) (*nt)…
1957: Nhà văn Pháp Albert Camus (1913-1960). Ông là một trong những nhà văn ngoại quốc đã ảnh hưởng rất nhiều ở miền Nam VN.
Tác phẩm đầu tay L’Étranger (Người Xa Lạ) ra đời năm 1942, trở thành “hiện tượng” trong văn chương Pháp với Chủ Nghĩa Hiện Sinh (Existentialisme), tác phẩm La Peste (Dịch Hạch) viết năm 1938 nhưng sau đó hiệu đính lại mới ấn hành năm 1947. Trong văn học, hai nhà văn Simone de Beauvoir (1908-1986) và J.P. Sartre (1905-1980) gặp nhau từ năm 1929 và yêu nhau, sáng lập tờ báo Thời Mới (Les Temps Modernes) để truyền bá Chủ Nghĩa Hiện Sinh trong trào lưu văn học. Kết thúc cuộc tình Simone de Beauvoir viết cuốn Adieux: Một Lời Chia Tay Với Sartre (1981).
J.P Sartre mới là triết gia về Chủ Nghĩa Hiện Sinh, Albert Camus không phải là triết gia nhưng đem chủ nghĩa nầy vào văn học. Cùng cổ xúy cho Chủ Nghĩa Hiện Sinh, tình bạn giữa Albert Camus và J.B Sartre vào giữa thập niên 30, rạn nứt vào năm 1952… Và từ đó, ông viết những tác phẩm nói lên “phi lý” của con người trong cuộc sống.
Những tác phẩm của Albert Camus vào thập niên 60 được dịch ra tiếng Việt và không xa lạ gì với độc giả ở miền Nam VN. Bùi Giáng dịch nhiều tác phẩm của Albert Camus như: Le Malentendu (Ngộ Nhận), Caligula (Bạo Chúa Caligula), L’Été (Mùa Hè, nhan đề Mùa Hè Sa Mạc, Le Mythe de Sisyphe (Huyền Thoại Sisyphe), nhan đề Biển Đông Xe Cát, L’Homme Révolté (Con Người Phản Kháng)…
La Chute (Sa Đọa), Djémila (Gió Về), L’Envers et L’Endroit (Bề Trái & Bề Mặt), Noces (Giao Cảm), Trần Thiện Đạo dịch. La Femme Adultère (Người Đàn Bà Ngoại Tình), Nguyễn Văn Trung dịch, L’Exil et le Royaume (Lưu Đày & Quê Nhà), Trần Phong Giao và Vũ Đình Lưu dịch… Tác phẩm La Peste (Dịch Hạch), Hoàng Văn Đức dịch, 1966; Võ Văn Dung dịch, 1971…
Có thể nói, sau hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Kẻ Xa Lạ (1942) và Dịch Hạch (1947), thì tiểu luận Thần Thoại Sisyphus (Le Mythe de Sisyphe, 1942) là tác phẩm quan trọng bậc nhất của Albert Camus.
Thần thoại về Sisyphus, tiểu luận triết học của Albert Camus với lập luận của điều phi lý từ thời cổ đại xa xưa vẫn tồn đọng trong thời kỳ của Albert Camus. Tựa đề tiểu luận, vốn là tên trong chương sau cùng, được gợi dẫn từ câu chuyện của chàng Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp. Theo đó, bắt đầu từ lập luận phi lý rằng đời sống của mỗi cá nhân, ngay cả những cá nhân tự xác định cho mình một lý tưởng, mục đích cao đẹp, thường bị vây bủa trong những hành động đôi khi rất hoài công và vô vọng. Vì vậy quan niệm về phi lý đã bàng bạc trong tác phẩm cùa Albert Camus (*)
(* VTrD, trích trong bài viết Người Xa Lạ… Giữa Chúng Ta trên trang web https://t-van.net/vuong-trng-duong-tan-man-dau-nam-2022-nguoi-xa-la-giua-chng-ta/)
1958: Nhà văn Nga Boris Pasternak (1890-1960), tác phẩm Dr. Zhivago, với niềm vinh dự bản thân ông nhưng nỗi đau ở trong nươc (đề cập phần sau)
1961: Nhà văn Nam Tư Ivo Andrić (1892-1975). Tác phẩm The Bridge on the Drina (Chiếc Cầu Trên Sông Drina, 1945), Nguyễn Hiến Lê dịch
1964: Triết gia, nhà văn Pháp Jean Paul Sartre (1905-1980) được trao giải Nobel Văn Chương nhưng ông từ chối và cho rằng “Một nhà văn không nên cho phép mình trở thành người của một tổ chức”. Ông là triết gia nên đem tư tưởng “xiển dương” vào văn chương để quảng bá. Những tác phẩm của ông đã được dịch: La Nausée (Buồn Nôn), Les Mouches (Những Ruồi) Phùng Thăng dịch, Huis Clos (Kín Cửa) Trần Thiện Đạo dịch, Les Jeux sont Faits (Sự Đã Rồi), Nguyễn Xuân Hoàng & Trần Phong Giao dịch; Le Mur (Bức Tường). Với tác phẩm L’Être et le Néant (Hiện Hữu & Hư Vô) có nhiều bài viết phân tích về quan điểm của ông sau Essay on Phenomenological Ontology (Tiểu Luận Về Hiện Tượng Thực Chất Hiện Hữu). Nhà văn Huỳnh Phan Anh trong tác phẩm Văn Chương & Kinh Nghiệm Hư Vô năm 1968 đã đề cập đến J.P Satre.
1963: Nhà thơ Hy Lạp Giorgos Seferis (1900–1971) Hy Lạp, không có bản dịch tiếng Việt.
1965: Nhà văn Liên Xô Mikhail Solokhov (1905-1984), tác phẩm Sông Đông Êm Đềm (đề cập phần sau). Trong 3 nhà văn của thời kỳ Liên Xô thì ông được trong nước ca ngợi là văn văn vô sản, khác với nhà văn Boris Pasternak bị cho là phản động và nhà văn Aleksander Solzhenitsyn bị Liên Xô trục xuất!
1970: Nhà văn Liên Xô Aleksander Solzhenitsyn (1918–2008) với toàn bộ tác phẩm (đề cập ở phần sau).
1972: Nhà văn Tây Đức Heinrich Böll (1917-1985) được đánh già là nhà văn phục hồi nền văn học Đức…
(GS Phạm Văn Tuấn ở Úc ấn hành quyển sách ở Virginia (Hoa Kỳ) năm 2018: Nhà Văn, Nhà Thơ & Tác Phẩm, giới thiệu các văn thi sỹ đoạt gải Nobel và nổi danh trên thế giới).
1974: Nhà văn Thụy Điển Eyvind Johnson (1900-1976), tác phẩm Strändernas Svall (Sóng Biển, 1946), Krilon Romanren (Tiểu Thuyết Của Krilon, 1941-1943), Romanen om Olof (Tiểu Thuyết Olof, 1934-1937). Không có bản dịch tiếng Việt.
B.- Dịch Giả Miền Nam VN Với Các Tác Phẩm Văn Chương Tây Phương
Nhân đây, đề cập khái quát đến vài dịch giả miền Nam VN với các tác phẩm về văn chương Tây Phương (Trong phần nầy có những tác phẩm dịch thuật đã đề cập ở phần A: Nobel Văn Chương Tây Phương & Tác Phẩm Dịch Thuật)
– Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998). Ngoài tài hoa về thi ca, ông còn là dịch giả qua những tác phẩm:
Cõi Người Ta của Saint-Exupéry, 1966; Trăng Tỳ Hải của Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger, 1966; Khung Cửa Hẹp của A. Gide, 1966; Hoa Ngõ Hạnh của Shakespeare, 1966; Bạo Chúa Caligula của Albert Camus, 1967 – 1974; Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh, 1967; Ngộ Nhận của A. Camus, 1967; Con Người Phản Kháng của A. Camus, 1968; Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , 1968; Kẻ Vô Luân của A. Gide, 1968; Orphélia Hamlet của Shakespeare, 1969; Hòa Âm Ðiền Dã của A. Gide, 1969; Sương Bình Nguyên của các tác giả Âu Mỹ, 1969; Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery, 1973; Mùi Hương Xuân Sắc của Gerald de Narval, 1974…
Ông dịch rất thoáng, có khi không theo nguyên tác mà theo ý văn để diễn đạt. Còn sáng tác thơ tặng tác giả. Ông dịch Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh để học thêm chữ Hán. Tác phẩm Nhà Sư Vương Lụy của nhà văn Trung Hoa, nhà sư tên là Tô Mạn Thù (Su Manshu), Bùi Giáng dịch từ nguyên tác, Quế Sơn xuất bản năm 1969. (Có bản dịch sang tiếng Anh The Lone Swan của Geoege Kin Leung… (*)
(* VTrD, bài viết Bùi Giáng, Ðại Lão Cái Bang cho Giai Phẩm Xuân Bính Tý (1996) kỷ niệm 70 sinh nhật của ông. Trang web Đặc San Lâm Viên: http://www.dslamvien.com/2021/05/bui-giang-dai-lao-cai-bang.html
– Dịch giả Nguyễn Hiến Lê (1912–1984). Ông là nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học… Ông đã sáng tác, biên soạn và dịch thuật nhiều cuốn sách từ Đông sang Tây thuộc các lĩnh vực như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế… Ông đã ấn hành khoảng một trăm tác phẩm biên khảo, sáng tác, dịch thuật… về văn học, triết học, lịch sử, giáo dục, chính trị, kinh tế… đặc biết với guông danh nhân và sách học làm người. Nhiều tác phẩm của ông được coi là “sách gối đầu giường” cho giới trẻ.
Với các tác giả Tây Phương, ông đã dịch: Sống 24 Giờ Một Ngày của Arnold Bennett, ấn hành ở Sài Gòn năm 1955; Kiếp Người của Somerset Maugham, năm 1962; Quê Hương Tan Rã của C. Acheba, năm 1970; Cầu Sông Drina của I. Andritch, 1972; Thư Ngỏ Tuổi Đôi Mươi của André Maurois, năm 1968; Thư Gởi Người Đàn Bà Không Quen của André Maurois, 1970; Chinh Phục Hạnh Phúc của Bertrand Russell, 1971…
– Nhà văn Mặc Ðỗ (1917-2015). Ông tốt nghiệp luật song không hành nghề luật sư, làm báo ngay từ Hà Nội với tờ Phổ Thông. Năm 1954, ông di cư vào Sài Gòn chủ trương nhóm Quan Điểm và nhà xuất bản Quan Điểm
Người Vợ Cô Đơn (Thérèse Desqueyroux) của Francois Mauriac, Cảo Thơm 1966, Đất Sống 1973); Tâm Cảnh của André Maurois, Văn 1967; Anh Môn (Alain-Fournier, Cảo Thơm 1968); Một Giấc Mơ của Vicki Baum, Văn 1972; Con Người Hào Hoa (The Great Gasby) của Francis Scott Fitzgerald; Vùng Đất Hoang Vu của Lev Tolstoy, Đất Sống 1973); Giờ Thứ 25 của C. Virgil Gheorghiu, Đất Sống 1973); Những Vinh Nhục Của César Birotteau của Honoré de Balzac, Sài Gòn 1968.
– Tuy dịch vài tác phẩm nhưng được xem là tác phẩm dịch thuật có giá trị: Phùng Khành & Phùng Thăng.
Dịch giả Phùng Khánh – Ni Sư Trí Hải (1938-2003) tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh và dịch giả Phùng Thăng (1943-1975) là hai chị em ruột. Gia đình hoàng tộc rất mộ đạo Phật. Thân phụ là cụ Nguyễn Phước Ứng Thiều, cháu nội của Tuy Lý Vương Nguyễn Phước Miên Trinh.
Câu Chuyện Dòng Sông của Hermann Hesse (dịch chung với Phùng Khánh) năm 1965; Buồn Nôn của J.P Sartre (Phùng Thăng dịch) năm 1967; Những Ruồi của J.P Sartre (Phùng Thăng dịch) năm 1967; Sói Đồng Hoang của Hermann Hesse (Phùng Thăng dịch chung với Chơn Hạnh) năm 1969. Kẻ Lạ Ở Thiên Đường của Simone Weil (Phùng Thăng dịch). Tác phẩm nầy ấn hành năm 1973, trong phần giới thiệu, dịch giả bày tỏ tất cả nỗi lòng tiềm ẩn (*).
(* Cùng tác gia trong bài viết Dịch Giả Phùng Thăng, Giáo Sư Triết Trung Học Trần Quý Cáp Hội An trên trang web Việt Báo: https://vietbao.com/a309899/dich-gia-phung-thang-1943-1975-co-giao-su-triet-trung-hoc-tran-quy-cap-hoi-an).
– Dịch giả Trần Thiện Đạo (1933-2017) du học ở Pháp năm 1950 và định cư ở đây. Ông là dịch giả, nhà văn và nhà phê bình văn học.
Ông đã dịch các tác phẩm: Cậu Hoàng Con (Le Petit Prince) của Saint Exupéry, Giao Cảm (Noces) của Albert Camus, Bề Trái và Bề Mặt (L’Envers Et L’Endroit) của Albert Camus, Tiểu Luận Của Albert Camus, Sa Đọa (La Chute) của Albert Camus, Kín Cửa (Huis Clos) của Jean Paul Sartre, Phấn Đấu Cho Một Nền Tiểu Thuyết Mới (Pour un Nouveau Roman) của Alain Robbe Grillet, Im Lặng Của Biển Cả (Le Silence De La Mer) của Jean Bruller Vercors, Zadig của Voltaire, Ao Quỷ (La Mare Au Diable) của George Sand,…
Ông đã nhiều lần lên tiếng về bản dịch văn học, điển hình như 50 trang phê phán Những Ruồi (1967) của Phùng Thăng dịch Les Mouches của Jean-Paul Sartre. Ông phê phán những câu văn dịch quá nô lệ ngoại ngữ nguyên tác. Điều nầy thể hiện sự thật trọng với người dịch để có tác phẩm dịch thuật giá trị.
– Giáo sư Đỗ Khánh Hoan tốt nghiệp đại học Sydney, Úc, tiến sĩ văn chương đại học Columbia, Mỹ. Giáo sư Anh Văn trường trung học Chu Văn An và trưởng ban Anh văn đại học Văn khoa Sài Gòn.
Ông là người đầu tiên dịch và giới thiệu ba tập thơ của thi sĩ Ấn độ R. Tagore: Tâm Tình Hiến Dâng (The Gardener) NXB An Tiêm, 1969; Lời Dâng & Tặng Vật, An Tiêm, 1972 (Thi hào Tagore 1981-1941, người đầu tiên Á Châu được giải Nobel Văn Chương năm 1913).
Dịch giả Đỗ Khánh Hoan biết nhiều ngoại ngũ nên đã dịch trường ca của Homer (Iliad và Odyssey) với hơn 30,000 câu thơ trực tiếp từ tiếng Hy Lạp, Don Quixote từ tiếng Tây Ban Nha, Yến Hội của Platon, Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ Trẻ (J. Joyce), Bi Kịch Shakespeare, Khung Trời Nhỏ Hẹp (S. Maugham), Cây Đàn Miến Điện (T. Michio), Truyện Ngắn (A. Chekhov), Nông Trại Súc Vật (G. Orwell)…
– Nhà thơ Hoài Khanh (1934-2016), tự học, tự trau dồi sinh ngữ trở thành dịch giả, chủ trương nhà xuất bản Ca Dao.
Với các tác phẩm dịch thuật tiêu biểu với 3 tác phẩm của của Herman Hesse: Hành Trình Sang Đông Phương, 1967; Giáo Dục & Ý Nghĩa Cuộc Sống của Krishnamurti, 1969; Nghệ Thuật Truyền Thống & Chân Lý của Walter Kaufmann, 1967; Tuổi Trẻ Băn Khoăn, 1968; Quê Hương Tan Rã (Things Fall Apart của Chinua Achebe) Hoài Khanh và Nguyễn Hiến Lê dịch, năm 1970; Đâu Mái Nhà Xưa, 1973.
Về âm nhạc với những tác phẩm Mozart: Cuộc Đời & Sự Nghiệp của Percy M.Young, 1972; Tchaikovsky: Cuộc Đời & Nghệ Thuật của Percy M.Young, 1972; Beethoven: Một Phiến Tài Tình Thiên Cổ Lụy của J.W.N. Sullivan, Ca Dao xuất bản 1972… Sau khi đọc và đem khắc ván in Kim Vân Kiều tân truyện ở phố Hàng Gai, Hà Nội, học giả Phạm Quý Thích (1760-1825) – bạn của nhà thơ Nguyễn Du – viết bài “Thính Đoạn Trường Tân Thanh Hữu Cảm”. Bài thơ có hai câu cuối:
“… Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương”.
Hoài Khanh lấy câu đối để làm tựa đề cho tác phẩm quá tuyệt. Tôi tích nhạc cổ điển Tây Phương nên cũng “nghiền ngẫm” các tác phẩm dịch thuật nầy.
– Huỳnh Phan Anh (1940 – 2020), nhà văn, dạy triết ở các trường trung học. Các tác phẩm dịch thuât: Chuông Gọi Hồn Ai của Ernest Hemingway, 1972; Chuyến Viễn Hành Trong Đêm của Heinrich Böll, 1973); Tình Yêu & Tuổi Trẻ của Valery Larbaud, 1973), Tình Yêu & Lý Tưởng của Thomas Mann, 1974), Tình Yêu Bên Vực Thẳm của E. M. Remarque; Tình Cuồng của Raymond Radiguet, dịch chung với Nguyễn Nhật Duật, 1973)…
Huỳnh Phan Anh chủ trương nhóm Đêm Trắng cùng với nhà xuất bản Đêm Trắng, ông công tác với tạp chí Văn, tạp chí Vấn Đề, Khởi Hành… và đóng góp nhiều tiểu luận phê bình cho các tạp chí này.
Sau năm 1975, ông ở lại Sài Gòn, dịch các tác phẩm của André Maurois, Georges Simenon, Ernest Hemingway, Saint Exupéry, Erich Maria Remarque, Thomas Mann, Claude Simon, Jostein Gaarder, Jean-René Huguenin, Arthur Rimbaud, Anne Philipe…
Năm 2002 Huỳnh Phan Anh định cư ở Mỹ, qua đời năm 2020 tại San Jose. Thọ 80 tuổi (1940-2020).
– Nhà văn Hoàng Hải Thủy (1933-2020), năm 1952 được Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn của nhật báo Tiếng Dội. Ông chuyên phóng tác các tác phẩm ngoại quốc, điển hình như Đỉnh Gió Hú (Wuthering Heights) của Emily Bronté; Chiếc Hôn Tử Biệt, (A Kiss Before Dying) của Ira Levin; Đi Tìm Người Yêu (The Citadel) của A.J Cronin; Bóng Người Áo Trắng (The Lady in White) của Wilkie Collins; Tìm Em Nơi Thiên Đường (My Cousin Rachel của Daphne du Maurier); Anh Gù Nhà Thờ Đức Bà (Le Bossu de Notre Dame) của Alexandre Dumas; Tiếng Ca Cá Sấu (Never Find Sanctuary); Yêu Mệt (Le Repos du Guerrier của Lowell Bair – phóng tác 1969), Người Yêu, Người Giết (Le Deuxième Souffle) của Rotten Tomatoes; … Hay nhất là tác phẩm Kiều Giang (Jane Eyre) của Charlotte Brontë.
Tác phẩm One Hundred Years of Solitude (Cent Ans de Solitude) Garcia Marquez dày khoảng 800 trang, ông bỏ ra 60 ngày dịch là Trăm Năm Hiu Quạnh… nhưng khi đưa đi kiểm duyệt bị cấm vì Garcia Marquez “thân Cộng, chống chiến tranh Việt Nam, chống Mỹ”…
Ông là nhà văn, nhà báo có sức viết mạnh nhất ở miền Nam VN, có khi chỉ một năm, ông vừa viết vừa phóng tác và ấn hành đến bảy tác phẩm. Ông có nhiều bút hiệu, khi định cư ở Virginia, với bút hiệu Công Tử Hà Đông, mỗi tuần viết một bài trong chủ đề “Viết Ở Rừng Phong” tổng cộng 700 bài.
(*) VTrD bài viết Nhà Văn Hoàng Hải Thủy “Vĩnh Biệt Rừng Phong”! trang web Việt Báo:
*
C.- Chủ Nghĩa Hiện Sinh: Triết Học & Văn Học
Vào thời kỳ Hy Lạp cổ đại (trước công nguyên), các trường phái triết học xuất hiện nổi tiếng với các nhà toán học như: Thalès (624-547), Pythagore (570-496) rồi đến Héraclite (544-483), Xénophone (570-478), Parménide (540-470), Sophocles (496-406), Empédocle (490-430), Aristophanes (445-385)… Nổi tiếng và ảnh hưởng lớn tư tưởng triết học cho đến nay như: Socrate (469-399) với Chủ Nghĩa Duy Tâm, Platon (428-348, học trò của Socarte), Democrite (460-370, Chủ Nghĩa Duy Vật)…
Trải qua hai thiên niên kỷ, các trường phái triết học Âu Châu mới được thình hành với: Chủ Nghĩa Duy Tâm (chủ quan & khách quan), Chủ Nghĩa Hiện Thực, Chủ Nghĩa Duy Danh, Chủ Nghĩa Duy Lý (khai thác từ Parménide, triết gia, nhà toán học Pháp René Descartes (1596–1650) được xem là cha đẻ của triết học hiện đại), Chủ Nghĩa Kinh Nghiệm… Chủ Nghĩa Hoài Nghi (điển hình Blaise Pascal 1623-1662) cuốn Pensées là một kiệt tác), David Hume (1711-1776) ông được coi như là sáng lập ra trường phái thực nghiệm của Anh (British Empiricism), Chủ Nghĩa Lý Tưởng (điển hình với George Berkeley (1685- 1753) với quan niệm “Esse est Percipi” (tồn tại là được tri giác), dựa vào đó Friedrich Hegel (1770-1831), Karl Marx (1818-1883) khai thác cho chủ thuyết của họ, Chủ Nghĩa Thực Dụng với hai triết gia Mỹ Charles Peirce (1839-1914) và William James (1842- 1910) ảnh hưởng sang Âu Châu… Và đến Chủ Nghĩa Hiện Sinh.
Ảnh hưởng quan trọng nhất của từ Tây Phương đến miền Nam VN với Chủ Nghĩa Hiện Sinh (Existentialism), ra đời ở Đức cuối chiến tranh thế giới thứ nhất với chủ thuyết về Hiện Tượng Luận (như đã đề cập ở trên) với Martin Heidegger (1889-1976) và Karl Jasper (1883-1969), Merleau Ponty (1908-1961) sau đó Chủ Nghĩa Hiện Sinh phổ biến rộng rãi với Jean Paul Sartre (1905-1980), Garbie Marcel (1889-1978) với Le Mystère de l’Être (Huyền Nhiệm Hữu Thể), Être et Avoir (Hiện Hữu & Sở Hữu) (1918-1933), Albert Camus (1913-1960)… Từ triết học liên quan và ảnh hưởng đến văn học với các nhà văn đề cao về Chủ Nghĩa Hiện Sinh.
Như đã đề cập ở trên trong Nobel Văn Chương Tây Phương & Tác Phẩm Dịch Thuật, hai nhà văn nầy có ảnh hưởng sâu đậm và qua những tác phẩm được phổ biến trên thế giới.
Sartre không những là lý thuyết gia mà còn dùng tác phẩm văn chương để nói lên quan điểm nên ảnh hưởng sâu rộng đến cuộc sống trong xã hội, đặc biệt là trong giới trẻ. Ngay tự đề La Nausée (Buồn Non) nói lên phi lý trong cuộc sống vô nghĩa, không có câu trả lời.
Tác phẩm L’Étranger (Người Xa Lạ) mô tả hình ảnh của chàng trai vô cảm không hề nhỏ một giọt nước mắt trong đám tang của mẹ mình. Khi gây ra án mạng chàng không hiểu vì sao bản thân mình lại bóp cò. Sau khi bị kết án, chàng lại an ủi mình rằng “dù sao, đời cũng không đáng sống”. Cuối cùng ở ngục tù, chàng mong rằng vào ngày chịu tử hình, sẽ có một đám đông người tới coi, họ sẽ chào đón chàng.
Trong cuộc sống, loại người nầy cũng thường xảy ra, gọi là bệnh tâm thần (Pháp: Maladie Mentale, Anh: Mental Illness). Tài hoa của nhà văn là biến mẩu người bất bình thường trong tác phẩm L’Étranger trong thực tại xã hội.
Những tác phẩm của Albert Camus vào thập niên 60 được dịch ra tiếng Việt và không xa lạ gì với độc giả ở miền Nam VN. Bùi Giáng dịch nhiều tác phẩm của Albert Camus như: Le Malentendu (Ngộ Nhận), Caligula (Bạo Chúa Caligula), L’Été (Mùa Hè, nhan đề Mùa Hè Sa Mạc, Le Mythe de Sisyphe (Huyền Thoại Sisyphe), nhan đề Biển Đông Xe Cát, L’Homme Révolté (Con Người Phản Kháng)…
La Chute (Sa Đọa), Djémila (Gió Về), L’Envers et L’Endroit (Bề Trái & Bề Mặt), Noces (Giao Cảm), Trần Thiện Đạo dịch. La Femme Adultère (Người Đàn Bà Ngoại Tình), Nguyễn Văn Trung dịch, L’Exil et le Royaume (Lưu Đầy & Quê Nhà), Trần Phong Giao và Vũ Đình Lưu dịch… Tác phẩm La Peste (Dịch Hạch), Hoàng Văn Đức dịch, 1966; Võ Văn Dung dịch, 1971…
Có thể nói, sau hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Kẻ Xa Lạ (1942) và Dịch Hạch (1947), thì tiểu luận Thần Thoại Sisyphus (Le Mythe de Sisyphe, 1942) là tác phẩm quan trọng bậc nhất của Albert Camus.
Thần thoại về Sisyphus, tiểu luận triết học của Albert Camus với lập luận của điều phi lý từ thời cổ đại xa xưa vẫn tồn đọng trong thời kỳ của Albert Camus. Tựa đề tiểu luận, vốn là tên trong chương sau cùng, được gợi dẫn từ câu chuyện của chàng Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp. Theo đó, bắt đầu từ lập luận phi lý rằng đời sống của mỗi cá nhân, ngay cả những cá nhân tự xác định cho mình một lý tưởng, mục đích cao đẹp, thường bị vây bủa trong những hành động đôi khi rất hoài công và vô vọng. Vì vậy quan niệm về phi lý đã bàng bạc trong tác phẩm cùa Albert Camus (*)
(* VTrD, trích trong bài viết Người Xa Lạ… Giữa Chúng Ta trên trang web https://t-van.net/vuong-trng-duong-tan-man-dau-nam-2022-nguoi-xa-la-giua-chng-ta/)
Jean Paul Sartre (1905-1980) được trao giải Nobel Văn Chương năm 1964 nhưng ông từ chối và cho rằng “Một nhà văn không nên cho phép mình trở thành người của một tổ chức”. Ông là triết gia nên đem tư tưởng “xiển dương” vào văn chương để quảng bá. Những tác phẩm của ông đã được dịch: La Nausée (Buồn Nôn), Les Mouches (Những Ruồi) Phùng Thăng dịch, Huis Clos (Kín Cửa) Trần Thiện Đạo dịch, Les Jeux sont faits (Sự Đã Rồi), Nguyễn Xuân Hoàng & Trần Phong Giao dịch; Le Mur (Bức Tường); L’Être et le Néant (Hiện Hữu & Hư Không),
Đề cập đến J.P Sartre, nói thêm về học giả, triết gia Trần Đức Thảo (1917-1993).
Trong quyển Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc của Hoàng Văn Chí, ấn hành năm 1959 tại Sài Gòn được xem là tài liệu đầu tiên viết về văn nghệ sỹ ở miền Bắc sau năm 1954:
Chương 12: Các nhà học giả, theo tác giả Hoàng Văn Chí: “Lúc ông còn học ở trường Lycée Albert Sarraut, ông đã tỏ ra hết sức thông minh. Các thầy dạy ông, nhất là ông Ner đã kêu lên là không chấm nổi bài của ông. Ông đỗ tú tài triết học năm 1935, và năm sau ông đỗ đầu trong kỳ thi vào trường Normale Supérieure ở bên Pháp. Sau đó ông đỗ thạc sĩ về triết học và dạy ở Sorbonne.
Ở bên Pháp ông nghiên cứu thêm về triết học, xã hội học, viết nhiều bài trong các tạp chí văn học. Lúc đầu ông theo chủ nghĩa “Existentialisme” của Jean Paul Sartre, nhưng từ 1946 ông thiên về chủ nghĩa Mác, gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp, và viết báo đả kích ông Jean Paul Sartre. Ông này kiện ông tại toà, nhưng toà chưa xử, thì ông Thảo đáp tầu đi Mạc Tư Khoa, rồi thẳng đường về Bắc Việt (năm 1951).
Về đến nhà, ông bị giữ trong một khu rừng hẻo lánh trong chiến khu Việt Bắc và công tác người ta giao cho ông là dịch những truyền đơn địch vận từ tiếng Việt sang tiếng Pháp…
Trần Đức Thảo là điển hình của một nhà trí thức say mê chủ nghĩa cộng sản vì nghiên cứu chủ nghĩa ấy trên sách vở. Sự say mê đó đã tiêu tan từ ngày ông bước chân về nước và ngày nay sau kinh nghiệm Cải Cách Ruộng Đất ông đã hoàn toàn tỉnh ngộ…
Mặc dầu ông Thảo đã hy sinh địa vị cao quý ở Pháp để trở về nước tham gia kháng chiến, ngày nay ông vẫn bị quy là phản động số một, tay sai của đế quốc”>
Trần Đức Thảo đậu thủ khoa Thạc Sĩ Triết Học (Arégation de Philosophie) tại Pháp lúc mới 26 tuổi vào năm 1942. (Trước năm 1975 ở miền Nam VN, văn bằng Agrégé gọi là Thạc Sĩ, sau nầy ở trong nước văn bằng Master chỉ là Cao Học nhưng gọi là Thạc Sĩ). Với luận án Phương Pháp Hiện Tượng Luận Của Husserl, ông được xem là triết gia về lãnh vực nầy.
Cuối năm 1951 ông trở về miền Bắc, năm 1956-1957, ông bị liên lụy trong phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm khi công bố hai bài báo bàn đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. Ông không được trọng dụng và dần dà bị thất sủng từ đó cho đến năm 1991, ông sang Pháp chữa bệnh, mất tại Paris năm 1993. Ông viết cuốn tiểu luận Triết Lý Đi Về Đâu (in ở Pháp năm 1950) để phản biện với J.B Sartre, quyển sách nầy trước năm 1975 đại học Văn Khoa Sài Gòn có in cho sinh viên nghiên cứu. Trần Đức Thảo nổi tiếng khi tranh cãi với Jean-Paul Sartre trên tạp chí Les Temps Modemes ở Pháp được đánh giá ở thế thượng phong.
Hồi ký Trần Đức Thảo: Những Lời Trăng Trối (Trăng viết có chữ g) do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê thực hiện, Tổ Hợp Miến Đông Hoa Kỳ ấn hành năm 2014, gồm 16 chương dày 436 trang. Hiện có bán trên Amazon. Đây là tài liệu trung thực trong quãng đời 40 năm của ông ở Việt Nam… một nhân tài về triết học và chứng nhân thời đại. Chương 15 & 16: Đột Tử Trước Phần Chân Lý & Chết Rồi… Vẫn Gian Nan từ trang 398 đên trang 422, khác với những điều mà sau nầy ở trong nước viết về ông.
– Nhà văn Simone de Beauvoir (1908-1986) với cuộc tình giữa bà và Jean Paul Sartre, không chính thức đã gây nhiều bút mực. Trong khoảng 30 tác phẩm thì cuốn Deuxième Sexe ấn hành 1949 đã trở thành đề tài gây tranh cãi, phê phán thái độ kiềm toả của gia đình và xã hội gây ra sự bất bình đẳng giữa nam nữ.
Các tạp chí văn học ở Sài Gòn đã viết nhiều bài về Simone de Beauvoir nhưng (hình như) chưa có dịch phẩm nào ấn hành.
Trong cuộc trò chuyện Giữa Đất Trời Giao Hưởng giữa Thụy Khuê và Hồ Trường An cùng ở Pháp khi đề cập đến Simone de Beauvoir vào năm 2006. Thụy Khuê nhận định:
“Tư tưởng của Simone de Beauvoir đã dẫn đầu cho phong trào “giải phóng” phụ nữ trên thế giới. Nói đúng hơn, nhờ triết thuyết của Beauvoir mà cả một thế hệ phụ nữ, đã tự giải phóng mình ra khỏi những kiềm toả của gia đình và xã hội…
Beauvoir cho rằng chỉ có thể chấm dứt tình trạng nam nữ bất bình đẳng, nếu người phụ nữ tự ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình, đạp đổ những phỉnh lừa và áp đặt trong giáo dục gia đình và xã hội. Một khi đã ý thức được, thì chính người phụ nữ sẽ tìm cách tháo gỡ, tự lập, không hạ mình để trở thành femme-objet, được người đàn ông cung phụng, nhưng đồng thời cũng trở thành nô lệ…”
– Nhà văn Pháp Françoise Sagan (1935-2004), gần 50 tác phẩm văn chương của bà trong đó có một số theo trào lưu hiện sinh đã ảnh hưởng từ phương Tây đến miền Nam VN. Nhiều bài viết về tư tưởng của bà đồng tính luyến ái (tuy lập gia đình), phóng túng, tự do, thác loạn, sống buông thả… qua những bài viết trên các tạp chí ở Sài Gòn đã một thời gây sóng gió.
Tác phẩm đầu tay vào năm 1954 Bonjour Tristesse (Buồn Ơi Chào Mi) do Nguyễn Vỹ dịch năm 1959 và sau đó những tác phẩm của bà được phổ biến qua các dịch phẩm: Lê Huy Oanh dịch Buồn Ơi, Bắt Tay) ấn hành năm 1970. Tác phẩm Un Certain Sourire (Có Một Nụ Cười) do Nguyễn Minh Hoàng dịch; Dans un Mois, dans un An (Một Tháng Nữa, Một Năm Nữa) Bửu Ý dịch năm 1973; Les Merveilles Nuages (Những Đám Mây Huyền Diệu), Đinh Bá Kha dịch năm 1973… Un Peu de Soleil dans l’Eau Froide (Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh); Aimez-vous Brahms? (Anh có yêu Brahms?)…
Giữa thập niên 60, những nhà văn nữ Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng (Hoàng Đông Phương), Lệ Hằng qua vài tác phẩm, nhiều người cho rằng đã ảnh hưởng phần nào trào lưu hiện sinh của Francoise Sagan.
Tuy ở trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng nền tản tự do tại miền Nam đã cho phép các lý thuyết, trào lưu văn học này được giới thiệu và phát triển ở đây, thậm chí với những khuynh hướng trái chiều nhau.
Lý thuyết và chủ nghĩa hiện sinh không chỉ được phổ biến ở đại học còn xuất hiện trong sách báo, tác phẩm văn chương. Ngay cả trào lưu Hippie thịnh hành ở Sài Gòn với các ăm mặc, đầu tóc xuề xòa, nhạc rock, rượu chè… tuy có vẻ lập dị nhưng cũng không bị cấm đoán.
Vào thế kỷ 19 được coi là “Thời Kỳ Hoàng Kim” của văn học Nga (nửa thuộc Âu, nửa thuộc Á). Những nhà văn nổi tiếng trong thời kỳ nầy với nhiều tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp, tiếng Anh nên được phổ biến trên thế giới. Điển hình với hai nhà văn Fyodor Dostoyevsky và Leo Tolstoy, vài tác phẩm đã được dịch tiếng Việt vào tiến bán thế kỷ XX và sau nầy ở miền Nam VN.
Nhà văn Fyodor Dostoyevsky (1821-1881) tác phẩm Crime and Punishment, Crime et Châtiment (Tội Ác & Hình Phạt); The Possessed, Les Possédés (Lũ Người Quỷ Ám); Notes from Underground; Les Carnets du Sous-sol (Thạch Chương, nhạc sĩ Cung Tiến dịch Hồi Ký Viết Dưới Đường Hầm)… Nhà văn Leo Tolstoy (1828-1910) với The Brothers Karamazov, Les Frères Karamazov (Anh Em Nhà Karamazov); War and Peace (Chiến Tranh & Hòa Bình) qua bản dịch tiếng Anh của Aylmer Maude và Louise Maude. Bản dịch Chiến Tranh & Hòa Bình của Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn 1969. Tập 1: 758 trang, tập 2: 729 trang, tập 3: 733 trang, tập 4: 716 trang.
Các nhà văn trong thời kỳ Liên Xô hầu như không dịch các tác phẩm của các nhà văn phục vụ cho chế độ. Chỉ có hai nhà văn Boris Pasternak và Alexander Solzhenitsyn. Tác phẩm Bác Sĩ Zhivago của Boris Pasternak ra đời năm 1957 (tiếng Anh: Doctor Zhivago, tiếng Pháp: Docteur Jivago) được giải Nobel Văn Chương năm 1958 nhưng tác giả đang sống trong chế độ CS Liên Xô nên không được sang Thụy Điển nhận giải và bị Hội Các Nhà Văn Xô Viết (The Soviet Writers Union) kết tội là kẻ phản động, loại ra khỏi tổ chức!. (Tháng 12 năm 1989, con trai của Boris Pasternak là nhà văn Evguenii đã được mời sang Thuỵ Điển nhận giải thưởng thay ông, với những nghi thức long trọng như lễ trao giải chính thức)…
(Nguồn tin cũng cho rằng trong danh sách các ứng cử viên của giải Nobel Văn Chương lúc đó còn có nhà văn Mikhail Solokhov nhưng không được đoạt giải. Sông Đông Êm Đềm (Tikhy Don) được tặng Giải Nobel văn học năm 1965.
Tác phẩm Dr. Zhivago đã được Trường Văn và Song Tích phỏng dịch năm 1959 nên độc giả ở Miền Nam VN đã biết qua vì vậy khi cuốn phim nầy được trình chiếu, trở thành hiện tượng, khán giả đợi chờ, sắp hàng mua vé. Tựa đề cuốn phim (hình như Mai Thảo đặt) Vĩnh Biệt Tình Em. Sau đó bản dịch Bác Sĩ Zhivago, Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa xuất bản, 1969. Vĩnh Biệt Tình Em, Nguyễn Hữu Hiệu dịch, Sài Gòn, Tổ hợp Gió, 1974. Bác sĩ Zhivago, Nguyễn Hữu Hiệu dịch, Sài Gòn, nhà xuất bản Hoàng Hạc, đầu năm 1975.
Trong tác phẩm nầy, tôi cảm hứng viết bài: Lara, Người Tình Muôn Thuở, nhân vật nữ trong tác phẩm Bác Sĩ Zhivago.
(VTrD, trang web Việt Báo: https://vietbao.com/a291720/lara-nguoi-tinh-muon-thuo
Cho đến khi Alexander Solzhenitsyn được giải Nobel Văn Chương năm 1970 và bị trục xuất ra khỏi Liên Xô. Hầu hết các tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Việt. Bài viết “Solzhenitsyn, Chiến Hữu Văn Nghệ” của tôi đăng tải trên Đặc San Ức Trai của Trường ĐH.CTCT Đà Lạt năm 1974 đề cập đến những tác phẩm của ông. Khi ở Mỹ tôi đã viết lại (VTrD bài còn lưu trữ trên trang web T.Vấn & Bạn Hữu: https://t-van.net/vuong-trng-duong-alexander-solzhenitsyn-chien-huu-van-nghe/
Kết
Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Học… chỉ đề cập đến một số tác giả tiêu biểu ở những quốc gia trong khu vực Tây Phương được các dịch giả nêu trên (cũng chỉ là tiêu biểu) vì có rất nhiều dịch giả đã đóng góp trong hai thập niện (1954-1975) ở miền Nam Việt Nam không thể nào liệt kê hết. Với các tác phẩm nổi tiếng ở Tây Phương, khi được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh tạo điều kiện dễ dàng nên các dịch giả ở miền Nam VN dựa theo bản dịch đó.
Thật ra, việc sưu tầm tài liệu để viết về đề tài nầy, nếu ở trong nước có thể tham khảo trong các thư viện (nhưng hình như sau năm 1975, một số đã bị loại) may ra ở các nơi bán sách cũ…
Tại Mỹ, đại học Cornell, tiểu bang New York, với hệ thống thư viện rất lớn (gồm trên 20 thư viện; với công trình sưu tập khổng lồ là trên 7 triệu tài liệu in (printed materials, gồm cả sách và tạp chí) và nhiều lãnh vực khác trên thế giới. Với tài liệu của miền Nam VN may mắn được lưu trữ nơi đây. Trong hai thập niên (1991-2022) nhà văn Trần Hoài Thư nhờ tài liệu ở các thư viện nầy đã thực hiện được 100 tập san Thư Quán Bản Thảo, làm sống lại văn chương miền Nam.
Với tôi, đây không phải là biên khảo hoàn chỉnh mà là bài viết theo sự gợi ý của vị giáo sư ở Đức, ông thông thạo nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt. Trong thời gian qua, ông và tôi liên lạc với nhau qua email, ông am tường và thích nền văn học ở miền Nam VN, nên tôi “đáp lễ” qua gợi ý của ông.
Đề tài nầy quá bao quát, không thể tóm lược qua bài viết để trích dẫn thời kỳ dịch thuật văn học ở miền VN trong hai thập niên (54-75), ngay trong giai đoạn đó cũng chưa có tác giả nào tổng hợp. Mong rằng đóng góp phần nào về sách dịch Tây phương của một thời đã qua.
Vương Trùng Dương
Little Saigon, October, 2022
-
TIỆC CHÚC THỌ QUÝ NIÊN TRƯỞNG & MỪNG XUÂN QUÝ MÃO 2023

LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIÊNG THỜI GIAN Xuân Quý Mão đã đi qua hơn hai tuần, nhưng dư âm của ngày hội Tết cổ truyền vẫn còn lưu đọng trong buổi tiệc Tân Niên Quý Mão, do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) tổ chức thứ Bảy, ngày 4 tháng 2 năm 2023. Ngoài mục đích chào đón năm mới, buổi tiệc còn có mục đích cao đẹp hơn: Đó là chúc thọ các vị cao niên hiện diện trong bữa tiệc.

MỪNG TUỔI & CHÚC THỌ CÁC NIÊN TRƯỞNG Mừng tuổi, chúc thọ – là nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong ngày Tết truyền thống. Dù đã trải qua bao thế hệ, nhưng nét văn hóa này vẫn còn duy trì mãi đến hôm nay. Ngay cả người dân Việt lưu lạc khắp nơi trên thế giới, vẫn luôn mong muốn bảo tồn và truyền lại nét văn hóa này cho những thế hệ mai sau. Năm cũ đã qua đi, năm mới đến… với niềm hy vọng được mọi điều tốt đẹp, vạn sự như ý… mà tất cả mọi người đều mong ước.
Dưới ánh nắng hanh vàng, dịu dàng của miền Nam California lan tỏa khắp nơi nơi…như nhắc nhở chúng ta: Chúa Xuân đang hiện diện nơi đây… Phải, trong cái không khí se se lạnh, những nụ hoa đua nhau hé nở, những cánh mai vàng, những cành đào hồng thắm, những chậu lan tinh khiết và những nhánh cây khô bên đường đang trổ lá non, xanh màu mạ mới … như mang dáng dấp của mùa Xuân đến với muôn vạn vật… lòng tôi như cũng rộn lên một niềm vui…
… Ngoài cửa của nhà hàng Diamond Seafood, mọi người với vẻ mặt hân hoan, ánh mắt thân thiện, nụ cười tươi tắn trên môi, bước vào bên trong khánh phòng. Khai mạc bữa tiệc, nhà văn Khánh Lan chào mừng quan khách với nụ cười tươi nở trên môi, Khánh Lan tiếp: “Kính chúc quý niên trưởng và các anh chị em – Một năm mới an khang, thịnh vượng, sức khỏe vẹn toàn và vạn sự như ý”. Quý vị quan khách trong hội trường đáp lại lời cảm tạ bằng những tiếng vỗ tay nồng nhiệt dành cho nhà văn Khánh lan.

NHÀ VĂN KHÁNH LAN KHAI MẠC BUỔI HỌP MẶT CHÚC THỌ CÁC NIÊN TRƯỞNG Sau đó, Thụy Lan thật xinh xắn trong chiếc áo dài trắng tha thướt, đảm nhiệm vai trò MC hôm nay.

MC THỤY LAN Cô giới thiệu phần trình diễn của ban tam ca Lâm Dung, Ngọc Quỳnh và Ái Liên trong ca khúc rất ý nghĩa của “Tết”: Bản nhạc “ Ly Rượu Mừng” đã khiến không khí trong hội trường bỗng trở sống động, hào hứng, vui và nhộn nhịp hẳn lên…

TAM CA: LÂM DUNG, ÁI LIÊN, NGỌC QUỲNH Không khí hân hoan nhộn nhịp của Tết đã thật sự trở lại trong khoảng không gian thu hẹp, gói ghém đầy tình thân ái giữa các bậc huynh trưởng với những thành viên trong hội và các thân hữu. Trong buổi tiệc chúc thọ hôm nay, Kiều My nhận thấy có sự hiện diện của các bậc niên trưởng như: Nữ sĩ Dương Hồng Anh, Nhạc sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân ca sĩ Ngọc Hà, Giáo sư Dương Ngọc Sum, Giáo sư Tiến Sĩ Trần Huy Bích, Nhà văn Nguyễn Quang, Nhà văn Chinh Nguyên và phu nhân, Thi sĩ Lê Trọng Nguyễn Nga, Nhà văn Vi Khiêm, Nhiếp ảnh gia Paul Lê Văn.

Từ trái sang phải: Minh Thư, Thụy Lan, Ông Bà John & Susan Tạ Đây là bữa tiệc Tân Niên đầu tiên mà Liên Nhóm NVNT & TTG họp mặt và trong bầu không khí ấm cúng ấy, mọi người hình như rất vui khi được họp mặt cùng với các vị huynh trưởng trong bữa tiệc đầu năm, nhất là khi nhận thấy các vị với sức khỏe vẹn toàn. Những lời chúc tụng đến các vị niên trưởng, thành viên và thân hữu xen lẫn tiếng cười vang dội, bao phủ cả khánh phòng.

GS Tiến Sĩ Trần Huy Bích 

Từ trái sang phải: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Châu,
Chị Ngọc Hà (Phu nhân của GS Lê Văn Khoa), Chị Bảy Minh Khai (Em của NS Lam Phương),
Chị Susan Xuân Tạ (Phu nhân của Ông John Tạ, Chủ tịch của công ty dược thảo Princess Lifestyles)Nhà văn Trần Việt Hải tỏ vẻ hài lòng cho buổi họp mặt hôm nay, anh đã chia sẻ cảm tưởng và niềm mong ước tổ chức một buổi tiệc cho các vị niên trưởng. Vì đây là buổi họp mặt quý giá để mọi người có cơ hội cầu chúc tất cả những bậc niên trưởng đáng kính: ”Phúc như Đông Hải, thọ tựa Nam Sơn”… vạn sự tốt đẹp trong năm Quý Mão và những năm kế tiếp. Bởi “Thời gian trôi đi thật nhanh và nó cũng chẳng chờ đợi ai!”. Thật vậy, sức khỏe con người cũng không thể chống chọi trường kỳ với thời gian bất tận. “Thời gian thì vô hạn, mà con người thì có hạn!”. Do đó, ngày nào còn được gặp gỡ vui vầy… thì những cuộc sum họp… Ôi! quý giá biết bao!

Tù trái sang phải: Kiều My, Khánh Lan, Lệ Hoa, NV Việt Hải, Thụy Lan, Minh Thư Tiệc Tân Niên hôm nay càng tô điểm thêm niềm phấn khởi do sự hiện diện đầy nhiệt tình của những vị khách từ phương xa đến. Đó là nhà văn Chinh Nguyên và phu nhân từ San Jose; cô Thái Loan từ mãi trời Tây, Paris, đã góp mặt trong dịp này. Đặc biệt, nữ ký giả kiêm nhà văn Kiều Mỹ Duyên cũng đến tham dự buổi tiệc chúc thọ hôm nay. Thật cảm động khi biết chị ăn chay trường nhưng chị vẫn đến chung vui với hội và để cùng bạn hữu chúc thọ cho các huynh trưởng. Qua bao năm tháng, chị luôn dành mọi ưu ái cho nhóm NVNT & TTG. Ôi, tấm chân tình của chị! Thật cao quý!

Phóng Viên, NV Kiều Mỹ Duyên và NV Khánh Lan Mọi người vừa thưởng thức những món ăn rất ngon của nhà hàng, vừa chuyện trò, trao đổi những mẫu chuyện thường ngày trong cuộc sống. Thỉnh thoảng có những tràng vỗ tay vang rền, hay những tiếng cười giòn tan thay cho tiếng pháo. Thật thú vị làm sao, khi ở hải ngoại mà chúng ta cũng tìm lại được hương vị của ngày Tết như lúc còn ở quê nhà; mặc dù không đậm đà lắm, nhưng ít ra cũng còn lại “một thoáng hương xưa”… Bên cạnh chúng ta vẫn còn các huynh trưởng, vẫn còn bạn bè, vẫn còn tình đồng hương nơi xứ người, trong bữa tiệc hội ngộ Quý Mão.
Ngoài ra, Kiều My nhận thấy có những món quà thật ý nghĩa (Tim Não Hoàn và Bài Độc Bổ Phổi) của ông bà John & Susan Tạ, Chủ tịch Công ty dược thảo Pricess Lifestyles, riêng tặng cho các vị niên trưởng. Những món dược thảo hảo hạng giúp ích cho sức khỏe của những bậc huynh trưởng. Kiều My rất cảm kích tấm lòng hào hiệp của ông bà John Tạ.
Chương trình được tiếp tục với giọng ngâm điêu luyện của Ngọc Quỳnh qua sáng tác của nữ sĩ Dương Hồng Anh, đã làm mọi người thích thú:
ĐẦU XUÂN HỌP BẠN
Cali trời thơ mộng
Rủ xuân về chiều nay
Mang theo hồn non nước
Thơ nhạc đến tràn đầy
Nghe gió xuân xưa về
Thềm hoa ngát hương quê
Cùng nhau tay nắm tay
Cùng nhau ta đến đây
Chiều thơ nhạc bừng say
Cùng nhau ta đến đây
Bài thơ nào cho nhạc
Hồng lên má hây hây
Bên nhau vui ca hát
Bản tình ca réo rắt
Yêu quê hương, yêu người
Yêu tha nhân yêu đời
Nhạc thơ nào ngây ngất
Cho hồn nhiều ngất ngây
Hoa nở muôn ngàn đóa
Theo gió về hương bay
Nắm tay nhau múa hát
Ru hồn xuân bát ngát
Nhìn lên từng ánh mắt
Hoa yêu thương rạng ngời
Cali ấm nắng vàng
Nhạc thơ xuân rộn ràng
Dư âm còn lắng động
Tình nghệ sĩ chứa chan
Hội trường vui vui quá
Bút hoa trải ngọt vần
Bâng khuâng khung trời mộng
Lãng đãng một chiều xuân…
Nữ sĩ Dương Hồng Anh đã cảm tác bài thơ Đầu Xuân Họp Bạn để dành tặng cho tất cả thân hữu trong dịp Xuân về. Mặc dù tuổi hạc đã cao, nhưng tâm hồn thi sĩ vẫn còn lai láng và trẻ trung như mùa xuân tươi thắm. Xin chân thành cảm tạ nữ sĩ và kính chúc nữ sĩ dồi dào sức khỏe, tinh thần minh mẫn hầu tiếp tục làm thơ nhé!
Riêng nhà thơ Lê Trọng Nguyễn Nga, hôm nay thật đẹp và tươi tắn trong chiếc áo dài màu đỏ thẵm, khiến mọi người phải trầm trồ. Thật vui, khi thấy tác giả của tập thơ “LẬT TRANG SÁCH CŨ” rất “an nhiên tự tại” để thưởng thức những khoảnh khắc đáng ghi nhớ và khó phai trong tâm hồn.
Thật bất ngờ và đặc biệt khi mọi người được nhận bao lì xì đỏ nho nhỏ, trong đó có tờ vé số mệnh giá 35 triệu Mỹ kim, nếu trúng lô độc đắc. Đây là món quà rất hay! Tuy nhỏ, nhưng biết đâu nó sẽ thật lớn! Kiều My chúc cho quý vị nào trong nhóm chúng ta được trúng vé số…thì cả họ sẽ được nhờ, phải không ạ? Good Luck!

Từ trái sang phải: NV Phóng Viên Kiều Mỹ Duyên, Ái Liên, Lâm Dung, Kiều My, Khánh Lan,
Lệ Hoa, NV Việt Hải, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Châu, Ngọc Quỳnh.MC Thụy Lan giới thiệu giọng ngâm truyền cảm của NV Khánh Lan qua bài thơ của thi sĩ Tha Nhân; mà tác giả đã cảm tác qua hai câu đối của nhà văn, nhà thơ Trần Việt Hải trong một thiệp chúc Tết đầu năm mà anh gởi qua email:
“Trời thêm tuổi mới, năm thêm thọ
Xuân khắp càng khôn, phúc khắp nhà”
Thi sĩ Tha Nhân đã cảm tác hai câu đối trên qua bài thơ thất ngôn bát cú để kính tặng quí vị cao niên, ông đã làm bài thơ NĂM MỚI CHÚC THỌ theo thể thơ: ”Tung Hoành trục khoán” mà câu đầu làm trục tung và câu 2 làm hoành, như sau:
NĂM MỚI CHÚC THỌ
TRỜI ở trên cao ban thái hòa
THÊM điều nhân nghĩa nét tinh hoa
TUỔI là quà tặng, phô hiền đức
MỚI hưởng thong dong tận lúc già
NGƯỜI ngó vui tươi nên nói trẻ
THÊM nhìn yếu đuối bảo rằng già
THỌ như tùng bách…xin cầu chúc
XUÂN KHẮP DƯƠNG GIAN…PHÚC KHẮP NHÀ...
Thi sĩ Tha Nhân cũng là một thành viên trong Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Tuy ở xa không thể tham dự buổi họp mặt, nhưng ông cũng gửi đến chúng ta tấm lòng ưu ái của ông đối với hội. Thành thật cảm ơn và cầu chúc thi sĩ năm mới vạn sự như ý.

CÁT BÁNH CHÚC THỌ Chiếc bánh ngọt lớn chúc thọ cho bậc niên trưởng được cắt ra, như chia sẻ ngọt bùi với nhau. Trong lúc ban tam ca cùng xướng lên bản nhạc NVNT & TTG hành khúc: BẠN BÈ TÔI – thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, nhạc sĩ Lâm Dung phổ nhạc. Và đây cũng là lúc kết thúc bữa tiệc Chúc Thọ cho các niên trưởng. Mọi người chia tay nhau trong lưu luyến và hy vọng sẽ gặp lại đầy đủ vào dịp Tết 2024.

Từ phải sang trái: NV Kiều My và Lệ Hoa (Phu nhân của NV Việt Hải) Tân niên bạn hữu sum vầy
Chúc mừng năm mới tràn đầy niềm vui
Trời ban phúc lộc chan hòa
An khang thịnh vượng… nhà nhà ấm no
Kiều My, Tết Quý Mão 2023
-
Phiên Gác Đêm Xuân- Rồi Ngày Sẽ trôi Qua- Mộng Đêm Xuân
-
Đầu Xuân Họp Bạn của Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian

Ca li trời thơ mộng
Rủ xuân về chiều nay
Mang theo hồn non nước
Thơ nhạc đến tràn đầy
Nghe gió xuân xưa về
Thềm hoa ngát hương quê
Cùng nhau tay nắm tay
Cùng nhau ta đến đây
Chiều thơ nhạc bừng say
Cùng nhau ta đến đây
Bài thơ nào cho nhạc
Hồng lên má hây hây
Bên nhau vui ca hát
Bản tình ca réo rắt
Yêu quê hương, yêu người
Yêu tha nhân, yêu đời
Nhạc thơ nào ngây ngất
Cho hồn chiều ngất ngây
Hoa nở muôn ngàn đóa
Theo gió về hương bay
Nắm tay nhau múa hát
Ru hồn xuân bát ngát
Nhìn lên từng ánh mắt
Hoa yêu thương rạng ngời
Ca li ấm nắng vàng
Nhạc thơ xuân rộn ràng
Dư âm còn lắng đọng
Tình nghệ sĩ chứa chan
Hội trường vui vui quá
Bút hoa trải ngọt vần
Bâng khuâng khung trời mộng
Lãng đãng một chiều xuân…
Dương Hồng Anh
Xuân Quý Mão ~ 2023
-
Khai Bút Đầu Xuân Quý Mão:

Kính quý giáo sư, quý niên trưởng và anh chị em Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian,
Năm Nhâm Dần đã đi qua để chúng ta cùng đón mừng năm mới QUÝ MÃO trước cổng nhà. Mùng Một Tết Nguyên Đán, khai bút và đón lộc đầu năm, ôn lại chuyện xưa kể từ năm 2015, khi tôi từ bỏ một nơi sinh hoạt cũ, để thành lập Liên nhóm gồm 2 phạm vi văn học và âm nhạc, sinh hoạt mang tính sáng tạo như sáng tác văn học và âm nhạc. 5 người đồng sáng lập tiên khởi bỏ tôi ra đi như “những dòng sông nhỏ” …
Anh Lý Tòng Tôn đã mất, Lưu Anh Tuấn có vấn đề sức khoẻ, Trần Mạnh Chi cần lo việc gia dình, Ngô Thiện Đức bận phát triển công việc kinh doanh. Vì thế, có nhiều bạn bè từ các nơi cùng chung tay gây dựng, duy trì Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, để được vững chãi như ngày hôm nay, một tổ chức nhỏ (khoảng 40 hội viên sinh hoạt thường trực).
Thời gian sẽ qua đi và nhiều hội viên cao niên cũng như trung niên đương dầu với vấn đề sức khoẻ. Tôi cầu mong sao mọi người chúng ta bình yên. Các bạn bè trong nhóm như Kiều My, Khánh Lan, Thuỵ Lan, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, John Tạ, Ngọc Cường, Bích Điệp, Kiều Mỹ Duyên, Dương Viết Điền, Nguyển Quang, Minh Trí, Phan Đình Minh, Phạm Thái, Hồng Anh,… thường lo về vấn đề sức khoẻ của tôi như hôm tôi bị chứng “điếc tai” và “điếc tay“, nên không bắt phone.
Anh Phan Đình Minh, gọi 2 số phone nhà và cell để bàn về việc soạn nhạc mới, tôi không nghe được tiếng reo của phone nên không bắt máy. Anh text sang, nhưng tôi lại ít khi xài text, Phan Đình Minh tưởng tôi bị hospitalized rồi. Cô Hồng Anh gọi tôi cũng không được, bèn gọi my darling landlord, bà chủ nhà cục cưng cho cô biết tôi bị điếc tai. Cô bảo “Anh VH nếu có bị gì thì nhóm sẽ ra sao?”, tôi thưa là một khi nhóm đã vào quy cũ (thu xếp như thộng lệ) bạn bè cứ tiếp tục. Cô mong nhóm có những buổi họp thêm (nhiều buổi reunions). Tôi muốn mời cô đi Caribbean cruise chơi vào tháng 7, 2023. Thật tâm, tôi rất quý các vị cao niên và bạn bè nhất là khi đau yếu, bạn bè cần sự hỗ trợ tinh thần trong niềm vui giữa bạn bè.
Trong những buội hội ý, có rất nhiều thân hữu chia sẻ và góp ý rằng Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian nên tiếp tục đường hướng phát huy văn học, âm nhạc, và hãy cùng nhau chung vui tham dự những chuyến du ngoạn lành mạnh do nhóm tổ chức. Hôm qua, Ngọc Quỳnh kể chuyện và tỏ ý tiếc là đã không tham gia chuyến cruise sang Cabo San Lucas, Mazatlan và Puerto Vallarta (Mexico). Mặc dù, Ngọc Quỳnh rất muốn đi, nhưng kẹt chuyện gia đình.
Ngọc Quỳnh hy vọng rằng cô có thể thu xếp để tham dự chuyến nghĩ mát mùa hè này tại Florida (Tampa, Fort Myers, Miami) và Caribbean Cruise (Bahamas). Kiều My và Khánh Lan sẽ cố gắng thu xếp để tham gia. Nếu chuyến du lịch Florida suôn sẻ, trôi chảy vui vẻ. Chúng ta cùng đi Âu châu, rồi kế nữa chuyến New Zealand + Australia. Có đi chơi chung với nhau bạn bè tạo ra nhiều kỷ niệm trong cuộc sống..
Đầu Năm Quý Mão 2023 và Tiệc Tân-Niên chung vui Xuân Đoàn-Kết, Tết Thịnh-Vượng, Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, sẽ họp mặt vào ngày thứ Bảy, ngày 04 tháng 02 tại Dianond Seafood I. Địa chỉ: 8058 Lampson Ave., Garden Grove, Ca 92841. Điện thoại: 714-891-5347.

Thân hữu, hội viên tham dự xin liên lạc với Mộng Thủy: (714) 417-7472 hay Thụy Lan: (626) 371- 6843.
Mừng xuân Quý Mão, xin kính chúc quý cụ cao niên trưởng thượng và mến chúc quý anh chị em Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian Một năm mới Quý Mão an khang thịnh vượng, sức khỏe dồi dào và muôn sự sở cầu như ý, hành thông tốt đẹp.
Việt Hải
-
Mộng Dưới Hoa