-
VAI TRÒ ÂM NHẠC TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI

Âm nhạc được xem như món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người. Âm nhạc là sợi dây gắn kết giữa con người với con người, nó giúp họ giao lưu, giải sầu. Bản thân âm nhạc muôn màu, muôn vẻ nên nó làm cho cuộc sống tinh thần phong phú hơn. Có loại nhạc đơn thuần vui chơi giải trí giúp ta giải tỏa những căng thẳng, muộn phiền; có loại nhạc cổ vũ khích lệ tinh thần, rất thích hợp với người chơi thể thao hoặc người lính ra trận; có loại nhạc chữa bệnh, khơi gợi ký ức trong người mất trí nhớ, xoa dịu nỗi cô đơn ở người trầm cảm, cải thiện khả năng giao tiếp cộng đồng cho người tự kỷ…Cho nên khi chúng ta biết cách sử dụng âm nhạc hợp lý và đúng cách, thì món ăn tinh thần này sẽ trở thành người bạn thân thiết, trở thành nơi để chia sẽ những niềm vui, nỗi buồn, giúp con người thêm yêu cuộc sống hơn. Sau đây là những ý niệm căn bản về âm nhạc.
Âm nhạc là gì và những lợi ích của âm nhạc đối với cuộc sống.
- Âm nhạc là gì?
Về căn bản thì âm nhạc vốn chỉ là âm thanh: Âm thanh là những âm vang rung động trong môi trường. Chúng ta cảm nhận được những rung động ấy bằng cách ta nói mình “nghe được âm thanh”. Nhưng không phải âm thanh nào cũng được gọi là âm nhạc. Dưới đây là một số định nghĩa về âm nhạc:
Âm nhạc chính là một bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh (chất giọng) để diễn đạt tình cảm, cảm xúc của con người. Âm nhạc cũng được định nghĩa theo một cách khác, đó chính là sự sắp đặt có nghệ thuật của những âm thanh và là một phần không thể tách rời của cuộc sống. Nói theo một cách tình cảm hơn, âm nhạc là thứ khiến con người biết yêu thương, chia sẻ và cảm thông với nhau. Âm nhạc là nghệ thuật đến từ âm thanh, âm thanh trong cuộc sống đã được con người diễn đạt, biến đổi thành âm nhạc. Âm nhạc là món ăn tinh thần cho cả nhân loại, nó gắn bó mọi người với nhau không phân biệt dòng máu, màu da, dân tộc, vị trí địa lý, quan điểm chính trị hay đẳng cấp lại với nhau.
- Những lợi ích của âm nhạc đối với cuộc sống:
Xét về nguồn gốc, âm nhạc gồm hai thể loại chính là thanh nhạc và khí nhạc, chúng được định nghĩa như sau:
- Thanh nhạc: Âm nhạc dựa trên lời bài hát để diễn tả những tâm tư tình cảm, cảm xúc, thể hiện ý tưởng của người viết.
- Khí nhạc: Âm nhạc dựa trên các âm thanh thuần túy của những loại nhạc cụ. Vì thế, thanh nhạc khá trừu tượng, gây cảm xúc và sự liên tưởng cho thính giả.
Xét về mặt lợi ích của âm nhạc đối với cuộc sống, đã có rất nhiều ý hiểu về khái niệm âm nhạc, nhưng nhìn chung, âm nhạc là thứ có ảnh hưởng rất tích cực đến đời sống của con người, đem lại một số lợi ích rất đáng kể. Về phương diện giải trí, nó tác động đến sự hình thành và phát triển của con người. Hiện nay âm nhạc là một trong những nguồn giải trí tối ưu và không thể thiếu trong đời sống của con người. Ngoài ra, âm nhạc còn có động lực làm thức tỉnh các giác quan bên trong não bộ và đặc biệt là nhận thức mọi sự thay đổi đang diễn ra bên ngoài.
Thí dụ, khi trẻ em được tham dự các bài học âm nhạc, khả năng phản xạ tại vỏ não trở nên bén nhạy, tác động trực tiếp đến thùy trán của não, nơi kiểm soát sự tập trung và khả năng phán đoán. Với các mẫu nhạc có giai điệu bắt tai có thể phát triển khả năng diễn thuyết bên cạnh khả năng phản xạ nhanh nhẹn của trẻ em, hiệu ứng tích cực này có thể duy trì rất lâu.
Về phương diện giáo dục và phát triển toàn diện, âm nhạc giúp con người phát triển mọi mặt như văn, thể, mỹ, đức, trí… Nhất là thời thơ ấu, âm nhạc sẽ gieo vào lòng trẻ thơ những hình ảnh thần tiên kỳ diệu và những ước mơ trong sáng, cao đẹp, vun đắp tình người, tình mẹ con và tình gia đình.
Như vậy, có thể nói âm nhạc có vị trí quan trọng trong cả cá nhân lẫn cộng đồng. Trong cuộc sống xưa kia, cha ông chúng ta đã nhận định rằng: Âm nhạc không thể thiếu trong đời sống của nhân loại. Ngày nay, vị thế của âm nhạc càng ngày càng được nâng cao và trong tương lai và như một lẽ dĩ nhiên, âm nhạc càng ngày càng phát triển rực rỡ. Âm nhạc luôn luôn là nguồn hạnh phúc cho tất cả mọi người sống trên trái đất bởi không có âm nhạc thế giới thực sự sẽ rất buồn tẻ như sự thiếu vắng của cây cỏ, hoa lá xung quanh chúng ta vậy. Ngay cả trong thiên nhiên của chúng ta cũng có sự hiện diện của âm nhạc, chẳng hạn như chúng ta nghe được tiếng rì rào của gió, tiếng ầm âm của sóng biển và tiếng vi vu của thông reo. Âm nhạc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hạnh phúc của con người, xua tan đi nỗi sầu khổ và rót đầy niềm vui sướng hân hoan trong tâm tưởng của chúng ta.
Âm nhạc muôn màu, muôn vẻ và tùy thuộc vào cảm xúc, vào cách đón nhận của mỗi người. Có âm nhạc khiến cuộc sống tươi đẹp hơn; do vậy, nhạc là tiếng vọng của cảm xúc. Mặc dù chúng ta không thể nhìn thấy cảm xúc, không thể nghe, không thể ngửi, không thể nếm hay chạm vào được cảm xúc, mà chỉ có thể cảm nhận mà thôi. Một khi ta đã yêu thích một môn nghệ thuật nào đó và đam mê đủ để ta có thể cảm nhận được nó, ta sẽ nghe được tiếng vang vọng từ một cuộc sống đầy bí ẩn và khát khao đang mời gọi tâm trí ta. Như thế, có phải âm nhạc là phương tiện chuyển tải cảm xúc tuyệt vời nhất, trọn vẹn nhất, giúp chúng ta cảm nhận được từng ngõ ngách sâu thẳm nhất của tâm hồn.
Xét về những tác dụng tốt đối với sức khỏe, nghiên cứu khoa học đã nêu ra âm nhạc có thể phục hồi cảm xúc và giúp chống lại bệnh trầm cảm. Nó có tác dụng cải thiện lưu lượng máu, tương tự như những gì thuốc statin làm được. Âm nhạc cũng làm giảm nồng độ các hooc-môn gây stress như cortisol, thậm chí có cả tác dụng giảm đau. Nhạc có thể giúp giảm căng cơ, cho phép bạn giảm bớt một số căng thẳng trong ngày. Ngoài ra thì âm nhạc còn có tác dụng lôi cuốn, hòa hợp, đi vào tiềm thức con người, đánh lạc hướng những suy nghĩ tiêu cực, khiến ta không để ý tới hoàn cảnh hoặc cảm xúc đau đớn, không vui, không ham muốn. (Theo Menard Japan blog)
Âm nhạc có sức mạnh quan trọng như thế nào?

Âm nhạc có thể giúp mọi người cảm thấy tự do, cân bằng và tự tin, xoa dịu và thư giãn. Chọn đúng loại âm nhạc và đúng thời điểm có thể khiến tâm trạng chúng ta tốt hơn. Bản năng chúng ta đều biết âm nhạc có sức ảnh hưởng lớn đến con người, đặc biệt là ở khía cạnh tâm hồn. Với âm nhạc, khi nghe bài hát đúng tâm trạng, bạn có thể tìm thấy cảm giác bình yên, tự tại hiếm hoi trong cuộc sống xô bồ.
Âm nhạc tạo ra sắc thái quan trọng trong cuộc sống của nhiều người. Một số người cho rằng cách đơn giản nhất khi thưởng thức một bản nhạc là lắng nghe; những người khác thì biểu diễn qua lời ca hay tiến xa hơn nữa là sáng tác âm nhạc. Do đó, ta có thể kết luận rằng: Âm nhạc đã trở thành một phần trung tâm trong đời sống hay công việc của họ. Lại có nhiều người cho rằng: Âm nhạc tạo ra một phản ứng cảm xúc tùy thuộc vào nghi thức sử dụng tác động đó, bởi âm nhạc có thể tạo ra sắc thái cho một không gian. Nào, bạn cảm thấy ra sao khi lắng nghe tiếng nhạc nhẹ nhàng trong một nhà hàng hoặc những âm thanh sôi động tại các buổi trình diễn văn nghệ ngoài trời?
Ngay cả trong lãnh vực thể dục thể thao, các vận động viên thường nghe nhạc trước khi thi đấu để nâng cao tinh thần và đoạt được thành tích tốt cũng như có rất nhiều người trong chúng ta sử dụng âm nhạc để thư giãn. Có những bản nhạc khó quên trong các bộ phim chúng ta yêu thích, nên khi chỉ cần nghe là một vài đoạn giai điệu của bộ phim ấy là ta có thể tưởng tượng ra các diễn tiến (hoạt cảnh hay phong cảnh) trong phim, như thể ta đang thực sự xem nó vậy. Điều này đã làm sáng tỏ giá trị đích thực của âm nhạc: Giá trị của âm nhạc được quyết định bởi tác động mà nó tạo ra đối với người trải nghiệm nó. Tóm lại: Mối liên kết với âm nhạc của chúng ta hoàn toàn mang tính cá nhân.
Vài năm qua, vai trò của sở thích và thưởng thức âm nhạc đã được kết nối chặt chẽ tới ba chức năng tâm lý học quan trọng.
- Khi chúng ta phản hồi tích cực với thứ âm nhạc mà mình đang nghe, thành tích của một số nhiệm vụ sẽ được cải thiện, trí tưởng tượng của ta lên tới đỉnh cao và trạng thái cảm xúc của ta được thay đổi.
- Thực tế, loại nhạc bạn nghe không ảnh hưởng tới việc nâng cao được các chức năng này, loại nhạc nào cũng làm được điều đó. Có rất nhiều phong cách hay thể loại nhạc khác nhau. Lựa chọn âm nhạc kết hợp với việc rất nhiều người mang theo các thiết bị nghe nhạc ngay lập tức khiến việc tiếp cận âm nhạc trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.
- Giá trị của âm nhạc khác nhau tùy thuộc vào từng người. Một số người có một mối quan hệ bình thường với âm nhạc. Họ nghe nhiều loại nhạc mà họ thích nhưng không tìm hiểu sâu hơn. Một vài người tích hợp âm nhạc vào mọi khía cạnh của cuộc sống và cảm thấy nhớ khi không có âm nhạc.
Trên thực tế, có những người khi nghe nhạc hay thưởng thức một bản nhạc, họ phân tích ý nghĩa mà tác giả đang cố truyền tải qua dòng nhạc, trong khi những người khác thì trỉ trích giọng hát của các ca sĩ hay nội dung của người viết bài hát, rồi tự đề xuất ý kiến là bài hát ấy có đáng và không đáng nghe. Thực sự mà nói: Không ai có thể nói với bạn nên nghe loại âm nhạc nào hay nên chơi loại nhạc cụ nào để giúp đưa bạn tới nơi mình muốn.
Tóm Lại: Âm nhạc có thể giúp mọi người cảm thấy tự do, kết nối hoặc đưa mọi người đến gần nhau. Âm nhạc có thể giúp ta cân bằng, tự tin và xoa dịu và thư giãn. Nếu chúng ta chọn đúng loại âm nhạc và đúng thời điểm, nó có thể khiến chúng ta cảm thấy yêu đời và cuộc sống trở nên thi vị hơn. Khả năng kỳ diệu nhất của âm nhạc là khơi dậy giá trị và niềm tin trong chúng ta. Âm nhạc còn có một giá trị vật chất không thể bỏ qua do nhiều nghiên cứu cho thấy: Chi phí chăm sóc sức khỏe sẽ giảm bớt nếu âm nhạc được sử dụng trong việc chăm sóc cá nhân hàng ngày. Trong bài đánh giá trên quy mô lớn đầu tiên về bốn trăm bài nghiên cứu hóa học thần kinh của âm nhạc, một nhóm do Giáo sư Daniel J. Levitin thuộc Khoa Tâm lý học của Đại học McGill đã chỉ ra rằng việc chơi và nghe nhạc có lợi ích rõ ràng đối với mọi khía cạnh của sức khỏe, cả về tinh thần và thể chất. Đặc biệt, người ta khám phát ra rằng âm nhạc có thể cải thiện hệ thống miễn dịch của cơ thể. Sự thật này, có thể tiết kiệm được hàng tỷ đô la và giảm mức độ căng thẳng đáng kể.

Nghe nhạc cũng được cho là có hiệu quả làm giảm lo lắng trước khi phẫu thuật hơn nhiều so với sử dụng thuốc kê theo toa, điều này đã có các tác động sâu rộng, tích cực. Như vậy, phải chăng âm nhạc là một loại thuốc rất rẻ và hầu như không có tác dụng phụ. Nói cách khác âm nhạc là một sự hỗ trợ trong lãnh vực y khoa vì sự hữu ích ít tốn kém và sự an toàn của nó.
“Âm nhạc trong góc nhìn thực tế, với tôi, thật thú vị và ích lợi trong cuộc sống”.
Kiều My, California, Jan. 2023
Tài liệu tham khảo:
Wikimedia, Sage_Journals, Encyclopedia, Menard_Japan, Meditationfrance, Radiofrance.
-
NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HỌC

Vừa qua tại Nam California, lễ vinh danh và mừng thọ “bách niên chi lão”cho nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ được diễn ra thật trang trọng. Với sự có mặt của gia quyến ông, cùng giới nhà giáo, nhân văn thi sĩ, thân hữu, cựu học sinh và giới truyền thông v.v… Cũng nhằm mục đích vinh danh ông là một nhà giáo hiền đức, một nhà văn lỗi lạc, đã đóng góp trong kho tàng văn chương Việt Nam những tác phẩm ưu việt cho mai sau. Qua những tác phẩm của ông trải dài hơn một nửa thế kỷ cầm bút, cho ta nhận thấy trí tuệ của một hiền nhân đích thực bàng bạc trong văn chương của một kẻ sĩ yêu nước chân chính, một tấm lòng trung hậu đầy tình người, một tinh thần lạc quan sáng ngời. Lối văn phong thật trong sáng, và chân thật trong những tác phẩm của ông đã đi sâu vào lòng người qua bao thế hệ.
VÀI NÉT VỀ DOÃN QUỐC SỸ:
Ông sinh năm 1927 tại Hà Đông, nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội, trong một gia đình thấm nhuần Nho giáo. Ông lập gia đình với ái nữ của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) là bà Hồ thị Thảo. Trong cuộc đời, ông đóng hai vai trò rất hoàn hảo – một nhà giáo tận tâm hiền đức và – một nhà văn tên tuổi lẫy lừng. Đến năm 1954 ban hành hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, Thụy Sĩ; nhằm chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông dương. Hiệp định này dẫn đến Việt Nam bị chia đôi đất nước- miền Bắc thuộc về Cộng sản; miền Nam thuộc về Dân chủ. Như hàng triệu người dân miền Bắc không chấp nhận chế độ Cộng sản, ông cùng gia đình phải rời bỏ quê cha đất tổ di cư vào miền Nam, vùng đất tự do để sinh sống.
- NHÀ GIÁO DOÃN QUỐC SỸ – Ông được mọi người và học sinh quý trọng vì tấm lòng đôn hậu và tận tâm của một bậc thầy, vì thế ông được mệnh danh là một kẻ sĩ chân chính. Ông bắt đầu dạy học (1951-1952) tại trường trung học Nguyễn Khuyến, Nam Định, kế đến là Chu Văn An, Hà Nội (1952-1953). Khi vào miền Nam, ông tiếp tục dạy học trường Trần Lục, Sài Gòn (1953-1960). Sau đó, ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường trung học công lập Hà Tiên (1960-1961). Trong những năm đầu thập niên 60, ông là giảng sư các trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn và trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ngoài ra, ông được du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và về nước tiếp tục giảng dạy cho đến năm 1975.
- NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ – Trong tiệc mừng thượng thọ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, GS. Nguyễn văn Sâm đã vinh danh Doãn Quốc Sỹ là: “nhà văn của thế kỷ 20” Thật vậy, ông rất xứng đáng được ban tặng tước hiệu này qua phẩm chất đức độ cao quý của một kẻ sĩ và là nhà văn tài ba đã sáng tác nhiều tác phẩm trong thế kỷ 20. Qua những tác phẩm mà Doãn Quốc Sỹ viết đã chứng tỏ được tính chất đích thực của một kẻ sĩ phương đông – luôn chân thành và tin vào những điều tốt đẹp của cuộc sống và hướng về chân trời tốt đẹp của CHÂN THIỆN MỸ. Sau khi di cư vào miền Nam, thể chế chính trị của Việt Nam chuyển từ Quân chủ Lập hiến sang Dân Chủ Cộng hòa; đồng thời nền văn học bấy giờ ở miền Nam cũng phát triển theo chiều hướng đa dạng và phong phú hơn. Doãn Quốc Sỹ là gương mặt hàng đầu trong những nhà văn nổi tiếng như: Mai Thảo, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Bình Nguyên Lộc , Nguyên Sa, Võ Phiến v.v…của hai mươi năm văn học miền Nam, Việt Nam ( 1954-1975). Ông cũng là một cây bút chủ lực trong nhóm tạp chí Sáng Tạo. Tác nhân chính nào đã tạo nên sự chuyển hướng lớn lao về văn học này? Phải nói đến cuộc di cư từ Bắc vào Nam vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam. Hàng triệu người Bắc đã bầm gan tím ruột khi phải rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ lại làng mạc mồ mả tổ tiên để tìm đến vùng đất tự do. Yếu tố tâm lý này đã khuấy động mãnh liệt lòng người; nhờ thế mà các nhà văn, điển hình là Doãn Quốc Sỹ đã cho thành hình những tác phẩm văn chương của thời cuộc thật mạnh mẽ. Định mệnh đã đưa đẩy con người đi vào những nẻo đường khác nhau, như những chuyến xe của cuộc đời, kẻ đi hướng này người về hướng khác, mà chúng ta được tìm thấy trong trường thiên tiểu thuyết KHU RỪNG LAU hay DÒNG SÔNG ĐỊNH MỆNH, BA SINH HƯƠNG LỬA, GÌN VÀNG GIỮ NGỌC, CHIẾC CHIẾU HOA CẠP ĐIỀU. ĐI, v.v…
Nét đặc biệt về lối sáng tác của nhà văn Doãn Quốc Sỹ khiến chúng ta phải thán phục là dù trong hoàn cảnh nào, ngay cả khi ông bị giam cầm khốn khổ trong ngục tù; lối văn phong của ông vẫn mang tâm trạng ung dung, thần thái ôn hòa, vị tha, không oán hận đối với những kẻ luôn xem mình là kẻ thù. Ông trải lòng mình, ý tưởng mình lên trang giấy bằng thái độ tự tin, luôn hy vọng vào những điều tốt đẹp của cuộc sống, mà hình ảnh của “CHÂN THIỆN MỸ” luôn lấp lánh trong xã hội loài người… đã có tác dụng truyền tải mạnh mẽ đến người đọc. Đối với ông, viết văn là phương cách “văn dĩ tải đạo” của riêng ông, như một cách để làm đời sống tốt đẹp thêm qua đạo lý làm người…Trong những cơn lốc của thời cuộc, qua những biến cố của lịch sử Việt Nam, đã phô bày biết bao hình ảnh đặc trưng, hay những chân dung rất thực của con người… để tạo nên nguồn cảm hứng dưới ngòi bút sáng tác của ông. Điển hình trong những sáng tác, “thời thế “đóng vai trò chủ yếu trong văn phẩm của ông; đã ghi lại những dấu chấm phá trong những biến cố của xã hội, của đất nước, như những vết hằn khó phai trong tâm khảm của người dân Việt. Hãy điểm qua vài nét đại cương nổi bật trong những tác phẩm đặc sắc của Doãn Quốc Sỹ:
- TRƯỜNG THIÊN TIỂU THUYẾT KHU RỪNG LAU – Chúng ta được chứng kiến một thời kỳ oai hùng của lịch sử, mà trong đó con người bị cuốn hút vào những cơn lốc dữ dội qua một trường thiên tiểu thuyết, gồm: Ba Sinh Hương Lửa (1962) Người Đàn Bà Bên Kia Vỹ Tuyến (1964) Tình Yêu Thánh Hóa (1965)…
Qua Khu Rừng Lau, tác giả diễn tả về đời sống và tâm tư của những người phải sống dưới chế độ Cộng sản. Có thể xem như một phác họa về những diễn biến thời cuộc qua từng giai đoạn của lịch sử, mà được ghi giữ lại trong văn học Việt Nam dưới ngòi bút của một nhà văn. Ông ghi chép lại tất cả nỗi niềm của một thế hệ thanh niên yêu nước tham gia chống Pháp vào thập niên 40-50. Nhưng những người trẻ đầy nhiệt huyết này đã bị lừa gạt bởi đám người cùng dòng giống tổ tiên với mình. Họ là những kẻ phản bội đất nước, vô nhân tàn bạo như đảng Bolsheviks do Lenin lãnh đạo vào đầu thế kỷ 20 của Liên Sô, dùng họ như một công cụ đấu tranh giai cấp của Cộng sản…Lớp thanh niên trẻ Việt đã có ý thức về giặc ngoại xâm và mầm móng của Cộng sản đang nhuộm đỏ đất nước và người dân Việt đã chịu quá nhiều đau thương vì chiến tranh. Chiến tranh là tội ác của nhân loại, đó là sự thật! Như nhà văn Muriel Lester đã viết trong It Occurred To Me (1937) rằng: “Nạn nhân đầu tiên trong mọi cuộc chiến là sự thật” The First casualty in every war is truth. Đọc Khu Rừng Lau, cho ta liên tưởng đến đến tác phẩm nổi tiếng War and Peace (Chiến Tranh và Hòa Bình của văn hào Nga Leo Tolstoy 1828-1910) vào cuối thế kỷ 19, nói về cuộc nội chiến của Nga và sự xâm lược của thực dân Pháp.
- BA SINH HƯƠNG LỬA – tác giả đã đưa người đọc trở về thời kỳ đất nước chìm trong cảnh bể dâu qua nhiều biến chuyển của lịch sử. Người dân Việt đã phải oằn mình dưới thời Pháp thuộc, tiếp đến là giai đoạn bi đát của thời Nhật chiếm đóng, sau đó là thời kỳ đầy tai ương của Việt Minh. Lịch sử sang trang khi hiệp định Geneve, Thụy Sĩ được ký kết 1954 – Việt Nam bị chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc bởi dòng sông Bến Hải…đã đưa đến những hệ lụy đau thương. Một đất nước đầy bất hạnh đã đưa con người rời Bắc vào Nam; và định mệnh đã đưa đẩy con người đi vào những lối ngõ khác nhau, đã tạo thành những cuộc chia ly tan tác đầy nước mắt. Tuy Ba Sinh Hương Lửa như một thước phim quay lại thời kỳ gian khổ của dân tộc, nhưng người đọc có cảm tưởng được an tâm khi đặt niềm tin vào những điều tốt đẹp mà cuộc đời mang lại.
- DÒNG SÔNG ĐỊNH MỆNH – Dưới ngòi bút của Doãn Quốc Sỹ, “dòng sông” theo ông như một triết lý nhân sinh. Dòng sông là biểu tượng của tình yêu lứa đôi, là ân điển của Thượng đế ban cho nhân loại. Dòng sông đầy vẻ nghệ thuật của thiên nhiên, nó mang đến vẻ đẹp cũng như lợi ích cho cuộc sống con người. Dòng sông mang theo nỗi vui buồn của vận mệnh đất nước khi thịnh cũng như suy, như một chứng nhân lịch sử của quê hương không thể thiếu. Dòng sông có vẻ như một huyền thoại mang đầy những câu chuyện hư hư thực thực trong dân gian. Tuy nhiên đối với Doãn Quốc Sỹ, dòng sông không phải lúc nào cũng êm đềm thơ mộng, nhưng nó cũng lắm đoạn trường như ông đã viết:
Ôi con sông dài
Nó dài làm sao?
Con sông dài như chẳng bao giờ gặp biển!
Nhưng cuối cùng sau cơn mưa trời lại sáng, vì dòng sông định mệnh sắp chảy ra biển rồi, sông đã mở rộng đôi cánh tay nhỏ bé để ôm lấy mẹ là biển cả. Trong sáng tác, Doãn Quốc Sỹ đặt vai trò nghệ thuật lên vị trí cao và “dòng sông” được ông dành cho một chỗ đứng rất trang trọng trong các tác phẩm của ông. Trong Dòng Sông Định Mệnh ông viết về tình yêu là chính yếu, nhưng mùi vị của cuộc kháng chiến Việt Pháp được ông mô tả sâu đậm không kém, nó đi song song với những cuộc tình lãng mạn da diết.
- GÌN VÀNG GIỮ NGỌC– “Ở thế giới Thực Dân Tư Bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới Cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng Tình Thương Yêu rộng rãi và chân thành”. Qua tư tưởng siêu việt trên của Doãn Quốc Sỹ, cho ta nhận thấy ông có một tấm lòng thật cao cả tuyệt vời. Sự trưởng thành trong tư tưởng của ông đã vượt bực qua những triết lý hay nhân sinh quan bàng bạc trong những tác phẩm giá trị của ông. Ông cho rằng: “Không có sự trưởng thành nào đáng kính bằng sự trưởng thành trong đau khổ.”Thật vậy, khi con người đã từng kinh qua những khổ đau trong cuộc sống, đó là những bài học, những trải nghiệm trên trường đời, mà nỗi đau bất hạnh đã rèn luyện cho ta trở nên trưởng thành. Cái “tâm” của ông luôn vằng vặc chiếu sáng như ánh trăng rằm trong đêm với ý tưởng- “Con người dù ở trong cảnh ngộ nào, cái tình đối xử với nhau mới là quan trọng. Cái đói khổ không làm hạ phẩm giá con người bằng sự tha hóa tâm hồn.” Thật vậy, một tâm hồn cao thượng, một tâm hồn không bị tha hóa luôn vượt trên những tầm thường nhỏ nhen, ngay cả sự đói khổ cũng không thể quật ngã được phẩm giá của người chân chính. Vì: “Quân tử thực bất cầu bão” ( theo triết lý của nhà Nho xưa).

TÁC PHẨM “ĐI”. Được xuất bản ở hải ngoại mà chính Doãn Quốc Sỹ là tác giả mang tên Hồ Khanh để ngụy trang. Trong tác phẩm “Đi”, tác giả đã viết lại một thời kỳ vô cùng đen tối của đất nước. Ông giáo là một trong những kẻ bị tù đày xuống tận cùng vực sâu, có lúc tưởng chừng như đã mất hết niềm tin, nhưng cũng đã tìm lại được tình người từ những đứa trẻ thơ trên những vùng miền núi hẻo lánh quanh trại tù. Ngoài xã hội, người dân bị đẩy vào cảnh ngộ bi đát không lối thoát và đã mang chính bản thân mình, gia đình mình đánh canh bạc với may rủi, mà rủi ro chắc chắn nhiều hơn may mắn. Nhiều người đã phải trốn chạy Cộng sản bằng mọi cách: liều mình ra khơi trên những chiếc thuyền mong manh phải hứng chịu những con sóng dữ hay chịu những cơn đói khát nhiều ngày, hoặc bạc phước hơn nữa là vùi thây dưới lòng biển cả. Nhiều người bị bắt vào tù mất nhà cửa phải sống lang thang trên vĩa hè…Vì họ muốn thoát khỏi “thiên đường Cộng sản” nên phải trả giá quá đắt bằng chính mạng sống mình qua mọi phương tiện để đi tìm sự sống trong cái chết, với muôn vàn hiểm nguy trên bước đường thoát. Trong “ĐI” Doãn Quốc Sỹ đã viết rất chân thực về thực trạng của một xã hội suy sụp về mọi mặt. Về luân lý đạo đức trong xã hội đã tuột dốc, nhân phẩm con người đã bị chà đạp dưới chân của những kẻ độc tài vô tâm. Đời sống kinh tế vô vàn khó khăn, tạo nên một xã hội băng hoại đầy dẫy nạn trộm cướp, mãi dâm… Trẻ em thiếu vắng sự giáo dục lành mạnh, vì nhà trường chỉ là nơi nhồi sọ học sinh bằng những tư tưởng ngoại lai.

Theo nhà văn Vương Trùng Dương nhìn về phong cách đạo đức của nhà văn Doãn Quốc Sỹ như sau: “Với tâm hồn nhà giáo, nhà văn mang nặng tính nhân bản ghi lại những hình ảnh trong “ĐI” nó bàng bạc trong muôn nghìn gia đình và con cháu trong gia đình ông vào thời điểm đó. Ông không phóng đại, cường điệu, dùng chữ “đao to búa lớn” để chưởi bới lên án…mà là tâm tình của ông giáo nặng tình yêu với người thân trong hoàn cảnh đen tối đành “đứt ruột” chia tay…..”
- NGƯỜI VIỆT ĐÁNG YÊU – Tôi rất tâm đắc với Doãn Quốc Sỹ về câu kết luận rất khiêm tốn và thực tế của ông trong tác phẩm này: “Hãy dùng đau khổ làm đầu mà thắp lên ngọn lửa tin yêu, bởi quả thật dân tộc mình vì đã kinh qua quá nhiều đau khổ mà có thừa chất “Người” để trở thành một trong những dân tộc đáng yêu nhất của nhân loại.” Trong sách này, ông viết về những kinh nghiệm hay những suy nghĩ của ông về người Việt; từ ngôi làng thân yêu tới lũy tre xanh êm đềm cho đến chốn thành thị náo nhiệt…Đây là quê hương của ông! Ông cho rằng: thi ca là nguồn nuôi dưởng tâm hồn người Việt, tạo nên mỹ cảm nơi con người Việt. Ông đã không thi vị hóa về điều này, mà quả thực là như thế! Biết bao văn nhân thi sĩ mang nặng tâm hồn Việt đã xót xa cho vận mệnh nổi trôi của đất nước, hay ca tụng muôn vẻ đẹp của hồn thiêng sông núi…trong thi ca hay trong sáng tác âm nhạc, văn chương và ngay cả trong nghệ thuật điêu khắc hay tranh vẽ….
Để đúc kết về luận đề Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ Dưới Góc Nhìn Văn Học, tôi có vài nhận xét thô thiển về mặt văn học mà ông đã đóng góp trong kho tàng văn chương Việt Nam. Ông là một ngòi bút chân phương đôn hậu. Ông luôn đề cao nét đẹp tuyệt vời của CHÂN THIỆN MỸ trong đời sống nhân loại và luôn đặt niềm tin vào những điều tốt đẹp mà cuộc đời mang đến. Bằng với nguyện vọng tha thiết, nhà văn Doãn Quốc Sỹ muốn truyền đạt đến cho mọi người những kinh nghiệm sống hay những triết lý tốt đẹp về NHÂN SINH QUAN trong sự tương kính dưới ngòi bút khiêm hạ của ông. Như văn sĩ người Anh Lord Byron từng nói:
“Một giọt mực có thể làm vạn người suy nghĩ, một cuốn sách
hay có thể thay đổi số phận biết bao người.”.
Thật vậy, và như thế!
Muôn vàn tri ân nhà văn, nhà giáo mang tư tưởng thiền triết Doãn Quốc Sỹ, đã mang đến cho đời những tác phẩm đầy tính nhân bản; ông là ngôi là sao bắc đẩu cho con đường hoàn hảo dẫn đến CHÂN THIỆN MỸ trong xã hội loài người. Tư tưởng tuyệt vời của ông sẽ ảnh hưởng thật sâu rộng trong quần chúng và sẽ còn lưu truyền mãi mãi…
Kiều My, California 2023
Tài liệu tham khảo: Wikimedia, Vương Trùng Dương, website Doãn Quốc Sỹ.
-
Tác phẩm Khu Rừng Lau của nhà văn Doãn Quốc Sỹ

Nhà giáo Doãn Quốc Sỹ là vị thầy khả kính với các thế hệ học sinh, sinh viên trước năm 1975. Nhà văn chân chính với các tác phẩm đóng góp cho nền văn chương miền Nam Việt Nam cho đến nay ở hải ngoại.
Nhân dịp Lễ Thượng Thọ 100 tuổi nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ vào đầu năm 2023 (Quý Mão), đề cập đến 4 tác phẩm trong Khu Rừng Lau từ thập niên 60… về giai đoạn và bối cảnh đất nước của dân tộc chịu nhiều đau thương!
Năm 2006 tôi viết bài Tác Phẩm “ĐI” của Hồ Khanh & Bản Án của Cộng Sản với nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho tuyển tập của Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT thành lập năm 2005, Cố Vấn: nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Chủ Nhiệm: nhà văn Tạ Xuân Thạc (Texas), Chủ Bút: nhà văn Việt Hải (Los Angeles). (VĐDT Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, 2007, trang 254-258). Bài còn lưu trữ trên trang web Sáng Tạo và trong Mượn Dấu Thời Gian về nhà văn Doãn Quốc Sỹ.
Trích:
Sau tháng 4 năm 1975, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ không “đi” được, ở lại Sài Gòn, được “lưu dung” dạy tại Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, thế rồi ngày 4 tháng 4 năm 1976, ông bị kết tội trong thành phần “văn nghệ sỹ phản động”, đưa vào trại giam Phan Đăng Lưu rồi chuyển lên trại tù Gia Trung ở núi rừng Tây nguyên, cho đến tháng Giêng năm 1980. Ra tù, bản thân ông không bao giờ nghĩ đến chuyện “đi” nếu không có những người thân yêu mong đợi. Không “đi” được, ông viết “ĐI “ để gởi sang Pháp nhưng bị họ lén lút kiểm duyệt, cũng như nhà văn A. Solzhenitsyn, ông bị kết án 10 năm tù! Ông thọ án cũng gần 8 năm như nhà văn A. Solzhenitsyn ở Liên Xô!
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho biết: “Năm 1980, sau bốn năm “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” tôi được trở về sống với gia đình, bắt được liên lạc với nhà xuất bản Lá Bối, viết những bài báo phúng thích ngắn ký dưới bút hiệu tếu tếu: Củ Hành Khô!
Sau đó là cảnh đau lòng tử biệt sinh ly của chính mình khi chứng kiến cảnh đám con cháu cùng thân bằng cố hữu lần lượt mạo hiểm tổ chức vượt biên. “ĐI” được sáng tác đúng vào dịp nầy. “ĐI” chính là một hồi ký tự sự viết dưới hình thức tiểu thuyết. “ĐI” được bằng hữu thân tình tìm cách chuyền sang Pháp tới nhà Lá Bối. Tên tác giả được ghi là Hồ Khanh. Sự chọn lựa nầy liên tưởng tới những bài phúng thích trước đây được ghi với bút hiệu Củ Hành Khô. Củ Hành Khô khi nói lái lại thành một bút hiệu nghiêm chỉnh: Hồ Khanh”.
Trong dịp tiếp xúc với nhà văn Doãn Quốc Sỹ, ông cho biết, khi viết xong từng chương, ông gởi qua bưu điện sang Pháp, ông cảm thấy được trót lọt nên tiếp tục viết và gởi. Năm 1984, Công An đến nhà ra lệnh bắt, ông hỏi tội gì thì Công An đưa ra những bản đã photocopy bài viết mà ông gởi qua đường bưu điện.
Ông biết mình đã bị theo dõi và kiểm soát rất gắt gao nên đành chấp nhận. Bị nhốt 4 năm cho đến năm 1988 mới ra tòa và bản án: 10 năm. Năm 1991, ông ra khỏi tù, năm 1995, được con trai (Doãn Quốc Thái) bảo lãnh sang định cư tại Texas, Hoa Kỳ.
Tác phẩm “Đi”, gồm 19 chương, trên khổ 5.5 X 8.5 inches, dày 224 trang, là những mẩu chuyện có thật xảy ra trong gia đình, con cháu, người thân… với lối hành văn rất nhẹ nhàng, chân thật bắt gặp trong đời sống người thân và gia đình ông của thời điểm sau năm 1975.
Mở đầu tác phẩm “ĐI”, chương I ông viết: “Bà nội bảy mươi bảy tuổi chẳng bao giờ ngờ chuyến đi từ Hà Nội vô Sài Gòn này lại chỉ chứng kiến đám con cháu nội ngoại trong Nam ra đi gần trọn ổ. Thật buồn! Nhưng qua kinh nghiệm và cảm nghĩ bản thân, cụ cũng thấy rằng điều đó chẳng thể tránh được.
Đây là lần thứ hai cụ vô Nam đấy. Lần đầu cụ vô Sài Gòn vào tháng 3 năm 1977. Ngày đó thằng con trưởng của cụ (di cư vô Nam từ 1964) đã bị bắt giữ rồi… Tháng Giêng năm 1980 cụ nhận được điện báo tin thằng trưởng của cụ được tha. Thế là cụ tức tốc lo liệu giấy tờ lấy… Mẹ con sau hai mươi sáu năm trời xa cách (trên một phần tư thế kỷ) được gặp nhau trước Tết; lũ cháu nội ngoại được quây quần bên bà ríu rít chuẩn bị đón Xuân… Hạnh phúc mẹ gặp con, bà gặp cháu của một đại gia đình thương yêu hòa thuận không bút nào tả xiết. Vậy mà cụ có ngờ đâu chỉ sau đó ít lâu cụ chứng kiến cảnh chúng nó ra đi dần, có đứa bị bắt giữ rồi được thả rồi lại ra đi nữa…
Từ lúc đột nhiên khám phá ra lũ con cháu trong Nam đang tuần tự ra đi dần cụ chỉ biết niệm Phật, hầu như thường xuyên niệm Phật, kể cả đêm khuya lúc cụ thiếp ngủ tâm tưởng của cụ vẫn hướng về lời niệm…”
Chương II đề cập đến bản thân ông qua hình ảnh ông giáo: “Ông giáo thương lũ con vô cùng. Ngày xưa làm được đồng nào ông nuôi chúng ăn học đầy đủ, ngày nay ông càng thương chúng vì thiếu thốn đủ thứ. Đã đành ông thương chúng như cha thương con, ông còn thương chúng như đạo hữu thương đạo hữu trong pháp nạn, như đám chúng sanh đói khát khổ nạn thương đám chúng sanh đói khát khổ bạn, thương chúng bằng thứ tình nhân bản tinh lọc nhất. Ngay thuở còn trong trại lao động cưởng bách, ông đã viết thư nói với tám con là ông cám ơn Trời Phật đã ban cho ông tám vị bồ tát…”.
Trong những chương kế tiếp, ông nói về hình ảnh người thân, học hành, ra trường, xin việc, mất việc rồi “đi” đường bộ, đường thủy, bị bắt rồi lại “đi”… tin buồn, tin vui lẫn lộn trong lòng thân mẫu ông giáo, vợ chồng ông giáo.
Cuối chương XVI, sau tháng ngày chứng kiến hình ảnh con cháu “Bà cụ nhìn đám cháu còn lại. Cụ biết rôi đây khi cụ đã ra Bắc rồi, nếu có tổ chức gì (ý cụ nghĩ về H.C.R) mà bảo lãnh cho chúng đi tất nhiên chúng sẽ ra đi hết. Có bao giờ cụ quên niệm Phật cầu nguyện cho chúng đâu”.
Rồi những dòng thư của những đứa con xa cha mẹ với bao nỗi nhớ thương, những dòng chữ viết trong nước mắt gởi từ phương trời xa về cho người thân.
Đoạn kết của “ĐI” khi người thân ra đi ở đảo với nỗi niềm: “Biết bao giờ gặp mặt! Biết bao giờ gặp mặt! Có thể rồi mai đây được bốc đi định cư ở một xứ sở xa xôi nào, rồi ở đâu đó, tiểu gia đình Hoa sẽ mọc rễ đâu đó như bố mẹ trước đây đã di cư vào miền Nam rồi sẽ mọc rễ ở miền Nam. Ông nội mất, bố có được gặp mặt đâu! Biết bao giờ gặp mặt! Biết bao giờ gặp mặt! Hoa ngẩng nhìn trời thăm thẳm và trong suốt như để tìm những vì sao – (lúc đó làm gì có sao) – nhưng là nhìn vào một tiền kiếp xa xưa nào, hồi bố mẹ còn là những vì sao trên trời”.
Với tâm hồn nhà giáo, nhà văn mang nặng tính nhân bản ghi lại những hình ảnh trong “ĐI” nó bàng bạc trong muôn nghìn gia đình và con cháu trong gia đình ông vào thời điểm đó. Ông không phóng đại, cường điệu, dũng chữ “bao to búa lớn” để chửi bới, lên án mà là tâm tình của ông giáo nặng tình yêu thương với người thân trong hoàn cảnh đen tối đành “đứt ruột” chia tay!..”.
Hình ảnh người bố qua những dòng của chị Kim Khánh: “Ngày mãn hạn tù về, bố bình an như một thiền sư, để lại sau lưng hết cả những thăng trầm của quá khứ. Rồi bố mẹ sang Mỹ ở Houston sống cùng cậu trưởng nam… Như thế được mười năm thì mẹ ngã bệnh. Hôm nay, ở giai đoạn cuối của căn bệnh Alzheimer, mẹ nằm bất động một chỗ và không nói được nữa”. (Bà Doãn Quốc Sỹ, bà Hồ Thị Thảo, con gái nhà thơ Tú Mỡ, pháp danh Diệu Thảo. Thất lộc ngày 08 tháng 9 năm 2011 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ).
Trong lãnh vực giáo dục, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã dạy tại các trường: Trung Học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội). Khi di cư vào Nam, Hiệu Trưởng Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961), Trường Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn 1961-1962). Tu nghiệp về ngành giáo dục tại Hoa Kỳ (1966-1968)… Giáo Sư Đại Học Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn.
Tác giả sách giáo khoa: Khảo Luận Về Cao Bá Quát (Nam Sơn, 1959). Khảo Luận Về Nguyễn Công Trứ (Nam Sơn, 1959). Khảo Luận Về Đoạn Trường Tân Thanh (Nam Sơn, 1959). Khảo Luận Về Tản Đà (Nam Sơn, 1960). Khảo Luận Về Nguyễn Khuyến (Hồng Hà, 1960). Khảo Luận Về Trần Tế Xương (Hồng Hà, 1960)… Văn Học & Tiểu Thuyết, 2 quyển (ghi chú: Dành cho sinh viên Vạn Hạnh).
Trong lãnh vực văn chương: Tác phẩm đầu tay Sợ Lửa (tập truyện, Người Việt, 1956) cho đến nay khoảng 30 tác phẩm.
Năm 1955, ông ra tờ tuần báo Người Việt nhưng được vài số rồi đình bản. Năm 1956, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo và tạp chí văn nghệ Sáng Tạo với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng. Truyện dài đầu tay Dòng Sông Định Mệnh đăng trên Sáng Tạo trước khi in thành sách (1959).
Thuở còn là thanh niên, ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Sau đó, khi phong trào này để lộ bộ mặt cộng sản, ông đã rời bỏ kháng chiến “dinh tê” về thành. Chính thời gian nầy, ông là chứng nhân trước thực tế phũ phàng giữa chủ thuyết và thực tại… và cũng là chất liệu trong các tác phẩm của ông.
Tác phẩm Khu Rừng Lau, trường thiên tiểu thuyết gồm 4 quyển: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965), Đàm Thoại Độc Thoại – Những Ngả Sông (1966).
Theo Lê Văn, Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), trong cuộc phỏng vấn ông, có dẫn chuyện rằng “Ba Sinh Hương Lửa người ta thường ví như những tác phẩm lớn của Nga như Chiến Tranh & Hòa Bình” trong đó nội dung mô tả lại những cảm xúc đớn đau của một thế hệ thanh niên mới lớn tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó phát giác ra mình đã bị lợi dụng như công cụ đấu tranh giai cấp của những người cộng sản và “có lẽ chính vì thế mà anh đã bị cộng sản bỏ tù khi họ khi chiếm được miền Nam”.
Văn hào Nga Leo Tolstoy (1828-1910) với tác phẩm nổi danh War and Peace (Chiến Tranh & Hòa Bình) trong giai đoạn vào cuối thế kỷ XIX trong cuộc chiến giữa Nga trước và sau sự lâm lăng của Pháp. Tác phầm gồm 15 phần, trong mỗi phần có nhiều chương, tổng cộng khoảng 1.600 trang. Qua bản dịch tiếng Anh của Aylmer Maude và Louise Maude, bản dịch Chiến Tranh & Hòa Bình của dịch giả Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn 1969. Tập 1: 758 trang, tập 2: 729 trang, tập 3: 733 trang, tập 4: 716 trang. Đây là tác phẩm liên quan đến lịch sử và sự dấn thân của giới quý tộc (Bá Tước, Công Tước)… với những chàng trai tham gia trong cuộc chiến và những mối tình vừa bi thương lẫn lãng mạn. Tác phẩm với khoảng một trăm nhân vật chính trong số năm trăm nhân vật.
Văn hào Leo Tolstoy sinh trước nhà văn Doãn Quốc Sỹ một thế kỷ, tác phẩm Chiến Tranh & Hòa Bình được khởi thảo vào năm 1863 và hoàn thành năm 1869. Tác phẩm Khu Rừng Lau của nhà văn Soãn Quốc Sỹ, ấn hành từ năm 1962 và năm 1966… Như một sự ngẫu nhiên với sự trùng hợp của hai văn tài.
Tác phẩm Khu Rừng Lau là trương thiên tiểu thuyết cũng khoảng hai nghìn trang, vẽ lại bối cảnh của lịch sử Việt Nam trong thời kỳ nhiễu nhương vào giữa thế kỷ XX. Những nhân vật từ lúc trưởng thành trong thành phần tiểu tư sản nhưng chiến tranh do Pháp gây ra, tham gia kháng chiến chống Pháp, nhưng đụng chạm với thực tế phũ phàng với lý thuyết và thực tế nên ngán ngẫm, trở về thành rồi di cư vào Nam, rồi dấn thân trong bối cảnh đất nước phân ly, thế hệ trẻ lại chống chọi trong thời chinh chiến. Theo lời tác giả: “ Khu Rừng Lau tôi cũng viết bằng cả cái kinh nghiệm bản thân của tôi, có nhân vật từ thuở gia nhập chống Pháp. Thời đó chống Pháp là tất cả các thanh niên và chính bản thân tôi ở trong Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc để mà chống Pháp. Rồi thì chính tôi, bản thân tôi đã từng họp dân chúng biểu tình để đi phá kho thóc của Nhật để phân phát gạo cho người dân vào cái thời đó.
Với cái việc của bản thân như vậy thì tôi dựng lại thành cái bộ truyện trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau đó. Và cái bối cảnh cùng những tình tiết thì đều là lẽ cố nhiên là viết dưới hình thức tiểu thuyết, nhưng mà kinh nghiệm là do kinh nghiệm bản thân của tôi với những điều mắt thấy tai nghe, và rồi thì là để vào viết thành cuốn tiểu thuyết như vậy” (RFA, 23/6/2008).
Đề cập đến tác phẩm Khu Rừng Lau, với tôi, không thấy ghi trong phần tiểu sử của ông (ngay cả trong các tác phẩm) là sự thiếu sót vì không nói lên giá trị đích thực của tác phẩm với bối cảnh và giai đoạn xảy ra mà người viết như chứng nhân của thời cuộc.
Trong tác phẩm Gìn Vàng Giữ Ngọc, Sáng Tạo ấn hành năm 1959, có hồi ký Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều (trang 111-116), tác giả viết về bản thân ông, sinh viên Luật ở Hà Hội, tản cư và gia nhập Việt Minh:
“Quê tôi cách Hà Nội chừng 5 cây số. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì gia đình tôi tản cư lên Nhã Nam thuộc huyện Yên Thế, Bắc Giang. (Ghi chú: khoảng năm 1946).
Ðến năm 1948, khi cậu tôi từ Vĩnh Yên lên thăm chúng tôi lần đầu thì toàn thể gia đình tôi ai nấy đã có màu da nửa vàng nửa xám xịt vì sốt rét rừng.
– Anh chị phải cho các cháu tản cư về mạn dưới như chúng tôi – lời cậu tôi nói với thầy mẹ tôi – chứ cứ như thế này thì không chết cũng chẳng còn ra hồn người nữa.
Sau ngót hai năm tản cư gia đình tôi khánh tận rồi. Có lẽ vì nghĩ vậy nên thầy mẹ tôi tìm cách nói khác:
– Ngày xưa vùng Yên Thế Thượng này độc thật, nhưng nay vì có nhiều người lên khai phá nên khí hậu cũng không đáng ngại lắm…
… Rồi cậu tôi về Vĩnh Yên. Hai tháng sau người lại lên, nhất quyết đón gia đình tôi xuôi, nói là nơi ăn chốn ở đã thu xếp đâu vào đó cả.
Thế là gia đình tôi xuôi Vĩnh Yên. Còn một mình tôi ở lại Sở Thông Tin Liên Khu I. Công tác của tôi là đi tuyên truyền mười điều kháng chiến trong toàn huyện Yên Thế. Vì lưu động như vậy nên tôi cũng quên đi nỗi buồn gia đình phân cách đôi nơi. Nỗi buồn đó chỉ đến thắc mắc lòng tôi mỗi khi trở về trụ sở kiểm điểm công tác.
Trụ sở Thông Tin ở một làng bên tả ngạn sông Thương, gần một bến đò đẹp vào bậc nhất Bắc Giang: bến đò Lục Liễu. Ðể tăng phần thơ mộng cho cái tên đó tôi vẫn thường dịch nôm là “Bến đò liễu xanh”…
… Tôi gặp lại người yêu cũ từ Phủ Lý (Khu III) chạy lên. Chúng tôi thành vợ chồng, tuy có ký giấy tờ tại Ủy ban Kháng chiến Hành chính Huyện – cậu mợ tôi là những người làm chứng – nhưng đám cưới hoàn toàn êm ả y như một đám cưới vụng trộm…
… Dạo đó trường Luật mở ở gần chợ Me (Vĩnh Yên), tôi có ghi tên theo học hết năm thứ ba, hy vọng thành tài sẽ ra thẩm phán, đồng lương họa có cao để giúp gia đình. Vì hoàn cảnh kháng chiến, các giáo sư thường từ nơi xa lại trường sở dạy liền trong mấy ngày, sau đó sinh viên tìm tài liệu tự nghiên cứu thêm. Có khi thời gian nghiên cứu lấy dài hơn một tháng mới có giáo sư mới. Tôi triệt để lợi dụng khoảng cách này để bon về giúp đỡ gia đình những công việc nặng…
Mùa Ðông năm đó rét lạ lùng. Gió hun hút giật từng cơn, quết như dao cắt từng mảnh thịt hở, thế mà hôm nào mẹ và em gái tôi cũng phải dậy từ bốn giờ rưỡi sáng để sửa soạn gồng gánh ra đi. Quần áo và chăn chiếu của gia đình tôi thiếu rất nhiều. Thằng em thứ ba của tôi có được cái chiếu rách mướp vừa nằm vừa đắp, chân thò ra ngoài thì nó lấy rơm phủ lên”.
Mẹ ông đi chợ gặp lúc phi cơ Pháp bay từng đoàn bắn phá và giội bom liên tiếp xuống các chợ lân cận: chợ Me, chợ Vàng, chợ An Lạc… mọi người bỏ chạy. Chiều sẫm, ông ra chợ đón mẹ.
“… Tôi hỏi: “Sao mẹ về muộn quá thế, cả nhà lo tưởng phát điên lên”. Mẹ tôi cho biết hàng hôm nay bán ở chợ không hết, người phải đi sâu vào một vài làng lân cận để bán nốt. Rồi khi xuống khỏi đê, qua cái lạch lớn, thấy có chiếc chiếu trôi, vội tìm cách vớt lên và giặt luôn bên lạch. Ðó là một chiếc chiếu còn khá tốt tuy chiều rộng bị xén đi mất một phần ba…
Tối hôm đó khi đi ngủ thằng chú Tư được mẹ tôi đắp cho chiếc chiếu vớt ở lạch. Chân nó thò ra một tí khiến tôi nhận thấy chiếc bít tất cũ vàng xỉn của tôi, chỗ đầu rách được buộc túm lại để các ngón chân xinh của nó khỏi “thoát ly” ra ngoài”.
Như vậy, gia đình ông tản cư và ông theo kháng chiến trong khoảng 5 năm (1946-1951) mới thoát ly về Hà Nội dạy học.
Thời gian kháng chiến (cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác) ông là “cán bộ thông tin” nên sau đó am tường chính sách mị dân, lừa bịp của họ… trước thực tế phũ phàng nên từ bỏ chiến khu, trở về Hà Nội. Đó cũng là chất liệu để ông viết tác phẩm Khu Rừng Lau.
Tập I, tác phẩm Ba Sinh Hương Lửa (1962), những dòng đầu (Khai Từ) với các nhân vật chính: Khiết và Khóa (sinh năm 1913), Lãng (1918), Hãng (1921), Hiển (1922), Tân (1923), Kha (1924), Miên (19260… cũng là thế hệ của tác giả vào đầu thế kỷ XX. Và, vào thời đó tuổi thơ đã chứng kiến giai đoạn bi thảm của lịch sử: Ngày 17/6/1930, Đảng trưởng Nguyễn Thái Học (28 tuổi) cùng 13 chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị Pháp đưa lên Yên Bái để thi hành án tử hình. Ký giả Pháp Louis Roubaud được chứng kiến cuộc hành quyết các nhà cách mạng Việt Nam đã viết: “Tôi phải dở nón nghiêng mình kính phục tinh thần ái quốc, lòng dũng cảm vô bờ bến của những người Việt Nam yêu nước…” (Vietnam, Tragédie Indochinoise).
“Căn cứ vào thứ bậc tuổi tác trên chúng ta thấy Khiết, Khóa và Lãng ở vào cùng thế hệ, tạm mệnh danh là thế hệ Nguyễn Thái Học vì họ có trực tiếp tham gia hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng phong trào phục quốc của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Còn năm người kia: Hãng, Hiển, Tân, Kha, Miên thuộc thế hệ sau, trưởng thành trong cuộc khói lửa toàn dân kháng pháp 1946- 1954…”
Tác giả lấy tựa đề trong điển tích “ba sinh hương lửa” trong thi phẩm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:
“Dạy rằng hương lửa ba sinh. Dây loan xin nối cầm lành cho ai”..
Ba Sinh Hương Lửa gồm 3 phần 16 chương. Phần I: Câu Chuyện Khởi Đầu với 5 chương: Thời Thơ ấu, Cách Nhau Ngàn Vạn Dặm, Anh Trưởng Vỏ, Phẩm Tiên Rơi Đến Tay Hèn, Bên Giường Mẹ.
Phần II: Màu Tím Hoa Lau với 5 chương: Nàng Tiên Dưới Ánh Trăng, Độc Hành, Viên Cố Vấn Thủ Thuật, Mầm Sen Trong Hỏa Ngục.
Phần III: Giã Từ với 7 chương: Người Anh Trở Về, Ý Thức Về Nốt Nhạc, Phong Trào Tam Phản Khóa Bảy, Đôi Bạn Nhỏ, Một Tấn Bi Hài, Dòng Suối Tìm Đường, Hai Lần Sang Sông.
Khi tác phẩm nầy vừa ấn hành, Tràng Thiên (nhà văn Võ Phiến) trong mục Điểm Sách trên tạp chí Bách Khoa số 159 (15/10/1962) ghi nhận (trang 71-73):
“… Doãn Quốc Sỹ dường như có ý định xây dựng cả một hệ thống tiểu thuyết xung quanh Khu Rừng Lau của ông. Ba Sinh Hương Lửa là quyển truyện thứ nhất. Tác giả kể ra ở Khai Từ tên tám nhân vật chính, nhưng tổng số các nhân vật trong truyện có lẽ cũng đến ngót 80. Chừng ấy người cùng trải qua ba thời kỳ đau khổ: thời Pháp thuộc, thời Nhật thuộc, thời Việt Minh thuộc. Chịu hết những sóng gió bể dâu của cà ba giai đoạn lịch sử, đó là trải qua “ba sinh”! Cuối truyện ta thấy ba người thanh niên (hai trai: Kha, Hiến, và một gái: Miên) cũng đua nhau về thành. Nhưng trên đầu họ đạn còn réo, xung quanh họ chiến cuộc còn tiếp diễn, việc đời còn ngổn ngang, bao nhiêu kẻ còn chìm nổi trong loạn ly.
Ba Sinh Hương Lửa là cuốn truyện diễn lại một thời đau khổ của dân tộc, nhưng người đọc không cảm thấy bi đát. Trái lại, truyện để lại một cảm tưởng êm đẹp, gây tin tưởng ở cuộc đời. Sự thực chắc chắn không mấy khi độc giả gặp trong tác phẩm văn nghệ được nhiều tâm hồn đẹp đẽ như trong Ba Sinh Hương Lửa…
… Nhân vật của Doãn Quốc Sỹ đều thừa hưởng một của kho vô tận: tình thương. Tình thương tràn ngập khắp cùng: giữa cha và con, vợ chồng, anh em, chú cháu, bạn bè, giữa láng diền chòm xóm, giữa người quen kẻ thuộc, và giữa cả những người không hề quen nhau… Tình thương mênh mông áy làm cho tất cả các nhân vật đứng về một phía. Phía bên kia là chế độ của hiềm thù. Và tất cả các nhân vật của Ba Sinh Hương Lửa chống lại chế độ của một điềm xung khắc giữa thương và thù đó…
… Cả cái xã hội gồm đa phần là thanh niên nam nữ có học thức, có tài, có gan dạ, đẹp và rất thơ mộng của ông Doãn, họ sẵn sàng chịu mọi điều cay đắng cam go trong chiến đấu, nhưng khi họ nhận ra rằng trong thế giới của họ tình thương đang bị hủy diệt; thế là họ cùng lắc đầu, từ chối, kéo nhau đi…
… Phần đông trong số thuộc thế hệ Doãn Quốc Sỹ, những người đã trải qua “ba sinh” của đất nước, có kẻ cay đắng chua chát, có kẻ hằn học thù hận, có kẻ hoàn toàn chán chường, có kẻ hoang mang rắc rối, không chút tin tưởng…”.
Với tập I Ba Sinh Hương Lửa (trong 3 tập sau mới ghi thêm Khu Rừng Lau) mà lúc đó, nhà văn Võ Phiến khi đọc viết “Doãn Quốc Sỹ dường như có ý định xây dựng cả một hệ thống tiểu thuyết xung quanh Khu Rừng Lau” vì khi tham gia trong vùng kháng chiến đã là chứng nhân sự thật phũ phàng nên trong chương cuối Hai Lần Sang Sông, Hiển, Kha và Miên đoạn tuyệt với vùng Cộng Sản về vùng Quốc Gia với dòng kết: “Dù cánh đồng này – Miên nghĩ thầm – có biến thành cả khu rừng lau khô xác đi nữa thì giờ đây, trên đường đời, có những ba bóng người!
Bớt cô quạnh!”
Khi tham gia kháng chiến của Việt Minh, Miên là nữ y tá giỏi, nhưng bị hạ công tác để cho đảng viên thay thế. Miên bị giao cho việc rình mò theo dõi bạn đồng nghiệp để báo cáo, nên cô cảm thấy hụt hẫng, e chề, chán chường. Với Tài, con trai cha mẹ nuôi của Miên, coi như anh ruột, nhưng khi Tài thành đảng viên, không còn tình cha mẹ, anh em mà người máy của đảng. Với những sự kiện xảy ra trước mắt, Miên đã thức tỉnh. Rồi đến Hiển, Kha, Hãng… ngán ngẫm khi chứng kiến những điều bất nhân, không còn tình người… Vì vậy họ không thể chấp nhận thực tế phũ phàng, chua xót đó để ở lại. (Trong quyển Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Kha và Hiền gặp Tân mới biết Tân đã về thành từ mùa hạ năm 1951 trước họ 6 tháng).
Đó chỉ là giai đoạn đầu trong thời kỳ kháng chiến nên theo dòng lịch sử, người đọc cũng nghĩ rằng nhà văn Doãn Quốc Sỹ không dừng lại ở đó mà tiếp nối cuộc hành trình tiếp theo.
Tập II, tác phẩm Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964) gồm 18 chương: Tiếng Hát Tự Lòng Đất Khu Rừng Già, Chiếc Nhẫn Saphir, Về Làng, Ông Chủ Báo, Cô Gái Bên Sông Tần Hoài, Những Cụm Hoa Vàng, Tiếng Hát Tự Lòng Đất, Trên Bờ Vực Lịch Sử, Ngọn Đèn Lương Tri, Thần Tượng, Một Sự Chuyển Hướng, Vật Đổi Sao Dời, Cướp Đoạt, Xiếc Hữu Mai Hề, Tiếng Vọng Mùa Xuân, Người ở Lại, Bến Đò Rừng, Chiếc Bè Nữ Chúa.
Cũng nên nhắc ở đây, Quốc Gia Việt Nam (État du Việt Nam) lúc mới thành lập ngày 7/12/1947, nhưng chính thức thừa nhận giữa Quốc Trưởng (cựu hoàng Bảo Đại) và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol ký Hiệp Định Élysée 8 tháng 3 năm 1949 trong khối Liên Hiệp Pháp. Chọn cờ vàng ba sọc đỏ làm Quốc Kỳ. Hà Nội được Pháp chuyển giao cho chính quyền Quốc Gia Việt Nam, dược sĩ Thẩm Hoàng Tín làm thị trưởng thành phố.
Mở đầu tác phẩm “Hình ảnh lá cờ vàng ba gạch đỏ phe phẩy thanh bình vẫy gió còn mãi mãi về sau này in hằn trong tâm tưởng Miên một ấn tượng của thịnh vượng và của tình người…”
“Bốn giờ chiều, Luận đến sớm ngỏ ý đón Hiển, Kha, Miên để đưa đi một vòng qua các phố tỉnh lỵ gọi là ‘xem tình hình quốc gia’.
… Luận đưa ba người ra bến xe, chính chàng mua ba vé hạng trên. Luận căn dặn thêm một lần nữa khi ba người về đến Gia Lâm nhớ phải vào Ty Công An trình diện mà xin cấp giấy thông hành tạm thời”… Dĩ nhiên khi trở về thành, không dễ dàng chấp nhận, Công An phải điều tra để tìm hiểu nguyên do cặn kẽ. Nhưng mọi việc được an bày trong cách đối xử đầy cảm thông và tình người.
Rồi tháng năm ở Hà Nội, Hãng đi du học ở Pháp, chia tay các bạn bè bao năm ở bên nhau. Cuộc sống mới của Khiết, Khóa, Lãng, Hiển, Tân, Miên… được tác giả đề cập khá chi tiết… Nhất là Kha, chàng trai với tâm hồn lãng mạn lẫn bi thương…
Khi Hiệp Định Genève ký kết, đất nước phân chia rồi đến khi di tản vào Nam. Mối tình cuối giữa Kha và Vân (tuy đã có con) “Kha đã gặp Vân, Kha sắp được Vân, Kha đang say mê Vân, điên cuồng”… nhưng đến giờ phút cuối đành chia tay.
“Kha vào Nam cũng bằng đường thủy. Chàng đến khu lều Thăng Long của Đoàn Sinh Viên Di Cư Hà Nội – khu lều này được dựng trên nền khám lớn cũ và sau đây là nơi xây cất Đại Học Văn Khoa”. Đó cũng là hình ảnh của tác giả cùng bạn bè khi vào Nam.
Đoạn kết tác phẩm với những là thư của Vân, người ở lại:
“Hiệp định Genève ký, đoàn thể giữ khéo con em lại và cử em về Hà Nội để thuyết phục những người thân…”.
Lá thư cuối tác phẩm, Vân viết: “Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến của anh đã chấm dứt hàng chữ cuối cùng của lá thư cuối cùng này ở đây.
Hôn anh một cái hôn làm nổ vỡ tinh cầu nhưng tình chúng ta thì chói rạng mãi mãi.
Vĩnh biệt anh,
Em”.
Trước khi chuẩn bị vào Nam. Kha viết thư cho Miên:
“Cô Miên,
Chẳng còn bao nhiêu ngày nữa đến lượt Hà Nội bị tiếp thu. Chuyến này tôi về thăm làng lần cuối rồi xuống Hải Phòng đợi cô cùng vào Nam. Nhìn cảnh Hà Nội hoang vắng tôi lại nghĩ đến cô từng ao ước được thăm khu rừng lau trên núi sáng, Bỉnh Di…
Tôi vẫn nghĩ rằng mọi người chúng ta ai cũng mang trong lòng một khu rừng lau. Có kẻ chẳng bao giờ đạt tới, có kẻ đạt tới rồi hủy hoại chính khu rừng đó như chuyện con chó ngu xuẩn thả mồi bắt bóng…”.
Rồi khi Miên gặp được Kha “ghì chặt lấy chàng, giọng nàng thanh như tiếng chim nhưng thảng thốt nghẹn ngào như một linh hồn biết khóc:
– Khu rừng lau của em! Khu rừng lau của em!”
Với bộ ba Hiển, Miên (em gái của Hiển) và Kha đã một thời gắn bó với nhau. Miên có tình cảm với Kha nên bán món nữ trang độc nhất là chiếc nhẫn saphir (chương 3) để lấy tiền giúp Kha trong khi bị gam giữ và khi Kha được thả ra, ba người ở chung với nhau, tiền kiếm tiêu chung. Khi Miên biết Kha yêu Vân nên Miên với tâm hồn cao thượng để nhường tình yêu nầy nhưng định mệnh giữa Kha và Vân thật oan nghiệt!
Đến tác phẩm thứ hai, độc giả mới hiểu tựa đề trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau.
Tập III, tác phẩm Tình Yêu Thánh Hóa (1965), gồm 4 phần. Phần I Bối Cảnh với các chương: Thành Đôi, Một Chuyến Buôn Văn Hóa, Một Cuộc Gặp Gỡ, Người Em Ra Bắc, Câu Chuyện Điện Biên Phủ. Phần II Vỡ Bờ với các chương: Lê, Con Đê, Mụ Cát Thành, Một Ký ức Thô Bỉ. Phần III Quỳnh Hương với các chương: Bên Lề Hội Nghị, Bà Cụ Hồng Kông, Tài Mệnh Tương Đố, Ông Cai, Mối Tình Linh Lan, Cô Em Cũ, Chuyện Dĩ Vãng, Nỗi Lòng Tô Thị. Phần IV Chặt Thuyền Dĩ Vãng với các chương: Tiếng Hát Đối Diện Với Sao Bắc Đẩu, Hoàng Tử Của Hằng Nga, Những Triều Nước Mặn, Tình Thương Trong Mưa, Tiếng Hát Lạ Trên Kinh Thành Vienne, Tiếng Hát Hồi Hương.
Khởi đầu với cuộc di cư vào Nam. Vân ở lại Hà Nội. Kha và Miên được gặp nhau và làm lễ thành hôn trong khu định cư làng Thăng Long. Tác giả ghi lại hình ảnh với lịch sử Quảng Nam (quê hương tôi nên tôi rất tâm đắc). Với Miên “Giờ đây nàng sống trong tay người yêu, ngợp trong hạnh phúc, nàng cũng thấy là nàng đương du hồn vào khu rừng lau. Nàng nhắm mắt lại như để chạy trốn ánh sao bên ngoài khi nãy. Khu rừng lau trong tâm tưởng nàng lúc đó là bà tiên khoác tấm khăn choàng tím ngát” (trang 35).
Trong Câu Chuyện Đện Biên Phủ đề cập đến tháng ngày năm xưa khi Kha, Miên… đã về thành. Hiển còn ở lại “đi theo Vìệt Minh đánh Pháp, giờ đây Vìệt Minh thắng, mình lén trốn khỏi vùng họ, sang được vùng quốc gia thấy những người lính Pháp đầu đội mũ sắt có hai chữ P.M. (Prévoté Militaire) thì mừng. Không bao giờ ưa thực dân nhưng thấy rằng cộng sản còn ghê tởm và nguy hiểm hơn nhiều, đã đến lúc phải thay đổi chiến tuyến! Đến Hải Phòng anh bạn khai thẳng với Công An quốc gia mình là sĩ quan Việt Minh trốn sang, xin cho điều tra ngay và cấp thẻ căn cước để sống bình thường như dân. Một tháng sau anh xuống tàu cùng gia đình di cư” (trang 85).
Tân, chỉ xuất hiện thoáng qua trong Ba Sinh Hương Lửa, ở tác phẩm nầy đề cập nhiều về Tân và người yêu là Lê. Tân cũng đa tình và đào hoa như Kha, đã từng ân ái với Thoa (em gái của Lãng)… Với Kha, tuy đã có Miên nhưng vẫn đa tình. Từ khi gặp ca sĩ Quỳnh Hương ở phòng trà Ly Ly, Quỳnh Hương là em gái nuôi của Hãng và bạn thân của Vân và của Thi thời học sinh ở Hà Nội nhưng những giây phút gặp gỡ nhau giữa Kha và Quỳnh Hương như “đôi tình nhân”.
Cũng như trong Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Quỳnh Hương đi sang Tây Đức đóng phim và lập gia đình với đạo diễn Karl, đạo diễn. Với những là thư từ Vienne, Tây Bá Linh gởi về cho Kha “Đặc biệt trên hai chữ “Chào anh” của bức thư này Quỳnh Hương có viết hai chữ gì mà nàng rập xóa đi mất. Tò mò Kha đem lá thư ra cửa sổ soi lên ánh sáng. Chàng bỗng thở dài cúi đầu. Đó là hai chữ “Hôn anh”” (trang 378).
“Đi vào dĩ vãng, trong khoảnh khắc nhớ lại buổi gặp Kha lần đầu cùng Hãng ở phòng trà Ly Ly, nhớ lúc Kha ôm mình nhảy bản slow khuya và cúi xuống hôn nhẹ lên môi… Trời ơi, Quỳnh Hương bỗng thèm Kha điên cuồng. Ngày nào cùng Kha đi Thủ Dầu Một về cùng ăn cơm trong căn phòng ấm cúng của nhà hàng Cheong-Nam, rồi khi từ biệt trên vỉa hè Tự Do nàng đã có ý tưởng ngộ nghĩnh sẽ hôn Kha trước vì chỉ hôn trước một người như Kha mới không sợ bị rẻ rúng” (trang 381).
Là nhà mô phạm nhưng trong tác nầy nhà văn viết về cuộc sống ở Sài Gòn với phòng trà, nhảy đầm rất sành điệu và còn chửi thề (Đ.M) trong vài mẩu đối thoại vì vậy rất thoáng, sinh động, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Ông thích làm thơ, chơi dương cầm nên trong tác phẩm của ông được dẫn chứng những dòng thơ, vài ca khúc… khi đọc cảm thấy thú vị.
Tập 4: Những Ngả Sông (Đàm Thoại – Độc Thoại) 1966, gồm 7 chương: Mối Tình Thiên Thu, Người Lính Nhảy Dù, Người Phá Cầu, Tập Sơ Khảo Của Kha, Mây Trắng Nước Xanh Người Tù, Mây Trắng Nước Xanh Thần Tượng Trong Đêm, Dư Dục Vô Ngôn.
Trong tác phẩm nầy với những nhân vật chính từ Ba Sinh Hương Lửa trong sinh hoạt chính trị ở miền Nam Việt Nam. Khóa, Kha, Miên, Tân, Hiển, Luận… trong gia đình Văn Hóa. Khóa bị giam ở lao tù Đà Lạt trong 11 tháng. Tân, Hiển, Phiệt phục vụ trong quân đội VNCH. Tác giả mô tả đến các trận chiến giữa thập niên 50 & 60 như phóng viên chiến trường với từng chi tiết. Với những trang nhật ký của Tân (Trung Úy Y Sĩ) trong binh chủng Nhảy Dù, sau nầy đọc hồi ký Y Sĩ Tiền Tuyến của Trang Châu, cảm phục tài tình của tác giả Những Ngả Sông. Với quần đảo Hồng Sa, nghe rất xa lạ, tác giả đã dành vài chục trang để nói về lịch sử và người dân nơi nầy.
Với hai cuộc binh biến năm 1960 & 1963, tác giả ghi nhận tất cả sự kiện xảy ra… Kha và Khiết cũng không may bị vào chốn lao tù. Trong khi đó “Tân, Hiển ngoài tiền tuyến chẳng thể được tâm hồn tương đối thanh thản như Khiết, Kha những ngày sống khuất mặt trong khám lớn” (trang 154). Rồi “Phiệt bị đạn ở chân tại chiến dịch cao nguyên được đưa về bệnh viện Cộng Hòa… Tân hỏi Phiệt có muốn giải ngũ để chàng xin cho và Phiệt sẽ về bên Vĩnh Hội ở với tiểu gia đình của Tân. “Người lính nhảy dù” đó đã say mê gia nhập đời sống quân ngũ làm sao dứt bỏ các bạn đồng ngũ sao đành, Phiệt xin ở lại phục vụ bên ngành quân nhu, ban chung sự” (trang 155).
Với Hiển “trong những lúc xông pha nơi tiền tuyến… chàng hoàn toàn như người đi trong sa mạc. “Miên ơi – chàng muốn kêu lên như thế – trong giai đoạn nầy đừng nghĩ đến rừng mía, ngay như được gặp khu rừng lau để có chút bóng mát cũng là quý rồi. Anh cô đơn đi giữa sa mạc, cô có biết không?”.
Tác phẩm Ngã Ba Sông ngắn hơn 3 tác phẩm trước, đề cập đến cuộc chiến và nên chính trị ở miền Nam Việt Nam rối răm trong thời chinh chiến. Với tác phẩm Ngã Ba Sông, cũng có người khen, người chê vì “thiên kiến chính trị” nhưng với nhà văn, sự khách quan và thực trạng xã hội không thể sai lạc. Với những dòng đề cao tinh thần, trách nhiệm về người lính với nhà văn không khác áo chinh y cũng nói lên tấm lòng của tác giả.
Nhà văn Võ Phiến trong Văn Học Miền Nam Tổng Quan đã có đoạn viết về nhà văn Doãn Quốc Sỹ như sau:
“Còn Doãn Quốc Sỹ, ông làm chúng ta nghĩ đến một nhân vật của ông: Khiết. Khiết kiên trì theo đuổi con đường văn hóa nhưng đã trót đi vào con đường chính trị, biết những ngõ ngách của nó âu cũng thành nghiệp chướng của mình nên khó bỏ lắm. Khu Rừng Lau phơi bày ra cái hiểm ác xủa chế độ này, lột trần nền độc tài nọ. Thái độ chính trị của tác giả luôn luôn biểu lộ trong tác phẩm. Tuy nhiên ông Doãn cũng như Khiết trước sau “kiên trì theo con đường văn hóa”. Ông chê cái này chống cái nọ vì nó ác nó xấu. Mà ông thì nhất tâm phục vụ cái thiện cái mỹ… Thiện tâm thiện ý của tác giả tỏa ra khắp tác phẩm: trong các truyện của ông Doãn nhân vật nào cũng tốt việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo nổi người xấu, kể nổi việc xấu. Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn. Truyện ông Doãn vừa có luận đề chính trị vừa có chủ tâm giáo dục…”. Trong quyển sách nầy, theo nhà văn Võ Phiến, khuynh hướng luận đề có Doãn Quốc Sỹ (trang 266).
Trên tạp chí Bách Khoa số 192 (1/1/1965) trong mục Sống & Viết (trang 39-44) trong cuộc trò chuyện giữa nhà văn Nguyễn Ngu Í với nhà văn Doãn Quốc Sỹ (14/12/1964) sau khi tác phẩm Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến ấn hành. Sau nầy in trong quyển Sống & Viết (trang 124-147) có tấm hình ông bà và 7 người con (Ngọc Thanh 1952, Kim Khánh 54, Cẩm Liên 56, Quốc Thái 58, Quốc Vinh 61, Quốc Hưng 62, Quốc Hiền, chưa có Thanh Hương trong số 4 trai & 4 gái).
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho biết: “Năm 1951. Từ chỗ kháng chiến ác liệt nhất, Liên Khu Việt Bắc. Kháng chiến, tôi kháng chiến hết mình, tôi từng là một “anh hùng lao động” của cơ quan tôi. Nhưng đến khi giã từ “Thiên đường Đỏ” thì cũng giã từ quyết liệt, dứt khoát…
… Bất cứ ai đã qua cơn ác mộng với Cộng Sản, đã hiểu rõ bộ mặt thật của chúng, đều có thái độ dứt khoát, vừa đơn giản vừa cương quyết như vậy…”.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một trong những nhà văn được nhiều viết trong sáu thập niên từ trong nước và hải ngoại, ngoài giá trị văn chương qua những tác phẩm của ông, với tâm hồn nhân bản, đôn hậu, nhân cách sống của ông trong lao tù và ngoài xã hội, được kính nễ. Ngay cả những người con của ông khi viết về người bố cũng là hình ảnh tiêu biểu của bậc cha mẹ (thế hệ chúng tôi) để noi gương.
Doãn Quốc Hưng viết về bố:
“Những bài học đạo đức, nhân bản, thiền học… mà chúng tôi nhận được từ bố một cách “có hệ thống” chỉ bắt đầu từ sau khi bố tôi đi cải tạo lần một về vào năm 1980. Đó là các buổi nói chuyện của bố tôi với bọn tôi và một nhóm bạn bè, bọn tôi gọi đó là “đại học bỏ túi”. Đó cũng là cột mốc của một “gia đình” thứ ba của bố tôi. Trong gia đình đó, chúng tôi mới thực sự được nghe bố tôi nói nhiều hơn về điều ông đã viết trong tác phẩm, đã làm trong cuộc sống…
… Nhắc tới chống đối, có một thứ mà rất nhiều người khuyên rằng chúng tôi “phải noi gương bố”, đó là “tinh thần bất khuất trước quyền lực”, hoặc “một trong những biểu tượng của tinh thần chống cộng của Miền Nam Tự Do”. Các nhà “phê bình văn học” của Việt Cộng đã tấn phong cho bố tôi là đầu xỏ của “những tên biệt kích cầm bút”, mô tả ông như một “kẻ căm thù cộng sản đến tận xương tuỷ”. Tôi cũng đã được nghe kể lại nhiều lần từ bạn bè trong tù của bố về giai thoại về một ông DQS “hiên ngang đối khác với cán bộ CS trong trại giam”, những câu tuyên bố mang tính “hào hùng, nghĩa khí” của ông trước “kẻ thù”. Thực hư ra sao cũng chẳng rõ, chỉ có điều chắc chắn là chưa bao giờ tôi được nghe chính bố tôi kể lại những giai thoại ấy…
… Trở lại với cái ngày xét xử bố tôi vào năm 1988 cùng với các cô chú văn nghệ sỹ khác: Hoàng Hải Thuỷ, Duy Trác, Lý Thuỵ Ý,… phiên toà “DQS và đồng bọn, với tội danh tuyên truyền phản cách mạng, chống phá nhà nước XHCN”. Đó là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một phiên toà chuyên chính vô sản của nhà nước Việt Nam…
… Bố tôi căm thù cái phi nhân của một chủ nghĩa, sự ngu dốt và độc đoán của một tầng lớp lãnh đạo. Bố tôi không nhắm vào những cá nhân thừa hành bên dưới, vì họ cũng chỉ là nạn nhân của sự bưng bít, thiếu kiến thức, thiếu thông tin, thiếu sự lựa chọn. Điều đó thể hiện trong nếp sống thường ngày…
… Bố tôi là một ông giáo hiền lành, một con người nhân hậu vì bản chất của ông là như vậy. Nhưng sức mạnh của ông bắt nguồn từ chữ Tâm. Khi cái Tâm đã toả sáng vì nó đã biết mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu, nó bắt đầu thoát ra khỏi sự sợ hãi. Đó là điều kiện kiên quyết để có một cái Tâm tự do. Sức mạnh tâm linh của một cá nhân sẽ nhờ sự tự do mà tự toả sáng, không cần ngôn từ, không cần chứng tỏ. Bố tôi đã dạy cho tất cả chúng tôi ngồi thiền để tốt cho sức khoẻ, để luyện tâm thanh tịnh…
… Chú Nguyễn Đình Toàn đã từng nói với bọn tôi rằng: “Trong giới văn nghệ sĩ, không ai phục ai về tài viết văn cả. Nhưng nhiều văn nghệ sĩ trong Nam quí mến bố cháu ở cái đời sống đạo đức của ông”. Đối với con cái cũng vậy. Chúng tôi được dạy dỗ bằng chính cách sống của bố, chứ không bằng những “phương pháp giáo dục”…
… Hồi bố tôi chuẩn bị xét xử lần thứ hai vào năm 1988, bạn bè khắp nơi trên thế giới đã vận động mạnh mẽ đến nỗi chính quyền Việt Nam phải hoãn xét xử vào giờ cuối để tìm cách giảm nhẹ tình hình. Để tránh mất mặt khi phải đổi giọng, đảng và nhà nước đã phải cử ông chú tôi làm trung gian vào tù thương lượng, đề nghị bố tôi nhượng bộ bằng cách tỏ vẻ “ăn năn” để được “khoan hồng”. Tất nhiên là cuộc thương lượng đó bất thành, họ đánh giá bố tôi quá thấp! Điều đáng kể ở đây là thái độ của bố tôi trước biến cố này. Lọt vào tay “chủ nghĩa anh hùng cách mạng”, đây ắt hẳn sẽ trở thành một câu chuyện li kì về “tấm gương đấu tranh bất khuất, một cuộc chiến không khoan nhượng giữa hai anh em hai chiến tuyến…”. Lần duy nhất bố tôi nói về nó là do sau này tôi hỏi và bắt bố tôi kể lại. “Có gì đâu, chú đề nghị bố xin lỗi. Giống như sau khi mình tát ai một cái thì mình cũng phải tỏ vẻ ân hận một chút. Nhưng đời nào bố lại làm vậy…”…
Hình ảnh Doãn Quốc Sỹ được bắt gặp qua hai câu nói Pascal cũng đã khẳng định : “Con người là một cây sậy nhưng là cây sậy có tư tưởng’” (Triết gia Blaise Pascal) và “Sức mạnh của con người không nằm ở thể chất mà đến từ ý chí bất khuất’” Thánh Gandhi).
Với nhiều bài viết, chỉ trích phần Tạp Ghi Văn Nghệ của Nguyễn Mạnh Trinh liên quan đến tác phẩm Khu Rừng Lau: “Ở Doãn Quốc Sỹ, ông viết Khu Rừng Lau như một cách lý giải sự thất bại của những người quốc gia trong thời cuộc hiện đại. Họ là những người đã bị những tay sai quốc tế Cộng Sản đệ tam lường gạt trong công cuộc giành độc lập cho đất nước…
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã muốn cho đời sau một chứng liệu về một biến cố không những riêng của đất nước Việt Nam mà còn cả chung của thế giới nữa…
Những tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ dường như có chung một mẫu số mà văn chương dùng để tải đạo và làm cuộc sống con người tươi đẹp hơn. Có rất nhiều nhận xét về ông, như là một nhà văn có chân tài, một nhà giáo tận tụy, một kẻ sĩ khí tiết…”.
Kim Khánh viết về người bố, khi nhắc đến tác phẩm Khu Rừng Lau: “Nhân vật chính là Miên và các nhân vật khác đã có cuộc sống đi qua suốt chiều dài lịch sử từ thế hệ mà tác giả mệnh danh là thế hệ Nguyễn Thái Học cho đến thế hệ trưởng thành trong cuộc chiến toàn quốc kháng chiến. Có những người như Khóa, Lãng, Khiết trực tiếp hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng của những đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng hoặc Đại Việt. Còn các nhân vật thế hệ sau như Hãng, Hiển, Tân, Kha, Miên,… thì mới đầu tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó nhìn thấy bộ mặt thực của đảng Cộng Sản Việt Nam nên trở về thành và sau đó di cư vào Nam…
Hình như, họ có chung nỗi hoang mang của những người trí thức luôn đi kiếm tìm cho mình một con đường nhưng lại thấy bơ vơ khi chọn lựa. Ở với kháng chiến, thấy lòng yêu nước bị lợi dụng bởi những con người Bolcheviks tàn bạo vô nhân, về thành thì thấy giặc Pháp nghênh ngang, chính phủ quốc gia chỉ là cái bóng. Di cư vào Nam, thì chế độ độc tài và gây ra nhiều kỳ thị bất công”.
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác trong bài viết Doãn Quốc Sỹ, Người Anh Khả Kính: “Nhiều người trong giới cầm bút khen và cũng chê tính đôn hậu trong tiểu thuyết Doãn Quốc Sỹ. Họ lý luận rằng ông đôn hậu quá nên nhân vật tiểu thuyết của ông đẹp nhưng có vẻ không thực, ông không lột hết được bản chất phức tạp của cuộc đời, bản chất hàm hồ của con người, bản chất tàn nhẫn phi lý của lịch sử. Khi xây dựng nhân vật, Doãn Quốc Sỹ thường không lưu tâm moi móc những ngóc ngách xấu xa của họ. Trái lại, ông lưu tâm tô điểm những nét đẹp của họ. Những Kha, những Miên, những Hãn, những Khiết của Khu Rừng Lau…”.
Với tác phẩm Khu Rừng Lau, năm 2020 nhà văn Doãn Quốc Sỹ chia sẻ: “Có nhiều khi đọc lại Khu Rừng Lau, tôi cũng không hiểu tại sao mình có thể hoàn tất được bộ tiểu thuyết ngàn trang này. Tôi nhớ là vào thời đó, có khi tôi ngồi viết như người lên đồng, viết giống như có ông bà tổ tiên nhập vào vậy.
Tôi nghĩ rằng tôi chỉ được trời cho năng khiếu sử dụng ngòi bút của mình. Còn lại, tôi viết như theo lời nhắn nhủ siêu hình của tổ tiên, viết theo hồn thiên dân tộc để phục vụ tổ quốc”. (Việt Báo)
Trước năm 1975, vài ý kiến cho rằng nhà văn Doãn Quốc Sỹ nên chọn những tác phẩm tiêu biểu, trong đó có trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau dịch ra Anh ngữ để tham dự giải Nobel Văn Chương. Trong bài viết Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam của tôi đã đề cập đến các tác giả Tây Phương đã được Nobel Văn Chương được các nhà văn, dịch giả đã dịch sang tiếng Việt rất nhiều. Có tác giả với vài tác phẩm tiêu biểu, có tác giả với toàn bộ tác phẩm như Alexander Solzhenitsyn (Nobel Văn Chương 1970)… Hầu hết toàn bộ tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ đều bối cảnh trong nước, ngoại trừ tác phẩm Sâu Mây khi ông du học ở Mỹ. Đây là tập du ký, và theo Thanh Tâm Tuyền; “Đây không phải là tác phẩm chủ yếu, nhưng là cái viết tự do và bay bổng nhất của Doãn Quốc Sỹ. Cũng là cuốn sách nhỏ nhưng óng chuốt và đáng yêu hơn cả của ông giáo…’.
Với tác phẩm Khu Rừng Lau với bối cảnh và thời gian trong giai đoạn thăng trầm lịch sử của đất nước được ghi lại từ bản thân của tác giả, là chứng nhân của thời cuộc.
Đọc tác phẩm Khu Rừng Lau liên tưởng đến hai câu thơ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều vào thế kỷ XVIII:
“Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”
Theo nhà văn Võ Phiến: “Doãn Quốc Sỹ soạn sách về ngữ pháp, về văn học Việt Nam hiện đại (bằng Anh văn” (sđd tráng 66) nhưng rất tiếc tác phẩm Khu Rừng Lau không dịch ra tiếng Anh (chỉ có truyện ngắn Con Cá Mắc Cạn – The Stranded Fish – mới dịch).
*
Nếu cho rằng sách là người thầy trầm lặng và người bạn tốt – với tôi – ngay từ lúc trẻ đã ảnh hưởng đến bản thân. Những quyển sách Học Làm Người của nhà văn, dịch giả Nguyễn Hiến Lê và nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ qua vài tác phẩm.
Nhân đây, một chút riêng tư, với tác phẩm Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến. Năm 1963, trong sinh hoạt gia đình Phật Tử, tôi “quen thân” người bạn gái (học dưới hai lớp) nơi cố hương. Hè năm 1963, để tránh bắt bớ, nàng “thoát ly vào bưng”… Trước đó khoảng một tháng, thầy tôi (đảm nhiệm khuôn hội Phật Giáo Phước Ấm) qua đời vì đầu óc quá căng thẳng, uống quá liều lượng thuốc Tây, gây biến chứng, không chữa trị kịp… Trong số 6 người “thoát ly vào bưng”, có 5 người học cùng lớp. Nếu lúc đó, nhận được thư nàng, tôi không biết có quyết định liều lĩnh của tuổi trẻ bồng bột, nông cạn ra sao? Các bạn tôi giấu kỹ vì anh tôi trong ngành Cảnh Sát.
Đầu năm 1967, khi ở quân trường Thủ Đức, đi phép về Sài Gòn khi thấy quyển NĐBKVT tôi rất thích, mua ngay nhưng không đọc vì để nhớ hình ảnh người bạn gái “bên kia chiến tuyến”. Tiếp tục quân trường ở Đà Lạt gần 2 năm, trong chiến dịch Diên Hồng về quận Quế Sơn, Quảng Nam, tôi vẫn mang theo sách và hình dung người bạn gái vào bưng chốn nầy… Rất tiếc, sách bị chôm! Sau nầy lập gia đình với người Hà Nội, bạn bè hỏi thăm nơi chốn, tôi nói đùa “người đàn bà bên kia vĩ tuyến”…
Sau tháng 4/1975, nàng có gia đình, về Đà Nẵng, theo lời mẹ và anh, nàng ghé lại tìm tôi nhưng gia đình không hay biết vì tôi ở Đà Lạt, mất tích hay đi tù nên không rõ. Nàng cho biết trước khi đi, có viết lá thư gởi cô em gái nhờ chuyển cho tôi nhưng cô em sợ bị liên lụy nên đốt lá thư!… Nàng ra mộ thầy tôi thắp nhang cầu nguyện.
Năm 1987, tôi về thăm quê, có gặp nàng… Trong số 6 người đã chết hai cậu cháu Hội và Kim Chi. Tôi gặp Huỳnh Tú Mỹ kể lại chuyện xưa về hình bóng cũ, nỗi buồn vây quanh. Chị tôi biết chuyện, khuyên không nên liên lạc nhau vì mỗi người “số phận” đã an bày. Và, từ đó hình ảnh người xưa mãi mãi là “bên kia chiến tuyến”!. Tôi cũng may mắn được hưởng chút “đào hoa chiếu mệnh” nhưng “cái thuở ban đầu” trong trắng vẫn lững lờ như áng mây giữa trời xanh bao la.
Little Saigon, November 2022
Vương Trùng Dương
-
Tết bước đi lại quê hương trong nỗi nhớ.

Mỗi dịp Tết đến, tôi lại thèm được đắm mình trong nắng vàng rực rỡ nơi quê nhà. Bởi cái lạnh nơi đất khách càng lạnh lẽo hơn khi mỗi độ tiết xuân về. Xa quê xưa rồi, tôi mới thấm thía nỗi nhớ quê, mới thấm nỗi nhung nhớ quê mình, vì sự thiếu vắng vùng đất phải được tự do bởi bẩm sinh, không van nài, xin xỏ ai cả.
Bên thềm mùa xuân
Xa quê hay ly hương là điều ít ai muốn vì vấn đề nào đó như chính kiến, vào kỷ niệm xưa vào dịp Tết là điều buồn vơi, và là điều ta phải chấp nhận. Với những người con xa quê, tất cả những gì có trong ngày Tết, những gì thuộc về cảnh cũ người xưa đã trở thành nỗi thầm mong, nỗi khao khát mà thôi. Với tôi, quê hương là nơi của cha và quê hương là nơi của mẹ. Quê hương cũng là nơi của vợ. Trong bài này nhà thơ Thái Tú Hạp nhắc tôi ở vị trí ngã ba đường đời, nơi có Tây Ninh, có Vũng Tàu và có Bến Tre, những vùng đất mỹ miều trong tâm khảm tôi và những vùng đất yêu thương luôn tươi cười chào đón tôi.
Trong một tâm thức của riêng mình tôi chạnh nghĩ quê hương cũng là khoảng trời xanh bao la, xa xăm mà tôi ngước nhìn về bên kia bờ đại dương từ California. Quê hương đã là tiếng ru êm ấm của mẹ đưa tôi vào những giấc ngủ thiên thần tuổi nhỏ.
Như vậy, quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn, quê hương tiềm ẩn trong ký ức, rất khó quên. Lòng yêu mến quê hương mà quyển sách xưa của văn hào người Ý, Edmondo de Amicis, tác giả của danh tác “Tâm Hồn Cao Thượng” (Les Grands Coeurs, coeuo [Heart] 1886), kể về lòng yêu nước của cậu bé Thành Padova yêu thương quê hương, một dấu ấn cho nhiều chúng ta của một thuở đã qua. Một chế độ chính trị, một thể chế cầm quyền có thể vi phạm sai lầm bởi yếu tố nhân tai, nhưng quê hương bởi bản sắc không bao giờ sai trái cả. Hãy ca tụng nơi bạn sinh ra, dù quê làng thôn xóm có nghèo khổ, nhưng đó là quê hương bởi định nghĩa, bởi tình yêu cho quê hương, quê hương là nôi sưởi ấm trong góc nhớ trong tâm hồn của mỗi chúng ta.

Tôi khởi sự bước đi từ quê cha… tỉnh Tây Ninh với sơ lược như sau:
Về địa lý, Tây Ninh cách Sài Gòn 99km về hướng bắc, chu vi dài 214km. Phía bắc Tây Ninh tiếp giáp với tỉnh Kampong Cham của Cao Miên, phía nam giáp tỉnh Hậu Nghĩa, phía đông giáp tỉnh Bình Dương và phía tây giáp 2 tỉnh Prey Veng và Svay Rieng của Cao Miên. Do đó, khi nhìn vào bản đồ địa lý thì Tây Ninh có biên giới chia chung với xứ láng giềng Cao Miên khá nhiều. Về diện tích thì Tây Ninh choáng khoảng 3850km vuông. Địa thế Tây Ninh quan trọng là vì nằm ngay trên trục giao thông nối liền Sài Gòn sang Miên. Tây Ninh nằm trên địa thế khá cao là 15 mét trên độ cao của mặt biển. Về khí hậu thì Tây Ninh rất nóng, ẩm ướt vào mùa nóng bức, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.
Ghé quê cha, có lẽ tôi nên đề cập về ngọn núi Bà. Núi Bà Tây Ninh nằm ở phía Đông Bắc thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, cách trung tâm thành phố 11km. Đây là ngọn núi cao nhất Nam phần (986m). Kể về sự tích núi Bà Đen Tây Ninh, theo lịch sử núi Bà Đen, vào thời nhà Nguyễn, Lý Thiên (quan trấn nhậm Trảng Bàng) và ái thê Ðặng Ngọc Phụng có một người con gái tên là Lý Thị Thiên Hương. Trong một lần lên núi vãng cảnh chùa. Nàng chẳng may bị côn đồ ức hiếp và được Lê Sĩ Triệt cứu giúp. Khâm phục tài đức hơn người của thiếu niên họ Lê, cha mẹ Thiên Hương đã hứa gả nàng cho Sĩ Triệt. Khi chờ đợi Sĩ Triệt tòng quân đánh Tây Sơn trở về. Thiên Hương lại bị kẻ xấu vây bắt toan hãm hiếp. Để giữ đức hạnh, Thiên Hương đã nhảy xuống khe núi tiết tử. Hương hồn Thiên Hương trở về báo mộng cho vị sư trụ trì của ngôi chùa trên núi trong diện mạo màu đen sẫm. Từ đó, người đời gọi nàng là Bà Đen và lập miếu thờ để an ủi vong linh nàng tiểu thư đẹp người, đẹp nết nhưng yểu mệnh. Trên núi có ngôi cổ tự, Linh Sơn Tiên Thạch. Tại nơi đây có thờ Bà Đen, vốn được mệnh danh ngôi chùa của sự linh thiêng. Trong tiềm thức của người dân địa phương nơi đây luôn tin rằng bà sẽ hiển linh phù hộ và giúp đỡ cho dân chúng. Ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ 18 và trải qua nhiều lần trùng tu hầu giữ sắc thái uy nghi của di tích.
Về sử lược, sau khi Pháp chiếm Nam kỳ chúng thành lập tỉnh Tây Ninh để dễ bề kiểm soát với 2 thị trấn là Tây Ninh và Gò Dầu Hạ và 2 quận Thái Bình và Trảng Bàng. Thời đệ nhứt Cộng Hòa, Tây Ninh có 3 quận là Châu Thành, Gò Dầu Hạ và Trảng Bàng. Đến năm 1961, Tây Ninh có 4 quận là Phú Khương, Phước Ninh, Hiếu Thiện (Gò Dầu hạ) và Khiêm Hạnh. Về giao thông đường thủy, nhờ hai con sông Sài Gòn và Vàm Cỏ cũng như rất nhiều rạch lớn trong tỉnh, nên sự lưu thông đường thủy trong địa phận cũng như từ Tây Ninh đến các tỉnh thành lân cận rất thuận tiện.
Tây Ninh có con sông lớn Vàm Cỏ Đông chảy từ biên giới Cao Miên tại xã Hòa Hội, Tân Biên rồi qua các địa danh Châu Thành, Bến Cầu, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng, sông dài hơn 150 km. Tại Tây Ninh, Vàm Cỏ Đông chảy từ phía tây bắc hướng Bến Cầu có cảng Bến Kéo qua Gò Dầu Hạ, rồi xuôi hướng đông nam chảy qua thị trấn Bến Lức của tỉnh Long An. Sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây hợp lưu vào cửa Soài Rạp đổ ra biển.
Tôi nhớ từ Gò Dầu đi Tây Ninh, liên tỉnh lộ này trở thành liên tỉnh lộ 22B lên Tân Biên rồi chạy đến biên giới Việt Miên ở Xa Mát. Tại biên giới liên tỉnh lộ này qua Soài Riêng rồi nối liền với quốc lộ 1 đi Nam Vang. Tỉnh lộ nối liền Tây Ninh-Katum dài 36 cây số. Ngoài ra Tây Ninh còn có tỉnh lộ 787 đi Thủ Dầu Một (con đường này chạy qua Chợ Lớn, Trảng Bàng, rồi từ Trảng Bàng đi Thủ Dầu Một). Từ Trảng Bàng có tỉnh lộ 784 đi Tây Ninh (ngang qua Tòa Thánh Tây Ninh). Từ thị xã Tây Ninh có tỉnh lộ 785 đi Tân Châu, tỉnh lộ 788 đi Tua Hai đến tận biên giới Việt Miên, tỉnh lộ 781 đi Phước Tân, tỉnh lộ 786 đi Bến Cầu và biên giới Mộc Bài. Từ Tân Biên qua Tân Châu có tỉnh lộ 795. Biên giới Tây Ninh là vùng đất mà 2 dân tộc Việt Miên hãy còn tranh chấp cho đến bây giờ. Năm 1890, nhân danh là chủ nhân ông của Nam kỳ, thực dân Pháp ác ôn tự ý đã cắt phần đất dọc theo rạch Ngã Bát nhượng cho Cao Miên. Đây là phần đất rất quan trọng cho nền kinh tế của Tây Ninh.

Bước tiếp ghé về Vũng Tàu quê ngoại
Vũng Tàu nằm trên bán đảo cùng tên, là tỉnh lỵ của tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Nằm nhô hẵn ra khỏi đất liền như một dải đất có chiều dài khoảng 14km và chiều rộng khoảng 6km. Từ nơi đây, người ta có thể nhìn biển Đông cả khi trời mọc lẫn lúc hoàng hôn. Vốn là một thành phố ven biển, có bờ biển trải dài 20km Vũng Tàu trở thành nơi du lịch nổi tiếng với du khách trong và ngoài nước. Bên cạnh đó Vũng Tàu còn là miền đất có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời với những di tích mang đậm dấu ấn của những thời kỳ lịch sử. Hiện toàn tỉnh có 29 khu di tích lịch sử thu hút khách du lịch. .
Vũng Tàu là một thành phố ven biển nên nơi đây có những bãi biển lý tưởng để du khách nghỉ mát và tắm biển. Bãi Sau là một trong những bãi biển đẹp của Việt Nam còn có tên gọi là Thùy Vân (Thùy Dương). Nằm phía Nam Vũng Tàu kéo dài từ chân Núi Nhỏ chạy dài gần 10km đến Cửa Lấp, bãi cát dài phẳng, nước biển sạch, trong xanh, sóng lớn. Mặt trước là biển Đông, phía sau là những đồi cát trắng và rừng phi lao ngút ngàn.
Tôi nhớ bãi Trước còn gọi là bãi Tầm Dương, nước biển không sạch bằng bãi Sau vì thế mà hầu như du khách thường tập trung ở bãi Sau để tắm. Nhưng ở bãi Trước này du khách sẽ tìm được cái cảm giác khó quên và lãng mạn, đó là được ngắm hoàng hôn vào lúc xế chiều và bình minh vào buổi sớm mai đẹp thơ mộng tuyệt vời. Dọc theo bờ biển là những hàng dừa, chính vì vậy mà trước đây nơi này còn có tên gọi là vịnh Hàng Dừa. Bên dưới là khu công viên đầy hoa dành cho du khách bộ hành bên cạnh tiếng sóng vỗ dào dạt. Đêm đến, dọc bên đường chính rực sáng với hệ thống đèn cao áp, những quán café tỏa sáng muôn ánh đèn đủ màu sắc. Tả về bãi Sau với nét đẹp dịu dàng và rực rỡ, nếu so với bãi trước lộng lẫy, và Vũng Tàu còn có bãi Dâu yên bình, tĩnh lặng. Bãi này có nhiều ghềnh đá thơ mộng và kín gió, hai đầu bãi có nhiều mỏm đá lớn nhô ra biển, sau lưng bãi là địa hình lòng chảo được cây cối um tùm bao bọc tựa triền núi lớn, chân núi dốc đứng và ăn sát ra biển. Đến bãi Dâu, không khí ồn ào, náo nhiệt tách rời hẳn và mang lại cho du khách cái cảm giác thanh bình.

Cuối Núi Nhỏ về phía Nam là ngọn núi Nghinh Phong ôm lấy bãi Vọng Nguyệt phía Đông và bãi Dứa hướng Tây, gió thổi quanh năm. Tiếp tục đi một khoảng không xa lắm từ bãi Nghinh Phong, hay Ô Quắn (Au Vent) ta bắt gặp Hòn Bà- một bãi đá lởm chởm làm cầu. Nằm song song với bãi biển chạy từ chân Núi Nhỏ đến Cửa Lấp dài khoảng 10km là dãy đồi cát cao từ 4m đến 12m. Cũng nhờ vào đồi cát này mà những luồng gió lớn từ biển Đông thổi vào không gây nhiều thiệt hại cho nơi đây. Vị trí thị xã Vũng Tàu nằm về phía Tây Nam tỉnh lỵ Phước Tuy và cách Sài Gòn khoảng 125 cây số. Đường vào thị xã Vũng Tàu chỉ có một con đường duy nhất là quốc lộ 15 đi từ tỉnh Phước Tuy, qua rạch Cây Khế rồi dẫn vào trung tâm thị xã. Liên tỉnh lộ 51 từ thành phố Biên Hòa đi Phú Mỹ, Suối Tiên, qua thị xã Bà Rịa, rồi đến thành phố Vũng Tàu. Liên tỉnh lộ 56 từ thị xã Long Khánh đi Bà Rịa. Liên tỉnh lộ 55 từ thị xã Bà Rịa đi Long Điền …
Chung quy, Vũng Tàu là một thành phố biển có 42 km bờ biển bao quanh, có núi Lớn (núi Tương Kỳ) cao 245 m và núi Nhỏ (núi Tao Phùng) cao 170 m. Trên núi Nhỏ có ngọn hải đăng cao 18 m, chiếu xa tới 30 hải lý và có tuổi đời trên 100 năm, được coi là ngọn hải đăng lâu đời nhất Việt Nam. Trên núi lớn có Hồ Mây là một hồ nước ngọt lớn và rừng nguyên sinh. Thành phố được bao bọc bởi biển, các cánh rừng nguyên sinh, các ngọn núi cao, ngoài ra còn có sông và nhiều hồ nước lớn giúp khí hậu nơi đây quanh năm mát mẻ ôn hòa, trong thành phố có rất nhiều cây xanh và hoa được trồng ở mọi nơi.
Như vậy, tính đến cuối tháng 4 năm 1975, thị xã Vũng Tàu có tổng cộng 6 phường: Vũng Tàu, Thắng Nhứt, Thắng Nhì, Thắng Tam, Phước Hải và Phước Thắng.

Bến Tre, Quê Vợ Thương Nhớ.
Bến Tre quê vợ về vị trí phía Nam của Định Tường và phía Đông của Vĩnh Long là tỉnh Bến Tre, một tỉnh nằm cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp với Biển Đông. Còn về vị trí thì Bắc giáp Định Tường, phía Tây và Tây Nam giáp Vĩnh Long, và phía Nam giáp Trà Vinh, hướng Đông và Đông Nam giáp biển Đông. Hiện tại Bến Tre có 9 quận: Trúc Giang, Hàm Long, Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Đại, Đôn Nhơn, Mỏ Cày, Hương Mỹ và Thạnh Phú. Sau năm 1975, Chợ Lách được sáp nhập vào Bến Tre, tuy nhiên, quận Đôn Nhơn được sáp nhập vào Mỏ Cày, Hương Mỹ và Thạnh Phú, và Hàm Long được sáp nhập vào Ba Tri nên Bến Tre chỉ còn có 7 quận. Bến Tre là một vùng đất phù sa màu mỡ, gồm ba cù lao lớn là cù lao Minh, cù lao Bảo và cù lao An Hóa. Tuy mang tên Bến Tre, nhưng đây chính là quê hương xứ dừa với những vườn dừa ngút ngàn. Ngoài ra, Bến Tre còn trồng lúa, mía, thuốc lá, dưa, bông vải và đủ loại trái cây. Vùng đất Cái Mơn còn là quê hương của cụ bác học Trương Vĩnh Ký, một người hiếu học thông minh, và nói được nhiều thứ tiếng. Cụ có công rất lớn với sự phát triển của chữ Quốc ngữ tại Việt Nam. Cụ chủ trương canh tân cải cách và mang văn Tây về truyền bá cho dân Việt.
Trở lại địa lý tỉnh Bến Tre có hình rẻ quạt, đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, với các hệ thống kênh rạch chằng chịt. Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía Đông giáp Biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km. Bến Tre có bốn con sông lớn là Tiền Giang, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên bao bọc đồng thời chia Bến Tre thành ba phần là cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh phù sa màu mỡ, cây trái sum suê …Rễ tôi về quê vợ ăn trái cây thay cơm.
Vì bà nhà của tôi có sanh quán gốc Ba Tri, nên tôi xin hiếu để thêm chuyện ông Già Ba Tri, ông tên thiệt là Thái Hữu Kiểm, sống ở Ba Tri, Bến Tre từ thế kỷ 18. Năm 1806, ông Kiểm dựng chợ Trong bên cạnh rạch Ba Tri, giύp cho dân cư ở khu này mần ăn. Dѐ đâu mấy cha ở chợ Ngoài đắp đập chặn không cho ghe thuyền từ sông Hàm Luông vô chợ Trong. Chợ ế ẩm quá, dân tình khόc rὸng !
Ông Kiểm nổi quạu, kiện lên quan huyện. Hổng biết quan cό ăn hối lộ không, mà phán:“Sông bên làng xã nό đắp đập thây kệ cha nό !”. Ông Kiểm thua kiện ! Già mà gân, ông Kiểm nόi : “Kiện lên quan hổng được, lão kiện lên… vua !”. Kể tiếp về chuyện Ông Già Ba Tri, sau khi đσn khiếu nại được vua Minh Mạng xem xе́t, thấu đáo tὶnh hὶnh, nhà vua đã bác bὀ cách xử cὐa quan phὐ Vῖnh Long và phán rằng : “Lὸng sông lὸng rạch là cὐa chung, không phải cὐa làng này, làng kia nên quan huyện, phὐ phải coi phá đập để dὸng chảy thông thưσng”. Điều đό cό nghῖa là ông Cả Kiệm đã thắng kiện và việc tự у́ đắp đập khi dὸng kênh Ba Tri chảy qua địa phận làng mὶnh cὐa ông xã Hạc là sai trái. Cό thể nόi, đây cῦng chίnh là vụ án đầu tiên được đίch thân vua Minh Mạng xét xử và ra phán quyết ngược với những “luật làng” truyền miệng từ trước đến nay. Bản án này (phép vua ăn luật làng), sau đό đã làm nức lὸng không chỉ người dân trong vὺng Ba Tri mà ngay cả những người dân miền Tây đi mở cōi khác, giύp cho hệ thống sông ngὸi kênh rạch được thông thưσng.
Sau đây, người viết bài xin đề cập về quê hương đáng yêu của hai ông bà song thi sĩ Hạp Cầm, người của quê hương Đà Nẵng …
Ta nghe Đà Nẵng tự tình
Tiên Sa Sơn Trà địa hình ngàn năm
Hội An quê quán Hạp Cầm
Mỹ Khê sóng nước xa xăm trắng ngần
Bạch vân lãng đãng Hải Vân
Hàn giang uốn khúc nắng vàng vấn vương
Ngũ Hành Sơn mãi nhớ thương
Hòa Vang đất mẹ quê hương hữu tình.
Trần Việt Hải.

Địa danh Đà Nẵng (chữ Hán: 沱㶞 hoặc 陀㶞) được nói đến sớm nhất trong sách Ô Châu cận lục (in lần đầu năm 1555 của Dương Văn An), quyển 5, “Tự từ” (chữ Hán: 寺祠, chùa và đền), “Thần từ” (chữ Hán: 神祠, đền thờ thần), “Tùng Giang từ” (chữ Hán: 松江祠, đền Tùng Giang):
Đà Nẵng ở vị trí chiến lược, khi thất thủ vùng đất này ngoại bang dễ bề chiếm đoạt Việt Nam. Đà Nẵng mang vai trò cửa ngõ phía đông của tuyến Hành lang Kinh tế Đông Tây. Hải cảng Đà Nẵng là điểm cuối phía đông của tuyến Hành lang Kinh tế Đông Tây (EWEC, East West Economic Corridor route). Đóng vai trò là cửa ngõ ra Thái Bình Dương và là hải cảng xuất nhập hàng hóa của vùng nội địa giàu tiềm năng chưa được khai thác ở Lào, Đông bắc Thái Lan, Miến Điện và miền Trung Việt Nam. Đây là một lợi thế quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho Đà Nẵng mở rộng giao thương kinh tế với các nước trong khu vực Tiểu vùng sông Mêkông mở rộng (GMS, Greater Mekong Subregion) và các vùng kinh tế ở lưu vực sông Hằng (Ấn Độ).
Địa lý chiến lược Đà Nẵng
- Quân Pháp tấn công Đà Nẵng năm 1858
- Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng năm 1965

- Bãi biển Mỹ Khê Đà Nẵng: Bãi biển đẹp thiên đàng biển cả.
Được bình chọn từ tạp chí Forbes, bãi biển Mỹ Khê được đánh giá là bãi biển quyến rũ nhất hành tinh. Đà Nẵng là nơi tập hợp nhiều bãi biển đẹp và nổi tiếng như Bãi biển Tiên Sa, hay Bãi biển Non Nước, nhưng bãi biển Mỹ Khê vẫn nổi lên như một viên ngọc thạch trong sáng, thu hút hàng ngàn lượt khách du lịch trong và ngoài nước.
Biển Mỹ Khê
Bãi biển Mỹ Khê có đường bờ biển dài khoảng hơn 900 mét. Nổi tiếng với thảm cát trắng mịn, dòng nước ấm quanh năm, nhịp sóng biển ôn hoà và được bao phủ bởi rặng dừa trải dài bao quanh, bãi biển Mỹ Khê toát lên vẻ đẹp hấp dẫn khó cưỡng. Bởi vậy, đa số người dùng trên trang mạng du lịch Tripadvisor cũng đã nhận xét bãi biển Mỹ Khê là 1 trong 10 bãi biển châu Á được yêu thích nhất thế giới.
Bãi biển Tiên Sa
Bãi biển được ví như một dải lụa mềm. Tương truyền, các nàng tiên thường rủ nhau xuống đây dạo chơi, ngắm cảnh. Vì vậy, cái tên “Tiên Sa” đã được đặt cho nơi này. Vài năm trở lại đây, địa điểm nghỉ mát ở Đà Nẵng này đã trở thành “thỏi nam châm” thu hút, hấp dẫn du khách thăm viếng.
Phố cổ Hội An
Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam (Việt Nam), cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ XVII và XVIII. Trước thời kỳ này, nơi đây cũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùng con đường tơ lụa trên biển. Thế kỷ XIX, do giao thông đường thủy ở đây không còn thuận tiện, cảng thị Hội An dần suy thoái, nhường chỗ cho Đà Nẵng khi đó đang được người Pháp xây dựng. Hội An may mắn không bị tàn phá trong hai cuộc chiến tranh và tránh được quá trình đô thị hóa ồ ạt cuối thế kỷ 20. Bắt đầu từ thập niên 1980, những giá trị kiến trúc và văn hóa của phố cổ Hội An dần được giới học giả và cả du khách chú ý, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam.
Với những giá trị nổi bật, tại kỳ họp lần thứ 23 cuối năm 1999 (ngày 4 tháng 12), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã công nhận đô thị cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới, dựa trên hai tiêu chuẩn. Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế, và Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo.
Hội An còn được gọi là Hoài Phố, sau Hoài Phố biến thành Phai Phố, từ đó xuất hiện cái tên Faifo. Trong những thư từ, ghi chép của những giáo sĩ, học giả phương Tây, những cái tên Faifo, Faifoo, Fayfoo, Faiso, Facfo… từng xuất hiện nhiều lần. Alexandre de Rhodes trong bản đồ An Nam gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài ấn hành năm 1651 có ghi rõ tên Haifo. Về sau, trên bản đồ chính thức của chính quyền Đông Dương, người Pháp đều sử dụng tên Faifo để chỉ Hội An.

Mừng Tết Quý Mão 2023–Chúc Mừng Năm Mới. Bài “Tết bước đi lại quê hương trong nỗi nhớ” khá dài, xin gởi tặng bạn bẻ, độc giả thân hữu những kỷ niệm quê hương khi xuân về.
Sau đây là đoạn kết bài theo ý tưởng quê xưa, quê mình trong tiết xuân đón năm mới trở về. Xin cám ơn quý thi nhạc sĩ cho phép tôi chuỵển ý thơ của quý vị đượm sắc nét quê nhà, quê ta,… như sau:
Ta về gợi nhớ Tiên Sa,
Vui xuân Đà Nẵng quê nhà Hội An
Quảng Đà xa biệt nghe ra giọng chào,
(theo ý thơ cảm đề của Bùi Giáng).
Có một chút Faifo
Xuân về để anh làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hội An…
Ôm em trong tay mà đã nhớ em
ngày sắp tới.
(“theo ý thơ Thanh Tâm Tuyền)
ta về lặng lẽ nhìn Hải Vân đỉnh
trên cao vút mây ngàn bỗng nhớ em.
(theo ý thơ Thái Tú Hạp HBNBQ)
Nắng Tiên Sa anh đi mà chợt mát
Biển sóng chập chùng gió thoảng nhớ xuân sang
(theo ý thi ca Nguyên Sa).
Em về rũ dáng Tiên Sa
Ru anh biển mộng Sơn Trà Mỹ Khê.
(theo thi ca Việt Hải).
Đầu năm tết đến, xin kính chúc quý độc giả một Tết Nguyên Đán Quý Mão 2023:
Năm mới phát tài và Vạn sự như ý.
Trần Việt Hải. Mừng Tết Quý Mão 2023–Chúc Mừng Năm Mới. (12/28/2022).
-
Vũng Tàu còn nhớ hay quên ?

Vũng Tàu hay Cap-Saint-Jacques là một thành phố biển đẹp theo nhiều ý niệm, nhiều ý nghĩa như đẹp bởi thiên nhiên của nó, đẹp như phim ảnh hay hình ảnh trưng bày nét mỹ miều, đẹp do sách vở, báo chí ca tụng, hay do nguyên nhân chủ quan bởi vì tôi vốn yêu nó từ thuở nhỏ, nhỏ lắm. Vì dấy là quê ngoại của tôi, tôi về đấy thăm ngoại, vui thú biển cả nhiều lần, tắm biển, đùa giỡn với sóng biển bao nhiêu lần, không đếm hết nổi. Hãy cho tôi nhập đề như vậy.
Hãy nói thêm thi ca ngày cũ, một bài thơ cũ tôi làm khi nhớ Vũng Tàu, Những hình ảnh có Vũng Tàu biển xanh cát trắng …
Nhớ em một thuở Vũng Tàu
Hẹn nhau Bãi Trước, Bãi Sau sóng tràn
Nắng nghiêng hong tóc thời gian
Xa xa sóng vỗ an nhàn biển xưa
Hàng dừa gió thoảng đong đưa
Hải âu tung cánh trời trưa Vũng Tàu
Em à lỡ bước yêu nhau
Tình như cơn gió kiếp sau trùng phùng,
Biển đẹp Vũng Tàu – nét thơ mộng của Cap-Saint-Jacques. Vũng Tàu còn nhớ hay quên ? Vũng Tàu ư ? Nhớ chứ! nhớ Vũng Tàu như nhớ người tình vậy…
Tôi vốn yêu Cap-Saint-Jacques. Xin gởi thêm một bài thơ nữa
Ai ơi có nhớ Vũng Tàu
Trùng dương cát trắng xôn xao sóng đùa
Bạch Dinh cao đỉnh gió lùa
Nghinh Phong Ô Quắn hai mùa quanh năm
Chuông chùa cổ tự xa xăm
Tầm Dương bãi Trước sóng thầm ngàn khơi
Thùy Vân xanh biếc mây trời
Bãi Dâu bãi Dứa người ơi nhớ hoài
Vũng Tàu nhung nhớ thiên thai
Quê xưa chốn cũ hẹn ngày cố hương!VHLA
Ðếm nhiều nỗi nhớ Văn Tui nhớ nhiều, phòng nha khoa của Ngoại 5 kế cạnh Kim Phượng Photo studio của Ngoại 9 nhé… Mà Ngoại 5 và Ngoại 9 trông phương phi như tây Côte d’Azur, hay tây Monaco màu nước da chun chút làn gió biển Cap-Saint-Jacques. Nếu Sài Gòn từng được mệnh danh là “Hòn ngọc viễn đông” và hiện tại cũng là thủ đô xưa lớn nhất cả nước. Vũng Tàu hiện nay nổi tiếng là một thành phố biển xinh đẹp và hiện đại của khu vực phía Nam với bờ biển trải dài ôm theo triền núi.
Qua bao nhiêu năm, Sài Gòn như một Petit Paris, và Vũng Tàu của 2 Ngoại đã khoác lên mình một chiếc áo tươi mát, một “sport-suit” như biển xanh Cap-Saint-Jacques, không thua Côte d’Azur tí nào nhé. Nhưng rồi cuộc đổi đời 1975 bao bằng hữu lên ghe vượt biên… Từ ngày miền Bắc vô đây ta mất nhà lầu. Từ ngày miền Bắc vô đây ta mất villa, ta mất cái Omega, mất dollars ta chuồng…
Thôi bi giờ ta đi vòng quanh nỗi nhớ nheng. Nhà Ngoại trên đường Trưng Trắc, một thuở oai hùng của lịch sử. Vị thế hai đường Trưng Trắc Trưng Nhị cặp đôi song song hai bên toà nhà chợ Vũng Tàu xưa …. Trước nhà ngoại là xe mì Nhựt Ký có chú Tàu hiền hậu, thông thường mỗi tối trước khi dẹp tiệm chú mang bán cho Ngoại một thao xí quách giá bèo discount, ôi những khúc xương heo chất bổ không còn là bao, bà con buổi sáng thưởng ngoạn hưởng cả rồi, 9 giờ khuya trâu chậm xơi món nước đục. Mà nhé buổi chiều tắm biển xong theo Ngoại đi câu cá dứa về bắt gặp thao xí quách, ta bụng đói meo, ta vồ ngay cho đã cơn Pavlov mà chả sợ cholesterol gì cả. Xương ống em heo từng luồng tuỷ béo ngậy bờ môi tuôn vào thực quản, biết đâu xương cốt ta ngày hôm nay như mí cha cinema Chuck Norris hay Sylvester Stallone là cũng nhờ chú mì Nhựt Ký vậy.
Trong nhà lồng chợ Vũng Tàu có quán cơm Việt number one của dân ta như canh chua cá bông lau ,đầu chợ trên là nhà Ngoại, đầu chợ dưới có tiệm gạo của Ngoại Năm Xinh. Ngoại Năm Xinh là nguồn cung cấp gạo Tám Thơm, gạo Nanh Chồn, hay gạo Nàng Hương Chợ Đào, gân cốt ta hôm nay rắn chắc như mí ông cinema cũng nhờ gạo của Ngoại Năm Xinh, cám ơn Ngoại Năm Xinh. Trong lồng chợ miêt dưới có tiệm cơm tây với những món cơm đỏ sốt cà, gà chiên bợ, bifteck, thermidor,…ông bếp có thời nấu cho các quan tây, thuở époque coloniale. Còn góc chợ trên Trưng Nhị gần tiệm giầy Bata có tiệm Au Favori bán thức ăn Pháp rát ngon, nhà hàng ẩm thực Pháp có tiếng là nhà hàng Cyrnos, ở bãi Trước Vũng Tàu, các nơi khác như Grand Hôtel, và Hôtel Pacifique là những kỷ niệm ngày xưa với ông Cò Hiến Binh Trần Công, tức thi sĩ Lão Mã Sơn (Virginia), xin xem thi ca phụ đính cuối bài (*).: Và khi nói về Vùng Tàu, nơi địa danh gắn liền với Bà Rịa, Văn Tui nhớ bài tình ca “Bà Rịa Tình Ta”, thơ Vĩnh Ninh, nhạc Mạc Vũ Nhảy dù Phạm Gia Cổn. Phải nói là Vũng Tàu mãi là một góc trời quê hương thật đẹp trong tôi, như những gì được ghi nhận trước 1975 trong bài này. Sau 1975 Văn Tui không biết về sau, nhưng kỷ niệm thuở VNCH mình nhắc ta nhớ nhiều hơn.
Rồi lại nhớ nơi cửa Tây chợ Vũng Tàu nhìn từ đường Trần Hưng Ðạo bên kia đường có tấm Vách Ðá trước Hội Trường Vũng Tàu. Những con đường như Lý Thường Kiệt, Trưng Nhị, Trưng Trắc, Trần Hưng Ðạo, Phan Thanh Giản,… hoài niệm còn nhiều. Chợ Vùng Tàu họp chợ ban sáng cho tới trưa, xế trưa là lúc chợ tàn được dọn dẹp, cái sinh hoạt dễ thương năm xưa mí cha nón cối dép râu vô văn hoá cho dẹp đi. Tiếc thật! Những gian hàng chân phương bình dị, những xạp hàng bình dân cá cọp, nằm trên những con đường mà có những bà bán bánh khọt, bún gỏi dà, hàng trái cây những sầu riêng, mít dừa, mít tố nữ, nhãn, bòn bon, vú sữa, mãn cầu xiêm, chôm chôm, na dai,… ngay trước Kim Phượng Photo studio có cậu Hải A37, có cô Kim Phương đẹp như cô đào Thanh Nga một thuở, có cô Hốc Hổ bán bazar, các sản phẩm nhập cảng từ Pháp những dồ hộp, rượu, café xay,…

Hình kỷ niệm chụp do Mike Vogt. Hỡi ai còn nhớ Hội Trường VũngTàu mà ngày xưa thuở VNCH có tấm bảng to tổ bố, ghi “Quốc Tế Viện Trợ”. Năm 1975 Quốc Tế “hit-and-run” tháo chạy, khiến tụi tui sắm ghe vượt biên… Đấy là Phòng Thông Tin có đường Trưng Trắc từ nhà Ngoại nhìn thẳng phía trước là cửa Tây chợ Vũng Tàu, tại ngã tư Trưng Trắc và Trần Hưng Đạo, kỷ niệm thuở tây thuộc địa quan Doumer cho cất toà nhà thân thương Le Marché Cap-Saint-Jacques.
Nói dến quan lớn dân Tây này nên kể về Bạch Dinh. Bạch Dinh theo Tây ngữ là Villa Blanche, dinh thự có kiến trúc châu Âu cuối thế kỷ 19, nằm bên sườn núi Lớn của thành phố Vũng Tàu. Nơi đây từng được dùng làm nơi nghỉ mát cho Toàn quyền Ðông Dương, Hoàng đế Bảo Ðại và các đời Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Nơi đây cũng là nơi chính quyền thuộc địa Pháp làm nơi giam lỏng vua Thành Thái từ ngày 12 tháng 9 năm 1907 đến năm 1916. Sau năm 1975 Vi Xi hoá phép làm Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Ôn tí ti vê sử liệu, Sau khi chiếm được quyền cai trị Ðông Dương, chính quyền thực dân Pháp đã cho san phẳng pháo đài để xây dựng một dinh thự dùng làm nơi nghỉ mát cho các Toàn quyền Đông Dương.Nơi này trước đây vua Minh Mạng cho xây dựng Pháo đài Phước Thắng tại nơi đây để kiểm soát cửa biển Cần Giờ. Quan tây ra dự án tức Toàn quyền Paul Doumer phê chuẩn và chính ông cũng là người đặt tên cho dinh thự này là Villa Blanche, theo tên của con gái ông là bà Blanche Richel Doumer. Công trình được khởi công vào năm 1898, mãi đến năm 1902 mới hoàn thành. Do màu sơn bên ngoài cũng như tên gọi Villa Blanche nên người Việt quen gọi dinh thự này là Bạch Dinh. Quan nho Paul Doumer chưa kịp sử dụng dinh thự này thì phải về nước. Người kế nhiệm là Paul Beau có lẽ mới là người đầu tiên sử dụng nó. Tuy nhiên, đến tháng 9 năm 1907, nơi này được dùng làm nơi giam lỏng cựu hoàng Thành Thái. Ông sống tại đây trong gần 10 năm. Dân địa phương kính trọng ông, nên còn gọi Bạch Dinh là Dinh ông Thượng. Năm 1916, cựu hoàng Thành Thái cùng con trai là cựu hoàng Duy Tân bị đưa đi đày ra đảo Réunion. Bạch Dinh được sử dụng trở lại là nơi nghỉ mát của các Toàn quyền Đông Dương. Năm 1934, Bạch Dinh được nhượng lại để làm nơi nghỉ mát cho Hoàng đế Bảo Ðại và Hoàng hậu Nam Phương. Trong những năm sau đó, dinh luôn được dùng làm nơi nghỉ mát của nguyên thủ hoặc các quan chức cao cấp của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Sau năm 1975, có thời gian dinh không được sử dụng vào mục đích cụ thể nào trước khi chính thức được chuyển thành một địa điểm du lịch. Ngày 4 tháng 8 năm 1992, Bạch Dinh đã được Bộ Văn hóa-Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. (theo Wikipedia).
Nhớ thêm nhé, gần nhà Ngoại có khu chợ rau cải trên đường Trưng Nhị bên hướng gần cửa Tây chợ Vũng Tàu xưa, bên phải trong lồng chợ, toà nhà xưa là chợ cá, seafood ê hề đủ loại, tôi thích rảo quanh chợ cá ban sáng ngắm cá tươi rói khi thuyền bè vừa dánh mang ra bán, khu chợ có hiệu tiệm Ngọc Sương là khu xạp bán thịt heo bò, không cầy nhé. Khi bạn men theo đường Trưng Nhị qua khỏi bảng hiệu Ngọc Sương một chút quẹo trái có đường vòng qua đường Nguyễn Thái Học là khúc đường này bán gà vịt, nơi chúng tôi mua gà tre về đá, gà ác về tiềm, và gà thiện về xơi rôtie, hay cơm gà Siu Siu,…
Trên đường Trần Hưng Ðạo có pharrmcie của dược sĩ Nguyễn Minh Lý, và trên đường Phan Thanh Giản ngày xưa có những quán bar mình bé quá hông được vô, ngày nay ta đủ tuổi ôi bar xưa hông còn. Uổng nhỉ ? Cũng trên đường này có bến xe ngựa ở góc đường Trần Hưng Ðạo và Phan Thanh Giản. À, từ ngã 4 này ta mon men theo đường Trần Hưng Ðạo hướng về nhà thương Lê Lợi, cuối cùng xa xăm ta nhìn thấy núi Lớn ngang qua cửa Tây chợ Vũng Tàu hướng bên phải và Hội Trường Vũng Tàu, bên trái có văn phòng dental của Ngoại tui, kế Kim Phượng photo và tiệm biệm bazaar, rồi tiệm Tây Hồ photo studio ở góc Trưng Trắc và Trần Hưng Đạo. Ngay góc đường này bên phải khi ta quẹo phải là đường Phan Thanh Giản hướng về rạp cinema Võ Ngọc Chấn, một nơi hẹn hò với cô bé Hân răng khểnh gốc Sài Gòn, sau khi đôi ta xem phim Cleopatra (quay 1963) với những diễn viên gạo cội như Elizabeth Taylor, Richard Burton và Rex Harrison. Riêng bà Liz Taylor trải qua 8 cuộc tình mỗi lần sang ngang là mỗi lần bà tìm được tình yêu đích thực: ” Finally, I find my true love again”, nghe sao ta thèm quá xá…rồi đôi trẻ đi ăn hàng, rời tiệm kem Picnic của anh bạn Lân. Lân và Hoà Bata (Trưng Nhị) nay đâu rồi nhỉ ?

Mặt tiền Chợ Cấp, góc Trưng Trắc và Trần Hưng Đạo Vũng Tàu xưa có cô giáo Hải Minh, một đoá hoa khôi Hà Thành, một ca sĩ với những bài tình ca như Thu Quyến Rũ, Hai Vì Sao Lạc hay Hương Xưa…. khiến thầy Việt văn sáng tác thơ nhiều, và nhiều lắm. Nếu ai còn nhớ air thơ như thi ca Nguyên Sa: Trần Bích Lan, như vầy nhé…
“Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay? …
Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Ðàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương”Rồi thơ thầy Lưu Ngọc Thuỷ được ghi nhận không thua thi ca Lưu Trọng Lư đâu…
“Ai bảo em là giai nhân
Cho hồn anh rơi rụng
Ai bảo em cười như xuân
Cho chết lòng thi nhân
Ai bảo em là giai nhân
Cho rượu hồng chua cay
Cho nụ tình xa bay
Cho lệ buồn đêm nay”Vũng Tàu có trường bán công Trung Học Lý Thường Kiệt ở ngã tư Lý Thường Kiệt và Nguyễn Thái Học. À, à, ai sổ mũi hay cảm mạo thương hàn xin đừng quên văn phòng BS. Lâm, danh trấn một thuở dĩ vãng của ngày xưa… Vâng ở ngã tư Trần Hưng Đạo và Nguyễn Thái Học là bến xe lô (xe đò nhỏ, compact size), cũng là nơi chốn lưu dấu phòng mạch của BS. Lâm.
Trong một bài viết về nhóm Tư Lực Văn Ðoàn, tôi đọc và nhớ đến cô Hải Minh vì Bãi Ô Quắn, Vũng Tàu, cô kể cô nhớ có chiếc tàu buôn màu đen bị sóng đánh tạt vào bờ, tôi vẫn nhớ bãi Nghinh Phong, nhớ như thế. Xin xem bài “Nhà văn Nguyễn Tường Thiết: Một hậu duệ của Nhất Linh”.
Link:
https://nhanvannghethuat.com/nha-van-nguyen-tuong-thiet-mot-hau-due-cua-nhat-linh/
Phố biển Vũng Tàu về đêm khi lên đèn “Tác phẩm khác đưa gần gũi với phong văn của Nguyễn Tường Thiết là bài “Bãi Ô Quắn”, Vũng Tàu. Quê ngoại tôi ở thị xã Vũng Tàu. Câu truyện về nguồn gốc của Bãi Ô Quắn hay tên khác của nó là Mũi Nghinh Phong vào thời Pháp được gọi là Pointe au Vent. Người Việt đọc trại ra hai từ “au vent” thành Ô Quắn, sau đó lại dịch Pointe au Vent thành Mũi Nghinh Phong. Bãi tắm Ô Quắn, nay rất ít có du khách hay dân địa phương xuống tắm biển ở nơi đây vì dòng chảy của nước rất nguy hiểm. Về hình thể, địa thế thì Mũi Nghinh Phong là mũi đất vươn dài ra phía Nam bán đảo Vũng Tàu. Nghinh Phong có nghĩa là đón gió. Mũi đất nầy đón gió 2 mùa, khí hậu mát mẽ dễ chịu. Mũi đất này vươn dài ra biển tạo hai Vịnh lớn và hai bãi tắm nổi tiếng, bãi Vọng Nguyệt (hay Ô Quắn) và bãi Hương Phong (hay bãi Dứa). Chữ Ô Quắn hay tên Tây “Au Vent” như vừa đề cập, có nghĩa là gió. Ở đây gió nhiều, nên người ta đặt tên mũi đất này là Nghinh Phong rất đúng nghĩa, và bãi tắm ở đây là Ô Quắn, bãi tắm nhiều gió. Nghinh Phong đón gió thổi suốt năm như vậy, gió biển mát rượi khi ta ghé đây hóng gió biển. Xa xa ngoài khơi là bồng đảo Hòn Bà… Bãi Ô Quắn hay Vọng Nguyệt rất nổi tiếng vì thắng cảnh rất đẹp. Nếu quý vị độc giả thích sóng lớn, thích một bãi tắm riêng rẻ, đây là bãi tắm của quý vị vậy, vui trượt sóng. Ở đây sóng nhiều, nước trong và sạch, hơi sâu hơn ở bãi Trước và bãi Sau. Những lúc hoàng hôn phủ xuống không gian Au Vent khi trăng lên, ngắm nhìn những làn sóng bạc tung tăng nô đùa ở đây lấp lánh, ôi sao đẹp tuyệt vời quá…
Những tiểu thuyết hay phim tình cảm lấy biển làm bối cảnh dựng phim như Titanic, Endless Love, truyện tình yêu tuổi trẻ lãng mạn hay N’oublie Jamais (của Nicholas Sparks, The Notebook), tình cảm trẻ trung giữa cặp đôi Noah và Allie. Truyện Au Vent của nhà văn Nguyễn Tường Thiết cũng mang nét lãng mạn như “P.S.: I love you” (của nhà văn nữ Cecelia Ahern, P.S. – Je t’aime) giữa 2 người trẻ Holly và Gerry. Nguyễn Tường Thiết kể chuyện “Bãi Pointe Au Vent”, môt chuyện tình cảm man mác nhẹ nhàng, đan xen nét lãng mạn của chuyến đi chơi ở Bãi Ô Quắn có hai mẹ con bà Simône và Gabrielle, Paul là bạn của Gabrielle, Họ chia chung kỷ niệm tại biển này. Về sau cha Gabrielle là một sĩ quan Pháp bị tử trận tại Điện Biên Phủ. Hai mẹ con bà Simône về Pháp. Paul giữ kỷ niệm đẹp với 2 người Pháp này. Tác giả lồng vào truyện 2 bài tình ca Pháp xa xưa thật hay, và cốt truyện có Étoile des neiges và Moulin Rouge với kỷ niệm Edith Piaf trong nét bút diễn tả của nhà văn Nguyễn Tường Thiết. Chút lời nhạc … Ta kết hôn vào mùa xuân, sao tuyết lại lau khô đôi mắt xinh đẹp của em? Pour nous marier dès le printemps… Étoile des neiges, sèche tes beaux yeux
(Etoile des neiges do NS. Franz Winkler – 1906-1962)Khoảng năm 1970, khi về Cấp nghỉ hè tôi nhớ tại bãi Ô Quắn có chiếc tàu buôn khá lớn bị sóng đánh trôi dạt vào bãi biển này. Ô Quắn là một trong những bãi biển đẹp của Vũng Tàu. Tôi thích bãi này mỗi khi tìm sự thanh tịnh trong chuyến hè. Au Vent biểu tượng cho hồn mát mẻ cũng như vắng vẻ. Au Vent với tôi như bãi Playa del Carmen (ở bán đảo Yucatan, Mexico), khúc gần điểm nghỉ mát Riviera Maya và Las Brisas. Pointe au Vent cũng cho ta vẻ trầm mặc, tĩnh mịch như bãi Codo Playa thuộc đảo Bermudas, Caribbean. Những nơi lý tưởng để ta trốn tránh cảnh ồn ào, huyên náo của xã hội đô thị lớn. Xin nghe tiếp bài ca thứ 2 do danh ca “Sẻ nhỏ” Édith Piaf (le petit moineau) hát nhé… Édith Piaf chante la grand chanson Moulin Rouge.

Chiếc tàu buôn màu đen ngày xưa tại bãi Ô Quắn, Vũng Tàu. Ra mắt ‘Tự Lực Văn Ðoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ,’ một tuyển tập ‘nặng ký’
Nói là “đầy ý nghĩa” vì đây là lần đầu tiên có một tuyển tập “nặng ký” của nhiều nhà văn viết về nhóm Tự Lực Văn Ðoàn cùng với nhiều sáng tác của các tác giả thế hệ hậu duệ nhóm Tự Lực Văn Ðoàn. Tuyển tập dày gần 500 trang với 35 tác giả và có nhiều hình ảnh quý hiếm, với sự góp mặt của nhà báo Phạm Quốc Bảo, nhà văn Bùi Bích Hà, Giáo Sư Quyên Di, Giáo Sư Trần Huy Bích, Giáo Sư Dương Ngọc Sum, Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm, nhà báo Mặc Lâm, nhà báo Vương Trùng Dương, đại diện nhóm chủ trương là nhà văn Trần Việt Hải.”

GS. Hải Minh và GS. Lưu Ngọc Thủy, các con. Ði tiếp Vũng Tàu không mỏi chân. Có cây xăng Lý Thế Ký góc đường Trần Hưng Ðạo và Trưng Nhị, toạ lạc trên đường Trưng Nhị bên phải là đường Trần Hưng Ðạo cửa Tây chợ hãy nhìn thẳng hướng về nhà thương Lê Lợi. Nhìn về cửa Đông chợ xưa trên đường Lý Thường Kiệt có hai tiệm Mỹ Hương và Lan Phương. Tôi nhớ hai mặt chợ Vũng Tàu giống nhau, nhưng đường Trần Hưng Ðạo xe có thể chạy ngang qua, còn lối bên kia cửa Đông đường Lý Thường Kiệt xe hổng chạy qua được khi nhóm chợ buổi sáng. Chờ tới trưa chiều, sau khi bạn hàng dọn dẹp xong chợ thì xe cộ mới có thể chạy xuyên qua được. Nhớ góc đường Trưng Nhị có tiệm đồng hồ Vinh Phát. Ngã tư Trần Hưng Đạo và Trưng Trắc đi thẳng hướng về công viên Trần Hưng Đạo, kỷ niệm lắm… Ở góc này từ photo Tây Hồ và đi thẳng vô chợ theo đường Trưng Trắc là tiệm cơm Tuấn Ký, và Cư Ký. Có những hôm ông Ngoại đi uống cà phê sáng, hai ông cháu ghé tiệm nước Cư Ký. Tiệm sáng bán điểm tâm cà phê lót dạ. Bán trưa đến chiều tối là nhà hàng bán cơm hải sản đông đúc thực khách, cuối tuần mùa hè, xếp hàng như xem phim Titanic nhé. Tôi mê món cá mú dá hấp gừng (rock cod), món cá hồng lăn bột chiên xù sốt cà (snapper), canh gà rong biển bổ hơn sữa ong chúa, queen bee, hay nhau cá hồi cả vạn lần hơn,… Ngoại tôi ít ăn sáng, môt cup xây chừng cà phê đen, một miếng bánh ngọt nhỏ là xong. Koo tui kêu một jumbo bánh bao, xong chưa đã kẽ răng, Ngoại dặn cháu ăn cho no rồi đi tắm biển koo tui nạp thêm dĩa xíu mại cùng cặp dầu cháo quẩy. Mà thật vậy, khi ta đói bụng yếu sức ra gặp sóng biển nhấp nhô coi chừng hải bá kéo chân cuốn trôi sẽ nguy to, chưa kể yếu sức mà gặp ngữ như mấy con cá mập trắng nhe răng jaw cười duyên ta sẽ tiêu tùng. Coi vậy chớ khi đi bơi 2, 3 tiếng bụng lại đói meo. Hiệu ứng Pavlov khi bao tử biểu tình, đánh bò cạp. Tuổi 13 của Nguyên Sa đấy ! Nam thực hơn hổ… Ngày nay nhớ Ngoại, nhớ ông chủ Cư Ký, muốn ăn mode xưa, bà nhà và cha toubib “primary care doc” cho tu huýt ngay “béo như sumo cần giảm cân!”, thuở xua ở với Ngoại chả bao giờ bắt ta kiêng khem diet cả, 9PM ông cháu hóng gió trên sân thượng với thao xí quách của ông xe mì Nhật Ký, thêm chai la de Con Cọp Lớn, ôi đã làm sao nhỉ ?
Nhớ thêm ngã tự Trần Hưng Đạo và Trưng Trắc có tiệm sách báo Quốc Hiệp, có cô gái phụ mẹ trông hàng sách, cô bán sách xinh xắn, một petite fille như bóng mát của tiệm sách, cô Quốc Hiệp như cô Thuỵ Lan và Khánh Lan, bán sách, đọc sách, chữ nghĩa vô nhiều nay là nhà văn. Tôi ghé qua hàng sách ngày xưa, không biết là để mua sách, hay để ngắm sách hay ngắm cô Hiệp, em ơi….
Hiệp à, những sách ngày xưa em giới thiệu, có thể là tư tưởng tương đồng: “Et un jour, la fille aux livres est devenue la femme qui les écrivait” (And one day, the girl with the books became the woman writing them); hay “Un jour, tu seras l’auteur préféré de quelqu’un” (Someday you’re going to be someone’s favorite author). Cám ơn Hiệp một thuở ngày xưa Vũng Tàu.

Chợ Vũng Tàu với nhà sách Quốc Hiệp gần nhà Ngoại Lời cuối, xin gởi về quê ngoại, trích “Cá: Tâm Tinh và Kỷ Niệm”, Việt Hải Los Angeles:
“Quê ngoại tôi ở Vũng Tàu mà quê nội lại ở tỉnh Tây Ninh, nên ngày xưa khi hè về anh em chúng tôi được luân phiên chia làm 2 tốp, nếu tốp này về thăm nội, tốp kia thăm ngoại, như thế hoán chuyển mỗi mùa hè khi được bãi trường hay nghỉ học. Cả hai địa danh này đều cho tôi nhiều kỷ niệm êm đềm đáng nhớ về sông rạch, về biển cả và cá, đặc biệt cá có râu whiskers. Tôi còn nhớ những ngày hè trước năm 75, khi quân đội đồng minh Mỹ và Úc đến vùng biển Vũng Tàu, thì nơi đây có sinh hoạt kinh tế rất sinh động, phồn thịnh và tấp nập. Ở tuổi trẻ thích vui khi được về Cấp, tôi theo ông ngoại tôi ban đêm ra Cầu Đá trước Ty Bưu Ðiện ở bãi trước Vũng Tàu câu cá đến khuya 1 hay 2 giờ sáng. Miệt biển có loại cá dứa tương tự như cá bông lau sông rất ngon. Thú câu đêm rất vui, hai ông cháu đèo nhau trên xe gắn máy ra biển. Để phòng cái lạnh về khuya tôi nhớ tôi trang bị cho mình chiếc quần blue jean dầy và khoác áo xanh lá cây treillis thật ấm của quân đội Hoa Kỳ những lần câu đêm như vậy. Sau khi thả mồi nhìn biển cả xa xa tâm hồn thư thái, an nhàn vô cùng, gió biển vào hè mát lạnh khi trời càng về khuya, thỉnh thoảng tôi ngó phao xem có cá cắn câu chưa. Ðèn pha của ngọn hải đăng từ trên núi thỉnh thoảng quạt một vệt sáng trên trời, không trung có hàng triệu vì sao lấp lánh, những tinh tú ẩn hiện tận chân trời xa xăm cho thấy vũ trụ thật bao la. Giựt mình trong phút giây mộng mị vì cá lớn đã cắn câu và run mạnh cần, tôi vội xoay nhanh ghì cần kéo cá lên. Ồ, một chú cá dứa thật to. Có hôm ông cháu chúng tôi câu đựơc bốn, năm con cá dứa và nhiều cá mú đá màu xám hay mú lửa màu đỏ, rồi có hôm có cá ngộ halibut rất ngon. Bà ngoại tôi nấu ăn rất khéo. Bà nấu canh súng cá dứa, cá dứa chưng tương hoặc cá dứa kho me. Tôi không biết món canh súng tiên khởi phát xuất từ tỉnh nào, nhưng chỉ biết nhà ngoại tôi thường ăn món này. Trong nước lèo nêm canh súng có tương đen (hoisin sauce), đậu phọng rang giã nhỏ, xã băm, hành hương, tỏi phi và nêm thêm gia vị căn bản nước mắm, đường. Các loại rau độn có bạc hà, ngó sen chẻ cọng, giá và rau ngò om. Những khứa cá dứa thật ngon và béo ngậy. Tôi cũng được nghe về loại cá ngát, một giống whiskers nhưng lại sống ở vùng nước lợ ranh giới của nước sông và nước biển như Bà Rịa hay Cát Lở. Tựu trung thì Vũng Tàu vẫn cho tôi nhiều kỷ niệm, nhưng thú câu cá về đêm vẫn hấp dẫn tôi nhiều hơn cả…”
Xin cám ơn Vũng Tàu quê ngoại, kỷ niệm quê hương, địa danh có cô giáo Hải Minh, Kim Phượng Studio và Quốc Hiệp bookstore, many many more. All and all make a beautiful memory in mine…

Nhà Ngoại ngay cây xanh đầu tiên, kế Kim Phượng Photo Nhà Ngoại ngay cây xanh đầu tiên, kế Kim Phượng Photo.
(*): Phụ đính:
Người viết rất vui dã nhận được bài thơ của Đại Lão thi nhân Mã Lão Sơn, 97 tuổi vẫn làm thơ, nhảy rumba, bolero nhịp nhàng, và tango chách chùm mỗi cuối tuần. Ông vốn người Gò Công, nhưng bỏ vài con tim nơi đất Vũng Tàu.
Notes: Bạn Trần Việt Hải đã hỏi “Ai ơi có nhớ Vũng Tàu”?. Tôi xin trả lời
NHỚ VŨNG TÀU
Một góc quê hương thân thương đã mất
Làm sao tôi quên được Vũng Tàu xưa:
Bãi Trước, bãi Sau, bãi Dâu, bãi Dứa
Nhớ mũi Nghinh Phong, nhớ ánh Hải đăng
Núi lớn, núi Nhỏ , nhớ những quán ăn
Bãi Trước,quán Tầm Dương ai cũng biết
Ở bãi Sau có quán bà Hồng Phượng.
Trên bốn mươi năm rời bỏ quê hương
Tôi còn nhớ mắm ruốt bà Giáo Thảo
Thời thế đổi thay, thế thời điên đảo
Bạn Vũng Tàu xưa kẻ mất, người còn
Kỷ sư Châu Minh Ba và bà Cirnos(1)
Kẻ ở Florida, người ở Cali
Ðại Tá Kinh đã vĩnh viễn ra đi (2)
Ðai Tá Tạo đã ra người thiên cổ (3)
Tôi xa Vũng Tàu bao mùa lá đổ
Hôm nay bổng nghe nhắc đến Vũng Tàu
Lòng bâng khuâng buồn, thương nhớ biết bao!Hoa Ðô 15-11-2020, Washington, DC.
Trần Công/Lão Mã Sơn- Bà Trần Thị Kim Anh, Chủ nhà Hàng Cyrnos, và là Nghị viên Thị xã Vũng Tàu.
(2)- Ðại Tá Nguyễn Văn Kinh, Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Cảng Vũng Tàu, và Chỉ Huy Trưởng ngành Quân Cảnh Quân lực VNCH cho đến ngày mất nước.
(3) Ðại Tá Nguyễn Văn Tạo, Chỉ Huy Trưởng Trường Truyền Tin, và Thị Trưởng Vũng Tàu .
Việt Hải

- Bà Trần Thị Kim Anh, Chủ nhà Hàng Cyrnos, và là Nghị viên Thị xã Vũng Tàu.
-
Nỗi Nhớ Quê Hương

Cách đây nhiều năm khi viết bài văn “Lời Cho Quê Hương”, tôi cảm nhận những suy tư, những rung cảm với nỗi buồn quê hương từ tâm thức, vì những vấn nạn hiện nay tại quê nhà từ vấn đề văn hóa, xã hội, y tế lâm vào tình trạng sa sút, tụt hậu, yếu kém xảy ra trên quê hương mà bao xót xa phủ chụp lên đầu người dân vô tội, tôi viết bài này trong bối cảnh quê hương rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ. Người dân miền quê nghèo vẫn nghèo sau bao năm người Cộng Sản lãnh đạo xứ sở, dân oan thiệt thòi, tệ nạn xã hội tràn lan, tham nhũng lộng hành, kẻ mạnh bốc lột người dân,… Tôi đọc thơ, thơ của nhà thơ Phạm Hoài Việt trong bài thơ “Vọng Tưởng Quê Hương”, ý tưởng diễn tả nỗi buồn cố hương như những dòng dẫn nhập vào đề của tôi:
Nhìn lại giang san quá tả tơi
Đêm về ngập nỗi nhớ không vơi
Người đi chất ngất mang niềm hận
Kẻ ở âm thầm nén lệ rơi
Thấy xót quê Cha lòng khắc khoải
Trông vời đất Mẹ dạ tơi bời
Trăng khuya chiếc bóng mình cô lẻ
Vọng tưởng cố hương… bỗng nghẹn lời.Xa quê hương thì ai lại không nhớ, khi quê hương ngụp lặn trong nghèo khó thì lòng ta quặn thắt xót xa. Tôi đọc những bài viết cũ về quê hương, nỗi nhớ quê hương cứ mãi tràn dâng. Dù tình thế chưa thuận tiện cho bao người tại hải ngoại phải từ chối trở về quê hương, không có nghĩa là họ chối từ quê hương, nhưng bởi lẽ họ không chấp nhận nhà cầm quyền độc đoán, bất tài bất xứng hiện nay mà thôi.
Mọi người chúng ta khi sinh ra đời, rồi khi lớn lên chứa chất những hoài niệm về một góc trời quê hương trong trí nhớ nào đó, và quê hương chính là cái nôi sưởi ấm con tim, quê hương ru ta mỗi khi buồn vì lưu vong xa xứ, hay quê hương ru ta về những kỷ niệm xa xưa. Tôi nhìn những đám lục bình trôi trên sông Mississippi ngày nào mà chạnh nhớ về những dòng sông quê nhà như Vàm Cỏ Đông hay Cửu Long giang, nhớ bâng quơ rồi tim tôi bồi hồi xao xuyến. Rồi khi viếng cao nguyên Napa có những con đường rợp bóng mát do những cây sồi (oak) mà tàn cây to chụm vào nhau, đi giữa mùa hè mà không thấy ánh nắng dẫn vào thành phố Oakvillle của miệt Bắc Cali, như dạo nào tôi đi xuyên qua những con đường làng lối trúc ngõ tre ở Trảng Bàng, tôi còn nhớ hai hàng tre dọc hai bên đường che phủ rợp trời, che kín ánh nắng cho bóng mát tuyệt đối để hồn thơ trong tôi dâng trào:
“Tôi đi giữa lòng quê hương
Nắng Cali như bóng mát Trảng Bàng”

Cầu Quan Tây Ninh Đó là quê hương mang theo, như những hành trang theo tôi, có lẽ đến hết cuộc đời này, ôi quê hương nuôi ta từng ngày, ta mơ quê hương như yêu người tình.
“Tây Ninh nắng cháy da ngừơi,
Phố đông thân thiết hỡi ngừơi Tây Ninh?”
Trong một bài khác nhớ về Tây Ninh, “Xuôi Sông Vàm Cỏ”, tôi dâng nỗi nhớ nhung, rồi đắm chìm về kỷ niệm lưu luyến về sông nước quê nhà xa xăm:
“Tôi ra đời tại quận Gò Dầu Hạ, nằm trong lãnh thổ Tây Ninh, hướng Tây Bắc của Sài Gòn khoảng 77 cây số. Từ Gò Dầu đi thêm 22 cây số nữa mới tới Tây Ninh. Tây Ninh là quê nội của tôi và Vũng Tàu là quê ngoại tôi. Do đó ba tôi đặt cho anh em tôi luật công bằng là mỗi mùa hè đến, khi bãi trường anh em tôi chia ra làm hai tốp, nếu tốp một về Tây Ninh, thì tốp kia về ra Vũng Tàu. Với ký ức còn sót lại trong tâm trí tôi thì nếu Vũng Tàu cho tôi những kỷ niệm vui đùa với sóng biển tại Bãi Sau (bãi Thùy Vân) hay Bãi Trước (bãi Thùy Dương) thì Tây Ninh cho tôi cái kỷ niệm chạy tung tăng tắm mưa rào ngoài đồng ruộng, và Tây Ninh còn cho tôi những kỷ niệm chèo ghe cũng như tắm sông Vàm Cỏ Đông. Bài viết này sẽ cô đọng nhiều về vùng đất Gò Dầu Hạ và con sông đầy thơ mộng Vàm Cỏ Đông. Về mặt địa lý thì sông Vàm Cỏ Đông chảy từ biên giới Cao Miên tại xã Hòa Hội, Tân Biên rồi qua các địa danh Châu Thành, Bến Cầu, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng, sông dài hơn 150 km. Tại Tây Ninh, Vàm Cỏ Đông chảy từ phía tây bắc hướng Bến Cầu có cảng Bến Kéo qua Gò Dầu Hạ, rồi xuôi hướng đông nam chảy qua thị trấn Bến Lức của tỉnh Long An. Sông Vàm Cỏ Đông và Sông Vàm Cỏ Tây hợp lưu vào cửa Soài Rạp đổ ra biển. Vì có nhiều nhánh sông nhỏ của Vàm Cỏ Đông nên nó rất thuận tiện cho việc lưu thông bằng đường thủy để vận chuyển hàng hóa từ các nơi về Tây Ninh hay ngược lại từ Tây Ninh đến những nơi khác, điển hình là tại cảng Bến Kéo rất tấp nập. Tôi thích đoạn sông Vàm Cỏ Đông từ hướng Tây Ninh băng ngang từ thị xã Long Thành ra Giang Tân tới Bến Kéo, rồi đến xã Cẩm Giang, xuôi Trà Võ hướng về quận Gò Dầu là khúc sông thật thơ mộng khi ta bồng bềnh trên sóng nước thiên nhiên. Năm 1973 tôi theo ba tôi đi tàu cua hải quân lướt trên sóng nước tình quê; Ôi Vàm Cỏ Đông quá đẹp trong ký ức với những đám lục bình xanh hoa tím trôi lững lờ.”
Tôi xem bài viết của nhà văn đồng hương Nguyễn Bá Hoa viết về Gò Dầu Hạ, nơi tôi đã chào đời:
“Người khách tha hương, thông thả bước trên con đuờng đã hai mươi năm quen biết , nhưng đôi lúc cảm thấy hơi xa lạ nhớ tiếc một cái gì không mất hẳn, nhưng quá xa. “Tôi muốn tìm lại trong giấc mơ những gì tôi đã mất trong những ngày trẻ tuổi ”(Nhạc sĩ Văn Cao). Người lữ khách không nặng lắm về hiện tại nhưng tha thiết với quá khứ hơn, phải chăng đó là một trong những biểu hiện của tuổi “bóng xế nhành dâu” !? Trong đời người, có những kỷ niệm nói lên tình cảm mộc mạc chân thành mà khi nhắc đến như có điệu nhạc êm đềm đã xúc tích một mối hoài cảm mênh mông đủ hiệu lực gọi thức dậy những thớ tim làm rung động tâm hồn chúng ta.
Thương nhớ quê hương, nhớ Việt Nam, nhớ cánh đồng lúa xanh mơn mởn bên kia bờ sông Vàm Cỏ Đông, nhớ ngôi trường Gò Dầu Hạ với hàng me keo, nhớ con đường về Gia Bình ngang qua Trâm Vàng, con đường vào xóm Rạch Sơn, lên Gò Chùa lễ Phật ở Cao Sơn Tự,… Quê tôi mưa nắng hai mùa, những cơn mưa suốt ngày không dứt, có những cô bé đôi mắt tròn xoe thả chiếc thuyền giấy trên dòng nước mưa chảy ngang sân, đắc ý nhìn theo dòng nước khi thuyền đã đi xa, vẫy tay chào như muốn nói lời tam biệt. Tuổi trẻ vô tư như đàn chim trên cành cây mùa xuân đầy hoa quả, chẳng may gặp thời buổi bành trướng của kẻ mạnh cuồng tính, như chú thợ săn với “lý trưởng bá quyền” dùng cây súng bắn lên đàn chim non, chim lạc đàn. Từ đó, đàn trẻ nhỏ không thể về nơi hiên nhà tuổi thơ, ai đã đem giông tố bao trùm thế hệ ?!
Còn đâu những đôi mắt ngây thơ nhìn mưa cười khúc khích, những đôi tay khéo léo xếp thuyền giấy, tưởng lớn lên được góp sức xây dựng quê hương. Nào ngờ con thuyền giấy ngày xưa của cô bé nhiều ước mơ đã thành chiếc thuyền sắt phải ra khơi tìm đến bến bờ tự do, dòng nước mưa ngày xưa đã dạy cho tuổi trẻ lớn lên có cuộc sống ý nghĩa “tánh như thủy” linh hoạt, dễ thích ứng, đoàn kết và kiên nhẫn “nuớc chảy đá mòn”. Nhìn dòng sông Saint-Laurent rộng mênh mong chảy ngang qua thành phố Mộng-Thế-An (Montréal) rồi đổ ra vịnh Saint-Laurent (Ðại Tây Dương) mà nhớ đến sông Vàm Cỏ Ðông bé nhỏ, nước xanh biết phát ngưồn từ vùng đồi cao 150m ở Ðông Nam Campuchia, chảy qua Tân Biên, Châu Thành, Hoà Thành, Bến Cầu, ngang qua chợ Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng theo hướng tây bắc, đông nam đến ngã ba Bần Quỳ (Long An) hợp với sông Vàm Cỏ Tây chảy vào cửa Soài Rạp rồi đổ ra biển Ðông. Sông Vàm Cỏ Ðông chịu ảnh hưởng triều cường của biển Ðông mà người địa phương gọi là nước ròng (triều kém), nước lớn (triều cường). Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi… Ngược dòng lịch sử, vào giữa thế kỷ XVII, một số đồng bào từ miền Trung đi vào miền Nam lập nghiệp, họ dừng chân ở một vùng đất cao (Gò) có nhiều cây dầu cạnh bờ sông Vàm Cỏ Động. Dầu có nhiều loại: dầu con rái, dầu song nàng, dầu lông,… Nhựa dầu dùng trét ghe xuồng, ngày xưa còn dùng để thắp đèn. Gỗ dầu cứng nhưng không láng, không bóng khi đánh vec-ni.
Đình Thanh Phước tọa lạc trên một gò đất lớn cách chợ Gò Dầu Hạ độ hơn 500 mét, còn nhiều cây dầu có tuổi thọ hàng trăm năm, thân cây có thể cao từ 30 đến 40 mét, đường kính gốc cây gần 2 mét, địa danh Gò Dầu xuất phát từ đó, sở dĩ gọi là Gò Dầu Hạ để phân biệt với một địa danh khác là Gò Dầu Thượng (thuộc xã An Thạnh).”

Sông Vàm Cỏ Đông, Gò Dầu Với tôi, Gò Dầu là quê hương nhỏ, Tây Ninh là quê hương lớn, lớn hơn nữa là xứ sở Việt Nam. Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn, quê hương tiềm ẩn trong ký ức, rất khó quên, lòng yêu mến quê hương mà quyển sách xưa của văn hào người Ý, Edmondo de Amicis, tác giả của danh tác “Tâm Hồn Cao Thượng” (Les Grands Coeurs, Cuore [Heart] 1886), kể về lòng yêu nước của cậu bé Thành Padova yêu thương quê hương, một dấu ấn cho nhiều chúng ta của một thuở đã qua. Một chế độ chính trị, một thể chế cầm quyền có thể vi phạm sai lầm bởi yếu tố nhân tai, nhưng quê hương bởi bản sắc không bao giờ sai trái cả. Hãy ca tụng nơi bạn sinh ra, dù quê làng thôn xóm có nghèo khổ, nhưng đó là quê hương bởi định nghĩa, bởi tình yêu cho quê hương, quê hương là nôi sưởi ấm trong góc nhớ trong tâm hồn của mỗi chúng ta.
“Gò Dầu quê tôi ra đời,
Xa quê nhỏ xíu nhưng rồi không quên!”
Tôi đọc “Những Kỷ niệm” của tác giả Nguyễn Bá Hoa trong nỗi cảm thông vì vùng đất chung của chúng tôi, cảm nhận sự xót xa của những người dân quê nghèo như các phụ nữ trẻ bị bán ra xứ người làm con sen ở đợ hay “ô-sin”, một tên gọi theo một loạt phim bộ Oshin của Nhật, sau này xứ Việt lại sinh ra chữ nghĩa ám chỉ “người giúp việc trong gia đình”.
“Trong nhà gì khổ bằng sen
Ô-sin tủi nhục oan khiên quê người”
Đọc tiếp bài của Nguyễn Bá Hoa: “Trường làng tôi không giây phút tôi quên, vui sống bao kỷ niệm ngày xanh.”
Ngày đó, Quốc Lộ 1 (nay là Quốc Lộ 22A) từ Sài Gòn đến quận lỵ Gó Dầu Hạ chia làm 2 ngã (gọi là Ngã Ba): một đi thẳng qua cầu Gò Dầu hướng đến biên giới Việt Nam – Campuchia, còn ngã kia, nay gọi là quốc lộ 22B đi lên hướng Bắc đến Tỉnh lỵ Tây Ninh, trên quốc lộ 22B về hướng Bắc, cách ngã ba chừng một trăm mét bên trái có con đường tráng nhựa chạy thẳng đến cầu tàu sông Vàm Cỏ Đông (ngày trước trên bờ sông có bến tàu để thỉnh thoảng vài chiếc tàu nhỏ của quân đội Pháp và những chiếc chaloupe ghé bến tạm) ngang qua nhà Hội của xã Thanh Phước, và nhà lồng chợ Gò Dầu. Trường Tiều học Gò Dầu Hạ, nằm bên trái con đường nầy, có hàng rào bông bụp lá xanh, có hàng me keo bên hông dãy nhà gạch kiên cố gồm có văn phòng Hiệu trưởng và những phòng học. Cây me keo cao từ 6 đến 10 mét , lá nhỏ và cứng, thân và cành cây đều có gai, hoa me keo màu trắng ngà rất hấp dẫn đối với loài ong mật. Trái me keo chín màu đỏ nhạt, nó nhỏ hơn trái me, trái có nhiều mắt, mỗi mắt là một hột. Cơm trái me keo màu trắng, không có gì hấp dẫn nhưng học sinh vẫn hái chơi. Nhà trường trồng me keo để làm hàng rao vì cây có gai. Đối diện dãy nhà chính nầy là những phòng học mới phát triển cạnh nhà thầy Nhâm, giữa hai dãy phòng học có sân rộng, có cột cờ. Ngoài hành lang dãy nhà mới nầy, nói là mới nhưng không đẹp và kiên cố như dãy nhà cũ, người ta không thể quên cái trống chầu, sơn đỏ treo ở đó, dùng đánh báo giờ, đó là tiếng thời gian đối với tuổi học trò. Nói đến đây, tôi hình dung cảnh thư thả thuở “ăn chưa no, lo chưa tới” còn đi học trường làng
Xuân đi học coi người hớn hở,
Gặp cậu Thu đi ở giữa đàng
Hỏi rằng sao đã vội vàng
Trống chưa nghe đánh đến tràn làm chi.
Ngày đó, còn mười lăm phút trước khi vào giờ học, nhà trường cho đánh một hồi trống và thêm ba dùi, gọi là “trống tựu” để nhắc nhở học sinh phải nhanh đến trương. Nhà tôi ở xã Gia Bình, nhờ có bà con ở Gò Dầu nên đến ở trọ nhà ông Tám Thường, người ta quen gọi là ông “Cả Thường” (người đứng đầu trong xã Thanh Phước). Nhà ở cạnh trường học, chờ nghe ‘trống tựu” mới ôm cặp đến trường cũng còn kịp. Nhưng chỉ được một tháng, sau đó vì số học sinh lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin) mới nhập học quá đông, thiếu phòng học nên các lớp Cours Moyen(lớp Nhì) và Cours Supérieur (lớp Nhứt) phải “di tản” đến học tại rạp hát trên quốc lộ 22B , gần nhà ông quận Trần văn Giám. Rạp hát cũ được chỉnh trang lại theo nhu cầu tạm của lớp học, cours Moyen học với thầy Tuấn ở phần trước kia dành cho khán giả, còn cours Supérieur học với thầy Tô Thảo “chiếm” phần trên sân khấu, ngăn cách hai lớp bằng tấm vách bồ bằng tre.
Thời “học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau”, chúng tôi cũng được nghe hát “Nào anh em đàn trẻ nước Nam Việt Nam, Chúng ta mau kết đoàn tiến lên đường sáng… (Bài hát của thiếu sinh – LHP-1942). Ngày tôi từ giả trường Gò Dầu Hạ về trường Trảng Bàng được thầy Hiệu Trưởng (thời đó là: Le Directeur de l’école) Trần Văn Hổ chứng cho Certificat de scolarité… Travail : Très bon. Conduite : Excellente
Đến ngày nay tôi còn cất giữ như một kỷ vật quy báu. Đó là một trong những kỷ niệm thân mến của Gò Dầu Hạ mà tôi cố giữ gìn để nhớ lại “thời đuổi nắng sân trường nay đã mất”. Những vật vô tri, phải chăng mi có một tâm hồn, gắn bó với tâm hồn ta và thêm tình lưu luyến, như Alphonse de Lamartine đã nói: Objets inanimés, avez-vous donc une âme qui s’attache à notre âme et la force d’ aimer (Milly ou la terre natale).
Để kết thúc bài nầy, ngày nay dầu ở cách xa mấy vạn dặm, tôi luôn mong ước được có ngày nhìn quê hương ấm no “Bao giờ cho lúa được mùa luôn, lúa ơi, để cô con gái không buồn vì gió đông”… Mong rằng giai cấp thống trị, người tự xưng là đầy tớ của dân, hay là “dân chi phụ mẫu” chi chi đó phải lắng nghe tiếng nói chơn chất của dân nhứt là dân oan, đừng tham ô cướp ruộng đất của dân để người nông dân có phương tiện xây dựng ấm no cho đời và cho xã hội.
Đọc những tin xuất cảng lao động, người con gái Việt Nam ở khu đèn đỏ Singapore, lòng thấy cảm thương cho số phận… sao ngậm ngùi ! Bao nhiêu năm “giải phóng” một số người phụ nữ phần đông ở thôn quê, ít học, không có việc làm “được xuất cảng” phải chịu kiếp đọa đày trôi nổi lang thang như những bọt bèo nơi xứ ngưỡi, giữa đêm khuya vắng tiếng hát em trong lệ nhòa, cô đơn trong bóng tối trên đất lạ Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Mã Lai, Tân Gia Ba…
“Ôi!
Đất nước nghèo không giữ nổi chân em,
Nên xứ người em làm thân gái khách.
Em đứng đó, một mình ôm mặt khóc…
Lòng tôi bổng thương cho số phận,
Những cô gái yêu kiều nét quê hương
Nổi xót xa nào hơn, bán thân xứ người !
Chịu nhiều cay đắng, người con gái Việt Nam!
Tội nghiệp em, thiếu thời hoa niên mơ mộng,
Tuổi xuân tươi chưa đến, thu đã về!
Xót thương thân gái xứ người,
Xác thân vùi dập, cuộc đời đắng cay,
Vận nước đã qua thời chinh chiến,
Tại sao quê mình còn mãi tối đen?!”
Ngày nào còn nghe tiếng kêu than của dân nghèo, dân oan thì giai cấp “dân chi phụ mẫu” (cha mẹ của dân) nên đánh thức luơng tâm trách nhiệm cứu dân, giúp nước, đừng làm kẻ phản bội, bất nhơn, bất nghĩa để đến ngày tàn “thác đà mất kiếp, tiếng còn ô danh”.”
“Tàn cây bóng mát Trảng Bàng
Hàng tre ngõ trúc quê làng sao quên?”

Trảng Bàng bóng mát quê hương Những hàng tre già của Trảng Bàng đan đầu chụm vào nhau cho người dân địa phương hay những khách lữ thứ cảm nhận cái không gian yên bình rợp bóng mát. Kỷ niệm Tây Ninh mang tôi vào kỷ niệm khi tôi ghé ngang thành phố Oakville rồi sang vùng biển Carmel trên Bắc Cali với Ngọc Linh, người bạn cũ của thuở trung hoc Petrus Ký xa xưa vui mừng khi gặp lại nhau. Đứng trên mỏm đá nhô ra biển cả xa xăm, gió biển Monterey mát rượi tâm hồn, tôi ngước lên bầu trời cao có đám hải âu gọi đàn, dưới chân là những con sóng trắng xóa vỗ vào ghềng đá rì rào, khung cảnh biển California mang tôi về ghềng đá Bãi Dâu của Vũng Tàu. Ngày của thuở nhỏ tôi ao ước được xuất dương sang du học ở trời Tây, và ngày nay tôi nhìn về bên kia biển Thái Bình có quê hương tôi, tôi mơ một ngày trở lại quê hương bừng sống trong sinh khí tự do nhân bản, không bị trù dập, không bắt bớ vô lý, khi người dân tôi quá tội nghiệp, còn khao khát quyền làm người. Nhớ về quê hương với những nỗi vui mang theo, cũng như những nỗi buồn của hiện tại của cuộc sống khó khăn. Đời sống bao trùm những vô lý, những mâu thuẩn xã hội tràn lan khắp trên quê hương tôi.
Tôi đọc bài thơ Quê Hương Nỗi Nhớ của thi sĩ Hà Ly Mạc mà chạnh lòng vì nỗi thổn thức nhớ nhung quê hương ngậm ngùi của ông:
“Ðêm qua trong mộng tôi cười,
Sáng nay thức dậy lại ngồi rưng rưng.
Lạ lùng chưa, lệ ứa dòng,
Giọt thương tôi nuốt, giọt hồng tuôn ra.
Ðất người xót nỗi quê cha,
O hay ! Trời cũng nhạt nhòa như tôi.
Lâm râm từng hạt mưa rơi,
Hàng cây đứng lặng trên đồi ngẩn ngơ.
Niềm thương nỗi nhớ đong đưa,
Tình quê hương đó, bao giờ mới nguôi.
Việt Nam ơi ! Núi, sông, trời,
Lũy tre, đồng ruộng, đâu rồi nước non ?
Phải chi thấy lại mảnh vườn,
Dang tay ôm lấy cộì nguồn mà hôn.
Mấy mươi năm, một nỗi buồn,Lê thân viễn xứ, héo mòn ruột gan.
Tình thâm đôi ngả quan san,
Ngoài vời vợi nhớ, trong vàng vọt trông.
Xa núm ruột, quặn thắt lòng,
Mồ cha, mả mẹ, lạc vòng tay ôm.
Trời chiều rủ bóng hoàng hôn,
Quê hương nỗi nhớ, giọt buồn mang mang…”
(Trong tập Quê Hương Nỗi Nhớ 2002)Quê hương là tiếngnói thương yêu, cho tâm hồn ta gần gũi như những lời tình tự từ da thịt, như hơi thở từ nuối tiếc chia ly. Tôi có người bạn gốc Nha Trang, trên bàn thờ nhà anh có tảng đá mang từ quê nhà sang, anh khắc chữ Việt Nam, anh lý luận rằng niềm tin khi chúng thờ phượng ai là do sự thiêng liêng. Nếu quê hương Việt Nam thiêng liêng thì tại sao chúng ta không tôn thờ. Tương tự khi quốc gia Do Thái được các xứ Tây phương cho thành lập lại tại Trung Đông. Người Do Thái từ khắp nơi lủ lượt đổ về gây dựng lại quê hương mới. Có những người về đến quê hương mà họ đã khóc ròng, có người cúi xuống hôn lên mặt đất như lời chào mừng và tạ ơn quê hương. Trong bài viết “Nước Non Ngàn dặm… trở về ?” của tác giả Thâm Vấn, bà đã viết như sau: “
Với những người xa tổ quốc mà phải đợi tới những lời kêu gọi thống thiết từ đồng bào của mình ở quê nhà mới sực nhớ rằng mình vẫn còn có một quê nhà để trở về, thì quả thật, sự về ấy, chỉ là trở lại. Một cuộc trở về kiểu của ông Hạ Trí Chương bên Tàu, tác giả mấy câu thơ nổi tiếng và đã được nhiều người (Việt) nhắc đến để so sánh sự ra đi và trở về của người Việt tha hương.
Bài thơ tên là Hồi Hương Ngẫu Thứ (Ngẫu Nhiên Khi Về Quê), được Hải Đà dịch như sau:
”Quê nhà xa cách tháng năm, Bạn bè thưa thớt biệt tăm phương trời Mặt hồ gương trước ngõ soi Gió xuân chắc chẳng đổi đời sóng xưa”(Hải Đà)

Núi Bà Đen Ông Hạ Tri Chương giã từ nhà ra đi tìm công danh sự nghiệp từ khi còn rất trẻ. Sau gần 50 năm trải qua bao thăng trầm trong bước công danh hoạn lộ của mình, ông trở về thăm lại quê xưa, tìm kiếm bạn bè cũ, nhưng chẳng còn mấy người sống sót, duy chỉ có mặt hồ trong như gương trước ngõ vẫn còn nguyên vẹn những dợn sóng ngày xưa. Sự ra đi của ông Hạ Tri Chương là một cuộc ra đi lập thân. 50 năm xa quê của ông là 50 năm ông lao vào cuộc giành giựt những hư ảo đời người. Ông chỉ trở về lại quê hương sau khi đã chán chê mọi thăng trầm cuộc đời vốn nhẹ tênh như lá mùa thu.
Đem sự trở lại của ông Hạ Tri Chương mà so sánh với sự trở về của anh bạn tôi đang đứng giữa đường phố quê hương một ngày cuối năm thì cũng tội nghiệp cho anh quá. Hơn hai mươi năm nay từ ngày anh bỏ tất cả bước chân xuống chiếc thuyền mong manh lênh đênh giữa biển cả ra đi tìm tự do, và trên hết, mang một hoài bão làm chút gì để đổi thay vận mệnh của đất nước, cũng là hơn hai mươi năm anh canh cánh bên lòng những trăn trở cho mảnh đất nghèo quê nhà anh để lại sau lưng. “Không về được, chưa về được, đâu phải chỉ là những khó khăn của đời thường, đâu phải chỉ là những mải mê với cuộc sống dễ chịu xứ người.”
Tôi muốn gửi bài viết này đến những người dân hiền hòa bị bất công xã hội vùi dập chà đạp, những nạn nhân của chế độ vì nhân tai bị kẻ cầm quyền lợi dụng hiếp đáp, bị chế độ bỏ quên vì bất tài, vì tham lam, và tôi gửi lòng nhung nhớ về cho quê hương Việt Nam, nơi đó có dân tộc tôi và ước mong sao quê hương không còn chế độ Cộng Sản hiện diện nữa. Lời kết luận tôi xin mượn bài viết của nhà văn Thấm Vân có thơ của Hạ Tri Chương và lời dịch chuyển ý Việt ngữ thi sĩ Hải Đà Vương Ngọc Long. Vì “Không về được, chưa về được, đâu phải chỉ là những khó khăn của đời thường, đâu phải chỉ là những mải mê với cuộc sống dễ chịu xứ người.”. Quê Hương trong nỗi nhớ chỉ là Nỗi nhớ của quê hương mang theo trong tâm tưởng. Cái trân quý suốt đời: Quê hương trong tâm tưởng và trong lòng tôi.
Quê hương ơi sẽ có một ngày, quê hương tự do, không còn bóng mây độc tài. Quê hương ơi, ta sẽ về hát bài ca ngợi quê hương!…
Việt Hải Los Angeles.
——————————————————————————-
Cô Bắc kỳ Tây Ninh, Thơ Việt Hải, Nhạc Vĩnh Điện, Hát &
đàn: Nguyễn V. Hiển, PPS Video by Duy Hân:
-
Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam –
Dân số miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) vào cuối thập niên 60 khoảng 17 triệu người, nông thôn chiếm 70% và thành thị chiếm 30%. Tuy ở trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng với nền giáo dục khai phóng được mở rộng tạo cơ hội cho tuổi trẻ trên bước đường học vấn… Về lãnh vực văn chương đã phổ biến rất nhiều tác phẩm sáng tác, riêng về sách dịch rất phong phú để độc giả tìm hiểu thêm về văn chương ngoại quốc.Trong phạm vi bài nầy chỉ đề cập đến Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam đã ảnh hưởng lớn với độc giả trong hai thập niên qua. Đây chỉ liệt kê phần nào trong toàn bộ sách dịch, vì tài liệu sưu tầm còn thiếu sót và không nhận định, phân tích nên chỉ ghi nhận tổng quát dịch giả, tác phẩm… – VTrD
Người đầu tiên đặt nền tảng chữ Quốc Ngữ (tiếng Việt) là giáo sĩ người Bồ Đào Nha thuộc Dòng Tên Francisco de Pina (1585-1625). Giáo Sĩ Alexandre de Rhodes (1591-1660) nối tiếp công việc hoàn thiện hơn việc dùng chữ Quốc Ngữ, hoàn thành cuốn tự điển Dictionarium Annamiticium – Lusitanium – Latinium (Tự Điển An Nam – Bồ Đào Nha – La Tinh) năm 1651.
Cuốn sách Catechismus “Phép Giảng Tám Ngày” giáo sĩ Alexandre de Rhodes được in tại Roma năm 1651. Đây là cuốn sách chữ Quốc Ngữ đầu tiên của Việt Nam. (Cuốn sách nầy còn lưu trữ ở nhà thờ tại Tuy Hòa, Phú Yên).
Vào cuối thế kỷ XIX, chữ Quốc Ngữ trở thành văn tự chính thức tại Nam Kỳ vào năm 1882, học giả Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) khi làm quản nhiệm (ngày 16/9/1869) Gia Định Báo, tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở miền Nam. Gia Định Báo ra đời ngày 15/4/1865, do người Pháp Ernest Potteau làm tổng tài (quản nhiệm), đến năm 1869 Trương Vĩnh Ký (Petrus Ký – Tiếng Latin là Petrus, tiếng Pháp là Pétrus) thay thế Ernest Potteau. Gia Định Báo chủ trương: cổ động tân học, truyền bá quốc ngữ và giáo dục quốc âm. Trước đó, chữ Hán và chữ Nôm được phổ biến rộng rãi nên từ khi có chữ Quốc Ngữ được quảng bá nên các bậc tiền nhân muốn khai phóng qua sách, báo… cho nền văn học đất nước.
Tại Sài Gòn, trường trung học Petrus Ký (Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký) được thành lập năm 1928, là một trong những ngôi trường nổi tiếng nhất ở miền Nam Việt Nam. Cổng trường Trung Học Petrus Ký có khắc hai câu đối của giáo sư Hán văn Ưng Thiều: “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt. Tây Phương khoa học yếu minh tâm!”, có tượng đồng bán thân của cụ ở giữa sân trường.
Vào đầu thế kỷ XX, học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) nhà báo, nhà văn, dịch giả… có công đóng góp cho nền dịch thuật Việt Nam. Ông là chủ bút đầu tiên tờ Đăng Cổ Tùng Báo, ra đời ngày 28/3/1907, xuất bản bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ.
Lục Tỉnh Tân Văn (1910), Đông Dương tạp chí (1913), Trung Bắc Tân Văn (1915, nhật báo đầu tiên)… Người đầu tiên dịch Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa từ chữ Hán ra chữ Quốc Ngữ năm 1909. Người đầu tiên dịch các tác phẩm văn học cổ điển Pháp của Victor Hugo, Honoré de Balzac, Alexandre Dumas, Molière, La Fontaine … ra tiếng Việt đã đã đăng trên Đông Dương tạp chí và đã ấn hành, trong đó có Thơ Ngụ Ngôn La Fontaine Diễn Nôm (Les Fables de La Fontaine, 44 truyện) phổ biến rộng rãi, được trích đăng rất nhiều. Đặc biệt với Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du dịch ra tiếng Pháp. Người đầu tiên đưa kịch nói (các tác phẩm của Molière) lên sân khấu nhà hát lớn Hà Nội năm 1920 (*).
(* Vương Trùng Dương: Bệnh Tưởng, Bi Kịch & Cuộc Sống trên trang web Đặc San Lâm Viên http://www.dslamvien.com/2022/02/benh-tuong-hai-kich-va-cuoc-song.html
Học giả Nguyễn Văn Vĩnh cũng là người sáng lập ra Hội Trí Tri và Hội Dịch Sách. Ngày 26/6/1907 ở Hội Trí Tri Hà Nội, ông đã diễn thuyết về Hội Dịch Sách, và phổ biến trên Đăng Cổ Tùng Báo.
Những tác phẩm Tây Phương qua dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh tiêu biểu vào tiền bán thế kỷ XX như: Thơ Ngụ Ngôn của La Fontaine (Fables de La Fontaine) Trẻ Con của Perrault (Les Contes de Charles Perrault), Mai-Nương Lệ-Cốt (Manon Lescaut) của Abbé Prévost, Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ (Les Trois Mouquetaires), của Alexandre Dumas, Những Người Khốn Khổ (Les Misérables) của Victor Hugo, Miếng Da Lừa (La Peau de chagrin) của Honoré de Balzac., Guy-li-ve Du Ký (Les Yoyages de Gulliver) của Jonathan Swift, Tê-lê-mặc Phiêu Lưu Ký (Les Aventures de Télémaque) của Fénélon, Sử Ký Thanh Hoa (Le Parfum des Humanités) của Emile Vayrac, Chàng Gil Blax Xứ Santillane (Gil Blas de Santillane) và Tục Ca Lệ (Turcaret) kịch của Lesage…
Bốn vở kịch nói của Molière: Trưởng Giả Học Làm Sang (Le Bourgeois Gentilhomme), Giả Đạo Đức (Le Misanthrope), Bệnh Tưởng (Le Malade Imaginaire), Lão Hà Tiện (L’Avare).
Và, từ đó những tác phẩm Tây Phương đã được các học giả, nhà văn, nhà báo từ Bắc đến Nam được dịch sang tiếng Việt.
Trong quyển Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan, ấn hánh năm 1941, quyển I, mục Những Nhà Văn Hồi Mới Có Chữ Quốc Ngữ từ trang 35 đến trang 190, tiên phong với Trương Vĩnh Ký, nhóm Đông Dương Tạp Chí với Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, nhóm Nam Phong Tạp Chí với Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Luật…
Theo nhà văn Vũ Ngọc Phan “Trong số những học giả Việt Nam theo Tây học ấy, người ta phải kể đến hai người có tiếng nhất là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Trai (tức Paulus Của). Hai ông đã dùng chữ Quốc Ngữ để truyền bá học thuật về tư tưởng Âu Tây và soạn tự điển Việt Pháp để người Nam có thể dùng mà học tiếng Pháp. Việt Pháp Tự Điển của Paulus Của là một bộ tự điển mà gần đây cả người Bắc lẫn người Nam vẫn còn dùng” (trang 37). Quan trọng nhất với Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, 2 cuốn, in tại Sài Gòn năm 1895 và 1896. Bộ sách nầy được in lại nhiều lần cho các thế hệ sau nầy tra cứu.
*
Trong phạm vi bài nầy, chỉ đề cập Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Học Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam vì nói đến dịch thuật với tất cả tác phẩm từ Á sang Tây, Mỹ… bao quát, không thể tổng hợp trong bài viết. Gọi là Tây Phương nhưng thực ra chỉ vài nước ở Âu Châu… Nguyễn Văn Lục với bài viết 20 Năm Văn Học Dịch Thuật Miền Nam 1955-1975 trên tờ Hợp Lưu vào cuối năm 2004, giới thiệu tổng quát về sách dịch.
Nhà văn Võ Phiến (1925- 2015) năm 1975 định cư tại Hoa Kỳ, là người làm sống lại nền Văn Học Miền Nam. Với bút hiệu Tràng Thiên đã ấn hành:
Hăm Bốn Giờ Trong Đời Một Người Đàn Bà (của Stéfan Zweig) Sài Gòn, 1963), Các Trào Lưu Lớn Của Tư Tưởng Hiện Đại (của André Maurois) Sài Gòn, 1964), Truyện Hay Các Nước, tập 1 & II (cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng) Sài Gòn, 1965.
Năm 1999, ông ấn hành bộ sách Văn Học Miền Nam gồm 6 cuốn về truyện (3 cuốn), ký, tùy bút và kịch, thơ.
Cuốn sách Văn Học Miền Nam Tổng Quan, NXB Văn Nghệ năm 1988, vào thời điểm đó được đánh giá là tài liệu về Văn Học đáng tin cậy để sưu tầm.
Theo Võ Phiến phần sách dịch chiếm đến 60% số đầu sách (tên sách, tựa đề tác phẩm dịch thuật) được xuất bản tại miền Nam đến năm 1973, nó đã lên đến 80%. Và theo Trần Trọng Đăng Đàn, trong bài viết Văn Hoá, Văn Nghệ Nam Việt Nam 1954-1975, số dịch phẩm tại miền Nam trong 20 năm đó có thể được chia ra thành: Pháp 499 cuốn, Đài Loan và Hương Cảng 358 cuốn, Mỹ 273 cuốn, Nga 120 cuốn, Anh 97 cuốn, Nhật 71 cuốn, Ý 58 cuốn, Đức 57 cuốn. Các nước khác chiếm 38 cuốn. Như thế, các sách được dịch, bao gồm cả sách nghiên cứu và các sáng tác, nhưng chủ yếu là tiểu thuyết, đến từ cả Tây Phương, Mỹ Châu và Á Châu…
Những tác giả đã có công dịch thuật như Nguyễn Hiến Lê, Trương Bảo Sơn, Vũ Đình Lưu (Cô Liêu), Phạm Công Thiện (dịch các tác phẩm triết), Bùi Giáng, Phùng Khánh & Phùng Thăng, Nguyễn Hiến Lê, Tam Ích, Bửu Ý, Ngọc Thứ Lang, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Hữu Hiệu, Đỗ Khánh Hoan, Mặc Đỗ, Trần Phong Giao, Hoài Khanh, Hoàng Hải Thủy (phóng tác)…
Trong quyển Văn Học Miền Nam 1954-1975 của Nguyễn Vy Khanh năm 2019, Chương 6 đề cập đến Dịch Thuật & Văn Học nước ngoài, giới thiệu các dịch giả đóng góp.
Ngoài ra, nhiều dịch giả với một, hai tác phẩm trên nhiều lãnh vực rất phong phú, mở rộng kiến thức để nghiên cứu và giải trí…
Tư tưởng triết học Tây Phương được phổ biến ở miền Nam VN như Hiện Tượng Luận với Edmund Husserl khởi xướng, Merleau-Ponty, Gabriel Marcel, Heidegger, Karl Jaspers, Paul Ricoeur, Emmanuel Lévinas và Mikel Dufrenne… Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998) ấn hành 2 quyển về Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Đại, Sài Gòn 1963, ông cho biết phải học thêm tiếng Đức để tra cứu tài liệu. Phạm Công Thiện dịch 2 tác phẩm của Martin Heidegger: Về Thể Tính Của Chân Lý, Sài Gòn, 1968); Triết Lý Là Gì?, Sài Gòn, 1969)…
*
A.- Nobel Văn Chương Tây Phương & Tác Phẩm Dịch Thuật
Nobel Văn Chương (Văn Học) là một trong 6 bộ môn: Y Học & Sinh Học, Hóa Học, Vật Lý, Kinh Tế & Hòa Bình.
Giải Nobel Văn Chương đã được trao 114 lần từ năm 1901 đến 2021 cho 118 người (nam giới: 101 và nữ giới: 17). Ngày 6/10/2022, Viện Hàn Lâm Thụy Điển thông báo giải Nobel Văn Chương 2022 với nhà văn Pháp, bà Annie Ernaux, 82 tuổi. Đây là lần thứ 16 nền văn học Pháp có tên trên bảng vàng, nhà văn Annie Ernaux là phụ nữ Pháp đầu tiên đoạt Nobel Văn Chương và một trong những người cao tuổi nhất được vinh dự nầy.
1914 Không trao giải vì xảy ra Đệ Nhất Thế Chiến và 5 năm (1940-1944) không trao giải do xảy ra Đệ Nhị Thế Chiến.
Với các nhà dịch thuật ở Việt Nam rất quan tâm về giá trị các nhà văn đoạt Giải Nobel Văn Chương nên vào tiền bán kỷ XX đã dịch và giới thiệu ở trong nước.
Trong phạm vi bài nầy đề cập đến Nobel Văn Chương từ năm 1915 đến 1974, trong đó có những tác phẩm Tây Phương được sang tiếng Việt trong 20 năm (1954-1975) tại miền Nam VN. Hầu hết được dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp…
Danh sách nầy trên dựa vào trang web Wikipedia và các websites khác để tóm lược. Điển hình với các tác giả:
1915: Nhà văn Pháp Romain Rolland (1866-1940), ông viết về nhiều thể loại từ thi ca, âm nhạc đến kịch nghệ… biên khảo và phê bình. Musiciens d’Autrefois (Nhạc Sĩ Thời Xưa, 1908), Musiciens d’Aujourd’hui (Nhạc Sĩ Thời Nay, 1908), La Vie de Tolstoï (Cuộc Đời Tolstoy, 1911), Tác phẩm Jean – Christophe (1904-1912, 10 tập) và Au-Dessus De La Mêlée (Bên Trên Cuộc Chiến, 1915) đã góp phần chính trong Nobel Văn Chương. Tuy không có sách dịch nhưng nhiều bài viết trên các tạp chí văn học về nhà văn nầy.
1921: Nhà văn Pháp Anatole France (1844-1924): L’Histoire Contemporaine (Chuyện Thời Nay, 1897-1901), Đảo Chim Cánh Cụt (L’île des Pingouins, 1908), La Vie Littéraire (Đời Sống Văn Học, 1888-1892). Đây là nhà văn với các đoản văn của ông được học trong chương trình Việt Văn (Ban C) vì cách hành văn gọn gàng dễ hiểu.
1925: Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950), ông coi là nhà viết kịch Anh lẫy lừng ngay sau Shakespeare. Và các tiểu thuyệt tiêu biểu như: Immaturity (Non Nớt, 1879), The Irrational Knot (Cuộc Hôn Nhân Không Hợp Lý, 1880), Love Among the Artists (Tình Nghệ Sĩ, 1881)… MỘt số bài thơ của ông đã được dịch trên các tạp chí văn học.
1927: Nhà nghiên cứu văn học & triết học Pháp Henri Bergson (1859-1941) với các tác phẩm tiêu biểu như L’Evolution Créatrice (Tiến Hóa Sáng Tạo, 1907), Matière et Mémoire (Vật Chất & Ký Ức, 1896)… Linh Mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế đúc kết qua tác phẩm Henri Bergson, Năng Lực Tinh Thần.
1929: Nhà văn Đức Thomas Mann (1875-1955) được đánh giá là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất của Đức. với các tác phẩm tiêu biểu: Der Zauberberg (Núi Thần, 1924), Buddenbrooks – Verfall Einer Familie (Gia Đình Buddenbrook, 1901), Der Tod in Venedig (Chết Ở Venice, 1913)… Có nhiều bài viết về ông trên các tạp chí văn học (*nt)
1937: Nhà văn Pháp Roger Martin du Gard (1881-1958) với Jean Barois (1913), Les Thibault (Gia đình Thibault, 1922-1940) (*nt)
1946: Nhà văn Đức Hermann Hesse (1877-1962) với các tác phẩm: Tuổi Trẻ Băn Khoăn (Demian, 1919), Câu Chuyện Dòng Sông (Siddartha, 1922), Sói Đồng Hoang (Der Steppenwolf, 1927), Hành Trình Về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932) với những tác phẩm nổi tiếng của ông khi được giải Nobel Văn Chương năm 1946 nên được dịch ra tiếng Việt, quen thuộc với độc giả ở miền Nam VN. Ông là người uyên bác triết lý Đông Phương qua hai tác phẩm Siddartha (Câu Chuyện Dòng Sông, Phùng Thăng & Phùng Khánh dịch) và Die Morgenlandfahrt (Le Voyage du Matin, dịch sang tiếng Việt là Hành Trình Về Phương Đông), tác phẩm nầy trùng tên bộ sách của nhà văn Mỹ Baird Thomas Spalding, Nguyên Phong dịch Hành Trình Về Phương Đông. …
1947: Nhà văn Pháp André Gide (1869-1951). Ông là nhà văn nổi tiếng nhất ở thế kỷ XX, tác phẩm của ông được dịch từ trước như La Porte Étroite (Tiếng Đoạn Trường) do Đình Thạch dịch, Trung Bắc Tân Văn ấn hành năm 1937; La Symphonie Pastorale (Khúc Nhạc Đồng Quê), Đào Đăng Vỹ dịch, ấn hành năm 1954…
Các tác phẩm của ông như: Paludes, Les Nourritures Terrestres, Isabelle, L’École des Femmes, Robert, Œdipe… Đặc biệt với L’Immoraliste, 1902, La Porte Étroite, 1909, Les Faux-Monnayeurs, 1926… được nhiều dịch giả cùng dịch.
1948: Nhà thơ Vương Quốc Anh Thomas Stearns Eliot (1888-1965) với các thi phẩm The Love Song of J. Alfred Prufrock (Bản Tình Ca Của J. Alfred Prufrock, 1917), The Waste Land (Đất Hoang, 1922), The Hollow Men (Những Kẻ Rỗng Tuếch, 1925), Ash Wednesday (Ngày Thứ Tư Tro Bụi, 1930), Four Quartets (Bốn Khúc Tứ Tấu, 1935-1945)… với thơ ít dịch nguyên thi phẩm mà chỉ dịch một số bài trên các tạp chí.
1950: Triết gia Vương Quốc Anh Bertrand Russell (1872-1970) – (Đề cập ở phần Khuynh Hướng Triết Học & Văn Học)
1952: Nhà văn Pháp François Mauriac (1885-1970). Tác phẩm Thérèse Desqueyroux (Người Vợ Cô Ðơn) do Mặc Đỗ dịch năm 1956, giới thiệu với độc giả sau khi được giải Nobel Văn Chương (Năm 2022 nhà văn T.Vấn, ở Texas, dịch từ tiếng Pháp và đối chiếu với bản tiếng Anh, giữ nguyên tựa đề Thérèse Desqueyroux). Các tác phẩm tiêu biểu của ông như: Le Nœud de Vipères (Ổ Rắn Độc), Le Mystère Frontenac (Bí Ẩn Nhà Frontenac), La Fin de la Nuit (Đêm Tàn), Les Chemins de la Mer (Những Con Đường Của Biển), La Pharisienne (Người Đàn Bà Đạo Đức Giả), Mémoires Intérieurs (Hồi Ký Nội Tâm) (*nt)…
1957: Nhà văn Pháp Albert Camus (1913-1960). Ông là một trong những nhà văn ngoại quốc đã ảnh hưởng rất nhiều ở miền Nam VN.
Tác phẩm đầu tay L’Étranger (Người Xa Lạ) ra đời năm 1942, trở thành “hiện tượng” trong văn chương Pháp với Chủ Nghĩa Hiện Sinh (Existentialisme), tác phẩm La Peste (Dịch Hạch) viết năm 1938 nhưng sau đó hiệu đính lại mới ấn hành năm 1947. Trong văn học, hai nhà văn Simone de Beauvoir (1908-1986) và J.P. Sartre (1905-1980) gặp nhau từ năm 1929 và yêu nhau, sáng lập tờ báo Thời Mới (Les Temps Modernes) để truyền bá Chủ Nghĩa Hiện Sinh trong trào lưu văn học. Kết thúc cuộc tình Simone de Beauvoir viết cuốn Adieux: Một Lời Chia Tay Với Sartre (1981).
J.P Sartre mới là triết gia về Chủ Nghĩa Hiện Sinh, Albert Camus không phải là triết gia nhưng đem chủ nghĩa nầy vào văn học. Cùng cổ xúy cho Chủ Nghĩa Hiện Sinh, tình bạn giữa Albert Camus và J.B Sartre vào giữa thập niên 30, rạn nứt vào năm 1952… Và từ đó, ông viết những tác phẩm nói lên “phi lý” của con người trong cuộc sống.
Những tác phẩm của Albert Camus vào thập niên 60 được dịch ra tiếng Việt và không xa lạ gì với độc giả ở miền Nam VN. Bùi Giáng dịch nhiều tác phẩm của Albert Camus như: Le Malentendu (Ngộ Nhận), Caligula (Bạo Chúa Caligula), L’Été (Mùa Hè, nhan đề Mùa Hè Sa Mạc, Le Mythe de Sisyphe (Huyền Thoại Sisyphe), nhan đề Biển Đông Xe Cát, L’Homme Révolté (Con Người Phản Kháng)…
La Chute (Sa Đọa), Djémila (Gió Về), L’Envers et L’Endroit (Bề Trái & Bề Mặt), Noces (Giao Cảm), Trần Thiện Đạo dịch. La Femme Adultère (Người Đàn Bà Ngoại Tình), Nguyễn Văn Trung dịch, L’Exil et le Royaume (Lưu Đày & Quê Nhà), Trần Phong Giao và Vũ Đình Lưu dịch… Tác phẩm La Peste (Dịch Hạch), Hoàng Văn Đức dịch, 1966; Võ Văn Dung dịch, 1971…
Có thể nói, sau hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Kẻ Xa Lạ (1942) và Dịch Hạch (1947), thì tiểu luận Thần Thoại Sisyphus (Le Mythe de Sisyphe, 1942) là tác phẩm quan trọng bậc nhất của Albert Camus.
Thần thoại về Sisyphus, tiểu luận triết học của Albert Camus với lập luận của điều phi lý từ thời cổ đại xa xưa vẫn tồn đọng trong thời kỳ của Albert Camus. Tựa đề tiểu luận, vốn là tên trong chương sau cùng, được gợi dẫn từ câu chuyện của chàng Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp. Theo đó, bắt đầu từ lập luận phi lý rằng đời sống của mỗi cá nhân, ngay cả những cá nhân tự xác định cho mình một lý tưởng, mục đích cao đẹp, thường bị vây bủa trong những hành động đôi khi rất hoài công và vô vọng. Vì vậy quan niệm về phi lý đã bàng bạc trong tác phẩm cùa Albert Camus (*)
(* VTrD, trích trong bài viết Người Xa Lạ… Giữa Chúng Ta trên trang web https://t-van.net/vuong-trng-duong-tan-man-dau-nam-2022-nguoi-xa-la-giua-chng-ta/)
1958: Nhà văn Nga Boris Pasternak (1890-1960), tác phẩm Dr. Zhivago, với niềm vinh dự bản thân ông nhưng nỗi đau ở trong nươc (đề cập phần sau)
1961: Nhà văn Nam Tư Ivo Andrić (1892-1975). Tác phẩm The Bridge on the Drina (Chiếc Cầu Trên Sông Drina, 1945), Nguyễn Hiến Lê dịch
1964: Triết gia, nhà văn Pháp Jean Paul Sartre (1905-1980) được trao giải Nobel Văn Chương nhưng ông từ chối và cho rằng “Một nhà văn không nên cho phép mình trở thành người của một tổ chức”. Ông là triết gia nên đem tư tưởng “xiển dương” vào văn chương để quảng bá. Những tác phẩm của ông đã được dịch: La Nausée (Buồn Nôn), Les Mouches (Những Ruồi) Phùng Thăng dịch, Huis Clos (Kín Cửa) Trần Thiện Đạo dịch, Les Jeux sont Faits (Sự Đã Rồi), Nguyễn Xuân Hoàng & Trần Phong Giao dịch; Le Mur (Bức Tường). Với tác phẩm L’Être et le Néant (Hiện Hữu & Hư Vô) có nhiều bài viết phân tích về quan điểm của ông sau Essay on Phenomenological Ontology (Tiểu Luận Về Hiện Tượng Thực Chất Hiện Hữu). Nhà văn Huỳnh Phan Anh trong tác phẩm Văn Chương & Kinh Nghiệm Hư Vô năm 1968 đã đề cập đến J.P Satre.
1963: Nhà thơ Hy Lạp Giorgos Seferis (1900–1971) Hy Lạp, không có bản dịch tiếng Việt.
1965: Nhà văn Liên Xô Mikhail Solokhov (1905-1984), tác phẩm Sông Đông Êm Đềm (đề cập phần sau). Trong 3 nhà văn của thời kỳ Liên Xô thì ông được trong nước ca ngợi là văn văn vô sản, khác với nhà văn Boris Pasternak bị cho là phản động và nhà văn Aleksander Solzhenitsyn bị Liên Xô trục xuất!
1970: Nhà văn Liên Xô Aleksander Solzhenitsyn (1918–2008) với toàn bộ tác phẩm (đề cập ở phần sau).
1972: Nhà văn Tây Đức Heinrich Böll (1917-1985) được đánh già là nhà văn phục hồi nền văn học Đức…
(GS Phạm Văn Tuấn ở Úc ấn hành quyển sách ở Virginia (Hoa Kỳ) năm 2018: Nhà Văn, Nhà Thơ & Tác Phẩm, giới thiệu các văn thi sỹ đoạt gải Nobel và nổi danh trên thế giới).
1974: Nhà văn Thụy Điển Eyvind Johnson (1900-1976), tác phẩm Strändernas Svall (Sóng Biển, 1946), Krilon Romanren (Tiểu Thuyết Của Krilon, 1941-1943), Romanen om Olof (Tiểu Thuyết Olof, 1934-1937). Không có bản dịch tiếng Việt.
B.- Dịch Giả Miền Nam VN Với Các Tác Phẩm Văn Chương Tây Phương
Nhân đây, đề cập khái quát đến vài dịch giả miền Nam VN với các tác phẩm về văn chương Tây Phương (Trong phần nầy có những tác phẩm dịch thuật đã đề cập ở phần A: Nobel Văn Chương Tây Phương & Tác Phẩm Dịch Thuật)
– Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998). Ngoài tài hoa về thi ca, ông còn là dịch giả qua những tác phẩm:
Cõi Người Ta của Saint-Exupéry, 1966; Trăng Tỳ Hải của Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger, 1966; Khung Cửa Hẹp của A. Gide, 1966; Hoa Ngõ Hạnh của Shakespeare, 1966; Bạo Chúa Caligula của Albert Camus, 1967 – 1974; Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh, 1967; Ngộ Nhận của A. Camus, 1967; Con Người Phản Kháng của A. Camus, 1968; Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , 1968; Kẻ Vô Luân của A. Gide, 1968; Orphélia Hamlet của Shakespeare, 1969; Hòa Âm Ðiền Dã của A. Gide, 1969; Sương Bình Nguyên của các tác giả Âu Mỹ, 1969; Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery, 1973; Mùi Hương Xuân Sắc của Gerald de Narval, 1974…
Ông dịch rất thoáng, có khi không theo nguyên tác mà theo ý văn để diễn đạt. Còn sáng tác thơ tặng tác giả. Ông dịch Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh để học thêm chữ Hán. Tác phẩm Nhà Sư Vương Lụy của nhà văn Trung Hoa, nhà sư tên là Tô Mạn Thù (Su Manshu), Bùi Giáng dịch từ nguyên tác, Quế Sơn xuất bản năm 1969. (Có bản dịch sang tiếng Anh The Lone Swan của Geoege Kin Leung… (*)
(* VTrD, bài viết Bùi Giáng, Ðại Lão Cái Bang cho Giai Phẩm Xuân Bính Tý (1996) kỷ niệm 70 sinh nhật của ông. Trang web Đặc San Lâm Viên: http://www.dslamvien.com/2021/05/bui-giang-dai-lao-cai-bang.html
– Dịch giả Nguyễn Hiến Lê (1912–1984). Ông là nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học… Ông đã sáng tác, biên soạn và dịch thuật nhiều cuốn sách từ Đông sang Tây thuộc các lĩnh vực như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế… Ông đã ấn hành khoảng một trăm tác phẩm biên khảo, sáng tác, dịch thuật… về văn học, triết học, lịch sử, giáo dục, chính trị, kinh tế… đặc biết với guông danh nhân và sách học làm người. Nhiều tác phẩm của ông được coi là “sách gối đầu giường” cho giới trẻ.
Với các tác giả Tây Phương, ông đã dịch: Sống 24 Giờ Một Ngày của Arnold Bennett, ấn hành ở Sài Gòn năm 1955; Kiếp Người của Somerset Maugham, năm 1962; Quê Hương Tan Rã của C. Acheba, năm 1970; Cầu Sông Drina của I. Andritch, 1972; Thư Ngỏ Tuổi Đôi Mươi của André Maurois, năm 1968; Thư Gởi Người Đàn Bà Không Quen của André Maurois, 1970; Chinh Phục Hạnh Phúc của Bertrand Russell, 1971…
– Nhà văn Mặc Ðỗ (1917-2015). Ông tốt nghiệp luật song không hành nghề luật sư, làm báo ngay từ Hà Nội với tờ Phổ Thông. Năm 1954, ông di cư vào Sài Gòn chủ trương nhóm Quan Điểm và nhà xuất bản Quan Điểm
Người Vợ Cô Đơn (Thérèse Desqueyroux) của Francois Mauriac, Cảo Thơm 1966, Đất Sống 1973); Tâm Cảnh của André Maurois, Văn 1967; Anh Môn (Alain-Fournier, Cảo Thơm 1968); Một Giấc Mơ của Vicki Baum, Văn 1972; Con Người Hào Hoa (The Great Gasby) của Francis Scott Fitzgerald; Vùng Đất Hoang Vu của Lev Tolstoy, Đất Sống 1973); Giờ Thứ 25 của C. Virgil Gheorghiu, Đất Sống 1973); Những Vinh Nhục Của César Birotteau của Honoré de Balzac, Sài Gòn 1968.
– Tuy dịch vài tác phẩm nhưng được xem là tác phẩm dịch thuật có giá trị: Phùng Khành & Phùng Thăng.
Dịch giả Phùng Khánh – Ni Sư Trí Hải (1938-2003) tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh và dịch giả Phùng Thăng (1943-1975) là hai chị em ruột. Gia đình hoàng tộc rất mộ đạo Phật. Thân phụ là cụ Nguyễn Phước Ứng Thiều, cháu nội của Tuy Lý Vương Nguyễn Phước Miên Trinh.
Câu Chuyện Dòng Sông của Hermann Hesse (dịch chung với Phùng Khánh) năm 1965; Buồn Nôn của J.P Sartre (Phùng Thăng dịch) năm 1967; Những Ruồi của J.P Sartre (Phùng Thăng dịch) năm 1967; Sói Đồng Hoang của Hermann Hesse (Phùng Thăng dịch chung với Chơn Hạnh) năm 1969. Kẻ Lạ Ở Thiên Đường của Simone Weil (Phùng Thăng dịch). Tác phẩm nầy ấn hành năm 1973, trong phần giới thiệu, dịch giả bày tỏ tất cả nỗi lòng tiềm ẩn (*).
(* Cùng tác gia trong bài viết Dịch Giả Phùng Thăng, Giáo Sư Triết Trung Học Trần Quý Cáp Hội An trên trang web Việt Báo: https://vietbao.com/a309899/dich-gia-phung-thang-1943-1975-co-giao-su-triet-trung-hoc-tran-quy-cap-hoi-an).
– Dịch giả Trần Thiện Đạo (1933-2017) du học ở Pháp năm 1950 và định cư ở đây. Ông là dịch giả, nhà văn và nhà phê bình văn học.
Ông đã dịch các tác phẩm: Cậu Hoàng Con (Le Petit Prince) của Saint Exupéry, Giao Cảm (Noces) của Albert Camus, Bề Trái và Bề Mặt (L’Envers Et L’Endroit) của Albert Camus, Tiểu Luận Của Albert Camus, Sa Đọa (La Chute) của Albert Camus, Kín Cửa (Huis Clos) của Jean Paul Sartre, Phấn Đấu Cho Một Nền Tiểu Thuyết Mới (Pour un Nouveau Roman) của Alain Robbe Grillet, Im Lặng Của Biển Cả (Le Silence De La Mer) của Jean Bruller Vercors, Zadig của Voltaire, Ao Quỷ (La Mare Au Diable) của George Sand,…
Ông đã nhiều lần lên tiếng về bản dịch văn học, điển hình như 50 trang phê phán Những Ruồi (1967) của Phùng Thăng dịch Les Mouches của Jean-Paul Sartre. Ông phê phán những câu văn dịch quá nô lệ ngoại ngữ nguyên tác. Điều nầy thể hiện sự thật trọng với người dịch để có tác phẩm dịch thuật giá trị.
– Giáo sư Đỗ Khánh Hoan tốt nghiệp đại học Sydney, Úc, tiến sĩ văn chương đại học Columbia, Mỹ. Giáo sư Anh Văn trường trung học Chu Văn An và trưởng ban Anh văn đại học Văn khoa Sài Gòn.
Ông là người đầu tiên dịch và giới thiệu ba tập thơ của thi sĩ Ấn độ R. Tagore: Tâm Tình Hiến Dâng (The Gardener) NXB An Tiêm, 1969; Lời Dâng & Tặng Vật, An Tiêm, 1972 (Thi hào Tagore 1981-1941, người đầu tiên Á Châu được giải Nobel Văn Chương năm 1913).
Dịch giả Đỗ Khánh Hoan biết nhiều ngoại ngũ nên đã dịch trường ca của Homer (Iliad và Odyssey) với hơn 30,000 câu thơ trực tiếp từ tiếng Hy Lạp, Don Quixote từ tiếng Tây Ban Nha, Yến Hội của Platon, Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ Trẻ (J. Joyce), Bi Kịch Shakespeare, Khung Trời Nhỏ Hẹp (S. Maugham), Cây Đàn Miến Điện (T. Michio), Truyện Ngắn (A. Chekhov), Nông Trại Súc Vật (G. Orwell)…
– Nhà thơ Hoài Khanh (1934-2016), tự học, tự trau dồi sinh ngữ trở thành dịch giả, chủ trương nhà xuất bản Ca Dao.
Với các tác phẩm dịch thuật tiêu biểu với 3 tác phẩm của của Herman Hesse: Hành Trình Sang Đông Phương, 1967; Giáo Dục & Ý Nghĩa Cuộc Sống của Krishnamurti, 1969; Nghệ Thuật Truyền Thống & Chân Lý của Walter Kaufmann, 1967; Tuổi Trẻ Băn Khoăn, 1968; Quê Hương Tan Rã (Things Fall Apart của Chinua Achebe) Hoài Khanh và Nguyễn Hiến Lê dịch, năm 1970; Đâu Mái Nhà Xưa, 1973.
Về âm nhạc với những tác phẩm Mozart: Cuộc Đời & Sự Nghiệp của Percy M.Young, 1972; Tchaikovsky: Cuộc Đời & Nghệ Thuật của Percy M.Young, 1972; Beethoven: Một Phiến Tài Tình Thiên Cổ Lụy của J.W.N. Sullivan, Ca Dao xuất bản 1972… Sau khi đọc và đem khắc ván in Kim Vân Kiều tân truyện ở phố Hàng Gai, Hà Nội, học giả Phạm Quý Thích (1760-1825) – bạn của nhà thơ Nguyễn Du – viết bài “Thính Đoạn Trường Tân Thanh Hữu Cảm”. Bài thơ có hai câu cuối:
“… Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương”.
Hoài Khanh lấy câu đối để làm tựa đề cho tác phẩm quá tuyệt. Tôi tích nhạc cổ điển Tây Phương nên cũng “nghiền ngẫm” các tác phẩm dịch thuật nầy.
– Huỳnh Phan Anh (1940 – 2020), nhà văn, dạy triết ở các trường trung học. Các tác phẩm dịch thuât: Chuông Gọi Hồn Ai của Ernest Hemingway, 1972; Chuyến Viễn Hành Trong Đêm của Heinrich Böll, 1973); Tình Yêu & Tuổi Trẻ của Valery Larbaud, 1973), Tình Yêu & Lý Tưởng của Thomas Mann, 1974), Tình Yêu Bên Vực Thẳm của E. M. Remarque; Tình Cuồng của Raymond Radiguet, dịch chung với Nguyễn Nhật Duật, 1973)…
Huỳnh Phan Anh chủ trương nhóm Đêm Trắng cùng với nhà xuất bản Đêm Trắng, ông công tác với tạp chí Văn, tạp chí Vấn Đề, Khởi Hành… và đóng góp nhiều tiểu luận phê bình cho các tạp chí này.
Sau năm 1975, ông ở lại Sài Gòn, dịch các tác phẩm của André Maurois, Georges Simenon, Ernest Hemingway, Saint Exupéry, Erich Maria Remarque, Thomas Mann, Claude Simon, Jostein Gaarder, Jean-René Huguenin, Arthur Rimbaud, Anne Philipe…
Năm 2002 Huỳnh Phan Anh định cư ở Mỹ, qua đời năm 2020 tại San Jose. Thọ 80 tuổi (1940-2020).
– Nhà văn Hoàng Hải Thủy (1933-2020), năm 1952 được Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn của nhật báo Tiếng Dội. Ông chuyên phóng tác các tác phẩm ngoại quốc, điển hình như Đỉnh Gió Hú (Wuthering Heights) của Emily Bronté; Chiếc Hôn Tử Biệt, (A Kiss Before Dying) của Ira Levin; Đi Tìm Người Yêu (The Citadel) của A.J Cronin; Bóng Người Áo Trắng (The Lady in White) của Wilkie Collins; Tìm Em Nơi Thiên Đường (My Cousin Rachel của Daphne du Maurier); Anh Gù Nhà Thờ Đức Bà (Le Bossu de Notre Dame) của Alexandre Dumas; Tiếng Ca Cá Sấu (Never Find Sanctuary); Yêu Mệt (Le Repos du Guerrier của Lowell Bair – phóng tác 1969), Người Yêu, Người Giết (Le Deuxième Souffle) của Rotten Tomatoes; … Hay nhất là tác phẩm Kiều Giang (Jane Eyre) của Charlotte Brontë.
Tác phẩm One Hundred Years of Solitude (Cent Ans de Solitude) Garcia Marquez dày khoảng 800 trang, ông bỏ ra 60 ngày dịch là Trăm Năm Hiu Quạnh… nhưng khi đưa đi kiểm duyệt bị cấm vì Garcia Marquez “thân Cộng, chống chiến tranh Việt Nam, chống Mỹ”…
Ông là nhà văn, nhà báo có sức viết mạnh nhất ở miền Nam VN, có khi chỉ một năm, ông vừa viết vừa phóng tác và ấn hành đến bảy tác phẩm. Ông có nhiều bút hiệu, khi định cư ở Virginia, với bút hiệu Công Tử Hà Đông, mỗi tuần viết một bài trong chủ đề “Viết Ở Rừng Phong” tổng cộng 700 bài.
(*) VTrD bài viết Nhà Văn Hoàng Hải Thủy “Vĩnh Biệt Rừng Phong”! trang web Việt Báo:
*
C.- Chủ Nghĩa Hiện Sinh: Triết Học & Văn Học
Vào thời kỳ Hy Lạp cổ đại (trước công nguyên), các trường phái triết học xuất hiện nổi tiếng với các nhà toán học như: Thalès (624-547), Pythagore (570-496) rồi đến Héraclite (544-483), Xénophone (570-478), Parménide (540-470), Sophocles (496-406), Empédocle (490-430), Aristophanes (445-385)… Nổi tiếng và ảnh hưởng lớn tư tưởng triết học cho đến nay như: Socrate (469-399) với Chủ Nghĩa Duy Tâm, Platon (428-348, học trò của Socarte), Democrite (460-370, Chủ Nghĩa Duy Vật)…
Trải qua hai thiên niên kỷ, các trường phái triết học Âu Châu mới được thình hành với: Chủ Nghĩa Duy Tâm (chủ quan & khách quan), Chủ Nghĩa Hiện Thực, Chủ Nghĩa Duy Danh, Chủ Nghĩa Duy Lý (khai thác từ Parménide, triết gia, nhà toán học Pháp René Descartes (1596–1650) được xem là cha đẻ của triết học hiện đại), Chủ Nghĩa Kinh Nghiệm… Chủ Nghĩa Hoài Nghi (điển hình Blaise Pascal 1623-1662) cuốn Pensées là một kiệt tác), David Hume (1711-1776) ông được coi như là sáng lập ra trường phái thực nghiệm của Anh (British Empiricism), Chủ Nghĩa Lý Tưởng (điển hình với George Berkeley (1685- 1753) với quan niệm “Esse est Percipi” (tồn tại là được tri giác), dựa vào đó Friedrich Hegel (1770-1831), Karl Marx (1818-1883) khai thác cho chủ thuyết của họ, Chủ Nghĩa Thực Dụng với hai triết gia Mỹ Charles Peirce (1839-1914) và William James (1842- 1910) ảnh hưởng sang Âu Châu… Và đến Chủ Nghĩa Hiện Sinh.
Ảnh hưởng quan trọng nhất của từ Tây Phương đến miền Nam VN với Chủ Nghĩa Hiện Sinh (Existentialism), ra đời ở Đức cuối chiến tranh thế giới thứ nhất với chủ thuyết về Hiện Tượng Luận (như đã đề cập ở trên) với Martin Heidegger (1889-1976) và Karl Jasper (1883-1969), Merleau Ponty (1908-1961) sau đó Chủ Nghĩa Hiện Sinh phổ biến rộng rãi với Jean Paul Sartre (1905-1980), Garbie Marcel (1889-1978) với Le Mystère de l’Être (Huyền Nhiệm Hữu Thể), Être et Avoir (Hiện Hữu & Sở Hữu) (1918-1933), Albert Camus (1913-1960)… Từ triết học liên quan và ảnh hưởng đến văn học với các nhà văn đề cao về Chủ Nghĩa Hiện Sinh.
Như đã đề cập ở trên trong Nobel Văn Chương Tây Phương & Tác Phẩm Dịch Thuật, hai nhà văn nầy có ảnh hưởng sâu đậm và qua những tác phẩm được phổ biến trên thế giới.
Sartre không những là lý thuyết gia mà còn dùng tác phẩm văn chương để nói lên quan điểm nên ảnh hưởng sâu rộng đến cuộc sống trong xã hội, đặc biệt là trong giới trẻ. Ngay tự đề La Nausée (Buồn Non) nói lên phi lý trong cuộc sống vô nghĩa, không có câu trả lời.
Tác phẩm L’Étranger (Người Xa Lạ) mô tả hình ảnh của chàng trai vô cảm không hề nhỏ một giọt nước mắt trong đám tang của mẹ mình. Khi gây ra án mạng chàng không hiểu vì sao bản thân mình lại bóp cò. Sau khi bị kết án, chàng lại an ủi mình rằng “dù sao, đời cũng không đáng sống”. Cuối cùng ở ngục tù, chàng mong rằng vào ngày chịu tử hình, sẽ có một đám đông người tới coi, họ sẽ chào đón chàng.
Trong cuộc sống, loại người nầy cũng thường xảy ra, gọi là bệnh tâm thần (Pháp: Maladie Mentale, Anh: Mental Illness). Tài hoa của nhà văn là biến mẩu người bất bình thường trong tác phẩm L’Étranger trong thực tại xã hội.
Những tác phẩm của Albert Camus vào thập niên 60 được dịch ra tiếng Việt và không xa lạ gì với độc giả ở miền Nam VN. Bùi Giáng dịch nhiều tác phẩm của Albert Camus như: Le Malentendu (Ngộ Nhận), Caligula (Bạo Chúa Caligula), L’Été (Mùa Hè, nhan đề Mùa Hè Sa Mạc, Le Mythe de Sisyphe (Huyền Thoại Sisyphe), nhan đề Biển Đông Xe Cát, L’Homme Révolté (Con Người Phản Kháng)…
La Chute (Sa Đọa), Djémila (Gió Về), L’Envers et L’Endroit (Bề Trái & Bề Mặt), Noces (Giao Cảm), Trần Thiện Đạo dịch. La Femme Adultère (Người Đàn Bà Ngoại Tình), Nguyễn Văn Trung dịch, L’Exil et le Royaume (Lưu Đầy & Quê Nhà), Trần Phong Giao và Vũ Đình Lưu dịch… Tác phẩm La Peste (Dịch Hạch), Hoàng Văn Đức dịch, 1966; Võ Văn Dung dịch, 1971…
Có thể nói, sau hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Kẻ Xa Lạ (1942) và Dịch Hạch (1947), thì tiểu luận Thần Thoại Sisyphus (Le Mythe de Sisyphe, 1942) là tác phẩm quan trọng bậc nhất của Albert Camus.
Thần thoại về Sisyphus, tiểu luận triết học của Albert Camus với lập luận của điều phi lý từ thời cổ đại xa xưa vẫn tồn đọng trong thời kỳ của Albert Camus. Tựa đề tiểu luận, vốn là tên trong chương sau cùng, được gợi dẫn từ câu chuyện của chàng Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp. Theo đó, bắt đầu từ lập luận phi lý rằng đời sống của mỗi cá nhân, ngay cả những cá nhân tự xác định cho mình một lý tưởng, mục đích cao đẹp, thường bị vây bủa trong những hành động đôi khi rất hoài công và vô vọng. Vì vậy quan niệm về phi lý đã bàng bạc trong tác phẩm cùa Albert Camus (*)
(* VTrD, trích trong bài viết Người Xa Lạ… Giữa Chúng Ta trên trang web https://t-van.net/vuong-trng-duong-tan-man-dau-nam-2022-nguoi-xa-la-giua-chng-ta/)
Jean Paul Sartre (1905-1980) được trao giải Nobel Văn Chương năm 1964 nhưng ông từ chối và cho rằng “Một nhà văn không nên cho phép mình trở thành người của một tổ chức”. Ông là triết gia nên đem tư tưởng “xiển dương” vào văn chương để quảng bá. Những tác phẩm của ông đã được dịch: La Nausée (Buồn Nôn), Les Mouches (Những Ruồi) Phùng Thăng dịch, Huis Clos (Kín Cửa) Trần Thiện Đạo dịch, Les Jeux sont faits (Sự Đã Rồi), Nguyễn Xuân Hoàng & Trần Phong Giao dịch; Le Mur (Bức Tường); L’Être et le Néant (Hiện Hữu & Hư Không),
Đề cập đến J.P Sartre, nói thêm về học giả, triết gia Trần Đức Thảo (1917-1993).
Trong quyển Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc của Hoàng Văn Chí, ấn hành năm 1959 tại Sài Gòn được xem là tài liệu đầu tiên viết về văn nghệ sỹ ở miền Bắc sau năm 1954:
Chương 12: Các nhà học giả, theo tác giả Hoàng Văn Chí: “Lúc ông còn học ở trường Lycée Albert Sarraut, ông đã tỏ ra hết sức thông minh. Các thầy dạy ông, nhất là ông Ner đã kêu lên là không chấm nổi bài của ông. Ông đỗ tú tài triết học năm 1935, và năm sau ông đỗ đầu trong kỳ thi vào trường Normale Supérieure ở bên Pháp. Sau đó ông đỗ thạc sĩ về triết học và dạy ở Sorbonne.
Ở bên Pháp ông nghiên cứu thêm về triết học, xã hội học, viết nhiều bài trong các tạp chí văn học. Lúc đầu ông theo chủ nghĩa “Existentialisme” của Jean Paul Sartre, nhưng từ 1946 ông thiên về chủ nghĩa Mác, gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp, và viết báo đả kích ông Jean Paul Sartre. Ông này kiện ông tại toà, nhưng toà chưa xử, thì ông Thảo đáp tầu đi Mạc Tư Khoa, rồi thẳng đường về Bắc Việt (năm 1951).
Về đến nhà, ông bị giữ trong một khu rừng hẻo lánh trong chiến khu Việt Bắc và công tác người ta giao cho ông là dịch những truyền đơn địch vận từ tiếng Việt sang tiếng Pháp…
Trần Đức Thảo là điển hình của một nhà trí thức say mê chủ nghĩa cộng sản vì nghiên cứu chủ nghĩa ấy trên sách vở. Sự say mê đó đã tiêu tan từ ngày ông bước chân về nước và ngày nay sau kinh nghiệm Cải Cách Ruộng Đất ông đã hoàn toàn tỉnh ngộ…
Mặc dầu ông Thảo đã hy sinh địa vị cao quý ở Pháp để trở về nước tham gia kháng chiến, ngày nay ông vẫn bị quy là phản động số một, tay sai của đế quốc”>
Trần Đức Thảo đậu thủ khoa Thạc Sĩ Triết Học (Arégation de Philosophie) tại Pháp lúc mới 26 tuổi vào năm 1942. (Trước năm 1975 ở miền Nam VN, văn bằng Agrégé gọi là Thạc Sĩ, sau nầy ở trong nước văn bằng Master chỉ là Cao Học nhưng gọi là Thạc Sĩ). Với luận án Phương Pháp Hiện Tượng Luận Của Husserl, ông được xem là triết gia về lãnh vực nầy.
Cuối năm 1951 ông trở về miền Bắc, năm 1956-1957, ông bị liên lụy trong phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm khi công bố hai bài báo bàn đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. Ông không được trọng dụng và dần dà bị thất sủng từ đó cho đến năm 1991, ông sang Pháp chữa bệnh, mất tại Paris năm 1993. Ông viết cuốn tiểu luận Triết Lý Đi Về Đâu (in ở Pháp năm 1950) để phản biện với J.B Sartre, quyển sách nầy trước năm 1975 đại học Văn Khoa Sài Gòn có in cho sinh viên nghiên cứu. Trần Đức Thảo nổi tiếng khi tranh cãi với Jean-Paul Sartre trên tạp chí Les Temps Modemes ở Pháp được đánh giá ở thế thượng phong.
Hồi ký Trần Đức Thảo: Những Lời Trăng Trối (Trăng viết có chữ g) do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê thực hiện, Tổ Hợp Miến Đông Hoa Kỳ ấn hành năm 2014, gồm 16 chương dày 436 trang. Hiện có bán trên Amazon. Đây là tài liệu trung thực trong quãng đời 40 năm của ông ở Việt Nam… một nhân tài về triết học và chứng nhân thời đại. Chương 15 & 16: Đột Tử Trước Phần Chân Lý & Chết Rồi… Vẫn Gian Nan từ trang 398 đên trang 422, khác với những điều mà sau nầy ở trong nước viết về ông.
– Nhà văn Simone de Beauvoir (1908-1986) với cuộc tình giữa bà và Jean Paul Sartre, không chính thức đã gây nhiều bút mực. Trong khoảng 30 tác phẩm thì cuốn Deuxième Sexe ấn hành 1949 đã trở thành đề tài gây tranh cãi, phê phán thái độ kiềm toả của gia đình và xã hội gây ra sự bất bình đẳng giữa nam nữ.
Các tạp chí văn học ở Sài Gòn đã viết nhiều bài về Simone de Beauvoir nhưng (hình như) chưa có dịch phẩm nào ấn hành.
Trong cuộc trò chuyện Giữa Đất Trời Giao Hưởng giữa Thụy Khuê và Hồ Trường An cùng ở Pháp khi đề cập đến Simone de Beauvoir vào năm 2006. Thụy Khuê nhận định:
“Tư tưởng của Simone de Beauvoir đã dẫn đầu cho phong trào “giải phóng” phụ nữ trên thế giới. Nói đúng hơn, nhờ triết thuyết của Beauvoir mà cả một thế hệ phụ nữ, đã tự giải phóng mình ra khỏi những kiềm toả của gia đình và xã hội…
Beauvoir cho rằng chỉ có thể chấm dứt tình trạng nam nữ bất bình đẳng, nếu người phụ nữ tự ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình, đạp đổ những phỉnh lừa và áp đặt trong giáo dục gia đình và xã hội. Một khi đã ý thức được, thì chính người phụ nữ sẽ tìm cách tháo gỡ, tự lập, không hạ mình để trở thành femme-objet, được người đàn ông cung phụng, nhưng đồng thời cũng trở thành nô lệ…”
– Nhà văn Pháp Françoise Sagan (1935-2004), gần 50 tác phẩm văn chương của bà trong đó có một số theo trào lưu hiện sinh đã ảnh hưởng từ phương Tây đến miền Nam VN. Nhiều bài viết về tư tưởng của bà đồng tính luyến ái (tuy lập gia đình), phóng túng, tự do, thác loạn, sống buông thả… qua những bài viết trên các tạp chí ở Sài Gòn đã một thời gây sóng gió.
Tác phẩm đầu tay vào năm 1954 Bonjour Tristesse (Buồn Ơi Chào Mi) do Nguyễn Vỹ dịch năm 1959 và sau đó những tác phẩm của bà được phổ biến qua các dịch phẩm: Lê Huy Oanh dịch Buồn Ơi, Bắt Tay) ấn hành năm 1970. Tác phẩm Un Certain Sourire (Có Một Nụ Cười) do Nguyễn Minh Hoàng dịch; Dans un Mois, dans un An (Một Tháng Nữa, Một Năm Nữa) Bửu Ý dịch năm 1973; Les Merveilles Nuages (Những Đám Mây Huyền Diệu), Đinh Bá Kha dịch năm 1973… Un Peu de Soleil dans l’Eau Froide (Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh); Aimez-vous Brahms? (Anh có yêu Brahms?)…
Giữa thập niên 60, những nhà văn nữ Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng (Hoàng Đông Phương), Lệ Hằng qua vài tác phẩm, nhiều người cho rằng đã ảnh hưởng phần nào trào lưu hiện sinh của Francoise Sagan.
Tuy ở trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng nền tản tự do tại miền Nam đã cho phép các lý thuyết, trào lưu văn học này được giới thiệu và phát triển ở đây, thậm chí với những khuynh hướng trái chiều nhau.
Lý thuyết và chủ nghĩa hiện sinh không chỉ được phổ biến ở đại học còn xuất hiện trong sách báo, tác phẩm văn chương. Ngay cả trào lưu Hippie thịnh hành ở Sài Gòn với các ăm mặc, đầu tóc xuề xòa, nhạc rock, rượu chè… tuy có vẻ lập dị nhưng cũng không bị cấm đoán.
Vào thế kỷ 19 được coi là “Thời Kỳ Hoàng Kim” của văn học Nga (nửa thuộc Âu, nửa thuộc Á). Những nhà văn nổi tiếng trong thời kỳ nầy với nhiều tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp, tiếng Anh nên được phổ biến trên thế giới. Điển hình với hai nhà văn Fyodor Dostoyevsky và Leo Tolstoy, vài tác phẩm đã được dịch tiếng Việt vào tiến bán thế kỷ XX và sau nầy ở miền Nam VN.
Nhà văn Fyodor Dostoyevsky (1821-1881) tác phẩm Crime and Punishment, Crime et Châtiment (Tội Ác & Hình Phạt); The Possessed, Les Possédés (Lũ Người Quỷ Ám); Notes from Underground; Les Carnets du Sous-sol (Thạch Chương, nhạc sĩ Cung Tiến dịch Hồi Ký Viết Dưới Đường Hầm)… Nhà văn Leo Tolstoy (1828-1910) với The Brothers Karamazov, Les Frères Karamazov (Anh Em Nhà Karamazov); War and Peace (Chiến Tranh & Hòa Bình) qua bản dịch tiếng Anh của Aylmer Maude và Louise Maude. Bản dịch Chiến Tranh & Hòa Bình của Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn 1969. Tập 1: 758 trang, tập 2: 729 trang, tập 3: 733 trang, tập 4: 716 trang.
Các nhà văn trong thời kỳ Liên Xô hầu như không dịch các tác phẩm của các nhà văn phục vụ cho chế độ. Chỉ có hai nhà văn Boris Pasternak và Alexander Solzhenitsyn. Tác phẩm Bác Sĩ Zhivago của Boris Pasternak ra đời năm 1957 (tiếng Anh: Doctor Zhivago, tiếng Pháp: Docteur Jivago) được giải Nobel Văn Chương năm 1958 nhưng tác giả đang sống trong chế độ CS Liên Xô nên không được sang Thụy Điển nhận giải và bị Hội Các Nhà Văn Xô Viết (The Soviet Writers Union) kết tội là kẻ phản động, loại ra khỏi tổ chức!. (Tháng 12 năm 1989, con trai của Boris Pasternak là nhà văn Evguenii đã được mời sang Thuỵ Điển nhận giải thưởng thay ông, với những nghi thức long trọng như lễ trao giải chính thức)…
(Nguồn tin cũng cho rằng trong danh sách các ứng cử viên của giải Nobel Văn Chương lúc đó còn có nhà văn Mikhail Solokhov nhưng không được đoạt giải. Sông Đông Êm Đềm (Tikhy Don) được tặng Giải Nobel văn học năm 1965.
Tác phẩm Dr. Zhivago đã được Trường Văn và Song Tích phỏng dịch năm 1959 nên độc giả ở Miền Nam VN đã biết qua vì vậy khi cuốn phim nầy được trình chiếu, trở thành hiện tượng, khán giả đợi chờ, sắp hàng mua vé. Tựa đề cuốn phim (hình như Mai Thảo đặt) Vĩnh Biệt Tình Em. Sau đó bản dịch Bác Sĩ Zhivago, Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa xuất bản, 1969. Vĩnh Biệt Tình Em, Nguyễn Hữu Hiệu dịch, Sài Gòn, Tổ hợp Gió, 1974. Bác sĩ Zhivago, Nguyễn Hữu Hiệu dịch, Sài Gòn, nhà xuất bản Hoàng Hạc, đầu năm 1975.
Trong tác phẩm nầy, tôi cảm hứng viết bài: Lara, Người Tình Muôn Thuở, nhân vật nữ trong tác phẩm Bác Sĩ Zhivago.
(VTrD, trang web Việt Báo: https://vietbao.com/a291720/lara-nguoi-tinh-muon-thuo
Cho đến khi Alexander Solzhenitsyn được giải Nobel Văn Chương năm 1970 và bị trục xuất ra khỏi Liên Xô. Hầu hết các tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Việt. Bài viết “Solzhenitsyn, Chiến Hữu Văn Nghệ” của tôi đăng tải trên Đặc San Ức Trai của Trường ĐH.CTCT Đà Lạt năm 1974 đề cập đến những tác phẩm của ông. Khi ở Mỹ tôi đã viết lại (VTrD bài còn lưu trữ trên trang web T.Vấn & Bạn Hữu: https://t-van.net/vuong-trng-duong-alexander-solzhenitsyn-chien-huu-van-nghe/
Kết
Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Học… chỉ đề cập đến một số tác giả tiêu biểu ở những quốc gia trong khu vực Tây Phương được các dịch giả nêu trên (cũng chỉ là tiêu biểu) vì có rất nhiều dịch giả đã đóng góp trong hai thập niện (1954-1975) ở miền Nam Việt Nam không thể nào liệt kê hết. Với các tác phẩm nổi tiếng ở Tây Phương, khi được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh tạo điều kiện dễ dàng nên các dịch giả ở miền Nam VN dựa theo bản dịch đó.
Thật ra, việc sưu tầm tài liệu để viết về đề tài nầy, nếu ở trong nước có thể tham khảo trong các thư viện (nhưng hình như sau năm 1975, một số đã bị loại) may ra ở các nơi bán sách cũ…
Tại Mỹ, đại học Cornell, tiểu bang New York, với hệ thống thư viện rất lớn (gồm trên 20 thư viện; với công trình sưu tập khổng lồ là trên 7 triệu tài liệu in (printed materials, gồm cả sách và tạp chí) và nhiều lãnh vực khác trên thế giới. Với tài liệu của miền Nam VN may mắn được lưu trữ nơi đây. Trong hai thập niên (1991-2022) nhà văn Trần Hoài Thư nhờ tài liệu ở các thư viện nầy đã thực hiện được 100 tập san Thư Quán Bản Thảo, làm sống lại văn chương miền Nam.
Với tôi, đây không phải là biên khảo hoàn chỉnh mà là bài viết theo sự gợi ý của vị giáo sư ở Đức, ông thông thạo nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt. Trong thời gian qua, ông và tôi liên lạc với nhau qua email, ông am tường và thích nền văn học ở miền Nam VN, nên tôi “đáp lễ” qua gợi ý của ông.
Đề tài nầy quá bao quát, không thể tóm lược qua bài viết để trích dẫn thời kỳ dịch thuật văn học ở miền VN trong hai thập niên (54-75), ngay trong giai đoạn đó cũng chưa có tác giả nào tổng hợp. Mong rằng đóng góp phần nào về sách dịch Tây phương của một thời đã qua.
Vương Trùng Dương, Little Saigon, October, 2022

-
TIẾNG CHUÔNG ĐÊM NOEL

Làn không khí se lạnh trong không gian lại trở về khắp mọi miền, bầu trời có vẻ dịu dàng như đang chờ đón mùa Noel sắp đến. Một mùa lễ an hòa cho nhân loại khắp nơi trên địa cầu; mà dường như mọi nhà đều chuẩn bị cho ngày lễ ý nghĩa nhất trong năm này. Hầu hết công việc tạm xếp lại, để mọi người có dịp nghỉ ngơi và mừng ngày lễ Chúa Hài Nhi giáng trần. Mùa đại lễ này rất nhộn nhịp, cũng là dịp cho gia đình, bạn bè họp mặt tiệc tùng trong những ngày cuối năm.
Riêng Thùy, người bạn học ở trường Tư thục Công giáo của tôi vào lứa tuổi 12 thật đáng thương! Trong khi mọi người hân hoan chuẩn bị chào đón mùa Giáng Sinh sắp đến; nhưng Thùy lại phải trải qua những ngày này trong nước mắt. Tôi và Thùy là đôi bạn rất thân như cặp bài trùng, chơi với nhau từ lúc mới lên năm. Vào mùa Giáng Sinh năm đó, trời trở nên lạnh hơn những năm qua. Ngôi thánh đường thân thương của giáo xứ được trang hoàng thật rực rở bằng những ngôi sao năm cánh, với những bóng đèn đủ màu chạy dài từ đỉnh nhà thờ xuống tận dưới đất. Những cây thông xanh rì từ miền cao nguyên mang về được trang hoàng khắp nơi ở sân nhà thờ, lấp lánh ngàn ánh đèn lập lòe như những vì sao đêm thật linh động huyền ảo. Bầu không khí trở nên thánh thiên lạ thường làm sao! Chúng tôi, những học sinh của trường đạo rất nô nức chờ đón đêm Noel sắp đến với niềm vui ngập tràn, mà tưởng chừng như một ngày hội. Chúng tôi trao quà Noel cho nhau, kèm theo những lời chúc ngây ngô học trò trong những cánh thiệp nho nhỏ xinh xinh.
Đêm nay, con Thiên Chúa giáng trần! Bầu trời đêm trong vắt, cao vời vợi, lấp lánh muôn tinh tú trong không gian lành lạnh của đêm Thánh. Từng đoàn chiên ngoan đạo lần lượt đến thánh đường dự lễ nửa đêm. Giữa thiên nhiên huyền ảo…bổng tiếng chuông trên đỉnh cao chót vót của tháp nhà thờ ngân vang liên hồi… như thúc giục mọi người hãy đến chào đón Chúa giáng trần. Thánh lễ bắt đầu với đoàn Thiên Thần cất tiếng hát thánh thót trong bầu không khí trang nghiêm thánh thiện như trên thiên quốc. Mọi người cùng hướng về máng cỏ nơi có Chúa Hài Nhi cùng Mẹ Maria, Thánh cả Giuse với chiên, bò, lừa v.v…vây quanh.
Tiếng hát của ban hợp xướng vẫn còn âm vang với những bài thánh ca du dương trong thánh đường; tôi rảo mắt tìm Thùy xung quanh nhưng không thấy bạn tôi đâu. Thường thường chúng tôi quỳ bên nhau những lúc đọc kinh cầu nguyện; nhưng trong Thánh lễ đặc biệt đêm nay lại vắng bóng Thùy. Tôi cảm thấy ngạc nhiên và đầy lo lắng không biết chuyện gì đã xãy đến cho bạn tôi? Thánh lễ đã xong, trời cũng đã khuya, tôi cùng ba mẹ và hai anh chị về nhà để ăn re’veillon, tiệc nửa đêm như thông lệ của gia đình trong đêm Giáng Sinh.
Ba mẹ tôi dọn những thức ăn đang bốc khói thật thơm ngon lên chiếc bàn dài phủ khăn trắng, được trang trí thêm một bình hoa hồng đỏ thắm. Tôi thấy nào là thịt bò phó mát đút lò, soup đậu, gà rôti bánh mì, khoai tây chiên và các loại rau củ, bánh buche de Noel….trông phát thèm luôn! Nhạc Giáng Sinh ngân nga trong căn phòng ăn vô cùng ấm cúng, đâu đây phảng phất hương thơm của thông tươi Đà lạt thật ngây ngất. Gia đình chúng tôi quây quần bên nhau rất vui và thưởng thức những món ăn đặc biệt của ngày lễ do chính tay mẹ nấu. Tôi cảm nhận được hạnh phúc đang tràn ngập trong gia đình, cho tôi cảm giác vui vui và nhận ra rằng mình thật may mắn khi còn cha mẹ và anh chị đầy đủ. Nhưng tôi lại chạnh lòng khi nghĩ đến Thùy và không khỏi lo lắng đến sự thiếu vắng của Thùy trong thánh lễ Noel đêm nay! Lòng tôi bồn chồn, tôi chỉ ăn qua loa một vài miếng. Mẹ hỏi sao tôi ăn ít, tôi thưa với mẹ… tôi không đói lắm.
Hôm sau, tôi xin phép ba mẹ đến thăm Thùy. Ba mẹ đồng ý ngay và mẹ còn cắt miếng bánh Noel gửi cho Thùy. Thùy rất hiền lành và dễ thương lại thêm lễ phép, cho nên ba mẹ tôi thương Thùy như con vậy; nhất là sau khi mẹ Thùy qua đời. Biết Thùy đang sống với dì ghẻ thì làm sao được thương yêu cưng chìu như mẹ ruột. Ba mẹ tôi thường âu lo cho hoàn cảnh của Thùy; vì thế, ba mẹ hay nhắc tôi rủ Thùy về nhà chơi, mục đích là để mang lại niềm an ủi phần nào cho Thùy. Vì ai trong chúng ta cũng thường nghe những câu ca dao về mẹ ghẻ con chồng, được truyền miệng trong dân gian:
“Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng”
Đôi chân tôi bước thoăn thoắt thật nhanh qua hai con đường ngắn đến nhà Thùy. Vừa tới trước cửa rào, tôi thấy Thùy đang loay hoay quét sân. Nghe tiếng chân người, Thùy quay ra ngước lên nhìn thấy tôi, Thùy rất mừng rỡ, nhưng không giấu được nỗi buồn trong đôi mắt của Thùy. Tôi rất e ngại không dám hỏi gì cả, vì sợ chạm vào nỗi buồn của bạn. Thùy bèn nhanh nhẹn nắm tay tôi vào nhà và dẫn tôi vào phòng của Thùy, rồi cẩn thận đóng nhẹ cánh cửa lại. Phòng ngủ của Thùy nhỏ nhắn và rất ấm cúng bởi lối trang trí khéo léo của mẹ Thùy khi còn sống. Bà rất cưng con gái, bà sắp xếp phòng Thùy rất gọn gàng vén khéo trông thật xinh xắn. Chiếc giường nhỏ với nệm êm chăn ấm, nhìn ra cửa sổ có màn cửa màu hồng nhạt điểm thêm vài nhánh hoa lan vàng. Căn phòng này Thùy vẫn giữ nguyên vẹn từ khi bà mất. Chúng tôi ngồi trên hai chiếc ghế thấp nhỏ ở góc phòng bên cạnh bàn học, rất tiện để có thể tâm sự với nhau. Tôi không thể chờ đợi lâu hơn bèn nắm bàn tay Thùy lắc nhẹ rồi ôn tồn hỏi:
“Sao thánh lễ đêm qua Thùy không tham dự, nhà thờ đầy nghẹt người, bạn bè trong lớp mình đông đủ, nhưng chỉ thiếu Thùy mà thôi?”
Thùy buồn bã, rồi nhìn về bên phòng lớn ở cuối nhà qua cửa sổ nhỏ, như xem chừng dì ghẻ có ở đó không hay ở bên ngoài. Thấy cửa phòng vẫn đóng kín, và không nghe tiếng hai em trai song sinh cùng cha khác mẹ với Thùy khóc; Thùy tin chắc ba mẹ con đang ngủ trưa. Vì thế, Thùy bắt đầu tâm sự thố lộ với tôi những gì xãy ra trong căn nhà này mà không ai biết. Tôi cũng hiểu ngoài tôi ra, Thùy không còn ai để có thể trút đi nỗi niềm đang đè nặng tâm hồn đứa bạn tội nghiệp của tôi. Đôi mắt nai tơ của Thùy chợt đỏ hoe, nàng nghẹn ngào:
“Trang biết hôn? Thùy cực khổ lắm…! Từ khi mẹ mất, không còn ai thương Thùy hết. Ba trong quân đội đi đánh giặc lâu lâu mới về. Ở nhà với dì ghẻ Thùy bị la mắng đay nghiến, sai vặt hết chuyện này tới chuyện nọ. Từ khi dì sinh hai đứa em trai, Thùy càng cực khổ hơn. Ba vắng nhà, Thùy phải đi chợ mua thức ăn về nấu cho dì. Thùy không biết nấu, dì bảo sao Thùy nấu vậy. Thường thường bị dì nhăn mặt lớn tiếng chê mặn chê dở…Thùy chỉ còn biết khóc thôi, có nhiều khi quá tủi thân, Thùy bỏ cả ăn uống. Mấy tháng qua, điểm học trong lớp của Thùy bị tuột dốc thê thảm vì Thùy không còn thì giờ để học bài và làm bài nữa…”
Nói đến đây bạn tôi không cầm lòng được bèn khóc thút thít, tôi thương bạn quá bèn xích ghế lại gần, quàng tay qua vai bạn dỗ dành:
“Trang hiểu hoàn cảnh của Thùy mà. Có Trang thương Thùy, ba mẹ và anh chị của Trang cũng thương Thùy mà, đừng khóc nữa nghe…Thùy khóc Trang sẽ khóc theo; lỡ dì thấy hai đứa mình khóc sẽ có chuyện không hay cho Thùy đó!”
Nghe nhắc đến “dì”, Thùy như giật mình ngó qua cửa sổ xem phòng bên kia có động tịch gì không. May mắn cửa phòng vẫn im lìm đóng kín. Thương bạn tôi biết bao! Thùy giờ đây như con chim nhỏ bị nhốt trong lòng, không còn hớn hở đón chào bình minh bắt đầu cho một ngày mới. Chim non buồn bã phải lìa mẹ khi chim chưa đủ lông đủ cánh để tự kiếm ăn, hay bay tung tăng giữa bầu trời rộng. Có ai thấu hiểu và thương cảm cho một tâm hồn thơ dại đã sớm nhuốm nhiều nỗi đau thương! Hoàn cảnh đất nước trong thời chinh chiến đã mang đến nhiều hệ lụy cho từng lớp người, nhất là trẻ em; thành phần chịu nhiều tổn thương nhất trong xã hội. Ba của Thùy thường xuyên vắng nhà vì nghĩa vụ phải cầm súng bảo vệ đất nước cho hậu phương được bình an. Thật bất hạnh hơn nữa, mẹ của Thùy tử vong trong tai nạn lưu thông trên đường đi dạy học cách đây ba năm. Mất mẹ, Thùy hụt hẫng, khóc hết nước mắt! Thùy không biết mình còn họ hàng bà con gì không? Giờ đây Thùy lẻ loi cô độc giữa thế giới muôn trùng; Thùy không còn sự lựa chọn nào hơn ngoài việc phải nương tựa bên bà dì ghẻ cay đắng lạnh lùng.
Nhìn kỹ bạn, tôi nhận ra bạn có vẻ xanh xao và gầy đi, tôi cảm thấy xót xa trong lòng nhưng không biết phải nói gì để an ủi bạn bớt buồn, tôi tỉ tê:
“Thùy ơi! Thùy gầy đi rồi đó! Có buồn bã gì cũng phải ráng ăn uống đầy đủ, đừng để sức khỏe xuống dốc; không khéo sẽ bị mất ngôi vị một trong những thiên thần của lớp đó, nghe chưa?”
Tôi vừa nói vừa cười cố tình cho Thùy nguôi đi cơn xúc động, làm nàng cũng cười theo thật nhẹ, nhưng nụ cười nàng héo hắt làm sao! Trong tôi vẫn còn thắc mắc, không hiểu lý do nghiêm trọng nào khiến Thùy phải bỏ thánh lễ Giáng Sinh đêm qua, mà suốt bao mùa Giáng Sinh Thùy chưa bao giờ vắng mặt. Tôi vẫn biết, Thùy cũng như tôi, luôn yêu thích ngày lễ này; vì lúc mẹ Thùy còn sống, bà luôn sắm áo đầm mới cho Thùy đi dự lễ nửa đêm với ba mẹ. Mẹ Thùy cũng như mẹ tôi vậy, hiểu tâm lý của con trẻ sẽ vui mừng biết bao, khi được xúng xính trong chiếc áo đầm đẹp đi dự thánh lễ Noel; ngày lễ vui và tưng bừng nhất trong năm mà chúng luôn trông đợi.
Vài phút thinh lặng đầy cảm xúc trôi qua, tôi nắm đôi bàn tay nhỏ nhắn lành lạnh của Thùy như chuyền hơi ấm cho bạn, tôi tha thiết:
“Hãy nói cho Trang biết, có chuyện gì quan trọng đến nỗi Thùy phải bỏ lễ Giáng Sinh đêm qua. Thùy biết hôn? Trang rất buồn khi không thấy Thùy trong nhà thờ đó!”
Như gợi lại khoảnh khắc đau buồn nhất trong tuổi thơ của Thùy, nước mắt ràn rụa trên gương mặt buồn bã, Thùy thổn thức:
“Trang biết hôn? Đêm qua dì không cho Thùy đi lễ, dì bắt Thùy phải giặt hai thau đồ lớn của em bé, sau khi Thùy đã nấu ăn suốt buổi chiều. Ăn cơm xong và dọn dẹp đâu vào đó, thì trời cũng đã sập tối. Thùy dự định sẽ sửa soạn thay đồ đi lễ đêm. Nhưng…khốn thay! Dì ra lệnh Thùy phải giặt đồ vì ngày mai hai em cần quần áo để mặc. Thùy choáng váng mặt mày…vì niềm vui còn sót lại của Thùy đã vụt tắt!!! Những ngày còn mẹ Thùy đâu bao giờ gặp cảnh này! Tim Thùy như se thắt, nước mắt Thùy cứ chảy không ngừng. Nhìn hai thau quần áo dơ vừa của hai em vừa của dì đặt ngoài hiên sau nhà, Thùy như muốn ngã quỵ. Trời ơi! Làm sao Thùy có thể làm xong một công việc quá đỗi nặng nề đối với một con bé ốm yếu như Thùy! Càng về đêm trời càng lạnh, tay chân Thùy tê cóng, chỉ có mình Thùy ở đây, bốn bề vắng lặng tối đen. Thùy ngước lên bầu trời đêm lạnh lẽo đen ngòm làm Thùy rùng mình sợ hãi. Bỗng tiếng chuông đêm Noel tưng bừng vang vọng lại trong không gian tĩnh mịch… như thức tỉnh lòng người. Tiếng chuông ngân nga thật huyền diệu! Âm vang tiếng chuông như khuấy động hồn người. Trong lòng Thùy rất nao nao để rồi lắc đầu thất vọng. Giờ này các bạn cùng mọi người tay trong tay nô nức đến thánh đường dự lễ đêm Giáng Sinh thật tưng bừng. Riêng Thùy phải ngồi nơi lạnh lẽo giữa đêm khuya giặt hết hai thau đồ lớn như thế này. Quá buồn tủi cho thân phận côi cút của mình, Thùy ôm mặt khóc nức nỡ: Chúa ơi! Chúa có thấu hoàn cảnh khổ của con không? Mẹ của con ơi! Mẹ ở đâu?… Nếu mẹ còn sống con đâu phải khổ như thế này! Thùy nhớ lúc còn mẹ, mẹ cưng Thùy như ngọc như ngà, mà giờ đây Thùy phải cam chịu khổ cực như thế này khi còn rất nhỏ. Tuổi thơ của Thùy sớm gánh chịu nhiều nỗi đau thương khốn cùng khi mồ côi mẹ. Ba của Thùy đang ở đâu?… Giờ này ba Thùy có biết được con gái cưng của ba phải chịu đọa đày như thế này không, hở ba? Trước đây khi mẹ còn sống căn nhà này là thiên đàng, giờ đây nó đã trở thành địa ngục chốn trần gian rồi… Trang ơi!”
Hai đứa tôi ôm nhau khóc, tôi khóc cho bạn tôi! Những giọt nước mắt của tôi có xoa dịu và chia sẻ với nỗi thống khổ của bạn tôi không? Ít ra trong lúc khốn cùng Thùy còn có tôi bên cạnh để vỗ về bạn, lau nước mắt cho bạn.
Rồi biến cố 1975 xãy đến, hoàn cảnh miền nam Việt Nam vô cùng hỗn loạn, mọi người hoang mang sợ hãi trốn chạy, đi tìm con đường cho hai chữ “tự do”. Những kẻ may mắn thoát ra nước ngoài bằng máy bay; những kẻ khác đi vượt biên trên những chiếc thuyền nhỏ mong manh; kẻ bỏ thây dưới lòng biển cả; những kẻ còn lại đi kinh tế mới những vùng xa xôi rừng thiêng nước độc…Hoàn cảnh nghiệt ngã của đất nước đã đưa đến những cuộc chia ly thật thê lương…kẻ còn người mất… Kể từ 1975 đến nay, tôi không biết tin tức gì của Thùy, không biết Thùy sống chết ra sao và ở đâu? Tôi mong mõi được một lần gặp lại Thùy, người bạn thân đáng thương của tôi thời thơ ấu mà tôi luôn ray rứt mỗi khi nghĩ đến…
Rồi hàng năm vào đêm Noel, khi nghe tiếng chuông thánh đường vang lên trong không gian lạnh lẽo, tôi lại tưởng nhớ đến Thùy, mắt tôi rưng rưng buồn. Tôi chắp tay nguyện xin ơn trên cho Thùy còn sống và hãy ban cho Thùy được cuộc sống hạnh phúc bên chồng con, để đền bù lại tuổi thơ đầy bất hạnh của bạn thân tôi.
Kiều My, Hoa kỳ, Mùa Giáng Sinh 2022.
-
HIẾU NGHĨA ĐÁP ĐỀN

BÁO HIỂU TRUNG QUÂN GIỮ ĐẠO TÌNH
MẸ CHA KHUYA SỚM ĐÃ HY SINH
NUÔI CON SỚM TỐI BAO GIAN KHỔ
PHỤNG DƯỞNG SONG THÂN HIẾU NGHĨA MÌNH
GIỮ NƯỚC THƯƠNG NHÀ CON NHỚ MÃI
LÀM DÂN GIỮ VẸN TIẾT TRUNG TRINH
NON SÔNG GẤM VÓC TA GìN GIỮ
HIỂU ĐẠO TRUNG KIÊN VẸN NGHĨA TÌNH.
Lê Nguyễn Nga
Thanksgiving 2022
-
PHẬN ĐÀN BÀ DƯỚI NÉT BÚT CỦA KIỀU MY
Trong đời sống chúng ta, theo tôn giáo hoặc triết lý thì mỗi con người đều có duyên số hay phần số mà đã được an bài. Trong bài viết này, tôi xin cô đọng vào số phận của người đàn bà như thế nào qua ba tác phẩm lớn của các đại văn hào như:
Lolita: Vladimir Nabokov
Trà Hoa Nữ: (La Dame aux Came’lias) Alexandre Dumas Jr.
Kim Vân Kiều: Nguyễn Du

LOLITA – Tiểu thuyết Nabokov.
Lolita!…Lolita!…Âm vang đắm đuối khát khao phát xuất từ con tim đầy lửa dục vọng của gã đàn ông trung niên Humbert Humbert, luôn ám ảnh về tình dục với cô bé mới lớn Lolita. Cô vừa tròn 12 tuổi, lứa tuổi còn ngây thơ vụng dại cắp sách đến trường. Cô như một đóa hoa vừa chớm nở với những cánh hoa còn búp đọng sương khuya, lấp lánh dưới ánh nắng ban mai rực rỡ của một ngày mới. Đóa hoa xinh tươi mơn mởn đầy hấp dẫn và vô cùng quyến rũ này đối với Humbert, đã đốn ngã một linh hồn bệnh hoạn. Trong cơn bốc cháy lửa dục vọng ấu dâm, gã si tình Humbert đã miên man: “Lolita! Ánh sáng của đời tôi, lửa dục lòng tôi, tội lỗi của linh hồn tôi, nàng sẽ trong vòng tay tôi. Tôi biết sẽ vĩnh viễn yêu thần tượng bé nhỏ của tôi, nhưng cũng biết nàng sẽ không mãi mãi là Lolita!”…
Lolita là tác phẩm viết về một thực trạng bất thường của tình yêu nam nữ, mà nó luôn tồn tại qua mọi thời đại trong xã hội loài người. Câu chuyện về tình yêu, về nhục dục, luôn hiện diện trong cuộc sống của con người, mà tác giả người Nga Vladimir Nabokov đã khéo léo, nâng niu vẻ đẹp thiên thần của cô bé Lolita, đến người đọc cũng phải bị ám ảnh về nàng. Nét bút của tác giả cũng thật tài tình khi diễn tả từng nét tâm lý, từng ngõ ngách thèm muốn tình dục ấu dâm của Humbert với thần tượng bé nhỏ Lolita mà gã luôn khao khát.
Tác phẩm Lolita ra đời vào năm 1955, tại thủ đô ánh sáng Paris, là một hiện tượng rất mới và lạ lẫm của nền văn chương Âu Châu vào giữa thế kỷ 20. Tuy thành phố Paris thuộc về Tây phương, là một châu lục văn minh nhất trên hành tinh này; nhưng xã hội thời bấy giờ vẫn không chấp nhận được sự đồi trụy về mặt đạo đức của nhân vật chính Humbert trong truyện. Tác phẩm này nổi tiếng bởi phong cách mới mẻ về nội dung; và cách diễn tả tâm lý thật sâu sắc, tỉ mỉ về một gã đàn ông trung niên học thức, luôn mang trong đầu óc bệnh hoạn của sự ám ảnh về nhục dục với cô bé 12 tuổi Dolores Haze, mà gã âu yếm gọi là “Lolita”.
Tuy là một tác phẩm gây nhiều tranh cãi nhất về mặt đạo đức; nhưng giới yêu văn chương, học giả khắp nơi vẫn mở rộng vòng tay tiếp đón món quà tràn ngập tư tưởng mới mẻ này; nhờ vào lối dùng ngôn từ rất ư phù thủy của tác giả, và nội dung câu chuyện hết sức khác thường đầy lôi cuốn. Người đọc Lolita như bước vào mê cung ngôn ngữ, dưới ngòi bút thật tài tình đã diễn tả từng nét tâm lý sâu xa của một kẻ bệnh hoạn nhục dục của Nabokov. Humbert đã yêu say mê đôi mắt xanh lơ, mái tóc nâu bóng bẫy, làn da nâu hồng…và ngay cả tính nghịch ngợm trẻ con của Lolita. Humbert bất đắc dĩ cưới bà Charlotte, là mẹ của Lolita chỉ vì muốn được gần gũi với cô con gái bắt đầu tuổi dậy thì của vợ. Ông điên cuồng vì nét quyến rũ của Lolita và có thể làm bất cứ điều gì vì cô. Dù bao tháng ngày trôi qua, nhưng trong tâm trí của Humbert, cô bé Lolita vẫn là: “một thần tượng, một hiện tượng khác lạ, vẫn luôn mang đặc tính của một nữ thần bé nhỏ vĩnh viễn bất kham.”
Tuy sống với vợ nhưng Humbert không hề có hứng thú tình dục với vợ, mà luôn thầm mơ tưởng nhớ đến Lolita và những cô gái 12, 13 tuổi…Như mong tìm lại thiên đường tuổi trẻ đã mất, khi người yêu thuở nhỏ là Annabel của mình đã chết vì bệnh hiểm nghèo trong nuối tiếc ngẩn ngơ của cậu bé Humbert ở tuổi 15.
Charlotte, đã bị bấn loạn tâm lý sau khi đọc được những dòng nhật ký của chồng mình. Trong những dòng chữ như thú tội, bà nhận ra rằng Humbert từ lâu đã mang trong đầu hình bóng đứa con gái của bà với tư tưởng nhơ nhớp tội lỗi. Chính vì điều này đã làm bà mang trạng thái hoang mang tột độ khi lái xe đến bưu điện gửi thư cho Lolita đang ở trại hè; để rồi bị tử vong trong một tai nạn xe cộ khủng khiếp. Lolita trở thành đứa trẻ mồ côi cha mẹ, khi cô đang vô tư vui chơi cùng bạn bè mà không hề hay biết về cái chết của mẹ. Giờ đây, cô trở thành một đứa trẻ bơ vơ và hụt hẫng giữa thế giới bao la; đã trở thành tình nhân bé bỏng khờ dại của gã đàn ông trung niên lão luyện Humbert. Tâm lý của một đứa trẻ mất hết tất cả tình gia đình, một mái ấm hạnh phúc, với tình yêu thương và sự giáo dục của cha mẹ, không còn nơi nương tựa; khiến đứa trẻ đành phải buông xuôi cho số phận đưa đẩy. Lolita không còn sự lựa chọn nào hơn, ngoài việc nương tựa vào người đàn ông đáng tuổi cha đầy thèm khát dục vọng với một đứa trẻ vị thành niên.
Nỗi lo sợ mất Lolita khiến gã ngày đêm canh giữ và rắp tâm chiếm đoạt thân xác cô cho thỏa mãn dục tình, sau khi rước cô ra khỏi trại hè. Humbert đưa Lolita đi hết thành phố này đến thành phố khác hầu tránh mọi tai mắt, và cũng để tránh các chàng thanh niên trai trẻ để mắt đến Lolita. Những đêm về tại các nhà nghỉ dừng chân – theo gã đó là thiên đường rực lửa của hỏa ngục dục vọng mà gã đã đợi chờ bấy lâu, như một con thú rình mồi. Những đêm dài giao hoan với thần tượng bé nhỏ đã mang lại niềm hoan lạc và sinh khí mãnh liệt cho người đàn ông bệnh hoạn này. Hai năm sau, hành trình của con đường dục vọng tội lỗi đã đến hồi kết thúc khi Lolita lâm trọng bệnh phải vào bệnh viện. Sau khi bệnh tình cô được hồi phục, cô lặng lẽ biến mất không để lại cho Humbert một lời nào.
Nhiều năm tìm kiếm trong vô vọng, cho đến một ngày Humbert nhận được lá thơ của Lolita cho biết cô đã lập gia đình và đang mang thai. Humbert tức tốc lái xe đến địa chỉ người gởi. Giờ đây, Lolita đã thay đổi nhiều, cô không còn tươi tắn rực rỡ như ngày nào nhưng Humbert vẫn còn yêu cô, muốn cô trốn đi với gã nhưng cô đã lạnh lùng từ chối. Gã đăm chiêu nhìn về xa xăm: “Lolita mãi mãi vắng bóng bên cạnh tôi.” Gã ra đi trong nỗi đau tuyệt vọng và trở thành tay sát nhân, sau đó chết trong tù bởi chứng nghẹn động mạch vành. Không lâu sau đó, cuộc đời ngắn ngủi của Lolita cũng kết thúc sau khi sinh đứa con đầu lòng; để lại gian trần một câu chuyện thương tâm về thân phận của một Eva còn non trẻ chịu nhiều bất hạnh và đầy khổ lụy.
Đọc Lolita, tôi cảm thương cho thân phận đàn bà như Lolita, phải chịu cảnh phủ phàng khi tuổi đời còn ngây thơ, bởi một tay dâm đãng luôn rắp tâm chiếm đoạt nàng. Một đứa trẻ còn khờ dại như con cừu non, làm sao tránh khỏi cái bẫy của một tay thợ săn chuyên nghiệp? Nhân vật Humbert – tiêu biểu bản chất ích kỷ tham lam của con người, chỉ muốn thỏa mãn những ham muốn hèn hạ cho riêng mình, nhưng không nghĩ đến nỗi thống khổ của kẻ khác.- Trong tác phẩm Lolita, Vladimir Nabokov đã dàn dựng lên nhân vật Humbert hẵn theo đường lối của thuyết hiện sinh (Existentialism) do các triết gia của thế kỷ 19 chủ trương như: Kierkegaad, Dostoyevsky, J.P. Sartre, Nietzsche…Đặc biệt, đại triết gia Jean Paul Sartre (1905-1980) đã đưa chủ nghĩa hiện sinh phát triển vượt bậc ở thế kỷ 20. Các triết gia lỗi lạc này biện minh rằng: thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản (L’existentialisme est un humanism) – mỗi con người tự mình mang đến ý nghĩa cho cuộc sống và sống nó một cách say mê và đích thực. Nếu tôn thờ chủ nghĩa hiện sinh thì mọi người sống theo ý thích và sự ham muốn của mình để chà đạp lên nhau, bất chấp phẩm giá và quyền lợi của người khác ư? Nhất là về phẩm giá của người đàn bà khi bị những tay đàn ông đớn hèn đang tâm chà đạp phủ phàng lên thân xác họ như một món đồ chơi? Thảm trạng này sẽ còn tiếp diễn đến bao giờ? Hay sẽ tồn tại mãi mãi trong xã hội loài người…?
Lolita! Lolita!
Mãnh hồn trong trắng đã rời xa
Tuổi thơ ngây nhuốm đầy hoen ố
Bước vào đời tan tác phong ba
Hoa chớm nở gục đầu héo úa
Còn ai thương xót cánh hoa rơi
Tan tác bên đường nằm tơi tả
Ngày chưa thắp nắng sao vội tắt?
Một vì sao rụng giữa trời đêm!

TRÀ HOA NỮ – La Dame aux Camélias.
Ngoài người đàn bà trẻ đẹp đáng thương Lolita, ta còn thấy nhiều người đàn bà khác phải gánh chịu bao nỗi truân chuyên, bao điều nhục nhã mà xã hội đưa đến. Giữa thế giới muôn trùng có biết bao tiếng than ai oán, với bao khổ lụy mà những con người yếu đuối đang ngày đêm oằn oại gánh chịu. Như nàng kỹ nữ xinh đẹp Marguerite Gautier trong tác phẩm Trà Hoa Nữ (La Dame aux Camélias) Came’lias của đại văn hào nổi tiếng người Pháp Alexandre Dumas Jr. xuất bản năm 1848. Thiên tình sử trong Trà Hoa Nữ, đã làm say đắm và thổn thức biết bao trái tim lãng mạn của nhân loại. Cũng như Lolita, Trà Hoa Nữ đã được in thành sách trong nhiều ngôn ngữ và được dàn dựng thành phim, chiếu khắp nơi trên thế giới qua nhiều năm mà vẫn còn ăn khách. Biết bao nhiêu người đã rơi nước mắt xót thương cô kỹ nữ xinh đẹp, mang thân phận đàn bà bất hạnh trong một xã hội đầy nhiễu nhương.
Trong Trà Hoa Nữ, Alexandre Dumas đưa độc giả trở về nước Pháp đầy thi vị và lãng mạn vào thế kỷ 19, một đất nước văn minh phóng khoáng bậc nhất hành tinh; nhưng vẫn không chấp nhận giới buôn hương bán phấn trong xã hội, nhất là giới quý tộc thời bấy giờ. Trà Hoa Nữ là một câu chuyện tình đầy bi thương về cuộc đời nàng ca kỹ Marguerite Gautier yêu chàng luật sư trẻ tuổi Armand Duval bằng tấm chân tình. Chàng là người có gốc quý tộc, chưa có sự nghiệp trong tay, nhưng cô kỹ nữ vẫn chấp nhận để yêu thương. Cô sở hữu một nhan sắc đẹp tuyệt trần, lại thông minh và có tâm hồn phong phú; khiến bao vương tôn công tử giàu có say mê đưa đón và cung phụng. Nàng ca kỹ yêu hoa trà: nàng thường cài lên áo hoa trà trắng khi sẵn sàng tiếp khách; trong tháng có những ngày người ta thấy hoa trà đỏ trên áo nàng là dấu hiệu cho biết nàng chối từ. Vì thế nàng được mệnh danh là “Trà Hoa Nữ”. Nàng hưởng thụ cuộc đời hoan lạc nhung gấm phủ phê; nhưng phải oằn mình chịu đựng sự cay nghiệt và khinh thường của xã hội Pháp, nhất là giới trâm anh quý tộc. Người đời mỉa mai khinh thường khi nhìn vào khía cạnh kiêu sa, với nếp sống xa hoa tội lỗi của một nàng ca kỹ nổi tiếng trong chốn lầu xanh. Nhưng có mấy ai biết được tâm hồn nàng lại chứa đựng sự vị tha, ẩn giấu bên trong một trái tim đôn hậu yêu thương đong đầy và sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cho người mình yêu.
Những tay đàn ông giàu có quyền thế không ngần ngại bung tiền để hưởng thụ những đêm hoan lạc, bằng thể xác của một người đàn bà sống bằng nghề mua vui cho thiên hạ. Họ dùng đồng tiền để dày vò thân xác của phụ nữ cho thỏa mãn tình dục một cách vô tội vạ. Đây cũng là một tệ đoan trong xã hội, hầu như có mặt khắp nơi qua mọi thời đại trên địa cầu này. Đến khi yêu Duval tha thiết, nàng kỹ nữ Marguerite đã can đảm khước từ tất cả nhung lụa giàu sang, những đêm truy hoan trác táng dưới ánh đèn mờ ảo, để được yêu Duval cho trọn vẹn. Nàng quyết tâm bỏ lại sau lưng những bá tước nhiều tiền lắm bạc, đã từng cung phụng cho nàng cuộc sống xa hoa phủ phê, để sống với người nàng yêu thương. Nàng bỏ hết tất cả, rời xa chốn phồn hoa để về miền quê cùng Duval xây tổ ấm.
Tình cảm cao quý mang lại cho con người hạnh phúc vô ngần, nhưng cũng không ít khổ đau bất tận. Nhưng…một bàn tay vô hình là “định mệnh”- hay nói cách khác là xã hội thời bấy giờ cướp đi hạnh phúc của đời nàng. Giông tố lại kéo đến khi bố của Duval tìm gặp Marguerite lúc Duval không có ở nhà. Ông đã nhẫn tâm yêu cầu nàng phải rời xa con ông vì danh tiếng của dòng tộc ông, một gia đình danh giá không thể chấp nhận một nàng dâu ca kỹ. Marguerite luôn mong muốn được sống cuộc đời có ý nghĩa và hạnh phúc bên người mình yêu thương. Nhưng bất hạnh thay! Nàng trót mang trái tim cao thượng và nhân hậu để rồi nàng phải hy sinh hạnh phúc đời mình hầu bảo tồn danh giá cho Duval và gia đình chàng mà chàng nào hay biết. Thật mỉa mai! Cuộc đời con người đến khi tìm được ý nghĩa của cuộc sống, vừa tìm được một chân trời mới của hạnh phúc, thì cũng vừa nhận ra đó chỉ là… phù du! Hạnh phúc của cuộc đời mà mọi người hằng mong ước, có mấy ai nắm bắt được nó và giữ được nó lâu dài!
Nàng ca kỹ đau đớn âm thầm ra đi bỏ lại sau lưng người mà nàng yêu thương nhất đời khi hạnh phúc còn nồng cháy. Không còn sự lựa chọn nào hơn, nàng đành phải trở về con đường cũ kiếm tiền từ những tay giàu có để trả nợ cho những ngày tháng sống với Duval. Nàng đã mất Duval, mất tất cả hạnh phúc đời mình! Cuộc đời nàng đã trở thành vô nghĩa! Giờ đây nàng vùi đầu vào ánh đèn màu như những con thiêu thân, tiếp tục làm món đồ chơi cho thiên hạ. Tưởng rằng mình đã được cứu vớt, đã được ngoi lên từ bùn nhơ, nào ngờ lại rơi xuống vực thẳm thêm lần nữa. Phải chăng nàng sống kiếp con tằm phải nhả tơ cho hết kiếp làm người, hay làm kiếp hoa cho ong bướm hút nhụy? Ong bướm bay dập dìu khi hoa còn mật ngọt, đến khi hoa rữa nhụy tàn thì ong bướm cũng bay xa.
Thật xót thương cho số phận người đàn bà bất hạnh như Marguerite, đã hy sinh cho người mình yêu như thế, với ước mong sẽ có được sự đền bù xứng đáng. Nhưng nào ngờ, từ lúc rời xa Duval đến khi lìa đời, nàng phải chịu biết bao tủi nhục cay đắng. Cho đến chết nàng vẫn không đạt được ước vọng tha thiết được gặp mặt Duval lần cuối, cho vơi đi nỗi đau khổ nhớ nhung hành hạ nàng từ tâm hồn đến thể xác. Nàng từ giã cõi đời trong cảnh nghèo nàn nợ nần chồng chất, trong nỗi cô đơn tuyệt vọng, không một người thân yêu bên cạnh trong giờ phút sau cùng. Duval là người nàng yêu thương vô bờ bến, trong cơn hấp hối nàng luôn thì thào gọi tên chàng trong hơi thở yếu ớt… đầy nước mắt…
Khi biết được nàng ca kỹ yêu chàng bằng trái tim chân thành đến hơi thở cuối cùng, đã làm Duval hối hận suốt một đời còn lại, vì đã hiểu lầm nàng phụ tình chàng. Duval đau xót tiếc nuối khôn nguôi nàng ca kỷ Marguerite đáng thương có một trái tim nhân ái và tấm lòng hy sinh cao cả, với một tình yêu tuyệt vời dành cho chàng đến khi nhắm mắt lìa đời. Thật xót xa cho thân phận người đàn bà đem thân xác mình cho biết bao người mua vui; nhưng đến khi lìa đời có mấy ai nhỏ cho giọt nước mắt ngậm ngùi tiễn đưa!

Truyện Kiều – Nguyễn Du
Câu chuyện về thân phận đàn bà của nàng Lolita và Margurite Gautier ở xã hội phương tây đã quá não nề; nhưng nếu đem so sánh với nàng Thúy Kiều trong xã hội phương đông thì cũng chưa thấm vào đâu. Thúy Kiều là nhân vật mang thân phận đàn bà chịu nhiều đau đớn tủi nhục trong TRUYỆN KIỀU, tức ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH, mà tác giả giới thiệu. Đây là một kiệt tác bất hủ luôn gắn liền tên tuổi với đại thi hào NGUYỄN DU (1766 – 1820) cuối thế kỷ 18.
Truyện Kiều là nỗi thống khổ, là tiếng kêu đứt ruột về thân phận người đàn bà trong xã hội phong kiến ngày xưa; khi phẩm giá của họ bị những thành phần vô lương chà đạp không thương tiếc. Bằng những câu thơ lục bát trác tuyệt chuẩn mực, Nguyễn Du đã xoay quanh cuộc đời đầy sóng gió của Vương Thúy Kiều với bao nỗi oan khiên. Một người con gái tài sắc vẹn toàn cầm kỳ thi họa, cùng những đức tính hiền lành nhân hậu, hiếu thảo và sự hy sinh cao cả, đã phải gánh chịu nhiều nỗi truân chuyên, oan nghiệt trong độ tuổi thanh xuân. Dưới xã hội phong kiến hủ bại, kẻ mạnh có quyền thế tiền bạc luôn là kẻ thắng, là kẻ nắm sinh mệnh của kẻ yếu trong tay. Là người con hiếu thảo, Kiều không đành lòng để cha và em trai bị vu oan, bị tra tấn đánh đập tàn nhẫn đòi tiền chuộc mạng. Vì nhà nghèo không đủ tiền nạp cho đám hối mại quyền thế, Kiều bị ép vào đường cùng phải bán mình chuộc cha và em, để đổi lấy sự an toàn cho gia đình. Đây là sự hy sinh thật cao cả đối với người con gái có giáo dục, với phẩm hạnh thanh cao và cốt cách cao quý. Nàng cũng đau đớn cắt đứt mối tơ tình với lời thề cùng Kim Trọng sẽ nên duyên cầm sắt, để có thể thực hiện lòng hiếu thảo đối với cha mẹ. Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn? Kiều cũng đã nặng tình với Kim Trọng và thề nguyền sẽ cùng chàng kết nghĩa trăm năm. Nhưng trong cảnh ngộ gia đình nàng lâm vào chốn cùng cực, nàng đành phải nuốt lệ phụ tình chàng để trả hiếu cho cha thoát cảnh bị đánh đập tù đày.
Sau khi Mã Giám Sinh mua Kiều với giá 400 lạng vàng, tay ma cô này đã chiếm đoạt trinh trắng của nàng rồi đưa nàng vào lầu Ngưng Bích, một động mãi dâm của mụ tú bà để cho khách mua vui. Sau đó, Kiều lần lượt lọt vào tay những gã sở khanh, phải chịu bầm dập dưới những cơn vũ bão dục tình của họ, lại thêm những trận đòn thiếu sống thừa chết của mụ tú bà ép buộc nàng phải tiếp khách. Kiều cảm thấy nhục nhã và xót xa cho chính bản thân mình; một người con gái nhà lành có giáo dục, đẹp đẽ thanh cao… giờ đây lạc loài nơi xứ lạ quê người, không một người thân, bị áp bức phải hành nghề xấu xa nhất trong xã hội mà gia đình nàng nào có hay:
“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa”…
Không may! Kiều gặp Thúc Sinh người đã có vợ là Hoạn Thư, một người đàn bà ghen triệt để, đã chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh. Cam lòng làm vợ lẻ của Thúc Sinh, Kiều làm sao tránh khỏi những trận đòn ghen chí tử và làm nhục của Hoạn Thư dành cho nàng. Sóng gió cuộc đời nàng chưa dừng lại nơi đây, Kiều bị bán vào lầu xanh lần thứ hai. Tấm thân yếu đuối của nữ nhi bao phen bị vùi dập bỡi những con người lòng lang dạ thú thì còn mong gì để sống. Nàng chỉ còn biết ngậm đắng nuốt cay sống cuộc đời đen tối ô nhục trong chốn lầu xanh để khách đến mua vui. Nàng tự hỏi thân phận con người được định đoạt bởi xã hội, bởi hoàn cảnh hay số mệnh đã được an bài:
“Ngẫm hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”…
Trong những ngày tháng đen tối ở thanh lâu, Từ Hải một người quân tử lui tới lầu xanh đã tha thiết yêu Thúy Kiều, và chuộc nàng ra khỏi chốn nhơ nhớp này. Từ Hải như một vị cứu tinh cứu vớt đời nàng. Kiều ngỡ rằng phận bọt bèo của nàng từ nay sẽ được êm ấm và được che chở bảo bọc của Từ Hải. Nhưng đời luôn không như ý mình mong muốn! Những ngày bình an chẳng được bao lâu thì Kiều bị mắc mưu của Hồ Tôn Hiến, tay này bày mưu lập kế đưa đến cái chết của Từ Hải một cách oan uổng. Kiều vô cùng ân hận về cái chết đau đớn đầy oan khiên của Từ Hải. Niềm hy vọng cuối cùng của nàng đã vụt tắt! Trước mắt nàng là bóng tối dày đặc đang phủ kín, nàng không còn nhìn thấy ánh mặt trời như một tia hy vọng dù thật yếu ớt nhỏ nhoi. Để giải thoát một linh hồn đau khổ và tuyệt vọng, nàng liều mình nhảy xuống sông Tiền Đường hầu kết liễu cuộc đời đầy ô nhục trải dài suốt bao năm qua. Nhưng số mệnh của nàng chưa chấm dứt ở cõi trần ai, nàng được sư cô Giác Duyên cứu sống đem về chùa cho tá túc. Sau khi Kiều bày tỏ sự tình, sư cô động lòng thương xót đã cố gắng đi tìm Kim Trọng khắp nơi, hầu giúp cho Thúy Kiều có cơ hội nối lại duyên xưa sau mười lăm năm lưu lạc xa cách.
Thương thay cho phụ nữ sống trong xã hội phong kiến mà phẩm giá con người bị chà đạp, vùi dập thảm thương. Thúy Kiều vì chữ hiếu phải bán mình chuộc cha để rồi đời nàng phải rơi xuống vực thẳm bùn nhơ của xã hội vô tâm, và đời nàng sẽ mãi mãi là cuộc đời…bất hạnh dở dang! May mắn thay nàng còn sống sót tái hợp với chàng Kim, nhưng câu thề hẹn “nên duyên chồng vợ gắn bó keo sơn” ngày nào làm sao có thể thực hiện được, dù cho cả hai vẫn còn yêu nhau. Sự trong trắng của nàng không còn nữa, nàng không xứng đáng làm vợ chàng, chỉ xin làm người bạn tri kỷ của chàng mà thôi. Những hủ bại trong xã hội phong kiến, một xã hội trọng nam khinh nữ ít nhiều gì cũng mang đến những hệ lụy, cùng với những hậu quả khó lường cho cuộc đời người đàn bà vốn yếu đuối mong manh như Thúy Kiều.

Kết bài, nhìn lại cuộc đời của ba người đàn bà trong ba tác phẩm: Lolita, Trà Hoa Nữ và Truyện Kiều… cho tôi một sự nhận xét thật tiêu cực về thân phận của người đàn bà bất hạnh dù ở trời Tây hay trời Đông. Đàn bà thuộc về phái yếu, vì thế họ phải chịu nhiều nỗi truân chuyên, chịu nhiều áp bức trong xã hội mạnh thắng yếu thua. Có những người đàn bà vì hoàn cảnh hay bị áp bức mà phải trở thành món đồ chơi cho đàn ông thỏa mãn dục tình. Tất cả những điều tồi tệ nhất sẽ đến với thân phận người đàn bà bán phấn buôn hương, từ những sự dèm pha khinh bỉ của xã hội dành cho họ. Hơn thế nữa, họ sẽ sống với nỗi ray rức hay ân hận trong những ngày tháng còn lại của cuộc đời. Hạnh phúc thật khó đến với những người đàn bà đã trót lỡ bước vào bùn nhơ; vì dĩ vãng đen tối như một bóng ma sẽ che khuất bầu trời mơ ước của họ mãi mãi. Thiên đường nào dành cho họ ở ngày mai…?
Kiều My, California, mùa thu 2022
-
PHÂN TÂM HỌC & TỰ LỰC VĂN ĐOÀN (TLVĐ)

Các thành viên trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn Phân tâm học là một ngành gồm các học thuyết và kỹ thuật trị liệu tâm lý có nguồn gốc từ những công trình nghiên cứu dựa theo học thuyết của Sigmund Freud. Đây cũng là một học thuyết nghiên cứu về thế giới nội tâm của con người nhằm tìm ra lời giải thích cho những hành vi lập dị, khác thường, biểu hiện qua hành động mà kết quả có thể gây ảnh hưởng đến giá trị đạo đức và gây rắc rối trong xã hội. Trên thực tế, Phân tâm học ra đời chịu nhiều ảnh hưởng bởi chủ nghĩa phi lý tính của Schopenhaur (1788-1860). Schopenhaur cho rằng xã hội chứa đầy sự mâu thuẫn, sự suy nghĩ thiếu minh mẫn và sự khốn cùng ảnh hưởng trên cuộc sống của con người, từ những quá khứ không hoàn hảo bởi sự đổ vỡ của tình mẫu tử. Sự thất bại của khát vọng vinh quang từ cái nhìn đầy bi quan đối với cuộc sống hiện tại, khiến Schopenhauer trở nên thù hận đồng nghiệp, khinh bỉ và coi thường phụ nữ. Với ông: “Triết học là quay trở về với thế giới nội tâm của mình, là tìm tòi bản tính thật sự của con người và thế giới”.
Vậy thế giới nội tâm thật phải chăng là những gì tiềm tàng, ẩn dấu ở thế giới bên trong của con người mà học thuyết Phân tâm học là chìa khóa mở cửa cho các nhà tâm lý học nghiên cứu về các hiện tượng tâm lý của con người trong thế giới nội tâm? Cái thế giới nội tâm ấy chính là cõi vô thức trong học thuyết của Freud và là cái đối tượng quan tâm và nghiên cứu của các nhà tâm lý học nổi tiếng ở châu Âu vào những năm 80 của thế kỷ XIX. Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa rằng Phân tâm học là học thuyết nghiên cứu về thế giới bên trong của con người nhằm giải thích cho những hành vi khác thường mà con người không thể kiểm soát được, nó là phương pháp hữu hiệu để điều chỉnh lại những hành vi sai lạc ấy.
Ngày nay, Phân tâm học không những được sử dụng trong khoa học xã hội và nhân văn mà còn ảnh hưởng rộng rãi trong những trường hợp khảo sát với những phân tích chuyên nghiệp như trong lãnh vực y học, phương pháp nghiên cứu tâm lý trong hoạt động tư pháp và ngay cả trong lãnh vực tâm linh, văn chương nghệ thuật, phim ảnh, v.v…dựa vào sự tìm ra “cái vô thức” của Freud nên học thuyết của Sigmund Freud đã có một ảnh hưởng rộng lớn đối với tư duy hiện đại cũng như cuộc sống của con người. Trong bài viết này, người viết chỉ nói trình bày tóm lược về các phương pháp nghiên cứu tâm lý: (Phần này được giải thích rõ ràng trong tác phẩm PHÂN TÂM HỌC VÀ ĐỜI SỐNG của NV Khánh Lan, xuất bản năm 2023).
Trong lãnh vực y học: Phân tâm học là một khoa dùng để chữa bệnh và được phân chia thành hai loại bệnh khác nhau:
- Bệnh do tổn thương gây ra: Do những ảnh hưởng khi bệnh nhân trực tiếp chứng kiến những dữ kiện khủng khiếp, tang thương trong cuộc sống như chiến tranh, bị lạm dụng (abuse), v.v… khiến nạn nhân mất hết hứng thú cũng như sở thích riêng của mình, họ luôn âu sầu ủ rũ, hay buồn vô cớ, cau có, cảm thấy chán nản, mệt mỏi, mất năng lượng, ăn mất ngon, sút cân, mất ngủ.
- Bệnh không do tổn thương gây ra: Từ thế kỷ XIX trở về trước, người ta cho rằng đây là “bệnh giả vờ”, “bệnh tưởng tượng”, “bệnh quỷ ám”, nhưng càng về sau, khoa học đã chứng minh rằng đây là nguyên nhân tiêu biểu cho “chứng cuồng loạn” (hystérie) và họ bắt đầu tìm những phương thức để chữa trị cho bệnh nhân. Đầu tiên là phương pháp “thôi miên” như trong trường hợp bệnh nhân của Jean Martin Charcot (1825-1893) và Sarah Bernheim (1844-1923). Sau đó người ta thay thế bằng cách dùng “cocaine” để chữa bệnh và sau cùng là phương pháp “phân tích tâm lý” do Joseph Breuer đề xướng.
Để có thể giúp người bệnh trở lại bình thường, các nhà cố vấn tâm lý cần phải thấu hiểu nguyên nhân gây bịnh, thông qua các phương pháp hỗ trợ như phỏng vấn, quan sát, nghiên cứu, phân tích những sinh hoạt và tiểu sử của bệnh nhân. Ngày nay, Phân tâm học được ứng dụng trong việc chữa bệnh cho các bệnh nhân mắc bệnh tâm thần bằng cách tạo cơ hội cho bệnh nhân giải bày những uẩn khúc hay tâm trạng lo lắng của họ.
Trong hoạt động tư pháp: Hoạt động tư pháp là những hoạt động của các nhân viên tư pháp, nó có tính chất rất đa dạng, phức tạp và có những nét đặc thù riêng. Nghiên cứu tâm lý trong hoạt động tư pháp không những giúp cho các nhân viên tư pháp nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình, bảo vệ pháp luật, giúp cho công tác được hoàn tất tốt đẹp. Khi sử dụng phương pháp nghiên cứu tâm lý, các nhân viên tư pháp phải tuân theo những nguyên tắc của phương pháp luận tâm lý học gồm: Phương pháp quan sát. Phương pháp đàm thoại & phỏng vấn. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ & tài liệu độc lập. Phương pháp thực nghiệm. Phương pháp trắc nghiệm. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động. Phương pháp điều tra. Phương pháp nghiên cứu tiểu sử.
Trong niềm tin tôn giáo (Tâm linh) TheoGiáo Sư Quyên Di,Phật Giáo Thiền Tông đã đào tạo ra nhiều Phật tử Thiền Tông, am tường Phân Tâm Học và tâm lý trị liệu. Bởi phương pháp trị liệu tâm linh giúp con người thoát ra khỏi những đau khổ để hưởng hạnh phúc. Điều này rất gần với mục địch của Phân Tâm Học trị liệu. Muốn tránh đau khổ thì trạng thái tâm thần phải được thanh tịnh là quan trọng. Muốn hạnh phúc thì cần phải có tâm an lạc như thế ta mới có thể an nhiên tự tại và bình tâm đối phó với những khó khăn và nghịch cảnh. Đạo Phật dạy về tâm từ bi, khoan dung, bất bạo động qua thiền quán, chánh niệm bởi chúng sẽ giúp những người thực hành phương thức này đạt được sự an lạc nội tâm thực sự. Phật Giáo Thiền Tông khuyên người ta rũ bỏ những bám víu trần gian, sống vô chấp để tỉnh thức, thoát khỏi vọng niệm về một bản ngã không có thật, để có mối liên hệ hỗ tương và thể hiện lòng từ bi rộng rãi đối với xã hội, để cư xử tốt và tử tế hơn với tha nhân, từ đó mà được giải thoát khỏi đau khổ và hưởng hạnh phúc.
Trong lãnh vực văn chương nghệ thuật: Ngành Phân tâm học đã ảnh hưởng sâu rộng trong lãnh vực văn chương nghệ thuật và kịch nghệ. Các dẫn chứng điển hình như những tác phẩm văn chương nổi tiếng được chuyển thể thành phim ảnh, được nhiều độc giả/khán giả biết đến và lưu truyền cho đến ngày nay. Sigmund Freud cho rằng nhà văn là người khám phá ra cái vô thức. Để dẫn chứng cho lời phát biểu trên về sự liên quan giữa văn chương và Tâm lý học, Freud nghiên cứu hai tác phẩm “Edipe làm vua” của Sophocle và “Hamlet” của William Shakespeare. Freud cho rằng, “Nghệ sĩ là người có một trực cảm nhạy bén và có thể tiên tri về các hiện tượng mà bản thân anh ta không biết được nhưng Phân tâm học có thể khai phá những bí mật đó”. Trong lúc Freud tiến hành khảo sát quá trình sáng tạo của văn hào Dostoievski, ông phát giác được: Mặc cảm Oedipe, chính là chứng bệnh động kinh và sự ghét cha đã tạo nên những tác phẩm văn học lừng danh trên toàn thế giới của Dostoievski.
Một tác phẩm văn chương khác là Đi tìm thời gian đã mất (À la recherche du temps perdu) của nhà văn người Pháp, Marcel Proust. Proust cho rằng “Đi tìm thời gian đã mất” là “Thời gian lại tìm thấy“. Nó có nghĩa là ông đã tìm ra lẽ sống của mình, là cống hiến cuộc đời cho nghệ thuật. Tất cả những hoạt động trong quá khứ là “thời gian đã mất” và việc biến cái thời gian đã mất ấy thành một hành động sáng tạo trong văn chương thì đó thật là thiên đường thật của những thiên đường đã mất. Cốt truyện “Đi tìm thời gian đã mất” có giá trị ở lối kiến trúc diễn đạt thâm sâu trong phần phân tích xuất sắc liên quan đến cái vô thức của Freud, bởi cho ta những cảm giác dào dạt, mộng tưởng, có giá trị cao và đượm nét triết tính. Những câu văn dài với dòng suy tư, hoài niệm, hồi ức là bằng chứng cho học thuyết Phân tâm học của Freud hiện diện trong lối viết văn của Proust.
KẾT LUẬN: Trong tất cả các nghiên cứu khoa học, chúng ta phải thừa nhận rằng tâm lý học là một khoa học huyền bí và khó có thể chứng minh hơn bất cứ bộ môn khoa học nào. Bởi đời sống tâm lý của con người có bản chất hư hư, thực thực, không minh bạch và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Theo Freud, tất cả mọi người đều sở hữu những suy nghĩ, cảm xúc, mong muốn mà chúng tiềm ẩn trong ký ức vô thức. Phân tâm học cho rằng mọi người có thể trải nghiệm và hiểu rõ trạng thái tâm trí hiện tại của họ bằng cách đưa nội dung của vô thức vào nhận thức hay ý thức. Đó là một phương cách hữu hiệu nhất để giải tỏa khỏi sự đau khổ về tâm lý cho chính mình. Phân tâm học cũng cho rằng hành vi của một người chịu ảnh hưởng bởi những động lực trong vô thức và đưa đến các vấn đề về cảm xúc tâm lý, chẳng hạn như triệu chứng trầm cảm và lo lắng thường bắt nguồn từ những xung đột giữa ý thức và vô thức. Vậy, phải chăng con người có khả năng phòng bị để bảo vệ mình khỏi những thông tin không tốt tiềm ẩn trong vô thức?
Thí dụ điển hình nhất là khi Freud giải thích về Giấc mơ. Theo ông Giấc mơ là “con đường hoàng đạo” dẫn đến vô thức, nó giữ vị trí hàng đầu trong sự phát triển của cuộc tự phân tích của Freud, ông cho rằng những tư liệu mà người nằm mơ nhớ và ghi nhận lại là những gì họ đã trải qua khi ngủ cũng như những ao ước lúc thức. Những dẫn liệu ấy đã giải thích cho những hành vi hoặc hoạt động khác thường trong đời sống hàng ngày, khởi nguồn từ những ham muốn bị dồn nén đã tiềm ẩn trong cõi vô thức. Freud đã nhận thấy giấc mơ là sự biểu lộ trá hình của một ham muốn bị lãng quên, là những mong ước thầm kín tiềm ẩn trong vùng vô thức tự biến đổi, chuyển hoán thành những hành động và lời nói mà người nằm mơ biết rõ nội dung, nguồn gốc, giá trị của nó. Khi giấc mơ được đem ra phân tích trong trạng thái thức là vì nó đã được chuyển tải từ vùng vô thức sang vùng ý thức. Nó đã trở thành một câu chuyện kể khi nằm mộng và nhớ ra trong lúc tỉnh táo. Đó là giây phút mà vùng ý thức hoạt động trở lại trong người nằm mơ. Hoạt động của giấc mơ thể hiện qua hành vi của cảm giác, những ý tưởng cụ thể như niềm vui, nỗi buồn, sự chán chường hoặc sự thay đổi giữa tình cảm (xúc cảm).
Những công trình nghiên cứu của Sigmund Freud để lại cho các chuyên khoa tâm lý là những nền tảng căn bản trong việc nghiên cứu cõi vô thức của con người. Theo như Tu Sĩ Giuse Nguyễn Công Lai, khi ngài đối chiếu với học thuyết phân tâm của Freud, ngài nhận thấy có nhiều điểm trong đời sống tâm lý bản thân trùng khớp với những gì mà Freud đã trình bày trong học thuyết của ông. Tu Sĩ Giuse Nguyễn Công kết luận “Sigmund Freud đã mở ra cho các nhà tâm lý một hướng đi mới, đặt một nền tảng mới khi nghiên cứu về con người dưới cái nhìn tâm lý”. Ngài cho rằng:
“Phân tâm học của Sigmund Freud có một ý nghĩa lớn đối với những ai muốn tìm hiểu các hiện tượng tâm lý của con người, nhất là cõi vô thức”.
TỰ LỰC VĂN ĐOÀN (TLVĐ) xuất hiện vào lúc mà văn học Việt Nam vừa trải qua 30 năm đầu thế kỷ XX, một nền văn học mang tính chất giao thời do sự chuyển đổi của nền văn học dân tộc từ mô hình văn học Đông Á trung đại truyền thống, lấy văn – thơ – phú – lục làm căn bản, sang mô hình văn học hiện đại của thế giới dựa trên các thể thơ, kịch nói, văn xuôi, tiểu thuyết, tiểu luận phê bình, v.v... Năm 1934 Nhất Linh thành lập TLVĐ gồm 7 thành viên: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu tiêu biểu cho mô hình này.
Các thành viên trong TLVĐ đều trải qua một tuổi thơ khốn khó về vật chất lẫn tinh thần, họ lớn lên giữa buổi giao thời của tư tưởng cũ-mới, giữa phong kiến-tân thời khiến họ nung nấu ý chí cải cách phong hóa những hủ lậu của xã hội. Mục đích của TLVĐ là loại trừ lối văn chịu ảnh hưởng Nho học và đề cao tinh thần xây dựng canh tân xứ sở nhằm đưa giá trị tình yêu quê hương dân tộc, tinh thần vị tha tự lập, phục vụ đời sống người dân lao động, chủ trương đả phá, chống đối những phong tục tập quán phong kiến như trong hai tác phẩm tiêu biểu nhất của khuynh hướng này là cuốn Đoạn tuyệt (1934) và Lạnh lùng (1936)… TLVĐ muốn dùng ngòi viết để nâng cao giá trị nhân phẩm của con người khởi nguồn từ những bài trào phúng, đem tiếng cười để chế giễu những thói hư, tật xấu, của những nhân vật “tai to mặt lớn“. Những nhân vật như “Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh” là ba mẫu người điển hình mà TLVĐ dựng lên để ám chỉ các nhân vật này trong bài viết của họ.
Cuối những năm 1930-1940, sự sinh hoạt và tồn tại của nhóm TLVĐ trong đời sống văn học đã suy giảm và trở nên lỗi thời, thay thế vào đó là các bài phóng sự và tiểu thuyết theo lối tả thực. Sự suy tàn của TLVĐ bắt đầu khi anh em Nhất Linh, Hoàng Đạo bỏ văn chương đi làm chính trị. Tháng 06, 1942 Thạch Lam chết vì bệnh lao, Nhất Linh trốn sang Tàu, Khái Hưng và Hoàng Đạo bị Pháp bắt đày lên Vụ Bản, Hòa Bình, Thế Lữ thôi làm thơ làm báo để chuyên tâm với sân khấu kịch nói. Xuân Diệu về Mỹ Tho làm viên chức nhà Đoan… Mặc dù, TLVĐ đã chấm dứt hoạt động kể từ sau năm 1940 nhưng tiếng tăm vẫn mãi vang dội trong làng văn học và trong lòng độc giả yêu văn chương. Dưới đây là phần phân tích tâm lý nhân vật trong một số tác phẩm của TLVĐ.
PHÂN TÍCH TÂM LÝ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM TLVĐ
Anh Phải Sống của Khái Hưng và Nhất Linh ra mắt độc giả vào năm 1934 và đã đào sâu vào thế giới nội tâm phức tạp về quan niệm của con người về tình nghĩa vợ chồng trong đó tác giả đề cao phẩm chất cao thượng, tinh thần trách nhiệm và hy sinh của người phụ nữ Việt Nam. Anh Phải Sống kể lại một chuyện tình của một cặp vợ chồng nghèo mưu sinh trên sông nước không may gặp ngày nước lũ. Trong cơn nguy kịch, người vợ đã hy sinh mạng sống của mình trong dòng nước chảy xiết để nhường lại sự sống cho chồng, để “Anh Phải Sống”, để muôi các con còn thơ dại ờ nhà. Trong khoảnh khắc khi vợ chồng phải đối diện với tử thần, kề cận với “thập tử nhất sinh”, thì lòng bác ái đã đánh tan sự ích kỷ riêng tư để nhường chỗ cho một tâm hồn cao thượng. Anh Phải Sống nói lên giá trị nhân bản, ca ngợi bản chất thủy chung, chịu đựng, hy sinh thầm lặng, thương chồng con, trọng tình nghĩa phu thê của người đàn bà thuần túy Việt Nam, khi đứng trước ranh giới giữa lý trí và tình cảm, giữa cái riêng và cái chung. Xuyên qua truyện Anh Phải Sống, chúng ta nhận thấy rõ sự kết hợp hài hòa về tư tưởng cũng như phong văn giữa 2 tác giả. Đối với Nhất Linh và Khái Hưng, Có lẽ tình yêu không phải là một loại ái tình tầm thường, đơn giản mà nó hướng đến một tình yêu đích thực, thanh cao, tuyệt mỹ vượt lên trên cả tình yêu: ĐÓ LÀ TÌNH CAO THƯỢNG.
Đời Mưa Gió của Nhất Linh và Khái Hưng là một hành trình đi vào thế giới sâu thẳm của con người với những uẩn khúc quanh co, tâm hồn rối loạn. Trong truyện Đời Mưa Gió, tác giả đã đưa người đọc tới cõi vô thức, một nơi bí ẩn để che giấu những ước vong chưa thực hiện được, để khám phá ra những suy nghĩ, ao ước tiềm tàng trong ấy. Đời Mưa Gió kể lại một mối tình lãng mạn, về cuộc gặp gỡ tình cờ và định mệnh giữa Chương và Tuyết. Một mối tình tuyệt đẹp nhưng để lại trong ký ức nhiều muộn phiền, đớn đau, một thế giới phức tạp, đầy mâu thuẫntrong cuộc phiêu lưu vào thế giới nội tâm.
Theo tác giả Nguyễn Thị Minh, tác phẩm Đời mưa gió trên phương diện cấu trúc tâm lý các nhân vật chính từ góc nhìn phân tâm học và nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật. Trong câu chuyện, Chương là một thày giáo với bề ngoài hiền lành, đạo mạo, với một cuộc sống điều độ, an nhàn nhưng lại luôn luôn có những hành động, suy nghĩ trái ngược nhau mà chính anh cũng không giải thích được. Theo Freud, suy nghĩ, hành động của Chương không chỉ chịu sự điều khiển của cái tôi (ego) mà phần ý thức tỉnh táo còn bị chi phối bởi cái siêu tôi (superego) được tiếp nhận một cách vô thức từ bố mẹ trong những năm tháng tuổi thơ và nhất là cái ấy (id)
Trở lại câu chuyện, trong quá khứ, Chương đã từng đối diện với một nghịch cảnh khiến chàng đau đớn về tinh thần, khi anh vấp phải thái độ khinh bỉ của cha mẹ Loan và sự lãnh đạm của người yêu khi anh thi rớt. Nỗi đau đớn vì bị phản bội và cú sốc tâm lý khiến vùng ý thức trong Chương không muốn chấp nhận, anh dồn nén, tìm cách đưa nó ra khỏi suy nghĩ của mình. Nhưng thực chất, nỗi đau ấy không mất đi mà chỉ bị vùi chôn vào vùng vô thức. Để tránh cho nó không có khả năng trỗi dậy, Chương phản ứng bằng cách trở nên một người cứng cỏi, ghét phụ nữ. Bản ngã của Chương cảm thấy khoan khoái, thoải mái dưới lớp vỏ của một ông giáo đứng đắn, kiêu ngạo, lạnh lùng khi tiếp xúc với nữ giới.
Khi Chương gặp Thu, sự tươi mát, trẻ trung của nàng làm tỉnh giấc vùng ý thức trong Chương, nhưng niềm khao khát ấy lại bị lu mờ bởi những cảm xúc (phức cảm) về Loan sống dậy và xuất hiện trong vùng ý thức ám ảnh anh. Cảm giác bị chế nhạo, giày vò chàng bởi cuộc chiến giữa cái tôi và cái ước mơ đã đẩy tình yêu anh dành cho Thu lùi lại. Các nghiên cứu về vô thức đưa ra kết luận rằng: Nhân cách con người là sự kết hợp của nhiều phần riêng biệt, mỗi phần có năng lượng riêng. Trong quá trình phát triển của bản ngã–ý thức thì khi những cảm xúc bị tổn thương, dồn nén sẽ tự động chuyển vào cõi vô thức. Khi những ham muốn bị vùng ý thức từ chối, nó sẽ không chịu sự kiểm soát của vùng ý thức. Khi cảm xúc tâm thần bị giao động giữa cá nhân và xã hội, nó sẽ tạo dựng cá tính hay bản sắc xã hội của một người.
Giữa lúc ấy thì Chương gặp Tuyết, tình yêu của Chương với Tuyết, nhìn bên ngoài có vẻ rất phi lý: Một ông giáo đạo đức, rất ghét phụ nữ lại say mê một cô gái giang hồ trụy lạc, phóng đãng. Sự phi lý này chỉ có thể có trở thành hợp lý khi được nhìn từ góc độ tâm lý. Tuyết đã chiến thắng những phần ý thức-vô thức trong Chương và đã giúp anh giải tỏa những ham muốn bấy lâu bị kìm lại. Sự vỗ về, nâng niu chiều chuộng của Tuyết khiến những phức cảm về Loan, về Thu dịu xuống. Sự vô tư, dâng hiến của Tuyết đã làm thỏa mãn cái tôi (ego) và không cho Chương có đủ thời gian để băn khoăn nghĩ ngợi. Tuyết đã xoa dịu vết thương trong tìm Chương và chiếm được cả hồn lẫn xác của anh. Cái bản ngã–ý thức của Chương cũng hài lòng tiếp nhận Tuyết, quên đi cái quá khứ đau đớn do Tuyết và Thu để lại trong anh. Vùng ý thức trong Chương cho phép chàng gạt bỏ quá khứ đã qua mà chấp nhận đời sống hiện tại, khiến chàng rất mãn nguyện.
Tuyết sau cuộc hôn nhân không tình yêu mà gia đình đẩy Tuyết vào, Tuyết tự do tiếp thu nền học vấn mới. Quan niệm và lối sống theo phương Tây, bản ngã của Tuyết đã nhanh chóng lựa chọn, quyết định con đường đi của nhân cách. Tuyết xuất hiện như một “gái mới” từ lối suy nghĩ, hành xử và quan niệm sống bất cần, khiến Chương không còn bị mạc cảm hất hủi, khước từ. Con người Tuyết toát ra sức hấp dẫn của một bản ngã vừa rạo rực, vừa tràn sức sống bên trong, vừa khoác lên mình cái “phông” văn hóa theo xu thế thời đại. Tuyết cũng như Chương, họ đã lựa chọn hoàn toàn có ý thức cho hướng đi của mình. Bản ngã của Tuyết với bản năng mách bảo, vùi chôn quá khứ, dồn nén tình cảm chân thành, tâm hồn dễ xúc cảm của mình xuống tầng vô thức. Bởi trong vô thức ấy là cả một chuỗi ngày xanh tràn đầy nhiệt huyết, những ngày tủi cực, tù túng, không ánh sáng, không niềm vui mà Tuyết muốn gạt bỏ và không muốn mang trở lại vùng ý thức để phải đối diện với hoang mang rối loạn. Tuyết chỉ muốn sống với đời sống hiện tại và chỉ muốn nghĩ đến tương lai là một biểu hiện tâm lý của bản ngã-ý thức. Như vậy, chúng ta có thể kết luận: Đời mưa gió là một thể loại tiểu thuyết tâm lý, một mô hình của tiểu thuyết phương Tây nhưng vẫn giử được tính cách Á Đông.
Hai đứa trẻ của Thạch Lam là lối viết giản dị, giàu cảm xúc, ẩn chứa nhiều ý nghĩa và đã để lại những suy tư trong lòng người đọc. Trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” Thạch Lam đã phác họa một bức tranh của Liên với nhiều suy tư, với tâm hồn nhân hậu, thương người. Ông đã khéo léo dùng ngòi bút của mình để diễn tả nhân vật qua một phong văn tinh tế, sâu sắc trong môi trường nghèo nàn, cơ cực của một kiếp người. Thạch Lam đã miêu tả thế giới nội tâm của từng nhân vật qua những chi tiết, những hành động và lời nói của nhân vật rất ư là phong phú và độc đáo. Chẳng hạn như nhân vật Liên trong tác phẩm là một điển hình của nghệ thuật này. Những cảnh chiều tàn trên phố thị đến những người sống nơi tỉnh lẻ là một bức tranh hoàn mỹ với tâm hồn và tâm trạng được bộc lộ một cách tinh tế và sâu sắc.
Nội dung câu chuyện là một buổi chiều nơi phố huyện nghèo nàn, xơ xác, tiêu điều với hình ảnh của những người sống trong một môi trường tù túng, chật vật, đói khổ. Liên với tâm trạng buồn bã, thương xót cho mảnh đời của những đứa trẻ con nhà nghèo. Hình ảnh của những đứa trẻ cúi lom khom nhặt nhạnh những gì còn sót lại sau phiên chợ quê nghèo nàn, khiến Liên động lòng thương cảm cho số phận của những đứa trẻ cũng như thương cảm cho chính bản thân mình. Liên xót xa, cảm thông với những kiếp người nhỏ nhoi sống lây lắt trong bóng tối, trong cơ cực đói nghèo cứ bám theo họ hết ngày này qua ngày khác và cho đến hết cuộc đời. Cảnh chiều tàn nơi phố huyện trong bóng tối đã dấy lên trong lòng Liên bao nỗi niềm khát vọng và mơ ước một cuộc đổi đời.
Trong khoảng khắc của một ngày tàn, những kỷ niệm tuổi thơ với những tháng ngày tươi đẹp hiện về trong tâm hồn của Liên. Đó là những ngày tháng gia đình cô còn sống ở Hà Nội, được thưởng thức những món quà ngon, vật lạ. Nhưng giờ đây, tất cả đã là quá khứ, là kỷ niệm. Hình ảnh duy nhất mà hai chị Liên đang mong chờ, hy vọng là chuyến tàu đêm đi ngang qua, mang theo ánh sáng phồn thịnh của tia hy vọng giàu sang trở lại cho phố huyện nghèo nàm mà Liên đang sống.
Xuyên qua câu chuyện Hai Đứa Trẻ, hình ảnh Liên với tâm hồn nhạy cảm, trong sáng chen lẫn nhiều suy tư đã phản ảnh qua sự đối lập của hai thế giới: Một bên là cuộc sống phồn hoa, giầu có, tràn ngập ánh sáng, hy vọng và một phố huyện nghèo nàn, vất vả, đói khổ của những mảnh đời bất hạnh. Điều này được giải thích rõ ràng trong học thuyết Phân tâm học của Freud về vùng ý thức, tiềm thức và vô thức. Điển hình là những viễn ảnh của cuộc sống thanh thản, đầy đủ trong quá khứ đã ẩn giấu và tiềm tàng trong cõi vô thức từ lâu nay bộc lộ qua giấc mơ mập mờ trong vùng tiềm thức, chờ cơ hội bước vào vùng ý thức, thể hiệm qua sự ao ước “ánh sáng của con tàu” có một ma lực để biến khu phố huyện nghèo nàn, buồn tẻ, thiếu thôn thành một thủ đô tốt đẹp trong đó chị em Liên và những người sống trong phố không còn phải lam lũ kiếm ăn từng ngày.
Con Đường Sáng của Hoàng Đạo có tính chất luận đề mà đặc điểm là ông muốn mang những kiến thức Tây học vào phong cách sáng tác với khát vọng đổi mới thể thức viết lách trong văn chương Việt Nam. Điều này đã được thể hiện qua cuốn tiểu thuyết Con đường sáng, Hoàng Đạo đã tạo ra hình tượng người thanh niên trí thức tiểu tư sản Duy ở Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX.
Duy sau khi trải qua tất cả những lạc thú của cuộc sống thành thị, anh trở về sống ở nông thôn và đem hết tâm sức, khả năng hiểu biết của mình để giáo dục dân quê trong cách sinh hoạt, làm việc hiệu quả với hy vọng thay đổi cung cách làm việc cũng như thức tỉnh lối suy nghĩ thụ động của người dân quê. Tại đây, Duy đã gặp Thơ và cưới nàng làm vợ, người vợ quê với tâm hồn trong sáng, cao đẹp đã hỗ trợ tinh thần cũng như trong công việc làm của anh. Cái lý tưởng mà Duy theo đuổi là đem những hiểu biết của mình để truyền dạy lại cho người khác (cái tôi-ego), khiến nó đã đem anh đến gần hơn với “người bình dân” và giúp chàng vượt qua cám dỗ của những thú vui trụy lạc ngày trước. Con Đường Sáng với phong cảnh thôn quê, với nhà tranh vách đất của những người dân lao động, đói khốn khổ, của gia đình bác Tẹo, của bà cụ trẻ. Sự quảng đại vị tha của Thơ đối với những tá điền đã làm cho Duy quyết tâm đổi mới lối sống vô ý thức của anh lúc trước kia để nhập tâm giúp những người nông dân có một cuộc sống khá hơn (cái siêu tôi–superego).
Sau một thời gian, Duy trở lại thăm những gia đình mà anh đã giúp đỡ khi trước để mong được nhìn thấy thành quả tốt đẹp, nhưng anh hoàn toàn thất vọng bởi những căn nhà tranh kiểu mới mà anh đã nhọc công giúp xây cất để cho những người nông dân có được chỗ ở sạch sẽ, vệ sinh và ngăn nắp, thì nay trước mắt anh, cảnh “đâu vẫn vào đấy” với giường chiếu siêu vẹo, bàn ghế bừa bãi, những vết nhơ bẩn trên tường làm hoen ố màu vôi xanh dịu anh đã cho quét hai ba nước. Cạnh đống rác, mấy đứa trẻ đóng khố đương ngồi quanh một cái rổ đựng thức ăn, khua tay đuổi đàn ruồi bay tới tấp chung quanh… khiến Duy chán nản và thất vọng (cái tôi-ego).
Duy tự nghĩ và giận cho sự “đơn thân độc mã” của mình trong cuộc chiến chống lại cái đói, cái nghèo, cái khổ, cái nạn mù chữ và hủ tục khiến anh đã quay trở lại con đường trụy lạc(cái ấy–id). Nhưng cuối cùng lý tưởng cao đẹp đã chiến thắng, Duy tìm thấy ý nghĩa cuộc đời ở thôn quê, anh trở về nơi có người vợ hiền đang chờ đợi, sống cuộc sống của một điền chủ tâm huyết (ý thức).
Như vậy, con đường của Duy đã được Hoàng Đạo lựa chọn đi theo một lý tưởng thanh cao, trong sáng và đầy tình người. Duy, một con người có lý tưởng rõ ràng, khát khao đổi mới và lặn ngụp để tìm ra Con Dường Sáng cho mình và cho mọi người (vô thức).
Ba Chị Em của tác giả Ngọc Cường là tác phẩm cuối cùng mà người viết muốn đề cập đến. NV Ngọc Cường là hậu duệ của TLVĐ và là cháu ruột của nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam). Ngọc Cường được độc giả quý mến bởi bản chất thân thiện, hòa nhã, bình dị của ông. Hơn thế nữa, cách diễn tả tâm lý nhân vật trong truyện của Ngọc Cường thật sâu sắc và rất thực, trong đó, ông thể hiện văn phong của mình với tính chất nhẹ nhàng, êm ái, mạch lạc khiến nó trở nên dễ hiểu và gần gũi với đại chúng.
Ba Chị Em là câu chuyện kể về một người đàn ông tên Hiếu, nhớ về quá khứ của mình thời thơ ấu, hình ảnh một đứa trẻ mồ côi Mẹ từ lúc mới có vài tháng tuổi. Vì không thấu hiểu về cái chết của Mẹ, khiến Hiếu có mạc cảm chính mình là nguyên nhân gây nên sự việc: “Vừa lọt lòng đã mất Mẹ, Hiếu coi biến cố ấy là điều bất hạnh lớn nhất trong cuộc đời của mình… Hiếu tự đổ lỗi cho mình đã gây ra cái chết của mẹ”. “… Nếu không có Hiếu ra đời ngày hôm ấy thì bà cụ hẳn vẫn còn sống?” Điều này chứng tỏ cái hệ lụy tự ti mặc cảm tiềm tàng trong cõi vô thức đã dằn vặt tâm trí Hiếu trong nhiều năm, bởi Hiếu luôn tin tưởng rằng sự ra đời của mình đã khiến Mẹ phải chết. Những ý nghĩ lệch lạc ấy đã ẩn dấu trong vùng vô thức của Hiếu cho đến ngày nay.
Sự khao khát được ấp ủ, nuông chiều nơi tình mẫu tử đã đeo đuổi và ám ảnh Hiếu trong suốt thời gian Hiếu khôn lớn, trưởng thành, khi đã có sự nghiệp và lập gia đình. Tâm tư Hiếu luôn bị giao động bởi sự thiếu vắng yêu thương, vỗ về, bao bọc của Mẹ khiến Hiếu cảm thấy thiếu an toàn, vắng sự chở che, sự hỗ trợ tinh thần và mất tự tin trong cuộc sống. “... Nỗi thiếu vắng to lớn và không có gì thay thế được tình mẫu tử, khiến Hiếu tích lũy nhiều mặc cảm tự ty, đưa tới ứng xử khác với bình thường cho dù sau này Hiếu kết hôn”.
Ứng xử khác với bình thường là kết quả của cái tôi (ego) trong Hiếu để che dấu cái tự ti mạc cảm. Càng lúc, sự suy nghĩ lại càng sâu sắc khiến sự vắng bóng Mẹ, thiếu tình yêu nơi Mẹ bộc phát và thể hiện rõ ràng hơn trong ký ức Hiếu: “Cả một thiếu thời không có Mẹ, Hiếu cảm thấy lẻ loi trong cái gia đình nhỏ bé chỉ có ba chị em lủi thủi trong nhà… Mang nặng tâm trạng kẻ mồ côi, sợ bị ruồng bỏ nên, để kiếm một chỗ nương tựa… là nguồn an ủi, bù đắp cho sự thiếu vắng mẹ dưới mái ấm gia đình”. Sợ bị ruồng bỏ, tìm sự nương tựa hoặc tìm nguồn an ủi xuất hiện bởi nhữngao ước, khát vọng có Mẹ trong cuộc đời. Một khi những ao ước không thề thực hiện được hoặc không nhận được, thì chúng sẽ quanh quẩn ở trong vùng vô thức và vì không thoát ra được để chuyển lên vùng ý thức nên nó ám ảnh tâm tư Hiếu khiến Hiếu sợ sự thất bại và không dám tin tưởng vào khả năng của chính mình.Hiếu tự thu gọn mình vào một cái vỏ ốc để được an toàn, Hiếu khước từ những cuộc vui, tự gian mình vào thế giới trầm lặng, bằng lòng với cuộc sống ẩn dật bởi cái mạc cảm tự ti. Hiếu trở nên nhút nhát, tránh né chỗ đông, ngại giao tiếp, sống thụ động, yếm thế và cuối cùng là…sợ sống bởi Hiếu sợ phải đối diện với thử thách trong cuộc sống.
Có những lúc Hiếu nhận ra mình không sống thật với chính mình bởi Hiếu không muốn đương đầu với khó khăn, chướng ngại, dễ dàng buông xuôi mọi việc để không phải đối diện với thất bại. Thất bại vì Hiếu mất niềm tin của chính mình, Hiếu sợ kết quả không hoàn hảo nên không muốn dấn thân. Thiếu chỗ dựa tinh thần nên Hiếu luôn tìm kiếm hình bóng Mẹ qua hình ảnh hai người chị lớn khi còn thơ ấu cũng như khôn lớn, trưởng thành: “Ở vào tuổi thơ ấu, sớm phải trông cậy vào tình thương và sự đùm bọc của hai người chị, Hiếu mong muốn các chị sẽ thay thế mẹ mình và cùng lúc, cố tìm hình ảnh của bà mẹ qua các chị nhưng thực tế đã làm Hiếu thất vọng”. Thất vọng vì Hiếu không tìm thấy ai có thể thay thế hình ành Mẹ trong tim Hiếu như một khuyết danh nào đã nói: “Chúng ta chỉ có một người Mẹ”
Khi có gia đình, Hiếu chọn Dung, một người đàn bà nhanh nhẹn, đảm đang, tinh thần mạnh mẽ vì Hiếu tưởng là đã tìm thấy Mẹ qua vị trí của Dung, bởi Hiếu cảm thấy an toàn, được che chở, bao bọc, an ủi, chiều chuộng, lo lắng khi ở bên Dung, “Hiếu từ khi có gia đình riêng, Hiếu thường đùn việc giao tế cho Dung vì nghĩ là vợ lanh lợi hơn, có óc thực tế với nhiều kinh nghiệm sống để hiểu người khác nên dễ thành công”. Đùn việc cho Dung là đúng, vì Dung có thể làm mọi việc nhanh chóng và có kết quả tốt, nhưng cái nguy hiểm là Dung đã dần dần biến Hiếu thành một người mất sự tự tin và có cảm giác là “vô dụng”. Dung dù có muốn hay không, nàng đã vô tình trở thành “Super Woman” như Hiếu đã ghi nhận về Dung “đảm đương mọi việc trong nhà, quyết định từ chi thu tiền nong cho đến dậy dỗ con cái”. Ở đây, nếu đem ra phân tích tâm lý nhân vật Hiếu và Dung, thì thực sự Hiếu không phải là người không có trách nhiệm mà bởi Dung đã gián tiếp tạo cơ hội cho Hiếu trở thành người thụ động. Dung đương nhiên trở thành một người chủ gia đình bất đắc dĩ và Hiếu tự cho rằng mọi sự đã có Dung lo liệu, khiến Hiếu buông xuôi tất cả. Có lẽ, Hiếu cần xóa bỏ những ý tưởng cực đoan về cái chết của Mẹ hoàn toàn không phải là do Hiếu gây ra, Hiếu cần phải tẩy đi cái tư tưởng sai lầm ấy trong cõi vô thức, thúc đẩy vùng ý thức hoạt động để có thể lấy lại tự tin và niềm vui sống, chia sẻ trách nhiệm với Dung, tạo sự tự tin và tự hào trong lòng mình.
KẾT LUẬN: Hầu như tất các nhân vật trong những tác phẩm của TLVĐ đều chịu ảnh hưởng bởi học thuyết Phân tâm học cùa Freud và Chủ Nghĩa Phi Lý Tính của Schopenhaur, bởi những nhân vật trong tác phẩm của TLVĐ nếu được đưa ra phân tích thì cuộc sống của con người chịu ảnh hưởng bởi một xã hội chứa đầy sự mâu thuẫn, sự suy nghĩ thiếu minh mẫn và sự khốn cùng. Từ những quá khứ không hoàn hảo bởi sự đổ vỡ của tình mẫu tử như trong truyện Ba Chị Em của Ngọc Cường, sự thất bại của khát vọng vinh quang và từ cái nhìn đầy bi quan, ảm đạm đối với cuộc sống hiện tại khiến con người trở nên thù hận, hối hận, mạc cảm, khinh bỉ và đôi khi còn coi thường phụ nữ để che dấu vết thương bị phản bội hay bỏ rơi như Chương trong tác phẩm Đời Mưa Gió của Khái Hưng và Nhất Linh. Phân tâm học cũng cho rằng: Hành vi của một người bị ảnh hưởng bởi những động lực trong vô thức và đưa đến các vấn đề về cảm xúc tâm lý. Các hành vi khác thường bắt nguồn từ những xung đột giữa tâm trí có ý thức và vô thức như nhân vật Duy trong tác phẩm Con Đường Sáng của Hoàng Đạo.
Khánh Lan, California Oct. 2022
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Phân Tâm Học và Đời Sống, của tác giả Khánh Lan, xuất bản năm 2022.
- Tuần báo Phong Hóa số 87.
- Văn hóa – Văn học Việt Nam.
- Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ tuyển chọn và giới thiệu (1999), Văn chương Tự lực văn đoàn (tập 2).
- Ngô Văn Thư (2006), Bàn về tiểu thuyết của Khái Hưng.
- Đỗ Lai Thúy và Phan Ngọc Hà dịch từ Psychanalyse et litérature PUF, Paris, 1978.
-
CHỮ TÂM TRONG TRUYỆN KIỀU
Khánh Lan biên soạn

CHỮ TÂM TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
Trong bài viết về chữ TÂM của tác giả Lê Ánh, ông đã bàn về chữ CHỮ TÂM TRONG ĐẠO PHẬT và cho rằng chữ TÂM gắn liền với đời sống của con người và trong đạo Phật. Theo giáo lý nhà Phật: Tâm tức Phật, Phật tức Tâm”. “Nhứt thiết duy tâm tạo”, nghĩa là: “Mọi sự việc đều do tâm tạo ra”. Về phần này tác giả Lê Ánh nói rất chi tiết trong bài viết của ông về chữ CHỮ TÂM TRONG ĐẠO PHẬT, nên người viết xin không đi sâu vào chi tiết này, mà đi thẳng vào phần “CHỮ TÂM TRONG TRUYỆN KIỀU” của Nguyễn Du. Trong truyện Kiều của Đại văn hào Nguyễn Du khi luận về “chữ Tài chữ Mệnh”, ông viết: “Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Nhưng khi kết thúc câu truyện luận về chữ Tài và chữ Mệnh, ông lại kết luận với hai câu thơ:
“Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài.”
Phải chăng Nguyễn Du cho rằng Tâm quan trọng hơn Tài? Tại sao lại có sự so sánh giữa “Tài và Tâm”. Tâm đồng nhất với thiện tâm, tâm tính nhân hậu. Hai câu thơ trên có nghĩa là: Con người sinh ra đã sẵn có “cái thiện” trong lòng và tấm lòng quý giá hơn tài năng. Như vậy, có phải Tâm là gốc, là nền nền móng, là căn cốt và là cội rễ của nhân cách con người? Dưới lăng kính của Nguyễn Du về Tâm và Tài thì đó là hai từ ngữ không thể tách rời. Nếu có Tài mà không có Tâm, thì cái Tài đó thật sự chẳng có ý nghĩa mà còn có thể gây nguy hiểm cho xã hội. Một khi con người không có Tâm thì vô tri giác, thiếu tình cảm, sống hời hợt, không cảm thông cho nỗi khổ của những kể khốn cùng.
Nếu chữ TÂM trong đạo Phật là “từ, bi, hỷ, xả” thì chữ TÂM trong Truyện Kiều bao hàm “Nghiệp và Mệnh”. Tâm “thiện” hay “ác” sẽ quyết định cho “hành động”, từ đó tạo nên nghiệp và số mệnh tương ứng. Như vậy, ta thấy truyện Kiều không đơn thuần mang tư tưởng Phật giáo mà còn có cả tư tưởng Nho giáo. Theo Giáo sư Trần Đình Sử, Tâm là chân như, tĩnh tại, đồng cảm, thương người, ông cho rằng chữ Tâm trong Truyện Kiều là sự gặp gỡ luồng tư tưởng của hai bậc Nho gia và Phật gia. Nhưng, chữ Tâm trong Truyện Kiềukhông đồng nhất với chữ Tâm của nhà Phật bởi Nguyễn Du không coi sự diệt dục là quan trọng như lời Phật dạy. Truyện Kiều là câu “truyện thế tục”, kể về một cái Tâm thế tục cao thượng, tuy không đạo đức siêu hình nhưng không tầm thường dung tục.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhiều lần nhắc đến chữ Tâm. Thí dụ:“Từ tâm” xuất hiện qua lá thơ Kiều thề nguyền đồng tâm cùng Kim Trọng; “lễ tâm” khi chạy án cho hai cha con Vương Ông; “hiếu tâm” thể hiện qua câu “lửa tâm càng dập, càng nồng“, lửa lòng, lửa ghen cháy trong lòng Hoạn Thư và “tâm thành” khi Kiều bán mình chuộc cha. Ở đây ta thấy chữ Tâm luôn đi kèm với một từ khác, để biểu hiệu cho một khái niệm có liên quan đến chữ Tâm. Khi chữ Tâm đứng độc lập thì nó có nghĩa là lương tâm, đạo đức; nhân ái, vị tha; khoan dung, nhân hậu; cảm thông, sẻ chia, v.v…
Để hiểu rõ ràng và sâu sắc hơn về chữ Tâm trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, các nhà nghiên cứu chú tâm vào vào hai lãnh vực: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu chữ Tâm qua hành động của một vài nhân vật điển hình như: Thúy Kiều, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến… Trong phạm vi này, nhà nghiên cứu phân tích tiểu sử của câu truyện để tìm hiểu về bối cảnh văn hóa, xã hội của tác phẩm cũng như tiểu sử của tác giả để thu góp những tài liệu xác thực chứng minh cho tác động, tư tưởng và bối cảnh thực tại khiến có sự ra đời của tác phẩm. Phương pháp phân tích nhân vật nhằm thu nhặt khái quát những nét đặc trưng của cái Tâm trong tác phẩm. Phương pháp văn hóa học được sử dụng để khám phá những nét văn hóa đặc thù trong tác phẩm của nhà văn.
Theo tài liệu Wikipedia, Nguyễn Du sống trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, một giai đoạn với nhiều biến động trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đất nước chia thành hai Đảng dưới sự cầm quyền của hai thế lực: Miền Bắc do Vua Lê và Chúa Trịnh thống trị, trong Nam là Chúa Nguyễn. Cả hai nơi đều do các thế lực phong kiến cầm quyền, nội bộ của bị phân hóa và yếu trong vai trò ổn định tình hình, lãnh đạo đất nước. Nguyễn Du đã sống qua cả ba thời đại: Lê-Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn và trải qua nhiều cuộc binh biến tàn khốc của các tập đoàn phong kiến cũng như các cuộc khởi nghĩa đòi quyền sống của tầng lớp nông dân. Ông đã chứng kiến tận mắt cảnh sống xa hoa, đồi trụy cũng như sự thống trị dã man, tàn ác của giai cấp phong kiến, đến cảnh đau khổ, nghèo đói, đày đọa và những áp bức bất công, cảnh nước mất nhà tan, kiếp người tài hoa bạc mệnh. Chính những biến cố của thời đại, của gia đình đã đẩy Nguyễn Du ra giữa cuộc đời lưu lạc và có nhiều tâm sự u uẩn. Niềm u uẩn ấy, được ông gửi gấm vào thi ca, đặc biệt là nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” của ông.
Nghiên cứu nhân vật trong tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” hay “Truyện Kiều”. cho ta thấy những hành động xuất phát từ Tâm mà ra,như trong cảnh Thúy Kiều khóc thương Đạm Tiên là cái Tâm thành đưa đến từ tâm lý đồng cảm của Kiều qua hai câu thơ: “Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.” [83 – 84]. Những nhân vật có Tâm nhân ái, lòng lương thiện là Thúy Vân, thùy mị, đoan trang, hồn nhiên, vô tư. Vương Quan có tư cách đứng đắn, đàng hoàng, nghiêm trang, hòa nhã: “Cũng trong nha dịch, lại là từ tâm;”. Nhân vật Từ Hải với khí tiết anh hùng là đại diện cho một hình ảnh nam nhân xuất sắc bên cạnh Kim Trọng.
Chữ Tâm trong truyện Kiều biểu hiện rõ nét cho một chữ “Tâm” trong triết lý Phật giáo thể hiện trong buổi đi chơi gặp mộ Đạm Tiên, sau khi nghe qua tiểu sử cuộc đời cô kỹ nữ xa lạ, Kiều liên tưởng đến mình: “Nỗi niềm tưởng đến mà đau, Thấy người nằm đó biết sau thế nào?” Trong tâm thức Kiều đã ngầm chứa những hạt giống khổ đau, bạc mệnh. Đó là điều Kiều cảm nhận được mà người khác không biết.
Trong đoạn cuối câu truyện, sau bao ngày chìm đắm trong bể khổ, Kiều từ bỏ trần tục để được sống thanh thản, nhẹ nhàng cũng là cái tâm của nho gia. Tâm thiền thể hiện qua sự tu hành của Kiều. Chữ Tâm trong Tâm lý học gồm “Thiền tâm”. Tâm tức lý. Nỗi nhớ mẹ, nhớ em, nhớ nhà, nhớ Kim Trọng đều là tâm lý mà cũng là thiện lý. Chữ Tâm của Nguyễn Du qua Kiều ghi nhận như một phép nhiệm mầu nơi cửa Phật qua câu thơ: “Cho hay giọt nước cành dương, Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên” hoặc“Mùi thiền đã bén muối dưa, màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng”. Vậy Kiều có thực sự chọn con đường tu hành là giải thoát? Có lẽ sẽ tùy theo độc giả phán quyết.
Tóm Lại:
Nguyễn Du mất đi, nhưng ông đã để lại những câu thơ lục bát bất hủ và một tuyệt tác có giá trị. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác văn học ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam, có ảnh hưởng sâu đậm sắc màu Phật giáo và Nho giáo. Truyện Kiều đã thấm vào trí nhớ, tâm hồn người Việt qua hai chữ Tâm-Tài. Trong tác phẩm, Nguyễn Du đã vẽ ra một Thúy Kiều có Tài nhưng bạc mệnh, nhưng với chữ Tâm thánh thiệnnhư ngọn đèn sáng soi lối đi cho Thúy Kiều trong những ngày cuối đời.
Tư tưởng của Nguyễn Du với tư cách là một đại Nho gia đã thể hiện rõ trong Truyện Kiều và chứng minh cho chúng ta thấy rằng, ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ triết lý Nho giáo hòa quyện với triết học nhà Phật. Bởi bối cảnh của câu chuyện lệ thuộc vào hoàn cảnh chính trị, xã hội, tư tưởng của Việt Nam thời đó nên Truyện Kiều dễ dàng ghi sâu vào tâm trí người dân Việt cũng như ảnh hưởng đến đời sống xã hội Việt Nam. Một lý do khác là tư tưởng Truyện Kiều có liên quan mật thiết đến đời sống người dân Việt, một dân tộc vốn coi trọng chữ trung và chữ hiếu.
Khánh Lan,
California, November 2022
-
NHÀ VĂN VIỆT HẢI: TRONG Ý NGHĨ CỦA TÔI.
Bài viết của NV Kiều My

VIỆT HẢI & KIỀU MY Khi vừa hoàn thành tác phẩm đầu tay ĐÓA HOA NỞ MUỘN, tôi rất phân vân không biết nên làm gì; cất giấu nó đi mãi mãi hay nên thực hiện một buổi ra mắt sách cùng độc giả? Nếu chôn vùi đứa con tinh thần này muôn kiếp thì quá dễ dàng, nhưng tôi lại không đành lòng! Như một người đàn bà mang thai, cưu mang hài nhi trong dạ với bao yêu thương ấp ủ của một người mẹ…thì sau chín tháng mười ngày, hài nhi hẵn phải chào đời.
Tình cờ một hôm đẹp trời của mùa xuân 2021, con gái Bảo Trâm chở tôi đến thăm vợ chồng Tina và Quốc Sĩ – một tay guitar điêu luyện trong làng nhạc Việt hải ngoại. Người nhạc sĩ dễ mến này đưa tôi đi xem phòng thu âm, nơi mà các nhạc sĩ thường gắn bó và say sưa làm việc với âm nhạc. Rồi hai cô cháu nói chuyện huyên thuyên về các ca nhạc sĩ và những sáng tác mới của Quốc Sĩ. Trong dịp này, bất chợt tôi tâm sự với Sĩ về tác phẩm của tôi vừa sáng tác xong, mong rằng Sĩ có thể góp ý với tôi nên làm gì. Không ngờ mắt Sĩ sáng lên rồi nhiệt tình nói:
“Hay quá! Cô gặp đúng người rồi! Để Sĩ giới thiệu cô với anh trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian…anh Việt Hải. Sĩ rất quý mến anh và chị Lệ Hoa, anh rất tốt sẽ giúp đỡ cô, cô đừng lo!”
Tôi vừa thoáng thấy có một cánh cửa hy vọng sắp mở ra, nhưng lại e ngại không biết anh trưởng nhóm có vui lòng giúp tôi không vì tôi chỉ là một người xa lạ đối với anh. Chừng vài phút sau, Sĩ hăng hái thực hiện ngay kế hoạch làm người trung gian kết nối đường dây:
“Chào anh Việt Hải! Anh khỏe không? Hôm nay Sĩ giới thiệu với anh cô của Sỹ là Kiều My muốn ra mắt sách, anh có thể giúp cho cô của Sĩ được không?…”
Qua dăm ba câu thăm hỏi trao đổi với nhà văn Việt Hải, Sĩ trao điện thoại cho tôi bèn dặn dò:
“Cô cố gắng nghe vì anh Việt Hải bị stroke hai lần; vì thế, tiếng nói của anh không được rõ ràng lắm!”
Quả thật vậy! Khi cầm điện thoại và áp sát vào tai, tôi nghe được giọng nói của anh Việt Hải… đã gây cho tôi niềm cảm xúc ngập tràn. Anh cố gắng nói để tôi được hiểu ý của anh rằng: anh sẵn sàng giúp tôi ra mắt sách. Giọng anh khàn khàn ngọng nghịu, có đôi lúc thở nặng nề mệt nhọc, làm tôi rất e ngại và thương cảm cho anh. Tôi tự hỏi: không biết tôi có làm mất thời giờ và làm phiền cho sức khỏe của anh chăng? Trong tôi chứa đầy ngạc nhiên không lẽ trên đời này còn có người tốt như thế sao? Anh chưa biết tôi là ai, người như thế nào…mà dám mở rộng vòng tay chào đón và giúp đỡ nhiệt tình một người xa lạ chưa bao giờ gặp mặt; hơn thế nữa, anh là người không được khỏe mạnh cho lắm!
Trên đường về, tôi luôn nghĩ ngợi về nghĩa cử cao đẹp của một người mang tên Việt Hải, trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Tôi không thể hình dung anh như thế nào, người ra sao, bao nhiêu tuổi?…Dường như anh là khuôn mẫu của một người chỉ muốn cho đi mà không cần nhận lại. Nhất là trong lãnh vực văn chương và nghệ thuật. Anh luôn khuyến khích và hướng dẫn những mầm non văn chương, những ngòi bút còn non nớt, hãy cố gắng đọc thật nhiều và viết thật nhiều để hình thành những tác phẩm giá trị cho đời và nhất là để bảo tồn văn hóa Việt. Bao lâu còn văn hóa Việt, tiếng nói Việt, thì dân tộc Việt vẫn còn tồn tại; dù cho người Việt có tản mác khắp nơi trên địa cầu này.
Chỉ sau một thời gian ngắn ngủi, tác phẩm ĐÓA HOA NỞ MUỘN được anh Việt Hải đưa qua nhà văn kiêm chủ bút Khánh Lan chỉnh sửa những sơ sót trong bản thảo. Sau đó lần lượt được trao qua bàn tay kỹ thuật nhà nghề của anh Phạm Hồng Thái ở tận San Jose trau chuốt, sắp xếp, trình bày rất đẹp mắt. Ngoài ra, bìa sách được nhà văn kiêm họa sĩ Vi Khiêm vẽ một đóa hoa hồng rạng rỡ vươn lên khoe sắc trong cảnh mùa thu rất ư nghệ thuật…Tất cả thật tuyệt vời ngoài sự mong đợi của tôi! Cầm quyển sách ĐÓA HOA NỞ MUỘN thật đẹp, thật mượt mà trên tay mà trong lòng thầm cảm ơn tất cả các vị Việt Hải, cô Khánh Lan, anh Hồng Thái và anh Vi Khiêm, đã chung tay hoàn chỉnh sách ĐÓA HOA NỞ MUỘN của Kiều My, như một báu vật.
RA MẮT SÁCH CỦA NV KIỀU MY

Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tạm ngưng hoạt động khoảng hai năm vì dịch bệnh Corona Virus lan tràn. Khi dịch bệnh không còn phát triển mạnh nữa, thì nhóm hoạt động trở lại và ĐÓA HOA NỞ MUỘN được nhà văn Việt Hải khởi động cho ra mắt với độc giả vào mùa hè tại Nam California, ngày Chủ nhật 15 tháng Tám năm 2021. Trong sự kiện quan trọng và đầy ý nghĩa về văn chương và nghệ thuật mà nhà văn Việt Hải luôn hăng say tổ chức và quy tụ giới cầm bút, truyền thông, báo chí… góp mặt trong chương trình như một sự khích lệ lớn lao cho các tác giả. Ngoài ra, các nhà văn, thi sĩ, ca sĩ trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, gia đình và thân hữu của tác giả tham dự đông đảo trong không khí thân thiện cởi mở. Trong buổi ra mắt sách luôn luôn gồm 2 phần:
1/ Phần văn học: dưới sự chủ tọa của nhà văn Việt Hải cùng các diễn giả như: nhà văn Nguyễn Quang, nhà văn kiêm giáo sư Quyên Di, nhà văn Khánh Lan, nhà văn Vi Khiêm v.v…Phần này giới thiệu về tiểu sử tác giả và tham luận về tác phẩm.
2/ Phần văn nghệ: do nhóm Tiếng Thời Gian phụ trách, dưới sự điều khiển của ca nhạc sĩ Lâm Dung, cùng với tiếng hát của các ca sĩ Thụy Lan, Lệ Hoa, Ngọc Quỳnh, Minh Thư, Ái Liên v.v…
Hai phần văn học và nghệ thuật kết hợp nhịp nhàng đã làm tăng thêm phần sống động và vui tươi cho buổi ra mắt sách. Những nhạc phẩm được trình diễn trong chương trình cũng được chọn lọc theo chủ đề của sự kiện.
Nhà văn Việt Hải cùng ban diễn giả đã chu toàn vai trò mô tả thật sống động về nội dung của tác phẩm ĐÓA HOA NỞ MUỘN. Trong đó, tác giả đã trau chuốt từng nét vẽ uyển chuyển để tạo nên bức tranh đẹp tuyệt vời của một tình yêu huyền thoại, mà chắc hẵn ai trong chúng ta cũng đều mơ ước. Động lực chính khiến tác giả dàn dựng lên một bối cảnh yêu đương nồng nàn của đôi uyên ương trong sự thủy chung, vì cảm kích mối tình bất diệt của chính tác giả với nàng kiều Selma Karamy trong UYÊN ƯƠNG GÃY CÁNH ( The Broken Wings ) của nhà văn nổi tiếng Lebanon KAHLIL GIBRAN. Qua HỒN BƯỚM MƠ TIÊN của KHÁI HƯNG, tác giả cũng thương cảm cho mối tình thanh cao dưới bóng từ bi của thí chủ Ngọc và chú tiểu Lan. Thêm lần nữa, tác giả lại xót xa cho hai người trẻ ROMEO ET JULIETTE yêu nhau trong nghịch cảnh, không được lấy nhau nên sau cùng đã chết bên nhau cho trọn cuộc tình của WILLIAM SHAKESPEAR. Trong LOVE STORY của ERICH SEGAL, hai kẻ bất hạnh là Oliver Barrrett và Jennifer Cavilleri yêu nhau tha thiết. Nhưng vì sự cấm đoán khe khắt của gia đình danh giá Barrett mà đưa đến một kết cuộc bi thương….Vì những chuyện tình thủy chung đầy nước mắt và tuyệt vời này…khiến tác phẩm ĐÓA HOA NỞ MUỘN đã ra đời. Trong quyển sách bé nhỏ này chứa đầy tính nhân bản của tình yêu đôi lứa, tình gia đình, tình bạn hữu và tình yêu quê hương. Sau cùng, mọi người đều nhỏ lệ tiếc thương cho đôi uyên ương phải gãy cánh, vì người chồng vĩnh viễn từ giã cõi đời để lại người vợ hiền trung trinh và hai con thơ trong đau đớn nghẹn ngào. Sự việc này đã nói lên triết lý về cuộc đời: không có gì tồn tại mãi mãi và không gì gọi là vĩnh cửu trên đời này!
Buổi ra mắt sách đã thành tựu. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì gánh nặng đã được trút xuống khỏi đôi vai. Mọi việc được hoàn tất tốt đẹp là nhờ vào sự nhiệt tình cũng như sự tổ chức chu đáo của anh Việt Hải, cùng với sự hỗ trợ tích cực của các văn thi sĩ và các ca sĩ trong nhóm âm nhạc Tiếng Thời gian . Tôi ngẫm nghĩ về câu nói đầy ý nghĩa của một văn hào: “Hãy quan tâm những gì xung quanh bạn và biết ơn những gì bạn có được trong cuộc sống ngắn ngũi này.”( Observe around you and be thankful for all that you have in this transitory lifetime.)
Một điều thật lạ và đầy ngạc nhiên, khi tôi khám phá ra văn sĩ Việt Hải viết hàng ngàn bài viết trong hơn ba mươi năm, những bài viết thật giá trị về văn chương và hàng ngàn bài thơ quê hương, tình yêu, lãng mạn, nhưng anh chưa hề có một cuốn sách nào cho riêng anh để ra mắt cùng độc giả; bởi anh chỉ viết in chung giúp cho sách của nhóm bạn bè được hình thành. Việt Hải là thế! Anh vì mọi người hơn vì mình! Tấm lòng anh thật bao la… hiếm có! Anh không ích kỷ! Anh không màng lợi danh! Tôi rất may mắn là thành viên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian và được hoạt động chung với anh. Anh luôn vui vẻ với mọi người, hình như anh thích những cuộc gặp gỡ hàn huyên. vui đùa với bạn bè. Anh là chim đầu đàn của nhóm, sẵn sàng nâng đỡ và hướng dẫn những thành viên trong nhóm khi gặp khó khăn trong văn chương hay thơ nhạc. Chúng tôi rất quý mến và biết ơn những gì anh đã làm cho chúng tôi. Ở đây có rất nhiều nhà văn, nhưng khó tìm được người hy sinh bỏ thời gian và công sức để giúp mình bước lên để đạt được sự thành công.
RA MẮT SÁCH CỦA NV KHÁNH LAN

NHÀ VĂN KHÁNH LAN Thừa thắng xông lên! Sau buổi ra mắt sách tốt đẹp của Kiều My, anh Việt Hải ra tay giúp cho bốn quyển sách của nhà văn Khánh Lan được trình làng cùng độc giả:

RA MẮT SÁCH 4 TÁC PHẨM CỦA NV KHÁNH LAN –DĨ VÃNG KHÔN NGÔI. Mọi người trong chúng ta đều có dĩ vãng với những kỷ niệm buồn vui trong quá khứ. Dù trong cuộc sống thăng trầm bôn ba của hiện tại, nhưng trong phút giây nào đó, dĩ vãng lại lãng đãng trôi về từ trong ký ức dường như đã ngủ quên. Những kỷ niệm của quá khứ đó có thể cho ta một nụ cười ngắn ngủi hay những tiếng thở dài lê thê, khi nó trở về từ nấm mồ của thời gian.
–TUYỂN TẬP TRUYỆN TRINH THÁM, THÁM TỬ LÊ MINH. Tác giả viết lên những câu chuyện trinh thám hồi hộp gay cấn, gợi lên óc tò mò của độc giả mà nhân vật chính Lê Minh đã đưa người đọc vào mê hồn trận của những pha mạo hiểm cam go, sự giằng co giữa sống chết chỉ trong gang tấc.
–ĐÔI NÉT VỀ 10 TÁC GIẢ ÂU MỸ CẬN ĐẠI. Nhà văn Khánh Lan viết về những tác giả lừng danh qua các tác phẩm để đời của họ. Chẳng hạn như: Alexandre Dumas, Jr.(Pháp) với cuốn La Dame aux Camelias (Trà Hoa Nữ). Andre’ Gide (Pháp) với cuốn La Porte E’troite (Khung Cửa Hẹp). Erich Segal (Hoa Kỳ) với Love Story (Chyện Tình Yêu) và Ernest Hemingway với The Old Man and The Sea ( Ngư Ông và Biển Cả ) v.v..
-TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN: TÌNH YÊU, CUỘC ĐỜI VẢ ĐỊNH MỆNH. Tác giả góp nhặt lại những mẫu chuyện của 45 năm về trước qua một quãng đường dài với biết bao đau thương. Những câu chuyện thương tâm trong thời chiến, nỗi đau mất nước, những cuộc chia lìa xót xa hay những chia ly tang tóc…đã đưa đẩy con người vào vòng xoáy triền miên của cuộc đời trong bể khổ – Như Đức Phật Thích Ca đã nói: “Đời là bể khổ”! Đời người ít nhất một lần cũng phải bước vào bể khổ của cuộc đời trước khi đến miền miên viễn của bên kia thế giới.

NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIÊNG THỜI GIAN TRONG NGÀY RMS CỦA NV KHÁNH LAN RA MẮT SÁCH CỦA NV NGUYỄN QUANG
Cũng vẫn là nhà văn Việt Hải, lần này anh lại tổ chức buổi ra mắt sách cho nhà văn Nguyễn Quang với hai tác phẩm: Ôn Cố Tri Tân và Phận Đàn Bà. Anh là người luôn lạc quan và yêu đời, anh thích vui họp mặt với bạn bè; vì thế, tôi cũng có niềm vui lây với anh trong những buổi họp mặt đình đám này. Đây cũng là điều thú vị về anh. Anh cùng với phu nhân đáng yêu Lệ Hoa góp mặt mọi sự kiện, vì anh luôn là chủ sự. Nếu không có anh chỉ đạo, có lẽ mọi việc khó thành tựu. Ban diễn giả hôm nay gồm có các nhà văn như: Quyên Di, Việt Hải, Khánh Lan và Kiều My bàn luận và tham khảo hai tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang:

RA MẮT SÁCH HAI TÁC PHẨM CỦA NV NGUYỄN QUANG –ÔN CỐ TRI TÂN: do từ nhóm chữ “ Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hỉ “; có nghĩa là: ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay, hành vi này đáng là bậc thầy. Cũng như văn hào Anh, Percy Bysshe Shelly đã nói: “Không lo sợ khi hướng về tương lai qua những bài học đau thương từ quá khứ.” Trong Ôn Cố Tri Tân, tác giả đã đề xuất những bí quyết, những kinh nghiệm hay những bài học kinh điển như kim chỉ nam mà có thể tạo nên thành công cho mọi người. Không nghi ngờ gì khi chúng ta đã trãi nghiệm những thất bại của quá khứ, để tạo thành những bài học quý giá cho tương lai. Như trong dân gian có câu: “Thất bại keo này, ta bày keo khác”, hay “Thất bại là mẹ thành công” vậy.
–PHẬN ĐÀN BÀ: Nhà văn Nguyễn Quang rất đỗi chạnh lòng khi nhìn thấy cảnh ngộ của người đàn bà, nhất là người đàn bà Việt Nam phải cam lòng chấp nhận mọi hoàn cảnh đưa đến trong thời bình cũng như thời chiến. Suốt một đời làm thân phận người đàn bà đầy gian nan, gánh vác hy sinh cho chồng con, xứng đáng để được vinh danh muôn thuở. Như qua nỗi ngậm ngùi của thi sĩ Tú Xương trong bài thơ THƯƠNG VỢ:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”…
Hoặc thương cho phận đàn bà qua hai câu thơ đầy xót xa:
“Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

NHÀ ĂN NGUYỄN QUANG 
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIÊNG THỜI GIAN TRONG NGÀY RMS CỦA NV NGUYỄN QUANG RA MẮT SÁCH CỦA HAI NHÀ VĂN HẬU DUỆ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN: NV TỪ DUNG & NV NGỌC CƯỜNG
Anh Việt Hải làm việc không ngừng nghỉ và rất vui khi những thành viên trong nhóm ra mắt sách thành công. Bước kế tiếp anh tổ chức cho hậu duệ Tự Lực Văn Đoàn, tiêu biểu là hai nhà văn Từ Dung và Ngọc Cường được có cơ hội trình làng hai tác phẩm: Ba Chị Em (Ngọc Cường) và Hồi Tưởng (Từ Dung).

THÀNH PHẦN DIỄN GIẢ ĐƯỢC TỔ CHỨC DƯỚI HÌNH THỨC HỘI THÀO

Đi lần về quá khứ! Vào những lớp Trung học đệ nhất cấp, ông thầy Việt văn của tôi say sưa giảng thao thao bất tuyệt về Nhóm Tự Lực Văn Đoàn với những tác phẩm giá trị đã được đưa vào nền văn học trước 1975, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.
Để bước vào một nền văn học mới mẽ như bước vào một ngày mới với ánh nắng ban mai rực rỡ, như một cuộc cách mạng về văn hóa của xã hội Việt Nam vào nửa bán thế kỷ 20. Thầy giới thiệu cho cả lớp về nhóm Tự Lực Văn Đoàn, bằng giọng trầm trầm đầy sức sống, thầy giảng:
“Nhóm này đã ra đời vào năm 1935 bởi các nhà văn tiên phong như: Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam, Thạch Lam – Nguyễn Tường Lân, Hoàng Đạo – Nguyễn Tường Long và các văn thi sĩ như Tú Mỡ, Thế Lữ, Khái Hưng, Xuân Diệu v. v. Nhóm này ảnh hưởng nền văn chương Pháp, mang đến một khuynh hướng mới, một làn gió mới cho nền văn học Việt Nam. Song song với tư tưởng và lối văn phong trong sáng, phóng khoáng hơn so với tư tưởng và lối hành văn của Hán Nho ngày trước trong các tác phẩm. Về mặt nội dung tư tưởng, các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn thấm đượm tinh thần nhân văn, chống lễ giáo phong kiến, chống những hủ tục không còn thích hợp khi nền văn minh Âu Tây đã ảnh hưởng vào Việt Nam. Điển hình như hai nhân vật chính là Dũng và Loan trong tác phẩm Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Thời điểm xãy ra cốt truyện khi mà cuộc đấu tranh giữa tư tưởng mới và cũ trong xã hội Việt Nam đang hồi quyết liệt”…

Từ trái sang phải: NV Từ Dung & NV Ngọc Cường Trong buổi ra mắt sách hôm nay thật đặc biệt, mọi người được nhìn thấy hai hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn là nhà văn Ngọc Cường và Từ Dung. Hai vị được thừa hưởng dòng máu văn chương của gia đình vọng tộc, một gia tộc danh giá và đã hình thành hai tác phẩm được ra mắt cùng độc giả:
–TÁC PHẨM BA CHỊ EM CỦA NV NGỌC CƯỜNG: Câu chuyện về một đứa trẻ mồ côi mẹ từ lúc còn thơ ấu nên khao khát tình mẫu tử khôn nguôi. Khi lớn lên mang đầy hệ lụy tự ti mặc cảm để rồi sống quay lưng với cuộc đời. Để rồi khước từ những thú vui hay những cuộc hội họp với bạn bè, mà chỉ muốn sống ẩn dật, gậm nhấm những suy nghĩ tiêu cực miên man chảy trong đầu óc.
Cách diễn đạt tâm lý nhân vật chính trong truyện thật sâu sắc và rất thực, khiến cho chúng ta liên tưởng đến nhà văn William Maugham ( một cây bút nổi tiếng về truyện ngắn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20)
– TÁC PHẨM HỒI TƯỞNG CỦA NV TỪ DUNG: Tác giả đưa chúng ta trở về Saigon với những kỷ niệm đẹp, của những ngày tháng mơ mộng dưới mái trường thân yêu, hay dưới những hàng cây xanh của những buổi hẹn hò thời thanh xuân…Vì thời cuộc phải bỏ lại quê hương, để rồi bôn ba nơi xứ người với những thăng trầm trong cuộc sống. Tác giả nói về cuộc đời thật của chính mình, từ một ca sĩ nổi tiếng, đến một nhà giáo, lận đận với nhiều mối tình…nhưng chỉ có một tình yêu trong đời.
Qua tác phẩm Hồi Tưởng, nhà văn Từ Dung muốn nhắn gửi chúng ta một thông điệp, nhất là giới phụ nữ rằng: dù cuộc đời gặp nhiều gian truân thử thách, hãy kiên cường đứng lên và khắc phục những thử thách đó và tiếp tục bước đi.

Để kết thúc chương trình ra mắt sách của các văn thi sĩ năm 2022, nhà văn Việt Hải dốc toàn lực tổ chức ra mắt hai tập thơ của hai thi sĩ gạo cội là Dương Hồng Anh và Lê Trọng Nguyễn Nga sau bao ngày chuẩn bị chu đáo, được diễn ra thật tưng bừng.
RA MẮT SÁCH CỦA HAI NHÀ THƠ: NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH & NHÀ THƠ LÊ NGUYỂN NGA.

Hai quyển tập thơ với những trang giấy mỏng nhẹ nhàng, nhưng nặng hồn thi nhân với những xúc cảm rung động từ con tim mang cống hiến cho người:
– MẦU THỜI GIAN CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH: Tuổi đời thi sĩ đã cao, nhưng tâm hồn vẫn trẻ trung, màu thời gian vẫn còn tươi như những chiếc lá xanh mượt mà của mùa xuân. Tâm hồn thi sĩ bàng bạc tình yêu tha nhân, tình quê hương đất nước, yêu thiên nhiên…tất cả đã quyện trong những vần thơ nhẹ nhàng trầm bỗng. Những vần thơ trong sáng như ánh trăng rầm vằn vặt trong đêm đã được gói gọn trong Màu Thời Gian của nữ sĩ Dương Hồng Anh.
–LẬT TRANG SÁCH CŨ CỦA THI SĨ LÊ NGUYỄN NGA: Tác giả hồi tưởng lại những ngày tháng cũ, những bạn bè xưa của khung trời Saigon thuở nào. Nỗi nhớ khôn nguôi người bạn đời đã về miền miên viễn, đã tạo thành những vần thơ như những tiếng thở than trong đêm trường. Thi sĩ yêu quê hương, yêu những chiến sĩ oai hùng, yêu mùa thu có lá vàng bay, yêu màu tím hoa phượng vĩ…đã dệt nên những vần thơ êm ái qua điệu nhạc du dương lay động hồn người.

Từ trái sang phải: Thi Sĩ Lê Nguyễn Nga & Nữ sĩ Dương Hồng Anh Hôm nay, cũng là dịp mừng sinh nhật thứ 93 của thi sĩ Dương Hồng Anh. Mọi người gửi đến bà những lời chúc đẹp nhất, với những đóa hồng tươi thắm như nụ cười rạng rỡ trên đôi môi bà.
MỪNG SINH NHẬT HAI NHÀ THƠ: DƯƠNG HỒNG ANH & LÊ NGUYỄN NGA

Nhìn nhị vị thi sĩ Dương Hồng Anh và Lê Trọng Nguyễn Nga, tôi rất cảm kích và thương mến gửi đến nhị vị bài thơ như lời chúc tốt đẹp nhất dành cho nhị vị:
TUỔI VÀNG
Dâng đời bao ý thơ huyền dịu
Theo gió thoảng…ru hồn thi nhân
Thời gian sương rơi trên mái tóc
Tuổi vàng tô thắm mấy cung tơ
Ngây ngất hồn thơ vương nắng úa
Chiều về hoa khép nhẹ bờ mi
Lặng nghe dòng đời hồn thổn thức
Mênh mang nét đẹp…tuổi hoàng hôn
Hồn lạc về đâu thi nhân hỡi!
Vần thơ mềm như khúc nhạc êm
Nhạc và thơ như mây với gió
Gió cuốn mây trôi trong nắng vàng
Nắng có phai màu hồn thi sĩ?
Hay…
Nắng vẫn lung linh cùng gió mây?
Kiều My, Mùa thu California, 2022
-
CHIỀU THƠ NHẠC CUNG TRẦM TƯỞNG TRONG BÙI NGÙI THƯƠNG TIẾC

THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG (1932-2022) Nào ai có thể đoán trước được rằng CHIỀU THƠ NHẠC THÍNH PHÒNG CUNG TRẦM TƯỞNG do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) tổ chức ngày 20 tháng 11, 2019 đã là ngày cuối cùng mà anh em trong nhóm hội ngộ cùng thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Dù là đã bao lần nhà văn Việt Hải và nhóm dự định làm một chuyến đi chơi và thăm người thi sĩ tài ba họ CUNG. Tiếc thay NVNT & TTG chưa thực hiện được ước nguyện thì thi sĩ đã ra đi, ra đi trong sự thương tiếc của mọi người và thế giới thi ca đã mất đi một một nhà thơ đáng kính. Xin ghi lại đây những kỷ niệm năm xưa cùng thi sĩ.
NHỚ VỀ CHIỀU THƠ NHẠC CÙNG THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG NĂM NAO
Khánh Lan biên soạn

Từ trái sang phải:
Hàng thứ 1: NS Bích Ty, GS Quyên Di, GS Dương Ngọc Sum, KTS Nguyễn Văn Liêm, TS Cung Trầm Tưởng, NV Việt Hải, CS Minh Tâm, Minh Châu, NS Dương Hồng Anh, CS Thúy Anh, Tố Đoan, Mai Hương.
Hàng thứ 2: CS Nhật Uyên, CS Thụy Lan, NS Quốc Sĩ, phu nhân của NV Việt Hải: Lệ Hoa, NV Khánh Lan và phu quân của CS Thúy AnhNhững hạt mưa đầu mùa nhè nhẹ với tiết trời lạnh lạnh, như nhắc nhở chúng ta “Nàng Thu” đang hiện diện nơi đây và sắp sửa ra đi, để nhường lại cho những ngày đông lạnh giá sắp đến. Và như một sự tình cờ ngẫu nhiên, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi chiều nhạc thơ để chào đón một nhà thơ rất thân quen, mà hầu như tất cả chúng ta đều biết đến từ đầu thập niên 60: Thi sĩ Cung Trầm Tưởng khi ông ghé qua Orange County, California.
Đây cũng là buổi họp mặt lần thứ năm mà Liên Nhóm NVNT & TTG đã chào đón Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, từ miền Minnesota lạnh lẽo về thăm thành phố “Tiểu Saigon”. Buổi nhạc thơ được tổ chức tại Cordoba plaza Club House, thành phố Westminster, California trong bầu không khí ấm cúng và thân mật.
Mặc dù chương trình bắt đầu lúc 4:00 giờ chiều, nhưng mới 3:30, đã có khá đông những thân hữu yêu thơ Cung Trầm Tưởng, xếp hàng chờ sẵn ngoài cửa. Ngoài sự hiện diện của các thi sĩ và văn sĩ, như nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, Nhà thơ Cát Ngọc, Nhà thơ Tha Nhân, Nhà thơ Việt Cường, Nhà thơ Bích Ty, Nhà Văn/Giáo sư Dương Ngọc Sum, Nhà Văn Việt Hải, Nhà Văn/Giáo sư Quyên Di, và Nhà Văn Nguyễn Quang Huy, Nhà Văn Võ ý … còn có sự góp mặt của ký giả Uyên Vũ (báo Người Việt), Ca sĩ Thúy Anh, KTS Nguyễn văn Liêm, NAG Lê Hùng, v.v…
Mở đầu chương trình, Khánh Lan giới thiệu và chia sẻ cảm nghĩ của mình về tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ, 1948-2008”. Tâp thơ này được xuất bản tại Virginia, Hoa Kỳ, năm 2012 và tái xuất bản lần thứ nhất tại California, Hoa Kỳ, năm 2019. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cho biết đây là tập thơ cuối cùng và ông rất hài lòng và hãnh diện khi cho cho tập thơ này ra đời.

NV Việt Hải và Khánh Lan Trong tập thơ, thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi rõ chi tiết của từng giai đoạn, những cảm xúc của mình theo dòng thời gian, qua những thăng trầm của cuộc đời cũng như vận nước nổi trôi trong suốt 60 năm qua. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cũng không quên ghi lại những điểm son trong đời và những cảm xúc của mình qua những chặng đường gian khổ, đau thương, nhớ nhung, uất ức, tuyệt vọng, phẫn nộ và hận thù mà ông đã đi qua.
Ngoài hai bài thơ bất hủ, có thể nói là vượt thời gian và làm nên tên tuổi của ông, là bài “Mùa Thu Paris” và “Chưa Bao Giờ Buồn Thế”, không thể nào không nhắc đến những vần thơ, mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác trong trại tù tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977. Những vần thơ nặng nét đau khổ và tuyệt vọng của người thua cuộc, đã làm thay đổi hoàn toàn những suy nghĩ trong thể thức sáng tác thơ của ông, những vần thơ lãng mạn khi xưa, vội vàng xếp lại để nhường chỗ cho những lời thơ sắc xảo, cay đắng và chai cứng như sau:
Áo tù thẫn máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Môi cầm má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén, canh pha nước bùn.
Nhưng cũng không thể nào sánh được với những vần thơ mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đặt tên cho nó là “Nộ Thơ” khiến người nghe qua phải rùng mình khiếp sợ:
Mai về đạn nhảy ngang nòng súng
Trực trì đầu thù mổ thật nhanh.
Chiều nhạc thơ tiếp tục với những bài hát nổi tiếng của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như “Tiễn Em” và “Mùa Thu Paris”, qua sự trình diễn của ban hợp ca Tiếng Thời Gian. Ca sĩ Thúy Anh với nhạc phẩm “Mình Ơi Ở Lại Đừng Về” và “Paris Có Gì Lạ Không Em”. Ca sĩ Nhật Uyên với bài “Bên Ni Bên Nớ”. Cũng không quên nhắc đến Nhạc sĩ Nguyên Vũ (phu quân của Ca sĩ Thúy Anh), Nhạc sĩ/Guitarist Quốc Sĩ và Nhạc sĩ Keyboardist Tú Phạm đã giúp cho phần âm nhạc trở nên sôi động.
Tiếp theo phần văn nghệ là phần nhận định của nhà văn Việt Hải (anh cũng là con chim đầu đàn của Liên Nhóm NVNT & TTG) về hai bài thơ tiêu biểu thuộc thể loại “Thơ Mới” của thi sĩ Cung Trầm Tưởng: “Núi Và Suối, Một Huyền Sử” và “Phồn Thực Ca”.
Trong bài “Núi Và Suối, Một Huyền Sử”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại khi ông ở trại tù Hầm Tân, tức trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận, nơi có suối nước trong và rặng mây tào, đã cho ông nguồn cảm hứng để sáng tác bài thơ này.
Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ
Tháp chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn.
Bài thứ hai là “Phồn Thực Ca”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại thời trai trẻ, khi ông còn là một phi công, trong một công tác ở miền tây, ông đã gặp và để ý đến một cô giáo dạy học tại đây, có nhan sắc tuyệt vời và hình bóng ấy đã đi vào hồn thơ của người thi sĩ trẻ, tạo nên nguồn thơ cảm hứng và ông đã sáng tác bài thơ ca tụng vẻ đẹp của cô giáo như sau:
Em ướp trầm hương ngân ngát thánh
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên…
Nhà Văn Việt Hải kết thúc bằng nhận xét như sau, anh nói, thơ của Thi sĩ Tagore và Thi sĩ Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm của vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc, tình yêu, đề cao con người và triết lý nhân sinh.

TS Cung Trầm Tưởng và Khánh Lan 
Mừng Sinh Nhật NS Cung Trầm Tưởng Chiều nay, cũng là buổi chiều mừng sinh nhật và chúc thọ Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tròn 90 tuổi. Nhà Văn Việt Hải nhắc đến bài thơ Đêm Sinh Nhật mà thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác khi ông 29 tuổi, tại Đa Kao, Saigon. Bài thơ viết theo thể loại 6-8, nói lên nỗi cô đơn của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Đêm ấy, 50 năm về trước, cũng có mưa rơi như chiều nay, nhưng hôm nay, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng không còn cảm thấy cô đơn, vì quanh ông, đã có rất nhiều người yêu mến ông và yêu mến cả thơ của ông nữa. Bài thơ “Đêm Sinh Nhật” được thi sĩ Bích Ty diễn ngâm để mừng sinh nhật thứ 90 của ông.

Từ trái sang phải: Hàng 1: CS Manh Bổng, MC Thụy Trinh, Minh Châu, CS Thụy Lan.
Hàng 2: Lệ Hoa, TS Cung Trầm Tưởng, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, NS Bích TySau bữa ăn tối, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng say sưa phát biểu về những sáng tác, quan điểm, nguồn cảm hứng, nỗi xúc động của ông qua thơ văn. Ông nói về những kỷ niệm khi ông du học tại Paris, nơi ông đã sáng tác những bài thơ có nhiều phong thái lãng mạn, qua những ảnh hưởng bởi đời sống, văn hóa Âu Tây, nhóm văn học hiện sinh (Existentialisme) và nhóm thơ triết học (Philopoésie)….Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tâm sự, “Thơ là sự chuẩn mực từng từ ngữ thích hợp, cho tỏa sáng ý tưởng mình muốn nói “.
Và sau cùng, Nhà Văn Quyên Di bình luận về chủ đề “Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, Một Gương Mặt Văn Học Của Việt Nam “. Ông nói: “Thi ca Cung Trầm Tưởng có những ý tưởng tôn giáo triết học. Qua lăng kính tín ngưỡng, Phật giáo/Công giáo đều được thể hiện qua ý niệm tình thương và sự sống.
Nhà Văn Quyên Di kết thúc buổi “Chiều thơ nhạc Cung Trầm Tưởng” với một câu chuyện thật hay và dí dỏm “Ai Đã Tạo Dựng Nên Người Đàn Bà?”

Từ trái sang phải: CNS Lâm Dung, CS Ngọc Quỳnh, MC Bích Trâm, Lệ Hoa, MC Thụy Vy, TS Cung Trầm Tưởng,
Thanh Hương, Khánh Lan, Minh Tâm, CS Thụy Lan, Minh Châu và CS Mạnh Bổng.Buổi chiều thơ nhạc đã chấm dứt trong niềm hân hoan và luyến tiếc. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng nói, “Tôi vô cùng xúc động khi có được những giây phút hạnh phúc như thế này, xung quanh những người bạn thân quý và thương mến tôi cũng như thơ của tôi”. Trước khi ra về, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã ký tặng bạn bè hiện diện trong buổi chiều thơ nhạc tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ-1948-2008”.
Ghi dấu lại một ngày vui.
Khánh Lan tường trình từ thành phố Westminster, 2019
Kiếp luân hồi là điều mà tất cả chung ta trên cõi nhân gian đều phải trải qua, NT Cung Trầm Tưởng đã ra đi và để lại niềm thương tiếc cho thế giới thi ca nói chung và Liên nhóm NVNT & TTG nói chung. Kính mong hương hồn của Nhạc Sĩ sớm được siêu thoát, trở về cõi vĩnh hằng.

Thi Sĩ ra đi mùa Thu, mùa Thu không trở lại.
Đếm lá úa mùa Thu, mưa sầu hoen trên mi.Vĩnh biệt nhà thơ Cung Trầm Tưởng.

Đai lễ cầu siêu cho hương hồn thi sĩ Cung Trầm Tưởng 
Vĩnh Biệt TS Cung Trầm Tưởng TS Cung Trầm Tưởng đã đáp chuyến tàu vĩnh hằng lúc 4:27 chiều ngày 09 tháng 10, 2022 vì bệnh viêm phổi và nhịp tim yếu quá.

CHUYẾN TẦU VĨNH HẰNG Khánh Lan, California Oct. 18, 2022
-
THU TRONG THI CA

Có những lúc chúng ta tự hỏi là tại sao đa số các văn thi sĩ lại hay chọn đề tài “THU” để làm tựa hay nội dung cho tác phẩm của mình? Có phải hình ảnh chiếc lá lìa cành đã làm rung động tâm hồn của các bậc thi nhân và các nhà văn sĩ? Hay chính cái phong cảnh ảm đạm của chiều thu điêu tàn đã khuấy động niềm cảm xúc trong tâm tư người cầm bút? Phải chăng?
Thu nhớ ai thu buồn
Thu nhớ ai thu Hờn
Thu sầu mây lâng lâng
Cho dòng chiều bâng khuâng.
Thật vậy, trong thế giới thi ca trên thế giới đã chứng minh được điều này, bởi sự ra đời của những tuyệt tác văn học nghệ thuật nối tiếng như tác phẩm Les Feuilles Mortes của Jacques Prevert; L’Adieu của Guillaume Apollinaire; Sonnet 73 của William Shakespeare; Autumn của John Clare hay To Autumn của John Keats, v.v… đã chuyển hóa những vần thơ, ý nhạc của mình bắt nguồn từ niềm cảm hứng và thiên tài bẩm sinh của từng cá nhân.
Trong lãnh vực kịch nghệ hay văn chương cũng thế, sự hiện diện của những quyển tiểu thuyết, những cuốn phim giá trị đều có cùng một khái niệm như trên. Có lẽ và hầu như nhiều tác giả đã chọn mùa thu làm chủ đề cho tác phẩm của mình, như cuốn tiểu thuyết Jane Eyre by Charlotte Bronte (1847) được đóng thành phim, kể lại một chuyện tình say đắm giữa cô bé mồ côi can đảm Jane Eyre và người đàn ông tài giỏi, độc đoán Rochester. Cô là người đã khám phá ra những bí mật đen tối tại một điền trang sang trọng ở Anh. Phim Dracula by Bram Stoker (1897) là một bộ phim kinh dị Gothic của Mỹ năm 1992 do Francis Ford Coppola đạo diễn và sản xuất.
Tại Hoa Kỳ, sự xuất hiện của nhiều phim nổi bật với khung cảnh mùa thu hữu tình, tình tiết bi thương, hoàn cảnh éo le đã làm rơi lệ biết bao khán thính giả như cuốn phim Autumn In New York với Richard Gere và Winona Ryder hoặc When Harry Met Sally với Billy Crystalia và Meg Ryan hay với Math Damon, Ben Affleck, Robin William, ba nhân vật thủ vai chính trong phim Good Will Hunting, v.v…
Khi nói đến “THU” trong thi ca thì ta có thể nói rằng đó là một đề tài phong phú, một thế giới bao la rộng mở để chúng ta bàn luận, một kho tàng văn hóa để các bình luận gia nghiên cứu và học hỏi… Trong phạm vi bài viết này, người viết xin phép chỉ bàn đến hai nhà thơ danh tiếng của Pháp là Paul Verlaine (1844-1896) và Jacques Prevert (1900-1977), bởi cả hai thi nhân này đều có những tác phẩm liên quan đến MÙA THU mà người viết đã mạo muội sáng tác một bài thơ bán cổ điển với lời tựa NHỚ MÙA THU CŨ vào buổi đầu thu 2022. Trong bài thơ ấy có đề cập đến tên của hai nhà thơ cổ thụ này…
NHỚ MÙA THU CŨ
Thơ Khánh Lan
Thu đến đây rồi những lá rơi
Công viên Lục Xâm màu hoang vắng
Dĩ vãng goi hồn mùa thu trước
Dương cầm vang vọng tiếng thu ca
Nhạc Chopin, giọt mưa lả chả
Mưa sa lành lạnh không gian buồn
Mang gió heo may như đông giá
Một khối u hoài thương nhớ ai.
Phím đàn lướt nhẹ khúc Chopin
Mùa thu năm ấy vương tình nở
Trao nụ tình lâng lâng nỗi nhớ
Sông Seine lặng gió thu xào xạc
Nắng xuyên cành vàng lá Lục Xâm
Verlaine tượng đá lặng lẽ nhìn
Choàng Paris vào cho em ấm
Áo em vàng Prévert lá rơi
Mùa thu vàng rêu phong hoài niệm
Nhớ thu vàng, chạnh nhớ thu xưa
Bài thơ này đã được nhạc sĩ Minh Trí và nhạc sĩ Phạm Thái phổ nhạc với tựa: NHỚ THU XƯA qua hai giai điệu khác nhau: Valse vui tươi trong sáng và Boston với nỗi sầu nam mát, lâng lâng.
NHỚ THU XƯA
Thơ Khánh Lan
Nhạc Minh Trí
Thu đến rồi đây chiếc lá nâu
Công viên Lục xâm vắng hoang mầu
Dĩ vãng gọi hồn mùa thu trước
Dương cầm vang vọng tiếng thu sầu
Nhạc Cho-pin giọt mưa lã chả rơi
Mưa se lạnh sầu vương tím chân trời
Nặng một khối u hoài ai thương nhớ
Trên phím đàn lướt nhẹ khúc chơi vơi
Mùa thu năm ấy duyên tình bén vội
Nụ hôn trao giữa lá vàng rơi
Dòng sông Seine cuốn đi nguyện ước thầm
Nắng xuyên cành lá xạc xào vườn Lục Xâm
Ver-laine tượng đá lặng ngắm ai
Paris choàng nắng ấm vai gầy
Pré-vert lá rụng vàng trên áo
Nhớ mùa thu nào nhớ xôn xao.
Kerchtt.ru phân tích: Văn chương Âu Châu trong những năm 1870-1910 có khuynh hướng tập trung vào nghệ thuật thuộc trường phái “Symboliste” (Biểu Tượng/Tượng Trưng) với bản chất lý tưởng siêu phàm và vẻ đẹp song toàn của nó. Phải chăng, những thực thể lý tưởng, trực giác thơ mộng, tính cách thẩm mỹ và vẻ đẹp vĩnh cửu này chỉ có nghệ thuật của chủ nghĩa Biểu Tượng mới có thể thực hiện được và chúng ta đã nhận thấy rằng nó đã phát triển trong các tác phẩm của Charles Baudelaire, Arthur Rimbaud, Paul Verlaine, Stéphane Mallarmé. Thuật ngữ Biểu Tượng/Tượng Trưng được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1886 bởi nhà thơ J. Moreas.
Sự suất hiện của nghệ thuật chủ nghĩa Biểu Tượng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là do các nhà thơ theo chủ nghĩa này khao khát sự tự do tinh thần, họ thấm nhuần tư tưởng cũng như tin tưởng vào “trí tưởng tượng sáng tạo” của mình, họ mong muốn lĩnh hội được những giá trị nghệ thuật cao siêu hơn trong lãnh vực sáng tác. Bởi chính sự háo hức đi tìm chân lý của chủ nghĩa thẩm mỹ thuần túy khiến nó đã đẩy nhiều nghệ sĩ vào con đường chạy trốn thực tế và biến chủ nghĩa Biểu Tượng thành chủ nghĩa “lãng mạn” và lý thuyết “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Các nhà đại diện thuộc trường phái Biểu Tượng gồm P. Verlaine, P. Valery, A. Rimbaud, M. Metterliik, A. Blok, A. Bely, F. Sologub, P. Gauguin, M.K. Chyurlionis, M. Brubel, Vyach, Ivanox, v.v… Trước hết, người viết xin giới thiệu thi hào Paul Verlaine.
PAUL VERLAINE là một thi sĩ nổi tiếng của Pháp thuộc trường phái “Symboliste” (Biểu tượng/tượng trưng) và tiêu biểu cho lối sống “Decadent” (sa đọa) của Âu Châu vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Verlaine cũng như những người theo chủ nghĩa Biểu Tượng, thường cho mình là kết quả của sự đồi trụy và sự suy tàn của nền văn hóa tư bản.

Paul Velaine (Photo Credit: Wikimedia Commons) Dựa theo bài viết của Nguyễn Minh Luận Paul Verlaine là người sáng lập ra trường phái thơ Biểu Tượng/Tượng Trưng, ông là một trong những nhà thơ lớn nhất và nổi tiếng nhất của nước Pháp trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX và đã có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của nền thi ca hiện đại Pháp, cũng như tới một số tác giả trong phong trào Thơ Mới ở Việt Nam trong giai đoạn 1932-1945. Thơ của Verlaine giàu nhạc tính, ông nổi tiếng là người kỹ tính và không bao giờ viết một dòng thơ dở dang như nhà văn Graham Robb đã nhận định. Tập thơ “Khúc lãng mạn không lời” của Verlaine được coi như tuyên ngôn của trường phái Biểu Tượng/Tượng trưng và được bầu chọn là “Ông hoàng của các nhà thơ” ở Pháp năm 1894.
Đầu năm 1871, Verlaine từ bỏ gia đình và bị lôi cuốn vào một cuộc tình đồng tính đầy sóng gió với Arthur Rimbaud (1854-1891), một thần đồng thơ Pháp, khi ấy mới 17 tuổi. Khởi đầu của sự quan này khi Rimbaud gửi một số bản thảo thơ của anh cho Verlaine và nhờ Verlaine thẩm định ý thơ của anh, trong đó có tập thơ trứ danh “Con tàu say“. Verlaine đã khâm phụ và sửng sốt trước những khám phá mới mẻ, bất ngờ trong thơ của Rimbaud, ông đã viết thư mời Rimbaud tới nhà chơi, khởi đầu cho một cuộc tình nóng bỏng từng bị thiên hạ đàm tiếu, chê bai và khinh miệt. Mùa hè 1873, đánh dấu sự xuống dốc trong cuộc đời của Verlaine khi ông gặp lại Rimbaud tại Brussels. Sự đoàn tụ của họ không kéo dài được bao lâu, ngày 10 tháng 07, 1973, trong một cuộc cãi vã, Verlaine đã lấy súng bắn Rimbaud bị thương ở cổ tay trái và bị kết án 2 năm tù. Trong thời gian sống trong nhà giam, Verlaine đã sáng tác tập “Khúc lãng mạn không lời” tặng cho Rimbaud. Đây cũng là thời gian mà Verlaine đã sáng tác những bài thơ hay và trở thành nổi tiếng.
Những năm cuối đời, Verlaine luôn sống trong tình cảnh đau ốm, phải thường xuyên nhập viện. Mọi người đều phải công nhận rằng cuộc đời của Verlaine là một chuỗi ngày say-say, tỉnh-tỉnh kèm với những ăn năn, hối hận về những năm tháng sống buông thả. Nhưng, như một con ngựa hoang đã quen đường cũ, Verlaine thường xuyên có mặt tại các tửu quán, ông làm bạn với các cây bút trẻ, giao thiệp với những gã ma cô và những ả gái điếm rẻ tiền cho đến ngày 08 tháng 01, 1896, Verlaine trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 52 trong cảnh nghèo khó, nghiện ngập và rượu chè sau khi viết xong bài giới thiệu cho Tuyển tập tác phẩm của Arthurr Rimbaud. Thi hài của Verlaine được an táng tại nghĩa trang Cimetiere de Batignolles, trước sự đưa đám của hơn ba ngàn người. Điều ấy nói lên rằng, sự nghiệp thi ca của Verlaine đã thực sự chinh phục được trái tim của đông đảo người đọc.
Một trong những bài thơ nổi tiếng của Verlaine là bài Chanson D’Automne (Bài Ca Của Mùa Thu). Đây là một bài thơ đã đưa tên tuổi của ông vào lịch sử của Pháp nói riêng và thế giới nói chung, bởi bài thơ Chanson D’Automne đã được đài phát thanh Luân Đôn phát thanh 6 câu thơ đầu của ông vào ngày 05 tháng 06, 1944, lúc 23 giờ 15 phút, báo hiệu cho quân đội kháng chiến Pháp biết rằng sắp có cuộc đổ bộ của quân đội Đồng Minh trên bãi biển Normandie (Pháp) trong vài giờ với tín hiệu “Sonne l’heure” (Giờ lên tiếng điểm).
Les sanglots longs
Des violons de l’automne
Blessent mon coeur
D’une longueur monotone
Tout suffocant et blême quand sonne l’heureJe me souviens des jours anciens
Et je pleureJe me souviens des jours anciens
Et je pleureJe me souviens des jours anciens
Et je pleure
Et je m’en vais au vent mauvais
Qui m’emporte deçà, delà
Et je m’en vais au vent mauvais
Pareil à la feuille morteBài thơ này được rất nhiều dịch giả dịch sang tiếng Việt Nam như Hồ Văn Hiền, Nguyễn Vạn An, Tường Vân, v.v… Tuy nhiên, trong bài viết này, người viết chỉ nêu lên hai bài thơ được dịch bởi hai dịch giả, Nguyễn Vạn An và Tường Vân. Trước nhất là bài dịch của Nguyễn Vạn An dưới tựa đề:
Bài Ca Của Mùa Thu
Nức nở dài
Tiếng những vĩ cầm của mùa thu
Làm đau tim tôi, gây một nỗi buồn
Đơn điệu tẻ nhạt, ngắc nghẹn lời
Lòng tái tê, khi nghe giờ điểm tiếng
Tôi nhớ lại những ngày xa xưa
Rồi tôi khóc và tôi ra đi
Theo cơn gió chướng
Gió mang tôi qua bên này, bên kia
Như mang chiếc lá đã lìa đời.
Sau là bài thơ này mang tên Thu Từ do thi sĩ Tường Vân dịch và đăng trong cuốn “Thơ Pháp vần Nam”-Giải thưởng Văn học Alexandre de Rhodes, 1944.
Tiếng nhị dài, nức nở hoài
Đêm thu vắng, bận lòng ai
Mối sầu dằng dặc, mãi không thôi
Một giờ qua, lại làm ta,
Tức hơi thở, tái màu da
Chạnh niềm tưởng nhớ, lệ châu sa…
Tấm thân này nhẹ nhàng bay
Theo ngọn gió, khắp đó đây
Khác gì chiếc lá, đã lìa cây.
Ngày nay, thi phẩm “Bài Ca Của Mùa Thu” đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và nhiều ca sĩ như Serge Gainsbourg, Boby Lopointe, Alain Barriére, Charles Trénet trình diễn. Tại Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã phổ nhạc bài thơ Chanson D’Automne của Paul Verlaine qua nhạc khúc:
Thu Ca Điệu Ru Đơn
Mùa thu nức nở tiếng thở dài
Tiếng vĩ cầm buồn ơi mùa thu ơi
Lòng ta khốn khổ với mỏi mòn
Tiếng thu buồn buồn ru điệu ru đơnNghẹn ngào tê tái nghẹn ngào tê tái
Khi giờ đã điểm vì ta ngồi ta nhớ
Những ngày nào xưa những ngày nào xưa
Và ta khóc lóc và ta khóc lócNăm 1962, cuốn phim “The Longest Day” (Ngày dài nhất) do John Wayne, Richard Burton và Robert Ryan thủ vai chính đã đoạt hai giải Oscar, kỷ niệm 70 năm cuộc đổ bộ của bộ của quân đội Đồng Minh trên bãi biển Normandie. Cũng cùng một mục đích ấy, ngày 30 tháng 04, 1975, đài phát thanh quân đội Mỹ đã phát thanh bài “White Christmas” như một tín hiệu cho sự di tản của những công dân Mỹ và các cộng tác viên của họ trước ngày 30 tháng 04, 1975 khi miền nam Việt Nam sụp đổ.
JACQUES PRÉVERT sinh ngày 04 tháng 02, 1900 tại Neuilly-sur-Seine (Seine) Pháp và mất ngày 11 tháng 04, 1977 tại Omonville-la-Petite (Manche). Prévert là tác giả của nhiều tuyển tập thơ và là nhà thơ được nhiều người yêu mến bởi ngôn ngữ bình dị và phong cách dùng chữ khéo léo, tinh tế của ông. Những bài thơ Pháp ngữ nổi tiếng trên thế giới của Prévert được dùng trong việc giảng dạy tại các trường học ở Pháp. Ngoài ra, ông còn hoạt động tích cực trong lãnh vực sân khấu và điện ảnh. Trong bất cứ lãnh vực nào ông cũng biểu thị một tài năng chói sáng.

Jacques Prévert (Photo Credit: Internet) Thơ Prévert được in thành tập lần đầu tiên vào năm 1944, đây là một ấn bản in ronéo 200 bản do một số học sinh trung học ở Reims thực hiện. Sau đó, cùng với một số bài thơ khác, những bài trong ấn bản nói trên được René Bertelé thu thập và in thành tập vào năm 1945 và trở thành ấn bản của cuốn Paroles vào năm 1947. Đến nay, nhà xuất bản «le Point du Jour» của René Bertelé đã được nhà Gallimard mua lại, và Paroles đã được in trên 3 triệu cuốn, chưa kể vô số những bản dịch ở khắp nơi trên thế giới.
Thơ Prévert là thơ của trẻ thơ, của thiên nhiên, của chim chóc và cỏ hoa. Lời thơ giản dị, dễ hiểu nhưng sâu sắc và chan chứa tình cảm. Với lòng yêu thương đồng loại, ông đã lên án chiến tranh; chống thỏa hiệp và chống bất công, bóc lột, áp bức… Kể từ cuộc thế chiến thứ II tới nay, người thưởng ngoạn thơ Prévert tỏ ra rất hài lòng và tiếp nhận dòng thơ của ông một cách nhiệt tình bất kể dù là họ đang sống trong hoàn cảnh nào. Bời những cuộc đấu tranh cho quyền tự do của con người cũng như cho tình yêu, niềm vui sống, thơ của Prévert đã trở thành dòng thơ gần gũi với đại chúng, của đại chúng và được nhiều người yêu thích.
Nhận định về thơ Prévert, nhà thơ Mỹ Laurence Ferlinghetti có viết: «Nhiều bài thơ trong tập Paroles phát xuất từ Thế chiến II và cuộc chiếm đóng (của Đức quốc xã) ở Pháp. Prévert đặc biệt nói với những người Pháp trẻ tuổi ngay sau Chiến tranh, nhất là với những người lớn lên trong thời chiếm đóng và cảm thấy hoàn toàn xa lạ với Giáo hội và Nhà nước». Ferlingetticho rằng, khiPrévert nghĩ về chiến tranh Việt Nam, (Chiến tranh Đông dương I & II), Prévert đã đứng về phía nhân dân Việt Nam chống lại những âm mưu và hành động của thực dân và đế quốc. Có một số bài thơ của Jacques Prévert đã tỏ rõ tấm lòng và sự ngưỡng mộ của ông đối với người dân Việt Nam…
Theo bài biên soạn của Diễm Châu, dân Việt Nam cũng rất yêu thơ Prévert, điển hình là bài thơ “Barbara” của ông đã có ít nhất là bốn bản dịch sangViệt ngữ. Trong gần 200 bài thơ của Prévert, nhiều bài thơ được giới thiệu với bạn đọc Việt Nam qua các bản dịch của Nguyễn Đăng Thường và Diễm Châu (1993), Cao Nghi Bình và Diễm Châu (1998).
Đáng kể nhất là bài Les Feuilles Mortes đã được một số đông khán thính giả yêu thơ hưởng ứng nồng nhiệt. Les Feuilles Mortes bản gốc bằng tiếng Pháp là một lời than thở về một tình yêu đã mất trong sự hối tiếc.
Oh, je voudais tant que tu te souviennes
Des jours heureux où nous étions amis
En ce temps-là la vie était plus belle
Et le soleil plus brûlant qu’aujourd’huiLes feuilles mortes se ramassent à la pelle
Tu vois, je n’ai pas oublié
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle
Les souvenirs et les regrets aussiCũng bài thơ này, tại Hoa Kỳ đã được hòa âm bởi Joseph Kosma và Featuring với cùng một chủ đề nhưng theo một phong cách nhẹ nhàng hơn, bâng khuâng hơn. Bài hát Autumn Leaves ra đời vào năm 1945 và do ca sĩ Yves Montand trình diễn năm 1946 tại Poetic Realism Film-Les Portes de la Nuit.
The falling leaves
Drift by my window
The autumn leaves
Of red and gold
I see your lips
The summer kisses
The sunburned hands
I used to hold…….Vẫn bàn về chủ đề THU thì trong thi ca Việt Nam cũng đã có những dòng thơ bất hủ viết về mùa Thu. Một số thi nhân tiêu biểu như Tản Đà (Gió Thu), Lưu Trọng Lưu (Tiếng Thu) Tế Hanh (Mùa Thu Tiễn Em), Bà Huyện Thanh Quan (Tức Cảnh Chiều Thu), Xuân Diệu (Đây Mùa Thu Tới), Hàn Mặc Tử (Cuối Thu) v.v… và trong làng âm nhạc, những nhạc phẩm nổi tiếng như Chiếc Lá cuối cùng của Tuấn Khanh; Thu Ca của Phạm Mạnh Cương; Mùa Thu Paris, thơ Cung Trầm Tưởng, nhạc Phạm Duy và đáng kể nhất là tuyệt tác Mùa Thu Chết, nguyên tác L’Adieu của nhà thơ Guillaume Apollinaire. Vậy trước khi nói chúng ta bàn về bài thơ L’Adieu và nhạc phẩm Mùa Thu Chết, người viết xin phép được điểm qua tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ này.
GUILLAUME APOLLINAIRE tên thật là Wilhelm Albert Włodzimierz Apolinary Kostrowicki sinh ra ở Rome, Ý ngày 26 tháng 08 năm 1880 và mất ngày 09 tháng 11 năm 1918 ở tuổi 38. Ông di cư đến Pháp ở tuổi thiếu niên, lấy tên là Guillaume Apollinaire và là người thông thạo tiếng Pháp, Ý và Ba Lan. Apollinaire là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà viết truyện ngắn và tiểu thuyết cũng như nhà phê bình nghệ thuật người Pháp gốc Ba Lan-Belarus. Năm 1899, ông chuyển về sống ở Paris, bắt đầu viết báo, làm thơ và trở thành nhà thơ nổi tiếng với bút danh Guillaume Apollinaire.
Thơ cùa Apollinaire là những bài thơ không dấu chấm câu, hiện đại về cả hình thức lẫn chủ đề. Ông đã viết một trong những tác phẩm văn học Siêu thực sớm nhất, vở kịch The Breasts of Tiresias (1917) đã trở thành nền tảng căn bản cho vở opera Les mamelles de Tirésias (1947) của Francis Poulenc. Do sự ảnh hưởng của thể loại thơ tượng trưng của trường phái Biểu Tượng, Apollinaire đã được các nhà thơ trẻ sau này ngưỡng mộ trong suốt cuộc đời và được coi như là hạt nhân của nhóm Siêu thực (Breton, Aragon, Soupault).
Chính bởi bản tính độc đáo, Apollinaire trở thành một trong những người đi trước cuộc cách mạng văn học đầu thế kỷ XX,. Nghệ thuật sáng tác của ông dựa trên một nguyên tắc đơn giản là: Hành động sáng tạo phải xuất phát từ trí tưởng tượng, từ trực giác và gần gũi với cuộc sống, với thiên nhiên, môi trường và con người. Những năm hoạt động như một nhà báo và nhà phê bình nghệ thuật, Apollinaire cộng tác với các báo Le Matin, L’Intransigeant, L’Esprit nouveau, Mercure de France, và Paris Journal. Năm 1912 Apollinaire cùng một số đồng nghiệp sáng lập tờ Les Soirées de Paris, một tạp chí nghệ thuật và văn học.

Guillaune Apollinaire (Photo Credit: The ARTlicker) Tháng 9 năm 1911 Apollinaire bị bắt vào tù vì bị nghi ngờ tham gia đánh cắp bức họa Mona Lisa nổi tiếng ở bảo tàng Louvre, một năm sau ông được trả tự do vì chính quyền không tìm ra được bằng chứng. Trong thế giới của người cầm bút, Apollinaire được coi là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của đầu thế kỷ XX, đồng thời là một trong những người bảo vệ nhiệt thành nhất của Chủ nghĩa Lập thể vào năm 1911 để mô tả phong trào nghệ thuật và sử dụng thuật ngữ Orphism năm 1912.
Năm 1912, Apollinaire cùng bạn bè thành lập tạp chí Chiều Paris và làm chủ bút từ năm 1913. Cũng trong năm này, ông cho ra đời thi phẩm nổi tiếng nhất của mình: Le Pont Mirabeau (Cầu Mirabeau) và trường ca Zone. Hai tác phẩm này đã đưa Guillaume Apollinaire lên vị trí số một trong các nhà thơ đương thời. Năm 1913 ông in tập thơ Alcools (Rượu) và năm 1914 ông cho in một số bài thơ viết theo kiểu tạo hình (calligrammes). Apollinaire còn được coi là cha đẻ của Chủ nghĩa Siêu thực vào năm 1917 để mô tả các tác phẩm của Erik Satie.
Khi Thế chiến thứ I bùng nổ, Guillaume Apollinaire tình nguyện ra trận với mong muốn được giải phóng Ba Lan nhưng bị thương nặng. Đặc biệt là trong thời gian trị bệnh, ông đã viết nhiều bài thơ về chiến tranh. Tháng 3 năm 1916 Apollinaire được nhập quốc tịch Pháp và trở lại Paris tiếp tục sáng tác. Hai năm sau khi bị thương trong Thế chiến thứ I, Apollinaire chết trong trận đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 và được công nhận là “Mort pour la France” (Nước Pháp gục ngã) vì những cam kết của ông trong chiến tranh.
Nguyên tác “L’Adieu” như sau.
“ J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends”
Qua sự đồng cảm tài tình với ý thơ trong bài L’Adieu nhà thơ Bùi Giáng đã chuyển ngữ bài thơ năm câu của Apollinaire thành những vần thơ tình tứ làm mê đắm lòng người trở thành bài thơ với tựa đề “Lời vĩnh biệt”.
“ Ta ngắt đi một cành hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ chẳng tương phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian, mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé, ta vẫn chờ em đó…”
Tác giả Đinh Kỳ Thanh đã nhận định rằng: Mặc dù đã trải qua bao thập kỷ và nhiều thế hệ, nhưng khán giả yêu nhạc Việt Nam vẫn say mê giai điệu mượt mà, thanh khiết và quyến rũ của Phạm Duy trong nhạc phẩm “Mùa Thu Chết”. Bùi Giáng đã gợi mở tâm hồn của người nhạc sĩ lãng mạn, đa tình họ Phạm ngân lên giai điệu tuyệt vời, da diết, khắc khoải trong nhạc phẩm “Mùa Thu chết”.
“ Ta ngắt đi một chùm hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi…
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho mùa Thu đã chết…
Đã chết thật rồi…Em nhớ cho
Hai chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa
Trên cõi đời này…
… Từ nay mãi mãi không thấy nhau…
… Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ cho rằng ta mãi chờ em
Mãi chờ em. Mãi chờ em
Mãi chờ, Mãi đợi...Đợi chờ em…”
Kết luận: Trong lãnh vực thi ca thì cả hai nhà thơ danh tiếng của Pháp là Paul Verlaine (1844-1896) Jacques Prévert (1900-1977) đã sáng tác những thi phẩm có giá trị trong đó có hai tác phẩm đã trở thành tác phẩm văn học kinh điển của xã hội Pháp nói riêng và trên thế giới nói chung. Đó là hai bài thơ bất hủ: LesFeuilles Mortes của Prévert và Chanson D’Automne của Paul Verlaine.
Bất hủ bởi bài thơ Les Feuilles Mortes của Prévert là tác phẩm thi ca đích thực, phản chiếu một thế giới tràn đầy tình người, chan chứa sự quảng đại, trong sáng và thủy chung. Chẳng những thế, với thể chất yêu thương đồng loại rộng mở, Prévert lên án chiến tranh; chống thỏa hiệp, bất công, bóc lột và áp bức, Prévert đã đứng về phía nhân dân Việt Nam chống lại những âm mưu và hành động của thực dân và đế quốc. Đặc biệt, một số bài thơ của Jacques Prévert đã tỏ rõ tấm lòng và sự ngưỡng mộ của ông đối với người dân Việt Nam. Điều này có phải vì tác giả cũng là một người lính, ông đã từng sống trong hoàn cảnh khốc liệt giữa cơn mưa súng đạn, đứng trước cái chết đang chực chờ bên cạnh và chứng kiến những buổi chia ly đầy nước mắt.
Thơ Prévert được người dân Việt Nam yêu mến và nồng nhiệt đón nhận, nhất là bài thơ “Barbara” của ông. Bài thơ Barbara lẫy lừng của Prévert đã làm người đọc rơi lệ thương cảm cho một mối tình mới chớm nở đã bị chiến tranh cướp mất. Là chứng nhân của mối tình ấy, Prévert đã ghi lại giây phút trùng phùng lúc cặp tình nhân gặp nhau dưới làn mưa hạnh phúc, khi người tình Barbara ngã trong vòng tay của người yêu, đầm đìa nước mắt tại thành phố cảng Brest của Pháp, một căn cứ tàu ngầm chính của Đức trong Thế chiến thứ II (bị phá hủy hoàn toàn bằng bom đạn vào cuối cuộc chiến).
Oh Barbara
Quelle connerie la guerre
Qu’es-tu devenue maintenant
Sous cette pluie de fer
De feu d’acier de sang
Et celui qui te serrait dans ses bras
Amoureusement
Est-il mort disparu ou bien encore vivant
Oh BarbaraBài thơ Barbara đã được Nguyễn Bình Nguyên dịch như sau:
Ôi Barbara
Chiến tranh thối tha biết mấy
Em ra sao giờ này
Dưới cơn mưa sắt chảy
Dưới cơn mưa máu trào lửa cháy
Còn người đàn ông đã ôm em trong vòng tay Âu yếm
Chàng đã chết, biệt tăm hay còn sống trên cõi đời nàyNgược lại, thơ của Paul Verlaine mang một sắc thái buông thả như cuộc đời của ông, nhưng ông lại là một trong những nhà thơ lớn nhất và nổi tiếng nhất của nước Pháp ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Là người sáng lập trường phái thơ Tượng trưng, Verlaine đã tạo một ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của thi ca hiện đại Pháp cũng như phong trào Thơ Mới ở Việt Nam trong giai đoạn 1932-1945. Năm 1894, Pháp đã bầu Verlaine là “Ông hoàng của các nhà thơ“.
Apollinaire đã được coi là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của đầu thế kỷ XX, là một trong những người bảo vệ nhiệt thành nhất của Chủ nghĩa Lập thể (1911) và là cha đẻ của Chủ nghĩa Siêu thực. Verlaine nổi tiếng bởi bài thơ Chanson D’Automne đã đưa tên tuổi của ông vào lịch sử của Pháp và thế giới vì bài thơ này đã được phát thanh trên đài phát thanh Luân Đôn ngày 05 tháng 06, 1944 báo hiệu về cuộc đổ bộ của của quân đội Đồng Minh trên bãi biển Normandie..
Guillaume Apollinaire được nhắc đến trong bài viết này bởi sự ra đời của bài thơ tuyệt diệu L’Adieu của ông và nhạc phẩm Mùa Thu Chết của Phạm Duy. Apollinaire được coi là một trong những người đi trước của cuộc cách mạng văn học trong nửa đầu thế kỷ XX. Nghệ thuật sáng tác của ông dựa trên một nguyên tắc đơn giản là: Hành động sáng tạo xuất phát từ trí tưởng tượng, từ trực giác và gần gũi với cuộc sống, với thiên nhiên, môi trường và con người. Thơ cùa Apollinaire là những bài thơ không dấu chấm câu, hiện đại về cả hình thức lẫn chủ đề do sự ảnh hưởng của thể loại thơ tượng trưng của trường phái Biểu Tượng, Apollinaire đã được các nhà thơ trẻ sau này ngưỡng mộ và được coi như là hạt nhân của nhóm Siêu thực (Breton, Aragon, Soupault).
Khi Thế chiến thứ I bùng nổ, Guillaume Apollinaire tình nguyện ra trận với mong muốn được giải phóng Ba Lan nhưng ông bị thương nặng và được công nhận là “Mort pour la France” vì những cam kết của ông trong chiến tranh. Apollinaire được người dân Việt Nam biết đến qua bài thơ “L’Adieu”, Bùi Giáng dịch và Phạm Duy phổ nhạc.
Nói tóm lại, qua tiểu sử và sự nghiệp thi ca của ba thi nhân trên, thì có phải sự thành công là kết quả của sự hoàn hảo, làm việc chăm chỉ, lòng trung thành và bền tâm? Hay thành công là khả năng đi từ thất bại này sang thất bại khác mà không làm mất đi nhiệt huyết? Phải chăng sự thành công là những con đường đầy chông gai nhưng sẽ dẫn tới những quang cảnh ngoạn mục? Người viết tin rằng chúng ta có thể thành công nếu chúng ta cố gắng tìm kiếm nó.
“Thêm một chút bền bỉ, một chút nỗ lực,
thì điều mà ta tưởng chừng như là thất bại, vô vọng
lại có thể biến thành sự thành công rực rỡ”
(Elbert Hubbard)
Khánh Lan, California October 2022
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Rừng Phong, Thu & Kỷ Niệm Xưa

Câu thơ “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du (1766-1820) vào bối cảnh chia tay “Người lên ngựa, kẻ chia bào” giữa Thúc Sinh và Vương Thúy Kiều khi còn học ở lớp Đệ Tứ chỉ hiểu mơ hồ qua lời giảng dạy…
Vào thời điểm đó, ở Việt Nam và Tàu không thấy đề cập đến cây phong, chỉ mường tượng qua Truyện Thúy Kiều của cụ Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim, ấn hành năm 1927 và Truyện Kiều Chú Giải của cụ Lê Văn Hòe, ấn hành năm 1953.
Hình ảnh cây phong dẫn câu thơ trong vở kịch Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ vào cuối thế kỷ XIII bên Tàu về mối tình ngang trái giữa chàng thư sinh Trương Quân Thụy và người đẹp Thôi Oanh Oanh.
Trong đoạn khúc Trường Đình Tống Biệt của Tây Sương Ký:
“Bích vân thiên
hoàng hoa địa
tây phong khẩn
bắc nhạn nam phi
hiểu lai thùy nhiễm sương lâm túy
tổng thị ly nhân lệ”
Nhà văn Nhượng Tống (1906-1949, trong quyển Vương Thực Phủ, Mái Tây (Tây sương ký), ấn hành năm 1944, dịch thành thơ:
“Bầu trời thăm thẳm xanh lơ
Đìu hiu mặt đất lơ thơ hoa vàng
Gió Tây thổi buốt can tràng
Về Nam nhạn Bắc kêu thương lạc loài!
Rừng phong ai nhuộm đỏ tươi
Đều là nước mắt những người biệt ly”.
Hai chữ “sương lâm” là “sương diệp” ám chỉ lá cây phong… Trong bài thơ Đỗ Mục có hai câu mô tả hình ảnh của rừng phong:
“Đình xa tọa ái phong lâm vãn
Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa”
Theo chú giải của cụ Lê Văn Hòe thì phong là một giống cây lá to mọc thành tán, xưa đời Hán hay trồng ở sân nhà vua. Vì thế điện vua gọi là phong đình, phong điện hoặc đền phong. Cây phong ngờ là cây bàng bên ta. (…) Sang mùa thu, thì lá bàng vàng và đổ dần sang màu đỏ sẫm. Màu ấy đặt vào đám rừng cây xanh thì nổi bật lên, rất dễ nhận. (Không hiểu các cụ ngày xưa đã dựa vào đâu để gọi như vậy). Ngay trong Hán Việt Tự Điển của cụ Đào Duy Anh, ấn hành năm 1932, cũng gọi “cây phong = cây bàng”.
Với “màu quan san” không có trong hội họa mà có tính cách tượng hình, “quan san” là cửa ải và núi non, ý chỉ nơi chốn xa xôi, cách trở, màu gây nhớ thương, u hoài trong lòng người…
Khi ở trong quân ngũ mới biết trên Quốc Kỳ của Canada có lá phong, hình ảnh cây phong (maple) để tìm hiểu thêm…
Thời gian trôi qua! Sau thời gian dài 15 năm (1975-1990) không có đầu óc lãng mạn, tháng 8/1990 khi đến phi trường Pattaya, Bangkok, Thái Lan theo diện H.O… và, những ngày tạm trú nơi nầy, tâm hồn lãng mạn bay xa đến phương trời trên xứ sở Cờ Hoa.
Khi biết được định cư ở thành phố Nashville, tiểu bang Tennessee, đây là thành phố được gọi là Country Music, cái nôi của nhạc đồng quê. Mùa thu sắp đến, cũng là nơi lá phong nhuộm màu.
Thế nhưng cuộc sống tha hương ở nơi chốn mà ngày xưa trong bài Cảnh Nhàn của cụ Nguyễn Bỉnh Kiêm cho rằng: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn, người đến chốn lao xao” khi “trao ấn từ quan” để vui thú điền viên… Nhưng với tôi cảm thấy nơi vắng vẻ nầy không thích hợp nên sau hai tháng, từ Đông sang Tây nơi “gió tanh mưa máu” bằng xe bus Greyhound xuyên qua các tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ.
Những ngày vào thu ở Nashville đẹp tuyệt vời với những hàng phong nhuộm đó hai ven đường. Đẹp tuyệt vời, đẹp ngây ngây ngây nhưng trong trong tâm hồn kẻ “chân ướt chân ráo” xa xứ, có lẽ đến lúc “màu quan san” chia tay!
Tuy thời gian ngắn ngủi ở nơi đó nhưng tôi gặp được vài người bạn trẻ, tốt bụng và chân tình, thỉnh thoảng vẫn liên lạc với nhau. Nay đã về hưu, vào dịp nầy lạc chốn rừng phong.
Những ngày cuối cùng nơi nầy, anh Cảnh chở tôi đi khắp nơi để nhìn phong cảnh lá phong chuyển màu như một sự chia ly.
Khi ở Little Saigon, tôi ra Home Depot mua chậu phong về trồng để nhớ lại hình ảnh ban đầu nhưng có lẽ nó không thích hợp nên “thấy mà thương”!
Khi làm báo, hàng tuần nhận bài viết của Công Tử Hà Đông (Hoàng Hải Thủy) Viết Ở Rừng Phong… một chút gì gợi nhớ.
Little Saigon vào thu, không còn hình ảnh nơi tôi đã một thời gắn bó với Đà Lạt từ thời quân ngũ đến lúc chia ly:
“Hôm nay trời vào thu,
Đà Lạt lắm sương mù”
(Trong ca khúc Tình Người Hậu Tuyến của Thục Vũ)
Hình ảnh ban đầu nơi xứ người với rừng phong ở Nashville đã 32 năm nhưng vẫn nhớ.
Thấm thoát đã 2 năm rồi, khi tác giả Việt Ở Rừng Phong vĩnh biệt nơi đây, tôi viết bài:
Nhà Văn Hoàng Hải Thủy “Vĩnh Biệt Rừng Phong”! Bài còn trên website Việt Báo:
Hơn 3 thập niên khi ở trong nơi chốn “bùn lầy nước đọng” được chú Sam “bốc” đi diện H.O mà diện “đầu trọc” gọi là “con bà Phước” nên không biết nơi nào, dù có biết nơi khỉ ho cò gáy nào trên xứ Cờ Huê cũng là ước mơ vì vậy khi ở Thái Lan biết định cư xứ có rừng phong, thành phố của nhạc đồng quê… thế mà chia tay!
Nhà văn Đức Hermann Hesse (1877-1962) với những tác phẩm nổi tiếng của ông khi được giải Nobel Văn Chương năm 1946 nên được dịch ra tiếng Việt, quen thuộc với độc giả ở miền Nam VN. Ông là người uyên bác triết lý Đông Phương qua hai tác phẩm Siddartha (Câu Chuyện Dòng Sông do Phúng Khánh & Phùng Thăng dịch) và Die Morgenlandfahrt (Le Voyage du Matin, dịch sang tiếng Việt là Hành Trình Về Phương Đông), tác phẩm nầy trùng tên bộ sách của nhà văn Mỹ Baird Thomas Spalding, Nguyên Phong dịch Hành Trình Về Phương Đông. Với câu nói của Hermann Hesse: “Bạn phải tìm được giấc mơ của mình… nhưng không giấc mơ nào tồn tại vĩnh viễn, mỗi giấc mơ lại có giấc mơ khác theo sau, và người ta không nên bấu víu lấy một giấc mơ nhất định”. Và với tôi, có giấc mơ nầy cũng mong giấc mơ khác “tha hương ngộ cố tri” cũng là lẽ thường tình của con người tỵ nạn.
Điều ngoài ước mơ khi ở trong nước với “nghiệp báo” thế mà từ lúc “về chốn lao xao” gắn bó đến nay, “nghiệp” chưa trả hết nên không biết khi nào mới “rửa tay gác kiếm” vì “không giấc mơ nào tồn tại vĩnh viễn”!
Little Saigon, Oct 2022
Vương Trùng Dương
-
VU LAN TÌM BÓNG MẸ

-
NHỚ MẸ QUA THI CA VIỆT NAM

Từ cổ chí kim từ đông sang tây khi nói đến người mẹ, tất cả mọi người ai ai cũng đều kính trọng, mến yêu rồi nhớ nhung chất ngất dù lúc ấy ta đang ở nơi chân bể hay góc trời, nơi rừng thiêng hay đồng nội.
Bởi vì trong suốt thời gian kể từ khi mang thai cho đến lúc lâm bồn, người mẹ đã phải chịu đựng rất nhiều khổ đau. Nào là mang nặng đi đứng khó khăn trong mấy tháng trời. Nào là đau đớn quằn quại trong thời gian sinh đẻ. Sau khi đứa bé ra chào đời rồi người mẹ bắt đầu phải thức khuya dậy sớm, lắm lúc thức trắng nhiều đêm triền miên mất ngủ để chăm sóc đứa con. Đã thế, nhiều lúc con cái bị đau ốm, người mẹ luôn luôn nằm thường trực bên cạnh, lấy thuốc cho con uống, mong sao con chóng bình phục. Nếu rủi ro gặp chuyện bất trắc xảy ra như con thở quá yếu hay bị sốt quá cao đưa đến co giật, người mẹ tái mặt run sợ, tim như thắt lại, trong lòng quằn quại khổ đau.
Đến khi con cái bắt đầu chạy nhảy khôn lớn, người mẹ phải tìm cách kiếm kế sinh nhai, nuôi con ăn học. Thế rồi để có đủ tiền nuôi nấng con cái, người mẹ phải dấn thân vào đời, dầm mưa dãi nắng, một nắng hai sương, thức khuya dậy sớm, buôn bán tảo tần, làm lụng vất vả để kiếm cho đươc đồng tiền bát gạo mà trang trải trong gia đình. Lắm lúc người mẹ nhường cơm cho con ăn dù bụng đang đói cồn cào, nhường áo cho con mặc dù trời đang rét căm căm. Sự hy sinh cao cả vô bờ bến đó khiến lòng người thường xuyên xúc động. Thương xót triền miên, chạnh lòng nhớ mẹ, nhạc sĩ Y Vân đã rung động con tim mà sáng tác nên bản nhạc “Lòng mẹ” với nội dung và giai điệu thật tuyêt vời: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu…”. Vì biết lòng mẹ bao la như biển cả, tình mẹ chan chứa tình thương vô biên nên nhà văn Pháp nổi tiếng là Anatone France đã không ngần ngại hạ bút viết: “Trong thiên nhiên có rất nhiều cái đẹp, nhưng cái đẹp cao quý nhất là trái tim người mẹ” (Il y a bien des merveilleuses dans la nature, mais la plus précieuse, C’est le coeur d’une mère).
Trước sự hy sinh cao cả vô bờ bến của người mẹ như vậy nên tất cả mọi người con, ai ai cũng thương nhớ mẹ mình và luôn luôn mong ước được trả hiếu cho mẹ dù mẹ mình còn sống hay đã qua đời. Vì vậy trong Kinh Địa Tạng của Phật giáo, chữ hiếu được bàn luận và giải thích rất cặn kẽ vì đây là một trong những đạo làm người rất quan trọng của con cái đối với cha mẹ.
Thế nên hằng năm, cứ đến ngày “Tự Tứ”, các vị chân tu thường thuyết giảng cho các Phật tử nghe về hạnh hiếu của Tôn Giả Mục Kiền Liên: cứu mẹ đang thọ khổ ở địa ngục hay hạnh hiếu của Tôn Giả Xá Lợi Phất đã tìm mọi cách để thuyết pháp độ mẹ ra khỏi tà kiến của ngoại đạo Ni Kiều Tử đắc pháp nhãn thanh tịnh trước khi Tôn Giả nhập niết bàn.
Ai cũng biết rằng ở bên Trung Quốc tự ngàn xưa, có 24 nhân vật rất có hiếu đối với cha mẹ đã vang dậy như sóng cồn một thời vang bóng trong tập “Nhị Thâp Tứ Hiếu”: nhiều người con trong lúc mùa hè oi bức, đã cởi trần nằm ngủ lúc đêm về để cho muỗi bay đến cắn vào thân thể mình ngõ hầu khỏi cắn vào thân thể của mẹ, hay có người nằm trên băng tuyết giá lạnh suốt mùa đông chờ tuyết tan để bắt cá về nấu cháo cho mẹ già ăn.
Để đi vào đề tài, chúng ta hãy ghi lại đây những vần thơ của các thi nhân đã xúc động mà sáng tác nên những lời thơ bất hủ khi nhớ đến mẹ già.
Nhiều nhà thơ đã khóc thương nhớ mẹ lúc mẹ còn sống, nhưng hầu hết các thi nhân nhớ thương khóc mẹ khi mẹ đã qua đời.
Ta hãy nghe một số bài thơ nhớ mẹ của vài thi nhân khi mẹ còn sống.
Trước hết, mấy vần thơ tứ tuyệt qua bài “Bóng mẹ chiều thu” của thi sĩ Cung Trầm Tưởng trong thi tập “Lời viết hai tay” khi đọc lên khiến ta nhớ đến người mẹ già đang vất vả trong buổi chợ chiều của cuộc đời và ngong ngóng mỏi mắt chờ trông con trở lại quê nhà sau những tháng ngày tù tội:
“Mẹ là mẹ chú em nào hình sự
Dáng lưng gù làm nhớ tới mẹ tôi
Mẹ nẻo xa mưa nắng ắt bồi hồi
Ai đỡ mẹ đi nghiêng sầu goá bụa
Mưa gió quất lưng tre còng vất vả
Vóc mai kia na ná nét hao mòn
Của mẹ ruột quằn đau cho tiếng khóc
Đến cuối đời lại chong bóng chờ con”.
(Cung Trầm Tưởng – Trong “Lời viết hai tay”)
Cho dù ở trong ngục tù hay ở quê người đất khách, cho dù ở trên rừng sâu hay góc bể chân trời, ai ai cũng triền miên nhớ mẹ mỗi lần vọng về quê cũ sau lũy tre xanh. Ta hãy nghe mấy vần thơ lục bát sau đây của Hạ Ái Khanh khi nhà thơ nhớ mẹ đang lom khom chống gậy chờ con ở quê nhà:
“Mỗi lần nhìn khói lam chiều
Nhớ về quê mẹ hắt hiu nỗi buồn
Mẹ già nước mắt trào tuôn
Lom khom chống gậy bên đường chờ con
Bâng khuâng mẹ nhớ mỏi mòn
Bao mùa lá rụng héo hon thân gầy”.
(Hạ Ái Khanh –“Thương mẹ”: thi phẩm “Ngậm ngùi”)
Nhiều người quá nhớ mẹ, thương mẹ, lâu ngày chưa về thăm lại mẹ được vì nghìn trùng xa cách, ở tận đất khách quê người, khiến lắm lúc nằm mơ thấy mẹ để rồi ở xứ đất lạ nghe lòng hắt hiu sầu nhớ muôn đời. Ta hãy nghe nhà thơ Thái Tú Hạp dệt mấy vần thơ nhớ mẹ qua những câu thơ ngũ ngôn thật dễ thương và nhẹ nhàng:
“Đêm hoài mơ thấy mẹ
Thắp nến soi hồn đau
Đời con chiều quạnh quẻ
Đất lạ hắt hiu sầu”.
(Thái Tú Hạp – Trong thi tập “Hạt bụi nào bay qua”)
Tuy nhiên có nhiều người thương mẹ, nhớ mẹ lúc mẹ đang còn sống. Nhưng vì cuộc sống của mẹ hằng ngày luôn luôn làm việc thiện và trọn đời mẹ đã tỏ ra thương người, hy sinh cho tha nhân và quyết sống môt cuộc sống đầy lòng nhân ái, từ bi. Vì thế, người con nguyện sẽ xuống tóc giữ lời quy y nếu một mai mẹ qua đời. Mấy vần thơ lục bát sau đây của nhà thơ Việt Hải cho ta thấy rõ được những điều nói trên:
“Nếu mai mẹ sẽ qua đời
Con xin xuống tóc giữ lời quy y
Mẹ tôi trọn kiếp từ bi
Con quỳ lạy mẹ ra đi yên lòng”.
(Việt Hải – Trong bài “Nhớ mẹ”)
Tuy nhiên cho dù nghìn trùng xa cách, cho dù đường về quê mẹ xa tít mù khơi, nhưng vì quá nhớ mẹ già ở miền quê xa vắng và cũng vì lâu lắm rồi chưa thấy lại dung nhan của người mẹ thân yêu, nên người con quyết chí trở về thăm mẹ giữa một mùa xuân. Vì hoàn cảnh của cuộc sống phải ở đất khách quê người quá lâu, nên khi trở lại quê nhà thăm mẹ thì mẹ đã quá già khiến mắt đã mờ, tai đã điếc vì ngũ giác của mẹ giảm sút đi nhiều. Ta hãy nghe nhà thơ Mạc Phương Đình dệt mấy vần thơ nhớ mẹ trong bài “Xuân về thăm mẹ”:
“Em ra đứng hiên nhà chờ đợi
Nụ cười vui, se chút lạnh sang mùa
Mẹ còn sống, nhưng giảm nhiều trí nhớ
Tấm thân gầy, còm cõi tuổi già nua
Những lúc tỉnh, mẹ buồn cười rồi hỏi
Các con đâu, sao đi mãi không về
Đến bên mẹ, nắm bàn tay gầy guộc
Gọi mẹ ơi, nhưng mẹ chẳng còn nghe
Tuổi chín bốn, mắt mẹ mờ tai điếc
Sống hiền lành, đôi lúc tỉnh lúc mê”.
(Trong tác phẩm “Lời ru của mẹ”)
Nhưng đớn đau quằn quại nhất là lúc nhớ mẹ từng giờ, từng phút, từng giây. Muốn về thăm mẹ ngay nhưng không thể nào được, bởi vì con đang bị đoạ đày trong ngục tù ở trên rừng thiêng nước độc. Ta hãy nghe bài thơ thất ngôn tứ tuyệt cổ phong sau sau đây của thi sĩ Trương Thúc Cổn mới thấy tình mẫu tử là một trong những tình thiêng liêng của con người:
“Con biết ngày nay mẹ khổ nhiều
Những ngày quạnh quẽ vắng con yêu
Bâng khuâng mẹ nhớ con ngàn dặm
Tựa cửa mắt mờ gió hắt hiu
Mẹ ơi, có thấu nỗi lòng con
Nhớ mẹ lòng con hoá mỏi mòn
Con cố tìm trong tình mẫu tử
Những lời an ủi trái tim con
Nhớ túp lều tranh dưới khói mờ
Bên đường khóm trúc gió phất phơ
Tim con ray rứt đời phiêu bạt
Nhớ mẹ lòng con hóa vẩn vơ
Những lời vàng ngọc mẹ khuyên con
Nước đó nhà đây mãi vẫn còn
Đại nghĩa luôn luôn cùng nghĩa vụ
Dãi dầu sương gió chút lòng son
Chân mãi bước lên miệng vẫn cười
Con đầy hy vọng cuộc đời tươi
Mong sao nhớ lấy lời khuyên mẹ
Quên hết đau thương của cuộc đời…”
(Trương Thúc Cổn – Trong bài “Nhớ mẹ”)
Sau khi đã đề cập một số bài thơ nhớ mẹ của một vài thi nhân khi mẹ còn sống, giờ đây ta hãy nói lên những vần thơ bất hủ về nhớ mẹ khi mẹ đã qua đời.
Ai cũng biết rằng sau ngày 30/4/75, tất cả các chiến sĩ thuộc QLVNCH đều bị bắt bỏ tù trên rừng thiêng nước độc. Nhiều người bị hành xác trong một thời gian quá lâu dài mới được trả tự do nên khi trở lại quê nhà thì thấy mái tranh vẫn còn đó, cây soan bên thềm cũ vẫn còn đây nhưng cũng đã tàn phai theo năm tháng, còn mẹ già thì đã vĩnh biệt trần gian không một lời trăn trối, chỉ thấy một ngôi mộ nằm bên đường hoang vắng giữa chiều quê. Ta hãy nghe Hạ Ái Khanh dệt mấy vần thơ sầu thảm đó qua bài “Ngày về” để tặng cho một người bạn sau mười ba năm ở tù trở lại quê nhà:
“Mười ba năm “cải tạo”
Ngày về không còn ai
Cây soan bên thềm cũ
Bây giờ cũng tàn phai
Mái nhà tranh còn đấy
Vẫn nghiêng nghiêng thuở nào
Trong nhà sao vắng lặng
Không một bóng người vào
Mẹ già chờ lâu quá
Vẫn không thấy con về
Tháng ngày rưng rưng lệ
Mẹ mất giữa chiều quê
Bên nấm mồ con khóc
Nhớ thương mẹ não nề
Sao mẹ đành vĩnh biệt
Mẹ ơi, con đã về!”
(Hạ Ái Khanh – Trong thi phẩm “Ngậm ngùi”)
Cũng tương tự như trên, sau mấy năm trời bị bắt hành xác trong ngục tù ở trên rừng, nhà thơ Ngô Văn Thọ lúc trở lại quê nhà đã nghẹn ngào rưng rưng nước mắt khi vừa nghe chị mình nói mẹ đã qua đời từ lâu. Mấy vần thơ sau đây khi đọc lên ai ai cũng thấy bùi ngùi xót xa:
“Về Sài gòn đau xé lòng gặp chị
Được hung tin mẹ mất đã lâu rồi
Quả đất buồn thoạt muốn vỡ làm đôi
Không gian rộng con nghe chừng ngộp thở”
(Ngô Văn Thọ – Trong Tuyển tập“Dưới trăng”)
Có nhiều thi nhân khi nghe mẹ mất, tâm hồn như nghẹn ngào đau khổ, trong lòng như quằn quại đớn đau, nhưng họ không biểu lộ ra bên ngoài mà lại giấu kín tận đáy lòng. Ngược lại, nhiều thi nhân vì quá nhớ mẹ già cũng như vì quá khổ đau khi mẹ qua đời nên đã oà ra khóc thành tiếng theo bản năng tự nhiên vì tình mẫu tử là một trong những tình thiêng liêng của con nguời.
Trên bước đường hành quân trong xã Mỹ Đức, quận Phú Mỹ năm 1950, nhà thơ Hoàng Duy đã khóc sướt mướt giữa cơn mưa tầm tã khi quá nhớ người mẹ hiền đã vĩnh biệt cõi đời. Bài thơ “Mưa rơi” sau đây của nhà thơ Hoàng Duy khi đọc lên ai ai cũng cảm thấy thật ai oán, não nùng:
“Mưa rơi!
Mưa rơi!
Má ơi! Mưa rơi!
Má ơi! Rơi rơi!
Má đâu? Má ơi!
Hỡi má! Má ơi!
Má đi Mau về
Thẫn thờ… Chúng con
Chúng con Mong đợi
Bơ vơ Má ơi!
Cõi đời Má ơi!
Lạnh không!…”
(Bài “Mưa rơi” – trong thi tập “Như bóng mây bay”)
Có nhiều nhà thơ vì xa mẹ già quá lâu ngày vẫn chưa về thăm được vì hoàn cảnh cuộc sống, vì nghìn trùng xa cách ở đất khách quê người. Đến khi trở lại quê nhà sau mười năm biền biệt thì mẹ già đã an giấc nghìn thu khiến nhà thơ quá đau lòng rồi nức nở trong nắng chiều ngay tại sân ga, nơi mà xưa kia người mẹ đã tiễn đưa dưới cơn mưa tầm tã, khiến người con nghẹn ngào không nói nên lời. Bài thơ “Sân ga ngày trở lại” của Hạ Ái Khanh sau đây cho ta thấy rõ cảnh biệt ly sao mà buồn quá, để rồi người mẹ và người con sau đó đã vĩnh biệt nghìn đời:
Chín mười năm biền biệt
Về thăm lại quê nhà
Sao lòng buồn da diết
Nắng chiều ngập sân ga
Nhớ xưa cũng nơi nầy
Mẹ già khóc tiễn đưa
Khi còi tàu gào thét
Trời mưa ơi là mưa.
Vẫy tay từ biệt mẹ
Nước mắt rơi như mưa
Nghẹn ngào trong tiếng khóc
Ly biệt nói sao vừa
Nay về thăm quê lại
Nức nở trong nắng chiều
Mẹ già không còn nữa
Sân tàu cũng buồn thiu.
(Hạ Ái Khanh)
Nhiều thi nhân sau khi mẹ mất đã nhớ lại những tháng năm nằm bên gối mẹ, nhớ những ngày mẹ nở những nụ cười đầy lòng nhân ái dạt dào, nhớ những lúc nắng sớm mưa chiều mẹ thương con rồi quá nuông chiều con khi ru con ngủ, để rồi dệt mấy vần thơ đầy nhung nhớ ngậm ngùi. Ta hãy nghe thi sĩ Cao Mỵ Nhân sáng tác mấy vần thơ não nuột sau đây khi nhà thơ bỗng một chiều nước mắt rưng rưng vì nhớ mẹ đến nghẹn ngào:
“Mẹ ơi, tất cả đã mờ theo.
Nước mắt khi mưa ướt dáng chiều.
Mẹ sớm rời xa con, cháu mẹ.
Lòng tôi chùng xuống, chợt hoang liêu.
Mẹ về tiên cảnh hẳn vui hơn.
Chốn ấy hoa đăng, nhã nhạc buồn.
Mỗi lúc dõi theo vầng nhật nguyệt.
Lung linh ảnh mẹ thắp tâm hồn”.
(Cao Mỵ Nhân – “Từ nơi mẹ nở đóa hạnh trinh”).
Nếu cố gắng đưa tất cả những bài thơ viết về nhớ mẹ của tất cả các thi sĩ vào trong bài “Nhớ mẹ qua thi ca Việt Nam” thì chúng ta phải viết một cuốn sách dày khoảng vài trăm trang vẫn không đủ. Vì vậy ta chỉ nêu lên đây môt số bài thơ tượng trưng mà thôi. Bởi thi sĩ nào, khi nghĩ đến mẹ cũng nhớ thương dạt dào, cũng nghẹn ngào quay quắt, tuỳ không gian và thời gian của hoàn cảnh từng người. Tóm lại qua thi ca Việt Nam, ta thấy hầu hết các thi nhân khi nhớ mẹ thường dệt nên những vần thơ thật diễm tuyệt mang đầy sắc thái hạnh hiếu và tình người.
California, mùa Lễ Vu Lan.
Dương viết Điền
-
Giọt Lệ Chiến Tranh

-
TOÀN PHONG NGUYỄN XUÂN VINH TRONG GÓC NHÌN VĂN HỌC

GS. NGUYỄN XUÂN VINH
(1930-2022)Chủ nghĩa văn học lãng mạn lôi cuốn không biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, trong đó những sáng tác văn chương, thi ca đều tán dương ái tình, hay tình yêu. Xin hãy xem những ví dụ như:
- Nhà văn kiêm triết gia Albert Camus nhận xét “Không được yêu là một bất hạnh đơn giản; bất hạnh thực sự là không yêu”.
- Thi hào lãng mạn Charles Baudelaire thì quan niệm “Tình yêu là khao khát được thoát ra khỏi chính mình”.
- Triết gia Jean Jacques Rousseau cho là “Những bức thư tình bắt đầu mà không biết điều gì sẽ nói và kết thúc mà không biết điều gì đã được nói”.
- về quan điểm tình yêu Voltaire nhà văn và triết gia Pháp đã viết “Bạn phải biết rằng không có đất nước nào trên trái đất mà tình yêu không biến những người yêu nhau thành thi sĩ”.
- Stendhal một nhà văn Pháp thế kỷ 19 lập luận “Tình yêu là một bông hoa tuyệt vời, nhưng cần phải có dũng khí để tìm kiếm nó trên bờ vực của vách núi kinh hoàng”.
- Sau cùng nhà văn phi công Antoine de Saint-Exupéry ghi nhận “Yêu xa là không nhìn mặt nhau; là cùng nhau nhìn về cùng một hướng”.
Nhìn từ luận điểm phân tích văn học, chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) đề cao cá nhân, tự do sáng tạo, chủ trương phóng túng, không để tâm hồn bị ràng buộc trong khuôn khổ cũ. Trong tiến trình sáng tác thơ văn, sự tưởng tượng và tri giác được đề cao và ngự trị bởi cá thể. Tác gia văn học trở thành trung tâm điểm trong việc sáng tác. Các nguyên tắc về khuôn mẫu và kiến trúc đã có từ trước của thi ca bị vất bỏ để thỏa mãn nhu cầu cần thiết của bản năng tự nhiên. Ngôn ngữ thơ được viết tự do và tự nhiên không còn bị gò bó trong thể luật. Chủ nghĩa duy lý (rationalism) bị chán ghét, trong khi ngữ căn và khát vọng tiềm thức được thăng tiến trong văn chương lãng mạn. Tác phẩm là tiếng lòng được thể hiện toàn vẹn, triệt để và vô hạn bằng sự tưởng tượng và xúc động không che dấu, không bị trói buộc bởi những ước lệ luân lý của xã hội.
Thực vậy, đặc tính chung đa số những nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch thuộc chủ nghĩa lãng mạn, tâm hồn của họ thiên tạo vốn gần gũi vối bản sắc ái tình. Xét ra thi nhân Toàn Phong không ngoại lệ. Nhà văn kiêm nhà thơ Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh của những Đời Phi Công, Mắt Biếc Hồ Thu, Tìm Nhau Từ Thuở, Tình Hư Ảo, Tâm Điểm, Ly Biệt, Bâng Khuâng,…
Em yêu anh, nên anh là tâm điểm
Giữa vòng tròn hạnh phúc của đời em.
Dẫu thời gian, không gian hoài biến chuyển,
Qũy tích này vẫn mãi chỉ chờ anh.
(Tâm Điểm, Nguyễn Xuân Vinh)
hay
Trời về khuya, bóng hình ai thương nhớ,
Muốn quên đi, vì giấc mộng không thành.
Vẽ cho cùng, không trọn trái tim anh,
Em đành đem chuyện chúng mình cất lại.
(Bâng Khuâng, Nguyễn Xuân Vinh).

Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian đang ấn hành, hay tái bản cho ông sách Theo Ánh Tinh Cầu. GS. Vinh vốn quý Theo Ánh Tinh Cầu, và Mộng Viễn Phương. Loại sách như L’Aviateur (Người phi công), danh tác của Saint-Exupéry, Courrier Sud (Chuyến thư miền Nam), Vol de Nuit (Bay đêm), Terre des Hommes, (Cõi người ta ), Pilote de Guerre (Phi công thời chiến) hay Le Petit Prince (Hoàng tử bé), những tác phẩm về phi công hay nghiệp bay, điểm chung của hai nhà văn phi công Antoine de Saint-Exupéry và của nhà văn phi công Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
GS. Nguyễn Xuân Vinh đã viết: “Trong nền văn học thế giới, kể cả Việt Nam, có những tác phẩm mà người đọc, sau khi bỏ sách xuống đã bâng khuâng tự hỏi phải chăng đây là việc thật xảy ra với những người thật”. Đọc Les Miserables của Victor Hugo người ta như sống với những nhân vật trong truyện. Trong những tác phẩm thật chọn lọc của Tự Lực Văn Đoàn, khi đọc Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng ta cũng có thể nghĩ chú tiểu Lan là mẫu người có thực. “Theo tôi nghĩ thì nhà văn khi tạo dựng một tác phẩm, nếu tả đúng tâm lý của những nhân vật trong truyện và trong một khung cảnh hiện thực thì đó là bí quyết để thành công khi viết sách để cho người đọc như đang theo dõi một câu chuyện đời có thực. Trường hợp tôi viết “Đời phi công” cũng như vậy, tôi cố tạo ra những hình ảnh đẹp là mẫu mực của thanh niên ở thế hệ tôi. Nhiều thanh niên học sinh đọc sách đã thầm ước mình là người trong truyện.”
Mạn đàm về văn học
Trong buổi mạn đàm về văn học cùng nhà văn Nguyễn Mạnh Trinh và phóng viên Nhã Lan, GS. Nguyễn Xuân Vinh kể về sự hình thành 2 cuốn tiểu thuyết Đời Phi Công và Tìm Nhau Từ Thuở như sau:
“Khi viết xong cuốn truyện này, vào thời khoảng 1960, gồm có nhiều bức thư kể đời sống của một chiến sĩ Không Quân, từ lúc bắt đầu là một sinh viên sĩ quan cho đến lúc thi hành nhửng phi vụ hành quân ở đơn vị, thì tôi đã là người chịu trách nhiệm tổ chức và bành trướng Không Quân Việt Nam, và nghĩ rằng mình đã theo binh nghiệp thì sẽ đi suốt chặng đường…. Về văn học, thời niên thiếu tôi học theo chương trình Pháp. Vốn liếng nho học, tôi chịu ảnh hưởng của ông ngoại, và ngoài ra tôi chịu khó đọc sách tiếng Việt và tìm hiểu về lịch sử nước nhà nên dĩ nhiên là được thấm nhuần cả hai nền văn hóa Đông và Tây. Tôi đã đọc hầu hết những tác phẩm nổi tiếng viết bằng tiếng Việt. Về sách tiếng Pháp tôi thường tìm đọc những tác phẩm của Alphonse Daudet, Emile Zola và Victor Hugo. Tuy vậy tôi không nghĩ rằng văn phong của tôi chịu ảnh hưởng của một tác giả nào vì tôi chỉ viết khi có hứng khởi theo ý nghĩ của riêng mình. Có người đã phê bình rằng cuốn Đời Phi Công tôi viết chịu ảnh hưởng của nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupéry. Điều này đã được nhà văn Việt Hải phản bác lại là cuốn sách của tôi không có gì giống với những tác phẩm của nhà văn người Pháp ngoài chuyện là hai người cùng nặng nghiệp bay.

Nhà văn Việt Hải còn nói rằng là ông Saint-Exupéry viết chuyện người phi công phải vật lộn với mưa gió bão bùng trên trời và tôi nói chuyện về tình người ở trên quê hương Việt Nam, thì như vậy có gì liên hệ tới nhau. Vả chăng có sự việc không mấy người biết là tuy sách tôi viết bằng tiếng Việt nhưng vào năm 1961 đã được giới thiệu trên nhật báo Pháp văn “Le Journal d’Extrême-Orient”. Tôi cũng đã dịch một chương của cuốn truyện sang Anh ngữ và đăng trên Empire Magazine là tuần báo ra ngày chủ nhật của Denver Post là tờ báo lớn nhất ở miền Trung Hoa Kỳ. Bài dịch này, đề là “The Eagle’s Wings” đã được họa sĩ Patrick Oliphant, vẽ hình trình bầy. Ông là người nổi tiếng thường có hình biếm họa đăng trên The Washington Post và sau đó được giải Pullitzer vào năm 1967.
Năm 1984 tôi đã là người gốc Á châu đầu tiên được bầu vào Académie Nationale de l’Air et de l’Espace của Pháp. Hàn Lâm Viện này không phải chỉ gồm toàn những kỹ sư và khoa học gia về hàng không và không gian mà còn có nhửng danh nhân về văn học như Pierre Closterman, phi công anh hùng Đệ Nhị Thế Chiến và là tác giả những cuốn sách nổi tiếng như Le Grand Cirque, Flames in The Sky, …, hay ông Michel Debré, giáo sư Luật khoa, nhà văn và cũng là cựu thủ tướng Pháp, …. Những người này khi bỏ phiếu bầu cho tôi tất nhiên đã đọc những tài liệu tôi viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp mà ủy ban tuyển chọn đã thâu thập được và họ là những người xứng đáng nhất để có thẩm quyền nhận xét về giá trị văn học và khoa học và hiểu biết kỹ thuật về hàng không của tôi. Tất nhiên những người này không ai nghĩ là tôi đã dựa vào một tác phẩm nào để viết cuốn sách đầu tay của mình….

Tác giả Nguyễn Xuân Vinh viết về tác phẩm Tìm Nhau Từ Thuở:
“Cuốn sách này tôi viết ba năm mới xong gồm 14 chương. Tuy diễn tiến của cuộc tình theo với thời gian đã được giàn trải trước nhưng có khi vài tuần lễ tôi mới viết được một đoạn như là một câu truyện ngắn nói về liên hệ giữa hai người. Chẳng hạn trong một chương sách có tiêu đề là Thiên Nga tôi chỉ kể câu chuyện nhân dịp lễ Valentine anh chàng Phong tìm mua được một con thiên nga bằng pha lê để gửi kịp ngày 14 tháng 2 cho cô bé mang ra trường khoe với lũ bạn luôn luôn tọc mạch. Bài viết cũng khá dài gồm nhiều chi tiết làm người đọc thấy thích thú. Mỗi chương sách tôi thường viết một mạch không cần sửa chữa hay thêm bớt. Trong khoảng thời gian đó tôi tưởng tượng mình như có liên hệ với những người trong truyện nên có độc giả đã nghĩ rằng tôi kể chuyện đời mình.”
Về Tìm Nhau Từ Thuở, GS Vinh kể tiếp:
“Trong những năm sống ở nước ngoài, và được đi nhiều nơi, tôi đã viết một loạt bài, thường là những ký sự hay tùy bút bộc lộ tâm sự của mình, hướng về đất nước và mong ước cho giới trẻ đạt được những thành tích làm vẻ vang cho quê hương. Những bài này được lựa chọn và in thành một tuyển tập đề là Theo Ánh Tinh Cầu do nhà xuất bản Đại Nam in ra năm 1990. Sách in ra được bán hết ngay trong năm nhưng không in lại vì tôi dự định viết tiếp một số bài nữa. Sau đó, tôi viết một vài truyện ngắn tả mối tình thật lý tưởng giữa một chàng trai thời loạn và cô em gái một người bạn. Những chuyện này được đăng liên tiếp mấy năm trên những số báo Xuân Thời Luận và được độc giả ưa chuộng. Ông chủ bút Thời Luận là nhà văn Đỗ Tiến Đức vẫn thường nhắc nhở tôi viết những chuyện văn chương và tình cảm tuy rằng ông vẫn nhận đăng những bài nói về hoạt động giáo dục và khoa học của tôi. Vì thế tôi đã viết tiếp để tạo dựng thành một cuốn truyện đi cho tới đoạn kết….
Cũng như khi viết cuốn Đời Phi Công, tôi muốn giới hạn thời gian của câu chuyện để giữ niềm trẻ trung cho những nhân vật trong truyện. Cũng vì vậy mà tôi đặt khoảng thời gian vào những năm kế cận trước và sau năm 1975. Câu chuyện cũng được diễn tả một cách trung thực hơn vì tôi biết rõ sự biến chuyển trên đất nước trong khoảng thời gian này. Nhiều người đã đọc cuốn sách, cả hai phái nam và nữ, là những chuyên gia có trình độ, cũng có nhận xét như Nhã Lan là tôi đã diễn tả lại một khung cảnh của đất nước trong giai đoạn này.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ và nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là bậc đàn anh khả kính mà tôi được biết khi cùng dậy ở trường trung học Chu Văn An ở Sàigòn. Nhưng theo tôi nghĩ thì sự chọn lựa của giới trẻ Việt Nam hiện nay không hẳn chỉ giữa hai nền văn hóa Đông và Tây, thật cách biệt nhau. Trong giữa hai đối nghịch cũng có những khoảng dung hòa có thể chấp nhận được. Lý tưởng ra thì tôi hằng mong ước các bạn trẻ sống ở hải ngoại phải cố gắng tranh đua sao cho bằng người mà vẫn giữ được bàn sắc đạo đức của giống nòi Hồng Lạc.
Nhân vật Phong là nhân vật nam ở trong Tìm Nhau Từ Thuở. Còn Phương Vân là cô bé trong cuốn truyện, em của một người bạn học. Tình cảnh này thường xẩy ra giữa các liên hệ bạn bè. Tuy tôi tả Phương Vân như một nữ sinh hiền thục ở tuổi trăng tròn, nhưng để mở rộng phạm vi hoạt động cho Phong, tôi đã đặt anh vào vị trí của một chuyên gia tốt nghiệp từ một trường cao đẳng có uy tín ở Pháp, và đã theo tiếng gọi của nghĩa vụ mà về nước phục vụ một khoảng thời gian. Cũng vì vậy mà nhiều người đọc sách đã nghĩ rằng tôi kể chuyện đời mình.
Ðời Phi Công là những bức thư của một chàng thanh niên vừa xếp bút nghiên theo việc đao cung gửi cho người bạn gái đã mang tính chất thời đại của một mẫu người tuổi trẻ thật nhiều lý tưởng. Cuốn sách đã tạo nhiều ảnh hưởng, được tái bản nhiều lần và hàng ngàn người trai trẻ nô nức gia nhập Không Lực để thực hiện lý tưởng và hoài bão của mình trong thời chiến tranh khốc liệt về sau. Cùng một lúc với sự phát triển của không quân Việt Nam bào những năm 1960, rất nhiều thanh niên đã theo tiếng gọi của Tổ Quốc Không Gian gia nhập quân chủng. Nhiều sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt cũng xin chuyển về phục vụ Không quân.”
Bàn luận về tác phẩm Đời Phi Công là những lá thư gửi Phượng và tác phẩm Tìm Nhau Từ Thuở cũng có những bức thư nói liền những không gian xa cách. tác giả tâm tình:
“Cuốn Đời Phi Công là một tập sách gồm toàn những lá thư viết cho một cô bạn gái ở xa, để kể chuyện đời của những người nặng nghiệp bay. Còn Tìm Nhau Từ Thuở là một tập truyện tả một một mối tình cao thượng, nẩy nở theo ngày tháng giữa một chàng trai thời đại và một nữ sinh, em một người bạn. Sau này vì hai người ở xa nhau, nên đôi khi có những cánh thư trao đổi nhưng số trang viết qua thư từ chỉ là một phần nhỏ trong cuốn sách. Vì vậy thể văn không phải hoàn toàn là thể viết thư.

Mục tiêu của tác phẩm “Vui Đời Toán Học” là:
“Ngay ở lời mở đầu cuốn sách, tôi đã viết là từ khi vào trung học tôi đã thấy yêu thích môn toán học và ao ước được đọc những cuốn sách viết về cuộc đời học toán của những người đi trước. Dĩ nhiên là khoảng thời gian khi tôi mới lớn lên, sách vở thiếu thốn nên không được đọc những tài liệu đó. Giờ đây tôi viết cuốn sách này kể lại những cố gắng của mình trong cuộc đời tầm học và mong rằng những chuyên gia khác ở mọi ngành cũng làm tương tự để lảm giầu thêm cho tủ sách kiến thức chuyên môn viết bằng tiếng Việt. Tuyệt đối là không. Thật ra khi chọn tên cho cuốn sách tôi cũng sợ có chuyện ngộ nhận đây là sách nói về Toán học. Thật ra lúc mới đầu chỉ là một tập sách gồm có nhiều câu chuyện vui về toán viết một cách nhẹ nhàng giản dị cho mọi người có thể đọc được. Những chuyện này khi viết ra đã được đăng trên nhiều nguyệt san và được người đọc ưa thích. Những nguyệt san đã đăng bài thường chỉ lưu hành ở địa phương nên nhiều người đã muốn tôi gom những bài này lại để in thành sách để phổ biến cho nhiều người đọc. Có nhiều bài chỉ gổm toàn là những bài thơ tình. Chẳng hạn tôi lấy bài “Mười hai bến nước” thì bài này là gồm một số bài thơ tình cảm dùng những danh từ toán học. Tôi chọn một bài làm thí dụ
Tâm Điểm
Tình là vậy, từ chân không chợt đến,
Một vòng tròn quay hai nửa tim hồng.
Để mỗi ngày đôi chân bước song song
Mong đi tới tận cùng là giao điểm
Em yêu anh, nên anh là tâm điểm
Giữa vòng tròn hạnh phúc của đời em.
Dẫu thời gian, không gian hoài biến chuyển,
Quỹ tích này vẫn mãi chỉ chờ anh.
Nếu không loáng thoáng có những danh từ toán học chen vào thì người đọc có thể nghĩ đó là một bài thơ tình. Trong câu chuyện này cũng có những câu thơ thật tha thiết như
Anh hiểu chưa, cõi lòng em như thế,
Em muôn đời không đổi trục, anh ơi.
Nhớ thương anh, tuy chẳng nói nên lời,
Em mơ ước theo cung đường tối lợi.
Tìm giao điểm cho lòng ai mở hội,
Xác định rồi vẽ đồ thị triển khai,
Rồi chứng minh tỷ lệ suốt đêm dài,
Lên đáp số đóng khung đời hình học.
Bài toán tình luôn làm người mê hoặc,
Bởi muôn đời nó vô định, người ơi!!

Trong một bài khác tôi viết có tựa đề là “Thảo bài thơ liên hoàn” nói về một buổi trại hè các trại sinh chia nhau thành năm nhóm ngồi ở bốn phương Đông Tây Nam và Bắc và một nhóm ngồi ở phương vị Trung ương, mỗi nhóm chọn một hình vuông, tròn, lục lăng, ngũ giác và tam giác để trình bầy về vẻ đẹp của hình nhóm mình đã chọn. Khi đến hồi kết luận thì một em trại sinh đóng vai một thi nhân đi thăm các nhóm, và ở nơi nào cũng thảo ra một bài thơ tứ tuyệt để ghi làm kỷ niệm. Ý kiến của tôi khi đưa ra một bài thơ liên hoàn là để gây tình liên kết, khuyên người đọc mà tôi hy vọng là ở trong giới trẻ hiếu học là biết nối vòng tay lớn để cùng nhau xây dựng quê hương. Trong bài viết này tuy có phác qua những vẻ đẹp của các hình kỷ hà học, nhưng sự thực là một sáng tác thơ văn.
Hai bài viết mà tôi đưa ra làm thí dụ về khía cạnh thơ văn của cuốn sách tôi đã đăng trên nguyệt san Tân Thế Kỷ ở Dallas trước đây và sau này được truyền đi nhiều lần trên mạng vi tính nên có nhiều người đã đọc. Có một lần tôi tìm được trên mạng bài thơ tình toán học của tôi có người phổ nhạc và hát nữa nghĩ thật là vui. Khi tôi cho vào trong cuốn sách và viết thêm những kỷ niệm học toán và giảng dậy ở các đại học cùng làm nghiên cứu khoa học thì mới lấy tên mới này là “Vui Đời Toán Học” và vì số lượng trang sách tổng cộng lên quá lớn gần tới 900 trang nên tôi phải bỏ bớt đi và giữ lại còn gần 500 trang mà thôi. Những bài tôi vừa lấy làm thí dụ vì đã được chuyển đi nhiều lần trên mạng nên trong cuốn sách này tôi phãi bỏ đi. Ngược lại tôi viết thêm nhiều bài nói về cuộc đời làm toán qũy đạo không gian và dậy học của tôi.
Thật ra có nhiều chuyện người đồng hương không biết nếu không đọc cuốn sách. Chẳng hạn tôi có nhiều học trò đã thành danh, và một ngừơi nay là đại giáo sư ở một đại học lớn và tên của ông ta được đặt cho một tiểu hành tình mới tìm thấy cách đã hơn mười năm. Tuy đã nổi tiếng như vậy mà trong tiểu sử của ông được in trên trang Đại Học ông vẫn ghi tên tôi là giáo sư cố vấn cho luận án tiến sĩ của mình. Tôi dùng lối hành văn giản dị, không cầu kỳ lại nhẹ nhàng. Thỉnh thoảng tôi chen vào vài kỷ niệm riêng, thường là những kỷ niệm vui, hay gặp những duyên kỳ ngộ, được thầy hay, bạn tốt. Trong cuốn sách này tuy như tôi đã nói trước đây là có nhiều bài chỉ gồm toàn những bài thơ tình, nhưng nay tôi thu xếp lại để viết thêm về cuộc đời học toán, dậy học và khảo cứu của mình nên đả dùng thể văn tự truyện nhưng có chen vào những tình cảm riêng tư của mình đối với đất nước và thế hệ trẻ Việt Nam. Nói chung, sáng tạo thơ văn thì không có gì giới hạn, nói theo tiền nhân khi xưa thì:
Ngoài vòng cương toả chân cao thấp,
Trong thú yên hà cuộc tỉnh say
Muốn viết sao cũng được miễn sao bộc lộ được ý tưởng của mình muốn truyền cho người đọc. Nhưng sáng tạo toán học phải dùng hoàn toàn luận lý thật chặt chẽ, tuy đôi khi phãi pha một chút tưởng tượng không bình thường. Tôi lấy một thí dụ, tuy không thực tế cho lắm, là một phi thuyền đang bay trên một qũy đạo vòng tròn quanh trái đất, mà giờ ta muốn quay ngược chiều nghĩa là đổi hướng bay 180 độ. Như thế, theo ý nghĩ thông thường thì phải hãm vận tốc lại thành số không rồi lại tăng tốc độ thành như cũ nhưng đổi ngược chiều, thật vừa tốn kém nhiên liệu lại vừa gây ra một độ gia tốc quá đáng có ảnh hưởng tai hại đến phi thuyền và phi hành đoàn nếu có. Lời giải đáp thật đúng là làm sao vận hành cho đỡ tốn nhiên liệu là phải tăng tốc độ cùng chiều, nghĩa là thay vì quay ngược ngay lập tức, lại phải tiến tới. Vận động này, chỉ tốn một ít nhiên liệu nhưng sẽ làm cho phi thuyền vượt khỏi trọng trường của trái đất và bay đi thật xa.
Ở khoảng cách xa, lấy thí dụ là khoảng cách chừng mười lần bán kính qũy đạo, vận tốc của phi thuyền sẽ rất nhỏ, giống như khi ta tung một quả bóng lên cao, lên tận cùng rồi muốn rơi trở lại. Lúc đó chỉ càn tạo ra một lực nhỏ để cho phi thuyền bay trở lại nhưng lần này ngược với hướng bay trước. Khi tới vị trí cũ thì tốc độ trở lại bằng lúc mới bắt đầu khởi hành nhưng lần này phi thuyền đi ngược chiều và chỉ cần hãm tốc độ lại vừa đủ đi vào qũy đạo tròn là thực hiện được phép đổi hướng 180 độ. Chi phí về nhiên liệu, một lần tăng lên và một lần giảm đi, cả hai lần đều bằng nhau theo tính chất đối xứng của qũy đạo và tương đối nhỏ. Đấy là ý kiến đưa ra nhưng sau đó phải dùng phép tính thật chính xác để xem tất cả những điều lợi, như tiết kiệm nhiên liệu, bớt độ gia tốc, và những điều hại như kéo dài thời gian vận chuyển vân vân…”
Về quan điểm toán học, ông đề cập:
“Toán học là một môn của Triết học. Tôi củng như nhiều người có suy tư và quan niệm về cuộc sống, thường quanh những đạo đức cổ truyền mà tôi được thấm nhuần từ hồi trẻ, thường là bất di dịch, như là chịu ơn ai thì nghĩ đến báo đền. Lấy một thí dụ là trong cuốn sách tôi có một bài viết là “Thầy còn nhớ tôi không?” nói đến tình thầy trò. Nhưng khi làm khoa học, đi vào luận lý thì những suy nghĩ này phải gạt sang một bên. Nói một cách khác khi thấy ông thầy của mình tính không đúng thì cũng phải nhắc khéo là ông đã hơi sai.”
Nhân dịp các thành viên Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian đi thăm GS. Nguyễn Xuân Vinh để bàn thảo in sách Thiên Chức của Nhà Giáo tại tư gia Huntington Beach của ông, trong phái đoàn có thi sĩ Hà Nguyên Du. Hà Nguyên Du đặt một số câu hỏi về phạm vi không gian học (aeronautics) và vũ trụ học (astronautics). GS. Nguyễn Xuân Vinh viết nhiều tài liệu khảo luận (term papers) về khía cạnh không gian chuyên môn của ông, ông đã đóng góp hàng trăm bằi tiểu luận về toán, động học không gian (astrodynamics) và tối ưu hóa quỹ đạo (trajectory optimization) … GS, Nguyễn Xuân Vinh khi về hưu ông mang tước hiệu Professor Emeritus of Aerospace Engineering của Đại học Michigan, giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian. Theo quy chế giáo dục Hoa Kỳ khi trường ban cho “Giáo sư Emeritus” (Professor Emeritus) là một giáo sư dạy thực thụ, thông thường đã làm việc toàn thời gian, nhưng nay đã nghỉ hưu, ông hay bà vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết trình, giảng dạy, tham khảo ý kiến hay được trao một giải thưởng nào đó. Professor Emeritus là một phong vị danh dự cao quý.

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh: Toán Thơ và Thơ Toán
Như trên, văn học và toán học có điểm gần nhau. Nhà văn kiêm nhà giáo môn toán Nguyễn Xuân Vinh yêu thích thi ca, Vui Đời Toán Học ghi nhận trong nhiều trang sách. Trong tương quan đó nữ toán học gia gốc Nga Sophia Kovalevskaya của thế kỷ 19 cho là: “Bạn không thể là một nhà toán học mà không có tâm hồn của một nhà thơ” (Il est impossible d’être un mathématicien sans avoir poète dans l’âme). Còn nhà toán học người Đức nổi danh trong môn toán Calculus, Karl Weierstrass ối thế kỷ 19) cho nhận định: “Một nhà toán học không mang một nét gì đó của một nhà thơ thì chả bao giờ là một nhà toán học trọn vẹn được” (Un mathématicien qui n’est pas aussi quelque peu poète ne sera jamais un mathématicien complet). Tôi thầm nghĩ chả nhẽ hai cụ Sophia Kovalevskaya và Karl Weierstrass đã cho hai câu nói đúng y bon để giới thiệu về nhà văn kiêm giáo sư có hai đam mê trong tâm hồn, toán học và văn học, Thi sĩ GS. Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.
“Xưa nay chúng ta thường nghĩ những sáng tác văn học vốn là những xúc cảm riêng của nhà văn, nhà thơ, nên có khi không mang một quy luật gì cả, nhất là việc muốn đo bằng số (định lượng) những kết quả hay các quy luật của văn thơ thì dường như là điều không thể làm được. Các bài viết dưới đây sẽ làm cho chúng ta thay đổi lại cách nhìn, chúng ta sẽ thấy, hóa ra tính ìhài hòa” của của văn chương vẫn có thể được đo bằng sự ìcứng nhắc” của đại số. Điều này nó mang lại thắng lợi không phải cho riêng toán học, mà còn làm cho cách tiếp cận văn học trở nên đa dạng và phong phú hơn. Tuy nhiên, việc ứng dụng các phương pháp toán học trong việc nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật vẫn là một lĩnh vực mới mẻ và cần được nghiên cứu thêm. Bài viết dưới đây chủ yếu áp dụng một lý thuyết có tên là ìLý thuyết tai biến” (cùng với Điều khiển học và Lý thuyết trò chơi), một lý thuyết mà tôi tin là ở đây không có nhiều người thạo (tôi cũng mù tịt). Tôi hy vọng sẽ có người post bài giới thiệu chi tiết về lý thuyết này để cả nhà cùng hiểu rõ. “, GS. Nguyễn Xuân Vinh.

Cựu Tư Lệnh Không Quân VNCH, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Một dẫn chứng khác là Thi sĩ kiêm giáo sư toán JoAnne Growney viết: Toán học và thi ca đều là “định dạng có thể truyền tải nhiều ý nghĩa”. Trong môn toán học, một đối tượng hoặc một ý tưởng có thể có các dạng khác nhau. Ví dụ, một phương trình bậc hai có thể được hiểu theo biểu thức đại số của nó, có thể là y = x2 + 3x-7, hoặc theo dạng đồ thị của nó, một parabole. Henri Poincaré, một nhà khoa học người Pháp, người đặt nền móng cho hai lĩnh vực toán học khác nhau vào đầu những năm 1900, đã mô tả toán học là “nghệ thuật đặt cùng một tên cho những thứ khác nhau”. Tương tự như vậy, các nhà thơ tạo ra các lớp nghĩa bằng cách sử dụng các từ ngữ và hình ảnh có nhiều cách diễn giải và liên tưởng. Cả nhà toán học và nhà thơ đều nỗ lực vì tính kinh tế và độ chính xác, lựa chọn chính xác những từ họ cần để truyền đạt ý nghĩa của chúng.
GS. Growney được biết qua danh tác, tuyển tập thơ “My Dance is Mathematics”, bà còn là nhà toán học, nhà thơ, nhà văn JoAnne Growney, giáo sư toán tại Đại học Bloomsburg University of Pennsylvania (Collection of poems “My Dance is Mathematics”, by JoAnne Growney. She is a mathematician, poet, writer JoAnne Growney, a math teacher at Bloomsburg University of Pennsylvania).

Người viết bài xin kết luận, ta có thể kể tiếp vô vàn những ví dụ về cách các nhà toán học và nhà thơ móc nối những con số và những con chữ để thỏa mãn ý thích của họ. Một hỗn hợp của những điều trực tiếp nói ra và những gì ngụ ý sâu kín đằng sau, hay một hỗn hợp của nhạc điệu và âm điệu. Thay vì cố phân tích rõ ràng, rành mạch, mà như vậy ta có thể còn làm mất phẩm chất hay của thơ bị toán hóa, thôi thì tôi xin chấm dứt bài viết này bằng trích dẫn những câu thơ tinh của thi sĩ, nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh:
(Yêu) anh từ thuở xanh mơ,
Giận anh cho đến bây giờ chưa nguôi.
Sao anh chưa nói nên lời,
Sao anh chưa nói trọn đời (yêu) em.
Bây giờ gặp buổi chiều êm,
Anh về mới nói (yêu) em trọn đời.
(Tình thơ Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.)
Giáo Sư, Khoa Học Gia, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Vinh, từ trần ngày 7/23/2022 lúc 2.49 PM tại Orange County, California, hưởng Thượng Thọ 92 tuổi.


En souhaitant que le professeur Nguyen Xuan Vinh soit dans un voyage paisible vers une nouvelle vie à venir, “vous êtes mon idole en mathématiques et un modèle souhaitable en mathématiques et en aérospatiale” que Dieu vous bénisse. Nous nous souvenons toujours de vous!
VHLA
(Trần Việt Hải Los Angeles).
Giáo Sư, Khoa Học Gia, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Vinh, từ trần ngày 23 tháng 7, 2022 lúc 2.49 PM, hưởng Thượng Thọ 92 tuổi. GS Nguyễn Xuân Vinh qua đời, đất nước mất đi một người con thân yêu, một khoa học gia, một văn thi sĩ, một người Thầy trân quý. Kính xin Thiên Chúa toàn năng nhận đón hương hồn GS về hưởng phúc bên thánh nhan Người.

LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN 