• Kiều My,  Tin tức

    THẾ GIỚI TRẺ EM CỦA GIÁO SƯ LÊ VĂN KHOA TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH QUỐC GIA VIỆT NAM TRƯỚC 1975

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam. Ông đã trải qua nửa đời người trên quê hương thân yêu và một nửa đời còn lại nơi quê người với bao thăng trầm; mà trong tâm hồn luôn cưu mang nỗi niềm tha thiết bao la của một “ HỒN VIỆT VÀ ƯỚC MƠ.” Ông luôn hãnh diện ông là người Việt Nam và ông muốn cho cả thế giới biết ông là người Việt Nam; dù ông không còn sinh sống ở quê hương của ông. Lê Văn Khoa ước muốn cả hành tinh này biết đến dân tộc Việt Nam hào hùng, xuất chúng về mọi mặt và đầy nhân bản. Đó là ƯỚC MƠ của ông được phát xuất từ một HỒN VIỆT. Ước mơ của ông thật cao xa trong nhiều lãnh vực từ: âm nhạc, nghệ thuật, nhiếp ảnh, văn học và giáo dục thiếu nhi… mà ông mong mõi được mang những điều tốt đẹp đến cho người Việt Nam và cho cả thế giới. Với những ước mơ  được cống hiến cho đất nước những vinh quang, bằng tài trí, bằng nhiệt thành và bằng sự cố gắng không ngừng nghỉ của ông, từ tuổi thanh xuân cho đến lúc tuổi đã về chiều. Ông cưu mang một “tâm hồn Việt” thật tha thiết, thật bao la mà nó lan tỏa trong âm nhạc của ông, trong nhiếp ảnh, văn học và nhất là trong chương trình giáo dục thiếu nhi Việt Nam của ông.

    Ông yêu âm nhạc như hơi thở của sự sống. Nếu đời sống thiếu âm nhạc chẳng khác gì thiếu ánh sáng mặt trời, thiếu không khí trong môi trường quanh ta. Ông cũng biết rằng: nghệ thuật âm nhạc là ngôn ngữ chung của quốc tế, không bị chia cách bởi văn hóa và biên cương. Giovanni Bellini người Ý đã quan niệm rằng: “Nghệ thuật là sự nhiệm mầu của đời sống.” Thế giới này thật to lớn, nhưng đã được nối vòng tay lại với nhau qua âm nhạc và nghệ thuật…như một phép mầu!Một ước mơ thật to lớn mà ông đã đạt được và gặt hái thành công vang dội là: chính ông đã mang dòng nhạc Việt Nam đầy tính dân tộc khoe cùng thế giới, qua nhạc giao hưởng  SYMPHONY VIỆT NAM 1975, để hòa hợp cùng nền âm nhạc đa dạng và phong phú của quốc tế. Thế giới đã biết đến âm nhạc Việt Nam, biết đến tinh hoa Việt Nam, biết đến con người Việt Nam, bởi ý chí và mơ ước mãnh liệt của một nhạc sĩ tài ba đức độ được mang tên LÊ VĂN KHOA. Những xứ sở xa lạ từ văn hóa đến ngôn ngữ như Ukraine tận trời Âu, đã mở rộng vòng tay đón nhận và nâng niu những mảnh nghệ thuật chân chính và giá trị của Lê Văn Khoa, một người Việt tị nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ. Thế giới đã hân hoan đón nhận và ngưỡng mộ sâu sắc một lâu đài âm nhạc đồ sộ lẫy lừng của Lê Văn Khoa. Ông chính là niềm tự hào cho người Việt Nam ở khắp nơi trên địa cầu này. Ông đã dấn thân mang chuông đi đấm xứ người. Ông muốn phô trương cho thế giới biết về Việt Nam; một xứ sở tuy nhỏ bé, nhưng với tinh thần dân tộc bất khuất, là một dân tộc thông minh, đầy nhân bản và tài ba xuất chúng. Ông muốn cho thế giới thấy những nét đẹp của Việt Nam, qua âm nhạc cao siêu, qua những bức ảnh nghệ thuật tuyệt vời của ông.

    Ngoài sự thành công vượt bực trên lãnh vực âm nhạc, nhiếp ảnh, nghệ thuật… Lê Văn Khoa còn là một người nặng lòng yêu nước và đặc biệt sự quan tâm thật rõ nét đối với thiếu nhi; là những mầm non của đất nước, mà cũng là tương lai của đất nước. Đây đích thực là “HỒN VIỆT & ƯỚC MƠ” của ông. Ông mong muốn đào tạo những mầm non này trở thành những người hữu dụng cho mai sau. Như bà Ellen White đã viết trong quyển Child Guidance:

    “Công việc giáo huấn, rèn luyện trẻ con phải khởi sự ngay khi chúng còn trẻ thơ, vì tâm trí chúng dễ thâu nhận nhất, và những bài học đó sẽ được chúng nhớ rất kỹ.”                 

    Trước năm 1975 dưới nền dân chủ Việt Nam Cộng Hòa, khi ông còn ở trong nước và trải qua thời chiến tranh đau thương đã kéo dài hàng mấy thập kỷ. Ông  chứng kiến biết bao cảnh tan thương của nhiều gia đình đã bị mất mát người chồng, người cha trong chiến trận…Đã để lại người vợ đơn côi lam lũ nuôi những đứa con thơ mất cha. Những đứa trẻ trong viện mồ côi khi không còn cha mẹ. Hay những trẻ bụi đời không nơi nương tựa, hàng ngày lang thang khắp hang cùng ngỏ hẻm để kiếm miếng ăn, để van xin sự bố thí của người qua lại. Các em thiếu thốn đủ mọi mặt, từ tình thương gia đình đến sự giáo dục của lứa tuổi còn thơ, mà rất cần sự dạy dỗ và chăm lo của bậc phụ huynh. Với tấm lòng trắc ẩn về hiện trạng đất nước chiến tranh và một xã hội đau thương tan tác, Lê Văn Khoa đã ấp ủ một “ước mơ”. Ông đã thao thức trăn trở: làm sao mang đến niềm an ủi, niềm vui và sự giáo dục thiết thực cho trẻ em, như một nhu cầu cấp bách không thể thiếu. Ông quan niệm rằng: chỉ có con người tốt mới tạo được một xã hội tốt đẹp. Ông đã hy sinh cái danh của mình, khi có cơ hội phát huy tài năng cũng như niềm đam mê về âm nhạc và nhiếp ảnh – để chọn con đường giáo dục cho thiếu nhi.

    Ngoài lãnh vực âm nhạc và nhiếp ảnh mà nhiều người biết đến Lê Văn Khoa, ông còn có tài năng khác là dạy học. Đây là khả năng sư phạm bẩm sinh rất đặc biệt, dù ông không tốt nghiệp bất cứ trường sư phạm nào. Ông không đi theo đường hướng của nhiều người đã làm, ông nghiên cứu và nghĩ ra phương cách thực tiễn hơn trong lối giáo dục của ông. Chính vì vậy, mà có những nhận xét cho rằng: “ Lê Văn Khoa cứ tìm đường khó để đi.” Ông đã thực hiện ý niệm đó qua phương pháp dạy các học sinh trường tiểu học Cơ Đốc. Ông đã khai thác ý niệm trên qua quy mô rộng lớn hơn trong chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM, trên băng tần số 9 của đài truyền hình Việt Nam. Trong chương trình này, cả thầy và trò cùng đi sâu vào và khám phá thế giới khoa học, mà các em cứ ngỡ là trò chơi giải trí. Ông cố tạo một thế giới riêng cho các em, để các em tham gia vào chương trình một cách tự nhiên, vui thỏa. Nhờ đó, các em ở nhà xem chương trình có thể cảm thấy mình cũng là người trong cuộc, các em được thực nghiệm và học hỏi về khoa học một cách lý thú.

     Những kiến thức mà ông đã trao cho học sinh của ông là những kiến thức rất thực tế, mà nhà trường không thể cung ứng cho học sinh được. Thí dụ: có những thí nghiệm về vật lý mà ông có thể thực hiện cụ thể trong chương trình giáo dục của ông. Ông đã làm thí nghiệm “tạo ra mây” bằng cách: đổ 2/3 nước nóng trong một ly lớn; trên miệng ly ông để nước đá bọc trong khăn mỏng. Khi nước nóng bốc hơi lên gặp nước đá lạnh, sẽ tạo thành một lớp mây mù phần trên của ly. Đây là một trong những bài học đơn sơ vừa lý thuyết vừa thực hành rất dể hiểu và dễ nhớ; giúp các em thích thú học hỏi mà không bị nhàm chán. Hơn thế nữa, ông đã cống hiến cho thiếu nhi một chương trình vô cùng phong phú và hữu ích cho lớp tuổi măng non. Ông đã đem hết thiện chí của mình để phục vụ cho thế hệ trẻ; đó là tiết mục THẾ GIỚI TRẺ EM lúc 7 giờ tối, từ tháng 10 / 1968 đến tháng 4 / 1975. Bằng một tấm lòng bác ái nhân hậu và nụ cười luôn nở trên môi, với đôi mắt sáng tươi vui hiền hậu lấp lánh sau đôi kính cận. Ông tâm sự rằng:

    “Tôi muốn thấy và nghe tiếng cười thơ ngây trên những gương mặt hồn nhiên của trẻ em. Bởi vì, bom đạn đã phá nát thiên đàng tuổi thơ rồi, đã làm nụ cười của các em không tươi lên được, thì đến với chương trình, các em phải thật sự vui. Thêm vào đó, tôi muốn chia sẻ với các em những gì mình hiểu biết trong hoàn cảnh khó khăn và bất an của xã hội lúc bấy giờ. Và hơn hết, tôi muốn lấp khoảng trống trong các em. Vì lúc đó có gia đình, con mất cha, vợ mất chồng vì cuộc chiến.”

    Giữa hoàn cảnh chiến tranh của đất nước, hầu hết gia đình sống chật vật khó khăn từ tài chánh đến môi sinh. Chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM cùng với những sách báo giáo dục được viết bằng tâm huyết của Lê Văn Khoa, đã thật sự giúp ích cho bậc phụ huynh dạy dỗ trẻ con, giúp tránh xa những thói xấu, biết làm quen với nếp sống văn minh.

     Mãi đến bây giờ, nhiều người vào lứa tuổi 50 – 60 cũng còn hồi tưởng lại chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM của Lê Văn Khoa một cách thích thú; mà khi còn nhỏ họ đã chờ đợi để được xem trong suốt tuổi thơ của họ. Thậm chí có nhiều gia đình chưa có TV, đến giờ có chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM được phát sóng, thì các em nhỏ của lối xóm chạy ùa đến nhà ai có TV để coi ké. Thật đáng thương! Vào thời đó, gia đình nào có được chiếc TV Denon đen trắng của Nhật thì sung sướng lắm; và gia chủ cũng sẵn lòng cho bà con lối xóm đến xem những chương trình mà trên TV cung cấp. Việc mua sắm TV là việc khó thực hiện được, vì vượt ngoài khả năng về tài chánh của nhiều người. Do đó, việc này đã trở thành niềm mơ ước được sở hữu một chiếc TV của nhiều gia đình miền Nam lúc bấy giờ.

    Bản thân nhạc sĩ Lê Văn Khoa cũng mất mẹ lúc ông mới 11 tuổi. Vì thế, ông đã thấm sâu về nỗi buồn mất mát tình mẫu tử của một đứa trẻ và khao khát tình thương với sự chăm sóc dịu dàng của bàn tay người mẹ. Ông hiểu rõ hơn ai hết những nỗi quạnh hiu và buồn tủi của những trẻ mồ côi, những mầm non không được may mắn trong xã hội này. Ông có một sự liên đới giữa thân phận mồ côi của chính mình với thân phận của những trẻ vắng bóng tình thương của cha mẹ. Do đó, với tấm lòng bác ái và vị tha mà ông đã được lĩnh hội từ người cha là mục sư Cơ Đốc giáo; ông đã mang đến tình thương và niềm vui cho thiếu nhi qua chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM của ông. Ngoài ra, ông mong muốn được thay thế cha mẹ của những trẻ em, khi người cha phải xa nhà để phục vụ trong quân đội, hay người cha đã ra đi vĩnh viễn trong chiến trận…hầu giáo dục cho trẻ em nên người con ngoan trong gia đình và người công dân tốt trong xã hội.

    Ông muốn xoa dịu hoàn cảnh thương tâm của những em đã mất cha, mất mẹ trong chiến cuộc; những em mồ côi trong cô nhi viện, những trẻ bụi đời, ông chia sẻ:

    “Tôi chỉ tạm đóng vai một người anh “hờ” để giúp các em. Tôi không dám dạy ai cả, chỉ chia sẻ vài ý nghĩ, vài sự hiểu biết để giúp các em thành người tốt, dù đang sống trong  hoàn cảnh khó khăn và bất toàn của xã hội. Tôi chỉ là một dấu gạch nối giữa gia đình và học đường. Những đề tài và phương thức dẫn giải đều do tôi nghĩ ra, không do sự chỉ dẫn hay gợi ý của ai cả. Nhờ không nhận tiền từ bất cứ cơ quan nào nên tôi được tự do làm theo ý mình. Tiền thù lao cho chương trình như là tiền “mua” chương trình, chứ không phải tiền đặt làm chương trình theo sự chỉ đạo của đài. Một lý do khác để tôi thực hiện chương trình Thế Giới Trẻ Em là muốn sự giáo dục hay đào tạo tài năng cho dân tộc được liên tục, không bị chiến tranh làm gián đoạn. Đóng góp cho quốc gia là bổn phận của mỗi người dân chứ không dành riêng cho người được lãnh lương để làm.”

    Ông còn quan tâm và tìm hiểu những vị thành niên bụi đời lang thang trên khắp đường phố Saigon. Chúng là những trẻ bạc phước thiếu hẵn tình thương của gia đình, không ai chăm sóc và dạy dỗ, không nơi nương tựa; khiến một người đầy lòng nhân ái như ông phải xót xa chạnh lòng cho những trẻ em bạc phước, là nạn nhân của cuộc chiến tương tàn. Từ đó, ông trở thành người bạn thân thiết của những trẻ trên đường phố và trong cô nhi viện; để an ủi và chia sẻ sự bất hạnh của chúng; để lắng nghe những khao khát hay ước vọng của chúng. Những gì ông mang đến cho trẻ em, thì ông cũng nhận lại được một sự ưu ái mà các em đáp trả. Những lúc ông lái xe lambreta trên đường phố gặp các em, chúng vui cười chạy đến chào đón ông. Có những khi ông để xe đâu đó một vài ngày, từ những viên cảnh sát đến các em bụi đời đều biết xe đó là xe của thầy Lê Văn Khoa; vì thế không ai đụng đến hay ăn cắp xe của thầy. Chính vì chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM, mà giáo sư Khoa trở thành thầy chung của nhiều trẻ em trên toàn quốc. Mỗi khi thấy xe thầy Khoa chạy vào trong khu xóm, con nít chạy theo bu quanh thầy rồi hô to: Lê Văn Khoa…Lê Văn Khoa…Hoan hô! Hoan hô!

    Các em mừng rỡ khi gặp được thầy bằng xương bằng thịt, và cùng nhau gọi tên thầy Lê Văn Khoa một cách thân thiện và gần gũi như gọi tên một người bạn thân. Chúng bộc lộ sự cảm mến đối với người thầy bằng tâm hồn trong sáng hồn nhiên. Đối với các em, thầy là người mang đến niềm vui, mang đến nụ cười, cũng như một vùng trời tươi sáng rộng mở của một ngày mai, mà các em bám víu vào trong ngày tháng nhiều mất mát và đầy tổn thương của tuổi thơ. Trong đôi mắt nai của các em, ít nhiều cũng chứa chan những nỗi buồn khi tuổi thần tiên của các em nhuốm nhiều thương đau của thời chiến. Mà thầy Khoa như một người cha hay một người anh, làm dịu đi những vết đau trong tâm hồn thơ dại của các em.

    Đây là một món quà thật lớn và đầy ý nghĩa mà trẻ em đã dành cho thầy Khoa. Đối với thầy, các em cảm thấy có một sự gần gũi và thương mến dành cho thầy; vì sự tận tâm và nhiệt thành của thầy đã mang đến cho các em. Có niềm vui và niềm an ủi nào sánh bằng, khi thầy cho đi hết lòng để được nhận lại không thiếu những tâm hồn trong trắng cảm mến của các em đối với người thầy.

     Có lần, thầy Khoa dẫn một đám trẻ con nhà lành và cả những trẻ bụi đời đến nghĩa trang quân đội để giáo huấn chúng. Để cho chúng tận mắt chứng kiến những chiến sỹ đã nằm xuống vì hy sinh mạng sống mình; hầu mang lại sự bình an cho các em được học tập và vui tươi trong tuổi thơ. Cớ sao các em không lo học tập mà đi phá làng phá xóm, lêu lỏng chơi bời. Ông đã từng sống với đám trẻ bụi đời ở các đường phố Saigon, dẫn dắt chúng trở về đường ngay nẻo chính, ông khuyên nhủ chúng hãy ăn năn sám hối, sống lại cuộc đời lương thiện. Khi nghe thầy Lê Văn Khoa phơi bày về sự hy sinh của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã đánh động tâm hồn các em, rồi tất cả các em bật lên khóc nức nở…Kết quả mang đến là sau đó, các em trở nên ngoan ngoãn và chuyên cần học tập hơn. Hơn thế nữa, sau đó khi các em lớn lên, có những em trai đã gia nhập vào quân đội sánh vai cùng các chiến hữu để giữ gìn đất nước. Một hôm, thầy Lê Văn Khoa đi đến tiệm sách, tình cờ có một chàng trai trẻ trong bộ quân phục trông rất hào hùng, bước tới trước mặt thầy rồi chào thật lễ phép:

    “Chào thầy Khoa! Thầy còn nhớ em không? Em là đứa trẻ bụi đời mà năm xưa thầy đã dìu dắt và dạy dỗ em, giờ đây em đã trở thành người hữu dụng cho đất nước. Em cám ơn thầy rất nhiều!”

    Lúc bấy giờ thầy Khoa rất cảm động và thật vui trong lòng, vì việc thầy làm đã mang đến kết quả tốt đẹp cho lớp thiếu nhi mà thầy đã giáo dục, giờ chúng lớn lên đã thành người hữu ích cho xã hội. Có những em gái trở thành y tá phục vụ trong các bệnh viện, hay ra chiến trường làm nữ cứu thương cho các thương binh trong các binh chủng, hay những nhân viên của các ngành nghề trong xã hội.

     Để giúp ích cho thiếu nhi về mặt tinh thần, ông đã phát họa một chương trình công phu, đặc biệt dành cho thiếu nhi trên đài truyền hình Việt Nam, với nhiều tiết mục giải trí lành mạnh như: phim hoạt hình, những màn múa rối ngoạn mục, nhạc thiếu nhi có tính giáo dục, bé vẽ cho vui…Để có được phim hoạt hình cống hiến cho các em, ông phải đi mượn những phim này từ những thư viện Pháp và Mỹ. Phim rất ngắn, nhưng thật vui nhộn và có tính cách giáo dục; giúp cho trẻ thấy vui để học hỏi về những kiến thức căn bản về cách làm người, giữ vệ sinh bản thân, trau dồi trí tuệ v.v.   

    Trong THẾ GIỚI TRẺ EM, tiết mục “Múa Rối” thu hút thiếu nhi nhiều nhất. Kỷ thuật múa rối lúc bấy giờ còn rất hạn hẹp. Con rối được may bằng vải màu điểm nhiều hoa văn, trùm lên ba ngón tay để điều khiển đầu và hai tay nhân vật, cử động lắc qua lắc lại; đồng thời nói bằng giọng của người bên trong. Tuy màn trình diễn múa rối rất thô sơ, nhưng cũng diễn đạt được những tuồng tích Việt như: Ăn Khế Trả Vàng, Thạch Sanh Lý Thông, Bánh Chưng Bánh Dày, Sự Tích Trầu Cau…lại vô cùng hấp dẫn đến nỗi không bé nào muốn rời xa cái TV khi chương trình phát hình. Với tâm hồn vô tư, các em say sưa ngồi há hốc mồm xem con rối đầy màu sắc nhảy lưng tưng như chim sáo, hay đi tới đi lui suy nghĩ, rồi nói lia chia như két…vô cùng ngoạn mục… làm các em rất ngạc nhiên đầy thích thú. Những tuồng tích múa rối này đã hổ trợ môn lịch sử, môn văn chương trong nhà trường, quả thật khéo léo và sinh động; dạy trẻ em về sự trung thực, tình anh em, tình yêu tổ quốc, ở hiền gặp lành…Mỗi chương trình như một tiết mục vui học, sống động và thực tiễn, với sự hợp tác giữa thầy và trò. Chương trình này cuốn hút cả người lớn, bậc phụ huynh cũng say mê không kém con em mình. Tạo cơ hội để học hỏi trao đổi, gây hứng thú cho con em hiểu các bài học nhà trường bằng những cách thức đơn giản và sống động. Với kỷ thuật phôi thai thời bấy giờ, mà chương trình Thế Giới Trẻ Em cũng thu hút sự theo dõi của thiếu nhi, và kích thích sự ham muốn như một niềm vui để học hỏi của tuổi măng non.

    Ông còn sáng lâpl TRUNG TÂM HỘI HỌA THIẾU NHI LÊ VĂN KHOA, với sự hợp tác của ban giảng viên hùng hậu và những họa sĩ nổi tiếng tập vẽ cho các em như: Văn Đen, Nguyên Khai, Nguyễn Trung, Trịnh Cung v.v…Tiết mục này ông gọi là: “Bé Vẽ Cho Vui” rất sinh động và hữu ích. Chương trình này đã giúp phát triển năng khiếu của các em lan tỏa ra ngoài xã hội và thế giới. Lê Văn Khoa hướng dẫn các em nhỏ thật vui tươi và sống động, bằng minh họa những hình vẽ rất đẹp mang đến sự mở mang khối óc và một tâm hồn trong sáng của tuổi thơ, qua đức tính tự tin yêu đời của ông. Ông khai thác tài năng tiềm ẩn của các em trong lĩnh vực vẽ tranh; chủ yếu là giúp các em phát triển tài năng trong tinh thần vui tươi học hỏi về ngành hội họa.

    Ông tổ chức cuộc thi “BÉ VẼ CHO VUI” hàng năm cho thiếu nhi trên toàn miền Nam. Năm 1972, vì chiến cuộc lan tràn, lễ phát giải Hội Họa Thiếu Nhi Toàn Quốc không thể tổ chức như kế hoạch; vì thế, ông không ngại đường xa và hiểm nguy, đã lặn lội trao từng món quà trúng giải của các em ở khắp nơi. Gia đình các em vô cùng cảm kích về nghĩa cử cao đẹp này của người thầy nhân ái và tận tụy Lê Văn Khoa.

    Trong lĩnh vực hội họa này, các em đã hăng hái thi đua vẽ và trở thành những họa sĩ tí hon; khi tranh của các em được thầy Lê Văn Khoa gửi đi dự thi với UNICEF quốc tế và năm nào cũng được chiếm giải thưởng. Trong số tranh dự thi, có 100 bức được chuyển qua Hoa Kỳ bán đấu giá, giúp trẻ em tàn tật vì chiến tranh đang được chữa trị bên đó. Ngoài ra, có 100 bức tranh và một số tác phẩm khác trong cuộc thi “Nắn Tượng Cho Vui” tham dự cuộc triển lãm lưu động trên khắp nước Nhật, mang tên “Việt Nam Quê Hương Mến Yêu” được khán giả Nhật nhiệt liệt ca ngợi. Vì người dân Nhật cũng hiểu rằng: Việt Nam đang sống trong thời chiến, mà đào tạo được một đội ngũ họa sĩ tí hon vẽ tranh mang thi đua với xứ người, thì quả thật là một thành tích đáng tán thưởng và khích lệ vậy.

    Qua công trình miệt mài của Lê Văn Khoa, như một làn gió mát đầy sinh khí đã thổi đến những tâm hồn non nớt của trẻ, đã mang đến cho tuổi thơ Việt nụ cười và sức sống giữa thiếu thốn và mất mát. Đã mang đến niềm hy vọng rạng ngời cho tương lai đất nước giữa màn đêm của chiến tranh. Đó cũng là một thành tựu đẹp đẽ mà trải qua bao thế hệ vẫn còn in sâu trong lòng người. Nhật báo Đuốc Nhà Nam ngày 2 tháng 2 năm 1970, trong mục tổng kết thành tích chương trình văn nghệ hàng năm của đài truyền hình số 9, đánh giá rằng:

    “Thế Giới Trẻ Em” là chương trình thiếu nhi hay nhất! Khán giả nhận thấy chương trình Lê Văn Khoa bổ ích cho thiếu nhi hơn cả, với người hướng dẫn chương trình có nhiều sáng kiến đáng kể. Chú trọng về phần giáo dục trẻ em hơn là trình diễn văn nghệ; có tính cách giáo huấn hơn là thương mại.”

    Bởi Lê Văn Khoa đã đặt hết tâm huyết và lý tưởng của mình cho thiếu nhi suốt bảy năm, qua chương trình Thế Giới Trẻ Em; đã chuẩn bị một hành trang tốt đẹp cho các em khi lớn lên bước vào đời. Ông cùng vài cộng sự, đã xây dựng một chương trình thiếu nhi đầy tâm huyết và để lại dấu ấn sâu xa trong lòng người xem. Thời ấy đến bây giờ và cho đến mai sau, giới thiếu nhi rất khó tìm được một người thầy nhân ái như Lê Văn Khoa để hướng dẫn các em trong tuổi thơ, mang đến cho các em nụ cười hồn nhiên cùng kiến thức căn bản khi lớn lên dấn thân vào xã hội.

    Trong sách GIÁO DỤC NHI ĐỒNG xuất bản 1970, ông viết:

    “Tuổi thơ ấu là  tuổi đáng thương và cũng đáng sợ vô cùng. Tôi từng gặp gỡ hàng trăm em như vậy: cướp giật, móc túi, đâm chém…lang thang không nghề nghiệp, không nơi nương tựa. Tôi cũng đi vào trại Tế Bần để tiếp xúc với trẻ em, chúng nói chuyện cũng rất cởi mỡ.”

    Có thể nói: giáo sư Lê Văn Khoa là một trung gian (như ông thường hay nói) thay thế phụ huynh chuẩn bị những mầm non cho thế hệ mai sau, một đời sống có lý tưởng và hữu ích cho nhân quần xã hội. Mặc dù, “nhân chi sơ tính bổn thiện” nhưng nếu đứa trẻ sống trong môi trường không lành mạnh, lại còn không được sự dạy dỗ của cha mẹ, thì đứa trẻ có nên người chăng? Bà Ellen White cũng đã từng viết:  

    “Người trẻ tuổi cần được huấn luyện cẩn thận cách khéo léo, vì những tập quán xấu đã thành hình trong tuổi trẻ thường đeo đuổi họ suốt đời.”

    Cũng như vua Salomon, nhà thông thái của người Do Thái đã từng cảnh cáo những bậc cha mẹ rằng:

    “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dù đến khi nó về già, cũng không hề lìa khỏi đó.”

    VìLê Văn Khoa hiểu rõ tâm lý trẻ em; vì thế, ông muốn tìm một con đường tươi sáng như kim chỉ nam để hướng dẫn cho thiếu nhi đi đúng hướng. Khởi đầu, ông áp dụng phương pháp dạy học cho các em học sinh trường tiểu học Cơ Đốc. Sau đó, vào tháng 10/ 1968 ông thành lập chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM trên băng tần số 9 đài truyền hình Việt Nam. Chương trình này được xem là một phương pháp giáo dục có hiệu quả về lý thuyết và thực hành; là một chương trình lôi cuốn trẻ em và ngay cả người lớn thời bấy giờ. Mỗi tuần chỉ được một giờ đồng hồ dành cho THẾ GIỚI TRẺ EM thôi; vì thế, các em cảm thấy thật nôn nóng chờ đợi suốt bảy ngày. Để được nghe thầy Khoa giảng dạy, rồi cùng làm những bài học thực nghiệm với thầy, cùng chơi trò chơi với thầy, rồi cùng xem múa rối với thầy v.v… Thầy mang đến cho các em một tình thương dạt dào ấm áp, khiến các em cảm thấy thật gần gũi và thân thiết với thầy như một người cha đáng kính. Qua gần bảy năm của chương trình, với sự hy sinh tận tụy và tình thương nồng nàn của ông dành cho thiếu nhi; mà các bậc phụ huynh xem như thời gian vàng ngọc mà ông đã mang đến cho con em của họ qua sự giáo dục của ông. Ngày qua ngày như “mưa lâu thấm đất”…những lời giáo huấn của thầy đã in sâu vào tâm khảm của trẻ, như tờ giấy trắng tinh được in lên những nét vẽ đẹp tuyệt vời, hay những bài học quý giá tiềm tàng trong ký ức mà sẽ không bao giờ phai.  

     Ông đã đóng nhiều vai trò trong giới trẻ: vừa là người thầy tận tâm, người cha đáng kính và còn là người bạn thân thương gần gũi với các em thiếu nhi. Các em đã theo dõi chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM một cách say mê thích thú. Hơn thế nữa, chương trình đã trở thành một niềm vui, thành những bài học hữu ích, và còn là niềm an ủi cho tuổi thơ; khi các em thiếu vắng tình thương lẫn vật chất trong hoàn cảnh của đất nước trong thời chiến. Chính những người cha của trẻ em phải vắng nhà vì nhiệm vụ quân sự; đã bày tỏ sự cảm kích và biết ơn đến với thầy Lê văn Khoa; bậc thầy đáng kính, đã thay mặt họ đem đến niềm vui và giáo dục con cái của họ. Chính Lê Văn Khoa đã mang đến nụ cười hồn nhiên cho trẻ thơ; đã vẻ ra một bức tranh tươi đẹp cho ngày mai rạng rỡ của các em. Ông đã dạy dỗ các em một lối sống lành mạnh và một tinh thần học hỏi cầu tiến, để dọn con đường tươi sáng cho tương lai của giới trẻ cũng như cho đất nước.

    Giáo sư Lê Văn Khoa đã chọn chương trình giáo dục thiếu nhi theo đường hướng và suy nghĩ của ông. Đấy là sự cần thiết cho thời cuộc lúc bấy giờ. Ông cố công đào tào lớp trẻ để sẵn sàng kiến tạo lại đất nước một mai không còn chiến tranh. Ông đảm nhiệm vai trò trung gian hoạt động và giáo dục thế hệ trẻ nên người hữu dụng cho nhân quần xã hội,  vì lớp người trẻ này là rường cột của tương lai nước nhà. Trước 1975, song song với việc hoạt động trong chương trình Thế Giới Trẻ Em trên truyền hình, ông còn là chủ biên của nhiều loại sách về giáo dục thanh thiếu niên, về đời sống gia đình, về sức khỏe cộng đồng, về niềm tin tôn giáo. Ông đặt trọng tâm vào giáo dục dục trẻ, vì đó là việc vô cùng hệ trọng cho lối sống của các em khi trưởng thành. Ông hun đúc cho trẻ có tinh thần đức dục và trí dục. Ông tập cho trẻ có thói quen tốt, vì thói quen cũng dự một phần rất quan trọng trong đời sống hằng ngày. Dạy cho trẻ biết lễ độ đối với bậc trưởng thượng, biết giúp đỡ tha nhân, có tấm lòng bác ái thương người. Vì thói quen ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người; nó nói lên cho người khác biết ta thuộc thành phần nào trong xã hội. Vì thế, bậc phụ huynh cần tập thói quen tốt cho con trẻ sớm; nếu trẻ đã lỡ nhiểm thói quen xấu thì sau này khó mà thay đổi được. Người xưa cũng đã có câu: “Dạy con từ thuở lên ba”. Phitarch cũng đã từng nói: “Sáp mềm dễ ghi dấu ấn thế nào, thì tâm trí của trẻ thơ cũng dễ ghi lời giáo huấn thế ấy.”

    Trong sách GIÁO DỤC NHI ĐỒNG, giáo sư Lê Văn Khoa viết: “Mỗi đứa bé ngày nay sẽ là một người tiếp tay kiến tạo xã hội ở ngày mai; hoặc là người nguy hiểm cho nhân loại, đều tùy thuộc một phần lớn thói quen ta tập cho chúng hiện tại.” Vì ông nhận chân được sự giáo dục thiếu nhi hết sức quan trọng và cần thiết để chuẩn bị tương lai tốt đẹp cho con trẻ ở mai sau; do đó ông đã miệt mài dạy dỗ các em trong chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM bằng thiện chí và tâm huyết của mình.

    Những thiếu nhi mà thầy đã dạy dỗ vào cuối thập niên sáu mươi đến giữa thập niên bảy mươi,  giờ đây cũng đã thành gia thất. Họ cũng mang những điều tốt đẹp thầy đã dạy truyền lại cho con cháu của họ. Những mầm non thầy ươm trồng đã trải qua vài thế hệ, và trở thành những cây hoa trái sum xuê và lan tỏa khắp nơi trên quả địa cầu này. Thầy Lê văn Khoa xứng đáng để người dân Việt thương mến cảm phục và hãnh diện; vì trong xã hội nhiễu nhương này còn có một người thầy đầy lòng bác ái sống cho tha nhân, mang lợi ích đến cho mọi người, nhất là giới thiếu nhi. Người dân Việt dù tha hương bất cứ nơi đâu trên thế giới, cũng hết lòng tri ân bậc thầy đáng kính Lê Văn Khoa và công đức của thầy sẽ còn lưu truyền mãi đến mai sau. Một người thầy, một nhạc sĩ, một nhiếp ảnh gia, luôn canh cánh bên lòng “ HỒN VIỆT & ƯỚC MƠ.”

     Nguyện xin ơn trên ban phúc lành cho người nghệ sĩ tài hoa và đạo đức Lê Văn Khoa cùng gia quyến luôn được an vui trong cuộc sống chốn quê người.

                                                                                                                Kiều My

                                                                                                          California, mùa thu 2021

  • Dương Viết Điền,  Tin tức

    TÌNH YÊUQUA THI CA VIỆT NAM

    Khi nói đến tình yêu, thông thường người ta hay đề cập đến sự rung động hai con tim của một cặp nhân tình. Nói khác đi, khi hai trái tim của một nam và một nữ đang cùng thổn thức bên nhau bất chấp cả thời gian lẫn không gian, người ta nói rằng họ đang yêu nhau. Như vậy ở đây chúng ta cần loại bỏ những trường hợp tình yêu không do sự rung động của hai con tim bắt nguồn từ một vài trường hợp nào đó, hay vì những hoàn cảnh khác tạo thành. Chẳng hạn như hai người thành vợ thành chồng nhưng không phải vì họ đã yêu nhau, mà do cha mẹ của hai gia đình đã hứa hẹn với nhau từ trước như ngày xưa qua mấy câu thơ sau:

    Chồng chị là ai

    Chị nào có biết

    Đợi đến ngày mai

    Dòm sang kẽ liếp

    Hay là trường hợp của hai nhà khoa học trong tổ chức “American Association for the Advancement of Science” đã tuyên bố nhân ngày Valentine năm 1997 tại Washington rằng, tình yêu lãng mạn của con người từ cổ chí kim, từ đông sang tây là do ảnh hưởng bởi những chuỗi phản ứng hoá học mà thôi. Sở dĩ chúng ta cần loại bỏ những trường hợp nói trên vì hai chữ tình yêu mang một ý nghĩa quá rộng lớn và cũng để cho phù hợp với đề tài vậy.

    Ai cũng biết rằng “Cái tình là cái chi chi, dẫu chi chi cũng chi chi với tình”. Cái chi chi ở đây là sự yêu nhau say đắm, là sự nhớ nhung chất ngất. Cái chi chi ở đây là những quằn quại đớn đau, là những năm tháng giận hờn. Chàng yêu nàng rồi thề non hẹn biển. Nàng yêu chàng để rồi nức nở sầu thương. Khi yêu nhau họ chẳng biết trời trăng mấy nước đâu cả. Đến lúc xa nhau vì không còn yêu nhau nữa, họ bắt đầu nhìn trời trăng mây nước mà lòng buồn vời vợi vì “nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười!”. Thật vậy, tình yêu đúng là “cái chi chi”. Lắm lúc yêu nhau để rồi nhớ nhau mất ngủ. Lắm lúc yêu nhau nhưng bỗng nhiên lại giận nhau để rồi khắc khoải đêm ngày. Yếu tố “thất tình” (vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ) luôn luôn ám ảnh cặp tình nhân khi hai trái tim họ đang cùng thổn thức.

    Theo y lý Đông phương, yếu tố “thất tình” đưa đến tình chí bị kích động, sang chấn về tinh thần. Điều này làm cho âm dương, khí huyết, tạng phủ, kinh lạc mất thăng bằng rồi sinh ra đủ thứ bệnh tật. Bởi vì khi hai người yêu nhau, chắc chắn những chuyện vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ sẽ xuất hiện trong tâm hồn họ hằng ngày. Cứ thế, nếu chàng và nàng càng yêu nhau, yếu tố “thất tình” xuất hiện trong tâm hồn họ càng mãnh liệt. Và cũng theo thuyết Đông y, nếu vui quá sẽ hại tim, giận quá sẽ hại gan, suy nghĩ quá sẽ hại tỳ, lo lắng quá sẽ hại phổi, sợ hãi quá sẽ hại thận. Vì sự xuất hiện của “thất tình” khi họ đang yêu nhau nên nếu ta biểu diển tình yêu của họ trên một đồ thị, ta sẽ thấy đường cong khi lên khi xuống, khi cao khi thấp thất thường. Và một ngày nào đó nếu ta thấy đường cong ấy đâm thẳng xuống và đụng trục hoành, thế là xong: chàng và nàng vì một lý do nào đó không lấy nhau được nên đã cùng nhau nhảy xuống sông để vĩnh biệt cõi đời cho trọn tình trọn nghĩa, cho trọn vẹn lời thề. Anh chàng Roméo và nàng Juliete của Shakespear đúng là biểu tượng của đường cong này ở nơi có dòng sông tuyệt đẹp Adige chảy qua thành phố Verona bên bờ hồ Garda ở miền Bắc nước Ý đầy những di tích cổ kính nhiệm màu. Anh chàng Lương Sơn Bá và nàng Chúc Anh Đài cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó ở bên xứ Vạn Lý Trường Thành.

    Riêng tại nước ta, lịch sử tình yêu cũng đã cho ta thấy rất nhiều chuyện tình buồn vời vợi, mỗi khi nhớ lại ai ai cũng phải rơi lệ đến nghẹn ngào. Vậy thì qua thi ca Việt Nam, ta hãy xem “cái tình lá cái chi chi, dẫu chi chi cũng chi chi với tình”đó được diễn tả như thế nào?

    Vì hai chữ tình yêu quá rộng lớn nên để trình bày được dễ dàng, chúng ta tạm thời chỉ đề cập đến ba phần: lúc đang yêu nhau, tình yêu bất thành và tình yêu đã thành nhưng rồi phải xa nhau.

    A. Lúc đang yêu nhau:

    Một triết gia Tây phưong, ông Virgile, đã từng nói rằng ái tình còn mạnh hơn sự chết. Vì thế mà lúc đang yêu nhau, đôi tình nhân chẳng biết trời trăng mây nước hiện giờ nằm ở đâu. Họ chỉ biết yêu nhau thật say đắm, yêu nhau thật điên cuồng, miễn sao họ cảm thấy đê mê trong hồ bơi tình ái cho dù nếu có động đất xảy ra đến 9 hay 10 độ Richter, họ cũng vẫn yêu nhau đắm say vì “ái tình còn mạnh hơn sự chết” mà! Lúc mới bắt đầu yêu, đôi tình nhân nghe tim mình đập thình thịch. Thế rồi bốn mắt nhìn nhau như bị thôi miên vì đang say đắm và ngụp lặn trong men tình. Rồi môi bắt đầu run như bị cảm lạnh khi đi giữa đêm đông đầy giá rét. Cặp tình nhân cảm thấy như có cái gì chận ở cuống họng nên bị nghẹn lời. Vâng, họ đang yêu nhau đấy:

    Môi run, lời chẳng ngỏ,

    Mắt đắm trong men tình:

    Thì ra hai đứa chúng mình say yêu,

    Lòng phiêu phiêu.

    Ngợp trong cảm giác rất nhiều mến thương.

    Phải chăng giấc mộng yêu đương

    Hay cơn say tình bất thường là đây?

       (Trong bài “Say Yêu”của Nguyễn Thị Vinh)

    Tuy nhiên có nhiều đôi tình nhân không muốn trầm lặng, không muốn nghẹn ngào. Bởi vì chàng muốn nàng phải nói, phải nói và phải nói. Chàng muốn nàng phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần. Chàng muốn nàng khi yêu thì tay phải riết, miệng phải cười, đầu phải ngả chứ đừng êm đềm và phẳng lặng như mặt nước hồ thu khi đứng gió. Yêu tha thiết như thế vậy mà vẫn thốt lên là chưa thấm vào đâu:

    Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ,

    Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần;

    Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân,

    Đem chi bướm thả trong vườn tình ái.

    Em phải nói, phải nói và phải nói:

    Bằng lời riêng nơi cuối mắt, đầu mày.

    Bằng nét vui, bằng vẻ thẹn, chiều say,

    Bằng đầu ngả, bằng miệng cười, tay riết,

    Bằng im lặng, bằng chi anh có biết!

    Cốt nhất là em chớ lạnh như đồng,

    Chớ thản thiên bên một kẻ cháy lòng,

    Chớ yên ổn như mặt hồ nước ngủ.

    Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ.

         (Trong bài: “Phải Nói” của Xuân Diệu)

    Để tiếp tục cuộc chiến tình yêu như đôi nhân tình nói trên, nhiều cặp tình nhân yêu nhau quá cuồng nhiệt. Tình yêu của họ được biểu lộ qua những động tác hết sức mãnh liệt đầy dục tình. Nhất là lúc họ đã trở thành đệ tử của Lưu Linh để cố say sưa cho quên đời mặc cho trời đất nghiêng ngửa, mặc cho mưa gào gió thét, cho dù đó chỉ là hư ảnh của nàng mà chàng đang ngồi mơ tưởng:

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – 

    Ánh đèn tha thướt

    Lưng mềm, não nuột dáng tơ

    Hàng chân lả lướt

    Đê mê hồn gởi cánh tay hờ.

    Âm ba gờn gợn nhỏ,

    Ánh sáng phai phai dần

    Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân

    Lui đôi vai, tiến đôi chân,

    Riết đôi tay, ngả đôi thân

    Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió

    Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,

    Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!

    Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa

    Tay mềm mại, bước còn chưa chếnh choáng.

    Chưa cuối xứ Mê Ly, chưa cùng trời Phóng Đãng

    Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men.

    Say đi em! Say đi em!

    Say cho lơi lả ánh đèn

    Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt.

    Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!

    Ta quá say rồi

    Sắc ngả màu trôi

    Gian phòng không đứng vững

    Có ai ghì hư ảnh sát kề môi.

    Chân rã rời

    Quay cuồng chi được nữa

    Gối mỏi gần rơi

    Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa

    Say không còn biết chi đời

    Nhưng em ơi,

    Đất trời nghiêng ngửa

    Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ;

    Đất trời nghiêng ngửa

    Thành Sầu không sụp đổ em ơi!

      (Trong bài: “Say đi em” của Vũ Hoàng Chương)

    Ngược lại với chuyện tình trên, đôi uyên ương khác lại muốn khi yêu nhau hãy để cho tình yêu nằm lơ lửng giữa trời! Chàng không muốn gặp nàng để cho cuộc tình trở thành huyền thoại, để cho cuộc tình đẹp mãi nghìn đời. Em hẹn anh rồi nhưng đừng đến nghe em. Có như thế anh mới nhớ em đến điên cuồng và khờ dại, anh mới nhớ em đến điêu đứng, quay quắt để rồi rối loạn cả tâm hồn. Nếu đã trót lỡ đến thăm anh dù trời đang mưa hay nắng, em hãy cố gắng quay về đừng gặp anh nữa nghe em, để cho anh được rung cảm hồn anh theo một giai điệu trầm bổng tuyệt vời: Đời mất vui khi đã vẹn câu thề, tình chỉ đẹp những khi còn dang dở. Mấy vần thơ sau đây của thi sĩ Hồ Dzếnh đã diễn tả chuyện tình này thật diễm tuyệt:

    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!

    Để lòng buồn anh dạo khắp trong sân.

    Ngó lên tay thuốc lá cháy lụi dần,

    Anh nói khẽ: “Gớm, sao mà nhớ thế!”

    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!

    Em tôi ơi, tình có nghĩa gì đâu?

    Nếu là không lưu luyến lúc ban đầu,

    Thuở ái ân mong manh như nắng lụa.

    Hoa lá ngập ngừng, cỏ cây lần lữa,

    Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi

    Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi.

    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!

    Anh sẽ trách, cố nhiên, nhưng rất nhẹ:

    Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,

    Đời mất vui khi đã vẹn câu thề,

    Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở.

    Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,

    Cho nghìn sau lơ lửng…với nghìn xưa.

          (Bài “Ngập ngừng” của Hồ Dzếnh)

    Tuy nhiên có nhiều cặp tình nhân thật là rắc rối, mong người yêu đến từng giờ, từng phút, từng giây vì khi xa người yêu thì nhớ nhung chất ngất. Nhưng khi người yêu đã đến với nàng cũng vì nhung nhớ đến điên cuồng, nàng lại phủ nhận sự hiện hữu của chàng bên cạnh! Giận quá chàng không biết phải làm sao, chỉ biết thổ lộ tâm tình qua mấy vần thơ:

    Tao ở nhà tao, tao nhớ mi,

    Nhớ mi nên phải bước chân đi.

    Không đi mi nói rằng không đến,

    Đến thì mi nói đến làm chi.

    Làm chi tao đã làm chi được,

    Làm được chớ tao đã làm chi.

      (Bài “Bỡn tình nhân”của Nguyễn Công Trứ)

    B. Tình yêu bất thành:

    Không phải bao giờ yêu nhau cũng thành tựu cả. Biết bao nhiêu mối tình lúc đầu thật đẹp, thật nên thơ nhưng rồi vì một lý do nào đó đã làm cho họ bất thành, để rồi phải xa nhau đời đời không sống chung với nhau được nữa. Có lẽ lúc mới gặp nàng lần đầu, chàng ta còn bỡ ngỡ rụt rè, tim đập loạn nhịp vì chưa bao giờ yêu. Phần vì thẹn thùng, phần vì ngại ngùng nên chàng chỉ biết nhìn nàng mà không nói nên lời. Để rồi sau này khi nghe nàng trần tình, chàng mới tiếc quay quắt vì chỉ có “ba đồng một mớ trầu cay” là có thể làm chủ được trái tim nàng mà không biết:

    Trèo lên cây bưởi hái hoa

    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

    Em có chồng anh tiếc lắm thay

    Ba đồng một mớ trầu cay

    Sao anh không hỏi những ngày còn không

    Bây giờ em đã có chồng

    Như chim vào lồng như cá cắn câu

    Cá cắn câu biết đâu mà gỡ

    Chim vào lồng biết thưở nào ra.

                       (Ca dao Việt Nam)

    Tuy nhiên nhiều khi hai người mới gặp nhau có lẽ chỉ mới liếc mắt đưa tình mà trong lòng đã thấy bâng khuâng rồi nhung nhớ. Thế rồi sau đó họ đã xa nhau để rồi một trong hai người thấy buồn diệu vợi mà ngâm lên một giai điệu thật não nùng:

    Chim xa rừng thương cây nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi mỗi đứa một nơi sao đành!

                                 (Ca dao Việt Nam)

    Cũng giống trường hợp như trên, nhưng chàng và nàng ở cùng tổng nhưng lại khác làng. Hai người đã gặp nhau đâu đó khi đi cấy đi cày, hay lúc ra đồng gặt lúa rồi bất chợt nhìn nhau liếc mắt trao tình để rồi hai con tim của chàng và nàng bỗng nghe xao xuyến, bâng khuâng. Thế rồi đêm khuya thanh vắng, nàng ngồi một mình mắt nhìn về làng nơi chàng đang ở mà nhớ, mà yêu, mà sầu, mà thảm, rồi cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi! Và nàng đã thốt lên trong cơn mê rằng thương chàng lắm lắm chàng ơi!:

    Đêm qua mưa bụi gió bay,

    Gió rung cành bạc, gió lay cành vàng

    Em với anh cùng tổng khác làng

    Nào em biết ngõ nhà chàng ở đâu!

    Một thương, hai nhớ, ba sầu,

    Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.

    Thương chàng lắm lắm chàng ơi!

    Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than,

    Muốn than mà chẳng được than,

    Kìa như đá đổ bên ngàn lầu Tây,

    Đá đổ còn có khi đầy,

    Thương chàng biết thuở nào khuây hở chàng.

           (Bài “Thương nhớ anh”, ca dao Việt Nam)

    Có nhiều cặp tình nhân đang yêu nhau tha thiết thì chiến tranh bùng nổ. Chàng phải lên đường để bảo vệ non sông vì quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Thế rồi cảnh biệt ly sao mà buồn da diết. Chàng và nàng bắt đầu nhớ thương nhau. Chàng ở chốn biên thùy đang say khói súng giữa chiến địa hoang tàn, nhưng lòng vẫn buồn vời vợi và mắt luôn luôn vọng về cố quận xa xăm vì mỗi người mỗi ngã, đôi ngã đôi ta. Nàng ở quê nhà cũng buồn da diết vì nhớ thương chàng để rồi dòng lệ dạt dào tuôn trào trên má vì đôi bờ ngăn cách:

    Xa quá rồi em người mỗi ngã

    Bên này đất nước nhớ thương nhau

    Em đi áo mỏng buông hờn tủi

    Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

        (Trong bài: “Đôi Bờ” của Quang Dũng)

    Hay là cái thưở ban đầu lưu luyến ấy vào một đêm vừa gió lại vừa mưa, hai mươi bốn năm xưa, trong một gian nhà nhỏ, chàng và nàng ngồi nhìn nhau bên ngọn đèn dầu hiu hắt để rồi cùng nhau than vắn thở dài rằng, tình thương nhau thì vẫn nặng, nhưng lấy nhau thì cả hai người biết chắc rằng không đặng. Có lẽ chàng và nàng đều biết cha mẹ sẽ không bằng lòng. Nhưng khi chàng và nàng đã quấn quýt bên nhau giữa một đêm mưa gió bão bùng thì buông nhau làm sao cho nỡ. Thôi thì chàng và nàng thương nhau được chừng nào thì thương nhưng rồi phải liệu tìm cách mà xa nhau vì không bao giờ thành vợ thành chồng làm sao mà tính việc thủy chung:

    Hai mươi bốn năm xưa

    Một đêm vừa gió lại vừa mưa

    Dưới ngọn đèn mờ

    Trong gian nhà nhỏ

    Hai cái đầu xanh kề nhau than thở

    “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,

    Mà lấy nhau hẳn là không đặng.

    Để đến nỗi tình trước phụ sau,

    Chi cho bằng sớm liệu mà xa nhau!”

    Hay:

     “Nó mới bạc làm sao chớ.

    Buông nhau làm sao cho nỡ?

    Thương được chừng nào hay chừng ấy.

    Chẳng qua ông trời bắt ta phải vậy:

    Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng.

    Mà tính việc thủy chung?”

    Hai mươi bốn năm sau,

    Tình cờ đất khách gặp nhau,

    Đôi cái đầu đều bạc,

    Nếu chẳng quen lưng đố có nhìn ra được!

    Ôn chuyện cũ mà thôi

    Liếc đưa nhau đi rồi!

    Con mắt còn có đuôi.

          (Bài “Tình già” của Phan Khôi)

    Tuy nhiên không phải ai ai cũng yêu nhau để rồi tính việc chung thủy đời đời mà trái lại nhiều khi mới yêu nhau, nhưng nàng lại tìm cách xa chàng vì tiếng sét ái tình từ duyên mới. Điều này làm cho chàng bơ vơ lạc lõng giữa dòng đời để rồi vết thương lòng triền miên tê tái khiến chàng đã phải thốt lên một giai điệu đắng cay:

    Sao em hờ hững thế cho đành,

    Duyên mới cùng người hất hủi anh.

    Tội nghiệp cho đời anh biết mấy!

    Trăm năm chưa chắc vết thương lành”.

         (Trong bài “Hờ hững” của Tế Hanh)

    Và cũng thế, chàng và nàng khi đã yêu nhau cứ tưởng sẽ yêu nhau mãi mãi trọn đời để rồi họ cùng nhau đắm say dưới ánh trăng vàng trong đêm khuya thanh vắng. Ngờ đâu chỉ vì một lỗi lầm nho nhỏ chạm tự ái nhau, chàng và nàng cuối cùng đã phải xa nhau khiến chàng ôm hận muôn đời khi biết nàng đang điên trên gối mộng người thương:

    Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu.

    Em cười, em nói suốt trăng thâu;

    Yêu nhau những tưởng yêu nhau mãi,

    Tình đến muôn năm chửa bạc đầu

    .……………………………………………………

    Tình ái hay đâu mộng cuối trời…

    Nhầm nhau giây lát hận muôn đời

    Kẻ ra non nước người thành thị,

    Đôi ngã tình đi, người mỗi nơi.

    Hôm nay ngồi ngắm ở bên sông,

    Ta được tin ai mới lấy chồng;

    Cười chưa dứt câu tình đã vội…

    Nàng điên trên “gối mộng” người thương

         (Trong bài “Tình điên” của Lưu Trọng Lư)

    Nhưng nhiều khi nàng yêu chàng đến say đắm, điên cuồng và luôn luôn ước mơ xây dựng một lâu đài chung thủy nghìn năm. Nhưng rồi nàng đã vỡ mộng vì gia đình bắt nàng phải lấy một người chồng mà con tim nàng chưa bao giờ có một mảy may rung động hay thổn thức. Cuối cùng nàng đành phải ngậm đắng nuốt cay trước những ái ân lạt lẽo của người chồng qua biết bao nhiêu mùa lá rụng, để rồi lặng lẽ dệt mấy vần thơ thật nghẹn ngào đầy nước mắt:

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi

    Mà từng thu chết, từng thu chết

    Vẫn giấu trong tim một bóng người.

                                             (T.T.K.H)

    Khi đọc mấy vần thơ trên của người yêu cũ, chàng thấy nhức nhối con tim để rồi đầm đìa giọt lệ vì thương nhớ nàng. Đêm đêm ngồi khắc khoải sầu thương khóc cho tình yêu sao mà đầy khổ lụy, chàng cũng liền dệt mấy vần thơ rồi gởi cho nàng để an ủi đời nàng:

    …………………………………………………………………………………………………………………………………………

    Thôi em nhé! Từ đây anh cất bước,

    Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui

    Đừng buồn thương, nhớ tiếc, hoặc ngậm ngùi,

    Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp.

            (Bài “Dang dở” của Thâm Tâm tặng T.T.K.H)

    Hay là:

    ……………………………………………………………………………………………………………………………………….

    K. hỡi! Người yêu của tôi ơi!

    Nào ngờ em giết chết một đời!

    Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ

    Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi.

        (Bài “Màu máu Ti gôn” của Thâm Tâm gởi T.T.K.H)

    Tuy nhiên có nhiều trường hợp không phải vì chàng và nàng yêu nhau, mà tình yêu chỉ xảy ra đơn phương cho chàng mà thôi. Vâng, chàng thấy nàng thấp thoáng bên cạnh nhà năm ba lần rồi bắt đầu thương nhớ. Chàng nhớ cô hàng xóm, chàng thương cô láng giềng. Hai người sống giữa cô đơn, nhưng chàng lại không bao giờ chịu qua thăm nàng:

    Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,

    Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn.

    Hai người sống giữa cô đơn,

    Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi

    Giá đừng có dậu mùng tơi,

    Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.

          (Trong bài “Cô hàng xóm” của Nguyễn Bính)

    Vì không chịu qua thăm nàng nhưng thỉnh thoảng lại nhớ nàng đến quằn quại nên chàng đành phải nhờ một người trung gian, qua một giấc mơ, để liên lạc đêm ngày: con bướm trắng. Khi con bướm trắng bay vào nhà chàng, chàng muốn hỏi con bướm tại sao chả bao giờ thấy nàng cười mỗi khi nàng ra hong tơ ướt ở ngoài mái hiên, mà chỉ thấy mắt nàng đăm đắm trông lên. Nhưng chưa hỏi kịp thì con bướm đã bay về bên kia rồi. Thế rồi mấy hôm nay vì tầm tầm trời cứ đổ mưa nên chàng chẳng thấy nàng ra hong tơ nữa, nhớ ơi là nhớ! Nhưng mấy ngày sau, bầu trời đã quang đãng rồi, mưa cũng đã tạnh, nhưng chàng vẫn không thấy bóng nàng thấp thoáng sau cái dậu mùng tơi, chàng cũng vẫn không thấy con bướm trắng bay sang nhà chàng nữa. Thì ra đêm qua nàng đã chết rồi, khiến chàng đớn đau quằn quại để rồi rưng rưng chàng gục xuống bàn rưng rưng. Nghẹn ngào chàng khóc đến điên cuồng, khờ dại vì chàng đã yêu nàng da diết, yêu nàng đến đắm say:

    ……………………………………………………………………………………………………

    Tầm tầm trời cứ đổ mưa

    Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm.

    Cô đơn buồn lại thêm buồn,

    Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?

    Hôm nay mưa đã tạnh rồi!

    Tơ không hong nữa bướm lười không sang,

    Bên hiên vẫn vắng bóng nàng,

    Rưng rưng… tôi gục xuống bàn rưng rưng…

    Nhớ con bướm trắng lạ lùng!

    Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng.

    Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!

    Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!

    Đêm qua nàng đã chết rồi,

    Nghẹn ngào tôi khóc… Quả tôi yêu nàng.

    Hồn trinh còn ở trần gian?

    Nhập vào bướm trắng mà sang bên này?

         (Trong bài “Cô hàng xóm” của Nguyễn Bính)

    Và rồi cũng chỉ đơn thương độc mã, một mình một ngựa, chàng cũng chỉ đơn phương yêu nàng nhưng không phải yêu cô hàng xóm mà yêu một người ở xa tận cuối thôn Đông. Cho dù thôn Đông là thôn nàng ở, và thôn Đoài là thôn chàng cư ngụ, nhưng hai thôn cùng thuộc một làng nên chàng và nàng cách nhau chẳng xa gì cho lắm. Vậy mà nàng chẳng bao giờ sang bên này cho chàng được thấy dung nhan, để rồi chàng thương, chàng nhớ, khiến chàng đã tương tư thức mấy đêm rồi, biết cho ai biết, ai người biết cho:

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

    Mộng người chín nhớ mười mong một người.

    Gió mưa là bệnh của trời,

    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

    Hai thôn chung lại một làng,

    Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này,

    Ngày qua ngày lại qua ngày,

    Lá xanh nhuộm đỏ thành cây lá vàng.

    Bảo rằng cách trở đò giang,

    Không sang là chẳng đường sang đã đành

    Nhưng đây cách một đầu đình

    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi

    Tương tư thức mấy đêm rồi,

    Biết cho ai biết, ai người biết cho.

    Bao giờ bến mới gặp đò,

    Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau.

    Nhà em có một giàn trầu,

    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

    Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?

             (Bài “Tương tư” của Nguyễn Bính)

    C. Tình yêu đã thành rồi xa nhau:

    Trong mục này, tình yêu đã thành có nghĩa là hai người đã lấy nhau thành vợ thành chồng rồi, nhưng cuối cùng rồi phải xa nhau vì số phận đã được an bài: chàng và nàng đành phải ly biệt vì chiến tranh hay vì chiến tranh triền miên kéo dài quá lâu ngày, hoặc là một trong hai người đã thành người thiên cổ.

    Chúng ta ai cũng biết rằng vua Tự Đức là một thi sĩ nổi tiếng vang bóng một thời. Khi bà Bằng Phi qua đời, ông đã biểu lộ tâm tư của mình qua bài “Khóc Bằng Phi” thật là não nùng ai oán.

    Nhớ bà Bằng Phi quá đến nỗi ông muốn đập vỡ kính ra để tìm bóng “nàng”, rồi xếp mấy tấm áo quần cũ của bà ta lại để dành hơi!:

    Ới Thị Bằng ơi! Đã mất rồi,

    Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ơi!

    Mùa hè nắng chái oanh ăn nói,

    Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi.

    Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,

    Xếp tàn y lại để dành hơi.

    Mối tình muốn dứt càng thêm bận,

    Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.

         (Bài “Khóc Bằng Phi” của vua Tự Đức)

    Ngược lại với sự ra đi của nàng là chàng. Ở đây chàng đã qua đời lúc nàng còn quá trẻ, khiến cho nàng bàng hoàng rồi xúc động đến nghẹn ngào. Đó là nữ sĩ Tương Phố Đỗ Thị Đàm.

    Nữ sĩ Tương Phố lấy chồng năm 17 tuổi, xa chồng năm 19 tuổi và trở thành góa phụ năm 21 tuổi. Khi nghe chồng là bác sĩ Thái Văn Du qua đời, bà đã vào Huế rồi ôm con ngồi khóc bên mộ chồng đến khô cả dòng lệ. Sau đó bà đã nức nở sầu thương thật lâm ly bi thảm, thật thống thiết ngậm ngùi qua thi tập GIỌT LỆ THU đến nỗi một nữ sĩ Pháp, bà Jeanne Duclossalesses quá xúc động nên đã dịch sang Pháp ngữ với tựa đề “Larmes d’Automme”. Sau này khi về lại Huế thăm mộ chồng, bà vẫn ngậm ngùi thương tiếc qua mấy dòng thơ trong bài “Bình hương lỗi nguyện”:

    ………………………………………………………………………..

    Bỗng một phút bình tan gương vỡ

    Để tình này dang dở, dở dang;

    Thề duyên thôi đã phụ phàng,

    Non sông trăng nước bẽ bàng vì ai.

    Nay trở lại ngậm ngùi cảnh cũ;

    Người xưa say giấc ngủ ngàn năm!

    Tử sinh xé giải đồng tâm,

    Trước mồ, lã chã không cầm hàng châu.

    Khóc nhau, dễ gặp nhau đâu nữa,

    Tìm nhau đành tìm ở chốn nầy;

    Tro vàng lẫn khói hương bay,

    Tro tàn, khói tỏa bao khuây hận tình!

    Trên đây là chuyện tình đầy nước mắt cùa nàng và chàng để rồi cuối cùng nàng chỉ biết ngồi khóc trên mộ chàng qua những năm tháng còn lại của cuộc đời đầy đau khồ.

    Tuy nhiên có nhiều người vì quá nhớ thương yêu người mình đã chết, liền ra ngồi bên nấm mộ mà nức nở sầu thương, rồi như muốn đánh thức hồn ma dậy để nói chuyện và chàng muốn xuống dưới mộ để thăm nàng! Ta hãy nghe nhà thơ Đinh Hùng nói chuyện với hồn ma dưới đáy mộ giữa đêm khuya thanh vắng với những vần thơ thật ghê rợn qua bài “Gởi người dưới mộ”:

    Trời cuối thu rồi em ở đâu?

    Nằm trong đất lạnh chắc em sầu?

    Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,

    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.

    Em mộng về đâu?

    Em mất về đâu?

    Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu

    Đây màu hương khói là màu mắt xưa

    Em đã về chưa?

    Em sắp về chưa?

    Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,

    Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn

    Em hãy cười lên, vọng cõi âm

    Khi trăng thu lạnh bước đi thầm

    Những hồn phiêu bạt bao năm trước

    Nay đã vào chung một chỗ nằm,

    Cười lên em!

    Khóc lên em!

    Đâu trăng tình sử

    Nép áo trần duyên?

    Gót sen Tố nữ

    Xôn xao đêm huyền

    Ta đi lạc xứ thần tiên

    Hồn trùng dương hiện bóng thuyền u minh

    Ta gởi bài thơ anh linh

    Hỡi người trong mộ có rung mình!

    Nắm xương khô lạnh còn ân ái?

    Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?

    Hỡi hồn tuyết trinh!

    Hỡi người tuyết trinh!

    Mê em ta thoát thân hình,

    Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.

    Em có vui thêm?

    Em có buồn thêm?

    Ngồi bên cửa mộ

    Kể cho ta biết nỗi niềm.

    Thần chết cười trong bộ ngực điên,

    Ta nghe em thở tiếng ưu phiền,

    Nỗi lòng xưa dậy tan thanh vắng,

    Hơi đất mê người! Trăng hiện lên!

             (Bài “Gởi người dưới mộ” của Đinh Hùng)

    Nói chung, cũng như tất cả các dân tộc khác trên thế giới qua thi ca, nước Việt Nam ta cũng có rất nhiều chuyện tình buồn vời vợi, nhiều chuyện tình thật cay đắng, nghẹn  ngào đầy nước mắt trong lịch sử tình yêu như ta đã thấy.

    Dương viết Điền

    California, mùa Valentine

  • Dương Viết Điền,  Tin tức

    BIỆT LY QUA THI CA VIỆT NAM

    Nói đến biệt ly là nói đến xa cách không gặp nhau nữa, là nói đến chia ly mỗi người một ngã. Nhiều khi sau một thời gian sẽ gặp nhau lại, nhưng cũng có thể xa nhau nghìn năm hay vĩnh biệt nghìn đời.

    Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, chưa bao giờ ta nghe nói đến cuộc biệt ly nào vui cả. Đã nói đến biệt ly là nói đến xa nhau, xa nhau thường hay nhớ nhau mà nhớ nhau thì lòng luôn luôn buồn vời vợi. Khi thì khắc khoải sầu thương giữa đêm khuya thanh vắng, khi thì nức nở lệ sầu lúc tiễn nhau đi.

    Chính sự biệt ly thường đem đến khổ đau cho con người nên các thi nhân Việt Nam đã từng than mây khóc gió mỗi khi gặp sự ly biệt. Biết rằng khổ đau là điều cay đắng, đau thương là những quằn quại trong tâm hồn. Thế mà nhiều thi nhân lại thích đắng cay và quằn quại để dệt nên những dòng thơ ly biệt bất hủ ngàn năm.

    Chính những quằn quại và cay đắng đó đã làm cho nhiều thi nhân thích thú nên mới có bài “Thú đau thương” xuất hiện trong thi ca Việt Nam. Nếu ngày xưa ở bên xứ sương mù Anh Quốc, thi sĩ Lord Byron đã rên rỉ về sự biệt ly qua bài “When we two parted”:

    “When we two parted

    In silence and tears

    Half broken hearted

    To sever for years”.

    mà một thi sĩ nào đó đã dịch là:

    “Giờ phút chia ly đã điểm rồi

    Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi

    Mang mang nửa cõi lòng tan tác

    Ly biệt xui chi tủi trọn đời”.

    Thì tại Việt Nam, các thi nhân cũng rên rỉ về sự ly biệt còn ai oán lâm ly hơn nhiều. Sự biệt ly ta thấy nghẹn ngào nhất là sự ly biệt của người vợ tiễn chồng ra ngoài mặt trận vào “thưở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên” trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn. Không ai mà không rơi lệ trước cảnh người vợ đưa tiễn chồng ra ngoài mặt trận vì biết rằng ngày về của chồng chỉ độ đào bông và lắm lúc cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Chính vì xưa nay mấy khi đi đánh giặc mà trở lại nhà, nên người vợ cảm thấy quá khổ đau như có linh tính là sẽ vĩnh biệt chồng ngàn năm. Thảo nào mỗi bước đi là một bước sầu tê tái, tâm hồn như choáng váng, lý trí không điều khiển được con tim khiến người vợ quá xúc động nên sắp xỉu phải vin vào áo chàng:

    “Ngoài đầu cầu nước trong như lọc

    Đường bên cầu cỏ mọc còn non

    Đưa chàng lòng dặc dặc buồn

    Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền

    Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa

    Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên

    Nhủ rồi tay lại trao liền

    Bước đi một bước lại vin áo chàng”.

                                   (Đặng Trần Côn)

    Thật đúng là “Ôi! cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”. Chàng ra đi không hẹn ngày về khiến nàng đêm đêm trằn trọc bên chiếc gối, nhìn trăng không tài nào ngủ được vì cứ miên man suy nghĩ hoài về “Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”:

    “Người lên ngựa, kẻ chia bào

    Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san

    Dặm hồng bụi cuốn chinh an

    Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh

    Người về chiếc bóng năm canh

    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

    Vừng trăng ai xẻ làm đôi

    Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”.

                                              (Nguyễn Du)

    Sự biệt ly giữa người vợ và người chồng khi tiễn chồng ra ngoài mặt trận là sự biệt ly khổ đau nhất trong thi ca Việt Nam vì người về chiếc bóng năm canh, vó câu muôn dặm sơn khê mịt mù. Để rồi từng đêm, từng đêm, người vợ hiền thao thức nghĩ về người chồng và biết đâu một ngàn năm, một vạn năm không bao giờ thấy chồng trở lại quê nhà nữa.

    Sau sự biệt ly của người vợ tiễn chồng ra mặt trận là sự ly biệt khổ đau của đôi tình nhân vừa mới yêu nhau đành phải tạm thời xa nhau vì hoàn cảnh.

    Ở đất khách quê người bên dòng sông Seine tuyệt đẹp, chàng mới yêu nàng chưa được bao lâu thì nàng lại muốn về thăm quê mẹ, khiến chàng cảm thấy lòng buồn vời vợi đến nỗi mùa đông ở Paris suốt đời là cả một cuộc biệt ly, khi chàng tiễn người yêu về thăm quê mẹ:

    “Lên xe tiễn em đi

    Chưa bao giờ buồn thế

    Trời mùa đông Paris

    Suốt đời làm chia ly

    Tiễn em về xứ mẹ

    Anh nói bằng tiếng hôn

    Không còn gì lâu hơn

    Một trăm ngày xa cách

    Ga Lyon đèn vàng

    Tuyết buông cuồng mênh mang

    Cầm tay em muốn khóc

    Nói chi cũng muộn màng”.

                        (Cung Trầm Tưởng)

    Đây là sự biệt ly của đôi tình nhân tại ga xe lửa. Nhưng nhiều người cũng tại ga xe lửa, không phải họ đến để tiễn biệt người yêu, mà để xem sự biệt ly của kẻ đi người ở. Ở đây không phải nơi đất khách quê người mà ngay tại nơi quê nhà yêu dấu, chàng thường đón những chuyến tàu đi đến những ga xe lửa để đứng bơ vơ xem tiễn biệt, rồi tâm hồn cảm thấy ngẩn ngơ và nhớ thương lan xa mấy dặm trường:

    “Những ngày nghỉ học tôi thường tới

    Đón chuyến tàu đi đến những ga

    Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt

    Lòng buồn đau xót nỗi chia xa

    … …

    Người về không nói bước vương vương

    Thương nhớ lan xa mấy dặm trường

    Lẽo đẽo tôi về theo bước họ

    Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương”.

                                                    (Tế Hanh)

    Tuy nhiên, hầu hết những đôi tình nhân đến ga xe lửa thường là để tiễn nhau đi và luôn luôn ước mơ sẽ gặp nhau lại trong một thời gian rất gần. Nhưng nếu lúc biệt ly, chàng biết chắc chắn rằng sẽ không bao giờ gặp lại người yêu nữa, nên chàng khuyên nàng đừng quay lại nhìn chàng nữa:

    “Anh biết em đi chẳng trở về

    Dặm ngàn liễu khuất với sương che

    Em đừng quay lại nhìn anh nữa

    Anh biết em đi chẳng trở về”.

                                          (Thái Can)

    Nói đến ly biệt là nói đến buồn bã, là nói ảo não sầu thương. Thế mà lúc biệt ly lại gặp mưa rơi gió thổi thì cảnh ly biệt càng thêm đau khổ nghẹn ngào.

    Nếu cổ thi có câu: “Hoàng điệp hoàng hoa cổ thành lộ. Thu phong thu vũ biệt ly nhân”. “Hoa vàng lá úa thành xưa. Nẻo đường ly biệt gió đưa tiễn người”, thì ngày nay, các thi nhân cũng đưa mây gió vào thơ để làm cho sự ly biệt thêm não nùng; để rồi “nước” và “trời” cả hai đều đượm màu hương sắc của sự biệt ly:

    “Đương lúc hoàng hôn xuống

    Là giờ viễn khách đi

    Nước đượm màu ly biệt

    Trời vương hương biệt ly

    Mây lạc hình xa xôi

    Gió than niềm trách móc

    Mây ôi và gió ôi

    Chớ nên làm họ khóc

    Buổi chiều ra cửa sổ

    Bóng chụp cả trời tôi

    Ôm mặt khóc rưng rức

    Ra đi là hết rồi”.

                      (Xuân Diệu)

    Thật thế, nhiều khi “ra đi là hết rồi”, biệt ly lắm lúc là ngàn đời vĩnh biệt. Sự ly biệt làm cho lòng người tê tái vì kẻ ở người đi nên nhiều lúc cả hai đều khóc nức nở như mưa rơi:

    “Thùng thùng trống đánh ngũ liên

    Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa”.

    Chính sự lưu luyến càng làm thêm đau khổ cho người ra đi và cũng tạo nên những khổ đau quằn quại cho người ở lại. Bởi vì khi nghĩ đến tương lai, ai nấy đều cảm thấy nhớ nhung đau buồn, cô đơn và hiu quạnh. Vì thế, giây phút bịn rịn lúc chia tay là phút giây gần nhau nhất mà kẻ ở người đi không ai muốn rời nhau, không muốn nghĩ đến ngày mai vì “ngày mai chàng ruổi xa, mặc kẻ nước mắt sa”. Nhà thơ Phan Văn Dật đã cho ta thấy rõ những sự khổ đau quằn quại đó lúc chia tay:

    “Đừng nghĩ đến ngày mai

    Hôm nay biết hôm nay

    Thiếp đây mà chàng đó

    Chừng ấy là đủ rồi

    Ngày mai chàng ruổi xa

    Mặc kẻ nước mắt sa

    Yên ngựa rong đường thẳng

    Thức dậy lúc canh gà”.

                                 (Tiễn Đưa)

    Vì biệt ly là u buồn, vì xa nhau thường nhung nhớ rồi đưa đến sự khổ đau triền miên qua những năm tháng dài lê thê trong hiu quạnh. Vì thế mà các thi nhân cũng như các nhạc sĩ đã dệt những tình khúc biệt ly thật lâm ly bi đát như “nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi. Còn gì đâu nữa mà khóc với cười” hay “Biệt ly, nhớ nhung từ đây” hoặc là “Bến cũ, ngày xưa, người đi vấn vương biệt ly. Gió cuốn, muôn phương, về đây. Bến ấy, người về hay chăng”.

    Chính vì sự biệt ly là đau buồn chua xót, là thê thảm não nùng. Chính vì sự biệt ly là khổ đau để rồi nức nở quằn quại bên nhau khiến nhiều người không dám nhắc lại sự ly biệt, vì nếu khơi lại chuyện lòng xa nhau ấy sẽ thêm buồn đau cho cuộc đời.

    Ta hãy nghe nhà thơ T.T. KH diễn tả ý nghĩ ấy qua những vần thơ bảy chữ thật buồn:

    “Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly

    Càng khơi càng thấy lụy từng khi

    Trách ai mang cánh ‘tigôn’ ấy

    Mà viết tình em được ích gì”.

    Tóm lại, qua thi ca Việt Nam, ta thấy các thi nhân đã sáng tác rất nhiều bài thơ liên quan đến sự biệt ly và chính sự ly biệt đã làm cho các nhà thơ đau buồn rồi xúc động mà dệt nên những dòng thơ lâm ly não nuột nghìn năm.

    Dương Viết Điền

  • Tin tức,  Trần Phong Vũ

    DIỄN GIẢ TRẦN PHONG VŨ

    Giới thiệu hai tác phẩm:

    Tuyển Tập Truyện Ngắn: Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh. Truyện Dài Dĩ Vãng Khôn Nguôi.

    NV & NB Trần Phong Vũ

    “Khánh Lan, đây là ngày đầu tiên tôi được gặp cô, mặc dầu cô đã liên lạc với tôi có lẽ từ nửa năm qua và đã gởi qua máy vi tính cho tôi 2 đến 3 lần cái bản thảo và bản layout quyển truyện dài: Dĩ vãng khôn nguôi và quyển truyện ngắn: Tình yêu, cuộc đời và định mệnh để tôi dễ đọc hơn. Ngày hôm nay tôi đến đây như một sự chia sẻ về một người trẻ, một khuôn mặt mà phải nói rằng phải “Dấn thân” lắm. Đúng, phải là một con người có một cái ý chí đặc biệt mới có thể đi vào một lãnh vực, phải nói là rất là khó chứ không phải dễ.

    Nhưng ngày hôm nay tôi xin thưa, tôi hoàn toàn đồng ý với GS Trần Huy Bích, vì sau khi tôi đọc xong hai tác phẩm này, không phải chỉ một lần, mà nhiều lần. Bởi lẽ mỗi một lần nhận được bản mới, tôi nghĩ là nó phải có những thay đổi, mà có những thay đổi thật và chính nhưng thay đổi đó nó đã đánh giá cô Khánh Lan rất cao. Bởi vì khi làm một công việc gì cũng vậy, ngoài cái tài thiên phú ra, cái sự chăm chỉ, sự phục thiện để mà lắng nghe lời nói của một người khác là rất quan trọng và cô đã có các đặc điểm đó. Trong suốt thời gian tiếp xúc với cô qua điện thoại hoặc email, cô vẫn có được một sự kính trọng đối với tôi, mặc dầu cô chưa biết tôi là ai.

                Bây gì tôi xin được nói về tác phẩm truyện ngắn trước khi nói đến tác phẩm truyện dài. Đúng ra, tôi phải đi vào từng chi tiết của mỗi câu truyện để hiểu rỏ tác phẩm ấy nói gì. Tuy nhiên, tôi chỉ hiểu rõ một điều này, khi viết truyện ngắn, cái khó nhất của viết truyện ngắn là đoạn kết. Nếu mà đoạn kết thất bại thì coi như là bỏ hết, vứt đi. Cái kết có thể là “happy ending” hay là một hình thái gì đó để mà đưa ra một cái kết. Ở đây, tôi nhận thấy cô chọn lựa rất đặc biệt cho cái kết trong những truyện ngắn của cô cũng như qua một vài đoạn khi cô nói về mình ở trong phần tâm sự hay là lời cám ơn. Có rất nhiều những dữ kiện trong cuộc đời của cô, nhất là những kiến thức của cô, những cái gì mà cô đã học được của nhà trường, những gì cô đã thực tập khi cô làm thày dậy người ta hay là thực tế lao đầu vào những công việc hiểm nguy.

    Thế thì cái vấn đề là cô ấy đã làm gì với những kiến thức ấy, tôi phải nói là nhiều những truyện ngắn trong sách, cô đã mang những suy nghĩ, những kiến thức của cô, tấm lòng của cô, cái đặc biệt của một tấm lòng yêu thương con người, say mê với công việc của mình. Thành ra tôi vẫn tin tưởng rằng, với một người như vậy khi bước vào văn chương cũng mang tấm lòng đó vào và sẽ thành công và sự thành công đó là ngay trong những tác phẩm truyện ngắn. 

                Như tôi đã đề cập lúc đầu là cái kết thúc rất quan trọng, thì ở điểm này cô Khánh Lan đã thành công. Tôi nhận thấy, thứ nhất là cô có cái khuynh hướng rõ ràng là cô thích có một cái “happy ending” cô muốn có một kết thúc tròn đầy. Đó là con người của cô, một con người yêu thương, một con người mà chỉ muốn mọi chuyện xảy ra tròn vẹn, không phải cho mình mà cho mọi người. Vì vậy khi cô gửi vào những nhân vật có thực trong tác phẩm truyện ngắn.

    Tuy vậy, trong một vài truyện, tôi đã nhìn thấy vì một lý do gì đó cô phải đưa ra một “ending” khác, nhưng hầu hết đều gọn ghẽ, rất đầy đủ, chỉnh chu như cô đã trả lời NV Việt Hải về cái bố cục của một câu truyện, một quyển sách như thế nào rất là chính xác. Với tư cách là một người đã từng dậy quốc văn, tôi thấy cái quan niệm đó, cái nhìn đó, cái mà cô đã cố gắng đi theo con đường văn chương. Đây chính là một cái chìa khóa để mở cho cô đi vào sự thành công, không phải chỉ có ngày hôm nay với 4 cuốn sách này, mà sẽ còn nữa trong tương lai như lời sự ước ao của GS Trần Huy Bích.

    Thế thì, cái điểm chính ở đây là cô rất thành công như trong tác phẩm truyện ngắn, như truyện “Hạnh Phúc Trở Về”. Cô có thể kết thúc ngay lúc mà người con trai của cặp vợ chồng rất là hạnh phúc đã chết trong một hoàn cảnh tức tưởi, đồng thời nó cũng đưa ra một sự cảnh giác cho những người cha mẹ chỉ lo làm ăn mà quên đi đứa con của mình bị bệnh tự kỷ. Cái điểm này cũng nằm trong ngành học chuyên môn của cô, cô đã ứng dụng vào truyện rất là đúng. Cuối cùng, cô đã có một cái kết rất hay mà quý vị về đọc truyện này sẽ có một cảm nhận giống như tôi. Trong truyện “Nỗi Cô Đơn Trong Biển Tình” cũng thế, cô đã biết cách lợi dụng đại dịch Covid 19 để hàn gắn lại một mối tình tưởng chừng tan biến.

                Nói về tác phẩm truyện dài “Dĩ Vãng Khôn Nguôi” NV Trần Phong Vũ nói: “Ngay từ cái tựa quý vị đã thấy được tác phẩm nói gì. Dĩ vãng là những cái gì đã qua và trong cái dĩ vãng đã qua đó có nhiều sự kiện đã khắc sâu vào tâm khảm của mình. Trong đó, dĩ vãng nào là một dĩ vãng nổi bật nhất, một cuộc tình khởi đầu và trong cuộc tình ấy có những gì diễn đạt trong đó, mà thời gian cũng không làm người ta nguôi ngoai được, thì tác phẫm này, đã nói được trong trọn vẹn cái tiêu đề ấy. Bám sát được cái tiêu đề là cả một vấn đề. Vì vậy từng chương một, trong 13 chương sách đó chúng ta thấy lần lượt tác giả đã có một sự xắp xếp rất thông minh và trong đó có đầy đủ “hỷ, nộ, ái ố”.

    Có một điều mà tôi xin thưa ngay, những cái đoạn tả cảnh của tác giả rất đặc biệt, hình ảnh hợp theo thời gian và đặc biệt nhất là trong chuyến đi du hành trở về thăm quê hương, chúng ta tìm ra một cái sự nỗ lực không cùng của tác giả để tìm ra những lịch sử về từng nơi như Đà Lạt hay Lăng Cô, chùa Hương, v.v… Cô làm rất chỉnh chu, tới nơi tới chốn. Ngược lại, trong quyển truyện ngắn, cô tham khảo rất kỹ và xoay chung quanh những người lính, những người trong quân trường, trại tù cải tạo, v.v… Chính vì cha của cô cũng trong quân đội, vì vậy những câu chuyện trong quân trường, chuyện chiến đấu, bị đi tù đều được đưa vào trong tác phẩm. Đó là những chuyện rất thật, tuy có chút hư cấu vì đó là điều không thể tránh được. Điều quan trọng là phải hư cấu như thế nào mà vẫn còn giữ được ý chính. Đó là một câu truyện mà chúng tôi gọi là câu truyện văn chương.

    Lúc nãy, GS Trần Huy Bích có nói đến “văn chương nghệ thuật vị nghệ thuật và văn chương nghệ thuật vị nhân sinh” thì trong hai tác phẩm của cô Khánh Lan đều ít nhiều mang một giá trị thứ hai, về con người. Đó chính là văn chương nghệ thuật vị nhân sinh. Thêm nữa, cô đã đem sự học đưa vào các nhân vật với hành động, suy nghĩ, cảm nghiêm làm việc cho bệnh nhân, cho người yếu kém vào tác phẩm của cô. Đó là về con người.

    Tôi xin thưa qúy vị và đặc biệt thưa với cô Khánh Lan, tôi đã không làm tròn vai trò “diễn giả” đọc hai tác phẩm rất quan trọng của cô. Cái quan trong là tác phẩm đầu và từ đó hy vọng có các tác phẩm kế tiếp. Tôi xin thưa là cô Khánh Lan đã đặt được cái nền tảng, đặt được bước chân vững chắc để đi tới trong những bước chân kế tiếp như GS Trần Huy Bích đã nói, sẽ được đọc những tác phẩm lớn của cô sau này.

    Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe những điều thật sự từ trong tấm lòng của chúng tôi. Xin cám ơn.

    Trần Phong Vũ

    California, Sept. 19, 2021

  • Tin tức,  Trần Huy Bích

    Giới thiệu sách “Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại” và Tuyển tập truyện trinh thám “Thám Tử Lê Minh”

    “Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại” và

    Tuyển tập truyện trinh thám “Thám Tử Lê Minh”

    của nhà văn Khánh Lan

    (Bài nói chuyện của Gs. Trần Huy Bích tại NT Studio, Westminster, CA,

    GS Trần Huy Bích

    Ngày 19 tháng 9-2021)

    Kính thưa …

    Tôi rất vui được trao nhiệm vụ giới thiệu cuốn “Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại”

    và tuyển tập truyện trinh thám “Thám Tử Lê Minh”của nhà văn Khánh Lan.

    Cuốn trước gồm 11 bài viết riêng biệt. Trong bài đầu tiên, chị Khánh Lan viết chung với nhà văn Việt Hải, thuật lại cuộc bút chiến từ năm 1935 đến năm 1939 ở Việt Nam giữa Hải Triều Nguyễn Khoa Văn, người chủ trương nghệ thuật phải được dùng để phục vụ xã hội (nghệ thuật vị nhân sinh), và Hoài Thanh Nguyễn Đức Nguyên, người đưa ra quan niệm nghệ thuật cần có giá trị về phương diện nghệ thuật, vì thế nên được tự do, không nên bị gò bó trong nguyên tắc, giáo điều (nghệ thuật vị nghệ thuật). Chị Khánh Lan đóng góp bằng cách cung cấp thêm một vài ý kiến của một số văn hào thế giới.

    Trong mười bài sau, chị viết về mười nhà văn danh tiếng của quốc tế cùng những tác phẩm chính của họ:

    –Erich Maria Remarque (Đức) với cuốn Zeit zu leben und Zeit zu sterben (bản dịch sang tiếng Anh: A Time to Love and a Time to Die; bản dịch sang tiếng Việt: Một thời để yêu và một thời để chết).

    —Victor Hugo (Pháp) với cuốn Les Misérables (bản dịch sang tiếng Việt: Những kẻ khốn cùng).

    –Herman Hesse (nhà văn Đức với quốc tịch Thụy Sĩ). Với ông, chị giới thiệu hai cuốn: Demian (bản dịch sang tiếng Việt: Tuổi trẻ băn khoăn) và Siddhartha (bản dịch sang tiếng Việt: Câu chuyện dòng sông).

    –Alexandre Dumas, Jr. (Pháp) với cuốn La Dame aux camélias (bản dịch sang tiếng Việt: Trà hoa nữ).

    –André Gide (Pháp) với cuốn La Porte étroite (bản dịch sang tiếng Việt: Khung cửa hẹp).

    –Mark Twain (Hoa Kỳ) với cuốn The Adventures of Tom Sawyer (Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer).

    –Marcel Proust (Pháp) với cuốn À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất).

    —Ernest Hemingway (Hoa Kỳ) với cuốn The Old Man and the Sea (Ngư ông và biển cả).

    —Erich Segal (Hoa Kỳ) với cuốn Love Story (Chuyện tình yêu).

    –Boris Pasternak (Nga) với cuốn Doctor Zhivago (Bác sĩ Zhivago).

    Tóm lại, Khánh Lan đã viết về 10 văn hào quốc tế (4 Pháp, 3 Mỹ, 1 Nga, 2 Đức, một vị sau đó lấy quốc tịch Thụy Sĩ), và tóm lược 11 tác phẩm của họ. Trong các văn hào chị giới thiệu, 4 vị đã được giải Nobel về Văn chương: André Gide, Herman Hesse, Ernest Hemingway, và Boris Pasternak. Giải này được phát từ năm 1901, không đi ngược thời gian để cân nhắc trường hợp các đại văn hào Victor Hugo và Alexandre Dumas, sáng tác từ thế kỷ trước.

    Trong một bài nhận xét của nhà văn Việt Hải cũng được in trong cuốn sách, anh Việt Hải ghi nhận rằng chị Khánh Lan đã tóm lược và đưa ra những suy nghĩ về ba cuốn tiểu thuyết xã hội lấy chủ đề là thân phận con người, ba cuốn với những suy tư triết học, hai tiểu thuyết về thời đại và chiến tranh, và hai tiểu thuyết thuộc khuynh hướng tình yêu lãng mạn.

    Trong tác phẩm thứ hai, tuyển tập truyện trinh thám mang tên “Thám Tử Lê Minh,” Khánh Lan giới thiệu với chúng ta một nữ thám tử xinh đẹp với nhiều điểm đặc sắc: “dong dỏng cao, mặt trái xoan xinh xắn, mắt phượng to tròn dưới hàng lông mi dài cong vút, mũi dọc dừa, nụ cười tươi giữa hai lúm đồng tiền làm tăng phần duyên dáng.” Một phần vì tên giống con trai nên khi lên Trung học bị nhà trường xếp vào lớp dành cho nam sinh, được chú ý một cách đặc biệt, một phần vì chơi với các anh trai từ nhỏ, Lê Minh đã quen với đá banh, bắn súng, đánh võ, xem phim bạo động hay trinh thám. Vì thế cô cũng “ngổ ngáo” như con trai: ghét cay ghét đắng nếu phải mặc áo dài, đi giày kiểu, xách bóp đầm …, nhưng thích cắt tóc kiểu demi-garçon, mặc quần jean, đội mũ lưỡi trai…

    Từ khi sang Mỹ, Lê Minh đã có ý định trở thành thám tử điều tra những vụ án bí ẩn. Cô theo dõi những tin tức về tội phạm trong xã hội, bị thu hút bởi những phim gián điệp như Silence of the Lamb, The Girl on the Train … Vì thế sau khi tốt nghiệp Đại học với bằng Cao học về Tư pháp Hình sự (Criminal Justice), cô xin vào làm cho Ban Tư pháp Hình sự Sát nhân (Criminal Justice Homicide Department). Để được chấp nhận làm việc trong Ban này, Lê Minh phải hoàn tất chương trình đào tạo các sĩ quan cảnh sát và thám tử điều tra tội phạm sát nhân của Học viện Cảnh sát. Sau vài năm làm việc tại sở Cảnh sát với nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực điều tra, Lê Minh mới được thăng chức thám tử và được bổ nhiệm làm người cộng tác (partner) với một thám tử đã khoảng 50 tuổi với trên 20 năm kinh nghiệm, là thám tử McBride. Từ đây tác giả trình bày sự cộng tác chặt chẽ của hai người để phanh phui nhiều án mạng bí ẩn.

    Sau bài viết đầu tiên để giới thiệu người nữ thám tử đặc biệt và án mạng thứ nhất, Khánh Lan viết về 12 án mạng khác. Vụ nào cũng mang tính cách kỳ bí, nhưng về sau, nhờ khả năng suy luận sắc bén và cũng một phần do may mắn, thám tử chính McBride và thám tử cộng tác Lê Minh cũng đều giải quyết được, đưa phạm nhân ra ánh sáng và thành công. Người Việt ở Nam California dễ say sưa theo dõi các truyện trinh thám do Khánh Lan viết vì chị kể những sự việc chung quanh chúng ta: chuyện xảy ra ở các thành phố Irvine, Seal Beach, Westminster …, trên xa lộ 73, với những số điện thoại bắt đầu bằng area code 714. Truyện trinh thám của Khánh Lan có khả năng hấp dẫn người đọc. Hai người viết “Lời mở đầu,” các anh Dương Viết Điền và Việt Hải, đều có những nhận xét rất tích cực về tập truyện của chị.

    Văn hào Anh Ian Fleming đã thành công vượt bực khi dựng nên điệp viên quốc tế James Bond. Sir Arthur Conan Doyle đã làm thám tử giả tưởng Sherlock Homes thành ra bất tử. Nhà văn Thế Lữ tạo ra phóng viên trinh thám Lê Phong tài ba. Các chuyện trinh thám của nhà văn Phạm Cao Củng được xây dựng chung quanh thám tử Kỳ Phát. Nhà văn Khánh Lan của chúng ta góp phần bằng cách kiến tạo nên nữ thám tử Lê Minh.

    Đọc tới cuối tập, tôi có chút luyến tiếc vì Khánh Lan cho Lê Minh “giã từ sân khấu” sớm quá. Sau hơn 20 năm trong nghề, cô vẫn còn độc thân. Thám tử McBride về hưu ở tuổi 70. Một thời gian sau, ông kết liễu đời mình bằng một viên đạn bắn vào đầu. Tin ấy khiến nhiều người bàng hoàng, nhất là Lê Minh. Cô cảm thấy mệt mỏi sau cái chết của người bạn tri kỷ nên đã xin thôi việc, đến thăm mộ thám tử McBride rồi về xuống tóc quy y. Nhà nữ thám tử tài ba đã nhận ra “tu là cõi phúc.” Tập truyện trinh thám của Khánh Lan, vì thế mang thêm tính cách triết lý và tình cảm.

    Được biết Khánh Lan rất nhiệt thành với việc học hỏi thêm và viết một cách say sưa. Tôi tin rằng với những tác phẩm đầu tay mà đã được như thế, chị sẽ còn tiến rất xa.

    Với đại thi hào Nguyễn Du, từ bài “Thác lời trai phường nón,” một trong những tác phẩm đầu tiên, đến Truyện Kiều, là một bước tiến rất dài. Với văn hào Nhất Linh, hai cuốn truyện đầu tay của ông, Nho Phong và Người Quay Tơ, chưa đạt trình độ nghệ thuật cao. Tuy nhiên, đó là bước đầu để về sau ông viết Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn, Bướm Trắng, Hai Buổi Chiều Vàng, Xóm Cầu Mới, Giòng Sông Thanh Thủy …, và chủ  trương các tạp chí Phong Hóa, Ngày Nay, Văn Hóa Ngày Nay… Các tác phẩm đầu tiên của đại thi hào Shakespeare nước Anh hay đại văn hào Ernest Hemingway của Hoa Kỳ cũng chưa đạt tới trình độ xuất sắc của những tác phẩm viết sau. Chúng ta có quyền kỳ vọng rằng người bạn Khánh Lan của chúng ta sẽ còn cho ra đời những tác phẩm giá trị hơn những cuốn được giới thiệu hôm nay.

    Tôi cũng tin rằng đa số các vị thức giả, các văn nghệ sĩ lớn tuổi, cũng như các bạn trẻ tới đây hôm nay đều có chung một niềm mong ước. Đó cũng là niềm mong ước tôi trình bày một cách khái quát trong Lời mở đầu tập sách biên khảo của chị Khánh Lan.

    Sau biến cố 30-4-1975, hơn 4 triệu người Việt đã ra sống ở ngoài nước, trong đó khoảng một nửa, hơn 2 triệu, cư ngụ ở Hoa Kỳ. “Chúng ta đi, mang theo quê hương.” Quê hương đây không phải chỉ gồm thức ăn, trang phục, một số phong tục truyền thống…, mà còn là sinh hoạt tinh thần, với sách báo, văn thơ…

    Gần nửa thế kỷ trôi qua, thế hệ các nhà văn, nhà thơ tiền bối (Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyên Sa, Minh Đức Hoài Trinh …) không còn giữa chúng ta. Lớp nhà văn, nhà thơ trẻ hơn (Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, Du Tử Lê, gần đây là Nguyễn Mạnh Trinh …) cũng đã ra người thiên cổ. Tại nhiều nơi, vẫn còn một số nhà văn, nhà biên khảo có tâm huyết và thành tích, nhưng các vị đã, hoặc đang bước vào tuổi lão niên. Đã có nhi ều người lo âu: “Tre” tuy già nhưng “măng” chưa kịp mọc. Vì nhu cầu tinh thần, tập thể người Việt ở ngoài nước cần có những người cầm bút mới. Rất nhiều người Việt đã thành công khi sáng tác bằng Anh ngữ, Pháp ngữ…, làm giàu thêm cho văn học thế giới. Chúng ta có Lan Cao, Andrew Lam, Monique Truong …và nhiều người nữa. Có những vị thành công một cách xuất chúng như Viet Thanh Nguyen với giải thưởng văn học danh giá Pulitzer, Ocean Vuong với giải thưởng T.S. Eliot, cùng nhiều giải khác. Các vị ấy đã chứng tỏ rằng trong khả năng diễn đạt bằng ngòi bút, dân Việt không thua kém ai. Tuy nhiên, muốn duy trì căn cước và ngôn ngữ, cộng đồng Việt ở ngoài nước vẫn cần những cây bút viết bằng tiếng Việt. Chúng ta cần có những cây bút nhiệt thành, dấn thân như Khánh Lan, và chân thành cầu chúc cho sự thành công của chị và các bạn cùng thế hệ.

    Chân thành cám ơn sự lưu tâm theo dõi của toàn thể Quý vị.

  • Dương Viết Điền,  Tin tức

    MÙA THU QUA THI CA VIỆT NAM

    Ai đã từng đọc bài thơ nổi tiếng “Chansons D’automne” của thi sĩ lừng danh Pháp quốc Paul Verlaine đều cảm thấy lòng mình bồi hồi và xúc động. Không xúc động sao đựơc khi nhà thơ đa tình này đã rung cảm hồn mình thành những dòng thơ bất hủ sau đây để nức nở về tình thu bên bờ sông Seine tuyệt đẹp năm nào:

    Les sanglots longs

    Des violons

    De l’automne

    Blessent mon coeur

    D’une langueur monotone

    Tout suffocant

    Et blême, quand

    Sonne l’heures

    Je me souviens

    Des jours anciens

    Et je pleure

    Et je m’en vais

    Au vent mauvais

    Qui m’emporte

    Decà delà

    Pareil à la

    Feuille morte

    Tiếng đàn ai đó lê thê

    Vĩ  cầm réo rắt ê chề lòng đau

    Bơ vơ chuông đổ đồng hồ

    Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa

    Bao kỷ niệm, theo gió đưa

    Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót xa

    Bao năm lữ thứ xa nhà

    Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi…”

                                            (Lãng Du)

    Thật vậy, mùa thu là mùa của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa của những cặp tình nhân dìu nhau đi dưới nắng thu để thưởng thức bầu không khí mát mẻ trong lành, rồi trao cho nhau những nụ hôn nồng cháy để rồi cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi mãi tận cuối chân trời.

    Mùa thu là mùa các thi nhân đi tìm những vần thơ để sáng tác thành những tuyệt phẩm bất hủ nghìn năm.

    Ai đã từng đi qua phố vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng bay bay khắp trời rồi lác đác rơi qua mái đầu và rớt xuống đất, mới cảm thấy được cái đẹp tuyệt vời của mùa thu, mới rung cảm theo nhịp của lá vàng đang rơi, rung cảm theo những tia nắng thu dịu hiền vươn mãi đến tận chân trời xa thăm thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa của lá vàng bay bay, mùa của lá vàng rơi rơi, mùa của lá vàng khô rụng khắp mọi nẻo đường. “Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về”. Ta hãy nghe các thi nhân Việt nam nói về lá vàng rơi mỗi độ thu về qua những dòng thơ trữ tình sau đây.

    Hình ảnh nổi bật nhất về lá rụng giữa mùa thu là hình ảnh trong hai câu thơ sau đây của thi sĩ Tản Đà:

    Trận gió thu phong rụng lá vàng

    Lá bay hàng xóm lá bay sang.

    Nhưng hình ảnh trữ tình và lãng mạn nhất là hình ảnh con nai vàng ngơ ngác giữa rừng thu qua bài “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư với những câu thơ năm chữ nghe thật êm đềm như khúc nhạc tình thu trong rừng vắng:

    Em không nghe rừng thu

    Lá thu kêu xào xạc

    Con nai vàng ngơ ngác

    Đạp trên lá vàng khô

    Không phải chỉ có Tản Đà hay Lưu Trọng Lư mới nói đến lá vàng khi mùa thu tới; hầu hết các thi nhân Việt Nam đều ca ngợi cái đẹp của mùa thu bằng cách diễn tả hình ảnh của lá vàng rơi giữa trời thu. Sau đây là những dòng thơ diễn tả về lá vàng mùa thu của một số thi nhân Việt Nam.

    Sắc trời trôi nhạt dưới khe

    Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh lùng

                                              (Huy Cận)

    Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

    Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

    Đây mùa thu tới mùa thu tới

    Với áo mơ phai dệt lá vàng

                                      (Xuân Diệu)

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

    Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

    Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

                                (Nguyễn Khuyến)

    Ai đâu trở lại mùa thu trước

    Nhặt lấy cho tôi những lá vàng

                             (Chế Lan Viên)

    Chẳng được như hoa vướng gót nàng

    Cõi lòng man mác giá như sương!

    Ta về nhặt lấy hoa thu rụng

    Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương

                                         (Thái Can)

    Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ

    Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa

    Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm

    Rừng phong lá rụng tiếng như mưa

                                   (Ngô Chi Lan)

    Đêm thu khắc lậu canh tàn

    Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương

                                          (Nguyễn Du)

    Ngoài lá vàng rơi là biểu tượng của mùa thu, ta còn phải đề cập đến ánh trăng thu huyền ảo. Nói đến mùa thu mà không đề cập đến ánh trăng thu mờ ảo sau áng mây trời giữa đêm khuya thanh vắng là một sự thiếu sót lớn lao đối với mùa thu.

    Không phải đêm thu nào ánh trăng cũng vằng vặc giữa trời trong khi lá vàng rơi nhè nhẹ giữa đêm khuya cô tịch mà trái lại, có những đêm thu trăng buồn ảo não, gió heo may thổi về làm cho lòng người cảm thấy u buồn man mác trước cái lạnh không làm tê buốt con tim như mùa đông, nhưng lắm lúc làm cho hồn ta bâng khuâng giá rét, làm cho hồn ta nhung nhớ lạnh lùng.

    Nếu thi sĩ Thượng Quan Nghi đời Đường bên Trung Quốc đã diễn tả cái đẹp của ánh trăng thu qua hai câu thơ:

    “Thước phi sơn nguyệt thự

    Thuyền táo đã phong thu”

    “Sườn non trăng sáng chim bay

    Đồng thu gió lộng, ve say nhạc sầu”.

                                  (Chi Điền dịch)

    Thì tại Việt Nam, rất nhiều nhà thơ đã tốn không biết bao nhiêu mực và giấy để diễn tả chị Hằng giữa đêm thu huyền diệu. Thật vậy nếu bài “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư không đề cập đến ánh trăng mờ thì toàn bài thơ mất đi rất nhiều ý nghĩa về mùa thu:

    Em không nghe mùa thu

    Dưới trăng mờ thổn thức

    Riêng nhà thơ Xuân Diệu đã nhân cách hóa ánh trăng thu khiến những dòng thơ trở thành bất tử:

    Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ

    Non xa khởi sự nhạt sương mờ

    Đã nghe rét mướt luồn trong gió

    Đã vắng người sang những chuyến đò.

    Tuy nhiên nói đến trăng nhất là ánh trăng thu mà không nói đến thi sĩ Hàn Mạc Tử là một sự thiếu sót vô cùng trọng đại.

    Ta hãy nghe Hàn Mạc Tử nói về trăng thu qua những câu thơ bảy chữ với lối nhân cách hóa làm cho ta có cảm tưởng như người đẹp Hằng Nga đang rón rén dời gót ngọc vào nhà ai giữa đêm thu trăng sáng:

    Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối

    Gió thu lọt cửa cọ mài chăn

    hay là:

    Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm

    Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe

    Ngoài Lưu Trọng Lư, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu ra, ta cũng thấy rất nhiều nhà thơ nói về ánh trăng thu. Sau đây là một số bài thơ của một vài thi nhân đều ca tụng ánh trăng thu qua những dòng thơ đủ các thể loại:

    Lòng anh giếng ngọt trong veo

    Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh

    Lòng em như bụi kinh thành

    Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe.

                                              (Nguyễn Bính)

    Nước biếc trông như tầng khói phủ

    Song thưa để mặc bóng trăng vào

                             (Nguyễn Khuyến)

    Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

    Trần thế em nay chán nữa rồi

                                       (Tản Đà)

    Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,

    Bừng mắt trông sương gội cành ngô

    Lạnh lùng thay, bấy chiều thu,

    Gió may hiu hắt trên đầu tường vôi

         (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch)

    Vi lô san sát heo may

    Một trời thu để riêng ai một người

    Dặm khuya ngất tạnh mù khơi

    Thấy trăng mà thẹn những lời non sông

    Rừng thu từng biếc chen hồng

    Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn!

                                              (Nguyễn Du)

    Đêm thu gió lọt sông đào

    Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời

                                            (Nguyễn Du)

    Hoa xuân nọ, còn phong nộn nhị,

    Nguyệt thu kia, chưa hé hàn quang

                                    (Ôn Như Hầu)

    Nếu mùa thu có lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi. Nắng mùa thu không gay gắt rực lửa như mùa hạ trái lại rất mát dịu trong lành, nhất là những lúc trời xanh mây trắng nắng hồng. Đi dưới nắng thu người ta thấy tâm hồn rất thoải mái lâng lâng, nhất là những lúc trời chiều nhạt nắng có lá vàng bay bay rồi rụng khắp phố phường. Nhiều cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu, nhặt những lá vàng rơi rồi nhìn những hàng cây khẳng khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên đại lộ lúc chiều tà.

    Ai cũng biết rằng các thi nhân khi nói về mùa thu thường không quên đề cập đến nắng thu. Nhà thơ Chế Lan Viên đã làm cho ta ngạc nhiên khi viết mấy câu thơ liên quan đến nắng thu như sau:

    Chao ôi! thu đã tới rồi sao?

    Thu trước vừa qua mới độ nào

    Mới độ nào đây hoa rạn vỡ

    Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao.

    Nhưng ngạc nhiên hơn nữa là hai câu thơ đầy nhạc tính của nhà thơ Bích Khê sau đây làm cho ta cảm thấy thích thú khi đọc lên vì nghe như một giai điệu tuyệt vời:

    Ô hay buồn vương cây ngô đồng

    Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.

    Dĩ nhiên, mỗi nhà thơ diễn tả vẻ nắng thu một cách khác nhau, nhưng hầu hết đều ca ngợi nắng thu như là hình ảnh tuyệt đẹp giữa gió chiều.

    Nhà thơ Xuân Diệu cũng nói về nắng thu với hai câu thơ thất ngôn đầy lưu luyến trữ tình:

    Nõn nà sương ngọc quanh thềm dậu

    Nắng nhỏ bang khuâng chiều lỡ thì

    Nhưng nếu ai đã đọc mấy câu thơ sau đây của nhà thơ Trúc Ly đều cảm thấy hồn mình xao xuyến bâng khuâng:

    Tôi đứng bên nầy bờ dĩ vãng

    Thương về con nước ngại ngùng xuôi

    Những người con gái bên kia ấy

    Ai biết chiều nay có nhớ tôi

    Tôi muốn hôn bằng môi của em

    Mùa thu tha thiết nắng hoe thềm

    Ngoài ra ta còn thấy rất nhiều nhà thơ khác cũng đã nói về nắng thu với những dòng thơ thật đẹp và thật buồn:

    Chiều nay nắng nhạt luyến chân đồi

    Hơi lạnh tàn thu giục lá rơi

    Sương xuống chiều đi lòng vắng vẻ

    Thê lương thêm bận khúc ly hoài.

    hay là:

    Hát bài hát ngô nghê và êm ái

    Bên sườn non mục tử cưỡi trâu về

    Nắng chiều rây vàng bột xuống dân quê

    Lúa chín đỏ theo gió nồm sắp mái.

                        (Nam Trân Nguyễn Học Sỹ)

    Nếu những hình ảnh đẹp của mùa thu là lá vàng rơi, là ánh trăng thu giữa đêm khuya thanh vắng, và nắng chiều thu trong buổi hoàng hôn, thì hình ảnh buồn nhất của mùa thu là mưa thu. Chính những giọt mưa thu đã làm cho lòng người lạnh lẽo, u buồn, làm cho lòng người hoang vắng sầu thương, bơ vơ giữa thế giới mưa rơi buồn bã.

    Trước cảnh mưa thu ảm đạm ở ngoài bệnh viện, nhạc sĩ tài hoa Đặng Thế Phong đã xúc động rồi sáng tác ngay bản nhạc “Giọt mưa thu” trước khi vĩnh biệt trần gian để lại cho đời những giọt lệ thu sầu thương nức nở, những giọt lệ tình ai oán lâm ly: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ… …”

    Bởi vậy nói đến mưa thu là nói đến một trong những cảnh vật buồn bã nhất của trần thế. Đọc mấy câu thơ sau đây của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy cảnh mưa thu thật là tiêu điều buồn bã:

    Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa

    Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ

    Xanh um cổ thụ tròn xoe tán

    Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ.

    Hay hai câu thơ sau đây của nhà thơ Xuân Diệu cũng cho ta thấy cảnh lặng lẽ u buồn:

    Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa

    Mới tạnh mưa trưa chiều đã tà

    Tuy nhiên nếu trăng thu, nắng thu, mưa thu là những đề tài bất hủ cho các văn thi sĩ, nhạc sĩ lấy đó để sáng tác thì sương thu là một đề tài không kém quan trọng để các thi nhân dệt thành thơ. Vào những lúc trời sáng tinh sương, ai đã từng ra sau vườn, đều trông thấy những giọt sương đọng trên cành cây, ngọn cỏ giống như những hạt kim cương lóng lánh đẹp tuyệt vời. Cho đến ngày hôm nay, rất nhiều người Việt nam đã thuộc lòng đoạn văn của nhà văn Thanh Tịnh tả về cảnh sương thu: “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi, dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp”. Một nhà thơ nổi tiếng như sóng cồn một thời vang bóng đã ca ngợi sương thu qua bài thơ “Sương rơi”. Đó là thi sĩ Nguyễn Vỹ với bài thơ hai chữ đã để lại cho đời một tác phẩm bất hủ về sương thu:

    Sương rơi

    Nặng trĩu

    Trên cành

    Dương liễu…

    Nhưng hơi

    Gió bấc

    Lạnh lùng

    Hiu hắt

    Thấm vào

    Em ơi,

    Trong lòng

    Hạt sương

    Thành một

    Vết thương!..

    Rồi hạt

    Sương trong

    Tan tác

    Trong lòng

    Tả tơi

    Em ơi!

    Từng giọt

    Thánh thót,

    Từng giọt

    Điêu tàn

    Trên nấm

    Mồ hoang!..

    Rơi sương

    Cành dương…

    Liễu ngã

    Gió mưa

    Tơi tả

    Từng giọt,

    Thánh thót..

    Từng giọt,

    Tơi bời,

    Mưa rơi,

    Gió rơi,

    Lá rơi,

    Em ơi!…

    Như đã được trình bày ở trên, mùa thu là mùa có lá vàng rơi lác đác, có trăng thu mờ ảo giữa đêm buồn, có những giọt mưa rơi thánh thót thật lâm ly. Đã thế, nhiều lúc ánh nắng chiều thu làm cho người lữ hành thêm cô độc bâng khuâng, luôn luôn cảm thấy như xa vắng lạc loài như biệt ly hiu quạnh.Vì thế mà nhiều người đã cho rằng, mùa thu là mùa của biệt ly, của xa cách nên tình thu thường nức nở nghẹn ngào. Mùa thu là mùa nhớ nhung từ đó và cũng là nhung nhớ từ đây. Thế nên nói đến mùa thu là nói đến biệt ly nhung nhớ, là nói đến ngăn cách xa nhau, là nói đến chia ly buồn bã và lắm lúc nói đến vĩnh biệt ngàn đời để rồi “nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười”.

    Sau đây, ta hãy nghe các thi nhân Việt nam nói về sự biệt ly, sự nhung nhớ cũng như những nỗi u buồn giữa mùa thu:

    Mây vẫn từng không chim bay đi

    Khí trời u uất, hận chia ly

    Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

    Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.

                                    (Xuân Diệu)

    Hay những dòng thơ lục bát đầy vẻ âm u, tiêu điều của Huy Cận:

    Non xanh ngây cả buồn chiều

    Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.

    Hoặc những câu thơ đầy nhung nhớ quằn quại giữa mùa thu:

    Chao ôi! mong nhớ! ôi mong nhớ

    Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.

                                   (Chế Lan Viên)

    Hay hình ảnh xa vắng biệt ly của người chinh phu trong lòng người cô phụ:

    Em không nghe rạo rực

    Hình ảnh kẻ chinh phu

    Trong lòng người cô phụ.

                     (Lưu Trọng Lư)

    Hoặc là những câu thơ đầy nỗi nhớ thương của thi nhân:

    Chẳng được như hoa vướng gót nàng 

    Cõi lòng man mác giá như sương!

    Ta về nhặt lấy hoa thu rụng

    Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương.

                                         (Thái Can)

    Nhưng sự biệt ly đớn đau nhất hay nỗi nhớ nhung quằn quại triền miên cũng như sự khổ đau cay đắng suốt đời mà ta có thể thấy được là những dòng thơ nức nở lệ nhòa của nữ thi sĩ T.T.KH, một nhà thơ đã sáng tác nên những bài thơ bất hủ ngàn năm và đã trở thành huyền thọai trong thi ca Việt Nam. Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH nức nở những điệp khúc tình thu sau đây:

    Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ?

    Một mùa thu cũ một lòng đau

    Ba năm ví biết anh còn nhớ

    Em đã câm lời có còn đâu!.

    hay là:

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi

    Mà từng thu chết từng thu chết

    Vẫn giấu trong tim một bóng người.

    Tóm lại qua thi ca Việt Nam, ta thấy hầu hết các thi nhân nước Việt đều nói đến mùa thu, ca ngợi mùa thu vì mùa thu có những đêm trăng mờ ảo, có những lá vàng rơi tuyệt đẹp, có những giọt mưa thu thánh thót rơi thật lâm ly, bi thảm v.v… Và cũng vì mùa thu là mùa của ngăn cách, của ly biệt, là mùa của nức nở nghẹn ngào nên các thi nhân Việt Nam không ai mà không xúc động khi thấy mùa thu đến. Vì vậy, qua thi ca Việt Nam, ta thấy nhiều nhà thơ đã để lại cho đời những bài thơ trữ tình bất hủ về mùa thu.

    Dương Viết Điền

  • Kiều Mỹ Duyên,  Tin tức

    NHÀ VĂN KHÁNH LAN RA MẮT SÁCH

    VIỄNNĐÔNG DAILY. Monday, 27/09/2021 – 05:40:10

    Sinh hoạt cuối tuần. Bài KIỀU MỸ DUYÊN

    Kiều Mỹ Duyên đến chúc mừng nhà văn Khánh Lan trong buổi ra mắt sách

    Nhà văn Khánh Lan trẻ và đẹp là con dâu của nhà thơ Việt Cường Lưu Tấn Lâm, ra mắt 4 quyển sách ở thành phố Westminster, đó là: Vài Nét về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại, Dĩ Vãng Khôn Nguôi, Tuyển Tập Truyện Ngắn: Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh và Thám Tử Lê Minh.

    Nhà văn trẻ này sáng tác một cách hăng say. Ông bà mình thường nói hậu sinh khả úy, nghĩa là người trẻ sẽ vượt qua người đi trước, con hơn cha nhà có phước.

    Một buổi ra mắt sách vô cùng long trọng với sự hiện diện của nhiều người nổi tiếng trong cộng đồng như thi sĩ Dương Hồng Anh, nhà văn Nguyễn Duy Quang, nhà văn Phạm Gia Đại, ký giả Thanh Phong, giáo sư Dương Ngọc Sum, giáo sư Nguyên Di, giáo sư Trần Huy Bích, nhà văn kiên nhà báo Trần Phong Vũ, v.v…Những bóng hồng tha thướt trong những chiếc áo dài rực rỡ đón khách từ ngoài cửa vào trong phòng họp, đa số là phụ nữ, có sự hiện diện của 3 thế hệ. 

    Nhà văn Khánh Lan (áo dài hồng) đang ký tặng sách.

    Nhà văn Khánh Lan là ngôi sao sáng hôm nay trong chiếc áo dài màu hồng lóng lánh kim tuyến, tất bật ký tên vào sách để tặng khách. Những bậc trưởng thượng như giáo sư Dương Ngọc Sum, nhà văn Trần Phong Vũ, thi sĩ Dương Hồng Anh, ký giả Thanh Phong, sách tặng đã ký sẵn. Người nào cũng thích chụp hình chung với tác giả.

    Mạnh Bổng, phu quân của tác giả rất đẹp trai nhưng ít người biết vì không ở bên cạnh vợ. Nhiều người có vợ đẹp, đến giữa đám đông thường đứng hoặc ngồi bên cạnh vợ, nhưng Mạnh Bổng lại khác, chạy tới chạy lui lo hậu trường cho vợ.

    Ban nhạc và ca sĩ đến rất sớm. Trên sân khấu hết người này đến người khác trình diễn. Âm nhạc rất quyến rũ con người, nơi nào có âm nhạc, có thơ văn thì có người đến đông. Các bài hát tuyệt vời qua các giọng hát truyền cảm của Minh Ngân, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Thụy Lan, Tammy Minh Tâm, Trâm Anh, Mạnh Bổng, Đắc Triều, Hồng Quyên, Đào Minh Tâm và Nhóm Vũ Tiếng Thời Gian. Ra mắt sách mà không nói về sách, mà hát thì nhiều hơn, có lẽ để đồng hương tự đọc, tự thưởng thức cái hay của sách?

    Nữ sĩ Dương Hồng Anh đã gửi tặng hai bài thơ chúc mừng ngày ra sách của Khánh Lan. Nhạc sĩ Hạ Đỏ Bích Phượng hòa âm bài “Ngày vui hộn ngộ.” Ca nhạc sĩ Lâm Dung hòa âm và hát trình diễn nhạc phẩm “Xa quê hương của Khánh Lan.  

    Khán giả ngồi bên dưới đều là thân hữu quen biết nhau từ trước,
     và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Trong số quan khách tham dự ngày ra mắt sách có nhà thơ Việt Cường Lưu Tấn Lâm. Ông rất hãnh diện về con dâu của mình, nhưng ông rất khiêm tốn chỉ cười khi có người khen con dâu của ông.

    Tác giả không nói nhiều, chỉ nói mình viết việc thật, không hư cấu, viết với trái tim cảm xúc của mình. Những diễn giả nói về sách của Khánh Lan: Giáo Sư Trần Huy Bích, Giáo Sư Quyên Di và nhà văn Trần Phong Vũ. Những người đọc sách để phát biểu là những người nhiều công phu nhất. Giáo Sư Trần Huy Bích, Giáo Sư Dương Ngọc Sum, nhà văn Việt Hải, nhà văn Nguyễn Quang, nhà văn Ngọc Cường, nhà văn Vương Trùng Dương, và nhà văn Dương Viết Điền đã viết lời tựa cho sách.

    Nhà báo Thanh Phong, Phạm Khanh- đài truyền hình Little Saigon, Minh Trương- Saigon TV đến phỏng và viết phóng sự, các nhiếp ảnh gia Nguyễn Thiều Minh, Lê Hùng và Phú Lê Văn chụp hình lưu niệm.

    Ông bà Susan và John Tạ bảo trợ buổi ra mắt sách và các mạnh thường quân anh Ngô Thiện Đức, cô Vi Anh (chủ nhiệm nguyệt san Việt Media), Giáo Sư Quyên Di, nữ sĩ Dương Hồng Anh, nhà văn Kiều Mỹ Duyên, nhà thơ Yên Sơn, nhà văn Dương Viết Điền, Hoàng Giang, Thu Dung, Vee Hương và Thành Nguyễn.

    Mọi người xúc động khi thấy nhà văn Việt Hải lên sân khấu với cây gậy trong tay, hay giáo sư Dương Ngọc Sum, bà Nga Nguyễn (phu nhân của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyên) hoặc nữ sĩ Dương Hồng Anh bước từng bước thật chậm, nhưng nụ cười vẫn tươi.

    Đến những buổi ra mắt sách như thế này mới thấy tình người rất đậm đà. Thế hệ trước nâng đỡ thế hệ sau trong vấn đề viết sách. Ngày xưa Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo đã nâng đỡ nhà văn Nguyễn Thị Vinh thì bây giờ Việt Hải khuyến khích thế hệ thứ hai viết sách, tiếp nối những nhà văn đi trước. Công lao của những người nâng đỡ thế hệ trẻ nhiều lắm và nhiều lắm.

    Cuối tuần, chúng tôi chạy hết chỗ này đến chỗ khác, cho nên không ở một chỗ tham dự từ đầu đến cuối. Rất tiếc, rất tiếc, nếu có cơ hội ở tới giờ chót, sau khi quan khách về hết, ở lại sẽ nghe tác giả tâm tình nhiều hơn, hiểu nhau nhiều hơn.

    Nói tóm lại, buổi ra mắt sách của Khánh Lan rất thành công. Truyền thông đến rất đông, tin tức được phổ biến khắp nơi trên thế giới, bà con ở xa cũng có thể đọc được trên báo, trên mạng, trên YouTube.

    Hy vọng những người trẻ tiếp tục viết, trong đó có Khánh Lan, sẽ xuất bản đều đều để cho độc giả khắp nơi thưởng thức những tác phẩm mới, viết về người thật, việc thật bằng cảm xúc thật.

    Kiều Mỹ Duyên

  • Khánh Lan,  Tin tức

    SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH CORONAVIRUS 19

    Bài viết của Khánh Lan

    Có thể nói đại dịch CORONAVIRUS 19 và biến thể của nó đã đưa đến những ảnh hưởng và hậu quả đáng lo ngại cho thế giới nói chung và cho từng cá nhân nói riêng. Thật vậy, cơn sốt COVID 19 đã mang đi sự sống của hàng triệu người trên thế giới và để lại trong tiềm thức của chúng ta một nỗi kinh hoàng sợ hãi, một đe dọa giết người thầm kín mà y học gọi là “Silent killer“.  Một câu hỏi đã gây hoang mang hoảng sợ trong thế giới loài người mà không ai biết trước được câu trả lời: “Bao giờ đến lượt mình?”

    Trong bài viết này, chúng tôi xin bàn về 4 lãnh vực chính mà đã chịu ảnh hưởng nặng nề trong mùa đại dịch CORONAVIRUS 19, đó là:

    1. Ảnh hưởng trong lãnh vực tâm lý.
    2. Ảnh hưởng trong lãnh vực y khoa.
    3. Ảnh hưởng trong lãnh vực kinh tế.
    4. Ảnh hưởng trong lãnh vực xã hội.

    1. ẢNH HƯỞNG TRONG LÃNH VỰC TÂM LÝ:

    Đây là một vấn đề rất quan trọng trong lãnh vực liên quan đến sức khỏe của con người mà phần lớn chúng ta không để ý đến, nhất là người Á Châu. Bởi đối với người Á Đông chúng ta, một dân tộc mà đa số sống trong sự thiếu thốn về vật chất, nghèo khó và đông con, thì có lẽ việc lo cho “miếng ăn manh áo” hàng ngày cho gia đình, đã trở nên quan trọng và làm lu mờ sự chú tâm vào cảm xúc của chính mình. Tuy nói như thế, không hẳn là chúng ta không để ý đến sự xuất hiện của cảm xúc, nhưng phần lớn chúng ta có khuynh hướng chủ quan là cảm xúc ấy chỉ thoáng qua trong chốc lát hoặc “phớt tỉnh ăng lê” chúng đi, vì không trước thì sau, chúng sẽ tự biến mất. Sự biến mất tạm thời ấy xuất hiện là vì chúng ta cố gắng lấp kín cái hố sâu cảm xúc ấy bằng những độc chất như rượu, thuốc lá, cần sa ma túy, v.v… bởi chính những hóa chất độc hại này sẽ có sức mạnh làm tê liệt những cảm giác lo âu, sầu khổ, trầm tư, sợ hãi trong tâm trí con người.

    Cái nguy hiểm là khi chúng ta bỏ qua và không để ý đến những cảm xúc của mình thì đó là lúc chúng có thể đưa chúng ta đến tình trạng trầm cảm, u sầu, lo sợ. Lúc ấy, chúng ta tự cách ly với xã hội bên ngoài và nguy hiểm hơn nữa là chúng ta có thể rơi vào tình trạng quẩn trí và tự tìm đến cái chết. Để giải tỏa những ưu tư ảnh hưởng trên đời sống tâm lý, chúng ta cần phải chú ý đến những cảm xúc của mình và tận dụng phương pháp tâm lý trị liệu, bởi nó có thể giúp chúng ta thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy.  

    Vậy “Tâm lý trị liệu” là gì? Xin thưa đó là phương pháp giúp chúng ta giải tỏa những cơn khủng hoảng nhất thời hay đã tồn tại lâu năm trong tiềm thức. Tâm lý trị liệu, (psychotherapy) là một hệ thống các phương pháp kỹ thuật nhằm cải thiện sức khỏe tinh thần, tháo gỡ các trở ngại trong cảm xúc, giúp bệnh nhân tìm hiểu chính họ, tạo nên một cái nhìn mới về các mối quan hệ trong quá khứ và hiện tại. Tâm lý trị liệu giúp thay đổi những hành vi của con người qua lời nói hoặc các kỹ năng giao tiếp khác. Thật ra phương pháp tâm lý trị liệu không xa lạ đối với con người, ở nhiều quốc gia trên thế giới, những người làm tâm lý trị liệu phải được đào tạo, có bằng cấp và được cấp giấy phép hành nghề. Họ là những nhà chuyên môn giúp chữa trị các vấn đề tâm lý. Để nhận được sự giúp đỡ, chúng ta có thể nhờ các cơ quan cố vấn tâm lý cộng đồng, các bậc tu sĩ (tùy theo tín ngưỡng của mình), nhân viên tại các cơ quan xã hội, điều dưỡng viên tâm thần, bác sĩ tâm thần, nhà phân tâm học hoặc các chuyên viên khác đang làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tinh thần… Điều quan trọng là chúng ta cần phải ý thức được lúc nào mình cần sự giúp đỡ để gột bỏ những ý tưởng không lành mạnh (unheathy thinking) ra khỏi ký ức.

    Để tránh tình trạng khủng hoảng tâm lý trong thời gian dịch bịnh COVID, ngoài việc tiếp tục với những công việc hằng ngày, chúng ta cần phải dành thời gian để thư giãn tâm trí qua những sinh hoạt lành mạnh như thể dục, yoga, thiền, đi bộ, bơi lội, v.v… hoặc tìm cho mình một sở thích, thú đọc sách, niềm đam mê như học nhạc, tập đàn piano, guitar, viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc, v.v…  

    II. ẢNH HƯỞNG TRONG LÃNH VỰC Y KHOA:

    Đại dịch COVID-19 đã gây ra những hậu quả sâu rộng trong lãnh vực y học bởi ngoài việc phải tìm cách đương đầu với khả năng lây lan nhanh chóng của dịch bệnh, các khoa học gia đã phải bỏ nhiều thời gian và nỗ lực trong việc nghiên cứu và phát minh ra loại thuốc chủng có khả năng kiểm soát và ngăn chặn bịnh dịch. Căn cứ vào những tin tức hằng ngày trên radio, tivi, báo chí và nhất là Internet chúng ta cũng hiểu dịch bịnh COVID 19 đã gây những ảnh hưởng tiêu cực lớn lao trong lãnh vực y khoa, từ bác sĩ, y tá và những nhân viên phục vụ trong ngành chuyên môn. Ngay từ ngày đầu của sự khởi phát bệnh dịch vào tháng 4, 2019, hầu hết các bệnh viện trên thế giới đều chật cứng. Các nhà thương phải dựng những lều y tế dã chiến bên ngoài để đáp ứng với nhu cầu cấp cứu khẩn trương cho bệnh nhân, những bệnh nhân không người thăm viếng, tình trạng thiếu dược phẩm, giường cho bệnh nhân, dụng cụ y tế như máy thở và ngay cả đến y sĩ, nhân viên y tế đều bị thiếu hụt. Nhưng sự mất mát đáng kể nhất là sự hy sinh tính mạng của những người được mệnh danh là “Thiên thần áo trắng“.

    Bi thảm hơn nữa khi những nhà quàn không đủ chỗ để chứa xác người, những đám tang không người đưa tiễn và những thây ma nằm cô đơn trong nghĩa trang buồn. Sông Hằng, dòng sông linh thiêng nhất Ấn Độ, ngập xác người bị nhiễm Covid-19, hàng trăm thi thể nổi lềnh bềnh trên sông hoặc bị vùi trong bãi cát bên bờ ở bang miền bắc Uttar Pradesh. Xác người vất vưởng bên bờ, các giàn hỏa táng được thắp sáng bên sông Hằng ở Allahabad, cháy suốt ngày đêm vì các khu hỏa táng không còn chỗ.

    III. ẢNH HƯỞNG TRONG LÃNH VỰC KINH TẾ:

    Sự bùng phát của dịch bịnh Coronavirus đã là một mối lo ngại và có tác động lớn đến nền kinh tế trên toàn thế giới. Bách khoa toàn thư Wikipedia ghi nhận rằng: Sự bùng phát của đại dịch CORONAVIRUS 2019 đã gây ảnh hưởng rất lớn cho nền kinh tế toàn cầu. Tác động của nó cao hơn nhiều so với tác động của virus SARS năm 2003. Nhu cầu về thiết bị bảo vệ cá nhân, hàng hóa, thực phẩm tăng lên gấp nhiều lần so với giá bình thường, dẫn đến việc tăng giá và khan hiếm, tạo nên sự hoang mang lo sợ trong quần chúng bởi người dân tích trữ nhu cầu, lương thực. Sự gián đoạn hoạt động các nhà sản xuất gây nên sự thiếu hụt và chậm trễ trong việc cung cấp hàng hóa. Sự thiếu hụt nguồn cung ảnh hưởng đến một số ngành do tình trạng mua bán hoảng loạn, tăng cường sử dụng hàng hóa để chống lại đại dịch, thí dụ như khẩu trang trở nên khan hiến và đã bán hết trên toàn quốc, áp lực đặt nặng lên hệ thống chăm sóc sức khỏe, nhu cầu kiểm tra y tế tăng lên.

    Nhiều nhân chứng đã báo cáo về cảnh mua bán hoảng loạn và hậu quả là thiếu hụt thực phẩm và các mặt hàng tạp hóa thiết yếu khác. Chẳng những thế, khi đại dịch lan rộng, các hội nghị, công nghệ, thời trang, thể thao, du lịch và thương mại đi xuống, phi trường đóng cửa, chuyến bay bị hủy bỏ hoặc hoãn lại. Các nhà hàng đã đóng cửa, rạp hát trong nước đã bị xóa sổ toàn bộ phòng vé. Các nhà máy, nhà bán lẻ và chuỗi nhà hàng đóng cửa gây nên nạn thất nghiệp trầm trọng, một số nhà hàng, cơ sỏ thương mại phải đóng cửa vì không cầm cự nổi với nhưng khó khăn tài chánh, v.v… Ngay đến thị trường chứng khoán toàn cầu cũng bị ảnh hưởng vào ngày 24 tháng 2 năm 2020. Đến ngày 28 tháng 2 năm 2020, thị trường chứng khoán trên toàn thế giới sụt giảm lớn nhất trong một tuần kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

    IV. ẢNH HƯỞNG TRONG LÃNH VỰC XÃ HỘI:

    Coronavirus đã làm tê liệt không những nền kinh tế thế giới mà còn kéo theo hàng triệu người thất nghiệp hoặc bị sa thải tạm thời, Nạn thất nghiệp leo thang, tỷ lệ nhà cửa bị thu hồi trong lúc thị trường địa ốc bị phá giá, quỹ tiền tệ quốc gia thiếu hụt, người dân lâm vào cảnh đói nghèo, vô gia cư (homeless), tệ nạn xã hội tăng cao, giết người, hôi của, v.v… Nhiều triệu người lao động nghèo bị buộc phải quay trở về quê để tránh tình trạng nghèo đói hàng loạt và thậm chí là chết đói…. Bộ trưởng y tế đã ra chỉ thị hủy bỏ các cuộc tụ họp đông người, làm gián đoạn nhưng sinh hoạt cộng đồng, giải trí, v.v…  

    Để cứu vãn tình thế, hầu hết các chính phủ đã bơm hàng nghìn tỷ đô la vào nền kinh tế của họ để ngăn chặn những thiệt hại lớn hơn trong tương lai. Tuy nhiên, sự phục hồi không đưa đến một kết qua khả quan, các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với thời kỳ khó khăn, 1/4 tỷ người ở các nước đang phát triển có thể phải đối mặt với tình trạng nghèo đói. Tại ở Mỹ, người dân may mắn nhận được sự trợ giúp của chính phủ khiến công quỹ cũa quốc gia ngày càng cạn.

    Đại Dịch COVID-19 Có Ảnh Hưởng Trên Sức Khỏe Tâm Thần Của Trẻ Em Như Thế Nào?

    Chăm sóc sức khỏe tâm thần của trẻ con đóng vai trò quan trọng khi có một cuộc khủng hoảng đại dịch COVID-19 xảy ra. Thật vậy, có nhiều yếu tố rủi ro có thể xảy ra gây ảnh hưởng đến trẻ em trong khoảng thời gian này, kết quả có thể dẫn đến suy nhược sức khỏe tâm thần: Một nghiên cứu khảo sát bởi Hiệp Hội Y Học Thiên Tai và Y Tế Công Cộng công bố:

    • Sự gián đoạn đối với các thói quen trước đây.
    • Gia đình bị cách ly.
    • Mất mát gia đình vì COVID-19.
    • Giáo dục trực tuyến.
    • Thiếu tiếp cận với bạn bè đồng trang lứa.
    • Bạo lực có thể xảy ra trong gia đình.

    Sức khỏe tâm thần của những trẻ em có cha mẹ bị cách ly vì bệnh COVID-19 có khả năng bị ảnh hưởng cao hơn ở mức độ tâm thần. Thí dụ: Nếu cha mẹ mắc chứng lo âu hoặc PTSD thì con cái của họ cũng bị ảnh hưởng. Nghiên cứu mới đây cho thấy người trưởng thành đang phải chống chọi với những vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng trong đại dịch COVID-19. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng cha mẹ nên quan tâm về phương thức hỗ trợ sức khỏe tâm thần của con cái. Những tài nguyên có thể giúp ích như giúp trẻ em đối phó với chứng lo âu liên quan đến virus corona đã được quảng bá trong dân chúng như những phương cách giúp trẻ em đối phó với sự căng thẳng liên quan đến COVID-19. Hoặc làm thế nào để nói chuyện với trẻ về nỗi thất vọng trong đại dịch COVID-19. Hay làm thế nào để có thể giúp trẻ em khi các em nhớ bạn bè trong đại dịch COVID-19.

    Kimberley Norris, nhà tâm lý học và nghiên cứu viên người Úc, đã khám phá ra rằng khi con người bị cách ly vì một đại dịch, họ có xu hướng xoay vòng quanh những giai đoạn cảm xúc khác nhau. Hành vi của họ thay đổi trong những giai đoạn này còn tùy thuộc vào độ tuổi và các yếu tố khác, tuy nhiên chu trình cảm xúc thường đi theo khuôn mẫu sau:

    Rối loạn: Mua hàng tích trữ hoặc trẻ em không hiểu tại sao chúng không
    còn có thể gặp bạn bè ở trường.

    Thích nghi: Thay đổi khi làm việc tại nhà.

    Oán giận: Cảm thấy bị gò bó hoặc chán ngấy việc mang khẩu trang.

    Tái hợp: Giai đoạn chúng ta bắt đầu ngưng cách ly và có thể cảm thấy nhiều cảm xúc hỗn tạp.

    Tái hòa nhập: Quay trở lại hoạt động bình thường trong xã hội.

    Những dấu hiệu và triệu chứng ở trẻ em có thể bao gồm:

    • Trầm cảm và/hoặc lo âu.
    • Hành vi thoái bộ như mất kỹ năng đi vệ sinh. 
    • Tăng sự lo âu phân ly.
    • Giấc ngủ, việc ăn uống và kết quả học tập có sự thay đổi.
    • Tham gia vào những hành vi rủi ro.
    • Mất hứng thú đối với bạn bè và/hoặc các hoạt động.
    • Cô lập.
    • Không vâng lời.

    Giúp kiểm soát những cảm xúc.


    · Hít thở sâu: Việc này sẽ giúp trẻ bình tĩnh và tự dịu lại. Hít vào trong 3 giây, giữ yên trong 3 giây sau đó thở ra trong 3 giây.
    · Tăng thư giãn cơ: Việc này sẽ giúp quý vị nhận diện được thời điểm căng thẳng khi cảm thấy bồn chồn. Sử dụng kỹ năng hít thở sâu để giúp thư giãn cơ thể. Căng cơ khi quý vị hít vào sau đó giãn cơ khi quý vị thở ra.
    · Tập trung vào hiện tại: Đem sự chú ý của quý vị về thời điểm hiện tại thông qua năm giác quan. Ví dụ, kể tên năm đồ vật quý vị nhìn thấy trong phòng, bốn đồ vật quý vị cảm nhận, ba âm thanh quý vị nghe được.

    Khánh Lan, California, Sept. 27, 2021


    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    • Bách khoa toàn thư Wikipedia.
    • https://blog.chocchildrens.org/how-living-through-a-pandemic-like-covid-19-can-affect-childrens-mental-health/
  • Khánh Lan,  Tin tức

    NHỮNG CẢM NGHĨ CỦA KHÁNH LAN VỀ BA DIỄN GIẢ: QUYÊN DI, TRẦN HUY BÍCH, TRẦN PHONG VŨ TRONG BUỔI RA MẮT SÁCH 09/19/2021

    Ngày mới lớn, Khánh Lan những tưởng VĂN cũng như THƠ, chẳng cần phải theo một mô thức nào cũng có thể tạo nên một tác phẩm cho chính mình.  Cái cần thiết chỉ là có nguồn cảm hứng, có khung cảnh hữu tình, cộng thêm một chút “ROMANTIC” là đủ để cho ra một bài thơ tuyệt diệu, một tác phẩm văn học có giá trị và đích thực. Nhưng khi trưởng thành, ý tưởng ấy càng lúc càng rõ rệt trong trí óc, một người với ước vọng cầm bút viết văn từ thuở nhỏ. Thật vậy, để có thể đặt bút viết lên một tác phẩm và đoạt được sự thành công trong tác phẩm của mình, chắc chắn không đơn giản và dễ dàng như tôi hằng nghĩ. Cái danh từ “Dấn thân và đam mê” bỗng trở nên quen thuộc với giới cầm bút, nhất là đối với chính Khánh Lan.

    Khánh Lan thiết nghĩ, điều này rất đúng, khi ta dựa theo dòng tư tưởng của văn hào Jean Paul Sartre, thì một người khi quyết định đặt ngòi bút xuống trang giấy đề viết hoặc ước muốn trở thành một nhà văn đích thực thì phải đi theo đúng chính nghĩa “Nhà văn” của nó. Theo Jean Paul Sartre, một người viết văn cần phải qua 3 tiêu chuẩn căn bản, đó là:

    1. Phải dấn thân và phải có niềm đam mê viết.
    2. Phải được viết một cách tự do và không dưới một hình thức sự ép buộc hay một bạo lực nào.
    3. Phải có trách nhiệm với ngòi bút của mình.
    NV Việt Hải & Khánh Lan

    Việc gì đã xày ra trong buổi RMS 4 tác phẩm đầu tay của Khánh Lan ngày 19 tháng 09, 2021 tại NT Studio? NV Việt Hải đã yêu cầu Khánh Lan giải thích về mô thức viết văn của Khánh Lan? Để trả lời câu hỏi của NV Việt Hải, xin thưa, một mô thức mà Khánh Lan đã ghi nhận và hấp thụ được từ lớp văn chương khi còn đi học, nó cũng không thoát ra khỏi ba yếu tố căn bản còn được gọi là “dàn bài”. Dàn bài gồm có ba phần chính: Nhập đề, thân bài và kết luận. Riêng phần thân bài gồm nhiều đoạn, trong mỗi đoạn có nhiều tiểu đoạn. Những đoạn hay tiểu đoạn dài hay ngắn là còn tuy thuộc vào tác giả. Dàn bài có rõ ràng thì bố cục mới vững chắc và thật vậy, Khánh Lan đã dựa theo mô hình này để hình thành 4 tác phẩm đầu tay của mình.

    Nếu được hỏi, viết văn dễ hay khó, xin trả lời “Khó hay dễ” cũng còn tuy thuộc vào mỗi người. “Dễ” khi ta chấp nhận sự dấn thân, có miềm đam mê cộng thêm sở thích nghiên cứu, yêu đọc sách, vui thú học hỏi và nhất là phải có thời gian. Viết văn trở nên “Khó” khi ta không có những tiêu chuẩn kể trên. Khánh Lan còn nhớ mãi khi Khánh Lan hỏi ý kiến “Bố chồng Khánh Lan”, nhà thơ Việt Cường Lưu Tấn Lâm về “Giấc mơ viết văn” của Khánh Lan thì ông khuyên rằng:  “Thơ cũng như văn, một khi mình bắt đầu làm thơ hay viết văn, thì ý thơ, lời văn cứ dồn đập kéo đến khiến mình mê man như lạc vào vườn văn thơ lai láng. Mà ý thơ đến chẳng có giờ giấc nhất định gì cả, ngày cũng như đêm chẳng khác gì viết văn. Ý thơ đến và đi rất nhanh, nó chỉ thoáng qua trong trí óc. Thơ xuất hiện khi trí óc nhận được tín hiệu của sự cảm xúc từ trái tim hay có khi là do cảm hứng mà ra. Còn văn là do kinh nghiệm, học hỏi và nghiên cứu cũng như sở thích đọc sách. Có như thế thì kiến thức mới mở mang được. Do đó, có khi chúng ta sáng tác những áng thơ nhẹ nhàng và vui tươi, nhưng cũng có lúc những vần thơ đợm nét u sầu hoặc những áng văn bi thảm hay khôi hài. Con phải nhớ, những giây phút ấy quan trọng vô cùng và cần được ghi lại trên trang giấy, vì nếu không nó sẽ không trở lại toàn vẹn như lúc ban đầu.  Thơ làm cho tâm hồn mình trẻ mãi không già. Thơ khiến cho ta yêu đời, yêu người và thơ là phương cách tốt nhất để chúng ta gói ghém niềm tâm sự. Văn giúp ta trau dồi kiến thức, hiểu nhiều, biết rộng và giúp chúng ta trở thành nổi tiếng trong thế giới văn chương.”

    NT Việt Cường Lưu Tấn Lâm

    Trở lại buổi ra mắt sách ngày 19 tháng 09, 2021 thành công rực rỡ và quý khán giả đã ngồi lại đến giây phút cuối, chính là nhờ vào những bài nói chuyện xuất sắc, thu hút và nhận xét đích thực của ba diễn giả mà Khánh Lan vô cùng kính nể và quý mến. Đó là GS Quyên Di, GS Trần Huy Bích, NB & NV Trần Phong Vũ. Khánh Lan xin phép được ghi lại dưới đây những lời vàng ý ngọc ấy, những lời nói chân thật, thân tình của 3 vị diễn giả là một động lực, một khuyến khích cho Khánh Lan tiếp tục theo đuổi con đường sự nghiệp văn chương.

    NT Nga Nguyển, NV Trần Phong Vũ, GS Quyên Di,
    GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải, NV Nguyễn Quang, GS Trần Huy Bích
    Huỳnh Anh, NV Nguyễn Quang, NT Nga Nguyển, NS Dương Hồng Anh,
    GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải, John Tạ, GS Trần Huy Bích, Hoàng Khuê.

    Mở đầu với GS Quyên Di, ông giới thiệu một tác phẩm mới, tác phẩm thứ 5 mang tên KHÁNH LAN do tác giả “Đấng Sáng Tạo” sáng tác. Bài diễn văn hay quá, người cầm bút này xin ghi lại toàn vẹn bài của GS Quyên Di sau đây:

    “Kính thưa quý vị, Thưa các Chị, các Anh, hôm nay chúng ta tham dự một buổi ra mắt sách sách đặc biệt với 5 tác phẩm được giới thiệu. Bốn tác phẩm:

    1.  Vài nét về 10 tác giả Âu Mỹ cận đại
    2.  Dĩ Vãng Khôn Nguôi
    3.  Tuyển tập truyện ngắn: Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh
    4.  Tuyển tập truyện trinh thám: Thám Tử Lê Minh

    Bốn tác phẩm trên sẽ do những vị cao minh giới thiệu sau. Riêng tôi, rất hân hạnh được giới thiệu một tác phẩm mà tác giả không phải là Khánh Lan nhưng nhan đề lại là KHÁNH LAN. Tác giả của tác phẩm ấy chính là Đấng Sáng Tạo. Thật ra, nói về sáng tác, tôi muốn nhắc lại lời của nhạc sư HẢI LINH. Ông phát biểu:

    “Chỉ có một đấng làm công việc SÁNG TÁC, đó là ĐẤNG SÁNG TẠO, còn chúng ta chỉ là những kẻ SÀNG TẠC, tức là SÀNG LỌC những gì đã có, để rồi TẠC theo mà thôi”.

    GS Quyên Di

    Vâng, mỗi chúng ta là một quyển sách mà Đấng Sáng Tạo chính là tác giả. Mỗi quyển sách Ngài viết có một bố cục khác nhau, với những tình tiết khác nhau. Tác phẩm nào cũng đặc biệt. Hôm nay, chúng ta được dịp biết về quyển sách mang tên KHÁNH LAN mà Ngài đã viết với tất cả lòng ưu ái của Ngài. Theo phép viết truyện, việc đầu tiên là tác giả đưa ra bối cảnh mà tiếng Anh gọi là background. Truyện xảy ra ở đâu, khi nào, hoàn cảnh lúc ấy có gì đặc biệt, có những nhân vật phụ nào không. Sau khi đã bày ra một bối cảnh với những chi tiết như thế, tác giả mới đưa nhân vật chính vào.

    Chúng ta sẽ không lầm khi nói rằng Đà Lạt là một trong số những thành phố đẹp nhất nước Việt Nam. Đà Lạt vào thập niên 60 với Thung Lũng Tình Yêu, Nhà thờ Con Gà, hồ Xuân Hương, Đồi Cù, Viện Đại Học Đà Lạt, trường Võ Bị Quốc Gia, với những con đường ngập tràn hoa dã quỳ, mimosa, anh đào đã là một thành phố vô cùng thơ mộng và lãng mạn. Đó chính là bối cảnh mở đầu của tác phẩm. Được sinh ra tại thành phố đó, cô bé Khánh Lan cũng có một tâm hồn mộng mơ và lãng mạn. Tuy thế, tuổi thơ của Khánh Lan là một tuổi thơ rất hồn nhiên, ngây thơ. Hồn nhiên, ngây thơ đến độ hôm tiễn chân cha về cõi vĩnh hằng với cơn mưa giữa mùa hè vừa mới tạnh cô bé Khánh Lan đã khóc thảm thiết, nhưng chẳng khóc vì mất đi người cha thân yêu, mà lại khóc nức nở vì không tìm được chiếc giày bị lún xuống bùn sâu. Một kỷ niệm cười ra nước mắt cho một cô bé còn quá dại khờ khi nhớ về quá khứ xa xưa.

    Lớn lên trong sự đùm bọc của Ngoại và Mẹ, Khánh Lan thường nghe Mẹ kể rằng: người ta gọi Bố Khánh Lan là ông “Đội Lễ.” Ông vào miền Nam trước năm 1954 với nhiệm vụ bảo vệ cho hoàng đế Bảo Đại, bởi ông là trưởng đoàn của quân đội hoàng gia “Ngự Lâm Quân.” Sau năm 1954, ông “Đội Lễ” trở thành “Thiếu Úy Lễ,” phục vụ trong đơn vị tác chiến dưới thời của TT Ngô Đình Diệm. Ông đánh giặc rất hăng trên các chiến trường Komtum, Pleiku, Ban Mê Thuột, v.v… Thế mà lạ, không bao giờ bị thương, trong lúc rất nhiều đồng đội quanh ông đã nằm xuống tại chiến trường.

    Sau lần đầu tiên bị thương nhẹ, Thiếu úy Lễ được thăng chức Trung Úy và thuyên chuyển về làm trưởng trại Trần Quốc Tuấn, nhưng chỉ vài năm sau ông lại trở về đơn vị tác chiến. Năm 1963, với cấp bậc Đại úy, ông được bổ nhiệm về Sài Gòn để thụ huấn khóa học ba tháng trước khi trở lại Đà lạt làm giảng viên trường Võ Bị Quốc Gia. Nhưng ông đã qua đời vào tháng Tám ngày 25, 1963, ba tuần trước ngày trình diện nhận chức vụ mới, vì tai biến mạch máu, khi ông chưa tròn 53 tuổi.

    Cũng trong phép viết truyện, tác giả đưa độc giả theo những diễn tiến của câu truyện mà tiếng Anh gọi là những plots. Càng ngày diễn tiến càng lên cao, tiếng Anh gọi là Rising Action; cuối cùng lên đến đỉnh điểm mà tiếng Anh gọi là Climax. Theo diễn tiến này, tác giả tạo ra những nút thắt của câu truyện. Chính những nút thắt này khiến cho truyện trở nên gay cấn và hấp dẫn, gợi trí tò mò của người đọc, muốn biết rồi truyện sẽ diễn biến ra sao. Nút thắt và cũng là đỉnh điểm của tác phẩm mang tên KHÁNH LAN là sự việc xảy ra vào tháng 4 năm 1975. Khánh Lan cũng như bao người VN bỏ nước ra đi. Mặc dù ba tuần trước khi Sài Gòn thất thủ, Dr. Britton là cha nuôi của cô chị của Khánh Lan và Vy Hương, ông đã về Việt Nam bảo lãnh cho hai chị em sang Mỹ, mang theo cả giấy bảo lãnh của thống đốc đảo Guam, thế mà chị em Vy Hương, Khánh Lan vẫn không lọt vào được phi trường Tân Sơn Nhất.

    Đã thắt nút thắt, trách nhiệm của tác giả là phải gỡ nút thắt ấy ra. Đó chính là nguyên tắc mà các tác giả viết truyện phải theo. Vậy thì Đấng Sáng Tạo, tác giả quyển truyện mang tựa đề KHÁNH LAN bắt đầu tìm cách gỡ nút thắt. Và cũng từ đây, các diễn tiến bắt đầu đi xuống, mà tiếng Anh gọi là falling action. Thêm một nhân vật xuất hiện: người anh rể của Khánh Lan được trường Quốc Gia Hành Chánh Sài Gòn cấp học bổng đi học chương trình tiến sĩ ngành Political Science tại North Carolina hồi đầu năm 1975. Anh đã đánh điện tín về Sài Gòn và nhờ một người bạn ngoại quốc đang làm việc tại Sài Gòn chở Khánh Lan, Vy Hương và hai người em của anh vào phi trường. Đó là ngày 28, tháng 4, năm 1975. Bị kẹt lại trong phi trường hai ngày vì lúc ấy phi đạo bị pháo kích liên tục. Khánh Lan và Vy Hương là những người ra đi trong những chuyến bay sau cùng rời phi trường Tân Sơn Nhất, vĩnh biệt quê hương trong vội vã, bỏ lại tất cả: Ngoại, Mẹ, anh Cả, anh hai và bạn bè…

    Từ Phi Luật Tân, qua Guam và sau một tháng ở trại tị nạn Forth Chafee, Khánh Lan và Vy Hương đoàn tụ với người chị thứ ba ở Sacramento. Lúc ấy, chị làm việc cho cơ quan từ thiện: FOOD FOR THE HUNRY và đang giúp tìm người bảo trợ cho gia đình tị nạn VN. Vì không muốn là gánh nặng cho vợ chồng chị, Khánh Lan và Vy Hương chấp nhận sự bảo trợ của ông bà Shidler. Ông bà là chủ nhân của một motel vùng Yuba City. Thế rồi ông bà cho Khánh Lan & Vy Hương đi học. Nút thắt càng ngày càng được nới lỏng.

    • Niên khoá 1975-1978 KL lấy bằng AA ngành kế toán, Yuba City College.
    • Niên khoá 1978-1980 KL tốt nghiệp cử nhân kế toán quản trị, đại học California State University, Sacramento,
    • Niên khoá 2000-2002 KL tốt nghiệp Cao học tâm lý xã hội (socio- psychology), đại học California State University, Fullerton.

    Thêm một diễn biến mới: Sáu tháng sau ngày nhập học Yuba City College, Khánh Lan gặp Mạnh Bổng. Hai người giữ mối liên hệ bạn trai bạn gái suốt 5 năm trời. Đến tháng 8, 1980, hai người kết hôn. Hai năm sau, 1982, Khánh Lan sinh con gái đầu lòng Thiên Kim. Kết hôn với Mạnh Bổng quả thật cuộc đời Khánh Lan bay bổng rất mạnh!!! Với cuộc sống thăng tiến như thế, Khánh Lan đã:

    • 2 năm làm việc cho ngân hàng.
    • 12 năm làm việc cho chương trình Dịch vụ Hỗ trợ Tại gia. Đồng thời làm việc bán thời gian cho nơi tạm trú an toàn của Phụ nữ bị bạo hành trong gia đình, với tư cách là cố vấn tại trung tâm Fullerton và Tư vấn Khải Đạo cho người Nam Hàn, đồng thời là người hướng dẫn chương trình điều trị nạn nhân Bạo lực và chương trình điều trị ma túy.
    • 3 năm làm việc cho Chương trình Tư vấn cho Cư dân Châu Á Thái Bình Dương với tư cách là cố vấn, tiếp xúc với phụ huynh và hỗ trợ nhóm phụ huynh.
    • 18 năm làm việc cho Dịch vụ Bảo vệ Trẻ em với tư cách Nhân viên Xã hội cao cấp của phần vụ Ứng phó Khẩn cấp, phần vụ bảo vệ nạn nhân Bạo hành Gia đình và phần vụ Bảo trì Gia đình.

    Sau 35 năm làm việc, KL nghỉ hưu vào năm 2018.

    Chương sách này viết về Khánh Lan, Đấng Sáng Tạo đã ban cho nhân vật chính của mình một sự thông minh, tế nhị, sự chịu đựng, lòng can đảm và nỗ lực tuyệt vời. Đây được xem là một trong những chương đẹp nhất của tác phẩm mang tên KHÁNH LAN, mặc dù có những lúc người Cán Sự Xã Hội Cao Cấp ấy phải trải qua rất nhiều khó khăn, nguy hiểm và lo sợ khi phải đương đầu với công việc hằng ngày, nhất là trong thời gian làm việc ở cơ quan chống lạm dụng trẻ em và Ứng cứu khẩn cấp, là những cơ quan mà phần lớn phụ nữ Á Đông không dám làm vì phải chịu nhiều căng thẳng, phải ra quyết định, phải tách rời trẻ em khỏi gia đình mà các em bị lạm dụng, phải đối phó với bệnh viện, đối diện với cái chết của một đứa trẻ, đối đầu với nạn ma túy, với thành viên của các băng nhóm v.v…, phải viết báo cáo hầu như mỗi ngày và phải ra tòa khi cần thiết.

    Một chương khác trong tác phẩm mang tên KHÁNH LAN cũng đẹp không kém là chương Khánh Lan tham gia sinh hoạt văn học nghệ thuật với những thành tích rực rỡ:

    • Những sinh hoạt trong các lãnh vực Vũ nghệ thuật (arts choreography), thi ca, biên khảo văn học, tham luận văn chương, truyện ngắn, hồi ký, văn tạp ghi và kịch nghệ Song ngữ Việt Anh.
    • Trưởng Nhóm Văn Học & Nhóm Vũ Nghệ Thuật của Liên Nhóm Nhân văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, cộng tác trong ban biên tập các tổ chức văn học: Việt Media, Văn Học Mới, Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.
    • Được vinh danh trong số 100 tác giả văn hóa Việt Nam trong quyển Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại (NKMVHVNHN) của Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris.
    • Cộng tác trong ban biên tập các tổ chức văn học: Tác phẩm phổ biến trên báo chí, internet, và chủ đề văn học hoặc thi ca trên tạp chí Việt Media, Chim Việt Cành Nam, Tuổi Trẻ online, CLB Văn Hóa Paris, Văn Học Mới, Saigon Time, Ninh-hoa.com, trang web ledinh.ca, Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, vùng Nam Hoa Kỳ.

    Kính thưa quý vị, Thưa các chị, các anh, Đấng Sáng Tạo vẫn còn tiếp tục viết những chương kế tiếp của tác phẩm mang tên KHÁNH LAN. Tác phẩm chưa chấm dứt, nhưng cá nhân tôi tiên đoán đây là một tác phẩm có hậu, HAPPY ENDING. Chúng ta hãy chờ xem Ngài còn viết những gì. Trăm lời nói không bằng một lần nhìn, tôi xin được phép giới thiệu tác phẩm KHÁNH LAN do Đấng Sáng Tạo sáng tác, bằng xương bằng thịt: NHÀ VĂN KHÁNH LAN.

    Khánh Lan

    Diễn giả thứ hai là GS Trần Huy Bích, bài diễn văn của ông ngắn gọn nhưng rất đầy đủ và nói lên được giá trị nội dung của tác phẩm cũng như phong cách viết văn của tác giả, phương cách nhận định giá trị và nội dung của tác phẩm, Khánh Lan xin tóm tắt như sau: 

    “Kính thưa các bậc trưởng thọ, kính thưa các thân hữu,

    Tôi được trao nhiệm vụ nói về 2 tác phẩm trong 4 tác phẩm của chị Khánh Lan. Đó là Đôi nét về 10 tác giả Âu Mỹ cận đại và Tuyển tập truyện trinh thám: Thám tử Lê Minh. Trong tác phẩm Đôi nét về 10 tác giả Âu Mỹ cận đại, bài đầu tiên là bài tóm tắt về Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh. Đây là cuộc tranh luận tại Việt Nam từ năm 1930 của hai nhà văn Hải Triều và Hoài Thanh về nghệ thuật phục vụ nghệ thuật và nghệ thuật phục vụ về cuộc đời. Đây là cuộc thảo luận gay go trước năm 1945, chị Khánh Lan đã tóm lược một cách đầy đủ, kỹ càng và ghi nhận được những điểm chính của cuộc tranh luận đó. Đây là một sự thành công. Sau đó tác giả trình bày về sự nghiệp và cuộc đời của10 tác giả Tây phương cận đại trong đó có 4 tác giả người Pháp là Victor Hugo, Alexandre Dumas, Marcel Proust và André Gide. Chị đã đặc biệt để ý đến 2 cuốn là “Khung Cửa Hẹp-La Porte E1troite” và “Đi tìm thời gian đã mất-À la Recherche du Temps Perdu”, chị say mê 2 cuốn đó. Ngoài ra những tác phẩm còn lại là 3 tác giả Mỹ, 1 Nga, 2 Đức. Đây là những tác giả quan trong của văn học thế giới, chị đã làm đầy đủ, chị đọc rất kỹ, chị tóm được các điểm chính đặc sắc của tác giả.

    GS Trần Huy Bích

    Đứng về phương diện văn học, những nhận xét của chị có lương tâm, chu đáo, chị đã thành công, chúng tôi không thấy khuyết điểm gì. Quyển thứ nhì là quyển truyện trinh thám, Thám Tử Lê Minh gổm 13 truyện. Truyện cuối cùng nói về cuộc đời của tác giả Lê Minh. Điều đặc biệt thì Lê Minh không phải là một nam thám tử mà là một nữ thám tử, có lẽ vì tác giả là một nữ tác giả nên đã tạo nên một nhân vật nữ với những đặc điểm của mình. Truyện của Khánh Lan khiến người đọc thích thú, vui vẻ, hấp dẫn và mến nhân vật trong truyện. Nên theo quan niệm của tôi, Khánh Lan đã thành công trong tập truyện Tuyển tập truyện trinh thám: Thám Tử Lê Minh. Nhất định chị Khánh Lan là một nhà văn.

    Tóm lại, đứng về lãnh vực biên khảo, Khánh Lan thành công trong tập truyện về các nhà văn trên thế giới: Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại. Đứng về phương diện giải trí, Khánh Lan thành công trong truyện trinh thám: Thám Tử Lê Minh. Tôi xin chúc mừng chị Khánh Lan, anh Mạnh Bổng, chúc mừng tất cả của nghệ thuật viết văn. Xin kính chào.

    Mabel, Stephen, Thiên Kim, Mạnh Bổng, Khánh Lan,
    Vy Hương và NT Việt Cường.

    Và sau cùng là bài diễn văn của nhà báo kiêm nhà văn Trần Phong Vũ, bài diễn văn của ông thật hùng hồn và có lẽ đã thu hút được hầu hết các khán giả tham dự buổi RMS hôm ấy. Khánh Lan xin ghi lại tóm tắt phần lớn bài diễn văn của ông như sau.

                “Khánh Lan, đây là ngày đầu tiên tôi được gặp cô, mặc dầu cô đã liên lạc với tôi có lẽ từ nửa năm qua và đã gởi qua máy vi tính cho tôi 2 đến 3 lần cái bản thảo và bản layout quyển truyện dài: Dĩ vãng khôn nguôi và quyển truyện ngắn: Tình yêu, cuộc đời và định mệnh để tôi dễ đọc hơn. Ngày hôm nay tôi đến đây như một sự chia sẻ về một người trẻ, một khuôn mặt mà phải nói rằng phải “Dấn thân” lắm. Đúng, phải là một con người có một cái ý chí đặc biệt mới có thể đi vào một lãnh vực, phải nói là rất là khó chứ không phải dễ. Nhưng ngày hôm nay tôi xin thưa, tôi hoàn toàn đồng ý với GS Trần Huy Bích, vì sau khi tôi đọc xong hai tác phẩm này, không phải chỉ một lần, mà nhiều lần. Bởi lẽ mỗi một lần nhận được bản mới, tôi nghĩ là nó phải có những thay đổi, mà có những thay đổi thật và chính nhưng thay đổi đó nó đã đánh giá cô Khánh Lan rất cao. Bởi vì khi làm một công việc gì cũng vậy, ngoài cái tài thiên phú ra, cái sự chăm chỉ, sự phục thiện để mà lắng nghe lời nói của một người khác là rất quan trọng và cô đã có các đặc điểm đó. Trong suốt thời gian tiếp xúc với cô qua điện thoại hoặc email, cô vẫn có được một sự kính trọng đối với tôi, mặc dầu cô chưa biết tôi là ai.

    NV Trần Phong Vũ

    Bây gì tôi xin được nói về tác phẩm truyện ngắn trước khi nói đến tác phẩm truyện dài. Đúng ra, tôi phải đi vào từng chi tiết của mỗi câu truyện để hiểu rỏ tác phẩm ấy nói gì. Tuy nhiên, tôi chỉ hiểu rõ một điều này, khi viết truyện ngắn, cái khó nhất của viết truyện ngắn là đoạn kết. Nếu mà đoạn kết thất bại thì coi như là bỏ hết, vứt đi. Cái kết có thể là “happy ending” hay là một hình thái gì đó để mà đưa ra một cái kết. Ở đây, tôi nhận thấy cô chọn lựa rất đặc biệt cho cái kết trong những truyện ngắn của cô cũng như qua một vài đoạn khi cô nói về mình ở trong phần tâm sự hay là lời cám ơn. Có rất nhiều những dữ kiện trong cuộc đời của cô, nhất là những kiến thức của cô, những cái gì mà cô đã học được của nhà trường, những gì cô đã thực tập khi cô làm thày dậy người ta hay là thực tế lao đầu vào những công việc hiểm nguy. Thế thì cái vấn đề là cô ấy đã làm gỉ với những kiến thức ấy, tôi phải nói là nhiều những truyện ngắn trong sách, cô đã mang những suy nghĩ, những kiến thức của cô, tấm lòng của cô, cái đặc biệt của một tấm lòng yêu thương con người, say mê với công việc của mình. Thành ra tôi vẫn tin tưởng rằng, với một người như vậy khi bước vào văn chương cũng mang tấm lòng đó vào và sẽ thành công và sự thành công đó là ngay trong những tác phẩm truyện ngắn. 

                Như tôi đã đề cập lúc đầu là cái kết thúc rất quan trọng, thì ở điểm này cô Khánh Lan đã thành công. Tôi nhận thấy, thứ nhất là cô có cái khuynh hướng rõ ràng là cô thích có một cái “happy ending” cô muốn có một kết thúc tròn đầy. Đó là con người của cô, một con người yêu thương, một con người mà chỉ muốn mọi chuyện xảy ra tròn vẹn, không phải cho mình mà cho mọi người. Vì vậy khi cô gửi vào những nhân vật có thực trong tác phẩm truyện ngắn. Tuy vậy, trong một vài truyện, tôi đã nhìn thấy vì một lý do gì đó cô phải đưa ra một “ending” khác, nhưng hầu hết đều gọn ghẽ, rất đầy đủ, chỉnh chu như cô đã trả lời NV Việt Hải về cái bố cục của một câu truyện, một quyển sách như thế nào rất là chính xác. Với tư cách là một người đã từng dậy quốc văn, tôi thấy cái quan niệm đó, cái nhìn đó, cái mà cô đã cố gắng đi theo con đường văn chương. Đây chính là một cái chìa khóa để mở cho cô đi vào sự thành công, không phải chỉ có ngày hôm nay với 4 cuốn sách này, mà sẽ còn nữa trong tương lai như lời sự ước ao của GS Trần Huy Bích.

    Thế thì, cái điểm chính ở đây là cô rất thành công như trong tác phẩm truyện ngắn, như truyện “Hạnh Phúc Trở Về”. Cô có thể kết thúc ngay lúc mà người con trai của cặp vợ chồng rất là hạnh phúc đã chết trong một hoàn cảnh tức tưởi, đồng thời nó cũng đưa ra một sự cảnh giác cho những người cha mẹ chỉ lo làm ăn mà quên đi đứa con của mình bị bệnh tự kỷ. Cái điểm này cũng nằm trong ngành học chuyên môn của cô, cô đã ứng dụng vào truyện rất là đúng. Cuối cùng, cô đã có một cái kết rất hay mà quý vị về đọc truyện này sẽ có một cảm nhận giống như tôi. Trong truyện “Nỗi Cô Đơn Trong Biển Tình” cũng thế, cô đã biết cách lợi dụng đại dịch Covid 19 để hàn gắn lại một mối tình tưởng chừng tan biến.

                Nói về tác phẩm truyện dài “Dĩ Vãng Khôn Nguôi” tôi cho rằng đây là một tác phẩm được dàn dựng rất công phu về phần nội dung của cốt truyện. Tác phẩm ghi lại những cảm xúc của tác giả khi rời xa quê hương trong vội vã cũng như sự ngỡ ngàng, niềm xúc động khi đứng trước những đổi thay của đất nước. Bởi vậy, tôi đưa ra kết luận như sau: Tác giả đã dùng rất nhiều thời gian để nghiên cứu về những thắng cảnh, nhất là cô đã cung cấp hình ảnh đầy đủ về những thành phố mà cô đã đi qua khi về thăm lại quê hương Việt Nam sau 20 năm viễn xứ. Tóm lại, cô đã thành công về lãnh vực sáng tác truyện dài và truyện ngắn, chúc mừng cô Khánh Lan.

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Sự thành công của Khánh Lan ngày hôm nay là do sư đóng góp của quý Thày Cô và các bạn bè đã đưa đến cho Khánh Lan một buổi ra mắt sách hoàn hảo. Xin ghi lại đây lòng cảm ơn chân thành của Khánh Lan và cũng xin ghi nhớ mãi ngày vui hội ngộ hôm nay.

    Khánh Lan, California, Sept. 26, 2021

    Gia đình tôi: Mạnh Bổng & Khánh Lan
    Mabel, Khánh Lan, Stephen, Thiên Kim
  • Khánh Lan,  Tin tức

    Nhà văn Khánh Lan ra mắt một lúc 4 tác phẩm (Bài của Ký Giả Thanh Phong)

    Nhà văn Khánh Lan tươi cười chào đón quan khách tham dự.
    (Thanh Phong/Viễn Đông)

    WESTMINSTER – Giữa thời đại của internet, nhiều người nghĩ rằng sách, báo không còn được nhiều người đọc như xưa, nhưng hôm Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2021, vừa qua nhà văn Khánh Lan đã tổ chức ra mắt một lúc bốn tác phẩm: Dĩ Vãng Khôn Nguôi, Tuyển Tập Truyện Ngắn, Tuyển Tập Truyện Trinh Thám Thám Tử Lê Minh, và Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại được đông đảo giáo chức, nhà văn, nhà thơ và thân hữu đến tham dự và nhiệt tình đón nhận các tác phẩm, chứng tỏ suy nghĩ trên chưa hẳn đã đúng.

    Trong các buổi ra mắt sách của nhiều nhà văn, nhà thơ chúng tôi có dịp tham dự trước đây, ít thấy có tác giả nào ra mắt một lúc bốn tác phẩm và có được sự hiện diện của đông đảo quý vị giáo sư, nhà văn, nhà thơ, nhà báo được kính nể và yêu mến như buổi ra mắt sách của Khánh Lan.

    Các giáo sư Trần Huy Bích, Lê Văn Khoa, Dương Ngọc Sum, Quyên Di, Đỗ Bằng Lăng, các nhà văn, nhà báo Nguyễn Quang, Việt Hải, Dương Hồng Anh, Vương Trùng Dương, Nguyễn Văn Liêm; Việt Cường, Lê Nguyễn Nga, Kiều My, Kiều Mỹ Duyên, Vi Khiêm, Hà Nguyên Du là những tên tuổi mà cộng đồng người Việt tại Nam California không ai không nghe biết.

    Ngoài ra còn có rất đông bạn bè thân hữu của Khánh Lan trong Nhóm Vũ Phù Sa, các bạn trong lớp Piano online của Dr. Bằng Lăng, nhóm bạn từ cơ quan Orange County Children Protective Services, một số cựu sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt và Võ Khoa Thủ Đức cùng một số bạn đến từ Denver Colorado, Valencia, Sacramento, không ai đến với Khánh Lan mà không cầm trên tay bốn tác phẩm khiến tác giả phải một phen ký chữ ký mỏi tay.

    Buổi ra mắt sách của nhà văn Khánh Lan được chuẩn bị, sắp xếp chu đáo trong một Studio ấm cúng ngay góc ngã tư McFadden – Brookhust, Westminster City. Ban tiếp tân ân cần niềm nở đón tiếp khách tham dự. Cô Mộng Thủy và Bích Trâm, hai MC duyên dáng đã điều hợp chương trình cách linh hoạt và khéo léo khiến buổi ra mắt bốn tác phẩm bắt đầu từ 12 giờ 30 trưa đến 4 giờ 45 chiều mới kết thúc mà ít ai ra về sớm.

    Mở đầu có nghi thức chào quốc kỳ Quốc Gia Việt Nam, Hoa Kỳ và phút mặc niệm. Sau đó Mộng Thủy giới thiệu đôi nét về nhà văn Khánh Lan, “Khánh Lan tốt nghiệp văn bằng Cử Nhân Kế Toán Quản Trị tại California State University, Sacramento năm 1980 và Cao Học Tâm Lý Xã Hội tại California State University, Fullerton năm 2002. Cô hiện là Trưởng Nhóm Văn Học & Nhóm Vũ Nghệ Thuật của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, được vinh danh trong số 100 tác giả văn hóa Việt Nam trong quyển “Những khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải ngoại” của CLB Văn Hóa Paris. Ngoài ra, cô còn cộng tác trong ban biên tập các tổ chức văn học: Tác phẩm phổ biến trên báo chí, internet, và chủ đề văn học hoặc thi ca trên tạp chí Việt Media, Chim Việt Cành Nam, Tuổi Trẻ online, CLB Văn Hóa Paris, Văn Học Mới, Saigon Time, Ninh-Hoa DOT Com, www.ledinh,ca, Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa và Hội Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ.”

    Các giáo sư, nhà văn, nhà thơ tham dự buổi ra mắt sách của nhà văn Khánh Lan.
    (Thanh Phong/Viễn Đông)

    Sau phần giới thiệu tác giả, MC Mộng Thủy mời nhà văn Việt Hải lên đặt một số câu hỏi với tác giả Khánh Lan về vai trò của nhà văn, mô thức viết văn thế nào? Tác giả Khánh Lan đã dùng cơ hội này cảm tạ các nhà văn, nhà giáo đã nhận lời làm diễn giả cho buổi ra mắt sách hôm nay cũng như đã viết Lời Tựa giới thiệu các tác phẩm của Khánh Lan. Cô cũng không quên đặc biệt cám ơn phu quân Mạnh Bổng và hai người con Thiên Kim & Stephen đã cho Khánh Lan niềm hãnh diện để hoàn tất các tác phẩm và có lẽ không thiếu sót người nào, từ các vị cố vấn kỹ thuật đến người góp ý, các bạn bè và thân hữu tham dự mà cô không quên cám ơn.

    Sau lời cảm tạ và trả lời nhà văn Việt Hải, Khánh Lan nhận được những bó hoa tươi thắm từ nhà thơ Việt Cường, phu quân Mạnh Bổng, MS Mabel Chong, chị Vy Hương, hai cháu Thiên Kim và Steven trao tặng. Ngoài tài viết văn, làm thơ, Khánh Lan còn sáng tác một số nhạc phẩm và bản “Ngày Vui Hội Ngộ” đã được nhạc sĩ Hạ Đỏ Bích Phượng phổ nhạc và MC Bích Trâm giới thiệu ban hợp ca Tiếng Thời Gian trình bày để mọi người thưởng thức.

    Diễn giả đầu tiên là giáo sư Quyên Di, ông nói về tiểu sử tác giả. Giáo sư Quyên Di là vị giáo sư ngôn ngữ học và văn hóa Việt Nam. Trước năm 1975, ông là tổng thư ký tờ báo Tuổi Hoa, chủ bút tờ báo Ngàn Thông. Ông dạy tại một số trường trung học nổi tiếng tại Saigon và là Phó Giám Đốc Ban Tiêu Thủ tại Viện Đại Học Đà Lạt. Tại Hoa Kỳ, GS Quyên Di là người tiên phong trong phong trào dạy tiếng Việt cho các em tại các Trung Tâm Việt ngữ. Ông là giáo sư tại trường đại học University of California, Los Angeles (UCLA) và California State University Long Beach (CSULB), ông cũng là một nhà văn, nhà thơ và là cố vấn văn học của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.

    Kế tiếp, ca sĩ Ngọc Quỳnh ngâm hai bài thơ do nữ sĩ Dương Hồng Anh sáng tác tặng nhà văn Khánh Lan. Diễn giả thứ hai, giáo sư Trần Huy Bích, ông đậu Cử Nhân Văn Chương và Hán Học tại Viện Đại Học Saigon; Cao Học Tiến Sĩ về Giáo Dục và Chính Trị Đối Chiếu tại Hoa Kỳ. Giáo sư dạy học từ năm 1957 và cuối cùng là Phân Khoa Nhân Văn thuộc Văn Hóa Vụ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Tại Hoa Kỳ, giáo sư Trần Huy Bích là Phó Giám Đốc phụ trách chương trình hướng dẫn và huấn nghiệm cho sinh viên ngoại quốc tại Pasadena, Quản Thủ Thư Viện trong chương trình ASIA và phụ tá quản thủ thư viện phụ trách các tài liệu giáo dục Á Châu và Trung học, cố vấn văn học Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Giáo sư Trần Huy Bích trình bày “Những ý nghĩ về Văn Học và Tuyển Tập Trinh Thám: Thám tử Lê Minh.”

    Diễn giả thứ ba, nhà văn Trần Phong Vũ, trình bày về hai tác phẩm Truyện Dài, Dĩ Vãng Khôn Nguôi và Tuyển tập Truyện Ngắn: Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh. Nhà văn Trần Phong Vũ sáng lập Tủ Sách Tiếng Quê Hương và bình luận trên chương trình của Đài Phát Thanh Quốc Gia VNCH từ năm 1957, tổng thư ký nhiều tờ báo miền Nam VN trước 1975, giáo sư văn chương đệ nhị cấp tại các trường Thủ Khoa, Hưng Đạo, Nguyễn Bá Tòng, Lasan Taberd. Ông đoạt Giải Nhất của Văn Hóa Vụ Bộ Thông Tin VNCH năm 1956 với “Mùa Hợp Tấu,” một tác phẩm trường ca “Tâm Bút Niềm Đau Của Huế” đăng hàng ngày trên nhật báo Sóng Thần (1972-1973). Sau năm 1975 định cư tại Cali ông tiếp tục cầm bút chủ trương tờ Đường Sống, Diễn Đàn Giáo Dân, hợp tác trong nhiều chương trình bình luận thời sự, văn học trên các đài truyền hình. Xen kẽ vào các lời phát biểu của các diễn giả là chương trình văn nghệ đặc sắc do nhiều ca nghệ sĩ trình diễn được mọi người nồng nhiệt tán thưởng.

    Nhà văn Khánh Lan ký tặng sách cho nhà văn Vương Trùng Dương.
    (Thanh Phong/Viễn Đông)

    Ngoài ba diễn giả đầy kinh nghiệm về văn chương thơ phú vừa nêu, bốn tác phẩm của Khánh Lan đã được các nhà văn, nhà thơ, nhà báo nổi tiếng giới thiệu trong những trang đầu mỗi tác phẩm. Trong cuốn Dĩ Vãng Khôn Nguôi gồm 13 chương với những mẫu chuyện về dĩ vãng khó quên được nhà văn Nguyễn Quang (phu quân cố văn thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh), nhà văn Ngọc Cường, nhà thơ Việt Cường và nữ sĩ Dương Hồng Anh viết lời giới thiệu, nữ sĩ Dương Hồng Anh là cháu nội của cố văn thi sĩ nổi tiếng Dương Khuê, bà là em họ nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và là chị họ của khoa học gia Dương Nguyệt Ánh. Nữ sĩ Dương Hồng Anh làm thơ từ năm 13 tuổi, đến nay bà đã xuất bản nhiều tập thơ giá trị, đóng góp cho nền văn học nước nhà. Trong lời giới thiệu, nữ sĩ Dương Hồng Anh viết tặng Khánh Lan hai bài thơ “Chúc Mừng Khánh Lan” và “Tháng Chín Mùa Thu.”

    Nhà văn Nguyễn Quang, sau lời giới thiệu rất mặn mà, viết, “Sự thành công của cốt truyện là sau khi đọc xong, độc giả buông quyển sách xuống nhưng vẫn còn thổn thức trong câu chuyện…”

    Tuyển Tập Truyện Ngắn gồm 10 mẫu truyện về cuộc đời, hạnh phúc, sự thủy chung và định mệnh cuộc đời được giáo sư Dương Ngọc Sum, nhà văn, nhà báo Vương Trùng Dương và nữ sĩ Dương Hồng Anh viết lời giới thiệu, trong đó ký giả Vương Trùng Dương một cây viết lão luyện trong làng báo Việt hải ngoại viết cảm nghĩ của ông về tác phẩm Tuyển Tập Truyện Ngắn “Tuyển Tập Truyện Ngắn của Khánh Lan được sáng tác và hoàn thành trong mùa đại dịch Covid -19 năm 2020. Sống trong cơn dịch bệnh, chết sống khó lường, chết trong cô đơn, người thân ngậm ngùi vĩnh biệt. Thân phận con người quá mong manh, bé nhỏ trước mắt với hư vô và cát bụi! Có lẽ cảm nhận từ nỗi đau. Trăn trở của cuộc sống, Khánh Lan mang tâm cảm đó để gợi lại hình ảnh 45 năm về trước, mất nước, chia lìa, tang tóc…mới đưa đẩy con người vào vòng xoáy, biến thiên của cuộc đời!”

    Tác phẩm thứ ba Tuyển Tập Truyện Trinh Thám – Thám Tử Lê Minh gồm 13 câu chuyện trinh thám với nhân vật chính: Thám tử Lê Minh. Sách được hai nhà văn Dương Viết Điền và Việt Hải viết lời giới thiệu, một đoạn trong lời giới thiệu, nhà văn Dương Viết Điền viết “Tuyển Tập Trinh Thám” của nhà văn Khánh Lan đã trở thành bất hủ trong nền văn chương Việt Nam hải ngoại hiện nay, đặc biệt về những truyện trinh thám. Điểm qua 13 truyện trinh thám trong tác phẩm này, truyện nào cũng thật hấp dẫn khiến độc giả đọc đến say mê, Càng đọc càng thấy hồi hộp đến sởn tóc gáy, nổi da gà…” Tác phẩm thứ tư: Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại, sách được giáo sư Trần Huy Bích viết lời giới thiệu rất chi tiết, trong đó có đoạn. “…Khánh Lan, Trưởng Nhóm Văn Học của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã làm việc một cách tích cực, cẩn trọng và công phu. Cuốn sách cung cấp những hiểu biết căn bản và hữu ích về mười văn hào quốc tế nổi danh cùng những tác phẩm chính yếu của họ. Tôi hân hoan giới thiệu tới những ai muốn biết rộng thêm về văn học thế giới trong vị thế của một người Việt Nam.”

    Bốn tác phẩm của nhà văn Khánh Lan ra mắt sách ngày 19.9.2021.
    (Thanh Phong/Viễn Đông)

    Viễn Đông đã được một số giáo sư, nhà văn cho biết nhận xét về tác giả Khánh Lan và bốn tác phẩm:

    Ký giả Kiều Mỹ Duyên: “Cô Khánh Lan viết có cái tâm rất là cảm động, cô học về khoa học toán và cũng học về triết học nên cái nhìn của cô có sự hòa hợp giữua thực tế và triết học; cô làm văn nghệ và có trái tim nhân hậu, mong rằng cô sẽ còn viết nhiều hơn.”

    Nữ sĩ Dương Hồng Anh: “Hôm nay là ngày ra sách của văn sĩ Khánh Lan, cô là một người tôi rất quý mến, lúc nào cũng vui tươi, hiền hậu. Cô ra bốn quyển sách hôm nay tôi rất mừng, tôi xin chúc mừng cô thành công hôm nay và tôi nghĩ bà con mình ở Little Saigon ai cũng biết cô Khánh Lan là người vừa tài, vừa sắc, rất là quý hóa thành ra chúng tôi đến hôm nay để chúc mừng cô thành công.”

    Giáo sư Quyên Di: “Cô Khánh Lan là một cây bút mới nhưng đầy năng lực. Chúng ta thấy rằng không thể tưởng tượng được, đầu tiên cô ra mắt sách mà ra mắt một lúc bốn tác phẩm. Điều đó làm tôi rất ngạc nhiên và cũng cảm thấy kính phục cô, mà cô viết bốn tác phẩm thuộc thể loại khác nhau cho thấy cô có sức sáng tác và cái đầu óc để làm công việc văn học rất là dồi dào”.

    Sau tất cả các tiết mục trong chương trình đã thực hiện trọn vẹn, vào lúc 4 giờ 45 chiều, MC Mộng Thủy thay mặt tác giả và ban tổ chức cảm tạ mọi người và tuyên bố bế mạc. Mọi người ra về với bốn tác phẩm trên tay và vẫn còn nghe tiếng nhà văn Nguyễn Quang nhắn nhủ, “Chúng ta có thể chờ đón các tác phẩm tương lai của Khánh Lan, vì Khánh Lan còn quá trẻ và vấn đề xã hội thì sẽ còn có bao nhiêu chuyện ly kỳ và lý thú để cô viết tiếp.”

    Thanh Phong

    California, Sept. 23, 2021



  • Khánh Lan,  Tin tức

    Vài Nét Về Khánh Lan và Ngày Ra Mắt Sách

    Trong những tia nắng vàng nhạt của đầu mùa Thu chiếu rọi xuống vùng Little Saigon, nam California, tại NT Studio trên đường Brookhurst góc McFadden đã diễn ra buổi Ra Mắt 4 cuốn Sách đầu tay của Khánh Lan. Tôi đã tham dự nhiều RMS tại vùng Quận Cam, nhưng chiều RMS của Khánh Lan vào ngày Chủ Nhật 19 tháng 9, 2021, khá đặc biệt vì tính cách thân tình của nó, có lẽ vì hầu hết những khán giả ngồi bên dưới đều là thân hữu quen biết nhau từ trước, nên vừa mới gặp, những khuôn mặt tươi vui đã bắt tay nắm tay nhau mừng rỡ, chuyện trò rôm rả, và chụp hình mệt nghỉ. Nhiều người tâm sự có lẽ gần hai năm nay mới gặp lại nhau. 

    Có lẽ cũng theo truyền thống “đám cưới“, “hội họp” nên giờ khai mạc đã lui đến gần hai tiếng mới thấy khán giả đến ngồi kín các hàng ghế. Tôi đến sớm và dự định sẽ ghé qua mua một cuốn cô viết về mười tác phẩm hiện đại rồi sẽ rút lui lặng lẽ vì còn nhiều việc linh tinh chưa làm, thế mà tôi cũng không ngờ rằng tôi đã ở lại đến giờ phút chót vì thấy RMS có ý nghĩa và chương trình văn nghệ rất chọn lọc với những ca sĩ tài tử mà hát hay không thua gì ca sĩ thực thụ. Các dòng nhạc của Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Ngô Thụy Miên, và Đoàn Chuẩn-Từ Linh, đã cuốn hút khán giả về một thời xa xưa nào đó khi mình còn hạnh phúc bên những người thân yêu tại miền Nam và Sài Gòn ngày trước, qua các giọng hát truyền cảm của Minh Ngân, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Thụy Lan, Tammy Minh Tâm, Trâm Anh, Mạnh Bổng, Bùi Quỳnh Giao, Đạt Tiêu, Đào Minh Tâm và Nhóm Vũ Tiếng Thời Gian. Có nhiều ca sĩ tâm sự rằng chưa hề lên sân khấu lần nào, vậy mà cô đã hát rất thành công không ngờ, hoặc đang dọn nhà mệt quá mà mến Khánh Lan nên cố gắng lên hát, nhưng cô cũng không ngờ đã đem lại nhiều cảm xúc cho khán giả.

    Hợp Ca Tiếng Thời Gian
    Ái Liên, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh
    Bích Trâm, Minh Ngân, Hồng Quyên
    Tammy Minh Tâm, Trâm Anh, Thụy Lan

    Hai MC Mộng Thủy và Bích Trâm đã điều khiển chương trình thật khéo léo, uyển chuyển và linh hoạt. Ba diễn giả Quyên Di, Trần Huy Bích và Trần Phong Vũ đã trình bầy được những điểm khán giả cần biết về Khánh Lan và về bốn tác phẩm đầu tay của cô, cũng như nguyên nhân động lực nào giúp cô hoàn thành được chỉ trong thời gian ngắn cả bốn tác phẩm. Phần mở đầu trong chương trình là đối thoại giữa anh Việt Hải (con chim đầu đàn của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian/NVNT & TTG) với Khánh Lan đã cho thấy sự yểm trợ của anh Việt Hải và nhóm cho Khánh Lan trong thời gian viết lách, và sự đóng góp không nhỏ của Khánh Lan cho nhóm NVNT & TTG kể cả trong lĩnh vực văn nghệ và ca vũ.

    Nhóm Vũ Tiếng Thời Gian

    Một điều làm cho khán giả đến gần với tác giả hơn là chủ trương của Khánh Lan là viết để phục vụ nhân sinh chứ không phải phục vụ nghệ thuật, và điều này cô đã thể hiện bàng bạc và nhiều chỗ cụ thể trong bốn tác phẩm của cô bao gồm: “Vài Nét về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại”- “Dĩ Vãng Khôn Nguôi” – “Tuyển Tập Truyện Ngắn: Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh” – và cuốn thứ tư là “Thám Tử Lê Minh”. Trong Dĩ Vãng Khôn Nguôi là niềm hối tiếc về những dĩ vãng một thời thân yêu nay không còn nữa và chúng ta không thể trở về để sống và tìm lại dĩ vãng một lần nữa. Trong cuốn thứ ba, Khánh Lan cho rằng Tình Yêu là cái gì chúng ta có thể chọn lựa, nhưng Cuộc Đời và Định Mệnh là cái gì chúng ta không chọn được, như ngoài tầm tay, như đã định sẵn, mà chúng ta phải chấp nhận.

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Chương trình dự trù kết thúc lúc 4:30 giờ chiều nhưng kéo dài mãi đến gần 5 giờ rưỡi mới tan hàng sau khi ban tổ chức và khán giả thân hữu đã dành đến mười lăm phút để chụp hình lưu niệm. Mọi người ra về trong sự quyến luyến về tình bạn, tình thân hữu, về tình người sau buổi chiều RMS hiếm hoi tại Quận Cam vì tình hình dịch bệnh – khi một lần nữa mùa Thu lại về trên miền nắng ấm nam California với những cơn gió bắt đầu se se lạnh.

    Phạm Gia Đại

    20 Sept., 2021

    MỜI VÀO XEM CUỘC PHỎNG VẤN CỦA KHÁNH LAN VỚI PHẠM KHANH, ĐÀI LITTLE SAIGON TV.

    VÀ VIDEO CỦA NGÀY RA MẮT SÁCH.

    Lời Cảm Tạ

    Kính thưa Quý Giáo Sư, Các Văn, Thi, Ca, Nhạc Sĩ, các Nhà Báo, Ký Giả, Nhiếp Ảnh Gia, Các anh chị em, bạn bè và thân hữu,

    Trước hết, Khánh Lan xin mượn “email” này để gửi lời cám ơn đến GS Trần Huy Bích, GS Quyên Di, NB kiên NV Trần Phong Vũ đã nhận lời làm diễn giả cho buổi RMS của Khánh Lan ngày 19 tháng 09, 2021. GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải, NV Nguyễn Quang, NV Ngọc Cường, NV Vương Trùng Dương, NV Dương Viết Điền đã viết lời tựa cho sách. NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, NV kiên NB Kiều Mỹ Duyên, NV Vi Khiêm, NT Việt Cường, GS cố vấn Kỹ thuật, Phạm Hồng Thái đã khuyến khích, góp ý cho 4 tác phẩm đầu tay của Khánh Lan. Khánh Lan cám ơn các nhà văn, các thi sĩ, các nhà báo Thanh Phong, Đài truyền hình Little Saigon với anh Phạm Khanh và Saigon TV với Minh Trương đã đến phỏng vấn và viết phóng sự. Các Nhiếp Ảnh Gia: Nguyễn Thiều Minh, Lê Hùng, Phú LeVan đã chụp những tấm hình lưu niệm tuyệt mỹ. Các bạn bè đã đến chung vui, ủng hộ và gởi lời chúc mừng tới Khánh Lan.

    Khánh Lan đặc biệt cám ơn anh Mạnh Bổng, hai con Thiên Kim & Stephen, ba bố con đã đặt lòng tin tưởng và cho Mẹ niềm hãnh diện để hoàn tất tác phẩm đầu tay. Vy Hương, người em song sinh và người bạn tâm đắc Thanh Châu đã hỗ trợ tinh thần cho Khánh Lan trong suốt thời gian qua. Cháu Andrea Tú Anh đã giúp chụp hình, quay video và kết những đóa hoa hồng xinh đẹp cho Dì Khánh Lan. Keyboard  player, Anh Thọ Lâm đã giúp làm danh sách và ghi nhận bạn bè “order” thêm tác phẩm. Thu Dung, Ánh Nhật, Hoàng Giang, Tú Anh, Vee Hương đã giúp điều hành và phân  phối sách. Hạnh Nguyễn & Tuyết Nga giúp phối hợp phần ẩm thực cho buổi Ra Mắt Sách. Còn những ai nữa mà Khánh Lan không nhớ?

    Sau cùng, Khánh Lan cám ơn ông bà Susan và John Tạ đã bảo trợ cho buổi RMS và các mạnh thường quân, anh Ngô Thiện Đức, Vi Anh, GS Quyên Di, NS Dương Hồng Anh, NV Kiều Mỹ Duyên, NT Yên Sơn, NV Dương Viết Điền, Hoàng Giang, Thu Dung, Vee Hương, Thành Nguyễn, v.v… đã hỗ trợ tài chánh giúp in ấn tác phẩm của Khánh Lan. Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã gởi tặng hai bài thơ chúc mừng ngày Ra Mắt Sách của Khánh Lan. Nhạc Sĩ HạĐỏBíchPhượng đã giúp Khánh Lan hòa âm bài “Ngày Vui Hội Ngộ”. Ca Nhạc Sĩ Lâm Dung đã giúp hòa âm và hát trình diễn nhạc phầm “Xa Quê Hương” của Khánh Lan. Các Ca Sĩ: Hồng Quyên, Đắc Triều, Minh Ngân, Trâm Anh, Ái Liên, Ngọc Quỳnh, Huỳnh Anh, Thụy Lan, Đào Minh Tâm, Tammy Minh Tâm, Hùng Ngọc, Thanh Sơn & Hồng Mai. Hai MC khả ái Bích Trâm & Mộng Thủy cũng như NS Duy Nhật và Vương Trang đã bảo trợ cho chương trình âm nhạc ngày Ra Mắt Sách.

    Khánh Lan vô cùng cảm động khi nhận thấy sự hiện diện Dr. Đỗ Bằng lăng và các anh chị trong lớp nhạc online. Các người bạn thân quý, đã không quan ngại đường xá xa sôi từ Colorado, Sacramento, Valencia, Los Angeles: Hoàng Giang & Thu Dung, Budiawan, Mabel, Jennifer và Hamish. Các anh chị cựu sinh viên Kinh Thương Minh Đức: Chị Tố Đoan, anh Nguyễn Văn Viễn, anh Nguyễn An Ninh. Các bạn từ chương trình Child protective Services: Kim Phạm, Deanna & Trảm, Michelle Diễm Hồng, Hạnh Nguyễn, Tuyết Nga Lâm. Các bạn trong nhóm vũ Phù Sa ngày xưa và các anh chị em. Các bạn bè và thân hữu từ liên nhóm NVNT & TTG đã đến chia vui và hỗ trợ tinh thần cho Khánh Lan. 

    Những hỗ trợ, chúc mừng, giúp đỡ của Quý Giáo Sư, Các Văn, Thi, Ca, Nhạc Sĩ, các Nhà Báo, Ký Giả, Nhiếp Ảnh Gia, Các anh chị em, bạn bè và thân hữu cũng như sự hiện diện của quý vị là một khích lệ lớn cho Khánh Lan. Sự thành công trong ngày Ra Mắt sách của Khánh Lan cũng do những sự đóng góp một cánh tay của quý thân hữu. Nếu trong thư này có sự thiếu sót tên của các thân hữu, Khánh Lan thành thật xin lỗi.

    Một lần nữa Khánh Lan thành tâm cảm tạ.

    Khánh Lan

    California, Sept. 24, 2021

  • Tin tức

    Mốc chứng lịch sử: Đạo Công Giáo có ở việt Nam năm 1615. Quân Pháp đến Việt Nam năm 1858 (cách nhau 243 năm).

    Vi Khiêm Nguyễn văn Liêm & Nhóm Phóng viên Vận Hội Mới.

    Hình của Ký Giả Thanh Phong, Viễn Đông

    Không chỉ một số sử gia và nhiều người Việt Nam nghĩ rằng đạo Công Giáo tại Việt Nam bắt nguồn từ những Linh Mục người Pháp, mà ngay trong Giáo hội Pháp cũng có một số người nghĩ như vậy. Vào thời điểm tài liệu lịch sử khan hiếm, ý niệm trên cũng lan truyền trong nhân gian, tạo ra dư luận ác ý suốt thời gian khá dài: Công Giáo Việt Nam có liên hệ đến việc Pháp xâm chiếm nước Việt Nam. Thế nhưng lối suy nghĩ này đang được chuyên gia nghiên cứu lịch sử Việt Nam Roland Jacques (Dương Hữu Nhân) phản đối, bắt đầu từ bài tranh luận qua dạng lá thư gửi đến Hội đồng giám mục Pháp từ năm 1997.

    [1] Những năm gần đây, do tài liệu lịch sử dễ tiếp cận, những “ác ý” nói trên bị mai một theo thời gian. Bởi vì Đạo Công giáo có mặt tại Việt Nam từ thế kỷ 16 và được thiết lập vững chắc bởi các thừa sai Dòng Tên Bồ Đào Nha và Ý, từ trụ Dòng Tên tại Nhật Bản đến Việt Nam năm 1615 [2]. Mãi 243 năm sau, tháng 8 năm 1858, quân Pháp mới đổ bộ
    vào Đà-nẵng, Việt Nam. Đây là MỐC LỊCH SỬ RÕ RÀNG NHẤT, làm cho những ai có dụng ý muốn gán cho Công Giáo Việt Nam “tội rước Pháp xâm chiếm Việt Nam” phải xét lại định kiến sai lầm. Trong cuộc trao đổi với phái viên Vận Hội Mới tối 30/8/ 2021, Linh Mục Roland Jacques, Trưởng Khoa Giáo Luật Đại Học St Paul, Ottawa, Canada đã xác
    nhận những điểm quan trong thượng dẫn.

    Linh mục Roland Jacques (Dương Hữu Nhân),
    Phó Cáo Thỉnh Viên Án Phong Thánh Cha Trương Bửu Diệp. (Thanh Phong/ Viễn Đông)

    Roland Jacques, lấy tên Việt Nam là Dương hữu Nhân từ thập niên 80. Ông là người say mê văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Từ năm 1997, Roland Jacques (Dương Hữu Nhân) phản đối, bắt đầu từ bài tranh luận qua dạng lá thư gửi đến Hội đồng giám mục Pháp để chứng minh: Kể từ năm 1615, những giáo sĩ dòng Tên của tỉnh dòng Nhật Bản, tỉnh dòng có tính cách quốc tế trong việc tuyển chọn (nhân sự) và thuần túy Bồ Ðào Nha trong các mối lệ thuộc về mặt pháp lý.

    Giáo sư Roland Jacques, Trưởng khoa Giáo luật đại học St Paul, Ottawa, Canada  Tiến Sỹ Luật Khoa  Tiến Sỹ Giáo Luật,  Là người đã góp phần mình vào việc xây dựng hồ sơ và giúp cho chúng ta có được tên Anrê Phú Yên vào danh sách các vị Chân phước.  Trong hồ sơ Tuyên Thánh Linh Mục Phanxicoxavie Trương Bửu Diệp, LM Dương hữu Nhân
    được cử làm Cộng Tác Viên Ngoại Vụ, Bộ Phong Thánh tại Giáo Triều Roma. Nhân chuyến thăm Hội Yểm Trợ Án Tuyên Thánh Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, tại trụ sở của Hội 13962 Seaboard Circle, Garden Grove, California, Hoa Kỳ, Linh Mục Roland Jacques Dương hữu Nhân được mọi thành viên cùng một số Linh Mục và quan khách, đã dành cho Ngài một buổi tiếp đón trong không khí cầu nguyện thánh thiêng với tấm lòng ngưỡng mộ một người gốc Pháp yêu mến quê hương và Giáo Hội Việt Nam. Chính vì lý do này, cha Nhân, ngoài 9 ngôn ngữ khác trên thế giới, ngài đã cố gắng học để đọc, viết và nói chuyện bằng tiếng Việt một cách thành thạo, không thua gì những con dân Việt. Do tâm tình yêu mến quê hương Việt Nam, Linh Mục Roland Jacques đã chọn cho mình tên Việt là Dương hữu Nhân từ cuối thập niên 1980. Chính nhờ biết đọc, viết sành sỏi các ngôn ngữ như Hy lạp, Do Thái, La Tinh, Bồ Đào Nha, Ý, Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và cả tiếng Việt Nam . . .

    Hội Yểm Trợ Án Tuyên Thánh Cha Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp chụp ảnh lưu niệm với cha Dương Hữu Nhân vừa đến từ Roma. (Thanh Phong/Viễn Đông)

    Nên cha Nhân đã tiếp cận được nhiều tài liệu khác nhau để đủ giúp ngài chứng minh rằng, kể từ năm 1615, các vị giáo sĩ dòng Tên của tỉnh dòng Nhật Bản, tỉnh dòng có nhiều Linh Mục mang Quốc Tịch khác nhau, có tầm vóc quốc tế đã đặt nền móng thành hình cho công cuộc truyền giáo, cũng là nền móng cho Giáo Hội Việt Nam. Tài liệu trên Bách Khoa Toàn Thư Mở ghi rõ: Các vị thừa sai Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha thuộc nhiều Hội dòng khác nhau đôi lúc đã cố thử mở đường rao giảng Phúc Âm, nhưng phải đợi đến phương pháp và sự kiên trì quyết tâm của các tu sĩ dòng Tên để thấy được những hy vọng trở thành sự thật.  Vào năm 1615 các Linh Mục Dòng Tên như LM Francesco Buzomi, ngưới Ý lần đầu tiên đến Đàng Trong.

    LM Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha là nhà truyền giáo đầu tiên thông thạo tiếng Việt. LM Giuliano Baldinotti, người Ý tới tìm hiểu Đàng Ngoài năm 1626. LM Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), người Pháp cập bến Cửa Bạng, Thanh Hóa năm 1627 và bắt đầu công cuộc truyền giáo với nhiều thành tựu tại Đàng Ngoài. LM Girolamo Maiorica, người Ý nhiều năm truyền giảng Phúc Âm, viết sách chữ Nôm và hoạt động mục vụ tại Đại Việt cho tới những năm cuối đời. Dòng Tên đã gây dựng nền móng vững chãi cho Công giáo Việt Nam ngay từ thế kỷ 16.

    [3] Khi những vị người Pháp đầu tiên – các tu sĩ Joseph Francis Tissanier và Pierre Jacques Albier – đi tàu biển đến Việt nam vào năm 1658, thì có gần 70 vị truyền giáo gồm 8 quốc tịch khác nhau đã kẻ trước, người sau cũng đặt chân đến nơi này, trong số đó có 35 vị người Bồ Ðào Nha, 19 vị người Ý và 7 vị người Nhật. [1] Như thế, vào thời kỳ đầu của lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, chưa có vị nào mang quốc tịch Pháp.  Sau 243 năm, tháng 8 năm 1858, quân viễn chinh
    Pháp cùng Tây Ban Nha đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào xâm chiếm Sài Gòn.

    [4] Căn cứ vào mốc thời gian để minh chứng lịch sử cho từng giai đoạn thì những gì LM Roland Jacques Dương hữu Nhân trinh bầy hoàn toàn thuyết phục. Về tiến trình xin tuyên Thánh cho Linh Mục Tử Đạo Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, Cha Dương Hữu Nhân thông báo chung cho mọi người biết : Mọi việc đã thực hiện theo qui định tuyên Thánh trong Tông huấn Divinus Perfectionis Magister, do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 25.1.1983. – “Special Problems in Canon Law III – Canonizations, do linh mục Roland Jacques, omi. tức Cha Dương Hữu Nhân, Cha Giáo Sư và Khoa Trưởng Giáo Luật Đại Học St. Paul ở Ottawa soạn và dạy trong niên khoá 2007-2008. – Huấn thị “Sanctorum Mater” Mẹ của các Thánh, do Bộ Tuyên Thánh ban hành năm 2007 và được Toà Thánh chính thức giải thích ngày 28.2.2008 tại Roma.Theo hướng dẫn của “Sanctorum Mater”, tiến trình tuyên phong chân phước phải được bắt đầu nơi địa phận mà ứng viên tuyên thánh đã chết. Về luận án 400 trang khổ giấy lớn với đầy đủ chứng từ cần thiết đã đệ trình Tòa Thánh Vatican.

    Một vài cuốn đã được chuyển đến các thành viên của Hội Đồng Sử Gia, để những vị này lượng giá tài liệu trong luận án đối với lịch sử. Công việc này đang được tiến hành, nhưng vì dịch bệnh Covid-19 nên có sự chậm trễ đôi chút. Sau khi Hội Đồng Sử Gia lượng giá, luận án được chuyển đến Hội Đồng Thần Học gồm 9 nhà Thần Học khuyết danh để thẩm định Cha Diệp đã bị chết như thế nào? Và kết luận sẽ được trình lên Đức Giáo Hoàng, để ngài ký sắc lệnh công bố rằng, Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp thực sự là một vị tử đạo.

    [5] Công việc của chúng ta là tiếp tục cầu nguyện cho tiến trình tuyên thánh cho một người con đất Việt ở thời đại này, Cha Trương Bửu Diệp sớm được hoàn thành, để ngài được tôn kính trên bàn thờ của mọi Kitô Hữu trên toàn thế giới. Giới thiệu về Linh Mục Roland Jacque, tác giả cuốn sách “Les Missionnaires Potugais et les débuts de l’Église Catholique au Viet-nam – Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công Giáo Việt Nam”, Đức Giám Mục Joseph Vũ duy Thống, Chủ Tịch Ủy Ban Văn Hóa Hội đồng Giám Mục Việt Nam viết: Roland Jacques xây dựng nội dung các tác phẩm từng được xuất bản về lãnh vực này qua hai trục nghiên cứu. Trục đầu là phần nghiên cứu về ngữ học mà các vị thừa sai Dòng Tên do Bồ Đào Nha gửi đến đã khởi sự và thực hiện một cách thành công.

    Ngoài Cha A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ, mà tên tuổi che che khuất những vị tiên phong đầy công lao khác, chúng ta sẽ thích thú khám phá được rằng đây là một công trình tập thể: có những người Việt Nam và những người Âu Châu từng cộng tác với nhau rất mật thiết và lâu dài cho công trình nầy, chuẩn bị cho một tương lai văn hóa dân tộc. Sự nghiệp của các bậc nghiên cứu tiền nhân này đã cống hiến vào gia sản chung của toàn dân tộc Việt Nam. Trục thứ hai là Anrê Phú Yên, vị tử đạo tiên khởi của chúng ta. Vì tác giả là người đã góp phần mình vào việc xây dựng hồ sơ và giúp cho chúng ta có được tên Anrê Phú Yên vào danh sách các vị Chân phước, nên tác giả quá quen thuộc với khuôn mặt sáng chói lạ lùng về sự trưởng thành trong cuộc sống kitô giáo và lòng dũng cảm tông đồ.

    Một trong những kỳ công lớn lao của cuốn sách nầy của tác giả hẳn sẽ là việc giúp độc giả biết rỏ hơn về vị tử đạo của chúng ta và giúp chúng ta nhìn nhận công đức và vai trò của ngài. Như tác giả từng viết : “Anrê là tiêu biểu cho tất cả những thừa sai Việt Nam vô danh nầy, là những anh hùng trong cuộc sống trước khi tỏ ra anh hùng trong khi chết… Chính ở điểm nầy mà Anrê là một gương mẫu của đời sống công giáo rất thích hợp cho thời nay.” Hiệp thông cùng Linh Mục Phạm ngọc Hùng, Giám Đốc Trung Tâm Công Giáo Việt Nam tại Giáo Phận Orange, Tuyên Úy Hội Yểm Trợ Tuyên Thánh Cha Trương Bửu Diệp, chúng tôi nhóm phóng viên Vận Hội Mới, xin lập lại lời Đức Cha Joseph Vũ duy Thống như trên để ghi ơn và tỏ lòng ngưỡng mộ một vị ân nhân của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, một người say mê văn hóa và Tiếng Nước Nam . . . để kết thúc bài tường trình cho lần đầu gặp gỡ Linh Mục Roland Jacques Dương Hữu Nhân, hôm 30/8/2021.


    Ghi chú:
    [1] https://www.bbc.com/vietnamese/entertainment/story/2004/06/040609_vietcatholic

    [2] https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_gi%C3%A1o_t%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Nam

    [3] https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%B2ng_T%C3%AAn

    [4] https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Ph%C3%A1p%E2%80%93%C4%90%E1%BA%A1i_Nam

    [5] Lễ giỗ Cha P.X. TBD Lần Thứ 75 – LM Dương Hữu Nhân

  • Khánh Lan,  Tin tức

    “MAI TÔI ĐI”

    Kim Vui (1960-2021)

    “Mai tôi đi… Chẳng có gì quan trọng,

    Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,

    Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,

    Chuyện bé nhỏ giữa dòng đời động loạn…”

    Đó là bài thơ do Nhà thơ Thái Thúc Hoàng Minh sáng tác đầu thập niên 70, mà tôi được nghe trong thánh lễ an tang của chị Kim Vui, cố hiền thê của Ca Sĩ Ngọc Hùng. Có lẽ tôi và tất cả mọi người tham dự Thánh lễ ngảy 28 tháng 08, 2021 tại Thánh đường St. George, thuộc thành phố Ontario, California 91762 đều xúc động bởi lời lẽ trong bài thơ, hẳn nó chất chứa những ý nghĩa thâm sâu, chẳng khác chi là những lời than thở của một linh hồn vừa lìa khỏi xác, khi tuổi còn quá thanh xuân và chưa sống trọn vẹn một kiếp người như chị Kim Vui.

    “Trên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,

    Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,

    Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,

    Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt.

    Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết…

    Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian.

    Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,

    Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi…

    Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,

    Để đi vào ranh giới của âm dương,

    Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,

    Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…”

    Thật vậy, những câu thơ trên đã gợi lại trong ký ức chúng ta hình ảnh của những người bệnh đã và đang quần quại trong cơn đau thể xác. Ôi, chẳng có gì sợ cho bằng nằm chờ đợi bóng tử thần trước giờ hấp hối, cũng như chẳng có sự tiễn đưa nào mà không có nước mắt rơi và không để lại nhiều sầu muộn, thương tiếc cho người ở lại? Nhất là người vợ, người bạn đời tri kỷ, người mà ta đã bao năm đầu ấp tay gối, bao ngày chia ngọt sẻ bùi, người mà đã cho ta những đứa con ngoan, thông minh, đẹp đẽ.

    Ngọc Hùng & Kim Vui và tám người con

    Năm năm trước, ngày 13 tháng 03 năm 2016, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) đã gặp chị Kim Vui trong buổi tưởng niệm Giáo Sư Lưu Trung Khảo và Nhạc Sĩ Anh Bằng. Với vẻ mặt hiền lành phúc hậu, ánh mắt và nụ cười thân thiện luôn nở trên môi, Chị Kim Vui đã cùng chúng tôi hát những bài hát do nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác, trong đó có bài: “MAI TÔI ĐI” thơ của Thi sĩ Nguyên Sa và do Nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc. Bài hát có cùng tựa đề với bài thơ của Thi sĩ Thái Thúc Hoàng Minh.

    “Mai tôi đi xin đừng nhìn theo, xin đừng đợi chờ.
    Đời trăm muôn góc phố, con đường dài thật dài.
    Thẳng mãi có bao nhiêu, thẳng mãi có bao nhiêu
    Mai tôi đi, xin đừng gọi tên, thêm nhiều muộn phiền.

    Dù môi kêu đắm đuối, hay mặn nồng một trời.

    Cùng đành lòng xa thôi, cũng đành lòng xa thôi…”

    LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN

    Hôm nay, Liên Nhóm NVNT & TTG đã tiễn đưa một người con hiếu thảo, một người vợ thủy chung, một người mẹ hiền thục và một người bạn thân tình sang bên kia thế giới, thế giới mà mai này tất cả chúng ta đều sẽ phải đi qua theo vòng xoáy của tạo hóa. Thế giới ấy, chắc hẳn không có tiếng khóc, nỗi đau, chiến tranh và hận thù. Hẳn không có chết chóc tang thương. Phải chăng đó là thế giới của hoàn mỹ? Một thế giới an bình? Thì tại sao loài người lại hoảng sợ khi phải đối diện với nó nhỉ?

    LIÊN NHÓM NVNT & TTG

    Chị Kim Vui ra đi và để lại trong lòng mọi người một sự thương tiếc nhớ nhung sâu đậm. Sự ra đi của chị như thầm nhắc nhở chúng ta:

    “No matter how hard life can be. We must embrace every moment of it. Because, we never know when it’s going to be the end in our life.” (Dù cuộc sống có khó khăn đến đâu. Chúng ta phải nắm lấy từng khoảnh khắc của nó. Bởi vì, chúng ta không bao giờ biết khi nào nó sẽ là dấu chấm hết trong cuộc đời mình.)

    Người con gái lớn nhất của chị Kim Vui và Ca sĩ Hùng Ngọc là Sr. Theresa ThanhThao thuộc tu viện Holy Spirit Missionary Sisters, Sr. Theresa ThanhThao đã chia sẻ một bài tiễn đưa hương hồn của Mẹ Kim Vui về nơi an nghỉ cuối cùng, vô cùng tha thiết và tạo một sự xúc động mạnh cho hơn 200 người tham dự tang lễ. Khánh Lan xin trích vài phân đoạn trong bài đọc của Sr. Theresa ThanhThao.

              “Mẹ ơi, thân cát bụi phải trở về cát bụi, nhưng sao lòng chúng con vô cùng tan nát…Mặc dù Mẹ đã rời xa chúng con nhưng hình ảnh của Mẹ luôn khắc sâu trong lòng chúng con …Mẹ lớn lên trong một gia đình truyền thống, thuần nông, đơn sơ, giản dị. Một quê hương mến yêu đó là giáo xứ Du Đức, Tân Hiệp, Kiên Giang, Việt nam…

    Mẹ của chúng con, Maria Nancy Nguyễn Thị kim Vui sinh ngày 23/8/1960 tại cần Thơ Việt Nam. Mẹ là người con thứ tư trong gia đình 12 chị em. Khi vừa tròn 15 tuổi, Mẹ đã kết hôn cùng ba Nguyễn Văn Ngọc tại Tỉnh Kiên Giang. Năm 1985, Mẹ đã cùng ba rời xa quê hương, để tìm cuộc sống tự do. Một chuyến đi đầy mạo hiểm, gian nan. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, gia đình chúng con cũng được cập bến tại trại tị nạn Thái Lan và Philippines. Sau hai năm trong trại tị nạn năm 1987, gia đình chúng ta đã được định cư tại California, Hoa Kỳ.

    Cái thuở ấy sao mà cơ cực! Cuộc sống thiếu thốn trăm bề, nhưng chính lúc đó mới đích thực là lúc tỏ rõ tấm lòng của mẹ “Suốt đời tận tụy chồng con, sớm hôm chẳng quản hao mòn tấm thân”. Tám anh em chúng con đã lớn trong vòng tay yêu thương của Mẹ. Và hoa trái đầu lòng chính là con đã được Mẹ khuyến khích dạy dỗ để sẵn sàng hiến dâng cho Thiên Chúa trong Dòng Thánh Linh Truyền Gíáo,SSpS.

    Giờ đây đối với gia đình, Mẹ đã hoàn thành mọi nhiệm vụ của một người vợ, người mẹ. “Sống tận tụy mọi người yêu quý, chất thuỷ chung con cháu nhớ thương… “Để lo toàn cho một gia đình tám người con quả thật khó khăn không sao nói hết, tuy vậy, Mẹ vẫn không quản ngại tham gia những sinh hoạt cộng đồng. Mẹ đã từng là Trưởng Liên Hội các bà mẹ công giáo giáo phận Sanbernadino; là trưởng hội các bà mẹ công giáo tại cộng đoàn Nữ Vương Ontario. Ngoài những sinh hoạt của giáo xứ, Mẹ còn nhiều năm giúp vui trong nhóm hợp ca vui sống, tham gia câu lạc bộ thế giới tình nghệ sĩ. Tham gia các sinh hoạt nghệ thuật, và cũng Hân hạnh đoạt giải Á hậu Quý bà năm 2003. Quả thật “Cả đời Mẹ đã hy sinh, thuỷ chung nhân nghĩa soi đời cháu con.” Nhân gian Mẹ đã sống tròn, tấm gương vằng vặc sắt son truyền đời.”

    Nhưng rồi, cái gì đến phải đến. Năm 2013, Mẹ đã có những dấu hiệu của bệnh. Căn bệnh teo não đã lấy đi tất cả sức khỏe, sắc đẹp, lấy đi giọng ca thánh thót một thời, Lấy đi những bước chân miệt mài phục vụ. Những tháng ngày trên giường bệnh Mẹ vẫn không ngừng phục vụ cộng đoàn và xã hội qua lời cầu nguyện, những hy sinh đau khổ về thân xác và tinh thần… trên gường bệnh…

    Câu nói của người xưa con hoài ghi nhớ: “Sinh thành đông hải. Dưỡng dục thái sơn cao.” Mẹ đã cho chúng con một thể xác và linh hồn để hiện hữu trên cõi đời này. Những thể xác ấy lúc đầu còn bé nhỏ, những tâm hồn ấy lúc đầu còn thơ dại… Mẹ đã dành cả cuộc đời và mồ hôi nước mắt để nuôi nấng, giáo dục cho khôn lớn, trưởng thành như ngày hôm nay. 

    Sr. Theresa ThanhThao

    Trải theo năm tháng mẹ ngày càng kiệt sức để chúng con thêm khỏe mạnh. Công lao của mẹ đối với chúng con rất rộng như biển đông, cao như núi thái. Nỗi đau này đã thấu đến trời cao. Vào lúc 17h 15 phút, ngày 18/8 / 2021, Chúa đã gọi Má về trời. Vẫn biết đời vô thường là thế!  Mẹ về bên Chúa, không còn gánh chịu những đau khổ của bệnh tật, Nhưng đối với cõi phàm, biệt ly là nỗi đau đứt ruột. Mẹ ơi! “Mây tán tuyết tan. Hoa tàn Nguyệt khuyết. Hôm nay đây. Toàn thể các con cùng quy tụ nơi đây, tóc xanh phủ dày tang trắng cùng than khóc mẹ. Vẫn biết rằng sống là gửi, thác là về… Dù nơi nào Mẹ về thì chúng con vẫn mãi khổ đau. Vì chúng con đã vĩnh viễn mất Mẹ…

              Phải chăng, con người đến từ cõi hư vô, xong trải qua một kiếp người, rồi cũng sẽ trở về với hư vô? Phải chăng, chúng ta sinh ra từ cát bụi thì sẽ trở về cùng cát bụi? Khánh Lan xin thay mặt NVNT & TTG gởi lời chia buồn đến Ca sĩ Hùng Ngọc cùng tang quyến. Nguyện xin Thiên Chúa toàn năng đón nhận linh hồn chị Maria Nancy Kim Vui sớm về huổng phúc bên Thánh nhan Ngài trên Thiên Đàng.

    Khánh lan

    California August 30, 2021

    TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:

    1. Bài thơ được sáng tác bằng hai thứ tiếng – tiếng Việt và tiếng Anh. Tác giả bài thơ này là Thái Thúc Hoàng Minh, con của cố đạo diễn Thái Thúc Nha, và là cậu của ca sĩ Thanh Lan. Tác giả rời California về sống tại Đà Lạt và qua đời ngày 13/2/2015.
    • Bài thơ: Bản tiếng Việt của NQH – Bản dịch tiếng Anh của Roberto Wissai/NKBa 

                              MAI TÔI ĐI     

    Mai tôi đi… Chẳng có gì quan trọng,

    Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,

    Chuyện bé nhỏ giữa dòng đời động loạn…

    Trên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,

    Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,

    Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,

    Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt.

    Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết…

    Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian.

    Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,

    Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi…

    Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,

    Để đi vào ranh giới của âm dương,

    Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,

    Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…

    Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả

    Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,

    Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,

    Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế…

    Mắt nhắm rồi… Xin đừng thương rơi lệ,

    Đừng vòng hoa, phúng điếu hoặc phân ưu,

    Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu.

    Gây phiền toái, nợ thêm người còn sống…

    Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng,

    Đến trần truồng và đi vẫn tay không.

    Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng,

    Nay rũ sạch… Lên bờ, thuyền đến bến…

    Nếu tưởng nhớ… Xin âm thầm cầu nguyện,

    Nên xem như giải thoát một kiếp người,

    Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,

    Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…

    Chính tác giả đã dịch bài thơ sang tiếng Anh:

    TOMORROW I’M GOING!

    Tomorrow I’m going… It’s no big a deal,

    It happens all the time, like fallen leaves in the park

    Like flowers driven by winds onto the side walk,

    These are minor matters in the turbulent waters of life…

    Death is hovering over my death bed,

    Please spare me of comments, visitations, or prayers of peace

    While my breathing is going to cease

    And I’m lying, waiting to bid farewell.

    These last dying moments… I wouldn’t care less…

    The hot and cold months on this planet.

    No matter I’m rich or full of glory,

    At the end I still return to dust and ashes…

    My finite existence decisively comes to an end

    And enters the yin and yang borderlands

    I won’t be bewildered at the frontier’s gate

    Earthly realm is on this side, the other an unimaginable and unknown fate

    I only wish my soul always at peace,

    Traveling lightly, I quicken my pace

    Leaving behind those who push and pull,

    While I finish my journey on earth’s face…

    My eyes are already closed…

    Please don’t shed tears of sympathy

    Please, no flower wreaths, no offerings, nor condolences,

    No videotaping, no picture taking for memories.

    That would only bring stresses and strains to the surviving…

    A quick look behind and life is just like a dream

    I arrived naked and I’m leaving with empty hands

    Many ups and downs, happy and sad moments piled high,

    Now they’re all cleared up…I’m stepping on board, the boat has arrived…

    If you miss me… Please silently pray,

    And consider a life has been liberated,

    Be calm, relaxed, and gay,

    I go first, you follow behind, we’ll meet again…

    Thái Thúc Hoàng Minh.

    MAI TÔI ĐI

    Thơ Nguyên Sa

    Nhạc: Anh Bằng

    Mai tôi đi, chắc trời giăng mưa lũ
    Mưa thì mưa, chắc tôi không bước vội
    Nhưng chẳng thế nào, thì cũng sẽ xa nhau, mình cũng sẽ xa nhau

    Mai tôi đi, chắc rằng Paris khóc,
    nhưng lệ rơi sẽ khô theo tháng ngày
    Cho dù cách nào, thì cũng sẽ xa nhau, mình cũng sẽ xa nhau

    Mai tôi đi xin đừng nhìn theo, xin đừng đợi chờ
    Đời trăm muôn góc phố, con đường dài thật dài
    Thẳng mãi có bao nhiêu, thẳng mãi có bao nhiêu

    Mai tôi đi, xin đừng gọi tên, thêm nhiều muộn phiền
    Dù môi kêu đắm đuối, hay mặn nồng một trời
    Cùng đành lòng xa thôi, cũng đành lòng xa thôi

    Mai tôi đi, chắc dòng sông Seine nhớ
    nhưng dù sao, nhớ nhung rồi sẽ mờ
    Muôn vạn u sầu, rồi cũng sẽ xa nhau, mình cũng sẽ xa nhau

  • Tin tức

    Tường Trình Buổi Ra Mắt Tác Phẩm Đóa Hoa Nở Muộn Của Nhà Văn Kiều My

    Chủ nhật ngày 15 tháng 8, 2021 là một ngày đẹp trời, không nắng gắt, có lẽ do làn gió thoảng từ bờ biển Huntington Beach thổi vào đất liền khiến khí hậu giữa trưa hè trở nên mát mẻ hơn thường ngày. Tuy có những buổi hội họp quan trọng khác tổ chức cùng thời gian, nhưng ngay từ lúc 12 giờ trưa bầu không khí tại NT Studio, tọa lạc trên đường Brookhurst, thành phố Westminster, miền Nam California bắt đầu nhộn nhịp cho buổi Văn Học ra mắt tác phẩm Đoá Hoa Nở Muộn của nhà văn Kiều My sẽ diễn ra từ lúc 1:00 giờ trưa đến 4:30 chiều. Nhà văn Việt Hải trưởng Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) chọn Đoá Hoa Nở Muộn (ĐHNM) là tác phẩm trước tiên, trong hàng loạt tác phẩm khác dự trù giới thiệu đến độc giả vào thời gian sắp tới do trì trệ bởi đại dịch COVID-19.

    Ban tổ chức, cố vấn, diễn giả, ca sĩ, truyền thông đến trước giờ chờ Studio mở cửa đem vật dụng cần thiết trang trí cờ xí vào. Khán thính giả tham dự đến sớm để xem Poster và tờ chương trình được Ban Tổ Chức (BTC) đặt ngay cửa chính và để gặp gỡ, chụp hình lưu niệm, chúc mừng tác giả cùng chọn chỗ ngồi cho cá nhân hoặc nhóm. Thành viên trong BTC mỗi người mỗi tay khệ nệ bê sách, hoa, thực phẩm nhẹ, nước giải khát trình bày trên đôi bàn dài được chủ nhân Studio đặt cuối căn phòng. Nhà báo Kiều Mỹ Duyên cùng toán kỹ thuật viên, trực tiếp thâu hình từng quan khách hiện diện, chúc mừng đứa con tinh thần tác phẩm đầu tay của ngòi bút Kiều My ra đời, khiến bầu không khí bỗng nhộn nhịp hơn bao giờ hết.

    Trong chớp nhoáng, mọi thứ được bày biện tươm tất, quầy sách hình thành ngay khi bước qua cửa chính vào Studio, tấm khăn phủ bàn mầu đỏ cùng nhiều đóa hoa Hồng đỏ thắm (mầu biểu tượng cho Văn sĩ Kiều My tuổi Dương Cưu) do bàn tay ai đó khéo léo cắt tỉa, đem cắm trong bình hoa thủy tinh trong suốt đặt trên quầy sách, nơi tác giả trong bộ trang phục mầu trắng trông nhã nhặn và rạng rỡ hẳn lên. Với nét bút cẩn thận nữ sĩ ký tên trên mỗi cuốn sách, ân cần trao đến tay người nhận và không quên kèm theo lời cảm ơn cùng nụ cười nhẹ điểm trên môi.

    Đúng 1:00 trưa, MC Huỳnh Anh và Mộng Thuỷ đại diện BTC tuyên bố khai mạc buổi ra mắt tác phẩm Đoá Hoa Nở Muộn của nhà văn Jacqueline Lê Kiều My và giới thiệu đại diện BTC ngỏ lời chào mừng quan khách.

    Mở đầu với nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà, Hoa Kỳ rất trang trọng, và phút mặc niệm đầy xúc động, trong phút mặc niệm tưởng nhớ đến thân nhân của tác giả vừa qua đời.

    Tham dự Chiều Văn Học ra mắt tác phẩm Đoá Hoa Nở Muộn ngoài thành viên Liên nhóm, quan khách có: Các vị Giáo sư Dương Ngọc Sum, Quyên Di, Trần Mạnh Chi, nữ sĩ Dương Hồng Anh, nhà thơ Việt Cường, Hà Nguyên Du, nhà văn Nguyễn Quang, Việt Hải, Vương Trùng Dương, Quỳnh Giao, Du Miên, Khánh Lan, Hoàng tử Nguyễn Phúc Bảo Ân, nhân sĩ Phan Hùng Tuấn, Ô.Bà John Tạ, nhóm Hy Vọng Yểm Trợ Nhân Quyền ông Trần Quang Tuyến, ông Nguyễn Đức Luận, ông Nguyễn Hữu Thành, ông Hoàng Đình Khuê (khoá 16 Võ Bị Quốc Gia VN), KQ Trần Vê, KQ Dương Viết Đang, ông Nguyễn Đình Trung (Tổng thư ký hội Thủ Đức), ông Phạm Ngọc Lân, nhà báo Kiều Mỹ Duyên, nhiếp ảnh gia Paul Lê, XNV Minh Châu, các ca sĩ Hùng Ngọc, Mạnh Bổng, Mỹ Lan, Thụy Lan, Lệ Hoa, Thu Phượng và Julie Hạnh.

    Sau phần giới thiệu quan khách, tác giả ĐHNM cô Kiều My ngỏ lời chào mừng quan khách, cùng đa tạ nhà văn kiêm Họa sĩ Vi Khiêm giúp phát hoạ bià sách phù hợp với nội dung và Giáo sư Phạm Hồng Thái trang trí kỹ thuật bên trong cuốn sách ĐHNM. Tiếp theo, ca khúc La Paloma Adieu nhạc Pháp do chính tác giả trình bày gửi đến quý khách như lời tri ân, cùng mở đầu phần Hội thảo nhóm về Tình yêu Đông Phương, Tình yêu Tây Phương, Tình yêu trong tôn giáo, gia đình bền vững và tâm lý xã hội tương quan với tác phẩm ĐHNM do các diễn giả: GS Dương Ngọc Sum, GS Quyên Di, NV Nguyễn Quang, NV Vi Khiêm, NV Khánh Lan và Xướng ngôn viên Minh Châu, được chia làm ba phiên.

    LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỒI GIAN

    Phiên 1: Tình Yêu Đông Phương tương quan với tác phẩm Đoá Hoa Nở Muộn với Giáo sư Quyên Di và XNV Minh Châu.

    Trình bày qua 3 tác phẩm:

    • Đoạn Trường Tân Thanh của đại thi hào Nguyễn Du.
    • Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu.
    • Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng.

    1- Tình yêu đoan chính: Trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, quan niệm về trinh tiết của người phụ nữ theo triết lý Khổng Mạnh. Kim Trọng là bạn của Vương Quan em Thuý Kiều, Kim Trọng quen biết Kiều nhân dịp lễ Tảo mộ và Tiết Thanh Minh. Thế rồi, một hôm nhân khi gia đình về dự lễ giỗ bên ngoại, Thuý Kiều lén vượt tường qua thăm trò chuyện cùng Kim Trọng, khi chàng Kim có cử chỉ muốn “vượt rào” Thuý Kiều ngăn lại và thuyết phục Kim Trọng chờ đến ngày thành hôn của hai người.

    “Sóng tình dường đã xiêu xiêu

    Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”

    Kiều sửa lưng:

    “Thưa rằng: đừng lấy làm chơi

    Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!”

    Tình yêu lý tưởng của Kim & Kiều, một đôi trai tài gái sắc yêu nhau nồng nàn, không kém phần táo bạo “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” nhưng phận làm con gái phải tuyệt đối gìn giữ trinh tiết.

    Đã cho vào bậc bố kinh,

    Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu.

    Ra tuồng trên Bộc trong dâu,

    Thì con người ấy ai cầu làm chi!

    Sau đó, Kim Trọng về quê còn gia đình Kiều bị tai họa do Thằng bán tơ vu oan chứa chấp tơ lụa bị mất cắp, tài sản bị quan quân cướp bóc Vương Ông và Vương Quan bị tù tội, Kiều phải bán mình lấy tiền chuộc cha và em. Cuộc đời Thuý Kiều lưu lạc trôi nổi, thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần. Khi gặp lại Kim Trọng thì đã lỡ làng, Kim Trọng thành hôn với Thuý Vân là do ý muốn của Thuý Kiều, nên hai người hứa hẹn sẽ là bạn của nhau “Tình cầm sắc đổi ra cầm kỳ.”

    2- Tình yêu lễ giáo: Tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu xuất bản vào năm 1889, mở đầu câu chuyện cụ Nguyễn Đình Chiểu gắt gao răn rằng:

    “Trai thời trung hiếu làm đầu

    Gái thời tiết hạnh là câu trau mình”

    Trong tình yêu phải tôn trọng đạo lý “Nam nữ thọ thọ bất thân.” theo quan niệm phong kiến thời Nho Giáo trai gái không được kề cận nhau hoặc có những cử chỉ suồng sã vô tình hay cố ý. Khi triều đình mở khoa thi, Lục Vân Tiên từ giã thầy xuống núi về kinh ứng thí. Trên đường trở về nhà thăm cha mẹ, gặp bọn cướp Phong Lai hoành hành, Lục Vân Tiên đánh tan bọn cướp cứu Kiều Nguyệt Nga. Nàng Nguyệt Nga định bước ra khỏi xe để lạy tạ ơn cứu mạng, thì Vân Tiên lật đật khoát tay.

    “Khoan khoan ngồi đó chớ ra

    Nàng là phận gái, ta là phận trai”

    Lục Vân Tiên tài ba dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, làm ơn không muốn cho người trả ơn. Nguyệt Nga lạy tạ ơn cứu mạng cũng không nhận, xin Vân Tiên theo về nhà lấy bạc vàng đền ân cũng không đi, Nguyệt Nga liền rút trâm cài tóc đưa vật làm tin (người nữ tặng trâm cài là quý lắm) thế nhưng Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn.

    “Đưa trâm chàng đã làm ngơ

    Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ

    Vân Tiên ngó lại rằng: ừ

    Làm thơ cho kịp bấy chừ chẳng lâu”

    Lúc này Vân Tiên mới chịu nhận thơ. Nguyệt Nga vốn giỏi văn thơ, nên thoắt một thoáng làm xong bài Đường luật (tám câu năm vần).

    “Thơ rồi này thiếp xin dâng,

    Ngửa trông rộng lượng văn nhân thế nào?”

    Nàng Kiều Nguyệt Nga chữ ân chưa trả chữ tình lại vương, nàng vẽ hình Vân Tiên để tôn thờ một tình yêu tự nguyện, nồng nàn thắm thiết trong tâm hồn của Nguyệt Nga, nàng phải chịu trăm đắng ngàn cay, chống lại lệnh Vua khi bị cống cho giặc Ô Qua, nàng ôm bức hình Lục Vân Tiên nhảy sông tự tử, may nhờ Phật Bà Quan Âm cứu mạng, rồi gặp tên Bùi Kiệm ép uổng đòi lấy nàng làm vợ, nhưng Kiều Nguyệt Nga vẫn giữ trọn lòng chung thủy với Lục Vân Tiên.

    “Vái trời cho đặng vuông tròn

    Trăm năm cho trọn lòng son cùng chàng”

    Trên đường dẹp giặc Ô Qua chiến thắng trở về, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga gặp lại nhau nên duyên vợ chồng, sống cuộc đời hạnh phúc, vinh hiển.

    3- Tình yêu thuần khiết: Tác phẩm Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng xuất bản năm 1933 là truyện ngắn vỏn vẹn chừng một trăm trang giấy, nhưng là tác phẩm đầu tay nổi tiếng và thành công nhất của Khái Hưng, và cũng là tác phẩm đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn. Nội dung tác phẩm như sau: Ngọc là chàng sinh viên trường Canh nông Hà Nội, nhân dịp nghỉ hè đã đến chùa Long Giáng ở Bắc Ninh thăm người bác là sư trụ trì và nghỉ hè. Ngày đầu đến chùa, người đầu tiên Ngọc gặp là chú tiểu Lan dịu dàng, kín đáo, đoan trang đã sốt sắng giúp xách phụ hành lý hướng dẫn Ngọc lên chùa. Trong thời gian ở lại chùa Ngọc được chú tiểu Lan săn sóc, khiến Ngọc có cảm tình đặc biệt. Về sau, Ngọc phát giác chú tiểu Lan là gái giả trai, do gia đình ép gả vào nơi quyền quý, chú tiểu Lan xin qui y cửa Phật. Ngọc không vì mối tình riêng tư mà lôi kéo chú tiểu Lan trở về trần tục, thay vào đó là chấp nhận hy sinh chuyển hoá mối tình đơn phương của mình thành tình bạn cao thượng, một tình yêu không hồi đáp mà hiếm có người thường đạt được.

    Phiên 2: Tình Yêu Tây Phương tương quan với Đoá Hoa Nở Muộn với nhà văn Nguyễn Quang và Giáo sư Dương Ngọc Sum (Dương Tử).

    1- Nhà văn Nguyễn Quang trình bày chuyện tình Romeo & Juliet:

    Tình yêu thủy chung bất diệt xuống tuyền đài: Tác phẩm của Romeo & Juliet là một truyện tình bị đát hay nhất của văn hào William Shakespeare, viết về một tình yêu say đắm với kết cục bi thảm của hai người thuộc hai dòng họ Montague và Capulet thù hận, hiềm khích nhau qua nhiều thế hệ. Romeo & Juliet đã gặp nhau trong một buổi dạ hội, tiếng sét ái tình khiến cả hai người yêu nhau say đắm. Sau buổi gặp gỡ, hai người ra về còn luyến tiếc mối tình nồng cháy vừa nảy nở, Romeo không về vội mà đi vòng ra phía sau lâu đài. Riêng Juliet trằn trọc không ngủ được nên ra ban công than thở: ”Người đâu gặp gỡ làm chi- Trăm năm biết có duyên gì hay không”. Tình cờ đứng dưới đất Romeo nghe được không kiềm chế chàng bèn trèo lên ban công. Trong màn đêm thơ mộng hai người thề thốt yêu nhau và quyết định bí mật kết hôn.

    Họ yêu nhau tha thiết nhưng bị gia đình cản trở, vì thế trước khi trốn đi Juliet được Cha Lawrence cho uống một liều thuốc giả chết, thi hài được đưa xuống nhà mồ chờ khi tỉnh dậy Romeo sẽ đến đưa đi. Người đưa tin bị phong tỏa giữa đường vì bệnh dịch nên không đến kịp. Romeo đến trước giờ hẹn thấy Juliet chưa tỉnh dậy, tưởng nàng đã chết thật bèn uống thuốc độc mang theo để chết theo nàng. Trong khoảng khắc sau, Juliet tỉnh dậy thấy Romeo đã chết liền rút con dao bên mình của Romeo tự tử, cái chết bi thương của đôi trẻ khiến hai gia đình thức tỉnh và đoàn kết lại trong nỗi sầu đau. Kết thúc chuyện tình buồn Romeo & Juliet là sự hy sinh cho trọn cuộc tình.

    “Nợ tình chưa trả cho ai

    Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”


    2- Giáo sư Dương Ngọc Sum trình bày về tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh:

    Tình yêu trong tình thâm nghĩa trọng: Tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh của Kahlil Gibran (The Broken Wings) nói về cuộc tình bi thảm giữa chàng văn sĩ tài hoa Kahlil và nàng kiều nữ xinh đẹp Selma Karamy vì chủng tộc tôn giáo, Gibran buộc phải biệt xứ, còn nàng Selma phải về làm vợ một người đàn ông quyền thế không hề để ý đến sắc đẹp hay giá trị phẩm chất của Selma, chỉ biết hưởng thú vui riêng để mặc nàng ôm nặng mối tình chân chính tuyệt vọng. Và thời gian mỏi mòn cho đến lúc sinh con, Selma đã ra đi bình thản cùng hài nhi mới chào đời. Hai xác chết được chôn chung một nấm mồ, xác hài nhi quấn tả nằm trên ngực người thiếu phụ bạc mệnh. Gibran khóc cho mối tình dang dở của mình như huyền thoại loài chim uyên ương sống từng đôi trống mái, chim mái là Uyên, chim trống là Ương, mỗi con chỉ có một cánh, khi sống chúng phải chấp cánh nhau mà bay cùng, nếu một trong hai con gẫy cánh thì con kia đành xếp cánh tuyệt vọng trước từng trời thăm thẳm.

    Những cặp vợ chồng hay những đôi tình nhân vì lý do gì bị dở dang, người ta thường chúc phúc cho họ: ”Tái sinh làm cây liền cành, chim liền cánh” để đền bù lại sự mong chờ khổ sở của tiền kiếp.

    Phiên 3: Tình yêu trong tôn giáo, gia đình bền vững và tâm lý xã hội với nhà văn Khánh Lan và nhà văn Vi Khiêm.

    1. Tình yêu, Hôn Nhân và Tâm Lý Xã Hội với NV Khánh Lan:

    Theo nhận định của nhà văn Khánh Lan thì Xã hội bao gồm nhiều cá thể mà trong đó có nhiều gia đình khác nhau hợp lại thành một tổng thể hay một xã hội. Một gia đình hoàn mỹ luôn luôn có sự hiện diện của tình yêu đích thực, hạnh phúc gia đình, lòng chung thủy, sự hy sinh và niềm tin tôn giáo. Đó là những yếu tố quan trọng và căn bản của một mái ấm gia đình hạnh phúc vẹn toàn mà nhà văn Khánh Lan ghi nhận trong tác phẩm Đoá Hoa Nở Muộn của nhà văn Kiều My. Tác phẩm của bà thuộc loại tiểu thuyết tình cảm xã hội về tình trường lồng vào những bối cảnh và cốt truyện nhằ đề cao giá trị của người phụ nữ trên thế giới nói chung và người phụ nữ Á Đông nói riêng…

    • Tình yêu, Hôn Nhân và Niềm Tin Tôn Giáo:

    Nhà văn Vi Khiêm cũng nêu lên những tư tưởng của ông khi nhận định về tình yêu, hôn nhân và niềm tin tôn giáo trong tác phẩm Đoá Hoa Nở Muộn: Hình như định mệnh đã đưa đẩy Trúc Phong gặp Thuý An, đó là mối tình đẹp khởi đầu cho một cuộc hôn nhân trọn vẹn, một gia đình hạnh phúc, họ tin tưởng Thiên Chúa đã ban cho gia đình họ một niềm tin sắc son, hai đứa con chung là sự keo sơn gắn bó trong tình nghĩa vợ chồng….

    Ông kết luận rằng: ”Đoá Hoa Nở Muộn” một chuyện tình tràn đầy hạnh phúc chen lẫn đau thương của một phận người. Tác phẩm “Đoá Hoa Nở Muộn”, đề cao niềm tin tôn giáo, tình yêu bất diệt, sự hy sinh cao quý và lòng chung thủy trong đạo nghĩa vợ chồng.

    Đúc kết 3 phiên Hội thảo với nhà văn Việt Hải và tác giả Kiều My.

    1. Lời Ngỏ của Tác Giả Kiều My:

    Nhà văn Kiều My đã ký thác tâm nguyện trong “Đoá Hoa Nở Muộn” muốn gửi đến quý độc giả một tình yêu thánh thiện, một tình yêu thủy chung, một tình yêu thiêng liêng (mà tiếng Pháp gọi là Platonic) chỉ có tình yêu chung thủy và thánh thiện mới có thể mang đến hạnh phúc cho chúng ta. Trong đời sống hôn nhân không chỉ có thuần tuý tình yêu đôi lứa thôi, mà cần có niềm tin tôn giáo, là hậu thuẫn vững bền cho gia đình, vì gia đình là nền tảng của xã hội, gia đình có bền vững thì xã hội mới được tốt đẹp và lành mạnh hơn.

    • Nhà văn Việt Hải nhận định:

    Tác phẩm ”Đoá Hoa Nở Muộn“ là một tiểu thuyết thố lộ tâm tình của tác giả, truyện đi vào đời sống con người. Và văn chương vốn gắn bó với cuộc sống đời thường của chúng ta. Văn hào Maxim Gorky cho là cái mỹ học của văn chương vốn đem con người về với bản chất chân thiện mỹ. Trong văn học phương Đông, truyện tiểu thuyết xuất hiện từ đầu bán thế kỷ 20, cũng như theo lịch sử phát triển tiểu thuyết của nền văn học thế giới những thành tựu rực rỡ: từ những kiệt tác tiểu thuyết văn chương mà các diễn giả nêu ra trong buổi hội luận văn học hôm nay. ”Đoá Hoa Nở Muộn” là một cuốn truyện tinh cảm lãng mạn mang nét đẹp chân thiện mỹ. Tiểu thuyết lãng mạn được dựa trên phản ứng cảm xúc và có những cảnh đau khổ và nét dịu dàng, và cốt truyện được sắp xếp để nâng cao cảm xúc hơn là hành động. Khả năng biểu hiện những cảm xúc như vậy được cho là để thể hiện tính cách và kinh nghiệm, đồng thời giúp hình thành cuộc sống và mối tương quan xã hội tích cực. Các diễn giả đã đào sâu vấn đề này rồi. Hơn nữa, tiểu thuyết lãng mạn thường viết về tình yêu và nỗi đam mê. Thông thường, trọng tâm là hai nhân vật yêu nhau nhưng có vấn đề hoặc trở ngại khiến họ phải xa nhau, và có một kết thúc để lại một sự lưu luyến nào đó như trong ”Đoá Hoa Nở Muộn“ của Kiều My. Từ tác phẩm ”Đoá Hoa Nở Muộn “ ta nghĩ đến văn chương và cuộc sống. Sự kiện có vẻ như văn chương chuyên chở cuộc đời, đấy là văn chương chân thực. Qua cốt truyện có đôn hậu thuỷ chung, dù éo le không trọn vẹn. Đọc truyện về cuộc sống giá như điểm bi đát của thực tế của con người. Dòng đời tạo ra những bi thảm cho con người xuyên qua những ưu phiền chia ly, trong cái sương mù của cuộc đời, trong những điều lưu luyến của tác phẩm. NV Viết Hải kết luận:

    Một ngòi bùt hoàn thành một tác phẩm thì bạn là nhà văn.

    Chúc mừng Kiều My với 2 danh ngôn sau.

    “Một nhà văn là một người viết văn chịu đựng khó khăn hơn bất kỳ ai khác” (theo Nobel-Prize-winning German literary figure Thomas Mann, Essays of Three Decades).

    (A writer is someone for whom writing is more difficult than it is for other people).

    “Writing is its own reward.” (Viết văn là phần thưởng của Viết văn, văn hào-Henry Miller).

    Sau cùng, Đoá Hoa Nở Muộn cũng nói lên triết lý bất di bất dịch ngàn đời là: không gì vĩnh cửu trên cõi đời này, không gì tồn tại mãi mãi, có sinh thì có tử, có hợp thì có tan. Đó là điều luật tự nhiên mà mọi người chúng ta phải cúi đầu chấp nhận.


    Buổi hội thảo Văn Học rất sôi nổi và nhiều ý nghĩa, thích thú nhất là về tình yêu lãng mạn nhưng cũng nhiều kịch tính, qua phần trình bày bởi các diễn giả được vỗ tay nhiệt liệt tán thưởng, một vài câu hỏi đặt ra cũng được nhà văn Kiều My trả lời rất chi tiết.

    Phần văn nghệ với nhiều ca khúc ngoại quốc và Việt nam với sự đóng góp của nhiều ca sĩ cùng thân hữu. Lời cảm tạ của Ban Tổ Chức và chương trình bế mạc vào lúc 4:30 chiều sau phần chụp hình lưu niệm, ca sĩ Mỹ Lan sôi động sân khấu với liên khúc “60 Năm Cuộc Đời và Tình Lính” kết thúc chương trình thật vui nhộn. Một buổi tiệc mừng thân mật vào lúc 5 giờ chiều cùng ngày với nhà văn Việt Hải, thành viên Liên nhóm và thân hữu đã quây quần tại Nhà hàng Kim Sư mừng sự thành công tốt đẹp của tác giả Kiều My.


    Theo ý tưởng của người viết, buổi ra mắt tác phẩm Đoá Hoa Nở Muộn là cột mốc cho NVNT & TTG tiến xa hơn trong tương lai, hầu đào tạo thêm nhiều cây bút mới cho văn chương Việt Nam.

    Mộng Thuỷ

    California, August 2021

  • Khánh Lan,  Tin tức

    ĐÓA HOA NỞ MUỘN CỦA NV KIỀU MY DƯỚI LĂNG KÍNH CỦA KHÁNH LAN

    NHÀ VĂN KIỀU MY & KHÁNH LAN

    Dưới góc nhìn của Khánh Lan thì Xã hội bao gồm nhiều cá thể mà trong đó có nhiều gia đình khác nhau hợp lại thành một tổng thể hay một xã hội. Một gia đình hoàn mỹ luôn luôn có sự hiện diện của tình yêu đích thực, hạnh phúc gia đình, lòng chung thủy, sự hy sinh và niềm tin tôn giáo.

    Đó là những yếu tố quan trọng và căn bản của một mái ấm gia đình hạnh phúc vẹn toàn mà Khánh Lan ghi nhận được trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của nhà văn Kiều My. Tác phẩm của bà thuộc thể loại tiểu thuyết tình cảm xã hội về tình trường lồng vào những bối cảnh và cốt truyện nhằm đề cao giá trị của người phụ nữ trên thế giới nói chung và những người phụ nữ Á Đông nói riêng.

    Ở đây Khánh Lan xin trình bày về hai khía cạnh:  

    • Tình yêu, hôn nhân trong lãnh vực tâm lý.
    • Tình yêu, hôn nhân và niềm tin tôn giáo. 

    I. Tình yêu, hôn nhân trong lãnh vực tâm lý:

    Câu hỏi được đặt ra ở đây là tình yêu, hôn nhân và lãnh vực tâm lý có liên quan như thế nào? Trước hết, Khánh Lan xin được định nghĩa tình yêu, hôn nhân và tâm lý là gì?

    Tâm lý có nghĩa là những cảm xúc của con người mà cảm xúc là trạng thái tâm lý giao động tình cảm của từng cá nhân. Còn tình yêu là một loạt cảm xúc hay sự rung động phát xuất từ trái tim.

    Chính vì sự liên hệ giữa cảm xúc và tình yêu nên có những lúc chúng ta cảm thấy vui khi có tình yêu trọn vẹn và có lắm lúc chúng ta cảm thấy đau buồn khi cuộc tình chẳng may gãy gánh giữa đường như trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của nhà văn Kiều My.

    Trong truyện, nhà văn Kiều My nói về một hạnh phúc ngắn ngủi, một tình yêu chưa kịp chín mùi đã vội tan và để lại trong lòng người thiếu phụ Thúy An một sự trống vắng, cô quạnh giữa cái tuổi mà nhà văn Khái Hưng gọi là “Nửa Chừng Xuân”.

    Trong đời sống thực tại tình yêu là nền tảng của hôn nhân. Hôn nhân mà không có tình yêu, sự hy sinh và lòng chung thủy thì khó có thể tạo dựng một gia đình êm ấm, hạnh phúc. Vậy khi chúng ta đang có một một cuộc hôn nhân hạnh phúc trong tay thì chúng ta phải làm gì để giữ các hạnh phúc ấy?

    Khánh Lan xin được dùng câu danh ngôn của nữ văn sĩ Ann Landers để diễn tả một phương hướng hay một lối nhìn trong khía cạnh tình yêu. Bà ghi nhận:

    “Tình yêu là tình bạn đã sâu đậm.

    Đó là sự thấu hiểu, tin tưởng, chia sẻ và tha thứ cho nhau.

    Đó là lòng trung thành qua những thời điểm tốt và sấu.

    Đó là sự bằng lòng cho những gì không hoàn hảo và chấp nhận cho những yếu điểm của con người”

    Câu nói trên như có ngụ ý nhắc nhở chúng ta hạnh phúc là gì? Phải chăng là sự tận hưởng những gì đang ở trong tầm tay, là chấp nhận những sự không hoàn mỹ trong tình yêu, để được chìm đắm trong niềm hạnh phúc hiện hữu, đích thực. Đó là lúc bạn có một tình yêu hoàn mỹ.

    Ngược lại, khi cái hạnh phúc nong manh lặng lẽ ra đi như Thúy An trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của NV Kiều My đã dẫn đến một mối tình dang dở và để lại trong ký ức của nhân vật chính trong truyện những cảm xúc nuối tiếc, day dứt và sầu bi.

    Khánh Lan lại xin dùng lời nói của nhà văn Jackie Viramontez khi bà nhận định điều gì chúng ta cần phải biết khi mất tình yêu.

    “Các quan hệ trong quá khứ là một mất mát, nên chúng ta phải coi chúng như là một mất mát.

    Hãy cứ đau buồn, sầu khổ. Hãy đi đến tận cùng của nỗi đau để chúng đừng mãi mãi ngự trị trong tâm hồn và cuộc đời của chúng ta.”

    Trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của nhà văn Kiều My, bà đã thành công vượt bực trong lời văn khi diễn tả nỗi tiếc thương người bạn đời tri kỷ Trúc phong. Sự cô đơn của Thúy An khi mất người yêu, một người yêu dấu đã từng chia sẻ những ước mơ.

    Thật vậy, khi bạn mất đi người bạn đời với nhiều năm gắn bó, bạn cảm thấy cuộc sống trở thành vô nghĩa, bạn nhận thấy lòng mình tan rã, suy nghĩ của bạn bị tê liệt. Bạn thấy choáng ngộp, vô vọng, bất lực trước vòng xóay của tạo hóa. Bạn cảm thấy cuộc sống là vô thường, bạn tự cách ly với mọi người và thu mình vào một góc nhỏ của riêng mình.

    Trong đời sống tâm lý, bạn phải tự giúp mình thoát ra khỏi góc nhỏ ấy, bởi khi bạn trải qua một nỗi đau của sự mất mát là bạn bắt đầu một cuộc hành trình cá nhân để hiểu biết thế nào là ý nghĩa của sự mất mát và ảnh hưởng của nó trong đời sống của bạn.

    Sự đau buồn sẽ đưa chúng ta qua những thử thách trên nhiều lãnh vực khác nhau gồm: Cảm xúc, tinh thần, thể chất và xã hội. Đối phó với sự mất mát là một việc làm rất khó khăn và mỏi mệt. Nhưng đó là những phản ứng bình thường và xảy ra cho hầu hết mọi người.

    Điều quan trọng là làm thế nào để bạn có thể bắt đầu một quá trình cảm nhận, hiểu và chấp nhận sự mất mát của bạn, bởi sự mất mát, đau buồn, cô đơn, cách ly sẽ đưa bạn vào con đường trầm cảm, con đường mà bạn không bao giờ muốn bước vào.

    Sự hỗ trợ của gia đình, lãnh đạo tôn giáo, cố vấn tâm lý, cộng đồng và bạn bè sẽ giúp bạn thoát ra khỏi những cảm xúc ấy. Họ là nơi an toàn để bạn có thể chia sẻ, tâm sự mà không bị tổn thương hay phản bội và đó là nơi bạn nhận được sự giúp đỡ tận tình.

     II. Trong lãnh vực tình yêu, hôn nhân và niềm tin tôn giáo:

    Khánh Lan đã đọc được một đoạn văn rất hay trong Vườn Hoa Phật Giáo, đoạn văn ấy ghi nhận rằng:

    “Để thực sự yêu thương và tôn trọng nhau thì trước hết các bạn nên giữ vững niềm tin tôn giáo của riêng mình. Chính sự tôn trọng tuyệt đối tín ngưỡng của mỗi cá nhân trong gia đình là biểu hiện cụ thể của việc thương yêu, hiểu biết, thông cảm và tôn trọng nhau thật sự.”

    Điều này chứng tỏ: Giáo Hội Phật giáo cũng như Giáo Hội Công Giáo đều cho rằng chúng ta cần phải thận trọng và chính chắn một khi chúng ta quyết định đi đến hôn nhân. Tôn trọng tự do tín ngưỡng cá nhân là điều quan trọng, được công nhận bởi cả hai tôn giáo: Phật giáo và Công giáo. Cả hai tôn giáo không hề ngăn cấm tín đồ kết hôn với người khác đạo nhưng cũng chẳng khuyến khích hay khuyên tín đồ dùng hôn nhân để lôi kéo hay dụ dẫn người phối ngẫu phải theo tín ngưỡng của mình.

    • Nếu sự kết hôn mà bắt buộc người bạn đời phải theo tôn giáo của mình thì bạn trở nên quá ích kỷ, xúc phạm và không tôn trọng người bạn đời tương lai của mình, bởi niềm tin tôn giáo của một người là điều thiêng liêng, sâu kín và bất khả xâm phạm.
    • Khi sự kết hôn không cùng tôn giáo, cuộc sống vợ chồng cũng ít nhiều gặp khó khăn. Trong thời gian đầu chung sống, nhờ tình yêu và khát vọng của tuổi trẻ, chúng ta có thể khỏa lấp những khác biệt về niềm tin trong tôn giáo. Nhưng khi về già, những đam mê luyến ái lắng xuống, lúc ấy, sức sống tâm linh sẽ trỗi dậy, những mâu thuẫn, bất hoà, xung đột xưa kia vốn âm ỉ trong ký ức, nay bắt đầu xuất phát. Chính điều này có thể dẫn đến đổ vỡ bởi những xung đột, trắc trở trong tình yêu. Ngoại trừ trường hợp,  những cập hôn nhân thực sự yêu thương, hiểu biết, thông cảm và tôn trọng lẫn nhau thì mới có thể vượt qua.
    • Khi tình yêu của bạn được hai bên gia đình đồng ý và chấp thuận cho phép người bạn đời của bạn theo tôn giáo của bạn, thì đó là giải đáp tuyệt vời nhất. Nhưng nếu khi bố mẹ không cho phép thì chắc chắn bạn cũng gặp không ít những khó khăn.
    • Trong trường hợp gia đình cho phép hai bạn đến với nhau như “đạo ai người nấy giữ”. Giải pháp này khá toàn vẹn vì bạn vừa làm tròn chữ hiếu mà vẫn giữ được chữ tình. Khi đi theo lựa chọn này, bạn nên có những trao đổi và thỏa thuận với người bạn đời về những vấn đề như niềm tin, vai trò và trách nhiệm của vợ chồng trong việc giáo dục con cái, sau này cho con theo đạo của bố hay mẹ… để tránh những mâu thuẫn về sau.

    Nhà văn Vi Khiêm cũng đã nêu lên những tư tưởng của ông khi nhận định về tình yêu, hôn nhân và niềm tin tôn giáo trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của nhà văn Kiều My như sau:

    Trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của tác giả Kiều My, hai nhận vật chính là Thúy An và Trúc Phong có tín ngưỡng là Thiên Chúa Giáo. Niềm tin vào Thiên Chúa của Thúy An và Trúc Phong đã tỏ rõ trong suốt con đường “Tình Yêu” từ thuở hai người gặp nhau, yêu nhau, lấy nhau và cho đến ngày cuối đời như một định mệnh.

    Duyệt qua tác phẩm “Đóa Hoa Nở Muộn”, nhà văn Vi Khiêm nhận định: Hình như định mệnh đã đưa đẩy Trúc Phong gặp Thúy An. Khi ấy, Trúc Phong đã ở tuổi lục tuần và Thúy An cũng đã đi qua 40 mùa xuân. Cuộc đời của Thúy An chẳng phải lỡ làng mà có lẽ nàng được sinh ra để đợi chờ. Đợi chờ một mối tình nồng nàn đích thực mà Trúc Phong đã dành cho nàng.

    Nhà văn Vi Khiêm viết, tình yêu của đôi uyên ương Thúy An và Trúc Phong ví như trong câu ca dao dưới đây:

    “Cây đa lá rụng đầu đình,

    Bao nhiêu lá rụng thương mình bấy nhiêu”.

    Đó là một mối tình đẹp khởi đầu cho một cuộc hôn nhân trọn vẹn, một gia đình hạnh phúc. Thúy An đã sanh cho Trúc Phong một cặp song sang trai gái vẹn toàn, một tác phẩm tình yêu tuyệt vời mà Trúc Phong và Thúy An tin tưởng rằng Thiên Chúa đã ban cho gia đình của họ, do niềm tin sắc son vào Thiên Chúa. Hai đứa con là sợi dây thắt chặt thêm sự keo sơn gắn bó trong tình vợ chồng, nghĩa phu thê.

    Tạo hóa xoay vần, hạnh phúc tan biến, âu lo ập đến, cơn bệnh suy tim quái ác kia khiến sức khỏe của Trúc Phong yếu dần. Những ngày chăm sóc chồng đã không làm thuyên giảm tình yêu mà Thúy An dành cho Trúc Phong. Phải chăng niềm tin tôn giáo đả giúp Thúy An vượt lên trên sự vị kỷ, để nàng sẵn sàng hy sinh cho người bạn đời của mình, bất chấp những gian khổ, nhọc nhằn. Mặc cho định mệnh đẩy đưa cuộc đời mình cho đến ngày Trúc Phong vĩnh viễn xa nàng.

    Nhà văn Vi Khiêm kết luận: “Đóa Hoa Nở Muộn”, một chuyện tình tràn đầy hạnh phúc chen lẫn thương đau của một phận người. Tác phẩm “Đóa Hoa Nở Muộn”, đề cao niềm tin tôn giáo, tình yêu bất diệt, sự hy sinh cao quý và lòng chung thủy trong đạo nghĩa vợ chồng.

    Khánh Lan xin được dùng câu danh ngôn của Nhà văn Mỹ Richard Puz trong tác phẩm “The Carolinian” đã nói:

    “Cái chết để lại nỗi đau không ai có thể chữa lành, tình yêu để lại ký ức không ai có thể lấy đi”

    Khánh Lan

    California August 2021

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Vườn hoa Phật Giáo.
    2. Internet / Wikipedia.
    3. Bài nhận định của NV Vi Khiêm, Nguyễn Văn Liêm về tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn.

    MỜI VÀO XEM VIDEO VỀ BÀI VIẾT CỦA KHÁNH LAN.