-
MỘT LÁ CỜ, MỘT NGỌN NẾN, MỘT BÔNG HỒNG VÀ MỘT LỜI CẦU NGUYỆN
-
Tây Ninh Quê Tôi – Việt Hải

Tây Ninh là quê hương tôi, vì tôi ra đời tại đó, dù không sống tại đó lâu, nhưng những năm tháng về nơi này nghỉ hè cũng đủ cho tôi cái tình thân ái của những năm tháng thiếu thời. Gần 3 thập niên xa quê hương ngoài ý muốn, tâm tư tôi vẫn không nguôi ngoai nhìn về cố quốc trong nhung nhớ, mặc dù quê hương vẫn còn chìm đắm trong sự tụt hậu so với các lân lang. Người dân chịu nhiều thiệt thòi nhất trong lịch sử quê hương. Để nhẹ nhàng cho bài viết, tôi không đi sâu về sự tụt hậu này, mà lý do ly hương của đa số người Việt tại hải ngoại đã nói lên đủ rồi. Do đó, khi tìm hiểu về vùng đất nào đó, người ta thường bàn về các yếu tố như lịch sử, địa dư, phong cảnh, di tích và thức ăn hay thổ sản tiêu biểu. Trong ý niệm như vậy cho bài viết ngắn này, tôi xin phác họa những nét đại cương về Tây Ninh hay về quê hương tôi như trong phần sau.
ĐỊA DƯ:
Về địa lý, Tây Ninh cách Sài Gòn 99km về hướng bắc, chu vi dài 214km. Phía bắc Tây Ninh tiếp giáp với tỉnh Kompong Cham của Cao Miên, phía nam giáp tỉnh Hậu Nghĩa, phía đông giáp tỉnh Bình Dương và phía tây giáp 2 tỉnh Prey Veng và Svay Rieng của Cao Miên. Do đó, khi nhìn vào bản đồ địa lý thì Tây Ninh có biên giới chia chung với xứ láng giềng Cao Miên khá nhiều. Về diện tích thì Tây Ninh choáng khoảng 3850km vuông. Địa thế Tây Ninh quan trọng là vì nằm ngay trên trục giao thông nối liền Sài Gòn sang Miên. Tây Ninh nằm trên địa thế khá cao là 15 mét trên độ cao của mặt biển. Về khí hậu thì Tây Ninh rất nóng, ẩm ướt vào mùa nóng bức, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.
LỊCH SỬ:
Điểm qua về lịch sử Tây Ninh là vùng đất của Thủy Chân Lạp, có tên là Romdum Ray, tức Chuồng Voi (Pare aux éléphants) vì nơi đây chỉ có rừng rậm với muôn thú dữ mà cọp, voi, beo, rắn.. cư ngụ. Những người thổ dân ở đây sống rất thiếu thốn, cơ cực cho đến khi người Việt di cư đến định cư khai khẩn đất đai từ Hốc Môn lên Trảng Bàng, rồi qua Gò Dầu lên tận núi Bà Đen. Vì người Việt đến định cư mang theo ngôn ngữ, phong tục, tập quán hay văn hóa khác với người Miên, nên khi người Việt tràn đến đâu thì người Miên tự động lui về hướng tây tức vào sâu sang biên giới nước họ. Khi đó
đất Tây Ninh được Triều Đình Huế sáp nhập vào nền hành chánh của tỉnh Gia Định (tức Phiên An trấn). Khi Chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh đuổi bỏ chạy vào Nam, ông chạy lên Tây Ninh ẩn náu, tìm đường sang Miên, rồi bắt liên lạc cầu viện quân Xiêm trợ giúp đánh lại Nhà Tây Sơn. Tuy vậy, Nhà Tây Sơn đánh bại quân Xiêm. Năm 1789, Chúa Nguyễn nhờ đến viện binh là quân Pháp sang giúp. Năm 1802, Chúa Nguyễn Phúc Ánh dẹp xong Nhà Tây Sơn và lên ngôi lấy vương hiệu là Gia Long, quốc hiệu là Đại Nam. Đến thời kỳ Vua Thiệu Trị và Tự Đức, quan Thủy Chân Lạp hay Cao Miên đem quan sang đánh phá muốn chiếm lại đất đai, Tây Ninh là lãnh thổ tiếp giáp hai bên giằng co. Nhưng cuối cùng quân Miên yếu thế thua cuộc bỏ mộng lấy lại đất đai. Trong những trận thư hùng với quân Miên, có những anh hùng Việt Nam đền nợ nước, trong đó có quan tri phủ Huỳnh Công Giản mà miếu thờ ông là một trong những chốn di tích ghi công tiền nhân tại Tây Ninh. Về lãnh thổ hành chánh thì tỉnh Gia Định thời bấy giờ rất rộng lớn, nó bao trùm các vùng đất Tây Ninh, Tân Bình, Chợ Lớn, Tân An và Gò Công vào Sài Gòn. Sau này dưới thời Pháp thuộc để dễ kiểm soát, nền hành chánh mới qui định lại lãnh thổ mà vùng Trảng Bàng được làm ranh giới phân chia hai tỉnh Tây An và Tây Ninh. Riêng tỉnh Tây Ninh gồm hai vùng đất chính là Tây Ninh và Gò Dầu. Điểm đặc biệt của thuở xa xưa đó là đất Tây Ninh có vô số cây bàng lác, là loại cây thổ sản dùng làm bao xách hay làm đệm. Còn Gò Dầu là vùng đất cao có vô số cây dầu mà người dân đốt đèn. Gò Dầu lại chia làm hai vùng là Gò Dầu Hạ nơi có cư dân qui tụ sầm uất và Gò Dầu Thượng giáp ranh biên giới Miên. Dưới thời chính phủ VNCH cải danh Gò Dầu thành quận Hiếu Thiện vì nó tượng trưng cho dân tình vốn trung hiếu hiền hòa.
DANH LAM THẮNG CẢNH:
Nói về di tích hay danh lam thắng cảnh, đến Tây Ninh người sẽ đi thăm Thánh Thất Cao Đài, một Tòa Thánh thật nguy nga, tráng lệ, là nơi mà đạo Cao Đài được phát sinh rất linh thiêng tại thánh địa này. Kế nữa là rất nhiều địa danh, những cổ miếu, những cổ tự như Linh Sơn Cổ Tự với núi Bà Đen, Chùa Ông Gia Ninh, Giếng Mạch Thiên Nhiên, Cổ Tháp Prey Prasath di tích của người Miên, Lăng Ông Huỳnh Công Nghệ, Miếu Ông Gốc, Dinh Ông Gò Dầu Thượng, Miếu Ông Cả Trước, Miếu Thờ Ông Huỳnh Công Giản, Miếu Thờ Ông Huỳnh Công Thắng, Phước Lâm Cổ Tự, Thiền Lâm Cổ Tự, Cẩm Phong Tự, Hiệp Long Cổ Tự, Cổ Lâm Tự (Thanh Điền), Từ Lâm Tự (Gò Kén), Chùa Ông Phước Kiến, Đình Thái Bình, Đình Hiệp Ninh, Đình Thạnh Đức, Đình Gia Lộc.. Do đó Tây Ninh là một vùng đất linh thiêng, có nền văn hóa lâu đời hổn hợp giữa người Miên và Việt.
THỨC ĂN:
Đến Tây Ninh, người ta không thể quên những tô bánh canh, những dĩa thịt heo luộc cuốn bánh tráng, rồi món bì ram, cháo lòng hay cháo bồi là những đặc sản “rất Tây Ninh”.
1) Cháo Lòng:
Cháo lòng Tây Ninh gồm đủ lục phủ ngũ tạng của loài heo như dồi trường, lá mía, tim, cật, huyết và gan. Gạo được rang cho thơm xong ta nấu gạo cho nhuyễn nhừ, cho các thứ lòng vào nấu chung cho chất ngọt do cốt trong các món lòng heo tiết ra. Công phu nhất là món dồi nướng sả. Ruột già của heo mua về lật ngược bề trong bằng chiếc đũa, xong chà xát bề trong ruột với muối cho thật sạch trong dung dịch dấm hoặc rượu đế để khử mùi hôi. Xong phơi ruột cho ráo. Khi dồn nhân làm dồi, ta lật lại chiều của ruột nguyên thủy. Nhân là thịt heo bằm nhuyễn trộn chung với tỏi sả ớt bằm, cho tiêu sọ hột vào nêm muối cho vừa ăn (tùy khẩu vị, người viết ăn khá lạt). Nhân được nhồi vào ruột mà một đầu được thắt bằng sợi chỉ. Đầu kia được cột khi dồi được căng đều. Xong ta nướng dồi bằng lửa than hay lò điện. Món đồi này ăn với cháo hay lai rai ba sợi với bia hay cognac pha Perrier cũng bắt mồi không kém.
2) Cháo bồi:
Cháo bồi là gì? Nó chính là món cháo bột báng mà phần thịt lại giống với món bánh canh. Do vậy, nhiều hàng bánh canh bán song song với cháo bồi bột báng. Cháo được rang thơm xong nấu thành cháo chín nhừ với bột báng. Điểm đặc biệt của cháo bồi khác cháo thường ở món bột báng. Bột báng khi nóng làm cho cháo sền sệt với độ lỏng trơn tru dễ nuốt. Thịt heo nạc phần giò heo khi ta cắt khoanh ra có da, thịt và gân. Điểm thêm hành ngò, tiêu và nước mắm thì đúng điệu cháo bồi.
3) Bánh canh:
Nói tới bánh canh thì bột bánh canh có hai loại là loại bột gạo trắng đục và loại bột năng trắng trong. Theo ký ức cũ của tôi thì hình như người Tây Ninh chỉ dùng loại bột gạo. Nước lèo cho món bánh canh nấu tương tự như món hủ tiếu hay mì nước, tức chúng ta nấu nước dùng bằng xương heo. Thịt cho món bánh canh thì tận dụng tối đa 4 cái giò của con heo, nghĩa là chúng ta dùng giò phần thịt và phần bàn chân heo có cả móng. Tôi nhớ bà nội tôi dạy tôi ăn món này đầu đời là lấy nước mắm ngon (có nước mắm nhỉ thì càng tuyệt vời tâm tư) cho ớt chín đỏ cắt khoanh vào, nặn chanh cho vị cay, chua và mặn hòa lẫn nhau cho lâm li vị giác. Món này được tìm thấy nhiều nơi từ Trảng Bàng về tới Tây Ninh.
4) Thịt và lòng heo cuốn bánh tráng:
Vì các gian hàng hay các quầy bán cháo lòng và bánh canh dùng các sản phẩm heo, nên các món khác được tạo ra là món giò heo, thịt heo hay lòng heo luộc cuốn bánh tráng chấm nước mắm pha thật ngon. Món này cần có rau sống đi kèm. Tây Ninh là miền đất trù phú do thiên nhiên ưu đãi nên Tây Ninh có đủ loại rau từ rau sống đến các loại rau đọt chiếu, hay những lá xanh non, có vị chua rất bắt với món ăn cuốn bánh tráng như bì cuốn, nem cuốn, cá hấp hay cá nước cuốn bánh tráng đến món thịt hay lòng heo cuốn bánh tráng.
5) Nước mắm chấm:
Theo công thức mẹ tôi lưu truyền trước ngày tôi lên xe hoa về nhà vợ thì nước mắm được pha theo tiêu chuẩn như sau:-2/3 chén nước mắm loại ngon hoặc loại khá (loại dở có nồng độ mặn hơn, độ đạm ít hơn, cần pha chế gia giảm theo kinh nghiệm).
-1/2 chén dấm trắng (có thể thay bằng chanh)
-1/3 chén đường cát trắng.
-2 chén nước lọc (nếu ăn lạt dùng 3 chén)
-Ớt, tỏi bằm tùy khẩu vị mà nêm vào.
Theo kinh nghiệm khẩu vị, mỗi người tự biến chế theo cung cách riêng.
6) Món bì ram:
Tây Ninh làm món bì ram có phần hơi khác với các tỉnh khác vì cách làm thịt cho món bì theo cung cách khác. Đa số các tỉnh luộc thịt heo xong rồi thái sợi. Kiểu Tây Ninh là ram hay chiên thịt heo cho tỏi vào dầu phi thơm, khi thịt chín vàng óng ả, vớt ra dùng chầy hay bề sống của dao phay (phần lưng không nhọn) dần cho mềm và tưa ra. Xong ta trộn thính và bì tươi vào thịt tưa nêu trên. Bì thịt này dùng chung cho cơm tấm, bì bún hay bì cuốn.
VỀ VĂN HỌC:
Những sinh hoạt thi văn đàn đã phát sinh rất thịnh hành tại Tây Ninh mang vào lịch sử của tỉnh này bao nhân tài văn thơ. Dù hoạt động của họ về thi văn khá nổi bật trong địa bàn miền Nam. Đầu thế kỷ 19, khi nền văn học chữ quốc ngữ được phát triển thì nhóm nhà thơ tiền bối Tây Ninh ra đời năm 1915, họ họp nhau lại làm thơ, họa thơ và ngâm thơ. Những nhân vật tiêu biểu là cụ Đốc Phủ Tô Ngọc Đường, cụ Hương Cả Huỳnh Văn Tâm, cụ Hương Lễ Võ Văn Sâm, gọi tắt là Võ Sâm, là những gương mặt lãnh đạo thi đàn. Cụ Võ Sâm trở thành nhân sĩ đại biểu cho Tây Ninh, cụ cũng là soạn giả biên khảo quyển “Thi Phú Văn Từ” được giới văn học thời bấy giờ trọng nể. Nối tiếp nhóm Thi Đàn của cụ Võ Sâm và Văn Đàn Quốc Biểu của cụ Nguyễn Văn Hiến. Nhóm Quốc Biểu sinh hoạt văn học họp nhau định kỳ mỗi tuần trao đổi văn thơ. Họ họp nhau tại Gò Chẹt tại Tây Ninh. Nhóm này quy tụ khá nhiều thi văn hữu như quý ông: Thanh Vân, Nguyễn Toại Chí, Thanh Phong, Nguyễn Văn Trí, Lâm Tuyền, Võ Trung Nghĩa, Võ Văn Tấn, Sầm Sơn, Nguyễn Văn Vàng, Du Tử, Mai Huê, Lê Văn Thành, Nhà Quê, Dương Văn Kim, Nhất Thiện…
Một trong những sinh hoạt nổi bật là nhóm của quý cụ tiền bối Võ Sâm và Tô Ngọc Đường xướng họa cùng nữ sĩ Sương Nguyệt Anh của tỉnh Bến Tre. Bà là con gái của cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu. Nhân dịp xuân tân niên Tân Sửu 1901, làng thơ Tây Ninh tổ chức hội thơ tại Điện Núi Bà hay Linh Sơn Thánh Mẫu, nơi thắng cảnh thiên nhiên rất hùng vĩ, uy nghi, trước những hàng mai trắng đang trổ hoa mừng xuân, nữ sĩ Thụy Khuê Sương Nguyệt Anh cảm tác ba bài thơ mà tôi xin trích hai bài tiêu biểu là “Thưởng Bạch Mai Cảm Đề” và “Linh Sơn Nhất Thụ Mai” để tặng làng thơ Tây Ninh để tạ lòng lời mời của các thi nhân nặng tình thi phú Tây Ninh và Bến Tre như sau:
Non linh đất phước trổ hoa nhân
Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân
Tuyết được nhành tiên in sắc trắng
Sương pha bóng nguyệt ánh màu ngân
Mây lành gió lạnh nương hơi chánh
Vóc ngọc mình băng hắt khói trần
Sắc nước hương trời nên cảm mến
Non linh đất phước trổ hoa thần
(Thưởng Bạch Mai Cảm Đề)
Vài bài thơ Đường bằng Hán tự khi xuân về tại Linh Sơn mà nữ sĩ Thụy Khuê cảm tác:
Quỳnh tư ngọc cốt bản thiên chân
Tịnh độ cô liêu viên tục trần
Noãn nhập ám hương xuân dật dừ
Hàn xung sơ ảnh nguyệt tà thần
Tuyết trung tự khước lưu phong vận
Phong ngoại ưng liên đạp tuyết nhân
Thừa hứng mạc hiểm sơn thủy viễn
Đồng lai dự tử phú dương xuân
(Linh Sơn Nhất Thụ Mai)
Bài thơ trên được thi sĩ Hi Đạm của Tây Ninh chuyển ngữ sang nghĩa Việt:
Ngọc quỳnh cốt cách trời ban
Đất tịnh trơ vơ lánh thế gian
Ấm áp hương đầm xuân buổi sớm
Lạnh lùng bóng nhs5t nguyệt đêm tàn
Nghĩ thân ánh tuyết hơn sương đượm
Thương kẻ hài sương gót tuyết chan
Mến cảnh nước non xa chớ ngại
Cùng lên ngâm vịnh tứ xuân tràn.
Tóm lại Tây Ninh cũng như bao tỉnh khác có những cái chung và riêng trong lịch sử cấu tạo thành lãnh thổ Việt Nam, Bao thế hệ đi trước đổ mồ hôi, đổ xương máu khai phá đất đai thành vùng đất trù phú từ một vùng đất chỉ có rừng rậm. Viết những lời này ra đây tôi muốn tri ân tình quê hương đậm đà đã cho tôi chào đời và đầy ắp kỷ niệm quê hương khi tắm nước sông Vàm Cỏ Đông, những kỷ niệm chèo ghe chòng chành trên sông với các bạn địa phương, những kỷ niệm khó quên của miệt đồng quê tại nơi mà tôi gọi là quê hương, nó xao xuyến, ngọt ngào như những dòng nước mưa rào đổ xối xả của những ngày tắm mưa vô tư lự trên những con đường đất đỏ lầy lội, để kỷ niệm hiện về quyện lấy tâm thức tôi cả cuộc đời này, nó sẽ mãi như lời của bài hát mà nhạc sĩ mà nhạc sĩ Quách Nam Dung từ bên vùng nam cực của xứ Úc Đại Lợi đã viết tặng cho quê tôi với bao ân tình non sông gấm vóc trong lời nhạc sau đây:
”… Linh Sơn cheo leo, núi thiêng chốn xưa, tiếng kinh vắng xa Tây Ninh thân yêu, giấc mơ thiết tha, sống trong thái hòa. Ai qua nơi đây, nhớ Thánh Mẫu xưa, hiển linh..”.
(”Tây Ninh Quê Tôi”, Quách Nam Dung)
Sau cùng, tôi muốn mượn những câu thơ tiêu biểu của thi sĩ Bửu Đà diễn tả qua bài “Tây Ninh Cảm
Tác” là:
Tây Ninh là tỉnh hiền lương
Bên đời, bên đạo tình thương đậm đà
Trời thương đất lợi người hòa
Tinh thần hướng thiện trên đà nghĩa nhơn.
Với bao nỗi nhớ về quê xưa, hôm nay tôi ngồi đây bằng dòng viết này cách quê tôi 22 ngàn dặm hay nửa quả nữa địa cầu, tôi chạnh lòng cảm tác lại quê tôi qua bài thơ “Nhớ về quê tôi”:
Vàm Cỏ Đông nước chảy hiền hòa
Đồng lúa vàng gợi nhớ tình ta
Con diều căng gió khung trời xưa
Quê hương bao phủ ánh chiều tà
Chim trời xoải cánh về chốn cũ
Núi Bà hùng vĩ áng mây xa
Hỏi ai vương vấn mộng bồi hồi?
Đếm nhớ thương ơi sao đậm đà!
Việt Hải
Tây Ninh, quê tôi đó, nơi mà người dân làm lụng cần cù lại mang đặc tính hiền hòa để tôi mãi mãi nhung nhớ về Gò Dầu, về Tây Ninh và vui sướng được nhìn nhận như một người con của vùng đất quê tôi. Mỗi con người được sinh ra ở miền nào đó, dù phì nhiêu hay nghèo khổ, dù được thiên nhiên đãi ngộ hay không thì nó vẫn là quê hương. Nếu Việt Nam của tôi là một đất nước thiêng liêng luân lưu trong dòng huyết quản, đẹp đẽ về địa lý và văn hóa, thì Tây Ninh của tôi cũng trong sáng trong hai yếu tố đặc trưng đó: Chỉ vì Việt Nam và Tây Ninh đều là quê hương tôi, và tôi đã gắn bó bằng từng thớ thịt, bằng khối óc, bằng con tim hay bằng với cả hai yếu tố đặc trưng đã nêu từ tiềm thức xa xưa của thuở thiếu thời và của hoài niệm đã qua sẽ mãi mãi ngự trị trong tâm hồn tôi, cho nỗi niềm ấp ủ mang theo trong lòng người lưu lạc của quê hương đã thật sự xa xôi cách trở vì địa lý, để Tây Ninh quê tôi vĩnh viễn trong nỗi nhớ nhung hay trong niềm nhớ thương vô biên.
-
Mãi Mãi Bên Em
-
Mừng Lễ Tạ Ơn
-
Thu Về Nơi Quán Xưa
-
XUÂN “TẾT” TRONG THI CA VÀ ÂM NHẠC

“Khu vườn cổ tích” Keukenhof tại thành phố Lisse của Hoà Lan
(Photo Credit: An Nhiên)Câu hỏi được đặt ra là tại sao phần lớn các thi sĩ, nhạc sĩ lại có khuynh hướng chọn mùa thu và mùa xuân để sáng tác? Phải chăng cảnh lá vàng rơi trong buổi chiều vàng đã mang đến sự rung động trong tâm hồn người sáng tác, một cảm giác rạo rực chen lẫn thổn thức của trái tim hay bởi phong cảnh hữu tình của mùa thu đã là nguồn cảm hứng cho hồn thơ lai láng vốn có sẵn trong tâm tư người thi sĩ như trong bài thơ “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư.
“Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh người chinh phu
Trong lòng người cô phụ.
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.”Và cũng bởi cái không khí tươi mát của ngày đầu xuân với cái “se se” lạnh của buổi sáng sương mù, của tia nắng ban mai ấm áp, của những bông hoa muôn màu khoe sắc thắm, của những lá non đâm cành, nở nhụy chào đón một ngày mới, đã là nguồn cảm hứng cho những tâm hồn nghệ sĩ và mơ mộng như Xuân Diệu, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới với phong thơ mang đầy tính chất nồng nàn, thiết tha và khát khao chen lẫn hương vị ngọt ngào, ca ngợi tình yêu bằng âm thanh lãng mạn pha chút vẻ đắng cay, tuy có phần chua chát nhưng không kém phần dí dỏm. Áng thơ của Xuân Diệu luôn bộc lộ những cảm xúc mãnh liệt, rạo rực trong cảnh thiên nhiên của mùa xuân cũng như trong buổi giao mùa, không nhiều thì ít chúng ta thấy có sự ẩn hiện hình bóng của tình yêu. Chính vì thế, cái ngơn ngữ tình yêu đã làm cho những bài thơ về mùa xuân của Xuân Diệu trở nên tuyệt diệu, nhẹ nhàng và êm ái, điển hình là qua hai bài thơNụ cười xuân và Xuân Không Mùa sau đây:
“… Thiếu nữ bâng khuâng đợi một người
Chưa từng hẹn đến – giữa xuân tươi
Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy
Thiếu nữ làm duyên, đứng mỉm cười.”(Nụ cười xuân)
Hay:
“… Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.
Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Như được nắm một bàn tay son trẻ…”Thật vậy, cả hai mùa thu và mùa xuân đều đáng yêu, một đề tài phong phú, một nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca, tuy nhiên trong bài viết này, tôi chỉ xin bàn về “Mùa xuân trong thi ca và âm nhạc” bởi Chúa Xuân xắp đến và mang theo hơi ấm trên toàn vũ trụ, nàng sẽ biến những ngày đông lạnh giá thành những ngày nắng ấm êm, nàng sẽ đem theo lộc non, trẩy lá xanh trên những cành cây khô trơ trụi, nàng nang đến một vườn hoa đầy hương sắc để chào đón một không gian mới. Xuân về khiến lòng người như rộn lên niềm vui, háo hức mong chờ một một năm mới với nhiều điều tốt đep.
Thơ cũng như nhạc và văn, là những nguồn giải trí lành mạnh giúp thi vị hóa cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Không những thế, văn, thơ và nhạc là nơi an toàn nhất để chúng ta ghi lại những cảm xúc qua các hình thức và tâm trạng khác nhau như hỷ, nộ, ái, ố, vốn đã tiềm ẩn sâu trong ký ức của chúng ta từ lâu. Nói một cách khác thì văn, thơ và nhạc chính là nơi để chúng ta gởi gấm niềm tâm sự như Edgar Allan Poe cho rằng “Thơ là sự sáng tạo nhịp nhàng của cái đẹp” hayJakobsom đã định nghĩa: “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” và thi sĩ Phùng Quán của chúng ta thì lại cho rằng thơ là cứu cánh của con người những khi vấp ngã trên trường đời và điều này được tỏ rõ trong câu thơ sau đây của ông:
“Có những lúc ngã lòng.
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”
Thế còn nhạc thì sao? Xin thưa, nhạc cũng chẳng khác gì thơ, Ludwig Van Beethoven, một thiên tài về âm nhạc giao hưởng (Symphony) đã tuyên bố: “Âm nhạc khiến tinh thần của con người bộc phát ra những đốm lửa.” hay Robert Schumann là một nhà soạn nhạc, một nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng của Đức và là một trong những nhà soạn nhạc lãng mạn lừng danh nhất thế kỷ 19, ông đã nhận xét về âm nhạc như sau: “Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người.” Trong làng âm nhạc Việt Nam, các nghệ sĩ sáng tác nhạc qua nhiều trạng thái khác nhau khi nói về mùa xuân hay về TẾT. Phần lớn nhà soạn nhạc thường dùng những ngôn từ hoa mỹ, vui tươi để diễn tả vẻ đẹp của mùa xuân, riêng nhạc sĩ Canh Thân (*) thì khác hẳn, ông dùng lời nhạc để nói về cảnh thiếu thốn của dân nghèo trong mỗi độ xuân về, lời lẽ chua chát, cay đắng, mỉa mai như trong nhạc phẩm Xuân Nghèo:
“… Tiền không gạo hết!
Xuân hỡi xuân! Lấy gì mà mừng xuân?
Tết với nhất không tiền cũng nhạt phèo
Xuân ơi xuân! Ơi là xuân buồn teo!
Rõ đến gớm ghê là cái mạng nghèo
Cứ ám mãi luôn bò theo…”Sau đây, chúng ta cùng nhau bàn về hai lãnh vực được các thi nhạc sĩ chú ý nhiều nhất. Đó là Xuân trong thi ca và âm nhạc.
- Xuân trong Thi ca:
Huy Cận là một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam và là một trong những thi sĩ xuất sắc nhất của phong trào thơ mới. Trong sự nghiệp văn học, ông là người đầu tiên được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn Lâm Thơ Thế giới và Chủ tịch Ủy ban Liên hiệp các Hiệp hội Văn học Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1984 đến năm1995. Phong thơ của ông mang hai trạng thái khác nhau và có khuynh hướng triết lý. Trong khoảng 1936-1940, thơ của ông mang nặng một nỗi buồn mênh mang, da diết, sầu não, hiu quạnh, buồn thương cho cuộc đời, kiếp người cũng như cho quê hương đất nước, nhưng sau này thơ của ông chuyển hướng sang nét vui tươi, yêu đời và trong sáng hơn, điều này thể hiện rõ rệt trong bài Hồn Xuân.
“… Anh khắp rừng cao xuống lũng sâu,
Tìm em, đi hái lộc xuân đầu.
Trồng đâu chân đẹp tròn như cột?
Em đẹp son ngời như cổ lâu.Nghe nhịp đời lên, em bỏ anh,
Đua theo xuân nở rộn trăm cành.
Ý mùa cũng rộn trong thân mới,
Tóc rủ bờ tơ sợi liễu mành.”Chế Lan Viên bắt đầu làm thơ khi ông còn rất trẻ, năm 17 tuổi ông xuất bản tập thơ đầu tay Điêu tàn và trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn có biệt hiệu là “Bàn thành tứ hữu” của Bình Định.
Phong cách thơ của Chế Lan Viên rất rõ nét, độc đáo, đa dạng, phong phú và phảng phất những suy tưởng nghiêng về triết lý. Một bài thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên được nhiều người biết đến và để lại một dấu ấn khó phai trong lịch sử thi ca Việt Nam. Đó là bài thơ với tựa đề “Xuân” với hồn thơ điên loạn, vừa kinh dị vừa thần bí như tiếng khóc của đứa con trung thành với tổ quốc, như lời than cho sự rối bời bế tắc, những ngày tận cùng của một vương quốc.
Trong bài thơ “Xuân” ông nhắc đến sự điêu tàn của tháp Chàm như gởi gấm một nỗi niềm hoài cổ của Chế Lan Viên khi đối diện với xương máu, sọ người. Ẩn hiện quanh ông sự chết chóc, đau thương, mất mát của những phế tích đổ nát, diêu tàn của một triều đại. Bài thơ “Xuân” là một trong những bài thơ tiêu biểu, một cảm nhận về mùa xuân hoàn toàn khác biệt với phong thơ của các nhà thơ khác. Mùa xuân qua cái nhìn của Chế Lan Viên là những đắng cay và đau khổ, những khắc khoải đau thương, một cảm xúc mãnh liệt đang len lỏi trong mùa xuân của ông. Chính đại văn hào Nguyễn Du đã từng viết một câu thơ bất hủ khi mùa xuân không trọn vẹn, khi con người đang sống trong trạng thái u sầu và khung cảnh buồn bã:
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”
Câu thơ trên đã được thể hiện rất rõ qua tâm trạngcủa Chế Lan Viên trong bài thơ với tụa đề “Xuân” dưới đây. Trong bài thơ này, ông đã trải lòng mình trong những áng thơ bi ai, sầu thảm khi chứng kiến sự điêu tàn của tháp Chàm (thuộc kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng Hindu, Phật giáo) của dân tộc Chàm và sự xụp đổ của triều đại, đã một thời vang bóng. Chính vì thế mà có nghi vấn cho rằng ông cũng là dân tộc Chàm.
“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã,
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp lại cản tình xuân?
Có một người nghèo không biết Tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!…”Trong giai đoạn phong trào Thơ Mới phát triển với những nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Thế Lữ, v.v… thì cái tên của chàng thi sĩ tài hoa Hàn Mặc Tử xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như một hiện tượng vô cùng đặc biệt, áng thơ của ông mang một phong cách riêng, lạ và rất độc đáo. Thơ của ông là một thế giới hư hư, thực thực, u uất, một thế giới liêu trai nhuốm màu kinh thánh. Những vần thơ như ám ảnh người đọc bởi cuộc đời nhiều truân chuyên và bất hạnh của ông. (***)
Non sông ngàn dặm ngắm càng xinh
Ừ, tết năm nay thật hữu tình
Pháo nổ, nổ tan luồng thất nghiệp
Xuân về, về ghẹo khách ba sinhHoa tươi sách với Thiên Kiều gái
Cảnh đẹp dường như thuỷ mặc tranh
Cao hứng đã toan cầm bút vịnh
Đào nguyên đâu lại thoáng qua mành(Xuân Hứng)
Tết nhứt nhà ai khéo khéo bày,
Cỗ bàn sắm sửa áo quần may.
Cành bông ba bữa mang công nợ,
Tốt mặt mấy ngày phải mượn vay.Cô nọ đủ lưng chờ bóc sách,
Cậu kia móc đít được ba tây.
Ai vui cười thiệt ta cười gượng,
Lãnh đạm thà mang tiếng chẳng hay.(Ăn Tết)
Riêng tớ xuân về dạ héo von
Xa nhà xa vợ với xa con.
Hoa đào trên áo gây hương nhớ,
Tiếng pháo bên tai giục nỗi buồn.Thoi én như thêu tranh cách biệt,
Gió xuân càng lạnh kẻ cô đơn.
Người vui tấp nập mòi sung sướng,
Riêng tớ xuân về dạ héo von…(Ngày Tết Xa Nhà)
Dựa theo người viết Phù Vân-Đức Quốc, thế giới trong thơ của Thái Tú Hạp là một cõi không gian huyền diệu, u trầm, tĩnh mặc, là dấu chân hoài niệm, là ánh nắng lung linh, là tiếng suối róc rách và là nhịp rung động của trái tim. Thế giới trong thơ Thái Tú Hạp là bóng mát để ta dừng chân tạm nghỉ trên một chuyến hành trình đi tìm cõi vĩnh hằng, một chốn an lành vĩnh cửu của cỏi Thiền và trên cõi thâm sâu của Phật Giáo”.
“Sáng nay
Nghe tiếng chuông ngân thánh thiện
Mùa xuân mời gọi thiêng liêng
Như chính lòng ta vô nhiễm
Vừa thức dậy bàng hoàng…”(Vẫn Yêu Em, Mùa Xuân)
Thơ xuân của Thái Tú Hạp là những mầm xanh lá mới trong vườn thơ hạnh ngộ, xin thưởng thức đoạn thơ sau.
Trong vườn xuân hạnh ngộ
Hoàng lan hiu hắt tàn
Dấu chân về cuối phố
Nghe sầu vỡ trăm năm(Trong Vườn Xuân Hạnh Ngộ)
Xuân về nhớ Nguyễn Bính với nhưng vần thơ thấm đậm hồn quê, nỗi lòng chờ mong với những khắc khoải, nhớ thương mưa xuân trên đất Bắc, ông đã dành rất nhiều thời gian, cảm xúc và tâm tình để viết về mùa xuân. Thơ Nguyễn Bính không kén chọn độc giả và không phân biệt giai cấp, từ giới thượng lưu hay bần cùng, từ người thành thị đến kẻ thôn quê đều có cảm giác như hình bóng của mình lúc ẩn lúc hiện ở trong lời thơ của ông. Bởi chính vì thế, thơ Nguyễn Bính trở nên gần gũi và luôn được mọi người yêu chuộng.
Nguyễn Bính viết bài thơ “Mưa xuân” khi ông 18 tuổi-cái tuổi bắt đầu biết nhớ nhung và chập chững bước vào đời. Có lẽ trong cuộc đời của ông, ông yêu cũng đã nhiều và đã từng trải qua không ít thất vọng trong tình yêu, nên thơ xuân của ông có mang một chất giọng buồn bã, sầu bi. Trong bài thơ “Mưa xuân”, Nguyễn Bính đã vẽ lên một phong cảnh một làng quê thanh bình, yên vui với những sinh hoạt hàng năm trong ngày hội đầu xuân. Lồng vào trong lời thơ, ông không quên nhắc đến nỗi lòng thương con của người mẹ già và những ước mơ thầm kín của người con gái ở tuổi xuân thì. Lời thơ giản dị, chân thành, êm ái, thiết tha và man mác buồn đã làm vấn vương lòng người thưởng thức thơ, bởi chính sự diễn tả tài tình của ông qua lời trách móc nhẹ nhàng, u sầu của người con gái khi người yêu lỗi hẹn. Bài thơ này đã được nhạc sĩ Huy Thục phổ nhạc thành bài hát cùng tên và do Ca sĩ Bích hồng trình bày với giọng “Huế”. Chúng ta hãy cùng thưởng ngoạn vẻ đẹp trong nét thơ của Nguyễn Bính qua bài thơ “Mưa Xuân” dưới đây.
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay.
Lòng thấy giăng tơ một mối tình.
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh.
Hình như hai má em bừng đỏ,
Có lẽ là em nghĩ đến anh.
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn,
Em ngửa bàn tay trước mái hiên.
Mưa thấm bàn tay từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem.
Chờ mãi anh sang anh chả sang,
Thế mà hôm nọ hát bên làng.
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn,
Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng…
………………………………..
“… Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ Hội Đặng đi ngang ngõ,
Để mẹ em rằng hát tối nay?”Trong bài “Rượu xuân”, Nguyễn Bính đã gởi gấm niềm tâm sự qua những câu thơ thật buồn khi nâng chén rượu hồng, tiễn người yêu sang ngang. Bài thơ này đã được nghệ sĩ Thúy Mùi ngâm.
Cao tay nâng chén rượu hồng,
Mừng em, em sắp lấy chồng xuân nay.
Uống đi! Em uống cho say!
để trong mơ, sống những ngày xuân qua.
Thấy tình duyên của đôi ta,
đến đây là … đến đây là … là thôi!
Em đi dệt mộng cùng người.
Lẻ loi xuân một góc trời riêng anh.Trong những bài thơ xuân của Nguyễn Bính, chúng ta không thể nào không nói đến bài “Gái Xuân”. Đây là một bài thơ nổi tiếng của ông và đã được nhạc sĩ Từ Vũ phổ nhạc thành bài hát cùng tên và ca sĩ Quang Lê trình bày. Cũng bài hát này cũng được Paris By Night 124-Anh Cho em Mùa Xuân thực hiện qua tiếng hát của ca si Hoàng Nhung cùng sự phụ họa của đoàn vũ Thúy Nga.
“Em như cô gái hãy còn xuân,
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần,
Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở.
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân.
Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng.
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng,
Đôi tám xuân đi trên mái tóc.
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?”Trong bài “Xuân về nhớ cố hương” nghe như tiếng khóc của đứa con xa quê nhà trong những ngày đầu năm, nỗi cô đơn, lòng thương nhớ gia đình. Trong một bài thơ khác với chủ đề “Xuân tha hương” là một điển hình của một bài thơ hội tụ tất cả các phong cách giang hồ, tha hương, lỡ dở nhưng ông vẫn giữ được bản chất giản dị, mộc mạc của hương đồng cỏ nội, của những lễ hội trong những ngày xuân ở quê nhà (Nam Định). Nổi tiếng là một nhà thơ sáng tác những bài thơ tình đầy tính chất lãng mạn, Nguyễn Bính đã để lại cho hậu thế một sự nghiệp văn học với trên 10 tập thơ, hàng trăm bài thơ hay cũng như nhiều tập truyện thơ của các thể loại khác nhau, truyện ký và nhiều vở kịch có giá trị trong suốt 30 năm cầm bút (1936-1966). Đặc biệt là thơ của Nguyễn Bính mang đậm sắc thái dân tộc, gần gũi với những câu ca dao trong dân gian, nên rất dễ đi vào lòng người và được nhiều người Việt mến mộ.
“…….. Trót đà mang số sinh ly
Bao giờ tôi mới được về cố hương
Xuân về những nhớ cùng thương
Trời ơi! Muôn vạn dậm đường xa xôi!
Chiều ba mươi hết năm rồi
Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà
Tôi còn lận đận phương xa
Để ăn cái tết thật là vô duyên.(Xuân về nhớ cố hương)

Càng về sau này, thơ xuân càng trở nên phổ thông hơn trong dân gian, người ta làm thơ để chúc Tết, đón tân niên, chúc an lạc:
Cung chúc tân niên một chữ nhàn.
Chúc mừng gia quyến đặng bình an
Tân niên đem lại niềm Hạnh Phúc.
Xuân đến rồi hưởng trọn niềm vuiThơ chúc Tết, tài lộc, an khang, vạn sự lành:
Năm mới Tết đến
Rước hên vào nhà
Quà cáp bao la
Mọi nhà no đủ
Vàng bạc đầy hũ
Gia chủ phát tài
Già trẻ gái trai
Sum vầy hạnh phúc
Cầu tài chúc phúc
Lộc đến quanh năm
An khang thịnh vượng.Thơ chúc Tết An bình – Tài lộc – Vinh quang:
Đầu xuân năm mới chúc BÌNH AN
Chúc luôn TUỔI TRẺ chúc AN KHANG
Chúc sang năm mới nhiều TÀI LỘC
Công thành danh toại chúc VINH QUANGThơ chúc Tết dành cho đấng sinh thành:
Công ơn cha mẹ biển sâu
Con sao trả hết mái đầu phơ phơ
Xuân về cho phép con thơ
Kính chúc cha mẹ thọ như tiên trời.Thơ chúc Tết cho bạn “già”:
Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều
Bạc tiền rủng rỉnh thoải mái tiêu
Gia đình hạnh phúc bè bạn quý
Thanh thản vui chơi mọi buổi chiềuThơ chúc Tết chúc mừng hạnh phúc chan hòa:
NĂM tròn xin tiễn tiết đông qua
MỚI đón xuân tươi đến mọi nhà
CHÚC tặng trên đời thêm chữ Hỷ
MỪNG vui khắp chốn cất lời ca
HẠNH dung lễ nghĩa ngời tâm ngọc
PHÚC lộc, công danh rạng ánh ngà
CHAN chát trống kèn, Lân hợp cảnh
HÒA đàn, tấu sáo rộn ràng ca
(Photo Credit: Nhật Linh) - Xuân trong âm nhạc:
Mùa xuân trong âm nhạc luôn cho ta cái cảm giác vui tươi, hạnh phúc và khát vọng, chính vì thế mà những tâm hồn nghệ sĩ như Phạm Duy, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, v.v… đã ưu ái dành cho nó những ngôn từ lãng mạn, sinh động, đáng yêu trong những ca khúc của họ. Có phải chăng, âm nhạc không thể thiếu trong đời sống của con người bởi nó có tác dụng xoa dịu và hàn gắn mọi vết thương trong lòng ta, nó là nơi an toàn cho ta giải bày niềm tâm sự, nó là động lực kích thích bộ óc sáng tạo của ta và là nguồn cảm hứng phát xuất từ những cảm xúc đích thực của ta trong những khi vui, lúc buồn.
Nói đến âm nhạc thì nó rất bao la, phong phú nhưng nếu nghiên về thiên nhiên của vũ trụ hay phong cảnh hữu tình của trời đất, thì chúng thường đi theo mùa như Xuân, Hạ, Thu, Đông để ca tụng vẻ đẹp đặc thù của từng mùa và tùy thuộc vào những cảm xúc, những rung động của từng cá nhân theo sự thay đổi của tạo hóa. Chính vì thế mà các nhạc sĩ đã sáng tác nhiều thể loại nhạc khác nhau như: Nhạc phản chiến thì theo lý tưởng chống lại bạo hành, nhạc kháng chiến thì hướng về tiền tuyến, nhạc quê hương mang một tình cảm sâu nặng yêu quê hương và nhạc tình thì mang một sắc thái lãng mạn và nghiêng về tình yêu đôi lứa, v.v… Trong bài viết này tôi xin chỉ bàn về những bài hát thuộc về mùa xuân. Arthur Rubenstein cho rằng:
Xuân ở thơ ca. Thơ ca vào xuân.
(Spring in verses, Verses in spring.)
Như đã đề cập ở phần trên, mùa xuân trong âm nhạc luôn có giai điệu lãng mạn, vui tươi, lạc quan, yêu đời và gián tiếp vẽ lên trên mốt nhạc một bức tranh sống động, khởi đầu cho một năm mới với nhiều ước vọng. Mùa xuân đã mang đến nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhạc sĩ sáng tác bởi cái ấm áp của mùa xuân, đã khiến tâm hồn của người nghệ sĩ rạo rực lên một niềm vui, một tia hy vọng cho một tương lại tốt đẹp. Mùa Xuân mang đến tâm hồn các nhạc sĩ, nghệ sĩ những xúc cảm, những rung động và chính những rung động ấy là động lực cho các nhạc sĩ sáng tác và để lại cho làng âm nhạc Việt Nam những ca khúc bất hủ. Có rất nhiều ca khúc viết về mùa xuân mà khi nhắc đến mùa xuân thì hẳn chúng ta không thể không nhắc đến ca khúc “Anh cho em mùa xuân” của nhạc sĩ Nguyễn Hiền.
“Anh cho em mùa xuân
Nụ Hoa vàng mới nở …”
……………………………..
“… Anh cho em mùa xuân
Mùa xuân này tất cả
Lộc non vừa trẩy lá…”Nhạc sĩ Minh Kỳ trước năm 1975 nổi tiếng với ca khúc Xuân đã về để ca tụng mùa xuân tươi thắm.
“Xuân đã về, xuân đã về
Kìa bao ánh xuân về tràn lan mênh mông
Trên cánh đồng chim hót mừng
Đang thiết tha từng đàn cùng bay vui say
Xuân đã về, xuân đã về
Ngàn hoa hé môi cười tươi đón gió mới
Xuân đã về, xuân đã về
Ta hát vang lên câu ca mừng chào xuân…”Cũng nói về xuân, ông cùng nhạc sĩ Lê Dinh đã sáng tác nhạc phẩm “Mùa Xuân Gửi Em” để nhớ về ngưởi em gái hậu phương trong những ngày xuân.
“Nghe gió Xuân hay rằng Xuân đã về.
Gói tâm tình vào trong bao ý thơ.
Thương nhớ về người em nơi chốn cũ
năm tháng xa xôi không buồn vì đơn côi…”“Mùa xuân đầu tiên” là một nhạc phẩm nổi tiếng của nhạc sĩ Tuấn Khanh sáng tác vào năm 1966 và được coi là một trong những bài nhạc vàng trong vườn hoa âm nhạc. Bài hát viết theo điệu Boléro nói lên sự đoàn tụ của người lính trong thời chinh chiến, nỗi mong chờ của gia đình, của người yêu nơi hậu phương và miềm hân hoan trong niềm vui sum họp trong trong những ngày đầu xuân.
“Bao nhiêu thương nhớ gom nhặt đầy anh trở về thăm em
Bao lần ngồi thâu đêm nghe mùa Xuân vừa đến
Em ơi hoa thắm rơi ngập đường trời nắng xế vương vương
Lòng nhớ tới em luôn khi chiều tàn chim gọi đàn….”Lời nhạc chan chứa yêu thương, tha thiết và đong đầy nỗi nhớ chen lẫn niềm vui, mơ ước, hứa hẹn cho một ngày về mà ông đã viết qua hai đoạn nhạc dưới đây.
“… Người yêu ơi! Biết chăng anh về?
Người yêu ơi! Nhớ chăng lời thề
Anh say sưa nhịp bước trên hè
Anh nâng niu nụ hoa vừa hé
Đôi môi xinh người em nhỏ bé mộng mơMùa Xuân ơi! Biết tôi yêu đời
Mùa Xuân ơi! Nói sao nên lời
Em ơi em, dù nhớ vơi đầy
Bao lâu nay, đợi nhau là mấy
Anh đâu ngờ bến bờ hạnh phúc là đây…”Nhạc sĩ Từ Công Phụng nổi tiếng với những nhạc phẩm trữ tình chen lẫn âm hưởng buồn bã, chán chường, chua xót điển hình là trong bài Mùa xuân trên đỉnh bình yên. Gói ghém trong lời nhạc ẩn hiện một hứa hẹn sẽ có một ngày ông sẽ đưa người bạn tình dấu yêu về thăm lại vùng đất bình yên hiền hòa vào buổi chiều mùa xuân rạng rỡ với nắng ấm, chim hót líu lo.
“Rồi mai có một lần tôi đưa em
Về trên đỉnh yên bình, hiền hòa…
…………………………………..Rồi mai, có một lần tôi đưa em
Đưa em về miền nắng ấm
Những con chim thôi ngủ………
…………………………………
Hát lên gọi mùa Xuân rạng rỡ
Đem mặt trời tô mắt dại tuổi xuân.Xin đỉnh yên bình
Một mùa Xuân ôm kín khung trời
Của tuổi thơ thôi rã thôi rời
Xin đừng làm bão tuổi đôi mươi
Để vòng tay khắc khoải ôm xuôi
Từng niềm vui bay theo biển gió…”Ngô Thụy Miên với những bài tình ca bất hủ theo thời gian và sống mãi trong lòng người yêu nhạc và là một đóng góp giá trị cho nền âm nhạc Việt Nam. Hầu hết những tình khúc của ông đều được viết từ tim óc như ông đã cho rằng “Ý nhạc đến từ trí tưởng và lời ca từ con tim”. Trong những sáng tác của ông, bài “Em còn nhớ mùa xuân”, đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng rất nhiều người trong số ấy có cả tôi. Mở đầu bài hát là một câu hỏi “Em có bao giờ còn nhớ mùa xuân” nghe như một lời trách móc người yêu, nghe vừa nhẹ nhàng, vừa tha thiết, nhưng trong lời nhạc ấy chan chứa sầu muộn, nuối tiếc và thương cho thân phận của mình. Tuy bài hát nói về mùa xuân, nhưng không có nét nhộn nhịp của mùa xuân mà thay vào đó lời than thở của hai kẻ yêu nhau mà phải xa nhau.
“… Nơi ấy bây giờ còn có mùa xuân
Có dáng nghiêng nghiêng nụ cười thật gần
Có mắt nai vàng ngời sáng tình xanh…”
Theo lời tâm sự của Ngô Thụy Miên, Em còn nhớ mùa xuân là tình khúc duy nhất ông viết khi còn lại ở Sài gòn sau năm 1975, giòng nhạc êm ái với nét buồn nhẹ nhàng quyến rũ trong nỗi nhớ người bạn gái ông yêu đã ra đi, giữa những đổi thay của đất nước với những mất mát xảy ra quanh ông. Bài hát đã nhắc đến những kỷ niệm đẹp của ông và người yêu trong bối cảnh của Sàigòn-Đàlạt, của một thời thơ mộng.
“Trời Sài gòn chiều hôm nay còn nhiều mây bay
Nhiều niềm đαυ thương bi hận tràn đầy
Gượng nụ cười giọt lệ trên môi
Nhìn đất nước tơi bời một thời em có hay”
Nơi trời tây xa xôi ấy, em còn nhớ mùa xuân, có lẽ đây là câu hỏi mà ông dành để hỏi người yêu trong tâm trạng nhung nhớ. Được biết, đây là nhạc phẩm duy nhất mà ông sáng tác trong suốt ba năm, từ năm 1975-1978. Cuối năm 1978, Ngô Thụy Miên hoàn tất bản nhạc và hát lần đầu tiên trong một đêm văn nghệ tổ chức trên đảo Bidong trước khi lên đường đi Canada. Cuối năm 1979, ông đã gặp lại và thành hôn với người bạn gái năm nào. (dựa theo lời tâm sự của Ngô Thụy Miên.)
“… Những thành phố em sẽ đi qua
Đây Ba-Lê, đây Luân Đôn, đây Vienne
Nhưng có đâu bằng Sài Gòn hôm qua
Nhưng có đâu bằng Sài Gòn mai sau
Em có mơ ngày hát câu hồi hương…”Tóm lại, tôi hoàn toàn đồng ý với Schumann và Mattie.
“Thi ca là một cách hay để thể hiện nỗi xúc cảm như vui, buồn, giận dữ, lo lắng.” (Mattie)
Và:
“Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người.” (Schumann)
Khánh Lan
Xuân Nhâm Dần, 2022
GHI CHÚ:
(*) nhạc sĩ Canh Thân xuất thân từ nghệ sĩ cải lương, sau trở thành ca nhạc sĩ tân nhạc, ông sáng tác những bài tình ca nổi tiếng như bài Cô hàng cà phê, “Khúc ca mùa hè”, “Anh còn cây đàn”. Ông còn là một nhạc công đa tài và là một trong những nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc Việt Nam (1928 – 1975). Ông tham gia hội ái hữu Tino, lấy biệt danh là Tino Thân, ngoài ra, ông tham gia vào nhóm Đồng Vọng và cùng nhóm sáng tác những bản hùng ca.
(**) Vũ Thị Thường, Chế Lan Viên toàn tập, NXB Văn học, 2002.
(***) Quách Tấn, Thơ Hàn Mặc Tử, NXB Đông Phương, 1942.Tôn Thảo Miên, Hàn Mặc Tử – Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, 2007.
***** Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7: Văn học giai đoạn 1900-1945), Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, 2004.
***** Wikipedia
-
NGƯỜI VỢ THỦY CHUNG
Nói về sự thuỷ chung trong hôn nhân, bài này xin chú trọng về chủ đề “Người vợ thuỷ chung“, như nhà thơ Thái Tú Hạp đề nghị tôi viết. Xét về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng nhìn từ những góc nhìn luân lý xã hội và pháp lý thì vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững là điều được khuyến khích, đề cao. Trong văn hoá Việt, chung thuỷ là vẫn một lòng trước sau như một, vẫn có tình cảm gắn bó không thay đổi. Như vậy, khái niệm chung thuỷ là khái niệm rộng. Trong tương quan vợ chồng thì chung thuỷ được hiểu là vợ chồng phải luôn chung tình, gắn bó tình cảm yêu thương chỉ với nhau mà thôi. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, những quan niệm về sự chung thuỷ của vợ chồng cũng có sự khác nhau cơ bản. Trong thời kỳ nguyên thuỷ của xã hội loài người khi con người vừa thoát thai từ loài vật. Dần dần con người tiến bộ, Ý niệm về tương quan hôn nhân và gia đình được đặt thành luật lệ.
Suy ngẫm chuyện đời thì duyên nợ và định mệnh đều có trong hôn nhân. Bởi vì người xưa có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên tương diện bất tương phùng”. Chính vì vậy nên mọi sự đến và đi trong cuộc đời đều là duyên phận, chúng ta không cần phải cưỡng lại đâu. Tình yêu quả thật kỳ diệu. Sống ở đời này, dù chúng ta ý thức được rằng, khi yêu là đầy khổ đau. Nhưng hầu hết người ta lại muốn yêu một lần cho biết nó ra sao chứ. Yêu là duyên, vượt duyên đến nợ, an nhiên với định mệnh ấy thôi. Phật dạy: “Là duyên, có xa cách mấy cũng gặp lại, là nợ, có trốn tránh cũng chẳng thể thoát ra“. Cũng nói theo đạo Phật, vợ chồng là do duyên số, có nghiệp, có nợ với nhau, chứ không phải khi không mà lấy nhau được. Phần lớn là do duyên số quyết định. Tuy nhiên, nếu chỉ đổ thừa cho duyên số thì không thực tế. Chúng ta phải chọn lựa, mà trong sự chọn lựa của chúng ta có nghiệp, có nhân quả chi phối bên trong.
Trong tác phẩm Phận Đàn Bà, nhà văn Nguyễn Quang cho rằng: “Hai chữ định mệnh thường được dùng để khỏi phải tìm hiểu những gì xảy ra như đã được an bài mà con người không sao giải thích được, cho nên phải chấp nhận đó là định mệnh! Tất cả những gì xảy ra, có lớp lang trong cuộc đời của mỗi cá nhân của chúng ta, là những chuyện vui buồn, bất hạnh đều có thể xảy ra, không thiên vị bất cứ một ai, vì nó là định mệnh! Trong định mệnh có cả duyên số, không đơn thuần như người ta thường nghĩ“. Thật sự theo khoa tử vi số mệnh, hôn nhân là định mệnh đấy. Bởi vì 2 người có “duyên số“, hay “hợp số” mới có thể lấy nhau được. Hợp số chính là cùng có Số tương đồng nhau về cung Phu thê, tương đồng về vận hạn, 2 người có cùng năm kết hôn, cùng năm có con, cùng những biến cố giống nhau trong hôn nhân, những sự kiện người chồng có thể xem trên Số người vợ và ngược lại. Vợ chồng có phương vị kết hôn trên Tứ Trụ hợp nhau. Hôn nhân và số mệnh luôn tiềm tàng trong đời sống chúng ta, thật như vậy.
Vợ chồng thủy chung, sống với nhau tình nghĩa, chia chung trọn vẹn trách nhiệm. Tình yêu hôn nhân là yếu tố quan trọng bậc nhất trong sự hình thành và phát triển bền vững của gia đình. Đây là vấn đề cốt lõi nhu cầu tình cảm tinh thần của đời sống vợ chồng, nó chi phối mọi thành viên trong gia đình và tác động trực tiếp tới việc chăm sóc người già, nuôi dạy con nhỏ. Nghĩa vợ chồng gắn bó với lòng nhân ái, nhân hậu tự nhiên của con người khiến đôi vợ chồng gắn bó với nhau suốt đời, dù khi tình yêu bồng bột của tuổi trẻ không còn, nghĩa vợ chồng giúp họ vượt qua những mâu thuẫn, bi kịch rất khó tránh khỏi trong cuộc sống nhiều năm của một gia đình. Hạnh phúc gia đình phụ thuộc vào mối quan hệ tình cảm giữa đôi vợ chồng, cùng với sự đòi hỏi của họ về tự do cá nhân, về hạnh phúc cá nhân và sự riêng tư trong đó tình yêu là tình nghĩa là yếu tố cơ bản nhất.
Tôi nhớ trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, Vũ Nương là người vợ thủy chung, người mẹ hiền và nàng dâu hiếu thảo. Câu truyện cảm động ở thế kỷ thứ 15. Những ngày xa xưa trong xã hội khép kín phong kiến đã khắc nghiệt đưa đẩy bao số phận, bao con người, bao gia đình vào hoàn cảnh éo le, đau thương, bi đát. Nội dung sách Nguyễn Dữ đã viết về họ, đặc biệt là người phụ nữ với tấm lòng son sắt, hết mực yêu thương và sự cảm thông tận tuỵ, hy sinh cho gia đình.
Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương” ta thấy tác giả tả chân hình ảnh thân phận bị chà đạp của người phụ nữ thời phong kiến. Vũ Nương chính là nhân vật chính của câu chuyện, nàng nổi bật với những nét phẩm chất tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam đảm đang, tháo vát, chung thủy và khát khao hạnh phúc gia đình. Nhưng cái xã hội nam quyền khắt khe đã đẩy cuộc đời nàng đến cảnh trái ngang, oan khiên u uất, đầy bất hạnh. Nàng là người vợ thủy chung, người mẹ hiền và nàng dâu hiếu thảo. Thật vậy, khi Trương Sinh đi lính chỉ để lại Vũ Nương bụng mang dạ chửa với người mẹ già, Vũ Nương đã luôn chăm sóc mẹ chồng chu đáo khiến bà cũng phải cảm động. Khi mẹ chồng chết, Vũ Nương cũng lo ma chay cho bà cũng như lo cho chính chính cha mẹ mình vậy. Không những là một người con hiếu thảo, Vũ Nương còn là một người mẹ hết mực yêu thương con. Vì không muốn bé Đản nghĩ mình không có cha mà Vũ Nương đã nghĩ cách chỉ trỏ bóng mình trên vách tường và nói đó là cha của bé Đản. Ta thấy Vũ Nương là một người mẹ yêu thương con vô hạn. Và nổi bật trong văn bản ta thấy Vũ Nương là một người vợ hết mực yêu thương chồng. Khi Trương sinh đi lính, nàng chẳng mong chàng áo gấm trở về mà chỉ muốn chồng được bình yên nơi chiến trường. Nàng lo lắng cho Trương Sinh ở nơi biên ải chịu khó khăn vất vả không có người nương tựa. Khi bị Trương Sinh nghi oan nàng có nhân tình cũng chỉ hết mực giải thích để níu kéo giữ hạnh phúc gia đình. Đến khi chết đi rồi, Vũ Nương cũng chẳng một lời trách móc, oán than Trương Sinh mà còn muốn về gặp chàng lần cuối. Qua tác phẩm này, Nguyễn Dữ đã vẽ ra trước mắt chúng ta là một người phụ nữ tài đức vẹn toàn.
Gương vợ chồng thủy chung khác là người vợ Ukraine trải qua 20 năm ở Việt Nam chăm nuôi chồng đột quỵ, khi chồng về nước được một năm thì bị chứng tai biến mạch máu não, bị liệt toàn thân, Svetlana bán hết nhà cửa ở Kiev và bay sang Việt Nam, một mình xoay xở đủ cách chăm sóc chồng và nuôi con tại Hà Nội. Cuộc sống vất vả tại miền đất xa lạ chăm sóc chồng với bao nhiêu thử thách trong cuộc đời, muôn trùng khó khăn không buông tha người phụ nữ Ukraine. Hai mươi năm trôi qua, ông Thắng đã có hàng chục lần nhập viện, vài lần thập tử nhất sinh và 4 lần bị đột quỵ, hai lần liệt toàn thân nhưng sau tập luyện lại đi đứng được. Vào tháng 2 năm 2021, ông bị suy tim, tụ máu não, chuẩn bị phẫu thuật lại bị tai biến ngay tại viện. Dịch Covid-19 bùng phát tại Hà Nội cuối tháng 4, người nhà không được vào phòng bệnh chăm sóc. Nằm liệt nhiều ngày, ông bị viêm loét lưng, tiếp tục phải chuyển viện để chữa vết thương trước khi ca mổ chính diễn ra. Người phụ nữ Ukraine luôn luôn hy vọng sẽ có ngày chồng khỏe mạnh lại, hai người cùng quay lại thăm thành phố Kiev là nơi nhiều năm trước họ đã gặp và yêu nhau.
Gương phụ nữ thủy chung qua chuyện tình Hàn Mặc Tử cùng Mai Đình: Mai Đình là một hiện tượng lạ trong văn học và ở ngoài đời. Bà là người đi trước thời đại nhiều bước, là người nhất định không vâng theo khuôn phép ngàn xưa dành cho phụ nữ, đã bỏ nhà ra đi vì không muốn về nhà người chồng do cha mẹ chọn, ta sống vì tình yêu đích thực, khuôn mẫu của Françoise Sagan và Jean-Paul Sartre, con cái đặt đâu cha mẹ huề tiền.
Theo bài net của ông Tư Cao Lãnh, cũng may là bà có vốn liếng học hành và giỏi nữ công gia chánh nên bà có thể thân tự lập thân, không như những phụ nữ cùng thời phải đeo ba cái gông tòng phụ, tòng phu, tòng tử, mấy cái gông do một ông Nho gia vốn cổ xuý trọng nam khinh nữ sống từ hơn 26 thế kỷ trước bày ra, tròng lên cổ người đàn bà bắt buộc phải phục tòng đàn ông. Đức Phật, người sinh ra đồng thời, thì ngược lại, làm một cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu, không những giải phóng cho phụ nữ mà còn phá tan xiềng xích giai cấp xã hội của Ấn Độ thời bấy giờ. Với thuyết nhân quả luân hồi thì cho rằng mọi người sinh ra phải được bình đẳng là rất hợp lý. Con người ta sinh ra khác giới tính, giàu nghèo sang hèn khác nhau là vì nhân quả nhiều đời, trùng trùng duyên khởi duyên sinh. Vậy mà cái ông Nho gia giáo điều bị bác Trump cho dẹp tiệm, cổ hũ kia độc đoán cho rằng đàn bà sinh ra là để phục vụ đàn ông: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử!” nhưng mà nhà thơ Mai Đình của chúng ta đã tháo gỡ được gông cùm xiềng xích nô lệ này. Bà đã thoát ly được ba chữ tòng để tự làm chủ đời mình.
Ông anh Vương Trùng Dương biết bà nhà tôi gốc Bông Kiều, vốn gần nhà cụ Tra Lương Dung, tức Kim Dung Kiếm Hiệp. Vương Trùng Dương viết bài “Thủy Chung trong tác phẩm Kim Dung” như sau: Đông, Tây, kim, cổ trong văn chương qua bao nhiêu tác phẩm đã đề cập và lưu lại những mối tình thủy chung của nhân loại. Ở đây, tôi đề cập khái quát đến tác phẩm hư cấu trong kiếm hiệp, điển hình với nhà văn Kim Dung với những mối tình ngang trái nhưng thủy chung với nhau khi trải qua bao nhiêu nghịch cảnh.
Những mối tình đó bước vào tình sử võ lâm, như Quách Tĩnh với Hoàng Dung, Dương Quá với Tiểu Long Nữ, Kiều Phong với A Châu, Trương Thiếu Sơn với Hân Tố Tố, Trương Vô Kỵ với Ân Tố Tố, Lệnh Hồ Xung với Nhậm Doanh Doanh, Trương Vô Kỵ với Triệu Minh (Triệu Mẫn). Trong tác phẩm Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Hiệp Lữ, hai nhân vật Quách Tĩnh và Hoàng Dung được xem như hai nhân vật chính giữa chính phái và tà giáo. Họ đã vượt qua bao nhiêu ngang trái để sống trọn vẹn với cuộc tình.
Trong Thần Điêu Hiệp Lữ, Dương Quá và sư phụ Tiểu Long Nữ trong Cổ Mộ. Dương Quá gọi Quách Tĩnh và Hoàng Dung là bá phụ và bá mẫu. Vượt qua lễ nghi, Dương Quá và Tiểu Long Nữ yêu nhau, thế nhưng trong lúc hiểu lầm, Tiểu Long Nữ rời Cổ Mộ phiêu bạt, Dương Quá đi tìm suốt 16 năm… Dương Quá đi đến đâu cũng có những cô nương yêu kiều theo đuổi nhưng chàng vẫn một mực chung tình với Tiểu Long Nữ. Đã cùng với Tiểu Long Nữ tạo nên một trong những mối tình đẹp nhất của thế giới võ hiệp.
Trong quyển Thiên Long Bát Bộ thì mối tình của Kiều Phong (gốc Khiết Đan) với A Châu (người Hán) tuy kết cuộc rất bi thảm nhưng nói lên lòng thủy chung của Kiều Phong với A Châu trong khi đó có nhiều bóng hồng trong chốn cao thủ võ lâm quyết tâm theo đuổi chàng. Trong Ỷ Thiên Đồ Long ký (Cô Gái Đồ Long) Trương Thiếu Sơn của phái Võ Đang, trên bước đường giang hồ hành hiệp gặp Ân Tố Tố, con gái của giáo chủ Thiên Ưng Giáo… Với bao nhiêu tai họa ập đến nên Trương Thiếu Sơn phải nhận cái chết và Ân Tố Tố cùng quyên sinh theo chồng để được sống trọn kiếp với nhau ở bên kia thế giới.
Cũng trong tác phẩm nầy, Trương Vô Kỵ, con của Trương Thiếu Sơn vì nhận Tạ Tốn làm nghĩa phụ và tận tình bảo vệ thân phận nên bị cả hai bên chính tà quyết tâm truy đuổi. Trương Vô Kỵ có số đào hoa với những bóng hồng như Chu Chỉ Nhược, Tiểu Chiêu, Ân Ly sắc tài nổi tiếng quyết dành lấy trái tim, trong khi đó Triệu Mẫn (Triệu Minh) quận chúa của Mông Cổ bất chấp mọi hiểm nguy, mọi đối thủ lợi hại để cuối cùng cho chàng sống bên nhau “kẻ lông mày” cho nàng. Trong tác phẩm của Kim Dung có rất nhiều mối tình ngang trái xảy ra giữa hắc bạch, giữa trung nguyên và sắc tộc khác trong chốn võ lâm nhưng tình yêu đã vượt qua mối thù truyền kiếp, hận thù hai mặt… chấp nhận sự hy sinh để chấp nhận cuộc tình.
Mỗi mùa xuân về khi đọc thơ yêu của ông anh Thái Tú Hạp tặng bà chị Ái Cầm, tôi thích quá xin “dựa hơi” bài tình thơ sau đây. Bởi vì hai vợ chồng chúng tôi đã có “Nhân Duyên Nghiệp Dĩ“, và hai chúng tôi cũng có “Luân Hồi Có Nhau“, y chang như hai thi sĩ Thái Tú Hạp và Ái Cầm…
Luân Hồi Có Nhau
Tác giả: Thái Tú Hạp
Ta về tịch mặc ngàn hoa
lá cao vút đẫm mây qua đỉnh trời
nhân gian dành trọn cuộc chơi
ta cùng em hát bên đồi xuân xưa
nhất quán rồi- mộng mai sau
tâm vô lượng mở – có nhau luân hồi
cảm ơn thơ, cảm ơn đời
trăm năm nhật nguyệt, đầy vơi nghĩa tình
Thái Tú Hạp
(Hạt Bụi Nào Bay Qua)
Để kết thúc bài Người Vợ Thuỷ Chung, tôi xin gởi bà nhà Tăng Lệ Hoa, 唐樂和, Người Tình Trăm Năm của tôi.
Trẫm Vẫn Yêu Em…
Trẫm yêu em bằng tim tuổi hạc
Nặng nợ ân tình kiếp ba sinh
Mến chốn ta bà trẫm mãi yêu
Chung bước đường dài trẫm cùng em
Trẫm gọi tên em bằng sếp nhỏ
Soi bóng dặm trường có ai hơn?
Đếm bước thời gian dù chết rũ
Những nỗi u sầu ta với ta
Căng-xe Xì-trốc là chuyện nhỏ
Kiếp người hữu hạn sá chi đâu
Ôi sống lâu chi cho chật đất
Sống anh hùng cho đất phì nhiêu
Hỏi trăng cô liêu sầu vạn cổ
Mỏi mòn cánh hạc bay vẫn bay
Gõ con chữ nghĩa đêm khuya khoắt
Nhãn tròng mờ nhạt trẫm yêu em
Trẫm vẫn yêu em yêu muôn thuở
Tuổi tóc xanh sang màu lấp lánh
Cho mãi thời gian hồn lịm giấc
Trẫm vẫn yêu em trẫm yêu em!
Trần Việt Hải
Los Angeles, Nov. 9th, 2021.
-
Nhớ Anh Cựu Chiến Binh

-
CHẮT CHIU KỶ NIỆM VỚI GIÁO SƯ LÊ VĂN KHOA.
(Theo lời yêu cầu của Giáo Sư Lê Văn Khoa, tôi sẽ dùng chữ Ông thay cho chữ Giáo Sư trong bài viết này. Nhưng để tỏ lòng kính quý tôi xin được phép dùng chữ Ô hoa “Ông”).

(Ảnh Lê Hùng)
HỒN VIỆT VÀ ƯỚC MƠTôi chọn lời tựa “Chắt Chiu Kỷ Niệm” bởi tôi không có nhiều kỷ niệm với Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa như Nhà Báo Băng Huyền, Nhà Văn Việt Hải, Ca Sĩ Quỳnh Giao, Nhạc Trưởng Nguyễn Khánh Hồng, v.v… Chính vì thế mà khi tôi được Nhà Văn Việt Hải ủy thác cho trọng trách viết về Giáo Sư Lê Văn Khoa trong tác phẩm “Hồn Việt và Ước Mơ” với chủ đề hoàn toàn mới lạ đối với tôi: Đó là hai truyện ngắn của ông. Tôi đã nhận lời Nhà Văn Việt Hải, nhưng tôi không ngần ngại thú nhận rằng nỗi cảm xúc trong tâm hồn tôi đi từ hãnh diện đến lo sợ. “Hãnh diện” vì tôi được cái vinh hạnh viết về một thiên tài như Giáo Sư Lê Văn Khoa và “lo sợ” vì kể từ hôm nay tôi sẽ phải “chắt chiu” tìm lại trong ký ức những kỷ niệm mà tôi đã có được với ông. Để có thể “Chắt chiu kỷ niệm với Giáo Sư Lê Văn Khoa” trước tiên, tôi tự hỏi lòng mình là “Cơ duyên nào đã cho tôi gặp Ông?”.
Xin thưa, lần đầu tiên tôi có vinh hạnh gặp và biết Ông Lê Văn Khoa nhân buổi ra mắt sánh của ông với tựa đề “Lê Văn Khoa, một người Việt Nam” được chính thức giới thiệu với đồng hương tại vùng Little Saigon, do nhóm Nhân Ảnh Tân Văn đứng ra tổ chức tại Saigon 9 Restaurant, ngày 19 tháng 09, 2015. Hôm ấy, tôi đã cùng một người bạn mua quyển sách dày 695 trang vì biết rằng đây là một tài liệu có gía trị, xong cẩn thận cất vào tủ sách gia đình và rồi để cho một người bạn mượn đọc trước (dài hạn mà mãi đến hôm nay vẫn chưa hoàn trả lại). Kế đến là trong buổi tổ chức sinh nhật thứ 78 cho nhạc sĩ Lam Phương ngày 6 tháng 12, 2015 do Nhóm Chủ Trương Nhân Ảnh Tân Văn đã tổ chức. Đây cũng là buổi kỷ niệm 60 năm âm nhạc của nhạc sĩ Lam Phương và ra mắt sách, quyển “Lam Phương, Nhạc và Đời” tại Moonlight Seafood Restaurant thuộc thành phố Westminster, Nam California… Rồi sau những lần gặp kế tiếp, thứ hai, thứ ba, thứ tư, v.v… và bẵng đi gần hai năm tôi không gặp lại Ông và Cô Ngọc Hà bởi đại dịch COVID 19 đã làm gián đoạn mọi sinh hoạt văn hóa cũng như xã hội trên toàn thế giới… cho mãi đến ngày ra mắt sách của tôi, ngày 19 tháng 09, 2021 tại NT Studio thuộc thành phố Westminster.

Giáo Sư Lê Văn Khoa & Khánh Lan
Trong buổi ra mắt sách ngày 19 tháng 09, 2021(Ảnh Lê Hùng)Đặc biệt nhất là trong buổi nói chuyện với Ông Lê Văn Khoa trên “Zoom Meeting” ngày 02 tháng 10 năm 2021, do nhiếp ảnh gia Nguyễn Thiều Minh sáng lập cho Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (vào mỗi ngày đầu tháng) đã tạo cơ hội cho chúng tôi gần gũi và bàn luận thân mật với Ông hơn. Với nét mặt hiền hòa, nụ cười thân thiện nở trên môi, thật đúng như Nhà Văn Dương Viết Điền nhận xét “Anh Lê Văn Khoa lúc nào cũng cười, trông rất yêu đời” hay Thi Sĩ Cát Biển ghi trong bài viết của ông: “Lê Văn Khoa, một biểu tượng của nụ cười“. Trong buổi họp “Zoom”, Ông thật duyên dáng trả lời chi tiết những thắt mắc của mọi người, như Nhà Văn Việt Hải hỏi về câu: “Do you see what I see?” hay về những ước vọng và hoài bảo cũng như giấc mơ của ông: “Bằng cách nào để chúng ta có thể lưu truyền và phổ biến nền âm nhạc giao hưởng (kết hợp âm thanh cho hài hòa) cho thế hệ trẻ trong tương lai”.
Lê Văn Khoa dưới lăng kính của tôi thì Ông là người mà Thượng Đế đã dành nhiều ưu ái và ban cho nhiều tài năng, từ viết nhạc cho dàn nhạc giao hưởng, biên khảo về âm nhạc, nhiếp ảnh, dịch thuật, v.v… bút pháp của ông sâu sắc, nhẹ nhàng, chi tiết và dễ hiểu. Ngoài những tài năng trên, nghệ thuật nhiếp ảnh của Ông nghiêng về phương diện chụp ảnh nghệ thuật trừu tượng do sự kết hợp hài hòa trong thiên nhiên mà ít ai nhìn thấy. Vâng đúng thế, “Do you see what I see?” Thật vậy, Ông đã khéo léo áp dụng những kỹ thuật riêng để tạo những tác phẩm nghệ thuật nhiếp ảnh có giá trị và truyền cảm. Nhà Văn Việt Hải có lần đã viết trong bài “Đôi nét về Lê Văn Khoa” như sau: “Có người hỏi rằng nhà biên khảo họ Lê đã viết nhiều về âm nhạc, về nhiếp ảnh, phóng tác, dịch thuật sách ngoại ngữ, Lê Văn Khoa cho ấn hành nhiều sách loại học làm người, nhưng Lê Văn Khoa có viết loại truyện về tình yêu không?
Thưa có! Xin cho tôi được phép trả lời câu hỏi ấy bởi tôi cũng vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi khám phá ra rằng chẳng những Ông viết một truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt”, nhân khi ông đi dự buổi triển lãm ảnh của hội ảnh Val de Bièvres tại Viện Văn Hóa Pháp Sài Gòn (Institut Français de Saigon) chiều ngày 19-11-1970, mà ông còn viết một truyện ngắn thứ hai là “Nocturne” (đã được ghi lại trong tác phẩm “LÊ VĂN KHOA, Một Người Việt Nam”)khi ông từ Đông Âu do công tác âm nhạc trên chuyến bay băng Đại Tây Dương trở về California. Thể loại truyện ngắn của Ông rất độc đáo và khác lạ. Sau đây, tôi xin được phép lần lượt ghi lại hai truyện ngắn của Ông.
- TRUYỆN NGẮN THỨ NHẤT: “SAY TRONG ÁNH MẮT”.
“Say Trong Ánh Mắt” là một câu chuyện kể của người viết truyện về một cuộc gặp gỡ hy hữu giữa một cô gái Pháp trẻ đẹp, vốn đam mê nghệ thuật nhiếp ảnh, đến Sài Gòn từ Paris. Ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên trong buổi triển lãm ảnh, cô gái ấy đã để lòng mến và phục tài nhìn xa hiểu rộng của một nhiếp gia Việt Nam tên Tuấn. “Say Trong Ánh Mắt” là một câu chuyện được diễn tả với văn phong nhẹ nhàng, dễ thương và thu hút người đọc. Chuyện kể nàng tên “Diễm” đại diện cho nhóm ảnh Val de Bièvres, một nhóm ảnh chủ lực của giới nhiếp ảnh Pháp quốc trong tổ chức Photeurop, Âu Châu.
“Diễm”, có lẽ cái tên đã đủ nói lên tất cả về con người nàng: Đẹp, thông minh, bặt thiệp, tự nhiên, kiến thức cao và ăn nói trôi chảy, đã hớp hồn Tuấn, người nhiếp ảnh tài ba, bởi sự duyên dáng và thông minh của nàng. Với một phong cách khiêm nhường, người nhiếp ảnh giới thiệu về mình và những sinh hoạt nhiếp ảnh của quê hương mình. Đọc đến đây, tôi phải công nhận tác giả đã khéo léo dùng nội dung của tác phẩm tình cảm xã hội để giới thiệu cũng như giải thích về nghệ thuật hình ảnh như “dùng màu nước tô thêm lên ảnh để biến đổi màu chính hầu tạo không khí thích hợp cho ảnh” hay “ảnh kỹ thuật là căn bản của mỹ thuật và nghệ thuật, chú trọng nội dung, áp dụng kỹ thuật để làm sáng tỏ nội dung”. Mặt khác, tác giả đã khéo léo lợi dụng lời đối thoại với “người đẹp” trong câu chuyện để giải thích quan điểm cũng như nhận xét về thể loại ảnh kỹ thuật của người bản xứ Việt Nam, điển hình qua câu nói của “Diễm” như sau:
“Về điểm nội dung thì các ảnh nổi bật. Nhưng xin lỗi, cũng vì điểm ấy mà bộ ảnh của các anh nặng nề, gò bó quá. Ðó là chưa kể các anh cố tạo những tâm trạng khổ sở, buồn thảm, ray rứt, băn khoăn, chán chường của kiếp sống đầy máu và nước mắt, nên thiếu hẳn nét thơ mộng của bộ ảnh mình đi”.
Cũng trong câu chuyện, qua lời đối thoại, người viết truyện giải thích về kỹ thuật chớp sáng (solarization), phân sắc độ (postarization), vừa tân kỳ vừa độc đáo và điểm chính là dùng kỹ thuật để gửi gấm tâm sự. Tôi xin trích dẫn đoạn mà tác giả nói về kỹ thuật và sáng tạo: “Người làm nghệ thuật tức người sáng tạo; mà muốn sáng tạo phải tìm tòi khai phá; mà tìm tòi khai phá tức tạo một lối đi mới.”
Qua phong cách diễn tả trong những câu đối thoại trên, Ông Lê Văn Khoa đã muốn gởi gấm thông điệp gì trong truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt?” Phải chăng đây là một lối dạy học vô cùng thích thú vì càng đọc tôi càng thấy bị thu hút bởi cung cách giải thích cũng như nêu ra được những nhược điểm của nghệ thuật một cách tế nhị mà không làm phiền lòng người đọc hay nói rõ hơn là làm bực mình người cần máy ảnh. Đúng là một lối giảng dạy thật tâm lý khi lồng môn học vào tính cách thuật truyện, nó không làm cho người học trò cảm thấy nhàm chán, buồn ngủ và nhất là lại kích thích được sự tò mò muốn biết của con người. Phải, con người lúc nào cũng ưa thích học hỏi cái mới lạ, chính vì vậy mà loại ảnh chớp sáng đã xuất hiện trên 60 năm và đã đến điểm cực thịnh vào khoảng 1960-1961.
Trong câu truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt” Ông giải thích, trong khoảng thời gian 1960-1961, Edith Gerin đã sáng tạo ra một loại ảnh mới nhằm diễn tả những gì mà các loại ảnh thường không làm được. Ðó là lối chập nhiều phim vào với nhau rồi đem phóng ra ảnh, được áp dụng để đi đến một sự diễn tả siêu thực. Mấy năm sau, ý tưởng này lan tràn khắp Âu Châu và xuất hiện những nhóm “tự do diễn tả”. Thời đại 70 là thời đại của loại ảnh siêu thực, trừu tượng, nó tạo ảo giác cho người xem phải phân vân, không biết mộng hay thực.

Lê Văn Khoa đang chụp hình thân cây
(Ảnh trích báo Thế Giới Tự Do 1963)Càng đi sâu vào câu chuyện, tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả, “Nước mắt có tạo nên con người không? Tại sao chúng ta chỉ biết nhìn vào bi thảm, tàn úa, chết chóc mà không đoái hoài đến khía cạnh phấn khởi, tươi vui hơn? Hay chúng ta cho rằng nét bi ai trong tác phẩm dễ gây xúc động cho giám khảo, cho người xem? Một người đứng ngoài nhìn vào khác hơn một người ở trong cuộc, làm sao thấu suốt được để diễn tả? Người làm nghệ thuật là chứng nhân, nhưng đồng thời cũng là người làm lịch sử, vì thế không phải chỉ nhìn về quá khứ mà cũng nhìn vào tương lai.” Có phải đây là lời nhắn nhủ, lời giải thích, sự giải bay niềm tâm sự hay đúng hơn là một phương cách độc đáo để hướng dẫn thế hệ sau này đừng chỉ biết bước vào con đường cũ kỹ, bảo thủ của tiền bối mà chúng ta thấy rất rõ trong câu nói của Diễm: “Anh bối rối điều gì? Sợ mình sai lầm trong đường lối sáng tạo à? Hay sợ bị quần chúng bỏ rơi? Thật ra làm nghệ thuật cũng tương tự như làm chính trị. Nói đến chính trị ta thấy có hai hạng người. Hạng thứ nhất tìm hiểu để theo đuôi quần chúng. Còn hạng thứ hai, tìm hiểu để dìu dắt, để nâng đỡ, để hướng dẫn quần chúng tiến lên mực độ cao hơn ... em nghĩ rằng ta cần phải chấp nhận một sự hy sinh để chọn hướng đi mình thấy thích hợp và lợi ích hơn. Nói đến hy sinh tức ta phải chấp nhận sự từ bỏ một cái gì quý báu, tha thiết dường như không thể thiếu được trong đời ta”.
Ai dám bảo Ông Lê Văn Khoa của chúng ta không lãng mạn, không ngọt ngào, không đam mê và không rung động bởi người đẹp tên “Diễm” chứ? Xin hãy lắng nghe trái tim si tình thổn thức qua đoạn văn sau: “Tôi không làm theo lời Diễm, lại nhìn thẳng vào cặp mắt xanh trong veo như mặt hồ nước không đáy. Cặp mắt ấy có lúc như ngơ ngác, lúc như có ma lực quyến rủ lạ lùng, chỉ nhìn đã thấy cả thần hồn ngây ngất như say mà mãi đến bây giờ tôi mới dám nhìn thẳng vào. Ðôi mắt ấy giờ đây lại đượm vẻ buồn mênh mông làm cho lòng tôi xao xuyến khác thường. Trong xao xuyến đượm một mối bâng khuâng nhẹ nhàng như vừa đánh rơi giọt sương mai óng ả ánh mặt trời, như vừa làm đứt một đường tơ để màng nhện tuyệt mỹ phải rách và tạo một lỗ hổng đen ngòm sâu hút ngàn đời không khỏa lấp. Nỗi hối hận len vào hồn tôi và lần đầu tiên tay tôi tìm bàn tay nàng, siết mạnh”.
Bây giờ thì tôi dám quả quyết rằng, câu chuyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt” không phải là một câu chuyện bình thường, mà đó là một tác phẩm kinh điển về nghệ thuật nhiếp ảnh, một “Bible” cho những ai chập chững bước vào lãnh vực này, bởi nó giải thích quá rõ ràng mục đích và phương hướng của nó. Tôi xin dẫn chứng qua đoạn văn sau đây:
“Tôi cảm thấy mình thua sút người ta quá nhiều, quá xa. Tại sao? Có phải do óc kỳ thị, thiếu tự tin, nhưng tự tôn hòa với tự ti, mãi nghĩ rằng mình còn bán khai, chậm tiến nên chỉ đợi cái gì người ngoài nghiên cứu rồi tuyên bố, bấy giờ mới hân hoan tiếp đón, ca tụng những sáng kiến ngoại lai mới mẻ, nhưng trong khi ấy vẫn nghĩ mình là trùm thiên hạ, mà hỡi ôi, nó là cái gì đã ăn sâu vào huyết mạch, là cái gì tạo nên dân tộc, là nguồn gốc của văn minh, là căn bản của truyền thống mình. Hỡi thằng người nhỏ nhen ta ơi, mày ngu lắm mà cứ tưởng mày thông minh vượt bực. Mày vốn hèn mà cứ tưởng mày cao sang! Tồi ơi là tồi!”

Đường Nét,
(Ảnh Lê Văn Khoa)Chúng ta đã nhìn thấy gì trong bức ảnh trên? Do you see what I see? Thật là một tác phẩm nghệ thuật trừu tượng. Hãy nhìn thật kỹ bức ảnh trên, Ông Lê Văn Khoa cho rằng: Tại sao chúng ta không ghi nhận đường nét đẹp trên thân hình thiếu nữ mà Tạo Hóa đã ban cho họ mà lại đi tìm đường nét chết trên đồi cát, bãi biển, đường mòn? Phải chăng chúng ta cho rằng đó là… là việc… tồi bại mà con người có đạo đức không được nghĩ đến? Có lẽ, nếu cứ bỏ lớp đạo đức giả mà nhìn thẳng vào con đường nghệ thuật nó không phải ảnh khiêu dâm, nó phụng sự cho chân, thiện, mỹ, cho vĩnh cửu chứ chẳng phải cho dục vọng thấp hèn, để bị xuyên tạc, chống đối và khinh miệt. Có lẽ Ông Khoa đã nói đúng. Đã đến lúc người làm nghệ thuật phải vị nghệ thuật, hãy thức tỉnh cơn mê muội, hãy lột bỏ lớp mặt nạ giả nhân giả nghĩa đã khéo che đậy từ bao năm qua, hãy đối diện với sự thật, một sự thật đã bị chôn giấu dưới lớp mặt nạ đạo đức, cao thượng, xây dựng, phủ lên mớ kiến thức quá kém, tư tưởng quá hẹp hòi để che đậy cái dốt của mình bằng lời nói bóng bẩy mong được người đời suy tôn. Hỡi ôi, hư không trở về hư không! Thảy đều hư không! (dựa theo lời của người viết)
“Diễm hôn phớt qua má tôi rồi vụt biến vào bức ảnh khỏa thân rất đẹp đang treo trên tường. Tôi chới với đôi tay để giữ nàng lại nhưng không kịp, đành ôm mối tiếc thương nương theo luồng sáng của ngọn đèn quay phim lễ cắt băng khai mạc phòng triển lãm mà tan biến vào bóng tối vừa trùm xuống bên ngoài”. Thật là một kết luận xuất sắc và đồng thời chứng minh cho những suy nghĩ của tôi về nội dung của câu chuyện “Say Trong Ánh Mắt”. Tóm lại, tôi hoàn toàn đồng ý với Nhà Văn Việt Hải là “Chủ điểm của bài viết là đề cao cái nhìn mới, nghệ thuật sáng tạo trong nhiếp ảnh mà Ông Lê Văn Khoa đã đeo đuổi và khai phá từ trước cho đến nay, gần nhất là bộ ảnh “Do You See What I See?” của ông. Đoạn kết đã chứng minh cho những gì Ông Khoa đã nhắn nhủ chúng ta, những người trẻ của thế hệ tương lai… Hãy nhớ lời ông nói:
“Do you see what I see?”

Sự Cám Dỗ Cuối Cùng (bàn gốc) – Ảnh Lê Văn Khoa – Sự Cám Dỗ Cuối Cùng Vậy thì “Nghệ thuật” là gì và thế nào là “Nét nghệ thuật”? Có phải “Nghệ Thuật” là ở chỗ xắp xếp như thế nào cho hợp lý và đẹp mắt? Và “Nghệ thuật” theo Ông Khoa, thì “Nghệ thuật” phải đến từ tâm, từ óc hòa trộn vào nhau để rồi tỏa ra một nét đẹp có chiều sâu, có ý nghĩa. Đó mới chính là nghệ thuật. Vì thế mà trong lãnh vực nhiếp ảnh, Ông chia nhiếp ảnh ra làm 2 phần:
- Nhiếp ảnh Mỹ Thuật là chụp ảnh đẹp hay còn được gọi là “Pictorial Photography“.
- Nhiếp ảnh Nghệ Thuật hay Artistic Photography phải từ lòng mình mà ra, phải nghiên cứu trước và mục đích của nó nói lên cái gì?
- TRUYỆN NGẮN THỨ HAI: “NOCTURNE”.
Đọc qua câu chuyện trong tác phẩm truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt” đã đưa tôi từ thắc mắc (wonder) này đến thắc mắc kia. Nguồn cảm hứng nào đã khiến Ông Lê Văn Khoa sáng tác thêm một truyện ngắn thứ hai với tựa đề “Nocturne?” Có phải những năm trước đây chỉ vì sự ích kỷ, lòng ham muốn chiếm đoạt, tham vọng trở thành cường quốc vững mạnh nhất trên thế giới mà hai nước NGA, MỸ trở nên thù nghịch như mọi người thường nghĩ? Phải chăng Ông Lê Văn Khoa đã dùng âm nhạc và ngòi bút của mình để mong kéo hai quốc gia này lại gần nhau hơn? Và có phải niềm đam mê âm nhạc cổ điển đã tạo cơ hội cho con người quên hận thù và trở nên yêu thương, gắn bó bên nhau? Hay chủ ý của Ông là dùng câu chuyện để diễn giảng một bài học quan trọng về thể loại âm nhạc không lời, nhạc hàn lâm và bác học, một thể loại ít người hưởng ứng và đòi hỏi một kiến thức âm nhạc ở trình độ cao để hiểu và thưởng thức? Chẳng khác gì tác phẩm thứ nhất “Say Trong Ánh Mắt,” Ông Lê Văn Khoa đã dùng ngòi bút của mình để chuyên chở những ý nghĩ nhiếp ảnh, thì qua tác phẩm thứ hai“Nocturne,“ Ông dùng lời văn để gởi gấm những tinh túy, đặc thù trong âm nhạc không lời.
“Nocturne” là một câu chuyện mà Ông Lê Văn Khoa dựa trên trải nghiệm khi qua Ukraine để tìm người thu thanh những bài nhạc giao hưởng của ông. Trong chuyến đi ấy, ông đã được giới thiệu đến người độc tấu violin trong một bối cảnh vô cùng lãng mạn nơi công viên, với không khí lạnh giá của ngày đầu tháng ba, khi tuyết vẫn còn rơi, phủ đầy trên mặt đất một màu trắng xóa và đọng trên cành cây những hạt tuyết hóa đá chồng chất lên nhau, lấp lánh như những hạt kim cương. Tất cả đã được Ông lưu lại trong tác phẩm “Nocturne” và đây cũng là nguồn cảm hứng khiến Ông sáng tác câu chuyện tình cảm này.
Bối cảnh của câu chuyện xảy ra tại Moskova, thủ đô của Nga, một quốc gia có nhạc viện Tchaikowsky (Tchaikowsky Conservatory) nổi tiếng. “Nocturne” là một truyện ngắn mà thoat nghe thì tưởng đây là một câu chuyện tình yêu lãng mạn như Nhà Văn Việt Hải đã đặt tên cho nó là “Chuyện tình Nga-Mỹ” bởi đây là một chuyện tình éo le, sôi động giữa cô nhạc sĩ người Nga, tên Anastasiya Smirnoff và anh nhạc sĩ đến từ Mỹ tên Alex Anderson. Như bao nhiêu câu chuyện tình yêu khác, Anastasiya và Alex yêu nhau say đắm, họ chia sẻ cho nhau những giây phút mặn nồng, chan chứa những yêu đương nóng bỏng như Ông Lê Văn Khoa đã diễn tả qua ngòi bút của ông (Lê Văn Khoa, Một Người Việt Nam, trang 100): “Môi chàng đã bị khóa kín bởi những nụ hôn nồng nàn, nóng bỏng, những tình cảm rạt rào của hai trái tim lạnh giá bị đè nén từ lâu nay đột nhiên được khơi dậy, bùng nổ như núi lửa, như nước vỡ bờ…”
Viết như thế này thì ai dám bảo rằng Ông Lê Văn Khoa chỉ yêu âm nhạc và nhiếp ảnh chứ? Theo tôi ông chẳng những là một thiên tài của âm nhạc, một nhiếp ảnh gia tài ba, một người đáng yêu của nhân loại mà còn là một nhà văn. Thật vậy, càng đi sâu vào câu chuyện “Nocturne” tôi lại càng bị thu hút bởi nghệ thuật dùng văn chương để diễn tả một mô thức giảng dạy rất tinh vi về âm nhạc, một lối truyền bá tinh thông mà chẳng ai nghĩ đến trước kia.
“Dream” và “Nocturne” là hai nhạc phẩm được lồng vào trong tác phẩm văn học có cùng tên với bài nhạc. Khi được hỏi tại sao Ông chọn hai nhạc phẩm Nocturne và Dream. Ông trả lời: Hai bài nhạc được chọn vì hai bài này có nhiều diễn tả mà người nghe có thể theo dõi không khó lắm.
Ông Lê Văn Khoa đã dùng một nhạc sĩ độc tấu violin, một tài năng vượt trội đã chiếm giải thưởng quán quân của toàn liên bang Sô-Viết khi cô 16 tuổi và hiện là giáo sư của nhạc viện Tchaikowsky (Tchaikowsky Conservatory of Ukraine) và được mời đi dạy nhiều nơi trên thế giới, để trình diễn tác phẩm “Nocturne” và “Dream” của Ông. Chính vì thế mà nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa muốn lồng bài nhạc vào trong câu chuyện cho thêm phần ướt át và ông muốn diễn tả tâm trạng này qua những đoạn hết sức gay cấn.

Ban Chủ Trương và Thân Hữu
Cùng Ông Bà Lê Văn Khoa
-
THẾ GIỚI TRẺ EM CỦA GIÁO SƯ LÊ VĂN KHOA TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH QUỐC GIA VIỆT NAM TRƯỚC 1975
Nhạc sĩ Lê Văn Khoa được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam. Ông đã trải qua nửa đời người trên quê hương thân yêu và một nửa đời còn lại nơi quê người với bao thăng trầm; mà trong tâm hồn luôn cưu mang nỗi niềm tha thiết bao la của một “ HỒN VIỆT VÀ ƯỚC MƠ.” Ông luôn hãnh diện ông là người Việt Nam và ông muốn cho cả thế giới biết ông là người Việt Nam; dù ông không còn sinh sống ở quê hương của ông. Lê Văn Khoa ước muốn cả hành tinh này biết đến dân tộc Việt Nam hào hùng, xuất chúng về mọi mặt và đầy nhân bản. Đó là ƯỚC MƠ của ông được phát xuất từ một HỒN VIỆT. Ước mơ của ông thật cao xa trong nhiều lãnh vực từ: âm nhạc, nghệ thuật, nhiếp ảnh, văn học và giáo dục thiếu nhi… mà ông mong mõi được mang những điều tốt đẹp đến cho người Việt Nam và cho cả thế giới. Với những ước mơ được cống hiến cho đất nước những vinh quang, bằng tài trí, bằng nhiệt thành và bằng sự cố gắng không ngừng nghỉ của ông, từ tuổi thanh xuân cho đến lúc tuổi đã về chiều. Ông cưu mang một “tâm hồn Việt” thật tha thiết, thật bao la mà nó lan tỏa trong âm nhạc của ông, trong nhiếp ảnh, văn học và nhất là trong chương trình giáo dục thiếu nhi Việt Nam của ông.
Ông yêu âm nhạc như hơi thở của sự sống. Nếu đời sống thiếu âm nhạc chẳng khác gì thiếu ánh sáng mặt trời, thiếu không khí trong môi trường quanh ta. Ông cũng biết rằng: nghệ thuật âm nhạc là ngôn ngữ chung của quốc tế, không bị chia cách bởi văn hóa và biên cương. Giovanni Bellini người Ý đã quan niệm rằng: “Nghệ thuật là sự nhiệm mầu của đời sống.” Thế giới này thật to lớn, nhưng đã được nối vòng tay lại với nhau qua âm nhạc và nghệ thuật…như một phép mầu!Một ước mơ thật to lớn mà ông đã đạt được và gặt hái thành công vang dội là: chính ông đã mang dòng nhạc Việt Nam đầy tính dân tộc khoe cùng thế giới, qua nhạc giao hưởng SYMPHONY VIỆT NAM 1975, để hòa hợp cùng nền âm nhạc đa dạng và phong phú của quốc tế. Thế giới đã biết đến âm nhạc Việt Nam, biết đến tinh hoa Việt Nam, biết đến con người Việt Nam, bởi ý chí và mơ ước mãnh liệt của một nhạc sĩ tài ba đức độ được mang tên LÊ VĂN KHOA. Những xứ sở xa lạ từ văn hóa đến ngôn ngữ như Ukraine tận trời Âu, đã mở rộng vòng tay đón nhận và nâng niu những mảnh nghệ thuật chân chính và giá trị của Lê Văn Khoa, một người Việt tị nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ. Thế giới đã hân hoan đón nhận và ngưỡng mộ sâu sắc một lâu đài âm nhạc đồ sộ lẫy lừng của Lê Văn Khoa. Ông chính là niềm tự hào cho người Việt Nam ở khắp nơi trên địa cầu này. Ông đã dấn thân mang chuông đi đấm xứ người. Ông muốn phô trương cho thế giới biết về Việt Nam; một xứ sở tuy nhỏ bé, nhưng với tinh thần dân tộc bất khuất, là một dân tộc thông minh, đầy nhân bản và tài ba xuất chúng. Ông muốn cho thế giới thấy những nét đẹp của Việt Nam, qua âm nhạc cao siêu, qua những bức ảnh nghệ thuật tuyệt vời của ông.
Ngoài sự thành công vượt bực trên lãnh vực âm nhạc, nhiếp ảnh, nghệ thuật… Lê Văn Khoa còn là một người nặng lòng yêu nước và đặc biệt sự quan tâm thật rõ nét đối với thiếu nhi; là những mầm non của đất nước, mà cũng là tương lai của đất nước. Đây đích thực là “HỒN VIỆT & ƯỚC MƠ” của ông. Ông mong muốn đào tạo những mầm non này trở thành những người hữu dụng cho mai sau. Như bà Ellen White đã viết trong quyển Child Guidance:
“Công việc giáo huấn, rèn luyện trẻ con phải khởi sự ngay khi chúng còn trẻ thơ, vì tâm trí chúng dễ thâu nhận nhất, và những bài học đó sẽ được chúng nhớ rất kỹ.”
Trước năm 1975 dưới nền dân chủ Việt Nam Cộng Hòa, khi ông còn ở trong nước và trải qua thời chiến tranh đau thương đã kéo dài hàng mấy thập kỷ. Ông chứng kiến biết bao cảnh tan thương của nhiều gia đình đã bị mất mát người chồng, người cha trong chiến trận…Đã để lại người vợ đơn côi lam lũ nuôi những đứa con thơ mất cha. Những đứa trẻ trong viện mồ côi khi không còn cha mẹ. Hay những trẻ bụi đời không nơi nương tựa, hàng ngày lang thang khắp hang cùng ngỏ hẻm để kiếm miếng ăn, để van xin sự bố thí của người qua lại. Các em thiếu thốn đủ mọi mặt, từ tình thương gia đình đến sự giáo dục của lứa tuổi còn thơ, mà rất cần sự dạy dỗ và chăm lo của bậc phụ huynh. Với tấm lòng trắc ẩn về hiện trạng đất nước chiến tranh và một xã hội đau thương tan tác, Lê Văn Khoa đã ấp ủ một “ước mơ”. Ông đã thao thức trăn trở: làm sao mang đến niềm an ủi, niềm vui và sự giáo dục thiết thực cho trẻ em, như một nhu cầu cấp bách không thể thiếu. Ông quan niệm rằng: chỉ có con người tốt mới tạo được một xã hội tốt đẹp. Ông đã hy sinh cái danh của mình, khi có cơ hội phát huy tài năng cũng như niềm đam mê về âm nhạc và nhiếp ảnh – để chọn con đường giáo dục cho thiếu nhi.
Ngoài lãnh vực âm nhạc và nhiếp ảnh mà nhiều người biết đến Lê Văn Khoa, ông còn có tài năng khác là dạy học. Đây là khả năng sư phạm bẩm sinh rất đặc biệt, dù ông không tốt nghiệp bất cứ trường sư phạm nào. Ông không đi theo đường hướng của nhiều người đã làm, ông nghiên cứu và nghĩ ra phương cách thực tiễn hơn trong lối giáo dục của ông. Chính vì vậy, mà có những nhận xét cho rằng: “ Lê Văn Khoa cứ tìm đường khó để đi.” Ông đã thực hiện ý niệm đó qua phương pháp dạy các học sinh trường tiểu học Cơ Đốc. Ông đã khai thác ý niệm trên qua quy mô rộng lớn hơn trong chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM, trên băng tần số 9 của đài truyền hình Việt Nam. Trong chương trình này, cả thầy và trò cùng đi sâu vào và khám phá thế giới khoa học, mà các em cứ ngỡ là trò chơi giải trí. Ông cố tạo một thế giới riêng cho các em, để các em tham gia vào chương trình một cách tự nhiên, vui thỏa. Nhờ đó, các em ở nhà xem chương trình có thể cảm thấy mình cũng là người trong cuộc, các em được thực nghiệm và học hỏi về khoa học một cách lý thú.
Những kiến thức mà ông đã trao cho học sinh của ông là những kiến thức rất thực tế, mà nhà trường không thể cung ứng cho học sinh được. Thí dụ: có những thí nghiệm về vật lý mà ông có thể thực hiện cụ thể trong chương trình giáo dục của ông. Ông đã làm thí nghiệm “tạo ra mây” bằng cách: đổ 2/3 nước nóng trong một ly lớn; trên miệng ly ông để nước đá bọc trong khăn mỏng. Khi nước nóng bốc hơi lên gặp nước đá lạnh, sẽ tạo thành một lớp mây mù phần trên của ly. Đây là một trong những bài học đơn sơ vừa lý thuyết vừa thực hành rất dể hiểu và dễ nhớ; giúp các em thích thú học hỏi mà không bị nhàm chán. Hơn thế nữa, ông đã cống hiến cho thiếu nhi một chương trình vô cùng phong phú và hữu ích cho lớp tuổi măng non. Ông đã đem hết thiện chí của mình để phục vụ cho thế hệ trẻ; đó là tiết mục THẾ GIỚI TRẺ EM lúc 7 giờ tối, từ tháng 10 / 1968 đến tháng 4 / 1975. Bằng một tấm lòng bác ái nhân hậu và nụ cười luôn nở trên môi, với đôi mắt sáng tươi vui hiền hậu lấp lánh sau đôi kính cận. Ông tâm sự rằng:
“Tôi muốn thấy và nghe tiếng cười thơ ngây trên những gương mặt hồn nhiên của trẻ em. Bởi vì, bom đạn đã phá nát thiên đàng tuổi thơ rồi, đã làm nụ cười của các em không tươi lên được, thì đến với chương trình, các em phải thật sự vui. Thêm vào đó, tôi muốn chia sẻ với các em những gì mình hiểu biết trong hoàn cảnh khó khăn và bất an của xã hội lúc bấy giờ. Và hơn hết, tôi muốn lấp khoảng trống trong các em. Vì lúc đó có gia đình, con mất cha, vợ mất chồng vì cuộc chiến.”
Giữa hoàn cảnh chiến tranh của đất nước, hầu hết gia đình sống chật vật khó khăn từ tài chánh đến môi sinh. Chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM cùng với những sách báo giáo dục được viết bằng tâm huyết của Lê Văn Khoa, đã thật sự giúp ích cho bậc phụ huynh dạy dỗ trẻ con, giúp tránh xa những thói xấu, biết làm quen với nếp sống văn minh.
Mãi đến bây giờ, nhiều người vào lứa tuổi 50 – 60 cũng còn hồi tưởng lại chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM của Lê Văn Khoa một cách thích thú; mà khi còn nhỏ họ đã chờ đợi để được xem trong suốt tuổi thơ của họ. Thậm chí có nhiều gia đình chưa có TV, đến giờ có chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM được phát sóng, thì các em nhỏ của lối xóm chạy ùa đến nhà ai có TV để coi ké. Thật đáng thương! Vào thời đó, gia đình nào có được chiếc TV Denon đen trắng của Nhật thì sung sướng lắm; và gia chủ cũng sẵn lòng cho bà con lối xóm đến xem những chương trình mà trên TV cung cấp. Việc mua sắm TV là việc khó thực hiện được, vì vượt ngoài khả năng về tài chánh của nhiều người. Do đó, việc này đã trở thành niềm mơ ước được sở hữu một chiếc TV của nhiều gia đình miền Nam lúc bấy giờ.
Bản thân nhạc sĩ Lê Văn Khoa cũng mất mẹ lúc ông mới 11 tuổi. Vì thế, ông đã thấm sâu về nỗi buồn mất mát tình mẫu tử của một đứa trẻ và khao khát tình thương với sự chăm sóc dịu dàng của bàn tay người mẹ. Ông hiểu rõ hơn ai hết những nỗi quạnh hiu và buồn tủi của những trẻ mồ côi, những mầm non không được may mắn trong xã hội này. Ông có một sự liên đới giữa thân phận mồ côi của chính mình với thân phận của những trẻ vắng bóng tình thương của cha mẹ. Do đó, với tấm lòng bác ái và vị tha mà ông đã được lĩnh hội từ người cha là mục sư Cơ Đốc giáo; ông đã mang đến tình thương và niềm vui cho thiếu nhi qua chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM của ông. Ngoài ra, ông mong muốn được thay thế cha mẹ của những trẻ em, khi người cha phải xa nhà để phục vụ trong quân đội, hay người cha đã ra đi vĩnh viễn trong chiến trận…hầu giáo dục cho trẻ em nên người con ngoan trong gia đình và người công dân tốt trong xã hội.
Ông muốn xoa dịu hoàn cảnh thương tâm của những em đã mất cha, mất mẹ trong chiến cuộc; những em mồ côi trong cô nhi viện, những trẻ bụi đời, ông chia sẻ:
“Tôi chỉ tạm đóng vai một người anh “hờ” để giúp các em. Tôi không dám dạy ai cả, chỉ chia sẻ vài ý nghĩ, vài sự hiểu biết để giúp các em thành người tốt, dù đang sống trong hoàn cảnh khó khăn và bất toàn của xã hội. Tôi chỉ là một dấu gạch nối giữa gia đình và học đường. Những đề tài và phương thức dẫn giải đều do tôi nghĩ ra, không do sự chỉ dẫn hay gợi ý của ai cả. Nhờ không nhận tiền từ bất cứ cơ quan nào nên tôi được tự do làm theo ý mình. Tiền thù lao cho chương trình như là tiền “mua” chương trình, chứ không phải tiền đặt làm chương trình theo sự chỉ đạo của đài. Một lý do khác để tôi thực hiện chương trình Thế Giới Trẻ Em là muốn sự giáo dục hay đào tạo tài năng cho dân tộc được liên tục, không bị chiến tranh làm gián đoạn. Đóng góp cho quốc gia là bổn phận của mỗi người dân chứ không dành riêng cho người được lãnh lương để làm.”
Ông còn quan tâm và tìm hiểu những vị thành niên bụi đời lang thang trên khắp đường phố Saigon. Chúng là những trẻ bạc phước thiếu hẵn tình thương của gia đình, không ai chăm sóc và dạy dỗ, không nơi nương tựa; khiến một người đầy lòng nhân ái như ông phải xót xa chạnh lòng cho những trẻ em bạc phước, là nạn nhân của cuộc chiến tương tàn. Từ đó, ông trở thành người bạn thân thiết của những trẻ trên đường phố và trong cô nhi viện; để an ủi và chia sẻ sự bất hạnh của chúng; để lắng nghe những khao khát hay ước vọng của chúng. Những gì ông mang đến cho trẻ em, thì ông cũng nhận lại được một sự ưu ái mà các em đáp trả. Những lúc ông lái xe lambreta trên đường phố gặp các em, chúng vui cười chạy đến chào đón ông. Có những khi ông để xe đâu đó một vài ngày, từ những viên cảnh sát đến các em bụi đời đều biết xe đó là xe của thầy Lê Văn Khoa; vì thế không ai đụng đến hay ăn cắp xe của thầy. Chính vì chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM, mà giáo sư Khoa trở thành thầy chung của nhiều trẻ em trên toàn quốc. Mỗi khi thấy xe thầy Khoa chạy vào trong khu xóm, con nít chạy theo bu quanh thầy rồi hô to: Lê Văn Khoa…Lê Văn Khoa…Hoan hô! Hoan hô!
Các em mừng rỡ khi gặp được thầy bằng xương bằng thịt, và cùng nhau gọi tên thầy Lê Văn Khoa một cách thân thiện và gần gũi như gọi tên một người bạn thân. Chúng bộc lộ sự cảm mến đối với người thầy bằng tâm hồn trong sáng hồn nhiên. Đối với các em, thầy là người mang đến niềm vui, mang đến nụ cười, cũng như một vùng trời tươi sáng rộng mở của một ngày mai, mà các em bám víu vào trong ngày tháng nhiều mất mát và đầy tổn thương của tuổi thơ. Trong đôi mắt nai của các em, ít nhiều cũng chứa chan những nỗi buồn khi tuổi thần tiên của các em nhuốm nhiều thương đau của thời chiến. Mà thầy Khoa như một người cha hay một người anh, làm dịu đi những vết đau trong tâm hồn thơ dại của các em.
Đây là một món quà thật lớn và đầy ý nghĩa mà trẻ em đã dành cho thầy Khoa. Đối với thầy, các em cảm thấy có một sự gần gũi và thương mến dành cho thầy; vì sự tận tâm và nhiệt thành của thầy đã mang đến cho các em. Có niềm vui và niềm an ủi nào sánh bằng, khi thầy cho đi hết lòng để được nhận lại không thiếu những tâm hồn trong trắng cảm mến của các em đối với người thầy.
Có lần, thầy Khoa dẫn một đám trẻ con nhà lành và cả những trẻ bụi đời đến nghĩa trang quân đội để giáo huấn chúng. Để cho chúng tận mắt chứng kiến những chiến sỹ đã nằm xuống vì hy sinh mạng sống mình; hầu mang lại sự bình an cho các em được học tập và vui tươi trong tuổi thơ. Cớ sao các em không lo học tập mà đi phá làng phá xóm, lêu lỏng chơi bời. Ông đã từng sống với đám trẻ bụi đời ở các đường phố Saigon, dẫn dắt chúng trở về đường ngay nẻo chính, ông khuyên nhủ chúng hãy ăn năn sám hối, sống lại cuộc đời lương thiện. Khi nghe thầy Lê Văn Khoa phơi bày về sự hy sinh của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã đánh động tâm hồn các em, rồi tất cả các em bật lên khóc nức nở…Kết quả mang đến là sau đó, các em trở nên ngoan ngoãn và chuyên cần học tập hơn. Hơn thế nữa, sau đó khi các em lớn lên, có những em trai đã gia nhập vào quân đội sánh vai cùng các chiến hữu để giữ gìn đất nước. Một hôm, thầy Lê Văn Khoa đi đến tiệm sách, tình cờ có một chàng trai trẻ trong bộ quân phục trông rất hào hùng, bước tới trước mặt thầy rồi chào thật lễ phép:
“Chào thầy Khoa! Thầy còn nhớ em không? Em là đứa trẻ bụi đời mà năm xưa thầy đã dìu dắt và dạy dỗ em, giờ đây em đã trở thành người hữu dụng cho đất nước. Em cám ơn thầy rất nhiều!”
Lúc bấy giờ thầy Khoa rất cảm động và thật vui trong lòng, vì việc thầy làm đã mang đến kết quả tốt đẹp cho lớp thiếu nhi mà thầy đã giáo dục, giờ chúng lớn lên đã thành người hữu ích cho xã hội. Có những em gái trở thành y tá phục vụ trong các bệnh viện, hay ra chiến trường làm nữ cứu thương cho các thương binh trong các binh chủng, hay những nhân viên của các ngành nghề trong xã hội.
Để giúp ích cho thiếu nhi về mặt tinh thần, ông đã phát họa một chương trình công phu, đặc biệt dành cho thiếu nhi trên đài truyền hình Việt Nam, với nhiều tiết mục giải trí lành mạnh như: phim hoạt hình, những màn múa rối ngoạn mục, nhạc thiếu nhi có tính giáo dục, bé vẽ cho vui…Để có được phim hoạt hình cống hiến cho các em, ông phải đi mượn những phim này từ những thư viện Pháp và Mỹ. Phim rất ngắn, nhưng thật vui nhộn và có tính cách giáo dục; giúp cho trẻ thấy vui để học hỏi về những kiến thức căn bản về cách làm người, giữ vệ sinh bản thân, trau dồi trí tuệ v.v.
Trong THẾ GIỚI TRẺ EM, tiết mục “Múa Rối” thu hút thiếu nhi nhiều nhất. Kỷ thuật múa rối lúc bấy giờ còn rất hạn hẹp. Con rối được may bằng vải màu điểm nhiều hoa văn, trùm lên ba ngón tay để điều khiển đầu và hai tay nhân vật, cử động lắc qua lắc lại; đồng thời nói bằng giọng của người bên trong. Tuy màn trình diễn múa rối rất thô sơ, nhưng cũng diễn đạt được những tuồng tích Việt như: Ăn Khế Trả Vàng, Thạch Sanh Lý Thông, Bánh Chưng Bánh Dày, Sự Tích Trầu Cau…lại vô cùng hấp dẫn đến nỗi không bé nào muốn rời xa cái TV khi chương trình phát hình. Với tâm hồn vô tư, các em say sưa ngồi há hốc mồm xem con rối đầy màu sắc nhảy lưng tưng như chim sáo, hay đi tới đi lui suy nghĩ, rồi nói lia chia như két…vô cùng ngoạn mục… làm các em rất ngạc nhiên đầy thích thú. Những tuồng tích múa rối này đã hổ trợ môn lịch sử, môn văn chương trong nhà trường, quả thật khéo léo và sinh động; dạy trẻ em về sự trung thực, tình anh em, tình yêu tổ quốc, ở hiền gặp lành…Mỗi chương trình như một tiết mục vui học, sống động và thực tiễn, với sự hợp tác giữa thầy và trò. Chương trình này cuốn hút cả người lớn, bậc phụ huynh cũng say mê không kém con em mình. Tạo cơ hội để học hỏi trao đổi, gây hứng thú cho con em hiểu các bài học nhà trường bằng những cách thức đơn giản và sống động. Với kỷ thuật phôi thai thời bấy giờ, mà chương trình Thế Giới Trẻ Em cũng thu hút sự theo dõi của thiếu nhi, và kích thích sự ham muốn như một niềm vui để học hỏi của tuổi măng non.
Ông còn sáng lâpl TRUNG TÂM HỘI HỌA THIẾU NHI LÊ VĂN KHOA, với sự hợp tác của ban giảng viên hùng hậu và những họa sĩ nổi tiếng tập vẽ cho các em như: Văn Đen, Nguyên Khai, Nguyễn Trung, Trịnh Cung v.v…Tiết mục này ông gọi là: “Bé Vẽ Cho Vui” rất sinh động và hữu ích. Chương trình này đã giúp phát triển năng khiếu của các em lan tỏa ra ngoài xã hội và thế giới. Lê Văn Khoa hướng dẫn các em nhỏ thật vui tươi và sống động, bằng minh họa những hình vẽ rất đẹp mang đến sự mở mang khối óc và một tâm hồn trong sáng của tuổi thơ, qua đức tính tự tin yêu đời của ông. Ông khai thác tài năng tiềm ẩn của các em trong lĩnh vực vẽ tranh; chủ yếu là giúp các em phát triển tài năng trong tinh thần vui tươi học hỏi về ngành hội họa.
Ông tổ chức cuộc thi “BÉ VẼ CHO VUI” hàng năm cho thiếu nhi trên toàn miền Nam. Năm 1972, vì chiến cuộc lan tràn, lễ phát giải Hội Họa Thiếu Nhi Toàn Quốc không thể tổ chức như kế hoạch; vì thế, ông không ngại đường xa và hiểm nguy, đã lặn lội trao từng món quà trúng giải của các em ở khắp nơi. Gia đình các em vô cùng cảm kích về nghĩa cử cao đẹp này của người thầy nhân ái và tận tụy Lê Văn Khoa.
Trong lĩnh vực hội họa này, các em đã hăng hái thi đua vẽ và trở thành những họa sĩ tí hon; khi tranh của các em được thầy Lê Văn Khoa gửi đi dự thi với UNICEF quốc tế và năm nào cũng được chiếm giải thưởng. Trong số tranh dự thi, có 100 bức được chuyển qua Hoa Kỳ bán đấu giá, giúp trẻ em tàn tật vì chiến tranh đang được chữa trị bên đó. Ngoài ra, có 100 bức tranh và một số tác phẩm khác trong cuộc thi “Nắn Tượng Cho Vui” tham dự cuộc triển lãm lưu động trên khắp nước Nhật, mang tên “Việt Nam Quê Hương Mến Yêu” được khán giả Nhật nhiệt liệt ca ngợi. Vì người dân Nhật cũng hiểu rằng: Việt Nam đang sống trong thời chiến, mà đào tạo được một đội ngũ họa sĩ tí hon vẽ tranh mang thi đua với xứ người, thì quả thật là một thành tích đáng tán thưởng và khích lệ vậy.
Qua công trình miệt mài của Lê Văn Khoa, như một làn gió mát đầy sinh khí đã thổi đến những tâm hồn non nớt của trẻ, đã mang đến cho tuổi thơ Việt nụ cười và sức sống giữa thiếu thốn và mất mát. Đã mang đến niềm hy vọng rạng ngời cho tương lai đất nước giữa màn đêm của chiến tranh. Đó cũng là một thành tựu đẹp đẽ mà trải qua bao thế hệ vẫn còn in sâu trong lòng người. Nhật báo Đuốc Nhà Nam ngày 2 tháng 2 năm 1970, trong mục tổng kết thành tích chương trình văn nghệ hàng năm của đài truyền hình số 9, đánh giá rằng:
“Thế Giới Trẻ Em” là chương trình thiếu nhi hay nhất! Khán giả nhận thấy chương trình Lê Văn Khoa bổ ích cho thiếu nhi hơn cả, với người hướng dẫn chương trình có nhiều sáng kiến đáng kể. Chú trọng về phần giáo dục trẻ em hơn là trình diễn văn nghệ; có tính cách giáo huấn hơn là thương mại.”
Bởi Lê Văn Khoa đã đặt hết tâm huyết và lý tưởng của mình cho thiếu nhi suốt bảy năm, qua chương trình Thế Giới Trẻ Em; đã chuẩn bị một hành trang tốt đẹp cho các em khi lớn lên bước vào đời. Ông cùng vài cộng sự, đã xây dựng một chương trình thiếu nhi đầy tâm huyết và để lại dấu ấn sâu xa trong lòng người xem. Thời ấy đến bây giờ và cho đến mai sau, giới thiếu nhi rất khó tìm được một người thầy nhân ái như Lê Văn Khoa để hướng dẫn các em trong tuổi thơ, mang đến cho các em nụ cười hồn nhiên cùng kiến thức căn bản khi lớn lên dấn thân vào xã hội.
Trong sách GIÁO DỤC NHI ĐỒNG xuất bản 1970, ông viết:
“Tuổi thơ ấu là tuổi đáng thương và cũng đáng sợ vô cùng. Tôi từng gặp gỡ hàng trăm em như vậy: cướp giật, móc túi, đâm chém…lang thang không nghề nghiệp, không nơi nương tựa. Tôi cũng đi vào trại Tế Bần để tiếp xúc với trẻ em, chúng nói chuyện cũng rất cởi mỡ.”
Có thể nói: giáo sư Lê Văn Khoa là một trung gian (như ông thường hay nói) thay thế phụ huynh chuẩn bị những mầm non cho thế hệ mai sau, một đời sống có lý tưởng và hữu ích cho nhân quần xã hội. Mặc dù, “nhân chi sơ tính bổn thiện” nhưng nếu đứa trẻ sống trong môi trường không lành mạnh, lại còn không được sự dạy dỗ của cha mẹ, thì đứa trẻ có nên người chăng? Bà Ellen White cũng đã từng viết:
“Người trẻ tuổi cần được huấn luyện cẩn thận cách khéo léo, vì những tập quán xấu đã thành hình trong tuổi trẻ thường đeo đuổi họ suốt đời.”
Cũng như vua Salomon, nhà thông thái của người Do Thái đã từng cảnh cáo những bậc cha mẹ rằng:
“Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dù đến khi nó về già, cũng không hề lìa khỏi đó.”
VìLê Văn Khoa hiểu rõ tâm lý trẻ em; vì thế, ông muốn tìm một con đường tươi sáng như kim chỉ nam để hướng dẫn cho thiếu nhi đi đúng hướng. Khởi đầu, ông áp dụng phương pháp dạy học cho các em học sinh trường tiểu học Cơ Đốc. Sau đó, vào tháng 10/ 1968 ông thành lập chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM trên băng tần số 9 đài truyền hình Việt Nam. Chương trình này được xem là một phương pháp giáo dục có hiệu quả về lý thuyết và thực hành; là một chương trình lôi cuốn trẻ em và ngay cả người lớn thời bấy giờ. Mỗi tuần chỉ được một giờ đồng hồ dành cho THẾ GIỚI TRẺ EM thôi; vì thế, các em cảm thấy thật nôn nóng chờ đợi suốt bảy ngày. Để được nghe thầy Khoa giảng dạy, rồi cùng làm những bài học thực nghiệm với thầy, cùng chơi trò chơi với thầy, rồi cùng xem múa rối với thầy v.v… Thầy mang đến cho các em một tình thương dạt dào ấm áp, khiến các em cảm thấy thật gần gũi và thân thiết với thầy như một người cha đáng kính. Qua gần bảy năm của chương trình, với sự hy sinh tận tụy và tình thương nồng nàn của ông dành cho thiếu nhi; mà các bậc phụ huynh xem như thời gian vàng ngọc mà ông đã mang đến cho con em của họ qua sự giáo dục của ông. Ngày qua ngày như “mưa lâu thấm đất”…những lời giáo huấn của thầy đã in sâu vào tâm khảm của trẻ, như tờ giấy trắng tinh được in lên những nét vẽ đẹp tuyệt vời, hay những bài học quý giá tiềm tàng trong ký ức mà sẽ không bao giờ phai.
Ông đã đóng nhiều vai trò trong giới trẻ: vừa là người thầy tận tâm, người cha đáng kính và còn là người bạn thân thương gần gũi với các em thiếu nhi. Các em đã theo dõi chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM một cách say mê thích thú. Hơn thế nữa, chương trình đã trở thành một niềm vui, thành những bài học hữu ích, và còn là niềm an ủi cho tuổi thơ; khi các em thiếu vắng tình thương lẫn vật chất trong hoàn cảnh của đất nước trong thời chiến. Chính những người cha của trẻ em phải vắng nhà vì nhiệm vụ quân sự; đã bày tỏ sự cảm kích và biết ơn đến với thầy Lê văn Khoa; bậc thầy đáng kính, đã thay mặt họ đem đến niềm vui và giáo dục con cái của họ. Chính Lê Văn Khoa đã mang đến nụ cười hồn nhiên cho trẻ thơ; đã vẻ ra một bức tranh tươi đẹp cho ngày mai rạng rỡ của các em. Ông đã dạy dỗ các em một lối sống lành mạnh và một tinh thần học hỏi cầu tiến, để dọn con đường tươi sáng cho tương lai của giới trẻ cũng như cho đất nước.
Giáo sư Lê Văn Khoa đã chọn chương trình giáo dục thiếu nhi theo đường hướng và suy nghĩ của ông. Đấy là sự cần thiết cho thời cuộc lúc bấy giờ. Ông cố công đào tào lớp trẻ để sẵn sàng kiến tạo lại đất nước một mai không còn chiến tranh. Ông đảm nhiệm vai trò trung gian hoạt động và giáo dục thế hệ trẻ nên người hữu dụng cho nhân quần xã hội, vì lớp người trẻ này là rường cột của tương lai nước nhà. Trước 1975, song song với việc hoạt động trong chương trình Thế Giới Trẻ Em trên truyền hình, ông còn là chủ biên của nhiều loại sách về giáo dục thanh thiếu niên, về đời sống gia đình, về sức khỏe cộng đồng, về niềm tin tôn giáo. Ông đặt trọng tâm vào giáo dục dục trẻ, vì đó là việc vô cùng hệ trọng cho lối sống của các em khi trưởng thành. Ông hun đúc cho trẻ có tinh thần đức dục và trí dục. Ông tập cho trẻ có thói quen tốt, vì thói quen cũng dự một phần rất quan trọng trong đời sống hằng ngày. Dạy cho trẻ biết lễ độ đối với bậc trưởng thượng, biết giúp đỡ tha nhân, có tấm lòng bác ái thương người. Vì thói quen ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người; nó nói lên cho người khác biết ta thuộc thành phần nào trong xã hội. Vì thế, bậc phụ huynh cần tập thói quen tốt cho con trẻ sớm; nếu trẻ đã lỡ nhiểm thói quen xấu thì sau này khó mà thay đổi được. Người xưa cũng đã có câu: “Dạy con từ thuở lên ba”. Phitarch cũng đã từng nói: “Sáp mềm dễ ghi dấu ấn thế nào, thì tâm trí của trẻ thơ cũng dễ ghi lời giáo huấn thế ấy.”
Trong sách GIÁO DỤC NHI ĐỒNG, giáo sư Lê Văn Khoa viết: “Mỗi đứa bé ngày nay sẽ là một người tiếp tay kiến tạo xã hội ở ngày mai; hoặc là người nguy hiểm cho nhân loại, đều tùy thuộc một phần lớn thói quen ta tập cho chúng hiện tại.” Vì ông nhận chân được sự giáo dục thiếu nhi hết sức quan trọng và cần thiết để chuẩn bị tương lai tốt đẹp cho con trẻ ở mai sau; do đó ông đã miệt mài dạy dỗ các em trong chương trình THẾ GIỚI TRẺ EM bằng thiện chí và tâm huyết của mình.
Những thiếu nhi mà thầy đã dạy dỗ vào cuối thập niên sáu mươi đến giữa thập niên bảy mươi, giờ đây cũng đã thành gia thất. Họ cũng mang những điều tốt đẹp thầy đã dạy truyền lại cho con cháu của họ. Những mầm non thầy ươm trồng đã trải qua vài thế hệ, và trở thành những cây hoa trái sum xuê và lan tỏa khắp nơi trên quả địa cầu này. Thầy Lê văn Khoa xứng đáng để người dân Việt thương mến cảm phục và hãnh diện; vì trong xã hội nhiễu nhương này còn có một người thầy đầy lòng bác ái sống cho tha nhân, mang lợi ích đến cho mọi người, nhất là giới thiếu nhi. Người dân Việt dù tha hương bất cứ nơi đâu trên thế giới, cũng hết lòng tri ân bậc thầy đáng kính Lê Văn Khoa và công đức của thầy sẽ còn lưu truyền mãi đến mai sau. Một người thầy, một nhạc sĩ, một nhiếp ảnh gia, luôn canh cánh bên lòng “ HỒN VIỆT & ƯỚC MƠ.”
Nguyện xin ơn trên ban phúc lành cho người nghệ sĩ tài hoa và đạo đức Lê Văn Khoa cùng gia quyến luôn được an vui trong cuộc sống chốn quê người.
Kiều My
California, mùa thu 2021
-
-
TÌNH YÊUQUA THI CA VIỆT NAM
Khi nói đến tình yêu, thông thường người ta hay đề cập đến sự rung động hai con tim của một cặp nhân tình. Nói khác đi, khi hai trái tim của một nam và một nữ đang cùng thổn thức bên nhau bất chấp cả thời gian lẫn không gian, người ta nói rằng họ đang yêu nhau. Như vậy ở đây chúng ta cần loại bỏ những trường hợp tình yêu không do sự rung động của hai con tim bắt nguồn từ một vài trường hợp nào đó, hay vì những hoàn cảnh khác tạo thành. Chẳng hạn như hai người thành vợ thành chồng nhưng không phải vì họ đã yêu nhau, mà do cha mẹ của hai gia đình đã hứa hẹn với nhau từ trước như ngày xưa qua mấy câu thơ sau:
Chồng chị là ai
Chị nào có biết
Đợi đến ngày mai
Dòm sang kẽ liếp
Hay là trường hợp của hai nhà khoa học trong tổ chức “American Association for the Advancement of Science” đã tuyên bố nhân ngày Valentine năm 1997 tại Washington rằng, tình yêu lãng mạn của con người từ cổ chí kim, từ đông sang tây là do ảnh hưởng bởi những chuỗi phản ứng hoá học mà thôi. Sở dĩ chúng ta cần loại bỏ những trường hợp nói trên vì hai chữ tình yêu mang một ý nghĩa quá rộng lớn và cũng để cho phù hợp với đề tài vậy.
Ai cũng biết rằng “Cái tình là cái chi chi, dẫu chi chi cũng chi chi với tình”. Cái chi chi ở đây là sự yêu nhau say đắm, là sự nhớ nhung chất ngất. Cái chi chi ở đây là những quằn quại đớn đau, là những năm tháng giận hờn. Chàng yêu nàng rồi thề non hẹn biển. Nàng yêu chàng để rồi nức nở sầu thương. Khi yêu nhau họ chẳng biết trời trăng mấy nước đâu cả. Đến lúc xa nhau vì không còn yêu nhau nữa, họ bắt đầu nhìn trời trăng mây nước mà lòng buồn vời vợi vì “nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười!”. Thật vậy, tình yêu đúng là “cái chi chi”. Lắm lúc yêu nhau để rồi nhớ nhau mất ngủ. Lắm lúc yêu nhau nhưng bỗng nhiên lại giận nhau để rồi khắc khoải đêm ngày. Yếu tố “thất tình” (vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ) luôn luôn ám ảnh cặp tình nhân khi hai trái tim họ đang cùng thổn thức.
Theo y lý Đông phương, yếu tố “thất tình” đưa đến tình chí bị kích động, sang chấn về tinh thần. Điều này làm cho âm dương, khí huyết, tạng phủ, kinh lạc mất thăng bằng rồi sinh ra đủ thứ bệnh tật. Bởi vì khi hai người yêu nhau, chắc chắn những chuyện vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ sẽ xuất hiện trong tâm hồn họ hằng ngày. Cứ thế, nếu chàng và nàng càng yêu nhau, yếu tố “thất tình” xuất hiện trong tâm hồn họ càng mãnh liệt. Và cũng theo thuyết Đông y, nếu vui quá sẽ hại tim, giận quá sẽ hại gan, suy nghĩ quá sẽ hại tỳ, lo lắng quá sẽ hại phổi, sợ hãi quá sẽ hại thận. Vì sự xuất hiện của “thất tình” khi họ đang yêu nhau nên nếu ta biểu diển tình yêu của họ trên một đồ thị, ta sẽ thấy đường cong khi lên khi xuống, khi cao khi thấp thất thường. Và một ngày nào đó nếu ta thấy đường cong ấy đâm thẳng xuống và đụng trục hoành, thế là xong: chàng và nàng vì một lý do nào đó không lấy nhau được nên đã cùng nhau nhảy xuống sông để vĩnh biệt cõi đời cho trọn tình trọn nghĩa, cho trọn vẹn lời thề. Anh chàng Roméo và nàng Juliete của Shakespear đúng là biểu tượng của đường cong này ở nơi có dòng sông tuyệt đẹp Adige chảy qua thành phố Verona bên bờ hồ Garda ở miền Bắc nước Ý đầy những di tích cổ kính nhiệm màu. Anh chàng Lương Sơn Bá và nàng Chúc Anh Đài cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó ở bên xứ Vạn Lý Trường Thành.
Riêng tại nước ta, lịch sử tình yêu cũng đã cho ta thấy rất nhiều chuyện tình buồn vời vợi, mỗi khi nhớ lại ai ai cũng phải rơi lệ đến nghẹn ngào. Vậy thì qua thi ca Việt Nam, ta hãy xem “cái tình lá cái chi chi, dẫu chi chi cũng chi chi với tình”đó được diễn tả như thế nào?
Vì hai chữ tình yêu quá rộng lớn nên để trình bày được dễ dàng, chúng ta tạm thời chỉ đề cập đến ba phần: lúc đang yêu nhau, tình yêu bất thành và tình yêu đã thành nhưng rồi phải xa nhau.
A. Lúc đang yêu nhau:
Một triết gia Tây phưong, ông Virgile, đã từng nói rằng ái tình còn mạnh hơn sự chết. Vì thế mà lúc đang yêu nhau, đôi tình nhân chẳng biết trời trăng mây nước hiện giờ nằm ở đâu. Họ chỉ biết yêu nhau thật say đắm, yêu nhau thật điên cuồng, miễn sao họ cảm thấy đê mê trong hồ bơi tình ái cho dù nếu có động đất xảy ra đến 9 hay 10 độ Richter, họ cũng vẫn yêu nhau đắm say vì “ái tình còn mạnh hơn sự chết” mà! Lúc mới bắt đầu yêu, đôi tình nhân nghe tim mình đập thình thịch. Thế rồi bốn mắt nhìn nhau như bị thôi miên vì đang say đắm và ngụp lặn trong men tình. Rồi môi bắt đầu run như bị cảm lạnh khi đi giữa đêm đông đầy giá rét. Cặp tình nhân cảm thấy như có cái gì chận ở cuống họng nên bị nghẹn lời. Vâng, họ đang yêu nhau đấy:
Môi run, lời chẳng ngỏ,
Mắt đắm trong men tình:
Thì ra hai đứa chúng mình say yêu,
Lòng phiêu phiêu.
Ngợp trong cảm giác rất nhiều mến thương.
Phải chăng giấc mộng yêu đương
Hay cơn say tình bất thường là đây?
(Trong bài “Say Yêu”của Nguyễn Thị Vinh)
Tuy nhiên có nhiều đôi tình nhân không muốn trầm lặng, không muốn nghẹn ngào. Bởi vì chàng muốn nàng phải nói, phải nói và phải nói. Chàng muốn nàng phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần. Chàng muốn nàng khi yêu thì tay phải riết, miệng phải cười, đầu phải ngả chứ đừng êm đềm và phẳng lặng như mặt nước hồ thu khi đứng gió. Yêu tha thiết như thế vậy mà vẫn thốt lên là chưa thấm vào đâu:
Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ,
Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần;
Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân,
Đem chi bướm thả trong vườn tình ái.
Em phải nói, phải nói và phải nói:
Bằng lời riêng nơi cuối mắt, đầu mày.
Bằng nét vui, bằng vẻ thẹn, chiều say,
Bằng đầu ngả, bằng miệng cười, tay riết,
Bằng im lặng, bằng chi anh có biết!
Cốt nhất là em chớ lạnh như đồng,
Chớ thản thiên bên một kẻ cháy lòng,
Chớ yên ổn như mặt hồ nước ngủ.
Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ.
(Trong bài: “Phải Nói” của Xuân Diệu)
Để tiếp tục cuộc chiến tình yêu như đôi nhân tình nói trên, nhiều cặp tình nhân yêu nhau quá cuồng nhiệt. Tình yêu của họ được biểu lộ qua những động tác hết sức mãnh liệt đầy dục tình. Nhất là lúc họ đã trở thành đệ tử của Lưu Linh để cố say sưa cho quên đời mặc cho trời đất nghiêng ngửa, mặc cho mưa gào gió thét, cho dù đó chỉ là hư ảnh của nàng mà chàng đang ngồi mơ tưởng:
– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm, não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gởi cánh tay hờ.
Âm ba gờn gợn nhỏ,
Ánh sáng phai phai dần
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân,
Riết đôi tay, ngả đôi thân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!
Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa
Tay mềm mại, bước còn chưa chếnh choáng.
Chưa cuối xứ Mê Ly, chưa cùng trời Phóng Đãng
Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men.
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt.
Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi.
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi
Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
Nhưng em ơi,
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ;
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ em ơi!
(Trong bài: “Say đi em” của Vũ Hoàng Chương)
Ngược lại với chuyện tình trên, đôi uyên ương khác lại muốn khi yêu nhau hãy để cho tình yêu nằm lơ lửng giữa trời! Chàng không muốn gặp nàng để cho cuộc tình trở thành huyền thoại, để cho cuộc tình đẹp mãi nghìn đời. Em hẹn anh rồi nhưng đừng đến nghe em. Có như thế anh mới nhớ em đến điên cuồng và khờ dại, anh mới nhớ em đến điêu đứng, quay quắt để rồi rối loạn cả tâm hồn. Nếu đã trót lỡ đến thăm anh dù trời đang mưa hay nắng, em hãy cố gắng quay về đừng gặp anh nữa nghe em, để cho anh được rung cảm hồn anh theo một giai điệu trầm bổng tuyệt vời: Đời mất vui khi đã vẹn câu thề, tình chỉ đẹp những khi còn dang dở. Mấy vần thơ sau đây của thi sĩ Hồ Dzếnh đã diễn tả chuyện tình này thật diễm tuyệt:
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Để lòng buồn anh dạo khắp trong sân.
Ngó lên tay thuốc lá cháy lụi dần,
Anh nói khẽ: “Gớm, sao mà nhớ thế!”
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Em tôi ơi, tình có nghĩa gì đâu?
Nếu là không lưu luyến lúc ban đầu,
Thuở ái ân mong manh như nắng lụa.
Hoa lá ngập ngừng, cỏ cây lần lữa,
Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi
Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi.
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Anh sẽ trách, cố nhiên, nhưng rất nhẹ:
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
Đời mất vui khi đã vẹn câu thề,
Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở.
Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
Cho nghìn sau lơ lửng…với nghìn xưa.
(Bài “Ngập ngừng” của Hồ Dzếnh)
Tuy nhiên có nhiều cặp tình nhân thật là rắc rối, mong người yêu đến từng giờ, từng phút, từng giây vì khi xa người yêu thì nhớ nhung chất ngất. Nhưng khi người yêu đã đến với nàng cũng vì nhung nhớ đến điên cuồng, nàng lại phủ nhận sự hiện hữu của chàng bên cạnh! Giận quá chàng không biết phải làm sao, chỉ biết thổ lộ tâm tình qua mấy vần thơ:
Tao ở nhà tao, tao nhớ mi,
Nhớ mi nên phải bước chân đi.
Không đi mi nói rằng không đến,
Đến thì mi nói đến làm chi.
Làm chi tao đã làm chi được,
Làm được chớ tao đã làm chi.
(Bài “Bỡn tình nhân”của Nguyễn Công Trứ)
B. Tình yêu bất thành:
Không phải bao giờ yêu nhau cũng thành tựu cả. Biết bao nhiêu mối tình lúc đầu thật đẹp, thật nên thơ nhưng rồi vì một lý do nào đó đã làm cho họ bất thành, để rồi phải xa nhau đời đời không sống chung với nhau được nữa. Có lẽ lúc mới gặp nàng lần đầu, chàng ta còn bỡ ngỡ rụt rè, tim đập loạn nhịp vì chưa bao giờ yêu. Phần vì thẹn thùng, phần vì ngại ngùng nên chàng chỉ biết nhìn nàng mà không nói nên lời. Để rồi sau này khi nghe nàng trần tình, chàng mới tiếc quay quắt vì chỉ có “ba đồng một mớ trầu cay” là có thể làm chủ được trái tim nàng mà không biết:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thưở nào ra.
(Ca dao Việt Nam)
Tuy nhiên nhiều khi hai người mới gặp nhau có lẽ chỉ mới liếc mắt đưa tình mà trong lòng đã thấy bâng khuâng rồi nhung nhớ. Thế rồi sau đó họ đã xa nhau để rồi một trong hai người thấy buồn diệu vợi mà ngâm lên một giai điệu thật não nùng:
Chim xa rừng thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi!
Thà rằng chẳng biết thì thôi
Biết rồi mỗi đứa một nơi sao đành!
(Ca dao Việt Nam)
Cũng giống trường hợp như trên, nhưng chàng và nàng ở cùng tổng nhưng lại khác làng. Hai người đã gặp nhau đâu đó khi đi cấy đi cày, hay lúc ra đồng gặt lúa rồi bất chợt nhìn nhau liếc mắt trao tình để rồi hai con tim của chàng và nàng bỗng nghe xao xuyến, bâng khuâng. Thế rồi đêm khuya thanh vắng, nàng ngồi một mình mắt nhìn về làng nơi chàng đang ở mà nhớ, mà yêu, mà sầu, mà thảm, rồi cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi! Và nàng đã thốt lên trong cơn mê rằng thương chàng lắm lắm chàng ơi!:
Đêm qua mưa bụi gió bay,
Gió rung cành bạc, gió lay cành vàng
Em với anh cùng tổng khác làng
Nào em biết ngõ nhà chàng ở đâu!
Một thương, hai nhớ, ba sầu,
Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.
Thương chàng lắm lắm chàng ơi!
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than,
Muốn than mà chẳng được than,
Kìa như đá đổ bên ngàn lầu Tây,
Đá đổ còn có khi đầy,
Thương chàng biết thuở nào khuây hở chàng.
(Bài “Thương nhớ anh”, ca dao Việt Nam)
Có nhiều cặp tình nhân đang yêu nhau tha thiết thì chiến tranh bùng nổ. Chàng phải lên đường để bảo vệ non sông vì quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Thế rồi cảnh biệt ly sao mà buồn da diết. Chàng và nàng bắt đầu nhớ thương nhau. Chàng ở chốn biên thùy đang say khói súng giữa chiến địa hoang tàn, nhưng lòng vẫn buồn vời vợi và mắt luôn luôn vọng về cố quận xa xăm vì mỗi người mỗi ngã, đôi ngã đôi ta. Nàng ở quê nhà cũng buồn da diết vì nhớ thương chàng để rồi dòng lệ dạt dào tuôn trào trên má vì đôi bờ ngăn cách:
Xa quá rồi em người mỗi ngã
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?
(Trong bài: “Đôi Bờ” của Quang Dũng)
Hay là cái thưở ban đầu lưu luyến ấy vào một đêm vừa gió lại vừa mưa, hai mươi bốn năm xưa, trong một gian nhà nhỏ, chàng và nàng ngồi nhìn nhau bên ngọn đèn dầu hiu hắt để rồi cùng nhau than vắn thở dài rằng, tình thương nhau thì vẫn nặng, nhưng lấy nhau thì cả hai người biết chắc rằng không đặng. Có lẽ chàng và nàng đều biết cha mẹ sẽ không bằng lòng. Nhưng khi chàng và nàng đã quấn quýt bên nhau giữa một đêm mưa gió bão bùng thì buông nhau làm sao cho nỡ. Thôi thì chàng và nàng thương nhau được chừng nào thì thương nhưng rồi phải liệu tìm cách mà xa nhau vì không bao giờ thành vợ thành chồng làm sao mà tính việc thủy chung:
Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ
Trong gian nhà nhỏ
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở
“Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng.
Để đến nỗi tình trước phụ sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà xa nhau!”
Hay:
“Nó mới bạc làm sao chớ.
Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng ấy.
Chẳng qua ông trời bắt ta phải vậy:
Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng.
Mà tính việc thủy chung?”
Hai mươi bốn năm sau,
Tình cờ đất khách gặp nhau,
Đôi cái đầu đều bạc,
Nếu chẳng quen lưng đố có nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi
Liếc đưa nhau đi rồi!
Con mắt còn có đuôi.
(Bài “Tình già” của Phan Khôi)
Tuy nhiên không phải ai ai cũng yêu nhau để rồi tính việc chung thủy đời đời mà trái lại nhiều khi mới yêu nhau, nhưng nàng lại tìm cách xa chàng vì tiếng sét ái tình từ duyên mới. Điều này làm cho chàng bơ vơ lạc lõng giữa dòng đời để rồi vết thương lòng triền miên tê tái khiến chàng đã phải thốt lên một giai điệu đắng cay:
Sao em hờ hững thế cho đành,
Duyên mới cùng người hất hủi anh.
Tội nghiệp cho đời anh biết mấy!
Trăm năm chưa chắc vết thương lành”.
(Trong bài “Hờ hững” của Tế Hanh)
Và cũng thế, chàng và nàng khi đã yêu nhau cứ tưởng sẽ yêu nhau mãi mãi trọn đời để rồi họ cùng nhau đắm say dưới ánh trăng vàng trong đêm khuya thanh vắng. Ngờ đâu chỉ vì một lỗi lầm nho nhỏ chạm tự ái nhau, chàng và nàng cuối cùng đã phải xa nhau khiến chàng ôm hận muôn đời khi biết nàng đang điên trên gối mộng người thương:
Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu.
Em cười, em nói suốt trăng thâu;
Yêu nhau những tưởng yêu nhau mãi,
Tình đến muôn năm chửa bạc đầu
.……………………………………………………
Tình ái hay đâu mộng cuối trời…
Nhầm nhau giây lát hận muôn đời
Kẻ ra non nước người thành thị,
Đôi ngã tình đi, người mỗi nơi.
Hôm nay ngồi ngắm ở bên sông,
Ta được tin ai mới lấy chồng;
Cười chưa dứt câu tình đã vội…
Nàng điên trên “gối mộng” người thương
(Trong bài “Tình điên” của Lưu Trọng Lư)
Nhưng nhiều khi nàng yêu chàng đến say đắm, điên cuồng và luôn luôn ước mơ xây dựng một lâu đài chung thủy nghìn năm. Nhưng rồi nàng đã vỡ mộng vì gia đình bắt nàng phải lấy một người chồng mà con tim nàng chưa bao giờ có một mảy may rung động hay thổn thức. Cuối cùng nàng đành phải ngậm đắng nuốt cay trước những ái ân lạt lẽo của người chồng qua biết bao nhiêu mùa lá rụng, để rồi lặng lẽ dệt mấy vần thơ thật nghẹn ngào đầy nước mắt:
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người.
(T.T.K.H)
Khi đọc mấy vần thơ trên của người yêu cũ, chàng thấy nhức nhối con tim để rồi đầm đìa giọt lệ vì thương nhớ nàng. Đêm đêm ngồi khắc khoải sầu thương khóc cho tình yêu sao mà đầy khổ lụy, chàng cũng liền dệt mấy vần thơ rồi gởi cho nàng để an ủi đời nàng:
…………………………………………………………………………………………………………………………………………
Thôi em nhé! Từ đây anh cất bước,
Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui
Đừng buồn thương, nhớ tiếc, hoặc ngậm ngùi,
Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp.
(Bài “Dang dở” của Thâm Tâm tặng T.T.K.H)
Hay là:
……………………………………………………………………………………………………………………………………….
K. hỡi! Người yêu của tôi ơi!
Nào ngờ em giết chết một đời!
Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ
Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi.
(Bài “Màu máu Ti gôn” của Thâm Tâm gởi T.T.K.H)
Tuy nhiên có nhiều trường hợp không phải vì chàng và nàng yêu nhau, mà tình yêu chỉ xảy ra đơn phương cho chàng mà thôi. Vâng, chàng thấy nàng thấp thoáng bên cạnh nhà năm ba lần rồi bắt đầu thương nhớ. Chàng nhớ cô hàng xóm, chàng thương cô láng giềng. Hai người sống giữa cô đơn, nhưng chàng lại không bao giờ chịu qua thăm nàng:
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn.
Hai người sống giữa cô đơn,
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi
Giá đừng có dậu mùng tơi,
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.
(Trong bài “Cô hàng xóm” của Nguyễn Bính)
Vì không chịu qua thăm nàng nhưng thỉnh thoảng lại nhớ nàng đến quằn quại nên chàng đành phải nhờ một người trung gian, qua một giấc mơ, để liên lạc đêm ngày: con bướm trắng. Khi con bướm trắng bay vào nhà chàng, chàng muốn hỏi con bướm tại sao chả bao giờ thấy nàng cười mỗi khi nàng ra hong tơ ướt ở ngoài mái hiên, mà chỉ thấy mắt nàng đăm đắm trông lên. Nhưng chưa hỏi kịp thì con bướm đã bay về bên kia rồi. Thế rồi mấy hôm nay vì tầm tầm trời cứ đổ mưa nên chàng chẳng thấy nàng ra hong tơ nữa, nhớ ơi là nhớ! Nhưng mấy ngày sau, bầu trời đã quang đãng rồi, mưa cũng đã tạnh, nhưng chàng vẫn không thấy bóng nàng thấp thoáng sau cái dậu mùng tơi, chàng cũng vẫn không thấy con bướm trắng bay sang nhà chàng nữa. Thì ra đêm qua nàng đã chết rồi, khiến chàng đớn đau quằn quại để rồi rưng rưng chàng gục xuống bàn rưng rưng. Nghẹn ngào chàng khóc đến điên cuồng, khờ dại vì chàng đã yêu nàng da diết, yêu nàng đến đắm say:
……………………………………………………………………………………………………
Tầm tầm trời cứ đổ mưa
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm.
Cô đơn buồn lại thêm buồn,
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?
Hôm nay mưa đã tạnh rồi!
Tơ không hong nữa bướm lười không sang,
Bên hiên vẫn vắng bóng nàng,
Rưng rưng… tôi gục xuống bàn rưng rưng…
Nhớ con bướm trắng lạ lùng!
Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng.
Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
Đêm qua nàng đã chết rồi,
Nghẹn ngào tôi khóc… Quả tôi yêu nàng.
Hồn trinh còn ở trần gian?
Nhập vào bướm trắng mà sang bên này?
(Trong bài “Cô hàng xóm” của Nguyễn Bính)
Và rồi cũng chỉ đơn thương độc mã, một mình một ngựa, chàng cũng chỉ đơn phương yêu nàng nhưng không phải yêu cô hàng xóm mà yêu một người ở xa tận cuối thôn Đông. Cho dù thôn Đông là thôn nàng ở, và thôn Đoài là thôn chàng cư ngụ, nhưng hai thôn cùng thuộc một làng nên chàng và nàng cách nhau chẳng xa gì cho lắm. Vậy mà nàng chẳng bao giờ sang bên này cho chàng được thấy dung nhan, để rồi chàng thương, chàng nhớ, khiến chàng đã tương tư thức mấy đêm rồi, biết cho ai biết, ai người biết cho:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Mộng người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này,
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đỏ thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai biết, ai người biết cho.
Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau.
Nhà em có một giàn trầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?
(Bài “Tương tư” của Nguyễn Bính)
C. Tình yêu đã thành rồi xa nhau:
Trong mục này, tình yêu đã thành có nghĩa là hai người đã lấy nhau thành vợ thành chồng rồi, nhưng cuối cùng rồi phải xa nhau vì số phận đã được an bài: chàng và nàng đành phải ly biệt vì chiến tranh hay vì chiến tranh triền miên kéo dài quá lâu ngày, hoặc là một trong hai người đã thành người thiên cổ.
Chúng ta ai cũng biết rằng vua Tự Đức là một thi sĩ nổi tiếng vang bóng một thời. Khi bà Bằng Phi qua đời, ông đã biểu lộ tâm tư của mình qua bài “Khóc Bằng Phi” thật là não nùng ai oán.
Nhớ bà Bằng Phi quá đến nỗi ông muốn đập vỡ kính ra để tìm bóng “nàng”, rồi xếp mấy tấm áo quần cũ của bà ta lại để dành hơi!:
Ới Thị Bằng ơi! Đã mất rồi,
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ơi!
Mùa hè nắng chái oanh ăn nói,
Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi.
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại để dành hơi.
Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.
(Bài “Khóc Bằng Phi” của vua Tự Đức)
Ngược lại với sự ra đi của nàng là chàng. Ở đây chàng đã qua đời lúc nàng còn quá trẻ, khiến cho nàng bàng hoàng rồi xúc động đến nghẹn ngào. Đó là nữ sĩ Tương Phố Đỗ Thị Đàm.
Nữ sĩ Tương Phố lấy chồng năm 17 tuổi, xa chồng năm 19 tuổi và trở thành góa phụ năm 21 tuổi. Khi nghe chồng là bác sĩ Thái Văn Du qua đời, bà đã vào Huế rồi ôm con ngồi khóc bên mộ chồng đến khô cả dòng lệ. Sau đó bà đã nức nở sầu thương thật lâm ly bi thảm, thật thống thiết ngậm ngùi qua thi tập GIỌT LỆ THU đến nỗi một nữ sĩ Pháp, bà Jeanne Duclossalesses quá xúc động nên đã dịch sang Pháp ngữ với tựa đề “Larmes d’Automme”. Sau này khi về lại Huế thăm mộ chồng, bà vẫn ngậm ngùi thương tiếc qua mấy dòng thơ trong bài “Bình hương lỗi nguyện”:
………………………………………………………………………..
Bỗng một phút bình tan gương vỡ
Để tình này dang dở, dở dang;
Thề duyên thôi đã phụ phàng,
Non sông trăng nước bẽ bàng vì ai.
Nay trở lại ngậm ngùi cảnh cũ;
Người xưa say giấc ngủ ngàn năm!
Tử sinh xé giải đồng tâm,
Trước mồ, lã chã không cầm hàng châu.
Khóc nhau, dễ gặp nhau đâu nữa,
Tìm nhau đành tìm ở chốn nầy;
Tro vàng lẫn khói hương bay,
Tro tàn, khói tỏa bao khuây hận tình!
Trên đây là chuyện tình đầy nước mắt cùa nàng và chàng để rồi cuối cùng nàng chỉ biết ngồi khóc trên mộ chàng qua những năm tháng còn lại của cuộc đời đầy đau khồ.
Tuy nhiên có nhiều người vì quá nhớ thương yêu người mình đã chết, liền ra ngồi bên nấm mộ mà nức nở sầu thương, rồi như muốn đánh thức hồn ma dậy để nói chuyện và chàng muốn xuống dưới mộ để thăm nàng! Ta hãy nghe nhà thơ Đinh Hùng nói chuyện với hồn ma dưới đáy mộ giữa đêm khuya thanh vắng với những vần thơ thật ghê rợn qua bài “Gởi người dưới mộ”:
Trời cuối thu rồi em ở đâu?
Nằm trong đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
Em mộng về đâu?
Em mất về đâu?
Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu
Đây màu hương khói là màu mắt xưa
Em đã về chưa?
Em sắp về chưa?
Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn
Em hãy cười lên, vọng cõi âm
Khi trăng thu lạnh bước đi thầm
Những hồn phiêu bạt bao năm trước
Nay đã vào chung một chỗ nằm,
Cười lên em!
Khóc lên em!
Đâu trăng tình sử
Nép áo trần duyên?
Gót sen Tố nữ
Xôn xao đêm huyền
Ta đi lạc xứ thần tiên
Hồn trùng dương hiện bóng thuyền u minh
Ta gởi bài thơ anh linh
Hỡi người trong mộ có rung mình!
Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?
Hỡi hồn tuyết trinh!
Hỡi người tuyết trinh!
Mê em ta thoát thân hình,
Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.
Em có vui thêm?
Em có buồn thêm?
Ngồi bên cửa mộ
Kể cho ta biết nỗi niềm.
Thần chết cười trong bộ ngực điên,
Ta nghe em thở tiếng ưu phiền,
Nỗi lòng xưa dậy tan thanh vắng,
Hơi đất mê người! Trăng hiện lên!
(Bài “Gởi người dưới mộ” của Đinh Hùng)
Nói chung, cũng như tất cả các dân tộc khác trên thế giới qua thi ca, nước Việt Nam ta cũng có rất nhiều chuyện tình buồn vời vợi, nhiều chuyện tình thật cay đắng, nghẹn ngào đầy nước mắt trong lịch sử tình yêu như ta đã thấy.
Dương viết Điền
California, mùa Valentine
-
LÀM VIỆC TỪ THIỆN: ĐẤU GIÁ TRANH $2.2 TRIỆU
Kiều Mỹ Duyên
-
Thu Về Đón Em
-
Mời nghe nhạc của NS Dương Viết Điền
-
BIỆT LY QUA THI CA VIỆT NAM
Nói đến biệt ly là nói đến xa cách không gặp nhau nữa, là nói đến chia ly mỗi người một ngã. Nhiều khi sau một thời gian sẽ gặp nhau lại, nhưng cũng có thể xa nhau nghìn năm hay vĩnh biệt nghìn đời.
Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, chưa bao giờ ta nghe nói đến cuộc biệt ly nào vui cả. Đã nói đến biệt ly là nói đến xa nhau, xa nhau thường hay nhớ nhau mà nhớ nhau thì lòng luôn luôn buồn vời vợi. Khi thì khắc khoải sầu thương giữa đêm khuya thanh vắng, khi thì nức nở lệ sầu lúc tiễn nhau đi.
Chính sự biệt ly thường đem đến khổ đau cho con người nên các thi nhân Việt Nam đã từng than mây khóc gió mỗi khi gặp sự ly biệt. Biết rằng khổ đau là điều cay đắng, đau thương là những quằn quại trong tâm hồn. Thế mà nhiều thi nhân lại thích đắng cay và quằn quại để dệt nên những dòng thơ ly biệt bất hủ ngàn năm.
Chính những quằn quại và cay đắng đó đã làm cho nhiều thi nhân thích thú nên mới có bài “Thú đau thương” xuất hiện trong thi ca Việt Nam. Nếu ngày xưa ở bên xứ sương mù Anh Quốc, thi sĩ Lord Byron đã rên rỉ về sự biệt ly qua bài “When we two parted”:
“When we two parted
In silence and tears
Half broken hearted
To sever for years”.
mà một thi sĩ nào đó đã dịch là:
“Giờ phút chia ly đã điểm rồi
Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi
Mang mang nửa cõi lòng tan tác
Ly biệt xui chi tủi trọn đời”.
Thì tại Việt Nam, các thi nhân cũng rên rỉ về sự ly biệt còn ai oán lâm ly hơn nhiều. Sự biệt ly ta thấy nghẹn ngào nhất là sự ly biệt của người vợ tiễn chồng ra ngoài mặt trận vào “thưở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên” trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn. Không ai mà không rơi lệ trước cảnh người vợ đưa tiễn chồng ra ngoài mặt trận vì biết rằng ngày về của chồng chỉ độ đào bông và lắm lúc cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Chính vì xưa nay mấy khi đi đánh giặc mà trở lại nhà, nên người vợ cảm thấy quá khổ đau như có linh tính là sẽ vĩnh biệt chồng ngàn năm. Thảo nào mỗi bước đi là một bước sầu tê tái, tâm hồn như choáng váng, lý trí không điều khiển được con tim khiến người vợ quá xúc động nên sắp xỉu phải vin vào áo chàng:
“Ngoài đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền
Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi tay lại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng”.
(Đặng Trần Côn)
Thật đúng là “Ôi! cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”. Chàng ra đi không hẹn ngày về khiến nàng đêm đêm trằn trọc bên chiếc gối, nhìn trăng không tài nào ngủ được vì cứ miên man suy nghĩ hoài về “Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”:
“Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vừng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”.
(Nguyễn Du)
Sự biệt ly giữa người vợ và người chồng khi tiễn chồng ra ngoài mặt trận là sự biệt ly khổ đau nhất trong thi ca Việt Nam vì người về chiếc bóng năm canh, vó câu muôn dặm sơn khê mịt mù. Để rồi từng đêm, từng đêm, người vợ hiền thao thức nghĩ về người chồng và biết đâu một ngàn năm, một vạn năm không bao giờ thấy chồng trở lại quê nhà nữa.
Sau sự biệt ly của người vợ tiễn chồng ra mặt trận là sự ly biệt khổ đau của đôi tình nhân vừa mới yêu nhau đành phải tạm thời xa nhau vì hoàn cảnh.
Ở đất khách quê người bên dòng sông Seine tuyệt đẹp, chàng mới yêu nàng chưa được bao lâu thì nàng lại muốn về thăm quê mẹ, khiến chàng cảm thấy lòng buồn vời vợi đến nỗi mùa đông ở Paris suốt đời là cả một cuộc biệt ly, khi chàng tiễn người yêu về thăm quê mẹ:
“Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly
Tiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách
Ga Lyon đèn vàng
Tuyết buông cuồng mênh mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng”.
(Cung Trầm Tưởng)
Đây là sự biệt ly của đôi tình nhân tại ga xe lửa. Nhưng nhiều người cũng tại ga xe lửa, không phải họ đến để tiễn biệt người yêu, mà để xem sự biệt ly của kẻ đi người ở. Ở đây không phải nơi đất khách quê người mà ngay tại nơi quê nhà yêu dấu, chàng thường đón những chuyến tàu đi đến những ga xe lửa để đứng bơ vơ xem tiễn biệt, rồi tâm hồn cảm thấy ngẩn ngơ và nhớ thương lan xa mấy dặm trường:
“Những ngày nghỉ học tôi thường tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa
… …
Người về không nói bước vương vương
Thương nhớ lan xa mấy dặm trường
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương”.
(Tế Hanh)
Tuy nhiên, hầu hết những đôi tình nhân đến ga xe lửa thường là để tiễn nhau đi và luôn luôn ước mơ sẽ gặp nhau lại trong một thời gian rất gần. Nhưng nếu lúc biệt ly, chàng biết chắc chắn rằng sẽ không bao giờ gặp lại người yêu nữa, nên chàng khuyên nàng đừng quay lại nhìn chàng nữa:
“Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che
Em đừng quay lại nhìn anh nữa
Anh biết em đi chẳng trở về”.
(Thái Can)
Nói đến ly biệt là nói đến buồn bã, là nói ảo não sầu thương. Thế mà lúc biệt ly lại gặp mưa rơi gió thổi thì cảnh ly biệt càng thêm đau khổ nghẹn ngào.
Nếu cổ thi có câu: “Hoàng điệp hoàng hoa cổ thành lộ. Thu phong thu vũ biệt ly nhân”. “Hoa vàng lá úa thành xưa. Nẻo đường ly biệt gió đưa tiễn người”, thì ngày nay, các thi nhân cũng đưa mây gió vào thơ để làm cho sự ly biệt thêm não nùng; để rồi “nước” và “trời” cả hai đều đượm màu hương sắc của sự biệt ly:
“Đương lúc hoàng hôn xuống
Là giờ viễn khách đi
Nước đượm màu ly biệt
Trời vương hương biệt ly
Mây lạc hình xa xôi
Gió than niềm trách móc
Mây ôi và gió ôi
Chớ nên làm họ khóc
Buổi chiều ra cửa sổ
Bóng chụp cả trời tôi
Ôm mặt khóc rưng rức
Ra đi là hết rồi”.
(Xuân Diệu)
Thật thế, nhiều khi “ra đi là hết rồi”, biệt ly lắm lúc là ngàn đời vĩnh biệt. Sự ly biệt làm cho lòng người tê tái vì kẻ ở người đi nên nhiều lúc cả hai đều khóc nức nở như mưa rơi:
“Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa”.
Chính sự lưu luyến càng làm thêm đau khổ cho người ra đi và cũng tạo nên những khổ đau quằn quại cho người ở lại. Bởi vì khi nghĩ đến tương lai, ai nấy đều cảm thấy nhớ nhung đau buồn, cô đơn và hiu quạnh. Vì thế, giây phút bịn rịn lúc chia tay là phút giây gần nhau nhất mà kẻ ở người đi không ai muốn rời nhau, không muốn nghĩ đến ngày mai vì “ngày mai chàng ruổi xa, mặc kẻ nước mắt sa”. Nhà thơ Phan Văn Dật đã cho ta thấy rõ những sự khổ đau quằn quại đó lúc chia tay:
“Đừng nghĩ đến ngày mai
Hôm nay biết hôm nay
Thiếp đây mà chàng đó
Chừng ấy là đủ rồi
Ngày mai chàng ruổi xa
Mặc kẻ nước mắt sa
Yên ngựa rong đường thẳng
Thức dậy lúc canh gà”.
(Tiễn Đưa)
Vì biệt ly là u buồn, vì xa nhau thường nhung nhớ rồi đưa đến sự khổ đau triền miên qua những năm tháng dài lê thê trong hiu quạnh. Vì thế mà các thi nhân cũng như các nhạc sĩ đã dệt những tình khúc biệt ly thật lâm ly bi đát như “nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi. Còn gì đâu nữa mà khóc với cười” hay “Biệt ly, nhớ nhung từ đây” hoặc là “Bến cũ, ngày xưa, người đi vấn vương biệt ly. Gió cuốn, muôn phương, về đây. Bến ấy, người về hay chăng”.
Chính vì sự biệt ly là đau buồn chua xót, là thê thảm não nùng. Chính vì sự biệt ly là khổ đau để rồi nức nở quằn quại bên nhau khiến nhiều người không dám nhắc lại sự ly biệt, vì nếu khơi lại chuyện lòng xa nhau ấy sẽ thêm buồn đau cho cuộc đời.
Ta hãy nghe nhà thơ T.T. KH diễn tả ý nghĩ ấy qua những vần thơ bảy chữ thật buồn:
“Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly
Càng khơi càng thấy lụy từng khi
Trách ai mang cánh ‘tigôn’ ấy
Mà viết tình em được ích gì”.
Tóm lại, qua thi ca Việt Nam, ta thấy các thi nhân đã sáng tác rất nhiều bài thơ liên quan đến sự biệt ly và chính sự ly biệt đã làm cho các nhà thơ đau buồn rồi xúc động mà dệt nên những dòng thơ lâm ly não nuột nghìn năm.
Dương Viết Điền
-
CẦU NGUYỆN CHO MỘT NGƯỜI HIỀN VỪA RA ĐI
-
Tóc Bay – Nhạc Dương Viết Điền
-
DIỄN GIẢ TRẦN PHONG VŨ
Giới thiệu hai tác phẩm:
Tuyển Tập Truyện Ngắn: Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh. Truyện Dài Dĩ Vãng Khôn Nguôi.

NV & NB Trần Phong Vũ “Khánh Lan, đây là ngày đầu tiên tôi được gặp cô, mặc dầu cô đã liên lạc với tôi có lẽ từ nửa năm qua và đã gởi qua máy vi tính cho tôi 2 đến 3 lần cái bản thảo và bản layout quyển truyện dài: Dĩ vãng khôn nguôi và quyển truyện ngắn: Tình yêu, cuộc đời và định mệnh để tôi dễ đọc hơn. Ngày hôm nay tôi đến đây như một sự chia sẻ về một người trẻ, một khuôn mặt mà phải nói rằng phải “Dấn thân” lắm. Đúng, phải là một con người có một cái ý chí đặc biệt mới có thể đi vào một lãnh vực, phải nói là rất là khó chứ không phải dễ.
Nhưng ngày hôm nay tôi xin thưa, tôi hoàn toàn đồng ý với GS Trần Huy Bích, vì sau khi tôi đọc xong hai tác phẩm này, không phải chỉ một lần, mà nhiều lần. Bởi lẽ mỗi một lần nhận được bản mới, tôi nghĩ là nó phải có những thay đổi, mà có những thay đổi thật và chính nhưng thay đổi đó nó đã đánh giá cô Khánh Lan rất cao. Bởi vì khi làm một công việc gì cũng vậy, ngoài cái tài thiên phú ra, cái sự chăm chỉ, sự phục thiện để mà lắng nghe lời nói của một người khác là rất quan trọng và cô đã có các đặc điểm đó. Trong suốt thời gian tiếp xúc với cô qua điện thoại hoặc email, cô vẫn có được một sự kính trọng đối với tôi, mặc dầu cô chưa biết tôi là ai.
Bây gì tôi xin được nói về tác phẩm truyện ngắn trước khi nói đến tác phẩm truyện dài. Đúng ra, tôi phải đi vào từng chi tiết của mỗi câu truyện để hiểu rỏ tác phẩm ấy nói gì. Tuy nhiên, tôi chỉ hiểu rõ một điều này, khi viết truyện ngắn, cái khó nhất của viết truyện ngắn là đoạn kết. Nếu mà đoạn kết thất bại thì coi như là bỏ hết, vứt đi. Cái kết có thể là “happy ending” hay là một hình thái gì đó để mà đưa ra một cái kết. Ở đây, tôi nhận thấy cô chọn lựa rất đặc biệt cho cái kết trong những truyện ngắn của cô cũng như qua một vài đoạn khi cô nói về mình ở trong phần tâm sự hay là lời cám ơn. Có rất nhiều những dữ kiện trong cuộc đời của cô, nhất là những kiến thức của cô, những cái gì mà cô đã học được của nhà trường, những gì cô đã thực tập khi cô làm thày dậy người ta hay là thực tế lao đầu vào những công việc hiểm nguy.
Thế thì cái vấn đề là cô ấy đã làm gì với những kiến thức ấy, tôi phải nói là nhiều những truyện ngắn trong sách, cô đã mang những suy nghĩ, những kiến thức của cô, tấm lòng của cô, cái đặc biệt của một tấm lòng yêu thương con người, say mê với công việc của mình. Thành ra tôi vẫn tin tưởng rằng, với một người như vậy khi bước vào văn chương cũng mang tấm lòng đó vào và sẽ thành công và sự thành công đó là ngay trong những tác phẩm truyện ngắn.
Như tôi đã đề cập lúc đầu là cái kết thúc rất quan trọng, thì ở điểm này cô Khánh Lan đã thành công. Tôi nhận thấy, thứ nhất là cô có cái khuynh hướng rõ ràng là cô thích có một cái “happy ending” cô muốn có một kết thúc tròn đầy. Đó là con người của cô, một con người yêu thương, một con người mà chỉ muốn mọi chuyện xảy ra tròn vẹn, không phải cho mình mà cho mọi người. Vì vậy khi cô gửi vào những nhân vật có thực trong tác phẩm truyện ngắn.
Tuy vậy, trong một vài truyện, tôi đã nhìn thấy vì một lý do gì đó cô phải đưa ra một “ending” khác, nhưng hầu hết đều gọn ghẽ, rất đầy đủ, chỉnh chu như cô đã trả lời NV Việt Hải về cái bố cục của một câu truyện, một quyển sách như thế nào rất là chính xác. Với tư cách là một người đã từng dậy quốc văn, tôi thấy cái quan niệm đó, cái nhìn đó, cái mà cô đã cố gắng đi theo con đường văn chương. Đây chính là một cái chìa khóa để mở cho cô đi vào sự thành công, không phải chỉ có ngày hôm nay với 4 cuốn sách này, mà sẽ còn nữa trong tương lai như lời sự ước ao của GS Trần Huy Bích.
Thế thì, cái điểm chính ở đây là cô rất thành công như trong tác phẩm truyện ngắn, như truyện “Hạnh Phúc Trở Về”. Cô có thể kết thúc ngay lúc mà người con trai của cặp vợ chồng rất là hạnh phúc đã chết trong một hoàn cảnh tức tưởi, đồng thời nó cũng đưa ra một sự cảnh giác cho những người cha mẹ chỉ lo làm ăn mà quên đi đứa con của mình bị bệnh tự kỷ. Cái điểm này cũng nằm trong ngành học chuyên môn của cô, cô đã ứng dụng vào truyện rất là đúng. Cuối cùng, cô đã có một cái kết rất hay mà quý vị về đọc truyện này sẽ có một cảm nhận giống như tôi. Trong truyện “Nỗi Cô Đơn Trong Biển Tình” cũng thế, cô đã biết cách lợi dụng đại dịch Covid 19 để hàn gắn lại một mối tình tưởng chừng tan biến.
Nói về tác phẩm truyện dài “Dĩ Vãng Khôn Nguôi” NV Trần Phong Vũ nói: “Ngay từ cái tựa quý vị đã thấy được tác phẩm nói gì. Dĩ vãng là những cái gì đã qua và trong cái dĩ vãng đã qua đó có nhiều sự kiện đã khắc sâu vào tâm khảm của mình. Trong đó, dĩ vãng nào là một dĩ vãng nổi bật nhất, một cuộc tình khởi đầu và trong cuộc tình ấy có những gì diễn đạt trong đó, mà thời gian cũng không làm người ta nguôi ngoai được, thì tác phẫm này, đã nói được trong trọn vẹn cái tiêu đề ấy. Bám sát được cái tiêu đề là cả một vấn đề. Vì vậy từng chương một, trong 13 chương sách đó chúng ta thấy lần lượt tác giả đã có một sự xắp xếp rất thông minh và trong đó có đầy đủ “hỷ, nộ, ái ố”.
Có một điều mà tôi xin thưa ngay, những cái đoạn tả cảnh của tác giả rất đặc biệt, hình ảnh hợp theo thời gian và đặc biệt nhất là trong chuyến đi du hành trở về thăm quê hương, chúng ta tìm ra một cái sự nỗ lực không cùng của tác giả để tìm ra những lịch sử về từng nơi như Đà Lạt hay Lăng Cô, chùa Hương, v.v… Cô làm rất chỉnh chu, tới nơi tới chốn. Ngược lại, trong quyển truyện ngắn, cô tham khảo rất kỹ và xoay chung quanh những người lính, những người trong quân trường, trại tù cải tạo, v.v… Chính vì cha của cô cũng trong quân đội, vì vậy những câu chuyện trong quân trường, chuyện chiến đấu, bị đi tù đều được đưa vào trong tác phẩm. Đó là những chuyện rất thật, tuy có chút hư cấu vì đó là điều không thể tránh được. Điều quan trọng là phải hư cấu như thế nào mà vẫn còn giữ được ý chính. Đó là một câu truyện mà chúng tôi gọi là câu truyện văn chương.
Lúc nãy, GS Trần Huy Bích có nói đến “văn chương nghệ thuật vị nghệ thuật và văn chương nghệ thuật vị nhân sinh” thì trong hai tác phẩm của cô Khánh Lan đều ít nhiều mang một giá trị thứ hai, về con người. Đó chính là văn chương nghệ thuật vị nhân sinh. Thêm nữa, cô đã đem sự học đưa vào các nhân vật với hành động, suy nghĩ, cảm nghiêm làm việc cho bệnh nhân, cho người yếu kém vào tác phẩm của cô. Đó là về con người.
Tôi xin thưa qúy vị và đặc biệt thưa với cô Khánh Lan, tôi đã không làm tròn vai trò “diễn giả” đọc hai tác phẩm rất quan trọng của cô. Cái quan trong là tác phẩm đầu và từ đó hy vọng có các tác phẩm kế tiếp. Tôi xin thưa là cô Khánh Lan đã đặt được cái nền tảng, đặt được bước chân vững chắc để đi tới trong những bước chân kế tiếp như GS Trần Huy Bích đã nói, sẽ được đọc những tác phẩm lớn của cô sau này.
Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe những điều thật sự từ trong tấm lòng của chúng tôi. Xin cám ơn.
Trần Phong Vũ
California, Sept. 19, 2021
-
Giới thiệu sách “Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại” và Tuyển tập truyện trinh thám “Thám Tử Lê Minh”
“Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại” và
Tuyển tập truyện trinh thám “Thám Tử Lê Minh”
của nhà văn Khánh Lan
(Bài nói chuyện của Gs. Trần Huy Bích tại NT Studio, Westminster, CA,

GS Trần Huy Bích Ngày 19 tháng 9-2021)
Kính thưa …
Tôi rất vui được trao nhiệm vụ giới thiệu cuốn “Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại”
và tuyển tập truyện trinh thám “Thám Tử Lê Minh”của nhà văn Khánh Lan.

Cuốn trước gồm 11 bài viết riêng biệt. Trong bài đầu tiên, chị Khánh Lan viết chung với nhà văn Việt Hải, thuật lại cuộc bút chiến từ năm 1935 đến năm 1939 ở Việt Nam giữa Hải Triều Nguyễn Khoa Văn, người chủ trương nghệ thuật phải được dùng để phục vụ xã hội (nghệ thuật vị nhân sinh), và Hoài Thanh Nguyễn Đức Nguyên, người đưa ra quan niệm nghệ thuật cần có giá trị về phương diện nghệ thuật, vì thế nên được tự do, không nên bị gò bó trong nguyên tắc, giáo điều (nghệ thuật vị nghệ thuật). Chị Khánh Lan đóng góp bằng cách cung cấp thêm một vài ý kiến của một số văn hào thế giới.
Trong mười bài sau, chị viết về mười nhà văn danh tiếng của quốc tế cùng những tác phẩm chính của họ:
–Erich Maria Remarque (Đức) với cuốn Zeit zu leben und Zeit zu sterben (bản dịch sang tiếng Anh: A Time to Love and a Time to Die; bản dịch sang tiếng Việt: Một thời để yêu và một thời để chết).
—Victor Hugo (Pháp) với cuốn Les Misérables (bản dịch sang tiếng Việt: Những kẻ khốn cùng).
–Herman Hesse (nhà văn Đức với quốc tịch Thụy Sĩ). Với ông, chị giới thiệu hai cuốn: Demian (bản dịch sang tiếng Việt: Tuổi trẻ băn khoăn) và Siddhartha (bản dịch sang tiếng Việt: Câu chuyện dòng sông).
–Alexandre Dumas, Jr. (Pháp) với cuốn La Dame aux camélias (bản dịch sang tiếng Việt: Trà hoa nữ).
–André Gide (Pháp) với cuốn La Porte étroite (bản dịch sang tiếng Việt: Khung cửa hẹp).
–Mark Twain (Hoa Kỳ) với cuốn The Adventures of Tom Sawyer (Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer).
–Marcel Proust (Pháp) với cuốn À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất).
—Ernest Hemingway (Hoa Kỳ) với cuốn The Old Man and the Sea (Ngư ông và biển cả).
—Erich Segal (Hoa Kỳ) với cuốn Love Story (Chuyện tình yêu).
–Boris Pasternak (Nga) với cuốn Doctor Zhivago (Bác sĩ Zhivago).
Tóm lại, Khánh Lan đã viết về 10 văn hào quốc tế (4 Pháp, 3 Mỹ, 1 Nga, 2 Đức, một vị sau đó lấy quốc tịch Thụy Sĩ), và tóm lược 11 tác phẩm của họ. Trong các văn hào chị giới thiệu, 4 vị đã được giải Nobel về Văn chương: André Gide, Herman Hesse, Ernest Hemingway, và Boris Pasternak. Giải này được phát từ năm 1901, không đi ngược thời gian để cân nhắc trường hợp các đại văn hào Victor Hugo và Alexandre Dumas, sáng tác từ thế kỷ trước.
Trong một bài nhận xét của nhà văn Việt Hải cũng được in trong cuốn sách, anh Việt Hải ghi nhận rằng chị Khánh Lan đã tóm lược và đưa ra những suy nghĩ về ba cuốn tiểu thuyết xã hội lấy chủ đề là thân phận con người, ba cuốn với những suy tư triết học, hai tiểu thuyết về thời đại và chiến tranh, và hai tiểu thuyết thuộc khuynh hướng tình yêu lãng mạn.

Trong tác phẩm thứ hai, tuyển tập truyện trinh thám mang tên “Thám Tử Lê Minh,” Khánh Lan giới thiệu với chúng ta một nữ thám tử xinh đẹp với nhiều điểm đặc sắc: “dong dỏng cao, mặt trái xoan xinh xắn, mắt phượng to tròn dưới hàng lông mi dài cong vút, mũi dọc dừa, nụ cười tươi giữa hai lúm đồng tiền làm tăng phần duyên dáng.” Một phần vì tên giống con trai nên khi lên Trung học bị nhà trường xếp vào lớp dành cho nam sinh, được chú ý một cách đặc biệt, một phần vì chơi với các anh trai từ nhỏ, Lê Minh đã quen với đá banh, bắn súng, đánh võ, xem phim bạo động hay trinh thám. Vì thế cô cũng “ngổ ngáo” như con trai: ghét cay ghét đắng nếu phải mặc áo dài, đi giày kiểu, xách bóp đầm …, nhưng thích cắt tóc kiểu demi-garçon, mặc quần jean, đội mũ lưỡi trai…
Từ khi sang Mỹ, Lê Minh đã có ý định trở thành thám tử điều tra những vụ án bí ẩn. Cô theo dõi những tin tức về tội phạm trong xã hội, bị thu hút bởi những phim gián điệp như Silence of the Lamb, The Girl on the Train … Vì thế sau khi tốt nghiệp Đại học với bằng Cao học về Tư pháp Hình sự (Criminal Justice), cô xin vào làm cho Ban Tư pháp Hình sự Sát nhân (Criminal Justice Homicide Department). Để được chấp nhận làm việc trong Ban này, Lê Minh phải hoàn tất chương trình đào tạo các sĩ quan cảnh sát và thám tử điều tra tội phạm sát nhân của Học viện Cảnh sát. Sau vài năm làm việc tại sở Cảnh sát với nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực điều tra, Lê Minh mới được thăng chức thám tử và được bổ nhiệm làm người cộng tác (partner) với một thám tử đã khoảng 50 tuổi với trên 20 năm kinh nghiệm, là thám tử McBride. Từ đây tác giả trình bày sự cộng tác chặt chẽ của hai người để phanh phui nhiều án mạng bí ẩn.
Sau bài viết đầu tiên để giới thiệu người nữ thám tử đặc biệt và án mạng thứ nhất, Khánh Lan viết về 12 án mạng khác. Vụ nào cũng mang tính cách kỳ bí, nhưng về sau, nhờ khả năng suy luận sắc bén và cũng một phần do may mắn, thám tử chính McBride và thám tử cộng tác Lê Minh cũng đều giải quyết được, đưa phạm nhân ra ánh sáng và thành công. Người Việt ở Nam California dễ say sưa theo dõi các truyện trinh thám do Khánh Lan viết vì chị kể những sự việc chung quanh chúng ta: chuyện xảy ra ở các thành phố Irvine, Seal Beach, Westminster …, trên xa lộ 73, với những số điện thoại bắt đầu bằng area code 714. Truyện trinh thám của Khánh Lan có khả năng hấp dẫn người đọc. Hai người viết “Lời mở đầu,” các anh Dương Viết Điền và Việt Hải, đều có những nhận xét rất tích cực về tập truyện của chị.
Văn hào Anh Ian Fleming đã thành công vượt bực khi dựng nên điệp viên quốc tế James Bond. Sir Arthur Conan Doyle đã làm thám tử giả tưởng Sherlock Homes thành ra bất tử. Nhà văn Thế Lữ tạo ra phóng viên trinh thám Lê Phong tài ba. Các chuyện trinh thám của nhà văn Phạm Cao Củng được xây dựng chung quanh thám tử Kỳ Phát. Nhà văn Khánh Lan của chúng ta góp phần bằng cách kiến tạo nên nữ thám tử Lê Minh.
Đọc tới cuối tập, tôi có chút luyến tiếc vì Khánh Lan cho Lê Minh “giã từ sân khấu” sớm quá. Sau hơn 20 năm trong nghề, cô vẫn còn độc thân. Thám tử McBride về hưu ở tuổi 70. Một thời gian sau, ông kết liễu đời mình bằng một viên đạn bắn vào đầu. Tin ấy khiến nhiều người bàng hoàng, nhất là Lê Minh. Cô cảm thấy mệt mỏi sau cái chết của người bạn tri kỷ nên đã xin thôi việc, đến thăm mộ thám tử McBride rồi về xuống tóc quy y. Nhà nữ thám tử tài ba đã nhận ra “tu là cõi phúc.” Tập truyện trinh thám của Khánh Lan, vì thế mang thêm tính cách triết lý và tình cảm.
Được biết Khánh Lan rất nhiệt thành với việc học hỏi thêm và viết một cách say sưa. Tôi tin rằng với những tác phẩm đầu tay mà đã được như thế, chị sẽ còn tiến rất xa.
Với đại thi hào Nguyễn Du, từ bài “Thác lời trai phường nón,” một trong những tác phẩm đầu tiên, đến Truyện Kiều, là một bước tiến rất dài. Với văn hào Nhất Linh, hai cuốn truyện đầu tay của ông, Nho Phong và Người Quay Tơ, chưa đạt trình độ nghệ thuật cao. Tuy nhiên, đó là bước đầu để về sau ông viết Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn, Bướm Trắng, Hai Buổi Chiều Vàng, Xóm Cầu Mới, Giòng Sông Thanh Thủy …, và chủ trương các tạp chí Phong Hóa, Ngày Nay, Văn Hóa Ngày Nay… Các tác phẩm đầu tiên của đại thi hào Shakespeare nước Anh hay đại văn hào Ernest Hemingway của Hoa Kỳ cũng chưa đạt tới trình độ xuất sắc của những tác phẩm viết sau. Chúng ta có quyền kỳ vọng rằng người bạn Khánh Lan của chúng ta sẽ còn cho ra đời những tác phẩm giá trị hơn những cuốn được giới thiệu hôm nay.
Tôi cũng tin rằng đa số các vị thức giả, các văn nghệ sĩ lớn tuổi, cũng như các bạn trẻ tới đây hôm nay đều có chung một niềm mong ước. Đó cũng là niềm mong ước tôi trình bày một cách khái quát trong Lời mở đầu tập sách biên khảo của chị Khánh Lan.
Sau biến cố 30-4-1975, hơn 4 triệu người Việt đã ra sống ở ngoài nước, trong đó khoảng một nửa, hơn 2 triệu, cư ngụ ở Hoa Kỳ. “Chúng ta đi, mang theo quê hương.” Quê hương đây không phải chỉ gồm thức ăn, trang phục, một số phong tục truyền thống…, mà còn là sinh hoạt tinh thần, với sách báo, văn thơ…
Gần nửa thế kỷ trôi qua, thế hệ các nhà văn, nhà thơ tiền bối (Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyên Sa, Minh Đức Hoài Trinh …) không còn giữa chúng ta. Lớp nhà văn, nhà thơ trẻ hơn (Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, Du Tử Lê, gần đây là Nguyễn Mạnh Trinh …) cũng đã ra người thiên cổ. Tại nhiều nơi, vẫn còn một số nhà văn, nhà biên khảo có tâm huyết và thành tích, nhưng các vị đã, hoặc đang bước vào tuổi lão niên. Đã có nhi ều người lo âu: “Tre” tuy già nhưng “măng” chưa kịp mọc. Vì nhu cầu tinh thần, tập thể người Việt ở ngoài nước cần có những người cầm bút mới. Rất nhiều người Việt đã thành công khi sáng tác bằng Anh ngữ, Pháp ngữ…, làm giàu thêm cho văn học thế giới. Chúng ta có Lan Cao, Andrew Lam, Monique Truong …và nhiều người nữa. Có những vị thành công một cách xuất chúng như Viet Thanh Nguyen với giải thưởng văn học danh giá Pulitzer, Ocean Vuong với giải thưởng T.S. Eliot, cùng nhiều giải khác. Các vị ấy đã chứng tỏ rằng trong khả năng diễn đạt bằng ngòi bút, dân Việt không thua kém ai. Tuy nhiên, muốn duy trì căn cước và ngôn ngữ, cộng đồng Việt ở ngoài nước vẫn cần những cây bút viết bằng tiếng Việt. Chúng ta cần có những cây bút nhiệt thành, dấn thân như Khánh Lan, và chân thành cầu chúc cho sự thành công của chị và các bạn cùng thế hệ.
Chân thành cám ơn sự lưu tâm theo dõi của toàn thể Quý vị.


