• DU LỊCH,  KÝ SỰ

    DU LICH PHI CHÂU

    Châu Phi: South Africa, Zimbabwe và Boswana từ ngày 28/8 – 13/9/2023 với công ty du lịch Exoticca.

    1.  South Africa: 

                 South Africa còn được gọi là Cộng hòa Nam Phi, nằm ở phía nam châu Phi.  Thường mỗi quốc gia chỉ có một thủ đô nhưng Nam Phi có ba thủ đô: Pretoria – thủ đô hành chính (administrative capital), Cap Town – thủ đô lập pháp (legislative capital) và Bloemfontein – thủ đô tư pháp (judicial capital).  Chưa kể Johannesburg tuy không chính thức nhưng cũng được mệnh danh là “thủ đô kính tế”…  South Africa nổi tiếng với sự đa dạng về văn hóa, thiên nhiên, lịch sử và có nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng như Johannesburg, Cap Town, Kruger National Park….

           Khởi hành từ phi trường Los Angelos, CA và sau gần 30 tiếng ngừng, nghỉ và chuyển máy bay ở London, chúng tôi đã đến thành phố Johannesburg, South Africa, được đưa về ăn tối và ngủ qua đêm ở khách sạn Garden Court.  Sáng hôm sau, chúng tôi được xe của công ty chở đi Mpumalanga để thăm Kruger National Park.  Chuyến đi này hơn 7 tiếng đồng hồ, dọc đường nghỉ ăn trưa và thăm ba thắng cảnh nổi tiếng thu hút nhiều du khách yêu vẻ đẹp thiên nhiên: Blyde River Canyon, Three Rondavels và God’s Window.

    –  Blyde River Canyon: là một trong những thung lũng với hẻm núi đẹp và lớn nhất trên thế giới, nằm ở tỉnh Mpumalanga, South Africa.  Hẻm núi này có độ dài khoảng 25 km và được tạo ra bởi sông Blyde River, cung cấp cảnh quan đẹp tuyệt vời với những vách đá đỏ và cây cỏ xanh mướt.  Dọc theo đường đi là những điểm đẹp nổi tiếng như Three Rondavels, God’s Window…

    –  Three Rondavels: là ba đỉnh đá đặc biệt có hình dáng giống với các lều tròn truyền thống của người Bantu, gọi là “rondavels”.  Từ đỉnh cao này, chúng ta có thể thưởng ngoạn toàn cảnh tuyệt đẹp của thung lũng và sông Blyde.

    –  God’s Window (Cửa Sổ của Thượng Đế): là một địa điểm gần với Blyde River Canyon, nổi tiếng với khung cảnh tuyệt mỹ của sự hoang sơ và đa dạng trong thiên nhiên.  Từ God’s Window, chúng ta có thể nhìn thấy những dãy núi, khe núi và rừng rậm trải dài đến tận chân trời, tạo nên một cảm giác như đang đứng trước một cửa sổ thiên đàng.

           Chúng tôi đến Ingwenyama Resort vào lúc chạng vạng tối, sau khi về phòng, tắm rửa, chúng tôi đã có một bửa tối buffet thật ngon.   

           –  Ingwenyama Conference & Sport Resort:  ở thành phố nhỏ White Water trong tỉnh Mpumalanga, cách Johannesburg khoảng 5 tiếng và Kruger National Park 45 phút lái xe.  Đây là khu nghỉ dưỡng yên tĩnh, đẹp trang nhã, lịch sự, thức ăn ngon.  Chúng tôi sau khi thăm viếng Kruger Natonal Park đã có một ngày nghỉ nhàn hạ và chụp nhiều hình kỷ niệm ở resort này.

          –  Kruger National Park, South Africa: là một trong những công viên quốc gia hàng đầu của Nam Phi và cũng là một trong những khu bảo tồn động vật hoang dã lớn nhất trên thế giới, nơi du khách có thể trải nghiệm các chuyến safari thú vị và khám phá vẻ đẹp thiên nhiên cũng như có cơ hội thấy nhiều loại động vật hoang dã, bao gồm cả “Big Five” (sư tử, voi, trâu nước, báo, tê giác).  Những con thú hoang này thường đi ra ngoài vào sáng sớm hay chiều muộn nên chúng tôi đã phải dậy sớm đi từ 5 giờ sáng.  Rất may mắn trong chuyến safari này, chúng tôi đã thấy được nhiều thú hoang trong đó có voi, trâu rừng, báo, ngựa vằn, nai, hươu, linh dương, chó sói, khỉ đột, hươu cao cổ, heo rừng, gà rừng, diều hâu và nhiều loại chim khác…  Đặc biệt trong chuyến đi này, chúng tôi đã nhìn thấy một con báo từ xa và một con nai đã bị con báo bắt ăn thịt và treo xác trên một cành cây để dành ăn dần…

           Sau ba ngày ở Ingwenyama Resort, chúng tôi lên xe bus về lại phi trường Johannesburg để bay đi Cap Town.  Trên đường ra phi trường Johannesburg, chúng tôi đã ngừng lại thăm thành phố Pretoria.

    –  Pretoria:  là thủ đô hành chính của Nam Phi, thường là nơi làm việc của Tổng Thống, nằm ở phía bắc Nam Phi.  Pretoria là một trung tâm về văn hóa, chính trị và giáo dục, nổi tiếng với kiến trúc đa dạng và vị trí lịch sử quan trọng.  Pretoria còn là quê hương của loài phượng tím nở rộ vào cuối tháng 10, nhuộm tím cả thành phố lãng mạn cổ kính.  Nếu Johannesburg sầm uất, hối hả và ngột ngạt thì Pretora ngược lại – có phần chậm rãi và yên tĩnh, cho chúng ta một cảm giác thanh bình êm ả.

            Chuyến bay dài hơn 2 tiếng đã đưa chúng tôi từ phi trường Johannesburg đến Cap Town lào lúc 8 giờ tối, sau đó được đưa về khách sạn Cresta Grande nằm giữa trung tâm thành phố.  Sau một ngày dài mệt mỏi, chúng tôi đi ngủ sớm sau khi dùng cơm tối ở khách sạn.  Sáng hôm sau, chúng tôi bắt đầu đi thăm và khám phá Cap Town, một thủ đô của Cộng hòa Nam Phi từ lâu tôi đã được nghe danh nhưng mãi đến bây giờ mới có dịp viếng thăm và thấy thành phố này quả thực rất đẹp, văn minh, sạch sẽ (đặc biệt các toilet ở phi trường, sạch sẽ nhất trong những toilet trên thế giới nơi tôi từng đến)  và người dân hiền lành, lịch sự và tốt bụng hơn trong trí tưởng tượng của tôi nhiều.  Chúng tôi đã dùng phương tiện Hop-on Hop-Off Tour bus để đi thăm toàn cảnh Cap Town, đặc biệt ghé thăm những nơi nổi tiếng như Victoria & Alfred Waterfront Marina, Signal Hill, Kirstenbosch National Botanical Garden, Table Mountain, Chapman’s Peak Drive, Boulder Beach, Cape of Good Hope…, tất cả mọi nơi đều để lại cho chúng tôi những ấn tượng tuyệt đẹp.

     –  Cap Town: thủ đô lập pháp và là thành phố lớn nhất của Nam Phi, nằm ở cực Nam của châu Phi, nơi biển Đại Tây Dương và biển Ả Rập gặp nhau.  Vị trí này tạo nên một cảnh quan hùng vĩ với dãy núi nổi tiếng như Table Mountain và 12 Apostles nằm bên cạnh biển xanh biếc, những bãi biển tuyệt đẹp như Camps Bay và Cliffton Beach với bãi cát trắng mịn.  Thành phố này có một kiến trúc, lịch sử và văn hóa đa dạng, thể hiện qua nghệ thuật, âm nhạc và ẩm thực đa quốc gia.  Đây là một nơi đến tuyệt vời cho những ai muốn khám phá vẻ đẹp và văn hóa của Nam Phi.

    –  Victoria & Alfred Waterfront Marina:  là hải cảng đẹp với nhiều trung tâm thương mại và vui chơi hàng đầu của Cap Town, nơi du khách có thể mua sắm, ăn ngon, thăm bảo tàng viện, dạo chơi, ngắm hải cẩu phơi mình trên bờ trong nắng ấm hoặc đi du thuyền ngắm toàn bộ thương cảng rất đẹp.

    –  Signal Hill: nằm cạnh núi Table Mountain, là nơi du khách và dân địa phương thường đến để ngắm cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp và bắn pháo hoa vào mùa lễ hội.  Đỉnh đồi này có một bảo tàng quân sự và nhiều pháo cổ điển, từng được sử dụng để phát tín hiệu giao thông và báo hiệu thời tiết cho thủy thủ đoàn.

    – Kirstenbosch National Botanical Garden:  nằm dưới chân núi Table Mountain, là một trong những vườn bách thảo quốc gia đẹp nổi tiếng nhất thế giới với trên 7,000 đủ loại thực vật bản địa được trồng trong khu viên rộng 36 hecta này.  Chúng tôi đã có một buổi sáng thư giản yên bình đi trên những con đường mòn ngắm cây cảnh và nghe nhiều tiếng chim hót líu lo.

    –  Table Mountain: là một đỉnh núi nổi tiếng tại Nam Phi, nằm ở trung tâm của Cap Town, có thể nhìn thấy được gần khắp mọi nơi ở Cap Town.  Nó được gọi là “Table Mountain” (Núi Bàn) là do hình dạng phẳng đỉnh của nó, trông giống như một tấm bàn lớn đặt ngang.  Table Mountain có độ cao khoảng 1,085 m trên mực nước biển và từ đỉnh núi, có thể nhìn thấy cảnh quan của cả thành phố Cap Town và vịnh Table Bay tuyệt đẹp.  Để lên đến đỉnh Table Mountain, chúng tôi đã dùng hệ thống cáp treo hiện đại.  Nhưng chẳng may khi lên được đến đỉnh, nhìn xuống dưới chúng tôi chẳng thấy được gì vì lúc đó mây và sương mù bao phủ chung quanh, gió thổi mạnh và trời rét buốt nên chúng tôi chỉ chụp hình loanh quanh rồi một tiếng sau, vội vàng theo cáp treo xuống núi.  

    –  Chapman’s Peak Drive:  là một trong những con đường ngắn, 9 km, ngoạn mục nhất ở South Africa, nổi tiếng với  các khúc cua quanh co và các chỗ dừng xe vị trí tuyệt vời để ngắm cảnh biển và núi.

    –  Boulders Beach: là bãi biển ở Simon’s Town, phía nam Cap Town, nơi sinh sống của một loài chim cánh cụt đặc biệt, được gọi là African Penguin hoặc Cape Penguin.

    –  Cap of Good Hope: nằm ở phía nam của bán đảo Cap Peninsula, là một biểu tượng của South Africa, nổi tiếng với việc có một bảo tàng và những con sóng mạnh mẽ của Đại Tây Dương gặp nhau với biển Ấn Độ Dương, được nhiều du khách viếng thăm và chiêm ngưỡng khung cảnh biển cả và các vách đá cao và đồng cỏ xanh tuyệt đẹp.

          Sau 3 ngày 4 đêm ở Cap Town, chúng tôi đáp chuyến bay đế́n thăm một nước khác ở châu Phi:  Zimbabwe.

    2.  Zimbabwe:

               Zimbabwe là một quốc gia không giáp biển, nằm ở phía Bắc của South Africa, giữa hai nước South Africa và Zambia, thủ đô là Harare và có khoảng 15 triiệu dân, tiếng Anh là ngôn ngữ chính.  Zimbabwe nổi tiếng với Hwange National Park và Victoria Falls, có di sản văn hóa và lịch sử phong phú.  Đất nước tuy có nhiều tài nguyên nhưng chưa được phát triễn, phần đông dân chúng sống trong cảnh đói nghèo.

          Chúng tôi đến phi trường Victoria Falls Airport của nước Zimbanwe  vào khoảng 1:30 pm, được đưa về ở  tại Nguni Lodge, cách phi trường không xa, rất xinh xắn, thơ mộng với những mái nhà lợp tranh, hồ bơi và cây cảnh xanh mát chung quanh.  Chúng tôi chỉ ở đây có 1 ngày 2 đêm nhưng cũng đã xem được những cảnh đẹp nổi tiếng và có những kỷ niệm vui, buồn lẫn lộn.

    –  Sunset Cruise on the Zambezi River:  chúng tôi đã có một buổi chiều tuyệt vời khi đi trên chuyến du thuyền ngắm hoàng hôn trên sông Zambezi, một trong những con sông lớn nổi tiếng nhất châu Phi.  Chúng tôi đã uống rượu vang, thưởng thức những món khai vị bản xứ thật ngon, chiêm ngưỡng mặt trời lặn trên sông tuyệt đẹp và ngắm những con cò trắng, hươu, nai, voi, cá sấu, hà mã ngâm mình trong nước, phơi mình trong nắng hoặc lang thang trên cánh đồng hoang…

    –  Victoria Falls: thác nước lớn nhất thế giới có chiều rộng khoảng 1.7 km và chiều cao khoảng 108 m (Niagara Falls rộng khoảng 1.6 km va cao 51 m), nằm ở biên giới giữa Zimbabwe và Zambia, phía Nam của châu Phi.  Thác Victoria được hình thành bởi nước sông Zambezi cung cấp, từ độ cao 108m đổ thẳng xuống một phiến đá lớn.  Kẽ nứt được hình thành rộng khoảng 1.7 km.  Từ đó nước sông bị hẫng nên tạo thành một thác nước vô cùng thú vị.  Cảnh đẹp ấn tượng này được một nhà thám hiểm người Scotland tên David Livingstone tìm ra vào ngày 16/11/1855.  Thác được lọt vào danh sách Di sản thế giới, 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên đẹp nhất.

    – Kituso Primary School & Village: không nằm trong chương trình du lịch, chúng tôi yêu cầu được đi thăm một làng quê để tìm hiểu đời sống của người dân ở đây và được người tour guide đưa đi thăm trường tiểu học Kituso và một làng quê cách Victoria Falls khoảng 10 phút lái xe.  Nói là “trường” nhưng thật ra đó là hai phòng nhỏ lợp mái tôn, trong lớp chỉ có hai cái bàn và vài ba cái ghế, các em bé thay phiên nhau ngồi đọc, viết ở bàn.  Hôm chúng tôi đến thăm trúng vào ngày Thứ Bảy, trường nghỉ học nhưng vì được tin có du khách đến thăm nên cô giáo và các phụ huynh đã mang con em ̣mặc đồng phục đến trường, khoảng độ 30 em, tất cả ngồi ở sân đất sau trường, dưới bóng cây, chờ chúng tôi thăm viếng.  Nhìn cảnh thiếu thốn của trường và các em, chúng tôi không khỏi xót xa và mọi người chúng tôi đã đóng góp ít nhiều giúp đỡ trường và mua quà bánh cho các em.

           Rời trường, chúng tôi được đưa đến một làng nhỏ kế bên gồm 5,6 căn nhà cho 37 người dân ở đó.  Một cô bé 14 tuổi và người mẹ được cử làm đại diện tiếp đón chúng tôi.  Chúng tôi được cho biết làng không có điện, nước, người dân phải đi khiêng nước cách làng vài ba cây số.  Nguyên cả làng chỉ có một cái bếp, một phòng chứa đồ ăn và tất cả mọi người trong làng tụ tập nơi đây để nấu nướng, ăn uống chung với nhau.  Họ chỉ có ăn ngày hai bửa, sáng và chiều, thức ăn thường là những loại ngũ cốc địa phương nấu loãng như cháo, hiếm khi có rau trái, thịt thà trung bình 1-2 lần một tuần. Làng không có trường trung học, được cô bé kể phải đi bộ 5 km mới đến trường, trưa nhịn đói…

           Chúng tôi ra về sau khi biếu một ́it tiền, lòng bồi hồi thương xót cảnh nghèo khó của dân làng ở đây cũng như của phần đông dân chúng trong xứ sở này và không khỏi liên tưởng cảnh nghèo khổ thiếu thốn tương tự ở những làng quê VN…

           Hôm sau, sau khi ăn sáng, chúng tôi lên xe van đi mất hơn một tiếng, băng qua biên giới đến thành phố giáp ranh Kasane, ở hai đêm tại Chobe Safari Lodge nằm bên bờ sông Chobe nổi tiếng để thăm nước láng giềng: Botswana.

    3. Botswana:

               Botswana là một quộ́c gia không giáp biển, nằm ở phía Bắc của South Africa và giáp ranh với bốn nước Namibia, Zimbabwe, Zambia và South Africa, thủ đô là Gaborone và có khoảng 2.3 dân, ngôn ngữ chính là tiếng Anh. Botswana, trù phú hơn Zimbabwe, có một nền kinh tế mạnh mẽ, chủ yếu là khai thác mỏ kim cương và du lịch, nổi tiếng với động vật hoang dã và một trong những nơi thu hút khách du lịch hàng năm này là Chobe National Park.

    –  Chobe National Park:  nằm ở phía Bắc của Botswana, gần biên giới với South Africa, Zimbabwe và Zambia và là công viên quốc gia lớn thứ ba ở Botswana, lấy tên từ con sông Chobe, chảy dọc theo ranh giới phía Bắc của công viên.  Chobe National Park nổi tiếng khắp thế giới về sự đa dạng của động vật hoang dã, bao gồm cả “Big Five”.  Cũng như chuyến safari ở Kruger National Park, South Africa chúng tôi ra đi từ lúc 5 giờ sáng, khi chưa rạng đông, trời lạnh như cắt và mỗi người trong xe được phát cho một cái mền quấn người cho ấm.  Loài  thú chúng tôi nhìn thấy đầu tiên là voi, rất nhiều voi, đi từng đàn, nhìn những chú voi con đi sát cạnh mẹ thấy thật thương và cảm độ̣ng.  Đang mãi ngắm voi thì người tài xế nhận được tin có hai con báo, ông ta bảo chúng tôi

    ngồi cẩn thận và chạy xe thật nhanh đến đ̣ịa điểm đó vì sợ đến chậm hai con báo bỏ đi mất.  Ông chạy xe như bay trên những con đường mòn hẹp, lắm lúc cán trên những bụi cây để đi và đây là lần đầu tiên tôi thấy sự lợi hại của four-wheel drive… Khi đến nơi thì đã có mười mấy chiếc xe chen chúc ở đó để mọi người nh̀ìn ngắm hai con báo trong rừng, một con trên cành cây đang ăn thịt một con nai, một con dưới đất, cách xa mọi người khoảng 300 m.  Tôi đã phải vất vả lắm mới nhìn thấy chúng vì quá xa và hình dáng chúng lẫn vào cây rừng, may mà máy ảnh tôi có ống kính dài nên tôi mới có thể trông thấy và chụp hình hai con báo đó.  Hôm đó chúng tôi cũng đã nhìn thấy nhiều thú vật hoang dã, có lẽ còn nhiều hơn ở Kruger National Park, như hươu, nai, ngựa vằn, voi, cá sấu, linh dương, heo rừng, khỉ, trâu nước, gà rừng, ngựa vằn, hươu cao cổ… và nhiều loại chim đặc biệt.  Chỉ tiếc là trong chuyến đi này chúng tôi đã không nhìn thấy sư tử và tê giác là hai loài thú ngày càng hiếm hoi trên thế giới.

    –  Sunset Cruise on the Chobe River:  Buổi chiều chúng tôi ̣đi du thuyền để ngắm mặt trời lặn đẹp tuyệt vời trên sông Chobe, một trong những con sông nổi tiếng nhất châu Phi.  Con sông này là nhịp tim của cả khu vực, tạo thành môi trường sống lý tưởng cho vô số động vật phụ thuộc vào nước, trong đó có hà mã, cá sấu…  Trong chuyến cruise này chúng tôi đã thấy nhiều nai, cá sấu, heo rừng, trâu nước, hà mã, nhiều loại chim và nhất là voi, đặc biệt là cảnh đàn voi lội qua sông thật ngoạn mục, voi con dùng vòi quấn đuôi voi mẹ thấy thật thương và cảm động.

              Buổi cơm tối tại Chobe Safari Lodge, tôi đã có dịp thưởng thức món  đuôi cá sấu rất ngon mềm và những món ăn địa phương khác cũng thật ngon.  Hôm sau chúng tôi được chở ra phi trường Victora Falls để bay đến Johannesburg, rồi từ Johannesburg đến London và từ London về lại Los Angelos, một chặng đường dài gần 30 tiếng, kết thúc một chuyến đi thăm châu Phi thật thú vị với những kỷ niệm tuyệt vời khó quên.

    Xin mời quí Thầy Cô, quí anh cḥi và các bạn cùng PL đi thăm vài nước châu Phi qua hình ảnh cho vui.

    https://photos.app.goo.gl/xZNwRqb5qpSA91UFA

    Kính chúc sức khỏe và an lành.

    Thân kính,

    PLang

    Phan Lang

             

             

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Trầm Tử Thiêng – Đỗ Thái Tần: Mối Tình Xa Xưa

    Người bạn cố tri Nguyễn Ngọc Chấn nhắn tin cho tôi chị Đỗ Thái Tần bị cancer vào giai đoạn cuối, có lẽ từ giã cõi trần trong nay mai. Trước khi qua đời, chị muốn nói lời cảm ơn với tôi về bài viết nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng.

    Mấy hôm nay tôi bị cảm ho nên không liên lạc điện thoại. Thứ Tư (25/10) chị text cho tôi “Tôi phải vào Emergency 2 lần vì bị tắt tiếng, laryngitis nên đành phải text cho anh đây. Chỉ muốn nói lời cảm ơn anh đã viết bài về anh Lợi (Trầm Tử Thiêng)…”. Đọc những dòng text của chị vô cùng xúc động trước giờ tử sinh… Và không biết gì hơn chỉ cầu mong chị không bị đau đớn, ra đi thanh thản để gặp lại người xưa nơi cõi vĩnh hằng.

    Năm 1998, nhà in Westminster Press ra tờ Thế Giới Nghệ Thuật, khổ magazine, giấy láng, full color, chủ bút là Lâm Tường Dũ (cũng là chủ nhân tuần báo Tình Thương), và tôi làm tổng thư ký cả 2 tờ nầy. Với nội dung tờ TGNT thuần túy về lãnh vực nầy nên chọn đề tài cũng dễ để viết. Khi Lâm Tường Dũ đề nghị tôi viết về Trầm Tử Thiêng và nói ông nầy khó tính, đừng đề cập đến chuyện tình (dù chúng tôi cũng biết nhiều) chỉ viết về nhạc lính, quê hương và thân phận người Việt lưu vong, giữ bí mật không báo cho ông biết.

    Trầm Tử Thiêng (Nguyễn Văn Lợi), cùng quê hương với tôi ở Quảng Nam. Vào thời điểm cuối thập niên 50, anh có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp (thường gọi là bằng Diplôme) bằng nầy cũng có giá trị vì thi viết và vấn đáp khoảng 15 phần trăm trúng tuyển. Có mảnh bằng nầy cũng có cơ hội lập thân, nếu có chứng chỉ lớp Đệ Nhị, đủ điều kiện nộp đơn vào vài quân trường để được đào tạo thành sĩ quan QLVNCH. Trầm Tử Thiêng theo học trường Sư Phạm Thực Hành một năm ở Sài Gòn, ra trường dạy tiểu học nhưng với chuyên môn nên dạy nhạc ở trung học. Năm 1966 bị động viên vào trường hạ sĩ quan Đồng Đế Nha Trang, ra trường về phục vụ tại Phòng Văn Nghệ của Cục Tâm Lý Chiến, vì ngạch giáo chức nên cuối năm 1969 được biệt phái về Bộ Giáo Dục và làm việc tại Trung Tâm Học Liệu… Nơi đây có Nguyễn Ngọc Chấn, Trầm Tử Thiêng, chị Đỗ Thái Tần… Năm 1970, cuộc tình Lợi-Tần chớm nở… Thầy giáo, nhạc sĩ Nguyễn Văn Lợi – Trầm Tử Thiêng, nhà  nghèo, trong khi tiểu thơ họ Đỗ, con giám đốc mỏ than Nông Sơn, Quảng Nam và chủ tiệm kim hoàn ở Sài Gòn. Chữ “môn đăng hậu đối” đã ngăn cách mối tình đẹp, trong sáng của hai anh chị hồi trẻ.

    Trước ngày 30 tháng Tư, 1975, gia đình “nhạc phụ” ngỏ ý cho ghép tên anh Lợi vào gia đình di tản chính thức. Vì tự ái, anh từ chối, viện cớ còn mẹ già em dại, mà thực sự như vậy vì lòng hiếu thảo. Trầm Tử Thiêng lặng lẽ tiễn chân vợ và hai con (con của chị Tần nhưng anh thương như con ruột) chia phôi biền biệt. Cuộc tình của anh đi vào ngõ cụt, nhớ nhung dày vò tim não, tưởng chừng bị chìm đuối. Giai đoạn này anh sáng tác vài tình khúc cho hàng triệu người thưởng thức, nhưng, chỉ một người quặn thắt con tim…

    Những đắng cay, đói rét, tù đày không đau buốt bằng sự ngăn cách một đại dương với một nửa trái tim, Trầm Tử Thiêng viết ca khúc để đời “Mười Năm Yêu Em” khi gặp lại chị Tần tại Cali, chị vẫn còn thương yêu anh như thuở nào, trở thành tuyệt phẩm hay và chua xót nhất của tình người.

    … Trầm Tử Thiêng phải giấu tên, trốn tránh, tìm đường vượt biên nhiều lần nhưng bất thành, bị bắt ở tù hơn một năm, từ khám lớn Rạch Giá, Trầm Tử Thiêng viết bài “Tâm Ca Của Người Tù Vượt Biển,” sau đó anh bị đày xuống trại cải tạo lao động U Minh, sống chung với anh em công chức cao cấp và sĩ quan QLVNCH…

    Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng qua đời ngày 25 tháng 1 năm 2000 tại Quận Cam trong hoàn cảnh cô đơn trong khu apparment. Ca sĩ Quốc Việt (Mỹ lai) gọi Trầm Tử Thiêng bằng bố. Quốc Việt tận tình chăm sóc và lo cho “bố Thiêng” đến hơi thở cuối cùng… Buổi tưởng niệm Trầm Tử Thiêng vào trưa Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2020, đặc biệt có sự hiện diện của người bạn đời duy nhất của ông, mối tình được giấu kín gần nửa thế kỷ mà vẫn chưa ngưng rung động…

    Tháng 7 năm 2021, tôi viết bài Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng & Những Dòng Chia Sẻ, tôi hỏi anh Nguyễn Ngọc Chấn cuộc tình nửa thế kỷ trước giữa Trầm Tử Thiêng và chị Đỗ Thái Tân có được không? Nghĩa tử nghĩa tận, chị đồng ý vì mối mối tình mang xuống tuyền đài… thầm kín suột cuộc đời không thể nào quên.

    Bài viết được phổ biến, còn lưu trữ trên các websites.

    Vương Trùng Dương

    Little Saigon, Oct 26, 2023

    Việt Báo

    https://vietbao.com/a308880/nhac-si-tram-tu-thieng-nhung-dong-chia-sehttps://vietbao.com/a308880/nhac-si-tram-tu-thieng-nhung-dong-chia-se Trang web Lê Dinh

    Trang web Lê Dinh

    http://www.ledinh.ca/2021%20Bai%20Vuong%20Trung%20Duong%20Tram%20Tu%20Thieng.html

    Long Hồ Vĩnh Long

    https://longhovinhlong.blogspot.com/2021/07/nhac-si-tram-tu-thieng-nhung-dong-chia.html

    Đặc San Lâm Viên

    http://www.dslamvien.com/2021/07/nhac-si-tram-tu-thieng-va-nhung-dong.html

    T.Vấn & Bạn Hữu

    Dòng Sông Cũ

    https://dongsongcu.wordpress.com/2021/07/25/nhac-si-tram-tu-thieng-nhung-dong-chia-se/
  • Dương Viết Điền,  KÝ SỰ

    II -Du Lịch Bahamas

    …Đến chiều tối sau khi tranh thủ thời gian để di thăm viếng những nơi có danh lam thắng cảnh, hay những kỳ tích lịch sử của xứ đảo thần tiên nầy, chúng tôi liền vào phòng ăn để dùng cơm tối như chiều qua rồi về khách sạn nghỉ ngơi.

    Sáng hôm sau, chỉ còn một ngày phù du trên thiên đàng nữa nên chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình đúng như ngày hôm qua. Kéo đến phòng ăn để dùng điểm tâm đã rồi mọi việc sẽ tính sau.

    Vì trên xứ Đào Nguyên nầy chỉ ăn hai bữa chính: sáng và tối. Thế nên nhiều du khách dùng điểm tâm như bữa ăn chính luôn để trưa khỏi phải ăn, đợi cơm tối ăn luôn. Vì vậy sau khi dùng một ly cà phê sữa và một miếng bánh ngọt, tôi lại ăn thêm một miếng beefsteak, vài lát cà chua và hai lát bánh mì nữa cho trọn phần cơm trưa; lấy cớ thịt beefsteak ở trên thiên đàng sao mà nó mềm và ngon hơn thịt ở hạ giới!

    Không biết có phải thượng đế trên thiên đàng này đã mời ba người Việt Nam vừa trúng giải quán quân quốc tế “Chef de Cuisine” là các cô Maiki Le, tức cô Lê Mai Khanh ái nữ của anh chị Lê Văn Khoa và Ngọc Hà vừa thắng giải Cooking Champion và $10,000 tiền thưởng trong cuộc thi nấu ăn trong chương trình Chopped của Food Network trên truyền hình Hoa Kỳ, phát hình lúc 8 và 10 giờ tối Thứ Ba 16-4-2013 vừa qua, và  hai cô Luke Nguyễn (Úc Châu), Christine Hà (Master Chef) lên chỉ huy và hướng dẫn mấy cô cậu hoả đầu vụ trên “Atlantic, the Paradise Island” này hay không mà món nào món nấy đều ngon tuyệt cú mèo cả!

    Các du khách từ người Pháp, người Đức, người Anh, người Ý, người Đại Hàn, người Ả Rập, người Ấn Độ, người Tầu, người Mễ Tây Cơ v.v… đều ca ngợi vô cùng.

    Cô Maiki Le, tức cô Lê Mai Khanh, ái nữ của nhạc sĩ  Lê Văn Khoa và chị  Ngọc Hà.

    Sau khi dùng điểm tâm xong, chúng tôi lại lên đường để tiếp tục cuộc hành trình săn lùng những cảnh đẹp của xứ thần tiên, nơi có nhiều huyền thoại vang bóng một thời khi Bahamas đang còn là thuộc địa của đế quốc Anh với câu nói bất hủ đã đi vào lịch sử thuôc địa: Đế quốc Anh, mặt trời không bao giờ lặn!.

    Đang đi trên đường bỗng thấy con cá đối đang bơi dưới suối thật là đẹp mắt, tôi lấy camera ra chụp ngay vài hình.

    Cứ mỗi lần đến một địa điểm khác, nhân viên trực an ninh của địa điểm đó bắt chúng tôi đeo vào tay một vòng tròn, khác với màu sắc của vòng tròn cũ. Biểu tượng này coi như là giấy phép được đi thăm viếng trong địa điểm mới vậy thôi. Sau đó chúng tôi có thể tự do đi ngắm cảnh hay xuống hồ bơi tùy thích.

    Vì chúng tôi chỉ lấy vé vào thăm đảo NASSAU có ba ngày thôi nên còn rất nhiều kỳ hoa dị thảo, cũng như những lâu đài tráng lệ nguy nga, những nơi phồn hoa đô hội của xứ bồng lai tiên cảnh này chúng tôi chưa đến thăm được, đành phải ra về vì đi du lịch cũng đã lâu rồi. Thế rồi khi thấy trời đã về chiều, chúng tôi liền đi lui lại để vào trung tâm Marketplace dùng cơm tối. Sau đó cả gia đình kéo nhau đi một vòng dưới ánh sáng chan hòa của đèn điện đủ màu sắc về đêm, để thưởng lãm những bức tượng, những hình ảnh thuộc về lịch sử của quần đảo Bahamas. Chúng tôi cũng đi ngang qua phòng ngồi uống cà phê Starbucks, ghé đến xem các sòng bài ở casino, nơi các du khách vào đây để giải trí, cũng là nơi các tay triệu phú và những người nghiện cờ bạc đốt tiền như đốt giấy vàng bạc.

    Chụp hình để làm vua một phút

    Lúc đi ngang qua một phòng thấy rất nhiều người vây quanh một chiếc ghế màu vàng đặt trên cao như ghế của vua chúa ngày xưa, tôi liền đến gần để xem. Thì ra có lẽ đây là chiếc ngai vàng của một ông vua nào đó đã trị vì trên quần đảo Bahamas này trong thế kỷ trước. Thấy nhiều người thay phiên nhau lên ngồi trên ghế chụp hình để làm kỷ niệm, tôi cũng leo lên ngồi rồi nhờ người ta chụp một hình để kỷ niệm một phút làm vua trên thiên đàng; dù đây chỉ là thiên đàng của NASSAU, một đảo lớn trong mấy nghìn đảo của quần đảo Bahamas.

    Sau khi đi vòng vo tam quốc trong ROYAL TOWER khoảng hai giờ thì trời đã về khuya, chúng tôi liền về khách sạn nghỉ ngơi để sáng mai lên đường bay về Miami.

    Sáng hôm sau vừa thức giấc, bà xã tôi mở cửa ra thì thấy mấy tờ giấy nằm trước cửa. Lấy lên đọc thì thấy bản tin thứ nhất là tờ hoá đơn tính tiền, bản tin thứ hai là những lời cám ơn du khách đã quyết định

    chọn Atlantic, the Paradise Island, là nơi để đến du lịch. Cuối cùng là xin hẹn gặp nhau lại tại thiên đàng này trong tương lai!

          Theo chương trình chúng tôi đã vạch sẵn, sau khi dùng điểm tâm xong, gia đình chúng tôi mang hành lý rời khách sạn ra phòng làm thủ tục để lên xe buýt vào phi trường. Trong lúc ngồi chờ đợi gia đình con gái tôi làm thủ tục, tôi ngồi nghỉ trên chiếc ghế ở gần cổng ra vào. Bỗng có một bà người gốc Phi Châu thân hình mập ú, đến ngồi nghỉ bên cạnh tôi. Tôi liền cất tiếng chào bà ta. Bà ta cũng chào lại để đáp lễ. Để đánh tan bầu không khí im lặng, tôi liền hỏi bà ta:

    – Thưa Bà, Bà làm việc trên thiên đàng này phải không?

    Bà ta vừa nhìn tôi vừa cười:

    – Ở đây là thiên đàng?

    Tôi trả lời ngay:

    – Thì đây là thiên đàng chứ còn gì nữa! Bằng chứng là trên tấm bảng thật to trong phòng kia cũng như trên các poster quảng cáo đều có chữ PARADISE. Bà thấy trên hình quảng cáo đằng kia kìa: Atlantic, the Paradise Island!!

    Nghe tôi nói như vậy bà ta cười hì hì hì hì thật to. Đợi cho bà ta cười xong tôi liền nói:

    – Công nhận thiên đường này đẹp thật. Tôi muốn trở lại thăm lần thứ hai mà không được. Tiếc quá!

    Bà ta hỏi ngay:

    – Tại sao vậy, thưa ông?

    Tôi trả lời ngay:

    – Thì bà cũng biết đấy, khi người nào chết, Chúa chỉ cho người đó lên thiên đàng một lần thôi! Thế nên làm sao tôi có thể trở lại thiên đường nầy lần thứ hai được!

    Tôi vừa nói xong bà ta lại cười hi hi hi hi có vẻ khoái chí vì câu nói hài hước vừa rồi của tôi.

    Cuộc đối thoại giữa tôi và người đẹp mập ú gốc Phi Châu vừa dứt thì gia đình tôi gọi lên xe buýt. Thế là lên xứ Đào Nguyên mấy ngày khi giã từ Bồng Lai Tiên Cảnh để bay về lại hạ giới, mấy nàng tiên của Lưu Nguyễn ngày xưa đâu không thấy, lại thấy một nàng tiên gốc Phi Châu mập ú ngồi trên thiên đàng đang vẫy tay chào vĩnh biệt ta! Thôi thế cũng được, miễn sao có Nàng Tiên vẫy tay chào là quý lắm rồi! Được sinh ra rồi sống cho trọn một kiếp người dễ gì gặp được Tiên!

    Để đáp lại nụ cười giã từ của Nàng Tiên da đen mập ú, tôi vừa vẫy tay chào từ biệt nàng vừa hát mấy câu trong bản nhạc của nhạc sĩ nào đó tôi đã quên tên mất:

    “Yêu nhau, cho nhau nụ cười!

    Thương nhau cho nhau một lời.

    Một lời thôi vĩnh biệt!

    Một lời thôi xa nhau!”

    Nhưng rồi thấy nàng tiên lại đứng lên vẫy tay mỗi lúc một mạnh hơn. Xúc động quá tôi liền hát mấy câu cuối trong bài “Vĩnh Biệt” của Nhạc Sĩ Lam Phương để từ biệt nàng:

    Thôi kiếp sau gặp nhau
    Giờ đã muộn màng
    Chỉ biết lỡ làng … !!!

    Lúc xe buýt sắp chuyển bánh để lên phi trường, chợt nhớ cái ba lô nhỏ đựng máy quay phim, máy ảnh trên lưng tôi đâu mất rồi. Thế là cậu Quang và tôi liền xuống xe gấp để lấy ba lô lên. Vì trong lúc chờ xe buýt, tôi để cái ba lô nhỏ đó ở góc tường nơi chỗ tôi và cậu Quang đứng chuyện trò hồi nãy. Sau khi chạy vòng vo tam quốc gần bốn mươi phút thì xe buýt đến phi trường. Chúng tôi vào trong phòng làm thủ tục hải quan để lên máy bay về Miami. Vì NASSAU, thủ đô của quần đảo Bahamas, không phải là lãnh thổ của Hoa Kỳ nên thủ tục hải quan ở đây được thực thi rất kỹ lưỡng trước khi về lại Hoa Kỳ. Như thường lệ, gia đình tôi cũng đã làm thủ tục hải quan tại phi trường nầy không có gì trở ngại. Riêng cá nhân tôi, vì hôm nay là ngày trở về nên tôi nghĩ rằng, có thể nằm hay ngồi lê lết tại phi trường hay khách sạn, để chờ xe buýt hay máy bay nên mặc áo quần gì cũng được. Vì vậy trong số 5 cái quần dài mang theo, tôi lấy đại cái quần kaki và cái áo ca rô màu xanh đỏ tím vàng mặc vào. Đầu tôi đội thêm cái mũ lưỡi trai màu đen nữa, chân mang giày.

    Sau khi tôi bỏ tất cả giày, bóp đựng giấy tờ căn cước, tiền bạc, nón lưỡi trai, nịt, cell-phone vào một cái khay rồi để trên bàn cho chạy qua máy, mọi việc đều êm xuôi. Bỗng anh chàng an ninh phi trường da đen đứng gần tôi bảo tôi đứng riêng một bên để kiểm soát. Không biết vì thấy tôi bề ngoài bận áo quần như thế nó có tưởng tôi là hải tặc từ Caribean đến không. Nằm bơi giữa nắng mấy năm liên tục để chữa bệnh đau lưng nên nước da đã ngâm đen; giờ đây đi tắm biển giữa nắng gần 12 ngày nữa nên nước da càng đen thêm. Đã thế vì chúng tôi còn đi từ hướng Caribean về nên không biết thấy tôi bận áo quần như vậy nó có nghi tôi là hải tặc từ Caribean đến hay không mà chàng an ninh nhất định phải kiểm soát trên người tôi một lần nữa!

    Tên “hải tặc” (áo ca-rô, quần kaki) về từ hướng Caribean, đang ngồi chờ xe buýt đến chở vào phi trường NASSAU để bay qua Miami. Bên cạnh là du khách thăm viếng Atlantis, Paradise Island, Bahamas.

    Khi tôi đứng riêng ra rồi nó bảo:

    – Hands up.

    Tôi liền giơ tay lên cao. Khi tôi đưa tay lên cao thì cái quần kaki của tôi rơi xuống đất vì nó rộng quá và không đeo nịt vì tôi đã lấy nịt bỏ trên khay cho chạy vào máy để kiểm soát rồi! Sở dĩ tôi mua rộng quá mà không sửa vì khi mang nịt vào thắt lại, cũng vừa thôi. Vì quần rơi xuống đất nên tôi phải bỏ hai tay xuống chụp nhanh lưng quần lại để quần khỏi rơi xuống. Khi thấy tôi bỏ hai tay xuống chụp lưng quần, nhân viên an ninh da đen kia lại nói:

    – Hands up!

    Tôi liền đưa tay lên đầu hàng (hands up) lại thì quần tôi lại rơi xuống nữa! Vì thấy quần rơi xuống tôi lại phải bỏ tay xuống chụp quần lại để kéo lên! Thấy tôi không chịu đưa tay lên cao mà cứ bỏ tay xuống nữa nó lại nói lớn:

    – Please hands up!

    Tôi nghĩ bụng, nếu tình trạng cái quần này kéo lên rồi rớt xuống, rồi lại kéo lên rồi rớt xuống nữa cứ tiếp tục hoài thì mệt quá. Vì vậy tôi quyết định đứng chàng hảng hai chân, giang hai chân ra thêm cho thật rộng thì cái quần dài chỉ rơi ngang bắp vế sẽ bị giữ lại thôi khỏi phải rơi xuống dưới xa! Vì anh chàng an ninh da đen này đã ra lệnh 3 lần rồi, tôi nghĩ sự bất quá tam, nên để quần liều như thế cũng được rồi, không thì mệt với nó. Cuối cùng đứng trong tư thế hai chân chàng hảng như vậy là yên chí lớn rồi, nên tôi vừa đưa tay lên cao vừa nói với anh chàng nhân viên kiểm soát da đen kia:

    – OK. Tau đầu hàng mày rồi (hands up), mầy muốn làm gì thì làm!

    Thế là chàng ta cầm một chiếc máy nho nhỏ hình chữ nhật bắt đầu đưa sát vào ngực áo tôi rồi rà từ từ trên ngực xuống bụng. Khi ngang “vùng cấm địa”, không biết nghi ngờ cái gì mà chàng ta rà chầm chậm chầm chậm khiến tôi bật cười làm cái quần suýt rơi xuống đất nữa! Sau đó chàng ta ra phía sau lưng rà từ trên xuống dưới. Khi thấy chàng rà xong rồi tôi liền hỏi:

    – OK. Sir?

     Chàng ta vừa trả lời OK xong thì tôi bay đến cái khay lấy nịt mang vào thắt lưng quần ngay! Đúng là kêu trời không thấu!

    Sau khi làm thủ tục hải quan tại phi trường NASSAU xong, chúng tôi vào phòng đợi để chuẩn bị lên máy bay về Miami. Ngồi chờ khoảng một giờ thì có lệnh lên máy bay. Đúng 2giờ chiều ngày 11 tháng 4 năm 2013, máy bay bắt đầu cất cánh tại phi trường NASSAU, thủ đô của quần đảo Bamahas, nhắm hướng phi trường Miami của tiểu bang Florida trực chỉ.

    Ngồi trên máy bay nhìn qua cửa sổ, tôi thấy đảo NASSAU, được mệnh danh là thiên đàng của hạ giới, The Paradise Island, đang nổi bật dưới ánh nắng chiều tà thật đẹp mắt. Lúc máy bay bay hơi nghiêng về phía bên phải, tôi thấy tháp ROYAL TOWERS phản chiếu ánh nắng chiều đang đứng sừng sững dưới trời cao, quyện lấy nắng hồng mây trắng trời xanh, làm cho tháp ngà trở nên tráng lệ, ngoạn mục bên cạnh dãy núi rừng thật là hùng vĩ. Rồi đằng kia là tháp The COVE ATLANTIS và The REEF ATLANTIS đang hiển hiện bên bờ đại dương tràn ngập những sóng biển dạt dào.

    Thôi thì thời gian và thủy triều không bao giờ đợi chờ người. Thời gian thì vẫn trôi trôi mãi giữa dòng đời hiu quạnh. Thủy triều thì vẫn lên cao rồi xuống thấp, suốt đời xua đuổi nhau chạy theo thời gian để hòa mình vào cát trắng giữa chốn trần gian.

    Thế nên chúng ta, dù trong tương lai có ghé lại thiên đường hạ giới này để thăm lại cảnh cũ người xưa, hay một nghìn năm sau vẫn biền biệt xa cách nghìn trùng, thì hình ảnh đẹp tuyệt trần của thiên đường hạ giới này vẫn mãi mãi tiềm tàng trong lòng du khách.

    Xin tạm biệt thiên đường Atlantic, The Paradise Island! Xin tạm biệt hải đảo nằm bơ vơ bên cạnh lòng đại dương tận cuối chân trời ngút ngàn xa vời vợi, nơi mà sóng gió ba đào thường hay dậy sóng cuồng điên.

    Trích từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Bahamas” xuất bản năm 2013)             

    Dương Viết Điền

  • Khánh Lan,  KÝ SỰ

    DU LỊCH THU VÀNG

    Trong 4 mùa thì mùa xuân và mùa thu được nhiều người ưa chuộng nhất mà trong ấy có 6 anh em chúng tôi. Còn gì đẹp hơn khi mùa xuân với muôn hoa đua nở và mùa thu với lá vàng khoe sắc, lá đỏ đổi màu…chính vì thế mà mùa thu năm nay, anh em chúng tôi (Quốc Dân, Mạnh Bổng, Kim Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga và Khánh Lan) chọn du thuyền Royal Caribbean, Jewel of the Sea, 10 Night Fall Foliage Northbound Cruise, để đi ngắm lá vàng rơi vùng New England & Canada.

    Mạnh Bổng, Khánh Lan, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Kim Hương, Quốc Dân

    New York-New York: Trước khi xuống du thuyền Royal Caribbean, one way from Cape Liberty New Jersey to Quebec City, Canada, chúng tôi ghé thăm thành phố New York mà đã hơn 20 năm nay tôi chưa trở lại. Tôi còn nhớ đó là năm 2000 (Millennium 2000), một năm trước vụ khủng bố 911 (2001).

    New York 2000 với 5 hiệp sĩ “Mù” Mạnh Bổng, Thiên Kim, Khánh Lan, Bích Chi, Đức Hạnh

    The World Trade Center (2000) một năm trước vụ khủng bố 911 Khánh Lan & Đức Hạnh

    Millennium 2000 là năm mà một số người dân trên thế giới cho rằng: “Đó là ngày tận thế!” nên e dè và không dám đi du lịch ra nước ngoài. Vì thế, các hãng du lịch không có nhiều du khách nên đều xuống giá các tour bao gồm land tour, cruise, train và flights, v.v… Chúng tôi (Mạnh Bổng, Khánh Lan, Thiên Kim, Đức Hạnh và Bích Chi) là những kẻ “Điếc không sợ súng, mù không thấy đường và… ham của rẻ” nên quyết định booked a land tour with Trafalgar tour đi Spain và Portago.

    Hello New York (2023)

    Và lần này (2023) chúng tôi ghé lại New York để viếng thăm đài tưởng niệm các nạn nhân tử vong trong vụ khủng bố 911: Ground Zero Memorial Park. Vụ khủng bố 911 là một vụ thảm sát, kinh hoàng trong lịch sử xảy ra ngày 11 tháng 9 năm 2001, đã cướp đi sinh mạng của gần 3,000 người trong 102 phút và làm đảo lộn, kiệt quệ nền kinh tế cũng như làm thay đổi cuộc sống của nhiều người trên thế giới và nước Mỹ.

    Ground Zero Memorial Park

    ROYAL CARIBBEAN, JEWEL OF THE SEA, 10 NIGHT FALL FOLIAGE NORTHBOUND CRUISE-NEW ENGLAND & CANADA

    Bao gồm những thành phố: Boston (Massachusetts); Portland (Maine); Saint John (New Brunswich, Bay of Fundy); Sydney (Nova Scotia); Charlottetown (Prince Edward Island) và Saguenay, Quebec.

    Jewel of the Seas là tàu du lịch Radiance do Royal Caribbean điều hành, hoàn thành vào mùa xuân năm 2004 với chuyến đầu tiên vào tháng 5 năm đó. Jewel of the Seas lúc ban đầu với những chuyến du ngoạn từ Rome (Civitavecchia), Ý đến Quần đảo Hy Lạp ở Biển Địa Trung Hải. Tháng 11 năm 2016, Jewel of the Seas tái định vị để đi từ San Juan, Puerto Rico đến các điểm đến ở Caribe. Vào tháng 3 năm 2019, Jewel of the Seas lại tái định vị từ vùng biển Caribe đến Địa Trung Hải và thực hiện các chuyến du ngoạn ở Quần đảo Hy Lạp. Đến tháng 12 năm 2019, Jewel of the Seas đã cập bến tại cảng nhà ở Dubai và thực hiện các chuyến du ngoạn trong Vịnh Ba Tư. Jewel of the Seas đã mang du khách đến một số địa điểm ngoạn mục nhất trên thế giới.

    Jewel of the Seas & Cruise members welcome guests

    Jewel of the Seas có nhiều sinh hoạt và chương trình biểu diễn rất hấp dẫn như rạp chiếu phim trình chiếu những bộ phim cổ điển hoặc những bộ phim cập nhật mới nhất. Du thuyền cũng có một số phim được chọn để chiếu trên màn hình chiếu phim ngoài trời cạnh hồ bơi chính và nhiều sinh hoạt khác như leo tường, đánh gôn, v.v…Các thành viên của du thuyền ngoài việc phục vụ du khách, họ còn tham dự những sinh hoạt giúp vui như diễn hành, đơn ca, đồng ca, dạy khiêu vũ, family field, love and marriage show, v.v…

    International Parade Of Flags with the Jewel Of the Seas Cruise Members

    Dancing all night

    Về phần ẩm thực thì trên trung bình và những quán Café, quán rượu thì sẵn sàng phục vụ du khách. Có hai buổi tối đặc biệt (Formal Evernings) mà du khách thường diện quần áo đep để chụp hình lưu niệm.

    The Formal Everning

    Casino mở cửa chào đón khách yêu thích đỏ đen và encore-worthy entertainment, một chương trình nhạc kịch tuyệt vời từ West End đến Broadway, từ Ấn Độ đến Atlantis trong City of Dreams, Royal Caribbean singers, dancers in Tango Buenos Aires quyến cùng hai vũ công chính đến từ Agentina.

    Dancers in Tango Buenos Aires

    Nhạc kịch từ West End đến Broadway

    Từ Ấn Độ đến Atlantis trong City of Dreams

    VISITING THE PORTS

    Boston, Massachusetts với 400 năm lịch sử, Boston là một trong những thành phố lâu đời nhất nước Mỹ. Các di tích lịch sử và ngôi nhà thời cách mạng, nơi những người yêu nước, những chính trị gia và những nhà thơ nổi tiếng từng sinh sống. Những trò chơi giải trí như chèo thuyền (kayaking) trên sông Charles, hay chơi bóng chày tại công viên Fenway, hay chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những viên đá cuội trên đồi Beacon, hay đi bộ thư dãn trong công viên Freeway đều lý thú. Phần chúng tôi thì tản bộ xuống phố, vừa để tập thể dục “giảm cân” vừa ngắm lá nùa thu đổi màu vàng đỏ và ghé Chinatown thưởng thức món “Hoành Thắn Mì và vịt quay” nấu theo HongKong style do một người Việt Nam mà chúng tôi gặp bên đường giới thiệu…

    Downtown Boston

    Dạo phố Boston & ngắm lá nùa thu đổi màu vàng đỏ

    Chinatown

    Portland, Maine: Portland là thành phố thuộc tiểu bang Maine của Hoa Kỳ, nằm trên một bán đảo kéo dài đến Vịnh Casco. Vì là thành phố ven bờ sông nên tại Old Port có các bến tàu đánh cá, đang hoạt động, do đó một số nhà kho được chuyển đổi thành nhà hàng hoặc cửa hàng bán hải sản.

    The Old Port

    Là một thị trấn nhỏ nhưng lại thu hút nhiều nghệ sĩ, khách sành ăn và những người thích đi biển, yêu mùa đông. Từ Vịnh Casco đến ngọn hải đăng không xa lắm và có thể đi bộ được. Dạo quanh các cửa hàng trên Phố Congress và Cảng Cũ cũng thú vị, hoặc nếm thử các loại bia khác nhau của nhiều nhà máy sản xuất bia tại đây.

    Portland còn là một thành phố có rất nhiều hoạt động giải trí về đêm, mua sắm và du lịch. Gần đó, Western Promenade là công viên công cộng nằm trên đỉnh dốc, có tầm nhìn ra sông và núi. Khu West End xung quanh có nhiều ngôi nhà thời Victoria, trong đó có bảo tàng Biệt thự Victoria.

    Saint John, New Brunswich, Bay of Fundy là thành phố tổ hợp lâu đời nhất của Canada. Saint John cũng là cảng lớn thứ ba của Hoa Kỳ, hiện là thành phố lớn thứ hai trong tỉnh New Brunswich và là thành phố duy nhất nằm trên Vịnh Fundy, nơi có thủy triều cao nhất thế giới. Saint John được thành lập theo hiến chương hoàng gia vào ngày 18 tháng 5 năm 1785, dưới thời trị vì của George III. Cảng này là cảng có trọng tải lớn thứ ba của Canada với cơ sở hàng hóa bao gồm những thùng chứa hàng khô và hàng lỏng, hàng rời.

    Welcome to historic Saint John

    Saint John là một thành phố có những ngôi nhà lịch sử được xây dựng từ cả trăm năm trước.

    Loyalist là ngôi nhà lich sử lâu đời nhất ở thành phố Sain John và được xây từ năm 1811 đến năm 1817 bởi David Daniel Merrit, một người theo chủ nghĩa Trung thành đến từ Rye, New York. Tòa nhà Loyalist đã sống sót sau trận đại hỏa hoạn năm 1877 nhờ những người hầu bao quanh nó bằng khăn ướt.

    Saint John’s Reversing Rapids (Reversing Falls) là một chuỗi các xoáy nước, sóng và ghềnh nước trắng xóa được tạo ra khi thủy triều dâng cao của Vịnh Fundy (cao nhất thế giới) va chạm với Sông Saint John trong một hẻm núi đá ở Saint John, New Brunswick. Đây là một hiện tượng đáng kinh ngạc, phải quan sát ba lần khi thủy triều xuống, thủy triều lên và thủy triều rút.

    • Khi thủy triều xuống, thủy triều của Fundy thấp hơn mực nước sông Saint John. Con sông chảy qua hẻm núi và đổ vào bến cảng Saint John và Vịnh Fundy. Khi nước di chuyển qua hẻm núi, địa hình ngầm buộc nước trở nên hỗn ln với nhiều ghềnh nước trắng xóa và xoáy nước quay theo cả chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ.
    • Khi thủy triều lên, Vịnh Fundy dâng cao trên sông Saint John và sức mạnh của thủy triều thực sự làm đảo ngược dòng chảy của sông, tạo ra những đợt sóng lớn.
    • Mỗi ngày có hai lần thủy triều xuống và hai lần thủy triều lên – mất khoảng 12 giờ 13 phút để di chuyển từ đầu này đến đầu kia của chu kỳ thủy triều. Tuy nhiên, giữa lúc thủy triều lên và xuống có một khoảng thời gian gọi là thủy triều “chùng”. Khi thủy triều xuống, mực nước của Vịnh Fundy và sông Saint John bằng nhau, do đó tạo ra vùng nước yên tĩnh trong hẻm núi. Kéo dài khoảng 20 phút, thời điểm nước triều yếu là thời điểm duy nhất trong chu kỳ thủy triều mà các con thuyền có thể di chuyển qua Thác một cách an toàn. Để tính toán độ chùng thấp, hãy cộng thêm 3 giờ 50 phút vào thời điểm thủy triều xuống. Tương tự, để xác định mực nước triều cao, hãy cộng thêm 2 giờ 25 phút khi thủy triều lên.

    Saint John’s Reversing Rapids (Reversing Falls)

    Khi thủy triều lên tạo ra những đợt sóng lớn

    Sydney, Nova Scotia là một thành phố cũ trên bờ biển phía đông của đảo Cape Breton ở Nova Scotia, Canada thuộc khu đô thị vùng Cape Breton. Sydney được người Anh thành lập vào năm 1785 và được coi như là một thành phố vào năm 1904 và ngày 1 tháng 8 năm 1995 được hợp nhất vào khu đô thị khu vực. Sydney từng là thủ đô thuộc địa của Đảo Cape Breton cho đến năm 1820, khi thuộc địa này sáp nhập với Nova Scotia và thủ đô chuyển đến Halifax.

    Sự gia tăng dân số nhanh chóng xảy ra ngay sau đầu thế kỷ 20, khi Sydney trở thành nơi có một trong những nhà máy thép chính của Bắc Mỹ. Trong cả Thế chiến thứ nhất và thứ hai, đây là khu vực chính của các đoàn xe đi Anh. Nhưng đến thời kỳ hậu chiến sự sụt giảm lớn về số lượng người làm việc tại nhà máy thép của Tập đoàn Thép và Than Dominion, vì thế chính phủ Nova Scotia và Canada đã phải quốc hữu hóa nhà máy này vào năm 1967 để thành lập tập đoàn vương miện mới gọi là Tập đoàn Thép Sydney.

    Dân số thành phố đã giảm đều đặn kể từ đầu những năm 1970 và SYSCO đã bị đóng cửa vào năm 2001. Ngày nay, nguồn lợi tức chính của Sydney là ngành du lịch. Cùng với Sydney Mines, North Sydney, New Waterford và Glace Bay, Sydney tạo thành khu vực được gọi là Mũi Breton Công nghiệp.

    Với nét đẹp của đô thị bởi những tòa nhà cổ điển, kiến trúc và được xây dựng từ thế kỷ 18 đã đáp ứng lòng hiếu khách của các du khách. Sydney có rất nhiều sân chơi gôn (golf), có con đường mòn Cabot nổi tiếng, có âm nhạc sôi động theo nhịp điệu Celtic, có lối đi bộ lót ván, có trung tâm Di sản và Khoa học Cape Breton.

    Sydney Harbour

    Sydney có những ngôi làng cổ kính ở vùng North Sore, đặc biệt là những lối đi bộ được lát những tấm ván nhỏ, gọn ở ven bờ sông, bạn có thể tản bộ qua các khu vực lịch sử và di sản của hàng hải.  

    Charlottetown, Prince Edward Island: Charlottetown là thủ đô của Đảo Hoàng tử Edward, Canada. Nó nằm trên bờ biển phía nam của tỉnh. Di tích Lịch sử Quốc gia Province House đã tổ chức Hội nghị Charlottetown năm 1864. Victoria Row có các cửa hàng, nhà hàng và Trung tâm Nghệ thuật Liên bang, nơi biểu diễn vở nhạc kịch dựa trên “Anne of Green Gables”. Gần đó là Nhà thờ St. Dunstan theo phong cách Gothic Revival. Charlottetown trong bầu không khí của thời đại Victoria của Charlottetown, thủ phủ của Đảo Hoàng tử Edward.

    Canada vào những ngày cuối thu mang theo cơn gió đông lạnh buốt da thịt. Những cơn mưa tuyết bắt đầu rơi phủ kín hai bên đường của xa lộ dẫn vào phố cổ Quebec (Little Paris). Xa xa, từng rặng thông cao vun vút, đứng xừng xững trên những thảm cỏ tuyết trắng xoá…Tuyết ở khắp nơi, đọng trên nhánh cây, cành lá, rơi trên nóc nhà, thảm cỏ xanh…lóng lánh và trắng xoá như những tảng băng hà ngoài khơi trôi dạt vào bờ…trông đẹp như một bức tranh.

    Đồi thông tuyết phủ

    Saguenay, Quebec, Canada là một thành phố ở vùng Saguenay–Lac-Saint-Jean của Quebec, Canada, trên sông Saguenay, nằm ở nơi hợp lưu với sông St. Lawrence. Saguenay,cách Thành phố Quebec khoảng 200 km (120 mi) về phía bắc bằng đường bộ, cách Tadoussac khoảng 126 km (78 dặm) về phía thượng nguồn và tây bắc. Saguenay được thành lập vào năm 2002 bằng cách sáp nhập các thành phố Chicoutimi và Jonquière và thị trấn La Baie. Chicoutimi được thành lập bởi thực dân Pháp vào năm 1676.

    Cùng với đô thị hạt khu vực Le Fjord-du-Saguenay tạo thành bộ phận điều tra dân số (CD) của Le Saguenay-et-son-Fjord (94) và là trụ sở của khu tư pháp Chicoutimi.Thành phố được chia thành ba quận: Chicoutimi (bao gồm thành phố cũ Chicoutimi, cũng như thị trấn Laterrière và Tremblay), Jonquière (bao gồm thành phố cũ Jonquière, Lac-Kénogami và Shipshaw) và La Baie (tương ứng với đến thành phố cũ La Baie). Cái tên Saguenay có thể bắt nguồn từ từ Innu “Saki-nip”, có nghĩa là “nơi nước chảy ra”. Saguenay nổi tiếng là thơ mộng với một nhà thờ sừng sững trên nền trời, những ngọn đồi nhấp nhô, những hàng cây vàng óng. Thành phố Saguenay nổi tiếng với Saguenay Fjord và là Fjord cực nam ở Bắc bán cầu.

    Phố cổ Quebec: Thành phố Quebec thành lập năm 1608, là một trong những thành phố lâu đời nhất ở Canada và nằm bên sông Saint Lawrence ở tỉnh Québec, Canada. Đây là thành phố có tường bao quanh duy nhất còn sót lại ở Bắc Mỹ, phía bắc Mexico và được công nhận là Di sản Thế giới của UNESCO vào năm 1985.

    Ngoài việc là một địa điểm du lịch lớn, Quebec còn là một trung tâm hành chính và thành phố cảng cho thương mại xuyên Đại Tây Dương. Vị trí của nó ở nơi hợp lưu của sông St. Lawrence và Saint-Charles, cách Montréal khoảng 150 dặm (240 km) về phía đông bắc. Quebec mang lại một số lợi thế quân sự chiến lược quan trọng vì sự thu hẹp của sông St. Lawrence, Quebec trở thành nơi xa nhất cho các tàu đi biển ngược dòng có thể di chuyển qua lại và nếu đứng trên một sườn núi cao của thành phố bạn có thể nhìn bao quát ra đến tận dòng sông Lawrance. Năm 1842 trong chuyến thăm của Charles Dickens, ông đã gọi Quebec là “Gibraltar của Bắc Amerca”.

    Nhà thám hiểm người Pháp Jacques Cartier là người đầu tiên khám phá ra khu vực này khi ông trên đường đến Châu Á để tìm kiếm các khoáng sản có giá trị như vàng và kim cương. Trong chuyến hành trình thứ hai đến Bắc Mỹ năm 1535, Jacques Cartier dừng thuyền trên dòng sông St. Lawrence, ông nghỉ chân tại làng Stadacona của người da đỏ Huron (địa điểm của thành phố Quebec hiện đại) và trong chuyến đi thứ ba vào năm 1541 và cũng là chuyến đi cuối cùng Jacques Carier, ông đưa một số người đến định cư và thành lập thuộc địa của Pháp tại Stadacona. Nhưng mãi cho đến măn 1600, khi lông thú trở thành một mặt hàng có giá trị thì người Pháp mới nghĩ đến việc duy trì quyền kiểm soát tại Quebec.

    Năm 1608, Samuel de Champlain thiết lập căn cứ lâu dài đầu tiên ở Canada tại Quebec và phát triển thành phố Quebec thành một trạm buôn bán lông thú và đã mang lại cho người Pháp khả năng kiểm soát việc buôn bán lông thú tại nội địa Bắc Mỹ. Từ năm 1629-1632, người Anh chiếm Quebec cho đến khi Hiệp ước Saint-Germain-en-Laye ra đời, người Anh mới trao trả Quebec lại cho Pháp.

    Tuy nhiên, khi mặt trận Quebec nổi tiếng trên Đồng bằng Abraham (liền kề thành phố) vào năm 1759, Pháp bại trận và phần lớn lãnh thổ do Pháp nắm giữ ở Bắc Mỹ đã được nhượng lại cho Vương quốc Anh theo Hiệp ước Paris năm 1763. Tuy chiến tranh trong khu vực không kết thúc bằng việc chiếm được Quebec, Người Anh đã tăng cường lực lượng phòng thủ quân sự của thành phố và kịp thời đẩy lùi một cuộc tấn công trong Cách mạng Mỹ. trong Trận Quebec lần thứ hai vào năm 1775. Sự ly khai của Hoa Kỳ khỏi Bắc Mỹ, Anh có ý nghĩa quan trọng về văn hóa, kinh tế và chính trị đối với Quebec. Theo Đạo luật Quebec năm 1774, người Canada gốc Pháp vẫn giữ được ngôn ngữ, tôn giáo và các thể chế văn hóa khác, do đó thành phố Quebec vẫn là trung tâm văn hóa Pháp.

    Năm 2008, Quebec kỷ niệm 400 năm thành lập và chúng tôi (Mạnh Bổng & Khánh Lan) có dịp đến Quebec thăm gia đình một người bạn gốc pháp quốc tịch Canada, Nicole Sévigny.

    Nicole & Khánh Lan (2008)

    Nicole, Mạnh Bổng and Nicole’s mother

    Hôm ấy là một ngày mưa tầm tã, nhưng cũng không làm chùng bước những giáo dân đến dự thánh lể do Đức Thánh Cha (Đức Hồng Y) gián tiếp truyền hình và truyền thanh từ Vatican City. Quebec ăn mừng 400 thành lập rất lớn và hầu như đa số các buổi concert ngoài trời đều cho vào cửa tự do. Các cửa hàng thời trang bán giảm giá và các quán ăn cũng có giá đặc biệt.

    Năm nay (2023) cũng như năm 2008, mùa đông đã về trên mảnh đất Canda và mang theo những cơn gió giá buốt. Vì thế mà thành phố cổ Quebec hôm nay chìm trong mưa với bầu trời màu xám nhạt với hàng hàng lớp lớp bụi tuyết nhỏ li ti bay lơ lửng trên không như thể bầu trời đang bị che phủ bởi một tấm voan mỏng màu trắng đục. Từng nẻo đường, góc phố gần như vắng hẳn bóng người dù đó là ngày cuối tuần. Một số người (có lẽ là du khách) bước vội vã dưới mưa, ngoại trừ chúng tôi, vẫn phớt tỉnh “Ông Trời” thơ thẩn, nhẩn nha chụp hình và ngắm phố.

    Quebec 2008 & 2023

    Phố cổ Quebec xưa nay vẵn nổi tiếng là có những nét quyến rũ với vẻ đặc trưng của thế giới cổ xưa, hơn thế nữa, Quebec mang đến cho du khách cơ hội thưởng thức hương vị  và ẩm thực của nước Pháp mà không cần rời khỏi lục địa.

    Dòng sông St. Lawrence hùng vĩ từ Terrasse Dufferin và Lâu đài Frontenac tuyệt đẹp.

    Phố cổ Quebec năm nay chào đón lễ Giáng Sinh tưng bừng với các cửa hàng bày bán những sản phẩm cho mùa Giáng Sinh. Những nơ xanh nơ đỏ buộc vòng quanh cửa xổ, cửa ra vào. Những bóng đèn tím, hồng, cam, vàng treo lấp lành trên cây, nơi cao ốc, trên đường phố, chen lẫn giữa những hàng cây với lá vàng, lá đỏ còn vương lại của cuối mùa thu…Phố cổ Quebec như ru hồn lữ khách đa tình với vẻ đẹp thơ mộng lạ thường dưới tia nắng yếu ớt của một ngày mưa. Có lẽ, Phố cổ Quebec sẽ đẹp bội phần trong những ngày nắng ấm chẳng kém gì thủ đô ánh sáng Paris, trách sao nó được mệnh danh là “Little Paris“…

    Christmas shopping

    Dạo phố cổ Quebec dưới mưa

    Phố cổ Quebec nổi bật với những con đường hẹp lát đá cộng thêm khung cảnh lộng lẫy của thành phố với cảnh trí xung quanh. Gần nhất là hai thành phố kiên cố, Vieux-Québec và Place Royale với những tòa nhà bằng đá và những con đường lát đá của quận Petit Champlain, nơi có nhiều quán rượu và cửa hàng nhỏ. Những con đường trải sỏi của Haute-Ville và Basse-Ville hay ghé vào các cửa hàng bánh ngọt để thưởng thức bánh kem cuộn hoặc bánh creperie nổi tiếng của Quebec.

    14 ngày du lịch ngắm lá vàng rơi qua nhanh như một cơn gió thoảng nhưng đã để lại cho chúng tôi nhiều kỷ niệm đẹp.

    Khánh Lan, Oct. 2023

    *** Tài liệu dựa theo Wikipedia, the free encyclopedia.

  • KÝ SỰ,  Viet-Hải

    Đỗ Bình: Nhà thơ và nhân cách đáng quý.

    Tôi biết anh từ lâu: nhà thơ Đỗ Bình, một nghệ sĩ đa tài về văn, thơ và nhạc; tính tình đôn hậu, hòa nhã, khiêm cung, ba dặc diểm khiến tôi quý trọng anh.

    Là chiến sĩ quốc gia thuộc ngành chiến tranh chính trị, vào tù gulag, CS hành hạ anh dã man, hậu quả nay anh mang bệnh. Đỗ Binh thẳng thắn, cương trực, nhưng không sinh sự với bạn bè, anh chọn phong thái đứng ngoài những tranh châp, bút chiến, những chuyện đời thường vốn đau đớn lòng như thi ca của cụ Tố Như-Thanh Hiên.

    Sau đây, tôi xin giới thiệu về anh đối với bạn bè trong ngoài Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian qua những ý tưởng anh viết hay nói chuyện, mà hôm Hội ngộ bạn bè từ Pháp Mỹ tại nhà hàng Sài Gòn (Paris) chị Teresa Thanh Vân không tiếc lời khen tài nói chuyện văn thơ của anh.

    Thơ thăm hỏi của nhà thơ Đỗ Bình Paris, xin theo dõi sau đây…

    Một số bạn bè Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian trong chuyến Âu châu du.

    “Subject: Re: THƯ PAIRS

    Qúy Anh Chị mến

    Do sức khỏe hôm nay tôi mới hồi âm đến các bạn.

    Các bạn Paris rất vui khi đọc đưọc bản bút ký của nhà văn Khánh Lan, nhà văn Trần Việt Hải. Ngày 20 tháng 9 vừa qua, các bạn đã mang cho chúng tôi một món quà tinh thần trong buổi hội ngộ qua sự thân thiện chân tình. Những lời phát biểu về sinh hoạt văn học nghệ thuật của Nhóm Nhân Ảnh Nghệ Thuật& Tiếng Thời Gian, Nhóm Hậu Duệ của Tự Lực Văn Đoàn, cũng như cảm nghĩ của các anh chị. Chúng tôi được thưởng thức những giọng ca truyền cảm, độc đáo  của Lệ Hoa, Thụy Lan, Mạnh Bổng đã trình bày những ca khúc giá trị làm tăng giá trị buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật Thu Paris. Hình ảnh của nhà văn Nguyễn Ngọc Cường chúng tôi cảm thấy bồi hồi khi nhớ lại người bạn cùng sinh hoạt chung vừa ra đi là KTS, TS Nguyễn Tường Hùng , một nhà đạo diễn có tài của Pháp. Ông là anh cả của nhà văn Nguyễn Ngọc Cường. Chúng tôi thấy nhà văn Trần Việt Hải ngồi xe lăn xuất hiện, hình ảnh đó làm xúc động các bạn Paris vì gợi nhớ hình ảnh ngồi xe lăn đi sinh hoạt văn hóa của các nhà văn đã tận tụy với văn chương chữ nghĩa như: Duyên Anh, nhà văn Hồ Trường An, nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh (là một trong hai vị nữ giáo sư phái nữ duy nhấtt của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn năm xưa: GS Thái Hạc Oanh Paris, GS Nguyễn Thị Thịnh ở San Jose), nhà văn Trần Tam Tiệp, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu, nhà thơ, nhà biên khảo Phương Du (Một trong 10 vị bác sĩ đầu tiên của QLVNCH).

    Sự mê say văn chuuơng, hăng say và tận tụy trong những sinh hoạt văn học nghệ thuật, cũng như tấm lòng trọng Thày, qúy các bậc trưởng thượng của nhà văn Trần Việt Hải ở Cali  khiến các bạn Paris ngưỡng mộ. Tôi thường ra vào nhà thương, thêm bệnh mới của tuổi đời về cột sống, nhưng gặp các bạn tôi thấy tâm hồn vui, lên tinh thần  bỗng dưng sau hôm đó đi đứng trở lại khá hơn. Nghe lời ca khúc Triệu Đóa Hoa Hồng của Vương Trùng Dương tôi lòng lâng lâng theo giai điệu lời ca.

    Cuộc du lịch của các bạn thăm xứ Pháp và một số nước Âu Châu thật đáng giá, vì đó là những nới rất giá trị, không những đẹp mà còn mang tính văn hóa ịch sử.

    Các anh chị Paris nhờ tôi chuyển lời thăm và cảm ơn những tình cảm của các anh chị đối với các bạn.

    Chúc các anh chị nhiều sức khỏe. 

    Thân mến

    Đỗ Bình  “


    Tôi giữ nguyên nội dung thơ Đỗ Bình gửi ra như sau:

    “Objet : Re: Bản Chương Trình Thu Paris Văn Học Nghệ Thuật 20 tháng 9

    Thưa các Anh Chị

    Xin gởi các Anh Chị bản chương trình ngày 20 tháng 9 năm 2023, mong gặp các anh chị. Xin các anh chị tìm nghe lại giai điệu hai ca khúc Lối Về Xóm Nhỏ của nhạc sĩ Trịnh Hưng và Trăng Mờ Bên Suối của nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên để hôm đó chúng cùng đồng ca.    Lời của những ca khúc Trăng Mờ Bên Suối, và Lối Về Xóm Nhỏ sẽ được in ra nhiều bản để chúng ta cùng hát.

    Thân mến,

    Đỗ Bình”

    Sujet: Chiều Văn Học & Nghệ Thuật

    MC: NhS Thẩm Thái Hà, BS Nguyễn Bá Linh.

    Quay Phim: KS Trần Đình Quốc.

    Âm Thanh KS Lê Minh Triết.

    CHƯƠNG TRÌNH

    Phần I

    12h00 Tiếp Tân

    12h10 Khai Mạc :

    Nhà văn Đỗ Bình giới thiệu các văn nghệ sĩ từ Mỹ sang (15’).

    TS Nguyễn Thị Phượng Anh và BS Nguyễn Tối Thiện phát biểu cảm tưởng (5’).

    Luật gia  Đoàn Trần Thiều : phát biểu cảm tưởng.(2’)

    Nhà văn Nguyễn Ngọc Cường: Vài Nét Vê Nhóm Tự Lực Văn Đoàn. (7’)

    Nhà văn Khánh Lan Vài Nét Về Nhóm Nhân Ảnh Nghệ Thuật &Tiếng Thời Gian( 7’).

    Nhà văn Trần Việt Hải phát biểu Cảm Tưởng. (3’)

    GS Hoàng Đức Phương: Vài Nét Về Văn Hóa Thuần Việt.(7’)

    Phần II

    13h10 Dùng Cơm.

    Phần III

     14h00 Nhạc Thính Phòng : Tình Thơ Trong Ý Nhạc

    Nhà văn Đỗ Bình : Vài nét về guồn cảm hứng sáng tác những ca khúc trữ tình của một số nhạc sĩ vang bóng một thời: Dương Thiệu Tước, Phạm Duy, Lê Mộng Nguyên, Lê Trạch Lựu, Trịnh Hưng, Phạm Trọng Cầu, Quốc Dũng, Vũ Đức Sao Biển.(3’)

    Bên Nhau Ngày Vui, nhạc Quốc Dũng, Lê Hoa trình bày.

    Hai ca khúc: Trăng Mờ Bên Suối của Lê Mộng Nguyên và Lối Về Xóm Nhỏ, sẽ do tất cả những người hiện diện cùng hát.

    Ngọc Lan, nhạc & lời Dương Thiệu Tước, Hồng Loan trình bày.

    Em Tôi của Lê Trạch Lựu Đỗ Bình trình bày.

    Thu Hát Cho Người: nhạc&lời Vũ Đức Sao Biển, Tuyết Dung trình bày.

    Mùa Thu Paris qua Âm nhạc:

    GS Nguyễn Bảo Hưng : Vài nét độc đáo trong văn hóa Paris. Thái Hà trình bày ca khúc minh họa Les Feuilles Mortes , thơ Jacques Prévert, nhạc Joseph Kosma.

    Mùa Thu Paris, thơ Cung Trầm Tưỏng, nhạc Phạm Duy, Mạnh Bổng trình bày.

    Chiều Trên Sông Seine, thơ &nhạc Đỗ Bình, Thúy Hằng trình bày.

    Mùa Thu Không Trở Lại, nhạc &Lời Phạm Trọng Cầu, Kim Thu trình bày.

    Phần IV

    15h50 Mạn đàm với văn nghệ sĩ.

    17h00       Chấm dứt.


    Sau dây tôi xin tóm lược nội dung Đỗ Bình kể chuyện, mà nhà văn Vương Trùng Dương vì kẹt babysit giữ cháu ngoại như nhà văn Dương Việt Điền phải ở Nam Cali, nên không biết Đỗ Binh nói gì mà madame Teresa Thanh Văn Virginia khen nồng nàn, mà ông Vương Trùng Dương (aka tên cúng cơm Trần Văn Dưỡng) nóng lòng biên email “sao 2 bạn Khánh Lan và Việt Hải lại im lìm vậy cả”. Thôi thì hôm nay xin gởi bài cho sư huynh Dương Trần dây nhé…

    Trong buổi lễ Chiều Văn Học & Nghệ Thuật tại nhà hàng Sài Gòn, Paris.

    Nhà văn Đỗ Bình nhắc đến bài viết của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian “Nhìn về phương diện văn hoá tại Nam California”, được dăng trong ấn phẩm biên khảo công phu của Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris,… tóm lược như sau:

    Ban Biên Tập chúng tôi, Vương Trùng Dương, Trần Mạnh Chi, Trần Việt Hải và Lưu Khánh Lan xin gởi đến Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris bài “Nhìn Về Văn Hóa Tại Nam California”.  Bài được đúc kết gồm ba phần sau đây:

    • Phần 1:  Về Văn Hóa VN Nam Cali.

    (Bài của Khánh Lan, Trần Việt Hải ) 

    • Phần 2:  Về Nền Báo Chí Tại Miền Nam California.

    (Bài của Vương Trùng Dương)

    • Phần 3:  Bảo Tồn Việt ngữ Tại Miền Nam California.

    (Bài của Trần Mạnh Chi)

    Phần 1:  Về văn hóa tại miền Nam California:

    Khánh Lan và Việt Hải   

    Định nghĩa văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh, báo chí, truyền thông, giáo dục, v.v…Riêng vùng Nam California của nước Mỹ, từ mùa thu năm 1975 là thời điểm bắt đầu cho những hứa hẹn một “Trung tâm văn hóa” của người Việt ở hải ngoại, bởi vì chính quyền Mỹ thiết lập một trại tiếp cư Pendleton, đón nhận người tị nạn Việt Nam lớn nhất nhất tại Hoa Kỳ.   Camp Pendleton tọa lạc ở vùng Oceanside, cách San Diego độ 38 miles (hay 62 kilometers) và cách thành phố Wewstminster khoảng 58 miles (hay 93 km).  Camp Pendleton là một căn cứ của Thủy quân Lục Chiến Mỹ, ngay từ đầu tháng ba năm 1975, trại tị nạn Pendleton đã tiếp nhân 20,000 người Việt, trong số này rất nhiều người tài hoa về phạm vi văn hóa của Việt Nam Cộng Hòa qua trại này, rồi phân tán ra các nơi khác trên nước Mỹ, đặc biệt là một số đông văn nghệ sĩ đã định cư và sinh hoạt văn hóa tại miền Nam California.

    Nói về văn hóa, chúng tôi thiết nghĩ văn hóa lấy yếu tố nhân bản con người làm gốc:  Đó là yếu tố dân tộc sinh tồn, lấy yếu tố cội nguồn lưu truyền làm nền và yếu tồ khai phóng giáo dục để xã hội được tự do, thăng hoa, mở mang và phát triển.  Để lưu truyên văn hóa gốc thì vấn đề giảng dậy tiếng Việt vô cùng hệ trọng.  Tại miền Nam California từ hạt Santa Barbara hướng Bắc xuống tới hạt San Diego ở tận cuối hướng Nam của hoa kỳ, có rất nhiều trường dạy Việt ngữ. …

     Bài viết khá dài, xin xem đính kèm.

    —————————————————

    Đỗ Bình kể chuyện về nhạc sĩ Trịnh Hưng Paris khiến madame Teresa Thanh Vân nghe mùi tai nên vỗ tay lốp bốp…

    Lối về xóm nhỏ & Tôi yêu (với NS. Trịnh Hưng)

    Cuộc đời, nhạc sĩ Trịnh Hưng tên thật là Trịnh Hưng (sau này đổi tên thành Nguyễn Văn Hưng) sinh năm 1930 tại Hà Nội. Cha ông là một quan huyện, còn mẹ là thứ thiếp. Ông mồ côi mẹ lúc mới ba tuổi nên sống với một người bà con ở Hà Nội.

    Từ năm 1945 đến 1953, ông tham gia kháng chiến chống Pháp với chức vụ Đội phó văn công Trung đoàn Thăng Long.

    Năm 1954, ông hồi thành rồi theo đoàn người di cư vào miền Nam. Tại đây, ông mở lớp nhạc dạy đàn, sáng tác và luyện giọng tại đường Cao Thắng – Sài Gòn. Học trò của ông có nhiều người thành danh như Ánh Tuyết, Bạch Yến, Thanh Thúy, Đỗ Lễ, Phạm Thế Mỹ và đặc biệt là nhạc sĩ Trúc Phương. Ông bắt đầu sáng tác nhạc vào những năm 1950 nhưng khoảng sáu năm sau mới được chú ý. Nhạc của ông lời ca mộc mạc, trong sáng, vui tươi, chan chứa tin yêu, gợi cho người nghe một cảm giác thanh bình, an lành nơi thôn dã.

    Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông ở lại Việt Nam. Năm 1980, con trai cả của ông bị bắt đi lính sang Campuchia chống Khmer Đỏ, chịu không nổi nên đã bỏ trốn. Hai năm sau bị công an bắt được và hành hung đến chết. Trịnh Hưng phẫn uất nên đã viết bài “Ta quyết tâm giết lũ Hồ”[1], cũng vì bài này nên Trịnh Hưng bị đi tù 8 năm ở Hàm Tân. Năm 1990, sau khi ra tù, ông được con gái bảo lãnh sang Pháp. Tại đây, ông theo đạo Tin Lành và cộng tác với các tạp chí văn học.

    Ông mất ngày 10 tháng 5 năm 2008 tại Paris, Pháp. Sáng tác hơn 25 bái ca về quê hương và tình ca. NS. Trịnh Hưng và các nhạc bản đượm tình quê hương

    ——————————————————

    Kế tiếp Đỗ Bình kể về Nhà văn Duyên Anh thời xưa và thời ở Paris…

    Duyên Anh, Đắng cay của một người tù do Đỗ Bình ghi nhận như sau.

    Nhà văn Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo. Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Xuất thân trong một gia đình nghèo. Di cư vào Nam năm 1954, một thời gian lại về Mỹ Tho mở lớp trường dạy đàn guitare tại gia, rồi lại bỏ trở về Sài Gòn, ở đây ông được nhà văn Nguyễn Mạnh Côn thương mến nâng đỡ hướng dẫn vào con đường văn chương, tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý đã nổi tiếng, tiếp theo là những tác phẩm Thằng Côn,Thằng Vũ, Con Thúy được độc gỉa yêu thích, nhất là đối với những độc giả di cư, văn của ông rất lãng mạn đầy hoài niệm về thời kỳ ấu thơ tại quê hương miền Bắc. Tên tuổi của Duyên Anh sáng chói trong lòng giới mộ điệu và từ đó sự nghiệp văn chương của ông thăng tiến. Ngoài nghề viết văn, ông còn làm ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây Dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc…Những tác phẩm của Duyên Anh trước năm 1975 thường mang tính hiện thực xã hội diễn tả những mảnh đời sống trong một góc khuất ở những con hẻm, những ngõ cùng nơi đô thị. Ngoài ra, ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi. Sau biến cố 30 tháng 4.1975, Duyên Anh, Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Mai Thảo, Võ Phiến, Vũ Khắc Khoan, Nhất Hạnh, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn bị nêu danh là “Những Tên Biệt Kích của Chủ Nghĩa Thực Dân Mới Trên Mặt Trận Văn Hóa – Tư Tưởng” và tác phẩm bị cấm lưu hành.Trong Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ miền Nam tháng 4.1976 của nhà cầm quyền CS ban hành, Duyên Anh cùng chung số phận với các văn nghệ sĩ khác đều bị bắt vào tù. Ông được ra tù tháng 11 năm 1981, sau đó ông vượt biên. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại mang tính phê phán chế độ độc tài Cộng sản VN, sách ông được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn Thời gian này, ông còn làm thơ và soạn nhạc. Năm 1985, ông bắt đầu cộng tác với tờ Ngày Nay và trở thành một trong những cây bút trụ cột của báo này. Ngày 6 tháng 2 năm 1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp, để lại hơn 100 tác phẩm.

    Tôi qúy nhà văn Duyên Anh ngoài tài năng còn ở một nghị lực phi thường. Bản tính nghệ sĩ trong anh quá mãnh liệt, tâm hồn anh là một khoảng rộng chứa sự bao dung và tha thứ. Anh chọn cho mình một con đường riêng để đi, những điều anh nói phát ra từ con tim mà người đời chưa quen hay không muốn nghe về triết lý sống. Đó là quyền sống và sự tự do, nên anh đã dung nạp cả thiên đường lẫn địa ngục mà trên đời chưa có người nào đặt chân đến!Đỗ Bình, Paris 05.12.2016.

    Madame Teresa Thanh Vân tiếp tục vỗ tay, về sau madame cho biết madame là độc giả của những Mơ Thành Người Quang Trung, Nắng Chiều Quê Nội, Ngày Xưa Còn Bé, Tuổi Học Trò,  Hoa Thiên Lý, Nhà Tôi, Điệu Ru Nước Mắt,…

    ———————————————

    Khi Đỗ Bình kể vể NS. Lê Trạch Lựu Paris, tôi chạnh nhớ ông bạn Cỏ Thơm Phan Anh Dũng và tác phẩm “Văn Nhân & Tình Sử” của nhà văn Vương Trùng Dương, sách có bài viết về một chuyện tình đẹp về kỷ niệm và thơ mộng như: “Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi”, ở trang 167, đây là một mối tình mang theo mãi một đời người. Nhạc phẩm Em Tôi ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đã thuộc về dĩ vãng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sĩ sáng tác liên lạc lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên. Nay chuyện ấy đã chìm vào danh sách những thiên tình sử đẹp trong lãng mạn và lưu luyến kèm theo bạn tình ca Em Tôi bất hủ.

    ———————————————

    Em tôi: Lê Trạch Lựu và mối tình theo mãi một đời.

    “Em tôi” ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đã thuộc về dĩ vãng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sỹ sáng tác “gặp” lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên. Hôm nay nhạc sĩ Lê Trạch Lựu nói về câu chuyện tình đã đưa chúng ta đến với “Em Tôi”, mời quí vị cùng theo dõi với Lan Phương sau đây.

    Lê Trạch Lựu rời Việt nam thời loạn ly năm 1951, bỏ lại sau lưng một mối tình, không hiểu người yêu của mình ở phương nao khi mà khói lửa, chiến tranh, tản cư, ly tán đã đẩy mọi người vào tình huống chẳng biết những người thân của mình còn sống hay đã chết.

    (theo Phưong Lan, VOA)

    ————————————————-

    Chính nhạc sĩ Lê Trạch Lựu đã tâm sự rằng: Cái bóng của “Em Tôi” che mờ những tác phẩm khác của ông…

    “Nhạc của tôi người ta không biết nhiều, người ta chỉ biết đến ‘Em Tôi’ thôi. Ở Hà Nội, ông Thẩm Oánh có ra một bài của tôi là bài ‘Thôn Chiều’, ông ấy quí bài đó lắm. Sang Pháp, nhớ quê hương, tôi làm bài ‘Nhớ’ được trình bày trên đài phát thanh Hà Nội, và Sài Gòn sau này. Bài thứ ba là bài ‘Em tôi’. Bài ‘Em Tôi’ được người ta quí trọng nó quá nên thên hạ quên mất ‘Nhớ’ và ‘Thôn Chiều’.”

    Khoảng 20 năm sau khi “Em Tôi” ra đời, vẫn nỗi nhớ người xưa, nhạc sĩ họ Lê đã sáng tác “Cành Mai Tóc Ngắn”.

    —————————————

    Madame Teresa Thanh Vân say sưa nghe thuyết giảng và không quên vỗ tay tiếp…

    Đỗ Binh và ông Dương Trần đều có bài về NS Lê Mộng Nguyên Paris

    Tin tức cho biết: “Lê Mộng Nguyên đã qua đời ngày 19 tháng 5 vừa qua, đã  hỏa thiêu 9 ngày sau”. Về tiểu sử của nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên đã được phổ biến trước đây. Năm 1950, sau khi tốt nghiệp Tú Tài toàn phần tại Việt Nam, Lê Mộng Nguyên sang Pháp du học. Năm 1949, ông sáng tác nhạc phẩm Trăng Mờ Bên Suối được thành danh nên ban đầu ông muốn theo học hòa âm tại Trường Âm Nhạc Paris nhưng sau đó sang học Luật và Kinh Tế tại Đại Học Paris 1 Panthéon Sorbonne (Faculté de Droit et de Sciences Economiques).Năm 1954, Lê Mộng Nguyên tốt nghiệp cử nhân Luật. Từ năm 1955 tới năm 1958, ông được mời làm tùy viên kinh tế và xã hội cạnh Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Paris (Attaché économique et social près l’Ambassade du Vietnam à Paris) dưới quyền của Đại Sứ Việt Nam Phạm Duy Khiêm. Sau đó ông thi đậu cuộc thi để được hành nghề luật sư. Năm 1962, ông đậu Tiến Sĩ Quốc Gia (Doctorat d’État) về Droit Public, Droit Privé và Sciences Politiques. Sau khi thôi hành nghề luật sư, năm 1967, ông dạy Luật Hiến Pháp (Droit Constitutionnel) và Khoa Học Chính Trị (Sciences Politiques) tại Đại Học Franche-Comté Besançon, miền Đông nước Pháp.  Năm 1985 ông quay lại Paris và giảng dạy tại Đại Học Paris 8 Saint Denis đến khi về hưu năm 1997.

        Lê Mộng Nguyên thành hôn với Nicole Moulin, một phụ nữ người Pháp vào ngày 8 tháng 1 năm 1959. Hai người không có con. Ông cũng chưa từng về lại Việt Nam từ khi đi du học năm 1950. Ngày 5 tháng 12 năm 1997, Lê Mộng Nguyên được bầu vào Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại (Académie des Sciences d’Outre-Mer) của Pháp. Lê Mộng Nguyên là người Pháp gốc Việt đầu tiên được bầu làm Hội Viên Chính Thức (Membre Titulaire), trước đó, đã có một số người Việt làm Hội Viên Liên Lạc (Membre

    Correspondant) như Phạm Quỳnh, Phạm Duy Khiêm…

        Về lãnh vực âm nhạc, ông tự học nhạc từ khi còn nhỏ ở Huế, đàn mandoline, guitar và violon. Ca khúc đầu tay Xuân Tươi vào năm 15 tuổi ký tên Lan Đào. Bài nhạc Mừng Khánh Đản sáng tác vào năm 1948 nhân dịp khánh thành Chùa Từ Đàm. Kế tiếp với nhạc phẩm Trăng Mờ Bên Suối, tháng 11, năm 1949 khi ông mới 19 tuổi. Và từ đó, ông tiếp tục sáng tác rất nhiều ca khúc…

    ————————–

    Mới đây Đỗ Bình gởi tôi xem bài viết của anh, ôội đọc và hiểu anh cũng như đồng tình về những tranh cãi trong văn học như về những chuyện, về tổ chức Văn Bút hay về thi sĩ Nguyễn Chí Thiện,… là những chuyện buồn Nguyễn Du, “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”

    Trong bài viết về Nhà báo Đặng Văn Nhâm, Đỗ Bình bộc bạch như sau:

    “….Riêng Văn Bút Việt Nam Âu Châu được thành lập ngày 27 tháng 6 năm 1987 gồm các văn sĩ ở nước Anh ,Pháp, Bỉ, Hòa Lan tạm thời do các vị LS Trần Thành Hiệp làm chủ tịch, GS Phạm Việt Tuyền làm phó chủ tịch, Nhà báo Đặng Văn Nhâm làm Tổng thư ký. Đến 30 tháng 1 năm 1988 Văn Bút Âu Châu được hợp thức hóa trở thành Trung Tâm Văn Bút Âu Châu, do Nhà báo Trần Văn Ngô làm chủ tịch, Nhà báo Đặng Văn Nhâm làm phó. Đến năm 1992 nhà báo Đặng Văn Nhâm rút khỏi Văn Bút Âu Châu. GS Phạm Việt Tuyền làm chủ tịch, Từ Nguyên phó chủ tịch, Nguyễn Hòa Tổng thư ký. Kể từ nhiệm kỳ sau nhà báo Từ Nguyên được tín nhiệm trở lại chức chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Âu Châu đến sau này. Nhà báo Từ Nguyên rất hăng say trong việc điều hành Văn Bút, hàng năm vẫn tổ chức những buổi ra mắt sách. Tập Thơ Buồn Viễn Xứ của tôi cũng do ông tổ chức. Kể từ khi Văn Bút xảy ra cuộc tranh chấp tôi đứng bên ngoài, nhưng vẫn giữ tình bạn với các văn hữu khắp nơi.”

    ” Để giải thích sự việc ông viết cuốn: Trận Giặc Văn Bút, nhà văn Hải Triều viết cuốn Vũng Lầy Văn Bút. Sau đó ông khởi xướng, cùng một ít nhà văn nhà báo ở Mỹ thành lập Hội Ái Hữu Văn Nghệ Sĩ Việt Nam, nhưng thất bại! Những văn nghệ sĩ ở Paris không hưởng ứng. Riêng tôi để giữ tình bạn và tính độc lập, kể từ đó tôi ra khỏi Văn Bút, và cũng ra khỏi HĐVNTD lui về sinh hoạt thuần túy văn hóa cho đến hôm nay.”

    Đỗ Bình viết tiếp:

    “Tôi nói:

    “Vì thế, tôi thích làm thơ thả hồn trong cõi riêng chẳng đụng chạm ai hơn viết báo,…Ngày đó trên báo chí có một số ý kiến, nhận xét trái ngược nhau về nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tôi muốn viết về ông nhưng ngại có thêm ý kiến làm tăng sự mâu thuẫn nên thôi. Tôi đứng bên ngoài những quan niệm, phán xét, tranh chấp của bằng hữu nên tôn trọng những suy nghĩ riêng của mỗi người.” 

    Đoạn kết: “tôi chợt nhớ đến nhà thơ Nguyễn Chí thiện mà bùi ngùi, ông Thiện là nạn nhân của cộng sản, bị tù 27 năm tù ngục tối mất hết đời trai trẻ chỉ vì hai chữ Tự do mà lại bị nghi ngờ làm gián điệp cộng sản!

    Tôi ngao ngán và chán ghét sự ganh đua vì cảm thấy cuộc đời quá ngắn ngủi. Được thua tất cả rồi cũng xuôi tay chẳng mang theo được gì, do đó tôi chọn một thái độ im lặng để đừng mất thêm bạn ! Để tránh gây thêm sự mâu thuẫn nhau, tôi dừng bài viết, và cũng từ ngày đó cho đến ngày nhà báo Đặng Văn Nhâm qua đời năm 2017 dù chúng tôi không còn liên lạc nhau nữa, nhưng tôi vẫn quý mến ông.

    Paris 26.11.2022

    (Con Đường Văn Nghệ )Đỗ Bình“

    Sau hết xin ghi nhận vài Nét Sinh Hoạt Tác giả Đỗ Bình:

    Đỗ Bình sinh quán Bắc Việt, theo gia đình di cư vào Nam 54. Bút hiệu khác: Lữ Bằng.

    Cựu SV Luật Khoa Sài Gòn.

    Tốt nghiệp trường Thương Mại Paris.

     Cựu SQ Chiến Tranh Chính Trị VNCH. 

    Chủ nhiệm  tuyển tập Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Paris.

    Sáng lập viên Thư Viện Cergy. 

      Nhóm chủ trương những tạp chí Văn học nghệ Thuật: Việt Điển, Hương Xa

     Nhóm chủ trương tuyển tập Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca VN Hải Ngoại:

    Hội viên Hội Les Poètes Du Dimanche.

     Thành viên Hội thơ Pháp Jouy Le Moutier. 

    Chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris. Thành Viên Hội Ba Lê Thi Xã.

      Đã Xuất Bản nhiều tập thơ và CD Nhạc. 

    Ngoài ra còn có những: Biên Khảo, Tiểu Luận, Nhận Định Văn Học, Âm Nhạc, Truyện ngắn, Bút ký, Tản Văn, sáng tác nhiều ca khúc.

    Góp mặt các tuyển tập :  Esquisses de L’Âme (La Bibliothèque Internationale de Poésie)  Les Poètes Du Dimanche 1,2,3,4  La Plume de L’Ecritoire 1…10 

    The Silence of Yesterday (Cội Nguồn)

    Thơ Việt Hải Ngoại (Hội Văn Học Nghệ Thuật Thi Đàn Lạc Việt) Vườn Thơ Hải Ngoại (Tủ Sách Phụ Nữ Thời Nay)

      Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca VN Hải Ngoại (Văn Hóa Pháp Việt)

     Bút Luận 25 năm Thơ Hải Ngoại (Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn).  Thi Văn Viễn Xứ (Tình Thơ). Thập Thúy Tầm Phương (Hoa Ô Môi., Khung Trời Hướng Vọng( Nắng Mới)

    Cộng tác với nhiều Tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Hải Ngoại.

    Và tiểu sử của nhà văn Vương Trùng Dương như sau:

    Nhà văn/nhà báo Vương Trùng Dương là một tên tuổi quen thuộc trong sinh hoạt báo chí & văn học nghệ thuật hải ngoại từ gần 30 năm qua. Ông là Sĩ Quan QLVNCH xuất thân Khoá I Đại Học Chiến Tranh Chính Trị (Dalat). Từ dạo định cư ở California ông viết cho nhiều báo/đài.

    Vương Trùng Dương nguyên là Tổng Thư Ký Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại & Trưởng Khối Báo Chí của Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California (1998-2008). Hiện cây bút chuyên nghiệp Vương Trùng Dương là Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hoà.

    Tác phẩm của Vương Trùng Dương:

    – Đã xuất bản: Ngẫm truyện nhân sinh (2004) + Văn nhân & Tình Sử (2015).

    – Sẽ xuất bản: Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ + Vó Ngựa Trường Chinh & Nỗi Nhục Thiên Triều (lịch sử & dã sử).

    * Nhà văn/nhà báo Vương Trùng Dương (Cựu SVSQ Đại Học CTCT Khoá I).

    https://longhovinhlong.blogspot.com/2021/09/thu-paris-hoi-thao-van-hoc-nghe-thuat.html

    Cám ơn bạn bè Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian nhiều lắm.

    Trần Việt Hải, Los Angeles.

    ——————————————————————

    Chút ghi nhận sau cùng.

    Văn hào Maxim Gorky cho là cái mỹ học của văn chương vốn đem con người về với chân thiện mỹ. Thật vậy, nhà phê bình văn học Charles Du Bos ngôn là: “Văn học tức là tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng”.

    Maxim Gorky

    Cũng như nhà văn Maxim Gorky đã cho cảm nghĩ là nhà văn cần phải vượt lên trên những cái tầm thường, vụn vặt để viết về những điều cao thượng đáng viết hơn và đừng biến văn chương thành những thứ tầm thường, đừng làm cuộc đời xấu hơn vì những điều gì mình viết ra.

    Hãy tận tuỵ với bút pháp, trau đồi kỹ năng văn phẩm của mình. Văn chương vốn dĩ được coi như một loại sinh hoạt mang nét thanh tao về tinh thần, một phạm vi cao quý.

  • Kiều My,  Văn Thơ

    NHÀ SÁCH KHAI TRÍ, SAIGON TRƯỚC 1975

    Nhà văn hóa Nguyễn Hùng Trương

    Khi còn là học sinh của bậc tiểu học, vào những ngày cuối tuần, Ba tôi thường dẫn mấy chị em tôi đi dạo phố Saigon để ngắm cảnh nhộn nhịp của thủ đô. Nhưng địa điểm đầu tiên mà ba tôi luôn hướng tới chính  là nhà sách KHAI TRÍ. Ông mong muốn các công chúa bé nhỏ của ông làm quen với sách vỡ, hầu có thể lĩnh hội sự hiểu biết từ kho tàng kiến thức trong những sách vỡ lành mạnh.

              Nhà sách thật bề thế, tọa lạc tại số 60 – 62 đại lộ Lê Lợi Saigon, đông người qua lại. Lần đầu tiên đến đây, ngước lên nhìn bảng thương hiệu với hàng chữ lớn “NHÀ SÁCH KHAI TRÍ”, tôi bèn hỏi ba tôi về ý nghĩa của hai chữ “ Khai Trí”. Ba tôi chậm rãi giải thích – khai: là mở mang, trí: là trí tuệ;  khai trí: tức là “mở mang trí tuệ con người”.

              Khi lớn khôn, tôi nghiệm ra rằng: cửa hàng bán sách có tên Khai Trí, chắc hẵn phải mang một ý nghĩa thâm thúy và thực tiễn. Mục đích chính của nhà sách không đặt nặng vấn đề kinh doanh về sách vỡ; mà hàm chứa một lý tưởng thật cao đẹp của chủ nhân, mong muốn tận dụng việc mở tiệm sách để “mở mang dân trí” cho người Việt – Vậy chủ nhân của nhà sách Khai Trí là ai, mà mang một hoài bão tốt đẹp và lớn lao như thế?

              Vâng! Đó chính là ông Nguyễn Hùng Trương, sinh quán tại Thủ Đức, miền Nam, Việt Nam năm 1926, mà thường được gọi là ông Khai Trí. Một người từ thời niên thiếu đã rất đam mê đọc sách, đến nỗi cậu học trò nhỏ phải nhịn ăn sáng để có tiền mua sách. Lên bậc trung học, Nguyễn Hùng Trương may mắn là học sinh của trường nổi tiếng Petrus Ký. Thời gian này ông đã sở hữu một tủ sách nhỏ có giá trị mua từ Pháp cho riêng ông, nhờ vào tiền dành dụm từ nhịn ăn buổi sáng. Sau khi tốt nghiệp trung học,  ông lập gia đình với bà Phùng Thị Bông. Hai vợ chồng rất vất vả vừa dạy học, làm thuê, vừa bán sách trên một chiếc xe đẩy. Đến năm 1952, ông bà tích lũy được một số vốn đủ để mở nhà sách Khai Trí tầm cỡ ngay tại trung tâm Saigon. Nhà sách ngày càng phát triển mạnh mẽ và hoạt động cho đến năm 1975. Thành quả mà ông Khai Trí đã gặt hái được  từ sự kiên trì, cùng  ý chí mạnh mẽ, với một lý tưởng cao đẹp và niềm đam mê sách vỡ. Ông chính là tấm gương sống động: từ hai bàn tay trắng đã tạo được sự nghiệp hiển hách về ngành kinh doanh sách lớn nhất và uy tín nhất miền Nam. Nhà sách Khai Trí, chính là biểu tượng của giới học sinh, sinh viên, trí thức Saigon của một thuở vàng son trước 1975.

    Nhà sách Khai Trí đã đóng góp về hoạt động văn hóa đáng kể như việc xuất bản TẬP SAN SỬ ĐỊA, với sự cộng tác của nhiều văn sĩ và chuyên gia của Đại học Saigon. Khai Trí còn phát hành một loạt tự điển Pháp Việt của Đào Đăng Vỹ; Anh Việt – Việt Anh của Nguyễn Văn Khôn. Bên cạnh đó, chủ nhân còn sưu tầm nhiều sách báo ngoại ngữ được dịch ra tiếng Việt của những soạn giả nổi tiếng như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Ngu Ý v.v…Nhà sách có khả năng đáp ứng nhu cầu sách giá trị cho giới sinh viên, học sinh và giới nhân sĩ trí thức, nhờ vào kinh nghiệm và khả năng đánh giá và phân loại sách của chủ nhân. Đến năm 1971, nhà sách Khai Trí phát hành tuần báo THIẾU NHI, do nhà văn Nhật Tiến là chủ biên. Nội dung của báo Thiếu Nhi rất lành mạnh và thật hữu ích cho trẻ em; với chủ trương – mở mang kiến thức và giáo dục cho lớp trẻ, là tương lai của nước Việt.

    Sách vỡ là phương tiện để phát triển tri thức con người qua văn hóa đọc sách. William Shakespeare, một đại văn hào người Anh đã để lại câu nói bất hủ cho đời: “Sách vỡ là sự tổng hợp kiến thức của con người. Sách là nguồn dinh dưởng của thế giới.” (Ah, the famous Shakespeare quote: “Books are summary of human knowledge. Nutrition books in the world.”

    Nhờ đọc sách, con người đã lĩnh hội được kho tàng kiến thức vô giá về mọi lãnh vực trong cuộc sống của nhân loại. Sách nghiễm nhiên đã trở thành người bạn thân thiết của con người. Văn hóa đọc sách đã trở thành một phần quan trọng trước thời đại văn minh không ngừng phát triển, để thăng tiến tri thức nhân bản từng người trong cộng đồng xã hội.

    Ngoài ra, sách vỡ rất cần thiết về mặt giáo dục con người và được học hỏi cả đời qua việc đọc sách. Triết gia Jiddu Krishnamuti: “Không có điểm dừng cho giáo dục. Không phải bạn đọc một cuốn sách, vượt qua một kỳ thi và kết thúc việc học hành. Suốt đời bạn, từ lúc sinh ra đến khi chết là một quá trình học hỏi.” (There is no end to education. It is not that you read a book, pass an examination, and finish with education. The whole of life, from the moment you are born to the moment you die, is a process of learning.)

    Đối với xã hội, văn hóa đọc sách là nhu cầu cần thiết của tri thức học hỏi từ sách vỡ, do các nhà sách, nhà xuất bản, báo chí v.v… đã tạo ra những sản phẩm cung cấp cho độc giả. Vậy, chủ nhân nhà sách Khai Trí, ông Nguyễn Hùng Trương xứng danh là một nhà văn hóa Việt Nam, qua sách vỡ ông đã giúp mở mang kiến thức cho dân Việt hơn hai thập kỷ.

    Trong nhà sách Khai Trí được chia thành ba khu sách riêng biệt:  sách dành cho thiếu nhi; sách người lớn và sách ngoại ngữ như: Pháp, Anh, Tàu…Ngoài việc kinh doanh sách, ông Trương còn là nhà xuất bản nhiều loại sách hữu ích như: học làm người, dạy nấu ăn, hay nghiên cứu về khoa học, văn hóa và dịch thuật…Đặc biệt, ông rất nặng lòng với thiếu nhi, là rường cột của nước nhà. Vì thế, ông đã xuất bản tuần báo THIẾU NHI, thiết kế rất tiên tiến, công phu và đẹp mắt. Tuần báo này được đánh giá cao vì tính giáo dục lành mạnh dành cho tuổi thơ. Vì tuổi thơ của ông cũng rất thiếu thốn, nên ông có mối cảm thông với học sinh nghèo. Vì thế, ông tặng sách miễn phí cho những học sinh không đủ điều kiện mua sách, ngõ hầu nâng đỡ và khuyến khích các em học tập. Ông cũng dành một khoảng không gian rộng lớn trong tiệm sách, dành cho thiếu nhi đến ngồi đọc sách thoải mái, tạo môi trường thuận tiện cho các em học hỏi những điều hữu ích trong sách vỡ.

              Tuần báo THIẾU NHI là món ăn tinh thần của các thế hệ măng non trước 1975. Đây là tâm huyết của ông Khai Trí cũng như các nhà văn, nhà báo biên soạn dành cho tuổi thơ. Ông Khai Trí luôn nhắc nhở rằng: “Tương lai nước Việt Nam sau này hay hay dở đều do sự giáo dục hiện tại của lứa tuổi thiếu nhi, mầm non của đất nước.” Đây cũng là câu tâm niệm luôn mở đầu cho các loại sách dành cho thiếu nhi mà ông làm chủ nhiệm. Ngoài ông Khai Trí, nhà văn Nhật Tiến là chủ biên, là linh hồn của tuần báo, cùng đồng hành để thực hiện món ăn tinh thần vô cùng cần thiết này cho thiếu nhi.

              Số đầu tiên của tuần báo Thiếu Nhi ra mắt ngày 15/8/1971, và phát hành liên tục hàng tuần cho đến 1975. Về hình thức, họa sĩ ViVi phát họa tranh vẽ màu nước và trang trí  rất đẹp mắt cho trang bìa trước về các đề tài khác nhau. Trang cuối, thường là những câu chuyện bằng tranh màu, được dịch ra tiếng Việt từ những cốt chuyện hay và lạ nước ngoài như: Walt Disney, Tin-Tin, Asterix Obelix. Ngoài ra, còn có  truyện hoạt họa Con Ngựa Của Cháu Mi- Su v.v… được trình bày rất công phu với kỷ thuật tân tiến thời bây giờ, đã thu hút giới độc giả tuổi măng non vô cùng mãnh liệt.

              Đọc qua những tuần báo Thiếu Nhi phát hành hàng tuần, không thể phủ nhận – đây là tờ báo mang lại sự bổ ích rất lớn cho trẻ em về mặt tri thức; chẳng khác nào thức ăn dành cho sự sống vậy. Trong báo gồm những bài vỡ nội dung lành mạnh, viết đúng chính tả, hình ảnh ý nghĩa và màu sắc vui tươi. Ngoài ra, mỗi số báo đều có kèm theo những đề tài như:

    • Gương danh nhân – giúp các em học hỏi về sự thành công của các danh nhân nổi tiếng trên thế giới.
    • Những câu danh ngôn – gồm những lời hay ý đẹp, thích hợp để áp dụng vào đời sống thường ngày.
    • Khoa học thường thức – học hỏi về những phát minh tân tiến trong lãnh vực khoa học.
    • Trang giải trí – gồm những câu đố vui, ảo thuật, trò chơi, hay những câu hỏi nát óc…
    • Em học vẽ – dùng những phương pháp giản dị giúp các em bắt chước vẽ dễ dàng.
    • Cuộc thi Sáng Tác Văn Chương – mục đích tạo cơ hội cho các em tập luyện viết văn.
    • Trang vườn hồng – dành cho các em gái thiếu nhi có đời sống vui tươi, hạnh phúc…
    • Truyện bằng tranh – với những cuộc phiêu lưu kỳ thú, hay những câu chuyện lý thú mang đến lợi ích cho tuổi thơ.

    Nội dung tuần báo Thiếu Nhi rất phong phú vì bao gồm nhiều bài viết giá trị đủ thể loại như: truyện bằng tranh, truyện thơ, truyện ngắn, truyện dài, kiến thức khoa học, đời sống v.v…được thực hiện bởi những nhà giáo, nhà văn đầy tâm huyết dành cho thiếu nhi. Chính nhờ vậy mà tuần báo Thiếu Nhi luôn là “món ăn tinh thần” không thể thiếu đối với THIẾU NHI VIỆT NAM của một thời. Tuần báo này đã được sự ủng hộ nhiệt thành từ giới nhi đồng cho tới bậc phụ huynh thời bấy giờ, nhờ nội dung của báo mang đến những hữu ích thiết thực và lành mạnh cho thiếu nhi.

    Loạt hình bìa của tuần báo Thiếu Nhi thật đẹp, thật trong sáng với những hình ảnh màu sắc sáng ngời… gợi trong ta một tiếc nuối khôn nguôi vì sự mất mát quá lớn lao cho tuổi thơ, khi nhà sách Khai Trí cũng như tuần báo Thiếu Nhi mãi mãi không còn hiện hữu.

    Trong những ngày cuối đời của ông Nguyễn Hùng Trương, người đã một đời mang tâm huyết cũng như tận tụy để sáng lập nhà sách Khai Trí, cũng phải ngậm ngùi chua xót…khi ngước lên tìm bảng thương hiệu NHÀ SÁCH KHAI TRÍ…Thật xa lạ và bàng hoàng! Cái tên thân thương “Khai Trí” giữa thủ đô Saigon đã không còn nữa, nó đã bị khai tử, nó đã thay tên đổi chủ! Hoài bão của ông đã hoàn toàn sụp đổ!

    Vào năm 1975, lịch sử đã sang trang và mang đến nhiều hệ lụy đáng tiếc. Cả kho tàng sách vỡ quý giá trong nhà sách Khai Trí đã bị tiêu hủy và “NHÀ SÁCH KHAI TRÍ” cũng bị xóa tên vĩnh viễn kể từ đó. Lý tưởng cao quý của chủ nhân nhà sách cũng đã trở thành đống tro tàn. Cùng chịu chung số phận bị hủy diệt với những sách vỡ, tuy vô tri vô giác, nhưng chứa đựng những bộ óc thông minh vượt bực của nhân loại.  Tuy nhiên, nhà sách Khai Trí là một “kho tàng tri thức và đạo đức,” luôn khắc sâu trong ký ức của người Việt văn minh và hiếu học, mãi không thể phai nhòa.

    Ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương cả một đời đam mê sách vỡ, góp công sức bảo tồn nền văn hóa Việt cho thế hệ tương lai; đặc biệt giáo dục giới thiếu nhi qua sách báo lành mạnh. Thương hiệu “NHÀ SÁCH KHAI TRÍ” sẽ đi vào lịch sử văn hóa Việt Nam, và công đức của ông bà Nguyễn Hùng Trương Khai Trí, nhà văn hóa Việt… chắc hẵn sẽ được truyền tụng đến mai sau.

    KIỀU MY, California, 2023

  • Âm nhạc,  Kiều My

    LÊ VĂN KHOA MỘT ĐỜI CHO ÂM NHẠC

    Vào buổi tối cuối hạ ngày 6 tháng 9 năm 2023, tại Robert Moore Theater – Orange Coast College, Costa Mesa city, California, Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ (Vietnamese American Philharmonic) đã tổ chức một buổi trình diễn âm nhạc rất tầm cỡ, mừng đại thọ 90 tuổi cho nhạc sĩ LÊ VĂN KHOA. Đặc biệt, buổi hòa nhạc cho sự kiện này cũng nhằm vinh danh người nhạc sĩ tài ba mang dòng máu Việt, hàm chứa một biểu tượng sáng ngời của Lê Văn Khoa:  “A Lifetime of Music ( Một Đời Cho Âm Nhạc) Để mừng ngày sinh nhật cho một người được mệnh danh “ A Lifetime of Music”, một món quà đầy ý nghĩa trao tặng ông không gì khác hơn ngoài ÂM NHẠC. Đó chính là món ăn tinh thần không thể thiếu suốt một đời của người nhạc sĩ đam mê âm nhạc Lê Văn Khoa.

    GS Trần Huy Bích, GS NS Lê Văn Khoa, Mạnh Bổng, Kiều My, Khánh Lan

    Qua 90 năm tuổi đời của Lê Văn Khoa, là thời gian dài ông làm việc không ngừng, hầu cống hiến cho đời những nét “đẹp” qua âm thanh huyền hoặc của âm nhạc, hay những nét “đẹp” của đường nét, màu sắc… qua nghệ thuật nhiếp ảnh mà ông đã thực hiện. Ông là một nghệ sĩ ôm ấp nhiều hoài bão cao xa và ông đeo đuổi đến khi đạt mục đích. Ông yêu nghệ thuật tới đỉnh điểm và hầu như trái tim, khối óc… tất cả ông đều dành cho nghệ thuật. Ông là một nhạc sĩ hy sinh và tận hiến cuộc đời cho âm nhạc. Lê Văn Khoa là người mang nặng “HỒN VIỆT và ƯỚC MƠ”! Ông luôn mơ ước đưa âm nhạc Việt Nam vào dòng nhạc thế giới, cho mọi người trên hành tinh này biết đến văn hóa Việt, nhạc Việt và dân Việt…đầy nhân bản. Chính vì nung nấu mơ ước đó, mà ông đã sáng tác những ca khúc và những tác phẩm âm nhạc không lời, trong đó có nhạc giao hưởng “Vietnam 1975 Symphony”. Việc làm của ông đã mang đến niềm hãnh diện, là ngày nay những tác phẩm nhạc Việt đồ sộ , lẫy lừng do ông sáng tác, được trình diễn nhiều nơi trên thế giới và được giảng dạy trong nhiều trường học ở Hoa Kỳ và Ukraine.

              Biệt tài của nhạc sĩ Lê Văn Khoa, là mang âm nhạc Việt Nam hòa hợp vào nhạc cổ điển Tây phương vốn phức tạp; do đó, đòi hỏi trình độ cao mới có thể thưởng thức được loại nhạc này.  Ấy thế mà khúc giao hưởng “Vietnam 1975 Symphony” đã được Lê Văn Khoa hoàn thành ở hải ngoại, là một tác phẩm lớn nổi tiếng về mặt này. Đặc sắc hơn nữa là: Vietnam 1975 Symphony được đánh giá như một sử ký Việt được viết bằng âm nhạc. Tác phẩm này được xem như một “di sản” giá trị của tác giả để lại cho hậu thế vậy. Ông là nhạc sĩ viết hòa âm xuất sắc cho nhiều nhạc phẩm được trình diễn nhiều năm qua; bên cạnh khả năng xuất sắc về nghệ thuật tạo hình mà ông đã sáng tác nhiều tác phẩm nhiếp ảnh nổi tiếng…Trong đó, có tác phẩm nhiếp ảnh The Day Is Gone được trưng bày ở bảo tàng viện Baltimore, Maryland Hoa Kỳ ( Baltimore Museum Of Art)

              Ngoài ra, nhạc của Lê Văn Khoa không chỉ để trình tấu, hợp xướng, đơn ca, hay độc tấu…mà còn là một hình thức đấu tranh, chống chế độ phi nhân, phi dân tộc ở Việt Nam qua những ca khúc như: Trường Ca Quê Hương Mến Yêu, Trên Biển Cả, Ca Ngợi Tự Do v.v…Ông là nhạc trưởng điều khiển các ban nhạc giao hưởng, trong đó có Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ, mà ông là Chairman. Lê Văn Khoa là người am tường về âm nhạc tới mức thượng thừa, nhưng thật khiêm hạ và đơn sơ khi phát biểu:

    “Âm nhạc là tấu khúc của vũ trụ, nhà soạn nhạc chỉ có khả năng nghe và ghi lại một vài điểm nhỏ của tấu khúc vĩ đại ấy để chia sẽ với đồng loại.”

                                                                                           GS NS Lê Văn Khoa

              Bước vào đêm trình tấu nhạc giao hưởng của Ban Hiếu Nhạc Việt Mỹ với dàn nhạc sĩ rất quy mô, đã sẵn sàng trên sân khấu để chào đón khán giả. Đêm ấy là đêm thật tưng bừng, đánh dấu 90 năm tuổi đời của một vị nhạc sĩ Việt Nam lỗi lạc Lê Văn Khoa. Ban Hiếu Nhạc Việt Mỹ đã tập luyện công phu qua nhiều ngày tháng để trình diễn cho một đêm nhạc giao hưởng khó quên này. Sự hiện diện đông đảo quan khách trong hí viện, đã nói lên lòng tri ân và ngưỡng mộ người nhạc sĩ tài ba, đạo đức với tấm lòng yêu nước trung kiên Lê Văn Khoa.

     Không khí trong hội trường thật tưng bừng và ấm áp tình người. Khán giả đang chờ đợi được thưởng thức dàn nhạc giao hưởng trình tấu những ca khúc được tuyển chọn từ kho tàng nhạc Việt; đặc biệt là những sáng tác của nhạc sĩ Lê Văn Khoa, qua những giọng ca điêu luyện chuyên nghiệp. Dàn nhạc giao hưởng ( Vietnamese American Symphony Orchestra) dưới sự điều khiển ngoạn mục của  nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng – Vice Chair, Executive của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ. Dàn nhạc rất hùng hậu, phối hợp những nhạc sĩ: piano, violin, viola, cello, flute, trumpet, Harp, String Bass, Clarinet v.v…Cùng những giọng ca thiên phú như: Teresa Mai, Ngọc Hà, Bích vân, Phạm Hà, Trịnh Hoàng Hải, Nguyễn Cao Nam Trân, Diệu Nga v.v…Đặc biệt, màn độc tấu dương cầm của thiên tài Nguyễn Vân Anh trong ca khúc Ta Tắm Ao Ta, Remembrance do Lê Văn Khoa soạn nhạc thật tuyệt vời, đã gây ngạc nhiên và thích thú cho người thưởng lãm.

    Ca Sĩ Ngọc Hà, phu nhân của NS GS Lê Văn Khoa

    Lắng nghe và thả hồn vào những ca khúc do nhạc sĩ Lê Văn Khoa sáng tác, được trình tấu bởi dàn nhạc giao hưởng trong đêm đó…đã nâng tâm hồn ta tới đỉnh điểm thật cao, cũng như chìm vào chiều sâu âm nhạc của một khả năng thiên phú Lê Văn Khoa – Tiếng nhạc như những lời ru dịu dàng của mẹ…là tình yêu dạt dào đối với nét đẹp của quê hương. Tiếng nhạc dìu dặt…lan tỏa vuốt ve… vỗ về…xoa dịu tâm hồn người. Bất chợt, tiếng nhạc như gào thét trong uất hận… cuồn cuộn tuôn tràn đớn đau…đưa ta chìm vào trong nỗi niềm nhung nhớ sâu xa.  Cũng như nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng đã có những nhận xét rất sâu sắc về tài biên soạn nhạc của Lê nhạc sĩ:

    Nguyễn Khánh Hồng, Conductor

    “Về nhạc giao hưởng, tôi muốn đề cập đến tác phẩm Symphony Vietnam 1975 của ông. Khi dàn nhạc tấu lên những nốt nhạc đầu tiên, tôi thấy một bầu trời Việt Nam tươi sáng mở ra, làm tôi rúng động tâm can và tự hỏi: Việt Nam có người viết nhạc hay như thế này à? Tôi liên tưởng đến tác phẩm “Pictures At An Exhibition” của Modest Moussorgsky. Tôi thấy nó có một gần gũi nào đó. Ngay từ những âm thanh đầu, tôi thấy hình ảnh của quê hương ta. Lê Văn Khoa viết lại lịch sử Việt Nam, đến giai đoạn 1975 và cả 10 năm sau, hình ảnh của những người tranh sống trên biển cả, cho đến khi họ đến được bến bờ và ca ngợi tự do. Hành âm này rất đặc biệt. Nhạc dạo cho ban hợp ca không phải là lối dẫn nhạc thông thường, mà bằng khúc độc tấu cello mà ông Khoa viết cho một cello concerto. Khúc nhạc đầy xúc cảm và người nhạc sĩ độc tấu cello cảm thông được, nên dốc hết tài nghệ thượng thặng để trút ra hết nỗi uất hận trong lòng, mở đường cho ban hợp ca bùng vỡ như sấm động và kết thúc với niềm vui bay bỗng trong bầu trời tự do. Nghe nhạc mà tôi cảm thấy rợn người, bao nhiêu da gà đều nổi lên hết, vì nhạc vẽ lên hình ảnh rất gần với sự thật.”

                                                         Nguyễn Khánh Hồng, Conductor

    Theo giáo sư Lyudmila Chichuk, một concert pianist xứ Ukraine, đã có cơ hội độc tấu dương cầm một cách say mê những tác phẩm của soạn nhạc gia Lê Văn Khoa, cô nói:

     Lyudmila Chichuk, Pianist

    “Tôi rất yêu thích nhạc của Lê Văn Khoa. Nhạc của ông thật trong sáng, đầy nhân bản, có nhiều chất lược để được khám phá. Tôi đưa ý nhạc lên trí và chuyển nó vào tim. Nó cho tôi cảm giác thư giãn. Tôi có trình diễn nhạc piano của ông ở nhiều quốc gia Âu Châu. Khán giả rất yêu quý nhạc của Lê Văn Khoa. Họ thường hỏi tôi về nhạc của ông sau mỗi buổi trình diễn, nhưng tôi không có nhạc để chia sẻ với họ. Tôi hy vọng nhạc của ông sẽ được trình diễn khắp thế giới.”

                                                               Lyudmila Chichuk, Pianist

    Lê Văn Khoa, người có tâm hồn yêu quê hương đất nước chân thành đáng cho chúng ta khâm phục. Dù sống xa quê hương, nhưng với  tâm hồn Việt, màu cờ vàng ba sọc đỏ và quốc thiều Việt Nam Cộng Hòa luôn là niềm tự hào của ông. Lê Văn Khoa đã hòa âm, phối khí bản quốc ca Việt Nam Cộng Hòa  cho ban nhạc phủ tổng thống Ukraine trình tấu rất xuất sắc vào năm 2010. Vì lòng trung thành với lý tưởng “tự do”,  và là một nghệ sĩ chân chính, Lê Văn Khoa đã khước từ những bỗng lộc, cũng như từ chối hợp tác với bạo quyền Cộng sản Việt Nam.

    Càng về đêm, ban nhạc giao hưởng đã tấu lên những cung nhạc tuyệt vời qua những tác phẩm của soạn nhạc gia Lê Văn Khoa. Khán giả đã chìm lắng trong âm thanh tha thiết tựa những giọt lệ chực chờ dâng tràn khóe mắt… Có lúc tâm hồn nhẹ nhàng chìm sâu trong tiếng nhạc chiều đắm say… Rồi hồn người lặng theo niềm lưu luyến cõi đời không muốn rời xa…  Tiếng dương cầm réo rắc đưa ta vào cảnh thiên nhiên của đời sống thanh bình thuở nào…Một nét nhạc sang trọng, trau chuốt  trổi lên, gọi cả nỗi nhớ nhung từ dĩ vãng kéo về làm ngây ngất lòng người. Bỗng âm thanh hân hoan dồn dập trổi lên thật lộng lẫy…như nghìn cánh chim tung bay vụt thoát lên trời cao xa tít…như để “Ca Ngợi Tự Do.” Bao cảm xúc dào dạt tuôn tràn… đã đưa ta vào thế giới âm nhạc giao hưởng huyền hoặc của lê Văn Khoa.

    Đối với nền âm nhạc thế giới, Áo quốc có nhạc sĩ nổi danh Johann  Strauss trong ca khúc luân vũ tuyệt vời Le Beau Danuble Bleu tức Dòng Sông Xanh. Đức quốc có nhạc sĩ trứ danh Ludwig Van Beethoven, mà ca khúc Fur Alise là một trong những bản nhạc nổi tiếng của ông. Nước Poland, có nhạc sĩ tài ba Frederic Chopin mà bản nhạc Tristesse là một trong những bản nhạc nổi tiếng thế giới. Việt Nam cũng hãnh diện với thế giới có nhạc sĩ lừng danh Lê Văn Khoa qua tác phẩm nhạc giao hưởng Vietnam 1975 Symphony, đã được trình diễn nhiều nơi trên thế giới.

    Nhân dịp này, nhạc sĩ Lê Văn Khoa cũng đã trình làng một ấn bản đặc biệt  LÊ VĂN KHOA: HỒN VIỆT và ƯỚC MƠ cùng độc giả. Một tác phẩm rất có giá trị và được in ấn thật công phu, đẹp mắt, dày 322 trang. Chứng tỏ rằng: Lê Văn Khoa là người đa tài, ông chẳng những là một nhạc sĩ lừng danh, mà còn là một nhiếp ảnh gia nổi tiếng, một  nhà văn đặc sắc và nhà giáo đạo đức…Lãnh vực nào ông cũng đạt đến mức xuất sắc và hoàn hảo.

     Qua thành quả 90 năm âm nhạc của Lê Văn Khoa, cho ta một nhận xét: ông chính là viên ngọc quý của nền âm nhạc Việt Nam mà mọi người đều ngưỡng mộ và kính phục. Ông cũng là niềm tự hào cho dân Việt đối với thế giới, vì nước Việt đã đào tạo được một thiên tài âm nhạc Lê Văn Khoa. Ông đã mang nhạc Việt  sánh vai cùng dòng nhạc thế giới và sẽ lan tỏa đi khắp nơi trên hành tinh này. Cầu chúc ông còn được nhiều sức khỏe, để tiếp tục cuộc hành trình đầy “ước mơ” của một “hồn Việt” mà ông luôn ấp ủ trong lòng.

    Kiều My, California, October 2023

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    12 sự thật đáng kinh ngạc về Albert Einstein có thể bạn chưa biết.

    Trong suốt cuộc đời mình, Albert Einstein đã làm thay đổi thế giới vật lý. Ông được công nhận vô số lần vì những đóng góp cho khoa học và đã được trao giải Nobel Vật lý năm 1921.

    Sinh ngày 14/3/1879, là một nhà khoa học gốc Đức – một trong những người quan trọng nhất của thế kỷ 20.

    Nhân kỷ niệm sinh nhật của ông, xin giới thiệu 12 sự thật đáng kinh ngạc có thể bạn chưa biết về Albert Einstein.

    1. Ông được đề nghị chức tổng thống của Israel và đã từ chối.

    Dù lời đề nghị hào phóng nhưng Einstein đã từ chối chức vụ tổng thống Israel vào năm 1952. Trong thư trả lời của mình, ông nói: “Tôi rất cảm động bởi lời đề nghị từ Nhà nước Israel của chúng ta, đồng thời cũng rất buồn và xấu hổ vì không thể nhận nó. Toàn bộ cuộc sống của tôi đều phải đối phó với những vấn đề khách quan, vì thế tôi thiếu cả năng khiếu tự nhiên và kinh nghiệm để giao tiếp đúng cách với mọi người và để thực hiện các nhiệm vụ chính thức.”

    2. Einstein qua đời vì ông nói không với phẫu thuật.

    Vào ngày 17/04/1955, Einstein bị phình động mạch chủ bụng dưới, dẫn đến xuất huyết nội. Sau khi được các bác sĩ yêu cầu phẫu thuật, ông nói: “Tôi muốn ra đi lúc tôi muốn. Thật vô vị khi kéo dài cuộc sống một cách gượng ép. Tôi đã hoàn thành đóng góp của mình, đã đến lúc tôi phải ra đi. Tôi sẽ ra đi thanh thản.”

    Và ông qua đời vào ngày hôm sau.

    3. Bộ não của ông đã bị đưa trái phép ra khỏi cơ thể và bị thất lạc trong vòng 50 năm.

    Thomas Stolz Harvey là bác sĩ tiến hành khám nghiệm tử thi của Einstein, nhưng không có bất cứ giấy tờ nào liên quan đến việc Harvey hoàn thành các thủ tục khám nghiệm. Việc khám nghiệm tử thi được thực hiện bất hợp pháp.

    Bảy giờ sau cái chết của Einstein, Harvey đã lấy cắp não của Einstein mặc dù mong muốn cuối cùng của Einstein là được hỏa táng cùng với bộ não còn nguyên vẹn của mình, nhưng không ai biết lý do tại sao.

    4. Trái với nhiều người vẫn tin, ông không bao giờ thi trượt môn Toán.

    Năm 1935, một tờ báo xuất bản một bài báo với tựa đề “Nhà toán học vĩ đại nhất thi trượt môn Toán” và yêu cầu bồi thường vẫn còn diễn ra cho đến hôm nay.

    Einstein chưa bao giờ thi trượt môn Toán. Ông đã nói trong một bài báo và cười lớn: “Tôi chưa bao giờ thi trượt môn Toán. Chưa đầy 15 tuổi, tôi đã thành thạo các phép tính vi phân và tích phân.”

    Einstein lúc trẻ thực sự thuộc loại học sinh đứng top đầu của lớp và luôn vượt xa sự mong đợi của giáo viên.

    5. Ông đã có một cô con gái với người vợ đầu tiên của mình, nhưng không có hồ sơ chính thức về những gì xảy ra với cô.

    Lieserl Einstein là đứa con đầu tiên của Albert và người vợ đầu tiên của ông, Mileva. Hồ sơ lục duy nhất của Liersel là cái tên.

    Cô được sinh ngoài giá thú vào tháng Giêng năm 1902 và không được nói đến nhiều. Có suy nghĩ cho rằng cô đã chết vào 09/1903 vì bệnh ban đỏ.

    Liersel được cho là đã được sinh ra với khuyết tật tâm thần và đã được đề cập lần cuối trong một lá thư Albert gửi cho Mileva, ngày 19/09/1903, trong đó hàm ý họ đang lên kế hoạch cho cô được nhận nuôi trước khi chết.

    6. Sau người vợ đầu tiên, ông đã kết hôn với em họ của mình là Elsa.

    Albert sau cùng kết hôn với Elsa nhưng họ thực sự bắt đầu hẹn hò khi ông vẫn còn kết hôn với người vợ đầu tiên là Mileva.

    Cuộc ly hôn của Einstein và Mileva không hoàn thành mãi cho đến năm 1919 – 7 năm sau khi bắt đầu hẹn hò với cô em họ.

    7. Ông không giành được giải thưởng Nobel cho lý thuyết nổi tiếng nhất của mình.

    Thuyết tương đối là thuyết nổi tiếng nhất của Einstein lại không phải là thứ khiến ông giành được giải Nobel. Einstein không chỉ nổi tiếng với phương trình về sự tương đương khối lượng-năng lượng E = mc2, mà ông còn nổi tiếng về lĩnh vực vật lý lý thuyết, đặc biệt là khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện, khai sinh ra lý thuyết lượng tử, trụ cột của ngành vật lý học hiện đại và được trao Giải Nobel Vật lý năm 1921 cho các phát minh này.

    8. Tất cả tiền thưởng đều gửi cho người vợ đầu tiên như là một thủ tục giải quyết ly hôn.

    Là một phần của việc giải quyết ly hôn, vợ chồng ông đồng ý sẽ chuyển tiền từ giải thưởng mà ông dự đoán mình sẽ giành chiến thắng vào tài khoản tiết kiệm của con trai họ, Hans và Eduard.

    Số tiền này cuối cùng đã được sử dụng để mua ba ngôi nhà ở Zurich – một để Mileva sống và hai cái khác là để đầu tư.

    9. Đôi mắt của ông vẫn còn trong một két an toàn ở thành phố New York.

    Bác sĩ khám nghiệm tử thi không chỉ lấy cắp bất hợp pháp não của Einstein mà còn lấy đi cả đôi mắt của ông. Ông ta đã đưa đôi mắt đến bác sĩ mắt của Einstein, Henry Abrams. Chúng được lưu giữ trong một két an toàn ở thành phố New York cho đến ngày nay.

    10. Ông là nguồn cảm hứng cho nhân vật Yoda.

    Stuart Freeborn, nghệ sĩ hóa trang cho bộ phim đã tạo ra nhân vật Yoda theo mô hình khuôn mặt Jedi nhưng những nếp nhăn cho đến đôi mắt là lấy cảm hứng từ Einstein để biểu thị sự khôn ngoan và thông minh.

    11. Một trong những câu nói nổi tiếng nhất của Einstein đã bị hiểu sai hoàn toàn.

    “Chúa không chơi trò xúc xắc với vũ trụ” là một trong những câu nói nổi tiếng nhất và hơi khó hiểu của Einstein.

    Sử dụng Đức Chúa Trời khiến mọi người cho rằng ông tín ngưỡng, nhưng không phải vậy. Ông đã sử dụng Chúa Trời như một phép ẩn dụ. Trong một lá thư viết vào năm 1954, ông nói:

    “Tôi không tin vào cá nhân Thiên Chúa và tôi chưa bao giờ phủ nhận điều này, ngược lại còn thể hiện rất rõ ràng. Nếu có gì đó trong con người tôi có thể được gọi là tín ngưỡng thì đó chính là sự ngưỡng mộ vô bờ bến đối với cấu trúc của thế giới cho đến nay khi khoa học của chúng ta có thể tiết lộ nó.

    Và khi Einstein nói “không chơi xúc xắc” là ông đang đề cập đến bản chất khó lường của các hạt hạ nguyên tử trong vật lý lượng tử.

    12. Niềm đam mê chính của Einstein không phải là khoa học.

    Bất kể tài năng và những thành tựu khác, âm nhạc vẫn là thứ khiến cho Einstein hạnh phúc nhất. Ông không bao giờ đi du lịch mà không mang theo đàn vĩ cầm và ông cũng đã từng nói: “Cuộc sống không có âm nhạc đối với tôi không thể nào tưởng tượng được. Tôi sống với những giấc mơ của tôi trong âm nhạc. Tôi nhìn cuộc sống trong những giới hạn của âm nhạc. Những niềm vui lớn nhất trong đời không ngoài âm nhạc.”

    Nguồn : businessinsider

    Người dịch : Ngọc Hà

    DÒNG SỬ VONG QUỐC – Hai nước Champa và Đại Việt.

    Champa và Đại Việt là hai nước láng giềng. Đại Việt lúc nào cũng lăm le chiếm lấy Champa bằng nhiều cách, kể cả gả công chúa cho vua Champa đổi đất. Ranh giới giữa Champa và Đại Việt bị rút ngắn dần về phía nam rồi Champa mất Nước và Dân Tộc Diệt Vong. Theo từng triều đại có mỗi cách lấn chiếm khác nhau như sau:

    I – Champa mất đất và diệt vong.Trước năm 1069 ranh giới là dãy Hoành Sơn, là ranh giới Quảng Bình – Hà Tĩnh ngày nay. Năm 1069 vua Lý Thánh Tông của Đại Việt đánh bại vua Chăm – Chế Củ. Vậy, Đại Việt mở rộng lãnh thổ đến Quảng Trị. Đường ranh giới được dời về sông Thạch Hãn.Năm 1306 vua Trần gả Huyền Trân Công chúa cho vua Chăm Chế Mân, đổi lại vua Chăm giao cho Đại Việt vùng đất từ phía nam sông “Thạch Hãn đến đèo Hải Vân”. Biên giới được dời tới đèo Hải Vân.

    Năm 1402 Hồ Quý Ly tấn công Champa và lấy thêm từ đèo Hải Vân đến đèo Bình Đê, ranh giới giữa Bình Định và Quảng Ngãi. Khi ấy, biên giới tiến rất gần đến kinh đô “Đồ Bàn” của Vương Quốc Champa, thuộc tỉnh Bình Định.Năm 1471 vua Lê Thánh Tông đánh chiếm thủ đô Đồ Bàn, mở rộng lãnh thổ đến đèo Cù Mông ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên.

    Năm 1597 chúa Nguyễn Hoàng cho đánh chiếm phía nam đèo Cù Mông, cho đến 1611 chúa Nguyễn đã mở rộng lãnh thổ đến đèo Cả, ranh giới giữa Phú Yên và Khánh Hòa.Năm 1653 chúa Nguyễn Phúc Chu đánh vào Champa là mở rộng bờ cõi Đại Việt đến hết Khánh Hòa. Đến năm 1692 chúa Nguyễn cho Nguyễn Hữu Cảnh lấy đến Bình Thuận. Vậy, chiếm trọn vương quốc Champa.

    Vậy, nhìn theo dòng lịch sử Vương Quốc Champa cho thấy rõ chính sự “Hòa Thuận” giữa hai NƯỚC láng giềng chỉ là TẠM THỜI kết thân. Nghĩa là Nước mạnh luôn luôn truyền đời ấp ủ tham vọng xâm lấn bờ cõi Nước yếu hơn. Từ đó, có những cuộc sáp nhập nhỏ biến một Nước mở rộng dần và một Nước teo dần. Rất giống như Việt Nam và Trung Quốc từ khi Hồ chí Minh rước đảng Cộng Sản về và dựa lưng Trung Quốc để xây dựng “đảng Cộng Sản Việt Nam”, và hiện nay Việt Nam bị biên giới lùi vào phía nam, mất Ải Nam Quan, mất Thác Bản Giốc… biển đảo thu hẹp bỡi Trung Quốc lấn chiếm.

    “Trung Quốc – Việt Nam” và “Việt Nam – Champa” đều giống nhau. Cũng là hai nước láng giềng đánh nhau từ thế hệ này đến thế hệ sau. Kết quả Champa đã bị khai tử bởi Việt Nam (Đại Việt) và dân tộc Champa (Chăm) bị diệt gần hết. Việt Nam chỉ là thời gian sẽ bị Trung Quốc sáp nhập ĐỒNG HÓA thành một nước Trung Quốc và Dân Tộc Việt thành một Dân Sắc Tộc của Trung Quốc. Trước mắt thấy như Tây Tạng, Mông Cổ…

    Hiện nay, dân số của người Chăm tại Ninh Thuận – Bình Thuận còn chỉ khoảng 98.000 người; Số còn lại họ lưu lạc khắp thế giới khoảng 300.000 người. Như vậy, những lần thất thủ phải mất đất thì kèm theo đó là bị tiêu diệt. Tại sao, Dân Tộc Chăm là một Quốc Gia trải rộng cả đất Miền Trung, nhưng sao họ biến đâu mất ? Đấy là cái khủng khiếp của Nước Yếu cúi đầu “Hòa Thuận” với Nước Mạnh thì phải gánh lấy hậu quả Mất Đất và Diệt Vong.

    II – Suy luận theo dòng sử.Nhìn lại lịch sử các nước láng giềng Trung Quốc, thì cũng đã có những Quốc Gia bị Trung Quốc khai tử. Dân Tộc của họ đã bị tiêu diệt và phải lưu lạc khắp nơi mà giờ cũng chỉ làm thân phận Dân Tộc Thiểu Số.

    Như, Vương Quốc Đại Lý nằm phía Tây Bắc Đại Việt đã bị nhà Nguyên tiêu diệt và họ mất nước từ đó. Bây giờ tộc người Thái phía bắc Việt Nam chính là con cháu dân Đại Lý khi xưa. Họ phải lưu lạc khắp Đông Nam Á, họ sống như một “Dân Tộc Thiểu Số” và quên hẳn cội nguồn của họ. Từ một quốc gia rộng lớn gồm có tỉnh Vân Nam – Trung Quốc, một phần lãnh thổ tây bắc Việt Nam, một phần bắc Myanmar, phần bắc Lào, nhưng nay là đất của người Hán. Đó, người Thái và người Chăm số phận chẳng khác nhau mấy.

    Nếu Việt Nam sáp nhập thành một tỉnh của Trung Quốc. Vậy, dân Việt sẽ có lợi gì không? Và sẽ được hưởng những quyền lợi như người Trung Quốc Không? Trả lời là không. Rất khác với nước Mỹ, nghĩa là các tiểu bang trong Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ đứng chung trong một nhà nước liên bang, hoàn toàn khác với trường hợp Việt Nam bị sáp nhập Đồng Hóa bởi Trung Quốc, tại sao? Đọc tiếp bên dưới.

    Hãy nhìn vào bản chất của nhà nước liên bang trong một “Thể Chế Tự Do Dân Chủ” tại Mỹ. Trong nhà nước liên bang thì vai trò các bang là đồng làm chủ nhà nước liên bang. Nhà nước liên bang tựa công ty cổ phần, chính quyền bang tựa các cổ đông. Trong cơ cấu tổ chức này, nó luôn bảo đảm sự công bằng giữa các BANG. Bất cứ người dân của bang nào cũng đều có quyền ứng cử tổng thống. Và bang nào cũng có hai thượng nghị sĩ đại diện cho chính quyền bang ấy, bang nào cũng có nhiều dân biểu đại diện cho nhân dân bang đó trong quốc hội liên bang.

    Chính vì, ai là bang thành viên Hợp Chúng Quốc thì được làm chủ một phần chính quyền liên bang, nên Puerto Rico mới muốn trở thành bang thứ 51 của Hoa Kỳ. Làm một bang của Hoa Kỳ nghĩa là có tiếng nói trong chính quyền liên bang, là một trong các ông chủ của chính quyền liên bang thì ai mà không thích? Như vậy làm một tiểu bang của Mỹ không hề vong quốc, và cũng không hề bị tiêu diệt nòi giống, mà là được đứng chung cùng bang khác để hưởng sự thịnh vượng chung của một nước HOA KỲ giàu mạnh, hùng manh…

    Còn nhà nước Cộng Sản Độc Tài phương đông, không bao giờ chịu đứng chung một cách “Dân Chủ” với nước khác. Đặc biệt, nước lớn bao giờ cũng tự phong cho mình là chủ của các nước nhỏ. Hãy nhớ thời Tổ Tiên ta, khi Trung Hoa chưa chiếm được Đại Việt, các hoàng đế Trung Hoa đã chỉ định Đại Việt phải sang triều cống lễ vật. Tức là trong mắt của các hoàng đế Trung Hoa, họ xem Đại Việt là thứ dân mọi rợ, cho nên họ gọi Dân Tộc Việt là “Tộc Man Di”. Nếu Trung Hoa chiếm Việt Nam thì số phận dân Việt sẽ bị diệt vong như dân tộc Chăm đã từng chịu dưới bàn tay Đại Việt.

    Cũng như 800 năm trước, Trung Hoa đã thâu tóm Nước Đại Lý. Hôm nay, đất nước Đại Lý cũ tức “tỉnh Vân Nam” ngày nay, hiện là đất người Hán; Còn người chủ thực sự của Đại Lý bị tiêu diệt và phải lưu lạc khắp nơi để lẩn trốn sự thanh trừng sắc tộc. Đó là bài học lịch sử. Nếu Việt Nam rơi vào Trung Quốc cai trị thì nòi giống Việt cũng sẽ bị “Diệt Vong” bởi bàn tay Tàu Cộng.

    III – Đọc, thấy, nghe, nhớ, nghĩ.Trước mắt, nếu “Con Người nhận thức sai lầm về mối Nguy thì sẽ mất Mạng”, nếu “Dân Tộc nhận thức không đúng mối Nguy thì Dân Tộc đó sẽ Diệt Vong” và Nước bị xóa sổ. Việt Nam hiện nay trong thời đại văn minh, không bị tiêu diệt như Champa mà diệt tinh vi bằng “Chất Độc” tẩm vào thực phẩm… Người Việt sẽ chết bệnh tật và người Tàu Cộng sẽ tràn khắp Nước dựng nhà sinh sống. Mối họa vô lường đang đứng trước mắt.

    Ngày xưa Champa nhu nhược nhượng đất cho Đại Việt nhiều lần và cuối cùng bị diệt vong; Ngày nay Việt Nam cũng đang nhượng đất cho Trung Cộng và kết tình Răng Môi. Như vậy, Việt Nam cũng sẽ đi trên con đường Vong Quốc – Diệt Vong chỉ là vấn đề thời gian. Than ôi ! ./.Tác giả: Vivi

  • Văn Thơ,  Vương Trùng Dương

    Tình Khúc Mùa Thu Với Paris

    Mùa thu hình như là nguồn cảm hứng với thi nhân, nhạc sĩ… nên từ xưa đến nay có nhiều sáng tác qua thi ca và âm nhạc với nhiều bài thơ và ca khúc được ưa thích.

    Nhà văn Dương Viết Điền (bạn cùng khóa với tôi) viết về Mùa Thu Qua Thi Ca Việt Nam, mở đầu với bài thơ nổi tiếng Chansons D’automne của thi sĩ Pháp Paul Verlaine đều cảm thấy lòng mình bồi hồi và xúc động. Bài thơ này được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc Thu Ca Điệu Ru Đơn.

    Nhà văn Việt Hải & Phạm Chung trong bài viết Mùa Thu Trong Tình Ca Việt Nam, đề cập đến nhiều ca khúc trong những thập niên qua liên quan đế chủ đề… Từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam, có hàng trăm ca khúc trữ tình (sáng tác và phổ thơ) liên quan đến mùa thu.

    Với tôi, trong bài viết về nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, gọi ông là nhạc sĩ của mùa thu (lời Từ Linh), điển hình qua vài ca khúc Ánh Trăng Mùa Thu (1947), Thu Quyến Rũ (1950), Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay (1952), Lá Đổ Muôn Chiều (1954), Tà Áo Xanh (Dang Dở 1954)… Tập nhạc Tình Khúc Mùa Thu (Đoàn Chuẩn – Từ Linh) gồm 18 ca khúc do trưởng nam của ông là Đoàn Chính, ấn hành ở Canada năm 1990.

    Nhân chuyến thăm trời Tây và Paris của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian vào mùa thu năm 2023, tôi viết về những ca khúc tiêu biểu với thu và Paris, và “Gửi Người Em Gái” thấp thoáng trong ca khúc trữ tình của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước trong chiều nhạc thính phòng vào  thu ở Paris.

    Nhạc sĩ Phạm Duy với những ca khúc phổ thơ về mùa thu như: Mùa Thu Chết (phổ thơ L’Adieu của thi sĩ Pháp Apolinaire theo bản dịch tiếng Việt của nhà thơ Bùi Giáng là Lời Vĩnh Biệt). Ca khúc Mùa Thu Paris (phổ thơ Cung Trầm Tưởng) “Mùa thu Paris, trời buốt ra đi… Chờ mong em chín đỏ trái sầu”. Ca khúc Tiễn Em (thơ Chưa Bao Giờ Buồn Thế của Cung Trầm Tưởng vào mùa đông Paris).

    Nhạc sĩ Lam Phương với những cuộc tình trở thành tình sử bi thương. Vào thập niên 1980s, sau khi chia tay nghệ sỹ Túy Hồng, ông dọn sang Paris để sống và gọi là “tị nạn ái tình”. Làm quản lý nhà hàng Như Ánh của cô em út. Về đêm, tổ chức ca nhạc cho vơi bớt nỗi buồn. Với cuộc tình định mệnh người đẹp Cẩm Hường, đang có chồng. Khi cuộc tình chớm nở ông đã sáng tác vài ca khúc Mùa Thu Yêu Đương “Mùa thu ơi Paris dệt mộng tình si… Đưa anh vượt khỏi cơn đau ngày nào”, ca khúc Mùa Thu Vào Mộng… Thế rồi sau mười năm chung sống, ông viết ca khúc Tan Vỡ! Cuối cùng với nhạc phẩm Thu Đến Bao Giờ với nỗi buồn chia ly trong mùa thu trước khi định cư ở Mỹ.

    Trước đây, tôi đã viết Nguyên Sa, Lời Thơ Ý Nhạc, là nhà thơ tình mang hình ảnh Paris về Sài Gòn giữa thập niên 1950s.

    Bài thơ Mai Tôi Đi với nỗi buồn xa xăm:

    “Mai tôi đi dù hôm nay đang vào thu

    Giòng sông Seine đang mặc áo sương mù

    Đang nhìn tôi mà khoe nước biếc

    Khoe lá vàng lộng lẫy lối đi xưa”.

    Bài thơ nầy Song Ngọc phổ thành ca khúc Tiễn Biệt khi còn học sinh vào năm 1961.

    Năm 1998, nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc cùng tựa bài thơ với các câu cuối:

    “Mai tôi đi, chắc rằng Paris nhớ

    Nhưng dù sao, nhớ nhung rồi sẽ mờ

    Muôn vạn ưu sầu rồi cũng sẽ xa nhau

    Mình cũng sẽ xa nhau”.

    Ca khúc Em Mùa Thu Của Tôi  của nhạc sĩ Vũ Hữu Toàn (thơ Phạm Ngọc):

    “Paris buồn giữa trời thu

    Cơn mưa ùa theo hối hả

    Tiếng đàn pha cùng tiếng gió

    Thở dài thành những cơn mưa”

    Nhân chuyến đi của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian khi bước vào mùa thu ở Mỹ, sau những tháng nắng nóng ở California, thời tiết đã thay đổi, viết những dòng nầy để gợi nhớ lại bảy thập niên về trước ở thế kỷ XX khi những chàng trai trẻ du học ở Pháp, với khung cảnh hữu tình đó đã sáng tác các bài thơ được phổ thành ca khúc sau nầy đã hòa nhập vào trái tim của người thưởng ngoạn từ trong nước đến hải ngoại.

    Hy vọng chiều nhạc thính phòng ở Paris níu lại thời gian năm xưa qua bao biến thiên của cuộc đời.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, September 14, 2023

  • Văn Thơ,  Vương Trùng Dương

    Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm & Ca Khúc Gọi Người Yêu Dấu

    “Thương yêu dáng vai gầy thanh thanh

    … Thương em mong manh như một cành lan”

    (Vũ Đức Nghiêm)

    “Thương em đắm linh hồn mong manh.

    … Như sương pha lê trên một cành lan”.

    (Hoàng Anh Tuấn)

    “Em gầy như liễu trong thơ cổ

    Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường”

    (Nguyên Sa)

    Về tiểu sử nhạc sĩ Vũ Đức Nghiem đã được đề cập qua nhiều bài viết, nay chỉ tóm lược quãng thời gian liên quan ngắn gọn. Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sinh năm 1930 tại làng Hoành Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, trong gia đình theo đạo Tin Lành. Nhập học lớp Đệ Thất vào năm 1944 lúc 14 tuổi tại trường Bưởi (Trường Bưởi – trường Bảo Hộ (Lycée du Protectorat), được thành lập vào năm 1908. Tới ngày 9/3/1945, trường bị giải thể sau khi Nhật đảo chánh Pháp. Trường Bảo Hộ đổi tên thành trường Chu Văn An).

    Năm 1951, sau khi đậu Tú Tài I và đang học lớp Đệ Nhất C, động viên vào Khóa 1 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định. Tháng 6/1952, ra trường, cấp bậc Thiếu Úy, phục vụ tại đồn Trung Lăng, thuộc huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Kiến An. Tháng 7/1954, lập gia đình với bà Dương Thị Năng, con gái út của Mục Sư Dương Tự Ấp. Ông bà có 7 người con.

    Sau khi đất nước bị chia đôi năm 1954, gia đình di cư vào Nam, ông phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ban đầu được bổ nhiệm đồn trú tại đơn vị thuộc đảo Phú Quốc. Tháng 3/1956, Vũ Đức Nghiêm được thuyên chuyển về Trung Đoàn 7, thuộc Sư Đoàn 3 Dã Chiến đóng tại Sông Mao, Bình Thuận. Ông sáng tác Sư Đoàn 3 Dã Chiến Hành Khúc (sau nầy là Sư Đoàn 5 Hành Khúc).

    Năm 1957, Trường Sinh Ngữ Quân Đội thành lập, ông là một trong những giảng viên Anh Ngữ đầu tiên tại trường này. Năm 1958, ông sang Hoa Kỳ, phục vụ tại trung tâm huấn luyện Fort Benning, tiểu bang Georgia. Nghiên cứu trước các tài liệu giảng dạy cho huấn luyện viên Hoa Kỳ cho các khóa tu nghiệp sĩ quan Quân Đội VNCH.

    Sau khi về nước, ông tiếp tục công việc giảng dạy tại Trường Sinh Ngữ Quân Đội. Tháng 1/1963, thăng cấp Đại Úy, phục vụ tại Sư Đoàn 22 Bộ Binh, ông viết Sư Đoàn 22 Hành Khúc, rồi Tòa Đại Biểu Chính Phủ tại Ban Mê Thuột, ở đây gần Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB, ông viết Sư Đoàn 23 Hành Khúc.  

    Giữa năm 1966, Đại Úy Vũ Đức Nghiêm được giao chức vụ Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn, tỉnh Tuyên Đức, và sau đó giữ nhiệm vụ Trưởng Phòng Hành Quân, tiểu khu Tuyên Đức.

    Năm 1969, Thiếu Tá Vũ Đức Nghiêm làm phụ tá Quân Trấn Trưởng, thị xã Đà Lạt.

    Trong thời gian phục vụ quân ngũ, ông tiếp tục học, tốt nghiệp Cử Nhân Văn Khoa, Viện Đại Học Đà Lạt.

    Cấp bậc cuối cùng của ông là Trung Tá, Huấn Luyện Viên Tiếp Vận, Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Đà Lạt, năm 1971 chuyển về Long Bình, Biên Hòa.

    Sau tháng Tư năm 1975, ông bị tù tại Long Giao, Long Khánh, Suối Máu, Tân Hiệp, tháng 6/1976 bị đưa ra trại tù ở Hoàng Liên Sơn rồi Yên Bái, Lào Cai… Tháng 10/1978, chuyển về trại giam Nghệ Tĩnh (lúc nầy vợ ông mới nhận được tin để đi thăm nuôi). Tháng 1/1981 chuyển về trại tù Hàm Tân. Tháng 4/1982 chuyển về trại tù Xuân Phước (Phú Khánh – Phú Yên & Khánh Hòa) cho đến tháng 9/1988, được trả tự do.

    Trong thời gian ở trong lao tù, ông ở chung với nhiều nhạc sĩ, nhà thơ, ông đã sáng tác các rất nhiều ca khúc, điển hình như Tâm Tư Chiều, Muôn Trùng Xa Em Về, Như Mây Bay Về, Tâm Khúc Đêm Sao, Cờ Vàng Tung Bay, Giả Sử Mai Ta Về (thơ Nguyễn Xuân Thiệp), Xin Cho Tôi Hy Vọng (lời Thục Vũ), Mưa Buồn Long Giao (thơ Hà Thượng Nhân)… và Đoá Hồng Cho Ngươì Yêu Dấu (ca khúc nầy để tôn vinh người bạn đời của ông, sau nầy thực hiện thành CD cùng tên).

    Riêng ca khúc Trong Ngục Tù Bao La của ông khi đó có người bạn tù được thả ra, ông gởi về gia đình, để tránh rắc rối khi kiểm soát nên ông để là nhạc Liên Xô. Thế rồi ca khúc nầy được thu âm và phát hành vào năm 1977 vì họ đã hiểu lầm rằng Trong Ngục Tù Bao La là một ca khúc của Liên Xô.

    Trong đợt H.O 4, gia đình ông định cư tại Hoa Kỳ diện H.O 4, tại San Jose, tháng 11/1990. Ông tiếp tục sinh hoạt trong cộng đồng người Việt, nhiều Hội Thánh Việt Nam đã tổ chức các chương trình ca nhạc Vũ Đức Nghiêm để giới thiệu những Tôn Vinh Ca của ông. Năm 2015, Liên Hữu Tin Lành Việt Nam Thế Giới đã tổ chức chương trình nhạc Vũ Đức Nghiêm và trao bằng ghi nhận cống hiến của nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm cho nền thánh nhạc Việt Nam.

    Bà Dương Thị Năng là mẫu người vợ, người mẹ hiền thục, bao dung, cao đẹp  như bao người phụ nữ Việt Nam thời xa xưa. Với tấm lòng độ lượng bao dung của bà đã giữ được tình yêu thủy chung trọn đời, và sự hy sinh, lo cho con cái khi người chồng trong lao tù Cộng Sản. Chuyện Người Vợ Tù Cải Tạo của bà:

    “Ngày chồng tôi đi tù, anh đang ở Sài Gòn, gia đình ở Đà Lạt nhận tin anh sẽ đi trình diện ngày 15 tháng 6 và nhắn tôi về Sài Gòn, nhưng thư đi chậm, tôi về tới nơi thi đã quá muộn, anh đã đi trước một ngày… Cuối năm 1978, tôi được thư anh cho biết đã chuyển về trại tù Nghệ Tĩnh số 6 và trại cho tù được thăm gặp gia đình

    … Tôi nhận ra chồng tôi, xưa anh uy nghi mạnh mẽ bao nhiêu thì giờ đây xơ xác, tiều tụy bấy nhiêu. Ý nghĩ đó làm lòng tôi quặn thắt; anh đội chiếc nón lá rách rưới, chỉ còn chiếc chóp nhỏ như nón người lính thú đời xưa; đôi chân mốc meo khẳng khiu lê trên đôi dép râu buộc chằng chịt bằng giây thép. Nước da anh nhợt nhạt như người sốt rét kinh niên, đôi mắt lờ đờ, tròng trắng đã ngả vàng, không còn vẻ tinh anh như trước. Anh bước đi, lao đao như muốn ngã, tôi muốn chạy lại đỡ anh, nhưng tên V.C đã ngăn tôi lại. Tên cán bộ phụ trách thăm nuôi gọi từng tên người tù và thân nhân ngồi ở hai bên một chiếc bàn lớn, và hắn ngồi chính giữa. Tôi cho chồng tôi biết tin tức gia đình, anh lắng nghe, giọng xúc động, hỏi thăm tin tức cha mẹ, anh vui mừng khi biết cha mẹ ở California vẫn bình yên và hằng cầu nguyện cho anh sớm được trở về đoàn tụ.

    Nhìn mắt anh hướng về phiá tên V.C với cái nhìn căm hờn, tôi sợ hãi, xin anh nhịn nhục “nín thở qua sông’’ để còn có ngày về gặp lại vợ con…

    Hồi đó, phong trào vượt biên làm xôn xao Sài Gòn. Tôi suy nghĩ về tương lai các con. Phải đi tìm đường song cho các con vì nếu ở lại thì sợ có ngày con trai tôi đến tuổi phải đi nghĩa vụ rồi sẽ phải làm bia đỡ đạn cho giặc Cộng ở Campuchia thì khi gặp lại chồng tôi, tôi biết ăn nói làm sao?… Cho nên, tôi đã bán tất cả nữ trang và các đồ vàng bạc, đá quý, đã dành dụm được cho các con vượt biên… Lần thú nhất, con gái thứ tư, Giao Duyên, tới Malaysia bình yên, được ông bà nội bảo lãnh về Pasadena, California.

    Lần sau, ba đứa lớn, Quỳnh, Giao, Đức Dũng bị bắt giam mấy tháng, riêng Dũng bị giam hơn 2 năm. Trong thời gian ấy, tôi phải chuẩn bị nhiều bao bị khác nhau để đi thăm chồng và ba con. Tôi như lên cơn sốt vượt biên, có chút tiền để dành nào cũng gom góp cho con đi tìm tự do; sau hàng chục lần thất bại, nhưng không nản lòng. Rút cục, Dũng cũng đã ra tù, vượt biên qua ngả đường bộ đến Thái Lan và tới Mỹ năm 1983, riêng vợ chồng Quỳnh Giao và Dũng Tuấn, con trai út mãi tháng 9/88 mới đến Mỹ, đúng vào thời gian chồng tôi được trả tự do!”.

    (Trong bài viết, bà cho biết có 7 người con, đứa con lớn nhất 19 tuổi và con út mới 8 tuổi. Trong Cáo Phó có 6 người con: Vũ Ngọc Quỳnh, Vũ Ngọc Giao, Vũ Đức Dũng, Vũ Giao Duyên, Vũ Duyên Thơ, Vũ Thư Trinh, Vũ Đức Dũng Tuấn để biết rõ những người con khi ông ở trong lao tù, bà hy sinh tất cả để lo cho con vượt biên, ở lại đợi chồng).

    Năm 2003, nhật báo Viễn Đông tổ chức cuộc thi Chuyện Người Vợ Tù Cải Tạo, với 150 tác giả dự thi gởi bài viết. Tôi ở trong Ban Giám Khảo, vợ tôi cũng ở trong hoàn cảnh đó, thế mà khi đọc mỗi bài viết, mỗi câu chuyện qua bi thương, nghiệt ngã, có khi mắt nhòa đi trên từng trang giấy. Sau đó thực hiện 3 tuyển tập, tôi có viết giới thiệu còn lưu trên trang web Việt Báo.

    Ca khúc Muôn Trùng Xa Em Về nói lên nỗi đau khi người vợ lặn lội thăm nuôi chồng trong trại tù, chỉ trong phút giây ngắn ngủi rồi thẩn thờ chia tay trong với chiếc bóng lẽ loi trên đường về, với tôi là ngục tù ca hay nhất trong của các nhạc sĩ khi sáng tác ở trong lao tù. Với những người tù cùng rơi vào hoàn cảnh bi thương như ông, cảm ơn tác giả thay cho “bạn tù” vì âm nhạc dễ truyền đạt cho các thế hệ con cháu.

    Trải qua bao nhiêu sóng gió, nghịch cảnh trong cuộc biến thiên của thời thế. Gia đình nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sống hạnh phúc bên nhau nơi xứ người cho đến khi ông ra người thiên cổ.

    *

    Trong dòng nhạc trữ tình, lãng mạn từ thập niên 1950s ở miền Nam VN đến nay đã bảy thập niên, nhiều ca khúc vẻ lên hình ảnh người tình còn in sâu trong lòng mọi người thưởng ngoạn. Những ca khúc đó, với nam giới, nhất là sinh viên, học sinh… với thuở ban đầu còn ngại ngùng không nói lên lời nên mượn lời ca để chia sẻ.

    Điển hình như vài tình khúc của các nhạc sĩ: Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước “Ngọc Lan giòng suối tơ vương mắt thu hồ dịu ánh vàng. Ngọc Lan nhành liễu nghiêng nghiêng tà mấy cánh phong nắng thơm ngoài song… Bông hoa đời ngàn xưa tới nay. Rung nhạc đó đây cho đời ngất ngây”. Người Em Sầu Mộng của Y Vân, thơ Lưu Trọng Lư “Ai bảo em là giai nhân. Cho đời anh đau buồn… Cho tình giăng đầy trước ngõ. Cho mộng tràn gối chăn”. Mộng Dưới Hoa của Phạm Đình Chương, lời Đinh Hùng “Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng. Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại… Bóng hoa ngã xuống bàn tay mộng. Và mộng em cười như giấc mê”. Chiều Tím của Đan Thọ, lời Đinh Hùng “Chiều tím chiều nhớ thương ai. Người em tóc dài sầu trên phím đàn. Tình vương không gian. Mây bay quan san có hay?”. Tà Áo Tím của Hoàng Nguyên “Một chiều lang thang trên dòng sông Hương. Tôi gặp một tà áo tím. Nhẹ thấp thoáng trong nắng vương. Màu áo tím ôi luyến thương. Màu áo tím ôi vấn vương… Mơ một tà áo, một tà áo qua đường. Như mong một lời nói, một lời nói yêu thương”.

    Và, với tình si đó, trong ca khúc Phượng Yêu của Phạm Duy chấp nhận “Yêu người xong, chết được ngày mai” tương tự như câu thơ của Xuân Diệu “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt. Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Hay trong Gợi Giấc Mơ Xưa của Lê Hoàng Long “Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng rồi… Kiếp sau xin chắp lời thề cùng sống bước lang thang… Đêm đêm đèn le lói một mình ngồi ôm giấc mộng tình. Kiếp sau đôi tim hòa chào đón ánh bình minh”. Ngàn Thu Áo Tím  của Hoàng Trọng & Vĩnh Phúc “Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím. Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím. Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau. Tháng năm càng lướt mau. Biết bao giờ thấy nhau”.

    Trường nữ trung học Đồng Khánh ở Huế, trong những thập niên đầu, nữ sinh mặc đồng phục màu tím, sau nầy mặc áo dài trắng. Trường nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn mặc áo dài tím nên gọi là Trường Áo Tím.

    Bài thơ Cần Thiết của Nguyên Sa “Không có anh lấy ai đưa em đi học về. Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học. Ai lau mắt cho em ngồi khóc. Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa… Không có anh nhỡ một mai em khóc. Ánh thu buồn trong mắt sẽ hao đi”. Ca khúc Nếu Vắng Anh của Anh Bằng đựa vào ý thơ “Nếu vắng anh ai dìu em đi chơi trong chiều lộng gió. Nếu vắng anh ai đợi chờ em khi sương mờ nẻo phố. Nếu vắng anh ai đón em khi tan trường về. Kề bóng em ven sông chiều chiều, gọi tên người yêu… Nếu vắng anh ai ngắm môi em tươi nụ cười. Làn tóc xanh buông lơi tuyệt vời, chan chứa mộng đời”.

    Màu tím (purple, violet) được kết hợp hài hoà từ màu đỏ và màu xanh dương đậm, nhạt tùy theo các sắc độ màu pha chế. Màu tím tượng trưng cho những ý nghĩa khác nhau cho sự sang trọng, quyền quý, lãng mạn, quyến rũ, bí ẩn. Trong tình yêu mang ý nghĩa bi thương, chia lìa. Trong thi ca và âm nhạc… gợi nguồn cảm hứng sáng tác trong tâm hồn nghệ sỹ.

    Không chỉ ở Huế, Sài Gòn với tà áo tím được đi vào thơ nhạc, ở Cần Thơ với tà áo tím trong bài thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím của Kiên Giang, Huỳnh Anh phổ nhạc.

    “Mười năm trước em còn đi học

    Áo tím điểm tô đời nữ sinh

    Hoa trắng cài duyên trên áo tím

    Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh.

    … Hoa trắng thôi cài trên áo tím

    Mà cài trên nếp áo quan tài”

    Đây là thiên tình sử của cậu học trò mới 16 tuổi rời quê Kiên Giang lên Cần Thơ học ở trường tư thục Nam Hưng. Trong lớp có cô nữ sinh mặc áo tím cài hoa trắng khi đến giáo đường. Mối tình trong trắng thơ ngây đó chớm nở rồi bị chia xa theo thời cuộc. Mười năm sau trở lại, người tình đã ra người thiên cổ.

    Bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan được phổ thành 5 ca khúc với Pham Duy, Song Ngọc, Duy Khánh, Anh Bằng, trong đó ca khúc Những Đồi Hoa Sim của Dzũng Chinh được thịnh hành nhất và số phận của người nhạc sĩ nầy hẫm hiu khi phục vụ ở Trung Đoàn 44, Sư Đoàn 23 BB ở Sông Mao bị “hứng trọn một tràng đạn AK của địch trong đêm” khi mới 28 tuổi.

    Với ca khúc trữ tình với các nhạc sĩ nổi danh một thời Sài Gòn như Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím của Hoàng Trọng, Áo Tím Ngày Xưa của Mạnh Phát & Lan Đài, Màu Tím Pensée của Ngọc Sơn & Đài Phương Trang, Căn Nhà Màu Tím của Hoài Linh, Tango Tím của Anh Bằng, Hoa Tím Người Xưa của Thanh Sơn, Màu Tím Tình Yêu, Chân Trời Tím của Trần Thiện Thanh (cũng là truyện dài của Văn Quang năm 1964 và phim cùng tên của đạo diễn Lê Hoàng Hoa năm 1971, nhạc phim là Nửa Hồn Thương Đau & Người Đi Qua đời Tôi của Phạm Đình Chương). Đây là cuốn phim lãnh mạn trong thời chiến, nổi tiếng nhất ở miền Nam VN, kinh phí sản xuất bộ phim này là 14 triệu đồng, thu về 94 triệu đồng (Theo tỉ giá năm 1971 thì 1 USD khoảng 280 đồng VNCH, vàng lúc đó là 35 USD/Oz). Cuốn phim được giải thưởng Văn Học nghệ Thuật và “đem chuông đi đấm nước ngoài”… Thuở còn đi học, tôi có chút kỷ niệm với tà áo tím rồi chia xa trước khi bước chân vào quân ngũ để rồi màu tím ngày nào xa xôi! Nơi cố hương, vào mỗi dịp nghỉ Hè, lên vùng quê ở Quế Sơn, Duy Xuyên có rừng sim thật đẹp, nhà thơ Bùi Giáng mang nỗi đau khi người vợ vĩnh biệt cõi trần nơi đó “Anh lùa bò vào đồi sim trái chín. Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim”

    Trở lại với dòng nhạc trữ tình, lãng mạn ở trên với nỗi nhớ nhung khi chia xa, mang theo nỗi sầu đau, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sáng tác các thể loại trải qua bốn giai đoạn khác nhau: Quân hành ca, ngục tù ca, tôn vinh ca, trong đó với tình ca của ông có nhiều ca khúc, đặc biệt với Gọi Người Yêu Dấu.

    “PK: Gọi người yêu dấu bao lần

    Nhẹ nhàng như gió thì thầm

    Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi

    Thương người xa xôi

    Gọi người yêu dấu trong hồn

    Ngập ngừng, tha thiết, bồn chồn

    Kỷ niệm xưa mờ thoáng trong sương

    Cho lòng nhớ thương

    ĐK: Người yêu dấu ơi

    Sao lòng se sắt đầy vơi?

    Người yêu dấu ơi

    Thu về, tim vẫn đơn côi

    Người yêu dấu ơi

    Khi ngàn sao đêm lấp lánh

    Tâm hồn bâng khuâng

    Nhớ ngày vui đã qua nhanh

    Thương đôi mắt sao trời lung linh

    Thương yêu ngón tay ngà xinh xinh

    Thương yêu dáng vai gầy thanh thanh

    Thương yêu vòng tay ghì siết ân tình

    Thương yêu dáng em buồn bơ vơ

    Thương yêu nét môi cười ngây thơ

    Thương yêu tóc buông lơi dịu dàng

    Thương em mong manh như một cành lan

    ĐK: Gọi người yêu dấu xa vời

    Mà lòng lưu luyến, bồi hồi

    Ngày biệt ly đành nhớ nhau thôi

    Khi chiều nhẹ rơi

    Gọi người yêu dấu muôn đời

    Nghẹn ngào không nói thành lời

    Tình yêu xưa ngày tháng pha phôi

    Biết bao giờ nguôi!”.

    Về âm nhạc, ông cho biết: “Tôi không hề được đặt chân đến một trường âm nhạc nào, và cũng như chưa đựợc theo học một nhạc sĩ nào cả. Tôi tự học, và học hỏi qua bạn bè. Tôi có những người bạn thân rất giỏi về âm nhạc như Phạm Đình Chương, Nhật Bằng đã chỉ vẽ cho tôi”. Bài hát đầu tiên là tình ca Bến May (1947), và từ đó theo thời gian, ông vừa học hỏi thêm về lý thuyết và sáng tác, trở thành nhạc sĩ từ giữa thập niên 1950s. Ông tham dự cuộc thi sáng tác ca khúc do đài phát thanh quân đội tổ chức, trúng tuyển một số bài: Đoàn Quân Bắc Tiến 1956, Chào Mừng Quốc Khánh 26 tháng 10 1960, Chúng Ta Đi Xây Nền Cộng Hoà… Và từ đó, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm được thành danh.

    Ông đã sáng tác nhiều thể loại: tình ca, quân hành ca, ngục tù ca, tôn vinh ca theo quãng đời trong suốt những thập niên.

    Với ca khúc Gọi Người Yêu Dấu, ca khúc nầy được đề cập với vài giai thoại như thiên tình sử, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm cho biết: “Tôi viết Gọi Người Yêu Dấu vào năm 1969 trong một cuộc phiêu lưu tình cảm. Khi viết xong, ca sĩ Thanh Lan ghé nhà chơi. Tôi đưa cho cô và may mắn Thanh Lan đã đem về hát ở Đài Truyền Hình và các Đài Phát Thanh Sài Gòn. Từ đó nhạc phẩm đuợc giới trẻ biết đến”.

    Đây là một ca khúc theo vài giai thoại được khởi đầu bằng một chuyện tình lâm ly của chính nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm ở Đà Lạt. Nhà thơ Hoàng Anh Tuấn được bổ nhiệm làm Quản Đốc đài phát thanh Đà Lạt năm 1965 vì vậy thời gian ông phục vụ ở Đà Lạt trở thành đôi bạn tri kỷ.

    Theo nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, “Ca khúc Gọi Người Yêu Dấu, lời 1 của ông viết năm 1969. Sau đó thi sĩ Hoàng Anh Tuấn có viết lời (*). Khi ở tù, ông cũng viết thêm lời 2. Ra tù, ông kết hợp lời của tôi và của Hoàng Anh Tuấn. Tóm lại, lời 2 gồm 3 phần, phần A và C là của ông, phần B là của Hoàng Anh Tuấn”

    Ca khúc ra đời tháng 11 năm 1969, lúc vừa chia tay; nhạc sĩ ngồi bên bờ hồ Xuân Hương viết và ca sĩ Thanh Lan lên Đà Lạt chơi gặp Vũ Đức Nghiêm hỏi có viết ca khúc nào mới và ông đưa bản này. Tháng 1 năm 1970, tiếng hát Thanh Lan lần đầu tiên giới thiệu bài tình ca ướt át này trên đài phát thanh và truyền hình Sài Gòn, được thính giả ưa thích.

    Cùng thời gian này, một người quen của Vũ Đức Nghiêm ở Sài Gòn đã gửi gắm cho ông một cô “bồ nhí” 21 tuổi, đang có mang được vài tháng. Người đẹp này phải đi “lánh nạn” một thời gian để chờ ngày sinh nở. Thông cảm cho hoàn cảnh oái oăm này, Vũ Đức Nghiêm đã đón cô gái về ở tại một ngôi biệt thự mà ông quản lý, nằm trên ngọn đồi nơi có ít người qua lại. Người đẹp kia đi lánh nạn chỉ mang theo một vali nhỏ, và Vũ Đức Nghiêm phải đích thân đi mua những vật dụng cần thiết cho chuyến “vượt cạn” của cô, và mang thức ăn đến cho cô hằng ngày.

    Ban đầu chỉ là muốn giúp bạn, cảm thương cảnh ngộ giai nhân phải đi trốn tránh thế gian. Nhưng với sự gặp gỡ, tiếp xúc hàng ngày, và hình dáng “mong manh như một cành lan” của người đẹp đã khiến nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm không cầm lòng được, dù cho lúc đó ông đã có vợ, con.

    Khung cảnh thơ mộng xinh đẹp của Đà Lạt hẳn là cũng góp phần vun vào cho cuộc tình ngang trái này. Hoàn cảnh này được anh Vũ Trung Hiền, em trai của nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm nói lại như sau: “… Từ biết ơn, dẫn đến cảm phục con người hào hiệp chăm lo cho nàng, một người chưa hề quen biết, còn hơn cha của đứa bé đang nằm trong bụng nàng! Và một ngày nọ, người phụ nữ trẻ tuổi đã gục đầu lên ngực gã đàn ông 39 tuổi, vợ và 7 con, khóc như mưa như gió!

    Rất có thể nàng khóc để trút hết nỗi đắng cay, tủi nhục vì bị tình nhân lừa dối. Có thể đó cũng là những giọt lệ vui mừng, cảm động vì nàng mơ hồ thấy dường như thuyền mình đã tìm được một bến đậu. Bến đậu, dù tạm bợ, vẫn còn hơn lênh đênh giữa dòng, trong cơn bão tố… Cuộc tình đã cuốn Vũ Đức Nghiêm vào trong, như một cơn lốc dữ dội…”.

    Bà Dương Thị Năng, hiền thê của ông, một hôm, bà nhẹ nhàng bước vào phòng “cô gái lầm lỡ” kia ngay lúc chồng đang ngồi xỏ vớ vào chân cho người yêu để giữ ấm, vì trời Đà Lạt rất lạnh. Không ồn ào to tiếng, bà chỉ nhỏ nhẹ với chồng: “Anh ơi, sếp gọi anh…”. Chàng nhạc sĩ đa tình luống cuống đứng dậy đi ra khỏi phòng, và hình như đó cũng là lần cuối họ gặp nhau. Sau đó thì cô gái mẹ tròn con vuông đã được cha mẹ đón về.

    Một thời gian sau, trong lần đi ngang ngôi biệt thự có nhiều kỷ niệm đó, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm thấy mủi lòng nhớ người xưa và sáng tác Gọi Người Yêu Dấu, trở thành ca khúc nổi tiếng nhất trong sự nghiệp âm nhạc của ông…

    Năm 2005, trong đêm nhạc “Vũ Đức Nghiêm – Nửa Thế Kỷ Viết Ca Khúc”, nhà báo Bùi Bảo Trúc đã bày tỏ: “Người ta nói đằng sau sự thành công của người đàn ông là bóng dáng một người phụ nữ. Còn ở đây chúng tôi xin sửa lại chút xíu, đằng sau mỗi ca khúc thành công là… sự bao dung của người phụ nữ. Thưa chị Vũ Đức Nghiêm, chúng tôi xin cảm ơn sự bao dung của chị vì nếu không có sự bao dung độ lượng ấy thì ca khúc Gọi Người Yêu Dấu đã không được chào đời và chúng tôi đã thiệt thòi biết bao vì không được nghe, được hát một nhạc phẩm dễ thương như thế”.

    Năm 2015, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm cũng thừa nhận những lời mà nhà báo Bùi Bảo Trúc nói: “Phải nói bà xã tôi là người rất độ lượng. Tôi bay bướm nhưng vợ vẫn chung thủy. Bao năm tù cải tạo, vợ ở nhà nuôi con thay chồng và vẫn chờ đợi. Trong cơn lốc cuồng bạo của thời cuộc, khi người lính trở về, không gì quý báu bằng hình ảnh người vợ tựa cửa chờ mong”.

    Hoàn cảnh này được Vũ Trung Hiền, em trai của nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm nói lại như sau: “… Từ biết ơn, dẫn đến cảm phục con người hào hiệp chăm lo cho nàng, một người chưa hề quen biết, còn hơn cha của đứa bé đang nằm trong bụng nàng! Và một ngày nọ, người phụ nữ trẻ tuổi đã gục đầu lên ngực gã đàn ông 39 tuổi đã có vợ con, khóc như mưa như gió! Rất có thể nàng khóc để trút hết nỗi đắng cay, tủi nhục vì bị tình nhân lừa dối. Có thể đó cũng là những giọt lệ vui mừng, cảm động vì nàng mơ hồ thấy dường như thuyền mình đã tìm được một bến đậu. Bến đậu, dù tạm bợ, vẫn còn hơn lênh đênh giữa dòng, trong cơn bão tố… Cuộc tình đã cuốn Vũ Đức Nghiêm vào trong, như một cơn lốc dữ dội…”.

    Ngày xưa mỗi khi có cô gái trẻ nào bị lâm nạn kiểu như vậy thì thường phải đi thật xa, sau khi xong xuôi thì lại trở về để che giấu chuyện động trời kia, giữ lại chút thanh danh cho gia đình. Một thời gian sau, trong lần đi ngang ngôi biệt thự có nhiều kỷ niệm đó, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm thấy mủi lòng nhớ người xưa và sáng tác Gọi Người Yêu Dấu, trở thành ca khúc nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của ông.

    Khi ca khúc được mọi người ái mộ, nếu có bí ẩn của thiên tình sử thì càng gây nên sự tò mò. Và, chỉ có người trong cuộc “sống để đời, chết mang theo” với thiên tình sử. Trong vài lần phỏng vấn với nhạc sĩ, ông cũng không tiết lộ người quen gửi gắm là ai? Và tại sao ông viết “trong một cuộc phiêu lưu tình cảm”?. Thi hào Nguyễn Du trong hai câu “Nợ tình chưa trả cho ai. Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan” (Kiều, câu 709 và 710) nên chỉ cảm nhận giai điệu và lời ca với hình bóng cũ.

    Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm qua đời ngày 24/7/2017 tại tư gia ở San Jose, hưởng đại thọ 87 tuổi. Sinh thời, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm tính tình hoà nhã, khiêm nhượng, thân thiện với mọi người nên được sự cảm mến, quý trọng nên khi ông lìa cõi đời, nhiều người bày tỏ sự cảm mến. Chủ Nhiệm tạp chí Cỏ Thơm (Phan Anh Dũng) đã dành số Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Vũ Đức Nghiêm với 86 trang với hình ảnh và bài viết còn lưu trữ.

    *

    Khi ca khúc Gọi Người Yêu Dấu phổ biến, tôi đã rời quân trường Đà Lạt về phục vụ ở Tiểu Đoàn 20 CTCT Pleiku, rất thích nghe ca khúc nầy để nhớ lại khung trời cũ. Cuối tháng 8/1990 tôi đến phi trường Utapao, Thái Lan (đợt đầu tiên của H.O 4), thời gian ở đó khoảng 10 ngày (tùy theo chuyến bay đến các nơi ở Mỹ), trước khi rời Thái Lan, có nhiều đợt H.O 4 tiếp theo nhưng rất tiếc không được gặp ông để biết thêm “tình sử” của ca khúc nầy. Khi đến phi trường Stockholm-Arlanda, Thụy Điển như từ địa ngục đến thiên đường, xuyên đại tây dương, tỵ nạn ở quê hương nhạc đồng quê nhưng tránh “vỏ dưa gặp vỏ dừa” tá túc trong khu da màu châu Phi, sợ quá nên đáp chuyến xe Bus Greyhound, từ Đông sang Tây đến Little Saigon cũng là lúc gia đình nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm đến San Jose.

    Với bảy thập niên sáng tác từ tình ca… đến tôn giáo ca, ông đã ra đi vĩnh viễn để lại cho đời nhiều nhạc phẩm, mỗi khi nghe, tưởng nhớ đến nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm.

    Gọi Người Yêu Dấu

    (*) Lời Hoàng Anh Tuấn, 1969

    “PK: Gọi người yêu lúc thu về.

    Giận người quên lãng lời thề.

    Chiều năm nao nguyện sống bên nhau, nay đành quên sao?

    Gọi người yêu dưới trăng vàng.

    Gọi tình xưa cũ muộn màng.

    Từ ly tan, ngày tháng hoang mang, mây trời tóc tang.

    ĐK: Người yêu dấu ơi, sương chiều dâng xóa ngàn thông.

    Mình ta đứng đây nghe hồn thu lắng mênh mông.

    Hồ xưa vẫn xanh trong ngàn sao đêm thương nhớ.

    Nhưng còn tìm đâu dáng hình yêu dấu xa xưa.

    Thương em ngón tay dài mơn man.

    Dư âm tiếng dương cầm đi hoang.

    Thương em đắm linh hồn mong manh.

    Thương em nụ hôn nồng cháy ân tình.

    Đôi tay xiết thêm vòng đam mê.

    Thương em phút trao hồn qua đi.

    Buông lơi chút hương yêu dịu dàng.

    Như sương pha lê trên một cành lan.

    PK: Gọi tình xa vắng đôi bờ.

    Gọi thầm giây phút hẹn hò.

    Chiều thu mưa, đồi núi bơ vơ, mây trời ngẩn ngơ.

    Gọi người, nước mắt chan hòa.

    Gọi ngày vui cũ ngọc ngà.

    Tình dù xa, dù tháng năm qua, xót xa lòng ta”.

    Hình ảnh “Như sương pha lê trên một cành lan” quá tuyệt, tình yêu, người tình như viên ngọc quý trên cành lan (loài hoa được mệnh danh là nữ hoàng của các loài hoa) biểu tượng sự cao quý, cho tình cảm sâu sắc, tình yêu son sắt, chân thành, thủy chung, viên mãn nhưng rất mong manh, hiện hữu trong thời gian ngắn ngủi!

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, 10, 2023

  • Khánh Lan,  KÝ SỰ

    BONJOUR PARIS – CHUYẾN DU LỊCH KỲ THÚ

    Khánh Lan

    Trước khi đi Pháp, chúng tôi nhận được một email “Paris đẹp lắm” của ông Nhất Hùng nói rất rõ về một số địa điểm ngoạn mục tại Pháp trong chuyến du lịch Âu Châu của ông. Khánh Lan xin đăng ở phần dưới của bài ký sự này.

    Paris, nơi được mệnh danh là “Kinh Đô Ánh Sáng”, một địa điểm du lịch mà nhiều người trên thế giới ai cũng muốn một lần ghé thăm. Đây là lần thứ tư trở lại Paris nhưng chuyến đi nào cũng để lại trong tôi những kỷ niệm đẹp và khó quên. Trong chuyến đi lần này với nhóm NVNT & TTG, gồm có tất cả 12 người: NV Ngọc Cường & Bích Điệp (Ohio); NV Việt Hải & Lệ Hoa, Thụy Lan, Mạnh Bổng & Khánh Lan (California); Chị Hoàng Loan, Anh chị Tấn Công & Thanh Vân (Viginia), anh chị Vĩnh Cửu & Kim Bạch (Florida). NV Nguyễn Quang cũng đã dự định cùng đi chơi với chúng tôi trong Chuyến này nhưng cuối cùng phải hủy bỏ vì lý do sức khỏe.

    Mạnh Bổng & Khánh Lan, Bạch Kim, Hoàng Loan, Thụy Lan, Ngọc Cường, Vĩnh Cửu, Bích Điệp, Lệ Hoa, Raymond, Việt Hải

    18 tháng 9, 2023: KHỞI HÀNH

    NV Việt Hải & Lệ Hoa, Thụy Lan, Mạnh Bổng & Khánh Lan hẹn gặp nhau tại phi trường Los Angeles lúc 6:00 chiều vì máy bay sẽ cất cánh lúc 9:15 tối. Trong Chuyến bay sang Pháp lần này, chúng tôi được hãng Air France ưu đãi rất đặc biệt nhờ sự có mặt của một nhân vật quan trọng: Đó là NV Việt Hải. Vì NV Việt Hải là ưu tiên nên chúng tôi thẳng tiến lên máy bay mà không phải trải qua những thủ tục xếp hàng lâu lắc.

    Lệ Hoa, Việt Hải, Mạnh Bổng, Khánh Lan

    Sau 11 giờ bay non-stop, chúng tôi đã đến phi trường Charles De Gaulle (CDG). NV Ngọc Cường, chị Bích Điệp, anh Raymond và chị Hoàng Loan đã đến trước và có mặt tại khu lấy hành lý để đón chúng tôi.

    Sau khi lấy hành lý xong, Khánh Lan và Mạnh Bổng đón xe về hotel Le Mesnilamecot. Riêng các anh chị Ngọc Cường, Vĩnh Cửu, Việt Hải, Tấn Công, Hoàng Loan và Thụy Lan mướn Air B&B ở quận 13.

    20 tháng 9, 2024: “CHIỀU THU PARIS VĂN HỌC NGHỆ THUẬT”

    Khánh Lan và Mạnh Bổng đi taxi đến quận 13 để dự buổi HỘI NGỘ CÙNG CÁC VĂN NGHỆ SĨ CLB VĂN HOÁ VIỆT NAM tại Paris (CLBVHVN). “Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” – Đó là một ngày mà chúng tôi mong đợi vì các anh chị em nghệ sĩ chúng tôi tại Mỹ và các vị nhà văn tại Paris chỉ liên lạc qua email nhưng chưa một lần gặp mặt trong suốt những năm qua.

    Sự tiếp đón nồng hậu và chu đáo của BTC CLBVHVN tại Paris khiến chúng tôi vô cùng cảm kích bởi nó đã nói lên được mối thân tình và sự kết nối văn học giữa hai nền văn hóa Pháp & Mỹ. Đặc biệt, NV NT Đỗ Bình đã bỏ nhiều công sức cũng như thời gian để tổ chức một buổi họp mặt gần 50 người trong bầu không khí thân mật, ấm cúng, đậm nét đặc trưng và liên kết giữa hai lãnh vực: Văn học và Âm nhạc.

    HỘI NGỘ CÙNG CÁC VĂN NGHỆ SĨ CLB VĂN HOÁ VIỆT NAM tại Paris

    Khai mạc chương trình “ChiềuThu Paris, Văn Học Nghệ Thuật”, MC Dentist Thẩm Thái Hà giới thiệu NT NV Đỗ Bình. Ông ngỏ lời chào các bạn từ Mỹ, đồng thời giới thiệu Ban Chấp Hành CLBVHVN tại Paris gồm các anh chị: Nguyễn Tối Thiện, Nguyễn Thị Phượng Anh, Lê Thị Kim Lan, Nguyễn Mạnh Trí, Trần Minh Răn, Trần Trung Quân, Nguyễn Thị Cung và Đoàn Trần Thiều. Các anh chị thành viên của CLBVHVN gồm: Hoàng Đức Phương, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Đức Tăng, Nguyễn Xuân Trường, Tuyết Mai, Nguyễn Minh Cầm, Thúy Hằng, Đỗ Bình, Nguyễn Bảo Hưng, Trịnh Cơ, Phượng Anh, Thụy Vi, Cát Tưởng và Hồ Bảo Lộc. Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt tại Pháp gồm các vị: Vũ Ngọc Hải, Lê Đức Thọ, Lệ Hằng, Lê Lộc, Trần Thanh Loan, Mai Đỗ, Tuyết Dung.

    NV NT Đỗ Bình

    Theo NV TS Đỗ Bình, số khách mời đến dự tiệc đã được chọn lọc và giới hạn. Tuy nhiên, một số nhà văn hóa Paris rất muốn đến chung vui, nhưng hoặc vì lớn tuổi, ở xa hay đang đi nghỉ hè cùng gia đình, nên không tham dự được.

    NV NT Đỗ Bình khai mạc buổi hội ngộ và giới thiệu Quan khách tham dự

    Tiếp đến là Tiến Sĩ Nguyễn Thị Phượng Anh, Bác Sĩ Nguyễn Tối Thiện và Luật Gia Đoàn Trần Thiều phát biếu cảm Tưởng. NV NT Đỗ Bình cho biết, Tiến Sĩ Phượng Anh là người đã và đang gồng gánh rất nhiều trách nhiệm trong cộng đồng tại Pháp qua nhiều lãnh vực khác nhau, từ Văn hoá đến xã hội. Bà du học và đã sinh sống tại Paris hơn 60 năm. Hiện tại, bà đang chung sống cùng chồng, con và các cháu tại Paris.

    Tiến Sĩ Nguyễn Thị Phượng Anh, Bác Sĩ Nguyễn Tối Thiện và Luật Gia Đoàn Trần Thiều phát biếu cảm Tưởng

    Chương trình tiếp tục với NV Ngọc Cường nói về nhóm TLVD. Kế tiếp, NV Việt Hải phát biểu cảm tưởng và sau đó NV Khánh Lan tường thuật về cơ cấu và sinh hoạt của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian (NVNT &TTG).

    NV Việt Hải gởi lời chào đến NV NT Đỗ Bình, BTC, các nhà văn hóa Paris và phát biểu cảm tưởng

    NV Ngọc Cường nói về nhóm TLVD

    NV Khánh Lan tường thuật về cơ cấu và sinh hoạt của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian (NVNT &TTG)

    NV Khánh Lan đúc kết phần nói chuyện bằng bài thơ PARIS HỘI NGỘ. Bài thơ mà Khánh Lan đã viết vội trên máy bay và diễn ngâm trong buổi họp mặt thay cho lời chào và cảm tạ sự tiếp đón nồng hậu và chu đáo của BTC CLBVHVNP. Bài thơ như sau:

    Bây chừ trời chớm vào thu
    Nắng vàng vươn ngõ, vị thi hữu tình
    Sài-Gòn đầy những bạn mình
    Buổi cơm thân mật, bóng hình ngộ tri

    Hàn huyên Pháp-Mỹ văn thi
    Cám ơn bằng hữu Pa-ris đón chào
    Ân tình duyên ngộ gặp nhau
    Đây lời cảm tạ, xin trao mọi người. 

    MERCI PARIS, MERCI BEAUCOUP ATOUS

    Ngay sau đó, NT Lệ Hằng thay mặt BLBVHP tặng lại anh em chúng tôi 4 câu như sau.

    NT Lệ Hằng

    Người từ xứ Mỹ qua đây
    Cho ngày hội ngộ chan đầy quê hương
    Rồi mai người sẽ lên đường
    Để Paris nỗi vấn vương ít nhiều

    Cũng trong dịp này, 3 anh em chúng tôi gồm NV Vương Trùng Dương, NV Việt Hải và NV Khánh Lan được NV NT Đỗ Bình trao tặng tác phẩm “Những Khuôn Mặt Văn Hoá Việt Nam Hải Ngoại” do CLBVHVNP phát hành năm 2022. Khánh Lan cũng biếu NT NV Đỗ Bình hai tác phẩm văn học mới nhất, phát hành trong tháng 06, 2023. Đó là PHÂN TÂM HỌC & ĐỜI SỐNG và TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN của Khánh Lan.

    MC Dentist Thẩm Thái Hà trao tặng tác phẩm “Những Khuôn Mặt Văn Hoá Việt Nam Hải Ngoại”

    Phần I kết thúc với GS Hoàng Đức Phương nói về “Vài nét về văn hóa thuần Việt”, ông cũng không quên tặng mỗi chúng tôi một USB tài liệu về cách sử dụng từ ngữ văn hóa thuần Việt.

    GS Hoàng Đức Phương nói về “Vài nét về văn hoá thuần Việt”

    Trong bữa cơm thân tình giữa CLBVHVN tại Paris & NVNT &TTG, CLBVHVN đã trao tặng cho nhóm chúng tôi một chai rượu nho và chị Thanh Vân đại diện nhóm NVNT & TTG nhận quà. Chị Thanh Vân là phu nhân của anh Tấn Công.

    Chị Thanh Vân đại diện NVNT & TTG nhận chai rượu đỏ do CLBVSVNP tặng

    Bữa cơm thân tình

    NHẠC THÍNH PHÒNG

    Sau bữa cơm trưa là phần nhạc thính phòng gồm hai phần: “Tình thơ trong ý nhạc” và “Những ca khúc về mùa thu Paris qua âm nhạc”.

    NT NV Đỗ Bình nở đầu chương trình với những sáng tác của các vị tiền bối trong thi ca như thơ phổ Nhạc của Pervert, Cung Trần Tưởng, Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, v.v… trong phần nhạc mở đầu này, Lệ Hoa & Thụy Lan với nhạc phẩm Bên Nhau Ngày Vui và tiếp theo là 2 bài hợp ca: Trăng Mờ Bên Suối và Lối Về Xóm Nhỏ. Thụy Lan với nhạc phẩm Ngọc Lan, Em Tôi với Đỗ Bình và Tuyết Dung với Thu Hát Cho Người.

    Lệ Hoa & Thụy Lan với nhạc phẩm Bên Nhau Ngày Vui

    Thụy Lan với nhạc phẩm Ngọc Lan

    Em Tôi với Đỗ Bình

    Tuyết Dung với Thu Hát Cho Người.

    Trước khi bước vào phần 2, GS Nguyễn Bảo Hưng giới thiệu vài nét về Paris, nơi từng được mệnh danh là cái nôi của văn hóa trên thế giới. Sau đó, những ca khúc về mùa thu Paris qua âm nhạc được trình diễn qua các giọng ca của Thái Hà-Les Fenilles Mortes, Mạnh Bổng với hai nhạc phẩm Mùa Thu Paris và Autumn Leaves. Thúy Hằng, phu nhân của NT NV Đỗ Bình-Chiều Trên Sông Seine và sau cùng là ca sĩ Kim Thu với Mùa Thu Không Trở Lại.

    Thái Hà-Les Fenilles Mortes

    Mạnh Bổng với hai nhạc phẩm Mùa Thu Paris và Autumn Leaves

    Thúy Hằng, phu nhân của NT NV Đỗ Bình-Chiều Trên Sông Seine

    Kim Thu với Mùa Thu Không Trở Lại

    Chương trình CHIỀU THU PARIS, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT bế mạc lúc 5:00 chiều. Mọi người lưu luyến chia tay.  Những máy điện thoại di động loé sáng liên tục ghi lại những kỷ niệm thân thương giữa chúng tôi. Phải chăng PARIS & CALI là những nơi mà người đến sẽ chẳng muốn trở về!

    Tiệc hội ngộ đã tàn, nhưng hình như mọi người vẫn cứ “phớt tỉnh Paris” và tiếp tục thăm hỏi, chuyện trò vui vẻ. Hình như tất cả chúng tôi ở trong tâm trạng “chân chưa muốn bước và tâm chẳng nỡ rời“. Anh chị em chúng tôi và một số Giáo Sư, Văn Thi Sĩ đã ở lại nhà hàng Saigon cho mãi đến gần 6:30 chiều.

    Lưu luyến chia tay: “chân chưa muốn bước và tâm chẳng nỡ rời”

    Rời nhà hàng Saigon, chúng tôi cuốc bộ trên đường Rue des Orteaux để đến nghe các anh chị trong nhóm Tốp ca người ngoại quốc “La chorale des Non-vietnamiens chantant en Vietnamien” hay còn được gọi là F.A.V.I.C, chuyên hát nhạc VN do Luật gia Đoàn Trần Thiều sáng lập (ông từng là thông dịch viên Tòa Thượng Thẩm Paris) và dưới sự hướng dẫn của một nữ giáo sư tiến sĩ người Việt dạy tại trường âm nhạc Paris mà tôi không nhớ tên, cùng với 2 nhạc sĩ Phương Oanh và Vân Anh phụ trách đàn tranh và đàn guitar.

    Nhóm “Tốp ca” người ngoại quốc “La chorale des Non-vietnamiens chantant en Vietnamien” hay còn được gọi là F.A.V.I.C, chuyên hát nhạc VN

    Luật gia Đoàn Trần Thiều sáng lập FAVIC

    Hai nhạc sĩ Phương Oanh và Vân Anh

    Điều kiện được gia nhập nhóm “Tốp ca” này rất nghiêm khắc. Hội viên ca sĩ phải là người ngoại quốc mà không phải là người Việt Nam, trừ khi đó là nhạc công. Nhóm FAVIC có khoảng trên dưới 15 người gồm 8 sắc tộc khác nhau: Pháp, Nhật, Ba Lan, Thụy Điển, Hung Gia Lợi, An Giê Ri, Tây Ban Nha, Nam Tư và Bỉ. Họ hát những bài dân ca Việt Nam như Qua Cầu Gió Bay, Trống Cơm, Em Gái Bắc Ninh Anh Trai Biên Hòa, Là Hù Là Khoan hay những bài ca quốc tế như La Paloma, Besame Mucho, Come Back to Sorento, v.v…

    Nhóm FAVIC đang tập hát với giáo sư tiến sĩ người Việt của trường âm nhạc Paris (mặc áo màu xám)

    Chúng tôi nhận thấy khi hát, nhóm FAVIC chia ra làm hai bè: Nam và nữ. Với giọng hát thật uyển chuyển, rất đều và phát âm rõ ràng từng chữ. Và trong đam mê và say đắm, họ tự minh hoạ và biểu diễn dựa theo nội dung của bài nhạc. Họ trình diễn thật ngoạn mục và điệu nghệ như một ban hợp xướng chuyên nghiệp.

    Trong số các thành viên, có cô Maguy là dân bản xứ của đảo Guadeloupe, khi hát cùng các đồng nghiệp cô vừa hát vừa biểu diễn, trông rất độc đáo bởi Cô đã hát với tất cả nhiệt huyết, tâm hồn và niềm đam mê. Điều ấy thể hiện rõ trên nét mặt của cô với đôi tay tự múa, miệng cười như hoa nở và ánh mắt đa tình. Theo chúng tôi thì tất cả các thành viên trong nhóm FAVIC đều hát thật tuyệt vời khiến chúng tôi vô cùng khâm phục.

    Theo Luật gia Đoàn Trần Thiều thì trong vòng 25 năm qua, nhóm tốp ca này đã đi lưu diễn ở nhiều nơi trên nước Pháp và các nước lân cận như Cologne, Franfurt, Munnich, Damstradt, Geneve và các dịp lễ hội. Theo dự định và qua sự giới thiệu của GS NS Lê Văn Khoa, nhóm FAVIC đáng lẽ sẽ đi trình diễn ở Houston, Texas trong chương trình Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi trong năm 2023, nhưng vì đại dịch Covid đã làm trì hoãn mọi sinh hoạt văn học nghệ thuật.

    DẠO PHỐ PARIS- PARIS BY NIGHT

    Quả không sai khi được mệnh danh là “Kinh Thành Ánh Sáng”! Paris By Night đẹp lộng lẫy như một nàng tiên đang khoe sắc, tỏa ánh sáng huy hoàng bao phủ cả bầu trời. Đứng bên kia đường, hàng triệu ánh đèn li-ti từ ngọn tháp Eiffel chiếu lấp lánh, tựa như những vì sao đang nhảy múa trên bức màn nhung đen thẫm tạo nên một nét đẹp lộng lẫy và kiêu kỳ.

    Tối nay, bầu trời Paris thật trong sáng và thời tiết như đãi ngộ anh em chúng tôi. Còn gì thú vị cho bằng tản bộ trên Avenue Des Champs Élysée, tận hưởng và hít thở làn gió thu se se lạnh. Chúng tôi dừng chân chụp vài kiểu hình kỷ niệm ở Arc De Triomphe De L’étoile hùng vĩ…Sau cùng, ghé thăm nhà thờ Notre Dame. Đáng tiếc là nhà thờ còn đang trong tình trạng sửa chữa nên chúng tôi chỉ chụp một tấm hình kỷ niệm phía trước sân của nhà thờ.

    Nhà thờ Notre Dame

    Tháp Eiffel

    Loanh quanh thế mà đã gần 12 giờ đêm. Mọi người cảm thấy đói nên chúng tôi ghé vào một tiệm Café-Brasserie, Le Malakoff, 6 Place du Trocadéro, 75116 PARIS để dùng cơm tối và trở về khách sạn lúc 2:00 giờ sáng ngày 21.

    Café-Brasserie, Le Malakoff, 6 Place du Trocadéro, 75116 PARIS

    Sau buổi “Dạo Phố Paris” cùng nhóm, các anh chị Ngọc Cường, anh chị Vĩnh Cửu, anh chị Việt Hải, anh chị Tấn Công, chị Hoàng Loan và Thụy Lan check-in chuyến du thuyền MSC-Grandiosa để ghé các địa điểm như Spain (Barcelona), Italy (Naples. Genoa, Palermo), France (Marseille), Tunisia. Mạnh Bổng & Khánh Lan không chọn chuyến du thuyền MSC-Grandiosa với các anh chị trong nhóm vì chúng tôi đã đi qua tuyến đường này trong tháng 04, 2023 cùng với 4 người bạn cũng trong nhóm NVNT & TTG gồm Ngọc Châu, Đức Hạnh, Kim Hương và Quốc Dân trên du thuyền Royal Caribbean, Symphony of The Sea (Xin kèm theo dưới đây vài tấm hình về những địa danh mà chúng tôi đã đi qua).

    Check-in Royal Caribbean Cruise, Symphony of The Sea (April 2023 trip)

    Marseille: Kim Hương, Khánh Lan, Đức Hạnh, Ngọc Châu (April 2023 trip)

    Naples, Italy: Quốc Dân, Kim Hương, Đức Hạnh, Khánh Lan, Mạnh Bổng (April 2023 trip)

    Florance: Mạnh Bổng & Khánh Lan (April 2023 trip)

    Florance: Mạnh Bổng, Khánh Lan, Đức Hạnh, Kim Hương, Quốc Dân

    Saint Peter’s Square & Vatican City, Rome (April 2023 trip)

    Colosseum, Rome: Đức Hạnh, Ngọc Châu, Kim Hương, Khánh Lan

    Blue City, Morocco (April 2023 trip)

    Hill Church of Barcelona (April 2023 trip)

    The Sagrada Familia, Barcelona, (April 2023 trip)

    The Gaudi Park, Barcelona, Spain

    Leaning Tower of Pisa, Italy

    21 tháng 9, 2023. Sáng ngày 21, tiếng gõ cửa của người dọn phòng khiến chúng tôi (Mạnh Bổng & Khánh Lan) choàng tỉnh. Đồng hồ điểm 9:00 sáng nên chúng tôi chỉ kịp ăn sáng, dọn hành lý, rồi gọi taxi ra Gare de Lyon đi Marseille. Chỉ cần chậm một tíc-tắc nữa là chúng tôi bị trễ chuyến tàu đi Marseille!

    Đến Gare de Saint-Charles, Marseille lúc 4:00 chiều, chúng tôi gọi taxi về Écale Villa Chambres d’hôtes, 1 rue Bernard Hinault, 13700 Marignane, cách khoảng 30 phút đi taxi từ Gare de Saint-Charles. Marignane là một thành phố nhỏ cách Marseille khoảng 2 miles, nhưng nằm tại vùng ngoại ô nên vắng vẻ và buồn hiu. Nhìn quanh không thấy tiệm ăn nào, nên chúng tôi chỉ ăn tối qua loa rồi lên giường ngủ để chuẩn bị ra bến tàu sáng sớm hôm sau.

    Gare de Saint-Charles, Marseille

    22 tháng 9, 2023. Sáng hôm sau, Mạnh Bổng & Khánh Lan thuê taxi ra bến tàu, “check-in” du thuyền MSC-Seashore khoảng 1:00 chiều. Đây là chuyến du hành qua 6 cảng bắt đầu từ Marseille (France), Genoa, Civitavecchia & Palermo (Italy), Ibiza & Valencia (Spain).

    Mạnh Bổng & Khánh Lan

    Ngày 23 tháng 9: 2023, TRÊN DU THUYỀN MSC-SEASHORE

    Có thể nói, không một du thuyền nào giống du thuyền nào về phong cách cũng như hệ thống thiết kế. Nếu so sánh du thuyền Royal Caribbean-Symphony Of The Sea với du thuyền MSC-Seashore thì sự khác biệt rất rõ. Symphony Of The Sea là một trong 5 du thuyền lớn và mới nhất của hãng Royal Caribbean sau Icon Of The Sea vừa mới khai trương đầu năm 2023. Tuy nhiên, phương cách trang trí và cơ cấu trên du thuyền MSC-Seashore cũng có những đặc điểm hay và lạ mắt như sân khấu, bar rượu, quán ăn, v.v…

    Bar rượu

    Sân khấu s 4 tầng-Piano biểu diễn ở tầng số 1

    Sân khấu trình diễn ca nhạc ở tầng số 2.

    The White Night-Dancing all night

    The Captain party là ngày mà du thuyền lênh đênh trên biển gần hai ngày. Hôm ấy, Captain sẽ chụp hình và khiêu vũ với mọi người. Đây là ngày mà “phái đẹp” có dịp diện áo đẹp, ăn tối, nhảy đầm và chụp hình. Chúng tôi cũng đóng bộ và đi chụp vài kiểu hình để làm kỳ niệm.

    The Captain party night

    Du lịch vòng quanh trái đất qua phin ảnh…

    Đây là lần đầu chúng tôi đi trên du thuyền MSC, chúng tôi nhận thấy phần lớn du khách trên du thuyền MSC là người gốc Ý hay Tây Ban Nha nên họ rất ồn ào và thiếu nguyên tắc cũng như không tuân theo luật lệ căn bản và cần thiết như xếp hàng vào lấy thức ăn hoặc khi dùng căn phòng vệ sinh, v.v…

    Nhân viên trên du thuyền chào tạm biệt du khách

    Dịch vụ trên du thuyền MSC tốt nhưng thực phẩm thì không được ngon và không có nhiều lựa chọn như các du thuyền khác (Royal Caribbean, Celebrity hay Holland America, v.v…). Hơn thế nữa, hầu hết tất cả mọi thứ trên du thuyền đều phải trả tiền thêm như coi movie (9 euros cho mỗi phim); thậm chí, nước giải khát như nước trà, nước ngọt đều phải mua – ngoại trừ nước lạnh. Tuy nhiên về lãnh vực giúp vui giải trí thì rất phong phú, nếu không muốn nói là xuất sắc. Mỗi tối đều có show mới như:

    • MYSTIC FOREST là một hành trình cổ xưa của Good vs Evil

    • COAST TO COAST: Trong show này, các ca sĩ có cơ hội góp phần trình diễn của họ vào âm nhạc của Hoa Kỳ.

    • PAZ là linh hồn của Flamenco và nghệ thuật kỳ diệu của hoạ sĩ Pablo Picasso.

    • FRENCH FOLLIES là nghệ thuật sân khấu của những nghệ nhân gồm ca, vũ, nhạc.

    • GRAVITY là những kỹ thuật nhào lộn và giữ quân bằng, một kỹ năng rất cần thiết của người trình diễn chống lại trọng lực.

    • ALLEGRO là trung tâm điểm của Địa Trung Hải tuyệt vời, là đặc trưng về văn hoá, ca múa và âm nhạc của những địa danh mà được nhiều người trên thế giới yêu thích.

    • BEAUTIFUL CELEBRATION là màn trình diễn rất đặc biệt mở đầu cho chương trình giải trí của du thuyền MSC với các nữ Ca Sĩ từ The Broadway Diva’s cùng những màn minh họa tuyệt vời của các Vũ Công.

    THĂM THÀNH PHỐ GENOA, CIVITAVECCHIA & PALERMO (ITALY)

    Thuyền nhổ neo ở Hải Cảng Marseille, France, địa điểm đầu tiên du thuyền MSC-Seashore dừng lại là Genoa.

    Genoa (Genova) là một thành phố cảng và là thủ phủ của vùng Liguria phía tây bắc nước Ý. Genoa là trung tâm thương mại hàng hải trong nhiều thế kỷ. Từ những con đường hẹp được mở rộng ra thành những quảng trường lớn như Piazza de Ferrari, nơi có đài phun nước bằng đồng và nhà hát opera Teatro Carlo Felice.

    Thị trấn Genoa nhìn từ bacony cabin của du thuyền

    Dạo phố Genoa

    Dạo phố Genoa

    • Nhà thờ St. Lorenzo Ruiz Catholic PARISH COMMUNITY tọa lạc trong khu phố cổ, đươc xây dựng theo phong cách La Mã, với mặt tiền sọc đen trắng và nội thất được trang trí bằng tranh bích họa. Thánh Lorenzo Ruiz là người Philippines đầu tiên được tôn kính trong Giáo hội Công giáo La Mã. Là người Philippines gốc Hoa gốc, ông trở thành vị tử đạo đầu tiên của đất nước sau khi bị Mạc phủ Tokugawa hành quyết trong cuộc đàn áp những người theo đạo Cơ đốc Nhật Bản vào thế kỷ 17.

    Thánh Lorenzo Ruiz sinh ra ở Binondo, Manila, cha là người Trung Quốc và mẹ là người Philippines, cả hai đều là người Công giáo. Khi còn trẻ, Lorenzo Ruiz từng là cậu bé giúp lễ tại Nhà thờ Binondo. Ông theo học với các tu sĩ Đa Minh và sau một vài năm, Lorenzo Ruiz đã giành được danh hiệu nhà thư pháp nhờ tài viết lách điêu luyện của mình. Lorenzo Ruiz trở thành thành viên của Hiệp hội Mân Côi Rất Thánh.    

    Bên trong nhà thờ St. Lorenzo Ruiz

    Lorenzo Ruiz kết hôn với Rosario và họ có hai con trai và một con gái. Gia đình Lorenzo Ruiz có một cuộc sống yên bình, hạnh phúc và tôn thờ Thiên Chúa. Tuy nhiên, khi đang làm thư ký cho Nhà thờ Binondo, Lorenzo Ruiz đã bị buộc tội giết một người Tây Ban Nha, vì thế, Lorenzo Ruiz xin tị nạn trên một con tàu với sự giúp đỡ của ba linh mục Đa Minh.  

    Lorenzo Ruiz và một số bạn bè của ông rời đến Okinawa vào ngày 10 tháng 6 năm 1636, với sự giúp đỡ  của các cha Đa Minh. Khi đến Nhật Bản, các nhà truyền giáo đều bị bắt và tống vào tù. Sau hai năm, họ bị chuyển đến Nagasaki để xét xử bằng hình thức tra tấn. Ngày 27 tháng 9 năm 1637, Lorenzo Ruiz và những người bạn đồng hành bị đưa đến Đồi Nishizaka, nơi họ bị tra tấn và treo ngược. Phương pháp này cực kỳ đau đớn, vì nạn nhân bị trói, một tay luôn được thả tự do để họ có thể ra hiệu muốn rút lui, điều đó sẽ dẫn đến việc họ được thả. Nhưng Lorenzo Ruiz không chịu từ bỏ Cơ đốc giáo và chết vì mất máu và ngạt thở. Thi thể của Lorenzo Ruiz được hỏa táng và tro ném xuống biển.

    Lorenzo Ruiz được phong chân phước bởi một sử gia đáng kính, Cha Fidel Villarroel và Lorenzo Ruiz đã được phong chân phước trong chuyến viếng thăm của Giáo hoàng John Paul II khi Ngài đến Philippines. Đây là lễ phong chân phước đầu tiên được tổ chức bên ngoài Vatican trong lịch sử. Thánh Lorenzo Ruiz được phong thánh bởi cùng một vị giáo hoàng tại Vatican vào ngày 18 tháng 10 năm 1987, khiến Thánh Lorenzo Ruiz trở thành vị thánh đầu tiên của người Philippines. Việc phong thánh cho Thánh Lorenzo Ruiz dựa trên một phép lạ xảy ra vào năm 1983, khi Cecilia Alegria Policarpio, một bé gái hai tuổi mắc chứng teo não bẩm sinh đã được chữa khỏi sau khi gia đình và những người ủng hộ bé cầu nguyện xin Thánh Lorenzo Ruiz chuyển cầu.

    Ở Chicago, Thánh Lorenzo Ruiz được thờ tại Nhà thờ Old St. Mary.

    Mặt tiền của nhà thờ San Lorenzo, phía chân một cột trụ bên phải của nhà thờ, có hình tượng của một con chó đang nằm ngủ dưới chân cột, có lẽ nó đã được bàn tay khéo léo của một điêu khắc gia nào đó, đẽo cắt, rồi đặt vào chỗ ấy, mà mắt thường khó có thể nhận ra nếu không được ai chỉ cho thấy.  

    Civilitavecchia tọa lạc tại Lazio. Civilitavecchia là một thị trấn ven biển phía tây bắc Rome, Ý. Được xây dựng vào thế kỷ thứ 2, cảng Civilitavecchia có một số đặc điểm như Bến tàu La Mã, Pháo đài Michelangelo thế kỷ 16. Pháo đài Michelangelo không chỉ là một trong những biểu tượng của Civitavecchia mà còn là một trong những công trình kiến trúc quan trọng nhất của bờ biển Lazio. Gần đó, Bảo tàng Khảo cổ Quốc gia trưng bày các hiện vật bằng đồng và gốm. Phía đông bắc thị trấn là Terme Taurine, tàn tích của khu tắm nước nóng La Mã.

    Cảng Civilitavecchia

    Phố Civilitavecchia

    Phố Civilitavecchia

    • Vương cung thánh đường Thánh Phanxicô Assisi (tiếng Ý: Basilica di San Francesco d’Assisi; tiếng Latin: Basilica Sancti Francisci Assisiensis) là nhà thờ của Dòng tu sĩ Công giáo La Mã nhỏ ở Assisi, một thị trấn ở vùng Umbria ở miền trung nước Ý, nơi Thánh Phanxicô sinh ra và qua đời. Đây là một tiểu vương cung thánh đường của giáo hoàng và là một trong những địa điểm quan trọng nhất của cuộc hành hương Kitô giáo ở Ý. Với tu viện đi kèm, Sacro Convento, vương cung thánh đường là một địa danh đặc biệt đối với những người đến sinh sống ở Assisi. UNESCO công nhận là Di sản Thế giới từ năm 2000.

    Parrocchia Cattedrale San Francesco Assisi

    Vương cung thánh đường Thánh Phanxicô Assisi được khởi công xây vào năm 1228, bên sườn đồi bao gồm hai nhà thờ gọi là Nhà thờ Thượng,Nhà thờ Hạ và một hầm mộ, nơi an táng hài cốt của các vị thánh. Riêng nội thất của Nhà thờ Thượng có phong cách Gothic ở Ý. Nhà thờ Thượng và Hạ được trang trí bằng những bức bích họa của nhiều họa sĩ cuối thời trung cổ, các trường phái La Mã và Tuscan. Đồng thời bao gồm các tác phẩm của Cimabue, Giotto, Simone Martini, Pietro Lorenzetti và có thể cả Pietro Cavallini. Phạm vi và chất lượng của các tác phẩm mang lại cho vương cung thánh đường một tầm quan trọng và đặc biệt trong việc thể hiện sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật Ý trong thời kỳ này.

    Bên trong Parrocchia Cattedrale San Francesco Assisi

    Palermo là thủ đô của đảo Sicily, Ý. Vì lý do văn hóa, nghệ thuật và kinh tế, Palermo là một trong những thành phố lớn nhất ở Địa Trung Hải và hiện là một trong những điểm đến du lịch hàng đầu ở cả Ý và Châu Âu. Nhà thờ Palermo từ thế kỷ 12 có lăng mộ hoàng gia, trong khi Teatro Massimo tân cổ điển khổng lồ nổi tiếng với các buổi biểu diễn opera. Ở trung tâm thành phố có Palazzo dei Normanni, một cung điện hoàng gia được xây dựng từ thế kỷ thứ 9 và Cappella Palatina với những bức tranh khảm Byzantine. Các khu chợ sầm uất bao gồm chợ đường phố tọa lạc tại trung tâm Ballarò và Vucciria… Di sản Thế giới UNESCO công nhận Arab-Norman Palermo và Nhà thờ lớn Cefalù và Monreale.

    Cảng Palermo

    Phố Palermo

    • Chợ đường phố trung tâm Ballarò và Vucciria rất vui, đông người, nhộn nhịp và bán đủ mọi thứ từ thực phẩm, hải sản, rau củ và có cả bán thức ăn đã nấu sãn.

    Chợ đường phố trung tâm Ballarò và Vucciria

    Quầy rau củ quả

    Thức ăn đã nấu sãn

    THĂM THÀNH PHỐ IBIZA & VALENCIA (SPAIN)

    Ibiza là một trong những hòn đảo nhỏ nhất trong quần đảo Balearic, Tây Ban Nha ở biển Địa Trung Hải nơi có nền văn hóa phong phú lấy những gì tốt nhất từ ​​Tây Ban Nha và pha trộn với lối sống Balearic độc đáo của riêng mình. Ibiza nổi tiếng với cuộc sống về đêm sôi động ở Thị trấn Ibiza và Sant Antoni, nơi các câu lạc bộ đêm lớn ở châu Âu. Nhưng trong đất liền, quang cảnh thực vật tươi tốt, những ngôi làng yên tĩnh, các khu tập yoga. Dọc theo bờ biển là những vùng trời ngập nắng với bầu không khí trong lành. Từ Platja d’en Bossa với dãy khách sạn, quán bar và cửa hàng cho đến những vịnh cát yên tĩnh hỗ trợ bởi những ngọn đồi phủ thông xung quanh bờ biển. Ibiza được công nhận là di sản Thế giới UNESCO.

    Dọc theo bờ biển với dãy khách sạn, quán bar và cửa hàng

    • Phố cổ ở Ibiza còn biết đến là Dalt Vila, có nghĩa là thị trấn Thượng lưu (Upper Town).  Dalt Vila là một thành phố nhỏ được bao bọc trong một pháo đài cổ từ thế kỷ 16 và là một Di sản UNESCO. Trên đỉnh một ngọn đồi, Dalt Vila là điểm thu hút văn hóa chính trên đảo, với những thánh đường đẹp và lớn, những con đường lát đá, bảo tàng, nhà hàng, tu viện, cửa hàng, quảng trường xinh, v.v… Một số khu vực trông giống như những ngôi làng trắng nổi tiếng ở Andalucia, những khu vực khác trông giống một lâu đài và những khu vực khác vẫn trông giống như một khu phố bình thường.

    Thị trấn Thượng lưu (Upper Town), Dalt Vila

    Cổng Thị trấn Thượng lưu (Upper Town), Dalt Vila

    Nhà thờ Ibiza

    • Thị trấn mới là nơi có các tòa nhà sáng sủa và đầy màu sắc, cây cối tươi tốt và các cửa hàng bán mọi thứ, từ thời trang địa phương và cổ điển, đến đồ lưu niệm truyền thống được bày tràn ra đường.

    Valencia là thủ đô của cộng đồng tự trị Valencia, là đô thị đông dân thứ ba ở Tây Ban Nha và là trung tâm thành phố trở sản xuất tơ lụa lớn vào thế kỷ 18. Trong Nội chiến Tây Ban Nha, thành phố này từng là trụ sở tình báo của người Tây Ban Nha.

    Nằm trên bờ biển phía đông của Tây Ban Nha, thành phố 2000 năm tuổi này tự hào có những bãi biển rộng, kiến trúc đẹp, khung cảnh ẩm thực và văn hóa náo nhiệt. Đây là thành phố lớn thứ ba ở Tây Ban Nha, các điểm du lịch chính bao gồm nhà thờ, Trung tâm Mercado và Lonja de la Seda được UNESCO công nhận.

    Trên sân thượng của Valencia’s City Hall

    Bên trong của Valencia’s City Hall

    Dạo quanh thành phố Valencia

    Chợ Valencia

    Người Valencia thích tiệc tùng, Las Fallas thành phố được biết đến nhiều nhất vì một lễ hội hoang kéo dài năm ngày vào tháng 3. Khi những con rối giấy bồi khổng lồ được rước qua các đường phố và sau đó đem đốt cháy. Vào dịp Lễ hội hóa trang vào tháng 2 thì thành phố trở nên sống động với các bữa tiệc trên đường phố, có bắn pháo hoa và diễn hành. Những người ái mộ âm nhạc thường đến tham dự Festival de les Arts kéo dài hai ngày, với sự tham gia của các nhạc sĩ trong nước và quốc tế, nghệ thuật hiện đại và ẩm thực sáng tạo.

    Lễ hội hoang kéo dài năm ngày vào tháng 3

    Festival de les Arts

    Sau 7 ngày du hành trên biển, chúng tôi rời du thuyền MSC và thuê taxi về Greet Hotel Marseille ăn tối và nghỉ ngơi.

    Ngày 30 tháng 9, 2023-Sáng hôn nay, chúng tôi mướn taxi từ Greet Hotel Marseille với giá 300 Euros cho 5 tiếng (từ 11:00 sáng-4:00 chiều) để đi thăm 2 thành phố:

    SALON-DE-PROVENCE VÀ AIX-EN PROVENCE

    Salon-de-provence là một thành phố nhỏ, hiền hoà và yên tĩnh, năm 2017, có 45.528 dân số. Salon-de-Provence, thường gọi là Salon, là một xã nằm cách Marseille khoảng 52 km về phía tây bắc, thuộc tỉnh Bouches-du-Rhône, vùng Provence-Alpes-Côte d’Azur, miền Nam nước Pháp. Đây là nơi đặt căn cứ không quân quan trọng của Lực lượng Không quân và Vũ trụ Pháp.

    • Château de l’Empéri Salon de Provencelà một lâu đài từ thế kỷ thứ 9 được xây dựng trên đá Puech, thống trị vùng đồng bằng rộng lớn Crau thuộc xã Salon-de-Provence thuộc tỉnh Bouches-du-Rhône của Pháp. Nó được Bộ Văn hóa Pháp liệt kê là di tích lịch sử từ năm 1956. Lâu đài là nơi ở của các tổng giám mục Arles cũng như các hoàng đế La Mã Thần thánh. Sau này, lâu đài có tên là Đế chế bao gồm bờ Đông của sông Rhône. Trong năm 1481, vào thời điểm giao nhau với Provence, nó nằm dưới quyền lực của các vị vua Pháp. Trong thế kỷ 15 và 16, Château de l’Empéri được sử dụng làm nhà tù và doanh trại sau thời Cách mạng.

    Château de l’Empéri bị hư hại nặng nề bởi trận động đất vào năm 1909, các tòa nhà đã được Di tích Lịch sử khôi phục trong năm 1926 và là nơi đặt bảo tàng của Salon, hiện nay trở thành bảo tàng Nghệ thuật và Lịch sử Quân đội. Trong Empéri có nhiều vị vua và hoàng hậu của Pháp. Francis I và triều đình của ông, Louis XIV. Năm 1660, Catherine de’ Medici đến hỏi ý kiến Nostradamus, nhà chiêm tinh nổi tiếng đã dự đoán ngai vàng cho ba người con trai của bà và sự lên ngôi của cháu trai bà, vị vua tương lai Henri IV.

    Lâu đài chứa đựng những hình ảnh đại diện trung thực của các quân đoàn khác nhau từ Chiến tranh Napoléon cho đến ngày nay trong bảo tàng của nó. Bảo tàng còn có bản sao chiếc giường của Napoléon I tại Saint Helena. Cùng với moussue Fontaine và Nostradamus, lâu đài đã trở thành biểu tượng của thành phố.

    Aix-en provence là một thành phố đại học ở vùng Provence-Alpes-Côte d’Azur ở miền nam nước Pháp. Đây là nơi sinh của họa sĩ trường phái hậu ấn tượng Paul Cézanne. Con đường đi bộ nối các địa điểm bao gồm ngôi nhà thời thơ ấu của ông, Jas de Bouffan, và xưởng vẽ cũ của ông, Atelier Cézanne. Ngọn núi đá vôi trắng Sainte-Victoire nhìn ra thành phố cũng như vùng nông thôn xung quanh là chủ đề thường xuyên trong các tác phẩm của ông.

    Aix-en-Provence nổi tiếng với kiến trúc tuyệt đẹp, trong đó có Cathédrale Saint-Sauveur, một nhà thờ theo phong cách La Mã-Gothic có niên đại từ thế kỷ thứ 5. Aix-en-Provence thường được gọi là “Thành phố của ngàn đài phun nước” do có rất nhiều đài phun nước nằm khắp thành phố. Vào năm 122 trước Công nguyên, người La Mã đã từ bỏ cao nguyên Entremont và định cư tại một địa điểm có các dòng suối đang sủi bọt: Aquae Sextiae (vùng nước của Sextius) đã ra đời. Sau khi trở thành thuộc địa của La Mã, thị trấn là bước đệm giữa Ý và Tây Ban Nha, đồng thời phát triển thành một trung tâm đô thị và spa.

    Khác hẳn với Salon-de-provence, Aix-en provence rất vui và nhộn nhịp với những hàng quán mọc lên san sát nhau. Du khách đến thăm thành phố khá đông. Đây là thành phố du lịch mà trước kia những người Pháp giàu có ở Paris thường đến đây để nghỉ mát. Lối kiến trúc tại thành phố này tuy cổ kính nhưng được bảo trì kỹ và thường xuyên nên rất sạch sẽ, đẹp mắt và lôi cuốn khách thưởng ngoạn

    Ngày 01 tháng 10, 2023-Hôm nay là ngày Chủ Nhật, chúng tôi thuê taxi đi Marseille với giá 110 euros để chở chúng tôi đến downtown của Marseille lúc 10:30 sáng và đón chúng tôi về lại hotel lúc 4 giờ chiều. 

    Marseille là một thành phố cảng ở miền nam nước Pháp và là ngã tư của người nhập cư và thương mại kể từ khi được người Hy Lạp thành lập vào khoảng năm 600 trước Công nguyên. Vieux-Port là nơi những người bán cá, đó là sản phẩm mà họ đánh bắt được nên dọc theo bến cảng có nhiều thuyền. Marseille được biết đến với những bãi biển tuyệt đẹp, văn hóa và lịch sử phong phú. Marseille là một trong những thành phố sôi động và thú vị nhất ở Pháp. Từ người Hy Lạp cổ đại đến các nghệ sĩ và nhạc sĩ thời hiện đại, Marseille là nơi có nhiều nền văn hóa và ảnh hưởng đa dạng đã hình thành nên nét độc đáo của thành phố này.

    Được người Hy Lạp và La Mã cổ đại gọi là Massalia, Marseille là trung tâm thương mại quan trọng nhất trong khu vực và là cảng thương mại chính của Cộng hòa Pháp. Marseille hiện là thành phố lớn nhất của Pháp trên bờ biển Địa Trung Hải và là cảng lớn nhất cho tàu thương mại, vận chuyển hàng hóa và du lịch. Cái tên Marseille có nghĩa là “một nơi được bảo vệ” nhưng điều này không hoàn toàn chắc chắn. Thành phố được thành lập bởi các thương nhân Hy Lạp từ Phocaea vào thế kỷ thứ bảy trước Công nguyên ban đầu được gọi là Phokaia. Nó nhanh chóng trở thành một trung tâm thương mại quan trọng và là đối thủ của Carthage.

    Thành phố phát triển từ Cảng Vieux (Tên Cũ) và tàu đã cập cảng ở đó gần 3000 năm. Nhờ thương mại phát đạt, Marseille vẫn độc lập trong một thời gian dài. Mãi cho đến khi vua Louis XI thừa kế Marseille, sau cái chết của René d’Anjou (Bá tước Provence), thành phố này mới trở thành một phần của Pháp. Được biết đến với những bãi biển tuyệt đẹp, lịch sử phong phú và văn hóa sôi động, Marseille là một trong những thành phố sôi động và thú vị nhất ở Pháp. Từ người Hy Lạp cổ đại đến các nghệ sĩ và nhạc sĩ thời hiện đại, Marseille là nơi có nhiều nền văn hóa và ảnh hưởng đa dạng đã hình thành nên nét độc đáo của thành phố.

    Hải cảng Marseille

    Ngày nay, Hải cảng Marseille là một Hải cảng quốc tế nổi tiếng trên thế giới về lãnh vực xuất nhập cảng hàng hóa, giao thông cũng như vận chuyển bằng đường biển của các thương thuyền. Mặc dù ngày nay, Hải cảng Marseille không còn được ưa chuộng và thông dụng nhiều như trước vì phương cách vận chuyển bằng đường hàng không thịnh hành hơn phương cách vận chuyển bằng đường biển. Tuy nhiên, hiện nay, cảng Marseille lại trở thành một trong những bến đậu tấp mập của nhiều du thuyền và là địa điểm du lịch hấp dẫn, thu hút đa số du khách yêu thích đường hướng thưởng ngoạn và ngắm cảnh bằng đường biển. (GS Dương Ngọc Sum trước đây cũng có viết về Hải Cảng Marseille)

    Vì là ngày lễ nên một số cửa hàng thương mại đóng cửa, nhưng không vì thế mà phố phường kém vui và thiếu phần nhộn nhịp… Đường phố vẫn đông người qua lại và các quán ăn vẫn đầy thực khách. Đây là lần thứ hai chúng tôi trở lại Marseille. Trong lần trước, cách đây 5 tháng, du thuyền Royal Caribbean chỉ dừng lại Marseille có một ngày nên chỉ đủ đi city tour-cable car và đi shopping chút đỉnh là hết giờ. Lần này, chúng tôi quyết định ở lại thành phố Marseille thêm 3 ngày nữa để có đủ thời gian khám phá và tìm hiểu thêm về tầm vóc quan trọng của Hải cảng Marseille với một thời vang bóng.

    Hải Cảng Marseille hôm nay nhộn nhịp hơn những ngày thường. Từ 9 giờ sáng, các quán bar, tiệm cà-phê, nhà hàng đã chuẩn bị bàn ghế, thực phẩm để đón khách đến ủng hộ trận đấu World Cup 2023-WALLABIS de RUGBY. Những chiếc áo thun màu xanh rêu đậm với huy hiệu của 2 đội được các “khách ngưỡng mộ” của họ mặc trên người và đi tràn ngập đường lối. Những lá cờ màu xanh, đỏ, vàng tượng trưng cho mỗi đội tung bay trong gió, trông thật vui mắt.

    “Khách ngưỡng mộ” đội banh WALLABIS

    Vì thế mà con đường chính của trung tâm thành phố Marseille, ngay trước bến tàu tràn ngập người, vừa khách du lịch lẫn dân bản xứ vì 2 lý do:

    Hôm nay, con đường chính của trung tâm thành phố Marseille tràn ngập người vì ngoài Trận đấu World Cup 2023-WALLABIS de RUGBY giữa hai đội banh Australia & Portugal. (WALLABIS de RUGBY là một bộ môn thể thao giống như Football của Mỹ nhưng cái khác biệt là các cầu thủ của đội banh WALLABIS không đội mũ an toàn trong trận đấu).

    Trận đấu World Cup 2023-WALLABIS de RUGBY

    Những chiếc áo thun màu xanh rêu đậm với huy hiệu của 2 đội được các “khách ngưỡng mộ” của họ mặc trên người và đi khắp phố và phía dưới là những poster quảng cáo và ủng hộ đội banh WALLABIS de RUGBY.

    Ngoài ra còn có một cuộc biểu tình phản đối một vấn đề nào đó, liên quan đến nhà nước giữa hai phe bảo thủ và cấp tiến. Vì thế đường phố rất ồn ào, náo nhiệt bởi tiếng hô hào quá lớn qua microphone. Trên nhiều góc phố, chúng tôi nhận thấy có khoảng 30 tới 35 cảnh sát viên suất hiện với vũ trang trên người, có lẽ để bảo vệ sự an toàn cho người dân và du khách.

    • Saint-Vincent-De-Paul Churchnằm ở phía trên Canebière, ở quận Thiers, địa chỉ là 2-3 Cours Franklin Roosevelt, một đại lộ được đặt theo tên của Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt (1882–1945). Saint-Vincent-De-Paul Church được xây dựng trên một tu viện và nhà nguyện đã bị phá hủy của những người theo đạo Augustinô Cải cách, điều này giải thích tại sao nó thường được gọi là “Les Réformés” mặc dù là một nhà thờ Công giáo La Mã. Nhà nhà thờ được thiết kế bởi kiến trúc sư François Reybaud và tu viện Joseph-Guillaume Pougnet, xây dựng từ năm 1855 đến năm 1886.

    Saint-Vincent-De-Paul Church

    Saint-Vincent-De-Paul Church mang phong cách tân Gothic, với các lề đường hình ogival trên trần nhà. Các kiến trúc sư lấy cảm hứng từ Nhà thờ Reims và Nhà thờ Amiens. Hai mũi tên cao 70 mét. Cổng đồng được thiết kế bởi Caras-Latour, bàn thờ cao được thiết kế bởi Jules Cantini (1826-1916), và cửa sổ màu được thiết kế bởi Édouard Didron (1836-1902). Ngoài ra, nhà điêu khắc Louis Botinelly (1883-1962) đã thiết kế các bức tượng của Joan of Arc và của Chúa Giêsu. Về phần ống đàn organ, chúng được chế tạo bởi Joseph Merklin (1819–1905).

    • Ẩm thực của Marseille: Trời hôm nay dịu mát nên rất thích hợp cho việc đi dạo phố và ngắm cảnh, thưởng thức những món ăn thuần túy của Marseille. Ẩm thực của Marseille không có gì đặc sắc nếu đem so với các vùng khác của Pháp. Từ món cá truyền thống đến súp rau tươi, từ trứng cá muối Provençal đến bánh ngọt, bánh trái cây, v.v…Tuy nhiên, những đặc sản ẩm thực truyền thống ấy đã trở thành huyền thoại ở thành phố Marseille và chúng sẽ làm hài lòng vị giác của mọi du khách.

    • Basilique Notre-Dame-de-la-Garde là một nhà thờ theo phong cách La Mã-Byzantine. Notre Dame de la Garde cao 157 mét, một khung cảnh ngoạn mục của toàn bộ thành phố Phocaean. Notre Dame de la Garde nằm trên ngọn đồi cao nhất gần Cảng Marseille. Tháp chuông của Notre Dame de la Garde cao 41 mét. Tượng Đức Mẹ Maria thống trị vương cung thánh đường bằng vàng dài 11,20 mét và nặng gần 9.796 kg! Nó được sản xuất bởi công ty Christofle và cần được mạ vàng 500 gram vàng mỗi 1/4 thế kỷ. Bên trong, kích thước trở nên khiêm tốn hơn: gian giữa dài 32,7 mét và rộng 14 mét. Nhà thờ có sức chứa 3.000 chỗ ngồi và hướng ra biển. Các nhà nguyện có kích thước 3,8 mét x 5,4 mét. Notre Dame de la Garde hoàn tất sau 40 năm xây cất. Nhà thờ có sức chứa 3.000 chỗ ngồi và hướng ra biển

    Lịch sử Notre Dame de la Garde bắt đầu từ “Bonne Mère” được biết đến với cái tên “La Bonne Mère”, được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1214 – lúc đó La Bonne Mère là một nhà nguyện nhỏ, xây dựng lại vào thế kỷ 15 trước khi bị phá hủy lần thứ hai vào năm 1853, để nhường chỗ cho một vương cung thánh đường lớn hơn với mục tiêu là có một nơi đủ rộng để chứa những người hành hương ngày càng đông. Bên trong nhà thờ, các vật liệu xây cất là đá cẩm thạch trắng từ Carrara và đá cẩm thạch đỏ từ Brignoles cùng với đồ khảm theo phong cách Byzantine. Dưới vương cung thánh đường, hầm mộ được đào thẳng vào đá, được hoàn thành trước vương cung thánh đường. Sự khác biệt về phong cách giữa hầm mộ và vương cung thánh đường: Vương cung thánh đường với lối trang trí rất phong phú và bằng vàng, trong khi hầm mộ và lối trang trí rất trang nhã, không có tranh vẽ hay trang trí vật gì.

    Basilique Notre-Dame-de-la-Garde

    Ngày 2 tháng 10, 2023-Trong chuyến xe lửa trở lại Paris, nhóm chúng tôi gặp lại nhau lúc 2 PM tại Gare Marseille, Saint Charles để cùng nhau về lại Paris. Riêng NV Ngọc Cường cùng vợ là chị Bích Điệp sẽ lấy xe lửa đi Toulouse thăm bạn. Anh chị Vĩnh Cửu & Bạch Kim sẽ tiếp tục chuyến du hành vùng Western Europe từ Gare Marseille Saint Charle. Phần còn lại thì cùng chúng tôi đi xe lửa về Paris. 

    Gare Marseille, Saint Charles

    Sau hơn 3 tiếng, xe lửa đến Gare De Lyon lúc 5:30 chiều. Chúng tôi lại chia tay mỗi người một ngả.  Đến Gare De Lyon, Mạnh Bổng & Khánh Lan lấy taxi về Le Mesnilamecot Hotel. Anh chị Tấn Công & Thanh Vân mướn phòng tại một nhà dòng ở Paris; NV Việt Hải, Lệ Hoa, Hoàng Loan và Thụy Lan sẽ đi thăm bạn ở Paris. Riêng NV Việt Hải và Lệ Hoa sẽ ở lại Paris cho đến tháng 10 ngày 09 để viếng thăm thành phố Bordeaux, một nơi nổi tiếng về rượu vang, trước khi trở về Mỹ. Mạnh Bổng & Khánh Lan sẽ ở khách sạn tại vùng ngoại ô Paris, gần phi trường CDG cho đến ngày 05 tháng 10 thì trở về Mỹ.

    Ngày 3 tháng 10, 2023-XUỐNG PHỐ PARIS

    Sáng nay, Paris mới thật sự vào thu. Bầu trời chuyển qua màu xám nhạt, mang theo những giọt mưa đầu mùa nhè nhẹ nhưng cũng đủ làm ướt mặt đường phố. Một vài nơi, cây đã đổi màu vàng và đỏ. Vì còn ở lại Paris thêm 3 ngày nữa nên sau khi ăn điểm tâm tại hotel, chúng tôi lấy xe bus Mairie de Mautegard đến phi trường CDG. Sau đó, mua vé xe metro đi đến Downtown Paris.

    Xuống trạm xe gần nhà Gare Du Nord khoảng 10:30 sáng, chúng tôi lang thang qua nhiều con đường và rất nhiều khu phố. Tuy đi bộ xa như thế nhưng chúng tôi lại cảm thấy rất thú vị và không cảm thấy mệt vì chúng tôi thường xuyên dừng lại ở vài tiệm bên đường để thưởng thức quà vặt như bánh ngọt, bánh Crâpes nhân chocolate, trái cây & nhâm nhi ly café Cappuccino…

    bánh Crâpes nhân chocolate và Nhâm nhi ly café Cappuccino

    Đến trưa, chúng tôi ghé vào tiệm Bistroi Boétie trên Rue La Boetie. Cả hai đều đói nên chúng tôi gọi 2 đĩa beef steaks, khoảng 40 euros. Tiệm này làm nón Pepper Steak và Red Wine Steak rất ngon.

    Ăn xong, chúng tôi tiếp tục quốc bộ lên tận Avenue Des Champs Élysée,

    Sau đó, chúng tôi tiếp tục đi “window shopping” và ăn tối.

    Ghé vào tiệm Lafayette, ngắm quần áo, phấn son, v.v…

    Lafayette department store on Avenue Des Champs Élysée

    …rồi đến Arc De Triomphe De L’étoile chụp vài tấm hình làm kỷ niệm.

    Arc De Triomphe De L’étoile

    Đến 6 giờ chiều, chúng tôi đón taxi trở về hotel. Paris chẳng khác gì so với Los Angeles, trên đường phố, ngoài xa lộ lúc nào cũng bận rộn. Chúng tôi phải trả tiền taxi khá cao vì là giờ cao điểm. Nếu ai quen với hệ thống metro tại Pháp thì sẽ rẻ hơn rất nhiều.

    Ngày 4 tháng 10, 2023-Ngày cuối ở Paris, chúng tôi đi bộ quanh khu làng của quận Marne gần hotel của chúng tôi. Khi rẽ vào con đường chính Rue De Claye, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận thấy đây là một khu phố cổ kính. Những căn nhà cũ kỹ có lẽ đã được xây cả mấy trăm năm trước. Đường phố chật hẹp, lồi lõm nhiều chỗ, nhiều bức tường đã bị tàn phá theo thời gian, trơ trụi với lớp gạch bên trong. Thông thường, khi nhìn lối kiến trúc, người ta có thể đoán được số tuổi của khu phố, thí dụ ngày xưa khi xây tường, người ta xếp những viên đá hay những viên gạch bể, vụn ghép lên nhau, mái ngói và cửa sổ theo thời cổ đại, v.v…

    Một số công sở, khu đất trống và nhiều villa không được bảo trì hoặc bỏ hoang, nên đã bị chính phủ công hữu hoá tài sản. Tuy nhiên, cũng có một số nhà đang trong tình trạng sửa chữa hoặc các xí nghiệp đang ở trong công trình kiến thiết xây dựng lại.

    Đi cả khu phố, chúng tôi chỉ thấy vỏn vẹn 2 tiệm bán Pizza, một nhà hàng Nhật, một tiệm bánh ngọt, một chợ nhỏ, một trường học cho trẻ em và một nhà thờ. Chúng tôi ăn trưa tại tiệm Pizza tên TOP PIZZA. Tiệm khá đông khách. Giá phải chăng và rất ngon.

    Ăn trưa xong, chúng tôi tiếp tục đi sâu vào trong làng, rồi rẽ qua các con hẻm nhỏ.  Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là càng đi vào sâu trong làng, có rất nhiều những ngôi nhà khang trang và đẹp và cứ khoảng chục căn nhà lại được bao quanh bởi một cái cổng lớn giống như khu “Gated residents” hay apartments hay townhouses ở Mỹ.

    Chúng tôi trở lại hotel lúc 2 giờ chiều để sửa soạn hành trang, chuẩn bị ngày mai lên đường trở về Mỹ. Sau 4 lần đến Pháp, những gì chúng tôi mơ ước được viếng thăm, tìm hiểu có lẽ đã tạm đủ.

    Tạm biệt Paris! Không biết bao giờ sẽ trở lại nhưng chắc hẳn những hình ảnh đẹp của Paris sẽ vương vấn mãi trong tim chúng tôi.

    AU REVOIR PARIS…

    Khánh Lan, Paris 10/04/2023.

    —————————————————————————————————————–

    PARIS ĐẸP LẮM – Tản Mạn – Nhất Hùng

    Chúng tôi đến phi trường Charles De Gaulle Pháp vào một buổi sáng đầu tháng 9, trời se se lạnh, Paris đang vào thu, đã có nhiều lá rụng bên đàng và loang loáng vàng trên các hàng cây khắp phố. Lấy khách sạn ở Quận 7, bên dòng sông Seine, gần tháp Eiffel, check in xong liền đi bộ đến Tháp. Trên đường, tôi háo hức, lăng xăng chụp ảnh, chụp tất cả những gì tôi thấy, chụp kiến trúc, hàng cây, sông nước, phố xá…góc cạnh nào cũng đẹp. Chụp cả các cô đầm Pháp đạp xe thật nhanh, thật vội…có lúc áo đầm bay tung dưới gió, nom lạ mắt lắm. Chương trình đi thăm cảnh 15 ngày, mỗi ngày một nơi, có điểm chúng tôi phải ở lại hai ba ngày. Tôi viết ký sự, ghi vắn tắt những điểm đã viếng kèm hình ảnh nơi đến.

    Các Quận nội đô có nhiều công trình kiến trúc cổ vừa mỹ thuật vừa đồ sộ. Phố lúc nào cũng nhộn nhịp người qua lại, có du khách, có người đi làm. Lúc kiến tạo Paris, các nhà kiến trúc phân lô theo dáng mũi tàu nên tạo ra nhiều ngã năm, ngã bảy…cá biệt có ngã mười hai như các đường chung quanh Khải Hoàn Môn, không như Sài Gòn, nói ngã sáu, ngã bảy ai cũng biết ở đâu, như vậy, SG chỉ có một hai bùng binh nhiều ngã. Cách phân lô này tạo nên nhiều góc phố đẹp, nhộn nhịp. Nhiều con phố gợi nhớ lại các phố Tự Do, Lê Lợi, Nguyễn Huệ…của Sài Gòn ngày trước. Các quận ngoại thành có những công trình cao tầng, chung cư, cơ xưởng, văn phòng làm việc không thua kém bất cứ quốc gia tân tiến nào. Vóc dáng người Pháp có vẻ nhỏ hơn người Bắc Mỹ, đặc biệt các thiếu nữ Paris, đa phần nhỏ nhắn, mình hạc vóc mai thanh mảnh lắm, có lẽ họ đi bộ, đạp xe nhiều. Một tài xế taxi giải thích, họ ăn uống cẩn thận, tập thể dục đều đặn và rất chăm chút vóc dáng để còn diện thời trang. Nhưng khi đi về các tỉnh xa vẫn thấy còn nhiều Bà Đầm “hái nho”, quá khổ, bề thế lắm.

    Trong các quận nội thành Paris, “Café – Restaurant” nhiều, nằm san sát, nhất là những góc phố. Quán nào cũng đông khách. Có vẻ như người Pháp thích ăn uống bên vỉa hè để ngắm phố…ngắm thời trang…ngắm anh đi qua cô đi lại. Mặc dầu hàng quán lấn hè (có phép) nhưng bàn ghế ngăn nắp trật tự, khách ngồi ngay hàng thẳng lối, không lộn xộn, không cản trở khách bộ hành. Chủ quán giữ luật mà khách cũng tôn trọng quy ước này.

    Ở Paris, vợ chồng – tình nhân – trai gái ôm hôn nơi công cộng tự nhiên thoải mái, nom dễ thương và thích lắm. Lúc nghỉ trưa trong vườn Luxembourg, trước cả ngàn con mắt, một cặp tình nhân rất đẹp đến trải khăn rồi nằm bên cạnh chúng tôi, họ nằm lên nhau, ôm hôn, âu yếm… rất bạo cứ như là chốn không người. Máy ảnh của tôi sẵn sàng 24/24 nên có hình ngay, gởi bạn xem để nói có sách mách có chứng. Người Pháp nói chung, các thiếu nữ Pháp nói riêng còn hút thuốc lá nhiều quá…

    Chúng tôi cùng đi bộ lẫn trong dòng du khách nhưng không bận tâm đến những lời cảnh báo về trộm cắp ở Paris vì không mang theo thứ gì quý giá trên người, giấy tờ và một ít tiền tiêu vặt được để vào một túi nhỏ trong quần, trước bụng nên thoải mái lắm. Phố du lịch đông người nên cũng kém vệ sinh nhưng không như lời đồn thổi. Có bảng chỉ dẫn đến toilet, bỏ một đồng, cửa tự động mở, chuyện nhỏ mà…có là tốt rồi. Có những khu phố, khu chợ của người Trung Đông, bề bộn và xô bồ lắm nhưng đó là “văn hóa” của họ. Ở Paris, chúng tôi có đến phố Tàu, phố Việt…nom khang trang, sạch sẽ, có bán đủ món ăn thức uống, tạp hóa, tạp phẩm Á Đông. Phở Việt Nam ở Paris ngon lắm.

    Người Paris tử tế…cứ Bon Jour với họ trước…nếu có bất đồng ngôn ngữ họ vẫn tìm cách giúp đỡ mình.

    Đến xứ lạ, gặp người lạ, có trăm điều để kể nhưng bạn nên sắp xếp đến Paris để trải nghiệm một lần cho biết…thú vị lắm. Chẳng thế mà Paris luôn nằm trong danh sách những điểm du lịch có đông khách nhất trên thế giới.

    Chia sẻ với bạn vài nơi chúng tôi thăm viếng:

    THÁP EIFFEL

    Từ khách sạn đi bộ đến Tháp Eiffel (Tour Eiffel), đây là công trình kiến trúc bằng thép nằm trong công viên Champ de Mars, bên sông Seine do kỹ sư Gustave Eiffel thiết kế, xây dựng từ năm 1887 tới năm 1889. Tháp là biểu tượng của kinh đô ánh sáng Paris và của nước Pháp. Buổi tối, tháp được thắp sáng và cứ thỉnh thoảng lại có đèn nhấp nháy. Du khách đông, nhất là ban đêm, khi tháp lên đèn.

    TU VIỆN MONT SAINT MICHEL

    Từ Paris, chúng tôi lái xe gần 4 tiếng vượt hơn 350 Km, qua nhiều thị trấn nhỏ, đẹp và yên bình để đến Saint Michel. Núi Saint Michel là một đảo ở Normandie. Theo tài liệu, từ thế kỷ 8, có một tu viện mà từ đó đã hình thành lên cái tên Mont-Saint-Michel.  Tu Viện có vị trí độc đáo khi nằm trên một hòn đảo chỉ cách đất liền gần 1km nên dễ dàng cho người hành hương tiếp cận khi thủy triều xuống. Mực thuỷ triều ở Mont Saint Michel có mức lên – xuống đỉnh, lúc lên, cao tới gần 13 m và xuống chỉ trong vài tiếng đồng hồ. Chính sự thay đổi này khiến tu viện khi thì giống một ngọn đồi trên cạn khi lại giống một hòn đảo chơ vơ nổi giữa đại dương. Lại có thời điểm Tu Viện Mont Saint Michel trông giống như một lâu đài lơ lửng trên mây, những lâu đài trong các câu chuyện cổ tích hoặc như một pháo đài trong các phim huyền thoại Hollywood “Chúa Tể Của Những Chiếc Nhẫn”.

    Trên đường lái xe về, chúng tôi chợt nhớ và mở đi mở lại bài “Paris Có Gì Lạ Không Em” – Thơ Nguyên Sa – Nhạc Ngô Thụy Miên – Thái Thanh hát. Bài này chúng tôi đã nghe lắm lần nhưng hôm nay nghe lạ lắm. Nghe hay hơn, cảm xúc hơn, ôi lãng mạn quá.

    OMAHA NORMANDIE 

    Trên đường lái xe về Paris từ Mont Saint Michel, chúng tôi đến viếng Omaha, một bãi biển dài tám kilomet của vùng Normandie Pháp, đối diện với Eo biển Manche Anh, đây là một trong năm khu vực đổ bộ của quân đội Đồng Minh trong Chiến Dịch Neptune – Chiến Dịch Overlord ngày 6 tháng 6 năm 1944 (Ngày D) trong Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai. Cuộc đổ bộ vào Omaha được thực hiện bởi Quân đội Hoa Kỳ, Anh, Canada và Pháp Tự Do. Đứng từ ngoài biển nhìn vào bãi, không một chướng ngại che chắn cho quân đổ bộ, tưởng tượng biết bao người lính đã ngã gục trên bãi, cảm giác mạnh lắm, thật xúc động. Tôi thấy bãi cát thắm hồng, không biết đó là hiện tượng thiên nhiên hay máu những người lính Hoa Kỳ đã đổ xuống nhuộm đỏ cả bãi biển Omaha.

    THÀNH PHỐ CẢNG MARSEILLE

    Đi tàu điện cao tốc từ Paris đến Cảng Marseille 800 Km nhưng chỉ mất ba giờ, cảng thơ mộng, đẹp ngoài tưởng tượng. Thành phố nằm bên biển Méditerranée và là thủ phủ của tỉnh Bouches-du-Rhône. Tàu bè trên cảng, lớp ra vào tấp nập, lớp neo đậu san sát nhau, phố xá náo nhiệt và nhộn nhịp khôn tả. Ở cảng Marseille, lúc đi bộ, lúc đi tour bus du lịch dọc theo cảng biển Vieux Port, ngắm nhìn bãi biển xanh ngắt thơ mộng dưới ánh nắng rực rỡ, tận hưởng vẻ mênh mông kỳ vĩ của bờ biển Địa Trung Hải. Chưa thỏa mãn, chúng tôi thuê thuyền dong buồm ra biển để trải nghiệm cách cưỡi thuyền buồm và chiêm nghiệm những vịnh nước sâu, trong vắt, những vách đá trắng mà người Pháp gọi là những “Calanques” và được bơi giữa dòng nước trong, xanh biếc với vô số cá lội chung quanh. Thành phố Marseille được bao quanh bởi nhiều Calanques. Những núi đá trắng ngà kết hợp với biển xanh tạo nên những hình ảnh đẹp hơn tranh vẽ, ai đó cho xem một bức tranh hay một tấm ảnh chụp, tôi cũng không tin đó là thật, chỉ đến khi tận mục quan chiêm, mới biết thiên nhiên diễm ảo, kỳ diệu đến dường nào. Đã thế, khí hậu lại ôn hòa vì ảnh hưởng các dòng nước chảy dưới biển. Là người thích du lịch bạn phải đến đây một lần trong đời, nếu không, bạn sẽ không tưởng tượng hết được vẻ đẹp kỳ vĩ huyền ảo của biển của thiên nhiên. 

    Trên đồi cao có Nhà thờ Notre Dame de la Garde, với lối kiến trúc cổ kính cao gần 162m, leo qua 172 bậc thang mới tới sân nhà thờ. Tại đây bạn có thể ngắm toàn cảnh phố Marseille vô cùng xinh đẹp. 

    ĐỒI MONTMARTRE – NHÀ THỜ SACRÉ COEUR & QUẢNG TRƯỜNG TERTRE

    Đổi khách sạn đến gần Montmartre, chúng tôi leo đồi Montmartre ba lần trong ba ngày mới mong có đủ trải nghiệm nơi này, đồi lớn thuộc Quận 18. Trên đỉnh đồi là nhà thờ Sacré Coeur nổi tiếng ở Paris, xây dựng vào cuối thế kỷ 19. Đến Thánh đường Sacré-Cœur, không chỉ được chiêm ngưỡng một tòa thánh cổ thật đẹp mà còn được ngắm một Paris từ trên cao, nhìn Paris lộng lẫy. Nhà Thờ có quả chuông Savoyarde, lớn nhất  Pháp. Montmartre có khung cảnh nghệ thuật, không khí nghệ sĩ, nhiều nhà hàng, quán cà phê, phòng tranh, cửa hàng đồ lưu niệm… Có thang máy Funiculaire đưa du khách dưới đồi lên đỉnh. Từ trong thang máy, ta ngắm nhìn thành phố Paris, ngắm tháp Eiffel, Nhà thờ Đức Bà Paris, Tháp Montparnasse và nhiều cảnh đẹp khác.

    Cạnh Thánh đường Sacré-Cœur có QUẢNG TRƯỜNG TERTRE (Place du Tertre) nằm trong làng Montmartre. Pháp có câu: “Thế giới thuộc về những người dậy sớm”. Hừng đông là khoảnh khắc đẹp nhất, Quảng trường Tertre cũng vậy, một ngôi làng cổ với không gian tĩnh lặng, thanh bình…trước khi du khách tấp nập đổ về. Khu vực trung tâm quảng trường đầy màu sắc. Vừa nhâm nhi ly cà phê vừa ngắm họa sĩ vẽ tranh trên quảng trường Tertre dưới ánh nắng nhẹ buổi sáng là niềm vui và thư giãn trước khi tiếp tục leo đồi.

    VƯỜN LUXEMBOURG

    Đi bộ loanh quanh ngắm cảnh rồi đến Luxembourg (vườn Lục Xâm Bảo) là khu vườn lớn và nổi tiếng ở Paris. Trong vườn có Viện Bảo Tàng Luxembourg. Đây là khu người dân thành phố, khách du ưa thích và thường vào nghỉ hoặc ăn trưa. Bao quanh vườn là hàng rào sắt nhọn, mũi mạ vàng. Trong vườn có nhiều tượng thần Hy Lạp, nhiều tượng thú trên bãi cỏ, không gian rợp bóng cây xanh được cắt tỉa công phu và thật đẹp. 

    Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu từng học tại Paris đã sáng tác ca khúc nổi tiếng “Mùa thu không trở lại”, trong đó có câu “qua vườn Luxembourg, sương rơi che phố mờ, buồn này ai có mua”. Nhà thơ Cung Trầm Tưởng có bài thơ “Mùa thu Paris” với câu: “Mùa thu âm thầm / Bên vườn Lục-Xâm / Ngồi quen ghế đá / Không em buốt giá từ tâm..” 

    CUNG ĐIỆN VERSAILLES

    Đón Taxi đến Cung điện Versailles, điện nằm phía tây của Paris. Được xây dựng vào năm 1624, là biểu tượng của hoàng gia, kiến trúc theo phong cách cổ điển. Versailles là một trong những cung điện lớn nhất thế giới với hơn 2300 phòng ngủ, nhiều cầu thang, phòng khách, phòng ăn, phòng thư viện, phòng triển lãm và vườn thượng uyển thật lớn gồm nhiều hồ nước, vườn nhỏ và lâu đài…Từng căn phòng, hành lang được chăm chút tỉ mỉ với kiến trúc và nội thất xa hoa. Cầu thang Đại Đế trong điện được xây dựng to lớn từ đá cẩm thạch. Trong Điện trang trí những tác phẩm nghệ thuật, tường và trần được vẽ chân dung các vị hoàng đế và hoàng hậu. Phòng ngủ trang trí đẹp, thiết kế sang trọng lộng lẫy và mê hoặc với các rèm cửa bằng lụa. Nhưng nóng lắm vì không có máy lạnh, còn mùa đông, đã có nhiều lò sưởi lớn nên chắc là đủ ấm. Đứng ngắm mãi phòng ngủ, rèm che, giường gối Hoàng Hậu nằm, tưởng tượng miên man, nghĩ ngợi lung tung, chợt nghĩ, nóng quá, nóng như thế này còn mần ăn gì nữa…chả lẽ có người hầu đứng quạt. Rồi chợt nhớ, vợ chồng tôi ngày trước cũng thế, Sài Gòn nóng như đổ lửa, không máy lạnh, không quạt máy (có quạt thì cũng bị cúp điện triền miên), tối ôm nhau, mồ hôi mồ kê nhễ nhại mà có sao đâu…nghĩ nay rồi lại nghĩ xưa…ôi biết bao kỷ niệm tràn về.

    BẢO TÀNG VIỆN LOUVRE 

    Thuê xe đạp, đạp xe dạo phố rồi đến Viện Bảo Tàng Louvre. Nằm bên hữu ngạn sông Seine ở thủ đô Paris của nước Pháp, Louvre là một trong những bảo tàng nổi tiếng nhất trên thế giới với kiến trúc tráng lệ và là nơi lưu trữ những kiệt tác nghệ thuật vô giá của Pháp. Bảo tàng Louvre đã đi vào lịch sử như là một công trình kiến trúc độc đáo, một biểu tượng của nước Pháp. Được du khách đánh giá là một trong những công trình kiến trúc có nhiều cái nhất: -Là Bảo Tàng Viện lớn nhất thế giới, -Là cung điện của nhiều triều đại nhất, -Là biểu tượng của sức mạnh và sự giàu có nhất, -Là bảo tàng sở hữu nhiều bộ sưu tập khổng lồ nhất, -Là bảo tàng được truy cập trên Web nhiều nhất -Là bảo tàng đón nhiều khách tham quan nhất, -Là bảo tàng có kiến trúc độc đáo nhất, -Là bảo tàng lưu giữ nhiều kiệt tác nghệ thuật vô giá nhất,. -Là bảo tàng có kim tự tháp bằng kính độc đáo nhất, -Là bảo tàng phát sáng nhất.

    NHÀ HÁT OPERA PALAIS GARNIER

    Trong một ngày dạo quanh ngắm phố, chúng tôi có thăm Nhà Hát Opera Palais Garnier, nhà hát lớn nhất Paris. Đây là một trong những di tích lịch sử ấn tượng với phong cách kiến trúc cổ điển cùng những bức tượng điêu khắc nổi tiếng. Hôm chúng tôi đến, không biết lý do gì, mặt trước nhà hát được che lại bằng một bức họa khổng lồ.

    KHẢI HOÀN MÔN

    Mướn xe, ngắm phố, lái đến xem Khải Hoàn Môn, kiến trúc toạ lạc ở đầu phía Tây của đại lộ Champs-Elysées, đại lộ nổi tiếng nhất Paris, Khải Hoàn Môn nằm ngay giữa quảng trường Charles De Gaulle – Étoile, được xây dựng vào năm 1806, dưới thời hoàng đế Napoleon I để tôn vinh quân đội Pháp và kỷ niệm những chiến thắng lẫy lừng. Khải Hoàn Môn nhộn nhịp và sầm uất, thể hiện rõ phong cách sống cũng như những nét văn hoá hiện đại của Paris, khu vực này thu hút rất đông khách du lịch

    DU THUYỀN TRÊN SÔNG SEINE

    Sông Seine nổi tiếng. Có vé đi du thuyền trên sông Seine ngày và đêm. Chúng tôi chọn mua vé đi ban đêm, lúc tháp Eiffel vừa lên đèn. Cảnh vật hai bên bờ như một bức tranh sống động, lộng lẫy và đẹp như tranh bao gồm cảnh quan của thủ đô Paris, thuyền chạy dưới nhiều cây cầu bắc ngang sông. Mỗi cây cầu là một công trình kiến trúc tuyệt vời. Du thuyền trên sông Seine là một trải nghiệm thú vị. Ta có cơ hội ngắm nhìn thành phố từ một góc khác, ngắm các công trình kiến trúc, các danh thắng nổi tiếng của Paris như Nhà thờ Đức Bà Paris, Bảo tàng Louvre, Tháp Eiffel…Ngày đã đẹp, đêm xuống, phố lên đèn càng đẹp hơn.

    PHỐ THỜI TRANG

    Đến Paris, không chỉ khám phá những cảnh quan tuyệt đẹp, thưởng thức những món ăn ngon, mà còn đi xem phố thời trang và mua sắm. Paris là kinh đô của Mỹ phẩm – Thời trang – Nước hoa và các mặt hàng xa xỉ…đi mua sắm cũng là trải nghiệm cuộc sống ở Paris. Cửa hàng thời trang có rải rác khắp nơi, nhưng một số khu vực có mật độ cửa hàng lớn với các trung tâm mua sắm nổi tiếng. Chanel đã và vẫn khẳng định vị thế, đẳng cấp của mình. Khi đến cửa hàng Chanel, đã nhiều khách phải đợi ở ngoài cửa vì bên trong đã đông người, chờ khách ra bớt chúng tôi mới được vào.

    PARIS BY NIGHT

    Paris từng nổi tiếng là Kinh Đô Ánh Sáng. Về đêm khi phố lên đèn, có rất nhiều vị trí khung cảnh chụp ảnh rất đẹp, tối nào có dịp, tôi đều vác máy đi chụp một số ảnh đêm Paris..

    Trên đường ra phi trường, lưu luyến giã từ Paris, trở về Washington DC – Hoa Kỳ, chúng tôi khẽ nghe lại bản nhạc “Để Quên Con Tim”. Lòng chùng xuống, tự hiểu mình… biết khó có dịp trở lại với Paris…chắc chắn là tôi sẽ nhớ Paris thật nhiều.

    Trăm nghe không bằng mắt thấy, phải tận mắt mục thị quan chiêm, bạn mới cảm thấy được hết cái dễ thương, cái diễm kiều, cái đáng yêu của Paris.

    Nhất Hùng

  • NGOC CƯỜNG, NGUYỄN TƯỜNG CƯỜNG,  Văn Thơ

    Ước Vọng Khôn Nguôi

    (Tưởng Nhớ Nhà Văn Tường-Hùng 1931-2023)
    Ngọc Cường

    LTS : Kiến trúc sư, nhà văn, và đạo diễn phim ảnh Nguyễn Tường Hùng vừa qua đời tại Paris.
    Để đóng góp cho số tưởng niệm về ông, Tạp Chí Da Màu xin đăng bài viết dưới đây của Ngọc Cường, người em út của nhà văn Tường Hùng, coi như là một điếu văn tưởng nhớ đến người anh của ông. Tuy là một điếu văn, nhưng người viết muốn viết như một câu chuyện để độc giả có thể thưởng thức.

    Tường Hùng (Sài-Gòn circa 1953)

    Từ thủa nào đến giờ, chúng ta vẫn thường cho là muốn hiểu một tác phẩm, người đọc cần biết suy tư, ý định , và cả nỗi niềm của tác giả. Quan niệm đó, có lẽ bắt nguồn từ khi có nhiều người viết đã từng bộc lộ tâm tư cá nhân của mình qua sáng tác của họ, tiêu biểu như là Nguyễn Du khi viết Đoạn Trường Tân Thanh, ông đã gửi gấm tâm tư qua nhân vật Thúy Kiều.

    Ngoài ra, còn có quan niệm rốt ráo hơn nữa, cho là trước khi đọc tác phẩm, cần phải thấu hiểu về tác giả, như BS Trần Ngọc Ninh đã khảo cứu về “chân diện mục của Tố Như“ như gián tiếp viết về Đoạn Trường Tân Thanh! Quan niệm này, đi ngươc hẳn với trào lưu mới đây (thập niên 60), cho là: Chính tự văn bản đã nói lên hết ý nghĩa của nó (Rolland Barthes trong cuốn “Cái Chết Của Tác Giả“ La mort de l ‘auteur, 1967), và cho rằng, người đọc chẳng cần phải biết sâu vào suy nghĩ của tác giả làm gì.

    Barthes cho sự việc đi tìm ý định của tác giả là điều không tưởng, và không thể làm được: Bởi vì không ai có thể biết tác giả nghĩ gì, hay muốn nói điều gì khi sáng tác (nhất là trong những trường hợp người viết đã chết vài trăm năm rồi…như “ba trăm năm sau có ai khóc Tố Như? “). Đôi khi chúng ta cũng không biết tác giả là ai nữa, như gần đây, đã có người tỏ ra nghi ngờ về gốc gác của Shakespeare (một người mà trước đây vẫn được coi là tác giả của những tác phẩm sâu sắc và cao siêu): Theo nghiên cứu của họ, những chi tiết về những sáng tác đó, không thể do Shakespeare viết được vì hoàn cảnh, học vấn, ông không thể có khả năng sáng tác được những áng văn đó).

    Người đọc là đối tượng của tác phẩm, và cũng là chặng cuối trong tiến trình văn chương: sáng tác – bản văn – người đọc. Như vậy, sau khi tác phẩm đã đến tay người đọc, chúng ta có thể cho “ khai tử tác giả.”. Thật ra, vai trò của tác giả chấm dứt một khi đã sáng tác xong, chằng khác gì ông bếp nấu xong một món ăn, khi dọn ra, là hoàn toàn dành cho thực khách . Vấn đề được đặt ra ở đây là : Nếu thực khách biết món ăn gồm có nguyên liệu gì, và cách nấu làm sao, có làm tăng sức hấp dẫn, có khiến thấy ngon hơn khi thưởng thức hay không?

    Rượu ngon là rượu hợp khẩu vị với mình, hay là chai rượu đắt tiền khiến nó phải ngon hơn ?
    Riêng theo thiển ý, sự hiểu biết nhiều về sáng tác, đôi khi làm giảm mức độ thưởng thức, điển hình theo kinh nghiệm của tôi khi xưa, lúc nhỏ còn ở Việt-Nam, nghe nhiều bản nhạc ngoại quốc, dù không hiểu nghĩa của lời, nhưng vẫn thích thú; và sau này, khi hiểu lời của bản nhạc, tôi lại cảm thấy kém hay, vì thất vọng ! Rõ ràng sức tưởng tượng của tâm hồn và con tim luôn mãnh liệt hơn sự hiểu biết của lý trí ( Einstein ).

    Trong số các thể loại của văn chương như thơ, văn, truyện ngắn, và tiểu thuyết, có lẽ riêng các bài điếu văn, viết để tưởng niệm một người thân mới qua đời, có tính cách chủ quan và riêng tư nhất. Tất nhiên, không thể nào khách quan khi tác giả viết về nhân vật thân thiết và thương mến, và người đó vừa mới qua đời!   

       Tường Hùng (Paris circa 2023) 

                                       
    Đó là hoàn cảnh ngày hôm nay, khi tôi mới nhận được hung tin anh Nguyễn Tường Hùng, một nhà văn nghiệp dư, một người hành nghề kiến trúc sư để kiếm sống, và là một nhà đạo diễn phim ngắn không thành danh, vừa qua đời tại Paris ngày 24 tháng 8 năm 2023, thọ 92 tuổi. Sở dĩ có lời rào trước đón sau như vậy, bởi vì kẻ viết bài này mong được sự thông cảm của độc giả về những nhận xét chủ quan của đứa em út đối với người anh.

    NV Ngọc Cường, Ông Tường Cường, Bích Diệp, phu nhân của NV Ngọc Cường

    Nhà văn Tường Hùng rất đặc biệt đối với tôi, vì anh không chỉ là người anh cả trong một gia đình đông anh chị em (11 người), mà vì anh, khi lúc mới 16 tuổi, đã phải là người vú nuôi tôi lúc mới lọt lòng mẹ được 4 tháng (Năm 1947, người mẹ của chúng tôi qua đời trong khung cảnh loạn lạc, chiến tranh Việt-Minh-Pháp, và khi ông cụ thân sinh ra chúng tôi không có nhà, ông đã bị Việt-Minh giam giữ ở Phú Thọ) (1).

    (1)- Nguyễn Tường Thụy, Giám Đốc Bưu Chính Hà-Nội, bị Việt-Minh giam ở tỉnh Phú Thọ, mặc dù chính tòa án của họ tuyên bố tha bổng ông về tội trạng -bịa đặt- bán giây đồng! Sau đó, chính những người cai tù đã cố tình để cho ông trốn (dinh-tê) về Hà-Nội. Ông bị kết án và giam giữ vì lý do duy nhất, vì là anh ruột của Nhất-Linh Nguyễn Tường Tam và Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, hai nhân vật lãnh đạo của Việt-Nam Quốc Dân Đảng, một lực lượng chống đối Việt-Minh Cộng Sản. Năm 1946, ông là chuyên viên của phái đoàn Chính Phủ Liên Hiệp đi dự Hội Nghị Đà-Lạt đàm phán việc trả lại Độc Lập cho Việt-Nam, do em là Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Tường Tam cầm đầu để đàm phán với Pháp (nhưng thất bại vì Việt-Minh đã đi đêm với Pháp, ký Tạm Ước 9-3-1946 thủa thuận cho Thực Dân thay thế Trung Hoa giải giới Quân Nhật).

    Tiếp theo nỗi bất hạnh (về sự vắng bóng của người mẹ), nhưng như thể “họa vô đơn chí “, sự trở về nhà của ông cụ chúng tôi cũng không mang lại niềm vui lâu dài: Chỉ hai năm sau, ông tục huyền và chúng tôi phải chịu sự đối xử tẻ lạnh của người mẹ kế (thảm cảnh dì ghẻ con chồng). Nhưng anh Tường-Hùng luôn luôn bảo vệ đàn em trước sự đối sử không đẹp của bà dì ghẻ. Anh khôn khéo như một kẻ đu giây, đu đưa giữa hai thái cực: vừa lịch sự với bà dì, nhưng vẫn cứng rắn khi cần tranh đấu cho đàn em nheo nhóc (như khi tôi cần đi bác sĩ vì bị hen suyễn kinh niên nhưng bà không muốn vì sợ tốn tiền), và, như một phép lạ, anh vừa được lòng người mẹ kế, và cũng vừa lo chu toàn cho đàn em. Cuối cùng, tôi được anh đưa đi khám bác sĩ…

    Viết về anh Nguyễn Tường Hùng không phải là khó, bởi vì anh có một cá tính đặc biệt: Vừa mẫu thuẫn vừa phức tạp. Một tạng người nhỏ bé, nhưng lại dồi dào sức tưởng tượng. Con tim đa sầu-đa cảm nhưng hành động có vẻ ích kỷ và cuộc sống đầy tự kỷ ám thị! Vốn có một tâm hồn nghệ sĩ (có thể là do cái tính di truyền của dòng họ Nguyễn Tường), anh viết văn sớm (Gió Mát, tiểu thuyết, Đời Nay xuất bản, Sài-Gòn 1955), và trở nên một thành viên dự khuyết của Tự Lục Văn Đòan (1953, trong tờ chúc thư văn chương, Nhất-Linh đề cử 3 nhà văn: Duy-Lam, Nguyễn Thị Vinh và Tường Hùng; và bởi vì không chính thức, nên anh không bao giờ xử dụng danh xưng này).

    Năm 1958, anh được Nhất-Linh cho vào trong Ban Biên Tập Văn Hóa Ngày Nay (BBT gồm có Nguyễn Thành Vinh, Trương Bảo Sơn, Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam và Tường Hùng). Trong Giai Phẩm VHNN, anh đóng góp về truyện ngắn, tiểu luận và đôi khi vẽ tranh hí họa. Cũng trong thời gian này, vào một ngày đẹp trời, khi kiểm soát bàn học của tôi, tình cờ anh đọc lén một đoạn nhật ký của tôi để trong hộc. Đọc xong, anh vội vàng đưa cho Nhất-Linh xem!

    Có lẽ nhận thấy đoản văn đó dí dỏm, nên ít lâu sau đó, nhà văn Nhất-Linh đã mở ra hai tiết mục trong Văn Hóa Ngày Nay (nhằm khuyến khích các mầm non văn nghệ) đó là trang Lan Hàm Tiếu dành cho các em bé, và mục Lan Sơ Khai cho các thanh-thiếu niên tập tành viết văn. Kết luận là đoản văn của tôi được đăng trên Văn Hóa Ngày Nay (bài “Chị Của Bạn Tôi”, và nhiều bài khác nữa).

    Tôi còn nhớ, Nhất-Linh trả nhuận bút cho em bé Tường Cường (cũng như các anh, em khác) rất hậu hĩ. Nhiều nhà văn, nhà thơ thành danh sau này như Cao Hoành Nhân, Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, Đặng Phi Bằng, Lê Tất Điều và Bùi Bích Hà ở trong nhóm Lan Sơ Khai được ông lancer.

    Xin nơi đây, có lời cảm phục nhà văn Nhất-Linh đã luôn tìm kiếm và khuyến khích các mầm non, đàn em, và ông đã khám phá ra nhiều nhân tài văn nghệ (thí dụ nhà văn Linh Bảo, Nhật-Tiến, Duy Lam, Nguyễn Thị Vinh v.v…).

    Tôi không nhớ rõ anh Tường Hùng bắt đầu có máy chụp ảnh từ hồi nào. Nhưng qua những tấm ảnh cũ, cho thấy anh đã chụp nhiều kỷ niệm của gia đình từ khi còn ở Hà-Nội (cuối thập niên 40, đầu 50), và cho đến khi vào Sài-Gòn năm 1952, tôi thấy anh đã có máy thâu hình cầm tay xử dụng loại phim khổ 8 ly. Rất tiếc là ngày nay, trong những tấm hình đó, vì do anh chụp, nên đã không có mặt anh! Gần đây, mỗi lần mở tập hình cũ ra xem, vợ con tôi đều hỏi: ”sao không thấy có bác Hùng trong tấm chụp gia đình bao giờ?”.

    Từ đó, anh là thợ chụp ảnh lẫn đạo diễn phim cho những ngày lễ lạc như Tết nhất, cưới hỏi của gia đình. Tôi còn nhớ vào dịp Xuân năm 1957, anh quay phim sinh hoạt gia đình chúc Tết. Đến lúc thu hình mấy chậu hoa cúc, anh nhờ tôi bò nấp sau để rung chậu hoa, làm giả như có gió nhẹ nhàng thổi qua. Nhưng khi đoạn phim được rửa ra và trình chiếu, thì cả nhà cười rộ vì do tôi rung quá mạnh, chậu cúc lắc lư như chịu đựng trước cơn gió bão!

    Ước mơ làm phim của anh bắt đầu từ đó. Nhiều lần, anh lôi tôi ra (một đứa bé) bảo thử diễn tả khuôn mặt của một người buồn-vui hay hốt hoảng …cho anh xem, như thể anh là một đạo diễn đang xử dụng đứa em đóng thử (audition)!

    Năm 1959, sau khi tốt nghiệp Đại Học Kiến Trúc ở Sài-Gòn, anh xin được học bổng của tòa Đại Sứ Ý ở Sài-Gòn (cùng với họa sĩ Phạm Tăng của nhật báo Tự Do) cấp cho sang Rome học tiếp về Kiến Trúc. Thời gian sống ở Ý, anh tìm đến một trường Điện Ảnh xin học hàm thụ ngành đạo diễn phim.

    Từ đó, anh bắt đầu có ước mơ làm phim.

    Song song với việc làm kiến trúc để kiếm sống, anh bỏ tiền túi ra thực hiện nhiều phim ngắn (hiện vẫn còn lưu trữ trên youtube). Phim anh thực hiện quá nặng mùi triết lý, khó hiểu, và cố nhiên không thành công về thương mại!

    Có cuộc sống mãi tận bên Trời Tây, dù muốn hay không, cũng đã tạo nên hoàn cảnh “xa mặt cách lòng“ giữa hai anh em chúng tôi. Tôi lớn lên thiếu vắng bóng người anh cả, nhưng những kỷ niệm và sự săn sóc của anh lúc thiếu thời đã ghi đậm vào tâm khảm tôi. Lớn lên giữa hoàn cảnh chính trị rối ren và ra đời đúng lúc chiến tranh kéo đên quê hương Việt-Nam, tôi không giữ được thường xuyên mối liên lạc với anh cho đến khi chiến tranh chấm dứt…

    Sau khi đậu Tiến Sĩ về Kiến Trúc ở La-Mã, anh di dân qua Pháp và lấy vợ …một bà đầm xa lạ, ít nói, và thích có cuộc sống khép kín, như không muốn giao thiệp với ai…Bởi vậy, sau này, mỗi lần qua Pháp , hai anh em chúng tôi chỉ gặp nhau tại văn phòng kiến trúc của anh, gần khu chợ Việt-Nam ở Quận 13. Anh vẫn làm việc sau khi chính thức về hưu, nhưng mối đam mê làm phim không hề rời anh. Xem ra phim ảnh là ước mơ không đạt của anh, có lẽ vì vậy mà anh muốn tôi làm phim như truyền đạt ước mơ của anh qua cho tôi: Mỗi khi gặp nhau, anh lại nhắc nhở, khuyến khích tôi viết truyện phim hay nỗ lực trở thàng một đạo diễn điện ảnh. Có lẽ anh tin đứa em út có tài cán gì về chuyên ngành này: rồi anh cho tiền để tôi mua máy quay phim, tất nhiên không còn cồng kềnh loại 8 ly mà là digital (trước sự ngạc nhiên của gia đình, vì anh không dư giả gì). Nhưng than ôi, tôi xem ra chẳng có tài cán gì cả!

    Trong những năm 60, 70, lâu lâu anh có viết truyện ngắn cho Tạp Chí Văn, và gần đây hơn, anh cho xuất bản cuốn tiểu thuyết “Con Ve Sầu“ (Có đăng lại trên báo mạng Da-Mà). Sáng tác của anh khó hiểu nhưng không kém hấp dẫn vì vừa hiện thực, vừa sâu sắc. Theo nhà văn Bùi Bích Hà, văn phong của anh : “có vẻ đẹp lung linh, bay bổng, siêu thực và quý tộc”.

    Tiểu thuyết “Con Ve Sầu“ của NV Tường Hùng

    Nỗi ám ảnh của anh đôi khi gây khó chịu và khiến tôi mất kiên nhẫn tranh cãi với anh, tôi cố khuyên anh từ bỏ việc làm phim. Nhưng nào ai có thể ngăn cản được một giấc mơ, nhất là một khi nó đã trở thành nỗi ám ảnh và là lẽ sống của một nghệ sĩ. Tại sao tôi lại cố kéo anh về với sự thật, mà sự thật đó cũng chỉ là của tôi, chứ không phải của anh! Sai sót của tôi ngày nay trở thành mối ân hận khi anh mất, và tất cả đã quá trễ để có lời trực tiếp xin lỗi anh!

    Tôi không thể nào quên, năm 2018 ghé thăm anh, sau bữa ăn ở quán ăn gần nhà, lúc chia tay ra về, chúng tôi nhìn theo: Anh lúc này đã yếu, chân đi không vững, đang được cháu Thắng dìu đi khuất vào trong căn hộ cao tầng xừng xững một cách lạnh lẽo dưới bầu trời Paris ảm đạm…

    Trong khoảnh khắc, những hình ảnh và đoạn phim về gia đình chúng tôi được anh chụp và quay bỗng vụt trở lại trong tâm khảm của tôi: Từ những ngày xa xôi ở Hà-Nội năm 1949, cho đến Sài- Gòn 1952….rồi Paris 2018. Trong đó, khuôn mặt buồn bã của anh lãng đãng hiện ra rồi mờ dần…
    Đó là lần chót chúng tôi gặp anh.

    Xin vĩnh biệt anh Hùng thân yêu.
    Ngọc Cường

  • Âm nhạc,  Vương Trùng Dương

    Lê Trạch Lựu, Tình Khúc Em Tôi

    Vương Trùng Dương

    Quan niệm nhạc tiền chiến đúng nghĩa là dòng nhạc đầu tiên của tân nhạc Việt Nam vào giữa thập niên 1930 & 40, mang âm hưởng khuynh hướng trữ tình lãng mạn theo âm luật của Tây Phương. Thế nhưng, một số ca khúc sáng tác trong giai đoạn 1945-1954 mang phong cách trữ tình lãng mạn từ giai điệu đến lời ca bày tỏ nỗi niềm rung động từ trái tim, được mọi người ái mộ qua tình khúc… nên được liệt kê vào nhạc tiền chiến. Nhạc phẩm Em Tôi của Lê Trạch Lựu ở trong thời kỳ đó.

    Theo quan niệm của Tuyền Linh: “Định nghĩa một cách nôm na, dựa trên hai chữ ca khúc (pièce chantée), ta thấy rõ danh từ nầy được chia làm hai phần: lời ca và khúc nhạc. Cũng dựa theo định nghĩa và phân tích trên, ta thấy giá trị một ca khúc cũng chia làm hai phần: một nửa cho giai điệu tiết tấu và một nửa cho lời ca. Vậy để có một ca khúc có giá trị đích thực thì người viết ca khúc phải hoàn thành tác phẩm của mình có đủ cả hai phẩm chất nêu trên… Một ca khúc có phần hòa âm nghèo nàn, giai điệu tiết tấu gập ghềnh trắc trở, khi được tấu lên, cùng lắm làm cho người nghe nhàm chán, và tất nhiên, sau đó họ sẽ quên ngay… Một ca khúc hay không bắt buộc phải có lời cao xa, siêu thực mà cần có nội dung rõ ràng để người nghe cảm nhận được tình, ý của tác giả muốn nói gì, gởi gắm gì trong tác phẩm của mình…”.

    Những ca khúc như Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa (1947) của Tô Vũ, Dư Âm (1950) của Nguyễn Văn Tý, Nỗi Lòng (1952) của Nguyễn Văn Khánh, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay (1952), Tiếng Đàn Tôi (1947) của Phạm Duy… sau nẩy trở thành tình ca bất tử của nhạc tiền chiến.

    EM TÔI

    “PK: Em tôi ưa đứng nhìn trời xanh xanh.

    Mang theo đôi mắt buồn vương giấc mợ

    Vu vơ đắm đuối, vương ngàn áng mây

    Bao đêm thầm đếm trên trời đầy sao sáng.

    Buồn vương man mác theo lời gió reo lời thơ

    Trầm tư se sắt tơ lòng đắm theo đàn khóc

    bao nhiêu nước mắt chôn sầu đắng cho lời thơ,

    giờ này em hát câu chiều mơ…

    ĐK: Bao giờ tôi về gần em

    Cùng đếm này trăng này sao kia nhé em,

    Trăng sao dâng ý thơ, mây bay khắp trời,

    Thuyền tình lung linh trong khói sương lam,

    Ngày về xa quá người ơi!

    PK : Em mơ tiếng sáo, dập dìu bên trăng.

    Đêm đêm u tối về đây thắp saọ

    Dư âm tiếng hát, vương buồn mắt nhung,

    Tôi xin gió biếc ca ngợi mầu suối tóc.

    Đừng quên em nhé môi còn thắm duyên còn xanh,

    Đàn trăng phô sắc huy hoàng sáng hơn màu nắng.

    Cho anh rót thắm đem về nhớ nhung lời thơ,

    Đường đời anh muốn em còn mơ…”.

    Nguyễn Đình Toàn trong quyền Bông Hồng Tạ Ơn: “Thực ra, sau Em Tôi, Lê Trạch Lựu còn một sáng tác nữa đã được các ca sĩ đem hát trên các đài phát thanh, cũng rất hay, nhưng hình như nó đã bị cái bóng của Em Tôi che khuất, nên ít người biết, và cũng chưa thấy một ca sĩ nào tìm hát lại, đó là bài: Nhớ. Tình ca được viết nhiều nhất vào giai đoạn được gọi chung là nhạc tiền chiến của chúng ta”.

    Sau hai ca khúc Nhớ và Thôn Chiều, ca khúc Em Tôi là bài thứ ba nhưng gắn liền với tên tuổi tác giả trong khu vườn âm nhạc Việt Nam.

    Sau 20 năm, Lê Trạch Lựu mới sáng tác Cành Mai Tóc Ngắn để nhớ lại hình ảnh ngày xưa với cuộc tình vô vọng.

    “Cành mai năm ấy xuân xanh mười lăm

    Màu yêu thơm ngát tóc em cài hoa

    Cành mai hoa trắng áo em lả mây

    Theo em, theo em khi tan trường về…”.

    “Sau 53 năm, ở vào tuổi 78, Lê Trạch Lựu mới viết về tình sử qua nhạc phẩm Em Tôi:

    Năm 1946 là năm tôi đi trại hè Sầm Sơn, đi với đoàn Hướng Đạo, cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Tôi thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời. Không hiểu sao tôi thấy tôi như choáng váng, má tôi nóng bừng như lên cơn sốt; lần đầu tiên tôi thấy tôi có cái cảm giác lạ lùng này. Nhà đoàn tôi “đóng trại” to lớn, rộng rãi, đó là những biệt thự nghỉ mát của bọn Pháp thuộc điạ bỏ lại, trước nhà là bãi biển mênh mông, sau nhà có một cái giếng.

    Trưa nào tôi cũng thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng chang chang rũ áo, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng tôi biết là cô ta đang nhìn tôi. Thú thật, tim tôi đập thình thình. Chao ơi, yêu đương là như vậy hay sao? Đây là một rung động đầu tiên, nào đâu tôi có biết cảm giác này từ thuở ra đời.

    Về Hà nội tôi tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, cô ta ở gần nhà tôi. Bây giờ ta phải tìm biết tên cô ta nữa! Chiều nào tôi cũng đi qua nhà cô ta, để nhìn vào nhà, tìm lại đôi mắt đẹp. Tôi thấy có nhiều cậu trai cỡ bằng tuổi tôi đi qua đi lại trước cửa nhà, như tôi. Lúc đó tôi cũng thấy hơi hơi lo… sợ mất !

     Nhưng may cho tôi, hồi ấy có một chú bé đi theo tôi hoài, hỏi ra là chú Mỹ, em cô Phượng. Trời ơi là trời, đất ơi là đất! Chúng tôi đi chơi với nhau. Một hôm, tôi viết một lá thư và mạnh dạn tôi hăng hái ra đi, nhưng chiều hôm đó tôi không thấy cô ta ra đứng ngoài cửa hóng mát. Rồi chiều hôm sau, chiều sau nữa. Thế rồi một chiều nào đó, tôi lại thấy cô ta đứng rũ tóc bên thềm.

    Tìm đủ nghị lực, tôi sán gần cô ta, tay đưa lá thư, miệng lắp bắp một câu: “Phượng… Phượng  cầm… cầm lấy cho… cho… tôi… tôi… lá thư này…”. Rồi xong, tôi cắm đầu đi mất, không dám quay lại, sợ nhìn thấy hoặc cô ta xé lá thư, hoặc quẳng xuống lề đường… tôi sẽ mắc cỡ…

     Để đỡ cho cái nặng nề đó, tôi tìm cách nói khéo với chú Mỹ, chú bằng lòng ngay. Thế là chú thành con chim xanh của tôi. Chiều nào chú cũng để một lá thư lên bàn. Bẩy tháng trời tôi viết đều đều, gần bẩy chục lá thư mà vẫn không thấy trả lời.

     Tôi đau khổ quá không biết cô ta có yêu tôi không, tại sao cô ta không trả lời tôi, dù thuận dù không… Lúc bấy giờ tôi mới biết là tình yêu, thế nào là đợi chờ, là có nhiều đau khổ. Héo hon con người.

     Thế rồi một hôm chú Mỹ tất tưởi chạy đến nhà tôi, đưa cho tôi một lá thư, hôm đó là một tuần trước ngày kháng chiến toàn quốc, tôi bồi hồi cầm lá thư, ở một góc có đề : Xin Trạch Lựu đừng giận Kim Phượng mà xé lá thư này…, tôi mở ra, đọc từng hàng chữ đều đều, tròn tròn, vuông vắn. Phượng nói yêu tôi từ ngay lúc đầu… nhưng muốn thử lòng tôi để xem tôi có phải là người đứng đắn rồi nói rằng ngày mai Phượng đi tản cư… ở Hà Đông, cách làng tôi mấy làng… Tôi bàng hoàng như tỉnh một giấc mơ lâu dài chờ đợi từ bao nhiêu giờ, bao nhiêu phút. Thế là hai hôm sau, tôi đi bộ từ Hà nội qua làng tôi tới làng tạm trú của gia đình nàng, chúng tôi đi chơi dọc dòng sông Nhuệ cùng chú Mỹ, mẹ của Phượng, bà cụ nhìn chúng tôi âu yếm từ đằng xa… đi chơi cùng nhau hết cả buổi chiều, tôi không dám cầm tay Phượng, tôi ân hận tới bây giờ.

    Tôi trở về thành, thế rồi chiến tranh, ba năm sau tôi sang Pháp. Không rõ Phượng ở đâu, tôi vẫn nhớ Phượng hoài. Một hôm trong trường cái nhớ nó làm tôi điên đầu… trong giờ Etude cuối lớp có anh chàng Trần Bích Lan Nguyên Sa đang đọc Socrate hay sao, bên phải gần cửa sổ Hoàng Anh Tuấn… không biết hắn làm gì, chắc đang làm thơ, tôi cầm cây đàn bấm bấm… hai ngày sau thành bài Em Tôi… cả nhạc lẫn lời.

    Chủ Nhật ra Paris, đường Volontaires, sau bữa cơm trưa, quây quần với nhau, trong đó có Anh Tuấn, Thi Liên, Thoa em gái Nguyên Sa về sau lấy Trần đình Hòa, Bội Liên đã nhận được bài tôi gửi tới trường, hồi đó cô ta có yêu tôi, nhưng tôi tránh vì cô ta con nhà giầu…, Bội Liên dạo nhac trên mấy phím ngà… Nhạc Em Tôi vang lên khắp cả căn phòng, tôi tê tái nghe nhạc tôi, tôi thấy là lạ, chưa quen… vì mỗi lần tôi đã nghe trong tôi hay nghe cây đàn bên tôi nói với tôi, bây giờ những ngón tay ngà chạy qua phím đàn đến với tôi, tôi như ngỡ ngàng đi vào cơn mê…

    Thế rồi tôi chép lại nhạc và lời trên trang giấy học trò, trên những giòng như đã kẻ nhạc, tôi gửi tới nhà xuất bản Tinh Hoa… (Tinh Hoa ấn hành năm 1953, Tinh Hoa số 445)

    Những tháng năm qua…

    Khi “Em Tôi” được nổi tiếng, tôi không được sống cùng với thời đại đó vì tôi ở xa , tôi không được nhìn nhận rõ ràng thế nào là một bản hát được người đời yêu chuộng… trai hay gái, ai ai cũng tưởng là mình có một người yêu , hay mình được yêu , hay mình tưởng tượng chính mình là cô gái ấy , còn  cậu trai được yêu cô gái dịu dàng, thơ ngây, âu yếm , mơ màng cho nên ai ai cũng hát… cũng tưởng là mình… cũng cầm lấy cây đàn…

    Rồi một hôm tôi tìm ra điạ chỉ của Kim Phượng, tôi viết về cho chú Mỹ, Mỹ trả lời tôi:

    “Em nhận được thư anh, thế là anh vẫn mạnh, chị Phượng đợi anh trong một năm dài, thấy anh không về, tưởng anh chết, rồi ba năm sau chị Phượng để tang anh. Nhiều người đến hỏi chị, chị chỉ lắc đầu. Chị vẫn đợi anh, nhưng hôm qua chị Phượng đi lấy chồng, chị đã 26 tuổi rồi, ngày ngày thầy me thúc dục.”

    Thế là tôi cắt đứt, để Phượng đi lấy chồng cho êm thấm, có bổn phận với chồng với con. Tôi không muốn ám ảnh Phượng nữa để cho nàng yên phận.

    Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em,

    Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm,

    Nhớ người giặt áo bên bờ giếng,

    Nhớ nhiều, nhớ mãi, mãi không quên…

    Sáu chục năm sau, tôi được biết tin một người bạn cùng trường năm xưa, anh Nguyễn Thiệu Giang viết cùng một tờ báo với tôi hồi đó cùng Thanh Nam, tôi có nhờ anh ta đến căn nhà cũ, anh nói Phượng không còn ở đấy nữa. Nhưng có cho tôi số phone, tôi gọi Phượng, đầu giây Phượng trả lời, tôi nói là tôi, cô ta nhắc đi, nhắc lại ba lần, anh Lê Trạch Lựu hả, anh Lê Trạch Lựu hả, như không tin là có thật, khi tôi bảo là tôi thì cô ta òa ra khóc.

    Nói chuyện cùng nhau hơn nửa tiếng, sau những lúc ân cần hỏi han. Phượng có nói, anh ấy có theo đuổi Phượng trong bốn năm trời, Phượng bảo Phượng có người, anh ta cứ đeo đẳng, Phượng có nói với anh ấy chuyện Phượng và anh. Anh ta chịu là trong lòng Phượng có một người. Tôi xin thành thật cảm ơn Phượng, tình yêu Phượng cho tôi. những năm đợi chờ, đau khổ. Một lúc sau tôi hỏi Phượng: “Thế Phượng còn giữ mấy lá thư ấy không?” Tôi muốn tìm hiểu văn thời 16 tôi viết ra sao chắc là văn lủng củng lắm. Phượng trả lời tôi:

    “Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con, cháu em bữa đó tụi nó không có nhà…”

    Thu Tao Ngộ – Tháng Mười năm 2009 –  Lê Trạch Lựu

    *

    Sau khi Lê Trạch Lựu tâm sự mối tình để viết ca khúc Em Tôi mà trước đây có vài bài viết chưa nói rõ “bí ẩn cuộc tình” trước sự im lặng của người trong cuộc vì tế nhị và kín đáo. Tháng 1 năm 2011, Lan Phương của đài VOA phỏng vấn Lê Trạch Lựu và viết bài Lê Trạch Lựu & Mối Tình Theo Mãi Một Đời

    “… Lê Trạch Lựu rời Việt Nam thời loạn ly năm 1951, bỏ lại sau lưng một mối tình, không hiểu người yêu của mình ở phương nao khi mà khói lửa, chiến tranh, tản cư, ly tán đã đẩy mọi người vào tình huống chẳng biết những người thân của mình còn sống hay đã chết.

    Ở Pháp, theo học nốt bậc trung học rồi vào ngành điện ảnh và làm truyền thông, ông vẫn nhớ hình bóng cũ, cô thiếu nữ tên Phượng mà ông đã gặp lần đầu trong một chuyến đi cắm trại của đoàn hướng đạo ở Sầm Sơn…

    … Từ ngày rời Hà Nội năm 1951, nhạc sĩ họ Lê chưa một lần trở lại quê hương. Ông lập gia đình với một người vợ Pháp, gốc Ba Lan, mà theo lời ông thì bà là người rất đẹp, đoan trang, miệng cười tươi như hoa, và ông nhận là số ông may mắn, từ người yêu đến người vợ ai cũng đoan chính.

    Thời còn trẻ cũng có người bạn rủ ông về miền Nam làm việc, và hãng thông tấn Pháp cũng muốn ông về để lập một cột trụ ở bên đó, nhưng nhạc sĩ họ Lê tâm sự: Tôi nghĩ rằng hồi đó tôi có đứa con nhỏ nhất mới 3 tuổi, nếu tôi về Việt Nam tôi sẽ mê một cô Việt nam, tôi sẽ lấy cô Việt Nam, sống với cô Việt Nam thì tôi sẽ không trở lại Pháp nữa. Tôi tự nghĩ: mình sinh ra con, mình không nuôi con, mình bỏ nó, sung sướng với cuộc sống của mình, rồi sau này con mình nó nhìn mình bằng cách gì mình không thể sống được. Vì thế tôi không đi. Mà nếu tôi đi, thì cũng không thể trở về được, nghề của tôi là ra chiến trường quay phim. Tôi vui thích với nghề đó lắm, mà có thể chết được, nên về thì không thể nào trở lại được nữa…”.

    *

    Nhạc sĩ lê trạch lựu đã qua đời tại Paris ngày 6 tháng 2, 2015, hưởng thọ 84 tuổi. Với công việc phóng viên vì ông tốt nghiệp ngành điện ảnh và truyền thông. (Theo nguồn tin cho biết, dạo đó có người bạn rủ ông về miền Nam Việt Nam hành nghề. Một hãng thông tấn của Pháp cũng đề nghị ông làm phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhưng ông từ chối). Với nhạc sĩ tài hoa nhưng ông không sinh hoạt trong môi trường âm nhạc, có lẽ sáng tạo khởi nguồn từ trái tim và nguồn cảm hứng… nhưng không còn!

    Để tưởng nhớ nhạc sĩ gởi lại cho đời tình khúc tuyệt vời, xin trích những dòng trên để mỗi khi nghe tình khúc Em Tôi, nhớ lại hình bóng cũ.

    Vương Trùng Dương

    (Văn Nhân & Tình Sử, ấn hành 2015 trang 167-175)

  • Âm nhạc,  Tin tức,  TRẦN MẠNH CHI

    Ra Mắt sách thơ nhạc Thu Tuyết Sept 09, 2023 tại Clara Studio Westminster

    Một buổi chiều sắp vào chớm Thu miền nắng ấm California.

    Được nữ thi sĩ Thu Tuyết đến từ phương trời Kanguru Úc Châu gởi lời mời đến Nhóm Văn Học Nghệ Thuật và nhiều bạn bè thân hữu văn nghệ sĩ khắp miền trên USA để đến tham dự chương trình nhạc thính phòng cho Đêm Ra Mắt Sách, Tập Thơ, DVD với tự đề “ Thu Trắng 4“ được tổ chức tại Clara Studio thuộc thành phố Westminster, California ngày 09 tháng 09 năm 2023.

    Với mọi nhiệt tình mà bạn bè, thân hữu, văn nghệ sĩ  khắp nơi đã dành mọi sự ưu ái đến với nữ sĩ Thu Tuyết mà số người đếm tham dự ngoài sự mong đợi của Ban Tổ Chức là thính phòng đã không còn một chỗ ngồi và còn nhiều quan khách phải đứng mặc dù máy lạnh đã không đủ tiếp hơi nhưng mọi người cũng đã ở lại cho đến giây phút cuối cùng của chương trình.

    Trong Đêm Ra Mắt Sách được lồng vào chương trình  nhạc thính phòng đã lôi cuốn khán giả qua những bài nhạc tình ca được phổ nhạc  từ những tập thơ của nữ sĩ Thu Tuyết do các nhạc sĩ tên tuổi như Trần Quang Lộc, Phú Quang… cùng với sự hiện diện của NS Trần Quảng Nam, NS Ngô Tín, Ca sĩ Lê Uyên, Ca sĩ Phi Khanh, Ca sĩ Thái Hoàng, Ca sĩ Anh Dũng, Ca sĩ Đồng Lan,VănThi sĩ Đặng Phú Phong, Nhà Văn Nguyễn Huy Quang, Nhà báo Mặc Lân đài RFA .

    Chương trình được chuyển tải rất duyên dáng qua hai MC Hồng Vân và Bình Định đã giúp chương được trọn vẹn với sự hài lòng của khán thính giả cho đến phút cuối.

    Qua chuyến lưu diễn này và chuyến lưu diễn vào tháng 10 năm 2023 bên trời Tây của thành phố Paris, France sắp tới.

     Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật xin chúc nữ sĩ Thu Tuyết sẽ gặt hái và  chuyển tải nhiều thành quả tốt đẹp của những vần thơ, dòng nhạc và tiếng hát mình trong vòm trời âm nhạc và nghệ thuật đến mọi tầng lớp của những người yêu thơ nhạc Việt Nam.

    Trần Mạnh Chi, Vào Thu Cali 2023

  • Âm nhạc,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Tưởng Nhớ Nhạc Sĩ Đan Thọ

    Vương Trùng Dương

    Nhạc Sĩ Đan Thọ (6/1924-9/2023)

    Nhạc sĩ Đan Thọ qua đời ngày 4 tháng Chín năm 2023, thành phố Houston, Texas, hưởng đại thọ 99 tuổi. An giấc nghìn thu ngày 18 tháng Chín, tại Nhà Quàn Vĩnh Cửu (Chapel of Eternal Peace at Forest Park), Houston, Texas. Với tuổi ta, nhạc sĩ được bách niên (100 tuổi) tuổi hạc đại thượng thọ trên cõi trần.

    Nhạc sĩ Đan Thọ tuy không sáng tác nhiều nhưng cả cuộc đời cho nghệ thuật với niềm đam mê âm nhạc và những đóng góp của ông trong lãnh vực nầy từ thời tiền chiến ở Hà Nội, hai thập niên ở Sài Gòn và thời gian ở hải ngoại.

    Những nhạc phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Đan Thọ như: Bóng Quê Xưa (1952), Vọng Cố Đô (chung với Nhật Bằng), Thú Ly Hương… Tình Quê Hương (thơ Phan Lạc Tuyên), Mimosa Thôi Nở (thơ Nhất Tuấn), Chiều (lời Đinh Hùng). Có lẽ nhạc phẩm Dương Cầm của ông (ý thơ Mùi Quý Bồng, con rể) là ca khúc cuối đời. Trong đó hai ca khúc Tình Quê Hương và Chiều Tím được giới thưởng ngoạn âm nhạc yêu thích nhất.

    Tài hoa của nhạc sĩ Đan Thọ điêu luyện với nhiều loại nhạc cụ khác nhau, ngón đàn violin điêu luyện và tiếng kèn saxophone rất tuyệt, ngoài ra với đàn hạc (harpe) loại đàn cổ nhất của Ai Cập thời xa xưa và đàn bandura của đất nước hoa hướng dương (Ukraine).

    Đan Thọ tên thật là Đan Đình Thọ, sinh ngày 21 tháng 6 năm 1924 tại Nam Định, Bắc phần, theo học tại trường Saint Thomas D’Aquin trong khoảng từ năm 1936 đến 1941 và thơi goan nầy học vỹ cầm. Từ năm 1942 đến 1945, ông học hòa âm và sáng tác với các giáo sư, nhạc sĩ Tạ Phước (vị hiệu trưởng đầu tiên của Nhạc Viện Hà Nội). Năm 1945, ông chơi đàn violin cho phòng trà Thiên Thai của nhạc sĩ Hoàng Trọng (1922-1998) ở Nam Định.

    Năm 1945, ông lập gia đình với cô thiếu nữ Hà Nội Nguyễn Thị K. Thanh mới 16 tuổi, (sinh năm 1929) gia đình có phần e dè khi biết con gái sắp thành thân với nhạc sĩ. Thế nhưng ông bà sống với nhau trọn đời, cùng nuôi dạy nên người một con trai và ba con gái (trưởng nam Đan Đình Thành, trưởng nữ Đan Kim Tâm, thứ nữ Đan Kim Trang (quá vãng), út nữ Đan Kim Thư.

    Năm 1948, nhạc sĩ Đan Thọ gia nhập Ban Quân Nhạc Đệ Tam Quân Khu Hà Nội cùng với các tên tuổi khác như Văn Phụng, Nguyễn Hiền, Nhật Bằng… Trong thời gian này, ông được nhạc trưởng quân nhạc Schmetzler hướng dẫn về kèn.

    Năm 1954, ban quân nhạc cùng gia đình ông di cư vào Nha Trang. Năm 1956 vào Sài Gòn, ông được mời cộng tác với vũ trường Đại Thế Giới, và ông tiếp tục trau giồi môn kèn với nhạc sĩ Mano Umali người Phi Luật Tân.

    Năm 1956, ông trưởng ban nhạc nhẹ của đài Ðài Phát Thanh Tiếng Nói Quân Ðội trong khoảng một thời gian mười năm, gồm các nhạc sĩ nổi tiếng như Xuân Tiên, Xuân Lôi, Canh Thân,… Năm 1965, Đan Thọ giải ngũ và sau đó tham gia vào ban nhạc Shotguns của nhạc sĩ Ngọc Chánh và tiếp tục chơi nhạc tại các phòng trà, vũ trường cho tới năm 1975.

    Gia đình Đan Thọ kẹt lại Việt Nam đến tháng 3/1985 mới tới Hoa Kỳ, theo diện đoàn tụ do sự bảo lãnh của người em vợ. Nhạc sĩ Đan Thọ không định cư ở Washington D.C. lấy lý do sợ cái lạnh của vùng đông bắc Hoa Kỳ nên xin với phái đoàn sắp xếp chuyến bay sang New Orleans để sống với gia đình người con gái. Đây là quê hương của nhạc Jazz, hợp với sở trường của ông nhưng ít người Việt sinh sống. Nhạc sĩ Đan Thọ đã một thời tự lập và vẫn còn đam mê với âm nhạc nên theo lời thân hữu, ông bà chuyển sang Little Saigon. Bà Đan Thọ là mẩu người mẹ Việt Nam hiền thục, tận tụy với con, chìu chồng (thời trước, nhạc sĩ Đan Thọ chơi nhạc ở vũ trường, đến khuya mới về nhà, bà vẫn đợi chồng về mới đi ngủ). Ông và vợ đi làm cho hãng General Ribbon ở Van Nuys, tây bắc TP Los Angeles. Mỗi ngày phải đi khá xa nhưng ông bà “đôi ta có nhau” trong những năm dài. Vẫn nhớ bầu không khí của một thời xa xưa nên cuối tuần, ông chơi vỹ cầm, kèn saxo trong vũ trường Ritz của nhạc sĩ Ngọc Chánh, người bạn thân với ông trong ban nhạc Shotguns ở Sài Gòn.

    Ngày 30 tháng 6 năm 1995, nhạc sĩ Đan Thọ mở đêm nhạc từ giã bạn bè California về Louisiana đoàn tụ với gia đình con gái Đan Tâm và rể là bác sĩ Mùi Quý Bồng.

    Những tưởng an hưởng tuổi già với con cháu, năm 2005, trận bão Katrina quét qua New Orleans, trong thiên tai này, nhạc sĩ lại mất sạch những nhạc cụ ông yêu quý, trong đó có cây vỹ cầm đến hơn 250 tuổi và cây kèn saxo mạ vàng, hai báu vật của ông. Ông bà dọn về Florida lánh nạn ở nhà trưởng nam Đan Thành. Và những năm cuối đời ông bà dọn về Houston, Texas, cùng nơi cư ngụ của các con gái cho đến ngày nay.

    Với nhạc sĩ cả cuộc đời sống với âm nhạc nên đã có nhiều bài viết. Nay trích dẫn vài hồi ức trong gia đình.

    Hồi Ức Về Nhạc Sĩ Đan Thọ của anh Đan Thành (trưởng nam, kiến trúc sư) viết về chiếc vỹ cầm vào năm 2017:

    “Bố tôi cũng thế, ông nâng niu và xem chiếc vỹ cầm như một người tình, lãng mạn và hay hờn giận qua những lần thay giây đàn. Ông thương yêu, gìn giữ như một báu vật. Sau những buổi trình diễn, tôi thấy ông cẩn thận lau chùi, nhẹ nhàng cất vào hộp đàn với tấm nhung mềm mại che chở bao quanh người tình trẻ. Mọi người nhắc đến tên ông nhạc sĩ Đan Thọ luôn đi theo với tiếng vỹ cầm réo rắt của ông.

    Chiếc vỹ cầm đã theo ông đi khắp miền đất nước, từ một góc quán Thiên Thai ở Nam Định, qua Hà Nội của những năm 40-45, xuống thôn Vĩ Dạ miền Trung, trong những hộp đêm tráng lệ Sài Gòn ngày nào… Tiếng đàn của ông cao vút bay xa, vượt qua khoảng không gian nhất định, chạm vào hơi thở của người đang thưởng thức, thật đúng như:

    Tiếng đàn đã gíúp ông nuôi sống gìa đình, che chở đàn con khờ dại trong mấy chục năm trời.

    … Bố tôi rửa tay gác kiếm, nói theo phong cách của nhà văn Kim Dung, hằng ngày vui cùng cỏ cây, thỉnh thoảng ông mang chiếc vỹ cầm xưa ra lau chùi và tấu lên giòng nhạc của dân du mục Gypsy xa xưa… âm thanh quyện với thời gian cùng tâm sự người xa xứ…

    Tháng 8 năm 2005, chúng tôi lo ngại và thường xuyên gọi điện thoại thăm hỏi nhắc chừng. Sự lo ngại trở thành sự thật, cơn bão Katrina lớn quá sức tràn qua những vùng Bắc Florida, Albama và đổ vào New Orleans, trung tâm bão nằm ngay trên hồ điều chỉnh nước Lake Pontchartrain. Nước tràn qua đê ngăn và đổ xuống vùng thấp, nơi Bố Mẹ và gia đình hai em gái tôi đang trú ngụ.

    Bố Mẹ tôi chỉ có 30 phút để chạy ra khỏi nhà, giòng nước mạnh bạo tràn xối xả vào khu dân cư tạo thành những giòng nước cao gần 15 feet… Từ ngày đó, Bố tôi thường nhắc đến chiếc đàn xưa của ông hãy còn chìm trong giòng nước lạnh”.

    Sau trận thiên tai, anh Đan Thành đưa thân phụ trở lại căn nhà xưa:

    “Tay Bố tôi run rẩy khi chạm vào chiếc vỹ cầm, hình như ông xúc động lắm khi nhìn những mảnh vỡ của chiếc vỹ cầm, như thấy đứa con trở về qua bao lần sóng gió. Ông cẩn thận gom từng mảnh vụn của chiếc đàn, lau chùi nhẹ nhàng đặt chúng theo thứ tự vào hộp, có lẽ trong đầu ông còn bàng hoàng không tin vào những gì đã xảy ra do cơn bão để lại”.

    Hồi Ức Về Nhạc Sĩ Đan Thọ về ca khúc Dương Cầm của con rể Mùi Quý Bồng (bác sĩ, nhà thơ với thi phẩm Mong Manh (1994) và với bút hiệu Chẩm Tá Nhân, tập thơ vui Tiếu Lâm Chân Kinh dày 632 trang, ra mắt ở Little Saigon, July, 2022).

    BS Bùi Quý Bồng lập gia đình với trưởng nữ nhạc sĩ Đan Thọ là Đan Kim Tâm năm 71. Du học ở Mỹ năm 1973, sau năm 1975 bị kẹt lại, nhớ vợ nên làm thơ tình cho đến khi vợ vợ con qua vào tháng 4 năm 1979. Sau thời gian làm Orientation ở Washington DC, anh xuống New Orleans từ tháng Giêng năm 1974 cho đến trận bão Katrina năm 2005, gây thiệt hại cho gai đình anh trắng tay nên sau đó dời về chuyển sang Houston, Taxas. Là bác sĩ với tâm hồn nghệ sĩ, anh viết:

    “Một buổi chiều Thu năm ấy, đã lâu lắm rồi. Ngồi trên chiếc phi cơ từ Orange County, California trở về New Orleans, Louisiana, tôi gắn ống nghe vào tai, ngả đầu trên ghế, mở nhạc nghe cho qua thì giờ. Đột nhiên những âm thanh thánh thót, trầm bổng qua tiếng dương cầm trong bản Piano Concerto No 21 của Mozart trong một thoáng chốc bỗng đem tôi rời khỏi khung cảnh chật hẹp trong lòng chiếc phi cơ đến một cõi mộng mơ xa vời nào đó khiến tôi quên hết thực tại. Tôi thấy mình như đang bay bổng giữa một không gian Liêu Trai xa vắng, mơ hồ, ngây ngất. Bản nhạc vừa dứt thì tôi cũng bừng tỉnh, thoát khỏi cơn mơ. Ý thơ từ đâu bỗng cuồn cuộn chẩy đến, và tôi đã viết bài thơ Dương Cầm ngay lúc đó, trên một tờ napkin cô tiếp viên tóc vàng xinh xắn vừa đưa cho tôi cùng với ly cà phê ít phút trước.

    … Bận rộn với công việc, thời gian sau đó tôi cũng quên đi, không nhớ đến nó. Cho đến một hôm nhạc sĩ Đan Thọ đưa tôi xem bản nhạc Dương Cầm ông vừa viết xong, dựa theo ý bài thơ của tôi. Ông nói ông đã có cảm hứng khi ngồi nhìn và nghe cô cháu ngoại, YLan, ngồi trước cây đàn dương cầm, tập dượt cho một buổi trình tấu của Đại Học Loyola ở New Orleans. YLan là cô con gái thứ hai của tôi và Đan Kim Tâm, trưởng nữ của nhạc sĩ Đan Thọ.

    … Một điểm thú vị là ít lâu sau đó nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm gửi cho tôi một phiên bản khác của Dương Cầm. Ông nói ông rắt thích bản Dương Cầm của Đan Thọ, nhưng ông muốn viết một phiên bản mới để giữ cho bản nhạc đi sát với lời thơ hơn.

    … Tôi có cái may mắn được gọi nhạc sĩ Đan Thọ là nhạc phụ, và sau này, khi ông từ Orange County về New Orleans, rồi sau trận bão thảm khốc Katrina, qua Houston sinh sống, trở thành y sĩ riêng, chăm sóc sức khỏe cho ông, giữ cho ông còn được vui sống với con cháu cho đến ngày nay dù đã trên 90 tuổi”.

    Cháu Mùi Quý Y Lan (Ylan Mui) ái nữ của anh chị Mùi Quý Bồng – Đan Tâm, cháu ngoại của nhạc sĩ Đan Thọ, Mùi Quý Y Lan từ nhỏ chơi dương cầm và hình ảnh cô ngồi đàn piano thuở bé đã tạo cảm hứng cho ông ngoại sáng tác bản nhạc cuối cùng tựa đề Dương Cầm với ý thơ Mùi Quý Bồng. Ylan Mui từng là giáo sư thỉnh giảng ngành báo chí tại đại học University of Maryland. Sau gần 15 năm làm phóng viên chuyên về giáo dục rồi tài chánh cho nhật báo The Washington Post, bước sang lãnh vực truyền hình và cộng tác với hệ thống CNBC, ký giả Y Lan thường xuyên được mời xuất hiện trên đài C-SPAN.

    Bài viết về Ông Ngoại với những kỷ niệm và tâm tình dành cho ông ngoại Đan Thọ, nguyên tác tiếng Anh (BS Mùi Quý Bồng dịch sang Việt ngữ) với tâm tình: 

    “Khi tôi còn nhỏ, Ông Bà Ngoại tôi sống trong một căn nhà bình thường, trên một con đường khiêm tốn trong khu Garden Grove. Đây là một căn nhà một tầng, với một hồ bơi, một mái hiên đằng sau, và một cái bếp nho nhỏ. Nhưng với một cô bé 10 tuổi, đó là một thế giới thần tiên, kỳ diệu.

    Chị em tôi và những người anh em họ đã có những ngày Hè dài vẫy vùng trong hồ bơi, tắm mát trong ánh nắng trường cửu của California…

    … Nhưng không có tiếng nhạc nào ngọt ngào hơn những âm thanh từ chiếc vỹ cầm của Ông Ngoại. Ông đã cho tôi được ôm chiếc vỹ cầm ấy một lần khi tôi đến thăm ông, trao phó bảo vật ông quý nhất vào bàn tay vụng về của tôi. Tôi cố gắng kéo được vài nốt nhạc, và lập tức hiểu rằng những âm thanh kỳ diệu ông tạo ra từ cây vỹ cầm của ông đòi hỏi cả một đời để tôi luyện.

    Ông Ngoại và âm nhạc, trong tâm trí tôi, là một. Lớn dần lên theo ngày tháng, nhưng tôi không hiểu rõ lắm hoàn cảnh và sự phấn đấu của gia đình. Chiến tranh và những chịu đựng là một khái niệm trừu tượng đối với cái tâm hồn Mỹ hóa của tôi. Nhưng tôi hiểu Ông Ngoại và âm nhạc của ông. Tôi vẫn biết rằng ông là một nhạc sĩ tài hoa, không những với vỹ cầm, mà còn với saxophone, và cả dương cầm. Khi ông đàn, ông gợi lên những dấu nét của một quốc gia mà tôi, thế hệ Việt Nam thứ hai, mới bắt đầu thấu hiểu. Cái hoa mỹ, cái lãng mạn, cái khổ tâm, hoà hợp làm một. Đến khi tôi đã lớn khôn, tôi mới nhận ra cái giá gia đình chúng tôi đã phải trả để Ông Ngoại có thể cho tôi thưởng thức âm nhạc trong căn nhà nho nhỏ, bình thường của ông ở khu Garden Grove.

    Ông Ngoại đã truyền cái khả năng âm nhạc ấy vào hệ DNA của tôi. Tôi cảm nhận được sự hãnh diện của ông khi ông theo dõi sự tiến bộ về dương cầm của tôi. Ông thường nở nụ cười thoả mãn và dìu tôi đến ngồi trên ghế để tập dượt. Ông, người nhạc sĩ chuyên nghiệp và người bảo trợ của tôi!

    Ông Ngoại là người tạo cảm hứng cho tôi là chuyện hiển nhiên. Nhưng tôi không ngờ tôi cũng đã là nguồn cảm hứng của ông! Một ngày nọ, sau khi nghe và nhìn tôi tập dượt, ông đã viết một bản nhạc mới mang hình ảnh tôi. Lời bài nhạc dựa theo ý một bài thơ do Bố tôi viết. Tựa bài nhạc là Dương Cầm. Một bản nhạc mới, viết trên một quê hương mới, một kết hợp phản ảnh ba thế hệ trong gia đình tôi! Đây là bản nhạc duy nhất Ông Ngoại viết trong những ngày sống tha hương, và là bản nhạc cuối cùng ông viết trong cuộc đời nghệ sĩ.

    Lần chót Ông Ngoại đàn cho tôi là trong lễ cưới của tôi. Ông đã trình bầy bản nhạc nổi tiếng nhất của ông: Chiều Tím. Dường như cặp mắt ông chỉ hướng về tôi trọn vẹn trong những giây phút ấy, mặc dù có rất nhiều bạn bè, và gia đình thân thuộc khắp chung quanh. Ông đã đàn để thương tặng tôi một lần nữa, làm tôi nhớ lại những tháng ngày kỳ diệu của tuổi thơ tôi, nguồn âm nhạc đã luôn gắn bó chúng tôi với nhau, và niềm yêu thương còn mãi tồn tại sau khi những nốt nhạc cuối cùng đã dần lịm tắt”.

    Nhạc sĩ Nguyên Bích, bác sĩ Quân Y, tác giả ca khúc Tâm Sự Kẻ Xa Quê và Tình Si (thơ Mùi Quý Bồng) chai sẻ về đàn hạc:

    “Một lần qua New Orleans chơi với Bồng, con rể bác Đan Thọ, tôi được bác cho xem một cây đàn lạ mà bác mới mua được của một người Mỹ gốc Nga. Bác có cho tôi biết tên của cây đàn này, một lọai đàn riêng của sắc dân một nước nhỏ vừa tách rời nước Nga thời đó. Đàn có nhiều dây, cũng tương tự như đàn dương cầm nhưng không bấm phím mà lại gẩy bằng ngón. Tiếng đàn nghe rất ấm có lẽ vì có thùng đàn lớn và có thể chơi nhiều âm một lúc chứ không phải đơn âm. Cây đàn to và cồng kềnh quá, không biết các nhạc sĩ nước này sử dụng nhạc khí này thế nào, riêng tôi thì thấy không đủ sức khỏe và tầm vóc để chơi cây đàn này rồi.

    Tháng 8 năm 2005, bão Katrina thổi ào vào New Orleans nhận chìm nhà bác và luôn cả cây đàn. Gặp bác ở Houston, hỏi thăm bác về cây đàn, bác với giọng rầu rầu bảo bác bị mất cây đàn ấy rồi. Cây violin mà bác quý hơn vàng Carlo Bergonzi làm từ năm 1741 cũng bị hư luôn. Bác Đan Thọ sở trường về violin và saxophone nhưng tài bác không dừng lại ở đó, mà bác đã viết hòa âm bài Dương Cầm cho violin và piano để hai ông cháu hòa tấu trong buổi tiệc sinh nhật của bác ở New Orleans. Bác thích thú phân tích với tôi từng khúc trong hòa âm bài này “làm sao cho cháu nó chơi được khúc này chứ”…

    Cây đàn Nga này có một sức quyến rũ với tôi một cách đặc biệt, và cũng từ đó tôi ưa để ý đến những nhạc cụ dân tộc của từng xứ, nhất là những xứ Bắc Âu.

    Cây đàn nhạc sĩ Đan Thọ bị mất trong trận bão Katrina là đàn bandura, một nhạc cụ dân tộc của Ukraine. Ngày xưa các nhạc sĩ hát dạo Ukraine dùng cây đàn này cùng với những bài ca và nhạc của họ làm công cụ truyền tải từ thế hệ này đến thế hệ khác những thiên hùng ca của dân tộc Ukraine chiến đấu chống Nga Hoàng và đảng Cộng Sản Nga. Các nhạc sĩ này, đa số khiếm thị, vì thế đã bị chính quyền Nga giết hại. Đàn bandura được coi như biểu tượng của Ukraine và có một âm sắc hết sức độc đáo. Cây đàn bandura ngày nay có 65 dây”.

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa được ra mắt công chúng vào năm 2005 với dàn nhạc giao hưởng Kyiv Symphony Orchestra và Chorus của Ukraine, viết về cây đàn bandura “Nếu người Việt coi đàn tranh là nhạc cụ cổ truyền thì người Ukraine hãnh diện với cây đàn truyền thống bandura có âm thanh du dương không kém đàn tranh nhưng âm vực rộng hơn  so với ngũ cung trong đàn tranh”.

    Nay nhạc sĩ Đan Thọ về với cát bụi cùng với những cây đàn đã một thời gắn liền với thú đam mê trong âm nhạc của ông nơi cõi vĩnh hằng. Ông đã ra đi để lại trong lòng mọi người hình ảnh đáng quý, trân trọng.

    Ca khúc Chiều Tím tạo nên tên tuổi, với tôi thì ca khúc Tình Quê Hương điệu Tango Habanera, Tinh Hoa ấn hành năm 1956 đã in sâu trong thời chinh chiến:

     “Anh về qua xóm nhỏ,

    Em chờ dưới bóng dừa.

    Nắng chiều lên mái tóc,

    Tình quê hương đơn sơ.

    Quê em nghèo, cát trắng,

    Tóc em lúa vừa xanh.

    Anh là người lính chiến,

    Áo bạc màu đấu tranh .

    … Ngõ buồn màu hoang loạn

    Quê nghèo thêm xác xơ…”.

    Trong ca khúc Bóng Quê Xưa (1952) với nỗi niềm:

    “Xa quê hương thân yêu

    Với bao nhiêu tình thương”

    Nhạc sĩ Đan Thọ không còn nữa nhưng tình cảm với mọi người và tình quê hương trong lòng người xa xứ khi nhớ về cố hương. Oliver Wendell Holmes, Sr nhà thơ, bác sĩ Mỹ vào tiền bán thế kỷ XIX nói: “Where we love is hometown, hometown that our feet may leave, but not our hearts” (Nơi chúng ta yêu là quê hương, quê hương là nơi đôi chân chúng ta có thể rời đi, nhưng trái tim thì không). Và, trái tim đó trong ca khúc của nhạc sĩ Đan Thọ cách nay bảy thập niên, sẽ mãi mãi.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, September 10, 2023

  • Âm nhạc,  Kiều My,  Sinh Hoạt,  Việt Hải

    GIỚI THIỆU BAN NHẠC TRẺ  ANGEL BAND

    Nhạc sĩ Huy Phước cùng ban nhạc Angel Band tổ chức buổi lễ mừng Labor Day 2023. Bước vào music studio trang trí hệ thống đèn màu (multicolor helicopter lighting) đẹp mắt. Angel Band mở đầu party với nhạc phẩm “Oye Como Va”. Đây là ca khúc do nhạc sĩ Latin jazz và mambo Tito Puente sáng tác vào năm 1962. Bản hát lại của ban nhạc rock Santana đã đưa ca khúc này trở nên nổi tiếng với vị trí số 13 tại Billboard Hot 100, số 11 tại Billboard Easy Listening và số 32 tại Hot R&B/Hip-Hop Songs. Nhan đề ca khúc được lấy từ câu hát chủ đề “Oye Como Va”, có nghĩa là “Có khỏe không?”, tuy nhiên khi đứng cùng cả câu hát “Oye como va, ma ritmo” thì lại có nghĩa “Giai điệu của tôi có hay không?”

    Phu nhân của anh Huy Sinh (Lead Guitar), Huy Sinh (Guitar), Huy Tùng (Keyboard), Huy Đồng (Bass), Mạnh Bổng, Huy Dũng (Drum), Huy Phước (Accord) & Drum)

    Ca khúc được sáng tác theo nhịp cha-cha-cha với nhiều nét  tương đồng với “Chanchullo” của Israel “Cachao” López. Tạp chí Latin Beat từng viết vào năm 1967: “Ca khúc kinh điển “Rareza de Melitón” (sau này đổi tên thành “Chanchullo”) do Cachao sáng tác vào năm 1937 đã là nguồn cảm hứng cho Tito Puente viết nên ‘Oye Como Va’ “. Ấn bản gốc do ca sĩ Santitos Colon trong ban nhạc của Puente thời điểm đó trình bày. Cachao cũng chơi violoncelle trong một số lần trình diễn trực tiếp của “Oye Como Va”. Bài ca Oye Como Va điệu cha-cha-cha thường được chơi trong những dịp bal des amis hay matinée boom.

    Angel Band là ban nhạc trẻ, dĩ nhiên sở trường chơi nhạc trẻ rất khá, dưới sự điều khiển của nhạc sĩ Huy Phước. Tay trống xuất sắc là Huy Vũ, Huy Sinh lead guitar, Huy Tùng keyboard, Huy Đồng bass, Huy Dũng trống và Huy Phước đảm nhiệm cả hai vai trò lead solo (hay accord) và vocalist. Đây là một professional fullband mà chúng tôi được thưởng thức suốt một đêm dài của Labor Day 2023.

    Trần Việt Hải

    ÂM NHẠC TRONG ĐỜI SỐNG

    Bài Viết Của Kiều My

    Mừng lễ Labor Day 2023 vừa qua, gia đình chị Tâm An đã tổ chức một buổi văn nghệ hầu chiêu đãi bạn bè. Với lòng hiếu khách và hào hiệp, chị đã mời bạn bè và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tham dự buổi ca nhạc tại tư gia…vô cùng ấn tượng. Đặc biệt, mọi người được thưởng thức một đêm văn nghệ độc đáo với ban nhạc sống của nhạc sĩ Huy Phước, phu quân của chị Tâm An. Đây là khoảnh khắc chắc chắn sẽ ghi lại dấu ấn như một kỷ niệm khó quên trong lòng người.

    Hình trên cùng: Minh Thư (Mặc áo & đội mũ đỏ) Hình giữa: Phạm Gia Đại, Vương Trùng Dương, Lê Nguyễn Nga, Mạnh Bổng, Lệ Hoa, Việt Hải, Khánh Lan, Ngọc Châu. Hình dưới cùng: Bà xã của anh Huy Sinh (Lead Guitar), Huy Sinh (Guitar), Huy Tùng (Keyboard), Huy Đồng (Bass), Mạnh Bổng, Huy Dũng (Drum) & Bà Xã, Huy Phước (Accord) & Drum) và phu nhân Tâm An, Lệ Hoa, Chị….và Anh…

    Âm nhạc là một môn nghệ thuật mà Kiều My yêu thích từ tấm bé. Có thể nói: âm nhạc là một loại thần dược vô hình, mang đến nhiều lợi ích cho tinh thần và sức khỏe của con người. Hầu hết mọi người chúng ta đều thích âm nhạc, vì tính chất kỳ diệu của nó là nối kết con người lại với nhau một cách tự nhiên. Mang đến sự giao thoa thật tốt đẹp giữa tình đồng loại; giúp mọi người hòa đồng và cởi mở trong tình bạn hữu.

    Âm nhạc có nhiều thể loại và chuyên chở nhiều ngôn ngữ khác nhau. Riêng người Việt Nam, ngoài nhạc Việt mà ta yêu thích đã đành, chúng ta còn thích cả nhạc Pháp, nhạc Anh, Mỹ v.v…

    Kho tàng âm nhạc Việt Nam cũng rất phong phú. Nhiều nhạc sĩ tài ba đã sáng tác những nhạc phẩm từ thời tiền chiến, đến thời chiến…thật trữ tình, đầy tình người, đi sâu vào lòng người và mãi không phôi pha theo thời gian. Chẳng hạn như nhạc sĩ Văn Cao (Suối Mơ), Đoàn Chuẩn (Lá Đổ Muôn Chiều), Dương Thiệu Tước ( Tiếng Xưa), Phạm Duy (Bên Cầu Biên Giới), Lam Phương (Tình Anh Lính Chiến), Trần Thiện Thanh (Người Ở Lại Charlie) Ngô Thụy Miên (Mùa Thu Cho Em), Từ Công Phụng (Bây Giờ Tháng Mấy) Nguyễn Ánh 9 (Cô Đơn) v.v… Còn rất nhiều ca khúc có giá trị do nhiều nhạc sĩ sáng tác, đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam.

    Nói đến nhạc Pháp, người Việt rất say mê vì âm điệu lãng mạn, nhẹ nhàng, sang trọng…rất gần gũi bản chất người Việt. Ngoài ra, người Việt có vẻ rất quen thuộc với nhạc Pháp vì đất nước chúng ta chịu ảnh hưởng nền văn hóa Pháp, thời Pháp thuộc gần 100 năm. Trong những bản nhạc Pháp ( La Chanson Francaise ) rất nổi tiếng vào những thập niên 1940, 50, 60, 70…qua tiếng hát của những danh ca Pháp thời bấy giờ như:

    Edith Piaf – La Vie En Rose, Sous Les Ciel De Paris, Non Je Ne Regrette Rien…

    Dalida – Bambino, Histoire d’un Amour, Bang Bang….

    Sylvie Vartan – La Plus Belle Pour Aller Dancer, Quand Le Film Est Triste…

    Mireille Mathieu – La Paloma, Une Femme Amoureuse, La Derniere Valse.

    Vicky Leandros – Apres Toi, L’ Amour Est Bleu…

    Christophe – Aline, Oh Mon Amour, Main Dans La Main….

    Còn rất nhiều những bản tình ca Pháp rất hay đã đốt cháy lòng người, mà chúng ta được thưởng lãm qua nhiều thập kỷ.

    Vào những năm đầu của thập niên 1970, giới yêu nhạc Pháp ở Saigon vô cùng thích thú khi được nghe bản nhạc PAROLES, qua hai tiếng hát hàng đầu của Pháp là Dalida và Alain Delon.

    Những bản nhạc Pháp tiêu biểu này đã đi sâu vào lòng người và thật khó quên. Giới yêu nhạc Pháp rất say mê những bản nhạc tình lãng mạn từ  ngày ấy cho đến bây giờ. Đặc biệt, những bản nhạc tình cảm Pháp vẫn tồn tại mãi với thời gian và ảnh hưởng sâu rộng khắp thế giới. Người Việt biết thưởng thức nhạc Pháp có thể nói: đây là sự lựa chọn những tinh hoa bậc nhất của âm nhạc vậy.

    Kiều My nhớ và viết lại phần nào về phong trào nhạc rock du nhập vào Việt Nam ra sao, như thế nào nhé. Khi quân đội Hoa Kỳ sang chiến đấu tại Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và đồng thời mang nhạc rock Mỹ vào nước ta. Vì các club nhạc mở ra để cho người Mỹ có nguồn giải trí. Thời bấy giờ ở Sài Gòn, tầng lớp học sinh, sinh viên ảnh hưởng văn hóa Pháp tiếp tục nghe nhạc Pháp, như là hiện tượng để chống trả lại sự thâm nhập văn hóa Mỹ đang ngày càng bành trướng. Nhưng dần dần những người chơi nhạc nhận ra nét độc đáo của nhạc pop/rock của Anh và Mỹ. Và rồi từ thủ đô Sài Gòn đến các thành phố lớn như: Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Biên Hòa, Vũng Tàu, Cần Thơ… cùng nhiều nơi khác chấp nhận loại nhạc rock, dù nguyên gốc hay được Việt hóa trong đời sống văn hóa của lớp người trẻ thời bấy giờ.

    Cũng vào đầu thập niên 1970, giới yêu nhạc lại có dịp thưởng thức một sắc thái mới của âm nhạc nổi lên rầm rộ, đó là nhạc Anh , Mỹ…do những ban nhạc đang làm mưa gió trong những buổi ca nhạc trên thế giới. Chẳng hạn như:

    Ban nhạc The Beatles nổi tiếng về nhạc Pop – Rock, đã lôi cuốn người nghe trong những buổi trình diễn như:  Let It Be, Hey Juge, Imagine v.v…

    Ban nhạc ABBA nổi tiếng với bản: Dancing Queen, Mamma Mia, I have A Dream, Fernando, Chiquitita,…

    Ban nhạc Boney M. Lừng danh trong ca khúc “Rivers of Babylon”, “Bahama Mama”, Daddy Cool, “Rasputin”…

    Carpenters – Một giọng hát rất đặc biệt qua những ca khúc như: Yesterday Once More, Top OF The World, Please Mister Postman…

    Elvis Presley – Người ca sĩ rất nổi tiếng qua nhiều ca khúc như : Can’t Help Falling In Love, It’s Now or Never, Are You Lonesome Tonight v.v…

    Celine Dion – Cô ca sĩ có giọng hát cao vút người Quebec, Canada đã đưa tên tuổi cô lên hàng danh ca qua những bài hát:  My Hearth Will Go On, The Power of Love, Because You  Love me v.v…

    Whitney Houston – Nổi tiếng qua những ca khúc I Will Always Love You trong phim The Bod Guard; Greatest Love of All, I Have Nothing v.v….

    Suốt nhiều thập kỷ qua, nhạc Anh Mỹ đã tràn ngập thế giới, mang đến cho người yêu âm nhạc cả rừng nhạc. Trong số đó, có nhiều ca khúc đã chiếm giải Oscar, Hoa Kỳ.

    Nói đến nhạc Mỹ, Kiều My cũng có một kỷ niệm khó quên trong lớp Anh văn bậc trung học, ngày còn ở trong nước. Giáo sư Anh văn của lớp hát cho chúng tôi nghe bản nhạc Release Me, do nhạc sĩ Eddie Miller viết 1949; một bản nhạc tình mà ông thầy rất thích khi đi du học ở London. Âm điệu bản nhạc  Release Me tha thiết du dương, rất truyền cảm…khiến chúng tôi ngồi thinh lặng nghe thầy hát. Và bản này đã trở thành bản nhạc Mỹ mà KM  thích nhất trong số những bài hát hay Anh Mỹ, cũng không thua kém nhạc Pháp.

    Trong những bài hát bất hủ của thế giới âm nhạc, chúng ta không thể không nói tới bản La Paloma, được dịch qua lời Pháp từ  gốc Tây Ban Nha do nhạc sĩ Sebastián Iradier sáng tác vào khoảng năm 1860. Giai điệu của bản La Paloma rất tuyệt vời, đã chạm đến trái tim của hàng triệu người trên thế giới, trong đó có KM. Bản nhạc này trải qua trên một thế kỷ, nhưng nó vẫn sống mãi với thời gian.

    Ca khúc bất hủ Le Beau Danube Bleu ( Dòng Sông Xanh) sáng tác bởi nhạc sĩ trứ danh người Áo Johann Strauss II (1825-1899). Bản nhạc này nổi tiếng vào năm 1867, khi điệu luân vũ của bản nhạc nổi lên do chính tác giả điều khiển tại một hí trường ở Paris, khán giả đã “bis” đến 20 lần. Kể từ đêm đó, Le Beau Danube Bleu không chỉ là tài sản nghệ thuật của nước Áo, mà đã bay đi khắp thế giới, được giới yêu nhạc hâm mộ và thưởng thức cuồng nhiệt. Ca khúc luân vũ này cũng là biểu tượng của “ Hy Vọng và Hòa Bình”, và cũng là tiêu biểu của thủ đô Vienne, Áo quốc. Bản nhạc lừng danh thế giới này được sáng tác trong tình yêu tuyệt vời của người tình dành cho tác giả… đã khiến những nốt nhạc được thăng hoa đỉnh điểm…

    Le Beau Danube Bleu cũng đã được ban đại hòa tấu André Rieu, một tay vĩ cầm lừng danh người Dutch trình diễn khắp thế giới. Khán giả hoan hô nhiệt liệt trong tiếng réo rắc của vỹ cầm, lả lướt theo điệu nhạc luân vũ như dòng chảy của con sông thơ mộng Danube, giữa thủ đô Vienne Áo quốc.

    Bản Le Beau Danube Bleu cũng đã được cố nhạc sĩ Phạm Duy soạn lời Việt với tên Dòng Sông Xanh. Đã được nhiều ca sĩ Việt hát rất xuất sắc qua giọng ca Thái Thanh, Ngọc Mai, Ngọc Hạ vv…

    Bên cạnh đó, bản nhạc với giai điệu Boston du dương qua những buổi hòa nhạc, đó là ca khúc tuyệt vời Sérénade do nhạc sĩ lừng danh Frank Schubert người Áo (1797- 1828) sáng tác. Bản này cũng được liệt kê vào hàng nhạc bất hủ thế giới, sẽ sống mãi với thời gian vì giá trị cao của nó.

    Trong cuộc sống hàng ngày, âm nhạc được ví như món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đời sống con người, là ngôn ngữ đại đồng chung cho nhân loại. Nếu cuộc sống mà thiếu âm nhạc thì chẳng khác gì thiếu ánh sáng mặt trời, thiếu không khí trên mặt đất này. Bởi thế cho nên triết gia Friedrich Nietzsche đánh giá cao về âm nhạc: “Không có âm nhạc thì cuộc sống sẽ là một điều sai lầm”. Hay như sự cần thiết mà thi hào William Shakespeare quan niệm: “Nếu ta yêu âm nhạc thì hãy vặn nó lên”… Còn cố ca sĩ Sony Bono đã từng nói: “Âm nhạc có thể thay đổi thế giới bởi vì nó có thể thay đổi được con người”.

    Vai trò âm nhạc ảnh hưởng đối với đời sống của chúng ta rất nhiều, chính nó tạo ra những cung bậc cảm xúc trong tâm hồn chúng ta. Âm nhạc làm cho cuộc sống chúng ta thăng hoa, trở nên tốt hơn. Điều đó được hiểu qua ý tưởng của người xưa, như quan điểm của triết gia Plato người Hy Lạp, học trò của đại triết gia lừng danh Socrates: “Âm nhạc là sự chuyển động của âm thanh, để linh hồn con người đạt đến sự giáo dục đạo đức của chính nó”.

     Phải chăng nhạc thánh ca, nhạc đạo, nhạc về lòng yêu thương quê hương, nhạc về lòng mẹ hay tình cha… linh nghiệm đúng như vậy. Do đó, âm nhạc ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người, con người là loài vật duy nhất có thể cảm nhận thông suốt, hiểu biết bởi trí tuệ và thưởng thức với tâm hồn say mê yêu thích âm nhạc. Chung quy, thì phạm vi âm nhạc có hai loại chính khi biểu hiện: bằng giọng người tức thanh nhạc; nếu trình bày bằng các loại nhạc cụ là khí nhạc.

    Ngoài ra, âm nhạc là nguồn hạnh phúc cho tất cả mọi người chúng ta sống trên trái đất. Không có âm nhạc thế giới thực sự sẽ rất buồn tẻ. Chính vì có âm nhạc trong sự chuyển động âm thanh của thiên nhiên như: gió, sóng biển, thác, suối, mưa, bão… cũng như sự chuyển động của cây cối; âm nhạc trong tiếng hót của các loài chim muông… Âm nhạc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hạnh phúc của con người. Âm nhạc xua tan đi nỗi sầu khổ của con người và rót đầy tâm tưởng chúng ta niềm vui sướng hân hoan. Bật lên những bài nhạc yêu thích và lắng nghe mà không cần làm điều gì khác, lắng nghe và lắng nghe trong sự thích thú. Chúng ta cảm thấy cuộc đời này có giá trị và đáng sống biết bao! Sự thật là như thế!. Ngẫm nghĩ về câu nói “La musique fait écho aux sentiments humains”, quả thật âm nhạc có thể xoa dịu những nỗi lo âu, khắc khoải trong cuộc sống. Âm nhạc là phương tiện chuyển tải cảm xúc trọn vẹn nhất của tâm hồn. Nhạc sĩ đại tài Beethoven cho rằng: “Âm nhạc làm trái tim của người nam sôi sục và khóe mắt của người nữ đẫm lệ”. Âm nhạc cũng có thể là ngôn ngữ của tâm hồn xao xuyến bớt đi cô đơn, hay khiến cho con tim ta khao khát yêu thương.

    Âm nhạc có thể đưa tâm hồn ta cất cánh bay cao như cánh diều gặp gió; hay chìm lắng như trăng lặn dưới đáy hồ… theo dòng nhạc. Quả thật! Âm nhạc là một trong những nghệ thuật kỳ diệu của nhân loại!

    Kiều My

  • Văn Thơ,  Vương Trùng Dương

    Nhà Thơ Đỗ Bình & Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris

    Nhân dịp Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian ở Nam California chu du Âu Châu. Nhà thơ Đỗ Bình và các văn nghệ sĩ tổ chức bữa cơm thân mật với các anh chị văn nghệ sĩ ở Mỹ vào lúc trưa ngày 20 tháng 9 năm 2023 tại nhà hàng Sài Gòn số 104 Ave d’Ivry, Paris 13…. Viết bài nầy để gởi lời chia sẻ với nhà thơ Đỗ Bình và quý vị trong  Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris.

    Vương Trùng Dương

    NHÀ THƠ ĐỖ BÌNH, PARIS

    Năm 2006, tôi nhận được tuyển tập Nhà Văn Hải Ngoại của nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên (1930-2023). Ông là giáo sư, học giả, luật sư, nhà nghiên cứu, hội viên Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại (Académie des Sciences d’Outre-Mer) của Pháp năm 1997 nhưng ông chỉ thích với danh xưng nhạc sĩ.

    Trong tuyển tập này, nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên viết bài Bóng Quê Của Đỗ Bình (trang27-33). Những dòng chữ đầu tiên giới thiệu về nhà thơ Đỗ Bình: “Thi Sĩ Đỗ Bình, Cựu Tù Nhân Chính Trị… mến phục ngay con người đã từng chịu đựng nỗi đau khổ nhục tù cải tạo vì đã hiến thân mình cho nước nhà dân chủ tự do… sự gặp gỡ giữa tôi và anh chị Đỗ Bình trở thành một kỷ niệm đầy ý nghĩa”. Có lẽ thân phận người lính, người tù giữa nhà thơ Đỗ Bình và tôi như nhau nên đồng cảm và thiện cảm.

    Tập thơ Bóng Quê, gồm 82 bài thơ, dày 128 trang, được ra mắt ở Paris tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam năm 1998, lúc đó phương tiện internet chưa được phổ biến rộng rãi nên thi tập nầy không đến với thân hữu ở hải ngoại.

    Thi phẩm Bóng Quê với một phần tư thế kỷ trôi qua, nhân đây trích bài viết của nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên giới thiệu những dòng thơ của “nhà binh làm thơ” Đỗ Bình.

    “… Tôi xa nhà đã lâu, từ lúc từ giã quê quán, đất nước mặc dầu loạn lạc vẫn giữ tinh thần quốc gia dân tộc dân chủ tự do, cho nên cái buồn viễn xứ dù thấm thía đến đâu cũng không bằng nỗi đau thương cực độ của một người trai trẻ tỵ nạn tại Pháp từ 20 năm, sau khi nếm mùi gian khổ trong xà lim Cộng Sản, bị mất một nửa phần ánh sáng:

    “Anh phóng hồn qua lỗ khóa con

    Để còn trông thấy bóng trăng non

    … Chờ con mắt lạc sâu đêm tối

    Là lúc con trùng réo nỉ non”

    (Người Tù & Bóng Tối)

    Vì thế cho nên Đỗ Bình không bao giờ quên giúp đỡ những hội ái hữu chăm sóc cho Thương Binh VNCH… Như muốn nhắc nhở đồng bào hải ngoại chớ quên những người đã hy sinh cho tổ quốc, nay tàn tật, lê chân mệt mỏi trên đất người:

    “Ngày tháng trôi đi buồn vẫn đọng

    Trên dòng chinh chiến đã rêu phong

    Súng gươm lặng lẽ vào quên lãng

    Khấp khểnh đường chiều, chiếc nạng cong”

    (Nạng Gỗ)

    … Ở đất nước xa lạ, nhiều lúc nguồn thơ muốn quên lãng trong cốc rượu nồng, vì không cón biết mình còn đủ tàn lực tranh đấu cho tổ quốc:

    “Đêm khua khoắt, gió heo may

    Hồn người lính trận nương mây trở về?!

    Ta say thật hay say mê

    Mà nghe chua xót lời thề năm xưa”

    (Xưa)

    Đọc thơ Đỗ Bình, tôi không thể nghĩ đến Phạm Ngọc trong Nỗi Đam Mê Muộn Màng “… Cánh chim dang dở đường bay. Ngồi trong đêm nuôi mộng cùng ngày” vì tác giả Bóng Quê:

    “Từ khi làm cánh chim buông

    Chân trời, góc bể như tuôn mạch sầu”

    (Cô Đơn)

    Hoặc để thoát ly nỗi cô quạnh của Người Tù & Bóng Tối:

    Anh muốn làm chim cất cánh bay

    Về miền xa thẳm tít trời mây

    Thả hồn lướ cánh say trong nắng

    Giải thoát đời qua kiếp đọa đày”

    Buồn ơi là buồn, nỗi buồn cô quạnh, nỗi buồn xót xa của nhà thơ một mình nơi xứ lạ:

    “Lên đỉnh non ngàn vọng cố hương

    Mắt buồn chĩu năng mấy làn sương

    Nhìn quanh, chẳng thấy trời quê mẹ

    Chỉ có tuyết rơi… dốc đoạn trường”

    (Đỉnh Nhớ)

    Cái biệt tài của Đỗ Bình là một thi sĩ mà cũng là nhạc sĩ (phần đông những bài thơ trong Bóng Quê được tác giả tự phổ nhạc, và những bài khác với sự cộng tác của Việt Phương, Nguyễn Minh, Đào Tuấn Ngọc, Minh Sơn, Anh Việt Thanh, Trịnh Hưng, Lê Khắc Thanh Hoài) nằm ở sự khéo léo sắp đặt âm điệu của lời thơ…”

    Theo nhà thơ Đỗ Bình: “Bài thơ Tình Chỉ Là Mơ và bài thơ Cõi Tình, tôi chọn đưa vào in trong thi tập với lòng yêu thơ. Tôi thường làm thơ về quê hương, về thân phận con người, nay làm được những bài thơ về tình yêu lứa đôi lãng mạn của tha nhân tôi cảm thấy vui, tập thơ sẽ có thêm màu sắc…

    Khi tập thơ được in xong, các bạn văn vì cảm mến tôi nên đã cùng nhau tổ chức một buổi ra mắt sách rất trang trọng vào ngày 4 tháng 10 năm 1998 tại Hội Trường Quốc Tế Paris, quy tụ tất cả các văn nghệ sĩ ở Paris và khắp nơi đến. Đặc biệt những danh ca chỉ dành hát độc quyền cho các trung tâm nhạc cũng về Paris trình diễn cho buổi ra mắt sách”.

    Nhà thơ Đỗ Bình trong thời chiến tranh là người lính đơn vị tác chiến với hình ảnh trong Đêm Tiền Đồn:

    “Áo trận phong sương dốc núi mòn

    Rừng đêm cô quạnh mảnh trăng non.

    Sông dài uốn khúc dòng không chảy

    Vài mái tranh xiêu nóc chẳng còn!

    Nơi đây rừng núi mây sương phủ

    Ngày tháng vàng theo chiếc lá thu

    Mỗi bước bẫy mìn giăng khắp lối

    Đường đêm rờn rợn cõi âm u.

    … Không gian hờ hững, quen bom đạn

    Người lính nằm queo máu đã khan!

    Chiến địa hận thù mờ khóe mắt

    Một tràng tiếng nổ bóng đêm tan!”

    Rồi nỗi đau uất hận lại ập đến trong ngày 30 tháng Tư với tâm trạng bi thương khi Tàn Cuộc Chiến:

    “Người lính trẻ lên đường ra chiến trận

    Dù gian nguy nào có tiếc tuổi xuân

    Vì tự do, cho sông núi vẹn phần

    Tay ghìm súng lòng chưa mang oán hận.

    Ngày quốc biến khắp nơi thành chiến địa,

    Người cõng nhau chạy trốn đạn pháo kia

    Tiếng xung phong, tiếng nổ, xác thân lìa,

    Thịt người nóng đầu mình văng tứ phía

    … Tàn chiến cuộc nước non thành dâu bể

    Ôi hòa bình… khói ngút bay trần thế!”

    Sau ngày tàn cuộc chiến, cũng như bao người người lính VNCH bị sa cơ vào chốn lao tù, bị giam cầm, đọa đày được mô tả qua dòng thơ Kiếp Tù:

    “Môi khô nứt bụng đói cào rời rã

    Kiếp tù nhân thân gầy đét xương da.

    Con mắt mở đời gần như hóa đá

    Nhìn quanh đây toàn những nỗi xót xa.

    … Trong ngục tối ngày vẫn dài thăm thẳm

    Thiếu tiếng người ngoài tiếng gió xa xăm!

    Đời hiu quạnh hồn chết dần say đắm

    Thương bài thơ cũng mục rã âm thầm!

    Ta muốn thét cho đời vơi thê thẳm

    Vẫn làm thơ chờ về cõi trăm năm.

    Người ngoài đó con đường xưa mây xám

    Mất tự do thì nào khác trại giam!

    Ôi chủ nghĩa trời quê hương u ám

    Ta ngồi đây vọng tưởng những tháp Chàm!”

    Khi thoát khỏi quần đảo ngục tù, được định cư nới xứ người, nỗi niềm của anh trang trải qua bài Trăn Trở:

    “Tháng Tư buông súng nhục nhằn,

    Về đây thao thức… chùm chăn mấy lần

    Tha hương nghìn dặm gian truân,

    Đời như sóng rẽ cũng phần lanh quanh!

    … Tháng Tư đốt nén hương trầm

    Trong tim để khóc âm thầm cố hương”.

    Những ngày đầu sống trên xứ người, dù Paris được mệnh danh là “kinh đô ánh sáng” nhưng với anh vẫn trong tâm trạng kẻ lưu đày trong Một Lối Về:

    “Bóng quê mù tít xa khơi,

    Phố xưa mất dấu một thời đắm say?

    Quanh đây những kiếp qua ngày,

    Có người nhặt chiếc lá bay cuối bờ!

    Tàn đêm lịm ánh trăng mơ,

    Cớ sao giấc điệp… cũng hờ hững nhau!

    Buồn theo sợi tóc phai màu,

    Biển xanh chìm khuất niềm đau hôm nào?”

    Mang thân phận của người lính khi mất nước đành cam chịu cuộc sống  Kiếp Tha Hương trong nỗi ngậm ngùi:

    “Chiều lên nắng ngả vàng khu phố,

    Nghiêng xuống đời ta vạt lụa thơ.

    Hầm métro nhiều chân bước vội,

    Vẳng thanh âm khúc nhạc mơ hồ.

    Hỡi nàng mắt xanh môi sầu mộng,

    Tấu làm chi ca khúc não lòng?

    Lời hát vút cao như tiếng khóc,

    Chạnh buồn, ta tủi kiếp lưu vong!”

    Giữa thập niên 1960s, tôi trải qua hai năm quân trường, phục vụ ở Vùng I và Vùng II Chiến Thuật, trở lại trường cũ, sau những năm lao tù, về lại chốn xưa trong tháng ngày đen tối nên khi đọc thơ của anh viết về Đà Lạt, cùng thân phận và hoàn cảnh với nhau, tôi cảm thấy xót xa:

    “… Dốc mòn đồi tím mênh mông,

    Em theo cánh bướm ngàn thông quên đường!

    Bóng chiều cỏ úa màu sương

    Em đi, còn thoảng mùi hương lối về”

    (Đồi Thông)

    Thời gian sống ở hải ngoại, có những lúc nhớ đến Đà Lạt, bắt gặp trong thơ anh với tâm trạng của tôi:

    “Trong giấc mơ xưa tìm dấu cũ

    Đồi thông vi vút lá vào thu.

    Phố chiều nắng ngả vàng khu chợ

    Trường cũ nhòa theo lốc bụi mù!

    … Đà Lạt ngàn hoa trên lối nhỏ

    Đường qua phố chợ dốc quanh co

    Đèo cù mây trắng bay lờ lững

    Lên thác Cam Ly, suối hẹn hò.

    … Nhớ quê ngày tháng thêm cô quạnh

    Non nước tuyệt vời như bức tranh

    Bàng bạc không gian đầy mộng  ảo!

    Mơ hồ, thấy phố núi, trời xanh.

    (Đêm Mơ Phố Núi)

    Mười hai thế kỷ về trước, bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Tĩnh Dạ Tư của Lý Bạch đã để lại hậu thế hai câu thơ trác tuyệt:

    “Cử đầu vọng minh nguyệt,

    Đê đầu tư cố hương”

    Năm 2007, trong một đêm trăng ở Little Saigon, ngồi chung với nhà thơ Du Tử Lê, nhắc đến bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn được Phạm Đình Chương phổ nhạc, tối đó tôi viết bài cùng với tựa bài thơ và ca khúc. Dòng cuối “Trăng và cố hương trong thơ Du Tử Lê và dòng nhạc của Phạm Đình Chương cùng nỗi niềm và tâm trạng của người xa xứ có lẽ gắn liền với “giai đoạn lịch sử” của đất nước”. Bài thơ của anh Đỗ Bình khi nhớ về cố hương phảng phất khung trời ngày xưa:

    “Viễn xứ ngàn trùng thương xóm cũ

    Hạ về hoa đỏ rực quanh đây

    Chợi nhớ phượng xưa trăng phố nhỏ

    Áo em vàng lụa tưởng vần thơ

    … Lặng lẽ mùa đi nào có biết,

    Phố xưa phảng phất nỗi u hoài!

    Trăng muôn đời vẫn là trăng mộng

    Tỏa ánh tơ vàng thắm khoảng không”

    (Trăng Muôn Đời Vẫn Sáng)

    Nhân đây, đề cập thêm về nhà thơ Đỗ Bình đã dấn thân trong lãnh vực văn học nghệ thuật. Từ khi định cư tại Paris, nhà thơ Đỗ Bình là người trẻ tuổi nhất đã bỏ ra nhiều công sức giúp ích rất đắc lực cho Ba Lê Thi Xã, sáng lập vào năm 1981…  quy tụ những bậc thức giả, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ … Tuy gọi là “Ba Lê” nhưng đã quy tụ được trong giới học giả, văn nghệ sỹ ở hải ngoại. Và, với úy tín đó nên thành lập Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris năm 1994. Mỗi năm Câu Lạc Bộ tổ chức sinh hoạt 4 lần trên các lãnh vực… Nhà thơ Đỗ Bình chủ tịch CLBVHVN Paris, năm 2018, BS Phan Khắc Tường đảm nhận vai trò nầy.

    Với mục đích của CLBVHVN Paris đã góp phần xây dựng Văn Hóa Việt Nam và gìn giữ phát triển sự trong sáng tiếng Việt… Giới thiệu và phổ biến những tác phẩm về sáng tác, phê bình văn học, biên khảo, dịch thuật… trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

    Có thể nói rằng CLBVHVN được quy tụ các thành viên đông nhất ở trời Âu và các nơi khác ở hải ngoại trong vài thập niên qua với tinh thần đoàn kết, xây dựng… đã đóng góp nhiều tài liệu biên khảo, sáng tác…

    Kỷ niệm 20 năm thành lập, tuyển tập Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Paris, 1995-2015. Sau hai năm chuẩn bị với Ban Điều Hành, Ban Biên Tập và Ban Thực Hiện, tác phẩm ra mắt vào tháng 9 năm 2016 với 26 tác giả đóng góp với nhiều đề tài và thể loại.

    Tiếp đến, tuyển tập NKMVHVN Hải Ngoại, bắt đầu từ 2018 hoàn tất vào tháng 5/2022. Việc chọn lọc bài viết do ban biên tập nhận xét, trao đổi với nhau theo chủ đề yêu cầu viết vì vậy có thể nói là tài liệu văn học hải ngoại giá trị.

    Tuyển tập nầy quy tụ các văn hữu ở khắp nơi gồm 5 Chương: Những Sinh Hoạt Văn Hóa Ở Hải Ngoại, Biên Khảo, Sáng Tác, Nhận Định Phê Bình và Tiểu Sử Tác Giả. (Ở Nam California, trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian có nhà văn Việt Hải và tôi với hai bài về nhà văn Nguyễn Thị Vinh và nhà thơ Hoàng Anh Tuấn).

    Ngoài ra, CLBVHVN Paris trong những cuộc hội thảo, sinh hoạt văn học nghệ thuật, giới thiệu tác phẩm cũng là nơi tiếp đón các văn hữu hải ngoại đến Paris. Sống nơi quê người, CLBVNVN Paris được vinh dự là “cái nôi” với tất cả văn hữu hải ngoại “tha hương ngộ cố tri” nơi kinh đô ánh sáng, ấm áp tình người.

    Nhân dịp nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian ở Nam California ghé Paris được CLBVNVN Paris ưu ái tiếp đón, nhớ lại đúng hai thập niên trước, buổi sinh hoạt văn học nghệ với nhà thơ Dương Huệ Anh (Phạm Ngọc Tường 1925-2022) từ miền Cali nắng ấm. Ông là người sáng lập và là chủ tịch Thi Đàn Lạc Việt miền Bắc California năm 1992, năm 1993 thành lập thêm Cơ Sở Văn Học Nghệ Thuật. Trong vài dòng cảm nghĩ của ông về cuộc hội ngộ rất cảm động. 

    Nay trong nhóm NVNT & TTG có nữ thi sĩ Dương Hồng Anh (Dương Nguyệt Anh) sinh năm 1931 tại Hà Nội, cháu nội nhà thơ Dương Khuê, tuy đã cao tuổi nhưng trong trong các buổi sinh hoạt của nhóm, nữ sĩ đều tham dự và sáng thơ tặng thân hữu. Rất tiếc vì tuổi cao nên không đi được để gặp lại “những người muôn năm cũ” từ Hà Nội và Sài Gòn năm xưa. Với tôi, rất mong có dịp cùng anh em trong chuyến đi trời Âu nầy để gặp lại vài thân hữu, chiến hữu đã xa cách gần nửa thế kỷ nhưng vì lý do gia đình, không thể xa nhiều ngày nên viết những dòng nầy đến quý vị “văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình”.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, September 06, 2023

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    NGƯỜI ANH THÂN TÌNH

    (Viết về Nhà Văn Việt Hải, người anh “Văn Học Tâm Đắc”)

    Trong bài này, tôi xin dùng chữ “Anh Việt Hải” thay vì “Nhà Văn Việt Hải”cho thân mật, nhưng xin được viết hoa chữ “A” cho chữ “Anh” để tỏ lòng kính trọng.

    NV Việt Hải và Khánh Lan

    Tôi thực sự bước vào làng văn khi dịch bệnh COVID 19 bắt đầu hoành hành trên thế giới với mức độ cao nhất và chắc chắn nó đã để lại ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của tất cả mọi người trên thế giới. Hậu quả của dịch bệnh COVID 19 đã làm đình trệ mọi sinh hoạt Văn học cũng như các lãnh vực ca vũ nghệ thuật & âm nhạc của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG). Những buổi họp mặt “hàn huyên bàn luận và hoạch định” chương trình trong tương lai của anh em chúng tôi cũng tạm dừng lại và phương tiện duy nhất để liên lạc là “điện thư” (email) và “hàn huyên tâm sự” là cái điện thoại di động.

    Riêng phần tôi cũng ôm ấp một nỗi buồn riêng, bởi hơn mười-hai năm đeo đuổi với nôm vũ nghệ thuật, đã tập cho tôi một thói quen khó bỏ quên “đam mê ca vũ”, nhất là dươc cùng các bạn trong nhóm vũ tụ họp mỗi cuối tuần để tập múa và giải lao “ăn uống”. Tiếc thay COVID 19, đã biến những buổi chiều cuối tuần của chúng tôi “Ban Vũ Tiếng Thời Gian” trở thành trống trải và vô nghĩa. Những buổi họp mặt để tập luyện, ca hát tạm gác lại để nhường chỗ cho những ngày tháng ngồi bó gối trong lo sợ và suy nghĩ vẩn vơ. Bạn nghĩ xem, tôi nên làm gì cho những ngày ngồi “tù giam lỏng” này đây?

    Khánh Lan & Thanh Châu

    Những ngày vui chơi cùng các bạn trong nhóm múa

    Một hôm, tôi xem lại cuốn phim phim The Sound of Music của đạo diễn Robert Wise do Ernest Lehman viết kịch bản năm 1965. Thủ vai chính trong cuốn phim này là hai diễn viên xuất sắc: Julie Andrews và Christopher Plummer. Bộ phim nhạc kịch này dựa trên vở nhạc kịch cùng tên của Broadway, bài hát được viết bởi Richard Rodgers, Oscar Hammerstein II và kịch bản của Howard Lindsay và Russel Crouse. Phim The Sound of Music được quay ở Salzburg, Áo, Bayern ở Nam Đức và ở trường quay 20th Century Fox tại California. Bộ phim giành giải Oscar cho phim ca nhạc hay, nổi tiếng nhất của năm 1965, Album nhạc phim cũng đã được đề cử Giải Grammy cho Album của năm ấy. Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ đã chọn The Sound of Music cho việc bảo tồn ở Kho lưu trữ phim Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 2001. Chính một câu nói của Julie Andrews trong phim đã gây sự chú ý và mở cho tôi một hướng đi mới, ly kỳ và thú vị sau này. Đó là câu:

    “KHI CÁNH CỬA NÀY ĐÓNG LẠI, THÌ CÁNH CỬA KHÁC TỰ MỞ RA”

                Thật vậy, khi cánh cửa “ca vũ” của nhóm chúng tôi đóng lại, thì tôi những tưởng, “thế là hết”. Cái cảm giác nuối tiếc, tuyệt vọng nhen nhúm trong tâm trí tôi. Thế là mất hết “Niềm đam mê Vũ Nghệ Thuật”. Và thưa các bạn, trong cơn tuyệt vọng ấy, một cánh cửa hy vọng đã mở ra cho tôi, Vâng cánh cửa “Văn học” đã tự mở ra, chào đón bước chân tôi.

    CÁNH CỬA VĂN CHƯƠNG THI PHÚ

    Nhà Văn Việt Hải, người mà tôi tự đặt tên là “người anh thân tình” gọi điện thoại cho tôi trong lúc tôi ở trong trạng thái “chán ơi là chán” và không biết làm gì để giết thời gian, anh đề nghị:

    • Khánh Lan đang làm gì thế?
    • Thưa, chẳng biết làm gì.
    • Sao Em không viết văn cho đỡ buồn?
    • Viết văn à? Em chưa bao giờ nghĩ là mình sẽ viết văn.
    • Anh tin là Em có khả năng… Anh đã nhìn thấy và đọc bài Em viết về “Áo dài Việt Nam qua dòng thời gian” và hướng dẫn các bạn trong nhóm minh họa phần trình diễn áo dài trong ngày Ra Mắt Sách (RMS) của Giáo Sư (GS) Trần Quang Hải… Rất khá…
    • Thật à?
    • Thử viết lại đi, anh sẽ hướng dẫn.

    Ngần ngừ một lúc, tôi trả lời:

    • Anh cho Em thêm vài tuần để em suy nghĩ kỹ nhé.
    • Được Em ạ. Nhưng Em phải hiểu rằng. Một khi Em bước vào tuổi 65-70, cái tuổi không còn thích hợp với ngành “Vũ & ca hát” nữa. Ngược lại, “Văn” sẽ cho Em một “vị trí” tốt và bảo đảm hơn trong lãnh vực văn chương. Anh thấy tiếc, nếu Em không chọn ngành Văn, bởi anh nhìn thấy ở Em, có triển vọng trở thành một “Nhà Văn” và thành công những là khác… Hay là Em có thể chọn cả hai cũng tốt.
    • Anh cho em xin một thời gian nữa. Viết văn hay gia nhập ban hợp xuống Ngàn Khơi, Em sẽ chỉ chọn một trong hai cái. Có như thế, Em mới có thể dồn hết khả năng, tâm trí và kiến thức của mình để tập trung (Focus) vào lãnh vực ấy. Nhất là để Anh không thất vọng về Em.

    Gác điện thoại, tôi ngồi trong yên lặng và suy nghĩ mông lung, vì đây không phải là lần đầu tiên Anh Việt Hải khuyến khích tôi bước vào lãnh vực văn học. Tôi không nhận lời Anh Việt Hải bởi tôi còn đang bị gằng co giữa hai lựa chọn. Sự việc là: Thanh Châu, một người bạn rất thân của tôi hiện đang sinh hoạt trong ban hợp xướng Ngàn Khơi, bạn rủ tôi gia nhập ca đoàn. Tôi còn phân vân chưa trả lời Thanh Châu, vì tôi không chắc mình có thời gian và khiên nhẫn theo đuổi và thi hành những quy luật mà ban hợp xướng đưa ra? Giữa viết văn và âm nhạc, tôi không biết nên chọn bên nào? Thứ nhất là để không làm buồn lòng Thanh Châu, và thứ hai là không làm phụ lòng Anh Việt Hải? Vì vậy, tôi chưa dám trả lời ngay để có đủ thời gian suy nghĩ chính chắn hơn.

    Ba tuần lễ trôi qua, tôi gọi điện thoại xin lỗi Thanh Châu, và dĩ nhiên là bạn tôi cũng buồn và lòng tôi cũng chẳng vui, nhất là từ nay tôi đã làm mất cái cơ hội để cùng các bạn tập múa, tập hát, đi trình diễn và nhất là không còn những giây phút vui cười bên nhau…Chỉ nghĩ như thế thôi cũng đủ làm tim tôi thắt lại và mắt tôi mờ lệ…

    Thế rồi thời gian cách ly vì dịch bệnh COVID 19 đã thực sự cho tôi một cơ hội để viết văn và quen dần với văn chương, chữ nghĩa, máy computer. Từ đấy, thay vì ngồi ngồi nghĩ cách để minh họa các màn vũ thì tôi lại vùi đầu vào tài liệu tham khảo, nặn óc ra những câu chuyện tình trường éo le, hoàn cảnh bi thảm. Nhưng ít ra, tôi biết mình đã làm một người rất vui và hài lòng: Đó là Anh Việt Hải.

    “Viết Văn”, một lãnh vực tuy không xa lạ đối với tôi nhưng tôi vô cùng lo sợ, nhưng đã chọn rồi thì không thể lùi bước, mà muốn trở thành một nhà văn, thì phải dấn thân, mà đã dấn thân rồi thì phải hy sinh (dựa theo Jean Paul Sartre) và nhất là thất hứa với Anh Việt Hải. Thôi cũng đành “nhắm mắt đưa chân” vậy để xem định mệnh sẽ đưa mình về đâu.

    Phải chăng “cái duyên tiền định” đã đến với tôi, cho tôi gặp được “Thầy Việt Hải”, một người “Thày” tận tâm với nhiều kiên nhẫn, một người Anh “thân tình” mà tôi hằng quý mến, khâm phục bởi sự kiên nhẫn, kiến thức thông suốt. Kiên nhẫn, vì anh đã thuyết phục được tôi di9 vào con đường văn học. Tận tâm, vì anh đã bỏ hằng giờ để hướng dẫn và khuyến khích tôi viết văn. Phải chăng chính Anh là người đã khám phá ra tôi, khám phá ra một tiềm năng ẩn náu trong tôi mà bấy lâu nay, chính tôi cũng không nhìn thấy. Thượng Đế thật công bằng, Người đã ưu ái dành cho anh một kiến thức uyên bác, biết nhiều, hiểu rộng, để anh dẫn dắt thế hệ trẻ, những cây bút non nớt bước vào vườn hoa văn hóa. Có lẽ cái trí nhớ phi thường, cái kiến thức sâu rộng, thấu hiểu tường tận về văn học Âu Á là cái bổng lộc mà Trời đã ban cho Anh để bù đắp lại sự thiệt thòi về thể xác.

    TÔI BẮT ĐẦU VIẾT VĂN

    Khánh Lan

    Khởi đầu sự nghiệp “cầm bút” mới thật là nhiêu khê, là cả một sự sự kiên nhẫn, học hỏi, nghiên cứu, và nhất là sự cho phép của thời gian. Để có thời gian để viết văn, tôi thật sự hy sinh những cuộc vui và quên luôn cả bổn phận của một “người vợ”. Câu nói:

    “Đằng sau một người đàn bà (đàn ông) thành công

    luôn có bóng dáng người đàn ông (phụ nữ)“

    Những câu nói như trên, tưởng chỉ là câu nói sáo rỗng, nhưng tôi cho rằng rất đúng trong trường hợp của tôi. Thật vậy, ngày nay khoa học chính thức công nhận như sự tham khảo của Bác Sĩ Science Alert và các cuộc nghiên cứu của các Viện Đại Học,họ đã đưa ra những công trình nghiên cứu và thử nghiệm qua nhiều trường hợp khác nhau. Tôi xin đưa ra vài trường hợp điển hình dưới đây:

    • Trong trường hợp của cựu tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama về tầm ảnh hưởng của Michelle Obama trong sự nghiệp chính trị của ông. Ông đã chia sẻ: “Nếu bạn hỏi ngày ấy điều gì giúp tôi tỉnh táo, giữ tôi được cân bằng, cho tôi sức mạnh đương đầu với mọi áp lực, thì đó là người phụ nữ này (chỉ vào vợ). Cô ấy không chỉ là một Đệ nhất phu nhân tuyệt vời, mà còn là nền tảng vững chắc, để tôi dựa vào đó bất kỳ lúc nào.”
    • Năm 2017, Đại Học Carnegie Mellon đã nghiên cứu vấn đề này một cách khoa học hơn, với giả định rằng khả năng thành công của một người sẽ cao hơn khi vợ (hoặc chồng) của họ sẵn sàng hỗ trợ phía sau như trường hợp của cặp đôi Victoria và David Beckham.
    • Các chuyên gia từ Đại Học Washington (St. Louis) cũng thực hiện một thí nghiệm và kết quả cho thấy sự nghiệp của một người không chỉ phụ thuộc vào bản thân, mà người đồng hành cũng cực kỳ quan trọng như trong trương hợp của cặp vợ chồng Mark Zuckerberg – CEO Facebook. Doanh nhân Zuckerberg từng thừa nhận rằng Pricilla là người đi cùng và có vai trò cực kỳ quan trọng khi xây dựng sự nghiệp của họ. Năm 2017, Mark Zuckerberg đã nhắc đến vợ mình là Priscilla trong một buổi hội thảo, rằng cô là người đã đứng sau động viên ông tiếp tục theo đuổi dự án mạng xã hội. Mark Zuckerberg cũng thừa nhận rằng Priscilla là người quan trọng nhất trên đời. Họ kết hôn năm 2012, Priscilla đã gây nhiều ảnh hưởng trong sự nghiệp của ông sau này.
    • Ngôi sao nổi tiếng Beyoncé, một nữ ca sĩ từng chia sẻ rằng chồng cô đã hỗ trợ và trở thành một nền tảng, một bệ phóng cực kỳ vững chắc cho cô trong sự nghiệp âm nhạc.

    Phần tôi, từ ngày quyết định chọn nghề “cầm bút”, tôi như người trong cơn nghiện “viết văn”, cái computer trở thành người bạn “tri kỷ” của tôi, tôi say mê, miệt mài và vùi đầu với “ngòi viết” và quên mất cái bổn phận tối cao của một người phụ nữ đã có gia đình. Chồng tôi, Mạnh Bổng, từ ngày ấy, bỗng trở thành “Mr. Mom” bất đắc dĩ, anh lo toan, khoán xuyên nọi việc trong nhà để tôi ôm mộng trở thành “Văn, thi Sĩ”.

    Mạnh Bổng và Khánh Lan

    MỘNG TRỞ THÀNH VĂN THI SĨ

    Những ngày tháng đầu cầm bút thật vất vả, Anh Việt Hải và tôi “on the phone, off and on” hầu như mỗi ngày, từ 10 sáng đến 10 tối, nếu không để chỉ dẫn cho tôi về những quy tắc, luật lệ khi viết văn thì lại giải thích cho tôi nghe những bài văn mẫu, lịch sử cũng như sự nghiệp văn chương của các thi hào như Baudelaire, Mattie, Allan, Tagore, v.v… Các Đại văn sĩ như Proust, Hugo, Twain, Hesse, Gide, v.v…khuyến khích tôi nghiên cứu về triết học Hiện Sinh (Esistentialism), Siêu Hình Học (Metal Physic), v.v… khiến tôi có cảm tưởng như lạc vào mê hồn trận, tẩu hỏa nhập ma, nhưng đồng thời, tôi nhận thấy mình như bị lôi cuốn vào một chân trời mới, một đam mê học hỏi, tìm tòi, khám phá, những điều mới lạ. Tôi ghi chép luôn tay, cố gắng nhồi vào bộ óc “già nua nửa vời” những gì Anh Việt Hải quyết tâm chuyển tải vào “bộ nhớ” của tôi. Có những lúc tôi như rối trí (overwhelmed), mệt mỏi và muốn bỏ cuộc… nhưng nghĩ đến công lao của Anh Việt Hải, tôi lại cố gắng.

    Bài tập đầu tiên Anh Việt Hải giao cho tôi là phân tích về thi ca của Việt Nam. Tôi sốt sáng thi hành ngay. Trước tiên, tôi chọn các nhà thơ mà tôi yêu thích từ thuở “tuổi hoa tím” (theo GS Quyên Di)  như Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyễn Chí Thiềng, Tản Đà, Phùng Quán, Nguyễn Bính, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, v.v… Học thuộc lòng, xong tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích và tập bình luận các bài thơ và các tác giả ấy… Thế rồi, bài bình luận và phân tích chưa đi đến đâu, thì anh Việt Hải đã vội vã “bẻ lái” qua phần Văn chương, khuyến khích tôi theo lãnh vực biên khảo thay vì viết tiểu thuyết tình cảm xã hội. Tôi bắt đầu nghiên cứu về những tác phẩm Nobel như: Những Kẻ Khốn Cùng (Les Misérables) của Victor Hugo; Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Chết (Zeit Zu Leben und Zeit Sterben) của Erich Maria Remarque; Tuổi Trẻ Băn Khoăn (Demian) và Câu Chuyện Dòng Sông (Siddhartha) của Hermann Hesse; Trà Hoa Nữ (La Dame aux Camélias) của Alexandre Dumas, Jr.; Khung Cửa Hẹp (La Porte E1troite) của André Gide; Đi Tìm Thời Gian Đã Mất (À la Recherche du Temps Perdu) của Marcel Proust; v.v…Và cứ thế, tôi say mê như lạc vào một thế giới đầy thú vị và khuyến rũ, tôi dần dần như quên hằn miềm đam mê ca vũ… và cuộc đời tôi bắt đầu chuyển qua một hướng đi mới…

    Tháng 09 ngày 19, 2020 là ngày RMS của tôi với 4 tác phẩm: Tác phẩm thứ nhất, mang tên “Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại”. Tác phẩm thứ hai là Truyện dài Dĩ Vãng Khôn Nguôi, Tác phẩm thứ ba với 10 truyện ngắn “Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh“ vàTác phẩm thứ tư là Tuyển tập trinh thám “Thám Tử Lê Minh”. Sự thành công trong ngày RMS của tôi, cả hai anh em chúng tôi đều vui mừng. Anh Việt Hải mừng vì tôi đã không bỏ cuộc. Còn tôi, vui vì tôi đã không phụ lòng Anh và không phí công của Anh đã dày công luyện tập cho tôi trong hai năm qua.

    Sau khi hoàn tất 4 tác phẩm, Anh Việt Hải đề nghị tôi chuyển hướng sang phần nghiên cứu về Tâm Lý Học và Tôn Giáo và một năm sau, tôi hoàn tất 2 tác phẩm: Phân Tâm Học và Đời Sống cũng như Tam Giáo Đồng Nguyên.  Quyển Phân Tâm Học và Đời Sống tương đối không xa lạ cho tôi, bởi đó là lãnh vực chuyên môn của tôi. Nhưng khi nghiên cứu về Tam Giáo Đồng Nguyên thì hẳn là vô cùng nhiêu khê và hoàn toàn mới lạ đối với tôi. Tôi như lạc vào một khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ mà không biết bắt đầu từ đâu. Nhất là với một người theo đạo Thiên Chúa giáo như tôi thì các nguyên lý và giáo điều của Nho, Lão và Phật giáo tôi chưa thấu hiểu tường tận. Nhưng quả thật, khi bắt đầu nghiên cứu về Tam Giáo, tôi say mê cũng như học được nhiều điều mới lạ và thu hút tâm trí tôi một cách lạ lùng. Đầu mùa Thu 2021, tôi hoàn tất hai tác phẩm Phân Tâm Học & Đời Sống và Tam Giáo Đồng Nguyên. Hai tác phẩm này RMS vào đầu Xuân 2023 ngày 25 tháng 06 cùng với tác phẩm Tự Lực Văn Đoàn, Hậu Duệ và Thân Hữu, Tập 2.

    Phần văn học tạm xong, Anh Việt Hải lại quay tôi như “chong chóng”. Năm 2022, khi nhóm chúng tôi mở một lớp học online về hòa âm và sáng tác, anh Việt Hải lại ưu ái ghi tên tôi vào lớp học, dưới sự chỉ dẫn của GS NS Minh Trí. Thế là tôi tập tểnh làm thơ, viết nhạc. Nay lớp học đã mãn khóa mà tôi vẫn còn mò mẫm như thể “mò kim dưới đáy biển”… chẳng biết đến bao giờ mới trở thành “Nhạc Sĩ”? (Chắc hẳn là còn lâu…lâu…lắm)

                Một dự định cuối để đền đáp công ơn của “Thày Việt Hải” tôi đang cố gắng hoàn tất tập thơ “BÓNG THỜI GIAN” với những bài thơ “con cóc” mà tôi ấp ủ đã lâu và hai tác phẩm nghiên cứu về Siêu Hình Học & Triết Học Hiện Sinh.  Chấm dứt một “HÀNH TRÌNH VĂN HỌC, THI CA” của tôi.

    Khánh Lan, California, Sept. 02, 2023

            

  • Văn Thơ,  Vương Trùng Dương

    Lara, Người Tình Muôn Thuở Với “Somewhere, My Love”

    Trước đây tôi viết về tác phẩm Bác Sĩ Zhivago (tiếng Anh: Doctor Zhivago, tiếng Pháp: Docteur Jivago) được giải Nobel Văn Chương năm 1958 nhưng nhà văn Boris Pasternak (1890-1960) đang sống trong chế độ CS Liên Xô nên không được sang Thụy Điển nhận giải và còn bị Hội Các Nhà Văn Xô Viết (The Soviet Writers Union) kết tội là kẻ phản động, loại ra khỏi tổ chức!. (Sau khi Michail Gorbachev chủ trương chính sách “cởi mở” và “cải cách”, tháng 12 năm 1989, con trai của Boris Pasternak là nhà văn Evguenii đã được mời sang Thuỵ Điển nhận giải thưởng thay ông, với những nghi thức long trọng như lễ trao giải chính thức).

    Boris Pasternak là nhà thơ, nhà văn đã ấn hành nhiều thi phẩm và truyện ngắn, tự truyện… Doctor. Zhivago là tác phẩm đầu tay đưa tên tuổi ông trên đài danh vọng, là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất trên thế giới. Đây là tiểu thuyết lịch sử và xã hội nhưng chính cuộc tình lãng mạn, say đắm, ngang trái và bi thương là phấn cốt lõi trở thành tác phẩm nổi danh.

    Nhà thơ, nhà văn Boris Pasternak tuy đã có vợ và người tình nhưng khi gặp Olga Ivinskaya với cuộc tình thơ mộng và bi thương nên Olga trở thành nhân vật trong Dr, Zhivago. Tác giả dựa vào bản thân và cuộc tình trong cuộc sống để sáng tác nhân vật hư cấu nhưng rất sống động, tưởng như thật trong bối cảnh thời đó dưới chế độ CS Liên Xô. Và, Pasternak khởi đầu viết Dr. Zhivago vào năm 1948. Linh cảm của nhà văn khi sáng tác có những điểm tương đồng xảy ra trong tác phẩm.

    Olga Ivinskaya, người gốc Đức, Ba Lan, sinh năm 1912 ở Tambov. Năm 1915, gia đình chuyển đến Moscow. Sau khi tốt nghiệp Học Viện Công Nhân Biên Tập tại Moscow năm 1936, cô làm biên tập viên tại nhiều tạp chí văn học. Cô là một người ngưỡng mộ Pasternak từ khi còn ở tuổi thiếu niên, tham dự các buổi họp mặt văn học để nghe thơ của ông. Olga kết hôn hai lần: lần đầu tiên với Ivan Emelianov vào năm 1936, người đã treo cổ tự tử vào năm 1939, có được con gái là Irina Emelianova; lần thứ hai vào năm 1941, Alexander Vinogradov (sau này bị giết trong chiến tranh ), sinh ra một người con trai là Dmitry Vinogradov.

    Olga gặp Vladimir Pasternak vào tháng 10 năm 1946, trong tòa soạn của Novy Mir, nơi cô phụ trách trong công việc giới thiệu tác giả mới. Lúc đó Pasternak 56 tuổi và Olga 36 tuổi. OLga tích thi ca nên hợp tác với Pasternak trong việc dịch thơ từ tiếng Anh sang tiếng Nga như thơ của Rabindranath Tagore.

    Vào tháng 10 năm 1949, Olga bị bắt là “đồng phạm của điệp viên” và vào tháng 7 năm 1950 bị Hội Đồng Đặc Biệt của NKVD kết án 5 năm tại Gulag (nhà văn Solzhenitsyn với tác phẩm Gulag – Quần Đảo Ngục Tù). Vào thời điểm bị bắt giữ, Olga đang mang thai bởi Pasternak và bị sảy thai! Cô được thả ra vào năm 1953 sau cái chết của Stalin.

    Khôi  hài và trớ trêu, tác phẩm Dr. Zhivago của Pasternak bị coi như “tác phẩm phản động” nhưng khi được giải Nobel Văn Chương 1958 cả thế giới biết đến nên CS Liên Xô không kết án tù tác giả mà quy tội cho người tình của ông!

    Sau cái chết của Pasternak năm 1960, Olga Ivinskaya bị bắt lần thứ hai, cùng với con gái của cô, Irina Emelianova. Cô bị buộc tội là mối liên kết của Pasternak với các nhà xuất bản phương Tây. Năm 1962 Emelianova được thả đến năm 1964 Olga được ra khỏi nhà tù. Cô đã thụ án bốn năm trong bản án tám năm.

    Năm 1978, hồi ký của Olga viết lại thời gian lao tù được xuất bản tại Paris bằng tiếng Nga và được dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề A Captive of Time. Irina Emelianova di cư sang Pháp năm 1985 xuất bản một cuốn hồi ký nầy kỷ niệm về mối tình của mẹ cô với Pasternak.

    Thư từ của Pasternak gửi cho Olga, các bản thảo và tài liệu khác đã bị KGB thu giữ trong lần bắt giữ cuối cùng. OLga đã phản kháng nhiều năm trong vụ kiện nhưng kết quả với phán quyết chống lại lý do “không có bằng chứng về quyền sở hữu” và “giấy tờ nên được lưu giữ trong kho lưu trữ của nhà nước”. Olga mất năm 1995 vì bệnh ung thư. Hưởng thọ 83 tuổi.

    Boris Pasternak hoàn thành tác phẩm Dr. Zhivago năm 1956, tác giả gởi bản thảo cho tờ tạp chí của Liên Xô, nhưng ban biên tập đã từ chối đăng cuốn tiểu thuyết của ông, viện lý do nó “mô tả một cách lệch lạc Cách Mạng Tháng Mười Nga và xuyên tạc những nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Liên Xô”.

    Pasternak gởi chui tác phẩm vào cuối năm 1956, nhà xuất bản Feltrinelli của Ý xuất bản vào năm 1957 bằng nguyên tác tiếng Nga. Năm 1958 được dịch sang tiếng Ý, tiếng Anh (dịch giả Max Hayward và Manya Harari) và trong năm đó được dịch sang 18 ngôn ngữ, dần dà trở thành tác phẩm được phổ biến nhiều ngôn ngữ nhất trên thế giới. Thật đáng tiếc, Boris Pasternak không thấy được hào quang trên thế giới, qua đời vào tuổi 70 vì ung thư phổi. Cho đến 17 năm sau, tác phẩm Dr. Zhivago được xuất bản tại nước Nga vào năm 1987. Tác phẩm nầy dày gần gần tám trăm trang, gồm 16 chương. Tác giả dựa vào bản thân và cuộc tình để xây dựng hai nhân vật chính là Dr. Zhivago và Lara.

    Yuri Zhivago học y khoa, tốt nghiệp bác sĩ, có máu văn nghệ, làm thơ, viết văn và  đã có gia đình. Lara cũng vậy đã lập gia đình. Thế nhưng, chàng và nàng khi gặp nhau cả hai với “tiếng sét ái tình”.

    Lara khi mới 17 tuổi gặp gã quý tộc Komarovsky thô lỗ, cộc cằn, dựa vào thế lực đã hãm hiếp Lara. Trong cơn tủi nhục, Lara phẫn nộ, lấy súng bắn Komarovsky trong buổi tiệc Giáng Sinh nhưng không may lại bắn trúng một người khác. Sau đó, cô kết hôn với Pasha và có một cô con gái.

    Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) nổ ra, Zhivago tòng quân với tư cách bác sĩ quân y. Chồng của Lara cũng nhập ngũ và bị mất tích. Lara tình nguyện làm y tá với hy vọng tìm kiếm tông tích chồng. Zhivago gặp Lara lần đầu tiên khi vào thăm vợ tại trạm quân y nơi Lara làm việc. Mối tình lãng mạn ngang trái đã âm thầm nẩy nở nhưng cả hai đều đã tự ngăn cản trái tim mình. Tuy nhiên hình bóng người tình đã in sâu vào tâm khảm.

    Chiến tranh bùng nổ khắp nơi, Zhivago và Lara được bổ nhiệm công tác chung tại nhà thương ở tỉnh nhỏ xa xôi. Chàng bị cuốn hút bởi hình ảnh dễ thương, quyến rũ nên cảm tình cho Lara. Và rồi họ đã yêu nhau tha thiết. Nhưng khi kết thúc nhiệm vụ, họ chia tay và trở về với con đường riêng của mình.

    Sau cuộc chiến, Zhivago trở về chức vị bác sĩ cũ tại nhà thương ở Mosocw (Mạc Tư Khoa). Tâm hồn lãng mạn của chàng thường bị đồng nghiệp bài bác và đả kích thiếu tinh thần cách mạng. Giữa cuộc xung đột chống chủ nghĩa Marx nổ ra, Zhivago cùng gia đình dời về Urals, vùng đất mới yên bình, tránh chiến tranh.

    Trên xe lửa của chuyến đi, Zhivago nhận thức được nỗi khổ của nông dân và tù binh, những nạn nhân của cuộc cách mạng. Vốn là người yêu chuộng tự do và nhân quyền nên chàng bất mãn với những hành động hay chính kiến quá cứng rắn và thiếu tình người của những người theo cách mạng.

    Tại Urals, Zhivago cùng gia đình khai đất làm ruộng và làm thơ. Nơi thư viện làng, gặp lại Lara và hai người bước vào thế giới yêu đương vụng trộm. Đó cũng là lúc Lara biết tin chồng còn sống và hiện là một tay Trùm Đỏ khét tiếng với tên mới Strelnikov.

    Tại đây, Zhivago và nàng Lara vô tình gặp lại nhau sau bao xa cách và ngọn lửa tình yêu trong tim họ lại một lần nữa bùng cháy bất chấp mọi ràng buộc và mặc cảm tội lỗi. Nhưng rồi, cuộc tình của họ cũng lại thêm một lần bị chia cắt bởi chiến tranh…

    Trong bối cảnh hỗn loạn của chiến tranh, mỗi cuộc chia ly là một sự biến mất. Trong thời điểm nhiễu nhương đó, không biết ngày mai sẽ ra sao, phó mặc cho số phận! Thế nhưng, Zhivago và Lara vượt lên mọi ngang trái, ràng buộc và bất an, họ lại đến với nhau, vẫn yêu nhau, cho nhau tình yêu chân thành nhất, say đắm nhất dù là trong tận cùng tuyệt vọng!

    Zhivago muốn trở về với vợ để thú nhận tội ngoại tình nhưng không may bị một nhóm quân cách mạng bắt cóc và phải phục vụ như bác sĩ của nhóm này. Sau vài năm, Zhivago trốn thoát và trở lại với Lara. Để tránh không bị điểm chỉ, cặp tình nhân lặng lẽ bỏ trốn sang một nông trại khi xưa gia đình Zhivago từng canh tác.

    Zhivago bày tỏ tâm sự của chàng về những thăng trầm của đời sống, những lo sợ và lòng can đảm trong chiến tranh và hơn hết là tình yêu dành cho Lara. Trong khi đó Zhivago có tin vợ là Tonya và con gái bị trục xuất khỏi Liên Xô.

    Hoàn cảnh thật trớ trêu, Zhivago gặp Pasha. Sau một đêm trò chuyện, cuối cùng hai người đàn ông cùng yêu một người đàn bà đã thân thiện bên nhau dưới một mái nhà. Người này kính trọng người kia và cùng biết mình được yêu. Tuy Pasha trở thành tên Trùm Đỏ Strelnikov nhưng bị thất sủng và quân cách mạng truy đuổi, cảm thấy bất lực trước mối tình của Lara và Zhivago. Sáng ra Pasha tự sát. Pasha tin rằng đó là con đường giải thoát để mẹ con Lara hạnh phúc. Pasha chết trong cô đơn trên bãi tuyết mênh mông. Điều mà Pasha cần là tình yêu nhưng trái tim đó đã dành trọn vẹn cho Zhivago.

    Thế rồi sau đó, Komarovsky xuất hiện. Hắn cho biết quân cách mạng đang truy lùng Pasternak và Lara và sẽ giết cả hai nếu bắt được. Hắn hứa giúp đưa Zhivago và Lara trốn ra nước ngoài.

    Trước sự hăm dọa đó, Zhivago đắn đo và vì vấn đề an toàn cho Lara, chàng quyết định để Lara ra đi một mình. Chàng ở lại Liên Xô trong nỗi đau nên say sưa uống rượu giải sầu! Sức mạnh của tình yêu mãnh liệt và cao đẹp vô cùng, dám hy sinh bản thân để người tình được bình yên. (Trong tác phẩm kiếm hiệp của nhà văn Kim Dung có những mối tình mà nhân vật nữ, nam bất chấp nguy hiểm dám hy sinh mạng sống để bảo toàn sự an nguy của người tình. Tôi có viết Những Mối Tinh Ngang Trái Trong Tác Phẩm Kim Dung).

    Zhivago trở lại Mạc Tư Khoa và sống cùng một phụ nữ tên Marina và kiếm sống bằng cách viết sách. Chàng xin vào làm tại bệnh viện và rồi trên đường đi làm, chàng bị đột quỵ. Lara tình cờ đi tới nhà xác và… xác Zhivago vẫn còn nằm đó. Sau vài ngày, người ta không còn thấy Lara. Có người cho rằng nàng đã bị bắt vào trại tập trung cải tạo. Sau đó, Lara chết trong cô đơn, không có người đàn ông nào của nàng bên cạnh. Không ai ân hận, không ai trách cứ gì nhau! Mối tình mang xuống tuyền đài!

    Phim & Nhạc

    Năm 1965 tác phẩm Doctor Zhivago được đạo diễn David Lean dựng thành phim của Anh. Ca khúc chính của phim là Lara’s Theme hay Somewhere, My Love của Maurice Jarre. Tài tử Omar Sharif (Dr. Zhivago), minh tinh Julie Christie (Lara). Phim giành được năm giải Oscar, trong đó có nhạc phim. Đây là một trong những cuốn phim nổi tiếng nhất thế giới, trải qua nhiều thập niên vẫn được yêu thích. Lúc đầu dự tính minh tinh Audrey Hepburn đang nổi tiếng trong ngành điện ảnh nhưng sau cùng đạo diễn thay nhân vật. Năm 1967, nhạc phim với tên Lara’s Theme hay Somewhere, My Love đoạt giải “Grammy Award for Best Performance by a Chorus. Nhạc sĩ Maurice Jarre (1924-2009) nổi danh là soạn nhạc với 3 lần nhận được Oscar cho nhạc phim Lawrence of Arabia (1962), Doctor Zhivago (1965), A Passage to India (1984).

    Boris Pasternak đam mê về âm nhạc, theo học bộ môn sáng tác nhạc trong 6 năm, nhưng khi bước chân vào đại học Moscow, ông chọn ngành triết học, vì vậy trong các tác phẩm của ông có cái nhìn sâu sắc về tâm lý và nhân sinh quan.

    Tác phẩm Dr. Zhivago đã được Trường Văn và Song Tích phỏng dịch năm 1959, Bác Sĩ Zhivago, Bản dịch Bác Sĩ Zhivago, Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa xuất bản, 1969. Nguyễn Hữu Hiệu (dịch giả trẻ thời đó đã dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng) với tựa ban đầu là Doctor Zhivago, sau đó với tựa đề với tựa đề Vĩnh Biệt Tình Em Đầu, NXB Hoàng Hạc năm 1975. Tác phẩm nầy đã edit lại còn 670 trang, được đánh gía là một trong những tác phẩm dịch thuật văn chương hay nhất.

    Độc giả ở Miền Nam VN đã biết qua tác phẩm và nhiều bài viết trên báo khi nhận tin Nobel Văn Chương năm 1958 vì vậy khi cuốn phim nầy được trình chiếu, trở thành hiện tượng, khán giả đợi chờ, sắp hàng mua vé.

    Năm 1972, phim Doctor Zhivago với tựa đề Việt ngữ Vĩnh Biệt Tình Em được chiếu tại rạp Rex ở Sài Gòn, sau đó được chiếu nhiều thành phố ở miền Nam Việt Nam, trở thành hiện tượng phim tình cảm hay nhất. Chỉ nghe Tình Khúc Lara (Lara’s Theme) trong phim Dr. Zhivago khán giả đã say đắm.

    Thời đó, mỗi cuốn phim được trình chiếu có tờ chương trình (program), cuốn phim nầy có ghi thêm quý bà, quý cô mang khăn theo để thấm nước mắt. Thời đó vào hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt nên mối tình nam nữ giữa người trai thời chiến với người tình hậu phương thường xảy ra “sinh ly tử biệt” nên cuốn phim nầy với bi kịch đau thương

    Nhạc phẩm Somewhere, My Love (moderately) trong phim không có lời, sau đó ban nhạc Ray Conniff trình bày với lời ca, trở thành ca khúc, không có chữ nào nhắc đến tên Lara, ca khúc tiếng Pháp là La Chanson de Lara. Phạm Duy dịch bài hát sang lời Việt dưới tên Hỡi Người Tình Lara (3/4, valse) sau khi cuốn phim được chiếu ở miền Nam VN. Lời đầu ca khúc “Người tình thương nhớ hãy lắng nghe lời mặn mà” và câu kết “Người em yêu hỡi nhớ thương đi đi chớ phai”. Trong lời Pháp, lời ca khúc La Chanson de Lara của Maurice Jarre, tên Lara được nhắc đến nhiều hơn nguyên bản tiếng Anh (chỉ gọi một lần) như: “Un jour Lara, quand le vent a tourné. Un jour Lara, ton amour t’a quitté. Tes yeux Lara revoient toujours ce train…  Un jour Lara, quand tournera le vent. Un jour Lara, ce sera comme avant”. Nhạc sĩ Xuân Vinh(làm tại Cục Tâm Lý Chiến, đài phát thanh quân đội) chuyển thành ca khúc Người Yêu Tôi Đâu. Sau đó, có thêm lời Việt của nhạc sĩ Trường Hải với tựa Người Yêu Tôi Đâu theo nguyên tác Somewhere, My Love “Người tôi yêu dấu. Nỡ để hồn tôi quạnh hiu…” và phần ĐK: “Bốn mắt nhìn nhau nào ai đâu nói gì. Em ngày xưa nét thời gian chẳng mờ. Dẫu gặp lại lòng vương thoáng bâng khuâng. Sao bờ tim niềm thổn thức xa vời” cũng được nhiều người ái mộ. Như vậy nghe La Chanson de Lara của Maurice Jarre với tiếng hát của John William cảm thấy tha thiết với bóng dáng người tình. Vì vậy, với các nhạc phẩm ngoại quốc với lời Việt (khác với thơ, dịch nguyên câu) chỉ dựa vào nội dung để viết lời ca tùy theo cảm xúc hợp với giai điệu thường hay hơn.

    Có nhiều đêm tôi chỉ nghe duy nhất một nhạc phẩm từ độc tấu dương cầm, vỹ cầm, tây ban cầm… tiếng kèn đến ban nhạc. Với ca khúc, ca sĩ nam, nữ để cảm nhận tiếng hát nào phù hợp với giai điệu. Có lẽ vì vậy tôi quen với sự tĩnh lặng vì trong không gian đó mới thực sự thả hồn trong thế giới âm thanh. Chẳng hạn ca khúc My Heart Will Go On của nhạc sĩ James Horner, lời Will Jennings, với tiếng hát Celine Dion trong phim Titanic thì không thích nghe tiếng hát nào nữa.

    Hiện Tượng Lara

    Tuy Lara không còn thơ ngây, trinh trắng nhưng vẻ đẹp trong tâm hồn, tình yêu nồng nàn, say đắm, bất chấp ngang trái, bất chấp sự đe dọa, kết tội của chế độ CS Liên Xô hà khắc, nàng dấn thân trong cuộc tình với tất cả trái tim và tâm hồn.

    Ca sĩ Quỳnh Giao ghi nhận “Ngày xưa, ở tại Sài Gòn, Lara đã mở ra cho chúng ta những khung trời thơ mộng và bi thương của một thế giới khác, trong một hoàn cảnh rất chung của tình yêu trong chiến tranh và hận thù. Những gì xảy ra sau đó tại Việt Nam còn vượt qua mọi sự bi thảm của tác giả Boris Pasternak và nhiều nàng Lara thật ở ngoài đời, ở trong thế giới của chúng ta, đã khiến mình có thể quên được người nghệ sĩ Julie Christie…”.

    Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng viết về Nhân Vật Lara của Boris Pasternak: “Lara – ngoài đời, người đã cho Pasternak hình tượng nhân vật Lara, tên thật là Olga Ivinskaya và đã qua đời vào ngày 8 tháng 9, 1995 tại Mạc Tư Khoa.

    Trong một lá thư gửi R. Schweizer đề ngày 7 tháng Năm, 1958, Pasternak đã viết về Olga Ivinskaya như sau: “Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tôi đã gặp một phụ nữ trẻ, tên là Olga Ivinskaya… Nàng chính là Lara trong cuốn tiểu thuyết mà tôi bắt đầu viết chính vào thời kỳ đó… Nàng là hiện thân của niềm yêu đời và đức hy sinh… Nàng biết rõ đời sống tinh thần của tôi và mọi công việc văn chương của tôi.”

    Khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Anh, nhà văn Pasternak nói: “Nàng là người bạn lớn, rất lớn của tôi. Nàng đã giúp tôi trong thời gian tôi viết sách, trong cuộc đời tôi… Nàng đã bị tù 5 năm vì kết thân với tôi. Thời trẻ của tôi không có một nàng Lara độc nhất… Nàng Lara của tôi thời trẻ ấy là vốn sống chung. Còn nàng Lara của tôi thời về già thì đã được ghi khắc vào trái tim tôi bằng máu của nàng và bằng cảnh tù đày của nàng”…

    Pasternak kể lại buổi hẹn đầu tiên, ông gọi điện thoại đến toà soạn Novy Mir, nói với Olga: “Tôi muốn cô gọi tôi là ‘anh’, bởi vì gọi là ‘đồng chí’ nghe giả dối lắm”.

    Olga nhắc lại mối tình của bà và Pasternak: “… Cuốn tiểu thuyết ấy đã bắt đầu quyết định cả số phận của hai chúng tôi. Nó như một thứ bùa mê. Nó đem đến niềm hạnh phúc điên cuồng cùng nỗi đau khổ ghê gớm. Càng gần đến cái chết của nhân vật, đến dấu chấm cuối cùng, thì đoạn kết của cuộc đời chúng tôi càng gần lại.”

    … Olga Ivinskaia đã ra đi, nhưng nàng Lara vẫn còn ở lại mãi mãi với người đọc chúng ta. Hãy tưởng tượng “cánh tay phải” của ông đang lau cho ông những giọt nước mắt. Hãy tưởng tượng Pasternak là một người hạnh phúc…”. (NXH)

    Hình ảnh Lara được Anna Pasternak, cháu gái của nhà văn viết thành tác phẩm cũng như Dr. Zhivago trở thành chứng nhân của thời đại.

    Nếu (lỡ dại) vướng cái nghiệp đa cảm, lãng mạn thì hà cớ gì với “đoạn đường chiến binh”… nghịch cảnh, trớ trêu, cay đắng, chông gai!

    Với tôi, Lara trong tác phẩm, trong phim… hay ẩn hiện đâu đó, luôn luôn là hình ảnh đáng yêu, đáng quý của người tình muôn thuở.

    Trong bài thơ Autumn của Boris Pasternak ở đoạn cuối với hai câu thơ:

    “You are the blessing on my baneful way,

    When life has depths worse than disease can reach”

    (Em hạnh phúc trên đường anh khổ lụy

    Khi cuộc đời tồi hơn cả thương đau – Thân Trọng Sơn)

    Với kẻ tình si thì có khi nếm cái thú đau thương như bài thơ Thú Đau Thương của Lưu Trọng Lư với hai câu cuối “Giờ đây ta đốt nén hương. Trên tay ta buộc dải tang cho tình” khi Vĩnh Biệt Tình Em.

    Nhà văn Anh Oscar Wilde (người Ireland, 1854-1900) đa tình, đa cảm nên câu nói của ông: “Trái tim được tạo ra để tan vỡ” (The heart was made to be broken). Thật chí lý, với người thà có trái tim để chấp nhận tan vỡ còn hơn không có trái tim. Với tôi, từng sống chết với trái tim, còn bạn?.

    Vương Trùng Dương, Viết lại, Little Saigon, 9/2023