• Tin tức

    Nhà văn Hồ Trường An Từ Trần

    https://vietbao.com/images/file/mD0UXQuk1wgBAPxT/ho-truong-an.jpg

    PARIS, Pháp (VB) — Nhà văn Hồ Trường An đã từ trần hôm mùng 3 Tết (tức ngày 27/1/2020) tại Troyes, Pháp quốc, theo tin từ nhà văn Nguyễn Vy Khanh được tin từ gia đình người ra đi. Được biết, Hồ Trường An là em của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ.
     

    Khi tường trình buổi ra mắt sách ‘Quê Nam Một Cõi’ của nhà văn Hồ Trường An tại San Jose hôm chủ nhật ngày 4-11-07, nhà báo Trần Củng Sơn trong bản tin trên Việt Báo đã ghi nhận về Hồ Trường An, tác phẩm và ảnh hưởng của ông, trích:
     

    “Tên thật là Nguyễn Viết Quang, sinh năm 1938 tại Vĩnh Long, Hồ Trường An đã từng cộng tác các báo ở Sài Gòn trước năm 1975 và khi ra hải ngọai tiếp tục sáng tác hăng say với mấy chục tác phẩm gồm truyện dài Phấn Bướm (1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Đàn Trăng Quạt Bướm (2005), tập truyện như Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Quà Ngon Đất Nam (2003), bút khảo như Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ ( 2002), thơ như Thiên Đường Tìm Lại (2002), Vườn Cau Quê Ngọai (2003).

    Cuốn bút khảo Quê Nam Một Cõi viết về những nhà văn gốc Nam Bộ từ Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Sơn Nam, Xuân Vũ, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Phương Triều, Lê Xuyên, Anh Vân, Song Thi, Tiểu Thu, Dư Thị Diễm Buồn, Hòang Xuyên Anh, Ngọc An, Vũ Nam.

    Trước buổi ra mắt sách, một số chương trình phát thanh tại San Jose đã phỏng vấn Hồ Trường An về sinh họat viết văn của ông, tạo không khí văn chương hào hứng dành cho một tác giả gốc miền Nam được coi là một trong những người có sách xuất bản nhiều nhất hải ngọai.

    Nhà văn nữ Ngọc An và Hòang Xuyên Anh đã đứng ra tổ chức buổi ra mắt sách qui tụ đông đảo người tham dự. Có thêm Vũ Nam đến từ Đức Quốc, Anh Vân từ Nam Cali.

    Nhà văn Diệu Tần đã đọc bài nhận xét về tác giả và tác phẩm dài 4 trang giấy. Khách đến mong chờ nghe nhà văn Hồ Trường An kể chuyện duyên dáng như cách ông đã diễn tả trong những tác phẩm, nhưng ông chỉ tâm tình vài phút ngắn, cám ơn mọi người.

    Đây cũng là nét đặc biệt của một buổi ra mắt sách, một tác giả nổi danh, viết nhiều nhưng lại nói ít…” (ngưng trích)
      

    Đài Á Châu Tự Do RFA trong một bài viết của Mặc Lâm ngày 16-10-2016 ghi nhận về Hồ Trường An:

    “Sự nghiệp sáng tác của Hồ Trường An khó thể nói là khiêm nhường, với 22 truyện dài, 10 tập truyện, 16 bút khảo, ký sự, bút ký và 3 tập thơ được xuất bản, đó là chưa kể những bài viết rời ông cộng tác với các tạp chí trong nước và hải ngoại suốt gần 50 năm cầm bút.

    Lãng mạn miệt vườn
    Văn phong Hồ Trường An gần gũi với những cây bút miền nam nổi tiếng từ Hồ Biểu Chánh tới Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc và cả Lê Xuyên. Người đọc ông có thể tìm thấy cái hương vị miền Nam đậm đặc trong từng hơi thở của nhân vật nhưng người đọc cũng dễ dàng phát hiện ra cái sâu thẳm hơn trong Hồ Trường An bởi tính chất lãng mạn của một ngòi bút bật ra quá nhiều tỉ mẩn của một cô con gái dính liền với thôn dã.

    Là một người đồng tính, Hồ Trường An không hề có ý định che giấu giới tính của mình; văn chương của ông như sợi lụa mỏng manh nhưng dai dẳng cột chặt người đọc từ trang này sang trang khác qua những lời kể dông dài nhưng quyến rũ về các câu chuyện của một thời xa xưa, lúc đồng bằng sông Cửu trong giai đoạn hình thành.

    Hồ Trường An làm cho nhiều người đọc say sưa bởi tính chi li tỉ mẩn của ông qua từng trang sách. Tả về người đàn bà hay bất cứ điều gì có liên quan đến công dung ngôn hạnh là chừng như rồng gặp nước, ông không biết dừng và chính tính chất đặc biệt này đã giúp ông đứng riêng một cõi.” (ngưng trích)
     

    Tiểu sử và danh sách tác phẩm Hồ Trường An có thể đọc trên trang Cỏ Thơm Magazine:

    “HỒ TRƯỜNG AN

    Tên thật Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11/11/1938 tại Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long. Tốt nghiệp Khóa 26 (1968) Trường Bộ Binh Sĩ Quan Thủ Đức. Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương) từ năm 1969 tới năm 1971. Sau đó phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 (tỉnh Biên Hòa) cho tới tháng 4/75. Cư ngụ tại Troyes, Pháp.
    Trong nước, đã cộng tác với các báo: Bách Khoa, Tin Văn, Tin Sách, Tranh Thủ, Tiền Phong, Tiền Tuyến, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Bút Hoa…
    Ra hải ngoại, cộng tác với các báo: Quê Mẹ, Hồn Nước, Đất Mới, Văn, Văn Học Nghệ Thuật, Văn Học, Bút Lửa, Lạc Hồng, Viên Giác, Đẹp, Tự Do (Texas), Tự Do (Canada), Chiêu Dương, Xây Dựng, Lửa Việt, Làng Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Hải Ngoại Nhân Văn, Cỏ Thơm…

    Trong Ban Biên Tập của Cơ Sở Cỏ Thơm

    TÁC PHẨM CỦA HỒ TRƯỜNG AN

    Truyện dài:

    Phấn Bướm (1986), Hợp Lưu ( 1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Lúa Tiêu Ruộng Biền (1989), Ngát Hương Mật Ong (1989), Còn Tuôn Mạch Đời (1990), Lối Bướm Đường Hương (1991), Tình Trong Nhung Lụạ (1991), Ngát Thơm Hoa Bưởi Bông Trà (1992), Tình Đẹp Đất Long Hồ (1993), Trang Trại Thần Tiên (1993), Vùng Thôn Trang Diễm Ảo (1994), Thuở Sen Hồng Phượng Thắm (1995), Chân Trời Mộng Đẹp (1995), Bãi Gió Cồn Trăng (1995), Bóng Đèn Tà Nguyệt (1995), Tình Sen Ý Huệ (1999), Hiền Như Nắng Mới (2001), Chiếc Quạt Tôn Nữ (2002), Màn Nhung Đã Khép (2003), Đàn Trăng Quạt Bướm (2005), Trở Lại Bến Thùy Dương (2009).
     

    Tập Truyện:

    Chuyện Quê Nam (1991), Tạp Chủng (1991), Hội RẫyVườn Sông Rạch (1992), Chuyện Miệt Vườn (1992), Đồng Không Mông Quạnh (1994), Gả Thiếp Về Vườn (1994), Đêm Xanh Huyền Hoặc (1994), Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Tập Truyện Ma (2001), Quà Ngon Đất Quê Nam (2003), Trăng Xanh Bên Trời Huế (2009), Truyền Kỳ Trên Quê Nam (2009).
     

    Ký Sự, Bút Khảo, Bút Ký:

    Giai Thoại Hồng (1988), Thông Điệp Hồng (1990), Cõi Ký Ức Trăng Xanh (1991), (Chân Trời Lam Ngọc I (1993), Chân Trời Lam Ngọc II (199(1995), Sàn Gỗ Màn Nhung (1996), Cảo Thơm ( 1998), Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Tác Phẩm Đẹp Của Bạn (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát I (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát II (2001), Lai Láng Dòng Phù Sa (2001), Thập Thúy Tầm Phương (2001), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ (2002), Tập Diễm Ngưng Huy (2003), Chân Dung Những Tiếng Hát III (2003), Bảy Sắc Cầu Vồng (2004), Giai Thoại Văn Chương (2006), Náo Nức Hội Trăng Rằm (2007), Thắp Nắng Bên Trời (2007), Quê Nam Một Cõi ( 2007), Giữa Đất Trời Giao Hưởng ( 2008 ), Non Cao Vực Thẳm ( 2011), Ảnh Trường Kịch Giới ( 2012 ), Trên Nẻo Đường Nắng Tới.
     

    Tập Thơ:

    Thiên Đường Tìm Lại ( 2002), Vườn Cau Quê Ngoại (2003).”

  • Văn Thơ

    HỒ TRƯỜNG AN MỘT TÂM HỒN ĐẪM TÌNH QUÊ

    Đỗ Bình

    Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1938 ở làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long và qua đời tại Troyes ngày 27.1.2020. Các bút hiệu khác: Đào Huy Đán, Đông phương Bảo Ngọc, Nguyễn thị Cỏ May. Ông di cư sang Pháp ở tỉnh Troyes và sống đến cuối đời. Thuở nhỏ ông học các trường Tống Phước Hiệp, Nguyễn Đình Chiểu, Chu Văn An, Đại học Dược khoa. Tốt nghiệp khóa 26 trường Sĩ Quan Thủ Đức. Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương) từ năm 1969 tới năm 1971. Sau đó phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 (tỉnh Biên Hòa) cho tới tháng 4 năm 1975. Hồ Trường An làm thơ rất sớm thỉnh thoảng có những bài thơ học trò tâm sự của ngời trai mới lớn, đến khi là sinh viên trường Dược ông đã chuyển sang văn xuôi, viết báo, từng làm phóng viên kịch trường cộng tác với Bách Khoa, Minh Tinh, Tiền Tuyến, Tiền Phong, Tin Văn, Tin Sách , Tiểu Thuyết Tuần San, Tranh Thủ, Tiểu, Bút Hoa. Khi vào quân đội ông được đưa về phục vụ trong Ban thông tin báo chí. Sau năm 1975 ra hải ngoại ông tiếp tục làm báo và cộng tác với các báo: Quê Mẹ, Hồn Nước, Đất Mới, Văn, Văn Học Nghệ Thuật, Văn Học, Bút Lửa, Lạc Hồng, Viên Giác, Đẹp, Tự Do (Texas), Tự Do (Canada), Chiêu Dương, Xây Dựng, Lửa Việt, Làng Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Hải Ngoại Nhân Văn, Cỏ Thơm,.. Ông từng là tổng thư ký tòa soạn Quê Mẹ (Pháp) và Làng Văn (Canada) trong một thời gian.  Chính nhờ cộng tác với nhiều tạp chí đã  tên tuổi của Hồ Trường An đến với nhiều đọc giả khắp nơi ở hải ngoại và quen biết thêm nhiều văn nghệ sĩ và bạn đọc khắp nơi.

    Nhà văn Hồ trường An tính tình hiền hòa đôn hậu nhưng dễ nóng! Để khắc phục sự nóng nảy ông Thiền định pháp danh là Thiện Tĩnh và ăn chay trường suốt mấy chục năm cho đến lúc giã từ cõi đời. Hồ Trường An là người ham học, đọc sách rất nhiều nên kiến thức uyên bác. Ông nghiên cứu sâu sắc về những tư tưởng triết học của nhiều nhà tư tưởng triết gia trên thế giới, am tường nhiều loại thể hình văn học nghệ thuật. Dù nổi tiếng nhưng trong tâm hồn ông chưa thật sự bình thản vì trong nền văn hóa cũ giới tính vẫn bị nhìn một cách khắt khe còn gò bó, bảo thủ nên ông cảm thấy bị phiền lòng khi nghe thị phi về giới tính. Vấn đề lưỡng tính của Hồ Trường An là có cảm tình và hấp dẫn của hai giới mam nữ. Có lẽ kể từ khi ông viết tập thơ  Thiên Đường Tìm Lại một loại  thi văn dục ái, được Nhà thơ TS Lưu Nguyễn Đạt viết lời tựa :« ..thi văn dục ái chân chính nhằm mục đích khai phóng những yếu tố căn bản của dục cảm, dưới hình thức xúc cảm toàn giác. Thi văn dục ái đã gắn bó người với người bằng thỏa mãn đam mê toàn diện, nhằm phúc hồi lẽ sống chân thành ua sáng tạo cởi mở. Thể xác, xúc cảm và tâm linh được nhắc nhở thỏa mãn trong chân tình hòa hợp. Theo chiều hướng đó, những dòng thi văn tâm linh và lãng mạn trên thế giới , qua những thời điểm khác nhau đều xác định và ca tụng tình yêu dưới hai khía cạnh tâm ái (spiritual or platonic love) và dục ái tới mực độ bổ xung toàn diện (total/absolute love) như một thể cách khai phóng nhân bản để hội nhập vào toàn thế giới hiện sinh…»

    Nhà Biên khảoTS Trần Bích San viết trong lời giới thiệu thi tập Thiên Đường Tìm Lại: «Mặc Khải Trong Thi Ca. Thi Ca Dục  Ái Xuất Hiện Từ Lâu Trong Văn Chương Truyền Khẩu. Phong Dao, Tục Ngữ, Câu Đố Có Những Bài, Những Câu Liên Quan Đến Tính Dục Nam Nữ…. Thơ dục ái Hồ Trường An không hoằng dương nhục cảm. Nhà thơ sử dụng nó như phương tiện chuyên chở nghệ thuật, gây thích thú thưởng ngoạn, kích thích giác uan thẩm mỹ tạo ra không khí trân trọng nghệ tghuật. Tình yêu trong thơ Hồ Trường An là sự thăng hoa toàn diện, triệt để, vô hạn giữa tâm hồn và thể xác, giữa cá nhaạn với uê hương, giữa con người với thiên nhiên… »

    Cũng trong thời gian đó nhà văn Hồ Trường An bằng lòng chấp nhận  trả lời cuộc phỏng vấn của nhà phê bìnhThụy Khuê trên đài RFI ông mới công khai về giới tính, Câu lạc Bộ Văn Hóa VN Paris mời ông thuyết trình đề tài văn học, những bằng hữu văn nghệ sĩ xa gần đều trân trọng tài năng và ủng tinh thần ông, điều đó đã giúp nhà văn mạnh dạn  rũ bỏ mặc cảm giới tính. Ở hải ngoại trong sinh hoạt đời thường và sinh hoạt trong giới văn nghệ nhà văn Hồ Trờng An thích dao du quen với những nhà văn nữ vì qua họ ông tìm thấy mình có điểm chung, và sự giao thiệp với những người nhưng quanh vẫn bình thường. Nhà văn Hồ Trường An rất chân thành và qúy tình bạn, những ai đã từng quen biết ông ở xa sang thăm Paris ông biết được, dậy sớm lấy xe lửa từ Troyes lên Paris gặp mặt, mời ăn sau đó đón xe lửa trở về. Ông thích làm nghệ thuật và  quan niệm  ‘cầu tinh bất cầu đa’ nên viết cẩn thận,  mỗi cuốn là một thông điệp gởi gấm. Dù ông sống toàn thời bằng nghề cầm bút và có nhiều tác phẩm bán chạy nhưng vẫn không khá giả t ài ch ánh vì thời nay người ta thích đọc trên internet hơn mua sách nên thị trường sách ngày càng ế ẩm ! Nhà văn nặng nợ với chữ nghĩa, là nghiệp dĩ nên Hồ Trường An vẫn đeo đưổi. Khác với những Bạn văn của ông họ đi làm chuyên môn để nuôi nghiệp, riêng ông vẫn miệt mài kiên trì với nghề cầm bút dù chẳng dư giả mà lòng thanh thản. Tim ông chan chứa tình người, tình quê, một tấm lòng bao la nhân ái luôn chia phần của mình làm một chút quà nhỏ gởi về giúp các bạn văn nghệ sĩ khốn khó hơn ở quê nhà. Năm ông 65 tuổi được lãnh tiền già ông gọi phôn cho tôi sung sướng nói : «Từ đây tôi sẽ viết cho tôi, viết theo những điều mình suy nghĩ và thích !».  

    Nhà văn Hồ Trường An cư ngụ ở tỉnh Troyes thuộc vùng Chamgpagne Ardenne, cách Paris 160 Km về hướng Đông Nam. Đây một thành phố cổ nhiều di tích lịch sử thời Phục hưng thuộc văn hóa quốc gia, nhờ sống nơi yên tĩnh nên ông đã dành toàn thì giờ cho sự nghiệp cầm bút để viết báo và viết tiểu thuyết. Nhà văn vốn sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học, có cha là nhà văn Mặc Khải, cô là Thi sĩ Phương Đài và chị ruột là nữ sĩ Nguyễn thị Thụy Vũ, Bà từng đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1970 với tác phẩm «Khung Rêu Trắng». Trước năm 1975 hai chị em ông rất được nhà văn Võ Phiến một cây bút thành danh có văn phong chau chuốt thương mến, nhưng Hồ Trường An lại thích khuynh hướng văn chương tiểu thuyết có ngôn ngữ địa phương của nhà văn Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, nhà văn Sơn Nam nên Hồ Trường An bị ảnh hưởng chất miệt vườn Miền Nam chiếm tâm hồn. Do đó văn phong của Hồ Trường An có chút nửa quê nửa tỉnh, câu văn mộc mạc nhưng  ý sâu sắc khi diễn tả về một chân dung, một sự vật một cách tỉ mỉ tài tình thắm đầy tình của người dân miệt vườn Miền Nam. Từ cuốn truyện dài Phấn Bướm ấn hành 1986, cuốn Hợp Lưu 1986, Lớp Sóng Phế Hưng(1988) đến nay ông đã xuất bản được gần 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại gồm Truyện Dài, tập Truyện Ngắn, tập Biên Khảo, Ký Sự, Bút Ký và 2 tập thơ : Thiên Đường Tìm Lại (2002), và Vườn Cau quê Ngoại (2003). Nhà văn Hồ Trường An có một trí nhớ rất đặc biệt, ông nhớ tỉ mỉ về một người mà ônt chỉ gặp một lần. Năm 2008 ông bị tai biến mạch máu não toàn thân bất động lúc đầu không nói được và trí nhớ cũng quên ! Sau một thời gian điều trị trí nhớ của ông được khôi phục và đã dần dần nói được dù rất khó khăn. Từ lúc ông bị bại liệt, nhờ sức mạnh văn chương thúc đẩy đã giúp ông nhiều nghị lực vượt qua những khó khăn bệnh tật để thực hiện được những tác phẩm biên khảo mà chỉ gõ máy bằng một ngón tay, đó là cuốn Núi Cao Vực Thẩm (2012), viết về 9 vóc dáng văn học Việt Nam của Thế Kỷ 20 : Nguyễn Ngọc Bích, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Thụy Khuê, Vũ Tiến Lập, Võ Phiến , Đặng Phùng Quân, Trương Anh Thụy, Thanh Tâm Tuyền.

    Cuốn : Ảnh Trường Kịch Giới(2012), ký ức về điện ảnh VN. Cuốn Trên Nẻo Đường nắng Tới (2013) Nhận định văn học về Những khuôn mặt nổi tiếng trong giới văn học trong và ngoài nước như :GS Nguyễn Ngọc Bích, Nhà phê bình văn học Thụy Khuê, Nhà văn Đặng Phùng Quân, Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, Nhà văn Vĩnh Hảo, Nhà văn Hàn Song Tường, Họa sĩ Võ Đình, Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, Nhà văn Nguyễn thị Thụy Vũ.
      Ở Pháp có 3 nhà văn một đời yêu văn chương chữ nghĩa dù sức khỏe yếu đuối bệnh tật nhoàn cảnh sáng tác rất khó khăn nhưng vẫn miệt mài hoàn thành những tác phẩm cho đời đến lúc lìa đời mới bỏ bút: Nhà văn An Khê chỉ còn một tay, viết văn gõ máy chữ một tay hoàn thành tác phẩm Từ Khám Lớn Tới Côn Đảo( Làng Văn xuất bản 1992). Nhà văn Duyên Anh : bán thân bất toại phải viết bằng tay trái nhưng vẫn đã hoàn thành nhiều tác phẩm tiểu thuyết cũng như âm nhạc đến cuối đời vẫn còn một số tác phẩm vẫn in. Cuốn  Danh Ná  viết ở Sài gòn tháng 7 năm 1982. Cuốn Nhóc Tì Phản Động  viết xong 16 tháng 2 năm1986, sau khi nhà văn Duyên Anh mất năm 2017 con của ông xuất bản thêm hai cuốn…và còn nhiều tập truyện chưa xuất bản. Nhà văn Hồ Trường An đã cố tập luyện để khắc phục bệnh tật, từ lúc bị bại liệt gõ PC bằng một ngón tay đến ngày cuối đời được thêm một số tác phẩm hơn 30 cuốn, mỗi cuốn mấy trăm trang.                              

    Các tác phẩm đã xuất bản :   
    Truyện dài: Phấn Bướm (Làng Văn, 1986), Hợp Lưu (Văn Nghệ, 1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Lúa Tiêu Ruộng Biền (1989), Ngát Hương Mật Ong (Làng Văn, 1989), Còn Tuôn Mạch Đời  (1990), Lối Bướm Đường Hương (1991), Tình Trong Nhung Lụạ (1991), Ngát Thơm Hoa Bưởi Bông Trà (1992), Tình Đẹp Đất Long Hồ (1993), Trang Trại Thần  Tiên (1993),  Vùng

    Thôn Trang Diễm Ảo (1994), Thuở Sen Hồng Phượng Thắm (1995), Chân Trời Mộng Đẹp (1995),  Bãi Gió Cồn Trăng (Làng Văn, 1995), Bóng Đèn Tà Nguyệt  (1995), Tình Sen Ý Huệ (1999), Hiền Như Nắng Mới (2001), Chiếc Quạt Tôn Nữ (2002), Màn Nhung Đã Khép (2003), Đàn Trăng Quạt Bướm (Làng Văn, 2005), Trở Lại Bến Thùy Dương (Làng Văn, 2009).

     Tập truyện: Chuyện Quê Nam (Làng Văn, 1991), Tạp Chủng (Làng Văn, 1991), Cõi Ký Ức Trăng Xanh (Làng Văn, 1991), Hội RẫyVườn Sông Rạch (1992), Chuyện Miệt Vườn (1992), Đồng Không Mông Quạnh (1994), Gả Thiếp Về Vườn (Làng Văn, 1994), Đêm Xanh Huyền Hoặc (1994), Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Tập Truyện Ma (2001), Quà Ngon Đất Quê Nam (2003),  Trăng Xanh Bên Trời Huế (Làng Văn, 2009), Truyền Kỳ Trên Quê Nam (Làng Văn, 2009), 

     Ký sự, Bút khảo, Bút ký: Giai Thoại Hồng (1988), Thông Điệp Hồng (1990), (Chân Trời Lam Ngọc I (1993), Chân Trời Lam Ngọc II (199(1995), Sàn Gỗ Màn Nhung (1996), Cảo Thơm ( 1998), Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Tác Phẩm Đẹp Của Bạn (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát I (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát II (2001), Lai Láng Dòng Phù Sa (2001), Thập Thúy Tầm Phương (2001), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ (2002), Tập Diễm Ngưng Huy (2003), Chân Dung Những Tiếng Hát III (2003), Bảy Sắc Cầu Vồng (2004), Giai Thoại Văn Chương (2006), Náo Nức Hội Trăng Rằm (2007), Thắp Nắng Bên Trời (2007), Quê Nam Một Cõi (2007), Giữa Đất Trời Giao Hưởng ( 2008 ), Núi Cao Vực Thẳm ( 2012), Ảnh Trường Kịch Giới ( 2012 ), Trên Nẻo Đường Nắng Tới(2013). Cảo Thơm, Giữa Đất Trời Giao Hưởng, Lần Giở Trước Đèn, Cây Quỳnh Cành Dao, Những Khuôn Mặt Văn Chương…v..v…
    Tập thơ: Thiên Đường Tìm Lại (2002), Vườn Cau Quê Ngoại (2003). Cho Tôi Sống Lại Một Ngày.

    Từ bao lâu nay người ta tranh cãi về những chuẩn mực trong văn học nghệ thuật giữa cái hay và cái dở. Trong khi đó thích hay không thích chỉ là chủ quan của người đọc. Phần chính yếu của nghệ thuật chính là  cảm nhận chủ quan. Ngày nay người làm thơ ngày càng nhiều, đó là điều đáng mừng vì tâm hồn thơ sẽ giúp cho đời thêm hoa bớt đi sự cay đắng. Nữ sĩ Minh Châu GS Thái Hạc Oanh trong Ba Lê Thi Xã, thuộc hoàng phái, cháu của Thi sĩ Tùng Thiện Vương thời quân chủ đặt câu hỏi: “Tại sao có những bài gọi là thơ mà không phải là thơ, văn xuôi khác thơ ở điểm nào?
    Có lẽ chưa có một định nghĩa nào chuẩn mực cho thơ nhưng phải chăng một bài viết cẩu thả, viết cho lấy có chỉ dựa vào thể tự do để gọi là “thơ” thì chưa chắc đã là một bài thơ và cũng không thể gọi là văn xuôi? Phải chăng thơ hiện đại và tự do rất gần gũi với văn xuôi ? Nhưng làm một bài thơ tự do hay, hoặc một bài thơ hiện đại hay thì rất khó ! Nhưng khi đã thành thơ thì bài đó sẽ đặc sắc và độc đáo, một bài thơ hay phải bao gồm mỹ học và ý thơ.

    Quan niệm sáng tác của nhà văn Hồ Trường An là sự dựa trên chủ quan, trong cuốn :Trên Nẻo Đường Nắng Tới của ông : «Tác phẩm này chỉ rọi sáng một đoạn văn chương…. Có thể có nhiều qúy độc giả cho rằng bút gỉa chủ quan trong việc chọn lựa những quyển sách theo cảm quan riêng biệt của mình mà không đến xỉa đến cảm quan của độc giả và không nghĩ gì đến giá trị đích thực của nghệ thuật. Nhưng biết sao hơn. Bút giả làm chuyện trái ngược với cách cư xử của Tào Mạnh Đức(Tào Tháo). Quan niệm của ông ta thà giết lầm mười người, còn hơn tha lầm một người. Bút giả thì cam chịu ngu si vì tha lầm người gian lẫn người ngay, không cần biết ai gian ai ngay. Hễ những sách nào mà bút giả không ưa thích thì dù được thiên hạ cho là siêu phẩm, tuyệt phẩm đi nữa thì bút giả gia công đọc đi đọc lại để sưu khảo cái tinh hoa của chúng. Còn nói gì những sách mà tác giả hâm mộ thì viết về chúng một cách trơn chu thống khoái.» 

    Trong một sinh hoạt Văn học Nghệ thuật  do Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris tổ chức năm 2004 nhà văn Hồ Trường An thổ lộ tâm tình lúc ông chưa bị bệnh. Hôm đó quy tụ nhiều khuôn mặt nổi tiếng ở Paris và văn thi sĩThụy Cầm Dương Huệ Anh từ Cali sang : Nhạc sĩ,GS Lê Mộng Nguyên, Nhạc sĩ Xuân Lôi, Nhạc sĩ Trịnh Hưng, Nhạc sĩ Trọng Lễ,  Nhạc sĩ, DS Nguyễn Đình Tuấn,GS Âm nhạc Quỳnh Hạnh. Nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oánh, Nữ sĩ Quỳn Liên, Nữ sĩ Thụy Khanh, Nữ sĩ Hà Lan Phương,
    Học giả, GS Võ Thu Tịnh Nhà thơ Vân Uyên GS Nguyễn Văn Ái, Nhà thơ Phương Du BS Nguyễn Bá Hậu, BS Nguyễn Bá  Linh, Nhà Thần  học TS Nguyễn Tấn Phước, Nhà Biên Khảo Liều Phong, GS Nguyễn Ngọc Chân, GS Nguyễn Bảo Hưng, Nhà văn, GS Trần Đại Sĩ, Nhà văn Võ Đức Trung, Nhà văn Hồ Trường An, Văn Thi sĩ, Nhà thơ Đỗ Bình, Danh họa René, Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, Điêu khắc gia Vương Thu Thủy, Nghệ sĩ Diệu Khánh, Nghệ sĩ Linh Chi, Nghệ sĩ Thúy Hằng, Kim Lan. ..vv….

    Nhà văn Hồ Trường Ann tác giả gần 50 đầu sách gồm  trtuyện dài, tiểu thuyết, bút ký, biên khảo, nhân định và phê bình.

    Nhà văn Hồ Trường An:
    «Thưa các bậc niên trưởng, và qúy văn hữu:Tôi làm văn nghệ tùy vào cảm hứng vui đâu chuốc đó chứ không nhất định cái gì, nếu cảm thấy hứng là làm. Cần phê bình là phê bình, khi tôi viết về biên khảo  không phải là viết toàn sự nghiệp văn học của tác giả nào, mà viết từng cuốn chứ không dám ôm đồm. Nếu có cảm hứng làm thơ thì làm những bài thơ Đường, vui đâu chuốc đó. Tôi có một đức tính: Nếu ai khen thì cũng mừng, còn ai chê thì cũng rán chịu trận chứ không một lời nào đính chính trên báo hết. Bởi càng đính chính thì càng làm cho người ta làm dữ !. Do đó ai chê tôi thì chê ; ai khen thì mừng tôi không có một phản ứng, thật ra tôi không có buồn, mình làm một món ngon người này ăn thì khen người kia ăn thì chê, kẻ thích mì người thích hủ tíu, còn có người ăn mì ăn hủ tíu nhiều quá lại thích ăn bún riêu. Qúy vị đã đọc qua cuốn biên khảo «Thập Thúy Tầm Phương», gồm có :Nhà thơ Vi Khuê, Nhà thơ Hoàng Ngọc Liên, Nhà thơ Diên Nghị, Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Dung, Nhà văn Bình Huyên, Nhà văn Linh Linh Ngọc, Nhà thơ Phương Triều, Nhà thơ Nguyễn Văn cường, Nhà thơ Đỗ Bình, Nhà thơ Dư Thị Diễm Buồn. Cuốn biên khảo thứ tư tôi đang viết là cuốn «Tập Diễn Ngưng Huy» trong đó có hai người hiện diện ở đây là anh Võ Đức Trung và chị Thụy Khanh: Tôi xin giải thích cái tựa sách: Tập: kết tập, Diễm là đẹp, Ngưng là ngưng lại, Huy là ánh sáng, ánh sáng ngưng đọnglại tôi rút ra từ Hồng Lâu Mộng chứ không phải do tôi đặt. Tóm lại tôi không có chủ trương gì lớn lao, tôi không có tham vọng. Xin dứt lời.»

    Nhà văn Hồ Trường An tâm sự vói tôi cho biết trong những tác phẩm đã viết  ông chỉ hài lòng ở những tác phẩm là văn chương đích thực, còn một số khác chỉ là truyện kể! Hầu như những người nổi tiếng ở hải ngoại đều được ông viết nhận định, phê bình về tác giả và tác phẩm của họ, nhưng rất ít người viết về ông. Đối với những nhà phê bình văn học chuyên nghiệp để phân tích văn chương, ý tưởng trong tiểu thuyết của ông không quá  khó, nhưng phân tích tỉ mỉ tâm lý nhân vật trong một số truyện của ông lại rất khó, vì bản thân ông có lưỡng tính nên khi diễn tả về những nhân vật nam hay nữ đôi khi có sự lẫn lộn nam tính nà nữ tính trong tác phẩm! Nhà văn thừa nhận điều này nhưng lại không cho biết ở những câu đối thoại nào trong tác phẩm. Tối 30 Tết tức ngày 24 tháng 01 năm 2020 nhà văn Hồ Trường An phôn nói chuyện với tôi rất lâu, đây là lần cuối cùng của ông. Điều tôi rất ngạc nhiên giọng nói của ông lần này nghe rất trẻ và rõ ràng vì dã lâu, kể từ khi ông bị bệnh giọng nói trở nên không rõ ! Trong suốt thời gian gian dài nhiều năm ông thường xuyên liên lạc với tôi, có những khi ngày gọi  phôn 2,3 lần để trao đổi những chuyện liên quan đến văn học nghệ thuật. Ông là một thành viên của Câu Lạc Bộ văn Hóa VN Paris, lúc còn khỏe đã nhiều lần ông lên Paris diễn thuyết về đề tài văn học. Trong cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại mà ông là một thành viên trong Ban Biên Tập, lúc đầu ông gởi tham gia những bài của ông đã được in sách và xuất bản về những tác giả Mai Thảo, Trần Long Hồ, Thụy Khuê, bài đã được toàn ban thuận  đưa vào sách. Thế nhưng sau một thời gian ông đã rút lại những bài đó, và đề gởi riêng cho tôi bài Giới Tính Trong Văn Chương , ông nhấn mạnh đây là bài độc đáo, một bài tâm huyết và đắc ý nhất vì nó dám nói lên những điều thuộc giới tính còn húy kỵ trong quan niệm cổ truyền của người Việt.

    Ông giã từ cõi đời một cách đột ngột để thả hồn vào một giấc ngủ say. Ông đã rũ bỏ những buồn phiền nhân thế, những nỗi buồn nhớ quê mà suốt đời lưu vong  ông chưa một lần trở lại. Giã từ chiếc xe lăn theo áng mây bồng bềnh bay về cõi miên viễn.

    Đỗ Bình
    Paris 6 .2.2020

  • Âm nhạc,  Tin tức

    Chiều Thơ Nhạc Dương Thiệu Tước & Dương Hồng Anh

    Chiều Thơ Nhạc Dương Thiệu Tước và Dương Hồng Anh được tổ chức trang trọng tại phòng hội văn nghệ NT Studio, Westminster, để tưởng nhớ vị nhạc sĩ tài ba Dương Thiệu Tước, đồng thời để vinh danh và mừng thọ 90 niên kỷ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, người em của GS. Dương Thiệu Tước. Cả hai đều thuộc gia tộc danh giá Dương Khuê và Dương Lâm. Nhân dịp này Tiến Sĩ Trần Huy Bích, vị giáo sư cố vấn thi ca văn học cho nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật sẽ giới thiệu thi tập mới toanh thứ 6 của Hồng Anh nữ sĩ, được ra mắt đồng hương tại Nam California. Một hứa hẹn thi ca văn học, với sự góp mặt của ngâm sĩ Bích Ty Chi Bảo, người cộng tác trong chương trình Thi Văn Tao Đàn của Đinh Hùng – Thanh Nam (trước năm 1975) sẽ diễn ngâm thơ mới của Thi sĩ Dương Hồng Anh. Ngoài ra, Nhạc sĩ Võ Tá Hân, nhạc sĩ sáng tác và là một cầm thủ kiệt xuất về Tây Ban Cầm Cổ Điển, cũng là môn đệ “cục cưng” của GS. Dương Thiệu Tước tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn (1962-67); sẽ tâm tình về những kỷ niệm về Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và trình bày ngón đàn Tây Ban Cầm góp vui cho chương trình. Chương trình âm nhạc đặc sắc do nhóm âm nhạc Tiếng Thòi Gian, hướng dẫn bởi Ca nhạc sĩ Christina Lâm Dung giới thiệu những ca khúc vượt thời gian của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Ban nhạc phụ trách phần âm nhạc cho chương trình là hai nhạc sĩ Quốc Sĩ – Duy Nhật. Emcees: Bích Trâm, Ngô Thiện Đức và Nhật Uyên.

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thòi Gian xin kính mời quý đồng hương thân thương hãy đến với Chương trình Chiều Thơ Nhạc Dương Thiệu Tước và Dương Hồng Anh. Vào Cửa Tự Do *.

    Trân Trọng Kính Mời.
    Ban Tổ Chức: Lâm Dung, Khánh Lan, Mộng Thủy, Bích Ty. Minh Châu, Mai Hương, Nhật Uyên, Bích Trâm, Trần Mạnh Chi, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Phước Hồng, Ngô Thiện Đức, Henry CSUF và ThụyVy.

    * Có thức ăn nhẹ (light refreshment).

    ———————————————————————————-
    Thi Ca Dương Hồng Anh.

    Cô em Minh Châu, tức nhà thơ Vương Ngọc Châu, ghé thăm nữ thi sĩ Dương Hồng Anh. Sau đó tôi mới biết Hồng Anh nữ sĩ có gửi tôi 4 thi tập là Tiếng Thầm, Tình Thu, Vương Vấn Hồn Quê và Sợi Nhớ Sợi Thương. Xem phần tiểu sử của tác giả ở trang bìa sau các sách thì nhà thơ Dương Hồng Anh mang tên tộc là Dương Nguyệt Anh, tên hiệu là Dương Hồng Anh. Điều nổi bật bà chính là cháu nội của thi sĩ nổi tiếng Dương Khuê. Vậy Dương Khuê là ai ?

    Tôi xin ghi rõ về cụ Nội tổ của nhà thơ Dương Hồng Anh. Vì nhiều thân hữu thế hệ sau 1975 có thể cần chi tiết này. Đây là đôi nét…
    Dương Khuê (楊奎, 1839-1902), tự: Giới Nhu, hiệu Vân Trì, là quan nhà Nguyễn, và là nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ 19. Ông là người ở làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình Nho gia vọng tộc. Ông là con cả Đô ngự sử Dương Quang, và là anh ruột của danh sĩ Dương Lâm (1851–1920). Dương Lâm làm quan, từng giữ chức Phó Tổng tài Quốc sử quán nhà Nguyễn, Chủ bút báo Đồng Văn… Về sau ông xin cáo quan về mở trường dạy học tại quê nhà. Ông là người tao nhã, yêu nước, có tài văn chương, và là một nhà giáo rất giỏi. Trong số các cháu nội của hai ông (Dương Khuê và Dương Lâm), có những người nổi tiếng như: nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Giáo sư-Tiến sĩ Dương Thiệu Tống, nhà thơ Dương Tuyết Lan, nhà khoa học Dương Nguyệt Ánh, nhạc sĩ Dương Thụ, nhạc sĩ kiêm thi sĩ Dương Hồng Kỳ, bác sĩ ngành tim mạch Dương Hồng Tạo,…
    oOo
    Trở lại với danh tài Dương Khuê là người văn hay, chữ tốt. Năm 1864, ông đỗ Cử nhân (cùng khoa này có Nguyễn Khuyến đỗ Giải nguyên). Năm Mậu Thìn (1868), thời vua Tự Đức, ông dự thi Đình đỗ Tiến sĩ. Đường hoạn lộ, thuở ban đầu, Dương Khuê được bổ làm Tri phủ Bình Giang (Hải Dương), rồi thăng làm Bố chính. Vào đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ 19, tay lái buôn Jean Dupuis uy hiếp các quan chức người Việt ở Bắc Kỳ để tự do sử dụng sông Hồng, ông ở trong nhóm những sĩ phu cương quyết chống lại. Ông dâng sớ về triều xin có thái độ quyết liệt với người Pháp, bị vua Tự Đức phê là “bất thức thời vụ” (không biết thời cuộc), rồi bị giáng xuống chức Chính sứ sơn phòng lo việc khai hoang. Năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất. Sau khi thương thuyết, họ chịu trả lại bốn thành cho triều đình Huế, thì Dương Khuê được điều động làm Án sát Hải Phòng. Năm 1878, nhân lễ “ngũ tuần khánh thọ ” của mình, vua Tự Đức xuống chỉ cho ông làm Đốc học Nam Định. Sau đó, ông lần lượt trải các chức vụ quan hành chính như: Bố chính, Tham tá Nha kinh lược Bắc Kỳ, Tổng đốc Nam Định-Ninh Bình. Năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer xóa bỏ điều 7 của Hòa ước Giáp Thân 1884, đặt cơ sở cho guồng máy cai trị của Chính phủ bảo hộ, thì Dương Khuê xin cáo quan, lúc 58 tuổi, được tặng hàm Thượng thư bộ Binh.
    Khi ông mất (ngày 6 tháng 3 năm Nhâm Dần, 1902), nghe tin buồn bạn thân ra đi, Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ bất hủ Khóc Bạn (Khóc Dương Khuê) khi tang viếng. Bài thơ được vào văn học sử. Bài thơ có thể xem đây cũng là một bài văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy lệ lòng, gồm có 38 câu thơ. Mở đầu bài thơ là một tiếng than thở xót xa bùi ngùi:
    Bác Dương thôi đã thôi rồi,
    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

    Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) khóc bạn cũng là tự khóc mình, giọng thơ u uẩn thiết tha. Ông trách bạn “vội đi xa” để mình lẻ loi, cô đơn. Cuộc sống trở nên chán chường, vô nghĩa:, nhất là 2 câu sau rất phổ thông ở các bàn tiệc sau này:
    Ai chẳng biết chán đời là phải,
    Sao vội vàng đã mải lên tiên;
    Rượu ngon không có bạn hiền,
    Không mua không phải không tiền không mua.

    Khóc Dương Khuê (1839-1902) cho thấy một tình bạn đẹp và cảm động của giới nho gia thuở trước. Sau hơn một thế kỷ, chúng ta vẫn thấy nỗi bùi ngùi xúc động khi đọc bài thơ này. Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng là khóc cho một thế hệ nhà nho và cũng là tự khóc cho minh: “Ai chẳng biết chán đời là phải”…

    Tác phẩm của Dương Khuê để lại có một số bài ca trù, bài văn, câu đối, trướng… Có lẽ nên đề cập bài Hồng Hồng, Tuyết, Tuyết,… bài ca trù nghe thanh thoát, bông đùa, dí dỏm và hóm hỉnh.

    Giới thiệu một bài ca trù dưới đây là bài ca trù tiêu biểu và nổi tiếng của Dương Khuê:

    Gặp lại cô đầu cũ
    Hồng Hồng, Tuyết, Tuyết,
    Mới ngày nào chửa biết cái chi chi.
    Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì!
    Ngoảnh mặt lại, đã tới kỳ tơ liễu.
    Ngã lãng du thời, quân thượng thiếu,
    Kim quân hứa giá, ngã thành ông
    Cười cười nói nói thẹn thùng,
    Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại.
    Riêng một thú Thanh Sơn đi lại,
    Khéo ngây ngây dại dại với tình.
    Đàn ai một tiếng dương tranh…
    Hà Nội tức cảnh
    Phất phơ ngọn trúc trăng tà
    Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
    Mịt mù khói tỏa ngàn sương
    Tiếng chày An Thái, mặt gương Tây Hồ.
    bài thơ này nằm trong cuốn Vân Trì thi thảo.

    Dương Hồng Anh làm thơ ở tuổi rất sớm, bà tập tểnh làm thơ năm 16 tuổi (năm 1947), nhưng cho ra thi tập đầu tay Hương Mùa Chinh Chiến vào năm 1952 tại Hà Nội. Dương tác giả cho thơ ở nhiều đề tài, nhiều phạm vi như thơ về quê hương, tuổi học trò, thơ thiền, xã hội, chiến tranh, về gia đình, tôn giáo, tình yêu, về thiên nhiên,… Xem qua 4 thi tập của bà là Tiếng Thầm, Tình Thu, Vương Vấn Hồn Quê và Sợi Nhớ Sợi Thương thí sách được trình bày rất trang nhã. Thi tập Tiếng Thầm gồm có 67 bài thơ, Tình Thu 81 bài, Vương Vấn Hồn Quê có 84 bài và Sợi Nhớ Sợi Thương gồm 86 bài thơ.

    Thi tập Tiếng Thầm ở trang 1, bài sáng tác năm 2013 mang trùng tên Tiếng Thầm xa quê hương gần 40 năm nỗi nhớ quê hương vẫn vấn vương tâm thức, tác giả cho những lời thơ mênh mang nỗi nhớ thẫn thờ bước chân nơi quê người…
    Chiều về nhớ phố Bolsa
    Đi tìm chút nắng quê nhà năm xưa
    …
    Thời gian trắng biển sương mù
    Hiên khuya gọi gió về ru tiếng thầm.

    Trong bài điểm thi tập qua bài viết Sau Năm Năm, nhà văn Bùi Bích Hà đã nhận xét về nhà thơ Dương Hồng Anh và thi ca của Hồng Anh nữ sĩ, xin trích đoạn như sau:
    “Năm 2012, tôi được bà gửi tặng cuốn thơ “Chiều Bến Đợi,” thi tập thứ ba sau tác phẩm đầu tay “Hương Mùa Chinh Chiến” xuất bản tại Hà Nội năm 1952, viết chung với ba nhà thơ nữ đương thời; sau tác phẩm thứ hai “Từ Phương Trời Xa,” xuất bản tại Hoa Kỳ, California, năm 2010, là cuốn mở màn cho chuỗi sáng tác phong phú, liên tục mỗi năm tiếp theo cho tới cuốn mới nhất, ra mắt khách yêu thơ mùa Thu năm 2017…. Sau năm năm, nhìn lại nhau, bà đi với bước chân cẩn trọng hơn, nhưng dáng dấp và nụ cười trên môi bà không già thêm. Vẫn ánh nhìn đằm thắm. Vẫn nụ cười không thành tiếng mà nghe như có ai khúc khích. Vẫn bàn tay rụt rè muốn nói điều gì nhưng chừng như e ngại. Bà tặng tôi cuốn thơ thứ tám, “Tình Thu,” gồm 81 bài thơ nhiều thể loại, dàn trải trên 134 trang giấy màu ngà thanh nhã, là món quà đón Xuân nhiều ý nghĩa, nhiều hương vị mà cả người nhận lẫn người cho cùng chia nhau niềm vui:
    Vui đón Xuân về ta chúc nhau
    Thơ còn hẹn mãi với mai sau
    Run tay ngọn bút không ngừng chảy
    Có nghĩa là ta sống rất giàu
    …”
    Người viết nhớ rằng thi sĩ Hà Huyền Chi cho là “Thơ là đỉnh cao nhất của văn chương”. Còn theo nhà thơ Alfred de Musset cho rằng thơ là nỗi cảm xúc với luận điểm nổi tiếng: “Hãy đập vào trái tim, thiên tài là ở đó!” thì thi sĩ Paul Valéry lại cho “Thơ là ngày hội tưng bừng của trí tuệ”. Những ý kiến khác như thi sĩ Hà Nguyên Du thì: “Thơ là nghệ thuật sắp xếp ngôn từ phát xuất từ nội tâm”. Nhà thơ Dương Tử quan niệm: “Thơ là một hình thức ngôn ngữ khơi mào do trí tưởng tượng sáng tạo ra một tác phẩm văn chương”,,… suy luận qua nhiều trang thơ trong những thi tập của thi nhân Dương Hồng Anh đã minh chứng những tư tưởng nêu trên.

    Gặp nhau vui vẻ quá
    Ta lại về với thơ
    Trời xanh, xanh tươi lá
    Nghe em kể truyện xưa
    …
    Những vần thơ chung thủy
    Dệt mộng với thời gian
    Thơ ơi! hoa vẫn nở
    Hoa thơ nở ngút ngàn
    (Đôi dòng với thơ, Dương Hồng Anh, Tiếng Thầm trang 28-29)

    Nếu tuyên ngôn về thi ca của người thi sĩ nói rằng thơ là sự tự phát khởi ra từ con tim, ta hãy đọc hai tư tưởng khác của hai nhà thơ Mỹ như sau: “Thi ca là một cách hay để thể hiện nỗi xúc cảm như vui, buồn, giận dữ, lo lắng. Đó cũng là một cách mà chúng tôi chia sẻ với những người khác, để giúp họ với những cảm xúc đó.”. (thi sĩ Mattie Stepanek).

    Và ý tưởng nét thẩm mỹ của thơ được xác định theo nhà thơ Edgar Allan Poe: “Tóm lại, tôi sẽ định nghĩa thơ ca là sự sáng tạo nhịp nhàng của Cái đẹp”. Đọc Dương Hồng Anh, thi ca của bà dù ở cuối mùa niên kỷ hay trong thời gian hay không gian của ánh hoàng hôn tuổi đời vẫn cho thi nhân nỗi mộng mơ, trăn trở đắm say như những dòng thơ sau minh chứng:
    Thơ tôi là những hao gầy
    Những đêm trăn trở, những ngày vẩn vơ
    Nhìn đời nửa thực nửa mơ
    Nghiêng tay mực gió văn thơ cuối mùa.
    (bài Thơ Tôi, Tình Thu trang 78)

    Trong thi tập “Sợi Nhớ Sợi Thương” nơi trang 28, bài đoản thơ 4 dòng Ta Còn Để Lại Gì Đây, thơ cho thấy chất triết lý thiền tính nhìn về thiên nhiên hữu cảnh.

    Ta còn để lại gì đây
    Phù du một thoáng đong đầy sắc không
    Thuyền từ nhẹ bước thong dong
    Hoa Ưu Đàm nở ngát dòng sông xanh.

    Những câu thơ trên cho thấy nghệ thuật phô diễn thể sáu tám. Trần Trọng Kim gọi thơ là nghệ thuật, là dùng lời nói tao nhã để biểu diễn tình ý ra cho đẹp, tư tưởng ra cho hay, và có thể ngâm nga được.. Khi nói về thơ, mỗi thi sĩ thường có những nhận xét khác nhau. Tuân Tử nói: Thi dĩ ngôn chí, dùng thơ để nói lên cái chí hướng của mình. Xuân Diệu gọi thi sĩ nghĩa là ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây. “Cõi thơ là cõi bồng phiêu” (Bùi Giáng). “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” (Roman Jakobson). Và “Làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ” (Chế Lan Viên ).
    Thơ là nghệ thuật lấy âm thanh hay hình ảnh chất chứa trong đó. Hãy xét trường hợp thi ca Dương Hồng Anh, cũng trong thi tập “Sợi Nhớ Sợi Thương” trang 20, thi nhân cho thêm một đoản thi như sau:

    Thu đi thả lá đầy sân
    Cho hồn tôi cứ bâng khuâng tháng ngày
    Tìm về sông núi đâu đây
    Bước tha hương trải sầu mây mấy mùa.

    Ngôn ngữ thi ca phản ảnh sự phong phú của ngôn ngữ của tác giả khi sử dung thi từ, thật vậy thi ca Dương Hồng Anh khéo léo chắt lọc tinh túy của ngôn ngữ bà chắt chiu từng con chữ sử dụng. Điều này cho thấy sự chắt chiu ý tưởng trong nét sáng tạo thi ca của nhà thơ, và bà đã khám phá và sáng tạo ra những nét bóng bẩy của ngôn ngữ thơ, vườn thi ca nhiều thêm mỗi ngày như vậy của nhiều nhà thơ, từ đó góp phần làm giàu có ngôn ngữ trong văn học và đời sống. Ví dụ ý tưởng “Thu đi thả lá đầy sân” cho ta sự liên tưởng thi ca qua hình ảnh, những biểu tượng của thơ được tạo nên từ thị giác khiến ngôn ngữ thi ca không chỉ kích thích trí tưởng tượng của con người, nó còn khiến con người vững tin rằng ngoài những hình ảnh thế giới thiên nhiên bao la mà mình thấy được, cảm nhận được, còn những hình ảnh mà mình nghiệm thấy trong trí não.

    Xin xem bài thi ca khác mà tác giả gửi gấm về quê hương, bài “Xin Gửi Quê Hương Một Tấm Lòng”, trích đoạn thi ca Dương Hồng Anh:
    Xin gửi quê hương một tấm lòng
    Ca li nhớ mãi nắng Sài Gòn
    Tình thơ dào dạt bao đêm vắng
    Hoa lá bên trời có biết không
    ….
    Xin gửi quê hương khúc nhạc chiều
    Bao la tâm sự nhớ quê nghèo
    Việt Nam ơi những gì chưa nói
    Vương hồn thơ – thương nhớ nhiều.
    (thi tập Vương Vấn Hồn Quê, trang 79)

    Ngẫm nghĩ về ngôn ngữ thi ca của Dương thi nhân còn nhiều bài hay như ví dụ khuôn mẫu thi ca cho các trường học dạy chữ Việt. Qua những trích dẫn tiêu biểu về ngôn ngữ thi ca Dương Hồng Anh, mong rằng Dương nữ sĩ sẽ tiếp tục cho ra nhiều áng thơ hay trong sự dự định thực hiện nhiều sách in sắp tới. Do vậy thì bài viết này người viết đã có được dịp khám phá ra nét tinh khôi của giá trị của ngôn ngữ thi ca và những ý tưởng về thi ca thật diễm tuyệt của một nữ sĩ có hơn 70 năm sinh hoạt thi ca (1947- 2019). Trong ngôn ngữ của đời sống, thơ là những dòng chữ đi từ con tim đến khối óc. Nếu con tim rung động thì trí óc sắp xếp sự sáng tạo chữ nghĩa, đó là ý tưởng của nhà thơ. Xin vinh hạnh giới thiệu thi sĩ: Dương Hồng Anh.

    Trần Việt Hải, Los Angeles, ngày 20 tháng 10, năm 2019.

    Links: https://www.facebook.com/namhai.tran.75839/…/408109510089209

    Dương Thiệu Tước và… Ngọc Lan (Quỳnh Giao):
    https://thanhthuy.me/…/duong-thieu-tuoc-va-ngoc-lan-quynh-…/

    Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước: Gửi hồn dân tộc trên âm điệu phương Tây:
    https://nhacxua.vn/nhac-si-duong-thieu-tuoc-gui-hon-dan-to…/

    Nguyệt San Cỏ Thơm: Đôi Nét Về Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước:
    http://cothommagazine.com/index.php…

    Những Ca Khúc Vượt Thời Gian của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước:
    https://dotchuoinon.com/…/tan-nhac-vn-ca-khuc-vuot-thoi-gi…/

  • Tin tức

    Hồi Ký về gia đình Nguyễn Tường

    Nguyễn Thị Thế

    (trích)
    …
    Anh cả tôi tên Thụy, hồi có thai anh, mẹ tôi nằm mơ thấy có người đem đến cho một viên ngọc, nếu đặt tên Ngọc có vẻ con gái quá nên đặt là Thụy vì chữ Thụy có ẩn chữ Ngọc. Anh thứ hai tên Cẩm, thứ ba là Tam, anh thứ tư là Long, tôi thứ năm tên Thế, em thứ sáu tên Vinh, em thứ bẩy tên Bách. Thật sự tên anh em tôi không phải ngay từ lúc đầu đã đặt theo bộ chữ THỤY CẨM TAM LONG VINH BÁCH THẾ (Ba con rồng bằng gấm đẹp vinh hiển muôn đời) như một vài cuốn sách đã viết và coi như sự nổi tiếng của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam là tiền định.

    NTT_2-content

    Ba anh tôi tên đã được đặt từ trước là Thụy, Cẩm, Tam, anh Tư tôi (Hoàng Đạo) đáng lẽ là Tứ nhưng có người bạn của thầy tôi là Tứ nên mới đặt là Tư và tôi là Năm. Rồi tới em Sáu (Thạch Lam) và em út là Bẩy. Sau này vì anh tư tôi không đủ tuổi đi thi anh mới đổi là Long. Còn tên tôi, em Sáu và em Bẩy là do anh TAM đổi nhân dịp em Sáu cũng vì lý do đổi tuổi để đi thi. Như vậy tuổi khai sinh của anh em nhà tôi không hoàn toàn đúng với tuổi thật. Năm đó tôi nhớ anh Tam đã viết “NHO PHONG” và tôi khoảng 14, 15 tuổi, bấy giờ anh Tam mới nghĩ tới việc đặt tên anh em chúng tôi theo bộ chữ trên. Tôi là con gái nên lấy chữ cuối. Thứ tự gia đình tôi theo đúng tuổi là anh Cả NGUYỄN TƯỜNG THỤY sau này làm Tổng giám đốc bưu điện sinh năm Quý Mão (1903), anh Hai NGUYỄN TƯỜNG CẨM, kỹ sư canh nông, Giám đốc báo NGÀY NAY sinh năm Giáp Thìn (1904), anh Tam NGUYỄN TƯỜNG TAM, Nhất Linh, Nhị Linh chủ trương TỰ LỰC VĂN ĐOÀN sinh năm Bính Ngọ (1905), anh Tư NGUYỄN TƯỜNG LONG, Tứ Ly, Hoàng Đạo trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh năm Đinh Mùi (1907), tôi NGUYỄN THỊ THẾ sinh năm Kỷ Dậu (1909), em Sáu NGUYỄN TƯỜNG VINH (LÂN), Thạch Lam trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh năm Canh Tuất (1910), em Bẩy NGUYỄN TƯỜNG BÁCH, Bác Sĩ, sinh năm Bính Thìn (1916).

    Riêng em Sáu tôi đổi tên tới hai lần. Lần thứ nhất đổi là Vinh, cũng vì lý do để đủ tuổi đi thi bằng thành chung. Tôi còn nhớ khi em Sáu thi đậu, Tú mỡ Hồ Trọng Hiếu có mừng em bài thơ tôi chỉ còn thuộc có 6 câu:

    Gửi lời mừng bác NGUYỄN TƯỜNG VINH

    Đáng bậc thần đồng bọn học sinh
    Năm trước vừa ăn kỳ tốt nghiệp
    Năm sau liền đỗ bậc chung thành
    Văn hay phúc ấm nhờ tiên tổ
    Cũng bởi công phu gắng học hành

    Lần đổi tên thứ hai là Lân. Tên này em tôi giữ cho tới khi chết. Sự đổi tên của anh em tôi là do ý kiến của anh Tam vì khi đổi tên tôi và các em Sáu, em Bảy thầy tôi mất đã lâu.
    …

    Tôi không ngờ em Sáu có trí nhớ dai thế, như truyện em tôi tả hai chị em thức đợi chuyến tầu đêm qua rồi mới đi ngủ. Năm đó tôi mới có chín tuổi, em tôi lên tám mà mẹ tôi đã giao cho hai chị em tôi coi hàng. Cửa hàng chỉ bán có rượu, ít bánh khảo, thuốc lào, cốt để đưa khách quen vào trong nhà bà ngoại. Tối đến hai chị em phải ngủ lại để trông hàng. Hai chị em vì ở nhà quê đã lâu nên bạo dạn. Chủ nhà là hai bà cụ đã già tóc bạc phơ hình như hai người là bạn với nhau, đều không có con, tôi cũng không rõ là ở đâu tới. Một bà trẻ, khỏe mạnh hơn dọn hàng cơm cho khách ăn, thỉnh thoảng cũng có người lỡ tầu ngủ trọ lại. Hàng bà cụ rất sạch sẽ, món ăn cũng ngon. Những con cá chép rán vàng, rồi canh cá nấu măng chua, mấy cái chân giò luộc, trông thật thèm.

    Khách hàng là mấy ông lý ông chánh ở các làng xa xôi lên huyện có việc. Đông nhất là những ngày vào vụ thuế. Hồi đó thuế người thuế ruộng phải đem lên nộp cho quan, quan đem xuống tỉnh nộp cho công sứ. Hàng mẹ tôi dọn được ít lâu khách đã quen vào nhà trong rồi nên khỏi bán hàng ở ngoài nữa (xem truyện “Hai chị em” Thạch Lam đã viết lại đúng như sự thực).
    …

    CÁI CHẾT CỦA THẠCH LAM

    Chú Sáu trông nom nhà báo được ít lâu bị yếu phổi phải nằm nhà dưỡng bệnh. Biết tính chú ưa tĩnh nên dù ở gần tôi cũng ít sang thăm.

    Một tết Trung Thu, chú mời tất cả các bạn thân đến ăn bánh thưởng trăng Tây Hồ. Anh em ai tới phải mang theo bánh, các bà không được tham dự. Thím Sáu và chị Song Kim vợ Thế Lữ rút vào nhà trong pha trà, cà phê. Tôi vì có cháu bé nên không sang được, Trung thu năm đó lại mưa bão không có trăng, các ông ngồi chật cả ba gian nhà. Sợ chủ nhân buồn, ông thì hát chèo cổ, ông thì hát trống quân, người thì ngâm thơ, kể cũng vui, không có cảnh trăng trong gió mát thì cảnh mưa bão hồ Tây cũng đẹp.

    Tết năm đó tôi cùng chú về quê ăn Tết. Hai mươi tháng chạp tôi thu xếp việc nhà cho các cháu về trước. Chú Sáu ba mươi Tết mới về, nhà ở giữa cánh đồng, tuy có lũy tre bao bọc nhưng vẫn lạnh thấu xương. Chú về tới nhà là phải quạt một hỏa lò than hồng để sưởi, trên chăn dưới nệm vậy mà chú vẫn kêu lạnh. Mẹ tôi kêu con trai gì mà yếu thế, chú nói tại mẹ khỏe nên không thấy lạnh, giá mẹ xây một cái lò sưởi có phải ấm nhà và vui vẻ bao nhiêu không.

    Sau mẹ tôi phải cho đốt một đống củi lớn ở giữa nhà, trải ổ rơm xung quanh ngồi đánh bất đợi giao thừa. Tôi phụ với mẹ tôi bầy cỗ cúng bàn thờ và cúng trời đất. Đúng mười hai giờ người nhà lên đánh trống lễ, đỉnh trầm khói hương nghi ngút, không khí đầy diễm ảo.

    Làm lễ xong cả nhà ngồi vào bàn để uống rượu mừng năm mới. Ai nấy im lặng, chú Sáu có vẻ buồn, lặng lẽ nhìn khói trầm, không ai nói câu nào như sợ tan vỡ một cái gì. Người nào cũng tưởng nhớ đến người ở xa vì Tết năm đó anh Tư còn bị giam ở Vụ Bản, anh Tam ở bên Tầu. Tết buồn, vắng, và cũng là cái Tết sau cùng của em Sáu tôi.

    Tết ra, em đau yếu luôn, vẫn về ở bên căn nhà bên hồ Tây. Mẹ tôi phải dời trại Cẩm Giàng đem theo một anh người nhà nữa để trông nom vì thím Sáu lúc đó đang có mang đứa con thứ ba. Mẹ tôi xem số tử vi cho chú ấy, nếu thím sanh con trai thì khó qua khỏi được. Vì vậy hôm báo tin sanh con trai, chú thở dài nói con trai mà làm gì. Đứa bé ra đời được ba ngày chú trở bệnh nặng. Mẹ tôi biết khó sống được nên lén lên nhà bảo sanh đón hai mẹ con về. Tôi bế thằng bé ra cho chú coi mặt. Chú liếc nhìn và khen trông nó khỏe đấy. Nó sau này là cháu Nguyễn Tường Giang.

    Sáng hôm sau sang thăm, thấy hai mắt chú sáng trong. Tôi ngồi xuống cái ghế cạnh giường, nắm tay chú, bàn tay ấm và mềm. Chú bảo chị đẩy em lên cao một tí để em nhìn thấy cây liễu, chú phàn nàn anh người nhà đem chặt đi mất một cành liễu rủ xuống làm mất đẹp. Tôi biết chú vốn quý cây liễu ấy lắm, nhưng không ngờ lúc đau ốm gần kề với cái chết mà vẫn còn để ý đến vẻ đẹp thiên nhiên, như vậy chú còn ham sống yêu đời lắm. Năm đó chú mới ba mươi ba tuổi. Có một hôm chú bảo tôi hôm nào em khỏi chị cho em ăn một bữa cơm nguội với dưa chua và cá kho, sao mà ngon thế. Chị có nhớ hôm đi chơi khuya về chị lấy cho em ăn đó. Em vẫn ao ước hôm nào khỏi lại được ăn như thế. Tôi cười bảo bây giờ chú ăn chưa chắc đã thấy ngon. Ăn ngon phải đúng lúc mình thật đói và trong người khỏe mạnh mới ngon được.

    Từ hôm bệnh trở nặng, chú Bách (tên chú Bẩy) thường ở luôn bên cạnh anh. Chú Sáu đang nằm tự nhiên bảo đỡ ngồi dậy. Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Thím Sáu ở trong buồng chạy ra ngồi đỡ một bên. Mẹ tôi ngồi một bên. Thấy thím khóc, chú bảo tôi đã chết đâu mà khóc. Hai anh em nói tiếng Pháp với nhau, tôi thấy chú Bách bỏ ra cửa, chú Sáu gọi “Bách, Bách”, chú Bách chỉ quay đầu lại thôi chứ không trở lại, tôi chực gọi thì thấy hai hàng nước mắt chú tuôn rơi, lúc đó tôi mới hiểu. Nhìn lại thấy chú Sáu duỗi hai chân thẳng ra. Thế là đi luôn.

    Tiếng khóc của mẹ tôi, của thím Sáu cùng nổi lên một lượt, riêng tôi vẫn còn hoang mang, không thể ngờ chú còn tỉnh táo như vậy mà cái chết đã đến quá mau chóng. Người khóc nhiều nhất là chú Bách, từ nhỏ tới giờ không bao giờ thấy chú khóc nhiều như vậy. Có lẽ vì đã học năm thứ năm trường thuốc nên biết lúc đó là lúc anh mình phải chết mà mình bất lực không làm gì được.
    …

    Tết năm đó (1942) chỉ còn có hai anh em về ăn Tết. Chú cũng đã yếu rồi nên thím Sáu đã phải đốt một lò than hồng để đón chú, mà chú cũng còn kêu: “Rét quá, giá mẹ xây lò sưởi có phải ấm không”. Đêm giao thừa phải đốt một đống củi ở buồng hai gian nhà ngang vải chung quanh trại ổ rơm mà chú vẫn kêu lạnh. Tất cả ngồi quây quần đánh bất để đợi Giao Thừa, năm đó tiết trời cũng giá buốt nên thay vì cúng và ăn ngoài sân, cả gia đình đều vào phòng khách. Đúng Giao Thừa, chú bảo đốt trầm lên và đem rượu ra uống mừng Xuân. Rượu rót ra rồi ai nấy đều thấy chú ngồi im lặng lẽ, khói trầm mờ ảo, tất cả tự nhiên đều im lặng, mỗi người hoài niệm một nỗi niềm riêng tư. Vắng mấy anh như là vắng tất cả. Xuân này mỗi anh mỗi phương, người góc bể, kẻ chốn rừng sâu, chắc giờ này cũng đương hướng cả tâm hồn về với nhau. Anh em sum họp đã bao cái Tết vui vẻ, nay như chim lìa đàn, con bay về phương Bắc, con về phương Nam, cách biệt từ nay mấy dặm ngàn.

    Sau cái Tết đó là chú Sáu bắt đầu yếu. Hôm chú sang chơi nhà anh Thế Lữ rồi qua tới thấy tôi đốt lò sưởi, chú thích quá. Chú nói bên hồ năm nay lạnh quá, chú chịu không nổi. Tôi mời chú qua đây ở, tôi sẽ nhường chú căn phòng khách có lò sưởi cho ấm chứ nhà tôi có tiếp khách nào đâu. Nói rồi, tôi thấy nét mặt chú buồn buồn. Lúc tiễn chú ra cổng, thấy thân hình chú mặc cái áo cẳng dài, người mảnh và cao, chân bước đi như gió thoảng trên mặt đê, lòng tôi tự nhiên thấy buồn nhưng cũng không rõ vì sao. Không thấy chú sang, có lẽ chú sợ phiền vì đã hai lần chị đã nhường cho nhà rồi, vả lại đời sống chú cũng khó khăn, sang đây sợ thiếu phương tiện.

    Chú đã yếu nhiều nên tính nết cũng khó khăn, thích yên tĩnh nên tôi có sang thăm chú phải bảo mấy cháu chơi ở ngoài hoặc ra cây đa, hoặc sang sân đình vì chú không ưa trẻ con. Tôi còn nhớ lần đó sang chơi, thấy chú đương ăn cơm, chú mời tôi ăn với chú một thể nhưng tôi đã ăn rồi, chú mới hỏi mấy cháu có qua với tôi không. Tôi bảo: “Chúng nó sợ chú nên ở chơi ngoài sân đình rồi”. Chú bèn nói gọi hết mấy cháu vào đây. Tôi và thím Sáu đều nhìn nhau lấy làm lạ vì đã có lần chú cấm tôi có sang thì để lũ trẻ con ở lại nhà. Thế mà hôm nay chú lại vui vẻ gọi các cháu vào, nào là bắt ăn rồi lại mở tủ sách của chú mà xưa nay các cháu thích lắm nhưng chẳng bao giờ dám mó vào, bây giờ muốn đọc thì tha hồ đọc. Lúc về chú lại cho mượn đem về, hẹn phải giữ cẩn thận rồi đem qua chú đổi cho quyển khác.

    Tôi thấy chú cười nói tôi cũng mừng, hay là chú đã hết bệnh rồi nên chú thay đổi tính nết. Ai ngờ là gở chết, vì theo như các cụ nói thì người đương dễ tính sẽ đổi ra khó, còn người đương khó tính sẽ đổi ra dễ, đó là điềm gở. Được vài tháng sau là chú đau liệt giường luôn, không tới tòa báo được nữa. Chú Bách cũng hằng ngày xuống chích thuốc cho chú, nhưng cũng vô hiệu và chú đã lao phổi nặng rồi. Mẹ tôi cũng từ dưới trại lên để trông nom chú và người bếp già vì thím ấy đã gần ngày sanh. Chú gầy quá lại kêu đau mình, nên mẹ tôi cho mang cả giường lò xo lên cho chú nằm cho êm. Thuốc men ăn uống cũng chả thấy đỡ, bệnh chú càng ngày càng nặng, chú Bách chích đủ các loại thuốc tốt nhưng cũng đành bó tay thôi.

    Mẹ tôi đi coi số cho chú ấy nói nếu có hai con trai thì là tận số. Hôm thím ấy sanh, nói con trai, chú chỉ thở dài nói lại con trai. Mẹ tôi thấy chú phù hai chân biết là khó qua khỏi, nên thím ấy sanh mới được có ba ngày là cho đón về lúc buổi sáng mười giờ. Bế thằng bé con ra cho chú coi mặt, chú bảo trông nó khỏe mạnh đấy. Tôi bắc ghế ngồi bên chú, chú bảo chị cho cái gối cao lên để em ngắm liễu, hôm nọ nó chặt mất cành thấp rũ xuống, em tiếc quá. Xong chú nói em nhớ bữa cơm nguội mà hôm em đi chơi về, chị cho em ăn với cá kho và dưa chua, sao mà ngon thế, hôm nào em khỏi chị lại cho em ăn như thế. Tôi cười nói đúng đó chú ạ, mình chỉ ăn ngon vào đúng lúc mình đói thì bữa cơm đó không có gì ăn cũng ngon, chú nhỉ. Chú lại hỏi sắp đến mùa na chưa, em thèm ăn na quá. Tôi bảo tháng sáu hoặc tháng bảy chú ạ. Chú chỉ ao ước một bộ đồ lụa mỏng vải cúc áo dài lụa thì Mẹ tôi đã may cho chú để mặc cho mát và nhẹ. Còn các thứ trái cây thì chú thích nhất là na, xoài, dưa tây ướp đá.

    Có lần chú Bách đưa cho tôi mấy miếng dưa tây hoặc mấy miếng xoài, thế là quý chị lắm đó. Hai chị em cứ nói chuyện vẩn vơ như vậy, đâu có ngờ đến 12 giờ tôi về bên nhà ăn cơm, vừa ăn xong thì hai vợ chồng tôi sang cùng đứng cả bên giường. Chú bảo đỡ chú ngồi lên, anh người nhà một bên, mẹ tôi một bên, sau là thím Sáu. Thấy chú nói tiếng Pháp với chú Bách, thím Sáu khóc thì chú bảo tôi không chết đâu mà khóc. Chú Bách bỏ bước ra cửa, chú ấy gọi Bách, Bách rất rõ mà chú ấy không quay lại. Tôi và mẹ tôi đều kêu chú Bách, anh gọi này. Chú không quay vào chỉ ngoảnh mặt lại thôi, tôi thấy chú khóc. Tôi chưa từng thấy chú khóc bao giờ. Tôi thấy chú Sáu duỗi hai chân ra, thế là đi luôn, anh người nhà vội đặt chú nằm xuống.

    Tôi sửng sốt không ngờ, chỉ có chú Bách và Mẹ tôi là biết rõ thôi. Chú đã học thuốc và đã từng chứng kiến nhiều nên chú không dám quay lại khi thấy mình bó tay không sao ngăn được thần chết. Chú lại là người khóc nhiều hơn ai hết, tôi còn phải đi lo báo cho mọi người biết. Mẹ tôi đứng lên lo hết ma chay cho chú xong, mẹ tôi lại trở về trại Cẩm Giàng. Còn nhà báo thì ai trông nom sau khi chú Sáu mất, tôi cũng chả rõ. Gần một năm sau thì anh Long và ông Khái Hưng về trông nom tờ báo. Năm đó cũng là năm Nhật hay sang bỏ bom, mọi người sợ hãi hay chạy về nhà quê và nhà nào cũng đào hầm để trú ẩn. Bên mấy mẹ con thím Sáu thì mẹ tôi đón về trại ở rồi, chứ ở trên này thì lấy gì sống.

    (Văn hóa Ngày Nay tái bản 1996)

  • Tin tức

    Nhà văn Nguyễn Thị Vinh… nhân vật cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn vừa qua đời

    Hà Đình Nguyên

    Nhà văn Nguyễn Thị Vinh… nhân vật cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn vừa qua đời ngày 8/1/2020 tại Na Uy, hưởng thọ 97 tuổi…

    Hồi nhỏ, Hà Đình Nguyên đã từng được đọc (học) văn của bà từ những bài trích đăng tác phẩm “Hai chị em”, “Thương yêu” trong sách giáo khoa… Càng ngưỡng mộ bà hơn khi biết bà (và cô con gái 15 tuổi) đã thức trắng đêm bên thi thể nhà văn Nhất Linh tại nhà xác Nhà thương Grall trong đêm 7/7/1963… 

    NgThiVinh-congaiKimAnh

    Nguyễn Thị Vinh và con gái Trương Kim Anh chụp ở Hà Nội 1950.



    Tìm những tư liệu về bà, thấy ngày xưa bà là một phụ nữ hết sức xinh đẹp và tài năng, văn của bà ấm áp, thương yêu…

    Xin trích đăng đôi dòng về thân thế của bà gắn liền với Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn.

    Bà Nguyễn Thị Vinh, 1 trong ba thành viên cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn.

    Năm 1933 Tự Lực Văn Đoàn chính thức thành lập gồm có: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ) về sau thêm Xuân Diệu, Trần Tiêu, và còn một số nhà văn cộng tác chặt chẽ với văn đoàn này là: Trọng Lang, Huy Cận, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ… Bà Nguyễn Thị Vinh là 1 trong ba thành viên cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn.

    Bà Nguyễn Thị Vinh sinh năm 1924 tại Hà Nội. Quê nội: làng Thịnh Đức thượng Hà Đông. Quê ngoại: làng Vân Hoàng, Hà Đông. Đã xuất bản nhiều tác phẩm tiêu biểu, gồm truyện ngắn, truyện dài, thơ và tùy bút…



    Trước năm 1975 bà giữ chức Chủ bút và Chủ nhiệm 2 tạp chí văn nghệ: Tân Phong và Đông Phương. Bà cũng là thành viên của Hội đồng Giám khảo Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc VNCH. Sau 1975, bà sống tại Na Uy và tiếp tục hoạt động văn học trong vai trò Chủ nhiệm tạp chí văn nghệ Hương Xa. Và là thành viên trong nhóm chủ biên nhà xuất bản Anh Em.


    Sau đây là phần nói chuyện của Mặc Lâm (Đài RFA) với bà:

    Mặc Lâm: Thưa bà, xin bà cho biết cơ duyên nào đưa tới việc bà gia nhập Tự Lực Văn Đoàn?

    Bà Nguyễn Thị Vinh: Ba thành viên lớp sau (hay đúng hơn, phải gọi là ba thành viên dự bị) của Tự lực Văn đoàn, gồm nhà văn Duy Lam (cháu gọi Nhất Linh bằng cậu ruột), nhà văn Tường Hùng và tôi đều do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lựa chọn, tại Sài Gòn vào khoảng đầu thập niên 1950.

    Văn bản với bút tích của nhà văn Nhất Linh hiện do tác giả Nguyễn Tường Thiết, con trai út của nhà văn Nhất Linh lưu giữ. Trước đó, trong một bài thơ mang tên Tự Lực, Nhất Linh viết vào lúc 2 giờ sáng Mùng Một Tết năm Quý Tỵ (nhằm ngày 14 tháng 2 năm 1953), ông đã ghi:

    Tự Lực vườn văn mới trội tên
    Bỗng dưng thời thế đảo huyên thiên
    Thương dăm lá cũ vừa rơi xuống
    Mừng mấy mầm tươi vụt nhú lên
    Mạch cũ, nhựa non rồn rập chảy
    Vườn xưa, hoa mới điểm tô thêm
    Người qua, sách mọt, đời thay đổi
    Tự Lực, danh chung, tiếng vẫn truyền.

    Mặc Lâm: Xin cho biết về tác phẩm đầu tay của bà cũng như tác phẩm mới đây nhất.

    Bà Nguyễn Thị Vinh: Hai Chị Em, Truyện ngắn, NXB Phượng Giang, Việt Nam Sài Gòn 1953. Cỏ Bồng Lìa Gốc, Tùy bút /Tâm cảm, NXB Anh Em, Hoa Kỳ San José 2005.

    Mặc Lâm: Tự Lực Văn Đoàn đã được lịch sử xác nhận là một tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đối với thanh niên và trí thức trong một khoảng thời gian dài. Xin bà cho biết chi tiết hơn về vấn đề này.

    Bà Nguyễn Thị Vinh: Tự lực Văn đoàn gây ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài đối với đa số thanh niên nam, nữ thị dân theo Tây học và Chữ Quốc Ngữ, từ Bắc tới Nam, về các mặt tư tưởng, văn hóa, xã hội…

       a/ Trước hết phải kể tới Tinh thần Tự lực từ cá nhân, gia đình cho tới xã hội. Không có Tinh thần Tự lực thì quốc gia không thể giành được nền độc lập toàn vẹn, đúng nghĩa.

    Tự lực Văn đoàn gây ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài đối với đa số thanh niên nam, nữ thị dân theo Tây học và Chữ Quốc Ngữ, từ Bắc tới Nam, về các mặt tư tưởng, văn hóa, xã hội…

       b/ Giữ gìn truyền thống mỹ tục. Đả phá mọi hủ tục.
       c/ Nêu cao tinh thần Khoa học Thực nghiệm. Bài trừ thói mê tín dị đoan.
       d/ Chống nạn mù chữ. Phổ biến và nghệ thuật hóa việc dùng Chữ Quốc Ngữ.
       e/ Hướng đến một cuộc cách mạng, tạm gọi là “Cách mạng Tư sản”, trên nền tảng Chủ nghĩa Tam Dân: “Dân tộc Độc lập, Dân quyền Tự do, Dân sinh Hạnh Phúc.”

    Cho nên từ “ngôi nhà ánh sáng”, tới chiếc “áo dài LeMur”, “thơ Mới”, “tiểu thuyết luận đề”, “đảng Hưng Việt”, đến báo chí “Phong Hóa”, “Ngày Nay” và “Văn Hóa Ngày Nay”… Tranh khôi hài “Lý Toét, Xã Xệ”… đã làm nên tính cách Tự lực Văn đoàn, một văn đoàn vì Quốc gia Dân tộc.

    Mặc Lâm: Những thành viên cuối cùng hiện còn sống ngày nay gồm những ai, có ai trong số họ vẫn còn theo đuổi văn chương nghệ thuật không?

    Bà Nguyễn Thị Vinh: Hai nhà văn Duy Lam và Tường Hùng vẫn sáng tác, sinh hoạt văn nghệ. Phần tôi, hoạt động văn nghệ không nhân danh Tự lực Văn đoàn. Vì tự nghĩ: Tự lực Văn đoàn đã làm xong nhiệm vụ lịch sử kể từ sau sự tuẫn tiết của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
    (hết trích)



    Đoạn dưới đây trích trong “Văn học miền Nam 53-75” của Nguyễn Văn Lục, phần “Nguyễn Thị Vinh”:

    Trường hợp Nguyễn Thị Vinh. Bà Vinh đã từng sống bên cạnh Nhất Linh, khi ở bên Tàu — với tư cách là đồng chí, bạn văn ,người tình– hay là tất cả những thứ cộng lại?(*)

    Khoảng thập niên 60, nhà văn Thế Phong – đã mượn một số chi tiết trong đời sống riêng tư của nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh, viết thành “Truyện người của tình phụ“. Ban đầu in rô-nê-ô (Đại Nam Văn Hiến xuất bản cục, 1963) — sau cho đăng [dở dang] trên tập san Biệt chính/ Trung tâm huấn luyện Xây dựng nông thôn Vũng Tàu. (PAT). Năm 1964, nhà xuất bản Đại Nam Văn Hiến in thành sách (bìa/ảnh của Nguyễn Cao Đàm. Sau 1975, nxb Đồng Nai (miền Nam) cấp phép tái bản, in chung trong ‘Cô gái Nghĩa Lộ’. (Bt)

    Riêng Nguyễn Thị Vinh, trong trường hợp nào bà quen biết, [rồi] trở thành người của nhóm TLVĐ? Tôi [Nguyễn Văn Lục] chưa liên lạc trực tiếp được với bà Nguyễn Thị Vinh để hiểu rõ vấn đề này.

    Nhưng chỉ biết 2 chị em Nguyễn Thị Vinh có mở một tiệm sách ở Hà Nội. Sau này bà Nguyễn Thị Vinh lấy Trương Bảo Sơn (một đảng viên VNQDĐ, còn là một dịch giả có tiếng).

    Phải chăng, vì mối liên hệ đảng phái, Nguyễn Thị Vinh có nhiều dịp gần gũi với Nhất Linh? Nhất là, khi trôi giạt sang Tàu, Trương Bảo Sơn và vợ, [họa sĩ] Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh sống chung một nhà.

    Nhưng mãi đến 1948, bà Nguyễn Thị Vinh, (cùng con gái 3 tuổi, [Trương Thị Kim Anh [1946 – ] từ Hà Nội sang sống với chồng, Trương Bảo Sơn. Có thể từ 1948, bà Nguyễn Thị Vinh mới được quen biết Nhất Linh? Cùng trong thời gian này, Nhất Linh đã khuyến khích Nguyễn Thị Vinh viết cuốn ‘Thương yêu’ và bà Linh Bảo [Võ Thị Diệu Viên 1926 – ] viết cuốn ‘Gió bấc’.

    [Và cũng] có thể, có một mối tình tay 3, tay 4 không? Tôi [Nguyễn Văn Lục] tin là có — khi nhìn lại hình ảnh Nhất Linh ôm, ẵm, cưng chiều con gái Nguyễn Thị Vinh là Trương Kim Anh. …

    Sau này, đọc hồi ký Nguyễn Thị Thế (em gái Nhất Linh, mẹ Duy Lam +Thế Uyên) có đoạn kể về Trương Kim Anh,

    “Khi tôi giở chăn ra để được ngó mặt anh tôi, [thì] có cái sáo rơi xuống. Tôi lấy làm lạ, hỏi cháu Thoa, [thì] nó cho biết, có cô con gái nuôi của cậu cháu (Trương Kim Anh) tối qua đem sáo vào nhà xác, thổi suốt đêm cho [cậu cháu] nghe. Thổi xong, nó tặng luôn chiếc sáo; và, nói từ nay nó sẽ không còn thổi sáo cho ai nghe nữa đâu …” (trích’ Sđd – tr. 159).

    81933413_859685734496369_743265608358952960_n

    Trương Kim Anh 15 tuổi, ảnh Mạnh Đan

    Trong bài ‘Tưởng nhớ về Nhất Linh”, Trương Kim Anh viết,

    “Sau một lúc, mẹ tôi bảo tôi lấy sáo trúc ra thổi một bản tiễn bác. Tôi gạt nước mắt, đưa ống sáo ngang miệng, chọn bản ‘Thiên Thai’ — bản mà bác thường bảo tôi thổi, mỗi lần bác đến nhà chúng tôi. Tiếng sáo u uẩn vang trong khu nhà xác, lạnh lẽo. Nhưng chỉ được nửa bản, tiếng sáo ngưng trong tiếng nấc nghẹn ngào, âm thanh như đọng lại trong không gian, tiễn đưa hương linh bác về nơi vĩnh cửu…” (trích Sđd).

    TranhNhatLinhveKimAnh

    Từ bức ảnh của Mạnh Đan chụp Kim Anh thổi sáo, nhà văn Nhất Linh đã vẽ bức tranh “Ngồi thổi sáo dưới gốc thông” ký tặng Kim Anh.

    Trong mục ‘Lan hàm tiếu’, dành cho các thiếu nhi trên nguyệt san Văn hóa ngày nay, Nhất Linh đã không quên, cả người đọc cũng khó bỏ qua bóng dáng Nguyễn Thị Vinh, qua Trương Kim Anh. [Khi ấy] Trương Kim Anh 12 tuổi đã tập tành viết tác phẩm đầu tay ‘Ở vậy’, dưới sự hướng dẫn của ‘bác’ Nhất Linh.
    Người ở lại sau cùng trong đêm cuối cùng, trước khi Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam đi vào lòng đất, là bà Nguyễn Thị Vinh và cô con gái Trương Kim Anh. 

    Và, trước khi tuẫn tiết… người được Nhất Linh đến gặp lần cuối cùng [vẫn] là bà Nguyễn Thị Vinh. — Trương Kim Anh kể,

    “… Mãi sau này tôi mới biết chuyện quan trọng đó là, ‘bác [Nguyễn Tường] Tam nhận được trát đòi ra hầu tòa, cùng với một bạn chiến đấu của bác, trong đó có ba tôi, “ông Trương bảo Sơn…”. Tôi hơi ngạc nhiên về chú thích để trong ‘ngoặc kép’; [thì] khoảng một tiếng sau, từ trên cửa sổ nhà Thủy nhìn xuống nhà mình; tôi thấy bác Tam đang từ giã mẹ tôi …”

    Đây là một ‘cử chỉ chỉ có [ở] người trong cuộc’ (chữ nghiêng: Bt), trong giờ phút giữa sống chết, bên bờ tử sinh, mới thấm thía hết được ý nghĩa cuộc gặp gỡ định mệnh này.

    Cô Trương Kim Anh (con nuôi Nhất Linh) sau này lấy [thẩm phán quân sự] – nhà văn Dương Kiền. Theo các con, cháu của Nhất Linh; Duy Lam cho rằng nhiều phần Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh phải có cái gì với nhau. (chữ nghiêng: Bt). Nhưng nó cụ thể như thế nào thì không ai dám chắc? Nhưng, trong cách thức của bà Nguyễn Thị Vinh, khi nói về Nhất Linh; thì bà thường làm ra cái vẻ là người tình của Nhất Linh (chữ nghiêng: Bt) — hay là [bà Vinh] đóng kịch như thể,

    [để] gây cho mọi người có cảm tưởng là giữa bà và Nhất Linh hẳn phải có một mối dây liên lạc mật thiết.

    Nhưng hay nhất, vẫn là để Nguyễn Thị Vinh tỏ bày,

    “Đời tôi từ bấy lâu nay, thời gian đi già nửa thế kỷ, đã từng ở những nơi nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi; mà, sao tôi vẫn không thể quên được túp lều (trên núi) của chúng tôi. Chao ôi, mỗi khi tắm, tôi chưa thấy có một vòi hoa sen nước nào có thể so sánh được với dòng suối ngày ấy. Tôi biết kể sao cho hết nỗi vui thích của tôi mỗi khi ra suối tắm.”
    (trích Sđd- tr. 85- 86).

    Khó quên là phải, làm sao quên được! Cá tính bà Nguyễn Thị Vinh, theo nhiều nhận xét của vài người quen biết bà trước đây; hoặc là, người trong gia đình Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam cho biết, [thì bà Nguyễn thị Vinh] là một người đàn bà đa tình và vô cùng lãng mạn (chữ nghiêng: Bt) — gần như không có một biên giới nào.

    Chuyện Trương Bảo Sơn và Nguyễn Thị Vinh chia tay, thì cũng là chuyện đành phải như vậy. Sau khi Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam tự tử vào ngày 7-7- 1963 — bà Nguyễn thị Vinh vẫn thường [một mình] đi xe lam lên thăm mộ Nhất Linh ở Nghĩa trang Bắc việt ở Hạnh Thông Tây (quận Gò Vấp). — gần mộ nhà văn nổi tiếng miền Nam Hồ Biểu Chánh. Bà Nguyễn Thị Vinh thăm viếng mộ Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam, là đốt 4 điếu thuốc lá Bastos xanh, cắm vào 4 góc mộ, rồi mở 2 chai la-de 33, tưới lên phần mộ để tưởng nhớ Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam. …

    [Rồi, họa sĩ trẻ tuổi Động Đình Hồ, tên thật là] Nguyễn hữu Nhật [1942- 201x) đã gặp bà Nguyễn Thị Vinh tại nhà nữ sĩ Tuệ Mai [Trần Thị Gia Minh, con cụ Á Nam-Trần Tuấn Khải]. 

    Nguyen_Thi_Vinh-content

    [Có] một hôm, Nguyễn Hữu Nhật hẹn với bà Nguyễn Thị Vinh đi thăm mộ Nhất Linh (dù Nhật đã hứa hôn với một nữ sinh viên trường Luật, tên Bình [cháu họ thi sĩ Vũ hoàng Chương]). Vài tuần sau, 2 người đã kết thành đôi lứa, ông Nguyễn Hữu Nhật chính thức làm chồng bà Nguyễn Thị Vinh [1924- ].

    Mối nhân duyên này đúng là duyên kỳ ngộ — và như có sự chứng giám của một người đã chết [Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh].

    Sự hiện diện của [nữ văn sĩ] Nguyễn Thị Vinh trong TLVĐ, hay là trong đời sống Nhất Linh-[Nguyễn tường Tam] chỉ là một. (chữ nghiêng).
    (hết trích)

    Đọc đoạn (trích) cuối, tôi (Hà Đình Nguyên) không hiểu có chuyện bà Nguyễn Thị Vinh (sinh năm 1924) lại lấy anh họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật (sinh 1942) làm chồng như ông Nguyễn Văn Lục đã viết không? 

    Theo InternetShare on FacebookShare on Twitter

  • Sinh Hoạt

    Tường trình buổi họp mặt Giáng Sinh của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian

    Khánh Lan

    Chủ Nhật ngày 15, tháng 12, Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi họp mặt tất niên tại nhà hàng Ngọc Sương. Buổi sáng mùa đông nhưng bầu trời trong xanh như ngày đầu của một mùa xuân tươi mát. Những cơn gió nhè nhẹ đem theo cảm giác lạnh lạnh để những chiếc khăn quàng cổ đầy mầu sắc tung bay trong gió, tạo thành một bức tranh lập thể tuyệt vời.

     Từ 10:30 sáng, các anh chị em thành viên của Liên Nhóm NVNT & TTG đã có mặt tại nhà hàng để chuẩn bị. Số quan khách tham dự khoảng 80 người, phần lớn là các giáo sư, thi sĩ, văn sĩ, và họa sĩ.  Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của Giáo sư  Quyên Di, Giáo sư  Dương Ngọc Sum, Giáo sư Lý Tòng Tôn và phu nhân, Thi sĩ Lý Kim, Nhà văn Nguyễn Quang Huy, Nhà văn Vũ Thùy Nhân, Nhà văn Hồ Triều Lam , Thi sĩ Vương Hồng Anh, Thi sĩ Thanh Thủy, Thi Văn sĩ Lê Thị Việt Nam, Thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi, Thi sĩ Cát Ngọc, Họa sĩ Hoàng Vinh và phu nhân, Họa sĩ Chín Mừng, Họa sĩ Lam Thủy, Họa sĩ Lưu Anh Tuấn và phu nhân Mindy Lưu, Ca sĩ Thanh Mỹ và phu quân (Hội Trưởng Nhóm ROF), Nhạc sĩ Quốc Sĩ, Ca sĩ Minh Tâm, Ca sĩ Phương Thúy, Phóng Viên Trịnh Thanh Thủy, Chị Nga Nguyễn (phu nhân của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn), và chuyên viên thu hình Paul Phú Lê Văn cùng một số quý thân hữu khác…

     Nhà văn Việt Hải, con chim đầu đàn của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian khai mạc bữa tiệc với lời cám ơn và tường trình về những sinh hoạt trong quá khứ cũng như những dự định trong tương lai. Tiếp theo là chương trình văn nghệ “Cùng Hát Bên Nhau” do các anh chị trong Liên nhóm NVNT & TTG đảm nhiệm, song song với những món ăn thịnh soạn của nhà hàng Ngọc Sương.  Chương trình văn nghệ mở đầu với bài ” Jingle Bell” do ban hợp ca Tiếng Thời Gian trình diễn và kết thúc buổi tiệc với bài “Feliz Navedad” do ngũ ca:  Thụy Lan, Lệ Hoa, Khánh Lan, Hồng Nguyên và Quốc Sĩ đã mang lại một không khí thân mật và vui tươi cho ngày họp mặt cuối năm. 

    Ngày 15 tháng 12 cũng là ngày sinh nhật của Nhà văn Việt Hải, đó cũng là lý do các anh chị trong nhóm NVNT và TTG đã chọn để tổ chức tiệc Tất niên và đồng thời mừng sinh nhật nhà văn Việt Hải.  Trong niềm vui lẫn xúc động, Nhà văn Việt Hải gởi lời cảm ơn đến quý khách hiện diện trong bữa tiệc đã đến chia vui cùng ông và các anh chị em trong Liên nhóm NVNT & TTG đã bỏ thời giờ để chuẩn bị cho bữa tiệc được hoàn mỹ.  Phần cắt bánh sinh nhật thật cảm động. Ban hợp ca do Mộng Thủy và Thụy Lan hướng dẫn với nhạc phẩm:  “Khi Ta 20” vang lên trong lúc Nhà văn Việt Hải cắt bánh sinh nhật.

    Buổi họp mặt đón Chúa Giáng Sinh và chúc mừng sinh nhật Nhà văn Việt Hải đã đem lại bao nỗi hân hoan và vui thích trên nét mặt của từng quý thân hữu hiện diện trong bữa tiệc ngày hôm ấy. Đây cũng là một khích lệ lớn lao cho Ban Tổ Chức.

    Sau bữa tiệc tất niên, Nhà văn Việt Hải cùng một số anh chị em trong ban tổ chức đã đến tham dự bữa tiệc của ông John Tạ, “Công ty bào chế và Tổng đại lý dược thảo Princess Life Styles,” tại nhà hàng 888 Seafood ở Rosemead.  Khánh Lan và Nhật Uyên đã đại diện cho Nhà văn Việt Hải và Liên nhóm NVNT & TTG, lên sân khấu ngỏ lời chúc mừng ông John Tạ cũng như chào đón ông đã đến với nhóm Liên nhóm NVNT & TTG. 

    Thay mặt Liên nhóm NVNT và TTG, xin chân thành cám ơn quý thân hữu đã đến chung vui với chúng tôi.  Kính chúc quý thân hữu một mùa Giáng Sinh an lành, hạnh phúc và một năm mới vạn sự tốt đẹp.

    Thân kính, 

    Khánh Lan

    Click vào link để xem thêm hình

    https://photos.google.com/share/AF1QipOYtmOj6iW5a0OY-mx_nLrIxnPF0n6bxkOXSVoekwJNv5enBNDlK7XyC14-HXjgnA?key=bjhFMkpZVVhoRU5oc3pBRGRTemM0eXk4TTVlYXhB

    https://photos.google.com/album/AF1QipOXtNaGqbsqWZbLmfgZSrNC-34l7fAsqfG9ugIk

  • Âm nhạc

    Việt Nam có ba nhạc khí đặc biệt không nước nào có.

    December 18, 2019

    Sở trường của Giáo Sư Trần Quang Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. (Hình: tranquanghai1944).

    Bị nước Tàu đô hộ ngàn năm, Việt Nam không bị đồng hóa mà vẫn giữ được truyền thống dân tộc. Tiếng nói, chữ viết, cách ăn mặc, tập tục, phong thái… và nói chung, mọi thứ đều là Việt Nam. Chuyện đó ai cũng biết.

    Trong âm nhạc, người Việt có ba nhạc khí mà không nước nào có kể cả nước Tàu. “Việt Nam đã tạo cho mình một chỗ đứng biệt lập với ba nhạc khí đặc thù dân tộc, chỉ thấy ở Việt Nam,” Giáo Sư Trần Quang Hải viết trong cuốn sách mới đây của ông.

    Sách mang tựa đề là “50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” dày 450 trang do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018 nay được phát hành trên thế giới.

    Chuyện ít người biết

    Trong bài “Nguồn gốc Âm nhạc Việt Nam” in trong cuốn sách, ông đã trình bày về ba nhạc khí đó là đàn đáy, đàn bầu và sinh tiền.

    cố nhạc sĩ Nguyễn Phú Đẹ đàn đáy

    Đàn đáy có thùng hình thang, không có đáy chỉ có ba dây kết hợp đặc trưng của nhiều đàn khác nhau như đàn tam, tỳ bà, nguyệt. Đàn đáy dùng để đệm cho hát ả đào hay ca trù.

    Trần Quang Hải với đàn độc huyền

    Đàn bầu hay độc huyền chỉ có một dây nhưng có thể đàn được ba bát độ và chỉ sử dụng bồi âm mà thôi.

    Trần Quang Hải với sinh tiền

    Sinh tiền gồm ba miếng ván dài 27 phân, ngang 3 phân dày nửa phân. Hai miếng ván có mang những đồng tiền lúc lắc trong khi miếng thứ ba gõ hay cứa vào hai miếng ván kia tạo thành ba âm thanh khác biệt để đệm nhạc triều đình.

    Lịch sử nhạc Việt

    Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày các loại đàn, hát của dân tộc ta từ thời nhà Đinh, thế kỷ thứ 10, cho tới ngày nay. Phần trình bày rành rẽ là một tài liệu quý báu cho những người biên khảo về âm nhạc Việt Nam, cổ nhạc lẫn tân nhạc.

    Phần cổ nhạc, tác giả đã cho ta biết về các loại nhạc như nhạc cung đình, nhạc lễ, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân ca, nhạc dân tộc thiểu số. Các thứ đàn đặc biệt là đàn tranh, đàn đá thêm vào những nhạc cụ đặc hữu của Việt Nam, các loại hát như hát xoan, hát Then, Tày, Nùng, Thái…

    Phần tân nhạc được tác giả ghi chép lại trong năm giai đoạn theo các biến cố chính trị trong nước. Giai đoạn tượng hình, 1928-1937; giai đoạn thành lập, 1938-1945, giai đoạn kháng Pháp 1946-1954, giai đoạn đất nước chia đôi 1954-1975 và giai đoạn di tản, từ 1975 trở đi.

    Công trình sáng tác, khảo cứu

    Tới năm 1989, ông được cấp bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống nhưng ông đã làm việc khảo cứu từ năm 1968 tại Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học CNRS ở Paris. Đồng thời, ông còn làm việc trong Viện Dân Tộc Nhạc Học của Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật và Truyền Thống Dân Gian tại Paris.

    Sở trường của Giáo Sư Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. Ông đã sáng tác hơn 50 bài kể chung cho đàn tranh, cho muỗng, hát đồng song thanh hay là nhạc cho phim.

    Năm đời ca nhạc

    Giáo Sư Hải là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3,500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 nước từ năm 1966, 1,500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy trên 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8,000 người theo học hát đồng song thanh. Điều này ghi rõ trên sách của ông.

    Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông nhắc đến dòng dõi họ Trần Quang bốn đời tài danh trong ngành nhạc dân tộc. Tới Trần Quang Hải là đời thứ năm, con người tài hoa đã làm rạng danh nhạc dân tộc Việt khắp năm châu.

    Sách nhan đề là “50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018, dày 450 trang, có thể mua trên mạng do nhà xuất bản LULU phát hành, giá 16.76 euro.
    https://www.lulu.com/shop/search.ep?keyWords=tran+quang+hai

    Sách được phổ biến cùng với cuốn bằng Anh Ngữ “Tran Quang Hai 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing, Tu Sach Khai Tri, 2018, 402 page.”

    Sách tiếng Anh có thể mua trên mạng Amazon.fr với giá 13.86 euro.

    (Từ Nguyên)

  • Tin tức

    ĐIỂM SÁCH: Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ.

       Do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật tổ chức với sự cộng tác của Văn Thơ Lạc Việt, ra mắt sách ngày Nov. 19, 2019 tại San Jose.

       (Bài viết này do nhà biên khảo, nhà văn Diệu Tần viết một tuần trước, nhưng vì lý do sức khỏe nay ông viết tiếp).

    Một số lớn nhà biên khảo văn sĩ, thi sĩ có những nhận định về TLVĐ, nhất là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam….Trong đó phải kể đến Hoàng Xuân Hãn là một nhân văn học mới nổi bật hơn tất cả thời gian 1932 đến 1942.

       Nhà văn nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nói: TLVĐ không những góp công lớn về văn học mà còn giúp năng cao nền văn học Việt Nam. TLVĐ đã tạo nên một phong trào thay đổi đường lối văn học và nâng Việt ngữ (Quốc Ngữ) ngày càng trong sáng.

       Nhất Linh, Nguyễn Tường Tam là giám đốc, là con chim đầu đàn dựa trên “Mưới Điều Tâm Niệm” của Hoàng Đạo đã dứt khoát không do dự, quyết đổi mới, vừa lãng mạn vừa bình dân, đả phá phong kiến bằng văn, thơ, họa trên tờ Phong Hóa và Ngày Nay.

       Nhất Linh và hai người em Thạch Lam, Hoàng Đạo rồi cùng với Khái Hưng, Thế Lữ, Tú Mỡ, Nguyễn Gia Trí 7 người, sau này nhận thêm Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng và Duy Lam (2 người sau là hậu duệ).
    Cụ tổ Nguyễn Vân gốc làng Cẩm Phổ, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Không phải là Cẩm Giàng, hải Dương).
    Tại sao cụ Vân lại có tên đệm là Tường ?

       Chi tiết này trong sách đã kể, người viết kể chuyện: Đồi Phước Tường có đường xe hơi lên tới đỉnh. Tôi ở trong ngành Công Binh để quan sát ghi chép đường lộ cầu cống ngoài quốc lộ, tới tỉnh lộ, chuyến đi quan sát Phước Tường gặp đại Úy Nguyễn Đức Thắng, sau này là Trung Tướng. Ông đang đi bộ trên đồi muốn quá giang xe Dodge 4 x 4 của tôi, tôi vội vàng nhường ghế trưởng xa cho ông, ông mặc quân phục quần 5 túi, giầy boodequin, khoát tay nhẩy lên phía sau xe, tới nơi hỏi ra mới biết ông là chỉ huy tiểu đoàn pháo Binh.!
    Làng Cẩm Phổ trái phải có song Thu Bồn bao quanh, nước xanh trong chảy ra biển qua Cửa Đại Hội An (Rau muống Cẩm Phổ nổi tiếng ngon và dòn giống Sơn Tây, cọng thuôn dài xanh mướt, chỉ có ít lá nhỏ tựa một nụt măng tây dài).

       Nhất Linh là con trai thứ ba (tam) trong gia đình có 5 trai 1 gái.
    Ông là nhà văn, hoạ sĩ vừa là nhà chính trị, ông lập ra hệ phái trong Việt Nam Quốc Dân Đảng, Ông còn là một nhà giáo dậy tại trường Thăng Long. (Năm 2006 bức tranh lụa của Nhất Linh ký tên TAM được bán đấu gía với 75 ngàn Mỹ Kim, đề “Cảnh Phố chợ Đông Dương”.

       Nhất Linh kết thân với (Khánh Giư) Khái Hưng ông gìa hơn ông Tam 10 tuổi. Ông vào học y khoa, rồi bỏ vào Cao Đảng Mỹ Thuật lại cũng bỏ, nguyên do học vẽ phải ra ngoài để vẽ, vào làng quê gặp nhiều cảnh nghèo khổ, kể cả người lao động ở thành phố khiến ông suy nghĩ và quyết định làm báo, viết văn. Ông là người sống nội tâm, it nói, trầm ngâm đôi khi cũng trào phúng.

    Nhất Linh sáng tác 7 tác phẩm tiêu biểu, chưa kể được in cuốn “Xóm Cầu Mới” và “Dòng Sông Thanh Thuỷ” sau năm 1952. Không kể những bài viết theo tiết mục thường có trên Phong Hóa và Ngày Nay.
    Các thành viên chính của Văn Đoàn làm việc thận trọng việc tuyển lựa bài đăng với phong cách công bằng nhận cây bút mới nhập tịch. Nhất Linh ra mắt sách ít hơn Khái Hưng, ông còn khuyến khích Tú Mỡ làm thơ hướng trào phúng (Sau này Doãn Quốc Sĩ là con rể Tú Mỡ) khuyến khích các bạn đào sâu hơn theo đúng sở trường. Ông  là người mê say cải cách, cách mạng nhưng cũng giầu nghệ sĩ tính, thất bại về chính trị nhưng lại ưa thích thiên nhiên cây cỏ, thổi hắc tiêu vẽ tranh lụa bên bờ suối.  “Đam mê” chuộng họa lan Thanh Ngọc đến mức bê cả chậu cho ngủ chung giường.

       Khái Hưng người tỉnh Hải Dương bạn tâm giao ngay khi cùng dạy ở trường Thăng Long. thời còn nhỏ có học Hán tự. Ông có tú tài Pháp, Cũng là con quan nhưng không thích làm quan, có thiên khiếu vế Văn chương, bản tính hiền lành không tự kiêu. Tác phẩm đầu tay được đón chào nhiệt liệt là “Hồn Bướm Mơ Tiên” Tiếp nữa là “Nửa chừng xuân” sức sáng tác thực phong phú với 24 tác phẩm (có cuốn viết chung với Nhất Linh. Ông bà Khái Hưng không có con trong khi Nhất Linh có 10 người con, và tặng Khái Hưng một con trai làm con nuôi nhận là họ Trần, Trần Khánh Triệu. (Cũng là Nguyễn Tường Triệu). Ông viết truyện luận đề trong gia đình Việt Nam và xã hội thời đó.
    Khởi đầu Khái Hưng và các bạn đồng chí hướngviết và làm thơ về chế nhạo những hủ tục hống hách làng xã huyện (nhân vật lý toét, Xã Xệ, Gang Bạnh, Lý đình dù) Đề cao cá nhân chống bất công xã hội. Càng về sau đả phá tham lam, thực dân và chuyển mạnh về xã hội chính trị.
    Sau 1945 chống đối Việt Minh Cộng Sản.

       Khái Hưng được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan ví với nhà văn Pháp Alfred De Musset thi sĩ của giới thanh niên chú tâm đến cải cách gia đình và xã hội. Khái Hưng được giới trẻ vì ông hiểu được tâm lý của con người.

       Văn Chương TLVĐ muốn xây dựng đất nước, đề cao tình tự dân độc, đòi quyền làm người, bênh vực nữ giới, chính vì thế Việt Minh rất kỵ TLVĐ nên đã bắt Khái Hưng và Nguyễn Tường Cẩm. Hai người bị thủ tiêu, Khái Hưng bị giết cách dã man, xác dìm xuống sông Cửa Ga.
    Khái Hưng xứng đáng là nhà báo, nhá văn, nhà cách mạng chân chính.

       Thạch Lam người con thứ sáu trong gia đình, có mái tóc nghệ sĩ dáng người ẻo lả. Nhà văn Vũ Bằng có nói: Cái gì của Thạch Lam cũng nhẹ nhàng từ câu nói, từng bước đi… dường như nếu bước mạnh thì đất nó đau… bút pháp ông tinh tế không kiểu cách. Ông viết dễ hiểu, thanh cao. Qua đời với tuổi 32, Thạch Lam cho thấy là người tài nhưng mệnh yểu. Phải chăng là định mệnh, là tướng số. Ông cho ra đời một truyện dài, một truyện ngắn, một cuốn nghị luận văn chương đó là cuốn “Theo Dòng” Ông coi trọng phẩm hơn lượng, có giá trị ở tầng cao.
    (Bà Tường Nhung con gái lớn của Thạch Lam kết hôn với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, một vị tướng nổi danh trong trận mạc và thanh liêm).

       Hoàng Đạo là con trai thứ sáu trong nhà, bút hiệu khác là Tứ Ly, có người cho rằng Tứ Ly là rơi vào giờ xấu nhất, còn Hoàng Đạo lại là giờ tốt nhất. Cách chọn bút hiệu tỏ ra người cương quyết rắn rỏi. Ông viết phóng sự về tòa án vì ông có bằng luật, Cuốn “Mười Điều Tâm Niệm” được coi như bản tuyên ngôn. Truyện “Trước Vành Móng Ngựa” ghi lại những truyện bi hài trong nối xử án, rồi: Bùn Lầy Nước Đọng”,  “Vấn Đề Thuộc Địa” , tryện dài “Con Đường Sáng”  viết chung với Nhất Linh.

       Giống như Khái Hưng đều không thích làm quan, có cơ hội để làm tri huyện nhưng ông từ chối. Ông là đại biểu Quốc Hội chắp vá Quốc Cộng, rồi làm bộ trưởng bộ kinh tế ít tháng. Nghe nói lại, hồi làm công chức tại Đà Nẵng, được giới thiệu một tiểu thư con quan lớn trong triều, nhưng ông từ chối.

       Các hậu duệ: Chưa có thế hệ thư ba cầm bút, cũng như ít người còn trẻ cỡ sáu mươi, phần đông tuổi từ 70 trên, dưới 80: Nguyễn Tường Thiết, Tường Hùng, Duy Lam, Thế Uyên, Tường Giang, Tường Nhung, Tường cat, Tường cường, Nguyễn Lân, Tôn Thất Niệm (Con rể) Trần Khách Triệu, Từ Dung.

    Các Giáo Sư, Nhà Văn, Nhà Thơ trong sách có 5 vị là Trần Huy Bích, Phạm Quốc Bảo, và Dương Ngọc Sâm, Quyên Di, Trần Mạnh Chi, và 10 người còn lại.


       Ghi Nhận: Buổi ra mắt sách “Tự Lực Văn Đoàn và các Cây Bút Hậu Duệ” thành công tốt đẹp số ngươi tới dự tiệc la 140, số sách mang theo trên 100 cuốn bán hết, những người muốn mua nhưng rất tiếc…!
    Có người ghi nhận hai gia đình Nguyễn Tường và Kenedy có những nhân vật tạ thế giống nhau do hoạt động chính trị.

        Ông Tường Cấm, người con thứ nhì, rồi ông Nhất Linh, ông Hoàng Đạo qua đời vì chính trị.

       Điều khác nhau là họ Nguyễn Tương dùng cây bút để cải đổi, cách mạng xã hội, còn họ Kenedy không hoạt động văn chương, văn học.
    Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn xứng đáng được nể trọng, không thành công chính trị, nhưng đã thành NHÂN, và thành công rực rỡ về phương diện ngôn ngữ văn học và văn hóa.

       Người Việt Hải Ngoại chờ đợi các cây bút hậu duệ TLVĐ nối tiếp cơ nghiệp cha ông sẽ cho xuất hiện những tác phẩm mới, dù rằng khác biệt đã 7, 8 thập niên không gian, thời gian và môi trường.

    Tranh thơ do thi sĩ Minh Thúy trình bày.

  • Tin tức

    Cảm nghĩ về “Chiều thơ nhạc Cung Trầm Tưởng”

    Khánh Lan

    Những hạt mưa đầu mùa nhè nhẹ với tiết trời lạnh lạnh, như nhắc nhở chúng ta “Nàng Thu” đang hiện diện nơi đây và sắp sửa ra đi, để nhường lại cho những ngày đông lạnh giá sắp đến.  Và như một sự tình cờ ngẫu nhiên, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi chiều nhạc thơ để chào đón một nhà thơ rất thân quen, mà hầu như tất cả chúng ta đều biết đến từ đầu thập niên 60: Thi sĩ Cung Trầm Tưởng.

    Đây cũng là buổi họp mặt lần thứ năm, mà Liên Nhóm NVNT & TTG đã  chào đón Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, từ Minnesota lạnh lẽo về thăm thành phố “Tiểu Saigon”.  Buổi nhạc thơ được tổ chức tại Cordoba plaza Club House, thành phố Westminster, California trong bầu không khí ấm cúng và thân mật.  Mặc dù chương trình bắt đầu lúc 4:00 giờ chiều, nhưng mới 3:30, đã có khá đông những thân hữu yêu thơ Cung Trầm Tưởng, xếp hàng chờ sẵn ngoài cửa.  Ngoài sự hiện diện của các thi sĩ và văn sĩ, như nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, Nhà thơ Cát Ngọc, Nhà thơ Tha Nhân, Nhà thơ Việt Cường, Nhà thơ Bích Ty, Nhà Văn/Giáo sư Dương Ngọc Sum, Nhà Văn Việt Hải,  Nhà Văn/Giáo sư Quyên Di, và Nhà Văn Nguyễn Quang Huy, Nhà Văn Võ ý …  còn có sự góp mặt của ký giả Uyên Vũ (báo Người Việt), Ca sĩ Thúy Anh, KTS Nguyễn văn Liêm, NAG Lê Hùng, v.v…

    Mở đầu chương trình, MC Khánh Lan giới thiệu và chia sẻ cảm nghĩ của mình về tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ, 1948-2008”. Tâp thơ này được xuất bản tại Virginia, Hoa Kỳ, năm 2012 và tái xuất bản lần thứ nhất tại California, Hoa Kỳ, năm 2019. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cho biết đây là tập thơ cuối cùng và ông rất hài lòng và hãnh diện khi cho cho tập thơ này ra đời.

    Trong tập thơ, thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi rõ chi tiết của từng giai đoạn, những cảm xúc của mình theo dòng thời gian, qua những thăng trầm của cuộc đời cũng như vận nước nổi trôi trong suốt 60 năm qua.  Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cũng không quên ghi lại những điểm son trong đời và những cảm xúc của mình qua những chặng đường gian khổ, đau thương, nhớ nhung, uất ức, tuyệt vọng, phẫn nộ và hận thù mà ông đã đi qua. 

    Ngoài hai bài thơ bất hủ, có thể nói là vượt thời gian và làm nên tên tuổi của ông, là bài “Mùa Thu Paris” và “Chưa Bao Giờ Buồn Thế”,  không thể nào không nhắc đến những vần thơ, mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác trong trại tù tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977.  Những vần thơ nặng nét đau khổ và tuyệt vọng của người thua cuộc, đã làm thay đổi hoàn toàn những suy nghĩ trong thể thức sáng tác thơ của ông, những vần thơ lãng mạn khi xưa, vội vàng xếp lại để nhường chỗ cho những lời thơ sắc xảo, cay đắng và chai cứng như sau:

    Áo tù thẫn máu đôi vai

    Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa 

    Môi cầm má hóp thịt da 

    Ngô vơi miệng chén, canh pha nước bùn. 

    Nhưng cũng không thể nào sánh được với những vần thơ mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đặt tên cho nó là “Nộ Thơ” khiến người nghe qua phải rùng mình khiếp sợ:

    Mai về đạn nhảy ngang nòng súng 

    Trực trì đầu thù mổ thật nhanh. 

    Chiều nhạc thơ tiếp tục với những bài hát nổi tiếng của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như “Tiễn Em” và “Mùa Thu Paris”, qua sự trình diễn của ban hợp ca Tiếng Thời Gian.  Ca sĩ Thúy Anh với nhạc phẩm “Mình Ơi Ở Lại Đừng Về” và “Paris Có Gì Lạ Không Em”.  Ca sĩ Nhật Uyên với bài “Bên Ni Bên Nớ”.  Cũng không quên nhắc đến Nhạc sĩ Nguyên Vũ (phu quân của Ca sĩ Thúy Anh), Nhạc sĩ/Guitarist Quốc Sĩ và Nhạc sĩ Keyboardist Tú Phạm đã giúp cho phần âm nhạc trở nên sôi động. 

    Tiếp theo phần văn nghệ là phần nhận định của nhà văn Việt Hải (anh cũng là con chim đầu đàn của Liên Nhóm NVNT & TTG) về hai bài thơ tiêu biểu thuộc thể loại “Thơ Mới” của thi sĩ Cung Trầm Tưởng: “Núi Và Suối, Một Huyền Sử” và “Phồn Thực Ca”.

    Trong bài “Núi Và Suối, Một Huyền Sử”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại khi ông ở trại tù Hầm Tân, tức trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận, nơi có suối nước trong và rặng mây tào, đã cho ông nguồn cảm hứng để sáng tác bài thơ này. 

    Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ 

    Tháp chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn. 

    Bài thứ hai là “Phồn Thực Ca”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại thời trai trẻ,  khi ông còn là một phi công, trong một công tác ở miền tây, ông đã gặp và để ý đến một cô giáo dạy học tại đây, có nhan sắc tuyệt vời và hình bóng ấy đã đi vào hồn thơ của người thi sĩ trẻ, tạo nên nguồn thơ cảm hứng và ông đã sáng tác bài thơ ca tụng vẻ đẹp của cô giáo như sau:

    Em ướp trầm hương ngân ngát thánh 

    Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên…

    Nhà Văn Việt Hải kết thúc bằng nhận xét như sau, anh nói, thơ của Thi sĩ Tagore và Thi sĩ Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm của vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc, tình yêu, đề cao con người và triết lý nhân sinh.  

    Chiều nay, cũng là buổi chiều mừng sinh nhật và chúc thọ Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tròn 90 tuổi.   Nhà Văn Việt Hải nhắc đến bài thơ Đêm Sinh Nhật mà thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác khi ông 29 tuổi, tại Đa Kao, Saigon.  Bài thơ viết theo thể loại 6-8, nói lên nỗi cô đơn của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng.  Đêm ấy, 50 năm về trước, cũng có mưa rơi như chiều nay, nhưng hôm nay, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng không còn cảm thấy cô đơn, vì quanh ông, đã có rất nhiều người yêu mến ông và yêu mến cả thơ của ông nữa.  Bài thơ “Đêm Sinh Nhật” được thi sĩ Bích Ty diễn ngâm để mừng sinh nhật thứ 90 của ông.

    Sau bữa ăn tối, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng say sưa phát biểu về những sáng tác, quan điểm, nguồn cảm hứng, nỗi xúc động của ông qua thơ văn.  Ông nói về những kỷ niệm khi ông du học tại Paris, nơi ông đã sáng tác những bài thơ có nhiều phong thái lãng mạn, qua những ảnh hưởng bởi đời sống, văn hóa Âu Tây,  nhóm văn học hiện sinh (Existentialisme) và nhóm thơ triết học (Philopoésie)….Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tâm sự, “Thơ là sự chuẩn mực từng từ ngữ thích hợp, cho tỏa sáng ý tưởng mình muốn nói “.

    Và sau cùng, Nhà Văn Quyên Di bình luận về chủ đề “Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, Một Gương Mặt Văn Học Của Việt Nam “.  Ông nói:  “Thi ca Cung Trầm Tưởng có những ý tưởng tôn giáo triết học. Qua lăng kính tín ngưỡng, Phật giáo/Công giáo đều được thể hiện qua ý niệm tình thương và sự sống. 

    Nhà Văn Quyên Di kết thúc buổi “Chiều thơ nhạc Cung Trầm Tưởng” với một câu chuyện thật hay và dí dỏm “Ai Đã Tạo Dựng Nên Người Đàn Bà?”

    Buổi chiều thơ nhạc đã chấm dứt trong niềm hân hoan và luyến tiếc. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng nói, “Tôi vô cùng xúc động khi có được những giây phút hạnh phúc như thế này, xung quanh những người bạn thân quý và thương mến tôi cũng như thơ của tôi”.  Trước khi ra về, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã ký tặng bạn bè hiện diện trong buổi chiều thơ nhạc tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ-1948-2008”.

    Ghi dấu lại một ngày vui.

    Khánh Lan tường trình từ thành phố Westminster.

  • Tin tức

    Phóng sự về buổi “Vinh Danh và Mừng Thượng Thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh”

    Click vào link để xem thêm hình

    https://photos.google.com/share/AF1QipPqa3vjE4x-z20N335FPYDfISK7XHKEmZmr4M0W4nScsLmZqPoTJafSuyCI3lkXtA?key=aVpNcTRJX003angyX1lQX0E5ZjktLTFGNkp2M3B3

    Vào lúc 1 giờ trưa ngày 16 tháng 11, năm 2019, Liên nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian” đã tổ chức buổi Vinh danh và mừng Thượng thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh tại NT Studio, trên đường Brookhurst, thành phố Westminster, California. Hôm ấy, trời thật đẹp! Những tia nắng vàng óng ánh, len lỏi qua những cành cây như để sưởi ấm vài chiếc lá khô còn sót lại trên cành. Trong một không gian lãng mạn của mùa thu, có lẽ không còn gì thú vị hơn khi được cùng bạn bè cùng thưởng thức những bài tình ca của một thời xa xưa…

    Tuy mới 12:30 trưa nhưng đã có khá đông thân hữu xếp hàng ngoài cửa. Nét vui tươi hiện rõ trên khuôn mặt từng người. Phía bên trong, ban tiếp tân cũng đã bắt đầu bận rộn tiếp đón khách vào chỗ ngồi. Đúng 1 trưa, Giáo sư Quyên Di và Xướng Ngôn viên Khoa Cát (đài truyền hình SAIGON TV, 57.5) chào đón Nhạc sĩ Tuấn Khanh, phu nhân và Nhạc sĩ Bùi Thiện cùng đi chung với ông.

    Khách tham dự gồm có sự hiện diện của của Nhạc sĩ Lê Văn Khoa, Nhà văn Mắt Nâu,  Nhà Thơ Việt Cường, Thi Sĩ Bích Ty, Ca Sĩ Chung Tử Lưu,  Ca sĩ/Bác Sĩ Vương Đức Hậu và cô Vương Minh Ngọc, Nhạc trưởng Bùi Quỳnh Giao (Ban hợp xướng Ngàn Khơi),  Ca Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, Nhà Văn Nguyễn Huy Quang, Nhà văn Dương Tử, Giáo sư/Nhà văn Dương Ngọc Sum, Nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Võ Ý, Nhà báo/Nhà văn Phạm Quốc Bảo,  Nhà văn Hạo Nhiên Trần Thế Ngữ, Nhà văn/Nhạc sĩ Dương Viết Điền,  Nhà văn Hà Nguyên  Du, Trương Thành Đức, Ông Nguyễn Lý Sáng (Cựu Hội trưởng Tây Ninh Đồng Hương Hội), Nhạc sĩ/Ca trưởng Hồng Trang (phu nhân Giáo sư Quyên Di), Tiến sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh và Tiến sĩ Nguyễn Kim (Washington D.C.), Bác sĩ/Ca sĩ Nguyễn Đức Cường, Bác sĩ/Ca sĩ Trương Đức Cường, Họa sĩ Lam Thủy, Hoạ sĩ Chính Mung, Ký Giả Uyên Vũ, Nhạc sĩ/Bác sĩ Mạc Vũ Phạm Gia Cổn và nhóm Hoàng Hạc Khí Công, nhóm Nghệ sĩ Hoa Mai Nga Lam (San Diego), Nhiếp ảnh gia Hòa Quân và rất nhiều vị khách quý nữa. Đặc biệt, còn có sự hiện của Nhà báo Phạm Kim (Báo Người Việt Tây Bắc, Seattle) từ Seattle đến.

    Sau phần chào Quốc Kỳ và một phút tưởng niệm, MC Nhật Uyên thay mặt Nhà văn Việt Hải và Liên Nhóm NVNT & TTG, giới thiệu về chủ trương và sinh hoạt, thành phần Ban tổ chức, cũng như gởi lời cám ơn đến các nhà bảo trợ và các mạnh thường quân đã hỗ trợ trong việc duy trì và bảo tồn những sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của hội. Chương trình được tiếp tục với MC Khánh Lan, giới thiệu về tiểu sử cũng như những sáng tác của Nhạc sĩ Tuấn Khanh.

    Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tên thật là Trần Trọng Ngọc, sinh năm 1933 tại Nam Định.  Năm 1950, ông về sống tại Hà Nội và học vĩ cầm với người anh cả.  Trong một bài phỏng vấn của phóng viên Đức Tuấn, tòa báo Người Việt, tháng Tư, năm  2013, Nhạc sĩ Tuấn Khanh đã tâm sự rằng,  “Người thầy đầu tiên dạy nhạc cho ông là ông Nguyễn Văn Diệp, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Nhạc sĩ Tuấn Khanh chuyển sang học nhạc với ba ông thầy người Pháp, cho nên chắc chắn những sáng tác của ông, không nhiều thì ít, đã chịu ảnh hưởng nền âm nhạc Tây Phương”.

    Năm 1953, ông giành giải nhất của đài phát thanh Quốc Gia về giọng hát.

    Ông sáng tác cả hai thể loại:  tình ca và những ca khúc mang âm hưởng nhạc tiền chiến.  Đôi khi, ông viết theo lời yêu cầu của nhà xuất bản mà ông gọi là “Nhạc Đại Chúng”‘ một loại nhạc rất thịnh hành và ăn khách thời ấy.  Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Thương Hoài Thương, điển hình là bài Lệ Tình, Tuy Anh Không Nói.  Trần Kim Phú qua sáng tác Vì lỡ thương nhau v.v… Ngoài việc viết nhạc, ông còn là ca sĩ với nghệ danh “Trần Ngọc”.

    Năm 1955, Nhạc sĩ Tuấn Khanh di cư vào miền Nam Việt Nam.  Tại Saigon, ông đàn cho đài phát thanh và ban Giao Hưởng của trường Quốc Gia Âm Nhạc. Nhạc phẩm đầu tay của ông là bài “Đò Ngang”, viết cùng với Nhạc sĩ Y Vân.

    Sau năm 1975, ông ngưng mọi sáng tác trong vòng 7 năm và chuyển sang nghề dạy học tại tư gia. Những lần vượt biên thất bại đã khiến ông vô cùng thất vọng, tưởng chừng mình không bao giờ có được cơ hội đặt chân lên miền đất tự do. Tuy nhiên, lần vượt biên sau cùng, ông đã thành công.

    Khi đến Hoa Kỳ, ông được một nhà thờ Tin Lành bảo lãnh và ông đã sáng tác cả trăm bài nhạc đạo cho xứ đạo này.  Sau sáu tháng sinh sống tại San Jose, trong một buổi nói chuyện, ông đã theo lời mời của NHẠC SĨ Phạm Duy, về sống tại miền nam California. Nơi đây, ông đã lấy lại nguồn cảm hứng và bắt đầu sáng tác lại.  Vào năm 2002, Trung tâm Thúy Nga mời ông cộng tác trong chương trình “Thúy Nga By Night 64:  Đêm Văn Nghệ Thính Phòng” với chủ đề vinh danh ba Nhạc sĩ:  Tuấn Khanh, Vũ Thành An và Từ Công Phụng.

    Nhạc sĩ Phạm Duy đã nhận xét về dòng nhạc của Nhạc sĩ Tuấn Khanh như sau: “Trong tất cả các nhạc sĩ, đã suốt một đời sáng tác cho quê hương Việt Nam, qua bao luân lạc,  Nhạc sĩ Tuấn Khanh là một nhạc sĩ đã nối tiếp con đường sáng tác nhạc tiền chiến và rất thành công”.

    Năm 1982, ông đinh cư tại thành phố Garden Grove, California. Tại đây, ông và gia đình mở một tiệm phở mang tên Hoa Soan Bên Thềm Cũ .

    Những sáng tác của Nhạc sĩ Tuấn Khanh đều được cả khán giả trong và ngoài nước trân trọng và yêu chuộng.  Ông đã sáng tác hơn một trăm nhạc phẩm. Những nhạc phẩm được lưu truyền qua nhiều thế hệ, phải nhắc đến là:  Hoa Soan Bên Thềm Cũ,  Chiếc Lá Cuối Cùng, Dưới Giàn Hoa Cũ, Quán Nửa Khuya, Nhạt nhòa,  Nỗi Niềm, Một Chiều Đông,  Kiếp Sầu Đau, Chiều Biên Khu, Tại Vắng Anh, Kiếp Sau, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, Nẻo Đường Kỷ Niệm… là những bài nổi tiếng. Ông tâm sự, phần lớn mỗi bản nhạc ông sáng tác đều mang một niềm tâm sự và phát xuất từ những cảm xúc có thật của ông.  Chẳng hạn, nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” là nhạc phẩm kể lại chuyện tình ngang trái của chính ông. Cũng thế, nhạc phẩm “Nhạt Nhòa” là sáng tác của ngày chia tay người yêu trong một hoàn cảnh gần như chạy trốn, vội vã và chan hòa nước mắt.  Ông cho biết ý nhạc của bài hát này đã đến với ông, ông đã ôm ấp và nuôi dưỡng nó trong tim mình trong suốt năm ngày lênh đênh trên biển cả…

    Chương trình văn nghệ do Giáo sư  Quyên Di và nhóm âm nhạc của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian phụ trách.  Mở đầu chương trình, ban tam ca “Lâm Dung, Ngọc

    Quỳnh, Ái Liên” đã trình bày nhạc phẩm bất hủ của Nhạc sĩ Tuấn Khanh “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”.  Sau đó là phần trình bày của Bác sĩ/Nhạc sĩ Vương Đức Hậu. Đặc biệt, phần trình diễn nhạc phẩm “Dưới Giàn Hoa Cũ” của Ca sĩ Chung Tử Lưu với sự phụ diễn của nhóm vũ Tiếng Thời Gian (Khánh Lan, Thanh Châu)… đã khiến cho chương trình tăng thêm phần sinh động và hào hứng. Chương trình nối tiếp với những nhạc phẩm nổi tiếng như:  Nhạt Nhòa, Quán Nửa Khuya, Một Chiều Đông, Chiều Biên Khu, Nỗi Niềm, Nẻo Đường Kỷ Niệm v.v….

    Trong suốt thời gian 3 tiếng rưỡi, hội trường NT Studio chìm trong mê đắm. Mọi người để hết tâm hồn theo dòng nhạc, thưởng thức những khúc nhạc vàng và lắng nghe những lời chia sẻ của Nhạc sĩ Tuấn Khanh, về những cảm xúc của ông qua từng sáng tác, từng giai đoạn và những biến chuyển xảy đến cho ông, theo dòng thời gian. Dưới sân khấu, Nhạc sĩ Tuấn Khanh ngồi yên lặng, hai tay ôm tấm “plaque” mà Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thới Gian trao tặng ông, chăm chú theo dõi phần trình diễn. Mặt ông tươi sáng với nụ cười mãn nguyện luôn nở trên môi. Thỉnh thoảng, vài giọt nước mắt lăn dài trên má nhưng ông vẫn thản nhiên, không che dấu những giọt lệ hạnh phúc.

    Trước khi kết thúc chương trình, Nhạc sĩ Tuấn Khanh phát biểu cảm nghĩ của ông về buổi Vinh Danh và Chúc Thọ. Giọng ông nghẹn lại vì xúc động: “Còn gì hạnh phúc cho bằng, đến cuối đời, tôi được mọi người nghĩ đến và cho tôi một buổi chiều vui như hôm nay. Tôi không biết nói gì hơn”.

    Bế mạc chương trình là phần cắt bánh Vinh Danh và Chúc Thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh. Chương trình kết thúc lúc 5:00 chiều. Bài “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” được ban hợp ca Tiếng Thời Gian và thân hữu cùng hát lại lần thứ hai, rồi lại lần thứ ba, để tiễn ông ra về…

    Ca sĩ Bùi Thiện kể lại: trên đường về, Nhạc sĩ Tuấn Khanh không ngừng nói về những cảm xúc của ông. Ông rất cảm động về chân tình của Giáo sư Quyên Di và Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian vì ông đã có một buổi vinh danh và mừng sinh nhật thật hạnh phúc, khó quên.

    2:07 sáng ngày 26, tháng 11, 2019

    Khánh Lan

  • Văn Thơ

    Thi ca Cung Trầm Tưởng càng mang sắc thái triết học và tôn giáo

    Hình như càng về sau, thơ Cung Trầm Tưởng càng mang sắc thái triết học và tôn giáo. Đọc thi tập Bốn “Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định,” người ta thấy rõ điều ấy.

    Bài thơ “Một Người Bầu Trời Chiếc Lá và Dòng Sông” nằm trong thi tập Bốn là một thí dụ điển hình.

    Trước hết là một cái nhìn về vũ trụ quan.

    Bầu Trời là Thiên mà Dòng Sông là Địa. Chiếc Lá là tượng trưng của vạn vật. Còn Người là “nhân linh ư vạn vật.” Một tựa đề thôi cũng đủ vẽ ra bối cảnh của đại vũ trụ mà trong đó Người là tiểu vũ trụ.

    Triết học nhị nguyên phân biệt phần hồn và phần xác, tâm linh và nhục thể, trắng và đen, tốt và xấu. Người là TÔI và Chiếc Lá cũng là TÔI. Một TÔI tâm linh từ trên cao nhìn xuống và một TÔI nhục thể gian nan trên dòng đời như chiếc lá trôi sông. Ở đây dòng sông cũng chính là dòng đời. Chính cái dòng đời ấy thoáng cho người ta thấy hai bến sông: bến mê và bến giác theo Phật giáo.

    “Một người soi bóng xế mùa xuân,
    Nhìn lá trôi sông luống tần ngần.
    Hỏi người dưới có phong ba lắm?
    Thế sự trên này còn vướng chân.”

    Điều thê thảm của con người là hai mảnh “tâm linh” và “nhục thể” kiếm tìm nhau mà không gặp được nhau, không ráp lại “hai thành một.” Và, điều bi thảm tột cùng của Người (tiểu vũ trụ) là không tìm được và hoà nhập được với Đại vũ trụ (cũng được hiểu là Đấng Sáng Tạo – Creator.) Đó chính là hoả ngục.

    “Tôi bỏ dòng sông đi choáng váng,
    Mất người bản rập hoá bơ vơ.”

    Trong bài thơ “Một Người Bầu Trời Chiếc Lá và Dòng Sông,” người đọc cảm nhận triết học Phật giáo: tự giác ngộ để tự cứu mình. Chính vì thế, con nhà Phật dựa vào hùng lực và tuệ giác. Chớ ai nói Phật giáo là đạo chán đời, yếm thế. Bởi vậy, để tự giác ngộ, con người phải trải qua biết bao lần quán chiếu (nhìn thật sâu vào mình, soi rọi chính Tâm của mình để hiểu nó từ chính bản thân mình):

    “Thân xác tôi da liền thịt gắn,
    Hình bóng người tôi kiếm triền miên.”

    Khác biệt lớn lao nhất giữa triết học Phật giáo và thần học Ki-tô giáo là Ơn Cứu Chuộc. Trong khi Phật giáo chủ trương “chỉ chính tôi mới cứu được tôi” thì Ki-tô giáo cho rằng tôi vốn tội lỗi và yếu hèn, không thể tự tôi cứu tôi nên tôi cần một đấng Cứu Thế. Và vì yêu thương tôi (cũng như yêu thương toàn thể nhân loại,) Thiên Chúa Ngôi Hai đã xuống thế làm người, chịu khổ nạn, chịu chết để cứu chuộc tôi. Ngài là đấng Cứu Thế.

    Với nền thần học ấy thì trong bài thơ này, “Người” chính là Ngôi Hai Thiên Chúa, đấng tự xưng là Con Người (Son of Man.) Con người đang đi tìm Tôi (Chiếc Lá) để cứu chuộc tôi. Còn tôi thì cố gắng vươn lên tới gần Ngài, cho đến khi Hai thành Một. Phao-lô nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20).

    Thế thì, với triết học Phật giáo, tôi tự giác, TÔI biết TÔI, LÁ và NGƯỜI là một. Tôi xin tặng Cung thi sĩ mấy câu thơ:

    “Lá một hôm kia vèo trong gió,
    Rời bỏ dòng sông kiếm bầu trời.
    Thanh sắc mau phai hay buồn ủ, (1)
    Cũng là TÔI cả, cũng là TÔI.”

    Còn với thần học Công giáo, Chúa Ki-tô chịu đóng đinh, chịu chết, xuống ngục tổ tông an ủi các thánh tổ tông rồi sau đó Phục sinh. Là môn đệ Đức Ki-tô, tôi cũng đi theo con đường Thầy đi. Tôi lại tặng Cung thi sĩ mấy câu thơ:

    “Câu-rút thân tôi chịu đóng đinh, (2)
    Lâm-bô thăm viếng để phục sinh. (3)
    Nhị nguyên hai nét nay chập một,
    Để mãi TÔI là TÔI hiển linh.

    (1) Cung Trầm Tưởng viết trong bài thơ này: “Ngày vui thanh sắc mau phai rụng, phút buồn ủ lại mãi màu tro.”
    (2) Câu-rút: phiên âm chữ “cruz” trong tiếng Bồ Đào Nha, có nghĩa là cây thập tự.
    (3) Lâm-bô: “Limbo” trong thần học của Giáo hội Công giáo (Latin: limbus) là một ý tưởng sơ khai về tình trạng thế giới bên kia của những người chết.

    Giáo sư Quyên Di

  • Tin tức

    ‘Their War,’ trả lại công bằng và danh dự cho người lính VNCH

    Ba mươi phút hội luận giới thiệu cuốn “Their War” của tác giả Julie Phạm vừa diễn ra vào chiều Chủ Nhật, 10 Tháng Mười Một, 2019, tại Langston Hughes Performing Arts Theater, Seattle, tiểu bang Washington.

    “Their War” là cuốn sách tóm tắt bằng Anh Ngữ về đề tài chiến tranh Việt Nam mà Julie Phạm được chấm ưu hạng ra bậc cử nhân sử tại UC Berkeley năm 2001, để nhận được học bổng tiến sĩ sử tại Đại Học Cambridge, Anh Quốc, năm 2008. Tháng Bảy vừa qua, cuốn “Their War” được Amazon in và phát hành.

    Với cuốn sách này, cô Julie Phạm nói về cuộc chiến tranh ấy và giương danh cuộc chiến đấu hào hùng của người lính VNCH.

    Chương trình giới thiệu sách được minh họa bằng những ca khúc xoay quanh chủ đề cuộc chiến tranh Việt Nam đã thu hút đông đảo các đối tượng khách tham dự: Khách nói tiếng Anh gồm người bản xứ, nhiều bạn trẻ người Mỹ gốc Việt và các sắc dân Á Châu khác. Khách nói tiếng Việt gồm đồng hương người Việt và các cựu chiến binh Việt Nam.

    Nhà văn/Giáo Sư Quyên Di, từ California sang, là người điều hợp tổng quát chương trình. Nhà văn Phạm Quốc Bảo, nguyên chủ bút nhật báo Người Việt ở California, là người đặt câu hỏi xoay quanh nội dung tác phẩm. Và cô Julie Phạm, tác giả “Their War,” trả lời các câu hỏi.

    Từ trái, tác giả Julie Phạm, nhà văn Phạm Quốc Bảo, và Giáo Sư Quyên Di. (Hình: Người Việt Tây Bắc)

    Cách đặt câu hỏi khéo léo và các câu trả lời thẳng thắn của tác giả tập sách được khán giả theo dõi với nhiều hứng thú và cũng làm sáng tỏ thêm về ý nghĩa, nội dung tác phẩm.

    Tác giả “Their War” cho biết, tác phẩm trình bày trung thực nội dung của 40 cuộc phỏng vấn, trò chuyện với các cựu chiến binh đủ mọi cấp bậc đủ mọi binh chủng của miền Nam Việt Nam, họ từng tham dự nhiều trận chiến trên khắp các chiến trường. Vì thế, không có việc xét đoán đúng sai, phải trái hoặc biện minh cách này cách khác cho cuộc chiến ấy. Tất cả họ thực sự có cơ hội lên tiếng và trực tiếp thể hiện lên tiếng nói của họ về “Cuộc Chiến Của Họ,” như tên gọi của tác phẩm.

    Trả lời câu hỏi về sự quay lưng của đồng minh lớn Hoa Kỳ dẫn đến việc kết thúc chiến tranh Việt Nam mà miền Bắc là “bên thắng cuộc,” tác giả “Their War” cho biết cô ghi nhận nguời Mỹ “loại bỏ” VNCH đến hai lần. Lần đầu, họ cam kết không bỏ rơi miền Nam nhưng rồi lần lượt rút quân về nước, cắt đứt mọi viện trợ và không một phản ứng nào khi Bắc Việt xé bỏ hiệp định chấm dứt chiến tranh năm 1973 để tiến chiếm miền Nam. Lần thứ hai, qua việc giới truyền thông Hoa Kỳ không nhắc nhở gì đến quân đội VNCH hoặc rất mờ nhạt như thể đấy là cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt chứ quân đội miền Nam thì vắng mặt.

    Với tập sách “Their War” ấy, Julie Phạm muốn trả lại sự công bằng và danh dự cho người lính VNCH, trả lại tính trung thực và sự thật cho lịch sử và cũng trả lại niềm hãnh diện, nỗi tự hào cho thế hệ trẻ người Việt một khi các cháu hiểu được, hiểu rõ và hiểu đúng về cuộc chiến tranh Việt Nam và cuộc chiến đấu anh dũng của người lính miền Nam thế hệ cha ông mình.

    Julie Phạm không phải là người đầu tiên làm công việc ấy, thế nhưng cô là một trong số rất ít những người trẻ, rất trẻ đã làm công việc ấy; và hơn thế nữa, đã đi vào dòng chính qua tác phẩm bằng Anh Ngữ để thêm sức phổ biến và ảnh hưởng nhiều đối tượng người đọc.

    Lặng lẽ với niềm đau chôn dấu

    Julie Phạm, cô không nói nhiều về những việc mình làm; thế nhưng, có một câu nói của cô đã thực sự làm nhiều người cảm động. Cô nói rằng, “Việc làm này đã mang tôi lại gần bố tôi hơn, đã cho tôi hiểu được bố tôi hơn, và càng yêu bố hơn.”

    Giờ đây cô đã hiểu được bố mình hơn, một ông bố vốn chỉ sống lặng lẽ trên quê hương thứ hai của người Việt tị nạn. Và, cô cũng hiểu được những người bạn của bố mình hơn, là những đồng đội, những chiến hữu xưa từng chiến đấu bên nhau. Những người lính năm xưa ấy, một số đã lìa đời, một số tóc đã điểm sương hay đã bạc trắng mái đầu, vẫn đang sống lặng lẽ (niềm đau chôn dấu) ở quanh đây.

    Những người cựu chiến binh ấy, và những hy sinh thầm lặng ấy sẽ không bao giờ bị quên lãng.

    Trong ý nghĩa đó, những tác phẩm, những cuốn sách mang đến cho người đọc những nhận thức đúng đắn về cuộc chiến tranh Việt Nam và về cuộc chiến đấu can trường của người lính VNCH, như tập sách “Their War” của tác giả Julie Phạm, vẫn luôn được đón nhận với lòng trân trọng.

     (Lê Hữu)


    Cùng ngày, chương trình đặc biệt này cũng đánh dấu 34 năm ngày thành lập tuần báo Người Việt Tây Bắc, tờ báo tiếng Việt của cộng đồng người Việt có bề dày hoạt động lâu năm nhất tại tiểu bang Washington. Có đến trên dưới 400 khách đến với chương trình.