-
Chiều Thơ Nhạc Dương Thiệu Tước & Dương Hồng Anh
Chiều Thơ Nhạc Dương Thiệu Tước và Dương Hồng Anh được tổ chức trang trọng tại phòng hội văn nghệ NT Studio, Westminster, để tưởng nhớ vị nhạc sĩ tài ba Dương Thiệu Tước, đồng thời để vinh danh và mừng thọ 90 niên kỷ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, người em của GS. Dương Thiệu Tước. Cả hai đều thuộc gia tộc danh giá Dương Khuê và Dương Lâm. Nhân dịp này Tiến Sĩ Trần Huy Bích, vị giáo sư cố vấn thi ca văn học cho nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật sẽ giới thiệu thi tập mới toanh thứ 6 của Hồng Anh nữ sĩ, được ra mắt đồng hương tại Nam California. Một hứa hẹn thi ca văn học, với sự góp mặt của ngâm sĩ Bích Ty Chi Bảo, người cộng tác trong chương trình Thi Văn Tao Đàn của Đinh Hùng – Thanh Nam (trước năm 1975) sẽ diễn ngâm thơ mới của Thi sĩ Dương Hồng Anh. Ngoài ra, Nhạc sĩ Võ Tá Hân, nhạc sĩ sáng tác và là một cầm thủ kiệt xuất về Tây Ban Cầm Cổ Điển, cũng là môn đệ “cục cưng” của GS. Dương Thiệu Tước tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn (1962-67); sẽ tâm tình về những kỷ niệm về Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và trình bày ngón đàn Tây Ban Cầm góp vui cho chương trình. Chương trình âm nhạc đặc sắc do nhóm âm nhạc Tiếng Thòi Gian, hướng dẫn bởi Ca nhạc sĩ Christina Lâm Dung giới thiệu những ca khúc vượt thời gian của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Ban nhạc phụ trách phần âm nhạc cho chương trình là hai nhạc sĩ Quốc Sĩ – Duy Nhật. Emcees: Bích Trâm, Ngô Thiện Đức và Nhật Uyên.
Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thòi Gian xin kính mời quý đồng hương thân thương hãy đến với Chương trình Chiều Thơ Nhạc Dương Thiệu Tước và Dương Hồng Anh. Vào Cửa Tự Do *.
Trân Trọng Kính Mời.
Ban Tổ Chức: Lâm Dung, Khánh Lan, Mộng Thủy, Bích Ty. Minh Châu, Mai Hương, Nhật Uyên, Bích Trâm, Trần Mạnh Chi, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Phước Hồng, Ngô Thiện Đức, Henry CSUF và ThụyVy.* Có thức ăn nhẹ (light refreshment).
———————————————————————————-
Thi Ca Dương Hồng Anh.Cô em Minh Châu, tức nhà thơ Vương Ngọc Châu, ghé thăm nữ thi sĩ Dương Hồng Anh. Sau đó tôi mới biết Hồng Anh nữ sĩ có gửi tôi 4 thi tập là Tiếng Thầm, Tình Thu, Vương Vấn Hồn Quê và Sợi Nhớ Sợi Thương. Xem phần tiểu sử của tác giả ở trang bìa sau các sách thì nhà thơ Dương Hồng Anh mang tên tộc là Dương Nguyệt Anh, tên hiệu là Dương Hồng Anh. Điều nổi bật bà chính là cháu nội của thi sĩ nổi tiếng Dương Khuê. Vậy Dương Khuê là ai ?
Tôi xin ghi rõ về cụ Nội tổ của nhà thơ Dương Hồng Anh. Vì nhiều thân hữu thế hệ sau 1975 có thể cần chi tiết này. Đây là đôi nét…
Dương Khuê (楊奎, 1839-1902), tự: Giới Nhu, hiệu Vân Trì, là quan nhà Nguyễn, và là nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ 19. Ông là người ở làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình Nho gia vọng tộc. Ông là con cả Đô ngự sử Dương Quang, và là anh ruột của danh sĩ Dương Lâm (1851–1920). Dương Lâm làm quan, từng giữ chức Phó Tổng tài Quốc sử quán nhà Nguyễn, Chủ bút báo Đồng Văn… Về sau ông xin cáo quan về mở trường dạy học tại quê nhà. Ông là người tao nhã, yêu nước, có tài văn chương, và là một nhà giáo rất giỏi. Trong số các cháu nội của hai ông (Dương Khuê và Dương Lâm), có những người nổi tiếng như: nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Giáo sư-Tiến sĩ Dương Thiệu Tống, nhà thơ Dương Tuyết Lan, nhà khoa học Dương Nguyệt Ánh, nhạc sĩ Dương Thụ, nhạc sĩ kiêm thi sĩ Dương Hồng Kỳ, bác sĩ ngành tim mạch Dương Hồng Tạo,…
oOo
Trở lại với danh tài Dương Khuê là người văn hay, chữ tốt. Năm 1864, ông đỗ Cử nhân (cùng khoa này có Nguyễn Khuyến đỗ Giải nguyên). Năm Mậu Thìn (1868), thời vua Tự Đức, ông dự thi Đình đỗ Tiến sĩ. Đường hoạn lộ, thuở ban đầu, Dương Khuê được bổ làm Tri phủ Bình Giang (Hải Dương), rồi thăng làm Bố chính. Vào đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ 19, tay lái buôn Jean Dupuis uy hiếp các quan chức người Việt ở Bắc Kỳ để tự do sử dụng sông Hồng, ông ở trong nhóm những sĩ phu cương quyết chống lại. Ông dâng sớ về triều xin có thái độ quyết liệt với người Pháp, bị vua Tự Đức phê là “bất thức thời vụ” (không biết thời cuộc), rồi bị giáng xuống chức Chính sứ sơn phòng lo việc khai hoang. Năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất. Sau khi thương thuyết, họ chịu trả lại bốn thành cho triều đình Huế, thì Dương Khuê được điều động làm Án sát Hải Phòng. Năm 1878, nhân lễ “ngũ tuần khánh thọ ” của mình, vua Tự Đức xuống chỉ cho ông làm Đốc học Nam Định. Sau đó, ông lần lượt trải các chức vụ quan hành chính như: Bố chính, Tham tá Nha kinh lược Bắc Kỳ, Tổng đốc Nam Định-Ninh Bình. Năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer xóa bỏ điều 7 của Hòa ước Giáp Thân 1884, đặt cơ sở cho guồng máy cai trị của Chính phủ bảo hộ, thì Dương Khuê xin cáo quan, lúc 58 tuổi, được tặng hàm Thượng thư bộ Binh.
Khi ông mất (ngày 6 tháng 3 năm Nhâm Dần, 1902), nghe tin buồn bạn thân ra đi, Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ bất hủ Khóc Bạn (Khóc Dương Khuê) khi tang viếng. Bài thơ được vào văn học sử. Bài thơ có thể xem đây cũng là một bài văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy lệ lòng, gồm có 38 câu thơ. Mở đầu bài thơ là một tiếng than thở xót xa bùi ngùi:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) khóc bạn cũng là tự khóc mình, giọng thơ u uẩn thiết tha. Ông trách bạn “vội đi xa” để mình lẻ loi, cô đơn. Cuộc sống trở nên chán chường, vô nghĩa:, nhất là 2 câu sau rất phổ thông ở các bàn tiệc sau này:
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.Khóc Dương Khuê (1839-1902) cho thấy một tình bạn đẹp và cảm động của giới nho gia thuở trước. Sau hơn một thế kỷ, chúng ta vẫn thấy nỗi bùi ngùi xúc động khi đọc bài thơ này. Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng là khóc cho một thế hệ nhà nho và cũng là tự khóc cho minh: “Ai chẳng biết chán đời là phải”…
Tác phẩm của Dương Khuê để lại có một số bài ca trù, bài văn, câu đối, trướng… Có lẽ nên đề cập bài Hồng Hồng, Tuyết, Tuyết,… bài ca trù nghe thanh thoát, bông đùa, dí dỏm và hóm hỉnh.
Giới thiệu một bài ca trù dưới đây là bài ca trù tiêu biểu và nổi tiếng của Dương Khuê:
Gặp lại cô đầu cũ
Hồng Hồng, Tuyết, Tuyết,
Mới ngày nào chửa biết cái chi chi.
Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì!
Ngoảnh mặt lại, đã tới kỳ tơ liễu.
Ngã lãng du thời, quân thượng thiếu,
Kim quân hứa giá, ngã thành ông
Cười cười nói nói thẹn thùng,
Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại.
Riêng một thú Thanh Sơn đi lại,
Khéo ngây ngây dại dại với tình.
Đàn ai một tiếng dương tranh…
Hà Nội tức cảnh
Phất phơ ngọn trúc trăng tà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Tiếng chày An Thái, mặt gương Tây Hồ.
bài thơ này nằm trong cuốn Vân Trì thi thảo.Dương Hồng Anh làm thơ ở tuổi rất sớm, bà tập tểnh làm thơ năm 16 tuổi (năm 1947), nhưng cho ra thi tập đầu tay Hương Mùa Chinh Chiến vào năm 1952 tại Hà Nội. Dương tác giả cho thơ ở nhiều đề tài, nhiều phạm vi như thơ về quê hương, tuổi học trò, thơ thiền, xã hội, chiến tranh, về gia đình, tôn giáo, tình yêu, về thiên nhiên,… Xem qua 4 thi tập của bà là Tiếng Thầm, Tình Thu, Vương Vấn Hồn Quê và Sợi Nhớ Sợi Thương thí sách được trình bày rất trang nhã. Thi tập Tiếng Thầm gồm có 67 bài thơ, Tình Thu 81 bài, Vương Vấn Hồn Quê có 84 bài và Sợi Nhớ Sợi Thương gồm 86 bài thơ.
Thi tập Tiếng Thầm ở trang 1, bài sáng tác năm 2013 mang trùng tên Tiếng Thầm xa quê hương gần 40 năm nỗi nhớ quê hương vẫn vấn vương tâm thức, tác giả cho những lời thơ mênh mang nỗi nhớ thẫn thờ bước chân nơi quê người…
Chiều về nhớ phố Bolsa
Đi tìm chút nắng quê nhà năm xưa
…
Thời gian trắng biển sương mù
Hiên khuya gọi gió về ru tiếng thầm.Trong bài điểm thi tập qua bài viết Sau Năm Năm, nhà văn Bùi Bích Hà đã nhận xét về nhà thơ Dương Hồng Anh và thi ca của Hồng Anh nữ sĩ, xin trích đoạn như sau:
“Năm 2012, tôi được bà gửi tặng cuốn thơ “Chiều Bến Đợi,” thi tập thứ ba sau tác phẩm đầu tay “Hương Mùa Chinh Chiến” xuất bản tại Hà Nội năm 1952, viết chung với ba nhà thơ nữ đương thời; sau tác phẩm thứ hai “Từ Phương Trời Xa,” xuất bản tại Hoa Kỳ, California, năm 2010, là cuốn mở màn cho chuỗi sáng tác phong phú, liên tục mỗi năm tiếp theo cho tới cuốn mới nhất, ra mắt khách yêu thơ mùa Thu năm 2017…. Sau năm năm, nhìn lại nhau, bà đi với bước chân cẩn trọng hơn, nhưng dáng dấp và nụ cười trên môi bà không già thêm. Vẫn ánh nhìn đằm thắm. Vẫn nụ cười không thành tiếng mà nghe như có ai khúc khích. Vẫn bàn tay rụt rè muốn nói điều gì nhưng chừng như e ngại. Bà tặng tôi cuốn thơ thứ tám, “Tình Thu,” gồm 81 bài thơ nhiều thể loại, dàn trải trên 134 trang giấy màu ngà thanh nhã, là món quà đón Xuân nhiều ý nghĩa, nhiều hương vị mà cả người nhận lẫn người cho cùng chia nhau niềm vui:
Vui đón Xuân về ta chúc nhau
Thơ còn hẹn mãi với mai sau
Run tay ngọn bút không ngừng chảy
Có nghĩa là ta sống rất giàu
…”
Người viết nhớ rằng thi sĩ Hà Huyền Chi cho là “Thơ là đỉnh cao nhất của văn chương”. Còn theo nhà thơ Alfred de Musset cho rằng thơ là nỗi cảm xúc với luận điểm nổi tiếng: “Hãy đập vào trái tim, thiên tài là ở đó!” thì thi sĩ Paul Valéry lại cho “Thơ là ngày hội tưng bừng của trí tuệ”. Những ý kiến khác như thi sĩ Hà Nguyên Du thì: “Thơ là nghệ thuật sắp xếp ngôn từ phát xuất từ nội tâm”. Nhà thơ Dương Tử quan niệm: “Thơ là một hình thức ngôn ngữ khơi mào do trí tưởng tượng sáng tạo ra một tác phẩm văn chương”,,… suy luận qua nhiều trang thơ trong những thi tập của thi nhân Dương Hồng Anh đã minh chứng những tư tưởng nêu trên.Gặp nhau vui vẻ quá
Ta lại về với thơ
Trời xanh, xanh tươi lá
Nghe em kể truyện xưa
…
Những vần thơ chung thủy
Dệt mộng với thời gian
Thơ ơi! hoa vẫn nở
Hoa thơ nở ngút ngàn
(Đôi dòng với thơ, Dương Hồng Anh, Tiếng Thầm trang 28-29)Nếu tuyên ngôn về thi ca của người thi sĩ nói rằng thơ là sự tự phát khởi ra từ con tim, ta hãy đọc hai tư tưởng khác của hai nhà thơ Mỹ như sau: “Thi ca là một cách hay để thể hiện nỗi xúc cảm như vui, buồn, giận dữ, lo lắng. Đó cũng là một cách mà chúng tôi chia sẻ với những người khác, để giúp họ với những cảm xúc đó.”. (thi sĩ Mattie Stepanek).
Và ý tưởng nét thẩm mỹ của thơ được xác định theo nhà thơ Edgar Allan Poe: “Tóm lại, tôi sẽ định nghĩa thơ ca là sự sáng tạo nhịp nhàng của Cái đẹp”. Đọc Dương Hồng Anh, thi ca của bà dù ở cuối mùa niên kỷ hay trong thời gian hay không gian của ánh hoàng hôn tuổi đời vẫn cho thi nhân nỗi mộng mơ, trăn trở đắm say như những dòng thơ sau minh chứng:
Thơ tôi là những hao gầy
Những đêm trăn trở, những ngày vẩn vơ
Nhìn đời nửa thực nửa mơ
Nghiêng tay mực gió văn thơ cuối mùa.
(bài Thơ Tôi, Tình Thu trang 78)Trong thi tập “Sợi Nhớ Sợi Thương” nơi trang 28, bài đoản thơ 4 dòng Ta Còn Để Lại Gì Đây, thơ cho thấy chất triết lý thiền tính nhìn về thiên nhiên hữu cảnh.
Ta còn để lại gì đây
Phù du một thoáng đong đầy sắc không
Thuyền từ nhẹ bước thong dong
Hoa Ưu Đàm nở ngát dòng sông xanh.Những câu thơ trên cho thấy nghệ thuật phô diễn thể sáu tám. Trần Trọng Kim gọi thơ là nghệ thuật, là dùng lời nói tao nhã để biểu diễn tình ý ra cho đẹp, tư tưởng ra cho hay, và có thể ngâm nga được.. Khi nói về thơ, mỗi thi sĩ thường có những nhận xét khác nhau. Tuân Tử nói: Thi dĩ ngôn chí, dùng thơ để nói lên cái chí hướng của mình. Xuân Diệu gọi thi sĩ nghĩa là ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây. “Cõi thơ là cõi bồng phiêu” (Bùi Giáng). “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” (Roman Jakobson). Và “Làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ” (Chế Lan Viên ).
Thơ là nghệ thuật lấy âm thanh hay hình ảnh chất chứa trong đó. Hãy xét trường hợp thi ca Dương Hồng Anh, cũng trong thi tập “Sợi Nhớ Sợi Thương” trang 20, thi nhân cho thêm một đoản thi như sau:Thu đi thả lá đầy sân
Cho hồn tôi cứ bâng khuâng tháng ngày
Tìm về sông núi đâu đây
Bước tha hương trải sầu mây mấy mùa.Ngôn ngữ thi ca phản ảnh sự phong phú của ngôn ngữ của tác giả khi sử dung thi từ, thật vậy thi ca Dương Hồng Anh khéo léo chắt lọc tinh túy của ngôn ngữ bà chắt chiu từng con chữ sử dụng. Điều này cho thấy sự chắt chiu ý tưởng trong nét sáng tạo thi ca của nhà thơ, và bà đã khám phá và sáng tạo ra những nét bóng bẩy của ngôn ngữ thơ, vườn thi ca nhiều thêm mỗi ngày như vậy của nhiều nhà thơ, từ đó góp phần làm giàu có ngôn ngữ trong văn học và đời sống. Ví dụ ý tưởng “Thu đi thả lá đầy sân” cho ta sự liên tưởng thi ca qua hình ảnh, những biểu tượng của thơ được tạo nên từ thị giác khiến ngôn ngữ thi ca không chỉ kích thích trí tưởng tượng của con người, nó còn khiến con người vững tin rằng ngoài những hình ảnh thế giới thiên nhiên bao la mà mình thấy được, cảm nhận được, còn những hình ảnh mà mình nghiệm thấy trong trí não.
Xin xem bài thi ca khác mà tác giả gửi gấm về quê hương, bài “Xin Gửi Quê Hương Một Tấm Lòng”, trích đoạn thi ca Dương Hồng Anh:
Xin gửi quê hương một tấm lòng
Ca li nhớ mãi nắng Sài Gòn
Tình thơ dào dạt bao đêm vắng
Hoa lá bên trời có biết không
….
Xin gửi quê hương khúc nhạc chiều
Bao la tâm sự nhớ quê nghèo
Việt Nam ơi những gì chưa nói
Vương hồn thơ – thương nhớ nhiều.
(thi tập Vương Vấn Hồn Quê, trang 79)Ngẫm nghĩ về ngôn ngữ thi ca của Dương thi nhân còn nhiều bài hay như ví dụ khuôn mẫu thi ca cho các trường học dạy chữ Việt. Qua những trích dẫn tiêu biểu về ngôn ngữ thi ca Dương Hồng Anh, mong rằng Dương nữ sĩ sẽ tiếp tục cho ra nhiều áng thơ hay trong sự dự định thực hiện nhiều sách in sắp tới. Do vậy thì bài viết này người viết đã có được dịp khám phá ra nét tinh khôi của giá trị của ngôn ngữ thi ca và những ý tưởng về thi ca thật diễm tuyệt của một nữ sĩ có hơn 70 năm sinh hoạt thi ca (1947- 2019). Trong ngôn ngữ của đời sống, thơ là những dòng chữ đi từ con tim đến khối óc. Nếu con tim rung động thì trí óc sắp xếp sự sáng tạo chữ nghĩa, đó là ý tưởng của nhà thơ. Xin vinh hạnh giới thiệu thi sĩ: Dương Hồng Anh.
Trần Việt Hải, Los Angeles, ngày 20 tháng 10, năm 2019.
Links: https://www.facebook.com/namhai.tran.75839/…/408109510089209
Dương Thiệu Tước và… Ngọc Lan (Quỳnh Giao):
https://thanhthuy.me/…/duong-thieu-tuoc-va-ngoc-lan-quynh-…/Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước: Gửi hồn dân tộc trên âm điệu phương Tây:
https://nhacxua.vn/nhac-si-duong-thieu-tuoc-gui-hon-dan-to…/Nguyệt San Cỏ Thơm: Đôi Nét Về Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước:
http://cothommagazine.com/index.php…Những Ca Khúc Vượt Thời Gian của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước:
https://dotchuoinon.com/…/tan-nhac-vn-ca-khuc-vuot-thoi-gi…/ -
Hồi Ký về gia đình Nguyễn Tường
Nguyễn Thị Thế
(trích)
…
Anh cả tôi tên Thụy, hồi có thai anh, mẹ tôi nằm mơ thấy có người đem đến cho một viên ngọc, nếu đặt tên Ngọc có vẻ con gái quá nên đặt là Thụy vì chữ Thụy có ẩn chữ Ngọc. Anh thứ hai tên Cẩm, thứ ba là Tam, anh thứ tư là Long, tôi thứ năm tên Thế, em thứ sáu tên Vinh, em thứ bẩy tên Bách. Thật sự tên anh em tôi không phải ngay từ lúc đầu đã đặt theo bộ chữ THỤY CẨM TAM LONG VINH BÁCH THẾ (Ba con rồng bằng gấm đẹp vinh hiển muôn đời) như một vài cuốn sách đã viết và coi như sự nổi tiếng của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam là tiền định.
Ba anh tôi tên đã được đặt từ trước là Thụy, Cẩm, Tam, anh Tư tôi (Hoàng Đạo) đáng lẽ là Tứ nhưng có người bạn của thầy tôi là Tứ nên mới đặt là Tư và tôi là Năm. Rồi tới em Sáu (Thạch Lam) và em út là Bẩy. Sau này vì anh tư tôi không đủ tuổi đi thi anh mới đổi là Long. Còn tên tôi, em Sáu và em Bẩy là do anh TAM đổi nhân dịp em Sáu cũng vì lý do đổi tuổi để đi thi. Như vậy tuổi khai sinh của anh em nhà tôi không hoàn toàn đúng với tuổi thật. Năm đó tôi nhớ anh Tam đã viết “NHO PHONG” và tôi khoảng 14, 15 tuổi, bấy giờ anh Tam mới nghĩ tới việc đặt tên anh em chúng tôi theo bộ chữ trên. Tôi là con gái nên lấy chữ cuối. Thứ tự gia đình tôi theo đúng tuổi là anh Cả NGUYỄN TƯỜNG THỤY sau này làm Tổng giám đốc bưu điện sinh năm Quý Mão (1903), anh Hai NGUYỄN TƯỜNG CẨM, kỹ sư canh nông, Giám đốc báo NGÀY NAY sinh năm Giáp Thìn (1904), anh Tam NGUYỄN TƯỜNG TAM, Nhất Linh, Nhị Linh chủ trương TỰ LỰC VĂN ĐOÀN sinh năm Bính Ngọ (1905), anh Tư NGUYỄN TƯỜNG LONG, Tứ Ly, Hoàng Đạo trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh năm Đinh Mùi (1907), tôi NGUYỄN THỊ THẾ sinh năm Kỷ Dậu (1909), em Sáu NGUYỄN TƯỜNG VINH (LÂN), Thạch Lam trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh năm Canh Tuất (1910), em Bẩy NGUYỄN TƯỜNG BÁCH, Bác Sĩ, sinh năm Bính Thìn (1916).
Riêng em Sáu tôi đổi tên tới hai lần. Lần thứ nhất đổi là Vinh, cũng vì lý do để đủ tuổi đi thi bằng thành chung. Tôi còn nhớ khi em Sáu thi đậu, Tú mỡ Hồ Trọng Hiếu có mừng em bài thơ tôi chỉ còn thuộc có 6 câu:
Gửi lời mừng bác NGUYỄN TƯỜNG VINH
Đáng bậc thần đồng bọn học sinh
Năm trước vừa ăn kỳ tốt nghiệp
Năm sau liền đỗ bậc chung thành
Văn hay phúc ấm nhờ tiên tổ
Cũng bởi công phu gắng học hànhLần đổi tên thứ hai là Lân. Tên này em tôi giữ cho tới khi chết. Sự đổi tên của anh em tôi là do ý kiến của anh Tam vì khi đổi tên tôi và các em Sáu, em Bảy thầy tôi mất đã lâu.
…Tôi không ngờ em Sáu có trí nhớ dai thế, như truyện em tôi tả hai chị em thức đợi chuyến tầu đêm qua rồi mới đi ngủ. Năm đó tôi mới có chín tuổi, em tôi lên tám mà mẹ tôi đã giao cho hai chị em tôi coi hàng. Cửa hàng chỉ bán có rượu, ít bánh khảo, thuốc lào, cốt để đưa khách quen vào trong nhà bà ngoại. Tối đến hai chị em phải ngủ lại để trông hàng. Hai chị em vì ở nhà quê đã lâu nên bạo dạn. Chủ nhà là hai bà cụ đã già tóc bạc phơ hình như hai người là bạn với nhau, đều không có con, tôi cũng không rõ là ở đâu tới. Một bà trẻ, khỏe mạnh hơn dọn hàng cơm cho khách ăn, thỉnh thoảng cũng có người lỡ tầu ngủ trọ lại. Hàng bà cụ rất sạch sẽ, món ăn cũng ngon. Những con cá chép rán vàng, rồi canh cá nấu măng chua, mấy cái chân giò luộc, trông thật thèm.
Khách hàng là mấy ông lý ông chánh ở các làng xa xôi lên huyện có việc. Đông nhất là những ngày vào vụ thuế. Hồi đó thuế người thuế ruộng phải đem lên nộp cho quan, quan đem xuống tỉnh nộp cho công sứ. Hàng mẹ tôi dọn được ít lâu khách đã quen vào nhà trong rồi nên khỏi bán hàng ở ngoài nữa (xem truyện “Hai chị em” Thạch Lam đã viết lại đúng như sự thực).
…CÁI CHẾT CỦA THẠCH LAM
Chú Sáu trông nom nhà báo được ít lâu bị yếu phổi phải nằm nhà dưỡng bệnh. Biết tính chú ưa tĩnh nên dù ở gần tôi cũng ít sang thăm.
Một tết Trung Thu, chú mời tất cả các bạn thân đến ăn bánh thưởng trăng Tây Hồ. Anh em ai tới phải mang theo bánh, các bà không được tham dự. Thím Sáu và chị Song Kim vợ Thế Lữ rút vào nhà trong pha trà, cà phê. Tôi vì có cháu bé nên không sang được, Trung thu năm đó lại mưa bão không có trăng, các ông ngồi chật cả ba gian nhà. Sợ chủ nhân buồn, ông thì hát chèo cổ, ông thì hát trống quân, người thì ngâm thơ, kể cũng vui, không có cảnh trăng trong gió mát thì cảnh mưa bão hồ Tây cũng đẹp.
Tết năm đó tôi cùng chú về quê ăn Tết. Hai mươi tháng chạp tôi thu xếp việc nhà cho các cháu về trước. Chú Sáu ba mươi Tết mới về, nhà ở giữa cánh đồng, tuy có lũy tre bao bọc nhưng vẫn lạnh thấu xương. Chú về tới nhà là phải quạt một hỏa lò than hồng để sưởi, trên chăn dưới nệm vậy mà chú vẫn kêu lạnh. Mẹ tôi kêu con trai gì mà yếu thế, chú nói tại mẹ khỏe nên không thấy lạnh, giá mẹ xây một cái lò sưởi có phải ấm nhà và vui vẻ bao nhiêu không.
Sau mẹ tôi phải cho đốt một đống củi lớn ở giữa nhà, trải ổ rơm xung quanh ngồi đánh bất đợi giao thừa. Tôi phụ với mẹ tôi bầy cỗ cúng bàn thờ và cúng trời đất. Đúng mười hai giờ người nhà lên đánh trống lễ, đỉnh trầm khói hương nghi ngút, không khí đầy diễm ảo.
Làm lễ xong cả nhà ngồi vào bàn để uống rượu mừng năm mới. Ai nấy im lặng, chú Sáu có vẻ buồn, lặng lẽ nhìn khói trầm, không ai nói câu nào như sợ tan vỡ một cái gì. Người nào cũng tưởng nhớ đến người ở xa vì Tết năm đó anh Tư còn bị giam ở Vụ Bản, anh Tam ở bên Tầu. Tết buồn, vắng, và cũng là cái Tết sau cùng của em Sáu tôi.
Tết ra, em đau yếu luôn, vẫn về ở bên căn nhà bên hồ Tây. Mẹ tôi phải dời trại Cẩm Giàng đem theo một anh người nhà nữa để trông nom vì thím Sáu lúc đó đang có mang đứa con thứ ba. Mẹ tôi xem số tử vi cho chú ấy, nếu thím sanh con trai thì khó qua khỏi được. Vì vậy hôm báo tin sanh con trai, chú thở dài nói con trai mà làm gì. Đứa bé ra đời được ba ngày chú trở bệnh nặng. Mẹ tôi biết khó sống được nên lén lên nhà bảo sanh đón hai mẹ con về. Tôi bế thằng bé ra cho chú coi mặt. Chú liếc nhìn và khen trông nó khỏe đấy. Nó sau này là cháu Nguyễn Tường Giang.
Sáng hôm sau sang thăm, thấy hai mắt chú sáng trong. Tôi ngồi xuống cái ghế cạnh giường, nắm tay chú, bàn tay ấm và mềm. Chú bảo chị đẩy em lên cao một tí để em nhìn thấy cây liễu, chú phàn nàn anh người nhà đem chặt đi mất một cành liễu rủ xuống làm mất đẹp. Tôi biết chú vốn quý cây liễu ấy lắm, nhưng không ngờ lúc đau ốm gần kề với cái chết mà vẫn còn để ý đến vẻ đẹp thiên nhiên, như vậy chú còn ham sống yêu đời lắm. Năm đó chú mới ba mươi ba tuổi. Có một hôm chú bảo tôi hôm nào em khỏi chị cho em ăn một bữa cơm nguội với dưa chua và cá kho, sao mà ngon thế. Chị có nhớ hôm đi chơi khuya về chị lấy cho em ăn đó. Em vẫn ao ước hôm nào khỏi lại được ăn như thế. Tôi cười bảo bây giờ chú ăn chưa chắc đã thấy ngon. Ăn ngon phải đúng lúc mình thật đói và trong người khỏe mạnh mới ngon được.
Từ hôm bệnh trở nặng, chú Bách (tên chú Bẩy) thường ở luôn bên cạnh anh. Chú Sáu đang nằm tự nhiên bảo đỡ ngồi dậy. Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Thím Sáu ở trong buồng chạy ra ngồi đỡ một bên. Mẹ tôi ngồi một bên. Thấy thím khóc, chú bảo tôi đã chết đâu mà khóc. Hai anh em nói tiếng Pháp với nhau, tôi thấy chú Bách bỏ ra cửa, chú Sáu gọi “Bách, Bách”, chú Bách chỉ quay đầu lại thôi chứ không trở lại, tôi chực gọi thì thấy hai hàng nước mắt chú tuôn rơi, lúc đó tôi mới hiểu. Nhìn lại thấy chú Sáu duỗi hai chân thẳng ra. Thế là đi luôn.
Tiếng khóc của mẹ tôi, của thím Sáu cùng nổi lên một lượt, riêng tôi vẫn còn hoang mang, không thể ngờ chú còn tỉnh táo như vậy mà cái chết đã đến quá mau chóng. Người khóc nhiều nhất là chú Bách, từ nhỏ tới giờ không bao giờ thấy chú khóc nhiều như vậy. Có lẽ vì đã học năm thứ năm trường thuốc nên biết lúc đó là lúc anh mình phải chết mà mình bất lực không làm gì được.
…Tết năm đó (1942) chỉ còn có hai anh em về ăn Tết. Chú cũng đã yếu rồi nên thím Sáu đã phải đốt một lò than hồng để đón chú, mà chú cũng còn kêu: “Rét quá, giá mẹ xây lò sưởi có phải ấm không”. Đêm giao thừa phải đốt một đống củi ở buồng hai gian nhà ngang vải chung quanh trại ổ rơm mà chú vẫn kêu lạnh. Tất cả ngồi quây quần đánh bất để đợi Giao Thừa, năm đó tiết trời cũng giá buốt nên thay vì cúng và ăn ngoài sân, cả gia đình đều vào phòng khách. Đúng Giao Thừa, chú bảo đốt trầm lên và đem rượu ra uống mừng Xuân. Rượu rót ra rồi ai nấy đều thấy chú ngồi im lặng lẽ, khói trầm mờ ảo, tất cả tự nhiên đều im lặng, mỗi người hoài niệm một nỗi niềm riêng tư. Vắng mấy anh như là vắng tất cả. Xuân này mỗi anh mỗi phương, người góc bể, kẻ chốn rừng sâu, chắc giờ này cũng đương hướng cả tâm hồn về với nhau. Anh em sum họp đã bao cái Tết vui vẻ, nay như chim lìa đàn, con bay về phương Bắc, con về phương Nam, cách biệt từ nay mấy dặm ngàn.
Sau cái Tết đó là chú Sáu bắt đầu yếu. Hôm chú sang chơi nhà anh Thế Lữ rồi qua tới thấy tôi đốt lò sưởi, chú thích quá. Chú nói bên hồ năm nay lạnh quá, chú chịu không nổi. Tôi mời chú qua đây ở, tôi sẽ nhường chú căn phòng khách có lò sưởi cho ấm chứ nhà tôi có tiếp khách nào đâu. Nói rồi, tôi thấy nét mặt chú buồn buồn. Lúc tiễn chú ra cổng, thấy thân hình chú mặc cái áo cẳng dài, người mảnh và cao, chân bước đi như gió thoảng trên mặt đê, lòng tôi tự nhiên thấy buồn nhưng cũng không rõ vì sao. Không thấy chú sang, có lẽ chú sợ phiền vì đã hai lần chị đã nhường cho nhà rồi, vả lại đời sống chú cũng khó khăn, sang đây sợ thiếu phương tiện.
Chú đã yếu nhiều nên tính nết cũng khó khăn, thích yên tĩnh nên tôi có sang thăm chú phải bảo mấy cháu chơi ở ngoài hoặc ra cây đa, hoặc sang sân đình vì chú không ưa trẻ con. Tôi còn nhớ lần đó sang chơi, thấy chú đương ăn cơm, chú mời tôi ăn với chú một thể nhưng tôi đã ăn rồi, chú mới hỏi mấy cháu có qua với tôi không. Tôi bảo: “Chúng nó sợ chú nên ở chơi ngoài sân đình rồi”. Chú bèn nói gọi hết mấy cháu vào đây. Tôi và thím Sáu đều nhìn nhau lấy làm lạ vì đã có lần chú cấm tôi có sang thì để lũ trẻ con ở lại nhà. Thế mà hôm nay chú lại vui vẻ gọi các cháu vào, nào là bắt ăn rồi lại mở tủ sách của chú mà xưa nay các cháu thích lắm nhưng chẳng bao giờ dám mó vào, bây giờ muốn đọc thì tha hồ đọc. Lúc về chú lại cho mượn đem về, hẹn phải giữ cẩn thận rồi đem qua chú đổi cho quyển khác.
Tôi thấy chú cười nói tôi cũng mừng, hay là chú đã hết bệnh rồi nên chú thay đổi tính nết. Ai ngờ là gở chết, vì theo như các cụ nói thì người đương dễ tính sẽ đổi ra khó, còn người đương khó tính sẽ đổi ra dễ, đó là điềm gở. Được vài tháng sau là chú đau liệt giường luôn, không tới tòa báo được nữa. Chú Bách cũng hằng ngày xuống chích thuốc cho chú, nhưng cũng vô hiệu và chú đã lao phổi nặng rồi. Mẹ tôi cũng từ dưới trại lên để trông nom chú và người bếp già vì thím ấy đã gần ngày sanh. Chú gầy quá lại kêu đau mình, nên mẹ tôi cho mang cả giường lò xo lên cho chú nằm cho êm. Thuốc men ăn uống cũng chả thấy đỡ, bệnh chú càng ngày càng nặng, chú Bách chích đủ các loại thuốc tốt nhưng cũng đành bó tay thôi.
Mẹ tôi đi coi số cho chú ấy nói nếu có hai con trai thì là tận số. Hôm thím ấy sanh, nói con trai, chú chỉ thở dài nói lại con trai. Mẹ tôi thấy chú phù hai chân biết là khó qua khỏi, nên thím ấy sanh mới được có ba ngày là cho đón về lúc buổi sáng mười giờ. Bế thằng bé con ra cho chú coi mặt, chú bảo trông nó khỏe mạnh đấy. Tôi bắc ghế ngồi bên chú, chú bảo chị cho cái gối cao lên để em ngắm liễu, hôm nọ nó chặt mất cành thấp rũ xuống, em tiếc quá. Xong chú nói em nhớ bữa cơm nguội mà hôm em đi chơi về, chị cho em ăn với cá kho và dưa chua, sao mà ngon thế, hôm nào em khỏi chị lại cho em ăn như thế. Tôi cười nói đúng đó chú ạ, mình chỉ ăn ngon vào đúng lúc mình đói thì bữa cơm đó không có gì ăn cũng ngon, chú nhỉ. Chú lại hỏi sắp đến mùa na chưa, em thèm ăn na quá. Tôi bảo tháng sáu hoặc tháng bảy chú ạ. Chú chỉ ao ước một bộ đồ lụa mỏng vải cúc áo dài lụa thì Mẹ tôi đã may cho chú để mặc cho mát và nhẹ. Còn các thứ trái cây thì chú thích nhất là na, xoài, dưa tây ướp đá.
Có lần chú Bách đưa cho tôi mấy miếng dưa tây hoặc mấy miếng xoài, thế là quý chị lắm đó. Hai chị em cứ nói chuyện vẩn vơ như vậy, đâu có ngờ đến 12 giờ tôi về bên nhà ăn cơm, vừa ăn xong thì hai vợ chồng tôi sang cùng đứng cả bên giường. Chú bảo đỡ chú ngồi lên, anh người nhà một bên, mẹ tôi một bên, sau là thím Sáu. Thấy chú nói tiếng Pháp với chú Bách, thím Sáu khóc thì chú bảo tôi không chết đâu mà khóc. Chú Bách bỏ bước ra cửa, chú ấy gọi Bách, Bách rất rõ mà chú ấy không quay lại. Tôi và mẹ tôi đều kêu chú Bách, anh gọi này. Chú không quay vào chỉ ngoảnh mặt lại thôi, tôi thấy chú khóc. Tôi chưa từng thấy chú khóc bao giờ. Tôi thấy chú Sáu duỗi hai chân ra, thế là đi luôn, anh người nhà vội đặt chú nằm xuống.
Tôi sửng sốt không ngờ, chỉ có chú Bách và Mẹ tôi là biết rõ thôi. Chú đã học thuốc và đã từng chứng kiến nhiều nên chú không dám quay lại khi thấy mình bó tay không sao ngăn được thần chết. Chú lại là người khóc nhiều hơn ai hết, tôi còn phải đi lo báo cho mọi người biết. Mẹ tôi đứng lên lo hết ma chay cho chú xong, mẹ tôi lại trở về trại Cẩm Giàng. Còn nhà báo thì ai trông nom sau khi chú Sáu mất, tôi cũng chả rõ. Gần một năm sau thì anh Long và ông Khái Hưng về trông nom tờ báo. Năm đó cũng là năm Nhật hay sang bỏ bom, mọi người sợ hãi hay chạy về nhà quê và nhà nào cũng đào hầm để trú ẩn. Bên mấy mẹ con thím Sáu thì mẹ tôi đón về trại ở rồi, chứ ở trên này thì lấy gì sống.
(Văn hóa Ngày Nay tái bản 1996)
-
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh… nhân vật cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn vừa qua đời
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh… nhân vật cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn vừa qua đời ngày 8/1/2020 tại Na Uy, hưởng thọ 97 tuổi…
Hồi nhỏ, Hà Đình Nguyên đã từng được đọc (học) văn của bà từ những bài trích đăng tác phẩm “Hai chị em”, “Thương yêu” trong sách giáo khoa… Càng ngưỡng mộ bà hơn khi biết bà (và cô con gái 15 tuổi) đã thức trắng đêm bên thi thể nhà văn Nhất Linh tại nhà xác Nhà thương Grall trong đêm 7/7/1963…
Nguyễn Thị Vinh và con gái Trương Kim Anh chụp ở Hà Nội 1950.
Tìm những tư liệu về bà, thấy ngày xưa bà là một phụ nữ hết sức xinh đẹp và tài năng, văn của bà ấm áp, thương yêu…
Xin trích đăng đôi dòng về thân thế của bà gắn liền với Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn.
Bà Nguyễn Thị Vinh, 1 trong ba thành viên cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn.
Năm 1933 Tự Lực Văn Đoàn chính thức thành lập gồm có: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ) về sau thêm Xuân Diệu, Trần Tiêu, và còn một số nhà văn cộng tác chặt chẽ với văn đoàn này là: Trọng Lang, Huy Cận, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ… Bà Nguyễn Thị Vinh là 1 trong ba thành viên cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn.
Bà Nguyễn Thị Vinh sinh năm 1924 tại Hà Nội. Quê nội: làng Thịnh Đức thượng Hà Đông. Quê ngoại: làng Vân Hoàng, Hà Đông. Đã xuất bản nhiều tác phẩm tiêu biểu, gồm truyện ngắn, truyện dài, thơ và tùy bút…
Trước năm 1975 bà giữ chức Chủ bút và Chủ nhiệm 2 tạp chí văn nghệ: Tân Phong và Đông Phương. Bà cũng là thành viên của Hội đồng Giám khảo Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc VNCH. Sau 1975, bà sống tại Na Uy và tiếp tục hoạt động văn học trong vai trò Chủ nhiệm tạp chí văn nghệ Hương Xa. Và là thành viên trong nhóm chủ biên nhà xuất bản Anh Em.
Sau đây là phần nói chuyện của Mặc Lâm (Đài RFA) với bà:
Mặc Lâm: Thưa bà, xin bà cho biết cơ duyên nào đưa tới việc bà gia nhập Tự Lực Văn Đoàn?
Bà Nguyễn Thị Vinh: Ba thành viên lớp sau (hay đúng hơn, phải gọi là ba thành viên dự bị) của Tự lực Văn đoàn, gồm nhà văn Duy Lam (cháu gọi Nhất Linh bằng cậu ruột), nhà văn Tường Hùng và tôi đều do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lựa chọn, tại Sài Gòn vào khoảng đầu thập niên 1950.
Văn bản với bút tích của nhà văn Nhất Linh hiện do tác giả Nguyễn Tường Thiết, con trai út của nhà văn Nhất Linh lưu giữ. Trước đó, trong một bài thơ mang tên Tự Lực, Nhất Linh viết vào lúc 2 giờ sáng Mùng Một Tết năm Quý Tỵ (nhằm ngày 14 tháng 2 năm 1953), ông đã ghi:
Tự Lực vườn văn mới trội tên
Bỗng dưng thời thế đảo huyên thiên
Thương dăm lá cũ vừa rơi xuống
Mừng mấy mầm tươi vụt nhú lên
Mạch cũ, nhựa non rồn rập chảy
Vườn xưa, hoa mới điểm tô thêm
Người qua, sách mọt, đời thay đổi
Tự Lực, danh chung, tiếng vẫn truyền.Mặc Lâm: Xin cho biết về tác phẩm đầu tay của bà cũng như tác phẩm mới đây nhất.
Bà Nguyễn Thị Vinh: Hai Chị Em, Truyện ngắn, NXB Phượng Giang, Việt Nam Sài Gòn 1953. Cỏ Bồng Lìa Gốc, Tùy bút /Tâm cảm, NXB Anh Em, Hoa Kỳ San José 2005.
Mặc Lâm: Tự Lực Văn Đoàn đã được lịch sử xác nhận là một tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đối với thanh niên và trí thức trong một khoảng thời gian dài. Xin bà cho biết chi tiết hơn về vấn đề này.
Bà Nguyễn Thị Vinh: Tự lực Văn đoàn gây ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài đối với đa số thanh niên nam, nữ thị dân theo Tây học và Chữ Quốc Ngữ, từ Bắc tới Nam, về các mặt tư tưởng, văn hóa, xã hội…
a/ Trước hết phải kể tới Tinh thần Tự lực từ cá nhân, gia đình cho tới xã hội. Không có Tinh thần Tự lực thì quốc gia không thể giành được nền độc lập toàn vẹn, đúng nghĩa.
Tự lực Văn đoàn gây ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài đối với đa số thanh niên nam, nữ thị dân theo Tây học và Chữ Quốc Ngữ, từ Bắc tới Nam, về các mặt tư tưởng, văn hóa, xã hội…
b/ Giữ gìn truyền thống mỹ tục. Đả phá mọi hủ tục.
c/ Nêu cao tinh thần Khoa học Thực nghiệm. Bài trừ thói mê tín dị đoan.
d/ Chống nạn mù chữ. Phổ biến và nghệ thuật hóa việc dùng Chữ Quốc Ngữ.
e/ Hướng đến một cuộc cách mạng, tạm gọi là “Cách mạng Tư sản”, trên nền tảng Chủ nghĩa Tam Dân: “Dân tộc Độc lập, Dân quyền Tự do, Dân sinh Hạnh Phúc.”
Cho nên từ “ngôi nhà ánh sáng”, tới chiếc “áo dài LeMur”, “thơ Mới”, “tiểu thuyết luận đề”, “đảng Hưng Việt”, đến báo chí “Phong Hóa”, “Ngày Nay” và “Văn Hóa Ngày Nay”… Tranh khôi hài “Lý Toét, Xã Xệ”… đã làm nên tính cách Tự lực Văn đoàn, một văn đoàn vì Quốc gia Dân tộc.
Mặc Lâm: Những thành viên cuối cùng hiện còn sống ngày nay gồm những ai, có ai trong số họ vẫn còn theo đuổi văn chương nghệ thuật không?
Bà Nguyễn Thị Vinh: Hai nhà văn Duy Lam và Tường Hùng vẫn sáng tác, sinh hoạt văn nghệ. Phần tôi, hoạt động văn nghệ không nhân danh Tự lực Văn đoàn. Vì tự nghĩ: Tự lực Văn đoàn đã làm xong nhiệm vụ lịch sử kể từ sau sự tuẫn tiết của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
(hết trích)
Đoạn dưới đây trích trong “Văn học miền Nam 53-75” của Nguyễn Văn Lục, phần “Nguyễn Thị Vinh”:
Trường hợp Nguyễn Thị Vinh. Bà Vinh đã từng sống bên cạnh Nhất Linh, khi ở bên Tàu — với tư cách là đồng chí, bạn văn ,người tình– hay là tất cả những thứ cộng lại?(*)
Khoảng thập niên 60, nhà văn Thế Phong – đã mượn một số chi tiết trong đời sống riêng tư của nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh, viết thành “Truyện người của tình phụ“. Ban đầu in rô-nê-ô (Đại Nam Văn Hiến xuất bản cục, 1963) — sau cho đăng [dở dang] trên tập san Biệt chính/ Trung tâm huấn luyện Xây dựng nông thôn Vũng Tàu. (PAT). Năm 1964, nhà xuất bản Đại Nam Văn Hiến in thành sách (bìa/ảnh của Nguyễn Cao Đàm. Sau 1975, nxb Đồng Nai (miền Nam) cấp phép tái bản, in chung trong ‘Cô gái Nghĩa Lộ’. (Bt)
Riêng Nguyễn Thị Vinh, trong trường hợp nào bà quen biết, [rồi] trở thành người của nhóm TLVĐ? Tôi [Nguyễn Văn Lục] chưa liên lạc trực tiếp được với bà Nguyễn Thị Vinh để hiểu rõ vấn đề này.
Nhưng chỉ biết 2 chị em Nguyễn Thị Vinh có mở một tiệm sách ở Hà Nội. Sau này bà Nguyễn Thị Vinh lấy Trương Bảo Sơn (một đảng viên VNQDĐ, còn là một dịch giả có tiếng).
Phải chăng, vì mối liên hệ đảng phái, Nguyễn Thị Vinh có nhiều dịp gần gũi với Nhất Linh? Nhất là, khi trôi giạt sang Tàu, Trương Bảo Sơn và vợ, [họa sĩ] Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh sống chung một nhà.
Nhưng mãi đến 1948, bà Nguyễn Thị Vinh, (cùng con gái 3 tuổi, [Trương Thị Kim Anh [1946 – ] từ Hà Nội sang sống với chồng, Trương Bảo Sơn. Có thể từ 1948, bà Nguyễn Thị Vinh mới được quen biết Nhất Linh? Cùng trong thời gian này, Nhất Linh đã khuyến khích Nguyễn Thị Vinh viết cuốn ‘Thương yêu’ và bà Linh Bảo [Võ Thị Diệu Viên 1926 – ] viết cuốn ‘Gió bấc’.
[Và cũng] có thể, có một mối tình tay 3, tay 4 không? Tôi [Nguyễn Văn Lục] tin là có — khi nhìn lại hình ảnh Nhất Linh ôm, ẵm, cưng chiều con gái Nguyễn Thị Vinh là Trương Kim Anh. …
Sau này, đọc hồi ký Nguyễn Thị Thế (em gái Nhất Linh, mẹ Duy Lam +Thế Uyên) có đoạn kể về Trương Kim Anh,
“Khi tôi giở chăn ra để được ngó mặt anh tôi, [thì] có cái sáo rơi xuống. Tôi lấy làm lạ, hỏi cháu Thoa, [thì] nó cho biết, có cô con gái nuôi của cậu cháu (Trương Kim Anh) tối qua đem sáo vào nhà xác, thổi suốt đêm cho [cậu cháu] nghe. Thổi xong, nó tặng luôn chiếc sáo; và, nói từ nay nó sẽ không còn thổi sáo cho ai nghe nữa đâu …” (trích’ Sđd – tr. 159).
Trương Kim Anh 15 tuổi, ảnh Mạnh Đan
Trong bài ‘Tưởng nhớ về Nhất Linh”, Trương Kim Anh viết,
“Sau một lúc, mẹ tôi bảo tôi lấy sáo trúc ra thổi một bản tiễn bác. Tôi gạt nước mắt, đưa ống sáo ngang miệng, chọn bản ‘Thiên Thai’ — bản mà bác thường bảo tôi thổi, mỗi lần bác đến nhà chúng tôi. Tiếng sáo u uẩn vang trong khu nhà xác, lạnh lẽo. Nhưng chỉ được nửa bản, tiếng sáo ngưng trong tiếng nấc nghẹn ngào, âm thanh như đọng lại trong không gian, tiễn đưa hương linh bác về nơi vĩnh cửu…” (trích Sđd).

Từ bức ảnh của Mạnh Đan chụp Kim Anh thổi sáo, nhà văn Nhất Linh đã vẽ bức tranh “Ngồi thổi sáo dưới gốc thông” ký tặng Kim Anh.
Trong mục ‘Lan hàm tiếu’, dành cho các thiếu nhi trên nguyệt san Văn hóa ngày nay, Nhất Linh đã không quên, cả người đọc cũng khó bỏ qua bóng dáng Nguyễn Thị Vinh, qua Trương Kim Anh. [Khi ấy] Trương Kim Anh 12 tuổi đã tập tành viết tác phẩm đầu tay ‘Ở vậy’, dưới sự hướng dẫn của ‘bác’ Nhất Linh.
Người ở lại sau cùng trong đêm cuối cùng, trước khi Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam đi vào lòng đất, là bà Nguyễn Thị Vinh và cô con gái Trương Kim Anh.Và, trước khi tuẫn tiết… người được Nhất Linh đến gặp lần cuối cùng [vẫn] là bà Nguyễn Thị Vinh. — Trương Kim Anh kể,
“… Mãi sau này tôi mới biết chuyện quan trọng đó là, ‘bác [Nguyễn Tường] Tam nhận được trát đòi ra hầu tòa, cùng với một bạn chiến đấu của bác, trong đó có ba tôi, “ông Trương bảo Sơn…”. Tôi hơi ngạc nhiên về chú thích để trong ‘ngoặc kép’; [thì] khoảng một tiếng sau, từ trên cửa sổ nhà Thủy nhìn xuống nhà mình; tôi thấy bác Tam đang từ giã mẹ tôi …”
Đây là một ‘cử chỉ chỉ có [ở] người trong cuộc’ (chữ nghiêng: Bt), trong giờ phút giữa sống chết, bên bờ tử sinh, mới thấm thía hết được ý nghĩa cuộc gặp gỡ định mệnh này.
Cô Trương Kim Anh (con nuôi Nhất Linh) sau này lấy [thẩm phán quân sự] – nhà văn Dương Kiền. Theo các con, cháu của Nhất Linh; Duy Lam cho rằng nhiều phần Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh phải có cái gì với nhau. (chữ nghiêng: Bt). Nhưng nó cụ thể như thế nào thì không ai dám chắc? Nhưng, trong cách thức của bà Nguyễn Thị Vinh, khi nói về Nhất Linh; thì bà thường làm ra cái vẻ là người tình của Nhất Linh (chữ nghiêng: Bt) — hay là [bà Vinh] đóng kịch như thể,
[để] gây cho mọi người có cảm tưởng là giữa bà và Nhất Linh hẳn phải có một mối dây liên lạc mật thiết.
Nhưng hay nhất, vẫn là để Nguyễn Thị Vinh tỏ bày,
“Đời tôi từ bấy lâu nay, thời gian đi già nửa thế kỷ, đã từng ở những nơi nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi; mà, sao tôi vẫn không thể quên được túp lều (trên núi) của chúng tôi. Chao ôi, mỗi khi tắm, tôi chưa thấy có một vòi hoa sen nước nào có thể so sánh được với dòng suối ngày ấy. Tôi biết kể sao cho hết nỗi vui thích của tôi mỗi khi ra suối tắm.”
(trích Sđd- tr. 85- 86).Khó quên là phải, làm sao quên được! Cá tính bà Nguyễn Thị Vinh, theo nhiều nhận xét của vài người quen biết bà trước đây; hoặc là, người trong gia đình Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam cho biết, [thì bà Nguyễn thị Vinh] là một người đàn bà đa tình và vô cùng lãng mạn (chữ nghiêng: Bt) — gần như không có một biên giới nào.
Chuyện Trương Bảo Sơn và Nguyễn Thị Vinh chia tay, thì cũng là chuyện đành phải như vậy. Sau khi Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam tự tử vào ngày 7-7- 1963 — bà Nguyễn thị Vinh vẫn thường [một mình] đi xe lam lên thăm mộ Nhất Linh ở Nghĩa trang Bắc việt ở Hạnh Thông Tây (quận Gò Vấp). — gần mộ nhà văn nổi tiếng miền Nam Hồ Biểu Chánh. Bà Nguyễn Thị Vinh thăm viếng mộ Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam, là đốt 4 điếu thuốc lá Bastos xanh, cắm vào 4 góc mộ, rồi mở 2 chai la-de 33, tưới lên phần mộ để tưởng nhớ Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam. …
[Rồi, họa sĩ trẻ tuổi Động Đình Hồ, tên thật là] Nguyễn hữu Nhật [1942- 201x) đã gặp bà Nguyễn Thị Vinh tại nhà nữ sĩ Tuệ Mai [Trần Thị Gia Minh, con cụ Á Nam-Trần Tuấn Khải].

[Có] một hôm, Nguyễn Hữu Nhật hẹn với bà Nguyễn Thị Vinh đi thăm mộ Nhất Linh (dù Nhật đã hứa hôn với một nữ sinh viên trường Luật, tên Bình [cháu họ thi sĩ Vũ hoàng Chương]). Vài tuần sau, 2 người đã kết thành đôi lứa, ông Nguyễn Hữu Nhật chính thức làm chồng bà Nguyễn Thị Vinh [1924- ].
Mối nhân duyên này đúng là duyên kỳ ngộ — và như có sự chứng giám của một người đã chết [Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh].
Sự hiện diện của [nữ văn sĩ] Nguyễn Thị Vinh trong TLVĐ, hay là trong đời sống Nhất Linh-[Nguyễn tường Tam] chỉ là một. (chữ nghiêng).
(hết trích)Đọc đoạn (trích) cuối, tôi (Hà Đình Nguyên) không hiểu có chuyện bà Nguyễn Thị Vinh (sinh năm 1924) lại lấy anh họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật (sinh 1942) làm chồng như ông Nguyễn Văn Lục đã viết không?
-
Khúc thu ca
-
Ngút bóng hoàng hôn
-
Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kỷ niệm 5 năm thành lập

-
Tường trình buổi họp mặt Giáng Sinh của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian
Khánh Lan
Chủ Nhật ngày 15, tháng 12, Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi họp mặt tất niên tại nhà hàng Ngọc Sương. Buổi sáng mùa đông nhưng bầu trời trong xanh như ngày đầu của một mùa xuân tươi mát. Những cơn gió nhè nhẹ đem theo cảm giác lạnh lạnh để những chiếc khăn quàng cổ đầy mầu sắc tung bay trong gió, tạo thành một bức tranh lập thể tuyệt vời.
Từ 10:30 sáng, các anh chị em thành viên của Liên Nhóm NVNT & TTG đã có mặt tại nhà hàng để chuẩn bị. Số quan khách tham dự khoảng 80 người, phần lớn là các giáo sư, thi sĩ, văn sĩ, và họa sĩ. Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của Giáo sư Quyên Di, Giáo sư Dương Ngọc Sum, Giáo sư Lý Tòng Tôn và phu nhân, Thi sĩ Lý Kim, Nhà văn Nguyễn Quang Huy, Nhà văn Vũ Thùy Nhân, Nhà văn Hồ Triều Lam , Thi sĩ Vương Hồng Anh, Thi sĩ Thanh Thủy, Thi Văn sĩ Lê Thị Việt Nam, Thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi, Thi sĩ Cát Ngọc, Họa sĩ Hoàng Vinh và phu nhân, Họa sĩ Chín Mừng, Họa sĩ Lam Thủy, Họa sĩ Lưu Anh Tuấn và phu nhân Mindy Lưu, Ca sĩ Thanh Mỹ và phu quân (Hội Trưởng Nhóm ROF), Nhạc sĩ Quốc Sĩ, Ca sĩ Minh Tâm, Ca sĩ Phương Thúy, Phóng Viên Trịnh Thanh Thủy, Chị Nga Nguyễn (phu nhân của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn), và chuyên viên thu hình Paul Phú Lê Văn cùng một số quý thân hữu khác…
Nhà văn Việt Hải, con chim đầu đàn của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian khai mạc bữa tiệc với lời cám ơn và tường trình về những sinh hoạt trong quá khứ cũng như những dự định trong tương lai. Tiếp theo là chương trình văn nghệ “Cùng Hát Bên Nhau” do các anh chị trong Liên nhóm NVNT & TTG đảm nhiệm, song song với những món ăn thịnh soạn của nhà hàng Ngọc Sương. Chương trình văn nghệ mở đầu với bài ” Jingle Bell” do ban hợp ca Tiếng Thời Gian trình diễn và kết thúc buổi tiệc với bài “Feliz Navedad” do ngũ ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Khánh Lan, Hồng Nguyên và Quốc Sĩ đã mang lại một không khí thân mật và vui tươi cho ngày họp mặt cuối năm.
Ngày 15 tháng 12 cũng là ngày sinh nhật của Nhà văn Việt Hải, đó cũng là lý do các anh chị trong nhóm NVNT và TTG đã chọn để tổ chức tiệc Tất niên và đồng thời mừng sinh nhật nhà văn Việt Hải. Trong niềm vui lẫn xúc động, Nhà văn Việt Hải gởi lời cảm ơn đến quý khách hiện diện trong bữa tiệc đã đến chia vui cùng ông và các anh chị em trong Liên nhóm NVNT & TTG đã bỏ thời giờ để chuẩn bị cho bữa tiệc được hoàn mỹ. Phần cắt bánh sinh nhật thật cảm động. Ban hợp ca do Mộng Thủy và Thụy Lan hướng dẫn với nhạc phẩm: “Khi Ta 20” vang lên trong lúc Nhà văn Việt Hải cắt bánh sinh nhật.

Buổi họp mặt đón Chúa Giáng Sinh và chúc mừng sinh nhật Nhà văn Việt Hải đã đem lại bao nỗi hân hoan và vui thích trên nét mặt của từng quý thân hữu hiện diện trong bữa tiệc ngày hôm ấy. Đây cũng là một khích lệ lớn lao cho Ban Tổ Chức.
Sau bữa tiệc tất niên, Nhà văn Việt Hải cùng một số anh chị em trong ban tổ chức đã đến tham dự bữa tiệc của ông John Tạ, “Công ty bào chế và Tổng đại lý dược thảo Princess Life Styles,” tại nhà hàng 888 Seafood ở Rosemead. Khánh Lan và Nhật Uyên đã đại diện cho Nhà văn Việt Hải và Liên nhóm NVNT & TTG, lên sân khấu ngỏ lời chúc mừng ông John Tạ cũng như chào đón ông đã đến với nhóm Liên nhóm NVNT & TTG.
Thay mặt Liên nhóm NVNT và TTG, xin chân thành cám ơn quý thân hữu đã đến chung vui với chúng tôi. Kính chúc quý thân hữu một mùa Giáng Sinh an lành, hạnh phúc và một năm mới vạn sự tốt đẹp.
Thân kính,
Khánh Lan
Click vào link để xem thêm hình
https://photos.google.com/album/AF1QipOXtNaGqbsqWZbLmfgZSrNC-34l7fAsqfG9ugIk
-
Việt Nam có ba nhạc khí đặc biệt không nước nào có.
December 18, 2019
Sở trường của Giáo Sư Trần Quang Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. (Hình: tranquanghai1944).
Bị nước Tàu đô hộ ngàn năm, Việt Nam không bị đồng hóa mà vẫn giữ được truyền thống dân tộc. Tiếng nói, chữ viết, cách ăn mặc, tập tục, phong thái… và nói chung, mọi thứ đều là Việt Nam. Chuyện đó ai cũng biết.
Trong âm nhạc, người Việt có ba nhạc khí mà không nước nào có kể cả nước Tàu. “Việt Nam đã tạo cho mình một chỗ đứng biệt lập với ba nhạc khí đặc thù dân tộc, chỉ thấy ở Việt Nam,” Giáo Sư Trần Quang Hải viết trong cuốn sách mới đây của ông.
Sách mang tựa đề là “50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” dày 450 trang do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018 nay được phát hành trên thế giới.
Chuyện ít người biết
Trong bài “Nguồn gốc Âm nhạc Việt Nam” in trong cuốn sách, ông đã trình bày về ba nhạc khí đó là đàn đáy, đàn bầu và sinh tiền.

cố nhạc sĩ Nguyễn Phú Đẹ đàn đáy Đàn đáy có thùng hình thang, không có đáy chỉ có ba dây kết hợp đặc trưng của nhiều đàn khác nhau như đàn tam, tỳ bà, nguyệt. Đàn đáy dùng để đệm cho hát ả đào hay ca trù.

Trần Quang Hải với đàn độc huyền Đàn bầu hay độc huyền chỉ có một dây nhưng có thể đàn được ba bát độ và chỉ sử dụng bồi âm mà thôi.

Trần Quang Hải với sinh tiền Sinh tiền gồm ba miếng ván dài 27 phân, ngang 3 phân dày nửa phân. Hai miếng ván có mang những đồng tiền lúc lắc trong khi miếng thứ ba gõ hay cứa vào hai miếng ván kia tạo thành ba âm thanh khác biệt để đệm nhạc triều đình.
Lịch sử nhạc Việt
Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày các loại đàn, hát của dân tộc ta từ thời nhà Đinh, thế kỷ thứ 10, cho tới ngày nay. Phần trình bày rành rẽ là một tài liệu quý báu cho những người biên khảo về âm nhạc Việt Nam, cổ nhạc lẫn tân nhạc.
Phần cổ nhạc, tác giả đã cho ta biết về các loại nhạc như nhạc cung đình, nhạc lễ, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân ca, nhạc dân tộc thiểu số. Các thứ đàn đặc biệt là đàn tranh, đàn đá thêm vào những nhạc cụ đặc hữu của Việt Nam, các loại hát như hát xoan, hát Then, Tày, Nùng, Thái…
Phần tân nhạc được tác giả ghi chép lại trong năm giai đoạn theo các biến cố chính trị trong nước. Giai đoạn tượng hình, 1928-1937; giai đoạn thành lập, 1938-1945, giai đoạn kháng Pháp 1946-1954, giai đoạn đất nước chia đôi 1954-1975 và giai đoạn di tản, từ 1975 trở đi.
Công trình sáng tác, khảo cứu
Tới năm 1989, ông được cấp bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống nhưng ông đã làm việc khảo cứu từ năm 1968 tại Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học CNRS ở Paris. Đồng thời, ông còn làm việc trong Viện Dân Tộc Nhạc Học của Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật và Truyền Thống Dân Gian tại Paris.
Sở trường của Giáo Sư Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. Ông đã sáng tác hơn 50 bài kể chung cho đàn tranh, cho muỗng, hát đồng song thanh hay là nhạc cho phim.
Năm đời ca nhạc
Giáo Sư Hải là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3,500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 nước từ năm 1966, 1,500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy trên 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8,000 người theo học hát đồng song thanh. Điều này ghi rõ trên sách của ông.
Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông nhắc đến dòng dõi họ Trần Quang bốn đời tài danh trong ngành nhạc dân tộc. Tới Trần Quang Hải là đời thứ năm, con người tài hoa đã làm rạng danh nhạc dân tộc Việt khắp năm châu.

Sách nhan đề là “50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018, dày 450 trang, có thể mua trên mạng do nhà xuất bản LULU phát hành, giá 16.76 euro.
https://www.lulu.com/shop/search.ep?keyWords=tran+quang+haiSách được phổ biến cùng với cuốn bằng Anh Ngữ “Tran Quang Hai 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing, Tu Sach Khai Tri, 2018, 402 page.”
Sách tiếng Anh có thể mua trên mạng Amazon.fr với giá 13.86 euro.
(Từ Nguyên)
-
Videos
-
ĐIỂM SÁCH: Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ.
Do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật tổ chức với sự cộng tác của Văn Thơ Lạc Việt, ra mắt sách ngày Nov. 19, 2019 tại San Jose.
(Bài viết này do nhà biên khảo, nhà văn Diệu Tần viết một tuần trước, nhưng vì lý do sức khỏe nay ông viết tiếp).
Một số lớn nhà biên khảo văn sĩ, thi sĩ có những nhận định về TLVĐ, nhất là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam….Trong đó phải kể đến Hoàng Xuân Hãn là một nhân văn học mới nổi bật hơn tất cả thời gian 1932 đến 1942.
Nhà văn nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nói: TLVĐ không những góp công lớn về văn học mà còn giúp năng cao nền văn học Việt Nam. TLVĐ đã tạo nên một phong trào thay đổi đường lối văn học và nâng Việt ngữ (Quốc Ngữ) ngày càng trong sáng.
Nhất Linh, Nguyễn Tường Tam là giám đốc, là con chim đầu đàn dựa trên “Mưới Điều Tâm Niệm” của Hoàng Đạo đã dứt khoát không do dự, quyết đổi mới, vừa lãng mạn vừa bình dân, đả phá phong kiến bằng văn, thơ, họa trên tờ Phong Hóa và Ngày Nay.
Nhất Linh và hai người em Thạch Lam, Hoàng Đạo rồi cùng với Khái Hưng, Thế Lữ, Tú Mỡ, Nguyễn Gia Trí 7 người, sau này nhận thêm Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng và Duy Lam (2 người sau là hậu duệ).
Cụ tổ Nguyễn Vân gốc làng Cẩm Phổ, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Không phải là Cẩm Giàng, hải Dương).
Tại sao cụ Vân lại có tên đệm là Tường ?
Chi tiết này trong sách đã kể, người viết kể chuyện: Đồi Phước Tường có đường xe hơi lên tới đỉnh. Tôi ở trong ngành Công Binh để quan sát ghi chép đường lộ cầu cống ngoài quốc lộ, tới tỉnh lộ, chuyến đi quan sát Phước Tường gặp đại Úy Nguyễn Đức Thắng, sau này là Trung Tướng. Ông đang đi bộ trên đồi muốn quá giang xe Dodge 4 x 4 của tôi, tôi vội vàng nhường ghế trưởng xa cho ông, ông mặc quân phục quần 5 túi, giầy boodequin, khoát tay nhẩy lên phía sau xe, tới nơi hỏi ra mới biết ông là chỉ huy tiểu đoàn pháo Binh.!
Làng Cẩm Phổ trái phải có song Thu Bồn bao quanh, nước xanh trong chảy ra biển qua Cửa Đại Hội An (Rau muống Cẩm Phổ nổi tiếng ngon và dòn giống Sơn Tây, cọng thuôn dài xanh mướt, chỉ có ít lá nhỏ tựa một nụt măng tây dài).
Nhất Linh là con trai thứ ba (tam) trong gia đình có 5 trai 1 gái.
Ông là nhà văn, hoạ sĩ vừa là nhà chính trị, ông lập ra hệ phái trong Việt Nam Quốc Dân Đảng, Ông còn là một nhà giáo dậy tại trường Thăng Long. (Năm 2006 bức tranh lụa của Nhất Linh ký tên TAM được bán đấu gía với 75 ngàn Mỹ Kim, đề “Cảnh Phố chợ Đông Dương”.
Nhất Linh kết thân với (Khánh Giư) Khái Hưng ông gìa hơn ông Tam 10 tuổi. Ông vào học y khoa, rồi bỏ vào Cao Đảng Mỹ Thuật lại cũng bỏ, nguyên do học vẽ phải ra ngoài để vẽ, vào làng quê gặp nhiều cảnh nghèo khổ, kể cả người lao động ở thành phố khiến ông suy nghĩ và quyết định làm báo, viết văn. Ông là người sống nội tâm, it nói, trầm ngâm đôi khi cũng trào phúng.
Nhất Linh sáng tác 7 tác phẩm tiêu biểu, chưa kể được in cuốn “Xóm Cầu Mới” và “Dòng Sông Thanh Thuỷ” sau năm 1952. Không kể những bài viết theo tiết mục thường có trên Phong Hóa và Ngày Nay.
Các thành viên chính của Văn Đoàn làm việc thận trọng việc tuyển lựa bài đăng với phong cách công bằng nhận cây bút mới nhập tịch. Nhất Linh ra mắt sách ít hơn Khái Hưng, ông còn khuyến khích Tú Mỡ làm thơ hướng trào phúng (Sau này Doãn Quốc Sĩ là con rể Tú Mỡ) khuyến khích các bạn đào sâu hơn theo đúng sở trường. Ông là người mê say cải cách, cách mạng nhưng cũng giầu nghệ sĩ tính, thất bại về chính trị nhưng lại ưa thích thiên nhiên cây cỏ, thổi hắc tiêu vẽ tranh lụa bên bờ suối. “Đam mê” chuộng họa lan Thanh Ngọc đến mức bê cả chậu cho ngủ chung giường.
Khái Hưng người tỉnh Hải Dương bạn tâm giao ngay khi cùng dạy ở trường Thăng Long. thời còn nhỏ có học Hán tự. Ông có tú tài Pháp, Cũng là con quan nhưng không thích làm quan, có thiên khiếu vế Văn chương, bản tính hiền lành không tự kiêu. Tác phẩm đầu tay được đón chào nhiệt liệt là “Hồn Bướm Mơ Tiên” Tiếp nữa là “Nửa chừng xuân” sức sáng tác thực phong phú với 24 tác phẩm (có cuốn viết chung với Nhất Linh. Ông bà Khái Hưng không có con trong khi Nhất Linh có 10 người con, và tặng Khái Hưng một con trai làm con nuôi nhận là họ Trần, Trần Khánh Triệu. (Cũng là Nguyễn Tường Triệu). Ông viết truyện luận đề trong gia đình Việt Nam và xã hội thời đó.
Khởi đầu Khái Hưng và các bạn đồng chí hướngviết và làm thơ về chế nhạo những hủ tục hống hách làng xã huyện (nhân vật lý toét, Xã Xệ, Gang Bạnh, Lý đình dù) Đề cao cá nhân chống bất công xã hội. Càng về sau đả phá tham lam, thực dân và chuyển mạnh về xã hội chính trị.
Sau 1945 chống đối Việt Minh Cộng Sản.
Khái Hưng được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan ví với nhà văn Pháp Alfred De Musset thi sĩ của giới thanh niên chú tâm đến cải cách gia đình và xã hội. Khái Hưng được giới trẻ vì ông hiểu được tâm lý của con người.
Văn Chương TLVĐ muốn xây dựng đất nước, đề cao tình tự dân độc, đòi quyền làm người, bênh vực nữ giới, chính vì thế Việt Minh rất kỵ TLVĐ nên đã bắt Khái Hưng và Nguyễn Tường Cẩm. Hai người bị thủ tiêu, Khái Hưng bị giết cách dã man, xác dìm xuống sông Cửa Ga.
Khái Hưng xứng đáng là nhà báo, nhá văn, nhà cách mạng chân chính.
Thạch Lam người con thứ sáu trong gia đình, có mái tóc nghệ sĩ dáng người ẻo lả. Nhà văn Vũ Bằng có nói: Cái gì của Thạch Lam cũng nhẹ nhàng từ câu nói, từng bước đi… dường như nếu bước mạnh thì đất nó đau… bút pháp ông tinh tế không kiểu cách. Ông viết dễ hiểu, thanh cao. Qua đời với tuổi 32, Thạch Lam cho thấy là người tài nhưng mệnh yểu. Phải chăng là định mệnh, là tướng số. Ông cho ra đời một truyện dài, một truyện ngắn, một cuốn nghị luận văn chương đó là cuốn “Theo Dòng” Ông coi trọng phẩm hơn lượng, có giá trị ở tầng cao.
(Bà Tường Nhung con gái lớn của Thạch Lam kết hôn với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, một vị tướng nổi danh trong trận mạc và thanh liêm).
Hoàng Đạo là con trai thứ sáu trong nhà, bút hiệu khác là Tứ Ly, có người cho rằng Tứ Ly là rơi vào giờ xấu nhất, còn Hoàng Đạo lại là giờ tốt nhất. Cách chọn bút hiệu tỏ ra người cương quyết rắn rỏi. Ông viết phóng sự về tòa án vì ông có bằng luật, Cuốn “Mười Điều Tâm Niệm” được coi như bản tuyên ngôn. Truyện “Trước Vành Móng Ngựa” ghi lại những truyện bi hài trong nối xử án, rồi: Bùn Lầy Nước Đọng”, “Vấn Đề Thuộc Địa” , tryện dài “Con Đường Sáng” viết chung với Nhất Linh.
Giống như Khái Hưng đều không thích làm quan, có cơ hội để làm tri huyện nhưng ông từ chối. Ông là đại biểu Quốc Hội chắp vá Quốc Cộng, rồi làm bộ trưởng bộ kinh tế ít tháng. Nghe nói lại, hồi làm công chức tại Đà Nẵng, được giới thiệu một tiểu thư con quan lớn trong triều, nhưng ông từ chối.
Các hậu duệ: Chưa có thế hệ thư ba cầm bút, cũng như ít người còn trẻ cỡ sáu mươi, phần đông tuổi từ 70 trên, dưới 80: Nguyễn Tường Thiết, Tường Hùng, Duy Lam, Thế Uyên, Tường Giang, Tường Nhung, Tường cat, Tường cường, Nguyễn Lân, Tôn Thất Niệm (Con rể) Trần Khách Triệu, Từ Dung.
Các Giáo Sư, Nhà Văn, Nhà Thơ trong sách có 5 vị là Trần Huy Bích, Phạm Quốc Bảo, và Dương Ngọc Sâm, Quyên Di, Trần Mạnh Chi, và 10 người còn lại.
Ghi Nhận: Buổi ra mắt sách “Tự Lực Văn Đoàn và các Cây Bút Hậu Duệ” thành công tốt đẹp số ngươi tới dự tiệc la 140, số sách mang theo trên 100 cuốn bán hết, những người muốn mua nhưng rất tiếc…!
Có người ghi nhận hai gia đình Nguyễn Tường và Kenedy có những nhân vật tạ thế giống nhau do hoạt động chính trị.
Ông Tường Cấm, người con thứ nhì, rồi ông Nhất Linh, ông Hoàng Đạo qua đời vì chính trị.
Điều khác nhau là họ Nguyễn Tương dùng cây bút để cải đổi, cách mạng xã hội, còn họ Kenedy không hoạt động văn chương, văn học.
Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn xứng đáng được nể trọng, không thành công chính trị, nhưng đã thành NHÂN, và thành công rực rỡ về phương diện ngôn ngữ văn học và văn hóa.
Người Việt Hải Ngoại chờ đợi các cây bút hậu duệ TLVĐ nối tiếp cơ nghiệp cha ông sẽ cho xuất hiện những tác phẩm mới, dù rằng khác biệt đã 7, 8 thập niên không gian, thời gian và môi trường.
Tranh thơ do thi sĩ Minh Thúy trình bày. -
Cảm nghĩ về “Chiều thơ nhạc Cung Trầm Tưởng”
Khánh Lan

Những hạt mưa đầu mùa nhè nhẹ với tiết trời lạnh lạnh, như nhắc nhở chúng ta “Nàng Thu” đang hiện diện nơi đây và sắp sửa ra đi, để nhường lại cho những ngày đông lạnh giá sắp đến. Và như một sự tình cờ ngẫu nhiên, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi chiều nhạc thơ để chào đón một nhà thơ rất thân quen, mà hầu như tất cả chúng ta đều biết đến từ đầu thập niên 60: Thi sĩ Cung Trầm Tưởng.
Đây cũng là buổi họp mặt lần thứ năm, mà Liên Nhóm NVNT & TTG đã chào đón Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, từ Minnesota lạnh lẽo về thăm thành phố “Tiểu Saigon”. Buổi nhạc thơ được tổ chức tại Cordoba plaza Club House, thành phố Westminster, California trong bầu không khí ấm cúng và thân mật. Mặc dù chương trình bắt đầu lúc 4:00 giờ chiều, nhưng mới 3:30, đã có khá đông những thân hữu yêu thơ Cung Trầm Tưởng, xếp hàng chờ sẵn ngoài cửa. Ngoài sự hiện diện của các thi sĩ và văn sĩ, như nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, Nhà thơ Cát Ngọc, Nhà thơ Tha Nhân, Nhà thơ Việt Cường, Nhà thơ Bích Ty, Nhà Văn/Giáo sư Dương Ngọc Sum, Nhà Văn Việt Hải, Nhà Văn/Giáo sư Quyên Di, và Nhà Văn Nguyễn Quang Huy, Nhà Văn Võ ý … còn có sự góp mặt của ký giả Uyên Vũ (báo Người Việt), Ca sĩ Thúy Anh, KTS Nguyễn văn Liêm, NAG Lê Hùng, v.v…
Mở đầu chương trình, MC Khánh Lan giới thiệu và chia sẻ cảm nghĩ của mình về tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ, 1948-2008”. Tâp thơ này được xuất bản tại Virginia, Hoa Kỳ, năm 2012 và tái xuất bản lần thứ nhất tại California, Hoa Kỳ, năm 2019. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cho biết đây là tập thơ cuối cùng và ông rất hài lòng và hãnh diện khi cho cho tập thơ này ra đời.

Trong tập thơ, thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi rõ chi tiết của từng giai đoạn, những cảm xúc của mình theo dòng thời gian, qua những thăng trầm của cuộc đời cũng như vận nước nổi trôi trong suốt 60 năm qua. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cũng không quên ghi lại những điểm son trong đời và những cảm xúc của mình qua những chặng đường gian khổ, đau thương, nhớ nhung, uất ức, tuyệt vọng, phẫn nộ và hận thù mà ông đã đi qua.
Ngoài hai bài thơ bất hủ, có thể nói là vượt thời gian và làm nên tên tuổi của ông, là bài “Mùa Thu Paris” và “Chưa Bao Giờ Buồn Thế”, không thể nào không nhắc đến những vần thơ, mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác trong trại tù tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977. Những vần thơ nặng nét đau khổ và tuyệt vọng của người thua cuộc, đã làm thay đổi hoàn toàn những suy nghĩ trong thể thức sáng tác thơ của ông, những vần thơ lãng mạn khi xưa, vội vàng xếp lại để nhường chỗ cho những lời thơ sắc xảo, cay đắng và chai cứng như sau:
Áo tù thẫn máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Môi cầm má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén, canh pha nước bùn.
Nhưng cũng không thể nào sánh được với những vần thơ mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đặt tên cho nó là “Nộ Thơ” khiến người nghe qua phải rùng mình khiếp sợ:
Mai về đạn nhảy ngang nòng súng
Trực trì đầu thù mổ thật nhanh.
Chiều nhạc thơ tiếp tục với những bài hát nổi tiếng của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như “Tiễn Em” và “Mùa Thu Paris”, qua sự trình diễn của ban hợp ca Tiếng Thời Gian. Ca sĩ Thúy Anh với nhạc phẩm “Mình Ơi Ở Lại Đừng Về” và “Paris Có Gì Lạ Không Em”. Ca sĩ Nhật Uyên với bài “Bên Ni Bên Nớ”. Cũng không quên nhắc đến Nhạc sĩ Nguyên Vũ (phu quân của Ca sĩ Thúy Anh), Nhạc sĩ/Guitarist Quốc Sĩ và Nhạc sĩ Keyboardist Tú Phạm đã giúp cho phần âm nhạc trở nên sôi động.
Tiếp theo phần văn nghệ là phần nhận định của nhà văn Việt Hải (anh cũng là con chim đầu đàn của Liên Nhóm NVNT & TTG) về hai bài thơ tiêu biểu thuộc thể loại “Thơ Mới” của thi sĩ Cung Trầm Tưởng: “Núi Và Suối, Một Huyền Sử” và “Phồn Thực Ca”.
Trong bài “Núi Và Suối, Một Huyền Sử”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại khi ông ở trại tù Hầm Tân, tức trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận, nơi có suối nước trong và rặng mây tào, đã cho ông nguồn cảm hứng để sáng tác bài thơ này.
Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ
Tháp chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn.
Bài thứ hai là “Phồn Thực Ca”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại thời trai trẻ, khi ông còn là một phi công, trong một công tác ở miền tây, ông đã gặp và để ý đến một cô giáo dạy học tại đây, có nhan sắc tuyệt vời và hình bóng ấy đã đi vào hồn thơ của người thi sĩ trẻ, tạo nên nguồn thơ cảm hứng và ông đã sáng tác bài thơ ca tụng vẻ đẹp của cô giáo như sau:
Em ướp trầm hương ngân ngát thánh
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên…
Nhà Văn Việt Hải kết thúc bằng nhận xét như sau, anh nói, thơ của Thi sĩ Tagore và Thi sĩ Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm của vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc, tình yêu, đề cao con người và triết lý nhân sinh.

Chiều nay, cũng là buổi chiều mừng sinh nhật và chúc thọ Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tròn 90 tuổi. Nhà Văn Việt Hải nhắc đến bài thơ Đêm Sinh Nhật mà thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác khi ông 29 tuổi, tại Đa Kao, Saigon. Bài thơ viết theo thể loại 6-8, nói lên nỗi cô đơn của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Đêm ấy, 50 năm về trước, cũng có mưa rơi như chiều nay, nhưng hôm nay, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng không còn cảm thấy cô đơn, vì quanh ông, đã có rất nhiều người yêu mến ông và yêu mến cả thơ của ông nữa. Bài thơ “Đêm Sinh Nhật” được thi sĩ Bích Ty diễn ngâm để mừng sinh nhật thứ 90 của ông.

Sau bữa ăn tối, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng say sưa phát biểu về những sáng tác, quan điểm, nguồn cảm hứng, nỗi xúc động của ông qua thơ văn. Ông nói về những kỷ niệm khi ông du học tại Paris, nơi ông đã sáng tác những bài thơ có nhiều phong thái lãng mạn, qua những ảnh hưởng bởi đời sống, văn hóa Âu Tây, nhóm văn học hiện sinh (Existentialisme) và nhóm thơ triết học (Philopoésie)….Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tâm sự, “Thơ là sự chuẩn mực từng từ ngữ thích hợp, cho tỏa sáng ý tưởng mình muốn nói “.
Và sau cùng, Nhà Văn Quyên Di bình luận về chủ đề “Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, Một Gương Mặt Văn Học Của Việt Nam “. Ông nói: “Thi ca Cung Trầm Tưởng có những ý tưởng tôn giáo triết học. Qua lăng kính tín ngưỡng, Phật giáo/Công giáo đều được thể hiện qua ý niệm tình thương và sự sống.
Nhà Văn Quyên Di kết thúc buổi “Chiều thơ nhạc Cung Trầm Tưởng” với một câu chuyện thật hay và dí dỏm “Ai Đã Tạo Dựng Nên Người Đàn Bà?”

Buổi chiều thơ nhạc đã chấm dứt trong niềm hân hoan và luyến tiếc. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng nói, “Tôi vô cùng xúc động khi có được những giây phút hạnh phúc như thế này, xung quanh những người bạn thân quý và thương mến tôi cũng như thơ của tôi”. Trước khi ra về, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã ký tặng bạn bè hiện diện trong buổi chiều thơ nhạc tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ-1948-2008”.

Ghi dấu lại một ngày vui.
Khánh Lan tường trình từ thành phố Westminster.
-
Phóng sự về buổi “Vinh Danh và Mừng Thượng Thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh”
Click vào link để xem thêm hình
Vào lúc 1 giờ trưa ngày 16 tháng 11, năm 2019, Liên nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian” đã tổ chức buổi Vinh danh và mừng Thượng thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh tại NT Studio, trên đường Brookhurst, thành phố Westminster, California. Hôm ấy, trời thật đẹp! Những tia nắng vàng óng ánh, len lỏi qua những cành cây như để sưởi ấm vài chiếc lá khô còn sót lại trên cành. Trong một không gian lãng mạn của mùa thu, có lẽ không còn gì thú vị hơn khi được cùng bạn bè cùng thưởng thức những bài tình ca của một thời xa xưa…
Tuy mới 12:30 trưa nhưng đã có khá đông thân hữu xếp hàng ngoài cửa. Nét vui tươi hiện rõ trên khuôn mặt từng người. Phía bên trong, ban tiếp tân cũng đã bắt đầu bận rộn tiếp đón khách vào chỗ ngồi. Đúng 1 trưa, Giáo sư Quyên Di và Xướng Ngôn viên Khoa Cát (đài truyền hình SAIGON TV, 57.5) chào đón Nhạc sĩ Tuấn Khanh, phu nhân và Nhạc sĩ Bùi Thiện cùng đi chung với ông.

Khách tham dự gồm có sự hiện diện của của Nhạc sĩ Lê Văn Khoa, Nhà văn Mắt Nâu, Nhà Thơ Việt Cường, Thi Sĩ Bích Ty, Ca Sĩ Chung Tử Lưu, Ca sĩ/Bác Sĩ Vương Đức Hậu và cô Vương Minh Ngọc, Nhạc trưởng Bùi Quỳnh Giao (Ban hợp xướng Ngàn Khơi), Ca Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, Nhà Văn Nguyễn Huy Quang, Nhà văn Dương Tử, Giáo sư/Nhà văn Dương Ngọc Sum, Nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Võ Ý, Nhà báo/Nhà văn Phạm Quốc Bảo, Nhà văn Hạo Nhiên Trần Thế Ngữ, Nhà văn/Nhạc sĩ Dương Viết Điền, Nhà văn Hà Nguyên Du, Trương Thành Đức, Ông Nguyễn Lý Sáng (Cựu Hội trưởng Tây Ninh Đồng Hương Hội), Nhạc sĩ/Ca trưởng Hồng Trang (phu nhân Giáo sư Quyên Di), Tiến sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh và Tiến sĩ Nguyễn Kim (Washington D.C.), Bác sĩ/Ca sĩ Nguyễn Đức Cường, Bác sĩ/Ca sĩ Trương Đức Cường, Họa sĩ Lam Thủy, Hoạ sĩ Chính Mung, Ký Giả Uyên Vũ, Nhạc sĩ/Bác sĩ Mạc Vũ Phạm Gia Cổn và nhóm Hoàng Hạc Khí Công, nhóm Nghệ sĩ Hoa Mai Nga Lam (San Diego), Nhiếp ảnh gia Hòa Quân và rất nhiều vị khách quý nữa. Đặc biệt, còn có sự hiện của Nhà báo Phạm Kim (Báo Người Việt Tây Bắc, Seattle) từ Seattle đến.
Sau phần chào Quốc Kỳ và một phút tưởng niệm, MC Nhật Uyên thay mặt Nhà văn Việt Hải và Liên Nhóm NVNT & TTG, giới thiệu về chủ trương và sinh hoạt, thành phần Ban tổ chức, cũng như gởi lời cám ơn đến các nhà bảo trợ và các mạnh thường quân đã hỗ trợ trong việc duy trì và bảo tồn những sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của hội. Chương trình được tiếp tục với MC Khánh Lan, giới thiệu về tiểu sử cũng như những sáng tác của Nhạc sĩ Tuấn Khanh.
Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tên thật là Trần Trọng Ngọc, sinh năm 1933 tại Nam Định. Năm 1950, ông về sống tại Hà Nội và học vĩ cầm với người anh cả. Trong một bài phỏng vấn của phóng viên Đức Tuấn, tòa báo Người Việt, tháng Tư, năm 2013, Nhạc sĩ Tuấn Khanh đã tâm sự rằng, “Người thầy đầu tiên dạy nhạc cho ông là ông Nguyễn Văn Diệp, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Nhạc sĩ Tuấn Khanh chuyển sang học nhạc với ba ông thầy người Pháp, cho nên chắc chắn những sáng tác của ông, không nhiều thì ít, đã chịu ảnh hưởng nền âm nhạc Tây Phương”.
Năm 1953, ông giành giải nhất của đài phát thanh Quốc Gia về giọng hát.
Ông sáng tác cả hai thể loại: tình ca và những ca khúc mang âm hưởng nhạc tiền chiến. Đôi khi, ông viết theo lời yêu cầu của nhà xuất bản mà ông gọi là “Nhạc Đại Chúng”‘ một loại nhạc rất thịnh hành và ăn khách thời ấy. Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Thương Hoài Thương, điển hình là bài Lệ Tình, Tuy Anh Không Nói. Trần Kim Phú qua sáng tác Vì lỡ thương nhau v.v… Ngoài việc viết nhạc, ông còn là ca sĩ với nghệ danh “Trần Ngọc”.
Năm 1955, Nhạc sĩ Tuấn Khanh di cư vào miền Nam Việt Nam. Tại Saigon, ông đàn cho đài phát thanh và ban Giao Hưởng của trường Quốc Gia Âm Nhạc. Nhạc phẩm đầu tay của ông là bài “Đò Ngang”, viết cùng với Nhạc sĩ Y Vân.
Sau năm 1975, ông ngưng mọi sáng tác trong vòng 7 năm và chuyển sang nghề dạy học tại tư gia. Những lần vượt biên thất bại đã khiến ông vô cùng thất vọng, tưởng chừng mình không bao giờ có được cơ hội đặt chân lên miền đất tự do. Tuy nhiên, lần vượt biên sau cùng, ông đã thành công.
Khi đến Hoa Kỳ, ông được một nhà thờ Tin Lành bảo lãnh và ông đã sáng tác cả trăm bài nhạc đạo cho xứ đạo này. Sau sáu tháng sinh sống tại San Jose, trong một buổi nói chuyện, ông đã theo lời mời của NHẠC SĨ Phạm Duy, về sống tại miền nam California. Nơi đây, ông đã lấy lại nguồn cảm hứng và bắt đầu sáng tác lại. Vào năm 2002, Trung tâm Thúy Nga mời ông cộng tác trong chương trình “Thúy Nga By Night 64: Đêm Văn Nghệ Thính Phòng” với chủ đề vinh danh ba Nhạc sĩ: Tuấn Khanh, Vũ Thành An và Từ Công Phụng.
Nhạc sĩ Phạm Duy đã nhận xét về dòng nhạc của Nhạc sĩ Tuấn Khanh như sau: “Trong tất cả các nhạc sĩ, đã suốt một đời sáng tác cho quê hương Việt Nam, qua bao luân lạc, Nhạc sĩ Tuấn Khanh là một nhạc sĩ đã nối tiếp con đường sáng tác nhạc tiền chiến và rất thành công”.
Năm 1982, ông đinh cư tại thành phố Garden Grove, California. Tại đây, ông và gia đình mở một tiệm phở mang tên Hoa Soan Bên Thềm Cũ .
Những sáng tác của Nhạc sĩ Tuấn Khanh đều được cả khán giả trong và ngoài nước trân trọng và yêu chuộng. Ông đã sáng tác hơn một trăm nhạc phẩm. Những nhạc phẩm được lưu truyền qua nhiều thế hệ, phải nhắc đến là: Hoa Soan Bên Thềm Cũ, Chiếc Lá Cuối Cùng, Dưới Giàn Hoa Cũ, Quán Nửa Khuya, Nhạt nhòa, Nỗi Niềm, Một Chiều Đông, Kiếp Sầu Đau, Chiều Biên Khu, Tại Vắng Anh, Kiếp Sau, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, Nẻo Đường Kỷ Niệm… là những bài nổi tiếng. Ông tâm sự, phần lớn mỗi bản nhạc ông sáng tác đều mang một niềm tâm sự và phát xuất từ những cảm xúc có thật của ông. Chẳng hạn, nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” là nhạc phẩm kể lại chuyện tình ngang trái của chính ông. Cũng thế, nhạc phẩm “Nhạt Nhòa” là sáng tác của ngày chia tay người yêu trong một hoàn cảnh gần như chạy trốn, vội vã và chan hòa nước mắt. Ông cho biết ý nhạc của bài hát này đã đến với ông, ông đã ôm ấp và nuôi dưỡng nó trong tim mình trong suốt năm ngày lênh đênh trên biển cả…
Chương trình văn nghệ do Giáo sư Quyên Di và nhóm âm nhạc của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian phụ trách. Mở đầu chương trình, ban tam ca “Lâm Dung, Ngọc

Quỳnh, Ái Liên” đã trình bày nhạc phẩm bất hủ của Nhạc sĩ Tuấn Khanh “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”. Sau đó là phần trình bày của Bác sĩ/Nhạc sĩ Vương Đức Hậu. Đặc biệt, phần trình diễn nhạc phẩm “Dưới Giàn Hoa Cũ” của Ca sĩ Chung Tử Lưu với sự phụ diễn của nhóm vũ Tiếng Thời Gian (Khánh Lan, Thanh Châu)… đã khiến cho chương trình tăng thêm phần sinh động và hào hứng. Chương trình nối tiếp với những nhạc phẩm nổi tiếng như: Nhạt Nhòa, Quán Nửa Khuya, Một Chiều Đông, Chiều Biên Khu, Nỗi Niềm, Nẻo Đường Kỷ Niệm v.v….

Trong suốt thời gian 3 tiếng rưỡi, hội trường NT Studio chìm trong mê đắm. Mọi người để hết tâm hồn theo dòng nhạc, thưởng thức những khúc nhạc vàng và lắng nghe những lời chia sẻ của Nhạc sĩ Tuấn Khanh, về những cảm xúc của ông qua từng sáng tác, từng giai đoạn và những biến chuyển xảy đến cho ông, theo dòng thời gian. Dưới sân khấu, Nhạc sĩ Tuấn Khanh ngồi yên lặng, hai tay ôm tấm “plaque” mà Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thới Gian trao tặng ông, chăm chú theo dõi phần trình diễn. Mặt ông tươi sáng với nụ cười mãn nguyện luôn nở trên môi. Thỉnh thoảng, vài giọt nước mắt lăn dài trên má nhưng ông vẫn thản nhiên, không che dấu những giọt lệ hạnh phúc.

Trước khi kết thúc chương trình, Nhạc sĩ Tuấn Khanh phát biểu cảm nghĩ của ông về buổi Vinh Danh và Chúc Thọ. Giọng ông nghẹn lại vì xúc động: “Còn gì hạnh phúc cho bằng, đến cuối đời, tôi được mọi người nghĩ đến và cho tôi một buổi chiều vui như hôm nay. Tôi không biết nói gì hơn”.

Bế mạc chương trình là phần cắt bánh Vinh Danh và Chúc Thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh. Chương trình kết thúc lúc 5:00 chiều. Bài “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” được ban hợp ca Tiếng Thời Gian và thân hữu cùng hát lại lần thứ hai, rồi lại lần thứ ba, để tiễn ông ra về…
Ca sĩ Bùi Thiện kể lại: trên đường về, Nhạc sĩ Tuấn Khanh không ngừng nói về những cảm xúc của ông. Ông rất cảm động về chân tình của Giáo sư Quyên Di và Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian vì ông đã có một buổi vinh danh và mừng sinh nhật thật hạnh phúc, khó quên.
2:07 sáng ngày 26, tháng 11, 2019
Khánh Lan

-
Thi ca Cung Trầm Tưởng càng mang sắc thái triết học và tôn giáo

Hình như càng về sau, thơ Cung Trầm Tưởng càng mang sắc thái triết học và tôn giáo. Đọc thi tập Bốn “Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định,” người ta thấy rõ điều ấy.
Bài thơ “Một Người Bầu Trời Chiếc Lá và Dòng Sông” nằm trong thi tập Bốn là một thí dụ điển hình.
Trước hết là một cái nhìn về vũ trụ quan.
Bầu Trời là Thiên mà Dòng Sông là Địa. Chiếc Lá là tượng trưng của vạn vật. Còn Người là “nhân linh ư vạn vật.” Một tựa đề thôi cũng đủ vẽ ra bối cảnh của đại vũ trụ mà trong đó Người là tiểu vũ trụ.
Triết học nhị nguyên phân biệt phần hồn và phần xác, tâm linh và nhục thể, trắng và đen, tốt và xấu. Người là TÔI và Chiếc Lá cũng là TÔI. Một TÔI tâm linh từ trên cao nhìn xuống và một TÔI nhục thể gian nan trên dòng đời như chiếc lá trôi sông. Ở đây dòng sông cũng chính là dòng đời. Chính cái dòng đời ấy thoáng cho người ta thấy hai bến sông: bến mê và bến giác theo Phật giáo.
“Một người soi bóng xế mùa xuân,
Nhìn lá trôi sông luống tần ngần.
Hỏi người dưới có phong ba lắm?
Thế sự trên này còn vướng chân.”Điều thê thảm của con người là hai mảnh “tâm linh” và “nhục thể” kiếm tìm nhau mà không gặp được nhau, không ráp lại “hai thành một.” Và, điều bi thảm tột cùng của Người (tiểu vũ trụ) là không tìm được và hoà nhập được với Đại vũ trụ (cũng được hiểu là Đấng Sáng Tạo – Creator.) Đó chính là hoả ngục.
“Tôi bỏ dòng sông đi choáng váng,
Mất người bản rập hoá bơ vơ.”Trong bài thơ “Một Người Bầu Trời Chiếc Lá và Dòng Sông,” người đọc cảm nhận triết học Phật giáo: tự giác ngộ để tự cứu mình. Chính vì thế, con nhà Phật dựa vào hùng lực và tuệ giác. Chớ ai nói Phật giáo là đạo chán đời, yếm thế. Bởi vậy, để tự giác ngộ, con người phải trải qua biết bao lần quán chiếu (nhìn thật sâu vào mình, soi rọi chính Tâm của mình để hiểu nó từ chính bản thân mình):
“Thân xác tôi da liền thịt gắn,
Hình bóng người tôi kiếm triền miên.”Khác biệt lớn lao nhất giữa triết học Phật giáo và thần học Ki-tô giáo là Ơn Cứu Chuộc. Trong khi Phật giáo chủ trương “chỉ chính tôi mới cứu được tôi” thì Ki-tô giáo cho rằng tôi vốn tội lỗi và yếu hèn, không thể tự tôi cứu tôi nên tôi cần một đấng Cứu Thế. Và vì yêu thương tôi (cũng như yêu thương toàn thể nhân loại,) Thiên Chúa Ngôi Hai đã xuống thế làm người, chịu khổ nạn, chịu chết để cứu chuộc tôi. Ngài là đấng Cứu Thế.
Với nền thần học ấy thì trong bài thơ này, “Người” chính là Ngôi Hai Thiên Chúa, đấng tự xưng là Con Người (Son of Man.) Con người đang đi tìm Tôi (Chiếc Lá) để cứu chuộc tôi. Còn tôi thì cố gắng vươn lên tới gần Ngài, cho đến khi Hai thành Một. Phao-lô nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20).
Thế thì, với triết học Phật giáo, tôi tự giác, TÔI biết TÔI, LÁ và NGƯỜI là một. Tôi xin tặng Cung thi sĩ mấy câu thơ:
“Lá một hôm kia vèo trong gió,
Rời bỏ dòng sông kiếm bầu trời.
Thanh sắc mau phai hay buồn ủ, (1)
Cũng là TÔI cả, cũng là TÔI.”Còn với thần học Công giáo, Chúa Ki-tô chịu đóng đinh, chịu chết, xuống ngục tổ tông an ủi các thánh tổ tông rồi sau đó Phục sinh. Là môn đệ Đức Ki-tô, tôi cũng đi theo con đường Thầy đi. Tôi lại tặng Cung thi sĩ mấy câu thơ:
“Câu-rút thân tôi chịu đóng đinh, (2)
Lâm-bô thăm viếng để phục sinh. (3)
Nhị nguyên hai nét nay chập một,
Để mãi TÔI là TÔI hiển linh.(1) Cung Trầm Tưởng viết trong bài thơ này: “Ngày vui thanh sắc mau phai rụng, phút buồn ủ lại mãi màu tro.”
(2) Câu-rút: phiên âm chữ “cruz” trong tiếng Bồ Đào Nha, có nghĩa là cây thập tự.
(3) Lâm-bô: “Limbo” trong thần học của Giáo hội Công giáo (Latin: limbus) là một ý tưởng sơ khai về tình trạng thế giới bên kia của những người chết.Giáo sư Quyên Di
-
‘Their War,’ trả lại công bằng và danh dự cho người lính VNCH
Ba mươi phút hội luận giới thiệu cuốn “Their War” của tác giả Julie Phạm vừa diễn ra vào chiều Chủ Nhật, 10 Tháng Mười Một, 2019, tại Langston Hughes Performing Arts Theater, Seattle, tiểu bang Washington.
“Their War” là cuốn sách tóm tắt bằng Anh Ngữ về đề tài chiến tranh Việt Nam mà Julie Phạm được chấm ưu hạng ra bậc cử nhân sử tại UC Berkeley năm 2001, để nhận được học bổng tiến sĩ sử tại Đại Học Cambridge, Anh Quốc, năm 2008. Tháng Bảy vừa qua, cuốn “Their War” được Amazon in và phát hành.
Với cuốn sách này, cô Julie Phạm nói về cuộc chiến tranh ấy và giương danh cuộc chiến đấu hào hùng của người lính VNCH.
Chương trình giới thiệu sách được minh họa bằng những ca khúc xoay quanh chủ đề cuộc chiến tranh Việt Nam đã thu hút đông đảo các đối tượng khách tham dự: Khách nói tiếng Anh gồm người bản xứ, nhiều bạn trẻ người Mỹ gốc Việt và các sắc dân Á Châu khác. Khách nói tiếng Việt gồm đồng hương người Việt và các cựu chiến binh Việt Nam.
Nhà văn/Giáo Sư Quyên Di, từ California sang, là người điều hợp tổng quát chương trình. Nhà văn Phạm Quốc Bảo, nguyên chủ bút nhật báo Người Việt ở California, là người đặt câu hỏi xoay quanh nội dung tác phẩm. Và cô Julie Phạm, tác giả “Their War,” trả lời các câu hỏi.

Từ trái, tác giả Julie Phạm, nhà văn Phạm Quốc Bảo, và Giáo Sư Quyên Di. (Hình: Người Việt Tây Bắc) Cách đặt câu hỏi khéo léo và các câu trả lời thẳng thắn của tác giả tập sách được khán giả theo dõi với nhiều hứng thú và cũng làm sáng tỏ thêm về ý nghĩa, nội dung tác phẩm.
Tác giả “Their War” cho biết, tác phẩm trình bày trung thực nội dung của 40 cuộc phỏng vấn, trò chuyện với các cựu chiến binh đủ mọi cấp bậc đủ mọi binh chủng của miền Nam Việt Nam, họ từng tham dự nhiều trận chiến trên khắp các chiến trường. Vì thế, không có việc xét đoán đúng sai, phải trái hoặc biện minh cách này cách khác cho cuộc chiến ấy. Tất cả họ thực sự có cơ hội lên tiếng và trực tiếp thể hiện lên tiếng nói của họ về “Cuộc Chiến Của Họ,” như tên gọi của tác phẩm.
Trả lời câu hỏi về sự quay lưng của đồng minh lớn Hoa Kỳ dẫn đến việc kết thúc chiến tranh Việt Nam mà miền Bắc là “bên thắng cuộc,” tác giả “Their War” cho biết cô ghi nhận nguời Mỹ “loại bỏ” VNCH đến hai lần. Lần đầu, họ cam kết không bỏ rơi miền Nam nhưng rồi lần lượt rút quân về nước, cắt đứt mọi viện trợ và không một phản ứng nào khi Bắc Việt xé bỏ hiệp định chấm dứt chiến tranh năm 1973 để tiến chiếm miền Nam. Lần thứ hai, qua việc giới truyền thông Hoa Kỳ không nhắc nhở gì đến quân đội VNCH hoặc rất mờ nhạt như thể đấy là cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt chứ quân đội miền Nam thì vắng mặt.
Với tập sách “Their War” ấy, Julie Phạm muốn trả lại sự công bằng và danh dự cho người lính VNCH, trả lại tính trung thực và sự thật cho lịch sử và cũng trả lại niềm hãnh diện, nỗi tự hào cho thế hệ trẻ người Việt một khi các cháu hiểu được, hiểu rõ và hiểu đúng về cuộc chiến tranh Việt Nam và cuộc chiến đấu anh dũng của người lính miền Nam thế hệ cha ông mình.
Julie Phạm không phải là người đầu tiên làm công việc ấy, thế nhưng cô là một trong số rất ít những người trẻ, rất trẻ đã làm công việc ấy; và hơn thế nữa, đã đi vào dòng chính qua tác phẩm bằng Anh Ngữ để thêm sức phổ biến và ảnh hưởng nhiều đối tượng người đọc.
Lặng lẽ với niềm đau chôn dấu
Julie Phạm, cô không nói nhiều về những việc mình làm; thế nhưng, có một câu nói của cô đã thực sự làm nhiều người cảm động. Cô nói rằng, “Việc làm này đã mang tôi lại gần bố tôi hơn, đã cho tôi hiểu được bố tôi hơn, và càng yêu bố hơn.”
Giờ đây cô đã hiểu được bố mình hơn, một ông bố vốn chỉ sống lặng lẽ trên quê hương thứ hai của người Việt tị nạn. Và, cô cũng hiểu được những người bạn của bố mình hơn, là những đồng đội, những chiến hữu xưa từng chiến đấu bên nhau. Những người lính năm xưa ấy, một số đã lìa đời, một số tóc đã điểm sương hay đã bạc trắng mái đầu, vẫn đang sống lặng lẽ (niềm đau chôn dấu) ở quanh đây.
Những người cựu chiến binh ấy, và những hy sinh thầm lặng ấy sẽ không bao giờ bị quên lãng.
Trong ý nghĩa đó, những tác phẩm, những cuốn sách mang đến cho người đọc những nhận thức đúng đắn về cuộc chiến tranh Việt Nam và về cuộc chiến đấu can trường của người lính VNCH, như tập sách “Their War” của tác giả Julie Phạm, vẫn luôn được đón nhận với lòng trân trọng.
(Lê Hữu)
Cùng ngày, chương trình đặc biệt này cũng đánh dấu 34 năm ngày thành lập tuần báo Người Việt Tây Bắc, tờ báo tiếng Việt của cộng đồng người Việt có bề dày hoạt động lâu năm nhất tại tiểu bang Washington. Có đến trên dưới 400 khách đến với chương trình.
-
Hình ảnh buổi “Vinh danh Ns. Tuấn Khanh” Nov. 16, 2019
Ảnh của Minh Nguyễn, Sandiego
20191116 Vinh Danh ns Tuấn Khanh (click link)
-
Ra mắt ‘Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ,’ một tuyển tập ‘nặng ký’
-
MẠN ĐÀM VĂN HỌC – Thơ Nguyễn Tất Nhiên- phần 3 – MC Bích Ty
-
MẠN ĐÀM VĂN HỌC – Thơ Nguyễn Tất Nhiên
-
Chiều Thơ Nhạc Cung Trầm Tưởng

Cung Trầm Tưởng et “Philo-poesie francaise et mystique” avec un peu de concept francophone en littérature:
————————————————————————————-Sommaire … Philo-poésie et mysticisme … rencontre le poète Cung Trầm Tưởng …
L’origine de la poésie philosophique peut être référée aux soi-disant présocratiques, des penseurs qui, dans la Grèce antique, ont participé aux origines de la philosophie et étaient du milieu du Ve siècle jusqu’au IVe siècle av. J.-C., c’est-à-dire la majorité avant Socrate. Parménide, Héraclite, Empédocle et Démocrite sont les plus représentatifs de ce courant où la poésie et la philosophie sont indissociables. D’un côté, d’autres penseurs de l’époque gréco-romaine, où il nous montre que la poésie est le lien, ou au sens de la médiation, entre religion et philosophie. Ils choisissent le vers homérique, la scansion de Hésiode ainsi que le noble Horace dans les Odes, ou le fragment, mais aussi l’aphorisme ou le point, toute forme brève et confuse pour exprimer leurs pensées.
Selon Cung Trầm Tưởng, de nombreux poèmes qu’il a récemment composés reflètent en quelque sorte une pensée qui en est l’acte très mystérieux. Un autre sens, sa “nouvelle” poésie est un moyen d’évoquer la diversité de l’autre et tous les domaines de mélange entre Est et Ouest … Reliant la contribution poétique de Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre (Les jeux sont faits), … Lors de la réunion amicale de bavardage avec de nombreux membres du club NVNT & TTG, il a convenu que son nouveau style de poèmes portait aujourd’hui le mystère des questions de l’amour, de la nature, de … VHLA 20 Novembre 2019.
——————————————————————————
Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng.Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm về vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc và tình yêu. Điểm nổi bật thấm đẫm chất văn trong tư tưởng của Tagore chính là thái độ đề cao con người. Triết học của Tagore là triết lý nhân sinh, lấy nền tảng là tình yêu thương mãnh liệt đối với con người. Ông phản ánh cuộc sống khốn cùng của những người dân nô lệ Ấn với niềm cảm thông sâu sắc, gióng lên tiếng nói đấu tranh đòi tự do và cuộc sống hạnh phúc cho con người. Có thể nói, với Tagore, được sống trên đời thực sự là niềm vui cao quý khi ở đó chứa chan tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.
Trong niềm vui để sống, Thượng Đế là đấng quyền năng thần bí xa xôi. Nhưng đối với R.Tagore, thượng đế không ở đâu xa lạ mà là nguồn an ủi cho ta yên vui, T agore sống với sự lạc quan, vì để làm nguồn an ủi, nó là tình yêu thương đã mang lại cho con người khát vọng và niềm vui sống. Trong tổ ấm tình yêu thương của chúng ta hãy lấy sắc màu, âm thanh, hương thơm, ấp ủ linh hồn.”, những ý tưởng yêu thương, yêu sống và lạc quan lãng đãng trong 3 thi phẩm gồm Lời dâng (Gitanjali), Tâm tình hiến dâng (The Gardener) và Tặng vật (Lover’s Gift).Kahlil Gibran:
” Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương”.
“To wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving”
Trong tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh – Broken Wings của nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sĩ người Mỹ gốc Lebanese – Kahlil Gibran, cốt truyện đại để là:
Tình yêu là kết quả của mối liên hệ tình yêu thánh thiện, platonic, không xác thịt, tác giả cho vai người nữ là Selma. Như Cung Trầm Tưởng, sự mộng ảo Gibran đã mô tả nhan sắc Selma như một nàng tiên nữ kỳ bí, khi ẩn khi hiện. Đôi tình nhân tuy yêu nhau nhưng phải chấp nhận kết quả cay đắng, họ phải chấp nhận sự chia lìa nhau, chôn kín mối tình sầu vừa chớm nở nhưng đã trở thành thiên thu. Selma vâng lời cha đi lấy người mà nàng không yêu, vì hiểu rằng cha nàng phải làm điều đó để tránh những thảm họa đổ xuống cho gia đình. Mối tình cao đẹp ấy cuối cùng đã kết thúc bằng cái chết của Selma dù có mang. Chỉ còn lại chàng trai trẻ khóc than cho số phận trước ngôi mộ của người chàng yêu thương. Người con gái ấy đã rời bỏ kiếp sống khổ đau hiện tại để mong được tái sinh trong một cuộc đời khác cùng với đứa con vừa lọt lòng mẹ, mang theo cả tình yêu của đời nàng. Cùng với cái chết của nàng, Gibran đã chôn vùi luôn cả trái tim của mình. Một mối tình khởi đầu thật đẹp và kết thúc đầy nước mắt : Đó là mối tình chia ly tan vỡ, và đã gẫy cánh,Thơ Baudelaire
Bài L’Albatros (Chim hải âu), một trong những bài thơ nổi tiếng của Baudelaire, kết thúc bằng đoạn thơ sau đây :
“Người thi sĩ như (chim hải âu,) bay vương trên chín tầng mây
Chim bay trong bão táp và nhạo cười kẻ dương cung bắn ;
Bị đày xuống mặt đất giữa những tiếng la ó,
Hai cánh khổng lồ ngăn trở bước chân chim.”
Đó là hình ảnh của Baudelaire, cũng là hình ảnh của Cung Trầm Tưởng, vì người thi sĩ bị đày xuống trần thế say yêu và say thơ, họ rất giống nhau. Baudelaire đã sống kiếp lưu đày như thế nào ? Đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ra sao ? Thi phẩm Les Fleurs du Mal của ông có ảnh hưởng nhiều đối với thi ca Pháp và cũng như thi ca Việt Nam, mà Cung thi nhân vốn thích, tôi chia sẻ với ông điểm này.Conclusion:
Tôi suy nghĩ Cung Trầm Tưởng đã đúng với câu nói của người Pháp là: “Một người luôn ở vị thế đúng chỗ, đúng thời”.
——————————————————————————-
Những ai mến mộ dòng thơ Cung Trầm Tưởng và muốn có một buổi sinh hoạt vui tươi với thi nhân, xin liên lạc với Ban Tổ Chức chúng tôi theo Poster kèm. Một pose hình chụp chung, một dĩa bánh sinh nhật 90 của ông. hay một buổi mạn đàm thơ nhạc lưu niệm với Cung thi nhân về Cali từ nơi băng giá Minnesota..
VHLABơi trong cõi văn chương Cung Trầm Tưởng- :Việt Hải Los Angeles:
https://www.tvvn.org/cung-tram-tuong-viet-hai-los-angeles/
————————————————————————————
Thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi nhận trong thi tập
“Cung Trầm Tưởng: Một hành trình thơ 1948-2018”.Cách một tháng nhà thơ CTT ngỏ ý muốn tôi nói nhận định về thi tập này, nay tôi xin cô đọng lại chỉ nói về 2 bài thơ tiêu biểu trong loạt “thơ mới” của ông khi nhà thơ từ bỏ lối tình thơ ướt át “loại Chưa Bao Giờ Buồn Thế”: Hai bài mà tôi đàm đạo nhiều giờ cùng thi sĩ CTT với khá nhiều chi tiết lý thú là bài: “Núi và Suối Một Huyền Sử”. Đại để nhà thơ quen một bạn đồng tù ở trại Hầm Tân (tức trại trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận), gần trại có suối Nước Trong, có rặng núi Mây Tào. Chuyện kỳ tích như thần thoại Hy Lạp cổ xưa của thế kỷ hoàng kim Odysseus, có truyện tình lâm ly bi ai như lọai Romeo và Juliet. Chuyện về người con gái Ngọc Tiên và Cung Thi Nhân được thi vị hóa qua kỳ tích Ulysse gặp Pénélope như CTT đã sáng tác qua bài thơ #1.
* “Núi và Suối Một Huyền Sử”, thơ trích đoạn…
“Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ
Tháp Chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn
Tóc lăn tăn gió cỏ đuôi chồn
Lời vuốt ve ru hồn ngủ võng…
Núi giãi tâm tư, bày ước vọng
Chở chiều vàng lộng nắng rừng buông
Ôm nguyên thanh thoát một vùng hồng
Thụ phấn lòng em tình lẫm liệt”(trích thơ “Núi và Suối Một Huyền Sử” trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một Hành Trình Thơ 1948-2018)
Bài thơ #2 mang tên “Phồn Thực Ca”, tựa dề bài thơ nói về phồn tức phồn thịnh, phồn sinh, thiên nhiên phì nhiêu, được ưu đãi, ẩm thực dồi dào. Thi nhân tâm sự ngày còn trẻ ông bay công tác về miền tây tỉnh Phong Dinh Cần Thơ, thi nhân đã gặp một cô giáo Hậu Giang, cô có nước da trắng tuyệt trần, mũi cao vút, làn tóc dài như sông Cửu,.. Nàng là biểu tượng cho gái miền Nam, vùng đất kết hợp bởi 2 sắc dân, 2 nền văn minh cổ Champa và Khmer (đất Phù Nam, Óc Eo), Hai đế quốc này khi xưa chịu ảnh hưởng các nền văn hóa Brahman (Bà-la-môn) và Bangla (Ấn Bengale). Phải kể Champa (ảnh hưởng hệ phái Muslim Hồi từ gốc Mecca, trong khi Khmer chịu ảnh hưởng Ấn giáo nền văn minh Phật giáo. Vào thế kỷ 14 Chiêm quốc gây rối nước Đại Việt xứ ta vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290), đem đại binh dẹp loạn, Chiêm quân vẫn phá phách, gây rối đất ta, Khi vua Chế Bồng Nga bị quân ta sát hại tại mật trận, hai vị vua hai nước Việt Chiêm đời sau là vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), và vua bên Chiêm quốc là Chế Mân (1288 – 1307) được hòa hoãn hơn, sự liên hệ trở nên thân thiện và nồng thấm hơn, bên vua bên ta đem gả ái nữ đẹp tuyệt trần cho Chiêm vương. Chế Mân tôn vinh Huyền Trân công chúa là hoàng hậu Paramecvari. Khi Champa và Đại Việt đã sống yên vui, hòa thuận trong bang giao giữa hai nước. Chế Mân đã nhượng đất đai, dâng hai châu Ô, châu Lý (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế), Đại Việt trước đó được thêm phần đất Thuận Hóa (tỉnh Quảng Bình), xứ ta mở rộng bờ cõi.
Đây là bước chiến lược mỹ nhân kế. Những dịp lễ hội Đại Việt, vua Chế Mân phái những đoàn vũ nữ apsara với thân hình phồn sinh, nảy nở bẩm sinh, đôi bồng đảo căng tròn nhựa sống, những apsara với cơ ngơi bốc lửa, mê ly như mọng, làn da ngăm sậm bánh mật, cánh mũi thon gọn và thẳng tắp, đôi mắt to tròn sâu thẳm. Tương tự bên văn hóa Khmer cũng có những điệu vũ do Apsara như vậy trong các di tích kiến trúc tại Angkor Thom ngày nay. Các tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Châu Đốc cộng đồng Champa và Khmer Krom vẫn còn nhiều, và lễ lạc apsara vẫn phồn sinh, phồn thực như thơ Cung thi nhân. Chủ đề của nhà thơ ghi dấu huyền tích và nhan sắc, phần gái dẹp miền tây theo phạm vi nhân chủng học, nét đẹp do sự lai căng do tạp chủng (beauté par les races mélangées), vì sự tạp chủng giữa người gốc Champa và người Khmer pha lẫn sắc diện gốc Ả rập Mecca và Ấn Bangla, rồi lai Việt và Tàu, nên những thiếu nữ miệt Lục tỉnh động lòng thi nhân chăng (?), tôi xin hỏi ông nhé.
Bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”, thơ trích đoạn…
Ông viết về quyền lực siêu phàm của người nữ trong thơ Baudelaire, Cung Trầm Tưởng cho loại vầng tụng ca như sau:
Em ướp trầm hương ngan ngát thánh,
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên.
Em gần gũi cũng thiêng khôn kể,
Dạy dỗ thi ca ý niệm đền.Là khởi sự cùng là kết thúc,
Đầu nguồn mạch nước, cuối dòng sông.
Em sinh sôi những áng cầu vồng,
Trước Sách Ước đến sau cùng Lịch Sử.(trích thơ “Phồn thực ca” trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một Hành Trình Thơ 1948-2018).
CTT qua bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”. thi nhân CTT có hỏi tôi có biết gái miền tây đẹp như thế nào không, tôi bảo “Vợ em là gái Bắc Hà thành ra nên em không biết nhiều về các cô gái Cửu Long giang, miền Tây lục tỉnh ra sao”. Thi nhân bảo gái miền Tây đơm hoa kết trái bởi hương thơm mít tố nữ, bởi hương thơm hoa sứ nhà nàng (vì champa có nghĩa là hoa sứ), ôi chao nào những apsara phồn thực, kỳ bí, như những bầu vú sữa tím than, sa pô chê, nhãn lòng, cam mật, mận ngọt, quít đường,.. Với ký ức nay đã vào dĩ vãng với cô giáo Tây Đô ngày xưa, Cung thi nhân hình thành bài thơ “Phồn Thực Ca”, có liên hệ đến ký tích vũ công apsara dù nét xinh đẹp của người con gái có nguồn gốc tạp chủng của các nền văn minh cổ Champa và Khmer.
————————————————————————————-
Cung Trầm Tưởng
Cung Trầm Tưởng là một nhà thơ rất quen thuộc từ đầu thập niên 60. Tên tuổi Ông nhanh chóng tràn vào giới thanh niên trí thức thời bấy giờ khi ông từ Pháp trở về Việt Nam cùng không khí lãng mạn của phong trào thơ mới, lúc đó vẫn còn ảnh hưởng nhiều đến thanh niên trí thức Việt Nam.
Mặc Lâm, phóng viên RFA
2010-01-05Photo: Cung Trầm Tưởng
Ngay cái tên của ông cũng đã ấn tượng đối với nhiều người vì chất văn học rất đậm trong mỗi chữ: Cung Trầm Tưởng.
“Tôi là Cung Trầm Tưởng vào khoảng 50-51 tôi du học tại Pháp..sau đó tôi thi đỗ vào trường không quân của Pháp học chung với ông Nguyễn Xuân Vinh, ông Nguyễn Ngọc Loan…Đến năm 1957 tôi trở lại Sài Gòn và phục vụ trong binh chủng không quân cho đến ngày 30/4/1975 tức là được 23 năm.
Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế được tôi sáng tác trong khoảng thời gian này. Có những bài thơ tôi chưa từng đăng bất cứ báo nào thì bây giờ nó sẽ được tập trung lại trong toàn tập thơ của tôi trong 60 năm mang tên Cung Trầm Tưởng và Hành Trình Thơ, sẽ được xuất bản trong năm tới.”
Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như: Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế… Cung Trầm Tưởng.
Cung Trầm Tưởng vừa sơ lược cho chúng ta biết về đời sống sáng tác của ông mà trong đó phần quan trọng nhất làm nên một Cung Trầm Tưởng từ một bài thơ sống rất lâu trong trí nhớ nhiều người đó là tác phẩm Mùa Thu Paris. Tác phẩm này được đem tới người nghe qua tài năng của Nhạc sĩ Phạm Duy khi ông phổ nó thành thơ và giới thiệu trên đài phát thanh Sài Gòn.
Ngôn ngữ trong bài thơ thật ra không phải mới lạ hay phá cách để nổi tiếng, bài thơ được giới trẻ đón nhận một cách thích thú vì một chi tiết trước đó chưa bao giờ xảy ra, đó là:
Một chàng thanh niên Việt Nam du học có người yêu bên Pháp với tóc vàng mắt xanh… hai người yêu nhau và chính những cuộc chia tay trên ga vắng đã thi vị hóa câu chuyện để nó trở thành một mode mới trong đời sống thanh niên thời bấy giờ. Bài
thơ như một trang sách mới cùng những con đường lạ lẫm bên trời Tây mở ra cho giới trẻ và đâu đó người đọc cảm thấy phần nào hả hê bù đắp lòng tự ái dân tộc đã bị mất mát khá nhiều dưới gót giày được gọi là khai hóa văn minh của thực dân Pháp.
Mùa thu Paris
Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn lyMùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờMùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt gía từ tâmMùa thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầuMùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thìMùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đờiMùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tùMùa thu !… Trời ơi ! Tình thu !
Nhà thơ Cung Trầm Tưởng chia sẻ với chúng ta kỷ niệm về bài thơ này:
“Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Thời đó tôi học ở trường Pháp cứ bị mang tiếng là Tây con, đã sẵn có ngôn ngữ Pháp và văn hóa Pháp thấm nhuần trong người thành ra sang bên đó mình không bị lạ lẫm. Tôi gặp một số mối tình dù rằng không vĩnh viễn nhưng nó đánh giá những kỷ niệm đầu đời của mình.”Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Cung Trầm Tưởng.
Kỷ niệm đầu đời cùng các mối tình tóc vàng mắt xanh ấy đã là nguồn cảm hứng cho nhiều bài thơ của Cung Trầm Tưởng vào thời mới lớn. Những chiếc ga nhỏ nằm trơ trọi giữa mùa đông nước Pháp đã từng chứng kiến biết bao cuộc chia tay trước đó, lại một lần nữa nhìn ngắm mối tình dị chủng giữa một chàng trai một đất nước bị trị và một cô gái tóc vàng, đại diện cho văn hóa và nếp sống phương Tây.
Từ đây trong hơi thở rẽ chia ấy, bắt đầu một thấm đượm khác nối liền hai bờ đại dương. Và cũng bắt đầu một vói ra ngoài, một trằn trọc mới đối với hàng triệu thanh niên Sài Gòn thời bấy giờ.
Chưa bao giờ buồn thế
Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia lyTiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cáchGa Lyon đèn vàng
Tuyết rơi buồn mênh mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màngHôn nhau phút này rồi
Chia tay nhau tức khắc
Khóc đi em. khóc đi em
Hỡi người yêu xóm học
Để sương thấm bờ đêm
Đường anh đi tràn ngập lệ buồn em…Ôi đêm nay
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia lyTàu em đi tuyết phủ
Toa anh lạnh gió đầy
Làm sao anh không rét
Cho ấm mộng đêm nay
Và mơ ngon trên khắp nẻo đường rầy !Trời em mơ có sao
Mình anh đêm ở lại
Trời mùa đông Paris
Không bao giờ có saoTrời mùa đông Paris
Chưa bao giờ buồn thế !Cung Trầm Tưởng không phảỉ chỉ làm thơ tình với những khuông mẫu yêu đương trai gái. Dù lãng mạn hay cổ điển thì thơ tình không thể chia sẻ được hết mọi khổ đau của một người bị đày đoạ trong vòng tù ngục. Cung Trầm Tưởng như hàng trăm ngàn người khác sau khi Sài Gòn sụp đổ, đã cùng với đồng đội vào những nhà tù tập trung cải tạo để trả lời cho bài học lịch sử về ý nghĩa cuộc chiến tranh mà ông và đồng đội là những người thua cuộc.
Thơ của Cung Trầm Tưởng từ đây trở thành lạnh lẽo và chai cứng hơn. Chữ nghĩa ông sử dụng trong các bài thơ tù trở nên sắc sảo đến kỳ lạ. Sắc sảo và đớn đau như kim châm vào tim giữa mùa đông miền Bắc:
Áo tù thẫm máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Ngó tay bỗng thấy già nua
Cứa em thân xác thấy mùa thu quaMôi cằn má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén canh pha nước bùn
Đêm nằm ruột rỗng vai run
Đầu kề tiếng súng chân đùn bóng đêm…Bài thơ được làm tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977 cách bài Mùa Thu Paris hơn 25 năm. Khoảng cách thời gian không làm bài thơ lạnh hơn mà chính khoảng cách con người làm bài thơ gần như hóa đá.
Ngôn ngữ thơ trong bài này bàn bạc những ẩn ức rất đời thường của người tù và người đọc cảm nhận ngay tính chất cay nghiệt của nó.
Thế nhưng Cung Trầm Tưởng lại có những bài thơ tù thấm đậm chất triết học. Nhà thơ tĩnh tại nhìn ngắm biến thiên của đời sống và thiền định tâm tưởng mình với những câu tuyệt đẹp:Mưa về gióng lê thê
Nai kêu nguồn đâu đó
Xưa nay tù ngục đỏ
Mấy ai đã trở vềVỗ, vỗ rơi tàn thuốc
Thả khói vào mông lung
Hư vô đẹp não nùng
Nụ hôn đời khốc liệt“Nụ hôn khốc liệt” dành cho đời phải chăng là một cách phản ứng thụ động trong thế giới bừng bừng thống nhục mà nhà thơ đang trải nghiệm?
Cõi sầu ta tinh khiết
Thép quắc vầng trán cao
Phong sương dệt chiến bào
Với máu se làm chỉĐã đi trăm hùng vĩ
Xông pha lắm đoạn trường
về làm đá hoa cương
Gởi đời sau tạc tượngNguồn sống hồi sinh
Cung Trầm Tưởng trở về với cuộc sống sau khi đã nếm trải đầy đủ mọi thứ mùi vị của tù nhân như hàng trăm ngàn người khác.
Trong không khí gia đình, ông có những dòng thơ gợi mở tinh khiết hơn sau nhiều năm tháng thiếu vắng. Tiếng chuông nhà thờ và những nhành huệ trắng đã giúp ông gội rửa tâm tình để tâm hồn ngày một tươi tắn hơn, Ông tìm ra được nguồn suối trong ngay tại nhà mình hay nói đúng hơn, ngay tại lòng mình, một cõi lòng đang chuyển mình cùng với thiên nhiên để tạm quên cõi tục.
Huệ trắng trinh nguyên sau một đêm
Huệ trong thư các huệ ngoài thềm
Sớm nay Chủ Nhật thơm thương quá
Chỉ có Sài Gòn trong dáng emChủ Nhật niềm tin màu huệ trắng
Hiền từ xoạt áo như lời kinh
Em đi lễ nhất trời trên ngõ
Dẫy tóc đen mềm ánh sao xanh…Sài Gòn dưới mắt nhà thơ đã dần dần lấy lại được hình ảnh tinh khôi của nó vào những sớm mai trong trẻo. Người con gái trong thơ ông từ từ sống lại, khác với cô tóc vàng khi xưa, cô gái Sài Gòn bây giờ trắng như huệ và trong như ban mai trinh nguyên của một Sài Gòn ấm áp.
Tuy thế, người yêu thơ Cung Trầm Tưởng không dễ gì quên cô gái tóc vàng bên trời Tây cách đây hơn 50 năm để chia sẻ những cảm nhận của nhà thơ những hình ảnh của các cô gái Sài Gòn ngày nay.
Tiếng còi tàu vẫn chứng tỏ ma lực của nó quyến rũ người đọc thơ đến mức sau bằng ấy năm, hình như mỗi lần nghe lại bản nhạc Tiễn Em do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ “Chưa Bao Giờ Buồn Thế” của ông, người nghe vẫn cảm thấy hình như đang dấy lên nỗi buồn man mác.
Nỗi buồn không tên nhưng có thật. Và nó vẫn ở đấy trong bất cứ người nào nếu từng thừa nhận rằng sự chia tay nào cũng đều rơi nước mắt…
RFA link: https://www.rfa.org/…/Arts-and-Literature-Magazine-Cung-Tra…
Thi Ca Cung Trầm Tưởng:
https://baotreonline.com/…/gio…/cung-tram-tuo%CC%89ng.baotreCung Trầm Tưởng:và tác phẩm, Một hành trình thơ:
https://www.nguoinam.com/phpbb/viewtopic.php?f=144&t=3136Mùa thu Paris – Cung Trầm Tưởng và Tiễn em – Phạm Duy:
https://bacsiletrungngan.wordpress.com/…/chua-bao-gio-buon…/Cung Trầm Tưởng và một hành trình thơ 60 năm:
http://www.viendongdaily.com/cung-tram-tuong-va-mot-hanh-tr…Nhà thơ Cung Trầm Tưởng và hoàn cảnh sáng tác những bài thơ Paris nổi tiếng: “lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế…”
http://vietmania.blogspot.com/…/nha-tho-cung-tram-tuong-va-
-
MẠN ĐÀM VĂN HỌC


