-
Thi ca và sự huyền bí: Hội ngộ cùng nhà thơ Cung Trầm Tưởng lần thứ 5.
Nguồn gốc của thơ triết học (philo-poésie) có thể được gọi là cái gọi là Presocratics, những nhà tư tưởng ở thời Hy Lạp cổ đại, đã tham gia vào nguồn gốc của triết học và từ giữa thế kỷ thứ năm cho đến thế kỷ thứ tư trước Công nguyên. J. – C., nghĩa là đa số thức giả này hiện diện trước thời Socrates. Parmenides, Heraclitus, Empedocles và Democritus là những đại diện tiêu biểu nhất của hiện tại nơi mà thi ca và triết học không thể tách rời ra. Một mặt thì các nhà tư tưởng khác của thời đại Greco-Roman, nơi mà cho chúng ta thấy rằng thi ca là mối liên kết khá chặt chẽ hoặc trong ý nghĩa trung gian giữa tôn giáo và triết học. Họ chọn câu thơ Homeric, câu chuyện về Hesiod cũng như Horace cao quý trong Odes (Ode xuất phát từ “aeidein” của Hy Lạp, có nghĩa là ca hát hoặc cầu kinh kệ, và thuộc về truyền thống cổ xưa), vốn mang tính đa dạng của thơ trữ tình. Ban đầu Ode được kèm theo phần âm nhạc và khiêu vũ. Đấy là tương quan cho khái niệm thơ triết thuở tiên khởi của philo-poésie.
Theo Cung Trầm Tưởng, đã có nhiều bài thơ mà ông sáng tác gần đây phản ánh bằng cách nào đó và do một ý nghĩ nào đó là hành động rất bí ẩn. Một ý nghĩa khác, thơ “mới” của ông là một cách để gợi lên sự đa dạng của người khác và tất cả các lãnh vực pha trộn giữa Đông và Tây, … Liên quan đến sự đóng góp đầy chất thơ của Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre (tác giả truyện hư cấu giả tưởng của định mệnh kiếp sau, Les jeux sont faits), … Trong cuộc gặp gỡ tình bạn thân thiện với nhiều thành viên của câu lạc bộ Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, ông đã đồng ý rằng phong cách thơ mới của mình hôm nay mang vẻ bí ẩn về các vấn đề của tình yêu, thiên nhiên, con người, và của tâm linh..
Bàn về thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng.
Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm về vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc và tình yêu. Điểm nổi bật thấm đẫm chất văn trong tư tưởng của Tagore chính là thái độ đề cao con người. Triết học của Tagore là triết lý nhân sinh, lấy nền tảng là tình yêu thương mãnh liệt đối với con người. Ông phản ánh cuộc sống khốn cùng của những người dân nô lệ Ấn với niềm cảm thông sâu sắc, gióng lên tiếng nói đấu tranh đòi tự do và cuộc sống hạnh phúc cho con người. Có thể nói, với Tagore, được sống trên đời thực sự là niềm vui cao quý khi ở đó chứa chan tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.Trong niềm vui để sống, Thượng Đế là đấng quyền năng thần bí xa xôi. Nhưng đối với R.Tagore, thượng đế không ở đâu xa lạ mà là nguồn an ủi cho ta yên vui, T agore sống với sự lạc quan, vì để làm nguồn an ủi, nó là tình yêu thương đã mang lại cho con người khát vọng và niềm vui sống. Trong tổ ấm tình yêu thương của chúng ta hãy lấy sắc màu, âm thanh, hương thơm, ấp ủ linh hồn”, những ý tưởng yêu thương, yêu sống và lạc quan lãng đãng trong 3 thi phẩm gồm Lời dâng (Gitanjali), Tâm tình hiến dâng (The Gardener) và Tặng vật (Lover’s Gift).
Còn về nhà thơ Kahlil Gibran:
Nhiều người còn nhớ câu nói của ông là “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương”. (To wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving.)
Trong tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh – Broken Wings của nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sĩ người Mỹ gốc Lebanese – Kahlil Gibran, cốt truyện đại để là: “Tình yêu là kết quả của mối liên hệ tình yêu thánh thiện, platonic, không xác thịt, tác giả cho vai người nữ là Selma. Như Cung Trầm Tưởng, sự mộng ảo Gibran đã mô tả nhan sắc Selma như một nàng tiên nữ kỳ bí, khi ẩn khi hiện. Đôi tình nhân tuy yêu nhau nhưng phải chấp nhận kết quả cay đắng, họ phải chấp nhận sự chia lìa nhau, chôn kín mối tình sầu vừa chớm nở nhưng đã trở thành thiên thu. Selma vâng lời cha đi lấy người mà nàng không yêu, vì hiểu rằng cha nàng phải làm điều đó để tránh những thảm họa đổ xuống cho gia đình. Mối tình cao đẹp ấy cuối cùng đã kết thúc bằng cái chết của Selma dù có mang. Chỉ còn lại chàng trai trẻ khóc than cho số phận trước ngôi mộ của người chàng yêu thương. Người con gái ấy đã rời bỏ kiếp sống khổ đau hiện tại để mong được tái sinh trong một cuộc đời khác cùng với đứa con vừa lọt lòng mẹ, mang theo cả tình yêu của đời nàng. Cùng với cái chết của nàng, Gibran đã chôn vùi luôn cả trái tim của mình. Một mối tình khởi đầu thật đẹp và kết thúc đầy nước mắt : Đó là mối tình chia ly tan vỡ, và đã gẫy cánh”.Nào với Thơ Baudelaire
Bài L’Albatros (Chim hải âu), một trong những bài thơ nổi tiếng của Baudelaire, kết thúc bằng đoạn thơ sau đây :
“Người thi sĩ như (chim hải âu) bay vương trên chín tầng mây
Chim bay trong bão táp và nhạo cười kẻ dương cung bắn ;
Bị đày xuống mặt đất giữa những tiếng la ó,
Hai cánh khổng lồ ngăn trở bước chân chim.”Đó là hình ảnh của Baudelaire, cũng là hình ảnh của Cung Trầm Tưởng, vì người thi sĩ bị đày xuống trần thế say yêu và say thơ, họ rất giống nhau. Baudelaire đã sống kiếp lưu đày như thế nào ? Đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ra sao ? Thi phẩm Les Fleurs du Mal của ông có ảnh hưởng nhiều đối với thi ca Pháp và cũng như thi ca Việt Nam, mà Cung thi nhân vốn thích, tôi chia sẻ với ông điểm này.
Xét về thơ tiêu biểu của thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi nhận trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một hành trình thơ 1948-2018”. Nay tôi xin cô đọng lại chỉ nói về 2 bài thơ tiêu biểu trong loạt “thơ mới” của ông khi nhà thơ từ bỏ lối tình thơ ướt át như loại Chưa Bao Giờ Buồn Thế: Hai bài mà tôi đàm đạo nhiều giờ cùng thi sĩ CTT với khá nhiều chi tiết lý thú là bài: “Núi và Suối Một Huyền Sử”. Đại để nhà thơ quen một bạn đồng tù ở trại Hầm Tân (tức trại trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận), gần trại có suối Nước Trong, có rặng núi Mây Tào. Chuyện kỳ tích như thần thoại Hy Lạp cổ xưa của thế kỷ hoàng kim Odysseus, có truyện tình lâm ly bi ai như lọai Romeo và Juliet. Chuyện về người con gái Ngọc Tiên và Cung Thi Nhân được thi vị hóa qua kỳ tích Ulysse gặp Pénélope như CTT đã sáng tác một trường thi dài 5 trang sách.
Bài thi ca thứ #2 mang tên “Phồn Thực Ca”, tựa đề bài thơ dài 3 trang sách nói về yếu tố phồn tức phồn thịnh, phồn sinh, thiên nhiên phì nhiêu, được ưu đãi, ẩm thực dồi dào,… Thi nhân tâm sự ngày còn trẻ ông bay công tác về miền tây tỉnh Phong Dinh Cần Thơ, thi nhân đã gặp một cô giáo,. Cô có nước da trắng tuyệt trần, mũi cao vút, làn tóc dài như sông Cửu,.. Nàng là biểu tượng cho gái miền Nam, vùng đất kết hợp bởi 2 sắc dân, 2 nền văn minh cổ Champa và Khmer (đất Phù Nam, Óc Eo), Hai đế quốc này khi xưa chịu ảnh hưởng các nền văn hóa Brahman (Bà-la-môn) và Bangla (Ấn Bengale). Phải kể Champa (ảnh hưởng hệ phái Muslim Hồi từ gốc Mecca, trong khi Khmer chịu ảnh hưởng Ấn giáo nền văn minh Phật giáo. Vào thế kỷ 14 Chiêm quốc gây rối nước Đại Việt xứ ta vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290), đem đại binh dẹp loạn, Chiêm quân vẫn phá phách, gây rối đất ta, Khi vua Chế Bồng Nga bị quân ta sát hại tại mật trận, hai vị vua hai nước Việt Chiêm đời sau là vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), và vua bên Chiêm quốc là Chế Mân (1288 – 1307) được hòa hoãn hơn, sự liên hệ trở nên thân thiện và nồng thấm hơn, bên vua bên ta đem gả ái nữ đẹp tuyệt trần cho Chiêm vương. Chế Mân tôn vinh Huyền Trân công chúa là hoàng hậu Paramecvari. Khi Champa và Đại Việt đã sống yên vui, hòa thuận trong bang giao giữa hai nước. Chế Mân đã nhượng đất đai, dâng hai châu Ô, châu Lý (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế), Đại Việt trước đó được thêm phần đất Thuận Hóa (tỉnh Quảng Bình), xứ ta mở rộng bờ cõi.
Đây là bước tiến mở mang bờ cõi chiến lược mỹ nhân kế. Những dịp lễ hội Đại Việt, vua Chế Mân phái những đoàn vũ nữ apsara với thân hình phồn sinh, nảy nở bẩm sinh, đôi bồng đảo căng tròn nhựa sống, những apsara với cơ ngơi bốc lửa, mê ly như mọng, làn da ngăm sạm bánh mật, cánh mũi thon gọn và thẳng tắp, đôi mắt to tròn sâu thẳm. Tương tự bên văn hóa Khmer cũng có những điệu vũ do Apsara như vậy trong các di tích kiến trúc tại Angkor Thom ngày nay. Các tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Châu Đốc cộng đồng Champa và Khmer Krom vẫn còn nhiều, và lễ lạc apsara vẫn phồn sinh, phồn thực như thơ Cung thi nhân. Chủ đề của nhà thơ ghi dấu huyền tích và nhan sắc, phần gái đẹp miền tây theo phạm vi nhân chủng học, nét đẹp do sự lai căng do tạp chủng (beauté par les races mélangées), vì sự tạp chủng giữa người gốc Champa và người Khmer pha lẫn sắc diện gốc Ả rập Mecca và Ấn Bangla, rồi lai Việt và Tàu, nên những thiếu nữ miệt Lục tỉnh động lòng thi nhân chăng (?), tôi xin hỏi ông nhé.
CTT điểm qua bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”. Thi nhân CTT có hỏi tôi có biết gái miền tây đẹp như thế nào không, tôi bảo “Không”. Thi nhân mạn đàm là gái miền Tây đơm hoa kết trái bởi hương thơm mít tố nữ, bởi hương thơm hoa sứ nhà nàng (vì champa có nghĩa là hoa sứ), ôi chao nào những apsara phồn thực, kỳ bí, như những bầu vú sữa tím than, sa pô chê, nhãn lồng, cam mật, mận ngọt, quít đường,.. Với ký ức nay đã vào dĩ vãng với cô giáo Tây Đô, tên Hậu Giang của thuở ngày xưa, Vẻ đẹp nhân hậu khiến Cung thi nhân hình thành bài thơ “Phồn Thực Ca”. Góc dĩ vãng đưa ông trở về với lý luận có mối liên hệ đến lịch sử cũ và ký tích vũ công apsara dù nét xinh đẹp của người con gái hậu giang đó có nguồn gốc tạp chủng ra sao của các nền văn minh cổ Champa hay Khmer, vẫn như nét huyền bí, và thần thoại trong chất thi ca của ông.



Hôm họp mặt hội ngộ thân hữu thi ca văn học với liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã huyên thuyên, hoạt bát say thơ trên sân khấu, ông đưa cử tọa về một góc trời Paris, có ga Lyon đèn vàng, có vườn Luxembourg. Thi ca huyền bí có Ngọc Tiên một huyền thoại Pénélope của Hy Lạp, rồi có lịch sử hiện về với “Phồn Thực Ca”. Vẻ đẹp Apsara Champa, hay Angkor Thom ẩn chứa nét thi triết vũ trụ, thiên nhiên, văn hóa, tâm linh, con người,… những khía cạnh mà thi ca Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre,… phản ảnh trong chất thơ. Chất thơ như vậy mang tính chất đồng bộ với thi ca Cung Trầm Tưởng.
Trong quan điểm “La bonne personne au bon endroit au bon moment” vì hầu như Cung thi nhân mang cung mạng Kim Phong Kiếm (Vàng ở Kiếm), vốn là người của danh vọng, của đào hoa, của số đỏ hồng loan chiếu mạng. Nhà thơ xét theo tướng số tử vi, ông Nhâm Thân (1932) được sao văn xương hội tụ cùng cung hóa khoa chiếu bổn thân, khiến bao lộc may văn cung hỗ trợ mệnh chủ tế về diện công danh phú quới, bổn mệnh được tài cao đức trọng nhờ văn chương, thi phú có biểu hiện xuất sắc về mặt tài nghệ thâm sâu văn học.
Như quan điểm trên, tôi suy nghĩ Cung Trầm Tưởng đã đúng với câu nói của người Pháp là: “Một người luôn ở vị thế đúng chỗ, đúng thời”.
Vâng, ông là người của duyên số danh vọng mãn kiếp! (L’homme de gloire kalpa, toujours!).
Trần Việt Hải, Los Angeles.
Cung Trầm Tưởng et “Philo-poesie francaise et mystique” avec un peu de concept francophone en littérature:
————————————————————————————-Sommaire … Philo-poésie et mysticisme … rencontre le poète Cung Trầm Tưởng …
L’origine de la poésie philosophique peut être référée aux soi-disant présocratiques, des penseurs qui, dans la Grèce antique, ont participé aux origines de la philosophie et étaient du milieu du Ve siècle jusqu’au IVe siècle av. J.-C., c’est-à-dire la majorité avant Socrate. Parménide, Héraclite, Empédocle et Démocrite sont les plus représentatifs de ce courant où la poésie et la philosophie sont indissociables. D’un côté, d’autres penseurs de l’époque gréco-romaine, où il nous montre que la poésie est le lien, ou au sens de la médiation, entre religion et philosophie. Ils choisissent le vers homérique, la scansion de Hésiode ainsi que le noble Horace dans les Odes, ou le fragment, mais aussi l’aphorisme ou le point, toute forme brève et confuse pour exprimer leurs pensées.
Selon Cung Trầm Tưởng, de nombreux poèmes qu’il a récemment composés reflètent en quelque sorte une pensée qui en est l’acte très mystérieux. Un autre sens, sa “nouvelle” poésie est un moyen d’évoquer la diversité de l’autre et tous les domaines de mélange entre Est et Ouest … Reliant la contribution poétique de Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre (Les jeux sont faits), … Lors de la réunion amicale de bavardage avec de nombreux membres du club NVNT & TTG, il a convenu que son nouveau style de poèmes portait aujourd’hui le mystère des questions de l’amour, de la nature, de … VHLA 20 Novembre 2019.
——————————————————————————
Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng.Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm về vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc và tình yêu. Điểm nổi bật thấm đẫm chất văn trong tư tưởng của Tagore chính là thái độ đề cao con người. Triết học của Tagore là triết lý nhân sinh, lấy nền tảng là tình yêu thương mãnh liệt đối với con người. Ông phản ánh cuộc sống khốn cùng của những người dân nô lệ Ấn với niềm cảm thông sâu sắc, gióng lên tiếng nói đấu tranh đòi tự do và cuộc sống hạnh phúc cho con người. Có thể nói, với Tagore, được sống trên đời thực sự là niềm vui cao quý khi ở đó chứa chan tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.
Trong niềm vui để sống, Thượng Đế là đấng quyền năng thần bí xa xôi. Nhưng đối với R.Tagore, thượng đế không ở đâu xa lạ mà là nguồn an ủi cho ta yên vui, T agore sống với sự lạc quan, vì để làm nguồn an ủi, nó là tình yêu thương đã mang lại cho con người khát vọng và niềm vui sống. Trong tổ ấm tình yêu thương của chúng ta hãy lấy sắc màu, âm thanh, hương thơm, ấp ủ linh hồn.”, những ý tưởng yêu thương, yêu sống và lạc quan lãng đãng trong 3 thi phẩm gồm Lời dâng (Gitanjali), Tâm tình hiến dâng (The Gardener) và Tặng vật (Lover’s Gift).Kahlil Gibran:
” Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương”.
“To wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving”
Trong tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh – Broken Wings của nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sĩ người Mỹ gốc Lebanese – Kahlil Gibran, cốt truyện đại để là:
Tình yêu là kết quả của mối liên hệ tình yêu thánh thiện, platonic, không xác thịt, tác giả cho vai người nữ là Selma. Như Cung Trầm Tưởng, sự mộng ảo Gibran đã mô tả nhan sắc Selma như một nàng tiên nữ kỳ bí, khi ẩn khi hiện. Đôi tình nhân tuy yêu nhau nhưng phải chấp nhận kết quả cay đắng, họ phải chấp nhận sự chia lìa nhau, chôn kín mối tình sầu vừa chớm nở nhưng đã trở thành thiên thu. Selma vâng lời cha đi lấy người mà nàng không yêu, vì hiểu rằng cha nàng phải làm điều đó để tránh những thảm họa đổ xuống cho gia đình. Mối tình cao đẹp ấy cuối cùng đã kết thúc bằng cái chết của Selma dù có mang. Chỉ còn lại chàng trai trẻ khóc than cho số phận trước ngôi mộ của người chàng yêu thương. Người con gái ấy đã rời bỏ kiếp sống khổ đau hiện tại để mong được tái sinh trong một cuộc đời khác cùng với đứa con vừa lọt lòng mẹ, mang theo cả tình yêu của đời nàng. Cùng với cái chết của nàng, Gibran đã chôn vùi luôn cả trái tim của mình. Một mối tình khởi đầu thật đẹp và kết thúc đầy nước mắt : Đó là mối tình chia ly tan vỡ, và đã gẫy cánh,Thơ Baudelaire
Bài L’Albatros (Chim hải âu), một trong những bài thơ nổi tiếng của Baudelaire, kết thúc bằng đoạn thơ sau đây :
“Người thi sĩ như (chim hải âu,) bay vương trên chín tầng mây
Chim bay trong bão táp và nhạo cười kẻ dương cung bắn ;
Bị đày xuống mặt đất giữa những tiếng la ó,
Hai cánh khổng lồ ngăn trở bước chân chim.”
Đó là hình ảnh của Baudelaire, cũng là hình ảnh của Cung Trầm Tưởng, vì người thi sĩ bị đày xuống trần thế say yêu và say thơ, họ rất giống nhau. Baudelaire đã sống kiếp lưu đày như thế nào ? Đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ra sao ? Thi phẩm Les Fleurs du Mal của ông có ảnh hưởng nhiều đối với thi ca Pháp và cũng như thi ca Việt Nam, mà Cung thi nhân vốn thích, tôi chia sẻ với ông điểm này.Conclusion:
Tôi suy nghĩ Cung Trầm Tưởng đã đúng với câu nói của người Pháp là: “Một người luôn ở vị thế đúng chỗ, đúng thời”.
——————————————————————————-
Những ai mến mộ dòng thơ Cung Trầm Tưởng và muốn có một buổi sinh hoạt vui tươi với thi nhân, xin liên lạc với Ban Tổ Chức chúng tôi theo Poster kèm. Một pose hình chụp chung, một dĩa bánh sinh nhật 90 của ông. hay một buổi mạn đàm thơ nhạc lưu niệm với Cung thi nhân về Cali từ nơi băng giá Minnesota..
VHLABơi trong cõi văn chương Cung Trầm Tưởng- :Việt Hải Los Angeles:
https://www.tvvn.org/cung-tram-tuong-viet-hai-los-angeles/
————————————————————————————
Thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi nhận trong thi tập
“Cung Trầm Tưởng: Một hành trình thơ 1948-2018”.Cách một tháng nhà thơ CTT ngỏ ý muốn tôi nói nhận định về thi tập này, nay tôi xin cô đọng lại chỉ nói về 2 bài thơ tiêu biểu trong loạt “thơ mới” của ông khi nhà thơ từ bỏ lối tình thơ ướt át “loại Chưa Bao Giờ Buồn Thế”: Hai bài mà tôi đàm đạo nhiều giờ cùng thi sĩ CTT với khá nhiều chi tiết lý thú là bài: “Núi và Suối Một Huyền Sử”. Đại để nhà thơ quen một bạn đồng tù ở trại Hầm Tân (tức trại trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận), gần trại có suối Nước Trong, có rặng núi Mây Tào. Chuyện kỳ tích như thần thoại Hy Lạp cổ xưa của thế kỷ hoàng kim Odysseus, có truyện tình lâm ly bi ai như lọai Romeo và Juliet. Chuyện về người con gái Ngọc Tiên và Cung Thi Nhân được thi vị hóa qua kỳ tích Ulysse gặp Pénélope như CTT đã sáng tác qua bài thơ #1.
* “Núi và Suối Một Huyền Sử”, thơ trích đoạn…
“Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ
Tháp Chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn
Tóc lăn tăn gió cỏ đuôi chồn
Lời vuốt ve ru hồn ngủ võng…
Núi giãi tâm tư, bày ước vọng
Chở chiều vàng lộng nắng rừng buông
Ôm nguyên thanh thoát một vùng hồng
Thụ phấn lòng em tình lẫm liệt”(trích thơ “Núi và Suối Một Huyền Sử” trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một Hành Trình Thơ 1948-2018)
Bài thơ #2 mang tên “Phồn Thực Ca”, tựa dề bài thơ nói về phồn tức phồn thịnh, phồn sinh, thiên nhiên phì nhiêu, được ưu đãi, ẩm thực dồi dào. Thi nhân tâm sự ngày còn trẻ ông bay công tác về miền tây tỉnh Phong Dinh Cần Thơ, thi nhân đã gặp một cô giáo Hậu Giang, cô có nước da trắng tuyệt trần, mũi cao vút, làn tóc dài như sông Cửu,.. Nàng là biểu tượng cho gái miền Nam, vùng đất kết hợp bởi 2 sắc dân, 2 nền văn minh cổ Champa và Khmer (đất Phù Nam, Óc Eo), Hai đế quốc này khi xưa chịu ảnh hưởng các nền văn hóa Brahman (Bà-la-môn) và Bangla (Ấn Bengale). Phải kể Champa (ảnh hưởng hệ phái Muslim Hồi từ gốc Mecca, trong khi Khmer chịu ảnh hưởng Ấn giáo nền văn minh Phật giáo. Vào thế kỷ 14 Chiêm quốc gây rối nước Đại Việt xứ ta vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290), đem đại binh dẹp loạn, Chiêm quân vẫn phá phách, gây rối đất ta, Khi vua Chế Bồng Nga bị quân ta sát hại tại mật trận, hai vị vua hai nước Việt Chiêm đời sau là vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), và vua bên Chiêm quốc là Chế Mân (1288 – 1307) được hòa hoãn hơn, sự liên hệ trở nên thân thiện và nồng thấm hơn, bên vua bên ta đem gả ái nữ đẹp tuyệt trần cho Chiêm vương. Chế Mân tôn vinh Huyền Trân công chúa là hoàng hậu Paramecvari. Khi Champa và Đại Việt đã sống yên vui, hòa thuận trong bang giao giữa hai nước. Chế Mân đã nhượng đất đai, dâng hai châu Ô, châu Lý (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế), Đại Việt trước đó được thêm phần đất Thuận Hóa (tỉnh Quảng Bình), xứ ta mở rộng bờ cõi.
Đây là bước chiến lược mỹ nhân kế. Những dịp lễ hội Đại Việt, vua Chế Mân phái những đoàn vũ nữ apsara với thân hình phồn sinh, nảy nở bẩm sinh, đôi bồng đảo căng tròn nhựa sống, những apsara với cơ ngơi bốc lửa, mê ly như mọng, làn da ngăm sậm bánh mật, cánh mũi thon gọn và thẳng tắp, đôi mắt to tròn sâu thẳm. Tương tự bên văn hóa Khmer cũng có những điệu vũ do Apsara như vậy trong các di tích kiến trúc tại Angkor Thom ngày nay. Các tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Châu Đốc cộng đồng Champa và Khmer Krom vẫn còn nhiều, và lễ lạc apsara vẫn phồn sinh, phồn thực như thơ Cung thi nhân. Chủ đề của nhà thơ ghi dấu huyền tích và nhan sắc, phần gái dẹp miền tây theo phạm vi nhân chủng học, nét đẹp do sự lai căng do tạp chủng (beauté par les races mélangées), vì sự tạp chủng giữa người gốc Champa và người Khmer pha lẫn sắc diện gốc Ả rập Mecca và Ấn Bangla, rồi lai Việt và Tàu, nên những thiếu nữ miệt Lục tỉnh động lòng thi nhân chăng (?), tôi xin hỏi ông nhé.
Bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”, thơ trích đoạn…
Ông viết về quyền lực siêu phàm của người nữ trong thơ Baudelaire, Cung Trầm Tưởng cho loại vầng tụng ca như sau:
Em ướp trầm hương ngan ngát thánh,
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên.
Em gần gũi cũng thiêng khôn kể,
Dạy dỗ thi ca ý niệm đền.Là khởi sự cùng là kết thúc,
Đầu nguồn mạch nước, cuối dòng sông.
Em sinh sôi những áng cầu vồng,
Trước Sách Ước đến sau cùng Lịch Sử.(trích thơ “Phồn thực ca” trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một Hành Trình Thơ 1948-2018).
CTT qua bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”. thi nhân CTT có hỏi tôi có biết gái miền tây đẹp như thế nào không, tôi bảo “Vợ em là gái Bắc Hà thành ra nên em không biết nhiều về các cô gái Cửu Long giang, miền Tây lục tỉnh ra sao”. Thi nhân bảo gái miền Tây đơm hoa kết trái bởi hương thơm mít tố nữ, bởi hương thơm hoa sứ nhà nàng (vì champa có nghĩa là hoa sứ), ôi chao nào những apsara phồn thực, kỳ bí, như những bầu vú sữa tím than, sa pô chê, nhãn lòng, cam mật, mận ngọt, quít đường,.. Với ký ức nay đã vào dĩ vãng với cô giáo Tây Đô ngày xưa, Cung thi nhân hình thành bài thơ “Phồn Thực Ca”, có liên hệ đến ký tích vũ công apsara dù nét xinh đẹp của người con gái có nguồn gốc tạp chủng của các nền văn minh cổ Champa và Khmer.
————————————————————————————-
Cung Trầm Tưởng
Cung Trầm Tưởng là một nhà thơ rất quen thuộc từ đầu thập niên 60. Tên tuổi Ông nhanh chóng tràn vào giới thanh niên trí thức thời bấy giờ khi ông từ Pháp trở về Việt Nam cùng không khí lãng mạn của phong trào thơ mới, lúc đó vẫn còn ảnh hưởng nhiều đến thanh niên trí thức Việt Nam.
Mặc Lâm, phóng viên RFA
2010-01-05Photo: Cung Trầm Tưởng
Ngay cái tên của ông cũng đã ấn tượng đối với nhiều người vì chất văn học rất đậm trong mỗi chữ: Cung Trầm Tưởng.
“Tôi là Cung Trầm Tưởng vào khoảng 50-51 tôi du học tại Pháp..sau đó tôi thi đỗ vào trường không quân của Pháp học chung với ông Nguyễn Xuân Vinh, ông Nguyễn Ngọc Loan…Đến năm 1957 tôi trở lại Sài Gòn và phục vụ trong binh chủng không quân cho đến ngày 30/4/1975 tức là được 23 năm.
Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế được tôi sáng tác trong khoảng thời gian này. Có những bài thơ tôi chưa từng đăng bất cứ báo nào thì bây giờ nó sẽ được tập trung lại trong toàn tập thơ của tôi trong 60 năm mang tên Cung Trầm Tưởng và Hành Trình Thơ, sẽ được xuất bản trong năm tới.”
Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như: Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế… Cung Trầm Tưởng.
Cung Trầm Tưởng vừa sơ lược cho chúng ta biết về đời sống sáng tác của ông mà trong đó phần quan trọng nhất làm nên một Cung Trầm Tưởng từ một bài thơ sống rất lâu trong trí nhớ nhiều người đó là tác phẩm Mùa Thu Paris. Tác phẩm này được đem tới người nghe qua tài năng của Nhạc sĩ Phạm Duy khi ông phổ nó thành thơ và giới thiệu trên đài phát thanh Sài Gòn.
Ngôn ngữ trong bài thơ thật ra không phải mới lạ hay phá cách để nổi tiếng, bài thơ được giới trẻ đón nhận một cách thích thú vì một chi tiết trước đó chưa bao giờ xảy ra, đó là:
Một chàng thanh niên Việt Nam du học có người yêu bên Pháp với tóc vàng mắt xanh… hai người yêu nhau và chính những cuộc chia tay trên ga vắng đã thi vị hóa câu chuyện để nó trở thành một mode mới trong đời sống thanh niên thời bấy giờ. Bài
thơ như một trang sách mới cùng những con đường lạ lẫm bên trời Tây mở ra cho giới trẻ và đâu đó người đọc cảm thấy phần nào hả hê bù đắp lòng tự ái dân tộc đã bị mất mát khá nhiều dưới gót giày được gọi là khai hóa văn minh của thực dân Pháp.
Mùa thu Paris
Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn lyMùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờMùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt gía từ tâmMùa thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầuMùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thìMùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đờiMùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tùMùa thu !… Trời ơi ! Tình thu !
Nhà thơ Cung Trầm Tưởng chia sẻ với chúng ta kỷ niệm về bài thơ này:
“Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Thời đó tôi học ở trường Pháp cứ bị mang tiếng là Tây con, đã sẵn có ngôn ngữ Pháp và văn hóa Pháp thấm nhuần trong người thành ra sang bên đó mình không bị lạ lẫm. Tôi gặp một số mối tình dù rằng không vĩnh viễn nhưng nó đánh giá những kỷ niệm đầu đời của mình.”Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Cung Trầm Tưởng.
Kỷ niệm đầu đời cùng các mối tình tóc vàng mắt xanh ấy đã là nguồn cảm hứng cho nhiều bài thơ của Cung Trầm Tưởng vào thời mới lớn. Những chiếc ga nhỏ nằm trơ trọi giữa mùa đông nước Pháp đã từng chứng kiến biết bao cuộc chia tay trước đó, lại một lần nữa nhìn ngắm mối tình dị chủng giữa một chàng trai một đất nước bị trị và một cô gái tóc vàng, đại diện cho văn hóa và nếp sống phương Tây.
Từ đây trong hơi thở rẽ chia ấy, bắt đầu một thấm đượm khác nối liền hai bờ đại dương. Và cũng bắt đầu một vói ra ngoài, một trằn trọc mới đối với hàng triệu thanh niên Sài Gòn thời bấy giờ.
Chưa bao giờ buồn thế
Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia lyTiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cáchGa Lyon đèn vàng
Tuyết rơi buồn mênh mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màngHôn nhau phút này rồi
Chia tay nhau tức khắc
Khóc đi em. khóc đi em
Hỡi người yêu xóm học
Để sương thấm bờ đêm
Đường anh đi tràn ngập lệ buồn em…Ôi đêm nay
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia lyTàu em đi tuyết phủ
Toa anh lạnh gió đầy
Làm sao anh không rét
Cho ấm mộng đêm nay
Và mơ ngon trên khắp nẻo đường rầy !Trời em mơ có sao
Mình anh đêm ở lại
Trời mùa đông Paris
Không bao giờ có saoTrời mùa đông Paris
Chưa bao giờ buồn thế !Cung Trầm Tưởng không phảỉ chỉ làm thơ tình với những khuông mẫu yêu đương trai gái. Dù lãng mạn hay cổ điển thì thơ tình không thể chia sẻ được hết mọi khổ đau của một người bị đày đoạ trong vòng tù ngục. Cung Trầm Tưởng như hàng trăm ngàn người khác sau khi Sài Gòn sụp đổ, đã cùng với đồng đội vào những nhà tù tập trung cải tạo để trả lời cho bài học lịch sử về ý nghĩa cuộc chiến tranh mà ông và đồng đội là những người thua cuộc.
Thơ của Cung Trầm Tưởng từ đây trở thành lạnh lẽo và chai cứng hơn. Chữ nghĩa ông sử dụng trong các bài thơ tù trở nên sắc sảo đến kỳ lạ. Sắc sảo và đớn đau như kim châm vào tim giữa mùa đông miền Bắc:
Áo tù thẫm máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Ngó tay bỗng thấy già nua
Cứa em thân xác thấy mùa thu quaMôi cằn má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén canh pha nước bùn
Đêm nằm ruột rỗng vai run
Đầu kề tiếng súng chân đùn bóng đêm…Bài thơ được làm tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977 cách bài Mùa Thu Paris hơn 25 năm. Khoảng cách thời gian không làm bài thơ lạnh hơn mà chính khoảng cách con người làm bài thơ gần như hóa đá.
Ngôn ngữ thơ trong bài này bàn bạc những ẩn ức rất đời thường của người tù và người đọc cảm nhận ngay tính chất cay nghiệt của nó.
Thế nhưng Cung Trầm Tưởng lại có những bài thơ tù thấm đậm chất triết học. Nhà thơ tĩnh tại nhìn ngắm biến thiên của đời sống và thiền định tâm tưởng mình với những câu tuyệt đẹp:Mưa về gióng lê thê
Nai kêu nguồn đâu đó
Xưa nay tù ngục đỏ
Mấy ai đã trở vềVỗ, vỗ rơi tàn thuốc
Thả khói vào mông lung
Hư vô đẹp não nùng
Nụ hôn đời khốc liệt“Nụ hôn khốc liệt” dành cho đời phải chăng là một cách phản ứng thụ động trong thế giới bừng bừng thống nhục mà nhà thơ đang trải nghiệm?
Cõi sầu ta tinh khiết
Thép quắc vầng trán cao
Phong sương dệt chiến bào
Với máu se làm chỉĐã đi trăm hùng vĩ
Xông pha lắm đoạn trường
về làm đá hoa cương
Gởi đời sau tạc tượngNguồn sống hồi sinh
Cung Trầm Tưởng trở về với cuộc sống sau khi đã nếm trải đầy đủ mọi thứ mùi vị của tù nhân như hàng trăm ngàn người khác.
Trong không khí gia đình, ông có những dòng thơ gợi mở tinh khiết hơn sau nhiều năm tháng thiếu vắng. Tiếng chuông nhà thờ và những nhành huệ trắng đã giúp ông gội rửa tâm tình để tâm hồn ngày một tươi tắn hơn, Ông tìm ra được nguồn suối trong ngay tại nhà mình hay nói đúng hơn, ngay tại lòng mình, một cõi lòng đang chuyển mình cùng với thiên nhiên để tạm quên cõi tục.
Huệ trắng trinh nguyên sau một đêm
Huệ trong thư các huệ ngoài thềm
Sớm nay Chủ Nhật thơm thương quá
Chỉ có Sài Gòn trong dáng emChủ Nhật niềm tin màu huệ trắng
Hiền từ xoạt áo như lời kinh
Em đi lễ nhất trời trên ngõ
Dẫy tóc đen mềm ánh sao xanh…Sài Gòn dưới mắt nhà thơ đã dần dần lấy lại được hình ảnh tinh khôi của nó vào những sớm mai trong trẻo. Người con gái trong thơ ông từ từ sống lại, khác với cô tóc vàng khi xưa, cô gái Sài Gòn bây giờ trắng như huệ và trong như ban mai trinh nguyên của một Sài Gòn ấm áp.
Tuy thế, người yêu thơ Cung Trầm Tưởng không dễ gì quên cô gái tóc vàng bên trời Tây cách đây hơn 50 năm để chia sẻ những cảm nhận của nhà thơ những hình ảnh của các cô gái Sài Gòn ngày nay.
Tiếng còi tàu vẫn chứng tỏ ma lực của nó quyến rũ người đọc thơ đến mức sau bằng ấy năm, hình như mỗi lần nghe lại bản nhạc Tiễn Em do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ “Chưa Bao Giờ Buồn Thế” của ông, người nghe vẫn cảm thấy hình như đang dấy lên nỗi buồn man mác.
Nỗi buồn không tên nhưng có thật. Và nó vẫn ở đấy trong bất cứ người nào nếu từng thừa nhận rằng sự chia tay nào cũng đều rơi nước mắt…
RFA link: https://www.rfa.org/…/Arts-and-Literature-Magazine-Cung-Tra…
Thi Ca Cung Trầm Tưởng:
https://baotreonline.com/…/gio…/cung-tram-tuo%CC%89ng.baotreCung Trầm Tưởng:và tác phẩm, Một hành trình thơ:
https://www.nguoinam.com/phpbb/viewtopic.php?f=144&t=3136Mùa thu Paris – Cung Trầm Tưởng và Tiễn em – Phạm Duy:
https://bacsiletrungngan.wordpress.com/…/chua-bao-gio-buon…/Cung Trầm Tưởng và một hành trình thơ 60 năm:
http://www.viendongdaily.com/cung-tram-tuong-va-mot-hanh-tr…Nhà thơ Cung Trầm Tưởng và hoàn cảnh sáng tác những bài thơ Paris nổi tiếng: “lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế…”
http://vietmania.blogspot.com/…/nha-tho-cung-tram-tuong-va- -
Nguyễn Tường Thiết: Mối tình của đôi ta
Lời Tòa Soạn.- Sau đây là bài nói chuyện của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con út của nhà văn Nhất Linh trong buổi Ra Mắt cuốn sách “Tự Lực Văn Đoàn và các Cây Bút Hậu Duệ” tổ chức vào ngày hôm qua 9 tháng 11 năm 2019 tại thành phố San Jose, California.
https://www.diendantheky.net/2019/11/nguyen-tuong-thiet-moi-tinh-cua-oi-ta.html
Kính thưa quý vị,
Cách đây khoảng mấy tuần lễ tôi nhận được một cú điện thoại của anh Nguyễn Hùng Tâm, trưởng nam của ông Nguyễn Hùng Trương, tức ông chủ nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn trước năm 1975. Anh Tâm mời tôi xuống San José nói chuyện trong buổi Ra Mắt Sách này, cuốn sách “Tự Lực Văn Đoàn và các cây bút Hậu Duệ” mà anh là người đứng ra tổ chức và bảo trợ. Tôi toan từ chối vì với tuổi xấp xỉ 80 tôi rất ngại phải đi xa, nhưng tôi nghĩ đến cái công của ông Khai Trí đối với văn học miền Nam Việt Nam, tôi nhận lời.
Tôi có một mối giao tình đặc biệt với ông Khai Trí, thân phụ của anh Tâm. Trước khi thân phụ tôi, nhà văn Nhất Linh, qua đời năm 1963, ông cụ có ủy thác cho tôi trông nom hai nhà xuất bản Đời Nay và Phượng Giang và quyết định xuất bản những tác phẩm của ông cụ. Với ủy thác ấy tôi đã liên lạc với ông giám đốc nhà sách Khai Trí để phối hợp việc tái bản không những sách của ông cụ tôi mà là sách của những tác giả khác trong Tự Lực Văn Đoàn. Nhu cầu tái bản sách TLVĐ rất cao vì TLVĐ nằm trong giáo trình giảng dậy môn Việt văn bậc trung học, nên tôi liên lạc với ông Khai Trí hầu như thường xuyên và kéo dài suốt 10 năm cho đến tận ngày Cộng sản cưỡng chế miền Nam.
Trước khi nói về một vài kỷ niệm vui vui của tôi với ông Khai Trí tôi cũng xin phép được thay mặt tất cả quý vị có mặt ở đây để ngỏ lời tri ân ông Khai Trí. Trong suốt 20 năm giữa hai cuộc di cư 1954 và di tản 1975 trong khi nền văn học miền Bắc chỉ là một con số không to tướng thì ở miền Nam tự do chúng ta được thừa hưởng một nền văn học mà theo thiển ý của tôi, rực rỡ và đa dạng không thua gì thời đại Tự Lực Văn Đoàn vào thập niên 1930. Trong sự nở rực của 20 năm văn học miền Nam VN ông Khai Trí, trong vai trò hỗ trợ và phổ biến những công trình văn hoá, đã đóng góp một phần không nhỏ.
Trong suốt 10 năm liên lạc với ông Khai Trí tôi có khá nhiều kỷ niệm với ông. Nhưng kỷ niệm tôi ghi nhớ nhất là hôm ông tiết lộ với tôi điều bí mật này: nhà sách Khai Trí số 62 đường Lê Lợi còn là địa điểm hẹn hò của không biết bao nhiêu những cặp trai gái yêu nhau vào những thập niên 50, 60 và 70 của thế kỷ trước.
Nếu trong số các quý vị ở đây đã có ai một thời dùng nhà sách này làm chỗ hẹn hò và đã đinh ninh đó là nơi không bị ai chú ý thì quý vị có thể lầm to. Ông Khai Trí có lần tâm sự với tôi: “Một trong những tiêu khiển rất thú vị và thâm trầm của ông là ông đã dùng khá nhiều thì giờ đứng quan sát gian hàng sách đông đảo của ông, không phải để rình bắt những tay ăn trộm sách, mà là để phát hiện những cặp tình nhân kín đáo dùng nhà sách của ông làm chỗ hẹn hò”.
Kính thưa quý vị,
Đối với những quý vị ở trong hạn tuổi từ 70 cho đến 90 và đã từng ở Sài Gòn trong thời niên thiếu thì có lẽ kỷ niệm êm đẹp nhất trong đời là những buổi chiều cuối tuần đi bát phố Sài Gòn, bên cạnh người yêu nữa thì lại càng tuyệt, chúng ta thả bộ trên đường Lê Lợi, ghé thăm nhà sách Khai Trí, ăn kem ở quán Mai Hương, uống cà phê ở La Pagode rồi thả mình trong máy lạnh của những rạp xi nê Rex, Eden hay Vĩnh Lợi.
Hôm nay, trong không khí hồi tưởng đầy hoa mộng ấy, tôi xin kể với quý vị một câu chuyện tình. Một chuyện tình của thế hệ trước, thế hệ tiền bối. Đó là chuyện tình của thân phụ tôi, nhà văn Nhất Linh. Không phải là chuyện tình trong tiểu thuyết của Nhất Linh như Dũng và Loan trong Đôi Bạn, Trương và Thu trong Bướm Trắng, Siêu và Mùi trong Xóm Cầu Mới hay Thanh và Ngọc trong Dòng Sông Thanh Thủy. Mà là chuyện tình có thực của Nhất Linh với một người đàn bà mà ông rất yêu quý, người đàn bà ấy ngẫu nhiên lại là mẹ của chúng tôi.
Tại sao tôi lại kể chuyện tình giữa bố mẹ tôi?
Chắc có người nghĩ làm gì có tình yêu trong hôn nhân ở thế hệ tiền bối của chúng ta. Và nếu có, chắc cũng chẳng có gì hay ho để kể lại. Với quan niệm thông thường của xã hội ta thời đó thì thân phận của bà Nhất Linh chẳng qua cũng chỉ như thân phận “nuôi một đàn con với một chồng” của bà Tú Xương mà thôi.
Nhưng thật sự khác hẳn. Trước hết ta hãy xem giây phút trước khi nhắm mắt Nhất Linh đã để lại những lời chăng chối gì với người bạn đời của ông:
Mình,
Mối tình của đôi ta trong bao năm đẹp đẽ lắm rồi không mong mong ước gì hơn nữa.
Anh,
Nhất Linh 7-7-1963.
Hai mươi chữ này mới đích thực là những dòng chữ viết sau cùng của nhà văn Nhất Linh trước khi lìa đời, chứ không phải là bẩy mươi mốt chữ trong bản di ngôn chính trị nổi tiếng của ông: “Đời tôi để lịch sử xử”.
Trong lời vĩnh biệt Nhất Linh dùng chữ “Mình” để xưng hô với vợ. Chữ “mình” mang nhiều ý nghĩa. Mình có thể là “em”, mình cũng có thể là “anh”, mình cũng có thể là “chúng ta”. Mình bao hàm ý nghĩa vợ chồng “đôi ta là một”. Và trong bao nhiêu năm “đôi ta” ấy đã gắn bó nhau bằng một “mối tình”, một mối tình “đẹp đẽ” đến độ “không còn mong ước gì hơn nữa”.
Nhất Linh có nói quá không khi ông viết những lời sau cùng này?
Tôi tin rằng ông đã không nói quá. Tôi tin là ông thành thật. Tôi tin thế bởi vì ông quan niệm tình yêu hôn nhân khác với đa số chúng ta. Nó cao hơn quan niệm thông thường. Quan niệm mà theo tôi gần với câu sau đây của nhà văn Pháp Saint-Exupéry: “yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng”.
Cha mẹ tôi lấy nhau năm 1925. Trước khi lấy nhau cậu trai 19 tuổi giao ước ngay với cô gái 18 tuổi: “Mỗi người có một bổn phận: anh có bổn phận đối với xã hội, em có bổn phận đối với gia đình”. Tôi chưa thấy một cặp vợ chồng nào mà sự giao ước ban đầu lại được lại được cả đôi bên tôn trọng lâu dài như thế. Suốt cuộc đời tôi chứng kiến cảnh cha mẹ tôi sống xa nhau. Cha tôi hầu như lúc nào cũng sống xa gia đình, ông lo chuyện xã hội, chuyện văn hoá, chuyện đất nước. Ông sống bôn ba nhiều năm bên Trung Hoa. Mẹ tôi một mình gánh trách nhiệm gia đình, bà buôn cau, lấy tiền nuôi đàn con gần 10 đứa. Không bao giờ tôi nghe mẹ tôi than vãn về chuyện cha tôi thường xuyên vắng mặt, nếu có ai hỏi, mẹ tôi chỉ nhẹ nhàng nói: “anh ấy tuổi con ngựa, không thể ngồi yên một chỗ được”. Cũng vì thường xuyên phải sống xa nhau nên những thời gian hiếm hoi được sống chung cả hai đã tạo cho nhau những ngày chung sống trở thành môt chuỗi “những ngày diễm ảo”.
Vừa lấy nhau, tuần trăng mật chưa hết mặn nồng, mẹ tôi đã chịu cảnh chia ly đầu tiên: cha tôi, cậu thanh niên 20 tuổi, khích động trước cái chết năm 1926 của nhà ái quốc Phan Chu Trinh, tháng 3 năm ấy ông bỏ trường Mỹ Thuật, từ Hà Nội đáp xe lửa vào Sài Gòn, tham dự đám tang nhà cách mạng. Trên chuyến xe lửa xuyên việt, khi ngang đèo Hải Vân ông làm bài thơ sau đây tặng cô vợ mới cưới:
Đèo Hải Vân mây trời man mác
Bến Lăng Cô bãi cát trắng phau
Buồm ai thấp thoáng về đâu
Phiêu lưu hồ hải thêm sầu lòng ai?
(Nhất Linh, 3/1926)
Vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh chàng trai Nguyễn Tường Tam bị Pháp lùng bắt, ông trốn sang Cao Miên, sống bằng nghề vẽ và tìm đường du học. Năm sau 1927 ông Đi Tây.
Trong thập niên 1930, Nhất Linh ra báo Phong Hóa & Ngày Nay, thành lập Tự Lực Văn Đoàn và sáng tác rất mạnh. Ông hoàn thành gần 10 tác phẩm. Trong thập niên đó bà Nhất Linh cũng sinh gần 10 người con. Mẹ tôi nói đùa: “Cứ mỗi lần mẹ thai nghén một đứa con thì bố cũng thai nghén một tác phẩm”. Rồi mẹ tôi nói thêm: “Mỗi lần bố viết xong và xuất bản một cuốn tiểu thuyết, cũng như sau khi mẹ sinh đẻ một đứa con, thì dù mẹ có bận rộn buôn bán đến đâu đi nữa bố cũng buộc mẹ phải bỏ hết để sống với nhau riêng biệt một thời gian bên bãi biển Sầm Sơn”. Như vậy thì nội trong thập niên 1930 bố mẹ tôi đã có với nhau gần 10 cái “honeymoon”.

Trong thập niên 1940 con người nghệ sĩ Nhất Linh nhường bước cho người chiến sĩ Nguyễn Tường Tam. Dũng, nhân vật tiểu thuyết trong Đôi Bạn, Đoạn Tuyệt lôi phăng tác gỉa Nhất Linh đi làm cách mạng! Nhất Linh lập đảng chống Pháp, chống Cộng, lập chiến khu, tham gia chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến với chức Bộ Trưởng Ngoại Giao, rồi bôn ba sang Trung Quốc. Trong suối 10 năm con người cách mạng không sáng tác một cuốn tiểu thuyết nào. Người bạn đời của ông cũng ngừng sinh đẻ. Thảo nào sinh năm 1940, tôi là đứa con út trong nhà.
Trong thập niên 1950, từ Trung Hoa về nước năm 1951, Nhất Linh theo lời khuyên nhủ của vợ, tuyên bố không làm chính trị. Ông trở lại đời văn sĩ. Từ Hà Nội ông vào Sài Gòn năm 1952, kéo theo người con út là tôi đi theo ông, năm sau ông lên Đà Lạt sinh sống, cũng lại kéo tôi đi theo nữa. Nhất Linh tương đối sống an bình trên Đà Lạt. Ông chơi lan, thổi hắc tiêu, mua đất ở Fim Nôm, lập nhà bên bờ suối Đa Mê. Chúng tôi giữ rất nhiều hình ảnh của ông trong thời gian này, trong đó có bức hình chụp bố mẹ tôi tươi cười bên dòng suối Đa Mê, mẹ tôi nằm trên võng, bố tôi đứng bên. Tôi rất quý bức ảnh này vì nó là bức duy nhất tôi thấy Nhất Linh cười. Trong bao nhiêu năm tôi tự hỏi tại sao tất cả những bức hình tôi giữ Nhất Linh đều có gương mặt trầm lắng, khắc khổ, chỉ trừ mỗi bức ảnh này là cười tươi. Mãi gần đây tôi mới hiểu lý do vì sao.
Mấy tháng trước một nhà báo ở Việt Nam, anh Nguyễn Vĩnh Nguyên, gửi tặng tôi một quyển sách do anh viết nhan đề “Đà Lạt, một thời hương xa”. Cuốn sách dành hẳn một chương “Tiếng hắc tiêu trên đồi thông” nói về ông cụ tôi trong thời gian ông sống ở Đà Lạt với khá nhiều hình ảnh, tư liệu quý giá. Trong số đó có bức ảnh với lời chú thích: “Ông bà Tam tại suối Đa Mê. Ảnh: Vũ Hà Tuệ sưu tầm”. Bức ảnh chụp bố mẹ tôi bên chiếc võng, tương tự như bức ảnh tôi có, nhưng đặc biệt là ghi thêm hàng chữ viết tay của bố tôi: “Thân tặng anh chị Gioãn. Bên giòng Đa Mê. Kỷ niệm Lễ Vàng 32 năm. Nhất Linh”. Tôi thắc mắc: Không biết Lễ Vàng là gì? Bức ảnh chụp năm 1957. Tôi làm con tính: 1957-32 = 1925. Đúng boong! Năm 1925 là năm bố mẹ tôi lấy nhau. Hoá ra ngày chụp ảnh cũng là ngày kỷ niệm 32 năm “wedding anniversary” của bố mẹ tôi. Thảo nào mà cả hai bức hình trông ông bà tươi rói. Hôm đó bố tôi mời mẹ tôi và các bạn bè (trong số có bác Lê Đình Gioãn, người bạn thân của ông cụ) từ Sài Gòn lên Fim Nôm để ăn mừng “ngày kỷ niệm cưới” trong rừng, bên dòng suối thơ mộng.
Tôi đã tưởng sự khám phá bức ảnh này chấm dứt cuộc hành trình 60 năm đi tìm Nhất Linh của tôi. Nhưng không. Chỉ mới cách đây 55 ngày, một ngạc nhiên khác xẩy đến cho tôi. Cũng trong buổi Ra Mắt cuốn sách “TLVĐ và các cây bút hậu duệ” tổ chức tại trường Đại Học UC-Long Beach, Nam California, ngày 15 tháng 9 năm 2019 vừa qua, một thiếu nữ tôi không quen biết tiến lại gần tôi và trao cho tôi một món quà bất ngờ. Cô ta nói: “Thưa Bác, cháu giữ trong tay tài liệu này cũng khá lâu nhưng không dám gửi bác vì sợ thất lạc. Hôm nay nghe nói bác nói chuyện trong buổi Ra Mắt Sách này, cháu tới đây với mục đích trao tận tay món quà này cho bác”. Món quà là một bài thơ viết tay của chính Nhất Linh. Bài thơ nhan đề “Buồm giục viễn du” viết trên một tờ giấy pelure mỏng mà thời gian đã ngả sang màu vàng úa. Cuối bài thơ, trên chữ ký Nhất Linh, có ghi thời gian và địa điểm sáng tác: Trên bãi biển, cuối Thu 1940.

Tôi sinh ngày 23 tháng 10 năm 1940. Như vậy tuổi của bài thơ ngang với tuổi đời của tôi, xấp xỉ 80. Tôi nhớ tới lời của mẹ tôi: “Mỗi lần bố viết xong và xuất bản một cuốn tiểu thuyết, cũng như sau khi mẹ sinh đẻ một đứa con, thì dù mẹ có bận rộn buôn bán đến đâu đi nữa bố cũng buộc mẹ phải bỏ hết để sống với nhau riêng biệt một thời gian bên bãi biển Sầm Sơn”. Không còn nghi ngờ gì nữa, bài thơ này bố tôi làm ở Sầm Sơn, ngay sau khi tôi sinh ra đời.
Nhìn tờ giấy với bài thơ đã úa màu thời gian tôi cảm động và bâng khuâng.
Bây giờ tôi có thể yên tâm khép lại cuộc hành trình của tôi đi tìm Nhất Linh. Vì tôi đã tìm ra lời giải đáp tôi đặt ra cho chính mình: Nhất Linh đã thật sự nghĩ gì trong giây phút cuối cùng trước khi ông nhắm mắt?
Ông đã nghĩ đến mẹ tôi, đến bao kỷ niệm êm đềm chung sống giữa hai người, ông đã nghĩ đến “mối tình của đôi ta trong bao năm đẹp đẽ lắm rồi, không mong mong ước gì hơn nữa..”.
Xin cám ơn quý vị và xin kính chào quý vị.
Nguyễn Tường Thiết
-
Ra mắt sách “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ” tại San Jose, CA.
Được sự yểm trợ tổ chức của Văn Thơ Lạc Việt, Buổi trưa hôm qua Thừ Bảy 9/11/2019, Ông Nguyễn Hùng Tâm – con trai ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân nhà sách Khai Trí tại Saigon ngày xưa – đã mời được một vài nhân vật đại diện cho nhóm Nhân văn Nghệ thuật từ Nam Cali đến, tổ chức buổi ra mắt tác phẩm “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây bút Hậu duệ”, tại nhà hàng Grand Fortune trên đường Monterey Rd, thành phố San José bắc California.
Buổi ra mắt sách với khoảng 140 quan khách, văn nghệ sĩ tham dự, đặc biệt khách đường xa có ông Nguyễn Tường Thiết, con trai Út của Nhà văn Nhất Linh – Người Khai sáng Tự Lực Văn Đoàn – trong phần phát biểu về tác phẩm của các hậu duệ, đã gợi lại những kỷ niệm về Nhất Linh, người cha kính yêu của ông suốt chặng đường dài hoạt động chính trị và văn học Việt Nam.
Chương trình cũng được lồng vào với phần văn nghệ do các ca nghệ sĩ của Ban văn nghệ Thơ văn Lạc Việt trình diễn, khá phong phú, ắm áp.
Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi ghi lại về buổi ra mắt sách, xin được chia xẻ đến Quý vị và Các Bạn xa gần, cùng thêm một Lời Giới thiệu về một tác phẩm văn học mới, với nhiều cây bút hậu duệ, vẫn ước mơ Tự Lực Văn Đoàn, dòng Văn học ngọt ngào mãi sẽ còn mãi chảy vào lòng người viễn xứ.
Mạc Phong Đình



-
Ra mắt sách “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ” tại San Jose, CA.
Được sự yểm trợ tổ chức của Văn Thơ Lạc Việt, Buổi trưa hôm qua Thừ Bảy 9/11/2019, Ông Nguyễn Hùng Tâm – con trai ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân nhà sách Khai Trí tại Saigon ngày xưa – đã mời được một vài nhân vật đại diện cho nhóm Nhân văn Nghệ thuật từ Nam Cali đến, tổ chức buổi ra mắt tác phẩm “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây bút Hậu duệ”, tại nhà hàng Grand Fortune trên đường Monterey Rd, thành phố San José bắc California.
Buổi ra mắt sách với khoảng 140 quan khách, văn nghệ sĩ tham dự, đặc biệt khách đường xa có ông Nguyễn Tường Thiết, con trai Út của Nhà văn Nhất Linh – Người Khai sáng Tự Lực Văn Đoàn – trong phần phát biểu về tác phẩm của các hậu duệ, đã gợi lại những kỷ niệm về Nhất Linh, người cha kính yêu của ông suốt chặng đường dài hoạt động chính trị và văn học Việt Nam.
Chương trình cũng được lồng vào với phần văn nghệ do các ca nghệ sĩ của Ban văn nghệ Thơ văn Lạc Việt trình diễn, khá phong phú, ắm áp.
Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi ghi lại về buổi ra mắt sách, xin được chia xẻ đến Quý vị và Các Bạn xa gần, cùng thêm một Lời Giới thiệu về một tác phẩm văn học mới, với nhiều cây bút hậu duệ, vẫn ước mơ Tự Lực Văn Đoàn, dòng Văn học ngọt ngào mãi sẽ còn mãi chảy vào lòng người viễn xứ.
Mạc Phong Đình
-
Thơ John Tạ: Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam
Người viết: Vương Thơ Sinh


John Tạ là người bạn thân 30 năm trên nước Mỹ. Anh sang xứ người bươn chải qua nhiều ngành nghề vất vả, rồi qua thời gian anh vươn lên thành công về 2 lãnh vực auto parts và thuốc dược thảo. Nghề thuốc bắc là ngành gốc gia truyền của anh. Gia đình John Tạ gốc Hoa, Anh lớn lên ở Việt Nam vượt biên thành công sang Mỹ, anh kể cho tôi nghe những kỷ niệm vui buồn ở quê nhà khi xưa. Việt Nam là quê hương canh cánh trong tâm thức của anh. Nay ở luống tuổi chuẩn bị về hưu, tuổi về chiều, càng về chiều anh nhớ Việt Nam hơn.
Gần đây, anh sáng tác một bài thơ, những ý tưởng tạo nên thơ xuất phát từ con tim: “Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam”. Bài thơ được nghệ sĩ Chí Tâm phổ thành nhạc. Nhạc mang nét đặc sắc của thể lọai “folk ballad” như kể chuyện (music of storytelling, musique à raconter, musique comme les contes). Bản ballad này là một bài hát kể một câu chuyện, và nó diễn tả nỗi nhung nhớ quê hương.
Sau đây là phần giới thiệu về thi phẩm và lời của bài thơ được chuyển sang thể nhạc…
Nỗi lòng ly hương nhớ quê cũ.
Quê hương luôn là nguồn cảm hứng thi ca bất tận của những nhà văn, nhà thơ trong mọi thời đại. Tình cảm đối với nơi được gọi là quê hương, linh thiêng không gì có thể thay thế được, que hương trong nỗi nhớ được chữ nghĩa ghi chép bằng những câu chữ đượm tình quê hương. Nó là nỗi niềm khắc khoải, chất chứa trong lòng, những kỷ niệm bỗng dưng hiện về trong trí tưởng cũng đủ khơi gợi tâm hồn nhạy cảm, hoài niệm về nơi quê xưa chốn cũ. Tình cảm thuần túy đó đã được thể hiện trọn vẹn trong thi phẩm của thi nhân
John Tạ qua bài Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam.
Do vậy, đi xa hơn trong ý tưởng, tình yêu với quê hương bắt nguồn từ những xúc cảm từ con tim. Nỗi xúc cảm dạt dào với quê hương được gói gọn trong từng câu thơ, hay lời nhạc, ví dụ như nhạc sĩ Frédéric Chopin dâng nỗi niềm nhớ quê hương Ba Lan qua nhiều tác phẩm ballad Mazurka; hay trường hợp nỗi nhớ ly hương của ca nhạc sĩ Enrico Macias nhung nhớ quê hương Algerie của ông; hoặc giả khi ta so sánh với bài Tình Ca của nhạc sĩ Phạm Duy: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”. Nỗi xúc cảm của các nhạc sĩ này về quê hương có thể xem như sự tương đồng của nội tâm John tạ.
Mời đọc tiếp:
1/ Chopin sáng tác nhiều bài nhạc nhớ quê hương Ba Lan
Chopin được sinh ra và lớn lên trên đất nước Ba Lan, quê hương của nhiều thể loại âm nhạc, Opera, nhạc đường phố, nhạc trong nhà… Đi nơi đâu cũng có thể thưởng thức những ca khúc Arian và Roman, các điệu vũ Polonaises và Waltzes. Rất nhiều người biết chơi các nhạc cụ như piano, violon, viola, cello,… Thuở niên thiếu, Chopin đã mục kích từ các ngang cùng ngõ hẻm của các làng mạc miền quê Ba Lan, để cậu bé say đắm trong các điệu dân ca, dân vũ. Chopin nhận ra nét hay tự sự của các bản folk ballad Mazurka chứa đựng một nỗi buồn mênh mang mà không thể diễn đạt bằng lời, nhưng lại được bộc lộ một cách giản dị trong âm điệu qua cung đàn dương cầm. Âm nhạc dân gian Ba Lan, đặc biệt là âm nhạc của các loại vũ khúc đã làm rung động tâm hồn non nớt của Chopin, là cội nguồn của những giai điệu đẹp như thơ mà ông sáng tác sau này.
Trong cuộc đời long đong về nghệ thuật âm nhạc của 52 bản Mazurka do ông soạn thành tác phẩm để đời chính là tình yêu quê hương đất nước Ba Lan và khát vọng tự do mà nhạc sĩ đã gửi gắm. Những nhạc khúc ấy của Chopin được công chúng Ba Lan nhìn nhận là một gia tài quý báu của dân tộc. Hãy nghe nhạc bản Frederick Chopin Polish Song ‘Sad river’, Op 74 No 3, Nhạc khúc u buồn Melancholy ballad “Smutna rzeka” (The Sad River, 1831)
Link nhạc Chopin: https://www.youtube.com/watch?v=xFS3WkowqVg
2/ Enrico Macias sáng tác nhạc nhớ quê hương
Gaston Ghrenassia là tên thật của nghệ sĩ Enrico Macias, ông sinh năm 1938 tại Constantine, Algerie trong một gia đình gốc Do Thái và đã học chơi Guitar từ thuở thơ ấu. Gaston Ghrenassia bước vào đời với nghề giáo viên trung học, nhưng năm 1961, chiến tranh độc lập tại Algerie diễn ra dữ dội, vì dính líu vào một vụ ám sát, ông buộc phải rời khỏi Algerie, định cư ở Pháp và vĩnh viễn không bao giờ còn được trở về quê hương. Bài hát “Adieu mon pays” được ông viết trong tâm trạng buồn nhớ quê hương nên có sức truyền cảm rất mãnh liệt.
“J’ai quitté mon pays, j’ai quitté ma maison
Ma vie, ma triste vie se traîne sans raison
J’ai quitté mon soleil, j’ai quitté ma mer bleue
Leurs souvenirs se réveillent, bien après mon adieu
Soleil! Soleil de mon pays perdu…
Enrico Macias: Người nghệ sĩ lưu vong và ca khúc “Adieu Mon Pays” (hay J’ai quitté mon pays).
(Bỏ lại sau lưng Tổ quốc,tôi bỏ lại sau lưng mái nhà xưa
Đời tôi, một đời buồn chán cứ trôi đi chẳng còn ý nghĩa gì
Bỏ lại sau lưng ánh mặt trời, tôi bỏ lại cả đại dương xanh thẳm
Những kỷ niệm trong tôi bừng trỗi dậy, sau những lời tạ từ của tôi.
Mặt Trời, ôi Mặt trời của Tổ quốc xa xôi…)
3/ Nhạc nhớ nhà của Phạm Duy với bài Tình Ca ca ngợi quê hương: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”.
Về hoàn cảnh sáng tác, khi Phạm Duy không chịu được cuộc sống gò bó mất tự do tư tưởng trong chiến khu Việt Minh nên ông bỏ đi. Ông viết Tình ca để biểu lộ nỗi xúc cảm và lòng yêu nước của mình; đồng thời kêu gọi tinh thần ái quốc, đoàn kết ba miền trong bối cảnh đối đầu giữa người Quốc gia-Cộng sản.
Bàn về nội dung phần lời, nhạc phẩm Tình ca nói lên tình quê hương đất nước của một người Việt Nam qua sự phân chia có chủ ý như sau:
Đoạn 1 bày tỏ tình yêu với tiếng Việt, bắt đầu với câu “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…”, rồi diễn giải cái ‘tiếng nước tôi’ đó qua tiếng mẹ ru, câu hò, câu hát, tiếng ‘khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’.
Đoạn 2 bày tỏ tình yêu đối với non sông đất nước Việt: “Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh…”, những hình ảnh dãy Trường Sơn, sông Cửu Long, sông Hương, sông Hồng… xuất hiện như vẽ lên một dải đất nước nối liền.
Đoạn 3 bày tỏ tình yêu với con người Việt Nam với “Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu…”, từ những người chân lấm tay bùn mà vẫn hiên ngang “mình đồng da sắt” suốt vài ngàn năm lịch sử đau thương, cho đến những đời Vua chúa nối nhau giành lại độc lập cho dân tộc. Rồi ở cuối mỗi phần lời, Phạm Duy dùng bốn câu thơ lục bát, là thể thơ riêng của Việt Nam.
Lời ca khúc này rất được yêu thích vì tính chất ballad ái quốc, tự sự mới mẻ và ít thấy trong nền tân nhạc. Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng một cách điêu luyện những thủ pháp, hình thức quen thuộc của các thể ca dao dân gian trong văn học dân ca Việt Nam.
Lời Giới thiệu bài – Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam
Tương tự như bài Tình Ca, ta chia thơ ra 3 phân đoạn:
Đoạn 1: Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam Hỡi Tổ Quốc tôi kính yêu
Việt Nam, thật đẹp tuyệt vời ơi cố hương…
Tôi sinh ra nơi vùng bình yên, ôi hoa niên xuân thì hồn nhiên,…
Đoạn 2: (Ly hương) Tôi nhìn lên mây trắng quyến luyến ánh mắt trên trời xanh,
Và nước mắt thầm rơi hướng trông đại dương xanh ngút trời…
Hỡi trùng dương!… tìm đâu mái nhà của tôi?…
Đoạn 3: Lòng mang ơn nặng sâu, Tổ Quốc ơi!…
Tổ Quốc tôi mến yêu Việt Nam, niềm mến yêu tự hào…
Lòng tôi càng yêu Việt Nam mãi không quên…
Quê hương Việt Nam nỗi nhớ… (John Tạ)
Đất nước Việt Nam, nơi đã cưu mang tôi, thuở nhỏ tôi sống hồn nhiên và lớn lên trong tâm thức vô tư theo giòng thời gian trôi chảy…
Bỗng nhiên, cuộc đời tôi lại bị cuốn theo mệnh nước, tang tóc thê lương, ruột thắt lòng đau phải bỏ xứ lìa quê,
trĩu nặng trong tôi ngút ngàn niềm thương, nỗi nhớ…
Rồi một ngày kia tôi rời xa đất nước, vất vả lênh đênh trên đại dương mênh mông xanh thẳm… thuyền ghe mong manh quá làm sao vượt qua với sóng xô bão nổi. Tôi ngước mắt nhìn trời xin ông tha mạng, cứu vớt chúng tôi, đừng nhận chìm chúng tôi dưới lòng đại dương sâu thẳm… bởi vì trong tôi còn ôm ấp những mộng tưởng, những ước mơ, đường tương lai tươi sáng, tạo dựng hạnh phúc ấm no cho người, cho đời, cho dân tộc tôi cùng chung hưởng…
Này bạn ơi!, Quê hương Việt Nam tôi, sông núi hữu tình, nét đẹp quê hương tôi đâu thua gì những danh lam thế giới. Dù hôm nay tôi có sống tha hương nơi chân trời góc biển, tôi vẫn nhớ muôn đời không thể nào quên…
Tôi vẫn mãi mãi yêu Người… “Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam”…
BẢN NHẠC “TÔI YÊU TỔ QUỐC VIỆT NAM”
Phần Thơ Nhạc:
Lời: John Tạ Pricess Life, Chí Tâm phổ nhạc, hòa âm và trình bày.
Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam Hỡi Tổ Quốc tôi kính yêu
Việt Nam, thật đẹp tuyệt vời ơi cố hương…
Tôi sinh ra nơi vùng bình yên, ôi hoa niên xuân thì hồn nhiên,
Vì đâu ai gây biến thiên, quê hương khói lửa triền miên,
Bao nhiêu nghiệt oan, vô thường vây quanh tử sinh,
Ôi thương cho dân tộc Việt Nam, lòng nặng buồn cho đất nước tôi…
Năm xưa tôi rời xa cố hương…
Tôi nhìn lên mây trắng quyến luyến ánh mắt trên trời xanh,
Và nước mắt thầm rơi hướng trông đại dương xanh ngút trời…
Hỡi trùng dương!… tìm đâu mái nhà của tôi?…
Ác tâm trời mưa lại thêm bão giông, sóng gió dập vùi…
tội nghiệp bao sanh linh, thuyền ghe mong manh đã vở tan rồi…
Hỡi cao sanh!… Cầu xin ông, đừng đem tôi, xa cuộc đời,
về nơi miền xa biển sâu, bởi vì, tôi vẫn… còn bao ước mơ đời tôi…
niềm mơ ước tương lai hạnh phúc thênh thang rộng mở…
trong tôi… còn đợi chờ… *Số kiếp nhân sinh đi qua bao lần gian nan khổ đau?
vững chí tiến bước kiên gan tô đẹp tương lai thêm sáng tươi…
Cho đời, cho người trên thế gian,
Ta cùng, trọn niềm vui chung với nhau, hưởng cảnh an bình lâu dài…
Ha ha… đẹp quá quê hương mến yêu,
Sánh vai trên khắp thế giới, chốn đây tươi đẹp gấm hoa…
Thân tôi dù cho, xa xôi biển trời… niềm nhớ thương, làm sao quên lãng…
Lòng mang ơn nặng sâu, Tổ Quốc ơi!…
Tổ Quốc tôi mến yêu Việt Nam, niềm mến yêu tự hào…
Lòng tôi càng yêu Việt Nam mãi không quên…
Điệp khúc: thêm câu: Hỡi Bạn ơi… * Số kiếp nhân sinh…
June 20, 2019.
———————————————————————————
Los Angeles, 01 tháng 11, 2019.
Vương Thơ Sinh ghi nhận.
-
Tưởng niệm Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý: Một cuộc đời tài hoa, một lý tưởng cao đẹp
Tâm An/Người ViệtOctober 26, 2019

Lễ tưởng niệm Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt vào tối 25 Tháng Mười. (Hình: Tâm An/Người Việt)
WESTMINSTER, California (NV) – Tối Thứ Sáu, 25 Tháng Mười, hàng trăm người trong đó có bạn bè, đồng nghiệp, bằng hữu và gia quyến của dòng họ Nguyễn Tường đã có mặt tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster, để tưởng nhớ về cuộc đời, sự nghiệp và con người của kiến trúc sư, họa sĩ Nguyễn Tường Quý trước khi tiễn ông về cõi vĩnh hằng.
Kiến Trúc Sư (KTS) Nguyễn Tường Quý là cháu của ba nhà văn nổi tiếng thuộc dòng họ Nguyễn Tường trong Tự Lực Văn Đoàn là nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam. Từ thời sinh viên, ông là một nhà hoạt động có lý tưởng sống cao đẹp và luôn trung thành với tổ quốc
Ông được biết tới là một KTS đa tài từng làm trong Bộ Dân Vận thời VNCH, ông đã thiết kế ra nhiều công trình đẹp ở Thủ Thiêm, Sài Gòn. Ông còn là họa sĩ tài hoa, biết thưởng ngoạn cái đẹp và cho ra đời nhiều bức tranh có giá trị. Ông còn được nhiều bạn bè đồng nghiệp mến mộ bởi một phong cách sống giản dị và dung hòa. Ông cũng là một triết gia sâu sắc, quan niệm cuộc đời là vô thường, luôn coi mọi thứ nhẹ nhàng và luôn đem niềm vui cho mọi người.

Bà Phạm Minh Tâm (phải), phu nhân Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý, và bà Hoàng Vĩnh, tổng giám đốc công ty Người Việt. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Tới dự lễ tưởng niệm KTS Nguyễn Tường Quý còn có nhiều người từ các tiểu bang xa xôi khác cùng về hội ngộ như các ông Trần Vũ Bản từ Chicago, Illinois; Nguyễn Văn Trân từ Houston, Texas.
Trong không khí trang nghiêm và thân tình, KTS Trần Vũ Bản, một trong những đồng nghiệp và là người bạn thân nhất, gắn bó lâu nhất với KTS Nguyễn Tường Quý, xúc động chia sẻ: “Tôi không thể nào quên những kỷ niệm với anh Quý. Ngay từ thời sinh viên đại học, anh Quý đã say mê tham gia các hoạt động xã hội, từ cứu trợ lũ lụt ở miền Trung, cứu trợ đồng bào tị nạn từ Tây Nguyên về Tây Ninh, ngày phát quà, tối sinh hoạt ca hát phục vụ cho đồng bào.”
“Thừa hưởng truyền thống gia đình tranh đấu cho tự do và độc lập, anh Quý là một thành viên hoạt động rất đắc lực trong các tổ chức chống Cộng, các đoàn thể thành niên thiện chí, sinh hoạt đều đặn, có nhiều đóng góp tích cực. Từ vận động trong giới sinh viên, đến soạn thảo phát truyền đơn, vận động biểu tình, từng nhiều lần gặp nguy hiểm phải trốn tránh đi xa,” ông nhớ lại.
Gắn bó với ông Quý từ thời sinh viên, khi ra trường KTS Trần Văn Bản đã cùng với ông Quý thành lập công ty kiến trúc có tên B&Q chính là tên viết tắt của hai người.
Ông Bản bồi hồi nhớ lại: “Anh Quý từng thiết kế thành công đồ án kiến trúc phát triển đô thị đầu tiên ở Việt Nam dọc sông Sài Gòn với những căn biệt thự có cầu tàu, ca nô trượt nước, các cư xá dọc theo xa lộ Sài Gòn Biên Hòa và trong khu Thủ Thiêm. Ngày nay, sau nửa thế kỷ, khu Thủ Thiêm Quận 2 vẫn là địa điểm đắt giá nhất ở Sài Gòn, có nhiều tranh chấp nhất. Nhờ các thành quả đó mà Thượng Tọa Thích Minh Châu, viện trưởng Viện Phật Giáo Vạn Hạnh, đã mời công ty B&Q chúng tôi nghiên cứu thành lập Phân Khoa Xây Dựng cho viện.”

Ông Nguyễn Tường Thiết, con trai nhà văn Nhất Linh, cầm bức họa nhà văn Nhất Linh do nhà báo Đinh Quang Anh Thái trao tặng. (Hình: Tâm An/Người Việt)
KTS Trần Văn Bản cho biết, sau năm 1975, cho dù sang hải ngoại nhưng người bạn Nguyễn Tường Quý của ông vẫn tiếp tục tranh đấu cùng người chú ruột là Bác Sĩ Nguyễn Tường Bách và người anh ruột là Luật Sư Nguyễn Tường Bá.
Ông cũng nhắc lại bốn câu thơ mà KTS Nguyễn Tường Quý đã viết tặng ông trên bức tranh phong cảnh non cao năm nào, với lời lẽ vô cùng giản dị mà sâu sắc, mang tính thiền trong Phật Giáo:
“Buổi chiều lên động núi cao,
Ngắt bông hoa dại, ném vào cõi không,
Phủi tay nghe mộng bềnh bồng,
Áp tai dưới cỏ thấy lòng dửng dưng.”Từ Houston, Texas, một người bạn thân khác, KTS Nguyễn Văn Trân cũng bày tỏ lòng ngưỡng mộ một người bạn tài hoa KTS Nguyễn Tường Quý.
“Tôi gắn bó với Nguyễn Tường Quý và gia đình của anh đến nỗi mà tôi còn được đổi tên thành Nguyễn Tường Trân. Không có gì xót xa bằng chuyện tiễn đưa một người bạn quý, đã gắn bó với nhau đúng 60 năm cuộc đời. Nhưng tôi cũng có niềm vui ngầm khi bạn mình thoát khỏi những cuộc tranh đấu, thoát khỏi cõi đời này, thênh thang trở về cõi Phật,” ông chia sẻ.

Một trong những người bạn thân thiết của Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý, từ trái, Kiến Trúc Sư Nguyễn Văn Trân, Kiến Trúc Sư Trần Vũ Bản và nhà báo Hà Tường Cát. (Hình: Tâm An/Người Việt)
“Đối với tôi anh luôn là một người giản dị, ít khi mặc complet, luôn đi giày không có vớ, đi xe gắn máy mà không nổ máy… Anh còn là một người tài hoa, vẽ tranh bằng cả tay phải và tay trái khiến nhiều người ngưỡng mộ,” ông Trân nói thêm.
Nhà văn Khánh Lan, đại diện nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, cũng chia sẻ những kỷ niệm với KTS Nguyễn Tường Quý trong buổi ra mắt sách “Hệ Lụy” của em trai ông, nhà văn Ngọc Cường, tại tòa soạn nhật báo Người Việt, năm 2016. Đó là hình ảnh một Nguyễn Tường Quý luôn nở nụ cười trên môi khiến cho người đối diện cảm thấy ấm áp và dễ gần.
Nhà báo Ngô Nhân Dụng, chủ nhiệm nhật báo Người Việt, chia sẻ: “Tất cả anh em trong nhật báo Người Việt đều là bạn của anh Nguyễn Tường Quý. Tôi quen biết anh đã 64 năm từ khi anh còn đang học trường Kiến Trúc và sinh hoạt trong Tổng Hội Sinh Viên. Tình bạn của chúng tôi rất ‘nhạt nhẽo’ vì không đi nhậu, không cà phê, không mạt chược, đánh đáo… không có tất cả những thú vui mà người đời hay đàm đạo với nhau. Nhưng có một điều lạ là mỗi lần gặp anh là mình tươi vui, yêu đời.”
Từ Canada, bà Thanh Thảo xúc động nói về những kỷ niệm của bà trong 40 năm gắn bó với người họa sĩ Nguyễn Tường Quý: “Chỉ cần gặp anh một lần, nghe anh nói chuyện về kháng chiến, về tranh đấu cho dân tộc, về lý tưởng yêu nước… là tôi đã thấy anh là một người có tư tưởng lớn, một nhà trí thức yêu nước, một họa sĩ có tâm hồn và là một triết gia nhìn thấu cuộc đời là vô thường.”

Hàng trăm người là bạn bè, bằng hữu và gia quyến của Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý hội ngộ để tưởng niệm về ông tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster, vào tối 25 Tháng Mười. (Hình: Tâm An/Người Việt)
Lần lượt những người bạn hữu thân thiết đều nói lên tình cảm tốt đẹp của mình với người quá cố, như KTS Phan Quang Cơ, Trương Văn Quý.
Được biết ông Nguyễn Tường Quý là một nhà tranh đấu thời VNCH và từng có tên trong danh sách 28 người bị Việt Cộng liệt vào danh sách bị tử hình, cùng với nhà văn Phạm Quốc Bảo.
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, chủ bút nhật báo Người Việt, nhân dịp này cũng gửi tặng lại gia đình KTS Nguyễn Tường Quý bức họa về cố nhà văn Nhất Linh mà ông đã lưu giữ rất lâu trong phòng làm việc của ông.“KTS Nguyễn Tường Quý đã sống một cuộc sống mà người Mỹ gọi là colorful, nghĩa là một cuộc sống trọn vẹn, có lý tưởng, tình yêu và đầy màu sắc,” ông Thái nhận xét. (Tâm An)Link: Tưởng niệm KTS Nguyễn Tường Quý: Một cuộc đời tài hoa, một lý tưởng cao đẹp
Tưởng niệm KTS Nguyễn Tường Quý: Một cuộc đời tài hoa, một lý tưởng cao đẹp“Nguyễn Tường Quý đã sống một cuộc sống mà người Mỹ gọi là colorful, nghĩa là một cuộc sống trọn vẹn, có lý tưởn… -
VIETV DIRECTV HỘI THOẠI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ CÁC CÂY VIẾT HẬU DUỆ
-
Sinh Nhật Ns. Tuấn Khanh 7-3-20
Khánh Lan
Vào lúc 1 giờ chiều ngày 16 tháng 11, năm 2019, Liên nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian” đã tổ chức buổi Vinh danh và mừng Thượng thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh tại NT Studio, trên đường Brookhurst, thành phố Westminster, California. Hôm ấy, trời thật đẹp! Những tia nắng vàng óng ánh, len lỏi qua những cành cây như để sưởi ấm vài chiếc lá khô còn xót lại trên cành. Trong một không gian lãng mạn của mùa thu, có lẽ không còn gì thú vị hơn khi được cùng bạn bè cùng thưởng thức những bài tình ca của một thời xa xưa…
Tuy mới 12:30 chiều, nhưng đã có khá đông thân hữu xếp hàng ngoài cửa. Nét vui tươi hiện rõ trên khuôn mặt từng người. Phía bên trong, ban tiếp tân cũng đã bắt đầu bận rộn tiếp đón khách vào chỗ ngồi. Đúng 1 chiều, Gs Quyên Di và Xướng Ngôn viên Khoa Cát (đài truyền hình SAIGON TV, 57.3) chào đón Ns Tuấn Khanh và Ns Bùi Thiện cùng đi chung với ông.
Khách tham dự gồm có sự hiện diện của của Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa, Nhà văn Mắt Nâu, Nhà Thơ Việt Cường, Thi Sĩ Bích Ty, Ca Sĩ Chung Tử Lưu, Ca sĩ/Bác Sĩ Vương Đức Hậu, Nhạc trưởng Bùi Quỳnh Qiao (Ban hợp xướng Ngàn Khơi), Ca Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, Nhà Văn Nguyễn Huy Quang, Nhà văn Dương Tử, Giáo sư/Nhà văn Dương Ngọc Sum, Nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Võ Ý, Nhà báo/Nhà văn Phạm Quốc Bảo, Nhà văn Hạo Nhiên Trần Thế Ngữ, Nhà văn/Nhạc sĩ Dương Viết Điền, Nhà văn Hà Nguyên Du, Trương Thành Đức, Ông Nguyễn Lý Sáng (Cựu Hội trưởng Tây Ninh Đồng Hương Hội), Bác sĩ/Ca sĩ Nguyễn Đức Cường, Bác sĩ/Ca sĩ Trương Đức Cường, Họa Sĩ Lâm Thủy, Ký Giả Uyên Vũ, Nhạc sĩ Mạc Vũ Phạm Gia Cổn và nhóm Hoàng Hạc Khí Công, nhóm Nghệ sĩ Hoa Mai Nga Lam (San Diego), Nhiếp ảnh gia Hòa Quân .v.v…. Đặc biệt, còn có sự hiện của Nhà báo Phạm Kim (Báo Người Việt Tây Bắc, Seattle) đến từ Seattle.
Sau phần chào Quốc Kỳ và một phút tưởng niệm, MC Nhật Uyên thay mặt Nv Việt Hải và Liên Nhóm NVNT & TTG, giới thiệu về chủ trương và sinh hoạt, thành phần BTC, cũng như gởi lời cám ơn đến các nhà bảo trợ và các mạnh thường quân đã hỗ trợ trong việc duy trì và bảo tồn những sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của hội. Chương trình được tiếp tục với MC Khánh Lan, giới thiệu về tiểu sử cũng như những sáng tác của Ns Tuấn Khanh.
Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tên thật là Trần Ngọc Trọng, sinh năm 1933 tại Nam Định. Năm 1950, ông về sống tại Hà Nội và học vĩ cầm từ một người anh. Trong một bài phỏng vấn của phóng viên Đức Tuấn, tòa báo Người Việt, tháng Tư, năm 2013, Ns Tuấn Khanh đã tâm sự rằng, “Người thầy đầu tiên dạy nhạc cho ông là ông Nguyễn Văn Diệp, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Ns Tuấn Khanh chuyển sang học nhạc từ ba ông thầy người Pháp, cho nên chắc chắn những sáng tác của ông, không ít thì nhiều, đã chịu ảnh hưởng nền âm nhạc Tây Phương”.
Năm 1953, ông giành giải nhất của đài phát thanh Pháp Á về giọng hát. Ông sáng tác cả hai thể loại: tình ca và những ca khúc mang âm hưởng nhạc tiền chiến. Đôi khi, ông viết theo lời yêu cầu của nhà xuất bản mà ông gọi là “Nhạc Đại Chúng”‘ một loại nhạc rất thịnh hành và ăn khách thời ấy. Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Thương Hoài Thương, điển hình là bài Lệ Tình, Tuy Anh Không Nói. Trần Kim Phú qua sáng tác Vì lỡ thương nhau.v.v… Ngoài việc viết nhạc, ông còn là ca sĩ với nghệ danh “Trần Ngọc”.
Năm 1955, Ns Tuấn Khanh di cư vào miền Nam Việt Nam. Tại Saigon, ông đàn cho đài phát thanh và ban Giao Hưởng của trường Quốc Gia Âm Nhạc. Nhạc phẩm đầu tay của ông là bài “Đò Ngang”, viết cùng với Ns Y Vân.
Sau năm 1975, ông ngưng mọi sáng tác trong vòng 7 năm và chuyển sang nghề dạy học tại tư gia. Những lần vượt biên thất bại đã khiến ông vô cùng thất vọng, tưởng chừng mình không bao giờ có được cơ hội đặt chân lên miền đất tự do. Và lần vượt biên sau cùng, ông đã thành công.
Khi Đến Hoa Kỳ, ông được một nhà thờ Tin Lành bảo lãnh và ông đã sáng tác cả 100 bài nhạc đạo cho sứ đạo này. Sau sáu tháng sinh sống tại San Jose, trong một buổi nói chuyện, ông đã theo lời mời của NS Phạm Duy, về sống tại miền nam California. Nơi đây, ông đã lấy lại nguồn cảm hứng và bắt đầu sáng tác lại từ đó. Vào năm 2002, Trung tâm Thúy Nga mời ông cộng tác trong chương trình “Thúy Nga By Night 64: Đêm Văn Nghệ Thính Phòng” với chủ đề vinh danh ba Nhạc sĩ: Tuấn Khanh, Vũ Thành An và Từ Công Phụng.
Ns Phạm Duy đã nhận xét về dòng nhạc của NS Tuần Khanh như sau: “Tất cả trong các nhạc sĩ, đã suốt một đời sáng tác cho quê hương Việt Nam, qua bao luân lạc, Ns Tuấn Khanh là một nhạc sĩ đã nối tiếp con đường sáng tác nhạc tiền chiến và rất thành công”.
Năm 1982, ông đinh cư tại thành phố Garden Grove, California. Tại đây, ông và gia đình mở một tiệm phở mang tên Hoa Soan Bên Thềm Cũ .
Những sáng tác của Ns Tuấn Khanh đều được cả khán giả trong và ngoài nước trân trọng và yêu chuộng. Ông đã sáng tác hơn 100 nhạc phẩm. Những nhạc phẩm được lưu truyền qua nhiều thế hệ, phải nhắc đến là: Hoa Soan Bên Thềm Cũ, Chiếc Lá Cuối Cùng, dưới Giàn Hoa Cũ, Quán Nửa Khuya, Nhạt nhòa, Nỗi Niềm, Một Chiều Đông, Kiếp Sầu Đau, Chiều Biên Khu, Tại Vắng Anh, Kiếp Sau, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, là những bài nổi tiếng… Ông tâm sự, phần lớn mỗi bản nhạc của ông sáng tác đều mang một niềm tâm sự và phát xuất từ những cảm xúc có thật của ông. Chẳng hạn, nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” là nhạc phẩm kể lại chuyện tình ngang trái của chính ông. Và nhạc phẩm “Nhạt Nhòa” là sáng tác của ngày chia tay người yêu trong một hoàn cảnh gần như chạy trốn, vội vã và chan hòa nước mắt. Ông cho biết ý nhạc của bài hát này đã đến với ông và ông đã ôm ấp & nuôi dưỡng nó trong tim mình trong suốt năm ngày lênh đênh trên biển cả…….
Chương trình văn nghệ do Gs Quyên Di và nhóm âm nhạc của Liên Nhóm NVNT & TTG phụ trách. Mở đầu chương trình ban tam ca “Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên” đã trình bày nhạc phẩm bất hủ của Ns Tuấn Khanh “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”. Đặc biệt sau đó, phần trình diễn nhạc phẩm “Dưới Giàn Hoa Cũ” của Cs Chung Tử Lưu với sự phụ diễn của nhóm vũ TTG gồm Khánh Lan, Thanh Châu… đã khiến cho chương trình tăng thêm phần sinh động và hào hứng. Chương trình nối tiếp với những nhạc phẩm nổi tiếng như: Nhạt Nhòa, Quán Nửa Khuya, Một Chiều Đông, Chiều Biên Khu, Nỗi Niềm v.v….
Trong suốt thời gian 3 tiếng rưỡi, hội trường NT Studio chìm trong yên lặng. Mọi người như để hết tâm hồn theo dòng nhạc, thưởng thức những khúc nhạc vàng và lắng nghe những lời chia sẻ của Ns Tuấn Khanh, về những cảm xúc của ông qua từng sáng tác, từng giai đoạn và những biến chuyển xẩy đến cho ông, theo dòng thời gian.
Dưới sân khấu, Ns Tuấn Khanh ngồi yên lặng, hai tay ông ôm tấm plaque mà Liên Nhóm NVNT & TTG trao tặng ông, chăm chú theo dõi phần trình diễn. Mặt ông tươi sáng với nụ cười mãn nguyện luôn nở trên môi. Thỉnh thoảng, vài giọt nước mắt lăn dài trên má nhưng ông vẫn thản nhiên, không che dấu những giọt lệ hạnh phúc.
Trước khi kết thúc chương trình, Ns Tuấn Khanh phát biểu cảm nghĩ của ông về buổi Vinh Danh và Chúc Thọ. Giọng ông nghẹn lại vì xúc động “Còn gì hạnh phúc cho bằng, đến cuối đời, tôi được mọi người nghĩ đến và cho tôi một buổi chiều vui như hôm nay, tôi không biết nói gì hơn”.
Bế mạc chương trình là phần cắt bánh Vinh Danh và Chúc Thọ Ns Tuấn Khanh. Chương trình kết thúc lúc 5:00 chiều. Bài “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” được ban hợp ca Tiếng Thời Gian và thân hữu cùng hát lại lần thứ hai, rồi lại lần thứ ba, để tiễn chân ông …
CS Bùi Thiện kể lại, trên đường về, Ns Tuấn Khanh không ngừng nói về những cảm xúc của ông và ông rất cảm động trước sự chân tình của GS Quyên Di và Liên Nhóm NVNT & TTG vì ông đã có một buổi sinh nhật thật hạnh phúc và khó quên.
2:07 sáng ngày 26, tháng 11, 2019
Khánh Lan
-
Thi Phẩm “Kiếp Lưu Ðày” của thi-sĩ Hữu-Phương: Tâm Sự của Một Bại Tướng
Vĩnh Liêm
Ngày 02-07-1988 tôi đi dự lễ kỷ niệm 49 năm thành lập Phật Giáo Hòa Hảo, tổ chức tại Silver Spring, Maryland mới hay nhà thơ Hữu-Phương, tức Phó Ðề Ðốc Nguyễn Hữu Chí, đã qua đời vì chứng đau tim. Thật là một hung tin đến với tôi quá bất ngờ! Nhà thơ Hữu-Phương chết vào sáng ngày 28-06-1988, thế mà mãi đến ngày 02-07-1988 tôi mới hay tin! Ðó là một sự thiếu sót lớn của tôi đối với tin tức trong cộng đồng vì tôi đi xa mới về.
Trên đuờng trở về nhà, tôi cứ suy nghĩ mãi về nhà thơ Hữu-Phương và lấy làm tiếc là đã không hay biết sớm để đi tiễn đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng cho trọn tình trọn nghĩa, vì dù sao chúng tôi cũng mang cùng màu áo (Hải Quân) và từng viết bài trên nguyệt san Lướt Sóng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975.
Lúc còn ở trong nước, tôi không có dịp gặp gỡ nhà thơ Hữu-Phương bằng xương bằng thịt, mà chỉ biết nhau trên mặt báo. Mãi đến năm 1982 chúng tôi mới có dịp làm việc chung với nhau trong Ủy Ban Liên Lạc Và Phối Hợp Người Việt Quốc Gia để hình thành Ðại Hội II tức Ðại Hội Liên Hiệp Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại, triệu tập tại Hoa Thịnh Ðốn từ 11 đến 13-06-1983. Ðại Hội II là hậu thân của Ðại Hội I do cựu Dân Biểu Don Bailey triệu tập năm 1982, mà báo Văn Nghệ Tiền Phong gọi đùa là “Ðại Hội Ðồng Bái Lạy”. Ðại Hội II thành lập một tổ chức có tên là “Liên Minh Việt Nam Tự Do”.
Lúc bấy giờ tôi đại diện cho nhà văn Nhị Lang, nói riêng, và Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại, nói chung; còn nhà thơ Hữu-Phương thì đại diện cho Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH của cựu TNS Trần Ngọc Nhuận (cựu Ðại Tá Trần Ngọc Nhuận là bạn thân của nhà thơ Hữu-Phương khi hai người còn là sĩ quan cấp Úy vào thập niên 50). Chúng tôi làm việc chung với nhau ròng rã trên 6 tháng mới hình thành được Ðại Hội II. Nhà thơ Hữu-Phương được anh em bầu làm Ðiều Hợp Viên và Trưởng Ban Tổ Chức Ðại Hội; còn tôi giữ chức vụ Phó. Nhưng mọi việc tổ chức Ðại Hội thì nhà thơ Hữu-Phương đều dồn cho tôi và các anh chị em khác, còn ông thì thong dong, sáng Chủ Nhật nào cũng đi đánh tennis trước khi vào phòng họp!
Trong những tháng làm việc chung với nhau, nhà thơ Hữu-Phương là người điềm đạm nhất, tính tình cởi mở, không hề lý luận ồn ào hay bắt bẻ người khác. Dường như ông không tha thiết chi lắm về cái Ðại Hội sắp thành hình. Ông đến họp vì giữ lời hứa với bạn, tức TNS Trần Ngọc Nhuận. Theo tôi biết thì nhà thơ Hữu-Phương không có tham vọng chính trị, mà trái lại ông còn có vẻ chán nó. Có lần nhà thơ Hữu-Phương tâm sự với tôi: “Moi nản lắm toi à! Việc này cũng không đi tới đâu, toi ráng giúp moi để hoàn thành xong Ðại Hội rồi mình nghỉ cho khỏe”.
Khi Ðại Hội II thành hình, với tư cách là Trưởng Ban Tổ Chức, nhà thơ Hữu-Phương lên diễn đàn đọc bài diễn văn khai mạc rồi ông lặng lẽ rút lui ngồi im dưới hàng ghế. Suốt Ðại Hội, chẳng những ông không hề ra tranh cử một chức vụ nào mà còn từ chối tất cả các lời đề nghị của các tham dự viên. Tôi cũng biết trước nên tìm đủ mọi lý do để thối thác các lời đề nghị.
Từ sau Ðại Hội II, nhà thơ Hữu-Phương và tôi thường điện thoại cho nhau, trao đổi tâm sự và bàn luận về thơ văn chứ không hề nhắc tới chính trị.
Tháng 07-1983, nhà thơ Hữu-Phương gửi tặng tôi tập bản thảo “Kiếp Lưu Ðày” của ông (không rõ tập I hay là tập II vì tác giả không đề chi cả. Sau này tôi mới nghĩ đó là tập II vì ông có nói rằng tập kia ông đã vứt ở đâu đó mà không tìm thấy). Gửi kèm với tập thơ là một lá thư viết mấy dòng tâm sự. Ðến tháng 03-1984, nhà thơ Hữu-Phương lại gửi tặng tiếp tập bản thảo mà tôi đoán là “Kiếp Lưu Ðày” tập III vì không có tựa đề. Như vậy là tôi thiếu mất tập I. Tập gửi lần đầu, tức tập II, ông làm từ 28-09-1981 đến 06-07-1983 và tập III đánh dấu từ 09-12-1983 đến 16-03-1984.
Tôi đọc qua 2 tập bản thảo “Kiếp Lưu Ðày”, chọn đăng một bài trên báo Việt Nam Thời Báo do tôi chủ trương vì nhà thơ có nhận lời cộng tác. Sau đó, ông có gửi thêm hai bài tham luận, một bài ký tên thật Nguyễn Hữu Chí qua nhan đề “Tập thể Quân đội: Sức mạnh cần được thể hiện và củng cố”, và một bài khác ký dưới bút hiệu Hữu-Phương: “Ôn cố tri tân”.
Trong bài “Tập thể Quân đội: Sức mạnh cần được thể hiện và củng cố”, ông nhận định như sau: “Chúng tôi thiết tưởng việc hội tụ quân nhân – dù lớn hay nhỏ, cho mục đích động hay tỉnh, dấn thân chống Cộng hay thuần túy ái hữu – đã được phát sinh từ cái gọi là ‘mặc cảm thua bại trước kẻ thù’, mà lẽ ra Quân Lực VNCH đã ăn tươi nuốt sống loài qủi quái đó trên một trận chiến cuối cùng rồi”. Cả cuộc đời trai trẻ của ông đã hiến dâng cho quân đội. Nguồn thơ của ông cũng xuất phát từ những tháng năm lênh đênh trên biển cả. Bằng vào lòng yêu nước, tính tình đôn hậu và niềm cảm xúc của một thi nhân, nhà thơ Hữu-Phương tha thiết kêu gọi tập thể quân nhân hãy đoàn kết lại để đánh đuổi kẻ thù chung. Ông viết: “Chúng ta cần tích cực hơn, nếu thấy còn xa hãy gần nhau lại. Mặc ai châm biếm, mặc ai mỉa mai, chúng ta không nản chí sờn lòng. Chúng ta phải củng cố sức mạnh của chính chúng ta, một thứ sức mạnh không tùy thuộc vào gươm súng nữa nhưng tùy vào sự hợp nhất ý chí cùng hành động. Những vết đen trong quá khứ sẽ mờ phai một khi sức mạnh đó được thể hiện và phát triển đều khắp. Thánh Kinh đã có lời: ‘Ðức tin đã cứu lấy người’”.
Trong bài “Ôn cố tri tân”, nhà thơ Hữu-Phương nhận định về giới lãnh đạo Miền Nam như sau: “Chúng ta không mong nguyên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuẩn tiết nhưng chúng ta nghĩ rằng giá mà phản ứng của ông can cường hơn những lời nguyền rủa suông nhắm vào nước bạn đồng minh, có lẽ tinh thần quân dân lúc đó không suy sụp thảm thương như vậy. Nếu ông không từng tuyên bố sống chết với anh em quân sĩ thì ông có thể bất chấp nhục vinh. Nhưng ông đã từng hô hào chiến đấu để rồi không noi được tấm gương nào của người xưa thì thật đáng chê trách vậy!”
Những bài tham luận của nhà thơ Hữu-Phương như là những lời tâm sự hơn là những lời lẽ đao to búa lớn của một chính khách hay một bình luận gia. Lời lẽ ôn hòa, ông không qui trách lỗi làm mất nuớc cho một cá nhân nào, mà theo ông cả tập thể dân quân cán chính đều có phần nào lỗi lầm và trách nhiệm: “Sau mười năm trôi qua và mọi xáo trộn đã lắng đọng, chúng ta từ lớn chí bé cần tự soi lấy mình qua lăng kính thời gian để đừng trách cứ ai mà hãy tự chê trách lấy mình trước nhứt. Những kẻ đã từng ăn trên ngồi truớc càng phải tự nhận chân và tự phê phán, vì chẳng có lời phê phán nào hơn chính lương tri của mình”.
Nhà thơ Hữu-Phương lúc nào cũng tha thiết đến vấn đề đoàn kết. Ðể kết luận bài “Ôn cố tri tân”, ông viết: “Những việc cần làm và phải quyết tâm hơn cả là nối vòng tay lớn giữa nhau bất phân dị biệt. Ngồi lại với nhau như miệng người thường nói. Gần lại với nhau trong tình máu mủ anh em, bằng một thứ tình huyết thống dân tộc. Hiện tại, chúng ta vẫn chưa làm được việc đó! Nếu bao lâu chưa làm được việc đó thì đừng nên hô hào gì nữa hết! Ðừng mong tạo dựng đại cuộc. Cũng đừng mơ giấc mơ hồi hương. Nếu chưa chân thật với chính mình thì con đường phục hồi đất nước chỉ là ảo tưởng mà thôi!”
Bây giờ ngồi đọc lại hai bài tham luận của nhà thơ Hữu-Phương, tôi thấy niềm mơ ước của ông thật là tha thiết và chí lý. Tiếc rằng ông đã ra đi quá sớm, chưa được toại nguyện niềm mơ ước của mình!
Tôi ngồi lần giở từng trang thơ trong hai tập bản thảo “Kiếp Lưu Ðày” của nhà thơ Hữu-Phương, đọc lại những bài thơ của ông, bắt gặp những lời tâm sự của một viên Tướng bị trói tay không cho chiến đấu và chiến thắng. Chức vị cuối cùng của ông trước khi rời khỏi VN là Tư Lệnh Hành Quân Biển. Một vị Tướng chỉ huy lực lượng đánh đấm trên biển cả mà không được ra lệnh bắn một viên đạn hải pháo nào vào đầu địch quân thì thử hỏi làm sao mà ông không đau lòng, uất hận cho được?
Ðất nước như xa tận cõi nào
Triền miên văng vẳng tiếng hờn đau
Sau lưng dĩ vãng kinh hoàng lắm
Cuối kiếp mong sao trả nợ đầu.
(Nếu phải)
Ông chưa trả được “nợ đầu” thì đã bỏ cuộc, không kịp nhìn thấy ngày vui của dân tộc, mọi người đều được bình yên:
Tương lai nào hứa hẹn thần tiên
Cho nước cho dân hết muộn phiền
Nếu phải nên cần ta thả nhịp
Mong rằng quê mẹ hưởng bình yên.
(Nếu phải)
Kiếp sống lưu đày đã làm cho con tim người dũng Tướng bồn chồn, bất an:
Thân phận ta núi buồn
Một khoảng dài lưu vong
Ai từng giương cung nỏ
Còn nghĩ gì nữa không?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Ta nuôi hồn ta lại
Vun thêm chí quật cường
Sau một lần thua bại
Thành trì phải vững hơn.
Vững lòng đi! Chiến sĩ!
Khi đã quyết tâm rồi
Ngày qua thôi đừng nghĩ
Ngày mai rạng hướng trời.
(Ai từng giương cung nỏ)
Ðối với những người an nhiên tự tại thì cuộc sống vật chất ở Mỹ hẳn là nơi thần tiên, nhưng đối với một “bại Tướng”, lại là một thi sĩ, thì cuộc sống tạm bợ ở xứ người chỉ là một vùng đất đìu hiu, buồn bã:
Trơ vơ đất khách ngại ngùng
Hồn ta lơ lửng giữa vùng đìu hiu.
(Nghẹn ngào trông thấy màu xanh cây lá xứ người)
Trong một buổi du xuân xem hoa Anh Ðào nở ở Hoa Thịnh Ðốn, nhà thơ chẳng những không vui mà còn cảm thấy buồn:
Ðầu xuân thiên hạ dập dìu
Ngờ đâu vườn đã rụng nhiều cánh hoa
Lạnh đông còn đó buốt da
Niềm vui chợt thấy xót xa lạnh lùng
(Ðầu xuân đi xem hoa đào nở)
Màu lá, màu cỏ, màu hoa xứ người làm cho nhà thơ chạnh lòng nghĩ tới thân phận con người lưu vong ăn đậu ở nhờ:
Lá rừng chốc đó hiện nhanh
Một tuần thấy lại đã xanh cả vùng
Ô hay! Ấm lạnh tương phùng
Biếc lên ngàn cỏ bừng bừng sắc vui
Bâng khuâng nhìn ngắm xứ người
Nỗi lòng chung đậu nghĩa đời vong nô
(Biển lá)
Bởi thế, nhà thơ lúc nào cũng mong mỏi cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại nên kết hợp để tạo thành sức mạnh hầu giải cứu quê hương:
Vì quốc gia ta phải dẹp tư thù
Người quốc gia chỉ có một tâm tư
Thống khổ đồng hương xui ta kết hợp
Mục đích giúp chinh nhân mau thắng cuộc
Diệt bạo tàn bình trị lại giang sơn
(Bài học đoàn kết)
Và nhà thơ quan niệm rằng nước non là trên hết, là tất cả:
Nước non là tất cả
Việt Nam không chào thua
Phải huy hoàng sáng giá
Việt Nam không phai mờ
(Nước non là tất cả)
Nhà thơ Hữu-Phương tha thiết một ngày về quê hương, bóng cờ vàng ba sọc đỏ sẽ lại bay phất phới khắp trời Nam:
Nếu ta chưa về ven biên đó
Chẳng phải phai sờn ý đấu tranh
Mà bởi người ta không muốn giữ
Nguyện thề vì nước chẳng màng danh.
Nếu ta chưa về thôn xóm đó
Là quyết tâm chung chửa rõ ràng
Thiên hạ lắm điều hơn chặt dạ
Kết tình xây dựng lại giang san.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Nên ta luôn nghĩ ngày mai ấy
Thôn xóm ven biên ngập sắc vàng
Sọc đỏ ngày xưa bừng đỏ lại
Huy hoàng phơi phới khắp trời Nam.
(Nếu…)
Nhưng qua năm tháng ở xứ người, tập thể người Việt vẫn chưa có được sự đoàn kết thực sự. Cuộc đổi đời đã làm cho lòng người băng hoại, trật tự đổi thay nên có lúc nhà thơ cũng ngao ngán cho tình đời:
Mảnh trời nào đó tôi mơ ước
Vẫn thấy mù tăm một biển buồn
Mảnh hồn nào đó tôi mong giữ
Chỉ là hư ảo bóng hoàng hôn.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Cái thú về khơi xin giã biệt
Gió bão ngày xưa quá rã rời
Cũng chẳng còn gì tôi tha thiết
Im lặng mà xem chuyện đổi dời.
(Ước vọng giã từ)
Xót xa cho cuộc đổi đời cũng là xót xa cho thân phận mình, thân phận của một anh hùng ngã ngựa:
Phải còn luồn lọt bao nhiêu
Bao nhiêu cho giáp hai chiều thấp cao
Cung quan ngày trước tự hào
Ngày nay nô bộc thét gào dửng dưng
Vẫn mơ gió thốc động rừng
Bứng cây dời núi một vùng dọc ngang
Nhưng rồi hổ đã rời hang
Sơn lâm hùng vĩ ngỡ ngàng đó thôi
Chín năm hòn đá lăn đồi
Trơ vơ dưới lũng, đỉnh trời bao la.
(Anh hùng ngã ngựa)
Những năm cuối cùng của cuộc đời, nhà thơ Hữu Phương có cái nhìn yếm thế về cuộc đời tị nạn và thân thế như sau:
Vẫn đo ngày tháng bằng ly biệt
Của những người thân, của bạn bè
Của nước non chừ xa cách quá
Không sao mường tượng những hàng me…
Thân thế chỉ còn mộng viễn vông
Cuối đời hiu hắt bóng hoàng hôn
Từng trang quá khứ chìm quên lãng
Chết cả tương lai, đuối cả hồn.
(Ngày tháng thu dần)
Qua bài thơ “Niềm tin cuối một đời người”, làm ngày 16-03-1984, bài thơ chấm dứt thi tập “Kiếp Lưu Ðày” tập III, tâm sự của nhà thơ Hữu-Phương gửi vào đức tin Chúa Ki-Tô (vì ông là tín đồ Thiên chúa giáo), nhưng lại nhuốm màu Lão giáo:
Bây giờ nửa kiếp già nua
Buồn vui thấp thoáng niềm trưa nỗi chiều
Kiêu sa là tính của diều
Ngửa nghiêng trước gió cũng liều cất cao
Anh hùng chí lớn quên sao
Dẫu rằng thua cuộc chiến bào vứt đi
Bây giờ ngát cõi thiên di
Hồn chim vẫn muốn quay về tổ xưa
Thế gian chen chúc lọc lừa
Lòng còn vọng động chẳng trưa chẳng chiều
Cầm như chỉ biết tin yêu
Cho ta còn mỗi giáo điều kính tôn
Trời am hiểu nỗi vui buồn
Trước sau sau trước một hồn một thân
Triều cao đổ xuống ngục trần
Lao lung mấy kiếp vẫn còn hồi sinh
Tôi chỉ nhận được có hai tập bản thảo tập thơ “Kiếp Lưu Ðày” của nhà thơ Hữu-Phương nên không đủ tài liệu để viết hết về tâm sự của ông – tâm sự của một vị Tướng yêu nước mà nửa đuờng bị trói tay. Khi còn ở trong nước, nhà thơ Hữu-Phương đã xuất bản thơ, rất tiếc tôi không còn nhớ nhan đề và cũng không thuộc một bài thơ nào của ông, mặc dù tôi đã đọc khá nhiều thơ của ông trên nguyệt san Lướt Sóng của Hải Quân VNCH và trên tờ Phổ Thông của Nguyễn Vỹ trong hai thập niên 60 và 70.
Trong thời gian lưu vong ở hải ngoại, nhà thơ Hữu-Phương làm khá nhiều thơ nhưng ông rất ít khi đăng thơ, thỉnh thoảng có đăng trên đặc san Ngày Về và gần đây trên Diễn Ðàn Thủ Ðô. Một bài thơ đăng trên Diễn Ðàn Thủ Ðô số 44, tháng 05-1988, có lẽ là bài thơ cuối cùng của nhà thơ Hữu-Phương chăng?
Tâm sự của nhà thơ Hữu-Phương qua thơ ông còn rất nhiều và dài, một bài viết không thể nào diễn tả hết được. Ở đây, người viết chỉ đề cập đến một khía cạnh nhỏ của cuộc đời ông, tâm sự của một “bại Tướng”, bị trói tay và bị đẩy đi lưu đày nơi hải ngoại. Tôi còn muốn viết nhiều hơn nữa về nhà thơ Hữu-Phương, về mộng ước, về tâm sự thầm kín, về cuộc đời tình ái của ông… Vì trang báo có hạn và thời giờ không cho phép nên tôi xin tạm ngưng ở đây, mong có dịp khác sẽ viết thêm để không phụ lòng mong đợi của nhà thơ đã gửi gấm nơi tôi khi ông còn sống.
“Khi nào VL dành thời giờ tích cực cho văn nghệ, thì xin nhớ đến tôi…” Nhà thơ Hữu-Phương viết cho tôi ngày 07-07-1983. Một lời gửi gấm mà cũng là lời trăn trối sau cùng của nhà thơ Hữu-Phương. Tôi đã không làm đúng như điều ông đã mong mỏi nơi tôi vì quá bận rộn với những vấn đề khác tích cực hơn vấn đề văn nghệ. Nay, cái chết của ông đã thôi thúc tôi, ít ra tôi phải viết đôi dòng về người quá cố cho phải đạo làm người.
Mấy năm trước đây có lần nhà thơ Hữu-Phương mời vợ chồng chúng tôi qua nhà chơi, nhưng tôi cứ hẹn mãi mà chưa có dịp đi. Có lần tôi ngỏ ý muốn gặp Tướng Ngô Quang Trưởng thì nhà thơ Hữu-Phương đề nghi: “Toi qua nhà moi dùng cơm tối, sẵn dịp đó moi mời Tướng Trưởng đến dùng cơm để toi nói chuyện với ổng…” Thế rồi tôi cũng hẹn lần hẹn lữa cho đến hôm nay vẫn chưa thực hiện được cuộc gặp gỡ đó. Tưởng cũng nên nhắc lại: Nhà thơ Hữu-Phương là bạn học cùng lớp với Tướng Ngô Quang Trưởng thời Tiểu học ở Bến Tre.
Nhà thơ Hữu-Phương thường dùng “moi”, “toi” với tôi vì ông quen miệng và coi tôi là người thân. Tôi lúc nào cũng kính trọng người lớn tuổi hơn mình, nếu thân thiết lắm thì gọi bằng “anh”. Với nhà thơ Hữu Phương, tiếng “anh” còn có hai nghĩa: đàn anh trong quân đội và đàn anh trong thi đàn.
Cái chết quá bất ngờ của nhà thơ Hữu-Phương làm tôi suy nghĩ mấy hôm liền, thương tiếc một người hết lòng với quê hương và một người có tư tưởng lớn. Mặc dù ông không hoạt động ngoài ánh sáng, nhưng lúc nào ông cũng âm thầm vận động anh em cựu quân nhân nên ngồi lại với nhau. Ông không ham danh, ham quyền. Ông không thích chức tước kêu to mà thực lực chẳng có gì. Ðây, những lời thơ của ông đã chứng minh điều đó:
Dầu mấy trời ngăn trở
Khi quyết thắng gian tà
Bây giờ không thành sự
Trăm năm chẳng muộn mà.
(Mộng lớn)
Quả thật là một mộng lớn, nhưng mộng lớn trong âm thầm, trong thâm tâm của một dũng Tướng và một con người ái quốc. Nếu có ai chê trách gì ông, xin mời đọc đoạn thơ sau đây thì sẽ hiểu ông:
Làm thơ tức nguyện cầu
Cho hồn ta hóa giải
Những nỗi sầu niềm đau
Qua đêm dài khắc khoải
(Lời đáp)
Ông cũng quan niệm về cuộc đời một cách rất đơn giản nhưng cũng rất ý nghĩa. Có lẽ ông đoán được cái chết của mình gần kề (mặc dù ông rất khỏe mạnh, mới 52 tuổi, vẫn đánh tennis hàng tuần) nên tâm sự qua bài thơ ‘Sau một khoảng dài lau lách”:
Sống chết nay mai nào ai biết được
Máy già nua lơ đểnh chốc ngừng xoay
Bạn bè năm xưa tin về bỏ cuộc
Ðến tuổi này phần số chỉ là may.
Ðã tới lúc ta không còn hoảng sợ
Hai tay xuôi không hổ thẹn hơn là
Sống lây lất một khoảng đời dang dở
Vá víu hoài lạnh vẫn thấm vào da.
Cái “lạnh” ở đây là cái lạnh của thời thế, của tình người. Ông đã hiểu được thế nào là cuộc đổi đời bi thảm, vì:
Hữu danh rồi cũng buông xuôi
Môi nào lưu giữ nụ cười hôm nay.
Hay:
Một khi mục rửa hình hài
Danh cao càng tỏ mỉa mai phận người
(Bảng vàng mười năm phục vụ công ty)
Bởi thế, nhà thơ Hữu-Phương luôn luôn mong mỏi một ngày về quê hương để ông được gặp lại bà mẹ già và người chị. Ông thúc giục mọi người “Hãy hẹn nhau về”:
Một tháng nữa ta về
Rằng tự do phải thắng truớc gian tà
Nắng tự do sẽ làm mầu mỡ lại
Ðất Miền Nam không thể chìm xuống mãi
Trong điêu tàn và sầu hận chia ly.
Dẫu trăm năm ta vẫn hẹn nhau về
Dẫu xa xăm ta cũng hẹn nhau về
Miền Nam muôn đời vẫn phải thuộc về ta…
Một lời mơ ước đơn sơ và mộc mạc thế mà ông không thực hiện được:
Ta về với mái nhà xưa
Liếp khoai, buội chuối, hàng dừa hân hoan
Giã từ cuộc sống đi hoang
Ta về với mẹ – thiên đàng của ta
Vẫn mong từ sớm đến tà
Vẫn mong cho tới khi xa cõi đời
Rồi mong vẫn tiếp với người
Ðến khi non nước xanh ngời tự do.
(Ðiều mong mỗi sáng)
Nhà thơ Hũu-Phương sinh trưởng tại Bến Tre. Ông gia nhập Hải Quân Việt Nam năm 1953. Sau 22 năm quân ngũ, cái chết của ông đã để lại biết bao nhiêu thương tiếc cho bạn đồng đội, cho những người phục vụ dưới quyền ông và cho những độc giả mến mộ thi tài của ông. Nhà thơ Hữu-Phương không chỉ là một nhà thơ của Hải Quân như nhiều người tưởng, mà ông là một thi sĩ của thi đàn Miền Nam Việt Nam trong suốt 3 thập niên 50, 60 và 70.
Hôm dự Hội Nghị Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nhóm họp tại Hoa Thịnh Ðốn, tôi đã gặp lại nhà thơ Hữu-Phương trong những giây phút ngắn ngủi. Hỏi ông bao giờ in thơ thì ông cười và cho biết: “Anh em dự định tái bản tập thơ cũ, không biết bao giờ mới xong”. Chính ông cũng không biết đứa con tinh thần của mình bao giờ mới in xong thì tôi làm sao biết được! Tôi chỉ biết hai tập bản thảo “Kiếp Lưu Ðày” hiện nằm trước mặt tôi và hình ảnh của nhà thơ Hữu-Phương như đang ngồi đối diện khi tôi viết những dòng kỷ niệm này.
Xin cầu nguyện hương hồn nhà thơ Hữu-Phương sớm về Nước Chúa để xa lánh cái “Kiếp Lưu Ðày” nghiệt ngã này.
(Ðức Phố, ngày 17-07-1988)
Vĩnh Liêm
-
NỖI BUỒN CỦA CỐ THI SĨ HỮU-PHƯƠNG Trong “Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn”
Vĩnh Liêm
Tôi còn giữ được bản thảo tập thơ thứ hai của Cố Thi-sĩ Hữu-Phương, đó là “Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn”, mà nay tôi mới có dịp đọc lại. Tập bản thảo này gồm 43 bài thơ, trong đó có bài thơ “Nghẹn Ngào Trông Thấy Màu Xanh Cây Lá Xứ Người” đã được tác giả chuyển sang Anh ngữ “The Natural Green Revives Within Me Memories of My Homeland”. Các bài thơ trong thi tập này đã được tác giả sáng tác trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 1981 tới tháng 6 năm 1983. Tựa đề cho thi tập này không chính thức được tác giả chọn, mà do người viết chọn từ các tựa đề khác nhau ở ngoài bìa tập bản thảo, chẳng hạn như: Buồn Việt Nam, Buồn Á Việt, Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn, Những Ngày Quạnh Hiu, Non Sông Tủi Buồn, Tháng Ngày Hắt Hiu, Kiếp Lưu Ðày, và Ðâu Là Ðất Sống. Vì “Kiếp Lưu Ðày” đã được tác giả chọn cho thi tập thứ nhất mà người viết đã giới thiệu trước đây, cho nên không được chọn làm tựa đề cho thi tập này. Còn lại bảy tựa đề kia, người viết thấy “Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn” là thích hợp nhất nên được chọn vì nó nói lên được nỗi buồn mất nước của tác giả.
Mang kiếp sống tị nạn hay “Kiếp Lưu Ðày” là một nỗi buồn triền miên, không bao giờ chấm dứt, nhất là đối với nhà thơ như nhà thơ Hữu-Phương. Ngoài mặt, nhà thơ Hữu-Phương lúc nào cũng giữ nụ cười bình thản và tươi tắn, nhưng trong lòng ông thì đau như cắt, rối như tơ. Khó có ai hiểu được nỗi lòng của thi sĩ Hữu-Phương nếu chưa có dịp đọc những bài thơ của ông. Từ những cảnh vật chung quanh ông, như màu lá của cây, màu tuyết trắng, màu mây đen ảm đạm, tiếng gió rít, cơn lạnh của mùa Ðông, những con đường khúc khuỷu, v.v…, thảy đều làm cho tâm hồn thi nhân xúc động, khiến ông nghĩ tới thân phận mình và thân phận quê hương. Chỉ một cơn lạnh đầu mùa của mùa Ðông cũng đủ làm cho thi nhân xúc động:
Mộng ước ta xây suốt bốn mùa
Mới về cơn lạnh đã tiêu sơ
Lá chưa rụng xuống hồn ngơ ngác
Dẫu thế không chùn trước xác xơ.
(Nếu Phải)
Nhiều đêm chạnh lòng nghĩ tới quê hương, thi sĩ Hữu-Phương chỉ mong làm sao trả được ơn đất nước như ông đã từng làm trong suốt cuộc đời binh nghiệp qua 22 năm:
Ðất nước như xa tận cõi nào
Triền miên văng vẳng tiếng hờn đau
Sau lưng dĩ vãng kinh hoàng lắm
Cuối kiếp mong sao trả nợ đầu.
(Nếu Phải)
Nhưng dân và nước đang triền miên đau khổ! Ông phải làm sao đây?
Tương lai nào hứa hẹn thần tiên
Cho nước cho dân hết muộn phiền
Nếu phải nên cầu ta thả nhịp
Mong rằng quê mẹ hưởng bình yên.
(Nếu Phải)
Khi thấy người vui mà lòng mình thì quặn thắt đớn đau. Càng nghĩ tới đồng bào ruột thịt bị lưu đày trên chính quê hương mình, tác giả đã thốt lên:
May mắn cho ta lưu đày trốn thoát
Quên sao đồng bào thân thuộc còn kia
Mỗi lúc đi sâu vào vùng hiu hắt
Ðến cả thương yêu cũng phải chia lìa.
(Khi Thấy Người Vui…)
Dường như thi sĩ Hữu-Phương rất sợ mùa Ðông. Hầu hết trong suốt thi tập “Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn” và “Kiếp Lưu Ðày”, thi sĩ Hữu-Phương luôn luôn nhắc tới cảnh vật mùa Ðông, những cảnh tuyết phủ trắng xóa, những ngày dài ảm đạm thê lương, những cành cây trụi lá buồn hiu hắt… Vì ông vốn là kẻ trầm tư nên không sao ngăn được nỗi buồn khi nhìn thấy mùa Ðông đang tới:
Mùa Ðông lại đến tím rừng thu
Trời dẫu rất quen vẫn ẩm mù
Ðất dẫu thân nhiều nhưng buốt lạnh
Huống chi hồn kẻ vốn trầm tư.
(Mùa Ðông Lại Ðến)
Kiếp lưu vong làm cho lòng thi sĩ càng ngao ngán hơn khi đối diện với mùa Ðông:
Nghĩ rằng vong kiếp chơi vơi
Mấy mùa Ðông nữa vẫn đời lưu ly.
(Lạnh Ðông)
Dù chưa tới mùa Ðông đi nữa thì lòng thi sĩ cũng không thể nào vui sướng cho được, bởi vì:
Ruột thịt thân nhân nếm cảnh cơ hàn
Hẳn so sánh thế nào tự do và đảng thuộc
Tiếc thương ngọc vàng xưa hạnh phúc
Cõi tha hương vui sướng cũng ơ hờ.
(Nhận Chân)
Thi sĩ Hữu-Phương ôm ấp tình quê trong lòng một cách thiết tha cho nên lúc nào ông cũng đều nhắc tới quê hương:
Sâu trong cái xó đời ta vẫn
Ôm ấp tình quê với thiết tha.
(Nhớ Quê)
Rồi mùa Ðông cũng phải đi qua để nhường chỗ cho mùa Xuân tới. Nhưng Ðông tàn hay Xuân tới, nỗi buồn của thi sĩ Hữu-Phương vẫn chất ngất, bởi vì ông luôn luôn hướng về quê hương.
Vẫn là viễn xứ khơi vơi
Làm sao ngắm lại khoảng trời quê hương
Ước mơ chất tới thiên đường
May ra thấy chút vẻ buồn Á Ðông.
(Buồn Á Ðông Giữa Trời Viễn Xứ)
Dẫu rằng ở xứ người vẫn có đủ bốn mùa Xuân Hạ Thu Ðông, nhưng không có mùa nào làm cho thi sĩ Hữu-Phương vui hưởng lạc cảnh cả! Mùa Xuân đang tới ở xứ Mỹ, nhưng mùa Xuân của thi sĩ đã chết trong lòng khi mất quê hương:
Thôi đừng nhắc chuyện xưa rồi
Mùa Xuân như đã xa xôi cõi nào.
(Ðừng Nhắc Nữa Chuyện Ngày Qua)
Qua một đêm dài thao thức, sáng tỉnh dậy chợt thấy cuộc đời buồn tẻ nơi xứ lạ quê người:
Bắt đầu khi tỉnh dậy
Cuộc sống nghe đã buồn
Ngày nào trong mong đợi
Niềm vui bến tương phùng.
(Chỉ Là Mênh Mông)
Dẫu là màu xanh biếc của lá cây, ấy thế mà nó cũng gợi lên một nỗi đau buồn trong lòng thi nhân. Bởi vì cái thân tị nạn chơ vơ nơi đất khách thì làm sao mà không buồn cho được?
Chơ vơ đất khách ngại ngùng
Hồn ta lơ lửng giữa vùng đìu hiu.
(Nghẹn Ngào Trông Thấy Màu Xanh Cây Lá Xứ Người)
Rồi mùa Xuân nơi xứ người lại tới, ấy thế mà thi sĩ cũng không cảm thấy vui cho được!
Ðầu xuân thiên hạ dập dìu
Ngờ đâu vườn đã rụng nhiều cánh hoa
Lạnh Ðông còn đó buốt da
Niềm vui chợt thấy xót xa lạnh lùng.
(Ðầu Xuân Ði Xem Hoa Ðào Nở)
Khi lá đã xanh trên cành, cảnh vật thật là tươi mát. Nhưng đối với thi sĩ Hữu-Phương, màu xanh tươi mát ấy cũng làm cho ông chạnh lòng nghĩ tới thân phận lưu vong:
Bâng khuâng nhìn ngắm xứ người
Nỗi lòng chung đậu nghĩa đời vong nô.
(Biển Lá)
Cảnh ăn nhờ ở đậu nơi xứ người thì làm sao lòng mình vui cho được! Cái đau nhất là khi nghĩ tới một thời kiếm cung ngang dọc bị chìm vào quên lãng:
Thân phận ta núi buồn
Một khoảng dài lưu vong
Ai từng giương cung nỏ
Còn nghĩ gì nữa không?
(Ai Từng Giương Cung Nỏ)
Một bữa cơm ngon của gia đình cũng làm cho thi sĩ Hữu-Phương phải suy nghĩ và nhớ về quê hương nơi có thân bằng quyến thuộc đang chạy lo từng bữa mà vẫn không đủ no:
Một bữa cơm ngon
Làm ta suy nghĩ
Quê nhà héo hon
Tìm đâu mỹ vị.
Ngày xưa đầy đồng
Gạo thơm lúa tốt
Bây giờ não nùng
Nhà xiêu mái dột.
(Hiện Tại và Ngày Qua)
Chính vì quá tha thiết tới quê hương cho nên thi sĩ Hữu-Phương cũng dặn lòng mình không đi nghỉ hè như những người đồng hương khác. Bởi vì tìm vui cũng chẳng ích lợi gì trong khi trong lòng mình đang ngổn ngang trăm mối sầu đau:
Sực nhớ tìm vui chẳng ích gì
Làm sao giải được nỗi sầu bi
Quê cha đất mẹ dài đau xót
Vẫn lắm người mơ một chuyến đi.
(Sực Nhớ)
Ðôi khi suy nghĩ về cuộc đời, thi sĩ Hữu-Phương đã buộc miệng than:
Một khoảng đời qua mấy nhục nhằn
Ðắng cay nghìn nỗi mấy băn khoăn
Vui nào dai dẳng buồn không gợi
Cũng mãi nhập nhòa chuyện gió trăng.
(Một Khoảng Ðời Qua)
Những ước mơ của thời quá khứ giờ đây đành phải giã từ trong cơn uất nghẹn của người anh hùng ngã ngựa:
Mảnh trời nào đó tôi mơ ước
Vẫn thấy mù tăm một biển buồn
Mảnh hồn nào đó tôi mong giữ
Chỉ là hư ảo bóng hoàng hôn.
(Ước Vọng Giã Từ)
Nỗi buồn luôn chất ngất trong hồn, nhưng thi sĩ Hữu-Phương vẫn vững niềm tin và nuôi chí khí phục thù:
Ta nuôi hồn ta lại
Vun thêm chí quật cường
Sau một lần thua bại
Thành trì phải vững hơn.
Vững lòng đi! Chiến sĩ!
Khi đã quyết tâm rồi
Ngày qua thôi đừng nghĩ
Ngày mai rạng hướng trời.
(Ai Từng Giương Cung Nỏ)
Vì việc quang phục đất nước không phải một sớm một chiều mà thành tựu ngay, cho nên ông khuyên ta nên lưu tâm đến việc “trồng người” cho mai hậu:
Trồng người vốn để cầu mong
Ðổi thay cũng chẳng sờn lòng quốc gia
Càng xa càng thấy nhớ nhà
Anh em vẫn đó thiết tha mãi còn.
(Trồng Người Cho Mai Sau)
Ông khuyên mọi người nên đoàn kết lại, vì lẽ:
Vì quốc gia ta phải dẹp tư thù
Người quốc gia chỉ có một tâm tư
Thống khổ đồng hương xui ta kết hợp
Mục đích giúp chinh nhân mau thắng cuộc
Diệt bạo tàn bình trị lại giang san
Ðược sống đây tương đối đã huy hoàng
Không thể để phôi pha bầu nhiệt huyết
Bài học nào giá trị hơn đoàn kết
Người Việt tha hương xin chớ hững hờ.
(Bài Học Ðoàn Kết)
Thi sĩ Hữu-Phương đã đặt đất nước quê hương lên trên tất cả mọi vấn đề và ông khẳng định rằng Việt Nam sẽ không bị phai mờ như mọi người suy tưởng:
Nước non là tất cả
Việt Nam không chào thua
Phải huy hoàng sáng giá
Việt Nam không phai mờ.
(Nước Non Là Tất Cả)
Và ông luôn mơ ước một ngày huy hoàng trên đất nước sẽ tới:
Nếu ta chưa về ven biên đó
Chẳng phải phai sờn ý đấu tranh
Mà bởi người ta không muốn giữ
Nguyện thề vì nước chẳng màng danh.
. . . . . . . . . . . . . . .
Nên ta luôn nghĩ ngày mai ấy
Thôn xóm ven biên ngập sắc vàng
Sọc đỏ ngày xưa bừng đỏ lại
Huy hoàng phơi phới khắp trời Nam.
(Nếu…)
Tuy không xông xáo hoạt động như nhiều người khác, nhưng thi sĩ Hữu-Phương lúc nào cũng hướng tâm về quê hương một cách chân thành và tha thiết. Ông mơ ước “mặt trời tự do” hãy mọc trên quê hương Việt Nam thân yêu để càn quét lũ Cộng sản hung tàn:
Ôi! Việt Nam! Việt Nam!
Vàng son nào tôi ấp ủ
Thân ái nào tôi lưu giữ
Xin mặt trời đừng quên
Hỡi mặt trời tự do!
Hãy đổ nắng thật nhiều
Hỏa thiêu loài quỷ đỏ
Cho đất nước tôi
Cộng sản sẽ không còn
Chỉ còn một Việt Nam
Trung hòa nhân nghĩa.
(Xin Hãy Giữ Giùm Tôi Mặt Trời)
Ðâu là tình nghĩa sắt son
Thói đời hai chữ một nguồn xót xa.
(Ðâu Là Tình Nghĩa)
Cuộc tình ví như cơn sóng vỗ bờ cát trắng hay một chiều lộng gió ở ngoài biển khơi:
Ngày của bỗng dưng
Chùn mây lộng gió
Người không thẫn thờ
Quyến luyến chi ta.
(Cuộc Tình)
Và cũng có lúc cuộc tình mênh mông như biển cả:
Cạn rồi khoảng sông
Người xưa ngẩn mặt
Muộn rồi chờ trông
Tình xưa hiu hắt.
(Mênh Mông)
Trong một bài văn xuôi, thi sĩ Hữu-Phương đã có cái nhìn về Tình Yêu, Hạnh Phúc và Ðức Tin như sau: “Ý nghĩa cuộc sống xuyên qua những mệnh đề hệ trọng như Tình Yêu, Hạnh Phúc, Ðức Tin… có thể không còn là gì nữa hết. Cái có cái không vả chăng chỉ mang một tính chất phù du và vay mượn mà thôi….” (Từ Một Va Chạm…)
Tuy nhiên, thi sĩ Hữu-Phương có một đời sống tâm linh thật là vững chắc, cho nên ông đã xác quyết:
Chìm theo hư ảo
Ai đã cuồng mê
Chỉ còn có đạo
Sáng soi lối về.
(Ðời Như Trũng Sâu)
Vâng, thi sĩ Hữu-Phương đã được soi sáng lối về Nước Chúa. Dù nỗi đau mất nước vô cùng xót xa trong lòng thi nhân nhưng sự ra đi đột ngột và vĩnh viễn của thi nhân đã hóa giải nỗi đau buồn ấy cho ông để ông được thanh thản về với Chúa.
Thế là một kiếp nổi trôi
Triền miên uất hận một đời ngửa nghiêng
(Một Ngày Nắng Tắt)
Từ nay, thi sĩ Hữu-Phương không còn phải vương vấn nữa về cuộc đời tị nạn bất đắc dĩ mà ông đã gánh chịu trong quãng đời còn lại. Nỗi buồn của ông đã chấm dứt cùng với thi tập này. Mong rằng những dòng tâm tình chia xẻ này, thay cho nén tâm hương, sẽ làm cho thi sĩ Hữu-Phương mỉm cười thanh thản nơi miền Lạc Cảnh.
(Ðức Phố, ngày 25 tháng 2 năm 2001)
Vĩnh Liêm
-
Hữu-Phương: Kiếp Lưu Ðày
Vĩnh Liêm
Hôm nay tôi nhận được bản sao của hai số Nguyệt san Lướt Sóng, “Chiến Thắng Hoàng Sa” và số đặc biệt “Ngày Hải Quân 74” do Ông Vũ Hữu San (cựu HQ Trung Tá, nguyên Hạm trưởng Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4) gửi tặng. Tôi lần dở từng trang, bắt gặp những khuôn mặt cũ, những nhà thơ thân thiết của Hải Quân ngày nào. Tôi gặp lại thi sĩ Hữu-Phương qua bài thơ “Tỉnh Mộng” của Ông. Ðó là bài thơ tình viết cho người yêu đã bước ra khỏi cuộc đời của Ông nhưng đã để lại cho tác giả một nỗi buồn ray rứt khôn nguôi. Thi sĩ Hữu-Phương đã cất lời nhắn nhủ nàng một cách thiết tha:
Ngọn lửa nào bừng cháy cũng tàn mau
Trừ lửa lòng ta muôn đời bừng sáng.
Rồi Ông kết luận:
Em còn đó xin em đừng triệt diệt
Lửa đã hồng soi tỏ lối trăm năm.
(Lướt Sóng, số đặc biệt Ngày Hải Quân 74, trang 57)
Bài thơ “Tỉnh Mộng” của thi sĩ Hữu-Phương làm cho tôi nhớ lại một món nợ với Ông mà tôi chưa trả được, đó là hai tập bản thảo thơ của Ông đã gửi tặng tôi ngày 21 tháng 3 năm 1984, “Kiếp Lưu Ðày” (Tập 3) và “Nỗi Buồn Á-Việt”, với lời gửi gấm tha thiết: “Bao giờ Vĩnh Liêm có dịp thì viết lời giới thiệu giùm”. Sau đó vài năm thì Ông đã đột ngột qua đời. Từ đó tới nay, tôi chưa hề “có dịp” để thực hiện lời căn dặn đó!
Nhân tiếp chuyện với Ông Vũ Hữu San qua điện thoại và E-mail cách nay hai tuần lễ, tôi có nhắc lại chuyện tôi đang có trong tay hai thi tập (bản thảo) của thi sĩ Hữu-Phương và đề nghị Tổng Hội Cựu Hải Quân & Hàng Hải Việt Nam Cộng Hòa in hai thi tập này khi có điều kiện. Cách đây một tuần lễ, Ông Chu Bá Yến (cựu HQ Trung Tá) có liên lạc với tôi qua E-mail và Ông cho biết đã liên lạc được với cháu Loan, ái nữ của cố Ðề Ðốc Nguyễn Hữu Chí (tên thật của nhà thơ Hữu-Phương), và đề nghị cháu Loan xúc tiến in hai tập thơ nói trên.
Tôi bèn đi tìm lục bản thảo thi tập “Kiếp Lưu Ðày” (Tập 3) nằm trong tiểu thư viện của tôi mà 7 năm qua tôi chưa có dịp đọc lại. Bây giờ bản thảo thi tập “Kiếp Lưu Ðày” đang nằm trước mặt tôi với 49 bài thơ ngắn dài đủ thể loại, trong đó có một bài thơ bằng tiếng Pháp (Le Temps en Réduction) và một bài thơ bằng tiếng Anh (Time in Reduction) được chuyển từ tiếng Việt (Ngày Tháng Thu Dần). Tại sao lại là “Kiếp Lưu Ðày” mà không là tiếng kêu than nào khác? Ðó là tâm sự đầy vơi của thi sĩ Hữu-Phương trong kiếp sống tha hương, đang đối diện với tuổi đời chồng chất mà không biết ngày nào mới được trở lại cố hương:
Thân thế chỉ còn mộng viễn vông
Cuối đời hiu hắt bóng hoàng hôn
Từng trang quá khứ chìm quên lãng
Chết cả tương lai, đuối cả hồn.
(Ngày Tháng Thu Dần)
Chỉ một chiều Ðông thôi cũng đủ làm cho nỗi lòng của thi sĩ Hữu-Phương thêm đìu hiu, cõi lòng càng se sắt:
Quê ai vẫn lạ trăm chiều
Một lần diệu vợi hẳn nhiều bâng khuâng
Phải tiêu cho hết buồn đông
Ðể còn lay lắt với dòng nổi trôi
Mong thay một kiếp luân hồi
Trên non hòn đá không lời buồn vui
(Chiều Ðông)
Mùa Ðông ở đất nước người sao mà sầu thảm quá! Mỗi một ngày Ðông ở đây là một ngày dài nhung nhớ, xót đau trong lòng người viễn khách. Một nỗi u hoài trong lòng thi sĩ khi thấy đàn chim khuất dạng vào cõi xa xăm:
Chơ vơ hồn thảo mộc
Như viễn khách chiều nay
Nhìn đàn chim khuất dạng
Lâng lâng nỗi u hoài.
(Mùa Ðông Trên Ðỉnh Cây)
Rồi mùa Ðông đem tới tặng cho thi sĩ những khối tuyết trắng phau, lặng lờ vô tri vô giác. Khi nhìn thấy tuyết tan, thi sĩ càng mơ tới một mùa xuân nắng ấm.
Ðêm qua tuyết xuống lặng lờ
Cái quan hừng sáng hai bờ trắng phau
Chiếc xe ngại bước qua cầu
Ðường trơn lỏm dấu cát rào dưới chân
Thế rồi cơn nắng ung dung
Tỏa lên chợt thấy như đông rũ tàn
Hàng cây nhìn giá băng tan
Cành trơ lá trụi mơ màng ngóng xuân.
(Tuyết Xuống Trong Ðêm)
Ðối với kiếp lưu đày như thi sĩ Hữu-Phương thì tuyết là hình ảnh làm cho cuộc đời lưu vong thêm chán chường, mệt mỏi:
Chán chê cái kiếp lưu đày
Từng giây gõ nhịp tưởng đầy là vơi
Dư âm thân thế xa rời
Chiều nay tuyết xuống ngày mơi vẫn buồn
(Ngày Mai Vẫn Buồn)
Qua tới mùa xuân thì lòng thi sĩ lại bồi hồi xúc động. Không xúc động sao được khi nghĩ tới quê hương đất nước đang oằn oại trong gông cùm Cộng sản!
Xuân lại đến
Bồi hồi sao cuộc sống!
Xuân lại về
Não nùng quá Quê Hương!
Nhưng ta vẫn đốt hương lòng
Cầu xin Tổ Quốc thắm hồng nơi nơi.
(Xuân Vọng)
Không đau đớn sao được khi anh hùng bị ngã ngựa một cách tức tửi, bị trói tay buột miệng một cách oan ức, để rồi phải làm thân nô bộc ở xứ người!
Phải còn luồn lọt bao nhiêu
Bao nhieu cho giáp hai chiều thấp cao
Cung quan ngày trước tự hào
Ngày nay nô bộc thét gào dửng dưng
Vẫn mơ gió thốc động rừng
Bứng cây dời núi một vùng dọc ngang
Nhưng rồi hổ đã rời hang
Sơn lâm hùng vĩ ngỡ ngàng đó thôi
Chín năm hòn đá lăn đồi
Chơ vơ dưới lủng đỉnh trời bao la.
(Anh Hùng Ngã Ngựa)
Càng đối diện với tuổi đời, càng ngoái nhìn lại quá khứ, thi sĩ càng thấy mảng trời thơ càng thu hẹp lại:
Qua lăng kính xưa đời thôi hết đẹp
Mù trải xa thu hẹp mảng trời thơ
Như tất cả vùi say và ngủ thiếp
Núi hoang sơ giao tiếp biển ơ hờ.
(Qua Lăng Kính Ngày Xưa)
Tuy vậy, thi sĩ vẫn còn tha thiết tới đại cuộc, tới một ngày trở về Việt Nam khi bóng giặc không còn. Thi sĩ luôn luôn theo dõi thời cuộc và cảm phục những người dám lên đuờng đi cứu lấy non sông:
Người ta cho rằng dởm
Cái việc đi Tây, Tàu
Của tiền ai tiêu rởm
Những chuyện làm cầu âu.
Thật thì biết nói sao
Nghĩ thôi đủ nghẹn ngào
Huống gì trông thế cuộc
Ngày về giấc chiêm bao
Nhưng nếu ngồi bó tay
Ai ai cũng thở dài
Không màng gì nữa hết
Chỉ bàn bạc mỉa mai
Thì tội thay! Người đã
Khêu tiêm đốt ngọn đèn
Không bừng lên lửa thật
Cũng còn thấy nhá nhem
……………..
Dầu mấy trời ngăn trở
Khi quyết thắng gian tà
Bây giờ không thành sự
Trăm năm chẳng muộn mà.
(Mộng Lớn)
Rồi Ông khẳng định một điều rất chí lý và quyết liệt:
Ðối với bè lũ đó
Không thể tỏ dịu hiền
Dẫu thân tù xác rọ
Tâm trí phải vùng lên
(Ðối Với Bè Lũ Ðó)
Dù bị ngã ngựa một cách đau xót, nhưng thi sĩ Hữu-Phương vẫn mơ một ngày về lại quê hương một cách cương quyết:
Một tháng nữa ta về
Ai bảo rằng không thể được?
Giang sơn ta sao rằng trong tay cướp
Ðất nước ta sao rằng mãi hôn mê.
Một tháng nữa ta về
Hãy bảo nhau như người Do Thái
Vững niềm tin ở Ðấng Jehovah
Ngày mai gặp nhau ở Jerusalem.
Một tháng nữa ta về
Dẫu thời gian khuyên nhủ điều nhẫn nhục
Kẻ-bên-này người-bên-kia chúc phúc
Ăn ở ngay lành để còn thấy lại nhau.
………………..
Một tháng nữa ta về
Rằng Tự do phải thắng trước gian tà
Nắng Tự do sẽ làm mầu mỡ lại
Ðất Việt Nam không thể chìm xuống mãi
Trong điêu tàn và sầu hận chia ly
Dẫu trăm năm ta vẫn hẹn nhau về
Dẫu xa xăm ta cũng hẹn nhau về
Miền Nam muôn đời vẫn phải thuộc về ta…
(Hãy Hẹn Nhau Về)
Mỗi một buổi sáng, thi sĩ Hữu-Phương đều có một điều mơ ước, tuy đơn giản nhưng rất chân thực. Ðiều mơ ước đó là:
Ta về với mái nhà xưa
Liếp khoai bụi chuối hàng dừa hân hoan
Giã từ cuộc sống đi hoang
Ta về với mẹ thiên đàng của ta
Vẫn mong từ sớm đến tà
Vẫn mong cho tới khi xa cõi đời
Rồi mong vẫn tiếp với người
Ðến khi non nước xanh ngời tự do.
(Ðiều Mong Mỗi Sáng)
Ðiều mơ ước sau đây của thi sĩ Hữu Phương cũng là điều mơ ước chung của người Việt ly hương:
Ước gì ta thấy cuộn dòng
Cửu Long nước đổ mênh mông tháng Mười
Lòng ta rộng một khoảng trời
Bao nhiêu yêu dấu đời đời không quên.
(Ðiều Mơ Ước Của Người Ly Hương)
Bỗng có một ngày buồn bã, lòng thi sĩ cảm thấy bâng khuâng, lo lắng cho nhân loại sắp đến ngày tận thế:
Họ vì cuồng tín Allah
Lao đầu như điên dại
Ta cũng vì tin Tự do
Không nguôi cõi lòng kinh hải.
(Biểu Hiệu Ngày Tận Thế)
Với tấm lòng yêu mến quê hương đất nước, mặc dù chưa thực hiện được những điều mơ ước nhỏ nhoi, nhưng thi sĩ Hữu-Phương vẫn bộc lộ tấm lòng tha thiết của Ông:
Nếu mai ta còn sống
Còn tiếp chuyện tương lai
Ðừng cho rằng ảo mộng
Nên nghĩ đó lâu dài.
(Trông Vào Nguồn Dân Tộc Mà Ðấu Tranh)
Ðố bạn biết tại sao thi sĩ Hữu-Phương làm thơ? Xin hãy lắng nghe Ông tâm sự:
Làm thơ tức nguyện cầu
Cho hồn ta hóa giải
Những nỗi sầu niềm đau
Qua đêm dài khắc khoải.
Nếu tin cùng thi nhân
Bắc nhịp cầu tri kỷ
Lời thơ như tiếng thầm
Ngân sâu niềm tâm ý.
(Lời Ðáp)
Vâng, quả thật đúng như vậy! Tôi đã tìm thấy ở thi sĩ Hữu-Phương một tâm hồn thi nhân hơn là một vị Tướng. Hơn một năm làm việc với nhau để hình thành Ðại Hội Liên Hiệp Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại (Coalition of Free Vietnamese Convention) tại Hoa Thịnh Ðốn năm 1983, thi sĩ Hữu Phương đã đối với tôi như một người anh hòa ái, một người bạn văn nghệ lâu năm. Ông lúc nào cũng cười vui vẻ, ăn nói lịch thiệp, chừng mực. Khi phát biểu ý kiến thì Ông dùng lời lẽ ôn tồn, khiêm tốn. Không bao giờ Ông dùng lời lẽ đao to búa lớn ở nghị trường, bởi vì Ông có một nguyên tắc sống thật là cao cả, từ tốn, an nhiên.
Khi đức tính trong con người khêu tỏ
Nến tin yêu soi thấu lớp sa mù
Ta không sống vô tình như cây cỏ
Thà ngu khờ hơn chẳng có tâm tư.
Bằng từ tốn ta hòa trong nhân loại
Vui của người làm phấn khởi hồn ta
Bằng hỉ xả ta nghe nhiều nhân loại
Từ bốn phương phải tụ lại một nhà.
Nguyên tắc đó không là chi mới lạ
Chỉ làm sao băng giá được cõi lòng
Vì cơn nóng như dầu loang lửa phá
Chẳng được gì càng thấy rõ hư không.
(Nguyên Tắc Sống)
Thật là cao cả, tuyệt vời! Bởi thế thi sĩ Hữu-Phương đã được mọi người yêu mến. Ngày Ông qua đời, anh em kéo tới nhà thật đông, trước để chia buồn cùng hiền thê của người quá cố và thân bằng quyến thuộc, sau là ngồi tán gẫu với nhau, nhắc lại những kỷ niệm vui buồn với Ông trong cuộc đời quân ngũ.
Sau chuỗi ngày ly hương tẻ nhạt, Thi sĩ Hữu-Phương đã có cái nhìn về cuộc đời rất chân rất thực, mang mác mùi thiền cùng nền đạo lý Á Ðông. Ông coi cái chết như là một áng mây thoáng qua, một cơn gió thoảng dịu dàng.
Sống chết nay mai nào ai biết được
Máy già nua lơ đễnh chốc ngừng xoay
Bạn bè năm xưa tin về bỏ cuộc
Ðến tuổi này phần số chỉ là may.
Ðã tới lúc ta không còn hoảng sợ
Hai tay xuôi không hổ thẹn hơn là
Sống lay lắt một khoảng đời dang dở
Vá víu hoài lạnh vẫn thấm vào da.
(Sau Một Khoảng Dài Lau Lách)
Nhìn lại quãng đời đã qua, ngoái nhìn lối mòn đã từng dấn bước, thi sĩ Hữu-Phương không còn nghe tiếng lòng rạo rực nữa, mà tâm đã lắng xuống nên tự dặn lòng:
Thôi hết chỉ còn ta với ta
Trên con đường nhỏ tháng ngày qua
Chẳng mong tình tứ cho ta được
Giải tỏa tâm hồn những xót xa…
(Xưa Sau)
Nhân sinh quan của thi sĩ Hữu-Phương thật đơn giản, nhưng đó là một triết lý sống đôn hậu đáng yêu:
Ai nào thấu hiểu càn khôn
Không gian thời khắc vô cùng đó thôi
Mênh mông hai chữ đời đời
Mảnh thân cát bụi dập dồi hẩm hiu.
(Vô Tận)
Ông vẫn thường dùng dấu chấm ôi (!) sau mỗi khoảng đời nghiệt ngã:
Cho phỉ đời trai mộng đất trời
Muốn ôm bốn biển đặt vào nôi
Muốn quàng tay ấp nghìn tinh đẩu
Cho mỗi khoảng đời một chấm ôi!
(Chấm Ôi [!] Sau Mỗi Khoảng Ðời)
Có rất ít người thấu hiểu tâm sự thầm kín của thi sĩ Hữu-Phương nếu chưa được đọc những vần thơ lai láng tình yêu quê hương đất nước của Ông. Tuy lời thơ chân phương nhưng gói ghém biết bao tình.
Ta đã ra đi bỏ nước rồi
Ngậm ngùi vương vấn nẻo chia phôi
Mười năm rồi đó, mười năm nữa
Càng thấy buồn dâng ngập cõi người.
Nếu chẳng làm nên chuyện vá trời
Cũng nên gào thét tiếng than ôi!
Bởi đâu nhân sử nhiều tri biến
Hạnh phúc đời đời bánh vẽ thôi!
(Cõi Nhân Gian)
Có lẽ bài thơ sau đây là điềm báo trước cho sự ra đi vĩnh viễn của thi sĩ Hữu-Phương. Bây giờ đọc lại tôi mới thấy cái điềm không hay ấy. Chính tác giả đã dịch bài thơ này sang Pháp ngữ (Le Temps en Réduction) và Anh ngữ (Time in Reduction).
Thân thế chỉ còn mộng viễn vông
Cuối đời hiu hắt bóng hoàng hôn
Từng trang quá khứ chìm quên lãng
Chết cả tương lai, đuối cả hồn.
(Ngày Tháng Thu Dần)
Và bài thơ sau cùng cũng là lời bày tỏ về nhân sinh quan của thi sĩ khi bước vào chặng đường cuối cùng của cuộc đời. Mặc dù mới lưng chừng ngũ tuần, thân thể còn tráng kiện, thế mà thi sĩ Hữu-Phương đã cho mình là già nua!
Bây giờ nửa kiếp già nua,
Buồn vui thấp thoáng niềm trưa nỗi chiều.
(Niềm Tin Cuối Một Ðời Người)
Mặc dù vui buồn đau khổ ngổn ngang trong người nhưng thi sĩ hy vọng Trời sẽ thấu hiểu cho mình:
Trời am hiểu nỗi vui buồn
Trước sau sau trước một hồn một thân.
(Niềm Tin Cuối Một Ðời Người)
Một buổi sáng đẹp trời nọ, thi sĩ Hữu-Phương bỗng buông cây vợt Tennis đang cầm trên tay, không một lời từ giã người thân, vội vàng ra đi tới miền đất lạ như Ông đã từng đột ngột ra đi trong năm 1975! Thế là Ông đã chấm dứt “Kiếp Lưu Ðày” bằng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng!
Tôi viết lời giới thiệu này không nhằm mục đích “trả nợ” cho thi sĩ Hữu-Phương như đã nói ở đoạn đầu, mà là lời tưởng niệm thân thương của tôi đối với Ông trong tình anh em nghĩa cả, bằng những xúc động chân thành dành cho người anh yêu qúi.
Thi tập “Kiếp Lưu Ðày” (Tập 3) có đến tay bạn đọc được hay không là còn tùy thuộc vào thân nhân của người quá cố. Việc làm của người giới thiệu nằm trong khuôn khổ là làm sao nói lên được những điều gì mà tác giả đã gửi gấm trong từng bài thơ. Có thể tôi nói hãy còn thiếu sót hoặc chưa nói hết những gì mà tác giả đã kỳ vọng nơi tôi. Nếu đúng như vậy, xin độc giả vui lòng miễn chấp, và xin hương hồn thi sĩ Hữu-Phương vui lòng tha thứ.
(Ðức Phố. ngày 11-02-2001)
Vĩnh Liêm
-
Kỷ niệm rời với Kiến trúc sư Nguyễn Tường Quý.
Ngày 29 tháng 10, năm 2016 nhà văn Ngọc Cường cho ra mắt tác phẩm Hệ Lụy tại phòng hội của nhật báo Người Việt, tôi đươc gặp anh Nguyễn Tường Quý, Anh Quý có những đặc điểm như chuộng đội mũ “kết” (casquette) như mấy ông Tây tài tử cinéma Jean Gabin hay André Bourvil thường dùng. Điềm khác anh Quý ít nói nhưng luôn mở nụ cười xã giao trên môi, một nụ cười thân thiện và nhân ái chút gì như tranh La Joconde, rồi một nụ cười chút gì hiền hòa, đầy thiện cảm như Đức Di Lặc (Maitreya trong tiếng Phạn). Dù gì như La Joconde hay Maitreya thì là một nụ cười nhẹ rất bắt mắt và hạnh phúc khi giao tiếp.
Là một kiến trúc sư anh Quý nghiên cứu về những kiến trúc văn hoá về đình làng và chùa chiền xưa. Anh viết bài “Nói về cái đình làng ta” như sau:
“Truyền thống nước Việt Nam ta có câu “ Phép vua còn thua lệ làng”. Pháp luật của vua xuất phát từ Cung Điện Kinh Thành, còn tục lệ làng thì do dân tụ tập tại cái Đình của làng mà quyết định nên. Vì vậy vị trí của cái Đình cần phải ở trung tâm của làng, chính giữa làng để tất cả người dân trong làng có thể dễ dàng trông thấy, và đi đến đấy để mà tụ tập nhau. Nói một cách nôm na, vị trí của Đình trước hết cần phải tiện lợi cho mọị người sinh sống trong làng.
Tụ tập với mục đích gì? Đầu tiên, dân làng tụ tập nhau ở đình khi có vấn đề nào cần thảo luận hay tham khảo công khai chung cho tất cả những dân cư trong làng. Chẳng hạn họp để có ý kiến nhất quyết chung, như kiểu ‘Nên Hòa hay nên Chiến’ của Hội Nghị Diên Hồng vào thế kỷ 13 triều đại Nhà Trần để chống quân Mông Cổ sang xâm chiếm nước ta. Sau đó là những cuộc hội hè đình đám của làng… Do đó, nhu cầu bên trong Đình phải rộng rãi, tạo được sự mát mẻ cho những ngày đêm hè nóng nực mà phải có những tập họp lớn.
Nhưng cái đình làng hiện diện từ thủa nào? Chưa ai dám chắc biết được một cách chính xác. Chỉ có thể nói là hình dáng của cái Đình đã xuất hiện trong một khoảnh đất rộng và thường thì ở trọng tâm của làng, từ khi dân Việt ta biết tụ tập thành làng xã mà sinh sống làm ăn gần gũi với nhau lâu đời. Hình dáng cái đình như thế đã dần dần biến thành một ngôi nhà lớn (như loại nhà rồng có mái cao của người thượng du Việt Nam hiện giờ còn sử dụng). Tuy nhiên, dân chúng ở làng thuộc những vùng đồi và đồng bằng vì lối sống phức tạp hơn nên đã thiết lập các ngôi Đình có sức chứa nhiều hơn và có dáng trang nghiêm để thờ phụng các vị tiên hiền có công với làng xã, các vị Thần, các bà Chúa hoặc thờ Thần Nông, Thần Núi, Thần Hoàng Làng v.v.. Cho nên lối kiến trúc của Đình cần mang một sắc thái uy nghi và to lớn, phù hợp với các thần tượng mà cả làng tôn thờ.
Đình là nơi lưu trữ nếp văn hóa của dân làng.
Sự phong phú của kiến trúc Đình đặc biệt hơn cả là những bức trạm trổ gỗ mang nội dung cụ thể, như những phần “tài liệu” bằng hình ảnh, diễn tả rất sát với đời sống hằng ngày của dân làng khi xưa đã diễn ra. Những bức chạm trổ này có mặt hiện diện được bên trong một số ngôi đình cổ là do công lao của các nghệ nhân nước ta thời xưa đã bỏ công ghi tạc lại một số các sinh họat tiêu biểu của dân làng. Nào là cảnh uống rượu, cảnh đi săn bắn, đá cầu, đấu võ, tắm ở đầm sen, chơi trồng hoa, mẹ gánh con, đánh cờ, múa hát.
Từ những bức chạm trổ này, chúng ta mới biết thêm được rằng xưa kia dân làng sử dụng ngôi đình làng không những chỉ để hội họp, để thờ các bậc tiên hiền, các Ông Thần Bà Chúa của làng… mà đình còn là nơi dân làng vui chơi trong các dịp lễ hội, và chính đình còn là nơi tiêu biểu thể hiện được những hình thức sinh hoạt có tính cách văn hóa của đời sống dân làng nữa. Cho đến nay, chúng ta có thể nói rằng Đình là ngôi nhà chung của làng, đóng nhiều vai trò đa chức, đa năng: hành chánh, tôn giáo, văn hóa.. mà hơn thế nữa, Đình còn là mẹ của các hình thức văn minh – văn hóa cổ truyền: Từ những nghi thức tế lễ, đến các hoạt cảnh hội hè đình đám, những câu hò điệu hát, những nghệ thuật trình diễn như hát trống quân, hát quan họ, đấu vật, múa võ.., và những sinh hoạt dân làng như gặt và đập lúa, cấy mạ, chăn trâu…
Ngôi đình xưa nhất còn lưu lại được mấy thế kỷ?
Nhìn lại lịch sử nước ta, sau các đời vua Đinh, Lê thì hai triều đại Lý và Trần đã xây dựng nên một nền văn hiến thịnh trị với các thể hiện tự chủ về chính trị, xã hội văn hóa… mà một trong những thể hiện này là lối kiến trúc riêng biệt tiêu biểu như Chùa Thầy, Chùa Một Cột… Và cũng chính vì nền văn hiến rõ rệt phồn thịnh một cách Việt Nam đó đã khiến nhà Minh bên Trung Hoa khi mang quân xâm chiếm nước ta thành công thì tìm cách phá huỷ tận gốc các công trình kiến trúc mang nặng chất văn hóa Việt. Phải chăng sự tàn bạo độc địa của người phương Bắc đối với các công trình kiến trúc dân gian, thuần túy tiêu biểu cho sức đề kháng tự chủ của dân Nam, mà hầu hết là các ngôi Đình làng đã bị phá hủy? Sự phá hoại này có phần ít hơn đối với chùa chiền, đền miếu…, có thể là vì lý do tôn giáo của hai quốc gia Trung Hoa và Việt Nam hồi đó giống nhau? Đây là một vấn nạn, chúng ta sẽ có dịp đi sâu vào phân tích rõ hơn ở các bài khác.
Hiện nay có thể nói là không tìm được một ngôi đình nào nguyên vẹn của các triều đại Lý, Trần mà chỉ còn các Đình Làng được tái xây cất từ thời nhà Mạc, nhà Hậu Lê (thế kỷ 15), tuy rằng vẫn giữ được ảnh hưởng những đường lối kiến trúc của thời nhà Lý – Trần và rất là đặc biệt Việt Nam. Chẳng hạn như Đình Tây Đằng (thuộc tỉnh Hà Tây) là một trong những ngôi đình cổ nhất được tái dựng vào thế kỷ thứ 16.
Riêng đình làng Đình Bảng (Bắc Ninh) đã được xây theo hình chữ công của Hán tự, dài tới 30 mét gồm 9 gian, rộng 15 mét, cao hơn 9 mét, có 60 cây cột gỗ lim và chu vi của cột chính có khi to tới 2 mét; mái nhọn như cái nón khổng lồ, chiều cao chiếm 3/4 chiều cao của tòa nhà, rất độc đáo Việt Nam. Đây là một trong những kiến trúc gỗ thuộc loại đồ sộ và cổ nhất Việt Nam.
Đình xây theo hình gì, chạm trổ ra sao?
Bình đồ các ngôi đình làng Việt Nam cổ tiên khởi chỉ có hình chữ nhất. Riêng chỉ có một đại đình là Đình Tây Đằng (Hà Tây) có bình đồ hình chữ tam, nghĩa là đình này có ba ngôi nhà song song. Hoặc bình đồ hình chữ Đinh thì có thêm một nhà thờ hậu phía sau, như Đình Thổ Hà – Bắc Giang. Hay hình chữ Công thì có thêm một căn nhà giữa nối phần đại đình với nhà hậu; hoặc bình đồ chữ khẩu thì có 4 căn vuông góc với nhau như đình Võ Liệt – Nghệ An.
Bên trong ngôi đình làng Việt cổ là cả một hệ thống vì kèo gỗ đồ sộ. Chính hệ thống vì kèo gỗ này là thành tựu có một không hai của Kiến trúc Việt Nam. Tại sao? Vì tự nó đã toát ra một vẻ đẹp kiến trúc kết cấu trang trí duyên dáng và mạnh mẽ: Trên các vì kèo ấy là những chạm trổ công phu xuất sắc nhất của nghệ thuật điêu khắc và trang trí gỗ của các nghệ nhân ta thủa trước!
Đó là những mảnh phù điêu diễn tả sinh động và rất cân đối cảnh sinh hoạt của người nông dân ở làng quê Việt Nam thời xa xưa. Khắp các vì kèo phủ kín các chạm gỗ trang trí làm cho khung kiến trúc trở nên nhẹ nhàng bay bổng nhưng không kém phần mạnh mẽ để đỡ được sức nặng của mái đè xuống.
Đây là cô tiên cưỡi rồng, cưỡi phượng nhưng đấy chính thực là các cô gái làng yếm thắm thắt lưng bao xanh. Kia là chạm trổ người cưỡi hổ, cưỡi voi, chế ngự sức mạnh hoang dã. Nét chạm dứt khoát, liên tục. Có nhiều cách chạm, chạm thủng, chạm bong, chạm lồng nhiều lớp… Mặt khác, hình những người dân quê cưỡi lên các biểu tượng rồng phượng mà ngoài tỉnh thành và cung vua vốn chỉ được sử dụng cho vua chúa, thần thánh thôi. Hầu hết các hình tượng chạm trổ này là do những nghệ nhân địa phương tập trung khắc chạm nên để mô tả các sinh hoạt đời sống rất gần gũi ở trong xóm trong làng của họ. Chẳng hạn như hình chạm trổ một cuộc chọi trâu truyền thống như ở Đồ Sơn… , chứ còn đấu vật thì làng nào ngày xưa ở Việt Nam mà chẳng có.
Còn các hình tượng người thì được chạm trổ ra sao? Hầu hết các nhân vật ấy trông như lùn. Trước đây dĩ nhiên người Việt Nam thấp hơn bây giờ song đây là do các nghệ nhân điêu khắc đã nhấn mạnh vào phần chính là cái đầu và bóp ngắn thân người lại cho hợp chiều cao của đà gỗ… Lại nữa, thêm nhiều điêu khắc trên các đà kèo còn có các tầng tầng lớp lớp người, thú, hoa, trái phủ kín, những cảnh uống rượu, đi săn, đá cầu, tắm ở đầm sen, chơi trồng nụ trồng hoa, mẹ gánh con, tấu nhạc, đánh cờ, múa hát… Ngoài ra, còn có các bia đá khắc và các bản vẽ và viết trên gỗ ở hầu hết các đình chùa, ghi lại nhiều di tích quí báu của nền văn hóa Việt Nam cả ngàn năm về trước…”
(Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý, trích ‘nguoi-viet.com’, 16/11/2004)
—————————
Còn nhớ trước 1975, những tay sinh viên phản chiến tại Sài Gòn, vốn thân cộng, chống chính quyền VNCH, như những Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Hữu Thái, Lê Hiếu Đằng,… Những vụ phá hoại của những bộ mặt sinh viên theo CS, qua 2 vụ điển hình là biến cố Biệt Động Thành mà Việt Cộng đã ám sát sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật (ngày 28-6-1971) và giáo sư Nguyễn Văn Bông (ngày 10-11-1971) thì Huỳnh Tấn Mẫm bị bắt giam (ngày 5-1-1972) cho đến 20-2-1974 thì phía chính quyền miền Nam VNCH chúng ta trao trả y tại Lộc Ninh (chung với tay gián điệp Huỳnh Văn Trọng, luật sư Nguyễn Long, sinh viên Cao Thị Quế Hương,… Trong hàng ngũ sinh viên quốc gia, nhà văn Ngọc Cường viết về KTS Nguyễn Tường Quý như sau: “Trong bối cảnh nhiễu nhương của thời thế và cam go của chiến tranh, anh lao vào cuộc tranh đấu phục vụ cộng đồng, không phải để tranh giành được một ngôi vị, mong trở thành một chức sắc, mà vì lý tưởng nhân bản, tinh thần Quốc Gia và noi theo truyền thống của tổ tiên. Do đó, anh không thể ngồi lặng yên để xem con tạo xoay vần như nàng Kiều :
Cũng liều nhắm mắt đưa chân.
Thử xem con tạo xoay vần đến đâu.

KTS Nguyễn Tường Quý và người bạn kiến trúc sư.Khi được bầu là Trưởng Tràng trường Đại Học Kiến Trúc, anh đã cương quyết với đám sinh viên thiên tả phản chiến, và luôn luôn ủng hộ chính thể Quốc Gia. Tuy bản chất hiền lành nhưng anh cương quyết với kẻ thù và kiên trì với lý tưởng của mình, tấm gương này đã soi sáng cho tôi noi theo… ”
Bây giờ sang nghệ thuật thưởng ngoạn trong đời sồng, anh Quý vừa là kiến trúc sư, vừa là họa sĩ. Nghệ nhân Nguyễn Tường Quý ưa chuộng môn hội họa cũng như nghiên cứu về hoa sen và hoa lan. Xin xem tranh kèm về bức tranh triển lãm hoa sen của họa sĩ Nguyễn Tường Quý. Trong một dịp triển lãm tranh tại hội trường nhật báo Người Việt, năm 2012, anh tâm sự với báo chí: “Mỗi lần triển lãm tôi đều thấy rất vui vì được sự hỗ trợ, khuyến khích của mọi người. Cám ơn những ai đến dự triển lãm, và tôi cũng hy vọng sẽ có được phần nào kinh phí giúp cho trẻ em mồ côi tại Việt Nam, vì mình già rồi, có còn làm được gì nữa đâu.”
Khi ly hương họa sĩ Nguyễn Tường Quý định cư tại Canada, khí trời lạnh lẽo, cùng những nỗi nhớ nhà, anh bắt đầu vẽ tranh. Sau khi qua Mỹ như lúc về hưu, với thời gian rảnh rỗi anh lại tiếp tục vẽ. “Với tôi, vẽ là một cách thiền,” họa sĩ Nguyễn Tường Quý kể lại.
Vì sao họa sĩ Nguyễn Tường Quý chọn vẽ hoa sen?
Hoa sen anh quan niệm là loài hoa mang ý nghĩa triết học và văn học khi biểu tượng cho nhân sinh quan thanh cao, và tinh khiết, hàm ý nghĩa về âm dương ngũ hành và chứa đựng sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Hình ảnh hoa sen mang đậm nét bình dị, dân dã nơi thôn quê, và hoa sen tượng trưng trong triết lý sống thoát tục, giúp con người buông bỏ mọi ưu phiền, để tĩnh tâm, an hưởng hạnh phúc. .
Hoa Sen với văn học của người Việt vốn tượng trưng cho hồn văn hóa dân tộc, loài hoa kín đáo, dịu dàng, thanh tao như ý thơ:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Ngoài hoa sen, anh Quý cũng thích nuôi dưỡng và nghiên cứu hoa lan. Xét về đặc điểm của hoa lan, anh ưa chuộng hoa lan như nhiều người chúng ta. Sắc màu hoa thắm tươi, mang vẻ thanh lịch của hoa lan, từ bên trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung lụa, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, màu của hoa lan từ nâu, xanh, vàng, tía cho đến đốm chấm phá, loang, sọc, vằn,… ta thấy nhiều hoa lan không thiếu. Loài hoa phổ thông, tuy hoa bình dị, nhưng mang đầy nét thanh lịch, chứa vẻ đài các. Hoa lan mọc ở nhiều nơi trên thế giới và chia ra làm 4 loại sau đây:
Epiphytes Phong lan bám vào cành hay thân cây.
Terestrials Địa lan mọc dưới đất.
Lithophytes Thạch lan mọc ở các kẽ đá.
Saprophytes Hoại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục
Lan mọc hiện diện ở khắp năm châu, bốn biển, từ dãy núi Andes miền Nam Mỹ và đến rặng cao Hy mã lạp sơn thuộc Á châu. Những nơi này ở độ cao từ 3000 bộ đến 7000 bộ và hoa lan là loài góp mặt nhiều giống nhất trong các loài hoa. Hoa loa có khoảng 750 loài và 30,000 giống nguyên thủy và chừng độ một triệu giống đã được ghép lai giống nhân tạo hay thiên tạo. Thú nghiên cứu về hoa lan và hoa sen của anh Quý chất chứa vẻ “vui thú điền viên tuế nguyệt”. Anh Quý ơi, hai loài hoa anh chọn lựa đưa con người về chốn thiên nhiên của sự thanh cao và an bình.
Người viết bài xin gửi bài viết này đến hương hồn anh Nguyễn Tường Quý, Pháp danh Trí Bảo, như lời chào vĩnh biệt.
Cõi trần đất khách tạm dừng chân.
Buông tay giã biệt chẳng ngại ngần
Viên mãn siêu sanh anh Trí Bảo
Ưu phiền nhọc não bỏ lại sau!
Trần Việt Hải, Los Angeles.
-
NVNT Bắc Cali giới thiệu sách “Tự Lực Văn Đoàn và các cây bút hậu duệ”


-
Ra mắt ‘Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ”
-
Ðội mưa mà đi
Nguyễn Tường Thiết
Vua Lý Thái Tổ nhìn xuống Hồ Gươm. Từ trên tầm cao 10 mét mắt ngài chiếu thẳng Tháp Rùa. Trước mặt ngài không phải cố đô Thăng Long mà là thủ đô Hà Nội một nghìn năm sau.Ngài uy nghiêm đứng giữa vườn hoa Chí Linh. Trước mặt ngài là phố Đinh Tiên Hoàng, tả hữu có hai phố Lê Thạch, Lê Lai, sau lưng có con phố mang tên ngài, Lý Thái Tổ. Nhà vua đảo mắt nhìn phía dưới chân. Ngài khó chịu thấy mình đang bị quan sát. Một thanh niên bận chiếc áo khoác có nhiều túi cúi xuống lôi trong bọc một vật gì màu đen rồi giơ vật ấy về phía ngài.
Quang nhìn lên ngắm nghía pho tượng đồng cao. Anh tự hỏi lần về Hà Nội mấy năm trước không thấy bức tượng này đặt ở đây. Nếu có chắc chắn là phải hiện trong bộ phim ảnh của anh vì lần nào về Hà Nội anh cũng chụp mấy bức ảnh Hồ Gươm và Tháp Rùa đứng từ phía vườn hoa Chí Linh. Quang giơ chiếc máy ảnh về phía tượng và điều chỉnh ống kính. Anh đi tới đi lui. Rồi anh quỳ xuống ngước máy lên để chụp toàn bộ bức tượng có hàng chữ ở dưới bệ: Vua Lý Thái Tổ (974-1028).
Nhà vua không nhìn thanh niên, ngó sang một thiếu nữ đứng cách đó chục thước mặc chiếc áo đỏ đội chiếc mũ trắng tay cầm một vật gì giống hệt như vật trong tay thanh niên và hướng nó về phía hai nguời đứng trước, hai người ấy trông như hai mẹ con.
– Chị muốn chụp phông nào? Lấy vua hay lấy hồ.
Vi hỏi người đàn bà. Người ấy nhìn chung quanh nói:
– Tượng vua cao thế kia có lấy được hết không?
Vi nói:
– Được!
Cô chạy lại gần con bé, bẻ lại cổ áo, vuốt lại tóc nó. Rồi cô khen con bé:
– Xinh nhất đấy!
Con bé vênh mặt lên khi thiếu nữ quỳ xuống ngửa ống kính chụp hai mẹ con, cái phông tượng ở sau.
Vua Lý Thái Tổ nghĩ thầm: “Đám người kia chiêm ngưỡng ta”.
Dưới kia không phải là thần dân của ngài. Thần dân ngài đâu có ăn mặc dị hợm và có những hành động kỳ khôi như thế. Trên đường Đinh Tiên Hoàng những cỗ xe chạy như mắc cửi. Xe hai bánh chạy chen giữa những xe bốn bánh, phát tiếng động chói tai. Ngay sát dưới chân ngài, trên một khoảng rộng hình tròn lát đá, những cỗ xe bốn bánh bé tí teo có những đứa bé ngồi. Xe chạy lòng vòng, đâm nhau loạn xạ. Chung quanh có đám đông đứng xem. Trong số có mấy người mặt trắng cao to dị thường. Nhà vua nghĩ thầm: “Bọn bạch quỷ này chắc ở đâu đến. Chúng đến càng ngày càng đông”.
Gió thổi lùa từ mặt hồ Gươm. Gió mỗi lúc một mạnh. Hàng cây xà cừ rung rung rồi chao nghiêng những đợt lá. Màu xanh lá cây màu xanh nước hồ xẫm lại theo với bàu trời đột nhiên tối xầm xuống. Dưới kia đám đông chạy tản ra đường. Lát sau mưa rơi.
Vườn hoa Chí Linh còn lại hai người. Người đàn ông cúi gập người ôm chiếc máy hình trong bụng chạy về phía sau lưng nhà vua. Người con gái căng dù che thân rồi lấy tấm bạt trùm kín cái giá gỗ che mấy bức ảnh ghim trên tấm ván; lát sau cô bước vội về hướng người đàn ông.
Những giọt nước chẩy trên lòng bàn tay trái của nhà vua rót xuống đầu hai ngón tay chỉ xuống đất. Vua Lý Thái Tổ không thể ngoái cổ nhìn đằng sau. Ngài không biết rằng sau lưng mình có chòi bát giác. Nơi ấy có hai người cùng chạy lại trú mưa. Họ ngẫu nhiên gặp nhau. Rồi va nhau một cuộc tình.
10
Con thạch sùng bò ngược trên trần nhà. Màu da nó ngà ngà tiệp màu vôi. Nó đuổi theo một con thạch sùng khác đang chạy dọc theo một bóng đèn nê-ông dài ở góc tường. Quang nhìn thấy nó lúc anh ở vị trí nằm ngửa tay ôm ghì đầu Vi nhìn lên trần. Con thạch sùng bò xuống đến mép tường thì dừng lại. Hai con mắt nó, hai chấm đen, nhìn xuống chiếc giường có hai thân thể trần truồng. Con thạch sùng không lạ gì cảnh này. Ở cái khách sạn phố Hàng Buồm chuyện đó xẩy ra như cơm bữa. Nhưng hôm nay nó thấy có cái gì khác khác nơi người đàn ông. Không phải ở cái cách làm tình của hắn mà là ở sự chú ý vô lý của hắn. Cứ mỗi lần ôm người đàn bà lăn trên giường ở vị trí ngửa là hắn lại nhìn lên tường, dán hai con mắt vào hai chấm đen. Con thạch sùng nghĩ bụng: “ Lạ lắm sao mà nhìn?”. Nghĩ thế rồi nó bò ngược lên trần, đuổi theo con thạch sùng cái.
“Lạ nhỉ? Không biết mình đã thấy con vật này chưa nhỉ?” – Quang nghĩ – Ở Mỹ hơn ba mươi năm anh không hề thấy con thạch sùng. Trước đó ở Sài Gòn thì có thể, nhưng anh còn bé, không nhớ. Con thạch sùng cái (Quang đoán nó là cái vì là con bị săn đuổi) bò thật nhanh đến giữa trần nhà thì dừng lại, đúng ngay vị trí trên chiếc giường hai người nằm. Nó quay đầu đối diện với con đực vừa bò sát theo sau. Hai con (đứng hay nằm?) im phắc, cong người chờn vờn. Hai cái đuôi ngọ nguậy, cong cớn, uốn éo. “Chúng đang động cỡn” – Anh nghĩ – Rồi anh ôm chặt lấy Vi xoay đè hẳn lên người nàng. Quang vừa thoáng nghĩ nếu chúng làm tình thì một trong hai con có thể rớt xuống đúng ngay giữa mặt mình.
Quang quên phắt con vật. Anh chồm tới đè ngực mình trên hai bầu vú căng cứng của Vi. Đúng lúc cả hai nguời sắp sửa lên “phút cao điểm” thì ở ngay đầu giường, trên chiếc bàn thấp, trong chiếc ví xách tay của Vi, có tiếng nhạc ròn rã, bản nhạc “Từ Biệt” quen thuộc mà hồi bé anh vẫn hát: Tò te! Con ma đánh đu…
“Cái cellphone!”– Quang rủa thầm – “Có im đi ngay không!”. Tiếng nhạc không im. Trái lại càng to hơn. Réo rắt. Giục giã. Tò te!… Con ma đánh đu… thằng Tây nhẩy dù… Zô-rô bắn súng… Quang cảm thấy cái bầu vú ép vào ngực mình xẹp dần xuống. Vi nhỏm dậy, với tay lấy cái ví mở ra, cầm điện thoại di động áp tai:
– A-lô!
– Con khỉ? Mày đi đâu tao kiếm mãi không ra! Lùng hết cả vườn Chí Linh cũng không thấy…
Vi đưa tay vuốt lại mái tóc.
– À…ờ … Tao đi chợ… Có chuyện gì không mày…
– Chuyện con Thảo. Mày biết không.
– Gì?
– Nó có chửa rồi mày ơi!
– Thật hả?
Vi nhỏm dậy, ngồi trên mép giường, sỏ hai chân vào hai ống quần jeans, đứng hẳn dậy, một tay cầm điện thoại, tay kia kéo “zip” cài quần. Rồi Vi ngồi xuống mép giường, rù rì nói chuyện. Nửa giờ sau câu chuyện vẫn chưa dứt.
Ngán ngẩm Quang kéo chiếc gối đặt sau lưng ngồi dựa tường châm thuốc hút. Anh biết có bảng cấm hút thuốc trong phòng ngủ nhưng anh không “ke”. Anh đang bực mình cái xeo phôn. Anh oán lây tất cả những phát minh tân tiến của thời đại.
Theo làn khói thuốc Quang nhìn lên trần nhà. Hai con thạch sùng đi đâu mất tiêu. Chúng đã làm tình xong. Thoải mái. Anh ước gì kiếp sau mình làm con thạch sùng.
2
Bước mấy bực lên chòi bát giác Quang lôi máy ảnh ra xem xét. Anh phủi nước mưa trên cánh áo gió, nhìn xung quanh. Trong chòi chỉ có mình anh trú mưa. Anh nghĩ đến cô thợ chụp ảnh. “Con bé hay quá! Giọng nói nó đặc kịt Hà Nội. Mình chụp lén hai ba pô, chắc nó không biết”.
Ấy là anh tưởng thế.
Vi căng ô phía trước chạy vào chòi. Cô cúi xuống bấm nút cụp chiếc ô, vẩy vẩy chiếc ô sũng nước xuống sàn. Ngửng lên cô thấy đôi mắt người đàn ông đang nhìn mình. “Cái ông vô duyên!”. Cô nghĩ. “Chụp trộm người ta. Tưởng mình không biết hả?”.
Hai người, mỗi người đứng một góc chòi, quay ra nhìn trời mưa. Mưa nặng hạt. Và gió. Gió thổi lộng từ phía hồ Gươm. Lát sau gió tạt những hạt mưa bay xéo vào chòi. Hai người né mưa, vô tình họ đứng xích lại gần nhau ở chính giữa.
Quang bấm mấy cái vào chiếc máy digital. Anh lựa bức ảnh “zoom” cô gái ngửa mặt nhìn tượng vua, đưa màn ảnh gần mắt cô gái. Anh nói, bắt chước giọng Hà Nội:
– Xinh nhất đấy!
Quang bấm tiếp cho hiện lên hai bức ảnh khác, hai bức Vi cầm máy quỳ xuống chụp hai mẹ con.
– Cô phải trả tôi tiền chụp mấy bức này. Cô tính tiền người ta bao nhiêu tôi tính cô bằng giá.
Vi không nói gì. Nhún vai.
Lát sau cô giơ tay sờ vào chiếc máy ảnh độ sộ của Quang:
– Máy của chú hiện đại nhỉ? Máy gì thế?
– Máy Canon EOS digital!
– À, máy kỹ thuật số!
– Ừ, máy số rất thông dụng. Bây giờ người ta ít dùng máy phim. Máy số vừa nhỏ gọn vừa rẻ tiền. Nhưng máy Canon này thì lại rất mắc. Nó có thể zoom xa và hình rất nét.
– Cách dùng có khó không, chú?
– Không khó đâu. Tôi sẽ chỉ cô cách xử dụng. Nhưng này! Đừng gọi tôi bằng “chú”. Nghe già quá. Chắc tôi chỉ gấp đôi tuổi cô thôi. Cô mà hai chục thì tôi mới bốn mươi à. Gọi “anh” đi.
– Ừ, thì anh. Việt kiều hả?
– Không có đâu. Tôi là Việt việt. Mới Sài Gòn ra.
Vi nghĩ trong bụng: “Mấy ông Việt kiều nói láo bỏ mẹ!”.
Phía ngoài. Thoắt cái. Mưa dứt. Trời quang. Quang nhìn trời. Mưa Hà Nội thật kỳ cục! Mới lúc nẫy còn mưa đùng đùng thế mà đột nhiên trời im rơ, ráo hoảnh. Quang nói tiếp:
– Giỡn cô cho vui chứ tôi theo đoàn nhiếp ảnh từ Mỹ về Việt Nam chụp hình. Hai hôm nữa đoàn sẽ đi dọc biên giới Hoa Việt chụp hình phong cảnh miền thượng du và sinh hoạt của dân sắc tộc. Trong thời gian đợi phái đoàn tới từ nhiều nước, tôi có hai ngày ở Hà Nội, chưa biết làm gì. Cô có cách gì giúp tôi cho qua hai ngày ở đây không? Hay là… cô đi chụp ảnh Hà Nội với tôi?
–Trời tạnh rồi. Tôi phải làm việc. Ai mà rỗi như ông?
Vi nói xong cầm ô đi về phía bức tượng. Quang xách máy ảnh đi theo. Anh năn nỉ:
– Cô chụp ảnh cho khách. Vậy chứ tôi thuê cô chụp ảnh cho tôi không được sao?
Vi không nói gì. Cô lẳng lặng dựng lại cái giá gỗ bị gió đổ kềnh, gỡ tấm bạt. Đồ nghề của Vi xem ra không nhiều. Ngoài tấm bảng có ghim những bức ảnh chụp người và phong cảnh Hà Nội, còn một cái thùng vuông dùng làm bàn và một chiếc ghế xếp thấp, hai thứ này lúc nẫy cô gửi tạm tại một quán bán postcards gần đấy.
Đường Đinh Tiên Hoàng lúc nẫy trong cơn mưa rào vắng bóng xe nay đột nhiên như bừng dậy. Xe máy lại ào ào lướt qua. Tiếng động cơ khạc nổ, gầm rú. Riêng vườn Chí Linh không lấy lại được cảnh cũ đông đảo. Cả một khoảng sân rộng chỉ có hai người đứng. Kể thêm nhà vua, là ba.
Quang bảo Vi:
– Cô có đợi đến chiều cũng không có khách đâu. Trời cứ lát lát lại mưa như thế này có ai điên đâu mà chụp ảnh?
Vi bực mình, lấy máy ảnh ra cầm tay:
– Thế ông muốn gì? Muốn tôi chụp ảnh hả? Nào thì chụp! Ông lấy phông nào? Vua hay hồ?
Quang tiến tới sát gương mặt phụng phịu của cô gái. Anh nhỏ nhẹ:
– Cô hiểu sai ý tôi rồi! Tôi muốn cô chụp hình tôi. Nhưng không phải bằng máy của cô mà bằng máy của tôi. Nhân tiện tôi chỉ cô cách xử dụng máy ảnh digital. Mà không phải chụp ở đây đâu, chụp đây thì chán chết! Cô dẫn tôi đi chụp những nơi phong cảnh đẹp nhất của Hà Nội mà chỉ cô biết thôi, tôi làm sao biết được. Tóm lại là tôi thuê cô nguyên ngày. Cô vừa là hướng dẫn viên du lịch, vừa là nhiếp ảnh viên. Cô giúp tôi đi. Để cô khỏi thiệt tôi sẵn sàng trả cho cô gấp đôi số tiền cô kiếm được trong một ngày làm việc. Ốc kê?
Vi nghĩ bụng: “Nghe được đấy chứ? Xem ra anh “kiều” này có vẻ sộp. Mình cũng thử phiêu lưu một chuyến. Cứ OK phứa đi!”. Cô trả lời:
– Ốc kê! Tôi đèo anh đi.
Nói xong Vi tiến tới cái quán bán postcards nói chuyện với bà chủ quán. Quang giúp Vi kéo cái giá gỗ và thùng đồ nghề của Vi lại quán gửi.
Quang quàng chân ngồi sau chiếc xe hai bánh. Đây là lần đầu anh ngồi loại xe này. Chiếc xe xịn nổ máy. Xe vọt đi làm anh bật ngửa ra sau. Quýnh quáng anh ôm chặt lấy bụng cô gái. Vi quay đầu hỏi:
– Đi đâu?
11
Con thạch sùng lại hiện ra ở góc tường. Chỉ có một con. Quang quay đầu ngửa cổ nhìn khắp lượt không thấy con thứ hai. Lạ nhỉ! Căn buồng cũng bé thôi, không lý nó tự dưng biến mất? Hay nó chui vào nấp sau cái ống đèn nê-ông? Hay là nó rớt xuống chiếc giường anh đang ngồi? Anh cúi xuống nhìn khắp lượt. Bỗng trí anh lóe ra. À! Hồi bé ở Sài Gòn anh đã từng nhìn thấy con thạch sùng rồi! Nhưng không phải nguyên con thạch sùng. Chỉ cái đuôi của nó thôi. Cái đuôi trên giường. Cái đuôi đang ngọ nguậy trong trí nhớ anh. Trí nhớ anh cũng bảo rằng nếu bỏ tọt cái đuôi đó vào miệng nuốt chửng thì sẽ tốt lắm, trị tuyệt nọc căn bệnh suyễn của anh. Đó là theo lời bà nội anh nói thế!
Trong buồng tắm có tiếng mở khóa nước. Nước trong vòi hoa sen chẩy lẫn với tiếng hát vang của Vi vọng ra: “Hà Nội ngày tháng cũ… Có bóng trăng thơ in trên mặt hồ. Hà Nội ngày tháng cũ… Có tiếng oanh ca trên bờ Tường Vi”.
Tường Vi!
Anh vụt nhớ đến ngày hôm qua.
3
– Mình đi ăn đi. Đói rồi. Quán ăn ngay góc Cầu Gỗ. Đi lối này!
Đó là quán Quang vẫn đến ăn từ hôm anh đến Hà Nội mấy hôm trước. Nó gần khách sạn anh ở phố Hàng Buồm. Quán là căn nhà nhỏ hai từng. Một cầu thang gỗ hẹp lên lầu hai. Trên đó có một cái lan can gỗ chìa ra ngoài đường Đinh Liệt. Anh thường chọn cái bàn nhỏ hai người ngồi. Trên lan can nhìn xuống góc đường là nơi năm con phố cổ chụm đầu đâm ra hồ Gươm. Ở cái góc này sinh hoạt của Hà Nội lúc nào cũng náo nhiệt. Trên những vỉa hè hẹp dân chúng, người bán, du khách lèn nhau mà đi.
Lên gác Quang chọn đúng cái bàn anh vẫn ngồi ăn hàng ngày. Lan can chỉ đủ chỗ cho ba cái bàn nhỏ. Hai bàn kia là hai cặp người ngoại quốc trẻ đang ngồi ăn. Cô thợ ảnh ngồi đối diện Quang qua chiếc bàn nhỏ. Cô cởi chiếc mũ bê-rê đặt lên bàn cùng với chiếc ví xách tay, hất đầu rẽ sợi tóc phủ trán, hai tay lùa sau gáy vén mái tóc, rồi một tay chống cằm cô ngửa mặt nhìn Quang.
Quang hỏi:
– Ăn gì?
– Vi không đói.
– Thế thì uống gì nhé?
Một con bé chạy bàn lại gần. Vi nói:
– Em cho chị chai bẩy úp!
Quang gọi thức ăn và chai bia Tiger.
– Tên cô là Vi?
Vi mỉm cười. Quang nhìn mắt Vi. Thoáng có một ánh vui trong đó:
– Phải, Vi. Tường Vi. Một loại hoa đấy!
Rồi cô hát. Nho nhỏ. “Hà Nội ngày tháng cũ. Có bóng trăng thơ in trên mặt hồ. Hà Nội ngày tháng cũ. Có tiếng oanh ca trên bờ Tường Vi…”.
Ngheo mắt, Vi hỏi:
– Biết bài hát này không?
– Biết chứ. Bài của Song Ngọc.
Quang trả lời. Anh hát tiếp: “Hà Nội ngày tháng cũ, có dáng em tôi áo trắng nghiêng nghiêng đường chiều, tiếng guốc lưa thưa lao xao khua trên vỉa hè, mùa thu theo gió heo may…”.
Con bé mang chai bia và nước ngọt ra. Nó mở cả hai chai. Vi quắc mắt chỉ vào chai nước Sprite, mắng con bé:
– Thế này là thế nào? Đã bảo bẩy úp sao lại mở chai này?
Con bé sợ hãi:
– Hết bẩy úp rồi. Mẹ con bảo thứ này cũng thế.
– Cũng thế nào được! Bẩy úp là bẩy úp! Tôi không thèm uống đâu!
Nói xong mặt Vi xị xuống, đẩy cái chai ra xa. “À! Thì ra cô nàng đòi uống Seven-Up”. Quang nghĩ.
Ăn xong, Quang đang sửa soạn gọi tính tiền thì ở trên bàn có tiếng nhạc phát ra khá to. Vi chụp cái ví, mở ra lấy cái cellphone:
– A-lô!
Quang lấy thuốc lá châm hút. Thuốc Thăng Long. Hương vị lạ. Đăng đắng. Anh thèm một ly cà phê, nhưng anh nghi ngờ cái ngon cà phê ở đây.
Lôi máy ảnh ra khỏi bao, Quang tì máy vào lan can, chĩa ống kính chúc xuống. Bên kia đường là quán cơm. Cơm bụi hay cơm chỉ? Khách ngồi la liệt ở vỉa hè trên những chiếc ghế nhựa thấp tẹt bé tí. Chiếc ghế nhựa oằn xuống dưới sức nặng của mấy anh tây ba-lô. Quang hướng máy “zoom” vào tủ kính. Trong tủ có hơn chục cái ngăn nhỏ. Đậu phụ. Thịt kho. Cá hấp. Canh rau. Đồ xào. Đồ mặn. Đồ chua. Đủ cả…
Vi gấp cái nắp điện thoại, bỏ lại trong ví, đứng dậy nói:
– Mình đi thôi chứ?
Cô hất tay xem đồng hồ. Bỗng cô tháo đồng hồ tay ra đưa lên tai nghe, lắc lắc mấy cái, nói:
– Đồng hồ của Vi có vấn đề …
Quang hỏi lại:
– Vấn đề?
– Ừ, nó chết. Mấy giờ rồi anh?
– Một giờ rưỡi. Này! Vi có biết quán cà phê nào ngon ngon gần đây không?
Không đợi Vi trả lời Quang đứng dậy ngó quanh tìm cái toa lét. Chai bia Tiger làm anh mắc tiểu. Thấy cái phòng nhỏ ở góc, phòng không có cửa chỉ có màn che, trên đề chữ W.C, anh bước tới vén màn vào. Phòng bé tí teo chỉ độ hai thước vuông. Trong đó trống hổng. Anh không thấy có một cái lỗ nào. Dưới sàn sát tường chỉ có một đường rãnh. Ở góc có để vại nước, một cái gáo quàng trên miệng vại. Trên tường nghệch ngoạc một hàng tiếng Anh, rất khó hiểu: “Water only!”. Bỗng anh chợt nghĩ ra: “Chỉ tiểu tiện thôi. Không được đại tiện!”. Quang tiểu vào đường rãnh rồi múc nước dội. Đi ra anh mỉm cười nhìn hai thiếu nữ ngoại quốc đang ngồi ăn, anh hy vọng rằng hai cô này nếu cũng vào toa lét thì mong hai cô cũng “thông minh” như mình!
5
Ở tiệm sách ra trời đã tối. Quang đi trên vỉa hè rộng về hướng bờ hồ. Đến góc đường chỗ có đèn sáng choang là cửa hàng bách hóa Tràng Tiền, anh đi lên mấy bực thềm đẩy tấm cửa kính bước vào. Thương xá rộng lớn có máy lạnh mát mẻ. Anh lên cầu thang cuốn lên lầu hai rồi lầu ba. Anh đi vòng vòng ghé nhìn vào các cửa hàng tìm mua một món quà gì cho Vi. Chiều nay lúc chia tay, anh đưa con bé một số tiền khá lớn nhưng nó không nhận. Con bé thiệt… Nó chở mình đi nhiều chỗ hay quá, quán cà phê Phố Cổ, mình phải trở lại quán này lần nữa, lại đi một vòng khắp thành phố chụp ảnh Hồ Tây, vườn Bách Thảo, đền Ngọc Sơn, chùa Trấn Quốc, Lăng Miếu… nội xăng không cũng bộn tiền của nó. Ngày mai lại còn hứa sẽ chở mình ra vùng ngoại ô chụp ảnh. Không biết mua cho nó cái gì nhỉ? Quang nghĩ mãi. Lúc anh đi xuống lại lầu một qua khu bán nữ trang và đồ trang điểm phụ nữ, thấy có mấy tiệm bán máy ảnh bán đồng hồ, anh sực nhớ ra cái đồng hồ đeo tay của Vi, cái đồng hồ “có vần đề”. Hay mình mua cho nó một cái?
Quang nhìn qua quầy hàng kính. Đồng hồ hiệu Movado, Omega thì quá mắc tiền. Seiko, Citizen đỡ hơn nhưng cũng chẳng rẻ, khoảng từ một triệu đến ba triệu. Quang tính nhẩm. Cũng phải trên trăm đô.
Anh lựa hai cái Seiko. Cô bán hàng bận chiếc áo dài xanh cúi xuống lấy trong tủ ra hai cái đồng hồ đặt trên mặt kính. Một cái màu bạc hình chữ nhật, cái kia tròn mạ vàng. Cả hai đều đẹp lại cùng giá, anh không biết lựa cái nào. Bỗng anh nhìn bàn tay của cô bán hàng, bàn tay dài trắng nuột. Anh tán tỉnh:
– Cô có bàn tay đẹp quá! Đẹp hơn cả bàn tay của người mà tôi định mua để tặng cái đồng hồ này! Cô làm ơn đeo cả hai cái cho tôi ngắm thử xem nhé!
Cô ta đeo hai cái, mỗi cái trên một cánh tay. Quang ngắm một hồi rồi nói:
– Chịu! Cả hai đều đẹp. Tôi thực tình không biết lựa cái nào.
Quang nhìn vào đôi mắt cô bán hàng và bỗng thấy cô ta cũng khá xinh:
– Tôi hỏi thật cô nhé. Cô thích cái nào hơn?
– Cái nào cũng đẹp! Cả hai tôi đều thích!
– Thế thì hỏng. Tôi không có đủ tiền để mua cả hai. Cô thích cái nào thì tôi mua cho cô cái ấy thôi. Cho cô chọn đấy!
– Không dám ạ…
– Thế thì thôi vậy. Tôi không có duyên với cô…
Nói xong anh quay mặt bỏ đi. Phía sau lưng có tiếng gọi vội vã:
– Này… ông…
Quang quay lại. Cô gái giơ cao cái đồng hồ vàng, đôi mắt cô ta ném về phía anh một cái nhìn rất lẳng. Lườm anh, cô nguýt:
– Gớm! Ông anh chơi khó em quá!
Cầm cái hộp nhỏ được cô hàng gói rất đẹp, Quang đi ra cửa, miệng anh hát khẽ khẽ bài Hai Mươi Mùa Nắng Lạ của Trịnh Công Sơn: “Em hai mươi tuổi em là nắng… Cho em bây giờ mắt tình đưa…”.
4
– Có. Cà phê Phố Cổ. Ngay bên kia đường. Ngon thì không biết nhưng chỗ ngồi tuyệt!
Xuống nhà. Vi gửi xe máy ở đầu đường. Hai người đi bộ đến chỗ ngã năm. Xe cộ rần rần chạy quanh cái bồn phun nước. Vi chỉ phía bên kia bồn:
– Hiệu cà phê bên kia. Đầu phố Hàng Gai.
Nói xong Vi xăm xăm đi thẳng vào dòng xe cộ đang chạy như mắc cửi. Thấy Quang ngần ngại, cô quay lại nắm tay anh kéo đi:
– Đi! Chờ xe vãn thì đời nào qua được.
Quang đi nép vào Vi, nhìn những chiếc xe máy như đâm thẳng vào mình nhưng đến gần thì lạng qua hai bên. Sang bên kia, Vi đi trước. Đến một cửa hàng tơ lụa, Vi biến mất trong đó. Nghĩ là Vi vào ghé thăm một người quen nào đó Quang đứng ở vỉa hè đợi. Lát sau Vi trở ra ngoắc anh. Anh theo Vi qua một lối đi tối và hẹp tựa như một đường hầm, ở cuối lối đi mở ra một khoảng rộng, một khu vườn nhỏ trong sân nhà, nơi đó ánh nắng trên cao rọi xuống qua những tàn lá cây ướp một màu sáng xanh dịu. Mấy cái bàn thấp, những chiếc ghế mây dưới tàn cây: cà phê Phố Cổ. Quán cà phê bí mật. Một ốc đảo biệt lập nằm ngay giữa trung tâm ồn ào nhất của Hà Nội. Ở đây đột nhiên vắng lặng. Nơi góc trong cùng có hai người đàn ông mặc quần đùi ngồi bó gối đánh cờ tướng, một ấm nước trà và hai cái chén bên cạnh. Cạnh một hòn non bộ có một cầu thang cuốn, lan can sắt uốn tròn lên cao. Quang theo Vi đi lên. Lên mãi. Từng hai. Từng ba. Rồi sân thượng. Lên cao ánh nắng chan hòa. Bước lên sân thượng hai người ở trên đỉnh của Hà Nội, ngang tầm những ngọn cây xà-cừ chung quanh bờ hồ Hoàn Kiếm. Sân thượng có mái che nắng. Năm bẩy chiếc bàn nhỏ. Thanh niên thiếu nữ Hà Nội ngồi gần kín hết những chiếc ghế nhựa.
Vi chọn cái bàn sát lan can. Cô gọi cà phê nóng cho Quang và một cốc nước chanh quả cho mình. Quang lấy máy ảnh. Anh tì tay vào lan can hướng máy ảnh ra hồ. Qua ống kính Quang nhìn toàn cảnh hồ từ trên cao. Vây chung quanh bởi rặng cây rậm rạp màu lá đậm, hồ Gươm xanh lấp lánh trong ánh nắng, trên đó rực lên màu đỏ tươi của cầu Thê Húc, của hoa phượng vĩ. Anh zoom ống kính. Tháp Rùa phía cuối hồ tiến lại gần. Chờ cho đến khi một nhánh phượng đỏ nằm vắt ngang tháp anh bấm máy.
Quang quấy đường trong tách cà phê, đưa lên mũi ngửi rồi đưa lên môi uống. Vi nhìn anh uống cà phê, hỏi:
– Sao? Có ngon hơn cà phê Mỹ không?
Quang trả lời:
– Không bằng cà phê Starbucks.
– Cà phê “bấc” là cà phê gì?
– À, cà phê chỗ anh ở. Nổi tiếng lắm. Starbucks bán khắp nơi trên thế giới. Việt Nam chưa có. Nhưng mai mốt thế nào rồi cũng có. Nó mà qua đây thì cà phê Trung Nguyên chết hết!
Vi cúi xuống cái ống hút. Miệng vẫn ngậm ống cô ngước mắt lên:
– Anh ở bang nào bên Mỹ?
– Washington. Chỗ anh ở có một ông giầu nhất thế giới cũng ở. Tên ông ta là Bill Gates. Ổng là vua của máy vi tính. Không biết em có biết không?
– À ông “Ghết”. Em có nghe.
– Anh làm cho hãng của ông ấy. Microsoft.
– Thế thì anh cũng giầu to như ông ta nhỉ?
– Không giầu đâu. Chỉ vừa đủ trả lương cho em hôm nay thôi.
Quang đưa máy ảnh cho Vi. Anh chỉ cho Vi cách sử dụng rồi ra đứng ở bờ tường:
– Em chụp anh mấy pô. Lấy cái phông hồ.
6
Từ cửa hàng Tràng Tiền Quang đi dọc bờ hồ về khách sạn. Mới 8 giờ tối. Anh chưa muốn về khách sạn ngay. Về buồng bây giờ thì cũng chả làm gì, chỉ nằm khểnh trên giường coi TV. Giở CNN thì tối ngày tin tức chiến sự Irak. Giở đài Việt thì tối ngày bóng đá. Coi riết cũng chán. Anh sực nhớ ra là ngày mốt đã lên đường đi Điện Biên Phủ và hai hôm nay anh chưa đọc e-mail, không biết chương trình có gì thay đổi không. Khách sạn anh ở thuộc loại rẻ tiền không có máy vi tính cho khách xử dụng. Buổi chiều anh hỏi Vi chỗ nào có thể gửi e-mail, nó nói: “Anh ra Hàng Nét mà gửi”– “Hàng Nét?”– Anh ngạc nhiên hỏi lại – “Hà Nội ba mươi sáu phố phường chả thấy nghe ai nói hàng Nét, hàng Niếc gì cả!” – “Hàng Nét là hàng Nét. Anh cứ đi khắp Phố Cổ thấy chỗ nào có đề chữ Internet thì đó là hàng Nét. Anh nắm được chưa?” – “À ra thế! Đúng là anh chậm hiểu!”.
Đi ngang qua phố Cầu Gỗ Quang thấy nhiều Mini Hotel, trong đó có rất nhiều du khách ngoại quốc ngồi trước máy vi tính, anh bước vào.
Check e-mail anh thấy có hai thư gửi mình. Bức thư thứ nhất cho biết chương trình đi chụp ảnh ở biên giới tiến hành như dự trù và ngày mai sẽ có thêm một người của phái đoàn đến Hà Nội, một nhiếp ảnh gia người Úc, cô ta đến từ Melbourne.
“Mình còn một ngày mai với con bé”. Quang cho tay vào túi quần. Cái hộp nhỏ vuông vuông nằm gọn trong nắm tay anh.
8
Mười giờ sáng lúc Quang đến vườn Chí Linh thì Vi đã chờ sẵn. Trời âm u như muốn mưa và hơi lạnh. Vi sáng nay bận thêm chiếc áo len, chiếc mũ bê-rê ngày hôm qua thay bằng mũ lưỡi trai, kiểu mũ dân chơi goft. Vườn hoa lúc ấy không có ai đi dạo. Quán bán postcards chưa mở. Ở trên bệ cao bức tượng vua Lý Thái Tổ ướt nhẫy. Hình như mưa suốt đêm hôm qua. Xe vọt đi. Vi quay đầu hỏi:
– Đi đâu?
– Ăn sáng đi!
– Ăn gì?
Nghĩ một lát Quang nói:
– Gì cũng được, miễn là đừng có phở. Phở Hà Nội ăn không nổi.
Vi lách xe trên những con đường hẹp của Phố Cổ. Dòng xe nườm nượp. Tiếng còi inh ỏi. Quang khép hai chân mình cặp vào đùi Vi, chỉ sợ xe chạy sát bên đụng. Từ lúc lên xe anh cứ co cẳng nên chân mỏi rừ. Mò mẫm mãi anh mới tìm được cái bàn để chân. Thoải mái, anh nhìn hai bên. Hàng Đào. Hàng Ngang. Hàng Đường. Phố ngắn. Hè hẹp. Nhà thấp. Cửa hàng cửa hiệu nối nhau sát sát. Nhưng tấm bảng hiệu lướt qua. Ơ, sao mà lắm “viện” thế này! Nào là viện mát sa, áo cưới ảnh viện, viện cắt tóc gội đầu, viện tẩm quất gia truyền… Tiếng Việt tiếng Mỹ lẫn lộn loạn xị. Shop. Quần bò. Fashion. Jeans. Thời trang. Thẩm mỹ Ê-Va… Nhiều nhất vẫn là những cửa hàng bán quần áo phụ nữ. Những cô ma-nơ-canh ưỡn oẹo trong tủ kính.
Vi quặt xe qua Hàng Chiếu rồi ngừng lại gần ngã tư. Cô gửi xe rồi đi qua đường. Hai người vào một cái ngõ. Ngõ dài, hẹp, dọc theo một bên là quán ăn, vô số quán ăn nối nhau đến tận đầu kia của ngõ là hông chợ Đồng Xuân. Những quán này bé thấp chiếm gần hết ngõ, chỉ chừa lối đi nhỏ đầy người chen nhau qua lại. Vi quay hỏi Quang:
– Anh ăn gì?
– Ở đây có gì?
– Gì cũng có. Bún chả, bún ốc, bún riêu, bánh cuốn…
– Bún ốc đi! Lâu không được ăn bún ốc…
Vi đi tới đi lui tìm quán bún ốc. Mỗi quán chỉ bán độc một thứ. Hai người ngồi xuống chiếc ghế dài, thấp. Quang nhìn xuống dưới đất. Dưới chân rác và nước bẩn nhớp nháp. Quang cẩn thật tìm một chỗ khô để đặt chân. Không thấy Vi đâu, anh quay người nhìn chung quanh. Lát sau Vi trở lại:
– Em gọi bún chả. Nó sẽ mang lại đây. Anh gọi bún ốc chưa?
– Chưa. Anh chờ em.
Vi quay qua nói với cô bán hàng:
– Chị cho em một bát bún. Một bát thôi nhé!
Tay cô bán hàng thoăn thoắt. Khách đông. Cô làm không kịp tay. Ngoài khách ngồi chật hai chiếc ghế dài, cô còn phải làm cho khách ngồi ở những quán khác. Quang để ý thấy cứ mỗi lần làm xong bát bún trước khi bưng cho khách cô ta lại bỏ thêm một thìa bột ngọt. Nghe thiên hạ nói bột ngọt làm rụng tóc, mà đầu anh thì đã hói một nửa, Quang bảo cô ta:
– Tô bún của tôi cô đừng cho bột ngọt nhớ!
Vừa nói Quang vừa chỉ tay vào cái liễn đựng bột. Cô hàng ngoẻn miệng bảo:
– Ông anh đã dặn thì em không dám cho mì chính đâu. Các anh chị ở nước ngoài về ai cũng dặn em như thế cả!
Tuy nói dẻo quẹo thế nhưng Quang thấy cô ta vẫn bỏ một thìa bột ngọt vào bát của anh, chắc là vì quen tay. Quang chặc lưỡi: “Mình ở Mỹ ba mươi năm có ăn bột ngọt đâu mà tóc vẫn rụng như thường”.
Ăn xong tô bún, trong lúc Vi vẫn còn ngồi ăn, Quang đứng lên lấy máy hình. Anh thấy cảnh sinh hoạt ở chỗ này rất sống động. Bước về phía đầu ngõ anh quay lại bấm mấy pô Vi ngồi ăn với dẫy quán dài ở phía sau, rồi anh hướng ống kính về một ông già đang hút thuốc lào. Ở trên lối đi của ngõ dù chật cứng người qua lại cũng có đặt một cái chõng hẹp bán nước chè. Những người đàn ông ngồi trên mấy cái ghế thấp tay cầm chén nước trò chuyện. Một ông cụ râu tóc bạc phơ rít môt hơi thuốc lào nhả khói. Quang zoom chụp cận ảnh ông cụ ngồi dựa tường lim dim đôi mắt. Anh thích cái phông bức tường. Bức tường tróc sơn bám rêu nham nhở rất hợp với gương mặt phong sương của ông già.
Quang trở lại chỗ Vi. Anh trả tiền. Hai người đi trở lại phố Hàng Chiếu. Trong lúc chờ Vi lấy xe Quang chụp thêm được một cảnh sinh hoạt khác của Hà Nội. Ở góc đường Đồng Xuân Hàng Chiếu, trên vỉa hè cạnh gốc cây bàng, một anh thợ hớt tóc dạo cắt tóc cho khách. Khách ngồi trên một chiếc ghế đẩu cao, chùm kín trong chiếc áo mưa poncho nhựa chỉ để hở cái đầu, nhìn vào tấm gương nhỏ gắn trên thân cây. Ông thợ hớt vừa cắt tóc xong đang cúi xuống lấy ráy tai cho khách. Ông ta trang bị một cặp kính giống như cặp ống dòm của bác sĩ giải phẫu hay của thợ kim hoàn, chính giữa có ngọn đèn pha chiếu vào lỗ tai khách.
9
Lái vòng quanh cột đồng hồ ở chân cầu Chương Dương Vi rồ xe phóng trên đường Trần Nhật Duật dọc bờ đê Yên Phụ. Quang ôm chặt lấy Vi. Con bé lái khiếp thật! Xe chạy vù vù. Bên kia đường là bến xe buýt. Xe và người đông vô kể. Vi lách qua lách lại giữa rừng xe máy chạy đan nhau hỗn loạn. Khói xe mù mịt. Còi xe inh ỏi. Nhìn các cô gái xung quanh Quang thấy cô nào cô nấy cũng đều lái táo tợn như Vi. Không như Vi mấy cô đó đều đeo khẩu trang bịt gần kín mặt. Bên này đường, phía bờ đê sông Hồng, những căn nhà nhiều từng mới xây cất quét vôi màu săïc sỡ, nhà sát nhau, mỏng dính, cao nghệu, như thách đố nhau vươn lên cao. Qua các khách sạn đồ sộ Sofitel Plaza, Sheraton… Vi cho xe chạy trên đường Nghi Tàm về hướng phủ Tây Hồ. Con đường trở nên nhỏ dần nhỏ dần rồi chạy bọc theo bờ nước có hàng liễu rủ. Cảnh trí thơ mộng. Tên những con đường nhỏ nhắn ở đây cũng hiền dịu. Đường Tây Hồ, đường Xuân Diệu, đường Tô Ngọc Vân…
Cuối hồ Tây là đầm sen. Đầm sen rộng bát ngát. Con đường nhựa rộng rãi, mặt đường nhô cao hẳn lên, đâm thẳng vào ruột đầm sen đến chính giữa thì cụt. Vi ngừng xe tắt máy dựng xe ven đường. Quang nhìn chung quanh. Nơi này mênh mông, hoang vắng, không khí đượm mùi hương sen. Ven đường trên những chiếc ghế đá hai cặp đang ngồi tình tự, hai chiếc xe máy dựng cạnh. Quang không thể nào tưởng tượng được là trong cái thành phố ồn ào và đông nghẹt người như thế lại có thể tìm thấy một khoảng trời bao la rất yên tĩnh và chỉ vỏn vẹn có mấy người.
Vi quay qua Quang nói:
– Hà Nội chỉ có chỗ này là em thích nhất. Lần đầu tiên em được bố em dẫn đến đến đây lúc em còn bé. Hồi đó chưa có con đường nhựa này. Năm ngoái bố em dậy em chụp ảnh cũng ở đây. Ông là một tay chụp ảnh chuyên nghiệp. Anh lấy máy ra đi. Máy anh tốt thế thì chắc là ảnh đẹp hơn những bức bố em chụp. Nhưng nhanh lên đi. Trời u ám thế kia có thể đổ mưa bất cứ lúc nào.
Vi nắm tay dẫn Quang đi lần xuống con đường đất. Con đường nhỏ trơn ướt đi tuốt sâu vào lòng đầm sen. Hai người đi khá lâu. Chặp sau Vi ngừng lại trên một khoảng cỏ hẹp. Chung quanh sen cao ngang bụng hai người. Ở tít xa trên bờ đường nhô cao, Quang nhìn thấy chiếc xe của Vi nhưng không nhìn thấy hai cặp tình nhân ngồi trên ghế đá. Vi chỉ tay phía trước mặt bảo Quang:
– Anh chụp hướng này này. Đây là vị trí rất tốt có thể lấy hết toàn cảnh hồ sen mà không bị con đường nhựa kia chắn mất, làm hồ bé đi một nửa. Bố em đã tìm ra chỗ này.
Quang chụp khá nhiều ảnh đầm sen. Anh chỉ tiếc trời hôm nay không nắng. Anh định bụng hôm đi biên giới trở về còn một ngày chót ở Hà Nội anh sẽ nhờ Vi đưa trở lại đây lần nữa. Bát ngát trên một nền màu lá xanh trải dài mãi tít xa nơi có dẫy nhà gạch chắn ngang nổi lên đó đây những nụ hoa sen hồng hồng. Quang cởi giầy bước xuống nước lội trên bùn chụp cận ảnh những búp sen có những con chuồn chuồn xanh đỏ đậu lên. Rồi anh đưa máy ảnh về phía Vi, kéo nàng gần mình qua ống kính. Lúc ấy Vi đang ngồi trên cỏ, tay cầm một búp sen đưa lên miệng. Vừa tiến lại gần Vi anh vừa bấm máy. Bức ảnh cuối là cận ảnh cái môi hồng của nàng đặt trên bông sen. Quang ngồi xuống cỏ bên cạnh Vi. Những lá sen phủ kín chung quanh hai người. Bỗng đồng loạt màu xanh của tất cả lá sen đột nhiên thẫm lại. Vi ngước lên nhìn bàu trời tối xầm, lo lắng hỏi Quang:
– Mấy giờ rồi anh?
Quang không trả lời. Anh cho tay vào túi quần lấy ra cái hộp nhỏ. Mở hộp anh lấy ra đồng hồ Seiko mạ vàng. Anh lặng lẽ cầm lấy bàn tay Vi đeo đồng hồ vào cánh tay nàng. Ngửng lên Quang dướn người đặt môi mình trên má Vi. Cô gái quay lại, đưa hai bàn tay vòng sau gáy Quang, đẩy đầu anh về phía mình. Quang ngửi thấy trên đôi môi Vi có mùi hương sen.
Vừa hôn Quang vừa kéo ngả Vi xuống bờ cỏ. Bỗng anh thấy lưng mình ướt. Những giọt nước mưa rơi trên lưng trên gáy Quang. Vi nhỏm dậy hốt hoảng:
– Chết rồi mưa to anh ơi! Áo mưa em lại để trên xe. Chạy mau đi!
Quang cho vội máy ảnh vào bao rồi chạy theo Vi. Dẫm mấy bước trên cỏ anh mới biết là mình còn chân đất. Quang quay lại đi vội đôi giầy vào chân không kịp sỏ bít tất. Lúc anh chạy đến xe người anh ướt sũng, Vi đã mặc áo mưa và cho xe nổ máy chờ sẵn. Quang ngồi sát lưng Vi kéo căng hai vạt áo mưa che thân. Dưới cơn mưa tầm tã, giữa đầm sen bao la, chiếc xe máy vọt đi trên đường nhựa.
Mưa ngớt hơn lúc Vi lái xe qua đường Xuân Diệu. Bóng hồ Tây trong cơn mưa nhẹ thấp thoáng có “rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang”. Quang ôm chặt lấy Vi. Chuyến về anh dạn dĩ hơn. Anh luồn tay trong cánh áo Vi sờ vào bụng nàng, cảm nhận sự tiếp xúc ấm áp của hai làn da. Lâu lâu anh thử thám hiểm đưa tay lên cao. Chiếc xe bỗng trẹo sang một bên và bàn tay Vi đập mạnh vào lưng bàn tay anh. Mỉm cười sung sướng Quang hát bài ca của Song Ngọc, anh hát rất khẽ chỉ đủ cho riêng mình anh nghe: “Ai ra đi mà không nhớ về, hồ Gươm mù bóng gương xưa… Nhớ hàng Bạc, nhớ qua hàng Đào… Nhớ cơn mưa phùn bay ngang thành phố… Bên em cùng đội mưa mà đi. Đội mưa mà đi mà đi…”.
Đến phố hàng Buồm Vi ngừng xe trước khách sạn. Quang xuống xe. Anh nhìn Vi dịu dàng nói:
– Em ướt hết cả rồi. Tóc tai thế kia. Anh không để em về nhà như thế đâu. Lên phòng anh đi. Để khô quần áo rồi hẵng về. Còn sớm mà.
Quang ngoắc anh bồi khách sạn, dúi tấm giấy bạc hai dollar, dặn anh ta canh hộ chiếc xe máy. Hai người bước lên cầu thang.
12
Trong phòng tắm vòi hoa sen đã tắt. Tiếng hát của Vi nghe rõ hơn vì không lẫn tiếng nước chẩy: “Hà Nội người có nhớ Tháp Bút chơ vơ liễu xanh vật vờ… Hà Nội người có nhớ hương lan vương vương bên hồ Thuyền Quang… Hà Nội người có nhớ chiếc áo xanh lam thơ ngây cô em học trò, áo trắng Tây Sơn Trưng Vương em tan học về, đường qua nẻo phố hẹn hò…”. Có tiếng máy sấy tóc. Tiếng máy kêu to át đi tiếng hát. Lát sau Vi bước ra.
– Bây giờ đến phiên anh.
Quang nhỏm dậy bước khỏi giường. Anh định bụng vào tắm thật nhanh rồi trở ra ngay. Anh vẫn còn hậm hực về cái cellphone phá đám. “Lát nữa mình phải lén tắt nó đi”. Quang nghĩ bụng. Anh bảo Vi:
– Đợi anh nhé! Anh ra ngay. Có hai cuốn truyện anh mới mua tối qua để trên bàn em lấy mà xem. Một quyển của Đỗ Hoàng Diệu, cuốn kia của Nguyễn Ngọc Tư.
Mười phút sau lúc Quang từ buồng tắm đi ra anh không thấy Vi trong phòng. Hốt hoảng anh mặc vội quần áo, đi giầy, chạy xuống nhà. Trước cửa khách sạn trên vỉa hè trống trơn không có chiếc xe máy của Vi.
Quang bước lên cầu thang. Buồn rầu. Anh nhìn quanh căn phòng. Bỗng anh thấy một cảm giác vô cùng trống trải. Anh sực nhớ anh chưa lấy địa chỉ Vi và ngày mai anh rời Hà Nội.
Buổi chiều Quang đi bộ đến vườn hoa với hy vọng mong manh gặp Vi ở đó, nhưng vườn Chí Linh trống trơn. Anh ăn cơm chiều ở chỗ ngồi ăn quen thuộc rồi ghé cà phê Phố Cổ. Từ trên cao nhìn xuống hồ Gươm anh ngạc nhiên với chính mình. Mới hôm qua chỉ là một sự đùa bỡn. Tự dưng chiều nay anh cảm thấy như một sự mất mát lớn, cảm giác anh chưa từng có trước đây.
13
Năm ngày sau. Vườn hoa Chí Linh. Ông Hội quẳng mẩu thuốc lá ra xa. Mẩu thuốc còn nhả khói quay quay trên hè mấy vòng theo làn gió thổi. Ông Hội bước tới dẫm lên, vừa xoay vừa ấn mũi giầy dí nát mẩu thuốc dưới đế. Ông ta đi tới đi lui trên hè, chiếc máy ảnh khoác vai. Gió thổi mạnh. “Trời lại muốn mưa”. Ông Hội nghĩ thế và hơi buồn. Mùa hè đã hết. Khách vãng lai vắng đi. Cả ngày trời mới có dăm ba người chụp ảnh. Ông Hội nhìn lên cao. Hình như tượng vua Lý Thái Tổ có vẻ cũ đi. Người ta dựng vua ở đấy dễ cũng từ hai năm trước. Không biết có ai lau chùi chăm sóc nhà vua không nhỉ? Ông nhìn vào đôi mắt nhà vua. Hôm nay ông thấy đôi mắt ấy có vẻ buồn, mặc dù trông ngài vẫn rất uy nghiêm.
Nhà vua liếc mắt xuống. Ngài hơi ngạc nhiên thấy hôm nay ông già này chú ý đến mình. Từ khi ngài trị vì ở đây, ông ta là người thân cận nhất. Vắng bóng ở đây nhiều ngày, hôm nay ngài mới thấy ông ta trở lại. Người con gái cũng thế. Xuất hiện đôi ba ngày rồi đi biệt. Người con gái cũng đứng cùng một chỗ ông già kia, cùng làm một công việc mà ngài không thể hiểu nổi: chặn những người đi qua lại rồi đưa một vật gì màu đen lên mắt, vật ấy lâu lâu lại lóe ánh sáng.
Nhà vua quay nhìn một thanh niên. Anh ta cũng cầm trên tay môt vật đen giống hệt ông già kia. Anh ta đứng yên đó lâu lắm. Trông anh ta quen quen như ngài đã từng gặp một lần. À phải rồi, anh ta xuất hiện cùng thời gian với cô gái.
Sau cùng nhà vua thấy anh ta tiến về phía ông già.
Quang lại gần ông Hội. Anh hỏi ông thợ chụp ảnh:
– Xin lỗi bác tôi hỏi thế này có hơi đột ngột. Bác có thấy một cô gái cũng làm nghề chụp ảnh như bác thường đứng ở chỗ này không?
Ông kia trả lời:
– Không. Cả vườn Chí Linh này tôi là người độc nhất chụp ảnh từ mấy năm nay.
– Tên cô ta là Vi, Tường Vi.
– À, thế thì nó là con gái tôi. Mấy hôm nay tôi ốm. Nó cứ đòi đi thay tôi. Nó mà chụp ảnh cái nỗi gì. Nó còn đi học. Mai kia nó ra trường kiếm khối nghề còn hơn cái nghề mạt này của tôi.
Rồi ông Hội chăm chú nhìn vào cái máy ảnh của Quang.
– Xem ra cậu cũng là dân sành đấy. Máy của cậu tốt quá!
Quang nói:
– Thưa bác, cháu có mấy bức ảnh nhờ bác chuyển hộ cho Vi.
Anh cúi xuống lục ba tấm trong xấp hình của anh. Một tấm chụp ở vườn Chí Linh. Một tấm Vi ăn bún chả. Một tấm chụp cận hình đôi môi Vi và đóa sen. Anh đưa ba tấm hình cho ông Hội.
– Cám ơn bác rất nhiều.
Nói xong anh bỏ đi.
Vua Lý Thái Tổ nhìn thanh niên bước qua đường Đinh Tiên Hoàng, cắt ngang dòng xe đang chạy như mắc cửi. Bóng anh ta khuất ở hồ Gươm. Nhà vua không nhìn thấy cảnh hai người gặp nhau ở tòa bát giác bẩy ngày trước đó, ngài không biết rằng mình vừa chứng kiến màn chót của một cuộc tình.
7
Bức e-mail thứ hai là của Mai. Đọc xong anh đánh vào reply, viết bức thư ngắn gửi vợ. Thư không dấu:
“Em yeu”
“Anh cung nho em lam. Anh con mot ngay nua o Ha Noi, chua biet phai lam gi cho het. Anh hy vong chuyen di theo phai doan den bien gioi chup anh se co nhieu hung thu hon. Thoi nghe, chung hon tuan nua la chung minh lai gap nhau roi. Hon em va Vivian”.
“Anh”
Đánh vào chữ send, xong, anh ngửng lên khỏi máy vi tính. Đằng sau dẫy máy là tấm gương lớn chiếm luôn cả một vách tường, trên gương có dán những hàng chữ quảng cáo các thắng cảnh du ngoạn. Dưới ánh đèn mờ anh nhìn khuôn mặt mình trong gương và sực nhớ tới lời vợ dặn trước khi đi: “Nhớ đấy! Về Việt Nam đi ăn hàng nhớ dặn họ đừng có cho bột ngọt. Ăn bột ngọt rụng tóc đấy! Mới bốn mươi mà đầu đã hói thế kia rồi!”.
Nguyễn Tường Thiết
-
Đọc thơ Avers mà nhớ chút Tự Lực Văn Đoàn…
Việt Hải LA
Félix Arvers Và ” Tình Tuyệt Vọng ” – Félix Arvers & Khái Hưng.
Thân Trọng Sơn/ Félix Arvers
Không có nhiều tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Félix Arvers (1806-1850) Sách văn học sử Pháp (Collection littéraire LAGARDE & MICHARD , XIXe siècle) không hề nhắc đến Ông. Từ điển Hachette giới thiệu rất nhiều nhà văn, nhà thơ thuộc nhiều thời đại cũng không ghi tên Ông. Larousse thì chỉ nói vắn tắt: “ Thi sĩ Pháp, nổi tiếng với bài Sonnet bắt đầu bằng câu: Mon âme a son secret, ma vie a son mystère”. Một tư liệu khác có vẻ cụ thể hơn cũng chỉ ghi vẻn vẹn đôi dòng ngắn ngủi:
“Félix Arvers là tác giả nhiều vở kịch khá thành công. Tác phẩm của Ông đã bị lãng quên, ngoại trừ tập thơ Mes heures perdues (Những giờ khắc hoài phí).”
(Félix Arvers fut l’auteur d’un grand nombre de pièces de théâtre qui connurent un grand succès. Son œuvre fut oubliée à l’exception de son recueil de poèmes “ Mes heures perdues.”)
———————————————————————————
Lời Mời
Kính mời quý vị đồng hương tham dự. Vào cửa tự do. Rất mong được gặp quý thân hữu yêu thích văn chương Tự Lực Văn Đoàn một thủa. Có rất nhiều hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn tham dự buổi hội thảo văn học tại đại học Cal State Long Beach. Xin xem thiệp mời đính kèm. Hãy có một vài tấm hình kỷ niệm nhân ngày này. Đặc biệt có sự tham dự của nhà văn Tường Nhung (phu nhân tướng Ngô Quang Trưởng), nhà văn Tường Giang (gia đình Thạch Lam), nhà văn Nguyễn Tường Thiết (gia đình Nhất Linh), nhà văn Từ Dung (gia đình Hoàng Đạo), nhà văn Ngọc Cường (gia đình Nguyễn Tường Thụy),… còn nhiều và nhiều tác giả tham dự viết sách: “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ”.
Link: https://www.facebook.com/namhai.tran.75839/posts/354774612089366
———————————————————————————-
Tập thơ Mes heures perdues xuất bản năm 1833, thời điểm mà tên tuổi các nhà thơ thuộc trường phái lãng mạn Pháp đã rực sáng, từ Lamartine với Méditations poétiques (1820), Victor Hugo với Les Odes(1822), Les Orientales (1829), Les feuilles d’automne (1831), Alfred de Vigny với Poèmes antiques et modernes (1826 – 1835), cho đến Alfred de Musset với Premières poésies (1835) …
Không rõ tập thơ dày mỏng thế nào, chỉ thấy còn lưu truyền một vài bài, trong đó một số bài viết tặng bằng hữu, hoặc có ghi tên (À Alfred Tattet , À Alfred de Musset ), hoặc viết tắt hay giấu tên (À mon ami *** , Sonnet à mon ami R.), để bày tỏ quan điểm về nghệ thuật, về thi ca…
Và tất nhiên hơi thở của dòng thơ trữ tình, bi thương của thời đại phả đầy trong thơ Arvers. Ông không ngần ngại nói rõ khát vọng kiếm tìm hạnh phúc của mình, dù đấy chỉ là thứ hạnh phúc bình dị của “chút tình tri kỷ”:J’abandonnais l’amour à la jeunesse ardente
Je voulais une amie, une âme confidente,
Òu cacher mes chagrins, qu’elle seule aurait lus;Le ciel m’a donné plus que je n’osais prétendre;
L’amitié, par le temps, a pris un nom plus tendre,
Et l’amour arriva qu’on ne l’attendait plus.
(Sonnet à mon ami R.)Thuở thanh xuân tôi từ bỏ tình yêu
Chỉ mong tìm mối tri âm đồng cảm
Người thấu hiểu nỗi lòng tôi sầu muộnTrời đã cho tôi nhiều hơn tôi muốn
Với thời gian tình bạn ngọt ngào hơn
Và tình yêu đến khi không còn chờ đợi.Hoặc là thứ hạnh phúc gia đình với vợ đẹp, con ngoan, với bạn bè, láng giềng thân thuộc để sớm hôm hàn huyên tâm sự:
J’avais toujours rêvé le bonheur en ménage,
Comme un port òu le cœur, trop longtemps agité,
Vient trouver, à la fin d’un long pèlerinage,
Un dernier jour de calme et de sérénité.
(Sonnet à mon ami R.)Tôi hằng mơ hạnh phúc một mái ấm
Cho con tim xao động cõi đi về
Sau bao tháng ngày lãng đãng u mê
Tìm bến đỗ giữa thanh bình, an lạc.Thế nhưng hạnh phúc đâu dễ tìm vì tình yêu đâu dễ gặp. Trước sau vẫn chỉ là “người tình trong mơ” bởi người chợt đến, chợt đi, không ước hẹn, ta trở về, thui thủi một mình ta.
… Rien n’a signalé sa venue,
Elle est passée , humble, inconnue,
Sans laisser trace de ses pas.Depuis lors, triste et monotone,
Chaque jour commence et finit:
Rien ne m’émeut, rien ne m’étonne,
Comme un dernier rayon d’automne
J’aperçois mon front qui jaunit.Et loin de tous, quand le mystère
De l’avenir s’est refermé,
Je fuis, exilé volontaire !
– Il n’est qu’un bonheur sur la terre,
Celui d’aimer et d’être aimé.
( À mon ami *** ).Nàng đến, không gì báo hiệu
Nàng đi, lặng lẽ, khiêm nhường,
Chẳng dấu vết gì để lại
Bước chân hờ hững trên đường.Từ đấy, u sầu, lặng lẽ,
Tháng ngày chợt đến, chợt đi,
Không còn ngạc nhiên, cảm xúc,
Thấy vầng trán mình âm u
Tựa như tia nắng vàng thu.Và khi không còn mong đợi
Cánh cửa tương lai khép rồi
Như kẻ lưu đày tự nguyện
Tôi xa lánh hết mọi người
Hạnh phúc duy nhất ở đời
Yêu và được yêu – thế thôi.Những bài thơ như thế này chưa đủ để làm nên tên tuổi của tác giả và đều đã bị lãng quên. Trong toàn bộ tập thơ, duy nhất một bài được biết đến và chỉ cần bài này là đủ làm cho tác giả nổi tiếng, như cách nói của từ điển Larousse nêu trên. Độc giả Việt Nam biết đến Arvers cũng chỉ qua bài Sonnet này , trước tiên thông qua bản dịch của một nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Bản dịch, với nhan đề Tình tuyệt vọng, thành công đến nỗi nhiều người cho rằng nó còn hay hơn cả nguyên tác có tên đơn giản là SONNET, hoặc là SONNET D’ARVERS như người ta thường gọi.
Nguyên tác bài thơ như sau:SONNET D ‘ARVERS
Mon âme a son secret, ma vie a son mystère
Un amour éternel en un moment conçu :
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire,
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.Hélas ! j’aurais passé près d’elle inaperçu,
Toujours à ses côtés, et pourtant solitaire,
Et j’aurais jusqu’au bout fait mon temps sur la terre,
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.Pour elle, quoique Dieu l’ait faite douce et tendre
Elle ira son chemin, distraite, et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas;À l’austère devoir, pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d’elle :
“ Quelle est donc cette femme ?” et ne comprendra pas.Sống và sáng tác vào nửa đầu thế kỷ XIX, thời kỳ rực rỡ nhất của trường phái lãng mạn trong nền thi ca Pháp, vốn chuộng sự tự do thoải mái đến độ buông thả trong nội dung và hình thức, Arvers lại chọn Sonnet, một thể thơ đòi hỏi nhiều ràng buộc về hình thức. Mỗi bài Sonnet chỉ có 14 câu, bao gồm 2 khổ thơ bốn câu ( quatrain ) và 2 khổ thơ ba câu ( tercet ). Mỗi câu gồm 12 âm tiết ( syllabe ). Cách gieo vần cũng phải theo quy định chặt chẽ : Nếu ở các khổ bốn câu có thể dùng các loại vần thông dụng ( vần chéo : ABAB, hoặc vần ôm : ABBA ) thì các khổ ba câu phải gieo vần liền 2 khổ theo kiểu CCD / EED hoặc CCD / EDE.
Mon âme a son secret, ma vie a son mystère.
Lòng tôi giấu một nỗi niềm tâm sự
Đời tôi đầy chuyện thầm kín riêng tây.Đây rồi cái “tôi”( le “moi” ) quen thuộc của trường phái lãng mạn, cái tôi mạnh dạn và thẳng thắn, không ngại ngần úp mở, không rào đón quanh co, được nhấn mạnh bởi cách dùng một loạt các tính từ sở hữu và đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất. Và ở đây cái tôi gắn liền với khái niệm khổ đau : “Le mal est sans espoir…”, “ Hélas !”, “ solitaire…”.
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.
( Nỗi đau chừng vô vọng
Đành câm nín mà thôi
Sao người làm tôi khổ
Vô tình quá người ơi !)Nỗi đau không nói được, xin mượn ngòi bút để thổ lộ can trường, bởi, nói như Alfred de Musset, một người bạn thơ của Arvers:
Les plus désespérés sont les chants les plus beaux
Et j’en sais d’immortels qui sont de purs sanglots.
Nuit de Mai ( Đêm tháng năm )
( Lời tuyệt vọng là lời ca đẹp nhất
Vang vọng mãi tiếng nức nở thảm sầu ).Điều bi thảm hơn là nỗi đau đó chừng như đeo đẳng suốt cả cuộc đời chàng trai si tình.
Un amour éternel en un moment conçu.
( Tình chớm nở vội vàng trong thoáng chốc
Mà tưởng chừng như đã kết ngàn năm.)Hẳn là chàng gặp gỡ đã từ lâu. Hẳn là chàng đau khổ đã từ lâu .Bởi nàng nào đâu hay biết gì (elle n’en a jamais rien su) . Và hơn thế nữa, suốt quãng đời còn lại cũng hoàn toàn vô vọng, “dù gặp nhau cúi mặt bước mà thôi “:
Et j’aurai jusqu’au bout fait mon temps sur la terre
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu( Tôi vẫn đi tiếp con đường phía trước
Không dám cầu xin, chẳng nhận được gì.)Không dám. Dù chỉ một lần. Phải chăng vì chàng quá nhút nhát, e thẹn ? Không, chỉ vì Trời đã sinh ra nàng đoan trang quá, hiền hậu quá, hãy để nàng thủy chung, hãy để nàng chu toàn bổn phận. Cho hình ảnh nàng mãi thánh thiện. Cho Tình Yêu thăng hoa. Và trở thành bất tử. Ít nhất là với bài thơ này.
Vâng, chỉ vì Trời đã sinh ra nàng đoan trang quá, hiền thục quá …Pour elle, QUOIQUE Dieu l’ait faite douce et tendre
Elle ira son chemin, distraite, et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas;Thật đáng ngạc nhiên khi nhà thơ dùng QUOIQUE (mặc dù) ở đây : mặc dù nàng đoan trang và hiền thục quá , nàng sẽ không nghe thấy tiếng thì thầm của tình yêu ? Lẽ ra phải là PUISQUE Dieu l’a faite douce et tendre ( bởi vì ).
Vì nàng rất mực đoan trang
Tôi đành câm nín để nàng thủy chung!
Nhưng nàng là ai ?Đọc văn thơ, nghe âm nhạc, nhiều người vẫn có thói quen tò mò muốn biết ai là nguyên mẫu, là nguồn cảm hứng khiến người nghệ sĩ viết nên bài thơ, bản nhạc ấy. Trường hợp này cũng thế. Từ sau khi bài thơ được phổ biến, bao nhiêu giấy mực đã dành cho cuộc truy tìm lai lịch người đẹp khiến thi sĩ ôm mãi mối tình tuyệt vọng mà viết nên những dòng thơ trác tuyệt này.
Có ý kiến cho rằng dây chỉ là một hình ảnh phúng dụ (allégorie), người đẹp chẳng hề hiện hữu, hơn nữa trong các ấn bản đầu tiên của tập thơ, trên bài này có ghi chú “ dịch từ tiếng Ý ” (traduit de l’italien) nhưng vì không ai đưa ra văn bản gốc nên giả thuyết này không đứng vững được.Một ý kiến khác, dựa vào quan hệ thân tình giữa Félix Arvers và Victor Hugo, cho rằng người đẹp bí mật này chính là … phu nhân của Victor Hugo mà Arvers đã kín đáo nhắc đến tên Adèle bằng cách dùng các vần “ fidèle ” và “d’elle” trong khổ thơ cuối !
Marie Nodier
Ý kiến khác nữa – có vẻ được nhiều người đồng tình – nhắc đến tên Marie Nodier, ái nữ của nhà văn viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp Charles Nodier ( 1780-1844 ), người thường tổ chức những buổi bình thơ văn tại thư viện Arsenal quy tụ nhiều thi sĩ lừng danh như Victor Hugo, Lamartine, Alfred de Vigny, Alfred de Musset… Những lần gặp gỡ thường xuyên nơi đây đã khiến Arvers thầm yêu trộm nhớ Marie Nodier mà không hề ngỏ ý cho đến khi nàng sang ngang vào năm 1833 và trở thành bà Marie Mennessier – Nodier.
Nhưng nói cho cùng, có nhất thiết phải biết rõ về người phụ nữ đó thì người đọc mới cảm mới thích bài thơ này không?Bản Dịch Tiếng Việt
Trước khi đọc lại một số bản dịch, tưởng cũng nên thử DỊCH NGHĨA bài thơ để từ đó có thể thấy sự sáng tạo của các dịch giả :
Mon âme a son secret, ma vie a son mystère
Un amour éternel en un moment conçu,
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire,
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.Tâm hồn tôi có điều thầm kín, đời tôi có sự bí mật
Một mối tình vĩnh cửu đã nảy sinh trong thoáng chốc,
Nỗi đau này không hy vọng, nên tôi đành không nói ra
Và người đã gây ra nó không hề hay biết gìHélas ! j’aurais passé près d’elle inaperçu,
Toujours à ses côtés, et pourtant solitaire.
Et j’aurais jusqu’au bout fait mon temps sur la terre,
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.Than ôi ! tôi đi qua gần nàng mà không được nàng để ý,
Lúc nào cũng ở bên cạnh nàng mà vẫn cứ lẻ loi.
Và tôi vẫn sẽ đi hết đời mình trên cõi thế ,
Mà không dám cầu xin gì cũng như không nhận được gìPour elle, quoique Dieu l’ait faite douce et tendre,
Elle ira son chemin, distraite et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.Về phần nàng, dù Thượng đế đã ban cho tính hiền thục và dịu dàng,
Nàng sẽ đi con đường của mình, lơ đãng và không nghe thấy
Lời thì thầm của tình yêu vọng lên trên bước chân đi.A l’austère devoir, pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d’elle :
« Quelle est donc cette femme ? » et ne comprendra pas.Vẫn thành tâm chung thủy với nghĩa vụ khắc khổ
Khi đọc những dòng thơ toàn nói về nàng như thế này, nàng sẽ hỏi:
“Người phụ nữ nào đó vậy ?” và sẽ không thể hiểu ra.
Bản dịch của Khái Hưng:
Tình tuyệt vọng
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ôi !người đó ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân ?
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi
Người dù ngọc nói, hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Nào ngờ chân đạp lên trên khối tình
Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng,
Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây ?!Khái Hưng hẳn không phải là nhà thơ, lại càng không phải là người dịch thơ nhưng bỗng dưng với bản dịch tài tình bài thơ của Arvers, Ông lại được biết đến ở một lĩnh vực khác với sự nghiệp tiểu thuyết của mình.
Thật ra bài thơ dịch này ban đầu không xuất hiện riêng lẻ mà nằm trong truyện ngắn TÌNH TUYỆT VỌNG của Khái Hưng. Trong truyện này người đau khổ vì yêu là thi sĩ Văn Châu, một lần đi làm phù rể cho bạn, chàng bỗng đem lòng yêu … vợ bạn ! “ Chàng không hiểu vì cớ gì, nhưng mới thoạt trông thấy cô dâu là chàng đã đem lòng yêu ngay, cái yêu vô nghĩa lý, nhưng nó mạnh mẽ vô chừng, tưởng như hai người vốn sẵn duyên kiếp từ đời nào, đã hẹn hò cùng nhau ở kiếp nào mà đến bây giờ mới gặp gỡ.” Sau ngày cưới đó, ngày ngày Văn Châu vẫn đến chơi nhà bạn, “ trong lòng chôn một mối tình vô lý”. Năm năm sau, nhân một buổi tiệc đêm Noel cùng với vợ chồng người bạn và hai người khác nữa, thi sĩ mới có cơ hội thú nhận “ tôi phạm một tội nặng lắm “ mà bạn chàng hiểu ngay là tội khả ái, là ái tình tuyệt vọng ! Được bạn thông cảm an ủi “vậy thì anh cứ yêu, cứ yêu như anh đương yêu. Yêu như thế không có tội gì hết, mà người chồng dẫu có biết cũng chỉ thương anh chớ không ngờ vực anh đâu”, thi sĩ Văn Châu mới đọc cho các anh các chị nghe bài đoản thi tôi dịch của Arvers ra quốc văn.
(Nguồn: dactrung.com )Tên của truyện ngắn trở thành tên bài thơ. Tình tuyệt vọng – Cái nhan đề này do Khái Hưng tự đặt, một sáng tạo đầu tiên của người dịch, thứ sáng tạo được phép của người làm công việc chuyển ngữ một tác phẩm văn học, lại là một sáng tạo cần thiết trong trường hợp này bởi nguyên tác thường chỉ ghi là Sonnet d’Arvers.Có thể đây là một bài thơ thuộc loại “ Không đề “ và nhan đề do người sau gán cho tác phẩm chứ không phải của tác giả.( Sonnet là một thể loại thơ luật của Pháp, Arvers là tên tác giả). Bài thơ được trích từ tuyển tập “Mes heures perdues” ( Những giờ khắc hoài phí ), trong đó nhiều bài cũng được viết theo thể loại Sonnet và tất cả đều có tên. Sonnet à mon ami R… ( Đoản thi gửi bạn R… ) chẳng hạn.
Tình tuyệt vọng _ Khái Hưng đã hiểu, đã cảm, đã chia sẻ hết cả tình cả ý cả tâm trạng cả nỗi niềm của tác giả nên mới đặt thêm cái nhan đề này. Và những người dịch khác, sau Ông, ( Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Trần Mai Châu…), hẳn muốn làm khác đi nhưng cũng phải viết lại như thế thôi.Dịch thơ Sonnet Pháp, Khái Hưng đã chọn thể thơ lục bát thuần Việt, bám sát nguyên tác từng khổ thơ một, chỉ phát triển hai khổ ba câu cuối thành tám câu, cho trọn bốn cặp sáu tám. Bám sát nguyên tác nhưng không hề gò ép, khiên cưỡng, vụng về theo kiểu dịch “mot à mot”, ngược lại rất nhiều câu dịch đúng và đủ ý mà không có vết tích của sự chuyển ngữ:
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi.( Et j’aurai jusqu’au bout fait mon temps sur la terre
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu. )Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình.( Elle ira son chemin, distraite, et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.)Trong toàn bài, cái không khí u uẩn, ngậm ngùi, sầu thảm được tô đậm bởi cách dùng từ rất “đắt”
Lòng ta chôn một khối tình
…
Mà người gieo thảm như hầu không hay
…
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân
…
Một niềm tiết liệt đoan trinh
……Nhịp điệu đều đặn của thể thơ ( 2- 2- 2 … ) đột ngột bị phá vỡ ở câu thứ ba ( 3- 3 ) như một nốt nhạc trầm chùng xuống trong cảm xúc của người đọc, rồi trở lại cho đến cuối bài.
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay.Biện pháp vừa điệp âm vừa điệp ngữ ở hai câu thơ cuối khép lại bài thơ đưa người đọc vào một nỗi bâng khuâng thương xót:
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng
Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây ?!Có thể nói nếu không ghi chú “ nguyên tác tiếng Pháp…. “, nhiều người không nghĩ đây là thơ dịch, nhất là khi đọc những câu :
Người dù ngọc nói hoa cười
Hay
Một niềm tiết liệt đoan trinh“Tình tuyệt vọng” của Khái Hưng vẫn xứng đáng được nhiều yêu thích và thuộc nằm lòng từ lúc được công bố đến nay.
Dalat2003- Viết lại 6/2008
Thân Trọng Sơn.(Kim Oanh – Sưu tầm)
* * *
-
Gs. Dương Ngọc Sum và emcee Khánh Lan hội luận cùng Nhà văn Du MiênTV VNA 57.3:
-
VĂN HỌC NGHỆ THUẬT HẢI NGOẠI GIỚI THIỆU SÁCH “TLVĐ và Những Cây Bút Hậu Duệ”
-
Đêm Tình Ca Tình Biển
Việt Hải Los Angeles
https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/2353196528104337Đêm Tình Ca Tình Biển đã đón nhận nhiều khen ngợi đêm hôm qua (7/28/19), nhà hàng Paracel booked kín – “full house”! Ngoài nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian và những ca sĩ chuyên nghiệp còn có sự tham dự của Ban Tứ Ca Xuân Điềm góp vui trong phần âm nhạc.

Những bài ca nghe vang trong đêm Tình Biển của các nhạc sĩ gốc Hải Quân thuộc QLVNCH hay nhạc sĩ viết nhạc về HQVNCH như Trường Sa, Nguyễn Tâm Hàn, Thiện Lý, Hoàng Thông, Nguyên Vũ, Anh Thy, Trường Hải,… Điểm ghi nhận là phân nửa số khách là các cựu quân nhân HQVNCH cùng gia đình và thân hữu HQVNCH. Tôi nhận thấy có ông bà HQ Đại tá Phạm Mạnh Khuê (HQ Nha Trang Khóa 4, một trong những vị sĩ quan niên trưởng cao cấp trong giới HQ VNCH hiện nay), bên KQ có sự hiện diện của nhà văn. nhà thơ Võ Ý, tác giả của những tác phẩm tiêu biểu như “Lý Lịch Dọc Ngang của Thảo”, “Tổ Ấm Bay Về”, và “Tuyển Tập Võ Ý”, mà chức vụ cuối cùng của ông vào những ngày tháng binh lửa 1975 là cựu Trung tá KQ, Phi Đoàn Trưởng Bắc Đẩu 118, tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt khóa 17.
Một ghi nhận khác là những nhân sĩ thuộc miền Nam California góp mặt như GS. Đỗ Anh Tài (Hội Cựu Giáo Chức VN Tại Hải Ngoại), GS. Dương Ngọc Sum (tổ chức Gia Đình Sư Phạm Sài Gòn), LS. Nguyễn Quốc Lân (Ủy Viên Giáo Dục, Chủ Tịch Học Khu Garden Grove), Nhà văn Nguyễn Quang (phu quân của cố Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh, tác giả của những tác phẩm như Ông Giáo Làng, Ốc Mượn Hồn, Ngoại Tình, Thần Giao Cách Cảm,…), nhà báo Du Miên (TV đài VNA 57.3), nhiều và nhiều,…Đêm Tình Biển thành công về mục tiêu gây quỹ, một show hát nhạc Hải Quân VNCH hãn hữu, hiếm hoi vì gồm sự hiện diện của một số đông, đông nhất nhạc sĩ HQVNCH từ xưa đến nay. Nếu ai đã từng ở Nha Trang và Sài Gòn thì hoài niệm nét đẹp một thuở xa xưa khi màu áo trắng lính biển tô điểm phố biển Độc Lập (Avenue de la Plage) của vùng biển hữu tình Nha Trang, hay những kỷ niệm khôn nguôi về màu áo trắng HQVNCH tạo vẻ đẹp trên Bến Bạch Đằng, Sài Gòn khi xưa. Đêm Tình Biển nhắc nhớ trong tôi một ký ức của Hải Quân VNCH, cầu chúc đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi sẽ tồn tại qua nhiều thời gian cho đến khi chế độ CSVN vô dụng và phi nhân tính sẽ cáo chung như mục tiêu của sự hiện diện của Radio Đáp Lời Sông Núi. Xin hãy tiếp tục yểm trợ mục tiêu cao cả này, và xin cám ơn tất cả và tất cả, đặc biệt quý bạn hữu của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã bỏ nhiều thời gian và công sức cho Đêm Tình Biển. Được biết qua ông Trần Quốc Bảo hiện ĐLSN đang thu xếp một show hát cho vùng Sạn Jose vào cuối năm nay. Hẹn với quý thân hữu Bắc Cali trong những tháng sắp tới đây. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian Bắc California với 2 nghệ sĩ Phạm Thái và Nguyên Hồng sẽ tiếp tay với Radio Đáp Lời Sông Núi.
Hoài niệm và chút lịch sử Hải Quân VNCH:
Tôi nhớ khi tôi post bài bài này ra internet, có anh bạn hỏi tôi các địa danh như trường Brest (Pháp), trường OCS (Mỹ) nghĩa ra sao, Brest và OCS ở đâu. Nhân bài viết này tôi xin phép được sơ lược qua tí ti với các thân hữu chưa quen 2 đặc ngữ này.
1/ Trường (Sĩ Quan) Hải Quân Hoa-Kỳ (Officer Candidate School– OCS) tại Newport, Rhode Island.
Đây là trường đào tạo Hải quân Hoa Kỳ (tên tắt là OCS), tọa lạc tại Căn cứ Hải quân Newport, thuộc tiểu bang Rhode Island, cung cấp nhân tài hay đào tạo chuyên viên về ngành hải quân như các sĩ quan phục vụ trong ngành Hải quân Hoa Kỳ. Cùng với Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (USNA) và Naval Officer Training Corps Reserve (NROTC), OCS là một trong ba cách chính đăng vào sĩ quan hải quân Mỹ có lương bổng.
Nguyên thủy Hải quân Mỹ mở ra hai chương trình học về lái tàu và ngành cơ khí tại trường Officer Candidate School (OCS) tọa lạc ở Căn cứ Hải quân Newport, Rhode Island, và trường bay Officer Candidate Aviation School (AOCS) tại NAS Pensacola, Florida. AOCS đào tạo sĩ quan phi hành cho hải quân, sĩ quan cơ khí về máy bay (Officers Aviation Maintenance Duty), và các chuyên viên (sĩ quan) tình báo không gian, trong khi trường OCS phụ trách đào tạo tất cả các ngành của Hải quân khác như chuyên viên (sĩ quan) lo về vũ khí tác chiến Surface Warfare, chuyên viên (sĩ quan) phục vụ Submarine Warfare, đặc biệt sĩ quan ngành tác chiến hải kích (SEAL), cũng như sĩ quan tham mưu.
Do đó, tương ứng với bên Không Quân Hoa Kỳ có trường The United States Air Force Academy (USAFA hay Air Force Academy), tọa lạc ở hướng bắc Colorado Springs trong hạt El Paso, tiểu bang Colorado. Về Bộ Binh thì là The United States Military Academy tại West Point (USMA), thường được gọi tắt ngắn ngủn như “West Point”, “Trường Bộ Binh” (the Army), hay Học Viện (The Academy), tắt hơn nữa là “The Point”, trường tọa lạc tại vùng mang tên là West Point, thuộc hạt Orange (Orange county), của tiểu bang New York. Nên OCS là Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ hay trường Hải Quân Hoa Kỳ, cũng tương ứng với Học Viện Hải Quân Nha Trang hay trường Hải Quân Nha Trang của Việt Nam Cộng Hòa.
2/ Trường (Sĩ Quan) Hải Quân Pháp, École Navale de Brest:
École Navale là Học viện Hải quân Pháp phụ trách đào tạo sĩ quan cho Hải quân Pháp. Vai trò của họ là mang trách nhiệm trên tàu, tàu ngầm, hàng không hải quân, những công tác tác chiến hay điều hành trong phạm vi hải quân nói chung. École Navale và viện nghiên cứu hải quân (AIRNAV) tại vùng Lanvéoc-Poulmic, phía nam của thành phố Brest.
Học viện được thành lập vào năm 1830 theo lệnh của vua Louis-Philippe. Thuở ban sơ viện được đặt trên các tàu, neo tại bến cảng Brest. Đến năm 1914, École Navale được di chuyển vào bờ tại Brest. Trong Thế chiến II, nhà trường đã bị phá hủy bởi chiến tranh do bom đạn và sau đó đã được chuyển đến gần làng Lanvéoc-Poulmic, tọa lạc đối diện của vịnh Brest (Rade de Brest). Tuy học viện vẫn ở vị trí cũ này, và đã chính thức được khánh thành bởi Tổng thống Charles de Gaulle vào năm 1965.
Với nước Pháp thì Học Viện Không Quân Pháp được gọi là École de l’Air, thuộc hạng trường lớn (grande école) tọa lạc tại vùng Salon-de-Provence, có căn cứ Không Quân Salon-de-Provence, tọa lạc ở phía nam Pháp gần vùng biển Địa Trung Hải, có các địa danh Aix-en-Provence, Toulon và cảng Marseille. Pháp có trường đào tạo sĩ quan bộ binh là École Spéciale Militaire de Saint-Cyr (viết tắt là ESM, hay là “trường Bộ Binh Đặc Biệt Saint-Cyr”), các sĩ quan tốt nghiệp ở đây hãnh diện được gọi là “saint-cyriens”, hay là “cyrards”. Trường Bộ Binh Saint-Cyr tọa lạc tại trại binh Coëtquidan ở miệt Guer, thuộc vùng Brittany, hướng góc tây bắc nước Pháp, và ở hướng tây nam của tỉnh Rennes. Vùng Brittany cũng là nơi có thành phố biển Brest. Nếu OCS là Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ hay trường Hải Quân Hoa Kỳ, tương tự như Học Viện Hải Quân Nha Trang hay trường Hải Quân Nha Trang của Việt Nam Cộng Hòa, thì Học viện Brest của Hải quân Pháp, École Navale de Brest (một grande école) là nơi hãnh diện kinh qua cho các sĩ quan Hải Quân Pháp.
Các vị sĩ quan Hải Quân tốt nghiệp ở Pháp và Mỹ về như Lê Triệu Đẩu (Khóa 4 Brest), Nguyễn Đức Vân (Khóa 1 Brest) và Nguyễn Tiến Ích (Khóa 4 Brest). Tôi nhớ khi theo học tại Đại học Kính Tế Thương Mại Minh Đức tại Sài Gòn, tức trường Đại học Kinh Thương (School of Economics and Business Administration), chương trình học theo mô thức các đại học tân tiến tại Bắc Mỹ và Tây Âu, tôi may mắn được thọ giáo 3 vị thầy gốc Hải quân VNCH chính hiệu nai vàng đạp lên lá vàng khô. Đó là các thầy Lê Triệu Đẩu (dạy môn Nghiên Cứu Tác Vụ), thầy Nguyễn Đức Vân (dạy môn Toán Kinh Tế) và thầy Nguyễn Tiến Ích (dạy môn Toán Thống Kê). Ở thế hệ của các thầy mộng ước xuất dương học kỹ thuật xứ người chẳng hạn tại các trường lớn Pháp Quốc như Hải Quân École Navale de Brest, Lục Quân Saint Cyr, hay Không Quân École de l’Air Salon de Provence,… có lẽ là ước muốn chung của những người trai thế hệ khi trở về xây dựng quê hương. Khi Hoa Kỳ vào Việt Nam, 3 vị thầy này lại xuất dương khăn gói quả mướp sang Hoa Kỳ tu nghiệp hoặc theo học bậc cao hơn. Tại Minh Đức, chúng tôi cố gắng nuốt môn học Nghiên Cứu Tác Vụ, tức Operations Research trong tên trong Anh ngữ, tên khác của nó là môn “Vận Trù Học”, là ngành học liên quan về lãnh vực toán học ứng dụng và khoa học hình thức (mô hình học), sử dụng các phương pháp toán giải tích và gồm phạm trù mô hình toán học, giải tích thống kê, và tối ưu hóa để tìm ra được lời giải đáp tối ưu hoặc gần tối ưu của những vấn đề ra quyết định phức tạp. Bài toán thường đề cập đến xác định kết quả cực đại (ví dụ như về lợi nhuận, hoạt động, hoặc sản lượng) hay cực tiểu (hầu đo lường sự lãng phí, rủi ro, hoặc chi phí) của một số vấn đề trong thực tế mà ngành kinh tế ứng dụng toán và thống kê cần thiết cho kỹ nghệ. Ngoài ra môn Operations Research hay Vận Trù Học còn nghiên cứu phân tích các cấu trúc những tình huống phức tạp, tiên đoán được hành vi của hệ quả cho quyết định trong việc quản trị xí nghiệp, nhờ đó có thể nâng cao khả năng hoạt động của tổ chức hay công ty. Vận Trù Học có nguồn gốc từ các nghiên cứu trong quân sự trước chiến tranh thế giới lần hai, và các kỹ thuật của nó đã được phát triển để có thể áp dụng trong nhiều ngành kỹ nghệ. Phải nói ba vị thầy này diễn giảng đề tài rành mạch, GS. Lê Triệu Đẩu đứng lớp trong phong thái nghiêm nghị, thuyết giảng thao thao về đề tài. GS. Nguyễn Đức Vân thì với bản tính xuề xòa, vui tươi, học trò mến ông vì… ông cho điểm rộng rãi, vì học trò nam thường bị ám ảnh bởi Nha Động Viên của thầy Đạm. Tôi được biết có lúc người ta muốn đôn Thầy Nguyễn Đức Vân (HQ Khóa 1) lên nắm chức Tư lệnh Hải quân, nhưng ông từ chối. Có lẽ GS. Vân là người của phạm vi hàn lâm chữ nghĩa chăng ? Còn GS. Nguyễn Tiến Ích diễn giảng bài vở say mê, dù phong thái chậm rãi trong uyên bác, cho bài tập homework khiến học trò học đại học chúng tôi học mệt nghỉ. Thầy Ích với cá tính hiền hòa, đượm nét thân thiện, thường nán lại sau giờ học giảng bài thêm. Nhắc lại những kỷ niệm này xin cám ơn dĩ vãng có quý thầy HQ, không biết ngày nay ra sao, ai còn, ai khuất như luật thiên nhiên của vũ trụ. Mong mọi sự an bình.
GS. Nguyễn Tiến Ích còn theo học và tốt nghiệp tại trường Naval Postgraduate School (NPS) ở vùng Monterey, miệt bắc California. Những thành phố biển Monterey, Pacific Grove, Pebble Beach và Carmel nằm ven biển san sát nhau, thắng cảnh nơi đây mang nét thơ mộng, hữu tình. NPS có những khóa học về Điện tử (Electronic), Cơ khí (Mechanical) và Truyền tin (Communications) kéo dài ba năm; riêng khóa học về môn Operations Research khoảng hai năm rưỡi; và khóa học về môn Operations Management kéo dài độ 18 tháng. Sĩ quan bộ binh thường được cử đến theo học tại NPS khóa Operations Research. Vì NPS nổi tiếng về bộ môn này. NPS là trường đại học về văn hóa cao cấp nhất của quân đội Mỹ, được công nhận bởi hệ thống đại học Miền Tây Hoa Kỳ và trường có quyền cấp phát văn bằng tiến sĩ. Sau bậc cao học tại NPS, GS. Nguyễn Tiến Ích sang học bên đại học MIT tốt nghiệp tiến sĩ.
Được biết số tham dự của 3 trong 26 khóa về tham dự đông người về tham dự nhất là Hải Quân các khóa 19 (Đệ Nhị Thiên Xứng), 21 (Đệ Nhị Nhân Mã) và 26 (Đệ Tam Kim Ngưu). Khóa 1 chỉ có Đề Đốc Trần Văn Chơn (Cựu Tư Lệnh HQVNCH). Khóa 2 không có đại diện tham dự, các khóa khác đều có đại diện.
Trong buổi lễ Ban Tổ Chức yêu cầu mỗi khóa có người đại diện phát biểu cảm tưởng. Khóa 1 thì BTC hỏi người đại diện là vị niên trưởng cao cấp nhất có mặt tại buổi lễ là Cựu Đề-Đốc Trần Văn Chơn, Nguyên Tư-Lệnh Hải-Quân Việt Nam Cộng Hòa. Ông là vị Tư lệnh HQVNCH thứ 2 và thứ 7, và đã trải qua 12 tù dưới chế độ CSVN sau tháng 4 năm 1975.
Một vị sĩ quan trong BTC hỏi vị Cựu Tư Lệnh có cảm tưởng hay tâm sự gì hôm nay không. Ông nay đã 95 tuổi, sức khỏe trông phương phi tráng kiện, có mái tóc bạc phơ, như tiên lão ông mở nụ cười vui vẻ đại để: “Mấy anh em muốn nghe chuyện gì ?”, vị đại diện hỏi rõ hơn nếu ông có kỷ niệm học ở quân trường, và nếu có chuyện huấn nhục. Vị niên trưởng cao cấp cười: “Hà hà hà… kỷ niệm với Hải quân thì có nhiều, nhưng trên khóa tôi không có ai, dưới khóa tôi cũng ít người, việc huấn nhục chưa phổ thông”. Tôi nghe thoáng từ xa đoán ra nét vui tươi dí dỏm và bình dị của ông. Thật vậy, các khóa sĩ quan hải quân như khóa 1 chỉ có 9 khóa sinh, khóa 2 được 16, từ khóa 1 đến khóa 6 sĩ số mỗi khóa không hơn 25 khóa sinh thời Pháp thuộc, thực dân không cho ta vươn lên nhiều. Cho đến khi sang thời VNCH và vì nhu cầu thời chiến, sĩ số các khóa tăng vọt như khóa 19 có 272 khóa sinh, khóa 23 có 282 khóa sinh và khóa 24 có 279 khóa sinh,…
Trở lại câu chuyện của vị niên trưởng khóa 1 góp mặt góp ý có phần vui cho buổi lễ thì những năm 1951-1952 của niên kỷ trước, việc huấn luyện thuở phôi thai, có lẽ thủ tục hay học trình chưa tinh vi, chưa bài bản như các khóa sau theo thời gian trôi qua. Khi Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang được cải tiến theo nhu cầu tình thế. Huấn nhục trong các quân trường là giai đoạn tập sự chịu đựng những khổ hình, bullying and harassing at boot camp (period of a military training camp for new recruits with a strict discipline). Thời gian huấn nhục hay là đi là giai đoạn “hành xác” đã diễn tả đúng những gì mà một tân binh bước chân vào một quân trường phải chịu đựng về thể chất lẫn tâm lý. Tại các quân trường Hoa kỳ đây là thời gian CBT (Combat Basic Training) áp dụng cho tất cả binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan. Ảnh hưởng hệ thống đào tạo của các boot camp trong các quân trường Hoa Kỳ, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang đã áp dụng theo chương trình huấn luyện như các quân trường đào tạo sĩ quan để những khóa sinh khắc phục được giai đoạn thử thách gian khổ về tinh thần cũng như thể xác, phải giữ kỷ luật nghiêm minh trong quân đội, khóa sinh bị khóa đàn anh đi trước quay trong những tuần lễ dáo đầu huấn luyện. Huấn nhục là một giai đọan cần thiết để các thanh niên chuyển đổi từ đời sống dân sự sang đời sống quân ngũ mà kỷ luât là điều quan trọng vì “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội”. Các khóa sinh West Point hay Fort Benning phải trải qua sự huấn nhục. Ý niệm cần thiết. (Brimade, une période de formation de base de la survie, appliqué à l’école militaire pour les nouvelles recrues avec une discipline stricte.)
Hôm thứ Sáu Tiền Đại hội tại Paracel, vợ chồng chúng tôi được tham dự cùng với Commandant Bùi Cửu Viên và madame nhà văn Bùi Hồng Thủy từ DC bay sang, khu vực chúng tôi ngồi còn có Commandant Phạm Mạnh Khuê cùng phu nhân, HQ khóa 20 Đoàn Hữu Lương cùng phu nhân, HQ khóa 9 Nguyễn Minh Thơ và phu nhân Phan Thị Nhàn từ Florida bay sang, HQ khóa 21 Phan Chí Thiện và phu nhân Lê Thị Ái Hiếu, nhà báo Nguyễn Thị Thanh Bình (chủ nhân tờ Phụ Nữ Việt, phu nhân của cố họa sĩ Long Ân), những vị HQ thân hữu như thi sĩ Đồng Văn, nhà văn Tam Giang Hoàng Đình Báu. Nghe nói có nhạc sĩ Trường Sa HQ Nguyễn Thìn từ Montreal, nhà báo HQ Phạm Kim Seattle và nhà thơ Cát Biển HQ Nguyễn Sáng từ DC có về tham dự đại hội, rất tiếc không được gặp.
Buổi lễ của Hải Quân nên nhiều nhạc phẩm kinh điển, đặc trưng cho truyền thống của Hải Quân được trình bày như Hải Quân Hành Khúc, Tiếng Sóng Vân Đồn, Hoa Biển,… đến những bản tình ca như Sao Rơi Trên Biển, Một Lần Xa Bến, Thủy Thủ và Biển Cả, Lính Mà Em, Tình Ca Người Đi Biển,… đã được ca vang khi ta mường tượng lại dĩ vãng màu áo trắng tinh của lính thủy ngày nào tô điểm đậm những kỷ niệm trên đại lộ Duy Tân (Avenue De La Plage) của Nha Trang, hay trên Bến Bạch Đằng Sài Gòn (Quai Le Myre de Vilers có Hotel Restaurant Majestic) của thuở cũ xưa, và đêm nay đây màu áo trắng Hải Quân ấy hiện ra đầy tại Paracel.
Tiếng ca hát liên hoan ngày vui hội ngộ của những cựu quân nhân thuộc binh chủng lấy phương châm “Tổ Quốc Đại Dương”, người lính biển bước lên tàu ra khơi, bỗng thoáng thấy mắt người yêu nhuốm nét buồn, Xa xôi vạn hải lý con tàu trong đêm sương và anh ngước nhìn vì sao đêm hẹn rằng tình đôi ta không hề phai…
“Chiều nay ra khơi
Thoáng thấy mắt em nhuốm buồn
Đời anh là gió sương
Anh đi khắp muôn phương…
Chờ một người đi xa
Áo trắng bay trong nắng tà
Nhìn theo lệ ướt nhòa
Khóc một người đi xa”Hạm đội HQVNCH trong nhiệm sở hải hành
“Một lần xa bến bao nhiêu là buồn
Xa xôi hải lý con tàu hoen sương
Anh ngước nhìn vì sao đêm hẹn rằng:“Dù cho sông dài ngăn lối,
Tình đôi ta không chóng phai…”Một bài hát bằng Anh ngữ ngân lên khi màn đêm buông xuống, không gian mịt mờ, người lính ra đi không sờn lòng chỉ mong người yêu nơi xa kia hãy chờ anh về, con tàu sẽ về bến…
“When the night has come
And the land is dark
And the moon is the only light we’ll see
No I won’t be afraid
Oh, I won’t be afraid
Just as long as you stand, stand by me”Trên đài cao chiến hạm anh nhìn vì sao rơi và nhắc nhớ tên em. Em ơi, đêm đêm tàu băng vượt trùng dương anh mong tìm gặp hoa trắng mang về tặng em, cho anh thì thầm tình mình trắng như hoa sóng đại dương…
“Lênh đênh đài cao chiến hạm
Anh nhìn vì sao rơi
Nhắc nhớ tên em
Ngày xưa anh thường ngắm sao trời
Lạc đáy mắt mỹ nhân…”“Tại em khi xưa yêu hoa màu trắng
Tại em suy tư bên bờ vắng
Nên đêm vượt trùng
Anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
Cho anh thì thầm
Em ơi tình mình trắng như hoa đại dương…”Người lính thủy của sự thủy chung, dù bao ngư nhân xao xuyến quyến rũ, bao mỹ nữ công chúa dưới thâm cung lôi cuốn, ngàn đời người lính thủy sẽ không thay dạ đổi lòng. Hãy tin như vậy nhé…
“Càng đi xa anh càng nhớ em
Trước đại dương ngát xanh muôn trùng
Kìa ngư nhân in hình trên sóng
Bao nàng công chúa dưới thâm cung
Em ơi! ảo hình kia lôi cuốn,
Nhưng anh đã nói anh yêu em
Thì ngàn kiếp vẫn không thay lòng…”Khi nào tàu về bến anh hẹn mình dạo phố, tay đan tay khi người tình chợt hỏi: “Gớm, sao anh đi gì mau vậy?”. Người lính thủy vững tin trả lời: “Lính Hải Quân Nha Trang mà em!”.
“Tàu về bến anh hẹn mình dạo phố
Tay chinh nhân đan năm ngón tay mềm
Thường dỗi anh “Kìa đi gì mau vậy?”
Anh mỉm cười khẽ nói: “Lính mà em!”.”*****************************************************************************
FB Quoc Si is with FB Melinda Luu, FB Ngoc Quynh, FB Mong Thuy, FB Chris Chi, FB Thanh Huong, FB Nguyen Quang, FB Hoa Quan and FB Nguyen Minh Thieu.
… Quốc Sĩ và bà xã Tina Phan , Kim Cương tham dự đêm dạ tiệc “ tình biển “ …. theo lời mời của anh Việt Hải , Trần mạnh Chi nhóm NVNT & TTG ….
VHLA noted:
phụ thêm vào bài của ca nhạc sĩ “chưa bao giờ Già” (Mr. Forever Young): với nhiều ca nhạc sĩ tham dự : ca sĩ Sơn Ca, Thế Sơn, Mc ThụyVy, Trúc Lam, Băng Nhi, Lê Hoàng Hiệp, Trang thanh Lan, Mỹ Lan, Đỗ Trọng Thái, Huỳnh Anh, ban nhạc Trung Nghĩa, Phạm Tuấn, Ái Liên, Lâm Dung, Phan Quang, Ngọc Quỳnh, Mc Ngô Thiện Đức, Bùi Quỳnh Giao,….
…. nổi bật nhất trong đêm nay là tiết mục trình diễn của nhóm múa tiếng thời gian trong liên khúc: TÌNH CA NGƯỜI ĐI BIỂN , LÍNH MÀ EM với Mạnh Bổng, Khánh Lan, Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Châu, Thanh Châu, Ánh Nhật, Henry Lương qua màn trình diễn kinh điển này, ngay lập tức đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi với những tràng pháo tay hâm nóng cả hội trường. Một điểm son cho phần design trang phục của Mộng Thủy …. Cả nhóm hẹn tuần tới sẽ ghé thăm Quốc Sĩ tại NT Studio của 2 nghệ sĩ trẻ hoa nhã, dễ thương Vương Trang và Duy Nhật …Subject: TÌNH BIỂN @ Show Mỹ Lan:
https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/2332511693506154Không quên cám ơn 2 phó nhòm thân quen “FB sleek poses” Hoa Quan và Nguyễn Minh Thiều cùng nhiều bạn hữu chụp ảnh, sharp flashers, esp. Nhiếp ảnh gia Dương Viết Điền,…
Ghi nhận ngắn: VHLA.
———————————————————————————————-
Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh là bà muội của Đại tá HQ Võ Sum và Chuẩn tướng KQ Võ DinhNữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh – Radio Télévision Francaise (ORTF), và Nguyễn Quang:
http://www.ninh-hoa.com/…/DS2018_VietHai-EmConNhoMuaXuan.htm -
NHỮNG QUYẾN RŨ CỦA NỮ GIỚI
Nguyễn Lân
Ai mà không mê cái đẹp? Từ thuở thiếu thời, nhìn thấy người đẹp là tôi đã mê man, ngẩn ngơ chiêm ngưỡng. Thoạt đầu là vóc dáng quyến rũ đến não lòng. Khi mới lớn, người phụ nữ đầu tiên mà tôi ái mộ chính là mẹ tôi. Suốt một thời thơ ấu rồi mấy chục năm ròng sau tôi được thấy dáng cao sang nơi mẹ. Nằm, ngồi, đi, đứng… lúc nào bà cũng uyển chuyển, khoan thai, tha thướt, nhẹ nhàng, cao sang. Tôi thích ngắm những lúc bà nằm nghiêng, tóc xõa sau lưng từng lọn dài như sóng gợn. Thật là bắt mắt!
Quãng tuổi trăng tròn, tôi bắt đầu biết nhìn khuôn mặt. Thoạt đầu tôi chỉ thấy mặt trái soan là dễ ưa. Nhưng sau này mới nhận ra mỗi khuôn mặt có nét hấp dẫn của nó. Từ khuôn mặt tròn phúc hậu, khuôn mặt dài hiền thục đến khuôn mặt vuông cứng dắn – khuôn mặt nào cũng đẹp nếu nó thích hợp với cá tính biểu lộ nơi người phụ nữ. Riêng vầng trán tôi thấy trán phẳng như trán của bà hoàng Grace Kelly hay hơi tròn đầy như trán của nữ tài tử Elizabeth Taylor là tuyệt vời. Phụ nữ Á Đông không thiếu người có vầng trán đẹp, có phần trông gần gũi đáng yêu còn hơn gái Âu Mỹ. Có những khuôn mặt đem phân tích theo ước lệ thì thấy thường có khi hơi kỳ nhưng hòa hợp với cái cầm thon nhọn, sóng mũi thanh thanh, làn môi mọng chín trái sầu, nhếch lên đã đủ rung cảm người đối diện.
Ngoài hai mươi, tôi bắt đầu bị thu hút bởi cặp mắt của nữ lưu. Ôi! Những cặp mắt đẹp! Mắt huyền nhung mở rộng với hai hàng mi dài cong chớp chớp hớp hồn người! Mắt lá dăm đằm thắm đa tình làm sao! Cặp mắt đẹp phải có tròng đen đủ to dù xanh, nâu hay huyền nhung. Qúy vị có đồng ý không? Thường thì mắt sâu và hai mí trông dễ mê hồn. Ấy thế mà nhiều đôi mắt một mí trông lại đa tình lắm. Nhiều khi bối rối chẳng biết chọn cặp mắt nào lý tưởng cho mình! Bây giờ tôi thấy rồi, đôi mắt đẹp không phải chỉ thuần túy ở khuôn mắt, lớn nhỏ như thế nào cho đủ hớp hồn mà đôi mắt đẹp phải là đôi mắt nói lên được những gì ẩn sâu trong tâm hồn, có thể làm ngơ ngẩn người đối diện. Cặp mắt càng u huyền thêm dưới đôi chân mày đều đặn cong cong hay xếch cao tùy theo khuôn mặt, tùy theo ánh mắt đong đưa sóng sánh lửa bình minh rộn rã hay nhen nhúm vài tia hoàng hôn buồn đến lịm người. Dù mắt tròn, dù mắt xếch nếu có hàng mi rậm càng làm tôn cặp mắt sâu thêm, thăm thẳm ý tình thêm. Thảo nào lông nheo giả được phái yếu chiếu cố!
Thế sóng mũi có cần không? Vừa đủ cao đủ thanh hợp với khuôn mặt, hai cánh mũi thon thon bắt mắt dẫn tia nhìn tha nhân xuống cặp môi hồng phía dưới. Có khi cái mũi hơi hếch trông lại dễ thương một cách tiếu lâm. Còn cặp môi thì sao nhỉ? Đôi môi đầy đặn, hai khóe miệng khẽ nhếch lên để lộ hàm răng ngọc trai trắng đều là đã gợi sự chú bên ngoài. Từ đôi môi mọng đáng yêu đó âm thanh của người đẹp vang nhẹ vào tai là đủ não lòng các đấng tu mi nam tử. Giọng nói, cung cách nói, với riêng tôi, bền vững hơn cả những nét đẹp khác của nữ nhi. Tiếng hay có thể là trong như suối chảy, có thể là trầm ấm như như tiếng sáo diều lồng lộng, có thể là nhẹ nhàng như làn gió thoảng qua. Cần nhất là nói sao cho êm lòng người nghe, sao cho người đối diện chú ý. Dễ mà khó. Âm thanh có thể do trời phú mà cũng có thể nhờ luyện tập. Giọng nữ giới khiến tôi lắng nghe không cứ tiếng Bắc, Trung hay Nam mà lời lẽ phải ôn nhu, lịch sự hay cách phát âm luyến láy quyến rũ dễ rung động lòng người.
Trên hết cả, cái đẹp nhất và đáng yêu nhất nơi người phụ nữ là tính tình và tâm hồn. Dù nhan sắc có “chim sa, cá lặn”, sau vài lần trò chuyện nếu lộ ra là người hời hợt, bề ngoài, ham danh vọng vật chất hoặc gian dối xảo trá thì cũng không thể là người phụ nữ đẹp. Tôi cũng ngại người háo thắng, đáo để, bướng bỉnh, đốp chát, hẹp hòi, nông cạn, chỉ thấy một đường phía trước như con ngựa có hai miếng che góc mắt thì nhìn thẳng mà đi, không thấy được ngoại cảnh tuyệt vời chung quanh. Những người này dù bề ngoài có nổi thế mấy mà sau khi tiếp xúc thấy lộ ra chân tính cũng không thể là người đàn bà quyến rũ.
Một điều quan trọng nữa là cách xử sự và vẻ lịch lãm nơi người nữ. Nói năng nhẹ nhàng, dịu dàng, ôn nhu nhưng rõ ràng chính xác và cương quyết là khả năng thuyết phục thật đẹp nơi người đàn bà. Tôi cảm phụ nữ ở đức tính chịu đựng. Đó là cái bền bỉ để đi tới thành công trong cuộc đời. Hơn thế nữa, người đàn bà đáng yêu ấy phải biết lắng nghe người đối diện, phải suy nghĩ trước khi trả lời, không phát ngôn một cách hồ đồ, bừa bãi. Những người trầm tính không nóng nảy, không dễ dàng bị khích động. Những người thiên bẩm thông minh, phản ứng sáng suốt, nhậm lẹ chính là những người dễ thu hút tha nhân. Đấy là những người đáng nể, đáng trọng.
Vẻ nhút nhát, dụt dè ở người đàn bà nhiều khi dễ chinh phục người khác phái. Nhưng không cần dụt dè quá đáng. E lệ, là tính tự nhiên trời phú cho riêng phái nữ. Nhưng phải luyện sao trở thành một nét thu hút để tạo tự tin. Chỉ cần tránh đừng đi quá trớn dễ trở thành sỗ sàng, gai góc, kích thích ngoại nhân khiến người ta khó chịu thấy mặt là muốn lảng tránh. Cuộc đời vốn đã nhiều thương đau, sống làm sao cho kẻ khác thoải mái, dễ chịu khi gặp mình. Sự cảm mến sẽ để lại khi chia tay trong lưu luyến, và thâm tâm người đối diện còn mong ngày tái ngộ.
Chợt nghĩ đến lòng ghen ghét, ganh tị nơi phụ nữ mà tôi sợ nhất. Tính này cũng rất “người” thôi. Trời sinh ra ai cũng ít nhiều có tính này. Nhưng chiến thắng được lòng ganh ghét mới thấy mình đáng giá. Vì từ ganh tị, ghen ghét đến thù hằn, thành sân hận mấy hồi. Ôi! Với những người này chỉ còn nước quay lưng đi. Bực mình thật khi phải nghĩ “tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Ngược lại cái đẹp tuyệt vời của người nữ là biết ái mộ người tài, biết trân qúy người giỏi, biết tôn trọng ý kiến của người khác, không nhất nhất bắt thiên hạ phải theo mình.
Học thức có cần không? Với tôi kiến thức và sự hiểu biết quan trọng hơn bằng cấp. Nhiều người bằng cấp cao, có khả năng trong lãnh vực của mình mà không thành công trong cách xử thế khi vào đời. Sự học vô cùng rông rãi, học hoài trong cuộc đời… “Học ăn, học nói, học gói, học mở”! Khiếp thật! Đúng! Học đi với Hành. Học nhiều mà không xử dụng vốn liếng thâu thập được có khác chi người ít học. Sự học đáng qúy không phải chỉ có ích cho riêng mình, cho gia đình mình mà còn phải trải rộng cho tha nhân, những người kém may mắn ít kiến thức, thiếu cơ hội cắp sách đến trường. Cuộc đời đáng trọng là mang sở học của mình giúp đỡ người khác trong khiêm tốn, nhẫn nại. Đó là những Người Đẹp mà tôi muốn nghiêng mình thành thật ngợi khen.
Nghĩ thế nhưng không thể đòi hỏi tất cả những cái hay nơi người nữ nêu ở trên, chỉ cần vài điểm là đủ vì chính bản thân mình nào có hơn người! “Nhân vô thập toàn”! Thật không có ý định moi móc chỉ trích ai mà chỉ mong được gặp gỡ như đã từng quen biết với những người đẹp khả ái quyến rũ.
GIÁO SƯ NGUYỄN LÂN – 2014
