-
NGƯỜI ĐÀN ÔNG HẤP DẪN
Nguyễn Lân
Thế nào là người đàn ông hấp dẫn? Chắc quý vị nữ lưu nhao nhao lên: điều đó phải hỏi chúng tôi chứ nhà văn Nguyễn Lân làm sao biết được?! Nói đúng ra bài viết này thu thập ý kiến của nhiều người trong giới phụ nữ, gia đình, bè bạn, họ hàng, và các cựu nữ sinh thân cận của tác giả.
Khởi đầu hỏi ý kiến vợ trước. Bà vợ cười mím chi: “Nếu được chọn lựa lần thứ hai, sẽ là một người hoàn toàn khác biệt với anh”. Nghe mà giật mình. Nhưng nghĩ lại thấy có lý. Thứ nhất, mình chủ quan, cứ tưởng mình “ngon”, cứ tưởng bở! Thứ hai, con người sinh ra thông thường hay thay đổi quan niệm “sống”. Chợt nghĩ câu thơ “đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn” mà hết buồn! Biết mình vỡ cái ngu. Cô em dâu thì nói ngay, không đắn đo: “Người đàn ông hấp dẫn phải là người có power, có uy quyền. Phải là người “hét ra lửa, mửa ra khói”. Phải có cái oai. Ai thoạt thấy cũng nể sợ. Cô em họ thì cho rằng, thực tế là phải có tiền, giầu thì càng tốt “có tiền mua tiên cũng được”. Những lời nói của người thân làm mình thấy đau đau, nhức nhối. Nghĩ đến mẹ. “Bà cụ” tôi góa chồng năm 32 tuổi – tuổi thanh xuân – đang ngồn ngộn sức sống. Vậy mà khi có người đến hỏi, muốn chắp nối tơ duyên, mẹ tôi đã chối từ. Tôi có gặng hỏi lý do vì trong con mắt tôi ngày đó, người đàn ông đến sau cha tôi là một người học thức, có địa vị, đẹp trai. Mẹ tôi chỉ vắn gọn: “Mẹ rất hãnh diện là vợ của ba – nhà văn, nhà cách mạng Hoàng Đạo – mẹ tôi nhấn mạnh – dù thời gian chung sống không được bao lâu. Nhưng con biết đấy, ba con là người “trâu chết để da, người ta chết để tiếng” – làm sao mẹ dám bước thêm bước nữa?!”
Người nhà thì thế, còn bạn bè ra sao? Một bà bạn có đấng lang quân gầy yếu, bé nhỏ tuyên bố: Người tôi yêu phải cao lớn, vạm vỡ, ra dáng một trượng phu. Chắc oai như Từ Hải “Râu hầm, hàm én, mày ngài / Vai năm thước rộng, thân mười thước cao”. Một bà khác thêm: cũng chưa đủ. Hắn phải có cặp chân mày võ tướng đen nhánh, xếch ngược, mũi trâu, miệng rộng, giọng oang oang như lệnh vỡ … mới là đàn ông! Đó có phải là cái đẹp của phái nam trong sách tướng?! Một vị nữ lưu chêm vào: Không cần! Tầm cỡ nào cũng được miễn là “hắn” không có dáng … đê đê (!). Chẳng hiểu đê đê là gì. Hỏi, mới vỡ lẽ là cái dáng thô kệch, đê tiện – lưng cánh phản, chân vòng kiềng hay chữ bát, đi đứng xuệch xoạc, hoặc khúm núm. Có người lại phát biểu: Ôi! Khúm núm là tính của cái thằng dễ bảo, chịu khó nghe vợ. Có chồng như vậy mới khỏe, không lo nó mắt la mày lét thấy gái là hai tròng mắt đảo loạn lên! Dễ sợ!
Một nữ sĩ nhỏ nhẹ: Tôi thích người “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” như chàng Kim trong truyện Kiều. Lại thêm một mẫu nam hấp dẫn nữa. Ồ! Tôi khoái những trang thiếu niên tóc dài phủ gáy, vẻ bất cần đời – chắc là kiểu James Dean của thập niên 60! Không! Đàn ông phải có ria mép, khi nói hàm ria rung rung mới quyến rũ, khi hôn những sợi râu cứng gợi tình cọ xát trên môi má mình mới đã! Ôi cha! Sensual! Chắc là type Clark Gable. Rợn người thật! Cặp mắt phải sâu thăm thẳm mang nặng ý tình hay lạnh lùng khiến phụ nữ như bị xâm chiếm, bị mê hoặc. Thế ư?! Tôi, thì thích cái nhìn dã thú, man rợ như lột trần cả thân thể, cả tư tưởng của đàn bà. Lạ thật!
Mẫu đàn ông của em là nghiêm nghị, đứng đắn (kiểu tây gỗ?), lời nói phải cân nhắc chỉnh đốn ý tình. Tác phong có xa cách, khinh bạc mới hấp dẫn được nữ sinh như em. Một cô cựu nữ sinh của tôi tâm sự. Còn em thấy những đấng tu mi hói đầu lại nhiều đàn ông tính. Nghe đâu người nào không tóc là vì cơ thể tiết ra kích thích tố nam (testosterone) nhiều. Điều đó có đúng không nào?
Một giọng Huế yêu kiều cất lên: Tác phong càng xa cách khinh bạc càng là người mang nặng tâm sự u uẩn không được toại chí trong đời. Đó là người có dĩ vãng thê thảm, có quá khứ đau thương. Sống với người như vậy hoặc mệt mình vì phải nhẫn nhịn hoặc làm người ta trở nên câm nín vì e ngại bà vợ khôn ngoan. Thế là đức lang quân phải “lụy”. Đâu có thoải mái!? Làm sao trò chuyện với nhau để “ý hợp tâm đầu” ? Thật khó chịu! Tôi thích người cởi mở, dám nói và thành thật. Thêm nữa, một giọng Bắc dõng dạc – mà phải nói đúng, có ích cho người nghe, không phét khoác. À mà nàng kia, sao lại thích tu mi nam tử không tóc? – Đã nói là hắn có nam tính vì hormone male nhiều trong huyết quản. Như vậy mới khiến mình cảm thấy rất “em gái hậu phương”, đầy nữ tính bên cạnh hắn. Và bụng phệ là người “tốt bụng”, là phát tướng phát tài. À, ra thế! Đó là kiểu lý giải của cô này. Ngồ ngộ!
Thế nào là thanh âm quyến rũ? Một giọng trầm ấm, một giọng nhẹ nhàng êm ái hay một giọng thanh cao vút mà không chói tai (kiểu tenor của Bằng Kiều) – giọng sao cũng được miễn là đừng ấp úng, đừng cà lăm, đừng có vẻ nghẹn ngào “rặn” ra từng chữ, nghĩa là nói trôi chẩy, dễ hiểu thì bọn ta mới thông cảm dễ dàng. Đâu đây, một giọng Quảng cất lên: thế mi không biết “rặn” ra từng chữ là có thời gian suy ngẫm để dễ bề bóng gió xa vời sao? Ồ! Kinh nghiệm bản thân, những vị nào “ấp úng không ra được nửa lời” lại là những người chồng chung tình vì “sự thể” đó tán gái làm sao được. Trên đời có những vị nữ lưu rất weird – thích những đấng râu mày vừa quê quê, vừa cù lần. Đúng là “nhân tâm tùy mạng mỡ”.
Dáng thế nào là hấp dẫn nhỉ? Cô thì cho là phải điệu bộ như tài tử ciné Âu Mỹ. Cô thì nghĩ là cứ tự nhiên mới hay. Trịnh trọng, phô trương quá dễ thành giả dối, có khi lại dơ dáng, thôi thối nữa. Cô thì thích vẻ cương quyết, cứng dắn. Cô khác lại chuộng vẻ ngây thơ trong sáng (có trở thành khờ khạo không nhỉ?). Chắc cô này giầu tình mẫu tử. Nhưng đa số các mệnh phụ tôi quen đều hãi quý ông nhiều mặc cảm, tự ti lẫn tự tôn. Thiển nghĩ, mặc cảm rất “người” nhưng nên cố tránh, cố dẹp … dần dần. Có phải không các trượng phu?
Rồi, một giọng nói thật êm ái làm tôi lắng nghe: Với em, người đàn ông thu hút em là người có lý tưởng, là người làm ích cho xã hội, là người có tính khí, có trí sắp đặt, theo đuổi sự nghiệp mà không cầu danh lợi cho bản thân, là người tâm hồn phóng khoáng, hướng thượng, biết cảm thông, yêu nghệ thuật, và có nhiều sở thích giống mình. Còn chị tránh xa những đấng mày râu nệ cổ, hủ lậu, những người khư khư ôm lấy cái cũ mà không thèm mở mắt nhìn thế giới tiến bộ chung quanh. Ái chà! Thế thì chúng ta suốt đời phải học! Mệt… nhưng đừng nghĩ thế. Cứ cho là có lý, là đúng sẽ cảm thấy tâm hồn tươi mát, thể xác trẻ trung. Có phải không, các bạn?
Còn ngoại hình có cần không? Cũng chẳng cần. Nhưng trong phim “Le bossu de Notre Dame”- mà tôi thích cả mấy chục năm nay – người đẹp Esmeralda rất xót xa anh chàng gù xấu xí Quasimodo nhưng chưa bao giờ nàng yêu chàng!
Vậy, nói sao đây?
Nguyễn Lân
-
Thiệp mời

-
NHỚ BÀ QUÁ! BÀ ƠI!
Nguyễn Lân
Tôi sinh ra dưới một vì sao xấu. Mới lọt lòng đã phải xa mẹ vì người bị băng huyết, nằm liệt giường. Ngoại ẵm về nuôi nấng từ lúc ấy. Thuở nhỏ tôi là một đứa bé èo oặt lắm bệnh. Chưa bao giờ tôi được một giọt sữa mẹ! Hệ miễn nhiễm đương nhiên không tốt. Nào thiếu máu, nào lở loét kheo chân, nào hen suyễn! Khoảng sáu tuổi mắt đã có vấn đề, ống thông nước mắt xuống xoang mũi tắc nghẽn nơi khóe mắt trái. Phải thông, phải mổ cũng chẳng khá hơn cho mãi tới ngày nay. Mắt kém, cận thị và loạn thị. Tương lai sẽ còn thêm viễn thị nữa. Bao nhiêu khó khăn săn sóc tôi, ngoại lãnh đủ! Bà vất vả, bà thương cháu nhưng bà không nuông chiều.
Những buổi sớm mùa đông. trời còn chạng vạng tối, mặt trời còn lười biếng chùm mây xám ngái ngủ, tôi đã bị đánh thức dậy. Nếu còn trì hoãn ườn mình trong lớp chăn bông êm ấm, thế nào chăn cũng bị tung ra, một bàn tay phát mạnh vào cái mông bé bỏng teo tóp của tôi kèm theo một giọng sắc lạnh oai nghiêm ra lệnh: “Sáng bảnh mắt rồi! Dậy!”
Những ngày xa xưa ấy sao mà khổ sở thế đối với một đứa bé ốm yếu! Tôi có cảm giác bị hành hạ. Nhất là thỉnh thoảng về nhà ba me chơi đôi ba ngày thấy anh Sáng, chị Minh nằm cuộn trong chăn sung sướng thoải mái dù đã thức giấc, lòng tôi nẩy sinh ra phân bì, ganh tị! Bé nhất nhà sao chỉ mình tôi ở với ngoại bị kỷ luật sắt đá thế? Nhưng nếu me tôi giữ lại chơi lâu, nhất định tôi không chịu, tôi nhớ “nhà”, tôi nhớ ngoại, tôi nhớ những buổi sáng bị đánh thức dậy, ngồi chồm hổm trên giường chờ u già bế xuống phòng ăn dưới nhà húp cháo trắng với đậu kho, món điểm tâm thường nhật. Bà tôi nói: “Ăn đi! Bạch trúc bổ hơn nhân sâm”. Tôi không thích cháo, tôi thèm những viên bơ vàng óng thơm bùi ăn với bánh mì tây nóng dòn, những ly sữa tươi béo ngậy vào những ngày về thăm ba me. Nhưng không bao giờ tôi đòi ngoại những món đó. Ngoại ăn sao tôi ăn vậy. Riết rồi cũng quen.
Ngoại dậy tôi cách húp cháo. Bà khó chịu nghe nghe tiếng “soàm soạp” khi tôi há họng nuốt cháo. Bà nói: “Ăn vậy không được lịch sự, con ạ. Vả lại, ăn uống ồn ào quá nhỡ bị bắt cóc, cướp biết ngay là con nhà có của quen no đủ, đói là thấy thức ăn vơ lấy ngấu nghiến, nó xẻo ta đòi tiền chuộc. Con nhà nghèo húp cháo quen nên ăn uống nhẹ nhàng”. Tôi sợ, đành sửa đổi lại lối ăn cháo. Ngồi vào bàn ăn mà chống tay vào cầm hay tỳ hai khuỷu trên mặt bàn là điều cấm kỵ. Trong khi ăn mà lấy đũa gẩy gẩy ra cái điều thức ăn không ngon hay thọc đũa lùa lùa chọn miếng mình thích là thế nào cũng bị đét vào tay. Hồi nhỏ tôi ngán đến nỗi chẳng thiết ngồi vào bàn ăn nữa. Tôi ốm nhom như que tăm. Bà tôi lại tìm cách “nhồi”. Tôi phải uống máu bò tươi hằng ngày cho đỏ da thắm thịt. Tôi phải nuốt mật rắn để bộ máy tiêu hóa năng hoạt. Mật rắn xanh biếc màu ngọc thạch, to bằng đầu ngón tay cái, vừa chạm vào lưỡi là để lại vị đắng chát, tanh tanh. Tôi được ăn cơm nấu với mỡ cừu cho béo bổ, và cũng để trị bệnh suyễn. Tôi sợ mùi gây gây của mỡ cừu nhưng vẫn phải nuốt vì món cơm này chính tay bà ngoại đút cho ăn. Bà nói: “Đáng lẽ cháu phải nuốt trọng nguyên con thạch sùng để trị chứng hen nhưng bà thấy tội cháu quá. Đến khi lớn mà vẫn còn “kéo cò cử” bà sẽ cho cháu nuốt thạch sùng”.
Nhà ngoại to, hai tầng. Bên hông nhà là garage xe hơi để được một ô-tô và một xe kéo tay. Đó là nơi chú tài xế dạy tôi làm quen với máy móc và anh xe chỉ tôi cách kéo xe điệu nghệ. Phòng khách rộng, chưng toàn đồ Tầu cổ từ thời Khang Hy, Càn Long. Những thống men xanh mầu cẩm thạch nổi hoa văn to bằng cái chum. Cả ba anh chị em tôi chui vào vẫn còn rộng. Những lọ lộc bình da ngà vẽ lan, mai, cúc, trúc màu lam phi yến cao nghệu như muốn vươn tận đến trần nhà. Có lần tôi leo lên nóc tủ chè rồi gắng sức nhẩy tới một lọ lộc bình. Thế là rơi tòm vào bên trong đau điếng, nằm dưới đáy lọ, la lối um sùm. Chẳng có ai trong phòng khách. Cả gần nửa buổi mới có người khám phá ra. Hai anh người nhà vạm vỡ hè nhau nghiêng lọ xuống mới kéo được tôi ra ngoài. Từ đấy bà cấm không cho tôi vào phòng khách một mình nữa.
Tôi chơi trên giường ngủ của ngoại. Chiếc giường gỗ gụ chạm trổ nhiều hình thù ky dị ở đầu, dưới chân và hai bên thành giường những sinh vật nửa người nửa thú nhe nanh giơ vuốt như doạ dẫm. Tôi sợ những hình thù đó nhưng tôi thích cái giường nệm Hongkong lò xo êm ái, tha hồ nhún nhẩy. Thế là tôi leo lên lò sưởi kế cận, nhẩy ùm xuống giường, tưởng tượng đang phóng mình từ ván nhún xuống hồ bơi. Chăn nệm nhăn nhúm nhầu nát. Bà tôi khám phá ra cảnh tượng hỗn loạn và cấm không cho tôi chơi trên giường nữa. Nhưng những gì trong phòng ngủ của bà đều là đồ chơi đối với tôi. Một cái tủ đứng to cao bằng gỗ cẩm lai khắc hình những quái vật nhẩy múa quanh tấm gương hình bầu dục chính giữa. Một cái móc treo áo hình người đầu thú bằng gỗ phương đàn xậm màu. Đồ chơi của tôi đó, một đứa trẻ 5, 6 tuổi. Phòng ngủ của bà cháu tôi chỉ có một cửa sổ dài và hẹp trông ra sân sau um tùm cây lá. Những ngày rực nắng, ánh sáng ùa vào phòng cũng đã khiêm nhường, chỉ lờ mờ thôi đủ để tôi thấy “đồ chơi” và giỡn nghịch những vật này. Những ngày âm u, ánh sáng yếu ớt quá, mơ hồ chẳng thể phân biệt giường, tủ, mắc áo, ghế tựa trong phòng. Nhưng tôi biết chúng ở đâu rồi, cứ mò mà chơi vẫn được.
Khởi đầu, trong khung cảnh âm u kỳ dị của căn phòng, tôi cảm thấy ghê ghê, rờn rợn. Dần dà quen đi. Đã mấy lần tôi lộ vẻ sợ bóng tối, sợ ma, tôi tìm ngoại. Bà nói: “Nhà thờ Phật, ma nào dám đến”. Từ đấy, mỗi lần lủi thủi trong nhà, mỗi lần tâm hồn xao động, tôi lẻn vào phòng thờ Phật, ngắm nhìn pho tượng Di Lặc bằng vàng ròng, mở rộng miệng cười tươi, lòng cảm thấy thanh thản, vững vàng hơn. Phật Di Lặc với cái bụng bự khiến lần nào vào phòng thờ tôi cũng lén ngoại thọc tay vào ngoáy lỗ rốn pho tượng
Tối đến, bà tôi cho thắp nến (đèn cầy) trong phòng ngủ, ánh sáng leo lét nhưng tôi không còn sợ bóng đêm chập chờn, sợ cô đơn nữa. Phòng khách và phòng ăn sáng chưng nhờ đèn “măng xông”. Họa hoằn, tôi tha hồ nghịch trong phòng ăn sau bữa cơm chiều. Đó là những lúc cụ cố tôi (bà cố) thấy khỏe trong mình nán lại trò chuyện với ngoại và âu yếm tôi. Bữa cơm chiều thường có bốn người: cụ cố, bà ngoại, bác Quế, cháu gọi bà tôi là cô ruột và tôi. Anh người làm bưng mâm cơm từ bếp lên nhà trên qua một sân rộng trồng những cây bàng sai trái. Tôi khoái lượm những quả bàng chin vàng thơm ngọt và ăn đến no thôi. Vì thế, bữa cơm chiều tôi không muốn ngồi vào bàn ăn, Tôi uể oải trông thấy. Ngoại bắt tôi ngồi kế cận. Bà không đút tôi ăn nữa, bắt tôi phải tự xúc cơm. Nhai cơm mà như nhai rác trong miệng. Tôi phải ăn hết bát cơm này. Nếu không phải đứng úp mặt vào tường cả mấy tiếng đồng hồ. Nhiều bữa, cụ cố phải năn nỉ bà ngoại tha cho. Những lúc ấy, tôi ghét ngoại vô cùng. Thế mà giờ đây, tôi nhớ ơn ngoại đã rèn luyện cho tôi biết thế nào là kỷ luật và biết miếng cơm là đáng quí.
Lang thang ngoài hành lang trên lầu, tôi tò mò quan sát hai căn phòng bác Quế và cụ cố nằm cạnh nhau, chênh chếch nhìn sang phòng ngủ hai bà cháu. Cửa phòng bác năm thì mười họa mới hé mở những lúc bác về nhà, bên trong bừa bộn. Tôi thầm nghĩ nếu ngoại biết được là bác Quế bị la ghê lắm. Đó là lý do bác khóa cửa phòng khi rời nhà. Phòng cụ cố hấp dẫn hơn với cỗ quan tài (hòm) bằng gỗ hoàng tâm sậm nâu nằm chình ình giữa buồng. Trong ánh nến chập chờn vừa đủ soi tỏ, cụ cố mặc áo vóc đỏ, vấn khăn đoạn màu huyết dụ khiến tôi rùng mình. Y phục cụ tượng trưng cho tuổi thọ. Cụ cố thọ đã gần trăm! Tôi hỏi ngoại tại sao lại bầy quan tài trong phòng, trông phát sợ! Bà trả lời: “Ai rồi cũng nằm trong đó. Con phải làm quen, không khiếp hãi những cái như thế. Người trọng tuổi, theo tục lệ ta, phải có cỗ hậu sự kế bên để lúc ra đi con cháu chuyển ngay vào khi thân thể còn ấm”. Lâu dần, tôi cũng quen với cảnh vật không thích hợp cho tuổi ngây thơ!
Thuở ấu thơ, tôi vui nhất là được u già đưa xuống nhà ngang chơi với mấy người làm. Nhà ngang là căn nhà gạch nhỏ hai tầng cách với nhà gia chủ, bà tôi, bởi cái sân rộng trồng bàng. Tầng trên là phòng bác bếp, chú tài xế và anh xe kéo. Tầng dưới là cái bếp rộng lớn thiết kế theo kiểu cổ xưa. Tôi sung sướng chạy chơi trong bếp này vì với tôi, đó là nơi sáng sủa ấm áp từ những ngày đầu thu cho đến cuối đông. Nhiều nồi niêu, soong chảo, bát đĩa tha hồ mà sờ mó lôi kéo không ai la mắng. Vắng mặt bà ngoại, người ăn kẻ ở đâu dám cấm cản cậu chủ nhãi ranh. Đã tưởng bà không biết, nhưng có lần ngoại nói: “Bà cho con chơi dưới bếp, con phải gọn ghẽ, bầy đến đâu dọn đến đấy, không kiểu công tử bắt người làm hầu mình”.
Đến tuổi học, mẹ mướn cô giáo tới kèm dạy cả ba chị em tại nhà bà ngoại. Tên cô là Hoàng Diệp. Tôi thích tên cô vì tôi mê ngắm lá thu. Chị Minh lớn nhất đọc, viết thành thạo. Anh Sáng cũng đã biết cộng, trừ, nhân, chia. Riêng tôi, mới bắt đầu “ê a” i tờ. Tuy vậy, cô giáo ngán tôi nhất, cô gọi là “bé hạt tiêu”. Cô giáo tôi rất hiền thục. Chỉ một buổi học là tôi biết tính cô. Tôi bắt đầu suy nghĩ những trò trêu chọc.
Một tối ba chị em tôi được bà ngoại dắt đi xem tuồng “Quan Âm Thị Kính”. Sáng hôm sau, khi cô Diệp tới dạy học, tôi hỏi: “Tại sao cô đánh phấn trắng thế? Cô biết Thị Mầu trong tích Quan Âm Thị Kính không? Trông mặt cô bết phấn như y thị vậy”. Cô ngẩn người nhìn tôi, không nói gì. Một bữa chúng tôi được ngoại dẫn đi xem kịch “Bao Công xử án” mặt sắt đen xì. Khi gặp cô, tôi hỏi một cách rất ngây thơ: “Mặt cô trắng bốp thế kia phải lấy Bao Công mặt đen thùi lui thì mới hòa hợp sinh con bình thường được”. Cô không nói, đôi mắt long lanh ngấn lệ. Lại một lần, tôi không thuộc bài, sợ quê, làm vẻ suy tư, nói” “Diệp là lá. Hoàng Diệp là lá vàng. Lá vàng là lá rụng. Cô coi chừng mùa thu sắp tới đấy, dám cô “ngủm”! Lần này cô bật khóc. Sau buổi học, chị Minh mách bà. Ngoại mua cây roi mây, đưa cô. Ngoại lớn tiếng: “Cô treo roi mây này trên tường. Đứa nào hỗn, cô thẳng tay quất cho tôi”. Và bà nhốt tôi trong phòng tắm tối om suốt buổi chiều hôm ấy. Tới tối, bà mở cửa, dắt tôi ra ăn cơm. Tới bàn ăn, tôi dằng tay ngoại, lon ton chạy chạy vào đứng ngay chỗ cũ trong phòng tắm. Ngoại theo vào, phát mạnh vào đôi mông bé nhỏ khiến tôi bắn tung ra xa vài thước. Nghiêm giọng, bà ra lệnh: “Ra bàn ăn”. Lì thế, nhưng sợ đau, đành chịu thua bà thôi!
Từ ngày ấy tôi không còn dám “ăn hiếp” cô giáo Diệp nữa. Sau ngoại, cô là người thứ hai gần gũi tôi. Thỉnh thoảng, cô ở lại ngủ đêm tại nhà ngoại. Hết giờ học, ba chi em được cô dẫn đi chơi, dạo quanh ven hồ Hoàn Kiếm ngắm liễu rủ, nghe sự tích thần Tháp Rùa. Ôi! Những hàng liễu tha thướt gợi nhớ tới mái tóc huyền của mẹ buông lơi trước gió. Cô dẫn chúng tôi tới vườn hoa Con Cóc nghe nhạc, thưởng thức những tiếng hát tuyệt diệu của Minh Đỗ, Thanh Tước, Ngọc Bảo và giọng ngâm ru hồn của Hoàng Giác (những ca sĩ nổi tiếng Hà Thành của những thập niên 50-60) vào những chiều nắng hạ. Tối đến, chúng tôi quây quần bên cô lắng nghe chuyện cổ tích rồi gục ngủ trong lòng cô giáo. Đó là những giây phút thần tiên của tuổi ấu thơ. Cô Diệp đã gieo vào trí óc non nớt của học trò những vị anh hùng mã thượng, đã cấy vào con tim nhỏ bé của tôi tính ham mê trở thành lãng tử với tâm hồn phóng khoáng yêu thích tự do.
Cô Diệp còn kể cho ba chị em tôi về cha của chúng tôi, người mà họa hoằn tôi mới gặp. Cô thán phục cha tôi lắm. Cô cho chúng tôi một cảm giác hãnh diện là con của người, một anh hùng suốt đời hy sinh cho dân Việt, cho đất Việt. Thế nhưng, mỗi khi cha tôi về nhà, tôi quên hẳn người hùng ấy. Ông chỉ là bạn đùa nghịch với ba chị em tôi. Ông bầy trò giáp lá cà chiến trận. Một bên là chúng tôi, kẻ địch của tụi này chính là ông. Chúng tôi chiến đấu rất hăng. Đánh ông tơi bời. Có lần ông rách tai, máu chảy ròng ròng. Me về phải băng bó cho chồng. Me la và mách bà vì tôi là đứa nhỏ dữ nhất, cầm gậy đập cha tàn nhẫn.
Tôí đến, nằm bên ngoại, bà nói: “Con không được chơi ác, gây thương tích cho bất cứ ai. Bà đánh con có bao giờ bật máu không? Con làm không đúng, bà phải dạy, phải lo cho con nên người. Đánh đau, con mới nhớ, không phạm lỗi nữa, chứ không phải làm con khiếp hãi. Gây thương tật cho người khác là làm người ta sợ mình, tránh mình”. Từ ngày ấy, tôi “hiền” với cha tôi hơn. Nhưng cũng chẳng được bao lâu! Năm tôi mười tuổi, ông đã ra người thiên cổ! Ông mất tại một thị trấn hẻo lánh xa xôi bên Trung Quốc. Cũng không còn lưu lại nắm xương tàn!
Ngoại thương quý cha tôi, dù ông chỉ là rể, lại chẳng mấy khi có nhà, có thì giờ lo cho vợ con. “Cha con là người của dân tộc, của xã hội. Dù cha không kề cận bên con, con vẫn phải lấy làm vinh dự có một người cha như vậy”. Mỗi lần cha tôi về nhà, ngoại lại nấu cao Ban Long cho ăn lấy sức.
Tôi lớn dần trong vòng tay ngoại. Nhưng tôi nhớ mẹ, hỏi ngoại về mẹ luôn luôn. Mẹ tôi còn bận săn sóc em bé. Mãi tới năm mười tuổi tôi mới có em. Tôi thích bồng ẵm, nâng niu em vì con bé bụ bẫm dễ thương lắm. Nhưng mẹ không cho bế nhiều, sợ làm té em vì tôi cũng còn nhỏ lại ốm yếu. Về ngoại, tôi cứ thắc mắc tại sao tôi không được ở với mẹ, không được chơi em bé lâu. Ngoại nói: “Con lắm bệnh từ thuở lọt lòng. Bà phải thay mẹ nuôi con. Thế, nếu mẹ đòi con, con có bỏ bà đi không nào?” Dĩ nhiên là không. Cạnh bà, tôi mới thấy thoải mái. Cạnh bà, tôi mới thấy mình vô tư, có tính độc lập, tự tin, không hãi sợ vô cớ như nhiều trẻ em cùng trang lứa. Thế thì tại sao tôi lại rời ngoại? Vả lại, mẹ tôi cũng không đòi. Có lẽ mẹ sợ ngoại buồn. Có lẽ mẹ nghĩ tôi sống với bà đã quen, mang đi tôi sẽ nhớ ngoại phát bệnh. Nhưng dù tha thiết với ngoại thế mấy, tôi vẫn cảm thấy thiếu tình mẫu tử. Lâu lâu mới gặp mẹ, tôi thèm ngồi lòng mẹ, nhưng mẹ chẳng chịu ẵm bế! Thuở tôi còn bé xíu, mẹ phải chăm sóc anh Sáng. Đến năm tôi lên mười, mẹ lại có em bé. Mẹ không có thời giờ cho tôi. Mẹ bận!
Ngày qua… ngày lại qua… Tôi đã 16 tuổi. Cái tuổi ngang ngang, ương ương, dở dở ấy, cái tuổi dễ nổi loạn ấy… thật sự manh nha trong tôi từ lâu nhưng chưa có dịp bộc phát. Bà ngoại đã rèn luyện tôi thuần thục. Tôi là một thiếu niên hiếu học, mê đọc sách, mê văn thơ, luôn luôn đứng đầu lớp. Bà tôi mừng lắm. Bà vui vì đã nuôi một đứa trẻ èo oặt nên người. Bà khuyến khích cháu vào ngành Sư Phạm khi biết cháu có ý định muốn trở thành một chuyên gia giải phẫu. Theo ngoại, nghề giáo thanh bạch nhưng được nhiều phúc đức vì không thể làm chết ai. Xúc động vì ý tưởng hiền hòa của bà, tôi thi vào Đại Học Sư Phạm.
Ra trường tôi được bổ nhiệm tại trường nữ trung học Gia Long, một trường lớn nhất Đô Thành. ngoại mừng lắm. Theo bà, nữ sinh ngoan, nhiều tình nghĩa hơn nam sinh. Chung chung là vậy. Nhưng “năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn”. Những khi gặp chuyện trục trặc với mấy cô học trò, tôi lại than thở với ngoại. Bà nói: “Âu cũng là cái nghiệp của cháu”.
Năm tháng trôi… năm tháng dần trôi… Ngoại còn đó nhưng lưng đã oằn theo dấu thời gian, tóc đã bạc phơ, da đã nhăn nheo theo tuổi đời. Tôi đã ra riêng. Cụ sống với vợ chồng cô em út trong căn nhà của mẹ thuở xưa. Cứ cuối tuần tôi tới thăm bà, mang bánh giò cho ngoại vì cụ thích loại bánh này, vừa thơm vừa mềm, hợp khẩu với người cao tuổi. Lúc ấy cụ đã 86. Ngoại đã già nhưng không lú lẫn, cụ vẫn tinh tường. Ngoại chỉ buồn vì mẹ tôi đã mất. Cụ luôn thở dài: “Con đi trước mẹ là nhà ta không đủ phước!”
Một chiều Chủ Nhật, trở về nhà riêng sau khi thăm cụ, bỗng nhiên lòng tôi dấy lên một niềm lo âu bồn chồn khó tả. Đêm ấy tôi mơ thấy mẹ tôi về đón ngoại. Nhưng mẹ tôi là một đứa bé chừng 3 tuổi, cứ nằng nặc đòi ngoại bế đi! Trong giấc mơ hoảng loạn, tôi hét lên vì sợ bà theo mẹ. Tiếng hét kinh hãi của tôi làm người nhà tỉnh giấc. Tôi thao thức trong đêm dần tàn. Sáng sớm hôm sau, người em rể đến, buồn rầu báo tin bà đã qua đời đúng thời khắc bản thân tôi trong cơn mê loạn! Mẹ đón ngoại vĩnh viễn ra đi!
Khi chị Minh và em út Từ sửa soạn khăn áo cho cụ lần cuối, tôi thơ thẩn trong bếp, nơi ngoại vẫn thích ngồi trên một ghế gỗ nhỏ nhặt rau. Tôi nhớ ngoại. Một cánh bướm nâu nhạt chập chờn trước mắt. Bần thần, tôi gọi khẽ: “Bà ơi!” Bướm bay tới đậu trên vai tôi. Cánh bướm màu nâu nhạt. Vào phòng ngoại, nhìn người lần cuối trên giường. Ngoại đã được lau rửa sạch sẽ. Cụ mặc tấm áo gấm màu beige, màu nâu nhạt – tấm áo ngoại ưa thích!
Hôm nay là ngày giỗ đầu cụ. Cứ tưởng như ngoại vẫn bên cạnh mình khi tôi gặp chuyện khó giải quyết. Lớn rồi, không còn ai khuyên ngăn chí tình nữa. Nhưng những lời ngoại dậy từ thuở nhỏ đã thấm sâu trong tôi – không ngại khó, không nhút nhát, không kiêu ngạo, không ganh tị. Phải có chí khí, phải kiên trì, phải dấn thân, phải công bằng. Ngoại thường nhắc nhở: “Làm gì cũng nên suy tính kỹ để khỏi ân hận về sau”. Ngoại còn nhấn mạnh: “Cha con như vậy… con gắng noi gương người”.
Bà ơi! Cháu vẫn cố theo lời bà dậy, cần cho đời cháu và cũng để nhớ công ơn bà. Tóc cháu giờ đã điểm sương, cháu vẫn cần bà, bà ơi!”
&
Năm nay, vừa đúng 80, tôi cũng chỉ thích ăn bánh giò mềm như ngoại hồi xưa. Giờ đây, đã chuệnh choạng bước vào hoàng hôn của cuộc đời, sẽ phải qua “cây cầu ấy” như bà tôi đã qua. Qua “cây cầu ấy” tôi sẽ gặp lại bà. Tôi chưa “qua” nên tôi vẫn nhớ bà. Ngày tôi “qua” rồi, biết có ai nhớ tôi không?
Nguyễn Lân
-
NgaMy trong DVD Asia 79: LOVE FOREVER

-
Cô Bắc kỳ Tây Ninh, Thơ Việt Hải, Nhạc Vĩnh Điện, Hát & đàn: Nguyễn V. Hiển, Duy Hân
-
Tưởng niệm các nhà văn của tuổi hoa niên tiêu biểu trước 1975
-
Chân thành cám ơn

Thưa các anh chị em trong hai ban Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian,
Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã tổ chức một chương trình nhạc hấp dẫn, trong đó có phần mừng sinh nhật của cá nhân Lê Văn Khoa. Rất cảm động khi được mọi người hết lòng, hết ý và trọn tình dành cho tôi. Nhờ đó tôi được nhận lại nhiều người quen và gặp nhiều người mới. Trong số khách dự, có cả những người mà tôi không mơ tưởng có thể được gặp vì họ đến từ bờ biển miền Đông, Baltimore, Maryland, qua tận bờ biển miền Tây chúng mình.
Đặc biệt cám ơn ban tổ chức đầy nhiệt tình lo chương trình thật chu đáo.
Xin ban chương trình và ban giới thiệu chương trình nhận lời cám ơn của chúng tôi.
Tôi chân thành cám ơn ban nhạc đã trình diễn xuất sắc và đệm nhạc cho ca sĩ thật đúng mức.
Xin cám ơn các ca sĩ nhà và ca sĩ thân hữu gồm toàn danh ca tên tuổi trong làng nhạc Việt đã hát thật hay nhiều bài đơn ca và song ca.
Tôi rất biết ơn ban vũ không nề trời nóng, đã trình diễn hết sức mình cho chương trình luôn linh động.
Xin tha lỗi cho tôi không nêu tên từng người vì thế nào cũng thiếu sót, trở thành xúc phạm khó tha thứ. Xin anh chị em biết rằng tôi cám ơn tất cả mọi người góp phần trong chương trình. Khán giả cũng là thành viên góp phần cho chương trình nói chung. Xin được thân ái cám ơn quý vị.
Chỉ tiếc một điều là chúng ta không có thì giờ tâm tình với nhau. Thôi, để dành một thời gian khác tại một địa điểm khác thích hợp hơn, chúng ta có thể chia sẻ buồn vui trên con đường phục vụ văn hóa Việt nơi xứ người.
Xin anh chị em giữ vững tinh thần, trau dồi nghệ thuật chân chính để một ngày không xa, cùng nhau đem nghệ thuật của mình về hòa nhập với người yêu Tự Do tại quê nhà.
Một lần nữa, xin toàn thể anh chị em nhận lời cám ơn thật lòng của chúng tôi.
Sau hết, xin lỗi quý vị vì gửi thư cám ơn này hơi trễ. Chiều hôm qua bận một chương trình khác đến khuya nên mệt nhiều, không tiện viết thư sớm.
Chân thành,
-
PHƯƠNG TRỜI PARIS VÀ NHẠC CỔ TRUYỀN
Đỗ Bình
Nghệ sĩ là người sáng tạo ra nghệ thuật mà nghệ thuật thì bao la vô tận. Một tác phẩm nghệ thuật đích thực bắt nguồn từ những ý nghĩ và cảm xúc thực, không giả tạo, vay mượn. Người nghệ sĩ không thể đem suy nghĩ hôm nay để luận về tâm cảnh người xưa vì cảm xúc không thật !Nguồn cảm xúc của nghệ sĩ chợt đến và dễ tan biến như sương khói mây bay nhưng sẽ để lại cho đời tác phẩm.
Đờn ca tài tử là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Đó là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng với phạm vi 21 tỉnh thành của vùng phía Nam được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19 bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian. Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca do đại chúng tụ lại để cùng hau đàn hát chia sẻ thú vui tao nhã. Họ diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu. Âm nhạc dân tộc là tài sản qúy của đất nước, đó là món ăn tinh thần và cần thiết đối với những người sống ở hải ngoại, vì khi rời xa quê hương họ mang theo những những kỷ niệm được gắn bó qua câu hò điệu hát. Người Việt đặt chân lên xứ Pháp từ những thế kỷ trước, nhưng vào thập niên 40, 50 và sau năm 1975 của thế kỷ trước đã có một số nghệ sĩ đến Paris trong đó có các nhạc sĩ đã sáng tác những ca khúc tiền chiến nổi tiếng từng vang bóng một thời :
Nhạc sĩ Đan Trường : Tách Người Đi, nhạc sĩ Lương Ngọc Châu: Tiếng Hát Lênh Đênh, nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên :Trăng Mờ Bên Suối, nhạc sĩ Trần Văn Khê : Đi Chơi Chùa Hương, nhạc sĩ Lê Trạch Lụu : Em Tôi.Những ca khúc vang bóng sau năm 1954 :
Nhạc sĩ Trịnh Hưng : Lối Về Xóm Nhỏ,Tôi yêu, nhạc sĩ Xuân Lôi : Nhạt Nắng, Tiếng Haát Quê Hương, nhạc sĩ Lam Phương : Chuyến Đò Vỹ Tuyến, Kiếp Nghèo, nhạc sĩ Mạnh Bích : Thôn Trăng.
Những nhạc sĩ có ca khúc được công chúng ưa chuộng vào thập niên 60, 70 ở Miền Nam :
Nhạc sĩ Anh Việt Thanh : Vùng Lá Me Bay, nhạc sĩ Xuân Vinh : Chuyện Tình Đã Mất, nhạc sĩ Vũ Thái Hòa :Tự Tình…
Paris còn có một số những nhạc sĩ khác viết những ca khúc hay và giá trị từ trước năm 1975 và sau này nhung tác giả chỉ phổ biến giới hạn trong thân hữu.
Giới nghệ sĩ đờn ca tài tử và nghệ sĩ sân khấu cải lương đến Pháp không nhiều. Paris dù là thủ đô ánh sáng, cái nôi quy tụ nhiều nền văn hóa của thế giới nhưng đối với ngành sân khấu cải lương Việt Nam vẫn không có một sân khấu nhỏ cải lương vì người Việt ở rải rác khắp nước Pháp! Vào đầu thập niên 50 của thế kỷ trước phải kể đến nhạc sĩ Michel Mỹ là người Pháp có mẹ là người Việt. Là cựu công chức cao cấp của chính phủ Pháp khi hồi hương về Pháp ông mang theo một số đàn cổ nhạc Việt Nam gồm đàn kìm, đàn nhị, đàn tranh và guitare phím lõm…ông là nhạc sĩ đờn ca tài tử nhưng chơi điêu luyện các loại khí cụ này, ông độc tấu đàn kìm những bài Trăng Thu Dạ Khúc, Phụng Hoàng và ca những bài ca cổ rất mùi … Chữ “Tài tử” ở đây không có nghĩa là “không chuyên nghiệp” vì trong số đờn ca tài tử có những người tài nghệ là những bực thầy, họ chơi rất bài bản, những ngón đờn điêu luyện những chữ trong bài ca nhấn độc đáo, tuyệt vời. Trong những sinh hoạt văn hóa của người Pháp ở Paris thỉnh thoảng nhạc sĩ Michel Mỹ được mời diễn thuyết về đề tài Đông Dương, vào những dịp đó ông thường giới thiệu nhạc dân tộc Việt Nam cho công chúng Pháp thưởng thức. Ông vừa đàn vừa hát những bài Tứ Đại Óan, Dạ Cổ Hoài Lang tiếng hát quyện tiếng đàn khoan nhặt trầm bổng nghe tha thiết buồn bã, thoáng như cả một tkhung trời quê hương miền Nam được hòa vào âm nhạc, và chắc hẳn trong số ít khách ngườiViệt được mời tham dự buổi sinh hoạt hôm ấy tâm hồn không khỏi bùi ngùi nhớ quê hương ! Ở Paris thuở ấy còn một người đờn ca tài tử khác nữa là nhạc sĩ Trần Văn Khê, tác giả ca khúc tiền chiến : Chơi Chùa Hương phổ thơ củaNguyễn Nhược Pháp năm xưa. Khi sang Pháp du học ông đã sử dụng điêu luyện một số nhạc cụ dân tộc. Trong đại học Sorbonne Paris và nhiều nơi khác giáo sư Trần Văn Khê trong diễn thuyết cũng vừa đàn vừa hát cho sinh viên và công chúng người Pháp. Nhờ sự nghiên cứu tìm tòi một cách hàn lâm của ông đã góp phần quảng bá nhạc dân tộc Việt Nam với nhiều nước trên thế giới, và ông đã đi nhiều nước biểu diễn cho công chúng nhiều dân tộc khác nhau thưởng thức.Ở xứ người giữ được truyền thống của dân tộc là điều cần thiết vì nó là tinh thần, chỗ dựa để người Việt tự tin về mình có một nền văn hóa lâu đời trước người bản xứ và các dân tộc khác. Nó cũng là chất keo giữ được tình đồng của khối người Việt. Do đó việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc là bổn phận của mỗi người dân Việt. Ở Paris nếu kể đến những người tích cực phổ biến nhạc cổ truyền dân tộc cho công chúng Pháp và công chúng nhiều nước trên thế giới thì cặp nghệ sĩ Bạch Yến Trần Quang Hải là hăng say nhất. Anh chị đã trình diễn hơn 3500 buổi nhạc cổ truyền tại 70 quốc gia trên thế giới từ hơn 40 năm. Nhạc sĩ Trần Quang Hải đã có hơn 10 đĩa hát đàn tranh do anh trình diễn. Đĩa hát đầu tiên xuất bản năm 1971 tại Paris với nhan đề “Đàn tranh: cithare vietnamienne par Trần Quang Hải” do hãng Le chant du monde phát hành tại Paris. Đó là dĩa hát với 6 trang viết về lịch sử đàn tranh , đối chiếu đàn tranh Việt với các loại đàn tranh của Nhựt, Trung Quốc và Hàn quốc. Về sáng tác giáo sư Trần Quang Hải có nhiều loại khác nhau từ nhạc đàn tranh đến tân nhạc, nhạc điện thanh (musique electro acoustique).
Giáo sư Trần Quang Hải và nữ nghệ sĩ Bạch Yến là nghệ sĩ ViệtNam duy nhứt được giải thưởng của Academie du disque Charles Cros của Pháp vào năm 1983. Nhạc sĩ Trần Quang Hải là nghệ sĩ Việt nam duy nhứt được gần huy chương Legion d’Honneur của Pháp vào năm 2002.
Sau biến cố năm 1975 nhiều văn nghệ sĩ bỏ nước ra đi trong số đó có những nghệ sĩ cải lương đã từng vang bóng một thời trên sân khấu Miền Nam năm xưa, họ đã đến định cư ở Paris :
Nữ nghệ sĩ Kim Chung, nữ nghệ sĩ Bích Thuận, nữ nghệ sĩ Mộng Tuyền, nữ nghệ sĩ Tài Lương, nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân, nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Liên, nữ nghệ sĩ Hương Lan, nữ nghệ sĩ Kiều Lệ Mai, nữ nghệ sĩ Bạch Lê, nữ nghệ sĩ Thanh Bạch, nữ nghệ sĩ Kim Chính, nghệ sĩ Thy Mai…
Những nghệ sĩ, từng ca vọng cổ trên sân khấu ở Paris :Nữ nghệ sĩ Mỹ Hòa, nữ nghệ sĩ Kim Hoa, nữ nghệ sĩ Kim Anh, nữ nghệ sĩ Ngọc Xuân, nữ nghệ sĩ Hải Yến, nữ nghệ sĩ Trúc Tiên..Riêng Mỹ Hòa trước năm1975 ở Sài Gòn là ca sĩ trong ban tam ca : Ba Con Mèo, và từng đóng một số phim. Ngọc Xuân là ca sĩ, Hải Yến là giáo sư tiến sĩ.
Những nam Nghệ sĩ Cải Lương đã từng vang bóng một thời trên sân khấu Miền Nam năm xưa đến định cư ở Paris :
nghệ sĩ Hữu Phước,nghệ sĩ Thành Được, nghệ sĩ Phương Thanh, nghệ sĩ Dũng Thanh Lâm, nghệ sĩ Hoàng Long, nghệ sĩ Thanh Bạch, nghệ sĩ Chí Tâm, nghệ sĩ Minh Đức, nghệ sĩ Hoàng Minh Phương, nghệ sĩ Hùng Yến, nghệ sĩ Tòng Hiếu.
Những nghệ sĩ, từng ca vọng cổ trên sân khấu ở Parisbác sĩ Lai, nghệ sĩ Lý Kim Thành, nghệ sĩ Dương Kỵ…
Những Soạn giả : soạn giả Tây Giang Tử, soạn giả Trần Trung Quân.Dàn Kìm :Nhạc sĩ Michel Mỹ, giáo sư Nguyễn Xuân Phong
Đàn Vọng Cổ : Nhạc sĩ Minh Đức, nhạc sĩ Mai Thanh Hùng, nhạc sĩ Văn Được, nhạc sĩ Văn Trực..Đàn Bầu : nhạc sĩ Xuân Lôi, nhạc sĩ Đoàn Văn Linh, nhạc sĩ Trọng Lễ.
Đàn Tranh : Giáo sư Trần Văn Khê, giáo sư Phương Oanh , giáo sư Quỳnh Hạnh, giáo sư Nguyễn Thanh Vân, giáo sư Hồ Thụy Trang, giáo sư Trần Quang Hải, bác sĩ Thu Thảo.
Hide original message
Nếu trong giới đờn ca tài tử ở quê nhà họ gặp nhau trong những buổi hòa nhạc đờn hát để thưởng thức tài nghệ chớ không phải để kiếm tiền mưu sống, thhì những nghệ sĩ cải lương ở Paris vì yêu nghề họ đã bỏ tiền, bỏ thì giờ để tập dượt tuồng cải lương cố xây dựng một sân khấu nghệ thuật phục vụ người đồng hương nhằm bảo tồn văn hóa dân tộc nhưng ước nguyện đó không thành ! Kể từ sau năm 1975 đến nay người Việt dù sinh sống ở khắp nơi hải ngoại nhưng vẫn giữ được một số truyền thống dân tộc, những thế hệ sau vẫn tiếp tục học tiếng Việt và nói tiếng Việt. Những thế hệ sinh ở Pháp hoặc qua Pháp lúc còn bé nếu nói được Tiếng Việt thì đã qúy, hát được tiếng Việt và trình diễn cho những người đồng hương thưởng thức thì càng qúy hơn. Đó là công việc góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc nơi xứ người mà Học giả Phạm Quỳnh ngày trước đã nói : «Truyện Kiều còn thì Tiếng Ta còn, Tiếng Ta còn thì Nước Ta còn ».Nghệ sĩ Trúc Tiên thuộc thế hệ tiếp nối qua Pháp tuổi còn quá nhỏ nên ngôn ngữ chính sử dụng hàng ngày trong trường vẫn là Pháp ngữ. Để nói và viết được tiếng Việt thông thạo không phải là điều dễ thế mà Trúc Tiên không những nói còn nói hay nên thường được giao làm MC cho các chương trình văn nghệ đòi hỏi người dẫn chương trình ngoài tài ăn nói, kiến thức rộng còn phải biết biên soạn những đoản văn. Ngoài ra cô còn có năng khiếu hội họa, trình bày bìa sách. Trúc Tiên có giọng hát truyền cảm, chất giọng trời cho mà đờn ca tài tử gọi là giọng ca mùi. Phải chăng trong con người của Trúc Tiên đã có sẵn máu nghệ sĩ nên thích văn nghệ. Lòng đam mê văn nghệ đã thúc dục cô tìm kiếm, nghiên cứu sách tự học hát để thỏa mãn sự yêu thích của mình, nhưng chất giọng đó lại giúp cô đạt được môt số thành quả nhỏ trong lãnh vực văn nghệ trong sinh hoạt cộng đồng. Vì muốn tiến xa hơn trên con đường nghệ thuật cô đã tìm học một số thày giỏi trong ngành đờn ca tài tử để học luyện thanh. Nhờ năng khiếu văn nghệ bẩm sinh Trúc Tiên lại thấm nhuần thêm nghệ thuật từ các bậc nghệ sĩ tiền bối như nữ nghệ sĩ Bích Thuận, nữ nghẹ sĩ Kiều Lệ Mai mặc dù không phải là học trò, các nghệ sĩ tài danh này thường hay đến sân khấu của giáo xứ Việt Nam Paris trình diễn vào những Ngày Văn Hóa và dịp Tết nguyên Đán. Những câu hát trầm bổng, luyến láy, nhấn chữ, hay lối diễn xuất từ điệu bộ cách đưa tay lên, hạ tay xuống trong khi hát, đến những chi tiết rung vai, lắc đầu, xê dịch, đổi bước chân…của các bậc nghệ sĩ tiền bối đã được thu vào đôi mắt của cô bé Trúc Tiên. Những hình ảnh đó đã nhập tâm cô bé Trúc Tiên từ bao giờ, nên đến khi Trúc Tiên bước ra sân khấu trình diễn cách ra bộ rất tài tình đầy sáng tạo, có những lúc xuất thần như một nghệ sỹ lâu năm trên sân khấu màn nhung. Nghệ sĩ Trúc Tiên đã phát hành 2 CD nhạc cổ. CD đầu phát hành 2017 mang tên : Trúc Tiên Đàn Ca Tài Tử, gồm 10 bài ca qua các thể điệu : Song Ngâm, Phụng Cầu, Đại Oán, Xàng Xê, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo Song Cước, Ngũ Đối Hạ. Tiếp theo năm 2018 Trức Tiên cho phát hành CD Trúc Tiên Đàn Ca Tài Tử có tựa là Thương gồn những bài ca :
Dạ Cổ Hoài Lang, Hòn Vọng Phu, Trọng Thủy Mỵ Châu, Điệu Buồn Phương Nam, Khúc Biệt Ly, Thiếu Phụ Nam Xương, Cung Đàn Nước Mắt, Tiếng Sáo Đêm Trăng, Tình Nghĩa Vợ chồng.
Đầu tháng 6 năm 2019 Trúc Tiên và các bạn nghệ sĩ cùng thế hệ đã cho trình diễn trên sân khấu Raspail Paris màn :Nhạc Kịch Đàn Ca Tài Tử LỤC VÂN TIÊN
Đây là vở nhạc kịch đàn ca tài tử mà nhiều năm qua Trúc Tiên vẫn miệt mài bỏ công sức góp nhặt, biên soạn. «Truyện Lục Vân Tiên là một tác phẩm truyện thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, được sáng tác theo thể lục bát vào đầu những năm 50 của thế kỷ 19 và được Trương Vĩnh Ký cho xuất bản lần đầu tiên vào năm 1889. Đó là một trong những sáng tác có vị trí cao của văn học miền Nam Việt Nam. Tác phẩm được dịch giả Abel des Michels chuyển ngữ sang tiếng Pháp với tên gọi Lục Vân Tiên cổ tích truyện – Histoire de Luc Van Tien năm 1899.»
Cụ Nguyễn Đình Chiều là một nhà Nho đã can đảm dám đúng lên chống thực dân Pháp. Cùng thời với những hào kiệt như Huỳnh Mẫn Đạt, Thiên Hộ Dương, NguyễnTrung Trực, Trương Công Định. Công sứ tỉnh Bến Tre nhiều lần đến nhà thuyết phục dụ dỗ cụ theo Pháp nhưng Cụ luôn luôn quyết liệt từ chối. Mặc dù bị khiếm thị nhưng ý chí vẫn kiên cường.Truyện Lục Vân Tiên là một cuốn tiểu thuyết về luân lý, đề cao tính nghĩa khí của dân Nam Bộ , xây dựng lại đạo làm người với quan niệm văn dĩ tải đạo. Tác giả muốn đem gương người xưa mà khuyên người ta về cương thường đạo nghĩa.Đỗ Bình.
-
Trẫm Vẫn Yêu Em…
Trần Văn Tui, Los Angeles.Trẫm yêu em bằng tim tuổi hạc
Nặng nợ ân tình kiếp ba sinh
Mến chốn ta bà trẫm mãi yêu
Chung bước đường dài trẫm cùng emTrẫm gọi tên em bằng sếp nhỏ
Soi bóng dặm trường có ai hơn ?
Đếm bước thời gian dù chết rũ
Những nỗi u sầu ta với taCăng-xe Xì-trốc là chiện nhỏ
Kiếp người hữu hạn sá chi đâu
Ôi sống lâu chi cho chật đất
Sống anh hùng cho đất phì nhiêuHỏi trăng cô liêu sầu vạn cổ
Mỏi mòn cánh hạc bay vẫn bay
Gõ con chữ nghĩa đêm khuya khoắt
Nhãn tròng mờ nhạt trẫm yêu emTrẫm vẫn yêu em yêu muôn thuở
Tuổi tóc xanh sang màu lấp lánh
Cho mãi thời gian hồn lịm giấc
Trẫm vẫn yêu em trẫm yêu em! -
Nhà văn Nguyễn Tường Thiết: Một hậu duệ của Nhất Linh.
Khi nói về nhà văn Nguyễn Tường Thiết tôi muốn bắt đầu bằng đề tài Chợ An Đông, vì nơi đó có nhà ông ở ngày xưa trước năm 1975. Nào hãy kể sơ đôi nét về Chợ An Đông, mặt tiền là đường An Dương Vương, thuộc Quận 5, Chợ Lớn, mặt sau là đường là Hùng Vương. Hai bên hông là 2 dãy phố chợ đường Nguyễn Duy Dương và đường Yết Kiêu. Chợ An Đông hình thành từ năm 1951. Trước năm 1975, Chợ An Đông có một “tụ điểm” địa phương quan trọng là quán cơm gà Siu Siu, cửa tiệm này được nhà văn Nguyễn Tường Thiết đưa vào văn học.
Thật vậy, tác giả kể về “Căn nhà 39 An Ðông của mẹ tôi”, đầy ắp những kỷ niệm vui buồn. Dĩ nhiên cuộc sống này có khi vui, có lúc buồn.
“Căn nhà 39 An Ðông của mẹ tôi” chôn dấu bao kỷ niệm. Vui khi tôi chăm chú đọc về sự huyên náo cảnh phố chợ An Đông, có hôm minh tinh Thẩm Thúy Hằng tìm bà “Nhức Linh” vì ý muốn thực hiện dựa phim theo tác phẩm “Đoạn Tuyệt”, tác giả Nguyễn Tường Thiết mô tả kỷ niệm như sau…
“Ði sau Thẩm Thúy Hằng là một lô một lốc những đứa trẻ con bận quần xà lỏn mình trần trùng trục. Tôi cũng mặc quần xà lỏn nhưng lịch sự hơn chúng nó một tí là có cái áo sơ mi cộc tay khoác lên. Cô Thẩm Thúy Hằng thì cố nhiên ăn mặc sang trọng lộng lẫy lắm. Minh tinh điện ảnh mà! Vừa bước vào nhà cô nói oang oang: “Trời đất ơi! Cả cái chợ An Ðông này hổng ai biết nhà ông Nhứt Linh ở đâu. Mãi sau tôi mới nhớ ra là bà Nhứt Linh bán cau. Thế là mấy đứa nhỏ ùn ùn dẫn tôi tới đây”. Ðoán biết ngay cô nữ tài tử này đến nhà tôi về chuyện gì nên tôi nói: “Mẹ tôi không có nhà. Nhưng cô có thể nói chuyện với tôi nếu có liên quan đến bản quyền những tác phẩm của ba tôi” – “Ðúng dzậy! Tôi đến để điều đình về việc thực hiện cuốn phim dựa trên cuốn tiểu thuyết Ðoạn tuyệt của nhà văn Nhứt Linh”. Rồi cô Thẩm Thúy Hằng chìa tấm danh thiếp mời tôi đến tư gia của cô để bàn về chi tiết. Cô nói chưa có quyết định ai sẽ là người đóng vai Loan còn vai Dũng thì có thể do nghệ sĩ La Thoại Tân đóng. Lúc tiễn cô ta ra ngoài tôi nhìn tấm thân khá đẫy đà của cô và thầm nghĩ trong bụng cô này mà đóng vai Loan thì hỏng béng nó cả cuốn tiểu thuyết của bố tôi. Tuần lễ sau tôi gặp Thẩm Thúy Hằng lần thứ hai tại nhà cô ở đường Duy Tân. Mấy tháng sau không hiểu vì lý do gì cô cho biết bỏ ý định thực hiện cuốn phim Ðoạn tuyệt.
Chuyện cô Thẩm Thúy Hằng đến nhà mẹ tôi làm xôn xao dân chợ một dạo. Nhưng đó không phải là lần đầu tiên họ được dịp chiêm ngưỡng tận mắt những nghệ sĩ nổi tiếng. Cặp nghệ sĩ cải lương Kim Cương – Hùng Cường một buổi chiều nọ cũng làm náo động đám trẻ con khi họ đến ăn ở quán cơm gà Siu Siu.
Bữa đó tôi đang ngồi học bài trên gác thì có tiếng gọi ơi ới ở dưới đường: “Kim Cương tụi bay ơi!” – “Hùng Cường tụi bay ơi!”. Tôi bèn ra đứng ở ban công nhìn xuống. Trẻ con mấy chục mạng từ trong chợ chạy túa ra đường đứng thành hình vòng cung lớp trong lớp ngoài chung quanh quán cơm gà. Có vài người lớn trong đám nhưng họ chỉ đứng nhìn ở xa. Mấy đứa nhỏ đứng hàng đầu tiến sát lại gần cái bàn ăn của hai thực khách nhìn trân trân vào tận mặt cô Kim Cương, thần tượng của chúng mà trước đó chúng chỉ được thấy trên màn ảnh TV. Rồi bất ngờ trong đám con nít đồng loạt có tiếng vỗ tay, vừa vỗ tay vừa reo hò, rất đúng nhịp: “Kim Cương nhai! Kim Cương nuốt!”. Tức mình, tài tử Hùng Cường đang ăn đứng lên phùng má trợn mắt nhìn đám trẻ. Tưởng nghệ sĩ này làm trò hề, lũ trẻ lại rộ lên cười. Ông Siu Siu đang chặt thịt gà, xách con dao phay chạy ra xua tay nói lớn: “Hê! Ðể cho người ta ăn lớ! Ðể cho người ta ăn lớ!”. Ðám trẻ rãn ra xa thôi hò hét nhưng không chịu đi, cứ đứng quanh đó mà nhìn cho tới khi cặp nghệ sĩ ăn xong lên xe. Cứ như thế từ trên ban công căn nhà của mẹ tôi tôi ngắm cảnh sinh hoạt phía dưới không bao giờ chán mắt. Nội nhìn ông Siu Siu chặt thịt gà đã thấy mê! Con gà bóng mỡ nằm ngửa trên thớt. Một nhát dao phay bổ ngọt trên bụng. Rồi phập phập! Hai cái đùi gà văng ra. Bằng bốn đầu ngón tay trái ông Siu Siu chặn cái đùi gà, chặn kín chỉ chừa một khoảng hở. Phập! Con dao phay bổ sát móng tay. Rồi cứ thế các ngón tay ông ta lùi dần, lùi đến đâu con dao phập sát tới đó. Phập! Phập! Phập! Thoắt cái, đùi gà đã được chặt thành từng khúc nhỏ đều đặn. Xúc những miếng gà đã chặt bằng lườn con dao phay ông trải thịt gọn ghẽ lên một chiếc đĩa trắng, rắc một ít hành lá lên trên, thế là đĩa gà được mang cho khách, cùng với những bát cơm gà nóng vàng ngậy bốc khói cộng thêm hai thứ nước chấm, một chén xì dầu có những lát ớt đỏ và một chén gừng băm trộn dấm. Trong bao nhiêu năm quan sát ông Siu Siu chặt thịt gà tôi cứ bị ám ảnh bởi một ý nghĩ và ý nghĩ này không ngớt theo tôi cho tới tận ngày nay, hơn bốn mươi năm sau. Ðó là có bao giờ ông ta lơ đễnh trong lúc chặt thịt? Tôi không dám nghĩ tiếp vì cái hậu quả mà tôi hình dung thấy nó kinh khiếp quá!…”Dĩ vãng cũng có cái buồn của tác giả Nguyễn Tường Thiết trong phong văn sau đây:
“Chúng tôi chia tay. Ðó là hình ảnh sau cùng tôi ghi nhớ trước khi tôi giã từ vĩnh viễn căn nhà chúng tôi đã sống suốt 20 năm, căn nhà An Ðông của mẹ tôi….
Hai mươi mốt năm trôi qua trên đất Mỹ nhanh như một chớp mắt. Năm 1996 chúng tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên và có dịp ghé chợ An Ðông thăm căn nhà cũ. Căn nhà nay đã đổi chủ. Bảng hiệu cau Cẩm Lợi thay thế bằng bảng tiệm vàng Kim Xuyến. Trong lúc vợ con tôi đi sắm đồ trong chợ An Ðông (nay được tân trang phía trong với một dẫy cầu thang cuốn) tôi đứng trước cửa tiệm vàng nhìn lên cái ban công trên cao nhớ lại những giờ phút xa xưa đứng trên đó nhìn xuống cái quán Siu Siu ở dưới này bây giờ không còn nữa, nhớ lại cả một thời thanh xuân, thời tuổi trẻ của mình mà lòng bồi hồi.
Ðã bao nhiêu nước chẩy qua cầu. Mẹ tôi không còn nữa. Sau biến cố năm 1975 mẹ tôi đã sống thêm được 6 năm tại căn nhà An Ðông ấy và chứng kiến bao nhiêu cảnh tang thương của cuộc đổi đời. Tuy mẹ tôi được nhà cầm quyền mới để yên không làm khó dễ như bà vẫn hằng lo ngại (do tên tuổi bố tôi), nhưng bà đã trải qua bao cảnh chia ly tử biệt trong gia đình. Mẹ tôi chứng kiến chị cả tôi, chị Thư, chết trong một tai nạn xe cộ vào năm 1976, anh Thạch tôi bị đi tù cải tạo ở miền Bắc, anh chị Triệu tôi vượt biên, bị bắt, bị tù, rồi vượt biên nữa. Những người con của bà, người chết người bỏ đi xa, căn nhà vắng dần bóng người, mẹ tôi nhiều lúc sống thui thủi một mình trong căn nhà An Ðông. Người chăm lo hầu hạ bà sau này nhiều nhất là chị Thạch và… chú Tiều. Vâng, chú Tiều, con người điên điên khùng khùng ấy không ngờ lại là người rất có tình nghĩa, tận tụy chăm lo cho mẹ tôi cho đến những ngày cuối của đời bà.
Theo lời chị dâu tôi, chị Thạch, sau năm 1975 chú Tiều ở hẳn trong nhà mẹ tôi. Chú giặt dũ, nấu cơm, đóng cửa, mở cửa, coi nhà và trông nom mẹ tôi. Hồi đó trộm cướp nhiều lắm, mẹ tôi nhiều lúc ở nhà một mình nên sợ, may mà có chú Tiều bảo vệ. Ðêm đêm chú giắt con dao phay sáng quắc đi tới đi lui trước nhà khiến đám bụi đời và lũ trộm cắp rất ngán không ai dám bén mảng đến cửa. Anh Thạch tôi sau 5 năm trời cải tạo trở về sống ở chợ An Ðông. Ngày anh trở về là ngày vui nhất của mẹ tôi. Anh là người duy nhất trong số các con của mẹ tôi được sống với mẹ trọn một năm chót của đời bà. Tháng Tư năm 1981 mẹ tôi bị bệnh nặng. Anh cả tôi từ bên Pháp về Việt Nam đưa mẹ tôi sang Paris chữa bệnh. Ðến phi trường Orly mẹ tôi được chở thẳng đến bệnh viện. Bà qua đời tại đó ít lâu sau, thọ 74 tuổi.
Trong cuộc đổi đời khủng khiếp ấy tội nghiệp nhất phải nói là ông chủ quán cơm gà Siu Siu. Vào năm 1975 sau 20 năm làm ăn phát đạt ông Siu Siu trở nên giầu có. Ông đã tậu 3 căn nhà sát nhau trong một dẫy phố đường Nguyễn Duy Dương, cạnh trường Trí Dũng, và biến 3 căn này thành một nhà hàng bán cơm gà thật lớn, trong khi ông vẫn duy trì cái quán cóc nhỏ ở sát cạnh nhà mẹ tôi. Vẫn theo lời kể của chị Thạch thì khi những người cộng sản vào trong Chợ Lớn họ niêm phong và tịch thu tất cả những nhà hàng lớn của Hoa kiều, chỉ cho hoạt động những nhà hàng nhỏ bán buôn lẻ tẻ. Ông Siu Siu bỗng nhiên một lúc bị tước đoạt cả 3 căn nhà. Còn quán cóc thì ông sang lại cho chú Sáng, một người bà con của ông. Tháng Sáu năm 1978 những thương gia trong Chợ Lớn hùn nhau tổ chức một cuộc vượt biên bằng tàu. Ông Siu Siu và toàn gia đình ông tham dự trong chuyến đi ấy. Ra khơi không may tàu chìm. Toàn thể gần trăm người trên tàu không một ai sống sót chỉ trừ một mình ông Siu Siu. Ông bám vào một tấm ván theo sóng biển trôi tấp vào bãi biển tỉnh Bến Tre. Dân chúng địa phương báo cho công an biết và ông được chở vào bệnh viện cứu sống. Sau khi điều tra lý lịch biết ông Siu Siu ở chợ An Ðông họ điện cho công an phường An Ðông để xin giải ông về quận 5. Ông Siu Siu sau đó trở thành người mất trí. Không còn nhà cửa để ở ông sống lây lất ngay dưới mái hiên căn nhà cũ của mình ở đường Nguyễn Duy Dương. Rồi giống như chú Tiều ông bắt đầu điên khùng nói năng lảm nhảm. Nhưng tệ hơn chú Tiều ông phải ngửa tay xin từ gói xôi, gói bắp của những người qua đường để sống, những người mà chỉ mấy năm trước đã là thực khách thường xuyên của quán cơm gà rất nổi tiếng của ông.
Còn chú Tiều nhờ trời thương nên có hậu vận khá. Sau khi mẹ tôi qua Pháp, chị dâu tôi và anh Thạch là hai người sau cùng ở lại chợ An Ðông. Khi anh chị Thạch quyết định về ở Thủ Ðức anh chị đã sang căn nhà 39 An Ðông cho bà Kim Xuyến. Bà Xuyến sửa lại căn nhà để mướn một tiệm vàng khang trang đẹp đẽ. Theo lời chị Thạch thì căn trên gác được sửa sang gắn cửa kính lắp máy lạnh và đặc biệt để dành riêng cho chú Tiều ở. Chả là bà Kim Xuyến có nhà riêng 3 tầng ở đường Lý Hồng Phong nên bà không ở tiệm vàng. Mỗi sáng bà đến chợ An Ðông bán hàng. Chiều đến bà cho vàng vào trong két sắt (cái két sắt lớn của mẹ tôi để lại) khóa két lại rồi giao nhà cho chú Tiều coi giữ. Ðêm đêm chú Tiều giắt con dao bên lưng, đi tới đi lui, giống như trước kia chú đã làm thế để bảo vệ mẹ tôi, do đấy mà không một tên bất lương nào dám bén mảng đến trước cửa căn nhà số 39. Bà Xuyến về nhà riêng có thể yên tâm ngủ vì tiệm vàng đã có chú Tiều canh giữ. Một người khùng điên, không tài cán, không người thân thích, mà lại được tín nhiệm giao phó trông coi cả một tiệm vàng… Ðúng là chuyện khó tin nhưng có thực!
Sáu năm sau, năm 2002, chúng tôi lại trở về Sài Gòn và đến thăm lại căn nhà cũ một lần thứ hai. Tiệm vàng Kim Xuyến không còn ở đó nữa. Từng dưới nhà nơi chỗ hai cửa sắt trông ra hai mặt đường đã bị bịt tường kín bưng. Trên lầu những ban công được che bằng những song sắt chắc chắn. Chúng tôi đoán chủ nhân mới là sở hữu chủ của cả hai căn 39 và 41, họ dùng căn 41 làm chỗ buôn bán và dùng căn nhà cũ của mẹ tôi làm kho chứa hàng. Lần đó cũng là lần sau cùng tôi nhìn thấy căn nhà An Ðông cũ của mẹ tôi. Bức tường kín mít đã hoàn toàn chắn tôi với quá khứ. Tôi bâng khuâng tự hỏi không biết số phận của chú Tiều bây giờ ra sao, còn sống hay đã chết? “
Đọc tác phẩm “Căn nhà An Ðông của mẹ tôi” của Nguyễn Tường Thiết tức cười ở mục “xả xui”, chuyện kể ông được tiền nhuận bút từ tạp chí Văn. Nhà văn của những tác phẩm “Ngồi lại bên cầu” và “Nửa đêm thức giấc”; cũng như dịch giả của những sách Sứ mệnh văn nghệ (Discours de Suède, diễn văn đọc tại lễ nhận giải Nobel Văn chương của Albert Camus, và Sự đã rồi (Les jeux sont faits của Jean-Paul Sartre. Trần Phong Giao dịch chung với Nguyễn Xuân Hoàng)…. Nguyễn Tường Thiết nhận quà “xả xui” của ông “Nửa đêm thức giấc” như sau:
“Ở trên lầu bốn của chung cư là lầu thượng có mở câu lạc bộ là chỗ giải trí cho lính Mỹ. Ðêm đêm tiếng nhạc và tiếng trống thình thình từ trên đầu chúng tôi dọng xuống. Quân đội Mỹ đi đến đâu thì thế nào mà chẳng có đoàn nữ binh lén lút hoặc công khai lảng vảng đâu đó để phục vụ. Nhưng tôi chỉ phỏng đoán thế thôi chứ không tài nào phát hiện được. Chợ An Ðông bề ngoài trông vẫn nghiêm túc. Không một bóng dáng chị em ta nào lảng vảng. Thuở ấy nhóm bạn của tôi chia đôi. Một số ít đậu tú tài xong thì nhập ngũ. Số còn lại đông hơn có tôi trong đó tiếp tục đại học và được “hoãn dịch vì lý do học vấn”. Có một thông lệ là mỗi lần có đứa nào từ mặt trận về phép Sài Gòn thì đám hậu phương chúng tôi phải chung tiền để bao nó đi chơi bời mà chúng tôi gọi là đi “xả xui”. Xả xui thì độc có hai chỗ chúng tôi biết đến là Ngã Ba Chú Ía và ngõ Lê Văn Duyệt đối diện Quân Vụ Thị Trấn. Cả hai chỗ này đều dơ dáy kinh khiếp nhưng tụi nó ở trong rừng cả năm kẹt quá cỡ, được xả là khoái rồi, chẳng bao giờ chê bai.
Thế rồi bất ngờ một hôm tôi được dẫn đến một cái động rất sang mà lại chẳng phải đi đâu xa xôi. Nó ở ngay trên đầu chúng tôi, lầu ba chung cư An Ðông! Anh bạn văn Trần Phong Giao của tôi ơi! Anh ở dưới suối vàng hãy thứ lỗi cho tôi tiết lộ chuyện này. Nói đến chung cư An Ðông mà không nhắc đến anh và kỷ niệm này thì quả thiếu xót. Anh Giao hồi đó là chủ bút của tạp chí Văn. Anh là một người thật dễ mến, thật “tình thân” như anh luôn luôn viết thế khi kết thúc một bức thư gửi bạn bè. Năm đó anh xuất bản cuốn Tuyển tập Nhất Linh, trong đó có đăng bài “Niềm vui chết yểu” của tôi. Sách xuất bản xong, một bữa anh lái xe mô-bi-lét đến tìm tôi ở chợ An Ðông. Gặp tôi ở trước cửa nhà anh móc ngay trong túi một cái phong bì, nhưng anh không đưa phong bì cho tôi, chỉ nói: “Trong này có 500 đồng tiền nhuận bút của anh. Anh có hai lựa chọn. Một là anh nhận cái phong bì này. Hai là anh nhận một món quà khác tương đương với giá tiền”. Thấy tôi lưỡng lự anh nheo mắt bảo tôi: “Món này độc đáo lắm. Bảo đảm anh sẽ thích”. Rồi không để tôi lựa chọn anh ra lệnh: “Ði theo tôi!”. Nói xong anh khóa xe mô-bi-lét, lững thững bước đi trước. Ra đường Nguyễn Duy Dương anh dẫn tôi đến một cái cầu thang lên lầu ba của khu chung cư chúng tôi ở. Tôi đi theo anh mà lòng ngờ ngờ vực vực. Chưa bao giờ tôi bước chân lên lầu ba. Chúng tôi đi qua một hành lang rất dài, hai bên hành lang là một dẫy cửa phòng đóng kín, tôi có cảm tưởng như là mình đang đi trong hành lang của một khách sạn lớn. Ðến một phòng nọ anh gõ cửa. Cửa mở. Ðầu của một cô gái Tàu thò ra. Chúng tôi vào phòng. Anh Giao nói mấy câu với cô gái rồi đưa cho cô ta cái phong bì. Xong anh lui ra, nháy mắt với tôi một cái, rồi khép cửa lại. Tôi nhìn căn phòng rộng trống hổng chỉ có một cái giường nệm lớn trải khăn trắng ở giữa phòng trong lòng phân vân không biết phải làm gì. Trong lúc đó cô Tàu vào buồng tắm mở nước vặn vòi hoa sen. Lát sau cô trở ra không mặc quần áo gì cả chỉ quấn một cái khăn tắm quanh người rồi cô ta ra hiệu tôi cởi quần áo để vào phòng tắm chung với cô.
Một tiếng đồng hồ sau bước xuống cầu thang tôi lẩm bẩm: “Thằng cha Giao này tài thiệt! Hắn ở xa tít thế mà biết hết mọi chuyện ở ngay trên đầu mình”. Trong đời viết văn vốn không nhiều nhặn gì cho lắm của tôi đây là lần đầu tiên cũng là lần duy nhất tôi có tiền nhuận bút. Mà may quá tôi lại không nhận cái tiền nhuận bút ấy….”
Động từ ”xả xui”nghe rất vui và có tính lý số hên xui nữa. Những street slangs tôi vẫn nhớ ngày xưa như “đá gà”, “đeo áo mưa”, “xả xui” , “ủi bãi”, “thổi kèn”, “xào khô”,… Mới đây sau 43 năm xa xứ tôi tình cờ đọc tác phẩm Thần Thánh Không Biết Yêu của nhà văn Nguyễn Thi Thanh Bình,, tôi tìm cái từ ngữ của thế kỷ trước, một thoáng kỷ niệm vui vui… “bắt bò lạc”. Quả thật, đọc Nguyễn Tường Thiết, ông có những văn tự dí dỏm, hóm hỉnh, và tinh nghịch.
Tác phẩm khác đưa gần gũi với phong văn của Nguyễn Tường Thiết là bài “Bãi Ô Quắn”, Vũng Tàu. Quê ngoại tôi ở thị xã Vũng Tàu. Câu truyện về nguồn gốc của Bãi Ô Quắn hay tên khác của nó là Mũi Nghinh Phong vào thời Pháp được gọi là Pointe au Vent. Người Việt đọc trại ra hai từ “au vent” thành Ô Quắn, sau đó lại dịch Pointe au Vent thành Mũi Nghinh Phong. Bãi tắm Ô Quắn, nay rất ít có du khách hay dân địa phương xuống tắm biển ở nơi đây vì dòng chảy của nước rất nguy hiểm. Về hình thể, địa thế thì Mũi Nghinh Phong là mũi đất vươn dài ra phía Nam bán đảo Vũng Tàu. Nghinh Phong có nghĩa là đón gió. Mũi đất nầy đón gió 4 mùa, khí hậu mát mẽ dễ chịu. Mũi đất này vươn dài ra biển tạo hai Vịnh lớn và hai bãi tắm nổi tiếng, bãi Vọng Nguyệt (hay Ô Quắn) và bãi Hương Phong (hay bãi Dứa). Chữ Ô Quắn hay tên Tây “Au Vent” như vừa đề cập, có nghĩa là gió. Ở đây gió nhiều, nên người ta đặt tên mũi đất này là Nghinh Phong rất đúng nghĩa, và bãi tắm ở đây là Ô Quắn, bãi tắm nhiều gió. Nghinh Phong đón gió thổi suốt năm như vậy, gió biển mát rượi khi ta ghé đây hóng gió biển. Xa xa ngoài khơi là bồng đảo Hòn Bà… Bãi Ô Quắn hay Vọng Nguyệt rất nổi tiếng vì thắng cảnh rất đẹp. Nếu quý vị độc giả thích sóng lớn, thích một bãi tắm riêng rẻ, đây là bãi tắm của quý vị vậy, vui trượt sóng. Ở đây sóng nhiều, nước trong và sạch, hơi sâu hơn ở bãi Trước và bãi Sau. Những lúc hoàng hôn phủ xuống không gian Au Vent khi trăng lên, ngắm nhìn những làn sóng bạc tung tăng nô đùa ở đây lấp lánh, ôi sao đẹp tuyệt vời quá…
Những tiểu thuyết hay phim tình cảm lấy biển làm bối cảnh dựng phim như Titanic, Endless Love, truyện tình yêu tuổi trẻ lãng mạn hay N’oublie Jamais (của Nicholas Sparks, The Notebook), tình cảm trẻ trung giữa cặp đôi Noah và Allie. Truyện Au Vent của nhà văn Nguyễn Tường Thiết cũng mang nét lãng mạn như “P.S.: I love you” (của nhà văn nữ Cecelia Ahern, P.S. – Je t’aime) giữa 2 người trẻ Holly và Gerry. Nguyễn Tường Thiết kể chuyện “Bãi Pointe Au Vent”, môt chuyện tình cảm man mác nhẹ nhàng, đan xen nét lãng mạn của chuyến đi chơi ở Bãi Ô Quắn có hai mẹ con bà Simône và Gabrielle, Paul là bạn của Gabrielle, Họ chia chung kỷ niệm tại biển này. Về sau cha Gabrielle là một sĩ quan Pháp bị tử trận tại Điện Biên Phủ. Hai mẹ con bà Simône về Pháp. Paul giữ kỷ niệm đẹp với 2 người Pháp này. Tác giả lồng vào truyện 2 bài tình ca Pháp xa xưa thật hay, và cốt truyện có Étoile des neiges và Moulin Rouge với kỷ niệm Edith Piaf trong nét bút diễn tả của nhà văn Nguyễn Tường Thiết. Chút lời nhạc … Ta kết hôn vào mùa xuân, sao tuyết lại lau khô đôi mắt xinh đẹp của em? Pour nous marier dès le printemps… Étoile des neiges, sèche tes beaux yeux
(Etoile des neiges do NS. Franz Winkler – 1906-1962)Line Renaud – Etoile des neiges;
https://www.youtube.com/watch?v=koQ9LpUnCs8.Khoảng năm 1970, khi về Cấp nghỉ hè tôi nhớ tại bãi Ô Quắn có chiếc tàu buôn khá lớn bị sóng đánh trôi dạt vào bãi biển này. Ô Quắn là một trong những bãi biển đẹp của Vũng Tàu. Tôi thích bãi này mỗi khi tìm sự thanh tịnh trong chuyến hè. Au Vent biểu tượng cho chồn mát mẻ cũng như vắng vẻ. Au Vent với tôi như bãi Playa del Carmen (ở bán đảo Yucatan, Mexico), khúc gần điểm nghỉ mát Riviera Maya và Las Brisas. Pointe au Vent cũng cho ta vẻ trầm mặc, tĩnh mịch như bãi Codo Playa thuộc đảo Bermudas, Caribbean. Những nơi lý tưởng để ta trốn tránh cảnh ồn ào, huyên náo của xã hội đô thị lớn. Xin nghe tiếp bài ca thứ 2 do danh ca “Sẻ nhỏ” Édith Piaf (le petit moineau) hát nhé…
Édith Piaf chante la grand chanson Moulin Rouge:
https://www.youtube.com/watch?v=whgqqKiyWIKế tiếp xin theo dõi nhà văn Nguyễn Tường Thiết qua bài viết : “Vài kỷ niệm với thầy Lưu Trung Khảo”
“Mười năm truớc đây, năm 2003, tôi có viết một hồi ký nhan đề “Mưa đêm cuối năm” thuật lại những kỷ niệm của tôi với nhà văn Võ Phiến. Trong hồi ký ấy tôi kể lại lần đầu tiên tôi biết tới nhà văn Võ Phiến là do sự giới thiệu của thầy giáo dậy môn Việt văn của tôi, thầy Lưu Trung Khảo. Sau đây là một đoạn văn trích từ bài viết “Mưa đêm cuối năm” ấy:
1958 – Bút danh Võ Phiến tôi nghe đầu tiên từ cửa miệng thầy giáo tôi, trong một chuyến du ngoạn ở Tây Ninh. Năm ấy tôi học lớp Đệ Tứ trường trung học Chu Văn An Sài Gòn. Cái tuổi còn mộng mơ. Giờ học tôi thường lơ đãng nhìn ngoài cửa sổ có cây phượng đại thụ thòng xuống chi chít những quả đen dài queo quắt. Nhưng vị thầy trẻ tuổi dậy môn Việt văn của chúng tôi lại cứ bắt tôi về với thực tế. Thực tế lại không hay ho gì lắm. Những ngày nóng bức từ nhà xí sát cạnh lớp một mùi khai khai thoảng nhẹ qua hoà vào những lời giảng thơ văn của thầy. Biết tôi là con một nhà văn tên tuổi, thầy cứ chắc mẩm là tôi phải xuất sắc về môn học của mình. Thầy không để tôi yên. Bình giải thơ Nguyễn Công Trứ xong thầy cho chúng tôi 20 phút viết phần dẫn nhập bài luận đề, thầy nói là sau đó thầy sẽ kêu tên một hai trò trong lớp đọc to cho cả lớp nghe và cho điểm. Nói xong thầy liếc xéo về phía tôi. Tự nhiên tôi có linh cảm chắc chắn thầy sẽ kêu tên mình. Thế là trong lúc hai thằng bạn ngồi cùng bàn Đỗ Diễn Nhi và Tạ Huy Sáng đánh cờ ca-rô thoải mái thì tôi hốt hoảng nặn bút viết. Mà viết phải cho hay để khỏi mất mặt ông cụ! Tôi nhớ là mình mới đọc có dăm câu: “Ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang trong nền thi giới nước ta…” tức thì ở dưới “đám nhà lá” đã có tiếng trầm trồ khen hay! Cái đám vờ vĩnh đó chúng khen xúi tôi để lần tới thầy lại tiếp tục gọi tên tôi nữa.
Cuối niên học, thầy Việt văn của chúng tôi hướng dẫn lớp Đệ Tứ B đi du ngoạn Tây Ninh. Chúng tôi lên đầy một xe buýt. Đến Tây Ninh chúng tôi leo núi Bà Đen và thăm thánh thất Cao Đài. Đó là chuyến du ngoạn duy nhất trong đời học sinh của tôi. Ngày hôm ấy theo lịch trình thì xe buýt phải quay lại đón chúng tôi lúc hai giờ trưa để về Sài Gòn nhưng không biết sao đến ba giờ cũng chưa thấy xe tới. Buổi trưa trời hè nóng gay gắt. Tôi mệt đừ ngồi bệt xuống vỉa hè đường dưới bóng mát hiếm hoi của hàng cây sao cao vút . Trên một khúc đường rộng đâm vào tòa thánh thất mấy chục học sinh với đồng phục quần xanh áo trắng đứng ngồi tản mạn từng đám. Bỗng thầy Việt văn lại gần, thầy ngồi xổm nói chuyện với tôi. Chúng tôi nói về sinh hoạt văn nghệ. Hồi đó ông cụ tôi đang chủ trương nguyệt san Văn Hóa Ngày Nay. Trong câu chuyện thầy vụt hỏi tôi : “Em đã đọc Mưa Đêm Cuối Năm chưa?”. Tôi trả lời thầy là tôi chưa đọc. Thầy nói: “Em nên tìm đọc. Võ Phiến viết hay lắm!”. Võ Phiến? Cái tên lạ hoắc!
Mười năm sau, vào mùa hè năm 2013, tôi nhận được e-mail của anh Trần Việt Hải ngỏ ý xin một bài viết của tôi để in trong cuốn sách “Kỷ niệm về GS. Lưu Trung Khảo” sẽ được xuất bản trong dịp mừng thượng thọ thầy Khảo 80 tuổi. Tôi rất hân hạnh được đóng góp một chút trong cuốn sách này vì thầy Khảo là một vị thầy khả kính mà tôi luôn luôn quý trọng. Hơn nữa tôi có một vài kỷ niệm với thầy mà tôi không bao giờ quên. Bình thường kỷ niệm giữa thầy và trò thường chỉ giới hạn trong không gian một mái trường và trong thời gian một niên học. Hết niên học thì thầy trò chia tay, mỗi người mỗi ngả, và hầu như suốt đời không gặp lại nhau. Trường hợp của tôi với thầy Khảo thì khác. Ở Sài Gòn, nhiều năm sau niên học 1957-58, tôi vẫn liên lạc với thầy Khảo, một phần vì tôi là học trò “cưng” của thầy, phần khác vì tôi là con của nhà văn Nhất Linh, người mà thầy Khảo ngưỡng mộ và kính trọng một cách đặc biệt.
Năm 1973, mười lăm năm sau khi chia tay với thầy Khảo lớp Đệ Tứ B, tôi đến nhà thầy ở đường Bùi Thị Xuân, Sài Gòn, để tặng thầy cuốn tiểu thuyết Xóm Cầu Mới của Nhất Linh do tôi vừa xuất bản. Năm ấy tôi tìm lại được bản thảo cuốn tiểu thuyết Xóm Cầu Mới của ông cụ tôi đã bị thất lạc từ 10 năm trước sau khi ông cụ tôi qua đời. Mặc dù cuốn tiểu thuyết này chưa hoàn tất tôi cũng quyết định xuất bản, đánh dấu ngày hoạt động lại của nhà xuất bản Phượng Giang do ông cụ tôi chủ trương từ năm 1952. Trông nom và điều khiển một nhà xuất bản đòi hỏi rất nhiều thì giờ mà lúc bấy giờ tôi không có vì tôi đang bị kẹt trong quân đội, phục vụ tại Tổng cục Chiến tranh Chính Trị với cấp bực Trung úy. Nói chuyện với thầy Khảo tôi được biết thầy đang làm việc ở Bộ Quốc Gia Giáo Dục với chức vụ Chánh Văn Phòng cho ông Thứ trưởng Nguyễn Danh Đàn. Tin này làm loé trong trí tôi một tia hy vọng là thầy Khảo có thể giúp tôi ra khỏi quân đội bằng cách biệt phái tôi về giáo chức….”
Nguyễn Tường Thiết là ai?
Nhà văn Nguyễn Tường Thiết qua những dòng kể chuyện trên, bây giờ hãy nhìn qua đôi chút nét tiểu sử thì ông sinh năm 1940 tại Hà Nội. Con út nhà văn Nhất Linh. Đỗ cử Nhân Khoa Học tại Đại Học Sài Gòn. Trước 1975 là giáo sư dạy Toán Lý Hóa. Ông còn phụ trách nhà xuất bản Phượng Giang năm 1973. Qua Mỹ năm 1975, làm chuyên viên hóa chất tại tiểu bang Washington. Mới về hưu tháng 05/06/2005. Cộng tác với Thế Kỷ 21 từ năm 2002. Tác phẩm đầu tay: Hồi ký Nhất Linh Cha Tôi, xuất bản tháng 7/2006, đúng 100 năm ngày sinh của Nhất Linh.
Đấy là chút nét thôi. Năm 2005 khi tôi sinh hoạt trong nhóm văn Đồng Tâm, nhân dịp sang Dallas và Houston để ra mắt sách về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Một hôm ghé nhà thăm chị Phụng và nhà văn Đào Vũ Anh Hùng tại Dallas – Fort Worth, trong buổi nghỉ ngơi và đàm đạo văn chượng tại tư gia anh chị Phụng Hùng, Anh Hùng nhắc đến tên “Nguyễn Tường Thiết”. Tôi thắc mắc bỗng hỏi anh nhà văn ấy là ai vậy, chưa biết, chưa bao giờ đọc qua cả. Anh Hùng cho ngay một màn giới thiệu chút nét như trên.
(Nguyễn Tường Thiết: http://nguyentuongthiet.free.fr/)
Năm 2013 chúng tôi thực hiện sách “Lưu Trung Khảo, Dưới Mắt Nhìn Của Bạn Bè”, tôi đi xin bài khắp nơi, được biết GS. Nguyễn Tường Thiết có lúc học với GS. Khảo, tôi bèn gõ cửa xin bài. Ông cho bài rất nhanh, tôi đọc bài nhận đồng hương ngay, bởi vì ông du ngoạn nơi quê hương tôi. Ông còn leo núi Bà Đen và ghé thăm Thánh Thất, ăn cơm chay Cao Đài. Thầy Khảo đùa nhận nhau được đấy. Thầy biết tôi người Tây Ninh. Tôi đùa lại: “Quá được Thầy chứ! Ăn cơm chay Cao Đài, mà lại thuộc gia đình danh giá vọng tộc Nhất Linh nữa. ”
Năm lớp 12 khi vào phòng thi tú tài môn Việt văn. Đề thi bảo tôi viết essay về tác phẩm Đoạn Tuyệt. Trước đó đám học trò niên khóa 72 “Mùa hè đỏ lửa” chúng tôi kháo nhau năm nay “Nửa Chừng Xuân” hay “Đoạn Tuyệt”. Tôi cá với chúng bạn “Đoạn Tuyệt” (vì bố tôi đặt tên cho anh cả của tôi là Dũng). Giá như bố đặt tên ấy là Lộc, tôi đổi deal cá độ chứ nhỉ ? Tú tài tôi đỗ cao không khó một phần chắc là nhờ cụ Nhất Linh phò hộ nhắc tuồng truyện kể vậy.
Nhờ cụ Nhất Linh cho đỗ Tú tài, nên chi khi sang Mỹ tôi lục tục theo ngành văn. Tôi đọc những tác phẩm của cụ. Một trong những bài tôi đọc là “Ðỉnh Gió Hú”, của Emily Brontë, Cụ dịch dang dở do cụ mệnh chung vì biến cố chính trị thuở ấy, và ra hải ngoại nhà văn Nguyễn Tường Thiết hoàn tất nó. Theo ông Thiết thì cụ Nhất Linh rất tâm đắc tiểu thuyết này của nhà văn Brontë.
Tác phẩm duy nhất và nổi tiếng của nữ nhà văn người Anh, Emily Brontë, là quyển Wuthering Heights, đại để thì “Đỉnh Gió Hú” là một truyện tình lãng mạn, bi ai vì yêu nhau mà không thành, rồi sinh lòng thù hận, cốt truyện xẩy ra nơi miền đồng hoang Haworth, vùng West Yorkshire, bên Anh quốc, tác phẩm đưa tâm hồn độc giả qua những cảm giác bi thảm vì sự buồn bã, ảm đạm nhất trong loại chuyện hư cấu. Vào cuối thế kỷ 18, phong trào lãng mạn (romanticism) đã tràn vào nước Anh và nền văn học Anh có bộ môn văn chương đáng lưu ý nhất là thi ca, thi phú (poetry). Đề cập đến phong trào lãng mạn này của nước Anh, chắc hẳn phải nói đến những tài danh như Lord Byron, Samuel Taylor Coleridge, Robert Burns, Percy Bysshe Shelley, William Wordsworth, John Keats, William Blake,… Hãy kể thêm nhà văn nữ Jane Austen, người được xem như thuộc trường phái lãng mạn cổ điển, nổi bật qua các tác phẩm Sense and Sensibility (1811), Pride and Prejudice (1813), Mansfield Park (1814) và Emma (1815). Và đến cuối giai đoạn của phong trào lãng mạn này bỗng xuất hiện là những ngòi bút gây sóng gió cho văn chương Anh là những chị em nhà Brontë với các danh tác như Jane Eyre (Kiều Giang), Villette và Wuthering Heights (Đỉnh Gió Hú). Đọc lời giới thiệu sách của nhà văn Nguyễn Tường Thiết khi giới thiệu tác phẩm Wuthering Heights, ông viết:
“Đỉnh Gió Hú là tác phẩm dịch thuật duy nhất của văn hào Nhất Linh. Ông đã dành những giờ rảnh hiếm hoi trong cuộc đời rất bận rộn của ông để dịch cuốn Wuthering Heights này từ nguyên tác Anh ngữ phối hợp với bản Pháp ngữ Les Hauts de Hurle-Vent của dịch giả Frédéric Delebecque. Đầu tiên ông dịch nhan truyện là Mỏm Gió Hú, về sau được sửa thành Đỉnh Gió Hú trước khi đăng một phần trên Nguyệt san Tân Phong(Sài Gòn, Việt Nam) vào năm 1960.”, kể tiếp về bản dịch của thân phụ Nhất Linh, ông viết:
“Trong bản thảo viết tay mà chúng tôi hiện giữ có ghi những mốc thời gian từ lúc khởi dịch cho đến khi kết thúc: 19-12-1952, 21-8-1953, 27-6-1960 và 18-1-1962. Như vậy, sau khi viết xong cuốn tiểu thuyết sau cùng Giòng Sông Thanh Thủy vào năm 1961, Nhất Linh đã cố gắng mà không dịch xong Đỉnh Gió Hú trước khi ông qua đời vào ngày 7-7-1963… Năm 1974 chúng tôi phụ trách nhà xuất bản Phượng Giang có nhờ nhà văn Bảo Sơn dịch tiếp và Đỉnh Gió Hú được xuất bản lần đầu tiên năm 1974 tại Sài Gòn, Việt Nam… Hiện nay vì không có trong tay ấn bản của nhà Phượng Giang để in lại, nên chúng tôi quyết định đánh máy từ bản thảo của Nhất Linh và tự dịch tiếp một số chương cuối để hoàn tất và tái bản cuốn truyện giá trị này. Chúng tôi cố gắng theo sát tinh thần dịch thuật của văn hào Nhất Linh để giữ cho hơi văn toàn tác phẩm được thuần nhất.”
Nhà văn William Somerset Maugham đã chấm tác phẩm Đỉnh Gió Hú là một trong mười cuốn tiểu thuyết mà ông cho là hay nhất của mọi thời đại, (selected by W. Somerset Maugham as one of the 10 greatest novels of all time). Dịch giả Nguyễn Tường Thiết viết tiếp: “Dịch giả Nhất Linh đã ca tụng Đỉnh Gió Hú như là một trong những cuốn truyện hay nhất thế giới. Trong cuốn biên khảo của ông Viết và đọc tiểu thuyết Nhất Linh đã xếp Đỉnh Gió hú vào “những sách hay của nhân loại, đời đời công nhận, có giá trị bền mãi với thời gian, như những cuốn Chiến tranh và Hòa bình, Anna Karenina, Tình nghĩa vợ chồng, Một bản đàn của Tolstoĩ, cuốn Những linh hồn chết của Gogol, cuốn Mấy anh em Karamazov, Những người bị ám ảnh của Dostoievsky…”. Cũng theo cuốn biên khảo đó, Nhất Linh còn viết: “Trong cuốn sách lạ lùng của nữ văn hào Anh quốc Emily Brontë, cuốn Đỉnh Gió Hú, xuất bản năm 1847, tác giả đã để một người vú già kể chuyện lại. Một vú già kể chuyện thì còn làm gì có những chỗ giảng giải về tâm hồn, ý nghĩ nhân vật nữa, tuyệt nhiên không có, tuyệt nhiên vú già chỉ là người đứng ngoài thôi. Thế mà chỉ bằng một giọng kể chuyện rất thường, bằng những chi tiết, vú già đó đã cho người ta thấy tất cả cái sâu xa của tâm hồn người trong truyện.”
Bài viết này tôi ghi nhận những bài văn của nhà văn Nguyễn Tường Thiết trong một cung cách hay qua những ý tưởng nào đó mà tôi cảm nhận sự gần gũi với ông từ chuyện Tây Ninh và Thầy Khảo, sang chuyện căn nhà 39 Chợ An Đông có tiệm cơm Siu Siu, vốn gần gũi 2 inches với dạ dầy của tôi. Rồi chuyên Bãi Ô Quắn, Pointe au Vent với nàng Gabrielle và chàng Paul, une histoire d’amour légère est racontée, tôi thắc mắc nếu Paul đươc chuyển ngữ là Thiết tha…. và sau nữa là chuyện tình bi ai về tác phẩm Wuthering Heights của Emily Brontë đã nêu, mà nhà văn Nhất Linh và nhà văn Nguyễn Tường Thiết hỗn hợp hoàn thành dịch phẩm này.
Bài viết này khá dài vì tôi cố ý dùng nhiều trích đoạn văn và ý tưởng của nhà văn Nguyễn Tường Thiết để người đọc đọc thẳng, thay vì phải chuyển tham khảo link từ sách sang hệ thống www như đọc văn online, như vậy sẽ phức tạp quá. Những con chữ đã nhiều, tôi xin được dừng con chuột (mouse) ở đây. Văn và kỷ niệm mãi mãi trong tâm hồn của người viết bài, nơi có Tây Ninh, Vũng Tàu, Khu An Đông có tiệm Cơm Gà Siu Siu, và Đại học Cal State Nothridge, nơi môn văn học có Emily Brontë và Wuthering Heights. Và trong trường hợp này, nhà văn Nguyễn Tường Thiết đã cho tôi những áng văn tưới mát tâm tư. Million de mercis. Chấm hết.
Việt Hải Los Angeles
-
Thử bàn về khía cạnh Nghệ Thuật qua bài của Ngọc Cường.
“Cali phố xá đông người Bolsa Brookhust một trời sao quên”
Hình như đất Cali vốn mở ngõ cho nhiều thân hữu, bạn bè đến đây rồi ít nhiêu họ đã bỏ quên con tim đầy ắp kỷ niệm với chốn đất thiêng Bolsa, bằng chứng khi đọc văn của tác giả Hệ Luy tôi yên tâm ý nghĩ mình đúng. Mời xem link bài tham khảo đính kèm.
Bài viết “Đôi dòng về nghệ thuật” của nhà văn Ngọc Cường đã cho tôi nguồn cảm hứng dâng ngòi bút góp ý cùng anh. Trong tác phẩm Bâng Khuâng mới nhất của anh, sau văn tập Hệ Luy, nơi trang 1 giáo đầu là đề tài mang tính bàn luận, những trang giấy mở hàng bắt mắt tôi nhiều lắm. Ngọc Cường viết:“Một điều căn bản khi nói đến nghệ thuật, là xem nó là gì, thường nghệ thuật gồm 6 bộ môn chính như văn học, múa, kiến trúc, hội họa, sân khấu và âm nhạc, và gần đây thêm nghệ thuật thứ 7: ngành điện ảnh . Theo các cuốn từ điển thông dụng, từ nghệ thuật được định nghĩa rất vắn tắt và giản dị là … thực hiện hay diễn tả vẻ đẹp, thực tế … là sản phẩm trí thức và không là khoa học…”
Trong 7 đề muc của phạm vi nghệ thuật mà anh liệt kê bên trên thì 2 mục văn học và hội họa đươc tác giả ghi nhận qua sách mới Bâng Khuâng. Đây cũng là 2 tiêu đề tôi xin chú trọng trong bài này. Khi nói về nghệ thuật (art) ta sẽ hiểu nó ra sao. Và nghệ thuật thường đi song hành với vẻ đẹp (beauty), trong cung cách nào đó ta cho là nét đẹp của mỹ thuật. Thế thì nghệ thuật là gì ?
Nghệ thuật theo quan điểm của triết gia J.J. Rousseau (1712-1778) cho là “Nghệ thuật không phải là sự mô tả hay sao chép thế giới ta nhìn thấy, mà là cả một sự trào dâng của nguồn cảm xúc và của niềm đam mê”. Những tư tưởng khác như họa sĩ trường phái lập thể Pablo Picasso ghi nhận: “Nghệ thuật là tất cả mọi thứ bạn có thể tưởng tượng ra là có thật”. Còn theo họa sĩ Edgar Degas thuộc trường phái ấn tượng đồng thời với những vị như Vincent Van Gogh và Edouard Manet thì cho là “Nghệ thuật không phải là những gì bạn nhìn thấy, mà là những gì bạn làm cho người khác thấy được”. Với thi sĩ Oscar Wilde cho là: “Nghệ thuật là điều nghiêm túc duy nhất trên thế giới. Và nghệ sĩ là người duy nhất không bao giờ nghiêm túc”. Trong quan điểm của nhạc sĩ Amy Lowe suy nghĩ như: “Nghệ thuật là ước muốn của con người nói lên bản ngã của mình, ghi lại những phản ứng của ý nghĩ mình với thế giới xung quanh.”
Riêng với danh họa Ý Agostino Carracci thuộc thời kỳ phục hưng của thế kỷ 16 nhìn vấn đề nghệ thuật là: “Một cái bóng mờ của những gì người nghệ sĩ đang nghĩ về một cái góc nhỏ qua những gì ông ta giữ bên trong tâm hồn”. Chung quy thì quan điểm nghệ thuật xuất phát từ sự suy nghĩ từ tâm hồn khiến nảy sinh ra tác phẩm.
Nói đến Ngọc Cường hẳn nhiên không thể bỏ qua phạm trù chữ nghĩa hay sách vở, tổng quát hơn thì là khía cạnh văn học. Anh viết về nét văn hóa quanh chữ nghĩa như sau:
“Sách được bầy bán nhiều quá, đầy trên kệ, còn la liệt trên bàn nữa.Không biết lựa chọn cuốn nào, dở trang đầu, đọc lướt qua mục “Lời Tựa”, tôi nhận thấy ở nhiều tác giả (thường là họ mới có tác phẩm đầu tay), hay nói về lý do cầm bút. Họ giải thích “tôi viết để mà viết …” , hoặc“tôi không dám tự nhận là một nhà văn …”Những câu tâm sự như vậy trở nên như một thông lệ ở phần đầu cuốn sách. Có thể do sự khiêm nhường hay dè dặt của họ, như để “rào trước đón sau”, phòng trường hợp có bị chê thì… vì tôi đâu phải một nhà văn? …Điều này theo tôi đáng tiếc, vì lẽ ít ra họ phải có chút tự tin, và cần được khích lệ vì một khi tác phẩm được xuất bản, hiển nhiên họ là một nhà văn ( theo định nghĩa), không nên tự phủ nhận một tất yếu như vậy ; Và một khi bỏ công ra viết là cố gắng hơn nhiều người, là điều đáng được khuyến khích, nếu không nên được khen thưởng? Người cầm bút không nên có mặc cảm. Mong độc giả rộng lượng, lên tiếng khuyến khích. Còn nếu nói viết chỉ để viết thì cũng không trọn nghĩa, vì một khi đã ra mắt, sách là để người khác đọc , nếu không , nên bỏ ở xó nhà chỉ là đống giấy lộn . J. P. Sartre trong bài tiểu luận“Văn Học Là Gì” đã khẳng định là một tác giả chỉ thành một nhà văn khi có người đọc. Thật vậy, tác giả nào chả mong có nhiều độc giả, còn nếu không thì đừng mang tác phẩm ra xuất bản – Sách bầy ra tất sẽ có người mua đọc. Và như vậy , động lực cầm bút (của một nhà văn ) , đầu tiên có thể chỉ là viết để mà viết, nhưng thật ra nó đã chứa đựng tiềm ẩn nhiều nguyên nhân : giải bày một tâm sự, chia sẻ một kỷ niệm .v.v…, và lý do khác như muốn thỏa mãn tự ái, kiếm chút danh vị… Nên, không thể nói : viết chỉ để viết đơn thuần, mà phải là viết cho người khác thưởng thức. Tất nhiên, cũng có nhiều cuốn hồi ký chỉ nhằm vào số nhóm độc giả chọn lọc nào đó …Một tác phẩm không xuất bản, để quên vùi một xó, không ai biết thì vốn không là một tác phẩm nghệ thuật. Theo Tolstoy: sự thông tin, giao cảm giữa tác giả và người đón nhận tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Nhật ký Ann Frank nếu không được ông bố cô bé đem ra in sau khi cô qua đời, thì cũng sẽ chỉ là một sản phẩm riêng tư, nó trở thành tác phẩm nghệ thuật khi được chia sẻ, có người thưởng thức. Sở dĩ nêu lên khía cạnh này, vì tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của độc giả. Theo tôi, dù tác giả có công sáng tạo, nhưng chính người đọc mới là sở hữu chủ của tác phẩm, ít ra thì đó là dưới quan điểm kinh tế của một cuốn sách. Còn về giá trị, hay hoặc dở là do chủ quan thưởng thức của người đọc quyết định. Một khi cuốn sách được xuất bản, nhiệm vụ nhà văn chấm dứt, như đứa con (tinh thần) đã trưởng thành.”
Đoản văn trên dùng ý tưởng của JP Sartre. Thật vậy, Jean Paul Sartre viết trong tác phẩm “Văn học là gì?” (Qu’est-ce que la littérature ?) về vai trò của văn học hay của nhà văn cần hai yếu tố: Tự Do và Dấn Thân, đươc tự do viết, dấn thân yêu và trung thành với ngòi bút, đam mê với văn chương.
Văn học vốn được hiểu như một loại hình thức sáng tạo để nói lên những vấn đề của đời sống xã hội và con người. Cách thức sáng tác của văn học có thể được tạo thành do yếu tố thực sự hay hư cấu, cách thức trình bày nội dung của đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ. Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh về vẻ đẹp, hoặc tính thẩm mỹ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ. Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng tác phẩm, sự hình thành kết quả qua sự biểu hiện cho đời sống thăng hoa hơn. Vì vậy văn học nói chung gồm có những thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thi ca, kịch bản, bình luận biên khảo.
Chủ điểm quan trọng như nhà văn Ngọc Cường đề cập điều kiện để được gọi là nhà văn hay để được gọi là tác phẩm là vẫn theo Sartre thì tự do tư tưởng, hay như bên trên sự tự do trong văn học là những khái niệm chính của nhà văn, nhà văn phải có hai yếu tố tự do và dấn thân (cam kết, éléments fondamentaux comme la liberté et de l’engagement) cho mục tiêu sáng tạo của nhà văn. Trong sự tự do sáng tạo nhà văn có tinh thần chấp thuận sự lựa chọn và phải ý thức trách nhiệm đối với sự lựa chọn đó. Đây là ý nghĩa của việc chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Tự do tức là dấn thân viết, hay dấn thân trong tự do viết,.. Và nếu nhà văn là người có tự do khi sáng tác, thì người đọc cũng phải là người tự do khi đọc tác phẩm. Và nhà văn là người tự do nói với những người tự do, mà phải có chính đề tự do cần thiết mà thôi. Thế thì tác phẩm nghệ thuật là do giá trị bởi nó là tiếng gọi của nhà văn. Ngọc Cường nói đến yếu tố phê bình văn phẩm. Tác giả rào đón trong bút pháp chân chất, khiêm nhu theo ý tôi…
“Thường khi cầm bút viết về một đề tài gì, tác giả nếu không qua sự tìm tòi, nghiên cứu thì cũng phải được đào tạo chuyên môn về đề tài đó. Tác giả hẳn có đủ hiểu biết, nắm vững những gì viết ra. Đó là điều kiện tối thiểu, để tôn trọng chính mình và cả độc giả. Độc giả không dễ bị lừa: Bởi qua đôi giòng đầu sách, có thể họ tin vào tác giả mà không cần suy xét sâu xa; nhưng khi càng đọc họ càng thêm khám phá ra những điều sai hay phi lý của toàn bài… Như vậy điều kiện tiên khởi của một tác giả là biết về điều mình viết .
Xét riêng về cá nhân, tôi đang viết về đề tài văn chương, cống hiến và mua vui quý vị mà tôi chẳng có khả năng chuyên môn gì về văn học nghệ thuật cả! Tại sao tôi lại dám liều mạng, cả gan đến vậy? Câu trả lời thực sự nằm trong nội dung bài này. Hy vọng rằng khi đọc xong lời bạt , quý vị có được sự thông cảm … và đồng ý với tôi là : riêng nghệ thuật, điều kiện đó là một ngoại lệ , ai cũng có thẩm quyền nêu ý kiến, không riêng gì các nhà nghiên cứu hay văn nghệ sĩ mà thôi.”
Đọc văn Ngọc Cường như trên, tôi suy nghĩ về tư tưởng sau để góp lời với anh. Lão Tử nói với nhà văn Ngọc Cường rằng: “Bởi vì một người tin vào chính mình, một người không cố gắng thuyết phục dược người khác. Bởi vì một người hạnh phúc với chính mình, một người không cần người khác. Bởi vì một người chấp nhận ra chính mình, cả thế giới chấp nhận anh hoặc cô ấy nhá. “, Lão Tử ngôn (“Because one believes in oneself, one doesn’t try to convince others. Because one is content with oneself, one doesn’t need others’ approval. Because one accepts oneself, the whole world accepts him or her.”, Lao Tzu).
Nhà văn Katherine Mansfield góp ý với nhà văn Ngọc Cường: “Hãy liều mạng đi nhé! Đừng quan tâm đến ý kiến của những ai khác,… Hãy làm điều khó nhất trên đời này vì ta. Hãy hành động vì chính mình. Hãy đối mặt với sự thật.” (Risk anything! Care no more for the opinion of others … Do the hardest thing on earth for you. Act for yourself. Face the truth.)
Nhà văn kiêm bác sĩ giải phẫu mắt (eye surgeon) Dr. Roopleen cho lời thật lòng đến nhà văn Ngọc Cường: “Nếu bạn có một giấc mơ, đừng chỉ ngồi đó mà mơ. Hãy gồng hết can đảm để tin chắc rằng bạn có thể thành công và hãy vượt qua bất kỳ trở ngại nào để biến nó thành hiện thực!” (If you have a dream, don’t just sit there. Gather courage to believe that you can succeed and leave no stone unturned to make it a reality!), Dr. Roopleen.
Thêm nữa nhé. Vị Tổng thống thứ 26 của nước Mỹ Theodore Roosevelt cho ý kiến đến với tác giả Bâng Khuâng: “Hãy tin tưởng rằng bạn có thể dư sức qua cầu và bạn đang ở giữa chừng rồi.” (Believe you can and you’re halfway there.), Theodore Roosevelt.
Trong tác phẩm Bâng Khuâng tác giả nhà văn Ngọc Cường dùng cả hai lối văn độc thoại (monologue) như bài “Đôi dòng về nghệ thuật”, và lối văn đối thoai (dialogue), anh dùng khá chuẩn và thành công, ví dụ nhưng trong các bài: Yêu và Hận, Long và Thủy, Dưới Ánh Đèm Màu, Anh em cột chèo,..
Ngọc Cường nói về văn học, viết văn chương, rồi tản mạn bàn về lý luận và phê bình qua bài tham luân về nghệ thuật. Anh nói văn học dùng phương pháp khoa học nghiên cứu văn chương, trong khi văn chương thuần túy là sáng tạo do diễn đạt xúc cảm, như định nghĩa của nó. Anh dùng lối hành văn đàm thoại. Khi vận dụng lý thuyết đối thoại, tức theo lý thuyết văn học của Bakhtin. Lý thuyết đối thoại theo Mikhail Bakhtin và những nhà nghiên cứu văn học hậu nhân chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp như Julia Kristeva, Tzvetan Todorov, Roland Bathes, Michel Foucault, Jacques Derrida, … là đã dùng điểm tựa vào lý thuyết đối thoại, để rồi sau này đối thoại thực sự trở thành nguyên lý chi phối toàn bộ văn học ở các nơi, trong đó có chúng ta. Hành văn lối tiểu thuyết là thể loại in đậm dấu ấn của nguyên lý này.
Nguyên lý của lý thuyết đối thoại Mikhail Bakhtin xuất phát từ những đặc điểm thi pháp học của thể loại tiểu thuyết. Ngoài ra, trong quá trình phát triển lọai văn này, các nhà phê bình văn học có dịp đào sâu nó trong cung cách sử dụng của các nhà văn hậu bối, cũng để vận dụng lý thuyết Bakhtin qua các trường học, các lớp hậu hiện đại để nghiên cứu về lịch sử văn học.
Đối thoại là lối văn tiêu biểu những phong cách tân văn kể từ hậu phong trào tiểu thuyết Dostoievski. Vượt qua phạm vi tác giả tiên khởi Dostoievski, văn chương đã đổi mới. Trong ngôn ngữ đối thoại vốn mang tính đa thanh, đa âm giữa các nhân vật trong truyện, điều Bakhtin chú trọng nhất là lời nói. Chính lời nói là đặc trưng tạo nên tính đối thoại rõ nét nhất của tiểu thuyết. Tác phẩm dược tạo ra do công trình sáng tạo văn chương với tính đa thanh, đối thoại của nó diễn ra trong nội dung tư tưởng trong văn bản nói chung ở thể loại thơ (thi ca), hay truyện ngắn ví dụ ngày xưa của nhóm Tự Lực Văn Đoàn và nhiều tác giả khác, hoặc tiểu thuyết qua các phương diện: ngôn ngữ, giọng điệu, cách nhìn vào bố cục văn phong, tương ứng về thể loại văn chương. Ngày nay khi nhìn lại phong trào tiểu thuyết Dostoievski, hay lý thuyết đối thoại Bakhtin là cả một sự tiến bộ cho thế giới văn học nói chung.
Nói về trường phái ngôn ngữ học xuyên qua lý thuyết Bakhtin được cấu trúc tân tiến như hiện nay, song song ta xét tiếp về văn học do Roland Barthes nói về văn bản, khi ta đi từ tác phẩm văn học sang văn bản (literal texts, literal works hay textes littéraux, œuvres littérales) có thể nói Barthes là người thành công nhất trong việc thực hiện nhiệm vụ chính yếu nói trên. Xem xét lại khái niệm liên văn bản của nhà vặn Julia Kristeva, chính nhờ Barthes đã tạo cho nó một cái tên gọi mới ngắn gọn và mạnh mẽ hơn, đó là “Văn Bản”, mà ý muốn của Barthes cần nhấn mạnh về mặt thuật ngữ. Từ ngữ “văn bản” có nghĩa là “tấm dệt”, “mạng lưới”, “tấm vải”, và nếu vào những năm 1970, nguyên mẫu “văn bản” của Barthes thường là “Thiên Hà của Gutenberg” (Gutenberg’s Galaxy), hoặc dưới tên “Thư viện của Borges” (Borges’s Library) thì ngày nay, hình ảnh thích hợp nhất với nó là “siêu văn bản” qua hình thức các máy vi tính hay điện toán chứa dữ liệu (datafiles) như một “tấm dệt”, hay là “mạng lưới toàn cầu” (world wide web) truyền đi toàn thế giới”.
Xem tiếp Ngọc Cường qua đoạn kế…
“Văn học bao gồm cả văn chương nhưng cộng thêm về lý luận và phê bình.Có thể nói văn học dùng phương pháp khoa học nghiên cứu văn chương, trong khi văn chương thuần túy là sáng tạo do diễn đạt xúc cảm, như định nghĩa của nó. Văn chương (thơ và văn xuôi) là nghệ thuật dùng chữ để diễn tả tư tưởng và cảm xúc.Như vậy, trước khi nói đến văn chương, ta thử tìm hiểu rõ thêm xem nghệ thuật là gì?
Từ lâu, cách đây trên hai ngàn năm, Plato đã tìm về ý nghĩa của nghệ thuật; và từ đó đến nay, nhiều người cũng đã làm công việc này nhưng vẫn chưa ai hoàn thành vì nó phức tạp và khó khăn cho định nghĩa nghệ thuật. Văn hào Tolstoy nước Nga đã viết một cuốn sách nhỏ (Nghệ Thuật Là Gì, Tolstoy,1896), chỉ nhằm định nghĩa hai từ nghệ thuật! Dù vậy, định nghĩa của Tolstoy vẫn chưa toàn hảo,chính xác. Một tiêu chuẩn Tolstoy nêu ra (ngoài rất nhiều chi tiết khác) là: nghệ thuật không phải để giải trí, mua vui mà là phương tiện giao cảm giữa tác giả và người khác… Điều này …có vẻ trái với ý của cụ Nguyễn Du nước ta , khi cụ viết:
“Lời quê chắp nhặt dông dài , Mua vui cũng đươc một vài trống canh.”(câu kết của Truyện Kiều)”.
Ngọc Cường ghi nhận về văn học hay văn chương qua lăng kính lý luận và phê bình. Khi nói về ý niệm nghệ thuật ta có thể xét qua quan điểm của triết gia Kant cho là “Nghệ thuật vị nghệ thuật” (L’art pour L’art, Art for Art’s Sake, French slogan from the early 19th century, “l’art pour l’art”, and expresses a philosophy that the intrinsic value of art, and the only “true” art, is divorced from any didactic, moral, or utilitarian function), còn được gọi là nghệ thuật thuần túy. Đây là một nguyên lý mỹ học duy tâm, chủ trương nghệ thuật độc lập với đời sống xã hội và chính trị, khước từ sứ mệnh của nghệ sĩ trong sứ mạng đấu tranh xã hội, thường dùng nền tảng lý luận cho các trường phái và khuynh hướng văn học có thái độ bất hòa với những vấn đề hiện thực, tìm lối thoát qua hình thức chủ nghĩa (Formalism). Lý luận này bắt nguồn từ những luận điểm mỹ học của triết gia Immanuel Kant (1724 – 1804), nhà triết học duy tâm cổ điển Đức, cho rằng cái đẹp của nghệ thuật là tự nhiên phát sinh ra, không thể tính toán, vụ lợi trong bất cứ mục tiêu nào khác ngoài chính bản thân nghệ thuật mà thôi. Đến thế kỷ XIX, nhiều nhà lý luận, nhà văn, nhà thơ ở Đức và Pháp đã phát triển tư tưởng này nhằm tách rời văn học nghệ thuật ra khỏi đời sống xã hội, phủ nhận ý nghĩa nhận thức và giáo dục tư tưởng, phủ nhận sự phụ thuộc của nghệ thuật vào những yêu cầu thực tiễn của thời đại. Và từ đó, trước sau sẽ dẫn đến chỗ khẳng định nghệ sĩ phải đươc “tự do” khai phá, hay sáng tác, không có trách nhiệm với xã hội, tức là đến chủ nghĩa cực đoan. Đó là mầm mống của các trường phái văn học ở cuối thế kỷ XX như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa đa đa (Multiplism), chủ nghĩa số nhiều (Pluralism), chủ nghĩa vị lai (Futurism, Prospectivism),… Ta thấy có quan diểm của JP Sartre (Existentialism), Nhất Linh (Tự Lực Văn Đoàn) trong đề tài.
Quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” hay L’art pour L’art (Art for Art’s Sake) tương phản với chủ trương của trường phái “Sự tự chủ của nghệ thuật” (Sự tự chế của nghệ thuật, hay Pseudo-Autonomy of Art, Its frame distinguishes art from non-art, provides it with the appearance of autonomy and gives it entry into history. The frame changes the context of art. It removes the painting from the viewer’s world. The space between framed art and viewer is discontinuous). Vì những mâu thuẫn về sự suy nghĩ hay chủ trương nên có dạo lịch sử ghi nhận cả hai hê phái Nghệ thuật vị nhân sinh và Nghệ thuật vị nghệ thuật. Người viết bài hơi ba phải, vì đứng bên nào thấy cũng phải cả, tùy trường hợp nhé. Nếu duy tâm lãng mạn thì vị nghệ thuật. Nếu đương đầu với việc chính trị hay xã hội ta suy nghĩ mất ngủ luôn nhé. Thực ra thì sự phát triển cái nhìn duy tâm về nghệ thuật của những người chủ trương Nghệ thuật vị Nghệ thuật, đã đề cao nghệ thuật thuần túy đều công khai hoặc kín đáo đối với thực trạng xã hội và chính trị theo một cung cách nào đó. Khó nói lắm, uốn lưỡi 7 lần theo nhà hiền triết Socrates mà vẫn bâng khuâng tơ trời như ông Hệ Lụy vậy. Xem tiếp Ngọc Cường ở đoạn cuối qua những ghi nhận về nghệ thuật…
“Nói chung, nghệ thuật phản ảnh cuộc sống nên cũng mơ hồ, phức tạp như thế; và giá trị của nghệ thuật mang tính chủ quan, không thể chỉ do các nhà phê bình đơn thuần cho là hay hoặc dở, đẹp hay xấu, mà chỉ có nhận định chủ quan của người thưởng ngoạn quyết định. Nếu khai triển thêm ra, nghệ thuật là sáng tạo có tính hấp dẫn: khen chê là do quyết định của người nhận, độc giả, thính giả hay người xem tranh …Trước kia, khi mới được khai sanh,trường phái họa “ấn tượng”ở Pháp đã bị chê bai gắt gao, ngay cả danh hiệu của họ ( impressionism, môn phái ấn tượng ) xuất phát từ bức tranh“Ấn tượng, một buổi bình minh” của Claude Monet bị nhà phê bình Louis Leroy gắn cho cái tên “Bọn Ấn Tượng” một cách mỉa mai qua bài đăng trên báo Le Charivari. Không ngờ từ đó Ấn Tượng lại trở thành môn phái quan trọng trong nền hội họa: và gần đây, ở nước ta thấy xuất hiện một văn phái, họ viết rất hấp dẫn, dùng nhiều từ khó hiểu, ra vẻ cao siêu, đầy triết lý mà độc giả bình thường không hiểu nổi. Xin thí dụ một đoạn như sau “… tiểu thuyết Việt-Nam hiện nay, không phải là xác nhận một trở thành đã hoàn tất, mà là theo dõi những chặng đường của một vận động đang tuần tự hình thành. Vận động đó là một vận động của ý thức, một vận động của nghệ thuật…” (Mai Thảo,1965): Những luận điểm như trên khó hiểu và dễ làm lẫn lộn, hoang mang người đọc. Họ tự nhận là nhóm sáng tạo, gay gắt với trào lưu văn nghệ tiền chiến, nhưng hình như họ muốn đồng nghĩa khó hiểu với xâu sắc, tối nghĩa với triết lý. Sự thật, chuyện bình thường và giản dị trên đời như tình yêu, gia đình, vui, buồn … là những vấn đề sâu xa nhất của con người. Nhóm sáng tạo là môn phái lập dị thì đúng hơn (Lê Huy Oanh, Về thơ tự do, 195). Dù sao, chỉ có thời gian mới là quan tòa, mới có lời phê phán cuối cùng cho nghệ thuật: Tác phẩm có giá trị khi nó vượt được thử thách của thời gian và không gian (Nhất Linh,Viết và đọc tiểu thuyết,1958).
Nếu đồng ý như vậy, ta có thể nói rằng không có tác phẩm nào tuyệt hảo cả: Nói cho cùng thì dù chỉ được một độc giả yêu thích cũng đem niềm vui cho tác giả. Nghệ thuật rõ rệt là chủ quan và phi thời trang nhưng lại mang tính dân chủ (số đông quyết định giá trị). Như trường hợp của Van Gogh, cả một đời vẽ tranh (rất nghèo lại vắn số, chết sớm) chỉ bán lèo tèo vài bức( dù người em là môi giới hội họa đã cố gắng giúp anh). Thế mà ngày nay, bức“Hoa Diên Vỹ”( Irises,1889) được bán với giá mấy chục triệu đô! Cùng số phận hẩm hiu với Van Gogh là nữ văn hào Emily Bronte, tác giả cuốn “Đỉnh Gió Hú”( Wuthering Heights,1847) khi xuất bản đã không được độc giả hưởng ứng mà phải chờ đến cả trăm năm sau mới có lời khen. Ngày nay, tác phẩm duy nhất này của bà trở thành một tuyệt tác của thế giới, được mọi người, mọi nơi công nhận! Sự kiện tương tự sẽ là niềm an ủi cho nhiều nghệ sĩ không thành công ngày hôm nay (trong đó có tôi, nói một cách tự an ủi),và hy vọng rằng có thể sau này, vài chục năm nữa, sẽ có người yêu thích? Phải chăng con người bao giờ cũng bám víu và sống với chút hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn hôm nay? Thẩm mỹ , hay cái đẹp, – đối tượng chính của nghệ thuật- hiển nhiên là do nhận định chủ quan mỗi người, nhưng liệu ta có thể tìm thấy một tiêu chuẩn, hay mẫu số chung, dựa vào đó, mọi người cùng đồng ý hoặc chấp nhận, dù họ ở đâu và sống ở bất cứ thời đại nào? Lúc trước, khi xem hình ảnh bên Phi Châu chụp mọi cà răng căng tai, ít ai coi đó là thẩm mỹ, mà còn cho là man di mọi, nhưng đâu ngờ, gần đây, ngay ở Bolsa bên Mỹ, lại xuất hiện người đi căng tai, chà răng và đeo vòng ở lưỡi! Theo tôi, vẻ đẹp (có lẽ) phát xuất từ ấn tượng người tiền sử cảm nhận qua thiên nhiên (tranh vẽ, khắc trên đá, mô tả thú vật ở hang Lascaux, Pháp, khoảng 20,000 ngàn năm trước) và sau này, khi lòai người đã hợp quần thành xã hội), thì từ tình yêu , trước tiên là tình mẫu tử , đôi lứa , vợ chồng …rồi nâng cao, biến dạng trở thành lòng trắc ẩn, thương yêu đồng loại. Không khác gì các giống vật hợp quần (con kiến, loài ong…) để duy trì giống nòi, con người phải hy sinh ; và khi sống cho tha nhân, cảm thấy thỏa mãn vì đó là bản tánh chân thật của mình (Nhân chi sơ tính bản thiện, Khổng Tử, 500 năm trước Công Nguyên). Thâm tâm con người, không một ai muốn gây đau đớn sầu khổ cho người khác. Phải chăng, tội ác do hoàn cảnh gây ra, vì mà có ai thực sự làm chủ được vận mệnh của mình đâu, nếu như vậy: ý chí tự do (free-will) chỉ là một ảo tưởng, như người ta thường ví: cuộc đời là một vở kịch hay canh bạc, trong đó, con người đóng một vai hay tùy thuộc vào may mắn! Vậy tôi là ai?
Nếu một tác phẩm là đứa con tinh thần của người sáng tác, thì sự liên hệ giữa tác giả và tác phẩm rất mật thiết, như chuyện của một gia đình: Vì lẽ đó,muốn hiểu thấu đáo bức tranh, hoặc cuốn tiểu thuyết, sự hiểu biết về tác giả giúp ta tận hưởng rõ hơn tác phẩm của họ. Nhưng ta cũng tránh có quan điểm quá khích: như ghét tác giả (vì lý do gì đó, chính trị chẳng hạn) rồi vơ đũa chê tác phẩm của họ luôn! Ngược lại, cũng đừng tôn thờ tác giả như là một fan của họ (nguyên ngữ từ fanatic ra, nghĩa quá khích).
Nghệ thuật không là bản sao chép thiên nhiên mà là cách diễn tả cuộc đời qua nhận thức của tác giả- Phải chăng con người nhìn mọi thứ trên đời qua nhận thức chủ quan của mình- Nhưng chính nhờ đó mà tác phẩm trở nên sống động, như được tái sinh, có cuộc sống thứ hai, vì vậy đã đem lại sự thích thú cho người thưởng ngoạn: thu hút họ, làm như chính họ được sống như một nhân vật trong truyện dù câu chuyện đã xẩy ra cả trăm năm trước; hay chính mình, như họa sĩ, đang đứng trước cảnh của bức tranh, dù ở một nơi ta chưa hề đặt chân tới. Đó là sự kỳ diệu của nghệ thuật,chứ không phải vấn đề triết lý cao siêu. Câu hỏi nên đặt ra, không phải là“con người,cuộc sống là gì?”mà trở thành“Cái gì có thật trên cõi đời này?”(Rainer Rilke,1912 ); và đối với người nghệ sĩ thì cảm giác phải là thật (Bạn cứ thử đá chân vào hòn đá thì biết!). Để kết luận, có thể nói, nghệ thuật có rất nhiều mục đích, tùy quan niệm của tác giả: như giúp ta trở nên cao thượng, tận hưởng cuộc sống hơn (như nhận xét của Thạch Lam, Nhất Linh), giải bầy vấn đề triêt lý (như Sartre, Camus) .v.v… nhưng theo tôi, tất cả những mục đích ấy chỉ là phụ, đến sau, không chủ tâm, nhưng xuất hiện như mấy phản ứng phụ của thuốc tây (side effect) mà có thể lại mãnh liệt hơn cả mục đích chính là mua vui dù là một thú đau thương! Nghệ thuật phải có tính hấp dẫn trước nhất, để giải trí thiên hạ (Nguyễn Du), một món ăn tinh thần cho công chúng. Nếu không có tính hấp dẫn thì nghệ thuật không tồn tại và sẽ không truyền đạt các mục đích khác nữa được. Phải chăng,với chủ quan và hiểu biết hạn hẹp,tôi đã vừa liều lĩnh trả lời về điều kiện tối thiểu của người viết nêu ra ở phần đầu: đó là ai cũng có thẩm quyền bàn về nghề thuật cả ?
Xin cảm tạ quý độc giả. Ngọc Cường.”
*
Sau cùng nhà văn Ngọc Cường còn có thú thưởng ngoạn bộ môn hội họa. Ở bìa sách Bâng Khuâng và phần Phu lục anh trình bày bức họa nổi danh “La Nuit Etoilée aux Carrières de Lumières” (à Saint-Remy-de-Provence) của họa sĩ Van Gogh. Với những vòng xoáy quyến rũ, bố cục tranh cho vẻ say đắm và màu sắc đầy mê hoặc, Đêm đầy sao (“La Nuit Etoilée”) của Vincent van Gogh là một trong những tác phẩm nghệ thuật được yêu thích và nổi tiếng nhất thế giới. Trong sự sáng tạo và thành công cuối cùng này như nội dung câu truyện có nhiều điều lý thú về Đêm đầy sao này mà khách thưởng ngoạn có thể biết. Ôn sơ qua về tiểu sử của Van Gogh, ông sinh ngày 30 tháng 3 năm 1853 – 29 tháng 7 năm 1890, là một danh họa Hòa Lan thuộc trường phái hậu ấn tượng (Post-Impressionism). Nhiều bức tranh của ông nằm trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất và giá đắt nhất trên thế giới. Van Gogh là nghệ sĩ tiên phong của trường phái biểu hiện (Expressionism) và có ảnh hưởng rất lớn tới mỹ thuật hiện đại, đặc biệt là tới trường phái dã thú (Fauvism) và trường phái biểu hiện tại Đức. Tranh La Nuit Etoilée mô tả quan điểm của Van Gogh từ một trại tị nạn. Sau khi trải qua một lần ông bị suy sụp tinh thần vào mùa đông năm 1888, Van Gogh đã tự mình đến nhà tị nạn Saint-Paul-de-Mausole gần Saint-Rémy-de-Provence. Quan điểm nghệ thuật đã trở thành nền tảng của tác phẩm mang tính biểu tượng nhất của ông. Từ cảm hứng của mình, van Gogh đã viết trong một trong nhiều lá thư của mình cho em trai Theo, “Sáng nay anh thấy đất nước mình từ cửa sổ rất lâu trước khi mặt trời mọc, không có gì ngoài ngôi sao buổi sáng, trông thật to lớn.” Các nhà sử học nghệ thuật đã xác định rằng Van Gogh có một số quyền tự do với góc nhìn từ cửa sổ phòng ngủ tầng hai của ông, một lý thuyết được hỗ trợ bởi thực tế là studio vẽ mà ông vẽ ở tầng một của tòa nhà. Ông viết: “Qua cửa sổ có rào chắn bằng sắt. Tôi có thể thấy một quảng trường lúa mì kèm theo trên đó, vào buổi sáng, tôi nhìn thấy mặt trời mọc trong tất cả nét vinh quang của nó.”
Ngôi làng từ hướng cửa sổ của mình, Van Gogh sẽ không thể nhìn thấy vùng Saint-Rémy. Tuy nhiên, các nhà sử học nghệ thuật có những nhận xét khác nhau về việc ngôi làng được trình bày trong bức The Starry Night được lấy từ một trong những bản phác thảo than của thị trấn Pháp hay nếu nó thực sự thì có thể được lấy cảm hứng từ quê hương Hòa Lan. Đêm đầy sao cho thấy tỷ lệ tử vong, khi nhìn các ngọn tháp tối ở phía trước là cây bách, loại cây thường liên quan đến nghĩa trang và cái chết. Mối liên hệ này mang một ý nghĩa đặc biệt đối với câu nói của Van Gogh này, “Nhìn những ngôi sao luôn khiến tôi mơ ước. Tại sao, tôi tự hỏi mình, không nên cho những chấm sáng trên bầu trời có thể thêm vào như những chấm đen trên bản đồ nước Pháp? Ngay khi chúng tôi đi tàu để đến Tarascon hoặc Rouen, chúng tôi sẽ chết để đến được một ngôi sao.”, ông viết. Tranh Đêm đầy sao nổi tiếng thế giới được vẽ vào năm 1889. Nhưng năm trước, van Gogh đã tạo ra Đêm đầy Sao ban đầu của mình, đôi khi được gọi là Starry Night Over The Rhone. Sau khi đến Arles, Pháp vào năm 1888, van Gogh đã bị ám ảnh một chút với việc chụp ánh sáng của bầu trời đêm. Ông đã tìm hiểu mô tả nó trang tranh Cafe Terrace trên Diễn đàn Place du, trước khi dám thực hiện bản phác thảo Starry Night đầu tiên của mình với tầm nhìn ra sông Rhone. Xem thêm các tác phẩm ta biết đến tranh như là bức Saint-Paul Asylum, loạt tranh vẽ ở Saint-Remy, ông viết cho người em Theo: “Tất cả trong tất cả những điều duy nhất anh xem là tốt mà trong đó là các bức Wheatfield, Mountain, the Orchard, the Olive những cái cây với những ngọn đồi xanh và Chân dung và Lối vào mỏ đá, và phần còn lại không nói gì theo ý em.” Van Gogh vô tình vẽ Venus. Vào năm 1985, nhà sử học nghệ thuật thuộc trường UCLA Albert Boime đã so sánh Starry Night với một trò giải trí trên hành tinh về cách bầu trời đêm sẽ xuất hiện vào ngày 19 tháng 6 năm 1889. Sự tương đồng rất đáng chú ý và đã chứng minh rằng “ngôi sao buổi sáng” của Van Gogh như được đề cập trong bức thư của ông gửi em trai của ông, thực tế là hành tinh Venus. Buồn thay cho số nghềo Van Gogh chỉ bán một hoặc hai bức tranh trong cuộc đời của mình và cũng không phải là bức Đêm Đầy Sao. Một trong những người được biết chắc chắn đã được bán là bức The Red Vineyard tại Arles, ít được biết đến hơn, được hoàn thành vào tháng 11 năm 1888, trước khi sự cố khiến ông phải đi tị nạn. Nghệ sĩ và nhà sưu tập người Bỉ Anna Boch đã mua nó với giá 400 franc tại triển lãm Les XX năm 1890. Ngày nay, bức tranh lịch sử này được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Pushkin ở Moscow. Nhưng có bằng chứng cho thấy van Gogh đã bán bức tranh thứ hai. Trong tiểu sử của mình về nghệ sĩ, nhà sử học Marc Edo Tralbaut đã nói về một lá thư của Theo nói rằng một trong những bức chân dung tự họa của Van Gogh đã tìm đến một đại lý nghệ thuật ở London. Bức tranh Đêm Đầy Sao được hai lần sở hữu bởi góa phụ Theo. Sau cái chết của Van Gogh năm 1890, Theo được thừa hưởng tất cả các tác phẩm của anh trai của mình. Nhưng khi người em qua đời vào mùa thu năm 1891, vợ của ông là Johanna Gezina van Gogh-Bonger đã trở thành chủ nhân của Đêm Đầy Sao và những bức tranh khác. Đó là van Gogh-Bonger, người đã thu thập và chỉnh sửa thư từ của anh em ông để xuất bản, và bà được ghi nhận với việc xây dựng danh tiếng sau khi chết của Van Gogh, nhờ vào sự quảng bá rộng rãi của Johanna về thành quả của công việc triển lãm.
Năm 1900, van Gogh-Bonger đã bán Starry Night cho nhà thơ người Pháp Julien Leclerq, người đã sớm bán nó cho nghệ sĩ hậu ấn tượng Émile Schuffenecker. Sáu năm sau, Johanna đã mua lại bức tranh từ Schuffenecker để bà có thể chuyển nó đến Phòng trưng bày Oldenzeel ở Rotterdam, Hòa Lan.
Đó là bức tranh van Gogh. Còn ở trang 11 sách Bâng Khuâng, Ngọc Cường cho trưng bức tranh Bữa Trưa Trên Cỏ của họa sĩ Édouard Manet.
Édouard Manet (1832 – 1883) là một danh họa người Pháp, nổi tiếng với phương pháp vẽ hiện đại trong hội họa. Manet luôn tự nhận mình đi theo trường phái hiện thực. Tuy nhiên, vào năm 1868, sau buổi gặp gỡ với các họa sĩ theo trường phái ấn tượng, Manet quyết định sẽ kết hợp cả hai trường phái lại. Kể từ đó, ông trở thành bậc thầy khi kết hợp 2 trường phái này tưởng chừng chẳng ăn nhập gì với nhau. Bữa Trưa Trên Cỏ là một trong những tác phẩm thành công nhất của Édouard Manet và hiện được trưng bày tại viện bảo tàng Louvre nước Pháp. Bữa Trưa Trên Cỏ đáng giá vì nó khác biệt với những bức tranh đương đại cùng thời về bố cục, kích thước và nhân vật trong tranh.Về bố cục tranh Bữa Trưa Trên Cỏ được lấy cảm hứng từ hai bức vẽ Italy vào thế kỷ 16 là Buổi Hòa Nhạc Đồng Quê (The Pastoral Concert, Le Concert Pastoral) và Phán Xét Của Paris (The Judgment Of Paris, Le Jugement de Paris).
*
Sau cùng, bài viết này được tản mạn lãng đãng từ những ý niệm trong đề tài “Đôi dòng về nghệ thuật” của nhà văn Ngọc Cường ghi nhận về nghệ thuật và những khía cạnh của nó. Nhà văn Ngọc Cường viết về những cảm nghĩ chung cuôc về nghệ thuật. Nghệ thuật dù bị áp lực chính trị chi phối hay bị trấn áp, khủng bố, nghệ thuật bị cám dỗ bởi duy tâm lãng mạn cũng hại chúng ta. Phải chăng nghệ thuật là con dao hai lưỡi. Người nghệ sĩ hãy chọn khuynh hướng sao cho thích hơp cho mình. Đoạn văn dưới đây là phấn kết thúc bài viết chung của hai chúng tôi. “Có lẽ phải đợi một trăm năm sau vấn đề chính trị mới không còn ảnh hưởng đến nghệ thuật nữa chăng. Mục đích của nghệ thuật là mua vui, và đôi khi sự hiểu biết nhiều về tác giả hay tác phẩm cũng chỉ làm giảm thú thưởng ngoạn: Như khi còn trẻ, tình yêu bao giờ cũng đẹp hơn người yêu, có nhạc sĩ than thở: “làm sao giết được người trong mộng!” Là một “fan” hay bị lung lạc bởi tác giả là quan niệm ấu trĩ về nghệ thuật vì, như đã nêu ở trên, chính kẻ thưởng ngoạn làm chủ tác phẩm. Hãy trả lại chủ quyền cho khán thính giả, cho giới thưởng ngoạn. Bàn về nghệ thuật, có lẽ nếu đi sâu quá thì sẽ không cần thiết và lâm vào lãnh vực chuyên môn của mấy nhà khảo cứu triết học. Tuy nhiên, là một độc giả, khán thính giả bình thường, ta cũng nên có một xác định rõ rệt về sở thích của riêng mình. Cũng như khi cầm ly rượu lên uống, không cần biết nó đắt tiền, giá bao nhiêu mà chỉ cần biết là nó ngon với mình, như vậy là đủ rồi.”
Việt Hải Los Angeles và Ngọc Cường.
-
Chương trình nhạc Brise D’Ete – Summer Breeze và Mừng tuổi thọ Ns. Lê văn Khoa


-
Đôi dòng về nghệ thuật
* Ngọc Cường
Chúng tôi định cư ở Ohio.Các anh chị em khác trong gia đình và phần đông thân hữu,bạn bè,đều ở miền Tây Hoa-Kỳ;còn lại,một số ít sinh sống quanh vùng Maryland-D.C-Virginia. Hằng năm, thường vài ba lần, chúng tôi đi Cali:Trước là thăm gia đình, thân hữu (nếu là mùa Đông,cũng là để lánh cơn lạnh buốt da của Dayton này,mà tìm về nắng ấm của Bolsa, thủ đô của người tỵ nạn). Sau nữa, không kém phần quan trọng là để thưởng thức các món ăn ta, mà nơi thành phố chúng tôi đang ở – một tỉnh nhỏ tiêu biểu của Hoa-Kỳ – không tài nào kiếm ra được!
Trước khi lên đường, tôi gọi điện thoại báo tin. Sau vài lời thăm hỏi nhau thường lệ, thế nào người thân bên Ca-li cũng kèm theo lời chào đón quen thuộc : “Thế thì vui quá. Qua đây mình sẽ đi ăn các tiệm ăn mới mở mọc nhiều như nấm: nào phở đuôi bò …cơm gà…đang sale vừa rẻ vừa ngon , còn ngon hơn cả ở Việt-Nam … À, tụi này mới về Sài Gòn, đi ăn khắp nơi, đủ món mà chả đâu ngon bằng ở Cali.”Bây giờ món ăn Việt Nam không đâu ngon bằng ở Little Saigon? Đúng thế! Ý kiến đó cũng là của đa số, khiến tôi tự hỏi: tại sao lại như vậy? Có phải nhiều đầu bếp tài tình người Việt của chúng ta đồng thanh rủ rê nhau trôi dạt tới Cali hết? Hay do thực phẩm, chất liệu, rau cỏ tươi sẵn có ở đó?..Và , chẳng lẽ khẩu vị của chúng ta, một khi ra đi -tha phương cầu thực lâu- đã thay đổi cho phù hợp theo cảnh vật , khí hậu nơi sinh sống? Không khác chi mấy ông Tây già, sau cả một đời sống ở Việt Nam, năm 1954 không chịu về Pháp, vì yêu thích mắm tôm chăng? Nhưng dù sao đó mới chỉ nói đến nhu cầu sinh tồn của cái bao tử, còn về món ăn tinh thần như văn chương, âm nhạc.., liệu có thay đổi luôn không?
Qua chơi Cali được vài ngày, và sau khi đã no nê đủ chầu “canh gà cá gỏi”,“ trà dư tửu hậu” , và bắt đầu lo ngại cho cái sức chứa của bao tử, như người ta thường than thở : “no dồn đói góp”…Thì bắt đầu như không báo trước, tự nhiên nhu cầu về tâm thần chợt lẳng lặng đến( Như đang từ một dân lao động phàm phu tục tử, tôi bỗng trở thành một nhà trí thức hào hoa phong nhã!) thôi thúc tôi tìm mua sách báo tiếng Việt (mà Ohio không có ) đem mang về để thỏa mãn cho cái đầu, cái tâm tình. Nghĩa là đi tản bộ qua nhiều khu chợ búa sầm uất, tôi vẫn thường ghé vào các tiệm sách ở Bolsa, thấy bày bán đủ loại tác phẩm, la liệt vui mắt như đang thực sự diễn ra cảnh“trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, khiến tôi hân hoan, vui mừng cho tiền đồ tiếng Việt và nền văn học hải ngoại. Đó chỉ là về số lượng, còn phẩm chất thì có lẽ phải hạ hồi phân giải, bàn đến sau, vì hay hoặc dở, thành công hay thất bại là do độc giả quyết định, nhưng thị hiếu quần chúng không nhất định, như lịch sử đã chứng minh: sở thích thay đổi theo thời gian và không gian.
Nhưng, tại sao có hiện tượng nhiều người cầm bút,chịu khó sáng tác như thời nay vậy? Phải chăng từ điều kiện dễ dàng về ấn loát? Cái bầu không khí tự do (của xứ sở này) khích lệ họ? Hay một khi gia đình yên bề, êm ấm, và tuổi tác đã “gần đất xa trời” rồi thì chúng ta mong muốn để lại chút gì, nên ‘hạ sinh’ đứa con tinh thần? Tìm không ra câu trả lời, vì khả năng có giới hạn, tôi mong những nhà nghiên cứu văn học sẽ cho lời giải đáp …
Sách được bầy bán nhiều quá, đầy trên kệ, còn la liệt trên bàn nữa.Không biết lựa chọn cuốn nào, dở trang đầu, đọc lướt qua mục “Lời Tựa”, tôi nhận thấy ở nhiều tác giả (thường là họ mới có tác phẩm đầu tay), hay nói về lý do cầm bút. Họ giải thích “tôi viết để mà viết …” , hoặc“tôi không dám tự nhận là một nhà văn ..”Những câu tâm sự như vậy trở nên như một thông lệ ở phần đầu cuốn sách. Có thể do sự khiêm nhường hay dè dặt của họ, như để “rào trước đón sau”, phòng trường hợp có bị chê thì..vì tôi đâu phải một nhà văn? …Điều này theo tôi đáng tiếc, vì lẽ ít ra họ phải có chút tự tin, và cần được khích lệ vì một khi tác phẩm được xuất bản, hiển nhiên họ là một nhà văn ( theo định nghĩa) ,không nên tự phủ nhận một tất yếu như vậy ; Và một khi bỏ công ra viết là cố gắng hơn nhiều người, là điều đáng được khuyến khích, nếu không nên được khen thưởng? Người cầm bút không nên có mặc cảm. Mong độc giả rộng lượng, lên tiếng khuyến khích. Còn nếu nói viết chỉ để viết thì cũng không trọn nghĩa, vì một khi đã ra mắt , sách là để người khác đọc , nếu không , nên bỏ ở xó nhà chỉ là đống giấy lộn . J. P. Sartre trong bài tiểu luận“Văn Học Là Gì” đã khẳng định là một tác giả chỉ thành một nhà văn khi có người đọc. Thật vậy , tác giả nào chả mong có nhiều độc giả, còn nếu không thì đừng mang tác phẩm ra xuất bản – Sách bầy ra tất sẽ có người mua đọc. Và như vậy , động lực cầm bút (của một nhà văn ) , đầu tiên có thể chỉ là viết để mà viết , nhưng thật ra nó đã chứa đựng tiềm ẩn nhiều nguyên nhân : giải bày một tâm sự, chia sẻ một kỷ niệm .v.v…,và lý do khác như muốn thỏa mãn tự ái, kiếm chút danh vị…Nên, không thể nói : viết chỉ để viết đơn thuần , mà phải là viết cho người khác thưởng thức.Tất nhiên, cũng có nhiều cuốn hồi ký chỉ nhằm vào số nhóm độc giả chọn lọc nào đó …Một tác phẩm không xuất bản, để quên vùi một xó, không ai biết thì vốn không là một tác phẩm nghệ thuật. Theo Tolstoy: sự thông tin, giao cảm giữa tác giả và người đón nhận tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Nhật ký Ann Frank nếu không được ông bố cô bé đem ra in sau khi cô qua đời, thì cũng sẽ chỉ là một sản phẩm riêng tư, nó trở thành tác phẩm nghệ thuật khi được chia sẻ, có người thưởng thức. Sở dĩ nêu lên khía cạnh này, vì tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của độc giả.Theo tôi, dù tác giả có công sáng tạo, nhưng chính người đọc mới là sở hữu chủ của tác phẩm, ít ra thì đó là dưới quan điểm kinh tế của một cuốn sách. Còn về giá trị, hay hoặc dở là do chủ quan thưởng thức của người đọc quyết định. Một khi cuốn sách được xuất bản, nhiệm vụ nhà văn chấm dứt, như đứa con ( tinh thần ) đã trưởng thành .
Thường khi cầm bút viết về một đề tài gì, tác giả nếu không qua sự tìm tòi, nghiên cứu thì cũng phải được đào tạo chuyên môn về đề tài đó. Tác giả hẳn có đủ hiểu biết, nắm vững những gì viết ra.Đó là điều kiện tối thiểu, để tôn trọng chính mình và cả độc giả. Độc giả không dễ bị lừa: Bởi qua đôi giòng đầu sách, có thể họ tin vào tác giả mà không cần suy xét sâu xa; nhưng khi càng đọc họ càng thêm khám phá ra những điều sai hay phi lý của toàn bài…Như vậy điều kiện tiên khởi của một tác giả là biết về điều mình viết .
Xét riêng về cá nhân, tôi đang viết về đề tài văn chương, cống hiến và mua vui quý vị mà tôi chẳng có khả năng chuyên môn gì về văn học nghệ thuật cả ! Tại sao tôi lại dám liều mạng, cả gan đến vậy? Câu trả lời thực sự nằm trong nội dung bài này. Hy vọng rằng khi đọc xong lời bạt , quý vị có được sự thông cảm …và đồng ý với tôi là : riêng nghệ thuật, điều kiện đó là một ngoại lệ , ai cũng có thẩm quyền nêu ý kiến, không riêng gì các nhà nghiên cứu hay văn nghệ sĩ mà thôi .
Một điều căn bản khi nói đến nghệ thuật, là xem nó là gì, thường nghệ thuật gồm 6 bộ môn chính như văn học, múa, kiến trúc, hội họa, sân khấu và âm nhạc, và gần đây thêm nghệ thuật thứ 7: ngành điện ảnh . Theo các cuốn từ điển thông dụng, từ nghệ thuật được định nghĩa rất vắn tắt và giản dị là …thực hiện hay diễn tả vẻ đẹp, thực tế…là sản phẩm trí thức và không là khoa học …
Văn học bao gồm cả văn chương nhưng cộng thêm về lý luận và phê bình.Có thể nói văn học dùng phương pháp khoa học nghiên cứu văn chương, trong khi văn chương thuần túy là sáng tạo do diễn đạt xúc cảm , như định nghĩa của nó.Văn chương (thơ và văn xuôi) là nghệ thuật dùng chữ để diễn tả tư tưởng và cảm xúc.Như vậy,trước khi nói đến văn chương, ta thử tìm hiểu rõ thêm xem nghệ thuật là gì?
Từ lâu, cách đây trên hai ngàn năm, Plato đã tìm về ý nghĩa của nghệ thuật; và từ đó đến nay, nhiều người cũng đã làm công việc này nhưng vẫn chưa ai hoàn thành vì nó phức tạp và khó khăn cho định nghĩa nghệ thuật. Văn hào Tolstoy nước Nga đã viết một cuốn sách nhỏ (Nghệ Thuật Là Gì, Tolstoy,1896), chỉ nhằm định nghĩa hai từ nghệ thuật! Dù vậy, định nghĩa của Tolstoy vẫn chưa toàn hảo,chính xác. Một tiêu chuẩn Tolstoy nêu ra (ngoài rất nhiều chi tiết khác) là : nghệ thuật không phải để giải trí ,mua vui mà là phương tiện giao cảm giữa tác giả và người khác… Điều này …có vẻ trái với ý của cụ Nguyễn Du nước ta , khi cụ viết :
“Lời quê chắp nhặt dông dài ,
Mua vui cũng đươc một vài trống canh.”(câu kết của Truyện Kiều )
Ở đây , xin đồng ý với cụ Tiên Điền, không phải vì tôi cũng là người Việt, ghét ông người Nga, nhưng vì tận cùng thì nghệ thuật là một vấn đề triết lý,mà triết lý thì đã bị chôn sống rồi( “Triết Học Đã Chết” , S. Hawking, trong cuốn The Grand Design, 2010, theo đó, những khám phá mới về vật lý và toán đã có giải đáp khoa học về vũ trụ và đấng tạo hóa…,do đó triết học trở nên lỗi thời.)
Căn bản của nghệ thuật là ở tính hấp dẫn, mua vui,thích thú và tự nguyện. Nếu Truyện Kiều được giảng dậy trong lớp học, khi bị bắt buộc phải đọc đối với học sinh thì Kiều chỉ là cuốn sách giáo khoa dùng để học, chứ không còn tính nghệ thuật; nhưng khi, cũng ở người học sinh đó, qua lời giảng của vị thầy mà đột nhiên cảm thấy hay, cảm thấy thú vị thì lúc đó Truyện Kiều nó lại mang tính nghệ thuật! Như vậy nghệ thuật không có mục đích rõ ràng vì không thể có nghệ thuật hoàn toàn vị nghệ thuật hay nghệ thuật hoàn toàn vị nhân sinh được, mà thường như trong cuộc đời, lẫn lộn cả hai thứ, không có gì trắng hoặc đen mà lẫn lộn giữa hai thái cực, trung dung.
Nói chung, nghệ thuật phản ảnh cuộc sống nên cũng mơ hồ, phức tạp như thế; và giá trị của nghệ thuật mang tính chủ quan, không thể chỉ do các nhà phê bình đơn thuần cho là hay hoặc dở, đẹp hay xấu, mà chỉ có nhận định chủ quan của người thưởng ngoạn quyết định. Nếu khai triển thêm ra, nghệ thuật là sáng tạo có tính hấp dẫn: khen chê là do quyết định của người nhận, độc giả, thính giả hay người xem tranh …Trước kia, khi mới được khai sanh,trường phái họa “ấn tượng”ở Pháp đã bị chê bai gắt gao, ngay cả danh hiệu của họ ( impressionism, môn phái ấn tượng )- xuất phát từ bức tranh“Ấn tượng, một buổi bình minh” của Claude Monet- bị nhà phê bình Louis Leroy gắn cho cái tên“Bọn Ấn Tượng” một cách mỉa mai qua bài đăng trên báo Le Charivari. Không ngờ từ đó Ấn Tượng lại trở thành môn phái quan trọng trong nền hội họa: và gần đây, ở nước ta, thấy xuất hiện một văn phái, họ viết rất hấp dẫn, dùng nhiều từ khó hiểu, ra vẻ cao siêu, đầy triết lý mà độc giả bình thường không hiểu nổi. Xin thí dụ một đoạn như sau “…tiểu thuyết Việt-Nam hiện nay , không phải là xác nhận một trở thành đã hoàn tất , mà là theo dõi những chặng đường của một vận động đang tuần tự hình thành.Vận động đó là một vận động của ý thức, một vận động của nghệ thuật…”( Mai Thảo,1965) : Những luận điểm như trên khó hiểu và dễ làm lẫn lộn, hoang mang người đọc. Họ tự nhận là nhóm sáng tạo, gay gắt với trào lưu văn nghệ tiền chiến, nhưng hình như họ muốn đồng nghĩa khó hiểu với xâu sắc, tối nghĩa với triết lý. Sự thật, chuyện bình thường và giản dị trên đời như tình yêu, gia đình, vui, buồn …là những vấn đề sâu xa nhất của con người. Nhóm sáng tạo là môn phái lập dị thì đúng hơn (Lê Huy Oanh, Về thơ tự do, 1957 ). Dù sao, chỉ có thời gian mới là quan tòa, mới có lời phê phán cuối cùng cho nghệ thuật: Tác phẩm có giá trị khi nó vượt được thử thách của thời gian và không gian ( Nhất Linh,Viết và đọc tiểu thuyết,1958 ).
Nếu đồng ý như vậy, ta có thể nói rằng không có tác phẩm nào tuyệt hảo cả: Nói cho cùng thì dù chỉ được một độc giả yêu thích cũng đem niềm vui cho tác giả. Nghệ thuật rõ rệt là chủ quan và phi thời trang nhưng lại mang tính dân chủ (số đông quyết định giá trị). Như trường hợp của Van Gogh, cả một đời vẽ tranh( rất nghèo lại vắn số, chết sớm) chỉ bán lèo tèo vài bức( dù người em là môi giới hội họa đã cố gắng giúp anh). Thế mà ngày nay, bức“Hoa Diên Vỹ”( Irises,1889) được bán với giá mấy chục triệu đô! Cùng số phận hẩm hiu với Van Gogh là nữ văn hào Emily Bronte, tác giả cuốn “Đỉnh Gió Hú”( Wuthering Heights,1847) khi xuất bản đã không được độc giả hưởng ứng mà phải chờ đến cả trăm năm sau mới có lời khen. Ngày nay, tác phẩm duy nhất này của bà trở thành một tuyệt tác của thế giới, được mọi người, mọi nơi công nhận! Sự kiện tương tự sẽ là niềm an ủi cho nhiều nghệ sĩ không thành công ngày hôm nay ( trong đó có tôi, nói một cách tự an ủi),và hy vọng rằng có thể sau này, vài chục năm nữa, sẽ có người yêu thích? Phải chăng con người bao giờ cũng bám víu và sống với chút hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn hôm nay?
Thẩm mỹ , hay cái đẹp, – đối tượng chính của nghệ thuật- hiển nhiên là do nhận định chủ quan mỗi người , nhưng liệu ta có thể tìm thấy một tiêu chuẩn, hay mẫu số chung , dựa vào đó , mọi người cùng đồng ý hoặc chấp nhận, dù họ ở đâu và sống ở bất cứ thời đại nào? Lúc trước , khi xem hình ảnh bên Phi Châu chụp mọi cà răng căng tai, ít ai coi đó là thẩm mỹ , mà còn cho là man di mọi rợ , nhưng đâu ngờ , gần đây, ngay ở Bolsa bên Mỹ , lại xuất hiện người đi căng tai , chà răng và đeo vòng ở lưỡi ! Theo tôi, vẻ đẹp (có lẽ) phát xuất từ ấn tượng người tiền sử cảm nhận qua thiên nhiên (tranh vẽ, khắc trên đá, mô tả thú vật ở hang Lascaux, Pháp, khoảng 20,000 ngàn năm trước) và sau này, khi lòai người đã hợp quần thành xã hội), thì từ tình yêu , trước tiên là tình mẫu tử , đôi lứa , vợ chồng …rồi nâng cao, biến dạng trở thành lòng trắc ẩn, thương yêu đồng loại. Không khác gì các giống vật hợp quần (con kiến, loài ong…) để duy trì giống nòi , con người phải hy sinh ; và khi sống cho tha nhân, cảm thấy thỏa mãn vì đó là bản tánh chân thật của mình (Nhân chi sơ tính bản thiện, Khổng Tử, 500 năm trước Công Nguyên).Thâm tâm con người , không một ai muốn gây đau đớn sầu khổ cho người khác. Phải chăng , tội ác do hoàn cảnh gây ra , vì mà có ai thực sự làm chủ được vận mệnh của mình đâu , nếu như vậy : ý chí tự do ( free-will ) chỉ là một ảo tưởng , như người ta thường ví : cuộc đời là một vở kịch hay canh bạc , trong đó , con người đóng một vai hay tùy thuộc vào may mắn ! Vậy tôi là ai ?
Nếu một tác phẩm là đứa con tinh thần của người sáng tác, thì sự liên hệ giữa tác giả và tác phẩm rất mật thiết, như chuyện của một gia đình:Vì lẽ đó,muốn hiểu thấu đáo bức tranh, hoặc cuốn tiểu thuyết , sự hiểu biết về tác giả giúp ta tận hưởng rõ hơn tác phẩm của họ. Nhưng ta cũng tránh có quan điểm quá khích: như ghét tác giả ( vì lý do gì đó, chính trị chẳng hạn) rồi vơ đũa chê tác phẩm của họ luôn! Ngược lại, cũng đừng tôn thờ tác giả như là một fan của họ (nguyên ngữ từ fanatic ra, nghĩa quá khích).
Nghệ thuật không là bản sao chép thiên nhiên mà là cách diễn tả cuộc đời qua nhận thức của tác giả- Phải chăng con người nhìn mọi thứ trên đời qua nhận thức chủ quan của mình- Nhưng chính nhờ đó mà tác phẩm trở nên sống động , như được tái sinh, có cuộc sống thứ hai, vì vậy đã đem lại sự thích thú cho người thưởng ngoạn: thu hút họ, làm như chính họ được sống như một nhân vật trong truyện dù câu chuyện đã xẩy ra cả trăm năm trước ; hay chính mình, như họa sĩ, đang đứng trước cảnh của bức tranh , dù ở một nơi ta chưa hề đặt chân tới .Đó là sự kỳ diệu của nghệ thuật,chứ không phải vấn đề triết lý cao siêu.Câu hỏi nên đặt ra, không phải là“con người,cuộc sống là gì?”mà trở thành“Cái gì có thật trên cõi đời này?”(Rainer Rilke,1912 );và đối với người nghệ sĩ thì cảm giác phải là thật (Bạn cứ thử đá chân vào hòn đá thì biết!).
Để kết luận, có thể nói, nghệ thuật có rất nhiều mục đích, tùy quan niệm của tác giả: như giúp ta trở nên cao thượng, tận hưởng cuộc sống hơn( như nhận xét của Thạch Lam, Nhất Linh), giải bầy vấn đề triêt lý ( như Sartre, Camus) .v.v..nhưng theo tôi, tất cả những mục đích ấy chỉ là phụ, đến sau, không chủ tâm , nhưng xuất hiện như mấy phản ứng phụ của thuốc tây (side effect ) mà có thể lại mãnh liệt hơn cả mục đích chính là mua vui dù là một thú đau thương! Nghệ thuật phải có tính hấp dẫn trước nhất, để giải trí thiên hạ (Nguyễn Du), một món ăn tinh thần cho công chúng. Nếu không có tính hấp dẫn thì nghệ thuật không tồn tại và sẽ không truyền đạt các mục đích khác nữa được.
Phải chăng,với chủ quan và hiểu biết hạn hẹp,tôi đã vừa liều lĩnh trả lời về điều kiện tối thiểu của người viết nêu ra ở phần đầu : đó là ai cũng có thẩm quyền bàn về nghề thuật cả ?
Xin cảm tạ quý độc giả .* Ngọc Cường.
-
ĐỌC MỘT TẬP THƠ HAY CỦA NGUYỄN VĂN THU SẮP PHÁT HÀNH TRONG NĂM 2019

-
Đêm tưởng niệm nhạc sĩ Anh Bằng tại trung tâm Asia
Lâm Hoài Thạch/Người Việt
April 23, 2019

Từ trái, ca sĩ Lệ Thu, nhạc sĩ Nam Lộc, ca sĩ Thanh Lan và nhạc sĩ Quốc Sĩ. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt) GARDEN GROVE, California (NV) – “Một khoảng thời gian không dài lắm, nhưng cũng không ngắn lắm. Bốn năm đủ để cho chúng ta thấy nhiều chuyện đã xảy ra trong cõi tạm này. Và bây giờ, có thể nhạc sĩ Anh Bằng đang ở trên cao nhìn xuống để thương chúng ta, vì ông đã đi xong đoạn đường của ông, còn chúng ta thì còn nhiều lận đận. Bốn năm vật đổi sao dời. Bốn năm hiểu được tình người lâu xưa. Bốn năm nước chảy qua cầu. Bốn năm ngồi lại cùng nhau ngậm ngùi.”
Đó là lời của Giáo Sư Quyên Di trong đêm “Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng” tại trung tâm Asia, Garden Grove, do cô Thy Vân, ái nữ của cố nhạc sĩ Anh Bằng, giám đốc trung tâm Asia, và một số bằng hữu cùng tổ chức vào chiều Thứ Sáu, 19 Tháng Tư, 2019.
MC Quyên Di nói tiếp: “Khi trung tâm Asia được thành lập, lúc đó tôi là một thợ in đang làm việc tại một nhà in. Ông Anh Bằng đến để nhờ tôi vẽ một logo của trung tâm Asia. Còn nói về nhạc sĩ Anh Bằng, thì nhạc của ông chúng ta đều thấm thía khi nghe bài ‘Đêm Nguyện Cầu’ hoặc ‘Nó.’ Nhưng khi nghe bài ‘Căn Nhà Ngoại Ô’ thì chúng ta lại có cảm giác xúc động kiểu khác.”

Từ trái, cô Thy Vân cùng hai nhạc sĩ Nam Lộc và Quốc Sĩ. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt) “Và khi nghe bài ‘Nỗi Lòng Người Đi’ thì chúng ta có những cảm xúc khác hơn nữa,” MC Hồng Vân tiếp lời.
Ca sĩ Lê Uyên mời cô Thy Vân ra trước mặt mọi người, vì cô là người đã chỉnh trang lại căn phòng này qua nhiều tuần lễ để cho mọi người đến dự “Đêm Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng.”
Lê Uyên tâm tình: “Rất vui cho chúng ta được hiện diện tại đây trong hôm nay. Càng vui hơn, khi chúng tôi biết được trung tâm Asia sắp thực hiện một chương trình giá trị được ấp ủ hơn hai năm với sự ngưỡng mộ, yêu thương và lòng hiếu thảo của Thy Vân dành cho thân phụ của mình. Show nhạc này sẽ cho chúng ta biết rõ hơn về cuộc đời cũng như những tác phẩm của ông đã sáng tác qua hàng chục năm qua. Anh Bằng, người nhạc sĩ có những cảm xúc về tình yêu cá nhân, bên cạnh đó, người cũng đã sáng tác những bài hát với cảm xúc và tâm trạng chung của mọi người theo diễn biến thay đổi của đất nước. Như bài ‘Nỗi Lòng Ngươi Đi,’ Anh Bằng đã viết để dành tặng cho những người ở lại và ngay cả những người đã rời Hà Nội vào 1954.”

Nhạc sĩ Lam Phương, (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)
Nhạc sĩ Lam Phương, Nữ nghệ sĩ Bích Ty (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt) “Khi được định cư tại Hoa Kỳ, ông đã tiếp tục viết theo tâm trạng và cảm xúc của những người trẻ trên quê hương thứ hai và những thay đổi rất khác, rất mới trong đời sống và sự suy nghĩ của người Việt Nam tại hải ngoại. Những chủ đề mà Thy Vân sắp sửa thực hiện, tôi tin rằng, đó là việc mở đầu trong nhiều chương trình có giá trị khác. Cách đây gần 20 năm, trung tâm Asia đã có những cuốn video, DVD đã ghi lại những hình ảnh dành cho những khán giả tại hải ngoại như những tác phẩm có chủ đề về những trẻ em mồ côi bị bỏ rơi ở Phi Luật Tân và những chương trình ‘Bên Em Đang Có Ta.’ Đó là những chủ đề có giá trị mà tôi nghĩ rằng, nó đã góp phần rất lớn trong việc tìm hiểu âm nhạc Việt Nam của giới trẻ sau này. Những chủ đề giá trị đó là những món ăn tinh thần rất cần thiết cho tất cả chúng ta,” nữ ca sĩ nói tiếp.
Ca sĩ Thanh Lan, một tài năng của nền điện ảnh và âm nhạc Việt Nam cũng có mặt cho biết: “Thanh Lan đến đây được gặp gỡ lại một số anh chị em nghệ sĩ ngày xưa cũng như những tiếng hát trẻ sau này và khán giả đã yêu dòng nhạc Anh Bằng. Trước 1975, tôi có dịp được thâu âm nhiều bài nhạc của nhạc sĩ Anh Bằng tại Việt Nam và khi sang Hoa Kỳ thì tôi cũng đã thâu âm nhiều bài nhạc của ông. Vì thế, buổi ‘Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng’ thì tôi phải có mặt và hát một bài nhạc của ông, đó là bài ‘Bây Giờ Còn Nhớ Hay Quên’ thơ Nhất Tuấn, nhạc Anh Bằng.”

MC Hồng Vân và chân dung nhạc sĩ Anh Bằng qua bút họa của họa sĩ Châu Thụy. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt) Nhạc sĩ Cao Minh Hưng, con chim đầu đàn của Ban Văn Nghệ Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, khi nhắc đến nhạc sĩ Anh Bằng thì tất cả anh chị em trong câu lạc bộ này đều phải ơn ông, vì, cố nhạc sĩ và nhạc sĩ Cao Minh Hưng là những người đồng sáng lập ra câu lạc bộ này.
“Mục đích cho ra đời Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ là để các thành viên trong câu lạc bộ cùng sáng tác và hát những bài nhạc đấu tranh. Ngoài ra, câu lạc bộ còn hát những bài nói về tình yêu quê hương của cố nhạc sĩ và của chúng tôi sáng tác sau này. Nhạc sĩ Anh Bằng ra đi là sự mất mát lớn cho nên âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại,” Cao Minh Hưng cho biết.
Ca sĩ Ngọc Huệ, một trong nhiều ca sĩ đã xuất hiện trong những thời gian đầu tiên của nhiều trung tâm nhạc tại Little Saigon, tâm tình: “Bác Anh Bằng là một nhạc sĩ tài năng, chúng tôi xem bác như một trong những vị tiền bối của nền âm nhạc Việt Nam, vì bác đã cho ra đời rất nhiều bài nhạc rất hay và rất có giá trị. Đặc biệt hôm nay, chị Thy Vân đã chọn cho tôi hát bài nhạc ‘Nếu Vắng Anh’ của nhạc sĩ Anh Bằng. Đây là bài nhạc rất xưa, tôi đã tập hát bài này qua tiếng hát của ca sĩ Mai Hương đã thu âm hơn 50 năm về trước tại Sài Gòn. Bác Anh Bằng là người tôi đã mến mộ từ lâu, và hôm nay, tôi mới có cơ hội hát những dòng nhạc của bác trước khán giả.”

Các thành viên Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)Ông Trần Thăng, em ruột của nhạc sĩ Anh Bằng, kể về cuộc đời của cố nhạc sĩ và cảm tưởng của mình đối với người anh kính mến Anh Bằng.
Cô Phương Thúy Nguyễn, cư dân Garden Grove, một khán giả yêu thích dòng nhạc Anh Bằng tâm tình: “Phải nói, tôi rất ‘mê’ những bài hát của nhạc sĩ Anh Bằng. Bởi vì, khi nghe những lời hát trong những bài nhạc của ông đều có chất chứa bản sắc dân tộc, đượm tình quê hương, nhất là khi đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh, ông cũng có những bài nhạc đã nói lên sự đau thương và mất mát của đồng bào Việt Nam cũng như lòng yêu nước của những người Việt ly hương.”
MC Hồng Vân trong vai trò hướng dẫn chương trình nên có nhiều cơ hội gặp gỡ nhạc sĩ Anh Bằng trong những chương trình nói về dòng nhạc của cố nhạc sĩ. Cô chia sẻ: “Tôi rất quý mến nhạc sĩ Anh Bằng từ lúc còn đi học, nhất là khi nghe bài ‘Nỗi Lòng Người Đi’ của ông có viết câu ‘Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu,’ thì hoàn cảnh của tôi lúc đó cũng có trùng hợp với ý nghĩa của câu nhạc này là khi tôi mười tám tuổi thì tôi cũng xa Sài Gòn để sang Paris du học. Chú Anh Bằng rất hiền hòa và cũng là một trong những tài năng ‘gạo cội’ của nền âm nhạc Việt Nam.”
Họa sĩ Hoàng Vinh tâm tình: “Nhạc sĩ Anh Bằng là một trong nhiều nhạc sĩ nổi tiếng của nền âm nhạc Việt Nam. Đây cũng là niềm vinh hạnh cho những người Việt tại hải ngoại cũng như trong nước yêu thích về âm nhạc. Tưởng niệm nhạc sĩ Anh Bằng cũng là dịp để chúng tôi nhớ lại những bài nhạc bất hủ của anh và cũng để chia sẻ nổi niềm thương tiếc của mình với hương linh của cố nhạc sĩ tài hoa này.”
Hơn 60 năm trong hành trình sáng tác âm nhạc, nhạc sĩ Anh Bằng đã biên soạn trên 600 tác phẩm chất chứa tự tình quê hương dân tộc; tình yêu của nhiều lứa tuổi; nỗi đau thương, mất mát của những người Việt xa xứ; và tình người ly hương khát vọng cho một Việt Nam được thanh bình.
Đồng hương đến dự đã có những cảm xúc ngậm ngùi, thương tiếc một tài hoa của đất nước qua những tác phẩm của ông, với những tiếng hát của các ca sĩ Thanh Lan, Lê Uyên, Phương Hồng Quế, Y Phương, Diễm Liên, Đặng Thế Luân, Anh Tuấn, Ngọc Lan, Ngọc Huệ, Hồng Quyên, Ngọc Quỳnh… Đặc biệt với sự hiện diện của ca sĩ Lệ Thu, hai nhạc sĩ Lam Phương và Nam Lộc. (Lâm Hoài Thạch)
-
Tết Trung Thu
-
Nhớ Đêm Mưa Saigon [Nhạc Anh Bằng, Thơ B.H.] Melanie NgaMy

-
Trung Tâm Asia 2019 và Tours ca nhạc: “Nỗi Lòng Người Đi” 60 năm (bài Trần Mạnh Chi)

Trung Tâm Asia 2019 và Tours ca nhạc:
“Nỗi Lòng Người Đi” 60 năm (bài Trần Mạnh Chi)
Thứ Sáu ngày 5 tháng 4 vừa qua, cùng với MC ThụyVy, Việt Hải và tác giả (Trần Mạnh Chi) ghé thăm Trung Tâm Asia, nhân dịp tìm hiểu về dự án âm nhạc giá trị: “Nỗi Lòng Người Đi”.
Theo lời giám đốc Thy Vân “Đây là tâm tư chung của bao nhiêu đồng hương, đồng bào đã lâu rồi, cũng ngót nghét trên 60 năm qua.”
Hồi tưởng lại khi nhạc phẩm “Nỗi Lòng Người Đi” mới ra đời và đã trở thành cao trào hoài niệm chuyến ra đi lần đầu của người viết cũng như hàng triệu người bỏ quê hương xứ sở mà ra đi, từ Bắc vào Nam trên 60 năm qua. Sau đó cũng như hàng triệu đồng bào, đồng hương và khán giả một lần nữa lại “ra đi di cư” làm lại cuộc đời mới khắp năm châu bốn biển sau 1975.
Nhìn lại sự tham gia của trung tâm ca nhạc Asia tại hải ngoại cũng đã trên 35 năm qua cũng mang một tâm tình hoài niệm đó.
Nỗi Lòng Người Đi: “Mộng với tay cao hơn trời”
Trong buổi lễ giỗ ba năm của tác giả “Nỗi Lòng Người Đi” vào tháng 11/2018, Đức Ông Phạm Quốc Tuấn cũng tâm tình trong Thánh Lễ tại nhà thờ St Columbans rằng, “thuở ấu thời khi còn sống cùng cha mẹ anh em trong giáo xứ An Lạc Chí Hòa, mình vẫn tập hát bài “Nỗi Lòng Người Đi” và nhận thức những hình ảnh thật đẹp… “Mộng với tay cao hơn trời” của một thời thanh bình êm ả lúc bấy giờ.”

Từ nhiều năm qua, trung tâm Asia ngoài việc thành công lớn lao về các tác phẩm ca nhạc “Một thời chinh chiến” thì vẫn luôn đóng góp vô vị lợi cho đạo Thiên Chúa qua các đại hội, các giáo xứ cũng như ủng hộ Linh Tượng La Vang. Ngoài ra còn ủng hộ gia đình cựu quân nhân chiến sĩ thương phế binh, cô nhi qua đóng góp vô điều kiện cho các công trình đại nhạc hội, truyền hình và gây quỹ từ thiện và xây dựng cơ sở tôn giáo.

Trong số gần 100 chương trình DVD ca nhạc (bao gồm nhiều hình thức từ các chủ đề hoặc đánh số thứ tự, hoặc các chương trình đặc biệt như Asia Golden v.v.. và vài trăm CD ca nhạc các loại) “Trong năm nay – đánh dấu 60 năm “Nỗi Lòng Người Đi” nổi bật tại Sài Gòn và các tỉnh thành, vùng quê Việt Nam chính đã đến lúc chín mùi để họp bàn với một đội ngũ phụ trách nội dung kỹ thuật sáng tạo, nghệ thuật, cùng với các promoters để mang chương trình này đến với đồng bào đồng hương của mình”. Giám đốc Thy Vân nói.
Ngay sau khi họp bàn về buổi gặp gỡ nội bộ với những cộng sự viên, ca, nghệ sĩ yêu mến trung tâm và nhạc sĩ Anh Bằng do “Nhân Ảnh Tân Văn và Tiếng Thời Gian” gợi ý – Thy Vân đã nhận lời thực hiện buổi chiều ca nhạc nhỏ ngay tại Trung Tâm Asia trong mùa Lễ Phục Sinh.
Thời điểm vào mùa Lễ Phục Sinh mang nhiều ý nghĩa của công cuộc chịu nạn và sống dậy của Chúa, và nghĩ về người sáng lập trung tâm là nhạc sĩ Anh Bằng – “Tôi đã khóc và nhớ Bố”. “Những năm tháng Thân Phụ tôi còn sống, tôi cũng không theo đúng ý ông nhiều”, bây giờ Bố mất – mãi để trong lòng tôi hối tiếc.Tôi vẫn thường khóc và bừng tỉnh khi đọc lại bản phác thảo dự án ca nhạc đồ sộ “Nỗi Lòng Người Đi” sẽ ra mắt năm 2019.”
Một kịch bản cho một chương trình “Nỗi Lòng Người Đi” do chính nhạc sĩ Anh Bằng phác họa xong đã lâu, cho đến năm 2019 mới được ban sáng tác và producers của Trung Tâm Asia nghiên cứu và quyết tâm thực hiện.
Gặp và trò chuyện cùng Thy Vân trong khung cảnh mới, nghe người giám đốc của trung tâm trò chuyện trong một tinh thần hăng say như độ nào Thy Vân của một thời Asia danh tiếng. Trung Tâm vẫn giữ được tòa nhà cũ để anh chị em nghệ sĩ tới lui tại trụ sở, đồng thời sẽ đầu tư vào một phòng thu mới vuợt xa những gì đã có từ bao nhiêu năm qua..
Theo một bài viết trước của tác giả Việt Hải, đã có rất nhiều khán giả cũ mới vẫn thường xuyên liên lạc, hoặc khi biết những thông tin mới về Trung Tâm, nhiều bạn trẻ và nghệ sĩ xa gần đã gửi trực tiếp mẫu CD Demo tiếng hát do mình thực hiện về địa chỉ của Trung Tâm Asia – “vẫn tại trụ sở cũ,” không thay đổi: 10501 Garden Grove Blvd. Garden Grove, CA 92843 hoặc gởi email cho Trung Tâm Asia: AsiaEntertainmentInc@gmail.com
Trung tâm Asia hiện tiếp tục phát hành CD, phổ biến những Youtube, LiveStream… được nhiều nghệ sĩ như MC Việt Thảo, Lê Uyên tiếp tục ủng hộ.
MV hoặc MP3 trên Asia Channel. Asia hiện ưu tiên cho 3 dòng nhạc: Boléro, Tango, và trữ tình quê hương cũng như dòng nhạc thính phòng.
“Ngoài ra để được xin phép hát nhạc thuộc bản quyền của Trung Tâm Asia, hoặc thực hiện các live show có thể viết thư hoặc email thẳng về Trung Tâm Asia, trực tiếp cùng giám đốc Thy Vân thay vì qua trung gian.”

Bước sang năm 2019, được biết Trung Tâm Asia sẽ tiếp tục phát hành một số CD giá trị của các ca sĩ xuất thân từ Asia được yêu cầu tái bản. Một số CD ca nhạc mới và Thánh Ca của nhạc sĩ Anh Bằng chưa từng được phát hành như CD của Melanie Nga Mycũng như Asia đang lần lượt phát hành trong năm 2019, các đĩa Vinyl (đĩa than) và một số CD hoàn toàn mới mẻ… khác với tin đồn ác ý .
Ca sĩ Lê Uyên hiện tham gia cùng các chương trình của Asia. Lê Uyên cho biết: ” Lê Uyên sẵn lòng tiếp tay cho Trung Tâm Asia, vì Trung Tâm này đã có các chương trình ca nhạc rất giá trị. Với Lê Uyên, rất thích một vài sáng tác của Anh Bằng, khi nghe chính nhạc sĩ và ca sĩ Tuấn Ngọc cùng khen ngợi. Khi Lê Uyên, không chỉ là những ca khúc tình cảm lãng mạn. Không chỉ chuyên chú hát nhạc của riêng nhạc sĩ nào, mà tất cả các dòng nhạc mình yêu thích… ví dụ Lê Uyên rất thích hát: ” Chuyện Giàn Thiên Lý”... của Anh Bằng.
Được biết, trào lưu thưởng thức của giới trẻ bây giờ sẵn sàng ủng hộ và lịch lãm để nghe thật tiêu chuẩn và “chơi sang” của những tiếng hát bất hủ đã trải dài với thời gian như: Khánh Ly, Lệ Thu, Như Quỳnh, Lê Uyên v.v..

Đánh dấu 60 năm “Nỗi Lòng Người Đi” như lời Giám đốc Thy Vân qua cuộc phỏng vấn của Việt Hải “Dù Asia có gặp một số khó khăn hơn về tổ chức thu hình DVD trong năm qua, nhưng vẫn ước mong được khán thính giả yêu mến Asia từ hơn 35 năm qua, tiếp tục ủng hộ và tin tưởng rằng Asia đang tiếp tục nỗ lực phát triển.
Trần Mạnh Chi (Báo NV Cali Thứ Tư 10-4-2019) và Trẻ Magazine tháng 4-2019
Chú thích ảnh:
1- Giám đốc Thy Vân chủ nhân độc nhất liên tục của Trung Tâm Asia liên tục từ 1983.
2-Tác giả Trần Mạnh Chi (phải) đứng cạnh Thy Vân, MC Thụy Vi (giữa) và vợ chồng Việt Hải mới thăm Trung Tâm Asia ngày 5 tháng 4-2019.
3- GS Quyên Di cùng với ca sĩ NgaMy đến thăm Đức Ông Phạm Quốc Tuấn, nói chuyện về hát thánh ca và hát “Rước Chặng Đường Thánh Giá” mùa Lễ Phục Sinh tại Nhà Thờ St Columbans.
4- Hình ảnh Nhà thiết kế danh tiếng Đỗ Cung (từng cộng tác lâu dài với Trung Tâm Thúy Nga trên 25 năm qua và nhạc sĩ Vũ Tuấn Đức cùng Linh Mục và Giám Mục Kevin Vann từng góp mặt trong DVD Fatima do Asia thực hiện
5- MC Việt Thảo, người nổi tiếng về các chương trình Chuyện Bên Lề, và cũng là người điều khiển dẫn chương trình rất được yêu mến.

6- Nhạc sĩ Anh Bằng bên cạnh CD démo, về những tác phẩm trữ tình sang cả những năm cuối đời trong buổi gặp gỡ tại Nhà hàng Quê Em Quê Anh của producer Trần Thăng, cháu ruột của nhạc sĩ Anh Bằng, với các phác họa CD nhạc Anh Bằng với tiếng hát NgaMy
7- Ca sĩ Lê Uyên, sát cánh cùng Asia từ nhiều năm qua và đặc biệt trong năm 2019
8- Hai producers trẻ Johnny Bach và đạo diễn Hoàng Đăng Minh được ông ngoại Anh Bằng (chân dung trong hình) tín cẩn và tin tưởng giao phó trọng trách nối tiếp.
-
VĂN HÓA & CON NGƯỜI GS. TS. TRẦN QUANG HẢI
-
Trung Tâm Ca Nhạc Asia phục hưng và trỗi dậy


