• Văn Thơ

    HÀNH TRÌNH CUỘC ĐỜI

    CAO MỴ NHÂN 

    Nếu quý vị chỉ quen biết nhau có một thời, như là thủa ấu thơ, thiếu niên ở cùng xóm, cùng khu phố . 

    Thủa thanh niên, cùng đi học, đi chơi, đi hội đoàn, đi làm hay đi buôn bán vv…

    Tới thủa cao niên thì đi thăm hỏi, lễ lạc vv…

    Tất cả đều  bình thường, có gặp lại hay không cũng chẳng thành vấn đề …

    Song nếu quý vị quen biết nhau suốt hành trình cuộc đời , nghĩa là từ tấm bé đi lên tới cõi già nua, thì thật có lúc buồn ghê lắm, ấy là ta thấy rõ đời nhau, những thăng trầm, không suông sẻ, thậm chí còn đau khổ, thất bại vv…

    Và cái điều không tránh khỏi là cả 2 cùng thấy nỗi bâng khuâng, tàn tạ của nhau lúc về già …

    Không phải là người ta sợ già, chán già, vì già thì không còn đẹp đẽ, không còn tươi vui, mà người ta kịp nhận ra rằng chẳng còn bao lâu nữa, mọi người sẽ từ từ khuất mặt ở thế gian này vậy thôi. 

    Như trên tôi đã trình bầy, thủa thanh thiếu niên, ngoài việc đi học, tôi tham gia rất nhiều hội đoàn …Thoạt thì đi Phật Tử từ tuổi oanh vũ ở Hải Phòng, sau đi Hướng Đạo ở Saigon, rồi vô Caritas, theo đoàn Hội Con Đức Mẹ đi tới các nhà thương chăm sóc bệnh nhân . 

    Chót hết là tham gia Quân Đội VNCH, trong ngành Công tác Xã hội …

    Chưa kể các nhóm nhỏ, hội lớn vv…tôi đều có mặt . 

    Như vậy, cứ nhìn vào sinh hoạt của tôi, quý vị cũng thấy là tôi sống chan hoà thế, thì số lượng bạn bè …đông đảo lắm chứ . 

    Do đó, kể từng giai đoạn lui tới bạn bè, hẳn tôi …ôm đồm quá , nên mệt quá, ấy thế mà tôi …thú vị vô cùng trời ạ. 

    Và vì thế, tôi mới có dịp chứng kiến những phút giây vinh quang cũng như  tủi nhục của kiếp người, nhất là thời gian tôi sống trong đại tộc KaKi của…tôi. 

    Tôi thuộc lòng từng chi tiết một những gì xẩy ra với mỗi cá nhân đặc biệt, hay từng đơn vị nhỏ mà tôi mặc nhiên hiện diện, ở gia đình quân nhân các cấp trong thành phố, ngoài các trại gia binh, hay tới tận cùng núi non, sông biển, đất lở, đồng lụt vv…

    Đôi khi không muốn nhớ lại, nhưng những sự việc chưa rời xa lắm, lại hiển hiện trước mắt …cả một quá khứ miên man tiếp nối …cứ khiến mình nhớ thương vời vợi. 

    Hình như trong lòng tôi, tôi chưa muốn ai phải từ giã cõi đời, nếu như lý luận của quý cụ bị phiền hà, bực bội, thì mỗi lần tôi tỏ vẻ tiếc thương bạn văn cũng như bạn …võ , quý cụ lại  chép miệng : 

    ” Chết phải rồi, nếu ai cũng sống, đất đâu mà chứa …” 

    Sau khi đi tù cải tạo về, tôi tiếp tục lối sinh hoạt của tôi, chỉ có thay đổi nghề nghiệp cũ, là không còn đại tộc KaKi cho tôi bay nhẩy như thủa phục vụ ở Bộ Tư Lệnh QĐI/ QKI. 

    Nhưng tôi vẫn nay thăm nhà này, mai thăm nhà khác, những gia đình quân nhân các cấp mà tôi được hân hạnh quen biết trước cuộc đổi đời 30-4 -1975. 

    Đến nỗi tôi chưa cảm thấy đói, lại còn được huynh đệ chi binh hỏi thăm xem tôi đang sống cách nào, mà cứ lạc quan , mặc dầu ông xã tôi qua Mỹ đã ” biệt vô âm tín “. 

    Tôi và 4 con tôi không thể kể khổ than nghèo được, khi ai cũng biết : ” nhà đó có chồng ở Mỹ, tụi nhỏ có cha ở Mỹ, thì làm sao thiếu thốn được chứ ” . 

    Rồi đào lý bốn phương, chi lan tỷ muội, tức là bạn văn của tôi, cũng luôn chứng tỏ thơ phú tri âm tri kỷ thân tình … 

    Tôi than là than theo cái kiểu bình thường, làm lụng nhiều quá thì kêu mệt, tôi khóc là vì bằng hữu hay hỏi thăm những chuyện …bá vơ. 

    Thế nên tôi bỗng giận ông Thiên quá, ông không để huynh đệ chi binh, đào lý bốn phương tôi được sống an bình, ít nhất mỗi người đủ 100 năm cho đúng tiêu chuẩn ngài Thiên đã ấn định, ông Thiên lại cứ bớt xén một số tuổi tác, bởi cảnh cơ khổ, hoặc bất trắc vì bịnh hoạn hay tai nạn xẩy ra. 

    Khi tôi 40 tuổi thì quý nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao đã gấp rưỡi hay gấp đôi số niên tuế của tôi rồi …

    Tôi luôn là cây gậy của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội khi bà còn ở Úc Viên Saigon. Tôi theo bà đi thăm vị này,vị nọ như quý cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Bàng Bá Lân …vv. 

    Tôi không biết thủa ” phương phì ” ( đương thì ) của quý khách Úc Viên xưa thế nào, chứ thực tại hồi đó, quý vị đã là những lão ông, người thì lụm khụm, người còn phi xe đạp tới nhà nhau bình văn thiên hạ . 

    Và rồi lần lượt ra đi Tây Trúc khói sương. ..

    Nữ sĩ Mộng Tuyết mở album ra,  hình ảnh cũ, có cụ Đông Hồ, và vài vị tên tuổi, vẫn còn phong thái ung dung… đã mãn phần. 

    Nơi album của nữ sĩ Vân Nương hồi đám cưới, chú rề là  luật sư Lê Ngọc Chấn tri phủ, sau này làm đại sứ VNCH ở Luân  Đôn và Tunisie, nhị vị phù rể là 2 thi sĩ danh tiếng thời tiền chiến: Huy Cận, Xuân Diệu . 

    Tôi kéo thời gian lùi về hiện đại một thế hệ ( 10-15 năm ), tôi bắt gặp một album của anh họ tôi, đại tá Biệt Động Quân Cao Văn Uỷ, thì nhị vị phù rể là 2 nhạc sĩ ; Nguyễn Hiền và Nhật Bằng  tên tuổi ở 2 thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hoà, tới cả khi cùng đi tị nạn ở Hoa Kỳ đầu thập niên 90 thế kỷ trước , anh tôi đại tá Cao Văn Uỷ thì ở Úc .  

    Nay thì chẳng còn ai trong số quý vị vừa nêu trên … ở cõi đời này nữa. 

    Tất nhiên rồi, làm sao sống mãi được… vì quý vị đã trên tám , chín mươi trở đi. 

    Song kể như thế vẫn chưa rõ ý, điều tôi nêu ra, phải có một hình ảnh cụ thể cơ. 

    Một người lạ, không quen , chỉ biết thôi, vì nếu không biết thì làm sao kể nhỉ ? 

    Chuyện nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên, đối với tôi, thì rõ quá rồi, nhưng khi ông 30, tôi còn mấy năm nữa mới 20 . 

    Trong suốt thời gian trung niên của thi sĩ Hoàng Ngọc Liên, cùng một loạt văn thi sĩ khác, tôi thấy quý ông hào hoa phong nhã … không kịp thở nữa . 

    Quý vị ấy cũng sống bận rộn hết mình kiểu như tôi, nhưng sự kiện khác, như Thế Hoài, Hoàng Ngọc Liên bận rộn nơi đoàn quân Mũ Đỏ, rồi văn nghệ lai rai…

    Sau 1975 cộng thêm mỗi người 12 năm tù cải tạo. Khi trở về thành phố, mỗi thi sĩ ” lớn” một xe đạp cao hay mini, tuỳ theo gia đình có xe chi thì xài xe đó, nhị vị tới tìm tôi ở Câu lạc bộ Dưỡng sinh… vì tôi về sớm nên đã kiếm ra việc làm huấn luyện viên Dưỡng Sinh rồi . 

    Thế là chúng tôi đi xơi canh bún bình dân ở vệ đường, vậy mà tôi đòi trả tiền, quý vị không cho …2 thi sĩ tá 5 trước mặt tôi đã bị CSVN bóc hết những gì gọi là phong cách cũ …ngó tội  nghiệp lắm . 

    Nhưng chúng tôi gặp lại nhau, thì tưởng như người nhà thất lạc đã về, nên niềm vui cứ chan hoà . 

    Như tôi trình bầy trên, ông Thiên chẳng có thì giờ ngó ngàng đến 2 vị thi sĩ đàn anh của tôi, thời gian sau thì Thế Hoài thất lộc bên quê nhà, Hoàng Ngọc Liên qua Mỹ theo diện HO . 

    Trung tá Hoàng Ngọc Liên lênh đênh trên vài tiểu bang miền đông, rồi qua Sacto lưu lại cũng khá nhiều năm, nay diện bích ở Oregon, với gia đình một trong 2 cô con gái mà ông mang theo được, ông đã bước gần tới cửa thiên đường . 

    Chao ơi, viết riêng về nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên toàn cảnh cuộc đời thì phải …3 tập, 2 cho nhị vị phu nhân, còn 1 cho tất cả hoa hoa bướm bướm quanh ông, cả lúc đương thời danh vọng lẫn khi thất thế . 

    Mỗi lần kể chuyện đào lý chi lan, tôi thường đi lạc, anh Thân Kính của tôi là một hình ảnh tổng hợp nhiều kiếp nhân sinh gộp lại, khiến tôi không muốn để một kẽ hở nào cho việc than trách sự trống vắng hay thiếu sót bóng dáng những nhân vật, đã có dịp thân thiết trong văn chương hay ngoài cuộc đời mình. 

    Cuối cùng , tôi có  được vốn liếng về thế thái nhân tình ngày nay, là điều tôi rất vui mừng, hạnh phúc, bởi  tôi .đã chắt chiu tình cảm của anh trong nhiều hoàn cảnh cuộc đời …tôi giữ lại mãi mãi tình thân thương hiếm quý này … 

             CAO MỴ NHÂN 

  • Video

    Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

    Ns Võ Tá Hân

    Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:

    Ví mà tôi đổi thời gian được

    Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

    Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

    Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

    Tiếng ai như tiếng lá thu rơi

    Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ

    Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

    Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề

    Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê

    Mười năm tóc mẹ màu tang trắng

    Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

    Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn

    Bên đời gió tạt với mưa tuôn

    Con đi góp lá nghìn phương lại

    Đốt lửa cho đời tan khói sương

    Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào

    Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao

    Mẹ xa xôi quá làm sao vói

    Biết đến bao giờ trông thấy nhau

    Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ

    Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ

    Đau thương con viết vào trong lá

    Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

    Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

    Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi

    Ví mà tôi đổi thời gian được

    Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

    Bài thơ đơn giản và dễ hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống tám năm.

    Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “Con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.

    Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”

    Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?

    Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.

    Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.

    Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cập vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.

    Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.

    Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

    Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

    Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

    Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.

    Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.

    Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

    Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.

    Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.

    Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết

    Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

    Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

    Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.

    Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

    Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình.

    Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.

    Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.

    Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng.

    Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.

    Trần Trung Đạo

  • Văn Thơ,  Vương Trùng Dương

    Duyên Tiền Định – Lê Văn Khoa & Ukraine

    This image has an empty alt attribute; its file name is lvk-1.jpg

    Lời Giới Thiệu: Giáng Sinh năm 1991, Liên Xô tan rã, Ukraine là một trong mười lăm nước được tách khỏi ách thống trị độc tài của Cộng Sản Liên Xô. Ukraine được hồi sinh trong nền tảng tự do và được gọi là xứ sở hoa hướng dương.

    Trong ba thập niên qua, người Việt hải ngoại ít biết nhiều về về đất nước nầy, nhưng trong đó có nhạc sĩ Lê Văn Khoa, qua âm nhạc coi như “duyên tiền định”, và niềm hãnh diện với anh cũng như người Việt lưu vong sau ngày mất nước với Quốc Ca VNCH do anh hòa âm cho ban Quân Nhạc cùng những sáng tác của nhạc sĩ được vang vọng trên đất nước hoa hướng dương.

    Ngày 24 tháng 2/2022, Putin xua đạo quân xâm lăng đất nước Ukraine, hình ảnh vị nguyên thủ quốc gia Zelensky, chính quyền, toàn quân, toàn dân với tinh thần bất khuất, lòng yêu nước cao độ đã dũng cảm, đồng lòng bất chấp hiểm nguy để chống trả quân xâm lăng, với quyết tâm “một mất một còn” phải bảo vệ lãnh thổ. Trong thế giới tự do, hàng triệu triệu người đều ngưỡng mộ, thán phục.

    Vào giữa tháng 3 năm 2022, nhạc sĩ Lê Văn Khoa xuất hiện trong chương trình Jimmy Show, tuy đã vào tuổi chín mươi nhưng trông người nghệ sĩ vẫn quắc thước, minh mẫn và mang hình ảnh lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên chiếc cravatte thể hiện con người tâm huyết lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc.

    Trong các bộ môn giải trí, từ thời chinh chiến tôi thích nhiếp ảnh, âm nhạc… vì nó gắn liền với cuộc sống. Sau nầy được gặp nghệ sĩ Lê Văn Khoa, người đã từng nổi danh với các giải thưởng trên thế giới cũng là cơ hội để học hỏi thêm.

    Với sự quý mến đó, qua chương trình talk show, xem được qua Youtube, nhạc sĩ Lê Văn Khoa typset trên Microsoft Word đã phổ biến trên vài website, tôi edit lại với các hình ảnh kèm theo trong bài viết 15 trang và hình ảnh.

    Vương Trùng Dương 5/5/2022

    Sự gắn bó giữa tôi và Ukraine là một huyền nhiệm không hề được sắp đặt trước. Khi đại tấu khúc Việt Nam 1975 của tôi được Pacific Institute Orchestra trích diễn năm 1995 ở phòng hòa nhạc Sergerstrom Performance Center trong khu thương mại của South Coast Plaza, California, tất cả báo chí lớn nhỏ của Hoa Kỳ từ Los Angeles trở xuống phía Nam đều có bài nhận định thuận lợi.Tôi nghĩ phải thu bài nhạc này vào CD để làm tài liệu cho thế hệ sau. Lúc bấy giờ tôi làm cố vấn cho Pacific Symphony Orchestra để họ làm chương trình đánh dấu 20 năm sau chiến tranh Việt Nam. Họ đã biết tôi có viết nhạc, nên khi tôi ngỏ ý nhờ họ giúp thực hiện CD, họ nhận lời ngay. Họ cho biết phải thu thanh trong ba ngày, chi phí tối thiểu cho ban nhạc là 120.000 đô-la, chưa kể tiền thuê phòng thu và chuyên viên thu thanh. Sau khi suy nghĩ tôi cám ơn họ nhưng không thể có tiền để đi tới.

    Tôi tạm coi Hoa Kỳ như là trung tâm của địa cầu. Tôi không thành công ở trung tâm thì bước kế là xuống tận phương Nam để thử thời vận. Tôi xuống Úc và liên lạc với ban chấp hành của dàn nhạc giao hưởng Sydney. Cuộc gặp gỡ rất tốt. Họ yêu cầu tôi để nhạc lại cho họ nghiên cứu rồi cho tôi biết sau. Chờ đợi trong nhiều tháng vẫn không có âm tín gì. Rồi sau đó mất liên lạc luôn. Ở trung tâm không xong, xuống phương Nam không kết quả, tôi nghĩ thầm bây giờ sẽ lên tận phương Bắc.

    May mắn có Giáo sư Tiến sĩ Vũ Tôn Bình biết sự bối rối của tôi nên mách tôi liên lạc với Kyiv (Kiev) Symphony Orchestra ở Ukraine. Tôi làm theo, viết điện thư cho Kyiv Symphony Orchestra rồi chờ đợi nhiều tháng, mỗi ngày duyệt điện thư hai ba lần mà vẫn chẳng thấy tăm hơi nào. Trong cơn chán nản, tôi định bỏ cuộc, thì nhận được một thư rất lạ, viết bằng thứ chữ tôi không đọc được. Do dự trong nhiều tiếng đồng hồ, cuối cùng tôi quyết định mở thư ra xem. Có thể computer bị hư, mất hết tài liệu tôi giữ trong ấy, nhưng không nín được nữa. Tôi mở thư ra và suý thét to lên vì thư ấy viết cho tôi bằng thứ tiếng Anh lạng quạng lắm. Tôi trả lời ngay, ngỏ ý muốn nhờ ban nhạc thu thanh Symphony Việt Nam 1975 của tôi. Họ không trả lời nhận làm hay không, nhưng biểu tôi gửi nhạc cho họ xem trước khi quyết định. Tôi gửi nhạc qua. Họ xem và trả lời là họ nhận thu thanh. Sau khi biết tôi trên 70 tuổi, họ nói tôi không còn nhiều thì giờ, nên lo thu thanh ngay. Tôi một mặt lo xin sổ thông hành và visa, mặt khác làm việc ngày đêm để chuẩn bị cho kịp để họ in nhạc ra cho từng nhạc sĩ trong ban nhạc.

    Tôi bay qua Kyiv, Ukraine, đầu tháng hai năm 2005. Tuyết vẫn còn phủ trắng khắp nơi. Tôi được ông phó nhạc trưởng ra đón ở phi trường và đưa tôi về ở nhà của ông, tầng 6 trong chung cư có rất nhiều tòa nhà. Ông sắp xếp mọi sự, thuê phòng thu thanh tại Kyiv, lớn thứ nhì trên toàn châu Âu. Ngoài sân khấu rộng có thể để hai hay ba đại dương cầm, có ghế cho độ 100 nhạc sĩ ngồi và còn chỗ cho ban hợp ca 80 người đứng hát. Bên dưới có 300 ghế gắn cứng, để khán giả ngồi xem. Mọi sự giao tiếp, liên lạc của tôi do ông sắp xếp. Nếu không có ông, tôi chẳng làm được gì vì ở Ukraine rất ít người biết nói tiếng Anh, còn tôi chẳng nói được một tiếng Ukraine nào.

    Tôi may mắn được gặp nhiều nhạc sĩ xuất chúng của Ukraine. Họ là những người góp tiếng nhạc trong các CD của tôi.

    Sáng hôm sau, ông Taras đưa tôi đi gặp cô nhạc sĩ violin để giao bài nhạc cho cô đàn độc tấu. Duyên gặp gỡ giữa tôi và các nhạc sĩ Ukraine bắt đầu từ đây. Tôi đinh ninh sẽ đến nhà cô để nói chuyện, không ngờ điểm hẹn là chiếc ghế trống vắng nơi công viên tuyết phủ. Thật tình tứ. Thật lãng mạn. Hình ảnh ấy gợi ý để tôi viết một chuyện ngắn với tên Nocturne. Phần đầu của câu chuyện, tôi ghi lại từng chi tiết. Phần sau thêm mắm muối nhiều.

    Svyatoslava Semchuck, nhạc sĩ độc tấu violin, thu thanh nhiều nhạc phẩm tôi viết cho violin độc tấu. Chiếm giải Quán Quân Nhạc Sĩ Trẻ toàn Liên Bang Sô Viết năm 16 tuổi, chiếm giải cuộc thi quốc tế tại Đức năm 18 tuổi. Giáo Sư Violin nhạc viện Tchaikowsky ở Kyiv, Ukraine, Nga, ĐạiHàn và Nhật Bản. 

    “Tôi là Svyatoslava Semchuk, một nghệ sĩ đàn vĩ cầm (Violon) thành danh ở Ukraine. Tôi rất cảm ơn số phận đã đưa chúng tôi biết đến một nhạc sĩ và là soạn nhạc gia tuyệt vời Lê Văn Khoa.

    “Ông là một người hết sức linh hoạt, giàu kiến thức và có đời sống tâm linh phong phú. Tôi rất may mắn có cơ hội trình diễn một số nhạc phẩm của ông, đặc biệt là các nhạc phẩm “Nocturne”, “Romance”, và một số tác phẩm khác của người nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng này. 

    “Tôi muốn nói ông là một người có nhiệt tình và khả năng làm việc phi thường với một  tâm hồn phong phú. Âm nhạc của ông bao quát các kiến thức và kinh nghiệm của những người làm việc chung với ông.

    “Trong nhạc phẩm “Nocturne”, ông kết hợp chủ nghĩa siêu biểu hiện với chủ nghĩa lãng mạn, đó là sự hòa quyện Chopin và âm nhạc Âu Châu. Đó là những dòng nhạc phong phú một cách diệu kỳ, tinh tế và tươi sáng.  Nó cho ta thấy âm nhạc không có biên giới mà đó chính là ngôn ngữ của thế giới.

    “Tôi khuyến khích các bạn nên đến các buổi hòa nhạc của Lê Văn Khoa. Khi trực tiếp nghe nhạc của ông, bạn sẽ thấy một độ sâu thẳm, một nguồn cảm xúc tuyệt vời của sự hiệp nhất tinh thần. Ai cũng sẽ tìm thấy một cái gì đó mới lạ trong âm nhạc của ông.

    Lyudmila Chychuk là Giáo sư Nhạc Thính Phòng của trường dành cho trẻ em có biệt tài về âm nhạc, và là nhạc sĩ Piano trình diễn độc tấu. Năm 17 tuổi cô thắng giải thưởng sáng tác nhạc Young Composers of The Republic. Đoạt giải Người Đệm Đàn Xuất Sắc trong cuộc thi quốc tế năm 2001-2002. Lyudmila đã thu thanh tập nhạc piano của tôi. Sau đó cô đem nhạc của tôi đi trình diễn ở nhiều nơi, nhờ cô giới thiệu nên có nhiều trường nhạc ở Ukraine đã dạy nhạc của tôi. 

    Khi qua Mỹ nhiều năm trước, cô ở nhà tôi, thấy các con gọi tôi là bố, cô xin phép được gọi tôi là bố như các con tôi. Do đó cô trở thành con tôi. Mối tình bố con này rất lạ. Cô thấy trong nhạc piano của bố Khoa có sự hấp dẫn đặc biệt nên dùng cho chương trình biểu diễn piano của cô. Cô tâm tình: “Bên cạnh nhạc kinh điển, tôi còn thêm nhạc lãng mạn, ví dụ như nhạc của Schubert, hoặc những bản nhạc nổi tiếng của Chopin. Và ngay sau phần trình diễn những danh phẩm này thì những nhạc khúc của Lê Văn Khoa được trổi lên. . . 

    Khi tôi có một buổi hòa nhạc ở Vienna, Áo, tôi cũng đã trình diễn nhạc của Lê Văn Khoa cho các khán giả của Vienna. Không ngạc nhiên khi nhiều người tìm gặp tôi sau buổi biểu diễn. Họ đã có những nhận xét khá thú vị. Họ nói: ‘Chưa bao giờ chúng tôi có cơ hội nghe bản nhạc piano lý thú đến như thế tại một buổi hòa nhạc cổ điển’.Thực tế mỗi khi tôi đưa một trong những tác phẩm của Lê Văn Khoa lên Internet, tôi thấy thính giả khác nhau đã nghe nó. Và có lần một nghệ sĩ Piano người Ý tên Andrea Bambace, viết thư cho tôi: “Bạn tìm thấy bản nhạc tuyệt vời này ở đâu thế? Ước gì tôi cũng có được để chơi thử.”

    “Tôi trả lời tôi không có bản ký âm vào lúc đó và cách hay nhất là ông ấy nên trực tiếp hỏi thẳng Lê Văn Khoa. Như tôi biết, ông ấy đã viết thư tới ông Khoa và đã nhận được trả lời. 

    “Andrea Bambace là Nhạc sĩ độc tấu Piano quốc tế,Giáo sư Piano nhiều nhạc Viện Ý và các quốc gia Âu Châu,Giám khảo nhiều cuộc thi trình diễn dương cầm quốc tế. Ông viết:“Bài Piano Solo Cây Trúc Xinh của Lê Văn Khoa rất hay, rất êm dịu. Nó hấp dẫn vô cùng cho tôi là một người Ý. Nó tràn đầy tính chất khêu gợi. Tôi rất thích bài nhạc này.”

    “Nhiều người quan tâm tới loại nhạc này bởi vì nó mang đến một làn gió mới, hết sức thú vị, khác biệt so với văn hóa của chúng tôi, văn hóa châu Âu.”

    Bây giờ hãy nghe bà Alla Kulbaba, Nhạc Trưởng chính của Ukrainian National Opera, Nhạc Trưởng của Kyiv Symphony Orchestra, đi trình diễn khắp thế giới. Bà đã chiếm giải thưởng Nhạc Trưởng Xuất Sắc. Đã thu thanh nhiều CD nhạc giao hưởng của Lê Văn Khoa từ năm 2005.

    Bà phát biểu: “Tôi đã thu thanh cho Lê Văn Khoa nhiều lần trong nhiều năm. Tôi đã gặp ông cách đây 11 năm khi ông đến Kyiv lần đầu tiên (2005). Chúng tôi đã ghi âm bản nhạc giao hưởng của ông.

    Với tôi, đó là một khám phá tuyệt vời, bởi vì tất cả sức mạnh và sự vĩ đại của dân tộc Việt Nam được biểu lộ trong những nét nhạc của bản giao hưởng đặc biệt này [Symphony Vietnam 1975]. Những đoạn về chiến tranh Việt Nam và cuộc đấu tranh của người Việt được diễn tả thật tuyệt diệu. 

    Âm nhạc của ông Khoa có thể được nhận ra dễ dàng bởi các yếu tố sau đây:

    – Nhạc của ông trần đầy ánh sáng, sự ấm áp và lòng nhân hậu. Những nét nhạc lạc quan khiến ta phải nghe một mạch không ngừng, và tâm hồn bỗng thấy êm ả hơn.

    – Tính dân tộc luôn hiện diện trong âm nhạc của ông. Đây là điểm hết sức đặc biệt.

    Mỗi lần chúng tôi thu thanh nhạc của Lê Văn Khoa thì luôn nhận thấy tiết nhịp và tính chất rất riêng trong âm nhạc của ông.

    Mọi chi tiết trong âm nhạc của ông thật rõ ràng nên khi làm việc với ông thì thật khoan khoái. Việc thu thanh tác phẩm của nhà soạn nhạc Việt Nam (mặc dù ông đang sống tại Mỹ) đã giúp đưa hai dân tộc Việt Nam và Ukraine gần lại với nhau. 

    Dường như chẳng hề có khoảng cách thời gian, năm, mười năm giữa các cuộc gặp gỡ của chúng tôi với nhà soạn nhạc, bởi vì âm nhạc của ông đã gắn kết tâm hồn chúng tôi. Tất cả các nhạc sĩ chúng tôi luôn luôn hào hứng tham gia vào việc thu thanh nhạc của ông.” 

    Yuri Ogoretsky là nhạc sĩ độc tấu Cello chiếm nhiều giải thưởng quốc tế và là thành viên của ban Kyiv String Quartet, Ukraine, từng trình diễn khắp Âu châu.

    “Tôi xin có đôi lời về một con người tuyệt vời, là nhà soạn nhạc tài danh Lê Văn Khoa. Chúng tôi đã làm việc với nhau từ năm 2005. Có một điều quan trọng trong những sáng tác của ông: Ông rất giỏi về ngôn ngữ âm nhạc. Đó là thứ ngôn ngữ không biên giới.

    Ngôn ngữ âm nhạc của ông rất rõ ràng và dễ hiểu, nhờ đó hai quốc gia Ukraine và Việt Nam gặp nhau. Vì vậy, chúng tôi đã thu thanh các tác phẩm của ông. Tôi muốn nhắc tới một đoản khúc đã thu thanh có tên “Ký Ức”. Là một nhà soạn nhạc, ông ấy rất nhạy cảm với các nhạc cụ – trong trường hợp này là đàn Cello. Điều này thể hiện cả trong phần nhạc độc tấu và bản tổng phổ của ông.

    Tôi rất vui mừng và đầy ấn tượng về những nhạc khúc chúng tôi đã thu thanh tại phòng thu của Kyiv. Một dàn nhạc quy mô là Kyiv Symphony Orchestra được dùng để thực hiện dự án này. Cho tới tận hôm nay, tôi vẫn thấy ấm lòng mỗi khi nhớ lại thời khắc ấy, công việc ấy, tình thân ấy, và dĩ nhiên, những dòng nhạc tuyệt diệu ấy.”

    rina Starodub là thần đồng âm nhạc Ukraine. Năm 14 tuổi đã đi trình diễn vòng quanh nước Pháp, đã từng chiếm giải thưởng trong cuộc thi tài bên Nga, hiện là giáo sư Piano cho nhạc viện National Tchaikowsky Conservatory ở thủ đô Kyiv, Ukraine. 

    Thật thích thú được là bạn của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Tôi đã trình diễn nhiều nhạc phẩm đa dạng tuyệt vời của ông, khi đơn tấu, lúc độc tấu với dàn nhạc và song tấu với piano. 

    Tôi đã thu tanh toàn bộ đĩa CD Piano của ông ở Mỹ. Với tôi, đó là vinh dự lớn lao bởi vì nhạc của ông thật ấm áp, nhân hậu và sâu thẳm.

    Tôi đã cố gắng truyền đạt cho khán giả Ukraine và Hoa Kỳ (tôi muốn nói, những người Mỹ gốc Việt) về tấm lòng cao thượng của ông Khoa và tình yêu ông dành cho đất nước của ông. Nhạc của ông thật du dương, thật đẹp và chứa đầy nỗi u hoài thương nhớ quê hương. Đó là những gì tôi nghe và cảm nhận được trong những nhạc khúc của ông.

    Tôi xin cảm ơn đất nước Việt Nam đã “sinh ra” một nhà soạn nhạc tuyệt vời. Thông qua âm nhạc của ông, chúng tôi hiểu thêm tâm hồn của các bạn, bản chất, lòng tốt, vẻ đẹp của các bạn bằng sự rung cảm rõ ràng và sâu xa.

    Tôi hy vọng sự hợp tác giữa Ukraine và Việt Nam sẽ ngày càng phát triển và cải thiện theo thời gian. Nhờ các dự án âm nhạc như vậy và nhờ nghệ thuật, chúng ta sẽ đến gần nhau hơn và tìm thấy các giá trị chung. 

    Các bạn Việt Nam thân mến, tôi chân thành cảm ơn vì đã vinh dự gặp tận mặt ông Lê Văn Khoa và qua các tác phẩm của ông, tôi biết thêm chút ít về nền văn hóa tuyệt diệu của các bạn. Đối với cá nhân tôi, đó là một điều mới mẻ và tôi muốn nói những lời cảm ơn đến tất cả các bạn vì văn hóa của các bạn quá trong sáng, đầy màu sắc, tinh tế và là nguồn cảm hứng tuyệt vời cho chúng tôi.”

    Bên trên là một số ghi nhận nét nhạc theo khuynh hướng Tây phương của tôi. Nhớ lại ý niệm ngày xưa, tôi vói qua khía cạnh dân nhạc Ukraine. 

    Violetta Dutchak là Tiến Sĩ Nghệ Thuật, Tiến Sĩ Văn Chương, Giáo Sư Khoa Trưởng Phân Khoa Âm Nhạc và Nhạc Khí Dân Tộc, trường Đại Học Quốc Gia Prykarpattya (Vasyl Stefanyk Precarpathian National University). Bà đã đi xe lửa 8 tiếng đồng hồ từ trường học ở miền Tây đến Kyiv để gặp Lê Văn Khoa và tiếng đồng hồ rồi lên xe lửa trở về trường mất 8 tiếng đồng hồ nữa, cho kịp giờ dạy hôm sau. Bà nói:

    “Tôi sống tại thành phố Ivano-Frankivsk (miền Tây Ukraine). Tôi là một nhạc sĩ chuyên về đàn Bandura, đồng thời giảng dạy và nghiên cứu về đàn này. Đối với tôi, nghệ thuật đàn Bandura vừa là bộ môn trình diễn nghệthuật vừa là chuyên ngành nghiên cứu khoa học.

     “Mấy năm trước, qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Kateryna Mironyuk, tôi nhận được một số nhạc phẩm của nhà soạn nhạc Việt Nam Lê Văn Khoa. Đó thật là một khám phá mới lạ, một cú sốc văn hóa. Từ trước tôi cứ ngỡ chỉ có âm nhạc Ukraine đặc biệt cho đàn Bandura mới thích hợp để trình diễn theo phong cách âm nhạc Tây Phương. Nhiều bản nhạc Tây Phương đã được viết lại để trình tấu với đàn Bandura nhưng tỏ ra không thích hợp với nhạc cụ này. Vậy mà những bản nhạccủa Lê Văn Khoa đã vượt qua được thử thách ấy và trở thành những bản nhạc bổ túc cho các nghiên cứu khoa học của tôi.

    “Nghệ thuật của Lê Văn Khoa là sự kết hợp giữa âm nhạc Âu Châu và âm nhạc Đông Phương.  Trước tiên, tôi rất kinh ngạc bởi cách sử dụng được sắc điệu rất riêng của đàn Bandura. Sắc điệu là một trong những đặc tính chủ yếu của nhạc cụ này bởi vì đàn Bandura khởi thủy là loại đàn 7 nốt, nó tạo nên những âm sắc đặc biệt cho âm nhạc Ukraine.Vậy mà ngũ cung (pentatonic) và những âm giai lạ lùng với chúng tôi lại được Lê Văn Khoa áp dụng vào trong những bản nhạc soạn cho đàn Bandura để trình tấu trong dàn nhạc giao hưởng. Những bản nhạc ấy là bước đi tiên phong trong việc kết nối và giúp cho các nền văn hóa giao thoa với nhau.

    “Ngày nay, người ta thường nói về việc “tổng hợp” các nền văn hóa. Nhưng trong luận án của tôi, tôi dùng chữ “hội tụ”.  Đó là sự thâm nhập sâu xa những yếu tố văn hóa đã kết hợp một cách tự nhiên từ trước. Đối với tôi, những bản nhạc soạn cho đàn Bandura của Lê Văn Khoa quả là biểu tượng cho sự hội tụ này, cho sự kết hợp các quốc gia lại với nhau.

    “Nói chung, một nhạc khí nói lên tính cách văn hóa của một quốc gia, một dân tộc; đó là dụng cụ thể hiện cảm tình và một số những sở thích nội tâm. Khi chúng tôi trình diễn những bản nhạc của soạn giả Việt Nam với đàn Bandura thì chúng tôi có cơ hội được hiểu biết và thông cảm với dân tộc Việt Nam.”

    Taras Stolyar là Nhạc Sĩ đàn Bandura, một Nghệ Sĩ Ukraine từng được giải thưởng. Ông là Nhạc Trưởng dàn Bandura trong Ban Nhạc Khí Dân Tộc Hàn Lâm Quốc Gia Ukraine. Ông nhận xét về kỹ thuật viết nhạc của Lê Văn Khoa cho đàn Bandura như sau:

    “Tôi được vinh dự thực hiện một trong những nhạc phẩm của ông Lê Văn Khoa. Chúng tôi vừa thu thanh bài “Lý Ngựa Ô” do ông viết cho đàn Bandura với dàn nhạc giao hưởng. Tôi phải nói rằng sự hợp tác này hết sức thú vị. Âm nhạc của ông hoàn toàn khác với những gì chúng tôi dùng trước đây với đàn Bandura.“Bandura là một nhạc khí của quốc gia Ukraine vậy mà ở đây tôi trình tấu một bài dân ca Việt Nam. Âm thanh đàn Bandura trong nhạc khúc này nghe rất thuần túy, rất thanh thoát. Ông đã viết cho đàn trình diễn với các bộ giảm chấn khác nhau và với phong cách khác thường. Nhà soạn nhạc rất can đảm khi sử dụng nhạc cụ này, ngay cả các nhạc sĩ Ukraine cũng không mấy ai có thể áp dụng đàn Bandura một cách thú vị như thế. Hơn nữa, lại còn phải tạo âm thanh cho thật gần với âm nhạc truyền thống Việt Nam. Với tôi, dường như ông Khoa đã biết cách làm được tất cả những điều ấy.

    “Đàn Bandura ngày nay được kể là “đồ cổ” trong nhạc khí thế giới. Qua sự cộng tác giữa chúng tôi, các tấu khúc của nhạc sĩ Lê Văn Khoa (ông đã viết nhiều tấu khúc cho đàn Bandura) rất có giá trị cho lịch sử của đàn Bandura nói chung. Khi tấu lên những cung điệu khác, đàn Bandura đã tiến đến một phong vị mới, một lịch sử mới. Thính giả quan tâm nhiều hơn. Đàn được nâng cấp cao hơn. Tôi nghĩ rằng khi đàn Bandura chơi những bản nhạc của các nước khác ta sẽ được nghe những thanh âm mới lạ như chưa bao giờ từng nghe trước đó. 

    With regards to the Composer Lê Văn Khoa, with great respect and gratitude for the development of cultural contacts between countries and peoples.”

    Professor Violetta Dutchak

    Vasyl Stefanyk Precarpathian National University

    Câu bên trên là lời viết của Giáo sư Tiến sĩ Violetta Dutchak trong quyển sách “Lịch sử và sự phát triển của âm nhạc Ukraine trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21” do Đại học đường Vasyl Stefanyk Precarpathian University ấn hành, đã được gửi tặng tôi. Tác giả dành trọn chương sáu của sách để viết bài nhận xét về hai tác phẩm tôi dùng dân ca Việt viết lại cho đàn dân tộc Ukraine là Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng Tây phương. Bằng cách đó tên một người Việt Nam được ghi vào lịch sử âm nhạc Ukraine. Hiện có hai quyển sách bằng tiếng Ukraine có đề cập đến Lê Văn Khoa.

    Giáo Sư Dmytro Stepovyk, người có ba bằng Tiến Sĩ: Văn Chương, Nghệ Thuật và Tôn Giáo. Ông là tác giả sách nghệ thuật Mosaic. Hiện là giáo sư nhiều trường đại học ở Kyiv, Ukraine và New York, Hoa Kỳ.

    Trong một cuộc phỏng vấn thu hình năm 2017, ông đã hé lộ bí ẩn nằm bên sau cái duyên tiền định của Lê Văn Khoa với nhạc sĩ Ukraine và rộng hơn, những điểm tương đồng của Việt Nam Cộng Hà và Ukraine. Mời quí vị xem tiếp và nhận định.

    “Ukraine và Việt Nam thuộc các nền văn minh khác nhau. Về mặt địa lý, chúng ta cách nhau hàng ngàn cây số. Nhưng có một thứ kết nối chúng ta với nhau, đó là nền văn hoá và văn minh của chúng ta đều cổ kính. Dĩ nhiên, Đông Nam Á đạt văn minh sớm hơn. Chúng tôi coi văn minh Ukraine bắt đầu từ sự xuất hiện của Đấng Christ, bởi vì Ukraine và đặc biệt Kyiv, đã được chính vị tông đồ đầu tiên của Đức Chúa Jêsus Christ đến thăm. Vị ấy là sứ đồ Andrew. Thậm chí ở đây chúng tôi gọi ông là Người Đầu Tiên Được Ơn Kêu Gọi, vì ông là vị tông đồ đầu tiên được Chúa Giê-Su kêu gọi. Vì vậy, chúng tôi gọi nhà thờ Ukraine là Apostolic (Nhà Thờ Thánh Tông Đồ). Trên thực tế, lịch sử Ukraine hiện đại đã phát triển trong những điều kiện khó khăn. Nước tôi nằm giữa khu vực địa lý của châu Âu. 

    Tạ ơn Chúa, cuối cùng từ hai mươi năm qua, chúng tôi không còn là nước thuộc địa. Chúng tôi đã bị cai trị bởi các người khác nhau, người Mông Cổ thế kỷ 13, người Ba Lan (hàng xóm của chúng tôi) và cuối cùng là người Moskal (tức là người Nga). “Rus” là tên Ukraine một thời nhưng đã bị người ta cướp mất.

    Tạ ơn Chúa, không có quốc gia lân cận nào của các bạn, không phải Lào, Campuchia, cũng không phải Trung Quốc, Đài Loan, hay Indonesia dám xóa đi cái tên nước đẹp đẽ của Việt Nam. Tôi tin rằng tên này có nguồn gốc rất cao quý.

    Điều gì làm chúng ta giống nhau?

    Nếu nền văn minh của chúng ta bắt đầu từ cùng một mốc thời gian, thì điều gì khiến chúng ta gặp gỡ nhau? Tôi vô cùng hạnh phúc khi năm 2012 nhờ qua Taras Myronyuk, nhạc trưởng của dàn hợp xướng và dàn nhạc Kyiv Symphony Orchestra, tôi được gặp một người tuyệt vời, nhạc sĩ Lê Văn Khoa, một người Mỹ gốc Việt, nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, tác giả những nhạc phẩm mang nét văn hóa Âu Mỹ kết hợp với giai điệu các ca khúc Việt Nam nổi tiếng. 

    Điều nào khác nữa khiến chúng ta giống nhau? 

    Chúng tôi thuộc về các nhóm sắc tộc khác nhau, chủng tộc Mông Cổ và Âu Châu. Tuy nhiên chúng ta có nhiều điểm chung.

    Tôi nhớ lại lúc còn trẻ khi lần đầu tiên viếng thăm một nước tư bản là Na Uy. Ở thị trấn Northgamme trong viện Bảo Tàng Nhạc Cụ, bên cạnh nhạc cụ dân gian Na Uy, tôi thấy một cây đàn Bandura Ukraine. Nhạc cụ này được người Ukraine đem tới bởi vì họ không chấp nhận chế độ Cộng Sản do Nga áp đặt bằng những lời dạy của Engels và Marx. Chế độ đó không thuộc đất nước chúng tôi vì chúng tôi là dân tộc có lý tưởng dân chủ giống như dân tộc Việt Nam. Chế độ Cộng Sản ngày nay ở Việt Nam không phát xuất tự nhiên từ tâm hồn người Việt. Chính những điều này đã đưa hai quốc gia chúng ta đến với nhau bất chấp những khác biệt bên ngoài. . .

    Ca Sĩ Ngọc Hà, phu nhân của NS Lê Văn Khoa

    Ngày nay thế giới đang trải qua sự toàn cầu hóa, và chúng tôi rất hạnh phúc khi các bạn đến đây để thực hiện những tác phẩm tuyệt đẹp, trong đó Lê Văn Khoa đã sử dụng đàn Bandura – nhạc cụ Ukraine cổ nhất, có nguồn gốc từ đàn Kobza bằng cách thêm nhiều dây đàn hơn. Thật là một món quà tuyệt vời vì nhạc của Lê Văn Khoa giống như âm nhạc dân gian của chúng tôi. 

    Chúng tôi hiện đang vui mừng kỷ niệm hai mươi lăm năm nền độc lập. Liệu nước láng giềng Nga có thể sẽ tấn công chúng tôi chăng? Trong hai năm sau chiến tranh dưới thời Tổng Thống Poroshenko, Ukraine đã nâng cao khả năng quân sự để đối phó với các cuộc tấn công hung hăng. Điều đó cho thấy chúng tôi không chỉ có sức mạnh tinh thần và sáng tạo mà còn có cả sức mạnh cơ bắp. Chúng tôi có thể tự bảo vệ chính mình.

    Tôi nhớ lúc còn trẻ, cuộc chiến bi thảm và đẫm máu giữa miền Bắc và Nam đang diễn ra tại Việt Nam. Thật không may, nền dân chủ đã không giành chiến thắng. Nhưng tôi thiết nghĩ sự phát triển của Việt Nam sẽ đạt đến thời điểm mà ý chí của các bạn rồi sẽ vượt qua sức mạnh của cái ác, và bắt đầu đi theo con đường các bạn đã bước đi trong những thế kỷ trước.

    Lịch sử hiện đại của chúng tôi bằng cách nào đó đã vang vọng với lịch sử quốc gia tuyệt vời của các bạn.” 

    Cái duyên tình tiền định giữa Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Ukraine đã bật mở từ lần gặp đầu tiên, năm 2005, khi tôi qua Kyiv, Ukraine để thu thanh Đại Tấu Khúc Việt Nam 1975. Sự thân thiện và cởi mở giữa chúng tôi dường như đã có từ trước rất lâu mà không ai biết, thình lình hiển hiện từ những nốt nhạc đầu tiên khi dàn nhạc khởi tấu lần đầu. Nó hiện ra trong tiếng đàn, hiện ra trên nét mặt của các nhạc sĩ. Nó hàm chứa niềm vui kín đáo khi gặp lại cố nhân. Nhưng rồi hiện ra rõ hơn sau buổi dợt đầu tiên, lúc chúng tôi phải ra đường lớn để đón taxi. 

    Phòng thu thanh quốc gia ở trên một ngọn đồi thấp, nhưng một người lạ phải đi lần đầu tiên, trong bóng đêm, trên mặt đất phủ tuyết đã đóng băng, không dễ đi chút nào. Cô Svyatoslava Semchuck,  nhạc sĩ độc tấu violin bên trái, bà nhạc trưởng Alla Kulbaba, bên mặt, hai người hai bên sốc nách tôi, nâng tôi lên khỏi mặt đất để đi, tự nhiên như nâng người “em nhỏ” trong gia đình.  

    Trong thời gian thu thanh Symphony VietNam 1975, tôi bị “đứng tim” nhiều lần. Nhưng mối tình nào chẳng có những giây phút hồi hộp?

    Trong khi tổng dợt hành âm số 5 có tên “Trong Đêm Thâu”, khi cả ban nhạc yên lặng, rồi có tiếng nhạc thật êm, lạc lõng, lần lần từ xa tiến tới. Lúc đó, một câu nhạc ngắn trổi lên. Thình lình có một nhạc sĩ đứng lên, quơ tay chận nhạc trưởng, nói lớn với giọng gay gắt. Nhiều nhạc sĩ khác đứng lên. Cả sân khấu ồn ào. Tôi đang ở trong phòng thu với chuyên viên âm thanh, không hiểu chuyện gì xảy ra vì tất cả những người lên tiếng đều dùng tiếng Ukraine. Tôi nghĩ không biết mình viết nhạc bết bát thế nào mà bị chống đối dữ vậy? Vì không hiểu tôi chỉ còn biết tiếp tục quan sát. 

    Tôi thấy bà nhạc trưởng vừa nói, giọng ôn tồn, vừa lật qua lật lại những trang nhạc trong quyển tổng phổ của tôi. Sau đó các nhạc sĩ ngồi xuống và đàn tiếp. Có đoạn họ gằn tiếng đàn như trút cơn giận trong âm thanh. Thu thanh hành âm đó xong, các nhạc sĩ ra về. Tôi không dám ló mặt ra khỏi phòng thu vì sợ bị hành hung. Đến khi ông phó nhạc trưởng vào phòng thu, tôi hỏi thăm chuyện gì đã xảy ra. Ông cho biết nhạc sĩ phản đối vì có câu nhạc cộng sản quốc tế ca. Bà nhạc trưởng đã nghiên cứu nhạc trước nên hiểu câu chuyện trong âm nhạc và giải thích đây là bài nhạc về lịch sử Việt Nam. Nhạc kể cuộc chiến ở Việt Nam do cộng sản quốc tế xúi giục, nhưng sẽ bị chống trả mãnh liệt của quân dân miền Nam, trong đoạn nhạc sắp tới. Nghe vậy nên nhạc sĩ yên tâm ngồi xuống chơi nhạc tiếp. Nhạc sĩ bày tỏ: “Chúng tôi đã bị bắt chơi bài Quốc tế ca này cả đời rồi, và rất thù ghét nó, tưởng đâu thoát rồi, tại sao bây giờ bị chơi nữa?” Do đó khi trỗi Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa, họ gằn phím đàn để thêm sự cương quyết cho tiếng nhạc. Qua sự việc này, ta thấy sự đồng cảm, đồng thuận của nhạc sĩ Ukraine. Nếu thu thanh ở một quốc gia khác, chắc chắn những rắc rối vừa rồi không xảy ra. Thêm một lần nữa duyên tình ẩn kín giữa Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Ukraine đã lộ diện. Họ chơi nhạc với cả tình lẫn lý.

    Một rắc rối khác xảy ra đang lúc tổng dợt hành âm số 6 của Symphony VietNam 1975. Lần này bà nhạc trưởng ra lệnh ngưng nửa chừng và chuyển qua bài khác. Tôi tái mặt, nghĩ thầm, không biết mình viết nhạc bị lỗi lầm quan trọng nào đây mà bà nhạc trưởng không cho chơi tiếp. Sau buổi thu thanh, bà nhạc trưởng hẹn tôi gặp riêng với bà hai hôm nữa.

    Đến ngày giờ hẹn, tôi gặp bà. Sau lời chào hỏi, bà lật nhạc từ quyển tổng phổ, hành âm số 6, “Trên Biển Cả”.  Bà nói: “Cần phải chỉnh lại hành âm này.” Tôi bối rối vô cùng. Làm sao có đủ thì giờ viết thêm phần nhạc mới để thay phần bị bỏ ra? Nhưng bà nhạc trưởng nói tiếp: “Nhạc lớn quá và kéo dài quá lâu. Không ai chịu nổi.” Tôi yên tâm. Không phải mình viết nhạc sai. Tôi nhớ lại phần đối thoại với thính giả sau buổi trình diễn tác phẩm này tại Trung Tâm Biểu Diễn Nghệ Thuật Orange County, năm 1995. Có một khán giả nêu ý kiến: “Âm thanh không đủ lớn để diễn tả chiến tranh.” Nhạc trưởng Edward Cumming trả lời: “Ông Khoa yêu cầu thêm 6 cái trống lớn, đặt rải rác trong khán giả, để khi bị pháo kích thì tất cả đồng loạt vang lên. Nhưng chúng tôi không chấp thuận.” Tôi nghĩ lại, họ không chấp thuận là đúng. Trong khi chỉ có một tiếng đàn bầu thật êm nhẹ tỉ tê, mọi người đang tập trung lắng nghe âm thanh nhỏ yếu, thật tình cảm, thình lình tiếng trống ầm vang khắp phòng nổi lên điếc tai, thì sẽ có chuyện gì xảy ra, nhất là nếu có người đau tim ngồi gần đó? Hôm nay, ở đây, hoàn cảnh tương tự! 

    Bà nhạc trưởng nói bằng tiếng Anh: “Tôi đề nghị cắt bỏ từ chỗ này…. Đến chỗ này.”

    Tôi góp ý: “Tôi thấy không ổn vì câu nhạc bị phá và hòa âm bị thình lình cắt mất.”

    Bà vừa lật trang nhạc và bật nói bằng tiếng Ukraine mà không hề ý thức việc mình làm. Đó là phản xạ tự nhiên trong cơn bối rối. Nhưng bằng cách nào đó, tôi hiểu ý bà và đáp lời bằng tiếng Anh. Bà hiểu tiếng Anh nhưng đáp lại bằng tiếng Ukraine. Cuộc tranh luận kỳ quái như vậy kéo dài nhiều phút. Rốt lại chúng tôi đồng ý cắt bớt ba trang nhạc. Với âm nhạc, ngôn ngữ con người dường như không còn cần thiết nữa. Những bối rối của tôi chưa hết.

    Có lẽ cảm thông với ý nghĩ thầm kín của tôi, một buổi chiều ông phó nhạc trưởng mời chúng tôi ra ngoài để giải khuây. Ông đưa chúng tôi đến một cơ sở mới. Ông mời mấy người trong phái đoàn người Việt ngồi nghỉ.

    Ông vào trong, dẫn ra một nhạc sĩ Ukraine với chiếc đàn accordeon, yêu cầu người nhạc sĩ chơi một bài nhạc để giúp vui chúng tôi. Nhạc sĩ chơi rất điệu nghệ. Hết bài nhạc, ông ấy xếp đàn lại để rời phòng. Ông phó nhạc trưởng giới thiệu với anh ta từng người khách lạ đã nghe ông đàn. Đến tôi, ông nói: “Đây là composer Khoa Lê.” Nghe đến composer, người nhạc sĩ trợn mắt, nói: “Composer à? Vậy thì tôi xin đàn thêm một bài nữa. Bài này do tôi sáng tác, tên là Ave Maria.” Ông ta dạo nhạc rồi cất tiếng hát với tất cả xúc động, đến rơi lệ. Tôi nghĩ ông ấy phải có một tâm sự đau lòng lắm. Khi nhạc sĩ đi khuất, ông phó nhạc trưởng nói nhỏ cho chúng tôi biết người nhạc sĩ ấy tên Aleksandr Dudar, là người hát dạo từ dưới tỉnh lên thủ đô, đi xin ăn ngoài đường phố. Ông ta đã tốt nghiệp âm nhạc từ Kyiv National Tchaikowsky Conservatory of Music. Có người rước ông về đây, cho ở tạm vài tuần lễ để ông ấy định tỉnh tâm thần trước khi trở ra ngoài đời. Tôi choáng váng. Một người hát dạo xin ăn ngoài đường phố là người đã tốt nghiệp nhạc viện danh tiếng quốc gia! Tôi nhớ lại việc Stalin dùng lời giả dối là cần sưu tập những sáng tác của người mù (những bài hát yêu nước) để in thành tập nhạc lưu lại cho hậu thế. Người Nga đã quy tụ được đến ba trăm người ăn xin mù lòa từ khắp Ukraine. Tập trung họ lại một chỗ rồi giết hết một lúc. Tôi tự hỏi: “Như vậy, trình độ âm nhạc của người dân Ukraine đến đâu? Mình có sánh được với họ không?”

    Trở lại hành âm cuối của Symphony VietNam 1975 là Ca Ngợi Tự Do. Trong hành âm này tôi cố ý cho ban hợp ca Ukraine thêm vào với phần hòa âm riêng. Tôi muốn dùng ban hợp ca Ukraine hát đệm để về nhờ ban hợp ca Việt hát chồng lên cho đều và đầy. 

    Khi tập dợt thì ban hợp ca tập riêng ở địa điểm khác với ban nhạc. Họ chỉ hát u ơ mà không có âm thanh nào khác thì khó biết mình hát gì. Đến khi tổng dợt với ban nhạc để thu thanh, họ được hát với ban nhạc lần đầu. Nhờ hát chung với ban nhạc họ thấy phần nhạc đệm có âm sắc khác thường. Họ nói nhạc có sự thôi thúc và phấn khởi mãnh liệt nhưng họ không hiểu nghĩa của lời ca. Đang hát, họ ngưng, yêu cầu nhạc trưởng giải thích cho họ. Nhạc trưởng không biết tiếng Việt nên gọi Lê Văn Khoa ra để giải thích. Khi được gọi, tôi không hiểu có việc gì xảy ra nữa đây, nhưng không né tránh được nên phải xuất hiện. Được biết ý họ, tôi nói tên bài hát. Chỉ cần chừng đó họ đã hiểu hết vì đã cảm với âm nhạc từ trước. Họ yêu cầu bài hát phải được dịch ra tiếng Ukraine để họ hát. Họ nói không phải chỉ người Việt Nam mới ưa chuộng tự do. Người Ukraine và cả người khác trên thế giới đều mong muốn tự do. Trước khí thế như vậy, tôi chấp nhận cho hoãn thu thanh hành âm cuối để đưa bài Ca Ngợi Tự Do cho người dịch ra tiếng Ukraine. Thế là tất cả ca, nhạc sĩ đều ra về. Điều cảm động là tất cả ca, nhạc sĩ, nhân viên thu thanh, nhạc trưởng, không ai nhận một xu thù lao nào cho buổi thu thanh bất thành đó. Thế mới thấy tinh thần của ca nhạc sĩ Ukraine. Họ tuy nghèo, nhưng rất có tình. Với hành động ấy họ công khai xác nhận mối duyên thầm với Lê Văn Khoa. Và cuộc tình còn dài.

    Ngay đêm đó tôi dịch lời bài Ca Ngợi Tự Do ra tiếng Anh. Hôm sau ông phó nhạc trưởng đem bản nhạc và lời tiếng Anh đến nhờ người chuyên dịch các Opera Ý, dịch bài Ca Ngợi Tự Do ra tiếng Ukraine để ban hợp ca hát. Hai ngày sau thì thu thanh. Vì bài ca hoàn toàn mới nên ban hợp ca phải nhìn vào bài để hát. Tuy kém thoải mái, nhưng mọi người thỏa lòng.

    Nhạc trưởng Andrew Wailes của dàn nhạc The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra, Australia, nhận xét bài Ca Ngợi Tự Do như sau: “Trong hành âm cuối, ‘Ca Ngợi Tự Do’, nhạc dàn ra một bài hợp ca thật hay. Nhạc thật lộng lẫy, đồ sộ, thật vĩ đại… Nhạc thật hay, rất sắc xảo, tinh vi. . . .”

    Điểm ấm lòng và có dấu hiệu đồng cảm sau mấy ngày thu thanh của chuyến đi Kyiv, Ukraine lần đầu của tôi năm 2005, là các nhạc sĩ của Kyiv Symphony Orchestra and Chorus yêu cầu bà nhạc trưởng xin tôi để nhạc lại cho họ chơi. Phải chăng cái duyên giữa Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Ukraine đã đến lúc lộ rõ. Phải chăng nét nhạc của tôi đã nói lên được nỗi lòng âm thầm chịu đựng từ lâu của người Ukraine. Tôi tin phải có sự đồng cảm mà chỉ có người trong cuộc mới thấu hiểu. Nhờ đó mà từ năm 2005 đến 2017 tôi thực hiện được 5 CDs nhạc với Kyiv Symphony Orchestra, một CD nhạc Piano, một bài Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa và nhiều bản nhạc rời.

    Một buổi chiều, sau khi thu thanh xong mấy bài nhạc, nhờ việc làm suông sẽ nên buổi thu thanh được kết thúc sớm. Chúng tôi có khoảng trống vài tiếng đồng hồ, bà nhạc trưởng và hai cô nhạc sĩ trẻ rủ tôi đi dạo phố với họ sau một ngày làm việc căng thẳng quá mức. Hai cô gái này tên Irina Starodub, giáo sư piano Nhạc viện Quốc gia, và Svyatoslava Semchuk, cũng là  giáo sư của Nhạc Viện Quốc gia tại Kyiv mà tôi có đề cập trong phần I, kỳ trước. 

    Chúng tôi đi dạo trong công viên của khu đền kỷ niệm 10 triệu người bị Stalin bỏ đói cho chết hết trong hai năm 1932 và 1933, vừa đi vừa nói chuyện về âm nhạc. Có một điểm trùng hợp kỳ lạ, năm 1933 là năm tôi chào đời.

    Đi dạo độ một tiếng đồng hồ, chúng tôi ra đón taxi trở về phòng thu thanh để làm việc tiếp. Nơi đây tôi được học một bài học về đẳng cấp trong giới nhạc cổ điển.

    Khi taxi tấp vô lề đường, cô Irina bước tới, mở cửa xe để mời tôi lên xe. Như đã nói ở phần trước, cô là một thiên tài âm nhạc. Năm 14 tuổi, cô đã đi trình diễn khắp nước Pháp, hiện là Giáo sư Piano cho Nhạc Viện Quốc Gia Tchaikowsky. Nhưng Irina bị cô Svyatoslava, người từng chiếm giải Quán Quân toàn Liên bang Sô Viết, từng chiếm giải thưởng quốc tế ở Đức, môn violin, Giáo Sư Violin của nhiều nhạc viện ở Ukraine, Đại Hàn và Nhật Bản gạt qua một bên, để cô mời tôi lên xe. Tôi chưa kịp bước lên xe thì bà nhạc trưởng đến gạt Svyatoslava qua, bà mở cửa xe và mời tôi lên xe. Tôi nói cách gì cũng không thể để bà lên xe trước tôi. Sau khi tôi ngồi an toàn rồi, bà đóng cửa xe cho tôi, rồi bà lên ngồi ở phía sau với hai nhạc sĩ trẻ.

     “Tôi thấy có việc lạ, xin giải thích giùm tôi. Tại sao ở Hoa Kỳ thì đàn ông mở cửa xe mời phụ nữ lên xe trước rồi họ mới lên xe sau, ở đây tôi không thể mời ba vị lên xe được?”

    Bà nhạc trưởng trả lời một câu ngắn gọn, làm tôi suy nghĩ rất nhiều:

     “Because you are a composer.”

    Câu trả lời rất ngắn đó xác định vị thế từng người trong giới nhạc cổ điển Tây phương, nhưng quan trọng hơn, nó minh xác tôi là một người trong nhóm của họ. Cái duyên tiền định giữa tôi và nhạc sĩ Ukraine đã lộ rõ ra ở đây.

    Một cái duyên nữa là năm 2012, khi Vietnam Film Club nhờ tôi thực hiện một bài quốc thiều giá trị cho phim tài liệu về Quốc Kỳ và Quốc Ca của Việt Nam Cộng Hòa, tôi nghĩ ngay phải tìm một ban nhạc tầm vốc quốc gia mới xứng hợp. Nhờ duyên tình tôi đã kết hợp với nhạc sĩ Ukraine từ năm 2005, và sau khi vượt mọi khó khăn vào giờ phút cuối, chúng tôi được Ban Quân Lễ Nhạc của Phủ Tổng Thống Ukraine trình diễn cho chúng tôi thu thanh và thu hình bài Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa. Duyên tình của chúng tôi càng kết chặt hơn.

    Trong một buổi họp mặt với nhiều nhạc sĩ từ các trường nhạc lớn ở Ukraine, ông Taras Myronyuk của Kyiv Symphony Orchestra nói trước mặt mọi người: “Ông Khoa ơi, tôi thấy có hai con người bên trong ông, một là Việt Nam, người kia là Ukrainian. Nhưng tâm hồn ông thuộc về Việt Nam.” 

    Vâng, tâm hồn tôi mãi mãi thuộc về Việt Nam Cộng Hòa.

    Trong đêm cuối cùng ở Kyiv, năm 2017, có sự truyền cảm nào đó làm mọi người bịn rịn, không muốn chia tay. Tôi nói: “Đêm nay là đêm cuối cùng tôi ở Kyiv. Tôi chào từ biệt mọi người, vì sẽ không còn cơ hội để tôi qua Ukraine nữa.”

    Bà nhạc trưởng Alla Kulbaba êm ái góp ý: “Xin đừng nói cuối cùng. Chúng ta chờ xem, coi có việc gì xảy ra…”

    … Mấy năm sau, ngày 24 tháng Hai 2022, Nga xua quân xâm chiếm Ukraine và tàn phá quốc gia này. Nhưng điểm quan trọng là hai quốc gia đã được thắt chặt bằng sợi dây vô hình: ban Quân Lễ Nhạc Phủ Tổng Thống Ukraine đã trình diễn Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa. Hình ảnh và Âm thanh của việc này sẽ còn lưu dấu đến ngàn sau.

    Lê Văn Khoa

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    VUA HÀI CHARLIE CHAPLIN (SẶC LÔ)

    Charlie Chaplin (1889-1977)
    (Photo Credit:Google search,  Internet)

    Năm 1910, cậu bé người Anh Charlie Chaplin (11) xuất hiện, khởi đầu cho một loạt phim hài có tầm vóc ảnh hưởng rộng lớn, được nhiều người biết đến. Chaplin là một diễn viên hài, nhà sản xuất, nhà văn, đạo diễn, nhà soạn nhạc. Ông còn là một họa sĩ truyện tranh vĩ đại nhất màn ảnh Mỹ cũng như trên thế giới và là một trong những nhân vật quan trọng trong lịch sử phim chuyển động. Năm 1972, ông đã nhận được Giải thưởng đặc biệt của Viện Hàn lâm vì “tác động khôn lường mà ông đã có trong việc biến ảnh chuyển động trở thành loại hình nghệ thuật của thế kỷ này.”

    Nhưng trên thực tế, Chaplin có một tuổi thơ đầy bão tố, sự nghèo đói, cái mạc cảm bị cha mẹ bỏ rơi khi còn quá nhỏ đã ám ảnh tâm trí ông trong nhiều năm dài, ngay cả đến khi ông trưởng thành và trở nên nổi tiếng, thành công trong sự nghiệp điện ảnh. Nỗi ám ảnh này đã tạo nên nhiểu ảnh hưởng tâm lý trong sự suy nghĩ, niềm cảm xúc cũng như sự phản chiếu một cách rõ rệt trong cuộc sống cũng như sự nghiệp điện ảnh và nghệ thuật sáng tác phim truyện của ông. Để chúng ta có thể hiểu rõ hơn trong việc nhận thức những yếu tố tâm lý ảnh hưởng trong tính cách làm việc của Chaplin, có lẽ chúng ta cũng cần biết nguyên nhân của nó.

    Cha của Chaplin qua đời năm ông mới có 38 vì bịnh sơ gan do chứng nghiện rượu gây ra. Mẹ ông, một người đàn bà có cuộc sống rất phóng khoáng, không nghề nghiệp. Bà sống với ba đứa con không cùng cha và sau cùng, bà đã chôn vùi cuộc đời trong nhà thương điên vì bịnh tâm thần trong suốt 17 năm. Mất cả cha lẫn mẹ, Charlie Chaplin phải tự nuôi sống mình bằng cách theo học nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu, ông ra mắt khán giả khi mới có năm tuổi. Năm lên 7 Chaplin sống trong trại tế bần và năm 1897 khi lên 8 ông được gởi vào trường dành cho trẻ mồ coi, vô gia cư. Ông trở thành một nghệ sĩ giải trí chuyên nghiệp của đoàn hát Eight Lancashire Lads trong tiết mục múa guốc.

    Năm lên 9, Chaplin trở thành đứa trẻ bụi đời sống ngày đây mai đó, lây lất trên hè phố của miền Nam London. Năm 1908, ông tham gia đoàn kịch câm Fred Karno và nhanh chóng trở thành ngôi sao nổi tiếng với vai “The Drunk” trong bản phác thảo hòa tấu A Night In A English Music Hall. Chính vì vậy mà sau này khi phải đối diện với khó khăn trong cuộc sống, Chaplin cho đó là chuyện thường tình vì với ông, những bước đường gian khổ ấy ông đã từng đi qua. Ông nói:

    “Tôi hầu như chẳng biết thế nào là khủng hoảng

    vì tôi đã luôn sống trong khủng hoảng”.

    Năm 1917, một hiện tượng lạ lùng xảy ra trong phim trường Hollywood, một loạt phim “Câm” ra đời mà đạo diễn kiên diễn viên không ai khác: Đó là Charlie Chaplin. Chaplin một trong những nghệ sĩ kịch câm và diễn viên xuất sắc nhất trong mọi thời đại có cùng một thể loại phim này. Với biệt hiệu “vua hề”, ông đã thừa hưởng cái máu hài hước ấy từ đâu, không ai biết, mà hình như nó đã tiềm tàng và bắt nguồn trong con người của Chaplin từ thuở bẩm sinh. Nhưng có ai ngờ rằng chính cái biệt tài “hề” thiên phú ấy đã đưa ông lên đỉnh cao của danh vọng sau này.

    Với cái bản năng trời cho ấy nên dù là còn nhỏ tuổi cho đến khi thành tài, Chaplin luôn tìm cách thu hút và gây sự chú ý của khán giả qua phong cách dị dạng, điệu bộ hóm hỉnh, khiến người xem thích thú và ưa chuộng. Nhà khoa học Alber Einstein khi gặp Chaplin, ông nói:

    “Tôi ngưỡng mộ nghệ thuật của anh vì nó có tính phổ quát.

    Anh chẳng cần nói lời nào mà cả thế giới đều hiểu anh“.

    Chaplin khiêm nhường và hài hước, ông đáp:

    “Đúng là vậy, nhưng mà cái danh tiếng của ngài còn vĩ đại hơn, cả thế giới ai cũng ngưỡng mộ ngài, trong khi đó chẳng ai hiểu thuyết tương đối (General theory of Relativity) ngài nói là cái gì“.

    Nếu dùng phân tâm học để giải thích tại sao Chaplin phải vận động hết tâm trí để tạo nên sự chú ý cho mọi người? Thưa đó là bản năng sinh tồn của con người. Cứ điểm qua tiểu sử cũng như những tác phẩm do Charlie Chaplin sáng tác, chúng ta tự hỏi: Tại sao nhà đạo diễn này lại có những hành động khắt khe đối với nữ giới nhưng lại quá vị tha đối với những đứa trẻ khốn cùng?

    Điều này đã được giải thích bởi nhà phân tâm học nổi tiếng Sigmund Freud, ông tin rằng hành vi và cá tính, cách cư sử xã giao của con người tạo thành bởi sự tương tác liên tục và độc nhất giữa những nguồn sức mạnh tâm lý qua 3 cấp độ nhận thức khác nhau: Tiền ý thức, ý thức và vô thức. Ông tin rằng mỗi cấp độ này đều đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng lên hành vi của từng cá nhân. Phân tích về con người của Chaplin theo từng cấp độ ta nhận thấy

    • Vùng tiền ý thức của chaplin là tất cả những suy nghĩ, cảm xúc tiềm ẩn trong ký ức của Chaplin trong thời thơ ấu, (cha mất sớm, mẹ bị bệnh tâm thần và sống trong nhà thương điên, Chaplin trở thành đứa trẻ không nhà cửa, sống lay lất trên hè phố khi ông mới lên 7). Mặc cảm bị cha mẹ bỏ rơi xuất hiện khi ông trưởng thành và những cảm xúc chưa được giải tỏa vốn tiềm ẩn trong vùng tiềm ý thức, nay có thể được đưa đến vùng ý thức.
    • Vùng ý thức là khi những suy nghĩ, cảm giác và mong muốn mà ta nhận thức được một cách rõ ràng khi ký ức được triệu hồi từ vùng ý thức.
    • Và vùng vô thức là nơi các cảm xúc, suy nghĩ, ham muốn và ký ức nằm bên ngoài vùng kiểm soát của ý thức. Những cảm giác đau đớn, lo âu hay xung đột không xuất hiện trong vùng vô thức; tuy nhiên theo Freud, tâm trí vô thức ảnh hưởng lên hành vi của ta. Tóm lại vô thức bao gồm những cảm xúc bị đè nén, những ký ức, thói quen, suy nghĩ, khao khát và phản ứng đau đớn, xấu hổ, tội lỗi đối với chúng ta trong ý thức sẽ được lưu trữ trong vùng vô thức.

    Freud giải thích: Sự liên hệ giữa ba cấp độ của tâm trí ví như một tảng bang hà. Phần nổi lên trên mặt nước thể hiện cho vùng ý thức. Phần phía trên ngay ở dưới mặt nước mà mắt thường vẫn nhìn thấy là tiền ý thức. Và phần băng lớn nằm ẩn sâu dưới nước mà mắt không thấy được chính là vô thức. (Xin nhìn hình dưới). Lời giải thích trên giúp chúng ta hiểu rõ về cách thức vận hành của ý thức và vô thức. Ví dụ: Khi ta nói “lỡ lời” hay “gọi nhầm tên” là do sự bộc phát những suy nghĩ và cảm xúc ẩn giấu trong vô thức của mình.

    Nguồn: https://www.verywellmind.com/the-conscious-and-unconscious-mind-2795946

    Bàn về sự nghiệp điện ảnh của Charlie Chaplin, ông viết rất nhiều kịch bản mà ông vừa là đạo diễn, vừa là vai chính. Một số bộ phim đáng nhớ nhất trong lịch sử điện ảnh, bao gồm The Kid (1921), The Gold Rush (1925), City Lights (1931), Modern Times (1936), The Great Dictator (1940), Monsieur Verdoux (1947) và Limelight (1952). Tuy nhiên, trong số ấy, ông được nhớ đến nhiều nhất với nhân vật trong phim câm “The Tramp” (Kẻ lang thang), Chaplin xuất hiện trong một chiếc áo khoác quá nhỏ, quần rộng thùng thình, đôi giày cũ kỹ quá khổ, chiếc mũ bowler bạc màu, cây gậy có độ đàn hồi và một bộ ria mép kiểu Hitler. Trong phim The Tramp, kẻ lang thang (Chaplin) có dáng đi kỳ lạ, ông bị xã coi thường, xa lánh nhưng lại là nhân vật mà khán giả yêu thích nhất vì sự táo bạo, tính cách bộc trực, dũng cảm và sự kiên cường của kẻ lang thang.

    Trong phần đầu, chúng ta đã phân tích về những ảnh hưởng tâm lý trên đời sống cá nhân của Chaplin, vậy để tiếp tục, chúng ta sẽ mổ sẻ về các hiện tượng tâm lý thể hiện qua phim ảnh của Chaplin. The Tramp là cuốn phim đầu tiên của Chaplin, ra đời khi ông ở tuổi 25. Mặc dù còn trẻ trong lãnh vực phim ảnh, nhưng ông đã được khán giả Mỹ vô cùng yêu mến. The Tramp được Chaplin viết kịch bản và đạo diễn vào năm 1915 miêu tả một nhân vật trẻ con, vụng về nhưng tốt bụng, nổi tiếng là một Kẻ lang thang với tư cách cư xử cao thượng đầy nhân tính.

    The Tramp còn được gọi là “Kẻ lang thang” hay “Kẻ lang thang nhỏ” do Charlie Chaplin thủ vai chính, một nhân vật đáng nhớ nhất trên màn ảnh, đã đưa Chaplin đến một thành công rực rỡ trong lãnh vực điện ảnh thế giới của thời đại phim câm. Kẻ lang thang bất chấp với hoàn cảnh, địa vị trong xã hội của hắn, hắn là một kẻ vô gia cư, nghèo khó với lòng tự trọng cao, hắn sẵn sàng nhận những công việc thấp hèn và đồng lương rẻ mạt. Nhưng bù lại, hắn rất khôn ngoan trong việc sử dụng sự khôn khéo, lanh lợi của mình để có được những gì hắn cần phải có cho sự sống tồn và trốn thoát khỏi bàn tay của những nhân vật có thẩm quyền.

    Nhân vật trong phim The Tramp là một Kẻ lang thang vui nhộn, là nạn nhân của hoàn cảnh nghèo khổ, cô quạnh và đơn độc. Trong phim, kẻ lang thang nhặt một lá cờ đỏ rơi từ một chiếc xe tải lớn, hắn vẫy lá cờ về phía chiếc xe tải với mục đích là trả lại lá cờ cho chủ của nó… Sau này, do thời cơ đưa đẩy, Kẻ lang thang vô tình trở thành thủ lĩnh của một nhóm công nhân, hắn tổ chức biểu tình và kết thúc phải ngồi tù. Trong tù, hắn một lần nữa, vô tình hít phải chất bạch phiến (cocaine) nên quên đường trở về phòng giam của mình. Hắn đi lạc vào khu vực có một số kẻ tù vượt ngục đang tìm cách trốn thoát khỏi nhà tù. Thế là Kẻ lang thang ra tay nghĩa hiệp, hắn dấn thân chiến đấu với những kẻ đào thẩu và cứu mạng sống cho người quản giáo. Kẻ lang thang được người quản lý tha tù nhưng hắn xung phong ở lại vì hắn cho rằng:

    “Thà ở trong tù còn tốt hơn là sông ở thế giới bên ngoài”.

    Cũng vẫn trong truyện phim, Kẻ lang thang Charlie cứu con gái của một người nông dân khỏi tay một số kẻ trộm và ngăn chặn âm mưu cướp trang trại của cha con người nông dân. Kẻ lang thang đem lòng yêu cô gái, nhưng khi được tình yêu thì hắn lại bỏ ra đi. Bộ phim The Tramp với nội dung xây dựng và mô tả một nhân vật tuyệt vời bởi tư cách đạo đức, tốt bụng, thương người của Kẻ lang thang.

    Có người tự hỏi tại sao vở hài kịch lại kết thúc quá buồn như thế? Có phải chăng cuốn phim The Tramp là một cuốn phim phản ảnh thật rõ rệt cuộc đời của cậu bé Charlie Chaplin thuở nhỏ, bị mẹ bỏ rơi, sống lang thang trên hè phố, bữa đói ngày no. Phải chăng Kẻ lang thang ruồng bỏ người yêu vì hắn nghi ngờ tình cảm của cô gái và sợ rằng sẽ có một ngày cô ấy sẽ dũ áo ra đi như mẹ hắn đã ruồng bỏ hắn khi xưa.

    Charlie Chaplin trong phim Kẻ lang thang
    (The Tramp)
    (Photo Credit: Internet)

    Sau phim The Tramp, những bộ phim kế tiếp như Trẻ em (1921), Người phụ nữ ở Paris (1923), Cơn sốt vàng (1925), Xiếc (1928), v.v… của Charlie Chaplin luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của báo chí và khán giả. Chính vì thế, chỉ một thập kỷ sau, Chaplin trở thành người giầu có, nổi tiếng và có thế lực mạnh ở Hollywood. Cho đến nay, Chaplin có biệt hiệu là “Một kỳ quan của điện ảnh”. Trong lúc phim của ông đạt lên đỉnh cao của nghệ thuật thì chẳng một ai hiểu được rằng đằng sau tiếng cười ấy là những giọt nước mắt thầm kín ẩn dấu về những bi kịch của cuộc đời và tuổi thơ mà ông đã đi qua.

    Những bộ phim hài câm mà vua hài Charlie Chaplin diễn xuất thì ít ai biết rằng đó là sự phản ảnh của tuổi thơ cơ cực của ông, chính những sóng gió cuộc đời đã khiến ông tự tìm ra được hình tượng lạ lùng, cười ra nước mắt để giải bày niềm tâm sự, nỗi lòng bi thảm qua cách diễn suất trong các tác phẩm của mình. Charlie Chaplin mãi mãi được công chúng yêu điện ảnh nhớ đến trong bộ dáng người đàn ông nghèo khổ với những bước đi giật giật, lắc lư. Hình ảnh đáng thương với mũ bạc màu, cây gậy cong queo và đôi giầy rách là nguồn cảm hứng phát xuất từ thời thơ ấu nghèo đói của Chaplin trên những con phố tồi tàn ở London.

    Thật vậy, Charlie Chaplin đã từng dùng câu nói vô cùng thấm thía để nói lên nỗi đau khổ của định mệnh đã dành cho cuộc đời mình:

    “Chiếc gương là người bạn thân nhất của tôi, bởi vì khi tôi khóc thì nó không bao giờ cười”

    Charlie Chaplin
    “Tôi thích đi dưới mưa để không ai thấy tôi khóc“

    Những dẫn chứng về sự ảnh hưởng của tâm lý học trong văn chương và phim ảnh của Chaplin lại càng rõ rệt hơn bởi trong đời sống thực tế, Charlie Chaplin là một người rất cay nghiệt và không khoan dung với người phối ngẫu. Càng lớn tuổi, Champlin càng trở nên khó chịu và khó ưa, ông cho là không ai giỏi bằng ông. Trong con đường tình ái, ông cho rằng ông chẳng yêu ai mà chỉ có người ta say mê ông mà thôi. Trong 4 cuộc hôn nhân, Champlin đều bị coi là một người chồng độc ác, tàn nhẫn và bạo hành. Phải chăng nỗi ám ảnh của tuổi thơ khi bị mẹ bỏ rơi đã khiến ông bị mất niềm tin vào phụ nữ. Tuy nhiên, Champlin lại đối sử rất tử tế với những trẻ em lân la quanh phim trường và nhất là làm việc rất suông sẻ với những trẻ em cùng đóng phim với ông. Điều này chứng tỏ rằng ông muốn đền bù tất cả thiệt thòi cho những đứa trẻ bất hạnh như ông.

    Người ta tự hỏi: Tại sao phía sau một Charlie Champlin đáng yêu, dễ mến trên màn bạc lại là một người đàn ông thô bạo? Tại sao ông luôn tạo cho ông một nhân vật tốt bụng trong các vai diễn trên màn bạc? Phải chăng đó là cách thức duy nhất để ông có thể đánh lừa tâm trí mình và xoa dịu những vết thương của thời thơ dại? Phải chăng nếu không sống giả tạo trong vai diễn thì ông trở nên lạc lối và đi vào trầm cảm? Phải chăng sân khấu là nơi để ông lừa dối chính bản thân mình và vai diễn là không gian cho ông nương tựa, để quên đi những khoảng khắc đau khổ, cái khắc khoải cô đơn và cái quá khứ nghiệt ngã của cuộc đời mình.

    “The Kid” cũng là cuốn phim thể hiện rõ về cuộc sống bất hạnh của cậu bé Charlie Chaplin, bộ phim kể về một đứa trẻ bị người mẹ bỏ rơi từ lúc lọt lòng được một người đàn ông nghèo khổ sống bằng nghề vá cửa kính đem về nuôi, tuy nghèo khó nhưng ông lão lại vô cùng yêu thương đứa con nuôi. Đứa bé sống bình yên bên người đàn ông nghèo khổ, cho đến một ngày, khi nhân viên trại tế bần phát hiện ra cậu là đứa trẻ mồ côi và muốn đem cậu bé vào trại tế bần để chăm sóc. Hai bố con nghèo khó ấy phải chạy chốn khỏi căn nhà của mình và ngủ qua đêm trong một nhà trọ chật chội. Một hôm, người chủ nhà trọ tình cờ đọc được một mẩu tin trên báo do người mẹ của cậu bé đang tìm đứa con mà bà đã bỏ rơi năm xụa. Người chủ nhà trọ đã báo cho người mẹ tìm con ấy biết và cuối hai mẹ con đoàn tụ. Cảnh chia tay giữa hai cha con người đàn ông nghèo khó là đoạn phim vô cùng xúc động đã khiến khán giả cười vang xen lẫn trong tiếng khóc…

    Nội dung trong cuốn phim “The Kid” đã bộc lộ một niềm mơ ước của hầu hết những đứa trẻ mồ côi, mơ ước một ngày đoàn tụ cùng với mẹ cha. Phải chăng đây cũng là niềm mơ ước của chính Charlie Chaplin, ao ước một ngày gặp lại mẹ. Phải Charlie Chaplin mơ ước một mái gia đình…

    Tóm lại, trong tất cả các phim hài của Charlie Chaplin đều có những ngụ ý rất thâm thúy, có thể nói đây là một thể loại phim hài hước có mục đích, mang tính cách giáo dục và răn dậy đạo làm người, không nên phân biệt giai cấp trong xã hội, dù giầu hay nghèo đều phải được kính trọng như nhau. Chất bi kịch xen lẫn hài kịch khiến người xem phải suy ngẫm và xúc động vì nội dung phong phú của cốt truyện. Xem phim hài của Charlie Chaplin khiến người xem phải thán phục trí tuệ và sự hài hước tuyệt vời của ông. 

    Tưởng không thể không nhắc đến phim hài “The Great Dictator” của ông, Chaplin đã đóng vai Adolf Hitler, Chaplin kết thúc phim bằng một bài phát biểu nổi tiếng và trở thành câu kinh điển cho tình yêu và sự khoan dung.

    “Chúng ta muốn sống vì hạnh phúc của người khác, chứ không phải sự đau khổ.

    Chúng ta không muốn sự thù ghét và khinh miệt người khác.

    Sự hiểu biết khiến chúng ta trở nên cay độc.

    Sự khôn ngoan làm chúng ta cứng rắn và tàn nhẫn.

    Chúng ta suy tính quá nhiều và cảm nhận quá ít.”

    Khánh Lan, California, May 2022

  • Khánh Lan,  Viết Về MẸ

    NGÀY CỦA MẸ (Mother’s Day)

    Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình
    (Photo credit: giaoduc.edu.vn)

    Tài liệu Wikipedia ghi nhận Ngày của Mẹ bắt nguồn từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, nhưng cũng có tài liệu cho rằng Ngày của Mẹ có thể được bắt nguồn từ Vương quốc Anh và được tổ chức vào ngày Chủ Nhật qua nhiều năm trước khi lễ hội này xuất hiện ở Hoa Kỳ.

    Theo lịch sử thì Ngày của Mẹ là ngày lễ hội mùa xuân hàng năm mà người Hy Lạp cổ đại dành riêng cho các nữ thần mẫu, họ cũng dùng dịp này để tôn vinh Rhea, vợ của Cronus và là mẹ của nhiều vị thần trong thần thoại Hy Lạp. Người La Mã cổ đại còn gọi lễ hội này là Hilaria để tôn vinh Cybele, một nữ thần Mẹ. Các nghi lễ tôn vinh Cybele đã bắt đầu khoảng 250 năm trước Chúa giáng sinh. Lễ kỷ niệm được thực hiện bằng cách cúng dường trong đền thờ Cybele vào khoảng tháng Ba, những ngày đầu rất quan trọng, thường kéo dài trong ba ngày gồm các cuộc diễn hành, trò chơi và hóa trang. Chính Lễ kỷ niệm này đã khiến những người theo Cybele bị trục xuất khỏi Rome.

    Những người theo đạo Thiên Chúa Giáo thời sơ khai đã tổ chức Ngày của Mẹ vào Chủ nhật, thứ tư của Mùa Chay để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Chúa Kitô. Sau đó, ngày lễ hội này được mở rộng để chúc mừng tất cả các bà mẹ và ngày này trở thành Ngày của Mẹ. Ngày của Mẹ bắt đầu từ những năm 1600 ở Anh. Tại đây, Ngày của Mẹ được tổ chức hàng năm vào ngày Chủ nhật thứ tư của Mùa Chay (khoảng thời gian 40 ngày trước Lễ Phục sinh) để tôn vinh những người mẹ sau nghi lễ cầu nguyện trong nhà thờ để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria. Những đứa con thường mang theo những món quà và hoa để tỏ lòng thành kính với mẹ của chúng.

    Theo truyền thống, những đứa trẻ mang theo những món quà, những loại bánh trái đặc biệt hoặc bánh ngọt đầy trái cây được gọi là simnel để tặng Mẹ của chúng. Người Nam Tư và người dân ở các quốc gia khác cũng tổ chức Ngày của Mẹ tương tự như vậy. Tuy nhiên phong tục kỷ niệm Ngày Chủ nhật của Mẹ đã gần như hoàn toàn biến mất vào thế kỷ 19 cho đến mãi sau Thế chiến thứ hai Ngày của Mẹ mới được tổ chức lại.

    Ngày của Mẹ là thời gian để tôn vinh tình mẫu tử và thể hiện lòng biết ơn của chúng ta đối với tất cả những người mẹ, những người vợ, người chị và bà nội & ngoại đã hy sinh cả cuộc đời cho các con, các cháu. Lịch sử đã phải công nhận rằng, từ trước đến nay người phụ nữ luôn giữ những vai trò thiết yếu trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Điển hình là bà Marie Curie, người phụ nữ đầu tiên từng đoạt giải Nobel cho đến cựu Thẩm phán Tòa án Tối cao Ruth Bader Ginsburg, là những người mẹ đã làm thay đổi thế giới.

    Năm 1858, Ann Reeves Jarvis, một người nội trợ vùng Appalachian, đã thành lập “Ngày làm việc” của các bà mẹ trong nội chiến nhằm nỗ lực cải thiện điều kiện vệ sinh cho binh lính và trẻ em. Bà cũng đã giúp thành lập một câu lạc bộ để dạy phụ nữ cách chăm sóc trẻ em. Khi nội chiến bùng nổ ở Hoa Kỳ, Ann Reeves Jarvis đã yêu cầu các thành viên khác của các câu lạc bộ tổ chức và cam kết rằng chiến tranh sẽ không làm ảnh hưởng đến công việc của họ. Họ thề sẽ cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế và hỗ trợ những người bị bệnh hoặc bị thương dù bất kể họ đang chiến đấu ở phe nào. Sau đó, Ann Reeves Jarvis thành lập “Ngày Tình bạn của Mẹ” để thúc đẩy sự hòa giải giữa những người lính của Liên minh và Liên minh.

    Năm 1872, Julia Ward Howe, một nhà hoạt động, nhà văn và nhà thơ, bà đã viết bản Tuyên ngôn Ngày của Mẹ để kêu gọi các bà mẹ tham gia trong việc thúc đẩy hòa bình thế giới. Julia Ward Howe là người tiên phong và gợi ý cho việc tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ. Là một người yêu tổ quốc, bà đã sáng tác và trở nên nổi tiếng với bài hát nội chiến “Battle Hymn of the Republic“. Julia Ward Howe đề nghị rằng ngày 2 tháng 6 hàng năm nên được tổ chức và đó là Ngày của Mẹ cũng như là ngày dành cho hòa bình. Bà đã viết lời kêu gọi đến tất cả các phụ nữ và nồng nhiệt khuyến khích họ nổi dậy chống lại chiến tranh trong Tuyên ngôn Ngày của Mẹ. Bàn tuyên ngôn này trở nên nổi tiếng và được viết ở Boston, năm 1870.

    Julia Ward Howe cũng đã khởi xướng Ngày Hòa bình của các Bà mẹ vào Chủ nhật thứ hai trong tháng Sáu ở Boston. Bà ủng hộ lý do tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ và chính thức tuyên bố cho phép mọi người nghỉ lễ vào ngày này. Ý tưởng của Julia Ward Howe đã lan rộng nhưng sau cùng nó đã bị thay thế bởi ngày lễ Ngày của Mẹ, hiện được tổ chức vào tháng Năm. Năm 1873, Julia Ward Howe vận động để thành lập Ngày của mẹ nhằm đạt được hòa bình thế giới và giải quyết xung đột giữa con người với nhau.

    Với nguồn cảm hứng từ những công việc của Ann Reeves Jarvis,  Anna Jarvis M. là con gái của Ann Reeves Jarvis tiếp tục tranh đấu cho lễ hội Ngày của Mẹ. Năm 1905, sau khi bà Ann Reeves Jarvis  qua đời, Anna Jarvis M. muốn tạo ra một ngày tưởng niệm và tôn vinh những người mẹ đã qua đời cũng như ghi nhận những hy sinh mà các bà mẹ đã dành cho con cái của họ, Sau cùng, Ngày lễ của Mẹ được công nhận và ngày lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ đầu tiên được tổ chức tại Grafton, phía Tây Virginia tại một nhà thờ địa phương vào ngày 10 tháng 5 năm 1908. Nhờ sự hỗ trợ tài chính của John Wanamaker, một chủ doanh nghiệp ở Philadelphia, Ngày của Mẹ này đã thành công rực rỡ với hàng nghìn người đã đến tham dự. Ngày nay, tại nhà thờ có Đền thờ Ngày của Mẹ Quốc tế.

    Để Ngày của Mẹ trở thành ngày lễ quốc gia, Anna Jarvis M. đã viết thư cho các chính trị gia và báo chí trên toàn quốc, yêu cầu họ chấp nhận ngày này để kỷ niệm và ghi ơn công lao của các bà Mẹ. Kết quả, truyền thống báo chí bắt đầu lan rộng ra 45 tiểu bang và một số tiểu bang khác, chính thức tuyên bố đây là ngày lễ Ngày của Mẹ vào năm 1912. Năm 1914, cựu Tổng thống Woodrow Wilson đã tuyên bố tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ đầu tiên trên toàn quốc. Ngày nay, Ngày của Mẹ được tổ chức vào Chủ nhật thứ hai trong tháng Năm của mỗi năm.

    Ở Vương quốc Anh và một số khu vực ở Châu Âu, ban đầu là đây là một ngày lễ tôn giáo được tổ chức vào Chủ nhật thứ tư của Mùa Chay. Ngày này nhằm mục đích cho các cá nhân tìm đường trở lại “nhà thờ mẹ” của họ. Những người đi nhà thờ cũng sẽ coi đây là cơ hội để đoàn tụ với gia đình sau khi đi công tác xa. Các nhà sử học có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Ngày Chủ nhật của Mẹ, bao gồm truyền thống phát triển từ việc trẻ em nhặt hoa khi chúng đi bộ đến nhà thờ.

    Tại Vương quốc Anh, người dân dành thời gian để tôn vinh những người mẹ, chẳng hạn như mẹ đẻ, bà ngoại, mẹ kế và mẹ chồng. Trong ngày ấy, mọi người sẽ ăn mừng bằng một chiếc bánh Simnel, đó là một chiếc bánh trái cây nhân hạnh nhân và 11 quả bóng để tượng trưng cho 11 môn đồ.

    Ở Ethiopia, Ngày của Mẹ được tổ chức hơi khác một chút. Khi mùa mưa kết thúc, các gia đình sẽ tụ tập để tham gia lễ hội Antrosht. Trong khoảng thời gian ba ngày, sẽ có khiêu vũ, ca hát và rất nhiều đồ ăn. Theo phong tục, con gái cung cấp rau và pho mát, trong khi con trai mang thịt.

    Thái Lan, Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày 12 tháng 8 để kỷ niệm ngày sinh của Hoàng hậu Sirikit. Các hoạt động trong ngày lễ bao gồm diễn hành và tặng hoa nhài cho các bà mẹ.

    Nga, Khi nước Nga còn được gọi là Liên bang Xô Viết, các bà mẹ được tôn vinh vào ngày Quốc tế Phụ nữ ngày 08 tháng 03. Năm 1998, Ngày của Mẹ chính thức được thành lập là Chủ nhật cuối cùng của tháng 11. Tuy nhiên, nhiều người vẫn ăn mừng vào tháng Ba.

    Nepal, Ngày của Mẹ được gọi là Mata Tirtha Aunsi, có nghĩa là “Hành hương về trăng non của Mẹ”. Vào ngày này, các cá nhân sẽ trân trọng thời gian ở bên mẹ và tưởng nhớ tất cả những người đã qua đời.

    Ngày nay, Ngày của Mẹ được tổ chức ở một số quốc gia gồm Mỹ, Anh, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Úc, Mexico, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản và Bỉ. Mọi người coi ngày này như một cơ hội để tri ân và cảm ơn những người mẹ của họ cho sự yêu thương và hy sinh của họ với con cái. Trong Ngày của Mẹ, các đường dây điện thoại đạt đến mức quá tải cũng như truyền thống tặng hoa, thiệp và những món quà gửi đến cho Mẹ hoặc mời Mẹ của họ đi chơi, đi ăn sáng, ăn trưa hoặc ăn tối…

    Khánh Lan siêu tầm và nghiên cứu from Wikipedia

    California, May 2022

  • Phạm Anh Dũng,  Video

    Mẹ Vàng Úa

     
    “…Cảm ơn anh Phạm Anh Dũng đã viết ca khúc về Mẹ Vàng Úa rất xúc động!  
    Nếu anh bằng lòng  tôi xin trích một đoạn ca từ trong ca khúc Mẹ Vàng Úa để đưa vào sách của tôi. 
    Tính độc đáo của ca từ ở ý, là: Xa cách Mẹ lâu ngày trở về quê hương chỉ còn thấy “bình tro cốt”! 
    Không còn cái buồn nào hơn! 
    Mẹ tôi cũng mới mất, và tôi cũng chưa về. 
    Một ngày nào tôi trở về quê hương thì cũng chỉ nhìn thấy bình tro cốt của Mẹ!…” 
    (Email của Đỗ Bình 21/05/2022)

     

     
    Mẹ Vàng Úa (nhạc và lời Phạm Anh Dũng) Lê Bảo đàn hát:
     
        https://youtu.be/qwQF3kPwPoI
     
    Sau những ngày buồn mùa Xuân 1975, đến giờ, tôi chưa về nhà bao giờ. Không có gì đau buồn hơn là không bao giờ gặp lại mẹ tôi nữa. Mẹ Vàng Úa là nhạc phẩm tôi viết sau khi xem video về Mẹ tôi đau ốm trước khi qua đời. Và sau khi các anh chị tôi về Việt Nam cho xem hình ảnh, kể lại đi khi thăm bình đựng tro cốt Mẹ tại chùa. Mẹ Vàng Úa, bài nhạc viết đã lâu, muốn hát từ lâu, mà không bao giờ hát được vì mỗi lần đều bị xúc cảm mạnh. Cám ơn Lê Bảo đã thực hiện dùm, đàn hát với cả tấm lòng, qua từng lời hát, từng tiếng đàn. Mẹ Vàng Úa (nhạc và lời Phạm Anh Dũng) “Mẹ già như cây tàn héo. Nhớ con yêu xa quê lâu rồi. Chiều về về qua xóm nghèo. Chiều vàng, vàng trên đường phố. Mẹ già như nắng vàng úa. Gió heo may hiu hiu u sầu. Nhìn dòng sông tím lạnh. Lạnh buồn, lạnh tím tâm hồn. Chiều xuân đó, con đi mai vàng thôi nở. Liễu xuân mềm lặng lẽ rũ bên song. Bầy chim bé tiếng hót đã ngưng từ lâu. Mẹ nước mắt chan hòa má nhăn nheo.. Một ngày con đã về đến. Đến quê hương nhưng sao vắng mẹ. Chỉ còn một chiếc bình. Trong bình là tro xác mẹ.”
     

    Ca khúc Mẹ Vàng Úa, ca từ mang đầy hình ảnh sâu sắc, giai điệu buồn tê tái, nghe ca sĩ Lê Bảo trình bày rất xúc động!
     Mỗi người có một Bà Mẹ và Tình Mẹ thì tuyệt vời! Ngày trước những nhạc sĩ diễn tả về tình mẹ làm xúc động lòng người  và sẽ còn mãi mãi, như Phạm Duy(Bà Mẹ Gio Linh), Nhị Hà ( Mẹ Tôi), Y Vân (Lòng Mẹ), Lam Phương (Tình Mẹ)… sau này có một số ca khúc viết về Mẹ nhưng tôi ít được nghe, duy có vài bài trong đó có ca khúc Ngày Giỗ Mẹ của Minh Đạo ( có thời làm cựu thẩm phán VNCH, anh viết trong tù) và bài Nhớ Mẹ của cựu thiếu tướng Lê Minh Đảo và đại tá Đỗ Trọng Hòe. Ca khúc Mẹ Vàng Úa của anh cũng nằm trong số những ca khúc hay về Mẹ. 
    Xin gởi mấy bài thơ viết lúc mẹ tôi còn trên cõi đời.

    thân mếnĐỗ Bnìh

    LÒNG MẸ 

    Mẹ ngồi bên cửa buồn như liễu
    Tóc trắng cô đơn nỗi tịch liêu.
    Tình mẹ mênh mông hơn biển cả
    Thương con xa lẫn  áng mây chiều. 


    TÌNH MẸ 

    Tình mẹ mênh mông như biển trời,
    Là trăng soi sáng khắp muôn nơi.
    Mỗi lần con ngã trong giông bão.
    Có tiếng mẹ ru ấm cuộc đời.

     ĐÊM BUỒN
    Sấm chớp nửa khuya đời thoáng hiện,
    Paris trắng xóa phố thần tiên

    Người đi, dấu gậy hằn lên tuyết

    Bóng hạc làm con nhớ mẹ hiền.

    Năm ngoái mưa đầy qua xóm vắng,

    Lũ tràn con ngõ mấy mùa trăng.
    Gió đông vi vút luồn khe vách,
    Chắc buốt lưng còng nỗi giá băng!
    Dường nhưcó tiếng ho ngàn dặm?Con bỗng hình dung dáng mẹ nằm,Hiu hắt nét gìa thêm rũ rượi,Đau lòng muốn chấp cánh về thăm!
    Cắn môi bật máu còn thơm sữa,
    Lạy mẹ con nào khác thuở xưa,
    Ngày tháng ngút sầu nên bạc tóc!
    Bao xuân nào nhớ phút giao thừa! 

    MẸ
    Viễn xứ mây chiều  vương dáng mẹ,
    Mắt buồn u uẩn mấy hàng tre.
    Tuyết rơi tê tái hồn vong quốc,
    Mẹ xá cho con tội muộn về!

     

    Đỗ Bình 

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    NGÀY CỦA MẸ (Mother’s Day)

    Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình

    (Photo credit: giaoduc.edu.vn)

     

    Tài liệu Wikipedia ghi nhận Ngày của Mẹ bắt nguồn từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, nhưng cũng có tài liệu cho rằng Ngày của Mẹ có thể được bắt nguồn từ Vương quốc Anh và được tổ chức vào ngày Chủ Nhật qua nhiều năm trước khi lễ hội này xuất hiện ở Hoa Kỳ.

    Theo lịch sử thì Ngày của Mẹ là ngày lễ hội mùa xuân hàng năm mà người Hy Lạp cổ đại dành riêng cho các nữ thần mẫu, họ cũng dùng dịp này để tôn vinh Rhea, vợ của Cronus và là mẹ của nhiều vị thần trong thần thoại Hy Lạp. Người La Mã cổ đại còn gọi lễ hội này là Hilaria để tôn vinh Cybele, một nữ thần Mẹ. Các nghi lễ tôn vinh Cybele đã bắt đầu khoảng 250 năm trước Chúa giáng sinh. Lễ kỷ niệm được thực hiện bằng cách cúng dường trong đền thờ Cybele kéo vào khoảng tháng Ba, những ngày đầu rất quan trọng, thường kéo dài trong ba ngày gồm các cuộc diễu hành, trò chơi và hóa trang. Chính Lễ kỷ niệm này đã khiến những người theo Cybele bị trục xuất khỏi Rome.

    Những người theo đạo Thiên Chúa Giáo thời sơ khai đã tổ chức Ngày của Mẹ vào Chủ nhật, thứ tư của Mùa Chay để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Chúa Kitô. Sau đó, ngày lễ hội này được mở rộng để chúc mừng tất cả các bà mẹ và ngày này trở thành Ngày của Mẹ. Ngày của Mẹ bắt đầu từ những năm 1600 ở Anh. Tại đây, Ngày của Mẹ được tổ chức hàng năm vào ngày Chủ nhật thứ tư của Mùa Chay (khoảng thời gian 40 ngày trước Lễ Phục sinh) để tôn vinh những người mẹ sau nghi lễ cầu nguyện trong nhà thờ để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria. Những đứa con thường mang theo những món quà và hoa để tỏ lòng thành kính với mẹ của chúng.

    Theo truyền thống, những đứa trẻ mang theo những món quà, những loại bánh trái đặc biệt hoặc bánh ngọt đầy trái cây được gọi là simnel để tặng Mẹ của chúng. Người Nam Tư và người dân ở các quốc gia khác cũng tổ chức Ngày của Mẹ tương tự như vậy. Tuy nhiên phong tục kỷ niệm Ngày Chủ nhật của Mẹ đã gần như hoàn toàn biến mất vào thế kỷ 19 cho đến mãi sau Thế chiến thứ hai Ngày của Mẹ mới được tổ chức lại.

    Ngày của Mẹ là thời gian để tôn vinh tình mẫu tử và thể hiện lòng biết ơn của chúng ta đối với tất cả những người mẹ, những người vợ, người chị và bà nội & ngoại đã hy sinh cả cuộc đời cho các con, các cháu. Lịch sử đã phải công nhận rằng, từ trước đến nay người phụ nữ luôn giữ những vai trò thiết yếu trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Điển hình là bà Marie Curie, người phụ nữ đầu tiên từng đoạt giải Nobel cho đến cựu Thẩm phán Tòa án Tối cao Ruth Bader Ginsburg, là những người mẹ đã làm thay đổi thế giới.

    Năm 1858, Ann Reeves Jarvis, một người nội trợ vùng Appalachian, đã thành lập “Ngày làm việc” của các bà mẹ trong nội chiến nhằm nỗ lực cải thiện điều kiện vệ sinh cho binh lính và trẻ em. Bà cũng đã giúp thành lập một câu lạc bộ để dạy phụ nữ cách chăm sóc trẻ em. Khi nội chiến bùng nổ ở Hoa Kỳ, Ann Reeves Jarvis đã yêu cầu các thành viên khác của các câu lạc bộ tổ chức và cam kết rằng chiến tranh sẽ không làm ảnh hưởng đến công việc của họ. Họ thề sẽ cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế và hỗ trợ những người bị bệnh hoặc bị thương dù bất kể họ đang chiến đấu ở phe nào. Sau đó, Ann Reeves Jarvis thành lập “Ngày Tình bạn của Mẹ” để thúc đẩy sự hòa giải giữa những người lính của Liên minh và Liên minh.

    Năm 1872, Julia Ward Howe, một nhà hoạt động, nhà văn và nhà thơ, bà đã viết bản Tuyên ngôn Ngày của Mẹ để kêu gọi các bà mẹ tham gia trong việc thúc đẩy hòa bình thế giới. Julia Ward Howe là người tiên phong và gợi ý cho việc tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ. Là một người yêu tổ quốc, bà đã sáng tác và trở nên nổi tiếng với bài hát nội chiến “Battle Hymn of the Republic“. Julia Ward Howe đề nghị rằng ngày 2 tháng 6 hàng năm nên được tổ chức và đó là Ngày của Mẹ cũng như là ngày dành cho hòa bình. Bà đã viết lời kêu gọi đến tất cả các phụ nữ và nồng nhiệt khuyến khích họ nổi dậy chống lại chiến tranh trong Tuyên ngôn Ngày của Mẹ. Bàn tuyên ngôn này trở nên nổi tiếng và được viết ở Boston, năm 1870.

    Julia Ward Howe cũng đã khởi xướng Ngày Hòa bình của các Bà mẹ vào Chủ nhật thứ hai trong tháng Sáu ở Boston. Bà ủng hộ lý do tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ và chính thức tuyên bố cho phép mọi người nghỉ lễ vào ngày này. Ý tưởng của Julia Ward Howe đã lan rộng nhưng sau cùng nó đã bị thay thế bởi ngày lễ Ngày của Mẹ, hiện được tổ chức vào tháng Năm. Năm 1873, Julia Ward Howe vận động để thành lập Ngày của mẹ nhằm đạt được hòa bình thế giới và giải quyết xung đột giữa con người với nhau.

    Với nguồn cảm hứng từ những công việc của Ann Reeves Jarvis,  Anna Jarvis M. là con gái của Ann Reeves Jarvis tiếp tục tranh đấu cho lễ hội Ngày của Mẹ. Năm 1905, sau khi bà Ann Reeves Jarvis  qua đời, Anna Jarvis M. muốn tạo ra một ngày tưởng niệm và tôn vinh những người mẹ đã qua đời cũng như ghi nhận những hy sinh mà các bà mẹ đã dành cho con cái của họ, Sau cùng, Ngày lễ của Mẹ được công nhận và ngày lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ đầu tiên được tổ chức tại Grafton, phía Tây Virginia tại một nhà thờ địa phương vào ngày 10 tháng 5 năm 1908. Nhờ sự hỗ trợ tài chính của John Wanamaker, một chủ doanh nghiệp ở Philadelphia, Ngày của Mẹ này đã thành công rực rỡ với hàng nghìn người đã đến tham dự. Ngày nay, tại nhà thờ có Đền thờ Ngày của Mẹ Quốc tế.

    Để Ngày của Mẹ trở thành ngày lễ quốc gia, Anna Jarvis M. đã viết thư cho các chính trị gia và báo chí trên toàn quốc, yêu cầu họ chấp nhận ngày này để kỷ niệm và ghi ơn công lao của các bà Mẹ. Kết quả, truyền thống báo chí bắt đầu lan rộng ra 45 tiểu bang và một số tiểu bang khác, chính thức tuyên bố đây là ngày lễ Ngày của Mẹ vào năm 1912. Năm 1914, cựu Tổng thống Woodrow Wilson đã tuyên bố tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ đầu tiên trên toàn quốc. Ngày nay, Ngày của Mẹ được tổ chức vào Chủ nhật thứ hai trong tháng Năm của mỗi năm.

    Ở Vương quốc Anh và một số khu vực ở Châu Âu, ban đầu là đây là một ngày lễ tôn giáo được tổ chức vào Chủ nhật thứ tư của Mùa Chay. Ngày này nhằm mục đích cho các cá nhân tìm đường trở lại “nhà thờ mẹ” của họ. Những người đi nhà thờ cũng sẽ coi đây là cơ hội để đoàn tụ với gia đình sau khi đi công tác xa. Các nhà sử học có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Ngày Chủ nhật của Mẹ, bao gồm truyền thống phát triển từ việc trẻ em nhặt hoa khi chúng đi bộ đến nhà thờ.

    Tại Vương quốc Anh, người dân dành thời gian để tôn vinh những người mẹ, chẳng hạn như mẹ đẻ, bà ngoại, mẹ kế và mẹ chồng. Trong ngày ấy, mọi người sẽ ăn mừng bằng một chiếc bánh Simnel, đó là một chiếc bánh trái cây nhân hạnh nhân và 11 quả bóng để tượng trưng cho 11 môn đồ.

    Ở Ethiopia, Ngày của Mẹ được tổ chức hơi khác một chút. Khi mùa mưa kết thúc, các gia đình sẽ tụ tập để tham gia lễ hội Antrosht. Trong khoảng thời gian ba ngày, sẽ có khiêu vũ, ca hát và rất nhiều đồ ăn. Theo phong tục, con gái cung cấp rau và pho mát, trong khi con trai mang thịt.

    Thái Lan, Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày 12 tháng 8 để kỷ niệm ngày sinh của Hoàng hậu Sirikit. Các hoạt động trong ngày lễ bao gồm diễu hành và tặng hoa nhài cho các bà mẹ.

    Nga, Khi nước Nga còn được gọi là Liên bang Xô Viết, các bà mẹ được tôn vinh vào ngày Quốc tế Phụ nữ ngày 08 tháng 03. Năm 1998, Ngày của Mẹ chính thức được thành lập là Chủ nhật cuối cùng của tháng 11. Tuy nhiên, nhiều người vẫn ăn mừng vào tháng Ba.

    Nepal, Ngày của Mẹ được gọi là Mata Tirtha Aunsi, có nghĩa là “Hành hương về trăng non của Mẹ”. Vào ngày này, các cá nhân sẽ trân trọng thời gian ở bên mẹ và tưởng nhớ tất cả những người đã qua đời.

    Ngày nay, Ngày của Mẹ được tổ chức ở một số quốc gia gồm Mỹ, Anh, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Úc, Mexico, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản và Bỉ. Mọi người coi ngày này như một cơ hội để tri ân và cảm ơn những người mẹ của họ cho sự yêu thương và hy sinh của họ với con cái. Trong Ngày của Mẹ, các đường dây điện thoại đạt đến mức quá tải cũng như truyền thống tặng hoa, thiệp và những món quà gửi đến cho Mẹ hoặc mời Mẹ của họ đi chơi, đi ăn sáng, ăn trưa hoặc ăn tối…

    Khánh Lan siêu tầm và nghiên cứu from Wikipedia

    California, May 2022

     

  • Ngọc Cường,  Sinh Hoạt

    GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM: BA CHỊ EM CỦA NV NGỌC CƯỜNG & HỒI TƯỞNG CỦA NV TỪ DUNG

    LỜI GIỚI THIỆU TÁC PHẨM BA CHỊ EM CỦA NV NGỌC CƯỜNG
    Có thể nói, sách tiếng Việt của người Việt Nam Hải ngoại đang ở trong buổi hoàng hôn, vì thế hệ của những nhà văn một thời vang bóng của Việt Nam Cộng Hoà đã lần lượt ra đi gần hết, những người còn lại hầu như đã rửa nay gác bút. Trong khi đó người viết mới bằng tiếng Việt lại vắng bóng, năm thì mười họa mới thấy một cây viết mới xuất hiện trên văn đàn Hải ngoại.


    Hiện nay, ở Hải ngoại chỉ còn lại một nền văn chương lão hoá, giống như ngọn đèn cạn dầu sắp tắt. Sở dĩ tôi ví von như vậy vì người viết ở Hải ngoại ngày càng ít đi, ít đến độ có thể đếm được trên đầu ngón tay, đồng thời số lượng độc giả gần như biến mất không còn nữa.

    NHÀ VĂN NGỌC CƯỜNG

    Tôi nhớ nhà văn Ngọc Cường có viết trong phiếm luận “72 năm nhìn lại” một đoạn như sau: “Ngày nay quý độc giả ghé qua tòa soạn báo Người Việt ngay chỗ hành lang, sẽ thấy trên tường, đầy rẫy sách bày bán, người viết có thể nhiều hơn người đọc”. Tôi mạo muội góp ý với ông Ngọc Cường: “Người Viết ở Hải ngoại không còn nhiều lắm đâu, làm gì có chuyện đầy rẫy, tuy ít như vậy nhưng số lượng người viết vẫn còn nhiều hơn người đọc”. Đó là điều tôi muốn chia xẻ với nhà văn Ngọc Cường.


    Thực vậy, theo con số thống kê của Wikipedia thì năm 2017, có hơn 4 triệu rưởi Việt kiều sống rải rác khắp mọi nơi trên thế giới, trong đó chỉ riêng ở Hoa Kỳ đã có hơn 2 triệu 2 trăm ngàn. Và, Quận Cam thuộc miền Nam của tiểu bang California có tròm trèm gần 2 trăm ngàn người Việt sinh sống. Với một số dân đông đảo như vậy nhưng ở Quận Cam chỉ còn lại hai tiệm sách. Hai tiệm sách cho hai trăm ngàn dân, quả thật là một con số hết sức khiêm nhường.

    Trong buổi hoàng hôn của một nền văn chương lão hoá như vậy, nhà văn Ngọc Cường một thân một mình lửng thững đi vào nơi gió cát, đi mà không một chút e dè ngại ngùng, chuyện ông đang đi giữa hoàng hôn. Năm 2014, ở vào cái tuổi 67, đang đứng trước ngưỡng cửa Cổ lai hy, thay vì trút bỏ mọi lo toan nhọc nhằn để an hưởng tuổi già thì ông Ngọc Cường lại cầm viết. Ở cái tuổi này mới bắt đầu viết, rõ ràng là đã quá muộn. Biết là muộn nhưng tại sao ông vẫn viết? Câu hỏi đặt ra, phải chăng có một động lực nào đó đủ mạnh để thúc giục ông viết. Riêng cá nhân tôi, tôi tin là có. Với sức viết khá mạnh, trong vòng 4 năm, nhà văn Ngọc Cường cho ra đời ba tập truyện: năm 2014 BÈO GIẠT, năm 2016 HỆ LỤY, năm 2018 BÂNG KHUÂNG. Tất cả ba cuốn sách trên đều do Nhà xuất bản Người Việt phát hành. Và hôm nay, năm 2020 giữa cơn đại dịch COVID 19 có một không hai trong lịch sử, nhà văn Ngọc Cường cho ra đời tác phẩm thứ tư: “BA CHỊ EM”.

    BA CHỊ EM là tập truyện gồm có bảy truyện ngắn và một phiếm luận của nhà văn Ngọc Cường vẫn do Nhà Xuất Bản Người Việt phát hành năm 2020. Trong tập truyện này, hình như truyện “Ba chị em” là truyện tác giả ưng ý nhất cho nên ông đã lấy tên truyện ngắn này đặt cho tên sách. Sau đây tôi xin lướt qua vài truyện ngắn trong tập truyện BA CHỊ EM. Truyện “Người bạn vong niên”, nói về ba người bạn học ở trường Luật, sau 20 năm xa cách, họ gặp nhau ở Cali. Truyện “Hai buổi chia tay”, ba người bạn ngày xưa cùng học Đệ nhất Chu Văn An Sài Gòn. Sau khi đậu Tú tài toàn phần, hai người sang Pháp du học, người ở lại đi lính. Mấy chục năm sau họ gặp lại nhau ở Pháp với hai lần chia tay tại Gare Du Nord.

    Truyện “Ký ức huyền ảo”, với nhân vật chính tên Ân, âm thầm yêu một nữ sinh Văn khoa ở Sài Gòn, mối tình câm này đeo đẳng anh ta hơn 40 chục năm. Phiếm luận “72 năm nhìn lại”, nhân vật xưng tôi lúc nhỏ học trường Tây, đậu Tú tài toàn phần vào lúc 17 tuổi, băn khoăn trước ngưỡng cửa Đại học, động viên vào Thủ Đức, sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, học tập cải tạo, sang Mỹ tốt nghiệp Đại học, công chức tại tỉnh nhỏ ở tiểu bang Ohio. Sống yên lặng, trôi theo vận mệnh cho đến cuối đời chợt nhìn lại không biết mình là ai.

    Nhà văn Ngọc Cường đã tẩn mẩn tỉ mỉ viết về những kinh nghiệm của cuộc sống, những đổi thay mà ông đã trải qua trong suốt hơn bảy chục năm hiện diện trên cõi đời, từ lúc còn là cậu học sinh trung học, sinh viên đại học rồi đi lính cho đến ngày mất nước, tiếp theo là những năm tháng sống lưu vong nơi xứ lạ quê người. Trong suốt cuộc đời tỵ nạn, cùng với vợ con sống hơn 40 năm trong một tỉnh nhỏ của tiểu bang Ohio nước Mỹ, hình như lúc nào nhà văn Ngọc Cường cũng BÂNG KHUÂNG về thân phận ăn nhờ ở đậu của mình, thân phận của những giề lục bình trôi nổi trên sông với vị trí thấp kém của tấm thân BÈO GIẠT, để rồi sau đó tấp vào bờ lau, bãi sậy, mà những HỆ LỤY của nó nếu có sẽ là câu hỏi muôn đời không có câu trả lời.

    Giống như nhân vật xưng tôi trong phiếm luận “72 năm nhìn lại” của nhà văn Ngọc Cường, khi viết xong cuốn truyện, ông băn khoăn tự hỏi, không biết ai là tác giả. Với cái nhìn đầy chủ quan của một người ngoại cuộc, tôi tin rằng đó là nguyên nhân sâu xa, thầm kín, khiến nhà văn Ngọc Cường bắt đầu cầm bút khi ông ta sắp bước vào cái tuổi Cổ lai hy.
    Huy Văn Trương, California, May 2020

    LỜI GIỚI THIỆU TÁC PHẨM HỒI TƯỞNG CỦA NV TỪ DUNG

    NHÀ VĂN TỪ DUNG

    Hồi Tưởng là tác phẩm đầu tay của nhà văn Từ Dung được viết theo dạng hồi ký (hay truyện ký), nội dung về đời thật và người thật của tác giả và gia đình (ngoại trừ một  truyện ngắn hư cấu Những Ngày Tháng Hawai). Đây là một tuyển  tập  gồm nhiều bài mới và cũ (đã được đăng trên các tạp chí văn chương ở hải ngoại).  .

    Là một cuốn tự truyện (autobiography), nhưng  chú trọng nhiều về tình cảm, và tâm sự riêng tư của tác giả, hơn là nhằm truyển đạt một thông điệp về một chủ đề . Tác phẩm gồm những câu chuyện tình, đôi khi éo le, được lồng thêm vào chi tiết tinh tế của cảm xúc riêng tư, nhiều dữ kiện, biến cố trong cuộc đời trải dài trên 70 năm của tác giả.

    Cầm bút sáng tác rất sớm (làm thơ từ thủa còn bé, lúc mới 6 tuổi), nhưng lại viết văn trễ, cho đến khi nghỉ hưu. Dù Hồi Tưởng là tác phẩm đầu tiên, nhưng nhà văn Từ Dung không xa lạ gì trong giới văn nghệ sĩ trước năm 1975: khi đó,  tác giả được biết đến như một ca sĩ :  ca sĩ Từ Dung; thường hát đôi với nhạc sĩ Từ Công Phụng và là người chồng đầu tiên của cô. Với giọng ngân nga, véo von, rất lả lướt (nhiều người cho là gần với của ca sĩ Châu Hà) ,tiếng hát Từ Dung thích hợp và lột trần được linh hồn của những bản nhạc trữ tình của nhạc sĩ Từ Công Phụng, ví dụ  như bài Bây Giờ Tháng Mấy đã nổi danh một thời.

    Nhà văn Từ Dung có lý do chính đáng để viết về cá nhân và người thân trong gia đình vì ngoài phần đi trình diễn trước công chúng,  tác giả còn là hậu duệ một gia đình gồm có nhiều văn sĩ, các nhà hoạt động cách mạng,  được ghi vào văn học sử . Vì lý do đó, viết về người thân này không phải là quá đáng hay có ý định khoe khoang (nhân vật thuộc vào lãnh vực của công chúng  celebrity). Là một ca sĩ  có tiếng một thời  trong giới sinh viên Đại Học Sài Gòn, Từ Dung còn là con út của Hoàng Đạo (tên thật là Nguyến Tường Long, một nhà văn sáng lập và chủ chốt của Tự Lực Văn Đoàn, đảng viên nồng cốt và lý thuyết giá của Việt-Nam Quốc Dân Đảng, là em của Nhất Linh và anh của Thạch Lam), về phía bên họ ngoại, tác giả là cháu của nhà văn, nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến.

    Trong “Mẹ Tôi” , viết về bà Hoàng Đạo Nguyến Tường Long và  “ Cậu Tôi” , viết về Như Phong Lê Văn Tiến (con nuôi của bà ngoại tác giả, được coi như một người cậu, được đăng trên tạp chí Diễn Đàn Thế Kỷ 21) , tác giảđã cống hiến độc giả nhiều chi tiết quan trọng về hai nhân vật văn học sử và lịch sử này. Bài Mẹ Tôi,  khi được phổ biến, đã có người cho rằng tác giả đã quá khen người  mẹ của mình (Từ Dung coi bà như  mẫu mực một người đàn bà vẹn toàn theo quan niệm Đông Phương về công, dung, ngôn và hạnh!), nhưng theo thiển ý, khen thân mẫu, nuôi nấng mình là bình thường, chỉ nếu có chê mới là đáng bàn tán.

    Khi đọc “Mẹ Tôi”, tôi không chú ý đến sự việc tác giả đã khen bà mẹ, nhưng thú vị được  thưởng thức  lời văn trong sáng,  nhẹ nhàng mạch lạc nên lột được cá tính của bà Hoàng Đạo và cuộc sống của một thời trong cuộc đời tác giả  Chê bai có khi dễ hơn là khen tặng, bởi vì khen cần có sự tể nhị và lòng thành thật, về hai điểm này, tác giả Từ Dung đã có được cả hai, Theo tôi, bài “Mẹ Tôi” là một tài liệu đáng quý , và một áng văn hay.

    Nổi bật trong Hồi Tưởng là các câu truyện được kể theo lối tâm sự về những mối tình của tác giả. Tất nhiên , trong những cuộc tình đó, đều có vui buồn, đôi khi có cả đam mê và …rất nhiêu thất vọng. Những mối tình tan vỡ thường đưa đến hận thù, nhưng ở đây, sau các lần chia tay, tác giả vẫn bao dung như tha thứ tất cả, cũng có thể vì Từ Dung đã yêu chính mình hơn tất cả mọi người ?

    Với giọng văn đọc lên như lời thầm thì, than vãn của một người kể chuyện, phải chăng,  tác giả muốn trút bầu tâm sự và mong được chia sẻ với độc giả , hay vì đã bị ám ảnh và  ray rứt về những mối tình không thành và mong có lối thoát? Tôi có cảm tưởng nhà văn Từ Dung , trong suốt cuộc đời, đã cố đi tìm một người yêu lý tưởng, nhưng đã không kiếm ra, và rồi thất vọng như lời kêu cứu không được hồi âm, chỉ là tiếng vọng của chính mình, vang lên từ đáy vực ! Làm sao có thể tìm ra một người yêu sánh với người cha lý tưởng của chị (nhà văn Hoàng Đạo, một người tài hoa về văn chương và có lý tưởng, suốt đời tranh đấu và hy sinh cho Dân Tộc và Tổ Quốc). Cũng có thể Từ Dung đã say mê cái tình yêu mình tạo ra hơn là người yêu, bởi vậy, những người đàn ông tác giả tưởng rằng đã yêu, lại hóa ra họ là nạn nhân của chị? Theo tôi, ranh giới giữa thật và ảo rất mơ hồ, như nhà văn Kafka, suốt đời vẫn thắc mắc với câu hỏi :trên đời, cái gì là có thật! 

    Tuy thuộc về dạng hồi ký, nhưng nhờ có tâm hồn dễ xúc cảm và bén nhạy, và cách xử dụng ngôn từ chính xác,  những câu chuyện riêng tư của tác giả viết lên vẫn hấp dẫn nhờ vào tài diên tả nhiều chi tiết tinh tế của tâm hồn (Tác giả có bằng cử nhân Văn Khoa Sài Gòn, 1969). Ngoài ra, lôi cuốn người đọc là giọng văn trong sáng và thành thật, điều đó làm cho câu chuyện kể trở nên  hiện thực, mường tượng như khung cảnh đang hiện ra trước mắt, khiến độc giả  dể rung động,  cảm thông như hai âm thanh cộng hưởng vì có cùng tầng số!

    Khi đọc xong Hồi Tưởng và đặt cuốn sách xuống… tôi bỗng ngẩn ngơ và bâng khuâng như đang đi lạc vào miền quá khứ xa vời …

    Ngọc Cường, Ohio Mùa Hè 2021

  • Lê Nguyễn Nga,  Văn Thơ

    QUYẾT  PHẤT  CỜ

        
     
     
    Lịch đến tháng tư vẫn nhớ đời 
    Ba mươi, ngày mất Việt Nam tôi
    Căm hờn Cộng Sản quân gian ác   
    Mất nước thay đời sống nổi trôi.    
     
    Quê hương chim đắm trong gian dối 
    Cuộc chiến đão lừa được thế thôi  
    Lòng dân than oán bao gian khó 
    Nước Việt đau thương  suốt cả đời.
     
    Vận nước xoay chiều lại đến thôi 
    Đau lòng quân Cộng cướp quê rồi 
    Sa cơ uất chí đêm ngày nhớ        
    Nuốt hận non sông quyết phất cờ.
     
    Lê Nguyễn  Nga
      tháng  4, 2022
  • Ngọc Cường,  Văn Thơ

    NHÌN LẠI 72 NĂM

    NHÀ VĂN NGỌC CƯỜNG

    LTG: Bài viết dưới đây là một đoản văn hư cấu, nhân vật “tôi” có thể không nhất thiết là tác giả. Điều này không quan trọng, vì ngày nay, ranh giới giữa thật và ảo rất mơ hồ, có khi một thế giới “ảo” trong đó có đồng tiền “ảo” và địa chỉ “ảo” đang lưu hành.

    Tôi vừa được 72 tuổi, ở cái tuổi người xưa cho là “thất thập cổ lai hy”, nhưng ngày nay, tất nhiên không còn hiếm hoi, và đối với mấy bậc niên trưởng tám, chín mươi, họ vẫn coi những ông già ở tuổi 70 như là một đứa em còn trẻ, và tôi cũng đồng ý như vậy, vì tự coi mình, ít ra trên phương diện tinh thần, cứ ngỡ còn là một thanh niên: vẫn ham ăn, ham chơi và ham sống. Nhưng có lẽ có khác là bây giờ không còn sợ chết như khi còn ít tuổi hơn, lúc bốn năm mươi, lúc đang trong cơn “khủng hoảng của tuổi trung niên”, rất sợ chết, sợ mất đi những bình thường, nhưng tha thiết: bạn bè, công việc và vợ con. Về cái khoản sợ chết, thật ra, khi còn trẻ hơn, ở tuổi thanh niên, cũng ít ai lo lắng, vì còn đang khỏe mạnh, và lo toan đến những vấn đề “lớn”, như làm thay đổi xã hội … hay tâm hồn đang giao động, bị hành hạ vì yêu thương, nhớ nhung cô bạn học hay cô láng giềng đầu ngõ?

    Vướng vào thể xác của một ông già 70, như bộ máy của một chiếc xe trên 100 ngàn miles, đương nhiên có nhiều trục trặc hay lủng củng, bát đầu có hiện tượng “ba cao và một thấp”, như thiên hạ thường nói tới: cao máu, cao mỡ, và cao đường, và thấp khớp! Một ông bạn ở trên San Jose, khi nghe tôi có 3 cao, đã bật cười “ở tuổi của cậu, nếu không có cái cao nào, mới là có vấn đề!”

                Gần đây, sau khi về hưu, tôi tập tành viết lách, và sau đó đã trở thành một nhà văn (theo định nghĩa khi một người viết có tác phẩm xuất bản). Nhưng, có một sự liên hệ, mà tôi cho là “kẹt” cho các văn sĩ, là thường được, hay bị (tùy theo quan niệm của độc giả và chính tác giả nữa) cho là đương nhiên phải là một nhà trí thức, hiểu biết rộng và thông thái!

    Tôi xin bác bỏ luận điệu này, và theo thiển ý: một nhà văn, tóm gọn chỉ là một người kể một câu chuyện, cốt mua vui cho thiên hạ, không hơn không kém, y hệt những “người đẹp” làm cái nghề lâu đời nhất trái đất, vì cả hai đều cốt sao “Mua vui cũng được một vài trống canh” (Nguyễn Du). Văn hào Tố Như còn nói như thế, xá chi một nhà văn vô danh như tôi, có gì mà phải hãnh diện hay khoe khoang chứ? Có lẽ vì đã từ lâu đời, khi chữ nghĩa còn khó học và hạn chế, khi mà chỉ có vài giới trí thức, học rộng, mới dám viết lách cho thiên hạ đọc, và từ đó, danh hiệu nhà văn vẫn thường lầm lẫn với trí thức và trở thành giới ưu tú trong xã hội. Ngày nay, quý độc giả ghé qua tòa soạn báo Người-Việt, ngay chỗ hành lang, sẽ thấy trên tường, đầy rẫy sách bày bán, người viết có thể nhiều hơn người đọc, có gì để hãnh diện? Theo tôi, một nhà văn, quan trọng nhất là phải tôn trọng độc giả, vì nếu khi họ vừa “kể truyện” mà còn có thêm ý định cổ động hay lên án, đả phá điều gì, như vậy, bài viết không còn thuần túy là văn chương nữa, sẽ chỉ là tuyên truyền và là một vết nhơ, như những bài thơ của Tố Hữu khóc ông Xít-Ta-Lin…

    Ở tuổi già, khi tương lai thu ngắn dần lại, người ta thích quay về với quá khứ xa xôi, cố bám lấy kỷ niệm cũ, như tôi đang làm ngày hôm nay:  

                Ngẫm nghĩ về quãng đời bình thường và tầm thường của mình, duy khởi đầu có một điều bất hạnh: tôi đã mất mẹ khi mới được 4 tháng. Bà cụ tôi qua đời vì bệnh lao sau khi sanh tới đứa con thứ 11. Biến cố này đã ám ảnh tôi rất lâu, nhưng hôm nay, bỗng như trong câu chuyện tái ông mất ngựa, thấy trong cái rủi đó, có thể lại đưa đến cái may khác: như nếu không là một đứa mồ côi mẹ, không chừng tôi đã không gặp và yêu một cô gái trở thành người bạn đời sau này, và đó là sự thiệt thòi vì không chung sống với cái “phần nửa tốt hơn “, my better half, của tôi.

                Khi còn trẻ, hay mơ mộng và có chút lý tưởng, tôi nghĩ mình sẽ làm được rất nhiều chuyện “lớn lao”. Chẳng hạn như hoàn thành một cuộc cách mạng, làm thay đổi cả một xã hội, rồi biến thế giới thành một đại gia đình vui tươi, sung sướng, mà trong đó không còn ai khổ đau, giống như những người mác-xít đã thường rêu rao, hay xa hơn nữa trong lịch sử tiến bộ của lòai người thì có Đức Phật giác ngộ chỉ ra cho chúng ta con đường để đạt đến.

    Nhưng chắc ai cũng đồng ý với câu “địa ngục được lót bằng những ý định tốt”, và đúng như người cộng sản đã tuyên truyền (tuyên truyền thôi, chứ khi họ hành động thì sai bét rồi mà vẫn ngoan cố không hề biết điều chỉnh). Và chính lịch sử cũng đã chứng minh: những gì không thích hợp với con người, không thuận thảo với lòng dân thì sẽ không tồn tại lâu được. Tiếc thay, mỉa mai thay, chỉ sau khi đã giết hàng chục triệu nạn nhân vô tội rồi phải đợi cho chính con người trên trái đất chủ động khiến cho khối Cộng sản thế giới mới sụp đổ, bằng sự kiện đã xẩy ra ở Liên-Xô và Đông Âu vào cuối thập niên 1980.

    Thời thơ ấu, tôi được ông cụ gửi cho đi học một trường Tây gần nhà, nằm trên đường Hồng Thập Tự (lúc đó có tên là Rue Chasseloup Laubat) và ngày nay nghe nói đã đổi tên nữa: đó là một trường tiểu học mang tên vị thánh Saint Martin de Pallières dành cho con em gia đình binh lính đóng ở thành Ông-Dzèm (đọc theo tiếng Tây là 11èm Régiment, tức Trung Đoàn 11) của quân đội thuộc địa của Pháp. Ngôi trường này rất nhỏ, nằm sâu trong trại gia binh của Trung Đoàn (đối diện với thành Cộng Hòa sau này). Cho đến giờ này, tôi vẫn chưa hiểu tại sao một cái tên dài như vậy mà nó lại đã ăn xâu vào trí nhớ thằng bé 5 tuổi là tôi từ hồi ấy.

    Vào ngày tựu trường đầu tiên, không phải bố mà lại là ông anh đưa tôi đến trường, anh ấy sau là một luật sư, hiện đang ở trên San Jose. Sở dĩ tôi nhớ đến chi tiết này, là vì có thằng nhỏ bạn cùng lớp, nó đã tưởng anh ấy là cha tôi. Tôi vẫn còn nhớ là mỗi lần đau ốm (tôi bị suyễn kinh niên khi còn nhỏ), cần xin phép thì ba tôi là người cầm cái bút máy viết trên một tờ giấy một hàng chữ Pháp gửi cho bà Đầm dạy tội học. Dường như nhờ đó, tôi bắt đầu mang máng hiểu được sức mạnh của chữ nghĩa. Ông cụ viết những chữ mà hôm nay tôi còn nhớ bắt đầu là:  Je soussigné…” (tôi ký tên dưới đây …). Nét chữ ông viết rất đẹp, nhưng nếu chỉ nhìn thấy chữ viết ấy thì không thể biết được rằng ông là một người cha vốn lạnh lùng và nghiêm khắc. Hầu như suốt đời tôi chưa hề được ngồi nói chuyện cùng ông; hai cha con như hai đồ vật trưng bày trong nhà, luôn luôn và vĩnh viễn xa cách nhau!

    Tôi học ở đấy 1 hay 2 năm, thì được chuyển qua trường Lamartine, cạnh hồ tắm thanh niên, trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, xế ngang trước mặt Sở Thú. Sau cả 70 năm, không biết ngôi trường này có còn hiện diện ở Sài-Gòn nữa hay không? Hay như mọi thứ trên đời đều vô thường…Có điều lạ lùng là mấy năm học tiểu học trường Tây làm tôi khổ sở, vì không thể nào hiểu nổi văn phạm Pháp văn, nó rắc rối và khó hiểu quá, nhất là đối với một đứa trẻ bình thường như tôi.  Và có thể do đó mà tôi đâm ra thù ghét ông tây – bà đầm, cùng tất cả những gì của Pháp. Đối với riêng tôi, họ chỉ là bọn Thực Dân bóc lột…Thế nhưng, sau hằng trên nửa thế kỷ, và nhất là gần đây (khi qua Mỹ định cư) đã vào tuổi trung niên, tôi tự dưng lại yêu thích du lịch Paris, được nghe và nói bặp bẹ dăm ba câu tiếng Tây đã học từ lúc nhỏ…; nhất là thích thú khi thăm viếng mấy ngôi làng nhỏ bé miền quê nước Pháp: cảnh trí hiền hòa, êm đềm và cổ kính. Nó có một vẻ xa xưa như trong truỵên cổ tích, và lãng mạn như trong tranh của Renoir! Tại sao? Tôi cũng chẳng hiểu nổi được sự thay đổi phức tạp trong tâm lý của chính mình…

    Trong những năm khổ sở ở trường Lamartine, khó khăn khi phải học bằng tiếng Tây, tối đến về nhà, tôi quay qua tự học lấy chữ quốc ngữ rồi tập đánh vần và viết được tiếng Việt. Được học tiếng mẹ đẻ, tôi như con chim sổ lồng, hớn hở cất cánh tung bay, mà không còn xa lạ như mấy verbe et vocabulaire francaise. Những cuốn Sách Hồng của Tự Lực Văn Đoàn viết dành cho thiếu nhi là lọai sách đầu tiên tôi tập đọc. Từ đó, chữ nghĩa đã mở ra một thế giới kỳ diệu cho đứa bé …Nhưng tất nhiên vì do tự học, văn phạm và viết lách tôi có phần giới hạn…Cho đến bây giờ, tôi là một nhà văn viết sai văn phạm nhiều nhất trong văn đàn hải ngoại! Hai nhà văn (giúp hiệu đính mấy tác phẩm của tôi) là PQB và BBH là hai nhân chứng cho sự kiện này.

    Cuộc đời diễn ra ít khi hữu lý và công bằng mà thường nhiều mâu thuẫn. Những kẻ côi cút, có một tuổi thơ thiếu thốn tình thương như tôi, khi khôn lớn lại yếu đuối và rất cần được săn sóc chiều chuộng. Đâu giống như bàn chân chúng ta đi đất lâu chai lại, trở nên cứng cáp để chống chỏi với đường đời gian nan. Con tim thì khác hẳn, một khi đã bị xúc phạm rồi thì nó sẽ trở nên yếu đuối cả đời. Tôi thành thật nghĩ, nếu bà cụ còn sống nuôi tôi đến khôn lớn, thì chắc tôi không thể là một nhà văn được. Chỉ có những kẻ cô đơn, mới dễ nhạy cảm và sợ tha nhân, mới phải lo lắng tìm hiểu tâm lý người khác. Dễ bị ảnh hưởng của người xung quanh, nhà văn tò mò chú ý nghe ngóng câu chuyện của thiên hạ để viết lại thành những mẩu văn chương.  Nhà văn William Somerset Maugham có ý nghĩ tương tự, khi ông nói là nếu không mất mẹ sớm thì có lẽ ông đã trở thành một vị Don, giáo sư trường Oxford (hoặc Cambridge), như người anh ruột của ông.

    Tuổi trẻ của tôi không có gì đặc biệt đáng để viết ra đây, ngoài sự kiện là như mấy thằng con trai mới lớn, có nhiều kích thích tố đang lưu hành trong máu nên cũng chú ý đến các cô gái, mà thường bị thu hút bởi sắc đẹp của họ mà lại không có mối tình nào cả. Dễ xúc động thì cũng chóng quên và hời hợt với mọi thứ, chỉ muốn chạy trốn vào mơ mộng, sống với tưởng tượng vì nó đẹp hơn sự thật…

    Những năm Trung Học, mỗi niên khóa thay đổi một trường, tôi đã gặp khó khăn với thầy giáo (hay bêu rếu, chế diễu học sinh) và tôi cũng không hợp với sự gò bó của nền giáo dục nhà trường. Không ai có thể chọn được cha mẹ, nhưng ít ra tôi nghĩ tôi có thể chọn được trường mình học. (Đây cũng là hậu quả của sự kiện tôi là út trong một gia đình đông con chăng!?)… Nhưng thế mà thật là kỳ diệu, tôi đã thi đậu hai cái bằng Tú Tài vào lúc 17 tuổi.

    Năm 1968 có cuộc tấn công Tết Mậu Thân, đợt I rồi đến đợt II, địch quân đặt tên là Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa (TCK-TKN), nhưng họ đã không chiếm được lâu bất cứ thành phố nào. Một trong những nguyên nhân là thật sự chẳng có ai khởi nghĩa cả, họ rõ ràng thất bại về quân sự và chính trị trong nước. Nhưng nhờ vào tuyên truyền và sự ngoan cố trợ giúp của hệ thống Cộng Sản Quốc Tế, cũng như phong trào phản chiến nổi lên trong quần chúng Mỹ và chủ trương thay đổi chiến lược của chính phủ Hoa Kỳ mà họ đã biến sự kiện thất bại quân sự của họ thành ra một thành công trên diễn đàn quốc tế! Chính trị vốn đã không còn vẻ lý tưởng như khi còn trẻ tôi thường nghĩ, mà hôm nay, tuổi đã trên 70, tôi biết cốt lõi của chính trị là quyền hành và thế lực, và quyền hành luôn luôn hủ hóa con người…

    Ngày nay, kỹ thuật tuyên truyền của nhóm người “mang danh Cộng Sản”còn tinh vi khôn khéo hơn với trò chơi “chụp mũ” và “chia rẽ” cộng đồng, như ta đã thấy đang xảy ra trên các diễn đàn hải ngoại, nhất là ở thủ đô Bolsa…

    Khi chiến sự tạm lắng dịu, tôi cùng anh bạn thân leo lên chiếc xe gắn máy Suzuki cũ kỹ, phóng lên Đà-Lạt, hy vọng từ đó xuống Phan Rang thăm bà chị. Nhưng có lẽ thực tâm chúng tôi quyết định đi cốt để chạy trốn, thăm gia đình chỉ là cái cớ, chạy trốn cái không khí ngột ngạt của Sài-Gòn, của chiến tranh, hay một xã hội đầy đau khổ, bất công và phi lý. Không ngờ đang chạy phon phon qua Định Quán, tới Phương Lâm bỗng kẹt lại vì Quốc Lộ 20 bị đắp mô, nhiều đoạn bị hư hại. Chiếc Suzuki mòn nhông nên khi chạy qua bùn lầy cao tới mắc cá chân thì sợi xích cứ tuột ra! Và, như những cuộc phiêu lưu phải có gian nan và thiếu thốn mới kỳ thú, chuyến đi đã mang đến cho chúng tôi nhiều kỷ niệm khó quên.  Hơn nữa, chúng tôi chẳng có gì trên đời để mất, để sợ cả…

    Sau ba ngày đường, ngủ bờ ngủ bụi, tới được Phan Rang nắng ấm, gặp bà chị và ông anh rể, cả hai đều ngạc nhiên, trố mắt không tin. Có lẽ chúng tôi là hai người đầu tiên dùng đường bộ từ Sài-Gòn đã tới Phan Rang sau trận Mậu Thân! Sau ba tuần lễ rong chơi ở Phan Rang với bờ biển Ninh Chữ hiền hòa ấm áp, bà chị đã không cho hai đứa tiếp tục dùng xe gắn máy về Sài-Gòn, nên cho tiền chúng tôi đi xe đò. Nhưng như hầu hết các thanh niên cứng đầu, hay “ngu si hưởng thái bình”, chúng tôi vẫn cứ thế mà xách xe phóng về đến Sài-Gòn.

    Tuân thủ lệnh tổng động viên, tôi bị gọi đi lính và thụ huấn Quang Trung rồi Thủ Đức. Có một cựu chiến binh đã phát ngôn: một khi vào lính, dù chỉ một ngày, một tháng đi nữa, cả đời vẫn là lính, y hệt như một khi biết đi xe đạp thì sẽ không bao giờ quên, tôi nhớ mãi đồng đội và kỷ niệm ở quân trường. Trải qua chiến tranh và 7 năm quân ngũ, tôi đã từ biệt vài người bạn thân thiết và ông anh ruột. Họ đã nằm xuống để tôi có thể sống ung dung ở thành phố. Tôi không thể nào quên Cơ và Tường: Cơ là biệt kích nhảy xuống Trường Sơn mất xác. Còn Tường vì muốn tìm chút bóng mát đã đến một cây cao giữa cánh đồng lúa ở Bồng Sơn rồi vướng phải lựu đạn gài dưới gốc cây, anh chết bỏ laị mối tình câm với cô Út hàng xóm của tôi. Cũng như tôi vẫn bị ám ảnh bởi cái chết của ông anh, một người lính Thiết Giáp, độc thân nên tình nguyện lên chiếc GMC đi chuyến công tác thay thế cho một chiến hữu có vợ con, nhưng khi chạy qua mìn của Việt-Cộng, trên con đường làng thuộc tỉnh Cà-Mau, kích hỏa nổ tung khiến xác anh không toàn vẹn. Anh đẹp trai như Tây lai, có vài cô đeo, nhưng chưa có mối tình nào. Anh chết mới 26 tuổi, nếu còn sống, năm nay anh cũng đã 78 tuổi.

    Chiến tranh nào cũng tàn nhẫn và phi lý, nhưng chiến tranh vẫn cứ thế mà tiếp diễn trên trái đất khi con người còn tức giận và dã man…Và sự đau khổ không ngừng khi hòa bình trở lại, vì hòa bình của một kẻ đầu hàng, và khi đất nước bị bắt buộc phải ‘thống nhất’, tôi bị sống trong tù đầy và đói khổ.

    Khổng Tử, người được mang danh là vị thầy của muôn đời, “vạn thế sư biểu”, đã cho rằng khi người đã 50 tuổi tất “tri thiên mệnh”, hiểu được chuyện trời đất. Có lẽ vị thầy này có rất ít học trò ngoan, trong đó không có tôi, vì chẳng hiểu nổi chuyện của chính mình, nói gì chuyện trời biển? Chuyện trời đất đã không biết, thì còn nói gì đến chuyện Thượng Đế.

    Là một Phật tử không thông hiểu Đạo, nhưng tôi tin trong cái “không” có thể đưa đến “có”, và trong “có” vẫn có cái “không”, tương tự làn sóng trên biển cả, sóng không là biển nhưng cũng có thể coi như là biển.

    Vật lý lượng tử (quantum physic) đã chứng minh là thời gian không có điểm khởi đầu hay lúc kết thúc. Như vậy thì không có chỗ cho Đấng Tạo Hóa (Stephen Hawking trong cuốn The Grand Design)? Cũng là một Phật tử, tôi nhận ra sự nguy hiểm của cái ngã, nhưng tôi không hiểu Đức Phật dậy ra sao về cái ngã, vì tôi đâu có hiểu được Đạo. Dường như, Đạo chỉ có thể cảm nhận qua tu luyện mà thôi? Ông bạn “đắc đạo” hay “giác ngộ” của tôi trên San Jose đã cố gắng giải thích, thuyết pháp cho tôi nhiều lần, nhưng không tài nào tôi hiểu nổi cái ngã là gì. Tôi cho là (theo sự hiểu biết của kẻ u tối) ngã có thể ví như là cái lòng kiêu ngạo, vị kỷ của cá nhân. Phải chăng mọi đau khổ, như chiến tranh chẳng hạn, xẩy ra do cái lòng kiêu ngạo, tự coi kẻ khác thua kém mình.  Như người Đức khinh và thù dân Do Thái, nên Đại Chiến thứ Hai đã nổ ra? Cũng như bọn người da trắng cho mình cao cả hơn da màu, họ bóc lột người Á Châu và Phi Châu, gây ra chiến tranh chiếm thuộc địa. Và gần đây, có kẻ cho Thượng Đế của họ (Allah) hơn Thượng Đế (God) của tôn giáo khác nên đã mưu toan giết người như giết kẻ thù truyền kiếp.

    Tôi ít theo dõi tin tức hàng ngày, vì toàn tin về tranh chấp giữa Đảng Dân Chủ với Cộng Hòa, nhưng để ý thấy rằng trong Quốc Hội Hoa Kỳ, mấy bà dân biểu càng ngày càng đông mà quý bà làm việc hài hòa hơn mấy đấng mày râu, những kẻ chỉ thích xâu xé nhau. Phải chăng ta nên ra Luật cấm đàn ông làm chính trị, để chỉ toàn các bà thôi. Tôi nghĩ được vậy, Thế Giới sẽ thái bình và thịnh vượng hơn! Bên Anh Quốc có Nữ Hoàng, ở Đức có bà nữ Thủ Tướng thì đã sao? Làm cuộc cách mạng ngược đời!

    Là một văn sĩ, tôi cũng xin viết vài dòng về công việc viết lách, lý do đưa đến nghề cầm bút, cũng như quan niệm về nghề văn của mình. Chẳng qua bắt đầu cũng từ gia đình mà ra cả: Tôi có 3 ông chú là văn sĩ nổi tiếng, rồi đến ông anh cả cũng là nhà văn dù kém danh hơn. Dưới con mắt non nớt của tôi, đời sống của mấy ông chú rất ư là lãng mạn hấp dẫn, không kém phần ly kỳ. Kể từ nhỏ, đọc được tác phẩm của các bậc tiền bối, tôi bị ảnh hưởng không ít, và … cũng tập tành viết văn. Nhưng, như đã thưa với quý độc giả ở phần trên, tôi không rành văn phạm, lại nghèo từ ngữ và thiếu tài năng!

    Không thể sống như cái bóng của một người khác, và như người xưa (ông Socrate bên trời Tây) đã nói “hãy tự biết mình”! Sự thật quả là phũ phàng khi tôi tự biết mình không thể trở thành một nhà văn. Điều này đã khiến tôi đau buồn không ít, và ngay từ khi còn là một thanh niên, tôi đã quyết định từ bỏ ý định làm văn sĩ.

    Một hôm, lúc16,17 tuổi, tôi bỗng nghĩ ra ở trên đời này không phải chỉ có một thứ nghệ sĩ là các nhà văn, nhà thơ có tài, họ vốn bẩm sinh đã có sẵn khả năng sáng tác, nhưng cạnh đấy, cũng còn có người sở hữu một tâm hồn nghệ sĩ và sống rất bay bướm, dù không viết lách gì cả. Nhóm người này không có tác phẩm sáng tạo, nhưng chính cuộc đời của họ là một tác phẩm tuyệt vời. Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến anh bạn Đại Đội Trưởng Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù NT Út trên SJ, một chiến sĩ bay bướm, đạo Công Giáo nhưng lại thông hiểu Đạo Phật không thua mấy ông sư, anh vốn là một nghệ sĩ chưa chịu viết lách. Ước gì anh viết lại những gì anh đã kể cho tôi nghe…

    Viết văn là phải có gì cống hiến độc giả, mua vui cho họ. Nếu không có năng khiếu thì ít ra tôi cũng đã có trên 70 năm kinh nghiệm sống, đã vào tù ra khám, đã đau khổ khóc đứa con nhỏ chết trên tay mẹ nó, trong khi tôi còn đang trong tù ngoài Bắc. Tôi không có tài nhưng được sự giúp đỡ (sửa bài) của hai nhà văn chuyên nghiệp (nêu trên) nên mới cho ra đời đến nay được ba đứa con tinh thần.

    Đã thất thập cổ lai hy, tất nhiên cũng nên nghĩ đến chuyện hậu sự, tôi cũng đã ngỏ với vợ con rằng: mong sau khi chết, tôi được cống hiến cái xác xấu xí của mình cho trường Y-Khoa Wright State, một ngôi trường gần nhà mà tôi trước đây có học qua 4 năm, và từ khi ra trường đến giờ chưa bao giờ có dịp trở lại, mặc dầu vẫn chạy xe qua gần như mỗi ngày! Khi sống, tôi không có gì đóng góp cho xã hội, ngoài việc đóng thuế đầy đủ hàng năm, vậy khi chết, ít ra cái thân xác này có lẽ cũng giúp cho mấy sinh viên y-khoa biết thực tế cụ thể về cơ thể học. Nhưng tôi cũng thông cảm với bất cứ quyết định nào của bà xã và các con, vì đám ma cốt được tổ chức là cho họ, những người sống, chứ không phải cho cái xác ướp đã bất động nằm đó! Nên tôi dặn thêm là “như em đã từng lo cho anh khi sống bao năm qua rồi thì khi anh qua đời, thôi tùy em liệu định….”

    Thường có nhiều người hay hỏi tôi: “Bài học của đời anh truyền lại cho con cháu là gì?”. Tôi xin trả lời: “Lúc sống đã không làm chủ được hành động của mình, cũng không có tự do ý chí, đời tôi là do định mệnh đưa đẩy như một hệ lụy mà không một ai thoát ra khỏi được, vậy có gì để truyền lại!”

    Phải chăng tôi chỉ đóng vai nhà văn Ngọc Cường như một nhân vật trong vở kịch đời mình… Nhưng không biết ai là tác giả nhỉ?

    Ngọc-Cường, Ohio 2022

  • Kiều My,  Sinh Hoạt

    VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ TÁC PHẨM ÔN CỐ TRI TÂN CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG

    Tìm hiểu về ý nghĩ của “Ôn cố tri tân”

    Thành ngữ này xuất xứ từ Hán văn, do từ nhóm chữ “Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ”,  có nghĩa là ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay, hành vi này đáng bậc thầy người khác. Đây là lời nhắn nhủ của Khổng Tử trong thư tác Luận Ngữ, chương Vi Chính. Ý nghĩa này cũng tương đồng với tư tưởng “ Con người một khi đã phạm sai lầm nếu không sửa đổi thì sẽ phạm một sai lầm khác.”

    Ôn cố tri tân, chính là để bác cổ thông kim, chỉ đạo nhân sinh. Ai trong chúng ta cũng đã từng ngẫm nghĩ ôn lại chuyện cũ, chiêm nghiệm nó, từ đó có thể cho ta một nhận thức tốt hơn…như một trải nghiệm trong cuộc đời. Từ đó, chúng ta sẽ cải thiện những sai trái của quá khứ giúp cho ngày mai được tốt đẹp hơn. Như trong danh ngôn: “Thất bại là mẹ thành công” vậy.

    Cũng cùng tư tưởng trên, văn hào người Anh Percy Bysshe Shelly đã nói: “ Không lo sợ khi hướng về tương lai qua những bài học đau thương từ quá khứ”…

    Thật vậy, Người Nhật khéo léo vận dụng trí huệ cổ điển Trung Hoa từ thành ngữ “Ôn cố tri tân” có nguồn gốc từ Luận Ngữ của Khổng Tử, như kim chỉ nam tạo nên thành công của người Nhật. Để có được sự thành công của một đất nước hùng mạnh về kinh tế, kỹ nghệ, khoa học v.v… đứng hàng thứ ba trên thế giới, đó chính là một quá trình truyền thừa tinh hoa trí tuệ của người đi trước, biết “Ôn cố tri tân”.

    Đi ngược dòng thời gian vào thời Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945). Đây là cuộc chiến tranh thế giới giữa hai phe Đồng Minh (Anh, Pháp, Ba Lan và nhiều nước bên Âu Châu…) với Phe Trục (Đức, Ý và Nhật). Ngày 6 & 9 tháng 8 năm 1945, các chiến đấu cơ của Hoa Kỳ đã thực hiện một chiến dịch bí mật thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản theo lệnh của Tổng Thống Hoa Kỳ Harry Truman. Hơn 200.000 người đã thiệt mạng và một số lớn người bị thương. Vì thế, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Hoàng Hiroshima đã tuyên bố đầu hàng đồng minh vô điều kiện.

    Nhật Bản đã bại trận chua cay thảm khốc cho cái giá phải trả về tham vọng thống trị Châu Á và Thái Bình Dương của họ.Tuy nhiên, người Nhật đã học được bài học sai lầm của quá khứ và họ cố gắng xây dựng lại đất nước trước sự hoang tàn đổ nát của chiến tranh; họ đã thực hành theo kim chỉ nam “ôn cố tri tân” của Khổng Tử. Sau nửa thế kỷ tái kiến thiết xứ sở, Nhật Bản đã trở thành một trong những quốc gia văn minh và phát triển nhất thế giới.

    Cùng một phe trục với Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến, cũng là một nước chiến bại; đó là Đức quốc. Chiến tranh đã tàn phá đất nước này từ kinh tế, xã hội, hạ tầng cơ sở, đến tinh thần người dân…Nhưng nhân dân Đức cũng đã học được bài học thương đau của quá khứ để cùng nhau góp sức xây dựng lại đất nước. Chỉ qua vài thập niên sau, nước Đức cũng đã trở thành một quốc gia hùng mạnh nhất khối Liên Hiệp Âu Châu. Đó cũng là nhờ họ biết tận dụng tư tưởng của thành ngữ “Ôn cố tri tân”, nhìn quá khứ để hướng về tương lai…Thất bại thảm hại sau cuộc chiến mang theo những đau thương và đỗ vỡ; đây cũng là bài học đắt giá mà người Đức phải trả. Để từ đó, họ cùng vươn lên, cật lực phát triển không ngừng để mang đến sự thành công như ngày nay.

    Nhìn qua Á Châu sau Thế chiến thứ hai, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch chiếm giữ đảo Đài Loan; đối lập với chủ nghĩa xã hội của lãnh đạo Mao Trạch Đông ở đại lục. Chỉ vài thập niên sau, quốc đảo  Đài Loan đã tạo dựng được một nền dân chủ vững vàng, kinh tế dồi dào, và quân sự hùng mạnh, cùng sánh vai với nền văn minh thế giới. Những thành tích đáng kể trên của quốc đảo Đài Loan, chắc hắn nhân dân Đài Loan phải thực hành triệt để theo lời hướng dẫn của Khổng Tử :“ Ôn cố tri tân”.Họ biết nhìn lại quá khứ đen tối để tiến tới tương lai tươi sáng hơn.

    Qua tác phẩm “Ôn Cố Tri Tân” của nhà văn Nguyễn Quang, tác giả đã gợi ý cho người Việt bài học thực tiễn nào qua lịch sử 4000 năm lập quốc trải qua ba thời kỳ:

    • Thời kỳ Bắc thuộc: dân tộc Việt chịu sự đô hộ tàn bạo 1000 năm của người Tàu gồm bốn lần xâm chiếm nước Việt (từ năm 207 trước công nguyên đến năm 1427 sau công nguyên.) Trong suốt thời gian dài đô hộ tàn ác của người Tàu, có nhiều anh hùng Việt yêu nước  đã đứng lên chống trả ngoại xâm như Lý Thường Kiệt, Lê Đại Hành, Trần Thái Tông, Hưng Đạo Vương v..v . Ngoài ra giới nữ lưu có Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, bà Triệu Trinh Nương…cầm quân chiến đấu với quân thù.
    • Thời kỳ Pháp thuộc: dân Việt một lần nữa chịu gần 100 năm tủi nhục dưới sự đô hộ khắc nghiệt của người Pháp (1867-1954) dưới thời nhà Nguyễn qua các triều đại: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân…và sau cùng là đời vua Bảo Đại.
    • Thời kỳ Cộng Sản xâm nhập cho đến hiện tại…Trong cuộc chiến Việt Nam giữa hai miền Nam Bắc giữa Tự Do và Cộng Sản. Miền Bắc lệ thuộc vào Cộng sản quốc tế; miền Nam lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Khi Hoa Kỳ bỏ rơi, miền Nam đã lọt vào tay Cộng sản Bắc Việt cho đến ngày nay. Người dân Việt có học được bài học chua cay của quá khứ chăng? Có áp dụng câu phương châm “Ôn cố tri tân”của Khổng Tử như người Nhật đã làm để xây dựng lại đất nước khi thoát khỏi chế độ Cộng sản? Qua sự thất bại của quá khứ, có thể giúp chúng ta hiểu rằng: một đất nước không nên lệ thuộc vào ngoại bang, hãy làm chủ chính mình, hãy dùng sức mạnh đoàn kết,  và đứng trên đôi chân của mình để cùng nhau kiến tạo lại đất nước. Đây là lời nhắn nhủ “Ôn cố tri tân”của Khổng Tử mà ta có thể áp dụng bất cứ thời đại nào, nhất là hiện tại của đất nước và trong nhiều trường hợp của cuộc sống.

    Trong đời sống, chúng ta học được những gì qua “Ôn cố tri tân?”

    Về hôn nhân: do sự kết hợp của đôi nam nữ để tạo thành một gia đình cùng các con. May mắn lắm thì hôn nhân sẽ bền vững lâu dài. Nếu hôn nhân đỗ vỡ, đây là bài học riêng của mỗi người và từng hoàn cảnh khác nhau mà họ đã trải nghiệm. Tuy nhiên, người trong cuộc vẫn là người am hiểu mọi nguyên nhân đưa đến sự tan vỡ ngoài mong muốn. Sự thất bại nào cũng mang đến chua cay! Vì thế, từ những bài học đắt giá này, họ có sự suy nghĩ thấu đáo và quyết định chính chắn hơn cho sự lựa chọn đối tượng trong tương lai để tránh mọi đỗ vỡ đáng tiếc của quá khứ. Lời nhắn nhủ “Ôn cố tri tân” của Khổng Tử thật hữu ích và rất thực tế để áp dụng trong trường hợp này. Nhìn quá khứ để quyết định tương lai!

    Về kinh doanh: Người ta thường bảo rằng: “Thua keo này, bày keo khác”. Nhưng với điều kiện phải áp dụng kim chỉ nam “Ôn cố tri tân”. Hãy tìm hiểu về nguyên nhân đưa đến thất bại trong thương trường; đó cũng là những kinh nghiệm để tránh mọi sai lầm trong tương lai, để mang lai sự thành công trong kinh doanh cho ngày mai. Vì: “Thất bại là mẹ thành công!”

    Như trên đã trình bày, nếu hiểu được ý nghĩa và sự hữu ích của ý tưởng “Ôn cố tri tân” khi áp dụng vào nhiều phương diện trong đời sống và nhất là cho đất nước…ta vững tin rằng nó sẽ mang đến sự thành công tuyệt vời cho Việt Nam mai sau. Tác phẩm “Ôn Cố Tri Tân” là một tác phẩm văn chương có giá trị về bài học lịch sử Việt Nam và rất hữu ích cho những thế hệ trẻ, có một định hướng sáng suốt mà tác giả đã trao lại bó đuốc soi đường dẫn lối cho thế hệ trẻ xây dựng lại một nước Việt Nam hùng mạnh trong tương lai. Tựu trung thì thường những bài học đã qua sẽ giúp chúng ta cải tiến mai sau. Người ta chỉ có thể học hỏi từ quá khứ và vượt qua hiện tại để tạo ra một tương lai tốt đẹp hơn; hay tương lai thuộc về những người học hỏi từ quá khứ và sống xuất sắc trong thời điểm hiện tại. Như nhà văn Jason Medina cho là “Người ta chỉ có thể học hỏi từ quá khứ và vượt qua hiện tại để tạo ra một tương lai tốt đẹp hơn.” Riêng như văn Debasish Mridha cho câu nói “Tương lai thuộc về những người học hỏi từ quá khứ và sống xuất sắc trong thời điểm hiện tại.”

    Thật vậy, tất cả chúng ta đều có thể học hỏi được nhiều điều từ quá khứ của mình. Để chúng ta có thể sống trọn vẹn nhất trong hiện tại, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng để hỏi những câu hỏi đứng đắn về quá khứ của chúng ta. Và từ quá khứ bạn có thể nghiên cứu và rút kinh nghiệm hầu làm cho tương lai của mình tốt đẹp hơn. Bạn có thể sử dụng những kinh nghiệm trong quá khứ của mình khiến sự kiện trở nên hiệu quả hơn, năng suất khá hơn và thậm chí là khôn ngoan hơn. Chuyện dĩ vãng cho bạn hiểu những gì đang xảy ra trong hiện tại và trước khi bạn quyết định điều gì sẽ xảy ra trong tương lai, hãy thử và suy ngẫm về quá khứ của bạn. Nhớ lại những điểm tích cực của bạn trong quá khứ và học hỏi từ những điểm yếu khiến bạn thất vọng. Trong đời sống nhiều người có xu hướng sống theo những lựa chọn trong quá khứ của họ, bạn không nên để nó kìm hãm mình. Hãy luôn nhớ rằng mỗi ngày mới đều mang đến một cơ hội để bạn tạo ra một tương lai tươi sáng hơn. Lịich sử thuộc quá khứ chứa đầy những cơ hội học tập cho hiện tại và tương lai của chúng ta. Về khía cạnh đó, dưới đây là bộ sưu tập của chúng tôi gồm những câu trích dẫn, những câu nói trong quá khứ và những câu châm ngôn trong quá khứ đầy cảm hứng, khôn ngoan và kích thích sự suy nghĩ, được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau trong nhiều năm. Tất cả ý tưởng vừa nêu ra ở trên chất chứa cái hay của sách Nguyển Quang

    Nếu hiểu được ý nghĩa và sự hữu ích của tư tưởng “ôn cố tri tân” khi áp dụng vào nhiều phương diện trong đời sống và nhất là cho đất nước…  chúng ta tin chắc rằng nó sẽ mang đến sự thành công tuyệt vời cho Việt Nam mai sau. Tác phẩm “Ôn Cố Tri Tân” là một tác phẩm văn chương có giá trị về bài học lịch sử Việt Nam và rất hữu ích cho những thế hệ trẻ, có một định hướng sáng suốt mà tác giả đã trao lại bó đuốc soi đường dẫn lối cho thế hệ trẻ xây dựng lại một nước Việt Nam hùng mạnh trong tương lai.

    Kiều My, California, Tháng Tư 2022

  • Lê Nguyễn Nga,  Văn Thơ

    Nhìn Cuộc Chiến UKRAINE, Nhớ Lại Việt Nam

    Xin được nói bài viết này là ý kiến riêng của người viết .
    Tôi xin viết những dòng chữ này để khóc cho sự hy sinh đau thương của cả một dân tộc Việt Nam

    ***

    Mọi người Việt Nam trên toàn cầu đang nhìn về cuộc chiến của Ukraine để nhớ lại cuộc chiến Việt Nam vào Tháng Tư Buồn.
    Xin được nhắc nhớ lai Uktaine đã bị sát nhập cùng 14 quốc gia khác bởi tham vong của Cộng Sản Nga lập thành Liên Bang Sô Viết từ thập niên 1922.
    Sau những năm đau khổ dưới chế độ CS, dân tộc Ukraine đã hiểu rõ thế  nào là Ý Đồ thống trị tàn ác của Cộng Sản .
     – Nhớ lại  tình trạng của người dân miền nam Việt Nam bị cộng sản đầu độc, lường  gạt .
    Đất nước  Việt Nam, sau Hiệp Định Geneve  20-7-1954,  đã bị chia cắt tại vĩ tuyến 17, chia  ra hai quốc gia.
    Miền Bắc thuộc CS Bắc Việt và miền Nam  thuộc nước Việt Nam Cộng Hoà.
    Đúng luật  là  CS Bắc Việt không được phép tràn qua vĩ tuyến 17.
      Nhưng, với ác tâm chiếm đoạt Miền Nam CS đã gian xảo, lập nên cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền  Nam.
    CS nói rằng đó là dân trong miền nam Việt Nam làm cách mạng chống Mỹ cứu nước.
    Ukraine với nhiều thành phố đẹp được xây dựng, sau khi được tách ra khỏi khôi Liên Bang Sô Viết từ năm 1991.
    Sau 31 năm độc lập, đất nước Ukraine đã được xây dựng rất đẹp.   Với nhiều thành phố khang trang và nhà thờ kiến trúc tuyệt đẹp.
    Đất nước và con người văn minh đó đã xây dựng được những nhà máy hạt nhân lớn nhất Âu Châu.
    Ý  chí can trường của dân UKraine bất khuất. Toàn thể quân đội và nhân dân đã một lòng quyết tâm chống lại quân xâm lăng Nga.
    Sau  hơn 1 tháng  giao tranh, nhiều thành phố nổi tiếng đã bị Nga đánh bom tan nát như là Kharkiv, Mariupol, Bucha và Kyiv.
    Toàn thể  kiến trúc to lớn của thành phố đã bị phá huỷ bởi những trận mưa bom của Nga, hư hại tan nát .
    –  Sự GIỐNG NHAU và KHÁC NHAU  giữa Ukraine  và Việt Nam:
    A.  Hai đất  nước Giống  Nhau về địa thế chinh trị quan trọng.
        Ukraine  là đất thân hữu của NATO, để ngăn chặn CS Nga tiến về phía Tây Âu.
        Việt nam  là thành trì chống Cộng Sản tại Đồng Nam Á từ trước thập niên 1960.
    B.  Hai cuộc chiến được giúp đỡ  khác nhau, vào hai thời điểm  khác nhau.
        1. NATO giúp rất nhiêu vũ khí cho Ukraine chống lại việc xâm lấn của CS Nga .
           Việt Nam được Mỹ giúp chống Cộng Sản từ năm 1960.
        Nhưng, VNCH bị Mỹ cắt viện trợ năm 1973, VN  không còn đủ súng đạn, không thể tiếp tục chiến đấu với CS Bắc Việt. Trong Khi đó  CS Bắc Việt vẫn được tiếp tế vũ trang, nhiên liệu và thực phẩm từ Trung Cộng .
         2. Quân đội và dân Ukraine hiểu rõ ác tâm của CS vi đã sống dưới chế độ CS.
            Tất cả quân và dân Ukraine quyết tâm hy sinh chống lại CS Nga để dành độc lập .
            Dân Nam Việt Nam bị CS Bác Việt lường gạt dựng lên cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nổi lên đánh phá quân dân  VNCH các nơi miền Nam.
     C.S Bắc Việt gian manh, thành lập quân đội cộng  sản nằm vùng lâu dài đánh phá, quyết chiếm toàn miền nam.
        Từ năm 1960 đến 1975.  Việt Nam đã sống trong chiến tranh tàn khốc .
    Hinh ảnh Việt Cộng tàn sảt đồng bào Huế thật dã man và quá thương tâm trong TẾT Mậu Thân 1968.
    Oai hùng thay sự chiến đấu anh hùng của của quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng tại nhiều chiến trường như là  An Lộc và  sau 1971 đã chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị .
    Trong trận chiến tranh dai dẳng hơn 15 năm, nhiều người dân và quân đội VNCH và  Mỹ đã thiệt mạng rất nhiều mà vẫn chưa có kết quả.
    Trong lúc đó Hiệp định Paris, vào năm 1973,  Mỹ quyết định chấm dứt viện trợ cho chiến trường Việt Nam chống lại CS xâm lược.
    VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu với những vũ khí còn lại .
    Vi tình trạng thiếu vũ khí, và vi quản đội Bác Việt kết hợp với MTGPMN tấn công vào ngày  30-4-1975. Chánh quyển  cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà phải Đâu Hàng Vô Điều Kiên.
    Nhìn chung trong cuộc chiến Ukraine,
     – Chúng ta KHÔNG NGHE, và HY VỌNG là Ukraine KHÔNG có Cộng Sản Nằm Vùng .
    Tất cả quân và dân Ukraina đồng tâm chiến đấu chống lại CS Nga xâm lăng .
    Tổng thống Ukraine, anh hùng  Zelensky đã kêu gọi sự giúp đỡ vũ trang và nhân lực từ NATO.
     NATO đáp lời rõ răng , viện trợ vũ khí và kế đến là  giúp  quân đội tinh nguyện ngoài  nước, đến chiến đấu chống lại cuộc xâm lăng của CS Nga.
      Ukraine được giúp đỡ mọi mặt về vũ  khí  để chống lại CS vì
     –  NATO thấy  rằng CS  Nga sẽ tiến sang  các nước như Ba Lan, Đức, Pháp và toàn cả Tây Âu nếu Ukraine  bị CS Nga chiếm.
     –  NATO tin tưởng vào sự chiến đấu của quân đội và nhân dân Ukraine. Họ can đảm liều chết chiến đấu can trường, chống lại sự xâm lăng của CS Nga.
     Nhìn lại lịch sử miền Nam Việt Nam từ năm 1960-1975 , Quân Việt Cộng  gian xảo, quỷ quyệt, đã lừa dối lập ra cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam .
     CS quyết tâm đánh phá lâu dài và sau gần 15 năm, Mỹ đã mệt mỏi chán nản vi cuộc chiến quá lâu dài.
    Thêm vào đó, quốc hội Hoa Kỳ buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam.
     Mỹ  phải rút quân khỏi Việt Nam.
    Trong những năm chiến tranh tại miền Nam,  nhiều người dân có học cao nhưng vì lầm lac nên đã theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
    Nhiểu sinh viên và văn nghệ sĩ gây lên phong trào Phản Chiến, đã theo CS.
    Những người này làm nản tinh thần chiến đấu của Mỹ giúp VNCH.
    Những người theo Cộng  Sản trong MTGPMN  này đều đã bị loại ra khỏi chính quyền CS mới được thành lập sau khí CS lấy được Miền Nam, 30-4-1975.
    Một bài học đau đớn cho những người đã phản bội lại nhân dân miền nam.
     Đau đớn thay gần 17 năm chiến đấu với CS Bắc Việt , nhiều triệu quân và dân Việt Nam đã phải hy sinh vô nghĩa bởi sự lừa gạt của CS.
    Sự chọn lựa và quyết định rút quân của Mỹ, bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà chứng minh rằng Mỹ giúp VNCH là vì Mỹ muốn giữ quân bình cho khối Tự Do đôi với CS trên chính trường quốc tế, giữ vững phần đất của Thế Giới Tư Do thập niên 1960.
     Sự chọn lựa và quyết định của Mỹ bỏ rơi VNCH chứng minh là Mỹ không có lòng cứu nước Việt Nam Cộng Hoà tiếp tục chống Cộng Sản.
     Nước Mỹ quên đi lòng nhân đạo đối với quân đội và người dân Việt Nam.
     Một nước nhỏ Đồng Mình, bị bỏ rơi phải chịu đựng sự trả thù của Cộng Sản .
     Nhiều ngàn quân nhân, dân  chính của VNCH đã phải bị chết oan trong trại Cải Tạo gian ác của CS. Hàng ngàn gia đình dân bị CS cướp nhà và bị đuổi đi vùng Kinh Tế Mới .
     Gần 80  triệu dân VN dang sống nghèo đói trong xã hội nhiều nhương sa đọa và bị chánh  quyển CS  áp bức, lường gạt.
    Tính đến ngày 30 tháng  4 -2022, đất nước Việt  Nam đã trải qua 47 năm dưới chế độ CS.
    Nhiều vùng đất trong Việt Nam đã bị Tàu thuê mướn lâu dài 99 năm.
    CS VN đã ký giấy như hình thức bán đất do lòng tham, muốn ngồi yên thân trên chức vị và vẫn được hưởng tiền tham nhũng to lớn, của người trong chính quyền CS.
    Hiện tại đất nước Việt Nam không còn là của người Việt Nam làm chủ nửa.
    Thế giới và người dân Việt Nam giờ đây nhin thấy rõ gương can đảm của Ukraine chống lại CS Nga.
    Cầu mong là Ukraine sẽ chiến thắng CS và dành được độc lập .
    Moi người trên thế giới đã hiểu rằng Tự Do có được là thuộc vào sự quyết tâm tranh đấu của chính người dân đang sống trong nước, kế đó là sự giúp đỡ của người ngoài nước để chống lại Cộng Sản xâm lược.
    Chiến tranh Ukraine vẫn còn tiếp diễn khốc liệt.
    Xin cầu nguyện cho đất  nước và dân tộc Ukraine và  dân tộc Việt Nam.
    Lê Nguyễn Nga
    Thang 4 , 2022
  • Kiều Mỹ Duyên,  Sinh Hoạt

    NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG RA MẮT SÁCH

    KIỀU MỸ DUYÊN

    Hai tác phẩm PHẬN ĐÀN BÀ và ÔN CỐ TRI TÂN của nhà văn Nguyễn Quang.

    Những tà áo dài rực rỡ đẹp tuyệt vời tung bay trong gió của các nhà văn nữ: Lưu Khánh Lan, Đỗ Mộng Thủy, Lê Thụy Lan, Lê Kiều My và nhiều người đẹp khác nữa trong ngày 10 tháng 4 năm 2022 tại thư viện Việt Nam, thành phố Garden Grove, mà nhiều người cứ tưởng là ngày thi hoa hậu áo dài của phụ nữ Việt Nam. Nhà văn Nguyễn Quang ra mắt 2 tác phẩm là Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân, do liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức, từ 12.30 đến 5 giờ chiều.

                Bước vào phòng họp, mọi người thấy nhà văn Nguyễn Quang ký sách cho độc giả. Đồng bào đứng xếp hàng để mua sách, trong đó có ông Phát Lưu, một người sinh hoạt tích cực trong cộng đồng Việt Nam, giáo sư Quyên Di, nhà văn Việt Hải, chim đầu đàn của Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, và Nga Nguyễn, cựu nữ sinh Trưng Vương, phu nhân của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyên. Cảm động nhất là các giáo sư lớn tuổi đều hiện diện như giáo sư Dương Ngọc Sum, giáo sư Trần Huy Bích, và giáo sư nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

    Nhà văn Nguyễn Quang ký tặng sách cho ông Phát Lưu.

    Buổi ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang rất thành công, nhà văn Nguyễn Quang ký tên trên sách liên tục. Mời anh chị em vào Website VBS kieumyduyenshow để xem lại Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn nhà văn Nguyễn Quang trên đài truyền hình VBS 57.6 ngày 31/3/2022 lúc 3-4 chiều.

                Giọng nói của nhà văn Nguyễn Quang vẫn mạnh mẽ, chắc sẽ sống trên 100 tuổi và tiếp tục in nhiều sách nữa, rất tiếc chị Minh Đức Hoài Trinh không còn hiện hữu để nhìn thấy sự thành công của nhà văn Nguyễn Quang. Ngày xưa ở Paris, tôi chưa được hân hạnh gặp anh Nguyễn Quang, khi đó chỉ có chị Minh Đức Hoài Trinh đưa tôi đi uống cafe và dạo phố Paris tấp nập người đi bộ.

                Ngày ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang, tôi bỗng dưng nhớ chị Minh Đức Hoài Trinh quá! Nhiều người còn ở đây mà chị đã đi rồi, sao chị đi sớm quá?

                Chị Dương Hồng Anh năm nay 91 tuổi nhưng vẫn khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn, sáng suốt. Chị cười thật tươi và nói:

                – Tôi sẽ tiếp tục in thơ.

                Nhiều người hiện diện trong buổi ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang trên 90 tuổi, nhiều thế hệ rất có lòng, nhiều ca sĩ ca rất hay. Thầy Dương Ngọc Sum, thầy Trần Huy Bích, giáo sư Quyên Di và giáo sư nhạc sĩ Lê Văn Khoa, các thầy người nào cũng có lòng, người ở xa, ở gần cũng là những người có lòng. Giáo sư Quyên Di lúc nào cũng đến đúng hẹn, ăn mặc tươm tất, đúng là giáo sư. Những tà áo dài tha thướt sặc sỡ, Khánh Lan lúc nào cũng có phu quân đi bên cạnh thật là diễm phúc. Kiều My và Nga Nguyễn đến rất sớm. Nga Nguyễn học ban văn chương ở Trưng Vương, phu nhân của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyên, rất dễ thương.

    Ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang tại thư viện Việt Nam.
    (Hình đứng từ phải qua trái: Kiều Mỹ Duyên, Ái Liên, Ngọc Quỳnh,

    giáo sư Quyên Di, giáo sư Dương Ngọc Sum, Lâm Dung,
    Mộng Thủy, Khánh Lan, Mạnh Bồng.
    Hình ngồi từ phải qua: nhà văn Nguyễn Quang, nhà văn Việt Hải, nhà thơ Nga Nguyễn, giáo sư Trần Huy Bích)
     

    Những diễn giả phát biểu ý kiến, người nào nói cũng xuất sắc, chứng tỏ họ đọc Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân rất kỹ, đọc và nhập vào sách mới phát biểu cảm động như thế.

                Nhà văn Nguyễn Quang du học ở Pháp từ năm 1950, từng viết sách và in sách ở Mỹ, đã xuất bản 9 quyển sách:

                – Văn Nghiệp và Cuộc Đời năm 2005; Nhập Gia năm 2007; Ông Giáo Làng năm 2009; Ốc Mượn Hồn năm 2012; Một Giấc Mơ năm 2013; Ngoại Tình năm 2016; Thần Giao Cách Cảm năm 2017; Ôn Cố Tri Tân năm 2020; Phận Đàn Bà năm 2020.

                Nhà văn Nguyễn Quang đang in một quyển bằng tiếng Anh. Phu nhân của ông là thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đã xuất bản 26 quyển. Nhà văn Nguyễn Quang và Minh Đức Hoài Trinh và một số văn sĩ, thi sĩ hải ngoại đã vận động tích cực trong một thời gian mới được văn bút quốc tế cho văn bút Việt Nam hải ngoại vào làm thành viên của văn bút quốc tế. Hy vọng anh chị em trong văn bút tiếp tục tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho Việt Nam như nguyện vọng của thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đã khuất bóng.

    Một trong 9 tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang là Một Giấc Mơ, ông mơ Việt Nam có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Hy vọng giấc mơ của nhà văn Nguyễn Quang sẽ thành sự thật.

                Một buổi ra mắt sách kéo dài 5 giờ đồng hồ, mọi người thưởng thức nhạc, chúc mừng sức khỏe các giáo sư. Nhà văn giáo sư Quyên Di, giáo sư Trần Huy Bích, giáo sư Dương Ngọc Sum và giáo sư nhạc sĩ Lê Văn Khoa được học trò chúc lành. Các nhà văn nữ vẫn duyên dáng được mời chụp hình rất nhiều, ở nơi ra mắt sách, các chị em cười hồn nhiên dễ thương như các nữ học trò ngày nào. Ở đây chỉ có tình người, âm nhạc và sách. Ra về vẫn còn luyến tiếc, thời gian 5 giờ vẫn chưa đủ để hàn huyên tâm sự, gặp nhau là quý lắm, hẹn gặp nhau lần sau.

    Buổi ra mắt sách có sự hiện diện của các giáo sư,
    các nhà văn, nhà báo, bạn bè, thân hữu.

    Nhiều người nói:

                – Bây giờ viết sách và in sách là sự hy sinh rất lớn, vì người ta đọc trên mạng, có người mua sách vì nể bằng hữu nhưng đâu có thì giờ để đọc.

                Nhưng quý vị ơi, trong tất cả các buổi ra mắt sách rất đông người tham dự, ai đến tham dự đều mua sách. Các vị hãy đến thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ ở Washington D.C, các thư viện của các trường đại học, các thư viện của các thành phố mua nhiều sách tác giả là người Việt Nam. Ở trường đại học Irvine, có nhiều sách và tài liệu về hành trình tị nạn của người Việt Nam, do Tiến Sĩ Thủy Đặng là người làm ra chương trình này.

                Tháng 8/2021 khoa trưởng Anthony, Tiến Sĩ Hải Nguyễn từ đại học Harvard, Massachusetts đến Orange County để chuẩn bị phỏng vấn, thu hình, thu âm và viết về hành trình người tị nạn Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới.

                Hàng năm gần đến ngày 30/4, nhiều ký giả Mỹ, Âu, Úc Châu đến nhiều nơi có người Việt Nam tị nạn để phỏng vấn, viết bài.

                Chúng tôi có niềm tin sách của tác giả Việt Nam vẫn là nhu cầu cho người đọc và nhất là những học giả nghiên cứu về nước Việt Nam, về chiến trường Việt Nam, cho nên sách vẫn còn có giá trị đến muôn đời.

                Chúc nhà văn Nguyễn Quang sẽ ra mắt sách thứ 10, và chúc nhiều nhà văn có tâm huyết tiếp tục viết sách, viết về đời sống của mình và của mọi người xung quanh, lúc nào cũng được độc giả đón nhận một cách nhiệt tình.

    Ông Lưu Phát, Kiều Mỹ Duyên, Khánh Lan, và bạn bè chụp ảnh kỷ niệm tại văn phòng Ana Real Estate trước buổi ra mắt sách của nhà văn Nguyễn Quang.
     

    Những quyển sách về sự thật như quyển Bridge of Madeson, 165 trang, viết về mối tình của cô giáo làng với ký giả chiến trường, đã được thành phim và chỉ trong 2 tuần lễ đã bán hơn 40 triệu cuốn. Love Story đã thành phim và được thế giới yêu chuộng, tác giả đã trở thành triệu phú chỉ một cuốn sách này mà thôi.

                Chúc cho tất cả nhà văn viết sự thật và thành công như những tác giả kể trên, mong lắm thay.

    KIỀU MỸ DUYÊN, Orange County, 11/4/2022

    (kieumyduyen1@yahoo.com)

  • Lê Nguyễn Nga,  Văn Thơ

    TUYỆT  VỜI YÊU THƯƠNG 

    Viết tặng   NVNT – TTG

    Nắng mưa hoa thắm tình người 

    Văn chương họp bạn tình thương chan hòa 

    Thơ nhạc bạn hữu sum vầy 

    Nhân Văn Nghệ Thuật đậm đà tiếng vang.

    Nhạc vàng  hợp tấu khúc ca

    Tiếng Thời Gian hát nhịp nhàng, tươi xinh 

    Ra Mắt Sách, vẹn  nghĩa tình

    Kính người tiền bối, bóng hình tri ân 

    Văn thơ nhạc trổi xa gần  

    Chung vui họp bạn, ngập tràn ấm êm 

    Bên nhau thương mãi bạn hiền 

    Vui tình bằng hữu thương yêu tuyệt vời.

    Em vẫn thấy đầy tình người 

    Anh đang đón chào từng lời 

    Người  thương ơi về bên nhau 

    Vòng tay sưởi ấm cuộc đời.

    Lê Nguyễn  Nga,  Tháng 4, 2022