• ThaiLan

    Sân bay quốc tế O’Hare

    image.png

    HAI CHUYỆN THẬT HAY VÔ CÙNG

    – O’Hare là tên phi trường quốc tế ở Chicago .
    – Al Capone, 1 tên gangster khét tiếng một thời ở Mỹ.
    – Easy Eddie là luật sư của Al Capone

    Có rất nhiều quân nhân Mỹ can trường trong Thế chiến thứ hai. Một trong những anh hùng đó là O’Hare – Trung Tá Phi Công Hải Quân Butch. Trung Tá O’Hare là phi công khu trục phục vụ trên hàng không mẫu hạm Lexington trong vùng biển Nam Thái Bình Dương.

    Câu chuyện thứ nhất

    Một hôm, phi đoàn của O’Hare được giao thi hành một phi vụ quan trọng. Sau khi cất cánh, liếc nhìn bảng đồng hồ, ông nhận ra có chuyện không ổn, hoặc là đồng hồ báo xăng bị hư hoặc là ai đó đã không bơm đẩy xăng cho ông. Với tình trạng này, ông không đủ xăng để hoàn thành nhiệm vụ và trở về. Trung tá O’Hare báo với Phi Đoàn Trưởng và được lệnh phải quay về. Ông miễn cưỡng rời khỏi đội hình và quay trở lại hàng không mẫu hạm.
    Trên đường về, bỗng O’Hare thấy một cảnh tượng làm ông dựng tóc gáy: Dưới thấp xa xa trước mặt ông là một phi đoàn oanh tạc cơ của Nhật đang trên đường tiến về hạm đội Hoa kỳ. Phi đoàn khu trục của Hoa Kỳ đã bay đi thi hành nhiệm vụ và hạm đội không còn bảo vệ. Dù có gọi, phi đoàn khu trục cũng không thể trở về kịp để cứu và cũng không đủ thời gian để báo về hạm đội mối nguy hiểm sắp đến. Việc duy nhất còn có thể làm là bằng bất cứ giá nào cũng phải xua đuổi, phá tan hoặc chuyển hướng đội oanh tạc cơ Nhật.
    Trung Tá Phi Công Hải Quân Hoa Kỳ Butch O’Hare.

    Không còn nghĩ đến an nguy cho mình, trung tá O’Hare lao thẳng vào đội hình phi đoàn oanh tạc cơ Nhật, bốn nòng súng 50 ly gắn trên cánh nhả đạn đỏ rực, ông nhắm bắn hết chiếc này đến chiếc khác. Đến khi hết đạn, ông vẫn tiếp tục tấn công, liều lĩnh đâm thẳng vào các phi cơ Nhật, cố gắng cắt đuôi chiếc này, hay cắt cánh chiếc kia mong cho họ không điều khiển và bay được. Trong đáy cùng tuyệt vọng, ông đã làm bất cứ gì có thể làm để các oanh tạc cơ Nhật không đến được hạm đội Hoa kỳ.
    Cuối cùng, các phi công Nhật bối rối và chuyển hướng. Thở ra nhẹ nhõm, trung tá O’hare lê lết chiếc máy bay tả tơi của mình về lại hàng không mẫu hạm. Ông báo cáo sự việc, chiếc máy quay phim gắn trên phi cơ là bằng chứng rõ ràng nhất. Nỗ lực trong tuyệt vọng để bảo vệ hải đội Hoa kỳ, ông đã hạ 5 chiếc oanh tạc cơ Nhật.
    Đó là ngày 20/2/1942. Trung tá O’Hare là phi công Hải Quân đầu tiên trong quân chủng được trao tặng Huân Chương Danh dự của Quốc Hội Liên Bang Hoa kỳ. Năm 1943, trung tá O’Hare tử trận trong một cuộc không chiến lúc ông 29 tuổi. Để không ai có thể quên được người anh hùng này, phi trường thành phố Chicago, quê hương ông, đã được đặt tên là phi trường O’Hare.

    Câu chuyện thứ hai

    Hơn 15 năm trước đó, tại thành phố Chicago có một người mang biệt danh là Al Capone. Trong thời gian này, Al Capone hầu như làm chủ thành phố, trở thành ông trùm mafia nổi tiếng nhất Chicago và nước Mỹ thời đó …
    Easy Eddie là luật sư của Al Capone. Chắc chắn Eddie rất giỏi, tài năng của Eddie đã giúp Al Capone nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Để tỏ lòng biết ơn, Al Capone hậu đãi Eddie rất lớn. Không chỉ tiền bạc mà còn tài sản. Gia đình Eddie sống trong một lâu đài lớn, chiếm nguyên một đoạn đường của thành phố Chicago.

    Edward Joseph O’Hare hay còn gọi là “Easy Eddie”, sinh ngày 5/9/1893 – 8/11/1939), luật sư ở St. Louis.
    Ông trùm Al Capone (1899-1947) chỉ đạo các băng nhóm tội phạm tại Chicago suốt những năm 1920s.

    Như mọi người cha khác, Eddie có một “nhược điểm”, ông có một con trai và yêu con vô cùng. Cậu bé có một cuộc sống hoàn hảo. Và mặc dù chìm ngập trong thế giới tội ác, Eddie cũng đã có những cố gắng dạy con biết thế nào là phải, trái.
    Eddie đã dạy cậu con trai vượt lên từ cuộc sống nhớp nhúa của chính mình, ước mong con sẽ là người tốt … Dù giàu có và quyền thế, nhưng vẫn có một thứ Eddie không thể cho con, một thứ mà chính Eddie đã trót bán cho Al Capone: Đó chính là danh dự.
    Qua nhiều đêm trằn trọc thao thức, Eddie quyết định cố gắng rửa sạch những vết nhơ dưới cái tên của mình, ngõ hầu cho con biết thế nào là trung thực và ngay thẳng.

    Và cuối cùng, Eddie quyết định ra trước tòa làm nhân chứng, chống lại ông trùm, biết rằng giá phải trả sẽ không nhỏ. Trên hết thảy, Eddie muốn phục hồi tên tuổi mình, hy vọng sẽ để lại cho con tấm gương và danh dự.
    Eddie đã ra trước tòa làm nhân chứng, trùm Al Capone vào tù. Vài tháng sau, Eddie gục ngã trong cơn mưa đạn trên một con đường lẻ loi ở Chicago.

    Vậy hai câu chuyện này có liên quan gì với nhau?
    O’Hare – Trung tá phi công hải quân Butch chính là con trai của Easy Eddie.

    Tuổi thơ và tấm gương của người cha luôn để lại dấu ấn cực kỳ sâu sắc cho cả cuộc đời này!

    Sưu tầm
    https://en.wikipedia.org/wiki/Edward_O%27Hare

    O’Hare là tên phi trường quốc tế ở Chicago 

    Thành phố Chicago trông thật nổi bật bên sự êm đềm của dòng sông

    Những thông tin thú vị về Chicago

    1. Vườn thú Lincoln

    Với diện tích 14 ha, Vườn thú Lincoln, nằm ở phía tây của hồ Michigan là một trong số ít các vườn thú trên thế giới cho phép du khách vào cổng miễn phí.

    2. Viện bảo tàng nghệ thuật

    Ngoài bảo tàng Louvre ở Paris, Pháp; Viện Nghệ thuật Chicago, nằm trên South Michigan Avenue đang lưu giữ bộ sưu tập lớn nhất của những bức tranh ấn tượng nhất.

    3. Sông Chicago

    Đây là con sông duy nhất trên thế giới chảy ngược. Lý do là bởi vì các nguy cơ về sức khỏe của người dân, trong năm 1800 và đầu những năm 1900 người ta đã tiến hành đảo ngược dòng chảy của sông.

    4. Ngân hàng máu đầu tiên

    Năm 1937, Chicago là ngân hàng máu đầu tiên tại Mỹ.

    5. Sự ra đời của dây kéo

    Dây kéo ra đời vào năm 1851, hệ thống làm sạch chân không vào năm 1868 và các bánh xe Ferris vào năm 1893, tất cả đều được phát minh tại Chicago.

    6. Truyền hình màu

    Năm 1956 lần đầu tiên tất cả truyền hình màu xuất hiện lần đầu ở Chicago với WMAQ-TV, một sản phẩm của NBC.

    7. Cửa hàng McDonald đầu tiên

    Ray Kroc đã mở nhà hàng McDonald đầu tiên tại Des Plaines, ngoại ô Chicago, vào ngày 15/4/1955.

    Xem Thêm lịch khởi hành và giá tour du lịch mỹ: tại đây

    8. Cái nôi của Walt Disney

    Walt Disney đã được sinh ra tại Chicago vào ngày 05/12/1901. Ông cũng tham dự trong việc hình thành của Viện Nghệ thuật Chicago.

    9. Thư viện công cộng

    Từ đống tro tàn trong trận hỏa hoạn lớn ở Chicago năm 1871 thư viện công cộng Chicago đã được xây dựng.

    10. Chiếc điện thoại di động đầu tiên

    Martin Cooper, một người gốc Chicago, phát minh ra điện thoại di động đầu tiên. Ngày 03/04/1973, Cooper thực hiện cuộc gọi điện thoại đầu tiên tại thành phố New York.

  • ThaiLan

    Chicago – Thành phố Gió 

    Đây là thành phố lớn thứ 3 ở Mỹ. Chicago là nổi tiếng vì là một trong những thành phố lớn tại Mỹ, độc đáo với kiến trúc chọc trời đầu tiên trên thế giới.

    Chicago nằm ở đông bắc bộ tiểu bang Illinois, trên bờ tây nam của hồ Michigan. Đây là thành phố chính của vùng đô thị Chicago tại Trung Tây Hoa Kỳ và vùng Ngũ Đại Hồ. Chicago nằm trên một đường phân thủy lục địa tại điểm Chuyển tải Chicago, nối lưu vực sông Mississippi và lưu vực Ngũ Đại Hồ. Thành phố nằm bên hồ nước ngọt Michigan rộng lớn, và hai sông là sông Chicago qua trung tâm và sông Calumet chảy qua vùng công nghiệp South Side. Lịch sử và kinh tế của Chicago gắn chặt với hồ Michigan. Phần lớn vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy của khu vực trước đây sử dụng sông Chicago, song hiện nay các tàu to chở hàng trên hồ sử dụng cảng Lake Calumet tại South Side. Hồ Michigan giúp điều hòa khí hậu cho Chicago; khiến cho các khu phố ven hồ có chút ấm hơn vào mùa đông và mát hơn vào mùa hạ.

     Từ hai thập niên cuối của thế kỷ 19, Chicago là điểm đến của các làn sóng nhập cư từ Nam, Trung và Đông Âu, như người Ý, người Do Thái, người Ba Lan, người Bosnia, và người Séc.  Năm 1930, hai phần ba số người Mỹ gốc Phi tại Chicago sống tại các khu vực mà người Da đen chiếm khoảng 90% dân số. South Side của Chicago là nơi tập trung đông người Da đen đô thị thứ nhì tại Hoa Kỳ, sau Harlem tại New York.

      Trên một nửa dân số của tiểu bang Illinois sống tại vùng đô thị Chicago. Chicago là thành phố lớn nhất tại siêu đô thị Ngũ Đại Hồ.

    Hồ Michigan, một trong Ngũ Đại Hồ, bao la như biển

    Nhiều lãnh đạo tôn giáo thế giới từng đến Chicago, bao gồm mẹ Theresa và Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Giáo hoàng Gioan Phaolô II đến Chicago vào năm 1979 trong chuyến công du đầu tiên của ông tới Hoa Kỳ sau khi được bầu làm giáo hoàng.

    Cách thuật nhớ phổ biến để nhớ lại tên của các hồ là chữ “HOMES”  (tiếng Anh:  “những cái nhà”), tức là Huron, Ontario, Michigan, Erie và Superior, nhưng cách này không có thứ tự đặc biệt nào. Những cách khác, thí dụ như Sister Mary Hates Ecumenical Overtures (“Xơ Maria ghét những ca khúc khởi đầu của nhà thờ”) hay She Made Harry Eat Onions (“Bà ấy bắt Harry phải ăn hành”), xếp các hồ từ phía tây đến phía đông.

    Đi bộ dọc hồ Michigan
    Đi thuyền trên hồ

     Chicago là quê hương của những tòa nhà chọc trời đầu tiên và là một trong những thành phố được xây dựng đẹp nhất trên thế giới. Nếu du khách có dịp du ngoạn đến “thành phố của gió”  , thì đừng quên chiêm ngưỡng những tòa nhà lộng lẫy, nổi tiếng nhất thành phố xinh đẹp này.

    Tháp Willis

    Tháp Willis được công nhận là tòa tháp cao nhất ở Chicago và một trong những tòa nhà nổi tiếng nhất trên toàn cầu. Hoàn thành vào năm 1973, nó đã đạt danh hiệu tòa nhà cao nhất thế giới cho đến năm 1998. Ngày nay nó vẫn là tòa nhà cao thứ hai tại Hoa Kỳ và trước đây được gọi là Tháp Sears cho đến hết năm 2009.

    Tháp Willis nổi bật giữa thành phố Chicago về đêm

     Chicago là quê hương của những tòa nhà chọc trời đầu tiên và là một trong những thành phố được xây dựng đẹp nhất trên thế giới. Nếu du khách có dịp du ngoạn đến “thành phố của gió”  , thì đừng quên chiêm ngưỡng những tòa nhà lộng lẫy, nổi tiếng nhất thành phố xinh đẹp này.

    Tháp Willis

    Tháp Willis được công nhận là tòa tháp cao nhất ở Chicago và một trong những tòa nhà nổi tiếng nhất trên toàn cầu. Hoàn thành vào năm 1973, nó đã đạt danh hiệu tòa nhà cao nhất thế giới cho đến năm 1998. Ngày nay nó vẫn là tòa nhà cao thứ hai tại Hoa Kỳ và trước đây được gọi là Tháp Sears cho đến hết năm 2009.

    Chicago : “Thành phố Gió” (WINDY CITY)

    1/- Thành Phố Của Túi Gió
    Một báo cáo chính xác hơn là cái tên này đã được các nhà báo thời đó từ các thành phố khác đặt ra để chỉ Chicago. Một điều cần lưu ý là những phóng viên này không sử dụng tên này như một thuật ngữ thể hiện sự quý mến. Thay vào đó, họ dùng nó với ý nghĩa rằng thành phố đầy rẫy những “túi gió”, tức là những người tham lam chỉ quan tâm đến tiền bạc. Cụ thể hơn, những kẻ túi gió này là những chính trị gia và những người nổi tiếng. Ví dụ, một phóng viên của tờ Chicago Daily Tribune tuyên bố rằng thành phố có một lực lượng cảnh sát vô dụng đang thể hiện sự phù phiếm của mình trong thành phố lộng gió. Một phóng viên khác từ Milwaukee cũng viết điều tương tự và đề cập đến đạo đức thối nát mà Chicago đã so sánh với Milwaukee. Sau khi hai nhà báo này bắt đầu sử dụng cái tên này, nhiều nhà báo cũng thúc đẩy việc sử dụng cái tên này. Đáng chú ý, hầu hết những nhà báo đó đều đến từ thành phố New York do thất bại cay đắng.

    2/- Chicago được gọi là “Thành phố Gió” vì có hai lý do khả thi. Một là do những cơn gió lạnh thổi từ hồ Michigan. Hai là do các thành viên của các thành phố đối thủ đã đặt cho Chicago cái tên này để chế giễu các chính trị gia và cư dân tự mãn của thành phố này. Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1856 để chỉ Green Bay, nhưng sau đó được liên kết với Chicago vào năm 1876 do sự cạnh tranh của thành phố này với Cincinnati-

    Sự cạnh tranh với Cincinnati
    Theo đó, rõ ràng là Chicago không tự đặt tên cho mình nhưng đây là cái tên mà thành phố đã học cách áp dụng trong nhiều năm. Như đã nói trước đó, Cincinnati cũng là nơi được sử dụng cái tên này nhiều nhất có thể do sự cạnh tranh giữa hai thành phố. Sự cạnh tranh của họ liên quan đến việc buôn bán thịt đóng gói.

    Bắt đầu từ thập niên 1960, giống như hầu hết thành phố tại Hoa Kỳ, nhiều cư dân da trắng của thành phố chuyển đến vùng ngoại ô, các khu phố biến đổi hoàn toàn về phương diện chủng tộc.[38] Thay đổi kết cấu trong công nghiệp khiến những công nhân tay nghề thấp chịu ảnh hưởng nặng nề. Năm 1966, Martin Luther King, Jr. và Albert Raby lãnh đạo Phong trào Tự do Chicago, phong trào lên đến đỉnh với các hiệp định giữa Thị trưởng và các lãnh đạo phong trào. Các dự án xây dựng lớn được tiến hành trong thời gian nhiệm kỳ của Richard J. Daley, gồm có tháp Sears (nay gọi là Willis Tower), Đại học Illinois ở Chicago, McCormick Place, và Sân bay quốc tế O’Hare.

    Năm 1999, các nhà chức trách Công viên Millennium và một nhóm các nhà sưu tập nghệ thuật, phụ trách bảo tàng và kiến trúc sư đã xem xét những đề xuất thiết kế điêu khắc của 30 nghệ sỹ. Ủy ban này đã chọn dự án điêu khắc của nghệ sỹ quốc tế nổi tiếng Anish Kapoor qua đề nghị của nghệ sỹ Jeff Koons để xây dựng một công trình150-foot (46m) thường trực tại công viên. Hợp đồng với Kapoor cũng nêu rõ rằng tác phẩm nghệ thuật phải được thiết kế để tồn tại khoảng 1000 năm. Phương án đề xuất của ông, sau được gọi là Cloud Gate, được lấy cảm hứng từ thủy ngân lỏng và được thiết kế để phản chiếu chân trời của Chicago. Cloud Gate là công trình công cộng ngoài trời đầu tiên bằng thép không gỉ của nghệ sỹ người Anh Anish Kapoor được dựng tại Mỹ. Tác phẩm ban đầu được dự tính nằm ở góc đông nam của Vườn Lurie, nhưng các quan chức công viên cuối cùng quyết định vị trí đặt ở AT & T Plaza, vị trí hiện tại của tác phẩm điêu khắc này.

    Cấu trúc thiết kế tượng đã nảy ra vô số tình huống phân vân, khó xử. Có những lo ngại rằng nó có thể giữ nhiệt và truyền nhiệt độ nóng, lạnh. Quá nóng để chạm vào nó về mùa hè và lạnh đến nỗi một cái lưỡi có thể dính vào nó vào mùa đông. Cũng đã có những ý kiến cho rằng sự thay đổi nhiệt độ trái ngược cực điểm như vậy có thể làm suy yếu cấu trúc. Rồi thì những graffiti, phân chim và dấu vân tay… cũng là vấn đề nhức nhối, vì chúng sẽ ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ của tác phẩm điêu khắc. Vấn đề cấp bách nhất là việc mong muốn tạo ra một cấu trúc liền mạch duy nhất, không hàn. Norman Foster đã tính tới bao nhiêu phương án tưởng như không thể. Một vấn đề khác là tác phẩm điêu khắc ban đầu được ước tính nặng 60 tấn, vì không thể ước tính độ dày của thép tương thích với tạo hình thẩm mỹ mong muốn, nên cuối cùng, hiển nhiên, nó nặng tới 110 tấn và việc dàn dựng chịu lực phải được thực hiện sao cho nâng được nó. May mắn thay, tất cả các vấn đề đã được giải quyết.

    Điêu khắc không thể tiến triển mà không có sự sáng tạo và cảm hứng. Điều thực sự rất khó đối với các nhà điêu khắc là việc đi đến có một ý tưởng hay mà chưa ai có thể tưởng tượng ra. Anish Kapoor chính là một trong số các nghệ sĩ tài năng với Cloud Gate (tạm dịch là Cổng mây), công trình nghệ thuật nổi tiếng của ông.

    Cloud Gate – Khối điêu khắc hình trứng khổng lồ với trọng lượng 110 tấn, được gò tạo từ một loạt đồng nhất những tấm thép không có độ bóng cao. Bên ngoài tác phẩm điêu khắc tựa như tấm gương lớn phản chiếu bầu trời với những nóc nhà nổi tiếng của thành phố và những đám mây. Bên dưới tác phẩm điêu khắc, một vòm cầu cao chừng 3,7 mét, tạo nên “cửa” một buồng lõm, mời gọi du khách tản bộ xung quanh, chạm vào bề mặt như gương của tác phẩm và nhìn thấy muôn vàn hình ảnh phản chiếu biến dạng và kỳ thú của mình từ nhiều góc nhìn. Tác phẩm điêu khắc của Kapoor được dựng lên dựa trên nhiều chủ ý nghệ thuật, mặc dù vậy đối với nhiều khách du lịch chỉ đơn giản là xem tác phẩm điêu khắc với đặc tính phản quang độc đáo của nó là một cơ hội tuyệt vời để chụp ảnh.

    Tác phẩm điêu khắc này lần đầu tiên khi ra mắt được công chúng và các phương tiện truyền thông tên là The Bean (Hạt đậu), nhiều tháng sau nó mới được Anish Kapoor chính thức đặt tên là Cloud Gate. Cái tên đến từ thực tế là ba phần tư bề mặt bên ngoài của tác phẩm điêu khắc phản chiếu bầu trời, và tác phẩm điêu khắc này trông tựa như cái cổng vào bầu trời.

    Cloud Gate đã trở thành biểu tượng của thành phố Chicago. Công chúng đã ngay lập tức yêu thích nó, trìu mến đặt tên là Hạt đậu. Như có một quyền lực to lớn, nó thu hút tất cả những người dân địa phương, khách du lịch cũng như những người hâm mộ nghệ thuật. Đây là một trong những điểm thu hút việc chụp ảnh nhiều nhất trong thành phố, và hình ảnh của nó được sao chép trên các trang web internet và du lịch, các tạp chí nghệ thuật và kiến trúc.

    The American Welding Society (Hiệp hội hàn của Mỹ) đã công nhận Cloud Gate, MTH Industries và PSI như một nhóm liên kết, và quyết định trao cho họ giải thưởng Extraordinary Welding Award. Tác phẩm điêu khắc tại công viên Millennium này được nêu tên là một trong 10 thành tựu kiến trúc đẹp nhất năm 2004.

    Vài dòng về Anish Kapoor

    Anish Kapoor sinh ra tại Bombay vào năm 1954, và hiện đang sống và làm việc tại London. Ông đã học tại Hornsey College of Art (1973-1977) và Trường Nghệ thuật Chelsea, London (1977-1978).

    Kapoor là một trong một thế hệ các nhà điêu khắc người Anh, cũng như các đồng nghiệp điêu khắc Anh Tony Cragg và Richard Deacon, là những người đã đạt được sự công nhận quan trọng trong những năm 1980 và có chung mối quan tâm đến vật liệu sử dụng và hình thức nghệ thuật trừu tượng.

    Trong loạt sáng tác đầu tiên (1989-1990), ông tập trung vào hình hình học và màu sắc, sắp đặt những hình nửa vòng tròn, hình máy bay và các hình dạng khác được thể hiện với bảng màu sáng. Năm 1990, ông đại diện cho nước Anh tại Venice Biennale với “Void Field”, và trong suốt thập kỷ các tác phẩm điêu khắc của ông được đầu tư với nhiều tham vọng hơn, thao tác ngày càng cao cả về hình thức và không gian. Ông đã giành giải Turner năm 1991 và vào năm 2002 đã nhận được hợp đồng đặc biệt bởi Ủy ban Unilever cho hội trường Turbine của Tate Modern ở London.

    Ngoài việc được đặt mua tác phẩm cố định lớn của ông là Cloud Gate (2004) cho công viên Millennium ở Chicago. Trong suốt sự nghiệp của mình nhiều triển lãm cá nhân đã diễn ra tại MAC Grand-Hornu, Bỉ (2004); Museo Archeologico Nazionale, Naples (2004); Kunsthaus Bregenz (2003); Trung tâm Nghệ thuật đương đại Baltic, Gateshead (1999); Piazza del Plebiscito, Naples (1999); Hayward Gallery, London (1998); và Fondazione Prada, Milano (1995). Kapoor được đại diện bởi Gladstone Gallery ở New York-

    yt-icon

    *** Sân bay quốc tế O’Hare-

    image.png

    HAI CHUYỆN THẬT HAY VÔ CÙNG

    – O’Hare là tên phi trường quốc tế ở Chicago .
    – Al Capone, 1 tên gangster khét tiếng một thời ở Mỹ.
    – Easy Eddie là luật sư của Al Capone

    Có rất nhiều quân nhân Mỹ can trường trong Thế chiến thứ hai. Một trong những anh hùng đó là O’Hare – Trung Tá Phi Công Hải Quân Butch. Trung Tá O’Hare là phi công khu trục phục vụ trên hàng không mẫu hạm Lexington trong vùng biển Nam Thái Bình Dương.

    Câu chuyện thứ nhất

    Một hôm, phi đoàn của O’Hare được giao thi hành một phi vụ quan trọng. Sau khi cất cánh, liếc nhìn bảng đồng hồ, ông nhận ra có chuyện không ổn, hoặc là đồng hồ báo xăng bị hư hoặc là ai đó đã không bơm đẩy xăng cho ông. Với tình trạng này, ông không đủ xăng để hoàn thành nhiệm vụ và trở về. Trung tá O’Hare báo với Phi Đoàn Trưởng và được lệnh phải quay về. Ông miễn cưỡng rời khỏi đội hình và quay trở lại hàng không mẫu hạm.
    Trên đường về, bỗng O’Hare thấy một cảnh tượng làm ông dựng tóc gáy: Dưới thấp xa xa trước mặt ông là một phi đoàn oanh tạc cơ của Nhật đang trên đường tiến về hạm đội Hoa kỳ. Phi đoàn khu trục của Hoa Kỳ đã bay đi thi hành nhiệm vụ và hạm đội không còn bảo vệ. Dù có gọi, phi đoàn khu trục cũng không thể trở về kịp để cứu và cũng không đủ thời gian để báo về hạm đội mối nguy hiểm sắp đến. Việc duy nhất còn có thể làm là bằng bất cứ giá nào cũng phải xua đuổi, phá tan hoặc chuyển hướng đội oanh tạc cơ Nhật.
    Trung Tá Phi Công Hải Quân Hoa Kỳ Butch O’Hare.

    Không còn nghĩ đến an nguy cho mình, trung tá O’Hare lao thẳng vào đội hình phi đoàn oanh tạc cơ Nhật, bốn nòng súng 50 ly gắn trên cánh nhả đạn đỏ rực, ông nhắm bắn hết chiếc này đến chiếc khác. Đến khi hết đạn, ông vẫn tiếp tục tấn công, liều lĩnh đâm thẳng vào các phi cơ Nhật, cố gắng cắt đuôi chiếc này, hay cắt cánh chiếc kia mong cho họ không điều khiển và bay được. Trong đáy cùng tuyệt vọng, ông đã làm bất cứ gì có thể làm để các oanh tạc cơ Nhật không đến được hạm đội Hoa kỳ.
    Cuối cùng, các phi công Nhật bối rối và chuyển hướng. Thở ra nhẹ nhõm, trung tá O’hare lê lết chiếc máy bay tả tơi của mình về lại hàng không mẫu hạm. Ông báo cáo sự việc, chiếc máy quay phim gắn trên phi cơ là bằng chứng rõ ràng nhất. Nỗ lực trong tuyệt vọng để bảo vệ hải đội Hoa kỳ, ông đã hạ 5 chiếc oanh tạc cơ Nhật.
    Đó là ngày 20/2/1942. Trung tá O’Hare là phi công Hải Quân đầu tiên trong quân chủng được trao tặng Huân Chương Danh dự của Quốc Hội Liên Bang Hoa kỳ. Năm 1943, trung tá O’Hare tử trận trong một cuộc không chiến lúc ông 29 tuổi. Để không ai có thể quên được người anh hùng này, phi trường thành phố Chicago, quê hương ông, đã được đặt tên là phi trường O’Hare.

    Câu chuyện thứ hai

    Hơn 15 năm trước đó, tại thành phố Chicago có một người mang biệt danh là Al Capone. Trong thời gian này, Al Capone hầu như làm chủ thành phố, trở thành ông trùm mafia nổi tiếng nhất Chicago và nước Mỹ thời đó …
    Easy Eddie là luật sư của Al Capone. Chắc chắn Eddie rất giỏi, tài năng của Eddie đã giúp Al Capone nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Để tỏ lòng biết ơn, Al Capone hậu đãi Eddie rất lớn. Không chỉ tiền bạc mà còn tài sản. Gia đình Eddie sống trong một lâu đài lớn, chiếm nguyên một đoạn đường của thành phố Chicago.

    Edward Joseph O’Hare hay còn gọi là “Easy Eddie”, sinh ngày 5/9/1893 – 8/11/1939), luật sư ở St. Louis.
    Ông trùm Al Capone (1899-1947) chỉ đạo các băng nhóm tội phạm tại Chicago suốt những năm 1920s.

    Như mọi người cha khác, Eddie có một “nhược điểm”, ông có một con trai và yêu con vô cùng. Cậu bé có một cuộc sống hoàn hảo. Và mặc dù chìm ngập trong thế giới tội ác, Eddie cũng đã có những cố gắng dạy con biết thế nào là phải, trái.
    Eddie đã dạy cậu con trai vượt lên từ cuộc sống nhớp nhúa của chính mình, ước mong con sẽ là người tốt … Dù giàu có và quyền thế, nhưng vẫn có một thứ Eddie không thể cho con, một thứ mà chính Eddie đã trót bán cho Al Capone: Đó chính là danh dự.
    Qua nhiều đêm trằn trọc thao thức, Eddie quyết định cố gắng rửa sạch những vết nhơ dưới cái tên của mình, ngõ hầu cho con biết thế nào là trung thực và ngay thẳng.

    Và cuối cùng, Eddie quyết định ra trước tòa làm nhân chứng, chống lại ông trùm, biết rằng giá phải trả sẽ không nhỏ. Trên hết thảy, Eddie muốn phục hồi tên tuổi mình, hy vọng sẽ để lại cho con tấm gương và danh dự.
    Eddie đã ra trước tòa làm nhân chứng, trùm Al Capone vào tù. Vài tháng sau, Eddie gục ngã trong cơn mưa đạn trên một con đường lẻ loi ở Chicago.

    Vậy hai câu chuyện này có liên quan gì với nhau?
    O’Hare – Trung tá phi công hải quân Butch chính là con trai của Easy Eddie.

    Tuổi thơ và tấm gương của người cha luôn để lại dấu ấn cực kỳ sâu sắc cho cả cuộc đời này!

    Sưu tầm
    https://en.wikipedia.org/wiki/Edward_O%27Hare

    O’Hare là tên phi trường quốc tế ở Chicago 

  • NGOC CƯỜNG, NGUYỄN TƯỜNG CƯỜNG,  Văn Thơ

    Ước Vọng Khôn Nguôi

    (Tưởng Nhớ Nhà Văn Tường-Hùng 1931-2023)
    Ngọc Cường

    LTS : Kiến trúc sư, nhà văn, và đạo diễn phim ảnh Nguyễn Tường Hùng vừa qua đời tại Paris.
    Để đóng góp cho số tưởng niệm về ông, Tạp Chí Da Màu xin đăng bài viết dưới đây của Ngọc Cường, người em út của nhà văn Tường Hùng, coi như là một điếu văn tưởng nhớ đến người anh của ông. Tuy là một điếu văn, nhưng người viết muốn viết như một câu chuyện để độc giả có thể thưởng thức.

    Tường Hùng (Sài-Gòn circa 1953)

    Từ thủa nào đến giờ, chúng ta vẫn thường cho là muốn hiểu một tác phẩm, người đọc cần biết suy tư, ý định , và cả nỗi niềm của tác giả. Quan niệm đó, có lẽ bắt nguồn từ khi có nhiều người viết đã từng bộc lộ tâm tư cá nhân của mình qua sáng tác của họ, tiêu biểu như là Nguyễn Du khi viết Đoạn Trường Tân Thanh, ông đã gửi gấm tâm tư qua nhân vật Thúy Kiều.

    Ngoài ra, còn có quan niệm rốt ráo hơn nữa, cho là trước khi đọc tác phẩm, cần phải thấu hiểu về tác giả, như BS Trần Ngọc Ninh đã khảo cứu về “chân diện mục của Tố Như“ như gián tiếp viết về Đoạn Trường Tân Thanh! Quan niệm này, đi ngươc hẳn với trào lưu mới đây (thập niên 60), cho là: Chính tự văn bản đã nói lên hết ý nghĩa của nó (Rolland Barthes trong cuốn “Cái Chết Của Tác Giả“ La mort de l ‘auteur, 1967), và cho rằng, người đọc chẳng cần phải biết sâu vào suy nghĩ của tác giả làm gì.

    Barthes cho sự việc đi tìm ý định của tác giả là điều không tưởng, và không thể làm được: Bởi vì không ai có thể biết tác giả nghĩ gì, hay muốn nói điều gì khi sáng tác (nhất là trong những trường hợp người viết đã chết vài trăm năm rồi…như “ba trăm năm sau có ai khóc Tố Như? “). Đôi khi chúng ta cũng không biết tác giả là ai nữa, như gần đây, đã có người tỏ ra nghi ngờ về gốc gác của Shakespeare (một người mà trước đây vẫn được coi là tác giả của những tác phẩm sâu sắc và cao siêu): Theo nghiên cứu của họ, những chi tiết về những sáng tác đó, không thể do Shakespeare viết được vì hoàn cảnh, học vấn, ông không thể có khả năng sáng tác được những áng văn đó).

    Người đọc là đối tượng của tác phẩm, và cũng là chặng cuối trong tiến trình văn chương: sáng tác – bản văn – người đọc. Như vậy, sau khi tác phẩm đã đến tay người đọc, chúng ta có thể cho “ khai tử tác giả.”. Thật ra, vai trò của tác giả chấm dứt một khi đã sáng tác xong, chằng khác gì ông bếp nấu xong một món ăn, khi dọn ra, là hoàn toàn dành cho thực khách . Vấn đề được đặt ra ở đây là : Nếu thực khách biết món ăn gồm có nguyên liệu gì, và cách nấu làm sao, có làm tăng sức hấp dẫn, có khiến thấy ngon hơn khi thưởng thức hay không?

    Rượu ngon là rượu hợp khẩu vị với mình, hay là chai rượu đắt tiền khiến nó phải ngon hơn ?
    Riêng theo thiển ý, sự hiểu biết nhiều về sáng tác, đôi khi làm giảm mức độ thưởng thức, điển hình theo kinh nghiệm của tôi khi xưa, lúc nhỏ còn ở Việt-Nam, nghe nhiều bản nhạc ngoại quốc, dù không hiểu nghĩa của lời, nhưng vẫn thích thú; và sau này, khi hiểu lời của bản nhạc, tôi lại cảm thấy kém hay, vì thất vọng ! Rõ ràng sức tưởng tượng của tâm hồn và con tim luôn mãnh liệt hơn sự hiểu biết của lý trí ( Einstein ).

    Trong số các thể loại của văn chương như thơ, văn, truyện ngắn, và tiểu thuyết, có lẽ riêng các bài điếu văn, viết để tưởng niệm một người thân mới qua đời, có tính cách chủ quan và riêng tư nhất. Tất nhiên, không thể nào khách quan khi tác giả viết về nhân vật thân thiết và thương mến, và người đó vừa mới qua đời!   

       Tường Hùng (Paris circa 2023) 

                                       
    Đó là hoàn cảnh ngày hôm nay, khi tôi mới nhận được hung tin anh Nguyễn Tường Hùng, một nhà văn nghiệp dư, một người hành nghề kiến trúc sư để kiếm sống, và là một nhà đạo diễn phim ngắn không thành danh, vừa qua đời tại Paris ngày 24 tháng 8 năm 2023, thọ 92 tuổi. Sở dĩ có lời rào trước đón sau như vậy, bởi vì kẻ viết bài này mong được sự thông cảm của độc giả về những nhận xét chủ quan của đứa em út đối với người anh.

    NV Ngọc Cường, Ông Tường Cường, Bích Diệp, phu nhân của NV Ngọc Cường

    Nhà văn Tường Hùng rất đặc biệt đối với tôi, vì anh không chỉ là người anh cả trong một gia đình đông anh chị em (11 người), mà vì anh, khi lúc mới 16 tuổi, đã phải là người vú nuôi tôi lúc mới lọt lòng mẹ được 4 tháng (Năm 1947, người mẹ của chúng tôi qua đời trong khung cảnh loạn lạc, chiến tranh Việt-Minh-Pháp, và khi ông cụ thân sinh ra chúng tôi không có nhà, ông đã bị Việt-Minh giam giữ ở Phú Thọ) (1).

    (1)- Nguyễn Tường Thụy, Giám Đốc Bưu Chính Hà-Nội, bị Việt-Minh giam ở tỉnh Phú Thọ, mặc dù chính tòa án của họ tuyên bố tha bổng ông về tội trạng -bịa đặt- bán giây đồng! Sau đó, chính những người cai tù đã cố tình để cho ông trốn (dinh-tê) về Hà-Nội. Ông bị kết án và giam giữ vì lý do duy nhất, vì là anh ruột của Nhất-Linh Nguyễn Tường Tam và Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, hai nhân vật lãnh đạo của Việt-Nam Quốc Dân Đảng, một lực lượng chống đối Việt-Minh Cộng Sản. Năm 1946, ông là chuyên viên của phái đoàn Chính Phủ Liên Hiệp đi dự Hội Nghị Đà-Lạt đàm phán việc trả lại Độc Lập cho Việt-Nam, do em là Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Tường Tam cầm đầu để đàm phán với Pháp (nhưng thất bại vì Việt-Minh đã đi đêm với Pháp, ký Tạm Ước 9-3-1946 thủa thuận cho Thực Dân thay thế Trung Hoa giải giới Quân Nhật).

    Tiếp theo nỗi bất hạnh (về sự vắng bóng của người mẹ), nhưng như thể “họa vô đơn chí “, sự trở về nhà của ông cụ chúng tôi cũng không mang lại niềm vui lâu dài: Chỉ hai năm sau, ông tục huyền và chúng tôi phải chịu sự đối xử tẻ lạnh của người mẹ kế (thảm cảnh dì ghẻ con chồng). Nhưng anh Tường-Hùng luôn luôn bảo vệ đàn em trước sự đối sử không đẹp của bà dì ghẻ. Anh khôn khéo như một kẻ đu giây, đu đưa giữa hai thái cực: vừa lịch sự với bà dì, nhưng vẫn cứng rắn khi cần tranh đấu cho đàn em nheo nhóc (như khi tôi cần đi bác sĩ vì bị hen suyễn kinh niên nhưng bà không muốn vì sợ tốn tiền), và, như một phép lạ, anh vừa được lòng người mẹ kế, và cũng vừa lo chu toàn cho đàn em. Cuối cùng, tôi được anh đưa đi khám bác sĩ…

    Viết về anh Nguyễn Tường Hùng không phải là khó, bởi vì anh có một cá tính đặc biệt: Vừa mẫu thuẫn vừa phức tạp. Một tạng người nhỏ bé, nhưng lại dồi dào sức tưởng tượng. Con tim đa sầu-đa cảm nhưng hành động có vẻ ích kỷ và cuộc sống đầy tự kỷ ám thị! Vốn có một tâm hồn nghệ sĩ (có thể là do cái tính di truyền của dòng họ Nguyễn Tường), anh viết văn sớm (Gió Mát, tiểu thuyết, Đời Nay xuất bản, Sài-Gòn 1955), và trở nên một thành viên dự khuyết của Tự Lục Văn Đòan (1953, trong tờ chúc thư văn chương, Nhất-Linh đề cử 3 nhà văn: Duy-Lam, Nguyễn Thị Vinh và Tường Hùng; và bởi vì không chính thức, nên anh không bao giờ xử dụng danh xưng này).

    Năm 1958, anh được Nhất-Linh cho vào trong Ban Biên Tập Văn Hóa Ngày Nay (BBT gồm có Nguyễn Thành Vinh, Trương Bảo Sơn, Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam và Tường Hùng). Trong Giai Phẩm VHNN, anh đóng góp về truyện ngắn, tiểu luận và đôi khi vẽ tranh hí họa. Cũng trong thời gian này, vào một ngày đẹp trời, khi kiểm soát bàn học của tôi, tình cờ anh đọc lén một đoạn nhật ký của tôi để trong hộc. Đọc xong, anh vội vàng đưa cho Nhất-Linh xem!

    Có lẽ nhận thấy đoản văn đó dí dỏm, nên ít lâu sau đó, nhà văn Nhất-Linh đã mở ra hai tiết mục trong Văn Hóa Ngày Nay (nhằm khuyến khích các mầm non văn nghệ) đó là trang Lan Hàm Tiếu dành cho các em bé, và mục Lan Sơ Khai cho các thanh-thiếu niên tập tành viết văn. Kết luận là đoản văn của tôi được đăng trên Văn Hóa Ngày Nay (bài “Chị Của Bạn Tôi”, và nhiều bài khác nữa).

    Tôi còn nhớ, Nhất-Linh trả nhuận bút cho em bé Tường Cường (cũng như các anh, em khác) rất hậu hĩ. Nhiều nhà văn, nhà thơ thành danh sau này như Cao Hoành Nhân, Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, Đặng Phi Bằng, Lê Tất Điều và Bùi Bích Hà ở trong nhóm Lan Sơ Khai được ông lancer.

    Xin nơi đây, có lời cảm phục nhà văn Nhất-Linh đã luôn tìm kiếm và khuyến khích các mầm non, đàn em, và ông đã khám phá ra nhiều nhân tài văn nghệ (thí dụ nhà văn Linh Bảo, Nhật-Tiến, Duy Lam, Nguyễn Thị Vinh v.v…).

    Tôi không nhớ rõ anh Tường Hùng bắt đầu có máy chụp ảnh từ hồi nào. Nhưng qua những tấm ảnh cũ, cho thấy anh đã chụp nhiều kỷ niệm của gia đình từ khi còn ở Hà-Nội (cuối thập niên 40, đầu 50), và cho đến khi vào Sài-Gòn năm 1952, tôi thấy anh đã có máy thâu hình cầm tay xử dụng loại phim khổ 8 ly. Rất tiếc là ngày nay, trong những tấm hình đó, vì do anh chụp, nên đã không có mặt anh! Gần đây, mỗi lần mở tập hình cũ ra xem, vợ con tôi đều hỏi: ”sao không thấy có bác Hùng trong tấm chụp gia đình bao giờ?”.

    Từ đó, anh là thợ chụp ảnh lẫn đạo diễn phim cho những ngày lễ lạc như Tết nhất, cưới hỏi của gia đình. Tôi còn nhớ vào dịp Xuân năm 1957, anh quay phim sinh hoạt gia đình chúc Tết. Đến lúc thu hình mấy chậu hoa cúc, anh nhờ tôi bò nấp sau để rung chậu hoa, làm giả như có gió nhẹ nhàng thổi qua. Nhưng khi đoạn phim được rửa ra và trình chiếu, thì cả nhà cười rộ vì do tôi rung quá mạnh, chậu cúc lắc lư như chịu đựng trước cơn gió bão!

    Ước mơ làm phim của anh bắt đầu từ đó. Nhiều lần, anh lôi tôi ra (một đứa bé) bảo thử diễn tả khuôn mặt của một người buồn-vui hay hốt hoảng …cho anh xem, như thể anh là một đạo diễn đang xử dụng đứa em đóng thử (audition)!

    Năm 1959, sau khi tốt nghiệp Đại Học Kiến Trúc ở Sài-Gòn, anh xin được học bổng của tòa Đại Sứ Ý ở Sài-Gòn (cùng với họa sĩ Phạm Tăng của nhật báo Tự Do) cấp cho sang Rome học tiếp về Kiến Trúc. Thời gian sống ở Ý, anh tìm đến một trường Điện Ảnh xin học hàm thụ ngành đạo diễn phim.

    Từ đó, anh bắt đầu có ước mơ làm phim.

    Song song với việc làm kiến trúc để kiếm sống, anh bỏ tiền túi ra thực hiện nhiều phim ngắn (hiện vẫn còn lưu trữ trên youtube). Phim anh thực hiện quá nặng mùi triết lý, khó hiểu, và cố nhiên không thành công về thương mại!

    Có cuộc sống mãi tận bên Trời Tây, dù muốn hay không, cũng đã tạo nên hoàn cảnh “xa mặt cách lòng“ giữa hai anh em chúng tôi. Tôi lớn lên thiếu vắng bóng người anh cả, nhưng những kỷ niệm và sự săn sóc của anh lúc thiếu thời đã ghi đậm vào tâm khảm tôi. Lớn lên giữa hoàn cảnh chính trị rối ren và ra đời đúng lúc chiến tranh kéo đên quê hương Việt-Nam, tôi không giữ được thường xuyên mối liên lạc với anh cho đến khi chiến tranh chấm dứt…

    Sau khi đậu Tiến Sĩ về Kiến Trúc ở La-Mã, anh di dân qua Pháp và lấy vợ …một bà đầm xa lạ, ít nói, và thích có cuộc sống khép kín, như không muốn giao thiệp với ai…Bởi vậy, sau này, mỗi lần qua Pháp , hai anh em chúng tôi chỉ gặp nhau tại văn phòng kiến trúc của anh, gần khu chợ Việt-Nam ở Quận 13. Anh vẫn làm việc sau khi chính thức về hưu, nhưng mối đam mê làm phim không hề rời anh. Xem ra phim ảnh là ước mơ không đạt của anh, có lẽ vì vậy mà anh muốn tôi làm phim như truyền đạt ước mơ của anh qua cho tôi: Mỗi khi gặp nhau, anh lại nhắc nhở, khuyến khích tôi viết truyện phim hay nỗ lực trở thàng một đạo diễn điện ảnh. Có lẽ anh tin đứa em út có tài cán gì về chuyên ngành này: rồi anh cho tiền để tôi mua máy quay phim, tất nhiên không còn cồng kềnh loại 8 ly mà là digital (trước sự ngạc nhiên của gia đình, vì anh không dư giả gì). Nhưng than ôi, tôi xem ra chẳng có tài cán gì cả!

    Trong những năm 60, 70, lâu lâu anh có viết truyện ngắn cho Tạp Chí Văn, và gần đây hơn, anh cho xuất bản cuốn tiểu thuyết “Con Ve Sầu“ (Có đăng lại trên báo mạng Da-Mà). Sáng tác của anh khó hiểu nhưng không kém hấp dẫn vì vừa hiện thực, vừa sâu sắc. Theo nhà văn Bùi Bích Hà, văn phong của anh : “có vẻ đẹp lung linh, bay bổng, siêu thực và quý tộc”.

    Tiểu thuyết “Con Ve Sầu“ của NV Tường Hùng

    Nỗi ám ảnh của anh đôi khi gây khó chịu và khiến tôi mất kiên nhẫn tranh cãi với anh, tôi cố khuyên anh từ bỏ việc làm phim. Nhưng nào ai có thể ngăn cản được một giấc mơ, nhất là một khi nó đã trở thành nỗi ám ảnh và là lẽ sống của một nghệ sĩ. Tại sao tôi lại cố kéo anh về với sự thật, mà sự thật đó cũng chỉ là của tôi, chứ không phải của anh! Sai sót của tôi ngày nay trở thành mối ân hận khi anh mất, và tất cả đã quá trễ để có lời trực tiếp xin lỗi anh!

    Tôi không thể nào quên, năm 2018 ghé thăm anh, sau bữa ăn ở quán ăn gần nhà, lúc chia tay ra về, chúng tôi nhìn theo: Anh lúc này đã yếu, chân đi không vững, đang được cháu Thắng dìu đi khuất vào trong căn hộ cao tầng xừng xững một cách lạnh lẽo dưới bầu trời Paris ảm đạm…

    Trong khoảnh khắc, những hình ảnh và đoạn phim về gia đình chúng tôi được anh chụp và quay bỗng vụt trở lại trong tâm khảm của tôi: Từ những ngày xa xôi ở Hà-Nội năm 1949, cho đến Sài- Gòn 1952….rồi Paris 2018. Trong đó, khuôn mặt buồn bã của anh lãng đãng hiện ra rồi mờ dần…
    Đó là lần chót chúng tôi gặp anh.

    Xin vĩnh biệt anh Hùng thân yêu.
    Ngọc Cường

  • Âm nhạc,  Vương Trùng Dương

    Lê Trạch Lựu, Tình Khúc Em Tôi

    Vương Trùng Dương

    Quan niệm nhạc tiền chiến đúng nghĩa là dòng nhạc đầu tiên của tân nhạc Việt Nam vào giữa thập niên 1930 & 40, mang âm hưởng khuynh hướng trữ tình lãng mạn theo âm luật của Tây Phương. Thế nhưng, một số ca khúc sáng tác trong giai đoạn 1945-1954 mang phong cách trữ tình lãng mạn từ giai điệu đến lời ca bày tỏ nỗi niềm rung động từ trái tim, được mọi người ái mộ qua tình khúc… nên được liệt kê vào nhạc tiền chiến. Nhạc phẩm Em Tôi của Lê Trạch Lựu ở trong thời kỳ đó.

    Theo quan niệm của Tuyền Linh: “Định nghĩa một cách nôm na, dựa trên hai chữ ca khúc (pièce chantée), ta thấy rõ danh từ nầy được chia làm hai phần: lời ca và khúc nhạc. Cũng dựa theo định nghĩa và phân tích trên, ta thấy giá trị một ca khúc cũng chia làm hai phần: một nửa cho giai điệu tiết tấu và một nửa cho lời ca. Vậy để có một ca khúc có giá trị đích thực thì người viết ca khúc phải hoàn thành tác phẩm của mình có đủ cả hai phẩm chất nêu trên… Một ca khúc có phần hòa âm nghèo nàn, giai điệu tiết tấu gập ghềnh trắc trở, khi được tấu lên, cùng lắm làm cho người nghe nhàm chán, và tất nhiên, sau đó họ sẽ quên ngay… Một ca khúc hay không bắt buộc phải có lời cao xa, siêu thực mà cần có nội dung rõ ràng để người nghe cảm nhận được tình, ý của tác giả muốn nói gì, gởi gắm gì trong tác phẩm của mình…”.

    Những ca khúc như Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa (1947) của Tô Vũ, Dư Âm (1950) của Nguyễn Văn Tý, Nỗi Lòng (1952) của Nguyễn Văn Khánh, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay (1952), Tiếng Đàn Tôi (1947) của Phạm Duy… sau nẩy trở thành tình ca bất tử của nhạc tiền chiến.

    EM TÔI

    “PK: Em tôi ưa đứng nhìn trời xanh xanh.

    Mang theo đôi mắt buồn vương giấc mợ

    Vu vơ đắm đuối, vương ngàn áng mây

    Bao đêm thầm đếm trên trời đầy sao sáng.

    Buồn vương man mác theo lời gió reo lời thơ

    Trầm tư se sắt tơ lòng đắm theo đàn khóc

    bao nhiêu nước mắt chôn sầu đắng cho lời thơ,

    giờ này em hát câu chiều mơ…

    ĐK: Bao giờ tôi về gần em

    Cùng đếm này trăng này sao kia nhé em,

    Trăng sao dâng ý thơ, mây bay khắp trời,

    Thuyền tình lung linh trong khói sương lam,

    Ngày về xa quá người ơi!

    PK : Em mơ tiếng sáo, dập dìu bên trăng.

    Đêm đêm u tối về đây thắp saọ

    Dư âm tiếng hát, vương buồn mắt nhung,

    Tôi xin gió biếc ca ngợi mầu suối tóc.

    Đừng quên em nhé môi còn thắm duyên còn xanh,

    Đàn trăng phô sắc huy hoàng sáng hơn màu nắng.

    Cho anh rót thắm đem về nhớ nhung lời thơ,

    Đường đời anh muốn em còn mơ…”.

    Nguyễn Đình Toàn trong quyền Bông Hồng Tạ Ơn: “Thực ra, sau Em Tôi, Lê Trạch Lựu còn một sáng tác nữa đã được các ca sĩ đem hát trên các đài phát thanh, cũng rất hay, nhưng hình như nó đã bị cái bóng của Em Tôi che khuất, nên ít người biết, và cũng chưa thấy một ca sĩ nào tìm hát lại, đó là bài: Nhớ. Tình ca được viết nhiều nhất vào giai đoạn được gọi chung là nhạc tiền chiến của chúng ta”.

    Sau hai ca khúc Nhớ và Thôn Chiều, ca khúc Em Tôi là bài thứ ba nhưng gắn liền với tên tuổi tác giả trong khu vườn âm nhạc Việt Nam.

    Sau 20 năm, Lê Trạch Lựu mới sáng tác Cành Mai Tóc Ngắn để nhớ lại hình ảnh ngày xưa với cuộc tình vô vọng.

    “Cành mai năm ấy xuân xanh mười lăm

    Màu yêu thơm ngát tóc em cài hoa

    Cành mai hoa trắng áo em lả mây

    Theo em, theo em khi tan trường về…”.

    “Sau 53 năm, ở vào tuổi 78, Lê Trạch Lựu mới viết về tình sử qua nhạc phẩm Em Tôi:

    Năm 1946 là năm tôi đi trại hè Sầm Sơn, đi với đoàn Hướng Đạo, cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Tôi thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời. Không hiểu sao tôi thấy tôi như choáng váng, má tôi nóng bừng như lên cơn sốt; lần đầu tiên tôi thấy tôi có cái cảm giác lạ lùng này. Nhà đoàn tôi “đóng trại” to lớn, rộng rãi, đó là những biệt thự nghỉ mát của bọn Pháp thuộc điạ bỏ lại, trước nhà là bãi biển mênh mông, sau nhà có một cái giếng.

    Trưa nào tôi cũng thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng chang chang rũ áo, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng tôi biết là cô ta đang nhìn tôi. Thú thật, tim tôi đập thình thình. Chao ơi, yêu đương là như vậy hay sao? Đây là một rung động đầu tiên, nào đâu tôi có biết cảm giác này từ thuở ra đời.

    Về Hà nội tôi tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, cô ta ở gần nhà tôi. Bây giờ ta phải tìm biết tên cô ta nữa! Chiều nào tôi cũng đi qua nhà cô ta, để nhìn vào nhà, tìm lại đôi mắt đẹp. Tôi thấy có nhiều cậu trai cỡ bằng tuổi tôi đi qua đi lại trước cửa nhà, như tôi. Lúc đó tôi cũng thấy hơi hơi lo… sợ mất !

     Nhưng may cho tôi, hồi ấy có một chú bé đi theo tôi hoài, hỏi ra là chú Mỹ, em cô Phượng. Trời ơi là trời, đất ơi là đất! Chúng tôi đi chơi với nhau. Một hôm, tôi viết một lá thư và mạnh dạn tôi hăng hái ra đi, nhưng chiều hôm đó tôi không thấy cô ta ra đứng ngoài cửa hóng mát. Rồi chiều hôm sau, chiều sau nữa. Thế rồi một chiều nào đó, tôi lại thấy cô ta đứng rũ tóc bên thềm.

    Tìm đủ nghị lực, tôi sán gần cô ta, tay đưa lá thư, miệng lắp bắp một câu: “Phượng… Phượng  cầm… cầm lấy cho… cho… tôi… tôi… lá thư này…”. Rồi xong, tôi cắm đầu đi mất, không dám quay lại, sợ nhìn thấy hoặc cô ta xé lá thư, hoặc quẳng xuống lề đường… tôi sẽ mắc cỡ…

     Để đỡ cho cái nặng nề đó, tôi tìm cách nói khéo với chú Mỹ, chú bằng lòng ngay. Thế là chú thành con chim xanh của tôi. Chiều nào chú cũng để một lá thư lên bàn. Bẩy tháng trời tôi viết đều đều, gần bẩy chục lá thư mà vẫn không thấy trả lời.

     Tôi đau khổ quá không biết cô ta có yêu tôi không, tại sao cô ta không trả lời tôi, dù thuận dù không… Lúc bấy giờ tôi mới biết là tình yêu, thế nào là đợi chờ, là có nhiều đau khổ. Héo hon con người.

     Thế rồi một hôm chú Mỹ tất tưởi chạy đến nhà tôi, đưa cho tôi một lá thư, hôm đó là một tuần trước ngày kháng chiến toàn quốc, tôi bồi hồi cầm lá thư, ở một góc có đề : Xin Trạch Lựu đừng giận Kim Phượng mà xé lá thư này…, tôi mở ra, đọc từng hàng chữ đều đều, tròn tròn, vuông vắn. Phượng nói yêu tôi từ ngay lúc đầu… nhưng muốn thử lòng tôi để xem tôi có phải là người đứng đắn rồi nói rằng ngày mai Phượng đi tản cư… ở Hà Đông, cách làng tôi mấy làng… Tôi bàng hoàng như tỉnh một giấc mơ lâu dài chờ đợi từ bao nhiêu giờ, bao nhiêu phút. Thế là hai hôm sau, tôi đi bộ từ Hà nội qua làng tôi tới làng tạm trú của gia đình nàng, chúng tôi đi chơi dọc dòng sông Nhuệ cùng chú Mỹ, mẹ của Phượng, bà cụ nhìn chúng tôi âu yếm từ đằng xa… đi chơi cùng nhau hết cả buổi chiều, tôi không dám cầm tay Phượng, tôi ân hận tới bây giờ.

    Tôi trở về thành, thế rồi chiến tranh, ba năm sau tôi sang Pháp. Không rõ Phượng ở đâu, tôi vẫn nhớ Phượng hoài. Một hôm trong trường cái nhớ nó làm tôi điên đầu… trong giờ Etude cuối lớp có anh chàng Trần Bích Lan Nguyên Sa đang đọc Socrate hay sao, bên phải gần cửa sổ Hoàng Anh Tuấn… không biết hắn làm gì, chắc đang làm thơ, tôi cầm cây đàn bấm bấm… hai ngày sau thành bài Em Tôi… cả nhạc lẫn lời.

    Chủ Nhật ra Paris, đường Volontaires, sau bữa cơm trưa, quây quần với nhau, trong đó có Anh Tuấn, Thi Liên, Thoa em gái Nguyên Sa về sau lấy Trần đình Hòa, Bội Liên đã nhận được bài tôi gửi tới trường, hồi đó cô ta có yêu tôi, nhưng tôi tránh vì cô ta con nhà giầu…, Bội Liên dạo nhac trên mấy phím ngà… Nhạc Em Tôi vang lên khắp cả căn phòng, tôi tê tái nghe nhạc tôi, tôi thấy là lạ, chưa quen… vì mỗi lần tôi đã nghe trong tôi hay nghe cây đàn bên tôi nói với tôi, bây giờ những ngón tay ngà chạy qua phím đàn đến với tôi, tôi như ngỡ ngàng đi vào cơn mê…

    Thế rồi tôi chép lại nhạc và lời trên trang giấy học trò, trên những giòng như đã kẻ nhạc, tôi gửi tới nhà xuất bản Tinh Hoa… (Tinh Hoa ấn hành năm 1953, Tinh Hoa số 445)

    Những tháng năm qua…

    Khi “Em Tôi” được nổi tiếng, tôi không được sống cùng với thời đại đó vì tôi ở xa , tôi không được nhìn nhận rõ ràng thế nào là một bản hát được người đời yêu chuộng… trai hay gái, ai ai cũng tưởng là mình có một người yêu , hay mình được yêu , hay mình tưởng tượng chính mình là cô gái ấy , còn  cậu trai được yêu cô gái dịu dàng, thơ ngây, âu yếm , mơ màng cho nên ai ai cũng hát… cũng tưởng là mình… cũng cầm lấy cây đàn…

    Rồi một hôm tôi tìm ra điạ chỉ của Kim Phượng, tôi viết về cho chú Mỹ, Mỹ trả lời tôi:

    “Em nhận được thư anh, thế là anh vẫn mạnh, chị Phượng đợi anh trong một năm dài, thấy anh không về, tưởng anh chết, rồi ba năm sau chị Phượng để tang anh. Nhiều người đến hỏi chị, chị chỉ lắc đầu. Chị vẫn đợi anh, nhưng hôm qua chị Phượng đi lấy chồng, chị đã 26 tuổi rồi, ngày ngày thầy me thúc dục.”

    Thế là tôi cắt đứt, để Phượng đi lấy chồng cho êm thấm, có bổn phận với chồng với con. Tôi không muốn ám ảnh Phượng nữa để cho nàng yên phận.

    Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em,

    Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm,

    Nhớ người giặt áo bên bờ giếng,

    Nhớ nhiều, nhớ mãi, mãi không quên…

    Sáu chục năm sau, tôi được biết tin một người bạn cùng trường năm xưa, anh Nguyễn Thiệu Giang viết cùng một tờ báo với tôi hồi đó cùng Thanh Nam, tôi có nhờ anh ta đến căn nhà cũ, anh nói Phượng không còn ở đấy nữa. Nhưng có cho tôi số phone, tôi gọi Phượng, đầu giây Phượng trả lời, tôi nói là tôi, cô ta nhắc đi, nhắc lại ba lần, anh Lê Trạch Lựu hả, anh Lê Trạch Lựu hả, như không tin là có thật, khi tôi bảo là tôi thì cô ta òa ra khóc.

    Nói chuyện cùng nhau hơn nửa tiếng, sau những lúc ân cần hỏi han. Phượng có nói, anh ấy có theo đuổi Phượng trong bốn năm trời, Phượng bảo Phượng có người, anh ta cứ đeo đẳng, Phượng có nói với anh ấy chuyện Phượng và anh. Anh ta chịu là trong lòng Phượng có một người. Tôi xin thành thật cảm ơn Phượng, tình yêu Phượng cho tôi. những năm đợi chờ, đau khổ. Một lúc sau tôi hỏi Phượng: “Thế Phượng còn giữ mấy lá thư ấy không?” Tôi muốn tìm hiểu văn thời 16 tôi viết ra sao chắc là văn lủng củng lắm. Phượng trả lời tôi:

    “Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con, cháu em bữa đó tụi nó không có nhà…”

    Thu Tao Ngộ – Tháng Mười năm 2009 –  Lê Trạch Lựu

    *

    Sau khi Lê Trạch Lựu tâm sự mối tình để viết ca khúc Em Tôi mà trước đây có vài bài viết chưa nói rõ “bí ẩn cuộc tình” trước sự im lặng của người trong cuộc vì tế nhị và kín đáo. Tháng 1 năm 2011, Lan Phương của đài VOA phỏng vấn Lê Trạch Lựu và viết bài Lê Trạch Lựu & Mối Tình Theo Mãi Một Đời

    “… Lê Trạch Lựu rời Việt Nam thời loạn ly năm 1951, bỏ lại sau lưng một mối tình, không hiểu người yêu của mình ở phương nao khi mà khói lửa, chiến tranh, tản cư, ly tán đã đẩy mọi người vào tình huống chẳng biết những người thân của mình còn sống hay đã chết.

    Ở Pháp, theo học nốt bậc trung học rồi vào ngành điện ảnh và làm truyền thông, ông vẫn nhớ hình bóng cũ, cô thiếu nữ tên Phượng mà ông đã gặp lần đầu trong một chuyến đi cắm trại của đoàn hướng đạo ở Sầm Sơn…

    … Từ ngày rời Hà Nội năm 1951, nhạc sĩ họ Lê chưa một lần trở lại quê hương. Ông lập gia đình với một người vợ Pháp, gốc Ba Lan, mà theo lời ông thì bà là người rất đẹp, đoan trang, miệng cười tươi như hoa, và ông nhận là số ông may mắn, từ người yêu đến người vợ ai cũng đoan chính.

    Thời còn trẻ cũng có người bạn rủ ông về miền Nam làm việc, và hãng thông tấn Pháp cũng muốn ông về để lập một cột trụ ở bên đó, nhưng nhạc sĩ họ Lê tâm sự: Tôi nghĩ rằng hồi đó tôi có đứa con nhỏ nhất mới 3 tuổi, nếu tôi về Việt Nam tôi sẽ mê một cô Việt nam, tôi sẽ lấy cô Việt Nam, sống với cô Việt Nam thì tôi sẽ không trở lại Pháp nữa. Tôi tự nghĩ: mình sinh ra con, mình không nuôi con, mình bỏ nó, sung sướng với cuộc sống của mình, rồi sau này con mình nó nhìn mình bằng cách gì mình không thể sống được. Vì thế tôi không đi. Mà nếu tôi đi, thì cũng không thể trở về được, nghề của tôi là ra chiến trường quay phim. Tôi vui thích với nghề đó lắm, mà có thể chết được, nên về thì không thể nào trở lại được nữa…”.

    *

    Nhạc sĩ lê trạch lựu đã qua đời tại Paris ngày 6 tháng 2, 2015, hưởng thọ 84 tuổi. Với công việc phóng viên vì ông tốt nghiệp ngành điện ảnh và truyền thông. (Theo nguồn tin cho biết, dạo đó có người bạn rủ ông về miền Nam Việt Nam hành nghề. Một hãng thông tấn của Pháp cũng đề nghị ông làm phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhưng ông từ chối). Với nhạc sĩ tài hoa nhưng ông không sinh hoạt trong môi trường âm nhạc, có lẽ sáng tạo khởi nguồn từ trái tim và nguồn cảm hứng… nhưng không còn!

    Để tưởng nhớ nhạc sĩ gởi lại cho đời tình khúc tuyệt vời, xin trích những dòng trên để mỗi khi nghe tình khúc Em Tôi, nhớ lại hình bóng cũ.

    Vương Trùng Dương

    (Văn Nhân & Tình Sử, ấn hành 2015 trang 167-175)

  • Âm nhạc,  Tin tức,  TRẦN MẠNH CHI

    Ra Mắt sách thơ nhạc Thu Tuyết Sept 09, 2023 tại Clara Studio Westminster

    Một buổi chiều sắp vào chớm Thu miền nắng ấm California.

    Được nữ thi sĩ Thu Tuyết đến từ phương trời Kanguru Úc Châu gởi lời mời đến Nhóm Văn Học Nghệ Thuật và nhiều bạn bè thân hữu văn nghệ sĩ khắp miền trên USA để đến tham dự chương trình nhạc thính phòng cho Đêm Ra Mắt Sách, Tập Thơ, DVD với tự đề “ Thu Trắng 4“ được tổ chức tại Clara Studio thuộc thành phố Westminster, California ngày 09 tháng 09 năm 2023.

    Với mọi nhiệt tình mà bạn bè, thân hữu, văn nghệ sĩ  khắp nơi đã dành mọi sự ưu ái đến với nữ sĩ Thu Tuyết mà số người đếm tham dự ngoài sự mong đợi của Ban Tổ Chức là thính phòng đã không còn một chỗ ngồi và còn nhiều quan khách phải đứng mặc dù máy lạnh đã không đủ tiếp hơi nhưng mọi người cũng đã ở lại cho đến giây phút cuối cùng của chương trình.

    Trong Đêm Ra Mắt Sách được lồng vào chương trình  nhạc thính phòng đã lôi cuốn khán giả qua những bài nhạc tình ca được phổ nhạc  từ những tập thơ của nữ sĩ Thu Tuyết do các nhạc sĩ tên tuổi như Trần Quang Lộc, Phú Quang… cùng với sự hiện diện của NS Trần Quảng Nam, NS Ngô Tín, Ca sĩ Lê Uyên, Ca sĩ Phi Khanh, Ca sĩ Thái Hoàng, Ca sĩ Anh Dũng, Ca sĩ Đồng Lan,VănThi sĩ Đặng Phú Phong, Nhà Văn Nguyễn Huy Quang, Nhà báo Mặc Lân đài RFA .

    Chương trình được chuyển tải rất duyên dáng qua hai MC Hồng Vân và Bình Định đã giúp chương được trọn vẹn với sự hài lòng của khán thính giả cho đến phút cuối.

    Qua chuyến lưu diễn này và chuyến lưu diễn vào tháng 10 năm 2023 bên trời Tây của thành phố Paris, France sắp tới.

     Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật xin chúc nữ sĩ Thu Tuyết sẽ gặt hái và  chuyển tải nhiều thành quả tốt đẹp của những vần thơ, dòng nhạc và tiếng hát mình trong vòm trời âm nhạc và nghệ thuật đến mọi tầng lớp của những người yêu thơ nhạc Việt Nam.

    Trần Mạnh Chi, Vào Thu Cali 2023

  • Âm nhạc,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Tưởng Nhớ Nhạc Sĩ Đan Thọ

    Vương Trùng Dương

    Nhạc Sĩ Đan Thọ (6/1924-9/2023)

    Nhạc sĩ Đan Thọ qua đời ngày 4 tháng Chín năm 2023, thành phố Houston, Texas, hưởng đại thọ 99 tuổi. An giấc nghìn thu ngày 18 tháng Chín, tại Nhà Quàn Vĩnh Cửu (Chapel of Eternal Peace at Forest Park), Houston, Texas. Với tuổi ta, nhạc sĩ được bách niên (100 tuổi) tuổi hạc đại thượng thọ trên cõi trần.

    Nhạc sĩ Đan Thọ tuy không sáng tác nhiều nhưng cả cuộc đời cho nghệ thuật với niềm đam mê âm nhạc và những đóng góp của ông trong lãnh vực nầy từ thời tiền chiến ở Hà Nội, hai thập niên ở Sài Gòn và thời gian ở hải ngoại.

    Những nhạc phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Đan Thọ như: Bóng Quê Xưa (1952), Vọng Cố Đô (chung với Nhật Bằng), Thú Ly Hương… Tình Quê Hương (thơ Phan Lạc Tuyên), Mimosa Thôi Nở (thơ Nhất Tuấn), Chiều (lời Đinh Hùng). Có lẽ nhạc phẩm Dương Cầm của ông (ý thơ Mùi Quý Bồng, con rể) là ca khúc cuối đời. Trong đó hai ca khúc Tình Quê Hương và Chiều Tím được giới thưởng ngoạn âm nhạc yêu thích nhất.

    Tài hoa của nhạc sĩ Đan Thọ điêu luyện với nhiều loại nhạc cụ khác nhau, ngón đàn violin điêu luyện và tiếng kèn saxophone rất tuyệt, ngoài ra với đàn hạc (harpe) loại đàn cổ nhất của Ai Cập thời xa xưa và đàn bandura của đất nước hoa hướng dương (Ukraine).

    Đan Thọ tên thật là Đan Đình Thọ, sinh ngày 21 tháng 6 năm 1924 tại Nam Định, Bắc phần, theo học tại trường Saint Thomas D’Aquin trong khoảng từ năm 1936 đến 1941 và thơi goan nầy học vỹ cầm. Từ năm 1942 đến 1945, ông học hòa âm và sáng tác với các giáo sư, nhạc sĩ Tạ Phước (vị hiệu trưởng đầu tiên của Nhạc Viện Hà Nội). Năm 1945, ông chơi đàn violin cho phòng trà Thiên Thai của nhạc sĩ Hoàng Trọng (1922-1998) ở Nam Định.

    Năm 1945, ông lập gia đình với cô thiếu nữ Hà Nội Nguyễn Thị K. Thanh mới 16 tuổi, (sinh năm 1929) gia đình có phần e dè khi biết con gái sắp thành thân với nhạc sĩ. Thế nhưng ông bà sống với nhau trọn đời, cùng nuôi dạy nên người một con trai và ba con gái (trưởng nam Đan Đình Thành, trưởng nữ Đan Kim Tâm, thứ nữ Đan Kim Trang (quá vãng), út nữ Đan Kim Thư.

    Năm 1948, nhạc sĩ Đan Thọ gia nhập Ban Quân Nhạc Đệ Tam Quân Khu Hà Nội cùng với các tên tuổi khác như Văn Phụng, Nguyễn Hiền, Nhật Bằng… Trong thời gian này, ông được nhạc trưởng quân nhạc Schmetzler hướng dẫn về kèn.

    Năm 1954, ban quân nhạc cùng gia đình ông di cư vào Nha Trang. Năm 1956 vào Sài Gòn, ông được mời cộng tác với vũ trường Đại Thế Giới, và ông tiếp tục trau giồi môn kèn với nhạc sĩ Mano Umali người Phi Luật Tân.

    Năm 1956, ông trưởng ban nhạc nhẹ của đài Ðài Phát Thanh Tiếng Nói Quân Ðội trong khoảng một thời gian mười năm, gồm các nhạc sĩ nổi tiếng như Xuân Tiên, Xuân Lôi, Canh Thân,… Năm 1965, Đan Thọ giải ngũ và sau đó tham gia vào ban nhạc Shotguns của nhạc sĩ Ngọc Chánh và tiếp tục chơi nhạc tại các phòng trà, vũ trường cho tới năm 1975.

    Gia đình Đan Thọ kẹt lại Việt Nam đến tháng 3/1985 mới tới Hoa Kỳ, theo diện đoàn tụ do sự bảo lãnh của người em vợ. Nhạc sĩ Đan Thọ không định cư ở Washington D.C. lấy lý do sợ cái lạnh của vùng đông bắc Hoa Kỳ nên xin với phái đoàn sắp xếp chuyến bay sang New Orleans để sống với gia đình người con gái. Đây là quê hương của nhạc Jazz, hợp với sở trường của ông nhưng ít người Việt sinh sống. Nhạc sĩ Đan Thọ đã một thời tự lập và vẫn còn đam mê với âm nhạc nên theo lời thân hữu, ông bà chuyển sang Little Saigon. Bà Đan Thọ là mẩu người mẹ Việt Nam hiền thục, tận tụy với con, chìu chồng (thời trước, nhạc sĩ Đan Thọ chơi nhạc ở vũ trường, đến khuya mới về nhà, bà vẫn đợi chồng về mới đi ngủ). Ông và vợ đi làm cho hãng General Ribbon ở Van Nuys, tây bắc TP Los Angeles. Mỗi ngày phải đi khá xa nhưng ông bà “đôi ta có nhau” trong những năm dài. Vẫn nhớ bầu không khí của một thời xa xưa nên cuối tuần, ông chơi vỹ cầm, kèn saxo trong vũ trường Ritz của nhạc sĩ Ngọc Chánh, người bạn thân với ông trong ban nhạc Shotguns ở Sài Gòn.

    Ngày 30 tháng 6 năm 1995, nhạc sĩ Đan Thọ mở đêm nhạc từ giã bạn bè California về Louisiana đoàn tụ với gia đình con gái Đan Tâm và rể là bác sĩ Mùi Quý Bồng.

    Những tưởng an hưởng tuổi già với con cháu, năm 2005, trận bão Katrina quét qua New Orleans, trong thiên tai này, nhạc sĩ lại mất sạch những nhạc cụ ông yêu quý, trong đó có cây vỹ cầm đến hơn 250 tuổi và cây kèn saxo mạ vàng, hai báu vật của ông. Ông bà dọn về Florida lánh nạn ở nhà trưởng nam Đan Thành. Và những năm cuối đời ông bà dọn về Houston, Texas, cùng nơi cư ngụ của các con gái cho đến ngày nay.

    Với nhạc sĩ cả cuộc đời sống với âm nhạc nên đã có nhiều bài viết. Nay trích dẫn vài hồi ức trong gia đình.

    Hồi Ức Về Nhạc Sĩ Đan Thọ của anh Đan Thành (trưởng nam, kiến trúc sư) viết về chiếc vỹ cầm vào năm 2017:

    “Bố tôi cũng thế, ông nâng niu và xem chiếc vỹ cầm như một người tình, lãng mạn và hay hờn giận qua những lần thay giây đàn. Ông thương yêu, gìn giữ như một báu vật. Sau những buổi trình diễn, tôi thấy ông cẩn thận lau chùi, nhẹ nhàng cất vào hộp đàn với tấm nhung mềm mại che chở bao quanh người tình trẻ. Mọi người nhắc đến tên ông nhạc sĩ Đan Thọ luôn đi theo với tiếng vỹ cầm réo rắt của ông.

    Chiếc vỹ cầm đã theo ông đi khắp miền đất nước, từ một góc quán Thiên Thai ở Nam Định, qua Hà Nội của những năm 40-45, xuống thôn Vĩ Dạ miền Trung, trong những hộp đêm tráng lệ Sài Gòn ngày nào… Tiếng đàn của ông cao vút bay xa, vượt qua khoảng không gian nhất định, chạm vào hơi thở của người đang thưởng thức, thật đúng như:

    Tiếng đàn đã gíúp ông nuôi sống gìa đình, che chở đàn con khờ dại trong mấy chục năm trời.

    … Bố tôi rửa tay gác kiếm, nói theo phong cách của nhà văn Kim Dung, hằng ngày vui cùng cỏ cây, thỉnh thoảng ông mang chiếc vỹ cầm xưa ra lau chùi và tấu lên giòng nhạc của dân du mục Gypsy xa xưa… âm thanh quyện với thời gian cùng tâm sự người xa xứ…

    Tháng 8 năm 2005, chúng tôi lo ngại và thường xuyên gọi điện thoại thăm hỏi nhắc chừng. Sự lo ngại trở thành sự thật, cơn bão Katrina lớn quá sức tràn qua những vùng Bắc Florida, Albama và đổ vào New Orleans, trung tâm bão nằm ngay trên hồ điều chỉnh nước Lake Pontchartrain. Nước tràn qua đê ngăn và đổ xuống vùng thấp, nơi Bố Mẹ và gia đình hai em gái tôi đang trú ngụ.

    Bố Mẹ tôi chỉ có 30 phút để chạy ra khỏi nhà, giòng nước mạnh bạo tràn xối xả vào khu dân cư tạo thành những giòng nước cao gần 15 feet… Từ ngày đó, Bố tôi thường nhắc đến chiếc đàn xưa của ông hãy còn chìm trong giòng nước lạnh”.

    Sau trận thiên tai, anh Đan Thành đưa thân phụ trở lại căn nhà xưa:

    “Tay Bố tôi run rẩy khi chạm vào chiếc vỹ cầm, hình như ông xúc động lắm khi nhìn những mảnh vỡ của chiếc vỹ cầm, như thấy đứa con trở về qua bao lần sóng gió. Ông cẩn thận gom từng mảnh vụn của chiếc đàn, lau chùi nhẹ nhàng đặt chúng theo thứ tự vào hộp, có lẽ trong đầu ông còn bàng hoàng không tin vào những gì đã xảy ra do cơn bão để lại”.

    Hồi Ức Về Nhạc Sĩ Đan Thọ về ca khúc Dương Cầm của con rể Mùi Quý Bồng (bác sĩ, nhà thơ với thi phẩm Mong Manh (1994) và với bút hiệu Chẩm Tá Nhân, tập thơ vui Tiếu Lâm Chân Kinh dày 632 trang, ra mắt ở Little Saigon, July, 2022).

    BS Bùi Quý Bồng lập gia đình với trưởng nữ nhạc sĩ Đan Thọ là Đan Kim Tâm năm 71. Du học ở Mỹ năm 1973, sau năm 1975 bị kẹt lại, nhớ vợ nên làm thơ tình cho đến khi vợ vợ con qua vào tháng 4 năm 1979. Sau thời gian làm Orientation ở Washington DC, anh xuống New Orleans từ tháng Giêng năm 1974 cho đến trận bão Katrina năm 2005, gây thiệt hại cho gai đình anh trắng tay nên sau đó dời về chuyển sang Houston, Taxas. Là bác sĩ với tâm hồn nghệ sĩ, anh viết:

    “Một buổi chiều Thu năm ấy, đã lâu lắm rồi. Ngồi trên chiếc phi cơ từ Orange County, California trở về New Orleans, Louisiana, tôi gắn ống nghe vào tai, ngả đầu trên ghế, mở nhạc nghe cho qua thì giờ. Đột nhiên những âm thanh thánh thót, trầm bổng qua tiếng dương cầm trong bản Piano Concerto No 21 của Mozart trong một thoáng chốc bỗng đem tôi rời khỏi khung cảnh chật hẹp trong lòng chiếc phi cơ đến một cõi mộng mơ xa vời nào đó khiến tôi quên hết thực tại. Tôi thấy mình như đang bay bổng giữa một không gian Liêu Trai xa vắng, mơ hồ, ngây ngất. Bản nhạc vừa dứt thì tôi cũng bừng tỉnh, thoát khỏi cơn mơ. Ý thơ từ đâu bỗng cuồn cuộn chẩy đến, và tôi đã viết bài thơ Dương Cầm ngay lúc đó, trên một tờ napkin cô tiếp viên tóc vàng xinh xắn vừa đưa cho tôi cùng với ly cà phê ít phút trước.

    … Bận rộn với công việc, thời gian sau đó tôi cũng quên đi, không nhớ đến nó. Cho đến một hôm nhạc sĩ Đan Thọ đưa tôi xem bản nhạc Dương Cầm ông vừa viết xong, dựa theo ý bài thơ của tôi. Ông nói ông đã có cảm hứng khi ngồi nhìn và nghe cô cháu ngoại, YLan, ngồi trước cây đàn dương cầm, tập dượt cho một buổi trình tấu của Đại Học Loyola ở New Orleans. YLan là cô con gái thứ hai của tôi và Đan Kim Tâm, trưởng nữ của nhạc sĩ Đan Thọ.

    … Một điểm thú vị là ít lâu sau đó nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm gửi cho tôi một phiên bản khác của Dương Cầm. Ông nói ông rắt thích bản Dương Cầm của Đan Thọ, nhưng ông muốn viết một phiên bản mới để giữ cho bản nhạc đi sát với lời thơ hơn.

    … Tôi có cái may mắn được gọi nhạc sĩ Đan Thọ là nhạc phụ, và sau này, khi ông từ Orange County về New Orleans, rồi sau trận bão thảm khốc Katrina, qua Houston sinh sống, trở thành y sĩ riêng, chăm sóc sức khỏe cho ông, giữ cho ông còn được vui sống với con cháu cho đến ngày nay dù đã trên 90 tuổi”.

    Cháu Mùi Quý Y Lan (Ylan Mui) ái nữ của anh chị Mùi Quý Bồng – Đan Tâm, cháu ngoại của nhạc sĩ Đan Thọ, Mùi Quý Y Lan từ nhỏ chơi dương cầm và hình ảnh cô ngồi đàn piano thuở bé đã tạo cảm hứng cho ông ngoại sáng tác bản nhạc cuối cùng tựa đề Dương Cầm với ý thơ Mùi Quý Bồng. Ylan Mui từng là giáo sư thỉnh giảng ngành báo chí tại đại học University of Maryland. Sau gần 15 năm làm phóng viên chuyên về giáo dục rồi tài chánh cho nhật báo The Washington Post, bước sang lãnh vực truyền hình và cộng tác với hệ thống CNBC, ký giả Y Lan thường xuyên được mời xuất hiện trên đài C-SPAN.

    Bài viết về Ông Ngoại với những kỷ niệm và tâm tình dành cho ông ngoại Đan Thọ, nguyên tác tiếng Anh (BS Mùi Quý Bồng dịch sang Việt ngữ) với tâm tình: 

    “Khi tôi còn nhỏ, Ông Bà Ngoại tôi sống trong một căn nhà bình thường, trên một con đường khiêm tốn trong khu Garden Grove. Đây là một căn nhà một tầng, với một hồ bơi, một mái hiên đằng sau, và một cái bếp nho nhỏ. Nhưng với một cô bé 10 tuổi, đó là một thế giới thần tiên, kỳ diệu.

    Chị em tôi và những người anh em họ đã có những ngày Hè dài vẫy vùng trong hồ bơi, tắm mát trong ánh nắng trường cửu của California…

    … Nhưng không có tiếng nhạc nào ngọt ngào hơn những âm thanh từ chiếc vỹ cầm của Ông Ngoại. Ông đã cho tôi được ôm chiếc vỹ cầm ấy một lần khi tôi đến thăm ông, trao phó bảo vật ông quý nhất vào bàn tay vụng về của tôi. Tôi cố gắng kéo được vài nốt nhạc, và lập tức hiểu rằng những âm thanh kỳ diệu ông tạo ra từ cây vỹ cầm của ông đòi hỏi cả một đời để tôi luyện.

    Ông Ngoại và âm nhạc, trong tâm trí tôi, là một. Lớn dần lên theo ngày tháng, nhưng tôi không hiểu rõ lắm hoàn cảnh và sự phấn đấu của gia đình. Chiến tranh và những chịu đựng là một khái niệm trừu tượng đối với cái tâm hồn Mỹ hóa của tôi. Nhưng tôi hiểu Ông Ngoại và âm nhạc của ông. Tôi vẫn biết rằng ông là một nhạc sĩ tài hoa, không những với vỹ cầm, mà còn với saxophone, và cả dương cầm. Khi ông đàn, ông gợi lên những dấu nét của một quốc gia mà tôi, thế hệ Việt Nam thứ hai, mới bắt đầu thấu hiểu. Cái hoa mỹ, cái lãng mạn, cái khổ tâm, hoà hợp làm một. Đến khi tôi đã lớn khôn, tôi mới nhận ra cái giá gia đình chúng tôi đã phải trả để Ông Ngoại có thể cho tôi thưởng thức âm nhạc trong căn nhà nho nhỏ, bình thường của ông ở khu Garden Grove.

    Ông Ngoại đã truyền cái khả năng âm nhạc ấy vào hệ DNA của tôi. Tôi cảm nhận được sự hãnh diện của ông khi ông theo dõi sự tiến bộ về dương cầm của tôi. Ông thường nở nụ cười thoả mãn và dìu tôi đến ngồi trên ghế để tập dượt. Ông, người nhạc sĩ chuyên nghiệp và người bảo trợ của tôi!

    Ông Ngoại là người tạo cảm hứng cho tôi là chuyện hiển nhiên. Nhưng tôi không ngờ tôi cũng đã là nguồn cảm hứng của ông! Một ngày nọ, sau khi nghe và nhìn tôi tập dượt, ông đã viết một bản nhạc mới mang hình ảnh tôi. Lời bài nhạc dựa theo ý một bài thơ do Bố tôi viết. Tựa bài nhạc là Dương Cầm. Một bản nhạc mới, viết trên một quê hương mới, một kết hợp phản ảnh ba thế hệ trong gia đình tôi! Đây là bản nhạc duy nhất Ông Ngoại viết trong những ngày sống tha hương, và là bản nhạc cuối cùng ông viết trong cuộc đời nghệ sĩ.

    Lần chót Ông Ngoại đàn cho tôi là trong lễ cưới của tôi. Ông đã trình bầy bản nhạc nổi tiếng nhất của ông: Chiều Tím. Dường như cặp mắt ông chỉ hướng về tôi trọn vẹn trong những giây phút ấy, mặc dù có rất nhiều bạn bè, và gia đình thân thuộc khắp chung quanh. Ông đã đàn để thương tặng tôi một lần nữa, làm tôi nhớ lại những tháng ngày kỳ diệu của tuổi thơ tôi, nguồn âm nhạc đã luôn gắn bó chúng tôi với nhau, và niềm yêu thương còn mãi tồn tại sau khi những nốt nhạc cuối cùng đã dần lịm tắt”.

    Nhạc sĩ Nguyên Bích, bác sĩ Quân Y, tác giả ca khúc Tâm Sự Kẻ Xa Quê và Tình Si (thơ Mùi Quý Bồng) chai sẻ về đàn hạc:

    “Một lần qua New Orleans chơi với Bồng, con rể bác Đan Thọ, tôi được bác cho xem một cây đàn lạ mà bác mới mua được của một người Mỹ gốc Nga. Bác có cho tôi biết tên của cây đàn này, một lọai đàn riêng của sắc dân một nước nhỏ vừa tách rời nước Nga thời đó. Đàn có nhiều dây, cũng tương tự như đàn dương cầm nhưng không bấm phím mà lại gẩy bằng ngón. Tiếng đàn nghe rất ấm có lẽ vì có thùng đàn lớn và có thể chơi nhiều âm một lúc chứ không phải đơn âm. Cây đàn to và cồng kềnh quá, không biết các nhạc sĩ nước này sử dụng nhạc khí này thế nào, riêng tôi thì thấy không đủ sức khỏe và tầm vóc để chơi cây đàn này rồi.

    Tháng 8 năm 2005, bão Katrina thổi ào vào New Orleans nhận chìm nhà bác và luôn cả cây đàn. Gặp bác ở Houston, hỏi thăm bác về cây đàn, bác với giọng rầu rầu bảo bác bị mất cây đàn ấy rồi. Cây violin mà bác quý hơn vàng Carlo Bergonzi làm từ năm 1741 cũng bị hư luôn. Bác Đan Thọ sở trường về violin và saxophone nhưng tài bác không dừng lại ở đó, mà bác đã viết hòa âm bài Dương Cầm cho violin và piano để hai ông cháu hòa tấu trong buổi tiệc sinh nhật của bác ở New Orleans. Bác thích thú phân tích với tôi từng khúc trong hòa âm bài này “làm sao cho cháu nó chơi được khúc này chứ”…

    Cây đàn Nga này có một sức quyến rũ với tôi một cách đặc biệt, và cũng từ đó tôi ưa để ý đến những nhạc cụ dân tộc của từng xứ, nhất là những xứ Bắc Âu.

    Cây đàn nhạc sĩ Đan Thọ bị mất trong trận bão Katrina là đàn bandura, một nhạc cụ dân tộc của Ukraine. Ngày xưa các nhạc sĩ hát dạo Ukraine dùng cây đàn này cùng với những bài ca và nhạc của họ làm công cụ truyền tải từ thế hệ này đến thế hệ khác những thiên hùng ca của dân tộc Ukraine chiến đấu chống Nga Hoàng và đảng Cộng Sản Nga. Các nhạc sĩ này, đa số khiếm thị, vì thế đã bị chính quyền Nga giết hại. Đàn bandura được coi như biểu tượng của Ukraine và có một âm sắc hết sức độc đáo. Cây đàn bandura ngày nay có 65 dây”.

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa được ra mắt công chúng vào năm 2005 với dàn nhạc giao hưởng Kyiv Symphony Orchestra và Chorus của Ukraine, viết về cây đàn bandura “Nếu người Việt coi đàn tranh là nhạc cụ cổ truyền thì người Ukraine hãnh diện với cây đàn truyền thống bandura có âm thanh du dương không kém đàn tranh nhưng âm vực rộng hơn  so với ngũ cung trong đàn tranh”.

    Nay nhạc sĩ Đan Thọ về với cát bụi cùng với những cây đàn đã một thời gắn liền với thú đam mê trong âm nhạc của ông nơi cõi vĩnh hằng. Ông đã ra đi để lại trong lòng mọi người hình ảnh đáng quý, trân trọng.

    Ca khúc Chiều Tím tạo nên tên tuổi, với tôi thì ca khúc Tình Quê Hương điệu Tango Habanera, Tinh Hoa ấn hành năm 1956 đã in sâu trong thời chinh chiến:

     “Anh về qua xóm nhỏ,

    Em chờ dưới bóng dừa.

    Nắng chiều lên mái tóc,

    Tình quê hương đơn sơ.

    Quê em nghèo, cát trắng,

    Tóc em lúa vừa xanh.

    Anh là người lính chiến,

    Áo bạc màu đấu tranh .

    … Ngõ buồn màu hoang loạn

    Quê nghèo thêm xác xơ…”.

    Trong ca khúc Bóng Quê Xưa (1952) với nỗi niềm:

    “Xa quê hương thân yêu

    Với bao nhiêu tình thương”

    Nhạc sĩ Đan Thọ không còn nữa nhưng tình cảm với mọi người và tình quê hương trong lòng người xa xứ khi nhớ về cố hương. Oliver Wendell Holmes, Sr nhà thơ, bác sĩ Mỹ vào tiền bán thế kỷ XIX nói: “Where we love is hometown, hometown that our feet may leave, but not our hearts” (Nơi chúng ta yêu là quê hương, quê hương là nơi đôi chân chúng ta có thể rời đi, nhưng trái tim thì không). Và, trái tim đó trong ca khúc của nhạc sĩ Đan Thọ cách nay bảy thập niên, sẽ mãi mãi.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, September 10, 2023

  • Âm nhạc,  Kiều My,  Sinh Hoạt,  Việt Hải

    GIỚI THIỆU BAN NHẠC TRẺ  ANGEL BAND

    Nhạc sĩ Huy Phước cùng ban nhạc Angel Band tổ chức buổi lễ mừng Labor Day 2023. Bước vào music studio trang trí hệ thống đèn màu (multicolor helicopter lighting) đẹp mắt. Angel Band mở đầu party với nhạc phẩm “Oye Como Va”. Đây là ca khúc do nhạc sĩ Latin jazz và mambo Tito Puente sáng tác vào năm 1962. Bản hát lại của ban nhạc rock Santana đã đưa ca khúc này trở nên nổi tiếng với vị trí số 13 tại Billboard Hot 100, số 11 tại Billboard Easy Listening và số 32 tại Hot R&B/Hip-Hop Songs. Nhan đề ca khúc được lấy từ câu hát chủ đề “Oye Como Va”, có nghĩa là “Có khỏe không?”, tuy nhiên khi đứng cùng cả câu hát “Oye como va, ma ritmo” thì lại có nghĩa “Giai điệu của tôi có hay không?”

    Phu nhân của anh Huy Sinh (Lead Guitar), Huy Sinh (Guitar), Huy Tùng (Keyboard), Huy Đồng (Bass), Mạnh Bổng, Huy Dũng (Drum), Huy Phước (Accord) & Drum)

    Ca khúc được sáng tác theo nhịp cha-cha-cha với nhiều nét  tương đồng với “Chanchullo” của Israel “Cachao” López. Tạp chí Latin Beat từng viết vào năm 1967: “Ca khúc kinh điển “Rareza de Melitón” (sau này đổi tên thành “Chanchullo”) do Cachao sáng tác vào năm 1937 đã là nguồn cảm hứng cho Tito Puente viết nên ‘Oye Como Va’ “. Ấn bản gốc do ca sĩ Santitos Colon trong ban nhạc của Puente thời điểm đó trình bày. Cachao cũng chơi violoncelle trong một số lần trình diễn trực tiếp của “Oye Como Va”. Bài ca Oye Como Va điệu cha-cha-cha thường được chơi trong những dịp bal des amis hay matinée boom.

    Angel Band là ban nhạc trẻ, dĩ nhiên sở trường chơi nhạc trẻ rất khá, dưới sự điều khiển của nhạc sĩ Huy Phước. Tay trống xuất sắc là Huy Vũ, Huy Sinh lead guitar, Huy Tùng keyboard, Huy Đồng bass, Huy Dũng trống và Huy Phước đảm nhiệm cả hai vai trò lead solo (hay accord) và vocalist. Đây là một professional fullband mà chúng tôi được thưởng thức suốt một đêm dài của Labor Day 2023.

    Trần Việt Hải

    ÂM NHẠC TRONG ĐỜI SỐNG

    Bài Viết Của Kiều My

    Mừng lễ Labor Day 2023 vừa qua, gia đình chị Tâm An đã tổ chức một buổi văn nghệ hầu chiêu đãi bạn bè. Với lòng hiếu khách và hào hiệp, chị đã mời bạn bè và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tham dự buổi ca nhạc tại tư gia…vô cùng ấn tượng. Đặc biệt, mọi người được thưởng thức một đêm văn nghệ độc đáo với ban nhạc sống của nhạc sĩ Huy Phước, phu quân của chị Tâm An. Đây là khoảnh khắc chắc chắn sẽ ghi lại dấu ấn như một kỷ niệm khó quên trong lòng người.

    Hình trên cùng: Minh Thư (Mặc áo & đội mũ đỏ) Hình giữa: Phạm Gia Đại, Vương Trùng Dương, Lê Nguyễn Nga, Mạnh Bổng, Lệ Hoa, Việt Hải, Khánh Lan, Ngọc Châu. Hình dưới cùng: Bà xã của anh Huy Sinh (Lead Guitar), Huy Sinh (Guitar), Huy Tùng (Keyboard), Huy Đồng (Bass), Mạnh Bổng, Huy Dũng (Drum) & Bà Xã, Huy Phước (Accord) & Drum) và phu nhân Tâm An, Lệ Hoa, Chị….và Anh…

    Âm nhạc là một môn nghệ thuật mà Kiều My yêu thích từ tấm bé. Có thể nói: âm nhạc là một loại thần dược vô hình, mang đến nhiều lợi ích cho tinh thần và sức khỏe của con người. Hầu hết mọi người chúng ta đều thích âm nhạc, vì tính chất kỳ diệu của nó là nối kết con người lại với nhau một cách tự nhiên. Mang đến sự giao thoa thật tốt đẹp giữa tình đồng loại; giúp mọi người hòa đồng và cởi mở trong tình bạn hữu.

    Âm nhạc có nhiều thể loại và chuyên chở nhiều ngôn ngữ khác nhau. Riêng người Việt Nam, ngoài nhạc Việt mà ta yêu thích đã đành, chúng ta còn thích cả nhạc Pháp, nhạc Anh, Mỹ v.v…

    Kho tàng âm nhạc Việt Nam cũng rất phong phú. Nhiều nhạc sĩ tài ba đã sáng tác những nhạc phẩm từ thời tiền chiến, đến thời chiến…thật trữ tình, đầy tình người, đi sâu vào lòng người và mãi không phôi pha theo thời gian. Chẳng hạn như nhạc sĩ Văn Cao (Suối Mơ), Đoàn Chuẩn (Lá Đổ Muôn Chiều), Dương Thiệu Tước ( Tiếng Xưa), Phạm Duy (Bên Cầu Biên Giới), Lam Phương (Tình Anh Lính Chiến), Trần Thiện Thanh (Người Ở Lại Charlie) Ngô Thụy Miên (Mùa Thu Cho Em), Từ Công Phụng (Bây Giờ Tháng Mấy) Nguyễn Ánh 9 (Cô Đơn) v.v… Còn rất nhiều ca khúc có giá trị do nhiều nhạc sĩ sáng tác, đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam.

    Nói đến nhạc Pháp, người Việt rất say mê vì âm điệu lãng mạn, nhẹ nhàng, sang trọng…rất gần gũi bản chất người Việt. Ngoài ra, người Việt có vẻ rất quen thuộc với nhạc Pháp vì đất nước chúng ta chịu ảnh hưởng nền văn hóa Pháp, thời Pháp thuộc gần 100 năm. Trong những bản nhạc Pháp ( La Chanson Francaise ) rất nổi tiếng vào những thập niên 1940, 50, 60, 70…qua tiếng hát của những danh ca Pháp thời bấy giờ như:

    Edith Piaf – La Vie En Rose, Sous Les Ciel De Paris, Non Je Ne Regrette Rien…

    Dalida – Bambino, Histoire d’un Amour, Bang Bang….

    Sylvie Vartan – La Plus Belle Pour Aller Dancer, Quand Le Film Est Triste…

    Mireille Mathieu – La Paloma, Une Femme Amoureuse, La Derniere Valse.

    Vicky Leandros – Apres Toi, L’ Amour Est Bleu…

    Christophe – Aline, Oh Mon Amour, Main Dans La Main….

    Còn rất nhiều những bản tình ca Pháp rất hay đã đốt cháy lòng người, mà chúng ta được thưởng lãm qua nhiều thập kỷ.

    Vào những năm đầu của thập niên 1970, giới yêu nhạc Pháp ở Saigon vô cùng thích thú khi được nghe bản nhạc PAROLES, qua hai tiếng hát hàng đầu của Pháp là Dalida và Alain Delon.

    Những bản nhạc Pháp tiêu biểu này đã đi sâu vào lòng người và thật khó quên. Giới yêu nhạc Pháp rất say mê những bản nhạc tình lãng mạn từ  ngày ấy cho đến bây giờ. Đặc biệt, những bản nhạc tình cảm Pháp vẫn tồn tại mãi với thời gian và ảnh hưởng sâu rộng khắp thế giới. Người Việt biết thưởng thức nhạc Pháp có thể nói: đây là sự lựa chọn những tinh hoa bậc nhất của âm nhạc vậy.

    Kiều My nhớ và viết lại phần nào về phong trào nhạc rock du nhập vào Việt Nam ra sao, như thế nào nhé. Khi quân đội Hoa Kỳ sang chiến đấu tại Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và đồng thời mang nhạc rock Mỹ vào nước ta. Vì các club nhạc mở ra để cho người Mỹ có nguồn giải trí. Thời bấy giờ ở Sài Gòn, tầng lớp học sinh, sinh viên ảnh hưởng văn hóa Pháp tiếp tục nghe nhạc Pháp, như là hiện tượng để chống trả lại sự thâm nhập văn hóa Mỹ đang ngày càng bành trướng. Nhưng dần dần những người chơi nhạc nhận ra nét độc đáo của nhạc pop/rock của Anh và Mỹ. Và rồi từ thủ đô Sài Gòn đến các thành phố lớn như: Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Biên Hòa, Vũng Tàu, Cần Thơ… cùng nhiều nơi khác chấp nhận loại nhạc rock, dù nguyên gốc hay được Việt hóa trong đời sống văn hóa của lớp người trẻ thời bấy giờ.

    Cũng vào đầu thập niên 1970, giới yêu nhạc lại có dịp thưởng thức một sắc thái mới của âm nhạc nổi lên rầm rộ, đó là nhạc Anh , Mỹ…do những ban nhạc đang làm mưa gió trong những buổi ca nhạc trên thế giới. Chẳng hạn như:

    Ban nhạc The Beatles nổi tiếng về nhạc Pop – Rock, đã lôi cuốn người nghe trong những buổi trình diễn như:  Let It Be, Hey Juge, Imagine v.v…

    Ban nhạc ABBA nổi tiếng với bản: Dancing Queen, Mamma Mia, I have A Dream, Fernando, Chiquitita,…

    Ban nhạc Boney M. Lừng danh trong ca khúc “Rivers of Babylon”, “Bahama Mama”, Daddy Cool, “Rasputin”…

    Carpenters – Một giọng hát rất đặc biệt qua những ca khúc như: Yesterday Once More, Top OF The World, Please Mister Postman…

    Elvis Presley – Người ca sĩ rất nổi tiếng qua nhiều ca khúc như : Can’t Help Falling In Love, It’s Now or Never, Are You Lonesome Tonight v.v…

    Celine Dion – Cô ca sĩ có giọng hát cao vút người Quebec, Canada đã đưa tên tuổi cô lên hàng danh ca qua những bài hát:  My Hearth Will Go On, The Power of Love, Because You  Love me v.v…

    Whitney Houston – Nổi tiếng qua những ca khúc I Will Always Love You trong phim The Bod Guard; Greatest Love of All, I Have Nothing v.v….

    Suốt nhiều thập kỷ qua, nhạc Anh Mỹ đã tràn ngập thế giới, mang đến cho người yêu âm nhạc cả rừng nhạc. Trong số đó, có nhiều ca khúc đã chiếm giải Oscar, Hoa Kỳ.

    Nói đến nhạc Mỹ, Kiều My cũng có một kỷ niệm khó quên trong lớp Anh văn bậc trung học, ngày còn ở trong nước. Giáo sư Anh văn của lớp hát cho chúng tôi nghe bản nhạc Release Me, do nhạc sĩ Eddie Miller viết 1949; một bản nhạc tình mà ông thầy rất thích khi đi du học ở London. Âm điệu bản nhạc  Release Me tha thiết du dương, rất truyền cảm…khiến chúng tôi ngồi thinh lặng nghe thầy hát. Và bản này đã trở thành bản nhạc Mỹ mà KM  thích nhất trong số những bài hát hay Anh Mỹ, cũng không thua kém nhạc Pháp.

    Trong những bài hát bất hủ của thế giới âm nhạc, chúng ta không thể không nói tới bản La Paloma, được dịch qua lời Pháp từ  gốc Tây Ban Nha do nhạc sĩ Sebastián Iradier sáng tác vào khoảng năm 1860. Giai điệu của bản La Paloma rất tuyệt vời, đã chạm đến trái tim của hàng triệu người trên thế giới, trong đó có KM. Bản nhạc này trải qua trên một thế kỷ, nhưng nó vẫn sống mãi với thời gian.

    Ca khúc bất hủ Le Beau Danube Bleu ( Dòng Sông Xanh) sáng tác bởi nhạc sĩ trứ danh người Áo Johann Strauss II (1825-1899). Bản nhạc này nổi tiếng vào năm 1867, khi điệu luân vũ của bản nhạc nổi lên do chính tác giả điều khiển tại một hí trường ở Paris, khán giả đã “bis” đến 20 lần. Kể từ đêm đó, Le Beau Danube Bleu không chỉ là tài sản nghệ thuật của nước Áo, mà đã bay đi khắp thế giới, được giới yêu nhạc hâm mộ và thưởng thức cuồng nhiệt. Ca khúc luân vũ này cũng là biểu tượng của “ Hy Vọng và Hòa Bình”, và cũng là tiêu biểu của thủ đô Vienne, Áo quốc. Bản nhạc lừng danh thế giới này được sáng tác trong tình yêu tuyệt vời của người tình dành cho tác giả… đã khiến những nốt nhạc được thăng hoa đỉnh điểm…

    Le Beau Danube Bleu cũng đã được ban đại hòa tấu André Rieu, một tay vĩ cầm lừng danh người Dutch trình diễn khắp thế giới. Khán giả hoan hô nhiệt liệt trong tiếng réo rắc của vỹ cầm, lả lướt theo điệu nhạc luân vũ như dòng chảy của con sông thơ mộng Danube, giữa thủ đô Vienne Áo quốc.

    Bản Le Beau Danube Bleu cũng đã được cố nhạc sĩ Phạm Duy soạn lời Việt với tên Dòng Sông Xanh. Đã được nhiều ca sĩ Việt hát rất xuất sắc qua giọng ca Thái Thanh, Ngọc Mai, Ngọc Hạ vv…

    Bên cạnh đó, bản nhạc với giai điệu Boston du dương qua những buổi hòa nhạc, đó là ca khúc tuyệt vời Sérénade do nhạc sĩ lừng danh Frank Schubert người Áo (1797- 1828) sáng tác. Bản này cũng được liệt kê vào hàng nhạc bất hủ thế giới, sẽ sống mãi với thời gian vì giá trị cao của nó.

    Trong cuộc sống hàng ngày, âm nhạc được ví như món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đời sống con người, là ngôn ngữ đại đồng chung cho nhân loại. Nếu cuộc sống mà thiếu âm nhạc thì chẳng khác gì thiếu ánh sáng mặt trời, thiếu không khí trên mặt đất này. Bởi thế cho nên triết gia Friedrich Nietzsche đánh giá cao về âm nhạc: “Không có âm nhạc thì cuộc sống sẽ là một điều sai lầm”. Hay như sự cần thiết mà thi hào William Shakespeare quan niệm: “Nếu ta yêu âm nhạc thì hãy vặn nó lên”… Còn cố ca sĩ Sony Bono đã từng nói: “Âm nhạc có thể thay đổi thế giới bởi vì nó có thể thay đổi được con người”.

    Vai trò âm nhạc ảnh hưởng đối với đời sống của chúng ta rất nhiều, chính nó tạo ra những cung bậc cảm xúc trong tâm hồn chúng ta. Âm nhạc làm cho cuộc sống chúng ta thăng hoa, trở nên tốt hơn. Điều đó được hiểu qua ý tưởng của người xưa, như quan điểm của triết gia Plato người Hy Lạp, học trò của đại triết gia lừng danh Socrates: “Âm nhạc là sự chuyển động của âm thanh, để linh hồn con người đạt đến sự giáo dục đạo đức của chính nó”.

     Phải chăng nhạc thánh ca, nhạc đạo, nhạc về lòng yêu thương quê hương, nhạc về lòng mẹ hay tình cha… linh nghiệm đúng như vậy. Do đó, âm nhạc ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người, con người là loài vật duy nhất có thể cảm nhận thông suốt, hiểu biết bởi trí tuệ và thưởng thức với tâm hồn say mê yêu thích âm nhạc. Chung quy, thì phạm vi âm nhạc có hai loại chính khi biểu hiện: bằng giọng người tức thanh nhạc; nếu trình bày bằng các loại nhạc cụ là khí nhạc.

    Ngoài ra, âm nhạc là nguồn hạnh phúc cho tất cả mọi người chúng ta sống trên trái đất. Không có âm nhạc thế giới thực sự sẽ rất buồn tẻ. Chính vì có âm nhạc trong sự chuyển động âm thanh của thiên nhiên như: gió, sóng biển, thác, suối, mưa, bão… cũng như sự chuyển động của cây cối; âm nhạc trong tiếng hót của các loài chim muông… Âm nhạc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hạnh phúc của con người. Âm nhạc xua tan đi nỗi sầu khổ của con người và rót đầy tâm tưởng chúng ta niềm vui sướng hân hoan. Bật lên những bài nhạc yêu thích và lắng nghe mà không cần làm điều gì khác, lắng nghe và lắng nghe trong sự thích thú. Chúng ta cảm thấy cuộc đời này có giá trị và đáng sống biết bao! Sự thật là như thế!. Ngẫm nghĩ về câu nói “La musique fait écho aux sentiments humains”, quả thật âm nhạc có thể xoa dịu những nỗi lo âu, khắc khoải trong cuộc sống. Âm nhạc là phương tiện chuyển tải cảm xúc trọn vẹn nhất của tâm hồn. Nhạc sĩ đại tài Beethoven cho rằng: “Âm nhạc làm trái tim của người nam sôi sục và khóe mắt của người nữ đẫm lệ”. Âm nhạc cũng có thể là ngôn ngữ của tâm hồn xao xuyến bớt đi cô đơn, hay khiến cho con tim ta khao khát yêu thương.

    Âm nhạc có thể đưa tâm hồn ta cất cánh bay cao như cánh diều gặp gió; hay chìm lắng như trăng lặn dưới đáy hồ… theo dòng nhạc. Quả thật! Âm nhạc là một trong những nghệ thuật kỳ diệu của nhân loại!

    Kiều My

  • Văn Thơ,  Vương Trùng Dương

    Nhà Thơ Đỗ Bình & Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris

    Nhân dịp Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian ở Nam California chu du Âu Châu. Nhà thơ Đỗ Bình và các văn nghệ sĩ tổ chức bữa cơm thân mật với các anh chị văn nghệ sĩ ở Mỹ vào lúc trưa ngày 20 tháng 9 năm 2023 tại nhà hàng Sài Gòn số 104 Ave d’Ivry, Paris 13…. Viết bài nầy để gởi lời chia sẻ với nhà thơ Đỗ Bình và quý vị trong  Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris.

    Vương Trùng Dương

    NHÀ THƠ ĐỖ BÌNH, PARIS

    Năm 2006, tôi nhận được tuyển tập Nhà Văn Hải Ngoại của nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên (1930-2023). Ông là giáo sư, học giả, luật sư, nhà nghiên cứu, hội viên Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại (Académie des Sciences d’Outre-Mer) của Pháp năm 1997 nhưng ông chỉ thích với danh xưng nhạc sĩ.

    Trong tuyển tập này, nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên viết bài Bóng Quê Của Đỗ Bình (trang27-33). Những dòng chữ đầu tiên giới thiệu về nhà thơ Đỗ Bình: “Thi Sĩ Đỗ Bình, Cựu Tù Nhân Chính Trị… mến phục ngay con người đã từng chịu đựng nỗi đau khổ nhục tù cải tạo vì đã hiến thân mình cho nước nhà dân chủ tự do… sự gặp gỡ giữa tôi và anh chị Đỗ Bình trở thành một kỷ niệm đầy ý nghĩa”. Có lẽ thân phận người lính, người tù giữa nhà thơ Đỗ Bình và tôi như nhau nên đồng cảm và thiện cảm.

    Tập thơ Bóng Quê, gồm 82 bài thơ, dày 128 trang, được ra mắt ở Paris tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam năm 1998, lúc đó phương tiện internet chưa được phổ biến rộng rãi nên thi tập nầy không đến với thân hữu ở hải ngoại.

    Thi phẩm Bóng Quê với một phần tư thế kỷ trôi qua, nhân đây trích bài viết của nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên giới thiệu những dòng thơ của “nhà binh làm thơ” Đỗ Bình.

    “… Tôi xa nhà đã lâu, từ lúc từ giã quê quán, đất nước mặc dầu loạn lạc vẫn giữ tinh thần quốc gia dân tộc dân chủ tự do, cho nên cái buồn viễn xứ dù thấm thía đến đâu cũng không bằng nỗi đau thương cực độ của một người trai trẻ tỵ nạn tại Pháp từ 20 năm, sau khi nếm mùi gian khổ trong xà lim Cộng Sản, bị mất một nửa phần ánh sáng:

    “Anh phóng hồn qua lỗ khóa con

    Để còn trông thấy bóng trăng non

    … Chờ con mắt lạc sâu đêm tối

    Là lúc con trùng réo nỉ non”

    (Người Tù & Bóng Tối)

    Vì thế cho nên Đỗ Bình không bao giờ quên giúp đỡ những hội ái hữu chăm sóc cho Thương Binh VNCH… Như muốn nhắc nhở đồng bào hải ngoại chớ quên những người đã hy sinh cho tổ quốc, nay tàn tật, lê chân mệt mỏi trên đất người:

    “Ngày tháng trôi đi buồn vẫn đọng

    Trên dòng chinh chiến đã rêu phong

    Súng gươm lặng lẽ vào quên lãng

    Khấp khểnh đường chiều, chiếc nạng cong”

    (Nạng Gỗ)

    … Ở đất nước xa lạ, nhiều lúc nguồn thơ muốn quên lãng trong cốc rượu nồng, vì không cón biết mình còn đủ tàn lực tranh đấu cho tổ quốc:

    “Đêm khua khoắt, gió heo may

    Hồn người lính trận nương mây trở về?!

    Ta say thật hay say mê

    Mà nghe chua xót lời thề năm xưa”

    (Xưa)

    Đọc thơ Đỗ Bình, tôi không thể nghĩ đến Phạm Ngọc trong Nỗi Đam Mê Muộn Màng “… Cánh chim dang dở đường bay. Ngồi trong đêm nuôi mộng cùng ngày” vì tác giả Bóng Quê:

    “Từ khi làm cánh chim buông

    Chân trời, góc bể như tuôn mạch sầu”

    (Cô Đơn)

    Hoặc để thoát ly nỗi cô quạnh của Người Tù & Bóng Tối:

    Anh muốn làm chim cất cánh bay

    Về miền xa thẳm tít trời mây

    Thả hồn lướ cánh say trong nắng

    Giải thoát đời qua kiếp đọa đày”

    Buồn ơi là buồn, nỗi buồn cô quạnh, nỗi buồn xót xa của nhà thơ một mình nơi xứ lạ:

    “Lên đỉnh non ngàn vọng cố hương

    Mắt buồn chĩu năng mấy làn sương

    Nhìn quanh, chẳng thấy trời quê mẹ

    Chỉ có tuyết rơi… dốc đoạn trường”

    (Đỉnh Nhớ)

    Cái biệt tài của Đỗ Bình là một thi sĩ mà cũng là nhạc sĩ (phần đông những bài thơ trong Bóng Quê được tác giả tự phổ nhạc, và những bài khác với sự cộng tác của Việt Phương, Nguyễn Minh, Đào Tuấn Ngọc, Minh Sơn, Anh Việt Thanh, Trịnh Hưng, Lê Khắc Thanh Hoài) nằm ở sự khéo léo sắp đặt âm điệu của lời thơ…”

    Theo nhà thơ Đỗ Bình: “Bài thơ Tình Chỉ Là Mơ và bài thơ Cõi Tình, tôi chọn đưa vào in trong thi tập với lòng yêu thơ. Tôi thường làm thơ về quê hương, về thân phận con người, nay làm được những bài thơ về tình yêu lứa đôi lãng mạn của tha nhân tôi cảm thấy vui, tập thơ sẽ có thêm màu sắc…

    Khi tập thơ được in xong, các bạn văn vì cảm mến tôi nên đã cùng nhau tổ chức một buổi ra mắt sách rất trang trọng vào ngày 4 tháng 10 năm 1998 tại Hội Trường Quốc Tế Paris, quy tụ tất cả các văn nghệ sĩ ở Paris và khắp nơi đến. Đặc biệt những danh ca chỉ dành hát độc quyền cho các trung tâm nhạc cũng về Paris trình diễn cho buổi ra mắt sách”.

    Nhà thơ Đỗ Bình trong thời chiến tranh là người lính đơn vị tác chiến với hình ảnh trong Đêm Tiền Đồn:

    “Áo trận phong sương dốc núi mòn

    Rừng đêm cô quạnh mảnh trăng non.

    Sông dài uốn khúc dòng không chảy

    Vài mái tranh xiêu nóc chẳng còn!

    Nơi đây rừng núi mây sương phủ

    Ngày tháng vàng theo chiếc lá thu

    Mỗi bước bẫy mìn giăng khắp lối

    Đường đêm rờn rợn cõi âm u.

    … Không gian hờ hững, quen bom đạn

    Người lính nằm queo máu đã khan!

    Chiến địa hận thù mờ khóe mắt

    Một tràng tiếng nổ bóng đêm tan!”

    Rồi nỗi đau uất hận lại ập đến trong ngày 30 tháng Tư với tâm trạng bi thương khi Tàn Cuộc Chiến:

    “Người lính trẻ lên đường ra chiến trận

    Dù gian nguy nào có tiếc tuổi xuân

    Vì tự do, cho sông núi vẹn phần

    Tay ghìm súng lòng chưa mang oán hận.

    Ngày quốc biến khắp nơi thành chiến địa,

    Người cõng nhau chạy trốn đạn pháo kia

    Tiếng xung phong, tiếng nổ, xác thân lìa,

    Thịt người nóng đầu mình văng tứ phía

    … Tàn chiến cuộc nước non thành dâu bể

    Ôi hòa bình… khói ngút bay trần thế!”

    Sau ngày tàn cuộc chiến, cũng như bao người người lính VNCH bị sa cơ vào chốn lao tù, bị giam cầm, đọa đày được mô tả qua dòng thơ Kiếp Tù:

    “Môi khô nứt bụng đói cào rời rã

    Kiếp tù nhân thân gầy đét xương da.

    Con mắt mở đời gần như hóa đá

    Nhìn quanh đây toàn những nỗi xót xa.

    … Trong ngục tối ngày vẫn dài thăm thẳm

    Thiếu tiếng người ngoài tiếng gió xa xăm!

    Đời hiu quạnh hồn chết dần say đắm

    Thương bài thơ cũng mục rã âm thầm!

    Ta muốn thét cho đời vơi thê thẳm

    Vẫn làm thơ chờ về cõi trăm năm.

    Người ngoài đó con đường xưa mây xám

    Mất tự do thì nào khác trại giam!

    Ôi chủ nghĩa trời quê hương u ám

    Ta ngồi đây vọng tưởng những tháp Chàm!”

    Khi thoát khỏi quần đảo ngục tù, được định cư nới xứ người, nỗi niềm của anh trang trải qua bài Trăn Trở:

    “Tháng Tư buông súng nhục nhằn,

    Về đây thao thức… chùm chăn mấy lần

    Tha hương nghìn dặm gian truân,

    Đời như sóng rẽ cũng phần lanh quanh!

    … Tháng Tư đốt nén hương trầm

    Trong tim để khóc âm thầm cố hương”.

    Những ngày đầu sống trên xứ người, dù Paris được mệnh danh là “kinh đô ánh sáng” nhưng với anh vẫn trong tâm trạng kẻ lưu đày trong Một Lối Về:

    “Bóng quê mù tít xa khơi,

    Phố xưa mất dấu một thời đắm say?

    Quanh đây những kiếp qua ngày,

    Có người nhặt chiếc lá bay cuối bờ!

    Tàn đêm lịm ánh trăng mơ,

    Cớ sao giấc điệp… cũng hờ hững nhau!

    Buồn theo sợi tóc phai màu,

    Biển xanh chìm khuất niềm đau hôm nào?”

    Mang thân phận của người lính khi mất nước đành cam chịu cuộc sống  Kiếp Tha Hương trong nỗi ngậm ngùi:

    “Chiều lên nắng ngả vàng khu phố,

    Nghiêng xuống đời ta vạt lụa thơ.

    Hầm métro nhiều chân bước vội,

    Vẳng thanh âm khúc nhạc mơ hồ.

    Hỡi nàng mắt xanh môi sầu mộng,

    Tấu làm chi ca khúc não lòng?

    Lời hát vút cao như tiếng khóc,

    Chạnh buồn, ta tủi kiếp lưu vong!”

    Giữa thập niên 1960s, tôi trải qua hai năm quân trường, phục vụ ở Vùng I và Vùng II Chiến Thuật, trở lại trường cũ, sau những năm lao tù, về lại chốn xưa trong tháng ngày đen tối nên khi đọc thơ của anh viết về Đà Lạt, cùng thân phận và hoàn cảnh với nhau, tôi cảm thấy xót xa:

    “… Dốc mòn đồi tím mênh mông,

    Em theo cánh bướm ngàn thông quên đường!

    Bóng chiều cỏ úa màu sương

    Em đi, còn thoảng mùi hương lối về”

    (Đồi Thông)

    Thời gian sống ở hải ngoại, có những lúc nhớ đến Đà Lạt, bắt gặp trong thơ anh với tâm trạng của tôi:

    “Trong giấc mơ xưa tìm dấu cũ

    Đồi thông vi vút lá vào thu.

    Phố chiều nắng ngả vàng khu chợ

    Trường cũ nhòa theo lốc bụi mù!

    … Đà Lạt ngàn hoa trên lối nhỏ

    Đường qua phố chợ dốc quanh co

    Đèo cù mây trắng bay lờ lững

    Lên thác Cam Ly, suối hẹn hò.

    … Nhớ quê ngày tháng thêm cô quạnh

    Non nước tuyệt vời như bức tranh

    Bàng bạc không gian đầy mộng  ảo!

    Mơ hồ, thấy phố núi, trời xanh.

    (Đêm Mơ Phố Núi)

    Mười hai thế kỷ về trước, bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Tĩnh Dạ Tư của Lý Bạch đã để lại hậu thế hai câu thơ trác tuyệt:

    “Cử đầu vọng minh nguyệt,

    Đê đầu tư cố hương”

    Năm 2007, trong một đêm trăng ở Little Saigon, ngồi chung với nhà thơ Du Tử Lê, nhắc đến bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn được Phạm Đình Chương phổ nhạc, tối đó tôi viết bài cùng với tựa bài thơ và ca khúc. Dòng cuối “Trăng và cố hương trong thơ Du Tử Lê và dòng nhạc của Phạm Đình Chương cùng nỗi niềm và tâm trạng của người xa xứ có lẽ gắn liền với “giai đoạn lịch sử” của đất nước”. Bài thơ của anh Đỗ Bình khi nhớ về cố hương phảng phất khung trời ngày xưa:

    “Viễn xứ ngàn trùng thương xóm cũ

    Hạ về hoa đỏ rực quanh đây

    Chợi nhớ phượng xưa trăng phố nhỏ

    Áo em vàng lụa tưởng vần thơ

    … Lặng lẽ mùa đi nào có biết,

    Phố xưa phảng phất nỗi u hoài!

    Trăng muôn đời vẫn là trăng mộng

    Tỏa ánh tơ vàng thắm khoảng không”

    (Trăng Muôn Đời Vẫn Sáng)

    Nhân đây, đề cập thêm về nhà thơ Đỗ Bình đã dấn thân trong lãnh vực văn học nghệ thuật. Từ khi định cư tại Paris, nhà thơ Đỗ Bình là người trẻ tuổi nhất đã bỏ ra nhiều công sức giúp ích rất đắc lực cho Ba Lê Thi Xã, sáng lập vào năm 1981…  quy tụ những bậc thức giả, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ … Tuy gọi là “Ba Lê” nhưng đã quy tụ được trong giới học giả, văn nghệ sỹ ở hải ngoại. Và, với úy tín đó nên thành lập Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris năm 1994. Mỗi năm Câu Lạc Bộ tổ chức sinh hoạt 4 lần trên các lãnh vực… Nhà thơ Đỗ Bình chủ tịch CLBVHVN Paris, năm 2018, BS Phan Khắc Tường đảm nhận vai trò nầy.

    Với mục đích của CLBVHVN Paris đã góp phần xây dựng Văn Hóa Việt Nam và gìn giữ phát triển sự trong sáng tiếng Việt… Giới thiệu và phổ biến những tác phẩm về sáng tác, phê bình văn học, biên khảo, dịch thuật… trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

    Có thể nói rằng CLBVHVN được quy tụ các thành viên đông nhất ở trời Âu và các nơi khác ở hải ngoại trong vài thập niên qua với tinh thần đoàn kết, xây dựng… đã đóng góp nhiều tài liệu biên khảo, sáng tác…

    Kỷ niệm 20 năm thành lập, tuyển tập Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Paris, 1995-2015. Sau hai năm chuẩn bị với Ban Điều Hành, Ban Biên Tập và Ban Thực Hiện, tác phẩm ra mắt vào tháng 9 năm 2016 với 26 tác giả đóng góp với nhiều đề tài và thể loại.

    Tiếp đến, tuyển tập NKMVHVN Hải Ngoại, bắt đầu từ 2018 hoàn tất vào tháng 5/2022. Việc chọn lọc bài viết do ban biên tập nhận xét, trao đổi với nhau theo chủ đề yêu cầu viết vì vậy có thể nói là tài liệu văn học hải ngoại giá trị.

    Tuyển tập nầy quy tụ các văn hữu ở khắp nơi gồm 5 Chương: Những Sinh Hoạt Văn Hóa Ở Hải Ngoại, Biên Khảo, Sáng Tác, Nhận Định Phê Bình và Tiểu Sử Tác Giả. (Ở Nam California, trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian có nhà văn Việt Hải và tôi với hai bài về nhà văn Nguyễn Thị Vinh và nhà thơ Hoàng Anh Tuấn).

    Ngoài ra, CLBVHVN Paris trong những cuộc hội thảo, sinh hoạt văn học nghệ thuật, giới thiệu tác phẩm cũng là nơi tiếp đón các văn hữu hải ngoại đến Paris. Sống nơi quê người, CLBVNVN Paris được vinh dự là “cái nôi” với tất cả văn hữu hải ngoại “tha hương ngộ cố tri” nơi kinh đô ánh sáng, ấm áp tình người.

    Nhân dịp nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian ở Nam California ghé Paris được CLBVNVN Paris ưu ái tiếp đón, nhớ lại đúng hai thập niên trước, buổi sinh hoạt văn học nghệ với nhà thơ Dương Huệ Anh (Phạm Ngọc Tường 1925-2022) từ miền Cali nắng ấm. Ông là người sáng lập và là chủ tịch Thi Đàn Lạc Việt miền Bắc California năm 1992, năm 1993 thành lập thêm Cơ Sở Văn Học Nghệ Thuật. Trong vài dòng cảm nghĩ của ông về cuộc hội ngộ rất cảm động. 

    Nay trong nhóm NVNT & TTG có nữ thi sĩ Dương Hồng Anh (Dương Nguyệt Anh) sinh năm 1931 tại Hà Nội, cháu nội nhà thơ Dương Khuê, tuy đã cao tuổi nhưng trong trong các buổi sinh hoạt của nhóm, nữ sĩ đều tham dự và sáng thơ tặng thân hữu. Rất tiếc vì tuổi cao nên không đi được để gặp lại “những người muôn năm cũ” từ Hà Nội và Sài Gòn năm xưa. Với tôi, rất mong có dịp cùng anh em trong chuyến đi trời Âu nầy để gặp lại vài thân hữu, chiến hữu đã xa cách gần nửa thế kỷ nhưng vì lý do gia đình, không thể xa nhiều ngày nên viết những dòng nầy đến quý vị “văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình”.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, September 06, 2023

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    NGƯỜI ANH THÂN TÌNH

    (Viết về Nhà Văn Việt Hải, người anh “Văn Học Tâm Đắc”)

    Trong bài này, tôi xin dùng chữ “Anh Việt Hải” thay vì “Nhà Văn Việt Hải”cho thân mật, nhưng xin được viết hoa chữ “A” cho chữ “Anh” để tỏ lòng kính trọng.

    NV Việt Hải và Khánh Lan

    Tôi thực sự bước vào làng văn khi dịch bệnh COVID 19 bắt đầu hoành hành trên thế giới với mức độ cao nhất và chắc chắn nó đã để lại ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của tất cả mọi người trên thế giới. Hậu quả của dịch bệnh COVID 19 đã làm đình trệ mọi sinh hoạt Văn học cũng như các lãnh vực ca vũ nghệ thuật & âm nhạc của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG). Những buổi họp mặt “hàn huyên bàn luận và hoạch định” chương trình trong tương lai của anh em chúng tôi cũng tạm dừng lại và phương tiện duy nhất để liên lạc là “điện thư” (email) và “hàn huyên tâm sự” là cái điện thoại di động.

    Riêng phần tôi cũng ôm ấp một nỗi buồn riêng, bởi hơn mười-hai năm đeo đuổi với nôm vũ nghệ thuật, đã tập cho tôi một thói quen khó bỏ quên “đam mê ca vũ”, nhất là dươc cùng các bạn trong nhóm vũ tụ họp mỗi cuối tuần để tập múa và giải lao “ăn uống”. Tiếc thay COVID 19, đã biến những buổi chiều cuối tuần của chúng tôi “Ban Vũ Tiếng Thời Gian” trở thành trống trải và vô nghĩa. Những buổi họp mặt để tập luyện, ca hát tạm gác lại để nhường chỗ cho những ngày tháng ngồi bó gối trong lo sợ và suy nghĩ vẩn vơ. Bạn nghĩ xem, tôi nên làm gì cho những ngày ngồi “tù giam lỏng” này đây?

    Khánh Lan & Thanh Châu

    Những ngày vui chơi cùng các bạn trong nhóm múa

    Một hôm, tôi xem lại cuốn phim phim The Sound of Music của đạo diễn Robert Wise do Ernest Lehman viết kịch bản năm 1965. Thủ vai chính trong cuốn phim này là hai diễn viên xuất sắc: Julie Andrews và Christopher Plummer. Bộ phim nhạc kịch này dựa trên vở nhạc kịch cùng tên của Broadway, bài hát được viết bởi Richard Rodgers, Oscar Hammerstein II và kịch bản của Howard Lindsay và Russel Crouse. Phim The Sound of Music được quay ở Salzburg, Áo, Bayern ở Nam Đức và ở trường quay 20th Century Fox tại California. Bộ phim giành giải Oscar cho phim ca nhạc hay, nổi tiếng nhất của năm 1965, Album nhạc phim cũng đã được đề cử Giải Grammy cho Album của năm ấy. Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ đã chọn The Sound of Music cho việc bảo tồn ở Kho lưu trữ phim Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 2001. Chính một câu nói của Julie Andrews trong phim đã gây sự chú ý và mở cho tôi một hướng đi mới, ly kỳ và thú vị sau này. Đó là câu:

    “KHI CÁNH CỬA NÀY ĐÓNG LẠI, THÌ CÁNH CỬA KHÁC TỰ MỞ RA”

                Thật vậy, khi cánh cửa “ca vũ” của nhóm chúng tôi đóng lại, thì tôi những tưởng, “thế là hết”. Cái cảm giác nuối tiếc, tuyệt vọng nhen nhúm trong tâm trí tôi. Thế là mất hết “Niềm đam mê Vũ Nghệ Thuật”. Và thưa các bạn, trong cơn tuyệt vọng ấy, một cánh cửa hy vọng đã mở ra cho tôi, Vâng cánh cửa “Văn học” đã tự mở ra, chào đón bước chân tôi.

    CÁNH CỬA VĂN CHƯƠNG THI PHÚ

    Nhà Văn Việt Hải, người mà tôi tự đặt tên là “người anh thân tình” gọi điện thoại cho tôi trong lúc tôi ở trong trạng thái “chán ơi là chán” và không biết làm gì để giết thời gian, anh đề nghị:

    • Khánh Lan đang làm gì thế?
    • Thưa, chẳng biết làm gì.
    • Sao Em không viết văn cho đỡ buồn?
    • Viết văn à? Em chưa bao giờ nghĩ là mình sẽ viết văn.
    • Anh tin là Em có khả năng… Anh đã nhìn thấy và đọc bài Em viết về “Áo dài Việt Nam qua dòng thời gian” và hướng dẫn các bạn trong nhóm minh họa phần trình diễn áo dài trong ngày Ra Mắt Sách (RMS) của Giáo Sư (GS) Trần Quang Hải… Rất khá…
    • Thật à?
    • Thử viết lại đi, anh sẽ hướng dẫn.

    Ngần ngừ một lúc, tôi trả lời:

    • Anh cho Em thêm vài tuần để em suy nghĩ kỹ nhé.
    • Được Em ạ. Nhưng Em phải hiểu rằng. Một khi Em bước vào tuổi 65-70, cái tuổi không còn thích hợp với ngành “Vũ & ca hát” nữa. Ngược lại, “Văn” sẽ cho Em một “vị trí” tốt và bảo đảm hơn trong lãnh vực văn chương. Anh thấy tiếc, nếu Em không chọn ngành Văn, bởi anh nhìn thấy ở Em, có triển vọng trở thành một “Nhà Văn” và thành công những là khác… Hay là Em có thể chọn cả hai cũng tốt.
    • Anh cho em xin một thời gian nữa. Viết văn hay gia nhập ban hợp xuống Ngàn Khơi, Em sẽ chỉ chọn một trong hai cái. Có như thế, Em mới có thể dồn hết khả năng, tâm trí và kiến thức của mình để tập trung (Focus) vào lãnh vực ấy. Nhất là để Anh không thất vọng về Em.

    Gác điện thoại, tôi ngồi trong yên lặng và suy nghĩ mông lung, vì đây không phải là lần đầu tiên Anh Việt Hải khuyến khích tôi bước vào lãnh vực văn học. Tôi không nhận lời Anh Việt Hải bởi tôi còn đang bị gằng co giữa hai lựa chọn. Sự việc là: Thanh Châu, một người bạn rất thân của tôi hiện đang sinh hoạt trong ban hợp xướng Ngàn Khơi, bạn rủ tôi gia nhập ca đoàn. Tôi còn phân vân chưa trả lời Thanh Châu, vì tôi không chắc mình có thời gian và khiên nhẫn theo đuổi và thi hành những quy luật mà ban hợp xướng đưa ra? Giữa viết văn và âm nhạc, tôi không biết nên chọn bên nào? Thứ nhất là để không làm buồn lòng Thanh Châu, và thứ hai là không làm phụ lòng Anh Việt Hải? Vì vậy, tôi chưa dám trả lời ngay để có đủ thời gian suy nghĩ chính chắn hơn.

    Ba tuần lễ trôi qua, tôi gọi điện thoại xin lỗi Thanh Châu, và dĩ nhiên là bạn tôi cũng buồn và lòng tôi cũng chẳng vui, nhất là từ nay tôi đã làm mất cái cơ hội để cùng các bạn tập múa, tập hát, đi trình diễn và nhất là không còn những giây phút vui cười bên nhau…Chỉ nghĩ như thế thôi cũng đủ làm tim tôi thắt lại và mắt tôi mờ lệ…

    Thế rồi thời gian cách ly vì dịch bệnh COVID 19 đã thực sự cho tôi một cơ hội để viết văn và quen dần với văn chương, chữ nghĩa, máy computer. Từ đấy, thay vì ngồi ngồi nghĩ cách để minh họa các màn vũ thì tôi lại vùi đầu vào tài liệu tham khảo, nặn óc ra những câu chuyện tình trường éo le, hoàn cảnh bi thảm. Nhưng ít ra, tôi biết mình đã làm một người rất vui và hài lòng: Đó là Anh Việt Hải.

    “Viết Văn”, một lãnh vực tuy không xa lạ đối với tôi nhưng tôi vô cùng lo sợ, nhưng đã chọn rồi thì không thể lùi bước, mà muốn trở thành một nhà văn, thì phải dấn thân, mà đã dấn thân rồi thì phải hy sinh (dựa theo Jean Paul Sartre) và nhất là thất hứa với Anh Việt Hải. Thôi cũng đành “nhắm mắt đưa chân” vậy để xem định mệnh sẽ đưa mình về đâu.

    Phải chăng “cái duyên tiền định” đã đến với tôi, cho tôi gặp được “Thầy Việt Hải”, một người “Thày” tận tâm với nhiều kiên nhẫn, một người Anh “thân tình” mà tôi hằng quý mến, khâm phục bởi sự kiên nhẫn, kiến thức thông suốt. Kiên nhẫn, vì anh đã thuyết phục được tôi di9 vào con đường văn học. Tận tâm, vì anh đã bỏ hằng giờ để hướng dẫn và khuyến khích tôi viết văn. Phải chăng chính Anh là người đã khám phá ra tôi, khám phá ra một tiềm năng ẩn náu trong tôi mà bấy lâu nay, chính tôi cũng không nhìn thấy. Thượng Đế thật công bằng, Người đã ưu ái dành cho anh một kiến thức uyên bác, biết nhiều, hiểu rộng, để anh dẫn dắt thế hệ trẻ, những cây bút non nớt bước vào vườn hoa văn hóa. Có lẽ cái trí nhớ phi thường, cái kiến thức sâu rộng, thấu hiểu tường tận về văn học Âu Á là cái bổng lộc mà Trời đã ban cho Anh để bù đắp lại sự thiệt thòi về thể xác.

    TÔI BẮT ĐẦU VIẾT VĂN

    Khánh Lan

    Khởi đầu sự nghiệp “cầm bút” mới thật là nhiêu khê, là cả một sự sự kiên nhẫn, học hỏi, nghiên cứu, và nhất là sự cho phép của thời gian. Để có thời gian để viết văn, tôi thật sự hy sinh những cuộc vui và quên luôn cả bổn phận của một “người vợ”. Câu nói:

    “Đằng sau một người đàn bà (đàn ông) thành công

    luôn có bóng dáng người đàn ông (phụ nữ)“

    Những câu nói như trên, tưởng chỉ là câu nói sáo rỗng, nhưng tôi cho rằng rất đúng trong trường hợp của tôi. Thật vậy, ngày nay khoa học chính thức công nhận như sự tham khảo của Bác Sĩ Science Alert và các cuộc nghiên cứu của các Viện Đại Học,họ đã đưa ra những công trình nghiên cứu và thử nghiệm qua nhiều trường hợp khác nhau. Tôi xin đưa ra vài trường hợp điển hình dưới đây:

    • Trong trường hợp của cựu tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama về tầm ảnh hưởng của Michelle Obama trong sự nghiệp chính trị của ông. Ông đã chia sẻ: “Nếu bạn hỏi ngày ấy điều gì giúp tôi tỉnh táo, giữ tôi được cân bằng, cho tôi sức mạnh đương đầu với mọi áp lực, thì đó là người phụ nữ này (chỉ vào vợ). Cô ấy không chỉ là một Đệ nhất phu nhân tuyệt vời, mà còn là nền tảng vững chắc, để tôi dựa vào đó bất kỳ lúc nào.”
    • Năm 2017, Đại Học Carnegie Mellon đã nghiên cứu vấn đề này một cách khoa học hơn, với giả định rằng khả năng thành công của một người sẽ cao hơn khi vợ (hoặc chồng) của họ sẵn sàng hỗ trợ phía sau như trường hợp của cặp đôi Victoria và David Beckham.
    • Các chuyên gia từ Đại Học Washington (St. Louis) cũng thực hiện một thí nghiệm và kết quả cho thấy sự nghiệp của một người không chỉ phụ thuộc vào bản thân, mà người đồng hành cũng cực kỳ quan trọng như trong trương hợp của cặp vợ chồng Mark Zuckerberg – CEO Facebook. Doanh nhân Zuckerberg từng thừa nhận rằng Pricilla là người đi cùng và có vai trò cực kỳ quan trọng khi xây dựng sự nghiệp của họ. Năm 2017, Mark Zuckerberg đã nhắc đến vợ mình là Priscilla trong một buổi hội thảo, rằng cô là người đã đứng sau động viên ông tiếp tục theo đuổi dự án mạng xã hội. Mark Zuckerberg cũng thừa nhận rằng Priscilla là người quan trọng nhất trên đời. Họ kết hôn năm 2012, Priscilla đã gây nhiều ảnh hưởng trong sự nghiệp của ông sau này.
    • Ngôi sao nổi tiếng Beyoncé, một nữ ca sĩ từng chia sẻ rằng chồng cô đã hỗ trợ và trở thành một nền tảng, một bệ phóng cực kỳ vững chắc cho cô trong sự nghiệp âm nhạc.

    Phần tôi, từ ngày quyết định chọn nghề “cầm bút”, tôi như người trong cơn nghiện “viết văn”, cái computer trở thành người bạn “tri kỷ” của tôi, tôi say mê, miệt mài và vùi đầu với “ngòi viết” và quên mất cái bổn phận tối cao của một người phụ nữ đã có gia đình. Chồng tôi, Mạnh Bổng, từ ngày ấy, bỗng trở thành “Mr. Mom” bất đắc dĩ, anh lo toan, khoán xuyên nọi việc trong nhà để tôi ôm mộng trở thành “Văn, thi Sĩ”.

    Mạnh Bổng và Khánh Lan

    MỘNG TRỞ THÀNH VĂN THI SĨ

    Những ngày tháng đầu cầm bút thật vất vả, Anh Việt Hải và tôi “on the phone, off and on” hầu như mỗi ngày, từ 10 sáng đến 10 tối, nếu không để chỉ dẫn cho tôi về những quy tắc, luật lệ khi viết văn thì lại giải thích cho tôi nghe những bài văn mẫu, lịch sử cũng như sự nghiệp văn chương của các thi hào như Baudelaire, Mattie, Allan, Tagore, v.v… Các Đại văn sĩ như Proust, Hugo, Twain, Hesse, Gide, v.v…khuyến khích tôi nghiên cứu về triết học Hiện Sinh (Esistentialism), Siêu Hình Học (Metal Physic), v.v… khiến tôi có cảm tưởng như lạc vào mê hồn trận, tẩu hỏa nhập ma, nhưng đồng thời, tôi nhận thấy mình như bị lôi cuốn vào một chân trời mới, một đam mê học hỏi, tìm tòi, khám phá, những điều mới lạ. Tôi ghi chép luôn tay, cố gắng nhồi vào bộ óc “già nua nửa vời” những gì Anh Việt Hải quyết tâm chuyển tải vào “bộ nhớ” của tôi. Có những lúc tôi như rối trí (overwhelmed), mệt mỏi và muốn bỏ cuộc… nhưng nghĩ đến công lao của Anh Việt Hải, tôi lại cố gắng.

    Bài tập đầu tiên Anh Việt Hải giao cho tôi là phân tích về thi ca của Việt Nam. Tôi sốt sáng thi hành ngay. Trước tiên, tôi chọn các nhà thơ mà tôi yêu thích từ thuở “tuổi hoa tím” (theo GS Quyên Di)  như Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyễn Chí Thiềng, Tản Đà, Phùng Quán, Nguyễn Bính, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, v.v… Học thuộc lòng, xong tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích và tập bình luận các bài thơ và các tác giả ấy… Thế rồi, bài bình luận và phân tích chưa đi đến đâu, thì anh Việt Hải đã vội vã “bẻ lái” qua phần Văn chương, khuyến khích tôi theo lãnh vực biên khảo thay vì viết tiểu thuyết tình cảm xã hội. Tôi bắt đầu nghiên cứu về những tác phẩm Nobel như: Những Kẻ Khốn Cùng (Les Misérables) của Victor Hugo; Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Chết (Zeit Zu Leben und Zeit Sterben) của Erich Maria Remarque; Tuổi Trẻ Băn Khoăn (Demian) và Câu Chuyện Dòng Sông (Siddhartha) của Hermann Hesse; Trà Hoa Nữ (La Dame aux Camélias) của Alexandre Dumas, Jr.; Khung Cửa Hẹp (La Porte E1troite) của André Gide; Đi Tìm Thời Gian Đã Mất (À la Recherche du Temps Perdu) của Marcel Proust; v.v…Và cứ thế, tôi say mê như lạc vào một thế giới đầy thú vị và khuyến rũ, tôi dần dần như quên hằn miềm đam mê ca vũ… và cuộc đời tôi bắt đầu chuyển qua một hướng đi mới…

    Tháng 09 ngày 19, 2020 là ngày RMS của tôi với 4 tác phẩm: Tác phẩm thứ nhất, mang tên “Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại”. Tác phẩm thứ hai là Truyện dài Dĩ Vãng Khôn Nguôi, Tác phẩm thứ ba với 10 truyện ngắn “Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh“ vàTác phẩm thứ tư là Tuyển tập trinh thám “Thám Tử Lê Minh”. Sự thành công trong ngày RMS của tôi, cả hai anh em chúng tôi đều vui mừng. Anh Việt Hải mừng vì tôi đã không bỏ cuộc. Còn tôi, vui vì tôi đã không phụ lòng Anh và không phí công của Anh đã dày công luyện tập cho tôi trong hai năm qua.

    Sau khi hoàn tất 4 tác phẩm, Anh Việt Hải đề nghị tôi chuyển hướng sang phần nghiên cứu về Tâm Lý Học và Tôn Giáo và một năm sau, tôi hoàn tất 2 tác phẩm: Phân Tâm Học và Đời Sống cũng như Tam Giáo Đồng Nguyên.  Quyển Phân Tâm Học và Đời Sống tương đối không xa lạ cho tôi, bởi đó là lãnh vực chuyên môn của tôi. Nhưng khi nghiên cứu về Tam Giáo Đồng Nguyên thì hẳn là vô cùng nhiêu khê và hoàn toàn mới lạ đối với tôi. Tôi như lạc vào một khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ mà không biết bắt đầu từ đâu. Nhất là với một người theo đạo Thiên Chúa giáo như tôi thì các nguyên lý và giáo điều của Nho, Lão và Phật giáo tôi chưa thấu hiểu tường tận. Nhưng quả thật, khi bắt đầu nghiên cứu về Tam Giáo, tôi say mê cũng như học được nhiều điều mới lạ và thu hút tâm trí tôi một cách lạ lùng. Đầu mùa Thu 2021, tôi hoàn tất hai tác phẩm Phân Tâm Học & Đời Sống và Tam Giáo Đồng Nguyên. Hai tác phẩm này RMS vào đầu Xuân 2023 ngày 25 tháng 06 cùng với tác phẩm Tự Lực Văn Đoàn, Hậu Duệ và Thân Hữu, Tập 2.

    Phần văn học tạm xong, Anh Việt Hải lại quay tôi như “chong chóng”. Năm 2022, khi nhóm chúng tôi mở một lớp học online về hòa âm và sáng tác, anh Việt Hải lại ưu ái ghi tên tôi vào lớp học, dưới sự chỉ dẫn của GS NS Minh Trí. Thế là tôi tập tểnh làm thơ, viết nhạc. Nay lớp học đã mãn khóa mà tôi vẫn còn mò mẫm như thể “mò kim dưới đáy biển”… chẳng biết đến bao giờ mới trở thành “Nhạc Sĩ”? (Chắc hẳn là còn lâu…lâu…lắm)

                Một dự định cuối để đền đáp công ơn của “Thày Việt Hải” tôi đang cố gắng hoàn tất tập thơ “BÓNG THỜI GIAN” với những bài thơ “con cóc” mà tôi ấp ủ đã lâu và hai tác phẩm nghiên cứu về Siêu Hình Học & Triết Học Hiện Sinh.  Chấm dứt một “HÀNH TRÌNH VĂN HỌC, THI CA” của tôi.

    Khánh Lan, California, Sept. 02, 2023

            

  • Văn Thơ,  Vương Trùng Dương

    Lara, Người Tình Muôn Thuở Với “Somewhere, My Love”

    Trước đây tôi viết về tác phẩm Bác Sĩ Zhivago (tiếng Anh: Doctor Zhivago, tiếng Pháp: Docteur Jivago) được giải Nobel Văn Chương năm 1958 nhưng nhà văn Boris Pasternak (1890-1960) đang sống trong chế độ CS Liên Xô nên không được sang Thụy Điển nhận giải và còn bị Hội Các Nhà Văn Xô Viết (The Soviet Writers Union) kết tội là kẻ phản động, loại ra khỏi tổ chức!. (Sau khi Michail Gorbachev chủ trương chính sách “cởi mở” và “cải cách”, tháng 12 năm 1989, con trai của Boris Pasternak là nhà văn Evguenii đã được mời sang Thuỵ Điển nhận giải thưởng thay ông, với những nghi thức long trọng như lễ trao giải chính thức).

    Boris Pasternak là nhà thơ, nhà văn đã ấn hành nhiều thi phẩm và truyện ngắn, tự truyện… Doctor. Zhivago là tác phẩm đầu tay đưa tên tuổi ông trên đài danh vọng, là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất trên thế giới. Đây là tiểu thuyết lịch sử và xã hội nhưng chính cuộc tình lãng mạn, say đắm, ngang trái và bi thương là phấn cốt lõi trở thành tác phẩm nổi danh.

    Nhà thơ, nhà văn Boris Pasternak tuy đã có vợ và người tình nhưng khi gặp Olga Ivinskaya với cuộc tình thơ mộng và bi thương nên Olga trở thành nhân vật trong Dr, Zhivago. Tác giả dựa vào bản thân và cuộc tình trong cuộc sống để sáng tác nhân vật hư cấu nhưng rất sống động, tưởng như thật trong bối cảnh thời đó dưới chế độ CS Liên Xô. Và, Pasternak khởi đầu viết Dr. Zhivago vào năm 1948. Linh cảm của nhà văn khi sáng tác có những điểm tương đồng xảy ra trong tác phẩm.

    Olga Ivinskaya, người gốc Đức, Ba Lan, sinh năm 1912 ở Tambov. Năm 1915, gia đình chuyển đến Moscow. Sau khi tốt nghiệp Học Viện Công Nhân Biên Tập tại Moscow năm 1936, cô làm biên tập viên tại nhiều tạp chí văn học. Cô là một người ngưỡng mộ Pasternak từ khi còn ở tuổi thiếu niên, tham dự các buổi họp mặt văn học để nghe thơ của ông. Olga kết hôn hai lần: lần đầu tiên với Ivan Emelianov vào năm 1936, người đã treo cổ tự tử vào năm 1939, có được con gái là Irina Emelianova; lần thứ hai vào năm 1941, Alexander Vinogradov (sau này bị giết trong chiến tranh ), sinh ra một người con trai là Dmitry Vinogradov.

    Olga gặp Vladimir Pasternak vào tháng 10 năm 1946, trong tòa soạn của Novy Mir, nơi cô phụ trách trong công việc giới thiệu tác giả mới. Lúc đó Pasternak 56 tuổi và Olga 36 tuổi. OLga tích thi ca nên hợp tác với Pasternak trong việc dịch thơ từ tiếng Anh sang tiếng Nga như thơ của Rabindranath Tagore.

    Vào tháng 10 năm 1949, Olga bị bắt là “đồng phạm của điệp viên” và vào tháng 7 năm 1950 bị Hội Đồng Đặc Biệt của NKVD kết án 5 năm tại Gulag (nhà văn Solzhenitsyn với tác phẩm Gulag – Quần Đảo Ngục Tù). Vào thời điểm bị bắt giữ, Olga đang mang thai bởi Pasternak và bị sảy thai! Cô được thả ra vào năm 1953 sau cái chết của Stalin.

    Khôi  hài và trớ trêu, tác phẩm Dr. Zhivago của Pasternak bị coi như “tác phẩm phản động” nhưng khi được giải Nobel Văn Chương 1958 cả thế giới biết đến nên CS Liên Xô không kết án tù tác giả mà quy tội cho người tình của ông!

    Sau cái chết của Pasternak năm 1960, Olga Ivinskaya bị bắt lần thứ hai, cùng với con gái của cô, Irina Emelianova. Cô bị buộc tội là mối liên kết của Pasternak với các nhà xuất bản phương Tây. Năm 1962 Emelianova được thả đến năm 1964 Olga được ra khỏi nhà tù. Cô đã thụ án bốn năm trong bản án tám năm.

    Năm 1978, hồi ký của Olga viết lại thời gian lao tù được xuất bản tại Paris bằng tiếng Nga và được dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề A Captive of Time. Irina Emelianova di cư sang Pháp năm 1985 xuất bản một cuốn hồi ký nầy kỷ niệm về mối tình của mẹ cô với Pasternak.

    Thư từ của Pasternak gửi cho Olga, các bản thảo và tài liệu khác đã bị KGB thu giữ trong lần bắt giữ cuối cùng. OLga đã phản kháng nhiều năm trong vụ kiện nhưng kết quả với phán quyết chống lại lý do “không có bằng chứng về quyền sở hữu” và “giấy tờ nên được lưu giữ trong kho lưu trữ của nhà nước”. Olga mất năm 1995 vì bệnh ung thư. Hưởng thọ 83 tuổi.

    Boris Pasternak hoàn thành tác phẩm Dr. Zhivago năm 1956, tác giả gởi bản thảo cho tờ tạp chí của Liên Xô, nhưng ban biên tập đã từ chối đăng cuốn tiểu thuyết của ông, viện lý do nó “mô tả một cách lệch lạc Cách Mạng Tháng Mười Nga và xuyên tạc những nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Liên Xô”.

    Pasternak gởi chui tác phẩm vào cuối năm 1956, nhà xuất bản Feltrinelli của Ý xuất bản vào năm 1957 bằng nguyên tác tiếng Nga. Năm 1958 được dịch sang tiếng Ý, tiếng Anh (dịch giả Max Hayward và Manya Harari) và trong năm đó được dịch sang 18 ngôn ngữ, dần dà trở thành tác phẩm được phổ biến nhiều ngôn ngữ nhất trên thế giới. Thật đáng tiếc, Boris Pasternak không thấy được hào quang trên thế giới, qua đời vào tuổi 70 vì ung thư phổi. Cho đến 17 năm sau, tác phẩm Dr. Zhivago được xuất bản tại nước Nga vào năm 1987. Tác phẩm nầy dày gần gần tám trăm trang, gồm 16 chương. Tác giả dựa vào bản thân và cuộc tình để xây dựng hai nhân vật chính là Dr. Zhivago và Lara.

    Yuri Zhivago học y khoa, tốt nghiệp bác sĩ, có máu văn nghệ, làm thơ, viết văn và  đã có gia đình. Lara cũng vậy đã lập gia đình. Thế nhưng, chàng và nàng khi gặp nhau cả hai với “tiếng sét ái tình”.

    Lara khi mới 17 tuổi gặp gã quý tộc Komarovsky thô lỗ, cộc cằn, dựa vào thế lực đã hãm hiếp Lara. Trong cơn tủi nhục, Lara phẫn nộ, lấy súng bắn Komarovsky trong buổi tiệc Giáng Sinh nhưng không may lại bắn trúng một người khác. Sau đó, cô kết hôn với Pasha và có một cô con gái.

    Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) nổ ra, Zhivago tòng quân với tư cách bác sĩ quân y. Chồng của Lara cũng nhập ngũ và bị mất tích. Lara tình nguyện làm y tá với hy vọng tìm kiếm tông tích chồng. Zhivago gặp Lara lần đầu tiên khi vào thăm vợ tại trạm quân y nơi Lara làm việc. Mối tình lãng mạn ngang trái đã âm thầm nẩy nở nhưng cả hai đều đã tự ngăn cản trái tim mình. Tuy nhiên hình bóng người tình đã in sâu vào tâm khảm.

    Chiến tranh bùng nổ khắp nơi, Zhivago và Lara được bổ nhiệm công tác chung tại nhà thương ở tỉnh nhỏ xa xôi. Chàng bị cuốn hút bởi hình ảnh dễ thương, quyến rũ nên cảm tình cho Lara. Và rồi họ đã yêu nhau tha thiết. Nhưng khi kết thúc nhiệm vụ, họ chia tay và trở về với con đường riêng của mình.

    Sau cuộc chiến, Zhivago trở về chức vị bác sĩ cũ tại nhà thương ở Mosocw (Mạc Tư Khoa). Tâm hồn lãng mạn của chàng thường bị đồng nghiệp bài bác và đả kích thiếu tinh thần cách mạng. Giữa cuộc xung đột chống chủ nghĩa Marx nổ ra, Zhivago cùng gia đình dời về Urals, vùng đất mới yên bình, tránh chiến tranh.

    Trên xe lửa của chuyến đi, Zhivago nhận thức được nỗi khổ của nông dân và tù binh, những nạn nhân của cuộc cách mạng. Vốn là người yêu chuộng tự do và nhân quyền nên chàng bất mãn với những hành động hay chính kiến quá cứng rắn và thiếu tình người của những người theo cách mạng.

    Tại Urals, Zhivago cùng gia đình khai đất làm ruộng và làm thơ. Nơi thư viện làng, gặp lại Lara và hai người bước vào thế giới yêu đương vụng trộm. Đó cũng là lúc Lara biết tin chồng còn sống và hiện là một tay Trùm Đỏ khét tiếng với tên mới Strelnikov.

    Tại đây, Zhivago và nàng Lara vô tình gặp lại nhau sau bao xa cách và ngọn lửa tình yêu trong tim họ lại một lần nữa bùng cháy bất chấp mọi ràng buộc và mặc cảm tội lỗi. Nhưng rồi, cuộc tình của họ cũng lại thêm một lần bị chia cắt bởi chiến tranh…

    Trong bối cảnh hỗn loạn của chiến tranh, mỗi cuộc chia ly là một sự biến mất. Trong thời điểm nhiễu nhương đó, không biết ngày mai sẽ ra sao, phó mặc cho số phận! Thế nhưng, Zhivago và Lara vượt lên mọi ngang trái, ràng buộc và bất an, họ lại đến với nhau, vẫn yêu nhau, cho nhau tình yêu chân thành nhất, say đắm nhất dù là trong tận cùng tuyệt vọng!

    Zhivago muốn trở về với vợ để thú nhận tội ngoại tình nhưng không may bị một nhóm quân cách mạng bắt cóc và phải phục vụ như bác sĩ của nhóm này. Sau vài năm, Zhivago trốn thoát và trở lại với Lara. Để tránh không bị điểm chỉ, cặp tình nhân lặng lẽ bỏ trốn sang một nông trại khi xưa gia đình Zhivago từng canh tác.

    Zhivago bày tỏ tâm sự của chàng về những thăng trầm của đời sống, những lo sợ và lòng can đảm trong chiến tranh và hơn hết là tình yêu dành cho Lara. Trong khi đó Zhivago có tin vợ là Tonya và con gái bị trục xuất khỏi Liên Xô.

    Hoàn cảnh thật trớ trêu, Zhivago gặp Pasha. Sau một đêm trò chuyện, cuối cùng hai người đàn ông cùng yêu một người đàn bà đã thân thiện bên nhau dưới một mái nhà. Người này kính trọng người kia và cùng biết mình được yêu. Tuy Pasha trở thành tên Trùm Đỏ Strelnikov nhưng bị thất sủng và quân cách mạng truy đuổi, cảm thấy bất lực trước mối tình của Lara và Zhivago. Sáng ra Pasha tự sát. Pasha tin rằng đó là con đường giải thoát để mẹ con Lara hạnh phúc. Pasha chết trong cô đơn trên bãi tuyết mênh mông. Điều mà Pasha cần là tình yêu nhưng trái tim đó đã dành trọn vẹn cho Zhivago.

    Thế rồi sau đó, Komarovsky xuất hiện. Hắn cho biết quân cách mạng đang truy lùng Pasternak và Lara và sẽ giết cả hai nếu bắt được. Hắn hứa giúp đưa Zhivago và Lara trốn ra nước ngoài.

    Trước sự hăm dọa đó, Zhivago đắn đo và vì vấn đề an toàn cho Lara, chàng quyết định để Lara ra đi một mình. Chàng ở lại Liên Xô trong nỗi đau nên say sưa uống rượu giải sầu! Sức mạnh của tình yêu mãnh liệt và cao đẹp vô cùng, dám hy sinh bản thân để người tình được bình yên. (Trong tác phẩm kiếm hiệp của nhà văn Kim Dung có những mối tình mà nhân vật nữ, nam bất chấp nguy hiểm dám hy sinh mạng sống để bảo toàn sự an nguy của người tình. Tôi có viết Những Mối Tinh Ngang Trái Trong Tác Phẩm Kim Dung).

    Zhivago trở lại Mạc Tư Khoa và sống cùng một phụ nữ tên Marina và kiếm sống bằng cách viết sách. Chàng xin vào làm tại bệnh viện và rồi trên đường đi làm, chàng bị đột quỵ. Lara tình cờ đi tới nhà xác và… xác Zhivago vẫn còn nằm đó. Sau vài ngày, người ta không còn thấy Lara. Có người cho rằng nàng đã bị bắt vào trại tập trung cải tạo. Sau đó, Lara chết trong cô đơn, không có người đàn ông nào của nàng bên cạnh. Không ai ân hận, không ai trách cứ gì nhau! Mối tình mang xuống tuyền đài!

    Phim & Nhạc

    Năm 1965 tác phẩm Doctor Zhivago được đạo diễn David Lean dựng thành phim của Anh. Ca khúc chính của phim là Lara’s Theme hay Somewhere, My Love của Maurice Jarre. Tài tử Omar Sharif (Dr. Zhivago), minh tinh Julie Christie (Lara). Phim giành được năm giải Oscar, trong đó có nhạc phim. Đây là một trong những cuốn phim nổi tiếng nhất thế giới, trải qua nhiều thập niên vẫn được yêu thích. Lúc đầu dự tính minh tinh Audrey Hepburn đang nổi tiếng trong ngành điện ảnh nhưng sau cùng đạo diễn thay nhân vật. Năm 1967, nhạc phim với tên Lara’s Theme hay Somewhere, My Love đoạt giải “Grammy Award for Best Performance by a Chorus. Nhạc sĩ Maurice Jarre (1924-2009) nổi danh là soạn nhạc với 3 lần nhận được Oscar cho nhạc phim Lawrence of Arabia (1962), Doctor Zhivago (1965), A Passage to India (1984).

    Boris Pasternak đam mê về âm nhạc, theo học bộ môn sáng tác nhạc trong 6 năm, nhưng khi bước chân vào đại học Moscow, ông chọn ngành triết học, vì vậy trong các tác phẩm của ông có cái nhìn sâu sắc về tâm lý và nhân sinh quan.

    Tác phẩm Dr. Zhivago đã được Trường Văn và Song Tích phỏng dịch năm 1959, Bác Sĩ Zhivago, Bản dịch Bác Sĩ Zhivago, Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa xuất bản, 1969. Nguyễn Hữu Hiệu (dịch giả trẻ thời đó đã dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng) với tựa ban đầu là Doctor Zhivago, sau đó với tựa đề với tựa đề Vĩnh Biệt Tình Em Đầu, NXB Hoàng Hạc năm 1975. Tác phẩm nầy đã edit lại còn 670 trang, được đánh gía là một trong những tác phẩm dịch thuật văn chương hay nhất.

    Độc giả ở Miền Nam VN đã biết qua tác phẩm và nhiều bài viết trên báo khi nhận tin Nobel Văn Chương năm 1958 vì vậy khi cuốn phim nầy được trình chiếu, trở thành hiện tượng, khán giả đợi chờ, sắp hàng mua vé.

    Năm 1972, phim Doctor Zhivago với tựa đề Việt ngữ Vĩnh Biệt Tình Em được chiếu tại rạp Rex ở Sài Gòn, sau đó được chiếu nhiều thành phố ở miền Nam Việt Nam, trở thành hiện tượng phim tình cảm hay nhất. Chỉ nghe Tình Khúc Lara (Lara’s Theme) trong phim Dr. Zhivago khán giả đã say đắm.

    Thời đó, mỗi cuốn phim được trình chiếu có tờ chương trình (program), cuốn phim nầy có ghi thêm quý bà, quý cô mang khăn theo để thấm nước mắt. Thời đó vào hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt nên mối tình nam nữ giữa người trai thời chiến với người tình hậu phương thường xảy ra “sinh ly tử biệt” nên cuốn phim nầy với bi kịch đau thương

    Nhạc phẩm Somewhere, My Love (moderately) trong phim không có lời, sau đó ban nhạc Ray Conniff trình bày với lời ca, trở thành ca khúc, không có chữ nào nhắc đến tên Lara, ca khúc tiếng Pháp là La Chanson de Lara. Phạm Duy dịch bài hát sang lời Việt dưới tên Hỡi Người Tình Lara (3/4, valse) sau khi cuốn phim được chiếu ở miền Nam VN. Lời đầu ca khúc “Người tình thương nhớ hãy lắng nghe lời mặn mà” và câu kết “Người em yêu hỡi nhớ thương đi đi chớ phai”. Trong lời Pháp, lời ca khúc La Chanson de Lara của Maurice Jarre, tên Lara được nhắc đến nhiều hơn nguyên bản tiếng Anh (chỉ gọi một lần) như: “Un jour Lara, quand le vent a tourné. Un jour Lara, ton amour t’a quitté. Tes yeux Lara revoient toujours ce train…  Un jour Lara, quand tournera le vent. Un jour Lara, ce sera comme avant”. Nhạc sĩ Xuân Vinh(làm tại Cục Tâm Lý Chiến, đài phát thanh quân đội) chuyển thành ca khúc Người Yêu Tôi Đâu. Sau đó, có thêm lời Việt của nhạc sĩ Trường Hải với tựa Người Yêu Tôi Đâu theo nguyên tác Somewhere, My Love “Người tôi yêu dấu. Nỡ để hồn tôi quạnh hiu…” và phần ĐK: “Bốn mắt nhìn nhau nào ai đâu nói gì. Em ngày xưa nét thời gian chẳng mờ. Dẫu gặp lại lòng vương thoáng bâng khuâng. Sao bờ tim niềm thổn thức xa vời” cũng được nhiều người ái mộ. Như vậy nghe La Chanson de Lara của Maurice Jarre với tiếng hát của John William cảm thấy tha thiết với bóng dáng người tình. Vì vậy, với các nhạc phẩm ngoại quốc với lời Việt (khác với thơ, dịch nguyên câu) chỉ dựa vào nội dung để viết lời ca tùy theo cảm xúc hợp với giai điệu thường hay hơn.

    Có nhiều đêm tôi chỉ nghe duy nhất một nhạc phẩm từ độc tấu dương cầm, vỹ cầm, tây ban cầm… tiếng kèn đến ban nhạc. Với ca khúc, ca sĩ nam, nữ để cảm nhận tiếng hát nào phù hợp với giai điệu. Có lẽ vì vậy tôi quen với sự tĩnh lặng vì trong không gian đó mới thực sự thả hồn trong thế giới âm thanh. Chẳng hạn ca khúc My Heart Will Go On của nhạc sĩ James Horner, lời Will Jennings, với tiếng hát Celine Dion trong phim Titanic thì không thích nghe tiếng hát nào nữa.

    Hiện Tượng Lara

    Tuy Lara không còn thơ ngây, trinh trắng nhưng vẻ đẹp trong tâm hồn, tình yêu nồng nàn, say đắm, bất chấp ngang trái, bất chấp sự đe dọa, kết tội của chế độ CS Liên Xô hà khắc, nàng dấn thân trong cuộc tình với tất cả trái tim và tâm hồn.

    Ca sĩ Quỳnh Giao ghi nhận “Ngày xưa, ở tại Sài Gòn, Lara đã mở ra cho chúng ta những khung trời thơ mộng và bi thương của một thế giới khác, trong một hoàn cảnh rất chung của tình yêu trong chiến tranh và hận thù. Những gì xảy ra sau đó tại Việt Nam còn vượt qua mọi sự bi thảm của tác giả Boris Pasternak và nhiều nàng Lara thật ở ngoài đời, ở trong thế giới của chúng ta, đã khiến mình có thể quên được người nghệ sĩ Julie Christie…”.

    Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng viết về Nhân Vật Lara của Boris Pasternak: “Lara – ngoài đời, người đã cho Pasternak hình tượng nhân vật Lara, tên thật là Olga Ivinskaya và đã qua đời vào ngày 8 tháng 9, 1995 tại Mạc Tư Khoa.

    Trong một lá thư gửi R. Schweizer đề ngày 7 tháng Năm, 1958, Pasternak đã viết về Olga Ivinskaya như sau: “Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tôi đã gặp một phụ nữ trẻ, tên là Olga Ivinskaya… Nàng chính là Lara trong cuốn tiểu thuyết mà tôi bắt đầu viết chính vào thời kỳ đó… Nàng là hiện thân của niềm yêu đời và đức hy sinh… Nàng biết rõ đời sống tinh thần của tôi và mọi công việc văn chương của tôi.”

    Khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Anh, nhà văn Pasternak nói: “Nàng là người bạn lớn, rất lớn của tôi. Nàng đã giúp tôi trong thời gian tôi viết sách, trong cuộc đời tôi… Nàng đã bị tù 5 năm vì kết thân với tôi. Thời trẻ của tôi không có một nàng Lara độc nhất… Nàng Lara của tôi thời trẻ ấy là vốn sống chung. Còn nàng Lara của tôi thời về già thì đã được ghi khắc vào trái tim tôi bằng máu của nàng và bằng cảnh tù đày của nàng”…

    Pasternak kể lại buổi hẹn đầu tiên, ông gọi điện thoại đến toà soạn Novy Mir, nói với Olga: “Tôi muốn cô gọi tôi là ‘anh’, bởi vì gọi là ‘đồng chí’ nghe giả dối lắm”.

    Olga nhắc lại mối tình của bà và Pasternak: “… Cuốn tiểu thuyết ấy đã bắt đầu quyết định cả số phận của hai chúng tôi. Nó như một thứ bùa mê. Nó đem đến niềm hạnh phúc điên cuồng cùng nỗi đau khổ ghê gớm. Càng gần đến cái chết của nhân vật, đến dấu chấm cuối cùng, thì đoạn kết của cuộc đời chúng tôi càng gần lại.”

    … Olga Ivinskaia đã ra đi, nhưng nàng Lara vẫn còn ở lại mãi mãi với người đọc chúng ta. Hãy tưởng tượng “cánh tay phải” của ông đang lau cho ông những giọt nước mắt. Hãy tưởng tượng Pasternak là một người hạnh phúc…”. (NXH)

    Hình ảnh Lara được Anna Pasternak, cháu gái của nhà văn viết thành tác phẩm cũng như Dr. Zhivago trở thành chứng nhân của thời đại.

    Nếu (lỡ dại) vướng cái nghiệp đa cảm, lãng mạn thì hà cớ gì với “đoạn đường chiến binh”… nghịch cảnh, trớ trêu, cay đắng, chông gai!

    Với tôi, Lara trong tác phẩm, trong phim… hay ẩn hiện đâu đó, luôn luôn là hình ảnh đáng yêu, đáng quý của người tình muôn thuở.

    Trong bài thơ Autumn của Boris Pasternak ở đoạn cuối với hai câu thơ:

    “You are the blessing on my baneful way,

    When life has depths worse than disease can reach”

    (Em hạnh phúc trên đường anh khổ lụy

    Khi cuộc đời tồi hơn cả thương đau – Thân Trọng Sơn)

    Với kẻ tình si thì có khi nếm cái thú đau thương như bài thơ Thú Đau Thương của Lưu Trọng Lư với hai câu cuối “Giờ đây ta đốt nén hương. Trên tay ta buộc dải tang cho tình” khi Vĩnh Biệt Tình Em.

    Nhà văn Anh Oscar Wilde (người Ireland, 1854-1900) đa tình, đa cảm nên câu nói của ông: “Trái tim được tạo ra để tan vỡ” (The heart was made to be broken). Thật chí lý, với người thà có trái tim để chấp nhận tan vỡ còn hơn không có trái tim. Với tôi, từng sống chết với trái tim, còn bạn?.

    Vương Trùng Dương, Viết lại, Little Saigon, 9/2023

  • Âm nhạc,  Sinh Hoạt,  Vương Trùng Dương

    Từ Ca Khúc Million Scarlet Roses, Thơ & Nhạc Việt Nam Vương Trùng Dương

    “The rose speaks of love silently, in a language known only to the heart”

    Vào giữa thập niên 1980s, phổ biến trong nước Triệu Đóa Hoa Hồng, tuy là bản nhạc trữ tình với mối tình dang dở nhưng lời Việt, nhạc Liên Xô nên tôi bị “dị ứng” nên chẳng để ý, dù sau nầy với ca sĩ hải ngoại… Trong thời gian xảy ra dịch Covid-19 ở Mỹ, không được đi đâu, ở nhà viết lách, đọc sách và nghe nhạc, tình cờ nghe ca khúc Million Scarlet Roses, tìm hiểu thêm mới biết đây là nhạc phẩm nổi tiếng, được phổ biến khắp nơi. Và, thật không ngờ, ca khúc nầy được mọi người ái mộ nhiều như vây. Tình cờ, qua mẩu chuyện được biết, trong một lần được nghe ca khúc nầy… gợi ý tôi viết về loài hoa và bóng dáng vẫn còn lởn vởn trong đêm hè. Với tôi là người ghi chép cùng sự đồng cảm với nhau vì đôi khi nguồn cảm hứng chợt đến rồi đi trong khoảnh khắc nên viết để lưu niệm, mong rằng khỏi mai một theo thời gian trong cõi vô thường nầy. Và, nhân ca khúc Million Scarlet Roses từ thơ phổ nhạc, viết về thơ phổ nhạc trong nhiều thập niên qua.

    Giữa thi ca và âm nhạc có mối lương duyên với nhau, sự tương đồng trong ngôn từ và âm điệu, thơ Việt Nam được phổ nhạc rất nhiều, có lẽ ngôn ngữ đơn âm dễ phù hợp với nốt nhạc. Có ca khúc phổ thơ cùng tựa đề, có ca khúc khác tựa và ca khúc dựa vào ý thơ… Nhiều bài thơ nhờ phổ thành nhạc nên được phổ biến rộng rãi và sống mãi với thời gian. Với ca khúc đến với mọi người bất cứ lúc nào, trong mọi hoàn cảnh, lúc buồn khi vui và tùy theo tâm trạng thích nghi với nội dung của nó.

    Kể từ khi dòng nhạc Tây phương ảnh hưởng đến buổi bình minh của âm nhạc Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp sáng tác bài thơ Chùa Hương (Cô Gái Chùa Hương) năm 1934, nhạc sĩ Hoàng Quý phổ thành ca khúc Chùa Hương năm 1943, là một trong những ca khúc đầu tiên được phổ nhạc của nền tân nhạc. Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã phổ nhạc Đi Chơi Chùa Hương năm 1946… nửa thế kỷ sau Trung Đức phổ thành ca khúc Em Đi Chùa Hương.

    Viết về thơ phổ nhạc, bài viết của tôi giữa thập niên 1990s đã phổ biến trên website Quán Gió ở Úc và Xứ Quảng của La Lương ở Mỹ… Trong phạm vi bài nầy chỉ đơn cử số nhạc phẩm tiêu biểu vì nều đề cập đến phải viết thành sách cả trăm trang. Nhạc sĩ Phạm Duy nổi tiếng về thơ phổ nhạc, điển hình như: Thuyền Viễn Xứ (bài thơ của Huyền Chi (cô gái tên Ngọc Bút mới 18 tuổi) sáng tác năm 1952, nhạc phẩm nầy ấn hành năm 1954. Hai bài thơ của Minh Đức Hoài Trinh với Kiếp Nào Có Yêu Nhau, Đừng Bỏ Em Một Mình, Phạm Duy phổ thành hai ca khúc nổi tiếng nhất. Ngoài ra còn có bài thơ Còn Chi Nữa của Lưu Trọng Lư, ca khúc Hoa Rụng Ven Sông, Chiều của Xuân Diệu với nhạc phẩm Mộ Khúc (bài thơ Chiều của Hồ Dzếnh, với ca khúc cùng tên của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước)… Các bài thơ phổ thành ca khúc cùng tên như: Bài thơ Ngậm Ngùi của Huy Cận, bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, bài thơ Tiếng Sáo Thiên Thai của Thế Lữ năm 1941, phổ nhạc năm 1952, bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm, bài thơ Nếu Anh Còn Trẻ của Hoàng Cầm, bài thơ Kỷ Vật Cho Em của Linh Phương, bài thơ Cô Hái Mơ của Nguyễn Bính… Hai bài thơ của Cung Trầm Tưởng, Mùa Thu Paris phổ nhạc cùng tên và bài Chưa Bao Giờ Buồn Thế, phổ nhạc thành Tiễn Em… Bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan được phổ thành những ca khúc Những Đồi Hoa Sim của Dzũng Chinh, sau đó là các nhạc sĩ Song Ngọc, Duy Khánh, Anh Bằng… Chᴜyện Nɡười Cᴏn Gái Hái Sim của Hồng Vân và Phạm Duy với ca khúc Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà. Các bài thơ của Vũ Hữu Định, Phạm Thiên Thư, Phạm Văn Bình… được phổ thành ca khúc quen thuộc.

    Nhạc sĩ Phạm Đình Chương nổi tiếng với những bài thơ phổ nhạc như Đôi Mắt Người Sơn Tây (bài thơ Đôi Bờ và Mắt Người Sơn Tây của Quang Dũng), bài thơ Tình Tự Dưới Hoa của Đinh Hùng với ca khúc Mộng Dưới Hoa, Người Đi Qua Đời Tôi (bài thơ Thơ Cũ Của Nàng của Trần Dạ Từ)… Các bài thơ của Thanh Tâm Tuyền được phổ thành ca khúc Nửa Hồn Thương Đau, Bài Ngợi Ca Tình Yêu, Dạ Tâm Khúc, Đêm Màu Hồng (ca khúc nầy thường mở đầu ở phòng trà Đêm Màu Hồng…Những bài thơ của Thanh Tâm Tuyền sáng tác khi ở trong lao tù được Cung Tiến phổ thành thơ trong tuyển tập Vang Vang Trời Vào Xuân. Nhạc sĩ Cung Tiến đã phổ thơ các ca khúc như Hoàng Hạc Lâu (Vũ Hoàng Chương dịch thơ Thôi Hiệu), Vết Chim Bay (thơ Phạm Thiên Thư), Đi Núi (thơ Xuân Diệu), Thuở Làm Thơ Yêu Em (thơ Trần Dạ Từ), Lệ Đá Xanh (ý thơ Thanh Tâm Tuyền), Nguyệt Cầm (ý thơ Xuân Điệu)…

    Nhạc sĩ Hoàng Trọng, ông hoàng của Tango, hai bài thơ của Vĩnh Phúc được phổ nhạc như Cánh Hoa Yêu, Tìm Một Ánh Sao, ca khúc tuyệt vời nhất Ngàn Thu Áo Tím, lời của Vĩnh Phúc.

    Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã phổ nhạc cũng rất nổi tiếng như: bài thơ Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân của Kim Tuấn qua ca khúc Anh Cho Em Mùa Xuân. Các nhạc phẩm Hoa Bướm Ngày Xưa, Mái Tóc Dạ Hương, Thu May Áo Cưới (thơ Đinh Hùng), Tiếng Hát Ru Tôi (thơ Du Tử Lê), Người Em Nhỏ (thơ Thiệu Giang), Lá Thư Gửi Mẹ (thơ Thái Thủy)… Ca khúc Lá Thư Gửi Mẹ, là một trong những bài hát nỗi tiếng nhất và cũng là tâm trạng, nỗi niềm của chúng tôi khi xa hình bóng thiêng liêng nhất của cuộc đời. Tôi có cơ hội cùng sinh hoạt với nhạc sĩ Nguyễn Hiền ở Trung Tâm Văn Bút và mỗi sáng cùng uống café với nhau, ông là bộ từ điển sống về âm nhạc Việt Nam từ thời ở Hà Nội.Nhạᴄ sĩ Anh Bằnɡ với số lượng sáng tác nhiều nhất từ trong nước, ở hải ngoại trên sáu trăm bài hát, trong đó đã phổ thơ thành ca khúc như: Cô Lái Đò của Nguyễn Đình Phúc (thơ Nguyễn Bính), Anh Biết Em Đi Chẳnɡ Tɾở Về (thơ Thái Can), Khúᴄ Thᴜỵ Du (thơ Du Tử Lê), Bướm Trắng (thơ Nguyễn Bính), Mai Tôi Đi (thơ Nguyên Sa, nhạc Tiễn Biệt, Song Ngọc phổ nhạc là Tiễn Đưa), Anh Cứ Hẹn, Anh Còn Nợ Em (thơ Phạm Thành Tài), Anh Cứ Hẹn (thơ Hồ Dzếnh), Cánh Phượng Hồng Thuở Xưa (thơ Trịnh Bửu Hoài), Cahi3 Tóc (thơ Hư Vô), Có Bao giờ Em Nhớ Ta (thơ Quang Dũng), Em Về (thơ Mùi Quý Bồng), Gọi Anh Mùa Xuân (thơ Trần Mộng Tú), Huế Nhớ O (thơ Giáng Thơ), Kỳ Diệu (thơ Nguyên Sa), Nếu Vắng Anh (Cần Thiết, thơ Nguyên Sa), Sợi Tóc (thơ Sương Mai), Tiếc Thương (thơ Cao Tần)…

    Những tình khúc về hoa phổ thơ: Hoa Mẫu Đơn (thơ Hồ Dzếnh), Tɾúᴄ Đàᴏ (thơ Nguyễn Tất Nhiên), Hᴏa Họᴄ Tɾò (thơ Nhất Tuấn), Chᴜyện Giàn Thiên Lý (bài thơ Nhà Tôi của Yên Thao), Bông Hoa Vườn Dị Thảo (thơ Hoàng Song Liêm)… nhạc của Anh Bằng. Chᴜyện Hᴏa Sim (thơ Hữu Loan, nhạc Anh Bằng), Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím (thơ Kiên Giang), Chᴜyện Tình Hᴏa Tɾắnɡ, Hồi Chuông Xóm Đạo, nhạc Anh Bằng), , Đưa Em Vào Động Hoa Vàng (thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy), Mùa Thu Chết (thơ Guillaume Apollinaire) về hoa thạch thảo…    Năm 1937, trên đàn VN xuất hiện nhà thơ bí ẩn với tên T.T.Kh với 3 bài thơ Hai Sắc Hoa Ti-Gôn, Bài Thơ Thứ Nhất, Bài Thơ Cuối Cùng (Đan Áo Cho Chồng), nhạc sĩ Anh Bằng đã phổ thành ca khúc Chuyện Hoa Ti-Gôn, Dĩ Vãng Một Loài Hoa, Đan Áo Cho Chồng và nhạc phẩm Hai Sắc Hoa Ti-Gôn của nhạc sĩ Trần Trịnh. Bài thơ nầy cũng được phổ thành ca khúc Hai Sắc Hoa Ti-Gôn (Trần Thiện Thanh), Chuyện Tình TTKh (Song Ngọc)… Năm 2008, ở tᴜổi 82, sánɡ táᴄ bài hát Anh Còn Yêᴜ Em, Anh Còn Yêᴜ Em, ρhổ từ thơ Phạm Thành Tài.

    Nhạc sĩ Hoàng Trọng, ông hoàng của Tango, hai bài thơ của Vĩnh Phúc được phổ nhạc như Cánh Hoa Yêu, Tìm Một Ánh Sao, ca khúc tuyệt vời nhất Ngàn Thu Áo Tím, lời của Vĩnh Phúc.Với một bài thơ của các thi sĩ được các nhạc sĩ phổ nhạc cho đến nay vẫn sống với thời gian như: Chiều của Hồ Dzếnh với Chiều của Dương Thiệu Tước, bài thơ Tống Biệt Hành của Thâm Tâm do Trầm Tử Thiêng phổ nhạc cùng tên, bài thơ Chân Quê của Nguyễn Bính, nhạc sĩ Song Ngọc phổ nhạc thành Hương Đồng Gió Nội, Trăng Sáng Vườn Chè của Văn Phụng (thơ Nguyễn Bính), bài thơ Áo Lụa Hà Đông và Paris Có Gì Lạ Không Em của Nguyên Sa, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ nhạc thành bài hát cùng tên. Bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc cùng tên… Nếu tính từ thời tiền chiến, trong nhiều thập niên qua có vài trăm bài thơ được phổ nhạc.

    Với nhạc sĩ Song Ngọc, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, năm 2018 tôi viết bài Song Ngọc, Dòng Nhạc Của Một Thời Để Nhớ và Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Người Viết Sử Thi Cho Nhạc Lính… Trong đó đã đề cập đến những ca khúc phổ thơ, ý thơ nên chỉ đơn cử ca khúc tiêu biểu mà thôi.

    Đề cập đến thơ phổ nhạc hay nhạc phổ thơ, từ vài câu thơ, một bài thơ đến nhiều bài thơ và từ một ca khúc đến nhiều ca khúc rất dạng và phong phú… trong đó có các ca khúc của Phạm Duy. Phạm Đình Chương, Nguyễn Hiền, Anh Bằng… được nhiều người biết đến.

    Hai câu thơ của Hồ Dzếnh năm 1943: “Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở… Cho nghìn sau… lơ lửng với nghìn xưa” tròn tám thập niên, và từ đó đến nay, những cuộc tình đơn phương, dang dở đó qua thơ, văn, nhạc… làm xúc động trong lòng mọi người.

    Riêng về âm nhạc, từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam VN, nhiều nhạc sĩ sáng tác, phổ thơ với cuộc tình bi thương, dang dở mang với đau thương được trang trải qua lời ca và giai điệu…

    Trở lại với nhạc phẩm Million Scarlet Roses thơ của Voznesensky, nhạc sĩ Voznesensky phổ nhạc. Nhạc phẩm rất đơn giản chỉ có 16 trường canh (ô nhịp). Phiên khúc I & II với nốt nhạc cuối cùng giống nhau (mi), thông thường thì nốt cuối cùng khác nhau để chuyển sang phần điệp khúc có sự thay đổi về giai điệu, chấm dứt bài hát. Có ca khúc chuyển âm giai như Suối Mơ của Văn Cao, phiên khúc viết bằng âm giai thứ, tới điệp khúc chuyển sang âm giai trưởng.Nhạc phẩm Million Scarlet Roses nầy với nhịp 4/4 (C) nên có thể chuyển sang vài thể điệu khác nhanh, chậm, dồn dập, nhẹ nhàng và thông dụng tương tự như Nhạc Đồng Quê (Country Music – Folk) của Mỹ…

    Nhà thơ Andrei Voznesensky (1933-2010) nổi tiếng vào thập niên 1960s ở Liên Xô, trở thành nhà thơ Nga nổi tiếng, ngay cả ở Mỹ, kết bạn với nhà thơ Allen Ginsberg, nhà viết kịch Athur Miller… Sau đó, ông cũng là bạn thân với của triết gia Martin Heidegger, Jean-Paul Sartre… Nhưng có lẽ với người Việt, ít ai biết về thơ Voznesensky (Hai nhà thơ của Nga A. Pushkin (1799-1837), Sergei Essenin (1895-1925) trong trào lưu lãng mạn được biết đến ở VN). Bài thơ Million Scarlet Roses của Andrei Voznesensky viết để tặng cho ca sĩ Alla Pugacheva vào năm 1984. Nhà thơ lấy cảm hứng từ chuyện tình đơn phương giữa chàng họa sĩ người Gruzia  N. A Pirosmanashvili (1862-1918), sống lang bạt, không nhà, không cửa, không gia đình, chỉ có một tình yêu đơn phương với nữ ca sĩ gốc Pháp Margarita. Voznesensky cũng đa tình, lãng mạn nên dựa vào hình ảnh  chàng họa sĩ để bày tỏ tình yêu với Pugacheva. Bài thơ nầy được phổ thành ca khúc của nhạc sĩ người Latvia là Raimond Voldemarovich Pauls, lời ca của kẻ tình si, giai điệu nhẹ nhàng.Nhạc sĩ Raymond Voldemarovich Pauls sinh ra ở thủ đô Riga, Latvia năm 1936. Ông là nhạc sĩ nổi tiếng với nhiều giải thưởng. Latvia, đất nước nhỏ với diện tích khoảng 63,600 km2, vùng đồng bằng, thiên nhiên hữu tình, nằm ở phía Đông vùng biển Baltic, phía Bắc giáp Estonia, phía Nam giáp Lithuania và phía Đông giáp nước Nga. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, 3 nước nầy thuộc vào Liên Xô, năm 1991 Liên Xô và 9 nước CS Đông Âu sụp đỗ, Litvia  độc lập, năm 2004 ở khối Liên Minh Bắc Đại tây Dương (NATO) và Liên hiệp Châu Âu (EU). Năm 1991 R.V. Pauls từng là từ Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa. Năm 1993 đến năm 1998, cố vấn văn hóa cho Tổng Thống Latvia Guntis Ulmanis. Ông cũng có tham vọng trên bước đường chính trị tranh cử tổng thống nhưng thất bại. Dân số khoảng 2 triệu người, ngôn ngữ chính là tiếng Latvia và tiếng Anh. Thời gian nầy R,V. Pauls là nhà ngoại giao, nhà văn hóa nên khi đến các nước lân cận hay trong nước được chào đón với ca khúc Million Scarlet Roses. Và đất nước của ông tuy nhỏ nhưng trở thành những địa danh du lịch nổi tiếng.Lời ca khúc nầy theo bài thơ của Voznesensky với câu chuyện tình của chàng họa sĩ nghèo người Gruzia tên Niko Pirosmani (1862-1918) và nàng ca sĩ người Pháp Magragita. Chuyện kể rằng có chàng họa sĩ yêu thầm một cô ca sĩ. Cô gái có điểm đặc biệt là rất yêu những bông hồng, yêu loài hoa tượng trưng cho tình yêu và hạnh phúc. Để làm đẹp lòng cô, chàng đã bán tất cả nhà cửa, những bức tranh để đổi lấy một triệu bông hoa hồng mang tặng nàng và hy vọng nàng sẽ vui lòng, nhưng sau đó cô ca sĩ này biết được người tặng những bông hoa hồng đó là một nhà họa sĩ nghèo nên chàng chỉ còn mối tình đơn phương!.

    Lời Việt với Diệp Minh Tuyền, Trung Kiên và có thêm vài lời ca khác… vì dựa theo chuyện tình để viết về mối tình đơn phương, thầm kín, dang dở. Là văn nhân thường được nhắc đến với cuộc tình si vì được đề cập qua thơ, văn, nhạc…Ở Việt Nam có vài giai thoại về nhạc sĩ đa tình, nhiều ca khúc trữ tình chạy theo cuộc tình với “tặng hoa”. Nhạc sỹ Đoàn Chuẩn qua đời năm 2001, tôi viết bài Đoàn Chuẩn & Gửi Người Em Gái (sau đó đăng trong quyển Văn Nhân & Tình Sử, ấn hành năm 2005, trang 63-78), ông là nhạc sĩ đa tình, lãng mạn… cũng là chất liệu để sáng tác nhiều ca khúc trữ tình với những bóng hồng dù chỉ là một thoáng mơ thôi.

    Đoàn Chuẩn lập gia đình khi còn học trung học vào năm 1942. Nhưng những ca khúc của ông Tà Áo Xanh, Thu Quyến Rũ… với bóng hồng ca sĩ Thanh Hằng… Tiếp đến với bóng hồng ca sĩ Mộc Lan (do nhạc sĩ Lê Thương đặt danh hiệu lần đầu tiên hát ca khúc Trên Sông Dương Tử của ông). Đoàn Chuẩn sau lần nghe Mộc Lan từ Sài Gòn ra Hà Nội hát bài Đi Chơi Chùa Hương của Trần Văn Khê phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp ở nhà hát lớn Hà Nội, đã đem lòng thầm yêu trộm nhớ.

    Theo nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả Gợi Giấc Mơ Xưa, bạn của Đoàn Chuẩn tiết lộ thì sau khi tới Sài Gòn, họ Đoàn đã tìm được địa chỉ của Mộc Lan trên đường Espagne ở Tân Định nhưng không trực tiếp “yết kiến” mà chỉ nhờ chủ một tiệm bán hoa tươi mang hoa đến tặng Mộc Lan mỗi sáng sớm, và không tiết lộ tung tích người gửi hoa. Đoàn Chuẩn đặt trước tiền hoa và tiền công cả tháng cho chủ hàng hoa tươi rồi trở lại Hải Phòng, không quên để lại địa chỉ liên lạc của mình.

    Sau 3 tuần nhận được hoa đều đặn, ca sĩ Mộc Lan không cầm lòng được đã đề nghị người đưa hoa cho biết tên người tặng. Được sự đồng ý của Đoàn Chuẩn, chủ hàng hoa đã thông báo cho Mộc Lan biết người gửi tặng hoa cho nàng chính là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cùng với địa chỉ kèm theo. Sau đó, nhạc sĩ họ Đoàn nhận được lá thư của người đẹp với lời cảm ơn và hy vọng có ngày được hội ngộ. Thế là Đoàn Chuẩn lại gửi tiền để chủ hàng hoa tiếp tục tặng hoa cho người đẹp liền 2 tháng nữa.

    Mấy tuần sau đó, Đoàn Chuẩn rất xúc động khi nhận được lá thư tiếp theo của Mộc Lan và ông đã biến tình cảm dâng trào của mình thành bản nhạc Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay với lời đề tặng M.L.

    Ca khúc Gửi Người Em Gái Miền Nam, tuy không ghi tặng M.L khi phân chia hai miền Nam/Bắc nhưng đó là ca khúc dành cho Mộc Lan.

    Sau nầy có vài mẩu chuyện viết về cuộc tình nhưng cũng thuộc vào tình sử.

    Nhạc sĩ Robert Schumann cho rằng “Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người”, trong đó không những trong tâm hồn nhạc sĩ mà trong trái tim người thưởng ngoạn, có thể hình bóng nào đó khi cất tiếng hát đã in sâu vào tâm khảm. Có lẽ “Âm nhạc lấp đầy khoảng vô hạn giữa hai tâm hồn” (thi hào Rabindranath Tagore).

    Có những nhạc phẩm chỉ lấy ý từ thơ hoặc câu thơ nào đó, vì vậy như đã đề cập ở trên, trong lúc cảm hứng nên – theo sự gợi ý – lấy tựa đề của bài thơ và nhạc để cảm tác.

    Triệu Hoa Hồng Thắm

    Cảm tác:

    “PK I: Lòng anh thầm mơ hoa hồng thắm

    Em là tiên nữ với hoa hồng

    Nụ cười thật xinh như ngàn hoa

    Xao xuyến tim anh triệu đóa hồng

    PK II: Nầy người tình si anh thầm nhớ

    Em cười trong nắng ngát hương đời

    Hiện về trần gian mang tình yêu

    Trong cõi nhân gian đẹp nhất đời

    ĐK: Với tiếng hát như pha lê em như hoa khoe sắc thắm

    Tiếng hát đó ru tim anh trong cơn mê hồn say đắm

    Bao yêu thương trong tim anh đang lâng lâng niềm thương nhớ

    Trong âm vang qua câu ca như ru anh cuối cuộc đời”. Nếu nhà văn Pháp Edmond Jabès cho rằng “Chỉ một đóa hồng là đủ cho bình minh” nhưng triệu đóa hoa hồng trong thơ và nhạc của Voznesensky và Voldemarovich Pauls không thấy bình minh mà là bóng chiều tà vì mối tình si khi cô độc mới là mối tình “Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở” để viết vì đó phát xuất tận cùng của trái tim!

    Trong thi ca và âm nhạc Việt Nam có nhiều nhà thơ và nhạc sĩ đã thành danh từ thập niên 40, 50 và 60… riêng về thơ phổ nhạc với số lượng lớn từ trong nước đến gần nửa thế kỷ ở hải ngoại. Điển hình như nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Anh Bằng, Nguyễn Hiền, Cung Tiến… nhưng không có nhạc phẩm nào được dịch ra nhiều thứ tiếng để hòa nhập vào nền âm nhạc trên thế giới.

    Vương Trùng Dương, Little, August 2023

  • Lê Nguyễn Nga,  Sinh Hoạt

    TỪ CÁNH ĐỒNG MÂY Đến NAPA VALLEY

    TỪ CẢNH ĐỒNG  MÂY Đến CẢNH ĐỘNG NAPA VALLEY

    Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian (NVNT/TTG) tham Dự Kỷ niệm  25 Năm – Từ Cánh Đồng Mây  và Thăm viếng Napa Valley  .

    Từ đầu tháng 6, Nhóm NVNT-TTG đã nao nức chuẩn bị cho chuyển đi tham dự ngày Kỷ Niệm 25 năm ngày thành lập Từ Cánh Đồng Mây vào đầu Tháng 9, năm 2022 tại San Jose, Bắc Cali. Chương trình được kết nối cùng chuyến du lịch Napa Valley, thật hấp dẫn.

    Chương Trình Nhạc tai San Jose được kết hợp từ Texas của Không Quân Phan Đình Minh và các nhóm bạn hữu văn nghệ sĩ. Chúng tôi được biết sẽ được gặp nhiều các bạn trẻ đến từ xa.

    Từ Nam Cali trưởng ban Du Lich, anh Mạnh  Bồng lãnh phần thuê xe và lái xe VAN, Khánh Lan thuê một AirB&B cho 10 người, ở trong 3 ngày, 3 đêm.

    Ngày hẹn lên đường, Katherine và tôi đến điểm hẹn rất sớm, đó là nhà của Mạnh Bông & Khánh Lan rồi cùng đi. Tại nhà MB, chúng tôi chờ chừng 10 phút vì anh MB phải đi lấy xe mà chúng tôi mướn ở thành phố Westminster.

    Xe Van chạy  ngon lành trên xa lộ trực chỉ San Jose, Thung Lũng Hoa Vàng. Xe của  NV Việt Hải đi sau 20 miles.

    San Jose còn  một  tên rất  đúng là SILICON VALLEY, là nơi tập trung của những Công Ty điện tử nổi tiếng của Mỹ và Thế Giới như GOOGLE, FACE BOOK, V.V.  San Jose với các nhà đầu tư thương mại lớn nhất nhì nước Mỹ.

     

    Trên xe bước xuống  tôi hết hồn vì anh MB đi cà nhắc với chiếc gậy của ông cụ thân sinh. Thật là lo ngại khi anh cho biết là vừa bị thương hôm qua khí cắt cỏ. Ông trưởng ban du lịch nói là còn đau chân, nhưng chương trình đã được hạch định rồi, thì cứ khởi hành như đã tính.

    Trên đường đi tuy MB bị đau chân chúng tôi vẫn được đến nơi vui vẻ và an toàn.

    Khi đoàn xe 2 chiếc của nam Cali đến nơi hẹn tại nhà của Nhạc Sĩ Minh Trí ở San Jose, các anh chị trên ấy Welcome chúng tôi với nụ cười rất tươi. Chúng tôi nhận thấy trong nhà khoảng có hơn 30 người bạn đang chờ đợi sẵn. Khi nhìn thấy MB chống gậy đi vào nhà, GS NS Phạm Hồng Thái hốt hoảng kêu lên:

    – “Trời, sao thế, bộ giỡn hả ?”.

    Anh LMB trả lời là anh mới bị thương chân hôm qua.

    Họp mặt tập hát chuẩn bị cho chương trình Từ Cánh Đồng Mây tại nhà GS NS Minh Trí.

    Buổi dinner được khoản đãi bởi các anh chị trên vùng San Jose và mọi người tỏ vẻ vui mừng được gặp nhau, thật cảm động và chúng tôi bắt tay vào việc tập dượt cho buổi sinh hoạt chính.

    Chương trình kỳ niệm 25 năm thành lập của Từ Cánh Đồng Mây diễn tiến thật ý nghĩa. Khánh Lan giới thiệu đến quan khách tham dự đến từ Nam Cali. trong đó có cả những bạn trẻ thuộc thế hệ thứ hai của các văn nghệ sĩ tiền bối.

    Ca sĩ Lê Duy và hiền thê là con của NS nổi tiếng Lê Dinh đến từ Canada. Minh Khai em gái của NS Lam Phương, Minh Thư con của NS Lê Trọng Nguyễn từ Orange County. Trúc Linh con trai của NS Trúc Phương từ Los Angeles County và thêm nhiều khách quý tham dự. 

    Chúng tôi đến điểm hẹn đầu tiên, nơi họp mặt và được Welcome rất nồng nhiệt. Một buổi họp mặt giới thiệu để bạn bè biết mặt nhau, một dinner rất  ngon, ca nhạc thoải mái “tiền đại hội “đấy , rất vui tươi.

    Đặc biệt  là thế hệ thứ  hai, con của các nhac sĩ tiền bối  Lê Dinh, Trúc Phương, Lam Phương, Lê Trọng Nguyễn, Vũ Đức Nghiêm. Mọi người nói chuyện, bắt tay rất vui vi các em trẻ tuổi này là các con của các nhac sĩ tiền bối đã qua đời  hay còn tại  thế.

    Tối về đến nhà thuê Airbnb mới biết là chi có 3 phòng và một Futon ngoài phòng khách.

    Xe chúng tôi  về trước nên 6 chúng tôi chia nhau vào trong 3 phòng, khi xe thứ 2 đến, các phụ nữ chúng  tôi cùng vào  ngủ chung phòng. Xe Việt Hải về đến sau, nhưng  vi lo sợ bạn mất ngủ nên anh chị Việt Hải lịch sự ngủ phòng khách với Futon. Tôi vì mệt quá nên đi ngủ sớm.

    Sáng hôm sau, con gái  tôi, Minh Thư kể chuyện lại “Me ơi, vợ chồng  chú Việt Hải ngủ Futon ngoài phòng khách. Khi chú Việt Hải ngồi xuống Futon ghép lai, Việt Hải bị kẹt trong Futon nên cả nhóm còn thức khuya cười vang dội ngoài phòng  khách”.

    Tại Hội trường tại trung tâm thành phố là nơi tổ chức buổi kỷ niệm 25 năm thành lập Từ Cánh Đồng Mây.

    Đại diện đón tiếp là KQ Phan Đình Minh với BTC gồm GS Phạm Hồng Thái, Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt Lê Văn Hải, Anh Hồng Nguyễn, NV Chính Nguyên và nhiều người trong Văn Thơ Lạc Viết ra tiếp đón các hội đoàn đến từ các nơi.

    Khán giả gồm các vị đại biểu mọi thành phần và các văn nghệ sĩ địa phương và các nơi gần.

    Sau phần nghi lễ chào Quốc Kỳ Việt Nam, Quốc Kỳ Mỹ và Phút Mặc Niệm, MC chào đón quan khách, chào sự có mặt của các vị chức  sắc của thành phố San Jose.

    Chương  trình Buổi Kỷ niệm 25 năm. “Từ Cảnh Đồng Mây“ tai San Jose là một kỷ niệm quý.

    NV Việt Hải & NS Phan Đình Minh

    Ngày lễ trình diễn chính kỷ niệm 25 năm Từ Cảnh Đồng Mây rất trong đại.

    Phần văn nghệ do Nhóm âm nhạc Tiếng Thời Gian phối hợp với các anh chị nghệ sĩ tại San Jose như CS Đồng Lan, anh chị nghệ sĩ Lê Duy, NS Trúc Linh, v.v…

    Chương trình ca nhạc đầy ý nghĩa với những tác giả hiện tại hoặc tác giả đã qua đời. Tôi được nghe ca sĩ Lê Duy và vợ hát 2 bài của NS Lê Dinh. Ban hợp ca Nam Cali hát bài Ngày Hạnh Phúc của NS Lam Phương. Con trai của NS Trúc Phương hát 1 nhạc phẩm của cha mình. CS Lam Dung hát 1 bài nhạc xưa.

    Chương trình thật long trong, buổi văn nghệ đây tình thương đặc biệt các em thuộc thể hệ thư hai hát trong tinh thần “Vinh Danh” các nhạc sĩ cha mình.

    Chúng  tôi đi từ Los Angeles và Orange County , gồm Việt Hải , Lê Hoa, Mạnh Bổng, Khánh Lan, Lâm Dung, Ái Liên, L.N.Nga, Katherine Minh Thư, Minh Khai, Thụy Lan và Trúc Linh.
    Anh Chị Lê Duy

    Lâm Dung & Ái Liên

    Mạnh Bổng

    Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư, Hồng Nguyên

    Kỷ niệm “ 25 Năm Từ Cảnh Đồng May “là một  chương trình rất đáng ngưỡng mộ.

    Sau buổi Kỷ Niệm này, Đại Gia Lê Văn Hải đã khoản đãi tất cả mọi quan khách tham dự chương trình bữa ăn tối tại nhà hàng và thưởng thức văn nghệ.

    Ngày hôm sau là hành trình Du Lịch đi thăm viếng Napa Valley. Chúng tôi bị hấp dẫn bởi lời giới thiệu trên NET: “Napa Valley became California First American Viticulture ( AVA) in 1981. It is considered one of the premier Wine Region of the world with lots wineries and tasting room.”

    Chúng tôi lái xe khoảng chừng 2 Hrs. thì nhận thấy hai bên đường là những vườn nho với những hàng cây, những giàn cây nho và những chùm nho chín mọng. Trước khi ghé vào một hãng làm rượu, chúng tôi vào một local Market để mua Lunch và mua quà kỷ niệm như những vật dụng trong Kỉtchen, như Olive Oil, rượu vang, v.v…

    Sau đó, chúng tôi tiếp tục lái xe đến một một hãng làm rượu nho, đậu xe ngay bên cạnh những vườn  nho nặng trĩu trái, với những vài hàng nho thẳng tắp, để chụp hình với những chùm nho trên tay. Cả nhóm chúng tôi vào tasting room, nếm thử rượu nho và mua rượu nho.

    Ra khỏi Vườn Nho, chúng  tôi rủ nhau đi dạo phố “Napa Down Town”.

    Đi dưới trời nắng mà không thấy mệt vì vui quá. BTC San Jose quá nhiệt tình, các anh chị gọi phone nhắc nhở là trên đường về nhớ ghé ngang Santa Ana Row để xem, vì là nơi rất đẹp. Quý Anh BTC cũng không quên nhắc chúng tôi về sớm để đi ăn tối tại nhà hàng Thái do cháu của anh Phạm Thái làm chủ. Sau dinner, chúng tôi ghé nhà của bạn anh Phạm Thái & Hồng Nguyên để ca hát tiếp trước khi chia tay lên đường về lại Nam Cali.

    Ôi! cảnh gặp nhau vui bao nhiêu thì cảnh chia tay buồn bấy nhiêu. Chúng tôi với tấm lòng quyến luyến chào giã từ các bạn.

    Sáng hôm sau, buồn buồn nhung nhớ chúng tôi lái xe ra về, không quên ngoảnh lại nhìn thành phố San Jose và hẹn ngày tái ngộ trong tương lai.

    Một chuyến đi thật thú vị  và đầy tình Văn Nghệ của nhóm bạn chúng tôi.

    Lê Nguyễn Nga, Cali 2022