-
Từ Đứa Bé Đẻ Rơi Đến Bài Thơ Tình Thế Kỷ

Chùa Vân Lỗi nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân. Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa kể đã lan truyền rất lâu ở làng.
Chiều cuối xuân nhạt nắng, từ thành phố Thanh Hóa, chúng tôi đi khoảng 30km về trung tâm huyện Nga Sơn. Từ xa đã dễ dàng nhận thấy ngọn núi Vân Hoàn sừng sững vươn lên giữa đồng bằng.
Nép bên sườn núi, nhìn ra sông Mã, chùa Vân Lỗi nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân.

Được xây dựng từ thế kỷ XIV thời nhà Trần, vách núi của ngôi chùa từng mang tên Sùng Nghiêm Tự này vẫn còn in dấu nhiều bài thơ do tiền nhân để lại.
Nhưng không chỉ thế, 104 năm trước, nơi đây còn gắn liền với sự ra đời của một nhà thơ tên tuổi khá đặc biệt trong văn học Việt Nam: Hữu Loan.
Đứng trên những bậc đá cheo leo lên chùa, ông Nguyễn Hữu Dũng, người sãi giữ chùa, nở nụ cười thân thiện mời chào.
Nghe chúng tôi hỏi thăm về thi nhân Hữu Loan, ông “khoe” ngay: “Tôi gọi nhà thơ là chú, bố tôi với nhà thơ là anh em chú bác ruột. Hồi xưa, ông ấy được đẻ loi (đẻ rơi) ngay cánh đồng trước chùa đây chứ đâu”.
Vừa nói, ông Dũng vừa hướng ra đồng cói xanh xanh trước chùa, phía xa là con sông Mã hiền hòa uốn lượn.

Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa 76 tuổi kể đã lan truyền rất lâu ở làng.
Ban đêm, sư trụ trì Sùng Nghiêm Tự bỗng thấy một vầng sáng vàng lóe lên phía trên núi Vân Hoàn. Rạng sáng hôm sau, một người phụ nữ đang làm đồng phía trước chùa lên cơn đau đẻ bất ngờ. Lê vào tới thềm chùa thì bà sinh rớt con ngay ở đó.
Sư trụ trì ngày ấy nói với người phụ nữ rằng đứa bé con bà rất đặc biệt, hẳn sau này sẽ hơn người. Đứa bé đó chính là nhà thơ Hữu Loan.
Cậu bé Hữu Loan lớn lên với trí thông minh, học đâu nhớ đó càng khiến nhiều người làng tin vào “điềm trời”.
Dù nhà nghèo Hữu Loan vẫn được cha mẹ cho theo con đường ăn học. Để rồi năm 1938, 22 tuổi, con đường học vấn của Hữu Loan tỏa sáng khi đỗ “tú tài Tây” tại Hà Nội, bằng cấp thời ấy rất hiếm người đạt tới.
Chỉ cần có bằng tú tài là đủ để tìm việc trong một cơ quan hành chính đương thời, nhưng cơ hội ấy chưa bao giờ nằm trong ý định của Hữu Loan. Sau khi có bằng tú tài Tây, ông hành nghề dạy học ngay trên quê hương mình.



Trong suốt hành trình chúng tôi tìm hiểu về Hữu Loan, câu chuyện về xuất phát điểm của bài thơ được rất nhiều người kể lại gần như nhau.
Hồi đó ở số 48 Phố Lớn (Trần Phú, Thanh Hóa ngày nay), bà Tham Kỳ (tức Đái Thị Ngọc Chất, vợ ông Lê Đỗ Kỳ, chánh thanh tra Đông Dương về canh nông) mở cửa hiệu tạp hóa bán nhiều loại giấy bút, sách vở.

Là con ông Đái Xuân Quảng (một cử nhân Hán học, từng làm tri huyện), nên bà Tham Kỳ giỏi Hán ngữ lẫn Pháp ngữ, đam mê thơ phú, thuộc nhiều tác phẩm văn học cổ như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc…
Thời gian ở Thanh Hóa học tú tài, Hữu Loan vẫn thường xuyên lui tới cửa hiệu của bà Chất để thỏa mãn niềm đam mê sách vở. Rất quý mến chàng trai con nhà nghèo hiếu học, bà Chất đã mời Hữu Loan về dạy kèm cho ba con trai của mình.
Lần đầu tiên Hữu Loan về nhà bà Chất, con gái thứ tư của bà vẫn còn là cô bé con.
Bẵng đi một thời gian, khi đã là thầy giáo đang dạy Trường Alexandre de Rhodes do nhà thờ Công giáo ở Thanh Hóa lập, Hữu Loan lại được bà Chất mời về nhà dạy cho chính cô con gái này, lúc đó đã là cô bé Lê Đỗ Thị Ninh 8 tuổi.
Một thời gian sau, Hữu Loan tham gia kháng chiến.
Ông Nguyễn Hữu Đán, con trai út Hữu Loan, tâm sự: “Bố tôi kể sau ngày độc lập 2-9-1945, khi đang làm tuyên huấn, cụ đã diễn thuyết vận động nhân dân ủng hộ cách mạng trong Tuần lễ vàng ở Thanh Hóa.
Vô tình thấy cụ đang diễn thuyết, lúc đó là con nhà giàu đeo nhiều nữ trang, mẹ Ninh đã tháo ra hết ủng hộ cách mạng.
Về nhà, mẹ giải thích chuyện không còn vàng bạc với người mẹ là bà Tham Kỳ, rằng: “Mẹ ơi, hôm nay con gặp anh Loan. Anh đọc diễn văn Tuần lễ vàng trước bao nhiêu người, anh thông minh, giỏi lắm mẹ ạ”.
Là phụ nữ, biết “bệnh” tương tư, người mẹ hiểu rõ tâm tình của cô con gái hay nhắc đến “anh Loan”.
Sẵn mối cảm mến đặc biệt với thầy giáo và biết được tình ý của con gái, bà Tham Kỳ đã viết bức thư rồi sai người cậu tên Ngân chuyển vào nơi Hữu Loan đóng quân.
Nội dung nôm na: Cái Ninh nhà tôi nó khen anh lắm, hôm nọ vì anh mà nó tháo hết vàng bạc để ủng hộ cách mạng. Nó nhắc anh suốt. Nếu anh có ưng thì gia đình sẽ gả Ninh cho anh, đồng ý thì anh về sớm…
Cũng chính bà Chất đã kết duyên cho mối tình đầu đời của Hữu Loan. Sau tiêu thổ kháng chiến, khi bà Chất các con về sơ tán ở ấp Thị Long, Nông Cống (cách thành phố Thanh Hóa chừng 30km), Hữu Loan đã xin về phép và có một đám cưới giản đơn nhưng đầy hạnh phúc.
Một đám cưới chân thật như lời thơ của ông:
“Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo cưới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!”.
Để rồi ba tháng sau đó, người vợ qua đời trong đau đớn.
Một trong những người ở cùng Hữu Loan trong kháng chiến lúc bấy giờ là nhà thơ Vũ Cao từng viết lại thời khắc đau thương nhất của Hữu Loan: “Trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, anh báo tôi biết cái tin đột ngột: Lê Đỗ Thị Ninh vừa mất. Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt anh tái xanh”.
Và những đau đớn ấy theo suốt đường hành quân xa, những vần thơ bất hủ cứ thế theo dòng cảm xúc của nhà thơ tài ba ra đời.

Sau thời gian “truyền tụng ngầm”, bài thơ Mầu tím hoa sim lần đầu tiên được Nguyễn Bính cho đăng trên báo Trăm Hoa. Không ít ý kiến “quy kết” bài thơ là “thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản”, được xem là nguyên cớ để Hữu Loan rời báo Văn Nghệ về quê lao động, thồ đá nuôi con.
Ở miền Nam, tác phẩm Mầu tím hoa sim được các nhạc sĩ tài hoa như Phạm Duy, Anh Bằng, Dzũng Chinh phổ nhạc, làm thổn thức biết bao trái tim.
Đến năm 2004, Mầu tím hoa sim được một công ty ở TP.HCM mua tác quyền với giá 100 triệu đồng…

-
Quan niệm về văn học – đóng góp của Bùi Giáng với lý luận văn học dân tộc
ĐOÀN THỊ MINH TRÀ
Thứ tư, 08 Tháng 7 2020 21:58
1. Thế kỉ XX, thi đàn Việt sau nhiều thập niên được thắp sáng bởi ánh hào quang của chòm sao chổi thơ ca Hàn Mặc Tử, lại được bừng lên với một hiện tượng thi ca mới: Bùi Giáng, một “thiên tài không định nghĩa được”(1). Từ buổi xuất hiện, thiên tài kì lạ ấy đã định vị mình trên lược đồ văn học dân tộc như “ngôi tinh văn kì dị có bóng dáng lồng lộng nhất hậu bán thế kỉ XX” (Hoàng Phủ Ngọc Tường)(2). Lúc sinh tiền người đời ngưỡng vọng dành cho ông nhiều danh xưng cao quý: “Người hóa thân cho thi ca“, “Người Thơ,“… Tự bản thân, Bùi Giáng nhận mình là Trung Niên Thi Sĩ. Bên cạnh thành tựu thơ văn đã và đang ngày càng thu hút sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu, ông còn để lại những di sản phê bình triết học, dịch thuật, phê bình văn học, hội họa. Và trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, ít ai biết rằng, Bùi Giáng cũng có những đóng góp đáng ghi nhận về lí luận sáng tạo nghệ thuật văn chương.
2. QUAN NIỆM VĂN HỌC
2.1. Quan niệm về thơ ca
Thơ ca là hình thái văn học đầu tiên nảy sinh từ khi con người bắt đầu cảm thấy mối liên hệ giữa mình và thực tại và sâu sắc hơn là khi con người có những nhu cầu tự biểu hiện trong đời sống. Ý thức cao về lập trường sáng tạothơ ca, Bùi Giáng đã xây dựng quan niệm sáng tác riêng – những quan điểm thường được ông phát biểu gián tiếp, thông qua cách nói hình tượng: “Thơ là một cái gì không thể bàn tới,không thể diễn gì được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng thơ. Thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào, một cơn gió thu. Mà muốn thực hiện sự đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép nào khác. Thế có nghĩa là muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài khác. Người xưa am hiểu sự đó, nên chỉ vịnh thơ chứ không điên rồ mà bàn luận về thơ. Người đời nay trái lại. Họ buộc phải luận thơ có mạch lạc luận lý không được “ bốc đồng” vịnh lăng nhăng cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghì vậy” [1,tr149]. Thi sĩ nói thêm về cách ông làm thơ: “Thơ tôi làm chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm giông bão một lúc thì lập tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức…Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi(…) Tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình giữa thơ dại chiêm bao.Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao. [2, tr.33].
Bùi Giáng không định nghĩa thơ bằng lối nói mang màu sắc luận lý. Chiêm nghiệm thực tế sáng tác, thi sĩ nhận ra thơ là “cõi phiêu bồng” (Lời phiêu dựng lại một điệu chào dị sai– Lá Hoa Cồn). Thơ là vô ngôn. Ông lý giải:“Cái nói của tư tưởng chỉ đạt tới chỗ bình hòa thanh tịnh thuần thanh và tìm thấy lại tinh thể của mình là chính lúc nó không nói được điều gì, nó phải được tồn tại trong vô ngôn, một sự vô năng như thế sẽ nhiếp dẫn tư tưởng tới tiền diện sự thế, sự vật từ như”[3,tr36].
Quan niệm về thơ của Bùi Giáng khá gần gũi với mỹ học về cái nhạt của Trung Hoa mà nhà triết học hiện đại F. Julien đã bình giải: “Cái nhạt chỉ hiện ra để người ta cảm nhận được khi nó hướng người ta đến cái hài hòa đã qua, cái đã được định đoạt trong im lặng” [4,tr20]. Như thế với Bùi Giáng, thơ mang một hàm nghĩa rất rộng; là một thế giới nhiệm màu, tế vi và tự nhiên, nhi nhiên như cuộc sống muôn vẻ đa chiều kích; là nghệ thuật tinh túy của ngôn từ chảy tràn ra từ những siêu thăng trong tâm hồn, tiềm thức và vô thức (Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao). Thơ với Bùi Giáng, là cái gì vượt thoát (Lời phiêu), “là lô hỏa thuần thanh -ngọn lửa đã xanh – lửa đã xanh thì tươi mát như ngọn lá đa mới nở. Nhưng sức nóng mãnh liệt của nó có thể thiêu rụi bất cứ thứ cứng rắn nào” [5,tr.104] và thơ cốt phải trở về được với nguồn cội đời sống tại-thể- người (một sự vô năng như thế sẽ nhiếp dẫn tư tưởng tới tiền diện sự thế, sự vật từ như). Chính lúc đó thơ ca làm cuộc đời hiện lên trong vẻ đẹp vừa siêu thoát vừa chân thật như vốn có. Bùi Giáng đã đưa thể tính của thi ca về đúng chỗcủa nó,là hệ quả của phép làm thơ, một quá trình sáng tạo kì diệu như ông nói: “…hãy quên đi rồi hãy viết.Hãy viết như viết trong chiêm bao: nơi đó mọi thứ đã trộn lẫn. Một thứ trộn lẫn đầy cảm động và mãnh liệt. Đừng có chằm hăm vào một cái gì, một chỗ nào.Hãy nên chằm hăm vào chỗ rạt rào”. [5,tr.10]. Thơ ông đã đạt được đến độ dạt dào nhựa sống, lay động hồn người chính từ quan niệm như thế:
Một hôm nào em mở cửa đầu khe
Và bữa đó đến bây giờ cỏ rạ
Thi nhau mọc mặt trời lên lả tả
Bông lúa chín trong rừng kêu tiếng lá
Chim chóc xanh đòi đẻ trứng bây giờ.
(Làm thân con gái)
Bùi Giáng mặc khải về sự khai hạ, sự sinh nở nơi người Mẹ cuộc sống huyền nhiệm như hoạt cảnh chúa trời giáng thế; hạt mầm sự sống tí tách trở động trong nguồn ánh sáng nguyên sơ dựng dậy một suối nguồn sự sống tràn trề, xanh ngát.Có thể thấy, ông chủ trương đưa thơ ca thành tiếng nói gần gũi với đời sống con người nhất nhưng phải là thứ tiếng nói về cuộc sống ở trình độ tinh tuyển, để cuộc sống hiện lên trên một giác độ mới, một trần gian lộng lẫy hơn, mê đắm hơn nhưng không xa lạ. Quan niệm thơ là cõi phiêu bồng, là vô ngôn, Bùi Giáng dùng ngôn ngữ thần ngôn, chi ngôn, trùng ngôn, phản ngữ, nhằm đạt đến chỗ im lặng nổi sóng như tinh thần Thiền Tông Phương Đông và tinh thần của triết học Heidegger phương Tây về ngôn ngữ: “Trong cõi ngôn ngữ nghiêm hàn ấy có sự trì ngự huyền hỏa bão giông và tại trung tâm huyền hỏa bão giông đó có cõi viên dung thanh tịnh” [6,tr.24]. Thử nghiệm hai câu trong bài “Chào Nguyên xuân” của ông:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau.
Hai câu thơ lâu nay vẫn được xem là tuyệt bút, bởi đứng trước nó người đọc được dẫn vào một cõi miền đầy bãng lãng. Ta thấy cái vẫy tay lấp lánh niềm hân hoan của thi nhân để dấn bước vào dòng chảy cuộc sống đang mời gọi. Nhưng, để định vị được tọa độ nào là điểm đứng của thi nhân quả thật vô cùng mờ ảo. Có thể hiểu mùa Xuân phía trước là tương lai và miên trường phía sau thuộc về quá khứ. Hay ngược lại, thời khắc mùa Xuân cuộc đời nhà thơ chỉ còn là quá khứ và tương lai phía trước chỉ là giấc miên trường – giấc ngủ dài.Câu thơ ảo diệu, uyên bác nhưng cứ tự nhiên, thơ thới tuôn chảy như không hề có dấu vết của bàn tay của người sáng tạo. Bằng cách đó, thế giới thơ ca Bùi Giáng mở ra phiêu bồng, bát ngát – cái thế giới của bóng vang.
Từ quan niệm về thơ, Bùi Giáng cũng manh nha suy nghĩ về cách đọc thơ và nâng lên thành cách đọc văn chương:
Ngữ ngôn khép kín mặc dầu
Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra
Dịu dàng cuối lá đầu hoa
Mười về châu lệ chín sa dòng dòng
(Bé con ơi)
Cách đọc thơ theo ông là vừa là một sự tri âm: mở óc trong đầu ra, mở máu trong tim ra, phải có hùng tâm đừng nghi tâm, biết đau khắp tâm can: Mười về châu lệ chín sa dòng dòng, biết trân trọng nâng niu: Dịu dàng cuối lá đầu hoa. Nhà Đông phương học Nhật Bản Toshiko Izutsu có bàn về hai cấp độ đọc: “Ý thức cấp một là ý thức thông thường bằng thao tác, bằng cảm xúc bằng tri giác, bằng tư duy duy lý, chủ yếu nhận thức sự vật trong thời gian và ở bình diện hiện tượng luận.Ý thức cấp hai là chiều sâu của ý thức, nó có năng lực đọc được sự vật trong trạng thái “sự thống nhất nguyên thủy ở trạng thái tuyệt đối chưa phân hóa của chúngvà ở phía sau, phía bên kia của sự vật đã đa dạng hóa thành những hiện tượng”, nó đọc được “cơ sở văn bản phi hiện tượng, siêu hình và chưa đa dạng hóa của chúng”(3) Cách mà Bùi Giáng khuyên người đọc đến với văn bản ở đây thuộc về trường hợp thứ hai, đến bằng vô thức và ý thức. Khi đó tiếp nhận văn học như một hoạt động đối thoại “muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài khác”. Thông qua sự va chạm với vô thức và ý thức tác giả thể hiện nơi văn bản, người đọc nắm bắt được những lóe sáng của trực giác, cảm thức về ý nghĩa văn bản. Đó là: văn bản khác trong sự chiếm lĩnh của người đọc, có giá trị thanh lọc tinh thần, tâm hồn.
Không thể có lối chiếm đoạt hoàn toàn văn bản một cách chủ định như lối nghĩ truyền thống khi đến với tác phẩm văn chương,ông nói: “Đi vào cõi thơ. Thế nghiã là? Có một cõi và một cuộc đi, cuộc đi có nhiều thể thái. Có thể theo lối chu du của ông Khổng Tử.
Có thể đi theo lối ngồi yên không rục rịch suốt bao diên trường tuế nguyệt dưới một gốc cây bồ đề theo lối Như Lai. Cũng có thể đi theo lối anh lùa bò vào đồi sim trái chín(4). “Đi như vậy dù sao thì dù, cũng là trong ý hướng mở cõi ra chơi. Không ai buộc ai phải theo ý của riêng độc đoán của ai… đã gọi là mở cõi thì chẳng nên khép miền. Nghĩa là …tránh cái lối bưng bít (…). Đó là điều kiện cần và đủ, không buộc ai phải đi qua miên bạc bình sinh.” [7, tr.482].
Vẫn bằng lối nói hình tượng, nhìn nhận trên của Bùi Giáng tỏ ra khá gần với lý luận văn học hiện đại và hậu hiện đại với những khám phá về yếu tố người đọc tích cực và văn bản văn học. Thông diễn học hiện đại với các quan điểm của M.Heidegger, G. H.Gadamer, Mỹ học tiếp nhận với các nhà lý luận W.Iser, H. Robert Jauss thừa tiếp thành tựu triết học về ngôn ngữ và triết học Hiện tượng học của chủ nghĩa hiện sinh đi đến hình thành lí thuyết tiếp nhận hiện đại. Các nhà lý luận hiện đại, hậu hiện đại quan niệm tác phẩm văn học như là quá trình(5), luôn chờ đón người đọc đến đối thoại để hiện thể chính nó. Người đọc ở mỗi trường hợp đến với tác phẩm là thực hiện một cuộc giao tiếp giữa toàn thể cái thế giới vô thức và ý thức của bản thân với văn bản, nơi hiện thể toàn bộ cái vô thức và ý thức của tác giả. Mỗi người đọc có một trình độ tiếp nhận nhất định, trường phái Mỹ học tiếp nhận Konstanz(6) gọi là tầm đón nhận. Ở mỗi thời đại khác nhau, người đọc có những quan điểm, thiên kiến khác nhau.Vì vậy quá trình tiếp nhận tác phẩm ở mỗi người đọc cũng khác nhau.Như thế, kết quả giải mã và hiển thị giá trị của tác phẩm trong lịch sử tiếp nhận trên trục thời gian đồng đại và lịch đại mới làm nên giá trị thực tại của nó.
Đối sánh với quan điểm của lý luận văn học hiện đại phương Tây về hai trong các yếu tố then chốt của hệ thống văn học, dễ nhận thấy quan niệm văn học của Bùi Giáng có những điểm rất mới mẻ, độc đáo đồng thời gần gũi và thích hợp về các yếu tố cơ bản của văn học (Nhà văn- Tác phẩm -Người đọc) với lý luận văn học thế giới đương đại. Ông cho rằng tiếp nhận tác phẩm văn học là hoạt động chủ động của mỗi người đọc (cuộc đi có nhiều thể thái). Mỗi người đọc khác nhau (có thể hiểu là: khác tầm hiểu biết về thể loại, hình thức, ngôn ngữ của tác phẩm, sở thích, sở trường, kinh nghiệm…) sẽ có cách và sự chiếm lĩnh khác nhau đối với tác phẩm. Theo đó, tác phẩm văn học (cõi thơ) được nhìn nhận như là một hệ thống mở (không bưng bít, khép miền), chứa đầy ẩn số. Nó kích thích sự đào sâu suy nghĩ, cảm nhận, tìm cách giải mã, lấp đầy chỗ “bất khả giải” tức thời của tác phẩm (thơ ca) và nó kéo dài ra đến vô hạn tùy theo sự nội cảm, trạng thái nhận thức và trình độ của chủ thể tiếp nhận. Người đọc ở những tầng bậc thẩm mỹ khác nhau sẽ lĩnh giải tác phẩm ở những điểm khả thủ khác nhau.
Lâu nay, đứng trước thế giới thi ca Bùi Giáng, người ta vẫn thường có tâm thế “kính nhi viễn chi”,cảm thấy như đứng trước một thế giới thơ ca luôn ở thế tràn bờ, không biên giới; thế giới được xây cất bởi thứ ngôn ngữ đầy khả biến như đời sống,chẳng hạn: Thử một lần đối diện thơ Bùi Giáng (Trương Vũ Thiên An), Một thử nghiệm đọc thơ Bùi Giáng (Khế Iêm), hoặc một sự ghi nhận khoáng đạt: Cuộc hòa giải vô tận: trường hợp Bùi Giáng (Nguyễn Hưng Quốc),…có lẽ điều đó xuất phát từ hiệu ứng của quan niệm thơ, cách làm thơ như đã thấy ở ông. Bùi Giáng có một quá trình tiếp xúc với hệ thống tư tưởng triết học hiện sinh phương Tây mà nền tảng của nó là hiện tượng học Husserl; ông đặc biệt yêu thích tư tưởng triết học của M.Heidegger và hệ thống tư tưởng phương Đông xưa cổ…Sự tiếp thông suối nguồn tư tưởng đó có thể nói đã dẫn đạo cho những suy tư văn học sâu sắc nói trên. Đây có thể xem là những đóng góp không nhỏ và độc lập của Bùi Giáng trong lĩnh vực lý luận văn học dân tộc. Ông thường nói: “Chúng ta quen thói ngong ngóng chạy đuổi theo mọi thứ trào lưu chủ nghĩa, chúng ta tuyệt nhiên không còn giữ một chút tinh tế cỏn con nào để thể hội rằng lục bát Việt Nam là một cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển ba sông bảy hồ và(….) Cái thói học đòi vá víu thông thái đã âm thầm giết chết máu me thân thể chúng ta.”(7) Bùi Giáng luôn muốn giữ sự tôn quý và đề cao bản lĩnh dân tộc.
“Vui thôi mà” là câu ông thường nói khi được hỏi về việc làm thơ. Nói như đại thi hào Nguyễn Du, sáng tạo Truyện Kiều cũng chỉ để Mua vui cũng được một vài trống canh. Song, như đã biết, Bùi Giáng đã có khoảng 60 tác phẩm ở các thể loại thơ, tạp văn, bàn luận về văn học và triết học; chuyển ngữ nhiều tác phẩm văn chương thế giới (bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Đức) sang Việt ngữ. Tất cả đều theo một thể điệu riêng biệt của ông. Riêng thơ, ông có trên ngàn bài. Văn nghiệp Bùi Giáng đồ sộ vô cùng. Một mặt, ông nghĩ về thơ như một cõi vô ngôn. Mặt khác, nói về chức năng của thi ca, Bùi Giáng cũng nhìn nhận một cách nhẹ nhàng, kín đáo: Thơ tôi làm là để tặng chuồn chuồn châu chấu.(8) Như vậy phải chăng với thơ, ông không đặt nặng vấn đề vị nghệ thuật hay vị nhân sinh của thi ca – văn học? Thực tế, người làm thơ muôn thuở đều khao khát được người đời chia sẻ, vì đó là mục đích tự thân để thơ ca được thành tựu. Và sứ điệp của thơ ca bao giờ cũng hướng đến một cứu cánh nào đó cho cuộc đời.
Khi cho rằng làm thơ để tặng chuồn châu chấu thiết nghĩ là Bùi Giáng cần ở con người một thái độ vô cầu, vô ưu trước thế giới thi ca ông. Buông mặc cho tâm tưởng tan chảy vào thế giới vi diệu đó, người đọc sẽ bắt gặp được nhiều ý vị, tìm thấy không phải là những điều vĩ đại thì ít nhất cũng là một thoáng chốc bình yên giữa cõi phù sinh, tìm được niềm vui nho nhỏ để yêu, sống. Bùi Giáng đã nói đến chức năng của thơ(văn học) như một nhịp cầu để đồng điệu, tri âm giữa người với người, là nơi con người được giải trí và bồi bổ nhựa sống.
2.2. Quan niệm về thi nhân
Bắt chước ông Khổng Tử
Con chim thì ta biết nó biết bay
Con cá thì ta biết nó lội
Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ
Nhưng thơ là gì thì đó là điều ta không biết
( Sa Mạc Trường Ca )
Bùi Giáng quan niệm về thi nhân – thi sĩ giản dị, tự nhiên như bản mệnh đời sống vốn có: thi sĩ là người làm thơ. Bản thân ông sinh ra là để sống cho thơ và làm thơ. Nhiều thi sĩ xem ông là hóa thân của thi ca. Và cũng bằng một giọng điệu dị thường cố hữu, ông nhận định thêm về người làm thơ: Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ và chết đi giữa ly kỳ gay cấn(9). Vượt qua những định danh quen thuộc về sứ mệnh cao cả, lớn lao của người nghệ sĩ – chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, hay cách nhìn trên tinh thần lãng tử của các nhà Thơ mới: thi sĩ “là con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hót chơi” (Xuân Diệu), “Thi sĩ không phải là người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, Là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xối trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói ra những điều vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý (Chế Lan Viên).
Với Bùi Giáng, người làm thơ trước hết là một con người đến với mảnh đất trần gian nhiều quyến rũ và gay cấn này để sống trọn, uống trọn những mật ngọt lẫn đắng cay của cuộc đời và bằng một tinh thần vô ưu,vô cầu:Tôi lớn lên giữa linh hồn cỏ mọc để cháy hết mình, tận quyết–chết – với thiên chức làm thơ của nó đến trọn đời. Cái chết ở đây được hiểu trên tinh thần của câu nói: Nếu người không chết trong cuộc tại thế thì người sẽ mất tích sau khi qua đời. Thi sĩ Bùi Giáng, kẻ đã chết trong cuộc tại thế này như chính thi sĩ nói: Tôi sống trong cơn dại cơn điên. Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống đã đặt yêu cầu rất thiêng liêng, cao cả đối với con người mang hai tiếng: thi nhân. Nhà thơ Holderlin từng kì vọng và tôn xưng: Con người sống trên mặt đất này, như một thi sĩ. Thi sĩ là người vinh hạnh đại diện trên hết cho vẻ đẹp rực rỡ của loài hoa đất trên hành tinh xanh. Với Bùi thi sĩ, có thể nói ông là bảo chứng trọn vẹn cho chính định nghĩa đó. Và nói như nhà thơ Huy Tưởng: Ông là người… Tận hiến hết cả đời mình cho Duy-nhất Thơ-ca(10). Nguyễn Hữu Hồng Minh thì gọi Bùi Giáng là “Người Thơ” bởi: Thơ với cuộc đời tiên sinh như đã được quán luận, được thực hành như một Đạo.Đạo Thơ.[8,tr.432,433].
3. Qua hai tác phẩm lý luận chính: “Thi ca tư tưởng” và “Đi vào cõi thơ”, các quan điểm văn học của Bùi Giáng được nêu lên khá hệ thống, mang nhiều hạt nhân mới mẻ, hiện đại, có tính đột phá và độc lập trong quan niệm về thi ca (tác phẩm), về thi nhân (tác giả), về cách tiếp nhận tác phẩm văn chương (cách đọc), về ngôn ngữ thơ so với quan niêm văn học truyền thống; có những gợi mở đáng chú ý về người đọc và tác phẩm gần gũi với quan niệm của các nhà lý luận văn học thế giới đương đại(11). Đi qua bao vùng trời tư tưởng Đông-Tây, kim-cổ, với sự tham chiếu, soi rọi nhau giữa những tư tưởng triết – mỹ Đông Tây từ cổ điển đến hiện đại đó, Bùi Giáng đã tìm thấy được những điểm khả thủ về bản chất của thơ ca, nghệ thuật; thấy được bản chất sự sáng tạo và tiếp nhận văn học tương ứng với quan niệm thơ ca, nghệ thuật đó. Sự nghiệp sáng tạo thơ ca Bùi Giáng dựa trên nền tảng quan điểm văn học đích thực cũng đã thu được những thành tựu rực rỡ, góp phần đưa thi ca dân tộc bước vào lộ trình hiện đại hóa và nhập cuộc cùng thế giới trên cả bình diện lí luận và sáng tác. Hiện tại, từ hiệu năng của lí luận sáng tạo văn chương mới mẻ, thế giới thi ca Bùi Giáng đã trở thành một hệ thống mở đã, đang được cộng thông và lan tỏa nhiều trong đời sống Việt trong nước(12) và ngoài nước và vẫn còn sức vẫy gọi những người đọc đồng sáng tạo ở phía trước.
1. Chữ dùng của nhà nghiên cứu triết học, dịch giả Bùi Văn Sơn Nam.
2. Vị trí dẫn đầu về kiểu nhà thơ “kì dị” nửa
đầu thế kỉ XX được Chế Lan Viên ghi nhận thuộc về thi sĩ Hàn Mặc Tử.
3. Dẫn theo Hoàng Ngọc Hiến, Lời giới thiệu Minh triết phương Đông và triết học phương Tây,NXB Đà Nẵng,tr49.
4. Tên một bài thơ trong tập Mưa Nguồn của Bùi Giáng.
5. Tên một tác phẩm lí luận văn học của GS- TS Trương Đăng Dung.
6. Trường phái lí luận văn học Konstanz (Đức) xuất hiện vào cuối những năm 60 đầu những năm 70 thế kỉ XX với đại diện: Hans Robert Jauss.
7. Đoàn Tử Huyến, tài liệu đã dẫn, tr 479;
8. Bùi Giáng, tài liệu đã dẫn, tr 34.
9. Dẫn theo Đoàn Vị Thượng,Thể thao & Văn hóa, Bùi Giáng: Người tiên lạc bước hồng trần, Thứ bảy, 30 Tháng 10 2010 09:00
10. Lời nhà thơ Huy Tưởng đọc trước mộ Bùi Giáng.
11. Bùi Giáng viết độc lập các tác phẩm Thi ca tư tưởng, Đi vào cõi thơ…vào thời điểm những năm của thập niên 60-70 thế kỉ XX, cùng thời điểm các trường phái lí luận Thông diễn học hiện đại, Mỹ học tiếp nhận ra đời ở châu Âu.
12. Hiện nay, thơ Bùi Giáng đang được quan tâm nghiên cứu rộng rãi, liên tục trong môi trường học thuật ở các trường đại học và trong đời sống.
Tài liệu tham khảo
[1] Đoàn Tử Huyến (2008), Bùi Giáng trong cõi người ta, Đi vào cõi thơ, NXB Lao động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây.
[2] Bùi Giáng (1969),Thi ca tư tưởng, NXB Ca Dao, Sài Gòn.
[3],[6] Bùi Công Khanh (2005), Bùi Giáng trong tôi, NXB Văn Nghệ,T.p HCM.
[4] Hồ Thế Hà (2007), Những khoảnh khắc đồng hiện, Khoảng lặng của ngôn từ thơ hay tín hiệu của cái nhạt trong thi ca,NXB Văn học.
[5] Nhiều tác giả (1999),Tưởng Nhớ Thi Sĩ Bùi Giáng, NXB Trẻ.
[7] Đoàn Tử Huyến (2008), Bùi Giáng trong cõi người ta, Bùi giáng – hồn thơ bị vây khổn, NXB Lao động – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.
[8] Đoàn Tử Huyến (2008), Bùi Giáng trong cõi người ta, Bùi Giáng – “Người thơ” cuối cùng của thế kỉ 20, NXB Lao động – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.
-
Chuyện về nhà văn Sơn Nam và nhà thơ Nguyễn Bính
Chuyện về nhà văn Sơn Nam và nhà thơ Nguyễn Bính
VHSG– Những năm sáu mươi của thế kỷ 20, do làm cùng một ban của cơ quan báo chí nọ nên tôi có quen anh, sau đó chúng tôi thành thân nhau, và khi biết anh hơn tôi mấy tuổi, tôi nói với anh xin kết nghĩa anh em. Anh bằng lòng ngay. Rồi một hôm, nhân tôi tìm được một cuốn truyện ngắn in đã lâu, tác giả là nhà văn Sơn Nam, tôi đọc một mạch, sau một ngày hết veo hơn ba trăm trang.

Nhà văn Sơn Nam Cũng bởi biết tôi đọc cuốn sách của tác giả Sơn Nam, anh nói nhỏ: “Để lúc nào mình kể về nhà văn Sơn Nam cho mà nghe. Tác giả ấy mình cũng rất yêu; và nữa, mình với anh ấy cũng là chỗ bạn thân như mình với cậu vậy”. Giờ, tôi xin nói vài nhời nữa về người anh mà tôi kết nghĩa: Tên anh là Huỳnh Minh Nhựt, cháu ruột của cụ Huỳnh Tấn Phát (Thủ tướng Chính phủ lâm thời của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam).
Anh Nhựt là dân miền Nam, tập kết ra Bắc. Những năm kháng Pháp, anh Nhựt công tác ở R. trong cơ quan thuộc Bộ tư lệnh miền của đồng chí Lê Duẩn. Anh Nhựt được phân công làm về báo chí. Dưới đây tôi xin được chép lại lời anh Huỳnh Minh Nhựt kể về nhà văn Sơn Nam:
“Có thể nói thế này về một đặc điểm của anh Ba Duẩn, anh rất mê đọc sách, nhất là các sách về triết học và văn học. Và nhà văn miền Nam mà anh Ba Duẩn rất quí trọng và thân tình là nhà văn Sơn Nam. Tất cả các truyện ngắn, các thể loại văn xuôi do nhà văn Sơn Nam viết thì đều chép ra một bản để dành đưa cho anh Ba Duẩn đọc.
Đấy là chưa kể đến chuyện cứ mỗi lần Sơn Nam vào thăm anh Ba Duẩn, theo nguyện vọng của anh Ba, nhà văn Sơn Nam đều đọc để anh Ba nghe. Nhà văn Sơn Nam có bản tính là bất cứ truyện ngắn hay thể loại văn xuôi nào, do mình viết ra, anh ấy đều thuộc lòng, nên cứ vậy nhà văn đọc ra để anh Ba thưởng thức.
Thế rồi, những ngày kháng chiến chống Pháp, nhà văn Sơn Nam từ R. là rừng miền Tây Nam Bộ, viết ra bao nhiêu thể loại văn xuôi và truyện ngắn, thì ông ấy đều tìm cách gửi về Sài Gòn cho một nhà xuất bản in. In xong, họ gửi ra chiến khu cho tác giả độ vài chục cuốn sách, còn đâu thì họ bán ở Sài Gòn, và bán cứ hết vèo vèo. Sách của anh ấy rất được độc giả Sài Gòn ưa chuộng.
Nhận được sách biếu, việc đầu tiên là anh ấy đến tôi, rồi vào gặp anh Ba Duẩn để tặng sách. Vậy là đêm ấy, mình chuẩn bị một chiếc măng xông ngon lành, để thắp cho anh Ba Duẩn đọc tập sách mới in của nhà văn Sơn Nam. Mỗi khi anh Ba thức đêm đọc, thì mình làm một việc là đúng 23 giờ đêm vào nhắc anh Ba giờ giấc, và báo cáo anh Ba lịch họp và làm việc ngày mai. Nhưng rất lạ nhé.

Nhà thơ Nguyễn Bính – ký họa của họa sĩ Tạ Tỵ Lần nào cũng vậy, anh Ba đồng ý với sự nhắc nhở của mình, nhưng vẫn đọc, có đêm tới sáng luôn. Vậy mà, sáng hôm sau anh vẫn rất tỉnh táo vào điều khiển một cuộc họp, hay làm việc với các ban, ngành. Khi anh Ba đọc xong tập văn xuôi của Sơn Nam thì thể nào hai người sau đó cũng có một cuộc trò chuyện, mà tiếng cười hoan hỉ của họ vui râm ran.
Đến ngày cơ quan Bộ tư lệnh chuẩn bị tập kết ra Bắc, anh Ba Duẩn bảo mình đi gọi nhà văn Sơn Nam đến, và chuẩn bị mọi thủ tục để mời Sơn Nam cùng tập kết ra miền Bắc. Anh Ba nói: “Ra ngoài đó Trung ương nuôi cho nhà văn Sơn Nam sáng tác về Nam Bộ, về miền Tây Nam Bộ, để đồng bào miền Bắc có sách đọc, giàu có thêm vốn hiểu biết về miền Nam”.
Mình đi mời nhà văn Sơn Nam vào gặp anh Ba. Ấy vậy mà rồi anh Ba Duẩn nói thế nào, nhà văn Sơn Nam cũng nhất quyết không đi. Nhà văn nói tha thiết: “Anh Ba ơi, em là con cá mà miền Tây này là nước, là nước anh Ba ơi. Không lẽ anh vớt cá lên khỏi nước sao. Em ở lại mà, dẫu ở lại thì em vẫn là người của cách mạng, của anh Ba chứ”. Anh Ba Duẩn nghe thế, đành phải đồng ý và ngậm ngùi nói: “Em mà ở lại thì ta nhớ em đến chết mất”. Nhà văn Sơn Nam cũng nói: “Thế anh tưởng, em không nhớ anh sao. Anh Ba và các anh đi rồi, em chỉ ở lại đây, và em viết tiếp, rồi khi có người ra ngoài đó, em gửi truyện rồi văn xuôi của em ra biếu anh”.
Còn dưới đây là câu chuyện nữa của một anh từ chỗ nhà văn Sơn Nam toạ lạc, khi thời Diệm Thiệu, anh ấy ra miền Bắc có việc báo cáo với Trung ương, anh ấy đã kể lại như sau: Nhà văn Sơn Nam mở một ngôi trường nhỏ, rất nhỏ, chỉ có một gian rộng chừng hai chục mét vuông thôi, và dạy đâu chừng hơn một chục trẻ nhỏ. Ngoài cửa ra vào, gần sát mái lá có biển treo đề mấy chữ: “Học đường Sót Nót”. Bọn dân vệ và lính nguỵ đi càn qua chỉ nhòm thấy có trẻ con ngồi học, và lắng nghe thầy Sơn Nam giảng bài, hoặc nắn nót viết chữ trên bảng đen, để các em ở dưới cắm cúi viết vào vở học. Cán bộ ta nằm vùng ở đó, có người ngước nhìn hàng chữ: “Học đường Sót Nót” thì hỏi: “Nó là cái gì bay ơi. Là tên một loài cây ở Bời Lời rừng Cà Mâu à?” thì nhà văn Sơn Nam cười cười nói nhỏ: “Đúng, tên của loài cây như anh nói đó, và cũng là Học đường Sơn Nam…”.
Người kia gật gù có vẻ khoái trí, nhưng vẫn thắc mắc nói: “Sao không viết thẳng ra, mà còn vòng vo Sót Nót# (#Sót Nót: gốc chữ của tiếng Anh South và North nghĩa Nam Bắc. Đây là nhà văn Sơn Nam viết theo đúng với giọng nói nông thôn của người miền Tây Nam Bộ)”. Nhà văn Sơn Nam mới ghé sát tai người kia tiếp, nhỏ giọng: “Nó nghĩa là Nam Bắc là một. Hiểu rồi chứ?”. Người kia khoái trí quá vỗ tay ran và tiếp: “Biết ngay mà, ông vốn là người thâm thúy và luôn thích đùa. Nhớ anh Ba Duẩn nhiều hở?”. “Nhớ lắm!”, Sơn Nam nói.
Anh Huỳnh Minh Nhựt kể tiếp: “Có một nhà thơ nữa mà anh Ba Duẩn vô cùng yêu thích thơ của anh ấy, đó là nhà thơ Nguyễn Bính. Chính anh Ba Duẩn bảo mình nhiều lần là phải thuyết phục bằng được nhà thơ Nguyễn Bính nhận lời đi tập kết. Hồi ở R. anh Ba Duẩn cứ hôm nào thưa việc, lại bảo mình đưa Nguyễn Bính vào chơi với anh Ba, đọc thơ cho anh ấy nghe.
Anh Ba Duẩn có nói: “Đọc thơ của Nguyễn Bính càng thêm yêu cái làng quê của đồng bằng sông Hồng”. Khi anh Ba Duẩn biết nhà thơ Nguyễn Bính phổ thơ toàn bộ Bộ kinh của đạo Hoà Hảo của ông giáo trưởng Huỳnh Phú Sổ thì tấm tắc khen mãi. Anh Ba Duẩn bảo với mình rằng cách nay, năm ngoái anh đã đọc toàn bộ kinh của đạo Hoà Hảo, và thấy kỳ lạ là sao lại có thể giống giọng thơ của miền Bắc đến thế, thì hoá ra là như vậy.
Cái hôm nhà thơ Nguyễn Bính vào trò chuyện với anh Ba Duẩn, anh Ba hỏi nhà thơ Nguyễn Bính về chuyện đã phổ thơ vào Bộ kinh của đạo Hoà Hảo, nghe xong nhà thơ nhận ngay, và hỏi anh Ba: “Anh Ba có muốn nghe lại toàn bộ kinh của đạo Hoà Hảo mà em phổ thành thơ không?” Anh Ba Duẩn đáp ngay: “Có có! Bính đọc đi”. Nhà thơ Nguyễn Bính tiếp: “Bộ kinh đạo Hoà Hảo em phổ thành thơ, ông giáo trưởng Huỳnh Phú Sổ rất mê. Bộ kinh có 3.202 câu thôi mà, em đọc nhé”.
Vậy là nhà thơ Nguyễn Bính cứ thế tuôn ra như suối chảy. Đến lúc nhà thơ Nguyễn Bính tạm ngừng nghỉ, để nhấp chén trà cho trong giọng, thì anh Ba Duẩn thong thả: “Em phổ thơ rất hay và có ý nghĩa lắm. Chúng ta, những người làm cách mạng vì dân tộc, vì đất nước, thì càng phải am hiểu một cách sâu sắc những câu kinh của đạo như thế này. Đây cũng chính là tâm ý, là nguyện vọng tha thiết của một bộ phận nhân dân mình đấy chứ. Nào, em đọc tiếp đi”.
Anh Ba Duẩn sửa lại tư thế ngồi, và trang trọng nghe nhà thơ Nguyễn Bính đọc ngân nga cho đến câu kinh thứ 3.202, là toàn bộ Bộ kinh của đạo Hoà Hảo.
BÙI BÌNH THI
Theo ANTGCT
-
Thu Về Nhớ Anh

-
Xuân Yêu Thương

-
Mộng Dưới Trăng

-
Thu Bên Song Cửa
-
Bến Sông Đầu Làng

-
Mùa Thu Trong Mơ

-
Thu Về Nhớ Anh

-
Mộng Dưới Trăng

-
TÂY NINH QUÊ TÔI
VIỆT HẢI
Tây Ninh là quê hương tôi, vì tôi ra đời tại đó, dù không sống tại đó lâu, nhưng những năm tháng về nơi này nghỉ hè cũng đủ cho tôi cái tình thân ái của những năm tháng thiếu thời. Gần 3 thập niên xa quê hương ngoài ý muốn, tâm tư tôi vẫn không nguôi ngoai nhìn về cố quốc trong nhung nhớ, mặc dù quê hương vẫn còn chìm đắm trong sự tụt hậu so với các lân lang. Người dân chịu nhiều thiệt thòi nhất trong lịch sử quê hương. Để nhẹ nhàng cho bài viết, tôi không đi sâu về sự tụt hậu này, mà lý do ly hương của đa số người Việt tại hải ngoại đã nói lên đủ rồi. Do đó, khi tìm hiểu về vùng đất nào đó, người ta thường bàn về các yếu tố như lịch sử, địa dư, phong cảnh, di tích và thức ăn hay thổ sản tiêu biểu. Trong ý niệm như vậy cho bài viết ngắn này, tôi xin phác họa những nét đại cương về Tây Ninh hay về quê hương tôi như trong phần sau.

ĐỊA DƯ:
Về địa lý, Tây Ninh cách Sài Gòn 99km về hướng bắc, chu vi dài 214km. Phía bắc Tây Ninh tiếp giáp với tỉnh Kompong Cham của Cao Miên, phía nam giáp tỉnh Hậu Nghĩa, phía đông giáp tỉnh Bình Dương và phía tây giáp 2 tỉnh Prey Veng và Svay Rieng của Cao Miên. Do đó, khi nhìn vào bản đồ địa lý thì Tây Ninh có biên giới chia chung với xứ láng giềng Cao Miên khá nhiều. Về diện tích thì Tây Ninh choáng khoảng 3850km vuông. Địa thế Tây Ninh quan trọng là vì nằm ngay trên trục giao thông nối liền Sài Gòn sang Miên. Tây Ninh nằm trên địa thế khá cao là 15 mét trên độ cao của mặt biển. Về khí hậu thì Tây Ninh rất nóng, ẩm ướt vào mùa nóng bức, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.
LỊCH SỬ:
Điểm qua về lịch sử Tây Ninh là vùng đất của Thủy Chân Lạp, có tên là Romdum Ray, tức Chuồng Voi (Pare aux éléphants) vì nơi đây chỉ có rừng rậm với muôn thú dữ mà cọp, voi, beo, rắn.. cư ngụ. Những người thổ dân ở đây sống rất thiếu thốn, cơ cực cho đến khi người Việt di cư đến định cư khai khẩn đất đai từ Hốc Môn lên Trảng Bàng, rồi qua Gò Dầu lên tận núi Bà Đen. Vì người Việt đến định cư mang theo ngôn ngữ, phong tục, tập quán hay văn hóa khác với người Miên, nên khi người Việt tràn đến đâu thì người Miên tự động lui về hướng tây tức vào sâu sang biên giới nước họ. Khi đó
đất Tây Ninh được Triều Đình Huế sáp nhập vào nền hành chánh của tỉnh Gia Định (tức Phiên An trấn). Khi Chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh đuổi bỏ chạy vào Nam, ông chạy lên Tây Ninh ẩn náu, tìm đường sang Miên, rồi bắt liên lạc cầu viện quân Xiêm trợ giúp đánh lại Nhà Tây Sơn. Tuy vậy, Nhà Tây Sơn đánh bại quân Xiêm. Năm 1789, Chúa Nguyễn nhờ đến viện binh là quân Pháp sang giúp. Năm 1802, Chúa Nguyễn Phúc Ánh dẹp xong Nhà Tây Sơn và lên ngôi lấy vương hiệu là Gia Long, quốc hiệu là Đại Nam. Đến thời kỳ Vua Thiệu Trị và Tự Đức, quan Thủy Chân Lạp hay Cao Miên đem quan sang đánh phá muốn chiếm lại đất đai, Tây Ninh là lãnh thổ tiếp giáp hai bên giằng co. Nhưng cuối cùng quân Miên yếu thế thua cuộc bỏ mộng lấy lại đất đai. Trong những trận thư hùng với quân Miên, có những anh hùng Việt Nam đền nợ nước, trong đó có quan tri phủ Huỳnh Công Giản mà miếu thờ ông là một trong những chốn di tích ghi công tiền nhân tại Tây Ninh. Về lãnh thổ hành chánh thì tỉnh Gia Định thời bấy giờ rất rộng lớn, nó bao trùm các vùng đất Tây Ninh, Tân Bình, Chợ Lớn, Tân An và Gò Công vào Sài Gòn. Sau này dưới thời Pháp thuộc để dễ kiểm soát, nền hành chánh mới qui định lại lãnh thổ mà vùng Trảng Bàng được làm ranh giới phân chia hai tỉnh Tây An và Tây Ninh. Riêng tỉnh Tây Ninh gồm hai vùng đất chính là Tây Ninh và Gò Dầu. Điểm đặc biệt của thuở xa xưa đó là đất Tây Ninh có vô số cây bàng lác, là loại cây thổ sản dùng làm bao xách hay làm đệm. Còn Gò Dầu là vùng đất cao có vô số cây dầu mà người dân đốt đèn. Gò Dầu lại chia làm hai vùng là Gò Dầu Hạ nơi có cư dân qui tụ sầm uất và Gò Dầu Thượng giáp ranh biên giới Miên. Dưới thời chính phủ VNCH cải danh Gò Dầu thành quận Hiếu Thiện vì nó tượng trưng cho dân tình vốn trung hiếu hiền hòa.
DANH LAM THẮNG CẢNH:
Nói về di tích hay danh lam thắng cảnh, đến Tây Ninh người sẽ đi thăm Thánh Thất Cao Đài, một Tòa Thánh thật nguy nga, tráng lệ, là nơi mà đạo Cao Đài được phát sinh rất linh thiêng tại thánh địa này. Kế nữa là rất nhiều địa danh, những cổ miếu, những cổ tự như Linh Sơn Cổ Tự với núi Bà Đen, Chùa Ông Gia Ninh, Giếng Mạch Thiên Nhiên, Cổ Tháp Prey Prasath di tích của người Miên, Lăng Ông Huỳnh Công Nghệ, Miếu Ông Gốc, Dinh Ông Gò Dầu Thượng, Miếu Ông Cả Trước, Miếu Thờ Ông Huỳnh Công Giản, Miếu Thờ Ông Huỳnh Công Thắng, Phước Lâm Cổ Tự, Thiền Lâm Cổ Tự, Cẩm Phong Tự, Hiệp Long Cổ Tự, Cổ Lâm Tự (Thanh Điền), Từ Lâm Tự (Gò Kén), Chùa Ông Phước Kiến, Đình Thái Bình, Đình Hiệp Ninh, Đình Thạnh Đức, Đình Gia Lộc.. Do đó Tây Ninh là một vùng đất linh thiêng, có nền văn hóa lâu đời hổn hợp giữa người Miên và Việt.
THỨC ĂN:
Đến Tây Ninh, người ta không thể quên những tô bánh canh, những dĩa thịt heo luộc cuốn bánh tráng, rồi món bì ram, cháo lòng hay cháo bồi là những đặc sản “rất Tây Ninh”.
1) Cháo Lòng:
Cháo lòng Tây Ninh gồm đủ lục phủ ngũ tạng của loài heo như dồi trường, lá mía, tim, cật, huyết và gan. Gạo được rang cho thơm xong ta nấu gạo cho nhuyễn nhừ, cho các thứ lòng vào nấu chung cho chất ngọt do cốt trong các món lòng heo tiết ra. Công phu nhất là món dồi nướng sả. Ruột già của heo mua về lật ngược bề trong bằng chiếc đũa, xong chà xát bề trong ruột với muối cho thật sạch trong dung dịch dấm hoặc rượu đế để khử mùi hôi. Xong phơi ruột cho ráo. Khi dồn nhân làm dồi, ta lật lại chiều của ruột nguyên thủy. Nhân là thịt heo bằm nhuyễn trộn chung với tỏi sả ớt bằm, cho tiêu sọ hột vào nêm muối cho vừa ăn (tùy khẩu vị, người viết ăn khá lạt). Nhân được nhồi vào ruột mà một đầu được thắt bằng sợi chỉ. Đầu kia được cột khi dồi được căng đều. Xong ta nướng dồi bằng lửa than hay lò điện. Món đồi này ăn với cháo hay lai rai ba sợi với bia hay cognac pha Perrier cũng bắt mồi không kém.
2) Cháo bồi:
Cháo bồi là gì? Nó chính là món cháo bột báng mà phần thịt lại giống với món bánh canh. Do vậy, nhiều hàng bánh canh bán song song với cháo bồi bột báng. Cháo được rang thơm xong nấu thành cháo chín nhừ với bột báng. Điểm đặc biệt của cháo bồi khác cháo thường ở món bột báng. Bột báng khi nóng làm cho cháo sền sệt với độ lỏng trơn tru dễ nuốt. Thịt heo nạc phần giò heo khi ta cắt khoanh ra có da, thịt và gân. Điểm thêm hành ngò, tiêu và nước mắm thì đúng điệu cháo bồi.
3) Bánh canh:
Nói tới bánh canh thì bột bánh canh có hai loại là loại bột gạo trắng đục và loại bột năng trắng trong. Theo ký ức cũ của tôi thì hình như người Tây Ninh chỉ dùng loại bột gạo. Nước lèo cho món bánh canh nấu tương tự như món hủ tiếu hay mì nước, tức chúng ta nấu nước dùng bằng xương heo. Thịt cho món bánh canh thì tận dụng tối đa 4 cái giò của con heo, nghĩa là chúng ta dùng giò phần thịt và phần bàn chân heo có cả móng. Tôi nhớ bà nội tôi dạy tôi ăn món này đầu đời là lấy nước mắm ngon (có nước mắm nhỉ thì càng tuyệt vời tâm tư) cho ớt chín đỏ cắt khoanh vào, nặn chanh cho vị cay, chua và mặn hòa lẫn nhau cho lâm li vị giác. Món này được tìm thấy nhiều nơi từ Trảng Bàng về tới Tây Ninh.
4) Thịt và lòng heo cuốn bánh tráng:
Vì các gian hàng hay các quầy bán cháo lòng và bánh canh dùng các sản phẩm heo, nên các món khác được tạo ra là món giò heo, thịt heo hay lòng heo luộc cuốn bánh tráng chấm nước mắm pha thật ngon. Món này cần có rau sống đi kèm. Tây Ninh là miền đất trù phú do thiên nhiên ưu đãi nên Tây Ninh có đủ loại rau từ rau sống đến các loại rau đọt chiếu, hay những lá xanh non, có vị chua rất bắt với món ăn cuốn bánh tráng như bì cuốn, nem cuốn, cá hấp hay cá nước cuốn bánh tráng đến món thịt hay lòng heo cuốn bánh tráng.
5) Nước mắm chấm:
Theo công thức mẹ tôi lưu truyền trước ngày tôi lên xe hoa về nhà vợ thì nước mắm được pha theo tiêu chuẩn như sau:-2/3 chén nước mắm loại ngon hoặc loại khá (loại dở có nồng độ mặn hơn, độ đạm ít hơn, cần pha chế gia giảm theo kinh nghiệm).
-1/2 chén dấm trắng (có thể thay bằng chanh)
-1/3 chén đường cát trắng.
-2 chén nước lọc (nếu ăn lạt dùng 3 chén)
-Ớt, tỏi bằm tùy khẩu vị mà nêm vào.
Theo kinh nghiệm khẩu vị, mỗi người tự biến chế theo cung cách riêng.
6) Món bì ram:
Tây Ninh làm món bì ram có phần hơi khác với các tỉnh khác vì cách làm thịt cho món bì theo cung cách khác. Đa số các tỉnh luộc thịt heo xong rồi thái sợi. Kiểu Tây Ninh là ram hay chiên thịt heo cho tỏi vào dầu phi thơm, khi thịt chín vàng óng ả, vớt ra dùng chầy hay bề sống của dao phay (phần lưng không nhọn) dần cho mềm và tưa ra. Xong ta trộn thính và bì tươi vào thịt tưa nêu trên. Bì thịt này dùng chung cho cơm tấm, bì bún hay bì cuốn.
VỀ VĂN HỌC:
Những sinh hoạt thi văn đàn đã phát sinh rất thịnh hành tại Tây Ninh mang vào lịch sử của tỉnh này bao nhân tài văn thơ. Dù hoạt động của họ về thi văn khá nổi bật trong địa bàn miền Nam. Đầu thế kỷ 19, khi nền văn học chữ quốc ngữ được phát triển thì nhóm nhà thơ tiền bối Tây Ninh ra đời năm 1915, họ họp nhau lại làm thơ, họa thơ và ngâm thơ. Những nhân vật tiêu biểu là cụ Đốc Phủ Tô Ngọc Đường, cụ Hương Cả Huỳnh Văn Tâm, cụ Hương Lễ Võ Văn Sâm, gọi tắt là Võ Sâm, là những gương mặt lãnh đạo thi đàn. Cụ Võ Sâm trở thành nhân sĩ đại biểu cho Tây Ninh, cụ cũng là soạn giả biên khảo quyển “Thi Phú Văn Từ” được giới văn học thời bấy giờ trọng nể. Nối tiếp nhóm Thi Đàn của cụ Võ Sâm và Văn Đàn Quốc Biểu của cụ Nguyễn Văn Hiến. Nhóm Quốc Biểu sinh hoạt văn học họp nhau định kỳ mỗi tuần trao đổi văn thơ. Họ họp nhau tại Gò Chẹt tại Tây Ninh. Nhóm này quy tụ khá nhiều thi văn hữu như quý ông: Thanh Vân, Nguyễn Toại Chí, Thanh Phong, Nguyễn Văn Trí, Lâm Tuyền, Võ Trung Nghĩa, Võ Văn Tấn, Sầm Sơn, Nguyễn Văn Vàng, Du Tử, Mai Huê, Lê Văn Thành, Nhà Quê, Dương Văn Kim, Nhất Thiện…
Một trong những sinh hoạt nổi bật là nhóm của quý cụ tiền bối Võ Sâm và Tô Ngọc Đường xướng họa cùng nữ sĩ Sương Nguyệt Anh của tỉnh Bến Tre. Bà là con gái của cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu. Nhân dịp xuân tân niên Tân Sửu 1901, làng thơ Tây Ninh tổ chức hội thơ tại Điện Núi Bà hay Linh Sơn Thánh Mẫu, nơi thắng cảnh thiên nhiên rất hùng vĩ, uy nghi, trước những hàng mai trắng đang trổ hoa mừng xuân, nữ sĩ Thụy Khuê Sương Nguyệt Anh cảm tác ba bài thơ mà tôi xin trích hai bài tiêu biểu là “Thưởng Bạch Mai Cảm Đề” và “Linh Sơn Nhất Thụ Mai” để tặng làng thơ Tây Ninh để tạ lòng lời mời của các thi nhân nặng tình thi phú Tây Ninh và Bến Tre như sau:
Non linh đất phước trổ hoa nhân
Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân
Tuyết được nhành tiên in sắc trắng
Sương pha bóng nguyệt ánh màu ngân
Mây lành gió lạnh nương hơi chánh
Vóc ngọc mình băng hắt khói trần
Sắc nước hương trời nên cảm mến
Non linh đất phước trổ hoa thần
(Thưởng Bạch Mai Cảm Đề)
Vài bài thơ Đường bằng Hán tự khi xuân về tại Linh Sơn mà nữ sĩ Thụy Khuê cảm tác:
Quỳnh tư ngọc cốt bản thiên chân
Tịnh độ cô liêu viên tục trần
Noãn nhập ám hương xuân dật dừ
Hàn xung sơ ảnh nguyệt tà thần
Tuyết trung tự khước lưu phong vận
Phong ngoại ưng liên đạp tuyết nhân
Thừa hứng mạc hiểm sơn thủy viễn
Đồng lai dự tử phú dương xuân
(Linh Sơn Nhất Thụ Mai)
Bài thơ trên được thi sĩ Hi Đạm của Tây Ninh chuyển ngữ sang nghĩa Việt:
Ngọc quỳnh cốt cách trời ban
Đất tịnh trơ vơ lánh thế gian
Ấm áp hương đầm xuân buổi sớm
Lạnh lùng bóng nhs5t nguyệt đêm tàn
Nghĩ thân ánh tuyết hơn sương đượm
Thương kẻ hài sương gót tuyết chan
Mến cảnh nước non xa chớ ngại
Cùng lên ngâm vịnh tứ xuân tràn.
Tóm lại Tây Ninh cũng như bao tỉnh khác có những cái chung và riêng trong lịch sử cấu tạo thành lãnh thổ Việt Nam, Bao thế hệ đi trước đổ mồ hôi, đổ xương máu khai phá đất đai thành vùng đất trù phú từ một vùng đất chỉ có rừng rậm. Viết những lời này ra đây tôi muốn tri ân tình quê hương đậm đà đã cho tôi chào đời và đầy ắp kỷ niệm quê hương khi tắm nước sông Vàm Cỏ Đông, những kỷ niệm chèo ghe chòng chành trên sông với các bạn địa phương, những kỷ niệm khó quên của miệt đồng quê tại nơi mà tôi gọi là quê hương, nó xao xuyến, ngọt ngào như những dòng nước mưa rào đổ xối xả của những ngày tắm mưa vô tư lự trên những con đường đất đỏ lầy lội, để kỷ niệm hiện về quyện lấy tâm thức tôi cả cuộc đời này, nó sẽ mãi như lời của bài hát mà nhạc sĩ mà nhạc sĩ Quách Nam Dung từ bên vùng nam cực của xứ Úc Đại Lợi đã viết tặng cho quê tôi với bao ân tình non sông gấm vóc trong lời nhạc sau đây:
”… Linh Sơn cheo leo, núi thiêng chốn xưa, tiếng kinh vắng xa Tây Ninh thân yêu, giấc mơ thiết tha, sống trong thái hòa. Ai qua nơi đây, nhớ Thánh Mẫu xưa, hiển linh..”.
(”Tây Ninh Quê Tôi”, Quách Nam Dung)
Sau cùng, tôi muốn mượn những câu thơ tiêu biểu của thi sĩ Bửu Đà diễn tả qua bài “Tây Ninh Cảm
Tác” là:
Tây Ninh là tỉnh hiền lương
Bên đời, bên đạo tình thương đậm đà
Trời thương đất lợi người hòa
Tinh thần hướng thiện trên đà nghĩa nhơn.
Với bao nỗi nhớ về quê xưa, hôm nay tôi ngồi đây bằng dòng viết này cách quê tôi 22 ngàn dặm hay nửa quả nữa địa cầu, tôi chạnh lòng cảm tác lại quê tôi qua bài thơ “Nhớ về quê tôi”:
Vàm Cỏ Đông nước chảy hiền hòa
Đồng lúa vàng gợi nhớ tình ta
Con diều căng gió khung trời xưa
Quê hương bao phủ ánh chiều tà
Chim trời xoải cánh về chốn cũ
Núi Bà hùng vĩ áng mây xa
Hỏi ai vương vấn mộng bồi hồi?
Đếm nhớ thương ơi sao đậm đà!
Việt Hải
Tây Ninh, quê tôi đó, nơi mà người dân làm lụng cần cù lại mang đặc tính hiền hòa để tôi mãi mãi nhung nhớ về Gò Dầu, về Tây Ninh và vui sướng được nhìn nhận như một người con của vùng đất quê tôi. Mỗi con người được sinh ra ở miền nào đó, dù phì nhiêu hay nghèo khổ, dù được thiên nhiên đãi ngộ hay không thì nó vẫn là quê hương. Nếu Việt Nam của tôi là một đất nước thiêng liêng luân lưu trong dòng huyết quản, đẹp đẽ về địa lý và văn hóa, thì Tây Ninh của tôi cũng trong sáng trong hai yếu tố đặc trưng đó: Chỉ vì Việt Nam và Tây Ninh đều là quê hương tôi, và tôi đã gắn bó bằng từng thớ thịt, bằng khối óc, bằng con tim hay bằng với cả hai yếu tố đặc trưng đã nêu từ tiềm thức xa xưa của thuở thiếu thời và của hoài niệm đã qua sẽ mãi mãi ngự trị trong tâm hồn tôi, cho nỗi niềm ấp ủ mang theo trong lòng người lưu lạc của quê hương đã thật sự xa xôi cách trở vì địa lý, để Tây Ninh quê tôi vĩnh viễn trong nỗi nhớ nhung hay trong niềm nhớ thương vô biên.
VIỆT HẢI
(Trích ĐS TÂY NINH QUÊ TÔI)
-
HỒ TRƯỜNG AN MỘT TÂM HỒN ĐẪM TÌNH QUÊ
Đỗ Bình
Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1938 ở làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long và qua đời tại Troyes ngày 27.1.2020. Các bút hiệu khác: Đào Huy Đán, Đông phương Bảo Ngọc, Nguyễn thị Cỏ May. Ông di cư sang Pháp ở tỉnh Troyes và sống đến cuối đời. Thuở nhỏ ông học các trường Tống Phước Hiệp, Nguyễn Đình Chiểu, Chu Văn An, Đại học Dược khoa. Tốt nghiệp khóa 26 trường Sĩ Quan Thủ Đức. Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương) từ năm 1969 tới năm 1971. Sau đó phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 (tỉnh Biên Hòa) cho tới tháng 4 năm 1975. Hồ Trường An làm thơ rất sớm thỉnh thoảng có những bài thơ học trò tâm sự của ngời trai mới lớn, đến khi là sinh viên trường Dược ông đã chuyển sang văn xuôi, viết báo, từng làm phóng viên kịch trường cộng tác với Bách Khoa, Minh Tinh, Tiền Tuyến, Tiền Phong, Tin Văn, Tin Sách , Tiểu Thuyết Tuần San, Tranh Thủ, Tiểu, Bút Hoa. Khi vào quân đội ông được đưa về phục vụ trong Ban thông tin báo chí. Sau năm 1975 ra hải ngoại ông tiếp tục làm báo và cộng tác với các báo: Quê Mẹ, Hồn Nước, Đất Mới, Văn, Văn Học Nghệ Thuật, Văn Học, Bút Lửa, Lạc Hồng, Viên Giác, Đẹp, Tự Do (Texas), Tự Do (Canada), Chiêu Dương, Xây Dựng, Lửa Việt, Làng Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Hải Ngoại Nhân Văn, Cỏ Thơm,.. Ông từng là tổng thư ký tòa soạn Quê Mẹ (Pháp) và Làng Văn (Canada) trong một thời gian. Chính nhờ cộng tác với nhiều tạp chí đã tên tuổi của Hồ Trường An đến với nhiều đọc giả khắp nơi ở hải ngoại và quen biết thêm nhiều văn nghệ sĩ và bạn đọc khắp nơi.
Nhà văn Hồ trường An tính tình hiền hòa đôn hậu nhưng dễ nóng! Để khắc phục sự nóng nảy ông Thiền định pháp danh là Thiện Tĩnh và ăn chay trường suốt mấy chục năm cho đến lúc giã từ cõi đời. Hồ Trường An là người ham học, đọc sách rất nhiều nên kiến thức uyên bác. Ông nghiên cứu sâu sắc về những tư tưởng triết học của nhiều nhà tư tưởng triết gia trên thế giới, am tường nhiều loại thể hình văn học nghệ thuật. Dù nổi tiếng nhưng trong tâm hồn ông chưa thật sự bình thản vì trong nền văn hóa cũ giới tính vẫn bị nhìn một cách khắt khe còn gò bó, bảo thủ nên ông cảm thấy bị phiền lòng khi nghe thị phi về giới tính. Vấn đề lưỡng tính của Hồ Trường An là có cảm tình và hấp dẫn của hai giới mam nữ. Có lẽ kể từ khi ông viết tập thơ Thiên Đường Tìm Lại một loại thi văn dục ái, được Nhà thơ TS Lưu Nguyễn Đạt viết lời tựa :« ..thi văn dục ái chân chính nhằm mục đích khai phóng những yếu tố căn bản của dục cảm, dưới hình thức xúc cảm toàn giác. Thi văn dục ái đã gắn bó người với người bằng thỏa mãn đam mê toàn diện, nhằm phúc hồi lẽ sống chân thành ua sáng tạo cởi mở. Thể xác, xúc cảm và tâm linh được nhắc nhở thỏa mãn trong chân tình hòa hợp. Theo chiều hướng đó, những dòng thi văn tâm linh và lãng mạn trên thế giới , qua những thời điểm khác nhau đều xác định và ca tụng tình yêu dưới hai khía cạnh tâm ái (spiritual or platonic love) và dục ái tới mực độ bổ xung toàn diện (total/absolute love) như một thể cách khai phóng nhân bản để hội nhập vào toàn thế giới hiện sinh…»
Nhà Biên khảoTS Trần Bích San viết trong lời giới thiệu thi tập Thiên Đường Tìm Lại: «Mặc Khải Trong Thi Ca. Thi Ca Dục Ái Xuất Hiện Từ Lâu Trong Văn Chương Truyền Khẩu. Phong Dao, Tục Ngữ, Câu Đố Có Những Bài, Những Câu Liên Quan Đến Tính Dục Nam Nữ…. Thơ dục ái Hồ Trường An không hoằng dương nhục cảm. Nhà thơ sử dụng nó như phương tiện chuyên chở nghệ thuật, gây thích thú thưởng ngoạn, kích thích giác uan thẩm mỹ tạo ra không khí trân trọng nghệ tghuật. Tình yêu trong thơ Hồ Trường An là sự thăng hoa toàn diện, triệt để, vô hạn giữa tâm hồn và thể xác, giữa cá nhaạn với uê hương, giữa con người với thiên nhiên… »
Cũng trong thời gian đó nhà văn Hồ Trường An bằng lòng chấp nhận trả lời cuộc phỏng vấn của nhà phê bìnhThụy Khuê trên đài RFI ông mới công khai về giới tính, Câu lạc Bộ Văn Hóa VN Paris mời ông thuyết trình đề tài văn học, những bằng hữu văn nghệ sĩ xa gần đều trân trọng tài năng và ủng tinh thần ông, điều đó đã giúp nhà văn mạnh dạn rũ bỏ mặc cảm giới tính. Ở hải ngoại trong sinh hoạt đời thường và sinh hoạt trong giới văn nghệ nhà văn Hồ Trờng An thích dao du quen với những nhà văn nữ vì qua họ ông tìm thấy mình có điểm chung, và sự giao thiệp với những người nhưng quanh vẫn bình thường. Nhà văn Hồ Trường An rất chân thành và qúy tình bạn, những ai đã từng quen biết ông ở xa sang thăm Paris ông biết được, dậy sớm lấy xe lửa từ Troyes lên Paris gặp mặt, mời ăn sau đó đón xe lửa trở về. Ông thích làm nghệ thuật và quan niệm ‘cầu tinh bất cầu đa’ nên viết cẩn thận, mỗi cuốn là một thông điệp gởi gấm. Dù ông sống toàn thời bằng nghề cầm bút và có nhiều tác phẩm bán chạy nhưng vẫn không khá giả t ài ch ánh vì thời nay người ta thích đọc trên internet hơn mua sách nên thị trường sách ngày càng ế ẩm ! Nhà văn nặng nợ với chữ nghĩa, là nghiệp dĩ nên Hồ Trường An vẫn đeo đưổi. Khác với những Bạn văn của ông họ đi làm chuyên môn để nuôi nghiệp, riêng ông vẫn miệt mài kiên trì với nghề cầm bút dù chẳng dư giả mà lòng thanh thản. Tim ông chan chứa tình người, tình quê, một tấm lòng bao la nhân ái luôn chia phần của mình làm một chút quà nhỏ gởi về giúp các bạn văn nghệ sĩ khốn khó hơn ở quê nhà. Năm ông 65 tuổi được lãnh tiền già ông gọi phôn cho tôi sung sướng nói : «Từ đây tôi sẽ viết cho tôi, viết theo những điều mình suy nghĩ và thích !».
Nhà văn Hồ Trường An cư ngụ ở tỉnh Troyes thuộc vùng Chamgpagne Ardenne, cách Paris 160 Km về hướng Đông Nam. Đây một thành phố cổ nhiều di tích lịch sử thời Phục hưng thuộc văn hóa quốc gia, nhờ sống nơi yên tĩnh nên ông đã dành toàn thì giờ cho sự nghiệp cầm bút để viết báo và viết tiểu thuyết. Nhà văn vốn sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học, có cha là nhà văn Mặc Khải, cô là Thi sĩ Phương Đài và chị ruột là nữ sĩ Nguyễn thị Thụy Vũ, Bà từng đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1970 với tác phẩm «Khung Rêu Trắng». Trước năm 1975 hai chị em ông rất được nhà văn Võ Phiến một cây bút thành danh có văn phong chau chuốt thương mến, nhưng Hồ Trường An lại thích khuynh hướng văn chương tiểu thuyết có ngôn ngữ địa phương của nhà văn Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, nhà văn Sơn Nam nên Hồ Trường An bị ảnh hưởng chất miệt vườn Miền Nam chiếm tâm hồn. Do đó văn phong của Hồ Trường An có chút nửa quê nửa tỉnh, câu văn mộc mạc nhưng ý sâu sắc khi diễn tả về một chân dung, một sự vật một cách tỉ mỉ tài tình thắm đầy tình của người dân miệt vườn Miền Nam. Từ cuốn truyện dài Phấn Bướm ấn hành 1986, cuốn Hợp Lưu 1986, Lớp Sóng Phế Hưng(1988) đến nay ông đã xuất bản được gần 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại gồm Truyện Dài, tập Truyện Ngắn, tập Biên Khảo, Ký Sự, Bút Ký và 2 tập thơ : Thiên Đường Tìm Lại (2002), và Vườn Cau quê Ngoại (2003). Nhà văn Hồ Trường An có một trí nhớ rất đặc biệt, ông nhớ tỉ mỉ về một người mà ônt chỉ gặp một lần. Năm 2008 ông bị tai biến mạch máu não toàn thân bất động lúc đầu không nói được và trí nhớ cũng quên ! Sau một thời gian điều trị trí nhớ của ông được khôi phục và đã dần dần nói được dù rất khó khăn. Từ lúc ông bị bại liệt, nhờ sức mạnh văn chương thúc đẩy đã giúp ông nhiều nghị lực vượt qua những khó khăn bệnh tật để thực hiện được những tác phẩm biên khảo mà chỉ gõ máy bằng một ngón tay, đó là cuốn Núi Cao Vực Thẩm (2012), viết về 9 vóc dáng văn học Việt Nam của Thế Kỷ 20 : Nguyễn Ngọc Bích, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Thụy Khuê, Vũ Tiến Lập, Võ Phiến , Đặng Phùng Quân, Trương Anh Thụy, Thanh Tâm Tuyền.
Cuốn : Ảnh Trường Kịch Giới(2012), ký ức về điện ảnh VN. Cuốn Trên Nẻo Đường nắng Tới (2013) Nhận định văn học về Những khuôn mặt nổi tiếng trong giới văn học trong và ngoài nước như :GS Nguyễn Ngọc Bích, Nhà phê bình văn học Thụy Khuê, Nhà văn Đặng Phùng Quân, Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, Nhà văn Vĩnh Hảo, Nhà văn Hàn Song Tường, Họa sĩ Võ Đình, Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, Nhà văn Nguyễn thị Thụy Vũ.
Ở Pháp có 3 nhà văn một đời yêu văn chương chữ nghĩa dù sức khỏe yếu đuối bệnh tật nhoàn cảnh sáng tác rất khó khăn nhưng vẫn miệt mài hoàn thành những tác phẩm cho đời đến lúc lìa đời mới bỏ bút: Nhà văn An Khê chỉ còn một tay, viết văn gõ máy chữ một tay hoàn thành tác phẩm Từ Khám Lớn Tới Côn Đảo( Làng Văn xuất bản 1992). Nhà văn Duyên Anh : bán thân bất toại phải viết bằng tay trái nhưng vẫn đã hoàn thành nhiều tác phẩm tiểu thuyết cũng như âm nhạc đến cuối đời vẫn còn một số tác phẩm vẫn in. Cuốn Danh Ná viết ở Sài gòn tháng 7 năm 1982. Cuốn Nhóc Tì Phản Động viết xong 16 tháng 2 năm1986, sau khi nhà văn Duyên Anh mất năm 2017 con của ông xuất bản thêm hai cuốn…và còn nhiều tập truyện chưa xuất bản. Nhà văn Hồ Trường An đã cố tập luyện để khắc phục bệnh tật, từ lúc bị bại liệt gõ PC bằng một ngón tay đến ngày cuối đời được thêm một số tác phẩm hơn 30 cuốn, mỗi cuốn mấy trăm trang.Các tác phẩm đã xuất bản :
Truyện dài: Phấn Bướm (Làng Văn, 1986), Hợp Lưu (Văn Nghệ, 1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Lúa Tiêu Ruộng Biền (1989), Ngát Hương Mật Ong (Làng Văn, 1989), Còn Tuôn Mạch Đời (1990), Lối Bướm Đường Hương (1991), Tình Trong Nhung Lụạ (1991), Ngát Thơm Hoa Bưởi Bông Trà (1992), Tình Đẹp Đất Long Hồ (1993), Trang Trại Thần Tiên (1993), VùngThôn Trang Diễm Ảo (1994), Thuở Sen Hồng Phượng Thắm (1995), Chân Trời Mộng Đẹp (1995), Bãi Gió Cồn Trăng (Làng Văn, 1995), Bóng Đèn Tà Nguyệt (1995), Tình Sen Ý Huệ (1999), Hiền Như Nắng Mới (2001), Chiếc Quạt Tôn Nữ (2002), Màn Nhung Đã Khép (2003), Đàn Trăng Quạt Bướm (Làng Văn, 2005), Trở Lại Bến Thùy Dương (Làng Văn, 2009).
Tập truyện: Chuyện Quê Nam (Làng Văn, 1991), Tạp Chủng (Làng Văn, 1991), Cõi Ký Ức Trăng Xanh (Làng Văn, 1991), Hội RẫyVườn Sông Rạch (1992), Chuyện Miệt Vườn (1992), Đồng Không Mông Quạnh (1994), Gả Thiếp Về Vườn (Làng Văn, 1994), Đêm Xanh Huyền Hoặc (1994), Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Tập Truyện Ma (2001), Quà Ngon Đất Quê Nam (2003), Trăng Xanh Bên Trời Huế (Làng Văn, 2009), Truyền Kỳ Trên Quê Nam (Làng Văn, 2009),
Ký sự, Bút khảo, Bút ký: Giai Thoại Hồng (1988), Thông Điệp Hồng (1990), (Chân Trời Lam Ngọc I (1993), Chân Trời Lam Ngọc II (199(1995), Sàn Gỗ Màn Nhung (1996), Cảo Thơm ( 1998), Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Tác Phẩm Đẹp Của Bạn (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát I (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát II (2001), Lai Láng Dòng Phù Sa (2001), Thập Thúy Tầm Phương (2001), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ (2002), Tập Diễm Ngưng Huy (2003), Chân Dung Những Tiếng Hát III (2003), Bảy Sắc Cầu Vồng (2004), Giai Thoại Văn Chương (2006), Náo Nức Hội Trăng Rằm (2007), Thắp Nắng Bên Trời (2007), Quê Nam Một Cõi (2007), Giữa Đất Trời Giao Hưởng ( 2008 ), Núi Cao Vực Thẳm ( 2012), Ảnh Trường Kịch Giới ( 2012 ), Trên Nẻo Đường Nắng Tới(2013). Cảo Thơm, Giữa Đất Trời Giao Hưởng, Lần Giở Trước Đèn, Cây Quỳnh Cành Dao, Những Khuôn Mặt Văn Chương…v..v…
Tập thơ: Thiên Đường Tìm Lại (2002), Vườn Cau Quê Ngoại (2003). Cho Tôi Sống Lại Một Ngày.Từ bao lâu nay người ta tranh cãi về những chuẩn mực trong văn học nghệ thuật giữa cái hay và cái dở. Trong khi đó thích hay không thích chỉ là chủ quan của người đọc. Phần chính yếu của nghệ thuật chính là cảm nhận chủ quan. Ngày nay người làm thơ ngày càng nhiều, đó là điều đáng mừng vì tâm hồn thơ sẽ giúp cho đời thêm hoa bớt đi sự cay đắng. Nữ sĩ Minh Châu GS Thái Hạc Oanh trong Ba Lê Thi Xã, thuộc hoàng phái, cháu của Thi sĩ Tùng Thiện Vương thời quân chủ đặt câu hỏi: “Tại sao có những bài gọi là thơ mà không phải là thơ, văn xuôi khác thơ ở điểm nào?
Có lẽ chưa có một định nghĩa nào chuẩn mực cho thơ nhưng phải chăng một bài viết cẩu thả, viết cho lấy có chỉ dựa vào thể tự do để gọi là “thơ” thì chưa chắc đã là một bài thơ và cũng không thể gọi là văn xuôi? Phải chăng thơ hiện đại và tự do rất gần gũi với văn xuôi ? Nhưng làm một bài thơ tự do hay, hoặc một bài thơ hiện đại hay thì rất khó ! Nhưng khi đã thành thơ thì bài đó sẽ đặc sắc và độc đáo, một bài thơ hay phải bao gồm mỹ học và ý thơ.Quan niệm sáng tác của nhà văn Hồ Trường An là sự dựa trên chủ quan, trong cuốn :Trên Nẻo Đường Nắng Tới của ông : «Tác phẩm này chỉ rọi sáng một đoạn văn chương…. Có thể có nhiều qúy độc giả cho rằng bút gỉa chủ quan trong việc chọn lựa những quyển sách theo cảm quan riêng biệt của mình mà không đến xỉa đến cảm quan của độc giả và không nghĩ gì đến giá trị đích thực của nghệ thuật. Nhưng biết sao hơn. Bút giả làm chuyện trái ngược với cách cư xử của Tào Mạnh Đức(Tào Tháo). Quan niệm của ông ta thà giết lầm mười người, còn hơn tha lầm một người. Bút giả thì cam chịu ngu si vì tha lầm người gian lẫn người ngay, không cần biết ai gian ai ngay. Hễ những sách nào mà bút giả không ưa thích thì dù được thiên hạ cho là siêu phẩm, tuyệt phẩm đi nữa thì bút giả gia công đọc đi đọc lại để sưu khảo cái tinh hoa của chúng. Còn nói gì những sách mà tác giả hâm mộ thì viết về chúng một cách trơn chu thống khoái.»
Trong một sinh hoạt Văn học Nghệ thuật do Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris tổ chức năm 2004 nhà văn Hồ Trường An thổ lộ tâm tình lúc ông chưa bị bệnh. Hôm đó quy tụ nhiều khuôn mặt nổi tiếng ở Paris và văn thi sĩThụy Cầm Dương Huệ Anh từ Cali sang : Nhạc sĩ,GS Lê Mộng Nguyên, Nhạc sĩ Xuân Lôi, Nhạc sĩ Trịnh Hưng, Nhạc sĩ Trọng Lễ, Nhạc sĩ, DS Nguyễn Đình Tuấn,GS Âm nhạc Quỳnh Hạnh. Nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oánh, Nữ sĩ Quỳn Liên, Nữ sĩ Thụy Khanh, Nữ sĩ Hà Lan Phương,
Học giả, GS Võ Thu Tịnh Nhà thơ Vân Uyên GS Nguyễn Văn Ái, Nhà thơ Phương Du BS Nguyễn Bá Hậu, BS Nguyễn Bá Linh, Nhà Thần học TS Nguyễn Tấn Phước, Nhà Biên Khảo Liều Phong, GS Nguyễn Ngọc Chân, GS Nguyễn Bảo Hưng, Nhà văn, GS Trần Đại Sĩ, Nhà văn Võ Đức Trung, Nhà văn Hồ Trường An, Văn Thi sĩ, Nhà thơ Đỗ Bình, Danh họa René, Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, Điêu khắc gia Vương Thu Thủy, Nghệ sĩ Diệu Khánh, Nghệ sĩ Linh Chi, Nghệ sĩ Thúy Hằng, Kim Lan. ..vv….Nhà văn Hồ Trường Ann tác giả gần 50 đầu sách gồm trtuyện dài, tiểu thuyết, bút ký, biên khảo, nhân định và phê bình.
Nhà văn Hồ Trường An:
«Thưa các bậc niên trưởng, và qúy văn hữu:Tôi làm văn nghệ tùy vào cảm hứng vui đâu chuốc đó chứ không nhất định cái gì, nếu cảm thấy hứng là làm. Cần phê bình là phê bình, khi tôi viết về biên khảo không phải là viết toàn sự nghiệp văn học của tác giả nào, mà viết từng cuốn chứ không dám ôm đồm. Nếu có cảm hứng làm thơ thì làm những bài thơ Đường, vui đâu chuốc đó. Tôi có một đức tính: Nếu ai khen thì cũng mừng, còn ai chê thì cũng rán chịu trận chứ không một lời nào đính chính trên báo hết. Bởi càng đính chính thì càng làm cho người ta làm dữ !. Do đó ai chê tôi thì chê ; ai khen thì mừng tôi không có một phản ứng, thật ra tôi không có buồn, mình làm một món ngon người này ăn thì khen người kia ăn thì chê, kẻ thích mì người thích hủ tíu, còn có người ăn mì ăn hủ tíu nhiều quá lại thích ăn bún riêu. Qúy vị đã đọc qua cuốn biên khảo «Thập Thúy Tầm Phương», gồm có :Nhà thơ Vi Khuê, Nhà thơ Hoàng Ngọc Liên, Nhà thơ Diên Nghị, Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Dung, Nhà văn Bình Huyên, Nhà văn Linh Linh Ngọc, Nhà thơ Phương Triều, Nhà thơ Nguyễn Văn cường, Nhà thơ Đỗ Bình, Nhà thơ Dư Thị Diễm Buồn. Cuốn biên khảo thứ tư tôi đang viết là cuốn «Tập Diễn Ngưng Huy» trong đó có hai người hiện diện ở đây là anh Võ Đức Trung và chị Thụy Khanh: Tôi xin giải thích cái tựa sách: Tập: kết tập, Diễm là đẹp, Ngưng là ngưng lại, Huy là ánh sáng, ánh sáng ngưng đọnglại tôi rút ra từ Hồng Lâu Mộng chứ không phải do tôi đặt. Tóm lại tôi không có chủ trương gì lớn lao, tôi không có tham vọng. Xin dứt lời.»
Nhà văn Hồ Trường An tâm sự vói tôi cho biết trong những tác phẩm đã viết ông chỉ hài lòng ở những tác phẩm là văn chương đích thực, còn một số khác chỉ là truyện kể! Hầu như những người nổi tiếng ở hải ngoại đều được ông viết nhận định, phê bình về tác giả và tác phẩm của họ, nhưng rất ít người viết về ông. Đối với những nhà phê bình văn học chuyên nghiệp để phân tích văn chương, ý tưởng trong tiểu thuyết của ông không quá khó, nhưng phân tích tỉ mỉ tâm lý nhân vật trong một số truyện của ông lại rất khó, vì bản thân ông có lưỡng tính nên khi diễn tả về những nhân vật nam hay nữ đôi khi có sự lẫn lộn nam tính nà nữ tính trong tác phẩm! Nhà văn thừa nhận điều này nhưng lại không cho biết ở những câu đối thoại nào trong tác phẩm. Tối 30 Tết tức ngày 24 tháng 01 năm 2020 nhà văn Hồ Trường An phôn nói chuyện với tôi rất lâu, đây là lần cuối cùng của ông. Điều tôi rất ngạc nhiên giọng nói của ông lần này nghe rất trẻ và rõ ràng vì dã lâu, kể từ khi ông bị bệnh giọng nói trở nên không rõ ! Trong suốt thời gian gian dài nhiều năm ông thường xuyên liên lạc với tôi, có những khi ngày gọi phôn 2,3 lần để trao đổi những chuyện liên quan đến văn học nghệ thuật. Ông là một thành viên của Câu Lạc Bộ văn Hóa VN Paris, lúc còn khỏe đã nhiều lần ông lên Paris diễn thuyết về đề tài văn học. Trong cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại mà ông là một thành viên trong Ban Biên Tập, lúc đầu ông gởi tham gia những bài của ông đã được in sách và xuất bản về những tác giả Mai Thảo, Trần Long Hồ, Thụy Khuê, bài đã được toàn ban thuận đưa vào sách. Thế nhưng sau một thời gian ông đã rút lại những bài đó, và đề gởi riêng cho tôi bài Giới Tính Trong Văn Chương , ông nhấn mạnh đây là bài độc đáo, một bài tâm huyết và đắc ý nhất vì nó dám nói lên những điều thuộc giới tính còn húy kỵ trong quan niệm cổ truyền của người Việt.Ông giã từ cõi đời một cách đột ngột để thả hồn vào một giấc ngủ say. Ông đã rũ bỏ những buồn phiền nhân thế, những nỗi buồn nhớ quê mà suốt đời lưu vong ông chưa một lần trở lại. Giã từ chiếc xe lăn theo áng mây bồng bềnh bay về cõi miên viễn.
Đỗ Bình
Paris 6 .2.2020 -
Thi ca Cung Trầm Tưởng càng mang sắc thái triết học và tôn giáo

Hình như càng về sau, thơ Cung Trầm Tưởng càng mang sắc thái triết học và tôn giáo. Đọc thi tập Bốn “Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định,” người ta thấy rõ điều ấy.
Bài thơ “Một Người Bầu Trời Chiếc Lá và Dòng Sông” nằm trong thi tập Bốn là một thí dụ điển hình.
Trước hết là một cái nhìn về vũ trụ quan.
Bầu Trời là Thiên mà Dòng Sông là Địa. Chiếc Lá là tượng trưng của vạn vật. Còn Người là “nhân linh ư vạn vật.” Một tựa đề thôi cũng đủ vẽ ra bối cảnh của đại vũ trụ mà trong đó Người là tiểu vũ trụ.
Triết học nhị nguyên phân biệt phần hồn và phần xác, tâm linh và nhục thể, trắng và đen, tốt và xấu. Người là TÔI và Chiếc Lá cũng là TÔI. Một TÔI tâm linh từ trên cao nhìn xuống và một TÔI nhục thể gian nan trên dòng đời như chiếc lá trôi sông. Ở đây dòng sông cũng chính là dòng đời. Chính cái dòng đời ấy thoáng cho người ta thấy hai bến sông: bến mê và bến giác theo Phật giáo.
“Một người soi bóng xế mùa xuân,
Nhìn lá trôi sông luống tần ngần.
Hỏi người dưới có phong ba lắm?
Thế sự trên này còn vướng chân.”Điều thê thảm của con người là hai mảnh “tâm linh” và “nhục thể” kiếm tìm nhau mà không gặp được nhau, không ráp lại “hai thành một.” Và, điều bi thảm tột cùng của Người (tiểu vũ trụ) là không tìm được và hoà nhập được với Đại vũ trụ (cũng được hiểu là Đấng Sáng Tạo – Creator.) Đó chính là hoả ngục.
“Tôi bỏ dòng sông đi choáng váng,
Mất người bản rập hoá bơ vơ.”Trong bài thơ “Một Người Bầu Trời Chiếc Lá và Dòng Sông,” người đọc cảm nhận triết học Phật giáo: tự giác ngộ để tự cứu mình. Chính vì thế, con nhà Phật dựa vào hùng lực và tuệ giác. Chớ ai nói Phật giáo là đạo chán đời, yếm thế. Bởi vậy, để tự giác ngộ, con người phải trải qua biết bao lần quán chiếu (nhìn thật sâu vào mình, soi rọi chính Tâm của mình để hiểu nó từ chính bản thân mình):
“Thân xác tôi da liền thịt gắn,
Hình bóng người tôi kiếm triền miên.”Khác biệt lớn lao nhất giữa triết học Phật giáo và thần học Ki-tô giáo là Ơn Cứu Chuộc. Trong khi Phật giáo chủ trương “chỉ chính tôi mới cứu được tôi” thì Ki-tô giáo cho rằng tôi vốn tội lỗi và yếu hèn, không thể tự tôi cứu tôi nên tôi cần một đấng Cứu Thế. Và vì yêu thương tôi (cũng như yêu thương toàn thể nhân loại,) Thiên Chúa Ngôi Hai đã xuống thế làm người, chịu khổ nạn, chịu chết để cứu chuộc tôi. Ngài là đấng Cứu Thế.
Với nền thần học ấy thì trong bài thơ này, “Người” chính là Ngôi Hai Thiên Chúa, đấng tự xưng là Con Người (Son of Man.) Con người đang đi tìm Tôi (Chiếc Lá) để cứu chuộc tôi. Còn tôi thì cố gắng vươn lên tới gần Ngài, cho đến khi Hai thành Một. Phao-lô nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20).
Thế thì, với triết học Phật giáo, tôi tự giác, TÔI biết TÔI, LÁ và NGƯỜI là một. Tôi xin tặng Cung thi sĩ mấy câu thơ:
“Lá một hôm kia vèo trong gió,
Rời bỏ dòng sông kiếm bầu trời.
Thanh sắc mau phai hay buồn ủ, (1)
Cũng là TÔI cả, cũng là TÔI.”Còn với thần học Công giáo, Chúa Ki-tô chịu đóng đinh, chịu chết, xuống ngục tổ tông an ủi các thánh tổ tông rồi sau đó Phục sinh. Là môn đệ Đức Ki-tô, tôi cũng đi theo con đường Thầy đi. Tôi lại tặng Cung thi sĩ mấy câu thơ:
“Câu-rút thân tôi chịu đóng đinh, (2)
Lâm-bô thăm viếng để phục sinh. (3)
Nhị nguyên hai nét nay chập một,
Để mãi TÔI là TÔI hiển linh.(1) Cung Trầm Tưởng viết trong bài thơ này: “Ngày vui thanh sắc mau phai rụng, phút buồn ủ lại mãi màu tro.”
(2) Câu-rút: phiên âm chữ “cruz” trong tiếng Bồ Đào Nha, có nghĩa là cây thập tự.
(3) Lâm-bô: “Limbo” trong thần học của Giáo hội Công giáo (Latin: limbus) là một ý tưởng sơ khai về tình trạng thế giới bên kia của những người chết.Giáo sư Quyên Di
-
Thi ca và sự huyền bí: Hội ngộ cùng nhà thơ Cung Trầm Tưởng lần thứ 5.
Nguồn gốc của thơ triết học (philo-poésie) có thể được gọi là cái gọi là Presocratics, những nhà tư tưởng ở thời Hy Lạp cổ đại, đã tham gia vào nguồn gốc của triết học và từ giữa thế kỷ thứ năm cho đến thế kỷ thứ tư trước Công nguyên. J. – C., nghĩa là đa số thức giả này hiện diện trước thời Socrates. Parmenides, Heraclitus, Empedocles và Democritus là những đại diện tiêu biểu nhất của hiện tại nơi mà thi ca và triết học không thể tách rời ra. Một mặt thì các nhà tư tưởng khác của thời đại Greco-Roman, nơi mà cho chúng ta thấy rằng thi ca là mối liên kết khá chặt chẽ hoặc trong ý nghĩa trung gian giữa tôn giáo và triết học. Họ chọn câu thơ Homeric, câu chuyện về Hesiod cũng như Horace cao quý trong Odes (Ode xuất phát từ “aeidein” của Hy Lạp, có nghĩa là ca hát hoặc cầu kinh kệ, và thuộc về truyền thống cổ xưa), vốn mang tính đa dạng của thơ trữ tình. Ban đầu Ode được kèm theo phần âm nhạc và khiêu vũ. Đấy là tương quan cho khái niệm thơ triết thuở tiên khởi của philo-poésie.
Theo Cung Trầm Tưởng, đã có nhiều bài thơ mà ông sáng tác gần đây phản ánh bằng cách nào đó và do một ý nghĩ nào đó là hành động rất bí ẩn. Một ý nghĩa khác, thơ “mới” của ông là một cách để gợi lên sự đa dạng của người khác và tất cả các lãnh vực pha trộn giữa Đông và Tây, … Liên quan đến sự đóng góp đầy chất thơ của Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre (tác giả truyện hư cấu giả tưởng của định mệnh kiếp sau, Les jeux sont faits), … Trong cuộc gặp gỡ tình bạn thân thiện với nhiều thành viên của câu lạc bộ Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, ông đã đồng ý rằng phong cách thơ mới của mình hôm nay mang vẻ bí ẩn về các vấn đề của tình yêu, thiên nhiên, con người, và của tâm linh..
Bàn về thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng.
Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm về vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc và tình yêu. Điểm nổi bật thấm đẫm chất văn trong tư tưởng của Tagore chính là thái độ đề cao con người. Triết học của Tagore là triết lý nhân sinh, lấy nền tảng là tình yêu thương mãnh liệt đối với con người. Ông phản ánh cuộc sống khốn cùng của những người dân nô lệ Ấn với niềm cảm thông sâu sắc, gióng lên tiếng nói đấu tranh đòi tự do và cuộc sống hạnh phúc cho con người. Có thể nói, với Tagore, được sống trên đời thực sự là niềm vui cao quý khi ở đó chứa chan tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.Trong niềm vui để sống, Thượng Đế là đấng quyền năng thần bí xa xôi. Nhưng đối với R.Tagore, thượng đế không ở đâu xa lạ mà là nguồn an ủi cho ta yên vui, T agore sống với sự lạc quan, vì để làm nguồn an ủi, nó là tình yêu thương đã mang lại cho con người khát vọng và niềm vui sống. Trong tổ ấm tình yêu thương của chúng ta hãy lấy sắc màu, âm thanh, hương thơm, ấp ủ linh hồn”, những ý tưởng yêu thương, yêu sống và lạc quan lãng đãng trong 3 thi phẩm gồm Lời dâng (Gitanjali), Tâm tình hiến dâng (The Gardener) và Tặng vật (Lover’s Gift).
Còn về nhà thơ Kahlil Gibran:
Nhiều người còn nhớ câu nói của ông là “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương”. (To wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving.)
Trong tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh – Broken Wings của nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sĩ người Mỹ gốc Lebanese – Kahlil Gibran, cốt truyện đại để là: “Tình yêu là kết quả của mối liên hệ tình yêu thánh thiện, platonic, không xác thịt, tác giả cho vai người nữ là Selma. Như Cung Trầm Tưởng, sự mộng ảo Gibran đã mô tả nhan sắc Selma như một nàng tiên nữ kỳ bí, khi ẩn khi hiện. Đôi tình nhân tuy yêu nhau nhưng phải chấp nhận kết quả cay đắng, họ phải chấp nhận sự chia lìa nhau, chôn kín mối tình sầu vừa chớm nở nhưng đã trở thành thiên thu. Selma vâng lời cha đi lấy người mà nàng không yêu, vì hiểu rằng cha nàng phải làm điều đó để tránh những thảm họa đổ xuống cho gia đình. Mối tình cao đẹp ấy cuối cùng đã kết thúc bằng cái chết của Selma dù có mang. Chỉ còn lại chàng trai trẻ khóc than cho số phận trước ngôi mộ của người chàng yêu thương. Người con gái ấy đã rời bỏ kiếp sống khổ đau hiện tại để mong được tái sinh trong một cuộc đời khác cùng với đứa con vừa lọt lòng mẹ, mang theo cả tình yêu của đời nàng. Cùng với cái chết của nàng, Gibran đã chôn vùi luôn cả trái tim của mình. Một mối tình khởi đầu thật đẹp và kết thúc đầy nước mắt : Đó là mối tình chia ly tan vỡ, và đã gẫy cánh”.Nào với Thơ Baudelaire
Bài L’Albatros (Chim hải âu), một trong những bài thơ nổi tiếng của Baudelaire, kết thúc bằng đoạn thơ sau đây :
“Người thi sĩ như (chim hải âu) bay vương trên chín tầng mây
Chim bay trong bão táp và nhạo cười kẻ dương cung bắn ;
Bị đày xuống mặt đất giữa những tiếng la ó,
Hai cánh khổng lồ ngăn trở bước chân chim.”Đó là hình ảnh của Baudelaire, cũng là hình ảnh của Cung Trầm Tưởng, vì người thi sĩ bị đày xuống trần thế say yêu và say thơ, họ rất giống nhau. Baudelaire đã sống kiếp lưu đày như thế nào ? Đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ra sao ? Thi phẩm Les Fleurs du Mal của ông có ảnh hưởng nhiều đối với thi ca Pháp và cũng như thi ca Việt Nam, mà Cung thi nhân vốn thích, tôi chia sẻ với ông điểm này.
Xét về thơ tiêu biểu của thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi nhận trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một hành trình thơ 1948-2018”. Nay tôi xin cô đọng lại chỉ nói về 2 bài thơ tiêu biểu trong loạt “thơ mới” của ông khi nhà thơ từ bỏ lối tình thơ ướt át như loại Chưa Bao Giờ Buồn Thế: Hai bài mà tôi đàm đạo nhiều giờ cùng thi sĩ CTT với khá nhiều chi tiết lý thú là bài: “Núi và Suối Một Huyền Sử”. Đại để nhà thơ quen một bạn đồng tù ở trại Hầm Tân (tức trại trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận), gần trại có suối Nước Trong, có rặng núi Mây Tào. Chuyện kỳ tích như thần thoại Hy Lạp cổ xưa của thế kỷ hoàng kim Odysseus, có truyện tình lâm ly bi ai như lọai Romeo và Juliet. Chuyện về người con gái Ngọc Tiên và Cung Thi Nhân được thi vị hóa qua kỳ tích Ulysse gặp Pénélope như CTT đã sáng tác một trường thi dài 5 trang sách.
Bài thi ca thứ #2 mang tên “Phồn Thực Ca”, tựa đề bài thơ dài 3 trang sách nói về yếu tố phồn tức phồn thịnh, phồn sinh, thiên nhiên phì nhiêu, được ưu đãi, ẩm thực dồi dào,… Thi nhân tâm sự ngày còn trẻ ông bay công tác về miền tây tỉnh Phong Dinh Cần Thơ, thi nhân đã gặp một cô giáo,. Cô có nước da trắng tuyệt trần, mũi cao vút, làn tóc dài như sông Cửu,.. Nàng là biểu tượng cho gái miền Nam, vùng đất kết hợp bởi 2 sắc dân, 2 nền văn minh cổ Champa và Khmer (đất Phù Nam, Óc Eo), Hai đế quốc này khi xưa chịu ảnh hưởng các nền văn hóa Brahman (Bà-la-môn) và Bangla (Ấn Bengale). Phải kể Champa (ảnh hưởng hệ phái Muslim Hồi từ gốc Mecca, trong khi Khmer chịu ảnh hưởng Ấn giáo nền văn minh Phật giáo. Vào thế kỷ 14 Chiêm quốc gây rối nước Đại Việt xứ ta vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290), đem đại binh dẹp loạn, Chiêm quân vẫn phá phách, gây rối đất ta, Khi vua Chế Bồng Nga bị quân ta sát hại tại mật trận, hai vị vua hai nước Việt Chiêm đời sau là vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), và vua bên Chiêm quốc là Chế Mân (1288 – 1307) được hòa hoãn hơn, sự liên hệ trở nên thân thiện và nồng thấm hơn, bên vua bên ta đem gả ái nữ đẹp tuyệt trần cho Chiêm vương. Chế Mân tôn vinh Huyền Trân công chúa là hoàng hậu Paramecvari. Khi Champa và Đại Việt đã sống yên vui, hòa thuận trong bang giao giữa hai nước. Chế Mân đã nhượng đất đai, dâng hai châu Ô, châu Lý (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế), Đại Việt trước đó được thêm phần đất Thuận Hóa (tỉnh Quảng Bình), xứ ta mở rộng bờ cõi.
Đây là bước tiến mở mang bờ cõi chiến lược mỹ nhân kế. Những dịp lễ hội Đại Việt, vua Chế Mân phái những đoàn vũ nữ apsara với thân hình phồn sinh, nảy nở bẩm sinh, đôi bồng đảo căng tròn nhựa sống, những apsara với cơ ngơi bốc lửa, mê ly như mọng, làn da ngăm sạm bánh mật, cánh mũi thon gọn và thẳng tắp, đôi mắt to tròn sâu thẳm. Tương tự bên văn hóa Khmer cũng có những điệu vũ do Apsara như vậy trong các di tích kiến trúc tại Angkor Thom ngày nay. Các tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Châu Đốc cộng đồng Champa và Khmer Krom vẫn còn nhiều, và lễ lạc apsara vẫn phồn sinh, phồn thực như thơ Cung thi nhân. Chủ đề của nhà thơ ghi dấu huyền tích và nhan sắc, phần gái đẹp miền tây theo phạm vi nhân chủng học, nét đẹp do sự lai căng do tạp chủng (beauté par les races mélangées), vì sự tạp chủng giữa người gốc Champa và người Khmer pha lẫn sắc diện gốc Ả rập Mecca và Ấn Bangla, rồi lai Việt và Tàu, nên những thiếu nữ miệt Lục tỉnh động lòng thi nhân chăng (?), tôi xin hỏi ông nhé.
CTT điểm qua bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”. Thi nhân CTT có hỏi tôi có biết gái miền tây đẹp như thế nào không, tôi bảo “Không”. Thi nhân mạn đàm là gái miền Tây đơm hoa kết trái bởi hương thơm mít tố nữ, bởi hương thơm hoa sứ nhà nàng (vì champa có nghĩa là hoa sứ), ôi chao nào những apsara phồn thực, kỳ bí, như những bầu vú sữa tím than, sa pô chê, nhãn lồng, cam mật, mận ngọt, quít đường,.. Với ký ức nay đã vào dĩ vãng với cô giáo Tây Đô, tên Hậu Giang của thuở ngày xưa, Vẻ đẹp nhân hậu khiến Cung thi nhân hình thành bài thơ “Phồn Thực Ca”. Góc dĩ vãng đưa ông trở về với lý luận có mối liên hệ đến lịch sử cũ và ký tích vũ công apsara dù nét xinh đẹp của người con gái hậu giang đó có nguồn gốc tạp chủng ra sao của các nền văn minh cổ Champa hay Khmer, vẫn như nét huyền bí, và thần thoại trong chất thi ca của ông.



Hôm họp mặt hội ngộ thân hữu thi ca văn học với liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã huyên thuyên, hoạt bát say thơ trên sân khấu, ông đưa cử tọa về một góc trời Paris, có ga Lyon đèn vàng, có vườn Luxembourg. Thi ca huyền bí có Ngọc Tiên một huyền thoại Pénélope của Hy Lạp, rồi có lịch sử hiện về với “Phồn Thực Ca”. Vẻ đẹp Apsara Champa, hay Angkor Thom ẩn chứa nét thi triết vũ trụ, thiên nhiên, văn hóa, tâm linh, con người,… những khía cạnh mà thi ca Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre,… phản ảnh trong chất thơ. Chất thơ như vậy mang tính chất đồng bộ với thi ca Cung Trầm Tưởng.
Trong quan điểm “La bonne personne au bon endroit au bon moment” vì hầu như Cung thi nhân mang cung mạng Kim Phong Kiếm (Vàng ở Kiếm), vốn là người của danh vọng, của đào hoa, của số đỏ hồng loan chiếu mạng. Nhà thơ xét theo tướng số tử vi, ông Nhâm Thân (1932) được sao văn xương hội tụ cùng cung hóa khoa chiếu bổn thân, khiến bao lộc may văn cung hỗ trợ mệnh chủ tế về diện công danh phú quới, bổn mệnh được tài cao đức trọng nhờ văn chương, thi phú có biểu hiện xuất sắc về mặt tài nghệ thâm sâu văn học.
Như quan điểm trên, tôi suy nghĩ Cung Trầm Tưởng đã đúng với câu nói của người Pháp là: “Một người luôn ở vị thế đúng chỗ, đúng thời”.
Vâng, ông là người của duyên số danh vọng mãn kiếp! (L’homme de gloire kalpa, toujours!).
Trần Việt Hải, Los Angeles.
Cung Trầm Tưởng et “Philo-poesie francaise et mystique” avec un peu de concept francophone en littérature:
————————————————————————————-Sommaire … Philo-poésie et mysticisme … rencontre le poète Cung Trầm Tưởng …
L’origine de la poésie philosophique peut être référée aux soi-disant présocratiques, des penseurs qui, dans la Grèce antique, ont participé aux origines de la philosophie et étaient du milieu du Ve siècle jusqu’au IVe siècle av. J.-C., c’est-à-dire la majorité avant Socrate. Parménide, Héraclite, Empédocle et Démocrite sont les plus représentatifs de ce courant où la poésie et la philosophie sont indissociables. D’un côté, d’autres penseurs de l’époque gréco-romaine, où il nous montre que la poésie est le lien, ou au sens de la médiation, entre religion et philosophie. Ils choisissent le vers homérique, la scansion de Hésiode ainsi que le noble Horace dans les Odes, ou le fragment, mais aussi l’aphorisme ou le point, toute forme brève et confuse pour exprimer leurs pensées.
Selon Cung Trầm Tưởng, de nombreux poèmes qu’il a récemment composés reflètent en quelque sorte une pensée qui en est l’acte très mystérieux. Un autre sens, sa “nouvelle” poésie est un moyen d’évoquer la diversité de l’autre et tous les domaines de mélange entre Est et Ouest … Reliant la contribution poétique de Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre (Les jeux sont faits), … Lors de la réunion amicale de bavardage avec de nombreux membres du club NVNT & TTG, il a convenu que son nouveau style de poèmes portait aujourd’hui le mystère des questions de l’amour, de la nature, de … VHLA 20 Novembre 2019.
——————————————————————————
Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng.Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm về vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc và tình yêu. Điểm nổi bật thấm đẫm chất văn trong tư tưởng của Tagore chính là thái độ đề cao con người. Triết học của Tagore là triết lý nhân sinh, lấy nền tảng là tình yêu thương mãnh liệt đối với con người. Ông phản ánh cuộc sống khốn cùng của những người dân nô lệ Ấn với niềm cảm thông sâu sắc, gióng lên tiếng nói đấu tranh đòi tự do và cuộc sống hạnh phúc cho con người. Có thể nói, với Tagore, được sống trên đời thực sự là niềm vui cao quý khi ở đó chứa chan tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.
Trong niềm vui để sống, Thượng Đế là đấng quyền năng thần bí xa xôi. Nhưng đối với R.Tagore, thượng đế không ở đâu xa lạ mà là nguồn an ủi cho ta yên vui, T agore sống với sự lạc quan, vì để làm nguồn an ủi, nó là tình yêu thương đã mang lại cho con người khát vọng và niềm vui sống. Trong tổ ấm tình yêu thương của chúng ta hãy lấy sắc màu, âm thanh, hương thơm, ấp ủ linh hồn.”, những ý tưởng yêu thương, yêu sống và lạc quan lãng đãng trong 3 thi phẩm gồm Lời dâng (Gitanjali), Tâm tình hiến dâng (The Gardener) và Tặng vật (Lover’s Gift).Kahlil Gibran:
” Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương”.
“To wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving”
Trong tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh – Broken Wings của nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sĩ người Mỹ gốc Lebanese – Kahlil Gibran, cốt truyện đại để là:
Tình yêu là kết quả của mối liên hệ tình yêu thánh thiện, platonic, không xác thịt, tác giả cho vai người nữ là Selma. Như Cung Trầm Tưởng, sự mộng ảo Gibran đã mô tả nhan sắc Selma như một nàng tiên nữ kỳ bí, khi ẩn khi hiện. Đôi tình nhân tuy yêu nhau nhưng phải chấp nhận kết quả cay đắng, họ phải chấp nhận sự chia lìa nhau, chôn kín mối tình sầu vừa chớm nở nhưng đã trở thành thiên thu. Selma vâng lời cha đi lấy người mà nàng không yêu, vì hiểu rằng cha nàng phải làm điều đó để tránh những thảm họa đổ xuống cho gia đình. Mối tình cao đẹp ấy cuối cùng đã kết thúc bằng cái chết của Selma dù có mang. Chỉ còn lại chàng trai trẻ khóc than cho số phận trước ngôi mộ của người chàng yêu thương. Người con gái ấy đã rời bỏ kiếp sống khổ đau hiện tại để mong được tái sinh trong một cuộc đời khác cùng với đứa con vừa lọt lòng mẹ, mang theo cả tình yêu của đời nàng. Cùng với cái chết của nàng, Gibran đã chôn vùi luôn cả trái tim của mình. Một mối tình khởi đầu thật đẹp và kết thúc đầy nước mắt : Đó là mối tình chia ly tan vỡ, và đã gẫy cánh,Thơ Baudelaire
Bài L’Albatros (Chim hải âu), một trong những bài thơ nổi tiếng của Baudelaire, kết thúc bằng đoạn thơ sau đây :
“Người thi sĩ như (chim hải âu,) bay vương trên chín tầng mây
Chim bay trong bão táp và nhạo cười kẻ dương cung bắn ;
Bị đày xuống mặt đất giữa những tiếng la ó,
Hai cánh khổng lồ ngăn trở bước chân chim.”
Đó là hình ảnh của Baudelaire, cũng là hình ảnh của Cung Trầm Tưởng, vì người thi sĩ bị đày xuống trần thế say yêu và say thơ, họ rất giống nhau. Baudelaire đã sống kiếp lưu đày như thế nào ? Đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ra sao ? Thi phẩm Les Fleurs du Mal của ông có ảnh hưởng nhiều đối với thi ca Pháp và cũng như thi ca Việt Nam, mà Cung thi nhân vốn thích, tôi chia sẻ với ông điểm này.Conclusion:
Tôi suy nghĩ Cung Trầm Tưởng đã đúng với câu nói của người Pháp là: “Một người luôn ở vị thế đúng chỗ, đúng thời”.
——————————————————————————-
Những ai mến mộ dòng thơ Cung Trầm Tưởng và muốn có một buổi sinh hoạt vui tươi với thi nhân, xin liên lạc với Ban Tổ Chức chúng tôi theo Poster kèm. Một pose hình chụp chung, một dĩa bánh sinh nhật 90 của ông. hay một buổi mạn đàm thơ nhạc lưu niệm với Cung thi nhân về Cali từ nơi băng giá Minnesota..
VHLABơi trong cõi văn chương Cung Trầm Tưởng- :Việt Hải Los Angeles:
https://www.tvvn.org/cung-tram-tuong-viet-hai-los-angeles/
————————————————————————————
Thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi nhận trong thi tập
“Cung Trầm Tưởng: Một hành trình thơ 1948-2018”.Cách một tháng nhà thơ CTT ngỏ ý muốn tôi nói nhận định về thi tập này, nay tôi xin cô đọng lại chỉ nói về 2 bài thơ tiêu biểu trong loạt “thơ mới” của ông khi nhà thơ từ bỏ lối tình thơ ướt át “loại Chưa Bao Giờ Buồn Thế”: Hai bài mà tôi đàm đạo nhiều giờ cùng thi sĩ CTT với khá nhiều chi tiết lý thú là bài: “Núi và Suối Một Huyền Sử”. Đại để nhà thơ quen một bạn đồng tù ở trại Hầm Tân (tức trại trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận), gần trại có suối Nước Trong, có rặng núi Mây Tào. Chuyện kỳ tích như thần thoại Hy Lạp cổ xưa của thế kỷ hoàng kim Odysseus, có truyện tình lâm ly bi ai như lọai Romeo và Juliet. Chuyện về người con gái Ngọc Tiên và Cung Thi Nhân được thi vị hóa qua kỳ tích Ulysse gặp Pénélope như CTT đã sáng tác qua bài thơ #1.
* “Núi và Suối Một Huyền Sử”, thơ trích đoạn…
“Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ
Tháp Chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn
Tóc lăn tăn gió cỏ đuôi chồn
Lời vuốt ve ru hồn ngủ võng…
Núi giãi tâm tư, bày ước vọng
Chở chiều vàng lộng nắng rừng buông
Ôm nguyên thanh thoát một vùng hồng
Thụ phấn lòng em tình lẫm liệt”(trích thơ “Núi và Suối Một Huyền Sử” trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một Hành Trình Thơ 1948-2018)
Bài thơ #2 mang tên “Phồn Thực Ca”, tựa dề bài thơ nói về phồn tức phồn thịnh, phồn sinh, thiên nhiên phì nhiêu, được ưu đãi, ẩm thực dồi dào. Thi nhân tâm sự ngày còn trẻ ông bay công tác về miền tây tỉnh Phong Dinh Cần Thơ, thi nhân đã gặp một cô giáo Hậu Giang, cô có nước da trắng tuyệt trần, mũi cao vút, làn tóc dài như sông Cửu,.. Nàng là biểu tượng cho gái miền Nam, vùng đất kết hợp bởi 2 sắc dân, 2 nền văn minh cổ Champa và Khmer (đất Phù Nam, Óc Eo), Hai đế quốc này khi xưa chịu ảnh hưởng các nền văn hóa Brahman (Bà-la-môn) và Bangla (Ấn Bengale). Phải kể Champa (ảnh hưởng hệ phái Muslim Hồi từ gốc Mecca, trong khi Khmer chịu ảnh hưởng Ấn giáo nền văn minh Phật giáo. Vào thế kỷ 14 Chiêm quốc gây rối nước Đại Việt xứ ta vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290), đem đại binh dẹp loạn, Chiêm quân vẫn phá phách, gây rối đất ta, Khi vua Chế Bồng Nga bị quân ta sát hại tại mật trận, hai vị vua hai nước Việt Chiêm đời sau là vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), và vua bên Chiêm quốc là Chế Mân (1288 – 1307) được hòa hoãn hơn, sự liên hệ trở nên thân thiện và nồng thấm hơn, bên vua bên ta đem gả ái nữ đẹp tuyệt trần cho Chiêm vương. Chế Mân tôn vinh Huyền Trân công chúa là hoàng hậu Paramecvari. Khi Champa và Đại Việt đã sống yên vui, hòa thuận trong bang giao giữa hai nước. Chế Mân đã nhượng đất đai, dâng hai châu Ô, châu Lý (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế), Đại Việt trước đó được thêm phần đất Thuận Hóa (tỉnh Quảng Bình), xứ ta mở rộng bờ cõi.
Đây là bước chiến lược mỹ nhân kế. Những dịp lễ hội Đại Việt, vua Chế Mân phái những đoàn vũ nữ apsara với thân hình phồn sinh, nảy nở bẩm sinh, đôi bồng đảo căng tròn nhựa sống, những apsara với cơ ngơi bốc lửa, mê ly như mọng, làn da ngăm sậm bánh mật, cánh mũi thon gọn và thẳng tắp, đôi mắt to tròn sâu thẳm. Tương tự bên văn hóa Khmer cũng có những điệu vũ do Apsara như vậy trong các di tích kiến trúc tại Angkor Thom ngày nay. Các tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Châu Đốc cộng đồng Champa và Khmer Krom vẫn còn nhiều, và lễ lạc apsara vẫn phồn sinh, phồn thực như thơ Cung thi nhân. Chủ đề của nhà thơ ghi dấu huyền tích và nhan sắc, phần gái dẹp miền tây theo phạm vi nhân chủng học, nét đẹp do sự lai căng do tạp chủng (beauté par les races mélangées), vì sự tạp chủng giữa người gốc Champa và người Khmer pha lẫn sắc diện gốc Ả rập Mecca và Ấn Bangla, rồi lai Việt và Tàu, nên những thiếu nữ miệt Lục tỉnh động lòng thi nhân chăng (?), tôi xin hỏi ông nhé.
Bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”, thơ trích đoạn…
Ông viết về quyền lực siêu phàm của người nữ trong thơ Baudelaire, Cung Trầm Tưởng cho loại vầng tụng ca như sau:
Em ướp trầm hương ngan ngát thánh,
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên.
Em gần gũi cũng thiêng khôn kể,
Dạy dỗ thi ca ý niệm đền.Là khởi sự cùng là kết thúc,
Đầu nguồn mạch nước, cuối dòng sông.
Em sinh sôi những áng cầu vồng,
Trước Sách Ước đến sau cùng Lịch Sử.(trích thơ “Phồn thực ca” trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một Hành Trình Thơ 1948-2018).
CTT qua bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”. thi nhân CTT có hỏi tôi có biết gái miền tây đẹp như thế nào không, tôi bảo “Vợ em là gái Bắc Hà thành ra nên em không biết nhiều về các cô gái Cửu Long giang, miền Tây lục tỉnh ra sao”. Thi nhân bảo gái miền Tây đơm hoa kết trái bởi hương thơm mít tố nữ, bởi hương thơm hoa sứ nhà nàng (vì champa có nghĩa là hoa sứ), ôi chao nào những apsara phồn thực, kỳ bí, như những bầu vú sữa tím than, sa pô chê, nhãn lòng, cam mật, mận ngọt, quít đường,.. Với ký ức nay đã vào dĩ vãng với cô giáo Tây Đô ngày xưa, Cung thi nhân hình thành bài thơ “Phồn Thực Ca”, có liên hệ đến ký tích vũ công apsara dù nét xinh đẹp của người con gái có nguồn gốc tạp chủng của các nền văn minh cổ Champa và Khmer.
————————————————————————————-
Cung Trầm Tưởng
Cung Trầm Tưởng là một nhà thơ rất quen thuộc từ đầu thập niên 60. Tên tuổi Ông nhanh chóng tràn vào giới thanh niên trí thức thời bấy giờ khi ông từ Pháp trở về Việt Nam cùng không khí lãng mạn của phong trào thơ mới, lúc đó vẫn còn ảnh hưởng nhiều đến thanh niên trí thức Việt Nam.
Mặc Lâm, phóng viên RFA
2010-01-05Photo: Cung Trầm Tưởng
Ngay cái tên của ông cũng đã ấn tượng đối với nhiều người vì chất văn học rất đậm trong mỗi chữ: Cung Trầm Tưởng.
“Tôi là Cung Trầm Tưởng vào khoảng 50-51 tôi du học tại Pháp..sau đó tôi thi đỗ vào trường không quân của Pháp học chung với ông Nguyễn Xuân Vinh, ông Nguyễn Ngọc Loan…Đến năm 1957 tôi trở lại Sài Gòn và phục vụ trong binh chủng không quân cho đến ngày 30/4/1975 tức là được 23 năm.
Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế được tôi sáng tác trong khoảng thời gian này. Có những bài thơ tôi chưa từng đăng bất cứ báo nào thì bây giờ nó sẽ được tập trung lại trong toàn tập thơ của tôi trong 60 năm mang tên Cung Trầm Tưởng và Hành Trình Thơ, sẽ được xuất bản trong năm tới.”
Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như: Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế… Cung Trầm Tưởng.
Cung Trầm Tưởng vừa sơ lược cho chúng ta biết về đời sống sáng tác của ông mà trong đó phần quan trọng nhất làm nên một Cung Trầm Tưởng từ một bài thơ sống rất lâu trong trí nhớ nhiều người đó là tác phẩm Mùa Thu Paris. Tác phẩm này được đem tới người nghe qua tài năng của Nhạc sĩ Phạm Duy khi ông phổ nó thành thơ và giới thiệu trên đài phát thanh Sài Gòn.
Ngôn ngữ trong bài thơ thật ra không phải mới lạ hay phá cách để nổi tiếng, bài thơ được giới trẻ đón nhận một cách thích thú vì một chi tiết trước đó chưa bao giờ xảy ra, đó là:
Một chàng thanh niên Việt Nam du học có người yêu bên Pháp với tóc vàng mắt xanh… hai người yêu nhau và chính những cuộc chia tay trên ga vắng đã thi vị hóa câu chuyện để nó trở thành một mode mới trong đời sống thanh niên thời bấy giờ. Bài
thơ như một trang sách mới cùng những con đường lạ lẫm bên trời Tây mở ra cho giới trẻ và đâu đó người đọc cảm thấy phần nào hả hê bù đắp lòng tự ái dân tộc đã bị mất mát khá nhiều dưới gót giày được gọi là khai hóa văn minh của thực dân Pháp.
Mùa thu Paris
Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn lyMùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờMùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt gía từ tâmMùa thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầuMùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thìMùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đờiMùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tùMùa thu !… Trời ơi ! Tình thu !
Nhà thơ Cung Trầm Tưởng chia sẻ với chúng ta kỷ niệm về bài thơ này:
“Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Thời đó tôi học ở trường Pháp cứ bị mang tiếng là Tây con, đã sẵn có ngôn ngữ Pháp và văn hóa Pháp thấm nhuần trong người thành ra sang bên đó mình không bị lạ lẫm. Tôi gặp một số mối tình dù rằng không vĩnh viễn nhưng nó đánh giá những kỷ niệm đầu đời của mình.”Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Cung Trầm Tưởng.
Kỷ niệm đầu đời cùng các mối tình tóc vàng mắt xanh ấy đã là nguồn cảm hứng cho nhiều bài thơ của Cung Trầm Tưởng vào thời mới lớn. Những chiếc ga nhỏ nằm trơ trọi giữa mùa đông nước Pháp đã từng chứng kiến biết bao cuộc chia tay trước đó, lại một lần nữa nhìn ngắm mối tình dị chủng giữa một chàng trai một đất nước bị trị và một cô gái tóc vàng, đại diện cho văn hóa và nếp sống phương Tây.
Từ đây trong hơi thở rẽ chia ấy, bắt đầu một thấm đượm khác nối liền hai bờ đại dương. Và cũng bắt đầu một vói ra ngoài, một trằn trọc mới đối với hàng triệu thanh niên Sài Gòn thời bấy giờ.
Chưa bao giờ buồn thế
Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia lyTiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cáchGa Lyon đèn vàng
Tuyết rơi buồn mênh mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màngHôn nhau phút này rồi
Chia tay nhau tức khắc
Khóc đi em. khóc đi em
Hỡi người yêu xóm học
Để sương thấm bờ đêm
Đường anh đi tràn ngập lệ buồn em…Ôi đêm nay
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia lyTàu em đi tuyết phủ
Toa anh lạnh gió đầy
Làm sao anh không rét
Cho ấm mộng đêm nay
Và mơ ngon trên khắp nẻo đường rầy !Trời em mơ có sao
Mình anh đêm ở lại
Trời mùa đông Paris
Không bao giờ có saoTrời mùa đông Paris
Chưa bao giờ buồn thế !Cung Trầm Tưởng không phảỉ chỉ làm thơ tình với những khuông mẫu yêu đương trai gái. Dù lãng mạn hay cổ điển thì thơ tình không thể chia sẻ được hết mọi khổ đau của một người bị đày đoạ trong vòng tù ngục. Cung Trầm Tưởng như hàng trăm ngàn người khác sau khi Sài Gòn sụp đổ, đã cùng với đồng đội vào những nhà tù tập trung cải tạo để trả lời cho bài học lịch sử về ý nghĩa cuộc chiến tranh mà ông và đồng đội là những người thua cuộc.
Thơ của Cung Trầm Tưởng từ đây trở thành lạnh lẽo và chai cứng hơn. Chữ nghĩa ông sử dụng trong các bài thơ tù trở nên sắc sảo đến kỳ lạ. Sắc sảo và đớn đau như kim châm vào tim giữa mùa đông miền Bắc:
Áo tù thẫm máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Ngó tay bỗng thấy già nua
Cứa em thân xác thấy mùa thu quaMôi cằn má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén canh pha nước bùn
Đêm nằm ruột rỗng vai run
Đầu kề tiếng súng chân đùn bóng đêm…Bài thơ được làm tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977 cách bài Mùa Thu Paris hơn 25 năm. Khoảng cách thời gian không làm bài thơ lạnh hơn mà chính khoảng cách con người làm bài thơ gần như hóa đá.
Ngôn ngữ thơ trong bài này bàn bạc những ẩn ức rất đời thường của người tù và người đọc cảm nhận ngay tính chất cay nghiệt của nó.
Thế nhưng Cung Trầm Tưởng lại có những bài thơ tù thấm đậm chất triết học. Nhà thơ tĩnh tại nhìn ngắm biến thiên của đời sống và thiền định tâm tưởng mình với những câu tuyệt đẹp:Mưa về gióng lê thê
Nai kêu nguồn đâu đó
Xưa nay tù ngục đỏ
Mấy ai đã trở vềVỗ, vỗ rơi tàn thuốc
Thả khói vào mông lung
Hư vô đẹp não nùng
Nụ hôn đời khốc liệt“Nụ hôn khốc liệt” dành cho đời phải chăng là một cách phản ứng thụ động trong thế giới bừng bừng thống nhục mà nhà thơ đang trải nghiệm?
Cõi sầu ta tinh khiết
Thép quắc vầng trán cao
Phong sương dệt chiến bào
Với máu se làm chỉĐã đi trăm hùng vĩ
Xông pha lắm đoạn trường
về làm đá hoa cương
Gởi đời sau tạc tượngNguồn sống hồi sinh
Cung Trầm Tưởng trở về với cuộc sống sau khi đã nếm trải đầy đủ mọi thứ mùi vị của tù nhân như hàng trăm ngàn người khác.
Trong không khí gia đình, ông có những dòng thơ gợi mở tinh khiết hơn sau nhiều năm tháng thiếu vắng. Tiếng chuông nhà thờ và những nhành huệ trắng đã giúp ông gội rửa tâm tình để tâm hồn ngày một tươi tắn hơn, Ông tìm ra được nguồn suối trong ngay tại nhà mình hay nói đúng hơn, ngay tại lòng mình, một cõi lòng đang chuyển mình cùng với thiên nhiên để tạm quên cõi tục.
Huệ trắng trinh nguyên sau một đêm
Huệ trong thư các huệ ngoài thềm
Sớm nay Chủ Nhật thơm thương quá
Chỉ có Sài Gòn trong dáng emChủ Nhật niềm tin màu huệ trắng
Hiền từ xoạt áo như lời kinh
Em đi lễ nhất trời trên ngõ
Dẫy tóc đen mềm ánh sao xanh…Sài Gòn dưới mắt nhà thơ đã dần dần lấy lại được hình ảnh tinh khôi của nó vào những sớm mai trong trẻo. Người con gái trong thơ ông từ từ sống lại, khác với cô tóc vàng khi xưa, cô gái Sài Gòn bây giờ trắng như huệ và trong như ban mai trinh nguyên của một Sài Gòn ấm áp.
Tuy thế, người yêu thơ Cung Trầm Tưởng không dễ gì quên cô gái tóc vàng bên trời Tây cách đây hơn 50 năm để chia sẻ những cảm nhận của nhà thơ những hình ảnh của các cô gái Sài Gòn ngày nay.
Tiếng còi tàu vẫn chứng tỏ ma lực của nó quyến rũ người đọc thơ đến mức sau bằng ấy năm, hình như mỗi lần nghe lại bản nhạc Tiễn Em do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ “Chưa Bao Giờ Buồn Thế” của ông, người nghe vẫn cảm thấy hình như đang dấy lên nỗi buồn man mác.
Nỗi buồn không tên nhưng có thật. Và nó vẫn ở đấy trong bất cứ người nào nếu từng thừa nhận rằng sự chia tay nào cũng đều rơi nước mắt…
RFA link: https://www.rfa.org/…/Arts-and-Literature-Magazine-Cung-Tra…
Thi Ca Cung Trầm Tưởng:
https://baotreonline.com/…/gio…/cung-tram-tuo%CC%89ng.baotreCung Trầm Tưởng:và tác phẩm, Một hành trình thơ:
https://www.nguoinam.com/phpbb/viewtopic.php?f=144&t=3136Mùa thu Paris – Cung Trầm Tưởng và Tiễn em – Phạm Duy:
https://bacsiletrungngan.wordpress.com/…/chua-bao-gio-buon…/Cung Trầm Tưởng và một hành trình thơ 60 năm:
http://www.viendongdaily.com/cung-tram-tuong-va-mot-hanh-tr…Nhà thơ Cung Trầm Tưởng và hoàn cảnh sáng tác những bài thơ Paris nổi tiếng: “lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế…”
http://vietmania.blogspot.com/…/nha-tho-cung-tram-tuong-va- -
Thơ John Tạ: Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam
Người viết: Vương Thơ Sinh


John Tạ là người bạn thân 30 năm trên nước Mỹ. Anh sang xứ người bươn chải qua nhiều ngành nghề vất vả, rồi qua thời gian anh vươn lên thành công về 2 lãnh vực auto parts và thuốc dược thảo. Nghề thuốc bắc là ngành gốc gia truyền của anh. Gia đình John Tạ gốc Hoa, Anh lớn lên ở Việt Nam vượt biên thành công sang Mỹ, anh kể cho tôi nghe những kỷ niệm vui buồn ở quê nhà khi xưa. Việt Nam là quê hương canh cánh trong tâm thức của anh. Nay ở luống tuổi chuẩn bị về hưu, tuổi về chiều, càng về chiều anh nhớ Việt Nam hơn.
Gần đây, anh sáng tác một bài thơ, những ý tưởng tạo nên thơ xuất phát từ con tim: “Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam”. Bài thơ được nghệ sĩ Chí Tâm phổ thành nhạc. Nhạc mang nét đặc sắc của thể lọai “folk ballad” như kể chuyện (music of storytelling, musique à raconter, musique comme les contes). Bản ballad này là một bài hát kể một câu chuyện, và nó diễn tả nỗi nhung nhớ quê hương.
Sau đây là phần giới thiệu về thi phẩm và lời của bài thơ được chuyển sang thể nhạc…
Nỗi lòng ly hương nhớ quê cũ.
Quê hương luôn là nguồn cảm hứng thi ca bất tận của những nhà văn, nhà thơ trong mọi thời đại. Tình cảm đối với nơi được gọi là quê hương, linh thiêng không gì có thể thay thế được, que hương trong nỗi nhớ được chữ nghĩa ghi chép bằng những câu chữ đượm tình quê hương. Nó là nỗi niềm khắc khoải, chất chứa trong lòng, những kỷ niệm bỗng dưng hiện về trong trí tưởng cũng đủ khơi gợi tâm hồn nhạy cảm, hoài niệm về nơi quê xưa chốn cũ. Tình cảm thuần túy đó đã được thể hiện trọn vẹn trong thi phẩm của thi nhân
John Tạ qua bài Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam.
Do vậy, đi xa hơn trong ý tưởng, tình yêu với quê hương bắt nguồn từ những xúc cảm từ con tim. Nỗi xúc cảm dạt dào với quê hương được gói gọn trong từng câu thơ, hay lời nhạc, ví dụ như nhạc sĩ Frédéric Chopin dâng nỗi niềm nhớ quê hương Ba Lan qua nhiều tác phẩm ballad Mazurka; hay trường hợp nỗi nhớ ly hương của ca nhạc sĩ Enrico Macias nhung nhớ quê hương Algerie của ông; hoặc giả khi ta so sánh với bài Tình Ca của nhạc sĩ Phạm Duy: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”. Nỗi xúc cảm của các nhạc sĩ này về quê hương có thể xem như sự tương đồng của nội tâm John tạ.
Mời đọc tiếp:
1/ Chopin sáng tác nhiều bài nhạc nhớ quê hương Ba Lan
Chopin được sinh ra và lớn lên trên đất nước Ba Lan, quê hương của nhiều thể loại âm nhạc, Opera, nhạc đường phố, nhạc trong nhà… Đi nơi đâu cũng có thể thưởng thức những ca khúc Arian và Roman, các điệu vũ Polonaises và Waltzes. Rất nhiều người biết chơi các nhạc cụ như piano, violon, viola, cello,… Thuở niên thiếu, Chopin đã mục kích từ các ngang cùng ngõ hẻm của các làng mạc miền quê Ba Lan, để cậu bé say đắm trong các điệu dân ca, dân vũ. Chopin nhận ra nét hay tự sự của các bản folk ballad Mazurka chứa đựng một nỗi buồn mênh mang mà không thể diễn đạt bằng lời, nhưng lại được bộc lộ một cách giản dị trong âm điệu qua cung đàn dương cầm. Âm nhạc dân gian Ba Lan, đặc biệt là âm nhạc của các loại vũ khúc đã làm rung động tâm hồn non nớt của Chopin, là cội nguồn của những giai điệu đẹp như thơ mà ông sáng tác sau này.
Trong cuộc đời long đong về nghệ thuật âm nhạc của 52 bản Mazurka do ông soạn thành tác phẩm để đời chính là tình yêu quê hương đất nước Ba Lan và khát vọng tự do mà nhạc sĩ đã gửi gắm. Những nhạc khúc ấy của Chopin được công chúng Ba Lan nhìn nhận là một gia tài quý báu của dân tộc. Hãy nghe nhạc bản Frederick Chopin Polish Song ‘Sad river’, Op 74 No 3, Nhạc khúc u buồn Melancholy ballad “Smutna rzeka” (The Sad River, 1831)
Link nhạc Chopin: https://www.youtube.com/watch?v=xFS3WkowqVg
2/ Enrico Macias sáng tác nhạc nhớ quê hương
Gaston Ghrenassia là tên thật của nghệ sĩ Enrico Macias, ông sinh năm 1938 tại Constantine, Algerie trong một gia đình gốc Do Thái và đã học chơi Guitar từ thuở thơ ấu. Gaston Ghrenassia bước vào đời với nghề giáo viên trung học, nhưng năm 1961, chiến tranh độc lập tại Algerie diễn ra dữ dội, vì dính líu vào một vụ ám sát, ông buộc phải rời khỏi Algerie, định cư ở Pháp và vĩnh viễn không bao giờ còn được trở về quê hương. Bài hát “Adieu mon pays” được ông viết trong tâm trạng buồn nhớ quê hương nên có sức truyền cảm rất mãnh liệt.
“J’ai quitté mon pays, j’ai quitté ma maison
Ma vie, ma triste vie se traîne sans raison
J’ai quitté mon soleil, j’ai quitté ma mer bleue
Leurs souvenirs se réveillent, bien après mon adieu
Soleil! Soleil de mon pays perdu…
Enrico Macias: Người nghệ sĩ lưu vong và ca khúc “Adieu Mon Pays” (hay J’ai quitté mon pays).
(Bỏ lại sau lưng Tổ quốc,tôi bỏ lại sau lưng mái nhà xưa
Đời tôi, một đời buồn chán cứ trôi đi chẳng còn ý nghĩa gì
Bỏ lại sau lưng ánh mặt trời, tôi bỏ lại cả đại dương xanh thẳm
Những kỷ niệm trong tôi bừng trỗi dậy, sau những lời tạ từ của tôi.
Mặt Trời, ôi Mặt trời của Tổ quốc xa xôi…)
3/ Nhạc nhớ nhà của Phạm Duy với bài Tình Ca ca ngợi quê hương: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”.
Về hoàn cảnh sáng tác, khi Phạm Duy không chịu được cuộc sống gò bó mất tự do tư tưởng trong chiến khu Việt Minh nên ông bỏ đi. Ông viết Tình ca để biểu lộ nỗi xúc cảm và lòng yêu nước của mình; đồng thời kêu gọi tinh thần ái quốc, đoàn kết ba miền trong bối cảnh đối đầu giữa người Quốc gia-Cộng sản.
Bàn về nội dung phần lời, nhạc phẩm Tình ca nói lên tình quê hương đất nước của một người Việt Nam qua sự phân chia có chủ ý như sau:
Đoạn 1 bày tỏ tình yêu với tiếng Việt, bắt đầu với câu “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…”, rồi diễn giải cái ‘tiếng nước tôi’ đó qua tiếng mẹ ru, câu hò, câu hát, tiếng ‘khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’.
Đoạn 2 bày tỏ tình yêu đối với non sông đất nước Việt: “Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh…”, những hình ảnh dãy Trường Sơn, sông Cửu Long, sông Hương, sông Hồng… xuất hiện như vẽ lên một dải đất nước nối liền.
Đoạn 3 bày tỏ tình yêu với con người Việt Nam với “Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu…”, từ những người chân lấm tay bùn mà vẫn hiên ngang “mình đồng da sắt” suốt vài ngàn năm lịch sử đau thương, cho đến những đời Vua chúa nối nhau giành lại độc lập cho dân tộc. Rồi ở cuối mỗi phần lời, Phạm Duy dùng bốn câu thơ lục bát, là thể thơ riêng của Việt Nam.
Lời ca khúc này rất được yêu thích vì tính chất ballad ái quốc, tự sự mới mẻ và ít thấy trong nền tân nhạc. Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng một cách điêu luyện những thủ pháp, hình thức quen thuộc của các thể ca dao dân gian trong văn học dân ca Việt Nam.
Lời Giới thiệu bài – Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam
Tương tự như bài Tình Ca, ta chia thơ ra 3 phân đoạn:
Đoạn 1: Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam Hỡi Tổ Quốc tôi kính yêu
Việt Nam, thật đẹp tuyệt vời ơi cố hương…
Tôi sinh ra nơi vùng bình yên, ôi hoa niên xuân thì hồn nhiên,…
Đoạn 2: (Ly hương) Tôi nhìn lên mây trắng quyến luyến ánh mắt trên trời xanh,
Và nước mắt thầm rơi hướng trông đại dương xanh ngút trời…
Hỡi trùng dương!… tìm đâu mái nhà của tôi?…
Đoạn 3: Lòng mang ơn nặng sâu, Tổ Quốc ơi!…
Tổ Quốc tôi mến yêu Việt Nam, niềm mến yêu tự hào…
Lòng tôi càng yêu Việt Nam mãi không quên…
Quê hương Việt Nam nỗi nhớ… (John Tạ)
Đất nước Việt Nam, nơi đã cưu mang tôi, thuở nhỏ tôi sống hồn nhiên và lớn lên trong tâm thức vô tư theo giòng thời gian trôi chảy…
Bỗng nhiên, cuộc đời tôi lại bị cuốn theo mệnh nước, tang tóc thê lương, ruột thắt lòng đau phải bỏ xứ lìa quê,
trĩu nặng trong tôi ngút ngàn niềm thương, nỗi nhớ…
Rồi một ngày kia tôi rời xa đất nước, vất vả lênh đênh trên đại dương mênh mông xanh thẳm… thuyền ghe mong manh quá làm sao vượt qua với sóng xô bão nổi. Tôi ngước mắt nhìn trời xin ông tha mạng, cứu vớt chúng tôi, đừng nhận chìm chúng tôi dưới lòng đại dương sâu thẳm… bởi vì trong tôi còn ôm ấp những mộng tưởng, những ước mơ, đường tương lai tươi sáng, tạo dựng hạnh phúc ấm no cho người, cho đời, cho dân tộc tôi cùng chung hưởng…
Này bạn ơi!, Quê hương Việt Nam tôi, sông núi hữu tình, nét đẹp quê hương tôi đâu thua gì những danh lam thế giới. Dù hôm nay tôi có sống tha hương nơi chân trời góc biển, tôi vẫn nhớ muôn đời không thể nào quên…
Tôi vẫn mãi mãi yêu Người… “Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam”…
BẢN NHẠC “TÔI YÊU TỔ QUỐC VIỆT NAM”
Phần Thơ Nhạc:
Lời: John Tạ Pricess Life, Chí Tâm phổ nhạc, hòa âm và trình bày.
Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam Hỡi Tổ Quốc tôi kính yêu
Việt Nam, thật đẹp tuyệt vời ơi cố hương…
Tôi sinh ra nơi vùng bình yên, ôi hoa niên xuân thì hồn nhiên,
Vì đâu ai gây biến thiên, quê hương khói lửa triền miên,
Bao nhiêu nghiệt oan, vô thường vây quanh tử sinh,
Ôi thương cho dân tộc Việt Nam, lòng nặng buồn cho đất nước tôi…
Năm xưa tôi rời xa cố hương…
Tôi nhìn lên mây trắng quyến luyến ánh mắt trên trời xanh,
Và nước mắt thầm rơi hướng trông đại dương xanh ngút trời…
Hỡi trùng dương!… tìm đâu mái nhà của tôi?…
Ác tâm trời mưa lại thêm bão giông, sóng gió dập vùi…
tội nghiệp bao sanh linh, thuyền ghe mong manh đã vở tan rồi…
Hỡi cao sanh!… Cầu xin ông, đừng đem tôi, xa cuộc đời,
về nơi miền xa biển sâu, bởi vì, tôi vẫn… còn bao ước mơ đời tôi…
niềm mơ ước tương lai hạnh phúc thênh thang rộng mở…
trong tôi… còn đợi chờ… *Số kiếp nhân sinh đi qua bao lần gian nan khổ đau?
vững chí tiến bước kiên gan tô đẹp tương lai thêm sáng tươi…
Cho đời, cho người trên thế gian,
Ta cùng, trọn niềm vui chung với nhau, hưởng cảnh an bình lâu dài…
Ha ha… đẹp quá quê hương mến yêu,
Sánh vai trên khắp thế giới, chốn đây tươi đẹp gấm hoa…
Thân tôi dù cho, xa xôi biển trời… niềm nhớ thương, làm sao quên lãng…
Lòng mang ơn nặng sâu, Tổ Quốc ơi!…
Tổ Quốc tôi mến yêu Việt Nam, niềm mến yêu tự hào…
Lòng tôi càng yêu Việt Nam mãi không quên…
Điệp khúc: thêm câu: Hỡi Bạn ơi… * Số kiếp nhân sinh…
June 20, 2019.
———————————————————————————
Los Angeles, 01 tháng 11, 2019.
Vương Thơ Sinh ghi nhận.
-
Thi Phẩm “Kiếp Lưu Ðày” của thi-sĩ Hữu-Phương: Tâm Sự của Một Bại Tướng
Vĩnh Liêm
Ngày 02-07-1988 tôi đi dự lễ kỷ niệm 49 năm thành lập Phật Giáo Hòa Hảo, tổ chức tại Silver Spring, Maryland mới hay nhà thơ Hữu-Phương, tức Phó Ðề Ðốc Nguyễn Hữu Chí, đã qua đời vì chứng đau tim. Thật là một hung tin đến với tôi quá bất ngờ! Nhà thơ Hữu-Phương chết vào sáng ngày 28-06-1988, thế mà mãi đến ngày 02-07-1988 tôi mới hay tin! Ðó là một sự thiếu sót lớn của tôi đối với tin tức trong cộng đồng vì tôi đi xa mới về.
Trên đuờng trở về nhà, tôi cứ suy nghĩ mãi về nhà thơ Hữu-Phương và lấy làm tiếc là đã không hay biết sớm để đi tiễn đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng cho trọn tình trọn nghĩa, vì dù sao chúng tôi cũng mang cùng màu áo (Hải Quân) và từng viết bài trên nguyệt san Lướt Sóng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975.
Lúc còn ở trong nước, tôi không có dịp gặp gỡ nhà thơ Hữu-Phương bằng xương bằng thịt, mà chỉ biết nhau trên mặt báo. Mãi đến năm 1982 chúng tôi mới có dịp làm việc chung với nhau trong Ủy Ban Liên Lạc Và Phối Hợp Người Việt Quốc Gia để hình thành Ðại Hội II tức Ðại Hội Liên Hiệp Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại, triệu tập tại Hoa Thịnh Ðốn từ 11 đến 13-06-1983. Ðại Hội II là hậu thân của Ðại Hội I do cựu Dân Biểu Don Bailey triệu tập năm 1982, mà báo Văn Nghệ Tiền Phong gọi đùa là “Ðại Hội Ðồng Bái Lạy”. Ðại Hội II thành lập một tổ chức có tên là “Liên Minh Việt Nam Tự Do”.
Lúc bấy giờ tôi đại diện cho nhà văn Nhị Lang, nói riêng, và Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại, nói chung; còn nhà thơ Hữu-Phương thì đại diện cho Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH của cựu TNS Trần Ngọc Nhuận (cựu Ðại Tá Trần Ngọc Nhuận là bạn thân của nhà thơ Hữu-Phương khi hai người còn là sĩ quan cấp Úy vào thập niên 50). Chúng tôi làm việc chung với nhau ròng rã trên 6 tháng mới hình thành được Ðại Hội II. Nhà thơ Hữu-Phương được anh em bầu làm Ðiều Hợp Viên và Trưởng Ban Tổ Chức Ðại Hội; còn tôi giữ chức vụ Phó. Nhưng mọi việc tổ chức Ðại Hội thì nhà thơ Hữu-Phương đều dồn cho tôi và các anh chị em khác, còn ông thì thong dong, sáng Chủ Nhật nào cũng đi đánh tennis trước khi vào phòng họp!
Trong những tháng làm việc chung với nhau, nhà thơ Hữu-Phương là người điềm đạm nhất, tính tình cởi mở, không hề lý luận ồn ào hay bắt bẻ người khác. Dường như ông không tha thiết chi lắm về cái Ðại Hội sắp thành hình. Ông đến họp vì giữ lời hứa với bạn, tức TNS Trần Ngọc Nhuận. Theo tôi biết thì nhà thơ Hữu-Phương không có tham vọng chính trị, mà trái lại ông còn có vẻ chán nó. Có lần nhà thơ Hữu-Phương tâm sự với tôi: “Moi nản lắm toi à! Việc này cũng không đi tới đâu, toi ráng giúp moi để hoàn thành xong Ðại Hội rồi mình nghỉ cho khỏe”.
Khi Ðại Hội II thành hình, với tư cách là Trưởng Ban Tổ Chức, nhà thơ Hữu-Phương lên diễn đàn đọc bài diễn văn khai mạc rồi ông lặng lẽ rút lui ngồi im dưới hàng ghế. Suốt Ðại Hội, chẳng những ông không hề ra tranh cử một chức vụ nào mà còn từ chối tất cả các lời đề nghị của các tham dự viên. Tôi cũng biết trước nên tìm đủ mọi lý do để thối thác các lời đề nghị.
Từ sau Ðại Hội II, nhà thơ Hữu-Phương và tôi thường điện thoại cho nhau, trao đổi tâm sự và bàn luận về thơ văn chứ không hề nhắc tới chính trị.
Tháng 07-1983, nhà thơ Hữu-Phương gửi tặng tôi tập bản thảo “Kiếp Lưu Ðày” của ông (không rõ tập I hay là tập II vì tác giả không đề chi cả. Sau này tôi mới nghĩ đó là tập II vì ông có nói rằng tập kia ông đã vứt ở đâu đó mà không tìm thấy). Gửi kèm với tập thơ là một lá thư viết mấy dòng tâm sự. Ðến tháng 03-1984, nhà thơ Hữu-Phương lại gửi tặng tiếp tập bản thảo mà tôi đoán là “Kiếp Lưu Ðày” tập III vì không có tựa đề. Như vậy là tôi thiếu mất tập I. Tập gửi lần đầu, tức tập II, ông làm từ 28-09-1981 đến 06-07-1983 và tập III đánh dấu từ 09-12-1983 đến 16-03-1984.
Tôi đọc qua 2 tập bản thảo “Kiếp Lưu Ðày”, chọn đăng một bài trên báo Việt Nam Thời Báo do tôi chủ trương vì nhà thơ có nhận lời cộng tác. Sau đó, ông có gửi thêm hai bài tham luận, một bài ký tên thật Nguyễn Hữu Chí qua nhan đề “Tập thể Quân đội: Sức mạnh cần được thể hiện và củng cố”, và một bài khác ký dưới bút hiệu Hữu-Phương: “Ôn cố tri tân”.
Trong bài “Tập thể Quân đội: Sức mạnh cần được thể hiện và củng cố”, ông nhận định như sau: “Chúng tôi thiết tưởng việc hội tụ quân nhân – dù lớn hay nhỏ, cho mục đích động hay tỉnh, dấn thân chống Cộng hay thuần túy ái hữu – đã được phát sinh từ cái gọi là ‘mặc cảm thua bại trước kẻ thù’, mà lẽ ra Quân Lực VNCH đã ăn tươi nuốt sống loài qủi quái đó trên một trận chiến cuối cùng rồi”. Cả cuộc đời trai trẻ của ông đã hiến dâng cho quân đội. Nguồn thơ của ông cũng xuất phát từ những tháng năm lênh đênh trên biển cả. Bằng vào lòng yêu nước, tính tình đôn hậu và niềm cảm xúc của một thi nhân, nhà thơ Hữu-Phương tha thiết kêu gọi tập thể quân nhân hãy đoàn kết lại để đánh đuổi kẻ thù chung. Ông viết: “Chúng ta cần tích cực hơn, nếu thấy còn xa hãy gần nhau lại. Mặc ai châm biếm, mặc ai mỉa mai, chúng ta không nản chí sờn lòng. Chúng ta phải củng cố sức mạnh của chính chúng ta, một thứ sức mạnh không tùy thuộc vào gươm súng nữa nhưng tùy vào sự hợp nhất ý chí cùng hành động. Những vết đen trong quá khứ sẽ mờ phai một khi sức mạnh đó được thể hiện và phát triển đều khắp. Thánh Kinh đã có lời: ‘Ðức tin đã cứu lấy người’”.
Trong bài “Ôn cố tri tân”, nhà thơ Hữu-Phương nhận định về giới lãnh đạo Miền Nam như sau: “Chúng ta không mong nguyên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuẩn tiết nhưng chúng ta nghĩ rằng giá mà phản ứng của ông can cường hơn những lời nguyền rủa suông nhắm vào nước bạn đồng minh, có lẽ tinh thần quân dân lúc đó không suy sụp thảm thương như vậy. Nếu ông không từng tuyên bố sống chết với anh em quân sĩ thì ông có thể bất chấp nhục vinh. Nhưng ông đã từng hô hào chiến đấu để rồi không noi được tấm gương nào của người xưa thì thật đáng chê trách vậy!”
Những bài tham luận của nhà thơ Hữu-Phương như là những lời tâm sự hơn là những lời lẽ đao to búa lớn của một chính khách hay một bình luận gia. Lời lẽ ôn hòa, ông không qui trách lỗi làm mất nuớc cho một cá nhân nào, mà theo ông cả tập thể dân quân cán chính đều có phần nào lỗi lầm và trách nhiệm: “Sau mười năm trôi qua và mọi xáo trộn đã lắng đọng, chúng ta từ lớn chí bé cần tự soi lấy mình qua lăng kính thời gian để đừng trách cứ ai mà hãy tự chê trách lấy mình trước nhứt. Những kẻ đã từng ăn trên ngồi truớc càng phải tự nhận chân và tự phê phán, vì chẳng có lời phê phán nào hơn chính lương tri của mình”.
Nhà thơ Hữu-Phương lúc nào cũng tha thiết đến vấn đề đoàn kết. Ðể kết luận bài “Ôn cố tri tân”, ông viết: “Những việc cần làm và phải quyết tâm hơn cả là nối vòng tay lớn giữa nhau bất phân dị biệt. Ngồi lại với nhau như miệng người thường nói. Gần lại với nhau trong tình máu mủ anh em, bằng một thứ tình huyết thống dân tộc. Hiện tại, chúng ta vẫn chưa làm được việc đó! Nếu bao lâu chưa làm được việc đó thì đừng nên hô hào gì nữa hết! Ðừng mong tạo dựng đại cuộc. Cũng đừng mơ giấc mơ hồi hương. Nếu chưa chân thật với chính mình thì con đường phục hồi đất nước chỉ là ảo tưởng mà thôi!”
Bây giờ ngồi đọc lại hai bài tham luận của nhà thơ Hữu-Phương, tôi thấy niềm mơ ước của ông thật là tha thiết và chí lý. Tiếc rằng ông đã ra đi quá sớm, chưa được toại nguyện niềm mơ ước của mình!
Tôi ngồi lần giở từng trang thơ trong hai tập bản thảo “Kiếp Lưu Ðày” của nhà thơ Hữu-Phương, đọc lại những bài thơ của ông, bắt gặp những lời tâm sự của một viên Tướng bị trói tay không cho chiến đấu và chiến thắng. Chức vị cuối cùng của ông trước khi rời khỏi VN là Tư Lệnh Hành Quân Biển. Một vị Tướng chỉ huy lực lượng đánh đấm trên biển cả mà không được ra lệnh bắn một viên đạn hải pháo nào vào đầu địch quân thì thử hỏi làm sao mà ông không đau lòng, uất hận cho được?
Ðất nước như xa tận cõi nào
Triền miên văng vẳng tiếng hờn đau
Sau lưng dĩ vãng kinh hoàng lắm
Cuối kiếp mong sao trả nợ đầu.
(Nếu phải)
Ông chưa trả được “nợ đầu” thì đã bỏ cuộc, không kịp nhìn thấy ngày vui của dân tộc, mọi người đều được bình yên:
Tương lai nào hứa hẹn thần tiên
Cho nước cho dân hết muộn phiền
Nếu phải nên cần ta thả nhịp
Mong rằng quê mẹ hưởng bình yên.
(Nếu phải)
Kiếp sống lưu đày đã làm cho con tim người dũng Tướng bồn chồn, bất an:
Thân phận ta núi buồn
Một khoảng dài lưu vong
Ai từng giương cung nỏ
Còn nghĩ gì nữa không?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Ta nuôi hồn ta lại
Vun thêm chí quật cường
Sau một lần thua bại
Thành trì phải vững hơn.
Vững lòng đi! Chiến sĩ!
Khi đã quyết tâm rồi
Ngày qua thôi đừng nghĩ
Ngày mai rạng hướng trời.
(Ai từng giương cung nỏ)
Ðối với những người an nhiên tự tại thì cuộc sống vật chất ở Mỹ hẳn là nơi thần tiên, nhưng đối với một “bại Tướng”, lại là một thi sĩ, thì cuộc sống tạm bợ ở xứ người chỉ là một vùng đất đìu hiu, buồn bã:
Trơ vơ đất khách ngại ngùng
Hồn ta lơ lửng giữa vùng đìu hiu.
(Nghẹn ngào trông thấy màu xanh cây lá xứ người)
Trong một buổi du xuân xem hoa Anh Ðào nở ở Hoa Thịnh Ðốn, nhà thơ chẳng những không vui mà còn cảm thấy buồn:
Ðầu xuân thiên hạ dập dìu
Ngờ đâu vườn đã rụng nhiều cánh hoa
Lạnh đông còn đó buốt da
Niềm vui chợt thấy xót xa lạnh lùng
(Ðầu xuân đi xem hoa đào nở)
Màu lá, màu cỏ, màu hoa xứ người làm cho nhà thơ chạnh lòng nghĩ tới thân phận con người lưu vong ăn đậu ở nhờ:
Lá rừng chốc đó hiện nhanh
Một tuần thấy lại đã xanh cả vùng
Ô hay! Ấm lạnh tương phùng
Biếc lên ngàn cỏ bừng bừng sắc vui
Bâng khuâng nhìn ngắm xứ người
Nỗi lòng chung đậu nghĩa đời vong nô
(Biển lá)
Bởi thế, nhà thơ lúc nào cũng mong mỏi cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại nên kết hợp để tạo thành sức mạnh hầu giải cứu quê hương:
Vì quốc gia ta phải dẹp tư thù
Người quốc gia chỉ có một tâm tư
Thống khổ đồng hương xui ta kết hợp
Mục đích giúp chinh nhân mau thắng cuộc
Diệt bạo tàn bình trị lại giang sơn
(Bài học đoàn kết)
Và nhà thơ quan niệm rằng nước non là trên hết, là tất cả:
Nước non là tất cả
Việt Nam không chào thua
Phải huy hoàng sáng giá
Việt Nam không phai mờ
(Nước non là tất cả)
Nhà thơ Hữu-Phương tha thiết một ngày về quê hương, bóng cờ vàng ba sọc đỏ sẽ lại bay phất phới khắp trời Nam:
Nếu ta chưa về ven biên đó
Chẳng phải phai sờn ý đấu tranh
Mà bởi người ta không muốn giữ
Nguyện thề vì nước chẳng màng danh.
Nếu ta chưa về thôn xóm đó
Là quyết tâm chung chửa rõ ràng
Thiên hạ lắm điều hơn chặt dạ
Kết tình xây dựng lại giang san.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Nên ta luôn nghĩ ngày mai ấy
Thôn xóm ven biên ngập sắc vàng
Sọc đỏ ngày xưa bừng đỏ lại
Huy hoàng phơi phới khắp trời Nam.
(Nếu…)
Nhưng qua năm tháng ở xứ người, tập thể người Việt vẫn chưa có được sự đoàn kết thực sự. Cuộc đổi đời đã làm cho lòng người băng hoại, trật tự đổi thay nên có lúc nhà thơ cũng ngao ngán cho tình đời:
Mảnh trời nào đó tôi mơ ước
Vẫn thấy mù tăm một biển buồn
Mảnh hồn nào đó tôi mong giữ
Chỉ là hư ảo bóng hoàng hôn.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Cái thú về khơi xin giã biệt
Gió bão ngày xưa quá rã rời
Cũng chẳng còn gì tôi tha thiết
Im lặng mà xem chuyện đổi dời.
(Ước vọng giã từ)
Xót xa cho cuộc đổi đời cũng là xót xa cho thân phận mình, thân phận của một anh hùng ngã ngựa:
Phải còn luồn lọt bao nhiêu
Bao nhiêu cho giáp hai chiều thấp cao
Cung quan ngày trước tự hào
Ngày nay nô bộc thét gào dửng dưng
Vẫn mơ gió thốc động rừng
Bứng cây dời núi một vùng dọc ngang
Nhưng rồi hổ đã rời hang
Sơn lâm hùng vĩ ngỡ ngàng đó thôi
Chín năm hòn đá lăn đồi
Trơ vơ dưới lũng, đỉnh trời bao la.
(Anh hùng ngã ngựa)
Những năm cuối cùng của cuộc đời, nhà thơ Hữu Phương có cái nhìn yếm thế về cuộc đời tị nạn và thân thế như sau:
Vẫn đo ngày tháng bằng ly biệt
Của những người thân, của bạn bè
Của nước non chừ xa cách quá
Không sao mường tượng những hàng me…
Thân thế chỉ còn mộng viễn vông
Cuối đời hiu hắt bóng hoàng hôn
Từng trang quá khứ chìm quên lãng
Chết cả tương lai, đuối cả hồn.
(Ngày tháng thu dần)
Qua bài thơ “Niềm tin cuối một đời người”, làm ngày 16-03-1984, bài thơ chấm dứt thi tập “Kiếp Lưu Ðày” tập III, tâm sự của nhà thơ Hữu-Phương gửi vào đức tin Chúa Ki-Tô (vì ông là tín đồ Thiên chúa giáo), nhưng lại nhuốm màu Lão giáo:
Bây giờ nửa kiếp già nua
Buồn vui thấp thoáng niềm trưa nỗi chiều
Kiêu sa là tính của diều
Ngửa nghiêng trước gió cũng liều cất cao
Anh hùng chí lớn quên sao
Dẫu rằng thua cuộc chiến bào vứt đi
Bây giờ ngát cõi thiên di
Hồn chim vẫn muốn quay về tổ xưa
Thế gian chen chúc lọc lừa
Lòng còn vọng động chẳng trưa chẳng chiều
Cầm như chỉ biết tin yêu
Cho ta còn mỗi giáo điều kính tôn
Trời am hiểu nỗi vui buồn
Trước sau sau trước một hồn một thân
Triều cao đổ xuống ngục trần
Lao lung mấy kiếp vẫn còn hồi sinh
Tôi chỉ nhận được có hai tập bản thảo tập thơ “Kiếp Lưu Ðày” của nhà thơ Hữu-Phương nên không đủ tài liệu để viết hết về tâm sự của ông – tâm sự của một vị Tướng yêu nước mà nửa đuờng bị trói tay. Khi còn ở trong nước, nhà thơ Hữu-Phương đã xuất bản thơ, rất tiếc tôi không còn nhớ nhan đề và cũng không thuộc một bài thơ nào của ông, mặc dù tôi đã đọc khá nhiều thơ của ông trên nguyệt san Lướt Sóng của Hải Quân VNCH và trên tờ Phổ Thông của Nguyễn Vỹ trong hai thập niên 60 và 70.
Trong thời gian lưu vong ở hải ngoại, nhà thơ Hữu-Phương làm khá nhiều thơ nhưng ông rất ít khi đăng thơ, thỉnh thoảng có đăng trên đặc san Ngày Về và gần đây trên Diễn Ðàn Thủ Ðô. Một bài thơ đăng trên Diễn Ðàn Thủ Ðô số 44, tháng 05-1988, có lẽ là bài thơ cuối cùng của nhà thơ Hữu-Phương chăng?
Tâm sự của nhà thơ Hữu-Phương qua thơ ông còn rất nhiều và dài, một bài viết không thể nào diễn tả hết được. Ở đây, người viết chỉ đề cập đến một khía cạnh nhỏ của cuộc đời ông, tâm sự của một “bại Tướng”, bị trói tay và bị đẩy đi lưu đày nơi hải ngoại. Tôi còn muốn viết nhiều hơn nữa về nhà thơ Hữu-Phương, về mộng ước, về tâm sự thầm kín, về cuộc đời tình ái của ông… Vì trang báo có hạn và thời giờ không cho phép nên tôi xin tạm ngưng ở đây, mong có dịp khác sẽ viết thêm để không phụ lòng mong đợi của nhà thơ đã gửi gấm nơi tôi khi ông còn sống.
“Khi nào VL dành thời giờ tích cực cho văn nghệ, thì xin nhớ đến tôi…” Nhà thơ Hữu-Phương viết cho tôi ngày 07-07-1983. Một lời gửi gấm mà cũng là lời trăn trối sau cùng của nhà thơ Hữu-Phương. Tôi đã không làm đúng như điều ông đã mong mỏi nơi tôi vì quá bận rộn với những vấn đề khác tích cực hơn vấn đề văn nghệ. Nay, cái chết của ông đã thôi thúc tôi, ít ra tôi phải viết đôi dòng về người quá cố cho phải đạo làm người.
Mấy năm trước đây có lần nhà thơ Hữu-Phương mời vợ chồng chúng tôi qua nhà chơi, nhưng tôi cứ hẹn mãi mà chưa có dịp đi. Có lần tôi ngỏ ý muốn gặp Tướng Ngô Quang Trưởng thì nhà thơ Hữu-Phương đề nghi: “Toi qua nhà moi dùng cơm tối, sẵn dịp đó moi mời Tướng Trưởng đến dùng cơm để toi nói chuyện với ổng…” Thế rồi tôi cũng hẹn lần hẹn lữa cho đến hôm nay vẫn chưa thực hiện được cuộc gặp gỡ đó. Tưởng cũng nên nhắc lại: Nhà thơ Hữu-Phương là bạn học cùng lớp với Tướng Ngô Quang Trưởng thời Tiểu học ở Bến Tre.
Nhà thơ Hữu-Phương thường dùng “moi”, “toi” với tôi vì ông quen miệng và coi tôi là người thân. Tôi lúc nào cũng kính trọng người lớn tuổi hơn mình, nếu thân thiết lắm thì gọi bằng “anh”. Với nhà thơ Hữu Phương, tiếng “anh” còn có hai nghĩa: đàn anh trong quân đội và đàn anh trong thi đàn.
Cái chết quá bất ngờ của nhà thơ Hữu-Phương làm tôi suy nghĩ mấy hôm liền, thương tiếc một người hết lòng với quê hương và một người có tư tưởng lớn. Mặc dù ông không hoạt động ngoài ánh sáng, nhưng lúc nào ông cũng âm thầm vận động anh em cựu quân nhân nên ngồi lại với nhau. Ông không ham danh, ham quyền. Ông không thích chức tước kêu to mà thực lực chẳng có gì. Ðây, những lời thơ của ông đã chứng minh điều đó:
Dầu mấy trời ngăn trở
Khi quyết thắng gian tà
Bây giờ không thành sự
Trăm năm chẳng muộn mà.
(Mộng lớn)
Quả thật là một mộng lớn, nhưng mộng lớn trong âm thầm, trong thâm tâm của một dũng Tướng và một con người ái quốc. Nếu có ai chê trách gì ông, xin mời đọc đoạn thơ sau đây thì sẽ hiểu ông:
Làm thơ tức nguyện cầu
Cho hồn ta hóa giải
Những nỗi sầu niềm đau
Qua đêm dài khắc khoải
(Lời đáp)
Ông cũng quan niệm về cuộc đời một cách rất đơn giản nhưng cũng rất ý nghĩa. Có lẽ ông đoán được cái chết của mình gần kề (mặc dù ông rất khỏe mạnh, mới 52 tuổi, vẫn đánh tennis hàng tuần) nên tâm sự qua bài thơ ‘Sau một khoảng dài lau lách”:
Sống chết nay mai nào ai biết được
Máy già nua lơ đểnh chốc ngừng xoay
Bạn bè năm xưa tin về bỏ cuộc
Ðến tuổi này phần số chỉ là may.
Ðã tới lúc ta không còn hoảng sợ
Hai tay xuôi không hổ thẹn hơn là
Sống lây lất một khoảng đời dang dở
Vá víu hoài lạnh vẫn thấm vào da.
Cái “lạnh” ở đây là cái lạnh của thời thế, của tình người. Ông đã hiểu được thế nào là cuộc đổi đời bi thảm, vì:
Hữu danh rồi cũng buông xuôi
Môi nào lưu giữ nụ cười hôm nay.
Hay:
Một khi mục rửa hình hài
Danh cao càng tỏ mỉa mai phận người
(Bảng vàng mười năm phục vụ công ty)
Bởi thế, nhà thơ Hữu-Phương luôn luôn mong mỏi một ngày về quê hương để ông được gặp lại bà mẹ già và người chị. Ông thúc giục mọi người “Hãy hẹn nhau về”:
Một tháng nữa ta về
Rằng tự do phải thắng truớc gian tà
Nắng tự do sẽ làm mầu mỡ lại
Ðất Miền Nam không thể chìm xuống mãi
Trong điêu tàn và sầu hận chia ly.
Dẫu trăm năm ta vẫn hẹn nhau về
Dẫu xa xăm ta cũng hẹn nhau về
Miền Nam muôn đời vẫn phải thuộc về ta…
Một lời mơ ước đơn sơ và mộc mạc thế mà ông không thực hiện được:
Ta về với mái nhà xưa
Liếp khoai, buội chuối, hàng dừa hân hoan
Giã từ cuộc sống đi hoang
Ta về với mẹ – thiên đàng của ta
Vẫn mong từ sớm đến tà
Vẫn mong cho tới khi xa cõi đời
Rồi mong vẫn tiếp với người
Ðến khi non nước xanh ngời tự do.
(Ðiều mong mỗi sáng)
Nhà thơ Hũu-Phương sinh trưởng tại Bến Tre. Ông gia nhập Hải Quân Việt Nam năm 1953. Sau 22 năm quân ngũ, cái chết của ông đã để lại biết bao nhiêu thương tiếc cho bạn đồng đội, cho những người phục vụ dưới quyền ông và cho những độc giả mến mộ thi tài của ông. Nhà thơ Hữu-Phương không chỉ là một nhà thơ của Hải Quân như nhiều người tưởng, mà ông là một thi sĩ của thi đàn Miền Nam Việt Nam trong suốt 3 thập niên 50, 60 và 70.
Hôm dự Hội Nghị Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nhóm họp tại Hoa Thịnh Ðốn, tôi đã gặp lại nhà thơ Hữu-Phương trong những giây phút ngắn ngủi. Hỏi ông bao giờ in thơ thì ông cười và cho biết: “Anh em dự định tái bản tập thơ cũ, không biết bao giờ mới xong”. Chính ông cũng không biết đứa con tinh thần của mình bao giờ mới in xong thì tôi làm sao biết được! Tôi chỉ biết hai tập bản thảo “Kiếp Lưu Ðày” hiện nằm trước mặt tôi và hình ảnh của nhà thơ Hữu-Phương như đang ngồi đối diện khi tôi viết những dòng kỷ niệm này.
Xin cầu nguyện hương hồn nhà thơ Hữu-Phương sớm về Nước Chúa để xa lánh cái “Kiếp Lưu Ðày” nghiệt ngã này.
(Ðức Phố, ngày 17-07-1988)
Vĩnh Liêm
-
NỖI BUỒN CỦA CỐ THI SĨ HỮU-PHƯƠNG Trong “Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn”
Vĩnh Liêm
Tôi còn giữ được bản thảo tập thơ thứ hai của Cố Thi-sĩ Hữu-Phương, đó là “Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn”, mà nay tôi mới có dịp đọc lại. Tập bản thảo này gồm 43 bài thơ, trong đó có bài thơ “Nghẹn Ngào Trông Thấy Màu Xanh Cây Lá Xứ Người” đã được tác giả chuyển sang Anh ngữ “The Natural Green Revives Within Me Memories of My Homeland”. Các bài thơ trong thi tập này đã được tác giả sáng tác trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 1981 tới tháng 6 năm 1983. Tựa đề cho thi tập này không chính thức được tác giả chọn, mà do người viết chọn từ các tựa đề khác nhau ở ngoài bìa tập bản thảo, chẳng hạn như: Buồn Việt Nam, Buồn Á Việt, Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn, Những Ngày Quạnh Hiu, Non Sông Tủi Buồn, Tháng Ngày Hắt Hiu, Kiếp Lưu Ðày, và Ðâu Là Ðất Sống. Vì “Kiếp Lưu Ðày” đã được tác giả chọn cho thi tập thứ nhất mà người viết đã giới thiệu trước đây, cho nên không được chọn làm tựa đề cho thi tập này. Còn lại bảy tựa đề kia, người viết thấy “Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn” là thích hợp nhất nên được chọn vì nó nói lên được nỗi buồn mất nước của tác giả.
Mang kiếp sống tị nạn hay “Kiếp Lưu Ðày” là một nỗi buồn triền miên, không bao giờ chấm dứt, nhất là đối với nhà thơ như nhà thơ Hữu-Phương. Ngoài mặt, nhà thơ Hữu-Phương lúc nào cũng giữ nụ cười bình thản và tươi tắn, nhưng trong lòng ông thì đau như cắt, rối như tơ. Khó có ai hiểu được nỗi lòng của thi sĩ Hữu-Phương nếu chưa có dịp đọc những bài thơ của ông. Từ những cảnh vật chung quanh ông, như màu lá của cây, màu tuyết trắng, màu mây đen ảm đạm, tiếng gió rít, cơn lạnh của mùa Ðông, những con đường khúc khuỷu, v.v…, thảy đều làm cho tâm hồn thi nhân xúc động, khiến ông nghĩ tới thân phận mình và thân phận quê hương. Chỉ một cơn lạnh đầu mùa của mùa Ðông cũng đủ làm cho thi nhân xúc động:
Mộng ước ta xây suốt bốn mùa
Mới về cơn lạnh đã tiêu sơ
Lá chưa rụng xuống hồn ngơ ngác
Dẫu thế không chùn trước xác xơ.
(Nếu Phải)
Nhiều đêm chạnh lòng nghĩ tới quê hương, thi sĩ Hữu-Phương chỉ mong làm sao trả được ơn đất nước như ông đã từng làm trong suốt cuộc đời binh nghiệp qua 22 năm:
Ðất nước như xa tận cõi nào
Triền miên văng vẳng tiếng hờn đau
Sau lưng dĩ vãng kinh hoàng lắm
Cuối kiếp mong sao trả nợ đầu.
(Nếu Phải)
Nhưng dân và nước đang triền miên đau khổ! Ông phải làm sao đây?
Tương lai nào hứa hẹn thần tiên
Cho nước cho dân hết muộn phiền
Nếu phải nên cầu ta thả nhịp
Mong rằng quê mẹ hưởng bình yên.
(Nếu Phải)
Khi thấy người vui mà lòng mình thì quặn thắt đớn đau. Càng nghĩ tới đồng bào ruột thịt bị lưu đày trên chính quê hương mình, tác giả đã thốt lên:
May mắn cho ta lưu đày trốn thoát
Quên sao đồng bào thân thuộc còn kia
Mỗi lúc đi sâu vào vùng hiu hắt
Ðến cả thương yêu cũng phải chia lìa.
(Khi Thấy Người Vui…)
Dường như thi sĩ Hữu-Phương rất sợ mùa Ðông. Hầu hết trong suốt thi tập “Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn” và “Kiếp Lưu Ðày”, thi sĩ Hữu-Phương luôn luôn nhắc tới cảnh vật mùa Ðông, những cảnh tuyết phủ trắng xóa, những ngày dài ảm đạm thê lương, những cành cây trụi lá buồn hiu hắt… Vì ông vốn là kẻ trầm tư nên không sao ngăn được nỗi buồn khi nhìn thấy mùa Ðông đang tới:
Mùa Ðông lại đến tím rừng thu
Trời dẫu rất quen vẫn ẩm mù
Ðất dẫu thân nhiều nhưng buốt lạnh
Huống chi hồn kẻ vốn trầm tư.
(Mùa Ðông Lại Ðến)
Kiếp lưu vong làm cho lòng thi sĩ càng ngao ngán hơn khi đối diện với mùa Ðông:
Nghĩ rằng vong kiếp chơi vơi
Mấy mùa Ðông nữa vẫn đời lưu ly.
(Lạnh Ðông)
Dù chưa tới mùa Ðông đi nữa thì lòng thi sĩ cũng không thể nào vui sướng cho được, bởi vì:
Ruột thịt thân nhân nếm cảnh cơ hàn
Hẳn so sánh thế nào tự do và đảng thuộc
Tiếc thương ngọc vàng xưa hạnh phúc
Cõi tha hương vui sướng cũng ơ hờ.
(Nhận Chân)
Thi sĩ Hữu-Phương ôm ấp tình quê trong lòng một cách thiết tha cho nên lúc nào ông cũng đều nhắc tới quê hương:
Sâu trong cái xó đời ta vẫn
Ôm ấp tình quê với thiết tha.
(Nhớ Quê)
Rồi mùa Ðông cũng phải đi qua để nhường chỗ cho mùa Xuân tới. Nhưng Ðông tàn hay Xuân tới, nỗi buồn của thi sĩ Hữu-Phương vẫn chất ngất, bởi vì ông luôn luôn hướng về quê hương.
Vẫn là viễn xứ khơi vơi
Làm sao ngắm lại khoảng trời quê hương
Ước mơ chất tới thiên đường
May ra thấy chút vẻ buồn Á Ðông.
(Buồn Á Ðông Giữa Trời Viễn Xứ)
Dẫu rằng ở xứ người vẫn có đủ bốn mùa Xuân Hạ Thu Ðông, nhưng không có mùa nào làm cho thi sĩ Hữu-Phương vui hưởng lạc cảnh cả! Mùa Xuân đang tới ở xứ Mỹ, nhưng mùa Xuân của thi sĩ đã chết trong lòng khi mất quê hương:
Thôi đừng nhắc chuyện xưa rồi
Mùa Xuân như đã xa xôi cõi nào.
(Ðừng Nhắc Nữa Chuyện Ngày Qua)
Qua một đêm dài thao thức, sáng tỉnh dậy chợt thấy cuộc đời buồn tẻ nơi xứ lạ quê người:
Bắt đầu khi tỉnh dậy
Cuộc sống nghe đã buồn
Ngày nào trong mong đợi
Niềm vui bến tương phùng.
(Chỉ Là Mênh Mông)
Dẫu là màu xanh biếc của lá cây, ấy thế mà nó cũng gợi lên một nỗi đau buồn trong lòng thi nhân. Bởi vì cái thân tị nạn chơ vơ nơi đất khách thì làm sao mà không buồn cho được?
Chơ vơ đất khách ngại ngùng
Hồn ta lơ lửng giữa vùng đìu hiu.
(Nghẹn Ngào Trông Thấy Màu Xanh Cây Lá Xứ Người)
Rồi mùa Xuân nơi xứ người lại tới, ấy thế mà thi sĩ cũng không cảm thấy vui cho được!
Ðầu xuân thiên hạ dập dìu
Ngờ đâu vườn đã rụng nhiều cánh hoa
Lạnh Ðông còn đó buốt da
Niềm vui chợt thấy xót xa lạnh lùng.
(Ðầu Xuân Ði Xem Hoa Ðào Nở)
Khi lá đã xanh trên cành, cảnh vật thật là tươi mát. Nhưng đối với thi sĩ Hữu-Phương, màu xanh tươi mát ấy cũng làm cho ông chạnh lòng nghĩ tới thân phận lưu vong:
Bâng khuâng nhìn ngắm xứ người
Nỗi lòng chung đậu nghĩa đời vong nô.
(Biển Lá)
Cảnh ăn nhờ ở đậu nơi xứ người thì làm sao lòng mình vui cho được! Cái đau nhất là khi nghĩ tới một thời kiếm cung ngang dọc bị chìm vào quên lãng:
Thân phận ta núi buồn
Một khoảng dài lưu vong
Ai từng giương cung nỏ
Còn nghĩ gì nữa không?
(Ai Từng Giương Cung Nỏ)
Một bữa cơm ngon của gia đình cũng làm cho thi sĩ Hữu-Phương phải suy nghĩ và nhớ về quê hương nơi có thân bằng quyến thuộc đang chạy lo từng bữa mà vẫn không đủ no:
Một bữa cơm ngon
Làm ta suy nghĩ
Quê nhà héo hon
Tìm đâu mỹ vị.
Ngày xưa đầy đồng
Gạo thơm lúa tốt
Bây giờ não nùng
Nhà xiêu mái dột.
(Hiện Tại và Ngày Qua)
Chính vì quá tha thiết tới quê hương cho nên thi sĩ Hữu-Phương cũng dặn lòng mình không đi nghỉ hè như những người đồng hương khác. Bởi vì tìm vui cũng chẳng ích lợi gì trong khi trong lòng mình đang ngổn ngang trăm mối sầu đau:
Sực nhớ tìm vui chẳng ích gì
Làm sao giải được nỗi sầu bi
Quê cha đất mẹ dài đau xót
Vẫn lắm người mơ một chuyến đi.
(Sực Nhớ)
Ðôi khi suy nghĩ về cuộc đời, thi sĩ Hữu-Phương đã buộc miệng than:
Một khoảng đời qua mấy nhục nhằn
Ðắng cay nghìn nỗi mấy băn khoăn
Vui nào dai dẳng buồn không gợi
Cũng mãi nhập nhòa chuyện gió trăng.
(Một Khoảng Ðời Qua)
Những ước mơ của thời quá khứ giờ đây đành phải giã từ trong cơn uất nghẹn của người anh hùng ngã ngựa:
Mảnh trời nào đó tôi mơ ước
Vẫn thấy mù tăm một biển buồn
Mảnh hồn nào đó tôi mong giữ
Chỉ là hư ảo bóng hoàng hôn.
(Ước Vọng Giã Từ)
Nỗi buồn luôn chất ngất trong hồn, nhưng thi sĩ Hữu-Phương vẫn vững niềm tin và nuôi chí khí phục thù:
Ta nuôi hồn ta lại
Vun thêm chí quật cường
Sau một lần thua bại
Thành trì phải vững hơn.
Vững lòng đi! Chiến sĩ!
Khi đã quyết tâm rồi
Ngày qua thôi đừng nghĩ
Ngày mai rạng hướng trời.
(Ai Từng Giương Cung Nỏ)
Vì việc quang phục đất nước không phải một sớm một chiều mà thành tựu ngay, cho nên ông khuyên ta nên lưu tâm đến việc “trồng người” cho mai hậu:
Trồng người vốn để cầu mong
Ðổi thay cũng chẳng sờn lòng quốc gia
Càng xa càng thấy nhớ nhà
Anh em vẫn đó thiết tha mãi còn.
(Trồng Người Cho Mai Sau)
Ông khuyên mọi người nên đoàn kết lại, vì lẽ:
Vì quốc gia ta phải dẹp tư thù
Người quốc gia chỉ có một tâm tư
Thống khổ đồng hương xui ta kết hợp
Mục đích giúp chinh nhân mau thắng cuộc
Diệt bạo tàn bình trị lại giang san
Ðược sống đây tương đối đã huy hoàng
Không thể để phôi pha bầu nhiệt huyết
Bài học nào giá trị hơn đoàn kết
Người Việt tha hương xin chớ hững hờ.
(Bài Học Ðoàn Kết)
Thi sĩ Hữu-Phương đã đặt đất nước quê hương lên trên tất cả mọi vấn đề và ông khẳng định rằng Việt Nam sẽ không bị phai mờ như mọi người suy tưởng:
Nước non là tất cả
Việt Nam không chào thua
Phải huy hoàng sáng giá
Việt Nam không phai mờ.
(Nước Non Là Tất Cả)
Và ông luôn mơ ước một ngày huy hoàng trên đất nước sẽ tới:
Nếu ta chưa về ven biên đó
Chẳng phải phai sờn ý đấu tranh
Mà bởi người ta không muốn giữ
Nguyện thề vì nước chẳng màng danh.
. . . . . . . . . . . . . . .
Nên ta luôn nghĩ ngày mai ấy
Thôn xóm ven biên ngập sắc vàng
Sọc đỏ ngày xưa bừng đỏ lại
Huy hoàng phơi phới khắp trời Nam.
(Nếu…)
Tuy không xông xáo hoạt động như nhiều người khác, nhưng thi sĩ Hữu-Phương lúc nào cũng hướng tâm về quê hương một cách chân thành và tha thiết. Ông mơ ước “mặt trời tự do” hãy mọc trên quê hương Việt Nam thân yêu để càn quét lũ Cộng sản hung tàn:
Ôi! Việt Nam! Việt Nam!
Vàng son nào tôi ấp ủ
Thân ái nào tôi lưu giữ
Xin mặt trời đừng quên
Hỡi mặt trời tự do!
Hãy đổ nắng thật nhiều
Hỏa thiêu loài quỷ đỏ
Cho đất nước tôi
Cộng sản sẽ không còn
Chỉ còn một Việt Nam
Trung hòa nhân nghĩa.
(Xin Hãy Giữ Giùm Tôi Mặt Trời)
Ðâu là tình nghĩa sắt son
Thói đời hai chữ một nguồn xót xa.
(Ðâu Là Tình Nghĩa)
Cuộc tình ví như cơn sóng vỗ bờ cát trắng hay một chiều lộng gió ở ngoài biển khơi:
Ngày của bỗng dưng
Chùn mây lộng gió
Người không thẫn thờ
Quyến luyến chi ta.
(Cuộc Tình)
Và cũng có lúc cuộc tình mênh mông như biển cả:
Cạn rồi khoảng sông
Người xưa ngẩn mặt
Muộn rồi chờ trông
Tình xưa hiu hắt.
(Mênh Mông)
Trong một bài văn xuôi, thi sĩ Hữu-Phương đã có cái nhìn về Tình Yêu, Hạnh Phúc và Ðức Tin như sau: “Ý nghĩa cuộc sống xuyên qua những mệnh đề hệ trọng như Tình Yêu, Hạnh Phúc, Ðức Tin… có thể không còn là gì nữa hết. Cái có cái không vả chăng chỉ mang một tính chất phù du và vay mượn mà thôi….” (Từ Một Va Chạm…)
Tuy nhiên, thi sĩ Hữu-Phương có một đời sống tâm linh thật là vững chắc, cho nên ông đã xác quyết:
Chìm theo hư ảo
Ai đã cuồng mê
Chỉ còn có đạo
Sáng soi lối về.
(Ðời Như Trũng Sâu)
Vâng, thi sĩ Hữu-Phương đã được soi sáng lối về Nước Chúa. Dù nỗi đau mất nước vô cùng xót xa trong lòng thi nhân nhưng sự ra đi đột ngột và vĩnh viễn của thi nhân đã hóa giải nỗi đau buồn ấy cho ông để ông được thanh thản về với Chúa.
Thế là một kiếp nổi trôi
Triền miên uất hận một đời ngửa nghiêng
(Một Ngày Nắng Tắt)
Từ nay, thi sĩ Hữu-Phương không còn phải vương vấn nữa về cuộc đời tị nạn bất đắc dĩ mà ông đã gánh chịu trong quãng đời còn lại. Nỗi buồn của ông đã chấm dứt cùng với thi tập này. Mong rằng những dòng tâm tình chia xẻ này, thay cho nén tâm hương, sẽ làm cho thi sĩ Hữu-Phương mỉm cười thanh thản nơi miền Lạc Cảnh.
(Ðức Phố, ngày 25 tháng 2 năm 2001)
Vĩnh Liêm
-
Hữu-Phương: Kiếp Lưu Ðày
Vĩnh Liêm
Hôm nay tôi nhận được bản sao của hai số Nguyệt san Lướt Sóng, “Chiến Thắng Hoàng Sa” và số đặc biệt “Ngày Hải Quân 74” do Ông Vũ Hữu San (cựu HQ Trung Tá, nguyên Hạm trưởng Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4) gửi tặng. Tôi lần dở từng trang, bắt gặp những khuôn mặt cũ, những nhà thơ thân thiết của Hải Quân ngày nào. Tôi gặp lại thi sĩ Hữu-Phương qua bài thơ “Tỉnh Mộng” của Ông. Ðó là bài thơ tình viết cho người yêu đã bước ra khỏi cuộc đời của Ông nhưng đã để lại cho tác giả một nỗi buồn ray rứt khôn nguôi. Thi sĩ Hữu-Phương đã cất lời nhắn nhủ nàng một cách thiết tha:
Ngọn lửa nào bừng cháy cũng tàn mau
Trừ lửa lòng ta muôn đời bừng sáng.
Rồi Ông kết luận:
Em còn đó xin em đừng triệt diệt
Lửa đã hồng soi tỏ lối trăm năm.
(Lướt Sóng, số đặc biệt Ngày Hải Quân 74, trang 57)
Bài thơ “Tỉnh Mộng” của thi sĩ Hữu-Phương làm cho tôi nhớ lại một món nợ với Ông mà tôi chưa trả được, đó là hai tập bản thảo thơ của Ông đã gửi tặng tôi ngày 21 tháng 3 năm 1984, “Kiếp Lưu Ðày” (Tập 3) và “Nỗi Buồn Á-Việt”, với lời gửi gấm tha thiết: “Bao giờ Vĩnh Liêm có dịp thì viết lời giới thiệu giùm”. Sau đó vài năm thì Ông đã đột ngột qua đời. Từ đó tới nay, tôi chưa hề “có dịp” để thực hiện lời căn dặn đó!
Nhân tiếp chuyện với Ông Vũ Hữu San qua điện thoại và E-mail cách nay hai tuần lễ, tôi có nhắc lại chuyện tôi đang có trong tay hai thi tập (bản thảo) của thi sĩ Hữu-Phương và đề nghị Tổng Hội Cựu Hải Quân & Hàng Hải Việt Nam Cộng Hòa in hai thi tập này khi có điều kiện. Cách đây một tuần lễ, Ông Chu Bá Yến (cựu HQ Trung Tá) có liên lạc với tôi qua E-mail và Ông cho biết đã liên lạc được với cháu Loan, ái nữ của cố Ðề Ðốc Nguyễn Hữu Chí (tên thật của nhà thơ Hữu-Phương), và đề nghị cháu Loan xúc tiến in hai tập thơ nói trên.
Tôi bèn đi tìm lục bản thảo thi tập “Kiếp Lưu Ðày” (Tập 3) nằm trong tiểu thư viện của tôi mà 7 năm qua tôi chưa có dịp đọc lại. Bây giờ bản thảo thi tập “Kiếp Lưu Ðày” đang nằm trước mặt tôi với 49 bài thơ ngắn dài đủ thể loại, trong đó có một bài thơ bằng tiếng Pháp (Le Temps en Réduction) và một bài thơ bằng tiếng Anh (Time in Reduction) được chuyển từ tiếng Việt (Ngày Tháng Thu Dần). Tại sao lại là “Kiếp Lưu Ðày” mà không là tiếng kêu than nào khác? Ðó là tâm sự đầy vơi của thi sĩ Hữu-Phương trong kiếp sống tha hương, đang đối diện với tuổi đời chồng chất mà không biết ngày nào mới được trở lại cố hương:
Thân thế chỉ còn mộng viễn vông
Cuối đời hiu hắt bóng hoàng hôn
Từng trang quá khứ chìm quên lãng
Chết cả tương lai, đuối cả hồn.
(Ngày Tháng Thu Dần)
Chỉ một chiều Ðông thôi cũng đủ làm cho nỗi lòng của thi sĩ Hữu-Phương thêm đìu hiu, cõi lòng càng se sắt:
Quê ai vẫn lạ trăm chiều
Một lần diệu vợi hẳn nhiều bâng khuâng
Phải tiêu cho hết buồn đông
Ðể còn lay lắt với dòng nổi trôi
Mong thay một kiếp luân hồi
Trên non hòn đá không lời buồn vui
(Chiều Ðông)
Mùa Ðông ở đất nước người sao mà sầu thảm quá! Mỗi một ngày Ðông ở đây là một ngày dài nhung nhớ, xót đau trong lòng người viễn khách. Một nỗi u hoài trong lòng thi sĩ khi thấy đàn chim khuất dạng vào cõi xa xăm:
Chơ vơ hồn thảo mộc
Như viễn khách chiều nay
Nhìn đàn chim khuất dạng
Lâng lâng nỗi u hoài.
(Mùa Ðông Trên Ðỉnh Cây)
Rồi mùa Ðông đem tới tặng cho thi sĩ những khối tuyết trắng phau, lặng lờ vô tri vô giác. Khi nhìn thấy tuyết tan, thi sĩ càng mơ tới một mùa xuân nắng ấm.
Ðêm qua tuyết xuống lặng lờ
Cái quan hừng sáng hai bờ trắng phau
Chiếc xe ngại bước qua cầu
Ðường trơn lỏm dấu cát rào dưới chân
Thế rồi cơn nắng ung dung
Tỏa lên chợt thấy như đông rũ tàn
Hàng cây nhìn giá băng tan
Cành trơ lá trụi mơ màng ngóng xuân.
(Tuyết Xuống Trong Ðêm)
Ðối với kiếp lưu đày như thi sĩ Hữu-Phương thì tuyết là hình ảnh làm cho cuộc đời lưu vong thêm chán chường, mệt mỏi:
Chán chê cái kiếp lưu đày
Từng giây gõ nhịp tưởng đầy là vơi
Dư âm thân thế xa rời
Chiều nay tuyết xuống ngày mơi vẫn buồn
(Ngày Mai Vẫn Buồn)
Qua tới mùa xuân thì lòng thi sĩ lại bồi hồi xúc động. Không xúc động sao được khi nghĩ tới quê hương đất nước đang oằn oại trong gông cùm Cộng sản!
Xuân lại đến
Bồi hồi sao cuộc sống!
Xuân lại về
Não nùng quá Quê Hương!
Nhưng ta vẫn đốt hương lòng
Cầu xin Tổ Quốc thắm hồng nơi nơi.
(Xuân Vọng)
Không đau đớn sao được khi anh hùng bị ngã ngựa một cách tức tửi, bị trói tay buột miệng một cách oan ức, để rồi phải làm thân nô bộc ở xứ người!
Phải còn luồn lọt bao nhiêu
Bao nhieu cho giáp hai chiều thấp cao
Cung quan ngày trước tự hào
Ngày nay nô bộc thét gào dửng dưng
Vẫn mơ gió thốc động rừng
Bứng cây dời núi một vùng dọc ngang
Nhưng rồi hổ đã rời hang
Sơn lâm hùng vĩ ngỡ ngàng đó thôi
Chín năm hòn đá lăn đồi
Chơ vơ dưới lủng đỉnh trời bao la.
(Anh Hùng Ngã Ngựa)
Càng đối diện với tuổi đời, càng ngoái nhìn lại quá khứ, thi sĩ càng thấy mảng trời thơ càng thu hẹp lại:
Qua lăng kính xưa đời thôi hết đẹp
Mù trải xa thu hẹp mảng trời thơ
Như tất cả vùi say và ngủ thiếp
Núi hoang sơ giao tiếp biển ơ hờ.
(Qua Lăng Kính Ngày Xưa)
Tuy vậy, thi sĩ vẫn còn tha thiết tới đại cuộc, tới một ngày trở về Việt Nam khi bóng giặc không còn. Thi sĩ luôn luôn theo dõi thời cuộc và cảm phục những người dám lên đuờng đi cứu lấy non sông:
Người ta cho rằng dởm
Cái việc đi Tây, Tàu
Của tiền ai tiêu rởm
Những chuyện làm cầu âu.
Thật thì biết nói sao
Nghĩ thôi đủ nghẹn ngào
Huống gì trông thế cuộc
Ngày về giấc chiêm bao
Nhưng nếu ngồi bó tay
Ai ai cũng thở dài
Không màng gì nữa hết
Chỉ bàn bạc mỉa mai
Thì tội thay! Người đã
Khêu tiêm đốt ngọn đèn
Không bừng lên lửa thật
Cũng còn thấy nhá nhem
……………..
Dầu mấy trời ngăn trở
Khi quyết thắng gian tà
Bây giờ không thành sự
Trăm năm chẳng muộn mà.
(Mộng Lớn)
Rồi Ông khẳng định một điều rất chí lý và quyết liệt:
Ðối với bè lũ đó
Không thể tỏ dịu hiền
Dẫu thân tù xác rọ
Tâm trí phải vùng lên
(Ðối Với Bè Lũ Ðó)
Dù bị ngã ngựa một cách đau xót, nhưng thi sĩ Hữu-Phương vẫn mơ một ngày về lại quê hương một cách cương quyết:
Một tháng nữa ta về
Ai bảo rằng không thể được?
Giang sơn ta sao rằng trong tay cướp
Ðất nước ta sao rằng mãi hôn mê.
Một tháng nữa ta về
Hãy bảo nhau như người Do Thái
Vững niềm tin ở Ðấng Jehovah
Ngày mai gặp nhau ở Jerusalem.
Một tháng nữa ta về
Dẫu thời gian khuyên nhủ điều nhẫn nhục
Kẻ-bên-này người-bên-kia chúc phúc
Ăn ở ngay lành để còn thấy lại nhau.
………………..
Một tháng nữa ta về
Rằng Tự do phải thắng trước gian tà
Nắng Tự do sẽ làm mầu mỡ lại
Ðất Việt Nam không thể chìm xuống mãi
Trong điêu tàn và sầu hận chia ly
Dẫu trăm năm ta vẫn hẹn nhau về
Dẫu xa xăm ta cũng hẹn nhau về
Miền Nam muôn đời vẫn phải thuộc về ta…
(Hãy Hẹn Nhau Về)
Mỗi một buổi sáng, thi sĩ Hữu-Phương đều có một điều mơ ước, tuy đơn giản nhưng rất chân thực. Ðiều mơ ước đó là:
Ta về với mái nhà xưa
Liếp khoai bụi chuối hàng dừa hân hoan
Giã từ cuộc sống đi hoang
Ta về với mẹ thiên đàng của ta
Vẫn mong từ sớm đến tà
Vẫn mong cho tới khi xa cõi đời
Rồi mong vẫn tiếp với người
Ðến khi non nước xanh ngời tự do.
(Ðiều Mong Mỗi Sáng)
Ðiều mơ ước sau đây của thi sĩ Hữu Phương cũng là điều mơ ước chung của người Việt ly hương:
Ước gì ta thấy cuộn dòng
Cửu Long nước đổ mênh mông tháng Mười
Lòng ta rộng một khoảng trời
Bao nhiêu yêu dấu đời đời không quên.
(Ðiều Mơ Ước Của Người Ly Hương)
Bỗng có một ngày buồn bã, lòng thi sĩ cảm thấy bâng khuâng, lo lắng cho nhân loại sắp đến ngày tận thế:
Họ vì cuồng tín Allah
Lao đầu như điên dại
Ta cũng vì tin Tự do
Không nguôi cõi lòng kinh hải.
(Biểu Hiệu Ngày Tận Thế)
Với tấm lòng yêu mến quê hương đất nước, mặc dù chưa thực hiện được những điều mơ ước nhỏ nhoi, nhưng thi sĩ Hữu-Phương vẫn bộc lộ tấm lòng tha thiết của Ông:
Nếu mai ta còn sống
Còn tiếp chuyện tương lai
Ðừng cho rằng ảo mộng
Nên nghĩ đó lâu dài.
(Trông Vào Nguồn Dân Tộc Mà Ðấu Tranh)
Ðố bạn biết tại sao thi sĩ Hữu-Phương làm thơ? Xin hãy lắng nghe Ông tâm sự:
Làm thơ tức nguyện cầu
Cho hồn ta hóa giải
Những nỗi sầu niềm đau
Qua đêm dài khắc khoải.
Nếu tin cùng thi nhân
Bắc nhịp cầu tri kỷ
Lời thơ như tiếng thầm
Ngân sâu niềm tâm ý.
(Lời Ðáp)
Vâng, quả thật đúng như vậy! Tôi đã tìm thấy ở thi sĩ Hữu-Phương một tâm hồn thi nhân hơn là một vị Tướng. Hơn một năm làm việc với nhau để hình thành Ðại Hội Liên Hiệp Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại (Coalition of Free Vietnamese Convention) tại Hoa Thịnh Ðốn năm 1983, thi sĩ Hữu Phương đã đối với tôi như một người anh hòa ái, một người bạn văn nghệ lâu năm. Ông lúc nào cũng cười vui vẻ, ăn nói lịch thiệp, chừng mực. Khi phát biểu ý kiến thì Ông dùng lời lẽ ôn tồn, khiêm tốn. Không bao giờ Ông dùng lời lẽ đao to búa lớn ở nghị trường, bởi vì Ông có một nguyên tắc sống thật là cao cả, từ tốn, an nhiên.
Khi đức tính trong con người khêu tỏ
Nến tin yêu soi thấu lớp sa mù
Ta không sống vô tình như cây cỏ
Thà ngu khờ hơn chẳng có tâm tư.
Bằng từ tốn ta hòa trong nhân loại
Vui của người làm phấn khởi hồn ta
Bằng hỉ xả ta nghe nhiều nhân loại
Từ bốn phương phải tụ lại một nhà.
Nguyên tắc đó không là chi mới lạ
Chỉ làm sao băng giá được cõi lòng
Vì cơn nóng như dầu loang lửa phá
Chẳng được gì càng thấy rõ hư không.
(Nguyên Tắc Sống)
Thật là cao cả, tuyệt vời! Bởi thế thi sĩ Hữu-Phương đã được mọi người yêu mến. Ngày Ông qua đời, anh em kéo tới nhà thật đông, trước để chia buồn cùng hiền thê của người quá cố và thân bằng quyến thuộc, sau là ngồi tán gẫu với nhau, nhắc lại những kỷ niệm vui buồn với Ông trong cuộc đời quân ngũ.
Sau chuỗi ngày ly hương tẻ nhạt, Thi sĩ Hữu-Phương đã có cái nhìn về cuộc đời rất chân rất thực, mang mác mùi thiền cùng nền đạo lý Á Ðông. Ông coi cái chết như là một áng mây thoáng qua, một cơn gió thoảng dịu dàng.
Sống chết nay mai nào ai biết được
Máy già nua lơ đễnh chốc ngừng xoay
Bạn bè năm xưa tin về bỏ cuộc
Ðến tuổi này phần số chỉ là may.
Ðã tới lúc ta không còn hoảng sợ
Hai tay xuôi không hổ thẹn hơn là
Sống lay lắt một khoảng đời dang dở
Vá víu hoài lạnh vẫn thấm vào da.
(Sau Một Khoảng Dài Lau Lách)
Nhìn lại quãng đời đã qua, ngoái nhìn lối mòn đã từng dấn bước, thi sĩ Hữu-Phương không còn nghe tiếng lòng rạo rực nữa, mà tâm đã lắng xuống nên tự dặn lòng:
Thôi hết chỉ còn ta với ta
Trên con đường nhỏ tháng ngày qua
Chẳng mong tình tứ cho ta được
Giải tỏa tâm hồn những xót xa…
(Xưa Sau)
Nhân sinh quan của thi sĩ Hữu-Phương thật đơn giản, nhưng đó là một triết lý sống đôn hậu đáng yêu:
Ai nào thấu hiểu càn khôn
Không gian thời khắc vô cùng đó thôi
Mênh mông hai chữ đời đời
Mảnh thân cát bụi dập dồi hẩm hiu.
(Vô Tận)
Ông vẫn thường dùng dấu chấm ôi (!) sau mỗi khoảng đời nghiệt ngã:
Cho phỉ đời trai mộng đất trời
Muốn ôm bốn biển đặt vào nôi
Muốn quàng tay ấp nghìn tinh đẩu
Cho mỗi khoảng đời một chấm ôi!
(Chấm Ôi [!] Sau Mỗi Khoảng Ðời)
Có rất ít người thấu hiểu tâm sự thầm kín của thi sĩ Hữu-Phương nếu chưa được đọc những vần thơ lai láng tình yêu quê hương đất nước của Ông. Tuy lời thơ chân phương nhưng gói ghém biết bao tình.
Ta đã ra đi bỏ nước rồi
Ngậm ngùi vương vấn nẻo chia phôi
Mười năm rồi đó, mười năm nữa
Càng thấy buồn dâng ngập cõi người.
Nếu chẳng làm nên chuyện vá trời
Cũng nên gào thét tiếng than ôi!
Bởi đâu nhân sử nhiều tri biến
Hạnh phúc đời đời bánh vẽ thôi!
(Cõi Nhân Gian)
Có lẽ bài thơ sau đây là điềm báo trước cho sự ra đi vĩnh viễn của thi sĩ Hữu-Phương. Bây giờ đọc lại tôi mới thấy cái điềm không hay ấy. Chính tác giả đã dịch bài thơ này sang Pháp ngữ (Le Temps en Réduction) và Anh ngữ (Time in Reduction).
Thân thế chỉ còn mộng viễn vông
Cuối đời hiu hắt bóng hoàng hôn
Từng trang quá khứ chìm quên lãng
Chết cả tương lai, đuối cả hồn.
(Ngày Tháng Thu Dần)
Và bài thơ sau cùng cũng là lời bày tỏ về nhân sinh quan của thi sĩ khi bước vào chặng đường cuối cùng của cuộc đời. Mặc dù mới lưng chừng ngũ tuần, thân thể còn tráng kiện, thế mà thi sĩ Hữu-Phương đã cho mình là già nua!
Bây giờ nửa kiếp già nua,
Buồn vui thấp thoáng niềm trưa nỗi chiều.
(Niềm Tin Cuối Một Ðời Người)
Mặc dù vui buồn đau khổ ngổn ngang trong người nhưng thi sĩ hy vọng Trời sẽ thấu hiểu cho mình:
Trời am hiểu nỗi vui buồn
Trước sau sau trước một hồn một thân.
(Niềm Tin Cuối Một Ðời Người)
Một buổi sáng đẹp trời nọ, thi sĩ Hữu-Phương bỗng buông cây vợt Tennis đang cầm trên tay, không một lời từ giã người thân, vội vàng ra đi tới miền đất lạ như Ông đã từng đột ngột ra đi trong năm 1975! Thế là Ông đã chấm dứt “Kiếp Lưu Ðày” bằng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng!
Tôi viết lời giới thiệu này không nhằm mục đích “trả nợ” cho thi sĩ Hữu-Phương như đã nói ở đoạn đầu, mà là lời tưởng niệm thân thương của tôi đối với Ông trong tình anh em nghĩa cả, bằng những xúc động chân thành dành cho người anh yêu qúi.
Thi tập “Kiếp Lưu Ðày” (Tập 3) có đến tay bạn đọc được hay không là còn tùy thuộc vào thân nhân của người quá cố. Việc làm của người giới thiệu nằm trong khuôn khổ là làm sao nói lên được những điều gì mà tác giả đã gửi gấm trong từng bài thơ. Có thể tôi nói hãy còn thiếu sót hoặc chưa nói hết những gì mà tác giả đã kỳ vọng nơi tôi. Nếu đúng như vậy, xin độc giả vui lòng miễn chấp, và xin hương hồn thi sĩ Hữu-Phương vui lòng tha thứ.
(Ðức Phố. ngày 11-02-2001)
Vĩnh Liêm
-
Kỷ niệm rời với Kiến trúc sư Nguyễn Tường Quý.
Ngày 29 tháng 10, năm 2016 nhà văn Ngọc Cường cho ra mắt tác phẩm Hệ Lụy tại phòng hội của nhật báo Người Việt, tôi đươc gặp anh Nguyễn Tường Quý, Anh Quý có những đặc điểm như chuộng đội mũ “kết” (casquette) như mấy ông Tây tài tử cinéma Jean Gabin hay André Bourvil thường dùng. Điềm khác anh Quý ít nói nhưng luôn mở nụ cười xã giao trên môi, một nụ cười thân thiện và nhân ái chút gì như tranh La Joconde, rồi một nụ cười chút gì hiền hòa, đầy thiện cảm như Đức Di Lặc (Maitreya trong tiếng Phạn). Dù gì như La Joconde hay Maitreya thì là một nụ cười nhẹ rất bắt mắt và hạnh phúc khi giao tiếp.
Là một kiến trúc sư anh Quý nghiên cứu về những kiến trúc văn hoá về đình làng và chùa chiền xưa. Anh viết bài “Nói về cái đình làng ta” như sau:
“Truyền thống nước Việt Nam ta có câu “ Phép vua còn thua lệ làng”. Pháp luật của vua xuất phát từ Cung Điện Kinh Thành, còn tục lệ làng thì do dân tụ tập tại cái Đình của làng mà quyết định nên. Vì vậy vị trí của cái Đình cần phải ở trung tâm của làng, chính giữa làng để tất cả người dân trong làng có thể dễ dàng trông thấy, và đi đến đấy để mà tụ tập nhau. Nói một cách nôm na, vị trí của Đình trước hết cần phải tiện lợi cho mọị người sinh sống trong làng.
Tụ tập với mục đích gì? Đầu tiên, dân làng tụ tập nhau ở đình khi có vấn đề nào cần thảo luận hay tham khảo công khai chung cho tất cả những dân cư trong làng. Chẳng hạn họp để có ý kiến nhất quyết chung, như kiểu ‘Nên Hòa hay nên Chiến’ của Hội Nghị Diên Hồng vào thế kỷ 13 triều đại Nhà Trần để chống quân Mông Cổ sang xâm chiếm nước ta. Sau đó là những cuộc hội hè đình đám của làng… Do đó, nhu cầu bên trong Đình phải rộng rãi, tạo được sự mát mẻ cho những ngày đêm hè nóng nực mà phải có những tập họp lớn.
Nhưng cái đình làng hiện diện từ thủa nào? Chưa ai dám chắc biết được một cách chính xác. Chỉ có thể nói là hình dáng của cái Đình đã xuất hiện trong một khoảnh đất rộng và thường thì ở trọng tâm của làng, từ khi dân Việt ta biết tụ tập thành làng xã mà sinh sống làm ăn gần gũi với nhau lâu đời. Hình dáng cái đình như thế đã dần dần biến thành một ngôi nhà lớn (như loại nhà rồng có mái cao của người thượng du Việt Nam hiện giờ còn sử dụng). Tuy nhiên, dân chúng ở làng thuộc những vùng đồi và đồng bằng vì lối sống phức tạp hơn nên đã thiết lập các ngôi Đình có sức chứa nhiều hơn và có dáng trang nghiêm để thờ phụng các vị tiên hiền có công với làng xã, các vị Thần, các bà Chúa hoặc thờ Thần Nông, Thần Núi, Thần Hoàng Làng v.v.. Cho nên lối kiến trúc của Đình cần mang một sắc thái uy nghi và to lớn, phù hợp với các thần tượng mà cả làng tôn thờ.
Đình là nơi lưu trữ nếp văn hóa của dân làng.
Sự phong phú của kiến trúc Đình đặc biệt hơn cả là những bức trạm trổ gỗ mang nội dung cụ thể, như những phần “tài liệu” bằng hình ảnh, diễn tả rất sát với đời sống hằng ngày của dân làng khi xưa đã diễn ra. Những bức chạm trổ này có mặt hiện diện được bên trong một số ngôi đình cổ là do công lao của các nghệ nhân nước ta thời xưa đã bỏ công ghi tạc lại một số các sinh họat tiêu biểu của dân làng. Nào là cảnh uống rượu, cảnh đi săn bắn, đá cầu, đấu võ, tắm ở đầm sen, chơi trồng hoa, mẹ gánh con, đánh cờ, múa hát.
Từ những bức chạm trổ này, chúng ta mới biết thêm được rằng xưa kia dân làng sử dụng ngôi đình làng không những chỉ để hội họp, để thờ các bậc tiên hiền, các Ông Thần Bà Chúa của làng… mà đình còn là nơi dân làng vui chơi trong các dịp lễ hội, và chính đình còn là nơi tiêu biểu thể hiện được những hình thức sinh hoạt có tính cách văn hóa của đời sống dân làng nữa. Cho đến nay, chúng ta có thể nói rằng Đình là ngôi nhà chung của làng, đóng nhiều vai trò đa chức, đa năng: hành chánh, tôn giáo, văn hóa.. mà hơn thế nữa, Đình còn là mẹ của các hình thức văn minh – văn hóa cổ truyền: Từ những nghi thức tế lễ, đến các hoạt cảnh hội hè đình đám, những câu hò điệu hát, những nghệ thuật trình diễn như hát trống quân, hát quan họ, đấu vật, múa võ.., và những sinh hoạt dân làng như gặt và đập lúa, cấy mạ, chăn trâu…
Ngôi đình xưa nhất còn lưu lại được mấy thế kỷ?
Nhìn lại lịch sử nước ta, sau các đời vua Đinh, Lê thì hai triều đại Lý và Trần đã xây dựng nên một nền văn hiến thịnh trị với các thể hiện tự chủ về chính trị, xã hội văn hóa… mà một trong những thể hiện này là lối kiến trúc riêng biệt tiêu biểu như Chùa Thầy, Chùa Một Cột… Và cũng chính vì nền văn hiến rõ rệt phồn thịnh một cách Việt Nam đó đã khiến nhà Minh bên Trung Hoa khi mang quân xâm chiếm nước ta thành công thì tìm cách phá huỷ tận gốc các công trình kiến trúc mang nặng chất văn hóa Việt. Phải chăng sự tàn bạo độc địa của người phương Bắc đối với các công trình kiến trúc dân gian, thuần túy tiêu biểu cho sức đề kháng tự chủ của dân Nam, mà hầu hết là các ngôi Đình làng đã bị phá hủy? Sự phá hoại này có phần ít hơn đối với chùa chiền, đền miếu…, có thể là vì lý do tôn giáo của hai quốc gia Trung Hoa và Việt Nam hồi đó giống nhau? Đây là một vấn nạn, chúng ta sẽ có dịp đi sâu vào phân tích rõ hơn ở các bài khác.
Hiện nay có thể nói là không tìm được một ngôi đình nào nguyên vẹn của các triều đại Lý, Trần mà chỉ còn các Đình Làng được tái xây cất từ thời nhà Mạc, nhà Hậu Lê (thế kỷ 15), tuy rằng vẫn giữ được ảnh hưởng những đường lối kiến trúc của thời nhà Lý – Trần và rất là đặc biệt Việt Nam. Chẳng hạn như Đình Tây Đằng (thuộc tỉnh Hà Tây) là một trong những ngôi đình cổ nhất được tái dựng vào thế kỷ thứ 16.
Riêng đình làng Đình Bảng (Bắc Ninh) đã được xây theo hình chữ công của Hán tự, dài tới 30 mét gồm 9 gian, rộng 15 mét, cao hơn 9 mét, có 60 cây cột gỗ lim và chu vi của cột chính có khi to tới 2 mét; mái nhọn như cái nón khổng lồ, chiều cao chiếm 3/4 chiều cao của tòa nhà, rất độc đáo Việt Nam. Đây là một trong những kiến trúc gỗ thuộc loại đồ sộ và cổ nhất Việt Nam.
Đình xây theo hình gì, chạm trổ ra sao?
Bình đồ các ngôi đình làng Việt Nam cổ tiên khởi chỉ có hình chữ nhất. Riêng chỉ có một đại đình là Đình Tây Đằng (Hà Tây) có bình đồ hình chữ tam, nghĩa là đình này có ba ngôi nhà song song. Hoặc bình đồ hình chữ Đinh thì có thêm một nhà thờ hậu phía sau, như Đình Thổ Hà – Bắc Giang. Hay hình chữ Công thì có thêm một căn nhà giữa nối phần đại đình với nhà hậu; hoặc bình đồ chữ khẩu thì có 4 căn vuông góc với nhau như đình Võ Liệt – Nghệ An.
Bên trong ngôi đình làng Việt cổ là cả một hệ thống vì kèo gỗ đồ sộ. Chính hệ thống vì kèo gỗ này là thành tựu có một không hai của Kiến trúc Việt Nam. Tại sao? Vì tự nó đã toát ra một vẻ đẹp kiến trúc kết cấu trang trí duyên dáng và mạnh mẽ: Trên các vì kèo ấy là những chạm trổ công phu xuất sắc nhất của nghệ thuật điêu khắc và trang trí gỗ của các nghệ nhân ta thủa trước!
Đó là những mảnh phù điêu diễn tả sinh động và rất cân đối cảnh sinh hoạt của người nông dân ở làng quê Việt Nam thời xa xưa. Khắp các vì kèo phủ kín các chạm gỗ trang trí làm cho khung kiến trúc trở nên nhẹ nhàng bay bổng nhưng không kém phần mạnh mẽ để đỡ được sức nặng của mái đè xuống.
Đây là cô tiên cưỡi rồng, cưỡi phượng nhưng đấy chính thực là các cô gái làng yếm thắm thắt lưng bao xanh. Kia là chạm trổ người cưỡi hổ, cưỡi voi, chế ngự sức mạnh hoang dã. Nét chạm dứt khoát, liên tục. Có nhiều cách chạm, chạm thủng, chạm bong, chạm lồng nhiều lớp… Mặt khác, hình những người dân quê cưỡi lên các biểu tượng rồng phượng mà ngoài tỉnh thành và cung vua vốn chỉ được sử dụng cho vua chúa, thần thánh thôi. Hầu hết các hình tượng chạm trổ này là do những nghệ nhân địa phương tập trung khắc chạm nên để mô tả các sinh hoạt đời sống rất gần gũi ở trong xóm trong làng của họ. Chẳng hạn như hình chạm trổ một cuộc chọi trâu truyền thống như ở Đồ Sơn… , chứ còn đấu vật thì làng nào ngày xưa ở Việt Nam mà chẳng có.
Còn các hình tượng người thì được chạm trổ ra sao? Hầu hết các nhân vật ấy trông như lùn. Trước đây dĩ nhiên người Việt Nam thấp hơn bây giờ song đây là do các nghệ nhân điêu khắc đã nhấn mạnh vào phần chính là cái đầu và bóp ngắn thân người lại cho hợp chiều cao của đà gỗ… Lại nữa, thêm nhiều điêu khắc trên các đà kèo còn có các tầng tầng lớp lớp người, thú, hoa, trái phủ kín, những cảnh uống rượu, đi săn, đá cầu, tắm ở đầm sen, chơi trồng nụ trồng hoa, mẹ gánh con, tấu nhạc, đánh cờ, múa hát… Ngoài ra, còn có các bia đá khắc và các bản vẽ và viết trên gỗ ở hầu hết các đình chùa, ghi lại nhiều di tích quí báu của nền văn hóa Việt Nam cả ngàn năm về trước…”
(Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý, trích ‘nguoi-viet.com’, 16/11/2004)
—————————
Còn nhớ trước 1975, những tay sinh viên phản chiến tại Sài Gòn, vốn thân cộng, chống chính quyền VNCH, như những Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Hữu Thái, Lê Hiếu Đằng,… Những vụ phá hoại của những bộ mặt sinh viên theo CS, qua 2 vụ điển hình là biến cố Biệt Động Thành mà Việt Cộng đã ám sát sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật (ngày 28-6-1971) và giáo sư Nguyễn Văn Bông (ngày 10-11-1971) thì Huỳnh Tấn Mẫm bị bắt giam (ngày 5-1-1972) cho đến 20-2-1974 thì phía chính quyền miền Nam VNCH chúng ta trao trả y tại Lộc Ninh (chung với tay gián điệp Huỳnh Văn Trọng, luật sư Nguyễn Long, sinh viên Cao Thị Quế Hương,… Trong hàng ngũ sinh viên quốc gia, nhà văn Ngọc Cường viết về KTS Nguyễn Tường Quý như sau: “Trong bối cảnh nhiễu nhương của thời thế và cam go của chiến tranh, anh lao vào cuộc tranh đấu phục vụ cộng đồng, không phải để tranh giành được một ngôi vị, mong trở thành một chức sắc, mà vì lý tưởng nhân bản, tinh thần Quốc Gia và noi theo truyền thống của tổ tiên. Do đó, anh không thể ngồi lặng yên để xem con tạo xoay vần như nàng Kiều :
Cũng liều nhắm mắt đưa chân.
Thử xem con tạo xoay vần đến đâu.

KTS Nguyễn Tường Quý và người bạn kiến trúc sư.Khi được bầu là Trưởng Tràng trường Đại Học Kiến Trúc, anh đã cương quyết với đám sinh viên thiên tả phản chiến, và luôn luôn ủng hộ chính thể Quốc Gia. Tuy bản chất hiền lành nhưng anh cương quyết với kẻ thù và kiên trì với lý tưởng của mình, tấm gương này đã soi sáng cho tôi noi theo… ”
Bây giờ sang nghệ thuật thưởng ngoạn trong đời sồng, anh Quý vừa là kiến trúc sư, vừa là họa sĩ. Nghệ nhân Nguyễn Tường Quý ưa chuộng môn hội họa cũng như nghiên cứu về hoa sen và hoa lan. Xin xem tranh kèm về bức tranh triển lãm hoa sen của họa sĩ Nguyễn Tường Quý. Trong một dịp triển lãm tranh tại hội trường nhật báo Người Việt, năm 2012, anh tâm sự với báo chí: “Mỗi lần triển lãm tôi đều thấy rất vui vì được sự hỗ trợ, khuyến khích của mọi người. Cám ơn những ai đến dự triển lãm, và tôi cũng hy vọng sẽ có được phần nào kinh phí giúp cho trẻ em mồ côi tại Việt Nam, vì mình già rồi, có còn làm được gì nữa đâu.”
Khi ly hương họa sĩ Nguyễn Tường Quý định cư tại Canada, khí trời lạnh lẽo, cùng những nỗi nhớ nhà, anh bắt đầu vẽ tranh. Sau khi qua Mỹ như lúc về hưu, với thời gian rảnh rỗi anh lại tiếp tục vẽ. “Với tôi, vẽ là một cách thiền,” họa sĩ Nguyễn Tường Quý kể lại.
Vì sao họa sĩ Nguyễn Tường Quý chọn vẽ hoa sen?
Hoa sen anh quan niệm là loài hoa mang ý nghĩa triết học và văn học khi biểu tượng cho nhân sinh quan thanh cao, và tinh khiết, hàm ý nghĩa về âm dương ngũ hành và chứa đựng sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Hình ảnh hoa sen mang đậm nét bình dị, dân dã nơi thôn quê, và hoa sen tượng trưng trong triết lý sống thoát tục, giúp con người buông bỏ mọi ưu phiền, để tĩnh tâm, an hưởng hạnh phúc. .
Hoa Sen với văn học của người Việt vốn tượng trưng cho hồn văn hóa dân tộc, loài hoa kín đáo, dịu dàng, thanh tao như ý thơ:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Ngoài hoa sen, anh Quý cũng thích nuôi dưỡng và nghiên cứu hoa lan. Xét về đặc điểm của hoa lan, anh ưa chuộng hoa lan như nhiều người chúng ta. Sắc màu hoa thắm tươi, mang vẻ thanh lịch của hoa lan, từ bên trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung lụa, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, màu của hoa lan từ nâu, xanh, vàng, tía cho đến đốm chấm phá, loang, sọc, vằn,… ta thấy nhiều hoa lan không thiếu. Loài hoa phổ thông, tuy hoa bình dị, nhưng mang đầy nét thanh lịch, chứa vẻ đài các. Hoa lan mọc ở nhiều nơi trên thế giới và chia ra làm 4 loại sau đây:
Epiphytes Phong lan bám vào cành hay thân cây.
Terestrials Địa lan mọc dưới đất.
Lithophytes Thạch lan mọc ở các kẽ đá.
Saprophytes Hoại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục
Lan mọc hiện diện ở khắp năm châu, bốn biển, từ dãy núi Andes miền Nam Mỹ và đến rặng cao Hy mã lạp sơn thuộc Á châu. Những nơi này ở độ cao từ 3000 bộ đến 7000 bộ và hoa lan là loài góp mặt nhiều giống nhất trong các loài hoa. Hoa loa có khoảng 750 loài và 30,000 giống nguyên thủy và chừng độ một triệu giống đã được ghép lai giống nhân tạo hay thiên tạo. Thú nghiên cứu về hoa lan và hoa sen của anh Quý chất chứa vẻ “vui thú điền viên tuế nguyệt”. Anh Quý ơi, hai loài hoa anh chọn lựa đưa con người về chốn thiên nhiên của sự thanh cao và an bình.
Người viết bài xin gửi bài viết này đến hương hồn anh Nguyễn Tường Quý, Pháp danh Trí Bảo, như lời chào vĩnh biệt.
Cõi trần đất khách tạm dừng chân.
Buông tay giã biệt chẳng ngại ngần
Viên mãn siêu sanh anh Trí Bảo
Ưu phiền nhọc não bỏ lại sau!
Trần Việt Hải, Los Angeles.
