-
Ðội mưa mà đi
Nguyễn Tường Thiết
Vua Lý Thái Tổ nhìn xuống Hồ Gươm. Từ trên tầm cao 10 mét mắt ngài chiếu thẳng Tháp Rùa. Trước mặt ngài không phải cố đô Thăng Long mà là thủ đô Hà Nội một nghìn năm sau.Ngài uy nghiêm đứng giữa vườn hoa Chí Linh. Trước mặt ngài là phố Đinh Tiên Hoàng, tả hữu có hai phố Lê Thạch, Lê Lai, sau lưng có con phố mang tên ngài, Lý Thái Tổ. Nhà vua đảo mắt nhìn phía dưới chân. Ngài khó chịu thấy mình đang bị quan sát. Một thanh niên bận chiếc áo khoác có nhiều túi cúi xuống lôi trong bọc một vật gì màu đen rồi giơ vật ấy về phía ngài.
Quang nhìn lên ngắm nghía pho tượng đồng cao. Anh tự hỏi lần về Hà Nội mấy năm trước không thấy bức tượng này đặt ở đây. Nếu có chắc chắn là phải hiện trong bộ phim ảnh của anh vì lần nào về Hà Nội anh cũng chụp mấy bức ảnh Hồ Gươm và Tháp Rùa đứng từ phía vườn hoa Chí Linh. Quang giơ chiếc máy ảnh về phía tượng và điều chỉnh ống kính. Anh đi tới đi lui. Rồi anh quỳ xuống ngước máy lên để chụp toàn bộ bức tượng có hàng chữ ở dưới bệ: Vua Lý Thái Tổ (974-1028).
Nhà vua không nhìn thanh niên, ngó sang một thiếu nữ đứng cách đó chục thước mặc chiếc áo đỏ đội chiếc mũ trắng tay cầm một vật gì giống hệt như vật trong tay thanh niên và hướng nó về phía hai nguời đứng trước, hai người ấy trông như hai mẹ con.
– Chị muốn chụp phông nào? Lấy vua hay lấy hồ.
Vi hỏi người đàn bà. Người ấy nhìn chung quanh nói:
– Tượng vua cao thế kia có lấy được hết không?
Vi nói:
– Được!
Cô chạy lại gần con bé, bẻ lại cổ áo, vuốt lại tóc nó. Rồi cô khen con bé:
– Xinh nhất đấy!
Con bé vênh mặt lên khi thiếu nữ quỳ xuống ngửa ống kính chụp hai mẹ con, cái phông tượng ở sau.
Vua Lý Thái Tổ nghĩ thầm: “Đám người kia chiêm ngưỡng ta”.
Dưới kia không phải là thần dân của ngài. Thần dân ngài đâu có ăn mặc dị hợm và có những hành động kỳ khôi như thế. Trên đường Đinh Tiên Hoàng những cỗ xe chạy như mắc cửi. Xe hai bánh chạy chen giữa những xe bốn bánh, phát tiếng động chói tai. Ngay sát dưới chân ngài, trên một khoảng rộng hình tròn lát đá, những cỗ xe bốn bánh bé tí teo có những đứa bé ngồi. Xe chạy lòng vòng, đâm nhau loạn xạ. Chung quanh có đám đông đứng xem. Trong số có mấy người mặt trắng cao to dị thường. Nhà vua nghĩ thầm: “Bọn bạch quỷ này chắc ở đâu đến. Chúng đến càng ngày càng đông”.
Gió thổi lùa từ mặt hồ Gươm. Gió mỗi lúc một mạnh. Hàng cây xà cừ rung rung rồi chao nghiêng những đợt lá. Màu xanh lá cây màu xanh nước hồ xẫm lại theo với bàu trời đột nhiên tối xầm xuống. Dưới kia đám đông chạy tản ra đường. Lát sau mưa rơi.
Vườn hoa Chí Linh còn lại hai người. Người đàn ông cúi gập người ôm chiếc máy hình trong bụng chạy về phía sau lưng nhà vua. Người con gái căng dù che thân rồi lấy tấm bạt trùm kín cái giá gỗ che mấy bức ảnh ghim trên tấm ván; lát sau cô bước vội về hướng người đàn ông.
Những giọt nước chẩy trên lòng bàn tay trái của nhà vua rót xuống đầu hai ngón tay chỉ xuống đất. Vua Lý Thái Tổ không thể ngoái cổ nhìn đằng sau. Ngài không biết rằng sau lưng mình có chòi bát giác. Nơi ấy có hai người cùng chạy lại trú mưa. Họ ngẫu nhiên gặp nhau. Rồi va nhau một cuộc tình.
10
Con thạch sùng bò ngược trên trần nhà. Màu da nó ngà ngà tiệp màu vôi. Nó đuổi theo một con thạch sùng khác đang chạy dọc theo một bóng đèn nê-ông dài ở góc tường. Quang nhìn thấy nó lúc anh ở vị trí nằm ngửa tay ôm ghì đầu Vi nhìn lên trần. Con thạch sùng bò xuống đến mép tường thì dừng lại. Hai con mắt nó, hai chấm đen, nhìn xuống chiếc giường có hai thân thể trần truồng. Con thạch sùng không lạ gì cảnh này. Ở cái khách sạn phố Hàng Buồm chuyện đó xẩy ra như cơm bữa. Nhưng hôm nay nó thấy có cái gì khác khác nơi người đàn ông. Không phải ở cái cách làm tình của hắn mà là ở sự chú ý vô lý của hắn. Cứ mỗi lần ôm người đàn bà lăn trên giường ở vị trí ngửa là hắn lại nhìn lên tường, dán hai con mắt vào hai chấm đen. Con thạch sùng nghĩ bụng: “ Lạ lắm sao mà nhìn?”. Nghĩ thế rồi nó bò ngược lên trần, đuổi theo con thạch sùng cái.
“Lạ nhỉ? Không biết mình đã thấy con vật này chưa nhỉ?” – Quang nghĩ – Ở Mỹ hơn ba mươi năm anh không hề thấy con thạch sùng. Trước đó ở Sài Gòn thì có thể, nhưng anh còn bé, không nhớ. Con thạch sùng cái (Quang đoán nó là cái vì là con bị săn đuổi) bò thật nhanh đến giữa trần nhà thì dừng lại, đúng ngay vị trí trên chiếc giường hai người nằm. Nó quay đầu đối diện với con đực vừa bò sát theo sau. Hai con (đứng hay nằm?) im phắc, cong người chờn vờn. Hai cái đuôi ngọ nguậy, cong cớn, uốn éo. “Chúng đang động cỡn” – Anh nghĩ – Rồi anh ôm chặt lấy Vi xoay đè hẳn lên người nàng. Quang vừa thoáng nghĩ nếu chúng làm tình thì một trong hai con có thể rớt xuống đúng ngay giữa mặt mình.
Quang quên phắt con vật. Anh chồm tới đè ngực mình trên hai bầu vú căng cứng của Vi. Đúng lúc cả hai nguời sắp sửa lên “phút cao điểm” thì ở ngay đầu giường, trên chiếc bàn thấp, trong chiếc ví xách tay của Vi, có tiếng nhạc ròn rã, bản nhạc “Từ Biệt” quen thuộc mà hồi bé anh vẫn hát: Tò te! Con ma đánh đu…
“Cái cellphone!”– Quang rủa thầm – “Có im đi ngay không!”. Tiếng nhạc không im. Trái lại càng to hơn. Réo rắt. Giục giã. Tò te!… Con ma đánh đu… thằng Tây nhẩy dù… Zô-rô bắn súng… Quang cảm thấy cái bầu vú ép vào ngực mình xẹp dần xuống. Vi nhỏm dậy, với tay lấy cái ví mở ra, cầm điện thoại di động áp tai:
– A-lô!
– Con khỉ? Mày đi đâu tao kiếm mãi không ra! Lùng hết cả vườn Chí Linh cũng không thấy…
Vi đưa tay vuốt lại mái tóc.
– À…ờ … Tao đi chợ… Có chuyện gì không mày…
– Chuyện con Thảo. Mày biết không.
– Gì?
– Nó có chửa rồi mày ơi!
– Thật hả?
Vi nhỏm dậy, ngồi trên mép giường, sỏ hai chân vào hai ống quần jeans, đứng hẳn dậy, một tay cầm điện thoại, tay kia kéo “zip” cài quần. Rồi Vi ngồi xuống mép giường, rù rì nói chuyện. Nửa giờ sau câu chuyện vẫn chưa dứt.
Ngán ngẩm Quang kéo chiếc gối đặt sau lưng ngồi dựa tường châm thuốc hút. Anh biết có bảng cấm hút thuốc trong phòng ngủ nhưng anh không “ke”. Anh đang bực mình cái xeo phôn. Anh oán lây tất cả những phát minh tân tiến của thời đại.
Theo làn khói thuốc Quang nhìn lên trần nhà. Hai con thạch sùng đi đâu mất tiêu. Chúng đã làm tình xong. Thoải mái. Anh ước gì kiếp sau mình làm con thạch sùng.
2
Bước mấy bực lên chòi bát giác Quang lôi máy ảnh ra xem xét. Anh phủi nước mưa trên cánh áo gió, nhìn xung quanh. Trong chòi chỉ có mình anh trú mưa. Anh nghĩ đến cô thợ chụp ảnh. “Con bé hay quá! Giọng nói nó đặc kịt Hà Nội. Mình chụp lén hai ba pô, chắc nó không biết”.
Ấy là anh tưởng thế.
Vi căng ô phía trước chạy vào chòi. Cô cúi xuống bấm nút cụp chiếc ô, vẩy vẩy chiếc ô sũng nước xuống sàn. Ngửng lên cô thấy đôi mắt người đàn ông đang nhìn mình. “Cái ông vô duyên!”. Cô nghĩ. “Chụp trộm người ta. Tưởng mình không biết hả?”.
Hai người, mỗi người đứng một góc chòi, quay ra nhìn trời mưa. Mưa nặng hạt. Và gió. Gió thổi lộng từ phía hồ Gươm. Lát sau gió tạt những hạt mưa bay xéo vào chòi. Hai người né mưa, vô tình họ đứng xích lại gần nhau ở chính giữa.
Quang bấm mấy cái vào chiếc máy digital. Anh lựa bức ảnh “zoom” cô gái ngửa mặt nhìn tượng vua, đưa màn ảnh gần mắt cô gái. Anh nói, bắt chước giọng Hà Nội:
– Xinh nhất đấy!
Quang bấm tiếp cho hiện lên hai bức ảnh khác, hai bức Vi cầm máy quỳ xuống chụp hai mẹ con.
– Cô phải trả tôi tiền chụp mấy bức này. Cô tính tiền người ta bao nhiêu tôi tính cô bằng giá.
Vi không nói gì. Nhún vai.
Lát sau cô giơ tay sờ vào chiếc máy ảnh độ sộ của Quang:
– Máy của chú hiện đại nhỉ? Máy gì thế?
– Máy Canon EOS digital!
– À, máy kỹ thuật số!
– Ừ, máy số rất thông dụng. Bây giờ người ta ít dùng máy phim. Máy số vừa nhỏ gọn vừa rẻ tiền. Nhưng máy Canon này thì lại rất mắc. Nó có thể zoom xa và hình rất nét.
– Cách dùng có khó không, chú?
– Không khó đâu. Tôi sẽ chỉ cô cách xử dụng. Nhưng này! Đừng gọi tôi bằng “chú”. Nghe già quá. Chắc tôi chỉ gấp đôi tuổi cô thôi. Cô mà hai chục thì tôi mới bốn mươi à. Gọi “anh” đi.
– Ừ, thì anh. Việt kiều hả?
– Không có đâu. Tôi là Việt việt. Mới Sài Gòn ra.
Vi nghĩ trong bụng: “Mấy ông Việt kiều nói láo bỏ mẹ!”.
Phía ngoài. Thoắt cái. Mưa dứt. Trời quang. Quang nhìn trời. Mưa Hà Nội thật kỳ cục! Mới lúc nẫy còn mưa đùng đùng thế mà đột nhiên trời im rơ, ráo hoảnh. Quang nói tiếp:
– Giỡn cô cho vui chứ tôi theo đoàn nhiếp ảnh từ Mỹ về Việt Nam chụp hình. Hai hôm nữa đoàn sẽ đi dọc biên giới Hoa Việt chụp hình phong cảnh miền thượng du và sinh hoạt của dân sắc tộc. Trong thời gian đợi phái đoàn tới từ nhiều nước, tôi có hai ngày ở Hà Nội, chưa biết làm gì. Cô có cách gì giúp tôi cho qua hai ngày ở đây không? Hay là… cô đi chụp ảnh Hà Nội với tôi?
–Trời tạnh rồi. Tôi phải làm việc. Ai mà rỗi như ông?
Vi nói xong cầm ô đi về phía bức tượng. Quang xách máy ảnh đi theo. Anh năn nỉ:
– Cô chụp ảnh cho khách. Vậy chứ tôi thuê cô chụp ảnh cho tôi không được sao?
Vi không nói gì. Cô lẳng lặng dựng lại cái giá gỗ bị gió đổ kềnh, gỡ tấm bạt. Đồ nghề của Vi xem ra không nhiều. Ngoài tấm bảng có ghim những bức ảnh chụp người và phong cảnh Hà Nội, còn một cái thùng vuông dùng làm bàn và một chiếc ghế xếp thấp, hai thứ này lúc nẫy cô gửi tạm tại một quán bán postcards gần đấy.
Đường Đinh Tiên Hoàng lúc nẫy trong cơn mưa rào vắng bóng xe nay đột nhiên như bừng dậy. Xe máy lại ào ào lướt qua. Tiếng động cơ khạc nổ, gầm rú. Riêng vườn Chí Linh không lấy lại được cảnh cũ đông đảo. Cả một khoảng sân rộng chỉ có hai người đứng. Kể thêm nhà vua, là ba.
Quang bảo Vi:
– Cô có đợi đến chiều cũng không có khách đâu. Trời cứ lát lát lại mưa như thế này có ai điên đâu mà chụp ảnh?
Vi bực mình, lấy máy ảnh ra cầm tay:
– Thế ông muốn gì? Muốn tôi chụp ảnh hả? Nào thì chụp! Ông lấy phông nào? Vua hay hồ?
Quang tiến tới sát gương mặt phụng phịu của cô gái. Anh nhỏ nhẹ:
– Cô hiểu sai ý tôi rồi! Tôi muốn cô chụp hình tôi. Nhưng không phải bằng máy của cô mà bằng máy của tôi. Nhân tiện tôi chỉ cô cách xử dụng máy ảnh digital. Mà không phải chụp ở đây đâu, chụp đây thì chán chết! Cô dẫn tôi đi chụp những nơi phong cảnh đẹp nhất của Hà Nội mà chỉ cô biết thôi, tôi làm sao biết được. Tóm lại là tôi thuê cô nguyên ngày. Cô vừa là hướng dẫn viên du lịch, vừa là nhiếp ảnh viên. Cô giúp tôi đi. Để cô khỏi thiệt tôi sẵn sàng trả cho cô gấp đôi số tiền cô kiếm được trong một ngày làm việc. Ốc kê?
Vi nghĩ bụng: “Nghe được đấy chứ? Xem ra anh “kiều” này có vẻ sộp. Mình cũng thử phiêu lưu một chuyến. Cứ OK phứa đi!”. Cô trả lời:
– Ốc kê! Tôi đèo anh đi.
Nói xong Vi tiến tới cái quán bán postcards nói chuyện với bà chủ quán. Quang giúp Vi kéo cái giá gỗ và thùng đồ nghề của Vi lại quán gửi.
Quang quàng chân ngồi sau chiếc xe hai bánh. Đây là lần đầu anh ngồi loại xe này. Chiếc xe xịn nổ máy. Xe vọt đi làm anh bật ngửa ra sau. Quýnh quáng anh ôm chặt lấy bụng cô gái. Vi quay đầu hỏi:
– Đi đâu?
11
Con thạch sùng lại hiện ra ở góc tường. Chỉ có một con. Quang quay đầu ngửa cổ nhìn khắp lượt không thấy con thứ hai. Lạ nhỉ! Căn buồng cũng bé thôi, không lý nó tự dưng biến mất? Hay nó chui vào nấp sau cái ống đèn nê-ông? Hay là nó rớt xuống chiếc giường anh đang ngồi? Anh cúi xuống nhìn khắp lượt. Bỗng trí anh lóe ra. À! Hồi bé ở Sài Gòn anh đã từng nhìn thấy con thạch sùng rồi! Nhưng không phải nguyên con thạch sùng. Chỉ cái đuôi của nó thôi. Cái đuôi trên giường. Cái đuôi đang ngọ nguậy trong trí nhớ anh. Trí nhớ anh cũng bảo rằng nếu bỏ tọt cái đuôi đó vào miệng nuốt chửng thì sẽ tốt lắm, trị tuyệt nọc căn bệnh suyễn của anh. Đó là theo lời bà nội anh nói thế!
Trong buồng tắm có tiếng mở khóa nước. Nước trong vòi hoa sen chẩy lẫn với tiếng hát vang của Vi vọng ra: “Hà Nội ngày tháng cũ… Có bóng trăng thơ in trên mặt hồ. Hà Nội ngày tháng cũ… Có tiếng oanh ca trên bờ Tường Vi”.
Tường Vi!
Anh vụt nhớ đến ngày hôm qua.
3
– Mình đi ăn đi. Đói rồi. Quán ăn ngay góc Cầu Gỗ. Đi lối này!
Đó là quán Quang vẫn đến ăn từ hôm anh đến Hà Nội mấy hôm trước. Nó gần khách sạn anh ở phố Hàng Buồm. Quán là căn nhà nhỏ hai từng. Một cầu thang gỗ hẹp lên lầu hai. Trên đó có một cái lan can gỗ chìa ra ngoài đường Đinh Liệt. Anh thường chọn cái bàn nhỏ hai người ngồi. Trên lan can nhìn xuống góc đường là nơi năm con phố cổ chụm đầu đâm ra hồ Gươm. Ở cái góc này sinh hoạt của Hà Nội lúc nào cũng náo nhiệt. Trên những vỉa hè hẹp dân chúng, người bán, du khách lèn nhau mà đi.
Lên gác Quang chọn đúng cái bàn anh vẫn ngồi ăn hàng ngày. Lan can chỉ đủ chỗ cho ba cái bàn nhỏ. Hai bàn kia là hai cặp người ngoại quốc trẻ đang ngồi ăn. Cô thợ ảnh ngồi đối diện Quang qua chiếc bàn nhỏ. Cô cởi chiếc mũ bê-rê đặt lên bàn cùng với chiếc ví xách tay, hất đầu rẽ sợi tóc phủ trán, hai tay lùa sau gáy vén mái tóc, rồi một tay chống cằm cô ngửa mặt nhìn Quang.
Quang hỏi:
– Ăn gì?
– Vi không đói.
– Thế thì uống gì nhé?
Một con bé chạy bàn lại gần. Vi nói:
– Em cho chị chai bẩy úp!
Quang gọi thức ăn và chai bia Tiger.
– Tên cô là Vi?
Vi mỉm cười. Quang nhìn mắt Vi. Thoáng có một ánh vui trong đó:
– Phải, Vi. Tường Vi. Một loại hoa đấy!
Rồi cô hát. Nho nhỏ. “Hà Nội ngày tháng cũ. Có bóng trăng thơ in trên mặt hồ. Hà Nội ngày tháng cũ. Có tiếng oanh ca trên bờ Tường Vi…”.
Ngheo mắt, Vi hỏi:
– Biết bài hát này không?
– Biết chứ. Bài của Song Ngọc.
Quang trả lời. Anh hát tiếp: “Hà Nội ngày tháng cũ, có dáng em tôi áo trắng nghiêng nghiêng đường chiều, tiếng guốc lưa thưa lao xao khua trên vỉa hè, mùa thu theo gió heo may…”.
Con bé mang chai bia và nước ngọt ra. Nó mở cả hai chai. Vi quắc mắt chỉ vào chai nước Sprite, mắng con bé:
– Thế này là thế nào? Đã bảo bẩy úp sao lại mở chai này?
Con bé sợ hãi:
– Hết bẩy úp rồi. Mẹ con bảo thứ này cũng thế.
– Cũng thế nào được! Bẩy úp là bẩy úp! Tôi không thèm uống đâu!
Nói xong mặt Vi xị xuống, đẩy cái chai ra xa. “À! Thì ra cô nàng đòi uống Seven-Up”. Quang nghĩ.
Ăn xong, Quang đang sửa soạn gọi tính tiền thì ở trên bàn có tiếng nhạc phát ra khá to. Vi chụp cái ví, mở ra lấy cái cellphone:
– A-lô!
Quang lấy thuốc lá châm hút. Thuốc Thăng Long. Hương vị lạ. Đăng đắng. Anh thèm một ly cà phê, nhưng anh nghi ngờ cái ngon cà phê ở đây.
Lôi máy ảnh ra khỏi bao, Quang tì máy vào lan can, chĩa ống kính chúc xuống. Bên kia đường là quán cơm. Cơm bụi hay cơm chỉ? Khách ngồi la liệt ở vỉa hè trên những chiếc ghế nhựa thấp tẹt bé tí. Chiếc ghế nhựa oằn xuống dưới sức nặng của mấy anh tây ba-lô. Quang hướng máy “zoom” vào tủ kính. Trong tủ có hơn chục cái ngăn nhỏ. Đậu phụ. Thịt kho. Cá hấp. Canh rau. Đồ xào. Đồ mặn. Đồ chua. Đủ cả…
Vi gấp cái nắp điện thoại, bỏ lại trong ví, đứng dậy nói:
– Mình đi thôi chứ?
Cô hất tay xem đồng hồ. Bỗng cô tháo đồng hồ tay ra đưa lên tai nghe, lắc lắc mấy cái, nói:
– Đồng hồ của Vi có vấn đề …
Quang hỏi lại:
– Vấn đề?
– Ừ, nó chết. Mấy giờ rồi anh?
– Một giờ rưỡi. Này! Vi có biết quán cà phê nào ngon ngon gần đây không?
Không đợi Vi trả lời Quang đứng dậy ngó quanh tìm cái toa lét. Chai bia Tiger làm anh mắc tiểu. Thấy cái phòng nhỏ ở góc, phòng không có cửa chỉ có màn che, trên đề chữ W.C, anh bước tới vén màn vào. Phòng bé tí teo chỉ độ hai thước vuông. Trong đó trống hổng. Anh không thấy có một cái lỗ nào. Dưới sàn sát tường chỉ có một đường rãnh. Ở góc có để vại nước, một cái gáo quàng trên miệng vại. Trên tường nghệch ngoạc một hàng tiếng Anh, rất khó hiểu: “Water only!”. Bỗng anh chợt nghĩ ra: “Chỉ tiểu tiện thôi. Không được đại tiện!”. Quang tiểu vào đường rãnh rồi múc nước dội. Đi ra anh mỉm cười nhìn hai thiếu nữ ngoại quốc đang ngồi ăn, anh hy vọng rằng hai cô này nếu cũng vào toa lét thì mong hai cô cũng “thông minh” như mình!
5
Ở tiệm sách ra trời đã tối. Quang đi trên vỉa hè rộng về hướng bờ hồ. Đến góc đường chỗ có đèn sáng choang là cửa hàng bách hóa Tràng Tiền, anh đi lên mấy bực thềm đẩy tấm cửa kính bước vào. Thương xá rộng lớn có máy lạnh mát mẻ. Anh lên cầu thang cuốn lên lầu hai rồi lầu ba. Anh đi vòng vòng ghé nhìn vào các cửa hàng tìm mua một món quà gì cho Vi. Chiều nay lúc chia tay, anh đưa con bé một số tiền khá lớn nhưng nó không nhận. Con bé thiệt… Nó chở mình đi nhiều chỗ hay quá, quán cà phê Phố Cổ, mình phải trở lại quán này lần nữa, lại đi một vòng khắp thành phố chụp ảnh Hồ Tây, vườn Bách Thảo, đền Ngọc Sơn, chùa Trấn Quốc, Lăng Miếu… nội xăng không cũng bộn tiền của nó. Ngày mai lại còn hứa sẽ chở mình ra vùng ngoại ô chụp ảnh. Không biết mua cho nó cái gì nhỉ? Quang nghĩ mãi. Lúc anh đi xuống lại lầu một qua khu bán nữ trang và đồ trang điểm phụ nữ, thấy có mấy tiệm bán máy ảnh bán đồng hồ, anh sực nhớ ra cái đồng hồ đeo tay của Vi, cái đồng hồ “có vần đề”. Hay mình mua cho nó một cái?
Quang nhìn qua quầy hàng kính. Đồng hồ hiệu Movado, Omega thì quá mắc tiền. Seiko, Citizen đỡ hơn nhưng cũng chẳng rẻ, khoảng từ một triệu đến ba triệu. Quang tính nhẩm. Cũng phải trên trăm đô.
Anh lựa hai cái Seiko. Cô bán hàng bận chiếc áo dài xanh cúi xuống lấy trong tủ ra hai cái đồng hồ đặt trên mặt kính. Một cái màu bạc hình chữ nhật, cái kia tròn mạ vàng. Cả hai đều đẹp lại cùng giá, anh không biết lựa cái nào. Bỗng anh nhìn bàn tay của cô bán hàng, bàn tay dài trắng nuột. Anh tán tỉnh:
– Cô có bàn tay đẹp quá! Đẹp hơn cả bàn tay của người mà tôi định mua để tặng cái đồng hồ này! Cô làm ơn đeo cả hai cái cho tôi ngắm thử xem nhé!
Cô ta đeo hai cái, mỗi cái trên một cánh tay. Quang ngắm một hồi rồi nói:
– Chịu! Cả hai đều đẹp. Tôi thực tình không biết lựa cái nào.
Quang nhìn vào đôi mắt cô bán hàng và bỗng thấy cô ta cũng khá xinh:
– Tôi hỏi thật cô nhé. Cô thích cái nào hơn?
– Cái nào cũng đẹp! Cả hai tôi đều thích!
– Thế thì hỏng. Tôi không có đủ tiền để mua cả hai. Cô thích cái nào thì tôi mua cho cô cái ấy thôi. Cho cô chọn đấy!
– Không dám ạ…
– Thế thì thôi vậy. Tôi không có duyên với cô…
Nói xong anh quay mặt bỏ đi. Phía sau lưng có tiếng gọi vội vã:
– Này… ông…
Quang quay lại. Cô gái giơ cao cái đồng hồ vàng, đôi mắt cô ta ném về phía anh một cái nhìn rất lẳng. Lườm anh, cô nguýt:
– Gớm! Ông anh chơi khó em quá!
Cầm cái hộp nhỏ được cô hàng gói rất đẹp, Quang đi ra cửa, miệng anh hát khẽ khẽ bài Hai Mươi Mùa Nắng Lạ của Trịnh Công Sơn: “Em hai mươi tuổi em là nắng… Cho em bây giờ mắt tình đưa…”.
4
– Có. Cà phê Phố Cổ. Ngay bên kia đường. Ngon thì không biết nhưng chỗ ngồi tuyệt!
Xuống nhà. Vi gửi xe máy ở đầu đường. Hai người đi bộ đến chỗ ngã năm. Xe cộ rần rần chạy quanh cái bồn phun nước. Vi chỉ phía bên kia bồn:
– Hiệu cà phê bên kia. Đầu phố Hàng Gai.
Nói xong Vi xăm xăm đi thẳng vào dòng xe cộ đang chạy như mắc cửi. Thấy Quang ngần ngại, cô quay lại nắm tay anh kéo đi:
– Đi! Chờ xe vãn thì đời nào qua được.
Quang đi nép vào Vi, nhìn những chiếc xe máy như đâm thẳng vào mình nhưng đến gần thì lạng qua hai bên. Sang bên kia, Vi đi trước. Đến một cửa hàng tơ lụa, Vi biến mất trong đó. Nghĩ là Vi vào ghé thăm một người quen nào đó Quang đứng ở vỉa hè đợi. Lát sau Vi trở ra ngoắc anh. Anh theo Vi qua một lối đi tối và hẹp tựa như một đường hầm, ở cuối lối đi mở ra một khoảng rộng, một khu vườn nhỏ trong sân nhà, nơi đó ánh nắng trên cao rọi xuống qua những tàn lá cây ướp một màu sáng xanh dịu. Mấy cái bàn thấp, những chiếc ghế mây dưới tàn cây: cà phê Phố Cổ. Quán cà phê bí mật. Một ốc đảo biệt lập nằm ngay giữa trung tâm ồn ào nhất của Hà Nội. Ở đây đột nhiên vắng lặng. Nơi góc trong cùng có hai người đàn ông mặc quần đùi ngồi bó gối đánh cờ tướng, một ấm nước trà và hai cái chén bên cạnh. Cạnh một hòn non bộ có một cầu thang cuốn, lan can sắt uốn tròn lên cao. Quang theo Vi đi lên. Lên mãi. Từng hai. Từng ba. Rồi sân thượng. Lên cao ánh nắng chan hòa. Bước lên sân thượng hai người ở trên đỉnh của Hà Nội, ngang tầm những ngọn cây xà-cừ chung quanh bờ hồ Hoàn Kiếm. Sân thượng có mái che nắng. Năm bẩy chiếc bàn nhỏ. Thanh niên thiếu nữ Hà Nội ngồi gần kín hết những chiếc ghế nhựa.
Vi chọn cái bàn sát lan can. Cô gọi cà phê nóng cho Quang và một cốc nước chanh quả cho mình. Quang lấy máy ảnh. Anh tì tay vào lan can hướng máy ảnh ra hồ. Qua ống kính Quang nhìn toàn cảnh hồ từ trên cao. Vây chung quanh bởi rặng cây rậm rạp màu lá đậm, hồ Gươm xanh lấp lánh trong ánh nắng, trên đó rực lên màu đỏ tươi của cầu Thê Húc, của hoa phượng vĩ. Anh zoom ống kính. Tháp Rùa phía cuối hồ tiến lại gần. Chờ cho đến khi một nhánh phượng đỏ nằm vắt ngang tháp anh bấm máy.
Quang quấy đường trong tách cà phê, đưa lên mũi ngửi rồi đưa lên môi uống. Vi nhìn anh uống cà phê, hỏi:
– Sao? Có ngon hơn cà phê Mỹ không?
Quang trả lời:
– Không bằng cà phê Starbucks.
– Cà phê “bấc” là cà phê gì?
– À, cà phê chỗ anh ở. Nổi tiếng lắm. Starbucks bán khắp nơi trên thế giới. Việt Nam chưa có. Nhưng mai mốt thế nào rồi cũng có. Nó mà qua đây thì cà phê Trung Nguyên chết hết!
Vi cúi xuống cái ống hút. Miệng vẫn ngậm ống cô ngước mắt lên:
– Anh ở bang nào bên Mỹ?
– Washington. Chỗ anh ở có một ông giầu nhất thế giới cũng ở. Tên ông ta là Bill Gates. Ổng là vua của máy vi tính. Không biết em có biết không?
– À ông “Ghết”. Em có nghe.
– Anh làm cho hãng của ông ấy. Microsoft.
– Thế thì anh cũng giầu to như ông ta nhỉ?
– Không giầu đâu. Chỉ vừa đủ trả lương cho em hôm nay thôi.
Quang đưa máy ảnh cho Vi. Anh chỉ cho Vi cách sử dụng rồi ra đứng ở bờ tường:
– Em chụp anh mấy pô. Lấy cái phông hồ.
6
Từ cửa hàng Tràng Tiền Quang đi dọc bờ hồ về khách sạn. Mới 8 giờ tối. Anh chưa muốn về khách sạn ngay. Về buồng bây giờ thì cũng chả làm gì, chỉ nằm khểnh trên giường coi TV. Giở CNN thì tối ngày tin tức chiến sự Irak. Giở đài Việt thì tối ngày bóng đá. Coi riết cũng chán. Anh sực nhớ ra là ngày mốt đã lên đường đi Điện Biên Phủ và hai hôm nay anh chưa đọc e-mail, không biết chương trình có gì thay đổi không. Khách sạn anh ở thuộc loại rẻ tiền không có máy vi tính cho khách xử dụng. Buổi chiều anh hỏi Vi chỗ nào có thể gửi e-mail, nó nói: “Anh ra Hàng Nét mà gửi”– “Hàng Nét?”– Anh ngạc nhiên hỏi lại – “Hà Nội ba mươi sáu phố phường chả thấy nghe ai nói hàng Nét, hàng Niếc gì cả!” – “Hàng Nét là hàng Nét. Anh cứ đi khắp Phố Cổ thấy chỗ nào có đề chữ Internet thì đó là hàng Nét. Anh nắm được chưa?” – “À ra thế! Đúng là anh chậm hiểu!”.
Đi ngang qua phố Cầu Gỗ Quang thấy nhiều Mini Hotel, trong đó có rất nhiều du khách ngoại quốc ngồi trước máy vi tính, anh bước vào.
Check e-mail anh thấy có hai thư gửi mình. Bức thư thứ nhất cho biết chương trình đi chụp ảnh ở biên giới tiến hành như dự trù và ngày mai sẽ có thêm một người của phái đoàn đến Hà Nội, một nhiếp ảnh gia người Úc, cô ta đến từ Melbourne.
“Mình còn một ngày mai với con bé”. Quang cho tay vào túi quần. Cái hộp nhỏ vuông vuông nằm gọn trong nắm tay anh.
8
Mười giờ sáng lúc Quang đến vườn Chí Linh thì Vi đã chờ sẵn. Trời âm u như muốn mưa và hơi lạnh. Vi sáng nay bận thêm chiếc áo len, chiếc mũ bê-rê ngày hôm qua thay bằng mũ lưỡi trai, kiểu mũ dân chơi goft. Vườn hoa lúc ấy không có ai đi dạo. Quán bán postcards chưa mở. Ở trên bệ cao bức tượng vua Lý Thái Tổ ướt nhẫy. Hình như mưa suốt đêm hôm qua. Xe vọt đi. Vi quay đầu hỏi:
– Đi đâu?
– Ăn sáng đi!
– Ăn gì?
Nghĩ một lát Quang nói:
– Gì cũng được, miễn là đừng có phở. Phở Hà Nội ăn không nổi.
Vi lách xe trên những con đường hẹp của Phố Cổ. Dòng xe nườm nượp. Tiếng còi inh ỏi. Quang khép hai chân mình cặp vào đùi Vi, chỉ sợ xe chạy sát bên đụng. Từ lúc lên xe anh cứ co cẳng nên chân mỏi rừ. Mò mẫm mãi anh mới tìm được cái bàn để chân. Thoải mái, anh nhìn hai bên. Hàng Đào. Hàng Ngang. Hàng Đường. Phố ngắn. Hè hẹp. Nhà thấp. Cửa hàng cửa hiệu nối nhau sát sát. Nhưng tấm bảng hiệu lướt qua. Ơ, sao mà lắm “viện” thế này! Nào là viện mát sa, áo cưới ảnh viện, viện cắt tóc gội đầu, viện tẩm quất gia truyền… Tiếng Việt tiếng Mỹ lẫn lộn loạn xị. Shop. Quần bò. Fashion. Jeans. Thời trang. Thẩm mỹ Ê-Va… Nhiều nhất vẫn là những cửa hàng bán quần áo phụ nữ. Những cô ma-nơ-canh ưỡn oẹo trong tủ kính.
Vi quặt xe qua Hàng Chiếu rồi ngừng lại gần ngã tư. Cô gửi xe rồi đi qua đường. Hai người vào một cái ngõ. Ngõ dài, hẹp, dọc theo một bên là quán ăn, vô số quán ăn nối nhau đến tận đầu kia của ngõ là hông chợ Đồng Xuân. Những quán này bé thấp chiếm gần hết ngõ, chỉ chừa lối đi nhỏ đầy người chen nhau qua lại. Vi quay hỏi Quang:
– Anh ăn gì?
– Ở đây có gì?
– Gì cũng có. Bún chả, bún ốc, bún riêu, bánh cuốn…
– Bún ốc đi! Lâu không được ăn bún ốc…
Vi đi tới đi lui tìm quán bún ốc. Mỗi quán chỉ bán độc một thứ. Hai người ngồi xuống chiếc ghế dài, thấp. Quang nhìn xuống dưới đất. Dưới chân rác và nước bẩn nhớp nháp. Quang cẩn thật tìm một chỗ khô để đặt chân. Không thấy Vi đâu, anh quay người nhìn chung quanh. Lát sau Vi trở lại:
– Em gọi bún chả. Nó sẽ mang lại đây. Anh gọi bún ốc chưa?
– Chưa. Anh chờ em.
Vi quay qua nói với cô bán hàng:
– Chị cho em một bát bún. Một bát thôi nhé!
Tay cô bán hàng thoăn thoắt. Khách đông. Cô làm không kịp tay. Ngoài khách ngồi chật hai chiếc ghế dài, cô còn phải làm cho khách ngồi ở những quán khác. Quang để ý thấy cứ mỗi lần làm xong bát bún trước khi bưng cho khách cô ta lại bỏ thêm một thìa bột ngọt. Nghe thiên hạ nói bột ngọt làm rụng tóc, mà đầu anh thì đã hói một nửa, Quang bảo cô ta:
– Tô bún của tôi cô đừng cho bột ngọt nhớ!
Vừa nói Quang vừa chỉ tay vào cái liễn đựng bột. Cô hàng ngoẻn miệng bảo:
– Ông anh đã dặn thì em không dám cho mì chính đâu. Các anh chị ở nước ngoài về ai cũng dặn em như thế cả!
Tuy nói dẻo quẹo thế nhưng Quang thấy cô ta vẫn bỏ một thìa bột ngọt vào bát của anh, chắc là vì quen tay. Quang chặc lưỡi: “Mình ở Mỹ ba mươi năm có ăn bột ngọt đâu mà tóc vẫn rụng như thường”.
Ăn xong tô bún, trong lúc Vi vẫn còn ngồi ăn, Quang đứng lên lấy máy hình. Anh thấy cảnh sinh hoạt ở chỗ này rất sống động. Bước về phía đầu ngõ anh quay lại bấm mấy pô Vi ngồi ăn với dẫy quán dài ở phía sau, rồi anh hướng ống kính về một ông già đang hút thuốc lào. Ở trên lối đi của ngõ dù chật cứng người qua lại cũng có đặt một cái chõng hẹp bán nước chè. Những người đàn ông ngồi trên mấy cái ghế thấp tay cầm chén nước trò chuyện. Một ông cụ râu tóc bạc phơ rít môt hơi thuốc lào nhả khói. Quang zoom chụp cận ảnh ông cụ ngồi dựa tường lim dim đôi mắt. Anh thích cái phông bức tường. Bức tường tróc sơn bám rêu nham nhở rất hợp với gương mặt phong sương của ông già.
Quang trở lại chỗ Vi. Anh trả tiền. Hai người đi trở lại phố Hàng Chiếu. Trong lúc chờ Vi lấy xe Quang chụp thêm được một cảnh sinh hoạt khác của Hà Nội. Ở góc đường Đồng Xuân Hàng Chiếu, trên vỉa hè cạnh gốc cây bàng, một anh thợ hớt tóc dạo cắt tóc cho khách. Khách ngồi trên một chiếc ghế đẩu cao, chùm kín trong chiếc áo mưa poncho nhựa chỉ để hở cái đầu, nhìn vào tấm gương nhỏ gắn trên thân cây. Ông thợ hớt vừa cắt tóc xong đang cúi xuống lấy ráy tai cho khách. Ông ta trang bị một cặp kính giống như cặp ống dòm của bác sĩ giải phẫu hay của thợ kim hoàn, chính giữa có ngọn đèn pha chiếu vào lỗ tai khách.
9
Lái vòng quanh cột đồng hồ ở chân cầu Chương Dương Vi rồ xe phóng trên đường Trần Nhật Duật dọc bờ đê Yên Phụ. Quang ôm chặt lấy Vi. Con bé lái khiếp thật! Xe chạy vù vù. Bên kia đường là bến xe buýt. Xe và người đông vô kể. Vi lách qua lách lại giữa rừng xe máy chạy đan nhau hỗn loạn. Khói xe mù mịt. Còi xe inh ỏi. Nhìn các cô gái xung quanh Quang thấy cô nào cô nấy cũng đều lái táo tợn như Vi. Không như Vi mấy cô đó đều đeo khẩu trang bịt gần kín mặt. Bên này đường, phía bờ đê sông Hồng, những căn nhà nhiều từng mới xây cất quét vôi màu săïc sỡ, nhà sát nhau, mỏng dính, cao nghệu, như thách đố nhau vươn lên cao. Qua các khách sạn đồ sộ Sofitel Plaza, Sheraton… Vi cho xe chạy trên đường Nghi Tàm về hướng phủ Tây Hồ. Con đường trở nên nhỏ dần nhỏ dần rồi chạy bọc theo bờ nước có hàng liễu rủ. Cảnh trí thơ mộng. Tên những con đường nhỏ nhắn ở đây cũng hiền dịu. Đường Tây Hồ, đường Xuân Diệu, đường Tô Ngọc Vân…
Cuối hồ Tây là đầm sen. Đầm sen rộng bát ngát. Con đường nhựa rộng rãi, mặt đường nhô cao hẳn lên, đâm thẳng vào ruột đầm sen đến chính giữa thì cụt. Vi ngừng xe tắt máy dựng xe ven đường. Quang nhìn chung quanh. Nơi này mênh mông, hoang vắng, không khí đượm mùi hương sen. Ven đường trên những chiếc ghế đá hai cặp đang ngồi tình tự, hai chiếc xe máy dựng cạnh. Quang không thể nào tưởng tượng được là trong cái thành phố ồn ào và đông nghẹt người như thế lại có thể tìm thấy một khoảng trời bao la rất yên tĩnh và chỉ vỏn vẹn có mấy người.
Vi quay qua Quang nói:
– Hà Nội chỉ có chỗ này là em thích nhất. Lần đầu tiên em được bố em dẫn đến đến đây lúc em còn bé. Hồi đó chưa có con đường nhựa này. Năm ngoái bố em dậy em chụp ảnh cũng ở đây. Ông là một tay chụp ảnh chuyên nghiệp. Anh lấy máy ra đi. Máy anh tốt thế thì chắc là ảnh đẹp hơn những bức bố em chụp. Nhưng nhanh lên đi. Trời u ám thế kia có thể đổ mưa bất cứ lúc nào.
Vi nắm tay dẫn Quang đi lần xuống con đường đất. Con đường nhỏ trơn ướt đi tuốt sâu vào lòng đầm sen. Hai người đi khá lâu. Chặp sau Vi ngừng lại trên một khoảng cỏ hẹp. Chung quanh sen cao ngang bụng hai người. Ở tít xa trên bờ đường nhô cao, Quang nhìn thấy chiếc xe của Vi nhưng không nhìn thấy hai cặp tình nhân ngồi trên ghế đá. Vi chỉ tay phía trước mặt bảo Quang:
– Anh chụp hướng này này. Đây là vị trí rất tốt có thể lấy hết toàn cảnh hồ sen mà không bị con đường nhựa kia chắn mất, làm hồ bé đi một nửa. Bố em đã tìm ra chỗ này.
Quang chụp khá nhiều ảnh đầm sen. Anh chỉ tiếc trời hôm nay không nắng. Anh định bụng hôm đi biên giới trở về còn một ngày chót ở Hà Nội anh sẽ nhờ Vi đưa trở lại đây lần nữa. Bát ngát trên một nền màu lá xanh trải dài mãi tít xa nơi có dẫy nhà gạch chắn ngang nổi lên đó đây những nụ hoa sen hồng hồng. Quang cởi giầy bước xuống nước lội trên bùn chụp cận ảnh những búp sen có những con chuồn chuồn xanh đỏ đậu lên. Rồi anh đưa máy ảnh về phía Vi, kéo nàng gần mình qua ống kính. Lúc ấy Vi đang ngồi trên cỏ, tay cầm một búp sen đưa lên miệng. Vừa tiến lại gần Vi anh vừa bấm máy. Bức ảnh cuối là cận ảnh cái môi hồng của nàng đặt trên bông sen. Quang ngồi xuống cỏ bên cạnh Vi. Những lá sen phủ kín chung quanh hai người. Bỗng đồng loạt màu xanh của tất cả lá sen đột nhiên thẫm lại. Vi ngước lên nhìn bàu trời tối xầm, lo lắng hỏi Quang:
– Mấy giờ rồi anh?
Quang không trả lời. Anh cho tay vào túi quần lấy ra cái hộp nhỏ. Mở hộp anh lấy ra đồng hồ Seiko mạ vàng. Anh lặng lẽ cầm lấy bàn tay Vi đeo đồng hồ vào cánh tay nàng. Ngửng lên Quang dướn người đặt môi mình trên má Vi. Cô gái quay lại, đưa hai bàn tay vòng sau gáy Quang, đẩy đầu anh về phía mình. Quang ngửi thấy trên đôi môi Vi có mùi hương sen.
Vừa hôn Quang vừa kéo ngả Vi xuống bờ cỏ. Bỗng anh thấy lưng mình ướt. Những giọt nước mưa rơi trên lưng trên gáy Quang. Vi nhỏm dậy hốt hoảng:
– Chết rồi mưa to anh ơi! Áo mưa em lại để trên xe. Chạy mau đi!
Quang cho vội máy ảnh vào bao rồi chạy theo Vi. Dẫm mấy bước trên cỏ anh mới biết là mình còn chân đất. Quang quay lại đi vội đôi giầy vào chân không kịp sỏ bít tất. Lúc anh chạy đến xe người anh ướt sũng, Vi đã mặc áo mưa và cho xe nổ máy chờ sẵn. Quang ngồi sát lưng Vi kéo căng hai vạt áo mưa che thân. Dưới cơn mưa tầm tã, giữa đầm sen bao la, chiếc xe máy vọt đi trên đường nhựa.
Mưa ngớt hơn lúc Vi lái xe qua đường Xuân Diệu. Bóng hồ Tây trong cơn mưa nhẹ thấp thoáng có “rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang”. Quang ôm chặt lấy Vi. Chuyến về anh dạn dĩ hơn. Anh luồn tay trong cánh áo Vi sờ vào bụng nàng, cảm nhận sự tiếp xúc ấm áp của hai làn da. Lâu lâu anh thử thám hiểm đưa tay lên cao. Chiếc xe bỗng trẹo sang một bên và bàn tay Vi đập mạnh vào lưng bàn tay anh. Mỉm cười sung sướng Quang hát bài ca của Song Ngọc, anh hát rất khẽ chỉ đủ cho riêng mình anh nghe: “Ai ra đi mà không nhớ về, hồ Gươm mù bóng gương xưa… Nhớ hàng Bạc, nhớ qua hàng Đào… Nhớ cơn mưa phùn bay ngang thành phố… Bên em cùng đội mưa mà đi. Đội mưa mà đi mà đi…”.
Đến phố hàng Buồm Vi ngừng xe trước khách sạn. Quang xuống xe. Anh nhìn Vi dịu dàng nói:
– Em ướt hết cả rồi. Tóc tai thế kia. Anh không để em về nhà như thế đâu. Lên phòng anh đi. Để khô quần áo rồi hẵng về. Còn sớm mà.
Quang ngoắc anh bồi khách sạn, dúi tấm giấy bạc hai dollar, dặn anh ta canh hộ chiếc xe máy. Hai người bước lên cầu thang.
12
Trong phòng tắm vòi hoa sen đã tắt. Tiếng hát của Vi nghe rõ hơn vì không lẫn tiếng nước chẩy: “Hà Nội người có nhớ Tháp Bút chơ vơ liễu xanh vật vờ… Hà Nội người có nhớ hương lan vương vương bên hồ Thuyền Quang… Hà Nội người có nhớ chiếc áo xanh lam thơ ngây cô em học trò, áo trắng Tây Sơn Trưng Vương em tan học về, đường qua nẻo phố hẹn hò…”. Có tiếng máy sấy tóc. Tiếng máy kêu to át đi tiếng hát. Lát sau Vi bước ra.
– Bây giờ đến phiên anh.
Quang nhỏm dậy bước khỏi giường. Anh định bụng vào tắm thật nhanh rồi trở ra ngay. Anh vẫn còn hậm hực về cái cellphone phá đám. “Lát nữa mình phải lén tắt nó đi”. Quang nghĩ bụng. Anh bảo Vi:
– Đợi anh nhé! Anh ra ngay. Có hai cuốn truyện anh mới mua tối qua để trên bàn em lấy mà xem. Một quyển của Đỗ Hoàng Diệu, cuốn kia của Nguyễn Ngọc Tư.
Mười phút sau lúc Quang từ buồng tắm đi ra anh không thấy Vi trong phòng. Hốt hoảng anh mặc vội quần áo, đi giầy, chạy xuống nhà. Trước cửa khách sạn trên vỉa hè trống trơn không có chiếc xe máy của Vi.
Quang bước lên cầu thang. Buồn rầu. Anh nhìn quanh căn phòng. Bỗng anh thấy một cảm giác vô cùng trống trải. Anh sực nhớ anh chưa lấy địa chỉ Vi và ngày mai anh rời Hà Nội.
Buổi chiều Quang đi bộ đến vườn hoa với hy vọng mong manh gặp Vi ở đó, nhưng vườn Chí Linh trống trơn. Anh ăn cơm chiều ở chỗ ngồi ăn quen thuộc rồi ghé cà phê Phố Cổ. Từ trên cao nhìn xuống hồ Gươm anh ngạc nhiên với chính mình. Mới hôm qua chỉ là một sự đùa bỡn. Tự dưng chiều nay anh cảm thấy như một sự mất mát lớn, cảm giác anh chưa từng có trước đây.
13
Năm ngày sau. Vườn hoa Chí Linh. Ông Hội quẳng mẩu thuốc lá ra xa. Mẩu thuốc còn nhả khói quay quay trên hè mấy vòng theo làn gió thổi. Ông Hội bước tới dẫm lên, vừa xoay vừa ấn mũi giầy dí nát mẩu thuốc dưới đế. Ông ta đi tới đi lui trên hè, chiếc máy ảnh khoác vai. Gió thổi mạnh. “Trời lại muốn mưa”. Ông Hội nghĩ thế và hơi buồn. Mùa hè đã hết. Khách vãng lai vắng đi. Cả ngày trời mới có dăm ba người chụp ảnh. Ông Hội nhìn lên cao. Hình như tượng vua Lý Thái Tổ có vẻ cũ đi. Người ta dựng vua ở đấy dễ cũng từ hai năm trước. Không biết có ai lau chùi chăm sóc nhà vua không nhỉ? Ông nhìn vào đôi mắt nhà vua. Hôm nay ông thấy đôi mắt ấy có vẻ buồn, mặc dù trông ngài vẫn rất uy nghiêm.
Nhà vua liếc mắt xuống. Ngài hơi ngạc nhiên thấy hôm nay ông già này chú ý đến mình. Từ khi ngài trị vì ở đây, ông ta là người thân cận nhất. Vắng bóng ở đây nhiều ngày, hôm nay ngài mới thấy ông ta trở lại. Người con gái cũng thế. Xuất hiện đôi ba ngày rồi đi biệt. Người con gái cũng đứng cùng một chỗ ông già kia, cùng làm một công việc mà ngài không thể hiểu nổi: chặn những người đi qua lại rồi đưa một vật gì màu đen lên mắt, vật ấy lâu lâu lại lóe ánh sáng.
Nhà vua quay nhìn một thanh niên. Anh ta cũng cầm trên tay môt vật đen giống hệt ông già kia. Anh ta đứng yên đó lâu lắm. Trông anh ta quen quen như ngài đã từng gặp một lần. À phải rồi, anh ta xuất hiện cùng thời gian với cô gái.
Sau cùng nhà vua thấy anh ta tiến về phía ông già.
Quang lại gần ông Hội. Anh hỏi ông thợ chụp ảnh:
– Xin lỗi bác tôi hỏi thế này có hơi đột ngột. Bác có thấy một cô gái cũng làm nghề chụp ảnh như bác thường đứng ở chỗ này không?
Ông kia trả lời:
– Không. Cả vườn Chí Linh này tôi là người độc nhất chụp ảnh từ mấy năm nay.
– Tên cô ta là Vi, Tường Vi.
– À, thế thì nó là con gái tôi. Mấy hôm nay tôi ốm. Nó cứ đòi đi thay tôi. Nó mà chụp ảnh cái nỗi gì. Nó còn đi học. Mai kia nó ra trường kiếm khối nghề còn hơn cái nghề mạt này của tôi.
Rồi ông Hội chăm chú nhìn vào cái máy ảnh của Quang.
– Xem ra cậu cũng là dân sành đấy. Máy của cậu tốt quá!
Quang nói:
– Thưa bác, cháu có mấy bức ảnh nhờ bác chuyển hộ cho Vi.
Anh cúi xuống lục ba tấm trong xấp hình của anh. Một tấm chụp ở vườn Chí Linh. Một tấm Vi ăn bún chả. Một tấm chụp cận hình đôi môi Vi và đóa sen. Anh đưa ba tấm hình cho ông Hội.
– Cám ơn bác rất nhiều.
Nói xong anh bỏ đi.
Vua Lý Thái Tổ nhìn thanh niên bước qua đường Đinh Tiên Hoàng, cắt ngang dòng xe đang chạy như mắc cửi. Bóng anh ta khuất ở hồ Gươm. Nhà vua không nhìn thấy cảnh hai người gặp nhau ở tòa bát giác bẩy ngày trước đó, ngài không biết rằng mình vừa chứng kiến màn chót của một cuộc tình.
7
Bức e-mail thứ hai là của Mai. Đọc xong anh đánh vào reply, viết bức thư ngắn gửi vợ. Thư không dấu:
“Em yeu”
“Anh cung nho em lam. Anh con mot ngay nua o Ha Noi, chua biet phai lam gi cho het. Anh hy vong chuyen di theo phai doan den bien gioi chup anh se co nhieu hung thu hon. Thoi nghe, chung hon tuan nua la chung minh lai gap nhau roi. Hon em va Vivian”.
“Anh”
Đánh vào chữ send, xong, anh ngửng lên khỏi máy vi tính. Đằng sau dẫy máy là tấm gương lớn chiếm luôn cả một vách tường, trên gương có dán những hàng chữ quảng cáo các thắng cảnh du ngoạn. Dưới ánh đèn mờ anh nhìn khuôn mặt mình trong gương và sực nhớ tới lời vợ dặn trước khi đi: “Nhớ đấy! Về Việt Nam đi ăn hàng nhớ dặn họ đừng có cho bột ngọt. Ăn bột ngọt rụng tóc đấy! Mới bốn mươi mà đầu đã hói thế kia rồi!”.
Nguyễn Tường Thiết
-
Đọc thơ Avers mà nhớ chút Tự Lực Văn Đoàn…
Việt Hải LA
Félix Arvers Và ” Tình Tuyệt Vọng ” – Félix Arvers & Khái Hưng.
Thân Trọng Sơn/ Félix Arvers
Không có nhiều tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Félix Arvers (1806-1850) Sách văn học sử Pháp (Collection littéraire LAGARDE & MICHARD , XIXe siècle) không hề nhắc đến Ông. Từ điển Hachette giới thiệu rất nhiều nhà văn, nhà thơ thuộc nhiều thời đại cũng không ghi tên Ông. Larousse thì chỉ nói vắn tắt: “ Thi sĩ Pháp, nổi tiếng với bài Sonnet bắt đầu bằng câu: Mon âme a son secret, ma vie a son mystère”. Một tư liệu khác có vẻ cụ thể hơn cũng chỉ ghi vẻn vẹn đôi dòng ngắn ngủi:
“Félix Arvers là tác giả nhiều vở kịch khá thành công. Tác phẩm của Ông đã bị lãng quên, ngoại trừ tập thơ Mes heures perdues (Những giờ khắc hoài phí).”
(Félix Arvers fut l’auteur d’un grand nombre de pièces de théâtre qui connurent un grand succès. Son œuvre fut oubliée à l’exception de son recueil de poèmes “ Mes heures perdues.”)
———————————————————————————
Lời Mời
Kính mời quý vị đồng hương tham dự. Vào cửa tự do. Rất mong được gặp quý thân hữu yêu thích văn chương Tự Lực Văn Đoàn một thủa. Có rất nhiều hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn tham dự buổi hội thảo văn học tại đại học Cal State Long Beach. Xin xem thiệp mời đính kèm. Hãy có một vài tấm hình kỷ niệm nhân ngày này. Đặc biệt có sự tham dự của nhà văn Tường Nhung (phu nhân tướng Ngô Quang Trưởng), nhà văn Tường Giang (gia đình Thạch Lam), nhà văn Nguyễn Tường Thiết (gia đình Nhất Linh), nhà văn Từ Dung (gia đình Hoàng Đạo), nhà văn Ngọc Cường (gia đình Nguyễn Tường Thụy),… còn nhiều và nhiều tác giả tham dự viết sách: “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ”.
Link: https://www.facebook.com/namhai.tran.75839/posts/354774612089366
———————————————————————————-
Tập thơ Mes heures perdues xuất bản năm 1833, thời điểm mà tên tuổi các nhà thơ thuộc trường phái lãng mạn Pháp đã rực sáng, từ Lamartine với Méditations poétiques (1820), Victor Hugo với Les Odes(1822), Les Orientales (1829), Les feuilles d’automne (1831), Alfred de Vigny với Poèmes antiques et modernes (1826 – 1835), cho đến Alfred de Musset với Premières poésies (1835) …
Không rõ tập thơ dày mỏng thế nào, chỉ thấy còn lưu truyền một vài bài, trong đó một số bài viết tặng bằng hữu, hoặc có ghi tên (À Alfred Tattet , À Alfred de Musset ), hoặc viết tắt hay giấu tên (À mon ami *** , Sonnet à mon ami R.), để bày tỏ quan điểm về nghệ thuật, về thi ca…
Và tất nhiên hơi thở của dòng thơ trữ tình, bi thương của thời đại phả đầy trong thơ Arvers. Ông không ngần ngại nói rõ khát vọng kiếm tìm hạnh phúc của mình, dù đấy chỉ là thứ hạnh phúc bình dị của “chút tình tri kỷ”:J’abandonnais l’amour à la jeunesse ardente
Je voulais une amie, une âme confidente,
Òu cacher mes chagrins, qu’elle seule aurait lus;Le ciel m’a donné plus que je n’osais prétendre;
L’amitié, par le temps, a pris un nom plus tendre,
Et l’amour arriva qu’on ne l’attendait plus.
(Sonnet à mon ami R.)Thuở thanh xuân tôi từ bỏ tình yêu
Chỉ mong tìm mối tri âm đồng cảm
Người thấu hiểu nỗi lòng tôi sầu muộnTrời đã cho tôi nhiều hơn tôi muốn
Với thời gian tình bạn ngọt ngào hơn
Và tình yêu đến khi không còn chờ đợi.Hoặc là thứ hạnh phúc gia đình với vợ đẹp, con ngoan, với bạn bè, láng giềng thân thuộc để sớm hôm hàn huyên tâm sự:
J’avais toujours rêvé le bonheur en ménage,
Comme un port òu le cœur, trop longtemps agité,
Vient trouver, à la fin d’un long pèlerinage,
Un dernier jour de calme et de sérénité.
(Sonnet à mon ami R.)Tôi hằng mơ hạnh phúc một mái ấm
Cho con tim xao động cõi đi về
Sau bao tháng ngày lãng đãng u mê
Tìm bến đỗ giữa thanh bình, an lạc.Thế nhưng hạnh phúc đâu dễ tìm vì tình yêu đâu dễ gặp. Trước sau vẫn chỉ là “người tình trong mơ” bởi người chợt đến, chợt đi, không ước hẹn, ta trở về, thui thủi một mình ta.
… Rien n’a signalé sa venue,
Elle est passée , humble, inconnue,
Sans laisser trace de ses pas.Depuis lors, triste et monotone,
Chaque jour commence et finit:
Rien ne m’émeut, rien ne m’étonne,
Comme un dernier rayon d’automne
J’aperçois mon front qui jaunit.Et loin de tous, quand le mystère
De l’avenir s’est refermé,
Je fuis, exilé volontaire !
– Il n’est qu’un bonheur sur la terre,
Celui d’aimer et d’être aimé.
( À mon ami *** ).Nàng đến, không gì báo hiệu
Nàng đi, lặng lẽ, khiêm nhường,
Chẳng dấu vết gì để lại
Bước chân hờ hững trên đường.Từ đấy, u sầu, lặng lẽ,
Tháng ngày chợt đến, chợt đi,
Không còn ngạc nhiên, cảm xúc,
Thấy vầng trán mình âm u
Tựa như tia nắng vàng thu.Và khi không còn mong đợi
Cánh cửa tương lai khép rồi
Như kẻ lưu đày tự nguyện
Tôi xa lánh hết mọi người
Hạnh phúc duy nhất ở đời
Yêu và được yêu – thế thôi.Những bài thơ như thế này chưa đủ để làm nên tên tuổi của tác giả và đều đã bị lãng quên. Trong toàn bộ tập thơ, duy nhất một bài được biết đến và chỉ cần bài này là đủ làm cho tác giả nổi tiếng, như cách nói của từ điển Larousse nêu trên. Độc giả Việt Nam biết đến Arvers cũng chỉ qua bài Sonnet này , trước tiên thông qua bản dịch của một nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Bản dịch, với nhan đề Tình tuyệt vọng, thành công đến nỗi nhiều người cho rằng nó còn hay hơn cả nguyên tác có tên đơn giản là SONNET, hoặc là SONNET D’ARVERS như người ta thường gọi.
Nguyên tác bài thơ như sau:SONNET D ‘ARVERS
Mon âme a son secret, ma vie a son mystère
Un amour éternel en un moment conçu :
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire,
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.Hélas ! j’aurais passé près d’elle inaperçu,
Toujours à ses côtés, et pourtant solitaire,
Et j’aurais jusqu’au bout fait mon temps sur la terre,
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.Pour elle, quoique Dieu l’ait faite douce et tendre
Elle ira son chemin, distraite, et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas;À l’austère devoir, pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d’elle :
“ Quelle est donc cette femme ?” et ne comprendra pas.Sống và sáng tác vào nửa đầu thế kỷ XIX, thời kỳ rực rỡ nhất của trường phái lãng mạn trong nền thi ca Pháp, vốn chuộng sự tự do thoải mái đến độ buông thả trong nội dung và hình thức, Arvers lại chọn Sonnet, một thể thơ đòi hỏi nhiều ràng buộc về hình thức. Mỗi bài Sonnet chỉ có 14 câu, bao gồm 2 khổ thơ bốn câu ( quatrain ) và 2 khổ thơ ba câu ( tercet ). Mỗi câu gồm 12 âm tiết ( syllabe ). Cách gieo vần cũng phải theo quy định chặt chẽ : Nếu ở các khổ bốn câu có thể dùng các loại vần thông dụng ( vần chéo : ABAB, hoặc vần ôm : ABBA ) thì các khổ ba câu phải gieo vần liền 2 khổ theo kiểu CCD / EED hoặc CCD / EDE.
Mon âme a son secret, ma vie a son mystère.
Lòng tôi giấu một nỗi niềm tâm sự
Đời tôi đầy chuyện thầm kín riêng tây.Đây rồi cái “tôi”( le “moi” ) quen thuộc của trường phái lãng mạn, cái tôi mạnh dạn và thẳng thắn, không ngại ngần úp mở, không rào đón quanh co, được nhấn mạnh bởi cách dùng một loạt các tính từ sở hữu và đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất. Và ở đây cái tôi gắn liền với khái niệm khổ đau : “Le mal est sans espoir…”, “ Hélas !”, “ solitaire…”.
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.
( Nỗi đau chừng vô vọng
Đành câm nín mà thôi
Sao người làm tôi khổ
Vô tình quá người ơi !)Nỗi đau không nói được, xin mượn ngòi bút để thổ lộ can trường, bởi, nói như Alfred de Musset, một người bạn thơ của Arvers:
Les plus désespérés sont les chants les plus beaux
Et j’en sais d’immortels qui sont de purs sanglots.
Nuit de Mai ( Đêm tháng năm )
( Lời tuyệt vọng là lời ca đẹp nhất
Vang vọng mãi tiếng nức nở thảm sầu ).Điều bi thảm hơn là nỗi đau đó chừng như đeo đẳng suốt cả cuộc đời chàng trai si tình.
Un amour éternel en un moment conçu.
( Tình chớm nở vội vàng trong thoáng chốc
Mà tưởng chừng như đã kết ngàn năm.)Hẳn là chàng gặp gỡ đã từ lâu. Hẳn là chàng đau khổ đã từ lâu .Bởi nàng nào đâu hay biết gì (elle n’en a jamais rien su) . Và hơn thế nữa, suốt quãng đời còn lại cũng hoàn toàn vô vọng, “dù gặp nhau cúi mặt bước mà thôi “:
Et j’aurai jusqu’au bout fait mon temps sur la terre
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu( Tôi vẫn đi tiếp con đường phía trước
Không dám cầu xin, chẳng nhận được gì.)Không dám. Dù chỉ một lần. Phải chăng vì chàng quá nhút nhát, e thẹn ? Không, chỉ vì Trời đã sinh ra nàng đoan trang quá, hiền hậu quá, hãy để nàng thủy chung, hãy để nàng chu toàn bổn phận. Cho hình ảnh nàng mãi thánh thiện. Cho Tình Yêu thăng hoa. Và trở thành bất tử. Ít nhất là với bài thơ này.
Vâng, chỉ vì Trời đã sinh ra nàng đoan trang quá, hiền thục quá …Pour elle, QUOIQUE Dieu l’ait faite douce et tendre
Elle ira son chemin, distraite, et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas;Thật đáng ngạc nhiên khi nhà thơ dùng QUOIQUE (mặc dù) ở đây : mặc dù nàng đoan trang và hiền thục quá , nàng sẽ không nghe thấy tiếng thì thầm của tình yêu ? Lẽ ra phải là PUISQUE Dieu l’a faite douce et tendre ( bởi vì ).
Vì nàng rất mực đoan trang
Tôi đành câm nín để nàng thủy chung!
Nhưng nàng là ai ?Đọc văn thơ, nghe âm nhạc, nhiều người vẫn có thói quen tò mò muốn biết ai là nguyên mẫu, là nguồn cảm hứng khiến người nghệ sĩ viết nên bài thơ, bản nhạc ấy. Trường hợp này cũng thế. Từ sau khi bài thơ được phổ biến, bao nhiêu giấy mực đã dành cho cuộc truy tìm lai lịch người đẹp khiến thi sĩ ôm mãi mối tình tuyệt vọng mà viết nên những dòng thơ trác tuyệt này.
Có ý kiến cho rằng dây chỉ là một hình ảnh phúng dụ (allégorie), người đẹp chẳng hề hiện hữu, hơn nữa trong các ấn bản đầu tiên của tập thơ, trên bài này có ghi chú “ dịch từ tiếng Ý ” (traduit de l’italien) nhưng vì không ai đưa ra văn bản gốc nên giả thuyết này không đứng vững được.Một ý kiến khác, dựa vào quan hệ thân tình giữa Félix Arvers và Victor Hugo, cho rằng người đẹp bí mật này chính là … phu nhân của Victor Hugo mà Arvers đã kín đáo nhắc đến tên Adèle bằng cách dùng các vần “ fidèle ” và “d’elle” trong khổ thơ cuối !
Marie Nodier
Ý kiến khác nữa – có vẻ được nhiều người đồng tình – nhắc đến tên Marie Nodier, ái nữ của nhà văn viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp Charles Nodier ( 1780-1844 ), người thường tổ chức những buổi bình thơ văn tại thư viện Arsenal quy tụ nhiều thi sĩ lừng danh như Victor Hugo, Lamartine, Alfred de Vigny, Alfred de Musset… Những lần gặp gỡ thường xuyên nơi đây đã khiến Arvers thầm yêu trộm nhớ Marie Nodier mà không hề ngỏ ý cho đến khi nàng sang ngang vào năm 1833 và trở thành bà Marie Mennessier – Nodier.
Nhưng nói cho cùng, có nhất thiết phải biết rõ về người phụ nữ đó thì người đọc mới cảm mới thích bài thơ này không?Bản Dịch Tiếng Việt
Trước khi đọc lại một số bản dịch, tưởng cũng nên thử DỊCH NGHĨA bài thơ để từ đó có thể thấy sự sáng tạo của các dịch giả :
Mon âme a son secret, ma vie a son mystère
Un amour éternel en un moment conçu,
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire,
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.Tâm hồn tôi có điều thầm kín, đời tôi có sự bí mật
Một mối tình vĩnh cửu đã nảy sinh trong thoáng chốc,
Nỗi đau này không hy vọng, nên tôi đành không nói ra
Và người đã gây ra nó không hề hay biết gìHélas ! j’aurais passé près d’elle inaperçu,
Toujours à ses côtés, et pourtant solitaire.
Et j’aurais jusqu’au bout fait mon temps sur la terre,
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.Than ôi ! tôi đi qua gần nàng mà không được nàng để ý,
Lúc nào cũng ở bên cạnh nàng mà vẫn cứ lẻ loi.
Và tôi vẫn sẽ đi hết đời mình trên cõi thế ,
Mà không dám cầu xin gì cũng như không nhận được gìPour elle, quoique Dieu l’ait faite douce et tendre,
Elle ira son chemin, distraite et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.Về phần nàng, dù Thượng đế đã ban cho tính hiền thục và dịu dàng,
Nàng sẽ đi con đường của mình, lơ đãng và không nghe thấy
Lời thì thầm của tình yêu vọng lên trên bước chân đi.A l’austère devoir, pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d’elle :
« Quelle est donc cette femme ? » et ne comprendra pas.Vẫn thành tâm chung thủy với nghĩa vụ khắc khổ
Khi đọc những dòng thơ toàn nói về nàng như thế này, nàng sẽ hỏi:
“Người phụ nữ nào đó vậy ?” và sẽ không thể hiểu ra.
Bản dịch của Khái Hưng:
Tình tuyệt vọng
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ôi !người đó ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân ?
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi
Người dù ngọc nói, hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Nào ngờ chân đạp lên trên khối tình
Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng,
Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây ?!Khái Hưng hẳn không phải là nhà thơ, lại càng không phải là người dịch thơ nhưng bỗng dưng với bản dịch tài tình bài thơ của Arvers, Ông lại được biết đến ở một lĩnh vực khác với sự nghiệp tiểu thuyết của mình.
Thật ra bài thơ dịch này ban đầu không xuất hiện riêng lẻ mà nằm trong truyện ngắn TÌNH TUYỆT VỌNG của Khái Hưng. Trong truyện này người đau khổ vì yêu là thi sĩ Văn Châu, một lần đi làm phù rể cho bạn, chàng bỗng đem lòng yêu … vợ bạn ! “ Chàng không hiểu vì cớ gì, nhưng mới thoạt trông thấy cô dâu là chàng đã đem lòng yêu ngay, cái yêu vô nghĩa lý, nhưng nó mạnh mẽ vô chừng, tưởng như hai người vốn sẵn duyên kiếp từ đời nào, đã hẹn hò cùng nhau ở kiếp nào mà đến bây giờ mới gặp gỡ.” Sau ngày cưới đó, ngày ngày Văn Châu vẫn đến chơi nhà bạn, “ trong lòng chôn một mối tình vô lý”. Năm năm sau, nhân một buổi tiệc đêm Noel cùng với vợ chồng người bạn và hai người khác nữa, thi sĩ mới có cơ hội thú nhận “ tôi phạm một tội nặng lắm “ mà bạn chàng hiểu ngay là tội khả ái, là ái tình tuyệt vọng ! Được bạn thông cảm an ủi “vậy thì anh cứ yêu, cứ yêu như anh đương yêu. Yêu như thế không có tội gì hết, mà người chồng dẫu có biết cũng chỉ thương anh chớ không ngờ vực anh đâu”, thi sĩ Văn Châu mới đọc cho các anh các chị nghe bài đoản thi tôi dịch của Arvers ra quốc văn.
(Nguồn: dactrung.com )Tên của truyện ngắn trở thành tên bài thơ. Tình tuyệt vọng – Cái nhan đề này do Khái Hưng tự đặt, một sáng tạo đầu tiên của người dịch, thứ sáng tạo được phép của người làm công việc chuyển ngữ một tác phẩm văn học, lại là một sáng tạo cần thiết trong trường hợp này bởi nguyên tác thường chỉ ghi là Sonnet d’Arvers.Có thể đây là một bài thơ thuộc loại “ Không đề “ và nhan đề do người sau gán cho tác phẩm chứ không phải của tác giả.( Sonnet là một thể loại thơ luật của Pháp, Arvers là tên tác giả). Bài thơ được trích từ tuyển tập “Mes heures perdues” ( Những giờ khắc hoài phí ), trong đó nhiều bài cũng được viết theo thể loại Sonnet và tất cả đều có tên. Sonnet à mon ami R… ( Đoản thi gửi bạn R… ) chẳng hạn.
Tình tuyệt vọng _ Khái Hưng đã hiểu, đã cảm, đã chia sẻ hết cả tình cả ý cả tâm trạng cả nỗi niềm của tác giả nên mới đặt thêm cái nhan đề này. Và những người dịch khác, sau Ông, ( Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Trần Mai Châu…), hẳn muốn làm khác đi nhưng cũng phải viết lại như thế thôi.Dịch thơ Sonnet Pháp, Khái Hưng đã chọn thể thơ lục bát thuần Việt, bám sát nguyên tác từng khổ thơ một, chỉ phát triển hai khổ ba câu cuối thành tám câu, cho trọn bốn cặp sáu tám. Bám sát nguyên tác nhưng không hề gò ép, khiên cưỡng, vụng về theo kiểu dịch “mot à mot”, ngược lại rất nhiều câu dịch đúng và đủ ý mà không có vết tích của sự chuyển ngữ:
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi.( Et j’aurai jusqu’au bout fait mon temps sur la terre
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu. )Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình.( Elle ira son chemin, distraite, et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.)Trong toàn bài, cái không khí u uẩn, ngậm ngùi, sầu thảm được tô đậm bởi cách dùng từ rất “đắt”
Lòng ta chôn một khối tình
…
Mà người gieo thảm như hầu không hay
…
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân
…
Một niềm tiết liệt đoan trinh
……Nhịp điệu đều đặn của thể thơ ( 2- 2- 2 … ) đột ngột bị phá vỡ ở câu thứ ba ( 3- 3 ) như một nốt nhạc trầm chùng xuống trong cảm xúc của người đọc, rồi trở lại cho đến cuối bài.
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay.Biện pháp vừa điệp âm vừa điệp ngữ ở hai câu thơ cuối khép lại bài thơ đưa người đọc vào một nỗi bâng khuâng thương xót:
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng
Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây ?!Có thể nói nếu không ghi chú “ nguyên tác tiếng Pháp…. “, nhiều người không nghĩ đây là thơ dịch, nhất là khi đọc những câu :
Người dù ngọc nói hoa cười
Hay
Một niềm tiết liệt đoan trinh“Tình tuyệt vọng” của Khái Hưng vẫn xứng đáng được nhiều yêu thích và thuộc nằm lòng từ lúc được công bố đến nay.
Dalat2003- Viết lại 6/2008
Thân Trọng Sơn.(Kim Oanh – Sưu tầm)
* * *
-
NHỮNG QUYẾN RŨ CỦA NỮ GIỚI
Nguyễn Lân
Ai mà không mê cái đẹp? Từ thuở thiếu thời, nhìn thấy người đẹp là tôi đã mê man, ngẩn ngơ chiêm ngưỡng. Thoạt đầu là vóc dáng quyến rũ đến não lòng. Khi mới lớn, người phụ nữ đầu tiên mà tôi ái mộ chính là mẹ tôi. Suốt một thời thơ ấu rồi mấy chục năm ròng sau tôi được thấy dáng cao sang nơi mẹ. Nằm, ngồi, đi, đứng… lúc nào bà cũng uyển chuyển, khoan thai, tha thướt, nhẹ nhàng, cao sang. Tôi thích ngắm những lúc bà nằm nghiêng, tóc xõa sau lưng từng lọn dài như sóng gợn. Thật là bắt mắt!
Quãng tuổi trăng tròn, tôi bắt đầu biết nhìn khuôn mặt. Thoạt đầu tôi chỉ thấy mặt trái soan là dễ ưa. Nhưng sau này mới nhận ra mỗi khuôn mặt có nét hấp dẫn của nó. Từ khuôn mặt tròn phúc hậu, khuôn mặt dài hiền thục đến khuôn mặt vuông cứng dắn – khuôn mặt nào cũng đẹp nếu nó thích hợp với cá tính biểu lộ nơi người phụ nữ. Riêng vầng trán tôi thấy trán phẳng như trán của bà hoàng Grace Kelly hay hơi tròn đầy như trán của nữ tài tử Elizabeth Taylor là tuyệt vời. Phụ nữ Á Đông không thiếu người có vầng trán đẹp, có phần trông gần gũi đáng yêu còn hơn gái Âu Mỹ. Có những khuôn mặt đem phân tích theo ước lệ thì thấy thường có khi hơi kỳ nhưng hòa hợp với cái cầm thon nhọn, sóng mũi thanh thanh, làn môi mọng chín trái sầu, nhếch lên đã đủ rung cảm người đối diện.
Ngoài hai mươi, tôi bắt đầu bị thu hút bởi cặp mắt của nữ lưu. Ôi! Những cặp mắt đẹp! Mắt huyền nhung mở rộng với hai hàng mi dài cong chớp chớp hớp hồn người! Mắt lá dăm đằm thắm đa tình làm sao! Cặp mắt đẹp phải có tròng đen đủ to dù xanh, nâu hay huyền nhung. Qúy vị có đồng ý không? Thường thì mắt sâu và hai mí trông dễ mê hồn. Ấy thế mà nhiều đôi mắt một mí trông lại đa tình lắm. Nhiều khi bối rối chẳng biết chọn cặp mắt nào lý tưởng cho mình! Bây giờ tôi thấy rồi, đôi mắt đẹp không phải chỉ thuần túy ở khuôn mắt, lớn nhỏ như thế nào cho đủ hớp hồn mà đôi mắt đẹp phải là đôi mắt nói lên được những gì ẩn sâu trong tâm hồn, có thể làm ngơ ngẩn người đối diện. Cặp mắt càng u huyền thêm dưới đôi chân mày đều đặn cong cong hay xếch cao tùy theo khuôn mặt, tùy theo ánh mắt đong đưa sóng sánh lửa bình minh rộn rã hay nhen nhúm vài tia hoàng hôn buồn đến lịm người. Dù mắt tròn, dù mắt xếch nếu có hàng mi rậm càng làm tôn cặp mắt sâu thêm, thăm thẳm ý tình thêm. Thảo nào lông nheo giả được phái yếu chiếu cố!
Thế sóng mũi có cần không? Vừa đủ cao đủ thanh hợp với khuôn mặt, hai cánh mũi thon thon bắt mắt dẫn tia nhìn tha nhân xuống cặp môi hồng phía dưới. Có khi cái mũi hơi hếch trông lại dễ thương một cách tiếu lâm. Còn cặp môi thì sao nhỉ? Đôi môi đầy đặn, hai khóe miệng khẽ nhếch lên để lộ hàm răng ngọc trai trắng đều là đã gợi sự chú bên ngoài. Từ đôi môi mọng đáng yêu đó âm thanh của người đẹp vang nhẹ vào tai là đủ não lòng các đấng tu mi nam tử. Giọng nói, cung cách nói, với riêng tôi, bền vững hơn cả những nét đẹp khác của nữ nhi. Tiếng hay có thể là trong như suối chảy, có thể là trầm ấm như như tiếng sáo diều lồng lộng, có thể là nhẹ nhàng như làn gió thoảng qua. Cần nhất là nói sao cho êm lòng người nghe, sao cho người đối diện chú ý. Dễ mà khó. Âm thanh có thể do trời phú mà cũng có thể nhờ luyện tập. Giọng nữ giới khiến tôi lắng nghe không cứ tiếng Bắc, Trung hay Nam mà lời lẽ phải ôn nhu, lịch sự hay cách phát âm luyến láy quyến rũ dễ rung động lòng người.
Trên hết cả, cái đẹp nhất và đáng yêu nhất nơi người phụ nữ là tính tình và tâm hồn. Dù nhan sắc có “chim sa, cá lặn”, sau vài lần trò chuyện nếu lộ ra là người hời hợt, bề ngoài, ham danh vọng vật chất hoặc gian dối xảo trá thì cũng không thể là người phụ nữ đẹp. Tôi cũng ngại người háo thắng, đáo để, bướng bỉnh, đốp chát, hẹp hòi, nông cạn, chỉ thấy một đường phía trước như con ngựa có hai miếng che góc mắt thì nhìn thẳng mà đi, không thấy được ngoại cảnh tuyệt vời chung quanh. Những người này dù bề ngoài có nổi thế mấy mà sau khi tiếp xúc thấy lộ ra chân tính cũng không thể là người đàn bà quyến rũ.
Một điều quan trọng nữa là cách xử sự và vẻ lịch lãm nơi người nữ. Nói năng nhẹ nhàng, dịu dàng, ôn nhu nhưng rõ ràng chính xác và cương quyết là khả năng thuyết phục thật đẹp nơi người đàn bà. Tôi cảm phụ nữ ở đức tính chịu đựng. Đó là cái bền bỉ để đi tới thành công trong cuộc đời. Hơn thế nữa, người đàn bà đáng yêu ấy phải biết lắng nghe người đối diện, phải suy nghĩ trước khi trả lời, không phát ngôn một cách hồ đồ, bừa bãi. Những người trầm tính không nóng nảy, không dễ dàng bị khích động. Những người thiên bẩm thông minh, phản ứng sáng suốt, nhậm lẹ chính là những người dễ thu hút tha nhân. Đấy là những người đáng nể, đáng trọng.
Vẻ nhút nhát, dụt dè ở người đàn bà nhiều khi dễ chinh phục người khác phái. Nhưng không cần dụt dè quá đáng. E lệ, là tính tự nhiên trời phú cho riêng phái nữ. Nhưng phải luyện sao trở thành một nét thu hút để tạo tự tin. Chỉ cần tránh đừng đi quá trớn dễ trở thành sỗ sàng, gai góc, kích thích ngoại nhân khiến người ta khó chịu thấy mặt là muốn lảng tránh. Cuộc đời vốn đã nhiều thương đau, sống làm sao cho kẻ khác thoải mái, dễ chịu khi gặp mình. Sự cảm mến sẽ để lại khi chia tay trong lưu luyến, và thâm tâm người đối diện còn mong ngày tái ngộ.
Chợt nghĩ đến lòng ghen ghét, ganh tị nơi phụ nữ mà tôi sợ nhất. Tính này cũng rất “người” thôi. Trời sinh ra ai cũng ít nhiều có tính này. Nhưng chiến thắng được lòng ganh ghét mới thấy mình đáng giá. Vì từ ganh tị, ghen ghét đến thù hằn, thành sân hận mấy hồi. Ôi! Với những người này chỉ còn nước quay lưng đi. Bực mình thật khi phải nghĩ “tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Ngược lại cái đẹp tuyệt vời của người nữ là biết ái mộ người tài, biết trân qúy người giỏi, biết tôn trọng ý kiến của người khác, không nhất nhất bắt thiên hạ phải theo mình.
Học thức có cần không? Với tôi kiến thức và sự hiểu biết quan trọng hơn bằng cấp. Nhiều người bằng cấp cao, có khả năng trong lãnh vực của mình mà không thành công trong cách xử thế khi vào đời. Sự học vô cùng rông rãi, học hoài trong cuộc đời… “Học ăn, học nói, học gói, học mở”! Khiếp thật! Đúng! Học đi với Hành. Học nhiều mà không xử dụng vốn liếng thâu thập được có khác chi người ít học. Sự học đáng qúy không phải chỉ có ích cho riêng mình, cho gia đình mình mà còn phải trải rộng cho tha nhân, những người kém may mắn ít kiến thức, thiếu cơ hội cắp sách đến trường. Cuộc đời đáng trọng là mang sở học của mình giúp đỡ người khác trong khiêm tốn, nhẫn nại. Đó là những Người Đẹp mà tôi muốn nghiêng mình thành thật ngợi khen.
Nghĩ thế nhưng không thể đòi hỏi tất cả những cái hay nơi người nữ nêu ở trên, chỉ cần vài điểm là đủ vì chính bản thân mình nào có hơn người! “Nhân vô thập toàn”! Thật không có ý định moi móc chỉ trích ai mà chỉ mong được gặp gỡ như đã từng quen biết với những người đẹp khả ái quyến rũ.
GIÁO SƯ NGUYỄN LÂN – 2014
-
NGƯỜI ĐÀN ÔNG HẤP DẪN
Nguyễn Lân
Thế nào là người đàn ông hấp dẫn? Chắc quý vị nữ lưu nhao nhao lên: điều đó phải hỏi chúng tôi chứ nhà văn Nguyễn Lân làm sao biết được?! Nói đúng ra bài viết này thu thập ý kiến của nhiều người trong giới phụ nữ, gia đình, bè bạn, họ hàng, và các cựu nữ sinh thân cận của tác giả.
Khởi đầu hỏi ý kiến vợ trước. Bà vợ cười mím chi: “Nếu được chọn lựa lần thứ hai, sẽ là một người hoàn toàn khác biệt với anh”. Nghe mà giật mình. Nhưng nghĩ lại thấy có lý. Thứ nhất, mình chủ quan, cứ tưởng mình “ngon”, cứ tưởng bở! Thứ hai, con người sinh ra thông thường hay thay đổi quan niệm “sống”. Chợt nghĩ câu thơ “đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn” mà hết buồn! Biết mình vỡ cái ngu. Cô em dâu thì nói ngay, không đắn đo: “Người đàn ông hấp dẫn phải là người có power, có uy quyền. Phải là người “hét ra lửa, mửa ra khói”. Phải có cái oai. Ai thoạt thấy cũng nể sợ. Cô em họ thì cho rằng, thực tế là phải có tiền, giầu thì càng tốt “có tiền mua tiên cũng được”. Những lời nói của người thân làm mình thấy đau đau, nhức nhối. Nghĩ đến mẹ. “Bà cụ” tôi góa chồng năm 32 tuổi – tuổi thanh xuân – đang ngồn ngộn sức sống. Vậy mà khi có người đến hỏi, muốn chắp nối tơ duyên, mẹ tôi đã chối từ. Tôi có gặng hỏi lý do vì trong con mắt tôi ngày đó, người đàn ông đến sau cha tôi là một người học thức, có địa vị, đẹp trai. Mẹ tôi chỉ vắn gọn: “Mẹ rất hãnh diện là vợ của ba – nhà văn, nhà cách mạng Hoàng Đạo – mẹ tôi nhấn mạnh – dù thời gian chung sống không được bao lâu. Nhưng con biết đấy, ba con là người “trâu chết để da, người ta chết để tiếng” – làm sao mẹ dám bước thêm bước nữa?!”
Người nhà thì thế, còn bạn bè ra sao? Một bà bạn có đấng lang quân gầy yếu, bé nhỏ tuyên bố: Người tôi yêu phải cao lớn, vạm vỡ, ra dáng một trượng phu. Chắc oai như Từ Hải “Râu hầm, hàm én, mày ngài / Vai năm thước rộng, thân mười thước cao”. Một bà khác thêm: cũng chưa đủ. Hắn phải có cặp chân mày võ tướng đen nhánh, xếch ngược, mũi trâu, miệng rộng, giọng oang oang như lệnh vỡ … mới là đàn ông! Đó có phải là cái đẹp của phái nam trong sách tướng?! Một vị nữ lưu chêm vào: Không cần! Tầm cỡ nào cũng được miễn là “hắn” không có dáng … đê đê (!). Chẳng hiểu đê đê là gì. Hỏi, mới vỡ lẽ là cái dáng thô kệch, đê tiện – lưng cánh phản, chân vòng kiềng hay chữ bát, đi đứng xuệch xoạc, hoặc khúm núm. Có người lại phát biểu: Ôi! Khúm núm là tính của cái thằng dễ bảo, chịu khó nghe vợ. Có chồng như vậy mới khỏe, không lo nó mắt la mày lét thấy gái là hai tròng mắt đảo loạn lên! Dễ sợ!
Một nữ sĩ nhỏ nhẹ: Tôi thích người “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” như chàng Kim trong truyện Kiều. Lại thêm một mẫu nam hấp dẫn nữa. Ồ! Tôi khoái những trang thiếu niên tóc dài phủ gáy, vẻ bất cần đời – chắc là kiểu James Dean của thập niên 60! Không! Đàn ông phải có ria mép, khi nói hàm ria rung rung mới quyến rũ, khi hôn những sợi râu cứng gợi tình cọ xát trên môi má mình mới đã! Ôi cha! Sensual! Chắc là type Clark Gable. Rợn người thật! Cặp mắt phải sâu thăm thẳm mang nặng ý tình hay lạnh lùng khiến phụ nữ như bị xâm chiếm, bị mê hoặc. Thế ư?! Tôi, thì thích cái nhìn dã thú, man rợ như lột trần cả thân thể, cả tư tưởng của đàn bà. Lạ thật!
Mẫu đàn ông của em là nghiêm nghị, đứng đắn (kiểu tây gỗ?), lời nói phải cân nhắc chỉnh đốn ý tình. Tác phong có xa cách, khinh bạc mới hấp dẫn được nữ sinh như em. Một cô cựu nữ sinh của tôi tâm sự. Còn em thấy những đấng tu mi hói đầu lại nhiều đàn ông tính. Nghe đâu người nào không tóc là vì cơ thể tiết ra kích thích tố nam (testosterone) nhiều. Điều đó có đúng không nào?
Một giọng Huế yêu kiều cất lên: Tác phong càng xa cách khinh bạc càng là người mang nặng tâm sự u uẩn không được toại chí trong đời. Đó là người có dĩ vãng thê thảm, có quá khứ đau thương. Sống với người như vậy hoặc mệt mình vì phải nhẫn nhịn hoặc làm người ta trở nên câm nín vì e ngại bà vợ khôn ngoan. Thế là đức lang quân phải “lụy”. Đâu có thoải mái!? Làm sao trò chuyện với nhau để “ý hợp tâm đầu” ? Thật khó chịu! Tôi thích người cởi mở, dám nói và thành thật. Thêm nữa, một giọng Bắc dõng dạc – mà phải nói đúng, có ích cho người nghe, không phét khoác. À mà nàng kia, sao lại thích tu mi nam tử không tóc? – Đã nói là hắn có nam tính vì hormone male nhiều trong huyết quản. Như vậy mới khiến mình cảm thấy rất “em gái hậu phương”, đầy nữ tính bên cạnh hắn. Và bụng phệ là người “tốt bụng”, là phát tướng phát tài. À, ra thế! Đó là kiểu lý giải của cô này. Ngồ ngộ!
Thế nào là thanh âm quyến rũ? Một giọng trầm ấm, một giọng nhẹ nhàng êm ái hay một giọng thanh cao vút mà không chói tai (kiểu tenor của Bằng Kiều) – giọng sao cũng được miễn là đừng ấp úng, đừng cà lăm, đừng có vẻ nghẹn ngào “rặn” ra từng chữ, nghĩa là nói trôi chẩy, dễ hiểu thì bọn ta mới thông cảm dễ dàng. Đâu đây, một giọng Quảng cất lên: thế mi không biết “rặn” ra từng chữ là có thời gian suy ngẫm để dễ bề bóng gió xa vời sao? Ồ! Kinh nghiệm bản thân, những vị nào “ấp úng không ra được nửa lời” lại là những người chồng chung tình vì “sự thể” đó tán gái làm sao được. Trên đời có những vị nữ lưu rất weird – thích những đấng râu mày vừa quê quê, vừa cù lần. Đúng là “nhân tâm tùy mạng mỡ”.
Dáng thế nào là hấp dẫn nhỉ? Cô thì cho là phải điệu bộ như tài tử ciné Âu Mỹ. Cô thì nghĩ là cứ tự nhiên mới hay. Trịnh trọng, phô trương quá dễ thành giả dối, có khi lại dơ dáng, thôi thối nữa. Cô thì thích vẻ cương quyết, cứng dắn. Cô khác lại chuộng vẻ ngây thơ trong sáng (có trở thành khờ khạo không nhỉ?). Chắc cô này giầu tình mẫu tử. Nhưng đa số các mệnh phụ tôi quen đều hãi quý ông nhiều mặc cảm, tự ti lẫn tự tôn. Thiển nghĩ, mặc cảm rất “người” nhưng nên cố tránh, cố dẹp … dần dần. Có phải không các trượng phu?
Rồi, một giọng nói thật êm ái làm tôi lắng nghe: Với em, người đàn ông thu hút em là người có lý tưởng, là người làm ích cho xã hội, là người có tính khí, có trí sắp đặt, theo đuổi sự nghiệp mà không cầu danh lợi cho bản thân, là người tâm hồn phóng khoáng, hướng thượng, biết cảm thông, yêu nghệ thuật, và có nhiều sở thích giống mình. Còn chị tránh xa những đấng mày râu nệ cổ, hủ lậu, những người khư khư ôm lấy cái cũ mà không thèm mở mắt nhìn thế giới tiến bộ chung quanh. Ái chà! Thế thì chúng ta suốt đời phải học! Mệt… nhưng đừng nghĩ thế. Cứ cho là có lý, là đúng sẽ cảm thấy tâm hồn tươi mát, thể xác trẻ trung. Có phải không, các bạn?
Còn ngoại hình có cần không? Cũng chẳng cần. Nhưng trong phim “Le bossu de Notre Dame”- mà tôi thích cả mấy chục năm nay – người đẹp Esmeralda rất xót xa anh chàng gù xấu xí Quasimodo nhưng chưa bao giờ nàng yêu chàng!
Vậy, nói sao đây?
Nguyễn Lân
-
NHỚ BÀ QUÁ! BÀ ƠI!
Nguyễn Lân
Tôi sinh ra dưới một vì sao xấu. Mới lọt lòng đã phải xa mẹ vì người bị băng huyết, nằm liệt giường. Ngoại ẵm về nuôi nấng từ lúc ấy. Thuở nhỏ tôi là một đứa bé èo oặt lắm bệnh. Chưa bao giờ tôi được một giọt sữa mẹ! Hệ miễn nhiễm đương nhiên không tốt. Nào thiếu máu, nào lở loét kheo chân, nào hen suyễn! Khoảng sáu tuổi mắt đã có vấn đề, ống thông nước mắt xuống xoang mũi tắc nghẽn nơi khóe mắt trái. Phải thông, phải mổ cũng chẳng khá hơn cho mãi tới ngày nay. Mắt kém, cận thị và loạn thị. Tương lai sẽ còn thêm viễn thị nữa. Bao nhiêu khó khăn săn sóc tôi, ngoại lãnh đủ! Bà vất vả, bà thương cháu nhưng bà không nuông chiều.
Những buổi sớm mùa đông. trời còn chạng vạng tối, mặt trời còn lười biếng chùm mây xám ngái ngủ, tôi đã bị đánh thức dậy. Nếu còn trì hoãn ườn mình trong lớp chăn bông êm ấm, thế nào chăn cũng bị tung ra, một bàn tay phát mạnh vào cái mông bé bỏng teo tóp của tôi kèm theo một giọng sắc lạnh oai nghiêm ra lệnh: “Sáng bảnh mắt rồi! Dậy!”
Những ngày xa xưa ấy sao mà khổ sở thế đối với một đứa bé ốm yếu! Tôi có cảm giác bị hành hạ. Nhất là thỉnh thoảng về nhà ba me chơi đôi ba ngày thấy anh Sáng, chị Minh nằm cuộn trong chăn sung sướng thoải mái dù đã thức giấc, lòng tôi nẩy sinh ra phân bì, ganh tị! Bé nhất nhà sao chỉ mình tôi ở với ngoại bị kỷ luật sắt đá thế? Nhưng nếu me tôi giữ lại chơi lâu, nhất định tôi không chịu, tôi nhớ “nhà”, tôi nhớ ngoại, tôi nhớ những buổi sáng bị đánh thức dậy, ngồi chồm hổm trên giường chờ u già bế xuống phòng ăn dưới nhà húp cháo trắng với đậu kho, món điểm tâm thường nhật. Bà tôi nói: “Ăn đi! Bạch trúc bổ hơn nhân sâm”. Tôi không thích cháo, tôi thèm những viên bơ vàng óng thơm bùi ăn với bánh mì tây nóng dòn, những ly sữa tươi béo ngậy vào những ngày về thăm ba me. Nhưng không bao giờ tôi đòi ngoại những món đó. Ngoại ăn sao tôi ăn vậy. Riết rồi cũng quen.
Ngoại dậy tôi cách húp cháo. Bà khó chịu nghe nghe tiếng “soàm soạp” khi tôi há họng nuốt cháo. Bà nói: “Ăn vậy không được lịch sự, con ạ. Vả lại, ăn uống ồn ào quá nhỡ bị bắt cóc, cướp biết ngay là con nhà có của quen no đủ, đói là thấy thức ăn vơ lấy ngấu nghiến, nó xẻo ta đòi tiền chuộc. Con nhà nghèo húp cháo quen nên ăn uống nhẹ nhàng”. Tôi sợ, đành sửa đổi lại lối ăn cháo. Ngồi vào bàn ăn mà chống tay vào cầm hay tỳ hai khuỷu trên mặt bàn là điều cấm kỵ. Trong khi ăn mà lấy đũa gẩy gẩy ra cái điều thức ăn không ngon hay thọc đũa lùa lùa chọn miếng mình thích là thế nào cũng bị đét vào tay. Hồi nhỏ tôi ngán đến nỗi chẳng thiết ngồi vào bàn ăn nữa. Tôi ốm nhom như que tăm. Bà tôi lại tìm cách “nhồi”. Tôi phải uống máu bò tươi hằng ngày cho đỏ da thắm thịt. Tôi phải nuốt mật rắn để bộ máy tiêu hóa năng hoạt. Mật rắn xanh biếc màu ngọc thạch, to bằng đầu ngón tay cái, vừa chạm vào lưỡi là để lại vị đắng chát, tanh tanh. Tôi được ăn cơm nấu với mỡ cừu cho béo bổ, và cũng để trị bệnh suyễn. Tôi sợ mùi gây gây của mỡ cừu nhưng vẫn phải nuốt vì món cơm này chính tay bà ngoại đút cho ăn. Bà nói: “Đáng lẽ cháu phải nuốt trọng nguyên con thạch sùng để trị chứng hen nhưng bà thấy tội cháu quá. Đến khi lớn mà vẫn còn “kéo cò cử” bà sẽ cho cháu nuốt thạch sùng”.
Nhà ngoại to, hai tầng. Bên hông nhà là garage xe hơi để được một ô-tô và một xe kéo tay. Đó là nơi chú tài xế dạy tôi làm quen với máy móc và anh xe chỉ tôi cách kéo xe điệu nghệ. Phòng khách rộng, chưng toàn đồ Tầu cổ từ thời Khang Hy, Càn Long. Những thống men xanh mầu cẩm thạch nổi hoa văn to bằng cái chum. Cả ba anh chị em tôi chui vào vẫn còn rộng. Những lọ lộc bình da ngà vẽ lan, mai, cúc, trúc màu lam phi yến cao nghệu như muốn vươn tận đến trần nhà. Có lần tôi leo lên nóc tủ chè rồi gắng sức nhẩy tới một lọ lộc bình. Thế là rơi tòm vào bên trong đau điếng, nằm dưới đáy lọ, la lối um sùm. Chẳng có ai trong phòng khách. Cả gần nửa buổi mới có người khám phá ra. Hai anh người nhà vạm vỡ hè nhau nghiêng lọ xuống mới kéo được tôi ra ngoài. Từ đấy bà cấm không cho tôi vào phòng khách một mình nữa.
Tôi chơi trên giường ngủ của ngoại. Chiếc giường gỗ gụ chạm trổ nhiều hình thù ky dị ở đầu, dưới chân và hai bên thành giường những sinh vật nửa người nửa thú nhe nanh giơ vuốt như doạ dẫm. Tôi sợ những hình thù đó nhưng tôi thích cái giường nệm Hongkong lò xo êm ái, tha hồ nhún nhẩy. Thế là tôi leo lên lò sưởi kế cận, nhẩy ùm xuống giường, tưởng tượng đang phóng mình từ ván nhún xuống hồ bơi. Chăn nệm nhăn nhúm nhầu nát. Bà tôi khám phá ra cảnh tượng hỗn loạn và cấm không cho tôi chơi trên giường nữa. Nhưng những gì trong phòng ngủ của bà đều là đồ chơi đối với tôi. Một cái tủ đứng to cao bằng gỗ cẩm lai khắc hình những quái vật nhẩy múa quanh tấm gương hình bầu dục chính giữa. Một cái móc treo áo hình người đầu thú bằng gỗ phương đàn xậm màu. Đồ chơi của tôi đó, một đứa trẻ 5, 6 tuổi. Phòng ngủ của bà cháu tôi chỉ có một cửa sổ dài và hẹp trông ra sân sau um tùm cây lá. Những ngày rực nắng, ánh sáng ùa vào phòng cũng đã khiêm nhường, chỉ lờ mờ thôi đủ để tôi thấy “đồ chơi” và giỡn nghịch những vật này. Những ngày âm u, ánh sáng yếu ớt quá, mơ hồ chẳng thể phân biệt giường, tủ, mắc áo, ghế tựa trong phòng. Nhưng tôi biết chúng ở đâu rồi, cứ mò mà chơi vẫn được.
Khởi đầu, trong khung cảnh âm u kỳ dị của căn phòng, tôi cảm thấy ghê ghê, rờn rợn. Dần dà quen đi. Đã mấy lần tôi lộ vẻ sợ bóng tối, sợ ma, tôi tìm ngoại. Bà nói: “Nhà thờ Phật, ma nào dám đến”. Từ đấy, mỗi lần lủi thủi trong nhà, mỗi lần tâm hồn xao động, tôi lẻn vào phòng thờ Phật, ngắm nhìn pho tượng Di Lặc bằng vàng ròng, mở rộng miệng cười tươi, lòng cảm thấy thanh thản, vững vàng hơn. Phật Di Lặc với cái bụng bự khiến lần nào vào phòng thờ tôi cũng lén ngoại thọc tay vào ngoáy lỗ rốn pho tượng
Tối đến, bà tôi cho thắp nến (đèn cầy) trong phòng ngủ, ánh sáng leo lét nhưng tôi không còn sợ bóng đêm chập chờn, sợ cô đơn nữa. Phòng khách và phòng ăn sáng chưng nhờ đèn “măng xông”. Họa hoằn, tôi tha hồ nghịch trong phòng ăn sau bữa cơm chiều. Đó là những lúc cụ cố tôi (bà cố) thấy khỏe trong mình nán lại trò chuyện với ngoại và âu yếm tôi. Bữa cơm chiều thường có bốn người: cụ cố, bà ngoại, bác Quế, cháu gọi bà tôi là cô ruột và tôi. Anh người làm bưng mâm cơm từ bếp lên nhà trên qua một sân rộng trồng những cây bàng sai trái. Tôi khoái lượm những quả bàng chin vàng thơm ngọt và ăn đến no thôi. Vì thế, bữa cơm chiều tôi không muốn ngồi vào bàn ăn, Tôi uể oải trông thấy. Ngoại bắt tôi ngồi kế cận. Bà không đút tôi ăn nữa, bắt tôi phải tự xúc cơm. Nhai cơm mà như nhai rác trong miệng. Tôi phải ăn hết bát cơm này. Nếu không phải đứng úp mặt vào tường cả mấy tiếng đồng hồ. Nhiều bữa, cụ cố phải năn nỉ bà ngoại tha cho. Những lúc ấy, tôi ghét ngoại vô cùng. Thế mà giờ đây, tôi nhớ ơn ngoại đã rèn luyện cho tôi biết thế nào là kỷ luật và biết miếng cơm là đáng quí.
Lang thang ngoài hành lang trên lầu, tôi tò mò quan sát hai căn phòng bác Quế và cụ cố nằm cạnh nhau, chênh chếch nhìn sang phòng ngủ hai bà cháu. Cửa phòng bác năm thì mười họa mới hé mở những lúc bác về nhà, bên trong bừa bộn. Tôi thầm nghĩ nếu ngoại biết được là bác Quế bị la ghê lắm. Đó là lý do bác khóa cửa phòng khi rời nhà. Phòng cụ cố hấp dẫn hơn với cỗ quan tài (hòm) bằng gỗ hoàng tâm sậm nâu nằm chình ình giữa buồng. Trong ánh nến chập chờn vừa đủ soi tỏ, cụ cố mặc áo vóc đỏ, vấn khăn đoạn màu huyết dụ khiến tôi rùng mình. Y phục cụ tượng trưng cho tuổi thọ. Cụ cố thọ đã gần trăm! Tôi hỏi ngoại tại sao lại bầy quan tài trong phòng, trông phát sợ! Bà trả lời: “Ai rồi cũng nằm trong đó. Con phải làm quen, không khiếp hãi những cái như thế. Người trọng tuổi, theo tục lệ ta, phải có cỗ hậu sự kế bên để lúc ra đi con cháu chuyển ngay vào khi thân thể còn ấm”. Lâu dần, tôi cũng quen với cảnh vật không thích hợp cho tuổi ngây thơ!
Thuở ấu thơ, tôi vui nhất là được u già đưa xuống nhà ngang chơi với mấy người làm. Nhà ngang là căn nhà gạch nhỏ hai tầng cách với nhà gia chủ, bà tôi, bởi cái sân rộng trồng bàng. Tầng trên là phòng bác bếp, chú tài xế và anh xe kéo. Tầng dưới là cái bếp rộng lớn thiết kế theo kiểu cổ xưa. Tôi sung sướng chạy chơi trong bếp này vì với tôi, đó là nơi sáng sủa ấm áp từ những ngày đầu thu cho đến cuối đông. Nhiều nồi niêu, soong chảo, bát đĩa tha hồ mà sờ mó lôi kéo không ai la mắng. Vắng mặt bà ngoại, người ăn kẻ ở đâu dám cấm cản cậu chủ nhãi ranh. Đã tưởng bà không biết, nhưng có lần ngoại nói: “Bà cho con chơi dưới bếp, con phải gọn ghẽ, bầy đến đâu dọn đến đấy, không kiểu công tử bắt người làm hầu mình”.
Đến tuổi học, mẹ mướn cô giáo tới kèm dạy cả ba chị em tại nhà bà ngoại. Tên cô là Hoàng Diệp. Tôi thích tên cô vì tôi mê ngắm lá thu. Chị Minh lớn nhất đọc, viết thành thạo. Anh Sáng cũng đã biết cộng, trừ, nhân, chia. Riêng tôi, mới bắt đầu “ê a” i tờ. Tuy vậy, cô giáo ngán tôi nhất, cô gọi là “bé hạt tiêu”. Cô giáo tôi rất hiền thục. Chỉ một buổi học là tôi biết tính cô. Tôi bắt đầu suy nghĩ những trò trêu chọc.
Một tối ba chị em tôi được bà ngoại dắt đi xem tuồng “Quan Âm Thị Kính”. Sáng hôm sau, khi cô Diệp tới dạy học, tôi hỏi: “Tại sao cô đánh phấn trắng thế? Cô biết Thị Mầu trong tích Quan Âm Thị Kính không? Trông mặt cô bết phấn như y thị vậy”. Cô ngẩn người nhìn tôi, không nói gì. Một bữa chúng tôi được ngoại dẫn đi xem kịch “Bao Công xử án” mặt sắt đen xì. Khi gặp cô, tôi hỏi một cách rất ngây thơ: “Mặt cô trắng bốp thế kia phải lấy Bao Công mặt đen thùi lui thì mới hòa hợp sinh con bình thường được”. Cô không nói, đôi mắt long lanh ngấn lệ. Lại một lần, tôi không thuộc bài, sợ quê, làm vẻ suy tư, nói” “Diệp là lá. Hoàng Diệp là lá vàng. Lá vàng là lá rụng. Cô coi chừng mùa thu sắp tới đấy, dám cô “ngủm”! Lần này cô bật khóc. Sau buổi học, chị Minh mách bà. Ngoại mua cây roi mây, đưa cô. Ngoại lớn tiếng: “Cô treo roi mây này trên tường. Đứa nào hỗn, cô thẳng tay quất cho tôi”. Và bà nhốt tôi trong phòng tắm tối om suốt buổi chiều hôm ấy. Tới tối, bà mở cửa, dắt tôi ra ăn cơm. Tới bàn ăn, tôi dằng tay ngoại, lon ton chạy chạy vào đứng ngay chỗ cũ trong phòng tắm. Ngoại theo vào, phát mạnh vào đôi mông bé nhỏ khiến tôi bắn tung ra xa vài thước. Nghiêm giọng, bà ra lệnh: “Ra bàn ăn”. Lì thế, nhưng sợ đau, đành chịu thua bà thôi!
Từ ngày ấy tôi không còn dám “ăn hiếp” cô giáo Diệp nữa. Sau ngoại, cô là người thứ hai gần gũi tôi. Thỉnh thoảng, cô ở lại ngủ đêm tại nhà ngoại. Hết giờ học, ba chi em được cô dẫn đi chơi, dạo quanh ven hồ Hoàn Kiếm ngắm liễu rủ, nghe sự tích thần Tháp Rùa. Ôi! Những hàng liễu tha thướt gợi nhớ tới mái tóc huyền của mẹ buông lơi trước gió. Cô dẫn chúng tôi tới vườn hoa Con Cóc nghe nhạc, thưởng thức những tiếng hát tuyệt diệu của Minh Đỗ, Thanh Tước, Ngọc Bảo và giọng ngâm ru hồn của Hoàng Giác (những ca sĩ nổi tiếng Hà Thành của những thập niên 50-60) vào những chiều nắng hạ. Tối đến, chúng tôi quây quần bên cô lắng nghe chuyện cổ tích rồi gục ngủ trong lòng cô giáo. Đó là những giây phút thần tiên của tuổi ấu thơ. Cô Diệp đã gieo vào trí óc non nớt của học trò những vị anh hùng mã thượng, đã cấy vào con tim nhỏ bé của tôi tính ham mê trở thành lãng tử với tâm hồn phóng khoáng yêu thích tự do.
Cô Diệp còn kể cho ba chị em tôi về cha của chúng tôi, người mà họa hoằn tôi mới gặp. Cô thán phục cha tôi lắm. Cô cho chúng tôi một cảm giác hãnh diện là con của người, một anh hùng suốt đời hy sinh cho dân Việt, cho đất Việt. Thế nhưng, mỗi khi cha tôi về nhà, tôi quên hẳn người hùng ấy. Ông chỉ là bạn đùa nghịch với ba chị em tôi. Ông bầy trò giáp lá cà chiến trận. Một bên là chúng tôi, kẻ địch của tụi này chính là ông. Chúng tôi chiến đấu rất hăng. Đánh ông tơi bời. Có lần ông rách tai, máu chảy ròng ròng. Me về phải băng bó cho chồng. Me la và mách bà vì tôi là đứa nhỏ dữ nhất, cầm gậy đập cha tàn nhẫn.
Tôí đến, nằm bên ngoại, bà nói: “Con không được chơi ác, gây thương tích cho bất cứ ai. Bà đánh con có bao giờ bật máu không? Con làm không đúng, bà phải dạy, phải lo cho con nên người. Đánh đau, con mới nhớ, không phạm lỗi nữa, chứ không phải làm con khiếp hãi. Gây thương tật cho người khác là làm người ta sợ mình, tránh mình”. Từ ngày ấy, tôi “hiền” với cha tôi hơn. Nhưng cũng chẳng được bao lâu! Năm tôi mười tuổi, ông đã ra người thiên cổ! Ông mất tại một thị trấn hẻo lánh xa xôi bên Trung Quốc. Cũng không còn lưu lại nắm xương tàn!
Ngoại thương quý cha tôi, dù ông chỉ là rể, lại chẳng mấy khi có nhà, có thì giờ lo cho vợ con. “Cha con là người của dân tộc, của xã hội. Dù cha không kề cận bên con, con vẫn phải lấy làm vinh dự có một người cha như vậy”. Mỗi lần cha tôi về nhà, ngoại lại nấu cao Ban Long cho ăn lấy sức.
Tôi lớn dần trong vòng tay ngoại. Nhưng tôi nhớ mẹ, hỏi ngoại về mẹ luôn luôn. Mẹ tôi còn bận săn sóc em bé. Mãi tới năm mười tuổi tôi mới có em. Tôi thích bồng ẵm, nâng niu em vì con bé bụ bẫm dễ thương lắm. Nhưng mẹ không cho bế nhiều, sợ làm té em vì tôi cũng còn nhỏ lại ốm yếu. Về ngoại, tôi cứ thắc mắc tại sao tôi không được ở với mẹ, không được chơi em bé lâu. Ngoại nói: “Con lắm bệnh từ thuở lọt lòng. Bà phải thay mẹ nuôi con. Thế, nếu mẹ đòi con, con có bỏ bà đi không nào?” Dĩ nhiên là không. Cạnh bà, tôi mới thấy thoải mái. Cạnh bà, tôi mới thấy mình vô tư, có tính độc lập, tự tin, không hãi sợ vô cớ như nhiều trẻ em cùng trang lứa. Thế thì tại sao tôi lại rời ngoại? Vả lại, mẹ tôi cũng không đòi. Có lẽ mẹ sợ ngoại buồn. Có lẽ mẹ nghĩ tôi sống với bà đã quen, mang đi tôi sẽ nhớ ngoại phát bệnh. Nhưng dù tha thiết với ngoại thế mấy, tôi vẫn cảm thấy thiếu tình mẫu tử. Lâu lâu mới gặp mẹ, tôi thèm ngồi lòng mẹ, nhưng mẹ chẳng chịu ẵm bế! Thuở tôi còn bé xíu, mẹ phải chăm sóc anh Sáng. Đến năm tôi lên mười, mẹ lại có em bé. Mẹ không có thời giờ cho tôi. Mẹ bận!
Ngày qua… ngày lại qua… Tôi đã 16 tuổi. Cái tuổi ngang ngang, ương ương, dở dở ấy, cái tuổi dễ nổi loạn ấy… thật sự manh nha trong tôi từ lâu nhưng chưa có dịp bộc phát. Bà ngoại đã rèn luyện tôi thuần thục. Tôi là một thiếu niên hiếu học, mê đọc sách, mê văn thơ, luôn luôn đứng đầu lớp. Bà tôi mừng lắm. Bà vui vì đã nuôi một đứa trẻ èo oặt nên người. Bà khuyến khích cháu vào ngành Sư Phạm khi biết cháu có ý định muốn trở thành một chuyên gia giải phẫu. Theo ngoại, nghề giáo thanh bạch nhưng được nhiều phúc đức vì không thể làm chết ai. Xúc động vì ý tưởng hiền hòa của bà, tôi thi vào Đại Học Sư Phạm.
Ra trường tôi được bổ nhiệm tại trường nữ trung học Gia Long, một trường lớn nhất Đô Thành. ngoại mừng lắm. Theo bà, nữ sinh ngoan, nhiều tình nghĩa hơn nam sinh. Chung chung là vậy. Nhưng “năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn”. Những khi gặp chuyện trục trặc với mấy cô học trò, tôi lại than thở với ngoại. Bà nói: “Âu cũng là cái nghiệp của cháu”.
Năm tháng trôi… năm tháng dần trôi… Ngoại còn đó nhưng lưng đã oằn theo dấu thời gian, tóc đã bạc phơ, da đã nhăn nheo theo tuổi đời. Tôi đã ra riêng. Cụ sống với vợ chồng cô em út trong căn nhà của mẹ thuở xưa. Cứ cuối tuần tôi tới thăm bà, mang bánh giò cho ngoại vì cụ thích loại bánh này, vừa thơm vừa mềm, hợp khẩu với người cao tuổi. Lúc ấy cụ đã 86. Ngoại đã già nhưng không lú lẫn, cụ vẫn tinh tường. Ngoại chỉ buồn vì mẹ tôi đã mất. Cụ luôn thở dài: “Con đi trước mẹ là nhà ta không đủ phước!”
Một chiều Chủ Nhật, trở về nhà riêng sau khi thăm cụ, bỗng nhiên lòng tôi dấy lên một niềm lo âu bồn chồn khó tả. Đêm ấy tôi mơ thấy mẹ tôi về đón ngoại. Nhưng mẹ tôi là một đứa bé chừng 3 tuổi, cứ nằng nặc đòi ngoại bế đi! Trong giấc mơ hoảng loạn, tôi hét lên vì sợ bà theo mẹ. Tiếng hét kinh hãi của tôi làm người nhà tỉnh giấc. Tôi thao thức trong đêm dần tàn. Sáng sớm hôm sau, người em rể đến, buồn rầu báo tin bà đã qua đời đúng thời khắc bản thân tôi trong cơn mê loạn! Mẹ đón ngoại vĩnh viễn ra đi!
Khi chị Minh và em út Từ sửa soạn khăn áo cho cụ lần cuối, tôi thơ thẩn trong bếp, nơi ngoại vẫn thích ngồi trên một ghế gỗ nhỏ nhặt rau. Tôi nhớ ngoại. Một cánh bướm nâu nhạt chập chờn trước mắt. Bần thần, tôi gọi khẽ: “Bà ơi!” Bướm bay tới đậu trên vai tôi. Cánh bướm màu nâu nhạt. Vào phòng ngoại, nhìn người lần cuối trên giường. Ngoại đã được lau rửa sạch sẽ. Cụ mặc tấm áo gấm màu beige, màu nâu nhạt – tấm áo ngoại ưa thích!
Hôm nay là ngày giỗ đầu cụ. Cứ tưởng như ngoại vẫn bên cạnh mình khi tôi gặp chuyện khó giải quyết. Lớn rồi, không còn ai khuyên ngăn chí tình nữa. Nhưng những lời ngoại dậy từ thuở nhỏ đã thấm sâu trong tôi – không ngại khó, không nhút nhát, không kiêu ngạo, không ganh tị. Phải có chí khí, phải kiên trì, phải dấn thân, phải công bằng. Ngoại thường nhắc nhở: “Làm gì cũng nên suy tính kỹ để khỏi ân hận về sau”. Ngoại còn nhấn mạnh: “Cha con như vậy… con gắng noi gương người”.
Bà ơi! Cháu vẫn cố theo lời bà dậy, cần cho đời cháu và cũng để nhớ công ơn bà. Tóc cháu giờ đã điểm sương, cháu vẫn cần bà, bà ơi!”
&
Năm nay, vừa đúng 80, tôi cũng chỉ thích ăn bánh giò mềm như ngoại hồi xưa. Giờ đây, đã chuệnh choạng bước vào hoàng hôn của cuộc đời, sẽ phải qua “cây cầu ấy” như bà tôi đã qua. Qua “cây cầu ấy” tôi sẽ gặp lại bà. Tôi chưa “qua” nên tôi vẫn nhớ bà. Ngày tôi “qua” rồi, biết có ai nhớ tôi không?
Nguyễn Lân
-
Trẫm Vẫn Yêu Em…
Trần Văn Tui, Los Angeles.Trẫm yêu em bằng tim tuổi hạc
Nặng nợ ân tình kiếp ba sinh
Mến chốn ta bà trẫm mãi yêu
Chung bước đường dài trẫm cùng emTrẫm gọi tên em bằng sếp nhỏ
Soi bóng dặm trường có ai hơn ?
Đếm bước thời gian dù chết rũ
Những nỗi u sầu ta với taCăng-xe Xì-trốc là chiện nhỏ
Kiếp người hữu hạn sá chi đâu
Ôi sống lâu chi cho chật đất
Sống anh hùng cho đất phì nhiêuHỏi trăng cô liêu sầu vạn cổ
Mỏi mòn cánh hạc bay vẫn bay
Gõ con chữ nghĩa đêm khuya khoắt
Nhãn tròng mờ nhạt trẫm yêu emTrẫm vẫn yêu em yêu muôn thuở
Tuổi tóc xanh sang màu lấp lánh
Cho mãi thời gian hồn lịm giấc
Trẫm vẫn yêu em trẫm yêu em! -
Thử bàn về khía cạnh Nghệ Thuật qua bài của Ngọc Cường.
“Cali phố xá đông người Bolsa Brookhust một trời sao quên”
Hình như đất Cali vốn mở ngõ cho nhiều thân hữu, bạn bè đến đây rồi ít nhiêu họ đã bỏ quên con tim đầy ắp kỷ niệm với chốn đất thiêng Bolsa, bằng chứng khi đọc văn của tác giả Hệ Luy tôi yên tâm ý nghĩ mình đúng. Mời xem link bài tham khảo đính kèm.
Bài viết “Đôi dòng về nghệ thuật” của nhà văn Ngọc Cường đã cho tôi nguồn cảm hứng dâng ngòi bút góp ý cùng anh. Trong tác phẩm Bâng Khuâng mới nhất của anh, sau văn tập Hệ Luy, nơi trang 1 giáo đầu là đề tài mang tính bàn luận, những trang giấy mở hàng bắt mắt tôi nhiều lắm. Ngọc Cường viết:“Một điều căn bản khi nói đến nghệ thuật, là xem nó là gì, thường nghệ thuật gồm 6 bộ môn chính như văn học, múa, kiến trúc, hội họa, sân khấu và âm nhạc, và gần đây thêm nghệ thuật thứ 7: ngành điện ảnh . Theo các cuốn từ điển thông dụng, từ nghệ thuật được định nghĩa rất vắn tắt và giản dị là … thực hiện hay diễn tả vẻ đẹp, thực tế … là sản phẩm trí thức và không là khoa học…”
Trong 7 đề muc của phạm vi nghệ thuật mà anh liệt kê bên trên thì 2 mục văn học và hội họa đươc tác giả ghi nhận qua sách mới Bâng Khuâng. Đây cũng là 2 tiêu đề tôi xin chú trọng trong bài này. Khi nói về nghệ thuật (art) ta sẽ hiểu nó ra sao. Và nghệ thuật thường đi song hành với vẻ đẹp (beauty), trong cung cách nào đó ta cho là nét đẹp của mỹ thuật. Thế thì nghệ thuật là gì ?
Nghệ thuật theo quan điểm của triết gia J.J. Rousseau (1712-1778) cho là “Nghệ thuật không phải là sự mô tả hay sao chép thế giới ta nhìn thấy, mà là cả một sự trào dâng của nguồn cảm xúc và của niềm đam mê”. Những tư tưởng khác như họa sĩ trường phái lập thể Pablo Picasso ghi nhận: “Nghệ thuật là tất cả mọi thứ bạn có thể tưởng tượng ra là có thật”. Còn theo họa sĩ Edgar Degas thuộc trường phái ấn tượng đồng thời với những vị như Vincent Van Gogh và Edouard Manet thì cho là “Nghệ thuật không phải là những gì bạn nhìn thấy, mà là những gì bạn làm cho người khác thấy được”. Với thi sĩ Oscar Wilde cho là: “Nghệ thuật là điều nghiêm túc duy nhất trên thế giới. Và nghệ sĩ là người duy nhất không bao giờ nghiêm túc”. Trong quan điểm của nhạc sĩ Amy Lowe suy nghĩ như: “Nghệ thuật là ước muốn của con người nói lên bản ngã của mình, ghi lại những phản ứng của ý nghĩ mình với thế giới xung quanh.”
Riêng với danh họa Ý Agostino Carracci thuộc thời kỳ phục hưng của thế kỷ 16 nhìn vấn đề nghệ thuật là: “Một cái bóng mờ của những gì người nghệ sĩ đang nghĩ về một cái góc nhỏ qua những gì ông ta giữ bên trong tâm hồn”. Chung quy thì quan điểm nghệ thuật xuất phát từ sự suy nghĩ từ tâm hồn khiến nảy sinh ra tác phẩm.
Nói đến Ngọc Cường hẳn nhiên không thể bỏ qua phạm trù chữ nghĩa hay sách vở, tổng quát hơn thì là khía cạnh văn học. Anh viết về nét văn hóa quanh chữ nghĩa như sau:
“Sách được bầy bán nhiều quá, đầy trên kệ, còn la liệt trên bàn nữa.Không biết lựa chọn cuốn nào, dở trang đầu, đọc lướt qua mục “Lời Tựa”, tôi nhận thấy ở nhiều tác giả (thường là họ mới có tác phẩm đầu tay), hay nói về lý do cầm bút. Họ giải thích “tôi viết để mà viết …” , hoặc“tôi không dám tự nhận là một nhà văn …”Những câu tâm sự như vậy trở nên như một thông lệ ở phần đầu cuốn sách. Có thể do sự khiêm nhường hay dè dặt của họ, như để “rào trước đón sau”, phòng trường hợp có bị chê thì… vì tôi đâu phải một nhà văn? …Điều này theo tôi đáng tiếc, vì lẽ ít ra họ phải có chút tự tin, và cần được khích lệ vì một khi tác phẩm được xuất bản, hiển nhiên họ là một nhà văn ( theo định nghĩa), không nên tự phủ nhận một tất yếu như vậy ; Và một khi bỏ công ra viết là cố gắng hơn nhiều người, là điều đáng được khuyến khích, nếu không nên được khen thưởng? Người cầm bút không nên có mặc cảm. Mong độc giả rộng lượng, lên tiếng khuyến khích. Còn nếu nói viết chỉ để viết thì cũng không trọn nghĩa, vì một khi đã ra mắt, sách là để người khác đọc , nếu không , nên bỏ ở xó nhà chỉ là đống giấy lộn . J. P. Sartre trong bài tiểu luận“Văn Học Là Gì” đã khẳng định là một tác giả chỉ thành một nhà văn khi có người đọc. Thật vậy, tác giả nào chả mong có nhiều độc giả, còn nếu không thì đừng mang tác phẩm ra xuất bản – Sách bầy ra tất sẽ có người mua đọc. Và như vậy , động lực cầm bút (của một nhà văn ) , đầu tiên có thể chỉ là viết để mà viết, nhưng thật ra nó đã chứa đựng tiềm ẩn nhiều nguyên nhân : giải bày một tâm sự, chia sẻ một kỷ niệm .v.v…, và lý do khác như muốn thỏa mãn tự ái, kiếm chút danh vị… Nên, không thể nói : viết chỉ để viết đơn thuần, mà phải là viết cho người khác thưởng thức. Tất nhiên, cũng có nhiều cuốn hồi ký chỉ nhằm vào số nhóm độc giả chọn lọc nào đó …Một tác phẩm không xuất bản, để quên vùi một xó, không ai biết thì vốn không là một tác phẩm nghệ thuật. Theo Tolstoy: sự thông tin, giao cảm giữa tác giả và người đón nhận tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Nhật ký Ann Frank nếu không được ông bố cô bé đem ra in sau khi cô qua đời, thì cũng sẽ chỉ là một sản phẩm riêng tư, nó trở thành tác phẩm nghệ thuật khi được chia sẻ, có người thưởng thức. Sở dĩ nêu lên khía cạnh này, vì tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của độc giả. Theo tôi, dù tác giả có công sáng tạo, nhưng chính người đọc mới là sở hữu chủ của tác phẩm, ít ra thì đó là dưới quan điểm kinh tế của một cuốn sách. Còn về giá trị, hay hoặc dở là do chủ quan thưởng thức của người đọc quyết định. Một khi cuốn sách được xuất bản, nhiệm vụ nhà văn chấm dứt, như đứa con (tinh thần) đã trưởng thành.”
Đoản văn trên dùng ý tưởng của JP Sartre. Thật vậy, Jean Paul Sartre viết trong tác phẩm “Văn học là gì?” (Qu’est-ce que la littérature ?) về vai trò của văn học hay của nhà văn cần hai yếu tố: Tự Do và Dấn Thân, đươc tự do viết, dấn thân yêu và trung thành với ngòi bút, đam mê với văn chương.
Văn học vốn được hiểu như một loại hình thức sáng tạo để nói lên những vấn đề của đời sống xã hội và con người. Cách thức sáng tác của văn học có thể được tạo thành do yếu tố thực sự hay hư cấu, cách thức trình bày nội dung của đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ. Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh về vẻ đẹp, hoặc tính thẩm mỹ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ. Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng tác phẩm, sự hình thành kết quả qua sự biểu hiện cho đời sống thăng hoa hơn. Vì vậy văn học nói chung gồm có những thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thi ca, kịch bản, bình luận biên khảo.
Chủ điểm quan trọng như nhà văn Ngọc Cường đề cập điều kiện để được gọi là nhà văn hay để được gọi là tác phẩm là vẫn theo Sartre thì tự do tư tưởng, hay như bên trên sự tự do trong văn học là những khái niệm chính của nhà văn, nhà văn phải có hai yếu tố tự do và dấn thân (cam kết, éléments fondamentaux comme la liberté et de l’engagement) cho mục tiêu sáng tạo của nhà văn. Trong sự tự do sáng tạo nhà văn có tinh thần chấp thuận sự lựa chọn và phải ý thức trách nhiệm đối với sự lựa chọn đó. Đây là ý nghĩa của việc chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Tự do tức là dấn thân viết, hay dấn thân trong tự do viết,.. Và nếu nhà văn là người có tự do khi sáng tác, thì người đọc cũng phải là người tự do khi đọc tác phẩm. Và nhà văn là người tự do nói với những người tự do, mà phải có chính đề tự do cần thiết mà thôi. Thế thì tác phẩm nghệ thuật là do giá trị bởi nó là tiếng gọi của nhà văn. Ngọc Cường nói đến yếu tố phê bình văn phẩm. Tác giả rào đón trong bút pháp chân chất, khiêm nhu theo ý tôi…
“Thường khi cầm bút viết về một đề tài gì, tác giả nếu không qua sự tìm tòi, nghiên cứu thì cũng phải được đào tạo chuyên môn về đề tài đó. Tác giả hẳn có đủ hiểu biết, nắm vững những gì viết ra. Đó là điều kiện tối thiểu, để tôn trọng chính mình và cả độc giả. Độc giả không dễ bị lừa: Bởi qua đôi giòng đầu sách, có thể họ tin vào tác giả mà không cần suy xét sâu xa; nhưng khi càng đọc họ càng thêm khám phá ra những điều sai hay phi lý của toàn bài… Như vậy điều kiện tiên khởi của một tác giả là biết về điều mình viết .
Xét riêng về cá nhân, tôi đang viết về đề tài văn chương, cống hiến và mua vui quý vị mà tôi chẳng có khả năng chuyên môn gì về văn học nghệ thuật cả! Tại sao tôi lại dám liều mạng, cả gan đến vậy? Câu trả lời thực sự nằm trong nội dung bài này. Hy vọng rằng khi đọc xong lời bạt , quý vị có được sự thông cảm … và đồng ý với tôi là : riêng nghệ thuật, điều kiện đó là một ngoại lệ , ai cũng có thẩm quyền nêu ý kiến, không riêng gì các nhà nghiên cứu hay văn nghệ sĩ mà thôi.”
Đọc văn Ngọc Cường như trên, tôi suy nghĩ về tư tưởng sau để góp lời với anh. Lão Tử nói với nhà văn Ngọc Cường rằng: “Bởi vì một người tin vào chính mình, một người không cố gắng thuyết phục dược người khác. Bởi vì một người hạnh phúc với chính mình, một người không cần người khác. Bởi vì một người chấp nhận ra chính mình, cả thế giới chấp nhận anh hoặc cô ấy nhá. “, Lão Tử ngôn (“Because one believes in oneself, one doesn’t try to convince others. Because one is content with oneself, one doesn’t need others’ approval. Because one accepts oneself, the whole world accepts him or her.”, Lao Tzu).
Nhà văn Katherine Mansfield góp ý với nhà văn Ngọc Cường: “Hãy liều mạng đi nhé! Đừng quan tâm đến ý kiến của những ai khác,… Hãy làm điều khó nhất trên đời này vì ta. Hãy hành động vì chính mình. Hãy đối mặt với sự thật.” (Risk anything! Care no more for the opinion of others … Do the hardest thing on earth for you. Act for yourself. Face the truth.)
Nhà văn kiêm bác sĩ giải phẫu mắt (eye surgeon) Dr. Roopleen cho lời thật lòng đến nhà văn Ngọc Cường: “Nếu bạn có một giấc mơ, đừng chỉ ngồi đó mà mơ. Hãy gồng hết can đảm để tin chắc rằng bạn có thể thành công và hãy vượt qua bất kỳ trở ngại nào để biến nó thành hiện thực!” (If you have a dream, don’t just sit there. Gather courage to believe that you can succeed and leave no stone unturned to make it a reality!), Dr. Roopleen.
Thêm nữa nhé. Vị Tổng thống thứ 26 của nước Mỹ Theodore Roosevelt cho ý kiến đến với tác giả Bâng Khuâng: “Hãy tin tưởng rằng bạn có thể dư sức qua cầu và bạn đang ở giữa chừng rồi.” (Believe you can and you’re halfway there.), Theodore Roosevelt.
Trong tác phẩm Bâng Khuâng tác giả nhà văn Ngọc Cường dùng cả hai lối văn độc thoại (monologue) như bài “Đôi dòng về nghệ thuật”, và lối văn đối thoai (dialogue), anh dùng khá chuẩn và thành công, ví dụ nhưng trong các bài: Yêu và Hận, Long và Thủy, Dưới Ánh Đèm Màu, Anh em cột chèo,..
Ngọc Cường nói về văn học, viết văn chương, rồi tản mạn bàn về lý luận và phê bình qua bài tham luân về nghệ thuật. Anh nói văn học dùng phương pháp khoa học nghiên cứu văn chương, trong khi văn chương thuần túy là sáng tạo do diễn đạt xúc cảm, như định nghĩa của nó. Anh dùng lối hành văn đàm thoại. Khi vận dụng lý thuyết đối thoại, tức theo lý thuyết văn học của Bakhtin. Lý thuyết đối thoại theo Mikhail Bakhtin và những nhà nghiên cứu văn học hậu nhân chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp như Julia Kristeva, Tzvetan Todorov, Roland Bathes, Michel Foucault, Jacques Derrida, … là đã dùng điểm tựa vào lý thuyết đối thoại, để rồi sau này đối thoại thực sự trở thành nguyên lý chi phối toàn bộ văn học ở các nơi, trong đó có chúng ta. Hành văn lối tiểu thuyết là thể loại in đậm dấu ấn của nguyên lý này.
Nguyên lý của lý thuyết đối thoại Mikhail Bakhtin xuất phát từ những đặc điểm thi pháp học của thể loại tiểu thuyết. Ngoài ra, trong quá trình phát triển lọai văn này, các nhà phê bình văn học có dịp đào sâu nó trong cung cách sử dụng của các nhà văn hậu bối, cũng để vận dụng lý thuyết Bakhtin qua các trường học, các lớp hậu hiện đại để nghiên cứu về lịch sử văn học.
Đối thoại là lối văn tiêu biểu những phong cách tân văn kể từ hậu phong trào tiểu thuyết Dostoievski. Vượt qua phạm vi tác giả tiên khởi Dostoievski, văn chương đã đổi mới. Trong ngôn ngữ đối thoại vốn mang tính đa thanh, đa âm giữa các nhân vật trong truyện, điều Bakhtin chú trọng nhất là lời nói. Chính lời nói là đặc trưng tạo nên tính đối thoại rõ nét nhất của tiểu thuyết. Tác phẩm dược tạo ra do công trình sáng tạo văn chương với tính đa thanh, đối thoại của nó diễn ra trong nội dung tư tưởng trong văn bản nói chung ở thể loại thơ (thi ca), hay truyện ngắn ví dụ ngày xưa của nhóm Tự Lực Văn Đoàn và nhiều tác giả khác, hoặc tiểu thuyết qua các phương diện: ngôn ngữ, giọng điệu, cách nhìn vào bố cục văn phong, tương ứng về thể loại văn chương. Ngày nay khi nhìn lại phong trào tiểu thuyết Dostoievski, hay lý thuyết đối thoại Bakhtin là cả một sự tiến bộ cho thế giới văn học nói chung.
Nói về trường phái ngôn ngữ học xuyên qua lý thuyết Bakhtin được cấu trúc tân tiến như hiện nay, song song ta xét tiếp về văn học do Roland Barthes nói về văn bản, khi ta đi từ tác phẩm văn học sang văn bản (literal texts, literal works hay textes littéraux, œuvres littérales) có thể nói Barthes là người thành công nhất trong việc thực hiện nhiệm vụ chính yếu nói trên. Xem xét lại khái niệm liên văn bản của nhà vặn Julia Kristeva, chính nhờ Barthes đã tạo cho nó một cái tên gọi mới ngắn gọn và mạnh mẽ hơn, đó là “Văn Bản”, mà ý muốn của Barthes cần nhấn mạnh về mặt thuật ngữ. Từ ngữ “văn bản” có nghĩa là “tấm dệt”, “mạng lưới”, “tấm vải”, và nếu vào những năm 1970, nguyên mẫu “văn bản” của Barthes thường là “Thiên Hà của Gutenberg” (Gutenberg’s Galaxy), hoặc dưới tên “Thư viện của Borges” (Borges’s Library) thì ngày nay, hình ảnh thích hợp nhất với nó là “siêu văn bản” qua hình thức các máy vi tính hay điện toán chứa dữ liệu (datafiles) như một “tấm dệt”, hay là “mạng lưới toàn cầu” (world wide web) truyền đi toàn thế giới”.
Xem tiếp Ngọc Cường qua đoạn kế…
“Văn học bao gồm cả văn chương nhưng cộng thêm về lý luận và phê bình.Có thể nói văn học dùng phương pháp khoa học nghiên cứu văn chương, trong khi văn chương thuần túy là sáng tạo do diễn đạt xúc cảm, như định nghĩa của nó. Văn chương (thơ và văn xuôi) là nghệ thuật dùng chữ để diễn tả tư tưởng và cảm xúc.Như vậy, trước khi nói đến văn chương, ta thử tìm hiểu rõ thêm xem nghệ thuật là gì?
Từ lâu, cách đây trên hai ngàn năm, Plato đã tìm về ý nghĩa của nghệ thuật; và từ đó đến nay, nhiều người cũng đã làm công việc này nhưng vẫn chưa ai hoàn thành vì nó phức tạp và khó khăn cho định nghĩa nghệ thuật. Văn hào Tolstoy nước Nga đã viết một cuốn sách nhỏ (Nghệ Thuật Là Gì, Tolstoy,1896), chỉ nhằm định nghĩa hai từ nghệ thuật! Dù vậy, định nghĩa của Tolstoy vẫn chưa toàn hảo,chính xác. Một tiêu chuẩn Tolstoy nêu ra (ngoài rất nhiều chi tiết khác) là: nghệ thuật không phải để giải trí, mua vui mà là phương tiện giao cảm giữa tác giả và người khác… Điều này …có vẻ trái với ý của cụ Nguyễn Du nước ta , khi cụ viết:
“Lời quê chắp nhặt dông dài , Mua vui cũng đươc một vài trống canh.”(câu kết của Truyện Kiều)”.
Ngọc Cường ghi nhận về văn học hay văn chương qua lăng kính lý luận và phê bình. Khi nói về ý niệm nghệ thuật ta có thể xét qua quan điểm của triết gia Kant cho là “Nghệ thuật vị nghệ thuật” (L’art pour L’art, Art for Art’s Sake, French slogan from the early 19th century, “l’art pour l’art”, and expresses a philosophy that the intrinsic value of art, and the only “true” art, is divorced from any didactic, moral, or utilitarian function), còn được gọi là nghệ thuật thuần túy. Đây là một nguyên lý mỹ học duy tâm, chủ trương nghệ thuật độc lập với đời sống xã hội và chính trị, khước từ sứ mệnh của nghệ sĩ trong sứ mạng đấu tranh xã hội, thường dùng nền tảng lý luận cho các trường phái và khuynh hướng văn học có thái độ bất hòa với những vấn đề hiện thực, tìm lối thoát qua hình thức chủ nghĩa (Formalism). Lý luận này bắt nguồn từ những luận điểm mỹ học của triết gia Immanuel Kant (1724 – 1804), nhà triết học duy tâm cổ điển Đức, cho rằng cái đẹp của nghệ thuật là tự nhiên phát sinh ra, không thể tính toán, vụ lợi trong bất cứ mục tiêu nào khác ngoài chính bản thân nghệ thuật mà thôi. Đến thế kỷ XIX, nhiều nhà lý luận, nhà văn, nhà thơ ở Đức và Pháp đã phát triển tư tưởng này nhằm tách rời văn học nghệ thuật ra khỏi đời sống xã hội, phủ nhận ý nghĩa nhận thức và giáo dục tư tưởng, phủ nhận sự phụ thuộc của nghệ thuật vào những yêu cầu thực tiễn của thời đại. Và từ đó, trước sau sẽ dẫn đến chỗ khẳng định nghệ sĩ phải đươc “tự do” khai phá, hay sáng tác, không có trách nhiệm với xã hội, tức là đến chủ nghĩa cực đoan. Đó là mầm mống của các trường phái văn học ở cuối thế kỷ XX như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa đa đa (Multiplism), chủ nghĩa số nhiều (Pluralism), chủ nghĩa vị lai (Futurism, Prospectivism),… Ta thấy có quan diểm của JP Sartre (Existentialism), Nhất Linh (Tự Lực Văn Đoàn) trong đề tài.
Quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” hay L’art pour L’art (Art for Art’s Sake) tương phản với chủ trương của trường phái “Sự tự chủ của nghệ thuật” (Sự tự chế của nghệ thuật, hay Pseudo-Autonomy of Art, Its frame distinguishes art from non-art, provides it with the appearance of autonomy and gives it entry into history. The frame changes the context of art. It removes the painting from the viewer’s world. The space between framed art and viewer is discontinuous). Vì những mâu thuẫn về sự suy nghĩ hay chủ trương nên có dạo lịch sử ghi nhận cả hai hê phái Nghệ thuật vị nhân sinh và Nghệ thuật vị nghệ thuật. Người viết bài hơi ba phải, vì đứng bên nào thấy cũng phải cả, tùy trường hợp nhé. Nếu duy tâm lãng mạn thì vị nghệ thuật. Nếu đương đầu với việc chính trị hay xã hội ta suy nghĩ mất ngủ luôn nhé. Thực ra thì sự phát triển cái nhìn duy tâm về nghệ thuật của những người chủ trương Nghệ thuật vị Nghệ thuật, đã đề cao nghệ thuật thuần túy đều công khai hoặc kín đáo đối với thực trạng xã hội và chính trị theo một cung cách nào đó. Khó nói lắm, uốn lưỡi 7 lần theo nhà hiền triết Socrates mà vẫn bâng khuâng tơ trời như ông Hệ Lụy vậy. Xem tiếp Ngọc Cường ở đoạn cuối qua những ghi nhận về nghệ thuật…
“Nói chung, nghệ thuật phản ảnh cuộc sống nên cũng mơ hồ, phức tạp như thế; và giá trị của nghệ thuật mang tính chủ quan, không thể chỉ do các nhà phê bình đơn thuần cho là hay hoặc dở, đẹp hay xấu, mà chỉ có nhận định chủ quan của người thưởng ngoạn quyết định. Nếu khai triển thêm ra, nghệ thuật là sáng tạo có tính hấp dẫn: khen chê là do quyết định của người nhận, độc giả, thính giả hay người xem tranh …Trước kia, khi mới được khai sanh,trường phái họa “ấn tượng”ở Pháp đã bị chê bai gắt gao, ngay cả danh hiệu của họ ( impressionism, môn phái ấn tượng ) xuất phát từ bức tranh“Ấn tượng, một buổi bình minh” của Claude Monet bị nhà phê bình Louis Leroy gắn cho cái tên “Bọn Ấn Tượng” một cách mỉa mai qua bài đăng trên báo Le Charivari. Không ngờ từ đó Ấn Tượng lại trở thành môn phái quan trọng trong nền hội họa: và gần đây, ở nước ta thấy xuất hiện một văn phái, họ viết rất hấp dẫn, dùng nhiều từ khó hiểu, ra vẻ cao siêu, đầy triết lý mà độc giả bình thường không hiểu nổi. Xin thí dụ một đoạn như sau “… tiểu thuyết Việt-Nam hiện nay, không phải là xác nhận một trở thành đã hoàn tất, mà là theo dõi những chặng đường của một vận động đang tuần tự hình thành. Vận động đó là một vận động của ý thức, một vận động của nghệ thuật…” (Mai Thảo,1965): Những luận điểm như trên khó hiểu và dễ làm lẫn lộn, hoang mang người đọc. Họ tự nhận là nhóm sáng tạo, gay gắt với trào lưu văn nghệ tiền chiến, nhưng hình như họ muốn đồng nghĩa khó hiểu với xâu sắc, tối nghĩa với triết lý. Sự thật, chuyện bình thường và giản dị trên đời như tình yêu, gia đình, vui, buồn … là những vấn đề sâu xa nhất của con người. Nhóm sáng tạo là môn phái lập dị thì đúng hơn (Lê Huy Oanh, Về thơ tự do, 195). Dù sao, chỉ có thời gian mới là quan tòa, mới có lời phê phán cuối cùng cho nghệ thuật: Tác phẩm có giá trị khi nó vượt được thử thách của thời gian và không gian (Nhất Linh,Viết và đọc tiểu thuyết,1958).
Nếu đồng ý như vậy, ta có thể nói rằng không có tác phẩm nào tuyệt hảo cả: Nói cho cùng thì dù chỉ được một độc giả yêu thích cũng đem niềm vui cho tác giả. Nghệ thuật rõ rệt là chủ quan và phi thời trang nhưng lại mang tính dân chủ (số đông quyết định giá trị). Như trường hợp của Van Gogh, cả một đời vẽ tranh (rất nghèo lại vắn số, chết sớm) chỉ bán lèo tèo vài bức( dù người em là môi giới hội họa đã cố gắng giúp anh). Thế mà ngày nay, bức“Hoa Diên Vỹ”( Irises,1889) được bán với giá mấy chục triệu đô! Cùng số phận hẩm hiu với Van Gogh là nữ văn hào Emily Bronte, tác giả cuốn “Đỉnh Gió Hú”( Wuthering Heights,1847) khi xuất bản đã không được độc giả hưởng ứng mà phải chờ đến cả trăm năm sau mới có lời khen. Ngày nay, tác phẩm duy nhất này của bà trở thành một tuyệt tác của thế giới, được mọi người, mọi nơi công nhận! Sự kiện tương tự sẽ là niềm an ủi cho nhiều nghệ sĩ không thành công ngày hôm nay (trong đó có tôi, nói một cách tự an ủi),và hy vọng rằng có thể sau này, vài chục năm nữa, sẽ có người yêu thích? Phải chăng con người bao giờ cũng bám víu và sống với chút hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn hôm nay? Thẩm mỹ , hay cái đẹp, – đối tượng chính của nghệ thuật- hiển nhiên là do nhận định chủ quan mỗi người, nhưng liệu ta có thể tìm thấy một tiêu chuẩn, hay mẫu số chung, dựa vào đó, mọi người cùng đồng ý hoặc chấp nhận, dù họ ở đâu và sống ở bất cứ thời đại nào? Lúc trước, khi xem hình ảnh bên Phi Châu chụp mọi cà răng căng tai, ít ai coi đó là thẩm mỹ, mà còn cho là man di mọi, nhưng đâu ngờ, gần đây, ngay ở Bolsa bên Mỹ, lại xuất hiện người đi căng tai, chà răng và đeo vòng ở lưỡi! Theo tôi, vẻ đẹp (có lẽ) phát xuất từ ấn tượng người tiền sử cảm nhận qua thiên nhiên (tranh vẽ, khắc trên đá, mô tả thú vật ở hang Lascaux, Pháp, khoảng 20,000 ngàn năm trước) và sau này, khi lòai người đã hợp quần thành xã hội), thì từ tình yêu , trước tiên là tình mẫu tử , đôi lứa , vợ chồng …rồi nâng cao, biến dạng trở thành lòng trắc ẩn, thương yêu đồng loại. Không khác gì các giống vật hợp quần (con kiến, loài ong…) để duy trì giống nòi, con người phải hy sinh ; và khi sống cho tha nhân, cảm thấy thỏa mãn vì đó là bản tánh chân thật của mình (Nhân chi sơ tính bản thiện, Khổng Tử, 500 năm trước Công Nguyên). Thâm tâm con người, không một ai muốn gây đau đớn sầu khổ cho người khác. Phải chăng, tội ác do hoàn cảnh gây ra, vì mà có ai thực sự làm chủ được vận mệnh của mình đâu, nếu như vậy: ý chí tự do (free-will) chỉ là một ảo tưởng, như người ta thường ví: cuộc đời là một vở kịch hay canh bạc, trong đó, con người đóng một vai hay tùy thuộc vào may mắn! Vậy tôi là ai?
Nếu một tác phẩm là đứa con tinh thần của người sáng tác, thì sự liên hệ giữa tác giả và tác phẩm rất mật thiết, như chuyện của một gia đình: Vì lẽ đó,muốn hiểu thấu đáo bức tranh, hoặc cuốn tiểu thuyết, sự hiểu biết về tác giả giúp ta tận hưởng rõ hơn tác phẩm của họ. Nhưng ta cũng tránh có quan điểm quá khích: như ghét tác giả (vì lý do gì đó, chính trị chẳng hạn) rồi vơ đũa chê tác phẩm của họ luôn! Ngược lại, cũng đừng tôn thờ tác giả như là một fan của họ (nguyên ngữ từ fanatic ra, nghĩa quá khích).
Nghệ thuật không là bản sao chép thiên nhiên mà là cách diễn tả cuộc đời qua nhận thức của tác giả- Phải chăng con người nhìn mọi thứ trên đời qua nhận thức chủ quan của mình- Nhưng chính nhờ đó mà tác phẩm trở nên sống động, như được tái sinh, có cuộc sống thứ hai, vì vậy đã đem lại sự thích thú cho người thưởng ngoạn: thu hút họ, làm như chính họ được sống như một nhân vật trong truyện dù câu chuyện đã xẩy ra cả trăm năm trước; hay chính mình, như họa sĩ, đang đứng trước cảnh của bức tranh, dù ở một nơi ta chưa hề đặt chân tới. Đó là sự kỳ diệu của nghệ thuật,chứ không phải vấn đề triết lý cao siêu. Câu hỏi nên đặt ra, không phải là“con người,cuộc sống là gì?”mà trở thành“Cái gì có thật trên cõi đời này?”(Rainer Rilke,1912 ); và đối với người nghệ sĩ thì cảm giác phải là thật (Bạn cứ thử đá chân vào hòn đá thì biết!). Để kết luận, có thể nói, nghệ thuật có rất nhiều mục đích, tùy quan niệm của tác giả: như giúp ta trở nên cao thượng, tận hưởng cuộc sống hơn (như nhận xét của Thạch Lam, Nhất Linh), giải bầy vấn đề triêt lý (như Sartre, Camus) .v.v… nhưng theo tôi, tất cả những mục đích ấy chỉ là phụ, đến sau, không chủ tâm, nhưng xuất hiện như mấy phản ứng phụ của thuốc tây (side effect) mà có thể lại mãnh liệt hơn cả mục đích chính là mua vui dù là một thú đau thương! Nghệ thuật phải có tính hấp dẫn trước nhất, để giải trí thiên hạ (Nguyễn Du), một món ăn tinh thần cho công chúng. Nếu không có tính hấp dẫn thì nghệ thuật không tồn tại và sẽ không truyền đạt các mục đích khác nữa được. Phải chăng,với chủ quan và hiểu biết hạn hẹp,tôi đã vừa liều lĩnh trả lời về điều kiện tối thiểu của người viết nêu ra ở phần đầu: đó là ai cũng có thẩm quyền bàn về nghề thuật cả ?
Xin cảm tạ quý độc giả. Ngọc Cường.”
*
Sau cùng nhà văn Ngọc Cường còn có thú thưởng ngoạn bộ môn hội họa. Ở bìa sách Bâng Khuâng và phần Phu lục anh trình bày bức họa nổi danh “La Nuit Etoilée aux Carrières de Lumières” (à Saint-Remy-de-Provence) của họa sĩ Van Gogh. Với những vòng xoáy quyến rũ, bố cục tranh cho vẻ say đắm và màu sắc đầy mê hoặc, Đêm đầy sao (“La Nuit Etoilée”) của Vincent van Gogh là một trong những tác phẩm nghệ thuật được yêu thích và nổi tiếng nhất thế giới. Trong sự sáng tạo và thành công cuối cùng này như nội dung câu truyện có nhiều điều lý thú về Đêm đầy sao này mà khách thưởng ngoạn có thể biết. Ôn sơ qua về tiểu sử của Van Gogh, ông sinh ngày 30 tháng 3 năm 1853 – 29 tháng 7 năm 1890, là một danh họa Hòa Lan thuộc trường phái hậu ấn tượng (Post-Impressionism). Nhiều bức tranh của ông nằm trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất và giá đắt nhất trên thế giới. Van Gogh là nghệ sĩ tiên phong của trường phái biểu hiện (Expressionism) và có ảnh hưởng rất lớn tới mỹ thuật hiện đại, đặc biệt là tới trường phái dã thú (Fauvism) và trường phái biểu hiện tại Đức. Tranh La Nuit Etoilée mô tả quan điểm của Van Gogh từ một trại tị nạn. Sau khi trải qua một lần ông bị suy sụp tinh thần vào mùa đông năm 1888, Van Gogh đã tự mình đến nhà tị nạn Saint-Paul-de-Mausole gần Saint-Rémy-de-Provence. Quan điểm nghệ thuật đã trở thành nền tảng của tác phẩm mang tính biểu tượng nhất của ông. Từ cảm hứng của mình, van Gogh đã viết trong một trong nhiều lá thư của mình cho em trai Theo, “Sáng nay anh thấy đất nước mình từ cửa sổ rất lâu trước khi mặt trời mọc, không có gì ngoài ngôi sao buổi sáng, trông thật to lớn.” Các nhà sử học nghệ thuật đã xác định rằng Van Gogh có một số quyền tự do với góc nhìn từ cửa sổ phòng ngủ tầng hai của ông, một lý thuyết được hỗ trợ bởi thực tế là studio vẽ mà ông vẽ ở tầng một của tòa nhà. Ông viết: “Qua cửa sổ có rào chắn bằng sắt. Tôi có thể thấy một quảng trường lúa mì kèm theo trên đó, vào buổi sáng, tôi nhìn thấy mặt trời mọc trong tất cả nét vinh quang của nó.”
Ngôi làng từ hướng cửa sổ của mình, Van Gogh sẽ không thể nhìn thấy vùng Saint-Rémy. Tuy nhiên, các nhà sử học nghệ thuật có những nhận xét khác nhau về việc ngôi làng được trình bày trong bức The Starry Night được lấy từ một trong những bản phác thảo than của thị trấn Pháp hay nếu nó thực sự thì có thể được lấy cảm hứng từ quê hương Hòa Lan. Đêm đầy sao cho thấy tỷ lệ tử vong, khi nhìn các ngọn tháp tối ở phía trước là cây bách, loại cây thường liên quan đến nghĩa trang và cái chết. Mối liên hệ này mang một ý nghĩa đặc biệt đối với câu nói của Van Gogh này, “Nhìn những ngôi sao luôn khiến tôi mơ ước. Tại sao, tôi tự hỏi mình, không nên cho những chấm sáng trên bầu trời có thể thêm vào như những chấm đen trên bản đồ nước Pháp? Ngay khi chúng tôi đi tàu để đến Tarascon hoặc Rouen, chúng tôi sẽ chết để đến được một ngôi sao.”, ông viết. Tranh Đêm đầy sao nổi tiếng thế giới được vẽ vào năm 1889. Nhưng năm trước, van Gogh đã tạo ra Đêm đầy Sao ban đầu của mình, đôi khi được gọi là Starry Night Over The Rhone. Sau khi đến Arles, Pháp vào năm 1888, van Gogh đã bị ám ảnh một chút với việc chụp ánh sáng của bầu trời đêm. Ông đã tìm hiểu mô tả nó trang tranh Cafe Terrace trên Diễn đàn Place du, trước khi dám thực hiện bản phác thảo Starry Night đầu tiên của mình với tầm nhìn ra sông Rhone. Xem thêm các tác phẩm ta biết đến tranh như là bức Saint-Paul Asylum, loạt tranh vẽ ở Saint-Remy, ông viết cho người em Theo: “Tất cả trong tất cả những điều duy nhất anh xem là tốt mà trong đó là các bức Wheatfield, Mountain, the Orchard, the Olive những cái cây với những ngọn đồi xanh và Chân dung và Lối vào mỏ đá, và phần còn lại không nói gì theo ý em.” Van Gogh vô tình vẽ Venus. Vào năm 1985, nhà sử học nghệ thuật thuộc trường UCLA Albert Boime đã so sánh Starry Night với một trò giải trí trên hành tinh về cách bầu trời đêm sẽ xuất hiện vào ngày 19 tháng 6 năm 1889. Sự tương đồng rất đáng chú ý và đã chứng minh rằng “ngôi sao buổi sáng” của Van Gogh như được đề cập trong bức thư của ông gửi em trai của ông, thực tế là hành tinh Venus. Buồn thay cho số nghềo Van Gogh chỉ bán một hoặc hai bức tranh trong cuộc đời của mình và cũng không phải là bức Đêm Đầy Sao. Một trong những người được biết chắc chắn đã được bán là bức The Red Vineyard tại Arles, ít được biết đến hơn, được hoàn thành vào tháng 11 năm 1888, trước khi sự cố khiến ông phải đi tị nạn. Nghệ sĩ và nhà sưu tập người Bỉ Anna Boch đã mua nó với giá 400 franc tại triển lãm Les XX năm 1890. Ngày nay, bức tranh lịch sử này được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Pushkin ở Moscow. Nhưng có bằng chứng cho thấy van Gogh đã bán bức tranh thứ hai. Trong tiểu sử của mình về nghệ sĩ, nhà sử học Marc Edo Tralbaut đã nói về một lá thư của Theo nói rằng một trong những bức chân dung tự họa của Van Gogh đã tìm đến một đại lý nghệ thuật ở London. Bức tranh Đêm Đầy Sao được hai lần sở hữu bởi góa phụ Theo. Sau cái chết của Van Gogh năm 1890, Theo được thừa hưởng tất cả các tác phẩm của anh trai của mình. Nhưng khi người em qua đời vào mùa thu năm 1891, vợ của ông là Johanna Gezina van Gogh-Bonger đã trở thành chủ nhân của Đêm Đầy Sao và những bức tranh khác. Đó là van Gogh-Bonger, người đã thu thập và chỉnh sửa thư từ của anh em ông để xuất bản, và bà được ghi nhận với việc xây dựng danh tiếng sau khi chết của Van Gogh, nhờ vào sự quảng bá rộng rãi của Johanna về thành quả của công việc triển lãm.
Năm 1900, van Gogh-Bonger đã bán Starry Night cho nhà thơ người Pháp Julien Leclerq, người đã sớm bán nó cho nghệ sĩ hậu ấn tượng Émile Schuffenecker. Sáu năm sau, Johanna đã mua lại bức tranh từ Schuffenecker để bà có thể chuyển nó đến Phòng trưng bày Oldenzeel ở Rotterdam, Hòa Lan.
Đó là bức tranh van Gogh. Còn ở trang 11 sách Bâng Khuâng, Ngọc Cường cho trưng bức tranh Bữa Trưa Trên Cỏ của họa sĩ Édouard Manet.
Édouard Manet (1832 – 1883) là một danh họa người Pháp, nổi tiếng với phương pháp vẽ hiện đại trong hội họa. Manet luôn tự nhận mình đi theo trường phái hiện thực. Tuy nhiên, vào năm 1868, sau buổi gặp gỡ với các họa sĩ theo trường phái ấn tượng, Manet quyết định sẽ kết hợp cả hai trường phái lại. Kể từ đó, ông trở thành bậc thầy khi kết hợp 2 trường phái này tưởng chừng chẳng ăn nhập gì với nhau. Bữa Trưa Trên Cỏ là một trong những tác phẩm thành công nhất của Édouard Manet và hiện được trưng bày tại viện bảo tàng Louvre nước Pháp. Bữa Trưa Trên Cỏ đáng giá vì nó khác biệt với những bức tranh đương đại cùng thời về bố cục, kích thước và nhân vật trong tranh.Về bố cục tranh Bữa Trưa Trên Cỏ được lấy cảm hứng từ hai bức vẽ Italy vào thế kỷ 16 là Buổi Hòa Nhạc Đồng Quê (The Pastoral Concert, Le Concert Pastoral) và Phán Xét Của Paris (The Judgment Of Paris, Le Jugement de Paris).
*
Sau cùng, bài viết này được tản mạn lãng đãng từ những ý niệm trong đề tài “Đôi dòng về nghệ thuật” của nhà văn Ngọc Cường ghi nhận về nghệ thuật và những khía cạnh của nó. Nhà văn Ngọc Cường viết về những cảm nghĩ chung cuôc về nghệ thuật. Nghệ thuật dù bị áp lực chính trị chi phối hay bị trấn áp, khủng bố, nghệ thuật bị cám dỗ bởi duy tâm lãng mạn cũng hại chúng ta. Phải chăng nghệ thuật là con dao hai lưỡi. Người nghệ sĩ hãy chọn khuynh hướng sao cho thích hơp cho mình. Đoạn văn dưới đây là phấn kết thúc bài viết chung của hai chúng tôi. “Có lẽ phải đợi một trăm năm sau vấn đề chính trị mới không còn ảnh hưởng đến nghệ thuật nữa chăng. Mục đích của nghệ thuật là mua vui, và đôi khi sự hiểu biết nhiều về tác giả hay tác phẩm cũng chỉ làm giảm thú thưởng ngoạn: Như khi còn trẻ, tình yêu bao giờ cũng đẹp hơn người yêu, có nhạc sĩ than thở: “làm sao giết được người trong mộng!” Là một “fan” hay bị lung lạc bởi tác giả là quan niệm ấu trĩ về nghệ thuật vì, như đã nêu ở trên, chính kẻ thưởng ngoạn làm chủ tác phẩm. Hãy trả lại chủ quyền cho khán thính giả, cho giới thưởng ngoạn. Bàn về nghệ thuật, có lẽ nếu đi sâu quá thì sẽ không cần thiết và lâm vào lãnh vực chuyên môn của mấy nhà khảo cứu triết học. Tuy nhiên, là một độc giả, khán thính giả bình thường, ta cũng nên có một xác định rõ rệt về sở thích của riêng mình. Cũng như khi cầm ly rượu lên uống, không cần biết nó đắt tiền, giá bao nhiêu mà chỉ cần biết là nó ngon với mình, như vậy là đủ rồi.”
Việt Hải Los Angeles và Ngọc Cường.
-
Vài nét về Tự Lực Văn Đoàn
Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học đầu tiên của nước ta mang đầy đủ tính chất một hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại. Hội đoàn ấy bắt đầu bằng một tờ báo, đấy là tờ Phong hóa bộ mới mà số đầu tiên phát hành vào ngày 8 tháng Chín năm 1932 – tức số 13 – đã lập tức biến một tờ báo vốn đang ế ẩm thành một hiện tượng đột xuất trong làng báo Hà Nội lúc ấy. Theo Nguyễn Vĩ, ngay số đầu tiên, tờ báo đã “bán chạy như tôm tươi” (Văn thi sĩ tiền chiến) báo hiệu một cái gì thật mới mẻ đang xuất hiện trên đất Hà thành. Hội đoàn ấy chính thức tuyên bố thành lập vào tháng Ba năm 1934 (1), với một tôn chỉ gồm 10 điều mà chúng ta có thể tổng hợp lại trong 4 điểm, thể hiện bốn phương diện nhận thức liên quan khăng khít, tự thân chúng có ý nghĩa đối trọng ngay lập tức với hiện tình sáng tác và thực trạng xã hội đương thời.
Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học đầu tiên của nước ta mang đầy đủ tính chất một hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại. Hội đoàn ấy bắt đầu bằng một tờ báo, đấy là tờ Phong hóabộ mới mà số đầu tiên phát hành vào ngày 8 tháng Chín năm 1932 – tức số 13 – đã lập tức biến một tờ báo vốn đang ế ẩm thành một hiện tượng đột xuất trong làng báo Hà Nội lúc ấy. Theo Nguyễn Vĩ, ngay số đầu tiên, tờ báo đã “bán chạy như tôm tươi” (Văn thi sĩ tiền chiến) báo hiệu một cái gì thật mới mẻ đang xuất hiện trên đất Hà thành. Hội đoàn ấy chính thức tuyên bố thành lập vào tháng Ba năm 1934 (1), với một tôn chỉ gồm 10 điều mà chúng ta có thể tổng hợp lại trong 4 điểm, thể hiện bốn phương diện nhận thức liên quan khăng khít, tự thân chúng có ý nghĩa đối trọng ngay lập tức với hiện tình sáng tác và thực trạng xã hội đương thời:
1. Về văn học: tôn chỉ nhắm tới 3 mục tiêu lớn:
a. Dấy lên một phong trào sáng tác làm cho văn học Việt Nam vốn đang nghèo nàn có cơ hưng thịnh (“Tự sức mình làm ra những cuốn sách có giá trị về văn chương… mục đích là để làm giàu thêm văn sản trong nước”/ trước 1930 sự vắng vẻ của văn đàn vẫn là một tâm trạng mặc cảm của giới cầm bút, mặc dầu văn học miền Nam đã sản xuất vô số tiểu thuyết văn vần và văn xuôi theo hình thức lục bát và chương hồi);
b. Xây dựng một nền văn chương tiếng Việt đại chúng (“Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam”/ vì ngôn ngữ của tạp chí và văn chương thuở ấy vẫn là ngôn ngữ đệm nhiều danh từ Hán Việt và dành cho tầng lớp học thức cao trong xã hội);
c. Tiếp thu phương pháp sáng tác của châu Âu hiện đại để hiện đại hóa văn học dân tộc (“Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam”/ mặc dù ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây đã đến miền Nam khá sớm nhưng hình thức lại bị “lại giống” do “lai” với tiểu thuyết cổ Trung Quốc).
2. Về xã hội: đề cao chủ nghĩa bình dân và bồi đắp lòng yêu nước trên cơ sở lấy tầng lớp bình dân làm nền tảng (“Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả quý phái”/ cho đến cuối những năm 20, các khái niệm “chủ nghĩa bình dân”, “nết hay vẻ đẹp bình dân” và “yêu nước một cách bình dân” hãy còn là quá mới lạ, chưa hề xuất lộ trong tư duy của tầng lớp sĩ phu được gọi là “tiên tri tiên giác”, và cũng chưa hiện hình thành quan điểm ở một người vốn đã thực hiện chủ nghĩa bình dân trong thực tiễn như Nguyễn Văn Vĩnh);
3. Về tư tưởng: vạch trần tính chất lỗi thời của những tàn dư Nho giáo đang ngự trị trong xã hội (“làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa” công khai chống lại lễ giáo phong kiến Tự lực văn đoàn đã gây một cú “sốc” ý thức hệ, chấn động hết thảy mọi thành phần còn dính dáng ít nhiều đến Nho học, thậm chí vẫn để dư chấn đến tận Hội thảo này);
4. Về con người: lấy việc giải phóng cá nhân làm trung tâm điểm của mọi sáng tác (“Tôn trọng tự do cá nhân”, “Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ” / vì văn chương trước 1930 chưa bao giờ đưa con người cá nhân lên vị trí trung tâm, không những thế, giọng điệu chung của nó là bi ai sầu thảm. Tự lực văn đoàn tuyên chiến với thứ tâm trạng xã hội nặng nề đó; với nó “cái bi” cũng phải được đối xử, vượt qua, bằng niềm vui sống).
Với 4 điểm như đã tóm tắt, cái hội đoàn do Nguyễn Tường Tam thành lập rõ ràng đã hiện ra trong tư cách một trường phái văn học hoàn chỉnh, khu biệt với mọi kiểu tổ chức văn học xuất hiện trước mình. Trở về trước, các thi xã truyền thống trong lịch sử thường phải dựa vào thế lực của một tầng lớp bên trên như vua quan, hay lãnh chúa một vùng, chẳng hạn Hội Tao đàn của Lê Thánh Tông, Chiêu Anh các của Mạc Thiên Tích. Hoặc là tập hợp của một đám thượng lưu quý tộc, chẳng hạn Mặc Vân thi xã của Anh em Miên Thẩm. Các loại thi xã đó đều lấy việc ngâm vịnh văn chương để chơi làm mục đích, nên rất ít mở rộng ảnh hưởng ra ngoài thi xã. Tính khép kín là đặc điểm hiển nhiên của chúng. Tự lực văn đoàn trái lại, là sự tập hợp những con người không có quan tước, cũng không có thế lực nào bảo trợ.
Họ gồm 7 người là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu (không có Trần Tiêu) (2). Đứng về mặt xã hội phải nói họ đều là “chân trắng”. Nhưng họ lại tập hợp nhau lại vì một lý tưởng muốn cống hiến cho văn học, thông qua văn học mà đóng góp cho xã hội, và cùng chung sức nhau xã hội hóa hoạt động sáng tác của họ, trong sự vận hành của cơ chế thị trường văn học nghệ thuật đang dấy lên từ Nam ra Bắc thuở bấy giờ. Nghĩa là họ chấp nhận sự cạnh tranh để sống còn bằng nghề văn của mình. Họ không chỉ biết đến tiểu thuyết, thơ ca mà còn ràng buộc với nhau trong việc sống nhờ vào hai tờ báo và một nhà xuất bản. Họ không hy sinh mục đích văn chương cao quý cho việc kiếm kế sinh nhai bằng mọi giá, nhưng việc kiếm kế sinh nhai lại chính là điều kiện để họ giữ vững thiên chức văn học như một “mục đích tự thân” (3), điều mà có lẽ, từ 1945 đến nay, chưa một văn đoàn nào trên đất Việt làm nổi và có ý thức, có gan làm (còn nhớ cách đây vài năm, khi có ý kiến đề xuất chuyển các hội sáng tác văn học nghệ thuật trở về đời sống dân sự đúng nghĩa, bỏ hẳn cơ chế “xin cho”, thì chính các vị lãnh đạo ở các hội ấy đã đồng loạt lên tiếng khẩn thiết đòi bảo vệ quyền thiêng liêng của mình…) (4). Cũng khác với các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, để có thể tổ chức được một nhóm cầm bút với mục đích truyền bá cái mới của Âu Tây cũng như bước đầu xây dựng nền văn chương quốc ngữ, đều không tránh khỏi phải núp bóng Nhà nước Bảo hộ, Tự lực văn đoàn là một đoàn thể văn học hoàn toàn mang tính chất tư nhân, không ve vãn, nhân nhượng bộ máy đương quyền và không hề phát ngôn cho quyền lực dù lâm vào tình huống o ép khó xử nhất.
Như vậy, có thể nói, Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học chưa có tiền lệ trong văn học Việt Nam. Những mặt ưu trội kể trên đưa lại cho nó một sức hấp dẫn đặc biệt, không tiền và nếu tính đến nay thì cũng là khoáng hậu, đẩy nó lên địa vị gần như tuyệt đối trên văn đàn trong vòng 8 năm nó tồn tại trên thực tế. Sự ra đời của nó có tác dụng kích thích phong trào sáng tác văn học của cả nước như là một tất yếu, một nhu cầu nội tại, với tư cách một sự tìm kiếm và tự thực hiện của khát vọng tự do. Đó là phương diện chủ chốt vạch rõ sự khác biệt bản chất giữa nó với các hội đoàn văn học từ 1945 về sau mà ta không thể mượn tiêu chí này kia làm những cột mốc so sánh (5).
o0o
II. Bên cạnh đặc điểm quan trọng như đã nói, một phẩm chất khác cũng không kém nổi bật là Tự lực văn đoàn thể hiện cái khát vọng dân chủ trong đời sống văn học nghệ thuật. Dân chủ trước tiên chính ở nề nếp sinh hoạt rất có tính nguyên tắc của một tổ chức văn học được xây dựng theo những chuẩn mực mới mẻ của Âu Tây. Không chỉ đề xuất ra 10 tôn chỉ mà thôi, để luôn luôn quán triệt 10 tôn chỉ trong hoạt động thực tế, mọi công việc của văn đoàn, nhất là công việc ra từng số báo, in từng cuốn sách, đều được bàn bạc tập thể, đều có tranh luận sôi nổi với nhau và cuối cùng có sự nhất trí của cả nhóm. Tư cách rất đáng trọng của Nhất Linh khiến ông làm tròn vai trò hạt nhân của văn đoàn cho đến khi nó tan rã là ở chỗ, mặc dù quyết đoán, ông không bao giờ lạm dụng uy thế một ông bầu và một ông chủ báo, hay cố giữ một “khoảng cách” với người cộng sự, như hầu hết các ông chủ báo cốt dùng tờ báo để khoe danh và thăng quan tiến chức. Ông hòa hợp mật thiết với anh em đồng đội, nhận số lương ngang như anh em, gánh vác tất cả mọi việc không khác gì anh em. Chính vì thế, tình nghĩa giữa 7 con người trong văn đoàn, như Tú Mỡ thừa nhận, giữ được thắm thiết sâu bền. Quan trọng hơn nữa, nếu như Đông Dương tạp chí cũng có cả một tòa soạn song rốt cuộc mọi cá nhân khác đều dường như lu mờ đi sau cái bóng của Nguyễn Văn Vĩnh; nếu như Bộ biên tập của Nam phong tạp chí còn hùng hậu hơn Đông Dương tạp chí mà vẫn không ai nổi đậm bằng hoặc hơn so với Phạm Quỳnh, thì Tự lực văn đoàn toàn toàn khác. Nói đến văn đoàn ấy không thể chỉ nói một mình Nhất Linh. Trọng lực của văn đoàn phân đều cho mỗi thành viên và chỉ cần thiếu đi một, sáu “ngôi sao” còn lại đã không thể hội tụ thành nguồn ánh sáng tiêu biểu của văn đoàn. Đông Dương và Nam phong dù sao cũng chỉ mới là sự thăng hoa tài năng của một vài cá nhân, còn đến Tự lực văn đoàn thì đã thật sự có một đột biến về chất: một sự thăng hoa tập thể, nó là kết quả của ý thức dân chủ từ người đứng đầu chuyển hóa sang đồng đội. Tất nhiên, cũng không phải vì thế mà uy tín người thủ lĩnh của Nguyễn Tường Tam bị hạ thấp hay xem nhẹ. Là một nghệ sĩ đa tài, một con người giàu tâm huyết và có tầm nhìn xa, Nhất Linh đã biết đoàn kết cả nhóm lại trong một ý hướng chung do mình xướng xuất, biết truyền niềm say mê mãnh liệt của mình cho người khác, nhất là có con mắt tinh đời, biết khơi gợi đúng thiên hướng của từng người để mỗi tác giả trong văn đoàn trở thành một cây bút chuyên biệt nổi danh về một thể loại.
Như Khái Hưng, được ông khuyến khích chuyển từ lối viết luận thuyết trên các báo Văn học tạp chí, Duy tân (dưới bút danh Bán Than)sang viết tiểu thuyết; Tú Mỡ được ông gợi ý chuyên làm thơ trào phúng; Trọng Lang được ông cổ vũ đi hẳn vào phóng sự; còn Thế Lữ dưới con mắt Nguyễn Tường Tam phải là người mở đầu cho “thơ mới”… Có ai ngờ được rằng bấy nhiêu lời chỉ bảo tưởng chừng bâng quơ như thế cuối cùng đều có một đáp án chính xác: chỉ sau chưa đầy 3 năm kể từ ngày thành lập, Tự lực văn đoàn nghiễm nhiên là một hàn lâm văn học sang trọng, phát ngôn cho mọi chuẩn mực giá trị của văn học được công chúng xa gần thừa nhận. Và mỗi thành viên của nó cũng nghiễm nhiên đóng vai trò ông tổ của cái hình thức sáng tác mà Nhất Linh đã phó cho mình cầm chịch. Không ai còn có thể tranh ngôi vị cây bút tiểu thuyết tài danh của Khái Hưng. Nói đến giọng thơ trào phúng kế sau Tú Xương ai cũng phải nhường Tú Mỡ. Còn Thế Lữ thì được cả làng “thơ mới” thừa nhận là chủ soái thi đàn. Cũng không thể quên Thạch Lam với những kiệt tác truyện ngắn trữ tình mà về sau ít người sánh kịp. Và Xuân Diệu, người tiếp bước Thế Lữ đem lại sự toàn thắng cho “thơ mới”, phổ vào thơ cái ma lực của những cảm xúc đắm say quyến rũ. Riêng Nhất Linh không những không nhường Khái Hưng về tiểu thuyết, ông còn là nhà văn luôn luôn tìm tòi không ngừng, không mỏi. Vừa cho ra mắt một loạt tiểu thuyết luận đề làm cả một thế hệ thanh niên mê thích, ông lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết không cốt truyện, lấy việc phân tích các biến thái tâm lý nhân vật làm chủ điểm (Đôi bạn), rồi lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết khơi sâu vào những miền khuất tối, không dễ nhận biết của cái “tôi”, cái thế giới bí mật nhất trong mỗi con người, kể cả sự mò mẫm vô thức trên quá trình cái “tôi” phân thân, tự hủy, ít nhiều mang dáng dấp hiện sinh (Bướm trắng)… Có thể nói từ sinh hoạt dân chủ trong nội bộ, thấm vào tình cảm của mỗi thành viên rồi tác động qua lại lẫn nhau, tinh thần dân chủ đã như một chất men kỳ lạ kích thích niềm phấn hứng sáng tạo của từng cá nhân trong văn đoàn, bắt người nào cũng gắng sức đua tranh không chịu kém thua người khác, khiến họ đều vươn tới vị trí đỉnh cao trên đàn văn cũng như bộc lộ hết tài hoa của họ. Tác động liên hoàn giữa khát vọng dân chủ đến bùng nổ sức sáng tạo chính là như vậy (6).
Nhưng là một tổ chức văn học và báo chí có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng, tinh thần dân chủ nhen nhóm trong văn đoàn Tự lực cũng đã lan tỏa dần ra ngoài, đúng hơn, nó được cả văn đoàn sử dụng như một nguyên tắc thẩm mỹ và một nguyên tắc hành nghiệp linh hoạt mà bất biến, trong bất kỳ mọi sáng tạo văn học nghệ thuật cũng như mọi hoạt động xã hội nào của họ.
Dân chủ ở ngay cách đối xử với cộng tác viên nhiệt tình, trân trọng và hết mực chu đáo, kể cả với người lần đầu cầm bút, nâng hẳn tầm thước của họ lên trong chính mắt họ, đặt họ ngang hàng sòng phẳng với mình, gieo vào lòng họ niềm tin ở thiên hướng nghệ thuật mà họ thực sự có tài năng và đang tận tâm đeo đuổi (7). Tự lực văn đoàn là nơi phát hiện ra Anh Thơ, Tế Hanh, Nguyên Hồng, Đỗ Đức Thu, Mạnh Phú Tư, Bùi Hiển, Thanh Tịnh… Cũng Tự lực văn đoàn lần đầu tiên trình diện các bậc danh họa Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, xướng lên cuộc cải cách y phục với kiểu áo “Lơ muya” của họa sĩ Cát Tường, và công bố trên tờ báo của văn đoàn những bài tân nhạc của Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương… Dân chủ còn ở cách họ tổ chức các giải thưởng văn học đầy uy tín, như những trọng tài tận tụy, công tâm, mà một điều khoản hệ trọng được đặt lên đầu là Hội đồng Giám khảo không bao giờ lại đồng thời là ứng viên dự giải – chuyện tưởng chừng “sơ đẳng”, đến phong kiến cũng có luật “hồi tị”, mà hóa ra trong nền văn học nghệ thuật của chúng ta suốt bằng ấy năm đã bị đảo ngược và cái đảo ngược đã trở thành “thông lệ”, đến nỗi ở thời điểm 1956 học giả Phan Khôi không sao hiểu được phải lên tiếng phê bình, oái oăm thay là sự thẳng thắn đó đã giáng tai họa lên đầu ông. Bởi thế, khi xác nhận công lao của Tự lực văn đoàn như một hội đoàn có vị trí khai sáng trong văn học hiện đại ta không nên quên rằng chính cái văn đoàn ấy, với đích nhắm nghệ thuật vô tư, trong sáng, với văn hóa ứng xử đàng hoàng, mẫu mực, phương pháp điều hành minh bạch, quy tụ được rộng rãi tinh hoa văn nghệ trong cả nước, đã khai sáng ra cùng với nó những hình thức thể loại mũi nhọn trong văn học hiện đại Việt Nam và cả trong nghệ thuật hiện đại Việt Nam như hội họa, ca nhạc mà nó là nơi thể nghiệm, nơi ghi dấu ấn của những đại biểu tiên phong.
Vài chục năm qua kể từ sau đổi mới, chúng ta đã dành nhiều giấy mực để luận bàn nhằm từng bước giải tỏa nhiều thành kiến khắt khe, cố chấp, cố gắng trả về cho lịch sử văn học những giá trị đích thực của khối lượng tác phẩm do Tự lực văn đoàn để lại (8). Ta đề cập tới trong sách vở của họ các khuynh hướng đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, khuynh hướng lãng mạn, ca ngợi tình yêu và hạnh phúc cá nhân, khuynh hướng nghiêng mình xuống số phận những con người cơ cực, bần cùng, cho đến khuynh hướng không bằng lòng với cuộc sống trưởng giả, tẻ nhạt cũ kỹ, quyết dấn thân vào con đường gió bụi, “mê man trong hành động”, tuy chưa biết hành động sẽ đi đến đâu nhưng ít nhất cũng là sự giải thoát cho mình khỏi nỗi mặc cảm đau xót của thân phận người dân mất nước v.v… Ta cũng không quên cuộc cách tân văn xuôi to lớn của họ, cấp cho họ một giọng văn trong trẻo, chuẩn mực, giàu sức biểu cảm tuy có lúc còn đơn điệu, và một cấu trúc thể loại mới mẻ, trong đó quy luật tâm lý thay cho trục diễn tiến đường thẳng theo trình tự thời gian và cái nhìn đa chiều trong soi chiếu nhân vật thay cho lối trần thuật một giọng của người kể chuyện; là sự có mặt của thiên nhiên như một đối tượng thẩm mỹ. V.v…
Nhưng điều có dễ chưa mấy ai lưu ý là từ tất cả những bình diện khác nhau kia, tác phẩm của Tự lực văn đoàn hình như đã đúc nên được một phong vị khó lẫn, nó là cái yếu tố ẩn sâu dưới tầng ngôn bản, kết nối các giá trị ấy lại với nhau. Theo tôi, đó chính là vẻ đẹp của tinh thần dân chủ mà mỗi thành viên đã thấm nhuần sâu sắc và chuyển tải vào tác phẩm theo cách riêng. Chính nó đã gây ra cho người đọc đương thời biết bao nhiêu bâng khuâng thắc thỏm về một điều gì mới lạ mà mình không lý giải nổi khi đọc văn chương của nhóm Tự lực; cũng chính nó bắt người đọc nhập thân vào thế giới nghệ thuật của Tự lực văn đoàn không giống như đi vào thế giới của các nhà văn hiện thực phê phán, một bên là cái thế giới bắt mình có sự nghiệm sinh trong đấy, bên kia là cái thế giới để mình phẫn nộ, lên án, nhưng không nhất thiết có mối liên lạc với mình. Phải chăng khi đến với những trang viết của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam… bao giờ người ta cũng phải bắt mình đối diện với chính cái “tôi” một cách bình đẳng, nghiền ngẫm tra vấn nó, tức là nhìn vào thế giới sâu thẳm bên trong mình. Dân chủ trong tiếp nhận văn học trước hết là ở đấy. Dù ngày nay ngôn ngữ văn chương không ít tác phẩm của Tự lực văn đoàn đã bộc lộ sự mòn sáo thì âm hưởng “tự nghiệm” của chúng vẫn không cũ.
o0o
Tuy nhiên, điều rất cần nhấn mạnh ở đây còn là một phương diện khác, một cách biểu hiện dân chủ bằng sự vận dụng hữu hiệu ngôn ngữ trào phúng. Với tờ báo Phong hóa, ngay từ buổi đầu thành lập, Tự lực văn đoàn đã biết nắm lấy một vũ khí lợi hại là tiếng cười. Ai cũng biết tiếng cười là một liều thuốc hóa giải được mọi khổ đau. Về mặt mỹ học, xin mượn một câu nói của Hegel: nó “trình bày cái thế giới hư hỏng như là đang giãy giụa chống lại tình trạng hư hỏng của mình, tình trạng này biến mất do tính chất vô nghĩa lý ở bản thân nó” (9). Tiếng cười còn thần kỳ ở chỗ, chỉ trong phút chốc, mọi địa vị xã hội bị nó đảo lộn, thằng hóa ra ông, ông hóa ra thằng. Tận dụng được các phương cách này, đúng như Vu Gia nói, tờ báo Phong hóa có sức công phá như một “trái bom nổ giữa làng báo” (10). Dưới ngòi bút của họ, cả một xã hội gồm những ông tai to mặt lớn trong giới quan trường, học thuật, báo chí, văn chương, uy thế đến như Toàn quyền Brévié, Thống sứ Châtel, Khâm sứ Graffeuil, Hoàng đế Bảo Đại, Thượng thư Phạm Quỳnh, Tổng đốc Hoàng Trọng Phu, Đốc lý Virgitti, cho đến cả những nhân vật hủ lậu ở nông thôn mà biểu tượng là Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh… đều bị đem ra chế giễu, bị ngòi bút châm chọc của họ làm cho điêu đứng. Bằng tiếng cười của mình, Tự lực văn đoàn đã khéo léo hạ bệ các thần tượng phong kiến và thực dân, đưa các vị xuống đứng cùng hàng với đám chúng sinh khổ ải. Mặt khác, lại cũng phải nói như Vũ Bằng, sự chế giễu tuy thế vẫn biết giữ ở chừng mực của học vấn và trí tuệ, ngoại trừ một số trường hợp nào đó, nó không đi quá đà đến đả kích cay cú, “cười cợt người ta mà không thóa mạ ai” (11). Tuy cùng thời với Nhóm Tự lực cũng có khá nhiều tờ báo tìm nhiều cách gây cười cho độc giả, nhưng phải đến báo Phong hóathì cái cách cười hóm hỉnh thông minh của nó mới đủ hiệu lực biến một xã hội già nua lụ khụ thành một thế giới vui nhộn trẻ trung. Lần đầu tiên, báo chí giành được cho mình cái quyền trao đổi công khai mọi chuyện nghiêm trang nhất, biến nó thành những chuyện để cười, thành một sinh hoạt bình thường, hợp pháp, lành mạnh, được xã hội thừa nhận. Thử hỏi, báo chí chúng ta cho đến đầu thế kỷ XXI này đã dám đem những chuyện nghiêm trang ra trao đổi một cách dung dị từ góc nhìn bình đẳng – đùa vui với nó – mà không có gì phải e ngại, hay là mỗi khi muốn cười cợt đôi chút vẫn phải nhìn trước ngó sau xem đã đi đúng “lề đường bên phải” mà quyền lực dành cho mình? Vậy nên, phải nói trào phúng là đóng góp lớn lao của Tự lực văn đoàn vào việc dân chủ hóa đời sống xã hội, một đóng góp từ trước chưa hề có và từ sau 1945 đến nay, báo chí cách mạng cũng dễ đâu đã theo kịp.
Tự lực văn đoàn đã chấm dứt hoạt động thực tế kể từ sau năm 1940, tính đến nay đã 68 năm, gần bằng tuổi đời của kẻ viết bản tham luận này. Một khoảng thời gian không phải là ngắn, kèm theo biết bao sóng gió của một thời không chút bình yên về mọi mặt. Nhưng có điều rất lạ: càng lùi xa thì độ sáng của hiện tượng văn học mà ta đang xem xét dường như lại sáng hơn lên, diện mạo của những nhân vật nòng cốt trong Nhóm Tự lực lại càng hằn bóng nơi tâm trí chúng ta. Đó là bằng chứng chắc chắn của những giá trị đã biết cách tự khẳng định, không để cho quy luật sinh tồn đào thải….
(1) Lâu nay nhiều sách báo đã dựa vào tư liệu của Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Tập III, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1965; tr. 433) và Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Quyển hạ, Nxb Trình bày, Sài Gòn, 1967; tr. 623-624), ghi ngày công bố 10 tôn chỉ của Tự lực văn đoàn là 2-III-1933, nhưng theo bản tham luận của Nguyễn Huy Cương có tên Vấn đề thời điểm ra đời tuyên ngôn, tôn chỉ của Tự lực văn đoàn ngay tại Hội thảo này thì số 87 báo Phong hóa thực ra ra ngày 2-III-1934 (tham luận có kèm theo 3 trang chụp số báo Phong hóa 87). Sở dĩ có nhầm lẫn là do các học giả trên đã sơ suất in nhầm con số 4 thành con số 3, nên đến cuốn Phê bình văn học thế hệ 1932 (Quyển I, Phong trào văn học, Sài Gòn, 1973; tr. 27-29) chính Thanh Lãng đã điều chỉnh lại. Vì vậy, trong tham luận này, chúng tôi dựa vào số liệu của Nguyễn Huy Cương.(2) Trong cuốn Trần Tiêu, nhà văn độc đáo của Tự lực văn đoàn, Vu Gia dựa vào ý kiến của Tú Mỡ trong hồi ký Trong bếp núc của Tự lực văn đoàn (viết năm 1969, in lần đầu trên Tạp chí văn học số 5 và 6-1988 và 1-1989) và ý kiến Lê Thị Đức Hạnh trong bài Trần Tiêu có phải là thành viên trong tổ chức Tự lực văn đoàn hay không (Tạp chí văn học, số 5-1990), đã mạnh dạn đưa ra lời khẳng định: Trần Tiêu là thành viên của Tự lực văn đoàn. Tuy nhiên, có nhiều chứng cứ cho thấy Trần Tiêu cũng như Trọng Lang… là những cộng tác viên thân tín chứ chưa bao giờ được kết nạp vào Tự lực văn đoàn như thành viên chính thức: 1. Trần Tiêu chỉ sống tại Kiến An mà không ở Hà Nội nên không có điều kiện sinh hoạt chung để thường xuyên bàn bạc trao đổi với nhau hàng tuần trong việc thực thi tôn chỉ của văn đoàn trên tờ báo Phong hóa. 2. Sách của Trần Tiêu trước 1945 như tôi nhớ, không hề ghi mấy chữ “trong Lự lực văn đoàn” ở dưới tên ông (Thư viện gia đình Mộng Thương thư trai tôi đọc hồi nhỏ thấy thế, mà Cù Huy Hà Vũ trong hội thảo này cũng cho biết, tủ sách cũ của Huy Cận Cù Huy Hà Vũ được đọc cũng là thế). 3. Ngoài ra, có hai người là Nhất Linh trong “Mấy lời nói đầu” sách Đời làm báo điểm tên các nhân vật trong Tòa soạn Phong hóa và Ngày nay không nhắc đến Trần Tiêu (theo Vu Gia, sđd, tr. 11), và Nguyễn Tường Bách, người con út của dòng họ Nguyễn Tường, sau này chủ trì Ngày nay kỷ nguyên mới (1945), trong hồi ký Việt Nam một thế kỷ qua, Tập I, đề tựa năm 1980, Nxb. Thạch ngữ, Califorrnia, 1999, ở chương 11: “Thăm chùa cổ Bắc Ninh. Tự lực văn đoàn”, cũng viết: “Cùng một hoài bão về văn hóa và cải cách xã hội, mấy anh đã tổ chức một tập hợp trên chủ trương tự lực, cả về tinh thần lẫn vật chất, không ỷ lại, không khuất tất. Có chí hướng cao thượng, lại tập hợp được những nhân tài xuất chúng, đó là nguyên nhân tại sao Tự lực văn đoàn đã thành công và gây được ảnh hưởng sâu xa trong xã hội Việt Nam. Lúc đó, còn là học sinh mới mười bảy tuổi, tôi phải chuyên chú về thi cử. Tự lực văn đoàn gồm sáu người tức Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Thạch Lam, Thế Lữ – Anh Gia Trí không ở trong văn đoàn, tuy góp nhiều về tranh vẽ và ý kiến. Sau này cũng chỉ thêm một thành viên là Xuân Diệu, cộng thành Thất tinh hay Thất hiền”. Bản thân Tú Mỡ tuy quả quyết Tự lực văn đoàn có cả Trần Tiêu, ở phần cuối bài viết đã dẫn của mình cũng vô tình nói một điều ngược lại, rằng đây là “Thất tinh hội”. Chính vì những băn khoăn như vậy, trong mục từ “Tự lực văn đoàn” của Từ điển văn học bộ mới (2005), tôi đã không xếp Trần Tiêu vào danh sách các thành viên chính thức.
(3)“Nhà văn không hề xem công việc của mình như là một kế sinh nhai. Đó là một mục đích tự thân, nó không phải là một kế sinh nhai đối với anh ta cũng như đối với người khác, đến nỗi nhà văn hy sinh sự tồn tại của mình cho sự tồn tại của nó nếu cần”.…
Trích từ
“Thử định vị Tự Lực Văn Đoàn” của Nguyễn Huệ Chi
-
Mùa Xuân anh yêu em – Việt Hải LA

-
Hôn Em Thoảng Vị Café – Việt Hải LA

-
Vui vầy thế sự – Phạm Quốc Bảo
-
Thõng tay vào xuân – Phạm Quốc Bảo
-
Chút Ý Nghĩ về Tết Âm Lịch và Dương Lịch – Việt Hải

-
Hà Nguyên Du Với Niềm Đam Mê Thi Ca
Trần Việt Hải – Los Angeles.Viết về một người bạn văn nghệ mà tôi thân thiết từ bên nhà qua tình đồng hương quê quán Tây Ninh cũng như tình đồng cảm về thú tao nhã văn nghệ như VănThơ Nhạc, tôi muốn đề cập về anh Hà Nguyên Du…
Những phạm trù văn nghệ như Văn Thơ Nhạc anh đều tham dự đủ cả, anh tham gia say mê và anh góp mặt tích cực, đặc biệt là hai lãnh vực thi ca cổ nhạc và rồi đến tân nhạc. Anh viết nhiều ca khúc và đã phổ thơ cho các nhà thơ Tân Hình Thức…
Hẳn Hà Nguyên Du là một tên tuổi nổi bật trong thi ca của nhiều áng thơ.
Anh là cây bút trước 1975. Anh sáng tác nhiều thể loại thơ, từ thơ vần điệu cho đến thơ hiện đại là thơ Tân Hình Thức. Và anh cũng là một soạn giả nhiều bản tân cổ nhạc. Đây là điều khá hiếm, một sự quý báu khi mà nơi hải ngoại nếu không vun bồi hay phát huy tinh hoa cổ nhạc, ngành truyền thống để nó mai một là điều đáng buồn, buồn lắm.
Hà Nguyên Du cho xuất bản tuyển tập thơ thứ tư sau tác phẩm thơ Tân Hình thức là “Gene Đại Dương” qua nhóm Văn Học Nghệ Thuật “Nhân Ảnh Tân Văn và Tiếng Thời Gian”.
(Tính tác phẩm thơ xuất bản hôm nay là tác phẩm thứ tư chỉ tính riêng về Thơ)Tuyển tập thơ mới xuất bản hôm nay là:
“Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng”. Hoa quỳ khá giống hoa sen về hình dáng, màu sắc; sen và quỳ đều tòa hương thơm trong sự thanh cao… Và một loại Quỳ vàng chính là hoa hướng dương với ý nghĩa thể hiện niềm tin và nguồn hy vọng vươn lên với ánh mặt trời hay luôn hướng về điều tươi sáng nhất.Hà Nguyên Du đề tựa theo ý nghĩ của Nhà văn Thalassa Cruso, vốn yêu cỏ cây thiên nhiên, trong tác phẩm :
“To Everything There is a Season”
(năm 1973), bà Cruso cho là:
“Hương thơm mang lại những kỷ niệm, và nhiều kỷ niệm mang lại niềm vui hoài hương.” (Scents bring memories, and many memories bring nostalgic pleasure).Do vậy, những Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng, tự nó dâng hương thơm khi gợi lại niềm vui thi ca về quê xưa của tình hoài hương.
Trong khi nhà văn Ấn quốc APJ Abdul Kalam quan niệm :
“Thi ca xuất phát từ hạnh phúc cao nhất hoặc nỗi buồn sâu thẳm nhất”
(Poetry comes from the highest happiness or the deepest sorrow).Trong mấy mươi bài thơ của tác giả Hà Nguyên Du mà bạn cầm thi tập trên tay, thơ có bài vui và có bài buồn vì là tính thơ…
Hà Nguyên Du mang đam mê thi ca như ý tưởng của nhà văn Edgar Allan Poe:
“Với tôi thơ không phải là một mục đích, mà là một niềm đam mê”.
(With me poetry has not been a purpose, but a passion).Tương tự, thi hào Khalil Gibran nói: “Thơ là một sự thỏa mãn của niềm vui và nỗi đau và nỗi trăn trở, với một dấu gạch ngang nối kết của quyển từ điển.
(Poetry is a deal of joy and pain and wonder, with a dash of the dictionary).Hà Nguyên Du cổ xuý, ngợi ca thơ mới, hay làm thơ cách tân, hoặc thơ tân hình thức, dù rằng anh cũng đã sáng tác thơ đường luật hay lục bát theo lối thơ từ vần điệu cổ điển đến thơ tự do…
Nói về thơ Tân Hình Thức (New Formalism, Nouveau Formalisme) xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng đầu thập niên 30 của thế kỷ 20. Những người chủ trương phong trào thơ mới lúc bấy giờ muốn phá bỏ hình thức thơ “tám câu năm vần” và loại thơ mới ban đầu này là cuộc cách mạng thơ được hưởng ứng rất mạnh mẽ và kéo dài cho đến nay đã gần 80 năm rồi.
Trong vườn thơ Việt Nam trong thế kỷ 20, nổi bật những áng thơ đường của Quách Tấn, Thinh Quang, Đông Hồ, Chính Quách,… hay Hà Thượng Nhân; còn phong trào thơ mới có những gương mặt như Bích Khê, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng,… tôi muốn thêm tên anh bạn tác giả tuyển tập thơ này, người vốn lưu luyến, đã bỏ nhiều nỗ lực hầu chắt chiu, trau chuốt những áng thơ tân hình thức, do tim óc, phạm vi mà anh rất trân trọng và dành nhiều thì giờ một khoảng thời gian dài cho cái mình yêu thích.
Yêu thích thi ca bởi lẽ như nhà văn Pháp George Sand nói là :
“Người thu hút sự thích thú cao quý từ tình cảm của thơ là một nhà thơ thực sự, mặc dù ông chưa bao giờ viết một dòng trong suốt cuộc đời mình”.
(Celui qui attire les plaisirs des sentiments de la poésie est un vrai poète, mais il n’a jamais écrit une ligne dans toute sa vie).Trong khi nhà văn Gustave Flaubert cho cảm tưởng về thơ như một nhu cầu ở khắp nơi đều có nó:
“Không có một hạt nhỏ nào trong cuộc sống không chứa thơ trong đó”.
(Il n’y a pas une particule de vie qui ne porte pas de poésie en elle.)Nói về thi ca trong tác phẩm “Mon cœur mis à nu”, đăng trong tạp san Journaux intimes, 1864, thi hào Charles Baudelaire ghi nhận như :
“Hãy luôn luôn là một nhà thơ, ngay cả trong văn xuôi”.
(Soyez toujours un poète, même en prose) .
Charles Baudelaire (1821-1867) là nhà thơ lớn của văn học Pháp thế kỷ XIX thuộc trường phái tượng trưng chủ nghĩa.Arthur Rimbaud nhận định về Charles Baudelaire là “Vua của các nhà thơ”.
Những bài thơ được chú ý nhất của Charles Baudelaire như là Tương Ứng (tức Correspondances) đã khiến ông trở thành người đi tiên phong của trường phái thơ tượng trưng. Nhà thơ sống với tình yêu đối với thi ca và bắt đầu sáng tác ngay từ tuổi đôi mươi.
Mặc dầu sống trong những đam mê để rồi ấp ủ tâm hồn nhưng những bài thơ của Charles Baudelaire vẫn đạt được trình độ nghệ thuật cao của thi ca, để ông tồn tại cho tới mãi về sau này. Xem bài thơ Tương Ứng (Correspodances) như sau…
“Thiên nhiên là ngôi đền, hàng cột là hàng cây
Đôi lúc thốt ra những lời nói xa xôi
Rừng tượng trưng nhìn những người qua lại
Với ánh nhìn từng quen biết đã lâuNhư những tiếng vang dài nơi xa thẳm
Hoà vào nhau thuần nhất, thẳm, đen
Mênh mông tựa ánh sáng và màn đêm
Đều tương ứng các âm thanh và hương sắc..”
(lời dịch Phạm Nguyên Phẩm)(Correspondances
La Nature est un temple où de vivants piliers
Laissent parfois sortir de confuses paroles
L’homme y passe à travers des forêts de symboles
Qui l’observent avec des regards familiers.Comme de longs échos qui de loin se confondent
Dans une ténébreuse et profonde unité,
Vaste comme une nuit et comme la clarté,
Les parfums, les couleurs et les sons se répondent…)Hãy xét xem hai bài thơ tiêu biểu trong thi tập này:
“Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng”
NHỮNG CON CHỮ MẦU NHIỆM
bàn phiếm con pu ter thành ra
vũ trường cho những bước chân lã
lướt tung tăng của những con chữ
những con chữ tinh khôi bước ratừ nguồn mạch não của người làm
thơ và người làm thơ cảm nhận
hạnh phúc qua mười ngón tay ông
biến thành những đôi chân cho nhữngcon chữ tung tăng như bước chân
chim tuổi học trò trên sân trường
những con chữ dan cing đẹp mắt
trên vũ trường phiếm khiến con mousemột mực hưởng ứng trên màn ảnh
trông dễ thương như bàn tay vẫy
của cô bé tuổi ô mai bàn
tay vẫy cô bé nhưng thừa quyềnnăng điều khiển và ra lệnh cho
người làm thơ sung sướng vâng lời
làm theo những con chữ như những
chiếc xe tải đầy hình ảnh vàý nghĩa ẩn dụ những con chữ
luôn biến hóa thành những con chuột
bạch mà người làm thơ dùng làm
thử nghiệm các thể loại thi cahay dòng thơ của mình những con
chữ thật mầu nhiệm ơi! thật mầu
nhiệm những con chữ vận mệnh
những con chữ thiêng liêng những conchữ đích thực mang sứ mệnh cao
cả những con chữ quyết định mọi
việc sinh tồn cho dân tộc mình cho
chính mình một người làm thơ chomạch dẫn hay mạch nối hai con
tim tình yêu của anh và em
mỗi ngày qua ứng xử và giao
tiếp những con chữ biến hóa chovũ trụ nắng mưa cho bầu trời
trong sáng cho không gian tối tăm
anh ước mơ những con chữ luôn
ngoan mỗi ngày nhảy nhót tungtăng như những dan cing trên vũ
trường bàn phím com pu ter anh
để những con chữ nói lời yêu
em mỗi ngày để những con chữ
biến thành dòng máu tim anh đềunhịp đập để những con chữ kết
đầy hoa trên cành cây thơ của
người làm thơ hay ai ai đó
đã dùng những con chữ thường ngàyơi.! những con chữ mầu nhiệm hỡi
em yêu… hỡi bạn bè khắp chốn..!!Đượm nét thơ tân hình thức,một dòng thơ mới hiện đại, bài thứ hai của thi sĩ Hà Nguyên Du chuyên chở ý tưởng thi ca như sau:
NGÓN TAY CỦA EM
ngón tay búp măng nõn nà của
em có cái móng cong cong dài
em thường vẽ lên đó một nụ
hồng màu tươi rói như màu máutrái tim rất lãng mạn của tôi
ngón tay của em hàm chứa nguyên
trinh cuộc đời tôi như một nhiệm
mầu! cái ngón tay có cái túiđựng hai chiếc chìa khóa dùng đề
mở hai cánh cửa thiên đàng và
địa ngục cái ngón tay trắng ngà
màu vàng sữa như một magicngón tay đã nhiều lần làm tôi
có những cảm giác như một thỏi
sắt rơi tũm xuống đáy biển hoặc
như một vật nhẹ bỗng bay vúthăng thiên cái ngón tay đã khảy
lên dây thần kinh tôi những thanh
âm tuyệt trần và cũng chính ngón
tay ấy đã mở nấp bầu lệtôi tuôn như suối nguồn thiên tạo
tôi sẽ tạc tượng ngón tay của
em bằng thạch cao có đeo lủng
lẳng hai chiếc chìa khóa nhưng tôikhông biết tụng niệm thần chú làm
sao để lồng vào đó cuộc đời
tôi như một linh hồn của ngón
tay được tạc tượng bằng thạch caongón tay búp măng nõn nà của
em có cái móng cong cong dài
ngón tay đã vẽ nên bức tranh
lập thể như tranh Picassomà chỉ có tôi xem mới hiểu
và khóc với bức tranh ấy từ
ngón tay của em làm ra chính
ngón tay em ngón tay lịch sử ..!!Tóm lại thơ tân hình thức đã gột bỏ những luật lệ gò bó của thơ vần điệu hay thơ cổ điển, tính phóng khoáng, thoáng mát như làn gió mới, nên thơ thu hút nhiều người trong giới thi ca, nhất là giới trẻ trong nước và hải ngoại. Giới trẻ vốn không vướng vấp đến thi ca vần điệu hay thơ truyền thống…
Nay tác giả Hà Nguyên Du, (người đã đến với thơ Tân Hình Thức ngay từ khi khởi phong trào, đóng góp sớm với tác phẩm thơ THT):
“ Gene Đại Dương”Và giờ đây, chúng ta có thêm thi tập: “Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng” ra đời, dù tác phẩm này bao gồm nhiều thể loại, nhưng nổi bật nhất, chúng ta cần chú ý đến dòng thơ mà anh nổ lực đóng góp lâu nay, là dòng thơ Tân Hình Thức…
Tôi nghĩ “ Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng” Là thơ như một Vầng Trăng Tỏa Sáng “ Trên Đóa Quỳ Vàng” trong đêm Và Đóa Quỳ Vàng của ngày đầy nắng ấm Để đóa quỳ Thi Ca vươn lên cùng ánh mặt trời nghệ thuật…
Xin trân trọng giới thiệu.
Trần Việt Hải – Los Angeles
Chút xíu thơ Hà Nguyên Du:
https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/1479557308801601?hc_location=ufi -
Bình yên trong hoàng hôn

Các bạn thân! Sau một thời gian… nhờ cô em gái C.K miệt mài làm việc, từ tập hợp những tản mạn văn thơ, sắp xếp, layout …Bây giờ, quyển ebook “ Bình yên trong hoàng hôn” của Trầm Hương Ptt.hoàn thành để “ khoe” cùng bạn.
Nếu bạn là bạn đọc của Trầm Hương Ptt. thì nội dung của ebook nầy sẽ không có điều chi mới lạ, vì chúng ta đã từng chia sẻ những suy nghĩ rời nầy cho nhau, đã từng cho nhau những lời comments dấu ái, thân tình.
Quyển ebook nầy chỉ là nơi giữ những kỷ niệm, những tâm tình rời được xâu lại , liên kết nhau thành một “bức tranh văn “ với từng phân đoạn, vẽ lên dòng đời của một người.
Như món quà nhỏ Trầm Hương Ptt gửi về bạn. Mong bạn đón nhận tâm tình nầy với vòng tay rộng mở và nụ cười an nhiên.
Trầm Hương Ptt.
các bạn muốn đọc sách hay in thì bấm vào dòng chữ sau
Ref.Link:
BÌNH YÊN TRONG HOÀNG HÔN _Final
Bình yên trong hoàng hôn” của Trầm Hương Ptt:http://tongphuochiep-vinhlong.com/…/B%C3%8CNH-Y%C3%8AN-TRON…
Tình thu mênh mang của Trầm Hương Ptt
Canada mùa thu lại đến..Trong thời khắc giao mùa , thơ Trầm Hương Ptt. lại trở về. Vẫn những câu thơ không nằm trong vần điệu của thơ. Cách gieo vần, ngắt câu tự do, phóng khoáng, nhưng mời các bạn xem đây là chút hương thu của người xa xứ gửi tình về quê nhà…
Tình thu mênh mang
1-
Buổi sáng trên đường, ngắt cánh hoa thạch thảo, mân mê cánh hoa trên tay. Có phải hoa chở mùa thu về?
Chiếc lá bên hiên bay theo cơn gió, tiếng rơi nhẹ đất trời.
Bải cỏ đọng sương mai. Vàng hoa cúc. Lạnh heo may.
Nắng quái xuyên qua khung cửa. Ánh trăng vàng trong đêm.
Không gian êm êm. Giọt mưa thầm thì cùng cây cỏ. Lay tỉnh mùa thu thức dậy
mùa thu đến như mơ.
2-
Mùa bay trên những chồi hoa. Hạt mưa nghiêng nhẹ. Tàn rơi bao chiếc lá. Mưa có chia nổi buồn ?
Bầy thiên di hỏi Trời xanh… Thu về chưa sao hoàng hôn chở gió?
Phố nhỏ nằm đìu hiu dưới bóng trăng. Tôi đưa tay vớt chút trăng vàng, nhặt chiếc lá và gửi vào lá một nụ hôn .
Tôi hỏi chiếc lá có ước mơ không? Có muốn cùng gió bay đi muôn phương ? Như có lần anh hỏi tôi…Có muốn cùng anh đi hết con đường ?
Tay nắm tay đi dưới trời thu. Hoa tiểu cúc cười. Trăng vàng e lệ.
Lá khóc theo bước chân người, lá có đau ?
3-
“Yên Chi hoàng diệp lạc, Thiếp vọng tự đăng đài. Hải thượng bích vân đoạn, Thiền Vu thu sắc lai.” Đọc thơ Lý Bạch, rồi tự hỏi Đời mình còn được mấy mùa thu . Sân ga cuối trong tuổi hoàng hôn gần như hơi thở. Tôi chờ thu hay thời gian chở muà sang ?… 4- Phút giao mùa đến … “Chinh khách vô quy nhật”*..Chút hương thu tôi gửi đến người.
Trầm Hương Ptt
Dịch nghĩa của trích đoạn bài Thu Tứ của Lý Bạch.*Yên Chi vàng lá rụng
Lên gác thiếp trông xa
Trên biển mây xanh tán
Ngoài biên thu lại qua**Chinh khách chưa quay lại
Xuân nồng trong nắng đông của Trầm Hương Ptt
Ngày đăng: 28/01/2017 3:20 chiều / ý kiến phản hồi (10)
Đón xuân trong tuyết trắng mùa đông, tưởng nhớ đến những mùa xuân nơi quê nhà có hoa mai, hoa đào, có nắng xuân nồng ấm. Nơi đây mùa đông giá lạnh nhưng lòng người tha hương bỗng như ấm lại bên ly rượu nồng, thêm lời chúc tụng ngây thơ của các cháu nội ngoại mừng Tết ông bà. Một thoáng nhớ nhung đưa người viễn xứ trở về với những kỷ niệm xa xưa lúc tuổi xuân thì…
LTHK
0 co t 1
Xuân nồng trong nắng đông
Hương xuân thoảng trong không gian…Mênh mông tuyết phủ.
Mai đào, dẫn xuân về…lộc đất trời…
Tôi giang tay đón nhận mùa xuân.
Xuân đẹp, xuân nồng, tình xuân lan khắp.
Lời yêu thương và lời tình tự…Hơi thở mùa Xuân nhẹ đến bên thềm.
Bánh mứt dâng cúng ông bà, mang ước vọng bình an, ấp ủ nhớ thương trong khói nhang trầm mờ tỏ.
Dịu dàng nét xuân, đàn chim én gọi bầy, ríu rít bên nhau, trên những cành thông xanh lá.
Xuân cất tiếng gọi mời thân thiết, ấm trong cốc rượu nồng, xua đi giá lạnh mùa đông.
Xuân trong đôi mắt hòn bi ve, long lanh cuả các cháu, nụ cười với những chiếc răng sữa đang thay, vô tư hồn nhiên, chúc ông bà bằng câu nói quê hương ngọng nghịu…
“Chúng con mừng tuổi ông bà, kính chúc ông bà sống lâu trăm tuổi”.
Đôi má hồng, câu nói ngây thơ, trong sáng quá xuân ơi.
Tuyết đổ nhẹ bên hiên, chút bâng khuâng hoài niệm.
Xuân như con nước xuôi dòng.
Sáng mồng một đón xuân về trong nỗi nhớ, trái tim buồn rớt bên song.
Hong tình quê xa lắc. Có những hồi ức mùa xuân chứa cả quê nhà.
Lòng muốn ôm cả trời quá khứ….nghìn xuân mơ giấc mộng thường…
Ngày xuân ấy, tôi thả niềm vui trong ánh mắt môi cười, đời màu hồng trước mặt…
Những chiều ba mươi tết, chiếc Honda chạy trên đường vắng, thương câu ca
“Có ai lựa buổi chợ chiều mà đi….”
Lòng tôi như cánh hoa thủy tiên gửi về quê nhà, đón mừng năm mới…Lộc trời chan chứa tình xuân…Một mùa xuân xa xứ, dâng đời nỗi nhớ đầy vơi.
“Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau
Tóc xanh dù có phai màu
Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng
Xin chào nhau giữa lúc này
Có ngàn năm đứng ngó cây cối và
Có trời mây xuống lân la
Bên bờ nước có bóng ta bên người …”
Mượn bài thơ “Chào Nguyên Xuân” của nhà thơ Bùi Giáng.Gửi bạn một chút xuân nồng trong nắng đông.
Hạt Sương Nho Nhỏ 2 – Thơ: Trầm Hương Thơ – Nhạc: Phanxicô:
https://www.youtube.com/watch?v=SGAYiaJpf-4 -
Trần Quang Hải – Thơ tình Anh Việt ngữ

-
DÂN CA DÂN NHẠC VN – LÝ MIỀN NAM
Miền Nam nước Việt chúng ta là một lảnh thổ có một lịch sử trải dài qua nhiều thời đại, khởi thủy bằng Vương quốc Phù Nam từ thế kỷ 1.
Phù Nam (tiếng Phạn: नाम) là một quốc gia cổ trong lịch sử Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Công Nguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Theo nhiều thư tịch cổ Trung Hoa, thì trong thời kỳ hưng thịnh, Vương quốc này về phía Đông, đã kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ (Việt Nam), về phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Mã Lai.
Quốc gia này tồn tại cho đến khoảng nửa thế kỷ 7 (sau năm 627) thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp. Mãi đến thế kỷ 17-18, phần lãnh thổ xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam, tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ ngày nay.
Chân Lạp (tiếng Khmer: ចេនឡា/Chenla, phát âm: Chên-la; Hán-Việt: 真臘) có lẽ là Vương quốc đầu tiên của người Khmer tồn tại trong giai đoạn từ khoảng năm 550 tới năm 802 trên phần lảnh thổ phía Nam của bán đảo Đông Dương gồm cả Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện nay.
Chân Lạp-Phù Nam, vào năm 600.
Triều đại các vị vua của Vương quốc Chân Lạp theo truyền thuyết có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại “Campu”, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Từ “Campu” cũng bắt nguồn cho tên gọi của Campuchia sau này.Các vương quốc láng giềng xung quanh vào thời kỳ ban đầu của họ là Chăm Pa ở phía Đông, Phù Nam ở phía Nam và Dvaravati (thuộc Thái Lan ngày nay) ở về phía Tây Bắc.
Ban đầu là một nước chư hầu của Vương quốc Phù Nam (khoảng cho tới năm 550), trong vòng 60 năm sau đó nước Chân Lạp đã giành được độc lập và dần dần lấn lướt Phù Nam. Đến thế kỷ 6 thì họ đã xâm chiếm được miền Bắc của Phù Nam. Cuối cùng, trong thế kỷ 7 (khoảng giai đoạn 612-628), Chân Lạp đã xâm chiếm toàn bộ Phù Nam, chiếm toàn bộ dân cư của Vương quốc Phù Nam nhưng lại hấp thu nền văn hóa của họ. Năm 613, Ishanapura trở thành kinh đô đầu tiên của đế quốc mới Chân Lạp.
Bản đồ Đế quốc Khmer (Khmer Empire) cuối thế kỷ 12.
Đế quốc Khmer, tách ra từ Vương quốc Chân Lạp, là một cựu đế quốc rộng lớn nhất Đông Nam Á (với diện tích lên đến 1 triệu km², gấp 3 lần Việt Nam hiện nay) đóng trên phần lãnh thổ hiện nay thuộc Campuchia, đã từng cai trị và có phần đất phiên thuộc mà ngày nay thuộc lãnh thổ của các quốc gia: Lào, Thái Lan và miền Nam Việt Nam.Sự khởi đầu của kỷ nguyên Vương quốc Khmer Angkor được cho là bắt đầu từ năm 802 sau Công nguyên. Trong năm này, vua Jayavarman II đã tự xưng “Chakravartin” (Hoàng đế của thiên hạ).
Trong quá trình tạo lập nên đế chế này, người Khmer đã có các mối quan hệ thương mại với Đế quốc Java và sau đó với Đế quốc Srivijaya giáp biên giới Đế quốc Khmer về phía Nam. Di sản lớn nhất của Đế quốc Khmer là Angkor – kinh đô của Đế quốc này vào thời cực thịnh của nó. Angkor là chứng tích của sức mạnh và sự thịnh vượng của Đế quốc Khmer và cũng là hiện thân của nhiều tín ngưỡng mà nó đã mang trong mình. Các tôn giáo chính thức của đế chế này là: Ấn Độ giáo, Phật giáo Đại thừa cho đến khi Phật giáo Nam truyền chiếm ưu thế sau khi được du nhập từ Sri Lanka vào thế kỷ 13.
Tuy nhiên tới năm 1431, cuối cùng thì Angkor thất thủ trước quân Thái. Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 là giai đoạn suy tàn liên tục và thu hẹp đất đai của Đế quốc Khmer. Từ giữa thế kỷ 15, Đế quốc Khmer liên tục bị các cuộc xâm lăng của vương quốc Ayutthaya (Thái Lan cổ) tàn phá. Angkor liên tục bị chiếm đóng và tàn phá.
Tượng vũ nữ bằng đá thời Phù Nam, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng An Giang.
Sang đầu thế kỷ 17, Đế quốc Khmer có sự gắng gượng ổn định đôi chút dưới thời vua Chay Chettha II, tuy không thể bằng các thời kỳ trước đặc biệt là thời Angkor, với việc thành lập một thủ đô mới tại Oudong năm 1618. Vua Chey Chettha II đã mở rộng quan hệ với chúa Nguyễn ở Đàng Trong của Việt Nam, để cân bằng ảnh hưởng từ vương quốc Ayutthaya của Thái Lan. Ông đã cho phép một số ít người Việt đến sống tại Prey Nokor (sau này là Sài Gòn). Bằng sức ép lên đất nước còn đang suy yếu, vua chúa Việt Nam từ từ chiếm được tất cả các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bắt người Khmer phải đổi họ, tên theo tiếng Việt.Từ giữa thế kỷ 17 trở đi, Đế quốc Khmer trở nên suy yếu trầm trọng trước hai láng giềng hùng mạnh và tham vọng bành trướng là Xiêm và Đàng Trong (Việt Nam). Sự định cư của người Việt ở châu thổ sông Cửu Long từ đầu thế kỷ 17 dẫn tới việc họ sáp nhập hoàn toàn vùng đó vào năm 1757, vì thế Đế quốc Khmer mất một trong những vùng lãnh thổ trù phú nhất của họ.
Đến cuối thế kỷ 17, Đại Việt hoàn thành việc chiếm đóng vùng đất Miền Nam, Việt Nam bây giờ.
Một hố khai quật khảo cổ trong khu di tích Nam Linh Sơn, nằm cách chùa Linh Sơn (Ba Thê) 60m.
Một hố khai quật khảo cổ trong khu di tích Nam Linh Sơn, nằm cách chùa Linh Sơn (Ba Thê) 60m.
oOoDân ca Dân nhạc cổ truyền của mỗi dân tộc trên thế giới đều có những nét đặc thù độc đáo riêng biệt. Những nét đặc thù độc đáo riêng biệt này đã đóng góp tạo nên một kho tàng văn hóa phi vật thể vô giá trên toàn cầu cho mọi người.
Dân ca Dân nhạc cổ truyền Việt Nam có những âm điệu ngũ cung đa dạng, phong phú. Những âm điệu và ca khúc dân dã này đã được sáng tác và truyền miệng trong dân gian qua nhiều thế hệ sau khi đã được gọt giũa, sàng lọc, phổ biến, vững bền cùng năm tháng.
Nền âm nhạc cổ truyền này mang âm hưởng của nhiều vùng miền cùng với nhiều thể loại trên khắp cùng đất nước. Và hôm nay mình trân trọng giới thiệu đến các bạn từng thể loại của từng vùng miền và trong những bài kế tiếp.
Đầu tiên mình giới thiệu đến các bạn các thể loại “Dân ca Miền Nam” ở miền Nam nước Việt. Câu châm ngôn “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò” là câu đã được sự đồng tình của đa số các nhà nghiên cứu nền dân ca truyền thống Việt Nam.
Trong dân ca miền Nam, “Lý” là một làn điệu dân ca đặc trưng của những người nông dân mộc mạc chất phát. Những lời ca trong những điệu “Lý” luôn nói lên tinh thần tích cực và sức sống mạnh mẻ của nông dân, lời lẽ thường chân thật và mộc mạc, không văn chương, nhưng diễn tả tình cảm bộc trực mà đậm đà.
Dưới đây mình có bài “Hồn Quê Trong Các Điệu Lý Đồng Bằng Sông Cửu Long” của Trân Phạm, và bài “Hát Lý Và Những Điệu Lý Nam Bộ” của ông Nguyễn Hữu Hiệp để các bạn tiện việc tham khảo về bộ môn nghệ thuật dân gian đặc thù này của miền Nam chúng ta.
Theo khám phá của các nhà nghiên cứu, Dân ca Miền Nam có trên vài trăm bài “Lý”. Nhưng phổ biến nhiều nhất trong dân gian là các bài mà mình xin tạm giới thiệu đến các bạn sau đây… Lý Chiều Chiều, Lý Con Sáo, Lý Chim Quyên, Lý Quạ Kêu, Lý Kéo Chài, Lý Cây Bông, Lý Con Sam, Lý Ngựa Ô, Lý Cái Mơn.
Đồng thời mình còn có 12 clips tổng thể các điệu “Lý Miền Nam” giới thiệu đến các bạn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Chiều Chiều. Hồn Quê Trong Các Điệu Lý Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trong kho tàng văn hóa dân gian của Việt Nam, dân ca có một vị trí quan trọng. Dân ca khắp ba miền Bắc Trung Nam có lịch sử hình thành khá lâu đời và dân ca Tây Nam bộ là một bộ phận của dân ca Nam bộ, có nguồn gốc từ những khúc hát cung đình (ngũ cung) lan ra giao thoa với ca hát dân gian (hát dâng bông, bóng rỗi) rồi biến hóa, linh động từ nội dung và hình thức, cô đặc lại, cấu thành món “đặc sản” tinh thần của người bình dân.
Tây Nam bộ hay Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất được tiền nhân khai mở sau cùng trong quá trình Nam tiến. ĐBSCL với địa hình thấp, mênh mang sông nước, vừa có biển lớn nhiều cá tôm, vừa có đồng bằng phì nhiêu rộng lớn, vườn tược xanh tươi, ở phía Tây Nam còn có núi non hùng vĩ. Cư dân ĐBSCL xưa nay được tiếng hiền lành, chân thật, cần cù, nhân nghĩa rạch ròi, cởi mở, hiếu khách và có lối sống thích nghi, sáng tạo. Dân ca Tây Nam bộ hầu như phản ánh hầu hết các nội dung trên.
Thông thường, nói đến sinh hoạt ca hát dân gian vùng ĐBSCL, nhiều người hình dung đến chiếu đờn ca tài tử, hoặc những bài bản vọng cổ giữa mênh mang sông nước. Nhưng sẽ là thiết sót nếu bỏ qua những điệu hò, hát ru và đặc biệt là các điệu lý xuất hiện khá nhiều trong sinh hoạt văn hóa dân gian và thường được dùng như một chất liệu để làm phong phú thêm các bài bản vọng cổ hay các vở cải lương. Lý là những khúc hát ngắn gọn với nhịp điệu phong phú và sinh động.
Lời hát của lý đa phần có vần điệu dễ nhớ nhưng khác với ca dao, hò, vè ở chỗ lý mang tính nhạc (hát), trong khi ca dao, hò, vè mang thuộc tính của thi ca (thơ). Các bài lý tiêu biểu, đại diện cho dân ca của các “miệt”, địa phương miền Tây Nam bộ như: Lý ngựa ô, Lý Cái Mơn, Lý cây bông, Lý con sáo Gò Công (Lý con sáo sang sông), Lý con sáo Bạc Liêu, Lý quạ kêu, Lý chiều chiều, Lý bông dừa, Lý Năm Căn, Lý Ba Tri, Lý tòng quân, Lý Mỹ Hưng, Lý kéo chài, Lý qua cầu… Các bài lý có nhịp điệu sinh động nhưng vẫn giữ sự chân chất mộc mạc, pha chút cảm giác mênh mông của hò. Lý cũng có những phân biệt câu cú, khúc, đoạn; phần âm điệu mạch lạc, nhất quán, không cầu kỳ. Mỗi bài lý cũng có thể có nhiều lời ca, soạn giả có nhiệm vụ quan trọng là làm sao cho lời ca mượt mà đi vào lòng người, hòa quyện với giai điệu.
Cũng như âm điệu, mỗi điệu lý đều có một nội dung rõ rệt, hoặc phổ biến những kinh nghiệm sản xuất, ca ngợi những đức tính, thiên nhiên tươi đẹp, hoặc oán trách nhau, hoặc mỉa mai, châm biếm bọn lý trưởng, cường hào… Nghiên cứu về dân ca Tây Nam bộ, người ta thấy rằng hầu như đa phần trong các điệu lý đều có hình bóng con sông, bến nước, làng quê và những làn điệu trữ tình tha thiết ấy luôn chứa đựng tình cảm nhớ quê hương, nhớ về ký ức lứa đôi nơi quê nhà. Ví dụ như lời ca trong bài “Lý Cái Mơn”:
Đàn cò bay về nơi thương nhớ
Nhớ bến sông xưa in hình bóng của người yêu…
… Sắc hương hoa đôi bờ sóng vỗ tình quê
Có hay chăng thuyền xa bến bến trông thuyền về
Thuyền tình ơi hãy chờ đợi ta bao tháng năm trôi qua
Nhưng người xưa vẫn luôn ngóng đợi tình chungly11
Không gian làng quê hiện ra thơ mộng, lãng mạn với nỗi hoài niệm man mác. Hay trong bài “Lý qua cầu”:
Trời bình minh chim về đây líu lo trên cành
Như mọi ngày dòng sông với con đò mong manh…Bài Lý qua cầu cũng nói về một mối tình trên dòng sông, bến nước có cô lái đò và người lữ khách. Và chuyện tình ấy có kết cuộc dang dở, buồn tênh! Một bài lý nữa cũng gắn liền với sông nước- “Lý bông dừa”:
Sông dài còn chảy xuôi theo dòng
Mà sao xa vắng em tôi biết tìm nơi đâu
Dòng sông còn chứa chan ân tình
Nay dang dở tình đầu ta còn gắn đợi ai…Tóm lại, các điệu lý ĐBSCL thường nghe mượt mà, dễ thương với vần điệu, lời ca giàu chất trữ tình, mang nhiều nỗi niềm hoài niệm quê hương, tình yêu, làng quê, dòng sông bến nước. Do đó các điệu lý thường khá dễ hát, dễ biểu diễn và cũng dễ đi sâu vào lòng người. Lý cũng như nhiều thể loại dân ca cổ nhạc khác đã in sâu vào lòng người đồng bằng, từ thuở tiền nhân khai mở đất phương Nam. Ngày nay các điệu lý là một bộ phận không thể thiếu được trong biểu diễn dân ca cổ nhạc. Những điệu lý với lời ca đẹp; nghệ sĩ – nghệ nhân biểu diễn đúng chất luôn được người thưởng thức trân trọng và mến mộ.
(Trân Phạm)
ly26
Hát Lý Và Những Điệu Lý Nam Bộ
Trên hầu khắc đất nước ta, nơi nào cũng có xuất hiện, định hình những làn điệu dân ca trữ tình rất ngọt ngào, đáng yêu. Có không ít làn điệu đã trở thành đặc sản của địa phương, khu vực, như hát ả đào, hát nói, hát đám, hát quan họ, hát huê tình, nói thơ, hò lờ… Nhưng chung nhất và phổ cập nhất của thời trước là “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”.
Giúp ta hiểu rõ thêm câu tục ngữ này, ông Trương Vĩnh Ký giải thích trong “Giáo trình Hát, lý, hò An Nam” (in thạch bản, 1886): “Người trong Nam (từ Đồng Nai ra tới Quảng Nam) thì hát lý hay hơn cả; còn ca, phú, thơ, vịnh thì người miền Bắc; còn về việc hò thì tại nơi kinh kỳ (Huế)”. Lẽ dĩ nhiên từ “hát” nói ở đây không mang hình thức diễn xướng như hát bội, hát cải lương… nó đích thực là một thể loại dân ca đặc hữu của những người thôn dân chân chất. Hát lý không chỉ đã đi vào sinh hoạt đời sống nhân dân ta từ hàng nghìn năm trước mà di sản văn hóa phi vật thể này còn biểu thị tinh thần lạc quan, sức sống mãnh liệt của dân tộc.
Chính vì thế nên khi xua quân xâm lược nước ta, vua Minh (Thành Tổ) ban chỉ dụ: “Một binh lính vào nước Nam… hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ nhỏ… một mảnh, một chữ đều phải đốt hết…” (đạo dụ ngày 21/8/1406). Rồi không đầy 9 tháng sau, ngày 16/5/1407, Minh Thành Tổ lại ban thêm một đạo chỉ dụ nữa, nội dung nhắc lại tinh thần chỉ dụ trước, đồng thời quở trách các tướng sĩ, khi bắt gặp “những thứ ấy” thì phải ra lệnh đốt ngay chứ không được xem rồi mới đốt, tức phải y lịnh thi hành cho nhanh, cho triệt để! Song như chúng ta đều đã biết, chẳng những họ đã không làm được điều đó mà còn bị nghĩa quân của Lê Lợi quét sạch ra khỏi cõi bờ! Nước nhà độc lập, tự chủ. Thế là giọng lý lại được tôn vinh, cất cao lên khắp các thôn làng! Nhân dân hát lý ở bất cứ nơi đâu, bất cứ vào dịp nào: một mình lúc đang làm đồng, chèo ghe, nghỉ lưng trên cánh võng; hoặc cùng bạn bè trong những cuộc hội hè, tết nhứt, giỗ quải…, có kẻ xướng người xô càng thêm hứng khởi. Ở miền Nam xưa được các nghệ sĩ xếp đứng đầu trong các điệu hát: “Nhứt lý, nhị ngâm, tam Nam, tứ oán…”.
Ta biết, lý là quê mùa, là điệu hát mà ca từ chính là những câu phong dao, ca dao được đệm lót thêm một số nhóm từ, cụm từ, tuy là “hư từ”, sáo rỗng và vô nghĩa nhưng lại rất cần để nhằm ngâm nga, đẩy đưa, hỗ trợ làn hơi, đồng thời nghệ nhân cũng hát xen những tiếng láy, điệp ngữ – chính là điệp khúc… làm cho tiết điệu thêm mượt mà, khúc chiết, khi thì tình tứ thiết tha, khi thì buồn thảm não nùng, khi thì nhẹ nhàng phấn khởi… Chính nhờ đề tài và nội dung phản ánh mọi hiện tượng xảy ra trong sinh hoạt đời thường của ca dao, nói được những góc cạnh tình cảm trong cuộc sống, và cũng nhờ ca từ giản dị tươi vui, dí dỏm nên lý dễ đi vào lòng người, rất được người bình dân ưa chuộng.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Ngựa Ô.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Ngựa Ô. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Về lý, ông Huỳnh Tịnh Của có giải thích và phân biệt rõ trong Đại Nam quốc âm tự vị (Imp, Rey Curiol & Cie Saigon, 1895):Hát lý: Hát bắt nhịp, giọng cao giọng thấp, lặp đi lặp lại.
Lý hát: Và kể và hát có mau có chậm (hiểu là vừa kể vừa hát… và “hát theo điệu ca ngâm”).Mà ca ngâm thì “muôn màu muôn vẻ”, thành ra hát lý phong phú đến mức có đến hàng trăm điệu (gần như mỗi bài là một điệu). Hiện người ta đã sưu tầm được ngót 160 bài! Con số này sẽ không dừng lại nếu các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian có điều kiện thực hiện thêm những chuyến điền dã tâm huyết.
Trong khẩu ngữ thông thường, dân gian ít phân biệt ca lý và hát lý, vì vậy ở khía cạnh này ta có thể hiểu ca hát là một. Về điệu lý, theo Lư Nhất Vũ – Lê Giang tác giả Tìm hiểu dân ca Nam Bộ thì, cũng như ở Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ, ông bà ta ở Nam Bộ có mấy cách đặt tên cho nhiều điệu lý, đại thể:
a) Lấy nội dung lời hát (ca dao) mà đặt: lý con cúm núm, lý con sam, lý con sáo, lý ngựa ô, lý cây bần, lý cây gòn, lý trái bắp, lý trái mướp, lý dầu dừa, lý mù u, lý bình vôi, lý cái phảng, lý chúc rượu, lý qua cầu, lý cấy, lý đương đệm, lý cảnh chùa, lý vọng phu v.v.
b) Lấy mấy chữ đầu câu hát mà đặt: lý con cua, lý con chuột, lý con mèo, lý chim chi, lý chim sắc, lý chim chuyền, lý cây xanh, lý cây bông, lý cây ớt, lý mạ non, lý dừa tơ, lý trồng hường, lý chẻ tre, lý chiếu bông, lý chiều chiều, lý bánh canh, lý dĩa bánh bò, lý ông hương, lý nàng dâu, lý ba xa kéo chỉ, lý xăm xăm, lý liễn vũ v.v.
c) Lấy tiếng đệm lót hoặc tiếng láy đưa hơi mà đặt: lý í a, lý băng rù, lý bằng lưu thủy, lý bằng rằng, lý cống xê xang, lý giọng ứ, lý hố khoan, lý hố mơi, lý kỳ hợi, lý lu là, lý tú lý tiên, lý rị đa (hoặc lý đu đê), lý rường ơ, lý tang tình, lý ợ, lý yến ảnh v.v.
Nghệ sĩ Linh Phượng
Nghệ sĩ Linh Phượng. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Ngoài ra người ta còn dựa vào xuất xứ của loại hình ca bóng rỗi mà đặt tên các điệu lý giọng bông; dựa vào đặc tính của nhóm tiếng đệm mô phỏng các bậc âm của “chữ đờn” dân tộc; hoặc tiếng tụng niệm kinh kệ mà đặt tên như: lý bản đờn, lý cống chùa v.v.Cũng có trường hợp lấy địa danh để đặt cho: lý Ba Tri, lý Cái Mơn… Điều này ít thấy phổ biến trong dân gian. Tất nhiên vẫn có trường hợp cùng một làn điệu nhưng mang tên lý khác nhau, và ngược lại. Việc phân loại chỉ mang tính tương đối bởi “định danh” như vậy không thể tránh được tình trạng nhập nhằng – nhập nhằng cả về việc “định lượng” nữa.
Theo chiều dài lịch sử và tiến trình mở nước, ca dao dân ca lan toả khắp nơi, tuỳ theo hình thái địa lý, hoàn cảnh xã hội, và nhất là do cách phát âm từng nơi mà dân ca nói chung, điệu lý nói riêng có sắc thái mang dấu ấn của vùng miền, chung nhất là dân ca ba miền. Rồi do giao lưu, tiếp xúc mà âm điệu, thanh điệu và cả những tiếng đưa hơi cũng được biến hóa, co giãn, làm cho làn điệu thêm phong phú, đồng thời cũng làm bật lên nét đặc thù ngôn ngữ âm nhạc. Thí dụ như điệu lý con sáo, chỉ với câu ca dao Ai đem con sáo sang sông, Cho nên con sáo sổ lồng bay xa, các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, sơ bộ đã ghi nhận có tới 30 bài, trong đó có 4 bài lý con sáo trung du Bắc Bộ trong hát ghẹo, 3 bài lý con sáo Bắc trong hát quan họ Hà Bắc và hát trống quân, 1 bài lý con sáo Thanh Hóa, 4 bài lý con sáo Huế, Nam Bình Trị Thiên, 2 bài lý con sáo Quảng vùng Nam Trung Bộ, và hơn 10 bài lý con sáo Nam Bộ. Tác giả cuốn sách chuyên khảo về dân ca Nam Bộ đã dẫn có nhận xét: Trong lịch sử âm nhạc chắc chưa có hiện tượng nào cùng một đề tài xuất xứ, từ hai câu ca dao mà có tới hàng chục làn điệu với sắc thái khác nhau và muôn màu muôn vẻ!
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục Liên Khúc Lý miền Nam: Lý Cây Bông, Lý Con Sáo, Lý Chim Quyên, và Lý Quạ Kêu.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Liên Khúc Lý Miền Nam: Lý Cây Bông, Lý Con Sáo, Lý Chim Quyên, và Lý Quạ Kêu. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Vì sao lý “con sáo sang sông – con sáo sổ lồng – con sáo bay xa” được các nghệ nhân dân gian ưa chuộng đến vậy?Lý, ngoài sức cuốn hút nhất định của âm điệu, nội dung của câu ca dao này đã phản ánh trung tâm tư, ước vọng của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân: truyền thống đấu tranh bất khuất, không chấp nhận làm nô lệ, luôn tìm mọi cách để “sổ lồng”, “sang sông”, “bay xa” tìm đến chân trời hạnh phúc. Và, thật kỳ diệu, dân tộc Việt Nam đã làm được điều đó!
Với hàng chục điệu lý như vừa nói, tưởng đã quá đủ để minh chứng tình cảm, cá tính người Nam Bộ – cũng là biểu tượng của sự hiên ngang, phóng khoáng của nhân dân. Nhưng nếu có chút tinh tế, ta sẽ thấy ở vùng miền nào cũng bật lên rất rõ nét sự tôn vinh điệu lý! Nếu lý ngựa ô đã có cuộc hành trình khắp nước thì lý con sáo cũng là bài lý thuộc loại dân ca ba miền, được các soạn giả dựa theo các làn điệu của lý mà sáng tác lời mới để mồi cho một làn điệu, một lớp, hay chuyển sang một ý khác đang diễn trên sân khấu nhằm làm thay đổi “thính vị” người nghe. Nó thường được đưa xen vào những bài vọng cổ, ca nhạc cải lương vì trước hết, đó là một điệu thức quen thuộc, dễ ca, có vui, có buồn nên dễ cảm nhận (nhưng dùng điệu lý trong những trường hợp vui dễ thành công hơn) như lý con sáo, lý giao duyên, lý vọng phu, lý ngựa ô, lý Phước Kiến, lý thập tình…
Trong khuôn khổ của một bài viết nhỏ, chúng ta chỉ có thể cảm nhận về lý một cách khái quát và mang tính chung nhất mà thôi. Việc tìm hiểu, phân tích sâu hơn tất nhiên đòi hỏi phải có công trình chuyên khảo dày công của các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, ở đó không thể thiếu phần ký âm từng điệu, giọng của các lão nghệ nhân.
Dưới đây là vài làn điệu lý “cùng lời khác nhạc” mà các nghệ nhân dân gian đã khéo xử lý những tiếng đệm lót, đệm phụ nghĩa, tiếng lý, tiếng đưa hơi, điệp ngữ… để nhằm hoàn chỉnh cấu trúc âm nhạc. Chúng tôi muốn giới thiệu một số làn điệu bài lý con sáo.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Con Sam.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Con Sam. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Trước tiên là bài được hát với tốc độ nhanh, nhịp điệu “nhát gừng”, khoẻ khoắn:– Ai đem con sáo (ký) qua sông (ký) qua sông. Cho nên con sáo (ơ sáo) sổ lồng (à xa mà) bay xa. Cho nên con sáo (á sáo) sổ lồng (ờ xa mà) bay xa (Ai… xa).
Bài khác, hát theo giọng “ợ”, xử lý nhóm tiếng đệm “ừ vậy phải đó thê” với cơ cấu giai điệu cũng như cơ cấu điệu thức rất mượt mà, có duyên (do Huỳnh Ngọc Trảng sưu tầm):
– Ai đem con sáo (này ơ ợ là sông cái) qua sông (bớ em ôi! Dạ ừ vậy phải đó thê).
Cho nên con sáo sổ lồng bay xa (đồn rằng tang tình bớ mà… bay xa).Và một bài nữa với giọng “bằng”, sử dụng cụm từ “ưng ứng ưng” (do Hoàng lê và Trần Kiết Tường ghi):
– Ai, ai đem, ai đem bằng chim sáo, ưng ưng ứng ưng ưng.
Sang sang sang sang sang sông ai đem chim sáo sang sông.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Cho, cho nên, cho nên bằng chim sáo, ưng ưng, ứng ưng ưng.
Sổ sổ sổ sổ sổ lồng cho nên chim sáo sổ lồng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Quay Tơ.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Quay Tơ. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Đúng như câu tục ngữ “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”, một thời hát lý từng được thế nhân coi là một thể loại dân ca trội bật ở miền Nam. Đặc biệt, ở Nam Bộ hát lý có sức cuốn hút rất mãnh liệt, đến mức:Con cua quậy ở dưới hang,
Nó nghe giọng lý kềnh càng bò lên!
(Lý con cua quầy)“Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”, rõ ràng Nam Bộ không chỉ đã kế thừa cái vốn văn hóa cổ truyền có cội nguồn từ miền Bắc mà còn phát triển mạnh mẽ, làm tôn vinh cái vốn chung của dân tộc.
(Nguyễn Hữu Hiệp).
Article link: https://dotchuoinon.com/…/14/dan-ca-dan-nhac-vn-ly-mien-nam/
-
GSTS Trần Quang Hải biểu diễn đàn môi

-
GS.TS. Trần Văn Khê phát biểu về độc đáo ca trù và sáng tạo hát thơ (2002)

-
CÕI ĐẸP

Cao Huy Thuần
Qụyển sách nhỏ này động đến một giai đoạn lịch sử lớn, lớn về mọi mặt: chính trị, xã hội, phong hóa, ngôn ngữ, văn chương, báo chí, mỹ thuật – nói chung là văn hóa. Chỉ trong vòng mười lăm năm, từ 1930 đến 1945, dằng co giữa cái cũ và cái mới trong xã hội đẩy dần cái cũ vào bóng tối đồng thời với những chuyển biến chính trị chấm dứt một quá khứ thuộc địa đau thương. Giới hạn trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay là hai mũi dùi bén nhọn nhất trong chiến trận giữa cũ và mới, đưa Lý Toét lên địa vị danh tướng có một không hai trong lịch sử báo chí Việt Nam.
Chị Phạm Thảo Nguyên là một trong những người đã có công lớn sưu tầm để đưa lên mạng toàn bộ Phong Hóa và Ngày Nay tản mác khắp nơi. Đọc lại hai tờ báo oanh liệt một thời ấy, chị có dịp khám phá thêm tài ba xuất chúng của Nhất Linh trong những địa hạt mà ít người biết đến, nhất là mỹ thuật. Ngoài tiểu thuyết, Nhất Linh còn là họa sĩ, từng thi đậu vào trường Mỹ thuật Đông Dương, từng vẽ tranh trong báo, từng tạo không gian đẹp cho báo bằng tranh của các họa sư, chưa kể là cha đẻ của Lý Toét. Nhưng công lớn nhất về mỹ thuật của Nhất Linh, nghĩa là của Phong Hóa và Ngày Nay, là đưa một tài ba hiếm có lên ngai vàng của một vương quốc mà tôi xin được gọi là Cõi đẹp. Tài ba ấy là Cát Tường, tác giả của “Áo dài Lemur”, chiếc áo đã nhập vào hình hài Việt Nam một cách hài hòa đến nỗi bây giờ nghiễm nhiên trở thành biểu trưng của bản sắc Việt Nam. Mượn giọng trào phúng của Phong Hóa và Ngày Nay, Cát Tường trào phúng hóa tên mình để đặt tên cho tác phẩm: tiếng Pháp “le mur” là cái tường, là bức tường, tên ấy cũng là cái mới đang đánh nhau với cái cũ, cái cũ ở đây là hai chữ Hán “Cát Tường”, rất bác học, rất nghiêm trang, rất không biết cười. Ông Cát Tường đưa tiếng cười vào áo: áo dài Lemur trước hết là một tiếng cười, tiếng cười trẻ trung, tươi vui, lạc quan, yêu đời của những nhan sắc đôi mươi thấy mình đã là bướm, không còn bị giam giữ nữa trong chiếc kén bí hiểm của gia đình, xã hội. Phải đặt áo ấy vào trong bối cảnh tươi vui của Phong Hóa và Ngày Nay mới thấy rõ toàn diện bức tranh của một xã hội chuyển mình, đổi mới từ trong ra ngoài, từ tâm hồn đến y phục.
Chúng tôi sinh ra trong khoảng thời gian chuyển mình ấy, nhưng quá nhỏ và lại ở chốn quê mùa, chỉ biết ông Cát Tường qua một mẫu áo dài duy nhất. Gần đây, nhờ xem một buổi trình diễn áo dài để kỷ niệm tác giả của áo, và bây giờ đọc sách này của chị Phạm Thảo Nguyên, tôi mới được biết ông Cát Tường không phải chỉ vẽ một mẫu áo mà nhiều mẫu áo dài khác nhau để mặc tùy mỗi hoàn cảnh, khi đi dự tiệc, khi đi chơi mát, khi hóng gió biển, khi trời lạnh mùa đông, khi nóng bức mùa hè, khi xuân đến, khi thu sang, mùa nào màu sắc nấy, ngày đêm đậm nhạt đổi thay, sang trọng, duyên dáng, thướt tha, hoa bay bướm lượn. Cảm tưởng gì gợi lên trong tôi? Không thể kể lịch sử của chiếc áo Lemur, cũng như không thể kể Tự Lực văn đoàn, tách rời khỏi sự xuất hiện tươi mát của một giai tầng xãhội trung lưu, trí thức, mơ mộng cái mới, giã từ cái cũ. Gọi họ là “tiểu tư sản” thì cũng được thôi, nhưng không có “tiểu tư sản” ấy thì không có sáng tạo Lemur này.
Nói như vậy không có nghĩa là chỉ có “tiểu tư sản” mới sáng tạo ra cái Đẹp. Chị em nông thôn ta ngày trước đã sáng tạo ra chiếc yếm mỹ miều. Nhưng áo dài Lemur có cái đặc sắc kỳ diệu là vượt ra khỏi lý lịch khai sinh tiểu tư sản để ban quốc tịch Việt Nam cho mọi người, không phân biệt ngoài hay trong, quê nhà hay lưu đày tứ xứ, ban cho cả người nước ngoài muốn có cái hãnh diện được làm “dâu Việt Nam”. Mẹ tôi ngày trước, khi khách đến nhà, phải mặc áo dài rồi mới ra ngồi trên phản tiếp khách. Lễ lược, cưới xin: áo dài. Dân thị thành còn bắt chước Âu Mỹ mặc áo đầm cho cô dâu; phụ nữ thôn quê có lễ phục nào trang trọng hơn: áo dài? Thậm chí, ở Huế ngày trước, nóng nực dường ấy, mà các chị bán cháo bán chè, khi quảy gánh ra đường, cũng mặc áo dài. Đâu là tiểu tư sản? Cái đẹp tiểu tư sản thuở khai sinh biến thành cái đẹp đạo đức của mọi tầng lớp. Thậm chí hơn nữa, áo dài còn xuất hiện trong cả đấu tranh chính trị ở nước ngoài. Cầm cờ đi đầu biểu tình hay cầm biểu ngữ, chắc chắn phải là hai phụ nữ, hai chiếc áo dài. Báo chí Paris vừa đăng lại hình ảnh ấy để kỷ niệm 50 năm một năm 1968 lịch sử. Có người Việt Nam nào không thấy hồn của mình phất phới trên tà áo dài duyên dáng kia?
Từ hình ảnh, xin bắt qua bài hát. Chúng tôi, nhi đồng thuở ấy, đứa nào mà không hát Lưu Hữu Phước? Đứa nào mà không yêu nước khi hát các bài ca của ông? Nhưng Lưu Hữu Phước đâu phải chỉ có anh hùng ca! Ông còn tình tứ, lãng mạn, ga-lăng, và đặc sệt tiểu tư sản với các cô gái thanh xuân trong hành khúc mang tên là “Thiếu nữ Việt Nam”. Thiếu nữ nào vậy?
Trông hoa xuân thắm tươi trên muôn cành
Lòng niên thiếu chan chứa hương xuân
Reo lên trong nắng mớitrong vui mới
Vì chị em ấy hoa của đời.Thiếu nữ nào cũng là mùa xuân cả, thiếu nữ nào cũng là hoa xuân cả, thiếu nữ nào cũng là nắng mới cả. Nhưng hát lên trong giaiđoạn Cát Tường ấy, hát lên trước chiếc đũa thần của chàng nhạc trưởng sinh viên Hà Nội ấy, khó mà tưởng tượng có bóng dáng một chiếc liềm cùng đi trong hành khúc, khó mà tưởng tượng không có hoa bướm áo dài tung bay trong hứng khởi của người sáng tác. Toàn là thiếu nữ Cát Tường cả thôi. Toàn là những xuân thì mới mẻ, vui sống, yêu đời, gieo rắc tiếng cười lạc quan quen thuộc trong văn chương Tự Lực văn đoàn, Ngày Nay, Phong Hóa. Cùng với văn chương ấy, tiểu tư sản không kém một phân, Lưu Hữu Phước thúc đẩy chị em:
Đi ta đi dắt nhau ta đi lên cùng
Và ca hát trong ánh nắng mai
Reo tươi vui khắp nơi reo vui sống
Vì chị em ấy hương của đờiĐồng nội cũng có hương hoa, nhưng khó mà tưởng tượng hương hoa bay lên trong hành khúc không phải là những tiên nga Hà thành, đối tượng của Cát Tường, tha thướt với Lemur. Thế nhưng, ngay trong chốn quê mùa của tôi, ai mà chẳng thấy mình cũng đi, vô duyên quá, con trai gì màđi với con gái, nhưng gái trai đâu có phân biệt gì trong tiếng reo vui từ cùng một lổng ngực của tuổi trẻ? Nắng, hoa, hương của trời đất là tài sản chung, có riêng ai là triệu phú, riêng ai là vô sản đâu! Và cái Đẹp, ở đâu mà chẳng có, nếu biết nhìn một bông hoa thì ngay cả một bông cỏ hèn mọn cũng chứa đựng tất cả diễm lệ của vũ trụ.
Bởi vậy, chẳng lẽ có ai ganh tỵ với những chiếc áo dài tươi vui trên sân khấu thị thành, chẳng lẽ có đôi vai quang gánh nào mỉa mai “Thiếu nữ Việt Nam” trong hành khúc không phải là tôi? Chẳng lẽ có anh chàng lý thuyết gia nào còn lẩm nhẩm ôn bài học “quan niệm đẹp của giới thống trị là quan niệm đẹp thống trị”? Này anh ơi, có ai không hãnh diện cái đẹp của áo dài là cái đẹp Việt Nam, hơn thế nữa, là cái Đẹp trong Cõi Đẹp mà ai cũng là nghệ sĩ, mà ai cũng là trọng tài của chính mình?
Hỡi linh hồn của tác giả áo dài Lemur, trong Cõi đẹp của ông có bóng dáng giai cấp chăng?
Cao Huy Thuần
