• Văn Thơ

    Hương vị đời

    Nguyễn văn Sâm

    Hương vị đời
    Chút đăng đắng trong cuộc sống 
    cũng là chút hương vị đời. (NVS)


    Thằng Chà hí hửng cầm hai cuốn truyện Tàu bước qua ngạch cửa khi trời vừa hừng sáng. Bữa nay chúa nhựt ba nó ở nhà nhưng đã cho phép nó đi đổi truyện. Ngày thường ông đạp xe máy ra Trà quít làm việc tối mịt mới về, lợi dụng giờ giấc nó tự ý đi không cần phép tắc, nhưng khi ông ở nhà thì phải hỏi phải thưa. Nó bước nhè nhẹ ngang qua chuồng gà tính mở cửa ngỏ thì con Ô nhảy ra chuồng hồi nào không biết lật đật chạy theo quấn quít bên chưn. Con Ô thân thiện thiệt tình nhưng sáng nay sự thân thiện đó không làm cho thằng Chà khoái chí chút nào. Hai cuốn truyện Tàu được đưa ra quơ quơ làm võ khí nhưng con Ô chỉ cần né đầu là tránh được dễ dàng rồi cứ lẩn quẩn theo cản chưn trở cẳng. Thằng Chà tức khí đứng lại tính ăn thua đủ thì con Ô cũng khựng lại, ngóng cao cổ đập cánh phành phạch rồi cất tiếng gáy. Không khí đương yên tĩnh bỗng sôi động lên, đàn gà mái nhao nhao vừa cục tác vừa gục gặc đầu đủng đỉnh đi tới đi lui trong chuồng hay chõ mỏ qua khe rào kêu réo. Thằng Chà thừa cơ hội, lận hai cuốn truyện vô bụng, kéo áo phủ xuống, cuốn nào cũng đã được chủ nhơn đóng bằng giấy dầu nên nó không sợ mồ hôi làm ướt. Mau chưn nó phóng ra ngoài. Con Ô sau một giây ngơ ngác, chạy đuổi theo chủ chừng 5, 7 thước thì bỏ cuộc, quay vô bay đậu lên hàng rào chuồng chừng một vài phút rồi nhảy xuống hăm hở rượt đuổi bầy thê thiếp, không còn tha thiết gì tới chủ nữa.
    Đã tờ mờ sáng. Đằng xa kia, nơi chưn trời một chút ánh hồng bắt đầu ló dạng. Tiếng ếch nhái đã hết inh ỏi. Màn sương khuya và gió lạnh báo hiệu cho thằng Chà bằng một cơn nhảy mũi dài tiếp theo một cái rùng mình nổi ốc từ duới chưn cẳng lên tới tay chưn. Nó kéo hai vạt áo lại sát nhau, bẻ cao cổ áo rồi lấy tay đập nhè nhẹ lên đầu để cái nón nỉ cũ của cậu nó vạt ra cho được chắc hơn. Nó nhắm hướng cầu Ngang đi miết…
    Con đường đê tháng Hè đất cứng, chủ ruộng đã xắn đất đắp nện tạo một chút phẳng phiu xe máy chạy được, nhưng với đứa đi chưn không như nó một lúc thì thấy hơi nhói nhói dưới gót. Nó cảm thấy vậy thôi, không quan trọng lắm nên vừa đi vừa suy nghĩ tới lúc gặp mặt con Quyên đổi hai cuốn truyện nầy lấy hai cuốn truyện khác. Tùng dịp nói vài ba chuyện bâng quơ ngó mặt cho đở nhớ.
    Nghĩ tới đây thằng Chà cười hí hí một mình, nhảy chưn sáo vài ba cái trước khi đi lại như bình thường.
    Mấy người đàn bà đi chợ sớm bước mau qua mặt nó. Một người quay lại hỏi chọc:
    ‘Chà, Chà, mầy đi xóm sớm ha! Đi đổi truyện Tàu hay đi thăm nhỏ Quyên đó mậy?’
    Một bà xồn xồn, bà con xa với phía ba nó, lên giọng răn đe của người trưởng thượng:
    ‘Coi chừng đó, nó lớn hơn mầy hai tuổi lận, lơ mơ nó đánh cho sặt máu mũi. Năm sau thì nó tới tuổi bẻ gảy sừng trâu, vật mầy như vật ếch, đừng có tưởng bở!’
    Chị ta nói tới đây thì như thích thú day qua phân bua với người đồng hành:
    ‘Chị coi, con nhỏ lớn sộ, thằng nầy có chút nhí mà tối ngày tò vè, xẩn quẩn. Muốn lắm nên kiếm chuyện tới lui hoài. Mà khổ, con nhỏ coi bộ chịu đèn mới chết một cửa tứ mấy thằng trang lứa lối xóm của nó.’
    Chị ta coi bộ hứng chí với lời châm chọc của mình, bèn cười hô hố sau câu nói.
    Người đàn bà đầu tiên thấy vui vui, quay qua thằng Chà, dạy đời:
    ‘Chà mầy đừng có lớ ngớ đứng ngoài vàm nữa nha, không múm vô vàm thì thiên hạ ẳm mất tiêu giờ. Con nhỏ cũng ngộ đến chứ có sứt môi méo miệng gì đâu nà! Da nó lại trắng nữa, dân ruộng rẫy mà như vậy thì kiếm đâu được đứa thứ hai!’’
    Được mợi cái người có bà con bước gần tới vò đầu nó:
    ‘Ối chà! Trước khi đi thăm mèo cậu đã hớt tóc tai đàng hoàng ha. Thầy hù nào mà hớt coi được đến. Con Quyên nó chết mê chết mệt còn gì!’
    Thằng Chà cười cười trong họng mà ngượng ngịu ngang, không trả lời trả vốn gì hết, cắm đầu cắm cổ bước mau qua khỏi đám đàn bà nhiều chuyện. Họ quay qua nói với nhau rậm ran về đề tài trai gái bồ bịch tình tang trong xóm. Nó bối rối, ngó ngoái lại coi họ có nói gì về mình nữa không. Hình như đề tài đã được đổi quaq chuyện cá mắm, chồng con. Nhìn từng cái rổ tre, từng cái giỏ xách đong đưa theo mấy cánh tay đánh đồng xa của các bà, nó nghĩ ngợi bâng quơ về một hình ảnh ôm ấp trong trí.
    Trời sáng lần, âm thanh và cảnh tuợng đêm tối đã được thay bằng giai điệu của hoạt cảnh ban mai. Tiếng gió nhẹ xào xạc qua kẻ lá tre hòa với tiếng nghiến răng của hai thân tre cọ vô nhau theo gió mạnh, tiếng chó sủa xa xa và tiếng lịch bịch của mấy con trâu bị chủ đánh ra đồng…
    Bỗng nhiên thằng Chà xuýt xoa rồi cong một chưn lên, nhảy cò cò. Đổ cộc, nó rủa thầm:
    ‘Mắc dịch mấy thằng cha hút thuốc liệng tàn bậy bạ. Vái cho chết tiệt hết khỏi hại người khác. Tàn thuốc hút rồi cũng không biết liệng xuống ruộng, liệng bậy trên đường đê, con nít đạp nhằm một cái đau thấu mây xanh! Trời mới tưng bửng sáng đã làm tầm bậy rồi! ’
    Nó giơ bàn chưn lên dòm dòm. Tuy đau nhưng cũng không tới nỗi nào. Nó sửa sửa lại hai cuốn truyện Tàu cho yên vị rồi tiếp tục đi. Cây me keo làm ranh giới Xóm Me Keo cuối làng nó với xóm Mả Lạn đầu làng của nhỏ Quyên đã được bỏ lại sau lưng. Mặt trời sau rặng cây bên kia sông đương hé dạng.
    Nó lầm lũi đi tới, chỗ nầy đồng vắng nhưng đất đồng khô nứt nẻ không phải ruộng, mấy tháng trước đội banh hai xóm đá giao hữu được vài lần thì giải tán vì thường xảy ra xích mích, đánh lộn đánh lạo khiến mích lòng mích bề người lớn một thời gian. Nhớ tới chuyện đó thằng Chà xuýt xoa thầm tiếc. Nó thấy lời nói thầy Thìn là đúng: ‘Bây chơi thể thao mà không có tinh thần thể thao chút nào hết! Thường thì phải theo phong cách mã thượng: Ăn không kiêu ngạo hay hạ nhục địch thủ, thua không làm trận làm thượng rồi kiếm cớ gây sự. Điệu nghệ chơi bời là vậy… Ai đời tụi bây bị ôm mấy trái thì bữa sau chận đường đánh thằng đá vô gôn, còn đương đá thì đốn giò, chặt ống quyển mấy thằng giỏi của đội kia. Chơi vậy thì chơi với chó chớ chơi với ai! Cái mửng chơi xấu nầy lớn lên có nước nằm nhà, dầu đá hay cách mấy cũng không ai cho vô hội tuyển trung bình chớ đừng mong gì được vô hội danh tiếng như Ngôi Sao Gia Định hay AJS.’
    Từ hình ảnh thầy Thìn nó nhớ tới hai má lúm đồng tiền của nhỏ Quyên và thấy lòng mình mát rượi, xao xuyến. Nó vừa đi vừa đá một cục đất tròn theo từng bước chưn, tưởng tượng là trái banh mà nó đương lừa để kiếm cách giao cho bạn làm bàn.


    ‘Bữa nay tía đi coi mạch bốc thuốc cho ông quản Hên ở làng bên.’ Nó mừng rơn khi nghe con Quyên báo tin đó. Con nhỏ hí hửng:
    ‘Chà ngồi chơi một lát nha, Quyên đi nấu chè táo xọn hai đứa mình ăn chờ tía về. Có cuốn Phong Kiếm Xuân Thu tía mới mua tháng trước, quí lắm, Chà coi sơ cho đỡ ghiền trong khi đợi chè.’
    Con nhỏ lăn xăn chạy lên chạy xuống vừa lo nồi chè vừa tiếp bạn. Lửa củi nóng hắt làm má nó hồng hồng, thằng Chà ngó thiếu điều rớt cặp mắt. Con nhỏ bẽn lẽn lấy khăn lông lau mồ hôi mặt, ngồi xuống đối diện bạn chơi hỏi đố chuyện Tàu.
    ‘Chà đố trước đi.’
    Cũng cái mửng cũ, nó hỏi chuyện ai cũng biết để lấy lòng bạn:
    ‘Chuyện Tôn Tẩn giả điên trong bộ nào bà biết không?’ Nó dùng tiếng bà thay vì kêu bằng Quyên như mọi khi.
    ‘Dễ ợt! Xuân Thu Oanh Liệt!’
    ‘Lúc cuối cùng ông ta ra sao vậy kà?’
    ‘Ổng vô núi Thạch Nhân tu luyện.’
    ‘Rồi sao nữa?’
    ‘Mất biệt, không ai biết gì hơn. Có lẽ theo thầy Quỷ Cốc tu luyện linh đơn rồi thành tiên.’
    ‘Hay ha! Bà rành sáu câu ha. Thiệt ra ông làm như vậy mới là có cốt tiên. Thành công giúp đời rồi thì lo tu dưỡng cho mình. Trần thế vốn nhiều bụi nhơ, người có cốt tiên không ai màng.’
    Con Quyên đưa tay lên chồng sách nhón lấy bộ Xuân Thu Oanh Liệt cầm tay, hỏi:
    ‘Mà Chà còn nhớ bài thơ khen Tôn Tẩn của người đời sau không?’
    ‘Ba năm luyện pháp núi Vân Mộng,
    Một lúc đem ra giúp vạc Tề.’
    Nhỏ Quyên thấy thằng Chà thuộc nên cùng đọc với bạn hai câu sau:
    ‘Công toại danh thành lòng chẳng động,
    Về non tu luyện lánh cơn mê.’
    Hai đứa cười lớn khi hết câu. Con Quyên vui quá, giơ cao bộ truyện đập xuống chồng truyện trên bàn. Ngực nó bật tung một cái nút bóp. Nó lật đật đưa tay lên che. Thằng Chà lần đầu tiên thoáng thấy mãng trăng trắng huyển ảo trước ngực bạn, lập lại mấy tiếng lánh nơi mê theo giọng hỏi làm cho Quyên mắc cở bỏ vô nhà trong một nước sau tiếng nói lầm thầm: Đồ quỉ!
    Ngồi đó hèn lâu mà con nhỏ không ra, buồn tình nó đứng dậy nói lớn:
    ‘Tui đi về nha bà! Chè táo xọn đâu không thấy đợi hoài. Lại còn bị giận hờn.’
    Tiếng con Quyên sau bếp vọng ra:
    ‘Hơi (mới) có! Bộ đói lắm sau mà hối vọng ngược vọng xuôi vậy?’
    Nó mừng rơn khi con nhỏ hai tay bưng chén chè đầy ắp để trên dĩa đàng hoàng. Đưa tay đở, tùng dịp đụng vô mấy ngón tay ngà ngọc, nó nói theo kiểu ‘làm quen’ để địch thủ hết giận:
    ‘Chà thích cách nói thiệt là miền Hậu giang của Quyên: hơi (mới) có, tiếng mới được nuốt đi tạo một thổ ngơi đặc biệt dễ mến cách gì, cũng như nghe mấy thiếm bán hàng nói thồi lại, nói giùm làm, Chà thấy chơn chất gần gũi làm sao ấy!’
    Cặp môi cắn chỉ mím nhẹ chịu đựng chừng vài giây rồi mới hơi mỉm cười. Nó nói nhỏ giọng thủ thỉ êm đềm của người tình:
    ‘Đừng giận nha! Cho Chà xin lỗi nha.’
    Con Quyên nhỏ nhẹ:
    Bạn hữu thì ai chấp nhứt gì, nhưng xin đừng nói chơi, nó nhẹ thể con người mình đi!’
    Hai đứa cúi đầu mạnh ai nấy ăn, không khí tuy đã không còn nặng chình chịch như hồi nảy nhưng lòng nó vẫn còn mặc cảm như đã làm một lỗi lầm rất lớn. Nó cố gắng không ôn lại trong trí cái mình vừa mới thấy mà nghĩ tới cách làm sao cho con Quyên hết giận.
    Thầy Thìn về nhà coi như một sự cứu bồ đúng lúc, thằng Chà lật đật rút lui sau khi xin phép mượn lại bộ La Thông Tảo Bắc với bộ Phong Thần Diễn Nghĩa. Con nhỏ không thèm ngó nó từ giả.
    Vậy mà con Quyên hết hờn sau đó không lâu. Những lần tới đổi truyện tiếp theo hai đứa vẫn thân mật như thường. Có lần con nhỏ nói giọng người lớn không ngờ:
    ‘Truyện Tàu tức là truyện của người Tàu, truyện bên Tàu. Nước người ta có nhiều tuồng tích hay ho như vậy người nước mình thì mạt rệp từ đường, đi cày đi cấy cực khổ đã không đủ ăn thì chớ lại còn bày đặt rượu chè be bét như hủ hèm. Lúc say xỉn thì lè nhè rồi đánh đập vợ con hay gây sự đâm chém thiên hạ. Còn lúc bình thường bị làng xã ức hiếp, bị phú lít mã tà đá đít bộp tai thì ôm đầu máu chịu, im re chẳng dám phản kháng.’
    Thằng Chà không nói gì. Những chuyện nầy nhan nhãn đầy trời nên trở thành thường sự. Hèn lâu nó mới nói một câu lãng xẹt:
    ‘Bà biết hảo hớn là gì không? Là anh hùng đó!’
    Con Quyên chép miệng:
    ‘Người Tàu họ tinh quái lắm. Họ không nói dũng nhơn, hão dũng, anh kiệt hay gì gì đó mà nói hão hớn có nghĩa là người Tàu tốt, người Tàu giỏi, hay người Tàu anh hùng. Làm như thiên hạ không ai là anh hùng như người Tàu, người Hán.’
    Thằng Chà lại ngồi im, há hốc miệng nghe nhỏ Quyên lý thuyết. Nó thấy Quyên hơn mình về mặt nầy. Con nhỏ thoát ra khỏi mấy cuốn truyện Tàu còn nó thí dính cứng vô đó. Thuộc lòng La Thông, La Côn, La Xán lúc nhỏ lúc lớn lúc già, thuộc lòng tên và hành trạng mấy chục anh hùng hão hớn Lương Sơn Bạc nhưng không có cái nhìn về thực tế cuộc đời trước mặt như con Quyên.
    Nó ngó bạn không nháy mắt, thầm thán phục lẫn ước mơ. Ôi cặp má lúm hai đồng tiền nho nhỏ, hồng hồng với vài sợi gân đỏ lờ mờ dưới lớp da mịn màng, khiến nhỏ ta đỏ mặt quay đi chỗ khác.
    3.
    Cửa nhà thầy Thìn đã mở. Ông đương ngồi tréo ngoảy bên cái bàn giữa nhà. Bình trà trước mặt. Một tay cầm cuốn sách đóng bằng giấy manh (main), tay kia cầm tách nước đưa tới gần miệng nhưng đã ngừng lại ở đó. Ông đọc chậm rãi từng câu:
    Ta chay trường khinh mạn lục thân,
    Bạn bè tới thăm chẳng rần rần.
    Nhắp chén trà thơm không rượu uống,
    Dọn dĩa rau dưa chẳng thịt mần.
    Hạ nhẹ tay cầm sách xuống, Thầy Thìn đưa tay cầm tách nước lên chút xíu nữa, chầm chậm nhắp một ngụm. Thoáng thấy cảnh đó Thằng Chà hơi khựng lại khi bước tới hàng rào mồng tơi. Trong cửa buồng con Quyên nảy giờ đứng im lặng kính cẩn ngó cha mình ngâm thơ, thấy dạng thằng Chà bèn nháy mắt hất hàm ra dấu biểu đừng bước tới nữa.
    Thầy Thìn hạ tách nước xuống, đưa sách lên cao ngang tầm mắt, ngâm tiếp, giọng nho nhỏ vừa đủ nghe:
    Bằng hữu lạ ta sao ăn chay,
    Chỉ bởi Thiên Đường – Địa Ngục hai.
    Ăn chay rau giá vậy mà tốt,
    Dẫn tới Linh Sơn khoái thích thay!
    Thiều quang thấp thoáng lẹ lắm mà,
    Mỗi ngày tâm niệm Phật Di Đà.
    Hiểu lẽ Tử – Sinh, chuyện phải có,
    Chốn cố hương về lòng hoan ca.
    Con Mực nằm dưới đất cuộn mình ngoan ngoản lim dim nhưng đưa mõm gác lên một bàn chưn chủ, thầy Thìn lấy chưn kia xoa xoa lên mình con vật, nó cựa cựa uốn éo như thưởng thức tình thương, như tỏ lòng biết ơn. Người chủ ngó xuống con vật cưng của mình rồi cầm sách lên ngâm nga tiếp:
    Thời gian trần thế có mấy hồi,
    Đời người ngày tháng thoáng như thoi.
    Nam choắc thành ông, nữ thành bà,
    Bao người nhận thấy dung nhan đổi!
    Con Mực thình lình phóng ra hực hực chào người quen. Tách nước trên bàn được Thầy Thìn uống cạn sau khi chậm rãi để sách xuống, ngó ra sân. Con Quyên bước thụt vô buồng. Thằng Chà lật đật buớc vô, chào thưa bác nói mình đem đổi truyện.
    Nó trịnh trọng để hai cuốn truyện lên bàn, lí nhí:
    ‘Dạ, cháu thấy kẹp trong hai cuốn nầy, mỗi cuốn có một tờ giấy oảnh. Chắc bác để lâu rồi quên. Xin nhắc bác hổng thôi rớt mất uổng.’
    Thầy Thìn lật ra chỗ có tiền, lấy bỏ túi. Thầy ngó ngoái lại cố ý kiếm đứa con gái rượu để thầm trao đổi gì đó, nhưng không thấy. Một lúc sau con Quyên mới bưng ra một chồng truyện Tàu và một xấp Sách Bạn Trẻ của nhà xuất bản Nam Việt để lên bàn.
    ‘Lần nầy tía cho Chà mượn hai loại luôn nha! Coi chuyện Tàu hoài cũng nhàm. Loại Sách Bạn Trẻ nầy tốt hơn, thực tế hơn.’
    Thầy Thìn cười lớn:
    ‘Con biết ý tía đa! Đọc cho mở mắt ra với người. Mà sao con cho nó mượn nhiều như vậy? Chắc sợ nó đổ đường tới đây mất công chứ gì! Chà nó có lý do để đi một tuần hai ba lần. Xá gì đường xa!’
    Đứa con gái hơi xẻng lẻng, cười mím chi nói tía chọc con hoài, tụi con chỉ là bạn hữu cùng xóm cùng làng. Chà mất công đổ đường thì ăn nhập gì tới con!’
    ‘Để nói cho hai đứa nghe. ’ Thầy Thìn sửa lại bộ ngồi. ‘Đọc truyện Tàu thì phải biết là cái tụi Tàu nó viết toàn là khoe dân tộc nó anh hùng, nào là người Tàu có sức mạnh cử đỉnh ngàn cân, nào là người Tàu giỏi thập bát ban võ nghệ. Họ kêu những người đó là tướng, là người Trời, là thái tử con Ngọc Hoàng đầu thai, là một ngôi sao trên trời bị đọa. Họ kêu dân mình là Nam man, mấy dân tộc chung quanh là Đông di là Bắc dịch là Thổ Phồn…, kêu người Âu Mỹ là Bạch quỷ. Tóm lại ai không phải người Tàu đều là kẻ xấu, người dở, dã man, hèn mọn…’
    ‘Mà thôi!’ Tách nước lại được thổi, húp. Sau cái chép miệng, thầy Thìn tiếp: ‘Tại người mình không chịu viết truyện là do làm biếng suy nghĩ với làm biếng tưởng tượng, có viết thì ăn cắp ý, có khi còn cọp-py nguyên con. Để cho thiên hạ viết thay mình thì phải bị như vậy thôi. Tía nói cho hai đứa nghe nè: Đọc thì đọc, mê thì mê nhưng phải biết cái tốt để theo cái dỡ để tránh, đừng có lậm mấy cái pháp thuật bày đặt của họ mà quên thực tế ngoài đời… Cuộc sống bên ngoài không dễ như trong sách đâu nà. Kẻ xấu tràn đầy như giòi đục thịt sình, như ruồi bu xác chết. Nhưng học trung hiếu tiết nghĩa trong truyện thì được, bắt chước làm anh hùng thì không nên. Chết như không đó!’
    Con Quyên liếc liếc thằng Chà như ngầm bảo rằng tía nói thì rán nghe để tía vừa lòng. Thằng Chà đứng im rơ, chăm chú như nuốt từng lời vàng ngọc của thầy Thìn. Ngó vô miệng thầy nhưng trong lòng tưởng tượng về đôi môi cắn chỉ, về má lúm đồng tiền, về cặp mắt hột nhãn của con Quyên…
    ‘…Tía thấy thằng Chà thẳng ngay. Lớn lên sẽ là người tốt, không phải là tụi ‘cầu điền vấn xá’, tụi ‘ái bất thích thủ’ như thiên hạ nhan nhãn thời nay!…’
    ‘Dạ ‘cầu điền vấn xá’ là gì hả tía, ‘ái bất thích thủ’ cũng vậy. Tía nói chữ mắc quá con không hiểu. Không biết Chà có hiểu không.’
    Ánh mắt thầy Thìn rọi vô mặt nó, thằng Chà nhè nhẹ lắc đầu.
    ‘Là bọn đêm ngày cầu mong có được ruộng vườn chim bay gảy cánh chó chạy cong đuôi, gạt đầu nầy cướp đầu nọ để được nhà sang cửa rộng ấy mà! Bọn ham cái gì thì ôm cứng không chịu buông tay ra. Cầu biệt thự thênh thang ở Ô Cấp, ở Đà Lạt, ở Nha Trang, Phú quốc…, kéo vô, kéo vô cho tràn họng, cho ngập mặt thì hỏi làm sao có lòng với người nghèo khổ, với tổ quốc được. Khi lòng tham muốn quơ quào quá lớn thì lòng thiện còn đâu chỗ trú? Chà nó có tấm lòng thành thật. Sẽ là người tốt. Tía nói vậy đó, bây tính sao thì tính. Làm sao coi được thì thôi.’
    Người cha quay mặt ngó thẳng vô khách hèn lâu rồi quay qua đứa con gái:
    ‘Chim chóc có cái hay mà loài người không biết bắt chước. Chim mẹ đi kiếm mồi cho chim con lúc con còn nhỏ. Khi chim con tới độ ra ràng thì giúp đẩy cho bay. Một hai lần khi chim con bay được thì thôi không xía vô nữa. Tía cũng vậy, chuyện tình cảm của con cái tía để con cái quyết định, không cản trở cũng không khuyến khích.’
    Con Quyên bỏ chạy vô buồng. Thầy Thìn lắc đầu cười. Thằng Chà không hiểu hết ý nghĩa câu nói của thầy Thìn nhưng lờ mờ thấy rằng mình không bị ghét bỏ. Nó nghĩ rằng rồi đây nó sẽ được tới căn nhà nầy thường xuyên hơn. Và nó đưa mắt vô nhà trong, tay nắm chặt như một người chiến thắng.
    4.
    Ông già mơ màng ngó ra vườn. Khu vườn đẹp theo kiểu Việt Nam với vài thứ cây ăn trái và một vuông đất nhỏ cho mấy bà còn mạnh mạnh xới đất trồng rau. Không ăn uống gì ba cái thứ đó nhưng ‘tưới nước ngắt lá’ để nhớ ‘thời chưa bịnh, lúc còn sởn sơ’ là câu cửa miệng của một số ông bà còn đi lại được. Ông già còn đủ sức để điều khiển xe lăn ra hưởng khung cảnh khu vườn. Tôi vài lần đi thăm người bác cùng lứa tuổi ông cũng ở trong nursing home nhiều người Việt Nam nầy từ đó quen ông và được nghe kể về chuyện hơn bảy mươi năm trước…
    ‘Chúng tôi thân thiết với nhau như vậy tới ba bốn năm, tôi nhổ giò bể tiếng, đứng nhĩnh hơn Quyên nửa trán khi thi đậu bằng Thành Chung rồi đậu luôn kỳ thi còm-mi làm việc ở tòa bố tỉnh Sốc Trăng. Hai đứa không thề thốt gì nhưng trong lòng coi nhau như đã cặp bồ, không còn là bạn hữu nữa. Những lần tới nhà Quyên tự nhiên hơn và cũng chẳng cần đổi truyện. Được cho uống nước đá chanh muối, được trách cứ nhẹ nhàng sao không chịu đội nón dang đầu trần ra đường coi chừng cảm nắng… Nhiều lần còn được ngồi ăn chung với thầy Thìn để nghe thầy giảng chữ nghĩa thánh hiền. Những khi thầy đi bắt mạch xa, chúng tôi ngồi đối diện nói chuyện tự nhiên hơn. Cũng chỉ là chuyện trời trăng mây nước, chuyện Tề Thiên Đại thánh đánh quỷ trừ yêu. Nhiều lắm là một hai cái nắm tay. Rồi thôi. Trong sáng.
    Vậy mà… Bỗng nhiên tôi mất tung tích Quyên. Tôi lúc đó như người chết đuối trôi sông. Đâu chừng là đầu năm 1950. Quyên đi đâu thầy Thìn cũng không biết, chỉ để lại bức thư tạ lỗi bất hiếu đại ý là thấy cảnh nước nhà tang thương, người nghèo khổ bị bóc lột, kẻ cô thế bị ức oan, Tây tà nạt nộ chưởi bới dân… Lòng quặn đau không chịu nổi. Quyên không nói mình đi với phe phái nào. Quân lưu động trong đầm lầy, trên sông cùng rạch cạn của tướng Lê Quang Vinh, tướng Trần Văn Soái, quân đóng ngay tại Sàigòn hoa lệ của tướng Lê Văn Viễn Bình Xuyên… hay gì gì nữa!’
    Ông già ngừng một lúc hèn lâu, mắt mơ ngàng ngó vô mấy con chim nhảy nhót trên bãi cỏ, vài ba con sóc vui đùa leo lên leo xuống mấy gốc cây cao. Tôi ngó vô con người sức mõn chỉ còn lại chút trí nhớ le lói ánh chiều tàn mà nghĩ tới mai hậu mình… Cuộc sống một người sau cùng rồi cũng như vậy sao? Tưởng ông đã quên những gì đã nói bỗng ông tiếp, không cần ngó tôi, như là để nói với chính mình, hợp lý như nảy giờ không có lúc ngừng nghỉ:
    ‘Quyên vô bưng làm nữ cứu thương sống đời nguy hiễm rày đây mai đó hay theo phe quốc gia làm nữ quân nhân như một nghề, sống an lành với chồng con xa chiến trường… Tôi biệt biết. Cha Quyên cũng biệt biết. Chúng tôi hai người đàn ông liên kết nhờ tình yêu đối với một người nữ đã biền biệt tăm hơi, thường ngó nhau buồn thảm. Những cuốn sách của ông đóng bụi trong tủ chẳng còn mời gọi tôi như ngày xưa. Thầy Thìn từ đó lặng lẽ như cái bóng, chuyện coi mạch hốt thuốc ai năn nỉ lắm mới chịu đi, còn thì ngồi trên cái ghế năm xửa năm xưa với bình trà mọi thuở, nhiều khi đến lần sau cách lần trước cả tháng cũng thấy ông trong vị trí đó, trong dáng điệu đó, khiến tôi có cảm tưởng ông ngồi một chỗ, uống trà để cầm hơi, bỏ ăn bỏ ngủ. Ông lắm khi lãm nhãm về những thang thuốc hay như Tứ Quân thang, Ngũ Vật thang, Bổ Trung Ích Khí thang …. rồi chép miệng thở dài. ‘Cũng bởi những nữ tướng kiểu Đào Tam Xuân, kiểu Phàn Lê Huê, những Thập Nhị Quả Phụ, những Sở Vân, những Mạnh Lệ Quân… chuyện sách vở không dễ như chuyện đời. Nó bồng bột quá, nó tưởng mình là con nhà tướng, nó tưởng đâu là súng đạn cũng như cung tên có thể né tránh được.’
    Cái xe lăn được điều khiển để ra chỗ có chút ánh nắng sớm. Gương mặt ông già có chút rạng rỡ hơn.
    ‘Nói về thầy thuốc Thìn ai ghét thì ghét chứ tôi thương đứt ruột. Ông ngâm nga thơ phú làm mình mất thời giờ, ông tuông điển tích nầy nọ chẳng ăn nhập gì tới cuộc sống chung quanh làm mình khó chịu nhưng đó là những kiến thức quí dàng trời.’
    Ông già hom hem lục túi lấy chai Dầu Xanh Con Ó ra xức vài quẹt trên nhơn trung, trên yết hầu, trên chớn thủy:
    ‘Khổ thiệt! Muốn xức dầu phải trốn ra đây! Xức trong đó y tá họ rầy, nói nhiều người chịu không được mùi dầu. Nhứt là thằng y tá người Mễ. Nó nhăn nhăn mũi như là dầu nầy thúi không bằng. Hồi xưa đi hành quân tôi thủ theo mấy chai Nhị Thiên Đường đề phòng trường hợp… Hồi còn má tôi, mỗi khi tôi đi đâu xa má tôi cắt củm mua cho mấy chai….’
    Tôi làm thân, đưa tay mượn chai dầu của ông, quẹt trên mũi mình mấy cái.
    ‘Tôi còn nhớ thầy Thìn cắt nghĩa chữ Nhị Thiên Đường mà chắc trên đời nầy không mấy người Việt Nam nào biết: Nhị Thiên Đường là nhà thuốc cứu người. Dầu Nhị Thiên là dầu cứu người. Nó như ông Trời thứ hai đã cứu mạng ta, ông trời thứ nhứt là cha mẹ đã sanh ra ta…’
    Thấy ông già vừa nói vừa ngó những chùm hoa hồng trắng vương giả, tôi liếc mau về phía cửa sổ rồi day qua bứt lẹ cho ông hai cái hoa thiệt đẹp. Đưa bàn tay run rẫy khô cằn đầy gân xanh ra nhận, ông gật gật đầu mà con mắt đã ươn ướt:
    ‘Ngày trước đâu có tiền để mà tặng hoa tặng quà. Bây giờ muốn tặng bao nhiêu cũng được thì đã không còn người để tặng.’
    Tôi được dịp đi sâu hơn chút nữa vào đời tư ông:
    ‘Bác có bao giờ gặp lại bà Quyên không?’
    ‘Có mà không, không mà có. Chẳng biết sao mà nói cho đúng!’
    ‘?????’
    ‘Cuối năm 58, đại đội tôi đi tiếp ứng, bị phục kích, tan nát. Tôi bị thương nặng ở hai chưn, thằng hiệu thính viên cố kéo ra khỏi trận địa chừng 100 thước, đẩy vô một lùm bụi, lấy cây lá đậy điếm cẩn thận rồi chạy đi vì tiếng nói lào xào của họ đã tới gần. Họ đến kéo xác đồng đội và thu dọn chiến trường. Nằm trong bụi tôi thấy một cái ót quen thuộc, một dáng đi điệu đứng quen quen. Người xưa nói nếu chẳng quen lung đố nhìn nhau cho đặng mà! Chỉ có cặp mắt thôi, cô ta quấn khăn rằn ngang mũi che kín mặt, chỉ chừa có bao nhiêu đó. Tôi định chừng hết 80% là Quyên của tôi. Tôi nín thở, không biết nên im lặng hay kêu lên tên em. Để bảo tồn sanh mạng, tôi quyết định nằm im. Cô ta đi về phía tôi, hơi khựng lại một chút khi nhìn thấy cặp mắt của tôi qua kẻ lá rồi quay về, kéo theo hai người đồng đội nam, mặt đằng đằng sát khí vừa bước tới…
    Ngày ấy tới nay đã bốn chục năm rồi tôi chưa giải được bài toán đó. Có thể là Quyên, có thể không. Có thể người ấy thấy tôi, có thể không. Đời mà! Thiệt thiệt hư hư, tỉnh tỉnh mê mê. Phải phải quấy quấy, như sự ra đi của Quyên. Để yên lòng, tôi đồ chừng lúc đó mình bị thương nên mê man và hình ảnh cái cô bận bà ba đen bịt mặt bằng khăn rằn kia là không có thiệt. Mê mà!’
    Tôi nói vuốt đuôi và đưa tay đẩy cái xe lăn vài ba thước cho ông vui.
    ‘Có thể là mê đó bác, chuyện nầy người ta kêu là sảng, không có thiệt đâu. Nhứt là khi mình bị thương quá đau đớn, quá cận kề lằn mứt tử sanh.’
    ‘Sau trận đó tôi thường nằm chiêm bao thấy Quyên, rõ ràng, nhưng mặt buồn dười dượi mà vía tôi trong chiêm bao cũng buồn, cái buồn lạ lắm, kéo dài tới thức dậy hồi lâu vẫn còn. Vía tôi hỏi gì Quyên cũng lắc đầu không nói rồi đi xuyên qua người tôi, mất biệt. Tôi đồ chừng Quyên đã….’
    Ông già Chà bật khóc nức nở. Tôi để tay lên vai ông an ủi.
    Một luồng gió lạnh thổi qua hơi lâu. Tôi rùng mình. Ông già hắt hơi hai ba cái thiệt mạnh như muốn văng ra khỏi cái xe lăn rồi im trong vị thế ngồi không được thoải mái với cái đầu nghẻo xuống, cằm chấm ngực. Tôi đợi một lúc lâu mới đưa tay lên mũi ông để nghe hơi thở.
    Êm re.
    Tránh qua một bên để nhân viên nursing home làm việc, ngó gương mặt buồn man mác nhưng đượm chút thanh thản của người chết, tôi nghĩ rằng Trời đất đã ban cho ông một hương vị đời, tuy thật tế có chua cay đắng chát nhưng hương thơm của tình yêu trai gái thuở thiếu thời còn đọng hoài trong trái tim, cứ thoang thoảng dịu êm làm ông mang cảm giác buồn buồn dễ chịu.
    Ông già Chà ra đi mang theo cuộc tình không trọn. Tôi biết chắc tình yêu của ông với bà Quyên nào đó là mối tình trọn vẹn trong lòng ông nếu không nói là đẹp đẽ vô song. Không đẹp sao ông ôm ấp nâng niu tới hơi thở chót, không đẹp sao ông mang vác từ quê hương tới xứ người?
    Trên đường lái xe về, tôi lại muốn nghĩ rằng người nữ mà ông già Chà thấy không phải là bà Quyên. Và người đó cũng không thấy ông đương nằm vái Trời trong bụi rậm. Mà Trời Đất Quỷ Thần ơi! Tại sao tôi lại bận trí về chuyện tình thời xa xưa của một ông già chẳng thân tộc gì với mình! Biết đâu lúc hắt hơi cuối đời là lúc ông nhìn thấy cái má lúm đồng tiền của người con gái năm xưa trong khói sương mờ ảo của Vô Thức. Biết đâu người tình của ông chờ đợi bao nhiêu năm nay mà ông cứ nấn níu hoài trên cái cõi trần tạm bợ để mong có ngày gặp lại cố nhân “lai vô ảnh khứ vô tung …”

    Nguyễn Văn Sâm
    (Khởi bút, Sàigòn đầu tháng 3, 2018. Kết bút, California cuối tháng 5.)

    Lời người viết truyện:

    Quí bạn,

    Truyện hơi dài dòng há! Tôi vừa viết vừa nhớ lại vài ba chuyện của Nguyễn Tuân ấy mà: Nét Bút Người Tử Tù. Đố chữ (?)… Mấy câu thơ ông thầy đông y Thìn ngâm nga, thấy trong kinh ‘Bách Tuế Tu Hành Kinh’ của Vân Thê đại sư百歲修行經﹣雲棲大師戒殺修行勸世文, kinh Phật bình dân của Tàu phổ biến ở VN vào cuối thế kỷ 19. Dịch thoát mấy đoạn đầu: 我吃長齌慢六親 親朋來到冷淨靜 只有茶來沒有酒 只有素菜沒有葷…. Cũng nên nhắc lại vài ba từ ngữ thời của truyện này, cuối 40 đầu 50, nay đã đổi thay hay đã mất, xe máy: xe đạp; giấy oảnh: tờ giấy hai chục đồng Đông dương. Tiền nầy có giá trị rất lớn thời đó, có thể bằng 20 triệu tiền hồ bây giờ. Xin lỗi nếu truyện làm bạn chán đọc. Hình như tôi viết cho những người ở tuổi thất thập cổ lai… (NVS)

  • Văn Thơ

    Tản Mạn Về Mùa Xuân Qua Thi Ca

    Việt Hải, LA

    Bây giờ tháng 12, cận cuối năm 2018, giới báo chí chuẩn bị bài vở cho Giai phẩm Mùa Xuân. Xuân cũng là dịp Tết. Hình như không gian đang rộn rã và hình như lòng tôi cũng đang hân hoan lắm. Nói đến Tết thì Tết lại vào mùa Xuân, là Năm Mới, là Lễ Hội. Tôi lại vung bút ca “bài ò e con ma đánh đu” tiễn đưa Năm Cũ Mậu Tuất 2018 ra đi và để đón mừng Năm Mới 2019, theo âm lịch là năm Kỷ Hợi.

    Thật vậy, Tết mang tính linh thiêng đối với mọi người, mọi nhà, mọi giới và mọi tôn giáo.Tết Nguyên đán là thời điểm giao mùa đón Xuân sang. Mùa Xuân vốn là mùa các thi sĩ có nhiều cảm hứng với thi ca. Từ Đông sang Tây, như từ Nguyễn Bính, Huy Cận,Vũ Đình Liên, J. Leiba, Đinh Hùng, Hồ Dzếnh, Hàn Mặc Tử, Phạm Anh Dũng, Hồng VũLan Nhi, Cao Mỵ Nhân, Yên Sơn, Trần Dạ Từ, Lê Hân, Khiếu Long, Kim OanhAustralia, Annie Trần, Nguyễn Hiền, Kim Tuấn, Hồ Dzếnh, Hà Huyền Chi, Quyên Di,Hải Vân Sagittaires, Marie Christine TV, Thái Tú Hạp – Ái Cầm, Trần Việt Hải,Trần Mạnh Chi,… đến Victor Hugo, Paul Verlaine, Emily Dickinson, WilliamBlake, William Shakespeare, Théophile Gautier, và Charles Baudelaire.

    Khi nào là Tết? Khi nào hết Tết?

    Thuở nhỏ khi ta nhắc đến Tết như là cái gì còn lâu lắm, là cái gì phải trông chờ. Do vậy trong dân gian có những từ ngữ  vui vui như: Tết Mán mọi, Tết Ma-rốc, Tết Công-gô,… như cái gì “còn khuya”, “còn lâu”!

    “Cu kêu ba tiếng cu kêu,
    Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè”.

    Với dân miệt Lục Tỉnh, hễ qua ngày Mồng 10 tháng Chạp là coi như Tết rồi. Mãi hết ngày Mồng 10 tháng Giêng năm sau thì cái không khí Tết mới hết dần đến cuối tháng Giêng là hết Tết.

    Mùa xuân là một trong bốn mùa thường được công nhận ở những vùng ôn đới và vùng cận cực nam bắc, tiếp nối mùa đông và diễn ra trước mùa hạ. Về mùa xuân có rất nhiều định nghĩa, nhưng cách sử dụng khác nhau tùy vào khí hậu, văn hóa và tập quán của mỗi khu vực. Khi ở Bắc bán cầu đang là mùa xuân thì ngược lại ở Nam bán cầu sẽ là mùa thu. Vào ngày xuân phân, ngày dài xấp xỉ 12 giờ và kể từ đó trở đi quãng thời gian ban ngày bắt đầu tăng lên. Ngoài đề cập đến một mùa trong năm, mùa xuân hay “thời kỳ mùa xuân” còn thường được liên tưởng đến sự tái sinh, trẻ hóa, đổi mới, sự sống lại và tái phát triển.

    Trong phạm vi văn chương thì năm tháng hay bốn mùa (có mùa Xuân, danh từ chung) dùng để tính thời gian đã trôi qua, ví dụ như:
    “Xuân này đến nữa đã ba xuân, 
    Đóm lửa tình duyên tắt nguội dần.”
     
    (Nguyễn Bính)

    hay

    “Anh cho em mùa xuân 
    nụ hoa vàng mới nở, 
    chiều đông nào nhung nhớ…

    Anh cho em mùa xuân 
    mùa xuân này tất cả 
    lộc non vừa trẩy lá” 
    (nhạc Nguyễn Hiền, thơ Kim Tuấn).

    hay

    “Bầy chim hót líu lo chào mừng
    Nụ xuân ngát hương dịu ngọt ngào
    Làn gió mát đưa tình lên cao…

    Mầu môi thắm sao mà nồng nàn
    Dòng tóc vắng bay trong chiều vàng
    Em có biết xuân về hay chăng?”

    (nhạc Phạm Anh Dũng)

    Về ý nghĩa”Xuân” như một tĩnh từ thì trong văn chương như “xuân sắc”,”xuân xưa”, “xuân xanh”, “thanh xuân”,… thuộc về tuổi trẻ, hay thuộc về thời xưa cũ, đã qua, hoặc hàm ý là tươi đẹp, tràn đầy sức sống như tuổi xuân, ví dụ như trong câu thơ sau:

    “Gió đưa cây trúc ngã quỳ, 
    Ba năm chực tiết còn gì là xuân!”
     
    (Ca dao)

    hay

    “Đi bên nhau hồn chậm với vai gần
    Tiếng ca buồn ôi tiếng hát thanh xuân
    Ta dừng lại và nghe chiều rét mướt
    Em mười sáu, tuổi kiều thơm dịu ngọt”

    (bài “Ngự Trị”, Trần Dạ Từ).

    hoặc

    “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời. 
    Bao cô thôn nữ hát trên đồi. 
    Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, 
    Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi”.

    (“Mùa Xuân Chín”, Hàn Mạc Tử).

    Trong thiên văn học người ta định nghĩa mùa xuân bắt đầu từ thời điểm diễn ra tiết xuânphân (khoảng ngày 21 tháng 3 ở Bắc bán cầu và ngày 23 tháng 9 ở Nam bán cầu) và kết thúc vào thời điểm diễn ra tiết hạ chí (khoảng ngày 21 tháng 6 ở Bắc báncầu và 21 tháng 12 ở Nam bán cầu). Trong khí tượng học, để thuận tiện thì người ta tính mùa xuân bao gồm toàn bộ các tháng Ba, Tư và Năm ở Bắc bán cầu còn tại Nam bán cầu là toàn bộ các tháng Chín, Mười và Mười Một.

    Tuy nhiên,theo truyền thống thì lịch của một số nền văn hóa như lịch Ireland chẳng hạn, người ta tính toàn bộ các tháng Hai, Ba và Tư. Tại Việt Nam cũng như các nướckhác chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa thì người ta tính mùa xuân bắtđầu từ thời điểm diễn ra tiết lập xuân (khoảng ngày 5 tháng 2) và kết thúc tạithời điểm diễn ra tiết lập hạ (khoảng ngày 5 tháng 5).

    Tết là mùaxuân của vạn vật. Mỗi năm xuân về một lần. Thế thì con gái tuổi nào là tuổi xuân? Xưa các cụ nói con gái tuổi trăng tròn là xuân. Tuổi đời của mỗi ngườ iđẹp nhất là thuở thanh xuân và nó lại càng đẹp hơn khi tuổi thanh xuân ấy bỗng xuất hiện một bóng hình để ta nhung nhớ và yêu thương, hãy xem thơ Đinh Hùng. Để rồi ta nghĩ ngợi về hồn thơ thi nhân Đinh Hùng nhìn xuân sang mà nhớ hương xuân người xưa:

    “Xuân nào như xuân mới? 
    Hương nào như hương xưa? 
    Lòng chàng không có tuổi 
    Duyên chàng se tình cờ”.

    Trong bài”Năm qua”, nhà thơ J. Leiba (tức Lê Văn Bái đồng thuở với những TháiCan, Đông Hồ, Thế Lữ,…) cho thơ tỏa nét âu yếm yêu kiều của nỗi lòng vui buồn của người xuân nữ ở lứa tuổi trăng tròn:

    “Em nhớ năm em lên mười lăm 
    Cũng ngày đông cuối sắp sang xuân
    Mừng xuân, em thấy tim hồi hộp
    Nhìn cái xuân sang khác mọi lần”.

    Khi mùa xuân mới về mọi người chúc tụng những điều tốt đẹp an lành, hãy nghe thơ Cao Mỵ Nhân:

    “Hãy chúc nhau Xuân vàng bất tận
    Trên quê hương đại mộng viên thành
    Những cành lê tuyết từ muôn dặm
    Trao tặng non sông vạn ý lành”.

    hay

    XUÂN MUÔN Ý

    Mở cửa xem Xuân đến cách nào 
    Xuân từ tám hướng gọi xôn xao
    Trầm hương nhã nhạc lan trên sóng
    Cánh én bay cùng tiếng hát cao

    Xuân đến khi ta mải đợi chờ
    Xin cùng ta sánh bước vào thơ
    Ở đây không kể thời gian nữa 
    Ta với Xuân chung một cõi mơ

    Ta hỏi Xuân tươi trọn cuộc đời
    Xuân cười: năm tháng có đầy vơi
    Nhưng, bao giờ cũng vui như Tết
    Bạn hỡi, mau về dự hội chơi

    Xuân ở bên ta mãi nhé Xuân
    Bốn bề bát ngát bóng giai nhân
    Nguồn thơ bất tận dâng muôn ý
    Xuân bỗng thăng hoa đẹp bội phần …

    (thơ Cao Mỵ Nhân)

    Đón mừng, cung nghinh mùa xuân mới, thơ chào mùa xuân sang:

    Nhịp Xuân

    “nghe trong cành lá chờn vờn
    tiếng gió tâm sự van lơn nhánh cành
    màu xanh mướt rượt màu xanh
    nắng xuân vừa lót long lanh nét tình

    tôi nghe gót bước bình minh
    đi vào thành phố cung nghinh em về
    dáng mai huệ sánh đề huề
    bên lan bên cúc tỉ tê bước cùng

    áo hoa vạt lụa tà nhung
    lâng lâng chở mộng vào chung với người
    góp nhau từng mắt môi cười
    cho đời thắm thiết xuân tươi trổ màu

    nghe thăm thẳm lời nguyện cầu
    trời cao đất rộng lòng người bao la”.

    (thơ Lê Hân).

    Trong bài “Khi Em Về Mùa Xuân” như lời bình minh khi xuân về, như khi em về đất trời tưng bừng rực rỡ, vì em là mùa xuân và vì mùa xuân là em, trông đàn bướm vàng bay lượn giữa mùa xuân, ta nhìn em lòng sao nhiều bỡ ngỡ, những mùa xuânxưa khi xa vắng nhau lòng nhớ nhung vô ngần, và nay…

    Khi Em Về Mùa Xuân

    “Khi em về đất trời bừng rực rỡ
    Đàn bứom vàng bay lựon giữa mùa xuân
    Ta nhìn em lòng sao nhiều bỡ ngỡ 
    Xưa xa nhau lòng rạn vỡ vô ngần

    Khi em về mùa hoa đăng nở rộ 
    Cúc, Mai, Đào thơm ngát những mùi hưong 
    Hồn ta như lạc vào cơn mê lộ 
    Trong gió xuân ai hát khúc mê thừong

    Khi em về ta giật mình ngoảnh lại 
    Đã một thời mình đánh mất đời nhau 
    Kỷ niệm buồn mắt nhìn nhau ngần ngại 
    Dấu yêu xưa như chợt sớm phai màu”. 
    (thơ Khiếu Long).

    Với ngườ ilính năm xưa, xuân về trong tháng ngày xông pha chinh chiến, chinh nhân trôi nổi theo vận nước, nay trong kiếp sống lưu vong biệt xứ, ta đón mùa xuân nghe sao cằn cỗi trong lòng…

    “Anh tiếp tục cuộc đời làm lính
    Sinh tử, phiêu bồng đến 1975
    29 tháng Tư trời đất hờn căm
    Anh thảng thốt theo dòng người
    Lìa xa Tổ Quốc
    Gần ba mươi bảy năm qua
    Vẫn không thể nào quên được
    Một thuở ngang trời
    Một khúc chia ly
    Sáng hôm nay đầu mùa Xuân
    Anh ngồi ở nơi đây
    Ngồi với cốc cà phê nhỏ giọt
    Tai nghe nhạc phong linh cùng tiếng chim ca hót
    Đón Xuân về
    Sao nghe cằn cỗi trong tim!”
    (thơ Yên Sơn)

    Nhà thơ Vũ Đình Liên là một trong những thi nhân xuất sắc của phong trào Thơ mới. Thuở 1936 ông sáng tác bài thơ “Ông đồ” đăng trên báo Tinh hoa. Bài thơ đi vào văn học sử, ý thơ cho thấy sự thay đổi xã hội, chuyển mình từ nền nho họcs ang tây học.

    Bài thơ này được đánh giá như một thi phẩm tuyệt tác và được nhìn từ nhiều góc độ loại nhịp thơ ngũ ngôn, chất bi kịch xã hội tính, nét triết lý về thời gian, tinh thần dân tộc tính, nỗi buồn hoài cổ, nỗi u hoài trước sự xâm lăng của người Pháp,… Điểm chính trong bài viết này là áng thơ nói về mùa xuân…

    “Mỗi năm hoa đào nở
    Lại thấy ông đồ già
    Bày mực Tàu, giấy đỏ
    Bên phố đông người qua
    …

    Năm nay đào lại nở
    Không thấy ông đồ xưa
    Những người muôn năm cũ
    Hồn ở đâu bây giờ?”

    Vũ Đình Liên vốn chịu ảnh hưởng Baudelaire. Vũ Đình Liên là nhà thơ kiêm nhà giáo tận tụy với công việc sư phạm, ông dạy học (môn Pháp văn) và dịch thơ, mà hầu như chỉ dịch thơ đại thi hào Pháp Charles Beaudelaire. Do vậy, sự kiện ông thích thơ Beaudelaire, ít nhiều chất thơ tự do tây phương (vers libre occidental) đã là nét đột phá cho ông thành công trong phong trào thơ mới thuở ban sơ, nên bạn bè gọi ông là “Baud Liên”, vắn tắt như là một “BaudelaireVietnamien”.

    Thơ Pháp Charles Baudelaire.

    CharlesBaudelaire là chủ soái của phong trào thi ca lãng mạn Pháp. Sự lãng mạn vô song trong thi ca yêu đương đầy nét xuân tình của Baudelaire qua trích đoạn phân đoạn I trong bài thi ca như sau…

    ” Que m’importe que tu sois sage ? 
    Sois belle ! et sois triste ! Les pleurs 
    Ajoutent un charme au visage 
    Comme le fleuve au paysage 
    L’orage rajeunit les fleurs.

    Je t’aime surtout quand la joie 
    S’enfuit de ton front terrassé 
    Quand ton cœur dans l’horreur se noie 
    Quand sur ton présent se déploie 
    Le nuage affreux du passé.

    Je t’aime quand ton grand œil verse 
    Une eau chaude comme le sang 
    Quand, malgré ma main qui te berce 
    Ton angoisse, trop lourde, perce 
    Comme un râle d’agonisant.

    J’aspire, volupté divine ! 
    Hymne profond, délicieux ! 
    Tous les sanglots de ta poitrine, 
    Et crois que ton cœur s’illumine 
    Des perles que versent tes yeux !”

    (bài Tình khúc buồn, Madrigal triste).

    Phần chuyển ngữ

    “Anh không cần em phải hiền ngoan.
    Em hãy đẹp! Và hãy buồn! Đầy nước mắt.
    Làm tăng thêm vẻ quyến rũ cho khuôn mặt.
    Như dòng sông làm cho phong cảnh đẹp hơn
    Như dông bão càng làm cho hoa trẻ lại.

    Tôi yêu em hơn hết – khi niềm vui
    Lẩn tránh vầng trán em nặng trĩu.
    Khi trái tim em chết đuối trong kinh dị.
    Khi sự hiện diện của em phơi bày.
    Đám mây xấu khủng khiếp của thời quá khứ.

    Tôi yêu em, khi đôi mắt to của em tuôn chảy
    Một dòng nước mắt nóng như máu.
    Mặc dù tay anh xoa dịu.
    Nỗi thống khổ của em quá đỗi nặng nề, làm khoét thủng.
    Như để tiếng rên của người hấp hối.

    Anh hút vào sự khoái lạc thần tiên.
    Bài ngợi ca thâm trầm tuyệt diệu.
    Với tất cả tiếng thổn thức trong lồng ngực của em.
    Và anh tin rằng trái tim em rực sáng.
    Qua những hạt ngọc trai long lanh từ mắt em tuôn chảy”.

    (thơ Charles Baudelaire)

    Theo cung cách thi ca lãng mạn như của Baudelaire, xin đan cử ví dụ bài thơ sau:

    “Nắng thức dậy tô son con gái
    Thắm má đào bỏng cháy hồn si
    Đôi mắt biếc thầm nói những gì
    Lời hò hẹn xuân thì mở ngõ

    Trang vở ước dòng thơ tình tỏ
    Pha mực hiền gắn bó xuyến xao
    Xếp từ Y-Ê-U con chữ kề nhau
    Trang giấy mới xôn xao thương nhớ

    Ý nguyên trinh đắm say bỡ ngỡ
    Đoá mộng đầu e ấp bờ môi
    Đời trổ hoa thơm ngát tinh khôi
    Chim ríu rít trên đồi Xuân mới

    Nắng Xuân nay, gió mùa chướng tới
    Ký ức hồi tung bới tình xưa
    Hồn ai vướng víu ngoài khung cửa
    Kìa Xuân! Mùi trầm thoảng hương đưa.

    (“Kìa Xuân”, Kim Oanh, Australia)

    Sự lãng mạn trong thi ca của thi nhân Hồ Dzếnh trước chúa xuân như sau:

    Ý Xuân

    Trời đẹp như trời mới tráng gương,
    Chim ca, tiếng hát rộn ven tường.
    Có ai bên cửa, ngồi hong tóc
    Cho chảy lan thành một suối hương…

    Sắc biếc giao nhau, cành bắt cành,
    Nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh.
    Chim bay, cánh trĩu trong xuân ý,
    Em đợi chờ ai, khuất bức mành?

    Giữa một giờ thiêng, tình rất đẹp,
    Mắt buồn và rất… rất thanh thanh.
    Mày ai bán nguyệt, người ai nhỏ,
    Em ạ, yêu nhau…chết cũng đành!

    (Hồ Dzếnh, hay Hà Triệu Anh, 1916–1991).

    Kế đến, xét qua thơ của nhà thơ lãng mạn Pháp khác là Théophile Gautier. Xem rằng ý thơ khá táo bạo về tình cảm yêu đương…

    Nụ cười đầu tiên của mùa xuân (Premier sourire du printemps)

    Premier sourire du printemps
    Tandis qu’à leurs œuvres perverses
    Les hommes courent haletants,
    Mars qui rit, malgré les averses,
    Prépare en secret le printemps.

    Pour les petites pâquerettes,
    Sournoisement, lorsque tout dort,
    Il repasse des collerettes
    Et cisèle des boutons d’or.

    Dans le verger et dans la vigne,
    Il s’en va, furtif perruquier,
    Avec une houppe de cygne,
    Poudrer à frimas l’amandier.

    La nature au lit se repose ;
    Lui, descend au jardin désert
    Et lace les boutons de rose
    Dans leur corset de velours vert.

    Tout en composant des solfèges,
    Qu’aux merles il siffle à mi-voix,
    Il sème aux prés les perce-neiges
    Et les violettes aux bois.

    Sur le cresson de la fontaine
    Où le cerf boit, l’oreille au guet,
    De sa main cachée il égrène
    Les grelots d’argent du muguet.

    Sous l’herbe, pour que tu la cueilles,
    Il met la fraise au teint vermeil
    Et te tresse un chapeau de feuilles
    Pour te garantir du soleil.

    Puis, lorsque sa besogne est faite,
    Et que son règne va finir,
    Au seuil d’avril tournant la tête,
    Il dit : “Printemps, tu peux venir !”.”

    Phần chuyển ngữ

    “Đương khi con người chạy hết hơi
    Đến với những công trình tai quái của họ
    Tháng Ba cười, dẫu những cơn mưa rào ào ạt
    Vẫn ngấm ngầm soạn sửa mùa xuân

    Với những bông hoa cúc nhỏ xinh
    Nó thầm lén khi mọi vật còn đang thiếp ngủ
    Là đi là lại những cổ áo xếp nếp
    Rồi tỉa tót những nụ vàng tươi

    Trong ruộng nho trong vườn cây quả
    Nó đến rồi, gã thợ cạo lẻn qua
    Với một nhúm tua mào chim thiên nga
    Rắc sương giá lên vườn cây hạnh

    Trên giường thiên nhiên đang ngơi nghỉ
    Còn nó, đi xuống vườn hoang
    Và thắt giùm hoa hồng những nụ
    Trong chiếc yếm nịt nhung xanh kia

    Vừa sáng tạo những hoà âm
    Nó huýt khẽ với đàn chim sáo
    Vừa gieo những bông hoa tuyết trên đồng
    Còn trong rừng gieo hoa tím rung rinh

    Trên đám cải xoong bên dòng suối
    Tai nghe ngóng, hươu cúi đầu uống nước
    Bằng bàn tay kín đáo nó lẩy từng bông
    Hoa chuông bạc long lanh của cây linh lan

    Dưới cỏ, để cho anh hái được
    Nó đặt trái dâu, da mọng hồng tươi
    Và dệt cho anh chiếc mũ lá cây
    Để tránh ánh nắng trời

    Thế rồi, khi công việc đã xong xuôi
    Sự trị vì sắp đến hồi kết thúc
    Bên ngưỡng cửa tháng Tư quay đầu lại
    Tháng Ba ta bảo rằng: “Mùa xuân ơi, xuân đến rồi đó!”.

    (Bản dịch của Đào Duy Hiệp).

    Nói về mùaxuân trong thi ca Pháp có lẽ không thể không nhắc đến bài thơ Printemps của thi sĩ Victor Hugo,

    Mùa xuân (Printemps)

    “Voici donc les longs jours, lumière, amour, délire !
    Voici le printemps ! mars, avril au doux sourire,
    Mai fleuri, juin brûlant, tous les beaux mois amis !
    Les peupliers, au bord des fleuves endormis,
    Se courbent mollement comme de grandes palmes ;
    L’oiseau palpite au fond des bois tièdes et calmes ;
    Il semble que tout rit, et que les arbres verts
    Sont joyeux d’être ensemble et se disent des vers.
    Le jour naît couronné d’une aube fraîche et tendre ;
    Le soir est plein d’amour ; la nuit, on croit entendre,
    A travers l’ombre immense et sous le ciel béni,
    Quelque chose d’heureux chanter dans l’infini.”

    (Victor Hugo).

    Phần chuyển ngữ

    “Đây rồi những ngày dài, ánh sáng, tình yêu, điên quá!
    Mùa xuân tới rồi! tháng ba, tháng tư với nụ cười dịu ngọt,
    Tháng năm đầy hoa, tháng sáu cháy da, những tháng đẹp bạn của ta!
    Rặng dương bên bờ những con sông đang ngủ,
    Uốn thân mềm như cành cọ thật to;
    Chim phập phồng trong đáy rừng yên ấm;
    Mọi vật như cất tiếng cười, và cây xanh
    Vui vì được bên nhau, trao nhau những lời thơ.
    Ngày mới chào đời quấn trên đầu bình minh hiền tươi mát;
    Buồi tối đầy tình yêu; đêm đến tưởng như nghe,
    Qua bóng tối mênh mông và dưới bầu trời đầy ơn phước,
    Một niềm vui đâu đây hát trong vô tận bốn bề.”

    (Hồ Văn Hiền dịch).

    Sau đây là trích đoạn của bài thơ Impression de printemps của thi sĩ Paul Verlaine.

    Impression de printemps

    Il est des jours – avez-vous remarqué? –
    Où l’on se sent plus léger qu’un oiseau, 
    Plus jeune qu’un enfant, et, vrai! plus gai 
    Que la même gaieté d’un damoiseau (*).

    (poème de Paul Verlaine).

    Ấn tượng khi mùa xuân về

    Ấy là những ngày hỡi bạn còn nhớ chăng ? 
    Thuở mà bạn cảm thấy mình quởn hơn loài chim,
    Vô tư hơn một đứa trẻ, và thật vậy! vui tươi hơn
    Đó cũng là nỗi hân hoan của loài chim hải đảo. (*)

    (thơ Paul Verlaine, VHLA chuyển ngữ.)

    *: chimtrogon damoiseau > loài chim hoang dã có nhiều ở hải đảo Haiti suốt ngày ca hót hồn nhiên, vô tư.

    Kế tiếp là trích đoạn thơ xuân của ba thi sĩ Mỹ Emily Dickinson; William Blake và WilliamShakespeare, người Anh.

    Trời xuân.

    Nắng xuân phơi phới đã về 
    Quanh năm chẳng thấy đông hè thu sang
    Khung trời tươi mát không gian
    Tháng ba xuân đáo mai vàng hiếm khi.

    (VHLA phóng tác thơ Emily Dickinson)

    A Light Exists In Spring
    (Poet Emily Dickinson).

    A light exists in spring
    Not present on the year
    At any other period.
    When March is scarcely here

    (Poem by Emily Dickinson).

    Thơ trích đoạn của William Shakespeare, bài Spring.

    Vườn Xuân

    Vườn xuân mùa hoa cúc trổ bông
    Khung trời hiển hiện màu trắng bạc
    Cúc vàng chào đón mùa xuân sang
    Tô màu đồng hoa màu thỏa thích.

    (VHLA phóng tác)

    Spring

    When daisies pied, and violets blue, 
    And lady-smocks all silver-white, 
    And cuckoo-buds of yellow hue 
    Do paint the meadows with delight.

    (William Shakespeare, derived from Love’s Labors Lost, by William Shakespeare (1564-1616).

    Thơ trích đoạn của William Blake, bài Spring.

    Sound the flute!
    Now it’s mute.
    Birds delight
    Day and night.
    Nightingale
    In the dale,
    Lark in the sky,
    Merrily,
    Merrily, merrily to welcome in the year
    .
    (poem William Blake)

    Mùa xuân

    Chim muông thay tiếng thanh tiêu
    Dạ oanh cất tiếng sáo chiều xuân sang
    Sơn ca tíu tít nắng vàng
    Đêm ngày tiếng hót âm vang năm dài.

    (VHLA phóng tác từ thơ xuân William Blake)

    Mùa xuân buồn ly hương, cảm tác thơ sầu viễn xứ, xem thi ca Hà Huyền Chi.

    Dạo Phố Mùa Xuân

    Chi Dậu người hoa bắt giây leo
    Vàng phai lá nhớ tay chiều ngùi thương
    Hôm mai sầu rụng bên đường
    Còn trên lưng gió chút hương hải tần
    Dặm dài cho biết phù vân
    Về đâu thì cũng cát lầm bèo trôi
    Lội mòn vỉa phố quê người
    Họa may tìm gặp cái tôi ngang tàng
    Giao thừa lửa đốt buồng gan
    Mỗi xuân lữ thứ có ngàn dao đâm”.

    (thơ Hà Huyền Chi)

    Thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi cảm tác bi “Xuân Đợi Chờ”.

    “Mai nở vàng cành khoe sắc tươi
    Mang màu hoa thắm đến tô đời
    Nắng hồng trải mông xuân như ý
    Đem thái hòa gieo khắp cõi trời.

    Xuân không hẹn, xuân về rồi đó
    Xuân của xum vầy của tình vui
    Riêng chỉ một người hiu hắt nhớ
    Cánh chim còn bay lạc phương trời.

    Đep quá tháng ngày quấn quít nhau
    Tiếng cười như suối chảy dòng sâu
    Thời gian không đủ hong tình nhớ
    Một phút xa nhau, một phút sầu.

    Bao mùa xuân đến, bao mùa đợi
    Chỉ thấy lòng quay quắt ngóng trông
    Tình ơi sao cứ xa vời vợi
    Để kẻ đầu sông kẻ cuối dòng”.

    (thơ Hồng Vũ Lan Nhi).

    “Trăng 14”, nhớ mùa xuân xưa với nhà thơ Quyên Di.

    “Nhớ buổi xuân thì ngày xưa ấy
    Rạo rực lòng trai buổi trăng về
    Ngây ngất hương trời người con gái
    Bờ môi trót nếm rượu đam mê.

    Trăng lên vời vợi ngang đầu núi
    Trăng tàn bờ lạnh dải ngân hà
    Một bóng chim trời bay rất vội
    Về nơi viễn phố nẻo sương pha.

    Là lúc qua rồi thời xuân sắc
    Chén đời đã cạn rượu đam mê

    Những lúc đêm về ngồi trầm mặc
    Quên cả trăng xanh phủ bốn bề.
    “
    (thơ Quyên Di, Nhân Văn Nghệ Thuật).

    Xuân Vui Say

    Rót chén mừng xuân rượu vui đầy
    Nâng lên cùng uống chúc lộc may
    Tân niên hạnh phúc bình an tiến
    Dốc hết bầu thơ tửu ngất ngây
    Xuân nhật vinh quang phú quý lai
    Say mèm cạn chén ôi men cay
    Tấn tài tấn phát tết an khang
    Hồn chếch choáng vui trong giấc say!

    (Trần Việt Hải).

    Nắng xuân

    Gió nhẹ ru làn nước
    Liễu rủ ven bờ hồ
    Đong đưa cành lá vàng
    Mơn man chút tâm tư
    Man mác thoáng nỗi lòng
    Hôm nay xuân lại về
    Không gian trời vắng lặng
    Sao ta chợt thấy buồn?

    (Hải Vân Sagittaires, aka Marie Christine TV, Espagne)

    Xuân Sang

    Nắng đẹp bình minh tỏa ánh vàng
    Khung trời cảnh sắc lúc xuân sang
    Không gian gió thoảng lâng lâng nhẹ
    Phố xá tươi màu phố thênh thang
    Lữ khách thập phương mừng trẩy hội
    Cành mai khóm trúc tranh xóm làng
    Giao thừa hái lộc vui pháo tết
    Chúc phúc an bình nẽo quan san.

    (thơ xuân Trần Mạnh Chi).

    Mừng Chúa Xuân

    Xuân về tươi thắm cành đào
    Hoa Mai vàng rực đón chào tết sang.
    Chim muông ríu rít rộn ràng,
    Trời xuân tỏa ngát mênh mang an lành
    Xuân về thắm đượm trời xanh,
    Mai đào trúc cúc họp thành tứ hoa
    Tiết xuân trải lộc mọi nhà
    Khung trời nắng đẹp bao la mây ngàn
    Mùa xuân thay áo không gian
    Chan hòa cảnh vật bình an đất trời.”

    (thơ Annie Trần, Texas)

    Mùa xuân là mùa để bắt đầu một chu kỳ của thiên nhiên mới, dù thơ của nhà thơ Annie Trầncho là tiết xuân trải lộc mọi nhà, khung trời nắng đẹp bao la mây ngàn, và mùa xuân thay áo không gian, chan hòa cảnh vật bình an đất trời. Mọi cảnh quan có thể thay đổi, nhưng đối vì tình yêu cần sự trung trinh, sự thủy chung như thơ của nhà thơ Thái Tú Hạp. Mời xem áng thơ sau.

    Mùa Xuân Yêu Em
    (Thái Tú Hạp dành tặng Ái Cầm).

    “mùa xuân từ thuở yêu em
    núi non xứ Quảng cũng mềm bước đi
    hàng cây nẩy lộc thầm thì
    nghe như giòng suối từ bi cội nguồn
    mùa xuân từ độ bao dung
    tiếng chung thuỷ ở, tiếng đường mật vui
    tiếng hờn ghen, tiếng ngậm ngùi
    tiếng đau dao cắt, tiếng mùi mẫm yêu
    lúc khuya sớm thuở quê nghèo
    lúc chinh chiến lửa phận treo tuổi mình
    lúc ngã ngựa, khi tàn binh
    lúc non cao vẫn trọn tình thăm nuôi
    trùng dương u thảm phận người
    quẩn quanh hải đảo tiếng cười đắng cay
    xa rồi thác lũ trời tây
    đời hư ảo thoáng chim bay cuối ngàn
    đất trời thơm ngát lộc non
    cho ta xuân thắm vô vàn yêu em.”

    oOo

    Lời kết bài,thi ca bốn mùa luôn luôn là đề tài gây cảm tác dễ dàng cho giới thi nhân hay giới nghệ sĩ; xuyên suốt bài viết này là nhiều áng thi ca ca tụng mùa xuân cùng tình yêu lãng mạn được trích dẫn, bởi vì hai chủ đề này không bao giờ xưa cũ cả. Phàm là con người chúng ta vẫn phải đối diện với Mùa Xuân và Tình Yêu, mãi mãi vã mãi mãi.

    Để chấm dứt bài viết, người viết bài xin chúc mọi người, mọi gia đình một mùa xuân mới nhiều an lành và hạnh phúc, đặc biệt trong tình yêu thương vợ chồng, tình yêu của gia đình.

    Trần Viết Hải, Los Angeles, tháng 12 năm 2018.

  • Văn Thơ

    Trương Vĩnh Ký – Nhà Giáo Dục Yêu Nước Của Việt Nam

    Trương Vĩnh Ký – Nhà Giáo Dục Yêu Nước Của Việt Nam.

    Nguyễn Quang Duy

    Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường.

    Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.

    Sau 30/4/1975, khi ngôi trường trung học Petrus Trương vĩnh Ký bị đổi tên và bức tượng bán thân giữa sân trường bị dời đi, học sinh chúng tôi thường tranh luận về “công và tội” của Petrus Ký khi mượn tay người Pháp giúp nền văn học nước nhà.

    Chúng tôi thường kết thúc bằng ngạn ngữ được Pétrus Ký dùng nhiều lần khi viết thư “Sic vos non vobis”.

    Hồi ấy chúng tôi hiểu câu ngạn ngữ trên là “Ở với họ mà không theo họ”, vừa tránh dẫn đến chuyện bị quy kết “phản động”, vừa tỏ bày tâm sự “Ở với cộng sản mà không theo cộng sản”.

    Gần đây tôi mới biết câu ngạn ngữ tiếng La Tinh “Sic vos non vobis” có 2 nghĩa và dịch như trên là hoàn toàn sai ý Pétrus Ký.

    Winston Phan Đào Nguyên phổ biến trên trang Nghiên Cứu Lịch Sử bài “Minh oan cho Pétrus Trương Vĩnh Ký về câu ‘ở với họ mà không theo họ’ ”, theo tác giả thì Pétrus Ký dùng một nghĩa khác của ngạn ngữ là “Làm điều lợi cho người khác chứ không cho chính mình.”

    Tác giả đã trình bày rất rõ và rất thuyết phục triết lý sống của Pétrus Ký là mỗi người phải làm tròn vai trò hay số phần trong đời để làm cho xã hội của mình tốt đẹp hơn.

    Cuộc đời của Pétrus Ký đã chứng minh triết lý sống này đặc biệt là sự cống hiến ông dành cho chữ Quốc ngữ và nền Quốc văn hiện tại.

    Hoàn cảnh xã hội…

    Pétrus Ký sinh ra cuối triều vua Minh Mạng, khi ấy nhà vua dầu muốn nhưng thất bại trong việc canh tân đất nước, triều thần chỉ toàn những nhà Nho biết làm thơ phú chứ không có ai có khả năng trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật.

    Vua Minh Mạng lại thường hành xử thiếu công minh, nhất là đối với kẻ công thần, nhiều người giỏi đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở mỗi ngày một nhiều, quan tham mỗi ngày một tăng.

    Các vua nhà Nguyễn còn ra lệnh bế môn tỏa cảng không giao thương với nước ngoài, cấm đạo Công giáo, dân tình đói khổ, loạn lạc khắp nơi, để cuối cùng đất nước lọt vào tay Pháp cả trăm năm.

    Petrus Ký là người công giáo, Pétrus là tên Thánh, theo học trường dòng ở Mã Lai về nước đúng lúc thực dân Pháp đem quân sang xâm chiếm nước ta.

    Pháp tấn công Đà Nẵng ngày 1/9/1858 không thành nên chuyển sang tấn công 3 tỉnh miền Đông Nam Phần. Ngày 18/2/1859 Pháp chiếm thành Gia định.

    Việc cấm đạo Công giáo trở nên gay gắt hơn. Petrus Ký phải trốn lên Sài Gòn và được Giám mục Dominique Lefèbre giới thiệu làm thông ngôn cho Pháp, nên từ đó bị kết tội là tay sai cho giặc.

    Pétrus Ký, nỗi oan thế kỷ …

    Sau 30/4/1975, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn giữ độc quyền đánh giá “công và tội” của Petrus Ký.

    Năm 1993, ông Nguyễn Văn Trấn, một đảng viên Cộng sản từ hồi 1930, được Ban Khoa học xã hội thành ủy Tp HCM cho phép phát hành quyển “Trương Vĩnh Ký, Con Người Và Sự Thật” nhưng sách đã bị tịch thu sau khi in mà không biết lý do.

    Đầu tháng 1/2017, cuốn “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” do nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu soạn đã được Cục Xuất bản cho phép lưu hành, nhưng chỉ ít ngày trước khi phát hành thì một “lệnh miệng” được ban xuống yêu cầu hủy bỏ buổi ra mắt sách.

    Ông Nguyễn Đình Đầu cho trang BBC tiếng Việt biết ông đã phát hiện một tư liệu nói về sự hợp tác của ông Trương Vĩnh Ký với người Pháp từ đầu đã không có suôn sẻ như người ta vẫn tưởng:

    “Trong những lời đối đáp khi chính quyền Pháp yêu cầu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn, có những văn thơ chứng tỏ là Trương Vĩnh Ký rất bất mãn trong chuyện người Pháp cư xử với người Việt Nam, cho nên ông không muốn hợp tác.“.

    Bức thư giả ký tên Petrus Key…

    Còn ở hải ngoại từ năm 1996, nhà nghiên cứu sử Vũ Ngự Chiêu cho phổ biến nhiều bài viết về một lá thư ông Chiêu cho là do chính Petrus Ký viết, bằng tiếng Pháp, với chữ ký là Petrus Key.

    Trong lá thư Petrus Key cầu khẩn quân Pháp đến giải cứu cho những người An Nam theo đạo Thiên Chúa ở Nam Kỳ.

    Mặc dù kết tội Petrus Ký nhưng ông Chiêu chưa bao giờ cho công bố lá thư gốc bằng tiếng Pháp nên không thuyết phục được nhiều người.

    Nhưng nhiều nhà nghiên cứu sử trong nước lại dựa vào các bài viết không chứng cớ của ông Vũ Ngự Chiêu để tiếp tục kết tội Petrus Ký là tay sai cho Pháp.

    Cũng trên trang Nghiên Cứu Lịch Sử, Winston Phan Đào Nguyên cho phổ biến một công trình nghiên cứu sử với tựa đề “Petrus Key và Petrus Ký – Chuyện một lá thư mạo danh Trương Vĩnh Ký vào thế kỷ 19”, gồm 3 bài viết.

    Trong bài thứ nhất ông Nguyên cho biết đã tìm thấy lá thư ký tên Petrus Key, mà ông Vũ Ngự Chiêu bấy lâu nay giữ kín, tại Văn Khố Service Historique De La Defense ở Chateau Vincennes, Paris, Pháp.

    Ông Nguyên so sánh văn phong, nội dung, hình thức, chữ viết, chữ ký… để kết luận rằng đây không phải là bức thư của Pétrus Trương Vĩnh Ký và đã có người mạo danh Petrus Ký viết lá thư này.

    Trong bài thứ hai ông Nguyên cho biết kiếm thấy một lá do chính tay Petrus Trương Vĩnh Ký viết cho các bạn học ở Penang vào ngày 4/2/1859 bằng tiếng Latin khi Petrus Ký đã vào tới Sài Gòn lánh nạn cấm đạo.

    Trong lá thư Petrus Ký đã kể về việc ông trốn quan quân nhà Nguyễn truy lùng và cho biết quan điểm về việc cấm đạo cũng như quan điểm về cuộc xâm lăng của liên quân Pháp và Tây Ban Nha.

    Theo Petrus Ký, sự bắt đạo, tuy rất tàn ác, nhưng lại là một điều tất yếu phải xảy ra, cũng như một cơn mưa bão trước một sự yên bình, hay nói cách khác, là một thử thách của Chúa.

    Nhưng ông hoàn toàn phản đối sự can thiệp bằng vũ lực của Pháp. Với ông, cách dùng vũ khí và bạo lực để can thiệp của quân Pháp là một giải pháp còn tệ hơn là bạo lực bắt đạo của vua quan nhà Nguyễn.

    Trong bài thứ 3, Winston Phan Đào Nguyên chứng minh chính bà Pauline Jaricot người sáng lập ra Hội Truyền Bá Đức Tin đã mạo danh Pétrus Trương Vĩnh Ký để viết thư lá thư ký tên Petrus Key.

    Công trình nghiên cứu của Winston Phan Đào Nguyên bổ sung cho một cách nhìn khác về việc truyền đạo Công giáo vào Việt Nam và cả việc thực dân Pháp xâm chiếm Đông Dương.

    Công trình nghiên cứu còn cho thấy ngay từ ban đầu Trương vĩnh Ký đã không có ý định theo Pháp nhưng vì hoàn cảnh không thể tránh được.

    Chữ Quốc ngữ giữ văn hóa nước nhà

    Về việc giữ gìn tiếng Việt trong sách giáo khoa sử An Nam bằng tiếng Pháp xuất bản tại Sài Gòn năm 1875 (Cours d’histoire annamite à l’usage des écoles de la Basse-Cochinchine, Impr. du Gouvernement, Saigon, 1875) trang 13 Pétrus Trương Vĩnh Ký đã nhận xét (được dịch) như sau:

    “Sĩ Nhiếp đã du nhập toàn bộ văn học Trung Hoa, cùng đạo lý Khổng Tử, ép buộc dân An Nam phải tiếp nhận làm văn hóa của mình, và cấm dân An Nam dùng thứ chữ viết phiên âm đặc biệt riêng của người An-nam.

    Vì biện pháp nghiệt ngã ấy mà người An-nam đã hoàn toàn mất đi thứ chữ viết riêng của mình”.

    Sĩ Nhiếp (137–226) là một người Việt gốc Hán được triều đình Trung Hoa phong Thái Thú cai trị Quận Giao Chỉ.

    Sĩ Nhiếp được sử sách chính thống các triều đại Việt Nam đánh giá rất cao vì đã dạy cho dân ta chữ Hán, văn hóa, phong tục và văn minh Trung Hoa.

    Vừa là sử gia vừa là nhà ngôn ngữ học Trương Vĩnh Ký đã đánh giá Sỹ Nhiếp là người hủy diệt chữ viết cổ của người Việt, đồng thời áp đặt cách cai trị và văn hóa của người Hán giết chết văn hóa cổ của người Việt Nam.

    Điều này cho thấy ông hiểu rất rõ khi phải mượn tay người Pháp phổ biến chữ Quốc ngữ để cạnh tranh và loại bỏ ảnh hưởng tiếng Hán và cả tiếng Pháp, để giữ gìn văn hóa, phong tục và ngôn ngữ Việt Nam.

    Pétrus Ký tổ báo chí Việt ngữ.

    Năm 1864, Pétrus Ký được cử là Hiệu trưởng trường Thông ngôn (Collège des Interprètes) và theo lời đề nghị của ông người Pháp cho lập tờ Gia Định báo bằng tiếng Việt.

    Để phân biệt với tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Nôm, Pétrus Ký gọi cách viết tiếng Việt theo kiểu La Tinh là chữ Quốc ngữ còn văn học thì được gọi là Quốc văn.

    Gia Định báo phát hành số đầu tiên ngày 15/4/1865 tại Sài Gòn dưới hình thức một tờ Công Báo do ông Ernest Potteaux làm chánh tổng tài (chủ nhiệm hay tổng biên tập) và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.

    Ngày 16/9/1869, thống đốc Nam Kỳ G. Ohier ký quyết định số 189 giao tờ Gia Định Báo cho ông Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.

    Gia định báo gồm các văn kiện và quyết định của nhà cầm quyền bằng tiếng Pháp do Nha nội vụ cung cấp và được ông Trương Vĩnh Ký dịch ra chữ Quốc ngữ. Và những bài viết tiếng Việt về thời sự, về lịch sử, về luân lý dân gian giúp truyền bá chữ Quốc ngữ.

    Trên Gia Định báo và nhiều tài liệu khác ông lấy bút hiệu là Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký. Trong số 11 ra ngày 8/4/1870 ông kêu gọi cộng tác viên như sau:

    “Lời cùng các thầy thông ngôn, ký lục, giáo tập… đặng hay: Nay việc làm Gia Định Báo tại Sài Gòn ở một chỗ nên không có lẽ mà biết các việc mới lạ các nơi trong sáu tỉnh mà làm cho thiên hạ coi; nên xin các thầy cứ mỗi tuần hay là nửa tháng hãy viết những chuyện mình biết tại chỗ, tại xứ mình ở như: ăn trộm, ăn cướp, bệnh hoạn, tai nạn, rủi ro, hùm tha, sấu bắt, cháy chợ, cháy nhà, mùa màng thể nào, tại sở nghề nào thạnh hơn…“.

    Cũng như đoạn văn trên, đa số các bài viết tiếng Việt trên Gia Định báo đều bằng văn xuôi, ngắn gọn, đơn giản, dễ đọc, dễ hiểu, viết theo cách nói của người miền Nam, viết một cách đàng hoàng theo lễ giáo Việt Nam.

    Ông giữ vai trò chánh tổng tài đến năm 1872 thì giao lại cho ông Ernest Potteaux không rõ vì lý do gì.

    Như vậy, Trương Vĩnh Ký chính là chủ nhiệm báo Việt ngữ đầu tiên và theo cách ông hướng dẫn làm báo thì ai cũng có thể làm báo, không khác gì cách làm báo mạng ngày nay.

    Năm 1888, Trương Vĩnh Ký cho xuất bản tạp chí Thông Loại Khóa Trình, như vậy ông cũng là chủ báo tư nhân đầu tiên tại Việt Nam.

    Thông Loại Khóa Trình là một tạp chí văn học sưu tập nhiều văn thơ, câu đối, câu hò, câu hát dân gian, nhằm cổ vũ phong tục cổ truyền, phổ biến văn hóa dân tộc có cả thơ văn chống Pháp và lịch sử Việt Nam.

    Thông Loại Khóa Trình cho thấy tinh thần yêu nước của Petrus ký với nhiều bài viết về các nhân vật lịch sử có tài chống ngoại xâm của Việt Nam, như Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt, Mạc Đĩnh Chi, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản…

    Thông Loại Khóa Trình còn phổ biến những bài thơ chống Pháp của Bùi Hữu Nghĩa, những bài vè như vè Khâm sai và cả hịch chống Pháp của Nguyễn Tri Phương.

    Cộng tác với Thông Loại Khóa Trình có các ông Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Trần Chánh Chiếu, Lương Khắc Ninh, và nhiều người yêu nước khác.

    Những người đọc báo biết chữ quốc ngữ khi ấy đều là công chức Pháp hay học sinh trường Pháp nên nhà cầm quyền Pháp tìm cách tẩy chay, báo không bán được.

    Thiếu vốn, Thông Loại Khóa Trình chỉ ra được 18 số đến tháng 10/1889 thì đóng cửa. Trong số báo này Trương Vĩnh Ký cho biết: “Nay vì bởi không có vốn cho đủ in luôn Thông Loại Khóa Trình nữa nên ta cực chẳng đã, phải đình in”.

    Petrus Trương vĩnh Ký ông Tổ báo chí Việt Nam qua đời 1/9/1889 trong nghèo khó và nợ nần.

    Tạo nền tảng Quốc văn và giáo dục…

    Ngay từ năm 1866 Trương Vĩnh Ký đã cho in ấn phẩm văn xuôi đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ là cuốn Chuyện Đời Xưa.

    Từ đó ông không ngừng viết và để lại một di sản văn học với ít nhất 119 tác phẩm cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp.

    Các tác phẩm đều là những công trình soạn thảo một cách cẩn thận và khoa học nhưng dễ hiểu, dễ quảng bá, bao trùm mọi thể loại từ ngôn ngữ, tự điển, sách giáo khoa lịch sử, địa lý, pháp luật, dân tộc học, kinh tế, chính trị, sinh học và văn học.

    Kho tàng văn học này là căn bản định hình cho một nền Quốc văn với chủ trương gìn giữ đạo lý văn hóa dân tộc nhưng học hỏi văn minh Tây Phương để cải cách đất nước, mở mang dân trí giúp nước nhà độc lập và giàu mạnh.

    Để truyền bá chữ Quốc ngữ và tư tưởng canh tân, Trương Vĩnh Ký còn chọn việc dạy tiếng Việt và đào tạo hằng ngàn thanh niên theo tân học tạo nền tảng cho Phong trào Duy Tân và Đông Du sau này.

    Ảnh hưởng triết lý và tư tưởng của Trương Vĩnh Ký đến nền văn hóa và giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là lấy nhân bản, dân tộc và khai phóng làm căn bản.

    Nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn…

    Trong chuyến đi sứ sang Pháp cùng Phan Thanh Giản năm 1863, Petrus Ký gặp và làm quen với nhà bác học Paul Bert.

    Ông Paul Bert là giáo sư khoa học đại học Bordeaux và Paris, ông tham gia cách Mạng Pháp năm 1870 và trở thành Tổng trưởng Giáo dục và Nghị sĩ Quốc hội Pháp.

    Tháng 2/1886, ông được bổ nhiệm Thống sứ triều đình Huế. Ông chủ trương tiến bộ và muốn thực hiện cải cách nên đã đích thân thăm và mời Trương vĩnh Ký ra Huế giúp vua Đồng Khánh.

    Nhà vua phong Petrus Ký chức Hàn lâm viện thị giảng học sĩ và dạy cho vua Đồng Khánh tiếng Pháp.

    Năm 1887, Petrus Ký có dâng vua Đồng Khánh 24 điều để đối phó với Pháp. Trong đó ông có đề cập việc cải cách giáo dục, bỏ dạy chữ Hán, dạy chữ Quốc ngữ và học hỏi văn minh Tây phương.

    Đến cuối thời vua Thành Thái các đề nghị của Petrus Ký mới được nhà vua ban sắc lệnh cho thi hành.

    Chính sắc lệnh này đã dẫn tới phong trào Duy Tân, dùng chữ quốc ngữ để thoát Hán được trình bày khá rõ trong bài viết trước “Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn”.

    Nhà giáo dục Trương Vĩnh Ký với triết lý sống chẳng vì mình nên không cần chúng ta phải “minh oan”.

    Ngược lại chúng ta cần tìm ra sự thật, cần hiểu biết sự thật và cần phổ biến sự thật để qua đó chúng ta có thể ghi nhận ân đức cũng như học hỏi từ Trương Vĩnh Ký và những bậc tiền bối những người đã có công đóng góp cho nền văn học nước nhà.

    Đồng thời chúng ta cần tiếp tục giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, văn hóa và phong tục để truyền lại cho con cháu chúng ta.

    Nguyễn Quang Duy

    Melbourne, Úc Đại Lợi

    6/12/2018

    Winston Phan Đào Nguyên, 2017, Minh oan cho Pétrus Trương Vĩnh Ký về câu ‘ở với họ mà không theo họ’, Nghiên Cứu Lịch Sử.

    (https://nghiencuulichsu.com/2017/04/13/minh-hoa-cho-petrus-truong-vinh-ky-ve-cau-o-voi-ho-ma-khong-theo-ho/)

    Winston Phan Đào Nguyên, 2018, “Petrus Key và Petrus Ký – Chuyện một lá thư mạo danh Trương Vĩnh Ký vào thế kỷ 19”, gồm 3 bài viết trên Nghiên Cứu Lịch Sử.

    (https://nghiencuulichsu.com/2018/09/11/petrus-key-va-petrus-ky-chuyen-mot-la-thu-mao-danh-truong-vinh-ky-vao-the-ky-19-phan-1/)

    Nguyễn Quang Duy, 2018, Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn, BBC tiếng Việt.

    (https://www.bbc.com/vietnamese/forum-45407297)

    Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các Vua nhà Nguyễn.

    Nguyễn Quang Duy

    Tìm hiểu lịch sử là công việc vô cùng thiết yếu vì có hiểu người xưa, có hiểu được lịch sử mới hiểu được vận mệnh nước nhà mà khôi phục lại.

    Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nhìn khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ.

    “Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có gì quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ thì việc đó cũng có thể làm được sau này.“

    Ý kiến cũng nói rằng Trung Hoa, Thái Lan, Ấn Độ, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều quốc gia khác đều đã có những văn tự bằng tiếng La Tinh nhưng chưa bao giờ trở thành chữ Quốc ngữ của họ.

    Cũng theo nhà báo Nguyễn Giang, Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ xóa hàng rào cản tâm lý quá lạc hậu để giới sỹ phu yên tâm dùng chữ Quốc ngữ.

    Và rằng chính nỗ lực tiên phong quảng bá Quốc ngữ là của trí thức miền Nam và nhờ chính sách tiến bộ, khoa học của chính quyền Pháp tại Đông Dương tạo đà cho chữ Quốc ngữ lan tỏa.

    Nhưng tôi nghĩ cũng lạ tại sao ba nước Việt, Miên và Lào có chung hoàn cảnh, đều là thuộc địa của Pháp mà Miên và Lào lại không sử dụng La Tinh làm chữ Quốc ngữ.

    Ở đây cần xem công lao các vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, dù họ không thực sự nắm quyền thời Pháp thuộc.

    Sắc lệnh của Vua Thành Thái

    Theo sử gia Liam Kelley (2016) vào đầu thế kỷ XX cả người Pháp lẫn những nhà cách mạng đều không đủ quyền lực để chữ Quốc Ngữ có thể lan sâu rộng xuống đến tận cấp độ làng quê.

    Qua nghiên cứu những nguồn tài liệu trong giai đoạn này, sử gia Liam kết luận chính nhà Nguyễn mới đi đầu trong công cuộc cải cách giáo dục.

    Trong bài “Emperor Thành Thái’s Educational Revolution”, sử gia Liam Kelley (2016) đã công bố sắc lệnh của vua Thành Thái được lưu trữ trong sách Đại Nam Hội Điển Sử Lệ Tục Biên.

    Bài viết được Nguyễn Hồng Phúc lược dịch có đoạn như sau:

    “Hoàng đế Thành Thái đã tuyên bố trong một sắc lệnh rằng vào năm trị vì thứ 18 của ông (năm 1906), cha mẹ có thể quyết định việc cho con theo học một trường ấu học Hán văn hoặc một chương trình giảng dạy Nam âm (Quốc ngữ).

    Với những người học theo chương trình Hán văn, sẽ có một cuốn sách giáo khoa được soạn ra nhằm giới thiệu những từ chữ Hán theo cấp độ khó dần. Nó cũng bao gồm một danh mục các Hán tự kèm theo phiên âm và định nghĩa bằng quốc ngữ được dùng trong tài liệu.

    …Trong khi, một cuốn sách giáo khoa bằng quốc ngữ khác sẽ được soạn ra để dạy những người theo chương trình học ‘Nam âm’ nhằm giới thiệu cho họ những thông tin cơ bản về xứ Đông Dương, thiết chế cai trị của nó, những phong tục tập quán…

    Thêm vào đó, cũng có thêm một cuốn sách nữa được dịch từ Hán văn sang Nam âm nhằm cung cấp những loại thông tin mà học viên đang luyện thi khoa cử cần biết. Bản dịch này được soạn ra cho những người không muốn thi khoa cử, nhưng nó vẫn được đưa vào chương trình để cho họ biết thêm về những gì mà những người đang luyện thi khoa cử phải học…”

    Sắc lệnh này vô cùng quan trọng vì khi nhà vua ra lệnh sử dụng chữ Quốc ngữ là nhà vua đã công khai ý định muốn thấy tầng lớp quan lại và sỹ phu phải thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa trong giáo dục, văn hóa, và nhất là tư tưởng.

    Vừa thoát Trung vừa chống Pháp

    Xin nhắc lại về cuộc đời vị vua trẻ tuổi.

    Vua Thành Thái lên ngôi năm 1889, đến năm 1907 bị Pháp ép thoái vị. Ngài bị quản thúc ở Vũng Tàu rồi đến năm 1916 bị đày sang đảo Réunion.

    Vua là người cầu tiến, học tiếng Pháp, có hiểu biết khá toàn diện, cắt tóc ngắn, mặc âu phục, phong cách của người theo tân học.

    Nhà Vua thường xuyên tiếp xúc với sỹ phu và dân chúng, đồng thời trọng dụng nhiều nhân tài, thanh liêm, đức độ với hy vọng khôi phục và canh tân đất nước.

    Sắc lệnh cho dạy quốc ngữ chính là văn bản ủng hộ Phong Trào Duy Tân (1906) và Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) thúc đẩy việc theo tân học và dùng chữ quốc ngữ.

    Cắt tóc ngắn trở thành một dấu hiệu của người theo tân học.

    Nhiều thanh niên lúc ấy sắm cho mình một cái kéo, đi tuyên truyền, vận động cắt tóc và vận động canh tân.

    Đến khi Vua bị người Pháp ép thoái vị năm 1907 hình ảnh một vị vua yêu nước, chống Pháp, cắt tóc ngắn nhanh chóng lan tỏa xuống đến tầng lớp nông dân.

    Tháng 3 năm 1908, bắt đầu từ tỉnh Quảng Nam, nông dân đầu cắt tóc ngắn lũ lượt kéo đến các phủ huyện đòi giảm sưu giảm thuế.

    Tất cả đều hớt tóc ngắn đi thành đoàn, phong trào mở rộng vào Nam đến Bình Định, Phú Yên và ra Bắc đến Nghệ An, Hà Tĩnh.

    Pháp và triều Nguyễn gọi cuộc biến động này là Giặc cắt tóc, ở Bình Định gọi là Giặc đồng bào, sau nầy được đổi lại là cuộc Dân biến Trung kỳ.

    Đây là cuộc đấu tranh bất bạo động đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và đoàn biểu tình lấy biểu tượng là Vua Thành Thái một vị vua yêu nước, theo tân học và chống Pháp.

    Như vậy ngay từ đầu thế kỷ thứ 20, người Việt đã công khai thực hành phương pháp đấu tranh bất bạo động với biểu tượng vua Thành Thái, có tổ chức, có chiến thuật, có mục tiêu và có chiến lược một cách rất rõ ràng.

    Cuộc đấu tranh bất bạo động bị Pháp đàn áp dã man. Nhiều người tổ chức và tham dự bị bắt, phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục bị dập tắt.

    Các vị Vua tiếp tục cải cách

    Năm 1907 vua Duy Tân tiếp nối việc cải cách giáo dục bằng cách cho thành lập Bộ Học nhằm cai quản việc học hành và thi cử.

    Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục là một nhà giáo dục cổ vũ thực học, thực tài, bỏ đi kiểu học từ chương, xa rời thực tế và chủ trương phát triển nền giáo dục “không học vì bằng cấp” mà phải học lấy thực tài để ra giúp dân, giúp nước.

    Đáng tiếc ông lại hết sức bài bác chữ Quốc ngữ, nhưng không phải vì thế mà chữ Quốc ngữ bị đưa ra khỏi nền giáo dục.

    Theo Trần Gia Phụng từ năm 1909, chương trình thi Hương bắt buộc thí sinh phải làm các đề thi luận văn bằng cả chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ.

    Ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ (tức ngày 28/12/1918) vua Khải Định ra đạo dụ chính thức bãi bỏ khoa cử kiểu Hán học.

    Năm 1919 là năm cuối mở khoa thi Hương ở Huế, từ đó chữ Quốc ngữ thành chữ viết chính thức của người Việt Nam.

    Vai trò của các ông giáo trường làng

    Bên cạnh các trường công do triều đình và người Pháp lập ra là một hệ thống trường tư do các thầy đồ sau chuyển thành thầy giáo làng giảng dạy.

    Mỗi làng có khi lên đến vài ba trường, hoặc dạy ở nhà thầy, hoặc ở nhà người giàu có nuôi thầy cho con ăn học và cho con các nhà lân cận trong làng theo học.

    Thầy đồ đa số là những người có học, có người đỗ tú tài, có người là quan hồi hưu mở lớp dạy học.

    Thầy đồ hoàn toàn tự do không chịu sự giám sát của triều đình.

    Mặc dầu được tự do mở lớp giảng dạy giới thầy đồ vẫn giữ lòng trung với các vua nhà Nguyễn và với sách Thánh hiền.

    Các thầy đồ quyết liệt chống lại các chính sách giáo dục của nhà cầm quyền Pháp với quan niệm chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang và là công cụ của các nhà truyền giáo.

    Với họ, chữ Hán giáo dục về luân lí, về lịch sử, là chữ Thánh hiền còn Quốc ngữ chỉ để đọc báo, đọc Kinh Thánh, những sản phẩm của quân xâm lược, biết đọc chẳng ích lợi gì.

    Nhưng khi sắc lệnh cho dạy Quốc ngữ của vua Thành Thái được ban ra thì chính các thầy đồ đã thay đổi đã tự học chữ Quốc ngữ để truyền dạy lại cho học sinh.

    Ba lớp Đồng ấu học trước khi học sinh vào tiểu học đều do các thầy giáo trường làng dạy hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ.

    Nhờ thế chữ Quốc ngữ trở thành phổ thông đại chúng.

    Những bộ sách giáo khoa như Sử ký địa dư giáo khoa thư, Luân lý giáo khoa thư, Quốc văn giáo khoa thư, được học giả Trần Trọng Kim và các cộng sự biên soạn để dạy lớp ấu học trường làng.

    Bộ sách giáo khoa ‘Việt Nam Sử lược’ được học giả Trần Trọng Kim soạn để dạy các lớp cao hơn và đã hoàn toàn chỉ cho những người đã biết Quốc ngữ.

    Lên lớp nhì và lớp nhất ở trường chính phủ, mỗi tuần chỉ dạy chữ Quốc ngữ một giờ rưỡi và bậc trung học chỉ dạy ba giờ.

    Thời gian còn lại học sinh được dạy bằng tiếng Pháp và hầu hết do người Pháp dạy.

    Từ đó ta thấy được căn bản tiếng Việt, sử địa, luân lý, văn hóa về Việt Nam của học sinh hầu như đều thu nhận được từ các thầy giáo trường làng.

    Vua Bảo Đại là người Tây Học

    Tốt nghiệp trường Khoa học Chính trị Paris về nước, vua Bảo Đại bắt tay ngay vào việc cải cách đất nước, mong từng bước khôi phục lại chủ quyền quốc gia.

    Ngày 10/12 năm 1932, vua Bảo Đại cho công bố đạo dụ nước ta theo chế độ Quân chủ Lập hiến, nhà vua sẽ trực tiếp điều khiển nội các và cho cải cách hành chính, giáo dục và tư pháp.

    Một nội các mới đã được thành lập gồm những người trẻ theo tân học như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Đệ…

    Bộ Học được đổi tên thành Bộ Giáo dục và giao cho Phạm Quỳnh từng là chủ nhiệm báo Nam Phong một người luôn tha thiết với chữ Quốc ngữ điều hành.

    Các cuộc cải cách của vua Bảo Đại đều bị người Pháp cản trở, riêng cải cách về giáo dục nhờ Phạm Quỳnh được người Pháp tin nên ít bị cản trở.

    Chữ Quốc ngữ được tăng giờ dạy ở các trường công.

    Nhờ thế sau khi Nhật đảo chánh Pháp, trao trả độc lập cho Việt Nam, chỉ trong vòng 5 tháng chính phủ Trần Trọng Kim đã thực hiện thành công cuộc cải cách lấy chữ Quốc ngữ làm ngôn ngữ chính trong giáo dục.

    Bộ trưởng Giáo dục Hoàng Xuân Hãn có công lao lớn khi soạn cả sách toán và kỹ thuật bằng tiếng Việt Quốc ngữ để dạy ngay trong niên học 1945-46 tại miền Bắc và miền Trung.

    Từ 1948 đến 1955, chính phủ Quốc gia Việt Nam tiếp tục lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy đến hết bậc trung học.

    Bắt đầu từ chuyển biến tư tưởng thời Thành Thái

    Học tiếng Pháp, theo tân học thoát khỏi tư tưởng Trung Hoa nên vua Thành Thái đã hiểu rõ những khái niệm về tự do, dân chủ, quốc gia, dân tộc, quân chủ, cộng hòa… hiểu từ sách Pháp không phải từ sách Trung Hoa.

    Thay đổi quan trọng nhất của nhà vua là về mặt tư tưởng, về ý thức đất nước không còn của nhà vua nữa mà là của quốc gia của dân tộc.

    Quốc gia là một thực thể độc lập có chủ quyền thoát khỏi tư tưởng thuộc địa hay chư hầu Trung Hoa.

    Khái niệm ‘quốc gia’ bắt đầu được sử dụng đối nghịch với ‘thuộc địa’, ‘chư hầu’.

    Mặc dù không có quyền lực trong tay các vua triều Nguyễn đã thực hiện thành công cải cách từ giáo dục, văn hóa, đến chính trị đưa đất nước thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa.

    Bài học các vua triều Nguyễn đã thực hiện là nếu muốn cải cách giáo dục phải bắt đầu bằng thay đổi tư tưởng cho chính mình.

    Vì thế, theo tôi, nhu cầu thiết yếu của đất nước ngày nay không phải là cải cách tủn mủn về phát âm, ký tự Quốc ngữ mà phải vừa thoát khỏi ý thức hệ cộng sản, vừa thoát Trung để khôi phục các nền tảng cơ bản cho Việt Nam.

    Nguyễn Quang Duy

    Melbourne, Úc Đại Lợi

    4/9/2018

    Tài Liệu Tham Khảo

    Liam Kelley (2016), Cải Cách Giáo Dục Của Vua Thành Thái, Nguyễn Hồng Phúc lược dịch.

    Nguyễn Giang, Những người giúp chữ Quốc ngữ ‘làm nên’, BBC World Service

    Trần Gia Phụng, Lịch sử chữ Quốc Ngữ.